filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
gấu ngựa.txt
Gấu ngựa (Ursus thibetanus hay Ursus tibetanus), còn được biết đến với tên gọi Gấu đen Tây Tạng, Gấu đen Himalaya, hay gấu đen châu Á, là loài gấu kích thước trung bình, vuốt sắc, màu đen với hình chữ "V" đặc trưng màu trắng hay kem trên ngực. Loài gấu này có quan hệ họ hàng rất gần với gấu đen Mỹ, người ta tin rằng chúng có chung nguồn gốc tổ tiên ở châu Âu. == Phân bố == Gấu ngựa có khu vực sinh sống trải rộng từ đông sang tây châu Á. Chúng có thể tìm thấy trong các cánh rừng của những khu vực đồi núi ở Đông Á và Nam Á, bao gồm Afghanistan, Pakistan, bắc Ấn Độ, Nepal, Sikkim, Bhutan, Myanma, đông bắc Trung Quốc, Đài Loan hay Nhật Bản. Chúng có thể sống trong những khu vực lên tới cao độ 3.000 m (9.900 ft), cũng như ở những vùng đất thấp. Ở một vài khu vực, chúng chia sẻ nơi sinh sống với gấu nâu (Ursus arctos) là loài to hơn và khỏe hơn. Tuy nhiên, gấu ngựa có ưu thế trước kẻ cạnh tranh: khả năng leo trèo giỏi của nó giúp nó lấy được hoa quả và các loại hạt trên cây. Nó cũng chia sẻ nơi sinh sống với gấu trúc Trung Quốc, ví dụ ở khu bảo tồn Ngọa Long, Trung Quốc, là nơi chúng sống rất ít. Nòi gấu ngựa tìm thấy ở Đài Loan là nòi gấu đen Đài Loan. == Đặc điểm == Gấu ngựa dài khoảng 1,30 - 1,90 m. Con đực cân nặng khoảng 110 – 150 kg và con cái là khoảng 65 – 90 kg. Tuổi thọ khoảng 25 năm. Gấu ngựa là loài ăn tạp, chúng ăn các loại thức ăn như hoa quả, quả mọng, cỏ, hạt, quả hạch, động vật thân mềm, mật ong và thịt (cá, chim, động vật gặm nhấm cũng như các động vật có vú nhỏ hay xác súc vật).Tuy nhiên cũng như những cá thể khác trong họ nhà Gấu ngày nay, hạt quả và cỏ đã không còn khả thi trong khẩu phần thức ăn của chúng bởi các tác hại của tật ăn tạp. Gấu ngựa là loài ăn thịt nhiều hơn anh em của nó là gấu đen Mỹ; dù vậy thịt chỉ là một phần nhỏ trong khẩu phần ăn. Gấu ngựa còn được biết đến như là những con thú rất hung hăng đối với con người (hơn nhiều so với gấu đen Mỹ); có rất nhiều ghi chép về các cuộc tấn công gây thương vong của gấu ngựa. Điều này có lẽ chủ yếu là do gấu ngựa sống gần với con người và tấn công khi nó bị giật mình. Gấu ngựa được đưa vào danh sách trong sách đỏ của IUCN (Hiệp hội bảo tồn thế giới) như là loài dễ bị thương tổn trong số các động vật đang bị đe dọa. Chúng bị đe dọa chủ yếu là do phá rừng và mất chỗ sinh sống. Gấu ngựa cũng bị giết bởi nông dân vì mối đe dọa của chúng đối với gia súc, gia cầm và chúng cũng không được yêu thích do tập tính hay bóc vỏ cây của chúng làm giảm giá trị của cây trồng. Một vấn đề khác mà gấu ngựa phải đối mặt là chúng thông thường hay bị săn để lấy mật, là chất được sử dụng trong y học Trung Hoa. Do Trung Quốc cấm việc săn bắt gấu ngựa từ những năm 1980, mật gấu được cung cấp tới tay người tiêu dùng bởi các trại nuôi gấu đặc biệt, ở đó gấu bị nuôi nhốt trong chuồng và mật gấu bị rút theo định kỳ bằng cách hút mật theo các ống kim tiêm sau khi gấu bị gây mê. Những người ủng hộ cho việc này cho rằng nếu không có các trang trại như vậy thì do nhu cầu về mật gấu là cao nên việc săn bắn trộm sẽ gia tăng và càng làm cho loài gấu vốn đã gặp nguy hiểm lại càng thêm nguy hiểm trong họa diệt chủng. Những người phê phán thì cho rằng việc này là độc ác và vô nhân đạo, hay mật gấu tổng hợp (axít ursodeoxycholic), cũng có hiệu quả y học như mật gấu thật và trên thực tế là rẻ tiền hơn nhiều. == Săn bắt == Ngày nay, gấu ngựa chỉ được săn bắt hợp pháp ở Nhật Bản và Nga. Ở Nga, 75–100 con được săn bắt hàng năm, tuy nhiên con số không chính thức là 500 mỗi năm. Môn thể thao săn gấu ngựa của người Nga được hợp pháp hóa năm 2004. Theo một bài viết năm 2008 đăng trên The Sun, Câu lạc bộ săn bắt slavơ của Nga cung cấp dịch vụ chuyến đi săn 4 ngày đảm bảo bắt được gấu với chi phí £16.000. Bài báo chỉ ra rằng khách hàng nhận được giấy phép săn gấu ngựa bao gồm những người từ Anh, Hoa Kỳ, Đức, Tây Ban Nha, Ba Lan và Phần Lan. == Mật gấu == Mật gấu còn gọi là hùng đởm, tên khoa học: Fel ursi, thuộc họ gấu (Ursidae). Thành phần hóa học: Mật gấu có muối kim loại và các acid cholic, cholesterol, sắc tố mật như bilirubin. Tác dụng: Tính vị, qui kinh, vị đắng. Tính hàn, vào 3 kinh: Tâm, can và vị; thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, đinh nhĩ, ác thương, chữa đau răng, viêm mắt, hoàng đản, lỵ, hồi hộp, chân tay co quắp, đau dạ dày, giúp tiêu hóa, sỏi mật, gãy xương. Đặc biệt mật gấu ngựa có tác dụng chữa bệnh xơ gan, do có chứa axit ursodeoxycholic (UDC) (20% trọng lượng), khác với mật gấu chó gần như không có UDC mà chỉ có axit chenodeoxycholic (CDC). Theo các kết quả nghiên cứu gần đây nhất, mật gấu ngựa còn có tác dụng trong việc điều trị bệnh ung thư, do tác dụng vào các tế bào ung thư làm cho các loại thuốc chữa ung thư dễ ngấm vào khối u hơn. == Các nòi == Ursus thibetanus formosanus - ở Đài Loan Ursus thibetanus gedrosianus - ở Iran và Pakistan Urus thibetanus japonica - ở Nhật Bản Ursus thibetanus laniger - ở Afghanistan và nam Trung Quốc Ursus thibetanus mupinensis - ở tây nam Trung Quốc Ursus thibetanus thibetanus - ở Himalaya và Đông Dương Ursus thibetanus ussuricu - ở đông bắc Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phân biệt mật gấu thật và mật gấu giả trên báo Tiền Phong Cách nhận biết mật gấu thật trên vnexpress.net Hỏi đáp về mật gấu trên trang www.hatay.gov.vn Ursus thibetanus Animals Asia Foundation San Francisco Chronicle article: Freeing China's Caged Bile Bears
bóng đá trên thế giới.txt
Phần lớn các quốc gia ở châu Âu có 2 giải đấu bóng đá chính: 1 giải có danh tiếng hơn, thường tổ chức theo thể thức vòng tròn 2 lượt tính điểm, dành riêng cho các câu lạc bộ xuất sắc nhất, và 1 giải đấu cúp cho tất cả các câu lạc bộ trong nước. Ở Châu Mỹ La tinh, các giải đấu thường tổ chức theo nhiều giai đoạn hoặc chia thành 2 giải Apertura (giải mở) và Clausura (giải đóng). Để có cái nhìn tổng quát về bóng đá nữ, xem "Bóng đá nữ trên thế giới". == Châu Phi (CAF) == † Zanzibar là thành viên của CAF nhưng không phải là thành viên của FIFA. == Châu Á (AFC) == == Châu Âu (UEFA) == == Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Caribe (CONCACAF) == == Nam Mỹ (CONMEBOL) == == Châu Đại Dương (OFC) == † Niue và Palau là thành viên không chính thức của OFC. == NF-Board == == Xem thêm == Bóng đá nữ trên thế giới Danh sách các đội tuyển bóng đá quốc gia == Tham khảo ==
trạng thái ôxy hóa.txt
Trạng thái ôxy hóa hay số ôxy hóa (hai khái niệm không hẳn đồng nhất) là số chỉ mức ôxy hóa của nguyên tử của nguyên tố hóa học trong một hợp chất hóa học. Con số này chính là điện tích theo lý thuyết của nguyên tử của nguyên tố đó nếu giả sử toàn bộ số liên kết giữa các nguyên tử trong phân tử hợp chất đều là liên kết ion. Trạng thái ôxy hóa thường là số nguyên, có thể dương, âm hoặc bằng 0. Trong một số trường hợp trạng thái ôxy hóa là phân số, ví dụ trường hợp sắt có trạng thái ôxy hóa bằng 8/3 trong hợp chất ôxít sắt từ (Fe3O4). Trạng thái ôxy hóa cao nhất là +8 (gặp ở các nguyên tố rutheni, xenon, osmi và iridi trong các hợp chất tetraôxít của chúng) trong khi trạng thái ôxy hóa thấp nhất là -4 (gặp ở một số nguyên tố trong nhóm cacbon). Trong phản ứng ôxy hóa khử diễn ra sự thay đổi trạng thái ôxy hóa của nguyên tử. Trạng thái ôxy hóa giảm thì gọi là sự khử, trong khi trạng thái ôxy hóa tăng thì gọi là sự ôxy hóa. Quy tắc gán trạng thái ôxy hóa cho nguyên tử của nguyên tố như sau: Trạng thái ôxy hóa của nguyên tố trong đơn chất thì bằng 0. Tổng trạng thái ôxy hóa của các nguyên tố trong một phân tử thì bằng 0. Trong các ion đơn nguyên tử, trạng thái ôxy hóa của nguyên tố bằng điện tích của ion đó. Trong các ion đa nguyên tử, tổng trạng thái ôxy hóa của các nguyên tố bằng điện tích của ion. Trong hầu hết các hợp chất thì trạng thái ôxy hóa của hidrô là bằng +1, trừ trường hợp hiđrua kim loại (ví dụ natri hyđrua NaH, canxi hyđrua CaH2). Trạng thái ôxy hóa của ôxy là bằng -2, trừ trường hợp ôxy florua OF2 và perôxít (ví dụ hiđrô perôxít H2O2). == Quy tắc chung xác định trạng thái ôxy hóa mà không dùng cấu trúc Lewis == Năm 1990, IUPAC chọn dùng các quy tắc sau nhằm xác định trạng thái ôxy hóa của nguyên tử của nguyên tố trong các hợp chất hóa học đơn giản mà không sử dụng công thức cấu tạo Lewis: Bất kỳ đơn chất nào - dù có cấu tạo gồm hai nguyên tử, ví dụ khí clo Cl2 - đều có trạng thái ôxy hóa bằng 0. Trong các ion đơn nguyên tử, trạng thái ôxy hóa bằng bới điện tích của ion. Ví dụ, anion sunfit S2− có trạng thái ôxy hóa bằng -2; cation liti Li+ có trạng thái ôxy hóa bằng +1. Tổng trạng thái ôxy hóa của tất cả các nguyên tử trong phân tử hoặc ion đa nguyên tử thì bằng với điện tích của phân tử (bằng 0) hay ion đa nguyên tử đó. Do đó, có thể tính ra trạng thái ôxy hóa của một nguyên tố dựa vào trạng thái ôxy hóa của các nguyên tố khác. Tổng trạng thái ôxy hóa của tất cả các nguyên tử trong một phân tử thì bằng 0. Ví dụ, xét phân tử hợp chất cacbon điôxít CO2. Trong phân tử này, ôxy có trạng thái ôxy hóa bằng -2. Từ đó có thể tính ra trạng thái ôxy hóa của cacbon bằng +4 từ phương trình trạng thái ôxy hóa (C) + 2(-2) = 0. Tổng trạng thái ôxy hóa của các nguyên tử của các nguyên tố trong một ion đa nguyên tử bằng tổng điện tích của ion đó. Ví dụ, xét anion S2− (trong công thức SO32-). Theo quy tắc thì tổng trạng thái ôxy hóa ở đây phải bằng -2, từ đó suy ra trạng thái ôxy hóa của lưu huỳnh ở đây là +4 thông qua phương trình trạng thái ôxy hóa (S) + 3(−2) = −2. Một số nguyên tố hầu như luôn luôn chỉ có một trạng thái ôxy hóa nhất định (do có khả năng mất electron hoặc khả năng hút electron rất cao). Do vậy, khi kết hợp điều này với các quy tắc trên thì có thể xác định được trạng thái ôxy hóa của nguyên tử của nguyên tố còn lại (ví dụ xác định trạng thái ôxy hóa của kim loại chuyển tiếp) trong hợp chất hóa học đơn giản. Dưới đây là một số quy tắc khác có thể dùng lúc ban đầu nhằm xác định trạng thái ôxy hóa của nguyên tử của một số nguyên tố trong hợp chất đơn giản: Flo có trạng thái ôxy hóa bằng -1 do nó có khả năng hút electron cao nhất. Các nguyên tố nhóm halogen (trừ flo) có trạng thái ôxy hóa bằng -1 trừ các trường hợp khi liên kết với ôxy, với nitơ hoặc với các halogen khác có khả năng hút electron mạnh hơn. Ví dụ, trong hợp chất brôm clorua (BrCl) thì trạng thái ôxy hóa của clo là -1, nhưng trạng thái ôxy hóa của clo trong hợp chất clo florua (ClF) lại là +1 (do khả năng hút electron của flo mạnh hơn clo). Hiđrô có trạng thái ôxy hóa là +1 trừ trường hợp khi liên kết với các nguyên tử của nguyên tố có khả năng mất electron mạnh hơn như natri, nhôm và bo, ví dụ NaH, NaBH4 và LiAlH4 (hiđrô khi này có trạng thái ôxy hóa bằng -1). Ôxy trong hợp chất nhìn chung có trạng thái ôxy hóa bằng -2 mặc dù cũng có các ngoại lệ như OF2 và perôxít như H2O2. Kim loại kiềm có trạng thái ôxy hóa bằng +1 trong hầu như tất cả các hợp chất có mặt chúng, trừ trường hợp hợp chất alkalide (hợp chất mà trong đó kim loại kiềm đóng vai trò là anion). Kim loại kiềm thổ có trạng thái ôxy hóa bằng +2 trong hầu như tất cả các hợp chất có mặt chúng. == Quy tắc chung xác định trạng thái ôxy hóa dùng cấu trúc Lewis == Có hai cách thông dụng để tính toán trạng thái ôxy hóa của nguyên tử của một nguyên tố. Cách thứ nhất là cách tính đại số như trên; cách này áp dụng đối với các hợp chất hóa học đơn giản không cần cấu trúc Lewis. Cách thứ hai được dùng đối với phân tử có cấu trúc Lewis. Nên nhớ rằng trạng thái ôxy hóa của nguyên tử của nguyên tố không đại diện cho điện tích "thực" của nguyên tử đó: điều này đặc biệt đúng đối với các trạng thái ôxy hóa cao khi lượng năng lượng ion hóa cần thiết để tạo ra một ion dương lớn hơn rất nhiều so với năng lượng có trong phản ứng hoá học. Dù việc gán electron cho các nguyên tử nhằm tính toán trạng thái ôxy hóa thực chất chỉ mang tính hình thức nhưng việc làm này lại có ích nếu muốn hiểu được nhiều phản ứng hóa học. === Cấu trúc Lewis === Nếu một phân tử có cấu trúc Lewis thì có thể gán trạng thái ôxy hóa bằng cách tính mức chênh lệch giữa số electron hóa trị của nguyên tử trung hòa về điện với số electron "thuộc" về nguyên tử đó xét trong cấu trúc Lewis. Nhằm mục đích tính toán trạng thái ôxy hóa, số electron liên kết giữa các nguyên tử của các nguyên tố khác nhau được xếp thuộc về nguyên tử có khả năng hút electron mạnh hơn; trong khi đó, số electron liên kết giữa các nguyên tử của cùng một nguyên tố thì được phân đều cho các nguyên tử; electron nằm trong cặp lẻ thì chỉ thuộc về nguyên tử có cặp lẻ đó. Ví dụ, xét trường hợp axit axêtic: Nguyên tử cacbon trong nhóm metyl có 6 electron hóa trị thuộc về nó do cacbon có khả năng hút electron mạnh hơn hiđrô. Tiếp theo, nguyên tử cacbon này có thêm 1 electron nữa từ liên kết với nguyên tử cacbon khác (C-C) do số electron liên kết giữa các nguyên tử cùng nguyên tố thì được phân chia đều. Như vậy tổng cộng nguyên tử cacbon này có 7 electron. Một nguyên tử cacbon trung hòa về điện thì chỉ có 4 electron hóa trị, suy ra mức chênh lệch là 4 - 7 = -3. Do vậy, xét theo cấu trúc Lewis thì trạng thái ôxy hóa của nguyên tử cacbon này là -3. Điều đó có nghĩa là nếu giả sử tất cả các liên kết giữa các nguyên tử trong hợp chất này là liên kết ion (thực tế không phải vậy) thì nguyên tử này được ký hiệu C3-. Áp dụng tương tự quy tắc trên cho nguyên tử cacbon trong gốc axit thì thu được trạng thái ôxy hóa của nó là +3, áp dụng cho nguyên tử ôxy thì thu được trạng thái ôxy hóa là -2. == Tham khảo ==
cú pháp học.txt
Cú pháp học nghiên cứu những quy tắc kết hợp từ, nhóm từ thành các kết cấu biểu đạt nghĩa trong các câu ở ngôn ngữ tự nhiên. Có hai hệ thống cú pháp chính là VO (động từ-tân ngữ) và OV (tân ngữ-động từ). Trong các hệ thống này lại có các tiểu hệ thống liên quan đến vị trí của chủ ngữ. Tiếng Việt thuộc loại SVO. Thuật ngữ "cú pháp" còn được sử dụng trong logic học và các ngành ngôn ngữ nhân tạo như ngôn ngữ máy tính. == Đọc thêm == Brown, Keith; Jim Miller (eds.) (1996). Concise Encyclopedia of Syntactic Theories. New York: Elsevier Science. ISBN 0-08-042711-1. Carnie, Andrew (2006). Syntax: A Generative Introduction. Oxford: Wiley-Blackwell. ISBN 1405133848. Freidin, Robert; Howard Lasnik (eds.) (2006). Syntax. Critical Concepts in Linguistics. New York: Routledge. ISBN 0-415-24672-5. Graffi, Giorgio (2001). 200 Years of Syntax. A Critical Survey. Studies in the History of the Language Sciences 98. Amsterdam: Benjamins. ISBN 90-272-4587-8. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == The syntax of natural language (Beatrice Santorini & Anthony Kroch, University of Pennsylvania) Isac, Daniela; Charles Reiss (2008). I-language: An Introduction to Linguistics as Cognitive Science. Oxford University Press. ISBN 978-0199534203. Various syntactic constructs used in computer programming languages The journal Syntax What is Syntax? at WiseGeek
bàn thắng (bóng đá).txt
Trong bóng đá, một bàn thắng được công nhận khi trái bóng vượt qua hết vạch vôi khung thành và không có phần nào của trái bóng còn ở trên vạch vôi, giữa hai cột dọc và bên dưới xà ngang, mà trước đó không có lỗi vi phạm luật nào từ phía đội ghi bàn, thủ môn không thể bắt được bóng. Có nhiều cách để ghi một bàn thắng: + Sút xa + Tình huống phạt == Đội thắng trận == Đội bóng ghi được nhiều bàn thắng hơn là đội thắng trận. Nếu hai đội ghi được số bàn thắng bằng nhau hay không có bàn thắng nào được ghi, trận đấu có kết quả hòa. == Luật khi đá loại trực tiếp == Trong các vòng đấu loại trực tiếp yêu cầu phân định thắng thua cho một trận đấu hay cho một cặp đấu có kết quả hòa sau hai trận lượt đi và lượt về, chỉ những cách sau được cho phép sử dụng để phân định thắng thua: Luật bàn thắng trên sân khách. Các hiệp phụ Các quả đá luân lưu từ chấm phạt đền. == Một số tranh cãi == Tuy nhiên, đôi khi trong sân có một số tình huống diễn ra quá nhanh, bóng đã lăn qua vạch vôi nhưng trọng tài không công nhận vì không thấy rõ dẫn đến ảnh hưởng kết quả trận đấu. Điển hình là trận đấu giữa Đức và Anh trong khuôn khổ vòng 1/16 World Cup 2010, khi Lampard đã sút bóng qua vạch vôi nhưng không được trọng tài công nhận. Công nghệ Tuy nhiên, hiện nay bóng đá đã có nhiều thay đổi nhất là công nghệ goal line hỗ trợ trọng tài trong việc công nhận một bàn thắng. Goal-line (hay còn gọi là Goal Decision System) là phương pháp sử dụng công nghệ máy tính để xác định bóng đã hoàn toàn vượt qua đường biên ngang hay chưa. Mục tiêu của công nghệ này không phải để thay thế vai trò của các trọng tài mà chỉ có tác dụng hỗ trợ họ. Hệ thống hoạt động thông qua 6 hoặc 7 máy quay cho mỗi cầu gôn thường được gắn ở mặt dưới của mái các sân vận động cho phép theo dõi bóng ở các góc độ khác nhau. Các video từ những máy ảnh phối hợp theo hình tam giác và tạo thành một quỹ đạo 3 chiều của quả bóng. Các máy quay được sử dụng có độ nét và tốc độ khung hình mỗi giây rất cao nhằm bắt được hình ảnh trái bóng. Ngay cả khi một số góc máy bị chặn do cầu thủ đứng khuất tầm quay, phần mềm máy tính vẫn có thể tính toán quỹ đạo bóng hoặc vị trí chính xác thông qua các máy quay còn lại. Kết quả sau khi được hệ thống máy tính xử lý sẽ gửi trực tiếp hoặc gián tiếp tới trọng tài thông qua một thiết bị đeo. Hệ thống Hawk-Eye được coi là không thể nhầm lẫn với độ chính xác trong ngưỡng 5 mm. Tuy nhiên, vẫn có những tranh cãi trong việc sử dụng công nghệ Goal-line. Ngoài lý do chi phí tốn kém, sự can thiệp sâu vào máy móc vô tình làm mất đi yếu tố con người dù các nhà tổ chức luôn khẳng định hệ thống chỉ giúp đỡ các trọng tài trong việc đưa ra quyết định. Ngoài ra, việc phải quay chậm lại (replay) cũng sẽ khiến các trận đấu không liền mạch. Cựu chủ tịch FIFA, ông Sepp Blatter cũng từng cho rằng "tranh cãi về những tình huống, sai lầm cũng là một phần thú vị của bóng đá". == Xem thêm == Luật bóng đá Bàn tay của chúa Bàn thắng thế kỷ == Chú thích == == Liên kết ngoài == Toàn văn Luật bóng đá Việt Nam Luật bóng đá (FIFA) Liên đoàn Bóng đá Việt Nam Văn bản pháp quy về bóng đá tại Việt Nam Văn bản sửa đổi, bổ sung luật thi đấu bóng đá năm 2005 Văn bản sửa đổi, bổ sung luật thi đấu bóng đá năm 2006 Quy định về kỷ luật của FIFA (FDC) Luật bóng đá quốc tế (FIFA)
làng chếu.txt
Làng Chếu là một xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Việt Nam. Xã có diện tích 53,94 km², dân số năm 1999 là 1.913 người, mật độ dân số đạt 35 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
quan họ.txt
Dân ca Quan họ là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam. Nó được hình thành và phát triển ở vùng văn hóa Kinh Bắc xưa, đặc biệt là khu vực ranh giới hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay với dòng sông Cầu chảy qua được gọi là "dòng sông quan họ". Kinh Bắc là một tỉnh cũ bao gồm cả 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang (và một số nơi của Lạng Sơn, Hưng Yên, Hà Nội ngày nay). Quan họ cũng được hình thành ở vùng văn hóa Kinh Bắc này. Do có sự chia tách về địa lý sau đó mà quan họ còn được gắn tên cục bộ địa phương như quan họ Kinh Bắc, Bắc Giang hay Bắc Ninh. Ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ tư của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009), Dân ca quan họ đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại sau nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên và cùng đợt với ca trù. == Nguồn gốc == Ý nghĩa từ "Quan họ" thường được tách thành hai từ rồi lý giải nghĩa đen về mặt từ nguyên của "quan" và của "họ". Điều này dẫn đến những kiến giải về Quan họ xuất phát từ "âm nhạc cung đình", hay gắn với sự tích một ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của liền anh liền chị ở đó và đã dừng bước để thưởng thức ("họ"). Tuy nhiên cách lý giải này đã bỏ qua những thành tố của không gian sinh hoạt văn hóa quan họ như hình thức sinh hoạt (nghi thức các phường kết họ khiến anh hai, chị hai suốt đời chỉ là bạn, không thể kết thành duyên vợ chồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đối nhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian. Một số quan điểm lại cho rằng Quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo dân mang yếu tố phồn thực chứ không phải Quan họ có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình, hoặc có quan điểm nhận định diễn tiến của hình thức sinh hoạt văn hóa "chơi Quan họ" bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo dân gian qua cung đình rồi trở lại với dân gian. Nhận định khác dựa trên phân tích ngữ nghĩa từ ngữ trong các làn điệu và không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là "quan hệ" của một nhóm những người yêu quan họ ở vùng Kinh Bắc. Tuy vậy vẫn chưa có quan điểm nào được đa số các học giả chấp nhận. Quan họ ngày nay không chỉ là lối hát giao duyên (hát đối) giữa "liền anh" (bên nam, người nam giới hát quan họ) và "liền chị" (bên nữ, người phụ nữ hát quan họ) mà còn là hình thức trao đổi tình cảm giữa liền anh, liền chị với khán giả. Một trong những hình thức biểu diễn hát quan họ mới là kiểu hát đối đáp giữa liền anh và liền chị. Kịch bản có thể diễn ra theo nội dung các câu hát đã được chuẩn bị từ trước hoặc tùy theo khả năng ứng biến của hai bên hát. === Quan họ truyền thống === Quan họ truyền thống chỉ tồn tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ Kinh Bắc Quan họ truyền thống là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc, với những quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền anh, liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ. Điều này giải thích lý do người dân Kinh Bắc thích thú "chơi Quan họ", không phải là "hát Quan họ" Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê. Trong quan họ truyền thống, đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị được gọi là hát hội, hát canh; hát cả bọn, cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị được gọi là hát chúc, mừng, hát thờ. - "Chơi quan họ" truyền thống không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người thưởng thức (thưởng thức "cái tình" của bạn hát). Nhiều bài quan họ truyền thống vẫn được các liền anh, liền chị "chơi quan họ" ưa thích đến tận ngày nay như: Hừ La,La rằng, Tình tang, Bạn kim lan, Cái ả, Cây gạo. === Quan họ mới === Quan họ mới còn được gọi là "hát Quan họ", là hình thức biểu diễn (hát) quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch, nhà hàng,... Thực tế, quan họ mới được trình diễn vào bất kỳ ngày nào trong năm. Các băng đĩa CD, DVD về quan họ ngày nay đều là hình thức quan họ biểu diễn trên sân khấu, tức quan họ mới. Quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau. Quan họ mới không còn nằm ở không gian làng xã mà đã vươn ra ở nhiều nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên thế giới. Quan họ mới có hình thức biểu diễn phong phú hơn quan họ truyền thống, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa... Quan họ mới cải biên các bài bản truyền thống theo hai cách: không có ý thức và có ý thức Dù ít hay nhiều nhưng hình thức hát quan họ có nhạc đệm được coi là cách cải biên không có ý thức. Đa số các bài quan họ mới thuộc dạng cải biên này. Cải biên có ý thức là những bài bản đã cải biên cả nhạc và lời của bài bản quan họ truyền thống. Loại cải biên này không nhiều, ví dụ bài "Người ở đừng về" là cải biên từ làn điệu "Chuông vàng gác cửa tam quan" (Xuân Tứ cải biên). Hát quan họ với lời mới được nhiều người yêu thích tới mức tưởng nhầm là quan họ truyền thống như bài "Sông Cầu nước chảy lơ thơ" do Mai Khanh soạn lời mới từ làn điệu truyền thống "Nhất quế nhị lan". Quan họ mới được ưa thích hơn quan họ truyền thống không phải do không gian và những sinh hoạt theo lề lối cổ của quan họ không còn nữa mà một phần do hoạt động "hát quan họ" ngày nay thường được gắn với chính quyền nhiệm vụ tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá quan họ trên diện rộng. == Các làng Quan họ == Năm 2016, có 67 làng quan họ được đưa vào danh sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa. Tỉnh Bắc Giang có 23 làng quan họ, tỉnh Bắc Ninh có 44 làng quan họ. Các làng quan họ Kinh Bắc tồn tại ở các huyện: Yên Phong, Từ Sơn, Tiên Du, thành phố Bắc Ninh (còn gọi là quan họ bờ nam sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Ninh) và các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa (còn gọi là quan họ bờ bắc sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Giang). Danh sách 67 làng Quan họ tồn tại và phân bố như sau: Thành phố Bắc Ninh có 31 làng: Cổ Mễ, Phúc Sơn, Thanh Sơn (phường Vũ Ninh); Viêm Xá (Diềm), Hữu Chấp (Chắp), Đẩu Hàn (Đô Hàn), Xuân Ái (Sói), Xuân Đồng (Đồng Mật), Xuân Viên (Vườn Xuân) (xã Hoà Long); Thượng Đồng (Lẫm), Đông Xá (Đặng), Thọ Ninh (Thụ), (xã Vạn An). Khúc Toại (Chọi), Trà Xuyên (Trà) (xã Khúc Xuyên); Châm Khê (Bùi), Điều Thôn (Đào Xá), Dương ổ (Đống Cao) (xã Phong Khê); Xuân Ổ (Ó), Khả Lễ (Sẻ), Hoà Đình (Nhồi), Bồ Sơn (Bò) (xã Võ Cường); Đỗ Xá (Đọ) (phường Ninh Xá); Niềm Xá (Niềm), Yên Mẫn (Yên Giữa), Thị Chung (Yên Chợ), Y Na (Nưa) (phường Kinh Bắc); Vệ An (Vệ) (phường Vệ An); Thị Cầu (phường Thị Cầu); Ném Đoài, Ném Sơn (Hồ Sơn), Ném Tiền (Niệm Tiền) (xã Khắc Niệm) Huyện Việt Yên (Bắc Giang) có 19 làng: Trung Đồng, Vân Cốc (xã Vân Trung); Thổ Hà (xã Vân Hà); Mật Ninh, Đình Cả, Khả Lý Thượng (xã Quảng Minh); Núi Hiểu, Quang Biểu, Tam Tầng (xã Quang Châu); Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh (xã Ninh Sơn); Đông Long, Sen Hồ, Yên Ninh (Nếnh); Thần Chúc, Tiên Lát Thượng, Tiên Lát Hạ, (xã Tiên Sơn).. Tiên Du (Bắc Ninh) có 9 làng: Duệ Ðông, Lũng Giang, Lũng Sơn (thị trấn Lim); Ngang Nội, Vân Khám (xã Hiên Vân); Bái Uyên (Bưởi), Hoài Thị (Bựu Sim) Hoài Trung (Bựu Giữa) (xã Liên Bão); Hạ Giang, Đình Cả(Nội Duệ) Huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) có 2 làng: Xuân Thành và Ngọ Xá (xã Châu Minh). Huyện Yên Dũng (Bắc Giang) có 2 làng: Yên Hà và Yên Thịnh (xã Yên Lư). Huyện Yên Phong (Bắc Ninh) có 2 làng: Đông Mơi (Đông Mai) (xã Trung Nghĩa) và Làng Đông Yên (Đông Khang) (xã Đông Phong). Thị xã Từ Sơn (Bắc Ninh) có 2 làng: Tam Sơn (xã Tam Sơn) và Tiêu Sơn (xã Tương Giang). Trong phạm vi UNESCO công nhận ban đầu chỉ gồm có 49 làng Quan họ sau: Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ, Hữu Chấp, Viêm Xá, Ðẩu Hàn, Xuân Ái, Xuân Ðồng, Xuân Viên, Đình Cả, Thụ Ninh, Ðặng Xá, Khúc Toại, Trà Xuyên, Ông Mơi, Ðông Yên, Châm Khê, Ðào Xá, Dương Ổ, Cổ Mễ, Phúc Sơn, Y Na, Thị Cầu, Thanh Sơn, Niềm Xá, Yên Mẫn, Yên Thị Trung, Vệ An, Ỗ Xá, Xuân Ổ, Hòa Đình, Khả Lễ, Bồ Sơn, Duệ Ðông, Lũng Giang, Lũng Sơn, Ngang Nội, Hoài Thị, Hoài Trung, Vân Khám, Bái Uyên, Ném Ðoài, Đình Cả, Ném Tiền, Tiêu, Tam Sơn, Tam Tảo. == Làn điệu == Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng. Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm. Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá. Kho băng ghi âm hàng nghìn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh. Một số làn điệu quan họ cổ: La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, cái ả, Gió mát trăng thanh, Tứ quý. == Trang phục == Trang phục quan họ bao gồm trang phục của các liền anh và trang phục của các liền chị. Trong các lễ hội quan họ có cả những cuộc thi trang phục quan họ. Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài. Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn màu đen, cũng có người áo dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh...gọi là áo kép. Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu, hoặc lụa truội màu mỡ gà. Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Thời trước, đàn ông còn nhiều người búi tó nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu. Sau này phần nhiều cắt tóc, rẽ đường ngôi nên chuyển sang dùng loại khăn xếp bán sẵn ở các cửa hàng cho tiện. Cùng với quần, áo, khăn xếp, dép,… các liền anh thường có thêm nón chóp với các dạng chóp lá thường hoặc chóp dứa, có quai lụa màu mỡ gà. Ngoài ra cũng thường thấy các liền anh dùng ô đen. Các phụ kiện khác là khăn tay, lược, những "xa xỉ phẩm" theo quan niệm thời xưa. Khăn tay bằng lụa hoặc bằng vải trắng rộng, gấp nếp và gài trong vành khăn, thắt lưng hoặc trong túi trong. Trang phục liền chị thường được gọi là "áo mớ ba mớ bảy", nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy). Tuy nhiên trong thực tế, các liền chị thường mặc áo mớ ba. Về cơ bản trang phục bao gồm các thành phần: trong cùng là một chiếc yếm có màu rực rỡ thường làm bằng lụa truội nhuộm. Yếm thường có hai loại là yếm cổ xẻ (dùng cho trung niên) và yếm cổ viền (dùng cho thanh nữ). Bên ngoài yếm là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà. Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối màu cũng tương tự như ở bộ trang phục nam nhưng màu sắc tươi hơn. Áo dài năm thân của nữ, có cài khuy, khác với kiểu tứ thân thắt hai vạt trước. Chất liệu để may áo đẹp nhất thời trước là the, lụa. Áo dài ngoài thường mang màu nền nã như màu nâu già, nâu non, màu đen, màu cánh gián trong khi áo dài trong thường nhuộm màu khác nhau: màu cánh sen, màu hoa hiên, màu thiên thanh, màu hồ thuỷ, màu vàng chanh, màu vàng cốm v.v. Áo cánh mặc trong có thể thay bằng vải phin trắng, lụa mỡ gà. Yếm thường nhuộm màu đỏ (xưa gọi là yếm thắm), vàng thư (hoa hiên), xanh da trời (thiên thanh), hồng nhạt (cánh sen), hồ thủy (xanh biển)... Giải yếm to buông ngoài lưng áo và giải yếm thắt vòng quanh eo rồi thắt múi phía trước cùng với bao và thắt lưng. Bao của các cô gái quan họ xưa thường sử dụng chất liệu sồi se, màu đen, có tua bện ở hai đầu bao, khổ rộng, có thể đựng túi tiền mỏng ở trong bao rồi thắt gọn ngang eo, luồn qua lưng áo dài, bó chặt lấy ba thân áo trước, thắt múi to để che phía trước bụng. Thắt lưng thường là loại bao nhỏ bằng chừng 1/3 bao, dùng để thắt chặt cạp váy vào eo. Cũng tương tự yếm, thắt lưng làm bằng lụa nhuộm các màu tươi sáng như màu hoa lựu, màu hoa đào, màu hoa hiên tươi, màu hồ thủy. Thắt lưng cũng buộc múi ra phía trước để cùng với múi bao, múi giải yếm tạo nên những múi hoa màu sắc phía trước người con gái. Liền chị mặc váy váy sồi, váy lụa, đôi khi có người mặc váy kép với váy trong bằng lụa, vải màu, lương, the, đoạn; váy ngoài bằng the, lụa. Váy màu đen. Người biết mặc váy khéo là không để váy hớt trước, không để váy quây tròn lấy người như mặc quần mà phải thu xếp sao cho phía trước rủ hình lưỡi chai xuống gần tới mu bàn chân, phía sau hơi hớt lên chớm tầm đôi con khoai phía gót chân. Liền chị mang dép cong làm bằng da trâu thuộc theo phương pháp thủ công; có một vòng tròn bằng da trên mặt dép để xỏ ngón chân thứ hai khiến khi đi lại, không rơi được dép. Mũi dép uốn cong và người thợ làm dép phải biết nện, thuộc cho mũi dép cứng, như một lá chắn nhỏ, che giấu đầu các ngón chân. Ngoài áo, quần, thắt lưng, dép, người liền chị còn chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao, và thắt lưng đeo dây xà tích. == Văn hoá quan họ == Văn hoá quan họ còn là cách ứng xử thật khéo léo, tế nhị, kín đáo và mang đầy ý nghĩa như các làn điệu mời nước, mời trầu thật chân tình, nồng thắm mỗi khi có khách đến chơi nhà đôi tay nâng chén rượu đào, đổ đi thì tiếc, uống vào thì say". Quan họ uống chén rượu mừng xuân, mừng hội, vui bầu, vui bạn… rồi ca xướng cho tan canh mãn võ, cho tàn đêm rạng ngày, rồi các làn điệu chia tay giã bạn đầy quyến luyến trong câu hát "Người ơi người ở đừng về"tàn canh, giã hội rồi mà quan họ vẫn còn ngậm ngùi tiếc nhớ "Người về tôi vẫn ngậm ngùi, để thương, để nhớ cho tôi thế này... Người về tôi chẳng dám nài, áo trong người mặc, áo ngoài người để làm tin"… Và để rồi kết thúc bằng những lời hứa hẹn tha thiết "Đến hẹn lại lên"… trong mùa hội tới. Quan họ là "ứng xử" của người dân Kinh Bắc, "mỗi khi khách đến chơi nhà", không chỉ "rót nước pha trà" mời khách, mà cùng với đó là những câu hát thắm đượm nghĩa tình: "Mỗi khi khách đến chơi nhà/ đốt than quạt nước pha trà mời người xơi/ trà này quý lắm người ơi/ Mỗi người một chén cho tôi vui lòng"... == Bảo tồn Quan họ == Quan họ là một loại hình dân ca phong phú về giai điệu. Quan họ được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác qua phương thức truyền khẩu. Phương thức này là một yếu tố giúp cho Quan họ trở thành một loại hình dân ca có số lượng lớn bài hát với giai điệu khác nhau. Tuy nhiên, cũng chính phương thức này đã làm cho các bài Quan họ lưu truyền trong dân gian bị biến đổi nhiều, thậm chí khác hẳn sẽ với ban đầu. Nhiều giai điệu cổ đã mất hẳn. Mặc dù sự thay đổi này cũng làm cho Quan họ phát triển, nhưng ở trong bối cảnh văn hóa Phương Tây đang xâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, vấn đề bảo tồn nguyên trạng Quan họ trong từng giai đoạn phát triển là việc làm cấp thiết. Từ những năm 70 của Thế kỷ XX, Sở Văn hóa Hà Bắc đã tiến hành sưu tầm Quan họ. Hàng nghìn bài Quan họ, bao gồm cả các dị bản đã được ghi âm tại các làng quan họ, với giọng hát của hàng trăm nghệ nhân. Sau khi sàng lọc và lựa chọn, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu Hồng Thao đã ký âm thành bản nhạc, có bổ sung thêm một số ký tự riêng đặc trưng cho giai điệu Quan họ. Khoảng 300 bài Quan họ hay nhất đã được Nhà xuất bản Âm nhạc in thành sách. Tuy nhiên, hàng nghìn bài Quan họ đã được ghi âm, do các cụ nghệ nhân (đã mất) hát, phải được bảo quản cực kỳ cẩn thận. Sở Văn hóa thể thao du lịch Bắc Ninh và Bắc Giang chịu trách nhiệm lưu giữ các cuốn băng này cần phải số hóa toàn bộ để có thể lưu giữ một cách dài lâu cho thế hệ mai sau, đó cũng là tài liệu văn hóa cần bảo tồn giúp các làn điệu quan họ sống mãi. Ngay sau khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới phi vật thể, tỉnh Bắc Giang đã xây dựng Chương trình hành động để bảo tồn Dân ca Quan họ. Trên cơ sở những cam kết với UNESCO, tỉnh Bắc Giang đã triển khai nhiều hoạt động tiêu biểu như: Triển khai việc tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu quảng bá những cái hay, cái đẹp của Dân ca Quan họ Bắc sông Cầu; tổ chức các cuộc hội thảo về bảo tồn và phát huy di sản Dân ca Quan họ tỉnh Bắc Giang; xuất bản các ấn phẩm, như: Các bài Hát đối Quan họ, 120 bài Hát đối Quan họ; Làng Quan họ Bắc sông Cầu (giới thiệu 18 làng quan họ Bắc sông Cầu trên quê hương Việt Yên); Các bài hát Quan họ phổ biến ở Bắc Giang. Đặc biệt, Bắc Giang còn chú trọng tập trung cho việc truyền dạy Dân ca Quan họ tại các làng xã. Thường xuyên tổ chức liên hoan tiếng hát Quan họ. Từ năm 2010 đến 2016, cùng với các địa phương, các cơ sở thường xuyên tổ chức các hoạt động văn nghệ quần chúng, trong đó thi hát dân ca quan họ là một nội dung chủ yếu. Trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Giang đã tổ chức hơn 60 lớp truyền dạy Dân ca Quan họ cho hơn 3.000 học viên là các hạt nhân văn nghệ tiêu biểu ở các huyện Việt Yên, Lục Ngạn, thành phố Bắc Giang, Lục Nam, Lục Ngạn,… Đến năm 2016, huyện Việt Yên đã tổ chức 14 cuộc Liên hoan tiếng hát Quan họ. Tỉnh Bắc Giang đã tổ chức Liên hoan tiếng hát Quan họ toàn tỉnh, lần thứ V. Ngày 17/3/2014, Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam đã ra quyết định thành lập Trung tâm Văn hóa Quan họ truyền thống khu vực Bắc Giang, tồn tại song song với Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ, hoạt động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh – Nam sông Cầu. Ngày 20 tháng 1 năm 2013, Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh tổ chức ra mắt. Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh nay là nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ sưu tầm, nghiêm cứu, gìn giữ và phát triển dân ca quan họ; nhiều hình thức giới thiệu dân ca quan họ mà đoàn thể nghiệm được quần chúng nhân dân đánh giá cao và học tập làm theo, góp phần thúc đẩy phong trào ca hát quan họ trong tỉnh cũng như lan tỏa rộng khắp cả nước. Đến nay từ 44 làng quan họ gốc, tỉnh Bắc Ninh đã nhân lên thành 329 làng Quan họ mới, trong đó có 41 nghệ nhân dân ca Quan họ. Đối với thôn Viêm Xá, xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh, nơi được coi là Thủy tổ dân ca Quan họ Bắc Ninh đã có nhiều giải pháp khôi phục, bảo tồn dân ca Quan họ, nhất là các bài Quan họ cổ. Về ẩm thực Quan họ, hai tỉnh Bắc Giang - Bắc Ninh đã khôi phục lại " Mâm đan, bát đàn" đó là những vật dụng của người quan họ khi mời thực khách dự ẩm thực quan họ. Xây dựng phòng trưng bày văn hóa quan họ, giới thiệu diu sản với bạn bè trong nước, quốc tế. Các phương tiện thông tin đại chúng tăng thời lượng tuyên truyền về dân ca quan họ, nhất là các lề lối Quan họ, văn hóa Quan họ. == Hình ảnh == == Chú thích == == Xem thêm == Hội Lim Hát ví Hát trống quân Hát đúm == Liên kết ngoài == Quan họ tại Từ điển bách khoa Việt Nam Ca Tru and Quan Ho traditional music, UNESCO. Khảo cứu sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du - Thêm một cách nhìn về từ "Quan họ", Tin tức – Nhân dân. Giới thiệu Dân ca quan họ Bắc Giang - Bắc Ninh Nguồn gốc dân ca Quan họ, Hữu Thịnh, Vietnamnet. Hãy để Quan họ sống như nguyên bản, Báo điện tử kinh tế nông thôn. Quan họ trên bách khoa toàn thư văn hóa Việt Nam
hiyō (lớp tàu sân bay).txt
Lớp tàu sân bay Hiyō (tiếng Nhật: 飛鷹型航空母艦; Hiyō-gata kōkūbokan) bao gồm hai tàu sân bay được Hải quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Cả hai chiếc trong lớp đều được đặt lườn như những tàu biển chở khách hạng sang trước khi được Hải quân Nhật trưng dụng và cải biến thành tàu sân bay vào năm 1940. == Những chiếc trong lớp == == Tham khảo == Tabular record of movement from combinedfleet.com == Liên kết ngoài == Tabular record of movement from combinedfleet.com Hình ảnh của Hải quân Hoa Kỳ về chiếc Junyo Trận Midway: Phỏng vấn các tù binh Nhật
baja verapaz (tỉnh).txt
Baja Verapaz là một tỉnh ở Guatemala. Tỉnh này có diện tích 3124 km², dân số năm là 215.915 người. Tỉnh lỵ là Salamá. Baja Verapaz có Mario Dary Biotope Preserve bảo vệ hệ sinh thái của khu vực, đặc biệt là loài chim quốc gia của Guatemala, Resplendent Quetzal. == Các đô thị == Cubulco Granados Purulhá Rabinal Salamá San Jerónimo San Miguel Chicaj Santa Cruz El Chol == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Interactive department map
hà giang.txt
Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam . Tỉnh Hà Giang phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Về phía bắc, Hà Giang giáp châu tự trị dân tộc Choang và Miêu Văn Sơn thuộc tỉnh Vân Nam và địa cấp thị Bách Sắc thuộc tỉnh Quảng Tây của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa . == Vị trí địa lý == Hà Giang nằm ở cực Bắc của Việt Nam, tỉnh này có nhiều ngọn núi đá cao và sông suối . Địa hình của tỉnh Hà Giang khá phức tạp, có thể chia làm 3 vùng. Vùng cao núi đá phía bắc nằm sát chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều. Nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm nhưng do địa hình cao nên khí hậu Hà Giang mang nhiều sắc thái ôn đới. Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông Chảy, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp.Vùng thấp trong tỉnh gồm vùng đồi núi, thung lũng sông Lô và Thành phố Hà Giang. Hà Giang có nhiều núi non hùng vĩ, có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2419 m) và ngọn Kiều Liêu Ti (2402m) là cao nhất. Về thực vật, Hà Giang có nhiều khu rừng nguyên sinh, nhiều gỗ quý, và có tới 1000 loại cây dược liệu. Động vật có hổ, công, trĩ, tê tê , và nhiều loại chim thú phong phú khác. == Dân số == Dân số tỉnh Hà Giang theo điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009 là 724.537 người. Trong đó, dân số thành thị là 84.338 người Các dân tộc: Mông (chiếm 32,0% tổng dân số toàn tỉnh), Tày (23,3 %), Dao (15,1 %), Việt (13,3 %), Nùng (9,9 %)... == Lịch sử == Đất Hà Giang xưa thuộc bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Về sau, Hà Giang nằm trong phạm vi thế lực của ba Tộc tướng xứ Thái. Trong giai đoạn Minh thuộc đầu thế kỷ 15, được gọi là huyện Bình Nguyên, đổi thành châu Bình Nguyên từ năm 1473, sau lại đổi tên thành châu Vị Xuyên. Vào cuối thế kỷ 17, tộc trưởng người Thái dâng đất cho Trung Hoa, đến năm 1728, Trung Hoa trả lại cho Đại Việt một phần đất từ vùng mỏ Tụ Long đến sông Lô. Năm 1895, ranh giới Hà Giang được ấn định lại như trên bản đồ ngày nay. Sau năm 1954, tỉnh Hà Giang có tỉnh lị là thị xã Hà Giang và 4 huyện: Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên. Ngày 15 tháng 12 năm 1962, chia huyện Đồng Văn thành 3 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc và Yên Minh; chia huyện Vị Xuyên thành 2 huyện: Vị Xuyên và Quản Bạ. Ngày 1 tháng 4 năm 1965, chia huyện Hoàng Su Phì thành 2 huyện: Hoàng Su Phì và Xín Mần. Trước năm 1975, Hà Giang có các huyện Đồng Văn, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì, Bắc Quang và Quản Bạ. Sau năm 1975, Hà Giang được hợp nhất với tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên. Ngày 18 tháng 11 năm 1983, 8 huyện được điều chỉnh lại diện tích và nhân khẩu. Cùng năm này, huyện Bắc Mê được thành lập trên cơ sở nhận 10 xã của huyện Vị Xuyên. Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tái lập tỉnh Hà Giang từ tỉnh Hà Tuyên. Khi tách ra, tỉnh Hà Giang có 10 đơn vị hành chính gồm thị xã Hà Giang (tỉnh lị) và 9 huyện: Bắc Mê, Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Quản Bạ, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh. Ngày 1 tháng 12 năm 2003, huyện Quang Bình được thành lập trên cơ sở tách 12 xã thuộc huyện Bắc Quang, 2 xã thuộc huyện Hoàng Su Phì và 1 xã thuộc huyện Xín Mần. Ngày 27 tháng 9 năm 2010, chuyển thị xã Hà Giang thành thành phố Hà Giang. == Hành chính == Tỉnh Hà Giang bao gồm 1 thành phố và 10 huyện và 195 đơn vị cấp xã bao gồm 5 phường, 13 thị trấn và 177 xã Đến năm 2012, tỉnh Hà Giang có 2.069 thôn, tổ dân phố. == Thắng cảnh và Di tích == Cao nguyên đá Đồng Văn nằm trải rộng trên bốn huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc được công nhận là Công viên địa chất Toàn cầu vào năm 2010. Đây là một trong những vùng đá vôi đặc biệt, chứa đựng những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển vỏ Trái Đất, những hiện tượng tự nhiên, cảnh quan đặc sắc về thẩm mỹ, tính đa dạng sinh học cao và truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân bản địa như các dân tộc Mông, Lô Lô, Pu Péo, Dao. Cao nguyên đá cũng là nơi có nhiều di tích danh thắng quốc gia đã được công nhận như: Di tích kiến trúc nhà Vương, Cột cờ Lũng Cú, phố cổ Đồng Văn, đèo Mã Pì Lèng, núi Đôi Quản Bạ. v.v..Đồng Văn còn nổi tiếng về các loại hoa quả: đào, mận, lê, táo, hồng... về dược liệu: tam thất, thục địa, hồi, quế... Hệ thống các hang động:Hang Phương Thiện: cách thành phố Hà Giang 7 km (4,38 dặm) xuôi về phía nam. Đây là nơi có nhiều phong cảnh, nhiều hang động tự nhiên.Động Tiên và Suối Tiên nằm cách thành phố Hà Giang 2 km (1.25 dặm). Nhân dân quanh vùng vẫn thường đến Động Tiên lấy nước và cầu may mắn vào lúc giao thừa.. Hang Chui: cách thành phố Hà Giang 7 km (4,38 dặm) về phía nam. Hang ăn sâu vào lòng núi khoảng 100 m (300 ft). Cửa hang hẹp phải lách người mới qua được. Vào trong lòng hang mở rộng, vòm hang cao vút, nhiều nhũ đá. Hang có nhiều dơi, có dòng suối dâng cao đổ xuống thành thác. Dinh thự họ Vương thuộc xã Sà Phìn là một công trình kiến trúc đẹp và độc đáo được xếp hạng cấp quốc gia năm 1993. Đường dẫn vào dinh được lát bằng những phiến đá lớn vuông vức, phẳng lỳ. Dinh được bao bọc bởi hai vòng tường thành xây bằng đá hộc.Dinh thự được xây dựng chủ yếu bằng đá xanh, gỗ pơ-mu, ngói đất nung già, các chi tiết được chạm trổ tỉ mỉ, công phu, đẹp mắt với các hình chủ đạo là rồng, phượng, dơi,… tượng trưng cho quyền quý và hưng thịnh. Dinh thự mang vẻ đẹp bề thế, uy nghi với kiến trúc hình chữ "vương", tọa lạc trên quả đồi hình mai rùa. Đây là một điển hình về sự giao thoa nghệ thuật kiến trúc của người Mông và người Hán ở khu vực biên giới Việt – Trung. Chợ tình Khau Vai họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch tại xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc. Bắt nguồn từ 1 câu chuyện tình, Khâu Vai trở thành nơi hò hẹn chung cho tất cả những người yêu nhau trong vùng. Chợ Khâu Vai ban đầu họp không có người mua, không có người bán. Khoảng mười năm trở lại đây, do nhu cầu cuộc sống nên ngày chợ họp ngoài việc hò hẹn, gặp gỡ, người ta mang cả hàng hóa đến bán ở chợ. Do vậy đến chợ Khâu Vai, người ta cũng có thể mua, bán, trao đổi những sản vật vùng cao. Tiểu khu Trọng Con Cách đường quốc lộ số 2, 20 km về phía đông nam, cách Thành phố Hà Giang khoảng 60 km về phía bắc ở tại Xã Bằng Hành, huyện Bắc Quang, Tỉnh Hà Giang (đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử năm 1996). Đây được xem là cái nôi của phong trào cách mạng ở Hà Giang . Chùa Sùng Khánh cách Thành phố Hà Giang 9 km về phía nam thuộc thôn Làng Nùng, xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên,được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử nghệ thuật năm 1993. Chùa được xây dựng thời Triệu Phong (1356), do thời gian, chùa bị hư hại, đến năm 1989 được nhân dân xây dựng trên nền chùa cũ. Ở đây còn lưu giữ hai di vật: Bia đá thời Trần (1367) ghi lại công lao của người sáng lập ra chùa và một quả Chuông cao 0.90 m, đường k ính 0.67 m, được đúc thời Hậu Lê (1705). Nghệ thuật khắc trên đá, trên Chuông đồng và kỹ thuật đúc Chuông là một bằng cứ nói lên bàn tay tinh xảo của các nghệ nhân vùng biên giới phía bắc này, và từ đó biết thêm lịch sử phát triển thời Trần và Lê tới tận vùng biên ải Hà Giang. Chùa Bình Lâm thuộc địa phận thôn Tông Mường xã Phú Linh, Thành phố Hà Giang. Chùa còn có tên gọi chữ Hán là "Bình Lâm Tự". Nhân dân ở đây còn lưu giữ một quả chuông thời Trần được đúc vào tháng 3 năm Ất Mùi (1295) chuông có chiều cao 103 cm, đường kính miệng 65 cm, quai được cấu tạo bởi hai hình rồng, trên chuông có khắc bài Minh bằng chữ Hán gồm 309 chữ năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 4 (1296). Trên quả chuông ta bắt gặp tiêu bản rồng nổi trên chất liệu đồng (thế kỷ 13). Cùng với quả chuông, tại chùa Bình Lâm còn phát hiện được một số di vật như Tháp đất nung, mái ngói có hoạ tiết hoa chanh....là những nét quen thuộc và tiêu biểu của văn hoá thời Trần. == Lễ hội == Hà Giang là nơi có nhiều sản phẩm văn hóa đặc sắc từ truyền thống lâu đời của hơn 20 dân tộc, một địa danh du lịch đáng nhớ bởi cảnh quan thiên nhiên và con người ở đây. Không giống với bất kỳ một nơi du lịch nào ở Việt Nam, đến Hà Giang, du khách có thể thấy được những sản phẩm kết tinh từ truyền thống văn hóa độc đáo của người miền núi, đó là các loại khăn thêu, túi vải, áo váy với các loại hoa văn rực rỡ. Du khách sẽ tham dự những phiên chợ vùng cao đầy thơ mộng. Lễ mừng nhà mới dân tộc Lô Lô: Lễ mừng nhà mới kéo dài khoảng 2 ngày 2 đêm ở ngôi nhà mới của người dân tộc Lô Lô. Cả bản kéo tới ăn mừng cho ngôi nhà mới. Thầy cúng đi hát, sau đó cùng ăn uống vui chơi, hòa tấu kèn sáo và hát giao duyên nam nữ. Lễ hội mùa xuân: Đây là lễ hội vui xuân của dân tộc H'mông và dân tộc Dao, thường được tổ chức vào những ngày sau Tết Nguyên Đán và kéo dài từ 3 đến 7 ngày. Lễ hội mang tính chất tổng hợp mừng công, cầu mưa, cầu con trai. Lễ hội có thi bắn nỏ, hát giao duyên, ném pa páo, uống rượu, mở tiệc đãi khách. Lễ hội vỗ mông của dân tộc Mông: Ngày mùng 5 Tết Nguyên Đán hằng năm, cái chàng trai, cô gái đổ về Mèo Vạc nhằm tìm cho mình vợ (chồng). Khi tham gia lễ hội, các chàng trai, cô gái tìm đối tượng mà họ cảm thấy phù hợp với mình rồi vỗ mông đối tượng và chờ "đối phương" đáp lại. Đáng buồn, tục lệ tảo hôn vẫn tiếp diễn trong lễ hội này. == Kinh tế == Hà giang là vùng miền núi nên dân số ít, mật độ dân số thấp, người Mông chiếm đa số, còn lại là các sắc dân gồm Thổ, La Chí, Tày, Dao, Mán, Nùng, Giáy và Lô Lô... Phần đông đều thờ cúng tổ tiên, thần linh; và đều có những sắc thái văn hóa đặc thù. Cũng vì địa thế toàn rừng núi nên kinh tế Hà Giang tương đối kém phát triển. Lâm sản chính là vài loại gỗ quý như lát hoa, lát da đồng; và các loại gỗ cứng như lim, sến, trai, táu, đinh. Củ nâu, vầu, nứa ở đâu cũng có. Nông sản gồm lúa, ngô, khoai và các loại đậu đỗ. Vùng chân núi Tây Côn Lĩnh trồng nhiều trà. Dân chúng cũng trồng cây ăn trái, mận và lê ở vùng Đồng Văn, Hoàng Su Phì rất nổi tiếng. Nghề nuôi ong lấy mật khá thịnh hành. Rừng Hà Giang có nhiều động vật hoang dã như phượng hoàng, trăn, rắn, công, trĩ... Khoáng sản có mỏ chì, đồng, thủy ngân và cát trộn vàng. Sông Năng và Bảo Lạc có các kỹ nghệ lọc vàng nhưng vẫn còn thô sơ, ngoài ra chỉ toàn những tiểu công nghệ sản xuất vật dụng hàng ngày. Nền thương mại Hà Giang chỉ giới hạn ở sự trao đổi lâm sản với miền xuôi và với Trung Quốc. Các vùng núi thấp như Vị Xuyên, Bắc Quang có kinh tế phát triển hơn vùng núi. Dựa vào sông Lô và lượng mưa lớn, các ngành nông nghiệp ở khu vực này rất phát triển, không kém gì vùng núi trung du. Nơi đây có vùng trồng cam sành nổi tiếng, những cánh đồng phì nhiêu... Rải rác từ Vĩnh Tuy lên đến Vị Xuyên là các nhà máy sản xuất trà, đặc sản của Hà Giang có trà Shan tuyết cổ thụ (xã Cao Bồ). Đặc điểm trà Shan Tuyết là sạch sẽ, không có thuốc trừ sâu và thuốc kích thích, các nhà máy sản xuất trà hiện nay còn khuyến khích nhân dân trong vùng trồng xen kẽ cây gừng giữa các luống trà. Trà Shan tuyết cổ thụ của Hà Giang thường được xuất khẩu sang thị trường Đài Loan, Nhật Bản và một số nước Tây Âu, chưa thịnh hành trong thị trường nội địa như trà Tân Cương - Thái Nguyên. == Các hình ảnh == == Chỉ dẫn == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ của tỉnh Hà Giang
