filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
chi bông tai.txt
Chi Bông tai (danh pháp khoa học: Asclepias), là một chi thực vật chứa khoảng trên 140 loài bông tai (ngô thi)-các loài cây thân thảo, thường xanh. Trước đây nó được coi là chi điển hình của họ Asclepiadaceae, nhưng hiện nay nó được phân loại trong phân họ Asclepiadoideae của họ Apocynaceae. Các loài bông tai là các nguồn mật hoa quan trọng cho các loài ong và các côn trùng kiếm mật khác cũng như là nguồn thức ăn của ấu trùng cho loài bướm chúa với danh pháp khoa học Danaus plexippus. Nhựa của chúng có màu giống như sữa, chứa các ancaloit, gôm cao su, và một vài hợp chất phức tạp khác, bao gồm cả các cardenolid (glicozit tim mạch). Một vài loài có khả năng gây ngộ độc. Carolus Linnaeus đặt tên chi này theo Asclepius, vị thần chữa trị bệnh trong thần thoại Hy Lạp, do nhiều bài thuốc y học dân gian phương Tây sử dụng các loài bông tai. Các loài trong chi Asclepias phát triển hạt của chúng trong các quả dạng quả đậu. Các quả này chứa các sợi tơ mềm như lụa hay tơ sồi. Các sợi gắn liền với các hạt riêng rẽ. Khi quả chín, các hạt được phát tán nhờ gió, mỗi hạt mang theo vài sợi tơ. == Các loài == Một số loài trong chi Asclepias được liệt kê dưới đây: Asclepias acida: Có khả năng tạo ra một loại chất gây say nhân tạo, nhưng an toàn. Asclepias amplexicaulis: Bông tai lá cùn Asclepias asperula: Bông tai sừng linh dương Asclepias curassavica: Bông tai hoa đỏ thắm, ngô thi, rễ máu, Bastard Ipecacuanha Asclepias exaltata: Bông tai Poke Asclepias fascicularis Asclepias incarnata: Bông tai đầm lầy Asclepias lanceolata: Bông tai lá mác Asclepias linearis Asclepias obovata Asclepias purpurascens: Bông tai tía Asclepias quadrifolia: Bông tai bốn lá Asclepias rubra: Bông tai đỏ Asclepias speciosa: Bông tai sặc sỡ Asclepias subulata: Bông tai bụi (bông tai không lá) Asclepias sullivantii: Bông tai Sullivant Asclepias syriaca: Bông tai thông thường Asclepias tuberosa: Bông tai bướm chúa, rễ Pleurisy Asclepias variegata: Bông tai trắng Asclepias verticillata: Bông tai xoắn Asclepias vincetoxicum == Sử dụng == Các sợi của quả bông tai hay tơ sồi được phủ một lớp sáp, và chúng có khả năng cách nhiệt rất tốt. Các thử nghiệm cho thấy chúng có khả năng cách nhiệt tốt hơn cả các lớp lông bên trong của các loài chim. Trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, trên 5.000 tấn (11 triệu pao) lông tơ của bông tai đã được thu hoạch tại Hoa Kỳ như là vật liệu thay thế cho bông gòn. Trong quá khứ, hàm lượng dextroza cao trong mật hoa các loài bông tai đã được sử dụng làm nguồn cung cấp chất làm ngọt cho thổ dân Bắc Mỹ cũng như những người buôn lậu lông thú tại khu vực Canada thời kỳ thuộc Pháp (1534-1763) (tiếng Pháp: coureur de bois). Nhựa mủ của các loài bông tai chứa khoảng 1-2% cao su, và cả Đức lẫn Hoa Kỳ trong Đại chiến thế giới lần thứ hai đều có ý định tìm kiếm nguồn thay thế cao su tự nhiên từ các loài bông tai, nhưng không thấy có ghi chép nào cho thấy họ thu được thành công ở mức độ lớn. Bông tai cũng là loại thuốc dân gian để loại bỏ mụn cơm. Người ta bôi nhựa bông tai trực tiếp lên mụn cơm vài lần mỗi ngày cho đến khi nó biến mất. Nhựa bồ công anh cũng hay được sử dụng với mục đích tương tự. Bông tai là các loài cây có lợi cho các thực vật khác mọc gần đó, do chúng xua đuổi một số loài sâu bọ, đặc biệt là các loài bọ bổ củi (họ Elateridae). == Thư viện ảnh == == Xem thêm == Danh sách các loại cỏ có lợi Danh sách các loại thực vật đồng hành == Chú thích == == Tham khảo == Nghiên cứu y học về tác dụng của bông tai Trồng thử nghiệm bông tai với giá trị cách nhiệt của tơ sồi Bông tai trong Handbook of Energy Crops Nuôi trồng bông tai tại Đại học Western Illinois UVSC Herbarium - Asclepias
1815.txt
1815 (số La Mã: MDCCCXV) là một năm thường bắt đầu vào Chủ Nhật trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1815 == Sự kiện == 18 tháng 6: Trận Waterloo == Sinh == 22 tháng 4: Otto Knappe von Knappstädt (mất 1906) 31 tháng 12: George Gordon Meade(mất 1872) == Mất == 24 tháng 2: Robert Fulton (sinh 1765) == Xem thêm == == Tham khảo ==
ma cao.txt
Ma Cao (phồn thể: 澳門; Hán-Việt: Áo Môn, tiếng Bồ Đào Nha: Macau), cũng viết là Macao, là một trong hai đặc khu hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cùng với Hồng Kông. Ma Cao nằm ở mặt tây của đồng bằng châu thổ Châu Giang, giáp với tỉnh Quảng Đông ở phía bắc và nhìn ra biển Đông ở phía đông và phía nam. Nền kinh tế của Ma Cao phụ thuộc nhiều vào đánh bạc và du lịch, song cũng tồn tại ngành sản xuất. Ma Cao nguyên là một thuộc địa của Bồ Đào Nha và phải chịu sự quản lý của đế quốc này từ giữa thế kỷ 16 cho đến năm 1999, và là thuộc địa hay tô giới cuối cùng của người châu Âu tại Trung Quốc. Các thương nhân Bồ Đào Nha lần đầu đến định cư tại Ma Cao trong thập niên 1550. Năm 1557, triều đình nhà Minh đã cho Bồ Đào Nha thuê Ma Cao để làm cảng giao thương. Từ đó, người Bồ Đào Nha đã quản lý thành phố song nó vẫn nằm trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc. Đến năm 1887, Ma Cao trở thành một thuộc địa của đế quốc Bồ Đào Nha. Bồ Đào Nha đã chuyển giao chủ quyền đối với Ma Cao cho Trung Quốc vào ngày 20 tháng 12 năm 1999. Tuyên bố chung Trung-Bồ và Luật cơ bản Ma Cao quy định rằng Ma Cao có quyền tự trị cao độ ít nhất là đến năm 2049, tức 50 năm sau ngày chuyển giao. Theo chính sách "một quốc gia, hai chế độ", chính quyền Trung ương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chịu trách nhiệm về các vấn đề quốc phòng và ngoại giao của lãnh thổ, trong khi Ma Cao duy trì hệ thống riêng của mình trên các lĩnh vực luật pháp, lực lượng cảnh sát, tiền tệ, hải quan, nhập cư. Ma Cao tham gia nhiều tổ chức và sự kiện quốc tế không yêu cầu các thành viên phải là các quốc gia có chủ quyền. Theo The World Factbook của CIA, năm 2012, Ma Cao xếp thứ hai về tuổi thọ trên thế giới. Ngoài ra, Ma Cao là một trong số ít khu vực tại châu Á có Chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức rất cao. == Từ nguyên == Trước khi có khu dân cư của người Bồ Đào Nha vào giữa thế kỷ 16, Ma Cao được biết đến với các tên gọi Hào Kính (濠鏡) hay Kính Hải (鏡海). Tên gọi Macau có nguồn gốc từ miếu Ma Các (Trung văn phồn thể: 媽閣廟; Bính âm Quan Thoại: Māgé Miào; Việt bính: Maa1 Gok3 Miu6), một công trình được xây dựng vào năm 1448 để thờ Ma Tổ – nữ thần của thuyền viên và ngư dân. Người ta nói rằng khi các thủy thủ Bồ Đào Nha đổ bộ lên bờ biển ngay bên ngoài miếu và hỏi tên của địa điểm này, những người bản địa đã trả lời là "媽閣" (Bính âm Quan Thoại: Māgé; Việt bính: Maa1 Gok3; Hán-Việt: Ma Các). Sau đó, người Bồ Đào Nha đặt tên cho bán đảo là "Macau". == Lịch sử == Lịch sử Ma Cao có thể truy nguyên từ thời nhà Tần (221–206 TCN), khi đó khu vực nay là Ma Cao nằm dưới quyền quản lý của Phiên Ngung huyện thuộc Nam Hải quận. Các cư dân được ghi chép đầu tiên là những người đến tị nạn tại Ma Cao trước cuộc xâm lược Nam Tống của người Mông Cổ. Dưới thời nhà Minh (1368–1644), có những ngư dân nhập cư đến Ma Cao từ Quảng Đông và Phúc Kiến. Ma Cao đã chỉ phát triển thành một khu vực dân cư lớn khi người Bồ Đào Nha đến vào thế kỷ 16. Năm 1513, Jorge Álvares trở thành người Bồ Đào Nha đầu tiên đặt chân đến Trung Quốc. Năm 1535, các thương nhân Bồ Đào Nha đã có được quyền neo tàu ở các bến cảng của Ma Cao và thực hiện hoạt động giao thương, mặc dù không có quyền ở trên bờ. Khoảng 1552–1553, họ giành được sự cho phép tạm thời để lưu trữ hàng hóa trên kho được dựng trên bờ, mục đích là để hàng hóa được khô ráo; họ nhanh chóng xây dựng các ngôi nhà thô sơ bằng đá quanh khu vực mà nay được gọi là Nam Loan. Năm 1557, người Bồ Đào Nha thành lập một khu dân cư lâu dài tại Ma Cao, trả 500 lạng bạc mỗi năm cho tiền thuê đất. Người Bồ Đào Nha tiếp tục trả tiền thuê hàng năm cho đến năm 1863 để được quyền ở tại Ma Cao. Năm 1564, Bồ Đao Nha là nước chế ngự giao thương giữa phương Tây với Ấn Độ, Nhật Bản và Trung Quốc. Tuy nhiên, niềm kiêu hãnh của họ đã bị giội một gáo nước lạnh khi chứng kiến sự thờ ơ của người Trung Hoa đối với họ. Năm 1631, người Trung Hoa hạn chế người Bồ Đào Nha giao thương tại Trung Quốc đến cảng Ma Cao. Trong thế kỷ 17, có khoảng 5.000 nô lệ sinh sống tại Ma Cao, cùng với họ là 2.000 người Bồ Đào Nha và 20.000 người Hán. Do ngày càng có nhiều người Bồ Đào Nha đến định cư ở Ma Cao để tham gia hoạt động thương mại, họ có nhu cầu về tự quản; song điều này không thể đạt được cho đến thập niên 1840. Năm 1576, Giáo hoàng Grêgôriô XIII đã thành lập Giáo phận Ma Cao. Năm 1583, người Bồ Đào Nha tại Ma Cao được cho phép thành lập một viện nguyên lão để xử lý các vấn đề khác nhau liên quan đến những hoạt động xã hội và kinh tế của họ dưới sự giám sát chặt chẽ của chính quyền Trung Quốc, song điều này không có nghĩa là chuyển giao chủ quyền. Ma Cao trở thành một thương cảng thịnh vương, song cùng với đó, nơi này đã trở thành mục tiêu chinh phục của người Hà Lan trong thế kỷ 17, song các cuộc tấn công lặp di lặp lại này đều thất bại. Ngày 24 tháng 6 năm 1622, người Hà Lan tấn công Ma Cao với hy vọng biến nơi đây thành vùng đất do họ sở hữu, sử gọi là trận Ma Cao. Người Bồ Đào Nha đã đẩy lui cuộc tấn công này và người Hà Lan từ đó không bao giờ cố gắng chinh phục Ma Cao lần nữa. Phần lớn những người bảo vệ Ma Cao khi đó là nô lệ châu Phi, và chỉ có một vài binh sĩ và linh mục người Bồ Đào Nha. Thuyền trưởng Kornelis Reyerszoon là chỉ huy của 800 tinh binh xâm lược người Hà Lan. Tổng đốc Hà Lan Jan Coen đã nói sau khi bị đánh bại rằng "Các nô lệ của Bồ Đào Nha tại Ma Cao phục vụ họ rất tốt và trung thành, rằng đó là những người đã đánh bại và đuổi người của ta đi vào năm ngoái", và "Người của ta nhìn thấy rất ít người Bồ Đào Nha" trong trận chiến. Sau Chiến tranh Nha phiến (1839–42), Bồ Đào Nha chiếm đóng hai đảo Đãng Tử và Lộ Hoàn tương ứng vào các năm 1851 và 1864. Ngày 1 tháng 12 năm 1887, triều đình nhà Thanh và chính phủ Bồ Đào Nha đã ký kết Điều ước Hòa hảo và Thông thương Trung-Bồ, theo đó Trung Quốc nhượng quyền "chiếm giữ và cai trị vĩnh viễn Ma Cao cho Bồ Đào Nha" tuân theo các bản tuyên bố của Nghị định thư Lisboa. Bồ Đào Nha sẽ có nghĩa vụ "không bao giờ chuyển nhượng Ma Cao khi không có thỏa thuận trước với Trung Quốc", do đó đảm bảo rằng đàm phán giữa Bồ Đào Nha và Pháp (đối với khả năng đổi Ma Cao và Guinea thuộc Bồ Đào Nha với Congo thuộc Pháp) hoặc với các quốc gia khác sẽ không tiến triển – vì vậy mà các lợi ích thương mại của Anh Quốc được bảo đảm; Ma Cao chính thức trở thành một lãnh thổ dưới quyền cai trị của Bồ Đào Nha. Năm 1928, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc của Quốc Dân đảng đã thông báo chính thức cho Bồ Đào Nha rằng họ hủy bỏ Điều ước Hòa hảo và Thông thương; Hai bên ký kết một điều ước Hữu nghị và Thông thương Trung-Bồ mới để thay thế điều ước bị bãi bỏ. Ngoại trừ một vài quy định liên quan đến nguyên tắc thuế quan và các vấn đề liên quan đến thương mại, điều ước mới không làm thay đổi chủ quyền của Ma Cao và quyền cai trị của Bồ Đào Nha tại Ma Cao vẫn không thay đổi. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, không giống như trường hợp của Timor thuộc Bồ Đào Nha khi bị Nhật Bản chiếm đóng cùng với Timor thuộc Hà Lan vào năm 1942, người Nhật tôn trọng tính trung lập của Bồ Đào Nha tại Ma Cao. Như vậy, Ma Cao đã có một thời gian ngắn ngủi đạt được thịnh vượng về kinh tế khi là cảng trung lập duy nhất ở Nam Trung Quốc, sau khi Nhật Bản chiếm Quảng Châu và Hồng Kông. Tháng 8 năm 1943, quân Nhật bắt giữ tàu Sian của Anh tại Ma Cao và giết chết khoảng 20 lính bảo vệ. Trong tháng tiếp theo, họ yêu cầu thiết lập chế độ "cố vấn" Nhật để thay thế chiếm đóng quân sự. Kết quả là Ma Cao trở thành vùng bảo hộ ảo của người Nhật. Khi phát hiện ra việc Ma Cao trung lập đang có kế hoạch bán nhiên liệu hàng không cho Nhật Bản, chiến đấu cơ Hoa Kỳ từ USS Enterprise đã ném bom và bắn phá nhà chứa máy bay của Trung tâm Hàng không Hải quân vào ngày 16 tháng 1 năm 1945 để triệt phá nguyên liệu. Hoa Kỳ cũng tiến hành không kích vào các mục tiêu ở Ma Cao vào các ngày 25 tháng 2 và 11 tháng 6 năm 1945. Sau khi chính phủ Bồ Đào Nha kháng nghị, vào năm 1950, Hoa Kỳ đã trả 20.255.952 Đô la Mỹ cho chính phủ Bồ Đào Nha. Sự thống trị của Nhật Bản kết thúc vào tháng 8 năm 1945 với việc họ đầu hàng. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vào năm 1949, chính phủ Bắc Kinh tuyên bố Điều ước Hữu nghị và Thông thương Trung-Bồ là một "điều ước bất bình đẳng" do ngoại quốc áp đặt đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, chính quyền Bắc Kinh đã không sẵn sàng để giải quyết, và duy trì "nguyên trạng" cho đến một thời gian thích hợp hơn. Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc đại lục và tâm trạng bất mãn rộng rãi với chính phủ Bồ Đào Nha, các cuộc bạo động đã nổ ra ở Ma Cao vào năm 1966. Nghiêm trọng nhất là "sự kiện 3 tháng 12", với 6 người bị giết và hơn 200 người bị thương. Ngày 28 tháng 1 năm 1967, chính phủ Bồ Đào Nha đã đưa ra một lời xin lỗi chính thức. Ngay sau khi chế độ độc tài tại Bồ Đào Nha bị lật đổ vào năm 1974 tại Lisboa, chính phủ mới của Bồ Đào Nha đã xác định rằng nước này sẽ từ bỏ toàn bộ các thuộc địa hải ngoại của mình. Năm 1976, chính phủ Lisboa tái định nghĩa Ma Cao là một "lãnh thổ Trung Quốc nằm dưới sự quản lý của Bồ Đào Nha" và trao cho Ma Cao quyền tự trị ở mức độ lớn về hành chính, tài chính và kinh tế. Ba năm sau, Bồ Đào Nha và Trung Quốc đồng thuận xem Ma Cao là "một lãnh thổ Trung Quốc nằm dưới sự quản lý (tạm thời) của Bồ Đào Nha". Chính quyền Trung Quốc và Bồ Đào Nha khởi đầu đàm phán về vấn đề Ma Cao vào tháng 6 năm 1986. Hai bên ký kết Tuyên bố chung Trung-Bồ vào năm sau, theo đó Ma Cao sẽ trở thành một đặc khu hành chính của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc chính thức tiếp nhận chủ quyền đối với Ma Cao vào ngày 20 tháng 12 năm 1999. Từ sau khi trở về với Trung Quốc, kinh tế Ma Cao tiếp tục thịnh vượng với sự tăng trưởng liên tục của du lịch từ Trung Quốc đại lục và xây mới các casino. == Chính quyền và chính trị == Tuyên bố chung Trung-Bồ và Luật Cơ bản Ma Cao, hiến pháp Ma Cao do Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc ban hành vào năm 1993, xác định rằng hệ thống kinh tế, lối sống, quyền, và tự do của Ma Cao sẽ được duy trì không thay đổi ít nhất là 50 năm sau khi chủ quyền của khu vực được chuyển giao về Trung Quốc vào năm 1999. Theo phương châm "Một quốc gia, hai chế độ", Ma Cao được hưởng một quyền tự trị cao độ trên tất cả các lĩnh vực ngoại trừ quốc phòng và các vấn đề ngoại giao. Các quan chức Ma Cao, chứ không phải là quan chức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sẽ điều hành Ma Cao bằng cách sử dụng riêng biệt các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, cũng như quyền phân xử cuối cùng. Ma Cao duy trì tiền tệ, lãnh thổ hải quan, kiểm soát nhập cư và ranh giới, và lực lượng cảnh sát riêng biệt. === Hành pháp === Đứng đầu chính quyền Ma Cao là trưởng quan hành chính, người này được chính phủ Trung ương tại Bắc Kinh bổ nhiệm theo tiến cử của một ủy ban bầu cử, tổ chức này có ba trăm thành viên, được các đoàn thể và cộng đồng bổ nhiệm. Việc tiến cử được thực hiện bằng một cuộc bầu cử trong khuôn khổ ủy ban. Nội các của trưởng quan hành chính bao gồm năm viên chức chính sách và Hội hành chính bao gồm từ 7 đến 11 thành viên làm nhiệm vụ cố vấn. Hà Hậu Hoa, một lãnh đạo cộng đồng và nguyên là một chủ ngân hàng, là trưởng quan đầu tiên của khu hành chính đặc biệt Ma Cao, thay thế Tổng đốc Vasco Rocha Vieira vào nửa đêm ngày 20 tháng 12 năm 1999. Thôi Thế An là trưởng quan đương nhiệm của Ma Cao. === Lập pháp === Cơ quan lập pháp của Ma Cao là Hội Lập pháp, một cơ cấu gồm 29 thành viên trong đó có 12 thành viên được bầu trực tiếp, 10 thành viên được bầu gián tiếp đại diện cho các "khu vực bầu cử chức năng" và 10 thành viên do trưởng quan bổ nhiệm. Bất kỳ thường trú nhân nào đủ hoặc trên 18 tuổi đều có đủ điều kiện bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử trực tiếp. Bầu cử gián tiếp giới hạn trong các tổ chức đã đăng ký được gọi là "cử tri đoàn thể" và một ủy ban gồm 300 thành viên rút ra từ các nhóm khu vực, tổ chức đô thị và các cơ quan của chính phủ Trung ương. === Tư pháp === Khuôn khổ ban đầu của hệ thống luật pháp Ma Cao dựa phần lớn vào luật pháp Bồ Đào Nha hay hệ thống luật dân sự Bồ Đào Nha, nó vẫn được duy trì sau năm 1999. Ma Cao có hệ thống tư pháp độc lập của mình với một pháp viện chung thẩm. Một ủy ban lựa chọn ra các thẩm phán và những người này được trưởng quan bổ nhiệm. Các thẩm phán ngoại quốc có thể phụng sự tại các tòa án. Ma Cao có một hệ thống tòa án ba cấp: Pháp viện đệ nhất thẩm, pháp viện cấp trung và pháp viện chung thẩm. Trong tháng 2 năm 2009, Hội Lập pháp đã thông qua một dự luật an ninh dựa trên cơ sở điều luật an ninh đã bị rút lại trước đó ở Hồng Kông. Những người ủng hộ dân chủ lo ngại rằng phạm vi mở rộng quá mức của điều luật này sẽ dẫn đến lạm dụng, lo lắng này được tăng thêm sau khi một số ủng hộ viên dân chủ nổi bật của Hồng Kông đã bị từ chối cho nhập cảnh vào Ma Cao trong thời gian thông qua dự luật. === Quân sự === Dưới quyền cai trị của Bồ Đào Nha, Ma Cao thường được sử dụng làm một căn cứ viễn chinh đến Nhật Bản và các khu vực khác tại Đông Á từ thế kỷ 16 trở đi, người Bồ Đào Nha cũng duy trì một đơn vị đồn trú hùng mạnh, chủ yếu để đẩy lùi các cuộc tấn công của Hà Lan và Trung Quốc đại lục. Tuy nhiên, từ khi những người Anh đồng minh đến định cư tại Hồng Kông, sự cần thiết phải duy trì sự hiện diện mạnh mẽ tại Ma Cao đã trở nên mờ nhạt đối với người Bồ Đào Nha, cuối cùng chấm dứt vào năm 1974. Năm 1999, khi được bàn giao Ma Cao, nhà nước cộng sản đã thiết lập một đơn vị đồn trú đáng kể tại Ma Cao, ngoài ra họ cũng có các đơn vị quân sự lớn đóng quân tại Chu Hải lân cận. == Địa lý == Ma Cao nằm cách 60 kilômét (37 mi) về phía tây nam của Hồng Kông và cách Quảng Châu 145 kilômét (90 mi). Ma Cao có 41 kilômét (25 mi) đường bờ biển, song chỉ có 310 mét (1.000 ft) ranh giới trên bộ với Quảng Đông. Ma Cao gồm bán đảo Ma Cao cùng hai đảo Đãng Tử (Taipa) và Lộ Hoàn (Coloane), song hai đảo này ngày nay đã được nối với nhau thông qua một vùng đất lấn biển được gọi là Lộ Đãng Thành (Cotai). Bán đảo Ma Cao được thành hình từ cửa sông của Châu Giang ở phía đông và Tây Giang ở phía tây. Ma Cao giáp với đặc khu kinh tế Chu Hải tại Trung Quốc đại lục. Cửa khẩu chính giữa Ma Cao và phần còn lại của Trung Quốc là Portas do Cerco (Quan Áp) ở phía Ma Cao, và cửa khẩu Củng Bắc bên phía Chu Hải. Bán đảo Ma Cao nguyên cũng là một hòn đảo, song về sau đã xuất hiện dải cát nối với lục địa và nó dần phát triển thành một eo đất hẹp, biến Ma Cao thành một bán đảo. Hoạt động cải tạo đất trong thế kỷ 17 đã biến Ma Cao thành một bán đảo với địa hình bằng phẳng, mặc dù vùng đất ban đầu vẫn có rất nhiều đồi dốc. Điệp Thạch Đường Sơn (疊石塘山)/Alto de Coloane là điểm cao nhất tại Ma Cao, với cao độ 170,6 mét (559,7 ft). Với mật độ đô thị hóa dày đặc, Ma Cao không có đất canh tác, đồng cỏ, rừng hay đất rừng. === Khí hậu === Ma Cao có một khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Köppen Cwa), với ẩm độ tương đối trung bình từ 75% đến 90%. Tương tự như phần lớn miền Nam Trung Quốc, khí hậu Ma Cao thay đổi theo mùa do ảnh hưởng từ gió mùa, và sự khác biệt của nhiệt độ và ẩm độ giữa mùa hè và mùa đông là đáng chú ý, mặc dù không phải là lớn nhất tại Trung Quốc. Nhiệt độ trung bình tại Ma Cao là 22,7 °C (72,9 °F). Tháng bảy là tháng nóng nhất với nhiệt độ trung bình là 28,9 °C (84,0 °F). Tháng mát nhất là tháng giêng với nhiệt độ trung bình là 14,5 °C (58,1 °F). Nằm trên bờ biển phía nam Trung Quốc, Ma Cao có lượng mưa phong phú, với lượng mưa trung bình năm là 2.120 milimét (83 in). Tuy nhiên, mùa đông chủ yếu là khô hanh do ảnh hưởng từ áp cao Siberi. Mùa thu ở Ma Cao kéo dài từ tháng 10 đến tháng 11, có thời tiết nắng và ấm với ẩm độ thấp. Mùa đông kéo dài từ tháng 12 đến đầu tháng 3 với thời tiết thường ôn hòa và hầu hết thời gian nhiệt độ ở mức trên 13 °C, mặc dù đôi lúc cũng có thể xuống dưới 8 °C. Ẩm độ bắt đầu tăng lên từ cuối tháng 3. Mùa hè có thời tiết từ rất ấm đến nóng và thường lên mức trên 30 °C vào ban ngày. Theo sau thời tiết nóng nực là các cơn mưa lớn, dông và thi thoảng là bão nhiệt đới. == Kinh tế == Nền kinh tế Ma Cao dựa phần lớn vào du lịch. Các hoạt động kinh tế lớn khác tại Ma Cao là sản xuất xuất khẩu phụ tùng dệt may và quần áo, ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác. Ngành công nghiệp quần áo chiếm khoảng ba phần tư kim ngạch xuất khẩu của Ma Cao, và các ngành công nghiệp đánh bạc, du lịch và khoản đãi ước tính đóng góp trên 50% GDP của Ma Cao, và 70% thu nhập của chính quyền Ma Cao. Tính đến năm 2016, GDP của Ma Cao đạt 44.066, đứng thứ 86 thế giới và đứng thứ 29 châu Á. Ma Cao là một thành viên sáng lập của WTO và duy trì quan hệ kinh tế và thương mại đầy đủ với trên 120 quốc gia và khu vực, đặc biệt là với Liên minh châu Âu và các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha; Ma Cao cũng là một thành viên của IMF. Ngân hàng Thế giới phân loại Ma Cao là một nền kinh tế có thu nhập cao và GDP bình quân đầu người của khu vực đạt 28.436 Đô la Mỹ vào năm 2006. Sau khi Ma Cao được bàn giao về Trung Quốc vào năm 1999, số du khách từ đại lục đã gia tăng nhanh chóng do Trung Quốc tiến hành nới lỏng hạn chế đi lại. Việc Ma Cao tiến hành tự do hóa ngành công nghiệp đánh bạc vào năm 2001 đã đem đến một dòng vốn đầu tư đáng kể, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn từ 2001 đến 2006 là xấp xỉ 13,1% mỗi năm. Trong một báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới về du lịch quốc tế năm 2006, Ma Cao xếp hạng 21 về số du khách và xếp thứ 24 về thu nhập từ du lịch. Từ con số 9,1 triệu du khách trong năm 2000, số lượt khách đến Ma Cao đã tăng lên 18,7 triệu vào năm 2005 và 22 triệu vào năm 2006, với trên 50% lượt khách đến từ Trung Quốc đại lục và 30% đến từ Hồng Kông. Ngành công nghiệp đánh bạc tại Ma Cao bắt đầu vào năm 1962, khi đó ngành này chỉ bao gồm Sociedade de Turismo e Diversões de Macau do Hà Hồng Sân (何鴻燊, Stanley Ho) điều hành theo một giấy phép độc quyền của chính phủ. Sự độc quyền chấm dứt vào năm 2002 và một vài chủ casino từ Las Vegas đã nỗ lực tiến vào thị trường đánh bạc của Ma Cao. Với việc mở cửa Sands Macao, vào năm 2004 và Wynn Macau vào năm 2006, doanh thu đánh bạc từ các casino của Ma Cao đã trở nên rất phát đạt. Năm 2007, Venetian Macau, khi đó là công trình lớn thứ hai thế giới về không gian sàn, đã mở cửa cho công chúng, theo sau là MGM Grand Macau. Doanh thu của ngành đánh bạc đã biến Ma Cao thành thị trường casino hàng đầu thế giới, vượt qua Las Vegas. Đầu thập niên 2010, Ma Cao cũng tăng cường các hoạt động biểu diễn và giải trí cùng với kinh doanh đánh bạc, bao gồm chương trình biểu diễn nổi tiếng House of Dancing Water, các buổi hòa nhạc, triển lãm thương mại và nghệ thuật. Ma Cao là một trung tâm tài chính ngoài khơi, một thiên đường thuế, và một cảng tự do với việc không có chế độ quản lý ngoại hối. Cục quản lý Tiền tệ Ma Cao điều hòa tài chính ngoài khơi, trong khi Viện Thương mại và Xúc tiến đầu tư Ma Cao quy định việc đầu tư tại Ma Cao. Năm 2007, Moody's Investors Service đã nâng xếp hạng quản lý nội và ngoại tệ của Ma Cao lên 'Aa3' từ 'A1', rằng nền tảng tài chính vững chắc của chính quyền Ma Cao giống như một chủ nợ ròng lớn. Cơ quan đánh giá cũng nâng hạng trần tiền gửi ngoại tệ của Ma Cao đến 'Aa3' từ 'A1'. Theo quy định của Luật cơ bản Ma Cao, chính quyền Ma Cao phải tuân theo nguyên tắc giữ chi tiêu ở trong giới hạn các khoản thu khi lập ngân sách của mình, và cố gắng để đạt được một sự cân bằng tài chính, tránh thâm hụt ngân sách và giữ cho ngân sách tương xứng với tốc độ tăng trưởng GDP. Tất cả các thu nhập tài chính của Đặc khu hành chính Ma Cao sẽ được chính quyền đặc khu quản lý và kiểm soát mà không phải bàn giao cho chính phủ Trung ương ở Bắc Kinh. Chính phủ Trung ương không đánh bất kỳ khoản thuế nào ở đặc khu hành chính Ma Cao. == Nhân khẩu == Ma Cao là lãnh thổ có mật độ dân cư cao nhất thế giới, với 18.428 trên một km² (47.728/mi²). 95% cư dân Ma Cao là người Hán; 2% khác là người Bồ Đào Nhà và/hoặc hợp chủng Hán/Bồ Đào Nha, và một nhóm dân tộc thường được gọi là người Bồ thổ sinh. Theo điều tra năm 2006, 47% cư dân Ma Cao sinh ra tại Trung Quốc đại lục, trong đó 74,1% sinh tại Quảng Đông và 15,2% sinh tại Phúc Kiến. Trong khi đó, 42,5% cư dân Ma Cao sinh ra tại Ma Cao, và những người sinh ra tại Hồng Kông, Philippines và Bồ Đào Nha lần lượt chiếm 3,7%, 2,0% và 0,3%. Tăng trưởng dân số tại Ma Cao chủ yếu là do nhập cư từ Trung Quốc đại lục và dòng người lao động hải ngoại do tỷ suất sinh tại đây ở vào hàng thấp nhất thế giới. Theo một khảo sát do CIA tiến hành, Ma Cao là quốc gia hay lãnh thổ có tuổi thọ tính từ lúc sinh trung bình là 84,36 tuổi, trong khi tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh của Ma Cao nằm ở hàng thấp nhất thế giới. Cả tiếng Trung (tiếng Quảng Đông) và tiếng Bồ Đào Nha đều là ngôn ngữ chính thức của Ma Cao. Ma Cao vẫn duy trì phương ngữ tiếng Bồ Đào Nha riêng của mình, được gọi là tiếng Bồ Đào Nha Ma Cao. Các ngôn ngữ khác như Quan thoại, tiếng Anh và tiếng Mân Nam cũng được một số cộng đồng bản địa nói. Tiếng Bồ thổ sinh Ma Cao, một ngôn ngữ Creole thường được gọi là Patuá, vẫn được vài chục người Ma Cao nói. Hầu hết người Hán tại Ma Cao chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyền thống và văn hóa riêng của họ, hầu hết gắn bó với tôn giáo truyền thống Trung Hoa, họ tin tưởng vào Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo, chúng tạo thành một khối không thể tách rời. Ma Cao có một cộng đồng Ki-tô hữu khá lớn; tín hữu Công giáo La Mã và Tin Lành lần lượt chiếm 7% và 2% dân cư. Thêm vào đó, 17% dân số theo Phật giáo Đại thừa nguyên bản. Từ khi Ma Cao có một nền kinh tế lấy du lịch làm động lực, 14,6% lực lượng lao động làm việc trong các nhà hàng và khách sạn, và 10,3% làm việc trong ngành công nghiệp đánh bạc. Với việc khai trương một số khu nghỉ dưỡng casino và đang tiến hành xây dựng các công trình lớn khác, nhiều lĩnh vực được tường trình là phải chịu cảnh thiếu lao động, và chính quyền Ma Cao đã tìm cách nhập khẩu lao động từ các khu vực lân cận. Số lao động nhập khẩu đã lên mức cao kỷ lục 98.505 vào quý 2 năm 2008, tương ứng với hơn 25% lực lượng lao động tại Ma Cao. Một số lao động bản địa đã phàn nàn về việc thiếu việc làm do làn sóng lao động giá rẻ. Một số người cũng cho rằng vấn đề lao động bất hợp pháp là nghiêm trọng. Một mối quan tâm khác là việc gia tăng bất bình đẳng về thu nhập trong khu vực. Hệ số Gini của Ma Cao, một đơn vị đo độ bất bình đẳng thu nhập phổ biến, đã tăng từ 0,43 vào năm 1998 lên 0,48 vào năm 2006. Hệ số này ở mức cao hơn các khu vực lân cận, như tại Trung Quốc đại lục (0,447), Hàn Quốc (0,316) và Singapore (0,425). == Giáo dục == Các cư dân Ma Cao được hưởng một nền tảng giáo dục miễn phí trong 15 năm, bao gồm ba năm nhà trẻ, sau đó là sáu năm giáo dục tiểu học và sáu năm giáo dục trung học. Tỷ lệ biết chữ của lãnh thổ này là 93,5%. Những người mù chữ chủ yếu là những cư dân cao tuổi; thế hệ trẻ tuổi, chẳng hạn như trong độ tuổi 15–29, có tỷ lệ biết chữ trên 99%. Hiện nay, chỉ có duy nhất một trường học tại Ma Cao sử dụng tiếng Bồ Đào Nha làm phương tiện giảng dạy. Ma Cao không sở hữu hệ thống giáo dục phổ quát của riêng mình; ngoại trừ các trường bậc cao ra, các trường học còn lại hoặc là theo hệ thống giáo dục của Anh, Trung Quốc, hoặc của Bồ Đào Nha. Hiện nay có 10 thể chế giáo dục bậc cao tại khu vực, bốn trong số chúng là thể chế công. Năm 2006, Chương trình đánh giá học sinh quốc tế, một cuộc khảo sát trên phạm vi toàn thế giới về thành tích giáo dục của học sinh 15 tuổi phối hợp với OECD, đã xếp Ma Cao đứng thứ năm và thứ sáu về khoa học và giải quyết vấn đề, tương ứng. Tuy nhiên, mặt bằng giáo dục của Ma Cao đứng ở mức thấp trong số các khu vực có thu nhập cao. Theo điều tra dân số năm 2006, trong số các cư dân Ma Cao bằng và trên 14 tuổi, chỉ 51,8% có trình độ giáo dục trung học và 12,6% có trình độ giáo dục bậc cao (cao đẳng hay đại học). Theo quy định của Điều 121 trong Chương VI của Luật Cơ bản Ma Cao, chính phủ Ma Cao sẽ tự mình xây dựng các chính sách về giáo dục, bao gồm các chính sách liên quan đến hệ thống và sự quản lý giáo dục, ngôn ngữ giảng dạy, phân bổ kinh phí, hệ thống khảo thí, công nhận học vị và hệ thống các giải thưởng học thuật để thúc đẩy phát triển giáo dục. Phù hợp với luật cơ bản, chính quyền Ma Cao sẽ dần dần thiết lập một hệ thống giáo dục nghĩa vụ. Các tổ chức cộng đồng và cá nhân có thể điều hành các công việc giáo dục trong các loại hình khác nhau theo quy định của pháp luật. == Chăm sóc sức khỏe == Người dân Ma Cao có một bệnh viện công lớn là bệnh viện Conde S. Januário (仁伯爵綜合醫院), và một bệnh viện tư lớn là bệnh viện Kính Hồ (鏡湖醫院), cả hai đều nằm trên bán đảo Ma Cao, cùng với chúng là một bệnh viện đại học mang tên Bệnh viện Khoa Đại (科大醫院) tại Lộ Đãng Thành. Bên cạnh các bệnh viện này, Ma Cao cũng có một rất nhiều các trung tâm y tế cung cấp chăm sóc sức khỏe cơ bản một cách miễn phí cho các cư dân. Ngoài ra, Đông y cũng hiện diện tại Ma Cao. Hiện nay, không có bệnh viện nào tại Ma Cao được đánh giá một cách độc lập thông qua kiểm định chăm sóc sức khỏe quốc tế. Không có trường tây y tại Ma Cao và do đó tất cả những ai muốn trở thành bác sĩ sẽ phải tiếp nhận giáo dục và lấy chứng chỉ ở nơi khác. Các y tá địa phương được đào tạo tại Viện Bách khoa Ma Cao và Cao đẳng Điều dưỡng Kính Hồ. Cục Y tế Ma Cao là đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc phối hợp hoạt động giữa các tổ chức công và tư trong lĩnh vực y tế công cộng, đảm bảo sức khỏe của các công dân thông qua các dịch vụ chuyên dụng và chăm sóc sức khỏe ban đầu, cũng như ngăn ngừa dịch bệnh và nâng cao sức khỏe. Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa bệnh tật Ma Cao đã được thành lập vào năm 2001, giám sát hoạt động của các bệnh viện, các trung tâm y tế, và trung tâm truyền máu tại Ma Cao. Thể chế này cũng quản lý cơ quan chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật ảnh hưởng đến dân cư, thiết lập nguyên tắc chỉ đạo đối với những bệnh viện và người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tư nhân, và phát hành giấy phép. == Giao thông == Các phương tiện giao thông tại Ma Cao đi bên trái, không giống với cả Trung Quốc đại lục và Bồ Đào Nha. Ma Cao có một mạng lưới giao thông công cộng phát triển tốt, kết nối bán đảo Ma Cao, Lộ Đãng Thành, Đãng Tử, Lộ Hoàn. Xe buýt và taxi là các loại hình giao thông cộng cộng chính tại Ma Cao. Hiện có ba công ty mang tên Transmac, Transportas Companhia de Macau và Reolian Public Transport Co., hoạt động dịch vụ xe buýt công cộng tại Ma Cao. Xích lô cũng hiện diện tại Ma Cao, song nó chủ yếu phục vụ cho mục đích tham quan. Nhà khai thác dịch vụ xe buýt công cộng mới nhất là Reolian Public Transport Co., công ty này đã tiến vào thị trường Ma Cao vào ngày 1 tháng 8 năm 2011. Nhà khai thác này hoạt động trên các tuyến mà Transmac và Transportas Companhia de Macau cũng đang hoạt động. Bến phà vận chuyển hành khách Ngoại Cảng cung cấp dịch vụ vận tải xuyên ranh giới cho những hành khách đi lại giữa Ma Cao và Hồng Kông, trong khi bến phà Áo Thông (Yuet Tung) tại Nội Cảng cung cấp dịch vụ cho các hành khách đi lại giữa Ma Cao và các thành phố tại Trung Quốc đại lục, bao gồm Xà Khẩu và Thâm Quyến. Ma Cao có một sân bay quốc tế hoạt động, được gọi là sân bay quốc tế Ma Cao, nằm ở cực đông của Đãng Tử và vùng nước lân cận. Sân bay này từng là một trong những trung tâm quá cảnh chính đối với các hành khách đi lại giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan, song hiện nay giữa khai khu vực này đã khai thông các đường bay trực tiếp. Sân bay là trung tâm chính của Air Macau. Năm 2006, sân bay quốc tế Ma Cao đã phục vụ khoảng 5 triệu lượt hành khách. == Văn hóa == Sự pha trộn giữa truyền thống văn hóa và tôn giáo Trung Hoa và Bồ Đào Nha trong hơn bốn thế kỷ đã biến Ma Cao thành một tập hợp độc đắc gồm các ngày nghỉ, lễ hội và sự kiện. Sự kiện lớn nhất trong năm là Macau Grand Prix vào tháng 11, khi những đường phố chính tại bán đảo Ma Cao trở thành đường đua ô tô Công thức 1 tương tự như Monaco Grand Prix. Các sự kiện thường niên khác bao gồm lễ hội Nghệ thuật Ma Cao được tổ chức vào tháng 3, thi trình diễn pháo hoa quốc tế vào tháng 9, lễ hội Âm nhạc quốc tế trong tháng 10 và/hoặc tháng 11, và Marathon quốc tế Ma Cao vào tháng 12. Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất, nó thường diễn ra vào cuối tháng một hoặc đầu tháng 2 dương lịch. Bồ Đề Viên (菩提園) tại Đãng Tử là nơi tổ chức lễ hội thần Thổ Địa vào tháng 2. Đám rước cuộc Khổ nạn của Chúa là nghi thức và hành trình Công giáo nổi tiếng, đám diễu hàng đi từ Nhà thờ Thánh Austin đến Nhà thờ chính tòa, cũng được tổ chức vào tháng 2. Ẩm thực địa phương của Ma Cao là một sự pha trộn giữa ẩm thực Quảng Đông và ẩm thực Bồ Đào Nha. Nhiều món ăn độc đáo là kết quả của những pha trộn nguyên liệu khi vợ của các thủy thủ Bồ Đào Nha cố gắng tái tạo nên những món ăn Âu. Thành phần và gia vị của nó đến từ châu Âu, Nam Mỹ, châu Phi, Ấn Độ, và Đông Nam Á, cũng như những thành phần bản địa Trung Hoa. Điểm đặc trưng là thực phẩm Ma Cao được ướp gia vị với các gia vị và hương liệu khác nhau bao gồm nghệ, nước cốt dừa, quế và cá tuyết phơi khô ướp muối, cho ra mùi thơm và vị đặc biệt. Các món ăn nổi tiếng của Ma Cao bao gồm Galinha à Portuguesa, Galinha à Africana (gà Phi), Bacalhau, tôm cay Ma Cao và cua cà ri xào. Bánh sườn cốt lết (豬扒包), sữa gừng đông (薑汁撞奶) và trứng chua cay (蛋撻) cũng rất phổ biến tại Ma Cao. Ma Cao bảo tồn được nhiều di tích lịch sử trong khu vực đô thị. Khu lịch sử Ma Cao bao gồm khoảng 25 địa điểm lịch sử, được liệt kê chính thức là một Di sản thế giới của UNESCO vào ngày 15 tháng 7 năm 2005 trong kỳ họp thứ 29 của Ủy ban Di sản Thế giới, được tổ chức tại Durban, Nam Phi. == Thể thao == Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất tại Ma Cao, và trên bình diện quốc tế, lãnh thổ này có Đội tuyển bóng đá quốc gia Ma Cao. Môn thể thao phổ biến khác tại Ma Cao là khúc côn cầu giày trượt, nó thường được người Bồ Đào Nha chơi. Ma Cao luôn tham gia vào giải vô địch khúc côn cầu giày trượt thế giới ở hạng B. Đội tuyển quốc gia của Ma Cao là đội khúc côn cầu giày trượt mạnh nhất châu Á và đã có nhiều danh hiệu vô địch khúc côn cầu giày trượt châu Á. Giải đua ô tô công thức 1 Macau Grand Prix được cho là sự kiện thể thao quốc tế quan trọng nhất tại Ma Cao. Đại hội Thể thao châu Á Trong nhà 2007 cũng được tổ chức tại đây. == Các thành phố kết nghĩa == Lisboa, Bồ Đào Nha Porto, Bồ Đào Nha Brussels, Bỉ (thỏa thuận hữu nghị) São Paulo, Brasil Đà Nẵng, Việt Nam (thỏa thuận hữu nghị) Luanda, Angola (thỏa thuận hữu nghị) Coimbra, Bồ Đào Nha Linköping, Thụy Điển == Xem thêm == Hồng Kông == Ghi chú == == Thư mục == Fung, Bong Yin (1999). Macau: A General Introduction (bằng tiếng Trung). Joint Publishing (H.K.) Co. Ltd. ISBN 962-04-1642-2. Chan, S. S. (2000). The Macau Economy. Publications Centre, University of Macau. ISBN 99937-26-03-6. Godinho, Jorge (2007). Macau business law and legal system. LexisNexis, Hong Kong. ISBN 978-962-8937-27-1. Government Information Bureau (2007). Macau Yearbook 2007. Government Information Bureau of the Macau SAR. ISBN 978-99937-56-09-5. == Liên kết ngoài == Ma Cao - sự pha trộn kỳ lạ. Wikimedia Atlas của Macau, có một số bản đồ liên quan đến Macau.
31 tháng 1.txt
Ngày 31 tháng 1 là ngày thứ 31 trong lịch Gregory. Còn 334 ngày trong năm (335 ngày trong năm nhuận). == Sự kiện == 314 – Bắt đầu giáo triều của Giáo hoàng Sylvestrô, giáo hoàng thứ 33 của Giáo hội Công giáo Rôma. 1542 – Chinh tướng Alvar Núñez Cabeza de Vaca trở thành người châu Âu đầu tiên khám phá thác Iguazu tại Nam Mỹ. 1606 – Âm mưu thuốc súng: Guy Fawkes bị hành quyết do âm mưu chống lại Quốc hội Anh và Quốc vương James I. 1856 – Nội chiến Hoa Kỳ: Robert E. Lee trở thành Tướng tư lệnh của Liên minh Miền Nam. 1928 – Lev Trotsky bị trục xuất tới Almaty, Kazakhstan. 1942 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Chiến dịch Mã Lai kết thúc với chiến thắng của Nhật Bản, quân Thịnh vương chung Anh triệt thoái tới Singapore 1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Trận Bataan bắt đầu tại Philippines giữa Đồng Minh và Nhật Bản. 1946 – Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lần đầu tiên phát hành tiền đồng, thay thế đồng bạc Đông Dương. 1958 – Nhà khoa học không gian người Mỹ James Van Allen phát hiện ra Vành đai bức xạ Van Allen. 1968 – Nauru giành được độc lập từ Úc. 1968 – Sự kiện Tết Mậu Thân: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tấn công Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn vào sáng sớm. 1977 – Tổng thống Pháp Valéry Giscard d'Estaing khánh thành Trung tâm nghệ thuật và văn hóa quốc gia Georges-Pompidou tại Paris. 1984 – Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á được thành lập với sáu thành viên là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. 2013 – Vụ nổ Torre Ejecutiva Pemex tại Torre Ejecutiva Pemex tại thành phố Mexico khiến ít nhất 33 người thiệt mạng và trên 100 người bị thương. == Sinh == 877 – Vương Kiến, quốc vương của Cao Ly, tức 14 tháng 1 năm Đinh Dậu (m. 943) 1543 – Tokugawa Ieyasu, tướng quân của Nhật Bản, tức 26 tháng 12 năm Nhâm Dần (m. 1616) 1797 – Franz Schubert, nhà soạn nhạc người Áo (m. 1828) 1820 – Eugen Ludwig Hannibal von Delitz, tướng lĩnh Phổ (m. 1888) 1841 – Paul von Collas, tướng lĩnh Phổ (m. 1910) 1868 – Theodore William Richards, nhà hóa học người Mỹ, đoạt giải Nobel (m. 1928) 1881 – Irving Langmuir, nhà hóa học người Mỹ, đoạt giải Nobel (m. 1957) 1902 – Alva Myrdal, nhà xã hội học và chính trị gia người Thụy Điển, đoạt giải Nobel (m. 1986) 1919 – Jackie Robinson, cầu thủ bóng chày người Mỹ (m. 1972) 1929 – Rudolf Mößbauer, nhà vật lý học người Đức, đoạt giải Nobel (m. 2011) 1935 – Ōe Kenzaburo, tác gia người Nhật Bản, đoạt giải Nobel 1938 – Beatrix, nữ vương của Hà Lan 1967 – Ôn Bích Hà, diễn viên người Hồng Kông 1967 – Vương Tổ Hiền, diễn viên người Đài Loan-Hồng Kông 1971 – Lee Young Ae, diễn viên người Hàn Quốc 1975 – Preity Zinta, diễn viên người Ấn Độ 1980 – Jurica Vranješ, cầu thủ bóng đá người Croatia 1981 – Justin Timberlake, ca sĩ, vũ công, diễn viên người Mỹ ('N Sync) 1984 – Vladimir Bystrov, cầu thủ bóng đá người Nga 1994 – Kenneth Zohore, cầu thủ bóng đá người Đan Mạch 1995 – Sten Olmre, vận động viên bóng rổ người Estonia == Mất == 1435 – Chu Chiêm Cơ, tức Minh Tuyên Tông hay Tuyên Đức Đế, hoàng đế của triều Minh, tức ngày Ất Hợi (3) tháng 1 năm Ất Mão (s. 1398) 1606 – Guy Fawkes, binh sĩ người Anh (s. 1570) 1729 – Jakob Roggeveen, nhà thám hiểm người Hà Lan (s. 1659) 1828 – Alexander Ypsilantis, tướng lĩnh người Hy Lạp (s. 1792) 1844 – Henri Gatien Bertrand, tướng lĩnh người Pháp (s. 1773) 1856 – Đạt-lại Lạt-ma thứ 11 (s. 1838) 1888 – Gioan Bosco, thầy tu người Ý, sáng lập dòng Salêdiêng Don Bosco (s. 1815) 1892 – Charles Spurgeon, nhà thuyết giáo và truyền giáo người Anh Quốc (s. 1834) 1933 – John Galsworthy, tác gia và nhà soạn kịch người Anh Quốc, đoạt giải Nobel (s. 1867) 1955 – John Mott, lãnh đạo YMCA người Mỹ, đoạt giải Bobel (s. 1865) 1968 – Lê Tấn Quốc, quân nhân người Việt Nam 1968 – Trương Hoàng Thanh, quân nhân người Việt Nam 1969 – Meher Baba, guru và nhà thần bí người Ấn Độ (s. 1894) 1973 – Ragnar Frisch, nhà kinh tế học người Na Uy, đoạt giải Nobel (s. 1895) 2008 – Hoàng Châu Ký, nhà văn hóa, nhà văn, nhà nghiên cứu sân khấu người Việt Nam (s. 1921) 2011 – Nguyễn Tôn Nhan, tác gia người Việt Nam (s. 1948) 2013 – Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, giám mục người Việt Nam (s. 1914) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
cecil frank powell.txt
Cecil Frank Powell (5 tháng 12 năm 1903 – 9 tháng 8 năm 1969) là một nhà vật lý Anh. Ông đã được trao giải Nobel Vật lý năm 1950 cho "Phát triển phương pháp chụp ảnh hạt nhân để nghiên cứu hạt nhân và các nghiên cứu về hạt meson thu được từ phương pháp này". Powell sinh ra ở Tonbridge, Kent, Anh. Ông là con trai của một người thợ súng địa phương và học tại một trường tiểu học địa phương trước khi được một học bổng cho các trường học Judd, Tonbridge. Sau này ông theo học Sidney Sussex College, Cambridge, tốt nghiệp vào năm 1925 ngành khoa học tự nhiên. Sau khi hoàn thành bằng cử nhân, ông làm việc tại Phòng thí nghiệm Cavendish, Cambridge, theo CTR Wilson và Lord Rutherford, tiến hành nghiên cứu các hiện tượng ngưng tụ, và đạt được bằng tiến sĩ của mình Vật lý vào năm 1927. == Tham khảo ==
thử thách cùng bước nhảy
samsung gear vr.txt
Gear VR là thiết bị thực tế ảo phát triển bởi Samsung phối hợp với Oculus VR. Samsung Galaxy Note 4 bắt buộc làm màn hình, và được gắn trong thiết bị Gear VR. Giống như Google Cardboard, Gear VR không có màn hình hiển thị. Nhưng không giống như Cardboard, Gear VR có nhiều phương pháp đầu vào và một dải băng để giữ thiết bị trên đầu người dùng. Lần đầu tiên công bố vào 3 tháng 9 năm 2014, thiết bị hoàn toàn không dây. Nó có một touchpad ở phía bên phải, một nút chỉnh âm lượng, và phím quay trở lại. == Tham khảo ==
trận gettysburg.txt
Trận Gettysburg là trận chiến đẫm máu nhất và được xem là chiến thắng lớn lao nhất của Liên bang miền Bắc trong Nội chiến Hoa Kỳ. Quân Liên minh miền Nam và quân Liên bang miền Bắc đã đánh nhau suốt 3 ngày từ ngày 1 tháng 7 đến ngày 3 tháng 7 năm 1863 ở trong và lân cận thị trấn Gettysburg, Pennsylvania. Trận này thường được xem là một bước ngoặt quan trọng hơn cả của cuộc phân tranh Nam-Bắc, mà chí ít là một bước ngoặt trên Mặt trận miền Đông, do quân miền Bắc từ sau trận thắng này giành được thế thượng phong. Tại đây, hai phe đã chiến đấu dũng cảm, và Binh đoàn Potomac của miền Bắc của thiếu tướng George G. Meade đã đánh bại Binh đoàn Bắc Virginia do tướng miền Nam Robert E. Lee chỉ huy, chấm dứt chiến dịch tấn công lên phía bắc của tướng Lee. Từ đây, Lee không thể nào tiến công lãnh thổ của Liên bang được nữa, và quân Liên minh cũng không thể nào hồi phục lại hoàn vẹn nữa. Sau thắng lớn, người miền Bắc đã cảm thấy Lee có thể bị thất trận. Tuy chỉ mới lên nhậm chức chỉ huy, Meade đã làm tốt trách nhiệm của ông trong trận thắng quan trọng này, và thực chất đại thắng ấy chính là nhờ sự thận trọng và lòng cương nghị của ông. Thảm họa Gettysburg - tệ hại hơn cả trận Antietam năm ngoái - không những đập tan ý đồ tiêu diệt quân đội miền Bắc mà cũng đồng thời là một thất bại mang tính chính trị của Lee, và nước Anh thấy bất lợi nên trận này đã hoàn toàn vỡ mộng chi viện cho miền Nam. Kể từ sau thắng lợi của Meade trong trận Gettysburg cùng với các chiến thắng đương thời của quân đội miền Bắc, phe miền Nam bắt đầu cảm thấy tác động của sự phong tỏa của miền Bắc đối với miền Nam, họ bắt đầu tuyệt vọng và bản thân Lee bị chỉ trích gay gắt do thua trận. Qua đó, chiến công này góp phần dẫn tới toàn thắng của miền Bắc trong cuộc chiến. Được xem là một thắng lợi hiếm có của quân đội miền Bắc trên Mặt trận miền Đông của cuộc chiến, trận đánh nổi danh này đã góp phần khiến cho Gettysburg trở nên "thánh địa" của chủ nghĩa yêu nước Mỹ. == Tổng quan == Sau khi thắng trận Chancellorsville tại Virginia vào tháng 05 năm 1863, tướng Lee đã kéo quân qua thung lũng Shenandoah và bắt đầu cuộc xâm lấn miền bắc lần thứ nhì - chiến dịch Gettysburg. Nhân lúc tinh thần quân đội lên cao mạnh mẽ, Lee dự định chuyển trọng tâm cuộc chiến mùa hè ra khỏi vùng Bắc Virginia đang bị chiến tranh tàn phá, và hy vọng sẽ đánh chiếm được Harrisburg, Pennsylvania hoặc thậm chí là Philadelphia để gây sức ép buộc giới chính trị gia miền Bắc nhượng bộ và ngưng chiến. Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln khi đầu cử tướng Joseph Hooker ra đánh, nhưng chỉ ba ngày trước trận đánh ông đã cho tướng Meade lên thay thế. Hai đoàn quân bất ngờ đụng độ ngày 1 tháng 7 năm 1863 tại Gettysburg, khi Lee đang gấp rút tập trung lực lượng của mình tại đó với ý định tấn công và bức hàng Binh đoàn Potomac của thiếu tướng George Meade. Dải đất khá thấp ở phía tây-bắc thị trấn ban đầu do một sư đoàn kỵ binh miền Bắc của chuẩn tướng John Buford trấn giữ, ngay sau đó có thêm hai quân đoàn bộ binh tiếp trợ nhưng vẫn không chống được hai quân đoàn lớn của miền Nam ồ ạt tiến công từ hai phía bắc và tây-bắc. Phòng tuyến xây đắp vội vàng của miền Bắc bị phá tan, quân phòng thủ phải bỏ chạy theo các lộ chính của thị trấn kéo về các ngọn đồi phía nam. Sang ngày thứ nhì, phần lớn quân đội hai bên đều đã tập hợp đầy đủ. Quân Liên bang miền Bắc lập đội hình phòng thủ như hình lưỡi câu. Chiều ngày 2 tháng 7, tướng Lee cho quân Liên minh miền Nam kéo đến đánh mạnh vào sườn bên trái của trận đồ này. Hai bên đánh nhau dữ dội tại 4 chiến địa Wheatfield, Little Round Top, Devil's Den và Peach Orchard. Ở sườn bên phải, các đòn tấn công nghi binh đã leo thang trở thành một cuộc tấn công toàn diện tại hai cứ điểm đồi Culp và đồi Cemetery. Trên khắp chiến trường, quân miền Nam cố đánh tràn sang nhưng quân miền Bắc - dù bị thiệt hại nặng nề - đánh bại được các đợt tiến công của địch. Đến tối, đoàn quân của Meade đã tập kết và vẫn hoàn toàn giữ vững được các cứ điểm quan trọng. Ngày thứ ba, 3 tháng 7, hai bên tiếp tục đánh nhau tại đồi Culp, và những cuộc chiến của kỵ binh cũng nổ ra ở phía đông và phía nam, nhưng sự kiện chính của ngày hôm đó là cuộc tấn công của Pickett, khi 12.500 quân bộ binh miền Nam tiến hành công kích vào phòng tuyến trung tâm đội hình quân miền Bắc tại Cemetery Ridge. Cuộc tấn công bị quân miền Bắc dùng súng trường và đại bác đánh tan tành, gây tổn thất vô cùng nặng nề. Một chút lính của Pickett tiến sâu vào phòng tuyến quân miền Bắc đã bị đập tan. Các binh sĩ miền Bắc khi đánh bại quân miền Nam đã tràn ngập tư tưởng rửa hận cho đại bại trong trận Fredericksburg hồi cuối năm 1862. Đợt công kích lớn cuối cùng của cuộc Nội chiến đã bị tan tác. Thua lớn rồi, lại sợ quân miền Bắc phản kích, Lee phải thu quân. Với một đội quân tả tơi và gần hết đạn, ông không còn cách nào khác phải rút về Virginia. Quân Lee chịu thêm tổn thất nặng nề nữa trong cuộc triệt binh ô nhục này. Tuy nhiên, Meade không thể phát huy lợi thế để mà triệt tiêu quân của Lee, dù ban đầu Lincoln ca ngợi đại thắng này như một niềm vinh quang của Binh đoàn Potomac. Điều này khiến Tổng chỉ huy Henry W. Halleck chỉ trích ông, cho dầu ai nấy đều tôn vinh người chiến thắng của trận Gettysburg - một thắng lợi huy hoàng. Qua nhiều thập kỷ, các nhà sử học đã tìm lời lý giải cho thất bại to lớn của Tướng Lee. Thất bại tại Gettysburg của miền Nam là một bước ngoặt lớn của chiến tranh nói riêng và của cả lịch sử Hoa Kỳ nói chung: việc Lee tập trung binh lực cho mặt trận phía Đông đã khiến mặt trận phía Tây bị bỏ lửng và đó là cơ hội tốt cho quân miền Bắc dưới sự chỉ huy của U. S. Grant tấn công và hạ gục Vicksburg sau nhiều tháng bao vây. Lee không chỉ thất bại trong chiến dịch tấn công miền Bắc mà còn để mất tuyến liên lạc quan trọng dọc theo sông Missisipi; kể từ đó miền Nam bị cắt rời làm hai nửa và quân miền Bắc có một bàn đạp quan trọng trong việc tiến vào hậu phương của miền Nam. Chiến bại ở trận Gettysburg cũng phá vỡ huyền thoại về sự bách chiến bách thắng của Lee, trong khi Vicksburg thất thủ đúng một ngày sau khi Liên bang đại thắng tại Gettysburg. Không những Thiếu tướng Meade mà các chiến sĩ dưới quyền ông cũng thể hiện sức chiến đấu mãnh liệt trong trận thắng quan trọng này. Điều đó kết hợp với lợi thế về địa hình của phe Liên bang và sự hiếu thắng của Lee đã dẫn tới đại thắng ấy. Các binh sĩ Liên bang giờ đây hừng hực khí thế, vì họ đã tin chắc rằng họ có thể đánh thắng được viên tướng giỏi nhất của Liên minh. Thực chất, thảm họa này thể hiện Tướng Lee ở thời điểm tệ hại nhất của ông và tiêu hủy cái huyền thoại về đoàn binh bách thắng của ông. Chỉ trong 3 ngày tử thần, thương vong của cả hai bên đã lên cao đến mức khoảng 46.000 đến 51.000 người. Trong Nội chiến Hoa Kỳ, nếu trận Antietam là trận đánh có số tử vong trong một ngày cao nhất (khoảng 23 nghìn lính bị chết hay bị thương) thì trận Gettysburg cũng không kém, với khoảng 2 vạn binh lính tử trận hay bị thương trong vài giờ chiều ngày thứ nhì của trận đánh. Người ta ước lượng trong 3 chiến địa Wheatfield, Little Round Top, và Devil's Den, cứ mỗi giây đồng hồ là có hơn một người bị chết hay bị thương. Sư đoàn của Pickett là Sư đoàn miền Nam duy nhất chịu thương vong trên 50%, nhưng về Lữ đoàn thì cả hai phe đều có những Lữ đoàn tổn thất lên đến tầm cỡ ấy. Quân miền Bắc chiến thắng dẫu chịu tổn thất cao, nhưng tổn hại của quân miền Nam còn thảm khốc và cao hơn, và thậm chí có người còn xem trận Gettysburg là một thắng lợi quyết định của miền Bắc (ít ra cũng là một bước ngoặt quyết định hơn chiến thắng Antietam trước đó). Quân miền Nam thua to lại kém nhân lực hơn nêu không thể bù đắp cho thiệt hại to lớn của mình, và nạn đào ngũ bùng phát cực lớn sau đại bại. Dẫu Lincoln thất vọng vì quân miền Nam đã triệt binh về an toàn, hai đại thắng của quân miền Bắc tại trận Gettysburg và Vicksburg - một thắng lợi bước ngoặt xoay chuyển thế trận hướng Đông và một thắng lợi quyết định cả hướng Tây - đã làm tiêu tan hoàn toàn hy vọng về một thắng lợi của quân miền Nam, khiến cho người miền Nam sẽ phải lùi dần về thủ đô Richmond, mà ít ra miền Nam cũng cảm thấy phe miền Bắc trên đà thắng lợi không thể lùi bước nếu so đo nhân lực, cho tới khi miền Bắc toàn thắng vào năm 1865. Bản thân Lincoln cũng nhìn nhận sự cống hiến vĩ đại của Meade, trong khi Lee coi mình có trách nhiệm với thảm họa này. Không những là trận chiến lớn nhất trên đất Mỹ, trận đánh Gettysburg trở thành một trong những trận chiến tiêu biểu nhất của thế kỷ thứ XIX. Kỳ diệu thay, quân Liên bang đại thắng tại trận Gettysburg ngay trước ngày Độc lập (4 tháng 7), góp phần lớn cho ngày hôm đó được coi là ngày Độc lập huy hoàng nhất của Mỹ Quốc hồi ấy. Trong khi tháng 7 năm 1863 trở thành mốc quan trọng của cuộc chiến, vào tháng 11 năm 1863, Abraham Lincoln đã đọc bài diễn văn Gettysburg lịch sử trong buổi lễ khánh thành Nghĩa trang Quốc gia Gettysburg để khẳng định lại mục đích của chiến tranh, hứa hẹn ngày thống nhất qua chiến thắng Gettysburg vẻ vang và tưởng niệm những chiến sĩ đã ngã xuống trong trận đánh kinh hoàng nhất của cuộc Nội chiến. == Bối cảnh và cuộc hành quân vào trận == Trong giai đoạn này, ở Mặt trận miền Tây, quân miền Bắc đang thắng thế, với những chiến công hiển hách của Thiếu tướng Ulysses S. Grant. Nhưng, ở Mặt trận miền Đông, ngay sau thắng lợi to lớn của Binh đoàn Bắc Virginia trước Binh đoàn Potomac trong trận Chancellorsville (30 tháng 4 - 6 tháng 5 năm 1863) cùng với những chiến thắng của quân miền Nam ở vùng thung lũng Shenandoah Robert E. Lee đã quyết định mở cuộc tấn công xâm chiếm miền Bắc lần thứ hai (lần thứ nhất là Chiến dịch Maryland vào tháng 9 năm 1862, kết thúc không thành công bằng trận Antietam đẫm máu). Động thái này sẽ làm đảo lộn các kế hoạch của phe miền Bắc dành cho chiến cuộc mùa hè và có thể giúp giảm áp lực cho lực lượng đồn trú của phe miền Nam đang bị bao vây tại Vicksburg, Mississippi. Cuộc tiến công còn cho phép quân miền Nam có thể sống nhờ vào các đồn điền trù phú ở miền Bắc đồng thời giúp cho bang Virginia - vốn đang bị chiến tranh tàn phá - một thời gian nghỉ ngơi rất cần thiết. Ngoài ra, đội quân 72.000 người của Lee sẽ còn có thể đe dọa tới các thành phố Philadelphia, Baltimore hay Washington, và nhiều khả năng sẽ giúp đẩy mạnh phong trào đòi hòa bình ở miền Bắc. Khi ấy, nhân dân miền Bắc sẽ bị suy sụp tinh thần và thế là cuộc chiến kết thúc với phần thắng thuộc về miền Nam. Ngoài ra, Lee cũng cho rằng, nếu như ông đạt được một thắng lợi vang dội trên đất Bắc, thì hẳn là hai nước Anh và Pháp sẽ đứng về phía ông. Thế là, vào ngày 3 tháng 6 năm 1863, từ Fredericksburg, Virginia, đoàn quân của Lee bắt đầu chuyển về phương Bắc. Để dễ chỉ huy hơn, ông đã tái tổ chức hai Quân đoàn đông đảo của ông thành ba Binh đoàn mới. Trong đó, Trung tướng James Longstreet vẫn là Tư lệnh của Quân đoàn thứ nhất. Quân đoàn cũ của vị tướng đã mất Thomas J. "Stonewall" Jackson được chia thành hai, bao gồm Quân đoàn thứ hai do Trung tướng Richard S. Ewell thống lĩnh và Quân đoàn thứ ba do Trung tướng A.P. Hill chỉ huy. Thiếu tướng J.E.B. Stuart trở thành chỉ huy của Sư đoàn Kỵ binh. Trận giao tranh lớn đầu tiên trong Chiến dịch này diễn ra vào ngày 6 tháng 6 năm 1863 giữa lực lượng Kỵ binh của hai phe tại Brandy Station gần Culpeper, Virginia. 9.500 quân Kỵ binh miền Nam dưới quyền Stuart bị hai Sư đoàn Kỵ binh (8 nghìn chiến sĩ) kết hợp với 3 nghìn quân Bộ binh miền Bắc của Thiếu tướng Alfred Pleasonton đánh úp, thế nhưng Stuart cuối cùng đã chặn được đợt công kích của quân miền Bắc. Trận bất phân thắng bại này, là cuộc giao tranh chủ yếu bằng Kỵ binh lớn nhất trong cuộc Nội chiến, chính là lần đầu tiên mà những người lính Kỵ binh của Liên bang tỏ ra chả kém quân Kỵ binh của đối phương. Vào giữa tháng 6 năm 1863, Binh đoàn Bắc Virginia đã có thế để vượt qua sông Potomac và thẳng tiến vào Maryland. Sau khi đánh bại các lực lượng đồn binh của Liên bang trong trận Winchester và Martinsburg, Quân đoàn thứ hai của Ewell bắt đầu vượt qua con sông này vào ngày 15 tháng 6 năm 1863. Quân đoàn của Hill và Longstreet theo bước họ trong hai ngày 24 và 25 tháng 6 năm 1863, quân miền Bắc dưới quyền Tướng Hooker bèn truy sát và đặt mình ở giữa thủ đô của Liên bang và quân của Lee. Các đoàn quân miền Bắc bắt đầu vượt sông Potomac từ ngày 25 cho tới ngày 27 tháng 6 năm 1863. Lee ra lệnh gắt gao cho quân của mình phải hạn chế tối thiểu mọi hành vi gây ấn tượng xấu cho nhân dân miền Bắc. Binh lính Liên bang thường không ăn cướp triệt để lương thực, ngựa kéo và mọi nguồn tiếp tế khác, mặc dầu các Sĩ quan hậu cần không thành công lắm trong việc hoàn trả cho các nông dân và thương nhân miền Bắc bằng đồng tiền của Liên minh. Nhiều thị trấn, đặc biệt là York, Pennsylvania, bị quân miền Nam đe dọa hủy diệt và buộc phải nộp các khoản tiền thay cho tiếp tế. Trong cuộc xâm chiếm này, quân đội miền Nam đã bắt giữ chừng 40 người Mỹ gốc Phi ở phía Bắc, trong đó một số người là những người nô lệ vừa trốn thoát nhưng phần lớn họ là dân tự do. Họ bị đưa về phía Nam và trở thành nô lệ dưới sự giám sát chặt chẽ. Vào ngày 26 tháng 7 năm 1863, các tốp lính của Sư đoàn do Thiếu tướng Jubal Early chỉ huy (nằm trong Quân đoàn của Ewell) chiếm đóng thị trấn Gettysburg sau khi đánh lui đội dân binh vừa được thành lập của Pennsylvania trong một loạt các trận giao tranh lẻ tẻ. Early bắt nhân dân khu vực này phải "cống nạp" cho nhưng không thu thập được nguồn tiếp tế này thật đấng kể. Binh lính đốt phá vài cái toa xe đường sắt và một chiếc cầu mái che, và hủy diệt các đường hỏa xa và đường dây điện thoại gần đó. Sáng ngày hôm sau, Early lên đường tiến tới Hạt York cận kề. Khi ấy, trong một bước tiến gây tranh cãi, Lee xuống lệnh cho Jeb Stuart nắm giữ một số lượng lính Kỵ binh của toàn quân và tiến binh quanh sườn phía Đông của Quân đội phe Liên bang. Các quân lệnh của Lee mang lại cho Stuart rất nhiều quyền hạn, và cả hai vị tướng lĩnh đều bị chỉ trích do sự vắng mặt quá lâu của lực lượng Kỵ binh dưới quyền Stuart, cũng như không thể giao cho các chiến sĩ Kỵ binh một vai trò tích cực hơn trong quân đội. Stuart và ba Lư đoàn tinh nhuệ nhất của ông ta đã vắng mặt khỏi Quân đội Liên minh trong giai đoạn quyết định của cuộc tiến quân về Gettysburg - nơi định mệnh cho cuộc Bắc tiến của ông - và hai ngày đầu của trận đánh. Vào ngày 29 tháng 6 năm 1863, Đại tướng Lee xuất binh theo đường tiến hình mái vòm, từ Chambersburg (28 dặm Anh (45 cây số) về hướng Tây Bắc của Gettysburg) cho đến Carlisle (30 dặm (48 cây số) về phía Bắc của Gettysburg) rồi tới gần Harrisburg và Wrightsville trên dòng sông Susquehanna. Trong một cuộc tranh cãi về vấn đề chia quân ra bố phòng đồn bót tại Harpers Ferry, Hooker xin thôi việc, thế rồi Tổng thống Abraham Lincoln và Tổng chỉ huy Henry W. Halleck - vốn đang tìm lý do để cách chức ông - liền phê chuẩn ngay. Vào sáng ngày 28 tháng 6 năm 1863, họ cử Thiếu tướng George Gordon Meade, khi ấy là vị Tư lệnh của Quân đoàn V, lên thay chức Hooker. Vị tân chỉ huy vốn là người đã khảo cứu về sách lược của Lee từ lâu, và do đó, xem ra ông có khả năng để mà đối đầu với Lee trong cuộc chiến đấu này. Vào ngày 29 tháng 6, khi Lee hay tin rằng Binh đoàn Potomac đã vượt qua sông Potomac, ông ban lệnh cho các binh sĩ rập kết xung quanh Cashtown, nằm ở chân phía Đông của núi South Mountain và cách Gettysburg 8 dặm Anh (13 cây số) về hướng Tây. Vào ngày 30 tháng 6 năm 1863, trong khi một phần của Quân đoàn dưới quyền Hill hãy còn đóng quân tại Cashtown, một trong các Lữ đoàn của Hill, đó là Lữ đoàn Bắc Carolinia dưới quyền Chuẩn tướng J. Johnston Pettigrew, lại cả gan kéo về Gettysburg. Trong Hồi ký của ông, Thiếu tướng Henry Heth, vị Sư đoàn trưởng của Pettigrew, tuyên bố rằng ông đã ra lệnh cho Pettigrew đi tìm nguồn tiếp tế tại thị trấn này—nhất là giày cho quân sĩ. Tác giả Eicher không đồng tình với nguồn tin này, dựa theo đợt tiến quân của Early vào Gettysburg trước đó, nhưng nhiều nhà sử học khác cho là đúng. Khi các chiến sĩ của Pettigrew tiến tới Gettysburg vào ngày 30 tháng 6 năm 1863, họ phát hiện ra đội Kỵ binh Liên bang dưới sự chỉ huy của Chuẩn tướng John Buford đã tiến vào hướng Nam của thị trấn, và Pettigrew đã quay trở lại Cashtown mà không hề phải đụng độ với quân Kỵ binh của Buford. Khi Pettigrew cấp báo với Hill và Heth về những gì mà ông đã nhìn thấy, lại chẳng có vị tướng nào thèm tin là có một lực lượng chính quy của Liên bang nằm trong hoặc là ngoài thị trấn, mà chẳng qua chỉ là đội dân quân Pennsylvania. Bất chấp quân lệnh của Đại tướng Lee không cho đánh một trận lớn với quân Liên bang chừng nào mà toàn quân của ông hãy còn chưa tập trung, Hill quyết tâm tổ chức một cuộc trinh thám do quân sĩ thực hiện trong buổi sáng ngày hôm sau để xem xét tầm cỡ và thực lực của quân lực Liên bang ở mặt trận của ông. Lúc khoảng 5 giờ sáng vào ngày Thứ Tư 1 tháng 7 năm 1863, Hai Lữ đoàn của Sư đoàn dưới quyền Heth kéo rốc về Gettysburg. Dần dần, những sự kiện diễn ra sau đó sẽ đưa tháng 7 năm 1863 trở nên một mốc quan trọng của cơn chiến tranh Nam-Bắc ở nước Mỹ. == Ngày đầu tiên của trận đánh == Buford cho rằng quân Liên minh sẽ hành binh về Gettysburg từ hướng Tây vào buổi sáng ngày 1 tháng 7 năm 1863, Tướng Buford tổ chức phòng ngự tại ba dải đất hẹp về phía Tây của thị trấn: đó là Dải Herr, Dải McPhersone, và Dải Seminary. Những dải đất này là địa hình thích hợp cho một cuộc cầm chân của Sư đoàn Kỵ binh yếu ớt của ông trước sức tấn công của lực lượng Bộ binh Liên minh hùng mạnh, có nghĩa là bỏ ra thời gian để chờ đợi sự tiếp viện của lực lượng Bộ binh Liên bang, để rồi quân Bộ binh Liên bang sẽ chiếm cứ các cứ điểm vững mạnh ở hướng Nam thị trấn tại đồi Cemetery, dải Cemetery, và đồi Culp. Buford hiểu rằng nếu như quân lực Liên minh mà chiếm lĩnh được các cao điểm này, quân lực của Meade sẽ phải chật vật trong việc đánh đuổi kẻ địch. Sư đoàn của Heth tiến lên cùng với hai Lữ đoàn, do các Chuẩn tướng James J. Archer và Joseph R. Davis. Bằng những đội hình hàng dọc, họ Đông tiến xuyên suốt Đường cái Chambersburg. Cách thị trấn này khoảng ba dặm về hướng Tây (5 cây số), vào lúc 7:30 giờ sáng, vào ngày 1 tháng 7, hai Lữ đoàn vấp phải sự kháng cự yếu ớt từ các chiến sĩ kỵ tiêu của đội Kỵ binh Liên bang, và thành lập trận tiền. Tương truyền, người lính Liên bang đầu tiên nổ súng mở màn trận đánh này là Trung tá Marcellus Jones. Vào năm 1886, Trung tá Jones quay lại bãi chiến địa Gettysburg để dựng nên bia kỷ niệm tại chính nơi mà ông đã bắn lên tiếng súng đầu tiên của trận chiến Gettysburg. Trận đánh kinh hoàng tại Gettysburg như thế là bất thình lình bùng nổ, cũng giống như trận Eylau đẫm máu vào năm 1807 buổi các cuộc chiến tranh của Napoléon ở châu Âu. Cuối cùng, quân lính của Heth đã tiến sát đến các chiến sĩ rời rạc trong Lữ đoàn Kỵ binh miền Bắc dưới quyền cỉa Đại tá William Gamble - người đã ra sức kháng trả mãnh liệt và tiến hành các chiến thuật đánh chận từ đằng sau các hàng rào phòng thủ bằng những làn đàn từ các khẩu súng cacbin nạp ở khóa nòng. Thế mà, vào lúc 10:20 sáng, quân Liên minh đã đẩy quân Kỵ binh của Liên bang về hướng Nam cho tới dải McPherson, khi mà đội tiền binh của Quân đoàn I (dưới quyền Thiếu tướng John F. Reynolds) cuối cùng cũng đã kéo tới. Ở hướng Bắc của Đường cái Chambersburg, quân Liên minh do Davis chỉ huy gặt hái thắng lợi ban đầu khi giao chiến với Lữ đoàn của Chuẩn tướng Lysander Cutler, nhưng bị đập cho thất bại thảm hại trong một trạn giao chiến xung quanh nền của một nhánh đường sắt chia hoàn thiện ở cao điểm. Ở hướng Bắc của Đường cái, Lữ đoàn miền Nam của Archer tiến công xuyên qua đống gỗ Herbst (còn gọi là đống gỗ McPherson). Lữ đoàn Sắt (Iron Brigade) của quân Miền Bắc dưới quyền của Chuẩn tướng Solomon Meredith giành được chiến thắng mở đầu trong trận giao chiến với Archer, mang về chừng vài trăm tù binh và trong đó có cả Archer. Ngay từ những giờ phút đầu tiên của cuộc giao chiến, Tướng Reynolds trúng đạn và ngã xuống hy sinh khi ông đang chỉ đạo cho những người lính và đội Pháo binh lập các cứ điểm chỉ về hướng Đông của đống gỗ Herbst. Tác giả Shelby Foote ghi nhận rằng phe Liên bang miền Bắc đã mất đi một người được thừa nhận rộng rãi là "vị tướng xuất sắc nhất trong quân đội." Thiếu tướng Abner Doubleday lên thay ông mà làm chỉ huy. Giao tranh trong khu vực đường cái Chambersburg kéo dài cho tới khoảng 12:30 giờ trưa. Trong khoảng 2:30 giờ chiều, hai bên lại đánh nhau tiếp ở đây, khi toàn bộ Sư đoàn Heth lao vào tác chiến (khi ấy các Lữ đoàn của Pettigrew và Đại tá John M. Brockenbrough cũng tham chiến luôn). Sau khi Lữ đoàn Bắc Carolina dưới quyền Pettigrew xông pha vào trận tuyến, họ đánh tạt sườn Trung đoàn Indiana số 19 và đánh lùi bước tiến công của Lữ đoàn Sắt. Trung đoàn Bắc Carolina số 26 - là Trung đoàn hùng hậu nhất trong quân đội miền Nam với 839 quân lính - bị tổn thất rất nặng nề, khiến cho họ chỉ còn có khoảng 212 binh sĩ để giao tranh trong ngày đầu. Cho đến cuối trận đánh ba ngày ở Gettysburg, họ chỉ còn mỗi 152 tàn binh - đây là tỷ lệ tổn thất cao nhất trong một trận đánh đối với bất kỳ một Trung đoàn nào của miền Bắc hoặc là miền Nam. Lữ đoàn Sắt bị đánh lui một cách chậm chạp khỏi đống gỗ Herbst mà về dải Seminary. Hill ra lệnh cho Thiếu tướng William Dorsey Pender mang Sư đoàn của mình vào ứng chiến, và Quân đoàn I của phe Liên bang đã bị đánh đuổi về sân của Trường dòng thần học Luther và đường phố Gettysburg. Khi hai bên giao tranh tại hướng Tây, hai Sư đoàn của Quân đoàn thứ hai dưới quyền Ewell, đã Tây tiến về phía Cashtown theo đúng như quân lệnh của Lee mà theo đó quân đội miền Nam phải tập kết tại đó, rồi lại chuyển về hướng Nam trên các đoạn đường Carlisle và Harrisburg mà tiến về Gettysburg, trong khi Quân đoàn XI (do Thiếu tướng Oliver O. Howard chỉ huy) kéo ồ ạt về hướng Bắc trên dải Baltimore và đoạn đường Taneytown. Cho đến đầu chiếm ngày hôm ấy, tuyến quân Liên bang lan tràn theo hình bán nguyệt về hướng Tây, Bắc và Đông Bắc Gettysburg. Tuy nhiên, Quân đội Liên bang lại không có đầy đủ binh sĩ; Cutler, người được triển khai về hướng Bắc của dải Chambersburg Pike, đã để hở cánh phải của quân ông. Sư đoàn bên cực tảo của Quân đoàn XI chả thể nào triển khai để củng cố tuyến quân trong thời gian đó, thế rồi Doubleday đành phải tung các Lữ đoàn Dự bị vào để tuyến quân của ông có thể được vững chắc. Khoảng 2 giờ chiều ngày hôm ấy, các Sư đoàn thuộc Quân đoàn thứ hai của phe Liên minh hai Thiếu tướng Robert E. Rodes và Jubal Early cầm đầu đã công kích và đánh tạt sườn các cứ điểm của hai Quân đoàn I và XI của phe Liên bang ở hướng Bắc và cả hướng Tây Bắc của thị trấn. Các Lữ đoàn phe Liên minh của Đại tá Edward A. O'Neal và Chuẩn tướng Alfred Iverson bị hứng chịu tổn hại nặng nề khi công kích Sư đoàn của Chuẩn tướng John C. Robinson (thuộc Quân đoàn I) tại hướng Nam đồi Sồi (Oak Hill). Khi phòng tuyến của quân miền Bắc đổ vỡ theo hướng Bắc và hướng Tây của thị trấn, Tướng Howard ra lệnh cho quân sĩ triệt thoái về cao điểm Cemetery Hill ở phía Nam thị trấn - nơi được gia cố bởi Sư đoàn của Tướng Adolph von Steinwehr. Thiếu tướng Winfield S. Hancock được Meade phái đến sau khi hay tin Tướng Reynolds hy sinh, và nắm giữ quyền chỉ huy trận địa. Hancock, vị Tư lệnh của Quân đoàn II và cũng là bộ tướng được Meade tin dùng nhất, đã quyết định vai trò của Gettysburg như nơi chiến địa cho một trận đánh lớn sau khi nắm binh quyền. Ngày đầu tiên của trận đánh Gettysburg, với tầm hệ trọng hơn hẳn cho đơn thuần là sự mở màn cho hai ngày đẫm máu sau đó, đứng hàng 23 trong số những trận đánh lớn nhất của cuộc chiến dựa theo quân số tham chiến. Khoảng 1/4 quân lực của Meade (22 nghìn chiến sĩ) và một phần ba quân lực của Lee (27 nghìn sĩ tốt) đã giao tranh với nhau. == Ngày thứ hai của trận đánh == === Các kế hoạch và cuộc hành quân vào trận === Xuyên suốt đêm ngày 1 tháng 7 và buổi sáng ngày 2 tháng 7 năm 1863, phần lớn quân Bộ binh còn lại của cả hai đoàn quân tiến vào trận địa, trong đó có các Quân đoàn II, III, V, VI, và XII. Sư đoàn thứ ba của Longstreet, do Thiếu tướng George Pickett cầm đầu, đã xuất binh từ Chambersburg đầu buổi sáng ngày 2 tháng 7 năm ấy; họ không tới kịp cho đến cuối ngày 2 tháng 7. === Tấn công sườn trái quân miền Bắc === === Tấn công sườn phải quân miền Bắc === == Ngày thứ ba của trận đánh == == Kết quả == === Thương vong === === Quân miền Nam rút lui === === Phản ứng của miền Bắc trước tin thắng trận === Tin tức về chiến thắng của phe Liên bang được đăng lên rầm rộ trên toàn miền Bắc. Trong dòng đầu của báo The Philadelphia Inquirer có lời tuyên bố "THẮNG RỒI ! WATERLOO ĐÃ BỊ KHUẤT BÓNG !" (VICTORY! WATERLOO ECLIPSED!), nhà viết nhật ký ở New York là George Templeton Strong có ghi nhận: Tuy nhiên, sự nồng nhiệt của phe Liên bang sớm tan rã do công chúng nhận ra rằng quân của Lee đã không bị tiêu diệt và chiến tranh sẽ còn tiếp diễn. Lincoln phàn nàn với Bộ trưởng Gideon Welles rằng "Quân ta đang nắm giữ cuộc chiến trong chỗ rỗng của bàn tay họ và họ sẽ không thể nào che khuất nó!" Chuẩn tướng Alexander S. Webb viết thư cha ông vào ngày 17 tháng 7 năm ấy, kể rằng các nhà chính trị ở Washington như "Chase, Seward và những người khác," không bằng lòng với Meade, "báo cho con rằng Lee thực sự đã thắng trận này!" === Tác động đến miền Nam === === Diễn văn Gettysburg === == Đánh giá lịch sử == === Chiến thắng quyết định? === Bản chất của chiến thắng Gettsyburg đã trở thanh đề tài tranh cãi qua nhiều năm. Tuy không được người đương thời coi là một thắng lợi hoàn toàn nổi bật, nhất là do cuộc chiến vẫn tiếp diễn thêm gần 2 năm nữa, người đời sau coi trận này là một "bước ngoặt", thường là đi đôi với sự thất thủ của Vicksburg ngày hôm sau (ví dụ, nhà sử học James M. Mc Pherson coi hai trận này là một trong ba bước ngoặt riêng biệt của chiến tranh, cùng với trận Antietam năm 1862 và sự kiện Lincoln tái đắc cử Tổng thống năm 1864). Nhìn nhận này dựa theo sự nhận thức muộn là sau trận Gettysburg, quân của Lee không thể tổ chức một cuộc tấn công chiến lược nào nữa;quân ông chỉ phản ứng lại những đợt tiến công dồn dập của Ulysses S. Grant trong các năm 1864 - 1865—và dựa trên lối suy đoán của các tác giả viết về "Chính nghĩa đã mất" là một thắng lợi của quân miền Nam ở Gettysburg có thể sẽ chấm dứt cuộc chiến. Theo cuốn America in Revolt During the 1960s and 1970s, tầm vô cùng trọng đại của hai trận Antietam và Gettysburg không chỉ là về mặt quân sự. Trong sách The Patterns of War Since the Eighteenth Century, tác giả Larry H. Addington viết rằng trận Gettysburg - cũng giống như trận Antietam khi trước - kết thúc bế tắc nhưng lại là một thắng lợi chiến lược của phe Liên bang, với ảnh hưởng lâu dài. Cũng theo Addington, thất bại ở Gettysburg đánh dấu việc bất thành của Lee trong việc tìm kiếm một thắng lợi kiểu Napoléon I mang tầm trọng đại, và dù cho Lee hãy còn có thể đẩy lui các đợt công kích của quân miền Bắc vào Virginia vào cuối năm 1863, Binh đoàn Bắc Virginia không còn có khả năng tổ chức một cuộc tấn công quyết định nữa. Trong khi đó, cuốn United States History to 1877 thì cho rằng sau thắng lợi ở Gettysburg của Liên bang - đúng vào cao điểm của mọi hy vọng của Liên minh - chiến thắng của Liên bang chỉ còn là vấn đề thời gian. Một quan điểm thông dụng trong thời gian gần đây coi trận Gettysburg là một thắng lợi quyết định của Liên bang, nhưng thuật ngữ này không được chính xác. Trong sách Encyclopedia of the American Presidency, chiến thắng Gettysburg được xem là một thắng lợi định đoạt và là một trong những sự kiện quyết định nhất trong cuộc chiến. === Lee và Meade === == Kỷ niệm trên bưu phí và tiền tệ Hoa Kỳ == == Trong văn hóa đại chúng == Trận Gettysburg được mô tả trong phim Gettysburg (1993), dựa trên tiểu thuyết The Killer Angels (1974) của Michael Shaara. Bộ phim và tiểu thuyết đều chủ yếu đề cập đến các hoạt động của Joshua Lawrence Chamberlain, John Buford, Robert E. Lee, và James Longstreet trong trận đánh. Ngày đầu tiên thì chú trọng đến cuộc phòng vệ của Kỵ binh dưới quyền Buford, ngày thứ hai thì cuộc phòng ngự của Chamberlain tại Little Round Top, và ngày thứ ba thì cuộc tấn công của Pickett. == Chú thích == == Thư mục == Bearss, Edwin C. Fields of Honor: Pivotal Battles of the Civil War. Washington, DC: National Geographic Society, 2006. ISBN 0-7922-7568-3. Busey, John W., and David G. Martin. Regimental Strengths and Losses at Gettysburg, 4th ed. Hightstown, NJ: Longstreet House, 2005. ISBN 0-944413-67-6. Carmichael, Peter S., ed. Audacity Personified: The Generalship of Robert E. Lee. Baton Rouge: Louisiana State University Press, 2004. ISBN 0-8071-2929-1. Catton, Bruce. Glory Road. Garden City, NY: Doubleday and Company, 1952. ISBN 0-385-04167-5. Clark, Champ, and the Editors of Time-Life Books. Gettysburg: The Confederate High Tide. Alexandria, VA: Time-Life Books, 1985. ISBN 0-8094-4758-4. Coddington, Edwin B. The Gettysburg Campaign; a study in command. New York: Scribner's, 1968. ISBN 0-684-84569-5. Donald, David Herbert. Lincoln. New York: Simon & Schuster, 1995. ISBN 0-684-80846-3. Eicher, David J. The Longest Night: A Military History of the Civil War. New York: Simon & Schuster, 2001. ISBN 0-684-84944-5. Esposito, Vincent J. West Point Atlas of American Wars. New York: Frederick A. Praeger, 1959. OCLC 5890637. The collection of maps (without explanatory text) is available online at the West Point website. Foote, Shelby. The Civil War: A Narrative. Vol. 2, Fredericksburg to Meridian. New York: Random House, 1958. ISBN 0-394-49517-9. Fuller, Maj. Gen. J. F. C. Grant and Lee, A Study in Personality and Generalship. Bloomington: Indiana University Press, 1957. ISBN 0-253-13400-5. Gallagher, Gary W. Lee and His Army in Confederate History. Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2001. ISBN 978-0-8078-5769-6. Gallagher, Gary W. Lee and His Generals in War and Memory. Baton Rouge: Louisiana State University Press, 1998. ISBN 0-8071-2958-5. Glatthaar, Joseph T. General Lee's Army: From Victory to Collapse. New York: Free Press, 2008. ISBN 978-0-684-82787-2. Harman, Troy D. Lee's Real Plan at Gettysburg. Mechanicsburg, PA: Stackpole Books, 2003. ISBN 0-8117-0054-2. Hattaway, Herman, and Archer Jones. How the North Won: A Military History of the Civil War. Urbana: University of Illinois Press, 1983. ISBN 0-252-00918-5. Longacre, Edward G. The Cavalry at Gettysburg. Lincoln: University of Nebraska Press, 1986. ISBN 0-8032-7941-8. McPherson, James M. Battle Cry of Freedom: The Civil War Era. Oxford History of the United States. New York: Oxford University Press, 1988. ISBN 0-19-503863-0. Martin, David G. Gettysburg July 1. rev. ed. Conshohocken, PA: Combined Publishing, 1996. ISBN 0-938289-81-0. Nye, Wilbur S. Here Come the Rebels! Dayton, OH: Morningside House, 1984. ISBN 0-89029-080-6. First published in 1965 by Louisiana State University Press. Pfanz, Harry W. Gettysburg – The First Day. Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2001. ISBN 0-8078-2624-3. Pfanz, Harry W. Gettysburg – The Second Day. Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1987. ISBN 0-8078-1749-X. Pfanz, Harry W. Gettysburg: Culp's Hill and Cemetery Hill. Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1993. ISBN 0-8078-2118-7. Rawley, James A. Turning Points of the Civil War. Lincoln: University of Nebraska Press, 1966. ISBN 0-8032-8935-9. Sauers, Richard A. "Battle of Gettysburg." In Encyclopedia of the American Civil War: A Political, Social, and Military History, edited by David S. Heidler and Jeanne T. Heidler. New York: W. W. Norton & Company, 2000. ISBN 0-393-04758-X. Sears, Stephen W. Gettysburg. Boston: Houghton Mifflin, 2003. ISBN 0-395-86761-4. Symonds, Craig L. American Heritage History of the Battle of Gettysburg. New York: HarperCollins, 2001. ISBN 0-06-019474-X. Tagg, Larry. The Generals of Gettysburg. Campbell, CA: Savas Publishing, 1998. ISBN 1-882810-30-9. Trudeau, Noah Andre. Gettysburg: A Testing of Courage. New York: HarperCollins, 2002. ISBN 0-06-019363-8. Tucker, Glenn. High Tide at Gettysburg. Dayton, OH: Morningside House, 1983. ISBN 978-0-914427-82-7. First published 1958 by Bobbs-Merrill Co. Wert, Jeffry D. Gettysburg: Day Three. New York: Simon & Schuster, 2001. ISBN 0-684-85914-9. White, Ronald C., Jr. The Eloquent President: A Portrait of Lincoln Through His Words. New York: Random House, 2005. ISBN 1-4000-6119-9. Wittenberg, Eric J., J. David Petruzzi, and Michael F. Nugent. One Continuous Fight: The Retreat from Gettysburg and the Pursuit of Lee's Army of Northern Virginia, July 4–14, 1863. New York: Savas Beatie, 2008. ISBN 978-1-932714-43-2. Carl Smith, Adam Hook, Gettysburg 1863: high tide of the Confederacy, Osprey Publishing, 15-01-1998. ISBN 1855323362. Woodworth, Steven E. Beneath a Northern Sky: A Short History of the Gettysburg Campaign. Wilmington, DE: SR Books (scholarly Resources, Inc.), 2003. ISBN 0-8420-2933-8. National Park Service battle description == Đọc thêm == Francis M. Wafer, Cheryl A. Wells, A surgeon in the Army of the Potomac, McGill-Queen's Press - MQUP, 15-04-2008. ISBN 0773533818. Allen C. Guelzo, Abraham Lincoln: redeemer President, Wm. B. Eerdmans Publishing, 2003. ISBN 0802842933. Bachelder, John B. The Bachelder Papers: Gettysburg in Their Own Words. Edited by David L. Ladd and Audrey J. Ladd. 3 vols. Dayton, OH: Morningside Press, 1994. ISBN 0-89029-320-1. William W. Hartzog, American Military Heritage, Government Printing Office, 1971. John Hollitz, Thinking Through the Past, Cengage Learning, 05-06-2009. ISBN 0495799912 Ary J. Lamme, America's historic landscapes: community power and the preservation of four national historic sites, Univ. of Tennessee Press, 1989. ISBN 087049614X. Joy Hakim, War, Terrible War, Oxford University Press, 06-01-2006. ISBN 0195188993. Larry H. Addington, The Patterns of War Since the Eighteenth Century, Indiana University Press, 01-06-1994. ISBN 0253208602. Dennis Sydney Reginald Welland, The United States: a companion to American studies, Taylor & Francis, 1974. Gabor S. Boritt, Stephen W. Sears, Lincoln's Generals, Oxford University Press, 12-10-1995. ISBN 0195101103. Stephen Chicoine, The Confederates of Chappell Hill, Texas: prosperity, Civil War, and decline, McFarland, 2005. ISBN 0786419822. Bachelder, John B. Gettysburg: What to See, and How to See It: Embodying Full Information for Visiting the Field. Boston: Bachelder, 1873. OCLC 4637523. James Ross Kaye, Historical fiction chronologically and historically related, Snowden Publishing Company, 1920. Joseph R. Conlin, The American Past: A Survey of American History, Cengage Learning, 01-01-2011. ISBN 111134339X. Bryan S. Kegley, Genealogy of the Botts and Kegley Families of Western and Central, Virginia, 1653-2002, iUniverse, 06-03-2002. ISBN 0595217575. Earl G. Young, American History for Everyone, Xlibris Corporation, 01-10-2008. ISBN 1425750494. Ballard, Ted, and Billy Arthur. Gettysburg Staff Ride Briefing Book. Carlisle, PA: United States Army Center of Military History, 1999. OCLC 42908450. Henry Mann, Turning Points in the World's History, The Minerva Group, Inc., 14-01-2002. ISBN 1589636465. Bearss, Edwin C. Receding Tide: Vicksburg and Gettysburg: The Campaigns That Changed the Civil War. Washington DC: National Geographic Society, 2010. ISBN 978-1-4262-0510-1. Boritt, Gabor S., ed. The Gettysburg Nobody Knows. New York: Oxford University Press, 1997. ISBN 0-19-510223-1. Desjardin, Thomas A. These Honored Dead: How the Story of Gettysburg Shaped American Memory. New York: Da Capo Press, 2003. ISBN 0-306-81267-3. Frassanito, William A. Early Photography at Gettysburg. Gettysburg, PA: Thomas Publications, 1995. ISBN 1-57747-032-X. Society for Army Historical Research (London, England), Journal of the Society for Army Historical Research, Tập 52, Society for Army Historical Research., 1974. Fremantle, Arthur J. L. The Fremantle Diary: A Journal of the Confederacy. Edited by Walter Lord. Short Hills, NJ: Burford Books, 2002. ISBN 1-58080-085-8. First published 1954 by Capicorn Books. Gallagher, Gary W., ed. Three Days at Gettysburg: Essays on Confederate and Union Leadership. Kent, OH: Kent State University Press, 1999. ISBN 0-87338-629-9. Gottfried, Bradley M. Brigades of Gettysburg. New York: Da Capo Press, 2002. ISBN 0-306-81175-8. Gottfried, Bradley M. The Maps of Gettysburg: An Atlas of the Gettysburg Campaign, June 3 – ngày 13 tháng 6 năm 1863. New York: Savas Beatie, 2007. ISBN 978-1-932714-30-2. A. E. Elmore, Lincoln's Gettysburg address: echoes of the Bible and Book of Common Prayer, SIU Press, 20-11-2009. ISBN 0809329514. Grimsley, Mark, and Brooks D. Simpson. Gettysburg: A Battlefield Guide. Lincoln: University of Nebraska Press, 1999. ISBN 0-8032-7077-1. Hall, Jeffrey C. The Stand of the U.S. Army at Gettysburg. Bloomington: Indiana University Press, 2003. ISBN 0-253-34258-9. Haskell, Frank Aretas. The Battle of Gettysburg. Whitefish, MT: Kessinger Publishing, 2006. ISBN 978-1-4286-6012-0. Hawthorne, Frederick W. Gettysburg: Stories of Men and Monuments. Gettysburg, PA: Association of Licensed Battlefield Guides, 1988. ISBN 0-9657444-0-X. Nelson Klose, Robert F. Jones, United States History to 1877, Barron's Educational Series, 13-05-1994. ISBN 0812018346. Mark M. Smith, Writing the American Past: US History to 1877, Wiley-Blackwell, 27-02-2009. ISBN 1405163593. Leroy G. Dorsey, The Presidency and Rhetorical Leadership, Texas A&M University Press, 26-03-2008. ISBN 1603440569. Huntington, Tom. Pennsylvania Civil War Trails: The Guide to Battle Sites, Monuments, Museums and Towns. Mechanicsburg, PA: Stackpole Books, 2007. ISBN 978-0-8117-3379-3. Rodney P. Carlisle, J. Geoffrey Golson, America in Revolt During the 1960s and 1970s, ABC-CLIO, 01-09-2007. ISBN 1851098836. Lyde Cullen Sizer, The Political Work of Northern Women Writers and the Civil War, 1850-1872, Univ of North Carolina Press, 18-09-2000. ISBN 0807848859. Michael A. Genovese, Encyclopedia of the American Presidency, Infobase Publishing, 12-05-2010. ISBN 1438126387. Laino, Philip, Gettysburg Campaign Atlas, 2nd ed. Dayton, OH: Gatehouse Press 2009. ISBN 978-1-934900-45-1. McMurry, Richard M. "The Pennsylvania Gambit and the Gettysburg Splash." In The Gettysburg Nobody Knows, edited by Gabor Boritt. New York: Oxford University Press, 1997. ISBN 0-19-510223-1. Gary W. Gallagher, The Fredericksburg Campaign: decision on the Rappahannock, Univ of North Carolina Press, 20-03-1995. ISBN 0807821934. McPherson, James M. Hallowed Ground: A Walk at Gettysburg. New York: Crown Publishers, 2003. ISBN 0-609-61023-6. Edward H. Bonekemper, Grant and Lee: victorious American and vanquished Virginian, Greenwood Publishing Group, 2008. ISBN 0313349711. New York (State), William F. Fox, and Daniel Edgar Sickles. New York at Gettysburg: Final Report on the Battlefield of Gettysburg. Albany, NY: J.B. Lyon Company, Printers, 1900. OCLC 607395975. Paris, Louis-Philippe-Albert d'Orléans. The Battle of Gettysburg: A History of the Civil War in America. Digital Scanning, Inc., 1999. ISBN 1-58218-066-0. First published 1869 by Germer Baillière. Petruzzi, J. David, and Steven Stanley. The Complete Gettysburg Guide. New York: Savas Beatie, 2009. ISBN 978-1-932714-63-0. Shaara, Michael. The Killer Angels: A Novel. New York: Ballantine Books, 2001. ISBN 978-0345444127. First published 1974 by David McKay Co. Digby Smith, Charge!: Great Cavalry Charges of the Napoleonic Wars, MBI Publishing Company, 15-02-2007. ISBN 1853677221. Stackpole, Gen. Edward J. They Met at Gettysburg. Harrisburg, PA: Stackpole Books, 1956, OCLC 22643644. == Liên kết ngoài == Gettysburg National Military Park (National Park Service) Papers of the Gettysburg National Military Park seminars U.S. Army's Interactive Battle of Gettysburg with Narratives Military History Online: The Battle of Gettysburg The Brothers War: The Battle of Gettysburg Gettysburg Discussion Group archives List of 53 Confederate generals at Gettysburg List of 67 US generals at Gettysburg
chữ braille.txt
Chữ Braille là hệ thống chữ nổi được đa số người mù và người khiếm thị sử dụng. Chữ Braille được Louis Braille phát minh năm 1821. Mỗi chữ Braille được tạo thành từ 6 điểm, các điểm này được sắp xếp một trong khung hình chữ nhật gồm 2 cột và 3 dòng. Tập hợp các điểm nổi/chìm trong 6 vị trí sẽ tạo ra một bộ 64 (26) kiểu. == Xem thêm == Hệ thống chữ nổi tiếng Việt == Tham khảo == Bản mẫu:Braille Bản mẫu:Hệ thống chữ viết
tập đoàn samsung.txt
Tập đoàn Samsung (tiếng Hàn: 삼성 (Romaja: "Samseong", phiên âm chuẩn: "Xam-xâng"); Hanja: 三星; âm Hán Việt: "Tam Tinh" -nghĩa là "3 ngôi sao"), là một tập đoàn đa quốc gia của Hàn Quốc có tổng hành dinh đặt tại Samsung Town, Seoul. Tập đoàn có nhiều công ty con, hầu hết hoạt động dưới thương hiệu Samsung, là tập đoàn thương mại (chaebol) lớn nhất Hàn Quốc. Samsung được sáng lập bởi Lee Byung-chul năm 1938, được khởi đầu là một công ty buôn bán nhỏ. 3 thập kỉ sau, tập đoàn Samsung đa dạng hóa các ngành nghề bao gồm chế biến thực phẩm, dệt may, bảo hiểm, chứng khoán và bán lẻ. Samsung tham gia vào lĩnh vực công nghiệp điện tử vào cuối thập kỉ 60, xây dựng và công nghiệp đóng tàu vào giữa thập kỉ 70. Sau khi Lee mất năm 1987, Samsung tách ra thành 4 tập đoàn - tập đoàn Samsung, Shinsegae, CJ, Hansol. Từ thập kỉ 90, Samsung mở rộng hoạt động trên quy mô toàn cầu, tập trung vào lĩnh vực điện tử, điện thoại di động và chất bán dẫn, đóng góp chủ yếu vào doanh thu của tập đoàn. Những chi nhánh quan trọng của Samsung bao gồm Samsung Electronics (công ty điện tử lớn nhất thế giới theo doanh thu, và lớn thứ 4 thế giới theo giá trị thị trường năm 2012), Samsung Heavy Industries (công ty đóng tàu lớn thứ 2 thế giới theo doanh thu năm 2010), Samsung Engineering và Samsung C&T (lần lượt là công ty xây dựng lớn thứ 13 và 36 thế giới). Những chi nhánh chú ý khác bao gồm Samsung Life Insurance (công ty bảo hiểm lớn thứ 14 thế giới), Samsung Everland (quản lý Everland Resort, công viên chủ đề lâu đời nhất Hàn Quốc), Samsung Techwin (công ty không gian vũ trụ, thiết bị giám sát, bảo vệ) và Cheil Worldwide (công ty quảng cáo lớn thứ 16 thế giới theo doanh thu năm 2011). Samsung có tầm ảnh hưởng lớn trong phát triển kinh tế, chính trị, truyền thông, văn hóa ở Hàn Quốc, và là động lực thúc đẩy chính đằng sau "Kì tích sông Hàn". Đóng góp 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc. Doanh thu chiếm 17% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) $1,082 tỷ đô la Mỹ của Hàn Quốc. == Lịch sử == === 1938 - 1970 === Năm 1938, Lee Byung-chull (1910-1987), một người xuất thân trong gia đình địa chủ ở vùng Uiryeong, chuyển tới gần thành phố Daegu và sáng lập ra Samsung Sanghoe (삼성상회, 三星商會). Một công ty buôn bán nhỏ với 40 công nhân nằm ở Su-dong (bây giờ là Ingyo-dong). Buôn bán các mặt hàng tạp hóa và mì sợi do công ty sản xuất. Công ty làm ăn phát đạt, nên Lee đã chuyển văn phòng công ty tới Seoul năm 1947. Khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Lee buộc phải rời Seoul và sau đó mở một nhà máy tinh chế đường ở Busan tên là Cheil Jedang. Khi chiến tranh kết thúc năm 1954, Lee sáng lập ra Cheil Mojik và xây dựng nhà máy ở Chimsan-dong, Daegu. Đó là nhà máy len sợi lớn nhất nước và công ty đã tiến thêm một bước để trở thành một công ty lớn. Samsung đa dạng hóa trong nhiều lĩnh vực và Lee đã giúp Samsung trở thành công ty đi đầu trong nhiều lĩnh vực như bảo hiểm, chứng khoán, bán lẻ. Tổng thống Park Chung Hee nhấn mạnh tầm đặc biệt quan trọng của công nghiệp hóa, và tập trung chiến lược phát triển kinh tế xoay quanh các tập đoàn lớn, bảo hộ cạnh tranh và hỗ trợ tài chính. Năm 1947, Cho Hong-jai (người sau này sáng lập tập đoàn Hyosung), hợp tác với Samsung thành lập công ty Samsung Mulsan Gongsa (삼성물산공사), hay còn gọi là Công ty Giao Dịch Samsung (Samsung Trading Corporation). Công ty phát triển và trở thành công ty Samsung C&T ngày nay. Sau vài năm hợp tác, Cho và Lee quyết định đường ai nấy đi vì sự khác biệt trong cách điều hành. Cho muốn lấy 30% cổ phần công ty. Sau khi thỏa thuận, Samsung chia tách thành tập đoàn Samsung, tập đoàn Hyosung, Hankook Tire và một số công ty khác. Vào cuối thập kỉ 60, Samsung tham gia vào ngành công nghiệp điện tử. Samsung thành lập một số công ty chuyên về lĩnh vực điện tử như Samsung Electronics Devices, Samsung Electro-Mechanics, Samsung Corning, Samsung Semiconductor & Telecommunication, chế tạo sản phẩm tại Suwon. Sản phẩm đầu tiên của công ty là TV đen trắng. === 1970 - 1990 === Năm 1980, Samsung mua lại công ty Hanguk Jeonja Tongsin và tham gia vào lĩnh vực công nghiệp phần cứng viễn thông. Sản phẩm đầu tiên là bộ chuyển mạch. Đó là nền tảng cho hệ thống nhà máy điện thoại bàn và fax của Samsung, sau này là nhà máy điện thoại di động Samsung, nơi đã sản xuất 800 triệu sản phẩm điện thoại di động cho đến thời điểm hiện tại. Công ty sát nhập các công ty con về điện tử, trở thành Công ty Điện Tử Samsung (Samsung Electronics Co., Ltd) trong những năm 1980. Sau khi nhà sáng lập Lee Byung-chull mất năm 1987, tập đoàn Samsung tách ra thành 4 tập đoàn - Samsung, Shinsegae, CJ, Hansol. Shinsegae (kinh doanh cửa hàng giảm giá, bách hóa) ban đầu là một phần của Samsung, tách ra vào thập kỉ 90 cùng với tập đoàn CJ (kinh doanh thực phẩm, hóa chất, giải trí, logistic) và tập đoàn Hansol (kinh doanh giấy, viễn thông). Ngày nay 3 tập đoàn trên hoạt động độc lập, không còn là một phần hay liên hệ với Samsung. Vào những năm 80, Công ty Điện Tử Samsung đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển. Đây là chìa khóa then chốt đưa Samsung trở thành công ty hàng đầu trong lĩnh vực công nghiệp điện tử trên thế giới. Năm 1982,Samsung xây dựng nhà máy lắp giáp TV ở Bồ Đào Nha; năm 1984, nhà máy ở New York; năm 1985, nhà máy ở Tokyo; năm 1987, trụ sở ở Anh; và trụ sở ở Austin, Texas năm 1996. Đến năm 2012, Samsung đã đầu tư hơn $13 tỷ đô la Mỹ vào trụ sở ở Austin, hoạt động dưới tên gọi Samsung Austin Semiconductor LLC. Đầu tư vào Austin của Samsung trở thành dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất ở bang Texas và là một trong những dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất ở nước Mỹ. === 1990 - 2000 === Samsung bắt đầu trở thành tập đoàn quốc tế vào thập kỉ 90. Công ty Xây dựng Samsung (Samsung's construction) là nhà thầu xây dựng tháp đôi Petronas ở Malaysia, Taipei 101 ở Đài Loan, Burj Khalifa ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Năm 1993, Lee Kun-hee bán 10 công ty con của tập đoàn, cắt giảm nhân sự, sát nhập các lĩnh vực hoạt động khác để tập trung vào 3 lĩnh vực chính: điện tử, xây dựng và hóa chất. Năm 1996, tập đoàn Samsung mua lại đại học Sungkyunkwan. Samsung trở thành nhà sản xuất vi mạch nhớ lớn nhất thế giới vào năm 1992, và là nhà sản xuất vi mạch lớn thứ 2 thế giới sau Intel. Năm 1995, Samsung sản xuất màn hình tinh thể lỏng (LCD) đầu tiên. 10 năm sau, Samsung phát triển thành nhà sản xuất màn hình hình tinh thể lỏng lớn nhất thế giới. Sony không đầu tư vào dạng màn hình lớn TFT-LCDs, đã cùng hợp tác với Samsung thành lập công ty S-LCD để cung cấp màn hình LCD cho 2 tập đoàn. S-LCD nắm giữ bởi Samsung (50% + 1 cổ phiếu) và Sony (50% - 1 cổ phiếu), trụ sở và nhà máy nằm tại Tangjung, Hàn Quốc. Ngày 26/12/2011, Samsung thông báo tập đoàn đã mua lại cổ phần của Sony tại S-LCD. So sánh với các tập đoàn lớn khác của Hàn Quốc, Samsung sống sót qua cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 mà hầu như không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên Samsung phải chấp nhận bán lỗ mảng xe hơi (Samsung Motor) cho Renault. Năm 2010, Renault nắm giữ 80.1% và Samsung nắm giữ 19.9% trong công ty Renault Samsung. Samsung tham gia sản xuất máy bay vào thập kỉ 80, 90. Công ty được thành lập vào năm 1999 dưới tên gọi Korea Aerospace Industries (KAI). Đây là kết quả hợp tác giữa 3 công ty chuyên về không gian của Samsung, Daewoo Heavy Industries, Hyundai Space và Aircraft Company. Samsung cũng tham gia sản xuất cộng cơ máy bay, gas tua-bin. === 2000 - 2015 === Năm 2000, Samsung mở phòng thí nghiệm lập trình máy tính tại Warszawa, Ba Lan. Khởi đầu bằng công nghệ giải mã tín hiệu truyền hình, sau đó là TV kĩ thuật số và điện thoại thông minh. Đến năm 2011, trụ sở Samsung tại Warsaw là trung tâm nghiên cứu và phát triển quan trọng nhất ở châu Âu, tuyển dụng khoảng 400 nhân viên hàng năm. Năm 2001, Samsung Techwin trở thành nhà cung cấp mô-đun buồng đốt duy nhất cho Rolls-Royce Trent 900, được sử dụng cho máy bay lớn nhất thế giới Airbus A380. Samsung Techwin cũng là cổ đông trong chương trình động cơ GEnx của Boeing 787 Dreamliner. Năm 2010, Samsung công bố chiến lược phát triển 10 năm tập trung vào 5 ngành nghề chính. Một trong số đó là công nghệ dược sinh học, được cam kết đầu tư 2.1 nghìn tỉ Won (2 tỉ USD). Tháng 12/2011, công ty Điện Tử Samsung (Samsung Electronics) bán mảng ổ đĩa cứng (HDD) cho Seagate. Năm 2012, Samsung Electronics, công bố kế hoạch đầu tư 7 tỷ đô la Mỹ để xây dựng nhà máy chế tạo thẻ bộ nhớ (chip) đầu tiên của mình tại Trung Quốc. Quý 1/2012, công ty Điện Tử Samsung trở thành nhà sản xuất điện thoại di động lớn nhất thế giới (tính theo số lượng), soán ngôi Nokia, công ty nắm giữ vị trí này từ năm 1998. Trong bài báo ngày 21/08 trên tờ Austin American-Statesman, Samsung xác nhận kế hoạch chi 3 đến 4 tỷ đô la Mỹ chuyển đổi một nửa số vi mạch trong nhà máy ở Austin thành loại vi mạch mang nhiều lợi nhuận hơn. Quá trình chuyển đổi sẽ hoàn thành trong năm 2013. Ngày 14/03/2013, Samsung công bố sản phẩm Galaxy S4. Ngày 24/08/2012, 9 bồi thẩm viên tòa án Mỹ phán quyết Samsung phải bồi thường 1.05 tỷ đô la Mỹ cho công ty Apple, vì xâm phạm 6 sáng chế công nghệ điện thoại thông minh. Mức phạt vẫn thấp hơn yêu cầu 2.5 tỷ đô la Mỹ của Apple. Phán quyết cũng chỉ rõ Apple không xâm phạm 5 sáng chế của Samsung. Samsung chỉ trích phán quyết trên đã làm tổn hại đến sự phát triển của mảng di động. Tòa án ở Hàn Quốc phán quyết cả 2 công ty đều vi phạm sở hữu trí tuệ. Sau khi phán quyết có hiệu lực, cổ phiếu Samsung giảm 7.7% trên sàn Kospi index, mức giảm lớn nhất kể từ ngày 24/10/2008. Apple sau đó kiến nghị cấm bán 8 sản phẩm điện thoại của Samsung ở Mỹ bao gồm (Galaxy S 4G, Galaxy S2 AT&T, Galaxy S2 Skyrocket, Galaxy S2 T-Mobile, Galaxy S2 Epic 4G, Galaxy S Showcase, Droid Charge and Galaxy Prevail), tuy nhiên tòa án đã bác bỏ kiến nghị của Apple. Ngày 04/09/2012, Samsung tuyên bố sẽ điều tra tất cả các nhà cung cấp Trung Quốc, vì có lo ngại xâm phạm luật lao động. 250 công ty Trung Quốc sẽ bị điều tra nếu có sử dụng lao động trẻ em dưới 16 tuổi trong nhà máy. Tháng 03/2013, Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên (SEVT) chi 2 tỉ USD để xây dựng khu tổ hợp công nghệ cao tại Thái Nguyên. Đến tháng 10, Samsung Electro - Mechanics Vietnam cũng tuyên bố rót tiếp 1.2 tỉ USD vào nhà máy sản xuất vi mạch và linh kiện điện tử cho điện thoại di động tại đây. Tiếp đến cuối 2014 SamSung Display chính thức đi vào hoạt động tại tổ hợp công nghệ KCN yên Phong- Bắc Ninh. Công ty điện tử Samsung đang đưa dần các nhà máy sản xuất điện thoại từ Trung Quốc sang Việt Nam để bảo toàn lợi nhuận. Samsung Electronics được hưởng ưu đãi cao nhất như là một doanh nghiệp công nghệ cao khi đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên đó không phải là lý do duy nhất thu hút Samsung, mà còn là vị trí địa lý. Indonesia và Ấn Độ có mức thuế ngang bằng, thậm chí còn tốt hơn mức của Việt Nam, nhưng do Việt Nam gần hơn cả với khu công nghiệp đã sẵn có của Samsung ở Trung Quốc và Hàn Quốc, nên đây là một điểm mạnh. Năm 2013, Tập đoàn Samsung dành 14 tỷ đô la Mỹ (nhiều hơn cả GDP của Iceland) cho các hoạt động quảng cáo thông qua TV, rạp phim, biển hiệu, thể thao và nghệ thuật. Với 5.4% lợi nhuận hàng năm chi cho quảng bá, đây là tỉ lệ lớn nhất trong số 20 công ty hàng đầu thế giới (Apple dành 0.6%, General Motors dành 3.5%). Tháng 11/2013, tập đoàn có giá trị vốn hóa 227 tỷ đô la Mỹ. Tháng 1 năm 2015, Samsung lên kế hoạch cắt giảm nhân sự nhằm giảm thiểu chi phí điều hành và vực lại mảng kinh doanh đang gặp nhiều khó khăn. 1000 nhân công thuộc bộ phận smartphone tại các chi nhánh của Samsung tại Anh, Thuỵ Điển và Trung Quốc sẽ thuộc diện nguy cơ, giảm con số nhân lực tại mảng này xuống còn 5000 người. == Hoạt động == === Thị trường === Theo 2 tạp chí Interbrand và BusinessWeek, tổng giá trị của nhãn hiệu Samsung đứng thứ 43 trong số các tập đoàn toàn cầu (5,2 tỷ USD) năm 2000, thứ 42 (6,4 tỷ USD) năm 2001, thứ 34 (8, 3 tỷ USD) năm 2002, thứ 25 (10,8 tỷ USD) năm 2003, thứ 21 (12,5 tỷ USD) năm 2004, và thứ 20 (14,9 tỷ USD) năm 2005. Lượng xuất khẩu sản phẩm của tập đoàn Samsung đã đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế Hàn Quốc, chỉ tính riêng Samsung đã vượt 18,1% so với tổng lượng xuất khẩu toàn quốc, đạt 31,2 tỷ USD năm 2000, và vượt 20,7% với 52,7 tỷ USD năm 2004. Thêm nữa, khoản tiền thuế mà tập đoàn Samsung phải trả cho chính phủ Hàn Quốc năm 2003 là 6,5 ngàn tỷ won, hơn lượng thuế toàn quốc đến 6,3%. Giá trị thị trường của tập đoàn Samsung năm 1997 đạt 7,3 ngàn tỷ won, bằng 10,3% toàn thị trường Hàn Quốc, nhưng hình ảnh này đã được mở rộng vào năm 2004, khi tổng giá trị là 90,8 ngàn tỷ won, bằng 22,4%. Thêm vào đó, lợi nhuận hàng năm của tập đoàn Samsung là 5,8 ngàn tỷ won năm 2001, 11,7 ngàn tỷ won năm 2002, 7,4 ngàn tỷ won năm 2003, và 15,7 ngàn tỷ won năm 2004 đã cho thấy một sự tiến bộ vững chắc. Nhằm nâng cao môi trường làm việc, để xây dựng một tổ chức vững mạnh và đáng tin cậy, ban điều hành của Hãng điện tử Samsung đã chỉ đạo thành lập một "Chương trình nơi làm việc tuyệt vời" từ năm 1998. Năm 2003, chương trình đã được truyền đi thông qua toàn thể tập đoàn Samsung, cả công ty Bảo hiểm sinh mạng và Hoả hoạn Samsung, Samsung SDI, Samsung Everland, Samsung Corporation, Cheil Industries, Samsung Networks và nhiều nhánh khác. Năm 2006, 9 công ty dưới vốn của Hãng điện tử Samsung, 80 chi nhánh ở nước ngoài và 130 doanh nghiệp ở nước ngoài được thông báo chính thức được ứng dụng chương trình này. === Thừa kế hợp pháp nhưng bằng cách thiết thực === Tháng 10 năm 1996, Samsung Everland, khu giải trí lớn nhất Hàn Quốc, đã phát hành 1,28 triệu bản khế ước thay đổi (CB), mỗi cái có giá trị 7.700 won – có thể coi là rẻ hơn so với giá cổ phiếu của công ty lúc đó là 100.000 won. Không phải cổ đông nào cũng có quyền mua những bản khế ước này, ngoại trừ con trai và con gái của chủ tịch Lee Kun-hee. Trong một thời gian ngắn, những đứa con của ông đã biến khế ước thành cổ phiếu, và từ đó trở thành những cổ đông chính. Chỉ một quá trình đơn giản vậy đã góp vào lợi nhuận 120 tỷ won (khoảng 120 triệu USD). Ngày 24 tháng 3 năm 1997, Hãng điện tử Samsung cũng đã dùng cách tương tự, phát hành những khế ước trị giá 60 tỷ won để sinh ra 45 tỷ won khác (khoảng 45 triệu USD) vào lợi nhuận của gia đình. Ngày 26 tháng 2 năm 1999, thay vì dùng khế ước thay đổi, Samsung SDS phát hành Khế ước chứng thực (BW) với giá trị thấp hơn, chỉ 7.150 won. Cách thức trên đã cho phép những đứa con của Lee Kun-hee trở thành những người giàu nhất Hàn Quốc, và cũng như việc điều hành thành công của toàn thể tập đoàn Samsung. === Kiện tụng === Theo các bảng báo cáo, năm 2006 Samsung đã bị kiện bởi các công ty 20th Century Fox, Paramount Pictures, Time Warner, Walt Disney và Universal Studios. Năm hãng phim lớn nhất Hoa Kỳ này cho rằng một trong các sản phẩm đầu DVD của Samsung đã không sử dụng công nghệ mã hóa. Người phát ngôn của Samsung nói "đoán chắc rằng những nhà làm phim đó đã tung ra sản phẩm DVD-HD841 mà Samsung bán ở Mỹ từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2004. Nếu vậy, chúng tôi không hiểu tại sao những hãng phim đó lại phàn nàn về sản phẩm. Chúng tôi đã ngừng sản xuất đời DVD đó sau khi quyền bảo vệ sao chép của nó có thể bị phá huỷ bởi những người sử dụng rắc rối." === Logo === === Các loại mặt hàng === === Tài trợ === Samsung là nhà tài trợ cho câu lạc bộ Bayern Munich ở giải Bundesliga. Samsung đã đánh dấu vào lịch sử giải Bóng đá Ngoại hạng Anh khi trở thành nhà tài trợ bóng đá lớn nhất cho câu lạc bộ Chelsea F.C.. Ước tính trị giá 50 triệu bảng Anh cho 5 năm tài trợ. Tập đoàn cũng là nhà tài trợ cho 2 câu lạc bộ bóng đá ở giải hạng nhất ở Anh - Swindon Town và Leyton Orient. Tập đoàn cũng tài trợ cho đội Sydney Roosters tại Giải vô địch bóng bầu dục Australia (NRL) từ 1995-1997 và từ 2004 đến nay. Họ cũng tài trợ cho câu lạc bộ bóng đá Melbourne Victory trong giải quốc gia Australia A-League. Samsung cũng là nhà đồng tài trợ, cùng với hãng Radio Shack, tài trợ đường đua Samsung/Radio Shack 500 NASCAR. Samsung là nhà tài trợ cho thế vận hội olympic ở Seoul năm 1988, và đối tác toàn cầu của Olympic kể từ thế vận hội mùa đông năm 1998. Samsung tham gia điều hành nhiều câu lạc bộ thể thao như Suwon Samsung Bluewings, clb bóng chày Samsung Lions, clb bóng rổ Seoul Samsung Thunders, clb bóng chuyền Daejeon Samsung Fire Bluefangs... Samsung cũng là nhà tài trợ cho giải đấu thể thao điện tử Starcraft Brood War và hiên tại đang tài trợ cho đội Samsung Khan ở giải Starcraft II, Sámsung Blue và Sámsung White ở bộ môn Liên Minh Huyền Thoại(League of Legends) cả 2 đều là nhưng đội tuyển mạnh nhất thế giới == Tại các thị trường trên thế giới == === Việt Nam === Samsung cũng đã chi ra tổng cộng gần 20 tỷ USD để đầu tư tại Việt Nam. Năm 2013, các nhà máy của tập đoàn Samsung tại Việt Nam đã đạt doanh số xuất khẩu 23 tỷ USD và dự kiến trong năm 2014 sẽ đạt doanh số xuất khẩu 30 tỷ USD. == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Samsung Việt Nam
động cơ phản lực.txt
Động cơ phản lực (ĐCPL) là động cơ nhiệt tạo ra lực đẩy theo nguyên lý phản lực, trong đó, có sự biến đổi thế năng nhiên liệu thành động năng dòng phản lực của môi chất làm việc. Như vậy, ĐCPL hoạt động theo nguyên lý của định luật ba Newton (Đối với mỗi lực tác động bao giờ cũng có một phản lực cùng độ lớn, nói cách khác, các lực tương tác giữa hai vật bao giờ cũng là những cặp lực cùng độ lớn, cùng phương, ngược chiều và khác điểm đặt.). ĐCPL được sử dụng rộng rãi trong máy bay phản lực, tên lửa, xe tăng, tàu thủy và các thiết bị vũ trụ. ĐCPL có hai loại cơ bản là Động cơ phản lực không khí và Động cơ tên lửa. Tuy nhiên, trong Tiếng Việt, khi nói đến ĐCPL thì lại hay bị hiểu ngay là Động cơ phản lực không khí dùng trong các máy bay phản lực và điều này là không đúng. Một ĐCPL thông thường có buồng cháy và loa phụt. Trong buồng cháy, xảy ra quá trình giải phóng hóa năng của nhiên liệu và biến đổi nó thành nhiệt năng của dòng khí. Trong loa phụt, thế năng của dòng khí được biến đổi thành động năng của nó với vận tốc lớn hơn rất nhiều và khi đó dòng khí được phụt ra sau khi ra khỏi loa phụt sẽ tạo thành lực đẩy phản lực. Dạng loa phụt phổ biến ngày nay ứng dụng trong các động cơ phản lực là Loa phụt Laval. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Video ví dụ về thử nghiệm ĐCPL
lâm thị mỹ dạ.txt
Lâm Thị Mỹ Dạ (sinh ngày 18 tháng 9 năm 1949), là một nhà thơ nữ Việt nam, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. == Tiểu sử == Lâm Thị Mỹ Dạ sinh tại quê: huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Bà làm việc tại Ty văn hóa Quảng Bình, năm 1978 đến 1983 học Trường viết văn Nguyễn Du. Sau đó bà làm phóng viên, biên tập viên tạp chí Sông Hương (của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên - Huế). Lâm Thị Mỹ Dạ là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên - Huế, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa V. Hiện bà đang sống tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Chồng bà, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là một nhà văn, nhà thơ có tiếng ở Việt nam. == Tác phẩm chính == Trái tim sinh nở (thơ, 1974) Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983) Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984) Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987) Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987) Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989) Mẹ và con (thơ, 1994) Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998) Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007) Một tập thơ gồm 56 bài do bà tự tuyển chọn trong những tập thơ đã xuất bản của mình được Nhà xuất bản Curbstone dịch sang tiếng Anh và phát hành năm 2005. == Thành tựu nghệ thuật == Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Hồ Thế Hà đã viết: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giàu ý tứ. Tứ thơ bao giờ cũng là bất ngờ. Hình như không tạo được tứ lạ thì bài thơ vẫn còn trong dự tưởng.". Nhà thơ Ngô Văn Phú cũng nhận định: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hay ở những chỗ bất thần, ngơ ngác và những rung cảm đầy nữ tính." . Những bài thơ Truyện cổ nước mình, Khoảng trời - hố bom của bà được giảng dạy trong chương trình tiếng Việt, văn học phổ thông của Việt nam. == Thông tin thêm == Cha Lâm Thị Mỹ Dạ, ông Lâm Thanh đã từng tham gia Việt Minh và đến năm 1949 vào Sài Gòn sinh sống, năm 1954, ông định đưa cả gia đình vào đây nhưng vợ ông, bà Lý Thị Đấu không thể mang Lâm Thị Mỹ Dạ đi theo được vì phải chăm sóc mẹ già và em gái. Mặc dù sau khi đất nước thống nhất ông đã được nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ vì đã có công với cách mạng trong thời gian sinh sống ở Sài gòn nhưng trong suốt thời gian trước đó, ở quê ông bị cho là "theo địch vào Nam". Mẹ Lâm Thị Mỹ Dạ đã từng học tiểu học bằng tiếng Pháp, thời còn trẻ đã từng bán hàng cho các đồn lính Pháp nên khi cải cách ruộng đất bà bị quy là do "địch cài lại" và bị đấu tố. Cộng thêm với việc ông nội là đại địa chủ nên trong những năm tuổi thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ sống trong nghi kỵ, xa lánh của bạn bè, người quen. Mặc dù đã học xong cấp III nhưng bà không được học tiếp bậc cao hơn do vấn đề lý lịch == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
nguyễn đức toàn.txt
Nguyễn Đức Toàn (1929-2016), là một Nghệ sĩ Ưu tú, nhạc sĩ và họa sĩ của Việt Nam. Ông là một cựu sĩ quan quân đội với quân hàm Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam và từng được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba vì những đóng góp của mình. == Cuộc đời và sự nghiệp == Ông sinh ngày 10 tháng 3 năm 1929 tại Hà Nội. Thân sinh ông là nhà điêu khắc, các anh chị em ông hầu hết đều làm công tác âm nhạc. Năm 1944, ông học vẽ tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Và lúc đầu đối với ông, hội họa là niềm say mê chính. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội và đã viết bài hát đầu tiên Ca ngợi đời sống mới. Năm 1946, ông tham gia Đoàn Kịch Sao Vàng cùng nhạc sĩ Đỗ Nhuận, và tham gia kháng chiến chống Pháp. Trong Kháng chiến chống Pháp, ông được biết đến qua bài hát nổi tiếng Quê em miền Trung du (tuy là bài hát kháng chiến, nhưng Đài Pháp Á trong vùng Pháp tạm chiếm vẫn phát sóng qua song ca của Thái Thanh - Thái Hằng). Trong thời kì này, ông làm Phó đoàn Đoàn Văn công Việt Bắc, ông tham gia diễn kịch, vẽ minh hoạ, trình bày báo, và sáng tác âm nhạc, với những bài Chiều hậu phương, Lúa mới và một số ca cảnh. Sau năm 1954, bài hát Mời anh đến thăm quê tôi đánh dấu bước chuyển trong sáng tác âm nhạc của ông. Trong thời kỳ này, ông sáng tác một loạt tác phẩm về các liệt sĩ như Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Noi gương Lý Tự Trọng, Bài ca Ngô Mây, Ca ngợi Trần Thị Lý, Ca ngợi Nguyễn Văn Trỗi... Trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông viết các bài Đào công sự, Bài ca người lái xe, Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương, Khâu áo gửi người chiến sĩ... Trong những năm 1968-1970, ông tu nghiệp ở Nhạc viện Kiev (Ukraina), tại đây ông đã viết các tác phẩm khí nhạc như Sonate viết cho violon (dàn dựng và xuất bản ở Moskva), Tổ khúc giao hưởng Tổ quốc (dàn nhạc Novosibirk)... Về nước, ông viết những ca khúc, hợp xướng như Bài ca xây dựng, Tiếng hát buổi bình minh, Bài ca chiến thắng... Sau khi Việt Nam thống nhất, ông viết những bài hát nhạc nhẹ trữ tình như Từ ngày hôm nay, Tình em biển cả, Chiều trên bến cảng, Hà Nội một trái tim hồng Năm 2000, ông được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật cho các tác phẩm: Quê em, Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Đào công sự, Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương, Tình em biển cả, Chiều trên bến cảng. Ông qua đời vào sáng ngày 7 tháng 10 năm 2016 tại Hà Nội. == Chú thích == == Tham khảo == Gallery tranh của Nguyễn Đức Toàn
võ nguyên giáp qua đời và quốc tang.txt
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam qua đời tại Viện quân y 108, Hà Nội vào 18h09 phút ngày 4 tháng 10 năm 2013 (tức 30 tháng 8 âm lịch), nơi ông nằm điều trị từ năm 2009 . Ngày 24 tháng 9 năm 2009 ông nhập viện Quân y 108 và nằm điều trị tại đây. Ông qua đời năm 103 tuổi và được các cơ quan báo chí Việt Nam dẫn lời bác sĩ riêng nói là mất vì tuổi già. Chiều ngày 5 tháng 10 năm 2013, nhà nước Việt Nam ra thông cáo đặc biệt thông báo Võ Nguyên Giáp từ trần và tổ chức Quốc tang trong hai ngày 12 và 13 tháng 10 năm 2013. Ông được an táng tại Quảng Trạch, Quảng Bình theo ý nguyện của ông và gia đình . Sau 100 tuổi, sức khỏe của ông yếu hơn trước. Ngày 22 tháng 5 năm 2011, Đài Truyền hình Việt Nam đã phát sóng chương trình thời sự với hình ảnh ông đang thực hiện việc bỏ phiếu thực hiện quyền công dân của mình trong cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, xóa đi những đồn đoán về sức khỏe của ông trên những phương tiện thông tin không chính thống. Trong dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27 tháng 7 năm 2011, Truyền hình Quân đội nhân dân phát sóng hình ảnh Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Hữu Đức đến thăm hỏi một số tướng lĩnh cao cấp đang nằm điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, trong đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Qua theo dõi trong hình ảnh thì sức khỏe Đại tướng đã tốt lên nhiều. Ông qua đời tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 Viện quân y 108,Hà Nội vào 18h 09 phút ngày 4 tháng 10 năm 2013 (tức 30 tháng 8 âm lịch), nơi ông nằm điều trị từ năm 2009. == Tang lễ == Ban tang lễ Võ Nguyên Giáp gồm 30 thành viên do ông Nguyễn Phú Trọng làm trưởng ban. Lễ đón mọi người đến thăm viếng với gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp chiều ngày 6 tháng 10 kéo dài đến 18 giờ; từ ngày 7 – 10 tháng 10, sáng từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút, chiều từ 14 giờ đến 16 giờ. Vào 14 giờ 30 ngày 6 tháng 10 năm 2013, tại số 30 Hoàng Diệu, Hà Nội - nơi gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh sống mở cửa . Lễ viếng được tổ chức tại Nhà tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội từ 7 giờ 30 phút ngày 12/10/2013; tại Trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình và Hội trường Thống nhất thành phố Hồ Chí Minh. Ban đầu thời gian viếng tại nhà tang lễ sẽ được kéo dài đến 23 giờ ngày 12 tháng 10 , sau đó được thông báo là kéo dài đến 6 giờ sáng ngày 13 tháng 10 . Lễ truy điệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp được tổ chức tại Nhà tang lễ quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, bắt đầu từ 7 giờ ngày 13/10/2013. Đã có hàng vạn người hàng ngày xếp hàng vào viếng tại tư gia số 30 Hoàng Diệu, Hà Nội === Từ lúc mất đến trước 12h ngày 11 tháng 10 === Gia đình đại tướng đồng ý cho phép người dân vào nhà riêng ở 30 Hoàng Diệu viếng Đại tướng. 2 ngày đầu tiên (trong đó ngày đầu tiên bắt đầu viếng từ lúc 14h chiều ngày 6/10) đã có hơn 14.000 người viếng và ngày 8/10 sơ bộ có khoảng hơn 20.000 người vào viếng. Như vậy, đến nay đã có khoảng hơn 3,4 vạn người vào viếng Đại tướng. Số người vào viếng từ khắp nơi đổ về những ngày tiếp theo tăng cao, mặc dù chính thức kết thúc từ 23h ngày 11 tháng 10 nhưng vẫn có một số đoàn viếng muộn, như đội tuyển U19 Việt Nam === Từ 12h ngày 11 đến 17h ngày 13 tháng 10 === Theo quy định ban đầu Quốc tang trong hai ngày 12 và 13 tháng 10, nhưng sau đó quy định treo cờ rủ từ 12h ngày 11 đến 12h ngày 13 tháng 10 . Sáng 12 tháng 10, đoàn Ban Chấp hành Trung ương do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu, đoàn Chủ tịch nước do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dẫn đầu, có nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Nguyễn Minh Triết, đoàn Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng dẫn đầu, đoàn Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu, có nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải, đoàn Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng do Đại tướng Phùng Quang Thanh dẫn đầu,... tới viếng. Nguyễn Tổng bí thư Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cũng đến viếng. Theo thông tin thời sự VTV tối 12 tháng 10, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh gửi vòng hoa kính viếng... Đến 21 giờ tối 12/10, có khoảng hơn 20.000 lượt người vào dâng hưởng, tưởng niệm Đại tướng tại nhà tang lễ quốc gia 5 Trần Thánh Tông - Hà Nội. Đến hơn 20 giờ ngày 12/10, tại Quảng Bình đã có hơn 450 đoàn với trên 10.000 lượt người vào dâng hương, viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đến 21 giờ ngày 12/10, tại Hội trường Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, đã có hơn 770 đoàn với hơn 80.000 lượt người đến viếng . Đoàn cuối cùng vào viếng lúc 1h sáng 13/10, ở Hà Nội . Tại TP.HCM, tính đến 24 giờ ngày 12.10, có 2.825 đoàn viếng, ước tính trên 119.000 người, riêng tại Hội trường Thống Nhất, khoảng 78.700 người đến viếng, và TP.HCM tổ chức lễ viếng đến 2h sáng . Về quốc tế, Đoàn đại biểu cấp cao nước CHDCND Lào do Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Choummaly Sayasone dẫn dầu, Đoàn đại biểu cấp cao Vương quốc Campuchia do Samdech Heng Samrin, Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia dẫn đầu. Đoàn đại biểu cấp cao Algeria do Bộ trưởng Cựu chiến binh, Mohamed-Chérif Abbas, Đoàn đại biểu cấp cao Cộng hòa Mozambique, do Đại tướng Alberto Chipande, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Mặt trận Giải phóng Mozambique (Frelimo); cùng các đoàn ngoại giao, tùy viên quân sự đến viếng. Khoảng 100 đoàn quốc tế viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Việt Nam. Ở nước ngoài, Thủ tướng Algeria, ông Abdelmalek Sellal, đã đến Đại sứ quán Việt Nam tại Algiers viếng, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A.K Antony đoàn Bộ Quốc phòng Trung Quốc do Phó Tổng tham mưu trưởng Thượng tướng Tôn Kiến Quốc dẫn đầu; đoàn Bộ Ngoại giao Trung Quốc do Thứ trưởng Trác Tuấn dẫn đầu , Chủ tịch Thượng viện Bỉ André Flahaut, Thượng nghị sĩ Mỹ Tom Harkin, Hạ nghị sĩ Mỹ Eni Faleomavaega... đến viếng tại các đại sứ quán nước ngoài. 7h sáng 13/10 truy điệu Đại tướng, tham gia tại Hà Nội có các lãnh đạo Việt Nam Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Tổng bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch nước Lào Choummaly Sayasone, Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia, Chủ tịch Quốc hội Campuchia Heng Samrin, thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải,... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đọc điếu văn. Linh cữu chuyển ra sân bay Nội Bài. Ra sân bay có các ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Lê Hồng Anh, Phùng Quang Thanh,... Dọc đường đi có hàng triệu đồng bào chiến sĩ đứng hai bên đường vĩnh biệt Đại tướng - theo lời phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Vào 16h cùng ngày lễ an táng Đại tướng tổ chức tại Vũng Chùa (thôn Thọ Sơn, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình), có sự tham gia của các ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Xuân Phúc, Lê Hồng Anh, Phùng Quang Thanh,... và đông đảo người dân từ nhiều nơi đổ về. Chiều cùng ngày, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến thăm chính thức Việt Nam có gửi lời chia buồn tới Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam . === Sau lễ an táng === == Phản ứng == === Trong nước === Sau khi tin Võ Nguyên Giáp qua đời trên các trang mạng xã hội bắt đầu chia sẻ thông tin ông qua đời. Vnexpress, một đơn vị chịu sự quản lý của Bộ Thông tin và truyền thông đưa thông tin vào lúc 20h42 phút cùng ngày , trở thành tờ báo đầu tiên chính thống đầu tiên tại Việt Nam đưa tin. VTV trong bản tin thời sự 12h trưa ngày hôm sau đưa ra thông báo này. Ngày 8 tháng 10, gia đình lập trang trên mạng xã hội facebook về ông. Ngày 5 tháng 10, nhà nước Việt Nam ra thông cáo đặc biệt về tin ông từ trần, với nội dung: “ Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Quân ủy Trung ương, vô cùng thương tiếc báo tin: Đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh: Võ Giáp (bí danh: Văn); sinh ngày 25/8/1911, quê xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ; nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII. Do tuổi cao, sức yếu, mặc dù đã được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và tập thể các giáo sư, bác sĩ, nhân viên y tế trong và ngoài quân đội cùng gia đình hết lòng chăm sóc, đồng chí đã từ trần hồi 18 giờ 09 phút, ngày 4/10/2013 (tức ngày 30 tháng 8 năm Quý Tỵ), tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; hưởng thọ 103 tuổi. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng liên tục trên 80 năm, đồng chí đã có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Là người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Đại tướng đầu tiên và Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí được nhân dân yêu mến, kính trọng, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế. Đồng chí mất đi là một tổn thất lớn đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội ta. Để tỏ lòng thương tiếc và biết ơn đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Quân ủy Trung ương quyết định tổ chức tang lễ đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp với nghi thức Quốc tang. BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG ” === Quốc tế === Algérie Tổng thống Abdelaziz Bouteflika đã gửi điện chia buồn tới Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, trong đó nhấn mạnh tên của Đại tướng - người anh hùng quân đội của nền độc lập Việt Nam và là người đã khiến cho thực dân Pháp hoảng loạn ở Điện Biên Phủ - "sẽ vẫn mãi khắc sâu trong ký ức của nhân dân Algeria." Ngày 9 tháng 10, thủ tướng Algérie Abdelmalek Sellal đã đến viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Đại sứ quán Việt Nam tại nước này, thay cho Tổng thống lúc đó đang có sức khỏe không tốt . Ngày 12 tháng 10, Bộ trưởng Cựu chiến binh, Mohamed-Chérif Abbas dẫn đầu đoàn đại biểu Algeria tham gia lễ viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Anh Quốc Đại sứ Anh Antony Stokes nói: "Tôi xin gửi lời chia buồn đến người dân Việt Nam khi họ tiếc thương Tướng Giáp, người đã đóng một vai trò mạnh mẽ và chủ chốt trong lịch sử Việt Nam. Vào lúc này, tôi cũng xin chia buồn tới gia đình và bạn bè của ông". Argentina Đại sứ Cộng hòa Argentina đã gửi điện chia buồn. Ấn Độ Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh gửi Thư chia buồn . Brasil Tổng thống Brasil Dilma Rousseff gửi điện chia buồn tới Chủ tịch nước Trương Tấn Sang . Campuchia Quốc vương Campuchia Norodom Sihamoni gửi điện chia buồn . Ngày 6 tháng 10 năm 2013, Chủ tịch đảng Nhân dân Campuchia cầm quyền Chea Sim, Chủ tịch Thượng Nghị viện Vương quốc Campuchia đã gửi điện chia buồn đến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 12 tháng 10, Heng Samrin, Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia, Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) dẫn đầu đoàn đại biểu Vương quốc Campuchia tham gia lễ viếng. Chile Tổng thống Chile Miguel Juan Sebastián Piñera đã gửi điện chia buồn đến Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Cuba Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Cuba, Đại tướng Raul Castro đã gửi điện chia buồn tới các lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam . Hàn Quốc Điện chia buồn của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hàn Quốc Yun Byung-se . Lào Ngày 7 tháng 10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Lào Xây dựng đất nước và Ủy ban Quốc phòng - An ninh Trung ương đã gửi điện chia buồn về việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời. Sáng 12 tháng 10, đoàn đại biểu Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào do Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Choummaly Saysone dẫn đầu đã vào viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Liên minh Châu Âu Đại sứ - trưởng phái đoàn EU tại Việt Nam Franz Jessen gửi lời chia buồn tới gia đình của Đại tướng và bày tỏ sự trân trọng: "Tướng Giáp đã cống hiến cả cuộc đời ông để phục vụ đất nước, và cũng trong suốt cuộc đời ông, Việt Nam đã đi lên từ một quốc gia bị xâm lược và kém phát triển, thành một quốc gia độc lập có mức thu nhập trung bình, hội nhập cả về mặt kinh tế và chính trị với thế giới và đóng một vai trò quan trọng trong khu vực". Mozambique Tổng thống Mozambique Armando Guebuza gửi điện chia buồn . Nhật Bản Sáng 7 tháng 10, thủ tướng Shinzo Abe đã chân thành bày tỏ cảm xúc của mình về việc Đại tướng vừa từ trần, đồng thời thông qua Chủ tịch nước Việt Nam gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia quyến và nhân dân Việt Nam. Nga Điện chia buồn của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Liên bang Nga Igor Morgulov, thay mặt và thừa Ủy quyền của Ban lãnh đạo Liên bang Nga. Điện chia buồn của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga A. Antonov . Nicaragua Chính phủ Nicaragua đã gửi thông điệp chia buồn tới Chính phủ Việt Nam sau khi nhận được thông tin về việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần. Palestine Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas gửi điện chia buồn tới Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang . Pháp Ngày 5 tháng 10 năm 2013, Hãng tin Pháp AFP trích lời Ngoại trưởng Pháp Laurent Fabius cho biết: "Tôi rất xúc động khi nhận được tin tướng Giáp qua đời. Đây là một người Việt Nam yêu nước vĩ đại, được tất cả người dân Việt Nam yêu quý và kính trọng với vai trò nổi bật và sáng lập của ông trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc". Trong thông cáo báo chí của Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Laurent Fubius viết: "...Ông cũng là người gắn bó sâu sắc với văn hóa Pháp và sử dụng ngôn ngữ của chúng tôi một cách hoàn hảo. Tướng Giáp vừa là một nhà yêu nước và một người lính vĩ đại. Trong bối cảnh Pháp và Việt Nam đã trở thành đối tác chiến lược của nhau, tôi xin tưởng nhớ về một con người xuất chúng và gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia quyến và nhân dân Việt Nam". Singapore Ngày 7 tháng 10, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long gửi lời chia buồn tới Việt Nam và gia đình Tướng quân Võ Nguyên Giáp . Thái Lan Thủ tướng Vương quốc Thái Lan Yingluck Shinawatra gửi điện bày tỏ: "Tôi đau buồn được tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã qua đời, người được các thế hệ nhân dân nước CHXHCN Việt Nam vô cùng yêu mến và kính trọng" . Đại sứ Vương quốc Thái Lan Anuson Chinvanno đã gửi điện chia buồn . Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân tối cao Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Kim Yong-nam gửi Ban Lễ tang Quốc gia Điện chia buồn . Trung Quốc Ngày 7 tháng 10, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bày tỏ lời chia buồn sâu sắc đến Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trước sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Uruguay Tổng thống Uruguay, Jose Mujica gửi điện chia buồn tới Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Ông Mujica bày tỏ lời chia buồn chân thành nhất trước việc "vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp" từ trần, sau khi dành cả cuộc đời cho sự nghiệp thúc đẩy đấu tranh chống áp bức và "gieo niềm tin vào yếu tố con người như là chìa khóa của thắng lợi". Venezuela Ngày 5 tháng 10, Bộ Ngoại giao Venezuela ra thông cáo khẳng định việc Đại tướng ra đi cũng là một tổn thất đối với người dân quốc gia Nam Mỹ này. Tổng thống nước Cộng hòa Bolivar Venezuela Nicolas Maduro đã gửi điện chia buồn. ==== Các tổ chức, đảng phái ==== Angola Điện chia buồn của Đảng Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola gửi Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam có đoạn viết: "Đồng chí Võ Nguyên Giáp là một nhà lãnh đạo lịch sử và nhân vật nổi trội trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì độc lập của đất nước và trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội, thống nhất Tổ quốc và đã để lại cho các thế hệ trẻ một di sản quan trọng" . Cộng hòa Dominica Phong trào Cánh tả thống nhất Cộng hòa Dominicana (MIU) gửi điện chia buồn. El Salvador Đảng Mặt trận Giải phóng Dân tộc Farabundo Marti El Salvador (FMLN) đã gửi điện chia buồn tới Đảng Cộng sản và Nhân dân Việt Nam . Guatemala Liên minh Cách mạng Toàn quốc Guatemala gửi điện chia buồn tới Đảng Cộng sản Việt Nam . Hy Lạp Đảng Cộng sản Hy Lạp gửi điện chia buồn . Nhật Bản Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học xã hội, Đảng Cộng sản Nhật Bản (Nguyên Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nhật Bản) Fuwa Tetsuzo, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nhật Bản gửi lời chia buồn tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Mozambique Ngày 12 tháng 10, ông Alberto Chipande, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Mặt trận Giải phóng Mozambique (Frelimo) dẫn đầu đoàn đại biểu Cộng hòa Mozambique tham gia lễ viếng. Palestine Điện chia buồn của Đảng Phong trào Giải phóng Dân tộc Palestine (FATEH) . Síp Đảng Tiến bộ của Nhân dân Lao động Síp (AKEL) gửi điện chia buồn đến Đảng Cộng sản Việt Nam. Ý Đảng Những người Cộng sản Italy gửi điện chia buồn tới Đảng Cộng sản Việt Nam . Điện chia buồn của Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, có đoạn viết: "Được tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người sáng lập chủ chốt và là nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam từ trần, chúng tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc". Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin Voltaire T. Gazmin . Điện chia buồn của Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp Điện chia buồn của Đảng Cộng sản Peru Tổ quốc Đỏ == Thông tấn, báo chí == Hầu hết các hãng thông tấn lớn như AFP, AP, Reuters, Tân Hoa xã,... và các đài, báo lớn của các nước Pháp (Libération, L'Humanité, Le Parisien, Rue 89, LeTemps, Le Courrier...) Mỹ (Wall Street Journal, Washington Post, Bloomberg, New York Times, Duffelblog....), Nga (Tiếng nói nước Nga, Lenta, Spbdnevnik,...) Trung Quốc (Xinhua, Ifeng, Thời báo Hoàn Cầu, CRI...), Anh (BBC, Telegraph, The Independent, Daily Mail,...), Nhật (Geocities, 47news...), Đức (Taz, DW (Deutsche Welle)...), Hàn Quốc, Cuba, Lào, Campuchia, Thái Lan (The Nation), Mông Cổ, Ấn Độ (Times of India,...), Singapore (Straits Times), Thổ Nhĩ Kỳ, Hà Lan, Tây Ban Nha (El Correo), Ba Lan, România, Thụy Sĩ, Italia (Rai,...), Venezuela, Bolivia (La-razon), Ecuador, Brasil (Planobrazil, Jornalagora), Chile, Argentina (La Nacion, Notícias...), Uruguay, Paraguay (La Estrella), Panama, Nicaragua, Cộng hòa Dominica, El Salvador, Algérie, Angola, Úc (Radio Australia,...), Malta (Malta Today), Hồng Kông (South China Morning Post), EU (Euronews), Malaysia (The Star)... đều có đưa tin. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Thông tư 74/2013/TT-BTC Quy định các khoản chi phí và thực hiện việc cấp, quyết toán ngân sách nhà nước phục vụ Lễ Quốc tang, Lễ tang cấp Nhà nước, Lễ tang cấp cao Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Minh ký ngày 4/6/2013 "Chấn động": Bộ phim về sự qua dời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. VNExpress. Cập nhật lúc 17:07 ngày 12 tháng 10 năm 2013.
vợ.txt
Vợ là bên nữ trong một cuộc hôn phối. Quyền lợi, trách nhiệm và tư cách pháp lý của vợ đối với chồng được quy định trong các luật lệ liên quan, cũng như trong một số quy định tôn giáo. == Hồi giáo == Kết hôn trong thế giới Hồi giáo dựa trên cơ sở hợp đồng hôn nhân, và việc một chồng có nhiều hơn một vợ là không hiếm. Trong một số xã hội Hồi giáo, người cha có thể quyết định con gái mình làm vợ của ai và có thể buộc con gái phải kết hôn với người đó, dù phong tục này không dựa trên tôn giáo mà chỉ dựa trên truyền thống. Hôn nhân sắp đặt là cách phổ biến ở các gia đình truyền thống. Đánh đập vợ được quy định là quyền của chồng trong phần lớn các trường phái Hồi giáo. Phụ nữ phải mặc một số kiểu trang phụ nhất định được quy định trong hadith, như hijab. == Việt Nam == Tại Việt Nam, như đa số quốc gia khác, người ta theo chế độ phụ hệ, trong đó người chồng là chủ gia đình. Trong một khoảng thời gian dài, do ảnh hưởng của Nho giáo, người phụ nữ trong gia đình không được xem trọng, nhưng giờ đây xã hội đã cởi mở hơn, và ảnh hưởng của những người vợ với xã hội ngày càng lớn. == Những câu nói về vợ == Nhất vợ nhì trời Của chồng công vợ Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn Giàu vì bạn sang vì vợ Trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng Vợ đẹp là vợ người ta Lấy đĩ về làm vợ chứ không lấy vợ về làm đĩ Trai khôn chọn vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống == Xem thêm == Vợ lẽ Cô dâu Kết hôn Chồng == Tham khảo == == Liên kết ngoài == (tiếng Việt) Luật Hôn nhân và Gia đình 22/2000/QH10, ngày 9/6/2000 Hôn nhân một vợ một chồng tại Từ điển bách khoa Việt Nam (tiếng Anh) How to Choose a Wife Làm thế nào để chọn vợ?
giải quần vợt pháp mở rộng 2008 - đôi nam.txt
Mark Knowles và Daniel Nestor là đương kim vô địch nhưng tại giải lần này họ không thi đấu cùng nhau. Knowles đánh cặp với Mahesh Bhupathi nhưng bị Stephen Huss và Ross Hutchins loại ngay ở vòng một. Còn Nestor đánh cặp với Nenad Zimonjic và chỉ thua trước Pablo Cuevas và Luis Horna 6–2, 6–3 trong trận chung kết. == Hạt giống == == Sơ đồ == === Viết tắt === VL = Vượt qua vòng loại DC = đặc cách TM = thua cuộc may mắn TT = Thay thế BC = bỏ cuộc KO = không có đối thủ === Chung kết === === Nửa trên === ==== Nhánh 1 ==== ==== Nhánh 2 ==== === Nửa dưới === ==== Nhánh 3 ==== ==== Nhánh 4 ==== == Liên kết ngoài == Sơ đồ tóm tắt kết quả thi đấu
iphone 5s.txt
iPhone 5S (chữ 's' viết thường cách điệu trên sản phẩm: iPhone 5s) là điện thoại thông minh do Apple Inc. phát triển, thuộc dòng sản phẩm điện thoại iPhone và được mở bán ngày 20 tháng 9 năm 2013. Apple đã tổ chức một sự kiện để công bố chính thức dòng điện thoại phân khúc cao cấp này, cùng với chiếc điện thoại phân khúc trung cấp iPhone 5C vào ngày 10 tháng 9 năm 2013. Tương tự với phương thức đã áp dụng cho iPhone 3GS và iPhone 4S, iPhone 5S là một phiên bản cải thiện của sản phẩm tiền nhiệm iPhone 5. Chiếc điện thoại có thiết kế gần như tương tự với sản phẩm tiền nhiệm, bên cạnh đó có một thiết kế nút home mới sử dụng đá sapphire cắt laze được bao quanh bởi một vòng kim loại, Touch ID, một hệ thống nhận dạng vân tay được gắn trực tiếp vào nút home, có thể dùng để mở khoá điện thoại và xác thực các giao dịch trên App Store và iTunes Store. Ngoài ra chiếc điện thoại còn có một camera cải tiến với độ mở ống kính lớn hơn và đèn flash LED kép được tối ưu hoá cho các điều kiện nhiệt độ màu khác nhau. iPhone 5S được trang bị bộ vi xử lý lõi kép A7, bộ vi xử lý 64-bit (ARMv8-A) đầu tiên được dùng trên điện thoại thông minh, đi kèm với một "bộ đồng xử lý chuyển động" M7, một bộ xử lý chuyên dùng để xử lý các dữ liệu chuyển động từ gia tốc kế và con quay hồi chuyển của điện thoại mà không cần sự can thiệp của bộ xử lý chính. Đây cũng là thiết bị đầu tiên của Apple được cài đặt phiên bản mới nhất của hệ điều hành di động iOS, iOS 7, với giao diện hoàn toàn mới và nhiều tính năng mới khác. Sản phẩm chủ yếu nhận được sự đón nhận tích cực, một số nguồn tin còn cho rằng gây là điện thoại thông minh tốt nhất trên thị trường bởi được trang bị phần cứng cải tiến, Touch ID, và nhiều sự thay đổi khác do iOS 7 mang lại. Tuy nhiên, một số người chỉ trích iPhone 5S vì thiết kế quá giống các sản phẩm tiền nhiệm, trong khi số khác tỏ ra lo ngại vấn đề an ninh với hệ thống Touch ID. iPhone 5S, cùng với iPhone 5C, đã bán được chín triệu máy vào dịp cuối tuần đầu tiên mở bán, phá kỷ lục doanh số iPhone trước đây của Apple. iPhone 5S là điện thoại bán chạy nhất của hầu hết các nhà mạng chính tại Mỹ tháng 9 năm 2013. == Danh sách các đời sản phẩm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == iPhone 5S – trang web chính thức
homo sapiens.txt
Homo sapiens (tiếng Latin: "người khôn ngoan") là danh pháp hai phần (cũng được biết đến là tên khoa học) của loài người duy nhất còn tồn tại. Homo là chi người, cũng bao gồm người Neanderthal và nhiều loài khác đã tuyệt chủng của họ Vượn người; H. sapiens là loài duy nhất còn sót lại của chi Homo. Con người hiện đại là phân loài Homo sapiens sapiens, phân biệt chúng ta với thứ được tranh cãi là tổ tiên trực tiếp của chúng ta, người Homo sapiens idaltu. Sự khéo léo và khả năng thích ứng của người Homo sapiens đã khiến nó trở thành loài có ảnh hưởng nhất trên trái Đất; nó đang được coi là loài ít được quan tâm nhất trên Sách đỏ về các loài bị đe dọa của sự Liên Minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. == Tên và phân loại == Danh pháp hai phần Homo sapiens được đặt ra bởi Carl Linnaeus (1758). Danh từ Latin homō (thuộc cách hominis) có nghĩa là "người đàn ông, con người". Phân loài của H. sapiens bao gồm Homo sapiens idaltu và phân loài duy nhất còn tồn tại, người Homo sapiens sapiens. Một số nguồn cho rằng người Neanderthal (Homo neanderthalensis) cũng là một phân loài (Homo sapiens neanderthalensis). Tương tự, mẫu vật phát hiện được của loài Homo rhodesiensis đã được một vài người phân loại thành một phân loài (Homo sapiens rhodesiensis), nhưng hai sự phân loại phân loài cuối này không được chấp nhận rộng rãi bởi các nhà khoa học. == Nguồn gốc == Theo truyền thống, có hai quan điểm cạnh tranh nhau trong cổ nhân chủng học về nguồn gốc của H. sapiens: thuyết nguồn gốc châu Phi gần đây và thuyết nguồn gốc đa khu vực. Từ năm 2010, nghiên cứu gen đã dẫn đến sự xuất hiện của một vị trí trung gian, có đặc trưng chủ yếu của thuyếtchâu Phi gần đây cộng thêm hỗn hợp với con người cổ xưa có giới hạn. Nguồn gốc châu Phi gần đây của con người hiện đại là học thuyết chính thống mô tả nguồn gốc và phân tán ban đầu của giải phẫu người hiện đại. Lý thuyết được gọi là mẫu Đi-khỏi-châu-Phi (Gần đây) trên truyền thông phổ biến, và một cách hàn lâm, là mẫu học thuyết một-nguồn gốc gần đây (recent single-origin hypothesis - RSOH), Học thuyết thay thế (Replacement Hypothesis), và Nguồn Gốc châu Phi gần đây (Recent African Origin - RAO). Học thuyết rằng con người có duy nhất một nguồn gốc (monogenesis) đã được xuất bản trong tác phẩm Nguồn gốc loài Người (1871) của Charles Darwin. Khái niệm này là suy đoán cho đến những năm 1980, khi nó đã được chứng thực bởi một nghiên cứu ADN ty thể ngày nay, kết hợp với các bằng chứng dựa trên nhân chủng học sinh học của các mẫu vật cổ xưa. Theo di truyền học và bằng chứng hóa thạch, người Homo sapiens cổ xưa tiến hóa thành loài người hiện đại chỉ duy nhất ở châu Phi, giữa 200.000 và 100.000 năm trước, với các thành viên của một nhánh rời châu Phi 60000 năm trước và qua thời gian thay thế loài người trước đó như người Neanderthal và người đứng thẳng. Nguồn gốc duy nhất gần đây của loài người hiện đại ở Đông Phi có vị trí gần như đồng thuận trong cộng đồng khoa học. Tuy nhiên, sự sắp xếp gần đây của bộ gen đầy đủ của người Neanderthal đã ám chỉ rằng người Neanderthal và một số người hiện đại có cùng một dòng dõi gen cổ đại. Các tác giả của nghiên cứu cho rằng các phát hiện của họ phù hợp với sự pha trộn của người Neanderthal lên đến 4% trong một số quần thể. Nhưng những nghiên cứu cũng cho thấy rằng có thể có những lý do khác tại sao con người và người Neanderthal lại chia sẻ cùng dòng dõi di truyền cổ đại. Trong tháng 8 năm 2012, một nghiên cứu của các nhà khoa học tại Đại học Cambridge đã đặt câu hỏi về kết luận này, giả định rằng thay vào đó, ADN trùng là một phần còn lại của một tổ tiên chung của cả người Neanderthal và người hiện đại. Tuy nhiên, nghiên cứu đó không giải thích tại sao chỉ có một phần của con người hiện đại có ADN Neanderthal. Học thuyết nguồn gốc đa khu vực cung cấp một lời giải thích cho các mô hình tiến hóa của loài người, được đề xuất bởi Darien H. Wolpoff vào năm 1988. Nguồn gốc đa khu vực cho rằng sự tiến hóa của loài người từ sự khởi đầu của Thế Pleistocene 2,5 triệu năm trước công nguyên cho đến ngày nay đã thuộc một loài người duy nhất và liên tục, tiến hóa trên khắp thế giới thành người Homo sapiens sapiens. == Tiến hóa == Khung thời gian cho sự tiến hóa của chi Homo khỏi tổ tiên chung cuối cùng tinh tinh người là khoảng 10 đến 2 triệu năm trước, còn của H. sapiens khỏi người đứng thẳng là khoảng 1,8 để 0,2 triệu năm trước. Nghiên cứu khoa học về sự tiến hóa của con người đề cập đến chủ yếu là sự phát triển của chi Homo (loài người còn tồn tại và đã tuyệt chủng), nhưng thường liên quan đến việc nghiên cứu những loài thuộc họ Vượn người khác; bao gồm cả Vượn người phương Nam, một tổ tiên quan trọng của con người, và những họ hàng hiện tại đồng thời đã tuyệt chủng của chúng ta trong phân họ Homininae: tinh tinh, tinh tinh lùn, khỉ đột, và các loài thuộc tông người (hominin) đã tuyệt chủng có liên quan. "Con người hiện đại" được xác định là loài người Homo sapiens, trong đó phân loài duy nhất còn tồn tại được gọi là người Homo sapiens sapiens. Homo sapiens idaltu, phân loài còn lại được biết đến, hiện tại đã tuyệt chủng. Homo neanderthalensis, loài tuyệt chủng 30,000 năm trước, đôi khi cũng được phân loại là một phân loài, "Homo sapiens neanderthalensis"; các nghiên cứu về di truyền hiện đang cho rằng những ADN chức năng của người hiện đại và người Neanderthal đã khác nhau từ 500.000 năm trước. Tương tự, những mẫu vật phát hiện được của loài Homo rhodesiensis đã được một vài người phân loại là một phân loài, nhưng sự phân loại này không được chấp nhận rộng rãi. Người hiện đại về mặt giải phẫu lần đầu xuất hiện trong các hóa thạch tại châu Phi khoảng 195,000 năm trước (xem Omo remains), và các nghiên cứu về sinh học phân tử đã cho thấy các bằng chứng rằng thời gian xấp xỉ của sự chia tách (về ADN) từ chung một tổ tiên của tất cả loài người là 200.000 năm trước. Những nghiên cứu rộng rãi về sự đa dạng hóa gen của châu Phi đã tìm thấy người San ǂKhomani có sự đa dạng hóa gen nhiều nhất trong số 113 mẫu dân cư khác nhau, khiến học trở thành một trong 14 "cụm dân cư cổ đại". Nghiên cứu cũng đồng thời định vị khởi nguồn của cuộc di cư của loài người hiện đại là ở phía Tây nam châu Phí, gần biên giới biển của Namibia và Angola. Chọn lọc tự nhiên đã tiếp tục tiếp diễn ra với loài người, với những bằng chứng cho thấy một số vùng hệ gen nhất định đã cho thấy sự chọn lọc có hướng trong 15.000 năm qua. Phân loài của H. sapiens bao gồm Homo sapiens idaltu và phân loài duy nhất còn tồn tại, người Homo sapiens sapiens. Một số nguồn cho rằng người Neanderthal (Homo neanderthalensis) cũng là một phân loài (Homo sapiens neanderthalensis). Tương tự, mẫu vật phát hiện được của loài Homo rhodesiensis đã được một vài người phân loại thành một phân loài (Homo sapiens rhodesiensis), nhưng hai sự phân loại phân loài cuối này không được chấp nhận rộng rãi bởi các nhà khoa học. == Xem thêm == Lịch trình tiến hóa của sự sống == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Media related to Homo sapiens at Wikimedia Commons Human Timeline (Interactive) – Smithsonian, National Museum of Natural History (August 2016).
áo tứ thân.txt
Áo tứ thân (Nôm: 襖四身) là một trang phục của phụ nữ Miền Bắc Việt Nam. Áo được sử dụng như trang phục hàng ngày đến đầu thế kỷ 20. Ngày nay, áo tứ thân chỉ được mặc trong các dịp lễ hội truyền thống. == Miêu tả == Áo dài từ cổ buông xuống dưới đầu gối chừng 20 cm. Áo có hai vạt trước và sau. Vạt trước có hai tà tách riêng nhau theo chiều dài. Vạt phía sau cũng chia làm hai nhưng khâu vào với nhau hình thành một đường dài gọi là sống áo. Vì ở thời này, khổ vải chỉ có chừng 35–40 cm nên phải can tà lại với nhau để thành một vạt áo. Như vậy vẫn gọi là áo có tứ thân. Áo tứ thân gồm hai vạt, bốn tà. Áo tứ thân không có khuy, dài và có hai tay áo để xỏ vào khi mặc. Bên trong, người con gái mặc chiếc yếm. Có thể là yếm cổ xây hoặc yếm cánh nhạn xẻ sâu xuống mãi tận dưới. Yếm có màu nặng dành cho các bà đứng tuổi hoặc màu đào màu thắm đỏ dành cho các cô gái trẻ. Màu yếm này làm cho yếm có tên là yếm "bỏ bùa cho sư". Ngoài yếm là chiếc áo cánh mỏng màu trắng tinh. Cô gái lại tết ra ngoài chiếc dây lưng xanh giữ nhẹ sự kết hợp giữa áo cánh ngắn với cạp váy hoặc quần đen. Chiếc dây lưng xanh này còn có một giá trị trang trí về màu sắc. Ngoài cùng là chiếc áo tứ thân buông xuống tha thướt làm cho thân hình cô gái được gọn gàng, thon thả. Áo tứ thân không có khuy khi mặc, xỏ tay vào hai tay áo. Thế là đủ bộ để có thể vừa làm việc, vừa tung tẩy, đi đây đi đó. Phần lưng áo gồm hai mảnh vải ghép lại, thường là màu nâu hoặc nâu non ghép với màu cùng gam; phía trước có hai thân tách rời, được buộc lại với nhau, thả trước bụng để tạo dáng người thon thả, phía trên không gài khít mà để lộ yếm màu bên trong; cổ áo viền 1 – 2 cm. Áo tứ thân dài gần chấm gót, tay áo bó chặt. Trên sân khấu truyền thống, áo tứ thân dùng cho các vai nữ nông thôn, thường may bằng vải màu sẫm có khuy tròn gài bên nách phải. Áo tứ thân là một trang phục của phụ nữ Miền Bắc Việt Nam. Áo được sử dụng như trang phục hàng ngày đến đầu thế kỷ 20. Ngày nay, áo tứ thân chỉ được mặc trong các dịp lễ hội truyền thống. Bài Chân quê của Nguyễn Bính tả hình ảnh truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: Nào đâu cái yếm lụa sồi? Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân? Nào đâu cái áo tứ thân? Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen? == Xem thêm == Áo dài == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
quân chủ lập hiến.txt
Quân chủ lập hiến hay quân chủ đại nghị là một hình thức tổ chức nhà nước giữ nguyên vai trò của vua hay quốc vương từ thời phong kiến nhưng vị quân vương không nắm thực quyền, mà quyền lực chủ yếu thuộc quốc hội do đảng chiếm đa số ghế lãnh đạo; đảng này cũng có quyền tự chấp chính, hoặc liên minh với đảng khác để thành lập Chính phủ. Thủ tướng thường là thuộc đảng chiếm đa số. Trong các nhà nước theo chính thể quân chủ hạn chế thì quyền lực tối cao của quốc gia phần thuộc vị quân vương, được coi là quốc trưởng, phần thuộc một cơ quan khác, khi là nghị viện hay hội đồng đại biểu. Cuộc bầu cử có thể là đầu phiếu phổ thông hay hạn chế cho một vài giai cấp quý tộc. Trong chính thể quân chủ lập hiến, nhà vua hay nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia, nhưng về quyền lực thì chỉ mang tính chất tượng trưng, đại diện cho truyền thống dòng tộc và sự thống nhất của quốc gia. Tiếng Anh có câu là "nhà vua trị vì nhưng không cai trị". Chính thể quân chủ lập hiến theo mô hình đại nghị còn tồn tại ở nhiều nước phát triển như Nhật, Anh, Thụy Điển, Đan Mạch, Canada... phần nhiều do nguyên nhân lịch sử. == Xem thêm == Chế độ quân chủ Quân chủ chuyên chế == Tham khảo == == Đọc thêm == Boyce, Peter (2008). The Queen's Other Realms. Annandale: Federation Press. tr. 1. ISBN 978-1-86287-700-9. Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Elements of the Philosophy of Right (Allen W. Wood, ed., H.B. Nisbet, trans.) Cambridge University Press, 1991. ISBN 0-521-34438-7 (originally published as Georg Friedrich Wilhelm Hegel, Philosophie des Rechts, 1820).
nhà tù.txt
Nhà tù, hay trại giam, là nơi giam giữ tù nhân. Theo thông lệ, nhà tù là một bộ phận của hệ thống tư pháp hình sự của nhà nước. Tù giam là một hình phạt có thể được nhà nước áp dụng đối với người bị tòa tuyên là có tội. == Sơ lược == Không chỉ dùng để giam giữ người phạm tội đã bị kết án mà nhà tù (tại Việt Nam là trại tạm giam) còn được dùng để tạm giam những người bị tình nghi là phạm tội (hay còn gọi là bị can), phục vụ cho việc điều tra vụ án nếu như người đó không đủ điều kiện để được tại ngoại. Bị can trong vụ án hình sự trước khi có quyết định tống đạt về phiên tòa hay bị cáo trong quá trình đang bị xét xử đều ở trong tù hay trại tạm giam. Tuy nhiên không nhất thiết bị can bị tạm giam trong nhà tù. Ở Việt Nam, trại tạm giam là một tổ chức có quy mô nhỏ và đơn giản hơn nhà tù. == Những tên gọi khác == Nhà tù và trại giam là 2 từ được dùng chính thức, phổ biến trên thế giới. Ngoài ra còn có nhiều từ khác được dùng không chính thức để chỉ nhà tù như: nhà đá, nhà lao, ngục, xà lim, khám, chuồng cọp... Ở Việt Nam từ "trại giam" được dùng một cách chính thức, có giá trị pháp lý. == Lịch sử hình thành == Ra đời từ rất sớm, ngay khi nhà nước ra đời thì các nhà tù cũng được thiết lập cùng với quân đội, cảnh sát, tòa án tạo nên hệ thống công cụ trấn áp của giai cấp thống trị đối với các giai cấp, tầng lớp bị trị trong xã hội. Thuở sơ khai, nhà tù chủ yếu được dùng để giam giữ những người chống đối lại giai cấp cầm quyền, tức là những kẻ có thể làm ảnh hưởng đến sự tồn tại của giai cấp đó. Về sau cùng với sự phát triển của xã hội, nhà tù còn được dùng để giam giữ tội phạm, tức những kẻ chống đối, gây hại cho cộng đồng xã hội. Và ở thời kỳ nào cũng vậy, ngoài chức năng pháp định của mình các nhà tù còn thực hiện những nhiệm vụ chính trị riêng của mình. === Nhà tù cổ === Thời cổ đại, để giam giữ những người chống đối hay các nô lệ thì giai cấp cầm quyền đã biết tới việc xây dựng các nhà tù, dù còn đơn giản, để giam giữ những kẻ chống đối, những tên nô lệ...Những nhà tù này thường xây dựng đơn giản nhưng rất kiên cố. Các tù nhân bị giam giữ giống như những con thú nuôi, trong các lồng, cũi... === Nhà tù phong kiến === Thời gian này, đã xuất hiện những nhà tù, thường gọi là 'ngục kiên cố hơn. === Nhà tù phát xít === Đọc bài chính về trại tập trung... Nhà tù phát xít mà nổi tiếng là các trại tập trung của phát xít Đức là nơi giam giữ những người dân mà không cần qua một phiên tòa xét xử nào cả. Những trại tập trung chủ yếu dùng để giam giữ những người Do Thái và những người Cộng sản. Nơi đây nổi tiếng vì sự hà khắc của nó, các tù nhân thường xuyên bị đánh đập, tra tấn, dùng làm vật thí nghiệm cho các nghiên cứu... === Nhà tù hiện đại === == Cấu trúc == Ngày nay nhà tù, nhất là ở những nước phát triển, được xây dựng rất quy củ. Một nhà tù thường bao gồm nhiều dãy nhà giam khác nhau, mỗi dãy lại được chia thành nhiều buồng riêng biệt có số hiệu và tên gọi riêng để phân biệt. Mỗi buồng giam có thể được chia nhỏ thành những ô, ngăn (xà lim), nơi thường giam giữ 1 hay 2 tù nhân. Bao quanh các dãy nhà là hệ thống hàng rào bảo vệ cùng chòi canh gác nhằm ngăn chặn bất cứ ý định vượt ngục nào của tù nhân, đồng thời ngăn chặn những ý định xâm nhập bất hợp pháp vào nhà tù. Ngoài những buồng giam, nhà tù còn có thể gồm một nhà thờ nhỏ (tại các quốc gia đa số dân cư theo tôn giáo), thư viện, phòng y tế hay thậm chí phòng tập thể hình giúp phạm nhân rèn luyện sức khỏe. Thông thường thì tại một số nhà tù đặc biệt còn có thêm những buồng biệt giam, đây là nơi giam giữ tạm thời những kẻ có tư tưởng chống phá mạnh, hay những tù nhân vi phạm kỷ luật. Khi bị giam giữ tại các buồng biệt giam này, tù nhân phải chịu một cuộc sống khó khăn hơn nhiều so với tại buồng giam thông thường. Họ gần như không được ra ngoài, tất cả mọi hoạt động đều phải tiến hành trong buồng giam chật hẹp. == Cơ cấu tổ chức == Đứng đầu nhà tù là một giám thị, giúp việc cho giám thị là các phó giám thị. Quản giáo (trước đây thường gọi là cai tù) là người trực tiếp quản lý, giáo dục phạm nhân. Nhân viên bảo vệ, lính gác phụ trách việc đảm bảo an ninh cho nhà tù. Ngoài ra còn có các nhân viên kỹ thuật, y tế, hậu cần... đảm bảo nhà tù vận hành tốt. == Nhiệm vụ nhà tù == Ở một số quốc gia nhà tù đơn thuần chỉ được dùng làm nơi giam giữ, quản lý, cách ly tù nhân khỏi đời sống xã hội. Ở một số quốc gia khác nhà tù còn có nhiệm vụ giáo dục, cải tạo tù nhân, giúp họ xóa đi những cái xấu, trở thành những công dân có ích cho xã hội. Ở Việt Nam, Trại giam còn là một "trường dạy nghề" giúp cho những công dân tương lai nhận thức được giá trị của sức lao động, tránh cho họ sự "nhàn cư vi bất thiện". == Cơ quan quản lý == Không có một hình mẫu quản lý nhà tù chung cho tất cả các nước trên thế giới, nhưng nhìn chung cơ quan chủ quản của nhà tù có thể chia làm 2 nhóm chính Nhà tù do Bộ phụ trách cơ quan Công an, cảnh sát quản lý. Hình thức này có một số nước như: Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc... Nhà tù do Bộ Tư pháp quản lý. Gồm một số nước như: Hoa Kỳ, Anh... == Nhà tù của các nước trên thế giới == === Anh === === Úc === Đa số các nhà tù ở nước này được xây dựng từ những năm đầu thế kỷ 19 bởi chính các phạm nhân. Sau đó khá lâu, đến thập niên 1990, chính phủ nước này mới lại cho xây dựng những nhà tù hiện đại hơn. === Hoa Kỳ === Xem Nhà tù Hoa Kỳ === Danh sách các nhà tù trong lịch sử === Nhà tù Alcatraz, San Francisco (không còn sử dụng) Andersonville National Historic Site, Andersonville, Georgia (không còn) Angola prison, gần New Orleans, Louisiana (trước 1901) Attica Correctional Facility, Attica, New York Nhà tù Auburn, Auburn, New York từ 1816 Nhà tù Bastille, Paris, Pháp (không còn) Château d'If, Marseille (không còn) Devil's Island, Guyane (không còn) Eastern State Penitentiary, Philadelphia, Pennsylvania (không còn) Nhà tù Fleet, London (không còn) Nhà tù Fremantle, Fremantle, Western Australia Hỏa Lò, Hà Nội (nay là di tích) Nhà tù Joliet, Joliet, Illinois (không còn) Kingston Penitentiary, Kingston, Ontario Canada Leavenworth, Kansas, website nhà tù liên bang và nhà tù quân đội, the United States Disciplinary Barracks. Nhà tù Lubyanka, Moskva Nga Nhà tù Prison, Belfast, Bắc Ireland Nhà tù Newgate, London Rikers Island, Thành phố New York (từ 1884) Robben Island, Cộng hòa Nam Phi (không còn) Sing Sing Correctional Facility, Ossining, New York, (từ 1828) Nhà tù Spandau, Tây Berlin Nhà tù Tháp Luân Đôn, London Bridewell Palace, London === Nhật Bản === === Trung Quốc === === Việt Nam === Tại Việt Nam hệ thống nhà tù, theo tên gọi chính thức là trại giam, thuộc sự quản lý của Cục V26 Bộ Công an. Tên đầy đủ của Cục V26 là Cục Cảnh sát Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng. Theo Bộ Công an (Việt Nam) tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện công tác tạm giữ, tạm giam được tổ chức trong 2 ngày 4 và 5 tháng 5 năm 2009 tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, "trong 10 năm qua, tổng số người bị tạm giam là hàng triệu lượt người" . Từ nhiều năm qua, giới quan sát ghi nhận hệ thống công an, tòa án, kiểm sát ở Việt Nam có các vụ sai phạm trong việc bắt giữ và xét xử mà báo chí gọi là "án oan sai" và Ân xá Quốc tế phê phán tình trạng chính quyền Việt Nam bất giữ bất cứ ai bị cho là nguy hiểm cho an ninh quốc gia và giam tới hai năm không cần tòa án xét xử . == Thống kê số lượng tù nhân == Năm 2006 theo các nguồn tin công khai có khoảng 9 triệu người bị giam giữ trong các nhà tù trên toàn thế giới. Tuy vậy, trên thực tế con số này cao hơn nhiều. Độ chính xác của con số được công khai không cao do còn nhiều nhà tù bí mật, nhà tù của các chế độ độc tài được giữ kín. Hiện tại Hoa Kỳ đang là nước có số lượng tù nhân nhiều nhất trên thế giới, với hơn 2 triệu tù nhân tại thời điểm cuối năm 2002, trong khi đó cả Nga và Trung Quốc (nước có số dân gấp 4 lần Hoa Kỳ) mỗi nước chỉ có khoảng 1 triệu tù nhân. Tuy vậy xét về tỷ lệ phần trăm của số tù nhân trên dân số thì Rwanda là nước dẫn đầu, vào năm 2002 với hơn 100.000 tù nhân, trong khi dân số có khoảng 8.000.000 người, tức là cứ 100.000 người dân thì có 1.250 người ở trong tù. Hoa Kỳ đứng thứ hai với tỷ lệ 486 tù nhân trên 100.000 dân (theo số liệu của Bộ Tư pháp, là nước có tỷ lệ tù nhân cao nhất trong số các quốc gia phát triển), tiếp theo là New Zealand với 169. Vào năm 2003, Anh có khoảng 73.000 tù nhân và con số tương tự với các nước Pháp, Đức. Ở Việt Nam, theo các nguồn tin công khai, có hơn 53 trại giam đang tồn tại, do Cục V 26 Bộ Công an quản lý. Có khoảng 40.000 đến 60.000 tù nhân. Với dân số vào khoảng 80 triệu thì tỉ lệ tù nhân của Việt Nam là khoảng 75 tù nhân trên 100.000 dân. Không tính số lượng người bị cưỡng chế đưa vào trong các trại học tập cải tạo và trại phục hồi nhân phẩm.... == Những nhà tù nổi tiếng == === Trên thế giới === Nhà tù Guantanamo- nhà tù của Mỹ trên phần đất bị chiếm đóng của Cuba, là nơi giam giữ các tù nhân tình nghi là khủng bố Nhà tù Abu Ghraib- nhà tù của Iraq do Mỹ quản lý sau cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ 2, là nơi đã xảy ra bê bối hành hạ và làm nhục tù nhân của lính Mỹ. === Việt Nam === Một số nhà tù từ thời thuộc Pháp và Mỹ để lại, nay phần lớn là di tích lịch sử như: Nhà tù Côn Đảo, hay còn gọi là "Địa ngục trần gian", là nơi chế độ cai trị của Pháp, Sài Gòn giam giữ hầu hết các nhà cách mạng Việt Nam. Nhà tù Hỏa Lò Nhà lao Cây Dừa - Phú Quốc Nhà tù Sơn La Nhà tù Lao Bảo Nhà đày Buôn Ma Thuột Khám lớn Cần Thơ,... Ngoài những nhà tù trên, do các chế độ trước để lại nay chỉ còn ý nghĩa là di tích, thì hiện tại nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đang duy trì một hệ thống trại giam. == Chú thích ==
redmond, washington.txt
Redmond là một thành phố nằm trong quận King thuộc tiểu bang Washington, Hoa Kỳ. Thành phố này được đặt tên theo. Theo điều tra dân số của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, thành phố có dân số người. == Lịch sử == == Địa lý == Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, thành phố có diện tích km2, trong đó có km2 là diện tích mặt nước. == Thông tin nhân khẩu == == Kinh tế == == Giáo dục == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
taihō (tàu sân bay nhật).txt
"Taihō" (tiếng Nhật: 大鳳 – Đại Phụng) là một tàu sân bay hạm đội của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong Thế Chiến II. Nó chỉ có một thời gian hoạt động ngắn ngủi và bị đánh chìm trong Trận chiến biển Philippine vào ngày 19 tháng 6 năm 1944. == Thiết kế và chế tạo == Được đóng bởi Kawasaki tại Kobe, nó được đặt lườn vào ngày 10 tháng 7 năm 1941 và được hạ thủy gần hai năm sau đó vào ngày 7 tháng 4 năm 1943. Nó được đưa vào hoạt động vào ngày 7 tháng 3 năm 1944. Taihō là chiếc tàu sân bay đầu tiên của Nhật Bản có một thiết kế kiểu mới bao gồm một sàn đáp bọc thép hạng nặng và hai sàn chứa máy bay, khiến cho nó tương tự như lớp tàu sân bay Illustrious của Hải quân Hoàng gia Anh. Nó cũng là chiếc tàu sân bay đầu tiên của Nhật Bản có một mũi tàu kín(hurricane bow). == Lịch sử hoạt động == Vào ngày 19 tháng 6 năm 1944, nó trở thành soái hạm của Phó đô đốc Jisaburo Ozawa, tư lệnh lực lượng tàu sân bay Nhật Bản trong Trận chiến biển Philippine. Khi chiếc Taihō xoay ra hướng gió và tung ra một đợt không kích, bản thân nó bị tấn công bởi một loạt sáu ngư lôi từ chiếc tàu ngầm Mỹ Albacore. Một trong những phi công của chiếc Taihō, Sakio Komatsu, trông thấy các đợt sóng của các ngư lôi khi ông vừa cất cánh, và đã tự nguyện bổ nhào máy bay của mình xuống đường đi của một trong các ngư lôi; quả đạn phát nổ trước khi đến đích, và bốn trong số năm quả ngư lôi còn lại đã bị trượt. Vụ nổ của quả ngư lôi duy nhất trúng đích đã làm kẹt thang nâng máy bay phía trước của chiếc tàu sân bay, trong khi hầm tàu chứa đầy xăng, nước và nhiên liệu. Tuy nhiên, đám cháy đã không phát ra, và sàn đáp không bị ảnh hưởng gì. Ozawa tỏ ra không lo lắng trước các thiệt hại và tiếp tục tung ra thêm hai đợt máy bay tấn công khác. Trong khi đó, một sĩ quan chưa có kinh nghiệm đảm trách công việc cứu hộ. Anh ta cho rằng cách tốt nhất để giải quyết vấn đề hơi xăng là phải mở hệ thống thông khí của toàn thể con tàu để chúng phân tán. Khi làm như vậy, hơi xăng lan tỏa khắp con tàu; và trong khi không ai hay biết gì, Taihō đã trở thành một trái bom nổ chậm nổi. Khoảng 15 giờ 30, Taihō rung chuyển bởi một vụ nổ lớn. Một sĩ quan tham mưu cao cấp trên cầu tàu trông thấy sàn đáp bị nhấc lên, trong khi thành tàu bị thổi tung ra. Chiếc Taihō bị tách khỏi đội hình và bắt đầu chìm xuống nước. Mặc dù Đô đốc Ozawa tỏ ý mong muốn cùng được chết với con tàu, các sĩ quan tham mưu đã thuyết phục được ông cố sống và chuyển bộ chỉ huy sang chiếc tàu tuần dương Haguro. Mang theo tấm ảnh của Nhật Hoàng, Ozawa chuyển sang chiếc Haguro bằng một tàu khu trục. Sau khi ông rời tàu, Taihō bị xé ra bởi một vụ nổ kinh hoàng thứ hai và chìm xuống biển với phần đuôi trước, mang theo 1.650 sĩ quan và thủy thủ đoàn. Taihō chìm ở tọa độ 12°05′B 138°12′Đ. == Danh sách thuyền trưởng == Michio Sumikawa (Sĩ quan trang bị trưởng): 15 tháng 8 năm 1943 - 23 tháng 12 năm 1943 (được thăng lên Chuẩn Đô đốc ngày 1 tháng 11 năm 1943) Tomozo Kikuchi (Sĩ quan trang bị trưởng): 23 tháng 12 năm 1943 - 7 tháng 5 năm 1944 Tomozo Kikuchi: 7 tháng 5 năm 1944 - 19 tháng 6 năm 1944 == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách các tàu sân bay Danh sách các tàu chiến trong Thế Chiến II == Liên kết ngoài == Japanese Warships - Taihō
công ty.txt
Công ty (chữ Hán: 公司) là một trong những phát minh thể chế quan trọng nhất của loài người. Được phát triển sau hàng trăm năm với vô số định dạng và biến thể khác nhau, công ty trở thành một trong những thể chế tổ chức phổ biến nhất trên thế giới và uy quyền cũng như ảnh hưởng của nó nhiều khi còn lớn hơn cả các quốc gia. Thông thường, một công ty là một hình thức tổ chức kinh doanh. == Những công ty / thương hiệu lớn == Nhiều công ty đa quốc gia có doanh thu hàng năm lớn hơn tổng sản lượng quốc gia của một quốc gia. Tương tự như vậy, nhiều chỉ số khác của các công ty cũng vượt xa các quốc gia. Trên thực tế, có nhiều công ty còn nổi tiếng hơn cả các quốc gia nơi nó sinh ra. Người ta có thể không biết hay biết lờ mờ đến quốc gia đó song biết rất rõ và chịu ảnh hưởng hàng ngày của sản phẩm và dịch vụ do công ty đó cung cấp. Nokia, Unilever, Ikea.. là những thí dụ điển hình. == Các loại hình công ty == Theo Luật Doanh nghiệp của Việt Nam, các loại hình công ty phổ biến nhất bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn: với số thành viên thấp nhất là 2 người và cao nhất là 50 người, không được quyền phát hành cổ phiếu. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do 1 tổ chức hay cá nhân làm chủ sở hữu, không được quyền phát hành cổ phiếu. Công ty cổ phần: số thành viên ít nhất là 3, cao nhất không giới hạn, được quyền phát hành cổ phiếu. Công ty hợp danh: có ít nhất 2 thành viên, buộc phải là cá nhân, không được quyền phát hành cổ phiếu. Doanh nghiệp tư nhân: do một cá nhân làm chủ, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản, mỗi cá nhân chỉ được lập duy nhất một doanh nghiệp tư nhân. Nhóm công ty: là một tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây: Công ty mẹ - công ty con. Tập đoàn kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước (quốc doanh) Các hình thức khác. == Xem thêm == Các kiểu công ty Các hình thức cổ phần hoá == Tham khảo ==
tribute (album của yanni).txt
Tribute, được ghi hình tại Taj Mahal, Ấn Độ, và tại Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Trung Quốc từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1997. Album này đạt vị trí #1 trên "Billboard's "Top New Age Album" và xếp #21 trên bảng xếp hạng "Billboard 200" cùng năm đó. == Quá trình thực hiện == Tribute mang đôi nét âm nhạc cổ Ấn Độ; nhà soạn nhạc Hi Lạp Yanni mô tả album này được ra đời để tỏ lòng kính trọng đối với hai công trình Taj và Tử Cấm Thành, cũng như đối với nhân dân hai nước Ấn Độ và Trung Quốc. Các bản nhạc của Yanni được trình diễn bởi dàn nhạc giao hưởng, các ca sĩ, nhóm bè, và nhiều nhạc cụ đa dạng bao gồm kèn ống Úc (didgeridoo), duduk, charango, và sáo trúc (bamboo saxophone). Yanni thuê Armen Anassian làm Nhạc trưởng "bằng niềm tin" --- tức ông không bao giờ theo dõi Anassian điều khiển dàn nhạc như thế nào. "Đó là lý do tại sao Yanni làm được nhiều việc," Anassian trả lời trong một cuộc phỏng vấn với Toledo Blade. Anassian thừa nhận anh có nhiều do dự với kế hoạch cho các nghệ sĩ biểu diễn tại Taj Mahal và Tử Cấm Thành, cho album Tribute. "Thành thực mà nói, khi ông ấy nói về điều này cách đây vài năm, ý tưởng ấy làm tôi kinh ngạc. Bản thân tôi rất nghi ngờ, nhưng cũng có thể thông cảm được. Và sự thật là ý tưởng đó đã thành hiện thực. Chúng tôi đã làm được." Anassian nói phần hình ảnh của Tribute thật hoàng tráng trên phim nhưng vẫn không bằng khi được trực tiếp thưởng thức buổi biểu diễn tại Taj Mahal và Tử Cấm Thành. "Nó không cùng một cảm giác, hoàn toàn không," anh cười. "Thật khó để đưa cả buổi biểu diễn ấy vào một sản phẩm, bởi đó là cả một trải nghiệm thay đổi cuộc đời!" == Album == === Danh sách các bản nhạc === "Deliverance" – 8:33 "Adagio in C Minor" – 3:50 "Renegade" – 7:14 "Dance With a Stranger" – 6:45 "Tribute" – 6:40 "Prelude" – 2:27 "Love Is All" (Lynn, Mcneill, Yanni) – 5:25 "Southern Exposure" – 6:48 "Waltz in 7/8" – 5:32 "Nightingale" – 5:44 "Niki Nana (We're One)" (Sterling, Yanni) – 8:15 === Chứng nhận RIAA === Recording Industry Association of America (RIAA) Gold and Platinum database entries: (G=Gold, P=Platinum, M=Multi-Platinum) YANNI TRIBUTE 03/11/98 VIRGIN P ALBUM SOLO Std YANNI TRIBUTE 03/11/98 VIRGIN G ALBUM SOLO Std == Video == === Danh sách các bản nhạc === "Deliverance" "Adagio In C Minor" "Renegade" "Waltz In 7/8" "Tribute" "Dance With A Stranger" "Nightingale" "Southern Exposure" "Prelude" "Love Is All" "Niki Nana (We're One)" "Santorini" === Chứng nhận RIAA === Recording Industry Association of America (RIAA) Gold and Platinum database entries: (G=Gold, P=Platinum, M=Multi-Platinum) YANNI TRIBUTE 03/11/98 VIRGIN M (2) VIDEO LONGFORM SOLO Std YANNI TRIBUTE 03/11/98 VIRGIN P VIDEO LONGFORM SOLO Std YANNI TRIBUTE 03/11/98 VIRGIN G VIDEO LONGFORM SOLO == Nghệ sĩ chính == Yanni (Keyboards, nhạc điện tử) === Ban nhạc === Karen Briggs (violin) Daniel de los Reyes (bộ gõ) Pedro Eustache (sáo, soprano saxophone, bamboo saxophone, duduk, quena, chinese flute, ney, bass flute) Ric Fierabracci (bass guitar) Ming Freeman (keyboards) David Hudson (didjeridu) Ramon Stagnaro (guitar, charango) Joel Taylor (Trống) === Nhóm bè === Catte Adams Jeanette Clinger Alfreda Gerald Vann Johnson === Nhạc trưởng === Armen Anassian – nhạc trưởng, độc tấu violin === Dàn nhạc giao hưởng === Beth Folsom (violin) Julian Hallmark (violin) Sayuri Kawada (violin) Neal Laite (violin) Ann Lasley (violin) Will Logan (violin) Julie Metz (violin) Pam Moore (violin) Cheryl Ongaro (violin) Delia Park (violin) Irina Voloshina (violin) German Markosian (viola) Eugene Mechtovich (viola) Cathy Paynter (viola) John Krovoza (cello) Sarah O'Brien (cello) Lisa Pribanic (cello) Alexander Zhiroff (cello) Gary Lasley (contra bass) April Aoki (harp) Cheryl Foster (oboe) Luis Aquino (trumpet) Kerry Hughes (trumpet) Paul Klintworth (French horn) Doug Lyons (French horn) Rich Berkeley (trombone) == Các tác phẩm == Mọi bản nhạc đều được sáng tác và trình bày bởi Yanni == Tham khảo == == Các đường dẫn ngoài == Official Website Tribute trên AllMusic Tribute at Allmovie Tribute tại Internet Movie Database
mauritius.txt
Cộng hòa Mauritius (phiên âm tiếng Việt: Mô-ri-xơ; tiếng Pháp: République de Maurice) là đảo quốc nằm hướng tây nam Ấn Độ Dương, cách đảo Madagascar khoảng 900 km về hướng đông. Thủ đô là Port Louis. Nước cộng hòa này bao gồm các quần đảo Cargados Carajos, Rodrigues và quần đảo Agalega. Mauritius là một phần của quần đảo Mascarene. Đảo Réunion của Pháp 200 km (120 dặm) về phía tây nam và đảo của Rodrigues 570 km (350 dặm) phía đông bắc cũng thuộc Mascarene. Đảo Mauritius nổi tiếng vì là nơi duy nhất có dodo sinh sống. Lần đầu tiên được người châu Âu nhìn thấy vào khoảng năm 1600, loài dodo đã tuyệt chủng gần 80 năm sau đó. == Lịch sử == Đảo này đã được các thủy thủ người Ả Rập và các dân tộc Austronesia ghi chép vào thế kỷ 10. Đầu thế kỉ 16, người Bồ Đào Nha khám phá ra hòn đảo này; đảo này trở thành thuộc địa của người Hà Lan và được đặt theo tên bằng tiếng Latin của Thống đốc Maurice van Nassau (1598). Từ năm 1715, người Pháp, dưới sự lãnh đạo của Thống đốc Mahe de Labourdonnais đã xây dựng đường sá và cảng đất trên đảo. Người nô lệ từ châu Phi và Madagascar được đem sang để khai khẩn các đồn điền mía. Năm 1810, người Anh vây hãm đảo này. Hiệp ước Paris năm 1814 chính thức thừa nhận quyền kiểm soát của Anh trên đảo này. Sự bãi bỏ chế độ nô lệ và việc khai khẩn các đồn điền mía cần đến lực lượng nhân công Ấn Độ nhập cư. Việc khai thông kênh đào Suez năm 1869 làm mất đi nhiều nguồn lợi của Mauritius, là một cảng quá cảnh cho tàu thuyền đi vòng qua mũi cực Nam Nam Phi để đến vùng Nam Á và Đông Á. Mauritius trở thành quốc gia độc lập và là thành viên của Khối Liên hiệp Anh năm 1968. Seewoosagur Ramgoolam trở thành Thủ tướng cho đến năm 1982. Anerood Jugnauth giành thắng lợi trong cuộc bầu cử lập pháp, giữ chức Thủ tướng cho đến năm 1995. Năm 1992, Mauritius là nước cộng hòa. Từ năm 1995, chức Thủ tướng thuộc về Navin Ramgoolam và A. Jugnauth trở lại cầm quyền năm 2000. Hiện nay, Mauritius là thành viên của Tổ chức Thống nhất châu Phi. == Chính trị == Chính trị của Mauritius diễn ra trong khuôn khổ của thể chế dân chủ cộng hòa, trong đó Tổng thống là người đứng đầu nhà nước và Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ được hỗ trợ bởi một Hội đồng Bộ trưởng. Mauritius có một hệ thống đa đảng. Quyền hành pháp là của Chính phủ. Quyền lập pháp trong tay Chính phủ và Quốc hội. Quyền lực tuyệt đối được phân chia giữa hai vị trí: Tổng thống và Thủ tướng. Hiến pháp Mauritius được ban hành ngày 12 tháng 3 năm 1968, sửa đổi ngày 12 tháng 3 năm 1992. Đứng đầu Nhà nước là Tổng thống. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Tổng thống do Quốc hội bầu, nhiệm kì 5 năm; Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm và có trách nhiệm trước Quốc hội. Quốc hội Mauritius gồm 66 thành viên, trong đó 62 thành viên được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm, 4 thành viên còn lại do Ban bầu cử chỉ định cho những đảng không thành công trong cuộc tranh cử nhằm cử ra đại diện cho các dân tộc ít người. Chế độ bầu cử ở Mauritius là chế độ phổ thông đầu phiếu. Công dân từ 18 tuổi trở lên được phép bầu cử. === Đối ngoại === Mauritius có mối quan hệ mạnh mẽ và thân thiện với nhiều nước châu Phi, châu Mỹ, châu Á, châu Âu và các nước Châu Đại Dương. Nước này là một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, Khối thịnh vượng chung Anh, Cộng đồng Pháp ngữ, Liên minh châu Phi, Cộng đồng Phát triển Nam Phi (SADC), Ủy ban Ấn Độ Dương, Thị trường chung Đông và Nam Phi và Hiệp hội hợp tác khu vực vành đai Ấn Độ Dương. Được coi là một phần của châu Phi về mặt địa lý, Mauritius có mối quan hệ thân thiện với các quốc gia châu Phi trong khu vực, đặc biệt là Nam Phi, bởi đến nay Nam Phi là đối tác thương mại lớn nhất ở châu Phi của Mauritian. Các nhà đầu tư Mauritian đang dần bước vào thị trường châu Phi, đặc biệt là Madagascar, Mozambique và Zimbabwe. Di sản chính trị của đất nước và sự phụ thuộc vào thị trường phương Tây đã dẫn đến gần quan hệ gần gũi với Liên minh châu Âu và các nước thành viên, đặc biệt là Anh và Pháp. Quan hệ với Trung Quốc và Ấn Độ là mạnh mẽ với lý do lịch sử và thương mại. == Địa lý – Dân cư == Mauritius nằm ở Đông Phi, cách Madagascar 900 km về phía Đông. Phía Bắc đảo quốc này là vùng đồng bằng gợn sóng, rồi cao dần về phía đồng bằng trung tâm trước khi đổ dốc về phía Nam và vùng ven biển phía Tây. Mauritius và các đảo phụ thuộc (Rodrigues, Agalega và Cagados Carajos) thuộc quần đảo Mascareignes. Khí hậu ở Mauritius là nhiệt đới, thay đổi do gió mậu dịch. Mùa đông (tháng 5–11) ẩm và khô, mùa hè (tháng 11–5) nóng và ẩm. Dân cư chủ yếu là người lai giữa người bản địa và người Ấn Độ, người Pháp với tỉ lệ như sau: Người lai Ấn-Mauritius là 68% dân số, người bản địa Creole 27%, người lai Hoa-Mauritius là 3% và người lai Pháp-Mauritius chiếm 2%. Ngôn ngữ được công nhận chính thức là tiếng Anh, ngoài ra còn tiếng Creole, tiếng Pháp, tiếng Hindi. == Kinh tế == Mauritius hiện là nền kinh tế nông nghiệp - dịch vụ đang phát triển. Sản phẩm nông nghiệp truyền thống gồm chè và mía đường (mặt hàng xuất khẩu chủ yếu), các loại cây chế biến gia vị, thuốc lá. Trong thập niên 1980, kinh tế tăng trưởng mạnh nhờ việc thành lập các khu chế xuất thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Du lịch và ngân hàng phát triển mạnh. Từ năm 1990, sự tăng trưởng đã giảm do sự cạnh tranh của các nước có nguồn nhân công rẻ hơn. == Giáo dục – Y tế == Nền giáo dục Mauritius rất được Nhà nước quan tâm trong thời gian gần đây. Giáo dục tiểu học và trung học miễn phí cho mọi trẻ em. Khoảng 100% số học sinh học xong tiểu học và 1/2 số đó học lên trung học. Ngoài hệ thống trường công lập còn có các trường tư. Trường Đại học Mauritius chú trọng đào tạo khoa học và kĩ thuật nông nghiệp. Nhiều thanh niên ra nước ngoài du học (Pháp, Anh, Ấn Độ …). Mauritius có hệ thống y tế công cộng tương đối tốt, cung cấp các dịch vụ chữa bệnh cơ bản miễn phí cho mọi công dân. Các dịch vụ cung cấp nước sạch, các phương tiện vệ sinh đầy đủ, tiêm chủng và chăm sóc thai sản … rất được quan tâm và mở rộng. == Tôn giáo == Mauritaus là nước đa tôn giáo. Do thành phần dân tộc chủ yếu là người Ấn Độ do thực dân Anh đưa đến đây từ thời thuộc địa nên Ấn giáo tôn giáo chính của người Ấn đã trở thành tôn giáo chiếm tỉ lệ cao nhất ở Mauritaus với 48% dân số, ngoài ra còn có các tôn giáo khác như Công giáo Rôma 23.6%, Hồi giáo 16.6%, Tin Lành 8.6%, tôn giáo khác 2.5%, không xác định 0.3%, không tôn giáo 0.4%. == Tham khảo == Chính phủ Mauritius
richard gasquet.txt
Richard Gasquet là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Pháp, hiện đang giữ vị trí số 12 thế giới. Anh từng xếp thứ 7 trên bảng xếp hạng ATP vào năm 2007. Thành tích tốt nhất của anh cho đến lúc này là vào đến bán kết Wimbledon 2007 và 2015, US open 2013, và vô địch nội dung đôi nam nữ tại Pháp mở rộng 2004. Gasquet còn được biết đến như một trong những tay vợt có kiểu đánh trái 1 tay điển hình với cách mở vợt rất rộng.Ngoài ra,năm 2002 anh đã từng vô địch giải trẻ Pháp mở rộng 2002 và giải trẻ US open 2002 == Chú thích == == Tham khảo ==
nghèo.txt
Đây là một bài viết bách khoa có tên Nghèo. Về nghĩa của từ này, xem Nghèo tại Wiktionary. Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia. == Các định nghĩa == === Nghèo tuyệt đối === Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối... là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta." Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997). Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005. Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Tiêu chuẩn nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là thu nhập bình quân đầu người dưới 330.000 đồng/tháng hoặc 4.000.000 đồng/năm (tương ứng 284USD/năm thấp hơn tiêu chuẩn 360 USD/năm của quốc tế). === Nghèo tương đối === Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng. === Ranh giới nghèo tương đối === Ranh giới cho nạn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội. Một con số cho ranh giới của nạn nghèo được dùng trong chính trị và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình. Vì thế từ năm 2001 trong các nước thành viên của Liên minh châu Âu những người được coi là nghèo khi có ít hơn 60% trị trung bình của thu nhập ròng tương đương. Lý luận của những người phê bình cho rằng con số này trên thực tế cho biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống của con người. Những ai hiện tại có ít hơn 50% của thu nhập trung bình thì cũng vẫn có ít hơn 50% của trung bình khi tất cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần. Vì thế những người đó vẫn còn là nghèo tương đối. Và khi những người giàu bỏ đi hay mất tiền của thì sẽ giảm trung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo tương đối trong một nước. Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người không nghèo có thể tăng được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác vẫn không có thay đổi. Người ta còn phê bình là ranh giới nghèo trộn lẫn vấn đề nghèo với vấn đề phân bố thu nhập. Vì một sự phân chia rõ ràng giữa nghèo và giàu trên thực tế không có nên khái niệm ranh giới nguy cơ nghèo cũng hay được dùng cho ranh giới nghèo tương đối. Ngược với ranh giới nghèo tương đối, các phương án tính toán ranh giới nghèo tuyệt đối đã đứng vững. Các ranh giới nghèo tuyệt đối được tính toán một cách phức tạp bằng cách lập ra những giỏ hàng cần phải có để có thể tham gia vào cuộc sống xã hội. Các ranh giới nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối đều không có thể xác định được nếu như không có trị số tiêu chuẩn cho trước. Việc chọn lựa một con số phần trăm nhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác định một giỏ hàng đều không thể nào có thể được giải thích bằng các giá trị tự do. Vì thế mà chúng được quyết định qua những quá trình chính trị. === Định nghĩa theo tình trạng sống === Cái gọi là định nghĩa tình trạng sống lưu ý đến những khía cạnh khác ngoài thu nhập khi định nghĩa "nghèo con người", thí dụ như cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc cũng đã đưa ra chỉ số phát triển con người (tiếng Anh: human development index–HDI). Các chỉ thị cho HDI bao gồm tuổi thọ dự tính vào lúc mới sinh, tỷ lệ mù chữ, trình độ học vấn, sức mua thực trên đầu người và nhiều chỉ thị khác. Trong "Báo cáo phát triển thế giới 2000" Ngân hàng Thế giới đã đưa ra bên cạnh các yếu tố quyết định khách quan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm chất và tự trọng. == Nguyên nhân == Những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo được liệt kê ra là chiến tranh, cơ cấu chính trị (thí dụ như chế độ độc tài, các quy định thương mại quốc tế không công bằng), cơ cấu kinh tế (phân bố thu nhập không cân bằng, tham nhũng, nợ quá nhiều, nền kinh tế không có hiệu quả, thiếu những nguồn lực có thể trả tiền được), thất bại quốc gia, tụt hậu về công nghệ, tụt hậu về giáo dục, thiên tai, dịch bệnh, dân số phát triển quá nhanh và không có bình đẳng nam nữ. Yếu tố nguy hiểm chính cho sự nghèo tương đối là thất nghiệp và thiếu việc làm. Ngoài ra những yếu tố nguy hiểm khác là phân bố thu nhập quá mất cân bằng, thiếu giáo dục và bệnh tật mãn tính. Cho đến thế kỷ 19 sự nghèo nàn phần lớn không được xem như là có nguyên nhân từ xã hội mà là do lỗi lầm cá nhân hay "trời muốn". Cùng với công nghiệp hóa và các tranh cãi chung quanh "câu hỏi xã hội" tại châu Âu, quan điểm cho rằng hiện tượng nghèo nàn phổ biến là kết quả của sự thất bại của thị trường và có thể được làm giảm thiểu bằng các biện pháp quốc gia. Thí dụ như ở Liên hiệp Anh, việc chống nghèo chính là khởi điểm của một chính sách xã hội hiện đại. Thế nhưng trong thời gian gần đây hiệu quả của việc chống nghèo bằng chính sách xã hội tại nhiều nước công nghiệp đã bị đặt câu hỏi vì nhiều hình thức nghèo mới xuất hiện. == Mức độ == === Nghèo trên toàn thế giới === Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới thì trong năm 2001 trên toàn thế giới có 1,1 tỉ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo. (Năm 1981 là 1,5 tỉ người, vào thời gian đó là 40% dân số thế giới, năm 1987 là 1,227 tỉ người tương ứng 30% và năm 1993 là 1,314 tỉ người tương đương với 29%). Phần lớn những người này sống tại châu Á, thế nhưng thành phần những người nghèo trong dân cư tại châu Phi lại còn cao hơn nữa. Các thành viên của Liên Hiệp Quốc trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỷ năm 2000 đã nhất trí với mục tiêu cho đến năm 2015 giảm một nửa số những người có ít hơn 1 đô la Mỹ. (Điểm 1 của những mục đích phát triển thiên niên kỷ). Theo thông tin của Ngân hàng Thế giới vào tháng 4 năm 2004 thì có thể đạt được mục đích này nhưng không phải ở tất cả các nước. Trong khi nhờ vào tăng trưởng kinh tế tại nhiều vùng của châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ 58% xuống còn 16% tại Đông Á) thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở châu Phi (gần gấp đôi từ 1981 đến 2001 phía Nam sa mạc Sahara). Tại Đông Âu và Trung Á con số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số. Nếu như đặt ranh giới nghèo là 2 đô la Mỹ mỗi ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉ người nghèo, gần một nửa dân số thế giới. Nếu xếp theo thu nhập bình quân đầu người thì các nước sau có tỉ lệ người nghèo cao nhất: Malawi, Tanzania, Guiné-Bissau, Burundi và Yemen Bên cạnh nguyên nhân chính trị, nghèo đói cũng là một nguyên nhân lớn của hiện tượng dân di cư từ vùng núi về đồng bằng, từ nông thôn về thành thị, từ các nước thứ ba về các nước phát triển gây nên hiện tượng thuyền nhân. === Nạn nghèo tại Áo === Theo số liệu của Bộ Xã hội ("Báo cáo về tình trạng xã hội 2003–2004") thì trong năm 2003 có hơn 1 triệu người ở Áo (13,2% dân cư) có nguy cơ nghèo. Trong năm 2002 là 900.000 hay 12%, năm 1999 là 11%. Ranh giới nguy cơ nghèo là 60% của thu nhập trung bình. Theo đó thì cứ mỗi 8 người thì có 1 người là có thu nhập ít hơn 785 Euro/tháng. Phụ nữ có tỷ lệ nguy cơ nghèo cao hơn (14%). Bên cạnh nghèo về thu nhập như là chỉ số cho tình trạng tài chính của một gia đình, ở Áo còn có „nghèo nguy kịch" khi ngoài việc thiệt thòi về tài chính còn có thiếu thốn hay hạn chế nhất định trong những lãnh vực sống cơ bản. Trong năm 2003 có 467.000 người (5,9% dân số) nghèo nguy kịch. Trong năm trước còn là 300.000 người hay 4%. Theo một bản báo cáo của hội nghị về nạn nghèo, lần đầu tiên có số liệu về cái gọi là "working poor": tại Áo có 57.000 người nghèo mặc dầu là có việc làm. Ngoài ra mức độ nguy cơ nghèo phụ thuộc vào công việc làm: Những người làm việc cho đến 20 tiếng hằng tuần có nguy cơ nghèo gấp 3 lần, những người làm việc từ 21 đến 30 tiếng có nguy cơ nghèo gấp đôi những người làm việc từ 31 đến 40 tiếng. === Nạn nghèo tại Đức === Thu nhập tương đương sau thuế hằng tháng do Cục Thống kê Liên bang tính toán vào năm 2002 là 1.217 Euro trong các tiểu bang cũ và 1.008 Euro trong các nước tiểu bang mới. Theo các tiêu chí của Liên minh châu Âu cho ranh giới nghèo (60%) thì như vậy ranh giới nghèo nằm vào khoảng 730,20 Euro cho phía Tây và 604,80 Euro cho phía Đông của nước Đức. Theo lệ thường thì mức sống xã hội văn hóa tối thiểu được định nghĩa bằng trợ cấp xã hội còn ở dưới ranh giới này. Theo số liệu từ "Báo cáo giàu và nghèo lần thứ hai" do chính phủ liên bang đưa ra trong tháng 3 năm 2005 thì trong năm 2003 có 13,5% dân số là nghèo. Năm 2002 cũng theo các số liệu này thì con số đó còn là 12,7%, năm 1998 là 12,1%. Hơn 1/3 những người nghèo là những người nuôi con một mình và con của họ. Vợ chồng có nhiều hơn 3 con chiếm 19%. Trẻ em và thanh niên ở Đức có nguy cơ nghèo cao. 15% trẻ em dưới 15 tuổi và 19,1% thanh niên từ 16 đến 24 tuổi thuộc vào diện này. Số trẻ em sống nhờ vào trợ cấp xã hội ở Đức tăng thêm 64.000, lên đến 1,08 triệu trong năm 2003 và đạt đến 1,45 triệu trong thời gian 2004/2005. Theo UNICEF, trẻ em nghèo ở Đức tăng nhanh hơn so với phần lớn các nước công nghiệp. Thêm vào đó nghèo có ảnh hưởng lớn đến cơ hội giáo dục theo nghiên cứu của Hiệp hội Từ thiện Công nhân (Arbeiterwohlfahrt). Ngược lại thì nạn nghèo ở người già tại Đức giảm đi từ 13,3% năm 1998 xuống 11,4% trong năm 2003. Thế nhưng nạn nghèo ở đây được dự đoán là sẽ tăng vì những người thất nghiệp, làm việc nửa ngày và những người thu nhập ít hiện đang có nhiều sẽ có tiền hưu ít và thêm vào đó là mức tiền hưu của tất cả những người về hưu trong tương lai (tức là tất cả những người làm việc hiện nay) sẽ bị giảm đi theo các cải tổ. Theo một nghiên cứu của Deutsches Institut für Altersvorsorge thì 1/3 công dân liên bang có nguy cơ bị nghèo đi trong tuổi già. Nguyên nhân bên cạnh việc tăng tuổi thọ là các cải tổ về chế độ hưu của năm 2001 và 2004 giảm mức độ tiền hưu theo luật pháp xuống khoảng 18% và việc nhiều công dân liên bang không sẵn sàng tự lo trước cho tuổi già vì không muốn hay không có khả năng (khoảng 60%). === Nạn nghèo ở Mỹ === Theo số liệu từ bản báo cáo của Cục điều tra dân số tháng 8 năm 2005 thì ở Mỹ con số những người có thu nhập dưới ranh giới nghèo đã liên tiếp tăng đến lần thứ tư. Có 12,7% dân số hay 37 triệu người nghèo và đã tăng 0,2% so với năm trước đó. Một gia đình 4 người được coi là nghèo khi chỉ có thể chi tiêu ít hơn 19.310 đô la Mỹ trong một năm. Đối với những người độc thân thì ranh giới này ở vào khoảng 9.650 đô la. === Nạn nghèo ở Việt Nam === Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam, vào năm 2004 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng 112 trên 177 nước, chỉ số phát triển giới (tiếng Anh: Gender Development Index-GDI) xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổng hợp (tiếng Anh: Human Poverty Index-HPI) xếp hạng 41 trên 95 nước. Cũng theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, vào năm 2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là 12.9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỷ lệ nghèo lương thực (%số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10.87%. Vào đầu thập niên 1990, chính phủ Việt Nam đã phát động chương trình Xóa đói giảm nghèo cùng với lời kêu gọi của Ngân hàng thế giới. UNDP cho rằng mặc dù Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững và kết quả rất ấn tượng giảm tỷ lệ nghèo, song vẫn còn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng. Để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng nghèo cùng cực. Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số. Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạm phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do là suy giảm kinh tế . Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam hiện nay là gồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đến 650.000 đồng/người/tháng (QĐ 09/2011/QD-TTg). Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rớt trở lại vào cảnh nghèo đói. Trong thập kỷ tới đây nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp giảm nghèo. == Nghèo và môi trường == Trong nhiều khu vực trên thế giới nạn nghèo là một trong những nguyên nhân chính đe dọa và phá hủy môi trường. Các vấn đề có nguyên do từ nạn nghèo làm cản trở các tiến bộ trong bảo vệ môi trường. Phương tiện tài chính cần thiết để bảo vệ môi trường không thể có được tại các vùng có nạn nghèo cao. Klaus Töpfer, lãnh đạo cơ quan môi trường của Liên Hiệp Quốc UNEP đã gọi nghèo "là chất độc lớn nhất của môi trường", chống nghèo là điều kiện tiên quyết để có thành tựu trong việc bảo vệ môi trường. == Ghi chú == == Tham khảo == Werner Rügemer: Arm und reich (Nghèo và giàu). Transcript Verlag, Bielefeld 2003. Eike Roth: Globale Umweltprobleme - Ursachen und Lösungsansätze (Những vấn đề môi trường toàn cầu - Nguyên nhân và phương cách giải quyết). Friedmann Verlag, München 2004 Jared Diamond: Arm und reich. Die Schicksale menschlicher Gesellschaften (Nghèo và giàu. Các số phận của những xã hội con người). Fischer Taschenbuch Verlag, Frankfurt 1999. == Đọc thêm == Giàu Công bằng xã hội Working poor Bất bình đẳng kinh tế Ăn xin Thất nghiệp Đình công Lạm phát Khủng hoảng kinh tế Thâm hụt ngân sách Ăn cắp, ăn trộm Ăn cướp == Liên kết ngoài == Poverty (Sociology) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn tại Việt Nam – Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc Chương trình chống nghèo của UNESCO (tiếng Anh) Eldis Poverty Resource Guide - Tài liệu trực tuyến tự do về nạn nghèo tại châu Phi, châu Á và châu Mỹ La tinh (tiếng Anh)
đại học harvard.txt