samsung galaxy pocket neo.txt
Samsung Galaxy Pocket Neo là một điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android do Samsung sản xuất, được phát hành vào tháng 6 năm 2013, là thiết bị kế nhiệm của Samsung Galaxy Pocket Plus. Nó vẫn hướng đến phân khúc giá rẻ, với màn hình LCD 3-inch lớn hơn. Thông số kĩ thuật của nó tương tự như Samsung Galaxy Pocket Plus, với một vài nâng cấp như hệ điều hành Android 4.1.2 Jelly Bean và kích thước màn hình. Pocket Neo được trang bị bộ xử lý 850 MHz và các tùy chọn kết nối gồm 3G, Wi-Fi và Bluetooth 4.0. Nó có bộ nhớ trong 4 GB và có thể nâng cấp lên 32 GB thông qua thẻ nhớ microSD, cùng với pin Li-ion 1200 mAh. == Tính năng == == Xem thêm == Samsung Galaxy Young Samsung Galaxy Fame Samsung Galaxy Star Samsung Galaxy Pocket Plus Samsung Galaxy Pocket == Ghi chú == == Liên kết ngoài ==
mỹ đức.txt
20°41′3″B 105°44′33″Đ Mỹ Đức là một huyện nằm phía cực nam của thủ đô Hà Nội, Việt Nam. Trước năm 2008 là một huyện của tỉnh Hà Tây cũ. Cách trung tâm Hà Nội 52 km theo đường QL21B. == Vị trí == Huyện Mỹ Đức nằm phía tây nam Hà Nội, phía đông giáp huyện Ứng Hòa, ranh giới là con sông Đáy, phía bắc giáp huyện Chương Mỹ. phía tây giáp các huyện của tỉnh Hòa Bình: Lương Sơn (ở phía tây Bắc), Kim Bôi (ở phía chính Tây), Lạc Thủy (ở phía tây nam). phía đông nam giáp huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam. == Địa hình-diện tích == Là vùng huyện bán sơn địa, nằm ở phía nam của đồng bằng Bắc Bộ. phía nam là vùng núi đá vôi hang động Karst, có khu thắng cảnh chùa Hương. Huyện còn có hồ nước lớn là hồ Quan Sơn, nằm trên địa phận xã Hợp Tiến. Ở rìa phía đông có sông Đáy chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam sang tỉnh Hà Nam. Diện tích tự nhiên của huyện Mỹ Đức là 226,913 km² (sau khi điều chỉnh diện tích với tỉnh Hòa Bình). == Dân số == Huyện Mỹ Đức có dân số là 177.020 người (theo số liệu thống kê năm 2012). == Hành chính == Huyện có 1 thị trấn và 21 xã: == Đường phố == Đại Đồng Đại Nghĩa Tế Tiêu Thọ Sơn Văn Giang == Danh lam thắng cảnh == Khu thắng cảnh chùa Hương (Thiên Trù, suối Yến, động Hương Tích,...), nằm ở rìa phía tây nam huyện, ở địa phận xã Hương Sơn, giáp ranh giới với huyện Lạc Thủy. Khu du lịch hồ Quan Sơn và nhiều hang động đẹp, đền, chùa mang tính chất lịch sử được nhân dân tôn tạo như chùa Hàm Rồng, chùa Cao,... Khu thắng cảnh chùa Cao (Chùa hàm rồng...), nằm ở rìa phía tây huyện, ở địa phận xã Hồng Sơn, giáp ranh giới với huyện Kim Bôi. Khu di tích đền thờ Đinh Tiên Hoàng Đế ở xã Hợp Thanh, Mỹ Đức, Hà Nội là nơi Đinh Bộ Lĩnh từng về tuyển quân lính để đánh dẹp loạn 12 sứ quân. == Giao thông == Đường bộ: có quốc lộ 21B chạy từ Hà Đông, qua thị trấn Đại Nghĩa (Tế Tiêu cũ), sang tỉnh Hà Nam. Đường sông có sông Đáy (sông Thanh Hà). == Liên kết ngoài ==
tứ nhân bang.txt
Tứ nhân bang (Tiếng Hoa giản thể: 四人帮, Tiếng Hoa phồn thể; 四人幫) hay còn được gọi là "bè lũ bốn tên" theo các phương tiện truyền thông của Việt Nam, là cụm từ để chỉ một nhóm lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bị nhà cầm quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho là cấu kết với nhau lộng quyền và để sát hại những Đảng viên không theo phe cánh từ Đại hội X của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng sau đó bị bắt và xét xử năm 1976, sau khi Mao Trạch Đông mất. "Bè lũ bốn tên" là những thành viên hoạt động tích cực nhất Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc. Nhóm Tứ Nhân Bang gồm: Giang Thanh (vợ thứ tư của Mao Trạch Đông), Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn (Tiếng Hoa: 江青、張春橋、姚文元 và 王洪文). Việc bắt giữ và xét xử Tứ nhân bang được xem như đánh dấu sự kết thúc của Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc. Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Mao Trạch Đông đã thông qua cuộc cách mạng này để loại dần Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và Bành Chân. Mao đã đưa Giang Thanh (thành viên đoàn văn nghệ) lên làm người giương cao ngọn cờ văn hóa. Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn là các lãnh đạo ở Thượng Hải. Lãnh đạo quân đội Lâm Bưu cũng tham gia nhóm này nhưng bị tai nạn máy bay rơi năm 1971. Sau cái chết của Lâm Bưu, Cách mạng văn hóa mất một ngọn cờ đầu. Lãnh đạo quân đội mới ra lệnh thiết lập lại trật tự do mối nguy hiểm đang đe dọa dọc biên giới Trung-Xô (thời kỳ Trung Quốc và Liên Xô mâu thuẫn sâu sắc). Thủ tướng Chu Ân Lai chấp nhận Cách mạng Văn hóa nhưng không ủng hộ đã giành lại quyền hành và đưa Đặng Tiểu Bình (bị tống giam) trở lại lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1973. Lưu Thiếu Kỳ (Chủ tịch nước) qua đời trong tù năm 1969. Lúc Mao Trạch Đông đang hấp hối, một cuộc đấu tranh quyền lực nảy sinh giữa Tứ nhân bang và liên minh của Đặng Tiểu Bình, Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh. Khi Chu Ân Lai mất năm 1976, Hoa Quốc Phong được chính thức bổ nhiệm chức Thủ tướng Quốc vụ viện. Năm 1981, Tứ nhân bang bị đưa ra xét xử trước tòa với tội danh chống Đảng. Sau khi mãn hạn tù, Giang Thanh qua đời, Vương Hồng Văn mất năm 1992, Trương Xuân Kiều mất năm 2005 và Diêu Văn Nguyên mất tháng 12/2005. == Tham khảo ==
ba đình.txt
Ba Đình là một trong 12 quận nội thành của thành phố Hà Nội và là một trong 4 quận trung tâm của thủ đô. Đây là nơi tập trung nhiều cơ quan quan trọng của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. == Vị trí địa lý == Địa giới hành chính quận này như sau: bắc giáp quận Tây Hồ, nam giáp quận Đống Đa, đông giáp sông Hồng, đông nam giáp quận Hoàn Kiếm, tây giáp quận Cầu Giấy. == Tên gọi == Tên gọi Ba Đình xuất phát từ chiến khu Ba Đình của cuộc khởi nghĩa Ba Đình diễn ra từ năm 1886 - 1887 hướng ứng phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19 của các nhà cách mạng yêu nước là Phạm Bành, Đinh Công Tráng và nhân dân huyện Nga Sơn, Thanh Hóa. Năm 1945 tên gọi Ba Đình được đặt cho vườn hoa ngã sáu phía sau vườn bách thảo, nơi này chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hóa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Năm 1959 tên gọi Ba Đình được đặt cho một trong tám khu phố nội thành của Hà Nội. Năm 1981 khu phố Ba Đình được đổi tên thành quận Ba Đình như tên gọi hiện tại. == Lịch sử == Quận nằm trên nền đất xưa vốn thuộc tổng Hữu Nghiêm (sau đổi là Yên Hòa), huyện Thọ Xương và các tổng Yên Thành, Nội, Thượng, Trung, huyện Vĩnh Thuận. Từ những năm 1954-1961 gọi là khu Ba Đình và khu Trúc Bạch. Từ những năm 1961-1981, thành lập khu phố Ba Đình trên cơ sở sáp nhập khu Ba Đình và khu Trúc Bạch cũ, đồng thời sáp nhập xã Đông Thái, một phần xã Thái Đô thuộc quận V cũ; 2 xã: Ngọc Hà, Phúc Lệ, một phần xã Thống Nhất thuộc quận VI. Tháng 6 năm 1981, đổi khu phố Ba Đình thành quận Ba Đình, gồm 15 phường: Bưởi, Cầu Giấy, Cống Vị, Điện Biên, Đội Cấn, Giảng Võ, Kim Mã, Ngọc Hà, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Quán Thánh, Thành Công, Thụy Khuê, Trúc Bạch, Yên Phụ. Toàn bộ khu vực Hoàng thành Thăng Long nằm trong quận này. Từ tháng 10 năm 1995, 3 phường: Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ thuộc quận Ba Đình chuyển sang trực thuộc quận Tây Hồ, từ đó quận còn 12 phường: Cầu Giấy, Cống Vị, Điện Biên, Đội Cấn, Giảng Võ, Kim Mã, Ngọc Hà, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Quán Thánh, Thành Công, Trúc Bạch. Ngày 22 tháng 11 năm 1996, phường Cầu Giấy được đổi tên thành phường Ngọc Khánh. Ngày 5 tháng 1 năm 2005, thành lập 2 phường Liễu Giai (tách ra từ một phần các phường Ngọc Hà và Cống Vị) và Vĩnh Phúc (tách ra từ phường Cống Vị). Từ đó, quận Ba Đình có 14 phường: Cống Vị, Điện Biên, Đội Cấn, Giảng Võ, Kim Mã, Liễu Giai, Ngọc Hà, Ngọc Khánh, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Quán Thánh, Thành Công, Trúc Bạch, Vĩnh Phúc. == Hành chính == Quận Ba Đình có 14 phường gồm: Cống Vị, Điện Biên, Đội Cấn, Giảng Võ, Kim Mã, Liễu Giai, Ngọc Hà, Ngọc Khánh, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Quán Thánh, Thành Công, Trúc Bạch, Vĩnh Phúc. == Các địa điểm nổi tiếng == == Đường phố == == Hạ tầng == Hiện nay, các phường phía tây quận Ba Đình là những khu dân cư tập trung với những khu nhà chung cư được xây dựng sớm nhất của Hà Nội như Giảng Võ, Thành Công, Ngọc Khánh, Vĩnh Phúc, Cống Vị, Liễu Giai... Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn quận là các tuyến số 1 (Ngọc Hồi - Yên Viên), tuyến số 2 (Nội Bài - Thượng Đình), tuyến số 3 (Trôi - Nhổn - Yên Sở), tuyến số 5 (Hồ Tây - An Khánh), trong đó tuyến số 3 đoạn Nhổn - Ga Hà Nội (một phần của tuyến Trôi - Nhổn - Yên Sở) hiện đang được thi công; tuyến số 2 đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo (một phần của tuyến Nội Bài - Thượng Đình) hiện đang được đầu tư xây dựng. == Xem thêm == Quận Tây Hồ Quận Đống Đa Quận Hoàn Kiếm Sông Hồng Quảng trường Ba Đình Khởi nghĩa Ba Đình Chiến khu Ba Đình == Chú thích == == Liên kết ngoài == Quận Ba Đình trên Cổng giao tiếp điện tử thành phố Hà Nội.
phan thanh hùng.txt
Phan Thanh Hùng (sinh năm 1960 tại Đà Nẵng) là cựu cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá Việt Nam. Ông từng là huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia và đội tuyển U23 quốc gia Việt Nam năm 2012. == Sự nghiệp == === Cầu thủ === Khi còn là cầu thủ, ông là một cầu thủ đa năng, có thể thi đấu nhiều vị trí. Vị trí sở trường là tiền vệ hoặc tiền đạo, tuy nhiên khi cần ông cũng có thể chơi ở vị trí hậu vệ. Ông đã giành được chức vô địch giải bóng đá quốc gia năm 1992 với đội Quảng Nam Đà Nẵng và 1 lần giành huy chương bạc giải quốc gia. Ông cùng với đội bóng Quảng Nam Đà Nẵng lọt vào tới bán kết cúp C2 châu Á năm 1992. Đây là kết quả tốt nhất của các đội bóng Việt Nam ở sân chơi châu lục. Năm 1991, ông được gọi vào đội dự tuyển quốc gia tham dự SEA Games 16. Tuy nhiên, ông nằm trong số 11 cầu thủ đã đào nhiệm. Do sự kiện này, ông đã bị treo giò trong một thời gian. Ông trở lại đội tuyển năm 1993 để thi đấu vòng loại World Cup 1994 khi đã 33 tuổi. Ông đã ghi một bàn cho đội tuyển Việt Nam trong trận thua trước Singapore 2-3 vào phút 77. Đây cũng là bàn thắng duy nhất của Phan Thanh Hùng ghi cho đội tuyển Việt Nam. Sau đó, Phan Thanh Hùng cũng tham gia SEA Games 17, nhưng thi đấu không thành công. === Huấn luyện viên === Trước khi chính thức dẫn dắt đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam vào ngày 1/9/2012, ông Hùng đã khá thành công từ các giải trẻ, sau đó thì kiêm nhiệm một câu lạc bộ giàu có ở vô địch quốc gia Việt Nam. Vô địch Giải bóng đá U14 quốc tế Yamaha năm 2004 khi dẫn dắt U14 Đà Nẵng. Hạng nhì vòng chung kết U17 Việt Nam năm 2006 trong vai trò huấn luyện viên trưởng U17 Đà Nẵng. Hạng nhì vòng chung kết U17 Việt Nam năm 2007 trong vai trò huấn luyện viên trưởng U17 Đà Nẵng. Vô địch giải U21 báo Thanh niên năm 2008 khi dẫn dắt U21 Đà Nẵng. Vô địch AFF Suzuki Cup 2008 cùng đội tuyển Việt Nam trong vai trò trợ lý. Vô địch giải U21 báo Thanh niên năm 2009 khi dẫn dắt U21 Đà Nẵng. Hạng nhì Seagame 2009 cùng đội tuyển U23 Việt Nam trong vai trò trợ lý. Vô địch V-league 2010 trong vai trò huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ Hà Nội T&T. Vô địch V-league 2013 trong vai trò huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ Hà Nội T&T. Vô địch Siêu cúp Việt Nam 2010 trong vai trò huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ Hà Nội T&T. Hạng nhì V-league 2011 trong vai trò huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ Hà Nội T&T. Hạng nhì V-league 2012 trong vai trò huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ Hà Nội T&T. Hạng nhì V-league 2014 trong vai trò huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ Hà Nội T&T. Vì đội tuyển Việt Nam thi đấu không thành công tại AFF Cup 2012, ông Hùng đã từ chức huấn luyện viên trưởng. Đầu năm 2016 Phan Thanh Hùng chuyển về làm Huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ Than Quảng Ninh. Kết thúc mùa giải 2016, ông cùng đội Than Quảng Ninh đoạt chức vô địch Cup Quốc gia và Siêu cúp Quốc gia. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phan Thanh Hùng, cờ đã đến tay "Tướng" Hùng siết kỷ luật như thầy "Tô" luyện viên-Phan-Thanh-Hung-va-nhung-thanh-cong-buoc-dau-voi-DTVN/201210/241511.datviet huấn luyện viên Phan Thanh Hùng và những thành công bước đầu với ĐTVN
bản.txt
Bản hay Ban khi ghi bằng chữ Latinh, là đơn vị cư trú, đồng thời là đơn vị xã hội cơ sở thấp nhất ở vùng cư trú truyền thống của các dân tộc thuộc ngữ hệ Tai-Kadai. Về địa lý đó là vùng bắc phần bán đảo Đông Dương và lân cận. Ngày nay vùng này ở trong lãnh thổ của Thái Lan, Lào, bắc Việt Nam, bắc Campuchia, phía nam tỉnh Vân Nam và tây tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, Myanmar, và bang Assam ở đông bắc Ấn Độ. == Từ nguyên == Từ bản được sử dụng trong vùng cư trú của các dân tộc thuộc ngữ hệ Tai-Kadai với ngôn ngữ điển hình là tiếng Thái. Trong tiếng Thái หมู่บ้าน đọc là muban, nhưng thường nói gọn là ban, gồm hai thành phần là หมู่ là nhóm và บ้าน là nhà, từ đó mang ý mới là cấp độ thấp nhất của khu dân cư. "Bản" tương đương với làng hay thôn của người Kinh, với buôn (plei) ở Tây Nguyên, sóc ở vùng người Khmer, và thường được dịch sang tiếng Anh là hamlet. Cấp độ cao hơn của khu dân cư, gồm nhiều bản, là "mường" (muang) và "chiềng" (chiang, xiang, xieng), có thể tương đương với xã, tổng (liên xã) hoặc huyện ở vùng của người Kinh. Tại Lào hiện dùng từ muang cho đơn vị hành chính cấp huyện (district), nhưng ở Việt Nam và Thái Lan thì không còn sử dụng. Qua biến động lịch sử lâu dài thì một bản (hay mường, chiềng) có thể đã phát triển hay thu hẹp, và có thể thay đổi về sắc tộc đến cư trú nhưng tên gọi vùng dân cư vẫn giữ như cũ. Ngày nay tại Thái Lan, Lào thì ban được đặt trước tên chính thức của bản, tạo ra địa chỉ. Ví dụ thị trấn Lak Sao trên Đường 8 bên Lào, lối cửa khẩu Cầu Treo, Hà Tĩnh sang, được ghi là "Ban Lak Sao". Tại Việt Nam và Trung Quốc thì trong vùng cư trú của người Thái, Tày, Nùng, Choang, thói quen đã dẫn đến trong khẩu ngữ thường bỏ qua từ "bản" nếu tên bản có hai từ trở lên, ví dụ (bản) Nậm Sin, (bản) Cốc Lầy,... Từ "bản" không bỏ qua khi tên bản chỉ có một từ, ví dụ "bản Phiệt", "bản Cầm",... hoặc khi cần chỉ rõ cấp độ hành chính ví dụ "... tại bản Nậm Sin xã Bản Phiệt...". Tại Việt Nam điều này dẫn tới khi lập tên xã dựa trên tên của 1 bản trong xã, thì "bản" trở thành thành tố tạo địa danh, ví dụ xã Bản Phiệt, xã Bản Cầm,... == Bản ở Việt Nam == Bản tương đương với làng hay thôn của người Kinh. Số dân trong bản không đồng đều, thường có từ vài chục đến vài ba trăm người với mấy chục nóc nhà và ở rải rác cách nhau vài kilomet. Các bản nhỏ không phát triển thì có thể được quy về "xóm". Trước năm 1970 mật độ dân cư thấp, bản thường nhỏ, và có thể không có ranh giới rõ ràng, đặc biệt là những vùng chưa thực hiện định canh định cư. Từ khi quản lý đất đai đi vào nề nếp, dân số tăng, thì bản có ranh giới lãnh thổ được xác định rõ ràng. Ở đó có nơi cư trú, canh tác, bãi chăn thả súc vật, rừng, sông suối, nghĩa địa, v.v. Trong bản thường có một họ gốc, họ lớn. Trước đây, đứng đầu là trưởng bản, điều hành công việc theo tập quán và tinh thần cộng đồng. Ngày nay đơn vị hành chính thấp nhất có tư cách pháp nhân là cấp xã. Tại các vùng này một xã gồm nhiều bản, hoặc một bản lớn, và việc phân chia khu dân cư dưới cấp xã dựa theo bản là chính, nếu quy mô bản phù hợp. === Về sử dụng từ "bản" trong tiếng Việt === Sự phổ biến của từ "bản" ở bắc Việt Nam dẫn đến "bản" trở thành một từ trong vốn từ của tiếng Việt, với ý nghĩa là đơn vị cư trú cơ sở của dân tộc thiểu số, và dẫn đến được sử dụng cho cả vùng dân tộc phi Tai-Kadai ở phía bắc, như vùng người Hmông. Nó cũng được sử dụng khi dịch văn bản tiếng nước ngoài, vì dụ "bản của người Nanai ở Siberi (nước Nga)...". == Bản ở Lào == Tại Lào hệ thống phân cấp hành chính chủ yếu chia ra 4 cấp : Trung ương Tỉnh (tiếng Lào: ແຂວງ - khwaeng hoặc khoueng) và tương đương: 17 tỉnh, 1 prefecture (tiếng Lào: ນະຄອນຫລວ - nakhon luang) Viêng Chăn. Muang (tiếng Lào: ເມືອງ; mường hay huyện): 140 muang. Ban. "Ban" được xếp là đơn vị dân cư cơ sở, có tư cách và con dấu hành chính. Đứng đầu "ban" là trưởng bản do dân bầu ra và sau đó phải được chính quyền cấp trên xét công nhận. Quan hệ "Muang - Ban" thể hiện như truyền thống lâu đời, và được áp dụng trên cả vùng các dân tộc phi Tai-Kadai khác. Sự phát triển không đồng đều của từng bản, sự khác nhau giữa vùng thấp là đồng bằng thềm sông Mekong với vùng cao, dẫn đến quy mô bản hết sức khác nhau. Các bản vùng cao ở muang Ta Oy, Dak Cheung,... tại Nam Lào chỉ có vài nóc nhà với hai chục người, trong khi ở thềm sông Mekong có đến trăm hộ. Mặt khác sự phát triển kinh tế văn hóa dẫn đến hình thành các vùng đô thị hóa, các thị trấn,... Những vùng này bao gồm phần đất của nhiều bản. == Bản ở Thái Lan == Tại Thái Lan muban hoặc ban (tiếng Thái: หมู่บ้าน) là đơn vị dân cư cơ sở. Tuy nhiên một khu dân cư lớn có thể gồm nhiều muban, cũng như một muban ở vùng thưa dân có thể gồm nhiều điểm dân cư . == Tham khảo == == Xem thêm == Làng Thôn Sóc Phum Tra cứu mã bưu chính Việt Nam == Liên kết ngoài == Bản tại Từ điển bách khoa Việt Nam
trận trafalgar.txt
Trận Trafalgar (21 tháng 10 năm 1805) là một trận thủy chiến giữa Hải quân Hoàng gia Anh và đội tàu hỗn hợp của Hải quân Pháp và Hải quân Tây Ban Nha, là một phần của cuộc chiến tranh Liên minh thứ ba, trong các cuộc chiến tranh của Napoléon (1803-1815). Trận chiến này là chiến thắng quan trọng nhất của Đế quốc Anh trong những cuộc chiến tranh chống Napoléon. Vốn từ Mùa Xuân năm 1805, thủy binh Pháp đã mưu đồ phá sự phong tỏa của nước Anh tại Toulon để kéo đến Tây Ấn. Giờ đây, 27 tàu của Anh được chỉ huy bởi Đô đốc Horatio Nelson đã đánh bại đội tàu của Hải quân Pháp và Hải quân Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Pháp Pierre Charles Silvestre de Villeneuve tại bờ biển phía Tây Nam của Tây Ban Nha về phía Tây của mũi Trafalgar. Hạm đội Pháp và Tây Ban Nha mất 22 tàu trong khi ấy chẳng có một tàu nào của Anh bị đánh chìm cả. Cho dù chiến đấu dũng cảm, thủy binh Đồng minh Pháp - Tây Ban Nha đã suy sụp nhuệ khí và bị tổn thất rất nhiều binh lính. Chiến thắnng lừng lẫy trong trận thủy chiến ở Trafalgar đã mở ra thời kỳ bá quyền của nước Anh trên biển cả, và mở đường cho cả dân tộc lên đỉnh cao vinh quang dưới triều Nữ hoàng Victoria sau này. Do đó, chiến thắng chói lọi này có ý nghĩa huyền thoại đối với chiều dài lịch sử nước Anh. Đại thắng tại mũi Trafalgar là chiến thắng nổi trội nhất của Đô đốc Nelson, khắc họa thiên tài đánh biển của ông. Bên cạnh thiên tài chiến thuật của ông, chiến thắng vẻ vang còn cho thấy lòng quả cảm, cùng với tinh thần trách nhiệm với đất nước của ông. Ông đã bị thương rất nặng do trúng đạn của quân Pháp, và sau đó mất trong trận chiến. Ông đã trở thành vị anh hùng vĩ đại nhất của Anh Quốc trong chiến tranh, và cũng là vị chỉ huy thủy binh kiệt xuất nhất trong lịch sử Anh Quốc. Ngoài ra, một Đô đốc Anh Quốc khác là Cuthbert Collingwood cũng lập chiến công tiên phong đánh tan thủy binh Pháp trong trận chiến này. Với thất bại thảm hại này, kế hoạch xâm lăng nước Anh của Hoàng đế Napoléon I bị phá sản, và ông cũng không còn có khả năng để thách thức thế bá chủ trên biển của nước Anh. Về phía Pháp và Tây Ban Nha, Đô đốc Pháp Pierre de Villeneuve đã bị bắt cùng với con tàu của ông là Bucentaure. Đô đốc Tây Ban Nha Federico Gravina chạy thoát cùng với phần còn lại của hạm đội, ông mất vài tháng sau đó do phải chịu đựng những vết thương trong trận chiến. Nhìn chung thủy binh Đồng minh Pháp - Tây Ban Nha đã bị hủy diệt với thất bại này. Do đó, đại thắng trong trận thủy chiến Trafalgar đã thôi thúc nước Anh sục sôi khí thế giữa những thời khắc đen tối trong cuộc chiến tranh Napoléon, và cũng truyền cảm cho các thế hệ người Anh sau này. Say chiến thắng vẻ vang, nhân dân Anh Quốc tôn vinh Nelson đến mức mà bầu không khí nước Anh tràn ngập cả niềm vui lẫn nỗi buồn. Trận đánh quyết định được coi là có tầm quan trọng thay đổi cả thế giới. Cho dù sau đó Napoléon I đại thắng quân Đồng minh Nga - Áo trong trận Austerlitz trên bộ, ông vẫn không thể nào xoay chuyển nổi tình thế bất lợi cho Pháp trên biển. Ngay sau chiến bại thảm hại, không còn chiến thuyền Pháp - Tây Ban Nha nào dám đe dọa lớn đến thủy binh Anh Quốc nữa. Chiến bại bi đát này đã khiến cho Triều đình Tây Ban Nha bắt đầu chán liên minh với Pháp. Trận thủy chiến tại Trafalgar cũng là trận đánh lớn cuối cùng giữa các lực lượng Hải quân bằng gỗ. == Bối cảnh lịch sử == Vào năm 1805, Đế chế thứ nhất dưới sự trị vì của Napoléon Bonaparte là cường quốc thống trị lục địa châu Âu, nhưng trong khi đó Hải quân Hoàng gia Anh nắm quyền kiểm soát trên biển. == Chú thích == == Tham khảo == Adkin, Mark (2007). The Trafalgar Companion: A Guide to History's Most Famous Sea Battle and the Life of Admiral Lord Nelson. London: Aurum Press. ISBN 1-84513-018-9. Adkins, Roy, Trafalgar: The Biography of a Battle, 2004, Little Brown, ISBN 0-316-72511-0. J. Christopher Herold, The Age of Napoleon, Houghton Mifflin Harcourt, 2002. ISBN 0618154612. Roy Adkins, Nelson's Trafalgar: The Battle That Changed the World, Penguin, 2006. ISBN 0143037951. Clayton, Tim; Craig, Phil. Trafalgar: The Men, the Battle, the Storm. Hodder & Stoughton. ISBN 0-304-83028-X . Corbett, Julian S., The Trafalgar Campaign, 1910, London. Desbrière, Edouard, The Naval Campaign of 1805: Trafalgar, 1907, Paris. English translation by Constance Eastwick, 1933. Fernandez, Juan Cayuela, Trafalgar. Hombres y naves entre dos épocas, 2004, Ariel (Barcelona) ISBN 84-344-6760-7 Frasca, Francesco, Il potere marittimo in età moderna, da Lepanto a Trafalgar, 1 st ed. 2008, Lulu Enterprises UK Ltd, ISBN 978-1-4092-4348-9, 2 nd ed. 2008, Lulu Enterprises UK Ltd, ISBN 978-1-84799-550-6, 3 rd ed. 2009, Lulu Enterprises UK Ltd, ISBN 978-1-4092-6088-2, 4th ed. 2009, Lulu Enterprises UK Ltd, ISBN 978-1-4092-7881-8. Samuel Rawson Gardiner, A Student's History of England from the Earliest Times to 1885: A.D. 1689-1885, Longmans, Green & co., 1897. Harbron, John D., Trafalgar and the Spanish Navy, 1988, London, ISBN 0-85177-963-8. Hibbert, Christopher (1994). Nelson A Personal History. Basic Books. ISBN 0-201-40800-7. Howarth, David, Trafalgar: The Nelson Touch, 2003, Phoenix Press, ISBN 1-84212-717-9. Guy McDonald, England, New Holland Publishers, 2004. ISBN 1860111165. Huskisson, Thomas, Eyewitness to Trafalgar, reprinted in 1985 as a limited edition of 1000; Ellisons' Editions, ISBN 0-946092-09-5—the author was half-brother of William Huskisson Lambert, Andrew, War at Sea in the Age of Sail, Chapter 8, 2000, London, ISBN 1-55278-127-5 Nicolson, Adam, Men of Honour: Trafalgar and the Making of the English Hero (U.S. title Seize the Fire: Heroism, Duty, and the Battle of Trafalgar), 2005, HarperCollins, ISBN 0-00-719209-6. Pocock, Tom, Horatio Nelson, Chapter XII, 1987, London, ISBN 0-7126-6123-9 Pope, Dudley, England Expects (U.S. title Decision at Trafalgar), 1959, Weidenfeld and Nicolson. Schom, Alan, Trafalgar: Countdown to Battle, 1803-1805, 1990, New York, ISBN 0-689-12055-9. Warner, Oliver, Trafalgar. First published 1959 by Batsford - republished 1966 by Pan.