Viện Đại học Harvard (tiếng Anh: Harvard University), còn gọi là Đại học Harvard, là một viện đại học nghiên cứu tư thục, thành viên của Liên đoàn Ivy, ở Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ. Với lịch sử, tầm ảnh hưởng, và tài sản của mình, Harvard là một trong những viện đại học danh tiếng nhất thế giới. Được thành lập vào năm 1636 bởi Cơ quan Lập pháp Thuộc địa Vịnh Massachusetts và không lâu sau đó đặt theo tên của John Harvard - người đã hiến tặng của cải cho trường, Harvard là cơ sở học tập bậc cao lâu đời nhất Hoa Kỳ. Mặc dù chưa bao giờ có mối quan hệ chính thức với bất kỳ giáo phái nào, Trường Đại học Harvard (Harvard College, sau này là trường giáo dục bậc đại học của Viện Đại học Harvard) trong thời kỳ đầu chủ yếu đào tạo các mục sư Kháng Cách thuộc hệ phái Tự trị Giáo đoàn. Chương trình học và thành phần sinh viên của trường dần dần trở nên có tính chất thế tục trong thế kỷ 18, và đến thế kỷ 19 thì Harvard đã nổi lên như một cơ sở văn hóa chủ chốt của giới tinh hoa vùng Boston. Sau Nội chiến Hoa Kỳ, Charles W. Eliot trong nhiệm kỳ viện trưởng kéo dài nhiều năm của mình (từ 1869 đến 1909) đã chuyển đổi trường đại học này và các trường chuyên nghiệp liên kết với nó thành một viện đại học nghiên cứu hiện đại. Harvard là thành viên sáng lập Hiệp hội Viện Đại học Bắc Mỹ vào năm 1900. James Bryant Conant lãnh đạo viện đại học này trong suốt thời kỳ Đại suy thoái và Chiến tranh thế giới thứ hai, và sau chiến tranh bắt đầu cải cách chương trình học và mở rộng việc tuyển sinh. Trường Đại học Harvard trở thành cơ sở giáo dục dành cho cả nam lẫn nữ vào năm 1977 khi nó sáp nhập với Trường Đại học Radcliffe. Viện Đại học Harvard được tổ chức thành 11 đơn vị học thuật - 10 phân khoa đại học và Viện Nghiên cứu Cao cấp Radcliffe - với các khuôn viên nằm rải rác khắp vùng đô thị Boston: khuôn viên chính rộng 209 mẫu Anh (85 ha) nằm ở thành phố Cambridge, cách Boston chừng 3 dặm (4,8 km) về phía tây bắc; Trường Kinh doanh và các cơ sở thể thao, bao gồm Sân vận động Harvard, nằm bên kia sông Charles ở khu Allston của Boston; còn Trường Y khoa, Trường Nha khoa, và Trường Y tế Công cộng thì nằm ở Khu Y khoa Longwood. Trong số các tổng thống Hoa Kỳ, có tám người là cựu sinh viên Harvard; chừng 150 người được trao giải Nobel là sinh viên, giảng viên, hay nhân viên của viện đại học này. Ngoài ra, có 62 tỉ phú hiện đang còn sống và 335 Học giả Rhodes, hầu hết sống ở Hoa Kỳ, là cựu sinh viên Harvard. Thư viện Viện Đại học Harvard cũng là thư viện đại học lớn nhất ở Hoa Kỳ. Tính đến tháng 6 năm 2013, tổng số tiền hiến tặng mà Harvard có được là 32,3 tỷ đô-la, lớn hơn ở bất cứ cơ sở học thuật nào trên thế giới. == Lịch sử == === Thời thuộc địa === Harvard được thành lập vào năm 1636 theo sau cuộc bỏ phiếu của Cơ quan Lập pháp vùng Thuộc địa Vịnh Massachusetts. Ban đầu được gọi là New College hay "trường đại học ở New Towne". Năm 1638, trường đại học này trở thành nơi có chiếc máy in đầu tiên được biết là có mặt ở Bắc Mỹ, do con tàu John of London chở từ Anh sang. Năm 1639, trường được đổi tên thành Harvard College, theo tên mục sư John Harvard (1607-1638), một cựu sinh viên của Viện Đại học Cambridge ở Anh, người đã hiến tặng tài sản cho trường. John Harvard khi mất đã để lại cho trường 779 bảng Anh (một nửa gia sản của ông) và chừng 400 cuốn sách. Trong những năm đầu của mình, Trường Đại học Harvard đã đào tạo nhiều mục sư Thanh giáo. Chương trình học của trường dựa theo mô hình viện đại học Anh - nhiều nhà lãnh đạo ở vùng thuộc địa này từng theo học ở Viện Đại học Cambridge - với các môn học cổ điển nhưng làm cho phù hợp với triết lý Thanh giáo thịnh hành lúc bấy giờ. Mặc dù chưa bao giờ thuộc bất kỳ giáo phái nào, nhiều sinh viên tốt nghiệp từ Harvard ra đã trở thành mục sư cho các nhà thờ theo phái Giáo đoàn Tự trị và phái Nhất thể ở khắp vùng New England. Một tập sách giới thiệu, xuất bản vào năm 1643, đã mô tả việc thành lập trường đại học này như là để đáp ứng lại mong muốn "thúc đẩy và làm sống mãi sự học, nếu không thì sợ rằng sẽ để lại những mục sư thất học cho nhà thờ". Mục sư hàng đầu Boston bấy giờ là Increase Mather đã giữ chức hiệu trưởng từ năm 1685 đến 1701. Năm 1708, John Leverett trở thành hiệu trưởng đầu tiên không phải là người thuộc giới tăng lữ; đây là bước đánh dấu sự chuyển mình của Trường Đại học Harvard khiến nó trở nên độc lập về mặt trí thức khỏi ảnh hưởng của Thanh giáo. === Thế kỷ 19 === Trong suốt thế kỷ 18, những ý tưởng của Thời kỳ Khai minh về sức mạnh của lý tính và ý chí tự do trở nên phổ biến trong giới mục sư theo Giáo đoàn Tự trị, khiến họ và giáo đoàn của họ ở trong thế căng thẳng với những nhóm theo thần học Calvin có quan điểm truyền thống hơn. Khi Giáo sư Thần học David Tappan qua đời vào năm 1803 và viện trưởng Harvard Joseph Willard qua đời một năm sau đó, năm 1804, một cuộc đấu tranh đã nỗ ra trong quá trình tìm người thay thế. Henry Ware được chọn vào vị trí giáo sư thần học vào năm 1805, và Samuel Webber - một người theo khuynh hướng tự do - được chỉ định làm viện trưởng hai năm sau đó, đánh dấu sự thay đổi từ thời kỳ những ý tưởng của chủ nghĩa truyền thống là chủ đạo ở Harvard sang thời kỳ những ý tưởng của chủ nghĩa tự do theo lối của Jacobus Arminius. Năm 1846, những bài giảng về lịch sử tự nhiên của Louis Agassiz được chào đón nồng nhiệt ở New York lẫn trong khuôn viên Trường Đại học Harvard. Cách tiếp cận của Agassiz duy tâm theo một cách hoàn toàn khác và đã đặt cơ sở cho "sự tham gia vào Bản thể Thần tính" của người Mỹ và khả năng hiểu "những hiện thể tri thức". Cách nhìn của Agassiz về khoa học kết hợp quan sát với trực giác và giả định rằng người ta có thể nắm bắt được "kế hoạch thần thánh" trong tất cả các hiện tượng. Quan điểm lưỡng nguyên về tri thức này phù hợp với tư tưởng của chủ nghĩa hiện thực mang tính cảm quan kinh nghiệm bắt nguồn từ hai triết gia Scotland Thomas Reid và Dugald Stewart, người có tác phẩm được đưa vào chương trình học của Harvard vào thời ấy. Charles W. Eliot, làm viện trưởng giai đoạn 1869–1909, đã loại trừ khỏi chương trình học vị trí được ưu ái của Ki-tô giáo trong khi cho phép sinh viên tự chủ động. Mặc dù Eliot là nhân vật chủ chốt nhất trong việc thế tục hóa nền giáo dục đại học Hoa Kỳ, ông hành động không phải vì mong muốn thế tục hóa giáo dục mà vì những niềm tin theo trường phái Nhất thể Tiên nghiệm (Transcendentalist Unitarian). Bắt nguồn từ William Ellery Channing và Ralph Waldo Emerson, những niềm tin này tập trung vào phẩm cách và giá trị của bản chất con người, quyền và khả năng của mỗi người trong việc tiếp nhận sự thật, và thần tính nằm trong mỗi người. === Thế kỷ 20 === Trong suốt thế kỷ 20, danh tiếng quốc tế của Harvard gia tăng khi những khoản tiền hiến tặng nhận được gia tăng và các giáo sư xuất sắc mở rộng phạm vi ảnh hưởng của viện đại học. Số sinh viên theo học cũng tăng lên khi các trường sau đại học mới được thiết lập và ngôi trường đại học dành cho việc giáo dục sinh viên bậc đại học được mở rộng. Trường Đại học Radcliffe, được thành lập vào năm 1879 như là một trường chị em với Trường Đại học Harvard, trở thành một trong những trường hàng đầu dành cho nữ giới ở Hoa Kỳ. Harvard trở thành thành viên sáng lập Hiệp hội Viện Đại học Bắc Mỹ vào năm 1900. James Bryant Conant, giữ chức viện trưởng từ năm 1933 đến 1953, đã tạo sinh lực mới cho hoạt động học thuật sáng tạo và bảo đảm là nó có vị trí hàng đầu trong các cơ sở nghiên cứu. Conant xem giáo dục đại học như là nơi cung cấp cơ hội cho những người có tài thay vì là quyền của những người giàu, từ đó ông thay đổi các chương trình để nhận diện, thu hút, và hỗ trợ những người trẻ có tài. Năm 1943, ông yêu cầu tập thể giảng viên đưa ra lời phát biểu dứt khoát về việc giáo dục tổng quát phải như thế nào, cả ở bậc trung học lẫn đại học. Bản "Báo cáo" (Report) nhận được, xuất bản vào năm 1945, là một trong những tuyên ngôn có nhiều ảnh hưởng nhất trong lịch sử giáo dục Hoa Kỳ thế kỷ 20. Trong giai đoạn 1945-1960, chính sách tuyển sinh được mở rộng để thu hút sinh viên từ nhiều hoàn cảnh khác nhau. Trường dành cho sinh viên bậc đại học nay thu hút sinh viên thuộc tầng lớp trung lưu từ các trường công lập, chứ không phải chỉ chủ yếu thu hút sinh viên từ một số trường dự bị đại học ở New England; có nhiều sinh viên Do Thái và Công giáo hơn được nhận, dù vẫn có ít sinh viên da đen, Hispanic, hay Á châu. Sinh viên nữ vẫn học riêng ở Radcliffe, mặc dù ngày càng có nhiều người lấy các lớp học ở Harvard. Ngoài ra, thành phần sinh viên bậc đại học của Harvard vẫn chủ yếu là nam giới, cứ khoảng bốn nam sinh theo học Trường Đại học Harvard thì có một nữ sinh theo học Radcliffe. Theo sau việc Harvard và Radcliffe bắt đầu tuyển sinh chung vào năm 1977, thành phần nữ sinh viên bậc đại học tăng đều, phản ánh xu hướng chung của giáo dục đại học Hoa Kỳ. Các trường sau đại học của Harvard, vốn nhận sinh viên nữ và những nhóm sinh viên khác với số lượng lớn hơn, cũng đã trở nên có thành phần sinh viên đa dạng hơn trong thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1999, Trường Đại học Radcliffe chính thức sáp nhập vào Viện Đại học Harvard và trở thành Viện Nghiên cứu Cao cấp Radcliffe. === Thế kỷ 21 === Drew Gilpin Faust, Hiệu trưởng Trường Đại học Radcliffe, trở thành nữ viện trưởng đầu tiên của Harvard vào năm 2007. Bà được bổ nhiệm sau khi vị tiền nhiệm là Lawrence Summers từ chức vào năm 2006. == Học thuật == === Cơ cấu viện đại học === Viện Đại học Harvard hiện có các phân khoa đại học sau đây: Phân khoa Khai phóng và Khoa học (Faculty of Arts and Sciences), chịu trách nhiệm về hoạt động giáo dục ở Trường Đại học Harvard (Harvard College, thành lập năm 1636), đào tạo sinh viên trong các chương trình bậc đại học. Trường Sau đại học về Khai phóng và Khoa học (Graduate School of Arts and Sciences, 1872). Trường Kỹ thuật và Khoa học Ứng dụng (Harvard School of Engineering and Applied Sciences, 2007; thành lập từ 1950 và đã có nhiều tên gọi khác nhau). Phân khoa Giáo dục Thường xuyên (Harvard Division of Continuing Education), bao gồm Trường Mùa hè (Harvard Summer School, 1871) và Trường Phổ biến Kiến thức (Harvard Extension School, 1910). Trường Y khoa (Harvard Medical School, 1782) Trường Thần học (Harvard Divinity School, 1816) Trường Luật (Harvard Law School, 1817) Trường Nha khoa (Harvard School of Dental Medicine, 1867) Trường Kinh doanh (Harvard Business School, 1908) Trường Sau đại học về Thiết kế (Harvard Graduate School of Design, 1914) Trường Sau đại học về Giáo dục (Harvard Graduate School of Education, 1920) Trường Sức khoẻ Công cộng (Harvard School of Public Health, 1922) Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy (John F. Kennedy School of Government, 1936) Ngoài ra còn có Viện Nghiên cứu Cao cấp Radcliffe (Radcliffe Institute for Advanced Study). === Thư viện và viện bảo tàng === Hệ thống Thư viện Viện Đại học Harvard, trung tâm là Thư viện Widener ở khu Harvard Yard, có hơn 80 thư viện riêng lẻ chứa hơn 15 triệu tài liệu. Theo Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ thì đây là thư viện đại học lớn nhất Hoa Kỳ và là một trong những thư viện lớn nhất thế giới. Thư viện Khoa học Cabot, Thư viện Lamont, và Thư viện Widener là ba trong số các thư viện được sinh viên bậc đại học ưa thích nhất do dễ tiếp cận và ở vào vị trí thuận lợi. Trong hệ thống thư viện của Harvard có những sách hiếm, bản thảo, và các bộ sưu tập đặc biệt; Thư viện Houghton, Thư viện Lịch sử Phụ nữ Arthur và Elizabeth Schesinger, và Văn khố Viện Đại học Harvard là nơi chủ yếu lưu giữ các tài liệu quý hiếm ít đâu có. Bộ sưu tập tài liệu ngôn ngữ Đông Á lớn nhất bên ngoài Đông Á được lưu trữ tại Thư viện Harvard-Yenching. Harvard điều hành một số viện bảo tàng nghệ thuật, văn hóa, và khoa học. Hệ thống Viện Bảo tàng Nghệ thuật Harvard có ba viện bảo tàng. Viện Bảo tàng Arthur M. Sackler có các bộ sưu tập nghệ thuật cổ, châu Á, Hồi giáo, và Ấn Đô thời kỳ sau; Viện Bảo tàng Busch-Reisinger trưng bày nghệ thuật Trung Âu và Bắc Âu; còn Viện Bảo tàng Fogg thì trưng bày nghệ thuật Tây phương từ thời Trung cổ đến thời hiện tại, nhấn mạnh đến nghệ thuật Ý thời kỳ đầu Phục hưng, nghệ thuật Anh thời tiền-Raphael, và nghệ thuật Pháp thế kỷ 19. Viện Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Harvard bao gồm Viện Bảo tàng Khoáng chất Harvard, Viện Bảo tàng Thực vật Harvard, và Viện Bảo tàng Động vật Đối chiếu. Những viện bảo tàng khác bao gồm Trung tâm Nghệ thuật Thị giác Carpenter, do Le Corbusier thiết kế, Viện Bảo tàng Khảo cổ và Nhân học Peabody chuyên về lịch sử văn hóa và văn minh Tây Bán cầu, và Viện Bảo tàng Semitic trưng bày các hiện vật khai quật được ở Trung Đông. === Nhân sự và thành phần sinh viên === Harvard có hai cơ quan quản trị là Board of Overseers (Hội đồng Quản trị) và President and Fellows of Harvard College (còn gọi là Harvard Corporation). Hai cơ quan này có thẩm quyền bổ nhiệm Viện trưởng Viện Đại học Harvard. Viện trưởng đương nhiệm là Drew Gilpin Faust. Hiện Harvard có chừng 16.000 giảng viên và nhân viên, trong số đó có chừng 2.400 giảng viên. Trong sáu năm vừa qua, tổng số sinh viên Harvard nằm trong khoảng từ 19.000 đến 21.000. Harvard có 6.655 sinh viên trong các chương trình bậc đại học, 3.738 sinh viên trong các chương trình sau đại học, và 10.722 sinh viên trong các chương trình chuyên nghiệp sau đại học. Sinh viên nữ chiếm 51%, 48%, và 49% trong tổng số sinh viên bậc đại học, sau đại học, và chuyên nghiệp. Trường Đại học Harvard nhận 27.500 đơn xin vào học khóa tốt nghiệp vào năm 2013, 2.175 được nhận (chiếm 8%), và 1.658 theo học (76%). 95% sinh viên năm nhất từng nằm trong 10 sinh viên đứng đầu khóa ở trường trung học. 88% sinh viên tốt nghiệp trong vòng 4 năm, 98% tốt nghiệp trong vòng 6 năm. Đối với khóa sẽ tốt nghiệp đại học vào năm 2017, Trường Đại học Harvard chỉ nhận có 5.8% trong số các ứng viên nộp đơn. == Khuôn viên == Khuôn viên chính của Harvard rộng 209 mẫu Anh (85 ha), trung tâm là Harvard Yard ở thành phố Cambridge, nằm cách khu trung tâm thành phố Boston chừng 3 dặm (4,8 km) về phía tây-tây bắc, và mở rộng ra khu Quảng trường Harvard ở chung quanh. Khu Harvard Yard có các tòa nhà hành chính và những thư viện chính của viện đại học, các khu học tập bao gồm Sever Hall và University Hall, Nhà thờ Memorial, và phần lớn các cư xá dành cho sinh viên năm nhất. Các sinh viên năm hai, ba, và tư sống trong 12 khu nhà nội trú; chín trong số này nằm ở phía nam Harvard Yard, dọc theo hoặc gần sông Charles, ba khu nhà còn lại vốn trước đây dành cho sinh viên Trường Đại học Radcliffe nằm trong khu dân cư cách Harvard Yard chừng nửa dặm về phía tây bắc ở khu Tứ giác (Quadrangle). Trường Kinh doanh Harvard và nhiều trong số những cơ sở thể thao của viện đại học, bao gồm Sân vận động Harvard, nằm trong một khuôn viên rộng 358 mẫu Anh (145 ha) nằm ở khu Allston, đối diện với Cambridge bên kia sông. Cầu John W. Weeks là cầu đi bộ bắc qua sông Charles, kết nối hai khuôn viên. Trường Y khoa Harvard, Trường Nha khoa Harvard, và Trường Y tế Công cộng nằm ở một khuôn viên rộng 21 mẫu Anh (8,5 ha) ở Khu Học thuật và Y khoa Longwood, cách trung tâm Boston chừng 3,3 dặm (5,3 km) về phía tây nam và cách khuôn viên chính ở Cambridge chừng 3,3 dặm (5,3 km) về phía nam. Ngoài những khuôn viên chính ở Cambridge, Allston, và Longwood, Harvard còn sở hữu và điều hành Vườn Bách thảo Arnold (Arnold Arboretum), ở khu Jamaica Plain của Boston; Trung tâm Lưu trữ và Thư viện Nghiên cứu Dumbarton Oaks (Dumbarton Oaks Research Library and Collection) ở Washington, D.C.; Rừng Harvard ở Petersham, Massachusetts; Trạm Thực nghiệm Concord (Concord Field Station) ở Estabrook Woods, Concord, Massachusetts và trung tâm nghiên cứu Villa I Tatti ở Florence, Ý. Harvard cũng điều hành Trung tâm Harvard Thượng Hải ở Trung Quốc. == Thể thao == Tại Harvard có các cơ sở thể thao như Lavietes Pavillion, một vận động trường đa năng và là sân nhà của các đội bóng rổ của Harvard. Trung tâm Thể thao Malkin (MAC) vừa là tiện nghi thể dục thể thao phục vụ sinh viên của trường vừa là cơ sở vệ tinh cho các cuộc thi đấu liên trường. Tòa nhà năm tầng của MAC có hai phòng tim mạch, một hồ bơi tiêu chuẩn Olympic, một hồ bơi nhỏ cho môn thể dục nhiệp điệu dưới nước và các môn khác, một tầng lửng dành cho các lớp học suốt cả ngày, một phòng tập xe đạp trong nhà, ba phòng tập thể hình, và ba sân tập thể dục có thể sử dụng để chơi bóng rổ. MAC cũng cung cấp dịch vụ huấn luyện cá nhân và các lớp học đặc biệt. MAC là sân nhà của các đội bóng chuyền, đấu kiếm, và wrestling của Harvard. Weld Boathouse và Newell Boathouse là địa điểm tập luyện của các đội chèo thuyền nam và nữ. Đội chèo thuyền nam cũng sử dụng khu phức hợp Red Top ở Ledyard, Connecticut làm trại huấn luyện cho Harvard-Yale Regatta, cuộc đua thuyền hằng năm giữa Harvard và Yale khởi đầu từ năm 1852. Trung tâm Hockey Bright là sân nhà của các đội hockey của Harvard, còn Trung tâm Murr dành cho các đội quần vợt và bóng quần (squash), và là trung tâm chăm sóc sức khỏe cho vận động viên tất cả các môn thi đấu. Đến năm 2006, Harvard có 41 đội thi đấu trong Bảng 1 liên trường (đại học), đứng đầu danh sách các đại học thuộc Bảng 1 của Hiệp hội Thể thao Đại học Quốc gia (NCCA). Đối thủ của Harvard là Yale, tất cả các cuộc tranh tài giữa hai trường này đều quyết liệt, cao điểm là các cuộc thi đấu bóng bầu dục mùa thu mỗi năm, khởi đầu từ năm 1875, trở nên nổi tiếng đến nỗi khi nhắc đến nó người ta chỉ đơn giảin gọi là "trận đấu". Dù không còn được xem là đội bóng số một như một thế kỷ trước đây (từng đoạt giải Rose Bowle năm 1920), Harvard và Yale đã ảnh hưởng đáng kể trên phong cách thi đấu của giải. Lâu đời hơn giải Rose Bowl đến 23 năm là Harvard-Yale Regatta, các cuộc thi đấu giữa Harvard và Yale đều bắt nguồn từ giải này. Cuộc đua thuyền Harvard-Yale Regatta tổ chức hằng năm vào tháng Sáu trên sông Thames phía đông tiểu bang Connecticut. Đội Harvard được xếp vào một trong các đội chèo thuyền hàng đầu của quốc gia. Trong các môn thể thao khác, các đội thi đấu của Harvard cũng ở trong nhóm đầu như môn hockey trên băng (đối thủ chính là Cornell), bóng quần, mới đây Harvard giành các danh hiệu vô địch môn đấu kiếm nam và nữ của NCAA. Harvard cũng giành ngôi vô địch của Hiệp hội Đua thuyền Liên Đại học năm 2003. == Cựu sinh viên == Trong số những nhân vật nổi tiếng nhất từng theo học ở Harvard có những chính khách Hoa Kỳ như John Hancock, John Adams, John Quincy Adams, Rutherford B. Hayes, Theodore Roosevelt, Franklin Roosevelt, tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ John F. Kennedy, Al Gore, tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ George W. Bush, tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ Barack Obama và phu nhân Michelle Obama, toàn quyền Canada David Lloyd Johnston, các thủ tướng Canada Mackenzie King và Pierre Trudeau; các doanh nhân và nhà từ thiện Aga Khan IV và Bill Gates; nhà từ thiện Huntington Hartford; các tổng thống Mexico Felipe Calderón, Carlos Salinas de Gortari và Miguel de la Madrid, tổng thống Chile Sebastián Piñera, tổng thống Colombia Juan Manuel Santos, tổng thống Costa Rica José María Figueres, tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu, thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và chủ tịch Tối cao Pháp viện Israeli Aharon Barak, tổng thống Peru Alejandro Toledo, thủ tướng Albania Fan S. Noli, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon; triết gia Henry David Thoreau, các nhà văn Ralph Waldo Emerson và William S. Burroughs, nhà giáo dục Harlan Hanson, nhà thơ Wallace Stevens, T. S. Eliot và E. E. Cummings; chỉ huy dàn nhạc Leonard Bernstein, danh cầm violon Yo Yo Ma, danh hài Conan O'Brien; các diễn viên Fred Gwynne, Jack Lemmon, Natalie Portman, Mira Sorvino, Ashley Judd, Tatyana Ali, Elisabeth Shue, Rashida Jones, Scottie Thompson, Hill Harper, Matt Damon và Tommy Lee Jones; đạo diễn Darren Aronofsky, Mira Nair, Whit Stillman, và Terrence Malick; kiến trúc sư Philip Johnson; các nhạc sĩ Rivers Cuomo, Tom Morello, và Gram Parsons; nhà soạn nhạc Ryan Leslie, người sáng lập Facebook Mark Zuckerberg, nhà lập trình Richard Stallman, danh thủ bóng bầu dục Ryan Fitzpatrick, danh thủ bóng rổ Jeremy Lin và lãnh tụ dân quyền W. E. B. Du Bois. Trong số những người Việt Nam nổi tiếng là cựu sinh viên Harvard có ông Nguyễn Xuân Oánh (Tiến sĩ Kinh tế, 1954), cựu Phó Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa kiêm Thống đốc Ngân hàng Quốc gia tại Sài Gòn; Phó Bá Long (Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh, 1956), cựu Khoa trưởng Phân khoa Chính trị Kinh doanh, Viện Đại học Đà Lạt; Ngô Vĩnh Long (Tiến sĩ Lịch sử Đông Á và Ngôn ngữ vùng Viễn Đông, 1978), giáo sư Viện Đại học Maine, Hoa Kỳ; Đinh Đồng Phụng Việt (Tiến sĩ Luật, 1993), cựu Phụ tá Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ; Nguyễn Anh Tuấn (tham gia khóa đào tạo và nghiên cứu ngắn hạn vào năm 2004), cựu tổng biên tập báo Vietnamnet. Hội Sinh viên Việt Nam tại Harvard (HVA) thành lập từ đầu thập niên 1990 nhằm thúc đẩy sự quan tâm lẫn nhau, tinh thần cộng đồng, và hiểu biết nhiều hơn về văn hóa Việt. == Trong văn học nghệ thuật == Nhờ có vị trí trung tâm trong giới tinh hoa nước Mỹ, Harvard thường được chọn làm bối cảnh cho nhiều tác phẩm văn học, kịch nghệ, điện ảnh cũng như trong các lĩnh vực văn hóa khác. Love Story (Chuyện tình), xuất bản năm 1970, của Erich Segal, cựu sinh viên Harvard và là giáo sư môn văn chương cổ điển ở Yale, viết về mối tình lãng mạn giữa một sinh viên luật Harvard con nhà dòng dõi (do Ryan O’Neal thủ diễn) với một nữ sinh viên âm nhạc vào Radcliffe nhờ học bổng (Ali MacGraw). Cả cuốn tiểu thuyết và cuốn phim đều thấm đẫm những hình ảnh thơ mộng của Cambridge. Trong những năm gần đây, ở Harvard vẫn có lệ mỗi năm cho chiếu phim Love Story vào dịp đón tiếp tân sinh viên. Các tác phẩm khác của Erich Segal như The Class (1985) và Doctors (1988) cũng có các nhân vật chính là sinh viên Harvard. Harvard cũng xuất hiện trong nhiều xuất phẩm điện ảnh ở Mỹ như Stealing Harvard, Legally Blonde, Gilmore Girls, Queer as Folk, The Firm, The Paper Chase, Good Will Hunting, With Honors, How High, Soul Man, 21, và Harvard Man. Kể từ lúc Love Story được dựng thành phim với bối cảnh Harvard thập niên 1960 cho đến phim The Great Debaters thực hiện năm 2007, Harvard không cho phép quay phim bên trong các tòa nhà; hầu hết các cảnh quay đều thực hiện tại những địa điểm có khung cảnh giống Harvard như ở Toronto, hoặc các viện đại học như UCLA, Trường Đại học Wheaton, hay Viện Đại học Bridgewater State, mặc dù cảnh quan ngoài trời và các cảnh quay từ trên cao khuôn viên Harvard ở Cambridge vẫn thường được sử dụng. Phim Legally Blonde có những cảnh quay trước Thư viện Widener của Harvard nhưng không chịu sử dụng sinh viên Harvard làm diễn viên quần chúng vì trang phục của họ trông "không giống Harvard". Cảnh quay lễ tốt nghiệp trong phim With Honors thực hiện tại trước Thính phòng Foellinger của UIUC. Nhiều cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh Harvard hoặc có các nhân vật chính liên quan đến Harvard. Robert Langdon, nhân vật chính trong các tác phẩm The Da Vinci Code (Mật mã Da vinci) và Angels and Demons của Dan Brown được miêu tả là "giáo sư môn nghệ thuật biểu trưng" (mặc dù "nghệ thuật biểu trưng" – symbolgoy - không phải là tên chính xác của bất kỳ môn học nào). Pamela Thomas-Graham, nhân vật chính trong một bộ tiểu thuyết trinh thám (Blue Blood, Orange Crushed, và A Darker Shade of Crimson) là một giáo sư Harvard người Mỹ gốc Phi. Trong số các tiểu thuyết nổi tiếng có nhân vật chính là sinh viên Harvard phải kể đến cuốn The Sound and the Fury (Âm thanh và Cuồng nộ) của William Faulkner, và Prozac Nation của Elizabeth Wurtzel. Cựu nhân viên CIA Wyman Ford trong Tyrannosaur và Blasphemy của Douglas Preston cũng là cựu sinh viên Harvard. Cũng mượn khung cảnh Harvard là loạt phim truyền hình rất được ưa thích của Hàn Quốc Love Story in Harvard ("Chuyện tình Harvard", đã chiếu ở Việt Nam), thực hiện những cảnh quay ở Viện Đại học Nam California. == Những nhận xét về Harvard == Năm 1893, sách hướng dẫn của Baedeker gọi Harvard là "học viện lâu đời nhất, giàu nhất, và nổi tiếng nhất ở Mỹ." Hai chi tiết đầu đến nay vẫn còn chính xác; nhưng chi tiết thứ ba thì đang bị tranh cãi. Đến năm 2007, Harvard vẫn đứng đầu trong tất cả bảng xếp hạng các viện đại học trên thế giới của THES-QS University Rankings, và Academic Ranking of World Universities. Năm 2007, tờ U.S. News & World Report cũng xếp Harvard đầu bảng "các viện đại học trong nước". Tuy nhiên, Harvard cũng là mục tiêu của không ít chỉ trích, bị phê phán về tình trạng lạm phát điểm số giống các cơ sở giáo dục đại học khác. Sau những chỉ trích từ các phương tiện truyền thông, Harvard hạn chế hạng danh dự từ 90% trong năm 2004 xuống còn 60% năm 2005, và tỏ ra chọn lọc hơn khi được ban tặng các danh hiệu danh dự "John Harvard Scholar" cho nhóm 5% đầu lớp và "Harvard College Scholar" cho nhóm 5% kế cận – với điểm trung bình tối thiểu là 3.8. Quỹ Carnegie Thúc đẩy Hoạt động Giảng dạy, tờ The New York Times, và một số sinh viên lên tiếng chỉ trích Harvard đã phụ thuộc vào các trợ giảng trong một số môn học trong chương trình cử nhân; theo họ, điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng đào tạo. Một bài viết đăng trên tờ New York Times cho thấy tình trạng này cũng phổ biến tại một số viện đại học thuộc Liên đoàn Ivy. Tờ Globe cho đăng kết quả khảo sát của Consortium on Financing Higher Education (COFHE) đối với 31 viện đại học hàng đầu, trình bày những vấn đề như tính sẵn sàng của ban giảng huấn, chất lượng giảng dạy, chất lượng tham vấn, đời sống xã hội ở trường học, và tình cảm cộng đồng kể từ năm 1994. Tờ Harvard Crimson cũng đưa ra những phê phán tương tự. Theo trích dẫn của Harvard Crimson, Hiệu trưởng Trường Đại học Harvard là Benedict Gross tỏ ra quan tâm đến các vấn đề COFHE đã nêu, và hứa sẽ cải thiện tình hình. Cựu viện trưởng Viện Đại học Harvard là Larry Summer nhận xét, "Tôi nghĩ vấn đề quan trọng duy nhất là mối quan hệ giữa ban giảng huấn và sinh viên, chúng ta đã để quá nhiều sinh viên cao học tham gia giảng dạy. Các lớp học quá đông đến nỗi giảng viên không biết tên sinh viên. Ít người có cơ hội trải nghiệm phương pháp học tập tích cực như vào phòng thí nghiệm, thảo luận trong lớp, đối thoại tại các hội nghị chuyên đề, hoặc làm việc theo nhóm trong văn khố." == Chú thích == == Đọc thêm == Hoerr, John, We Can't Eat Prestige: The Women Who Organized Harvard; Temple University Press, 1997, ISBN 1-56639-535-6 John T. Bethell, Harvard Observed: An Illustrated History of the University in the Twentieth Century, Harvard University Press, 1998, ISBN 0-674-37733-8 Harry R. Lewis, Excellence Without a Soul: How a Great University Forgot Education (2006) ISBN 1-58648-393-5 John Trumpbour, ed., How Harvard Rules. Reason in the Service of Empire, Boston: South End Press, 1989, ISBN 0-89608-283-0 Story, R. The Forging of an Aristocracy: Harvard and the Boston Upper Class,1800-1870, Middletown, CT: Wesleyan University Press, 1981 == Liên kết ngoài == Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright ở Việt Nam
côn đảo.txt
Côn Đảo là một quần đảo ở ngoài khơi bờ biển Nam Bộ (Việt Nam) và cũng là huyện trực thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Côn Đảo cách thành phố Vũng Tàu 97 hải lý theo đường biển. Nơi gần Côn Đảo nhất là xã Vĩnh Hải, tỉnh Sóc Trăng, cách 40 hải lý. Côn Đảo hay Côn Sơn cũng hay dùng cho tên của hòn đảo lớn nhất trong quần đảo này. Lịch sử Việt Nam trước thế kỷ 20 thường gọi đảo Côn Sơn là đảo Côn Lôn hoặc Côn Nôn. Tên gọi cũ trong các văn bản tiếng Anh và tiếng Pháp là Poulo Condor. Năm 1977, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định tên gọi chính thức là Côn Đảo. Côn Đảo cũng là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. == Địa lý tự nhiên == Côn Đảo nằm cách Vũng Tàu 97 hải lý và cách cửa sông Hậu 45 hải lý, có cùng một kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh (106°36′ Đông) và cùng một vĩ độ với tỉnh Cà Mau (8°36′ Bắc). Quần đảo gồm mười sáu hòn đảo với tổng diện tích đất nổi là 76 km², trong đó đảo lớn nhất là đảo Côn Sơn. Địa hình đảo này là vùng đồi núi, ưu thế bởi các dãy đá granit chạy từ phía tây nam đến đông bắc, che chở cho các vùng vịnh của đảo cả về hai phía khỏi những luồng gió mạnh. Điểm cao nhất của quần đảo là đỉnh núi Thánh Giá trên đảo Côn Sơn (577 m). Địa chất quần đảo có tính đa dạng cao, từ đá mácma Mesozoi xâm nhập axít đến mácma phun trào axít và phun trào trung tính cùng các trầm tích Đệ tứ. === Danh sách đảo === === Khí hậu === Khí hậu Côn Đảo mang đặc điểm á xích đạo - hải dương nóng ẩm, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm là 26,9 °C. Tháng 5 oi bức, có lúc nhiệt độ lên đến 34 °C. Lượng mưa bình quân trong năm đạt 2.200 mm; mưa ít nhất vào tháng 1. Quần đảo Côn Đảo nằm ở vùng giao nhau giữa luồng hải lưu ấm từ phía nam và luồng hải lưu lạnh từ phía bắc. Nhiệt độ nước biển từ 25,7 °C đến 29,2 °C. === Thị trấn Côn Đảo === Thị trấn Côn Đảo nằm trên một thung lũng hình bán nguyệt ở tọa độ 106°36′10″ kinh độ đông và 8°40′57″ vĩ độ bắc. Thung lũng có chiều dài từ 8 đến 10 km, chiều rộng từ 2 đến 3 km và có cao độ trung bình khoảng 3 m so với mặt nước biển. Một mặt trông ra vịnh Đông Nam trong khi ba mặt còn lại vây quanh là núi. Thị trấn Côn Đảo nằm ở khoảng giữa của sân bay Cỏ Ống và cảng Bến Đầm (khoảng cách ước chừng là 12 km). Thị trấn là nơi tập trung toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của quần đảo. == Sinh thái == Vườn quốc gia Côn Đảo được thành lập từ năm 1993 trên cơ sở chuyển từ Khu rừng cấm Côn Đảo với diện tích 6.000 ha trên cạn và 14.000 ha vùng nước, bao trùm 14 hòn đảo. Về thực vật, người ta thống kê được 882 loài thực vật rừng bậc cao thuộc 562 chi, 161 họ, trong đó có 371 loài thân gỗ, 30 loài phong lan, 103 loài dây leo, 202 loài thảo mộc,.... Về động vật rừng, hiện đã biết 144 loài bao gồm 28 loài thú, 69 loài chim, 39 loài bò sát,... Côn Đảo có loài thạch sùng Côn Đảo đặc hữu. Vùng biển của vườn quốc gia sở hữu 1.383 loài sinh vật biển, trong đó có 127 loài rong biển, 11 loài cỏ biển, 157 loài thực vật phù du, 115 loài động vật phù du, 202 loài cá, 8 loài thú và bò sát biển,... Các rạn san hô nơi đây do 219 loài hợp thành; độ phủ trung bình là 42,6 %. Côn Đảo không chỉ là vùng có nhiều rùa biển nhất nước Việt Nam mà còn là nơi duy nhất ở Việt Nam còn tồn tại một quần thể bò biển có cuộc sống không tách rời các thảm cỏ biển. == Tên gọi == Tên Côn Đảo có nguồn gốc Mã Lai, bắt nguồn từ danh xưng "Pulau Kundur" (nghĩa là "hòn Bí"). Người châu Âu phiên âm là "Poulo Condor". Sách sử Việt Nam thì gọi là "đảo Côn Lôn". Riêng tên tiếng Khmer của đảo là "Koh Tralach". Thuở xưa, lúc bị quân Tây Sơn tấn công thì Nguyễn Ánh từng trốn ra Côn Đảo để tính kế phục thù. Tương truyền khi biết Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc) khuyên Nguyễn Ánh cầu viện sự giúp đỡ từ Pháp thì một vị thứ phi đã lên tiếng phản đối. Nguyễn Ánh đày bà ra đảo Côn Lôn Nhỏ, từ đó đảo này có tên gọi là hòn Bà. Về các địa danh hòn Trác và hòn Tài, có nguồn giải thích rằng chúng bắt nguồn từ tên của hai anh em sinh đôi là Đặng Phong Tài và Đặng Trác Vân. Cả hai đều là tuỳ tùng phò vua Hàm Nghi chống thực dân. Năm 1899, Pháp đày Đặng Phong Tài ra Côn Đảo - nơi ông kết duyên cùng người con gái tên Đào Minh Nguyệt. Về sau, người em Đặng Trác Vân cũng bị đày ra đây. Người chị dâu nảy sinh tình ý với em chồng, khiến Vân dần cảm thấy lo ngại và bèn quyết định bỏ sang hòn đảo khác. Khi Tài lần sang đảo tìm em thì Vân lại bỏ đi đảo khác. == Lịch sử == === Trước thời Pháp thuộc === Côn Đảo nằm ở vị trí thuận lợi trên đường hàng hải nối liền Âu-Á nên sớm được người phương Tây biết đến. Năm 1294, đoàn thuyền 14 chiếc của nhà thám hiểm người Ý Marco Polo trên đường từ Trung Hoa về nước bị một cơn bão nhấn chìm mất 8 chiếc; số còn lại đã dạt vào trú tại Côn Đảo. Giai đoạn thế kỷ 15-thế kỷ 16: có rất nhiều đoàn du hành của châu Âu ghé qua thăm Côn Đảo. Cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18: các nhà tư bản Anh, Pháp đã bắt đầu để ý đến các nước phương Đông. Nhiều lần các công ty của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình hình mọi mặt với dụng ý chiếm Côn Đảo. Năm 1702, tức năm thứ 12 đời Chúa Nguyễn Phúc Chu, đích thân giám đốc Công ty Đông Ấn của Anh chỉ huy quân đổ bộ lên Côn Đảo, xây dựng pháo đài và cột cờ. Sau 3 năm, vào ngày 3 tháng 2 năm 1705 thì xảy ra cuộc nổi dậy của lính Macassar (lính người Sulawesi). Đoàn quân Anh phải rời bỏ Côn Đảo. Ngày 28 tháng 11 năm 1783, trong chuyến đem hoàng tử Cảnh và vương ấn của Chúa Nguyễn Ánh về Pháp, Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) tự đứng ra đại diện cho Nguyễn Ánh để ký với Bá tước De Mantmarin (đại diện cho vua Louis XVI của Pháp) một hiệp ước tên gọi là Hiệp ước Versailles. Đây là văn kiện đầu tiên nhượng cho Pháp chủ quyền cửa biển Touron và quần đảo Côn Lôn. Đổi lại, Pháp sẽ giúp Nguyễn Ánh 4 tàu chiến, 1200 lính, 200 pháo thủ, 250 người lính Phi để chống lại nhà Tây Sơn. Cách mạng Pháp nổ ra khiến nước này không thực hiện được cam kết trên. Tương truyền trong đợt thứ 3 bị Tây Sơn truy sát thì Nguyễn Ánh và thuộc hạ đã trốn ra Côn Lôn. Ông sống ẩn dật mấy tháng trời ở đây. Vì thế, hiện nay ở đảo Côn Sơn có một ngọn núi cao gọi là núi Chúa; ở làng An Hải có đền thờ thứ phi của Nguyễn Ánh là Hoàng Phi Yến và ở làng Cỏ Ống có Miếu Cậu thờ Hoàng tử Cải con của thứ phi Hoàng Phi Yến. Vào thời Gia Long, theo Đại Nam nhất thống chí thì Côn Đảo thuộc quyền quản hạt của đạo Cần Giờ, trấn Phiên An, tổng trấn Gia Định (Gia Định thành); đến năm Minh Mạng 20 (1839) thì Côn Đảo được chuyển sang thuộc tỉnh Vĩnh Long của Nam Kỳ Lục tỉnh. === Thời Pháp thuộc === Ngày 1 tháng 9 năm 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng, chiếm đóng bán đảo Sơn Trà và chuẩn bị đánh Huế. Tháng 4 năm 1861, Pháp đánh chiếm Định Tường. Chính trong thời gian này, Pháp khẩn cấp đặt vấn đề chiếm đóng Côn Đảo vì sợ Anh chiếm mất vị trí chiến lược quan trọng này. 10 giờ sáng ngày 28 tháng 11 năm 1861, thủy sư đô đốc Pháp là Bonard hạ lệnh cho tàu thông báo Norzagaray đến chiếm Côn Đảo kéo cờ Pháp. Trung úy Hải quân Pháp Lespès Sebastien Nicolas Joachim lập biên bản "Tuyên cáo chủ quyền" của Pháp tại Côn Đảo. Ngày 14 tháng 1 năm 1862, chiếc tàu chở hàng Nievre đưa một số nhân viên ra đảo. Những người này có nhiệm vụ tìm vị trí thuận lợi dựng tạm hải đăng Côn Đảo nhằm chống chế nếu có nước nào phản kháng hành động tuyên bố chủ quyền. Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất với Pháp. Khoản 3 của Hoà ước ghi rõ rằng nhà Nguyễn phải nhượng hoàn toàn chủ quyền Côn Lôn cho hoàng đế Pháp. Nguyễn (2012) cho rằng sở dĩ Pháp phải ép triều đình Huế làm như vậy là vì hành động chiếm Côn Lôn năm 1861 đã bị Anh phản đối, bởi phía Anh cho rằng Pháp chiếm đảo dựa theo một Hiệp ước không được thi hành (tức Hiệp ước Versailles năm 1783). === Thời Việt Nam Cộng hoà === Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 143-NV công bố danh sách các đơn vị hành chính Nam Việt, trong đó có tỉnh Côn Sơn. Ngày 24 tháng 4 năm 1965, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tỉnh Côn Sơn thành Cơ sở Hành chính Côn Sơn trực thuộc Bộ Nội vụ. Chức "tỉnh trưởng" được đổi thành "đặc phái viên hành chính". Ngày 1 tháng 5 năm 1975, quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp quản Côn Đảo. === Nhà tù Côn Đảo === Ngày 1 tháng 2 năm 1862, Bonard ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo, từ đó biến Côn Lôn thành nơi giam giữ những người tù chính trị Việt Nam với hệ thống chuồng cọp nổi tiếng. Dưới thời Pháp thuộc đã có câu rằng: "Côn Lôn đi dễ khó về Già đi bỏ xác, trai về nắm xương." Danh sách quản đốc Pháp ở Côn Đảo: Dưới chế độ nhà tù Côn Đảo, khoảng 20.000 người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã chết và được chôn cất tại Nghĩa trang Hàng Dương. == Hành chính == Quần đảo Côn Lôn trước khi thuộc Pháp, thuộc tỉnh Hà Tiên, sau đổi cho tỉnh Vĩnh Long quản lý. Ngày 16 tháng 5 năm 1882, tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh công nhận quần đảo Côn Lôn là một quận của Nam Kỳ. Tháng 9 năm 1954 dưới chính quyền Quốc gia Việt Nam Thủ tướng Ngô Đình Diệm tiếp tục chế độ nhà tù của Pháp và đổi tên quần đảo Côn Lôn thành hải đảo Côn Sơn. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, dưới thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập tỉnh Côn Sơn. Ngày 24 tháng 4 năm 1965, tỉnh Côn Sơn đổi thành cơ sở hành chính Côn Sơn, trực thuộc Bộ Nội vụ. Chức tỉnh trưởng được đổi thành Đặc phái viên hành chính. Sau Hiệp định Paris (1973), chính quyền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại đổi tên quần đảo này một lần nữa là Phú Hải. Các trại tù đều được ghép thêm chữ Phú. Giai đoạn này số tù nhân lên đến 8.000 người. Tháng 5 năm 1975, Côn Đảo được gọi là tỉnh Côn Đảo Tháng 9 năm 1976, tỉnh Côn Đảo giải thể và chuyển thành huyện Côn Đảo thuộc thành phố Hồ Chí Minh Tháng 1 năm 1977, trở thành huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang Tháng 5 năm 1979, trở thành quận Côn Đảo thuộc Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo Từ tháng 10 năm 1991, Côn Đảo là huyện thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Hiện nay Côn Đảo là một huyện có chính quyền một cấp, thông qua các cơ quan chức năng huyện, trực tiếp đến địa bàn dân cư, không có các cấp phụ thuộc như xã, phường hay thị trấn. == Dân sinh == Dân số Côn Đảo tính đến cuối năm 2012 khoảng 7.500 người thuộc mười khu dân cư. Thị trấn Côn Đảo là nơi tập trung dân cư, khu nghỉ dưỡng phục vụ du khách và các đơn vị hành chính của huyện Côn Đảo. == Kinh tế == Tính đến năm 2010, cơ cấu kinh tế của Côn Đảo có tỉ trọng dịch vụ chiếm cao nhất (71,63%), kế đó là công nghiệp (20,20%) và cuối cùng là nông nghiệp (8,27%). GDP bình quân đầu người là 965 đô la Mỹ. Hàng năm ngành dịch vụ tăng trưởng với nhịp độ khoảng 33,7%; số khách du lịch đến Côn Đảo đạt khoảng 200.000 đến 250.000 người/năm. == Cơ sở hạ tầng == Côn Đảo đã được phủ sóng điện thoại và chất lượng sử dụng rất tốt. Hiện có bốn mạng điện thoại di động phủ sóng là Vinaphone, Mobifone, Viettel Telecom và Vietnamobile. Ngoài ra còn có mạng điện thoại cố định không dây của Viettel. Cuối tháng 8 năm 2007, Côn Đảo đã có kết nối Internet tốc độ cao ADSL, đảm bảo thông tin liên lạc. Côn Đảo có đài phát thanh và truyền hình. === Giao thông === Đường biển Từ Cảng Cát Lỡ - Vũng Tàu, có thể đi đến Côn Đảo bằng tàu Côn Đảo 9 và Côn Đảo 10. Lịch tàu chạy được cập nhật theo tháng và không thông báo hủy chuyến (tùy thuộc vào điều kiện thời tiết). Thời gian đi từ Vũng tàu đến Côn Đảo khoảng 12 tiếng với quãng đường 97 hải lý. Hiện tại chưa có tàu cao tốc khai thác tuyến này. Cuộc sống người dân đảo phụ thuộc nhiều vào những chuyến tàu, nhất là trong những ngày gió bão tàu không chạy được. Hàng hóa không ra được đảo sẽ có thể khiến Côn Đảo rơi vào tình trạng thiếu lương thực và mọi sinh hoạt đều bị ảnh hưởng. Trên hòn Bảy Cạnh có ngọn hải đăng lâu đời được dựng bằng công sức lao động khổ sai của các tù nhân. Lịch sử kể lại rằng vào ngày 27 tháng 8 năm 1883, Pháp cho dời hải đăng dựng tạm ở ngọn đồi phía bắc thung lũng Cỏ Ống (đảo Côn Sơn) về mỏm núi ở phía đông hòn Bảy Cạnh với độ cao và tầm chiếu sáng ưu thế hơn. Hải đăng có chiều cao tâm sáng 212 m; ánh sáng trắng, chớp nhóm 2, chu kì 10 giây. Tầm hiệu lực ban ngày là 35 hải lý còn ban đêm là 26,7 hải lý. Đường hàng không Năm 2011 đánh dấu sự phát triển của đường bay Côn Đảo khi hãng không Air Mekong thông báo mở đường bay từ thành phố Hồ Chí Minh đi Côn Đảo. VASCO cũng mở thêm đường bay từ Cần Thơ đi Côn Đảo và tăng thêm một chuyến từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Côn Đảo lên thành 4 chuyến/ngày. Từ ngày 6 tháng 9 năm 2011, Air Mekong đã mở thêm tuyến bay Côn Đảo - Hà Nội với tần suất ba chuyến/tuần. Vietnam Airline cũng khai thác đường bay từ thành phố Hồ Chí Minh đến Côn Đảo với tuần suất 4 chuyến/ngày == Du lịch == Côn Đảo là một trong 21 khu du lịch quốc gia của Việt Nam. Nơi đây được nhiều du khách đánh giá là thiên đường của nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên (rừng và biển). Côn Đảo được xem là hòn đảo du lịch với những bãi tắm hoang sơ tuyệt đẹp, làn nước trong xanh mát lạnh, bãi cát dài phẳng mịn. Không khí trên đảo thật trong lành, được ví như thiên đường nghỉ dưỡng. Sở hữu rừng nguyên sinh và biển được bảo tồn đa dạng sinh học, Côn Đảo không chỉ là nơi nghiên cứu của các nhà khoa học mà còn là nơi để du khách đến du lịch khám phá, với các chương trình du lịch sinh thái. Tháng 5 năm 2011, tạp chí Travel + Leisure gọi Côn Đảo - nơi có "những vách đá dốc đứng bênh cạnh những bãi biển hoang sơ và làn nước xanh trong vắt" - là một trong những đảo bí ẩn và tốt nhất thế giới. Tương tự, Lonely Planet cũng xếp Côn Đảo vào danh sách những đảo bí ẩn và tốt nhất thế giới, đồng thời ca ngợi Côn Đảo là "thiên đường thiên nhiên với những cánh rừng rậm rạp, làn nước màu ngọc bích, những bãi cát trắng và là ngôi nhà của bò biển, cá heo, rùa biển và những rạn san hô ngoạn mục". Ngày 5 tháng 9 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký Quyết định số 1518/QĐ-TTG phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2030, theo đó định hướng sẽ phát triển Côn Đảo thành khu kinh tế du lịch hiện đại, tầm cỡ khu vực và quốc tế. == Ghi chú == == Tham khảo == === Chú thích === === Thư mục ===
samsung galaxy round.txt
Samsung Galaxy Round là điện thoại thông minh đầu tiên với màn hình cong và sản xuất bởi Samsung vào 2013, được phát hành trên SK Telecom ở Hàn Quốc vào 10 tháng 10 năm 2013. Màn hình 5.7-inch, 1080p OLED, và màn hình cong. Mỏng 7.9mm và nặng 154g. Nó chạy Android 4.3 Jellybean và sử dụng vi xử lý lõi tứ 2.3 GHz Snapdragon 800, pin 2,800mAh, và bộ nhớ trong 32GB. == Thông số kĩ thuật == === Phần cứng === Thiết kế của Galaxy Round nhắm vào dòng sản phẩm tầm cao, nhìn "cao cấp" hơn so với các thiết bị khác của Samsung. Mạc dù sử dụng chất liệu polycarbonate-thiết kế tương tự như các dòng thiết bị Samsung khác, Galaxy Round có viền giả kim loại và mặt sau làm bằng nhựa giả da khâu chỉ tương tự như Galaxy Note 3. Với độ mỏng 7,9 mm (0,31 in), nó có một đường cong tinh tế ở mặt sau và mỏng hơn, nhẹ hơn so với Galaxy Note 3. Galaxy Round sử dụng chip 2.3 GHz lõi tứ Krait 400. Thiết bị bao gồm 3 GB RAM, màn hình 5.7-inch 1080p Super AMOLED, máy ảnh chính 13-megapixel có thể quay video 1080p với 60 fps và độ phân giải 4K với 30 fps (chỉ 5 phút), 32 GB bộ nhớ trong, và thời lượng pin 2800 mAh. === Phần mềm === Galaxy Round chạy Android 4.3 "Jelly Bean" và sử dụng giao diện tuỳ biến TouchWiz và phần mềm của Samsung. Các tính năng được thêm vào phần mềm của Round như Quick Glance để hiển thi các thông tin thời gian, ngày, múc pin, và tin nhắn khi bạn giữ một trong hai cạnh viền của Round hướng về một phía. Ngoài ra còn có nghiêng để điều khiển âm nhạc; nếu màn hình đã tắt trong khi nhạc trong thư viện đang phát, kéo thả nhẹ chiếc điện thoại về phía bên phải để chuyển sang bài kế tiếp và sang trái để quay lại. == Xem thêm == Samsung Galaxy == Tham khảo ==
bristol and suburban association football league.txt
Bristol and Suburban Association Football League là một giải bóng đá Anh. Giải có tổng cộng 7 hạng đấu, cao nhất là Premier Division One, nằm ở Cấp độ 12 trong Hệ thống các giải bóng đá ở Anh. Giải đấu hiện đang liên kết với Gloucestershire County FA. Đây là một trong ba giải đấu góp đội cho Gloucestershire County League. == Lịch sử == Bristol and Suburban Association Football League được thành lập năm 1894 với tên gọi North Bristol and District Association Football League. Buổi họp đầu tiên được diễn ra vào ngày 14 tháng 9 năm 1894 tại Phoenix Coffee Palace, nằm ở Ashley Road, Montpelier, Bristol. Cuộc họp có sự tham gia của đại diện các đội đầu tiên chịu trách nhiệm thành lập và gây quỹ cho giải đấu, các đội đó bao gồm: Beaufort Albion Bethesda Croft End Phoenix Rangers Rose Green Wanderers Westbourne Bảy đội này có thể được xem là các thành viên sáng lập của giải đấu kể từ mùa giải 1894–95. Đến năm 1906, tên hiện tại của giải đấu lần đầu tiên xuất hiện. Các giải cup sau được giới thiệu trong giải đấu Alfred Bosley Memorial Cup – tổ chức lần đầu tiên ở mùa giải 1952–53 với sự tham gia của các đội bóng từ các hạng đấu được lựa chọn nhưng hiện tại chỉ giới hạn cho các câu lạc bộ ở 3 hạng đấu cao nhất của giải. Norman Goulding Memorial Cup – tổ chức mỗi mùa giải kể từ mùa 1984–85 dành cho các đội bóng thi đấu ở Division Two hoặc thấp hơn. Tom Pitts Memorial Cup – thi đấu hàng năm kể từ năm 1984 để ghi nhớ công lao của Thư ký câu lạc bộ, người đã quản lý với sự hiệu quả đáng kinh ngạc. Các đội bóng từng thi đấu ở Bristol and Suburban Association Football League và hiện tại đang thi đấu ở các cấp độ cao hơn bao gồm: Almondsbury (bây giờ là Almondsbury UWE) Backwell United (bây giờ là Ashton & Backwell United) Brislington Clevedon (bây giờ là Clevedon Town) Hengrove Athletic Manor Farm (bây giờ là Bristol Manor Farm) Tytherington Rocks Winterbourne United Greenway Sports và Almondsbury đều từng chơi ở Bristol & Suburban League. Greenway Sports vô địch Bristol Premier Combination khá nhiều lần ở đầu thập niên 1970. Hai đội này hợp nhất thành Almondsbury Greenway năm 1974 và vào đến chung kết FA Vase thi đấu tại sân Wembley năm 1979, nơi Almondsbury Greenway bị đánh bại bi đối thủ Billericay Town. Câu lạc bộ đổi tên thành Almondsbury Town và ở mùa giải 2010/11 họ thi đấu ở Southern Football League Division One South & West, kết thúc ở vị trí thứ 8. Tuy nhiên, theo sau sự mất mát sân nhà Oaklands Park, họ bị đẩy xuống chơi ở Bristol & Suburban League, và sau một mùa giải trở lại thì đã giải thể. == Đội vô địch == == Các câu lạc bô mùa giải 2014–15 == === Premier Division One === Ashton United | AFC Mangotsfield | Avonmouth | Brislington 'A' | Downend | Easton Cowboys Suburbia | Fishponds Old Boys | Lawrence Weston | Lebeq United | Little Stoke | Mangotsfield Sports | Ridings High | Stoke Gifford United | Tytherington Rocks Dự bị === Premier Division Two === Almondsbury UWE Dự bị | AFC Hartcliffe | Bristol Olympic Sports Centre | Broad Plain House Dự bị | Cadbury Heath Dự bị | Cleeve Colts | Filton Athletic | Glenside Five Old Boys | Old Cothamians | Old Georgians | Rockleaze Rangers Dự bị | St. Aldhelms | Southmead Athletic Dự bị | Stoke Rangers === Division One === Ashton & Backwell United Colts | Avonmouth Dự bị | Bristol Bilbao | Bristol Telephones Dự bị | Kellaway Rangers | Knowle | Lawrence Weston Dự bị | Oldbury | Ridings High Dự bị | St. Aldhelms Dự bị | Sartan United | Stoke Gifford United Dự bị | Wanderers | Wessex Wanderers === Division Two === AEK Boco Colts | Almondsbury UWE 'A' | Ashton United Dự bị | AFC Mangotsfield Dự bị | AFC Whitchurch | Downend Dự bị | Fry Club Old Boys | Keynsham Town 'A' | Old Cothamians Dự bị | Park Knowle | Parson Street Old Boys | Rockleaze Rangers 'A' === Division Three === Broad Plain House 'A' | Corinthian Sports | Fishponds Old Boys Dự bị | Glenside Five Old Boys Dự bị | Hanham Athletic Surburbia | Long Ashton Dự bị | North Bristol United | Old Cothamians 'A' | Old Georgians Dự bị | Rockleaze Rangers 'B' | St. Annes Town | Winford PH === Division Four === AFC Mangotsfield 'A' | Brandon Sports | Bristol Spartak | Cosmos UK | Filton Athletic Dự bị | Imperial Dự bị | Kellaway Rangers Dự bị | Lawrence Weston 'A' | Lockleaze | Oldbury Dự bị | Real St. George | Sartan United Dự bị | Stoke Gifford United 'A' | Whitchurch Sports === Division Five === AFC Mangotsfield 'B' | AFC Whitchurch Dự bị | Avonmouth 'A' | Cosmos UK Dự bị | Fishponds Old Boys 'A' | Fry Club Old Boys Dự bị | Lockleaze Dự bị | Long Ashton 'A' | North Bristol Trust | Parson Street Old Boys Dự bị | TC Sports | Wessex Wanderers Dự bị | Winford PH Dự bị == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Official website
phạm hổ.txt
Nhà thơ Phạm Hổ (28 tháng 11 năm 1926 - 4 tháng 5 năm 2007), bút danh Hồ Huy, sinh tại xã Thanh Liêm (nay là xã Nhơn An), Thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Anh trai ông là nhà văn Phạm Văn Ký và em trai là nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Ông đỗ bằng Thành chung năm 1943. Sau Cách mạng Tháng Tám ông làm công tác tuyên truyền và tham gia hoạt động văn học nghệ thuật. Sau Hiệp định Geneva năm 1954, ông ra Bắc, tham gia sáng lập Hội Nhà Văn miền Bắc (1957) và cũng là một trong những người đầu tiên hình thành Nhà xuất bản Kim Đồng, nơi chuyên xuất bản văn hóa phẩm dành cho trẻ em. Sau ba năm làm việc tại Nhà xuất bản Kim Đồng, ông chuyển sang Nhà xuất bản Văn học rồi về báo Văn Nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn. Năm 1957 ông là thành viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Chức vụ cuối cùng của ông ở tờ báo này là chức Phó tổng biên tập. Từ năm 1983, ông là Phó trưởng ban đối ngoại của Hội Nhà văn Việt Nam và là Chủ tịch Hội đồng văn học thiếu nhi của hội. Ông vừa viết văn, làm thơ, viết kịch và vẽ tranh. Nổi bật trong các sáng tác của ông là dành cho thiếu nhi; nhiều tác phẩm đã được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông. Năm 2001, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt 1. Ông qua đời ngày 4 tháng 5 năm 2007 tại Hà Nội, thọ 81 tuổi. == Một số tác phẩm == === Dành cho thiếu nhi === Thơ: Chú bò tìm bạn (Tuyển tập thơ, chọn từ hơn 15 tập thơ in riêng từng tập, in lần thứ 3, có bổ sung, Kim Đồng, 1997) Truyện: Chuyện hoa chuyện quả (Toàn tập, Hà Nội, 1993). Kịch: Mỵ Châu - Trọng Thủy (Kim Đồng, 1993) === Dành cho người lớn === Thơ: Những ngày xưa thân ái (Hội Nhà văn, 1956); Ra khơi (Hôi Nhà văn, 1960); Đi xa (Hội Nhà văn, 1973); Những ô cửa - những ngả đường (Hội Nhà văn, 1982). Truyện: Vườn xoan (Hội Nhà văn, 1962); Tình thương (Phụ nữ, 1973); Cây bánh tét của người cô (Hà Nội, 1993). == Giải thưởng văn học == Chú bò tìm bạn (tập thơ): giải thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi do TW Đoàn Thanh niên cộng sản tổ chức năm 1957. Chú vịt bông (tập thơ) nhận giải loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi do TW Đoàn thanh niên cộng sản tổ chức năm 1967-1968. Những người bạn im lặng nhận giải chính thức về thơ, Hội đồng văn học thiếu nhi Hội nhà văn tặng (1985); Nàng tiên nhỏ thành ốc (kịch), giải thưởng về kịch cho thiếu nhi do TW Đoàn Thanh niên cộng sản và Hội Nghệ sĩ sân khấu tặng (1986). == Nhận định == == Tham khảo == Tiểu sử tự thuật của Phạm Hổ
thủ đô của nhật bản.txt
Thủ đô của Nhật Bản thường được cho là Tokyo. Trong quá trình lịch sử, thủ đô quốc gia của Nhật đã được đặt ở nhiều vị trí khác ngoài Tokyo. == Lịch sử == Theo truyền thống, nơi ở của Thiên hoàng được coi là thủ đô của đất nước. Từ năm 794 tới năm 1868, nơi ở của Thiên hoàng được đặt tại Kyoto. Sau năm 1868, trụ sở của Chính phủ Nhật Bản và nơi ở của Thiên hoàng được đặt tại Tokyo. Năm 1941, Bộ Giáo dục đã công bố "quy định về việc Tokyo là thủ đô" (東京奠都, Tōkyō-tento). === Luật và các sửa đổi === Trong khi không có bộ luật nào quy định Tokyo là thủ đô của Nhật Bản, nhiều bộ luật đã xác định một "khu vực thủ đô" (首都圏, shuto-ken) có bao gồm Tokyo. Điều 2 Luật Hợp nhất Khu vực Thủ đô (首都圏整備法, Luật Hợp nhất Khu vực Thủ đô) năm 1956 nêu rằng "Trong Điều này, thuật ngữ 'khu vực thủ đô' sẽ biểu thị một khu vực rộng lớn bao gồm cả lãnh thổ của Vùng thủ đô Tokyo cũng như các khu vực xa trung tâm được chỉ định bởi nội các." Điều này ngụ ý rõ ràng rằng chính phủ đã chỉ định Tokyo là thủ đô của Nhật Bản, mặc dù (một lần nữa) nó không được quy định rõ ràng, và định nghĩa của "khu vực thủ đô" được cố giới hạn trong các điều khoản của bộ luật cụ thể đó. Các bộ luật khác đề cập đến "khu vực thủ đô" bao gồm Công luật của Hội đồng Thành phố về Đường cao tốc Thủ đô (首都高速道路公団法, Công luật của Hội đồng Thành phố về Đường cao tốc Thủ đô) và Luật Bảo tồn Vành đai xanh Khu vực Thủ đô (首都圏近郊緑地保全法, Luật Bảo tồn Vành đai xanh Khu vực Thủ đô). Thuật ngữ thủ đô này vốn không bao giờ được sử dụng để đề cập đến Kyoto. Thật vậy, shuto đưa vào sử dụng trong những năm 1860 như một chú thích của thuật ngữ tiếng Anh "capital" (thủ đô). Bộ Giáo dục Nhật đã xuất bản một cuốn sách mang tên "Lịch sử Công cuộc khôi phục" vào năm 1941. Cuốn sách này đề cập đến "sự quy định về Tokyo như là thủ đô" (東京奠都, Tōkyō-tento) mà không nói gì về "di chuyển thủ đô về Tokyo" (東京遷都, Tōkyō-sento). Một cuốn sách giáo khoa lịch sử đương đại nói rằng chính phủ Minh trị "dời thủ đô (shuto) từ Kyoto về Tokyo" mà không sử dụng thuật ngữ sento. Gần đây, đã có một phong trào vận động di dời thủ đô từ Tokyo, với các vùng Gifu-Aichi, Mie-Kio và một vài khu vực khác đăng ký tham gia cùng. Một cách chính thức, sự di dời được gọi là "sự di dời các cơ quan chức năng của thủ đô" thay vì "sự di dời thủ đô", hoặc là "sự di dời Quốc hội và các tổ chức khác". == Danh sách các thủ đô == === Trong truyền thuyết === Danh sách các kinh đô trong truyền thuyết của Nhật Bản này bắt đầu với thời gian trị vì của Thiên hoàng Jimmu. Tên của các cung điện Hoàng gia được đặt trong ngoặc đơn. Kashiwabara, Yamato, được đặt dưới chân núi Unebi trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Jimmu Kazuraki, Yamato trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Suizei Katashiha, Kawachi trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Annei Karu, Yamato trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Itoku. Waki-no-kami, Yamato trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Kosho Muro, Yamato trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Koan Kuruda, Yamato trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Korei Karu, Yamato trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Kōgen Izakaha, Yamato trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Kaika Shika, Yamato (Cung điện Mizugaki) trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Sujin Shika, Yamato (Cung điện Tamagaki) trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Suinin Makimuko, Yamato (Cung điện Hishiro) trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Keiko Shiga, Ōmi (Cung điện Takaanaho) trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Seimu Ando, Nara (Palace of Toyoura) và Kashiki trên đảo Kyushu trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Chūai === Trong lịch sử === Danh sách các thủ đô này bao gồm tên cung điện Hoàng gia trong dấu ngoặc đơn. Thời kỳ Kofun Karushima, Yamato (Cung điện Akira), trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Ojin Naniwa, Settsu (Cung điện Takatsu), trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Nintoku Ihare, Yamato (Cung điện Watasakura), trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Richū Tajikhi, Kawachi (Cung điện Shibakaki), trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Hanzei Asuka, Yamato (Cung điện Tohotsu), trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Ingyō Isonokami, Yamato (Cung điện Anaho), trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Ankō Sakurai, Nara (Cung điện Hatsuse no Asakura), 457–479, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Yūryaku Sakurai, Nara (Cung điện Iware no Mikakuri), 480–484, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Seinei Asuka, Yamato (Cung điện Chikatsu-Asuka-Yatsuri), 485–487, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Kenzō Tenri, Nara (Cung điện Isonokami Hirotaka), 488–498, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Ninken Sakurai, Nara (Cung điện Nimiki), 499–506, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Buretsu Hirakata, Osaka (Cung điện Kusuba), 507–511 Kyōtanabe, Kyoto (Cung điện Tsutsuki), 511–518, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Keitai Nagaoka-kyō (Cung điện Otokuni), 518–526, trong thời gian trị vì của Keitai Sakurai, Nara (Cung điện Iware no Tamaho), 526–532, trong thời gian trị vì của Keitai Kashihara, Nara (Cung điện Magari no Kanahashi), 532–535, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Ankan Sakurai, Nara (Cung điện Hinokuma no Iorino), 535-539, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Senka Thời kỳ Asuka Asuka, Yamato (Cung điện Shikishima no Kanasashi), 540–571, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Kimmei Kōryō, Nara (Cung điện Kudara no Ohi), 572–575 Sakurai, Nara (Cung điện Osata no Sakitama hoặc Osada no Miya), 572–585, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Bidatsu Quận Shiki, Nara (Cung điện Iwareikebe no Namitsuki), 585–587, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Yomei Quận Shiki, Nara (Cung điện Kurahashi no Shibagaki), 587–592, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Sushun Asuka, Yamato (Cung điện Toyura hoặc Toyura-no-miya), 593–603, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Suiko Asuka, Yamato (Cung điện Oharida hoặc Oharida-no-miya), 603–629, trong thời gian trị vì của Suiko Asuka, Yamato (Cung điện Okamoto hoặc Oakmoto-no-miya), 630–636, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Jomei Kashihara, Nara (Cung điện Tanaka hoặc Tanaka-no-miya), 636–639 Kōryō, Nara (Cung điện Umayasaka hoặc Umayasaka-no-miya, 640 Kōryō, Nara (Cung điện Kudara hoặc Kudara-no-miya), 640–642 Asuka, Yamato (Cung điện Oharida), 642–643 Asuka, Yamato (Cung điện Itabuki hoặc Itabuki no miya), 643–645, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Kōgyoku Osaka (Cung điện Naniwa-Nagara no Toyosaki), 645–654, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Kōtoku Asuka, Yamato (Cung điện Itabuki), 655–655, trong thời gian trị vì của Kōtoku Asuka, Yamato (Cung điện Kawahara hoặc Kawahara-no-miya), 655–655 Asuka, Yamato (Cung điện Okamoto hoặc Nochi no Asuka-Okamoto-no-miya), 656–660, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Saimei Asakura, Fukuoka (Cung điện Asakura no Tachibana no Hironiwa hoặc Asakure no Tachibana no Hironiwa-no-miya), 660–661 Osaka, (Cung điện Naniwa-Nagara no Toyosaki), 661–667 Ōtsu, Shiga (Cung điện Ōmi Ōtsu hoặc Ōmi Ōtsu-no-miya), 667–672, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Tenji và trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Kobun Asuka, Yamato (Cung điện Kiyomihara hoặc Kiomihara-no-miya), 672–694, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Temmu và trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Jito Fujiwara-kyō (Cung điện Fujiwara), 694–710, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Mommu Thời kỳ Nara Heijō-kyō (Cung điện Heijō), 710–740, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Genmei, Thiên hoàng Gensho, và Thiên hoàng Shomu Kuni-kyō (Cung điện Kuni), 740–744, trong thời gian trị vì của Shomu Naniwa-kyō (Cung điện Naniwa), 744 Naniwa-kyō, Cung điện Shigaraki, 744–745 Heijō-kyō (Cung điện Heijō), 745–784 Nagaoka-kyō (Cung điện Nagaoka), 784–794, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Kammu Thời kỳ Heian Heian-kyō (Cung điện Heian), 794–1180, trong thời gian trị vì của Kammu và những vị khác Cung điện Fukuhara, 1180, trong thời gian trị vì của Thiên hoàng Antoku Heian-kyō/Kyōto (Cung điện Heian), 1180–1868 Tōkyō (Kōkyo), 1868–nay == Xem thêm == Danh sách các quốc gia theo thủ đô và thành phố lớn nhất == Chú thích == == Tham khảo == Fiévé, Nicolas và Paul Waley. (2003). Japanese Capitals in Historical Perspective: Place, Power and Memory in Kyoto, Edo and Tokyo. New York: Psychology Press. ISBN 9780700714094 == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Thủ đô Nhật Bản tại Wikimedia Commons
pointe-à-pitre (quận).txt
Quận Pointe-à-Pitre là một quận của Pháp, nằm ở tỉnh Guadeloupe, trong vùng Guadeloupe. Quận này có 23 tổng và 14 xã. == Các đơn vị hành chính == === Các tổng === Các tổng của quận Pointe-à-Pitre là: Les Abymes - Tổng thứ nhất Les Abymes - Tổng thứ nhì Les Abymes - Tổng thứ ba Les Abymes - Tổng thứ tư Les Abymes - Tổng thứ năm Anse-Bertrand Capesterre-de-Marie-Galante La Désirade Le Gosier - Tổng thứ nhất Le Gosier - Tổng thứ nhì Grand-Bourg Morne-à-l'Eau - Tổng thứ nhất Morne-à-l'Eau - Tổng thứ nhì Le Moule - Tổng thứ nhất Le Moule - Tổng thứ nhì Petit-Canal Pointe-à-Pitre - Tổng thứ nhất Pointe-à-Pitre - Tổng thứ nhì Pointe-à-Pitre - Tổng thứ ba Sainte-Anne - Tổng thứ nhất Sainte-Anne - Tổng thứ nhì Saint-François Saint-Louis === Các xã === Các xã của quận Pointe-à-Pitre, và mã INSEE là: == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Pointe-à-Pitre trên trang Viện quốc gia Pháp và Nghiên cứu kinh tế (INSEE, tiếng Pháp)
johannesburg.txt
Johannesburg, cũng được biết đến eGoli (nơi ở của trời), là thành phố lớn nhất Nam Phi. Johannesburg là tỉnh lỵ của tỉnh Gauteng, tỉnh giàu có nhất Nam Phi và là nền kinh tế lớn thứ 4 ở châu Phi cận Sahara. Thành phố này là một trong 40 vùng đô thị lớn nhất thế giới, là thành phố toàn cầu duy nhất được công nhận của châu Phi (được xếp hạng thành phố thế giới gamma). Đôi khi nhiều người hay nhẫm lẫn đây là thủ đô của cộng hòa Nam Phi nhưng trên thực tế Johannesburg không phải là một trong thủ đô chính thức của Nam Phi. Tuy vậy, Johannesburg vẫn là nơi đóng trụ sở của Tòa án hiến pháp Nam Phi. == Kinh tế == Johannesburg là trung tâm kinh tế và tài chính của Nam Phi, tạo ra 16% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nam Phi, chiếm 40% hoạt động kinh tế của Gauteng. == Khí hậu == == Tham khảo ==
huy chương vàng của hội thiên văn học hoàng gia.txt
Huy chương vàng của Hội Thiên văn học Hoàng gia là phần thưởng cao nhất của Hội Thiên văn học Hoàng gia Anh. == Lịch sử == Huy chương này được lập ra từ năm 1824. Trong các năm đầu, mỗi năm thường trao từ 2 huy chương trở lên, nhưng từ năm 1833 mỗi năm chỉ trao 1 huy chương. Sở dĩ vậy, là do vấn đề khó khăn khi Sao Hải Vương được phát hiện năm 1846, vì nhiều người nghĩ rằng một phần thưởng phải được trao chung cho John Couch Adams và Urbain Le Verrier. Việc tranh cãi xảy ra và năm 1947 không trao phần thưởng nào. Năm 1848, vụ việc được giải quyết bằng cách trao 12 giải tỏ lòng quý trọng (testimonial awards) cho nhiều người, trong đó có cả John Couch Adams và Le Verrier. Năm 1849 các phần thưởng được hạn chế lại là một huy chương mỗi năm. Adams và Le Verrier mãi tới năm 1866 và 1868 mới nhận được huy chương của riêng mình. Năm 1868, Adams làm chủ tịch Hội, đã trao huy chương cho Le Verrier. Thể lệ trao một huy chương mỗi năm, tiếp tục tới năm 1963 - ngoại trừ 2 năm 1867 và 1886 có trao 2 huy chương mỗi năm. Từ năm 1964 phần lớn đều trao 2 huy chương mỗi năm: một cho Thiên văn học và một cho Địa vật lý. == Các người đoạt Huy chương vàng == Thể loại:Recipients of the Gold Medal of the Royal Astronomical Society == Giải thưởng phụ == === Huy chương bạc === Đã có 2 trường hợp trao Huy chương bạc, nhưng sau đó đã ngừng trao: 1824 Charles Rümker, Jean-Louis Pons 1827 William Samuel Stratford, Mark Beaufoy === 12 Huy chương tỏ lòng kính trọng 1848 === George Biddell Airy John Couch Adams Friedrich Wilhelm Argelander George Bishop George Everest John Herschel Peter Andreas Hansen Karl Ludwig Hencke John Russell Hind Urbain Le Verrier John William Lubbock Maxmilian Weisse == Tham khảo == == Liên kết ngoài == List of recipients
côn trùng.txt
Côn trùng, hay sâu bọ, là một lớp (sinh vật) thuộc về ngành động vật không xương sống, chúng có bộ xương ngoài làm bằng kitin, cơ thể có ba phần (đầu, ngực và bụng), ba cặp chân, mắt kép và một cặp râu. Côn trùng là nhóm động vật đa dạng nhất hành tinh, gồm hơn một triệu loài đã được mô tả và gồm hơn một nửa số sinh vật sống. Số loài còn sinh tồn được cho là từ sáu đến mười triệu loài, và đại diện cho 90% dạng sống của các loài động vật khác nhau trên Trái Đất. Côn trùng có thể sống được ở hầu hết các môi trường sống, mặc dù chỉ có số ít các loài sống ở biển và đại dương, nơi mà động vật giáp xác chiếm ưu thế hơn. "Côn trùng" là từ Hán Việt, với "côn" (昆) có nghĩa là nhiều nhung nhúc, và "trùng" (虫) là loài sâu bọ. Ý ám chỉ đến sự mắn để của lớp sinh vật này. == Hình thái và phát triển == Kích thước côn trùng dao động khoảng từ trên dưới 1 mm tới khoảng 180 mm về chiều dài. Côn trùng có cơ thể phân đốt và được bảo vệ bởi một bộ xương ngoài, một lớp cứng được cấu tạo chủ yếu bởi kitin. Cơ thể được chia thành đầu, ngực và bụng. Trên đầu có một cặp râu là cơ quan cảm giác, một cặp mắt kép và 2 mắt đơn (ở giai đoạn sâu non có thể là 6 mắt đơn) và một miệng. Ngực có 6 chân (mỗi đốt một cặp chân) và 2-4 cánh (ở các loài có cánh). Bụng có cơ quan bài tiết và cơ quan sinh sản. Côn trùng có một hệ tiêu hoá hoàn chỉnh, gồm một ống liên tục từ miệng tới hậu môn, khác với nhiều loài động vật chân khớp đơn giản khác có hệ tiêu hoá chưa hoàn chỉnh. Cơ quan bài tiết gồm các ống Malpighi, với chức năng thải các chất thải chứa nitơ, ruột sau làm nhiệm vụ điều hoà áp suất thẩm thấu, đoạn cuối ruột sau có khả năng tái hấp thu nước cùng với muối natri và kali. Vì vậy, côn trùng thường không bài tiết nước ra cùng với phân, thực tế thì chúng cho phép dự trữ nước trong cơ thể. Quá trình tái hấp thu này giúp chúng có thể chịu đựng được với điều kiện môi trường khô và nóng. Hầu hết côn trùng có hai cặp cánh liên kết với đốt ngực 2 và 3. Côn trùng là động vật không xương sống duy nhất đã tiến hoá theo hướng bay lượn và chính điều này đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của chúng. Các côn trùng có cánh, và những côn trùng không cánh thứ sinh đã tạo nên nhóm có cánh (Pterygota). Cơ chế bay của côn trùng cho đến nay vẫn chưa được tìm hiểu một cách đầy đủ, người ta cho rằng nó phụ thuộc rất lớn vào khối không khí nhiễu loạn do cánh tạo ra. Ở những côn trùng nguyên thuỷ lại dựa chủ yếu vào tác động của hệ cơ lên cánh và cấu trúc của cánh. Ở những bộ tiến hoá hơn như Neoptera, cánh thường gập lại trên lưng khi chúng nghỉ ngơi. Ở những côn trùng này, cánh được hoạt động bởi các cơ bay gián tiếp mà giúp cánh vận động bằng cách ép mạnh lên thành ngực. Những cơ này có thể co lại khi bị căng ra mà không cần sự điều khiển của hệ thần kinh, điều này cho phép chúng tạo ra tần số co giãn cơ tương đối cao. Côn trùng sử dụng cơ quan hô hấp khí quản để vận chuyển ôxy vào trong cơ thể. Các ống khí này mở ra ở bề mặt cơ thể và được gọi là lỗ thở (mỗi đốt có 1 đôi lỗ thở ở 2 bên), từ đây không khí được dẫn vào hệ thống khí quản. Không khí đi vào các mô thông qua các nhánh khí quản. Vòng tuần hoàn của côn trùng, cũng như tất cả các chân khớp khác là một hệ hở. Tim bơm dịch huyết vào động mạch qua xoang tim. Côn trùng nở từ trứng, trải qua nhiều lần lột xác trước khi đạt tới kích thước trưởng thành của loài. Cách sinh trưởng này là bắt buộc vì chúng có bộ xương cứng bên ngoài, được cấu tạo chủ yếu bởi kitin (chitin). Lột xác là quá trình mà con vật thoát khỏi lớp xương ngoài cũ để tăng lên về kích thước, sau đó hình thành nên bộ xương ngoài mới, vì lớp xương ngoài bằng kitin hoặc đá vôi của các loài chân khớp không thể tăng lên về kích cỡ, trong khi cơ thể của chúng luôn luôn lớn lên cho tới lúc trưởng thành. Ở hầu hết các loài côn trùng, giai đoạn trẻ được gọi là thiếu trùng (nymph). Thiếu trùng có thể có cấu tạo tương tự như Thành trùng như ở châu chấu (mặc dù cánh vẫn chưa chỉ phát triển đầy đủ cho đến giai đoạn trưởng thành). Đây là những côn trùng biến thái không hoàn toàn. Ở những côn trùng biến thái hoàn toàn (hầu hết côn trùng), trứng nở thành dạng ấu trùng, có dạng giống như giun đất, gọi là giai đoạn sâu non. Ấu trùng phát triển và cuối cùng biến thái thành nhộng (pupa - một giai đoạn được bao bọc trong kén) ở một số loài. Ở trạng thái kén, chúng trải qua những thay đổi đáng kể về hình dạng và cuối cùng chui ra khỏi kén như một con trưởng thành hay còn gọi là hoá vũ. Bướm là một ví dụ tiêu biểu cho bọn côn trùng có biến thái hoàn toàn. == Tập tính == Nhiều loài côn trùng có các cơ quan cảm giác rất tinh tế. Trong một số trường hợp, các giác quan của chúng nhạy cảm hơn con người rất nhiều. Ví dụ, ong có thể nhìn được trong phổ bức xạ cực tím để tìm kiếm nơi hút mật là những bông hoa có bức xạ này để "dẫn đường" cho ong. Bướm đực có cái "mũi chuyên hóa" là đôi ăng ten (ở bướm ngày ăng ten có chóp tròn ở đầu mút và ở ngài (bướm đêm) lại có dạng lông vũ hoặc không có đầu mút tròn) có thể ngửi thấy pheromon của bướm cái từ khoảng cách vài km. Các côn trùng có tập tính xã hội như kiến hay ong, chúng sống cùng nhau trong một tập đoàn lớn và được tổ chức rất tốt. Các cá thể trong tập đoàn tương đối giống nhau về bộ gen (do trinh sản) nên người ta có thể coi cả tập đoàn như một "siêu cơ thể". Đứng đầu một thị tộc côn trùng như vậy là con chúa-con cái duy nhất có khả năng sinh sản, và chỉ đảm nhiệm chức vụ này trong bầy và là mẹ của mọi con côn trùng khác trong thị tộc, bao gồm những con thợ là những con cái không có khả năng sinh sản, thực hiện mọi nhiệm vụ của tổ, từ kiếm thức ăn, vệ sinh tổ và vệ sinh con chúa, chăm sóc ấu trùng... Con chúa điều khiển lũ con của mình bằng pheromon, và cứ vào mỗi mùa sinh sản mới, chúng lại cho ra đời một lứa con chúa là hậu duệ của mình, khi trưởng thành những con này sẽ bay đi để tạo nên một thị tộc riêng, những đàn kiến cánh bay vào nhà bạn chính là hình ảnh minh họa rõ nét của chúng. Còn những con thợ thì được sinh ra hằng ngày với tốc độ chóng mặt. Còn những con đực chỉ đóng vai trò sinh sản. Một tập tính quan trọng của côn trùng là một vài loài và ở một số giai đoạn biến thái chúng có thời kỳ ngủ đông (hibernate) và thời kỳ đình dục (diapause). == Giác quan của côn trùng == Một trong những lý do giúp côn trùng không ngừng tồn tại, tiến hóa và phát triển trong suốt hàng trăm triệu năm qua, thích ứng với mọi môi trường sống trên cạn chính là một hệ thống giác quan cực kì nhanh nhạy và chính xác mà tạo hóa trang bị cho chúng, được sử dụng trong mọi hoạt động di chuyển, tìm kiếm thức ăn, trốn tránh kẻ thù và sinh sản. Thị giác của côn trùng thuộc hàng tốt nhất trong thế giới động vật. Và chúng lại có tới hai loại mắt: mắt kép và mắt đơn. Mỗi mắt kép của côn trùng được tạo nên bởi hàng trăm, hàng nghìn thấu kính nhỏ (là một tế bào thị giác) có kích thước hiển vi, mỗi thấu kính lại tiếp nhận một hình ảnh giống hệt nhau, điều đó có nghĩa là nếu bạn đứng trước một con ruồi, thì trong mắt nó, hình ảnh của khuôn mặt bạn sẽ được nhân lên hàng nghìn lần để hiển thị trên cũng ngần ấy thấu kính tí hon. Trong khi đó, mỗi mắt đơn chỉ được cấu tạo bởi một thấu kính như vậy, và chỉ có tác dụng cảm nhận sáng tối mà thôi. Một số côn trùng có cả mắt đơn và mắt kép, trong khi những côn trùng khác chỉ có mắt đơn. Đặc biệt, mắt của côn trùng không chỉ nằm trên đầu. Các nhà khoa học đã thử bịt kín đầu của một con côn trùng, nhưng nó vẫn cảm nhận được vùng có ánh sáng nhờ những tế bào thị giác nằm rải rác trên cơ thể. Không phải côn trùng nào cũng có thị giác tốt như nhau: Những côn trùng có lối sống săn mồi và ham thích bay lượn vào ban ngày như chuồn chuồn, ruồi, bọ ngựa, ong, bướm và bọ cánh cứng thường có thị giác rất tốt, bằng chứng là đôi mắt của chúng gần như bao trùm một nửa hay toàn bộ cái đầu. Những côn trùng khác ưa tối và hoạt động vào ban đêm (như gián), có cuộc sống chật chội dưới những hào sâu trong lòng đất (như kiến và mối thì có thị giác kém hơn rất nhiều. Bù lại, con gián có đôi ăngten dài có vai trò xúc giác (chạm vào các vật thể xung quanh như chiếc gậy dò đường của người mù), vai trò khứu giác giúp chúng tìm ra chiếc bánh ngọt của bạn và có những lông xúc giác cực nhạy nhô ra từ đằng sau bụng có thể cảm nhận mọi rung động nhỏ nhất của không khí và mặt đất xung quanh giúp chúng biến mất ngay khi con người xuất hiện trong bếp. Mối là hậu duệ tiến hóa của gián, phần lớn chúng đều mù, và một số loài kiến, kẻ thù truyền kiếp của chúng cũng vậy. Nhưng chúng có hệ thống khứu giác hết sức ưu việt và một tập thế sinh sản được tổ chức một cách thông minh, giúp cả tập đoàn kiến thống nhất như một cơ thể trong mọi hoạt động sống thường ngày. == Ngụy trang và tự vệ == Bốn trăm triệu năm tồn tại trên Trái Đất cũng là bốn trăm nghìn năm côn trùng liên tục đấu tranh sinh tồn để đạt được ngôi vị thống lĩnh về số lượng trong giới động vật như ngày nay. Khi mà tác động của môi trường ngày càng thu nhỏ kích thước của côn trùng trong quá trình tiến hoá thì mỗi động vật yếu ớt và bé nhỏ ấy phải tự trang bị cho mình một thứ vũ khí bí mật để tồn tại trước các loài săn mồi, tạo nên một thế giới sinh vật vô cùng phong phú về các phương pháp lẩn trốn và ngụy trang. Ngụy trang: Bằng màu sắc và hình dáng của cơ thể, chúng thường ngụy trang thành các vật thể của môi trường sống. Ví dụ: Cành cây, lá khô,... Giả trang: Côn trùng thường giả trang thành các con có độc để đe dọa đối phương. == Vai trò của côn trùng với môi trường và đời sống con người == Chỉ có 0,1% các loài côn trùng là đi ngược lại lợi ích của con người. Nhiều côn trùng được coi là những con vật có hại với loài người vì chúng truyền bệnh (ruồi, muỗi), phá hủy các công trình (mối), hay làm hỏng các sản phẩm lương thực (mọt). Các nhà côn trùng học đã đưa ra nhiều biện pháp để kiểm soát chúng mà phổ biến nhất là thuốc trừ sâu. Tuy nhiên, ngày nay các phương pháp kiểm soát bằng sinh học (methods of biocontrol) đang ngày càng được dùng phổ biến hơn. Mặc dù các côn trùng có hại thường nhận được nhiều sự quan tâm hơn, bên cạnh đó vẫn có nhiều loài có lợi cho môi trường và con người. Một số loài thụ phấn cho các loài thực vật có hoa (ví dụ ong, bướm, kiến...). Sự giao phấn (pollination) là sự trao đổi (hạt phấn) giữa các thực vật có hoa để sinh sản. Các loài côn trùng khi lấy mật và phấn hoa đã vô tình tiến hành giao phấn. Ngày nay, một loạt các vấn đề về môi trường đã làm giảm các quần thể "nhà giao phấn" (pollinator) này. Số lượng các loài côn trùng được nuôi với mục đích làm vật trung gian quản lý việc thụ phấn cho thực vật đang trong thời ký phát triển thịnh vượng. Một số côn trùng cũng sinh ra những chất rất hữu ích như mật, sáp, tơ. Ong mật đã được con người nuôi từ hàng ngàn năm nay để lây mật. Tơ tằm đã có ảnh hưởng rất lớn tới lịch sử loài người, các mối quan hệ thương mại được thiết lập trên con đường vận chuyển tơ lụa giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới. Ấu trùng maggot được sử dụng để chữa trị vết thương, ngăn chặn sự hoại tử do chúng ăn các phần chết thối. Phương pháp điều trị hiện đại này đã được sử dụng ở một vài bệnh viện trên thế giới. Nhiều nơi trên thế giới, côn trùng được sử dụng làm thức ăn cho con người (entomophagy) trong khi nó lại là đồ kiêng kị với vùng khác. Thực ra đây cũng là một nguồn protein trong dinh dưỡng của loài người. Người ta không thể ước tính được có bao nhiêu loài côn trùng đã nằm trong thực đơn của con người nhưng nó đã có mặt trong rất nhiều thức ăn, đặc biệt trong ngũ cốc. Hầu hết chúng ta không nhận ra rằng các luật bảo vệ thực phẩm ở nhiều nước không ngăn cản việc có mặt của côn trùng trong thức ăn. Nhiều côn trùng, đặc biệt là các loài cánh cứng là những bọn ăn xác thối, chúng ăn các xác động vật chết, các cây bị gãy mục, trả lại môi trường các dạng hữu ích cho các sinh vật khác sử dụng. Ai Cập cổ đại đã sùng bái coi những con bọ cánh cứng như bọ hung là thần linh, bên cạnh nhiều động vật linh thiêng khác của họ như cá sấu, hà mã, cá trê, chim ưng... Điều này bắt nguồn từ một sự quan sát gắn với truyền thuyết: những con bọ hung Ai Cập sử dụng phân động vật làm thức ăn cho những con non của nó. Mà với một số lượng bọ hung đông đúc hoàn toàn sống dựa vào những bãi phân thì đối với chúng, thứ thức ăn bốc mùi này quả thật quý như vàng, và vì thế mà tranh chấp xảy ra. Chúng phải tìm cách lăn cục phân đi càng nhanh càng tốt khỏi đống phân và tìm một nơi chôn "kho báu" để giữ cho nó không bị cướp lại bởi những bà mẹ côn trùng khác. Chúng sử dụng hai chân sau để lăn phân-điều này đồng nghĩa với việc phải lộn ngược thân mình trong tư thế trồng cây chuối, mà như vậy thì không tiện cho việc quan sát đường đi cho lắm. Bởi vậy, những con bọ hung sử dụng hướng di chuyển của Mặt Trời, tức là từ Đông sang Tây làm la bàn định vị, những ông chủ kim tự tháp nhìn thấy các viên phân tròn dịch chuyển theo hướng di chuyển của Mặt Trời, rồi lại biến mất xuống lòng đất (bọ hung chôn phân trước khi đẻ trứng lên đó) đã ví những hình tượng không lấy gì làm vệ sinh lắm ấy với thần Mặt Trời, thần linh tối cao của họ. Và để trả ơn cho công lao dọn vệ sinh của con bọ hung, người Ai Cập đã trao cho chúng cái chức danh "người dẫn đường cho thần Mặt Trời". Hầu hết chúng ta đều không ý thức được rằng, lợi ích lớn nhất của côn trùng chính là loài ăn côn trùng (insectivores). Nhiều loài côn trùng như châu chấu có thể sinh sản nhanh đến nỗi mà chúng có thể bao phủ Trái Đất chỉ trong một mùa sinh sản. Tuy nhiên có hàng trăm loài côn trùng khác ăn trứng của châu chấu, một số khác thì ăn cả những con trưởng thành. Vai trò này trong sinh thái thường được cho là của các loài chim, nhưng chính côn trùng, mặc dù không thực sự quyến rũ như những loài lông vũ kia mới chính là những con vật có vai trò quan trọng hơn. Với bất kỳ loài côn trùng có hại nào, như con người thường gọi, thì cũng có một loài ong bắp cày là vật ký sinh hay là thiên địch của chúng và giữ một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các loài có hại đó. Sự quan tâm của với việc kiểm soát dịch hại bằng thuốc trừ sâu có thể có tác dụng phản lại, thực tế thì chúng ta đã không nhận ra rằng chính côn trùng đã tự kiểm soát lẫn nhau và cả các quần thể có hại. Vì vậy, kiểm soát bằng thuốc độc thậm chí có thể dẫn đến sự bùng phát một loạt dịch hại nào đó. == Phân loại == Phân lớp: Apterygota (Không cánh) Bộ Archaeognatha (Hàm nguyên thủy) Bộ Thysanura (Đuôi tơ, Ba đuôi, Anh vĩ) Bộ Monura - (Độc vĩ, Một đuôi) tuyệt chủng Phân lớp: Pterygota (Có cánh) Bộ Ephemeroptera (Phù du) Bộ Odonata (Chuồn chuồn) Bộ Diaphanopteroidea - tuyệt chủng Bộ Palaeodictyoptera - tuyệt chủng Bộ Megasecoptera - tuyệt chủng Bộ Archodonata - tuyệt chủng Siêu bộ: Neoptera (Cánh mới) Bộ Blattodea (Gián) Isoptera (Bộ Đẳng cánh-Cánh Đều: Mối. Hiện có người xếp mối vào bộ gián-Blattodea) Mantodea (Bọ ngựa) Bộ Dermaptera (Cánh da) Bộ Plecoptera (Cánh úp) Bộ Orthoptera (Cánh thẳng: Châu chấu, cào cào, muỗm, dế) Bộ Phasmatodea (Bọ que) Bộ Embioptera (Cánh lợp, bọ chân dệt) Bộ Zoraptera (Rận đất) Bộ Grylloblattodea Bộ Mantophasmatodea (gladiators) Siêu bộ: Exopterygota (Cánh ngoài) Bộ Psocoptera (Rệp sáp, Mọt) Bộ Thysanoptera (Cánh viền, Bọ trĩ) Bộ Phthiraptera (Rận, chấy) Bộ Hemiptera (Cánh nửa) Siêu bộ: Endopterygota (Cánh trong) Raphidioptera (snakeflies) Megaloptera (Cánh rộng) Neuroptera (Cánh gân: Tảo linh) Coleoptera (Cánh cứng: Bọ rùa, Bọ hung) Strepsiptera (Cánh vuốt) Mecoptera (Cánh dài) Siphonaptera (Cánh ống: Bọ chét) Diptera (Cánh đôi-Hai cánh: Ruồi, Muỗi) Trichoptera (Cánh lông) Lepidoptera (Cánh vẩy, cánh phấn: bướm, ngài, nhậy) Hymenoptera (Cánh màng: Ong, kiến) Miomoptera - tuyệt chủng Protodiptera (Hai cánh nguyên thủy) tuyệt chủng == Hóa thạch và tiến hóa == Các mối quan hệ của các nhóm côn trùng vẫn chưa rõ ràng. Mặc dù người ta vẫn cho rằng côn trùng cùng nhóm với nhiều chân (millipedes & centipedes). Các bằng chứng đã cho thấy côn trùng có mối quan hệ với giáp xác. Hóa thạch côn trùng được tìm thấy trong suốt kỷ Cacbon, khoảng 350 triệu năm trước. Các dạng đó bao gồm một vài bộ hiện nay đã tuyệt chủng và có nhiều loài lớn hơn các loài côn trùng đang sống hiện nay. Có rất ít những dữ liệu sơ khai về các côn trùng bay vì các côn trùng có cánh sớm nhất đã có khả năng bay. Ngày nay người ta cho rằng cánh là do các mang biến đổi cao độ mà thành và một vài côn trùng có một cặp cánh nhỏ gắn vào đốt ngực thứ nhất và như vậy nó sẽ có tổng số 3 cặp cánh. Kỷ Permi, cách đây 270 triệu năm, đã chứng kiến sự phát triển thịnh vượng của các nhóm côn trùng; nhiều nhóm đã tuyệt chủng cùng trong sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi - Trias, sự tuyệt chủng lớn nhất trong lịch sử Trái Đất. Các loài cánh màng thích nghi thành công nhất ở kỷ Creta nhưng phát triển đa dạng ở đại Tân Sinh. Nhiều loài côn trùng ngày nay đã phát triển từ đại Tân sinh. Trong thời kỳ này chúng ta tìm thấy các côn trùng được bảo vệ trong hổ phách, một điều kiện hoàn hảo và dễ dàng trong việc so sánh với các loài hiện nay. Khoa học nghiên cứu hoá thạch côn trùng được gọi là paleoentomology. == Quan hệ với con người == Nhiều loài côn trùng được coi là loài gây hại của con người. Côn trùng được coi là loài gây hại bao gồm những loài ký sinh (muỗi, chí, rệp), truyền bệnh (muỗi, ruồi), gây thiệt hại (mối) hoặc phá hoại hàng hoá nông nghiệp (cào cào, mọt ngũ cốc). Nhiều nhà côn trùng học đã tiến hành nhiều hình thức kiểm soát dịch hại như nghiên cứu cho các công ty để sản xuất thuốc trừ sâu, nhưng ngày càng kiểm soát dịch hại dựa vào phương pháp sinh học như dùng thiên địch. Phương pháp sinh học sử dụng một trong những sinh vật để giảm mật độ dân số sinh vật khác (các loài vật gây hại) và được xem là một yếu tố quan trọng của quản lý dịch hại tổng hợp. Mặc dù nhiều nỗ lực to lớn để kiểm soát côn trùng, những cách thức mà con người áp dụng có thể gây chết các thiên địch. Việc sử dụng bừa bãi các chất độc có thể giết nhiều loài trong hệ sinh thái, gồm cả những loài ăn côn trùng như chim, chuột và nhiều loài khác. Một ví dụ điển hình là việc sử dụng DDT đã gây hại cho các động vật hoang dã và giết nhiều thiên địch. == Tham khảo == Charles A. Triplehorn and Norman F. Johnson, Borror and DeLong's Introduction to the Study of Insects, 7th edition (Thomas Brooks/Cole, 2005) - a classic textbook in North America "Something in the insect seems to be alien to the habits, morals, and psychology of this world, as if it had come from some other planet: more monstrous, more energetic, more insensate, more atrocious, more infernal than our own." —Maurice Maeterlinck (1862-1949) === Chú thích === == Liên kết ngoài == (tiếng Việt) Côn trùng tại Từ điển bách khoa Việt Nam Tra cứu côn trùng trên SVRVN của Phùng Mỹ Trung (tiếng Anh) Insect trên Encyclopædia Britannica Côn trùng tại trang Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ (NCBI). Côn trùng 99208 tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS). Côn trùng tại Encyclopedia of Life Bug Bytes A reference library of digitized insect sounds. Bản lưu Sưu tập các loài côn trùng INSECTS.org A shameless promotion of insect appreciation. Insects as Food by Gene DeFoliart. Information about insects as a food resource. Meganeura Website about insect evolution and fossil record. Tree of Life Project – Insecta UF Book of Insect Records, documenting "insect champions" in different categories
ely city f.c..txt
Ely City F.C. là một câu lạc bộ bóng đá Anh đến từ Ely, Cambridgeshire. Hiện tại đội bóng đang thi đấu ở Eastern Counties League Division One trên sân nhà Unwin Sports Ground. == Lịch sử == Ely City được thành lập năm 1885 do các thành viên của Ely St.Etheldreda Football and Cricket Club, là đội bóng lâu đời nhất ở Cambridgeshire. Câu lạc bộ vô địch Cambridgeshire Senior Cup năm 1948. Năm 1951, họ rời Cambridgeshire League để tham gia Peterborough & District League. Mùa giải 1956–57 câu lạc bộ vào đến Vòng 1 FA Cup sau khi chiến thắng ở 5 vòng loại. Họ được xếp đấu trên sân nhà trước Torquay United, nhưng thất bại 6–2 trước lượng khán giả 4,223. Năm 1958, câu lạc bộ chuyển đến Central Alliance, hai năm sau được chọn vào Eastern Counties League. Năm 1967 cựu cầu thủ quốc gia Northern Ireland quốc tế Hugh Barr được chỉ định làm cầu thủ-huấn luyện viên, giúp đội bóng đứng thứ 2 giải đấu mùa 1968–69. Đội bóng vô địch Cambridgeshire Invitation Cup năm 1970 và Eastern Counties League Cup năm 1980, đánh bại Lowestoft Town 4–2 sau hai lượt đi và về. Năm 1986, câu lạc bộ rời Paradise Ground và đến Unwin Sports Ground, được đặt tên theo Doug Unwin, người đã hợp tác với câu lạc bộ từ năm 1924 cho đến năm ông mất 1990, cha của ông ấy cũng có quan hệ với đội bóng trong 60 năm. Ba năm sau, câu lạc bộ xuống hạng Division One của Eastern Counties League. Họ trở lại Premier Division sau khi vô địch Division One mùa giải 1996–97, mùa giải sau đó họ cán đích ở vị trí thứ 2. Tuy nhiên, đội bóng lại xuống hạng cuối mùa 1998–99. Ngay lập tức, đội bóng trở lại Premier Division với tư cách Á quân, và cũng vô địch Division One Cup. Năm 2002 họ vô địch Cambridgeshire Invitation Cup, khi đánh bại Histon 1–0 trên sân Abbey Stadium ở Cambridge. Cuối mùa giải 2002–03, họ lại xuống hạng sau khi xếp cuối bảng. Mùa giải 2007–08 câu lạc bộ vô địch Division One Cup và đứng thứ 2 ở Division One, lại trở lại với Premier Division. Mùa giải 2011–12, họ cán đích với vị trí Á quân của Premier Division và lần thứ 3 vô địch Cambridgeshire Invitation Cup. Đội bóng cũng bảo vệ thành công chức vô địch Invitation Cup mùa giải 2012–13 với trận thắng 3–0 trước Cambridge City ở chung kết. Câu lạc bộ lại bị xuống hạng Division One cuối mùa giải 2014–15 sau khi đứng cuối bảng. == Danh hiệu == Cambridgeshire Senior Cup Vô địch 1948 Eastern Counties League Vô địch League Cup 1980 Vô địch Division One 1996–97 Vô địch Division One Cup 2000, 2005, 2008 Cambridgeshire Invitation Cup Vô địch 1970, 2002, 2012, 2013 == Kỉ lục == Thành tích tốt nhất tại FA Cup: Vòng 1, 1956–57 Thành tích tốt nhất tại FA Vase: Vòng 3, 1997–98 Thành tích tốt nhất tại FA Trophy : Vòng loại 2, 1973–74 Số khán giả cổ vũ đông nhất: 260 với Soham Town Rangers, Eastern Counties League Division One, 12 tháng 4 năm 1993 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Official website Ely City tại dữ liệu lịch sử câu lạc bộ bóng đá
hội khoa học lịch sử việt nam.txt
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (gọi tắt là Hội sử học) là tổ chức xã hội nghề nghiệp của những công dân Việt Nam hoạt động nghiên cứu và giảng dạy trong các ngành khoa học lịch sử và những ngành có liên quan mật thiết. Hội được thành lập lại từ năm 1988 với Chủ tịch Danh dự là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hội sử học là hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. == Danh sách Ban Chấp hành == === Khóa VII (2015-2020) === Chủ tịch: Giáo sư.NGND Phan Huy Lê Phó Chủ tịch: Ông Dương Trung Quốc (kiêm Tổng Thư ký) Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Xuân Biên Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Mai Hùng Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Vũ Minh Giang GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đức Cường == Xem thêm == Viện Sử học (Việt Nam) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Điều lệ và Ban Chấp hành Web của Hội sử học Thông tin trên trang web Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
24 tháng 2.txt
Ngày 24 tháng 2 là ngày thứ 55 trong lịch Gregory. Còn 310 ngày trong năm (311 ngày trong năm nhuận). == Sự kiện == 947 – Sau khi diệt Hậu Tấn, Hoàng đế Khiết Đan Da Luật Đức Quang tiến hành đăng quang hoàng đế của Trung Nguyên, xưng là “Đại Liêu” 1582 – Giáo hoàng Grêgôriô XIII đưa ra Lịch Gregory để thay thế lịch Julius, quyết định bỏ 10 ngày trong tháng 10 năm đó. 1861 – Chiến tranh Pháp-Đại Nam: Bắt đầu trận Đại đồn Chí Hòa tại Gia Định giữa quân Pháp và quân Nguyễn, quân Pháp giành chiến thắng sau hai ngày giao chiến. 1918 – Sau Cách mạng Tháng Mười, tại Tallinn, Ủy ban Cứu quốc Estonia ra tuyên bố Estonia độc lập từ Nga, và bổ nhiệm chính phủ lâm thời. 1920 – Đảng Công nhân Đức đổi tên thành Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa trong hội nghị tại Hofbräuhaus München. 2008 – Quốc hội Cuba bầu Raúl Castro làm Chủ tịch nước sau khi Fidel Castro tuyên bố sẽ không chấp nhận vị trí này vì lý do sức khỏe. == Sinh == 1866 - Cyril Arthur Pearson trùm báo chí Anh (m. 1921) 1917 - Nguyễn Văn Tỵ, họa sĩ Việt Nam (m. 1992) 1922 - Anrê Nguyễn Văn Nam, Nguyên Giám mục chính tòa Giáo phận Cần Thơ (mất 2006) 1936 - John Stuart Baker, tướng Úc (m. 2007) 1940 - Denis Law, danh thủ bóng đá Scotland 1955 - Steve Jobs, doanh nhân Hoa Kỳ 1983 - Priscila Perales, Hoa hậu Quốc tế 2007 1986 - Ricky Ullman, diễn viên truyền hình Mỹ gốc Do Thái == Mất == 1908 - Giuse Phạm Văn Thiên, Nguyên Giám mục chính tòa Giáo phận Phú Cường (sinh 1908) 1953 – Gerd von Rundstedt, thống chế quân đội Đức Quốc xã (s. 1875). 1993 – Bobby Moore, cầu thủ bóng đá Anh (s. 1941). == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
john stuart mill.txt
John Stuart Mill (20 tháng 5 năm 1806 – 8 tháng 5 năm 1873) là một nhà triết học và nhà kinh tế chính trị học người Anh. Ông là một triết gia theo đường lối tự do có ảnh hưởng lớn của thế kỉ 19. Ông là người tán thành chủ nghĩa công lợi, học thuyết đạo đức do Jeremy Bentham đưa ra lần đầu tiên. Ông là một nhân vật mẫu mực cho những người tự do và dân chủ xã hội ở Anh quốc trong hơn 150 năm. Trong cuốn tiểu sử mới của Mill, Richard Reeves cho rằng ảnh hưởng của ông đến hệ tư tưởng thế kỷ XXI thậm chí sẽ còn nhiều hơn những tác động về mặt tư tưởng của ông trong cuộc tranh đấu vô cùng cam go chi phối toàn bộ đời sống thế giới nửa cuối thế kỷ XX giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Dự báo này có cơ sở của nó. Mill là một trong những bậc thầy vĩ đại được Thủ tướng Anh Gordon Brown tôn vinh trong diễn văn của ông về sự tự do ở Anh quốc vài tuần trước đây và các nghiên cứu về Mill vẫn tiếp tục được mở rộng. Giải thích cho việc Mill luôn được quan tâm trên cả phương diện cá nhân lẫn xã hội đó là về mặt nhân cách cá nhân, ông là một người vô cùng nhã nhặn, có trái tim nhân ái, một quý ông trí thức, một người tài ba. Ai có thể nào không quý mến con người này. Cuộc đời mẫu mực của ông - một hình mẫu cao nhất cho tính nghiêm chỉnh thời nữ hoàng Victoria - vẫn còn được yêu thích và ngưỡng mộ. Nền giáo dục khủng khiếp mà ông tiếp thu, dưới sự chỉ dẫn của người cha khắt khe và giáo điều - một con người dường như không hề có khiếu hài hước và không từng cảm thông với người khác, là một huyền thoại. Ba tuổi ông học bảng chữ cái Hy Lạp, bảy tuổi đọc Plato (bằng tiếng Hy Lạp), học tiếng Latin năm tám tuổi và đọc logic của Aristotle năm mười một tuổi. Sự suy sụp vào năm 20 tuổi của ông cũng là một huyền thoại. Thời gian đó ông tự hỏi mình liệu ông có hạnh phúc hơn nếu mọi cải cách mà ông và cha tin tưởng thành hiện thực và ông kinh hoàng nhận ra rằng câu trả lời là "không". Tầm trí tuệ của Mill cũng làm người ta kinh ngạc như nền giáo dục mà ông thụ hưởng. Tác phẩm Các hệ thống logic (1843) và Những nguyên lý của kinh tế chính trị (1848) là những cuốn sách bán chạy nhất thời đó, mỗi cuốn được tái bản bảy lần. Tiểu luận "Bàn về Tự do" (1859) chắc chắn là tác phẩm chính trị nổi tiếng nhất ở Anh quốc. Nhưng Mill không phải một nhà lý luận tháp ngà. Ông là thành viên Quốc hội trong ba năm và là một thành viên đặc biệt nhất (cuốn hút nhất) của Hạ Nghị viện. Ông không bỏ tiền vào cuộc vận động tranh cử cho mình, và khi bị chất vấn tại một hội nghị với phần đông là giai cấp lao động, ông đã từ chối rút lại lời chỉ trích rằng những giai cấp lao động là "những kẻ quen thói dối trá". Mặc dù vậy, những thành công của ông với cương vị một thành viên quốc hội là đáng kể. Sửa đổi nổi tiếng của ông vào Dự luật Cải cách 1867 – thay từ "người - person" cho từ "người (đàn ông) - man" – đã cho phụ nữ quyền bầu cử 50 năm trước khi họ thực sự giành được quyền này, lần đầu tiên đem sự nghiệp quyền bầu cử của nữ giới lên chương trình nghị sự của chính giới... Ông là người trọn đời đấu tranh cho nữ quyền, vào tù vì ủng hộ cho việc kiểm soát sinh đẻ (chỉ trong hai ngày), đấu tranh cho cải cách ở vùng đất của người Ireland và cổ vũ cho một hình thức chủ nghĩa xã hội thị trường, dựa trên hợp tác xã của những người lao động. Mối tình bền lâu của ông cùng Harriet Taylor - vợ của một dược sĩ thành đạt có khuynh hướng chính trị cực đoan - tạo ra những câu chuyện trong văn học Anh. Không có gì phải nghi ngờ rằng Mill đã đứng bên phía chính nghĩa trong những cuộc tranh đấu chính trị lớn nhất thời đại ông. Ông đã đấu tranh cho phụ nữ, cho người Ireland, cho Đạo luật Cải cách 1832 và 1867, cho cách mạng 1848, ủng hộ những người miền Bắc trong cuộc nội chiến ở Mỹ, cho cuộc vận động thành lập hợp tác xã. Ông chống lại chế độ quý tộc, phản đối những thu nhập không làm mà có, chống lại Napoleon III, chống lại sự buôn bán, khai thác, tàn nhẫn, bất công ở bất cứ đâu... Mill không chỉ là một nhà tư tưởng mà còn là một con người hành động. == Cuộc đời == John Stuart Mill sinh ngày 20 tháng 5 năm 1806 là con cả của gia đình ông James Mill và bà Harriet Murrow với 9 người con. Sự phát triển cá nhân của ông chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi cha ông, một người tiêu biểu cho trường phái Công lợi quá khích và xem việc dạy dỗ của John Stuart, một người rất thông minh, như là một "cuộc thi đua để tạo nên một nhân tài". Từ lúc 3 tuổi John Stuart đã được dạy những bài học đầu tiên bằng tiếng Cổ Hy lạp, lúc 10 tuổi ông đã giỏi về tiếng La tin ngang hàng với trình độ đại học, sau này ông còn học thêm tiếng Pháp và tiếng Đức. Từ hồi nhỏ ông đã đọc những chuyện ngụ ngôn của Äsop từ bản chính, sau đó Anabasis của Xenophon, Herodot, Diogenes, Lukian và Isokrates, lúc 7 tuổi đã đọc những cuộc đối thoại đầu tiên của Platon. Dưới sự giám sát nghiêm khắc của cha, ông bắt đầu học số học. Trong giờ giải lao ông đọc Plutarch và Humes „ Lịch sử Vương quốc Anh". Lúc 8 tuổi ông đã bắt đầu dạy cho các em mình tiếng La tin. Hồi 13 tuổi ông đã tìm hiểu kinh tế chính trị, đặc biệt là những lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo. Khi được 14 tuổi ông đi học ở Montpellier về các bộ môn Hóa học, Động vật học, Toán, Luận lý học và Siêu hình học. Sau 14 năm lớn lên được dạy dỗ không có tiếp xúc với những người đồng lứa tuổi, ông có cơ hội để làm bạn với em trai ông Bentham (Sir Samuel Bentham) tại Pháp gần thành phố Toulouse, cũng như có điều kiện để tham dự những hoạt động thể thao như cưỡi ngựa, bơi lội, đánh kiếm và nhảy đầm. Cùng thời đó ông khám phá tại vùng Pyrenäen cái thói đâm mê của mình cho Thực vật, cái mà ông đã lấy làm thú tiêu khiển cho mình đến suốt cuộc đời. == Tác phẩm == Hệ thống logic (A system of logic, 1843) Các nguyên lý của kinh tế chính trị học (Principles of political economy, 1848) Bàn về tự do (On liberty, 1859) Chính thể đại diện (Considerations on representative government, 1861) Chủ nghĩa công lợi (Utilitarianism, 1863) Khảo cứu triết học của ngài William Hamilton (An examination of sir William Hamilton's Philosophy, 1865) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Luận về tự do của John Stuart Mill Utilitarianism của John Stuart Mill Chính thể đại diện của John Stuart Mill
chùa láng.txt
Chùa Láng, hay còn gọi là Chiêu Thiền tự (Chữ Hán: 昭禪寺), là một ngôi chùa ở làng Láng, Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Tên chùa có ý nghĩa rằng: "Vì có điều tốt rõ rệt nên gọi là Chiêu. Đây là nơi sinh ra Thiền sư Đại Thánh nên gọi là Thiền". Người Pháp gọi là Pagode des Dames. == Lịch sử == Chùa tương truyền được xây dựng từ thời vua Lý Anh Tông (trị vì từ 1138 đến 1175). Chùa thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Theo truyền thuyết, nhà sư này đã đầu thai làm con trai một nhà quý tộc Sùng Hiền hầu, em vua Lý Nhân Tông. Vì vua Lý Nhân Tông (trị vì từ 1072 đến 1127) không có con, nên con trai của ông Sùng Hiền hầu được nối ngôi, tức vua Lý Thần Tông (trị vì từ 1128 đến 1138). Do sự tích ấy mà con của Lý Thần Tông là Lý Anh Tông đã cho xây cất chùa Chiêu Thiền để thờ vua cha và tiền thân của Người là thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chùa đã được trùng tu nhiều lần, những lần quan trọng nhất là vào các năm 1656, 1901 và 1989. == Kiến trúc == Cổng chùa ngoài cùng bao gồm bốn cột vuông với ba mái cong không chùm lên cột mà gắn vào sườn cột, mái giữa cao hơn hai mái bên, hơi giống kiến trúc cổng ở cung vua phủ chúa ngày xưa, trên cổng có tấm hoành phi lớn đề chữ " Thiền Thiên Khải Thánh ". Qua cổng là một sân lát gạch Bát Tràng, giữa sân là chiếc sập đá, nơi đặt kiệu trong các ngày lễ hội. Cuối sân có cửa tam quan. Từ đây có con đường lát gạch, hai bên là hàng muỗm cổ thọ cả gần ngàn tuổi dẫn đến cổng thứ ba. Qua cổng này ở giữa có ngôi nhà bát giác nơi đặt tượng của Từ Đạo Hạnh. Qua nhà bát giác này mới đến các công trình chính trong chùa: bái đường, nhà thiêu hương, thượng điện, các dãy hành lang, nhà tổ và tăng phòng... Động thập điện Diêm Vương ở hai đầu đốc tòa tiền đường khá đẹp, miêu tả những hình phạt ở các tầng địa ngục. Đây là một trong những ngôi chùa có số lượng tượng thờ nhiều nhất Hà Nội và cả Việt Nam, gồm 198 pho tượng. Cơ Bản gồm có: Khuyến thiện, Trừng Ác, Tứ Đại thiên Vương, Chuẩn đề, Phạm thiên, Đế Thích, Cửu Long Phún Thủy, Thập bát La hán, Lịch Đại Tổ Sư, Tam Tòa Thánh Mẫu, Tứ Vị Vua Bà,... Ngoài các tượng Phật ở thượng điện, trong hậu cung còn có tượng nhà sư Từ Đạo Hạnh và tượng vua Lý Thần Tông. Tượng Từ Đạo Hạnh làm bằng mây đan phủ sơn còn tượng Lý Thần Tông làm bằng gỗ mít. Vì được trùng tu nhiều lần, trong chùa không còn dấu tích của các kiến trúc di vật cổ. Tấm bia cổ nhất còn lại ở đây được dựng năm Thịnh Đức thứ 4 (1656) nhà Hậu Lê. Văn bia do tiến sĩ Nguyễn Văn Trạc viết. Vẻ bề thế của quần thể kiến trúc hài hòa, cân xứng với không gian thoáng đãng khiến cho chùa Láng đã từng được coi là "đệ nhất tùng lâm" ở phía Tây kinh thành Thăng Long xưa. == Hội chùa == Hội chùa Láng cử hành vào ngày mồng bảy tháng ba âm lịch, là ngày sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong ngày hội, kiệu của Từ Đạo Hạnh được rước đến chùa Hoa Lăng ở xã Dịch Vọng, nơi thờ bố mẹ ông. Chùa Láng là dạng chùa "Tiền Phật, Hậu Thánh ", một đặc trưng khác biệt tại chùa là do Từ Đạo Hạnh vừa là sư vừa là Thánh của làng nên người dân ở đây dâng cả rượu, thịt cho Ngài trong ngày lễ hội. Chùa Thầy ở Quốc Oai (Hà Nội) cũng thuộc hệ thống chùa thờ Từ Đạo Hạnh nên dân gian có câu rằng: Nhớ ngày mồng bảy tháng ba, Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy. == Hình ảnh == == Tham khảo == Sổ tay Văn Hoá Việt Nam, Đặng Đức Siêu, Nhà Xuất Bản Lao động, 2006. == Xem thêm == Danh sách chùa Hà Nội == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Thư viện Hoa Sen
gabon.txt
Cộng hòa Gabon (Tiếng Việt: Cộng hòa Ga-bông; tiếng Pháp: "République Gabonaise") là một quốc gia ở Trung Châu Phi. Quốc gia này giáp với vịnh Guinea về phía tây, Guinea Xích Đạo về phía tây bắc và Cameroon về phía bắc, còn Cộng hòa Congo bao quanh phía đông và nam. Thủ đô và thành phố lớn nhất là Libreville. Kể từ khi độc lập khỏi Pháp ngày 17 tháng 8 năm 1960, nước cộng hoà này đã có 3 đời tổng thống. Do có dân số ít, nhiều tài nguyên thiên nhiên và nguồn đầu tư nước ngoài nên Gabon là một trong quốc gia thịnh vượng nhất ở trong vùng này, có chỉ số phát triển con người cao nhất ở Hạ Sahara châu Phi. == Lịch sử == Dân tộc Babiga (Pygmités) được xem là những người đầu tiên định cư ở vùng đất mà ngày nay thuộc Gabon vào khoảng năm 7.000 TCN trở về sau. Sau đó, các nhóm sắc tộc sử dụng ngôn ngữ Bantu từ Nam và Đông Phi đến cư ngụ. Hiện nay, có nhiều nhóm sắc tộc sống tại Gabon, trong đó người Fang chiếm khoảng 25% dân số. Diego là nhà hàng hải Bồ Đào Nha đầu tiên đến vùng này vào thế kỉ 15. Năm 1472, các nhà hàng hải Bồ Đào Nha đến vùng cửa sông Como và đặt tên là "Rio de Gabao", nghĩa là sông Gabon, về sau được dùng đặt tên nước. Người Hà Lan đến đây năm 1593 và người Pháp năm 1630. Trong thế kỉ 17 và đầu thế kỉ 18, người châu Âu đã biến nơi đây thành trung tâm buôn bán nô lệ, ngà voi và gỗ mun. Năm 1815, Hội nghị Vienna bãi bỏ chế độ nô lệ, nhưng Pháp vẫn còn một số quyền lợi khi được chỉ định để một số tàu thuyền ở lại để loại trừ các cuộc buôn bán nô lệ bất hợp pháp. Năm 1849, thành phố Libreville được thành lập với những người nô lệ giải phóng đến định cư tại đó. Năm 1886, Gabon trở thành thuộc địa của Pháp và là một trong bốn vùng lãnh thổ châu Phi Xích đạo thuộc Pháp (1910). Gabon giành độc lập năm 1960. Léon M'Ba được bầu làm Tổng thống năm 1961. Từ năm 1967, Omar Bongo trở thành nhà lãnh đạo mới của đất nước. Năm 1968, Bongo cho giải tán Đảng Khối Dân chủ Gabon và lập nên một Đảng duy nhất là Đảng Dân chủ Gabon (PDG). Ông liên tiếp được bầu làm Tổng thống vào năm 1975, và tái đắc cử vào các năm 1979 và 1986. Năm 1990, các biện pháp khắc khổ đã gây nên tình hình xã hội bất ổn. Bongo kêu gọi sự giúp đỡ của quân đội Pháp và thông qua thể chế đa đảng. Tuy nhiên, điều này cũng không thể ngăn cản Bongo giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử Tổng thống năm 1993 và năm 1998. Tổng thống Bongo tiến hành các biện pháp khắc khổ mới và tiếp nhận sự giúp đỡ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế năm 2000. Ngày 6 tháng 6 năm 2009, tổng thống Bongo từ trần sau khi nắm quyền đất nước 32 năm, thay thế ông tạm thời là Rose Francine Rogombe, chủ tịch hạ viện Gabon. Sau đó, vào cuộc bầu cử vào tháng 8 năm 2009, con trai của cố Tổng thống Bongo đã đắc cử và trở thành Tổng thống hiện nay của Gabon. == Chính trị == Gabon theo chính thể cộng hòa tổng thống. Hiến pháp được ban hành ngày 14 tháng 3 năm 1991, sửa đổi năm 1995. Đứng đầu Nhà nước là Tổng thống. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 7 năm; Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm. Tổng thống có thể bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ tướng, nội các, và các thẩm phán của Tòa án tối cao. Tổng thống cũng có quyền hạn mạnh mẽ khác, chẳng hạn như quyền giải tán Quốc hội, tuyên bố tình trạng khẩn cấp, và tiến hành trưng cầu dân ý. Đất nước có một cơ quan lập pháp là quốc hội lưỡng viện với Thượng viện và Hạ viện. Quốc hội có 120 đại biểu được dân bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện gồm 102 thành viên được bầu bởi các Hội đồng thành phố và các hội đồng khu vực và phục vụ trong 6 năm. Cơ quan tư pháp là Tòa án Tối cao; Tòa án Hiến pháp; Tòa Thượng thẩm; Tòa án an ninh quốc gia; Tòa án hạt. == Quan hệ ngoại giao == Gabon thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng, ưu tiên quan hệ mọi mặt với Pháp, tranh thủ vốn, đầu tư, viện trợ kỹ thuật của các nước có tiềm năng (Mỹ, Tây Âu, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Brasil...). Gabon hoạt động tích cực trong Tổ chức Thống nhất châu Phi, nhằm duy trì tình đoàn kết châu Phi, giải quyết các vấn đề khu vực, đấu tranh cho nền độc lập kinh tế của châu lục, thúc đẩy hợp tác Nam-Nam, vì sự nghiệp công nghiệp hoá của châu Phi. Gabon là thành viên cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp. Tháng 1 năm 2010, Gabon trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cho giai đoạn 2010-2011. == Hành chính == Gabon được chia thành 9 tỉnh, các tỉnh được chia thành 37 department. Các tỉnh: Estuaire Haut-Ogooué Moyen-Ogooué Ngounié Nyanga Ogooué-Ivindo Ogooué-Lolo Ogooué-Maritime Woleu-Ntem == Địa lý == Quốc gia ở Tây Phi, bên bờ Đại Tây Dương, Bắc giáp Guinea Xích Đạo và Cameroon, Đông và Nam giáp Cộng hòa Congo. Lãnh thổ gồm vùng đồng bằng ven biển, phần nội địa là các vùng bán bình nguyên và các dãy núi đá (núi Cristal, núi Chaillu) bao quanh vùng lưu vực sông Ogooué. == Kinh tế == Gabon là quốc gia có GDP đầu người cao gấp 4 lần so với các nước châu Phi trong vùng cận Sahara. Tuy nhiên, phần lớn dân cư vẫn còn nghèo đói do bất bình đẳng trong mức thu nhập. Ngoài việc khai thác rừng, nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng, dầu mỏ, khí đốt, măng gan, uranium là các sản phẩm xuất khẩu chính. Ngành dầu mỏ hiện nay chiếm 50% GDP. Gabon vẫn phải tiếp tục đương đầu với sự dao động giá cá của một số mặt hàng xuất khẩu: dầu mỏ, gỗ, mangan, uranium. Dù là nước giàu tài nguyên nhưng kinh tế vẫn bấp bênh do chính sách quản lý tài chính lỏng lẻo. Năm 1997, tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế đưa ra những chỉ trích chính phủ Gabon về khoản chi tiêu quá mức các danh mục ngoài ngân sách, các khoản vay mượn quá lớn, lơ là các kế hoạch cải cách hành chính và tư nhân hóa. Năm 1999, kinh tế Gabon đạt được một số kết quả khả quan nhờ giá dầu lửa tăng. Chính sách của Gabon là tập trung ưu tiên phát triển kinh tế, trao đổi thương mại, tranh thủ tối đa nguồn đầu tư, viện trợ, kỹ thuật từ nước ngoài, thi hành chính sách kinh tế mở, tự do hoá theo hướng kinh tế thị trường nhằm phát triển nhanh đất nước và chuẩn bị bước phát triển nhảy vọt vào năm 2000. Gabon đang nổi lên ở châu Phi nói chung và ở Tây Phi nói riêng về khắc phục khủng khoảng và xây dựng kinh tế đạt GDP cao. Trước đây, nền kinh tế Gabon phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu cao su và magiê, nhưng từ khi phát hiện ra các mỏ dầu từ những năm 70, thì dầu mỏ lại trở thành nguồn thu chính và chiếm tới 50% tổng sản phẩm quốc nội của nước này. Nền kinh tế Gabon cũng không ổn định do biến động của giá dầu, cao su và magiê. Mặc dù có nguồn tài nguyên phong phú nhưng những yếu kém trong quản lý tài chính đã khiến cho nền kinh tế đất nước khó khăn. Vào thời điểm tháng 1 năm 1994, đồng tiền nước này bị phá giá 50% và lạm phát lên 35%. Quỹ Tiền tệ Quốc tế đưa ra một kế hoạch ủng hộ một năm vào thời gian từ 1994-1995, một chương trình cải thiện năng lực tài chính 3 năm với mức lãi suất thấp bắt đầu vào cuối năm 1995 và một khoản viện trợ tín dụng trị giá 119 triệu USD vào tháng 10 năm 2000. Pháp đã cung cấp thêm một khoản viện trợ tài chính vào tháng 1 năm 1997 sau khi Gabon hoàn thành được các mục tiêu đề ra cho nửa năm 1996 của Quỹ tiền tệ quốc tế. Giá dầu tăng 1999 – 2000 đã giúp kinh tế Gabon tăng trưởng. Tháng 12 năm 2000, Gabon đã ký một Hiệp định mới với câu lạc bộ Paris nhằm thay đổi lại kế hoạch trả nợ chính thức của mình. Sau đó, tháng 12 năm 2001, một Hiệp định tái trả nợ song phương với Mỹ đã được ký kết. Gabon đã ký thoả thuận với IMF để nhận được một sự hỗ trợ 14 tháng. Sau đó tháng 5 năm 2004, nhận được sự đồng ý giãn nợ với CLB Paris năm sau đó. Nông nghiệp thu hút tới 60% lao động nhưng chỉ đóng góp khoảng 4,5% GDP và chỉ bảo đảm 15% nhu cầu trong nước. Các nông sản chính của Gabon là ca cao, cà phê, đường, dầu cọ, cao su, gia súc, okoume, cá. Công nghiệp chỉ thu hút 15% lao động nhưng đóng góp tới 62,7% GDP. Tài nguyên có dầu lửa (trữ lượng 120 triệu tấn), măng gan (235 triệu tấn), uranium (5 triệu tấn), sắt (gần 1 tỷ tấn), gỗ (rừng chiếm 85% lãnh thổ. Việc tìm ra dầu lửa đã tạo ra bước nhảy vọt về kinh tế của Gabon (các Công ty dầu lửa lớn Total, Mobil, Shell, Agip đều có mặt ở Gabon). Gabon có ngành công nghiệp khai thác, hoá dầu, điện lực tương đối phát triển. Sản lượng dầu mỏ hiện nay của Gabon là 241.700 thùng/ngày đứng ở vị trí 41 thế giới. Về ngoại thương, năm 2010, Gabon xuất khẩu 6,803 tỷ USD. Các mặt hàng xuất khẩu chính của nước này là dầu thô (70%), cao su, magiê, và uranium. Các đối tác xuất khẩu chính của Gabon là Mỹ, Trung Quốc và Pháp. Năm 2010, kim ngạch nhập khẩu vào Gabon đạt 2,433 tỷ USD trong có các mặt hàng chủ yếu là trang thiết bị máy móc, thực phẩm, vật liệu xây dựng. Những nước mà Gabon nhập khẩu hàng hoá lớn là: Pháp, Mỹ và Anh. == Giáo dục == Giáo dục là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ. Giáo dục bắt buộc đối với trẻ em trong 10 năm và miễn phí từ bậc tiểu học đến sau đại học (chi phí giáo dục - đào tạo được trích từ nguồn thu nhập dầu mỏ). Hệ thống giáo dục của Gabon có quan hệ chặt chẽ với hệ thống giáo dục của Pháp. Giáo viên được đào tạo tại Pháp. Chương trình tiểu học gồm 6 năm, trung học 7 năm. == Dân số == Gabon có dân số ước tính khoảng 1.545.255 người. Các yếu tố lịch sử và môi trường đã làm cho dân số của Gabon giảm từ năm 1900 và năm 1940. Đây cũng là quốc gia có mật độ dân số thấp nhất ở châu Phi, và Chỉ số phát triển con người cao nhất ở khu vực Châu Phi hạ Sahara. Hầu như tất cả người dân Gabon có nguồn gốc Bantu, mặc dù Gabon có ít nhất bốn mươi dân tộc với các ngôn ngữ và các nền văn hóa khác nhau. Người Fang nói chung được cho là nhóm sắc tộc lớn nhất lớn nhất, mặc dù dữ liệu điều tra dân số gần đây cho thấy người Nzebi đang chiếm ưu thế. Những tộc người khác bao gồm Myene, Kota, Shira, Punu, và Kande. Hầu hết các dân tộc phân bố rộng khắp cả nước, dẫn đến việc thường xuyên liên lạc và tương tác giữa các nhóm dân tộc. Hôn phối giữa các nhóm dân tộc là khá phổ biến, giúp giảm căng thẳng sắc tộc. Tiếng Pháp, ngôn ngữ thuộc địa trước đây của Gabon, là ngôn ngữ thống nhất giữa các dân tộc. Hiện taih cũng có hơn 10.000 người Pháp sống ở Gabon. Người ta ước tính rằng 80% dân số của đất nước có thể nói tiếng Pháp, và 30% người dân Libreville nói thứ bản ngữ của họ. Trên toàn quốc, có 32% dân số nói ngôn ngữ Fang như là tiếng mẹ đẻ. Tôn giáo chính ở Gabon bao gồm Kitô giáo (Công giáo Rôma và Tin Lành), Bwiti, Hồi giáo, và tôn giáo duy linh bản địa. Khoảng 73% dân số, thực hành ít nhất một số yếu tố tôn giáo kết hợp giữa Kitô giáo và Bwiti, 12% dân số thực hành Hồi giáo (trong đó có 80 đến 90% là người nước ngoài), 10% thực hành niềm tin tôn giáo bản địa truyền thống, và 5% không thực hành tôn giáo hay là người vô thần. == Văn hóa == == Xem khác == == Liên kết ngoài == === Chính phủ === === Tin tức === === Tổng quan === === Văn hóa === === Nhóm sắc tộc === === Các danh mục === === Du lịch === == Chú thích == == Tham khảo ==
trung quốc quốc dân đảng.txt
Trung Quốc Quốc dân Đảng (tiếng Trung: 中國國民黨, gọi tắt là Quốc dân Đảng, tên tiếng Anh là "Kuomintang of China" hay "Chinese Nationalist Party", viết tắt "KMT") do Tôn Trung Sơn và các đồng chí của ông sáng lập và tồn tại cho đến nay, cũng là một trong số các chính đảng sớm nhất tại châu Á. Tiền thân của chính đảng này là đoàn thể cách mạng Hưng Trung hội thành lập tại Hawaii vào năm 1894, sau đó lần lượt cải tổ thành Trung Quốc Đồng minh hội, Quốc dân Đảng và Trung Hoa Cách mệnh Đảng, đến ngày 10 tháng 10 năm 1919 sau khi Tôn Trung Sơn cải tổ thì đổi sang danh xưng hiện tại. Trung Quốc Quốc dân Đảng là đảng cầm quyền tại Trung Quốc từ lúc Chính phủ Quốc dân hoàn thành Bắc phạt thống nhất Trung Quốc, trải qua thi hành hiến pháp vào năm 1947, đến năm sau cải tổ thành Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, đến năm 1949 do chiến bại trong Nội chiến Quốc-Cộng phải triệt thoái đến Đài Loan. Trung Quốc Quốc dân Đảng liên tục cầm quyền tại Đài Loan đến hết nhiệm kỳ của Tổng thống Lý Đăng Huy. Năm 2000, do thất bại trong bầu cử tổng thống nên đảng này trở thành đảng đối lập. Trong kỳ bầu cử tổng thống năm 2008, Mã Anh Cửu của Trung Quốc Quốc dân Đảng giành thắng lợi, Trung Quốc Quốc dân Đảng quay lại cầm quyền. Trong bầu cử tổng thống năm 2016, Trung Quốc Quốc dân Đảng thất bại trong bầu cử tổng thống nên một lần nữa trở thành đảng đối lập. Trung Quốc Quốc dân Đảng hiện đứng đầu trong Liên minh phiếm Lam, là một trong hai liên minh chính trị lớn tại Đài Loan cùng với Liên minh phiếm Lục do Đảng Dân chủ Tiến bộ đứng đầu. Quốc dân Đảng cùng với Đảng Thân dân và Tân Đảng tạo thành Liên minh "Phiếm Lam", ủng hộ mục tiêu thống nhất với Trung Quốc đại lục. Tuy nhiên, Quốc dân Đảng buộc phải điều độ lập trường của họ bằng việc tán thành giữ nguyên trạng chính trị và pháp lý của Đài Loan hiện nay. Quốc dân Đảng chấp thuận "nguyên tắc một Trung Quốc", về mặt chính thức cho rằng chỉ có một Trung Quốc theo Nhận thức chung 1992, nhưng đó chính là Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên, kể từ năm 2008, nhằm làm dịu căng thẳng với Trung Quốc đại lục, Quốc dân Đảng tán thành chính sách "ba không" theo định nghĩa của Mã Anh Cửu: không thống nhất, không độc lập và không sử dụng vũ lực. == Lịch sử == === Thành lập và thời kỳ Tôn Trung Sơn === Nguồn gốc tư tưởng và tổ chức của Quốc dân Đảng là công lao của nhân vật dân tộc chủ nghĩa Trung Hoa Tôn Trung Sơn, ông thành lập "Hưng Trung hội" tại Honolulu, Hawaii vào ngày 24 tháng 11 năm 1894. Năm 1905, Tôn Trung Sơn liên hiệp lực lượng với các đoàn thể chống phong kiến Hoa Hưng hội, Quang Phục hội tại Tokyo, Nhật Bản để hình thành Trung Quốc Đồng minh Hội vào ngày 20 tháng 8 năm 1905, tổ chức cam kết phế truất triều Thanh và lập một chính phủ cộng hòa. Tổ chức lên kế hoạch và ủng hộ Cách mạng Tân Hợi năm 1911 và thành lập Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 1 tháng 1 năm 1912. Tuy nhiên, Tôn Trung Sơn không có quyền lực quân sự và nhượng lại cho Viên Thế Khải chức vụ đại tổng thống lâm thời của nước cộng hòa. Ngày 11 tháng 8 năm 1912, Đồng minh Hội, Thống nhất Cộng hòa Đảng, Quốc dân Công Đảng, Quốc dân Cộng tiến Đảng và Cộng hòa Thực tiến hội hợp nhất, đến ngày 13 tháng 8 tuyên bố: "chế độ cộng hòa, quốc dân là chủ thể của đất nước, chúng tôi vì để mọi người không quên lẽ đó, nên để tên là Quốc dân Đảng". Ngày 25 tháng 8 năm 1912, Quốc dân Đảng được thành lập tại Hội quán Hồ Quảng tại Bắc Kinh,, chính thức tuyên bố Quốc dân Đảng ra đời Thành viên có thế lực nhất của đảng là Tống Giáo Nhân, ông huy động ủng hộ lớn từ giới thân sĩ và thương nhân cho Quốc dân Đảng nhằm chủ trương một chế độ dân chủ nghị viện lập hiến. Đảng phản đối phái chủ nghĩa quân chủ lập hiến và tìm cách kiềm chế quyền lực của Viên Thế Khải. Quốc dân Đảng giành được số ghế nhiều nhất trong bầu cử quốc hội lần thứ nhất vào tháng 12 năm 1912-tháng 1 năm 1913. Tuy nhiên, Viên Thế Khải nhanh chóng bắt đầu bác bỏ quốc hội trong các quyết định. Tống Giáo Nhân bị ám sát tại Thượng Hải vào năm 1913. Các thành viên của Quốc dân Đảng dưới quyền Tôn Trung Sơn nghi ngờ Viên Thế Khải đứng sau âm mưu nên họ tổ chức Cách mạng thứ hai vào tháng 7 năm 1913 song thất bại. Viên Thế Khải tuyên bố Quốc dân Đảng tiến hành lật đổ và phản bội, ra lệnh trục xuất thành viên của Quốc dân Đảng khỏi Quốc hội. Viên Thế Khải cho giải tán Quốc dân Đảng vào tháng 11 (một phần lớn thành viên của đảng đào thoát sang Nhật Bản) và giải tán quốc hội vào đầu năm 1914. Viên Thế Khải xưng là hoàng đế vào tháng 12 năm 1915. Trong khi lưu vong tại Nhật Bản, Tôn Trung Sơn thành lập Trung Hoa Cách mệnh Đảng vào ngày 8 tháng 7 năm 1914, song nhiều đồng chí cũ của ông như Hoàng Hưng, Uông Tinh Vệ, Hồ Hán Dân và Trần Quýnh Minh từ chối tham gia hay ủng hộ các nỗ lực của ông nhằm kích động khởi nghĩa vũ trang chống Viên Thế Khải. Nhiều nhà cách mạng cũ không tham gia tổ chức mới của Tôn Trung Sơn, và ông phần lớn đứng bên lề phong trào cộng hòa trong giai đoạn này. Tôn Trung Sơn trở về Trung Quốc vào năm 1917 để lập một chính phủ quân sự tại Quảng Châu, mục đích là nhằm chống đối Chính phủ Bắc Dương song không lâu sau bị lật đổ và phải lưu vong tại Thượng Hải. Tại đó, ông khôi phục sự ủng hộ, lập lại "Trung Quốc Quốc dân Đảng" vào ngày 10 tháng 10 năm 1919 trong tô giới Pháp tại Thượng Hải và lập trụ sở của đảng tại Quảng Châu vào năm 1920. Năm 1923, Quốc dân Đảng và chính phủ tại Quảng Châu của họ chấp thuận viện trợ từ Liên Xô sau khi bị các cường quốc phương Tây từ chối công nhận. Các cố vấn Liên Xô mà nổi bật nhất là Mikhail Borodin đến Trung Quốc vào năm 1923 nhằm giúp đỡ tái tổ chức và củng cố Quốc dân Đảng theo quy tắc của Đảng Cộng sản Liên Xô, lập ra một cấu trúc đảng kiểu Lê-nin-nít tồn tại cho đến thập niên 1990. Đảng Cộng sản Trung Quốc hợp tác với Trung Quốc Quốc dân Đảng theo chỉ thị của Quốc tế cộng sản, các thành viên cộng sản được khuyến khích gia nhập Quốc dân Đảng song duy trì bản sắc đảng riêng biệt của mình, hình thành Mặt trận Liên hiệp thứ nhất giữa hai đảng. Các cố vấn Liên Xô cũng giúp Trung Quốc Quốc dân Đảng lập một học viện chính trị nhằm đào tạo các tuyên truyền viên với các kỹ thuật huy động quần chúng, và đến năm 1923 một phụ tá của Tôn Trung Sơn là Tưởng Giới Thạch được phái đi Moskva để học tập quân sự và chính trị trong nhiều tháng. Từ ngày 20 đến ngáy 30 tháng 1 năm 1924, Trung Quốc Quốc dân Đảng cử hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất tại Quảng Châu, Tôn Trung Sơn đề xuất "liên Nga dung Cộng", tuyên bố cải tổ trong đảng hoàn thành. Đại hội bao gồm các đại biểu phi Quốc dân Đảng như thành viên cộng sản, họ chấp thuận tư tưởng chính trị của Tôn Trung Sơn, gồm chủ nghĩa Tam dân: dân tộc, dân quyền, dân sinh. === Dưới quyền Tưởng Giới Thạch tại Trung Quốc đại lục === Tôn Trung Sơn mất vào năm 1925, quyền lãnh đạo chính trị của Trung Quốc Quốc dân Đảng thuộc về Uông Tinh Vệ và Hồ Hán Dân, lần lượt là thủ lĩnh của phái tả và phái hữu trong đảng. Tuy nhiên, quyền lực thực tế nằm trong tay Tưởng Giới Thạch, ông là hiệu trưởng Trường Quân sự Hoàng Phố, và gần như kiểm soát hoàn toàn quân đội. Nhờ ưu thế về quân sự, Tưởng Giới Thạch lãnh đạo thầy trò Trường quân sự Hoàng Phố phát động Đông chinh, bình định Quảng Đông, thành lập Chính phủ Quốc dân tại Quảng Châu. Quốc dân Đảng lúc này trở thành một chính quyền đối địch với Chính phủ Bắc Dương đặt tại Bắc Kinh. Tháng 1 năm 1926, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Trung Quốc Quốc dân Đảng quyết định tiếp nhận di chúc của Tôn Trung Sơn và cương lĩnh chính trị của đại hội thứ nhất, tái khẳng định chủ trương chính trị "phản đế phản quân phiệt". Đại hội quyết định duy trì chấp hành chính sách tam đại là liên Nga, dung Cộng, phù trợ nông-công. Đối với Phái Hội nghị Tây Sơn hữu khuynh, thi hành khai trừ đảng tịch Tưởng Giới Thạch đảm nhận chức Chủ tịch Ủy ban Thường vụ của Quốc dân Đảng vào ngày 6 tháng 7 năm 1926. Không như Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch biết tương đối ít về phương Tây và thấm nhuần sâu sắc văn hóa Trung Hoa. Theo thời gian, ông ngày càng gắn bó với văn hóa và truyền thống Trung Hoa. Ông học tập siêng năng điển tịch cổ điển Trung Hoa và lịch sử Trung Hoa. Trong thời gian được phái sang Liên Xô, Tưởng Giới Thạch từng gặp Leon Trotsky và các nhà lãnh đạo Liên Xô khác, song nhanh chóng kết luận rằng mô hình chính quyền Xô viết không phù hợp với Trung Quốc. Tưởng Giới Thạch đặc biệt tận tâm với tư tưởng "huấn chính" của Tôn Trung Sơn. Tôn Trung Sơn tin rằng để thống nhất và cải tiến Trung Hoa cần dựa vào một cuộc chinh phạt quân sự, tiếp đến là một giai đoạn huấn chính với đỉnh điểm là chuyển đổi sang dân chủ. Sử dụng tư tưởng này, Tưởng Giới Thạch dựng bản thân thành một nhà độc tài của Trung Hoa Dân Quốc, cả trong thời kỳ đại lục và thời kỳ dời sang Đài Loan. Năm 1926, Tưởng Giới Thạch phát động Bắc phạt nhằm đánh bại các quân phiệt miền bắc và thống nhất Trung Quốc dưới quyền Quốc dân Đảng. Chính phủ Quốc dân bổ nhiệm Tưởng Giới Thạch làm tổng tư lệnh của Quốc dân Cách mệnh Quân để tiến hành chiến dịch. Tưởng Giới Thạch được Liên Xô tiếp tế, chinh phục được một nửa Trung Quốc trong vòng chín tháng. Tuy nhiên, phân liệt bùng phát giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Trung Quốc Quốc dân Đảng, đe dọa đến Bắc phạt. Uông Tinh Vệ chiếm được Vũ Hán trong tháng 1 năm 1927, ông ta được điệp viên Liên Xô Mikhail Borodin giúp đỡ, tuyên bố Chính phủ Quốc dân đã dời đến Vũ Hán. Tưởng Giới Thạch chiếm được Nam Kinh trong tháng 3, ông cho dừng chiến dịch của mình và chuẩn bị tuyệt giao bạo lực với Uông Tinh Vệ và đồng minh cộng sản của ông ta. Hành động trục xuất thành viên cộng sản và cố vấn Liên Xô của Tưởng Giới Thạch dẫn đến khởi đầu Nội chiến Trung Quốc. Uông Tinh Vệ cuối cùng giao lại quyền lực cho Tưởng Giới Thạch. Joseph Stalin lệnh cho Đảng Cộng sản Trung Quốc tuân theo quyền lãnh đạo của Quốc dân Đảng. Đến khi chia rẽ được hàn gắn, Tưởng Giới Thạch tiếp tục chiến dịch Bắc phạt và tìm cách chiếm lấy Thượng Hải. Quốc dân Cách mạng Quân chiếm được Bắc Kinh vào năm 1928, là thủ đô được quốc tế công nhận, điều này cho phép Quốc dân Đảng nhận được công nhận ngoại giao rộng rãi vào cùng năm. Thủ đô được chuyển từ Bắc Kinh đến Nam Kinh. Giai đoạn Quốc dân Đảng cai trị Trung Quốc từ năm 1927 đến năm 1937 có đặc điểm là tương đối ổn định và thịnh vượng, được gọi là thập niên Nam Kinh. Sau Bắc phạt, Chính phủ Quốc dân dưới quyền Trung Quốc Quốc dân Đảng tuyên bố rằng Trung Quốc bị bóc lột trong nhiều thập niên theo các điều ước bất bình đẳng ký kết giữa ngoại quốc và nhà Thanh. Chính phủ Quốc dân Đảng yêu cầu ngoại quốc đàm phán các hiệp định có các điều khoản bình đẳng. Trước Bắc phạt, Quốc dân Đảng ban đầu tán thành chủ nghĩa liên bang và quyền tự trị cấp tỉnh. Tuy nhiên, Quốc dân Đảng dưới quyền Tưởng Giới Thạch đặt mục tiêu lập một nhà nước độc đảng tập quyền với một ý thức hệ. Tháng 3 năm 1929, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Trung Quốc Quốc dân Đảng chính thức tuyên bố "thời kỳ quân chính" kết thúc, bắt đầu "thời kỳ huấn chính", theo đó đảng lãnh đạo chính phủ trong khi chỉ dẫn cho nhân dân cách thức tham gia một hệ thống dân chủ. Chủ đề tái tổ chức quân đội được đưa ra một hội nghị quân sự vào năm 1929, châm ngòi Trung Nguyên đại chiến. Mặc dù Tưởng Giới Thạch cuối cùng giành thắng lợi, song xung đột giữa các phái hệ tác động nghiêm trọng đến tính sống còn của Quốc dân Đảng. Năm 1931, do chia rẽ nội bộ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư Trung Quốc Quốc dân Đảng được cử hành riêng biệt tại ba nơi là Nam Kinh, Quảng Châu, Thượng Hải. Ngày 12 tháng 12 năm 1931, Hội nghị toàn thể lần thứ nhất Ủy ban Trung ương Trung Quốc Quốc dân Đảng khóa IV được triệu tập, ra tuyên cáo Quốc dân Đảng thống nhất. Hội nghị thừa nhận toàn bộ ủy viên do ba đại hội tổ chức tại Nam Kinh, Quảng Châu, Thượng Hải bầu ra; Hội nghị chính trị trung ương không đặt riêng chức chủ tịch, đổi sang chế độ thường ủy. Mặc dù Chiến tranh Trung-Nhật chính thức bùng phát vào năm 1937, song Nhật Bản bắt đầu xâm lược từ năm 1931 khi họ sắp xếp Sự kiện Phụng Thiên và chiếm đóng Mãn Châu. Trước ảnh hưởng gia tăng của cộng sản, Tưởng Giới Thạch cho rằng muốn chiến đấu với ngoại xâm thì trước tiên Quốc dân Đảng cần phải giải quyết xung đột trong nước, do đó ông bắt đầu nỗ lực thứ nhì nhằm tiêu diệt các thành viên Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1934. Được các cố vấn quân sự Đức chỉ dẫn, Quốc dân Đảng buộc cộng sản phải triệt thoái khỏi các căn cứ của họ tại miền nam và miền trung của Trung Quốc để chuyển đến các vùng núi trong một cuộc triệt thoái quân sự quy mô lớn gọi là Trường chinh. Phó Tổng tài Quốc dân Đảng Uông Tinh Vệ chủ trương giảng hòa với Nhật Bản. Ngày 1 tháng 1 năm 1939, Hội nghị lâm thời Ủy ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng quyết định khai trừ đảng tịch Quốc dân Đảng và toàn bộ chức vụ công của Uông Tinh Vệ. Trương Học Lương bắt cóc Tưởng Giới Thạch trong Sự biến Tây An vào năm 1937 và buộc Tưởng Giới Thạch chấp thuận một liên minh với Đảng Cộng sản Trung Quốc để kháng Nhật. Tuy nhiên, trong nhiều tình huống liên minh chỉ nằm trên danh nghĩa; sau một giai đoạn hợp tác ngắn ngủi, quân đội hai bên bắt đầu giao chiến riêng rẽ với Nhật Bản. Xung đột giữa Trung Quốc Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn phổ biến trong chiến tranh. Trong khi Quốc dân Đảng chịu tổn thất nặng khi giao chiến với Nhật Bản, Đảng Cộng sản Trung Quốc mở rộng lãnh địa của họ theo chiến thuật du kích trong các khu vực nhật Bản chiếm đóng. Liên Xô tuyên chiến với Nhật bản ngay trước khi Nhật Bản đầu hàng và chiếm được Mãn Châu. Liên Xô từ chối cho quân đội của Quốc dân Đảng tiến vào khu vực này và giúp cho Đảng Cộng sản tiếp quản các nhà máy và vật tư của Nhật Bản. Nội chiến toàn diện giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc bùng phát vào năm 1946. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc của cộng sản nhanh chóng phát triển ảnh hưởng và quyền lực do một số sai lầm của phía Quốc dân Đảng. Thứ nhất, Quốc dân Đảng thu nhỏ đột ngột quy mô quân đội sau khi Nhật Bản đầu hàng tạo ra một nhóm cựu chiến binh thất nghiệp và bất mãn. Thứ hai, chính phủ của Quốc dân Đảng tỏ ra hoàn toàn không có năng lực quản lý kinh tế, dẫn đến lạm phát phi mã. Thứ ba, Tưởng Giới Thạch lệnh cho quân đội bảo vệ các thành thị khiến cộng sản có cơ hội tự do di chuyển tại nông thôn. Ban đầu, Quốc dân Đảng nhận được vũ khí và đạn dược từ Hoa Kỳ, tuy nhiên do Trung Quốc xảy ra lạm phát phi mã, tham nhũng phổ biến và các điều tệ hại kinh tế khác, họ tiếp tục để mất sự ủng hộ của quần chúng. Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman viết rằng "Nhà họ Tưởng, họ Khổng và họ Tống đều là kẻ trộm", đã lấy 750 triệu USD trong viện trợ của Hoa Kỳ. Năm 1938, Đại hội Đại biểu Toàn quốc Lâm thời Trung Quốc Quốc dân Đảng xác định chế độ tổng tài, bầu cử Tưởng Giới Thạch làm Tổng tài Trung Quốc Quốc dân Đảng. Tháng 5 năm 1945, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 khai mạc tại Trùng Khánh, quyết định Tưởng Giới Thạch tiếp tục nhậm chức tổng tài, quyết định ngày 12 tháng 11 cùng năm triệu tập Quốc dân Đại hội. Sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945, Đài Loan trở về dưới quyền cai trị của Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 25 tháng 10 năm 1945. Xung đột giữa người Đài Loan bản địa và người đến từ Trung Quốc Đại lục gia tăng sau khi Nhật Bản đầu hàng, đỉnh điểm là cuộc khởi nghĩa đổ máu của người bản địa bị quân đội của Quốc dân Đảng trấn áp vào ngày 28 tháng 2 năm 1947. Do hậu quả từ sự kiện này, người Đài Loan phải chịu đựng "Khủng bố trắng", một cuộc trấn áp chính trị do Quốc dân Đảng lãnh đạo làm chết hoặc mất tích trên 30.000 tri thức, nhà hoạt động Đài Loan và những người Đài Loan bị nghi là chống đối Quốc dân Đảng. Ngày 16 tháng 7 năm 1949, Quốc dân Đảng thành lập Ủy ban Bất thường Trung ương tại Quảng Châu, quy định rằng mọi mệnh lệnh chính trị của Chính phủ Quốc dân đều vô hiệu nếu không được ủy ban này phê chuẩn. Tháng 8 năm 1949, Văn phòng Tổng tài Quốc dân Đảng được thành lập tại Thảo Sơn, Đài Bắc. Đến cuối năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm soát hầu như toàn bộ Trung Quốc đại lục, Quốc dân Đảng triệt thoái đến Đài Loan cùng một lượng đáng kể ngân khố quốc gia và khoảng hai triệu người gồm binh sĩ và nạn dân. Một số thành viên của đảng ở lại Đại lục và tuyệt giao với trung ương Quốc dân Đảng để thành lập Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc, một trong tám đảng nhỏ được đăng ký của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và vẫn tồn tại đến nay. === Thời kỳ tại Đài Loan === Trụ sở của Trung Quốc Quốc dân Đảng được đặt tại số 11 Đường Trung Sơn Nam vào ngày 10 tháng 12 năm 1949. Năm 1950, Tưởng Giới Thạch lên nắm quyền tại Đài Bắc theo "Điều khoản lâm thời Thời kỳ động viên dẹp loạn". Điều khoản tuyên bố thiết quân luật tại Đài Loan và ngưng một số tiến triển dân chủ, trong đó có bầu cử tổng thống và nghị viện, cho đến khi có thể thu phục Đại lục. Tưởng Giới Thạch sau đó còn khởi xướng Kế hoạch Quốc Quang nhằm tái chiếm Đại lục vào năm 1965, song cuối cùng từ bỏ vào tháng 7 năm 1972 sau nhiều nỗ lực bất thành. Trung Quốc Quốc dân Đảng ủng hộ các cuộc khởi nghĩa giai đoạn 1950–1958 tại Đại lục của người Hồi giáo từng thuộc lực lượng Quốc dân Đảng. Một cuộc chiến tranh lạnh cùng với một vài xung đột quân sự nhỏ diễn ra trong những năm đầu. Nhiều cơ quan chính phủ trước đặt tại Nam Kinh được tái tổ chức tại Đài Bắc dưới quyền chính phủ của Quốc dân Đảng. Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan giữ ghế của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc cho đến năm 1971. Đến thập niên 1970, Trung Quốc Quốc dân Đảng thúc đẩy thành công cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, thi hành một hệ thống dân chủ ở mức độ thấp trong chính phủ, cải thiện quan hệ giữa Đài Loan và Đại lục và tạo ra kỳ tích kinh tế Đài Loan. Tuy nhiên, Quốc dân Đảng kiểm soát chính phủ trong một nhà nước độc tài một đảng cho đến các cải cách từ cuối thập niên 1970 đến thập niên 1990. Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan từng được cho đồng nghĩa với Quốc dân Đảng. Trong thập niên 1970, Quốc dân Đảng bắt đầu cho phép các cuộc "bầu cử bổ sung" tại Đài Loan để lấp chỗ trống cho các đại biểu cao tuổi trong Quốc hội. Ngày 5 tháng 4 năm 1975, Tổng tài Tưởng Giới Thạch từ trần. Ngày 28 tháng 4 năm 1975, Tưởng Kinh Quốc kế nhiệm làm Chủ tịch Trung Quốc Quốc dân Đảng. Năm 1981, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Trung Quốc Quốc dân Đảng thông qua "Đề án Quán triệt lấy chủ nghĩa Tam dân thống nhất Trung Quốc" và "Đề án Sửa đổi Điều lệ Đảng Trung Quốc Quốc dân Đảng", thành lập "Đại đồng minh chủ nghĩa Tam dân thống nhất Trung Quốc". Mặc dù không cho phép các đảng đối lập tồn tại, các đại biểu Đảng ngoại (ngoài đảng) được dung thứ. Trong thập niên 1980, Quốc dân Đảng tập trung chuyển đổi chính phủ từ hệ thống độc đảng sang hệ thống dân chủ đa đảng và đi theo hướng "Đài Loan hóa". Đảng Dân chủ Tiến bộ được thành lập vào ngày 28 tháng 9 năm 1986, Quốc dân Đảng từ đó bắt đầu cạnh tranh với đảng này trong các cuộc bầu cử nghị viện. Ngày 13 tháng 1 năm 1988, Tưởng Kinh Quốc từ trần. Ngày 27 tháng 1, Lý Đăng Huy trở thành quyền chủ tịch của Đảng, đến tháng 7 thì chính thức trở thành Chủ tịch Trung Quốc Quốc dân Đảng. Năm 1991, thiết quân luật chấm dứt khi Tổng thống Lý Đăng Huy kết thúc Điều khoản lâm thời Thời kỳ động viên dẹp loạn. Toàn bộ các đảng bắt đầu được phép tranh cử tại bầu cử mọi cấp, kể cả bầu cử tổng thống. Lý Đăng Huy là tổng thống được bầu cử dân chủ đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc, và là người lãnh đạo của Quốc dân Đảng trong thập niên 1990, ông tuyên bố ủng hộ tích cực "quan hệ đặc thù hai quốc gia" với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phía Đại lục liên kết ý tưởng này với Đài Loan độc lập. Quốc dân Đảng đối diện với một cuộc phân liệt vào năm 1993, dẫn đến hình thành Tân Đảng vào tháng 8 năm 1993. Một cuộc phân liệt nghiêm trọng hơn nhiều trong đảng diễn ra trong bầu cử tổng thống năm 2000. Trước việc Liên Chiến được chọn làm ứng cử viên tổng thống của đảng, Tống Sở Du phát động một cuộc ứng cử độc lập, kết quả là trục xuất Tống Sở Du và các ủng hộ viên của ông, họ lập ra Đảng Thân dân vào ngày 31 tháng 3 năm 2000. Ứng cử viên Quốc dân Đảng xếp thứ ba, Tống Sở Du xếp thứ nhì trong cuộc bầu cử. Nhằm ngăn ngừa các thành viên bỏ Quốc dân Đảng để theo Đảng Thân dân, Liên Chiến đưa đảng ra xa chính sách ủng hộ độc lập của Lý Đăng Huy và trở nên tán thành hơn với mục tiêu tái thống nhất Trung Quốc. Thay đổi này khiến Lý Đăng Huy bị trục xuất khỏi đảng, các ủng hộ viên của Lý Đăng Huy thành lập Liên minh Đoàn kết Đài Loan vào ngày 24 tháng 7 năm 2001. Năm 2006, Trung Quốc Quốc dân Đảng bán trụ sở của mình tại số 11 Đường Trung Sơn Nam tại Đài Bắc cho Tập đoàn Trường Vinh lấy 2,3 tỷ Đài tệ (96 triệu USD). Quốc dân Đảng chuyển đến một tòa nhà nhỏ hơn trên Đường Bát Đức tại phần phía đông của thành phố. Trong thời gian cầm quyền tại Đài Loan, Quốc dân Đảng tích lũy được một đế chế kinh doanh rộng lớn gồm các ngân hàng, công ty đầu tư, hãng hóa dầu, đài phát thanh truyền hình, qua đó khiến Quốc dân Đảng trở thành chính đảng giàu nhất thế giới, với tài sản từng được ước tính là khoảng 2-10 tỷ USD. Mặc dù nguồn quỹ này có vẻ đã giúp ích cho Quốc dân Đảng đến giữa thập niên 1990, song sau đó nó dẫn đến các cáo buộc tham nhũng (thường gọi là "vàng đen"). Sau năm 2000, tài sản tài chính của Quốc dân Đảng có vẻ như là mắc nợ nhiều hơn có lợi, và Quốc dân Đảng bắt đầu đa dạng tài sản của họ. Tháng 7 năm 2014, Quốc dân Đảng báo cáo tổng tài sản là 26,8 tỷ Đài tệ (892,4 triệu USD) và lợi nhuận thu được là 981,52 triệu Đài tệ trong năm 2013, là một trong các chính đảng giàu nhất trên thế giới. Ngày 28 tháng 3 năm 2005, ba mươi thành viên của Quốc dân Đảng dưới quyền Phó Chủ tịch Giang Bính Khôn sang thăm Trung Quốc Đại lục. Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của Trung Quốc Quốc dân Đảng đến Đại lục từ khi họ chiến bại trước cộng sản vào năm 1949 (dù các thành viên Quốc dân Đảng kể cả Giang Bính Không trước đó từng tới thăm với tư cách cá nhân). Trong chuyến đi, Quốc dân Đảng ký kết một thỏa thuận mười điểm với Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người đối lập gọi chuyến đi này là Quốc-Cộng hợp tác lần thứ ba. Đến tháng 5 năm 2005, Chủ tịch Liên Chiến đến thăm Đại lục và hội kiến Tống bí thư Hồ Cẩm Đào, là cuộc gặp đầu tiên giữa lãnh đạo hai đảng kể từ sau khi kết thúc nội chiến vào năm 1949. Năm 2005, Mã Anh Cửu trở thành chủ tịch của Quốc dân Đảng, đến ngày 13 tháng 2 năm 2007, ông bị truy tố với cáo buộc biển thủ khoảng 11 triệu Đài tệ (339.000 USD), liên quan đến vấn đề "chi phí đặc biệt" trong thời gian ông làm thị trưởng Đài Bắc. Ngay sau đó, ông đệ đơn từ chức chủ tịch đảng và đồng thời chính thức tuyên bố tranh cử tổng thống. Tháng 12 năm 2007, Mã Anh Cửu trắng án mọi tội trạng và lập tức đệ đơn kiện các công tố viên. Mặc dù ông đã từ chức chủ tịch đảng, ông là ứng cử viên của đảng trong bầu cử tổng thống năm 2008 và giành thắng lợi. Ngày 25 tháng 6 năm 2009, Tổng thống Mã Anh Cửu ứng cử chức vụ chủ tịch đảng và trở thành ứng cử viên duy nhất đăng ký. Ngày 26 tháng 7, Mã Anh Cửu thắng cử, trở thành tân chủ tịch Quốc dân Đảng, Điều này chính thức cho phép Mã Anh Cửu có thể gặp Tống bí thứ Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình và các phái đoàn Đại lục khác, do ông có thể đại diện cho Quốc dân Đảng với thân phận nhà lãnh đạo của một chính đảng Trung Quốc. Ngày 29 tháng 11 năm 2014, Quốc dân Đảng chịu tổn thất lớn trong bầu cử địa phương trước Đảng Dân Tiến, chỉ thắng tại sáu huyện thị. Mã Anh Cửu sau đó từ chức chủ tịch Đảng vào ngày 3 tháng 12 và thay thế là quyền Chủ tịch Ngô Đôn Nghĩa. Bầu cử chủ tịch đảng được tổ chức vào ngày 17 tháng 1 năm 2015 và Chu Lập Luân đắc cử. Ông nhậm chức vào ngày 19 tháng 2. Tháng 5 cùng năm, ông cùng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình tiến hành hội đàm tại Bắc Kinh. Đến tháng 7 cùng năm, Hồng Tú Trụ trong Đại hội đại biểu toàn quốc được chọn làm ứng cử viên tổng thống của Quốc dân Đảng. Ngày 17 tháng 10, Đảng bộ Trung ương Quốc dân Đảng triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lâm thời, quyết định phế trừ tư cách ứng cử viên của Hồng Tú Trụ, chọn Chu Lập Luân làm ứng cử viên. Trong bầu cử tổng thống năm 2016, Chu Lập Luân thất bại và tuyên bố từ chức chủ tịch đảng, Hoàng Mẫn Huệ tạm quyền chủ tịch đảng. Trong bầu cử chủ tịch đảng năm 2016, Hồng Tú Trụ trở thành nữ chủ tịch đầu tiên của Quốc dân Đảng. == Lập trường chính trị == === Chủ trương chính trị === Cương lĩnh chính trị của Trung Quốc Đồng minh Hội là "xua đuổi Thác Lỗ, khôi phục Trung Hoa, sáng lập Dân Quốc, bình quân địa quyền". Năm 1912, cương lĩnh của Quốc dân Đảng trong điều 5 có ghi: (một) duy trì thống nhất chính trị, (hai) phát triển chính trị địa phương, (ba) thi hành nghiêm chỉnh đồng hóa chủng tộc, (bốn) thông qua chính sách dân sinh và (năm) duy trì hòa bình quốc tế. Trung Hoa Cách mệnh Đảng lấy tôn chỉ là thảo phạt Viên Thế Khải, "thực thi chủ nghĩa dân quyền, dân sinh", lấy mục đích là "tiêu diệt thống trị chuyên chế, kiến thiết dân quốc hoàn toàn". Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Trung Quốc Quốc dân Đảng tuyên bố, chủ nghĩa của Quốc dân Đảng tức là chủ nghĩa Tam dân (dân tộc, dân quyền, dân sinh). Phục hưng văn hóa Trung Hoa, giữ chặt đội ngũ dân chủ. Theo đuổi Trung Hoa Dân Quốc tự do, dân chủ, bình đẳng của cải và thống nhất, phản đối chủ nghĩa cộng sản, phản đối phân liệt lãnh thổ quốc gia. Kiên trì nguyên tắc Nhận thức chung 1992, chủ trương một nước Trung Quốc, các bên tự diễn giải. === Lập trường hai bờ === Thời kỳ Tưởng Giới Thạch: Chủ trương dùng vũ lực tiêu diệt "ngụy chính quyền" Đảng Cộng sản Trung Quốc (tức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), sau đó thu phục lãnh thổ Đại lục, "giải cứu" đồng bào Đại lục. Thời kỳ Tưởng Kinh Quốc: Ban đầu vẫn duy trì chủ trương dùng vũ lực "phản công Đại lục", sau đó đề xuất chính sách cụ thể "chủ nghĩa Tam dân thống nhất Trung Quốc". Thời kỳ Lý Đăng Huy: Thiết lập Ủy ban Thống nhất Quốc gia, Ủy ban Đại lục và Quỹ Giao lưu Eo biển của Hành chính viện, đồng thời xác định Cương lĩnh Thống nhất quốc gia, lấy "thống nhất hòa bình" làm chính sách, chủ trương không nóng vội, đề xuất "lưỡng quốc luận" về "quan hệ đặc thù giữa hai quốc gia". Thời kỳ Liên Chiến: Lấy Nhận thức chung 1992 là "một Trung Quốc, mỗi bên tự diễn giải" để xúc tiến phát triển "Quốc-Cộng hòa giải, quan hệ hai bờ phát triển hòa bình" Thời kỳ Mã Anh Cửu, Ngô Bá Hùng: Tiếp tục lấy Nhận thức chung 1992 để xúc tiến quan hệ hai bờ phát triển hòa bình. Nhấn mạnh Trung Hoa Dân Quốc từ năm 1912 trở đi là quốc gia độc lập về chủ quyền. Sau khi Quốc dân Đảng quay lại cầm quyền, chủ trương không thống nhất, không độc lập, không dùng vũ lực, liên kết chủ trương ba không này với hiện trạng. Thời kỳ Chu Lập Luân: Giải thích Nhận thức chung 1992 là "Hai bờ cùng thuộc một nước Trung Quốc, song định nghĩa nội hàm có chút bất đồng", có khác biệt với "một nước Trung Quốc, các bên tự diễn giải" của Mã Anh Cửu, ứng với cách nói của Tập Cận Bình rằng Nhận thức chung 1992 có cốt lõi là "Cùng nhận thức Đại lục và Đài Loan cùng thuộc một nước Trung Quốc.。 Thời kỳ Hồng Tú Trụ: Trong quá khứ từng ủng hộ "nhất Trung đồng biểu", dùng "toàn thể Trung Quốc" tăng cường cho "một nước Trung Quốc", "hai bờ đều là bộ phận của toàn thể Trung Quốc, tuyên bố chủ quyền trùng khớp, quyền lực chính trị độc lập". Quan hệ hai bờ không phải là "quan hệ quốc tế", mà là "quan hệ nội bộ" của "toàn thể Trung Quốc". Về sau đổi thành "Nhận thức chung 1992, ba nội hàm" tức "đối diện với việc Trung Hoa Dân Quốc thực sự tồn tại, bảo vệ Trung Hoa Dân Quốc phản đối Đài Loan độc lập, hy vọng hai bờ eo biển lập ra hiệp định hòa bình ổn định lâu dài". == Cơ cấu tổ chức == Tổ chức đảng của Trung Quốc Quốc dân Đảng tuân theo chế độ ủy ban, thường gọi là "đảng bộ" (năm 1924 do chính sách "liên Nga dung Cộng" nên có quyết sách học tập Nga, đưa quy chế đảng cải tổ thành chế độ tập trung dân chủ do Lenin đề xuất làm cơ sở, được đảng cộng sản các quốc gia thực thi, cải tiến thành chế độ tập quyền dân chủ, về sau do tình thế chống cộng thời kỳ dẹp loạn nên về hình thức đổi thành chế độ ủy ban, về thực chất chưa có cải biến), chủ yếu phân thành ba cấp là Ủy ban Trung ương(tức Đảng bộ trung ương), ủy ban cấp huyện thị, ủy ban cấp khu. Trước đây, Trung Quốc Quốc dân Đảng lập ra nhiều "đảng bộ chuyên nghiệp" do Đảng bộ Trung ương trực tiếp quản lý, như "Đảng bộ Lưu Trung Hưng" trong hệ thống đặc vụ cảnh sát, trải qua nhiều lần tinh giản tổ chức đảng vụ, hiện nay chỉ còn Đảng bộ Hoàng Phục Hưng trong hệ thống quân đội và cựu chiến binh. Cơ cấu quyền lực tối cao của Trung Quốc Quốc dân Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc, mỗi hai năm tổ chức một lần, thời gian giữa hai đại hội do Ủy ban Trung ương thi thành thẩm quyền. Thời gian giữa các hội nghị toàn thể Ủy ban Trung ương, do Uỷ ban Thường vụ Trung ương thi hành thẩm quyền, là cơ quan quyết sách tối cao của Quốc dân Đảng. Ủy ban Trung ương lập ra một số đơn vị để phục trách vận hành công tác đảng thường nhật. Hệ thống tổ chức đảng Đại hội đại biểu toàn quốc Ủy ban Trung ương (chủ tịch là lãnh tụ tối cao của toàn đảng, Ủy ban Thường vụ Trung ương là cơ quan quyết sách tối cao) Ủy ban cấp trực hạt thị, huyện, thị Ủy ban cấp hương, trấn, huyện hạt thị Phân bộ/Tiểu tổ khu Đảng bộ chuyên nghiệp Chi bộ thường trú hải ngoại Đảng đoàn (chủ yếu thành lập tại Nghị viện) Đoàn Thanh niên Chủ tịch Trung Quốc Quốc dân Đảng == Quan hệ đối ngoại == Quan hệ giữa Trung Quốc Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc từng trải qua hợp tác sau Tuyên ngôn Tôn Trung Sơn-Adolph Joffe, phân liệt sau năm 1927, đồng thời dẫn đến Quốc-Cộng nội chiến lần thứ nhất. Sau Sự biến Tây An năm 1936, Quốc-Cộng hợp tác lần thứ hai, cùng nhau kháng nhật. Sau khi kháng chiến thắng lợi, Quốc-Cộng nội chiến lần thứ hai bùng phát, năm 1949 Đảng Cộng sản giành được thắng lợi, lập chính phủ tại Bắc Kinh. Quốc dân Đảng buộc phải dời sang Đài Loan, sau đó hai bên tiến hành đối lập vũ trang trong nhiều năm, đồng thời tranh chấp quyền đại diện cho Trung Quốc trên trường quốc tế. Năm 2005, nhà lãnh đạo Quốc dân Đảng Liên Chiến lần đầu tiên hội kiến nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, sau đó hai đảng bắt đầu liên lạc khá mật thiết, quan hệ hai đảng trở thành một trong các kênh liên lạc giữa hai bờ eo biển Đài Loan. Ngày 4 tháng 5 năm 2015, Chủ tịch Quốc dân Đảng Chu Lập Luân và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc hội ngộ tại Bắc Kinh. Chu Lập Luân một lần nữa làm sâu sắc thêm Nhận thức chung 1992, đồng thời đề xuất" hai bên đạt tới hai bờ cùng thuộc một Trung Quốc, song định nghĩa nội hàm có điểm bất đồng". Ngày 1 tháng 11 năm 2016, Chủ tịch Quốc dân Đảng Hồng Tú Trụ và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Tập Cận Bình hội ngộ tại bắc Kinh, hai nhà lãnh đạo cùng tuyên bố phản đối "Đài Loan độc lập". Phái "Phiếm Lam" là gọi chung các đoàn thể chủ trương ủng hộ "phản đối Đài Loan độc lập, ủng hộ Trung Hoa Dân Quốc, nhấn mạnh kế thừa văn hóa Trung Hoa". "Phiếm Lam" ban đầu dùng để chỉ Quốc dân Đảng cùng với Tân Đảng và Đảng Thân Dân sản sinh từ nó, nay bao gồm Trung Quốc Quốc dân Đảng và Tân Đảng. Chủ tịch Hồng Tú Trụ từng biểu thị trước lúc nhậm chức rằng hoan nghênh Chủ tịch Đảng Thân dân Tống Sở Du và Chủ tịch Tân Đảng Úc Mộ Minh "về nhà". Tuy nhiên, Đảng Thân dân và Tân Đảng phản ứng không nhiệt tình với đề nghị của Hồng Tú Trụ, yêu cầu Quốc dân Đảng trước tiên hãy xử lý tốt "việc nhà" mới nói tiếp. Ngày 7 tháng 5 năm 2016, Chủ tịch Quốc dân Đảng Hồng Tú Trụ nói rằng tương lai quan hệ của Quốc dân Đảng và Đảng Dân Tiến là "cạnh tranh lành mạnh", không phải là đấu tranh ác tính. == Căn cứ ủng hộ == Nguồn ủng hộ của Quốc dân Đảng có xu hướng cao hơn tại miền Bắc Đài Loan và tại các khu vực đô thị, là nơi họ nhận được ủng hộ từ các doanh nghiệp lớn do có chính sách duy trì các liên kết thương mại với Trung Quốc Đại lục. Quốc dân Đảng cũng được ủng hộ nhiệt tình trong tầng lớp lao động do trong thời gian cầm quyền Quốc dân Đảng thi hành nhiều phúc lợi và bảo hiểm cho người lao động. Quốc dân Đảng có truyền thống hợp tác vững chắc với các sĩ quan quân đội, giáo viên và nhân viên chính phủ. Trong thành phần dân cư tại Đài Loan, Quốc dân Đảng nhận được ủng hộ vững chắc từ những người Đại lục và hậu duệ của họ vì nguyên nhân ý thức hệ, và từ thổ dân Đài Loan. Thù địch sâu sắc giữa thổ dân và người Mân Nam Phúc Kiến, cộng với hệ thống Quốc dân Đảng có ảnh hưởng trong các cộng đồng thổ dân, góp phần khiến thổ dân hoài nghi với Đảng Dân Tiến và có khuynh hướng bỏ phiếu cho Quốc dân Đảng. Thổ dân chỉ trích các chính trị gia lạm dụng phong trào "bản địa hóa" vì mục tiêu chính trị, với đa số các hương trấn vùng núi bỏ phiếu cho Mã Anh Cửu. Năm 2005, Quốc dân Đảng trưng bày một ảnh lớn về thủ lĩnh thổ dân kháng Nhật Mona Rudao tại trụ sở của họ nhằm kỷ niệm 60 năm ngày thu hồi Đài Loan từ Nhật Bản. Đối thủ của Quốc dân Đảng gồm: các ủng hộ viên nhiệt tình Đài Loan độc lập, tầng lớp trung lưu tại các đô thị lớn, cư dân nông thôn, đặc biệt là tại miền nam Đài Loan. Về các vấn đề xã hội, Quốc dân Đảng không có lập trường chính thức về hôn nhân đồng giới, mặc dù phải đối hôn nhân đồng giới phần lớn đến từ các nhóm Cơ Đốc giáo vốn giữ ảnh hưởng chính trị đáng kể trong Quốc dân Đảng. == Tư tưởng thời kỳ Đại lục == Trung Quốc Quốc dân Đảng là một đảng cách mạng dân tộc chủ nghĩa, từng được Liên Xô ủng hộ. Họ dựa trên nguyên tắc tổ chức Lê-nin-nít là tập trung dân chủ. Quốc dân Đảng và Tưởng Giới Thạch xem các từ phong kiến và phản cách mạng là đồng nghĩa với cái ác và lạc hậu, và tự hào tuyên bố bản thân là cách mạng. Tưởng Giới Thạch tỏ ra hết sức thịnh nộ khi bị cho là một quân phiệt, vì nó mang ý nghĩa tiêu cực, phong kiến. Thủ lĩnh Trung Quốc Quốc dân Đảng là Tưởng Giới Thạch từng cảnh báo Liên Xô và các quốc gia khác về việc can thiệp công việc của Trung Quốc. Ông tức giận về cách thức người ngoại quốc đối xử với Trung Quốc, chủ yếu là từ Liên Xô, Anh Quốc và Hoa Kỳ. Ông và phong trào Phong trào Tân sinh hoạt của mình kêu gọi nghiền nát ảnh hưởng của Liên Xô, phương Tây, Hoa Kỳ và ngoại quốc khác tại Trung Quốc. Trần Lập Phu thuộc phái Câu lạc bộ Trung ương nói rằng "chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ chủ nghĩa đế quốc Xô viết, thứ đã xâm phạm nước ta." Ông cũng lưu ý rằng "gấu trắng Bắc Cực nổi tiếng về tính xấu xa và tàn ác." Lam Y xã là một tổ chức bán quân sự phát xít trong Trung Quốc Quốc dân Đảng, mô phỏng theo quân áo đen của Mussolini, là một nhóm chống ngoại quốc và chống cộng sản, tuyên bố chương trình nghị sự của mình là trục xuất chủ nghĩa đế quốc ngoại quốc (Nhật Bản và phương Tây) khỏi Trung Quốc, trấn áp chủ nghĩa cộng sản, và diệt trừ chủ nghĩa phong kiến. Ngoài việc chống cộng sản, một số thành viên Quốc dân Đảng như Đới Lạp (thủ hạ thân cận của Tưởng Giới Thạch) là người chống Hoa Kỳ, muốn trục xuất ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Các nhà lãnh đạo của Trung Quốc Quốc dân Đảng trên toàn quốc sử dụng thuật hùng biện dân tộc chủ nghĩa. Tướng người Hồi Mã Bộ Phương thể hiện mình là một người dân tộc chủ nghĩa Trung Hoa đối với nhân dân Trung Quốc, đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc Anh, làm chệch hướng chỉ trích từ các đối thủ rằng chính quyền của ông là phong kiến và đán áp dân tộc thiểu số như người Tạng và người Mông Cổ. Trung Quốc Quốc dân Đảng theo đuổi chính sách Hán hóa, họ nói rằng "đã đến lúc làm công việc đưa toàn bộ người bản địa trở thành người Trung Hoa hoặc rời đi" theo lời các nhà quan sát ngoại quốc. Họ lưu ý rằng "người Hán thuộc địa hóa" "Mông Cổ và Mãn Châu" dẫn đến "nhận thức rằng ngày tháng man rợ cuối cùng đã kết thúc." Chi nhánh Trung Quốc dân Đảng tại Quảng Tây dưới quyền Tân Quế hệ của Bạch Sùng Hy và Lý Tông Nhân thi hành các chính sách chống chủ nghĩa đế quốc, chống tôn giáo và chống ngoại quốc. Trong Bắc phạt, năm 1926 tại Quảng Tây, Tướng quân người Hồi Bạch Sùng Hy dẫn quân tàn phá hầu hết các chùa và đập tan các tượng thần thánh, biến chùa thành các trường học và trụ sở Quốc dân Đảng. Bạch Sùng Hy lãnh đạo một làn sóng chống ngoại quốc tại Quảng Tây, tấn công người Mỹ, châu Âu và các nước khác, khiến tỉnh trở nên không an toàn đối với người phi bản địa. Người phương Tây đào thoát khỏi Quảng Tây, và một số người Cơ Đốc giáo Trung Quốc cũng bị tấn công do bị cho là tay sai đế quốc. Trung Quốc Quốc dân Đảng có ý thức hệ xã hội, "bình quân địa quyền" là một điều khoản do Tôn Trung Sơn đưa ra từ thời Đồng Minh hội. Ý thức hệ cách mạng của Quốc dân Đảng trong thập niên 1920 đã kết hợp độc đáo chủ nghĩa xã hội Trung Quốc. Liên Xô từng đào tạo các nhà cách mạng Quốc dân Đảng tại Đại học Tôn Trung Sơn Moskva. Tại phương Tây và Liên Xô, Tưởng Giới Thạch từng được gọi là "Tướng quân Đỏ". Năm 1948, Quốc dân Đảng một lần nữa tấn công các thương gia tại Thượng Hải, Tưởng Giới Thạch phái con trai là Tưởng Kinh Quốc đi khôi phục trật tự kinh tế. Tưởng Kinh Quốc sao chép các phương pháp của Liên Xô mà ông học được trong thời gian lưu lại đó, để khởi đầu một cuộc cách mạng xã hội bằng việc tấn công các thương gia trung lưu. Ông cũng cưỡng bách đặt giá thấp đối với toàn bộ các hàng hóa để làm tăng ủng hộ từ giai cấp vô sản. Chủ nghĩa Marx cũng tồn tại trong Trung Quốc Quốc dân Đảng, họ nhìn nhận cách mạng Trung Quốc với các điều kiện khác so với Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho rằng Trung Quốc mới bước qua giai đoạn phong kiến và trong một giai đoạn đình trệ thay vì trong phương thức sản xuất khác. Những người Marxist trong Quốc dân Đảng phản đối ý thức hệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc in KMT opposed the CPC ideology. Trung Quốc Quốc dân Đảng cũng khuyến khích các công ty quốc doanh. Tôn Trung Sơn chịu ảnh hưởng mạnh từ các tư tưởng kinh tế của Henry George, một người tin rằng tiền thuê lấy từ độc quyền tự nhiên hoặc sử dụng đất thuộc về quần chúng. Tôn Trung Sơn biện hộ cho tư tưởng George và nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh tế hỗn hợp mà ông xác định trong "Dân sinh" của Chủ nghĩa Tam Dân. Trung Quốc Quốc dân Đảng sử dụng các nghi lễ tôn giáo Trung Hoa truyền thống, theo họ linh hồn của những liệt sĩ Quốc dân Đảng được đưa đến thiên đàng. Quốc dân Đảng ủng hộ Phong trào Tân sinh hoạt, vốn xúc tiến Nho giáo, và cũng chống lại Tây phương hóa. Các nhà lãnh đạo Quốc dân Đảng cũng phản đối Phong trào Ngũ Tứ, Tưởng Giới Thạch chống lại việc phong trào này đập phá tượng thần thánh. Ông nhìn nhận một số tư tưởng phương Tây là ngoại lai, và không hoan nghênh việc phổ biến các tư tưởng và văn học phương Tây như ý muốn của Phong trào Ngũ Tứ. Tưởng Giới Thạch và Tôn Trung Sơn chỉ trích các tri thức Ngũ Tứ làm lệnh lạc đạo đức của thanh niên. Quốc dân Đảng còn hợp nhất Nho giáo vào luật học của mình, họ xá tội cho Thi Kiếm Kiềm việc giết Tôn Truyền Phương do bà làm vậy để trả thù vì Tôn Truyền Phương giết cha bà, một ví dụ về lòng hiếu thảo với cha mẹ trong Nho giáo. == Các đảng liên kết với Quốc dân Đảng == Công hội người Hoa Malaysia (MCA) ban đầu ủng hộ Trung Hoa Dân Quốc và chủ yếu bao gồm các thành viên của Trung Quốc Quốc dân Đảng, họ tham gia đảng như một sự thay thế và phản đối Đảng Cộng sản Malaya, ủng hộ Trung Quốc Quốc dân Đảng bằng cách tài trợ. Đảng Cách mạng Tây Tạng do Pandatsang Rapga thành lập, ông là một nhà cách mạng thân Dân Quốc và Quốc dân Đảng, chống lại Chính phủ của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 tại Lhasa. Rapga vay mượn chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và dịch các học thuyết chính trị của ông ra tiếng Tạng, ca ngợi nó là hy vọng tốt nhất để người châu Á chống lại chủ nghĩa đế quốc. Ông muốn tiêu diệt chính phủ phong kiến tại Lhasa, bên cạnh đó là hiện đại hóa và thế tục hóa xã hội Tây Tạng. Mục tiêu cuối cùng của đảng là lật đổ chế độ Đạt Lai Lạt Ma, lập nước Cộng hòa Tây Tạng tự trị trong thành phần Trung Hoa Dân Quốc. Chiang Kai-shek and the KMT funded the party and their efforts to build an army to battle the Dalai Lama's government. Khi Việt Nam Quốc dân Đảng thành lập họ đặt căn cứ dựa trên Trung Quốc Quốc dân Đảng và thân Trung Quốc. Khi Việt Nam Quốc dân Đảng đào thoát sang Trung Quốc sau khi khởi nghĩa thất bại chống Pháp, họ ổn định tại Vân Nam và Quảng Châu. Việt Nam Quốc dân Đảng tồn tại với thân phận đảng lưu vong tại Trung Quốc trong 15 năm, nhận giúp đỡ về quân sự, tài chính và tổ chức từ Trung Quốc Quốc dân Đảng. Trung Quốc Quốc dân Đảng sử dụng Việt Nam Quốc dân Đảng để phục vụ lợi ích của họ tại miền nam Trung Quốc và Đông Dương. Tướng quân Trương Phát Khuê tại Quảng Tây lập ra Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) vào năm 1942. Quân đội Vân Nam của Trung Quốc Quốc dân Đảng chiếm đóng miền Bắc Việt Nam sau khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945, Việt Nam Quốc dân Đảng với danh nghĩa bản thân phản đối đảng cộng sản của Hồ Chí Minh. Việt Nam Quốc dân Đảng chống đối chính phủ Ngô Đình Diệm thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Trung Quốc Quốc dân Đảng từng ủng hộ Lưu Cầu Cách mạng Đồng chí hội có thủ lĩnh là Tsugumasa Kiyuna, với mục tiêu Lưu Cầu độc lập. Ngày 30 tháng 11 năm 1958, Lưu Cầu Quốc dân Đảng được thành lập. == Kết quả bầu cử == === Bầu cử tổng thống === === Bầu cử lập pháp === === Bầu cử địa phương === == Chú thích == == Tham khảo == Kuomintang News Network Central Daily News
roland (công ty).txt
Roland (ローランド株式会社, Rōrando Kabushiki Kaisha) là một nhà sản xuất nhạc cụ điện tử, các thiết bị điện tử và phần mềm của Nhật Bản. Công ty được thành lập tại Osaka vào ngày 18 tháng 4 năm 1972 bởi Ikutaro Kakehashi với số vốn 33 triệu Yên. Năm 2005, trụ sở của Roland được chuyển tới Hamamatsu thuộc tỉnh Shizuoka. Ngày nay, công ty có các nhà máy đặt tại Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ý và Đài Loan. == Tham khảo ==
chennai.txt
13.09°B 80.27°Đ / 13.09; 80.27 Chennai (tiếng Tamil: சென்னை), trước đây có tên là Madras , là thủ phủ của bang Tamil Nadu và là thành phố thủ phủ lớn thứ 4 của Ấn Độ. Chennai tọa lạc bên bờ biển Coromandel của Vịnh Bengal. Với dân số ước tính 7,06 triệu người (2007), thành phố có 368 năm tuổi này là vùng đô thị lớn thứ 34 trên thế giới. Chennai là trung tâm công nghiệp và thương mại lớn thứ 3 ở Ấn Độ, và được người ta biết đến với kiến trúc đền đài và di sản văn hóa của mình. Đây cũng là một trung tâm nghệ thuật múa và nhạc cổ điển Nam Ấn Độ. Chennai được xem là thủ đô ô tô của Ấn Độ, với một tỷ lệ lớn ngành ô tô có cơ sở ở đây và một phần lớn xe cộ của quốc gia này được sản xuất ở đây. Điều này đã khiến cho Chennai được mệnh danh là Detroit của Nam Á. Thành phố này cũng là một trung tâm lớn đối thực hiện các công việc outsourced từ phương Tây. Bãi biển Marina dài 12 km dọc theo Vịnh Bengal tạo thành bờ biển phía Đông thành phố. Thành phố này nổi tiếng là nơi tổ chức thể thao và đăng cai tổ chức một sự kiện tennis ATP, có tên gọi Chennai Open. Chennai cũng là một trong những thành phố hiếm hoi có vườn quốc gia, Vườn quốc gia Guindy nằm bên trong địa giới thành phố. Thành phố kết nghĩa của Chennai là Denver, Colorado, Hoa Kỳ. == Tên gọi == Tên gọi Madras được lấy từ Madraspatnam, nơi được Công ty Đông Ấn Anh chọn làm một điểm định cư vào năm 1639. Một thị xã khác, Chennapatnam, nằm về phía Nam của nó. Vào lúc hai thị xã được sáp nhập, người Anh thích tên gọi Madras hơn. Tuy nhiên, dân địa phương vẫn thường gọi nó là Chennapatnam hay Chennapuri. Thành phố này đã được đổi tên Chennai tháng 8 năm 1996 và người ta nhận thức thấy tên gọi Madras có nguồn gốc Bồ Đào Nha. (một số thành phố khác của Ấn Độ đã ban hành thay đổi tên gọi tương tự.) Người ta tin rằng tên gốc Bồ Đào Nha là Madre de Deus. Nhà thờ cổ nhất trong thành phố, được xây vào năm 1516 và để dành cho Nossa Senhora da Luz ('Đức Bà Ánh Sáng') bởi những người truyền giáo Franciscan, những người tin rằng sự sống sót của họ trong những cơn biển động là nhờ có sự can thiệp thần thánh, điều này có thể có mối liên hệ với tên gọi thành phố. Một lối giải thích khác được nhà lịch sử thành phố S. Muthiah đưa ra rằng thành phố lấy tên gọi từ một dòng họ Madeiros đã từng một thời nổi bật (được biết đến dưới tên gọi khác nhau từ Madera hoặc Madra trong những năm tiếp theo), who in 1575, adding to the confusion, also consecrated a Madre de Deus church in Santhome (bị phá hủy năm 1997). Cũng có một số ý kiến cho rằng Chennai có thể không phải là một tên Tamil còn Madras có thể có nguồn gốc Tamil. Một giả thuyết (không được chứng minh) cho rằng Chennapattinam được đặt tên theo ngôi đền Chenna Kesava Perumal mà sau này đã trở thành Chennai. Một giả thuyết nữa cho rằng Chennai lấy tên từ chủ ban đầu của vùng đất Chinnappa Naicker. Người ta cho rằng ông là người đã bán đất của mình co Công ty Đông Ấn để thành lập nên Quận Madras. == Khí hậu == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của chính quyền Chennai District Website chính thức của Corporation of Chennai Thành phố Chennai History of Madras Archive of historian S. Muthiah's articles on Chennai, published in The Hindu Chennai Geography and other info Th. Brinkhoff: The Principal Agglomerations of the World, ngày 30 tháng 1 năm 2005 Thời tiết Chennai
chie cô bé hạt tiêu.txt
Chie - Cô bé hạt tiêu (じゃりン子チエ, Jarinko Chie) là một loạt manga của họa sĩ Haruki Etsumi. Nó được đồng loạt hóa bởi Futabasha trong Manga Action từ giữa năm 1978 - 1997 và được sưu tập lại thành 67 tankōbon. Chie - Cô bé hạt tiêu nhận Giải thưởng Manga Shogakukan năm 1981 cho manga chung. Bộ truyện được chuyển thể hai lần, lần đầu là phim hoạt hình anime do Tokyo Movie Shinsha và Toho sản xuất và đạo diễn bởi Takahata Isao, đoạt giải nhất tại Nhật Bản vào ngày 11 tháng 4 năm 1981. Theo sau đó là 103 tập cũng được sản xuất bởi Tokyo Movie Shinsha, được phát sóng trên truyền hình ngày 3 tháng 10 năm 1981 và 25 tháng 3 năm 1983. Tại Việt Nam, 17 tập đầu tiên của Chie - Cô bé hạt tiêu từng được Nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản khi chưa có bản quyền vào năm 1998 và tái bản vào năm 2003. Từ ngày 12 tháng 2 năm 2014, Chie cô bé hạt tiêu được mua bản quyền và xuất bản đầy đủ. == Nội dung == Nhân vật chính trong truyện là cô bé Chie nhỏ nhắn dễ thương. Tuy còn rất nhỏ tuổi nhưng cô đã phải đương đầu với cuộc sống cơm áo gạo tiền bằng cách mở cửa hàng chả nướng. Mẹ cô bé vì không chịu nổi người cha đã bỏ nhà đi. Tuy nhiên, cô bé rất kiên cường và nghị lực với tất cả và quán xuyến gia đình rất thành thạo. Cô bé có những suy nghĩ vừa già dặn, lại vừa đáng yêu, hồn nhiên. Cuối cùng, hạnh phúc đã bắt đầu mỉm cười khi mẹ cô bé quay trở về và người cha bất đầu thay đổi. Bố của cô bé là Tetsu, tính tình nóng nảy bồng bột, lêu lổng ăn chơi suốt ngày như thanh niên và nổi tiếng là một tên côn đồ hung hãn trong vùng. Tuy nhiên Tetsu cũng lại là 1 tên du côn không làm việc trái pháp luật và là một người cha rất mực yêu con. Dù nhân vật này luôn miệng nói ghét người vợ đã bỏ đi (Yoshiko - một người phụ nữ hiền lành, phúc hậu) nhưng thực ra Tetsu rất nghe lời, tôn trọng và mong vợ quay về (thậm chí Tetsu còn rất ganh tỵ khi nhìn hai mẹ con Chie vui vẻ bên nhau), ngoài ra Tetsu luôn sợ mẹ và vâng lời bà. Một nhân vật nữa có thể làm Tetsu sợ là thầy giáo Hanai - đây là người luôn giúp đỡ Tetsu hòa nhập với mọi người và hướng Tetsu đến cái thiện. Bộ truyện còn có hai nhân vật rất đặc biệt nữa là hai con mèo được tác giả thể hiện suy nghĩ của chúng trong truyện (Cục Sắt và Antonio Junior). Cục Sắt là chú mèo nghịch ngợm này được Chie đem về nuôi. Nó rất hung dữ (ngay cả bố Tetsu cũng phải sợ) - do vậy Chie đặt tên nó giống cha mình. Tuy không thân thiện đối với người ngoài nhưng chú mèo này lại rất nghe lời Chie và Yoshiko. Bộ truyện mang lại rất nhiều bài học nhân văn cảm động về cuộc sống và tình cảm gia đình. == Giới thiệu nhân vật == === Gia đình Takemoto === Chie (たけもと ちえ, Chie Takemoto, Trúc Bản Thiên Huệ) Chie – hay Takemoto Chie, làm việc tại cửa hàng chả nướng, sinh năm 1968 trong bản truyện vào lúc 11 – hay 12 tuổi (ước lượng) – Chie ra ngoài lúc nào cũng mang guốc gỗ - một tính cách đặc trưng, nhưng khi chơi thể thao thì đi một đôi giày bị mòn gần hết. Tính cách Chie được mô tả trong truyện là một cô gái đầy sức sống, gan góc và có phần hung dữ pha trộn một chút tính cách con trai. Chie sống trong một môi trường mà xung quanh cô bé đầy rẫy những thói hư tật xấu của một bộ phận xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ: xã hội đen, đánh bạc, gây gổ, trộm cướp, đánh nhau..v…v..Nhưng với tính cách của một cô bé 12 tuổi – Chie dường như vẫn còn ngây thơ của một đứa trẻ nhưng cũng thể hiện một đứa trẻ lớn hơn bạn cùng lứa vì những nỗi khổ cực mà cô bé phải đương đầu và trải qua. Chie sống trong một gia đình tan vỡ: xa mẹ và sống với người cha Tetsu nghiện ngập cờ bạc, cùng ông bà của mình cùng hai chú mèo được nhân cách hóa. Xung quanh cô bé là các nhân vật được khắc họa tích cách khá rõ nét. Tuy sống chung với người cha của mình nhưng cô bé lại không mang tích cách giống cha. Chie phảng phất một tính cách mà bất kỳ đứa trẻ nào cũng phải học hỏi về cách đương đầu với cuộc sống khó khăn, những nỗ lực của cô bé đáng phi thường. Lồng ghép với các câu chuyện về cô bé là những câu truyện cười ra nước mắt kèm với những lời độc thoại của các nhân vật khiến bộ truyện thêm phần sống động về một thế giới tuổi thơ đa sắc màu. Tetsu (たけもと てつ, Tetsu Takemoto, Trúc Bản Triết) Yoshiko (竹本 ヨシ江, Yoshiko Takemoto, Trúc Bản Phương Giang) Bà nội (竹本 菊, Kiku Takemoto, Trúc Bản Cúc) Ông nội (おジィ, Ông nội) === Bạn bè & Người thân === Ông bánh xèo (百合根 光三, Yurine Kozo, Bách Hợp Căn Quang Tam) Chú Mitsuru (丸山 ミツル, Mitsuru Maruyama, Hoàn Sơn Mãn) Thầy Hanai (cha) (花井 拳骨, Genkotsu Hanai, Hoa Tinh Quyền Cốt) Thầy Hanai (con) (花井 渉, Wataru Hanai, Hoa Tinh Thiệp) Cô Asako' (花井 朝子, Asako Hanai, Hoa Tinh Triêu Tử) Maruta' (花井 朝子, Hirayama Maruta, Bình Sơn Hoàn Thái) Ông trùm băng Địa Ngục' (レイモンド飛田, Raymond Tobita, Lôi Mông Phi Điền) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website manga chính thức Futabasha Chie - Cô bé hạt tiêu (tiếng Nhật) Website anime chính thức Chie - Cô bé hạt tiêu (tiếng Nhật) Chie Cô bé hạt tiêu (manga) tại từ điển bách khoa của Anime News Network Chie Cô bé hạt tiêu (anime) tại từ điển bách khoa của Anime News Network Chie - Cô bé hạt tiêu (phim) (anime) tại từ điển bách khoa của Anime News Network Chie - Cô bé hạt tiêu tại Internet Movie Database
tehran.txt
Tehran (phiên âm tiếng Việt: Têhêran ) (tiếng Ba Tư: تهران Tehrān; phát âm [tehˈɾɒːn]), đôi khi viết là Teheran, là thủ đô của Iran, đồng thời là thủ phủ của tỉnh Tehran. Với dân số 8.778.535 năm 2012, Tehran cũng là khu vực đô thị lớn nhất tại Iran, là thành phố lớn nhất tại Tây Á và nằm trong số các thành phố lớn nhất thế giới. Tehran nằm ở phía nam của dãy núi Alborz với độ cao trung bình 1.191 mét so với mực nước biển. Trong thế kỉ 20 và 21, Tehran là nơi đón nhận một lượng lớn những người di cư trên khắp Iran. Thành phố có nhiều thánh đường Hồi giáo, nhà thờ Ki-tô giáo, hội đường Do Thái giáo và hỏa điện Bái hỏa giáo mang tính lịch sử. Tehran đương thời là một thành phố hiện đại với nhiều kiến trúc, trong đó tháp Azadi (Tự do) và tháp Milad là các biểu tượng của thành phố Tehran. Năm 2008, Tehran là thủ đô ít đắt đỏ nhất thế giới và là thành phố ít đắt đỏ thứ hai trên toàn cầu dựa trên chỉ số giá sinh hoạt, nơi giá trị của tiền tệ là cao nhất thế giới. Thành phố xếp thứ 19 thế giới về dân số, xếp thứ 56 nếu xét theo GDP và dân số vùng đô thị của Tehran xếp thứ 29 thế giới. Trong suốt lịch sử Iran, các chế độ cai trị đã di chuyển thủ đô nhiều lần, và Tehra được xem là thủ đô thứ 32 của Iran. Tiếng Ba Tư là ngôn ngữ bản địa của thành phố, được gần 98% dân cư nói. Phần lớn cư dân tại Tehran xem mình là người Ba Tư. == Lịch sử == == Địa lý == == Nhân khẩu học == Thành phố Tehran có dân số khoảng 7,8 triệu người năm 2006. Tehran có nhiều nhóm dân tộc và ngôn ngữ thuộc khắp nơi trên đất nước này. Ngôn ngữ bản địa của thành phố là Tehrani gốc Ba Tư và đa phần người dân thành phố tự nhận họ là người Ba Tư. Các nhóm chính gồm Azeri, Kurd, Arabs, Baluch, Armenia, Bakhtiari, Assyria, Talysh, và nhiều nhóm khác. Theo thống kê năm 2010 của bộ môn xã hội học, Đại học Tehran thuộc nhiều khu vực của Tehran trên nhiều tầng lớp kinh tế-xã hội khác nhau theo tỷ lệ dân số của mỗi khu và tầng lớp kinh tế-xã hội, 63% người Tehran sinh ra ở Tehran, 98% biết tiếng Ba Tư, 75% tự nhận họ là dân tộc Ba Tư, và 13% có khả năng sử dụng thành thạo ngôn ngữ châu Âu. == Kinh tế == == Cơ sở hạ tầng == == Văn hóa == == Các thành phố kết nghĩa == == Xem thêm == Danh sách vùng đô thị châu Á == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Thủ đô Tehran nhìn từ vệ tinh
javier mascherano.txt
Javier Alejandro Mascherano (phát âm là IPA: [ˌmaskeˈɾano]) (sinh ngày 8 tháng 7 năm 1984 tại San Lorenzo, Santa Fe) là một cầu thủ bóng đá Argentina. Anh hiện đang chơi vị trí tiền vệ trụ tại câu lạc bộ bóng đá Tây Ban Nha Barcelona và đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina. Mascherano khởi đầu sự nghiệp ở River Plate. Anh có danh hiệu đầu tiên ở mùa giài 2003-04, vô địch Giải vô địch bóng đá Argentina.Anh cũng giành được huy chương vàng Olympic ở Thế vận hội Athens và về nhì ở Copa America 2004. Anh chuyển sang Brasil để chơi cho Corinthians vào năm 2005, vô địch Giải vô địch bóng đá Brasil ngay trong mùa giải đầu tiên. Mascherano chuyển sang châu Âu, chơi cho đội bóng ở Premier League West Ham United. Tuy nhiên, bản hợp đồng với công ty Media Sports Unvestments đã ảnh hưởng xấu đến thời gian của anh ở câu lạc bộ và vào đầu năm 2007 anh chuyển đến Liverpool theo dạng cho mượn. Hai biệt danh thường dùng nhất của Mascherano (ở Argentina) là Masche và El Jefecito.Hai cựu cầu thủ Argentina Jorge Valdano và Jorge Solari đánh giá anh có khả năng là tiền vệ thủ hay nhất thế giới. == Sự nghiệp câu lạc bộ == === River Plate (2003-2005) === Mascherano vào đội trẻ của River Plate ở Buenos Aires, Argentina.Tuy nhiên, trước khi có trận ra mắt ở câu lạc bộ tên tuổi anh đã được biết đến ở Argentina. Mascherano có danh hiệu đầu tiên khi River vô địch giải bang Clausura 2003-04.Vào năm 2004 ở giải Copa Libertadores River vào được bán kết nhưng thua trên chấm phạt đền trước đối thủ truyền kiếp Boca Juniors. Trong thời gian này các câu lạc bộ như Real Madrid và Deportivo de La Coruña) cho biết đang để ý đến Mascherano, nhưng River Plate đã từ chối tất cả các lời đề nghị, nói rằng không mức giá nào có thể đủ để trả cho Mascherano. Mùa giải 2004-05 không phải là một mùa giải thành công của River, về đích thứ ba ở giải Apertura Championship và chỉ đứng thứ mười ở giải Clausura. Ở Copa Libertadores River lại một lần nữa thất bại ở bán kết, lần này là São Paulo. Sau Confederations Cup ở Đức, đội bóng Brasil Corinthians mua Mascherano từ River Plate với giá 15 triệu $. == Corinthians (2005-2006) == Giải vô địch Brazil bắt đầu vào tháng tư, do vậy Mascherano gia nhập Corinthians vào giữa mùa. Sau khi chỉ chơi chín trận cho đội bóng mới, vào tháng 9 năm 2005, Mascherano dính chấn thương ở chân trái khiến anh phải bỏ lỡ phần còn lại của mùa giải. Anh trở lại Argentina để chữa trị chấn thương cùng bác sĩ của đội tuyển.Tuy nhiên, Corinthians vẫn vô địch giải vô địch quốc gia với đội trưởng là đồng hương của Mascherano, Carlos Tevez. Tổng cộng, Mascherano không thể ra sân trong sáu tháng, chỉ trở lại vào ngày 5 tháng 3 năm 2006.Corinthians phải bắt đầu Copa Libertadores mà không có Mascherano, nhưng anh vẫn trở lại ở vòng 16 đội khi tiếp River Plate, trận này Corinthians thua. Mùa giải 2006 trở nên tồi tệ với Corinthians, và đội phải quyết tâm thi đấu để chống xuống hạng.Vào tháng sáu, giải được hoãn để cho World Cup 2006. Mặc dù màn trình diễn của anh đã thu hút sự chú ý của nhiều đội bóng ở châu Âu, song anh vẫn ở lại Corinthians, giúp đội bóng này trụ hạng, và đã từ chối nhiều lời đề nghị vào tháng một.Tuy nhiên, chỉ vài tiếng trước khi kì chuyển nhượng mùa hè 2006 kết thúc, Mascherano đã gia nhập West Ham United với mức phí không tiết lộ cùng đồng đội Carlos Tevez. === West Ham United(2006-tháng 1 năm 2007) === Trong mùa hè 2006 Mascherano được chú ý bởi nhiều đội bóng ở châu Âu, anh cho biết có thể sẽ chơi ở Tây Ban Nha cho Real Madrid hoặc FC Barcelona nhưng cuối cùng anh lại ký hợp đồng với West Ham United ở Premier League.Việc anh chuyển tới West Ham là một bất ngờ, bởi nhiều đội bóng lớn đã chú ý đến Mascherano cả mùa hè.Có rất nhiều tin đồn về các vụ chuyển nhượng, trong đó có cả việc công ty Media Sports Investment muốn mua lại cổ phần West Ham. Tin đồn bao gồm cả việc West Ham có thể sở hữu cầu thủ, và nếu mức giá cao (khoảng 112 triệu bảng Anh) được đưa ra thì West Ham có thể bắt buộc phải bán. Trước khi Mascherano gia nhập, West Ham đã thắng một, hoà một và thua một.Tuy kể từ khi anh đến phong độ của đội bóng gần như rơi tự do, thua 8 trận và hoà một trận ở mọi giải đấu tính cho đến trận thắng tiếp theo của họ là vào ngày 29 tháng 10. Trong suốt thời gian này, Mascherano trở nên lạc lõng trong đội bóng, mặc dù anh đã rất cố gắng, gia tăng những nghi ngờ về sự lãng phí đối với số tiền bỏ ra để cho thời gian anh chơi.Vào tháng mười, huấn luyện viên đội tuyển Argentina, Alfio Basile, cho biết ông hi vọng Mascherano có thể rời West Ham ngay khi có thể và "Tôi hi vọng rằng Mascherano có thể tới Juventus." Vào ngày 16 tháng 1 năm 2007, Liverpool nhận được thông tin cho biết FIFA đã đồng ý để Mascherano tới Liverpool theo dạng cho mượn từ West Ham.Luật Fifa nói rằng cầu thủ không được phép chơi cho hai câu lạc bộ khác nhau từ ngày 1 tháng 7 năm này cho tới 30 tháng 6 năm sau đó, nhưng Mascherano đã chơi cho cả Corinthians và West Ham trong quãng thời gian này. FIFA đã thông qua điều này vào ngày 31 tháng 1 năm 2007.Tuy nhiên, mặc dù Liverpool đã công bố chi tiết bản hợp đồng trước hạn chót của kì chuyển nhượng, liên đoàn bóng đá Anh vẫn chưa đưa ra thông báo gì cho dù họ có thể cho phép Mascherano chơi cho Liverpool, nói rằng họ cần thêm thời gian để xem xét. Vào ngày 2 tháng 3 Premier League đã phạt West Ham thông qua hai điều luật B13 và U18.Vào ngày 17 tháng 4 Premier League đã phạt West Ham số tiền 5,5 triệu bảng. === Liverpool (2007-2010) === Vào ngày 10 tháng hai, Liverpool đã điều tên Mascherano vào danh sách dự Champions League và trao cho anh số áo 20.Sau đó, vào ngày 20 tháng 2 năm 2007, việc Mascherano chuyển tới Liverpool trở thành chính thức sau khi Premier Leauge cho phép Liverpool đăng ký cầu thủ này vào danh sách thi đấu. Mascherano có trận ra mắt cho Liverpool trong trận tiếp Sheffield United vào ngày 24 tháng 2 năm 2007, và đã được tán dương bởi huấn luyện viên Rafael Benítez và đội trưởng Steven Gerrard sau chiến thắng 4-0 của Liverpool.Sau trận gặp Arsenal vào ngày 31 tháng ba, Benitez gọi Mascherano là "con quỷ đối với mọi cầu thủ". Tiếp đó, các đồng đội của anh cũng bị ấn tượng bởi tài năng của anh; Xabi Alonso nói về sự thuần thục ở tuổi của anh, anh nói:"Anh có đầu óc tốt trên sân đấu.Anh ấy phân tích và suy nghĩ về trận đấu trong từng thời điểm."Trạn a đấu đầu tiên của Mascherano ở Champions League là ở tứ kết lượt đi với PSV Eindhoven ở Hà Lan vào ngày 3 tháng tư.Sau khi đã tạo dựng một vị trí chính thức trong đội bóng, Mascherano được chơi trong trận chung kết cúp C1 gặp AC Milan.Anh và đồng đội Alonso đã ngăn chặn mối liên kết giữa Kaká và Clarence Seedorf trong hầu hết trận đấu nhưng sau đó Liverpool vẫn thua với tỉ số 2-1.Anh được bầu là cầu thủ Liverpool hay nhất trận bởi các cổ động viên trên Website chính thức của đội bóng. Vào ngày 29 tháng 2 năm 2008 Mascherano ký hợp đồng 4 năm với Liverpool, kết thúc sự hợp tác của anh với công ty Media Sports Investments.Vụ chuyển nhượng được Liverpool thông báo vào khoảng 18,6 triệu bảng Anh.Vụ chuyển nhượng này được giữ kín không chỉ về giá chuyển nhượng mà còn cả tiền lương trong bốn năm.Nó giữ anh ở lại và không được ký hợp đồng với đội bóng khác, theo như luật chuyển nhượng.Anh ghi bàn đầu tiên ở Premier League và cho Liverpool vào ngày 15 tháng 3 năm 2008 bằng một cú sút từ khoảng cách 24m trong trận tiếp Reading. Anh nhận được rất nhiều cảm tình từ các fan của Liverpool và có bài hát riêng, ở bài này tên của anh được hát theo giai điệu của bài "Seven Nation Army" của ban nhạc White Stripes. === Rắc rối ở Old Trafford === Trong trận đấu đầu tiên ở Old Trafford tiếp Manchester United anh đã bị đuổi khỏi sân sau khi nhận hai thẻ vàng.Đầu tiên anh phải nhận thẻ vàng sau cú vào bóng với Paul Scholes, và sau đó là tình huống cãi lại trọng tài sau chiếc thẻ vàng dành cho Fernando Torres.Phải nhờ tới sự can thiệp của hai đồng đội Steven Gerrard và Alonso rồi cả huấn luyện viên Benitez anh mới chịu ra khỏi sân.Anh cũng được hộ tống xuống đường hầm bởi Peter Crouch.Liên đoàn bóng đá Anh sau đó đã treo giò Mascherano từ một trận thành ba trận cho những hành động thiếu lịch sự.Mascherano cho biết anh đáng bị phạt vì hành vi cư xử thiếu văn hoá, nhưng không thể bị treo giò hai hay ba trận.Tuy nhiên, lời thỉnh cầu này đã bị từ chối, và thậm chí Mascherano còn phải nộp phạt 15,000 bảng. Mặc dù vẫn còn đó những tai tiếng, nhưng Mascherano đã thi đấu rất tốt trong trận thắng 2-1 của Liverpool trước MU ở Anfield vào ngày 13 tháng 9 năm 2008.Mặc dù anh đã mắc lỗi khi không kèm và để người đồng hương Carlos Tevez ghi bàn cho MU khi trận đấu mới diễn ra chưa đầy 3 phút, Mascherano đã chuộc lại lỗi lầm của mình, và anh đã tạo cơ hội để Ryan Babel nâng tỉ số lên 2-1 cho Liverpool.Mascherano được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận do cổ động viên Liverpool trên Website chính thức của đội bóng. === Barcelona (2010–) === Ngày 28 tháng 8 năm 2010, Anh đã ký một bản hợp đồng 4 năm với Barcelona với giá trị chuyển nhượng 22 triệu £. vào ngày 30 tháng 8 năm 2010, Mascherano đã vượt qua cuộc kiểm tra y tế để hoàn tất thương vụ chuyển tới Barcelona, Anh có lần ra mắt đầu tiên vào ngày 11 tháng 9 năm 2010, trên sân nhà trong trận thua 2-0 của Barcelona trước đội bóng mới lên hạng Hércules CF, đánh dấu trận thua đầu tiên trên sân Nou Camp sau 16 tháng. == Thi đấu quốc tế == Vào tháng 9 năm 2001, Mascherano đã cùng Argentina về đích ở vị trí thứ tư ở giải FIFA U-17 thế giới.Những ấn tượng anh để lại ở giải đấu này đã giúp anh được gọi vào đội tuyển quốc gia trước khi có trận ra mắt trong màu áo River Plate.Trận ra mắt của anh là trong trận giao hữu với đội tuyển bóng đá quốc gia Uruguay vào ngày 16 tháng 7 năm 2003. Vào giữa mùa giải Apetura 2003-2004 Mascherano được chọn để chơi ở giải trẻ thế giới vào năm 2003.Argentina một lần nữa lại về đích ở vị trí thứ tư và Mascherano là cầu thủ chủ chốt của đội bóng.Tuy nhiên Mascherano lại bị treo giò trong trận tranh giải ba. Vào tháng 1 năm 2004, Mascherano cùng đội U-23 Argentina dự giải South American Pre-Olímpico ở Chile.Argentina vô địch giải đấu, vào sau đó được dự Thế vận hội Mùa hè 2004.Vào tháng 8, Mascherano cùng đội tuyển dành huy chương vàng ở Hi Lạp. Cuối mùa giải 2003-2004 Mascherano được gọi vào đội tuyển để dự Copa America 2004.Argentina thua đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil trên chấn luân lưu ở trận chung kết, nhưng Mascherano vẫn được các đồng đội bầu là cầu thủ Argentina xuất sắc nhất giải. Vào tháng 6 năm 2005, Mascherano cùng đội tuyển dự Confederations Cup ở Đức.Argentina gặp Brazil ở trận chung kết và thua 4-1. Ở World Cup 2006, Mascherano chơi đầy đủ tất cả các trận đấu cho Argentina, và Argentina đã bị loại bởi đội tuyển Đức ở tứ kết. Vào tháng 7 năm 2007, Mascherano ghi hai bàn đầu tiên cho Argentina ở Copa America 2007 và được đánh giá là cầu thủ Argentina hay nhất trong một đội hình toàn các ngôi sao.Mascherano phải nhận chiếc thẻ đỏ đầu tiên trong sự nghiệp thi đấu quốc tế sau khi nhận hai thẻ vàng trong trận tiếp đội tuyển bóng đá quốc gia Mĩ vào ngày 8 tháng 6 năm 2008.Anh bị đuổi khỏi sân ở phút 86, và trận đấu kết thúc với tỉ số 0-0. Vào năm 2008 Mascherano được gọi vào đội tuyển U-23 Argentina dự Olympic Bắc Kinh,Mascherano rất vui vì được gọi lên, anh nói "Thật tuyệt vời đối với mọi vận động viên khi nhận được huy chương vàng. Tôi có thể là người duy nhất ở đất nước tôi từng làm được điều đó và tôi sẽ đi vào lịch sử."Argentina vô địch giải đấu và Mascherano trở thành cầu thủ thứ hai từng giành được 2 huy chương vàng Olympic trong môn bóng đá. == Đội tuyển quốc gia == Số liệu thống kê chính xác tới 23 tháng 3 năm 2017 === Bàn thắng quốc tế === == Thống kê sự nghiệp == Số liệu thống kê chính xác tới ngày 20 tháng 3 năm 2017 == Danh hiệu == === Câu lạc bộ === River Plate Giải vô địch bóng đá Argentina: 2003–04 Corinthians Giải vô địch bóng đá Brasil: 2005 Barcelona Giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha: 2010–11, 2012–13, 2014–15 Cúp Nhà vua Tây Ban Nha: 2011–12, 2014–15 Siêu cúp Tây Ban Nha: 2011, 2013 UEFA Champions League: 2010–11, 2014–15 Siêu cúp bóng đá châu Âu: 2011, 2015 FIFA Club World Cup: 2011 === Đội tuyển quốc gia === Á quân World Cup: 2014 Á quân Copa América: 2004, 2007, 2015, 2016 Huy chương vàng Thế vận hội Mùa hè: 2004, 2008 == Tham khảo ==
nhạc tiền chiến.txt
Nhạc tiền chiến là dòng nhạc đầu tiên của tân nhạc Việt Nam mang âm hưởng trữ tình lãng mạn xuất hiện vào cuối thập niên 1930. Các ca khúc tiền chiến thường có giai điệu trữ tình và lời ca giàu chất văn học. Ban đầu khái niệm nhạc tiền chiến (nhạc trước thời kỳ chiến tranh) dùng để chỉ dòng nhạc mới tiếng Việt theo âm luật Tây phương trước khi nổ ra chiến tranh Việt - Pháp, sau này, vì lý do chính trị, khái niệm này mở rộng, bao gồm một số sáng tác trong chiến tranh (1946–1954) cùng phong cách trữ tình lãng mạn, như Dư âm của Nguyễn Văn Tý, Trăng Mờ Bên Suối của Lê Mộng Nguyên... và cả sau 1954 đối với một số nhạc sĩ ở miền Nam như Phạm Đình Chương, Cung Tiến... Một số ca khúc nhạc đỏ và trữ tình cách mạng trong chiến tranh Việt - Pháp như Lời người ra đi, Sơn nữ ca của Trần Hoàn khi lưu hành ở miền Nam cũng bị gọi là "nhạc tiền chiến". Các bài tiền chiến thường theo điệu Valse, Tango, Slow Waltz, Boston, Blues, March, một số là các trường ca, hay phong cách bán cổ điển. Trừ số rất ít, hầu hết các ca khúc tiền chiến thuộc dòng thính phòng. Dòng nhạc trữ tình ở miền nam sau này cũng ảnh hưởng của dòng tiền chiến nhưng thường theo điệu Slow Rock, Slow Ballad, Slow Fox, trong khi nhạc đỏ nhiều bài cũng ảnh hưởng của nhạc tiền chiến về giai điệu. Những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc tiền chiến: Đặng Thế Phong, Văn Cao, Phạm Duy, Lê Thương, Dương Thiệu Tước, Hoàng Quý, Hoàng Giác, Đoàn Chuẩn... Các ca khúc như Giọt mưa thu, Con thuyền không bến, Thiên Thai, Trương Chi, Cây đàn bỏ quên, Tình kỵ nữ, Đêm tàn bến Ngự, Hòn vọng phu == Bối cảnh ra đời == Bối cảnh ra đời của nhạc tiền chiến cũng chính là bối cảnh ra đời của tân nhạc Việt Nam. Đó là Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, xuất hiện sau phong trào thơ mới và dòng văn học lãng mạn vài năm. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Việt Nam xuất hiện một giai cấp mới, đó là giai cấp tư sản. Chủ nghĩa tư bản của người Pháp cùng với nền văn hóa phương Tây vào Việt Nam gây nên những thay đổi lớn. Nhiều giá trị tư tưởng cổ hũ mấy ngàn năm trước đó lại bị giới trẻ có tây học xem thường, thậm chí trở thành đối tượng để mỉa mai của nhiều người. Một tầng lớp tiểu tư sản ở thành thị hình thành. Giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản lớp trên (trí thức, viên chức cao cấp) đã có một lối sinh hoạt thành thị mới với nhiều tiện nghị theo văn minh Tây phương. Họ ở nhà lầu, đi ô tô, dùng quạt điện, đi nghe hòa nhạc. Sinh hoạt của tư sản và tiểu tư sản thành thị cũng thể hiện ngay cả trong cách ăn mặc của thanh niên, mốt quần áo thay đổi mỗi năm. Những đổi thay về sinh hoạt cũng đồng thời với sự thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc. Những thay đổi đó cũng do sự tiếp xúc với văn hóa lãng mạn Pháp. Nếu như những nhà văn lãng mạn, thi sĩ của phong trào thơ mới chịu ảnh hưởng bởi văn học lãng mạn Pháp thì những nhạc sĩ tiền chiến cũng chịu ảnh hưởng bởi âm nhạc phương Tây. == Ảnh hưởng của âm nhạc Tây phương == Đầu thế kỷ 20, những bài hát Âu Mỹ được phổ biến mạnh mẽ tại Việt Nam dưới hình thức đĩa hát loại 78 tours (vòng), hoặc trên màn ảnh những phim nói. Các thanh niên thời đó không còn thích đàn tranh, đàn bầu, đàn nhị, đàn nguyệt nữa mà thay vào đó là mandoline, guitare hơn nữa là violon, piano để có thể làm quen với những bài hát nước ngoài mà họ ưa thích. Rồi họ bắt đầu soạn lời Việt cho những ca khúc nước ngoài, chủ yếu để hát trong bạn bè cho nhau nghe. Nhưng người thành công nhất trong việc sử dụng nhạc điệu Âu Mỹ để đưa ra những bài hát mới, chính là nghệ sĩ Huỳnh Thủ Trung tức Tư Chơi. Ông vừa là diễn viên, vừa là soạn giả và còn muốn là người soạn nhạc nữa cho nên ông đã sáng tác những ca khúc ngắn mà ông gọi là "bài ta theo điệu tây" và soạn ra những tiểu ca kịch (opérette) mà ông đặt tên là "hoạt kê hài hước" (opérette comique) trình diễn trên sân khấu các đoàn hát xuất xứ từ miền Nam là Trần Đắt và Phước Cương (gánh hát của Bạch Công Tử) vào khoảng 1933-1934. Trên sân khấu các đoàn Trần Đắt và Phước Cương, ngoài việc soạn ra những tích tuồng mới phản ảnh xã hội Việt Nam vào lúc đó, nghệ sĩ Tư Chơi còn muốn cải cách cả phần âm nhạc. Ông không muốn dùng các bài bản có tính chất cổ truyền như Lưu Thủy, Hành Vân trong opérette của mình. Với sự phổ biến của máy hát chạy bằng lò xo, những "bài hát theo thời" (chansons à la mode) Âu Mỹ đã bắt đầu thịnh hành trong xã hội đô thị Việt Nam. Những bài Pháp như J'ai Deux Amours, Quand On Est Matelot... đã được nhiều người biết đến. Có thể nói việc làm của nghệ sĩ Tư Chơi đã thành công. Một số bài dù khởi đầu phóng tác từ một điệu Tây, về sau được coi là điệu Việt Nam hoàn toàn. Ví dụ bài Hoà duyên nằm trong nhạc mục của ngành ca kịch cải lương, ít người biết nó khởi sự là một bài ta theo điệu Tây của Tư Chơi, Huỳnh Thủ Trung. Cùng một lúc với việc Tư Chơi tung ra trên sân khấu những "bài ta theo điệu tây", thì trong giới yêu nhạc cũng có phong trào chuyển ngữ các bài hát Tây do các ca sĩ thời thượng như Tino Rossi, Rina Ketty, Albert Préjean, Georges Milton... hát vào đĩa hát 78 tours (vòng). Các nghệ sĩ sân khấu Việt Nam như Ái Liên, Kim Thoa, lại được các hãng đĩa của người Pháp Odéon, Béka mời thu thanh các bài ta theo điệu tây. Trong năm từ 1935 cho tới 1938, rất nhiều các bài hát của Pháp như Marinella, C'est à capri, Tant qu'il y aura des étoiles, Un jour loin de toi, Celle que j'aime éperdument, Les gars de la marine, L'Oncle de Pékin, Guitare d'amour, Créola, Signorina, Sous les ponts de Paris, Le plus beau tango du monde, Colombella... (phần lớn là sáng tác của nhạc sĩ người Pháp Vincent Scotto) và của Mỹ như Good bye Hawaii, South of the border... đã được phổ biến mạnh mẽ với lời ca tiếng Việt, soạn bởi một nhà báo trẻ tên là Mai Lâm và bởi những tác giả vô danh khác. Đã có những hội "Ái Tino" được thành lập ở Hà Nội, ở Hải Phòng... Một thanh niên có giọng hát tốt, sau này là một nhạc sĩ được nhiều người biết tới, nhạc sĩ Canh Thân, bắt đầu cuộc đời ca hát của anh bằng cái tên Tino Thân. Phạm Duy gọi giai đoạn từ 1935 cho tới 1938 là Thời kỳ chuẩn bị của Tân nhạc Việt Nam == Tân nhạc hình thành 1938 == Năm 1938 được coi là điểm mốc đánh dấu sự hình thành của tân nhạc Việt Nam với những buổi biểu diễn và thuyết trình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên tại Hà Nội. Cuối thập niên 1930, nhiều nhạc sĩ khác bắt đầu sáng tác ca khúc như Bẽ bàng (1935), Nghệ sĩ hành khúc (1936) của Lê Yên, Tiếng sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937) của Văn Chung, Xuân năm xưa (1936) của Lê Thương. Nhưng các nhạc sĩ đó sáng tác và trình bày những ca khúc của mình chỉ trong phạm vi bạn bè. Nguyễn Văn Tuyên là người đầu tiên trình bày ca khúc nhạc cải cách trước công chúng và sau đó những bài hát này được phổ biến rộng rãi trên báo chí. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên khi đó ở Sài Gòn, là người Việt duy nhất tham gia hội Ái Nhạc (Philharmonique). Ông bắt đầu hát nhạc Tây và đạt được cảm tình của báo chí và radio. Năm 1937 Nguyễn Văn Tuyên phổ một bài thơ của một người bạn và viết thành ca khúc đầu tiên của ông. Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, khi đó làm việc cho đài Radio Indochine, có đưa thơ cho Nguyễn Văn Tuyên và giúp ông soạn lời ca. Nguyễn Văn Cổn còn giới thiệu ông với thống đốc của Nam Kỳ (Cochinechina) khi đó là Pagès (có tài liệu ghi Rivoal). Thống đốc Nam Kỳ nghe Nguyễn Văn Tuyên hát và đã mời ông du lịch tới Pháp để tiếp tục học nhạc, nhưng Nguyễn Văn Tuyên từ chối vì lý do gia đình. Thay vì vậy ông lại đề nghị và được thống đốc Pagès tài trợ đi một vòng Việt Nam tới các thành phố Huế, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định để quảng bá những bài nhạc mới này. Chính Nguyễn Văn Cổn là người đặt tên cho loại nhạc mới là "âm nhạc cải cách" (musique renovée). Tới Hà Nội vào tháng 3 năm 1938, Nguyễn Văn Tuyên có nói chuyện tại hội Trí Tri. Nhưng trong cuộc vận động cải cách, ông đã gặp một cử tọa đông đảo, ồn ào không trật tự. Một phần thất bại buổi đó do giọng nói địa phương của ông được ít người hiểu. Hơn nữa, có thể nhiều thanh niên Hà Nội lúc đó cho rằng việc hô hào của ông là thừa, vì bài hát cải cách đã có sẵn tại đó. Tại hội Tri Tri Hải Phòng, Nguyễn Văn Tuyên đã may mắn hơn. Tuy số khán giả chỉ độ 20 người, nhưng ông đã có người thông cảm. Trong buổi nói chuyện này, một vài nhạc sĩ của Hải Phòng cũng trình một bản nhạc mới của miền Bắc. Sau đó nhân kỳ hội của trường Nữ Học Hoài Đức, Nguyễn Văn Tuyên còn trình bày tại rạp chiếu bóng Palace một lần nữa. Và lần này cử tọa rất tán thưởng giọng hát của ông trong bài Bông cúc vàng. Tờ Ngày Nay của Nhất Linh, một tờ báo uy tín bấy giờ, số 121 ra ngày 31 tháng 7 năm 1938 đã đăng bài hát đầu tiên, bài Bình minh của Nguyễn Xuân Khoát lời ca của Thế Lữ, và sau đó là các bản Một kiếp hoa của Nguyễn Văn Tuyên, Bản đàn xuân của Lê Thương, Khúc yêu đương của Thẩm Oánh, Đám mây hàng, Cám dỗ của Phạm Đăng Hinh, Đường trường của Trần Quang Ngọc... ở các số tiếp theo. Nhiều ca khúc sáng tác từ trước được các nhạc sĩ phát hành. Đầu 1939, nhiều bản nhạc của các nhóm, nhạc sĩ được bày bán tại các hiệu sách. Tân nhạc Việt Nam chính thức hình thành. == Các nhóm nhạc và nhạc sĩ tiên phong == === Nguyễn Xuân Khoát === Được xem như người anh cả trong tân nhạc Việt Nam. Nguyễn Xuân Khoát tuy sáng tác không nhiều vào thời kỳ tiền chiến nhưng những sáng tác của ông lại làm nên những mốc giá trị. Trước khi tác phẩm đầu tay là Bình minh ra đời, ông đã có nhiều bài khảo cứu hay thuyết trình cho sự cải cách nhạc Việt, được đăng nhiều kỳ trên báo Ngày nay của Tự Lực Văn Đoàn. Tác phẩm Màu thời gian của ông phổ thơ Đoàn Phú Tứ, vừa ra đời đã được hoan nghênh lớn. === Lê Thương === Nhạc sĩ Lê Thương khi đó dạy học ở Hải Phòng. Ông là một trong những người có sáng tác sớm nhất. Lê Thương cùng Hoàng Quý, Hoàng Phú (tức nhạc sĩ Tô Vũ), Phạm Ngữ, Canh Thân tụ họp thành một nhóm ca nhạc sĩ trẻ để bắt đầu sáng tác và hát phụ diễn cho những buổi diễn kịch nói của nhóm kịch Thế Lữ. Ông đã để lại nhiều ca khúc, đặc biệt là những bài truyện ca bất hủ như Bản đàn xuân, Nàng Hà Tiên, Một ngày xanh, Thu trên đảo Kinh Châu và Hòn vọng phu. === Văn Cao === Văn Cao cũng ở Hải Phòng. Ban đầu ông thuộc nhóm Đồng Vọng của Hoàng Quý và có những sáng tác đầu tay như Buồn tàn thu, Vui lên đường. Năm 1941, Văn Cao lên Hà Nội, ông đã viết những nhạc phẩm giá trị vượt thời gian như Trương Chi, Thiên Thai, Suối mơ, Bến xuân... Sau đó Văn Cao tham gia Việt Minh và viết Tiến quân ca năm 1944 và Trường ca Sông Lô năm 1947. === Đặng Thế Phong === Đặng Thế Phong thuộc nhóm Nam Định, nhưng ông sớm rời bỏ thành phố để lên Hà Nội. Đầu 1941 Đặng Thế Phong vào Sài Gòn rồi sang Campuchia. Cuối 1941 ông trở lại Hà Nội và mất vào năm 1942 bởi bệnh lao. Đặng Thế Phong chỉ để lại ba nhạc phẩm Đêm thu, Con thuyền không bến và Giọt mưa thu. Các sáng tác của ông được xem là tiêu biểu cho dòng nhạc tiến chiến và có ảnh hưởng đến những nhạc sĩ sau đó. === Phạm Duy === Ban đầu là ca sĩ của gánh hát Đức Huy, nên Phạm Duy còn được xem như một trong những người đầu tiên đem thể loại nhạc này đi phổ biến khắp mọi miền đất nước. Phạm Duy gia nhập làng nhạc sĩ năm 1942 với bài Cô hái mơ, phổ thơ Nguyễn Bính, tiếp đó là những bản nhạc lãng mạn như Cây đàn bỏ quên, Tình kỵ nữ, Tiếng bước trên đường khuya hay đậm chất dân ca như Em bé quê, Tình ca, Bà mẹ quê, Gánh lúa...Phạm Duy và Văn Cao là hai người bạn thân nên thường giúp đỡ nhau trong nghề, họ từng sáng tác chung các ca khúc Bến xuân, Suối mơ. Phạm Duy là người có công đầu trong việc đem chất dân ca vào tân nhạc, điều này khiến nhạc cải cách xích lại gần với tầng lớp nông dân, dân nghèo. === Nhóm Myosotis === Myosotis có nghĩa là hoa lưu ly, nhóm nhạc này gồm các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Phạm Văn Nhượng, Trần Dư, Vũ Khánh... trong đó hai thành viên quan trọng nhất là Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước. Hai xu hướng chính của nhóm là: Sáng tác nhạc mới nhưng có âm hưởng nhạc dân tộc do Thẩm Oánh chủ trương. Sáng tác hoàn toàn theo nhạc ngữ Tây phương do Dương Thiệu Tước chủ trương. Từ 1938 cho tới 1942, nhóm Myosotis với hai nhạc sĩ chính Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước đã để lại nhiều nhạc phẩm giá trị, phần lớn theo phong cách trữ tình lãng mạn. === Nhóm Tricéa === Nhóm Tricéa gồm ba thành viên Văn Chung, Lê Yên và Doãn Mẫn. Tên nhóm Tricéa có nghĩa: 3 chữ C và 3 chữ A được viết tắt từ tiếng Pháp: Collection Des Chants Composés Par Des Artistes Annamites Associés: "Tuyển chọn các tác phẩm âm nhạc của nhóm người viết nhạc Annam". Những năm khoảng 1939, nhiều ca khúc của nhóm được quần chúng yêu thích như: Ca khúc ban chiều, Trên thuyền hoa, Bóng ai qua thềm của Văn Chung; Biệt ly, Sao hoa chóng tàn, Tiếng hát đêm thu của Doãn Mẫn; Bẽ bàng, Xuân nghệ sĩ hành khúc, Ngựa phi đường xa, Vườn xuân của Lê Yên. Cả ba nhạc sĩ của Tricéa đều thành công, trong đó hơn cả là Doãn Mẫn. Họ đã để lại nhiều nhạc phẩm giá trị, một số trong đó được đánh giá vượt thời gian === Nhóm Đồng Vọng === Nhóm Đồng Vọng được thành lập năm 1939 bởi nhạc sĩ Hoàng Quý, xuất phát từ những tráng sinh biết âm nhạc của phong trào Hướng đạo. Xuất hiện ngay từ những năm đầu, gồm nhiều nhạc sĩ tên tuổi Phạm Ngữ, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Canh Thân và Hoàng Phú (tức Tô Vũ), Đồng Vọng mở ra dòng nhạc hùng trong tân nhạc Việt Nam. Ngoài những bản hùng ca viết cho thanh niên, phong trào khỏe và hướng đạo, nhóm Đồng Vọng còn để lại nhiều bản tình ca khác. Cùng với nhóm Nhóm Tổng Hội Sinh Viên của Lưu Hữu Phước, Đồng Vọng đã có những ảnh hướng lớn tới tân nhạc Việt Nam. === Nhóm Tổng Hội Sinh Viên === Tổng Hội Sinh Viên được thành lập bởi nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Cùng với nhóm Đồng Vọng, Tổng Hội Sinh Viên mở ra dòng nhạc hùng trong tân nhạc Việt Nam, nhưng so với Đồng Vọng thì Tổng Hội Sinh Viên manh tính chính trị nhiều hơn. Tổng Hội Sinh Viên được khởi đầu trong nhóm sinh viên ở Hà Nội trong đó nhiều sinh viên miền Nam tỏ ra có khả năng văn nghệ. Tổng Hội Sinh Viên chú trọng đặc biệt đến việc dùng Tân nhạc trong việc đấu tranh chính trị chống Pháp và Nhật. Lưu Hữu Phước cùng với nhóm sinh viên trong Tổng Hội đã tung ra nhiều ca khúc giá trị khơi dậy lòng yêu nước trong dân chúng, đặc biệt là những học sinh, sinh viên. Những ca khúc như Tiếng gọi sinh viên, Hồn tử sĩ, Bạch Đằng giang, Ải Chi Lăng, Hội nghị Diên Hồng, Hờn Sông Gianh... đã để lại dấu ấn trong lịch sử tân nhạc Việt Nam. == Giai đoạn 1945-1954 == Từ năm 1946, nhiều nhạc sĩ lên chiến khu và viết ca khúc kháng chiến của Việt Minh chống Pháp. Nhưng nhiều người trong số họ vẫn có những sáng tác lãng mạn như Nguyễn Văn Tý với Dư âm, Trần Hoàn với Sơn nữ ca, Lê Mộng Nguyên với Trăng Mờ Bên Suối, Tô Hải với Nụ cười sơn cước, Phạm Duy với Cây đàn bỏ quên, Bên cầu biên giới, Tình kỵ nữ, Việt Lang với Tình quê hương, Tô Vũ với Em đến thăm anh một chiều mưa... Trong vùng đô thị Pháp tạm chiếm, cả hai dòng nhạc yêu nước và lãng mạn tiếp tục được trình diễn trên đài phát thanh, trong vũ trường và các quán rượu. Năm 1950, tạp chí Việt Nhạc của đài phát thanh Hà Nội đã xuất bản một danh mục hơn 300 ca khúc Việt Nam họ đã phát thanh gồm cả những bài hát lãng mạn và những bài hát mới được sáng tác dành cho những người lính kháng chiến trong rừng núi. Cho tới lúc chấm dứt hoạt động vào năm 1954, họ đã phát thanh được hơn 2000 bài của hơn 300 tác giả. == Sau 1954 ở miền Nam == Sau năm 1954, Việt Nam chia làm hai miền với chế độ khác nhau. Những nhạc sĩ tiền chiến ở lại miền Bắc không còn sáng tác, hoặc không phổ biến những ca khúc trữ tình lãng mạn. Những nhạc phẩm tiền chiến cũng giống như các tác phẩm văn học lãng mạn (ví dụ tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn) không được phép lưu hành. Những bài hát ở miền Bắc khi đó thường để cổ vũ chiến đấu, xây dựng đất nước, đấu tranh cách mạng... và được xếp vào dòng nhạc đỏ. Một số nhạc sĩ khác di cư vào miền Nam năm 1954 như Hoàng Trọng, Văn Phụng, Phạm Mạnh Cương... hoặc từ trước đó như Lê Thương, Phạm Duy... và những nhạc sĩ trẻ hơn như Phạm Đình Chương, Cung Tiến... đã tiếp tục dòng nhạc tiền chiến tại miền Nam. Những nhạc sĩ này trong khoảng 1954 đến 1975 có những sáng tác đa dạng, trong đó nhiều ca khúc của họ vẫn được xếp chung vào dòng nhạc tiền chiến, có thể kể đến là Mộng dưới hoa, Trường ca Hội trùng dương, Đôi mắt người Sơn Tây của Phạm Đình Chương, Hương xưa, Thu vàng của Cung Tiến. Những nhạc phẩm tiền chiến thường xuyên được trình diễn và thu âm bởi những tiếng hát hàng đầu như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác, Sĩ Phú, Hà Thanh, Hoàng Oanh (Bài Thơ Huế, Nhớ Huế... của Lê Mộng Nguyên) == Số phận nhạc tiền chiến sau 1975 == === Tại Việt Nam === Tại Việt Nam sau 1975, phần lớn những ca khúc tiền chiến vẫn không được lưu hành. Cho tới năm 1987, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đưa ra quyết định "cởi trói văn nghệ", một số bản nhạc tiền chiến mới được trình diễn trở lại. Từ đó, những nhạc phẩm của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Đặng Thế Phong,Lê Mộng Nguyên... được các ca sĩ trình diễn nhiều nơi, trong đó phải kể đến sự trở lại của Ngọc Bảo, và những nỗ lực của ca sĩ Lê Dung, Ánh Tuyết. Những năm đầu thế kỷ 21, những ca khúc đầu tiên của dòng tân nhạc ấy vẫn thường xuyên được các ca sĩ trẻ trình diễn và thu âm. Và một vài người trong số đó đã thanh danh nhờ dòng nhạc này. === Ở hải ngoại === Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, nhiều ca sĩ và nhạc sĩ của miền Nam rời Việt Nam định cư tại nhiều nước trên thế giới, tập trung nhất ở Hoa Kỳ. Tại hải ngoại, các nhạc sĩ như Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Hoàng Trọng, Cung Tiến... ít sáng tác. Có thể nói không nhạc phẩm nào ra đời ở hải ngoại được xếp vào dòng nhạc tiền chiến. Nhưng dòng nhạc đó vẫn được yêu thích, những ca sĩ đã thành danh trước 1975 như Anh Ngọc, Khánh Ly, Lệ Thu, Thái Thanh, Hà Thanh, Mai Hương, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Hoàng Oanh... hay những ca sĩ trẻ như Trần Thái Hòa, Ngọc Hạ... thường xuyên trình diễn những nhạc phẩm này. == Xem thêm == Tân nhạc Việt Nam Nhạc đỏ Nhạc Vàng Nguyễn Đình Toàn == Tham khảo == Tân nhạc những năm đầu - Phạm Duy Nhạc tiền chiến: khởi đầu của ca khúc phổ thông Việt Nam - Jason Gibbs Nhạc tiền chiến trên trang Hội Nhạc sĩ Việt Nam
pro evolution soccer.txt
Pro Evolution Soccer (Tiếng Nhật: ワールドサッカーウイニングイレブン Wārudo Sakkā Uining Irebun, World Soccer: Winning Eleven hoặc Winning Eleven) hay được gọi một cách thông dụng là PES hoặc Pro Evo là một thể loại game thể thao điện tử về bóng đá của Konami và là dòng game kế nhiệm của serie International Superstar Soccer. Hàng năm, game được phát hành vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10 dưới cái tên Winning Eleven ở Nhật Bản và Pro Evolution Soccer cho toàn cầu. Những nhân vật nổi tiếng trong làng bóng đá như trọng tài Pierluigi Collina, các danh thủ Zico, Thierry Henry, Francesco Totti, John Terry, Adriano, Michael Owen, Gianluigi Buffon, Didier Drogba, Luca Toni, Fernando Torres, Mario Gotze, Neymar, Alvaro Morata, Cristiano Ronaldo, Lionel Messi..v.v.. đã từng là gương mặt đại diện cho thương hiệu Pro Evolution Soccer trên bìa đĩa. Tháng 12/2011, thương hiệu Pro Evolution Soccer có sẵn 19 ngôn ngữ và được phát hành tại 62 quốc gia khác nhau. Tháng 12/2012, tựa game bán được 81,65 triệu bản trên toàn cầu, trở thành một trong những tựa game bán chạy nhất thế giới. Tại Việt Nam, Pro Evolution Soccer được biết đến với cái tên PES hoặc Winning Eleven (WE) hoặc Bóng Nhật và được du nhập vào nước ta từ rất sớm và sau hơn 15 năm đã trở thành tựa game console ăn khách nhất. == Serie Goal Storm / ISS Pro == Goal Storm (còn được gọi với cá tên World Soccer Winning Eleven ở Nhật Bản) là tiền thân của dòng game Pro Evolution Soccer. Game được phát triển bởi Konami Computer Entertainment Tokyo, Inc. và được phát hành vào năm 1996. Tựa game Winning Eleven gốc, không chứa tiền tố World Soccer, chỉ được phát hành ở Nhật Bản cho hệ máy PlayStation vào năm 1995 với sự xuất hiện của các đội bóng tại giải vô địch quốc gia Nhật Bản. Ba game trong loạt serie được sản xuất bởi Konami Computer Entertainment Tokyo và được phát hành dưới cái tên ISS Pro tại thị trường Châu Âu và Winning Eleven tại các thị trường khác. == Serie Pro Evolution Soccer == === Tổng Quát === == Liên kết bên ngoài == PES Club Pro Evolution Soccer series's channel on YouTube PES League
nhu cầu.txt
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận. Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội. == Đặc trưng của nhu cầu == Không ổn định, biến đổi; Năng động; Biến đổi theo quy luật; Không bao giờ thỏa mãn cùng một lúc mọi nhu cầu; Ham muốn không có giới hạn. == Các loại nhu cầu == Vật chất: nhu cầu bẩm sinh (thở, đói, tình dục), nhu cầu thông thường (ăn, uống, không khí, bài tiết,...). Cảm xúc: tình thương yêu, tán thành, kính trọng, thừa nhận... Xã hội: giáo dục, tôn giáo, giải trí... == Mức độ nhu cầu == Mức thứ nhất - Lòng mong muốn; Mức thứ hai - Đam mê; Mức thứ ba - Tham. == Biểu hiện nhu cầu == Hứng thú; Ước mơ; Lý tưởng. == Khái niệm nhu cầu == Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S. Herman. Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh. Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt. Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó. Nhưng "cái gì đó" chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu. Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của nhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu". Nhu yếu đang nói đến lại có thể được xem là hình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn. Như vậy khái niệm nhu cầu và nhu yếu mang tính tương đối với nhau. Điều đó cho thấy rằng nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắc xích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển và đa dạng hóa. Tuy nhiên, để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất được cấu thành bởi một nhu yếu và một hình thức biểu hiện. Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầu nhất định. Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm thỏa mãn nhu cầu đó. Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác nhau. Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Alfred Marshall viết rằng: "Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn". Về vấn đề cơ bản của khoa học kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu không có giới hạn. == Cấu trúc nhu cầu cá nhân == Aristotle đã cho rằng con người có hai loại nhu cầu chính: thể xác và linh hồn. Sự phân loại này mang tính ước lệ lớn nhưng nó ảnh hưởng đến tận thời nay và người ta quen với việc phân nhu cầu thành "nhu cầu vật chất" và "nhu cầu tinh thần". Ngoài ra còn tồn tại nhiều kiểu phân loại khác dựa trên những đặc điểm hay tiêu chí nhất định. Trọng tâm chú ý của các nhà khoa học là xếp đặt nhu cầu theo một cấu trúc thứ bậc. Ý tưởng về thứ bậc của nhu cầu bắt đầu nảy sinh từ đầu thế kỉ trước. Benfild viết: "Quan điểm đầu tiên của luận thuyết về nhu cầu nói rằng sự thỏa mãn nhu cầu bậc thấp trong thang độ nhu cầu sẽ sinh ra mong muốn được thỏa mãn nhu cầu bậc cao hơn". Trong số các công trình nghiên cứu hiện đại có thể kể đến kết quả phân loại như K. Alderfer: tồn tại, quan hệ, nâng cao; D. Mc Clelland: thành quả, tham dự, quyền lực; V. Podmarcow: đảm bảo, khuynh hướng, uy tín; V. Tarasenko: tồn tại, phát triển; A. Maslow: sinh lý, an toàn, tham dự, (được) công nhận, tự thể hiện... Năm cấp bậc nhu cầu theo phân loại của A. Maslow được xếp theo hình bậc thang hay hình chóp kim tự tháp với thứ tự liệt kê như trên thể hiện quan điểm rằng sự thỏa mãn nhu cầu theo thứ tự từ dưới lên. Người ta đã chỉ ra rằng thực tế sự thỏa mãn nhu cầu không nhất thiết phải tuân theo quy luật đó. Boris M. Genkin chia nhu cầu ra hai nhóm: nhu cầu tồn tại và nhu cầu đạt mục đích sống. Nhu cầu tồn tại gồm nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn và nhu cầu tham dự. Trong nhu cầu đạt mục đích có bốn nhóm: 1) giàu có về vật chất; 2) quyền lực và danh vọng; 3) kiến thức và sáng tạo; 4) hoàn thiện tinh thần. Tùy vào thiên hướng của từng cá nhân mà một trong số bốn nhu cầu trên thể hiện nổi trội. Có thể trong một người hiện diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong đời. Tất cả các cách thành lập cấu trúc nhu cầu cá nhân từ trước đến nay có những hạn chế nhất định. Nếu số nhóm nhu cầu ít (gồm hai nhóm) thì phân loại nặng tính ước lệ, giảm ý nghĩa phân tích. Nếu số nhóm nhu cầu nhiều thì phân loại không đáp ứng được tính bao trùm, nghĩa là khi đó còn nhiều dạng nhu cầu nằm ngoài các nhóm, ví dụ như nhu cầu về tín ngưỡng, tự do. Kết luận của các nhà khoa học là: sự cản trở việc phân loại chính là không thể xác định được giới hạn của nhu cầu. Cách phân loại mới dựa vào phân tích bản chất của nhu cầu. Trên quan điểm mỗi nhu cầu được hình thành từ hình thức biểu hiện và nhu yếu nên có thể thực hiện phân loại theo hai thành phần đấy. Hình thức biểu hiện được phân loại thông qua đối tượng của nhu cầu. Chúng chính là tất cả những gì có ý nghĩa đối với đời sống con người. Đối tượng của nhu cầu có thể là những sự vật cụ thể trong thế giới xung quanh, có thể là những yếu tố của tư duy. Nhận thức của con người và xã hội càng cao thì phạm vi đối tượng có ý nghĩa càng rộng. Như vậy đối tượng của nhu cầu được phân loại theo các lĩnh vực hoạt động của con người: xã hội, kinh tế, chính trị, pháp luật, môi trường, tôn giáo, y tế, văn hóa-giáo dục-khoa học, đời sống cá nhân. Ranh giới của các lĩnh vực này không hoàn toàn rõ nét vì có sự đan xen. Tuy nhiên trong mỗi lĩnh vực hoạt động có sự định hình mối liên kết đặc biệt giữa các đối tượng, tạo nên những "hệ thống giá trị" mà vai trò của chúng là điều hòa sự mâu thuẫn giữa các nhu cầu khác nhau. Đôi khi chính những hệ thống giá trị này gây cản trở sự tiếp cận những đối tượng mới. Hệ thống giá trị có thể bị phá vỡ hoặc có sự thay đổi bổ sung tùy vào sự thay đổi của môi trường sống. Nhu yếu được phân loại thành nhu yếu tuyệt đối và nhu yếu phát triển. Nhóm thứ nhất liên quan trực tiếp đến các hành vi bản năng và vô thức. Hình thức biểu hiện, hay đối tượng tương ứng, của chúng là không thể thay thế. Sự không đáp ứng các nhu yếu này sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho cơ thể sống. Nhu yếu phát triển là những nhu yếu mang tính phức tạp, là kết quả kết hợp của những nhu yếu tuyệt đối và sự bổ sung những "đam mê bẩm sinh" (về mùi vị, màu sắc, âm nhạc, sự chuyển động v.v.). Nhu yếu phát triển được chia thành ba nhóm dựa trên những đặc điểm cơ bản nhất của hành vi. Những đặc điểm này, cũng giống như các nhu yếu tuyệt đối, không phụ thuộc vào tính chất của môi trường sống, vào thời điểm lịch sử, vào các giá trị xã hội; chúng đặc trưng cho mọi sinh vật, mọi cơ thể sống và nói lên sự tương tác qua lại của cá thể với môi trường. Những nhu yếu đấy là: Nhu yếu nhập thế: là sự cần thiết tiếp nhận các đối tượng có ích cho cá thể. Đặc điểm của nó là hướng nhu cầu vào những đối tượng với mục đích tiếp nhận chúng ở dạng chúng có; Nhu yếu xuất thế: là sự cần thiết tác động vào các đối tượng bên ngoài và đôi khi ngay chính cơ thể của bản thân. Đặc điểm của nó là hướng nhu cầu vào các đối tượng với mục đích làm thay đổi trạng thái của chúng bằng phương pháp nào đó và theo một ý tưởng định sẵn (ý tưởng định sẵn: kết quả tổng hợp của tư duy từ thông tin về những sự vật thực tế); Nhu yếu vị thế riêng: là sự cần thiết tạo vị trí của cá thể trong thế giới xung quanh. Đặc điểm của nó là hướng nhu cầu vào các đối tượng với mục đích củng cố vị thế mà cá thể xác định một cách có ý thức đối với những cá thể khác hoặc hoàn cảnh bên ngoài. Nói cách khác, nhu yếu này bắt chủ thể phải xác định vị trí và định hướng hoạt động của mình sao cho phù hợp với sự thay đổi của thế giới xung quanh. Nhu yếu nhập thế và nhu yếu xuất thế phản ánh một đặc tính nổi bật của con người là sự mong muốn nhận thức thế giới. Chúng khác nhau ở chỗ nhu yếu thứ nhất thể hiện tính thụ động, còn nhu yếu thứ hai thể hiện tính chủ động. Trong đời sống thực tế một nhu cầu thường có chung ba đặc điểm kể trên, chúng bổ sung cho nhau theo mối quan hệ "mục đích – phương tiện", nhưng một trong các nhu yếu đó nổi trội hơn cả (mục đích). Và vì thế có thể gọi những nhu cầu theo tên của nhu yếu tương ứng nổi trội đó. Nhu yếu phát triển hướng tới những đối tượng mới và thay đổi dần những giá trị cũ để phù hợp với sự thay đổi thường xuyên của môi trường. Phân tích trên cho thấy tuy đối tượng của nhu cầu là vô hạn, song những nhu yếu phát triển cơ bản chỉ tồn tại ở ba dạng kể trên. Cấu trúc nhu cầu cá nhân theo cách phân loại trên cho phép hình dung một hệ thống nhu cầu được sắp xếp như một tế bào mà nhân của nó là các nhu yếu tuyệt đối, thân là các nhu yếu phát triển và vỏ ngoài cùng là các đối tượng được kết dính bởi những hệ thống giá trị. Cấu trúc nhu cầu thể hiện mối quan hệ hữu cơ và thống nhất giữa các thành phần trong hệ thống nhu cầu cá nhân. == Xem thêm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == [2] Nhu cầu và vấn đề điều khiển hành vi - Nguyễn Bá Minh, Nguồn: Tâm lý học, ChúngTa.com.