rúp nga.txt
Đồng rúp Nga hay đơn giản là rúp (tiếng Nga: рубль rublʹ, số nhiều рубли́ rubli; tiếng Anh: ruble hay rouble) là tiền tệ của Liên bang Nga và hai nước cộng hòa tự trị Abkhazia và Nam Ossetia. Trước đây, đồng rúp cũng là tiền tệ của Liên Xô và Đế quốc Nga trước khi các quốc gia này tan rã. Đồng rúp được chia thành 100 kopek, tiếng Nga: копе́йка, số nhiều: копе́йки hay копеек. Mã ISO 4217 là RUB; mã trước đây là RUR, nói về đồng rúp Nga trước thời điểm đặt tên năm 1998 (1 RUB = 1000 RUR). Hiện tại, không có biểu tượng chính thức cho đồng rúp, dù руб hiện đang được sử dụng. Nhiều biểu tượng đã được đề xuất, bao gồm cả: "РР" (cyrillic cho "RR"), một "R" với hai dấu gạch ngang (giống như đồng peso Philipin) và một "Р" với một dấu gạch ngang. == Các giá trị == == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng RUB == == Tham khảo == Phương tiện liên quan tới Tiền Nga tại Wikimedia Commons == Xem thêm ==
hướng bắc.txt
Hướng Bắc là một trong bốn hướng chính của la bàn, theo quy định chung trong địa lý. Ba hướng kia là: hướng Tây, hướng Nam và hướng Đông. Ở toàn cầu, mặt trời mọc từ phía đông và lặn về phía tây. Nếu bạn đứng thẳng trên mặt đất, nhìn thẳng về hướng mặt trời mọc và dang rộng hai tay, thì mắt bạn nhìn về phía đông, tay phải chỉ phía nam, tay trái chỉ phía bắc và lưng bạn hướng phía tây. == Tham khảo ==
chuột hamster.txt
Chuột hams, hamster, hay chuột đất vàng, trong từ điển dịch là chuột hang vì là loài thường hay đào hang, là một loài động vật gặm nhấm thuộc phân họ Cricetinae, bao gồm 25 loài thuộc 6 hoặc 7 chi khác nhau. Được nuôi để làm các thí nghiệm khoa học và hiện nay còn để làm thú nuôi cho những người yêu thích vật nuôi nhỏ. Chuột hams được phát hiện tại một thành phố gần Siberia vào năm 1829. Chuột hamster có khả năng đào hang để đuổi bắt côn trùng. Loài này đặc biệt ở chỗ có đôi túi má dài tới vai của nó, mục đích này để mang thức ăn về tổ, hang của chúng. Hamster có khả năng các hành vi khác nhau dựa vào tác động môi trường, di truyền và thật sự đã tương tác gần gũi với con người. == Lịch sử == Vào năm 1829, báo cáo của nhà động vật học người Anh George Waterhous cho biết đã tìm được một con chuột hams cái già ở Syria, tên khoa học của nó là Cricetus auratus, còn gọi bằng tên thông thường là Golden Hamster (tạm dịch: chuột hams vàng). Trong năm 1930, các nhà động vật học và giáo sư của trường đại học Jerusalem Aharoni tìm được một con chuột hams mẹ và vài con con của nó ở sa mạc Syria. Và họ đã đem chúng về phòng thí nghiệm, phần lớn chết và trốn thoát. Số chuột hams còn lại được trao cho Trường Đại học Hebrew ở Jerusalem, tại đó họ đã gây thành công giống chuột hams tương tự như Golden Hamster. Tuy nhiên, chúng to hơn một chút so với giống chuột hams mà Waterhouse tìm được, và tên khoa học của chúng là Mesocricetus auratus, mặc dù có thể chắc chắn rằng tất cả chúng đều cùng một loài. Chuột hams được chuyển đến tất cả các phòng thí nghiệm trên thế giới. Chúng tới Anh vào năm 1931,và 1938 thì nhu nhập vào Mỹ. Còn giống Golden Hamster được sinh từ những con thuần chủng tìm thấy ở Syria với số lượng rất ít, nó được bán ra từ những du khách đem từ sa mạc Syria về. Có hẳn một kho riêng biệt quan trọng lưu trữ hamster ở Mỹ vào năm 1971,nó sẽ không bao giờ được biết đến nếu không vì những con vật cưng của Bắc Mỹ đều có nguồn gốc từ chúng. Giống Phodopus campbelli, Phodopus sungorus được giới thiệu ở Hội chợ thú nuôi Anh năm 1970. Chuột hams Roborovski từ Hà Lan đã du nhập vào Anh vào năm 1990. Chuột hams được sử dụng trong các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học do chúng không mang trên mình mầm bệnh và sinh sôi rất nhanh (một lứa đẻ mới mỗi tháng), ngoài ra lại còn rất thân thiện và dễ dàng bồng bế. Chúng thường được dùng làm động vật thí nghiệm trong nghiên cứu về bệnh tim mạch vì hệ thống tim mạch của chúng giống hệ thống tim mạch của con người một cách đáng ngạc nhiên. Chuột hamster còn được biết đến nhờ chúng đã xử lý 60 pounds ngũ cốc của các người nông dân trong các vụ thu hoạch xuân. == Tên gọi == Từ hamster là từ vay mượn của Tiếng Đức mà nó xuất phát từ Old High German hamsustro, nó được liên quan đến Nga choměstrǔ đó là cả một sự pha trộn của các gốc rễ của Nga khomiak "hamster" và một từ Baltic hoặc có xuất xứ Ba Tư. == Đặc điểm == === Miêu tả === Chuột hams không phải thuộc loài họ chuột thông thường (họ Chuột) như chuột cống, chuột nhắt, chuột đồng... mang nhiều mầm bệnh. Mà thực ra chúng thuộc họ Cricetidae, sinh sống ngoài tự nhiên, thường đào hang và có hai túi má để dự trữ thức ăn. Mắt chúng thuộc loại cận thị hoặc bị mù màu. Chúng thường sống ở hoang mạc, bán hoang mạc, hoặc nơi có khí hậu ôn đới, không phải loài chuột đồng thường phá hoại mùa màng. Chuột hams là loài động vật có vú (8 vú): 2 cái đầu ở 2 chân trước, 2 cái ở giữa, 2 cái dưới giữa cách 0,3mm, 2 cái ở đối diện nhau (chính giữa là hậu môn). Chúng có thể sống ở bãi đất khô cằn, sống được trong điều kiện nóng và tương đối ẩm và đào hang sâu hơn 3 mét. Là động vật 4 chân có tổng số ngón là 18 ngón (2 chân trước là 8, 2 chân sau 10 ngón) biết đồng loài bằng cách ngửi mùi để xác định vị trí thức ăn và có tính chia lãnh thổ cao, nhất là Syria Hamster. Chúng có thể nhạy cảm với các âm thanh to ồn và giao tiếp siêu âm tầm xa. Chuột hams có kích thước nhỏ; bộ lông mềm bao phủ khắp cơ thể. Chúng có nhiều loại và nhiều màu lông khác nhau (đen, xám, vàng, trắng, trắng tuyền, vàng kim...). Chuột hams có đuôi nhưng cực kì ngắn (khoảng 1 cm) và có 1 lớp lông mỏng bao phủ dường như chẳng để làm gì cả. Răng của chuột hams dài, có hai răng cửa to lớn (là bộ phận chủ yếu để ăn). Bởi thế chúng phải cần gặm nhấm các đồ vật bằng sắt, nhôm, gỗ để mài răng bớt đi. Nếu chúng không mài, răng cửa sẽ chạm nướu sẽ gây chảy máu, đụng xương hàm chúng có thể sẽ chết. Chúng là thường hoạt động về đêm (hoạt động mạnh 7 giờ tối đến 2 giờ sáng hôm sau). Một ngày của chúng cần ngủ tối thiểu ít nhất 14 giờ/ngày. Chúng có thể bị căng thẳng, rối loạn thần kinh vào các thời điểm buổi sáng nếu làm phiền chúng khi đang ngủ. Chuột hams có thể sống trung bình 2 năm nếu điều kiện sống đầy đủ. === Thức ăn === Hamster là một loài động vật ăn tạp. Chúng có thể ăn các loại hạt, rau quả, các loại bánh, vị không phải là chua, cay, đắng. Tại Trung Đông chúng là động vật săn theo đàn đánh bắt côn trùng. Chúng còn là chất gây men ruột sau và có thể ăn phân của nó để phục hồi dinh dưỡng, tuy nhiên không được hấp thu. == Hành vi == Một đặc điểm hành vi của Hamster là tích trữ thực phẩm. Chúng mang theo thức ăn trong túi má rộng rãi của chúng vào hang lưu trữ dưới lòng đất của chúng. Khi đầy, má có thể làm cho đầu của nó tăng gấp đôi hoặc thậm chí gấp ba lần kích thước. === Xã hội === Hầu hết tất cả hamster là đều sống đơn độc. Nếu đặt lại với nhau, cấp tính và mãn tính căng thẳng có thể xảy ra và nó có thể chiến đấu quyết liệt, đôi khi gây tử vong đối phương. === Đào hang === Tất cả hamster là loài đào hang tuyệt vời, xây dựng hang hốc với một hoặc nhiều lối vào, với các phòng triển lãm kết nối với buồng cho làm tổ, bảo quản thực phẩm, và các hoạt động khác. Họ sử dụng chân trước và chân sau của họ, cũng như mõm và hàm răng của họ, cho đào. Trong tự nhiên, các bộ đệm hang nhiệt độ môi trường khắc nghiệt, cung cấp các điều kiện khí hậu tương đối ổn định, và bảo vệ chống lại kẻ thù. Syria Hamster đào hang của chúng thường ở độ sâu 0,7 m. Một cái hang bao gồm một ống dốc trèo lên trèo xuống (4 – 5 cm), làm tổ và một buồng găm và một chi nhánh mù kết thúc cho đi tiểu. Hamster trong phòng thí nghiệm đã không mất đi khả năng của nó để đào hang. Trong thực tế, chúng sẽ làm điều này một cách mạnh mẽ và kỹ năng nếu họ được cung cấp với các chất nền thích hợp. == Phân loại == === Hiện tại === Hamster có 2 nhóm ưa chuộng chính là Dwarf hamster (những loài thuộc nhóm này: sóc, Roborovski, Campell, Chinese Hamster...) được đến từ các đồng cỏ và vùng bán hoang mạc ở châu Á và loại Syrian hamster, nhóm này thường được gọi là Golden Hamster bởi con chuột hams được tìm thấy đầu tiên ở Syria là màu lông vàng. Với nhiều màu lông khác nhau gồm: trắng, đen, vàng, đỏ, cam, vàng đen, đen trắng,... thì chúng vẫn được xếp 2 nhóm trên. Ở tuổi trưởng thành, kích thước mỗi con hamster Dwarf dài chừng khoảng tối đa 7 – 10 cm, riêng syrian hamster sở hữu thân hình gấp đôi Dwarf với dài 14 – 18 cm. Syrian là một chuột hamster hoang dã, rất ghét sống cùng bầy hoặc đôi lứa, chỉ thích sống đơn độc là chủ yếu. Ngược lại Dwarf lại có thể sống đôi lứa hoặc trong 1 bầy nào đó. Do đó tính cách Syrian thường hung hăng và dễ cáu và ngược lại. === Tổng thể === Phân họ Cricetinae * chi allocricetulus * Loài A. curtatus - Mongolian Hamster. * Loài A. eversmanni - Kazakhstan hoặc Eversmann Hamster. * chi Cansumys * Loài C. canus - Gansu Hamster. * chi cricetulus * Loài C. alticola - Tibetan dwarf hoặc Ladak hamster. * Loài C. barabensis - bao gồm cả C. pseudogriseus và C. obscurus - Chinese striped hamster, cũng gọi là Chinese Hamster; Striped dwarf hamster. * Loài C. griseus — Chinese (dwarf) hamster, còn được gọi là hamster. * Loài C. kamensis — Kam dwarf hamster hoặc Tibetan hamster. * Loài C. longicaudatus — Đuôi chuột ngắn dwarf hamster. * Loài C. migratorius — Dwarf hamster xám, Armenian hamster, migratory hamster xám; Hamster xám; migratory hamster. * Loài C. sokolovi - Sokolov's dwarf hamster. * chi Cricetus * Loài C. cricetus - European hamster, cũng được gọi là chuột hamster chung hoặc lĩnh vực đen bụng Hamster. * Chi mesocricetus - Golden Hamster * Loài M. auratus - Golden hoặc Syrian hamster. * Loài M. brandti — Turkish hamster,, cũng gọi là Brandt's hamster; Hamster Azerbaijan. * Loài M. newtoni — Romanian hamster. * Loài M. raddei — Ciscaucasian hamster. * Chi Phodopus — Dwarf hamsters * Loài P. campbelli — Campbell's dwarf hamster. * Loài P. roborovskii — Roborovski hamster * Loài P. sungorus — Djungarian hamster hay Winter-white Russian Dwarf hamster. * chi Tscherskia * Loài T. Triton — Greater hamster đuôi dài, hay gọi là Korean hamster. === Mối quan hệ của các loài chuột đồng === Neumann et al (2006) đã tiến hành phát sinh loài phân tử phân tích của 12 trong số 17 loài trên sử dụng trình tự DNA từ ba gen: 12S rRNA, cytochrome b, và yếu tố von Willebrand. Họ đã phát hiện thêm các mối quan hệ: ==== Nhóm Phodopus ==== Các chi Phodopus đã được tìm thấy để đại diện cho sự phân chia sớm nhất trong số Hamster. Phân tích của họ bao gồm cả hai loài. Kết quả của một nghiên cứu khác đề nghị cricetulus kamensis (và có lẽ là C. alticola liên quan) có thể thuộc về một trong hai nhóm Phodopus này hoặc giữ một vị trí cơ bản tương tự. ==== Nhóm Mesocricetus ==== Các chi mesocricetus cũng tạo thành một nhánh. Phân tích của họ bao gồm tất cả bốn loài, với M. auratus và M. raddei hình thành một subclade và M. brandti và M. newtoni khác. ==== Các chi còn lại ==== Các chi còn lại của Hamster tạo thành một nhánh lớn thứ ba. Hai trong số ba loài được lấy mẫu trong cricetulus đại diện cho sự phân chia sớm nhất. Nhánh này chứa C. barabensis (và có lẽ là C. sokolovi liên quan) và C. longicaudatus. ==== Khác ==== Các nhánh còn lại chứa các thành viên của allocricetulus, Tscherskia, Cricetus, và C. migratorius. allocricetulus và Cricetus là chị đơn vị phân loại. Cricetulus migratorius là tương đối gần nhất tiếp theo của họ, và Tscherskia là nền. == Sinh sản == === Nhảy đực và tiến hành === Nhảy đực là 1 câu nói dân dã nhưng nói nôm na là con đực sẽ tiến hành ôm bụng con cái. Với cách này con mẹ có thể sinh sản tiếp. Hoặc sử dụng nước tiểu của con đực sẽ được dẫn truyền qua ống dẫn trứng sinh ra một hoăco nhưcng n non. === Đặc điểm === Hamster có thể sinh sản (sinh sản hữu tính) khi chúng đạt 2 tháng tuổi. Tuy nhiên chúng có thể đẻ sớm lúc 1 tháng tuổi nhưng chúng có thể sẽ chết nếu không đủ sức khỏe để nuôi dưỡng đám con của mình. Mỗi đứa con trong bụng mẹ có thai kỳ là trên 15 ngày, tối đa 1 tháng. Mỗi thai kỳ có 3 - 30 đứa con. Nhưng càng nhiều con con mẹ sẽ kiểm soát không xuể dẫn đến con mẹ bị kiệt sức và đám con sẽ dễ chết và sức khỏe không được đảm bảo. Thời gian đẻ 1 đứa con ra đời là 10 - 40 phút. Con non sẽ dễ bị cảm lạnh, yếu ớt, suy nhược cơ thể dẫn đến chết nếu không được bà mẹ này chăm sóc kĩ càng và cho bú thường xuyên. Thường thì con mẹ sẽ cho con bú trong 10 - 30 phút, sau đó lặp lại 1,5 - 3 giờ. Trong cuộc đời của 2 chú hamster (đực và cái), con mẹ sẽ có thể lai giống hơn 8 lần. === Thời gian mang thai và sinh sản === Hamster là nhà nhân giống theo mùa và sẽ sản xuất một vài lứa một năm với vài đứa con trong mỗi lứa. Mùa sinh sản từ tháng Tư đến tháng Mười ở Bắc bán cầu, với 1 đến 13 con sinh ra sau một thời gian mang thai từ 16 đến 23 ngày. Thời gian mang thai kéo dài 16 đến 18 ngày cho chuột hamster Syria, 18 - 21 ngày đối với Russian Hamsters, 21 - 23 ngày đối với Chinese Hamsters và 23 - 30 ngày cho chuột hamster Roborovski. Lượng trung bình cho chuột hamster Syria là khoảng bảy chuột con, nhưng có thể là nhiều như 24, đó là số lượng tối đa của những con có thể được chứa trong tử cung. Chuột lùn Campbell thường có 4-8 chuột con trong một lứa, nhưng có thể có đến 13. Djungarian Hamster có xu hướng có lượng con hơi nhỏ hơn, như Chinese và Roborovski Hamsters. === Hiện tượng trước khi đẻ === Hãy quan sát các đặc điểm bên ngoài cơ thể hoặc trong thời gian chúng đang sống: Bụng hamster phình to bự ra một cách đáng kể hơn bình thường. Vú thay đổi màu sắc Hamster trong thời gian đẻ dễ bị stress hay cáu giận với hamster khác Ăn uống, ngủ nhiều hơn bình thường Hay kiếm những đồ lót mỏng để làm ổ và cựa quậy... === Môi trường sống thực tại (nếu nuôi) === ==== Chung ==== Khi đã nắm rõ những hiện tượng trước khi đẻ, cần bổ sung thức ăn, nước uống thường xuyên, đặc biệt là đồ lót mỏng để chúng làm ổ. Cách ly hamster mẹ ra khỏi tất cả hamster khác để không bị hamster khác quấy nhiễu hoặc ăn mất con. Trong thời gian nuôi con, tuyệt đối không được dọn chuồng bất cứ hình thức nào trong 2 tuần sau khi đẻ vì sẽ gây mùi cho hamster mẹ, lạc mùi sẽ ăn không chăm con và cao hơn ăn mất con. Khi thay thức ăn và bình nước cần đeo bao tay và hành động nhẹ nhàng, không gây tiếng ồn. Trong khoảng 2 tuần (15 ngày) không được bồng bế con mẹ và bầy con, có thể bồng bế sau thời gian này để có thể quen mùi của con người. ==== Mồ côi ==== Khi bị mồ côi mẹ (sinh con rồi con mẹ qua đời hoặc không được mẹ chăm sóc), trong 0 → 12 ngày tỉ lệ chết rất cao. Nếu có khả năng, hãy đúc sữa cho con 2 - 3 giờ / lần. Hoặc có thể nhờ người mẹ thay thế bằng cách sau đây (đeo bao tay): Tìm người mẹ cũng đang chăm con khác với độ tuổi tương đương. Xóa tất cả mùi trên đứa con bằng cát tắm. Sau đó dẫn con mẹ đi mất (càng lâu càng tốt), tiến hành dùng đồ dùng lót ổ của mẹ thay thế chà nhẹ lên người đứa con này. Hãy chắc chắn rằng trên đứa con không còn mùi của người mẹ cũ. Bỏ vào bầy con của người mẹ thế. Tỉ lệ thành công không cao (khoảng 60%). Con mẹ sẽ tấn công đứa con này nếu còn mùi cũ của nó. Ngược lại, đứa con trên 12 ngày tuổi có tỉ lệ sống sót cao hơn nhiều vì chúng đã bắt đầu tập ăn, tập uống và đã biết di chuyển. === Hình dạng, màu sắc đứa con sau khi đẻ === 1 ngày tuổi: Da hồng, không có lông, chưa mở mắt, chưa có móng, răng, không thể nghe tiếng ồn. 3 ngày tuổi: Da hồng, không có lông, chưa mở mắt, bắt đầu mọc móng, răng, không thể nghe tiếng ồn. 5 ngày tuổi: Bắt đầu mọc lông tùy theo lai giống, chưa mở mắt, không thể nghe tiếng ồn. 9 ngày tuổi: Cơ thể đã phủ lông khoảng 60 - 100%, bắt đầu tập di chuyển, chưa mở mắt, không thể nghe tiếng ồn. 12 ngày tuổi: Cơ thể đã phủ lông hoàn toàn, bắt đầu mở mắt, có thể nghe được tiếng ồn. 14 ngày tuổi: Hamster con có thể ăn hạt cứng (nhỏ), đi tìm những giọt nước quý giá, mắt hí, đã nghe được tiếng ồn. 18 ngày tuổi: Lông đã dài 0,3 - 0,5 mm, mắt mở hoàn toàn. 22 ngày tuổi: Chúng có thể leo trèo một cách thoải mái và năng động nhưng sức còn yếu. 24 - 1 tháng tuổi: Đã đến lúc cai sữa, chúng có thể sống tự lập. == Nuôi hamster == === Chuồng nuôi và Vệ sinh === Nếu nuôi hamster cần phải có chuồng để nuôi và các hàng rào che chắn (thanh thủy tinh, hàng rào sắt,...) để chúng không thể thoát ra ngoài. Mua các loại lót chuồng (mùn cưa mỏng và nó không là các loại cưa ở rèn; có thể thay thế mùn cưa bằng giấy vệ sinh xé rải rác;...). Thường xuyên thay lót 3 ngày/ lần để không cho vi khuẩn độc hại tích tụ và gây bệnh cho chúng. Các giống loài đặc biệt như Winter White từ đồng cỏ của Siberia vào các tháng mùa đông thì chúng có thể ngả màu lông sang màu trắng do thiếu ánh sáng mặt trời gây nên. Cần đóng chuồng sắt cẩn thận vì chúng thường được mệnh danh là diễn viên xiếc dễ dàng trốn thoát ra ngoài. Nếu nuôi chúng cần nuôi trong hộp nhựa, bể kính (bể cá) có chiều cao hơn gấp 4 lần chiều dài của chúng là chính xác nhất. === Thức ăn và uống === Do răng của chúng thường dài ra nên chúng có thể phải cần ăn các thức ăn cứng để mài mòn răng của chúng. Thức ăn yêu thích của chúng thường là hạt hướng dương hay các loại thức ăn ngũ cốc, thức ăn trộn sẵn được bán trong cửa hàng. Các loại thức ăn trộn sẵn gồm: đậu đỏ, đậu đen, đậu phộng, hạt hướng dương, các loại bánh,... Tuy vậy, cần hạn chế cho ăn các loại thức ăn có vị chua, đắng và cay như socola, thức ăn có giấm (gỏi), ớt, tỏi hành. Không cho ăn hoa, các thức ăn từ các động vật khác chó, mèo cần kiêng kỵ vì chúng có thể bị ngộ độc thực phẩm. Nước ngọt lạnh (không đá) thường là thức uống khoái khẩu của hamster. Không cho hamster uống các loại cà phê, trà, nước ép trái cây để tránh chuột hams bị đau và thủng dạ dày. Mua các bình nước để đựng nước và nên thử nó có chảy nước không và thường xuyên vệ sinh bình nước vì khi chuột hams uống nước lông và bụi bặm có thể đi vào ống nước. === Vận động === Thường cho chuột hamster có lên lịch dắt chơi định kỳ. Không làm xáo trộn vì hamster có thể thói quen lịch cũ của bạn. Nên sắp đặt các vật dụng đồ chơi như bánh xe quay (wheel), các đường ống, miếng trượt và các đồ chơi leo trèo không gây nguy hiểm cho chúng. Với ở bên ngoài tự nhiên, chuột hamster có thể hoạt động bằng đào hang, chạy gắng sức. === Bệnh hamster === Hamster thường rất thấp tỉ lệ khả năng mắc bệnh. Nguyên nhận thường gặp là về bệnh ướt đuôi, bệnh tiêu chảy do ăn thức ăn không đúng và các vi khuẩn độc hại của môi trường xung quanh gây nên. Ngoài ra còn có thể mắc các bệnh mắt đục tinh thể, bệnh stress, bệnh cảm lạnh (do đặt ở vị trí lạnh lẽo, có nhiều luồng gió lạnh thổi vào, nhiệt độ quá thấp), bệnh táo bón, các loại bệnh bên trong cơ thể như tử cung, bàng quang, bao tử, tim.... Ngoài ra còn một nguyên nhân nữa là bị nhiễm bệnh từ các động vật khác do có thể chúng sống chung cùng một nhà. Cần cách ly khoảng cách xa và rửa tay sạch khi muốn ôm bế hamster. Nếu bệnh diễn biến trầm trọng và phức tạp, cần đưa ngay đến các bác sĩ thú y nếu nuôi chúng. == Các loại chuột hams == Trên thị trường hiện bán các loại chuột hams chủ yếu để làm vật nuôi: Phodopus sungorus: mắt đen, thuần chủng có các màu lông agouti (tiếng Việt gọi là màu sóc), sapphire (xám tro), pearl (trắng sọc đen). Bản tính thường hiền lành, dạn người. Có thể lai với Campbell's Dwarf Hamster. Phodopus campbelli: mắt đỏ hoặc đen, có các màu lông albino (bạch tạng - lông trắng mắt đỏ), agouti, argente (màu trà sữa), opal (lông xanh xám, bụng trắng, mắt đen), đen, mottled (lông lốm đốm giống bò sữa), platinum (trắng, mắt đen)... thường dữ hơn Winter-white. Phodopus roborovskii: kích thước nhỏ nhất, mắt đen, thường có màu lông nâu, mặt nâu hoặc trắng, đôi khi cũng có màu bạch kim (trắng toàn thân). Golden hoặc Mesocricetus auratus: tiếng Việt thường gọi là Hamster bear, kích thước lớn nhất, có rất nhiều màu lông khác nhau. == Nhân vật truyền hình == Hamster tên là Rhino trong các bộ phim hoạt hình năm 2008 và spin-off 2009 tại phim ngắn Super Rhino. Trong Tales of the Riverbank, thuật lại bởi Johnny Morris, nhân vật chính là Hammy Hamster. == Xem thêm == Chuột Họ Chuột Chuột đồng Chuột bạch == Chú thích ==
samsung galaxy ace.txt