6 tháng 3.txt
Ngày 6 tháng 3 là ngày thứ 65 (66 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 300 ngày trong năm. == Sự kiện == 190 – Sau khi phế truất hoàng đế thiếu niên Lưu Biện của triều Hán, Đổng Trác sai người sát hại cựu hoàng đế, dẫn đến bùng nổ chiến tranh quân phiệt trên diện rộng, mà đầu tiên là cuộc chiến chống lại ông. 1521 – Đoàn thám hiểm Tây Ban Nha của Fernão de Magalhães đổ bộ lên đảo Guam ở Tây Thái Bình Dương, bắt đầu thời kỳ thực dân châu Âu tại hòn đảo. 1834 – Thủ đô York của Thượng Canada được hợp nhất tổ chức thành Toronto, hiện là thành phố đông dân nhất tại Canada. 1869 – Nhà hóa học Dmitri Mendeleev trình bày Bảng tuần hoàn đầu tiên trước Hội Hóa học Nga. 1902 – Câu lạc bộ bóng đá Tây Ban Nha Real Madrid được chính thức thành lập. 1946 – Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký kết Hiệp định sơ bộ, công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp. == Sinh == 1459 - Jacob Fugger, chủ ngân hàng người Đức (m. 1525) 1475 - Michelangelo, nghệ sĩ người Ý (m. 1564) 1483 - Francesco Guicciardini, chính khách, sử gia người Ý (m. 1540) 1495 - Luigi Alamanni, nhà thơ người Ý (m. 1556) 1619 - Cyrano de Bergerac, người lính, nhà thơ người Pháp (m. 1655) 1706 - George Pocock, đô đốc người Anh (m. 1792) 1716 - Pehr Kalm, nhà thám hiểm, nhà tự nhiên học người Thụy Điển (m. 1779) 1761 - Antoine-Francois Andreossy, tướng người Pháp (m. 1828) 1779 - Antoine-Henri Jomini, tướng người Pháp (m. 1869) 1787 - Joseph von Fraunhofer, nhà vật lý người Đức (m. 1826) 1806 - Elizabeth Barrett Browning, nhà thơ người Anh (m. 1861) 1882 - F. Burrall Hoffman, kiến trúc sư người Mỹ (m. 1980) 1885 - Ring Lardner, nhà văn người Mỹ (m. 1933) 1893 - Furry Lewis, nhạc blues nghệ sĩ đàn ghita người Mỹ (m. 1981) 1900 - Lefty Grove, vận động viên bóng chày người Mỹ (m. 1975) 1904 - Joseph Schmidt, người hát giọng nam cao người Áo (m. 1942) 1905 - Bob Wills, ca sĩ người Mỹ (m. 1975) 1906 - Lou Costello, diễn viên diễn viên hài người Mỹ (m. 1959) 1914 - Kiril Kondrashin, người chỉ huy dàn nhạc người Nga (m. 1981) 1915 - Pete Gray, vận động viên bóng chày người Mỹ (m. 2002) 1917 - Will Eisner, người minh họa, người vẽ tranh biếm hoạ người Mỹ (m. 2005) 1917 - Frankie Howerd, diễn viên hài người Anh (m. 1992) 1925 - Wes Montgomery, nhạc sĩ người Mỹ (m. 1968) 1926 - Alan Greenspan, nhà kinh tế học người Mỹ 1926 - Andrzej Wajda, đạo diễn phim người Ba Lan 1927 - Gabriel García Márquez, nhà văn, giải thưởng Nobel người Colombia 1927 - Gordon Cooper, nhà du hành vũ trụ (m. 2004) 1930 - Lorin Maazel, Mỹ người chỉ huy dàn nhạc người Pháp 1931 - Hal Needham, diễn viên đóng thế người Mỹ 1933 - Ted Abernathy, vận động viên bóng chày người Mỹ (m. 2004) 1934 - John Noakes, người dẫn chương trình truyền hình người Anh 1935 - Ron Delany, vận động viên người Ireland 1936 - Bob Akin, nhà tư bản công nghiệp, người lái xe đua người Mỹ (m. 2002) 1936 - Marion Barry Jr., chính khách người Mỹ 1936 - Jean Boht, nữ diễn viên người Anh 1939 - Adam Osborne, tác gia, máy tính nhà thiết kế người Anh (m. 2003) 1940 - Joanna Miles, nữ diễn viên người Mỹ 1940 - Willie Stargell, vận động viên bóng chày (m. 2001) 1942 - Ben Murphy, diễn viên người Mỹ 1944 - Kiri Te Kanawa, ca sĩ người New Zealand 1944 - Mary Wilson, ca sĩ người Mỹ 1945 - Khánh Ly, nữ ca sĩ Việt Nam 1947 - Kiki Dee, ca sĩ người Anh 1947 - Dick Fosbury, vận động viên người Mỹ 1947 - Anna Maria Horsford, nữ diễn viên người Mỹ 1947 - Martin Kove, diễn viên người Mỹ 1947 - Teru Miyamoto, tác gia người Nhật Bản 1947 - Rob Reiner, diễn viên, diễn viên hài, nhà sản xuất phim người Mỹ 1949 - Shaukat Aziz, thủ tướng Pakistan 1949 - Martin Buchan, cầu thủ bóng đá người Scotland 1951 - Gerrie Knetemann, vận động viên xe đạp người Đức (m. 2004) 1953 - Jan Kjærstad, tác gia người Na Uy 1953 - Jacklyn Zeman, nữ diễn viên người Mỹ 1955 - Alberta Watson, nữ diễn viên người Canada 1958 - Eddie Deezen, diễn viên người Mỹ 1959 - Saul Anuzis, chính khách người Mỹ 1959 - Tom Arnold, diễn viên, diễn viên hài người Mỹ 1959 - Michael Carmine, diễn viên người Mỹ (m. 1989) 1963 - D.L. Hughley, diễn viên hài, diễn viên người Mỹ 1964 - Madonna Wayne Gacy, nhạc sĩ người Mỹ 1966 - Alan Davies, diễn viên hài, diễn viên người Anh 1967 - Connie Britton, nữ diễn viên người Mỹ 1968 - Moira Kelly, nữ diễn viên người Mỹ 1969 - Andrea Elson, nữ diễn viên người Mỹ 1969 - Tari Phillips, cầu thủ bóng rổ người Mỹ 1969 - Amy Pietz, nữ diễn viên người Mỹ 1970 - Shane Brolly, diễn viên người Anh 1970 - Betty Boo, ca sĩ người Anh 1971 - Sean Morley, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ 1971 - Darrick Martin, cầu thủ bóng rổ người Mỹ 1972 - Terry Murphy, người chơi bi da người Bắc Ireland 1972 - Shaquille O'Neal, cầu thủ bóng rổ người Mỹ 1973 - Michael Finley, cầu thủ bóng rổ người Mỹ 1974 - Sebastian Siegel, diễn viên người Anh 1975 - Aracely Arambula, nữ diễn viên, ca sĩ người México 1976 - Ken Anderson, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ 1977 - Giorgos Karagounis, cầu thủ bóng đá người Hy Lạp 1977 - Marcus Thames, vận động viên bóng chày người Mỹ 1978 - Sage Rosenfels, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1978 - Lara Cox, nữ diễn viên người Úc 1979 - David Flair, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ 1979 - Erik Bedard, vận động viên bóng chày người Canada 1981 - Ellen Muth, nữ diễn viên người Mỹ 1983 - Andranik Teymourian, cầu thủ bóng đá người Iran 1984 - Becky, người dẫn chuyện giải trí người Nhật Bản 1985 - Albert Reed, người mẫu, người Mỹ 1986 - Eli Marienthal, diễn viên người Mỹ 1987 - Hannah Taylor-Gordon, nữ diễn viên người Anh 1988 - Agnes Carlsson, Ca sĩ người Thụy Điển 1992 - Tsugunaga Momoko, ca sĩ người Nhật Bản 1996 - Savanah Stehlin, nữ diễn viên người Mỹ == Mất == 1252 - Saint Rose of Viterbo, người được phong thánh người Ý (s. 1235) 1627 - Krzysztof Zbaraski, chính khách người Ba Lan (s. 1580) 1754 - Henry Pelham, thủ tướng Anh (s. 1694) 1796 - Guillaume Thomas François Raynal, nhà văn người Pháp (s. 1713) 1836 - Jim Bowie, người đi đầu trong lĩnh vực, người lính người Mỹ (s. 1796) 1860 - Justus Johann Friedrich Dotzauer, nghệ sĩ vĩ cầm, nhà soạn nhạc người Đức (s. 1783) 1888 - Louisa May Alcott, tiểu thuyết gia người Mỹ (s. 1832) 1895 - Camilla Collett, nhà văn, người theo thuyết nam nữ bình quyền người Na Uy (s. 1813) 1900 - Gottlieb Daimler, kĩ sư, nhà tư bản công nghiệp người Đức (s. 1834) 1933 - Anton Cermak, thị trưởng Chicago (s. 1873) 1939 - Ferdinand von Lindemann, nhà toán học người Đức (s. 1852) 1941 - Gutzon Borglum, nhà điêu khắc người Đan Mạch (s. 1867) 1950 - Albert Lebrun, tổng thống Pháp (s. 1871) 1951 - Ivor Novello, diễn viên, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc Wales (s. 1893) 1951 - Volodymyr Vynnychenko, chính khách, chính khách người Ukraina (s. 1880) 1961 - George Formby, diễn viên hài, ca sĩ người Anh (s. 1904) 1965 - Margaret Dumont, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1889) 1967 - John Haden Badley, tác gia, nhà sư phạm người Anh (s. 1865) 1967 - Nelson Eddy, ca sĩ, diễn viên người Mỹ (s. 1901) 1967 - Zoltán Kodály, nhà soạn nhạc người Hungary (s. 1882) 1969 - Nadya Rusheva, họa sĩ người Nga (s. 1952) 1970 - William Hopper, diễn viên người Mỹ (s. 1915) 1973 - Pearl S. Buck, nhà văn, giải thưởng Nobel người Mỹ (s. 1892) 1976 - Max 'Slapsie Maxie' Rosenbloom, võ sĩ quyền Anh, diễn viên người Mỹ (s. 1903) 1981 - George Geary, cầu thủ cricket người Anh (s. 1893) 1982 - Ayn Rand, tác gia người Nga (s. 1905) 1984 - Henry Wilcoxon, diễn viên người Dominica (s. 1905) 1986 - Georgia O'Keeffe, nghệ sĩ người Mỹ (s. 1887) 1997 - Cheddi Jagan, tổng thống Guyana (s. 1918) 1997 - Michael Manley, thủ tướng Jamaica (s. 1924) 1998 - Frank Barrett, vận động viên bóng chày người Mỹ (s. 1913) 1999 - Dennis Viollet, cầu thủ bóng đá nguyên (s. 1933) 2000 - John Colicos, diễn viên người Canada (s. 1928) 2001 - Kim Walker, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1968) 2002 - Bryan Fogarty, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Canada (s. 1969) 2003 - John Sanford, tác gia người Mỹ (s. 1904) 2004 - Frances Dee, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1909) 2004 - Ray Fernandez, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ (s. 1957) 2005 - Hans Bethe, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Đức (s. 1906) 2005 - Danny Gardella, vận động viên bóng chày người Mỹ (s. 1920) 2005 - Teresa Wright, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1918) 2006 - Anne Braden, nhà đấu tranh cho nhân quyền người Mỹ (s. 1924) 2006 - King Floyd, nhạc sĩ người Mỹ (s. 1945) 2006 - Kirby Puckett, vận động viên bóng chày người Mỹ (s. 1960) 2007 - Ernest Gallo, nhà sản xuất rượu nho, người Mỹ (s. 1909) == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
1777.txt
1777 (MDCCLXXVII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Tư của lịch Gregory (hay một năm thường bắt đầu vào Chủ Nhật, chậm hơn 11 ngày, theo lịch Julius). == Sự kiện == === Tháng 1 === 3 tháng 1 - Cách mạng Hoa Kỳ: tướng Mỹ George Washington đánh bại tướng Anh Charles Cornwallis tại trận Princeton. 12 tháng 1 - Phái đoàn truyền giáo Santa Clara de Asís được thành lập ở nơi ngày nay là Santa Clara, California. 15 tháng 1 - Vermont tuyên bố độc lập khỏi tiểu bang New York và trở thành một nước độc lập, một vị thế mà Vermont có được cho đến khi gia nhập làm bang thứ 14 của Hoa Kỳ vào năm 1791. === Tháng 3 === Nguyễn Huệ mang thủy quân tiến công Gia Định. === Tháng 9 === Nguyễn Huệ bao vây Ba Việt bắt sống chúa Nguyễn Phúc Dương và toàn bộ tướng sĩ. === Tháng 10 === Quân Tây Sơn bắt Nguyễn Phúc Thuần và xử tử cùng với Nguyễn Phúc Dương. === Tháng 11 === Nguyễn Ánh tập hợp lực lượng khởi binh đánh Tây Sơn. === Tháng 12 === Nguyễn Ánh cùng tổng đốc Châu tái chiếm Gia Định. == Sinh == Điện Đô vương Trịnh Cán - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài nước Đại Việt (mất 1782) == Mất == Định vương Nguyễn Phúc Thuần - chúa Nguyễn ở Đàng Trong nước Đại Việt (sinh 1754) Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương - chúa Nguyễn ở Đàng Trong nước Đại Việt == Xem thêm == == Tham khảo ==
bảng xếp hạng ước lượng tuổi thọ khi sinh theo quốc gia.txt
Sau đây là bảng xếp hạng các quốc gia trên thế giới theo ước lượng tuổi thọ khi sinh (tiếng Anh: Life Expectancy at Birth) - nghĩa là trung bình số năm một nhóm người sinh cùng năm hy vọng sẽ sống qua (với giả dụ là điều kiện sống và chết giống nhau). Bảng này dựa theo Báo cáo Phỏng đoán Dân số Thế giới của Liên Hiệp Quốc cho năm 2005-2010.. Những lãnh thổ có dân số ít hơn 100.000 không được kể. == Danh sách các nước theo tuổi thọ kỳ vọng == Kỳ vọng sống (nam lẫn nữ) đến tuổi thọ cao nhất (82,6 tuổi) ở Nhật Bản tụt xuống thấp nhất ở Swaziland (39,2). Những quốc gia ít có kỳ vọng sống lâu như Swaziland, Botswana, Lesotho, Zimbabwe, Zambia, Mozambique, Malawi, Nam Phi, Cộng hòa Trung Phi, Namibia, và Guinea-Bissau là do ảnh hưởng bởi bệnh HIV/AIDS. Ngoài ra, những quốc gia có số trẻ sơ sinh chết sớm quá cao sẽ có số kỳ vọng sống thấp, mặc dù thống kê không tính những trẻ em sống sót qua năm đầu tiên. Danh sách các nước theo tuổi thọ kỳ vọng cập nhật từ các nguồn UN 2009–2012: UN World Population Prospects, The 2010 Revision, nhưng có bổ sung thêm từ "CIA. The World Factbook: Life Expectancy", 2012. WHO 2013: Tổ chức Y tế Thế giới WHO, số liệu năm 2013, công bố năm 2015. CIA FB 2014: CIA The World Factbook, 2014. == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Tuổi thọ Lists of countries and territories Danh sách các nước theo tỷ lệ sinh Danh sách các quốc gia theo tốc độ tăng trưởng dân số Danh sách các nước theo tuổi trung bình == Liên kết ngoài ==
tiếng tương.txt
Tương ngữ (chữ Hán: 湘语, phồn thể: 湘語), còn gọi là tiếng Hồ Nam (chữ Hán: 湖南话 - Hồ Nam thoại), là một trong các phương ngữ tiếng Trung, được dùng tại các tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Thiểm Tây. Tiếng Tương có vai trò quan trọng trong lịch sử Trung Quốc hiện đại, đặc biệt như phong trào Tự Cường (自强運動), một trăm ngày Duy Tân (百日維新), Cách mạng Tân Hợi, Quốc-Cộng nội chiến lần thứ hai. Một số nhân vật nói tiếng Tương (tiếng Hồ Nam) nổi tiếng như Mao Trạch Đông, Tả Tông Đường, Hoàng Hưng,... == Lịch sử == === Cổ đại === Thời Tần và Hán, phía Đông tỉnh Hồ Nam là nước Trường Sa. Người dân nơi đó nói tiếng Nam Chu, tổ tiên của tiếng Tương ngày nay. === Trung đại và hiện đại === Thời Đường, di dân phương Bắc tiếp tục di cư đến Hồ Nam. Tới thời Nguyên, phong trào khởi nghĩa của nông dân làm thiệt hại dân số Hồ Nam. Thời Minh, dân nói tiếng Cám từ Giang Tây di cư nhiều tới Hồ Nam làm tiếng Tương bị ảnh hưởng, phát sinh ra tiếng Tân Tương ở phía Bắc Hồ Nam. Huyện Toàn Châu ở địa cấp thị Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây xưa kia thuộc tỉnh Hồ Nam. Thời Minh, huyện này bị chia sang tỉnh Quảng Tây, khiến Toàn Châu trở thành huyện có nhiều người nói tiếng Tương ở Quảng Tây. == Phân loại == Tiếng Tương bị ảnh hưởng bởi tiếng Quan thoại khá mạnh. Bên cạnh đó, nó bị chia làm tiếng Tương mới (màu xanh lam) với phương ngữ đại diện là tiếng Trường Sa; tiếng Tương cũ (màu vàng đậm) với phương ngữ đại diện là tiếng Song Phong. == Tham khảo ==
thể dục nhịp điệu.txt
Thể dục nhịp điệu là môn thể dục vận động các động tác theo nhạc một cách nhịp nhàng và uyển chuyển. Tác dục của thể dục nhịp điệu giúp cơ thuể phát triển khỏe mạnh, trí lực tinh thông, làm việc hiệu quả. Khả năng dẻo dai và bền sức cũng được khơi thông khi tập thể dục nhịp điệu thường xuyên. Thể dục nhịp điệu mầm non dành cho các bé trường mầm non, học tập tại trường, nâng cao khả năng múa hát và vận động, khả năng nghe nhạc nhịp nhàng, đẩy lùi được căng bệnh béo phì, lười vận động, tự kỷ. == Tham khảo ==
pailin.txt
Pailin là thành phố trực thuộc trung ương của Campuchia. Thành phố nằm phía tây đất nước, giáp giới với Thái Lan. Thành phố có diện tích 803 km², dân số năm 1998 là 22.906 người. Pailin từng là một trung tâm hậu cần và căn cứ của Khmer Đỏ. Khu vực xung quanh giàu mỏ đá quý và đã bị khai thác đến cạn kiệt để cung cấp cho chế độ Khmer Đỏ. Khi đến đây, du khách có thể mua đá quý loại rẻ tiền, chất lượng thấp ở chợ trung tâm Pailin. Pailin tọa lạc tại khu vực bị khai khoáng nặng nề nhất thế giới. Khách lữ hành thường được lưu ý cẩn thận bằng các biển báo trên đường đi. Các hoạt động dò phá bom mìn ở thành phố này bởi người nước ngoài là cơ hội hiếm hoi cho cư dân ở đây được thấy người nước ngoài. Công dân thành phố này chấp nhận các loại tiền như baht, riel và đô la Mỹ; họ ưa thích đô la Mỹ. Cho đến 2001, Pailin là một phần của tỉnh Battambang nhưng sau đó được nâng cấp lên thành phố ngang cấp tỉnh. Thành phố Pailin chia thành hai quận: 2401 Pailin (ប៉ៃលិន) 2402 Sala Krau (សាលាក្រៅ) == Tham khảo ==
châu á.txt
Châu Á hay Á Châu là châu lục lớn nhất và đông dân nhất thế giới nằm ở Bắc bán cầu và Đông bán cầu. châu Á chiếm 8.6% tổng diện tích bề mặt Trái Đất (chiếm 29.9% diện tích mặt đất) và có 4 tỉ người, chiếm 60% dân số hiện nay của thế giới. Sự phân chia ranh giới giữa châu Á và châu Phi là eo đất Suez (mặc dù bán đảo Sinai, một phần của Ai Cập, nằm về phía đông của kênh đào này thông thường về mặt địa lý-chính trị được coi là một phần của châu Phi). Ranh giới giữa châu Á và châu Âu chạy qua eo biển Dardanelles, biển Marmara, eo biển Bosphorus, tới Biển Đen, dãy núi Kavkaz, Biển Caspi, dọc theo dãy núi Ural tới Biển Kara của Nga. Châu Á, khi được xem xét theo khía cạnh chính trị, bao gồm một phần của đại lục Á-Âu và các quần đảo gần kề trong Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, và thông thường không bao gồm Nga. Một số quốc gia châu Á có lãnh thổ vượt ra ngoài châu Á. == Từ nguyên == Tên gọi trong tiếng Việt của châu Á bắt nguồn từ tên gọi tiếng Trung “亞洲” (âm Hán Việt: Á châu). Chữ “Á” 亞 trong “Á châu” 亞洲 là gọi tắt của “Á Tế Á” 亞細亞. “Á Tế Á” 亞細亞 là phiên âm tiếng Trung của danh xưng tiếng Bồ Đào Nha “Asia”. Từ “Asia” trong tiếng Bồ Đào Nha bắt nguồn từ tên gọi tiếng La-tinh “Asia”. Từ "Asia" lại bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại Ασία (Asia), lần đầu tiên được chứng thực ở Herodotus, ở đó nó được nói đến như là Tiểu Á, hoặc trong các kết quả của các cuộc chiến tranh Ba Tư, đối với đế chế Ba Tư như là sự tương phản với Hy Lạp và Ai Cập. Homer đã biết đồng minh của người Troia (Tờ roa) có tên gọi là Asios, con trai của Hyrtacus, một người cai trị nhiều thành thị. Thuật ngữ Hy Lạp có lẽ có từ Assuwa, liên minh của nhiều quốc gia vào thế kỷ 14 TCN ở Anatolia cổ đại. Trong tiếng Hittite assu- "tốt" có lẽ là một thành phần trong tên gọi này. Ngoài ra, ngôn từ cơ bản của thuật ngữ này có thể có nguồn gốc từ chữ asu trong tiếng Akkad, có nghĩa là "đi ra ngoài" hay "mọc", ám chỉ tới hướng của Mặt Trời khi nó mọc ở Trung Đông. So sánh giả thiết này với giả thiết về ngôn từ học của châu Âu trong tiếng Semit erebu "lặn" có thể thấy lý do đặt tên của châu Á và Châu Âu là sự tương phản với nhau, tương tự như các thuật ngữ orient và occident (tên gọi của Anatolia và Levant cũng là dấu hiệu của "mặt trời mọc"). Tuy được viện dẫn nhiều nhưng giả thuyết này bị phản đối do thực tế là Anatolia ở Akkad hoặc Semit nói chung không nằm ở phía đông. == Ranh giới == === Người Hy Lạp === Người Hy Lạp cổ đại đã phân định ranh giới rõ ràng giữa châu Âu và châu Á, là biển Aegea, Dardanelles, biển Marmara, Bosporus, biển Đen, eo biển Kerch, và biển Azov. Sông Nile đã từng được sử dụng làm ranh giới giữa châu Á và châu Phi (lúc đó được gọi là Libya), mặc dù một số nhà địa lý Hy Lạp đề nghị ranh giới này là biển Đỏ thì tốt hơn. === Châu Á - châu Đại Dương === Ranh giới giữa châu Á và châu Đại Dương được xem là thuộc quần đảo Malay. Thuật ngữ Đông Nam Á và châu Đại Dương được tách ra vào thế kỷ 19 do có sự khác biệt lớn về ý mặt địa lý. Đặc điểm chính để xác định các đảo nào của quần đảo Malay thuộc châu Á là vị trí của quá trình thuộc địa hóa của nhiều đế chế khác nhau tại đây (không phải hoàn toàn từ châu Âu). Lewis và Wigen viết rằng "sự thu hẹp của 'Đông Nam châu Á' đến ranh giới hiện tại đã diễn ra từ từ." == Địa lý == Châu Á tự nó được phân chia thành các bộ phận khu vực như sau: Bắc Á Trung Á Đông Á (hay Viễn Đông) Đông Nam Á Nam Á (hay tiểu lục địa Ấn Độ) Tây Nam Á (hay Tây Á) === Bắc Á === Thuật ngữ này ít được các nhà địa lý sử dụng, và thông thường nó được nhắc đến để chỉ phần châu Á lớn hơn của Nga, còn được biết đến như là Siberi. Đôi khi các phần miền bắc của các quốc gia châu Á khác, như Kazakhstan cũng được tính vào Bắc Á. Khu vực này bao gồm: Liên Bang Nga (phía đông dãy Uran) Mông Cổ === Trung Á (Trung Đông) === Không có sự nhất trí tuyệt đối trong sử dụng thuật ngữ này. Thông thường, Trung Á bao gồm: Các nước cộng hòa Trung Á như Kazakhstan (trừ phần nhỏ lãnh thổ thuộc châu Âu), Uzbekistan, Tajikistan, Turkmenistan và Kyrgyzstan. Afghanistan, Mông Cổ và các khu vực phía tây của Trung Quốc đôi khi cũng được tính trong khu vực này. Các nước cộng hòa Xô viết cũ nằm trong khu vực Kavkaz. Trung Á hiện nay là quan trọng về địa lý chính trị do các tranh chấp và mâu thuẫn quốc tế về các ống dẫn dầu, Nagorno-Karabakh và Chechnya cũng như là sự có mặt của quân đội Mỹ tại Afghanistan. === Đông Bắc Á/Đông Á === Khu vực này bao gồm: Các quần đảo trên Thái Bình Dương của Đài Loan và Nhật Bản. Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc trên bán đảo Triều Tiên. Trung Quốc, nhưng đôi khi chỉ tính các khu vực miền đông. === Đông Nam Á === Khu vực này bao gồm bán đảo Mã Lai, Bán đảo Trung-Ấn và các đảo trong Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Các quốc gia nằm ở đây bao gồm: Ở Đông Nam Á đại lục có các quốc gia Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Ở Đông Nam Á đại dương có các quốc gia Malaysia, Brunei, Philippines, Singapore, Brunei và Indonesia (một phần của quần đảo Indonesia cũng nằm trong khu vực Melanesia của châu Đại Dương). Đông Timor (cũng thuộc Melanesia) đôi khi cũng được tính vào đây. Nước Malaysia bị chia thành hai phần qua biển Đông và vì thế có cả hai phần: lục địa và hải đảo. === Nam Á (tiểu lục địa Ấn Độ) === Nam Á còn được nói đến như là tiểu lục địa Ấn Độ. Nó bao gồm: Các quốc gia Himalaya gồm Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Bhutan và Bangladesh. Các quốc gia Ấn Độ Dương gồm Sri Lanka và Maldives. === Tây Nam Á (Tây Á) === Cũng được gọi là Trung Đông hay Trung Cận Đông. Trung Đông thông thường cũng được sử dụng để chỉ một số quốc gia ở Bắc Phi (trong một số diễn giải). Tây Nam Á có thể chia nhỏ thành: Anatolia (tức Tiểu Á), bao gồm phần châu Á của Thổ Nhĩ Kỳ. Quốc gia quần đảo Cộng hòa Síp trong Địa Trung Hải. Levant hay Cận Đông bao gồm Syria, Israel, Jordan, Liban, Iraq và phần châu Á của Ai Cập. Bán đảo Ả Rập bao gồm Ả Rập Saudi, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Bahrain, Qatar, Oman, Yemen và thỉnh thoảng là cả Kuwait. Khu vực Kavkaz bao gồm Armenia, một phần nhỏ của Nga và gần như toàn bộ Gruzia và Azerbaijan. Cao nguyên Iran bao gồm Iran và các phần của các quốc gia lân cận. == Kinh tế == Bài chính: Kinh tế châu Á Châu Á có GDP danh nghĩa lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau châu Âu, nhưng lại là lớn nhất khi được tính bằng sức mua tương đương (PPP). Trong những năm gần đây theo GDP (PPP) thì châu Á những nền kinh tế lớn nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc và Indonesia. Vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã phát triển vượt bậc, cả hai có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 8%. Các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao các năm gần đây ở châu Á bao gồm: Israel, Malaysia, Indonesia, Bangladesh, Pakistan, Thái Lan, Việt Nam, Mông Cổ, Uzbekistan, Síp, Philippines, các nước giàu khoáng sản như Kazakhstan, Turkmenistan, Iran, Brunei, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Qatar, Kuwait, Ả Rập Saudi, Bahrain và Oman. Theo GDP (PPP) thì Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới sau nền kinh tế của EU và Mỹ, tiếp theo là Nhật Bản và Ấn Độ với vị trí thứ tư và thứ năm (sau đó là các quốc gia trong EU: Đức, Anh Quốc, Pháp và Ý). Theo thuật ngữ của tỷ giá hối đoái thì Nhật Bản lại là nền kinh tế lớn nhất ở châu Á và là thứ ba trên thế giới. Hàn Quốc cũng là một trong những nền kinh tế lớn của châu Á, trong khi Bắc Triều Tiên lại là một trong những nước nghèo nhất. Theo dự đoán của các chuyên gia thì GDP danh nghĩa của Ấn Độ sẽ vượt Nhật Bản vào năm 2020 . Đến năm 2027, theo Goldman Sachs, Trung Quốc sẽ là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Một số khối thương mại tồn tại, với sự phát triển nhất là Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á. Các khối thương mại: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) Thỏa thuận cộng tác kinh tế gần (CEPA) Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS/СНГ) Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực (SAARC) Hiệp định Thương mại Tự do Nam Á (SAFTA) (dự thảo) === Các nguồn tài nguyên thiên nhiên === Châu Á theo ranh giới (được cho là như thế) là lục địa lớn nhất thế giới và nó rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như dầu mỏ và sắt. Với năng suất cao trong nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất lúa gạo, đã cho phép mật độ dân số cao của các quốc gia trong các khu vực nóng ẩm. Các sản phẩm nông nghiệp chính còn có lúa mì và thịt gà. Lâm nghiệp cũng phát triển trong phạm vi rộng của châu Á, ngoại trừ khu vực Trung và Tây Nam Á. Nghề cá là một nguồn chủ yếu cung cấp thực phẩm ở châu Á, cụ thể là ở Nhật Bản. === Công nghiệp === Sản xuất công nghiệp ở châu Á theo truyền thống là mạnh nhất ở khu vực Đông và Đông Nam Á, cụ thể là ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Các ngành nghề công nghiệp dao động từ sản xuất các mặt hàng rẻ tiền như đồ chơi tới các mặt hàng công nghệ cao như máy tính và ô tô. Nhiều công ty ở châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản có các sự hợp tác đáng kể ở châu Á đang phát triển để tận dụng các lợi thế so sánh về sức lao động rẻ tiền. Một trong các lĩnh vực chính của sản xuất công nghiệp ở châu Á là công nghiệp may mặc. Phần lớn việc cung cấp quần áo và giày dép hiện nay của thế giới có nguồn gốc từ Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á. === Tài chính và các dịch vụ khác === Châu Á có 3 trung tâm tài chính lớn. Chúng nằm ở Hồng Kông, Singapore và Tokyo. Các trung tâm mới nổi ở Ấn Độ hay Trung Quốc là do sự bùng nổ về sản xuất công nghiệp theo hình thức gia công ở các quốc gia này cũng như sự có được của nhiều người trẻ có học vấn cao và nói tiếng Anh == Lịch sử sơ kỳ == Bài chính: Lịch sử châu Á Lịch sử châu Á có thể được xem xét như là các lịch sử riêng biệt của một số vùng ngoại biên ven biển như Đông Á, Nam Á và Trung Đông được liên kết bằng các vùng thảo nguyên Á-Âu lớn bên trong. Những vùng ngoại biên ven biển có thể coi như là quê hương của các nền văn minh, với mỗi nền văn minh trong ba khu vực này đã phát triển rất sớm quanh lưu vực các con sông màu mỡ. Các nền văn minh ở Lưỡng Hà, lưu vực sông Ấn và Hoàng Hà chia sẻ nhiều điểm tương đồng và có lẽ đã trao đổi với nhau các ý tưởng và công nghệ chẳng hạn như toán học và bánh xe. Các khái niệm khác như khái niệm về chữ viết có lẽ đã phát triển riêng biệt trong từng khu vực. Các thành thị, nhà nước và đế chế đã phát triển trong các vùng đất thấp này. Khu vực thảo nguyên đã có thời gian dài là nơi sinh sống của các bộ lạc dân cư miền núi, và từ các thảo nguyên trung tâm thì họ có thể đi tới tất cả các khu vực khác của châu Á. Sự mở rộng như thế ra ngoài các thảo nguyên sớm nhất được biết là của người Ấn-Âu, những người đã truyền bá ngôn ngữ của mình tới Trung Đông, Ấn Độ và tới người Tochari ở biên giới Trung Quốc. Phần phía bắc của châu Á, phần lớn là vùng Siberi, đã là không thể đi tới được đối với những người dân du mục vùng thảo nguyên do mật độ dày của rừng cũng như các lãnh nguyên. Các khu vực này có rất ít dân cư. Khu vực trung tâm và ngoại biên đã bị cách biệt là do các dãy núi và các sa mạc. Các dãy núi như dãy Kavkaz, dãy Himalaya hay sa mạc Karakum và sa mạc Gobi tạo ra các cản trở chính làm cho những kỵ binh du mục rất khó khăn trong việc vượt qua chúng. Về mặt kỹ thuật và văn hóa thì những người sống ở các khu vực đồng bằng và đô thị là có ưu thế hơn nhưng về quân sự thì họ làm được ít hơn để bảo vệ khu vực sinh sống và chống lại các bộ lạc du cư miền núi. Tuy nhiên, các vùng đất thấp có rất ít đồng cỏ để duy trì một lượng lớn ngựa. Vì thế các bộ lạc đã xâm lăng các quốc gia ở Trung Quốc, Ấn Độ và Trung Đông khi đó đã sớm phải học cách làm quen với sinh hoạt của cộng đồng địa phương. Toàn bộ Ai Cập, Nga, Kazakhstan, Gruzia, Azerbaijan và Thổ Nhĩ Kỳ được nói đến trong bảng này, mặc dù các nước này chỉ có một phần nằm ở châu Á. == Các quốc gia và vùng lãnh thổ == === Dân số châu Á trong tương lai === Nguồn:World Population Review,http://worldpopulationreview.com/continents/asia-population/ Ghi chú: Một phần của Ai Cập (Bán đảo Sinai) thuộc về Tây Á về mặt địa lý. == Tôn giáo == Phần lớn dân số thế giới theo các niềm tin tôn giáo khởi nguồn từ châu Á. Các tôn giáo lớn trên thế giới hầu hết đều khởi nguồn từ châu Á và với phần lớn những người theo ngày nay đang sống ở châu Á bao gồm: Baha'i giáo, khởi nguồn ở Israel vào giữa thế kỷ 19. Phật giáo, khởi nguồn ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN. Ấn giáo, khởi nguồn ở Ấn Độ vào khoảng 1500 năm TCN. Hồi giáo, khởi nguồn ở Ả Rập Xê Út vào thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên. Jaina giáo, khởi nguồn ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN. Đạo Shinto, khởi nguồn ở Nhật Bản trước Công nguyên. Đạo Sikh, khởi nguồn ở Ấn Độ vào thế kỷ 15. Nho giáo, khởi nguồn ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 6 TCN. Đạo giáo, khởi nguồn ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5 hoặc thế kỷ thứ 6 TCN. Hỏa giáo, khởi nguồn ở Iran khoảng hơn 1000 năm trước Công Nguyên. Cao Đài giáo, khởi nguồn ở Việt Nam vào năm 1926 của thế kỷ 20. Đạo Hòa Hảo, khởi nguồn ở Việt Nam vào năm 1939 của thế kỷ 20 và được xem là một nhánh của Tịnh Độ tông, Việt Nam. Kitô giáo, khởi nguồn ở Israel vào những năm đầu Công Nguyên. Sau này Kitô giáo bị phân rẽ ra thành ba nhánh chính: Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương và Kháng Cách. Do Thái giáo, khởi nguồn ở Israel khoảng năm 2000 trước Công nguyên. == Xem thêm == Danh sách các quốc gia châu Á theo GDP danh nghĩa 2012 Danh sách các quốc gia châu Á theo GDP danh nghĩa 2009 Danh sách các quốc gia châu Á theo nội tệ Danh sách các quốc gia châu Á theo ngôn ngữ chính thức Danh sách các quốc gia châu Á theo diện tích Danh sách các quốc gia châu Á theo chiều dài đường bờ biển Danh sách các quốc gia châu Á theo tỉ lệ mặt nước Assuwa Tiểu Á == Tham khảo == == Tài liệu == Lewis, Martin W.; Wigen, Kären (1997), The myth of continents: a critique of metageography, Berkeley and Los Angeles: University of California Press, ISBN 0-520-20743-2 Ventris, Michael; Chadwick, John (1973). Documents in Mycenaean Greek (ấn bản 2). Cambridge: University Press. == Liên kết ngoài == Châu Á tại Từ điển bách khoa Việt Nam Châu Á tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Các bản đồ châu Á Bản đồ tự do Allo' Expat (tiếng Đức) Asia zone
skype.txt
Skype (phiên âm quốc tế: [skɪp]) là một mạng điện thoại Internet ngang hàng được thành lập bởi Niklas Zennström và Janus Friis, cũng là những người thành lập ra ứng dụng chia sẻ tập tin Kazaa và ứng dụng truyền hình ngang hàng Joost. Nó cạnh tranh với những giao thức VoIP mở hiện nay như SIP, IAX, và H.323. Skype Group, đã được mua lại với giá 2,6 tỉ $ bởi eBay vào tháng 9 năm 2005, có trụ sở đặt tại Luxembourg, với các văn phòng đại diện ở London, Tallinn, Praha và San Jose, California. Skype đã phát triển nhanh chóng về cả lượng người dùng và phát triển phần mềm từ khi ra mắt, cả dịch vụ miễn phí và dịch vụ trả tiền. Hệ thống liên lạc Skype nổi bật nhờ các tính năng thuộc nhiều lĩnh vực, bao gồm hội nghị thoại và hình ảnh miễn phí, khả năng sử dụng công nghệ (phân bố) ngang hàng để vượt qua vấn đề về tường lửa và NAT, sử dụng kỹ thuật mã hóa mạnh và trong suốt và khả năng cực mạnh chống lại việc biên dịch ngược phần mềm hay giao thức. Ngày 10 tháng 5 năm 2011, tập đoàn Microsoft đã mua lại Skype với giá US$8,5 tỷ. == Hệ thống và Phần mềm == === Công nghệ === Điểm khác nhau chủ yếu giữa Skype và các chương trình VoIP đó là Skype hoạt động theo mô hình mạng ngang hàng, chứ không theo mô hình chủ-khách truyền thống. Thư mục người dùng của Skype hoàn toàn phân rã và phân bố trên các node mạng, điều đó có nghĩa là mạng có thể mở rộng dễ dàng (tính đến thời điểm hiện tại đã có trên 300 triệu người dùng trên toàn thế giới và trong năm 2012 đã có hơn 3 tỉ giờ gọi qua Skype) mà không đòi hỏi một cơ sở hạ tầng tập trung phức tạp và đắt tiền. Skype cũng tìm đường cho các cuộc gọi thông qua những máy ngang hàng để dễ vượt qua NAT đối xứng và tường lửa. Tuy nhiên, điều này đặt thêm một gánh nặng cho người nào kết nối Internet mà không có NAT, vì băng thông của máy tính và mạng của họ được dùng để tìm đường cho các cuộc gọi của người dùng khác. Giao diện lập trình ứng dụng (API) của chương trình Skype mở mạng cho những nhà phát triển phần mềm. Skype API cho phép các chương trình khác sử dụng mạng Skype để lấy thông tin "trang trắng" và quản lý cuộc gọi. Mã nguồn của Skype là mã nguồn đóng, và giao thức không được chuẩn hóa. Giao diện người dùng Windows được phát triển bằng Pascal sử dụng Delphi, phiên bản Linux được viết bằng C++ với Qt, và phiên bản Mac OS X được viết bằng Objective-C với Cocoa. Vài phần của chương trình sử dụng Internet Direct (Indy), một thư viện truyền socket mã nguồn mở. === Bảo mật === Giao tiếp an toàn là một đặc tính của Skype. Việc mã hóa không thể bật hoặc tắt. Người dùng không có vai trò trong quá trình mã hóa và do đó không phải động tới vấn đề hạ tầng khóa công cộng. Skype được báo cáo là sử dụng những giải thuật mã hóa mạnh mẽ, và có sẵn phổ biến. ==== Tổng quan ==== Mã nguồn của Skype là có sở hữu và mã nguồn đóng, và Skype không hề có kế hoạch trở thành phần mềm mã nguồn mở, theo như trích dẫn sau: "Chúng tôi có thể làm như vậy nhưng chỉ khi chúng tôi thiết kế lại phương thức làm việc của nó và bây giờ chúng tôi lại không có thời gian." – Niklas Zennstrom, đồng sáng lập Skype, trả lời cho mô hình bảo mật của Skype Một cuốn sách của Nhà xuất bản Que, Skype: The Definitive Guide ("Skype: Hướng dẫn tổng quát") đã chỉ ra rằng: Skype có thể sử dụng băng thông của người dùng khác. (Mặc dù điều này được phép trong EULA, không có cách nào có thể xác định được có bao nhiêu băng thông được dùng theo cách này). Có khoảng 20.000 supernode so với hàng triệu người dùng đăng nhập. Skype Guide for network administrators [1] (Skype Hướng dẫn cho các nhà quan trị mạng) nói rằng supernode chỉ mang lưu lượng điều khiển tới 5 kbyte/s và các bộ tiếp nối (relay) có thể mang lưu lượng dữ liệu dùng dùng khác lên đến 10 kbyte/s (cho một cuộc gọi truyền hình). Một bộ tiếp nối không nên dùng cho hơn một "kết nối chuyển tiếp". Chức năng truyền tập tin của Skype không chứa bất cứ giao diện lập trình được nào cho các sản phẩm chống virus, mặc dù Skype nói rằng họ đã kiểm tra sản phẩm của họ bằng những sản phẩm "Giáp" chống virus. Sự thiếu rõ ràng về nội dung có nghĩa là tường lửa và các nhà quản trị hệ thống không thể chắc chắn được Skype đang làm gì. (Sự kết hợp nghiên cứu kỹ thuật đảo và được mời cho rằng Skype không hề làm điều gì thù địch). Các quy định về tường lửa cho bảng ip được cung cấp cho các công ty để khóa Skype. Sự liên lạc thật sự của bất kỳ cuộc hội thoại Skype nào đó được báo cáo là khá an toàn; cả phân tích về mật mã học cũng kết luận rằng Skype đã tận dụng tốt các kỹ thuật mã hóa hiện đại và đã viết những dòng mã giải thuật mã hóa một cách đúng đắn trong phần mềm. ==== Sử dụng tài nguyên ==== Skype truy cập vào ổ cứng vài lần mỗi phút Điều này có thể được xác định bằng cách quan sát hoạt động của đèn LED của ổ cứng, hoặc bằng cách sử dụng một chương trình giám sát truy cập tập tin như FileMon. Tùy thuộc vào băng thông internet, một số người dùng nào đó được chọn bởi phần mềm để đóng vai trò là "supernode". Dưới những điều kiện nhất định, Skype được cho là sẽ sẵn sàng chấp nhận hàng ngàn kết nối, nhưng đã nói rằng tự giới hạn đến 40 kb/s tải lên và tải xuống. ==== Tính bí mật của dữ liệu ==== Skype nói rằng giao thức thiết lập phiên có sở hữu là hiệu quả và ngăn ngừa cả tấn công man-in-the-middle và tấn công replay. Phần mềm không tự chứng nhận có nghĩa là nó cần phải kết nối và đăng nhập vào một máy chủ Skype tập trung để chứng nhận mỗi một khóa công cộng của người dùng. Skype hiện cho phép nhiều đăng nhập đồng thời: Nếu một kẻ tấn công có thể có được mật khẩu đăng nhập của người dùng, kẻ tấn công đó có thể đăng nhập như người dùng đó, và thay đổi trạng thái của họ thành "Ẩn". Sau đó, các phiên nói chuyện liên quan đến người dùng thật có thể được sao chép lại vào tài khoản "ma" của hacker. Nếu giả sử người dùng giữ cho mật khẩu của anh/chị ta an toàn, điều này không còn là vấn đề nữa. ==== Sự xác thực danh tính người dùng ==== Skype cung cấp một hệ thống đăng ký không quản lý cho người dùng: việc đăng ký không cần phải có bằng chứng (với nghĩa là thẻ chứng minh do nhà nước cấp) về danh tính của người dùng. Điều này có hai cách thực hiện: bạn có thể sử dụng hệ thống một cách an toàn mà không phải để lộ ra danh tính thực của mình cho người khác trong hệ thống, nhưng mặt khác bạn không thể đảm bảo người bạn đang nói chuyện thực sự là họ ở đời thực. Mặt tiêu cực của chuyện này đó là dễ dàng sử dụng tên cá nhân (chứ không phải danh tính) của một người đáng tin cậy làm nickname Skype và lừa người dùng ngây thơ lộ ra thông tin hoặc chạy một chương trình gửi đến cho họ. Cần chú ý rằng hành động này phổ biến ở tất cả các dịch vụ cung cấp theo kiểu số: những ngoại lệ là những chứng nhận từ cơ quan chứng nhận với tất cả những trở ngại ai cũng biết. === Các sự kiện chính === Các phiên bản hiện giờ có cho các hệ điều hành Microsoft Windows [2000, XP và CE (Pocket PC)], Mac OS X và GNU/Linux. Phiên bản Linux chạy trên FreeBSD thông qua lớp tương thích mã nhị phân Linux của nó; phiên bản Fedora Core hoạt động tốt, nếu người dùng bật micro trong phần thiết lập âm thanh GNOME. Phiên bản Symbian hiện đang được phát triển. === Các thay đổi chi tiết === Các thay đổi Windows Các thay đổi Mac Các thay đổi Linux === Sử dụng và lưu lượng === Người sử dụng có thể đăng ký hơn 1 tài khoản, và không thể nhận biết được ai có nhiều tài khoản. Theo báo cáo đã có 17,443,598 người sử dụng Skype online vào ngày 11 tháng 5 năm 2009. Lưu lượng đường truyền thông của Skype vô cùng lớn và đã trở thành chương trình truyền tải lớn nhất thế giới. . Lưu lượng từ máy tính tới máy tính giữa người dùng Skype trong năm 2005 tương đương chiếm 2,9% lưu lượng truyền tải quốc tế trong năm 2005 và xấp xỉ 4,4% tổng lưu lượng quốc tế (264 tỉ phút) năm 2006. Năm 2008, khoảng 8% các cuộc gọi quốc tế được thực hiện bởi Skype. Skype phối hợp vài tính năng để che lấp đi đường truyền của họ, nhưng nó không thiết kế đặc biệt để cản trở phân tích lưu lượng và do đó không cung cấp liên lạc nặc danh. Một số nhà nghiên cứu có thể làm mờ đi lưu lượng để nó không thể nhận ra được ngay cả sau khi truyền thông qua mạng mạng nặc danh [2]. SkypeNOW! là một dịch vụ mà Skype cung cấp cho các khách hàng sử dụng mạng Vodafone ở Nam Phi. Với dịch vụ này, người sử dụng Vodafone có thể thực hiện các cuộc gọi quốc tế Skype không dây. == Tính năng == === SkypeOut === SkypeOut cho phép người dùng Skype gọi cho số điên thoại truyền thống, bao gồm điện thoại di động, với một mức phí. Mức phí này thấp nhất vào khoảng 0,024 dollar Mỹ một phút cho phần lớn các nước phát triển, và cao nhất là 2.142 dollar Mỹ một phút cho cuộc gọi đến vùng phụ thuộc Diego Garcia. Bắt đầu từ tháng 1 năm 2007, Skype cũng tính tiền tương đương với 0,039 Euro cho mỗi cuộc gọi SkypeOut, cộng thêm với mức phí thông thường. Sau 180 ngày mà không thực hiện cuộc gọi SkypeOut, số tiền Skype sẽ hết hạn. Vào tháng 30 tháng 1 năm 2007, các cuộc gọi tới Canada và Mỹ không còn miễn phí nữa. Chất lượng dịch vụ không được đảm bảo và có thể rớt, đứt kết nối và có vấn đề về nén âm thanh. === SkypeIn === SkypeIn cho phép người dùng Skype nhận cuộc gọi trên máy tính được gọi bằng những thuê bao điện thoại thường tới số điện thoại Skype, Hiện nay cho phép người dùng thuê bao cho các số ở Úc, Brasil, Đan Mạch, Cộng hòa Dominica, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hồng Kông, Nhật Bản, Ba Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, România và Hoa Kỳ. Ví dụ như, một người dùng ở San Francisco có thể tạo một số địa phương ở Helsinki. Người gọi từ Helsinki chỉ phải trả mức giá nội địa cho cuộc gọi tới số đó. == Những chỉ trích == Skype đã bị chỉ trích vì sử dụng giao thức có sở hữu, thay vì một chuẩn mở như H.323, Inter-Asterisk eXchange, hay SIP, bởi vì điều này khiến cho các nhà phát triển khác khó khăn hơn, nếu không nói là không thể, giao tiếp với Skype. Có người bán tán rằng quyết định đó là để ngăn cản các đối thủ cạnh tranh khác của SkypeOut. Do cách thiết kế giao thức của Skype, nếu tiếp cận vào một kết nối mạng không giới hạn thì người dùng Skype có thể trở thành một supernode. Những supernode này sẽ cùng nắm giữ mạng ngang hàng và cung cấp dữ liệu tìm đường cho những máy khách khác đằng sau những tường lửa nghiêm ngặt hơn, do đó có thể sử dụng một lượng rất lớn băng thông. Chính vì lý do đó, một vài nhà cung cấp mạng, như các trường đại học, cấm sử dụng Skype. Một bản báo cáo của hãng thứ ba chuyên phân tích bảo mật và phương pháp luận của Skype đã được giới thiệu tại Đại hội Mũ đen châu Âu 2006. Nó phân tích Skype và có những quan sát sau: Sử dụng quá nhiều các kỹ thuật chống gỡ lỗi (debug) (dùng để ngăn cản sự phát triển của các chương trình thay thế hay các công cụ xâm nhập (hack)) Sử dụng nhiều mã làm rối (làm chậm kỹ thuật dịch ngược, hạn chế mô tả chương trình trong tập tin thực thi được) Giữ các mẩu hội thoại trên mạng, thậm chí khi "để không" (idle) (thậm chí đối với những máy không phải là supernode. Có thể được dùng để duyệt NAT) Không tin vào bất cứ chương trình nào khác liên lạc với Skype Có khả năng xây dựng một mạng Skype song song Thiếu tính riêng tư (Skype giữ những khóa cho phiên giải mã) Tràn chồng (heap overflow) trong Skype Skype khiến cho việc tăng cường chính sách bảo mật (của công ty) thêm khó khăn "Không có cách nào biết được nó có/sẽ có "cửa sau" (backdoor) hay không" SkypeOut tính phí theo phút, trái ngược với xu thế tính cước hiện nay ở những điện thoại thông thường. Ở một số nước, nhiều cuộc gọi được tính cước với một khoảng tiền cố định mỗi cuộc gọi. Theo cách này, những cuộc gọi dài bị SkypeOut tính mắc, trong khi rẻ hơn nếu nói chuyện ngắn. Hơn nữa, cũng dấy lên những than phiền về sự hỗ trợ khách hàng ít ỏi của Skype. Vào tháng 6 năm 2007, Skype vẫn không cung cấp một cách trực tiếp để liên lạc với dịch vụ hỗ trợ khách hàng, chỉ dựa trên cổng thông tin wen cho tất cả các vấn đề liên quan. Cụ thể là, những khách hàng đã trả tiền dịch vụ như SkypeOut, thường diễn tả sự thất vọng với việc thiếu hồi đáp của Skype, cho rằng họ không quan tâm hoặc không cung cấp đủ sự hồi đáp cho các lời than phiền về những vấn đề cụ thể nào đó, như không tính hóa đơn đúng. Ví dụ, những khách hàng đã than phiền về các khoản tính phí không rõ ràng của Skype. Trong một vài trường hợp, khi những lần tính phí đó đột ngột trả lại lời lại, thì đa số chúng được xếp vào loại phí ẩn. Khi Skype 2.0 được phát hành, AMD đã sắp đặt một vụ kiện cho rằng phần mềm chỉ cho phép cuộc gọi hội nghị 10 bên trên bộ xử lý Intel nhân đôi, trong khi những bộ xử lý khác, bao gồm tất cả các con chip của AMD, chi được cho phép cuộc gọi hội nghị 5 bên. Sự phê phán khác của Skype là vấn đề lọc nội dung. Đặc biệt là ở Trung Quốc. Trong khi có phiên bản chạy trên Windows, Mac OS X và Linux (i386 platform), không có phiên bản Skype chạy trên Palm OS, được sử dụng trong những thiết bị di động như điện thoại thông minh Treo 700p cũng như phiên bản Powerpc của Linux. Ngoài ra, Skype không hỗ trợ Windows Vista (“at least not fully”. ). Vấn đề này còn làm phức tạp thêm với sự thật là Skype chưa từng thông báo bất kỳ ngày phát hành (hay phiên bản) Skype nào tương thích với Vista, mặc dù Vista đã có mặt trên thị trường vào ngày 30 tháng 1 năm 2007. Điều này có thể cản trở các khách hàng dựa vào Skype có thể chuyển sang Vista hoàn toàn. Skype đã bị chỉ trích trong cộng đồng Linux vì những lỗi và trì hoãn trong các phiên bản Linux [3]. Cũng có những chỉ trích về việc Skype phong tỏa hoặc không cho phép tài khoản người dùng sử dụng dịch vụ SkypeOut [4]. Cũng vậy, khi sử dụng SkypeOut để gọi cuộc gọi tính phí người nghe, người dùng có thể gặp phải sự suy giảm chất lượng cuộc gọi khi sử dụng bàn phím để nhập số vào hệ thống tự động. Skype cũng bị phát hiện là truy cập vào dữ liệu BIOS để xác định máy tính cá nhận và cung cấp sự bảo vệ DRM cho các plug-in. == Skype group (công ty) == Vào ngày 14 tháng 10 2005, eBay đã mua lại công ty với giá 1,9 tỷ € bằng tiền mặt và chứng khoán, cộng với một khoản 1,5 tỷ € tiền thưởng nếu đạt được mục tiêu đề ra đến năm 2008. == Xem thêm == Giao thức Skype Thông tin hiện hữu VoIP So sánh các phần mềm VoIP Tin nhắn nhanh So sánh các chương trình tin nhắn nhanh So sánh các giao thức tin nhắn nhanh Hội nghị truyền hình Giao tiếp an toàn Yahoo! Voice Windows Live Call AIM Phoneline == Tham khảo == == Liên kết ngoài == (tiếng Anh) Trang chính thức của Skype (tiếng Việt) Cả thế giới cùng đàm thoại miễn phí với Skype (tiếng Anh) Scientific Research on Skype (Reverse Engineering, etc.) White paper on Skype, focus on supernodes Skype Security Evaluation by Tom Berson (Anagram Laboratories) Skype vs Vonage So sánh ngắn Skype và Vonage Skype bảo mật, làm rối và bảo vệ khỏi các kỹ thuật dịch ngược phân tích tại hội nghị Mũ đen 2006 So sánh nhà cung cấp dịch vụ VoIP So sánh Skype và Vonage với các nhà cung cấp dịch vụ VoIP ít tên tuổi hơn Skype VoIP User Guide, FAQ, Hints and Resources Có những thông tin khó tìm cho người dùng
đế quốc ottoman.txt
Đế quốc Ottoman hay Đế quốc Osman (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: دولتِ عَليه عُثمانيه Devlet-i Âliye-i Osmâniyye, dịch nghĩa "Nhà nước Ottoman Tối cao"; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại: Osmanlı İmparatorluğu), cũng thỉnh thoảng được gọi là Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, là một quốc hiệu Thổ Nhĩ Kỳ đã tồn tại từ năm 1299 đến 1923. Thời đỉnh cao quyền lực ở thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, các lãnh thổ của Đế quốc Ottoman gồm các vùng Tiểu Á, Trung Đông, nhiều phần ở Bắc Phi, và đa phần đông nam châu Âu đến tận Kavkaz. Đế quốc Ottoman chiếm một vùng có diện tích khoảng 5,6 triệu km², nhưng vùng ảnh hưởng thực tế của đế quốc rộng hơn nhiều nếu tính cả các vùng lân cận do các bộ lạc du mục cai quản, nơi quyền bá chủ của đế quốc này được công nhận. Đế quốc Ottoman tương tác với cả văn hóa phương Đông và phương Tây trong suốt lịch sử 624 năm của nó. == Lịch sử qua các thời kì == === Nguồn gốc === Các tổ tiên của vương triều Ottoman là một phần của các bộ lạc người Tây Đột Quyết (Gokturk) miền tây đã di cư từ Trung Á bắt đầu từ thế kỷ 10. Định cư tại Ba Tư trong thời kỳ này, những người Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu mở rộng về phía tây tới Armenia và Tiểu Á vào đầu thế kỷ 11. Những đợt di chuyển này đã dẫn đến mâu thuẫn giữa họ với Đế quốc Byzantine, từng là một quyền lực chính trị nổi trội tại khu vực miền đông Địa Trung Hải kể từ thời kỳ La Mã, nhưng vào thế kỷ 11 bắt đầu một thời kỳ suy thoái dài. Người Thổ Seljuk đã thiết lập địa vị chắc chắn tại Tiểu Á sau chiến thắng lịch sử tại trận Manzikert năm 1071, để thành lập nhà Seljuk ở Tiểu Á. Sau sự xâm lăng của người Mông Cổ tới Tiểu Á trong thế kỷ XIII, triều đại này đã sụp đổ và lãnh thổ của nó đã bị phân chia thành nhiều vương quốc của người Thổ Nhĩ Kỳ, tức các beylik. Dưới quyền bá chủ của nhà Seljuk ở Tiểu Á, bộ lạc Kayı của người Thổ Oğuz đã tạo ra một thể chế mà cuối cùng đã trở thành vương quốc Ottoman tại miền tây Tiểu Á. Thủ lĩnh người Kayı là Ertuğrul Gazi đã nhận được vùng đất này sau lưng Seljuk trong cuộc va chạm biên giới nhỏ. Hệ thống Seljuk tạo cơ hội cho sự bảo vệ vương quốc từ bên ngoài, và cũng cho phép nó phát triển cấu trúc nội tại của nó. Vị trí của Kayı trên ven rìa phía viễn tây của nhà nước Seljuk cho phép họ xây dựng lực lượng quân sự của mình thông qua sự hợp tác với các dân tộc khác sống tại miền tây Tiểu Á, nhiều trong số đó là những người theo Ki-tô giáo. Sau sự tan rã của nhà Seljuk, Kayı trở thành chư hầu của Hãn quốc Y Nhi của Mông Cổ. === Khởi đầu (1299-1326) === Tên gọi Ottoman có nguồn gốc từ Osman I (còn gọi là Osman Bey) (tiếng Ả Rập: Uthman) (1299-1326), con trai của Ertuğrul Gazi, người đã tuyên bố sự độc lập của nhà nước Ottoman năm 1299. Trong khi các vương quốc khác của người Thổ Nhĩ Kỳ còn phải bận tâm với các mâu thuẫn nội bộ, Osman đã có thể mở rộng biên giới của khu định cư Ottoman về phía rìa của Đế quốc Byzantine. Ông đã dời đô tới Bursa, và định hình sự phát triển chính trị ban đầu của dân tộc. Người ta gọi ông với tên hiệu "Kara" vì sự can đảm của ông, Osman đã được ca ngợi là một ông vua hùng mạnh và năng động một thời gian rất dài sau khi ông mất, như được thể hiện trong thành ngữ của người Thổ Nhĩ Kỳ "Ông/anh ta có thể tuyệt vời như Osman". Danh tiếng của ông cũng được đánh bóng trong câu chuyện thời Trung đại của người Thổ Nhĩ Kỳ, được biết dưới tên gọi "Giấc mơ của Osman", một sự thành lập huyền thoại trong đó chàng trai trẻ Osman là người có đầy năng lực để chinh phục một đế quốc nhìn thấy trước. Thời kỳ này là sự hình thành của triều đình Ottoman chính thức mà các cơ quan, tổ chức cấu thành ra nó gần như không thay đổi lớn gì trong gần 4 thế kỷ. Ngược lại với nhiều nhà nước cùng thời kỳ đó, hệ thống quan lại của Đế quốc Ottoman đã cố gắng tránh sự cai trị theo kiểu quân sự. Triều đình cũng tạo ra một thể chế pháp lý gọi là millet (kiểu lãnh thổ tự trị), mà trong đó thiểu số từ các dân tộc ít người và tôn giáo có khả năng quản lý công việc của chính họ với một sự độc lập đáng kể từ sự kiểm soát của trung ương. Trong thế kỷ sau khi Osman qua đời, sự thống trị của Ottoman đã bắt đầu mở rộng trên toàn khu vực miền đông Địa Trung Hải và Balkan. Thessaloniki, một thành phố quan trọng của Venezia bị chiếm năm 1387, và chiến thắng của quân Thổ Nhĩ Kỳ tại trận Kosovo năm 1389 làm cho Serbia mất quyền kiểm soát trên vùng đất này, mở đường cho các cuộc xâm lược châu Âu của sultan. Trận Nicopolis năm 1396 được xem là cuộc Thập tự chinh cuối cùng của thời Trung cổ, trong trận này quân Thập tự chinh đại bại trước quân Ottoman. Với sự mở rộng ảnh hưởng của người Thổ vào vùng Balkan, thì cuộc chinh phục chiến lược vào Constantinople đã trở thành mục tiêu quyết định. Đế quốc của người Thổ đã chiếm được các vùng đất Byzantine phụ cận Constantinople, nhưng người La Mã vẫn đứng vững được khi Tamerlane xâm lược Tiểu Á, và bắt giam sultan Bayezid I sau trận Ankara năm 1402. Các lãnh thổ Ottoman ở vùng Balkan (điển hình như Thessaloniki, Macedonia và Kosovo) đều bị mất năm 1402, nhưng các vùng đất này được Murad I chiếm lại trong thập niên 1430 - 1450. Việc Bayezid bị bắt làm cho đất nước rơi vào loạn lạc. Từ năm 1402 đến 1413, nội chiến bùng nổ giữa các con của Bayezit. Cuộc chiến này kết thúc khi vua Mehmed I lên ngôi và xây dựng lại đất nước, kết thúc Thời kì đứt quãng của Đế quốc Ottoman. Cháu nội ông, Mehmed II đã tái cấu trúc của cả nhà nước lẫn quân đội, và đã thể hiện các kỹ năng quân sự của mình trong cuộc chiếm đóng Constantinople vào ngày 29 tháng 5 năm 1453, khi mới 21 tuổi. Thành phố này trở thành kinh đô mới của Đế quốc Ottoman, và Mehmed II xưng làm Kayser-i Rum (Hoàng đế La Mã). Dù vậy, ngôi Hoàng đế La Mã của sultan Ottoman không được người Hy Lạp và các nước phương Tây công nhận, và các Nga hoàng cũng tự phong cho mình chức vị này. Để nắm vững ngôi Hoàng đế La Mã, Mehmed II khao khát chiếm Roma, và cho quân xâm lược bán đảo Ý, chiếm Otranto và Apulia ngày 28 tháng 7, 1480. Nhưng sau khi ông bị ám sát ngày 5 tháng 3, 1481, chiến dịch ở Ý thất bại và quân Ottoman rút lui về. === Lớn mạnh (1453-1683) === ==== Các cuộc mở mang và cực điểm (1453-1566) ==== Vào thời lớn mạnh, Đế quốc Ottoman đã trải dài toàn bộ đông-nam châu Âu bờ bắc Địa Trung Hải, cả bờ biển bắc châu Phi cho đến Maroc phía nam Địa Trung Hải. Trong thế kỷ XVII, Đế quốc Ottoman có khoảng 25 triệu dân – một con số khổng lồ vào thời đó, gần bằng gấp đôi bất cứ nước nào ở châu Âu ngoại trừ Pháp. Gần 30 quốc gia hiện nay đã được thành lập từ lãnh thổ cũ của Đế quốc Ottoman: Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Bulgaria, România, Nam Tư (sau này phân làm 5 nước độc lập), Hungary, Albania, Syria, Liban, Jordan, Israel, Aden, Kuwait, Ai Cập, Sudan, Libya, Iraq, Yemen, Tunisia, Algérie, Síp, Armenia, Gruzia, Ukraina và một phần nước Nga. Vào đầu thế kỷ XVI, Đế quốc Ottoman trở thành một trong những nhà nước lớn nhất thế giới thời bấy giờ. Trong thời kì này, nhiều ông vua kiệt xuất lên cai trị Thổ Nhĩ Kỳ: điển hình như Selim I (1512-1520), người có công sát nhập vùng Trung Đông vào Ottoman. Vào năm 1514 trong trận Chaldiran, ông đã đánh bại vua Ismail I (1501-1524) nhà Safavid (Ba Tư). Ông đã tiêu diệt nhà Mamluk ở Ai Cập vào năm 1517 rồi giành danh hiệu khalip từ nhà Abbasid ở Cairo (các sultan Ottoman tiếp tục giữ danh hiệu này đến năm 1924), bắt đầu thời kì Ai Cập thuộc Ottoman. Sau khi Hoàng đế Selim I mất, Hoàng đế Suleiman I (1520-1566) tiếp tục mở mang đế quốc. Sau khi thôn tính được Beograd năm 1521, Suleyman chinh phục Vương quốc Hungary và sau chiến thắng trong trận Mohács năm 1526, đế quốc Osmanli chiếm được Hungary và nhiều vùng đất ở Trung Âu. Sau đó, năm 1529 ông bao vây thành Wien, nhưng vì thời tiết ở đây khắc nghiệt nên quân đội ông rút lui. Năm 1532, 25.000 quân Ottoman mở cuộc tấn công Wien, nhưng bị đẩy lui cách Wien 97 km tại pháo đài Guns. Sau cuộc mở mang xa nhất của Ottoman năm 1543, hoàng đế Habsburg là Ferdinand công nhận quyền cai trị của Ottoman trên đất Hungary năm 1547. Dưới triều vua Suleyman I, Transilvania, Wallachia và Moldavia trở thành những công quốc chư hầu của đế quốc. Ở phía đông, Ottoman chiếm Bagdad từ tay Ba Tư năm 1535, chiếm được Lưỡng Hà và Hải quân Ottoman tiến vào Vịnh Ba Tư. Khi Hoàng đế Suleyman I qua đời, dân số Ottoman lên đến 15.000.000 người. Công cuộc bành trướng của ông đã mang lại cho ông một Đế quốc Ottoman vô cùng rộng lớn, và thậm chí ông còn vượt xa cả những tham vọng của Hoàng đế Xerxes I của Đế quốc Ba Tư năm xưa. Quân đội Ottoman đã để lại những nhà nguyện Hồi giáo rải rác khắp các sườn đồi và thung lũng vùng Balkan. Nổi giận vì những biểu hiện cho việc chiếm đóng của người đạo Hồi này, các vương quốc theo đạo Cơ đốc ở Tây Âu xem người Thổ Nhĩ Kỳ là kẻ xâm lược Hy Lạp và các sắc dân theo Cơ đốc giáo khác. Nhưng đế quốc Ottoman rộng lượng hơn, chấp nhận tôn giáo khác với đạo Hồi. Sultan chính thức công nhận Giáo hội Hy Lạp và giáo khu của giáo chủ và các tổng giám mục, cho phép các giáo đường Chính thống giáo được duy trì tài sản của họ. Người Thổ Nhĩ Kỳ thích cai trị qua định chế chính trị địa phương, và để đổi lại cho tiền triều cống, các tỉnh Cơ đốc giáo được phép duy trì các hệ thống hành chính, thứ bậc và giai cấp. ==== Dấu hiệu suy yếu và sự hồi phục (1566-1683) ==== Năm 1571, Chiến tranh Thổ Nhĩ Kỳ-Venezia (1571-1573) nổ ra, quân Ottoman xâm chiếm đảo Síp. Hạm đội Liên minh Thần thánh (bao gồm Venezia, Tây Ban Nha, Savoie,...) đã đập tan Hạm đội Ottoman tại Lepanto. Nhưng, năm 1573 Hải quân Ottoman được khôi phục lại, kết quả là Venezia phải ký hòa ước và nhượng Síp cho Đế quốc Ottoman. Đế quốc Ottoman bấy giờ bao lần tung quân đi xâm lược Ba Tư. Người Ba Tư thuộc hệ phái Shia và tin mình là con cháu của Imam Ali bin Abu Talib, trong khi người Ottoman thuộc hệ phái Sunni. Đầu thế kỷ 17, quân Ba Tư tấn công lãnh thổ Đế quốc Ottoman ở Lưỡng Hà. Trong thế kỷ 16 và 17, Đế quốc Ottoman là một trong những thực thể chính trị mạnh nhất thế giới, các nước mạnh ở Đông Âu luôn bị đe dọa bởi sự mở rộng thường xuyên của nó qua Balkan và phần phía nam của Liên bang Ba Lan-Litva. Hải quân của nó cũng là một lực lượng rất mạnh ở Địa Trung Hải. Nhiều lần, quân đội Ottoman đã tấn công Trung Âu, bao vây Viên năm 1529 và một lần nữa năm 1683 trong nỗ lực chinh phục lãnh địa của gia tộc Habsburg, và cuối cùng chỉ bị đẩy lui bởi một liên minh to lớn của các nước mạnh tại châu Âu cả trên bộ và trên biển. Nó là quyền lực duy nhất không thuộc châu Âu đã thách thức được sự nổi lên về quyền lực của phương Tây trong khoảng giữa thế kỷ 15 và thế kỷ 20, tới mức nó đã trở thành một phần trong tổng thể của chính trị cân bằng quyền lực châu Âu, vì thế làm giảm bớt sự khác biệt giữa hai bên. Đầu thế kỷ 17, Đế quốc Ottoman bắt đầu suy yếu. Các sultan vào lúc này thường chỉ vui hưởng trong hậu cung, ngoài ra, binh đoàn Janissary thường hay nổi dậy. Bên ngoài, quyền lực của đế quốc Ottoman bị suy giảm trầm trọng đến nỗi tàu thuyền của người Venezia và người Cozak thường xuyên quấy phá. Đế quốc được cứu nguy do tài năng của một đại gia đình làm quan Tể tướng gồm cha, con trai và em rể - đó là gia đìng Köprülü. Năm 1656, dưới triều Mehmed IV (1648-1687), trong khi đế quốc gần bị sụp đổ, hậu cung đành phải cử một người Albania 71 tuổi, Köprülü Mehmed Pasha làm tể tướng (1656-1661). Ông này ra lệnh xử tử 50.000-60.000 người để bài trừ tham nhũng. Năm năm sau, lúc ông qua đời, tình hình có phần ổn định. Dưới quyền Tể tướng của con trai ông, Köprülü Fazıl Ahmed Pasha (1661-1676), và sau đó em rể ông, Kara Mustafa Pasha (1676-1683), uy quyền của Ottoman được hồi phục. Các hạm đội và lục quân của Venezia, Ba Lan, Áo và Nga bị đẩy lui. Quân đội Ottoman xâm chiếm Ukraina và Podolia. Năm 1680, đế quốc Ottoman đã đạt tới lãnh thổ rộng lớn nhất trong lịch sử đế quốc (11.5 triệu km²). Năm 1683, đáp lời kêu gọi của Hungary chống lại hoàng đế Leopold I nhà Habsburg, sultan Mehmed IV đã ra lệnh cho tể tướng Kara Mustafa phái 200.000 quân ngược dòng sông sông Donau, và lần thứ hai trong lịch sử, quân Ottoman tiến đến chân tường thành của Wien, nhưng cuối cùng bị liên minh các nước Tây Âu (Liên minh Thần thánh), do vua Ba Lan Jan III Sobieski chỉ huy, đánh bại. Năm 1683, tại Beograd, sultan Mehmed IV ra lệnh thắt cổ tể tướng Kara Mustafa. Trận Wien đánh dấu sự bắt đầu của cuộc Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ (1683-1699) ở châu Âu. Trong những năm tiếp theo, quân Ottoman bị đại bại do sức tiến công từ Wien. Quân Venezia công hãm Athena. Trong đợt pháo kích của họ ngày 26 tháng 9 năm 1687, một quả đạn rơi trúng ngôi đền Parthenon được xây vào thế kỷ 5 TCN, lúc ấy được quân Ottoman dùng làm kho chứa thuốc súng. Ngôi đền còn khá nguyên vẹn lúc ấy bị nổ tung, để lại tình trạng cho đến bây giờ. Cuộc đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ kết thúc với Hiệp ước Karlowitz ngày 26 tháng 1 năm 1699, và theo hiệp ước này, Đế quốc Ottoman phải nhượng cho Đế quốc Áo một số vùng lãnh thổ như Hungary thuộc Ottoman. Trong thời kì này, chỉ có hai vị sultan cai trị rất năng nổ, đó là: Murad IV (1612-1640) chiếm lại Yerevan (1635) và Bagdad (1639) từ tay Ba Tư và cai trị một cách độc đoán. Mustafa II (1695-1703) mở cuộc tấn công nhà Habsburg ở Hungary trong các năm 1695-96, nhưng phải rút về sau khi thảm bại tại Zenta (11 tháng 9, 1697). === Trì trệ và cải tổ (1699-1827) === Trong những năm tháng trì trệ, nhiều vùng đất ở Balkan bị nhượng lại cho nước Áo. Những vùng đất khác của Đế quốc Ottoman, như Ai Cập và Algérie, trở nên độc lập trên thực tế, và sau đó hứng chịu ảnh hưởng do các đế quốc thực dân như Anh và Pháp truyền bá. Vào thế kỷ 18, chính quyền trung ương đã ban cho các lãnh đạo và thủ lĩnh địa phương nhiều mức tự quyết hơn. Một loạt các cuộc chiến đã diễn ra giữa đế quốc Nga và đế quốc Ottoman từ thế kỉ từ 17 đến thế kỉ thứ 19. Vào giai đoạn cuối của thời kỳ trì trệ, xuất hiện những cải tổ về nền giáo dục và công nghệ, bao gồm sự thiết lập những trường học lớn như Đại học công nghệ Istanbul; khoa học công nghệ được ghi nhận là đạt đỉnh cao ở thời Trung Cổ, đó là kết quả của việc các học giả Ottoman kết hợp cách học cổ điển với Triết học Hồi giáo và toán học cũng như các kiến thức tiên tiến về công nghệ của Trung Hoa như thuốc súng và la bàn. Tuy nhiên, cũng chính trong giai đoạn này, các thế lực bảo thủ và phản đối công nghệ xuất hiện. Hội đoàn các nhà văn của đế chế cho rằng kỹ thuật in ấn là "sáng tạo của quỷ dữ" khiến công nghệ in, được Gutenberg Johannes phát minh ở châu Âu năm 1450, phải mất 43 năm sau mới được giới thiệu tại Constantinople nhờ vào những người Do thái Sephardic. Những người Do Thái Sephardic, vốn sống ở Tây Ban Nha, di cư tới đế quốc Ottoman để trốn chạy cuộc thanh giáo tại Tây Ban Nha vào năm 1492 và mang theo kỹ nghệ in tới Ottoman. Thời đại Tulip, được đặt tên vì tình yêu của Sultan Ahmed III (1703-1730) với hoa tulip và được dùng như biểu tượng của triều đại thanh bình của ông. Trong giai đọan này, chính sách của đế chế với châu Âu có sự thay đổi. Sau khi quân Nga đánh thắng quân Thụy Điển trong trận Poltava vào năm 1709, vua Thụy Điển là Karl XII có lúc đã trốn sang xin người Thổ Nhĩ Kỳ cho tị nạn. Đất nước thanh bình từ năm 1718 đến 1730, sau khi Quân đội Thổ Ottoman đập tan tác quân Nga trong trận đánh tại sông Pruth năm 1712, Vương công Eugène xứ Savoie kéo quân Áo đánh chiếm thành phố Beograd, và Hiệp định Passarowits được ký kết sau đó mang đến một giai đoạn đình chiến. Sau đó, Đế quốc Ottoman cũng cải thiện hệ thống thành lũy ở các thành phố tiếp giáp các nước Balkan, để bảo vệ đất nước chống lại chủ nghĩa bành trướng của châu Âu. Một số cải cách không dứt khoát cũng được tiến hành: giảm thuế; cải thiện hình ảnh của các bang Ottoman; hình thái đầu tiên của đầu tư tư nhân và doanh nghiệp tư nhân xuất hiện. Vào năm 1736, Đế quốc Ottoman lại phải lâm chiến với Áo, và nước Áo thất bại. Lúc này danh tướng Eugène xứ Savoie đã qua đời, do đó tinh thần quân Áo suy sụp, tổ chức kém cỏi, nên đại bại, và đồng minh của họ là Nga đạt lợi thế hơn trong cuộc chiến tranh này. Sau này, cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763) bùng nổ ở châu Âu. Vua nước Phổ là Fryedrich II Đại Đế phải chống chọi với liên quân Nga - Áo - Pháp - Thụy Điển. Nền quân chủ Phổ bị suy sụy nghiêm trọng, nhiều lãnh thổ của nước này bị rơi vào tay địch quân. Vua Friedrich II Đại Đế trong vòng nhiều năm đã đàm phán với Đế quốc Ottoman và người Tartar, nhưng rồi ông chẳng thấy quân Thổ - Tartar đâu. Tuyệt vọng, nhà vua quyết định chờ quân Thổ - Tartar kéo đến vào tháng 2 năm 1762, nếu không ông sẽ nhận lấy cái chết anh dũng của Cato Trẻ. Nhưng rồi liên quân chống Phổ đã tan rã và vua Friedrich II Đại Đế giành thắng lợi. Sau năm 1768, khi tình hình Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva bất ổn, người Thổ Nhĩ Kỳ cũng can thiệp vào. Nhưng rồi ba nước Vương quốc Phổ, Áo và Nga đã tiến hành cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất vào nắm 1772. Công cuộc cải tổ quân sự Ottoman được bắt đầu với Sultan Selim III (1789-1807), vị vua tiến hành những nỗ lực lớn đầu tiên để hiện đại hóa quân đội gần biên giới châu Âu. Những nỗ lực này, tuy vậy, đã bị cản trở bởi phong trào phản kháng bắt nguồn một phần từ các lãnh đạo tôn giáo và chủ yếu từ toán Ngự Lâm quân Janissary - toán kiêu binh này trở nên rất uy quyền và chẳng biết sợ vua. Với tư tưởng bảo thủ và lo sợ mất đại quyền, họ tiến hành cuộc bạo loạn Janissary. Do tiến hành một loạt cải cách, Sultan Selim III bị lật đổ, Hoàng tử cổ hủ Mustafa lên làm vua - tức Sultan Mustafa IV, và sát hại phần lớn các công thần phò vua Selim III năm xưa. Dưới triều vua Mustafa IV, Quân đội Ottoman liên tục bị quân Nga đánh bại. Vào năm 1808, hai bên ngừng bắn, một cuộc binh biến nổ ra. Alemdar Mustafa Pasha - một công thần của cựu hoàng Selim III, kéo quân vào kinh thành Constantinopolis đánh Sultan Mustafa VI. Nhà vua bèn truyền lệnh cho hành quyết cựu hoàng Selim III và hoàng đệ Mahmud, nhưng không may Mahmud trốn thoát. Ông lên làm Sultan Mahmud II (1808 - 1839) và giết chết cựu hoàng Mustafa IV. Ông tiến hành thảm sát đẫm máu toán Ngự Lâm Quân Janissary, rồi giải tán luôn toán Ngự Lâm Quân này vaò năm 1826. === Suy vong và hiện đại hóa (1828-1908) === === Tan rã (1908-1923) === Đầu thế kỷ 20, một nhóm người cải cách đòi hỏi phải đổi mới và hiện đại hóa nước Thổ, gọi là Những người Thổ trẻ. Năm 1909, họ lật đổ sultan Abdul Hamid II, nhưng họ đã làm cho Đế quốc Ottoman tan rã vì tập trung quyền lực Thổ Nhĩ Kỳ bất chấp sự phiền muộn của các dân tộc thuộc Ottoman ở Syria, Ả Rập, Albania, Bosna và Hercegovina, Kríti, Macedonia và Tripoli. Với sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914, Đế quốc vẫn còn kiểm soát phần lớn vùng Trung Đông, và về phe Liên minh trung tâm (Đế chế Đức, Đế quốc Áo-Hung,...), phe này thua trận. Các dân tộc vùng Trung Đông nổi dậy, và theo phe Entente (Nga, Anh, Pháp, Hoa Kỳ...) để giành độc lập. Sự tan rã của đế quốc Ottoman là hậu quả trực tiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi phe Entente đánh bại phe Liên minh Trung tâm ở châu Âu cũng như các lực lượng Ottoman tại Mặt trận Trung Đông. Ở thời điểm kết thúc chiến tranh từ năm 1918, chính quyền nhà nước Ottoman sụp đổ và đế quốc bị Anh, Hy Lạp, Pháp, Ý, Armenia và Gruzia chinh phạt và phân chia. Những năm sau đó các nước mới độc lập từ Ottoman tuyên bố thành lập và năm 1919, Mustafa Kemal Atatürk và lực lượng Cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu cuộc chiến tranh giành độc lập Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1923, lực lượng cách mạng Thổ thắng trận và Thổ Nhĩ Kỳ được độc lập. Cùng năm đó, đế quốc Ottoman cáo chung, sultan Mehmed VI Vahdettin thoái vị, và Mustafa Kemal Atatürk thành lập nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, dựa trên một phần lãnh thổ của đế quốc Ottoman. Các thành viên của gia đình Osmanlı cai trị sau đó đã bị trục xuất khỏi Thổ Nhĩ Kỳ vào khoảng năm 1923-1924. Năm 1924, chế độ khalip bị bãi bỏ, khalip Abdul Mejid II nhà Ottoman cũng thoái vị. Năm 1974, sau 50 năm, Nghị viện Thổ Nhĩ Kỳ đã trao quyền tái yêu cầu quyền công dân Thổ Nhĩ Kỳ cho những con cháu của dòng họ này, và họ đều đã thực hiện điều đó trong những thập kỷ tiếp sau trong một quá trình đã hoàn thành với việc người đứng đầu dòng họ Ertuğrul Osman V đã được trao quyền công dân năm 2004. == Quá trình các lãnh thổ thuộc đế quốc Ottoman == == Xã hội chính trị == Dân cư sinh sống trên lãnh thổ Ottoman chủ yếu theo đạo Hồi, và sắc tộc chính là người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman, kế tiếp là người Ả Rập, người Kurd, người Tatar Krym, người Bosnia, người Albania v.v. Các sultan Đế quốc Ottoman cũng trị vì hàng triệu dân theo Cơ đốc giáo: người Hy Lạp, người Serb, người Hungari, người Bulgar... Vì thế mà sợi dây chính trị nối kết các sắc tộc và tôn giáo khác nhau cần thiết phải linh động và lỏng lẻo. Sultan trị vì từ thủ đô Constantinople (nay là Thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng bộ máy hành chính địa phương nằm trong tay các tiểu vương, hoàng thân, hãn vương,..., có địa phương được tự trị mọi việc ngoại trừ cái tên. Các hoàng thân Cơ đốc giáo vùng Balkan được sultan chọn, nhưng một khi đã lên nắm quyền, lòng trung thành của họ chỉ thể hiện qua việc nộp triều cống cho các sultan. Mỗi năm, từng đoàn xe goòng tải đến Constantinople vàng và những loại tiền thuế. Hãn vương người Tatar của Hãn quốc Krym cai trị từ thủ phủ Bakhchisarai như là vị lãnh chúa độc tôn, chỉ có nhiệm vụ cung ứng 20.000-30.000 kỵ binh mỗi khi các triều đình Ottoman có chiến tranh. Về phía tây cách gần 2.000 kílômét, các vùng Tripoli, Tunis và Algérie chỉ thực hành nghĩa vụ chiến tranh bằng cách điều tàu chiến (bình thường làm giàu nhờ nghề hải tặc cướp bóc tất cả các nước) đi đánh các cường quốc Hải quân theo Cơ đốc giáo như Venezia và Genova. Xuyên suốt lịch sử của họ, đế quốc Ottoman luôn luôn ở trong tình trạng chiến tranh. Khi vị sultan có tính khí mạnh mẽ và thông minh, đế quốc cường thịnh lên. Trong khi ông yếu đuối, thì đế quốc bị suy yếu. Điều dễ nhận thấy là cuộc đời trong cấm thành, chung quanh là phụ nữ đầy sinh lực nồng nàn và thái giám đầy mưu đồ, dễ làm cho một vị quân vương bị suy nhược. Một tình huống thứ hai trong lịch sử của đế quốc cũng khiến cho sultan trở thành con người kém cỏi. Điều oái oăm là việc này bắt đầu bằng hành động nhân từ. Cho đến thế kỷ 15, truyền thống ở Ottoman là một hoàng thái tử khi lên ngôi kế vị sẽ ra lệnh thắt cổ tất cả anh em trai còn lại, để triệt hạ mọi âm mưu soán ngôi, đó là theo lệnh của sultan Mehmed II - người khi lên ngôi năm 1451 đã giết một đứa em khác mẹ còn nằm trong nôi. Năm 1595, sultan Mehmed III (1595-1603) khi mới lên ngôi đã ra lệnh thắt cổ tất cả 19 em trai và, để tận diệt mọi mầm mống phản loạn, hạ sát luôn bảy vương phi của vua cha lúc đó đang mang thai. Tuy nhiên, đến năm 1603, ấu chúa Ahmed I (1603-1617) mới lên ngôi đã chấm dứt truyền thống khủng khiếp này khi không muốn giết người em nào. Thay vào đó, ông cách ly họ trong một khu riêng biệt, nơi họ không liên lạc được gì với thế giới bên ngoài. Một người em của Ahmed chính là sultan Mustafa I (1617-1618, 1622-1623) trong tương lai, Mustafa được xem là bị mất trí. Từ lúc này trở đi, mọi hoàng tử Ottoman đều sống mỏi mòn trong khu biệt lập, bên cạnh chỉ có thái giám và cung phi đã quá tuổi sinh nở để ngăn ngừa họ có hậu duệ hòng làm phản. Nếu có một bé trai ra đời do sơ suất, đứa bé này không được phép làm rối loạn thứ tự truyền ngôi, nên phải bị xử tử. Vì thế, khi một sultan qua đời hoặc bị truất phế, một hoàng tử sống trong khu biệt lập có thể được triệu đến để được tấn phong - bởi vì theo luật Ottoman, người kế vị của sultan là người đàn ông cao tuổi nhất trong hoàng tộc. Trong số các hoàng tử ngu dốt và thụ động này, hiếm khi triều đình tìm được người có đủ sự phát triển trí tuệ hoặc kiến thức về chính trị để trị vì đế quốc. Vì vậy, có những trường hợp các vị sultan có điều kiện tinh thần không tốt như Mustafa I hay Ibrahim I (1640-1648). Dinh Đại Vizia có quyền lực rộng lớn – có khi đủ mạnh để mưu đồ lật đổ và giết chết được sultan – nhưng cũng có nhiều rủi ro và ít khi hứa hẹn một cái chết êm thấm. Khi thất trận, Đại Vizia bị sultan quy trách nhiệm và tiếp theo đó là bị cách chức, đi đày hoặc không hiếm khi bị thắt cổ. Giữa các năm 1683-1703, có mười hai vị Đại Vizia đến và đi. == Xem thêm == Biên niên sử Đế quốc Ottoman Nhà Ottoman Chiến tranh của Đế quốc Ottoman ở châu Âu Chiến tranh của Đế quốc Ottoman ở Cận Đông Hãn quốc Krym Cướp biển Berber Danh sách sultan của đế quốc đế quốc Ottoman Danh sách Đại Vizia của đế quốc Ottoman == Chú thích == == Tham khảo == [3]
1920.txt
1920 (số La Mã: MCMXX) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Năm trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1920 == Sự kiện == === Tháng 1 === 10 tháng 1: Thành lập liên minh quốc tế. === Tháng 2 === 2 tháng 2: Estonia tuyên bố độc lập === Tháng 4 === 24 tháng 4: Ba Lan Và Ukraina tiến công Nga Xô === Tháng 5 === 7 tháng 5: Ba Lan đánh chiếm Kiev 16 tháng 5: Thụy Sỉ gia nhập liên minh quốc tế 26 tháng 5: Xảy ra chiến tranh tại Hồ Nam, Trung Quốc === Tháng 6 === 12 tháng 6: Hồng quân Nga Xô đánh chiếm Kiev 22 tháng 6: Hy Lạp tiến công Thổ Nhĩ Kỳ 29 tháng 6: Trung Quốc gia nhập liên minh quốc tế === Tháng 7 === 12 tháng 7: Tại Trung Quốc, bùng phát chiến tranh Trực Hoàn === Tháng 8 === 22 tháng 8: Tại Trường Sa, Hồ Nam thành lập hội nghiên cứu Nga === Tháng 9 === 27 tháng 9: Chính phủ Nga Xô tuyên ngôn đối sách ngoại giao. === Tháng 10 === 4 tháng 10: Lý Đại Chiêu thành lập tổ chức xã hội chủ nghĩa tại Bắc Kinh 12 tháng 10: Nga Xô và Ba Lan đình chiến. === Tháng 11 === 28 tháng 11: Tại Quảng Châu, Tôn Trung Sơn tổ chức lại quân chính phủ == Sinh == 14 tháng 1 - Hoàng Tùng (m. 2010), Nhà báo Việt Nam 15 tháng 1 - Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập đạo Hòa Hảo. 4 tháng 10 - Tố Hữu (mất 9 tháng 12 năm 2002). == Mất == 1920, nhà thơ Vũ Công Tự mất, thọ 65 tuổi. == Giải Nobel == Vật lý - Charles Edouard Guillaume Hóa học - Walther Nernst Sinh lý học hoặc Y học - Schack August Steenberg Krogh Văn học - Knut Hamsun Hòa bình - Thomas Woodrow Wilson == Xem thêm == == Tham khảo ==
ngân hàng thái lan.txt
Ngân hàng Thái Lan (tiếng Thái: ธนาคารแห่งประเทศไทย) là ngân hàng trung ương của Vương quốc Thái Lan. Ngân hàng Thái Lan bắt đầu hoạt động ngày 10 tháng 12 năm 1942. Ban lãnh đạo ngân hàng này gồm một thống đốc và 4 phó thống đốc. Tarisa Watanagase đã được bổ nhiệm làm thống đốc vào ngày 17 tháng 10 năm 2006, thay thế Pridiyathorn Devakula, người đã trở thành bộ trưởng tài chính. Vai trò của ngân hàng này [1]: Đẩy mạnh sự ổn định và ban hành trình bày chính xác các chính sách tiền tệ. Xúc tiến sự ổn định của các thể chế và giám sát các thể chế tài chính. Cung cấp các điều kiện thuận lợi về nghiệp vụ ngân hàng và kiến nghị các chính sách kinh tế cho chính phủ. Cung cấp các điều kiện thuận lợi cho các thể chế tài chính. Quản lý dự trữ ngoại hối của quốc gia. In và phát hành giấy bạc. Kể từ tháng 5 năm đã theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát, hơn là tổng lượng tiền tệ lưu thông, trong việc thiết lập chính sách tiền tệ. Mục tiêu lạm phát của ngân hàng này hiện nay là 0%-3,5%. Lãi suất được quyết định bởi Ủy ban Chính sách Tiền tệ, bao gồm 3 quan chức từ Ngân hàng Thái Lan và 4 chuyên gia từ bên ngoài. == Xem thêm == baht Thái Lan == Tham khảo == == Liên kết ngoài == (tiếng Thái) (tiếng Anh) Website chính thức: Ngân hàng Thái Lan Bản mẫu:Central Bank
tejo (môn thể thao).txt
Tejo (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ˈte.xo]), cũng được biết đến, ít phổ biến hơn, là turmeque (phát âm [tuɾ.ˈme.ke]), là một môn thể thao truyền thống ở Colombia. Rất nhiều giả thuyết đã được đặt ra về nguồn gốc của môn thể thao này, tuy nhiên không có bằng chứng nào thuyết phục cả vì những người Chibcha gốc không có truyền thống truyền khẩu và cũng không có di chỉ khảo cổ giúp xác định nguồn gốc của nó.. == Lịch sử == Hiện không có giả thuyết nào được chấp nhận rộng rã về nguồn gốc của tejo. Thực tế ra những giả thuyết hiện nay trên internet có thể là tưởng tượng, là kết của "word of mouth" hay suy đoán lung tung. Tuy nhiên, đa số đồng ý rắng môn thể thao này có nguồn gốc từ những thổ dân vùng trung tấm Colombia, nơi mà nó có thể đã được chơi dưới một dạng khác. == Nền tảng văn hóa == == Cách chơi == === Cách tính điểm === == Sân chơi == == Tejo ngày nay == === Liên hệ với việc tiêu thụ rượu === == Tejo cho du khách == == Xem thêm == Chaza Thể thao truyền thống Người Muisca == Chú thích == == Liên kết ngoài == Lịch sử Tejo
cộng hòa la mã.txt
Cộng hòa La Mã là giai đoạn trong nền văn minh La Mã cổ đại được phân biệt vì có chế độ cộng hòa. Giai đoạn cộng hòa bắt đầu khi chế độ quân chủ bị lật đổ vào khoảng năm 509 TCN và kéo dài hơn 450 năm, đến khi bị hao mòn do loạt nội chiến và được thay bằng chế độ nguyên thủ (Principate) và giai đoạn Hoàng đế. Đúng lúc mà Cộng hòa La Mã trở thành Đế quốc La Mã tùy theo cách hiểu. Các nhà lịch sử đã đề nghị chọn một vài sự kiện, bao gồm khi Julius Caesar được bổ nhiệm làm Thống lãnh tối cao (độc tài suốt đời; 44 TCN), Trận Actium (2 tháng 9 năm 31 TCN), và khi Viện nguyên lão La Mã cấp Octavian các quyền lực đặc biệt theo thỏa thuận đầu tiên giữa Viện nguyên lão và bình dân (16 tháng 1 năm 27 TCN). Người La Mã dần dần đánh bại những dân tộc khác trên bán đảo Ý, chủ yếu liên quan đến những bộ tộc Ý khác (thuộc dòng Ấn-Âu) như người Samnite và Sabine, nhưng cũng có cả người Etrusca. Mối đe doạ cuối cùng cho đế chế La Mã đến khi Tarentum, một thuộc địa lớn của Hy Lạp, nhận được sự giúp đỡ của vua xứ Ipiros là Pyrros vào năm 282 TCN. Trong nửa sau của thế kỉ thứ 3 TCN, Roma xung đột với Carthage trong 2 cuộc Chiến tranh Punic, xâm chiếm Sicilia và Iberia. Sau khi đánh bại Vương quốc Macedonia và Đế chế Seleucid vào thế kỉ thứ 2 TCN, người La Mã trở thành những người chủ không thể chối cãi của vùng Địa Trung Hải. Xung đột nội bộ giờ đây trở thành mối đe doạ lớn nhất đối với nền Cộng hoà. Hội đồng Nguyên lão, khư khư giữ lấy quyền lực cho mình, liên tục phản đối những cải cách đất đai quan trọng. Một hậu quả không lường trước được từ cải cách quân sự của Gaius Marius là quân lính thường có lòng trung thành với người chỉ huy của họ nhiều hơn đối với thành phố, và một vị tướng hùng mạnh như Marius, hay đối thủ của ông Lucius Cornelius Sulla, có đủ khả năng uy hiếp buộc thành phố và Hội đồng Nguyên lão phải nhượng bộ. Vào giữa thế kỉ 1 TCN ba người, Julius Caesar, Gnaeus Pompeius Magnus (Pompey) và Marcus Licinius Crassus, đã nắm quyền kiểm soát không chính thức của chính phủ cộng hoà thông qua một hiệp ước bí mật được biết đến như là Chế độ Tam hùng đầu tiên. Caesar có thể hoà hợp với những đối thủ Pompey và Crassus, cả hai đều là những người cực giàu với quân đội riêng và sự nghiệp thượng nghị sĩ, và hành động vì lợi ích của cả hai người khi bầu chọn quan chấp chính tối cao, trước khi dùng cương vị thống đốc của mình như người cầm quyền của Gaule để tự mình có được danh tiếng quân sự. Sau cái chết của Crassus và sự sụp đổ của chế độ Tam hùng, một sự tách biệt giữa Caesar và Hội đồng Nguyên lão đã dẫn tới nội chiến, với Pompey dẫn đầu lực lượng của Hội đồng. Caesar chiến thắng và được phong làm nhà độc tài suốt đời sau khi từ chối tước hiệu quốc vương. Tuy nhiên, ông ta chiếm lấy quá nhiều quyền lực quá nhanh đối với một vài thượng nghị sĩ, và bị ám sát trong một âm mưu được tổ chức bởi Brutus và Cassius vào ngày 15 tháng 3 năm 44 TCN. Một chế độ Tam hùng thứ hai, bao gồm người thừa kế đã được chỉ định của Augustus và những cựu trợ thần Marcus Antonius và Marcus Aemilius Lepidus, lên nắm quyền, nhưng những thành viên của nó nhanh chóng rơi vào một cuộc đấu tranh giành quyền thống trị. Trong nỗ lực cuối giành chính quyền Cộng hoà, Augustus đánh bại Antonius tại trận chiến Actium vào năm 31 TCN và thôn tính những vùng lãnh thổ của Cleopatra, người vợ phương Đông của Antonius. Augustus giữ lại Ai Cập như là thuộc địa không chính thức của nhà vua, bảo đảm một thu nhập để lấy lòng những cư dân thủ đô. Giờ đây ông ta nắm lấy quyền lực gần như tuyệt đối với tư cách là thống soái quân sư, người bảo vệ duy nhất của quần chúng, và quyền lực tối cao trên lãnh thổ La Mã, và lấy tên Augustus. Những xác lập hiến pháp trên (đã biến Roma từ một nước cộng hoà thành một đế quốc). Người kế vị được chỉ định của Augustus, Tiberius, lên nắm quyền mà không có cuộc đổ máu nào (thậm chí còn không có nhiều sự kháng cự), và như vậy đã hoàn thành công trình của ông. Định rõ lúc kết thúc của Cộng hòa là việc dành cho nhà lịch sử ngày nay; dân La Mã vào lúc đó không nghĩ rằng Cộng hòa không còn. Các "Hoàng đế" vương triều Julia-Claudia giữ vững rằng res publica (thời quần chúng) vẫn tiếp tục, dù mà hoạt động dưới sự bảo vệ của các quyền lực đặc biệt, và sẽ cuối cùng trở lại hình thức Cộng hòa đầy đủ. La Mã vẫn còn là Cộng hòa trên danh nghĩa ít nhất cho đến thế kỷ 3 và cuộc cải cách lập chế độ Dominate (chủ nhân). == Hiến pháp == Hiến pháp La mã là tập hợp những chỉ dẫn và nguyên tắc bất thành văn chủ yếu thông qua từ các tiền lệ. Hiến pháp La Mã không chính quy, đa số không thành văn và thay đổi liên tục. === Viện nguyên lão === Nền tảng quyền lực của viện nguyên lão xuất phát từ sự quý trọng và uy tín. Sự quý trọng và uy tín này xuất phát từ thói quen và phong tục, cũng giống như năng lực và uy tín cao của các nghị sĩ. Viện nguyên lão thông qua các sắc lệnh được gọi là senatus consultum, một cách chính thức được gọi là "Lời khuyên" của viện nguyên lão đối với quan chấp chính. Trong thực tế thì các quan chấp chính luôn chấp hành mệnh lệnh này. Viện nguyên lão chủ yếu tập trung vào chính sách đối ngoại mặc dầu về nguyên tắc thì viện nguyên lão không hề có vai trò quản lý những xung đột quân sự, nó cũng có vai trò quản lý công dân trong các thành phố và thị trấn. Điều kiện để trở thành một nghị sĩ viện nguyên lão là phải sở hữu một vùng đất tương đương với 100.000 denarii, thuộc dòng dõi patrician (Quý tộc có dòng dõi lâu đời tại La Mã), đã từng giữ chức vụ trong chính quyền. Viện nguyên lão sẽ bỏ phiếu để chấp nhận một người có đủ tiêu chuẩn trên có thành nghị sĩ hay không === Hội đồng lập pháp === Hội đồng lập pháp là đại diện toàn bộ công dân La Mã, quyết định cuối cùng đến bầu cử chấp chính quan, ban hành một đạo luật, thi hành các hình phạt, tuyên chiến và cầu hoà, giải tán hoặc lập liên minh với các quốc gia khác. Có hai loại hội đồng lập pháp. Thứ nhất là comitia là hội đồng của tất cả các công dân, thứ hai là concilia hội đồng của một nhóm công dân nhất định === Hội đồng Centuriata === Công dân La Mã được tổ chức theo các đơn vị cơ bản là Centuriata và Bộ lạc. Dân chúng sẽ tập hợp theo các Centuriata và Tributa. Hội đồng Centuriata (tên gôc là Comitia Centuriata) là tập hợp đại diện của các đại biểu. Người đứng đầu hội đồng Centuriata thông thường là Quan chấp chính. Các đại biểu sẽ bỏ phiếu, mỗi đại biểu được một phiếu, quyết định sẽ theo đa số. Đại hội Centuriata sẽ bầu ra quan tòa có quyền lực tuyệt đối (gồm cả quyền của Pháp quan và Chấp chính quan). Nó cũng bầu ra những người kiểm soát. Hội đồng Centuriata cũng có thể tuyên chiến, thông qua kết quả điều tra. Và cũng là toà án tối cao. === Hội đồng Tributa === Hội đồng Tributa hay Comitia Tributa chủ trì bởi chấp chính quan, được tập hợp từ 35 Tributa. Tributa không phải là nhóm người cùng một dân tộc hoặc cùng huyết thống mà là nhóm được phân chia theo địa lý. Thứ tự bầu chọn của các Tributa được lấy ngẫu nhiên bằng cách rút thăm. Khi được số đông ủng hộ cuộc bỏ phiếu sẽ kết thúc. Hội đồng Tributa không thông qua luật nó chỉ bầu cử Quan coi quốc khố, Quan thị chính và thống lĩnh quân đội. === Hội đồng Pleb === Hội đồng Pleb là quốc hội của những người Pleb, những người bình dân (không thuộc tầng lớp quý tộc) bao gồm những người nô lệ được giải phóng, nông dân nghèo, người sống dựa vào tầng lớp quý tộc và thợ thủ công. Những người bình dân bị từ chối và bị cấm nhiều quyền lợi như những người khác trong cùng tầng lớp. Nhiều hơn thế nữa là họ thường bị đối xử bất công bởi các vị quan tòa. Họ tự tổ chức thành những Tributa riêng, tự bầu cử lấy quan hành chính, quan toà, quan bảo dân. Thông thường quan bảo dân của người Pleb chủ trì hội đồng. Hội đồng này thông qua hầu hết các luật và cũng là toà án. Từ khi được tổ chức theo các tribe, thì luật lệ và thủ tục của nó gần giống như Hội đồng Tribe. == Lịch sử == Phẫn nộ về việc Sextus Tarquinius, con trai của vua Lucius Tarquinius Superbus cưỡng hiếp Lucretia, Lucius Junius Brutus đã lãnh đạo cuộc lật đổ vương triều Tarquinius năm 509 TCN, La Mã bước vào kỷ nguyên của nền cộng hòa, thể chế cai trị bởi Viện nguyên lão. Lịch sử của Cộng hòa La Mã là lịch sử của những cuộc chiến tranh. Tất cả các câu chuyện lịch sử người La Mã sẽ dùng như là minh chứng cho các ưu điểm và giá trị La Mã đều bắt đầu từ giai đoạn dữ dội này, giai đoạn của các cuộc xâm lược và bảo vệ đất nước. Trước nay, hiến pháp của La Mã không tồn tại chính thức hay được viết ra thành văn bản mà là một loạt các giá trị và luật bất thành văn. Nó được định ra trên cơ sở của 1 vương triều trong quá khứ, bởi vậy dù không khôi phục nền quân chủ, người La Mã vẫn dành những quyền lực to lớn cho các quan chức. Ở vị trí cao nhất là hai quan chấp chính, được bầu cử hàng năm trong số những nhà quý tộc. Cũng giống với các quốc vương trong thời quân chủ, 2 quan chấp chính đưa ra luật pháp, nắm giữ tòa án, quân đội và vị trí trưởng tế của quốc gia. Phục sức của họ giống với các vị vua trong quá khứ, áo choàng tía và ngồi trên ghế truyền thống dành riêng cho nhà vua. Tuy nhiên, quyền lực của họ đã bị hạn chế rất nhiều. Thứ nhất, họ tại vị chỉ có 1 năm, sau đó có thể được bầu lại hoặc trở về đời sống riêng. Thứ hai, có 2 quan cùng chấp chính, và vị này có thể ngăn cản có hiệu quả bất cứ quyết định hay hành động nào của vị kia bằng quyền phủ quyết. Thứ ba, các quan chấp chính tiếp tục phải phục vụ ở Viện nguyên lão sau khi nhiệm kỳ chấm dứt, điều này khiến họ chuyên tâm hợp tác với Viện nguyên lão. Kết quả của những việc này là các quan chấp chính không thực sự chủ động và sáng tạo, bởi vậy chính phủ La Mã có khuynh hướng bảo thủ và thận trọng. Đến năm 325 trước CN, vị trí này được đổi thành quan thống đốc, là những quan chấp chính tại vị nhiều nhiệm kỳ do yêu cầu của các chiến dịch quân sự. Dưới 2 quan chấp chính là 2 quan coi quốc khố và 1 pháp quan. Chức pháp quan lúc đầu thuộc về tòa án, nhưng sau này trở thành 1 chức danh quân sự, các pháp quan là các vị tướng chủ chốt của La Mã. Vị trí pháp quan cũng như quan chấp chính có nhiệm kỳ 1 năm, và cũng có thể kéo dài trong thời gian chiến tranh. Ngoài ra, việc phân loại dân chúng theo tài sản và mức đóng thuế là việc của 2 vị giám quan. Nhiệm vụ của họ là lên hồ sơ dân chúng và định mức thuế phải nộp. Do đó họ có rất nhiều cơ hội để ăn cắp và tham nhũng. Bởi vậy, vị trí này chỉ được giao cho các nguyên chấp chính quan, những người có đạo đức và liêm khiết nhất. Các giám quan có quyền lực lớn, họ có thể thải hồi các nghị sĩ trong Viện nguyên lão không chỉ vì các vướng mắc tài chính mà có thể vì bất cứ lý do gì. Vào giai đoạn cuối của nền cộng hòa, các giám quan nằm trong số những chính trị gia có quyền lực nhất ở La Mã. Với việc quyền lực hoàn toàn tập trung trong tay giới quý tộc, thể chế cộng hòa La Mã lúc bắt đầu là 1 hình thức chuyển giao quyền lực từ quốc vương sang tầng lớp giàu có nhất La Mã. Tính chất thống trị của luật pháp, hệ thống tài chính, và chính sách ngoại giao thiết lập bởi giới quý tộc ngay lập tức đưa đến sự oán giận của tầng lớp bình dân. Từ lúc bắt đầu năm 509 trước CN cho đến lúc tan rã trong tay Caesar vào giữa thế kỷ thứ nhất trước CN, lịch sử chính trị của Cộng hòa La Mã là 1 mớ hỗn độn, và thường xuyên xung đột giữa hai tầng lớp dân chúng muốn tranh giành quyền lực chính trị. Năm 494 TCN, những người lao động rời khỏi La Mã và chiếm 1 vùng núi thiêng. Tại đây, họ thành lập 1 chính phủ mới, 1 tổ chức có hình thức bộ lạc kiểu cũ, đứng đầu là các quan bảo mẫu. Họ công khai phủ quyết các quyết định của giới quan chức La Mã và luật pháp của Viện nguyên lão. Chính phủ này do tất cả bầu ra và các quyết định của nó áp dụng cho mọi đối tượng là dân nghèo. Nói cách khác, dân nghèo đã tự dành cho họ quyền viết ra luật pháp cho riêng mình. Năm 450 trước CN, phong trào đấu tranh giai cấp đưa ra bộ luật 12 điểm với việc chính thức hóa luật lệ và hiến pháp La Mã. Người La Mã xem đây là 1 chiến thắng của việc đấu tranh đòi quyền công dân, nó là công cụ giúp họ xác định vị trí của mình trong xã hội pháp quy. Năm 445 trước CN, giới bình dân giành được quyền lập gia đình với người trong giới quý tộc, và đến năm 367 trước CN, 1 người thuộc giới bình dân được bầu làm quan chấp chính. Bộ luật Lex Licinia Sextia quy định ít nhất một trong 2 quan chấp chính phải là người thuộc giới bình dân. Với việc sau khi hoàn thành nhiệm kỳ chấp chính, vị quan này trở thành thành viên của Viện nguyên lão, quyền nắm giữ Viện nguyên lão của giới quý tộc đã bị phá vỡ. Đến năm 300 trước CN, giới bình dân có quyền tham gia ở tất cả mọi cấp của giáo hội, có nghĩa là ngang hàng với giới quý tộc về tín ngưỡng. Và cuối cùng, chiến thắng quyết định về mặt quyền lực và sự ảnh hưởng đến vào năm 287 trước CN, năm mà các quyết định và luật pháp của chính phủ bình dân được áp dụng cho toàn bộ cộng đồng La Mã, bao gồm cả giới quý tộc. La Mã đã đạt được những cải cách này mà không cần bất kỳ 1 cuộc nội chiến hay đổ máu nào. Tất nhiên, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn không thể giải quyết nhưng rõ ràng là nội chiến giai cấp đã được ngăn chặn hoàn toàn. Như vậy, người La Mã đã cải cách thể chế của mình như 1 nhu cầu tự phát hơn là vì theo đuổi 1 kế hoạch cụ thể nào. Cùng thời gian này, và với tính chất tự phát tương tự, họ tiến hành mở rộng lãnh thổ của mình. Thoạt đầu, các cuộc chiến do những người cộng hòa tiến hành chủ yếu có tính chất phòng ngự vì việc lật đổ vương triều Tarquinius đã dẫn đến nhiều cuộc tấn công của người Etruscan và các đồng minh nhằm vào La Mã. Nhưng không lâu sau đó, La Mã chuyển sang việc tấn công giành quyền kiểm soát lãnh thổ của những người láng giềng nhằm triệt tiêu hiểm họa bị tấn công. Sự Logic của La Mã là việc kiểm soát các lãnh thổ chung quanh sẽ ngăn ngừa được bất cứ cuộc tấn công nào từ cư dân trên các lãnh thổ này đồng thời tạo ra 1 vùng đệm an toàn cho La Mã với những kẻ tấn công đến từ xa. Chính sách xâm lược của La Mã bởi vậy tiếp tục được duy trì vì lý do an toàn của bản thân họ. Kết quả cuối cùng của quá trình này là việc giành quyền kiểm soát toàn bộ bán đảo Italia năm 265 trước CN, và sau đó là cả thế giới. Có thể nói rằng đế chế La Mã là 1 sự ngẫu nhiên, nó được hình thành trong quá trình theo đuổi 1 chính sách có tên: sự an toàn. Chỉ đến giai đoạn cuối của quá trình này, Đế chế La Mã mới trở thành 1 mục tiêu rõ ràng. === Chinh phục Bán đảo Italia === Cuộc chinh phục bán đảo Italia được bắt đầu ngay sau khi người La Mã trục xuất vương triều Tarquins năm 509 trước CN với mục tiêu đầu tiên chính là lãnh thổ của người Etruscan. Tuy nhiên, cuộc chinh phục Italia của người La Mã bất ngờ bị gián đoạn bởi cuộc xâm lược của bộ tộc Gaul, du cư và thiện chiến đến từ bên kia dãy Alps. Năm 387 trước CN, người Gaul vượt dãy Alps, nhanh chóng đánh bại quân đội và thiêu hủy La Mã. Tuy nhiên, người Gaul không có ý định định cư tại Italy, họ chỉ quan tâm đến của cải của La Mã. Họ cướp phá La Mã, yêu cầu cống nạp, và sau khi đã thu thập đủ thì quay về đất của họ ở trung tâm châu Âu. La Mã lúc này suy kiệt và nhiều cư dân họ đã chinh phục trên bán đảo Italia quay lại tấn công họ. Tuy nhiên, đến năm 350 trước CN, La Mã đã hồi phục mạnh mẽ đủ để lập lại vị thế ở các vùng đất nói trên. Dù chỉ là 1 thành viên trong liên minh các nước Latin, La Mã đã áp đặt vị thế bá chủ lên tất cả các nước trong liên minh này. Năm 340, các nước nổi dậy đòi quyền độc lập sau khi La Mã khước từ yêu sách của họ. Tuy nhiên, La Mã chỉ mất có 2 năm để dẹp tan cuộc nổi dậy này và thống nhất khối Latinh năm 338 trước CN. Năm 295 trước CN, La Mã bắt đầu cuộc chiến chống lại sự nổi loạn của những người Samnites sống trên dãy núi Apennine, có thêm sự tham gia của những người Etruscan, người Gaul sót lại và một vài thành phố Italia khác. Kết quả của cuộc chiến này là đến năm 280 trước CN, La Mã giành quyền kiểm soát toàn bộ trung tâm Italia. Họ chuyển sự quan tâm của mình về phía Nam bán đảo tới các thành phố của Hy Lạp và nhanh chóng khuất phục nốt khu vực này. Vậy là đến giữa thế kỷ 3 trước CN, La Mã đã hoàn toàn làm chủ bán đảo Italia. Lịch sử cổ đại cho thấy rằng việc giữ các vùng đất chinh phục được là rất khó khăn. Tuy nhiên, La Mã dường như đã tìm ra cách giải quyết vấn đề này với các chính sách vừa tự do vừa quân phiệt. Thứ nhất, Roma không hủy diệt các vùng đất này mà trao cho chúng những quyền lực chắc chắn. Một số nơi được chấp thuận trở thành công dân La Mã đặc biệt là các vùng gần La Mã, một số vùng khác được chấp nhận chỉ phải theo những luật nào đó của La Mã. Một số vùng được cho phép trở thành khu tự trị, một số khác được cho phép trở thành đồng minh. Nhưng tất cả đều phải đóng thuế và cung cấp binh lính cho La Mã. Ngoài ra, La Mã cho quân lính định cư trên các miền đất chiếm đóng như là phần thưởng cho sự phục vụ của họ. Quân lính có đất đai có thể sinh lợi, và La Mã có đội quân cố định trên các miền đất đã chiếm đóng. Để tăng cường sức mạnh cho các đội quân này, La Mã tiến hành các dự án làm đường đầy tham vọng. Họ xây các con đường thẳng tắp vượt qua các ngọn núi cho phép quân đội nhanh chóng vận động tới các vùng có nổi loạn. Sự kết hợp của việc trao quyền hành và quyền công dân với việc đảm bảo những phản ứng nhanh chóng và khắt khe đối với những kẻ nổi loạn đã cho ra đời 1 đế chế hòa bình và bền vững trên bán đảo Italia. === Chiến tranh Punic === Lực lượng hải quân hùng mạnh nhất trên Địa Trung Hải trong thế kỷ 3 trước Công nguyên là Carthage, quốc gia phía bắc châu Phi gần Tunisia ngày nay. Người Carthage là người gốc Phoenicia và Carthage là một thuộc địa cũ của Phoenicia từ thế kỷ 9 trước CN. Từ Carthage trong tiếng Phoenicia có nghĩa là "thành phố mới". Đến thế kỷ 6 trước CN, Phoenicia bị chinh phục bởi người Assyria (là những bộ lạc Semitic sống ở phía bắc Mesopotamia) và sau đó là người Ba Tư. Tuy nhiên Carthage lại không bị ảnh hưởng và trở thành một quốc gia độc lập hoàn toàn. Song song với cuộc chinh phục bán đảo Ý của La Mã, Carthage cũng mở rộng lãnh thổ của mình ra khắp Bắc Phi. Khi La Mã hoàn tất cuộc chinh phục Ý của mình thì Carthage cũng đã kiểm soát toàn bộ bờ biển Bắc Phi từ phía Tây Libya đến eo biển Gibraltar (bờ biển phía nam Tây Ban Nha), hầu hết bờ biển phía nam Tây Ban Nha cũng như các đảo Corse và Sardegna ở Châu Âu. Carthage trở thành một cường quốc, họ kiểm soát hầu hết các hoạt động giao thương trên Địa Trung Hải, cung cấp binh lính, nô lệ và hàng hóa, và tích trữ lượng lượng vàng bạc khổng lồ từ các mỏ khai thác ở Tây Ban Nha. Hai đế chế hùng mạnh này bắt đầu va chạm nhau vào giữa thế kỷ 3 trước Công nguyên, khi quyền lực của La Mã đã vươn tới cực nam của Ý. Thực ra, hai bên đã có những tiếp xúc rời rạc trước đó nhưng chưa bên nào cảm thấy mối đe dọa đến từ bên kia. Người La Mã có hiểu biết kỹ lưỡng về người Carthage. Họ gọi những người này bằng cái tên gốc là người Phoenicia. Trong tiếng Latin, nó được viết là Poeni, đây là nguồn gốc cái tên Punic của cuộc chiến tranh trong bài này. Cuộc chiến bất hạnh cho Carthage này là không thể tránh được. Nằm giữa Carthage và Ý là hòn đảo lớn Sicilia. Carthage kiểm soát nửa phía tây của hòn đảo, nhưng với việc đã kiểm soát cực nam của bán đảo Ý thì La Mã chỉ còn cách Sicilia một tầm tay. La Mã can thiệp vào cuộc nổi dậy của người Messana chống lại Carthage, và chiến tranh Punic lần thứ nhất nổ ra. Năm 264 TCN, Cộng hòa La Mã đã giành quyền kiểm soát bán đảo Ý phía nam của sông Po. Không giống như Carthage, Roma đã có quân đội thường trực lớn được tuyển dụng từ các công dân La mã. Mặt khác,khi bắt đầu của Chiến tranh Punic lần đầu tiên,người La Mã đã không có hải quân thường trực,dẫu vậy họ đã xây dựng lực lượng hải quân trong suốt cuộc chiến. ==== Chiến tranh Punic lần thứ nhất ==== Nổ ra năm 264 TCN, chủ yếu diễn ra trên đảo Sicilia. La Mã bao vây nhiều thành phố của Carthage ở Sicilia và khi Carthage đưa hải quân của mình đến giải vây, La Mã hủy diệt hoàn toàn lực lượng hải quân này. Lần đầu tiên kể từ khi thành lập, Đế chế Carthage chuốc lấy thất bại trên biển. Cuộc chiến chấm dứt với chiến thắng không thực sự thuộc về bên nào. Năm 241 TCN, một hiệp ước được ký năm 241 giữa 2 bên với việc Carthage phải rời bỏ Sicilia (dù chưa bị mất vào tay La Mã) và bồi thường một khoản cho chiến tranh. Ngay sau đó, Carthage phải đối mặt với các vụ nổi loạn của lực lượng lính đánh thuê, và La Mã hưởng lợi từ sự lộn xộn này với việc chiếm được đảo Corse. La Mã rất e ngại người Carthage và muốn xây dựng một vùng đệm an toàn càng lớn càng tốt giữa La Mã và Carthage. Sau Sicilia và Corse, La Mã tiếp tục muốn đẩy người Carthage ra khỏi Sardegna, hòn đảo phía tây bán đảo Ý. Carthage phản ứng bằng cách gia tăng sức mạnh ở Châu Âu. Trước tiên, họ đưa tướng Hamilcar và con rể ông ta là Hasdrubal tới Tây Ban Nha thiết lập chế độ thuộc địa và xây dựng quân đội. Ở đây, hai cha con này lập quan hệ đồng minh với các nước vùng Iberia, và quân đội Carthage chiêu mộ từ các quốc gia đồng minh lặng lẽ lớn mạnh và quyền lực cùng ảnh hưởng của Carthage vươn khắp bán đảo Iberia. ==== Chiến tranh Punic lần thứ hai ==== Rất lo lắng trước tình hình này nên khi Saguntum, một thành phố nhỏ ở Tây Ban Nha yêu cầu Roma trở thành đồng minh, La Mã đã không từ chối. Vài năm sau, Hannibal, một tướng trẻ 25 tuổi trở thành tổng chỉ huy quân Carthage ở Tây Ban Nha. Lúc đầu, Hannibal cho phép người Saguntum sử dụng các bến cảng rộng lớn để tránh xung đột với La Mã. Nhưng Saguntum với giúp đỡ của người đồng minh La Mã, bắt đầu chơi trò chính trị với các thành phố Tây Ban Nha khác. Bỏ qua những đe dọa trực tiếp từ La Mã, Hannibal tấn công và chiếm giữ Saguntum. La Mã cố gắng thu xếp vấn đề này bằng con đường ngoại giao. Họ yêu cầu Carthage cách chức Hannibal và đưa ông này đến Roma. Chiến tranh Punic lần 2 nổ ra năm 218 trước CN khi Carthage khước từ yêu cầu này. Nhưng lần này, La Mã phải đối mặt với một địch thủ đáng sợ. Trong thời gian sau cuộc chiến lần 1, Carthage đã tạo ra một đội quân hùng mạnh. Hannibal đã đưa đội quân này đi dọc châu Âu và tháng 9 năm 218, ông đưa quân Carthage vượt dãy Alpes bắt đầu cuộc xâm lược Ý. Dù mệt mỏi vì quãng đường vận động chiến, Hannibal vẫn ngay lập tức đập tan quân La Mã ở phía bắc Ý. Chiến thắng ngoạn mục này đã khiến nhiều chiến binh du mục Gaule gia nhập đoàn quân của Hannibal nâng tổng số quân của ông lên trên 50000. Chiến thắng của Hannibal trước người La Mã được đảm bảo bằng việc thuyết phục các đồng minh của La Mã và sát nhập nhiều thành phố vào Carthage. Người La Mã hiểu rằng họ không thể đánh bại Hannibal. Tuyệt vọng, La Mã trao quyền cho nhà độc tài Quintus Fabius Maximus. Fabius ra lệnh tránh chiến tranh trực diện bằng mọi giá, chỉ đánh du kích cho tới khi quân Carthage suy yếu đủ để tấn công trực diện. Nhưng khi Hannibal hành quân tới Cannae (trận Cannae) năm 216 trước CN, Fabius đưa 1 đội quân 80000 người ra chống lại. Đội quân này ngay lập tức bị Hannibal tiêu diệt hoàn toàn, đây là thất bại lớn nhất Roma từng trải qua. Các đồng minh phía Nam Ý của La Mã chạy sang phía Hannibal, toàn bộ Sicilia trở thành đồng minh của Carthage. Thêm vào đó, vua Philippos V của Macedonia, người kiểm soát hầu hết lãnh địa Hy Lạp cũng ngả theo Hannibal và bắt đầu cuộc chiến tranh chống lại La Mã năm 215 trước CN. Tình hình gần như tuyệt vọng đối với La Mã. Fabius không còn dũng khí đối đầu với Hannibal. Hannibal đưa quân đội vòng quanh Ý mà không còn bất cứ sự chống cự nào. Tuy nhiên, Hannibal không có đủ lực lượng và trang bị để bao vây hay tấn công ồ ạt các thành phố như Roma. Tất cả những gì ông có thể làm là đi khắp các miền nông thôn Ý và tàn phá. La Mã quyết định tấn công hậu phương của Hannibal. Biết rằng Hannibal phụ thuộc vào nguồn cung cấp nhân lực và vật lực từ Tây Ban Nha, La Mã trao cho Publius Cornelius Scipio (237-183 TCN), một thiên tài về chiến lược chức Thống đốc Tây Ban Nha, một hành động không hợp hiến vì vị tướng trẻ này chưa bao giờ là quan chấp chính. Scipio, sau này được gọi bằng cái tên Scipio Africanus vì chiến thắng của ông trước người Carthage trên đất Châu Phi, đã nhanh chóng chinh phục toàn bộ Tây Ban Nha. Đến lúc này, Hannibal bị mắc cạn trên đất Ý. Sau đó, Scipio đưa quân vào châu Phi và buộc người Carthage phải đề nghị Roma một hiệp ước hòa bình. Một phần của hiệp ước này là Hannibal phải rời khỏi bán đảo Ý. Hannibal là một trong những danh tướng vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới. Trong suốt cuộc chiến tranh với La Mã, ông không hề thua một trận nào. Dù vậy ông vẫn buộc phải rút lui. Và dù thắng trong tất cả các trận đánh, Hannibal đã thua trong cuộc chiến tranh này. Khi Hannibal quay trở lại, người Carthage lấy lại tinh thần và thêm một lần nữa nổi dậy chống lại La Mã. Năm 202 TCN, Hannibal và Scipio giao chiến ở At Zama phía bắc châu Phi và tại đây Hannibal nếm chiến bại đầu tiên. Carthage bị đưa xuống thành một bang độc lập. La Mã lúc này kiểm soát toàn bộ miền tây Địa Trung Hải bao gồm cả khu vực Bắc Phi. Cuộc chiến này mang đến cho La Mã những kinh nghiệm lịch sử. Họ đã phải đối mặt với những thất bại hiển nhiên trước một địch thủ hùng mạnh và cuối cùng đã chiến thắng những kẻ thù vượt trội này. Tính cách La Mã được nhìn nhận từ cuộc chiến tuyệt vọng này đã xuyên suốt phần còn lại của lịch sử đế chế. Chiến tranh Punic lần 2 đưa La Mã từ một quyền lực có tính khu vực trở thành một đế chế trên toàn thế giới. Với việc Philip V của Macedonia bắt tay với Hannibal tiến hành chiến tranh chống lại Roma, La Mã chuyển hướng chiến tranh về phía đông trước tiên xâm chiếm Macedonia và sau đó là các vương quốc Hi Lạp khác. Kết quả cuối cùng của chiến tranh Punic lần thứ hai là sự thống trị thế giới của La Mã. ==== Chiến tranh Punic lần 3 ==== Trong những năm tiếp theo, La Mã tiếp tục chinh phục các quốc gia Hy Lạp ở phía đông. Ở phía tây, họ đàn áp tàn bạo người Iberia và trút thịnh nộ lên đầu người Carthage. Các nhà sử học đã ghi lại lời của một lãnh tụ hàng đầu của La Mã là Cato rằng khi kết thúc một bài phát biểu về bất cứ vấn đề gì, ông này cũng có câu: "tôi cho rằng phải hủy diệt Carthage". Trong nửa đầu thế kỷ thứ 2 trước CN, dù không giành lại được nhiều quyền lực nhưng với các hoạt động thương mại, Carthage cũng đã khôi phục lại nhiều phần sự thịnh vượng trước kia. La Mã càng ngày càng nghi ngờ sự hồi sinh của Carthage và yêu cầu người Carthage từ bỏ thành phố của họ để lùi sâu vào trong lục địa Bắc Phi. Carthage, xứ sở buôn bán phụ thuộc vào giao thương trên biển khước từ yêu cầu này. Viện nguyên lão La Mã tuyên bố chiến tranh. Sau một thời gian bao vây, người La Mã chiếm được thành phố, binh lính La Mã đi từng nhà tàn sát dân cư Carthage. Đây có lẽ là vụ hành quyết có hệ thống đẫm máu nhất trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Những người Carthage còn sống bị bắt và bị bán làm nô lệ. Cảng biển và thành phố bị phá hủy. === Chinh phục Hy Lạp === Trong thời gian La Mã đang bận rộn với những tranh chấp chính trị nội bộ và cuộc chinh phục Italia thì người Makedonia đã chinh phục hầu hết lãnh địa Hy Lạp và sau đó vươn bàn tay đế quốc ra khắp thế giới. Năm 324 trước CN, khi mà Roma vẫn chưa chinh phục hết Italia và vẫn đang sa lầy trong mối xung đột giữa giới quý tộc và dân nghèo, thì toàn bộ lãnh địa thế giới nằm phía đông La Mã đã thuộc về 1 người đàn ông duy nhất, Alexandros Đại Đế, nhà quân sự có thể coi là vĩ đại nhất trong lịch sử cổ đại. Sau khi chinh phục toàn bộ Ba Tư, Alexandros bất ngờ chết để lại đế chế mênh mông ông đã dựng lên trong sự xâu xé của các tướng lĩnh. Năm 312 trước CN, Seleucus, một trong các viên tướng này xưng vua tại Babylon và phần đất rộng lớn phía đông Hy Lạp, sau đó tiếp tục mở rộng lãnh thổ tới phía đông Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ) và phía bắc Syria thành lập vương quốc Seleukos. Nhưng La Mã dường như không quan tâm lắm đến những sự kiện chấn động này. Bị chi phối bởi những vấn đề trong nội bộ, La Mã không quan tâm lắm đến tình hình bên ngoài và chưa nhìn nhận đế quốc Hy Lạp như 1 mối đe dọa. Nhưng chiến tranh Punic lần 2 đã làm tất cả thay đổi. Roma gần như đã bị hủy diệt bởi người Carthage và vương quốc Makedonia (dưới quyền trị vì của Philippos V 221-179 trước CN) lại liên minh với Carthage. Thế giới Hy Lạp xuất hiện trong mắt của người La Mã như là mối đe doạ lớn nhất đến từ bên ngoài. Philippos V là một vị vua nhiều tham vọng, muốn mở rộng lãnh thổ và biến Makedonia thành 1 đế chế. Không may cho ông ta, Antiochus III (223-187 trước CN), vị vua của đế chế Seleucid cũng có cùng tham vọng này. Antiochus III bắt đầu chiếm đoạt lãnh thổ Palestina, tranh giành quyền kiểm soát với nhà Ptolemaios ở Ai Cập. Đồng thời, Philippos V cũng bắt đầu vươn tay tới biển Aegean (nằm giữa bán đảo Hy Lạp và vùng tiểu Á thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) và vùng tiểu Á. Hsi vị vua này thấy giải pháp tốt nhất là bắt tay nhau cùng chinh phục Ai Cập sau đó mới tính đến chuyện chia chác. Tuy nhiên sau đó Philippos V lại giải hòa với La Mã. Kết quả hiệp ước hòa bình giữa Philippos V và La Mã rất hạn chế. Philippos V hầu như bị quản chế trong khu vực của Macedonia và phải bồi thường ngay lập tức 1000 talent vàng, phải giao nộp hầu hết chiến thuyền và vài con tin, trong đó có con trai của ông, Demetrios. Sau sự kiện này, Philippos V hợp tác với người La Mã trong cuộc chiến của họ chống lại vua xứ Sparta là Nabis vào năm 195 TCN và Antiochos III trong các năm 192 TCN - 189 TCN. Đổi lại cho sự giúp đỡ của ông khi quân đội La Mã dưới quyền Publius Cornelius Scipio Africanus và em trai Lucius Cornelius Scipio Asiaticus hành quân qua Macedonia và Thrace năm 190 TCN. Người La Mã miễn những khoản bồi thường mà ông phải trả và con trai ông Demetrios đã được phóng thích. Philippos sau đó tập trung vào việc củng cố quyền lực tại Macedonia. Ông tập trung cải tổ lại nền tài chính của đất nước, các mỏ được khai thác và một loại tiền tệ mới đã được phát hành. Sau đó Antiochus III này đưa quân lên đất Hy Lạp tấn công người La Mã nhưng nhanh chóng bị đánh bật khỏi Hy Lạp rồi bị thảm bại trong trận Magnesia ở Tiểu Á năm 189 trước CN. Trong cuộc chiến này, người La Mã không chiếm đoạt đất đai mà chỉ buộc Antiochus nộp 1 khoản tiền phạt lớn. Nói chung, La Mã coi các thành phố Hy Lạp như những thành phố tự do ít tiềm lực, và La Mã coi mình là người bảo vệ Hy Lạp, và bằng cách này ngăn chặn sự phát triển của bất kỳ quyền lực tập trung nào có khả năng đe dọa Roma. Năm 179 trước CN, Philippos V chết, người kế vị là Perseus khuấy động phong trào dân chủ và tinh thần cách mạng ở Hy Lạp. Và La Mã lại xâm lược Hy Lạp. Cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ ba nổ ra (172-168 trước CN). Không giống với lần trước, khi cuộc chiến này kết thúc, dù vẫn không chiếm đất đai nhưng Roma áp đặt luật lệ bá chủ rất cứng rắn đối với các đồng minh cũng như các thành phố phụ thuộc nhằm ngăn chặn mọi ngọn lửa cách mạng. La Mã đã học được từ việc kiểm soát các thành phố ở Italia rằng có thể kéo dài sự thần phục của các thành phố này nếu duy trì được sự đàn áp dứt khoát, nhanh chóng và tàn bạo. === Cuộc khủng hoảng của nền Cộng hòa === Giới bình dân La Mã bao gồm những nông dân, thợ thủ công và những lao động chân tay khác. một phần nông dân làm việc trong những trang trại nhỏ của riêng mình, phần còn lại cùng với các thợ thủ công và các loại lao động khác đi làm thuê cho giới quý tộc với mức lương không tồi. Chiến tranh Punic lần thứ hai đã thay đổi tận gốc rễ sự sở hữu tài sản trong xã hội. Hannibal đã san bằng các miền nông thôn khi vận động chiến quanh La Mã, toàn bộ của cải của quốc gia được tập trung sau những bức tường thành Roma để bảo vệ. Bên ngoài, nhà cửa và ruộng đất của hàng vạn nông dân bị phá hủy. Sau chiến tranh, giới quý tộc càng giàu thêm vì chiến lợi phẩm chiến tranh mua sạch đất đai trồng trọt. Đến giữa thế kỷ II TCN, nền nông nghiệp La Mã hoàn toàn bị chi phối bởi các đồn điền mênh mông thuộc sở hữu của những chủ đất giàu có đến mức không tưởng. Những nông dân khánh kiệt tràn vào các thành phố kiếm việc làm. Đây mới chỉ là phần chìm của tảng băng xung đột. Trong khi đó các cuộc chiến Punic và Macedonia đã cung cấp cho La Mã rất nhiều nô lệ. Trước đây, La Mã đã có những lao động là nô lệ, nhưng phải đến giữa thế kỷ 2 TCN, sự chuyển đổi từ nền kinh tế lao động làm công sang lao động nô lệ mới thực sự diễn ra. Đến cuối thế kỷ 2 trước CN, phần lớn dân số La Mã thuộc tầng lớp nô lệ. Tình trạng này làm giảm đi các cơ hội việc làm và thu nhập tốt cho người lao động gốc La Mã. Nếu muốn có công việc, họ buộc phải chấp nhận mức thu nhập thậm chí thấp hơn những người nô lệ, mức đã không thể đủ sống. Tình trạng này tạo ra một làn sóng di trú khổng lồ của những người lao động từ thành phố này sang thành phố khác ở La Mã với nỗi oán giận ngày càng tăng. Thùng thuốc súng khủng hoảng đã được châm ngòi. === Gracchi === Năm 133 TCN, tranh chấp đưa La Mã vào nội chiến. Tiberius Gracchus, vị quan hộ dân đại diện cho dân chúng đề nghị giới hạn quyền sở hữu đất đai dưới 640 acre (1 acre ~ 0.4 ha), và như vậy lấy đi phần lớn đất đai của giới quý tộc. Những người có trên 640 acre đất phải trả lại phần dôi để Nhà nước chia cho dân nghèo. Tất nhiên, giới thượng lưu và viện nguyên lão La Mã tìm mọi cách có thể để phản đối dự luật này. Họ nắm được vị quan hộ dân thứ hai là Octavius và thuyết phục ông này phủ quyết cải cách ruộng đất của Gracchus. Khó chịu vì bị phản đối, Gracchus cách chức Octavius, một hành động vi hiến rõ ràng. Khi nhiệm kỳ kết thúc, Gracchus tiếp tục có thêm hành động vi hiến thứ 2 là tham gia kỳ bầu cử cho nhiệm kỳ tiếp theo. Bạo loạn nổ ra trong lần bầu cử này và Gracchus bị 1 nhóm các nghị sĩ ám sát, lần đầu tiên trong lịch sử tồn tại, người La Mã chém giết lẫn nhau. Nhiều người đã không đánh giá đúng vai trò của Tiberius Gracchus đối với lịch sử La Mã. Dù cuộc cải cách của ông thất bại, nhưng Gracchus đã tạo ra một phong cách chính trị mới: phục vụ đa số. Trước Gracchus, những thay đổi chính trị được thực hiện chủ yếu do những yêu cầu của, và để phục vụ 1 thiểu số là giới quý tộc. Tuy nhiên, Tiberius lại tìm kiếm những thay đổi vì lợi ích của số đông dân chúng và hoàn toàn không đếm xỉa đến giới quý tộc. Điều đó đã tạo ra 1 lớp chính trị gia mới ở La Mã, những người được gọi là chính trị gia mị dân do những cố gắng giành quyền lực của họ bằng cách thu hút sự ủng hộ trong dân chúng. Đối lập với những chính trị gia kiểu này, giới quý tộc tiếp tục nỗ lực duy trì cơ cấu chính trị truyền thống: phục vụ tầng lớp giàu có. Tiberius chết nhưng nhà Gracchi chưa dừng lại ở đó. Liên tiếp hai năm 123 và 122 TCN, Gaius Gracchus (em trai Tiberius) được bầu là quan hộ dân. Có nguồn ủng hộ khổng lồ từ dân chúng, Gaius tìm cách thông qua rất nhiều bộ luật tại quốc hội. Đầu tiên, ông ra luật bình ổn giá cả ngũ cốc bằng việc cho xây dựng các nhà kho chứa ngũ cốc thừa từ mùa trước. Dự luật thứ hai sẽ mang lại cho ông rất nhiều sự chống đối là trao quyền công dân cho tất cả người Italia (nhằm làm tăng quyền lực của bản thân Gaius). Năm 121 TCN, Viện nguyên lão thông qua 1 luật định yêu cầu các quan chấp chính bảo vệ nền cộng hòa và tuyên bố Gaius Gracchus là kẻ thù của nhà nước. Gaius bị săn đuổi và tự sát, hàng ngàn người ủng hộ ông bị giết và treo cổ. === Suy tàn === Cuộc cải cách của Sulla mang lại sự phản kháng dữ dội. Sau khi Sulla chết, viện nguyên lão phải đối mặt với các cuộc nổi loạn có vũ trang. Năm 70 TCN, hai chính trị gia nhiều tham vọng là Crassus và Pompey lên làm quan chấp chính và ngay lập tức bãi bỏ hiến pháp của Sulla. 1 trào lưu chính trị mới xuất hiện. Crassus và Pompey liên minh với các quan hộ dân và quốc hội chống lại viện nguyên lão cùng giới quý tộc. Năm 67 TCN, Pompey được trao quyền lãnh đạo toàn bộ vùng Địa Trung Hải trong 3 năm, và quyền lực này được kéo dài trong nhiều năm tiếp theo để ông có thể tiếp tục cuộc chiến ở vùng Tiểu Á. Đến cuối giai đoạn này, Pompey đã trở thành nhà lãnh đạo nổi tiếng nhất ở La Mã. Việc này khiến Crassus lo sợ vì ông ta không có vị trí quan trọng như Pompey trong cả viện nguyên lão lẫn Quốc hội. Và Crassus quyết định liên minh với các chính trị gia tiếng tăm khác, trong đó nổi bật nhất là Gaius Julius Caesar (100-44 TCN). Caesar xuất thân từ một gia đính quý tộc lâu đời, và là vị tướng thiên tài chỉ huy quân La Mã ở Tây Ban Nha và Gaul. Khi Caesar trở về từ Tây Ban Nha, ông yêu cầu 1 cuộc diễu binh chiến thắng vòng quanh Roma. Viện nguyên lão từ chối cuộc diễu binh này vì sợ ảnh hưởng của ông tới đám đông dân chúng. Caesar thuyết phục Pompey và Crassus hòa giải và thể chế tam hùng đầu tiên được thành lập bao gồm ba chính trị gia nói trên. Chính phủ tam hùng đầu tiên bao gồm Caesar, Crassus và Pompey bắt đầu nắm quyền lực năm 59 trước CN sau khi Caesar được bầu làm quan chấp chính. Chương trình cải cách của chính phủ mới được ban hành và Caesar trở thành thống đốc của 2 tỉnh Gaul (phía bắc Italia) và Illycrium (ven biển Adria của Nam Tư). Các chiến dịch chinh phục bằng quân sự là con đường để vươn tới quyền lực ở La Mã, bằng cách đó tạo cho các tướng lãnh 1 đội quân trung thành, sự giàu có, sự ủng hộ và uy tín ở Roma. Chức thống đốc ở 2 tỉnh nói trên cho phép Caesar thực hiện ước mơ chinh phục của mình. == Ngôn ngữ == Ngôn ngữ của người La Mã là tiếng Latin, nó đã được Virgil nhấn mạnh như một nguồn gốc của sự thống nhất và truyền thống của người La Mã. Cho đến tận thời hoàng đế Alexander Severus (trị vì từ năm 222-235) thời đế chế, Giấy khai sinh và chúc thư của công dân La Mã đều phải được viết bằng tiếng Latin. Tiếng Latin cũng còn là ngôn ngữ của các tòa án ở phía Tây và của quân đội trên khắp Đế quốc, nhưng lại không được áp dụng chính thức đối với những cư dân nằm dưới sự cai trị của người La Mã. Thánh Augustinô nhận xét rằng người La Mã ưa thích tiếng Latinh đến mức đã chấp nhận và thực hiện per societatis pacem, thông qua một hiệp ước xã hội. Chính sách này tương phản với của Alexandros Đại đế, vốn mong muốn nhằm biến tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính thức trên khắp đế chế của mình. Như là một hệ quả từ các cuộc chinh phục của Alexandros, ngôn ngữ Koine Hy Lạp đã trở thành ngôn ngữ chung ở khu vực quanh phía đông Địa Trung Hải và ở Tiểu Á "Biên giới ngôn ngữ họ" này đã phân chia đế quốc thành hai nửa với tiếng Latin ở Phía Tây và tiếng Hy Lạp ở Phía Đông thông qua bán đảo Balkan, tạo ra một hệ ngôn ngữ song song bên trong đế quốc La Mã. Những người La Mã mà được nhận một nền giáo dục ưu tú, thì lại học tiếng Hy Lạp như là một ngôn ngữ thơ ca, và hầu hết những người thuộc chính quyền đều có thể nói tiếng Hy Lạp. Các vị hoàng đế của triều đại Julio-Claudius đã khuyến khích những tiêu chuẩn cao đối với tiếng Latin chuẩn (Latinitas), một trào lưu ngôn ngữ được đồng nhất theo những thuật ngữ hiện đại như là tiếng Latinh cổ điển, và ủng hộ việc sử dụng chính thức tiếng Latin trong các hoạt động kinh doanh. == Tham khảo == == Tham khảo == Dionysius of Halicarnassus; Ernest Cary (Translator); William Thayer (Editor) (1 tháng 5 năm 2007). “Book IV, sections 64-85”. Roman Antiquities. Loeb Classical Library. Cambridge MA, Chicago: Harvard University, University of Chicago. Livius, Titus. “Book I, sections 57-60”. Ab urbe condita. Abbott, Frank Frost (1901). A History and Description of Roman Political Institutions. Elibron Classics. ISBN 0-543-92749-0. Byrd, Robert (1995). The Senate of the Roman Republic. U.S. Government Printing Office Senate Document 103-23. Caesar, Julius (58–50 BC). The conquest of Gaul. London: Penguin Books. ISBN 0-14-044433-5. Cicero, Marcus Tullius (1841). The Political Works of Marcus Tullius Cicero: Comprising his Treatise on the Commonwealth; and his Treatise on the Laws. vol. 1 . London: Edmund Spettigue. Eck, Werner (2003). The Age of Augustus. Oxford: Blackwell Publishing. ISBN 0-631-22957-4. Flower, Harriet I. (2004). The Cambridge Companion to the Roman Republic. Cambridge. Flower, Harriet I. (2009). Roman Republics. Princeton. Goldsworthy, Adrian (2003). The Complete Roman Army. Thames & Hudson. ISBN 0-500-05124-0. Hart, B. H. Liddell (1926, reprint 2004). Scipio Africanus — Greater than Napoleon. DA CAPO Press. ISBN 0-306-81363-7. Holland, Tom (2005). Rubicon: the last years of the Roman Republic. Doubleday. ISBN 0-385-50313-X. Lintott, Andrew (1999). The Constitution of the Roman Republic. Oxford University Press. ISBN 0-19-926108-3. MacDonald, W. L. (1982). The Architecture of the Roman Empire. Yale University Press, New Haven. Matyszak, Philip (2004). The Enemies of Rome. Thames & Hudson. ISBN 0-500-25124-X. Owen, Francis (1993). The Germanic people; their Origin Expansion & Culture. Barnes & Noble Books. ISBN 0-19-926108-3. Palmer, L. R. (1954). The Latin Language. Univ. Oklahoma. ISBN 0-8061-2136-X. Polybius (1823). The General History of Polybius: Translated from the Greek. Vol 2 . Oxford: Printed by W. Baxter. Taylor, Lily Ross (1966). Roman Voting Assemblies: From the Hannibalic War to the Dictatorship of Caesar. The University of Michigan Press. ISBN 0-472-08125-X.
pyrit.txt
Pyrit hay pyrit sắt, là khoáng vật disulfua sắt với công thức hóa học FeS2. Ánh kim và sắc vàng đồng từ nhạt tới thông thường của khoáng vật này đã tạo nên tên hiệu riêng của nó là vàng của kẻ ngốc do nó trông tương tự như vàng. Pyrit là phổ biến nhất trong các khoáng vật sulfua. Tên gọi pyrit bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp πυρίτης (puritēs) nghĩa là "của lửa" hay "trong lửa", từ πύρ (pur) nghĩa là "lửa". Tên gọi này có lẽ là do các tia lửa được tạo ra khi pyrit va đập vào thép hay đá lửa. Tính chất này làm cho pyrit trở thành phổ biến trong sử dụng để làm cơ chế đánh lửa bằng bánh xe trong các dạng súng cổ. == Khoáng vật học == Khoáng vật này có mặt như là các tinh thể đẳng cực thường xuất hiện dưới dạng các khối lập phương. Các mặt của lập phương có thể có sọc (các đường song song trên mặt tinh thể hay mặt cát khai) do kết quả của sự xen kẽ các khối lập phương với các mặt diện pyrit. Pyrit cũng hay xuất hiện dưới dạng các tinh thể bát diện và dạng diện pyrit (hình thập nhị diện với các mặt ngũ giác). Nó có mặt gãy hơi không đều và concoit, độ cứng Mohs khoảng 6–6,5, tỷ trọng riêng khoảng 4,95–5,10. Nó giòn và có thể nhận dạng trên thực địa do có mùi đặc trưng để phân biệt, được giải phóng ra khi mẫu vật bị tán nhỏ. Pyrit thông thường được tìm thấy ở dạng gắn liền với các sulfua hay ôxít khác trong các mạch thạch anh, đá trầm tích, đá biến chất cũng như trong các tầng than, và trong vai trò của khoáng vật thay thế trong các hóa thạch. Mặc dù có tên hiệu là vàng của kẻ ngốc, nhưng một lượng nhỏ vàng đôi khi cũng được tìm thấy trong quặng chứa khoáng vật này. Vàng và asen xuất hiện như là sự thay thế đi kèm nhau trong cấu trúc pyrit. Tại khu trầm tích vàng ở Carlin, Nevada, pyrit asen chứa tới 0,37% theo trọng lượng là vàng. Pyrit chứa vàng là loại quặng vàng có giá trị. == Phong hóa và giải phóng sulfat == Pyrit bị lộ thiên ra ngoài không khí trong quá trình khai thác mỏ và khai quật sẽ phản ứng với ôxy và nước để tạo thành sulfat, gây ra sự thoát nước mỏ axít. Quá trình axít hóa này tạo ra từ phản ứng của vi khuẩn chi Acidithiobacillus, các dạng vi khuẩn tìm kiếm nguồn năng lượng của chúng bằng cách ôxi hóa các ion sắt II (Fe2+) thành các ion sắt III (Fe3+) với việc sử dụng ôxy như là tác nhân ôxi hóa. Các ion sắt III đến lượt mình lại tấn công pyrit để sinh ra ion sắt II và sulfat. Sắt hóa trị 2 lại được vi khuẩn sử dụng để tạo ra sắt hóa trị 3 và chu trình này tiếp diễn cho đến khi pyrit cạn kiệt. == Sử dụng == Pyrit được sử dụng ở quy mô thương mại trong sản xuất điôxít lưu huỳnh, có ứng dụng trong các ngành công nghiệp như sản xuất giấy, axít sulfuric, mặc dù vai trò của các ứng dụng này đang bị suy giảm. == Pyrit và marcasit == Pyrit thông thường hay bị nhầm lẫn với khoáng vật marcasit, mà tên gọi của nó có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập để chỉ pyrit, do các đặc trưng tương tự của chúng. Marcasit là dạng đa hình của pyrit, nghĩa là nó có cùng một công thức như pyrit nhưng khác về cấu trúc và vì thế khác biệt về hình dáng tinh thể và tính đối xứng. Tuy nhiên, trạng thái ôxi hóa hình thức là giống như trong pyrit do các nguyên tử lưu huỳnh xuất hiện trong các cặp tương tự như persulfua. Marcasit/pyrit có lẽ là cặp đa hình phổ biến bậc nhất chỉ sau cặp kim cương/graphit (than chì). Bề ngoài của marcasit có ánh bạc nhiều hơn một chút. Marcasit là họ hàng ở trạng thái ổn định giả (giả bền) của pyrit và nó sẽ dần dần chuyển sang dạng pyrit nếu bị đốt nóng hay thời gian đủ dài. Marcasit là tương đối hiếm, nhưng có thể là phổ biến cục bộ trong một vài kiểu quặng trầm tích, chẳng hạn như có trong quặng Pb-Zn kiểu thung lũng Mississippi. Marcasit dường như chỉ hình thành từ dạng dung dịch lỏng. Pyrit thông thường cũng được dùng trong nghề kim hoàn mỹ nghệ để làm các chuỗi hạt hay vòng đeo tay. Mặc dù là tương tự về thành phần, nhưng marcasit lại không thể sử dụng trong lĩnh vực này do nó có xu hướng bị vỡ vụn ra thành dạng bột. Bổ sung cho sự lộn xộn và nhầm lẫn giữa marcasit và pyrit là việc sử dụng từ Marcasit như là tên gọi thương phẩm cho đồ kim hoàn mỹ nghệ từ pyrit. Thuật ngữ này được áp dụng cho các viên đá nhỏ được đánh bóng và tạo mặt, được dát vào bạc thật (hay bạc sterling, chứa 92,5% bạc và 7,5% kim loại khác). Tuy các viên đá này được gọi là marcasit, nhưng trên thực tế chúng chính là pyrit. == Các trạng thái ôxi hóa hình thức == Từ khía cạnh của hóa vô cơ kinh điển, trong đó người ta gán các trạng thái ôxi hóa hình thức cho mỗi nguyên tử (hóa trị), thì pyrit có lẽ được miêu tả tốt nhất như là Fe2+S22-. Tính chất hình thức này công nhận rằng các nguyên tử lưu huỳnh trong pyrit xuất hiện thành cặp với các liên kết S-S rõ ràng. Các đơn vị persulfua này có thể được nhìn nhận như là có nguồn gốc từ persulfua hiđrô (H2S2). Vì thế pyrit có lẽ nên gọi mang tính miêu tả nhiều hơn là persulfua sắt chứ không phải disulfua sắt. Ngược lại, molypdenit (MoS2) có đặc trưng là các trung tâm sulfua (S2-) cô lập. Kết quả là, trạng thái ôxi hóa của molypden là Mo4+. Khoáng vật asenopyrit có công thức FeAsS. Trong khi pyrit có các tiểu đơn vị S-S thì asenopyrit có các tiểu đơn vị As-S, về mặt hình thức là có nguồn gốc từ sự khử proton của H2AsSH. Phân tích các trạng thái ôxi hóa kinh điển có thể khuyến cáo nên miêu tả asenopyrit như là Fe3+AsS3-. == Các biến thể == Bravoit là một biến thể của pyrit chứa niken-coban, với trên 50% là sự thay thế bằng Ni2+ cho Fe2+ trong pyrit. Bravoit không được công nhận một cách chính thức như là khoáng vật và nó được đặt tên theo tên nhà khoa học Peru là Jose J. Bravo (1874-1928). == Tham khảo == American Geological Institute, 2003, Dictionary of Mining, Mineral, and Related Terms, ấn bản lần 2, Springer, New York, ISBN 978-3-540-01271-9 Thư viện khoáng vật == Liên kết ngoài == How Minerals Form and Change "Pyrite oxidation under room conditions".
quốc hội hoa kỳ.txt
Quốc hội Hoa Kỳ là cơ quan lập pháp của Chính quyền Liên bang Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Quốc hội Hoa Kỳ là một định chế quyền lực theo mô hình lưỡng viện, gồm hai viện là Hạ viện (House of Representatives, còn gọi là Viện Dân biểu) và Thượng viện (Senate, dịch nghĩa là Viện nguyên lão) đều có quyền lực trong quy trình thông qua các dự luật. Cả hai viện đều đặt trụ sở tại Điện Capitol, Washington, D.C. Hạ viện có 435 thành viên (gọi là dân biểu), mỗi thành viên đại diện cho một hạt bầu cử, phục vụ trong nhiệm kỳ hai năm. Số dân biểu đại diện cho mỗi bang được ấn định theo tỷ lệ dân số. Ngược lại, tại Thượng viện, số thành viên (gọi là thượng nghị sĩ) đại diện cho mỗi bang là hai người, không tính theo tỷ lệ dân số. Như vậy Thượng viện có tổng cộng 100 thượng nghị sĩ, phục vụ theo nhiệm kỳ sáu năm. Thành viên của cả hai viện đều được người dân bầu trực tiếp. Tại một số bang, thống đốc có quyền bổ nhiệm thượng nghị sĩ tạm quyền khi có chỗ khuyết giữa nhiệm kỳ. Hiến pháp dành cho Quốc hội quyền lập pháp liên bang; các quyền này được liệt kê rõ ràng trong hiến pháp; những quyền hạn khác được dành cho bang hay nhân dân, trừ khi có ấn định nào khác trong hiến pháp. Quyền lực to lớn của quốc hội bao gồm thẩm quyền ban hành các văn bản pháp quy trong lãnh vực thương mại giữa các bang và với nước ngoài, đánh thuế, thiết lập các toà án trực thuộc Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, duy trì quân lực và tuyên chiến. Trong quy trình thông qua các dự luật, cả hai viện có quyền ngang bằng nhau. Thượng viện Hoa Kỳ không chỉ đơn giản là "một thiết chế kiểm tra" như một số định chế tương tự trong hệ thống lập pháp lưỡng viện tại nhiều quốc gia khác. == Lịch sử == Những Điều khoản Liên hiệp, theo đó Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ mới giành độc lập được điều hành, quy định Quốc hội là thiết chế một viện, mỗi bang có số đại biểu bằng nhau. Sự thiếu hiệu quả của Chính phủ liên bang theo thể chế này dẫn đến việc triệu tập Quốc hội lập hiến năm 1787; tất cả các bang, ngoại trừ Rhode Island, cử đại biểu đến tham dự. Một trong những vấn đề gây chia rẽ tại đây là cơ cấu của quốc hội. Kế hoạch Virginia của James Madison chủ trương một quốc hội lưỡng viện; Viện dân biểu được người dân bầu trực tiếp, Thượng viện được bầu bởi Viện dân biểu và số đại biểu được ấn định theo tỷ lệ dân số. Kế hoạch này nhận được sự ủng hộ từ các bang lớn như Virginia, Massachusetts và Pennsylvania. Trong khi đó, các bang nhỏ hơn ủng hộ Kế hoạch Jersey, chủ trương quốc hội một viện với số đại biểu bằng nhau cho mỗi bang. Dần dần, một đề án mang tính thoả hiệp gọi là Connecticut hay Đại Thỏa hiệp, được hình thành. Theo đó, nhằm ngăn chặn tình trạng lạm quyền có thể xảy ra ở cấp liên bang, Hiến pháp xác lập nguyên tắc phân quyền với quyền lực được phân bổ cho ba nhánh: hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Hơn nữa, nhánh lập pháp được quy định theo mô hình lưỡng viện để bảo đảm nguyên tắc kiểm soát lẫn nhau và cân bằng quyền lực. Một viện (viện dân biểu) có số đại biểu theo tỷ lệ dân số, trong khi viện còn lại (Thượng viện) có số đại biểu bằng nhau, và để duy trì quyền lực của bang, viện lập pháp bang, chứ không phải người dân, bầu chọn các thượng nghị sĩ. Hiến chương được thông qua bởi chín trong số mười ba bang và có hiệu lực từ ngày 4 tháng 3 năm 1789. Thế kỷ 19 chứng kiến những tranh chấp thường xuyên xảy ra giữa hai viện. Trong hầu hết nửa đầu thế kỷ 19, Thượng viện giữ được thế cân bằng giữa miền Bắc chủ trương tự do và miền Nam chủ trương sở hữu nô lệ, trong khi số lượng các bang còn ngang nhau. Ngược lại, tại Viện dân biểu, vì miền Bắc đông dân hơn nên nắm quyền kiểm soát. Một điển hình cho tình trạng này là dự luật Wilmot Proviso, cấm sở hữu nô lệ trong khu vực chiếm được trong chiến tranh Mỹ - Mễ, được ủng hộ tại Viện dân biểu nhưng bị chặn lại tại Thượng viện. Những tranh chấp về vấn đề nô lệ và về các vấn đề khác ngày càng trở nên trầm trọng cho đến khi bùng nổ cuộc Nội chiến (1861–1865), sau khi các bang miền Nam quyết định tách rời khỏi liên bang. Miền Nam bị thất trận và chế độ nô lệ bị bãi bỏ. Trong Thời kỳ Tái thiết, cả hai viện đều ở dưới quyền kiểm soát của đảng Cộng hoà, được nhiều người Mỹ nối kết với chiến thắng trong cuộc nội chiến. Thời kỳ Tái thiết chấm dứt vào năm 1877 để bắt đầu một giai đoạn mới, Thời kỳ Hoàng kim (Gilded Age) của phát triển và hưng thịnh; vào lúc này, bắt đầu một sự chia rẽ sâu sắc trong lòng các cử tri, khi họ phải chọn lựa giữa đảng Dân chủ và đảng Cộng hoà. Cũng phát sinh nhiều bất bình về việc dành quyền bầu thượng nghị sĩ cho các viện lập pháp bang. Các cuộc bầu cử Thượng viện thường bị vấy bẩn bởi những vụ mua chuộc và tham nhũng; trong một số trường hợp, sự liên kết giữa hai viện của các viện lập pháp bang ngăn chặn các cuộc bầu cử Thượng viện (Delaware không có đại diện tại Thượng viện trong bốn năm vì Viện lập pháp Delaware bị ngăn cản khi tiến hành bầu thượng nghị sĩ). Cuối cùng, Tu chính án thứ 17, được thông qua năm 1913, cho phép bầu trực tiếp các thượng nghị sĩ. Thời gian đầu thế kỷ chứng kiến sự tỏa sáng của các nhà lãnh đạo tại cả hai viện của Quốc hội. Tại Viện dân biểu, vị thế của Chủ tịch (Speaker) ngày càng nâng cao, lên đến đỉnh điểm với nhiệm kỳ của Joseph Gurney Cannon. Dù các nhà lãnh đạo tại Thượng viện không giành được nhiều quyền lực như chủ tịch Viện dân biểu, các thượng nghị sĩ tự gây dựng cho mình thanh thế lớn lao. Đặc biệt là chủ tịch các uỷ ban tại cả hai viện thường có nhiều ảnh hưởng đáng kể cho đến khi có những cải cách được tiến hành vào những năm 1970. Trong ba nhiệm kỳ lâu dài của tổng thống Franklin D. Roosevelt (1933–1945), đảng Dân chủ kiểm soát cả hai viện Quốc hội, có lúc chiếm hai phần ba số ghế trong cả hai viện. Các dự luật cho chương trình New Deal được Quốc hội thông qua đều đến từ Tòa Bạch Ốc thay vì được các nghị sĩ đệ trình. Song, sau khi xảy ra vụ Watergate và những vụ lạm quyền khác của chính phủ Nixon, Quốc hội bắt đầu tái khẳng định quyền lực của mình trong chức năng làm luật và giám sát hành pháp. Trong thập niên kế tiếp, có sự phân phối đồng đều hơn cho đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ. Đảng Cộng hòa thắng trong kỳ bầu cử năm 1946, nhưng lại thất bại hai năm sau đó; đến khi Dwight D. Eisenhower đắc cử tổng thống năm 1952, Đảng Cộng hòa giành đa số ở cả hai viện. Tuy nhiên, trong kỳ bầu cử năm 1954 các đảng viên Dân chủ lại giành quyền kiểm soát lưỡng viện Quốc hội trong suốt 40 năm kế tiếp; Đảng Cộng hòa chỉ kiểm soát Thượng viện một lần trong sáu năm (1981-1987). Kể từ kỳ tuyển cử năm 1994, các đảng viên Cộng hoà đã ào ạt chiếm lại quyền lực dưới sự lãnh đạo của Newt Gingrich cho đến năm 2006, ngoại trừ giai đoạn từ năm 2001 đến 2002, khi Đảng Dân chủ kiểm soát Thượng viện. Năm 2006, Đảng Dân chủ tái lập thế đa số ở Viện Dân biểu. Đến Quốc hội khóa 110 (2007-2008), các nghị sĩ Dân chủ kiểm soát Thượng viện với 51 - 49 ghế. == Thành phần == Viện dân biểu có 435 thành viên đại diện cho 50 bang. Những đại biểu này được bầu chọn từ các bang dựa trên số dân, nhưng mỗi bang có quyền có ít nhất là một đại diện tại Viện dân biểu. Các dân biểu được bầu từ một khu vực cử tri riêng lẻ gọi là hạt bầu cử (congressional district). Mỗi bang có thể sắp xếp các hạt bầu cử để đáp ứng những đòi hỏi của pháp luật như mỗi hạt bầu cử phải có số dân xấp xỉ ngang nhau. Nhiệm kỳ cho các dân biểu là hai năm. Hiến pháp không dành quyền đại diện cho Đặc khu Columbia (District of Columbia) và các vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, Quốc hội cho phép họ bầu các đại biểu hoặc ủy viên quốc hội (Resident Commissioner) với quyền tham dự và tranh luận tại các phiên họp của Quốc hội, nhưng không có quyền biểu quyết. Các dân biểu phục vụ với nhiệm kỳ hai năm trong khi nhiệm kỳ dành cho Resident Commissioner là bốn năm. Đặc khu Columbia, Samoa, Guam, quần đảo Virgin thuộc Mỹ, mỗi nơi có một đại biểu. Riêng Puerto Rico bầu cho mình một Resident Commissioner. Thượng viện có 100 thành viên, mỗi bang có quyền gởi đến Thượng viện hai thượng nghị sĩ đại diện cho mình. Thượng nghị sĩ được bầu bởi cử tri, không phải từ một hạt bầu cử, mà là của toàn bang. Nhiệm kỳ dành cho thượng nghị sĩ là sáu năm, được sắp xếp sao cho cứ mỗi hai năm có một phần ba số ghế tại Thượng viện được bầu lại, và làm thế nào để hai ghế đại diện cho một bang không phải bị bầu lại trong cùng một kỳ tuyển cử. Đặc khu Columbia và các lãnh thổ khác không có đại diện tại Thượng viện. Đại thể, các đảng Cộng hòa và Dân chủ chọn ứng cử viên cho các cuộc bầu cử chính. Các cuộc tổng tuyển cử được tổ chức vào ngày thứ Ba đầu tiên của tháng 11 vào những năm chẵn. Các cuộc bầu cử đặc biệt được tổ chức bất cứ lúc nào có chỗ khuyết; riêng đối với các ghế khuyết tại Thượng viện, thống đốc bang thường giành quyền bổ nhiệm một thượng nghị sĩ tạm quyền cho đến khi có bầu cử. == Thủ tục == Hiến pháp dành cho Viện dân biểu quyền bầu chức Chủ tịch Viện dân biểu Hoa Kỳ. Với quyền hạn rộng lớn, chủ tịch Viện dân biểu có thể kiểm soát chiều hướng của các cuộc tranh luận và tạo lập các tiền lệ cho Viện dân biểu. Thông thường, Chủ tịch Viện dân biểu không chủ tọa các cuộc tranh luận, thay vào đó, nhiệm vụ này được giao cho các thành viên khác. Chủ tịch Viện dân biểu thường thường là lãnh tụ của đảng đa số. Tuy nhiên có một lãnh tụ khác thuộc đảng đa số tại Viện dân biểu Hoa Kỳ được gọi là Lãnh tụ Đa số của Viện dân biểu Hoa Kỳ. Phó Tổng thống Hoa Kỳ đương nhiên là Chủ tịch Thượng viện; chủ tịch Thượng viện không bầu phiếu trừ khi số phiếu bầu tại Thượng viện ngang nhau. Thượng viện cũng bầu ra một chủ tịch tạm quyền trong trường hợp Phó Tổng thống vắng mặt. Cả Phó Tổng thống lẫn chủ tịch tạm quyền đều không chủ tọa các phiên họp, nhiệm vụ này được đảm trách bởi các thượng nghị sĩ khác. Quyền hạn của chủ tịch tạm quyền ít hơn nhiều so với quyền hạn của Chủ tịch Viện dân biểu. Chủ tịch Thượng viện tạm quyền không phải là người đứng đầu phe đa số. Tại Thượng viện, Lãnh tụ phe đa số (Majority Leader) là người có ảnh hưởng lớn nhất. Thành viên của cả hai viện thường biểu quyết bằng miệng; họ sẽ hô to "aye" hay "no", và chủ tọa phiên họp sẽ công bố kết quả. Dù vậy, Hiến pháp cũng quy định phải tổ chức biểu quyết bằng phiếu, nếu có yêu cầu của một phần năm số thành viên đang có mặt. Thông thường, biểu quyết bằng phiếu sẽ được tiến hành nếu kết quả của cuộc biểu quyết bằng miệng không rõ ràng, hoặc vấn đề được biểu quyết là chủ đề đang gây tranh cãi. Thượng viện biểu quyết bằng miệng theo cách tuần tự; một thư ký xướng tên các thượng nghị sĩ từng người một, người được xướng tên sẽ hô to "aye" hoặc "no". Bình thường, dân biểu tại Viện dân biểu sử dụng các thiết bị điện tử để biểu quyết. == Nhiệm kỳ == Trước đây, nhiệm kỳ của Quốc hội bắt đầu vào ngày 4 tháng 3 của năm lẻ. Vì vậy, có một thời gian "tê liệt" tính từ cuộc tuyển cử vào tháng 11 cho đến lúc các tân nghị sĩ tuyên thệ nhậm chức. Tu chính án thứ 20, được thông qua vào năm 1933, rút ngắn thời gian tê liệt này bằng cách ấn định thời điểm khởi đầu nhiệm kỳ của Quốc hội là giữa trưa ngày 3 tháng 1 của năm lẻ. Để bắt đầu nhiệm kỳ mới, toàn thể dân biểu và một phần ba thượng nghị sĩ (vừa đắc cử trong cuộc tuyển cử tháng 11 năm trước) tiến hành tuyên thệ. Họ sẽ đọc lời tuyên thệ: "Tôi long trọng tuyên thệ rằng tôi sẽ ủng hộ và bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ chống lại mọi kẻ thù, trong và ngoài nước; tôi tin tưởng và trung thành với Hiến pháp; tôi nhận lãnh trách nhiệm này cách tự nguyện, không hề dè dặt, cũng không né tránh; tôi sẽ tận tụy hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của trọng trách mà tôi sắp đảm nhận; Cầu xin Chúa phù hộ tôi". Viện dân biểu sẽ tiến hành bầu Chủ tịch mới trong khi chủ tịch tạm quyền của Thượng viện chỉ tiếp tục công việc của mình từ trước. Quốc hội tổ chức hai "kỳ họp" cho mỗi nhiệm kỳ, mỗi kỳ họp kéo dài một năm, bắt đầu vào ngày 3 tháng 1 (hoặc một ngày nào khác theo sự chọn lựa của Quốc hội). Vào một thời điểm được chọn trong hai tháng đầu của mỗi kỳ họp, tổng thống sẽ đọc Diễn văn Liên bang, thẩm định tình hình quốc gia và phác thảo những dự luật sẽ trình quốc hội. Bài diễn văn này là một ứng dụng theo hình mẫu của Bài diễn văn của Vương quyền, được tuyên đọc bởi quốc vương nước Anh. Thomas Jefferson đã đình chỉ thông lệ này, và những tổng thống kế nhiệm tiếp bước ông, bằng cách hằng năm gởi một thông điệp viết sẵn đến quốc hội. Năm 1913, tổng thống Woodrow Wilson phục hồi thông lệ cũ khi ông đích thân đến đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc hội; từ đó đến nay, ít có tổng thống nào muốn trách né công việc này. == Chức năng == Nghị sĩ Quốc hội thường đệ trình các dự luật theo yêu cầu của những nhóm vận động hành lang (lobbyist). Các nhóm này vận động để thông qua hoặc bác bỏ các dự luật ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Trong một số trường hợp, các nhóm này soạn thảo dự luật và nhờ một nghị sĩ đệ trình. Các nhóm vận động hành lang quốc hội phải đăng ký vào cơ sở dữ liệu trung ương. Những nhóm vận động hành lang làm việc cho các tổ chức chính trị, các công ty, chính quyền bang, chính quyền nước ngoài và nhiều nhóm khác. Năm 2005, có đến 35 000 người vận động hành lang đã đăng ký, gấp đôi số lượng năm 2000. Nhiều nhà vận động hành lang nổi trội từng là thành viên quốc hội, những người khác có thân nhân là các nghị sĩ đương nhiệm, điển hình là Harry Reid, Dennis Hastert, cựu Dân biểu Tom DeLay, và Roy Blunt đều có người thân trong gia đình đang làm việc các nhóm vận động hành lang. Thành viên của cả hai viện đều có thể đệ trình dự luật, nhưng hiến pháp quy định "Tất cả dự luật nhằm nâng cao lợi tức phải xuất phát từ Viện dân biểu". Vì vậy, Thượng viện không có quyền đề xuất luật đánh thuế. Hơn nữa, Viện dân biểu cho rằng Thượng viện cũng không có quyền đệ trình luật ngân sách liên bang. Dù Thượng viện tỏ vẻ nghi ngờ về cách giải thích này của Viện dân biểu, mỗi lần Thượng viện trình luật ngân sách đều bị Viện dân biểu từ chối xem xét. Mặc dù không được đệ trình các dự luật này, Thượng viện lại có quyền sửa đổi hay bác bỏ chúng. Mỗi dự luật đều phải trải qua một số giai đoạn tại mỗi viện; trước tiên, nó phải được xem xét bởi một uỷ ban. Các trình tự lập pháp phải được xem xét bởi các uỷ ban thường trực, mỗi uỷ ban có thẩm quyền trong một lãnh vực riêng biệt chẳng hạn như nông nghiệp hay ngân sách. Viện dân biểu có 20 uỷ ban thường trực, trong khi con số này tại Thượng viện là 16. Trong một số trường hợp, các dự luật có thể được đệ trình các uỷ ban đặc biệt (xem xét các lãnh vực chuyên môn hẹp hơn các uỷ ban thường trực). Các uỷ ban được phép tổ chức các cuộc điều trần và thu thập chứng cớ khi xem xét các dự luật. Các uỷ ban cũng có thể sửa đổi dự luật, nhưng chỉ có toàn thể Thượng viện hoặc toàn thể Viện dân biểu mới có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ các dự luật. Sau khi xem xét và thảo luận, uỷ ban sẽ bỏ phiếu quyết định xem có nên trình dự luật trước toàn viện hay không. Khi được đệ trình bởi uỷ ban, dự luật sẽ được xem xét bởi toàn viện. Tại đây, dự luật có thể bị sửa đổi (quy trình này có thể khác biệt đôi chút giữa hai viện). Cuối cùng là biểu quyết. Các chính đảng thường không thể kiểm soát cách bỏ phiếu của các nghị sĩ của hai viện Quốc hội. Thanh danh cá nhân, tiến trình gây quỹ bầu cử, và chiến dịch vận động tranh cử đóng vai trò quan trọng trong các cuộc tuyển cử; chỉ có sự ủng hộ từ đảng phái chính trị là không đủ. Vì các nghị sĩ không muốn dựa vào sự ủng hộ của các tổ chức đảng, họ thường tỏ ra độc lập với giới lãnh đạo đảng. Vì vậy giới lãnh đạo đảng tại quốc hội thường áp dụng chiến thuật "bắt và thả", để có thể thông qua những dự luật quan trọng cần đến sự ủng hộ của các nghị sĩ thiếu hợp tác. Họ sẽ "bắt" một nghị sĩ, áp lực người này ủng hộ thông qua dự luật, ngay cả khi nó không được cử tri của nghị sĩ này ưa thích. Rồi thì, sau khi đủ phiếu để thông qua, họ sẽ "thả", để người này tự do lựa chọn lập trường cho mình khi biểu quyết. Bằng cách này, các nghị sĩ có thể tránh gây ác cảm với các nhóm quyền lợi đặc biệt thường có nhiều ảnh hưởng, trong khi vẫn tỏ ra trung thành với đảng của mình. Một khi một dự luật được thông qua tại một viện, nó sẽ được gởi đến viện kia; tại đó, nó có thể được thông qua, hoặc bị bác bỏ, hoặc bị sửa đổi. Để một dự luật có thể trở thành luật, cả hai viện phải đồng thuận về văn bản của dự luật. Nếu dự luật đã bị sửa đổi, thì một uỷ ban thương thảo sẽ vào cuộc (thành phần bao gồm thành viên của cả hai viện), và cố soạn ra một văn bản chung để trình hai viện; nếu được thông qua, nó sẽ thành luật; còn ngược lại, xem như thất bại. Tổng thống Ronald Reagan đã có lần nhận xét cách châm biếm "Nếu đem một quả cam và một quả táo giao cho uỷ ban thương thảo, họ sẽ cho ra một quả lê". Sau khi được thông qua tại hai viện, dự luật sẽ được trình tổng thống. Tổng thống có thể chọn ký ban hành, nó sẽ trở thành luật; hoặc tổng thống có thể chọn phủ quyết, gởi trả về Quốc hội kèm theo lời phản kháng. Trong trường hợp này, dự luật chỉ có thể trở thành luật nếu cả hai viện biểu quyết với hai phần ba số phiếu để vô hiệu hoá sự phủ quyết của tổng thống. Sau cùng, còn có một chọn lựa khác cho tổng thống, là không làm gì hết, không ký ban hành, cũng không phủ quyết. Trong trường hợp này, Hiến pháp có quy định dự luật sẽ tự động trở thành luật sau mười ngày (không tính ngày chủ nhật). Tuy nhiên, nếu quốc hội chấm dứt kỳ họp trong mười ngày này, dự luật sẽ không thể trở thành luật. Vì vậy, tổng thống có thể phủ quyết một dự luật được thông qua vào cuối kỳ họp của quốc hội bằng cách lơ nó đi; thủ thuật này được gọi là pocket veto. == Quyền hạn == Khoản 8 của điều 1 Hiến pháp Hoa Kỳ xác lập các quyền hạn của quốc hội. Những quyền quan trọng nhất gồm quyền đánh thuế và thu thuế, vay mượn, quy định về thương mại giữa các bang và với nước ngoài, đúc và in tiền, thiết lập các tòa án trực thuộc Tối cao Pháp viện, phát triển và duy trì quân lực, và tuyên chiến. Quốc hội cũng có một số quyền hạn khác thêm vào các quyền kể trên. Hơn nữa, điều khoản "mềm dẻo" trong hiến pháp cho phép quốc hội làm "tất cả luật cần thiết và đúng đắn để hành xử" các quyền khác của mình. Tối cao Pháp viện đã giải thích điều khoản cần thiết và đúng đắn này cách cởi mở, cho phép quốc hội gia tăng quyền hạn của mình. Hơn nữa, các phần khác của hiến pháp cung cấp thêm cho quốc hội một số quyền phụ trội chẳng hạn như quốc hội có quyền thêm vào liên bang các bang mới (Điều 4). Những quyền khác cũng được đề cập tại các tu chính án. Khoản 9 của điều 1 quy định một số giới hạn cho thẩm quyền của quốc hội như không được đình hoãn quyền công dân khiếu nại trong thời gian bị bắt giữ (trừ trường hợp tham gia phiến loạn hoặc đất nước đang bị xâm lăng), không được thông qua luật cho phép bắt giữ mà không xét xử, không được thông qua các luật có tính hồi tố, cũng không có quyền ban tặng các tước hiệu quý tộc. Một số giới hạn khác được quy định bởi các tu chính án, đặc biệt là Dự luật về các quyền. Hiến pháp không công khai cho phép tòa án hành xử quyền tài phán chung thẩm (quyền bác bỏ luật dựa trên sự thẩm định luật ấy là vi hiến). Tuy nhiên, khái niệm này được chấp nhận bởi một vài đại biểu như Alexander Hamilton khi ông đề cập và trình bày nó trong Federalist No. 78. Năm 1803, Tối cao Pháp viện, dưới sự lãnh đạo của Chánh án John Marshall, thiết lập thẩm quyền hợp pháp cho quyền tài phán chung thẩm khi phán quyết vụ Marbury chống Madison. Sau vụ này, trong hơn 50 năm tòa tối cao không vô hiệu hóa đạo luật nào của quốc hội cho đến năm 1857, khi xảy ra vụ án Dred Scott chống Sandford. Từ đó đến nay, có nhiều đạo luật được thông qua bởi quốc hội bị tuyên bố là vi hiến. == Thế cân bằng == Ảnh hưởng của quốc hội đối với tổng thống thăng trầm theo dòng lịch sử. Cả ngành hành pháp lẫn ngành lập pháp đều không muốn kiểm soát chính quyền cho đến nửa cuối thế kỷ 19, khi cán cân quyền lực nghiêng về phía quốc hội. Vụ luận tội Andrew Jonhnson, cùng với việc thiếu hiệu quả của hầu hết tổng thống trong Thời kỳ Hoàng kim khiến chức vụ này ngày càng suy yếu so với quyền lực của quốc hội. Cuối thế kỷ 19, tổng thống Grover Cleveland cố gắng phục hồi quyền lực của ngành hành pháp, phủ quyết hơn 400 dự luật chỉ trong nhiệm kỳ đầu của ông. Thế kỷ 20 chứng kiến sự trỗi dậy của quyền lực tổng thống trong các nhiệm kỳ của Theodore Roosevelt (1901–09), Woodrow Wilson (1913–21), Franklin D. Roosevelt (1933–45), Richard Nixon (1969–74), Ronald Reagan (1981–89), và George W. Bush (2001–). Gần đây, dù quốc hội đã cố gắng hạn chế các quyền của tổng thống bằng những đạo luật như Congressional Budget and Impoundment Control Act năm 1974 và War Powers Resolution, tổng thống vẫn có thể duy trì cho mình quyền lực lớn hơn thời thế kỷ 19. Một trong những chức trách không lập pháp quan trọng nhất của quốc hội là đìều tra và giám sát nhánh hành pháp. Quyền này được uỷ nhiệm cho các uỷ ban - thường trực, đặc biệt, tuyển chọn hoặc liên viện (thành viên đến từ hai viện). Các cuộc điều tra được tiến hành để thu thập thông tin phục vụ công tác lập pháp, kiểm tra tính hiệu quả của các đạo luật đã được thông qua, và để tra vấn về phẩm chất và thành tích của các thành viên và các viên chức của hai nhánh còn lại trong hệ thống tam quyền phân lập của Chính phủ Hoa Kỳ. Các uỷ ban có quyền tổ chức những buổi điều trần, và nếu cần, có quyền bắt buộc các cá nhân ra làm chứng bằng cách ra trát triệu tập nhân chứng. Nhân chứng nào từ chối ra làm chứng có thể bị buộc tội khinh mạn, còn ai làm chứng dối sẽ bị buộc tội man khai. Hầu hết các cuộc điều trần đều tiến hành công khai; các cuộc điều trần quan trọng thường thu hút sự chú ý của các phương tiện truyền thông đại chúng. Hiến pháp dành cho Viện Dân biểu quyền luận tội các viên chức liên bang (cả hành pháp và tư pháp) về "tội phản quốc, hối lộ, các tội hình sự và hạnh kiểm xấu". Thượng viện có quyền xét xử các vụ luận tội. Một đa số tương đối (quá bán) tại Viện dân biểu là đủ để luận tội một viên chức, nhưng phải cần có đa số tuyệt đối (hai phần ba) tại Thượng viện mới có thể buộc tội. Một viên chức bị buộc tội đương nhiên bị bãi nhiệm; hơn nữa, Thượng viện có thể ngăn cấm người này giữ các chức vụ công quyền trong tương lai. Không có biện pháp chế tài nào được cho phép trong khi tiến hành luận tội. Trong lịch sử Hoa Kỳ, Viện Dân biểu đã luận tội 16 viên chức, trong đó có 7 người bị buộc tội (một người từ nhiệm trước khi vụ xét xử tại Thượng viện hoàn tất). Chỉ có hai tổng thống Hoa Kỳ bị đem ra luận tội, Andrew Johnson vào năm 1868, và Bill Clinton năm 1999. Cả hai vụ xét xử đều kết thúc với quyết định tha bổng; trong trường hợp của Johnson, chỉ thiếu một phiếu để có đủ đa số hai phần ba hầu Thượng viện có thể buộc tội tổng thống. Theo Tu chính án 12, quốc hội có quyền phá vỡ thế bế tắc của cử tri đoàn. Nếu không có ứng viên nào giành đủ đa số phiếu của cử tri đoàn, Viện dân biểu sẽ bầu chọn tổng thống từ ba ứng viên có số phiếu cao nhất của cử tri đoàn. Tương tự, nếu không có ứng viên phó tổng thống nào có đủ đa số phiếu của cử tri đoàn, Thượng viện sẽ chọn một trong hai người có số phiếu cao nhất. Có một số quyền Hiến pháp chỉ dành riêng cho Thượng viện. Tổng thống không thể bổ nhiệm các viên chức chính phủ, thẩm phán và những viên chức cao cấp khác mà không có "sự cố vấn và đồng ý" của Thượng viện. Thượng viện thường phê chuẩn các ứng viên do tổng thống đề cử, nhưng việc bác bỏ không phải là không thường xảy ra. Thêm vào đó, tổng thống chỉ có thể phê chuẩn các hiệp ước khi có sự đồng thuận của đa số hai phần ba tại Thượng viện. == Các Ủy ban Quốc hội == Không thể mong đợi các thành viên Quốc hội là chuyên gia về mọi lãnh vực thuộc thẩm quyền cứu xét của Quốc hội. Do đó, các ủy ban được thành lập nhằm cung cấp các thông tin vô giá cho Quốc hội, bằng cách xem xét các vấn đề cần thảo luận rồi tường trình cho Quốc hội. Trong quy trình làm việc, thành viên các ủy ban đưa ra ý kiến chuyên môn về các vấn đề đang xem xét. Các ý kiến này luôn được viện dẫn trong những cuộc tranh luận của quốc hội để xét xem có nên chấp nhận các đề nghị phủ quyết của các uỷ ban hay không. Quốc hội phân bổ chức trách làm luật, giám sát, và nội chính cho khoảng 200 ủy ban và tiểu ban. Trong lĩnh vực chuyên môn được giao phó, các đơn vị này có nhiệm vụ thu thập thông tin, so sánh và thẩm định các chọn lựa thay thế, nhận diện và tiên báo các hệ quả bất lợi của các chính sách và giải pháp, tuyển chọn, ấn định và tường trình các giải pháp cho Thượng viện hoặc Viện dân biểu xem xét, giám sát việc thực thi pháp luật của hành pháp, và điều tra những tố giác về các hành vi sai trái. Việc ấn định lĩnh vực chuyên môn cho thành viên các ủy ban phụ thuộc vào tầm quan trọng của các vấn đề ảnh hưởng đến hạt bầu cử hoặc bang họ đại diện, cũng như vào kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm của từng người. Các thượng nghị sĩ đại diện cho cùng một bang thường tránh dẫm chân lên nhau khi chọn phục vụ trong các ủy ban hoặc tiểu ban. == Phục vụ cử tri == Một trong những chức trách chính của thượng nghị sĩ hoặc dân biểu là phục vụ cử tri trong khu vực bầu cử. Các nghị sĩ thường nhận hàng ngàn lá thư, cuộc gọi, và e-mail từ cử tri để bày tỏ quan điểm, hoặc sự bất bình đối với lập trường hoặc phiếu bầu của nghị sĩ ấy tại quốc hội. Nhiều cử tri yêu cầu họ giải quyết các khó khăn, hoặc giải đáp thắc mắc. Các thành viên quốc hội đều cố xây dựng một hình ảnh tích cực tại các hạt bầu cử, thay vì để cử tri than phiền về mình. Như thế, trách nhiệm của họ là đáp ứng, xông xáo để giúp đỡ cử tri lúc họ gặp nhiều phiền phức khi tiếp cận bộ máy hành chính. Đây là lúc các nghị sĩ quốc hội và nhân viên của họ thực thi chức năng thanh tra nhà nước cấp liên bang. Trong thực tế, chức trách không chính thức này ngày càng làm tiêu tốn nhiều thì giờ mà các nghị sĩ có thể dành cho việc chuẩn bị hoặc xem xét các dự luật. Cũng cần biết rằng thành viên quốc hội đương nhiệm có nhiều quyền lực hơn hầu hết các thanh tra nhà nước cấp liên bang. Như Morris Fiorina nhận xét, sự tham gia của nhánh lập pháp vào quy trình thanh tra dẫn đến một thuận lợi chính: các thành viên Quốc hội thực thi "quyền kiểm soát trên điều mà các viên chức nhà nước quan tâm nhiều nhất – gia tăng ngân sách và thẩm quyền điều hành các chương trình mới." Đây là loại hình quyền lực tác động đến bộ máy hành chính mà các cơ quan thanh tra không hề có. == Đặc quyền == Hiến pháp ban cho nghị sĩ lưỡng viện quyền không bị bắt giữ trong mọi tình huống ngoại trừ khi phạm tội phản quốc, các trọng tội và tội gây rối. Đặc quyền miễn trừ này được áp dụng cho các nghị sĩ "trong khi đang tham dự các phiên họp của quốc hội, khi đang trên đường đến dự họp và khi trở về". Viện dân biểu ban hành các quy định nghiêm ngặt nhằm bảo vệ quyền này; một dân biểu không được phép khước từ quyền đặc miễn tài phán trừ khi có sự cho phép của toàn thể Viện dân biểu. Quy định của Thượng viện ít nghiêm nhặt hơn, cho phép các thượng nghị sĩ khước từ đặc quyền này khi họ thấy thích hợp. Hiến pháp cũng bảo đảm quyền tự do tranh luận tại hai viện, "các nghị sĩ không bị xét hỏi về những điều họ phát biểu hay tranh luận tại quốc hội". Do đó, một nghị sĩ sẽ không bị truy tố vì tội vu khống hoặc phỉ báng vì những nhận xét người này đưa ra tại quốc hội. Tuy nhiên, mỗi viện đều lập ra các quy định nhằm hạn chế các phát biểu có mục đích xúc phạm người khác, và có biện pháp chế tài đối với các nghị sĩ vi phạm. Từ năm 1789 đến 1815, thành viên Quốc hội chỉ nhận 6 USD cho mỗi ngày họp. Từ năm 1815, họ được trả 1 500 USD mỗi năm. Đến năm 2006, thành viên Quốc hội nhận 165 200 USD mỗi năm, trong khi các nhà lãnh đạo trong quốc hội được trả 183 500 USD. Lương hằng năm của Chủ tịch Viện dân biểu là 212 100 USD, trong khi lương của Chủ tịch tạm quyền của Thượng viện năm 2006 chỉ là 183 500, ngang bằng mức lương của Lãnh tụ phe Đa số và Thiểu số của cả hai viện. Một đặc quyền khác được dành cho các thành viên Quốc hội là quyền sử dụng Thư viện Quốc hội. Một trong những nhiệm vụ của thư viện khổng lồ này là phục vụ các nghị sĩ và nhân viên quốc hội. Để thực thi nhiệm vụ này, cơ quan Dịch vụ Nghiên cứu Quốc hội cung cấp những sưu khảo chi tiết, cập nhật, và phi đảng phái cho các thượng nghị sĩ, dân biểu, và nhân viên của họ nhằm giúp họ hoàn thành các chức trách thường nhật. Ngăn cản công tác của quốc hội là một tội hình sự chiếu theo luật liên bang, được biết đến như là tội khinh mạn quốc hội. Quốc hội có quyền truy tố các cá nhân về tội khinh mạn; nhưng không thể áp đặt bất cứ hình phạt nào. Hệ thống tư pháp sẽ xét xử theo trình tự thông thường dành cho một vụ án hình sự. Nếu bị buộc tội, bị cáo có thể nhận mức án bị giam giữ lên đến một năm. == Tham khảo == Baker, Ross K. (2000). House and Senate, 3rd ed. New York: W. W. Norton. (Procedural, historical, and other information about both houses) Michael Barone and Richard E. Cohen. The Almanac of American Politics, 2006 (2005), elaborate detail on every district and member; 1920 pages Berg-Andersson, Richard E. (2001). Explanation of the types of Sessions of Congress (Term of Congress) Berman, Daniel M. (1964). In Congress Assembled: The Legislative Process in the National Government. London: The Macmillan Company. (Legislative procedure) Davidson, Roger H., and Walter J. Oleszek. (1998). Congress and Its Members, 6th ed. Washington DC: Congressional Quarterly. (Legislative procedure, informal practices, and other information)* Dennis Hastert, Tom Daschle, and David Silverberg. Congress for Dummies (2002) Herrick, Rebekah. (2001). "Gender effects on job satisfaction in the House of Representatives." Women and Politics, 23 (4), 85–98. Hunt, Richard. (1998). "Using the Records of Congress in the Classroom," OAH Magazine of History, 12 (Summer): 34–37. Ann-Marie Imbornoni|Imbornoni, Ann-Marie, David Johnson, and Elissa Haney. (2005). "Famous Firsts by American Women." Infoplease. Lee, Frances and Bruce Oppenheimer. (1999). Sizing Up the Senate: The Unequal Consequences of Equal Representation. University of Chicago Press: Chicago. (Equal representation in the Senate) Rimmerman, Craig A. (1990). "Teaching Legislative Politics and Policy Making." Political Science Teacher, 3 (Winter): 16–18. Ritchie, Donald A. (1997). "What Makes a Successful Congressional Investigation." OAH Magazine of History, 11 (Spring): 6–8. (Congressional investigations and committee hearings) Story, Joseph. (1891). Commentaries on the Constitution of the United States. (2 vols). Boston: Brown & Little. (History, constitution, and general legislative procedure) David R. Tarr and Ann O'Connor. Congress A to Z (CQ Congressional Quarterly) (4th 2003) 605pp Wilson, Woodrow. (1885). Congressional Government. New York: Houghton Mifflin. Some information in this article has been provided by the Senate Historical Office. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Thượng nghị viện Hạ nghị viện Congressional Glossary bản lưu 15/8/2000 How Laws Are Made. Thomas Legislative Information via Library of Congress ED450062 - Teaching about the U.S. Congress. ERIC Digest Pdf GovTrack.us
gạo.txt
Gạo là một sản phẩm lương thực thu từ cây lúa. Hạt gạo thường có màu trắng, nâu hoặc đỏ thẫm, chứa nhiều dinh dưỡng. Hạt gạo chính là nhân của thóc sau khi xay để tách bỏ vỏ trấu. Hạt gạo sau khi xay được gọi là gạo lứt hay gạo lật, nếu tiếp tục xát để tách cám thì gọi là gạo xát hay gạo trắng. Gạo là lương thực phổ biển của gần một nửa dân số thế giới. == Nguồn gốc == Cây lúa hiện nay được nông dân gieo trồng là kết quả xử lý trong phòng thí nghiệm và lai tạo tự nhiên cũng như nhân tạo của nhiều thế kỷ từ cây lúa dại. Vì quỹ đất có giới hạn, các nhà khoa học đang nghiên cứu biến đổi gien của cây lúa để tạo ra giống lúa mới có năng suất cao, chống được bệnh tật và thời tiết khắc nghiệt, đồng thời rút ngắn thời gian chăm bón và sớm cho thu hoạch. Những thành công ban đầu của lúa biến đổi gien đã được ghi nhận, song hiện các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất được liệu loại lúa này có tác động xấu đến sức khỏe con người hay không. == Lịch sử thuần hóa và trồng trọt == Có khá nhiều tranh cãi về nguồn gốc thuần hóa gạo. Các bằng chứng về di truyền được công bố trong Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America (PNAS) cho thấy rằng tất cả các dạng gạo châu Á, gồm cả indica và japonica, bắt nguồn từ một loài thuần hóa đã bắt đầu cách nay 8.200–13.500 năm ở Trung Quốc từ loài lúa gạo hoang Oryza rufipogon. Một nghiên cứu công bố năm 2012 trong tạp chí Nature, đưa ra một bản đồ biến đổi gen lúa gạo, đã chỉ ra rằng việc thuần hóa cây lúa đã diễn ra ở thung lũng Châu Giang của Trung Quốc dựa trên bằng chứng gen. Từ Đông Á, lúa được phát tán về phía nam và Đông Nam Á. Trước nghiên cứu này, quan điểm được chấp nhận rộng rãi dựa trên các bằng chứng khảo cổ học thì cho rằng lúa được thuần hóa đầu tiên ở thung lũng sông Dương Tử ở Trung Quốc. Các nghiên cứu về hình thái của gạo từ di chỉ khảo cổ thể hiện rõ ràng sự chuyển tiếp từ việc thu nhặt lúa hoang đến việc trồng lúa gạo thuần hóa. Một số lượng lớn phytolith lúa gạo hoang ở Diaotonghuan có tuổi từ 12.000–11.000 BP chỉ ra rằng việc thu lượm lúa hoang là một phần trong khẩu phần ăn của dân địa phương. Những thay đổi về hình thái của Diaotonghuan phytoliths có tuổi từ 10.000–8.000 BP cho thấy lúa gạo đã được thuần hóa từ lúc này. Không lâu sau đó, hai loại lúa chính là indica và japonica được trồng ở miền trung Trung Quốc. Vào cuối thiên niên kỷ 3 TCN, có sự mở rộng nhanh chóng trong việc trồng trọt lúa gạo trên đất liền của Đông nam Á và về phía tây đến Ấn Độ và Nepal. == Sản xuất == Gạo là sản phẩm từ cây lúa và nằm trong một quá trình sản xuất nông nghiệp, thường bao gồm những khâu chính sau: làm đất, chọn thóc giống, gieo hạt, ươm mạ, cấy, chăm bón (bón phân, đổ nước), gặt và xay xát. Gạo là nguồn thu nhập và cuộc sống của hàng triệu nông dân trên toàn thế giới. Họ dùng khoảng 150 triệu hecta hàng năm để trồng lúa, với sản lượng khoảng 600 triệu tấn. Châu Á là nơi sản xuất và cũng là nơi tiêu thụ khoảng 90% lượng gạo toàn thế giới. Ở châu Phi, gần như toàn bộ 38 nước đều trồng lúa trong tổng số 54 quốc gia, song diện tích lúa ở Madagascar và Nigeria chiếm 60% tổng diện tích lúa tương đương 8,5 triệu hecta của châu lục này. Năng suất lúa của châu Phi thấp, khoảng 1,5 tấn/ha và chỉ bằng 40% năng suất của châu Á. Phần lớn cây lúa nói đến trong sản xuất là lúa nước (tức ruộng lúa phải ngập nước theo một tiêu chuẩn khắt khe), song cũng có những loài lúa mọc trên ở vùng đồi núi mà ít cần đến công tác thủy lợi. === Gieo trồng === Việc trồng lúa phù hợp nhất tại các khu vực với chi phí nhân công thấp và lượng mưa lớn, do nó đòi hỏi nhiều nhân công để gieo trồng và cần nhiều nước để phát triển tốt. Tuy nhiên, lúa có thể trồng ở bất kỳ đâu, thậm chí ở cả các sườn đồi hay núi. Lúa là loại cây trồng đứng hàng thứ ba trên thế giới, chỉ sau ngô và lúa mì. Mặc dù các loài lúa có nguồn gốc ở khu vực miền nam châu Á và một phần nào đó của châu Phi, nhưng hàng thế kỷ thương mại và xuất khẩu thóc, gạo đã làm cho nó trở thành phổ biến trong nhiều nền văn minh. Lúa thông thường được gieo hay cấy trong các ruộng lúa nước - các mảnh ruộng được tưới hay ngâm trong một lớp nước không sâu lắm với mục đích đảm bảo nguồn nước cho cây lúa và ngăn không cho cỏ dại phát triển. Khi cây lúa đã phát triển và trở thành chủ yếu trong các ruộng lúa thì nước có thể tưới tiêu theo chu kỳ cho đến khi thu hoạch mùa màng. Các ruộng lúa có tưới tiêu nước làm tăng năng suất, mặc dù lúa có thể trồng tại các vùng đất khô hơn (chẳng hạn các ruộng bậc thang ở sườn đồi) với sự kiểm soát cỏ dại nhờ các biện pháp hóa học. Ở một vài khu vực có mực nước sâu, người ta cũng có thể trồng các giống lúa mà dân gian gọi nôm na là lúa nổi. Các giống lúa này có thân dài có thể chịu được mực nước sâu tới trên 2 mét (6 ft). Các ruộng lúa nhiều nước còn là môi trường sinh sống thích hợp cho nhiều loài chim như cò, vạc, diệc hay chim chích, nhiều loài động vật lưỡng cư như ếch, nhái hay bò sát như rắn hoặc các động vật giáp xác như tôm, tép, cua hay ốc. Nhiều loài động vật có các chức năng hữu ích trong việc kiểm soát các loài sâu bệnh. Dù trồng trong ruộng nước hay ruộng khô thì cây lúa vẫn đòi hỏi một lượng nước lớn hơn nhiều so với các loại cây trồng khác. Việc gieo trồng lúa là một công việc chứa đựng các yếu tố mâu thuẫn tại một vài khu vực, chẳng hạn tại Hoa Kỳ và Australia, là các khu vực mà việc gieo trồng lúa chiếm tới 7% tài nguyên nước của các quốc gia này nhưng chỉ tạo ra 0,02% GDP. Tuy nhiên, tại các quốc gia có mùa mưa - bão theo chu kỳ thì việc gieo trồng lúa còn có tác dụng giữ cho việc cung cấp nước được duy trì ổn định hơn cũng như ngăn chặn lũ lụt không bị đột ngột. === Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam === Việt Nam có hai vùng trồng lúa chính là đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam. Vào thời điểm năm 1922 thời Pháp thuộc toàn cõi Việt Nam tức cả ba kỳ: Bắc, Trung, Nam diện tích canh tác là 4.640.000 hecta lúa với sản lượng 7.200.000 tấn thóc. Năng suất ở mỗi miền khác nhau. Tính đến thập niên 1930 một hecta ở Bắc Kỳ thu hoạch được 1.470 kg thóc; Trung Kỳ đạt 1.370 kg/ha; và Nam Kỳ là 1.340 kg/ha. Tuy nhiên vì diện tích trồng trọt ở Nam Kỳ rộng lớn hơn nên miền Nam đã là vựa thóc, cung cấp phần thặng dư lớn nhất của cả sáu xứ Liên bang Đông Dương. Sang thế kỷ 21 hàng năm sản lượng của cả nước đạt 33-34 triệu tấn thóc, trong đó chỉ sử dụng khoảng 8 triệu tấn (tương đương 4 triệu tấn gạo sau khi xay xát) cho xuất khẩu, còn lại là tiêu thụ trong nước và bổ sung dự trữ quốc gia. Ở miền Bắc Việt Nam một năm có hai vụ lúa chính: vụ chiêm và vụ mùa. Ở miền Nam Việt Nam, nông dân trồng ba vụ một năm: vụ đông xuân (có sản lượng cao nhất và thóc cũng đạt chất lượng tốt nhất cho xuất khẩu), vụ hè thu và vụ ba. Do lũ hàng năm ở đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây ảnh hưởng đến sản xuất, một phần nữa người dân có thể kiếm lời ổn định hơn từ việc nuôi thủy sản (tôm) hay trồng cây ăn quả, chính quyền đã khuyến cáo nông dân giảm và chuyển đổi một phần đất trồng lúa vụ ba. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là bộ chủ quản, quản lý việc sản xuất lúa gạo của Việt Nam. === Các loại gạo === Gạo xuất khẩu ở Thái Lan gồm: gạo thơm và gạo trắng hạt dài. Gạo ở Việt Nam gồm: gạo nếp, gạo tấm và gạo tẻ Các thể loại khác: gạo basmati (Ấn Độ) gạo ở Iran bao gồm: Gerdeh, Hansani, Hashemi, và Gharib == Gạo - lương thực == Hạt thóc trước tiên được xay để tách lớp vỏ ngoài, đây là gạo xay còn lẫn trấu. Quá trình này có thể được tiếp tục, nhằm loại bỏ mầm hạt và phần còn sót lại của vỏ, gọi là cám, để tạo ra gạo. Gạo sau đó có thể được đánh bóng bằng glucoza hay bột tan (talc) trong một quy trình gọi là đánh bóng gạo, chế biến thành bột gạo hoặc thóc được chế biến thành loại thóc luộc thô. Gạo cũng có thể được bổ sung thêm các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các chất bị mất đi trong quá trình xay xát. Trong khi phương pháp đơn giản nhất là trộn thêm các chất dinh dưỡng dạng bột mà rất dễ bị rửa trôi theo nước (tại Hoa Kỳ thì gạo được xử lý như vậy cần có tem mác cảnh báo chống rửa/vo gạo) thì phương pháp phức tạp hơn sử dụng các chất dinh dưỡng trực tiếp lên trên hạt gạo, bao bọc hạt gạo bằng một lớp chất không hòa tan trong nước có tác dụng chống rửa trôi. Trong khi việc rửa gạo làm giảm sự hữu ích của các loại gạo được làm giàu thì nó lại là cực kỳ cần thiết để tạo ra hương vị thơm ngon hơn và ổn định hơn khi gạo đánh bóng (bất hợp pháp tại một số quốc gia, như Hoa Kỳ) được sử dụng. Cám gạo, gọi là nuka ở Nhật Bản, là một mặt hàng có giá trị ở châu Á và được dùng cho nhiều nhu cầu thiết yếu hàng ngày. Nó là lớp chất dầu ẩm ướt bên trong được đun nóng lên để sản xuất một loại dầu ăn có lợi cho sức khỏe. Ứng dụng khác là để làm một loại rau dầm có tên gọi là tsukemono. Tại nhiều nơi, gạo còn được nghiền thành bột để làm nhiều loại đồ uống như amazake, horchata, sữa gạo và rượu sakê. Bột gạo nói chung an toàn cho những người cần có chế độ ăn kiêng gluten. Gạo là một nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể. Con người hấp thụ chất bột và một số vitamin từ gạo. Có khoảng 2 tỉ người ở châu Á dùng gạo và các chế phẩm từ gạo để bổ sung 60% tới 70% nguồn năng lượng hàng ngày cho cơ thể. === Chế biến và nấu ăn === Sản phẩm chủ yếu từ gạo là cơm. Gạo có thể nấu thành cơm nhờ cách luộc trong nước (vừa đủ) hay bằng hơi nước. Các nồi cơm điện rất phổ biến ở châu Á, đã đơn giản hóa quá trình này. Gạo cũng có thể nấu thành cháo bằng cách cho nhiều nước hơn bình thường. Bằng cách này gạo sẽ được bão hòa về nước và trở thành mềm, nở hơn. Các món cháo rất dễ tiêu hóa và vì thế nó đặc biệt thích hợp cho những người bị ốm. Khi nấu các loại gạo chưa xát bỏ hết cám, một cách thức nấu ăn giữ được các chất dinh dưỡng gọi là Cơm GABA hay GBR có thể sử dụng. Nó bao gồm việc ngâm gạo trong khoảng 20 giờ trong nước ấm (38 °C hay 100 °F) trước khi nấu. Quá trình này kích thích sự nảy mầm, và nó kích hoạt các enzym có trong gạo. Bằng cách này, người ta có thể thu giữ được nhiều axit amin hơn. Gạo có thể dùng để làm bánh (bánh cuốn, bánh đa, bánh dày, bánh giò, bánh đa...), làm bún, nấu rượu, kẹo kéo (mạch nha)... == Gạo - hàng hóa == Sản xuất gạo toàn cầu đã tăng lên đều đặn từ khoảng 200 triệu tấn vào năm 1960 tới 600 triệu tấn vào năm 2004. Gạo đã xay xát chiếm khoảng 68% trọng lượng thóc ban đầu. Năm 2004, ba quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu là Trung Quốc (31% sản lượng thế giới), Ấn Độ (20%) và Indonesia (9%). Theo FAO năm 2005 thế giới sản xuất 628 triệu tấn gạo, đạt mức kỷ lục, nhờ giá cả tăng trong năm 2004 làm tăng diện tích trồng trọt. Năm 2008, sản lượng lúa gạo của Trung Quốc đạt 193 triệu tấn, Ấn Độ 148 triệu tấn, Indonesia 60 triệu tấn, Bangladesh 47 triệu tấn, Việt Nam 39 triệu tấn, Thái Lan và Myanma cùng đạt 30,5 triệu tấn. Nước sản xuất & xuất khẩu: Thái Lan: là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, hàng năm bán từ 7 triệu đến 8 triệu tấn trên sản lượng hàng năm khoảng 26 triệu tấn. Đây là quê hương của gạo thơm Jasmine. Việt Nam: hàng năm xuất khẩu 4 triệu đến 5 triệu tấn. Mỹ Pakistan Ấn Độ: xuất khẩu năm 2005 ước khoảng 4 triệu tấn. Tổ chức các quốc gia xuất khẩu gạo OREC (Organization of Rice Exporting Countries) Các số liệu về xuất nhập khẩu gạo lại khác hẳn, do chỉ khoảng 5-6% gạo được buôn bán ở quy mô quốc tế. Ba nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới là Thái Lan (26% sản lượng gạo xuất khẩu), Việt Nam (15%) và Hoa Kỳ (11%), trong khi ba nhà nhập khẩu gạo lớn nhất là Indonesia (14%), Bangladesh (4%) và Brasil (3%). Hàng năm có khoảng trên 20 triệu tấn gạo được dùng làm hàng hóa buôn bán trên toàn thế giới. Tổ chức Nông Lương (FAO) của Liên Hiệp Quốc cho biết năm 2006 sản lượng gạo hàng hóa có thể đạt 27,8 triệu tấn, so với 29 triệu tấn trong năm 2005. Nước tiêu thụ Năm 2009, tiêu thụ gạo trên thế giới là 531,6 triệu tấn lúa (tương đương 354.603 tấn gạo), trong đó Trung Quốc tiêu thụ 156,3 triệu tấn lúa (chiếm 29,4% toàn thế giới) và Ấn Độ tiêu thụ 123,5 triệu tấn lúa (23,3% của thế giới). Giữa các năm 1961 và 2002, tiêu thụ gạo trên đầu người tăng 40%. Lúa gạo là cây trồng quan trọng nhất ở châu Á. Ví dụ, ở Campuchia 90% tổng diện tích đất nông nghiệp là trồng lúa. Tiêu thụ gạo của Hoa Kỳ tăng mạnh trong vòng 25 năm qua, một phần dùng để sản xuất các sản phẩm từ gạo như bia. Gần 1/5 người Mỹ trưởng thành ăn ít nhất nửa khẩu phần gạo trắng hoặc nâu mỗi ngày. Các nước tiêu thụ gạo chính gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Malaysia, Iraq, Iran, Algérie, Nigeria, Tanzania. === Khủng hoảng thiếu gạo === Bắt đầu từ khoảng cuối tháng 3 năm 2008, tình hình thiếu thốn lương thực - đặc biệt là gạo - trên toàn thế giới diễn ra hết sức nhanh chóng. Theo dự đoán của bộ Nông nghiệp Mỹ, trong năm 2008 trữ lượng gạo toàn cầu sẽ giảm xuống tới mức thấp nhất trong 25 năm qua, có thể gây ra "cơn đói" mới. Giá gạo liên tục tăng gấp nhiều lần chỉ trong vài tháng, mặc dù theo thông báo sản lượng gạo của các nước xuất khẩu gạo vẫn liên tục tăng. === Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng === Có rất nhiều nguyên nhân được đưa ra về cuộc khủng hoảng gạo lần này, tuy nhiên theo nhiều chuyên gia thì chủ yếu do các nguyên nhân sau: Sự xao lãng vấn đề nông nghiệp của một số nước. Vấn đề quy hoạch không hợp lý. Sự khó khăn của các nhà cung cấp & chủ trương hạn chế xuất khẩu gạo của một số nước XK gạo. Sự tăng giá các mặt hàng thiết yếu trên phạm vi toàn cầu (dầu...) dẫn đến chi phí sản xuất tăng. Thiếu đất, thiếu nước, thiếu nguồn lao động nông nghiệp. Thiếu những nguồn đầu tư cần thiết cho nông nghiệp. == Tác động môi trường == Trồng lúa gạo trên các mảnh ruộng đất ngập nước được cho là góp 1,5% khí metan phát thải vào môi trường. Do các mảnh ruộng ngập nước lâu ngày làm cách ly ôxy từ khí quyển vào đất làm phát sinh các phản ứng lên men kị khí trong đất. Trồng lúa gạo cần nhiều nước hơn các lại ngũ cốc khác. Trong khi đó sản xuất gạo cần gần 1/3 lượng nước ngọt trên Trái Đất. Một nghiên cứu năm 2010 cho thấy rằng hậu quả của việc gia tăng nhiệt độ và giảm lượng bức xạ trong những năm cuối của thế kỷ 20 làm cho tỉ lệ tăng năng suất ở một vài nơi thuộc châu Á giảm, so với những nơd9uo775c quan sát không thấy xảy ra xu hướng này. Tỉ lệ tăng sản lượng đã giảm 10–20% ở một số nơi. Nghiên cứu ghi nhận ở 227 nông trại ở Thái Lan, Việt Nam, Nepal, Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh, và Pakistan. Cơ chế của sự tụt giảm năng suất này vẫn chưa được rõ ràng, nhưng có lẽ liên quan đến sự gia tăng hô hấp trong những ngày ấm làm tiêu tốn năng lượng cho việc quang hợp. == Sâu bệnh và tác nhân gây hại == Các tác nhân gây hại đối với lúa gạo là những loài sinh vật hay vi sinh vật có khả năng làm giảm sản lượng hoặc giá trị của cây lúa (hoặc hạt gạo). Các tác nhân gây hại như cỏ dại, dịch bệnh, côn trùng, động vật gặm nhấm, và chim. Nhiều yếu tố có thể làm dịch bệnh bùng phát như, khí hậu-thời tiết, công tác thủy lợi không đúng cách, sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và sử dung nhiều phân đạm. Ví dụ như dịch các loài trong họ Cecidomyiidae và Spodoptera mauritia bùng phát sau những đợt mưa lớn đầu mùa mưa trong khi đó các loài trong bộ Cánh viền bùng phát vào mùa khô hạn. === Côn trùng === Côn trùng gây hại chính cho cây lúa là Rầy nâu (BPH), nhiều loài thuộc nhóm sâu đục thân như các loài thuộc chi Scirpophaga và Chilo, Cecidomyiidae, các loài trong nhóm bugs – nổi tiếng là trong chi Leptocorisa, sâu cuốn lá và mọt gạo. === Dịch bệnh === Bệnh đạo ôn, do loài nấm Magnaporthe grisea gây ra, là loại bệnh đáng chú ý nhất gây ảnh hưởng tới năng suất lúa. Các loại dịch bệnh khác như: Rhizoctonia solani, Rice ragged stunt virus (vector truyền bệnh: BPH), và tungro (vector truyền bênh: Nephotettix spp). Cũng có loại nấm ascomycete, Cochliobolus miyabeanus gây bệnh đốm nâu trên lúa. Lúa còn bị một số sâu bệnh phá hoại như cháy cổ lá, bạc lá, rầy nâu (Nilaparvata lugens), châu chấu, bọ trĩ, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen, rầy xám, các loài bọ xít (họ Pentatomidae) như bọ xít đen, bọ xít xanh, bọ xít dài, bọ xít gai, sâu cuốn lá nhỏ, sâu cuốn lá lớn, sâu đục thân lúa hai chấm, sâu năm vạch đầu nâu, sâu năm vạch đầu đen, sâu cú mèo, sâu keo, sâu cắn gié, sâu đo xanh, ruồi đục nõn, sâu nâu, v.v. === Giun tròn === Nhiều loài giun tròn nhiễm cây lúa gây ra các bệnh như Ufra (Ditylenchus dipsaci), White tip disease (Aphelenchoide bessei), và bệnh thối rễ (Meloidogyne graminicola). Một số loài giun tròn như Pratylenchus spp. là nguy hiểm nhất trong lúa nương của tất cả các nơi trên thế giới. Tuyến trùng rễ lúa (Hirschmanniella oryzae) là một loài ký sinh trong di cư mà mức độ lây nhiễm cao hơn sẽ dẫn đến sự phá hủy hoàn toàn của một vụ lúa. Ngoài việc ảnh hưởng của ký sinh trùng, chúng cũng làm giảm sức sống của thực vật và tăng tính nhạy cảm của cây đối với các sâu bệnh khác. === Các tác nhân gây hại khác === Các tác nhân gây hại khác như ốc Pomacea canaliculata, panicle rice mite, chuột đồng, và cỏ dại Echinochloa crusgali. == Hình ảnh hạt gạo trọng văn hóa, nghệ thuật == Trong điêu khắc: hình ảnh ngọc thực Trong văn học: tác phẩm Hạt gạo làng ta của nhà thơ Trần Đăng Khoa Trong ca dao, tục ngữ “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, “Em xinh là xinh như cây lúa” == Chú thích == Gauthier, Julian. L'Indochine au travail dans la paix française. Paris: Eyrolles, 1949.