Samsung Galaxy Ace (cũng được biết đến Samsung Galaxy Cooper ở một số khu vực) là điện thoại thông minh sản xuất bởi Samsung chạy hệ điều hành mã nguồn mở Android. Công bố và phát hành bởi Samsung vào tháng 2 năm 2011, Galaxy Ace sử dụng vi xử lý 800 MHz Qualcomm MSM7227 với Adreno 200 GPU. Nó có màu đen, với nắp lưng nhiều màu khác nhau: đen, tím và trắng. Vào tháng 1 năm 2012, Samsung công bố người kế nhiệm Galaxy Ace Plus, then in February 2012 là Galaxy Ace 2. Galaxy Ace là điện thoại thông minh 3.5G, hỗ trợ bốn băng thông GSM và hai băng thông HSDPA (900/2100) với 7.2 Mbit/s. Màn hình 3.5 inch TFT LCD cảm ứng điện dung với kính bảo vệ của Gorilla Glass và độ phân giải HVGA (320x480). Máy ảnh 5-megapixel với LED flash, có thể quay video độ phân giải QVGA (320x240) và VGA (640x480) với nâng cấp Gingerbread, và pin Li-Ion 1350 mAh. == Máy ảnh == Samsung Galaxy Ace có máy ảnh 5-megapixel tự động lấy nét với độ phân giải 2560 x 1920 pixels. Đèn LED flash củng với máy ảnh ở điều kiện thiếu ánh sáng. Máy cũng có nhận diện khuôn mặt và nụ cười cùng với thẻ SD, nhưng không có phím chụp hình cứng. Độ phân giải và độ sáng có thể tùy chỉnh qua menu trên màn hình. Máy ảnh của Samsung Galaxy Ace có thể zoom 2x. == Quay video == == Trò chơi == Sử dụng Adreno 200 GPU, và vi xử lý thấp với độ phân giải thấp, Galaxy Ace không thể chạy những trò chơi chất lượng cao; tuy nhiên, nhà phát triển thứ ba có thể giúp một số trò chơi hoạt động trên Galaxy Ace. Như GT-S5830i, thiết bị sử dụng VideoCore IV có một số đặc điểm được cải thiện nhưng có những vấn đề lớn từ các trò chơi không phải do Broadcom hay Samsung chia sẻ mã nguồn mở; trò chơi 3D làm việc trên thiết bị đầu tiên có thể không tương thích với GT-S5830i. Trò chơi và ứng dụng có thể chuyển đến ARM6 để có thể chạy trên điện thoại. == Nâng cấp Firmware == Ngày 31 tháng 8 năm 2011, nâng cấp lên Android 2.3.4, 'Gingerbread', được tung ra ở Ấn Độ. Galaxy Ace nhận được bản cập nhật và phiên bản hiện tại là Android 2.3.6, 'Gingerbread' có sẵn thông qua Samsung Kies. == Samsung Galaxy Ace Plus == Samsung Galaxy Ace Plus (GT-S7500[L/T/W]) là thế hệ sau của Samsung Galaxy Ace (GT-S5830), được phát hành vào năm 2011. Bộ vi xử lý 1 GHz và nó bao gồm nâng cấp GUI và giao diện TouchWiz 4.0. == Xem thêm == Samsung Galaxy Galaxy Nexus Android OS Samsung Galaxy Ace Plus Samsung Galaxy Ace 2 == Tham khảo == == Liên kết == Website chính thức
bệnh dengue.txt
Sốt xuất huyết Dengue (IPA: ['deŋgeɪ], tiếng Việt thường đọc là Đăng-gơ) (dengue fever, DF), Sốt xuất huyết Dengue (dengue hemorrhagic fever, DHF) và biểu hiện nặng nề nhất của bệnh là Hội chứng sốc Dengue (Dengue Shock Syndrome, DSS) đều được gây nên bởi một trong bốn loại huyết thanh virus gần gũi nhưng lại khác nhau về mặt kháng nguyên là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Virus này thuộc chi Flavivirus. Nhiễm một loại virus có khả năng tạo nên miễn dịch suốt đời nhưng chỉ chống lại chính loại huyết thanh virus đó mà thôi. Chính vì vậy mà những người sống trong vùng lưu hành dịch Dengue có thể mắc bệnh nhiều hơn một lần trong đời. Sốt Dengue và Sốt xuất huyết Dengue chủ yếu là bệnh ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiễm virus Dengue gây nên triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy từng cá thể. Bệnh có thể chỉ biểu hiện như một hội chứng nhiễm virus không đặc hiệu hoặc bệnh lý xuất huyết trầm trọng và đưa đến tử vong (1). Trong bài này, thuật ngữ Dengue được sử dụng để chỉ chung cho ba thể bệnh nêu trên. Khi nói đến từng thể riêng biệt thì tên chính xác của thể bệnh đó sẽ được sử dụng. Có thể nói Dengue là một bệnh truyền nhiễm lây truyền do muỗi thường gặp nhất ở người. Trong những năm gần đây bệnh đã trở thành mối quan ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng trên bình diện quốc tế. Trên toàn thế giới có khoảng 2,5 tỷ người hiện đang sống trong vùng có lưu hành bệnh. Sự lan tràn về mặt địa lý của cả vector truyền bệnh là muỗi và virus đã đưa đến sự tăng cao tỷ lệ bệnh trong vòng 25 năm qua cũng như khả năng xuất hiện dịch do nhiều loại huyết thanh khác nhau ở các đô thị trong vùng nhiệt đới (2). Muỗi vằn là vật trung gian truyền bệnh, đây là loại muỗi sống ở những nơi bùn lầy nước đọng chung quanh nhà, hoặc các nơi ẩm thấp tối tăm trong nhà. Biểu hiện là xuất huyết da, niêm mạc và trụy tim mạch, dễ đưa đến tử vong nếu điều trị không kịp thời và không đúng mức. == Dịch tễ học == === Lịch sử === Những vụ dịch đầu tiên được ghi nhận xảy ra vào những năm từ 1778-1780 ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ. Sự xuất hiện gần như đồng thời của các vụ dịch trên ba lục địa khác nhau chứng tỏ rằng virus gây bệnh cũng như vector truyền bệnh đã phân bố rộng rãi trên toàn thế giới đã từ hơn 200 năm trước. Trong thời gian này Dengue chỉ được xem là bệnh nhẹ. Một vụ đại dịch Dengue xuất hiện ở Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ II và từ đó lan rộng trên toàn cầu. Cũng ở khu vực Đông Nam Á, Dengue lần đầu tiên được phát hiện ở Philippines vào năm 1950 nhưng đến năm 1970 bệnh đã trở thành nguyên nhân nhập viện và tử vong thường gặp ở trẻ em trong vùng này (1). === Xu hướng === Tỉ lệ mắc bệnh trên toàn thế giới đã gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây. Bệnh này hiện đã trở thành dịch tại trên 100 quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia có dịch lưu hành. Con số này tăng lên gấp hơn 4 lần vào năm 1995. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính mỗi năm có khoảng 50 đến 100 triệu người mắc bệnh. Không chỉ có số trường hợp mắc bệnh gia tăng mà khả năng nhiễm nhiều loại virus khác nhau cũng ngày càng đáng báo động. Sau đây là một vài con số thống kê khác (3)(4): Trong vụ dịch, tỉ lệ mắc bệnh ở những đối tượng nhạy cảm thường là 40-50% nhưng cũng có thể cao đến 80-90%. Mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp Sốt xuất huyết Dengue cần nhập viện, phần lớn trong số đó là trẻ em. Tỉ lệ tử vong chung vào khoảng 2,5%. Nếu không được điều trị, tỉ lệ tử vong của Sốt xuất huyết Dengue có thể vượt quá 20%. Với phương thức điều trị tích cực hiện đại, tỉ lệ tử vong có thể thấp hơn 1%. === Muỗi Aedes === Người nhiễm virus Dengue do muỗi cái thuộc giống Aedes đốt. Muỗi Aedes aegypti là vector truyền bệnh chủ yếu ở hầu hết các khu vực bệnh lưu hành. Muỗi Aedes aegypti hoạt động vào ban ngày và chỉ có muỗi cái mới đốt người và truyền bệnh. Khi muỗi cái Aedes hút máu bệnh nhân nhiễm virus Dengue, virus này sẽ ủ bệnh trong cơ thể muỗi khoảng 8 đến 11 ngày. Trong khoảng thời gian sống còn lại sau đó, muỗi có nguy cơ truyền bệnh cho người. Khi virus vào cơ thể người, chúng tuần hoàn trong máu từ 2 đến 7 ngày. Trong khoảng thời gian này nếu muỗi Aedes hút máu thì virus được truyền cho muỗi. Người là ổ chứa virus chính ngoài ra người ta mới phát hiện ở Malaixia có loài khỉ sống ở các khu rừng nhiệt đới cũng mang virus Dengue. Aedes aegypti có nguồn gốc từ châu Phi. Loài muỗi này dần dần lan tràn ra hầu hết các khu vực có khí hậu nhiệt đới đầu tiên là nhờ tàu thuyền và sau đó có thể cả máy bay nữa (5). Ngày nay có hai dưới nhóm của Aedes aegypti là Ae. aegypti queenslandensis, một dạng hoang dã ở châu Phi không phải là vector truyền bệnh chính và Ae. aegypti formosus là muỗi sống ở khu vực đô thị vùng nhiệt đới và là vector truyền bệnh chính. Trong quá khứ, muỗi Aedes aegypti phải nhờ vào các vũng nước mưa để đẻ trứng. Tuy nhiên ngày nay quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ồ ạt đang cung cấp cho muỗi những hồ nước nhân tạo để muỗi đẻ trứng dễ dàng hơn nhiều. Aedes albopictus trước đây là vector truyền bệnh chính của Dengue và hiện nay vẫn còn là vector quan trọng ở châu Á. Loài muỗi này gần đây đã lan tràn đến khu vực Trung Mỹ, Hoa Kỳ và tại đây muỗi này là vector truyền bệnh quan trọng thứ hai. Trong khi muỗi Ae. aegypti formosus chủ yếu sống ở khu vực đô thị thì muỗi Aedes albopictus lại cư trú chủ yếu ở vùng nông thôn. Muỗi Aedes aegypti không truyền virus cho trứng trong khi muỗi Aedes albopictus thì có khả năng này (5). == Sinh lý bệnh == Nhiễm virus Dengue thường không có biểu hiện rõ ràng. Sốt Dengue cổ điển (thể nhẹ) chủ yếu xuất hiện ở người lần đầu mắc bệnh, chưa có miễn dịch. Sốt xuất huyết Dengue/Hội chứng sốc Dengue (thể nặng) thường xảy ra trong lần nhiễm trùng sau, khi bệnh nhân đã có sẵn miễn dịch chủ động (do đã bị bệnh) hoặc thụ động (do mẹ truyền sang) đối với một loại huyết thanh khác. Bệnh thường biểu hiện nặng đột ngột sau 2 đến 5 ngày (giai đoạn hạ sốt). Các phức hợp kháng nguyên-kháng thể lưu hành trong máu, sự hoạt hóa hệ thống bổ thể và giải phóng các chất hoạt mạch có thể gây nên tăng tính thấm mao mạch đối với huyết tương, xuất huyết và có thể là đông máu nội mạch lan tỏa. Trong quá trình đào thải miễn dịch của các tế bào nhiễm virus, các protease và lymphokine được phóng thích gây hoạt hóa hệ thống bổ thể cũng như các yếu tố tăng tính thấm thành mạch (7). Miễn dịch tăng cường bệnh: Một số nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng "thể nặng của bệnh là Sốt xuất huyết Dengue/Hội chứng sốc Dengue xảy ra khi một người đã nhiễm bệnh trong quá khứ bởi một loại huyết thanh virus nay lại nhiễm một loại huyết thanh virus khác". Giả thuyết này được củng cố bởi các ghi nhận lâm sàng rằng Sốt xuất huyết Dengue gặp chủ yếu ở những người đã ít nhất một lần mắc bệnh trước đó và Sốt xuất huyết Dengue xảy ra thường xuyên hơn ở các cư dân trong vùng dịch lưu hành hơn là các du khách mắc bệnh tại nơi này trong cùng thời điểm. Nếu giả thuyết này là đúng hoàn toàn thì việc lưu chuyển các loại huyết thanh virus khác nhau từ vùng này đến vùng khác trên thế giới sẽ ngày càng gây nên tình trạng bệnh nặng nề hơn trong tương lai (5). Như vậy yếu tố nguy cơ gây bệnh nặng trong Sốt xuất huyết Dengue là người sẵn có kháng thể kháng lại một loại huyết thanh đã gây bệnh trước đó, chủng virus gây bệnh, trẻ nhỏ hơn 12 tuổi, phụ nữ và người Caucasian (1) (4). == Triệu chứng và chẩn đoán == === Triệu chứng === Thời kỳ ủ bệnh: 3 - 6 ngày, một số trường hợp có thể kéo dài đến 15 ngày. Sốt Dengue Triệu chứng thường xuất hiện đột ngột với sốt cao, người mệt mỏi rũ rượi, nhức đầu, đau sau hốc mắt, đau cơ (đau thắt lưng và đôi khi đau chân), thường kèm theo đau họng, chảy nước mũi trong, buồn nôn, nôn mửa, đau vùng thượng vị và tiêu chảy cần quan sát màu sắc phân xem có lẫn máu màu đỏ tươi hay màu đen màu đen có thể xuất huyết dạ dày. Ở trẻ em, đau họng và đau bụng thường là những triệu chứng nổi trội. Hạ sốt xuất hiện vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 8 thường kèm biểu hiện xuất huyết nhẹ nhàng (chấm xuất huyết dưới da, nốt xuất huyết và chảy máu mũi, chảy máu chân răng). Sau khi hạ sốt thường xuất hiện ban dạng dát sẩn đa hình thái, đôi khi gây ngứa, đầu tiên ở thân mình và lan rộng theo hướng ly tâm đến các chi, mặt, lòng bàn tay và lòng bàn chân. Một số trường hợp có thể bệnh có thể tiến triển đến xuất huyết tiêu hóa và sốc. Như vậy biểu hiện xuất huyết không chỉ Sốt xuất huyết Dengue mới có (6). Sốt xuất huyết Dengue Giai đoạn sớm của bệnh không thể phân biệt được với sốt Dengue. Tuy nhiên thường sau từ 2 đến 5 ngày, tức là vào giai đoạn hạ sốt, một số trường hợp nhiễm trùng tiên phát và đa số các nhiễm trùng thứ phát sau khi đã nhiễm một loại huyết thanh khác có biểu hiện hạ tiểu cầu (< 100.000/mm³) và cô đặc máu. Thường thì giảm tiểu cầu xảy ra trước cô đặc máu. Biểu hiện xuất huyết có thể xảy ra hoặc không. Các biểu hiện xuất huyết thường gặp trong Sốt xuất huyết Dengue gồm xuất huyết dưới da tự phát hoặc sau tiêm chích, chảy máu chân răng, chảy máu mũi và xuất huyết tiêu hóa. Lách thường không không lớn. Nếu gan lớn và đau thì đây là những dấu hiệu xấu. Các biểu hiện khác có thể gồm tràn dịch màng phổi, giảm protein máu, bệnh lý não với dịch não tủy bình thường (6). Tính thấm mao mạch gia tăng, với hậu quả thoát huyết tương ra ngoài khoang dịch kẽ với lượng lớn, là nguyên nhân của tình trạng cô đặc máu. Khi bệnh nhân có đồng thời hai dấu hiệu giảm tiểu cầu và cô đặc máu thì được chẩn đoán là Sốt xuất huyết Dengue và được phân loại theo WHO (6): Độ I: giảm tiểu cầu kèm cô đặc máu nhưng không có chảy máu tự phát. Độ II: giảm tiểu cầu và cô đặc máu kèm theo chảy máu tự phát. Độ III: giảm tiểu cầu và cô đặc máu, huyết động không ổn định: mạch nhỏ khó bắt, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tâm thu - huyết áp tâm trương < 20 mm Hg), tay chân lạnh, tinh thần lú lẫn. Độ IV: giảm tiểu cầu và cô đặc máu, sốc biểu hiện rõ: bệnh nhân không có mạch ngoại biên, huyết áp = 0 mmHg. Nếu được điều trị thoát sốc thì bệnh nhân lành bệnh nhanh chóng và rất hiếm có di chứng (6). === Chẩn đoán === Chẩn đoán nguyên nhân là cực kỳ quan trọng và cần thiết nếu xét trên phương diện sức khỏe cộng đồng nhưng lại tỏ ra không cần thiết cho việc thiết lập một chế độ điều trị hỗ trợ sớm cho bệnh nhân. Chẩn đoán Dengue thường dựa vào các yếu tố dịch tễ, biểu hiện lâm sàng như trình bày ở trên cũng như dựa vào các xét nghiệm đơn giản: số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu và hematocrit. Nếu chưa có ban đỏ xuất huyết ta làm nghiệm pháp dây thắt để chẩn đoán xác định. Số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi: Dengue xuất huyết thường có giảm bạch cầu. Trường hợp tăng bạch cầu và tăng bạch cầu trung tính thường là cơ sở để loại trừ Dengue xuất huyết. Giảm tiểu cầu (< 100.000/mm³): Cần làm số lượng tiểu cầu ở bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ Sốt xuất huyết Dengue. Tiểu cầu càng giảm, nguy cơ xuất huyết càng cao. Hematocrit: Khi giá trị hematocrit tăng trên 20% so với trị số bình thường trước đó thì bệnh nhân được coi là có cô đặc máu, một tiêu chuẩn chẩn đoán Sốt xuất huyết Dengue. Nếu không biết được giá trị hematocrit bình thường của bệnh nhân thì có thể xem giá trị > 45% là mốc chẩn đoán (6). Một số xét nghiệm khác nhằm đánh giá mức độ bệnh: điện giải đồ, khí máu, chức năng đông máu, men gan, X quang phổi nhằm phát hiện biến chứng tràn dịch màng phổi (4). Chẩn đoán nguyên nhân: có thể thể hiện mầm bệnh trong máu và huyết thanh bằng phương pháp phân lập virus, xác định kháng nguyên virus bằng các phương pháp miễn dịch hoặc phát hiện bộ gene của virus bằng kỹ thuật khuếch đại chuỗi ADN (PCR). Chẩn đoán huyết thanh học thông qua phương pháp xác định IgM bằng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch gắn kết enzyme (MAC - ELISA) ở hai mẫu máu bệnh nhân lấy cách nhau 14 ngày. Mẫu máu thứ nhất lấy trước ngày thứ 7 của bệnh cũng có thể có ích trong việc phân lập virus bằng cách cấy vào tế bào của muỗi A. albopictus. Sau đó, việc định danh vi khuẩn có thể thực hiện nhờ xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang sử dụng kháng thể đơn dòng. Ở bệnh nhân tử vong, chẩn đoán có thể thực hiện bằng phương pháp phân lập virus hoặc xác định kháng nguyên virus (phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp) từ hai mẫu bệnh phẩm (gan, lách, hạch bạch huyết, tuyến ức). == Điều trị == === Nguyên tắc chung === Vấn đề mất nước trong Sốt xuất huyết Dengue Không phải Sốt xuất huyết Dengue gây mất nước. Đây là sự nhầm lẫn quá lâu dài. Bệnh dù nặng dù nhẹ không có mất nước trên lâm sàng. Cân nặng không giảm, da không khô, một số tế bào nội tạng đả thừa nước thấy được trên siêu âm. Thường và đa số bệnh nhân Sốt xuất huyết Dengue là đủ và thừa nước, đả đủ nước ngay lúc mới bắt đầu truyền dịch cấp cứu. Vì sao phải truyền dịch cấp cứu sốc Dengue. Vì bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn máu. Tại sao bị giảm thể tích tuần hoàn máu, giảm khoảng 20 đến 30% thế tích. Vì Albumin trong máu thoát quản ra khỏi lòng mạch. Nước bình thường ra vào giữa lòng mạch với các mô và tế bào, nay không trở vào lòng mạch cho đủ nhu cầu, bởi một số lớn Albumin hiện diện ngoài lòng mạch. Có thể nói bệnh siêu vi Dengue gây thoát quản huyết tương, không phải là bệnh mất nước. Đây là điểm mấu chốt, quan trọng để sớm thay đổi tư duy điều trị. === Phân cấp điều trị bệnh nhân === Sau đây là những gợi ý về phân cấp bệnh nhân theo tuyến điều trị trong trường hợp có dịch với lượng bệnh nhân tăng cao trong cùng thời điểm. Xin lưu ý đây chỉ là những gợi ý và tuyệt đối không phải là phác đồ điều trị nên không thể áp dụng cho mọi trường hợp (6). Tiêu chuẩn điều trị tại nhà: Tất cả những bệnh nhân Sốt Dengue không có nhu cầu phải truyền dịch tĩnh mạch. Bệnh nhân Độ I có khả năng bù dịch bằng đường uống. Bệnh nhân Độ II có khả năng bù dịch bằng đường uống và không có chảy máu quan trọng. Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian ngắn (12 - 24 giờ): Tất cả những trường hợp bệnh cần bù dịch qua đường tĩnh mạch. Bệnh nhân Độ I và Độ II và không thể điều trị bù dịch bằng đường uống. Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II nhưng có đau tức gan và gan lớn. Tất cả bệnh nhân độ III. Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian dài (> 24 giờ): Tất cả bệnh nhân thuộc nhóm nhập viện trong thời gian ngắn không đáp ứng điều trị bù dịch. Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II kèm theo nhưng yếu tố cơ địa dễ chuyển thành bệnh nặng (hen phế quản, dị ứng, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính...). Bệnh nhân Độ II hoặc Độ III và có chảy máu quan trọng. Tất cả bệnh nhân Độ IV. == Dự phòng == === Vaccine === Lý tưởng nhất là có một vaccine có thể chống lại cả bốn loại huyết thanh virus gây bệnh. Đáng tiếc là một loại huyết thanh như vậy hiện nay vẫn chưa có sẵn. Tuy nhiên đã có một nghiên cứu tại Đại học Mahidol (Thái Lan) với sự cộng tác của WHO, một vaccine chống cả bốn loại huyết thanh virus gây bệnh đã, đang được phát triển và hoàn thiện. Vaccine này tỏ ra an toàn và hiện đang được đưa vào dùng thử nghiệm trên lâm sàng (5). Hiện nay vaccin chống SXH cả 4 typ siêu vi Dengue đang ở pha 2 thử nghiệm lâm sàng. === Kiểm soát vector truyền bệnh === Hiện tại, kiểm soát vector truyền bệnh được xem là phương pháp phòng bệnh duy nhất có hiệu quả (3). Kiểm soát các vector Aedes có thể làm giảm đáng kể tỉ lệ mắc bệnh Dengue. Trong những năm 1950 đến 1960 Tổ chức Y tế Toàn châu Mỹ (Pan American Health Organization) đã thành công trong việc diệt sạch Aedes aegypti ở nhiều vùng thuộc Trung và Nam Mỹ và trong thời gian này, các vụ dịch Dengue rất hiếm ở châu Mỹ. Tuy nhiên sau khi chương trình ngừng lại thì Aedes aegypti và sau đó là Dengue tái xuất hiện. Phương pháp chính để kiểm soát số lượng muỗi Aedes là giảm thiểu các khu vực có nước đọng, là nơi đẻ trứng của muỗi. Đậy kín các dụng cụ chứa nước, giảm tối đa các vật dụng có thể chứa nước mưa (lốp xe cũ, chén bát cũ...), hay nước sạch như bình bông, bàn cầu trong các phòng trống không có người ở, hầm nước ở các chung cư. Có thể dùng các loại sinh vật trong nước tiêu diệt trứng của muỗi. Trong vụ dịch đôi khi phải cần đến phun thuốc diệt muỗi trên diện rộng. Cũng giống như tất cả các bệnh lây truyền do arbovirus khác, các phương pháp bảo hộ cá nhân như mặc tất, vớ dài, dùng thuốc xua muỗi, tránh nhưng nơi có mật độ vector truyền bệnh cao. Một điểm đặc biệt là muỗi Aedes aegypti hoạt động vào ban ngày nên việc phòng tránh có khác so với các loại muỗi chỉ hoạt động ban đêm như Anophele và Culex. === Giáo dục cộng đồng === Việc nâng cao ý thức cộng đồng về nguy cơ của bệnh, các phương pháp phòng bệnh cũng như khả năng nhận biết bệnh và bệnh nặng có ý nghĩa rất quan trọng. == Tham khảo == 1. CDC. Dengue Fever [1]. 2. Epidemic and Pandemic Alert and Response (EPR)/WHO. Dengue/dengue haemorrhagic fever [2]. 3. Media Center/WHO. Dengue and dengue haemorrhagic fever [3]. 4. MedlinePlus Medical Encyclopedia. Dengue Hemorrhgic Fever [4]. 5. Boston College. Dengue Fever and Dengue Hemorrhagic Fever [5] 6. Marcio De Figueiredo Fernandes. Dengue/Dengue Hemorrhagic Fever. Infectious Diseases. Medstudents [6]. 7. Price D,. Wilson SR. Dengue Fever. Emedicine [7]. == Liên kết ngoài == Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue trên trang web Bộ Y tế Việt Nam. Phòng chống sốt xuất huyết trên trang web Thông tin Y dược Việt Nam Phòng chống sốt xuất huyết trên trang web dantri.com Phòng chống sốt xuất huyết trên Vnexpress.net
wikispecies.txt
Wikispecies là dự án wiki của Wikimedia Foundation. Được thành lập vào tháng 8, năm 2004, với sự đóng góp của các nhà sinh học trên toàn thế giới dự án đã có hơn 500.000 trang nội dung. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Official site Trang chính tiếng Việt Cổng cộng đồng The Wikispecies Charter, viết bởi Wales.
diego costa.txt
Diego da Silva Costa (tiếng Tây Ban Nha: [ˈdjeɣo ða ˈsilβa ˈkosta], tiếng Bồ Đào Nha: [ˈdʒjeɡu dɐ ˈsiwvɐ ˈkɔstɐ]; sinh ngày 7 tháng 10 năm 1988) là cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha gốc Brasil thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Chelsea tại giải bóng đá Ngoại Hạng Anh và Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Costa sinh tại Brasil nhưng chưa bao giờ thi đấu chuyên nghiệp ở đây. Anh bắt đầu sự nghiệp tại Braga ở Bồ Đào Nha. Năm 2007, anh ký hợp đồng với Atlético Madrid, trước khi được đem cho Celta, Albacete mượn và bán cho Valladolid nhưng sau đó anh đã trở lại Atlético năm 2010 và trở thành chân sút số một của câu lạc bộ này trong mùa bóng 2013-14, mùa giải mà Atlético có được danh hiệu vô địch La Liga. Mùa hè năm 2014, anh chuyển đến Chelsea với phí chuyển nhượng 32,5 triệu £. Trong mùa giải đầu tiên tại nước Anh, Costa ghi được 20 bàn thắng tại Giải Ngoại Hạng Anh và giành được cú đúp danh hiệu Cúp Liên đoàn - Giải Ngoại Hạng. Tại đội tuyển quốc gia, Costa đã từng thi đấu hai trận cho đội tuyển Brasil vào năm 2013 trước khi anh quyết định nhập quốc tịch Tây Ban Nha và chuyển sang khoác áo đội tuyển Tây Ban Nha. Anh có trận đầu tiên cho Tây Ban Nha vào tháng 3 năm 2014 và có giải đấu lớn đầu tiên cho đội tuyển nước này là World Cup 2014. == Sự nghiệp câu lạc bộ == === Khởi đầu sự nghiệp === Costa sinh tại Lagarto, Sergipe, một thành phố nhỏ của Brasil và không có một trung tâm huấn luyện bóng đá nào. Vào năm 15 tuổi, anh rời Sergipe và chuyển đến São Paulo, nơi anh làm việc cho cửa hàng của người chú tên Jarminho. Cho đến năm 16 tuổi anh vẫn chỉ chơi bóng trên đường phố cho đến khi gia nhập đội trẻ câu lạc bộ Barcelona Esportivo Capela tại São Paulo dưới sự khuyến khích của người chú. Tại Barcelona Esportivo Capel, Costa đã đấm một cầu thủ đối phương và đe dọa cả trọng tài. Hành vi đó khiến anh bị treo giò đến bốn tháng. Tháng 2 năm 2006, anh ký hợp đồng thi đấu chuyên nghiệp đầu tiên cho S.C. Braga tại Bồ Đào Nha sau một tháng thi đấu cho đội B của S.C. Braga. Mùa hè năm 2006, Costa được đem cho F.C. Penafiel tại giải hạng nhì Bồ Đào Nha mượn. Vào tháng 12, anh được Atlético Madrid mua với giá 1,5 triệu € và 50% quyền cầu thủ. Anh tiếp tục thi đấu cho Braga theo hình thức cho mượn đến hết mùa, ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong chiến thắng 1-0 trước Parma FC tại cúp UEFA. Trong hai mùa bóng kế tiếp, anh được đem cho mượn tại Celta de Vigo và Albacete Balompié. === Valladolid === Ngày 8 tháng 7 năm 2009, Costa chuyển đến Real Valladolid trong khi thủ môn Sergio Asenjo đến Atlético theo chiều ngược lại, với điều khoản cho phép Atlético mua lại anh vào cuối mùa. Costa có phong độ khởi đầu tốt khi ghi được sáu bàn trong 12 trận đầu tiên tuy nhiên trong giai đoạn còn lại của mùa giải chỉ ghi thêm được một bàn thắng. Cuối mùa giải, Valladolid bị rớt hạng tại La Liga. === Atlético Madrid === Tháng 6 năm 2010, Costa trở lại Atlético, đóng vai trò dự bị cho Sergio Agüero và Diego Forlán. Atlético đã trả một khoản tiền không được tiết lộ cho Braga để mua 30% quyền kinh tế còn lại.. Ngày 26 tháng 9, khi Agüero chấn thương, Costa vào sân từ băng ghế dự bị đã ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Real Zaragoza. Ngày 3 tháng 4 năm 2011, anh lập hat-trick trong chiến thắng 3-2 trước CA Osasuna. Cuối tháng 7 năm 2011, trong trận đấu đầu mùa giải, Costa bị chấn thương đầu gối khiến anh phải nghỉ thi đấu đến sáu tháng. Ngày 23 tháng 1 năm 2012, anh được đem cho Rayo Vallecano mượn đến tháng 6 và ghi được bốn bàn trong ba trận đầu tiên, trong đó có cú đúp trong trận thắng Levante UD 5-3. Tháng 12 năm 2012, Costa có xô xát nghiêm trọng với hậu vệ Sergio Ramos của Real Madrid trong trận đấu mà Atlético thua 2-0. Trong trận đấu ngay sau đó với Viktoria Plzeň tại UEFA Europa League 2012-13, anh bị truất quyền thi đấu và bị UEFA cấm thi đấu bốn trận. Tuy nhiên sau đó, anh đã trở lại mạnh mẽ với hai cú hat-trick vào lưới Deportivo de La Coruña tại La Liga và Getafe CF tại Cúp Nhà vua Tây Ban Nha (3–0). Sau đó trong trận tứ kết Cúp Nhà vua với Sevilla FC, Costa nâng tổng số bàn thắng của mình tại giải đấu này lên bảy bàn thắng sau ba bàn thắng trong hai lượt đi về: hai bàn thắng từ chấm phạt đền ở trận lượt đi và một bàn thắng cùng một phá kiến tạo thành bàn cho Radamel Falcao trong trận lượt về để Atlético thắng chung cuộc 4-3. Costa ghi bàn gỡ hòa cho Atlético Madrid trong trận chung kết Cúp Nhà vua với kình địch Real Madrid ngày 17 tháng 5 năm 2013. Chung cuộc Atlético vô địch với chiến thắng 2-1 đồng thời Costa trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất giải đấu với tám bàn thắng. Tháng 8 năm 2013, Diego Costa đã đồng ý gia hạn hợp đồng mới với Atlético đến năm 2018 sau khi đội bóng này từ chối đề nghị chuyển nhượng lên đến 21 triệu Bảng Anh của Liverpool. Vài ngày sau đó, anh lập một cú đúp trong trận đấu đầu tiên của mùa giải mới, đem về chiến thắng 3-1 trước Sevilla. Ngày 24 tháng 9, Costa ghi cả hai bàn trong chiến thắng 2-1 trước Osasuna, giúp Atlético có được chiến thắng thứ sáu liên tiếp để cùng với FC Barcelona chia sẻ hai vị trí đầu bảng. Bốn ngày sau đó, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận derby thành phố Madrid ngay tại sân nhà của Real là Santiago Bernabéu. Ngày 6 tháng 10, anh lại có cú đúp trong trận đấu với Celta de Vigo đem về chiến thắng thứ 8 liên tiếp cho Atlético tại La Liga. Ngày 22 tháng 10 năm 2013, Costa có trận đấu đầu tiên tại UEFA Champions League và ngay lập tức đã có cú đúp trong chiến thắng 3-0 trước FK Austria Wien. Ngày 19 tháng 2 năm 2014, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận lượt đi vòng 1/16 với A.C. Milan trước khi có hai bàn thắng trong trận lượt về giúp Atlético lần đầu tiên sau 17 năm lọt vào tứ kết giải đấu này với tổng tỉ số 5-1. Bàn thắng san bằng tỷ số trong chiến thắng 2-1 của Atletico trước chủ nhà Athletic Bilbao ngày 29 tháng 3 của Diego Costa đã giúp anh cán mốc 25 bàn thắng tại La Liga 2013-14 và 100 bàn thắng trong sự nghiệp. Ngày 30 tháng 4 năm 2014, anh đã bị phạm lỗi trong vòng cấm và sau đó đã thực hiện thành công quả phạt đền giúp đội bóng của anh đánh bại Chelsea 3–1 tại lượt về bán kết Champions League và chính thức có mặt tại trận chung kết UEFA Champions League 2013-14 lần thứ hai (lần thứ nhất vào năm 1974). Costa kết thúc La Liga 2013-14 với 27 bàn thắng, xếp thứ ba trong danh sách vua phá lưới còn Atlético giành được chức vô địch sau 18 năm. Tuy nhiên trong trận đấu cuối cùng của mùa giải với Barcelona, anh đã phải rời sân ở ngay phút 16 do chấn thương gân kheo. Atlético đã đưa anh đến Belgrade để chữa trị chấn thương bằng nhau thai ngựa để có thể kịp trở lại cho trận chung kết UEFA Champions League với Real Madrid. Tuy nhiên anh chỉ thi đấu được vỏn vẹn 8 phút trong trận chung kết này do tái phát chấn thương và chung cuộc Atlético để thua 4-1 sau 120 phút thi đấu. Huấn luyện viên Diego Simeone sau đó cũng phải thừa nhận đã phạm sai lầm khi để cho Costa ra sân trong trận chung kết khi anh chưa hoàn toàn bình phục chấn thương. Với 8 bàn thắng ghi được tại UEFA Champions League 2013-14, Costa đã cân bằng kỷ lục ghi bàn tại giải đấu hàng đầu của các câu lạc bộ châu Âu của Atlético do Vavá lập từ năm 1959. === Chelsea === Costa hoàn tất việc kiểm tra y tế ở Chelsea vào tháng 6 năm 2014 và đến ngày 1 tháng 7, câu lạc bộ Chelsea xác nhận đã "đạt được thỏa thuận chuyển nhượng Diego Costa với Atletico Madrid" sau khi đồng ý bỏ ra 32 triệu £ giải phóng hợp đồng của Costa. Ngày 15 tháng 7 năm 2014, Chelsea chính thức thông báo đã hoàn tất vụ chuyển nhượng Diego Costa với bản hợp đồng năm năm và lương của Costa tại Chelsea sẽ là 150.000 £ một tuần. Tại Chelsea, Costa khoác áo số 19, số áo cũ của tiền đạo Demba Ba. ==== Mùa giải 2014-15 ==== Costa đã ghi bàn ngay trong trận đấu đầu tiên khoác áo Chelsea là trận giao hữu trước mùa giải 2014-15 với đội bóng của Slovenia Olimpija. Ngày 18 tháng 8, ngay trong trận đấu đầu tiên của anh cho Chelsea tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, anh đã ghi bàn gỡ hòa 1-1 trong chiến thắng chung cuộc 3-1 trước Burnley. Một tuần sau đó, Costa lại tiếp tục lập công với bàn thắng mở tỉ số trong chiến thắng 2-0 trước Leicester City, bàn thắng đầu tiên của anh tại sân Stamford Bridge ở một giải đấu chính thức. Ngày 30 tháng 8, anh có được một cú đúp với bàn thắng mở tỉ số và ấn định tỉ số trong chiến thắng 6-3 trước Everton, trong đó bàn thắng đầu tiên được ghi chỉ 35 giây sau khi trận đấu bắt đầu và anh có được cú đúp trên chỉ với ba pha dứt điểm trong cả trận. Sau trận đấu, anh đã được huấn luyện viên José Mourinho, trung vệ đội trưởng John Terry và cây bút thể thao Jamie Redknapp dành cho nhiều lời khen ngợi. Với thành tích ghi bàn ấn tượng trên, Costa đã nhận danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất tháng 8 của Premier League. Tại lượt đấu thứ tư Premier League 2013-14, Costa có hat-trick đầu tiên tại giải đấu cao nhất nước anh trong chiến thắng 4-2 trước Swansea City. Việc ghi bàn trong trận này giúp anh trở thành cầu thủ thứ hai sau Micky Quinn ghi bàn ở cả bốn trận đấu đầu tiên của mùa giải tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Đến ngày 27 tháng 9, trong chiến thắng 3-0 trước Aston Villa, Costa tiếp tục ghi bàn từ pha đánh đầu và có đóng góp rất lớn vào bàn thắng sau đó của Willian khi pha dứt điểm rất mạnh của anh bị thủ môn Brad Guzan đẩy bóng ra đã đến ngay vị trí của Willian. Sau một số trận đấu vắng mặt vì chấn thương, Costa có bàn thắng thứ 10 tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2014-15 với pha ghi bàn ấn định chiến thắng 2-1 trước Liverpool vào ngày 8 tháng 11. Anh có bàn thắng đầu tiên trong năm 2015 ngay trong ngày 1 tháng 1 với pha ghi bàn mở tỉ số trong trận đấu sân khách với Tottenham Hotspur nhưng chung cuộc Chelsea đã để thua ngược với tỉ số 5-3. Costa có được bàn thắng thứ 15 trong mùa giải với pha ghi bàn ấn định chiến thắng 2-0 của Chelsea trước Newcastle United sau quả giật gót tinh tế của Oscar. Tại vòng đấu tiếp theo vào ngày 17 tháng 1 với Swansea, anh lập được một cú đúp và có pha kiến tạo cho Oscar giúp Chelsea giành thắng lợi 5-0. Cuối tháng 1, Costa bị Liên đoàn bóng đá Anh (FA) ra án phạt cấm thi đấu ba trận vì lỗi thi đấu bạo lực khi đạp vào chân tiền vệ Emre Can của Liverpool tại trận bán kết Cúp Liên đoàn. Anh có được danh hiệu đầu tiên với Chelsea sau chiến thắng 2-0 trước Tottenham Hotspur tại trận chung kết Cúp Liên đoàn ngày 1 tháng 3, trong đó bàn thắng thứ hai của Chelsea đến từ tình huống Costa sút bóng trúng vào chân hậu vệ Kyle Walker đổi hướng đi vào lưới. Bàn thắng này sau đó được tính cho Costa. Ngày 26 tháng 4, Costa cùng với Harry Kane của Tottenham là hai tiền đạo có tên trong Đội hình xuất sắc nhất Premier League mùa giải 2014-2015 do Hiệp hội cầu thủ chuyên nghiệp Anh (PFA) bình chọn. Trong đội hình này còn có năm người đồng đội khác của Costa tại Chelsea. Do chấn thương, Costa đã không thể ra sân trong các trận đấu ở giai đoạn cuối mùa giải, trong đó có chiến thắng 1-0 trước Crystal Palace vào ngày 3 tháng 5, chiến thắng mang về danh hiệu vô địch Premier League lần thứ tư trong lịch sử của Chelsea. Anh có mặt ở trận đấu cuối cùng trong mùa giải 2014-15 với Sunderland khi vào sân thay cho tiền đạo Didier Drogba bị chấn thương. Chỉ sau 7 phút có mặt trên sân, anh đã ghi bàn thắng thứ 20 ở Giải Ngoại hạng từ chấm phạt đền và chung cuộc Chelsea giành thắng lợi 3–1. ==== Mùa giải 2015-16 ==== Costa lỡ mất trận đấu chính thức đầu tiên của Chelsea trong mùa giải 2015-16 là trận thua 0-1 trước Arsenal tại Siêu cúp Anh 2015 vì chấn thương. Phải đến vòng đấu thứ ba Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2015-16, anh mới có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải với pha ghi bàn nâng tỉ số lên 2-1 từ đường chuyền của Pedro giúp Chelsea có được thắng lợi 3-2 trước West Bromwich Albion, thắng lợi đầu tiên trong mùa giải của Chelsea. Anh có bàn thắng đầu tiên tại UEFA Champions League cho Chelsea trong trận thắng 4-0 trước Maccabi Tel Aviv. Ba ngày sau đó, Costa đã có những hành động khiêu khích và va chạm với các hậu vệ Laurent Koscielny và Gabriel Paulista trong trận đấu với Arsenal, dẫn đến chiếc thẻ đỏ của Paulista sau khi anh này có hành vi đá nguội trả đũa. Arsenal trong thế trận chỉ còn 10 người đã để thua 2-0. Sau trận đấu, huấn luyện viên Arsenal Arsène Wenger đã trách cứ trọng tài Mike Dean bỏ qua tình huống đánh nguội đáng nhận thẻ đỏ của Costa với Koscielny. Sau trận đấu vào ngày 21 tháng 9, anh bị Liên đoàn Bóng đá Anh buộc tội có hành vi bạo lực và một ngày sau đó anh phải nhận án phạt cấm thi đấu ba trận. Costa chính thức trở lại sau án phạt vào ngày 17 tháng 10, ghi được một bàn và có pha bóng dẫn đến tình huống hậu vệ của Aston Villa Alan Hutton phản lưới nhà, qua đó chấm dứt chuỗi ba trận liên tiếp chỉ biết đến hòa và thua của Chelsea tại Premier League. Đầu tháng 11 năm 2015, Costa lại dính đến rắc rối khi có pha đá vào hông hậu vệ của Liverpool Martin Škrtel và may mắn không bị trọng tài cũng như FA xử phạt. Đến gần cuối tháng 11 anh mới chấm dứt cơn khát bàn thắng 603 phút trên mọi đấu trường khi ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Norwich. Ngày 29 tháng 11, Costa và huấn luyện viên Mourinho phát sinh mâu thuẫn trầm trọng khi anh tức giận cởi áo tập và ném về phía huấn luyện viên này do không được vào sân trong trận đấu với Tottenham. Mâu thuẫn này chấm dứt khi Mourinho bị sa thải nhưng bản thân Costa sau đó đã bị các cổ động viên Chelsea la ó và căng biểu ngữ có nội dung gọi anh là con chuột hay Judas để thể hiện sự ủng hộ của họ đối với huấn luyện viên người Bồ Đào Nha. Trong trận đấu đầu tiên của Chelsea dưới thời huấn luyện viên tạm quyền Guus Hiddink gặp Watford, anh đã lập một cú đúp nhưng không đủ để giúp Chelsea giành trọn 3 điểm. Một tuần sau đó, anh ghi được một bàn thắng và có một pha kiến tạo trong chiến thắng ngay đầu năm 2016 của Chelsea trước Crystal Palace với tỉ số 3-0. Ngày 24 tháng 1, Costa ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Arsenal tại giải Ngoại hạng Anh. Trước khi ghi bàn, anh còn khiến trung vệ Per Mertesacker của đối phương bị truất quyền thi đấu. Đến ngày 7 tháng 2, anh ghi bàn gỡ hòa 1-1 cho Chelsea ở phút bù giờ trận đấu với Manchester United để giữ vững thành tích bất bại của Chelsea dưới thời huấn luyện viên Hiddink. Một tuần sau đó, trong trận đại thắng 5-1 trước Newcastle United, Costa là người ghi bàn mở tỉ số và chuyền cho Willian nâng tỉ số lên 3-0. Ngày 9 tháng 3, Costa ghi bàn thắng gỡ hòa 1-1 trong trận đấu lượt về vòng 1/16 với Paris Saint-Germain. Tuy nhiên anh đã phải rời sân ở phút 60 vì chấn thương và chỉ vài phút sau khi Costa ra sân, Ibrahimović đã ghi bàn ấn định chiến thắng 2-1 cho PSG trong trận lượt về và 4-2 cho cả hai lượt trận. Ba ngày sau đó, anh đã kịp trở lại thi đấu sau chấn thương nhưng có lần đầu tiên nhận thẻ đỏ trong màu áo Chelsea sau pha va chạm với tiền vệ Gareth Barry trong trận thua Everton 2-0 tại tứ kết cúp FA. Costa còn bị dính vào rắc rối vì cho rằng đã cắn Barry, hành động có thể khiến anh bị cấm thi đấu nhiều trận nhưng chính Barry đã phủ nhận điều. Mặc dù vậy án phạt cấm thi đấu hai trận của Costa sau đó đã bị nâng lên thành ba và anh còn bị phạt 20.000 £. Vào ngày 2 tháng 5, trong trận Chelsea hòa Tottenham 2-2, Costa lần này lại trở thành nạn nhân khi anh bị tiền vệ Mousa Dembélé móc mắt và cầu thủ người Bỉ đã bị cấm thi đấu sáu trận vì hành vi này. ==== Mùa giải 2016-17 ==== Ngày 15 tháng 8 năm 2016, trong trận đấu mở màn của Chelsea trong mùa giải 2016-17 với West Ham United, Costa là người đã ấn định chiến thắng 2-1 cho Chelsea. Tuy nhiên trước khi có bàn thắng, Costa đáng lẽ đã bị truất quyền thi đấu sau pha vào bóng nguy hiểm thủ môn West Ham Adrián dù trước đó đã phải nhận thẻ vàng. Đến trận đấu vòng đấu tiếp theo với Watford, Costa tiếp tục là người ấn định chiến thắng 2-1 cho Chelsea ở những phút cuối của trận đấu. Cú đúp vào lưới Swansea tại sân nhà đội bóng này vào ngày 11 tháng 9 và bàn thắng trong trận đấu với Liverpool năm ngày sau đó giúp anh có được thành tích 5 bàn thắng trong 5 trận đầu tiên của Premier League mùa giải mới. Ngày 30 tháng 10, Costa là người ấn định chiến thắng 2-0 trước Southampton bằng một pha cứa lòng đẳng cấp từ ngoài vòng cấm. Đây là bàn thắng thứ 40 của Costa sau 64 trận tại giải Ngoại hạng Anh và anh là cầu thủ đạt đến cột mốc này nhanh thứ 6 trong lịch sử giải Ngoại hạng. Đến ngày 20 tháng 11, anh trở thành cầu thủ đầu tiên có được bàn thắng thứ 10 tại Premier League 2016-17 với pha lập công duy nhất trong chiến thắng trước Middlesbrough. Ngày 3 tháng 12, Costa có một bàn thắng và một kiến tạo giúp Chelsea lội ngược dòng đánh bại Manchester City 3-1 trên sân khách và tiếp tục giữ vững ngôi đầu bảng. Với hai bàn thắng và hai phá kiến tạo, anh được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trong tháng 11 năm 2016 của Giải bóng đá ngoại hạng Anh. Tháng 1 năm 2017, Costa lại dính đến rắc rối với màn cãi nhau với đồng đội Pedro ngay trên sân trong trận thua 2-0 trước Tottenham và sau đó là tranh cãi với huấn luyện viên Conte liên quan đến vấn đề thể lực (có các nguồn tin Costa muốn chuyển sang Trung Quốc thi đấu) dẫn đến việc anh bị huấn luyện viên này loại ra khỏi đội hình xuất phát cho trận đấu với Leicester City. Anh trở lại đội hình chính vào ngày 22 tháng 1 và ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 2–0 trước Hull City, bàn thắng thứ 52 của anh trong trận đấu thứ 100 cho Chelsea. Sau trận đấu, huấn luyện viên Conte tỏ ra hài lòng vì màn trình diễn của Costa đã xóa sạch mọi tin đồn về việc anh muốn bỏ Chelsea sang Trung Quốc. == Sự nghiệp đội tuyển quốc gia == Ngày 5 tháng 3 năm 2013, Costa được huấn luyện viên Luiz Felipe Scolari triệu tập vào đội tuyển Brasil cho trận giao hữu với Ý và Nga tại Geneva và Luân Đôn. Anh có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển vàng xanh trong trận hòa 2-2 trước Ý khi vào sân thay cho tiền đạo Fred ở hiệp 2. Tháng 9 năm 2013, Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha đệ trình yêu cầu lên FIFA xin được triệu tập Costa vào đội tuyển quốc gia của họ. Trước đó vào tháng 7 năm 2013, Costa đã được cấp quốc tịch Tây Ban Nha. Ngày 29 tháng 10 năm 2013, Costa gửi thư cho Liên đoàn bóng đá Brasil và tuyên bố anh muốn thi đấu cho đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Huấn luyện viên Scolari đã bình luận về hành động của Costa là: "Cậu ta đã quay lưng lại với giấc mơ của hàng triệu người Brasil, đó là được thi đấu cho một đội tuyển đã năm lần vô địch World Cup." Sau đó, Liên đoàn bóng đá Brasil đã kêu gọi Bộ Tư pháp nước này tước quốc tịch của Costa. Trưởng bộ phận pháp lý của CBF, ông Carlos Eugênio Lopes đã phát biểu trên báo chí: "Lý do chính mà Costa lựa chọn quyết định này là tài chính. Chủ tịch Jose Maria Marin đã ủy quyền cho tôi để mở hành động pháp lý tại Bộ Tư pháp nhằm yêu cầu tước quốc tịch Brasil của Diego Costa. CBF sẵn sàng chiến đấu với trường hợp này. Về mặt pháp lý, lập luận của chúng tôi khá mạnh mẽ vì trận giao hữu mà Costa đã từng tham dự đủ để xếp hạng FIFA." Ngày 28 tháng 2 năm 2014, huấn luyện viên Vicente Del Bosque của Tây Ban Nha đã triệu tập anh cho trận giao hữu với đội tuyển Ý. Anh có trận đấu đầu tiên cho Tây Ban Nha vào ngày 5 tháng 3 với chiến thắng trước đội tuyển Ý 1–0. === World Cup 2014 === Costa có tên trong danh sách dự kiến 30 cầu thủ Tây Ban Nha được triệu tập tham dự World Cup 2014 tại Brasil và danh sách chính thức 23 cầu thủ sau đó dù chỉ mới bình phục chấn thương vào ngày 31 tháng 5 năm 2014. Anh tham gia trận đấu giao hữu làm nóng trước giải đấu với El Salvador và đã đem về một quả phạt đền cho Tây Ban Nha trong chiến thắng 2-0. Costa được huấn luyện viên Del Bosque chọn vào đội hình xuất phát trong trận mở màn Bảng B World Cup 2014 với Hà Lan. Anh đem về quả phạt đền cho Tây Ban Nha khi bị hậu vệ Hà Lan Stefan de Vrij phạm lỗi dù gây tranh cãi trong vòng cấm. Từ chấm phạt đền, Xabi Alonso mở tỉ số cho Tây Ban Nha nhưng chung cuộc đội bóng của anh lại để thua ngược Ha Lan 5-1. Costa sau đó cũng xuất hiện trong đội hình xuất phát của tuyển Tây Ban Nha trong trận đấu vòng bảng thứ hai với Chile nhưng bị thay ra bởi Fernando Torres và việc Tây Ban Nha để thua 2-0 trong trận này đã khiến nhà đương kim vô địch thế giới bị loại ngay từ vòng bảng. Anh không được ra sân trong trận đấu cuối cùng giữa Tây Ban Nha và Úc. === Euro 2016 === Đến ngày 12 tháng 10 năm 2014, trong trận đấu thuộc khuôn khổ vòng loại Euro 2016 với Luxembourg, Costa mới chính thức có bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Tây Ban Nha với pha ghi bàn nâng tỉ số lên 3-0. Chung cuộc Tây Ban Nha giành thắng lợi 4-0. Phải đến ngày 5 tháng 9 năm 2015 anh mới trở lại thi đấu cho đội tuyển Tây Ban Nha trong trận đấu với Slovakia và đã đem về một quả phạt đền giúp Tây Ban Nha giành chiến thắng 2-0. Tuy nhiên sau đó anh phải rời sân nhường chỗ cho Paco Alcácer trong tiếng la ó của các cổ động viên. Huấn luyện viên Del Bosque sau trận đấu đã đứng ra bảo vệ Costa trước những lời chỉ trích khi nói rằng anh đã chơi tốt trước Slovakia. == Thống kê sự nghiệp == === Câu lạc bộ === Số liệu thống kê chính xác tới 18 tháng 3 năm 2017 === Đội tuyển quốc gia === Số liệu thống kê chính xác tới ngày 24 tháng 3 năm 2017 === Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia === Bàn thắng và kết quả của đội tuyển Tây Ban Nha được để đầu tiên == Danh hiệu == === Câu lạc bộ === Atlético Madrid Siêu cúp bóng đá châu Âu (2): 2010, 2012 La Liga (1): 2013-2014 Copa del Rey (1): 2013 Á quân UEFA Champions League: 2014 Chelsea FC Giải Ngoại hạng Anh (1): 2014-2015 Cúp Liên đoàn bóng đá Anh (1): 2014-2015 === Cá nhân === Vua phá lưới Copa del Rey 2012–13 Cầu thủ xuất sắc nhất trong tháng của La Liga: Tháng 9 năm 2013 Đội hình xuất sắc nhất mùa giải của Giải bóng đá ngoại hạng Anh: 2014-2015 Cầu thủ xuất sắc nhất trong tháng của Giải bóng đá ngoại hạng Anh (2): Tháng 8 năm 2014; Tháng 11 năm 2016 == Chú thích == == Liên kết ngoài == Thông tin về Diego Costa trên trang web chính thức của Atlético Madrid Thông tin về Diego Costa trên trang web BDFutbol Diego Costa tại National-Football-Teams.com Thông tin về Diego Costa trên trang web Transfermarkt Thông tin về Diego Costa trên trang web Goal.com
phan nhân.txt
Phan Nhân (15 tháng 5 năm 1930 – 29 tháng 6 năm 2015) tên thật là Liêu Nguyễn Phan Nhân, sinh tại thành phố Long Xuyên, An Giang. Ông được biết đến với vai trò là nhạc sĩ với nhiều ca khúc nổi tiếng như Hà Nội niềm tin và hy vọng, Thành phố của tôi, Em ở nơi đâu, Bài ca cho em... == Sự nghiệp sáng tác == Phan Nhân sẽ có tên trong danh sách các nhạc sĩ viết về Hà Nội hay nhất, với ca khúc để đời Hà Nội - Niềm tin và hy vọng, tác phẩm được ra đời trong bối cảnh Hà Nội bị ném bom dữ dội cuối năm 1972. Đây cũng là ca khúc được chọn làm giai điệu chính cho Lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Ông cũng được nhiều người yêu mến với các bài Cây đàn ghi-ta của Victor Hara, Tình ca đất nước, Tiếng hát gửi dòng sông quê hương và nhất là Chú ếch con. == Qua đời == Vì tuổi cao sức yếu, nhạc sĩ Phan Nhân đã trút hơi thở cuối cùng lúc 10h20 ngày 29/6/2015. Lễ viếng được tổ chức vào ngày 30/6/2015 tại nhà tang lễ Lê Quý Đôn, Q.3, Thành phố Hồ Chí Minh. == Chú thích ==
flo.txt
Flo (tên dịch từ tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là "Sự hủy diệt"), (tiếng Anh là Fluorine) là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu F và số nguyên tử bằng 9, nguyên tử khối bằng 19. Nó là một halôgen và là nguyên tố đặc biệt luôn có số oxi hóa -1 trong mọi hợp chất, nằm trong nhóm 7 của bảng tuần hoàn. Ở dạng khí, nó có màu vàng lục nhạt và là chất độc cực mạnh. Nó là một chất ôxi hóa và hoạt động hóa học mạnh nhất trong tất cả các nguyên tố. Ở dạng nguyên chất, Flo cực kỳ nguy hiểm, có thể tạo ra những vết bỏng hóa học trên da. == Thuộc tính == Flo nguyên chất là một khí màu vàng nhạt có tính ăn mòn do nó là một chất ôxi hóa cực mạnh. Flo thậm chí còn tạo ra các hợp chất với một số khí trơ như xenon và radon. Ngay trong bóng tối và ở nhiệt độ thấp (21K), flo phản ứng mãnh liệt với hiđrô. Trong luồng khí flo, thủy tinh, các kim loại, nước và các chất khác cháy với ngọn lửa sáng chói. Nó hoạt động quá mạnh nên không thể tìm thấy ở dạng đơn chất và có ái lực đối với phần lớn các nguyên tố khác, đặc biệt là silic, vì thế nó không thể được điều chế hay bảo quản trong các bình thủy tinh. Trong không khí ẩm nó phản ứng với hơi nước để tạo ra axít flohiđric rất nguy hiểm. Trong dung dịch nước, flo thông thường xuất hiện dưới dạng ion florua F-. Các dạng khác là phức chất gốc flo (như [FeF4]-) hay H2F+. Các muối florua là hợp chất của flo với các gốc tích điện dương, thường là các ion. Các hợp chất của flo với kim loại nằm trong số các muối ổn định nhất. == Tính chất hóa học == F2 là một phi kim hoạt động hóa học rất mạnh === Phản ứng với hydro === Phản ứng xảy ra ngay trong bóng tối, ở nhiệt độ -252*C tạo ra axit flohydric F2 + H2 → 2HF === Phản ứng với các kim loại === — Oxi hóa tất cả các kim loại (kể cả Au, Pt) tạo muối florua kim loại ứng với bậc oxi hóa cao của kim loại đó khi florua đó bền ở điều kiện thí nghiệm 3F2 + 2Au → 2AuF3 3F2 + 2Fe → 2FeF3 Các kim loại kiềm, kiềm thổ phản ứng với flo xảy ra mãnh liệt. Các kim loại Al, Zn, Cr, Ni, Ag... phản ứng mạnh khi đun nóng Các kim loại Cu, Au họ Pt phản ứng khi đun nóng mạnh 3F2 + 2Au → 2AuF3 (điều kiện: t°cao) === Phản ứng với các phi kim khác === Phản ứng với hầu hết phi kim (trừ O2; N2; Ne; He; Ar) tạo ra hợp chất công hóa trị ứng với bậc oxi hóa cao của nguyên tố phi kim đó 3F2 + S → SF6 2F2 + C → CF4 2F2 + Si → SiF4 Flo phản ứng với các halogen khác, trong những điều kiện đặc biệt F2 + Cl2 → 2ClF (điều kiện: 250 °C) 3F2 (dư) + Cl2 → 2ClF3 (điều kiện: 280 °C) 5F2 + 2I2 → 2I2F5 === Phản ứng Trao đổi === Flo có khả năng dời chỗ các halogen khác ra khỏi các hợp chất ion hoặc hợp chất công hóa trị (ở điều kiện xác định) F2 + 2KCl (rắn) → 2KF + Cl2 (điều kiện: lạnh) F2 + KBr (dd) → 2KF + Br2 Nếu dư F2 còn có phản ứng: Br2 + 5F2 + 6H2O → 2HBrO3 + 10HF và có một phần flo tác dụng với H2O === Phản ứng với các hydrua === Với H2O khi đun nóng thì flo bốc cháy 2F2 + 2H2O → 4HF + O2 (điều kiện: t°) Với H2S, NH3 cháy trong khí flo thì tạo HF và (N2, NF3) hay SF6 === Phản ứng với các dung dịch kiềm === Khác với các halogen khác, flo không tạo muối chứa oxi. Khi phản ứng với kiềm loãng (thí dụ NaOH 2%) lạnh tạo ra Oxygen difluoride và florua 2F2 + 2NaOH → 2NaF + OF2↑ + H2O (điều kiện: NaOH lạnh, 2%) OF2 độc và có tính oxi hóa mạnh OF2 + H2O → 2HF + O2 === Phản ứng riêng === Axit flohydric HF còn có tính chất đặc biệt là ăn mòn các đồ vật bằng thủy tinh(với cấu tạo chủ yếu từ SiO2): 2F2 + SiO2 → SiF4 + O2 == Lịch sử == Flo ở dạng fluorspar (fluorit) được Georgius Agricola miêu tả năm 1529 như là một chất gây chảy, là một chất được sử dụng để làm giảm nhiệt độ nóng chảy của kim loại hay khoáng chất. Năm 1670 Schwandhard đã phát hiện thấy thủy tinh bị fluorspar ăn mòn khi được xử lý bằng axít. Karl Scheele và nhiều nhà nghiên cứu sau này như Humphry Davy, Gay-Lussac, Antoine Lavoisier và Louis Thenard đã từng thực nghiệm với axít flohiđric, dễ dàng thu được bằng cách xử lý florua canxi với axít sulfuric đậm đặc. Cuối cùng người ta nhận ra rằng axít flohiđric chứa một nguyên tố chưa được biết. Nguyên tố này đã không được cô lập trong nhiều năm vì độ hoạt động hóa học rất cao của nó - nó được cô lập từ các hợp chất của nó rất khó khăn và ngay lập tức hóa hợp với các phần vật chất còn lại của hợp chất. Cuối cùng vào năm 1886 flo đã được cô lập bởi Henri Moissan sau gần như 74 năm cố gắng liên tục. Nó là những cố gắng mà một số các nhà nghiên cứu đã phải trả giá bằng sức khỏe hay cuộc sống của họ, và đối với Moissan, nó đã làm cho ông đoạt giải Nobel năm 1906 về hóa học. Sản xuất flo thương mại lần đầu tiên là do nhu cầu để chế tạo bom nguyên tử của dự án Manhattan trong Đại chiến thế giới lần thứ hai khi hợp chất hexaflorua uran (UF6) được sử dụng để tách các đồng vị U235 và U238 của urani. Ngày nay cả hai công nghệ khuếch tán và ly tâm khí sử dụng khí UF6 để sản xuất urani giàu cho các ứng dụng năng lượng nguyên tử. == Ứng dụng == Flo được sử dụng trong sản xuất các chất dẻo ma sát thấp như Teflon, và trong các halon như Freon. Các ứng dụng khác là: Axít flohiđric (công thức hóa học HF) được sử dụng để khắc kính. Flo đơn nguyên tử được sử dụng để khử tro thạch anh trong sản xuất các chất bán dẫn. Cùng với các hợp chất của nó, flo được sử dụng trong sản xuất urani (từ hexaflorua) và trong hơn 100 các hóa chất chứa flo thương mại khác, bao gồm cả các chất dẻo chịu nhiệt độ cao. Các floroclorohiđrôcacbon được sử dụng trong các máy điều hòa không khí và thiết bị đông lạnh. Các cloroflorocacbon (CFC) đã bị loại bỏ trong các ứng dụng này vì chúng bị nghi ngờ là tạo ra các lỗ hổng ôzôn. Hexaflorua lưu huỳnh là một khí rất trơ và không độc (không phổ biến đối với các hợp chất của flo). Các loại hợp chất này là các khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh. Hexafloroaluminat kali, còn gọi là cryôlit, được sử dụng trong điện phân nhôm. Florua natri được sử dụng như một loại thuốc trừ sâu, đặc biệt để chống gián. Một số các florua khác thông thường được thêm vào thuốc đánh răng và (đôi khi gây tranh cãi) vào hệ thống cung cấp nước sạch để ngăn các bệnh nha khoa (răng, miệng). Nó được sử dụng trong quá khứ để trợ giúp kim loại dễ nóng chảy hơn, vì thế mà có tên của nó. Một số các nhà nghiên cứu - bao gồm cả các nhà khoa học vũ trụ của Mỹ trong những năm đầu thập niên 1960 đã nghiên cứu khí flo đơn chất như là một nhiên liệu cho tên lửa đẩy vì lực đẩy cực kỳ cao của nó. Các thực nghiệm đã thất bại vì flo rất khó để điều khiển và sử dụng. Các sản phẩm cháy của nó có độc tố và ăn mòn cực kỳ mạnh == Sản xuất == Dùng phương pháp điện phân hỗn hợp KF + 2HF (nóng chảy ở 70 °C) Bình điện phân có cực âm làm bằng thép và cực dương bằng than chì (graphit). == Hợp chất == Flo thông thường có thể thay thế hiđrô khi nó có trong các hợp chất hữu cơ. Thông qua cơ chế này, flo có thể có rất nhiều hợp chất. Các hợp chất flo với các khí trơ đã được tổng hợp bởi Howard Claassen, Henry Selig, John Malm lần đầu tiên năm 1962 - là tetraflorua xenon. Các florua của krypton và radon cũng đã được điều chế sau đó. Nguyên tố này được điều chế từ florit, cryôlit và florapatit. Xem thêm: Florocacbon == Cảnh báo == Cả flo và HF cần phải được sử dụng với một yêu cầu rất nghiêm ngặt và phải tránh mọi sự tiếp xúc với da và mắt. Mọi thiết bị phải được thụ động hóa trước khi phơi nhiễm bởi flo. Cả flo đơn chất và các ion florua là những chất độc mạnh. Khi ở dạng đơn chất, flo là một khí có mùi hăng đặc trưng có thể dễ dàng phát hiện ở nồng độ rất thấp (khoảng 20 nL/L). Nồng độ cho phép tối đa của sự phơi nhiễm hàng ngày (8 giờ làm việc) là 1 µL/L (một phần triệu theo thể tích), thấp hơn cả của xyanua hiđrô dm tuấn châu an tưởng == Tham chiếu == Los Alamos National Laboratory – Fluorine == Liên kết ngoài == WebElements.com – Fluorine EnvironmentalChemistry.com – Fluorine It's Elemental – Fluorine Picture of liquid fluorine – chemie-master.de Chemsoc.org Periodic Table of Elements