đông bắc hoa kỳ.txt
Đông Bắc Hoa Kỳ (tiếng Anh:Northeastern United States) là một vùng của Hoa Kỳ. Theo định nghĩa của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ thì vùng Đông Bắc gồm có 9 tiểu bang: các tiểu bang Tân Anh là Maine, New Hampshire, Vermont, Massachusetts, Rhode Island và Connecticut; và các tiểu bang Trung-Đại Tây Dương là New York, New Jersey và Pennsylvania. Các thành phố lớn trong vùng này gồm có Thành phố New York, Philadelphia, Boston, Pittsburgh, và Buffalo. Các dãy hành lang duyên hải Delaware và Maryland (bao gồm Baltimore) được kể là thuộc đại vùng đô thị BosWash và về mặt kinh tế thì chúng rất tương tự như các tiểu bang được định nghĩa thuộc vùng đông bắc. Tuy nhiên Cục điều tra dân số Hoa Kỳ xếp các tiểu bang này thuộc vùng các tiểu bang Nam Đại Tây Dương, một phần của miền Nam Hoa Kỳ. Các tổ chức khác như Cục Điều tra Liên bang, Cục hoang dã và cá Hoa Kỳ và Nam Hướng đạo Mỹ, xem Delaware, Maryland, và đôi khi Washington, D.C. là một phần của vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Đông bắc là vùng giàu có nhất của Hoa Kỳ; Maryland, New Jersey và Connecticut có thu nhập bình quân cao nhất ở Hoa Kỳ trong khi đó Massachusetts được xếp hạng năm. Vùng này cũng đóng góp khoảng 25% tổng sản phẩm nội địa Hoa Kỳ vào năm 2007. Tất cả tám trường trong Ivy League nằm tại vùng đông bắc. New York, Pennsylvania, New Jersey, và Massachusetts được xếp trong nhóm 15 tiểu bang hàng đầu tính về dân số. == Tham khảo ==
giải bóng đá vô địch thế giới 2002.txt
Giải bóng đá vô địch thế giới 2002 (tiếng Anh: FIFA World Cup 2002) là giải bóng đá vô địch thế giới lần thứ 17, được tổ chức từ 31 tháng 5 đến 30 tháng 6 năm 2002 đồng thời tại Hàn Quốc và Nhật Bản. Đây là lần đầu tiên, giải vô địch bóng đá thế giới được tổ chức tại châu Á. Và cũng là lần đầu tiên được tổ chức đồng thời ở hai quốc gia. Lần này cũng ghi dấu kỷ lục năm lần vô địch bóng đá thế giới của Brasil, đồng thời có một đội từ châu Á – Hàn Quốc – lọt vào bán kết nhưng lại gây rất nhiều phản ứng của dư luận trong khâu trọng tài. Trong khi đó Pháp trở thành đội đương kim vô địch thứ ba bị loại ngay từ vòng bảng (sau Ý năm 1950 và Brasil năm 1966). == Vòng loại == 199 đội tuyển đã tham dự vòng loại của giải để chọn ra 29 đội còn lại được bước vào vòng chung kết. Hai đội chủ nhà là Hàn Quốc và Nhật Bản, cùng với đội đương kim vô địch thế giới là Pháp được vào thẳng vòng chung kết mà không cần tham dự vòng loại. Châu Âu (UEFA): Chọn lấy 14 đội Châu Phi (CAF): Chọn lấy 5 đội Châu Á (AFC): Chọn lấy 5 đội === Các đội giành quyền vào vòng chung kết === == Danh sách trọng tài == == Các sân vận động == == Đội hình == == Chia bảng == == Tóm tắt == === Vòng bảng === Ở bảng A, đương kim vô địch thế giới và châu Âu Pháp đụng độ Đan Mạch, Uruguay và tân binh Sénégal. Bất ngờ xảy ra khi tân binh Senegal đánh bại Pháp 1-0 trong trận cầu ra quân, trận đấu mà Zinédine Zidane không thể thi đấu. Pháp tiếp tục gây thất vọng khi để Uruguay cầm hòa 0-0 trước khi thua Đan Mạch 0-2 để chính thức bị loại ngay từ vòng bảng mà không có nổi bàn thắng nào. Pháp đi vào lịch sử khi trở thành nhà đương kim vô địch tệ nhất mọi thời đại trong lịch sử FIFA World Cup. Đan Mạch dẫn đầu bảng với 7 điểm, còn Sénégal dù đã dẫn Uruguay 3-0 trong trận cuối rồi để rồi bị gỡ lại 3-3, nhưng Uruguay không thể ghi thêm bàn thằng để vào vòng trong. Sénégal xếp thứ hai bảng đấu, vươt qua vòng bảng trong lần đầu tham dự giải. Bảng B chứng kiến đội tuyển Tây Ban Nha thắng cả ba trận trước Paraguay, Nam Phi và Slovenia. Bảng C Đương kim á quân Brasil gặp Thổ Nhĩ Kỳ, Costa Rica và Trung Quốc. Brasil đánh bại Thổ Nhĩ Kỳ 2-1, hạ Trung Quốc 4-0 với các bàn thắng của Roberto Carlos, Ronaldo, Ronaldinho và Rivaldo, trước khi hạ Costa Rica 5-2 đẻ vào vòng trong với vị trí đầu bảng, còn Trung Quốc ra về mà không có nổi một điểm cũng như một bàn thắng nào. Bảng D gồm chủ nhà Hàn Quốc, Ba Lan, Hoa Kỳ và Bồ Đào Nha. Hàn Quốc giành thắng lợi đầu tiên tại World Cup trong trận thắng 2-0 trước Ba Lan. Mỹ gây sốc với chiến thắng 3-2 trước Bồ Đào Nha của Luís Figo. Ở trận cuối, Bồ Đào Nha thua chủ nhà Hàn Quốc 0-1 bởi bàn thắng của Park Ji-sung và chính thức rời giải từ vòng đầu tiên. Hàn Quốc có lần đầu tiên vượt qua vòng bảng một kỳ World Cup, Mỹ cũng gây ấn tượng khi xếp nhì bảng dù thua Ba Lan 1-3 ở trận đấu thứ ba. Bảng E gồm đội tuyển Đức, Cộng hòa Ireland, Cameroon và Ả Rập Saudi. Đội tuyển Đức có chiến dịch trước thềm World Cup cực kỳ tệ hại, trong đó có trận thua Anh 1-5 ngay trên sân nhà. Nhưng họ đã đè bẹp Ả Rập Saudi 8-0 trong trận đầu tiên, với cú hat trick bằng đầu của Miroslav Klose, trước khi bị Cộng hòa Ireland cầm hòa 1-1 rồi đánh bại Cameroon 2-0 để đứng đầu bảng, trong khi Cộng hòa Ireland hạ Ả Rập Saudi 3-0 với các bàn thắng của Robbie Keane, Gary Breen, và Damien Duff để đoạt vé thứ hai vào vòng trong với 5 điểm. Bảng F tử thần gồm Anh, Argentina, Thụy Điển và Nigeria. Ở lượt trận thứ hai, Thụy Điển hạ Nigeria 2-1 với cú đúp của Henrik Larsson. Anh đánh bại Argentina 1-0 với cú sút phạt đền của David Beckham. Anh và Thụy Điển kết thúc bảng đấu lần lượt ở vị trí nhất và nhì bảng. Ở bảng G México vươt qua Ý để đi tiếp với vị trí số một bảng đấu. Bảng H gồm chủ nhà Nhật Bản, Nga, Tunisia và Bỉ. Nhật Bản giành điểm số đầu tiên ở World Cup khi hòa Bỉ 2-2, trước khi giành chiến thắng đầu tiên với tỉ số 2-0 trước Nga. Nhật Bản sau đó đánh bại Tunisia 1-0 để giành quyền vào vòng 16 đội (cả hai đội chủ nhà đều thi đấu xuất sắc khi vượt qua vòng bảng với thành tích bất bại và cùng giành 7 điểm). == Vòng chung kết == === Vòng bảng === Giờ thi đấu tính theo giờ địa phương (UTC+9) ==== Bảng A ==== ==== Bảng B ==== ==== Bảng C ==== ==== Bảng D ==== ==== Bảng E ==== ==== Bảng F ==== ==== Bảng G ==== ==== Bảng H ==== === Vòng đấu loại trực tiếp === ==== Tóm tắt ==== ==== Vòng 16 đội ==== ==== Tứ kết ==== ==== Bán kết ==== ==== Tranh hạng ba ==== ==== Chung kết ==== === Vô địch === == Danh hiệu khác == 1Oliver Kahn là thủ thành duy nhất được nhận danh hiệu quả bóng vàng trong lịch sử các giải vô địch bóng đá thế giới. === Đội hình toàn sao === == Cầu thủ ghi bàn == 8 bàn Ronaldo 5 bàn 4 bàn 3 bàn 2 bàn 1 bàn Phản lưới nhà == Bảng xếp hạng giải đấu == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chính thức FIFA World Cup 2002 (lưu trữ) 2002 FIFA World Cup Korea/Japan ™, FIFA.com FIFA Technical Report (Phần 1) và (Phần 2) RSSSF RSSSF (Vòng loại)
.gb.txt
.gb là tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD) để dành cho Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland. Được giới thiệu cùng lúc với tên miền cao nhất khác của Anh (.uk), nó chưa bao giờ được dùng rộng rãi, và nó không còn đăng ký được với tên miền này, và bị liệt vào không sử dụng nữa. Quy định trong Hệ thống tên miền là tên miền quốc gia cấp cao nhất được dẫn xuất từ mã 2 ký tự tương ứng trong danh sách ISO 3166-1. Theo như mã đúng dành cho Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland là GB, và tên miền.gb do đó được ủy quyền. Mô hình Đăng ký tên JANET trước đây đã dùng "UK" làm mã quốc gia, do đó UK cũng áp dụng cho Jon Postel của IANA cho tên miền.uk. Nó được đảm bảo, và tất cả các tên miền UK hiện được phân phát là.uk, chứ không phải.gb. .gb được dùng trong một số năm, chủ yếu bởi tổ chức, chính phủ và dịch vụ e-mail thương mại sử dụng hạ tầng email dựa trên X.400. Điều này đơn giản hóa việc dịch giữa tên miền DNS và địa chỉ X.400, sử dụng "GB" làm mã quốc gia.[1]. Với cái chết của email X.400 và mục tiêu chung của IANA là một tên miền một quốc gia, việc sử dụng.gb do đó đã bị phủ nhận; tên miền vẫn tồn tại, nhưng nó không cho đăng ký tên miền con nữa. Một tên miền con.gb vẫn tồn tại trong DNS (đến năm 2007): dra.hmg.gb, thuộc về Cơ quan Nghiên cứu Phòng vệ trước đây của Chính quyền của Nữ hoàng. Tuy nhiên, tên miền không được dùng nữa. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == IANA .gb whois information JANET(UK) website www.dra.hmg.gb Last accessible copy of www.dra.hmg.gb in the Internet Archive
reims.txt
Reims là một thành phố trong tỉnh Marne, thuộc vùng hành chính Champagne-Ardenne của nước Pháp, có dân số là 187.206 người (thời điểm 1999). Từ 1969 thành phố có một trường đại học. Reims không chỉ là trung tâm sản xuất champagne, sản phẩm dệt may, thực phẩm và thiết bị cho ngành du hành vũ trụ cũng được sản xuất tại đây. Lịch sử Reims đã bắt đầu từ thời Đế quốc La Mã. Thành phố còn được gọi là «Thành phố của lễ đăng quang» (« la cité des sacres »), hay «Thành phố của những vị vua» (« la cité des rois »), bởi nhà thờ Nhà thờ Đức Bà Reims từng là nơi tôn phong của nhiều vị vua nước Pháp kể từ thế kỉ 10 kể từ vua Louis le Pieux năm 816 đến vua Charles X của Pháp năm 1825. Được coi là thành phố lớn nhất của vùng Champagne-Ardenne, Reims là một thành phố di sản với nhiều công trình kiến trúc lịch sử nổi tiếng cũng như những hoạt động văn hóa phong phú. Người dân thành phố được gọi là Rémois == Vị trí == Reims nằm ở phía Tây của nước Pháp, phía tây bắc của tỉnh Marne và phía tây của tỉnh Champagne-Ardenne. Thành phố nằm trên trục Paris và Đức. Thành phố cách Paris 130 km theo đường chim bay, cách Metz 157 km, cách Lille 168 km và 282 km kể từ Strasbourg. Reims cách thủ phủ của vùng Champagne-Ardenne là thành phố Châlons-en-Champagne 41 km. == Thông tin nhân khẩu == == Những người con của thành phố == Albert Batteux, huấn luyện viên bóng đá và vận động viên bóng đá Jean Baudrillard, triết gia Pierre Cauchon, Giám mục của Beauvais Maurice Couve de Murville, chính trị gia Jakob của Vitry, hồng y giáo chủ Jean-Baptiste Colbert, chính khách Daniel Goeudevert, manager, tư vấn daonh nghiệp Gunthar của Hildesheim, Giám mục Jean Baptiste de La Salle, linh mục, nhà sư phạm Simon Nicolas Henri Linguet, nhà văn Jean-David Morvan, nhà vẽ tranh cho truyện comic Robert Pires, cầu thủ bóng đá Henri Marteau, nhà soạn nhạc == Tham khảo ==
kinh tế đài loan.txt
== Tham khảo ==
trẻ sơ sinh.txt
Trẻ sơ sinh hay con mới đẻ là thuật ngữ chỉ về một trẻ em được sinh ra trong vòng một giờ, ngày, hoặc một vài tuần nhất định từ khi lọt lòng. Trẻ sơ sinh (từ tiếng La tinh: neonatus đề cập đến một trẻ sơ sinh trong 28 ngày đầu tiên sau khi sinh. Thuật ngữ "sơ sinh" bao gồm trẻ sơ sinh thiếu tháng, và trẻ sơ sinh đủ tháng và thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Latin là từ infans có nghĩa là "không thể nói" hoặc "không nói nên lời" Nó thường được dùng để chỉ trẻ em trong độ tuổi từ 1 tháng và 12 tháng. == Đặc điểm == Một trẻ sơ sinh có vai và hông hẹp, bụng nhô ra một chút, và cánh tay và chân tương đối ngắn. Trọng lượng sơ sinh trung bình của một trẻ sơ sinh đủ tháng là khoảng 7 ½ lbs (3,2 kg), và thường trong khoảng 5,5-10 pounds (2,7-4,6 kg). Tổng chiều dài cơ thể trung bình là 14-20 inch (35,6-50,8 cm), mặc dù sớm trẻ sơ sinh có thể nhỏ hơn nhiều. Một trẻ sơ sinh có cái đầu là rất lớn so với tỷ lệ cho cơ thể và hộp sọ lớn so với khuôn mặt. Trẻ sơ sinh có thể được sinh ra với đầy đủ đầu tóc giống như những người lớn khác, đặc biệt là trẻ sơ sinh da trắng có thể có mái tóc rất tốt hoặc thậm chí có thể bị hói. Ngay lập tức sau khi sinh, da của trẻ sơ sinh thường xám màu xanh sẫm màu. Khi đẻ ra thì trẻ sơ sinh bị ướt, phủ trong các vệt máu, và phủ một chất màu trắng. Dây rốn của trẻ sơ sinh hơi xanh lẫn màu trắng. Sau khi sinh, dây rốn thường được cắt. Cuống rốn sẽ khô rồi teo lại. Trẻ sơ sinh có tầm nhìn không đáng kể, có thể tập trung trên các đối tượng chỉ có khoảng 18 inches (45 cm) trực tiếp ở phía trước của khuôn mặt của nó. Trẻ sơ sinh được đẻ ra thì cất tiếng khóc chào đời như một hình thức thông tin liên lạc bản năng cơ bản. Một trẻ sơ sinh khóc có thể phải cố gắng để thể hiện nhiều cảm xúc khác nhau bao gồm cả đói, khó chịu, bị kích thích quá, chán nản, muốn một cái gì đó, hoặc cô đơn. Nuôi con bằng sữa mẹ là phương pháp quan trọng về sức khỏe trẻ sơ sinh. Khi trẻ sơ sinh chào đời, cần cho bú ngay sữa non của người mẹ để chuyển tiếp các dưỡng chất quan trọng, bổ dưỡng và cần thiết cho trẻ, đặc biệt là để trẻ hấp thu kháng thể, chống lại bệnh tật. == Tham khảo == Simkin, Penny; et al. (1992 (late 1991)). Pregnancy, Childbirth and the Newborn: The Complete Guide. Meadowbook Press. ISBN 0-88166-177-5. Warren SM; Brunet LJ, Harland RM, Economides AN, Longaker MT (2003-04-10). "The BMP antagonist noggin regulates cranial suture fusion". Nature 422 (6932): 625–9. doi:10.1038/nature01545. PMID 12687003. Gartner LM; Morton J, Lawrence RA, Naylor AJ, O'Hare D, Schanler RJ, Eidelman AI, etal (February 2005). "Breastfeeding and the Use of Human Milk". Pediatrics 115 (2): 496–506. doi:10.1542/peds.2004-2491. PMID 15687461. Hertz,, E; Hebert JR, Landon J. (July 1994). "Social and environmental factors and life expectancy, infant mortality, and maternal mortality rates: results of a cross-national comparison". Soc Sci Med. 39 (1): 105–14. doi:10.1016/0277-9536(94)90170-8. PMID 8066481.
strato ii.txt
Strato II "Soter" (tiếng Hy Lạp cổ đại: Στράτων B΄ ὁ Σωτήρ, Strátōn B΄ ho Sotḗr; có nghĩa là "Người Bảo Trợ") là một vị vua Ấn-Hy Lạp. Ông cai trị từ khoảng năm 25 TCN cho đến năm 10 CN theo Bopearachchi. RC Senior cho rằng triều đại của ông có lẽ đã kết thúc một thập kỷ trước đó. == Cai Trị == Strato II đã cai trị ở miền đông Punjab, có thể ông đặt kinh đô ở Sagala (hiện nay là Sialkot, Pakistan), hoặc có thể là ở thành phố Bucephala (Plutarch, p. 48 n. 5). Lãnh thổ của ông đã bị Rajuvula, vua Ấn-Scythia của Mathura, xâm chiếm và ông đã trở thành vị vua cuối cùng trong số các vị vua Ấn-Hy Lạp, cùng với con trai của ông Strato (III) Soter Philopator, người đã đồng trị vì theo như trên một số tiền xu của ông và cũng đã ban hành tiền xu riêng của ông ta. Một vài đồng bạc với một chân dung khác nhau và dòng chữ Strato Soter Dikaios cũng có thể thuộc về Strato III là vị vua duy nhất, hoặc cho một vị vua thứ tư có tên là Strato.(Điều nay Cho thấy rằng các đồng tiền của Strato I đã gần đây được quy cho hai vị vua khác nhau, có thực sự có thể có được năm vị vua tên là Strato.) Cũng giống như các vua trước đó Strato I, cuối cùng là Stratons I được cho là thuộc về triều đại của Menander I, người cũng sử dụng danh hiệu Soter và biểu tượng đứng của Pallas Athena. == Chú thích == == Xem thêm == Vương quốc Ấn-Hy Lạp Hy lạp-Phật giáo Ấn-Scythia
vụ bê bối.txt
Vụ bê bối (gốc tiếng Pháp scandale, tiếng Anh: scandal, phiên âm tiếng Việt: xì-căng-đan) là những việc làm dư luận quan tâm, nhưng phần lớn là phẫn nộ. Một vụ bê bối có thể tự nó phát sinh khách quan theo thực tế của người trong cuộc hoặc nó chính là sản phẩm theo ý đồ của người trong cuộc hoặc pha trộn của cả hai. Đôi khi, một vụ bê bối được dựng lên như một lớp vỏ để che đậy một vụ bê bối trước liên quan đến nó. Các loại bê bối phổ biến là: bê bối chính trị. bê bối tình dục. bê bối thể thao. bê bối báo chí. bê bối an toàn vệ sinh thực phẩm bê bối tiền bạc liên quan đến quản trị của các công ty. bê bối liên quan đến các người nghiên cứu tại đại học hay các viện nghiên cứu. ... == Xem thêm == Vụ nước thải Vedan Vụ bê bối sữa Trung Quốc 2008 Các vụ bê bối an toàn thực phẩm tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Vụ bê bối PMU 18 Vụ bê bối kì thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2012 ở Bắc Giang == Tham khảo ==
chu kỳ nguyên tố 7.txt
Chu kỳ nguyên tố 7 là hàng thứ 7 trong bảng tuần hoàn (tiêu chuẩn), giống chu kỳ 6 nó có 32 nguyên tố: 8 trong nhóm chính, 10 ở nhóm phụ và 14 nguyên tố trong nhóm Actini. Đây là nhóm đang được xây dựng dang dở với các nguyên tố chưa có tên chính thức là ununtri, ununquadi, ununpenti, ununhexi, ununsepti và ununocti. == Tham khảo ==
thủ tướng nhật bản.txt
Nội các Tổng lý Đại thần (内閣総理大臣, Naikaku sōri daijin) là tên gọi của chức danh của người đứng đầu Nội các của Nhật Bản hiện nay; có nhiệm vụ và quyền hạn tương đương với chức Thủ tướng của một quốc gia quân chủ lập hiến. Nội các Tổng lý Đại thần do Thiên hoàng phê duyệt việc bổ nhiệm sau khi được đề cử bởi Quốc hội từ các thành viên, và phải được sự tín nhiệm của Hạ viện để tồn tại ở vị trí này. Tên Nội các Tổng lý Đại thần của Thủ tướng có nghĩa là người đứng đầu Nội các và chỉ định hoặc bãi miễn các Bộ trưởng. Người hiện thay quyền chức vụ này là Abe Shinzō. Ở các quốc gia khác và ở Việt Nam, chức vụ này vẫn thường được gọi là Thủ tướng Nhật Bản hay gọi tắt là Thủ tướng. == Đề cử == Nội các Tổng lý Đại thần được đề cử bởi cả hai viện của Quốc hội Nhật Bản. Cho việc đó, mỗi viện tiến hành một cuộc bầu cử dưới hệ thống hai vòng bầu cử. Nếu cả hai viện chọn ra hai người khác nhau, thì một ủy ban hỗn hợp từ hai viện sẽ được cử ra để đồng ý một ứng cử viên chung. Tuy nhiên nếu cả hai viện đều không đồng ý trong mười ngày thì cuối cùng quyết định của Hạ viện sẽ được ưu tiên. Do đó, trên lý thuyết Hạ viện là cơ quan có tiếng nói cuối cùng trong việc quyết định người được đề cử nắm giữ cái ghế Tổng lý Đại thần. Nội các Tổng lý Đại thần phải từ chức nếu như Hạ viện thông qua một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm hoặc thất bại trong một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm, ngoại trừ Hạ viện bị giải tán trong vòng 10 ngày. Nội các Tổng lý Đại thần cũng phải từ chức sau mỗi lần tổng tuyển cử Hạ viện, ngay cả trường hợp đảng của ông chiếm đa số trong viện. Văn phòng Nội các Tổng lý Đại thần theo truyền thống được nắm giữ bởi người đứng đầu đảng chiếm đa số trong quốc hội ngoại trừ trường hợp hiếm hoi của Tsutomu Hata hay là Tomiichi Murayama. == Vai trò == Vai trò của Nội các Tổng lý Đại thần được quy định trong Hiến pháp Nhật Bản được thông qua vào năm 1947. "Điều khiển và giám sát" các bộ phận thuộc hành pháp. Chủ tọa các buổi họp của Chính phủ. Đề cử và bãi miễn các Bộ trưởng. Cho phép việc thi hành pháp luật đối với các Bộ trưởng. Đồng ký tên, cùng với các bộ trưởng tương ứng, các luật và chỉ thị của chính phủ. Tổng tư lệnh của các Lực lượng Phòng vệ. == Các dấu hiệu == == Lịch sử == Sau cuộc Minh Trị Duy tân, hệ thống Thái chính quan, được sử dụng trong giai đoạn Nara, được sử dụng như là một chính thể của nhà nước Nhật Bản. Các thế lực chính trị của người đứng đầu của họ, Thái Chính Đại Thần và những người cận vệ của ông, Tả Đại thần và Nội Đại thần mang đầy tham vọng là thường xuyên mâu thuẫn với các vị trí khác như là Sangi. Trong những năm 1880, Itō Hirobumi, lúc đó là một trong các Sangi, bắt đầu xem xét việc cải cách các tổ chức nhà nước. Vào năm 1882, Ito và những người nhân viên của ông, Ito Miyoji và Saionji Kinmochi, công du tới châu Âu và nghiên cứu các hiến pháp trong các nước quân chủ lập hiến, Đế quốc Anh và Đế quốc Đức. Sau khi quay trở về Nhật, Ito vận động lập ra một Hiến pháp và một hệ thống nhà nước hiện đại và thuyết phục những thế lực bảo thủ ủng hộ dự định của ông. Vào 22 tháng 12 1885, Sắc lệnh Thái chính quan số 69 được ban hành, bãi bỏ hệ thống Thái chính quan và thiết lập chức vụ Nội các Tổng lý Đại thần (内閣総理大臣) - tức Thủ tướng Nhật Bản - cùng với Nội các Nhật Bản. == Văn phòng chính thức == Văn phòng chính thức của Nội các Tổng lý Đại thần được gọi là Tổng lý Đại thần Quan để (総理大臣官邸) hay gọi tắt là "Quan để". Địa điểm của nơi này nguyên gốc được sử dụng từ 1929 đến 2002. Về sau, một tòa nhà mới được xây dựng và trở thành văn phòng mới của Nội các Tổng lý Đại thần vào năm 2002. Văn phòng cũ của Nội các Tổng lý Đại thần được chuyển thành một nơi ở mới cho quan chức với tên gọi Công để. == Các cựu Nội các Tổng lý Đại thần vẫn còn sống == Nakasone Yasuhiro (27 tháng 5 năm 1918-) Kaifu Toshiki (2 tháng 1 năm 1931-) Hosokawa Morihiro (14 tháng 1 năm 1938-) Hata Tsutomu (24 tháng 8 năm 1935-) Murayama Tomiichi (3 tháng 3 năm 1924-) Mori Yoshiro (14 tháng 7 năm 1937-) Koizumi Junichirō (8 tháng 1,1942-) Fukuda Yasuo (16 tháng 7 năm 1936-) Asō Tarō (20 tháng 9 năm 1940-) Hatoyama Yukio (11 tháng 2 năm 1947-) Kan Naoto (10 tháng 10 năm 1946-) Noda Yoshihiko (20 tháng 5 năm 1957-) == Xem thêm == Danh sách Nội các Tổng lý Đại thần Chính trị Nhật Bản Lịch sử Nhật Bản Quốc hội Nhật Bản == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Prime ministers of Japan tại Wikimedia Commons Prime Minister of Japan and His Cabinet. Official website. (tiếng Nhật) List of Japanese cabinets.
đại việt.txt
Đại Việt (chữ Hán: 大越), hay Đại Việt quốc (chữ Hán: 大越國) là quốc hiệu Việt Nam tồn tại trong 2 giai đoạn từ năm 1054 đến năm 1400 và từ năm 1428 đến năm 1804. == Lịch sử == Tên gọi này chính thức có từ thời trị vì của vua Lý Thánh Tông (1054-1072), vua thứ ba của nhà Lý. Trước đó, kể từ thời kỳ trị vì của Đinh Bộ Lĩnh, quốc hiệu là Đại Cồ Việt (大瞿越) gồm chữ Đại nghĩa là lớn và chữ Nôm Cồ (𡚝) cũng cùng nghĩa là lớn. Năm 1400, sau khi thay thế nhà Trần, Hồ Quý Ly, người sáng lập nhà Hồ đã đổi quốc hiệu thành Đại Ngu (大虞). Năm 1407, nhà Minh xâm lược Đại Ngu và cai trị cho đến năm 1427. Năm 1428, sau khi giành độc lập, Lê Lợi đã lấy lại tên Đại Việt đặt làm quốc hiệu. Quốc hiệu Đại Việt tồn tại tổng cộng trong thời gian 723 năm, bắt đầu từ thời vua Lý Thánh Tông đến thời vua Gia Long (1054 - 1804), tên gọi Đại Việt được dùng làm quốc hiệu trong thời kỳ cai trị của các chính quyền nhà Lý, nhà Trần, nhà Hậu Lê, nhà Mạc, nhà Tây Sơn và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn (1802 - 1804). Trong quá trình này tên gọi chính thức Đại Việt bị gián đoạn một lần ngắn ngủi 27 năm vào thời nhà Hồ và thời thuộc Minh (1400 - 1427). Năm 1804, vua Gia Long đổi tên nước thành Việt Nam, quốc hiệu Đại Việt chấm dứt hoàn toàn. Lịch sử Đại Việt đã xảy ra nhiều trận chiến chống ngoại xâm như: chống Tống năm 1077; chống Nguyên Mông các năm 1258, 1285 và 1288; chống Minh từ năm 1418-1428, chống Thanh năm 1789. Cũng có những thời kì đất nước bị chia cắt lâu dài, như Nam-Bắc triều từ năm 1533-1592, phân tranh Trịnh Nguyễn từ năm 1627-1788. == Xem thêm == Đại Cồ Việt Đại Ngu Đại Nam Việt Nam == Tham khảo ==
23 tháng 4.txt
Ngày 23 tháng 4 là ngày thứ 113 trong mỗi năm thường (ngày thứ 114 trong mỗi năm nhuận). Còn 252 ngày nữa trong năm. == Sự kiện == 303 – Thánh George (Gióoc) bị giết vì tin Chúa. 1920 – Hội nghị Đại quốc dân Thổ Nhĩ Kỳ được thành lập tại Ankara, nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại bắt đầu. 1949 – Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc được thành lập tại Thái Châu, Giang Tô trong bối cảnh Quốc-Cộng nội chiến. 1967 – Tàu Soyuz 1 đi vào quỹ đạo, mang theo một nhà du hành vũ trụ là đại tá Vladimir Komarov, khi trở lại Trái Đất thì phi thuyền rơi, nhà du hành chết. 1968 – Vương quốc Anh sản xuất đồng tiền đầu tiên có số thập phân, đồng tiền 5p và 10p. 1968 – Chiến tranh Việt Nam: Sinh viên phản đối ở Đại học Columbia ở Thành phố New York chiếm giữ các tòa nhà của ban quản lý nhà trường và đóng cửa trường đó. 1974 – Máy bay Boeing 707 của Pan American World Airways rơi ở Bali, Indonesia, làm chết 107 người. 1975 – Chiến tranh Việt Nam: Tại Đại học Tulane ở Louisiana, Tổng thống Mỹ Gerald Ford phát biểu là chiến tranh đã kết thúc đối với Hoa Kỳ. 1990 – Namibia trở thành nước thứ 106 trong Liên hiệp quốc và nước thứ 50 trong Khối Thịnh vượng chung Anh (British Commonwealth). 1993 – Người dân Eritrea bỏ phiếu cho việc tách ra khỏi Ethiopia trong cuộc trưng cầu dân ý có sự quan sát, điều hành của Liên hiệp quốc. 1994 – Các nhà vật lý học tìm được hạt hạ nguyên tử quark top. 2003 – Bắc Kinh đóng cửa mọi trường học trong hai tuần vì virút cúm SARS. == Sinh == 1185 – Vua Afonso II của Bồ Đào Nha (chết vào 1233) 1676 – Vua Frederick I của Thụy Điển (chết vào 1751) 1791 – James Buchanan, Tổng thống Mỹ thứ 15 (chết vào 1868) 1792 – John Thomas Romney Robinson, nhà thiên văn và nhà vật lý người Ireland. 1858 – Max Karl Ernst Ludwig Planck, nhà vật lý người Đức 1897 – Lester B. Pearson, Thủ tướng Canada thứ 14 (chết vào 1972) 1977 – John Cena, đô vật, ca sĩ nhạc rap Hoa Kỳ == Mất == 1124 – Vua Alexander I từ Ê-cốt (s. vào 1078) 1616 William Shakespeare, nhà văn, nhà soạn kịch người Anh, (s. 1564 == Những ngày lễ và ngày kỷ niệm == Ngày Lễ Thánh George: Ngày quốc gia Anh Tổ chức như Ngày Lễ Thánh Jordi ở xứ Catalan, cho quà tặng sách vở và hoa hồng == Tham khảo ==
nhà xuất bản đại học oxford.txt
Nhà xuất bản Đại học Oxford (Oxford University Press, viết tắt OUP) là một trong những nhà xuất bản đại học lớn nhất trên Thế giới, và lâu đời thứ hai, sau nhà xuất bản Đại học Cambridge. Nó là một đơn vị trực thuộc Đại học Oxford và quản lý bởi nhóm 15 nhà khoa học do Phó Chủ tịch của trường bổ nhiệm với chức danh Ủy viên xuất bản. Thư ký Ủy viên đứng đầu nhóm, người được coi như là giám đốc điều hành của OUP và là đại diện của nhà xuất bản. Đại học Oxford có mô hình hoạt động tương tự như các nhà xuất bản quốc tế khác kể từ thế kỷ 17. Đại học Oxford bắt đầu tham gia vào thương mại in ấn từ khoảng năm 1480, và trở thành nhà in chính đối với các tác phẩm Kinh thánh, sách cầu nguyện, và các sách khoa học khác. Nhóm xuất bản bắt đầu thực hiện dự án Oxford English Dictionary vào cuối thế kỷ 19, và mở rộng dự án để đáp ứng được chi phí hoạt động tăng của nó. Kết quả là, trong lịch sử của nhà xuất bản Đại học Oxford đã xuất bản các sách cho trẻ em, sách trung học, bản nhạc, tạp chí, series World's Classics, và những sách Dạy tiếng Anh bán chạy đáp ứng được nhu cầu của thị trường và mục đích tôn giáo. Chuyển tới thị trường quốc tế đưa nhà xuất bản thành lập các chi nhánh bên ngoài Anh quốc, bắt đầu ở thành phố New York, Hoa Kỳ năm 1896. Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ in ấn cũng như ảnh hưởng tới môi trường, xưởng in ở Oxford đã phải đóng cửa năm 1989, và nhà máy giấy của công ty ở Wolvercote đã bị dỡ bỏ năm 2004. Bằng cách ký hợp đồng in ấn và liên kết với các đối tác khác, nhà xuất bản Oxford hiện nay mỗi năm phát hành khoảng 6.000 ấn phẩm. OUP cũng đóng góp tài chính vào công ty mẹ, cũng như cho các mục đích khác của trường đại học như trao các học bổng, chương trình nghiên cứu và giáo dục thông qua các hoạt động của công ty. == Chú thích == == Tham khảo == Barker, Nicolas (1978). The Oxford University Press and the Spread of Learning. Oxford. Harry Carter (1975). A History of the Oxford University Press. Oxford: Clarendon Press. Rimi B. Chatterjee (2006). Empires of the Mind: A History of the Oxford University Press in India During the Raj. New Delhi: Oxford University Press. Hinnells, Duncan (1998). An Extraordinary Performance: Hubert Foss and the Early Years of Music Publishing at the Oxford University Press. Oxford: OUP. ISBN 978-0-19-323200-6. Oxford Music: The First Fifty Years '23−'73. London: OUP: Oxford University Press Music Department. 1973. Sutcliffe, Peter (1978). The Oxford University Press: An Informal History. Oxford: Clarendon Press. ISBN 0-19-951084-9. Sutcliffe, Peter (1972). An Informal History of the OUP. Oxford: OUP. == Đọc thêm == Noel L. Carrington, 'Initiation into Publishing', in 'Ebb Tide of the Raj', unpublished memoir in the holdings of the Oriental and India Office Collection, British Library. == Liên kết ngoài == Website chính thức: www.oup.com 1903 illustrated article The Most Famous Press in the World
đập akosombo.txt
Đập Akosombo, hay còn được gọi là Dự án Thủy điện Akosombo, là một đập thủy điện trên sông Volta đông nam Ghana. Việc xây dựng đập đã làm ngập một phần lưu vực sông Volta,và góp phần hình thành nên hồ Volta. Hồ Volta là hồ nhân tạo có diện tích bề mặt lớn nhất thế giới,nó bao phủ trên diện tíc 8502 km vuông,chiếm 3,6% diện tích Ghana.Với lượng nước 148 km khối, hồ Volta là hồ nhân tạo có lượng nước lớn thứ 3 thế giới (hồ có lượng nước lớn nhất là hồ Kariba, nằm giữa 2 nước Zimbabwe và Zambia với lượng nước là 185 km khối. Mục đích ban đầu của đập Akosombo là cung cấp điện cho ngành công nghiệp sản xuất nhôm. Đập Akosombo từng được gọi là " dự án đầu tư phát triển kinh tế lớn nhất Ghana" Công suất ban đầu là 912 megawatts,sau đó đã được nâng cấp lên 1020 megawats năm 2006. Việc nước dâng trong hồ chứa Volta đã khiến nhiều người mất đất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên. == Lịch sử == Ý tưởng xây dựng đập được đưa ra từ năm 1915 bới nhà địa chất Albert Ernest Kitson,nhưng chưa từng được lên kế hoạch cho tới những năm thập niên 1940. Việc xây đập được đề xuất từ năm 1949,nhưng vì không đủ kinh phí, công ty sản xuất Nhôm của Mỹ - Volta Aluminum Company (Valco) đã mượn tiền chính phủ Ghana để đập có thể được xấy dựng. Kwame Nkrumah đã thông qua dự án thủy điện sông Volta. == Xây dựng == Đập bắt đầu được xây dựng từ năm 1961 tới 1965. Việc xây dựng đạp được thực hiện bở chính phủ Ghana, và 25% vốn được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới, chính phủ Mỹ, và Vương quốc Anh. Việc xây dựng đạp Akosombo dẫn đến làm ngập một phần lưu vực sông Volta, tạo nên hồ Volta - bao phủ 3,6% diện tích Ghana. Hồ Volta được hình thành từ 1962 đến 1966 dẫn đến phải di dời hơn 80.000 người, chiếm 1% dân số Ghana. Người dân của 700 ngôi làng đã được tái định cư thành 52 làng, việc tái định cư được thực hiện trong 2 năm trước khi việc xây dựng đập hoàn hành, việc tái định cư được giám sát bởi VRA.. == Thiết kế == Đập Akosombo dài 660 mét và cao 114 mét.Nó có chiều rộng cơ bản là 366 mét và khối lượng xây dựng là 7900000 mét khối. Hồ chứa được tạo bởi đập - hồ Volta,có sức chứa 148 km3 và diện tích bề mặt 8502 km vuông.hồ dài 400 km, mực nước cao nhất là 84,73 m. Ở phía đông của đập có 2 cửa xả với lưu lượng 34000 m3/s. == Nhà máy điện Akosombo == Có 6 tổ máy công suất 170 MW mỗi tổ. Mỗi turbine được cung cấp nước qua đường ống dài 112 - 116 mét và đường kính ống 7,2 mét.. == Xem thêm == Adome Bridge Bui Dam == Tham khảo ==
pandora hearts.txt
Pandora Hearts (パンドラハーツ, Pandora Hātsu) là một seri truyện tranh Nhật Bản do Jun Mochizuki sáng tác, lần đầu xuất hiện trên tạp chí shounen manga G-Fantasy của Square Enix tháng 6 năm 2006. Tính tới thời điểm hiện tại bộ manga đã phát hành đến tập thứ 22 tại Nhật Bản. Bản quyền phiên bản tiếng Anh thuộc về Yen Press. Manga này cũng đã được dựng thành anime (1 season) do XEBEC sản xuất.Nhà xuất bản Kim Đồng đã mua bản quyền và tháng 5 năm 2014, Pandora Hearts được phát hành tại Việt Nam. == Tóm tắt nội dung == Oz Vessalius, người thừa kế của 1 nhà công tước vừa bước sang tuổi 15. Cậu sống một cuộc sống giàu sang và vô tư vô lo, duy nhất một điều làm cậu cảm thấy buồn là sự vắng mặt thường xuyên của cha cậu. Trong buổi lễ trưởng thành, không biết vì lý do gì, Oz bị đày xuống một nhà tù được biết đến với cái tên "Abyss", sau đó được một "chain" có tên Alice (Bloodstained Black Rabbit - B-Rabbit) cứu. Bí ẩn bắt đầu xuất hiện đằng sau Alice, "Abyss" và một tổ chức bí mật có tên Pandora. Seri này có khá nhiều điểm liên quan đến Alice's Adventures in Wonderland và Through the Looking-Glass, and What Alice Found There. của Lewis Carroll, chứa đựng nhiều yếu tố viễn tưởng và huyền bí, một ví dụ điển hình cho thể loại Gothic fiction. == Thuật ngữ == === Chain === チェイン, Chain Đến từ Abyss, xuất thân từ con người, được Intention of the Abyss chuyển hóa. Chúng phải ký kế khế ước với một con người để thoát khỏi Abyss. Những chain thuộc dạng illegal contract *khế ước không hợp lệ* phải ăn thịt con người để tăng thêm sức mạnh. Khi đàm phán thành công với một con người, người này sẽ trở thành Contractor của Chain và nó sẽ ẩn náu trong cơ thể của người đó. Chain có thể được triệu tập bằng ý chí bất cứ khi nào Contractor cần. Trên ngực trái của Illegal contractor lúc này sẽ xuất hiện một biểu tượng mặt đồng hồ, khi sức mạnh của Chain tăng, cây kim trên mặt đồng hồ sẽ di chuyển thêm 1 giờ. Khi nó quay đủ một vòng, cả Illegal Contractor và Chain sẽ bị kéo xuống tầng thấp nhất của Abyss. Chỉ có Pandora,và trước kia là chỉ có duy nhất nhà Baskerville được phép ký kết với Chain,mới có thể thực hiện những Legal Contract *khế ước hợp lệ*, một số Contractor thực hiện ký kết theo kiểu này sẽ không bao giờ già đi, nhưng không có nghĩa là bất tử, được gọi là legal contractor. === Contractor === Là con người đã giao ước với Chain. Có 2 loại contractor, đó là Legal Contractor (người ký khế ước hợp lệ) và Illegal contractor (người ký khế ước không hợp lệ). Muốn trở thành Legal contractor, người đó phải tuân theo một số thủ tục nhất định của nghi lễ này. Khế ước được coi là không hợp lệ khi nó được xác định bằng lời nói. === Abyss === (アヴィス, Abisu) Chain được sinh ra tại đây. Nó tồn tại ở một không gian khác, thời gian không thực sự tồn tại ở Abyss. Một người có thể bị rơi vào bất kỳ khoảng thời gian nào khi họ thoát ra khỏi Abyss. Theo lời Break, Abyss có thể trông giống như một nhà tù hoặc một hộp đồ chơi bị hỏng, tùy thuộc vào chính người bị đầy xuống đó. === Intention of the Abyss === (アヴィスの意志, Abisu no Ishi) là sinh vật chi phối Abyss. Thường xuất hiện dưới hình hài một con thỏ bông với đôi mắt to tròn. Hình dáng thật sự của "nó" giống y hệt như Alice, chỉ khác mái tóc màu trắng. Có vẻ như Intention of the Abyss muốn Oz và Alice phải quay trở về Abyss. Giữa cô ta và Alice tồn tại một kết nối. Khi Alice được sinh ra ở thế giới con người thì Intention of the Abyss cũng được sinh ra ở Abyss. Intention of the Abyss rất ghét Alice và muốn hủy diệt cô. Tên thật của Intention of the Abyss là Alyss (tên chưa chính thức do fan đặt, còn hai tên nữa là Alice White và Alice of the Abyss). Intention of the Abyss rất ghét bản thân mình và cô đã cầu xin Kevin Regnard phá hủy bản thân cô.Intention of the Abyss rất tàn nhẫn,cô là người đã lấy đi con mắt trái của Break và đưa cho Chesire. === Tứ đại quý tộc === (四大公爵家, Yondai Koushaku Ke) Bao gồm 4 gia tộc: Vessalius, Rainsworth, Nightray và Barma. Họ đều tồn tại từ trước khi thảm kịch Sablier xảy ra. Tứ đại quý tộc sáng lập ra tổ chức Pandora và mỗi dòng họ giữ một cánh cửa và 1 chain để kết nối đến Abyss. Nhà Vessalius và Nightray luôn đối đầu nhau, giống như ánh sáng và bóng tối: nhà Vessalius luôn được làm việc công khai, trong khi nhà Nightray thi hành nhiệm vụ trong bóng tối. Trước khi Thảm kịch Sablier xảy ra, Vessalius chỉ là một gia đình quý tộc hạng 3, không phải là thành viên của Tứ đại công tước. Thay vào đó là gia tộc Baskerville - đứng đầu là Glen Baskerville. Khi Jack giết Glen vì anh đã gây ra Thảm kịch Sablier, nhà Vessalius được mọi người coi như gia tộc anh hùng, đồng thời thay thế vị trí của Baskerville, trở thành 1 thành viên của Tứ đại quý tộc. === Pandora === (パンドラ, Pandora) Tổ chức được Tứ đại quý tộc sáng lập, chủ yếu nghiên cứu về Abyss. Những thành viên của Pandora sau khi trở thành Legal contractor sẽ được gọi theo tên Chain mà họ sở hữu. === Thảm kịch Sablier === (サブリエの悲劇, Saburie no Higeki) Sablier từng là thủ đô của đất nước. Tuy nhiên, 100 năm trước, vì nghe theo lời của Miranda Barma, Vincent Nightray đã mở cánh cổng tới Abyss, kéo cả thủ đô Sablier xuống Abyss, gây nên thảm kịch Sablier === Doors === Là những cánh cổng dẫn đến Abyss được Tứ Đại công tước canh giữ. Mỗi gia tộc sở hữu 1 cánh cửa, Baskerville sở hữu cánh cửa thứ 5 - cuối cùng. Chương 41 tiết lộ cánh cửa thứ 5 được Baskerville giấu ở khu vực lãnh thổ của Sablier, mặc dù Pandora đang cai quản Sablier nhưng họ chưa từng điều tra nơi này để tìm nó. === Blood Sealing Mirror === Là vật cần để tạo nên Legal contract. Thay vì để contractor uống máu Chain, BSM sẽ hút nó vào và phong ấn ở đó. Nếu BSM bị vỡ, giao ước với Chain sẽ bị phá bỏ. Nó đồng thời giới hạn sức mạnh tối đa mà Chain có thể sử dụng. == Nhân vật == === Nhà Vessalius === ==== Oz Vessalius ==== (オズ=ベザリウス, Ozu Bezariusu) Nhân vật chính của câu chuyện. Một cậu nhóc 15 tuổi với mái tóc vàng và đôi mắt màu xanh lá, là gia trưởng tương lai của nhà Vessalius. Mẹ cậu là Rachel Cecile bị nhà Nightray sát hại, dù vậy, Oz luôn lạc quan, vui vẻ và hiếu động. Câu chuyện bắt đầu khi Oz bước sang tuổi 15, trong buổi lễ trưởng thành, cậu bị kéo xuống Abyss vì tội lỗi của Oz chính là "sự tồn tại của cậu trên thế giới này". Tại Abyss, cậu gặp Alice - một chain và đã giao ước với cô. Khi Oz trở về thế giới của mình là thời gian 10 năm sau khi cậu bị kéo xuống Abyss. Để đi tìm câu trả lời cho tất cả mọi chuyện, Oz làm việc cho Pandora dưới quyền Break. Trong quá khứ, Oz đã rất cố gắng học hành chăm chỉ để được cha thừa nhận và tự hào về cậu. Tuy nhiên, sau khi biết được cha hận mình, Oz nghĩ rằng không có điều gì là tuyệt đối trong thế giới này. Cậu nghĩ rằng mình là kẻ yếu đuối và để bảo vệ người khác, ít nhất cậu phải là một đứa trẻ ngoan và học cách chấp nhận tất cả mọi tổn hại người khác gây ra cho mình. Trong thế giới của mèo Cheshire, cậu đã gặp được Jack Vessalius, sau đó trở thành "trung gian" của Jack khi cậu trở về thế giới con người. Tại trụ sở chính của Pandora, Jack đã điều khiển cơ thể Oz để cảnh báo về thảm kịch Sablier sắp tái diễn nếu không được ngăn chặn. Oz có thể gọi Jack xuất hiện nếu ý chí của cậu đủ mạnh và cậu có thể vài lần nhìn thấy mảnh ký ức của Jack. Cậu tự nhận mình khá giỏi đấu kiếm, đặc biệt là khi tự bảo vệ mình. Tuy nhiên, cậu chẳng có tí kinh nghiệm thực chiến nào. Oz rất thích những cô gái dễ thương và rất hay tán tỉnh họ. Cậu ước được lấy Sharon làm vợ khi lần đầu gặp cô. Trong chương 20, Oz gọi Alice là "my most precious Alice" /precious = quý giá/, tuy vậy, không thể khẳng định đó là những cảm giác thực sự của cậu hay của Jack, vì Jack trú ngụ trong cơ thể cậu. Oz nghĩ Alice là một người rất quan trọng đối với mình, sự hiện diện của cô giống như "mặt trời", vì cậu nghĩ vì Alice mà cậu vẫn có thể mỉm cười. Jack nói với Oz rằng cậu có quyền và có thể để điều khiển sức mạnh của Alice, phong ấn không thể kiềm chế được sức mạnh của Alice được nữa và Oz có thể sử dụng sức mạnh của B-Rabbit bất cứ khi nào cậu muốn mà không cần đến sự cho phép của Alice hay Gilbert. Oz chứng minh điều này khi một lần cậu dùng ý chí để ngăn Alice sử dụng sức mạnh ngay lập tức, một lần khác khi cậu suýt bị những người Baskerville bắt cóc ở Lutwidge, không lâu sau đó cậu đã triệu tập được lưỡi hái của Alice và có thể dễ dàng dùng nó chiến đấu trong ảo ảnh của Sablier, dù cậu chưa từng sử dụng lưỡi hái trước đây (Oz không nhận ra điều này). Lottie nói rằng, Oz là nhân tố quan trọng để giấu đi sự tồn tại của Jack Vessalius, nếu Oz chết, sự tồn tại của Jack sẽ được làm sáng tỏ, dẫn đến Intention of the Abyss, người luôn tìm kiếm Jack sẽ làm đảo lộn thế giới thực. Sau đó, Oz và Gilbert đã gặp người kéo Oz xuống Abyss: Zai Vessalius, không ai khác chính là cha cậu. Oz đã định phá hủy tất cả nếu Alice không ngăn cậu lại. Trong chương 47, Oscar Vessalius đã tiết lộ với Break rằng Zai Vessalius đã mang theo Oz khi cậu vừa sinh ra rồi biến mất trong một đêm, không ai biết ông ta đã đi đâu. Zai nói rằng đi làm lễ rửa tội cho con trai mình nhưng Break nghi ngờ rằng Oz hiện tại có thể không phải là Oz thật sự. Điều này cũng có thể giải thích cho việc Zai ghẻ lạnh chính con trai mình. Trong chương 56, để bảo vệ Alice khi cô bị Isla Yura bắt cóc, Oz lại sử dụng sức mạnh B-Rabbit và mắt cậu biến thành màu đỏ. Tuy nhiên Alice một lần nữa đã ngăn cậu lại. Sau đó Jack xuất hiện và kết liễu Isla Yura. Trong chương 65, Oz đã thuyết phục Leo không tái diễn Thảm kịch Sablier một lần nữa, nhưng khi Leo vừa đồng ý, Jack đã sử dụng cơ thể Oz để tấn công Leo bằng sức mạnh của B-rabbit Chương 70 tiết lộ một thông tin vô cùng quan trọng về nhân vật này: Oz thực ra chính là B-Rabbit, còn cơ thể hiên tại của cậu là của Jack. Lồng tiếng: Junko Minagawa. ==== Ada Vessalius ==== 'Ada Vessalius' (エイダ=ベザリウス, Eida Bezariusu) Em gái của Oz, cô rất yêu anh trai mình. Cô theo học tại Lutwidge, một học viện nổi tiếng dành cho quý tộc. Ada giữ liên lạc với bác mình là Oscar qua thư từ, cô thổ lộ mình đã thích một người, làm cho cả anh trai và bác cô lo lắng, họ đã cải trang trà trộn vào học viện với mục đích "xử lý" kẻ xấu số đã quyến rũ Ada. Sau khi biết cô là người đã tặng Gilbert chiếc mũ mà cậu rất quý, Oz và Oscar hiểu lầm rằng chính Gilbert là người Ada yêu. Cô cũng xin Oz để mình trả đồ cho Elliot, nhưng Oz đã từ chối khiến cô hơi thất vọng. Nhưng trong các chương sau, người hẹn hò với Ada lại là Vincent Nightray. Cô có niềm đam mê vô hạn với ma thuật, phù thuỷ... vì muốn cứu anh trai, cô đã nghiên cứu các cuốn sách về pháp thuật, từ đó say mê chúng lúc nào không biết. Ada có một chú mèo tên Dinah và 2 chú mèo khác (một con màu đen và một con màu trắng - con màu trắng tên là Snowdrop và con màu đen tên Kitty). Lồng tiếng:Kaori Fukuhara. ==== Jack Vessalius ==== 'Jack Vessalius' (ジャック=ベザリウス, Jakku Bezariusu) Anh là con trai của Duke Vessalius với người vợ lẽ. Anh có quá khứ bất hạnh, bị ruồng rẫy, thậm chí phải đi ăn xin. Anh được coi như là anh hùng của 100 năm trước và cũng là người đã đánh bại Glen Baskerville. Jack không phải là Master của Raven, đồng thời có một chút quan hệ với ký ức của Alice. Bề ngoài, Jack trông giống y hệt Oz-phiên bản trưởng thành với chiếc đuôi sam rất dài. Tính cách của Jack cũng khá giống với Oz, tự mình gánh vác mọi việc, sôi nổi và vui vẻ. Oz và Gilbert gặp anh khi họ đến thế giới của mèo Cheshire. Hiện tại, Jack đang ẩn trú trong cơ thể của Oz và có thể nói chuyện với người khác thông qua việc "mượn tạm" cơ thể Oz. Khi đó, anh hoàn toàn làm chủ sức mạnh của B-Rabbit. Jack là con trai thứ ba của nhà Vessalius, trước thảm kịch Sablier, chỉ là một nhà quý tộc hạng ba. Anh tự nhận mình là người làm hộp nhạc. Tại thời điểm đó, người bạn thân nhất của anh chính là Glen Baskerville. Jack đã làm cho Glen chiếc đồng hồ bỏ túi, giai điệu của nó có tên "Lacie", do Glen sáng tác. Lacie rất hay ngân nga giai điệu bài này. Jack đã giết Glen vì anh đã gây ra thảm kịch Sablier (Glen tin rằng cuộc sống không còn ý nghĩa gì nếu không có Lacie và muốn giết Jack). Dù anh được mọi người ca ngợi như một người anh hùng, nhưng Jack không hề muốn giết bạn thân. Anh viết trong Nhật ký của mình rằng: "Tôi đã giết bạn thân nhất của mình... Xin đừng... đừng gọi tôi là anh hùng." Jack vô cùng tức giận khi Lottie nói anh giết Glen chỉ vì danh lợi. Chính Jack đã nói khi nhập vào Oz, rằng Glen vẫn còn sống. Dù vậy, anh nói với Baskervilles rằng nếu họ muốn tái diễn thảm kịch Sablier, một lần nữa anh sẽ trở thành vũ khí hủy diệt Death Gods (thần chết-chính là Baskerville). Chương 65 tiết lộ Jack mới là người yêu Lacie, cũng chính là người gây ra thảm kịch Sablier. Jack chính là người đả thương Gilbert để đe dọa Glen. Thân xác của Glen để phong ấn linh hồn Jack. Lồng tiếng: Daisuke Ono. ==== Oscar Vessalius ==== 'Oscar Vessalius' (オスカー=ベザリウス, Osukā Bezariusu) Bác trai của Oz, là người rất tình cảm, nhiều lúc hơi thái quá, ông đóng vai trò gây cười trong hầu hết các tình huống xuất hiện. Oscar cũng là người đã tìm thấy Gilbert và cho cậu ở lại nhà Vessalius. Cả Oz và Gilbert đều coi ông như cha mình. Oscar cũng có mối quan hệ khá tốt với Break. Khi ông nhận được thư của Ada nói rằng cô đã có "người thương", ông đã rất lo lắng và ép Oz, Gilbert và Alice đến Lutwidge. Họ cải trang thành sinh viên và trà trộn vào học viện để tìm ra người mà Ada yêu. Lồng tiếng: Hideyuki Umezu. ==== Zai Vessalius ==== (ザイ=ベザリウス, Zai Bezariusu) Cha của Ada và Oz. Thực sự xuất hiện trong chương 39, thái độ của ông với Oz rất lạnh nhạt, tàn nhẫn và ông luôn phủ nhận cậu. Chương 40 tiết lộ ông có một vết sẹo lớn trên mặt và chính ông là người đã đầy Oz xuống Abyss cùng với Baskervilles. Ông là contractor của Gryphon. Dù trưởng gia Nightray bắt Elliot phải hận nhà Vessalius, nhưng có vẻ như Zai Vessalius và ông ta là bạn. Zai Vessalius biết nơi giấu cánh cửa thứ 5 dẫn đến Abyss mà nhà Baskerville đang giữ. === Nhà Rainsworth === ==== Sharon Rainsworth ==== 'Sharon Rainsworth' (シャロン=レインズワース, Sharon Reinzuwāsu) Là người thừa kế của nhà Rainsworth, Sharon là một thành viên của Pandora. Bề ngoài nhìn cô giống một cô bé 14, nhưng thực ra cô đã 24 tuổi. Cô không hề thay đổi sau 10 năm từ lần đầu gặp Oz, vì cô là Legal contractor của Eques. Sharon và Break có mối quan hệ khá gần gũi. Cô cũng là người phát hiện ra Break đang trong tình trạng nguy kịch sau khi anh thoát ra từ Abyss. Khi còn nhỏ, cô thường gọi Break với cái tên "Xerxes-niisan", đối với cô, Break giống như một người anh trai. Sharon muốn trở nên có ích hơn với Break. Nhìn cô cũng rất giống mẹ mình, bà Shelly Rainsworth. Khi Oz và những người khác đến nhà của mèo Cheshire, Sharon bị Echo bắt cóc. Kẻ chủ mưu chính là Vincent Nightray, hắn đầu độc Sharon để ép Break phải phá hủy ký ức của Alice về thảm kịch Sablier mà anh đã lấy được từ mèo Cheshire để đổi lấy thuốc giải. Dù Sharon đã can ngăn Break khi anh định phá hủy chiếc chuông trên cổ mèo Cheshire, vật chứa đựng ký ức của Alice về ngày định mệnh đó, nhưng Break vẫn phá hủy nó để cứu cô. Khi say rượu, Sharon trở thành một "nữ hoàng" ngạo mạn và dữ dằn, lạ là Oz lại thấy cô rất dễ thương. Sharon rất thích những điều lãng mạn về tình yêu và luôn cố gắng để dạy cho Alice hiểu. Trong tập 20 (anime), cô ép Alice phải gọi mình là "onee-sama" (chị gái). Sharon rất muốn giúp đỡ Break, trong chương 43 cô nói rằng nếu muốn giữ Break bên cạnh, cô không thể chỉ ở bên cạnh anh mà cần phải tiến lên cùng với anh. Break bị mù nhưng anh không muốn nói với Sharon vì nghĩ cô vẫn còn nhỏ và nhất định sẽ suy sụp, anh nói với Sheryl Rainsworth rằng anh đối xử với Sharon giống như con gái mình. Nhưng trong chương 49, sau khi biết Break đã bị mù, Sharon không những không suy sụp mà cô chỉ cảm thấy kinh ngạc xen lẫn đau đớn và hạnh phúc vì Break đã không còn coi cô như một đứa trẻ. Lồng tiếng: Kana Hanazawa ==== Xerxes Break ==== (ザークシーズ=ブレイク, Zākushīzu Bureiku) Thường được biết đến với cái tên ngắn gọn là Break, anh là một thành viên của Pandora và là servant của nhà Rainsworth. Ngoại hình của Break không thay đổi từ lần đầu gặp Oz đến 10 năm sau đó, vì anh là Legal Contractor của Mad Hatter. Break thường đem theo một con búp bê trên vai, anh tự gọi nó là Emily. Break hay "nói bụng" dùng Emily để độc thoại "đổ tội" khi anh bị ai đó trách móc, thực ra Emily chỉ là búp bê và nó không thể nói được. Anh đặc biệt yêu thích các loại đồ ngọt. Nhìn bề ngoài, Break có vẻ là một mẫu nhân vật vô tâm, không bao giờ nghiêm túc và luôn luôn cười đùa. Tuy vậy, khi cần, Break tỏ ra là một con người nguy hiểm và tàn nhẫn. Reim nói với Oz rằng không phải anh vẫn luôn vui vẻ như vậy. Break bị mất mắt trái. Trước đây, khi anh bị lấy đi 1 bên mắt, anh là người lạnh lùng và hay cáu bẳn, không bao giờ biết cười. Tuy vậy, bị cảm hóa bởi tấm lòng lương thiện bao dung của Shelly, mẹ Sharon, Break đã lấy lại được nụ cười. Anh đặc biệt trung thành tuyệt đối với Shelly. Người đã lấy đi mắt trái của Break chính là Intention of the Abyss, cô lấy nó để trao cho Cheshire. Mục đích thật sự của Break là đi tìm sự thật đằng sau thảm kịch Sablier 100 năm trước. Anh đặc biệt căm ghét Vincent Nightray. Trong chương 29, Rufus Barma tiết lộ tên thật của anh là Kevin Regnard. Trong quá khứ, Break là vệ sĩ của gia đình quý tộc Sinclair. Một lần, khi anh và tiểu thư Sinclair vắng nhà, cả gia đình Sinclair đã bị những quý tộc thù địch sát hại một cách bí ẩn. Break tự trách mình vì đã quá vô tâm, không thể bảo vệ được chủ nhân. Anh đã giao ước với chain và trở thành illegal contractor của White Knight nhằm thay đổi quá khứ. Khi chiếc kim quay đủ một vòng, Break bị kéo xuống tận cùng Abyss, tại đây, anh đã gặp Intention of the Abyss và Vincent, Gil lúc còn nhỏ. Intention of the Abyss đã thay đổi quá khứ của Break, đổi lại, Break phải giúp cô đạt được nguyện vọng của mình, đó là được chết . Break thoát khỏi Abyss và được tìm thấy tại nhà Rainsworth trong thế giới 30 năm sau thời đại của anh. Quá khứ của Break đã thay đổi, nhưng không thực sự như anh mong muốn. Dù gia đình Sinclair đã thoát nạn lần đó, nhưng không lâu sau, đại tiểu thư nhà họ bị ám sát, nhị tiểu thư trở thành illegal contractor và bị đẩy xuống tận cùng của Abyss sau khi sát hại toàn bộ những người còn lại trong gia đình. Break luôn cảm thấy có lỗi vì chuyện đó. Trong một khoảnh khắc, anh đổ lỗi cho Intention of the Abyss, nhưng rồi anh nhận ra rằng chính anh là người đòi hỏi Intention of the Abyss phải thay đổi quá khứ, và thực tế, anh chỉ muốn gột rửa tội lỗi của chính mình mà không phải vì lợi ích của chủ nhân. Chương 42, sau khi trở về từ Sablier, anh đã mê man suốt 3 ngày, sau khi thức dậy, Break phát hiện ra mình đã hoàn toàn không còn nhìn thấy gì. Tuy nhiên, trong chương 43, Break nói rằng anh không thể thấy mặt nhưng bù lại, anh có thể cảm nhận được đối tượng thông qua cảm giác. Chương 49, sau khi cho Sharon biết anh không thể thấy được nữa, Break nhận ra rằng Sharon đã trưởng thành và luôn ở bên cạnh anh. Break đã nói với Lottie ở Sablier rằng liệu cô ta có thể trở thành bạn anh vì anh và nhà Baskerville có chung mục đích. Hiện vẫn chưa rõ mục đích đó là gì. Nhưng vì nghĩ bọn Baskerville đã hãm hại Reim nên anh đã bỏ hoàn toàn ý định làm bạn với chúng. Trên đường đi tìm Reim, Break bắt gặp Elliot và chị gái mình, Vanessa khi cô chị vừa bị Head Hunter sát hại. Break đã ép Gilbert kiểm tra ngực Elliot xem có ấn nguyền hay không nhưng Gilbert một mực từ chối. Gilbert nói Break đang cư xử rất lạ lùng và hai người to tiếng với nhau. Break tiết lộ một phần sự thật về mối quan hệ giữa nhà Nightray và Humpty Dumpty. Anh nói rằng nếu anh khống chế contractor chính của Humpty Dumpty thì những contractor còn lại sẽ không thể sử dụng sức mạnh được. Do bị mù nên Break đã vô tình để Gil đánh trúng. Gil đã ngăn Break lại kịp thời khi anh quyết định sử dụng Mad hatter mà không màng đến tính mạng mình đang ngàn cân treo sợi tóc. Gilbert đã dùng Raven cứu Break và hai người phối hợp giết chết Fang. Một điều khá thú vị là Break có khả năng "dịch chuyển tức thời" từ không gian này tới không gian khác, hay từ nơi này đến nơi khác một cách nhanh chóng, đó là nhờ vào khả năng của Eques, chain của Sharon Rainsworth, nó luôn nấp trong cái bóng của anh. Vì vậy, bạn có thể bắt gặp anh thình lình chui ra từ gậm giường, ống khói hay gầm bàn. Lồng tiếng: Akira Ishida. ==== Shelly Rainsworth ==== Là mẹ đẻ của Sharon Rainsworth và được Xerxes Break kính trọng. Bà là người rất nhân hậu, dịu dàng và lương thiện. ==== Sheryl Rainsworth ==== Là bà ngoại của Sharon Rainsworth, mẹ của Shelly Rainsworth và bạn của Rufus Barma. Bà cũng là người duy nhất Rufus Barma sợ. === Nhà Nightray === ==== Gilbert Nightray ==== (ギルバート=ナイトレイ, Girubāto Naitorei) Bạn thân nhất đồng thời cũng là servant của Oz. Đối với anh, Oz là người quan trọng nhất, Gilbert sẵn sàng hi sinh bất cứ thứ gì vì Oz. Anh được đưa đến nhà Vessalius sau khi Oscar Vessalius tìm thấy anh bị trọng thương 15 năm trước. Gilbert đặc biệt cực kỳ sợ mèo. Được Oz mời dự buổi lễ trưởng thành của cậu với tư cách một người bạn, trong buổi lễ, Gilbert bị điều khiển tấn công Oz bởi một chain (Doldum), contractor của nó là Zwei, một thành viên nhà Baskerville. Sau khi lấy lại được ý chí, Gilbert cố gắng bảo vệ Oz, anh tình cờ phát hiện ra một trong những người tấn công Oz, là cha cậu, Gilbert đã lao ra đỡ đòn cho ông ta khi Oz tấn công, và bị thương nặng. Khi Oz từ Abyss trở về, Gilbert xuất hiện dưới cái tên Raven, một thành viên của Pandora. Không lâu sau, Oz phát hiện Raven chính là Gilbert và 2 người lại gắn bó như xưa. Sau khi Oz bị kéo xuống Abyss 10 năm trước, Gilbert đã nghe lời Break, chấp nhận phản bội nhà Vessalius để trở thành con nuôi của nhà Nightray, trước kia đã nhận nuôi Vincent, em trai Gilbert. Để cứu được Oz ra khỏi Abyss, Gilbert đã tập luyện rất khổ cực để sử dụng thông thạo súng, thậm chí, anh đã giết người để trở thành Contractor của Raven, Chain của nhà Nightray. Gilbert đã dùng chính sức mạnh của Raven để phong ấn giới hạn sức mạnh của B-Rabbit qua Oz, qua đó ngăn chiếc kim di chuyển. Sau 10 năm, anh vẫn rất sợ mèo và... rất giỏi nội trợ. Khi bị say rượu, Gilbert quay trở lại con người thật của anh: một Gilbert hay-khóc-nhè và yếu ớt đến tội nghiệp. Anh rất coi trọng chiếc mũ Ada tặng. Gilbert cũng có mặt trong thảm kịch Sablier 100 năm trước, đã từng là servant của Glen. Sau khi anh bị Jack đả thương vì cố ngăn Jack và Glen, Vincent đã mở con đường dẫn tới Abyss để cứu Gilbert. Gilbert rất sợ bị bỏ lại đằng sau. Anh cũng là một trong những tác nhân gây ra cái chết của Alice 100 năm trước. Những chương gần đây cũng tiết lộ rằng Gilbert là người được chọn làm cơ thể tiếp theo của Glen. Chain cần thiết để thực hiện lễ nghi này, Raven, hiện tại thuộc sở hữu của Gilbert, khi nghi thức diễn ra, Vincent đã ngăn nó lại bằng cách mở con đường đến Abyss, dẫn đến thảm kịch Sablier. Gilbert cung giống như Glen, sở hữu một cơ thể mang sức mạnh không tưởng và không dễ dàng bị chết vì những vết thương thông thường. Lồng tiếng: Azuma Sakamoto (younger) and Katsuyuki Konishi (CD drama) and Toriumi Kousuke (Anime) (older). ==== Vincent Nightray ==== ヴィンセント=ナイトレイ, Binsento Naitorei Vincent là em trai của Gilbert, nhỏ hơn 1 tuổi. Trong khi nhà Vessalius tìm thấy Gilbert, thì Vincent được nhà Nightray nhận nuôi. Tóc và mắt trái của cậu màu vàng, giống như mắt Gilbert, nhưng mắt phải của cậu lại có màu đỏ (theo Oz thì đó là do chứng tạp sắc). Cậu yêu anh trai mình, Gilbert đến mức gần như là bị ám ảnh. Bề ngoài, cậu có vẻ là một người đơn giản với nụ cười luôn thường trực trên khuôn mặt. Nhưng thực ra, Vincent là người rất thủ đoạn và tàn nhẫn. Cậu có thói quen cầm kéo và cắt hỏng những con thú bông. Break rất ghét và luôn khó chịu khi nhìn thấy Vincent. Vincent đến từ thế giới 100 năm trước, thời gian xảy ra thảm kịch Sablier. Cậu luôn bị hắt hủi vì người dân tin rằng những kẻ có mắt màu đỏ luôn đem lại thảm họa. Vincent và Gilbert phải sống trên đường phố và bị đánh đập bất cứ khi nào người ta nhìn thấy mắt đỏ của Vincent, cho đến khi Jack tìm thấy và mang họ về nhà. Sau đó, hai anh em trở thành servant của Jack. Vincent rất yêu quý Jack, người thậm chí không quan tâm đến mắt đỏ của cậu, Jack còn cắt đi phần tóc dùng để che giấu nó, anh nói rằng anh "yêu" con mắt đó. Vincent cũng gọi Jack là Chủ nhân, giống như Gilbert. Jack luôn muốn giới thiệu 2 anh em với Alice, vì họ trạc tuổi nhau. Không may, Alice cười nhạo mắt đỏ của Vincent ngay lần đầu tiên gặp mặt, khiến Gilbert nổi giận và giật tóc cô. Sự việc này làm cho Vincent bắt đầu căm ghét Alice vì cô đã làm cho Gilbert "show that kind of expression again" (thể hiện nét mặt đó lần nữa) và Jack "lo lắng thở dài", đồng thời cậu dần hình thành thói quen dùng kéo phá hỏng những con thú bông, đặc biệt là thỏ bông. Vincent cũng là nhân tố gây ra cái chết của Alice, cậu đã đe dọa, thậm chí giết chết Cheshire sau khi đã làm mù mắt nó rồi vứt xác nó trước mặt Alice. Khi Vincent biết Gil được chọn là thân xác tiếp theo của Glen và sẽ phải chết, cậu đã gặp một người phụ nữ lạ mặt (sau này được tiết lộ là Miranda Barma), người đã chỉ cho cậu biết cách ngăn buổi lễ chuyển đổi thân xác của Glen diễn ra bằng cách mở con đường dẫn đến Abyss. Mặc dù cứu được Gil, nhưng Vincent đã trực tiếp gây ra thảm kịch Sablier, chính thức trở thành "child of disaster" (đứa trẻ mang lại thảm họa). Vincent là contractor của Dormouse và là thành viên của Pandora. Chương 61 tiết lộ Vincent còn là contractor của Demios, được biết đến với cái tên "Queen of Hearts" Lồng tiếng: Jun Fukuyama (older) and Fuyuka Ōura (younger). ==== Echo ==== エコー, Ekõ servant của Vincent. Cô là người vô cảm, giống như một hình nhân, tuân lệnh Vincent một cách tuyệt đối. Oz gọi cô là "Echo-chan". Vũ khí của Echo là một thanh đoản kiếm được giấu trong tay áo. Vincent tỏ ra rất coi trọng cô, nhưng thực sự cậu không quan tâm nhiều đến vậy. Trong chương 23, Vincent đã đầu độc cả Echo cùng với Sharon nhằm chứng minh cho Break tin rằng thuốc giải hắn có là thật. Thực tế, Echo không hoàn toàn vô cảm khi cô đưa tay ra đỡ lọ thuốc giải khi Vincent thả cho nó rơi vỡ, vì cô nhớ những lời Oz đã nói với mình khi lần đầu tiên họ gặp nhau. Trong chương 33, Echo nói rằng cô thấy Vincent... là một kẻ đáng ghét và phiền phức. Có vẻ Echo phát triển tình cảm của mình với Oz sau khi họ dự lễ hội với nhau, Oz đã chỉ cho cô thấy thế nào là hạnh phúc, cậu cũng tặng cô một bông hoa cài lên tóc mà không biết rằng cậu phải tặng nó cho người con gái mình thích. Echo có nhân cách khác là Noise/Zwei. Khác với Echo, Zwei rất yêu Vincent, cô ta là contractor của Doldee, chain có khả năng điều khiển người khác (chính cô là người dùng Doldee để điều khiển Gil tấn công Oz trong buổi lễ trưởng thành). Cô ta nói rằng mình là nhân cách chính thức trong cơ thể mà Noise/Echo/Zwei dùng chung. Zwei, cùng với Lottie và những người họ Baskerville khác trở lại Sablier, nơi họ gặp Elliot và Leo. Cô ta điều khiển Leo bằng Doldee, nhưng chỉ có thể điều khiển cơ thể mà không thể điều khiển ý chí của cậu. Đúng lúc đó, Break xuất hiện, khống chế Zwei bằng thanh kiếm của anh xuyên qua tay cô ta ghì chặt dưới đất, mặc dù trong một thoáng, Break nghĩ rằng làm vậy không công bằng với Zwei/Echo khi trước đó cô đã cứu Sharon. Lồng tiếng: Ryō Hirohashi. ==== Elliot Nightray ==== エリオット=ナイトレイ, Eriotto Naitorei Sinh viên của học viện Lutwidge, cùng với servant của mình là Reo, Oz để ý đến họ khi nghe thấy tiếng Elliot chơi bản nhạc "Lacie". Elliot gặp Oz lần đầu tiên trong thư viện Lutwidge, tại đó họ đã cãi nhau nảy lửa vì một nhân vật trong seri tiểu thuyết Holy Knight (Elliot spoil kết thúc của một nhân vật, Edgar). Elliot rất khó chịu khi Ada gọi tên anh vì anh ghét tất cả những người họ Vessalius. Tuy vậy, Ada lại nghĩ Elliot là người tốt và yếu đuối từ sâu thẳm tâm hồn. Elliot là con trai chính thức của nhà Nightray và là em trai không cùng huyết thống với Vincent và Gilbert. Anh rất tinh thông kiếm thuật và luôn mang theo bên mình thanh kiếm gia truyền nhà Nightray trong hộp đựng violin của mình. Elliot phân biệt giữa đúng và sai rất rõ ràng, luôn nói thẳng mà không cần nghĩ đến cảm xúc của người khác. Elliot nói rằng bản nhạc do anh và Reo cùng chơi có tên Lacie, và do chính anh sáng tác, hé lộ mối quan hệ mật thiết giữa anh và Glen Baskerville. Elliot rất hay gặp ác mộng, trong chương 39, được giải thích rằng Elliot có thể nhìn thấy một số ký ức của Glen. Elliot gặp Oz và những người khác ở Sablier trong chương 34, nơi Oz gặp lại Phillipe. Sau đó, Elliot nhận được tin về một kẻ giết người hàng loạt bí ẩn, được biết đến với biệt danh Head Hunter, trong quá khứ, nạn nhân của hắn là thành viên nhà Nightray, trong đó có anh trai anh. Elliot quyết định truy tìm Head Hunter để trả thù. Chương 57 cho rằng Elliot chính là Head Hunter (nhưng Humpty Dunpty chỉ là chain sao chép của Queen of Hearts, sự thật trong các chương tiếp theo cho biết Vincent Nightray chính là Head Hunter). Vì Humpty Dumpty có khả năng tạo ký ức giả cho Contractor nên Elliot cũng không biết mình là Illegal Contractor. Anh cũng đã giết chết anh trai, chị gái và mẹ của mình dưới sự điều khiển của chain Humpty Dumpty. Elliot đã từ chối Humpty Dumpty và chấp nhận cái chết của mình để bảo vệ bạn bè. Lồng tiếng: Hirofumi Nojima. ==== Leo ==== (リーオ, Reo) Một cậu nhóc với cặp kính to tròn và mái tóc đen dài, che mắt. Cậu học ở Lutwidge và là servant của Elliot. Leo hầu như lúc nào cũng bình tâm và khó có việc gì có thể làm cậu lo lắng mất bình tĩnh. Leo rất tinh ý, mặc dù là servant của Elliot, nhưng không phải lúc nào cậu cũng đứng về phía chủ nhân của mình và bắt Elliot phải xin lỗi nếu cần. Leo mang theo một khẩu súng, mặc dù cậu hoàn toàn không biết dùng, và thanh kiếm của Elliot. Trong chap 58, Elliot nhớ lại khi cậu cùng Leo đi cứu lũ trẻ bị lạc, khi 2 người gặp Humpty Dumpty, Elliot tưởng Humpty Dumpty tấn công Leo nên đã chạy tới đỡ cho cậu. Elliot bị thương rất nặng ở vùng ngực. Để cứu Elliot, Leo đã cho cậu uống máu của Humpty Dumpty và lập giao ước với nó. Leo là người viết bản nhạc "Lacie", không phải Elliot, chương 63 sẽ nêu rõ nguyên nhân này. Chương 58 tiết lộ Leo chính là Glen Baskeville đời sau. Chương 63 kể hầu hết về thời thơ ấu của Leo, cậu đã gặp Elliot ra sao và lý do để mái tóc dài che mắt. Leo rất kính phục Elliot, hai cậu thân với nhau đến nỗi, khó có thể chắc chắn Leo đi với Elliot như một thuộc hạ. Dẫu vậy, sâu trong lòng, Leo luôn nghĩ sự tồn tại của mình luôn tước đạt mất hạnh phúc của Elliot. Sau cái chết của Elliot, Leo chấp nhận trở thành Glen Baskerville, bắt đầu thực hiện kế hoạch phá hủy Intention of the Abyss và tái diễn thảm kịch Sablier với sự giúp đỡ của Vicent Nightray. Mái tóc của cậu được cắt ngắn và bỏ đi cặp kính dày cộp, để lộ đôi mắt có lẽ là đặc biệt nhất truyện (chương 61, trang cuối). Tuy nhiên, Leo đã bị Oz thuyết phục nhưng ngay sau đó lại bị tấn công bởi Jack. Sau khi trở thành Glen Baskerville, Leo gần như bị điều khiển bởi Oswald (Glen đời trước) và hầu như không giành được quyền làm chủ cơ thể, trở thành một Glen tàn nhẫn và lạnh lùng trong ngoại hình của một cậu bé. Cuối cùng, trong Chương 101 khi trở về quá khứ để xóa đi sự tồn tại của Abyss, cậu đã tìm ra được lời nhắn nhủ cuối cùng của Lacie và thoát khỏi sự kiểm soát của Oswald. Tứ đó, Leo hứa sẽ giúp đỡ Oz với tư cách là cả Leo và Glen Baskerville. Lồng tiếng: Akeno Watanabe. === Barma === ==== Rufus Barma ==== (ルーファス=バルマ, Rūfasu Baruma) Rufus được biết đến là người sống lâu nhất trong Tứ Đại Công tước và cũng là người hiểu biết rất nhiều. Ông ta biết gần như tất cả thông tin về mọi chủ đề, thậm chí là về đời tư của người khác, vì vậy có thể đoán trước được hành động của họ. Rufus Barma đặc biệt ghét khi đoán sai hành động của người khác vì họ đã thay đổi mà ông ta không biết. Đầu tiên, Rufus xuất hiện trong hình hài một ông già béo tròn, hình thù kì dị và lố bịch. Sau đó, Break đã dùng Mad Hatter phá hủy toàn bộ ảo ảnh Rufus tạo ra, bắt ông phải lộ diện dưới hình hài thật sự là một chàng trai trẻ có mái tóc dài màu đỏ, đôi mắt mệt mỏi và sử dụng tiếng Nhật cổ từ thời tiền sử. Oz tìm Rufus để tìm hiểu về thảm kịch Sablier, nhưng thay vào đó, Rufus chỉ tiết lộ thông tin về quá khứ của Break và nhật ký của Jack. Sheryl Rainsworth, bà của Sharon, là bạn thời thơ ấu của Rufus và có vẻ như Rufus sợ bà ấy. Rufus tìm thấy sổ tay của Arthur Barma, nhờ vậy biết được Glen đã dùng chính cơ thể của mình chia làm 5 phần để ngăn Jack thức tỉnh. Rufus đã liên kết với nhà Baskerville, tấn công Sheryl để lấy đôi hoa tai - chiếc chìa khóa của cánh cổng nhà Barma, thực chất là lừa nhà Baskerville để ho họ một cơ hội làm lại Rufus là contractor của Dodo. Lồng tiếng: Yūya Uchida. ==== Reim Lunettes ==== (レイム=ルネット, Reimu Runetto) Một thành viên của Pandora và là servant của Rufus Barma. Anh ta đeo kính và là người rất nghiêm túc, đồng thời là người bạn duy nhất của Break (trừ Sharon), vì vậy anh cũng luôn bị Break trêu chọc và lợi dụng. Reim là người thật thà, vì vậy anh luôn được hầu hết thành viên của Pandora tin tưởng, trong đó có cả Break và Oz. Anh được Jack giao nhiệm vụ bảo vệ Oz. Reim là contractor của March Hare. Trong chương 53, anh đã bị Lily tra tấn. Nhưng anh không chết nhờ năng lực của March Hare (anh đã giấu mọi người về năng lực của March Hare, kể cả Break) Lồng tiếng: Suwabe Junichi. ==== Miranda Barma ==== Chương 39 hé mở người phụ nữ bí ẩn đã tiết lộ cho Vincent cách mở con đường đến Abyss là Miranda Barma. Bà bị Oswald chém chết rồi rơi xuống Abyss trong thảm kịch Sablier, sau đó chuyển thành Demios (hay được gọi là Queen of Hearts) === Baskerville === ==== Glen Baskerville ==== (グレン=バスカヴィル, Guren Basukaviru) Đây là cái tên được truyền qua các đời những người đứng đầu Baskerville. Glen là người có quyền đặt ra luật lệ,là người có khả năng phán xét phạm nhân xuống Abyss bằng chain và là người mà ai trong gia tộc Baskerville kính trọng. Mệnh lệnh của Glen luôn là tuyệt đối và mọi mệnh lệnh,dù thế nào đi chăng nữa,cũng không ai dám kháng lại. Glen mà chúng ta biết cho tới nay có bốn người: Levi Baskerville, Oswald Baskerville, Gilbert Nightray - người vốn dĩ sẽ thừa kế cái tên Glen từ Oswald và Leo Baskerville - chuyển kiếp của Glen. ==== Oswald Baskerville ==== Là người đứng đầu nhà Baskerville 100 năm trước,người kế thừa cái tên Glen từ Levi. Lottie nói rằng, Glen là người thích sống một mình và rất khó để có thể tiếp cận được anh. Tuy vậy, Glen lại là người bạn thân nhất của Jack, một con người sôi nổi hoàn toàn trái ngược với tính cách của Glen. Thậm chí anh còn cho Jack quyền ra vào tự do nhà Baskerville. Jack và Glen đã cùng nhau làm một chiếc đồng hồ bỏ túi, Jack làm đồng hồ và Glen sáng tác một giai điệu dành riêng cho nó có tên "Lacie". Một ngày, đột nhiên Glen ra lệnh giết toàn bộ những người trong thành Sablier, góp phần dẫn đến thảm kịch Sablier. Được cho là đã bị Jack giết chết, nhưng Jack lại nói rằng Glen vẫn còn sống. Glen sở hữu Jabberwock (trông nó giống như Jacbberworky trong Through the Looking-Glass) và 4 chain khác là Dodo, Owl, Griffon và Raven. Trong ký ức của Alice, Glen đã tạo ra chiếc đồng hồ bỏ túi từ ký ức về Lacie, một người rất quan trọng với Glen. Giai điệu trong chiếc đồng hồ đó cũng từng được Lacie hát. Khi mất Lacie, Glen hoàn toàn tuyệt vọng và không còn niềm tin vào bất cứ điều gì, anh cho rằng thế giới này không tồn tại những điều tốt đẹp hay hy vọng... Trong chương 37, Oz gặp Glen và sốc khi Glen gọi cậu là Jack. Chương 39 cũng tiết lộ rằng Glen có thể chưa bao giờ là con người, chỉ là "linh hồn" mà Baskerville - bằng mọi giá phải bảo vệ và duy trì mãi mãi, để làm được điều đó cần một cơ thể mới với 5 chain và black feather. Người được chọn làm cơ thể tiếp theo của Glen là Gilbert với chain được chọn là Raven nhưng Vincent đã mở cổng dẫn tới Abyss làm gián đoạn. Chương 57 cho biết Leo chính là thân thế mới của Glen. Mỗi thân xác của Glen sau khi chết đi sẽ biến thành một Chain và Humpty Dumpty cũng là một trong những Chain đó. Thân xác của Glen đã bị sử dụng để phong ấn linh hồn Jack. ==== Charlotte Baskerville (Lottie) ==== (ロッティ, Rotti) Một cô gái với mái tóc dài màu hồng đã bắt cóc Oz tại Lutwidge. Cô là một trong những người trực tiếp gây ra thảm kịch Sablier bằng cách giết rất nhiều người theo lệnh Glen. Lottie phục vụ cho nhà Baskerville và yêu Glen 100 năm trước. Tên thật của cô là Charlotte, nhưng Jack đã cô một cách thân thiết là Lottie (dạng petname của tên Charlotte) khi họ gặp nhau lần đầu. Lottie không thể tha thứ cho Jack vì đã giết người bạn thân nhất của mình đồng thời cũng là người Lottie yêu. Cô bắt cóc Oz để được nói chuyện với Jack. Mục đích chính của Lottie là tìm chủ nhân của mình - Glen, và tìm ra thực sự đã xảy ra chuyện gì trong đêm diễn ra thảm kịch Sablier. Cô là contractor của Léon, một chain mang hình dáng sư tử rất hung dữ. Lồng tiếng: Megumi Toyoguchi ==== Lily Baskerville ==== Là một cô bé đáng yêu, sinh ra ở 1 ngôi làng tên Ebouche, trong một gia đình nghèo khó. Cô bé có nhiều anh chị em, nhưng cả nhà không có ai ưa một " đứa nhóc nhỏ bé và yếu đuối" như cô. Họ nói rằng cô luôn mang lại tai họa, nên xăm " dấu hiệu ma quỷ " lên mặt cô bé và đuổi cô khỏi làng. Ngay trong lúc đang cô độc một mình trong rừng, cô nhìn thấy một thứ ánh sáng màu vàng và để nó nhập vào người cô. Đó là dấu hiệu cho thấy Lily đã được chọn làm một thành viên nhà Baskerville, cũng là sứ giả của Abyss. Trong chương 51, cô bé đã bắt Reim, và nói muốn làm bạn với anh. Nhưng Reim không chấp nhận và đã bắn Lily, sau đó bị Lily tấn công ngược lại. Cô bé là Contractor của Bandersnatch. ==== Lacie Baskerville ==== Em gái của Glen là một người mà bẩm sinh đã có đôi mắt đỏ mà được cho là "mầm mống của tai ương", theo lời Jury. Cô là một người rất xinh đẹp và mang tính cách không giống ai,một người vô tư. Cô là người mà Jack yêu đến nỗi khi cô bị đầy xuống Abyss, Jack còn định mang cả thế giới đến với cô ở đó. Lacie có một ấn tượng khá mạnh với Jack về một cô gái sở hữu một mái tóc đen rất dài, đôi môi cười tươi và ăn mặc phong phanh giữa trời tuyết lạnh mà không ngại ngần đến chỗ Jack không chút suy nghĩ. đã dùng nhiều cách để làm Jack chú ý tới mình,nói chuyện với mình và thậm chí còn khiến Jack dần có tình cảm với chính cô. Nhưng thực chất, Lacie rốt cuộc chỉ coi Jack là một món đồ chơi để chơi đùa trong khi chờ lời xin lỗi của Oswald - anh trai cô. Sau tám năm, họ gặp lại ở hai cương vị hoàn toàn khác, và Jack cũng đã gặp Glen. Nếu nói đúng thì Lacie chính là con người gián tiếp để Glen và Jack trở thành bạn thân. Nhưng khi cô gặp lại Jack và tiếp xúc với anh nhiều hơn thì cô lại dần có cảm tình với Jack lúc cận kề cái chết. Cô là người có thể kết nối với hạt nhân Abyss và trò chuyện cùng Hạt nhân Abyss, điều mà chỉ Glen làm được và trái với luật lệ nhà Baskerville. Cô đã từng tặng cho Hạt nhân Abyss một con thỏ từ cặp thỏ sinh đôi của mình, và đó cũng chính là khởi đầu cho chain hủy diệt dây xích nâng đỡ thế giới. Cô có chain trước đây dường như là B - Rabbit khi Jack trông thấy đằng sau cô thấp thoáng bóng một chú thỏ màu đen rất lớn khi cô tấn công người nhà Baskerville lúc họ định đưa cô về. Cô cũng có quan hệ mật thiết với Levi Baskerville - Glen đời trước, đồng thời cũng từng là chủ nhân của Oswald. Levi đã giúp cô thụ thai với mục đích giúp Hạt nhân Abyss có một vỏ bọc mang dáng vẻ con người,hay đúng hơn là một đứa con của Lacie khi Lacie sinh hai đứa trẻ song sinh trong lòng Abyss và chỉ có một đứa trở về.Cô đã từng hát bài hát do Glen viết và được Jack đặt tên là "Lacie", theo tên cô với lý do "suốt hơn tám năm qua, mỗi khi tuyệt vọng, anh lại hát bài hát mà em đã từng hát khi chúng ta lần đầu gặp nhau. Dù không thuộc lời nhưng mỗi khi hát nó,anh lại có cảm giác như em đang ở bên cạnh anh". Có vẻ vì lý do đó mà khi Lacie quay mặt đi,Glen đã thấy vẻ ngượng ngùng của cô. Lacie dường như đã dao động trước suy nghĩ đó của Jack.Và trước ngày phán xét, khi nhớ lại, cô lại cảm thấy rất cô đơn khi phải rời xa anh. Trước đó, trong tòa tháp - nơi cô bị giam cầm - Glen đã nói rằng không có cô, anh sẽ rất cô đơn vì đứa em gái của mình,vì mình mà phải nhận lấy hình phạt này.Và trong khi đang mang đứa con của Levi,cô đã bị Glen đày xuống Abyss. Nhưng đáp lại khi Glen đang hành quyết,cô đã mỉm cười, ngước nhìn Glen và nói:"Chúng ta hãy cùng kết thúc chuyện này, chỉ một lần và mãi mãi". Nhưng điều mà Lacie khiến Glen luôn thắc mắc là một câu nói cuối cùng của cô, chỉ vài giây trước khi cô hoàn toàn biến mất, mà có làm thế nào anh cũng không thể hiểu đó là gì. Sau này, trong Chương 101, Glen nhận ra câu nói đó chỉ Leo mới có thể biết được và nó chính là dành cho Glen đời sau, tức là cho Leo - "Onii- sama, em xin lỗi". Lacie luôn rất thất thường.Có lúc cô ấy luôn tươi cười,có lúc lại như người hoàn toàn khác. Lacie thật sự khá giống Jack về điểm này,vì họ đều là những con người khó mà đoán được tâm can của riêng họ. ==== Levi Baskerville ==== Là gia trưởng của nhà Baskerville trước đây, hay đúng hơn là Glen trước kia. Anh là chủ nhân của Oswald khi cậu là servant của anh và chuẩn bị kế thừa cái tên Glen Baskerville, đồng thời sở hữu cả năm chain gác cổng. Là một người kì quặc, gần giống với Oscar Vessalius. Anh đã từng gợi ý với Lacie về chuyện cho Hạt nhân Abyss một vỏ bọc. Levi sở hữu một mái tóc màu trắng và cũng rất hay cười, như Vincent bây giờ. Bản thân anh cũng có hứng thú với Jack, một kẻ quá yêu Lacie tới mức ôm tình đơn phương suốt tám năm ròng rã.Thậm chí, anh còn nhận xét về Jack là "một kẻ không hề sợ chết" khi anh hỏi về chuyện anh nên trừng phạt thế nào với kẻ dám cả gan đột nhập vào nhà Baskerville và Jack bâng quơ đáp lại rằng "Vậy nếu anh muốn giết tôi thì cho tôi gặp Lacie được không?" Levi cũng có tính cách không rõ ràng. Anh thường hay ghé thăm Lacie ở tòa tháp nơi giam giữ cô khi cô còn sống và cũng thường xuyên trò chuyện với cô,và hai người cũng rất thân thiết.Có thể họ là người yêu của nhau trước kia.Levi còn quen cả với con gái của Lacie - người có ngoại hình y như Lacie lúc còn bé, và anh cũng suýt lầm tưởng rằng Lacie trở về. Levi tuy vậy nhưng cũng rất thân thiện, tùy theo cách nghĩ của từng người, và có phần khôi hài.Anh cũng từng chăm sóc cả Oswald và Lacie khi nhỏ,đồng thời quyết định Oswald là người kế nhiệm mình. ==== Alice Baskerville ==== Con gái của Lacie.Cô là người có thể kết nối tới người chị em song sinh của mình - một Alice khác - và có thể giúp cô ấy sống trong cơ thể này khoảng nửa ngày.Cô có cách nói chuyện giống hệt một cậu nhóc trong tiếng Nhật và thậm chí khi Glen nhắc nhở cô về điều đó,cô lại bảo rằng cũng vì cách nói chuyện của anh mà cô bé mới nói thế.Trên thực tế, cô cũng bị Glen giam cầm ở tòa tháp của Lacie ngày xưa và Glen cũng hay tới thăm cũng như đem đồ ăn tới cho cô. Anh thấy mình cần có trách nhiệm với cháu gái mình sau chuyện Lacie như để chuộc lỗi.Cô có một người bạn thỏ rất thân,con thỏ do Lacie giữ,và được cô đặt tên là Oz. Cô rất quý chú thỏ này.Thật ra,khi đặt tên cho nó,cô đã viết nhầm thành Os dù phát âm là Oz. Levi đã giúp cô sửa lại và bản thân anh cũng nhân ra cái tên đó là từ phần Os trong Oswald. Cô đã gặp Jack trong linh hồn của Alice kia,và Alice đó lại dần mang tình cảm với Jack. Alice kia rất ghét Vincent,vì Vincent từng chọc mù mắt và làm con mèo cưng của cô bé - Cheshire - chết, đồng thời luôn làm hỏng búp bê của cô bé khiến cô bé tức giận. Alice cũng đã tự sát trong Thảm kịch Sablier bằng cây kéo mà Vincent vẫn dùng,để bảo vệ Oz B - Rabbit,để Jack không thể gọi Alice kia tới được,nếu không Jack sẽ dùng Oz để hủy diệt thế giới.Vì thế cô đã cùng B - Rabbit hợp lại làm một.Cô khi quyết định xóa ký ức của chính mình đi bằng sức mạnh của B - Rabbit thì Hạt nhân Abyss đã ngăn lại. Cuối cùng,ký ức của cô không bị xóa mà chỉ bị phân tán khắp nơi và được chứa trong chiếc chuông của mèo Cheshire (khi là chain) - vật mà Break đã phá hủy bằng Mad Hatter do yêu cầu của Vincent. Và khi cô mở mắt ra,cô lại đang ở Abyss,trong trạng thái hoàn toàn không nhớ gì,và mang niềm tin chắc chắn rằng mình chính là chain B - Rabbit. ==== Jury Baskerville ==== Đây là một nhân vật gần như không có chút thông tin nào rõ ràng.Theo lời Levi, bà ta là con mắt giám sát cả gia tộc Baskerville cũng như Glen để xem xét những hoạt động và chuyển biến nội bộ. === Khác === ==== Alice ==== Nữ chính của câu chuyện, cô chỉ cao có 1m50. Alice đã đánh lừa Oz giao ước với mình ở Abyss. Thực ra, cô là B-Rabbit (Blood Stained Black Rabbit - Thỏ đen đẫm máu), chain mạnh nhất của Abyss. Mục đích của Alice là đi tìm những ký ức đã mất của cô, cũng là phần quan trọng nhất của cốt truyện. Trong hình dáng con người, Alice có mái tóc dài màu nâu đen với 2 đuôi sam 2 bên. Cô cực kỳ tham ăn và đặc biệt thích thịt. Alice cũng rất nóng tính, nói rất lớn tiếng và luôn nói thẳng tất cả những gì mình nghĩ mà không cần biết đến hậu quả. Dù vậy, cô cũng thể hiện mặt nữ tính dịu dàng của mình, phần lớn là với những chuyện có dính dáng đến Oz. Alice rất ghét khi bị Oz bỏ lại một mình, nhưng để che giấu sự thật đó, cô luôn nói rằng "Cậu là servant của tôi mà dám bỏ tôi lại một mình hả?!", hoặc chỉ "đánh đập" Oz và nói "Im đi!". Cô cũng phát triển tình cảm với Oz, bằng chứng là việc cô rất thận trọng khi sử dụng sức mạnh để không ảnh hưởng đến Oz. Trong chương 41, cô đã cắn thay vì hôn vào má Oz để động viên cậu (Sharon cho cô xem bức hình có cảnh "kiss", Alice đã hiểu lầm đó là "cắn" và bắt chước theo). Trong tập 20 anime series, Alice cũng đã thừa nhận khi bị Sharon ép phải nói những suy nghĩ của mình, rằng cô rất buồn khi Oz uống trà cùng Break mà không có cô, đồng thời cô cũng ghen tị với Ada khi chứng kiến họ thân mật, mặc dù Ada là em gái Oz. Chương 31 tiết lộ Alice và Intention of the Abyss là chị em song sinh và giữa họ có tồn tại một kết nối. Lồng tiếng: Yukari Tamura (Drama CD) Ayako Kawasumi (Anime) === Chain === ==== Mèo Cheshire ==== (チェシャ猫 /チェシャ, Chesha neko / Cheshire cat) Nguồn gốc: mèo của Alice. Chain sống trong một không gian được tạo ra bởi ký ức của Alice. Chiếc chuông nó đeo trên cổ chứa đựng ký ức của Alice về thảm kịch Sablier, sau khi đánh bại mèo Cheshire, Break đã lấy được nó. Cheshire là chain đặc biệt, nó không cần contractor mới có thể rời khỏi Abyss (vì nơi nó được sinh ra đầu tiên không phải là Abyss). Mèo Cheshire là servant trung thành tuyệt đối với Intention of the Abyss, nhiệm vụ của nó là bảo vệ ký ức của Alice về thảm kịch Sablier để không ai lấy được. Nó bị Vincent giết sau khi đã làm mù hai mắt, Intention of the Abyss đã lấy mắt trái của Break cho Cheshire. Không cần ăn thịt con người, trung thành tuyệt đối với Intention of Abyss, nhưng không phải B-Rabbit, bị Xerxes Break cắt cụt cánh tay và dây chuông bên phải.Trong chương 94,Cheshire xuất hiện trở lại để ngăn Glen xoá đi sự tồn tại của Intention of Abyss. ==== Mad Hatter (Thợ mũ) ==== イカレ帽子屋 (マッド ハッター), Ikare bōshiya / Mad hatter Contractor: (Legal) Xerxes Break. Có khả năng khống chế và phá hủy bất cứ thứ gì liên quan đến Abyss. Khi sử dụng Mad Hatter, Break sẽ bị ho ra máu và có thể đây cũng là lý do làm anh bị mù. ==== Eques (ngựa một sừng) ==== Contractor: (Legal) Sharon Rainsworth. Nhiệm vụ chính là thu thập thông tin, nó có khả năng tự di chuyển giữa những không gian khác nhau, có thể "mang" thêm người nếu cần. Có khả năng chiến đấu. ==== Doldee (Tweedledum) ==== Contractor: (Legal) Echo/Zwei/Doldum/Noise. dùng sợi tóc để điều khiển ý chí và hành động của con người. ==== Gryphon (Sư tử đầu chim) ==== Contractor: (Legal) Zai Vessalius. một trong 5 chain của Glen, có khả năng kéo người khác xuống Abyss. ==== Raven (Quạ) ==== Contractor: (Legal) Glen Baskerville, Gilbert Nightray. một trong 5 chain của Glen - chain được sinh ra để phán quyết và phong ấn các chain khác. ==== Dormouse (Chuột sóc) ==== Contractor: (Legal)Vincent Nightray. Có thể ngủ mọi nơi mọi lúc, nó có thể tác động đến contractor khiến họ cũng buồn ngủ theo. ==== March Hare (Thỏ tháng Ba) ==== Contractor (legal): Reim Lunettes Khả năng:Trong chương 56 sau khi Reim ngăn Lily bắn chết Break, anh đã tiết lộ năng lực của March Hare giúp contractor có thể "giả chết", điều đó khiến anh thoát chết sau khi bị Lily đánh. March Hare gần như không có khả năng chiến đấu, nó chỉ có tác dụng nếu kẻ thù không biết gì về sức mạnh của nó (vậy nên Rufus Barma đã ra lệnh cho Reim phải giữ kín, chỉ khi nào cần lắm mới đem ra dùng) ==== Humpty Dumpty ==== Trong chương 53, Rufus Barma tiết lộ Humpty Dumpty rất có thể là chain thực hiện các vụ án chặt đầu, tức Humpty Dumpty là chain của Head Hunter. Nguồn gốc của Humpty Dumpty là từ Abyss. Nhà Nightray đã thực hiện một thí nghiệm mà chuột bạch chính là những đứa trẻ mồ côi ở trại trẻ Fianna tại Sablier. Họ lừa bọn trẻ uống một thứ nước màu đỏ thẫm và nói một "câu thần chú" có tác dụng xua tan mọi buồn phiền. Thực ra đó chính là thủ tục trở thành một illegal contractor. Chúng thực hiện giao ước với chung một chain là Humpty Dumpty. Nó có khả năng lập giao ước với cùng một lúc nhiều chain để giảm gánh nặng đè lên các contractor của nó, đồng thời kéo dài thời gian chiếc kim đồng hồ trên ấn nguyền dịch chuyển. Nó cũng có khả năng tẩy não contractor của mình, tức là tạo cho họ những ký ức giả và làm họ quên đi mọi ký ức đau khổ hay buồn phiền. Một khi nó chết, nó sẽ bị kéo trở về Abyss cùng tất cả các contractor của nó. Contractor chính của Humpty Dumpty rất có thể là Headhunter, kẻ đầu tiên giao ước với nó. Các Contractor phụ của Humpty Dumpty là tất cả những đứa trẻ ở trại mồ côi Fianna. Khi một trong những contractor của Humpty Dumpty bị Mad Hatter khống chế, dù là chính hay phụ thì những contractor khác của nó đều vô dụng khi không thể triệu tập hay sử dụng sức mạnh của Humpty Dumpty. Chương 57 tiết lộ rằng Elliot chính là Contractor của Humpty Dumpty, đồng nghĩa với việc Elliot chính là Head Hunter. Humpty Dumpty cũng là một chain được tạo ra từ thân thể cũ của Glen Baskerville. ==== B-Rabbit ==== 血染めの黒ウサギ (ビーラビット), Chizome no kuro usagi / Blood stained black rabbit B là cách viết tắt của Bloodstained Black. B-rabbit là chain mạnh nhất của Abyss. Nguồn gốc: Oz Vessalius Dạng khác: Alice hiện tại Contractor: (Illegal) Oz Vessalius Phong ấn: Raven của Gilbert Nightray - Có khả năng phá hủy các sợi dây xích nâng đỡ thế giới ==== Owl ==== Contractor: Glen Baskerville, Sheryl Rainsworth Sức mạnh: Tạo ra sợi tơ dính trên mục tiêu để theo dõi họ. Owl có thể tạo ra màn đêm tuyệt đối. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Blog cá nhân của tác giả Mochizuki Jun (tiếng Nhật) Trang chủ của phim hoạt hình Pandora Hearts (tiếng Nhật) Trang chủ của phim hoạt hình Pandora Hearts bản quyền NIS America (tiếng Anh)
sedan, ardennes.txt
Sedan là một xã trong tỉnh Ardennes, thuộc vùng hành chính Champagne-Ardenne của nước Pháp, có dân số là 20.548 người (thời điểm 1999). Xã nằm gần biên giới với Bỉ và Đại Công quốc Luxembourg. == Thông tin nhân khẩu == == Những người con của thành phố == Charles Baudin, đô đốc Frédéric-Maurice de La Tour d'Auvergne, duc de Bouillon, tướng quân đội Yves Congar, hồng y giáo chủ Erard de la Marck, giám mục hầu tước của Lüttich và tổng giám mục của Valencia Robert III. của der Mark, thống chế của Pháp Yannick Noah, vận động viên quần vợt Robert IV. của der Mark, công tước của Bouillon Henri de La Tour d'Auvergne, vicomte de Turenne, thống chế của Pháp === Thành phố kết nghĩa === Eisenach, Đức == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Sedan city council website (bằng tiếng Pháp) The German breakthrough in 1940 Webpage about the fortifications of Sedan Article on the Battle of Sedan at 'Battlefields Europe'
cục điều tra liên bang.txt
Cục Điều tra Liên bang (Tên gốc: Federal Bureau of Investigation) (FBI) cơ quan trực thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ có nhiệm vụ thực hiện điều tra tội phạm ở cấp độ liên bang và tình báo nội địa. FBI có quyền hạn điều tra về các vi phạm trong hơn 200 danh mục về tội ác liên bang. Khẩu hiệu của Cục là ‘’Trung thành, Quả cảm, Liêm chính’’. Trụ sở của Cục là Tòa nhà J. Edgar Hoover tọa lạc tại thủ đô Washington, D.C. Còn 56 văn phòng đại diện nằm rải rác và hơn 400 cơ quan địa phương ở các thành phố nhỏ và thị trấn trên khắp các thành phố lớn của Hoa Kỳ. Ngoài ra, Cục còn có hơn 50 văn phòng được gọi là ‘’tùy viên pháp lý’’ bên trong các lãnh sự Hoa Kỳ trên khắp thế giới. == Lược sử == === Khởi điểm === Năm 1886, Tòa án Tối cao nhận thấy rằng liên bang không hề có đủ thẩm quyền điều chỉnh một số vấn đề xảy ra ở cùng lúc nhiều tiểu bang, dẫn đến Đạo luật Thương mại Liên bang ra đời năm 1887 nhằm tạo ra một cơ quan thực thi pháp luật có đủ thẩm quyền trong việc giải quyết các vụ việc mang tính chất cấp Liên bang. Tuy nhiên Bộ Tư pháp lại tỏ ra chậm chạp trong việc phân phối nguồn nhân lực cho Cục, dẫn đến Tổng Chưởng lý Charles Joseph Bonaparte phải nhờ đến các cơ quan khác, có cả Cơ quan Mật vụ để hỗ trợ điều tra. Tuy nhiên, Quốc hội đã thông qua bộ luật nghiêm cấm Bộ Tư pháp sử dụng nhân lực từ Bộ Ngân khố, do đó Tổng Chưởng lý phải tổ chức và thành lập Cục Điều tra một cách hoàn chỉnh với nhân sự là các đặc vụ riêng của Cục. Cơ quan Mật vụ đã hỗ trợ Bộ Tư pháp 12 đặc vụ và những đặc vụ này đã trở thành những đặc vụ đầu tiên của Cục Điều tra mới thành lập. Những đặc vụ đầu tiên của FBI hóa ra lại là những đặc vụ của Cơ quan Mật vụ, từ đó Cục chính thức có đầy đủ thẩm quyền theo Đạo luật Thương mại Liên bang năm 1887. FBI phát triển rất mạnh với một lượng đặc vụ rất dày đặc vào tháng 7 năm 1908 trong thời kì của Tổng thống Theodore Roosevelt, nhiệm vụ chính thức đầu tiên của Cục là thâm nhập và khảo sát về các nhà chứa để chuẩn bị thực thi pháp luật theo Đạo luật ‘’Buôn bán nô lệ da trắng’’ hay còn gọi là ‘’Đạo luật Mann’’ được ban hành vào 25 tháng 6 năm 1910. Năm 1932, Cục đổi tên là Cục Điều tra Hoa Kỳ. Năm sau đó, Cục kết hợp với Cục Kiểm soát Rượu và chất có cồn và được đặt tên lại là Đơn vị Điều tra trước khi tách ra và trở thành một Cục hoàn chỉnh trực thuộc Bộ Tư pháp vào năm 1935. Trong cùng năm đó, Cục chính thức đổi tên Đơn vị Điều tra thành Cục Điều tra Liên bang và được sử dụng cho đến ngày nay, viết tắt là FBI. === Thời kì của J. Edgar Hoover === Giám đốc của Cục Điều tra J. Edgar Hoover trở thành giám đốc đầu tiên của Cục mới thành lập là Cục Điều tra Liên bang, nếu tính luôn thời gian lãnh đạo từ khi Cục là Cục Điều tra, rồi sang Đơn vị Điều tra và Cục Điều tra Liên bang, ông đã phục vụ 48 năm. Sau cái chết của Hoover, luật đã giới hạn lại thời gian nắm quyền của các giám đốc về sau chỉ tối đa 10 năm. Hoover có nhiều ảnh hưởng đáng kể trong hầu hết mọi kế hoạch và công việc của FBI trong nhiệm kì của mình, Phòng Thí nghiệm Khoa học Điều tra Tội phạm hay còn gọi là Phòng Thí nghiệm FBI ra đời năm 1932, ý tưởng chủ yếu là của Hoover. Trong thời kì ‘’Chiến tranh với tội phạm’’ trong thập niên 1930, các đặc vụ FBI đã bắt giữ hoặc giết chết rất nhiều tội phạm nguy hiểm mang trên mình các bản án về tội bắt cóc, trộm cướp và giết người trên toàn quốc, như John Dillinger, ‘’Baby Face’’ Nelson, Kate ‘’Ma’’ Baker, Alvin ‘’Creepy’’ Karpis và George ‘’Machine Gun’’ Kelly. Ngoài ra, Cục còn có nhiệm vụ quan trọng khác là làm giảm phạm vi và ảnh hưởng của nhóm Ku Klux Klan. Thêm vào đó, nhờ vào Edwin Atherton, FBI đã thành công trong việc bắt giữ được cả đội quân khởi nghĩa tân Mexico dọc biên giới California trong thập niên năm 1920. ==== FBI và An ninh Quốc gia ==== Bắt đầu vào thập niên năm 1940 và tiếp tục vào thập niên 1970, Cục tiến hành điều tra các hoạt động gián điệp chống lại nước Mỹ và đồng minh. Cục đã bắt được 8 điệp viên theo Phát xít đang lên kế hoạch phá hoại nước Mỹ và xử tử 6 trong số 8 tên. Trong thời gian này, một liên minh giữa Hoa Kỳ và Anh quốc nỗ lực phá mã ‘’Venona’’(mã liên lạc tình báo và ngoại giao của Liên Xô) – mà FBI là cơ quan chủ đạo – đã hỗ trợ nhà cầm quyền đọc được thông tin liên lạc của Liên Xô. Nhờ những nỗ lực trên mà họ có thể xác định được có những người Mỹ làm việc cho tình báo Liên Xô. Hoover là người chỉ đạo trực tiếp chiến dịch này nhưng đã không thông báo cho Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) mãi cho đến năm 1952. Điểm nổi bật trong sự việc này là vụ bắt giữ Rudolf Abel năm 1957. Việc phát hiện ra điệp viên Xô Viết tại Hoa Kỳ đã thôi thúc nỗi ám ảnh từ lâu của Hoover về mối hiểm họa tiềm tàng mà ông nhận thấy được từ những Người Mỹ bị bỏ rơi, xuất xứ từ công đoàn của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ cho đến những người thuộc phe Tự do. ==== FBI và hoạt động nhân quyền ==== Trong suốt thập niên 1950 và 1960, các quan chức FBI bắt đầu quan tâm nhiều đến sự ảnh hưởng của các lãnh tụ dân quyền. Đơn cử, năm 1956, Hoover đã làm một việc rất hiếm khi làm là gửi một bức thư mở tố cáo Bác sĩ T.R.M Howard, một lãnh tụ dân quyền, bác sĩ và là một nhà buôn phát đạt ở Mississippi, người đã chỉ trích sự vô trách nhiệm của FBI trong vụ giải quyết án mạng của George W. Lee, Emmett Till và những người da đen khác tại miền Nam. FBI đã thực hiện một chương trình giám sát nội địa gây nhiều tranh luận mang tên ‘’COINTELPRO’’ nghĩa là Chương trình Phòng chống Tình báo. Chương trình tập trung điều tra các tổ chức chính trị bạo động bên trong nước Mỹ, bao gồm các tổ chức bất bạo động, tổ chức vũ trang và Liên đoàn Lãnh đạo Cơ đốc miền Nam. Martin Luther King, Jr. từng là một mục tiêu thường xuyên bị điều tra. Theo lời của Carl Rowan, phóng viên tờ The Washington Post quả quyết rằng FBI đã gửi ít nhất một lá thư nặc danh kêu gọi King nên tự sát. Tháng 3 năm 1971, một cơ quan địa phương của FBI tại Media, Pennsylvania bị trộm, kẻ trộm đã lấy đi nhiều tài liệu mật và gửi chúng cho một loạt các tuần báo trong đó có tờ Harvard Crimson. Trong số các tài liệu bị mất, có bản chi tiết chương trình ‘’COINTELPRO’’, với rất nhiều cuộc điều tra về những công dân bình thường – bao gồm một nhóm các sinh viên da đen tại trường đại học quân sự và con gái của Đại biểu Quốc hội Henry Reuss của Wisconsin. Cả đất nước ‘’choáng váng’’ với những sự thật được phơi bày, nhiều Đại biểu Quốc hội bao gồm cả lãnh đạo đa số ở Hạ viện Hale Boggs đã tố cáo các hành động này của FBI, khi họ chứng minh được điện thoại của Boggs và một số đại biểu khác bị ghi âm lén. ==== FBI và vụ ám sát Kennedy ==== Khi Tổng thống John F. Kennedy bị bắn chết, quyền điều tra được trao cho các phòng cảnh sát địa phương cho đến khi Tổng thống Lyndon B. Johnson chỉ định FBI trực tiếp vào việc. Việc làm này là để đảm bảo sự trật tự trong thứ bậc giải quyết án mạng ở cấp độ liên bang, Quốc hội đã tán thành khi thông qua dự luật giao quyền cho FBI tiếp quản điều tra về cái chết của các quan chức cấp liên bang. === FBI và tội phạm có tổ chức === Nhằm đối phó với tội phạm có tổ chức, vào tháng 8 năm 1953, FBI đã tạo ra chương trình ‘’Top Hoodlum’’, chương trình đòi hỏi các cơ quan đại diện thu thập thông tin về các băng đảng và địa bàn hoạt động của chúng rồi báo cáo thường xuyên về cho Washington để tổng hợp thông tin tình báo. Sau khi Quốc hội thông qua đạo luật Tệ tham nhũng và ảnh hưởng của các băng đảng, viết tắt là RICO, FBI bắt đầu điều tra các nhóm buôn lậu rượu có tổ chức vốn thực hiện nhiều tội ác ở các thành phố chính và cả những thị trấn nhỏ. Tất cả mọi việc đều được FBI thực hiện bí mật và sử dụng nội gián bên trong các tổ chức này để tiêu diệt chúng. Mặc dù Hoover phủ nhận sự tồn tại của Nghiệp đoàn Tội phạm Quốc gia ở nước Mỹ, nhưng Cục đã thực hiện nhiều chiến dịch để chống lại các nghiệp đoàn và gia đình tội phạm, như Sam Giancana và John Gotti. Đạo luật RICO vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay để kiếm soát tội phạm có tổ chức và các cá nhân liên quan. Tuy nhiên, vào năm 2003, một ủy ban thuộc Quốc hội đã gọi chương trình nội gián chống tội phạm có tổ chức là một trong những sự thất bại nhất trong lịch sử của cơ quan thực thi pháp luật liên bang khi FBI kết án 4 người vô tội, 3 trong số đó bị kết án tử (sau đó giảm xuống chung thân). Bị can thứ tư bị kết án chung thân trong tù mà anh ta thi hành án ba thập kỷ. Vào tháng 7 năm 2007, thẩm phán quận Nancy Gertner đã cho thấy bằng chứng Cục đã cố tình kết tội 4 người trong vụ thanh toán xã hội đen giết chết Edward ‘’Teddy’’ Deegan tháng 3 năm 1965. Chính phủ Hoa Kỳ đã phải bồi thường cho 4 bị can số tiền là 100 triệu$. === Những đợt tái cơ cấu nổi bật thời Hoover === ==== Đội đặc nhiệm FBI ==== Năm 1984, FBI thành lập một đội đặc nhiệm để hỗ trợ các vấn đề mới phát sinh tại Thế vận hội mùa hè năm 1984, đặc biệt là tội phạm khủng bố và trọng án. Việc thành lập đội trở nên cấp thiết hơn sau vụ Thế vận hội mùa hè năm 1972 tại Munich, Đức khi những kẻ khủng bố giết chết các vận động viên Israel. Đội được đặt tên là ‘’Đội Giải cứu con tin’’ và thực hiện nhiệm vụ giống đội Cơ động Quốc gia nhằm giải quyết các vấn đề nghiêm trọng và vụ việc liên quan đến khủng bố. Song song, ‘"Đội Phân tích và Phản ứng Tội phạm Công nghệ cao’’ (CART) được thành lập năm 1984. Cuối thập niên năm 1980, đầu thập niêm 1990, Cục có nhiều sự thuyên chuyển công tác cho các đặc vụ với hơn 300 người có nhiệm vụ từ chống tình báo nước ngoài cho đến trọng tội đều chuyển về trọng tội vì nhiệm vụ này đã được nâng lên hàng thứ 6 trong bảng ưu tiên quốc gia. Cùng với việc cắt giảm ngân sách cho đến thiết lập nhiều phòng ban mới, chống khủng bố không còn là công việc cấp thiết nữa sau Chiến tranh Lạnh, FBI trở thành công cụ hỗ trợ cảnh sát địa phương truy bắt các phạm nhân bỏ trốn trên phạm vi liên bang. Phòng thí nghiệm FBI hỗ trợ phát triển công nghệ thử ADN, công việc này tiếp tục phát triển và hỗ trợ đắc lực cho việc nhận dạng thay thế cho hệ thống nhận dạng vân tay vốn có từ lâu đời (từ năm 1924). ==== Những thành công đáng kể trong thập niên 1990 ==== Giữa năm 1993 và 1996, FBI tập trung vào vai trò chống khủng bố khi làn sóng đánh bom đầu tiên bắt đầu sau sự kiện Trung tâm Thương mại Thế giới năm 1993 ở Thành phố New York và Thành phố Oklahoma năm 1995 và vụ bắt giữ Theodore Kaczynski năm 1996. Sự tiến bộ công nghệ và kỹ năng cao của các chuyên gia phân tích FBI đã giúp FBI đủ bằng chứng truy tố cả ba vụ việc, tuy nhiên FBI vẫn phải trải qua sự phản đối kịch liệt trong quần chúng, điều vẫn ám ảnh Cục cho đến ngày nay. Vào đầu và cuối thập niên năm 1990, FBI nhận trách nhiệm chính trong hai sự kiện Ruby Ridge và Waco Siege dẫn đến sự chết chóc gây náo động. Trong suốt Thế vận hội mùa hè năm 1996 tại Atlanta, Georgia, FBI bị chỉ trích trong việc điều tra vụ đánh bom Công viên Centennial Olympic. Vụ việc dấy lên một cuộc tranh luận giữa Richard Jewell, nhân viên an ninh tư nhân tại phòng xử án với một số tổ chức truyền thông, khi để lộ tên ông trong quá trình điều tra. FBI đã tiếp nhận và thiết lập việc nâng cấp công nghệ năm 1998 sau khi Quốc hội thông qua đạo luật ‘’Hỗ trợ Thông tin cho việc thực thi pháp luật’’ (CALEA, 1994), đạo luật ‘’Trách nhiệm giải trình và Bảo hiểm Sức khỏe linh động’’ (HIPAA, 1996) và đạo luật ‘’Gián điệp kinh tế’’ (EEA, 1996). Để đối phó với diễn biến phức tạp trong công nghệ thông tin như vi rút, sâu và những chương trình gây hại khác trên máy tính có thể gây sự tàn phá nghiêm trọng ở Hoa Kỳ, FBI đã thiết lập Trung tâm Đánh giá Mối đe dọa cho Cơ sở hạ tầng và Điều tra Công nghệ thông tin (CITAC) và Trung tâm Bảo vệ Cơ sở hạ tầng Quốc gia (NIPC). Với sự phát triển đi lên của hệ thống viễn thông cũng dấy lên nhiều vấn đề phát sinh, FBI tăng sự hiện diện điều tra của mình trong việc giám sát an ninh quốc gia và an toàn công cộng. ==== Vụ khủng bố 11 tháng 9 ==== Tân Giám đốc FBI Robert Mueller, người nhận nhiệm sở chỉ một tuần trước vụ khủng bố, đã kêu tái tổ hợp là cấu trúc và hoạt động của FBI. Ông đã đặt tất cả các tội liên bang lên hàng ưu tiên, bao gồm chống khủng bố, ngăn chặn tình báo nước ngoài, chú tâm vào các mối đe dọa an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao khác, bảo vệ dân quyền, tuyên chiến với tham nhũng công, tội phạm có tổ chức, tội phạm ‘’cổ trắng’’ và các trọng tội liên quan đến bạo lực khác. 18.2.2001 Robert Hanssen bị bắt giữ khi đang bán tào liệu mật cho chính phủ Nga. Thông tin sau đó cho biết Hanssen là nhân viên cao cấp của FBI bán thông tin tình báo từ đầu 1979 cho đến nay. Ông bị kết tội phản bội và bị kết án tù chung thân vào năm 2002, vụ việc cho thấy vẫn còn nhiều kẽ hở bên trong nhân sự của FBI. Có tin đồn cho biết Hanssen đã cung cấp thông tin dẫn đến vụ khủng bố 11 tháng 9. Ủy ban 11 tháng 9 đã ra thông cáo vào ngày 22 tháng 7 năm 2004 tuyên bố rằng FBI và Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) đã không tham khảo thông tin tình báo về sự kiện có thể dẫn đến vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001. Bản báo cáo cũng chỉ trích rất nhiều về Cục khi Cục đã không hoàn thành đúng nhiệm vụ được giao và yêu cầu phải có sự thay đổi bên trong FBI. Trong khi FBI đã tán thành với hầu hết các ý kiến đề nghị, bao gồm cả việc Giám đốc Tình báo Quốc gia sẽ giám sát Cục, thì một số thành viên của Ủy ban 11/9 vẫn công khai chỉ trích FBI vào tháng 10 năm 2005 khi Cục chỉ thay đổi cho có hình thức mà không có tính căng cơ. Tháng 7 năm 2007, tờ ‘’Washington Post’’ xuất bản đoạn trích từ sách của Giáo sư Amy Zegart thuộc Đại học Los Angeles-California mang tựa đề Spying Blind: The CIA, the FBI, and the Origins of 9/11. Tựa báo nêu tin rằng các tài liệu cho thấy CIA và FBI đã làm lỡ mất 23 cơ hội để phá vỡ âm mưu khủng bố 11 tháng 9. Lý do chủ yếu trong vụ việc này bao gồm: ý tưởng mới và văn hóa chống sự thay đổi trong Cục, việc đề bạt không thích hợp và sự tính thiếu hợp tác giữa hai cơ quan CIA và FBI với các cơ quan khác trong Cộng đồng Tình báo Hoa Kỳ. Bài báo cũng chỉ trích tính tập trung hóa của FBI dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong liên lạc và hợp tác giữa các văn phòng FBI khác nhau. Fbi đã không phát triển hiệu quả của các cơ quan chống khủng bố và gián điệp nước ngoài do sự cổ hữu trong việc cách tân FBI. Ví dụ như FBI luôn đối xử bất công giữa các đặc vụ với các nhân viên còn lại, phân biệt hóa giữa các chuyên viên phân tích với nhân viên thợ máy và lao công. == Cơ cấu Tổ chức và Cấp bậc == FBI được tổ chức thành 5 nhánh dựa vào chức năng và Văn phòng Giám đốc bao gồm nhiều văn phòng hành chính đi kèm. Đứng đầu mỗi nhánh là Trợ lý Điều hành Giám đốc, mỗi phòng và đơn vị sẽ do Trợ lý Giám đốc điều hành. Văn phòng Giám đốc (Office of the Director) Phòng Quốc vụ (Office of Congressional Affairs) Phòng Tuyển dụng (Office of Equal Employment Opportunity Affairs) Phòng Pháp lý (Office of the General Counsel) Phòng các vấn đề Liêm chính và Tuân thủ quy định (Office of Integrity and Compliance) Phòng Thanh tra (Office of the Ombudsman) Phòng Trách nhiệm Nghề nghiệp (Office of Professional Responsibility) Phòng Công vụ (Office of Public Affairs) Đơn vị Thanh tra (Inspection Division) Đơn vị Hậu cần và Tiện nghi (Facilities and Logistics Services Division) Đơn vị Tài chính (Finance Division) Đơn vị Quản lý Dữ liệu (Records Management Division) Phòng Kế hoạch Nguồn lực (Resource Planning Office) Đơn vị An ninh (Security Division) Chi nhánh An ninh Quốc gia (National Security Branch) Đơn vị chống điệp báo (Counterintelligence Division) Đơn vị Chống Khủng bố (Counterterrorism Division) Ban giám sát Tình báo (Directorate of Intelligence) Ban giám sát Vũ khí hủy diệt hàng loạt (Weapons of Mass Destruction Directorate) Chi nhánh về Tội phạm, Công nghệ, Phản ứng nhanh và Dịch vụ (Criminal, Cyber, Response, and Services Branch) Đơn vị Điều tra Tội phạm (Criminal Investigative Division) Đơn vị Mạng máy tính (Cyber Division (Giám đốc: Gordon M Snow)) Đội Phản ứng các tình huống khẩn cấp (Critical Incident Response Group) Phòng Chiến dịch Quốc tế (Office of International Operations (Giám đốc: Joseph M. Demarest)) Phòng Hợp tác Nội địa (Office of Law Enforcement Coordination) Chí nhánh Nguồn nhân lực (Human Resources Branch) Đơn vị Huấn luyện (Training Division) Đơn vị Nguồn nhân lực (Human Resources Division) Chi nhánh Công nghệ và Khoa học (Science and Technology Branch) Đơn vị Thông tin tội phạm Tư pháp (Criminal Justice Information Services Division) Đơn vị Phòng thí nghiệm (Laboratory Division) Đơn vị Chiến dịch Công nghệ (Operational Technology Division) Phòng Ứng dụng và Công nghệ đặc biệt (Special Technologies and Applications Office) Chi nhánh Công nghệ Thông tin (Information and Technology Branch) Đơn vị Chiến dịch Công nghệ Thông tin (Information Technology Operations Division) Phòng Kế hoạch và Chính sách Công nghệ Thông tin (Office of IT Policy & Planning) Phòng Quản lý Chương trình Công nghệ Thông tin (Office of IT Program Management) Phòng Phát triển Công nghệ Thông tin (Office of IT Systems Development) Phòng Kiến thức (Office of the Chief Knowledge Officer) Danh sách cấu trúc cấp hàm trong FBI: Đặc vụ Tập sự Đặc vụ Đặc vụ Thâm niên Giám sát viên Trợ lý Toàn quyền (ASAC) Đặc vụ Toàn quyền (SAC) Trợ lý Giám đốc Phó Trợ lý Điều hành Trợ lý Điều hành Phó Trưởng Tham mưu Trưởng Tham mưu và Tư vấn Luật của Giám đốc Trợ lý Phó Giám đốc Phó Giám đốc Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ == Cơ sở hạ tầng == Trụ sở chính của FBI là tòa nhà J. Edgar Hoover tại thủ đô Washington, D.C, cùng với 56 văn phòng đại diện tại các thành phố chính trên khắp lãnh thổ Mỹ. Bên cạnh đó, Cục cũng duy trì các cơ quan đại diện tại địa phương cùng với hơn 50 tùy viên pháp lý tại các tòa đại sứ và lãnh sự Hoa Kỳ trên thế giới. Nhiều cơ quan chuyên môn của FBI tọa lạc tại khu tiện nghi ở Quantico, Virginia, trung tâm dữ liệu với 96 triệu mẫu vân tay trên khắp Hoa Kỳ và của tù nhân được nhà chức trách Hoa Kỳ lấy mẫu ở Ả Rập Xê Út, Yemen, Iraq và Afghanistan tại trụ sở ở Clarksburg, West Virginia. Theo đạo luật ‘’Tự do Thông tin’’ yêu cầu thì FBI đang chuẩn bị chuyển Đơn vị Quản lý Dữ liệu về Winchester, Virginia. Theo tuần báo "Washington Post", FBI đang xây dựng kho chứa tuyệt mật tại tầng 4 tòa nhà J. Edgar Hoover ở Washington, D.C. Kho này chứa dữ liệu về hàng chục ngàn công dân Hoa Kỳ và người cư trú hợp pháp chưa từng bị truy tố bất kỳ tội gì. Bất cứ người nào cũng có thể bị nghi ngờ, cảnh sát trưởng thị trấn, cảnh sát giao thông cho đến người hàng xóm. Phòng Thí nghiệm FBI được thiết lập từ khi còn Cục chỉ mới là Cục Điều tra, và chuyển về tòa nhà J. Edgar Hoover khi nó hoàn thành vào năm 1974. Phòng thí nghiệm chủ yếu tập trung vào các công việc phân tích AND, sinh vật học và hoa học tự nhiên. Các dịch vụ trong phòng thí nghiệm bao gồm "Hóa học", "Hệ thống Chỉ số Kết hợp AND"(CODIS), "Phân tích và Phản ứng Máy tính", "Phân tích ADN", "Phản ứng Vật chứng", "Chất nổ", "Súng đạn và nhận diện vũ khí", "Âm thanh Pháp lý", "Hình ảnh Pháp lý", "Phân tích Ảnh", "Nghiên cứu Khoa học Pháp lý’’, "Huấn luyện Khoa học Pháp lý", "Phản ứng Vật chất nguy hiểm", "Đồ họa Điều tra và Dự đoán", "In Chìm", "Phân tích Vật liệu", "Tài liệu Chất vấn", "Hồ sơ Băng đảng", "Phân tích Ảnh Đặc biệt", "Đồ án Cấu trúc" và "Dấu vết Chứng cứ". Có rất nhiều cơ quan địa phương, liên bang và quốc tế sử dụng dịch vụ của Phòng Thí nghiệm FBI, Phòng còn có một phòng thí nghiệm khác ở Học viện FBI. Học viện FBI tọa lạc tại Quantico, Virginia, là FBI sử dụng phòng thí nghiệm máy tính và liên lạc. Đây cũng là nơi mà các đặc vụ mới được cử đi học trước khi nhận nhiệm sở., họ phải trải qua khóa huấn luyện 21 tuần cho từng người. Năm 1972, học viện chính thức được sử dụng, ngoài nhiệm vụ huấn luyện cho các đặc vụ của riêng mình, học viện còn mở lớp cho các nhân viên ở cơ quan thực thi pháp luật địa phương và cấp bang được mời dự tại trung tâm huấn luyện. Các đơn vị FBI ở Quantico gồm "Đơn vị Huấn luyện Cảnh sát và Cơ động", "Đơn vị Huấn luyện Bắn", "Trung tâm Huấn luyện và Nghiên cứu Khoa học Pháp lý", "Đơn vị Dịch vụ Công nghệ"(TSU), "Đơn vị Huấn luyện Điều tra", "Đơn vị Liên lạc Thực thi Pháp luật", "Đơn vị khoa Khoa học Quản lý và Lãnh đạo"(LSMU), "Đơn vị Huấn luyện Thể chất", "Đơn vị Huấn luyện Tân binh"(NATU), "Đơn vị khoa Áp dụng Thực tiễn"(PAU), "Đơn vị Huấn luyện Điều tra Máy tính" và "Đại học Nghiên cứu Phân tích". Năm 2000, FBI bắt đầu kế hoạch bộ ba để nâng cấp cơ sở hạ tầng Công nghệ Thông tin đã lỗi thời. Theo kế hoạch này, thì Cục sẽ phải mất 3 năm và chi ngân sách vào khoảng 380 triệu$, nhưng rồi Cục phải làm chậm tiến độ vì chi phí bội ngân. Cục nỗ lực để đưa máy tính và thiết bị mạng hiện đại vào áp dụng thành công, nhưng việc phát triển phần mềm điều tra, được giao cho Tập đoàn Công nghệ Ứng dụng Quốc tế làm, lại là một thảm họa. "Hồ sơ vụ việc Ảo"(VCF) lại trở nên vô tích sự vì không đạt được mong muốn và tạo nhiều thay đổi trong quản lý. Tháng 1 năm 2005, hơn hai năm sau đó, thời điểm mà phần mềm nguyên bản phải được hoàn thành đúng hẹn, FBI chính thức ngừng kế hoạch. Hơn 100 triệu$ được chi cho dự án xem như mất trắng. FBI lại tiếp tục sử dụng Hệ thống Hỗ trợ Vụ án Tự động vốn đã hơn cả thập kỷ, mà các chuyên gia Công nghệ Thông tin xem vô tích sự. Tháng 3 năm 2005, FBI thông báo một kế hoạch về phần mềm mới đầy tham vọng có tên mã là Sentinel dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2009. Phần mềm Carnivore được Cục dùng trong suốt nhiệm kỳ của Clinton để kiểm soát thư điện tử và các giao tiếp điện tử khác. Sau khi bị báo giới chỉ trích quá nhiều, FBI đã quyết định đổi tên của hệ thống từ "Carnivore" sang "DCS1000". DCS có nghĩa là hệ thống thu thập điện tử với chức năng không thay đổi. Tuần báo Associated Press đăng tin FBI sẽ dừng Carnivore vào năm 2001, để chuyển sang phần mềm khác là NarusInsight. Đơn vị Dịch vụ Thông tin Tội phạm Tư pháp (CJIS), ở Clarksburg, West Virginia là đơn vị trẻ nhất của FBI, thành lập vào năm 1991 và chính thức hoạt động vào năm 1995. Đơn vị là nơi cất giữ tài liệu quan trọng, và cũng là nơi của nhiều chương trình như "Trung tâm Thông tin Tội phạm"(NCIC), "Báo cáo Tội phạm"(UCR), "Nhận dạng Vân tay", "Hệ thống Nhận dạng Vân tay Tự động"(IAFIS), "NCIC 2000" và "Hệ thống Báo cáo Tình trạng Quốc gia"(NIBRS). Nhiều cơ quan địa phương và liên bang đã sử dụng hệ thống này để làm nguồn cho việc điều tra bằng phương thức mã hóa an toàn. FBI cung cấp nhiều công cụ nhận dạng đặc biệt và dịch vụ thông tin cho các cơ quan thực thi pháp luật địa phương, tiểu bang, liên bang và quốc tế. FBI chịu trách nhiệm quản lý "Trung tâm Dịch thuật Ảo Quốc gia" để cung cấp nguồn dịch chính xác và đúng giờ từ các thông tin tình báo nước ngoài của Cộng đồng Tình báo. ==== Lỗi trong phân tích bằng chứng đầu đạn ==== Trong hơn 40 năm, phòng thí nghiệm tội ác của FBI tại Quantico tin rằng mỗi đầu đạn có một đặc trưng hóa học duy nhất, do đó có thể đem tháo rời và phân tích, có thể xác định được viên đạn, không những xác định được viên đạn đến từ nhà máy nào mà còn biết được nó nằm ở hộp đạn nào. Học viện Khoa học Quốc gia đã bỏ ra 18 tháng để làm một cuộc khảo sát độc lập về kỹ thuật so sánh phân tích đầu đạn. Năm 2003, Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia xuất bản báo cáo kêu gọi chất vấn về thử nghiệm 30 năm của FBI. Bản chất vấn cho thấy kết quả mà FBI dùng hoàn toàn không đầy đủ và kết luận rằng việc xác định được các mảnh đạn từ hộp đạn nào là hoàn toàn phóng đại, điều này cho thấy Cục đã sai lầm theo luật chứng cứ. Một năm sau, FBI quyết định dừng phân tích đầu đạn. Trong hơn 2,500 vụ án sử dụng biện pháp phân tích, có thể có hơn hàng trăm ngàn vụ nà phòng thí nghiệm FBI sử dụng biện pháp trên để cung cấp chứng cứ pháp lý trước tòa án. Mỗi trường hợp, bằng chứng có thể đã sai và làm chệch hướng điều tra. Chính phủ Hoa Kỳ đã phải ban bố nghĩa vụ pháp lý để thông báo cho các bị can biết bất kỳ thông tin nào mà họ có thể cung cấp về sự vô tội của mình ngay cả khi họ đã bị kết án. Chỉ duy nhất có FBI xác nhận được vụ án nào có sử dụng phân tích đầu đạn, nhưng Cục không công bố thông tin trên. Theo kết quả điều tra của chương trình "60 Phút/Washington Post" năm 2007, Cục đã lên tiếng sẽ xác nhận, xem xét và công bố các vụ án liên quan và thông báo cho bên công tố về các trường hợp bị sai kết quả chứng cứ. === Nhiệm vụ và quyền ưu tiên === Trong năm tài chính 2010, ngân quỹ tối thiểu của FBI xấp xỉ 7.9 tỉ$, bao gồm 618 triệu$ được sử dụng trong chương trình chống khủng bố, tội phạm máy tính, bạo loạn, vũ khí huỷ diệt hàng loạt, tội phạm "cổ trắng" và các chương trình huấn luyện. Nhiệm vụ chính của FBI là bảo vệ và phòng thủ nước Mỹ trước các mối đe dọa khủng bố và tình báo nước ngoài, phòng chống và thực thi pháp luật đối với tội phạm Hoa Kỳ và dịch vụ thông tin tội phạm tư pháp và nâng cao khả năng tự lập cho các cơ quan, đối tác liên bang, tiểu bang, thành phố và quốc tế. Hiện tại, FBI tập trung điều tra các vụ việc ưu tiên sau: Bảo vệ Hoa Kỳ khỏi các vụ khủng bố; Bảo vệ Hoa Kỳ chống lại các hoạt động tình báo và điệp báo của nước ngoài; Bảo vệ Hoa Kỳ chống lại các cuộc tấn công tin tặc và công nghệ cao; Đấu tranh với tham nhũng công ở mọi cấp độ; Bảo vệ dân quyền; Đấu tranh với các tổ chức, doanh nghiệp tội phạm trong nước và xuyên quốc gia; Đấu tranh với loại tội phạm trí thức cao; Đấu tranh với tội ác bạo loạn nghiêm trọng; Hỗ trợ các đối tác liên bang, tiểu bang và quốc tế; Nâng cấp Công nghệ để hoàn thành nhiệm vụ của FBI một cách thành công. Vào tháng 8 năm 2007, FBI sẽ điều tra các tội ác hàng đầu như: Cướp ngân hàng và tội nghiêm trọng (107 tội) Ma túy (104 tội) Nỗ lực và âm mưu tội ác (81 tội) Khai thác tình dục trẻ em (53 tội) Giả mạo thư tín và lừa đảo (51 tội) Giả mạo ngân hàng (31 tội) Tổ chức đánh bạc trái phép (22 tội) Giả mạo đường truyền, radio và ti vi (20 tội) Đạo luật Hobbs (Cướp của và tống tiền ảnh hưởng đến thương mại liên bang) (17 tội) Đạo luật chống tham nhũng tổ chức và ảnh hưởng của băng đảng (RICO) (17 tội) == Địa vị Pháp lý == Nhiệm vụ của FBI được thành lập theo bộ luật số 28 của Hoa Kỳ, Phần 533, cho phép Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ chỉ định quan chức để điều tra các tội ác chống lại Hoa Kỳ. Những đạo luật khác cho phép FBI quyền và trách nhiệm điều tra các tội ác riêng biệt. J. Edgar Hoover bắt đầu sử dụng ghi âm điện thoại vào thập niên năm 1920 trong thời kì Cấm Rượu ở Hoa Kỳ nhầm bắt những kẻ buôn lậu rượu. Một vụ án năm 1927, một tay buôn lậu rượu bị bắt khi đoạn ghi âm được đưa đến Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, vốn đã cho phép FBI được phép sử dụng ghi âm phục vụ quá trình điều tra và không được vi phạm Điều 4 Sửa đổi của Hiến pháp Hoa Kỳ, quy định FBI không được xâm phạm gia trang bất hợp pháp của người khác để hoàn thành việc ghi âm. Sau khi Luật cấm Rượu bị bãi bỏ, Quốc hội Hoa Kỳ đã cấm việc ghi âm qua điện thoại, nhưng cho phép đặt máy nghe lén. Trong trường hợp khác tại Tòa án Tối cao, tòa án quy định năm 1939 chiếu theo điều luật 1934, các chứng cứ do FBI thu thập được bằng cách thu âm lén điện thoại sẽ không được chấp nhận tại tòa. Tòa án Tối cao năm 1967 đã thay đổi vụ án năm 1927, cho phép đặt máy nghe trộm, sau khi Quốc hội thông qua đạo luật "An toàn đường phố và kiểm soát tội ác trên xe buýt", cho phép các nhà chức trách thu âm qua điện thoại sau khi họ có trát bắt giữ. Nhờ vào đạo luật "Chống tham nhũng có tổ chức và Ảnh hưởng của băng đảng" mà FBI có được công cụ để tiến hành các chiến dịch chống lại tội phạm có tổ chức. Theo đạo luật "Dân quyền" năm 1964, FBI đồng thời chịu trách nhiệm thực thi và điều tra các tội danh liên quan đến bạo lực sẽ bị truy tố bởi cơ quan chủ quản là Bộ Tư pháp. Ngoài ra FBI cũng hợp tác với Cơ quan Bài trừ Ma túy (DEA) theo đạo luật "Kiểm soát Chất gây nghiện" năm 1970. Đạo luật "Ái Quốc Hoa Kỳ" đã gia tăng rất nhiều quyền lực cho FBI, đặc biệt trong việc thu âm qua đường dây hữu tuyến và kiểm soát hoạt động của Internet. Một trong những điều khoản gây tranh cãi nhiều nhất đó là điều khoản "ẩn mình và nhìn trộm" cho phép FBI có quyền khám nhà khi người chủ nhà đi đâu xa và không cần phải thông báo ngay cho chủ nhà mà phải chờ đến vài tuần sau. Dưới nhiều điều khoản trong đạo luật "Ái Quốc Hoa Kỳ", FBI được phép lật lại hồ sơ thư viện của những nghi phạm khủng bố (điều mà Cục không được phép làm kể từ thập niên 1970). Đầu thập niên năm 1980, Thượng viện tổ chức kiểm tra các hoạt động ngầm của FBI sau vụ tranh cãi Abscam. Năm sau đó, nhiều lời đề nghị được đưa ra nhằm thắt chặt lại các hoạt động của FBI. Tháng 3 năm 2007, Tổng Thanh tra thuộc Bộ Tư pháp đã mô tả về FBI là "lạm dụng diễn ra khắp nơi và nghiêm trọng" trong việc gửi thư an ninh quốc gia, một loại trát hành chính được dùng để yêu cầu hồ sơ và dữ liệu liên quan đến một cá nhân nào đó. Bản báo cáo cho thấy giữa năm 2003 và năm 2005, FBI đã cấp phát hơn 140,000 thư an ninh quốc gia, rất nhiều trong số đó liên quan đến những người không hề có chút liên hệ nào đến khủng bố. Nguồn tin thu thập được để FBI dùng trong điều tra sẽ được trình bày cho Viên Chưởng lý hoặc viên chức thuộc Bộ Tư pháp phù hợp, người được phép quyết định nên đưa vụ việc ra tòa hoặc hành động khác. FBI thường hay hợp tác trong công việc với các cơ quan liên bang khác, như "Tuần tra Bờ biển Hoa Kỳ" (USCG) và "Bảo vệ Biên giới và Hải quan Hoa Kỳ"(CBP) trong lĩnh vực an ninh hải cảng hoặc sân bay, và "Ban An tòa Vận tải Quốc gia" trong điều tra máy bay rơi và các tai nạn nghiêm trọng khác. Cơ quan "Kiểm soát Nhập cư và Hải quan Hoa Kỳ"(ICE) là cơ quan duy nhất có đủ quyền lực gần với Fbi để phối hợp điều tra. Sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9, FBI duy trì một vai trò đáng kể trong việc điều tra các tội liên bang. == Nhân sự == Theo số liệu tháng 12 năm 2009, FBI có tổng cộng 33,652 nhân viên. Trong đó bao gồm 13,412 đặc vụ và 20,420 chuyên viên hỗ trợ, như chuyên viên phân tích tình báo, chuyên gia ngôn ngữ, nhà khoa học, kỹ thuật viên công nghệ thông tin và các chuyên viên trong lĩnh vực khác. Trang Tưởng niệm các sĩ quan đã hi sinh cung cấp lý lịch của 57 sĩ quan FBI hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ từ năm 1925 đến năm 2009. === Quy trình Tuyển dụng === Để nộp đơn cho vị trí nhân viên FBI, thí sinh phải ở độ tuổi 23 đến 37. Tuy nhiên, việc này phụ thuộc vào Phòng Quản lý Nhân sự, đối với các thí sinh là cựu quân nhân có giới thiệu sẽ được dự tuyển ngay cả khi hơn 37 tuổi. Năm 2009, Phòng Quản lý Nhân sự đã phát hành cuốn cẩm nang hướng dẫn:OPM Letter Ứng viên phải có bằng công dân Hoa Kỳ, lý lịch tốt và có bằng cử nhân hệ 4 năm. Tất cả các nhân viên FBI đều được yêu cầu kiểm tra an ninh tối mật. Để thành công trong kì kiểm tra an ninh tối mật, các ứng viên tiềm năng phải vượt qua một loạt các "cuộc điều tra lý lịch bản thân phạm vi đơn"(SSBI) do Phòng Quản lý Nhân sự đưa ra. Các ứng viên đặc vụ phải vượt qua bài "Kiểm tra Thể chất"(PFT) bao gồm 300 mét chạy, 1 phút duỗi thẳng, hít đất hết cỡ và chạy 2.4 km. Ngoài ra ứng viên phải vượt qua đợt kiểm tra tim mạch với các câu hỏi về tiền sử sử dụng ma túy. Sau khi các ứng viên tiềm năng vượt qua kì sát hạch kiểm tra tối mật và đồng ý ký vào đơn SF-312, họ sẽ than dự trại huấn luyện FBI tại Căn cứ Thủy quân Lục chiến ở Quantico, Virginia. Các ứng viên trải qua 21 tuần tại Học viện FBI, tại đây họ tiếp tục 500 giờ học và 1000 giờ thực huấn. Sau khi tốt nghiệp, tân đặc vụ FBI sẽ được bố trí trên khắp Hoa Kỳ và thế giới, tùy vào khả năng riêng của từng người. Các chuyên viên hỗ trợ sẽ làm việc tại một trong các tòa nhà dành riêng mà FBI sở hữu. Tuy nhiên, bất kỳ đặc vụ hay nhân viên hỗ trợ nào cũng có thể bị chuyển công tác bất kỳ lúc nào nếu Cục cảm thấy cần họ hỗ trợ cho phòng đại diện hoặc một trong 400 cơ quan tại địa phương của FBI. == Vũ khí == Một đặc vụ FBI được trang bị khẩu Glock đời 22 với loại đạn.40 S&W, các khẩu Glock đời 17, 19 và 26 với đạn 9mm Luger, Mẫu 23, 27 và.40 S&W được phép mang như súng dự phòng. Các đặc vụ thuộc "Đội Giải cứu Con tin" và đội SWAT được sử dụng khẩu Springfield mẫu 1911A1 đạn.45 ACP và M4A1 cabine. == Ấn bản == Ấn phẩm "Bản tin FBI" được xuất bản hàng tháng do "Đơn vị Thông tin FBI" chủ quản, với nhiều bài viết hấp dẫn người đọc là nhân sự tại các cơ quan thực thi pháp luật địa phương và tiểu bang. Ấn bản đầu tiên được xuất bản năm 1932 với tựa đề "Nhân vật bị truy nã gắt gao nhất", "Bản tin FBI" bao gồm nhiều chủ đề công nghệ và giải pháp như bản đồ tội phạm và sử dụng vũ lực, nghiên cứu tội phạm tư pháp và hệ thống cảnh báo Vi-CAP, được dùng cho các vụ trọng án và tội phạm bị truy nã. Ngoài ra, FBI còn xuất bản nhiều bài báo cáo cho nhân sự bên ngành thực thi pháp luật và cả người dân bình thường về nhiều chủ đề như thực thi pháp luật, khủng bố, tội phạm mạng, tội phạm kinh tế, tội phạm bạo lực và thống kê. Tuy nhiên, đa số các bài viết của FBI đều được Phòng Chương trình Tư pháp trực thuộc Bộ Tư pháp xuất bản và phân phối bởi "Cơ quan Chứng nhận Tội phạm Tư pháp Quốc gia". === Thống kê tội ác === Thập niên năm 1920, FBI bắt đầu phát hành các bản báo cáo về tội ác từ số liệu của các phòng cảnh sát địa phương. Nhưng do sự hạn chế của hệ thống trong giai đoạn thập niên 1960 và 1970 – nạn nhân thường không trình báo với cảnh sát – Bộ Tư pháp đã phát triển phương pháp thay thế là kiểm tra tội ác và điều tra nạn nhân. ==== Báo cáo tội ác của nhân viên công lực ==== Báo cáo tội ác của nhân viên công lực (UCR) biên tập lại dữ liệu từ hơn 17,000 cơ quan thực thi pháp luật trên toàn Hoa Kỳ. Họ cung cấp thông tin liên quan đến tội ác bao gồm bắt bớ, kết thúc vụ án và thông tin sĩ quan thực thi pháp luật. UCR tập trung chủ yếu vào các dữ liệu liên quan đến tội ác liên quan đến bạo lực, tội ác hằn thù chủng tộc và tội ác trong tranh chấp tài sản. Hệ thống UCR phản ánh hầu hết các vụ án nghiêm trọng liên quan đến tội ác và rất ít đề cập đến "hãm hiếp". Bản báo cáo thường niên năm 2006 cho thấy tội ác liên quan đến bạo lực tăng 1.3% còn tội ác liên quan đến tài sản giảm 2.9% so với năm 2005. ==== Hệ thống Báo cáo Tai nạn Quốc gia ==== Hệ thống Báo cáo Tai nạn Quốc gia (NIBRS) là hệ thống thống kê tội ác nhằm mục đích bổ sung những hạn chế của hệ thống UCR. Cơ quan thực thi pháp luật dùng hệ thống này để thu thập và tổng hợp dữ liệu về tình hình tội ác. Các cơ quan địa phương, tiểu bang, liên bang cập nhật dữ liệu từ hệ thống quản lý hồ sơ của họ lên NIBRS. Năm 2004, 5,271 cơ quan thực thi pháp luật đã cập nhật thông tin lên dữ liệu NIBRS. Con số thu được đại diện cho 20% dân số Hoa Kỳ và 16% dữ liệu thống kê tội ác của FBI thu thập được. == Trên phương tiện truyền thông == FBI thường xuyên được đưa lên màn ảnh của nhiều bộ phim, FBI được lột tả dưới nhiều góc độ từ sự liên quan trực tiếp đến quá trình tự sáng tạo cho đến FBI đại diện cho cái tốt, chân lý tốt, tham khảo ý kiến và kết thúc vụ án. Các bộ phim mà cơ quan FBI được xướng tên: "Face/Off" của đạo diễn Ngô Vũ Sâm với sự tham gia của Nicolas Cage và John Travolta. "The Rock (phim)" đạo diễn Michael Bay nói về một nhân viên phòng thí nghiệm FBI (Nicolas Cage) hỗ trợ chính phủ Hoa Kỳ chống lại một cuộc nổi loạn của binh sĩ ở nhà tù Alcatraz. "Catch me if you can" đạo diễn Steven Spielberg nói về một nhân viên FBI (Tom Hanks) đang truy bắt tên tội phạm làm giả chứng thư ngân hàng (Leonardo DiCaprio). "Live Free or Die Hard" cuộc chiến trên mạng giữa FBI và các thế lực hacker khi chúng đang tìm cách gây hại cho nước Mỹ. Phim có sự góp mặt của Bruce Willis. "The Silence of the Lambs" là một bộ phim rùng rợn xoay quanh một tên tội phạm bệnh hoạn (Anthony Hopkins) và nữ nhân viên FBI (Jodie Foster). "Supernatural (phim truyền hình), phim đề cập tới nhiều tình tiết có liên quan đến FBI khi họ truy đuổi anh em nhà Winchester với một loạt các tội danh liên quan. "The X-Files nói về cuộc tìm kiếm sự sống ngoài hành tinh của hai nhân viên FBI Fox Mulder và Dana Scully. "Public Enemies" nói về tướng cướp nổi tiếng thập niên 1930 John Dillinger (Johnny Depp) và nỗ lực của FBI trong việc bắt giữ hắn. "Shooter" nói về một âm mưu tối mật nhằm ám sát một nhân vật cấp cao, dẫn đến sự dính líu của Trung sĩ Bob Lee Swagger(Mark Wahlberg) và quá trình tự chứng minh mình vô tội. == Xem thêm == Cục Cảnh sát Hoa Kỳ (USMS) Cơ quan Mật vụ Hoa Kỳ (USSS) == Tham khảo == == Kiến thức ngoài == HSI BOOK Government HSI Files Charles, Douglas M. (2007). J. Edgar Hoover and the Anti-interventionists: FBI Political Surveillance and the Rise of the Domestic Security State, 1939–1945. Columbus, Ohio: The Ohio State University Press. ISBN 0814210619. Kessler, Ronald (1993). The FBI: Inside the World's Most Powerful Law Enforcement Agency. Pocket Books Publications. ISBN 0-6717-8657-1. Powers, Richard Gid (1983). G-Men, Hoover's FBI in American Popular Culture. Southern Illinois University Press. ISBN 0-8093-1096-1. Sullivan, William (1979). The Bureau: My Thirty Years in Hoover's FBI. Norton. ISBN 0-393-01236-0. Theoharis, Athan G.; John Stuart Cox (1988). The Boss: J. Edgar Hoover and the Great American Inquisition. Temple University Press. ISBN 0-87722-532-X. Theoharis, Athan G.; Tony G. Poveda, Susan Rosenfeld, Richard Gid Powers (2000). The FBI: A Comprehensive Reference Guide. Checkmark Books. ISBN 0-8160-4228-4. Theoharis, Athan G. (2004). The FBI and American Democracy: A Brief Critical History. Kansas: University Press. ISBN 0-7006-1345-5. Tonry, Michael (ed.) (2000). The Handbook of Crime & Punishment. Oxford University Press. ISBN 0-19-514060-5. Trahair, Richard C. S. (2004). Encyclopedia of Cold War Espionage, Spies, and Secret Operations. Ballentine: Greenwood Press. ISBN 0-313-31955-3. Williams, David (1981). “The Bureau of Investigation and its Critics, 1919–1921: the Origins of Federal Political Surveillance”. Journal of American History (Organization of American Historians) 68 (3): 560–579. doi:10.2307/1901939. == Liên kết ngoài == Official FBI website Church Committee Report, Vol. 6, "Federal Bureau of Investigation." 1975 congressional inquiry into American intelligence operations. FBI Disclosures under Freedom of Information Act Official FBI Recruiting Federal Bureau of Investigation at FAS.org The FBI...Past, Present & Future
dương nhật lễ.txt
Dương Nhật Lễ (chữ Hán: 楊日禮; ? - 1 tháng 12, 1370), tên khác Trần Nhật Kiên (陳日熞), còn gọi Hôn Đức công (昏德公), là một vị hoàng đế nhà Trần, là người kế vị Trần Dụ Tông. Ông ở ngôi từ ngày 15 tháng 6 năm Kỷ Dậu (tức 18 tháng 7 năm 1369) đến ngày 13 tháng 11 năm Canh Tuất (tức 1 tháng 12 năm 1370). Do chỉ đặt một niên hiệu Đại Định, nên đương thời ông được gọi Đại Định Đế (大定帝). Ông ở ngôi hơn 1 năm thì bị Cung Định vương Trần Phủ truất ngôi. == Thân thế == Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, ông vốn là con của kép hát Dương Khương (楊姜). Mẹ ông là vợ Dương Khương, là một người múa hay lại có nhan sắc, do hay diễn Tây Vương Mẫu trong vở Vương Mẫu hiến bàn đào, bà được gọi thông dụng là Vương mẫu (王母). Khi ấy, Vương Mẫu đã có mang ông nhưng đã bị Cung Túc vương Trần Nguyên Dục (陳元昱), anh cùng mẹ của Trần Dụ Tông lấy làm vợ. Khi ông sinh ra, Cung Túc vương Dục nhận làm con mình. Không rõ Dương Nhật Lễ sinh năm nào. == Hoàng đế đoản mệnh == === Dẹp đảo chính lần đầu === Ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu (tức 29 tháng 6 năm 1369), Trần Dụ Tông băng hà. Trước khi mất, ông đã ban chiếu truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ. Hiến Từ Thái hậu đồng ý di chiếu cho đón ông lên ngôi, đặt niên hiệu Đại Định (大定). Truy tặng Cung Túc vương là Hoàng thái bá (皇太伯). Cùng lúc này, sứ đoàn nhà Minh sang sắc phong cho Dụ Tông tới Việt Nam. Nhật Lễ (tên ngoại giao với nhà Minh là Trần Nhật Kiên) xin được thụ phong nhưng sứ nhà Minh là Trương Dĩ Ninh (張以寧) không đồng ý. Nhật Lễ phải cử sứ là Đỗ Thuấn Khâm (杜舜欽) sang nhà Minh báo tang và cầu phong. Theo Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận, Đại Định Đế lên ngôi nhưng bỏ bễ công việc, ham chơi, rượu chè, cho đón cha ruột Dương Khương vào triều, giữ chức Lệnh thư gia, có ý đổi sang họ Dương khiến các quan trong triều bất bình. Hiến Từ Thái hậu, mẹ Dụ Tông tỏ ý hối hận việc lập Nhật Lễ. Nhật Lễ bèn ngầm đánh thuốc độc giết chết vào ngày 14 tháng 12 năm Kỷ Dậu (tức 12 tháng 1 năm 1370). Đêm ngày 20 tháng 9 năm Canh Tuất (tức 9 tháng 10 năm 1370), cha con quan Thái tể Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Trác, Trần Nguyên Tiết và hai người con của Thiên Ninh công chúa, chị gái Dụ Tông đem người tôn thất vào thành định giết Đại Định. Đại Định Đế trèo qua tường, nấp dưới cầu mới. Mọi người lùng không thấy, giải tán ra về. Khi trời sắp sáng, Đại Định Đế vào cung, chia người đi bắt Nguyên Trác cùng 17 người chủ mưu và giết hết. === Bị phế truất === Anh khác mẹ của Trần Dụ Tông là Cung Định vương Trần Phủ, vì có con gái làm Hoàng hậu của Nhật Lễ, sợ vạ lây đến mình nên tránh ra trấn Đà Giang (tức Gia Hưng), ngầm hẹn với các em là Cung Tuyên vương Trần Kính, Chương Túc thượng hầu Trần Nguyên Đán, Thiên Ninh công chúa Ngọc Tha hội ở sông Đại Lại, phủ Thanh Hóa để dấy quân. Trần Kính giúp ông đảm nhận việc sắm sửa mọi vũ khí, trang bị quân đội. Khi ấy, Đại Định Đế Dương Nhật Lễ chuyên dùng thiếu úy Trần Ngô Lang (陳吾郎) mà không biết Ngô Lang đồng mưu với Trần Phủ. Mỗi khi sai quân tướng đi đánh bắt, Ngô Lang đều bí mật bảo họ theo Trần Phủ đừng về nữa. Rất nhiều lần sai các quân Nam, Bắc đi đánh, đều không một ai trở về. Do đó quân của Trần Phủ, Trần Kính mạnh thêm. Ngày 13 tháng 11 năm Canh Tuất (tức 1 tháng 12 năm 1370), Trần Phủ đến phủ Kiến Hưng, truất Nhật Lễ làm Hôn Đức công (昏德公). Ngày 15, Phủ lên ngôi, tức Trần Nghệ Tông. Ngày 21 tháng ấy, Trần Phủ cùng Trần Kính và Thiên Ninh công chúa dẫn quân về kinh, sai giam Nhật Lễ ở phường Giang Khẩu. Dương Nhật Lễ tới lúc đó mới biết mình bị Trần Ngô Lang phản bội. Trong khi bị giam giữ, ông lừa gọi Trần Ngô Lang đến gần rồi bóp cổ giết chết Trần Ngô Lang. Trần Nghệ Tông bèn lập tức hạ lệnh giết chết Dương Nhật Lễ và con ông là Liễu, rồi sai đem chôn ở núi Đại Mông. == Nguyên nhân == Nhật Lễ ở ngôi được hơn 1 năm, không rõ thọ bao nhiêu tuổi. Nhà Trần lúc đó đã suy yếu, các tôn thất bạc nhược. Nhiều việc thất đức của Nhật Lễ lẽ ra chưa dẫn đến việc bị phế truất. Tư tưởng phong kiến không chấp nhận người dị tộc làm vua trong triều, bởi vậy sai lầm lớn nhất của Nhật Lễ là định đổi sang họ Dương khiến tôn thất nhà Trần nắm quyền bính khắp trong nước xúm lại tìm cách lật đổ. Tính từ khi Nhật Lễ lên ngôi cho tới khi cuộc đảo chính đầu tiên xảy ra tới 1 năm nhưng không có ai chống đối vì khi đó Nhật Lễ vẫn giữ họ Trần. Tần Thủy Hoàng trước đây cũng phải đối mặt với tiếng tăm về thân thế và cũng có những việc làm thô bạo, thất đức nhưng đã khôn khéo suốt đời không đổi sang họ Lã, giết luôn Lã Bất Vi (người bị dị nghị là cha mình) và tìm cách đàn áp thẳng tay những ai có ý định khơi chuyện này để chống đối. Bởi thế Tần Thủy Hoàng giữ được ngôi vị trọn vẹn. Khách quan nhìn nhận, Nhật Lễ không có tài năng và tư cách, mắc hàng loạt sai lầm nên việc nhanh chóng bị lật đổ là tất yếu. Tác giả Trần Xuân Sinh trong sách Thuyết Trần lại cho rằng Trần Nhật Lễ thực ra chỉ là "đứa con hư của dòng họ nhà Trần" nên bị truất đi. == Xem thêm == Nhà Trần Trần Nghệ Tông Trần Duệ Tông == Tham khảo == Đại Việt sử ký toàn thư Trần Xuân Sinh (2006), Thuyết Trần, Nhà xuất bản Hải Phòng == Chú thích ==
lydia.txt
Lydia (Assyria: Luddu; tiếng Hy Lạp: Λυδία, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Lidya) là vương quốc thời kì đồ sắt ở phía tây Tiểu Á. == Các vị thần của Lydia == == Tham khảo == Goldsborough, Reid. "World's First Coin" R.S.P. Beekes. The Origin of the Etruscans. == Liên kết ngoài == Livius.org: Lydia
paypal.txt
Paypal là một công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử, chuyên cung cấp các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền qua mạng Internet. Đây là dịch vụ thanh toán và chuyển khoản điện tử thay thế cho các phương thức truyền thống sử dụng giấy tờ như séc và các lệnh chuyển tiền. Paypal thu phí thông qua thực hiện việc xử lý thanh toán cho các hãng hoạt động trực tuyến, các trang đấu giá, và các khách hàng doanh nghiệp khác. Vào tháng 10 năm 2002, eBay đã mua lại toàn bộ Paypal. Trụ sở chính của Paypal hiện đặt tại khu các công ty con của eBay trong toà nhà North First Street, thung lũng Sillicon, San Jose, California. Paypal cũng có các hoạt động quan trọng tại Omaha, Nebraska; Dublin, Ireland; và Berlin, Đức. == Lịch sử. == PayPal đã được thành lập vào tháng 12 năm 1998 với tên ban đầu là Confinity, một công ty phát triển phần mềm bảo mật cho các thiết bị cầm tay được thành lập bởi Max Levchin, Peter Thiel, Luke Nosek và Ken Howery. PayPal được phát triển và thành lập như một dịch vụ chuyển tiền tại Confinity vào năm 1999, được tài trợ bởi John Malloy từ BlueRun Ventures. Trong tháng 3 năm 2000, Confinity sáp nhập với X.com, một công ty ngân hàng trực tuyến được thành lập bởi Elon Musk. Musk chia sẻ rằng ông đã rất lạc quan về sự thành công trong tương lai của doanh nghiệp chuyển tiền Confinity. Bill Harris (đồng nghiệp của musk), không đồng ý và rời công ty tháng năm 2000. Trong tháng 10 năm đó, Musk quyết định rằng X.com sẽ chấm dứt các hoạt động ngân hàng Internet khác của nó và chỉ tập trung vào các dịch vụ chuyển tiền PayPal. Công ty X.com sau đó được đổi tên thành PayPal vào năm 2001, và mở rộng nhanh chóng trong suốt cả năm cho đến khi giám đốc điều hành công ty quyết định đưa PayPal ra sử dụng công cộng vào năm 2002. IPO của Paypal được liệt kê dưới PYPL ticker tại $ 13 một cổ phiếu và kết quả là đã tạo ra hơn 61 triệu $ == Tham khảo == Paypal Information Resources Hỏi Đáp PayPal, Các thông tin và hướng dẫn về PayPal
tiểu lục địa ấn độ.txt
Tiểu lục địa Ấn Độ là một khu vực của châu Á nằm chủ yếu trên Mảng Ấn Độ. == Định nghĩa == Thuật ngữ "tiểu lục địa Ấn Độ" và "Nam Á" thường được dùng thay thế cho nhau. Do sự nhạy cảm về chính trị, một số người dùng thuật ngữ "Tiểu lục địa Nam Á", "Tiểu lục địa Ấn-Pak", "Tiểu lục địa", hoặc là "Nam Á" thay cho thuật ngữ "tiểu lục địa Ấn Độ". Theo các sử gia Sugata Bose và Ayesha Jalal, tiểu lục địa Ấn Độ được biết đến với tên gọi Nam Á "trong thời gian gần đây và cách nói trung lập hơn." Nhà Ấn Độ học Ronald B. Inden lập luận rằng việc sử dụng thuật ngữ "Nam Á" đang trở nên rộng rãi do phân biệt rõ ràng khu vực với Đông Á; một số học giả cho rằng thuật ngữ "Nam Á" được sử dụng phổ biến ở châu Âu và Bắc Mỹ hơn thuật ngữ "Tiểu lục địa" hay "Tiểu lục địa Ấn Độ". === Phạm vi === Định nghĩa về phạm vi địa lý của tiểu lục địa Ấn Độ là khác nhau. Lịch sử hình thành của toàn bộ Đại Ấn Độ, nay thường được coi là bao gồm các nước Ấn Độ, Pakistan, và Bangladesh; trước năm 1947, ba nước này về mặt lịch sử tạo thành Ấn Độ thuộc Anh. Nó hầu như luôn luôn bao gồm cả Nepal, Bhutan, và quốc đảo Sri Lanka và có thể cũng bao gồm Afghanistan và quốc đảo Maldives. Khu vực cũng có thể bao gồm các lãnh thổ tranh chấp như Aksai Chin, là một phần của tiểu vương quốc Ấn Độ thuộc Anh Jammu và Kashmir, nhưng nay do khu tự trị Tân Cương của Trung Quốc quản lý. Một cuốn sách do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ xuất bản năm 1959 thì Afghanistan, Ceylon (Sri Lanka), Ấn Độ, Nepal, và Pakistan (gồm cả Đông Pakistan, nay là Bangladesh) là những phần của "Tiểu lục địa Nam Á". Khi thuật ngữ Tiểu lục địa Ấn Độ được sử dụng với ý nghĩa là Nam Á, các quốc đảo Sri Lanka và Maldives đôi khi không được liệt kê, trong khi Tây Tạng và Nepal có khi lại được ghi vào hoặc không == Địa lý == Về mặt địa lý, tiểu lục địa Ấn Độ là một bán đảo tại Trung-Nam Á, hơn là một vùng có hình kim cương được giới hạn bởi dãy Himalayas ở phía bắc, Hindu Kush ở phía tây, và Arakanese ở phía đông, và mở rộng về phía nam đến Ấn Độ Dươn với biển Ả Rập ở phía tây nam và vịnh Bengal ở phía đông nam. Với cả bảy quốc gia được liệt kê, diện tích của khu vực là khoảng 4,4 triệu km² (1,7 triệu mi²), chiếm 10% lục địa châu Á và 2,4% diện tích bề mặt đất liền thế giới. Tính toàn thể, tiểu lục địa chiếm khoảng 34% dân số châu Á (trên 16,5% dân số thế giới) và có nhiều dân tộc sinh sống. Hầu hết khu vực nằm trên mảng Ấn Độ và tách biệt khỏi phần còn lại của châu Á bằng các hàng rào núi non. Mảng Ấn Độ bao phủ phần lớn Nam Á, tạo thành một vùng đất trải dài từ Himalaya thành một phần của bồn địa bên dưới Ấn Độ Dương, bao gồm nhiều vùng của Nam Trung Quốc và Đông Indonesia, cũng như các dãy Côn Lôn và Karakoram, và mở rộng đến song không bao gồm Ladakh, Kohistan, dãy Hindu Kush và Balochistan. == Tham khảo ==
thành công, ba đình.txt
Thành Công là một phường thuộc quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Phường Thành Công có diện tích 0,64 km², dân số năm 1999 là 21001 người, mật độ dân số đạt 32814 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
kano.txt
Kano là thành phố của Nigeria và thủ phủ của bang Kano. Kano nằm ở miền bắc Nigeria và có dân số khoảng 365,525 theo thống kê năm 2006 ở Nigeria. Dân cư chủ yếu ở đây là người Hausa. Giống như hầu hết các vùng ở miền bắc Nigeria, tiếng Hausa được nói rộng rãi ở Kano. == Chú thích == == Đọc thêm == Maconachie, Roy (2007). Urban Growth and Land Degradation in Developing Cities: Change and Challenges in Kano, Nigeria. King's SOAS Studies in Development Geography. Ashgate Publishing. ISBN 9780754648284. == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Kano tại Wikimedia Commons Kano Online
geoffrey chaucer.txt
Geoffrey Chaucer (khoảng 1343 – 25 tháng 10 năm 1400) là tác gia, nhà thơ, nhà triết học, công chức, quan tòa và nhà ngoại giao người Anh. Mặc dù ông viết rất nhiều tác phẩm, tác phẩm được biết đến nhiều nhất của ông lại là tập truyện dài The Canterbury Tales còn dở dang của ông. Đôi khi được hậu thế tôn vinh là cha đẻ của nền văn học Anh, Chaucer còn được một số học giả vinh danh là tác giả đầu tiên thể hiện được tính nghệ thuật của tiếng Anh nguyên thủy, ngoài tiếng Pháp hay tiếng La tinh. == Cuộc đời == Geoffrey Chaucer sinh tại Luân Đôn khoảng năm 1343, tuy nhiên, ngày và nơi sinh không được rõ. Cha và nội ông đều là người làm rượu nho ở Luân Đô; nhiều thế hệ trước từng là thương nhân ở Ipswich. (Họ của ông có nguồn gốc từ tiếng Pháp chausseur, nghĩa là "người làm giày".) Năm 1359, trong giai đoạn đầu của chiến tranh Trăm năm, Edward III xâm lược Pháp và Chaucer đi vùng với Lionel Antwerp, chồng của Elizabeth, như một thành viên quân đội Anh. Năm 1360, ông bị bắt trong cuộc bao vây của Rheims, Edward đã trả 16 pound tiền chuộc, đó là một số tiền đáng kể, và Chaucer đã được thả. Sau sự kiện trên, cuộc đời của Chaucer không được rõ, nhưng có vẻ ông đã đến Pháp, Tây Ban Nha, và Flanders, có thể là một người đưa tinh và có lẽ ông đã hành hương đến Santiago de Compostela. Vào khoảng năm 1366, Chaucer cưới Philippa (de) Roet. Không biết chắc ông và Philippa có mấy người con, nhưng một vài nguồn nói có 3 hoặc 4. Con trai ông, Thomas Chaucer, đã có một sự nghiệp lừng lẫy, là tổng quản cho 4 vị vua, phái viên đến Pháp, và phát ngôn viên của hạ viện An. Con gái Thomas, Alice, cưới Duke của Suffolk. Chắt của Thomas, John de la Pole, Earl of Lincoln, là người thừa kế ngai vàng của Richard III trước khi ông bị lật đổ. Những người con khác của Geoffrey có lẽ là Elizabeth Chaucy, một nữ tu ở Barking Abbey. Agnes, người phục vụ trong lễ đăng quang của Henry IV; và người con khác là Lewis Chaucer. Quyển "Treatise on the Astrolabe" của Chaucer được viết cho Lewis. == Danh sách tác phẩm == Các tác phẩm lớn sau được sắp xếp theo thứ tự thời gian nhưng các học giả vẫn còn tranh cãi về ngày tháng của phần lớn tác phẩm của Chaucer dạng tập hợp các truyện có thể đã được ghép nối từ rất lâu về trước. ==== Các tác phẩm chính ==== Dịch cuốn Roman de la Rose, có thể hiện nay là The Romance of the Rose The Book of the Duchess The House of Fame Anelida and Arcite Parlement of Foules Dịch cuốn Boethius' Consolation of Philosophy dưới tên Boece Troilus and Criseyde The Legend of Good Women Treatise on the Astrolabe ==== Thơ ngắn ==== An ABC Chaucers Wordes unto Adam, His Owne Scriveyn The Complaint unto Pity The Complaint of Chaucer to his Purse The Complaint of Mars The Complaint of Venus A Complaint to His Lady The Former Age Fortune Gentilesse Lak of Stedfastnesse Lenvoy de Chaucer a Scogan Lenvoy de Chaucer a Bukton Proverbs To Rosemounde Truth Womanly Noblesse ==== Thơ được cho là của Chaucer ==== Against Women Unconstant A Balade of Complaint Complaynt D'Amours Merciles Beaute The Equatorie of the Planets - Một bản dịch thô một tác phẩm tiếng La tinh phát xuất từ một tác phẩm tiếng Ả Rập cùng tên. Nó là bản mô tả việc xây dựng và sử dụng một thứ có tên là 'equatorium planetarum', và được dùng để tính toán quỹ đạo và vị trí các hành tinh (vào thời điểm đó người ta tin rằng mặt trời quay quanh trái đất). Cuốn tương tự có tên Treatise on the Astrolabe, được cho là không phải của Chaucer, bên cạnh một lời chú giải ghi tên Chaucer trong bản viết tay là bằng chứng chủ yếu để ghi công Chaucer. Tuy nhiên, bằng chứng về việc Chaucer viết cuốn sách vẫn còn nghi vấn, vì nó không kèm trong cuốn The Riverside Chaucer. Nếu Chaucer không viết tác phẩm này, nó có thể do một người cùng thời đó viết. ==== Tác phẩm được Chaucer đề cập đến, được cho đã thất lạc ==== Of the Wreched Engendrynge of Mankynde, có thể là bản dịch cuốn De miseria conditionis humanae của Innocent III Origenes upon the Maudeleyne The Book of the Leoun - Cuốn này được đề cập trong bản rút của Chaucer. Dường như ông đã viết một tác phẩm như vậy; một giả thuyết là tác phẩm dở quá nên nó thất lại, nhưng nếu vậy, Chaucer đã không đề cập đến nó. ==== Tác phẩm giả ==== The Pilgrim's Tale—Được viết vào thế kỷ 16 ám chỉ nhiều đến phong cách Chaucer The Plowman's Tale hay The Complaint of the Ploughman Pierce the Ploughman's Crede The Ploughman's Tale "La Belle Dame Sans Merci" The Testament of Love Jack Upland ==== Tác phẩm sử dụng lại văn Chaucher ==== God Spede the Plough—Mượn 12 khổ thơ trong bài Monk's Tale của Chaucer == Xem thêm == Văn học Văn học Trung cổ == Chú thích == == Tham khảo == Skeat, W.W., The Complete Works of Geoffrey Chaucer. Oxford: Clarendon Press, 1899. The Riverside Chaucer, 3rd ed. Houghton-Mifflin, 1987 ISBN 0-395-29031-7 Chaucer: Life-Records, Martin M. Crow and Clair C. Olsen. (1966) Speirs, John, "Chaucer the Maker", London: Faber and Faber, 1951 Ward, Adolphus W. (1907). Chaucer. Edinburgh: R. & R. Clark, Ltd. == Liên kết ngoài == Các tác phẩm của Geoffrey Chaucer tại Dự án Gutenberg Poems by Geoffrey Chaucer at PoetryFoundation.org Chaucer's Official Life by James Root Hulbert Early Editions of Chaucer eChaucer: Full Texts, Modern Translation, and Easy-To-Use Concordance BBC television adaptation of certain of the Canterbury Tales Geoffrey Chaucer - Radio broadcast, In Our Time, 9 tháng 2 năm 2006, BBC Radio 4 broadcast (includes link to Listen Again) "Geoffrey Chaucer Hath a Blog" (A Chaucer parody blog) The Canterbury Tales and Other Poems Chaucer's language: Glossary from the Canterbury Tales Troilus and Creseyde Chaucer at The Online Library of Liberty The Canterbury Tales: A Complete Translation into Modern English Chaucer's Life by Walter Skeat, The Online Library of Liberty Info Britain - Chaucer, Biography and Visits Educational institutions Caxton's Chaucer Complete digitized texts of Caxton's two earliest editions of the Canterbury Tales from the British Library Caxton's Canterbury Tales: The British Library Copies An online edition with complete transcriptions and images captured by the HUMI Project Chaucer Metapage - Project in addition to the 33rd International Congress of Medieval Studies Chaucer Page by Harvard University Three near-contemporary portraits of Chaucer Astronomy & Astrology in Chaucer's Work Chaucer and his works: Introduction to Chaucer and his works | Descriptions of books with images Geoffrey Chaucer’s art of Poetry
chính trị.txt
Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. == Khái niệm chính trị == Hiện nay, trên thế giới đã hình thành 4 cách hiểu khác nhau về chính trị: Nghệ thuật của phép cai trị Những công việc của chung Sự thỏa hiệp và đồng thuận Quyền lực và cách phân phối tài nguyên hay lợi ích (xem Andrew Heywood, Politics (third edition), Palgrave Macmillan, New York, 2007).. Nếu quan niệm rằng chính trị chỉ là những hoạt động xoay quanh vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước thì, theo lý luận của chủ nghĩa Marx, trong xã hội cộng sản tương lai sẽ không có chính trị bởi vì lúc đó nhà nước đã tiêu vong. Nói cách khác, chính trị sẽ dần dần trở nên thừa thãi và mất hẳn trong xã hội lý tưởng của nhân loại – xã hội cộng sản. Chính trị theo nghĩa rộng hơn là hoạt động của con người nhằm làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trực tiếp lên cuộc sống của những người góp phần làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung đó. Với cách hiểu như thế này thì dù trong xã hội cộng sản, chính trị vẫn còn tồn tại và vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng đối với từng con người cũng như toàn xã hội. Trong bất kỳ xã hội nào thì cũng cần những luật lệ chung để hoạt động nhịp nhàng và khoa học, tránh tình trạng vô tình hay cố ý xâm phạm quyền lợi, lợi ích, tài sản, sức khỏe hay thậm chí tính mạng của người khác hay của cộng đồng. Một ví dụ đơn giản, xã hội dù có phát triển đến đâu thì cũng cần có luật giao thông để con người có thể lưu thông một cách trật tự và hiệu quả. Hay, con người không thể sống trong một xã hội mà tình trạng an ninh không đảm bảo (cướp bóc, khủng bố chẳng hạn) do thiếu luật lệ. Mặc dù phần lớn xã hội hiện nay trên thế giới không tránh khỏi các hiện tượng cướp bóc và khủng bố nhưng phải thừa nhận rằng pháp luật đã góp phần ngăn chặn đáng kể những hành vi bất lương đó. Còn Khoa học chính trị (các nghiên cứu về chính trị) là ngành học thuật nghiên cứu về chế độ chính trị, hành vi chính trị; miêu tả và phân tích các hệ thống chính trị và các ứng xử chính trị; nghiên cứu về việc giành quyền lực và sử dụng quyền lực. Các lĩnh vực của khoa học chính trị bao gồm: lý thuyết chính trị, triết học chính trị (tìm kiếm các nhân tố cơ bản cho chính trị), giáo dục công dân, các hệ thống chính trị của các quốc gia, phân tích chính trị, phát triển chính trị, quan hệ quốc tế, chính sách ngoại giao, quân sự và pháp luật. == Trạng thái tự nhiên == Trong tác phẩm Chính trị, Aristotle đã khẳng định, con người theo bản năng tự nhiên đã có tính chính trị. Trong ấn phẩm Leviathan vào năm 1651, Thomas Hobbes đã đưa ra một mô hình phát triển sớm của loài người, để hậu thuẫn cho sự tạo ra các chính thể như là bộ máy chính quyền. Hobbes đã mô tả một trạng thái tự nhiên lý tưởng, nơi mỗi người có quyền lợi như nhau với mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên và được tự do sử dụng các công cụ để khai thác các nguồn này. Ông khẳng định rằng hiện tượng đó gây ra xung khắc với mọi phía (war of all against all). Hơn nữa, ông ta giải thích rằng loài người sẵn sàng nép mình vào một khế ước xã hội và từ bỏ những quyền tuyệt đối để đổi lấy sự ổn định lâu dài. == Các tư tưởng triết học chính trị == === Khổng Tử === Triết gia Khổng Tử (551– 471 TCN) là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên có cách tiếp cận riêng đến Học thuyết chính trị. Căn bản trong học thuyết của ông là "quân tử (người cầm quyền) nên học tự kỷ luật, nên cai trị người dân của mình bằng chính gương của mình, và nên đối xử với họ bằng tình thương và sự quan tâm." Niềm tin chính trị của ông gắn chặt với luân thường đạo lý và đạo đức cá nhân. Ông cho rằng chỉ những người quân tử liêm khiết và tuân theo đạo của người quân tử thì mới được cầm quyền, và những tư cách của những nhân vật đó phải kiên định với địa vị trong xã hội. Ông ta cũng nói rằng "Triều đại tốt cốt ở vua làm tròn bổn phận của vua, bề tôi làm tròn bổn phận của bề tôi, cha làm tròn bổn phận của cha, và con làm tròn bổn phận của con." === Plato === Triết gia Hy Lạp cổ đại Plato (428– 328 TCN) nói trong sách Nền Cộng hòa (The Republic) rằng tất cả những chế độ chính trị theo truyền thống như (dân chủ, quân chủ, chính thể đầu sỏ, chính thể hào hiệp - democracy, monarchy, oligarchy và timarchy) vốn đã đồi bại, tham nhũng và nhà nước nên được điều hành bởi tầng lớp những người cầm quyền cũng là triết gia được giáo dục tốt. Họ được đào tạo từ lúc chào đời và được chọn dựa trên năng lực: "những người có kỹ năng đặc biệt về quan sát tổng quan xã hội." === Aristotle === Trong cuốn Chính trị của mình, triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle (384–322 TCN) quả quyết rằng về bản chất, con người là một động vật chính trị. Ông ta cho rằng luân thường và chính trị có liên kết chặt chẽ với nhau, và một đời sống thật sự đạo đức chỉ có thể có ở những người tham gia vào chính trị. Giống như Plato, Aristotle thấy rằng có nhiều hình thức nhà nước khác nhau, và ông cho rằng hình thức "đúng" của nhà nước có thể biến thành một hình thức nhà nước "lệch lạc", nơi mà thể chế bị mục nát. Theo ông, chế độ quân chủ, có một người cai trị, sẽ biến thành chuyên chế; chế độ quý tộc, với một nhóm nhỏ người cai trị, sẽ biến thành chính thể đầu sỏ; và xã hội có tổ chức (polity) do nhiều người dân cùng cai trị thì sẽ biến thành chế độ dân chủ. Theo nghĩa này, Aristotle không dùng từ "democracy" như nghĩa hiện nay là nó mang nghĩa rộng, nhưng có nghĩa đen là do demos, hay thường dân cai trị. Một cái nhìn chính xác hơn về dân chủ mà Aristotle đề cập đến chỉ là chính quyền quần chúng (ochlocracy). === Niccolò Machiavelli === Trong sách của mình, cuốn The Prince (Quân vương), nhà lý luận chính trị người Ý ở giai đoạn Phục Hưng ông Niccolò Machiavelli đề nghị một tầm nhìn thế giới về chính trị để miêu tả các phương pháp thực tế cho chế độ chuyên quyền để giành và giữ quyền lực chính trị. Ông thường được xem là người phản đối quan điểm đạo đức truyền thống đối với người cầm quyền: "đối với Machiavelli, không có nền tảng đạo đức mà ở đó phân xử sự khác nhau giữa việc sử dụng quyền lực hợp pháp hay bất hợp pháp." Thuật ngữ Machiavellian (cũng có nghĩa là xảo quyệt) ra đời, đề cập đến một người thiếu đạo đức dùng các cách mánh khóe để cố thủ quyền hành. Học thuyết của ông đã được các lãnh đạo học tập và thực hành kể cả những lãnh đạo chuyên chế toàn trị như Benito Mussolini và Adolf Hitler, những người đã biện hộ cho việc hành động tàn bạo của mình là cho mục đích an toàn quốc gia. Tuy nhiên, nhiều học giả đã nghi vấn quan điểm này của chủ thuyết Machiavelli, cho rằng "Machiavelli không sáng tạo ra chủ nghĩa Machiavelli", và chưa từng là một 'Machiavellian' quỷ quyệt như ông đã bị gán cho." Thay vào đó, Machiavelli xem trạng thái ổn định của quốc gia là mục tiêu quan trọng hàng đầu, và tranh luận rằng theo truyền thống phẩm chất tốt được xem là khát vọng mang tính đạo đức, như tính độ lượng, đã không được ưa thích đối với người lãnh đạo và có thể dẫn đến việc mất quyền lực chính trị. === John Stuart Mill === Vào thế kỷ 19, John Stuart Mill là người đi tiên phong trong việc dùng khái niệm tự do trong chính trị. Ông ta đã thấy được rằng dân chủ sẽ là sự phát triển chính trị chủ chốt trong thời đại ông ta và, trong cuốn Bàn về tự do (On Liberty) của mình, ông đã cổ vũ cho việc bảo vệ tốt hơn các quyền cá nhân và chống lại ảnh hưởng của nhà nước và sự cầm quyền của đa số. Ông ta cho rằng tự do là quyền quan trọng nhất của loài người. Một nhà bình luận cho rằng cuốn Bàn về tự do như là một lời bảo vệ hùng hồn và mạnh mẽ nhất cho chủ nghĩa tự do chúng ta có." Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do ngôn luận, và tuyên bố rằng chúng ta không thể chắc chắn rằng ý kiến mà chúng ta cố gắng ngắt lời là ý kiến sai trái, và nếu chúng ta chắc chắn như vậy thì việc ngắt lời vẫn là điều sai quấy." === Karl Marx === Karl Marx là một trong số những nhà tư tưởng chính trị có ảnh hưởng trong lịch sử. Học thuyết của ông chỉ trích chủ nghĩa tư bản và ông biện luận rằng trong tương lai sẽ có "sự suy tàn không tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản vì các nguyên nhân kinh tế, và được thay thế bởi chủ nghĩa xã hội." Ông ta định nghĩa lịch sử có liên quan đến đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản, hay giai cấp sở hữu tư liệu sản xuất, và giai cấp vô sản, hay giai cấp lao động. Cuộc đấu tranh được sự công nghiệp hóa tăng cường. Nhiều phong trào chính trị sau đó dựa trên tư tưởng của Marx, cho ra các phiên bản rất khác nhau của chủ nghĩa cộng sản; bao gồm Chủ nghĩa Marx-Lenin, Chủ nghĩa Mao, và Chủ nghĩa Marx tự do. Có thể nói rằng người đã người thể hiện học thuyết chủ nghĩa Marx có ảnh hưởng nhất là Lenin, người sáng lập ra Liên Xô. Ông đã sáng tạo học thuyết cách mạng dựa trên nền tảng tư tưởng Marx. Tuy nhiên, những nhà tư tưởng theo Chủ nghĩa Marx tự do đã thách thức sự diễn dịch chủ nghĩa Marx của Lenin; như trường hợp Cornelius Castoriadis, đã miêu tả nhà nước Liên Xô là một hình thức của "chủ nghĩa tư bản quan liêu" hơn là nhà nước cộng sản thực sự. == Các khái niệm == Quyền lực: Max Weber định nghĩa là khả năng áp đặt ý muốn của người này lên một người khác, trong khi Hannah Arendt nói rằng "quyền lực chính trị tương xứng với khả năng của con người không chỉ hành động mà còn hành động trong sự phối hợp" Chính trị theo nghĩa chung nhất là quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Là một khái niệm của thượng tầng kiến trúc." == Tham khảo ==
blackberry os.txt
BlackBerry OS là hệ điều hành di động độc quyền do BlackBerry Ltd phát triển cho dòng sản phẩm cầm tay BlackBerry. BlackBerry OS cung cấp khả năng đa nhiệm, và được thiết kế cho các thiết bị sử dụng phương pháp nhập đặc biệt, thường là trackball hoặc màn hình cảm ứng. Hệ điều hành được hỗ trợ MIDP 1.0 và WAP 1.2. Các phiên bản trước đó cho phép đồng bộ hóa không dây thư điện tử và lịch với Microsoft Exchange Server, và với cả Lotus Domino. Phiên bản OS 4 hiện tại hỗ trợ MIDP 2.0, có khả năng kích hoạt không dây hoàn toàn và đồng bộ thư điện tử, lịch, công việc, ghi chú và danh bạ với Exchange, và khả năng hỗ trợ Novell GroupWise, Lotus Notes khi kết hợp với BlackBerry Enterprise Server. Các bản cập nhật cho BlackBerry OS có thể có nếu nhà mạng cung cấp thông qua dịch vụ BlackBerry OTASL. Các bên thứ ba có thể phát triển ứng dụng dùng các API tư hữu của BlackBerry, nhưng bất kỳ ứng dụng nào sử dụng các chức năng giới hạn đều cần phải chứng thực trước khi cài đặt. Việc chứng thực này xác nhận tác giả của chương trình, nhưng không bảo đảm tính an toàn và bảo mật của ứng dụng. == Lịch sử phiên bản == === BlackBerry 9720 === BlackBerry 9720 chạy phiên bản BlackBerry OS 7.1 với các cập nhật về giao diện người dùng, như màn hình khóa mới cho phép trượt để mở khóa hoặc truy cập vào máy ảnh và các ứng dụng Bộ chuyển đổi Ứng dụng, Nhạc, Ảnh, Video và Điện thoại được làm mới. == Phát hành == Mặc dù BlackBerry Ltd. phát triển và phát hành các phiên bản cập nhật của hệ điều hành tới hỗ trợ mỗi thiết bị, các nhà mạng mới là bên quyết định xem liệu có phát hành một phiên bản nào đó tới người dùng của mình không. Với dòng BlackBerry 10, xem Các thiết bị BlackBerry 10. == Các phông chữ của BlackBerry == Sau đây là danh sách các phông chữ được đi kèm trong một số phiên bản của BlackBerry (lưu ý: một số không được đi kèm các phiên bản trước): BBAlphaSans và BBAlphaSerif được dựa trên phần mềm tự do DejaVu fonts. == BlackBerry Tablet OS == Ngày 27 tháng 9 năm 2010, BlackBerry Ltd. công bố một nền tảng dựa trên QNX khác, BlackBerry Tablet OS, chạy trên máy tính bảng mới ra mắt lúc đó BlackBerry PlayBook. == Xem thêm == BlackBerry Limited BlackBerry 10 == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức BlackBerry Developer Website BlackBerry OS website
siêu cường năng lượng.txt
Một siêu cường năng lượng là một quốc gia cung cấp lượng lớn nguồn tài nguyên năng lượng (dầu mỏ, khí thiên nhiên, than đá, urani,...) cho các quốc gia khác, và từ đó gây ảnh hưởng đến thị trường tài chính thế giới để đạt được lợi ích về chính trị hoặc kinh tế. Cụm từ này ban đầu dùng để mô tả Nga, sau đó được dùng với các nước Ả Rập Saudi, Canada, Venezuela, và Iran. Hoa Kỳ được gọi là một siêu cường năng lượng tiềm năng nhờ vào sản lượng khí đá phiến. Một quốc gia ở trạng thái siêu cường năng lượng khi có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến giá cả trên thị trường toàn cầu bằng cách giữ nguồn cung. Không nên nhầm lẫn giữa trạng thái của "siêu cường năng lượng" và "siêu cường". == Các siêu cường năng lượng == Trữ lượng khí tự nhiên khổng lồ của Nga đã giúp họ đạt danh hiệu siêu cường năng lượng. Tuy nhiên, trạng thái này đã được đặt dấu hỏi bởi một số người. Như Vladimir Milov đến từ Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế cho biết: Khái niệm "siêu cường năng lượng" là một giả thuyết không có tính thực tế. Có lẽ nguy hiểm nhất, nó sẽ không thừa nhận sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Nga và các khách hàng. Do các cuộc xung đột và đình công thường xuyên diễn ra, sự gián đoạn cung cấp năng lượng cho châu Âu là hiện hữu. Như một tất yếu, các công ty khí đốt châu Âu sẽ loại bỏ một số điều kiện trong hợp đồng với Nga. Điều này sẽ cản trở khả năng vay mượn của Gazprom. Nỗ lực của Putin trong việc sử dụng năng lượng để gia tăng ảnh hưởng của Nga có thể gây phản tác dụng trong tương lai gần. Theo Manik Talwani, một nhà địa vật lý tại Đại học Rice, có 2 quốc gia có tiềm lực lớn để đạt danh hiệu siêu cường năng lượng là Venezuela và Canada. Với nguồn dự trữ khổng lồ của họ (1.2 tỉ thùng dầu của Venezuela và 1.75 tỉ thùng cát dầu) của Canada, Talwani tin rằng họ có đủ nguồn tài nguyên để trở thành siêu cường năng lượng trong vài thập kỷ tới do sản lượng dầu ở các nơi khác đang giảm dần. Tuy nhiên, Talwani lưu ý rằng, cả hai đều cần đến 100 tỉ đô la Mỹ hoặc hơn để nâng mức sản xuất của họ lên ngang hàng với siêu cường năng lượng thực sự. == Các mối đe dọa đến các siêu cường năng lượng == Năm 2007, al-Qaeda công bố một chiến lược mới trong cuộc chiến chống Mỹ. Thay vì nhắm đến lợi ích của Mỹ để làm tê liệt nó, al-Qaeda đặt việc chấm dứt cung cấp tài nguyên cho Mỹ làm ưu tiên hàng đầu. Theo báo cáo sau một nỗ lực bất thành vào năm 2006 tại Ả Rập Saudi: "Một sự gián đoạn nguồn cung lớn sẽ đẩy giá năng lượng tăng cao. Sau khi cuộc tấn công Abqaiq thành công, một số chuyên gia cho rằng giá dầu có thể phá vỡ mọi kỉ lục. Cú sốc lớn này có thể đưa nền kinh doanh vận tải và các nền kinh tế khác của Mỹ rơi vào bế tắc." == Xem thêm == An ninh năng lượng Dầu khí - Chính trị Nguồn tài nguyên năng lượng của thế giới Thể loại:Năng lượng theo quốc gia Thể loại:Xung đột tài nguyên thiên nhiên Thể loại:Sản lượng tài nguyên cao điểm == Ghi chú ==
hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân trung quốc.txt
Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc (chữ Hán giản thể: 中国人民政治协商会议, Zhōngguó Rénmín Zhèngzhì Xiéshāng Huìyì / Trung Quốc Nhân dân Chính trị Hiệp thương Hội nghị, viết tắt: 全国政协 / Quánguó Zhèngxié, Toàn quốc Chính hiệp) là một cơ quan cố vấn chính trị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cơ cấu tổ chức của Toàn quốc Chính hiệp bao gồm các đảng viên Đảng Cộng sản và các thành viên ngoài Cộng sản, tổ chức này thảo luận các nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Các thành viên được Đảng Cộng sản Trung Quốc lựa chọn. Cơ quan này tổ chức đại hội hàng năm vào cùng thời điểm với Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc. Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc còn được gọi là Tân Chính hiệp để phân biệt với Cựu Chính hiệp được triệu tập vào tháng 1 năm 1946 (Cựu Chính hiệp có sự tham gia của 5 tổ chức là Trung Hoa Quốc dân Đảng, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đồng minh dân chủ Trung Quốc, Đảng Thanh niên Trung Quốc và Xã hội Hiền đạt, thành lập ngày 10-1-1946, đến tháng 11 cùng năm do Quốc Dân Đảng hủy bỏ quyết nghị của Hội nghị Hiệp thương, một mình tuyên bố triệu tập Quốc dân đại hội khiến Cựu Chính hiệp giải thể). == Lịch sử == Ngày 30-1-1949, Bắc Kinh được giải phóng, và tại đây vào ngày 15-6 Uỷ ban trù bị của Hiệp thương Chính trị mới đã họp, có 134 đại biểu của 23 tổ chức tham gia. Ngày 17-9, hội nghị toàn thể lần thứ hai Hội nghị trù bị Hiệp thương Chính trị quyết định đặt tên Hội nghị Hiệp thương Chính trị mới là "Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc". Là cơ quan quan trọng hợp tác đa đảng phái và hiệp thương chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là hình thức quan trọng tuyên dương dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống chính trị Trung Quốc nên ngay từ khi thành lập, đoàn kết và dân chủ đã là hai chủ đề lớn của Chính hiệp. Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc tổ chức đại hội hàng năm vào cùng thời điểm với Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Ngày 21-9-1949, Hội nghị toàn thể lần thứ nhất Hiệp thương Chính trị mới họp tại Bắc Kinh, tuyên bố Hội nghị Hiệp thương Chính trị mới chính thức thành lập, tham gia có 662 đại biểu thay mặt cho 46 đơn vị. Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chung của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Điều lệ tổ chức của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc và Luật tổ chức Chính phủ nhân dân trung ương nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Hội nghị còn thông qua quốc kỳ, quốc ca, thủ đô... và bầu ra các Ủy viên Uỷ ban toàn quốc khoá một của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc. Trong điều kiện chưa thể tiến hành bầu cử phổ thông để bầu ra Quốc hội, nên Ủy ban toàn quốc khoá một đã chấp hành nhiệm vụ nặng nề như là Quốc hội toàn quốc. Tháng 9-1954, Hội nghị lần thứ nhất Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (tức Quốc hội) họp tại Bắc Kinh, công bố "Hiến pháp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa". Đến đây, Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Hoa lần thứ nhất với tư cách là tổ chức thi hành chức trách của Quốc hội, đã kết thúc tốt đẹp, nhưng nó vẫn tiếp tục phát huy tác dụng hợp tác đa đảng và hiệp thương chính trị trong đời sống chính trị quốc gia và đời sống xã hội cũng như trong hoạt động hữu hảo đối ngoại và có cống hiến trọng đại trong việc thúc đẩy cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp xây dựng Tổ quốc. Đến nay, Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc đã có tới khoá 11. Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định: chế độ hợp tác đa đảng và hiệp thương chính trị do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo sẽ tồn tại và phát triển lâu dài. Chính hiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc gồm Đảng Cộng sản Trung Quốc và 8 đảng phái dân chủ, nhân sĩ dân chủ không đảng phái, các đoàn thể nhân dân, đại biểu các dân tộc ít người và các giới, đại biểu đồng bào Đài Loan, đồng bào Hồng Kông, Ma Cao và kiều bào trở về nước cũng như một số nhân sĩ được mời đặc biệt, có cơ sở xã hội rộng rãi. Chính hiệp có Uỷ ban toàn quốc và Ủy ban cấp dưới, nhiệm kỳ 5 năm. Mỗi Ủy ban thiết lập chức vụ Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Bí thư trưởng. Hội nghị Chính hiệp mỗi năm họp một lần. Uỷ ban Thường vụ gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Bí thư trưởng và một số Ủy viên Thường vụ. Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Bí thư trưởng là Chủ tịch đoàn Hội nghị, xử lý các công việc quan trọng hàng ngày của Ủy ban Thường vụ. Uỷ viên Chính hiệp cơ sở do Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng cấp hiệp thương với các đảng phái dân chủ, Hội Công thương toàn quốc, các đoàn thể nhân dân.. cử ra, không qua bầu cử. Uỷ viên Chính hiệp từ cấp huyện trở lên do Chính hiệp cấp đó cử ra, nhưng cũng có thể dùng phương thức do Đảng Cộng sản cùng cấp và các đảng phái dân chủ, hội công thương toàn quốc, các đoàn thể nhân dân hiệp thương giới thiệu. Trong trường hợp đặc biệt, Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể đề bạt Ủy viên Chính hiệp toàn quốc, như Hồ Cẩm Đào với cương vị Tổng Bí thư đã phê chuẩn Mao Tân Vũ (cháu nội Mao Trạch Đông) làm Ủy viên Chính hiệp toàn quốc vào tháng 3-2008. Chính hiệp cấp cơ sở cũng chỉ có các Ủy viên, không có hội viên. Hiện nay, số Ủy ban Chính hiệp địa phương trong cả nước đã lên tới hơn 3.000 cơ sở với hơn 500.000 ủy viên. Ủy ban toàn quốc và Ủy ban địa phương Chính hiệp có những chức năng chính là hiệp thương chính trị, giám sát dân chủ, tham chính nghị chính. Hiệp thương chính trị là hiệp thương về phương châm chính sách quốc gia và địa phương cũng như những vấn đề quan trọng trong nền chính trị, kinh tế, văn hóa và đời sống xã hội trước khi quyết định, hiệp thương về những vấn đề quan trọng trong quá trình thực thi những quyết sách nói trên. Ủy ban toàn quốc và các Ủy ban địa phương của Chính hiệp có thể căn cứ đề nghị của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ nhân dân, các đảng phái dân chủ, các đoàn thể nhân dân triệu tập hội nghị có người phụ trách các đảng phái và đoàn thể, đại biểu các dân tộc và các giới tham gia, tiến hành hiệp thương, cũng có thể đề nghị các cơ quan kể trên đưa ra hiệp thương những vấn đề quan trọng hữu quan. Giám sát dân chủ là thông qua đề nghị và phê bình giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật nhà nước, việc quán triệt các phương châm chính sách quan trọng, việc làm của các cơ quan nhà nước cũng như cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước. Tham chính nghị chính là triển khai điều tra nghiên cứu, phản ánh ý dân, hiệp thương và thảo luận những vấn đề quan trọng trong nền chính trị, kinh tế và đời sống xã hội cũng như những vấn đề được quần chúng nhân dân quan tâm rộng rãi. Thông qua báo cáo điều tra nghiên cứu, đề án, đề nghị cũng như các hình thức khác, nêu ra ý kiến và kiến nghị cho Đảng Cộng sản Trung Quốc và các cơ quan Nhà nước. Về cơ cấu tổ chức Chính hiệp Trung Quốc có Ủy ban toàn quốc Chính hiệp có nhiệm kỳ là 5 năm, hiện nay là nhiệm kỳ lần thứ 11. Ủy ban toàn quốc gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Tổng Thư ký. Ủy ban toàn quốc thành lập Ban Thường vụ điều hành công việc. Ban Thường vụ gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, Ủy viên Ủy ban toàn quốc. Chủ tịch chủ trì công việc của Ban Thường vụ; Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký hỗ trợ công tác với Chủ tịch. Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký tổ chức Hội nghị Chủ tịch để giải quyết những việc quan trọng của Ban Thường vụ. Ủy ban toàn quốc căn cứ vào nhu cầu của công việc mà thiết lập nhiều Ủy ban chuyên môn. Mỗi Ủy ban chuyên môn có một Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và Ủy viên tiến hành các hoạt động thường xuyên dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ và Hội nghị Chủ tịch. == Cơ Cấu Tổ chức: == Ủy ban đề xuất đề án. Ủy ban kinh tế. Ủy ban dân số, tài nguyên và môi trường. Ủy ban giáo dục, khoa học, văn hóa, y tế và thể dục. Ủy ban xã hội và pháp luật. Ủy ban dân tộc và tôn giáo. Ủy ban Hồng Kông, Macau, Đài Loan và kiều bào. Ủy ban đối ngoại. Ủy ban tư liệu. Ủy ban toàn quốc thiết lập Văn phòng dưới sự điều hành của Tổng thư ký; dưới Tổng Thư ký có các Phó tổng thư ký hỗ trợ công việc. == Danh sách người đứng đầu Chính hiệp các khóa: == == Phó Chủ tịch Chính Hiệp == Là chức danh cấp phó nhà nước thường do các quan chức Đảng, nhà nước, các tổ chức xã hội, nhân sĩ trí thức, lãnh tụ tôn giáo kiêm nhiệm Khóa 12 (đương nhiệm): Đỗ Thanh Lâm, Ban Thiền Lạt Ma thứ 11, La Phú Hòa, Trương Khánh Lê, Trần Nguyên, Vương Gia Thụy, Đổng Kiến Hoa Khóa 1 (1949 - 1954): Chu Ân Lai, Quách Mạt Nhược,... Khóa 2 (1954 - 1959): Lý Duy Hán (Phó chủ tịch thường trực), Tống Khánh Linh, Đổng Tất Vũ, Bành Chân, Quách Mạt Nhược, Lý Tứ Quang, Ban Thiền Lạt ma thứ 10... Khóa 3 (1959 - 1964): Khang Sinh, Lý Duy Hán, Bành Chân, Quách Mạt Nhược, Lý Tứ Quang, Ban Thiền lạt ma thứ 10 Khóa 4 (1964 - 1978): Bành Chân, Diệp Kiếm Anh, Tống Khánh Linh, Vi Quốc Thanh, Lý Tứ Quang, Ban Thiền lạt ma thứ 10, Phó Tác Ý, Lý Đức Toàn,... Khóa 5 (1978 - 1983): Ô Lan Phu, Vi Quốc Thanh, Triệu Tử Dương, Tống Khánh Linh, Quách Mạt Nhược, Lý Phương, Trương Trọng, Chu Kiến Nhân, Vinh Nghị Nhân, Lục Định Nhất, Hà Trưởng Công, Dương Tú Kỳ, Khang Khắc Thanh, Sa Thiên Lý, Đổng Kỳ Vũ, Ban thiền lạt ma thứ 10,... Khóa 6 (1983 - 1988): Diệp Tuyển Bình, Vương Triệu Quốc, Ban Thiền lạt ma thứ 10, Dương Thành Vũ, Chu Kiến Nhân, Vương Quang Anh, Đặng Triệu Dương, Ba Kim, Mã Văn Thụy (bổ sung),... Khóa 7 (1988 - 1993): Vương Nhiệm Trọng, Khang Khắc Thanh, Ban thiền lạt ma thứ 10, Vương Quanh Anh, Đặng Triệu Dương, Ba Kim, Mã Văn Thụy, Tư mã ý,... bổ sung: Đinh Quang Căn, Diệp Tuyển Bình,... Khóa 8 (1993 - 1998): Diệp Tuyển Bình, Ban Thiền lạt ma thứ 11, Vương Triệu Quốc, Đặng Triệu Dương, Ba Kim, Đinh Quang Căn, Chu Quang Á,... Khóa 9 (1998 - 2003): Diệp Tuyển Bình,Ban thiền lạt ma thứ 11, Vương Triệu Quốc, Ba Kim, Nhiệm Kiến Tân, Trần Hiệu Sinh, Đinh Quang Căn, Trần ârm Hoa, Vương Văn Nguyên, Hồ Khải Lập,... Khóa 10 (2003 - 2008): Lưu Diên Đông, Ba Kim, Đinh Quang Căn, Vương Tiến, Ban Thiền lạt Ma thứ 11, Đổng Kiến Hoa,... Khóa 11 (2008 - 2013): Vương Cương, Đỗ Thanh Lâm, Ban Thiền lạt ma thứ 11, Tôn Gia Chính, Lý Kim Hoa, Đặng Phác Phương, Đổng Kiến Hoa, La Phú Hòa, Trần Tông Hưng,... == Những tổ chức tham gia Chính hiệp: == Đảng Cộng sản Trung Quốc Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc Đồng minh dân chủ Trung Quốc Hội kiến quốc dân chủ Trung Quốc Hội xúc tiến dân chủ Trung Quốc Đảng dân chủ nông công Trung Quốc Đảng trí công Trung Quốc Học xã Cửu Tam Đồng minh tự trị dân chủ Đài Loan == Xem thêm == Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Đảng Cộng sản Trung Quốc Quốc hội Trung Quốc Mao Trạch Đông Tống Khánh Linh Chu Ân Lai Đặng Dĩnh Siêu Hồ Cẩm Đào Bạc Hy Lai Tập Cận Bình Tư tưởng Mao Trạch Đông Lý luận Đặng Tiểu Bình == Tham khảo == Official News website Official Newspaper website Full coverage of the 2013 NPC & CPPCC sessions - China.org.cn NPC & CPPCC 2013 sessions - The Third Angle - gbtimes.com Thành Long dự Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân
hệ ngôn ngữ ấn-âu.txt
Hệ ngôn ngữ Ấn-Âu là một hệ ngôn ngữ lớn, gồm khoảng 445 ngôn ngữ còn tồn tại (theo ước tính của Ethnologue), với hơn hai phần ba (313) thuộc về nhánh Ấn-Iran. Những ngôn ngữ Ấn-Âu có số người bản ngữ lớn nhất là tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh, tiếng Hindustan (tiếng Hindi và tiếng Urdu), tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Bengal, tiếng Nga, tiếng Ba Tư và tiếng Punjab, tất cả đều có trên 100 triệu người nói. Ngày nay, 46% dân số thế giới nói ít nhất một ngôn ngữ Ấn-Âu như tiếng mẹ đẻ, nhiều nhất trong tất cả hệ ngôn ngữ trên thế giới. Hệ ngôn ngữ Ấn-Âu hiện diện tại châu Âu, Tây, Trung, và Nam Á. Nó cũng từng tồn tại ở Anatolia (trung và đông Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), lòng chảo Tarim (Tây Bắc Trung Quốc ngày nay) và đa phần Trung Á, cho tới khi bị tuyệt chủng bởi các cuộc di cư của người Turk (người Đột Quyết) và các cuộc xâm lược của Mông Cổ. Với những văn liệu có từ Thời đại đồ đồng (ở các ngôn ngữ Anatolia và tiếng Hy Lạp Mycenae), hệ ngôn ngữ Ấn-Âu có tầm quan trọng đáng kể trong lịch sử ngôn ngữ học với lịch sử ghi chép dài thứ nhì, sau hệ ngôn ngữ Phi-Á. Tất cả ngôn ngữ Ấn-Âu là hậu duệ của một ngôn ngữ tiền sử, được gọi là ngôn ngữ Tiền Ấn-Âu, từng được nói vào khoảng thời gian nào đó trong thời kỳ đồ đá mới. Dù không có ghi nhận về văn liệu, một số yếu tố về văn hóa và tôn giáo của người Tiền Ấn-Âu có thể được phục dựng từ văn hóa của người nói ngôn ngữ Ấn-Âu cổ đại và hiện đại. == Lịch sử ngôn ngữ học Ấn-Âu == Vào thể kỷ 16, những người châu Âu đi đến tiểu lục địa Ấn Độ bắt đầu nhận ra những nét tương tự giữa các ngôn ngữ Ấn-Arya, Iran, và châu Âu. Năm 1583, nhà truyền giáo Dòng Tên người Anh Thomas Stephens tại Goa đã viết một lá thư cho người thân (không được công bố cho tới tận thế kỷ 20), mà trong đó ông đề cập đến sự tương đồng giữa ngôn ngữ Ấn Độ (đặc biệt là tiếng Phạn) với tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh. Filippo Sassetti, một nhà buôn sinh ra tại Florence năm 1540, cũng nhận thấy điều tương tự khi đi đến Ấn Độ. Năm 1585, ông ghi nhận một số sự tương đồng từ vựng giữa tiếng Phạn và tiếng Ý (gồm devaḥ/dio "chúa", sarpaḥ/serpe "rắn", sapta/sette "bảy", aṣṭa/otto "tám", và nava/nove "chín"). Tuy nhiên, quan sát của Stephens và Sassetti đã không dẫn đến nghiên cứu chuyên sâu hơn nào. Năm 1647, học giả và nhà ngôn ngữ học người Hà Lan Marcus Zuerius van Boxhorn chú ý đến nét tương tự ở một số ngôn ngữ châu Á và châu Âu nhất định, và cho rằng chúng xuất phát một ngôn ngữ chung gọi là Scythia. Các ngôn ngữ trong giả thuyết của ông gồm tiếng Hà Lan, tiếng Albania, tiếng Hy Lạp, tiếng Latinh, tiếng Ba Tư, và tiếng Đức, sau đó cho thêm vào các ngôn ngữ Slav, các ngôn ngữ Celt, và các ngôn ngữ gốc Balt. Ý kiến của Van Boxhorn không phổ biến và cũng không khuyến khích nghiên cứu sâu hơn. Thomas Young lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ Indo-European năm 1813, dựa trên phân bố địa lý của hệ này: từ Tây Âu tới Bắc Ấn Độ. Từ đồng nghĩa Indo-Germanic (Ấn-German, Idg. hay IdG.), xuất hiện năm 1810 trong tiếng Pháp (indo-germanique) trong nghiên cứu của Conrad Malte-Brun; thuật ngữ này hiện bị xem là lỗi thời và ít phổ biến hơn Indo-European, dù trong tiếng Đức indogermanisch vẫn là thuật ngữ chuẩn. == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói Danh sách ngôn ngữ theo tổng số người sử dụng == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
ramillies.txt
Ramillieslà một đô thị ở tỉnh Walloon Brabant. Tại thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2006 Ramillies có dân số 5.756 người. Tổng diện tích là 48,68 km² với mật độ dân số là 118 người trên mỗi km². == Xem thêm == Trận Ramillies == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang mạng của đô thị
5 tháng 6.txt
Ngày 5 tháng 6 là ngày thứ 156 (157 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 209 ngày trong năm. == Sự kiện == 604 – Thánh Đức Thái tử của Nhật Bản chế định Hiến pháp 17 điều, một văn kiện Phật giáo và Nho giáo tập trung vào luân lý và đạo đức. 1305 – Raymond Bertrand de Got trở thành Giáo hoàng Clêmentê V, kế vị Giáo hoàng Biển Đức XI qua đời một năm trước đó. 1837 – Houston được hợp nhất thành một đô thị của nước Cộng hòa Texas. 1862 - Hòa ước Nhâm Tuất được ký kết giữa Pháp và triều đình Đại Nam, cắt nhường 3 tỉnh Đông Nam Kỳ cho Pháp. 1911 - Nguyễn Tất Thành xuất dương dưới tên gọi là Văn Ba, lên chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche Tréville với nghề phụ bếp. Sau này được biết đến ở Việt Nam với tên gọi Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. 1947 – Phát biểu tại Đại học Harvard, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ George Marshall kêu gọi viện trợ kinh tế cho châu Âu, một lục địa đang kiệt quệ sau chiến tranh. 1951 - Quốc trưởng Bảo Đại thành lập Sở Du lịch Quốc gia Việt Nam. 1967 – Chiến tranh Sáu ngày bắt đầu khi Israel bất ngờ tấn công các sân bay của Ai Cập. 1975 – Kênh đào Suez mở cửa lần đầu sau Chiến tranh Sáu ngày. == Sinh == 1889 - Nguyễn Văn Tố, chính khách, chí sĩ người Việt Nam (m. 1947) 1951 - Lê Dung, ca sĩ nhạc cổ điển người Việt Nam 1984 - Cécilia Cara, nữ diễn viên Pháp 1987 - Lara Bingle, người mẫu Áo 1995 - Troye Sivan, diễn viên, ca sĩ người Úc == Mất == 1316 - Vua Louis X của Pháp (s. 1289) 1383 - Hoàng tử Dmitry Konstantinovich của Nga (s. 1324) == Ngày lễ và kỷ niệm == Ngày Môi trường Thế giới (World Environment Day) == Tham khảo ==