nguyễn cường.txt
Nguyễn Cường (sinh năm 1943), là một nhạc sĩ của Việt Nam, với các ca khúc viết về Tây Nguyên . Ông vốn là một chàng trai gốc Hà Nội. == Tiểu sử == === Gia đình === Nguyễn Cường sinh năm 1943 trong một gia đình gốc trung lưu ở phố Hàng Bạc, Hà Nội. Cha ông, cụ Nguyễn Quang Hộ, quê gốc ở Phú Xuyên, Hà Tây cũ, nhưng sinh năm 1910 tại Hà Nội. Thời Pháp thuộc, cha ông là phi công hãng Air France, đã tử nạn trên một chuyến bay dân dụng vì đâm vào núi ở Sơn Trà năm 1953. Mẹ ông, cụ Nguyễn Thị Nhung sinh năm 1920, gia đình nhà ngoại đã có năm đời sống ở Hà Nội. Từ khi cha ông tử nạn máy bay năm 1953 đến nay, mẹ ông vẫn hưởng lương trợ cấp ở Pháp gửi về, đều đặn khoảng hơn 1.000 euro mỗi tháng.. Ông còn 1 em trai, 3 em gái . Em gái thứ ba của ông, Thu Hằng là vợ nhà sử học Dương Trung Quốc. === Sự nghiệp === Năm 16 tuổi, ông thi vào trường Trung cấp Âm nhạc Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam - Nhạc viện Hà Nội) để học về Violoncelle. Học được vài tuần, thì gia đình ông bị tịch thu gia sản vì diện "gia đình tư sản", ông bị cắt học bổng và phải sống nhờ bằng suất cơm của người bạn cùng trường . Sau khi tốt nghiệp năm 1965, ông được phân công về Đoàn Ca múa Tây Nguyên (nay là Đoàn Ca múa Đam San), lúc đó đóng tại Hà Nội và ở lại đó hai năm (1965-1967). Từ năm 1967, ông chuyển về công tác tại phòng Giáo dục chính trị Trường Đại học Mỏ - Địa chất . Tháng 5 năm 1980, sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, và sau khi tốt nghiệp khoa Sáng tác Nhạc viện Hà Nội, ông và nhạc sĩ Trần Tiến được Đoàn Ca múa Đăk Lăk mời về sáng tác . Từ lần đầu tiên đến Tây Nguyên này, ông đã bị cuốn hút vì cái nắng cái gió, cà phê, vì thiên nhiên và con người Tây Nguyên, nên từ đó bắt đầu cho những sáng tác về Tây Nguyên của ông sau này. Ấn tượng mạnh mẽ nhất trong ông lúc ấy là được nghe người dân đánh chiêng trong một đêm uống rượu cần. Tiếng chiêng ấy đã tạo cho ông cảm xúc để viết bài hát "Nhịp chiêng buôn Kơ Siar".. Tuy nhiên, một trong những bài hát về Tây Nguyên đầu tiên của ông, "H'Ren lên rẫy" (hay là "H'Zen lên rẫy"), lúc đầu lại bị một lãnh đạo văn hóa "quy vào tội khủng khiếp là: Sai đường lối của Đảng". Ông được xem là người đã ứng dụng khá thành công chất liệu âm nhạc Tây Nguyên vào ca khúc của mình, mặc dù ông không dùng từ "Tây Nguyên" trong bất cứ tác phẩm nào. Mỗi khi ông đến Tây Nguyên thì lại có cảm xúc để viết ca khúc mới, nhiều khi là sáng tác ngẫu hứng tại chỗ. Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2007 vì các ca khúc Hò biển (1974), H'Zen lên rẫy (1981), Một nét ca trù ngày xuân (1984), Em muốn sống bên anh trọn đời (1989), Đôi mắt Pleiku (1994) cũng như nhiều giải thưởng của Hội Nhạc sĩ về mảng ca khúc. Ngoài ra ông còn dàn dựng các chương trình biểu diễn cho các đoàn ca múa chuyên nghiệp như Đoàn Ca Múa Đak Lak, Nhà hát Tuổi trẻ... Năm 1987, ông chuyển về Trung tâm Phương pháp Câu lạc bộ Trung ương làm việc cho đến nay. Năm 2009, ông đã bắt tay vào việc thực hiện ý tưởng là viết một hợp xướng để hát với trống đồng, và ra đời "Ngàn năm Thăng Long nổi trống Lạc Hồng" - một hợp xướng cần tới hàng ngàn nghệ sĩ theo hình thức Acapella không có dàn nhạc đệm, mà biểu diễn trên 100 trống đồng của các nghệ nhân Thanh Hóa đúc tặng Thủ đô Hà Nội nhân sự kiện "Nghìn năm Thăng Long". Từ đó hoàn thành bản hợp xướng "Ngàn năm Thăng Long - Nổi trống Lạc Hồng", đoạt giải thưởng Bùi Xuân Phái năm 2010 Ông trăn trở: == Tác phẩm == Bao nhiêu năm qua, Nguyễn Cường đã cho ra đời khoảng 100 tác phẩm ca khúc và khí nhạc.. Một số sáng tác của ông: == Album riêng == Nghiêng nghiêng rừng chiều, 2004 == Chú thích ==
hồ chí minh.txt
Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969) tên khai sinh: Nguyễn Sinh Cung, là một nhà cách mạng, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ 20, một chiến sĩ cộng sản quốc tế. Ông là người viết và đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian 1945 – 1969, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trong thời gian 1951 – 1969. Là một lãnh tụ được nhiều người ngưỡng mộ và tôn sùng, lăng của ông được xây ở Hà Nội, nhiều tượng đài của ông được đặt ở khắp mọi miền Việt Nam, hình ảnh của ông được nhiều người dân treo trong nhà, đặt trên bàn thờ, và được in ở hầu hết mệnh giá đồng tiền Việt Nam. Ông được thờ cúng ở một số đền thờ và chùa Việt Nam. Ông đồng thời cũng là một nhà văn, nhà thơ và nhà báo với nhiều tác phẩm viết bằng cả tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Pháp. Ông đã được tạp chí Time bình chọn là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20. == Tiểu sử và sự nghiệp == === Xuất thân và quê quán === Theo gia phả của dòng họ Nguyễn ở làng Sen xã Kim Liên tại huyện Nam Đàn, Nghệ An thì: "Hoàng sơ tổ khảo là Nguyễn Bá Phụ, tổ đời thứ hai là Nguyễn Bá Bạc, tổ đời thứ ba là Nguyễn Bá Ban, tổ đời thứ tư là Nguyễn Văn Dân,... tổ đời thứ năm, Nguyễn Sinh Vật là giám sinh đời Lê Thánh Đức (tức Lê Thần Tông) năm thứ ba..., tổ đời thứ sáu là Nguyễn Sinh Tài đỗ hiếu sinh khi 17 tuổi, năm 34 tuổi đỗ tam trường khoa thi Hội..., tổ đời thứ 10 là Nguyễn Sinh Nhậm)." Cả bốn đời đầu tiên của dòng họ đều chưa lấy đệm là "Sinh" và không rõ năm sinh, năm mất. Theo nhiều tài liệu chính thống cũng như tiểu sử tại Việt Nam, tên lúc nhỏ của ông Nguyễn Sinh Cung (giọng địa phương phát âm là Côông), tự là Tất Thành. Tuy nhiên, một số tài liệu ghi nhận tên lúc nhỏ của ông là Nguyễn Sinh Côn. Điều này cũng được chính ông xác nhận bằng chính bút tích của mình trong một bài viết năm 1954. Quê nội là làng Kim Liên (tên Nôm là làng Sen). Ông được sinh ra ở quê ngoại là làng Hoàng Trù (tên Nôm là làng Chùa, nằm cách làng Sen khoảng 2 km) và sống ở đây cho đến năm 1895. Hai làng này vốn cùng nằm trong xã Chung Cự, thuộc tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn. Quê nội của ông, làng Kim Liên là một làng quê nghèo khó. Phần lớn dân chúng không có ruộng, phải làm thuê cấy rẽ, mặc quần ít, đóng khố nhiều, bởi thế nên làng này còn có tên là làng Đai Khố. Vào đời ông, phần lớn dòng họ của ông đều cơ hàn, kiếm sống bằng nghề làm thuê, và cũng có người tham gia các hoạt động chống Pháp. Cha ông là một nhà Nho tên là Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929), từng đỗ phó bảng. Mẹ là bà Hoàng Thị Loan (1868-1901). Ông có một người chị là Nguyễn Thị Thanh (sinh năm 1884), một người anh là Nguyễn Sinh Khiêm (sinh năm 1888, tự Tất Đạt, còn gọi là Cả Khiêm) và một người em trai mất sớm là Nguyễn Sinh Nhuận (1900-1901, tên khi mới lọt lòng là Xin). === Tuổi trẻ === Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng cha mẹ và anh trai vào Huế lần đầu tiên. Sau khi mẹ mất (1901), ông về Nghệ An ở với bà ngoại một thời gian ngắn rồi theo cha về quê nội, từ đây ông bắt đầu dùng tên Nguyễn Tất Thành. Tất Thành theo học cử nhân Hoàng Phạm Quỳnh và một số ông giáo khác. Năm 1906, Nguyễn Sinh Cung theo cha vào Huế lần thứ hai và học ở trường tiểu học Pháp-Việt Đông Ba. Tại đây, ông trải qua các niên khoá 1906-1907 lớp nhì và 1907-1908 lớp nhất. Trong kỳ thi primaire (tương đương tốt nghiệp tiểu học) năm 1908 - ông là một trong 10 học trò giỏi nhất của trường Pháp - Việt Đông Ba được thi vượt cấp vào hệ Thành chung trường Quốc Học. Theo nghiên cứu của học giả William J. Duiker, vào tháng 9 năm 1907, ông vào học lớp trung học đệ nhị niên tại trường Quốc học Huế, nhưng bị đuổi học vào cuối tháng 5 năm 1908 vì tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Cha ông bị triều đình khiển trách vì "hành vi của hai con trai". Hai anh em Tất Đạt và Tất Thành bị giám sát chặt chẽ. Ông quyết định vào miền Nam để tránh sự kiểm soát của triều đình. Tuy nhiên, theo tài liệu hiện lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (Centre des archives d'Outre-mer hay CAOM) ở Pháp, Nguyễn Sinh Cung và được nhận vào Quốc Học Huế vào ngày 7 tháng 8 năm 1908. Theo nhà nghiên cứu lịch sử Vũ Ngự Chiêu thì như vậy "không có việc Nguyễn Sinh Cung bị trục xuất khỏi trường Quốc Học vì tham gia vào cuộc biểu tình chống sưu thuế ở Huế—cuộc biểu tình chống sưu dịch xảy ra ngày 9 tới 12 tháng 4 năm 1908; tức gần bốn tháng trước ngày trò Cung được nhận vào trường Quốc Học." Đầu năm 1910, Nguyễn Tất Thành đến Phan Thiết. Ông dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại trường Dục Thanh của Hội Liên Thành. Trong thời gian này, Nguyễn Tất Thành thường gặp gỡ một số nhà nho yêu nước đương thời, tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc. Nguyễn Tất Thành đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Ông tuy khâm phục Đề Thám, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào cả. Theo quan điểm của ông, Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải cách, điều đó chẳng khác nào "xin giặc rủ lòng thương", còn Phan Bội Châu thì hy vọng Đế quốc Nhật Bản giúp đỡ để chống Pháp, điều đó nguy hiểm chẳng khác nào "đuổi hổ cửa trước, rước báo cửa sau". Nguyễn Tất Thành thấy rõ là cần quyết định con đường đi của riêng mình. Khoảng trước tháng 2 năm 1911, ông nghỉ dạy và vào Sài Gòn cũng với sự giúp đỡ của Hội Liên Thành. Tại đây, ông theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son (bây giờ là trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng), vừa đi bán báo ở khu vực thương cảng để kiếm sống và đồng thời tìm hiểu đời sống công nhân. Ở đây, ông học được 3 tháng. Sau đó ông quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài học hỏi tinh hoa của phương Tây để trở về giúp nhân dân Việt Nam. === Hoạt động ở nước ngoài === ==== Thời kỳ 1911-1919 ==== Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, ông lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville, với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây. Ngày 6 tháng 7 năm 1911, sau hơn 1 tháng đi biển, tàu cập cảng Marseilles, Pháp. Tại Marseilles, ông đã viết thư đến Tổng thống Pháp, xin được nhập học vào Trường Thuộc địa (École Coloniale), trường chuyên đào tạo các nhân viên hành chánh cho chính quyền thực dân, với hy vọng "giúp ích cho Pháp". Thư yêu cầu của ông bị từ chối và được chuyển đến Khâm sứ Trung Kỳ ở Huế. Ở Pháp một thời gian rồi ông qua Hoa Kỳ. Sau khi ở Hoa Kỳ một năm (cuối 1912-cuối 1913), ông đến nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn, học tiếng Anh, và ở London cho đến cuối năm 1916. Một số tài liệu trong kho lưu trữ của Pháp và Nga cho biết trong thời gian sống tại Hoa Kỳ, ông đã nghe Marcus Garvey diễn thuyết ở khu Harlem và tham khảo ý kiến của ​​các nhà hoạt động vì nền độc lập của Triều Tiên. Cuối năm 1917, ông trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923. ==== Thời kỳ ở Pháp ==== Tháng 2 năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18 tháng 6 năm 1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã mang tới Hội nghị Hòa bình Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm để kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý tưởng của Tổng thống Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á, trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại biểu đến dự hội nghị. Bản yêu sách không yêu cầu độc lập cho Việt Nam, nhưng bao gồm quyền tự do và bình đẳng. Bản yêu sách này do một nhóm các nhà ái quốc Việt Nam sống ở Pháp, trong đó có Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành, cùng viết, và được ký tên chung là Nguyễn Ái Quốc. Từ đây, Nguyễn Tất Thành công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và sử dụng tên này trong suốt 30 năm sau đó. Thất bại của Hội nghị Versailles trong giải quyết các vấn đề thuộc địa đã đẩy niềm tin của Nguyễn Tất Thành sang chủ nghĩa cộng sản. Nguyễn Ái Quốc nói với các đại biểu của Đảng Xã hội Pháp: "Tôi không hiểu bất cứ điều gì về chiến lược, thủ thuật hành động và tất cả những từ ngữ đao to búa lớn mà các ông dùng, nhưng tôi hiểu một điều rất đơn giản: Quốc tế Thứ 3 quan tâm rất nhiều tới vấn đề thuộc địa. Các đại biểu của Quốc tế Thứ 3 hứa sẽ giúp các dân tộc thuộc địa đang bị áp bức giành lại tự do và độc lập. Các thành viên của Quốc tế thứ 2 không nói một từ về số phận của các vùng thuộc địa". Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin, từ đó ông hoàn toàn tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản. Ông tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours (từ 25 đến 30 tháng 12 năm 1920) với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp, ông trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và tách khỏi đảng Xã hội. Năm 1921, ông cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale - Association des indigènes de toutes les colonies) nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc. Năm 1922, ông cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra báo Le Paria (Người cùng khổ), làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhằm tố cáo chính sách đàn áp, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng. Tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" bằng tiếng Pháp (Procès de la colonisation française) do Nguyễn Ái Quốc viết được xuất bản năm 1925, đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa. ==== Thời kỳ ở Liên Xô lần thứ nhất ==== Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô lần đầu tiên vào năm 1922 tham gia Đại hội lần tư của Quốc tế Cộng sản, ở đó ông gặp Lenin và trở thành thành viên của Ban Đông Nam Á của Quốc tế Cộng sản. Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Moskva học tập tại trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông được đào tạo chính quy về Chủ nghĩa Marx, tuyên truyền và khởi nghĩa vũ trang. Tại đây ông đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (họp từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 10 năm 1923), ông được bầu vào Ban chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Tại Đại hội lần thứ 5 Đệ Tam Quốc tế (họp từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 8 tháng 7 năm 1924), ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam. Năm 1924, tại thành phố Moskva, ông viết và nộp cho tổ chức Đệ Tam Quốc tế một bản Báo cáo về tình hình Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Nhận thấy phong trào đấu tranh giai cấp tại Việt Nam có sự khác biệt với phong trào đấu tranh giai cấp bên Tây phương đương thời, ông có nhận xét về các tầng lớp địa chủ, tăng lữ,... của Việt Nam như sau: Ông cho rằng: Tư tưởng này của ông không có gì mâu thuẫn với Luận cương về các vấn đề dân tộc thuộc địa của Lênin, khi lấy chủ nghĩa dân tộc để đi đến chủ nghĩa cộng sản (đại đồng) ==== Thời kỳ ở Trung Quốc (1924-1927) ==== Sau khi học tại Liên Xô, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu theo phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn đến giúp chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch, làm phiên dịch lấy tên là Lý Thụy. Trong thời gian ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc có nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến tư tưởng cách mạng ra vùng Đông Phương. Theo đó, năm 1925, ông tập hợp Việt Kiều và thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá chủ nghĩa Marx-Lenin (thường được phiên âm là Mác–Lê-nin) vào Việt Nam. Cuốn Đường Kách mệnh, mà ông là tác giả, tập hợp các bài giảng tại các lớp huấn luyện chính trị của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, được xuất bản năm 1927. Cùng năm 1925, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, do Liêu Trọng Khải, một cộng sự thân tín của Tôn Dật Tiên, làm hội trưởng và ông làm bí thư. Tổ chức này sau đó trở thành Đảng Cộng sản Nam Hải (the South Seas Communist party), tiền thân của một loạt các tổ chức cộng sản sau này, bao gồm có cả Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc cũng gửi một loạt người Việt đi học trường quân sự của Tưởng Giới Thạch tại Quảng Châu, đồng thời tiến hành một khóa đào tạo về khởi nghĩa vũ trang. Do Tưởng Giới Thạch khủng bố các nhà cách mạng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam, ông rời Quảng Châu đi Hương Cảng, rồi thoát sang Liên Xô theo đường sa mạc Gobi. Tháng 11 năm 1927, ông được cử đi Pháp, rồi từ đó đi dự cuộc họp Đại hội đồng của Liên đoàn chống đế quốc từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 12 năm 1927 tại Brussel, Bỉ. ==== Thời kỳ ở Thái Lan (1928 - 1929) ==== Mùa thu 1928, ông từ châu Âu đến Xiêm La (Thái Lan), cải trang là một nhà sư đầu trọc, với bí danh Thầu Chín để tuyên truyền và huấn luyện cho Việt kiều tại Xiêm, đồng thời xuất bản báo gửi về nước. Cuối năm 1929, ông rời khỏi Vương quốc Xiêm La và sang Trung Quốc. ==== Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ==== Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long (九龍, Kowloon) thuộc Hương Cảng, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, nhằm giải quyết những mâu thuẫn đang có giữa những người cộng sản ở Đông Dương, ông thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi tên là "Đảng Cộng sản Đông Dương", rồi đổi thành "Đảng Lao động Việt Nam" và nay là "Đảng Cộng sản Việt Nam"). Cũng vào năm này, khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra, do Đảng Cộng sản chỉ đạo, nhưng thất bại. Pháp cấm Đảng Cộng sản Đông Dương, và Nguyễn Ái Quốc bị xử tử hình vắng mặt. Tháng 3 năm 1930, ông trở lại Xiêm La trong một thời gian ngắn, sau đó quay lại Trung Hoa. ==== Những năm 1931 - 1933 ==== Năm 1931, dưới tên giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch'o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương. Tờ L'Humanité số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông đồng thời tố cáo đây là âm mưu của thực dân Pháp câu kết với thực dân Anh nhằm ám sát người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau đó nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận tình của luật sư Frank Loseby, Tống Văn Sơ được thả ngày 28 tháng 12 năm 1932. Ông đi Thượng Hải rồi bí mật quay trở lại Liên Xô. ==== Thời kỳ ở Liên Xô lần thứ hai ==== Ông đến Moskva vào mùa xuân năm 1934. Với bí danh Lin, Nguyễn Ái Quốc học ở Trường Quốc tế Lenin (1934-1935). Ông dự Đại hội lần thứ 7 Đệ Tam Quốc tế (từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 1935) với vai trò quan sát viên của ban thư ký Dalburo với tên Linov. Ông bị Ban Lãnh đạo Hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương viết thư gửi Quốc tế Cộng sản kết tội phải chịu trách nhiệm chính về việc hơn 100 đảng viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị bắt do việc ông biết Lâm Đức Thụ trước đây là kẻ phản bội mà vẫn tiếp tục sử dụng. Ông bị buộc ở Liên Xô cho đến năm 1938 và bị giam lỏng ở đó do bị nghi ngờ về lý do ông được nhà cầm quyền Hương Cảng trả tự do. Quốc tế Cộng sản thành lập Ban Thẩm tra vì nghi ngờ về sự trung thành chính trị của Nguyễn Ái Quốc nhưng không tìm ra chứng cứ nào cho thấy điều này, tiếp đó hồ sơ vụ việc Nguyễn Ái Quốc đã được Ban Thẩm Tra quyết định hủy bỏ. Sau đó Nguyễn Ái Quốc tham gia lớp nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu các Vấn đề Dân tộc và Thuộc địa của Quốc tế Cộng sản. Trong những năm 1931-1935, ông đã bị Trần Phú và sau đó là Hà Huy Tập phê phán về đường lối cải lương "liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ", không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Đệ Tam Quốc tế. Trong một bức thư kể cho tổ chức Đệ Tam Quốc tế hay về phong trào cách mạng vô sản tại Đông Dương được viết vào tháng 3 năm 1935, Nguyễn Ái Quốc bị phê phán nặng nề. Bức thư này có ghi nhận về "tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa duy tâm của đảng của các đồng chí Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc". Trong thư này cũng có đoạn: "Những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản. Cuộc tranh đấu không nhân nhượng chống những học thuyết cơ hội này của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của Đảng Thanh niên là rất cần thiết (…). Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin viết một cuốn sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua". Sở dĩ có việc phê phán này là do vào thời điểm đó, Quốc tế Cộng sản, dưới sự lãnh đạo của Stalin, đặt đấu tranh giải phóng dân tộc đi kèm với đấu tranh giai cấp, tuy nhiên khác biệt giữa Hồ Chí Minh và một số đồng chí của mình là tuy đề cập đến đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, nhưng khác biệt về lực lượng tham gia, cần tranh thủ. Trong giai đoạn này, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập lần lượt làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương còn Hồ Chí Minh chỉ đảm nhiệm công tác liên lạc giữa Quốc tế Cộng sản và các đảng cộng sản tại Đông Nam Á. ==== Trở lại trung Quốc (năm 1938 đến đầu năm 1941) ==== Năm 1938, ông trở lại Trung Quốc. Trong vai thiếu tá Bát Lộ quân tên là Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát Lộ quân Quế Lâm, sau đó đi Quý Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng quân Trung Quốc mùa đông 1938 đến đầu 1939. === Trở về Việt Nam === Đầu tháng 1-1941, Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tĩnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc) gặp Hồ Chí Minh để báo cáo kết quả xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng. Hoàng Văn Thụ đề nghị ông về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua lối Cao Bằng. Hồ Chí Minh cũng nhận định Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng, và ông quyết định trở về nước sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài Ông trở về Việt Nam vào ngày 28 tháng 1 năm 1941, với hành lý là một chiếc vali nhỏ đan bằng mây tre để đựng quần áo và một chiếc máy chữ xách tay. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về sự kiện này qua bốn câu thơ: "Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!/Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người/Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ/Mà đến bây giờ mới tới nơi". Sau khi hỏi thăm dân địa phương, ngày 8 tháng 2 năm 1941, ông tới ở tại hang Cốc Bó, bản Pác Bó, tỉnh Cao Bằng với bí danh Già Thu. Dòng suối lớn chảy qua đây được ông gọi là suối Lê-nin, ngọn núi đá cao được gọi là núi Các-Mác. Ông đã làm một bài thơ (nay đã được tạc vào vách núi) thể hiện chí hướng: Non xa xa nước xa xa Nào phải thênh thang mới gọi là Đây suối Lê-nin, kia núi Mác Hai tay gây dựng một sơn hà. Tại đây, ông mở các lớp huấn luyện cán bộ, cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày... Tài liệu huấn luyện và tuyên truyền chủ yếu là sách do ông dịch và viết về nhiều chủ đề. Tại cuối một cuốn sách như vậy ông ghi "Việt Nam độc lập năm 1945". Ông cho lập nhiều hội đoàn nhân dân như hội phụ nữ cứu quốc, hội phụ lão cứu quốc, hội nông dân cứu quốc,... Từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, ông chủ trì Hội nghị lần thứ 8 (mở rộng) của Trung ương Đảng họp tại Pác Bó, Cao Bằng. Một trong những kết quả của hội nghị này là nghị quyết về việc thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh). === Từ bị giam ở Trung Quốc cho tới thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa === Ngày 13 tháng 8 năm 1942, ông lấy tên Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc với danh nghĩa đại diện của cả Việt Minh và Hội quốc tế phản xâm lược Việt Nam (một hội đoàn được ông tổ chức ra trước đó) để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc. Đây là lần đầu tiên trong các giấy tờ cá nhân ông sử dụng tên Hồ Chí Minh. Ông khai nhân thân là "Việt Nam-Hoa kiều". Ông bị chính quyền địa phương của Trung Hoa Dân quốc bắt ngày 29 tháng 8 khi đang đi cùng một người Trung Quốc dẫn đường và giam hơn một năm, trải qua khoảng 30 nhà tù. Ông viết Nhật ký trong tù trong thời gian này (từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943). "Nhật ký trong tù" là một tác phẩm được những tác giả người Việt Nam, người phương Tây và cả người Trung Quốc, như Quách Mạt Nhược, Viên Ưng hay Hoàng Tranh đề cao. Các đồng chí của ông (Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh...) ở Việt Nam tưởng lầm là ông đã chết (sau này nguyên nhân được làm rõ là do một cán bộ Cộng sản tên Cáp nghe và hiểu sai ngữ nghĩa). Họ thậm chí đã tổ chức đám tang và đọc điếu văn cho ông (Phạm Văn Đồng làm văn điếu) cũng như "mở chiếc va-li mây của Bác ra tìm xem còn những gì có thể giữ lại làm kỉ niệm" (lời của Võ Nguyên Giáp). Vài tháng sau họ mới biết được tình hình thực của ông sau khi nhận được thư do ông viết và bí mật nhờ chuyển về. Ngày 25 tháng 10 năm 1943, Hội Quốc tế chống xâm lược ở Đông Dương gửi 2 bức thư, một cho Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, bức còn lại cho thống chế Tưởng Giới Thạch đề nghị can thiệp trả tự do cho Hồ Chí Minh, đồng thời đại diện của Đảng cộng sản Trung Quốc ở Trùng Khánh đã tiếp xúc bí mật với các sĩ quan OSS và SACO để gợi ý rằng có thể khiến Hồ Chí Minh hợp tác với phe Đồng Minh. Sau khi thảo luận với Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc, OSS và cơ quan ngoại giao Mỹ thương lượng với chính phủ Trung Hoa Dân quốc để giải thoát Hồ Chí Minh khỏi nhà tù và thuyết phục ông cộng tác với OSS. Cùng lúc đó Trương Phát Khuê, tướng cai quản vùng Quảng Đông và Quảng Tây của Quốc Dân Đảng cũng gây áp lực để buộc ông Hồ hoạt động cho Quốc dân Đảng. Hồ Chí Minh được trả tự do ngày 10 tháng 9 năm 1943, theo yêu cầu của Hoa Kỳ. Có nguồn khác nói rằng tướng Trương Phát Khuê quyết định trả tự do cho Hồ Chí Minh nhằm lợi dụng ông và một số chính trị gia Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc ở miền Nam Trung Quốc chống phát xít Nhật. Trương Phát Khuê hy vọng Hồ Chí Minh có thể thống nhất và tổ chức lại các nhóm người Việt lưu vong ở miền Nam Trung Quốc thành một khối thuần nhất thân Trung Quốc mà sự chia rẽ, chống đối về phương pháp tiến hành đấu tranh và sự tranh giành quyền lực giữa lãnh tụ của các nhóm này đã che lấp mất mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc của họ đồng thời để chấn chỉnh Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) do Trung Quốc đỡ đầu. Ngay sau đó, Hồ Chí Minh tham gia Ban Chấp hành Trung ương Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội. Trước đó, Việt Minh đã ra tuyên bố ủng hộ tổ chức này. Ông cũng cố gắng tranh thủ sự ủng hộ từ Trương Phát Khuê, nhưng kết quả hạn chế. Cuối tháng 9 năm 1944, ông trở về Việt Nam. Khi này các đồng chí của ông ở Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng... đã quyết định tiến hành phát động chiến tranh du kích trong phạm vi liên tỉnh. Ông ngăn chặn thành công quyết định này. Thay vào đó, ông ra lệnh tổ chức lập lực lượng vũ trang và căn cứ địa cho chặt chẽ và hiệu quả hơn. Ông trực tiếp ra chỉ thị thành lập một đội quân mang tính chính quy là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, với 34 đội viên là các tiểu đội trưởng, trung đội trưởng hoặc thành viên của các đội quân nhỏ bé và rải rác trước đó của Việt Minh. Cuối năm 1944, ông lại trở lại Côn Minh hoạt động cho tới đầu năm 1945. Ngày 29 tháng 3 năm 1945, Hồ Chí Minh gặp Trung tướng Mỹ Chennault tại Côn Minh (Trung Quốc). Trung tướng cảm ơn Việt Minh và sẵn sàng giúp đỡ những gì có thể theo yêu cầu. Còn Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng Minh chống phát xít Nhật. Theo Hồ Chí Minh, việc được tướng Chennault tiếp kiến được xem là một sự công nhận chính thức của Mỹ, là bằng chứng cho các đảng phái Quốc gia thấy Mỹ ủng hộ Việt Minh. Người Mỹ xem đây chỉ là một mưu mẹo của Hồ Chí Minh nhưng ông cũng đã đạt được kết quả. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn sử dụng các tổ chức cách mạng người Việt vào các hoạt động quân sự chống Nhật tại Việt Nam, ông đã thiết lập mối quan hệ với các cơ quan tình báo Hoa Kỳ đồng thời chỉ thị cho Việt Minh làm tất cả để giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản, cung cấp các tin tức tình báo cho OSS, tiến hành một số hoạt động tuyên truyền cho Trung Hoa Dân Quốc và OWI. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) cung cấp vũ khí, phương tiện liên lạc, giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh. Tháng 7 năm 1945, trước khi Hội nghị Tân Trào họp vào tháng 8 năm 1945, ông ốm nặng, tưởng không qua khỏi. Một đơn vị nhỏ OSS nhảy dù phía sau đường ranh giới Nhật Bản ở Việt Nam để tham gia tác chiến cùng Việt Minh. OSS tìm thấy Hồ Chí Minh trong tình trạng sốt rét nặng và gửi thông điệp đến trụ sở quân Mỹ ở Trung Quốc để yêu cầu cung cấp thuốc men sớm nhất có thể. Hai tuần sau đó, bác sĩ quân y tên là Paul Hogland đã đến. Những người Mỹ đã ở lại đó trong vòng hai tháng và có thể họ đã cứu sống ông. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội quốc dân tại Tân Trào (Tuyên Quang), cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. === Giai đoạn lãnh đạo === ==== Từ Độc lập tới Toàn quốc kháng chiến ==== Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên quảng trường Ba Đình tại Hà Nội, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Hồ Chí Minh nói với chỉ huy tình báo quân sự Mỹ OSS tại miền Bắc, Archimedes L.A Patti, rằng ông theo chủ nghĩa Lenin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và xin gia nhập Đệ Tam Quốc tế vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Ông không thấy có sự lựa chọn nào khác. Nhưng trong nhiều năm sau đó những tổ chức này cũng không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa. Trước mắt, ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ trước khi có thể hy vọng vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Người Mỹ xem ông là một người quốc tế cộng sản, bù nhìn của Moskva vì ông đã ở Moskva nhiều năm nhưng ông không phải là người cộng sản theo nghĩa Mỹ hiểu mà là nhà cách mạng hoạt động độc lập. Nhưng đến cuối tháng 9 năm 1946, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước, chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh. Ngoài ra, ông còn gửi thư cho nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới kêu gọi công nhận nhà nước Việt Nam mới được thành lập cũng như tranh thủ sự ủng hộ nhưng không nhận được hồi âm (Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, lãnh tụ Liên Xô Stalin, tướng Charles de Gaulle, Thống chế Tưởng Giới Thạch, Tổng thống Pháp Léon Blum, bộ trưởng Thuộc địa Pháp Marius Moutet và Nghị viện Pháp,…). Ngay sau khi thành lập, Võ Nguyên Giáp thay mặt Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời, ban hành các sắc lệnh giải tán một số đảng phái, với lý do các đảng này "tư thông với ngoại quốc", làm "phương hại đến nền độc lập Việt Nam" (như Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng...) nhằm kịp thời trừng trị "bọn phản cách mạng", "bảo vệ" chính quyền non trẻ đồng thời "giáo dục ý thức về tinh thần cảnh giác" cho nhân dân, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cho phép Ty Liêm phóng có thể bắt những hạng người bị quy là nguy hiểm cho nền Dân chủ cộng hoà Việt Nam. Cùng với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải tán các nghiệp đoàn để kiểm soát nền kinh tế, thống nhất các tổ chức thanh niên (vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam). Đồng thời Chính phủ cũng ban hành sắc lệnh thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính địa phương các cấp. Ngay sau khi được tin Tađêô Lê Hữu Từ trở thành Giám mục, tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh đã gửi thư chúc mừng vị Giám mục này. Trong thư có đoạn: "Có một nhà lãnh đạo mới của người Công giáo đi theo chân Đức Giê-su, chịu đóng đinh hầu giúp giáo dân biết hy sinh và chiến đấu bảo vệ tự do và độc lập của đất nước". Về những lá thư của ông viết cho Tađêô Lê Hữu Từ, Viện sĩ Viện hàn lâm Hoàng gia Canada đồng thời giáo sư Đại học Lavát (Québec) - linh mục Trần Tam Tĩnh có nhận định: "Cụ Hồ Chí Minh rất thành thật tôn trọng tín ngưỡng và tin tưởng người Công giáo. Không có một dấu hiệu nào cho phép trách được rằng, Người nói dối". Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp tấn công Sài Gòn. Quân dân Sài Gòn chống cự quyết liệt. Ủy ban kháng chiến Nam Bộ được thành lập với Trần Văn Giàu là chủ tịch. Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ điện ra Trung ương xin cho được đánh. Chính phủ ra huấn lệnh, bản thân ông gửi thư khen ngợi "lòng kiên cường ái quốc của đồng bào Nam Bộ". Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức, bầu ra Quốc hội và Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Hai đảng đối lập trong Chính phủ là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) không tham gia bầu cử dù trước đó Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) và Vũ Hồng Khanh (lãnh tụ Việt Quốc) mời Việt Quốc và Việt Cách tham gia Tổng tuyển cử và đề nghị hai bên không công kích nhau bằng lời nói hoặc hành động cho đến ngày Quốc hội khai mạc. Trên thực tế, các đảng này còn phát động tẩy chay bầu cử. Ngay cả khi đã tuyên bố nhất trí về kế hoạch tổng tuyển cử, các đảng phái Việt Quốc, Việt Cách vẫn dừng báo chỉ đả kích Việt Minh: trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản... chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được, tổ chức các cuộc tuần hành, bắc loa hô hào kêu gọi tẩy chay bầu cử. Theo báo Sự thật, Việt Quốc, Việt Cách thậm chí bắt cóc, giết những ứng cử viên, đảng viên cộng sản, cán bộ Việt Minh (tiêu biểu là Trần Đình Long) hay thủ tiêu những người cùng tổ chức có cảm tình với Chính phủ. Quốc hội khóa I của Việt Nam đã cử ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm chủ tịch (Chủ tịch Hồ Chí Minh đạt số phiếu cao nhất với 169.222 lá phiếu, chiếm 98,4%). Đại biểu quốc hội chủ yếu là nhân sĩ trí thức, người ngoài Đảng. Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và với chức danh Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông cũng đảm nhiệm luôn công việc của thủ tướng. Chính phủ này, cho tới cuối năm 1946, đã trải qua 3 lần thay đổi cơ cấu và nhân sự vào các thời điểm: ngày 1 tháng 1; tháng 3; và ngày 3 tháng 11. Nhà nước và chính phủ của ông đối mặt với hàng loạt khó khăn cả về đối nội và đối ngoại. Về đối ngoại, lúc này Việt Nam chưa được bất cứ quốc qia nào công nhận, không phải thành viên Liên hiệp quốc, cũng như không nhận được sự ủng hộ nào về vật chất của các nước khác. Ngoài 20 vạn quân của Trung Hoa Dân Quốc ở miền Bắc, còn có quân Anh và quân Pháp (vào thời điểm toàn quốc kháng chiến, tháng 12 năm 1946, Pháp có khoảng 6 vạn quân), và khoảng 6 vạn quân Nhật. Về đối nội, "giặc đói, giặc dốt" - như chính cách ông gọi - và ngân quỹ trống rỗng là những vấn đề hệ trọng nhất. Bởi thế, ông chú trọng đến việc phát triển giáo dục, mà trước hết là xóa nạn mù chữ bằng cách mở các lớp học Bình dân học vụ. Tháng 9 năm 1945, nhân ngày khai trường, Hồ Chí Minh đã viết thư gửi cho học trò Việt Nam. Thư có đoạn: Để diệt "giặc đói", ngoài việc kêu gọi tăng gia sản xuất, ông đề nghị đồng bào "cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa" để đem số gạo tiết kiệm được cứu dân nghèo. Bản thân ông gương mẫu thực hiện việc nhịn ăn để cứu đói này. Để đối phó với giặc ngoại xâm, ông thi hành một chính sách đối ngoại mềm dẻo và nhẫn nhịn. Ông nói: Tháng 10 năm 1945, khi Hà Ứng Khâm, tổng tham mưu trưởng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc tới Hà Nội, 300.000 người được huy động xuống đường, hô vang các khẩu hiệu "Ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh", "Ủng hộ chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" để "đón tiếp". Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, Trung Hoa Quốc Dân Đảng muốn làm thất bại ý đồ của Pháp định khôi phục lại địa vị tại Đông Dương và muốn ngăn chặn sự liên minh của người Việt Nam với các lực lượng cộng sản Trung Quốc trong phạm vi quyền lợi của Trung Quốc. Ông chấp nhận cung cấp gạo (ban đầu kiên quyết từ chối) cho quân Trung Hoa Dân Quốc đang làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật tại Việt Nam. Quân Trung Hoa Dân Quốc cũng được tiêu giấy bạc "kim quan" và "quốc tệ" tại miền Bắc. Điều làm Hồ Chí Minh lo ngại là trong một số giới, đặc biệt là tầng lớp trung lưu Việt Nam, người ta vẫn gán mác cho ông và Việt Minh là "Cộng sản". Những người thuộc đảng phái quốc gia thân Trung Quốc thì lại không bị như vậy, nên ông phải làm mọi cách để gạt bỏ cái nhãn hiệu nói trên. Tháng 11 năm 1945, ông quyết định cho Đảng Cộng sản Đông Dương tự giải tán. Về mặt công khai, đảng của ông không còn hiện diện mà chỉ có một bộ phận hoạt động dưới danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương. Ông kêu gọi các đảng viên nếu tự xét thấy mình không đủ phù hợp thì nên tự rút lui khỏi hàng ngũ lãnh đạo chính quyền. Với tư tưởng đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, ông kêu gọi và thực hiện triệt để chính sách đại đoàn kết dân tộc bằng cách mời nhiều nhân sĩ, trí thức tham gia các Chính phủ và Quốc hội. Trước Quốc hội, ông tuyên bố: "Tôi chỉ có một Đảng - đảng Việt Nam". Trong số những nhân sĩ, trí thức do ông mời được lựa chọn vào các vị trí trong Chính phủ, có khá nhiều người vốn không tham gia Việt Minh. Đó là các bộ trưởng: Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đăng Khoa, Hoàng Tích Trí, Vũ Đình Hòe, Chu Bá Phương, Nguyễn Văn Tố và Bồ Xuân Luật. Năm 1947, Chính phủ được cải tổ với sự tham gia thêm của một số trí thức khác, như Phan Anh, Hoàng Minh Giám. Về sau này ông cho biết: "Khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Ủy ban Trung ương do Quốc dân đại hội bầu ra, đáng lẽ tham gia Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin lui, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng ở ngoài Việt Minh. Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết nhân dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học". Hồ Chí Minh xem những đảng phái quốc gia thân Trung Hoa Dân Quốc như Việt Cách, Việt Quốc là bọn quốc gia giả hiệu, đầy tớ của Trung Hoa Quốc dân đảng, không có liên hệ gì với nhân dân Việt Nam. Ông miêu tả họ là những người không có tổ chức, một nhóm cơ hội tranh giành nhau, tàn dư của các đảng phái quốc gia cũ không có chương trình hành động cơ bản nhưng lại có quá nhiều lãnh tụ. Nhưng ông chấp nhận sự hiện diện của Việt Cách, Việt Quốc trong các chính phủ liên tục được thay đổi, chấp nhận 70 ghế cho Việt Quốc, Việt Cách trong quốc hội không cần qua bầu cử. Tuy nhiên chức trách các Bộ cũng thay đổi. Bộ trưởng Quốc phòng trở thành người lo về tài chính mà không được xem xét danh sách nhân sự, quân số, súng đạn còn các Bộ trưởng khác của các đảng phái Quốc gia chẳng có chức trách cụ thể gì, không bao giờ được tham dự bất cứ buổi họp nào của nội các. Hồ Chí Minh cũng giao cho Võ Nguyên Giáp và Trần Quốc Hoàn, sau này trở thành Bộ trưởng Công an, nhiệm vụ vô hiệu hóa các cuộc biểu tình do Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội tổ chức nhằm chấm dứt hoạt động tuyên truyền của các đảng phái này trong dân chúng. Khi biết Ngô Đình Diệm bị du kích Việt Minh bắt tại Tuy Hoà, Phú Yên, Hồ Chí Minh yêu cầu đưa Ngô Đình Diệm ra Hà Nội. Ông đã đến gặp Ngô Đình Diệm để thuyết phục ông này tham gia chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo. Ngô Đình Diệm hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh lý do du kích địa phương xử bắn anh của ông thì được Hồ Chí Minh giải thích rằng đó một sai lầm do đất nước đang rơi vào tình trạng hỗn loạn. Sau đó Hồ Chí Minh mời Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng vì biết rằng ông là một người có tài lãnh đạo. Ngô Đình Diệm trả lời rằng ông chỉ đồng ý lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với điều kiện ông được Việt Minh thông báo về tất cả mọi hành động và biết riêng mọi quyết định của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối yêu cầu này do đó Ngô Đình Diệm không chấp nhận hợp tác với Hồ Chí Minh. Theo Hiệp ước Pháp-Hoa, ký ngày 28 tháng 2 năm 1946, quân Pháp sẽ thay thế quân của Tưởng Giới Thạch. Một tuần sau, ngày 6 tháng 3 năm 1946, ông cùng Vũ Hồng Khanh ký với Jean Sainteny - Ủy viên Pháp ở miền bắc Ðông Dương - bản Hiệp định sơ bộ với Pháp, với 3 nội dung chủ chốt: Pháp công nhận Việt Nam "là một nước tự do, là một phần tử trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp". Trước đó, đàm phán căng thẳng khi ông muốn Việt Nam được công nhận là quốc gia độc lập và phản đối kịch liệt khi Pháp muốn dùng chữ "Quốc gia Tự trị" để mô tả tổ quốc của ông. Pháp được đưa 1,5 vạn quân ra Bắc thế cho quân Tưởng, nhưng phải rút trong 5 năm, mỗi năm rút 1/5 quân số. Ngừng xung đột, giữ nguyên quân đội tại vị trí cũ. Ngày 31 tháng 5 năm 1946, ông lên đường sang Pháp theo lời mời của chính phủ nước này; cùng ngày, phái đoàn chính phủ do Phạm Văn Đồng dẫn đầu cũng khởi hành sang Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau 1946. Trước khi đi, ông bàn giao quyền lãnh đạo đất nước cho Huỳnh Thúc Kháng với lời dặn "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Tại Việt Nam, ông dự đoán thời gian ở Pháp là "...có khi một tháng, có khi hơn" nhưng cuối cùng ông đã ở Pháp gần 4 tháng (Hội nghị Fontainebleau diễn ra từ 6 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1946) mà không thể cứu vãn được nền hòa bình. Trong khi Hồ Chí Minh đang ở Pháp, các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội lần lượt rời bỏ Chính phủ vì bất đồng với Việt Minh về việc ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) cho phép quân Pháp quay trở lại Việt Nam. Ngày 19/6/1946, Báo Cứu Quốc của Tổng bộ Việt Minh đăng xã luận kịch liệt chỉ trích "bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3". Ngay sau đó, Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch trấn áp tất cả các đảng phái đối lập được Việt Minh coi là nguy hiểm như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskist, lực lượng chính trị Công giáo... bằng lực lượng công an và quân đội do Việt Minh kiểm soát với sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Pháp. Ông cũng sử dụng các sĩ quan Nhật Bản trốn tại Việt Nam và một số vũ khí do Pháp cung cấp cho chiến dịch này. Một trong những sự kiện nổi tiếng nhất trong chiến dịch tiêu diệt các đảng phái đối lập là vụ án phố Ôn Như Hầu. Trong vụ án này, Công an khám xét trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng với lý do hai đảng này âm mưu đảo chính nhằm lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng có mặt tại trụ sở cũng bị bắt trong đó có đại biểu của Việt Nam Quốc dân Đảng trong Quốc hội Việt Nam khóa I là Phan Kích Nam. Sau sự kiện này các lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội từng tham gia Chính phủ đã lưu vong sang Trung Quốc. Hội nghị Fontainebleau 1946 thất bại vì phía Pháp chần chừ không ấn định chắc chắn thời điểm và cách thức thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ về việc sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo yêu cầu của phái đoàn Việt Nam. Phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu về nước nhưng Hồ Chí Minh vẫn nán lại Pháp ký Tạm ước với Pháp. Ngày 14 tháng 9 năm 1946, Hồ Chí Minh ký với đại diện chính phủ Pháp, bộ trưởng Thuộc địa Marius Moutet, bản Tạm ước Việt - Pháp (Modus vivendi). Trong bản Tạm ước này, hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp cùng bảo đảm với nhau về quyền tự do của kiều dân, chế độ tài sản của hai bên; thống nhất về các vấn đề như: hoạt động của các trường học Pháp, sử dụng đồng bạc Đông Dương làm tiền tệ, thống nhất thuế quan và tái lập cải thiện giao thông liên lạc của Liên bang Đông Dương, cũng như việc thành lập ủy ban tạm thời giải quyết vấn đề ngoại giao của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cam kết ưu tiên dùng người Pháp làm cố vấn hoặc chuyên môn, và hai bên đã đồng ý chấm dứt mọi hành động xung đột, vũ lực cũng như tuyên truyền chống đối nhau, phóng thích tù nhân chính trị, bảo đảm không truy bức người của bên kia, và hợp tác để những kiều dân hai bên không làm hại nhau. Tạm ước cam kết sẽ có một nhân vật do Việt Nam chỉ định và Chính phủ Pháp công nhận được uỷ nhiệm cạnh thượng sứ để xếp đặt cộng tác thi hành những điều thoả thuận này. Cuối cùng, Chính phủ hai bên sẽ sớm tiếp tục đàm phán (chậm nhất là vào tháng 1 năm 1947) để tìm cách ký kết những bản thoả thuận riêng nhằm dọn đường cho một hiệp ước chung dứt khoát. Thế nhưng những nhân nhượng đó cũng không tránh nổi chiến tranh. Sau khi nhận được liên tiếp 3 tối hậu thư của Pháp trong vòng chưa đầy một ngày đòi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố, ông ký lệnh kháng chiến. Tối ngày 19 tháng 12 năm 1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do Hồ Chí Minh chấp bút được phát trên đài phát thanh. 20h tối cùng ngày, kháng chiến bùng nổ. ==== Giai đoạn kháng chiến chống Pháp ==== Tháng 3 năm 1947, ông và Trung ương Đảng chuyển lên Việt Bắc. Ông kêu gọi nhân dân tiêu thổ kháng chiến, tản cư cũng là kháng chiến, phá hoại (cho quân Pháp không sử dụng được cơ sở hạ tầng) cũng là kháng chiến. Chuyến đi sang Trung Quốc và Liên Xô gặp Stalin và Mao Trạch Đông năm 1950 có ý nghĩa đặc biệt, nhất là trong vấn đề Trung Quốc và Liên Xô hỗ trợ chính phủ Bắc Việt Nam phát triển chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và chống Pháp. Đúng dịp Tết Nguyên đán Canh Dần năm 1950, ông thực hiện một chuyến đi bí mật sang Trung Quốc, Liên Xô. Ngày 2-1-1950, ông cùng Trần Đăng Ninh, từ Tuyên Quang đi bộ tới Trùng Khánh - Cao Bằng, rồi đi tiếp đến Long Châu, Quảng Tây. Đến đây, Hồ Chí Minh bắt được liên lạc với Đảng cộng sản Trung Quốc. Văn phòng Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã bố trí xe đón đoàn đi Nam Ninh, từ đó đoàn đi xe lửa đến Bắc Kinh. Ông làm việc ở Bắc Kinh một tuần, sau đó cùng Trần Đăng Ninh đi xe lửa liên vận đến Liên Xô. Chuyến đi bí mật này, ông đã thành công ở cả hai phương diện chính trị và ngoại giao, đó là chuyến đi lịch sử làm tiền đề cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam - Liên Xô, giữa Việt Nam - Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa khác. Ngày 11-3-1950, Hồ Chí Minh và ông Trần Đăng Ninh về đến Bắc Kinh, giữa tháng 4 -1950, ông mới về đến Tuyên Quang. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 được tổ chức vào trung tuần tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang, ông quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai trở lại. Tuy nhiên, khi này tên gọi không còn là Đảng Cộng sản nữa mà có tên mới là Đảng Lao động Việt Nam. Ông tuyên bố: Tại Đại hội này Đảng Lao động đã khởi xướng Cải cách ruộng đất nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là "bóc lột", "phản quốc" (những người theo Pháp, chống lại đất nước), "phản động" (chống lại chính quyền) như địa chủ, Việt gian, cường hào, các đảng đối lập... để lập lại công bằng xã hội, đồng thời thiết lập nền chuyên chính vô sản nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng. Từ tháng 10 năm 1952, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bản "chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam" cho Stalin để "đề nghị xem xét và cho chỉ dẫn" và cho biết chương trình hành động được lập bởi chính ông dưới sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ. Cuộc cải cách ruộng đất tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được phát động vào cuối năm 1953 và kéo dài cho tới cuối năm 1957. Theo tổng kết của Đảng lao động Việt Nam, cuộc cải cách đã "đánh đổ được giai cấp địa chủ cùng bọn Việt gian phản động",, phân chia lại đất canh tác một cách công bằng cho cho hơn 2 triệu hộ nông dân ở miền đồng bằng Bắc bộ. Tuy vậy cuộc cải cách này đã phạm nhiều sai lầm, nhất là trong việc người dân lạm dụng đấu tố và xử tử những người bị liệt vào thành phần địa chủ, thậm chí xảy ra việc dân chúng vu oan và giết nhầm cả những đảng viên trung kiên. Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt cho rằng, những vụ sát hại này đã "gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế". Trước tình cảnh đó, từ tháng 2 năm 1956, công cuộc sửa sai được khởi sự, phục hồi được khoảng 70-80% số người bị kết án, trả lại tài sản ruộng đất. Những nhân vật cốt cán của cải cách bị cách chức, gồm cả Tổng Bí thư Trường Chinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm, ông khóc và nhận lỗi trước Quốc hội. Cuộc Chiến tranh Đông Dương kết thúc vào năm 1954, khi thực dân Pháp bị đánh bại tại Điện Biên Phủ - sự kiện báo hiệu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới - và dẫn đến Hiệp định Genève. Kết quả mà đoàn Việt Nam thu nhận được kém hơn nhiều so với mục tiêu đề ra ban đầu. Tuy vậy, trên các phương tiện truyền thông chính thức, Hồ Chí Minh tuyên bố "Ngoại giao đã thắng to! ==== Giai đoạn sau năm 1954 ==== Ngày 8/7/1957, Hồ Chí Minh ghé Bắc Kinh trên đường đi Bắc Hàn, Liên Xô và Đông Âu khi chiến dịch chống phái hữu ở Trung Quốc bắt đầu. Tháng 8 năm 1957, một năm sau cuộc nổi dậy năm 1956 tại Hungary, Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam bỏ ra năm ngày thực hiện cuộc viếng thăm hữu nghị Cộng hoà Nhân dân Hungary. Một kỹ sư người Hungary đã ghi nhận: Bỏ qua mọi thứ lễ nghĩa nhưng vẫn khiến người khác phải kính trọng, con người ít lời, thông tuệ ấy có một tính cách rất lôi cuốn… Và ngày hôm đó đã đi vào tâm trí của tôi như một trong những kỷ niệm thật đẹp của đời tôi. Trên đường quay về Việt Nam, vào cuối tháng 8/1957, Hồ Chí Minh một lần nữa ghé thăm Trung Quốc và gặp các lãnh đạo Trung Quốc lúc ấy đang bận rộn với chiến dịch chống phái hữu. Theo Trình Ánh Hồng (1 nhà nghiên cứu Trung Quốc), có lẽ ông đã bị ấn tượng mạnh về phong trào Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng và ý định thật cũng như chiến lược của Mao Trạch Đông nhằm buộc những người có quan điểm trái ngược với Đảng Cộng sản Trung Quốc lộ mình. Đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tình hình quốc tế cuối năm 1957 và đầu 1958 đã chuyển biến rất khác giai đoạn trước đó. Khoảng hai tuần sau khi trở về nước, Hồ Chí Minh dùng bút danh Trần Lực, đăng một bài trên báo Nhân dân ngày 16/9/1957 với tựa đề “Đập tan tư tưởng hữu khuynh”, lên án đó là tư tưởng độc hại và dễ lan tràn như cỏ dại, sau đó Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm bị dập tắt. Trước đó, một xã luận của báo Nhân dân ở Việt Nam, viết rằng: “Chúng ta không thể cho phép bất kỳ ai lợi dụng tự do dân chủ và tự do ngôn luận để tách rời nhân dân khỏi Đảng.” Hai năm sau (1959), ông tới thăm thủ đô Bắc Kinh nhân dịp kỷ niệm 10 năm cách mạng Trung Quốc. Trong những cuộc đàm phán riêng, ông nhận được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moskva để viện trợ thêm vũ khí và dân sự, nhưng đã khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam. Hồ Chí Minh có quan hệ bạn bè thân thiết với Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh. Đầu tháng 9 năm 1963 Hồ Chí Minh lần đầu đi điều dưỡng trị liệu ở suối nước nóng Tòng Hoá (從化), tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Châu Ân Lai (周恩來) và Trần Nghị (陳毅) từ Bắc Kinh đến thăm Hồ Chí Minh, sắp xếp việc sinh hoạt hàng ngày và chăm sóc sức khoẻ cho Hồ Chí Minh. Ảnh chân dung thường thấy hiện nay của Hồ Chí Minh được treo ở các nơi quan trọng của Việt Nam là do nhiếp ảnh gia Lục Văn Tuấn (陸文駿) của "Quảng Đông hoạ báo" (廣東畫報) chụp trong thời gian Hồ Chí Minh điều dưỡng trị liệu ở suối nước nóng Tòng Hoá. Ít lâu sau khi Hoa Kỳ bắt đầu cuộc chiến tranh không kích, ném bom vào miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận được điện từ nhà triết học nổi tiếng người Anh Bertrand Russell - một người yêu hòa bình. Trong điện này, Russell nêu ra quan điểm chống đối của mình đối với sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Đáp lại, ông gửi Russell điện cảm ơn vào ngày 10 tháng 8 năm 1964. Điện này có đoạn: Ngày 8/2/1967 tổng thống Mỹ Johnson gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nội dung thư có đại ý là người Mỹ nhiều lần chuyển đến chính phủ Hồ Chí Minh mong muốn hoà bình bằng những kênh khác nhau nhưng không đạt kết quả nào và đề nghị chấm dứt cuộc xung đột tại Việt Nam để không tiếp tục gây đau khổ cho nhân dân hai miền Việt Nam cũng như nhân dân Mỹ. Tổng thống Mỹ cam kết sẽ ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam và ngừng tăng thêm quân tại miền Nam Việt Nam ngay khi miền Bắc chấm dứt đưa quân vào miền Nam. Hai bên cùng kiềm chế leo thang chiến tranh để đối thoại song phương một cách nghiêm túc hướng đến hoà bình. Việc tiếp xúc có thể diễn ra ở Moskva, Miến Điện hay bất cứ nơi nào Bắc Việt Nam muốn. Ngày 15/2/1967 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư trả lời tổng thống Johnson tố cáo Mỹ đã xâm lược Việt Nam, vi phạm những cam kết của đại diện Mỹ tại Hội nghị Geneva, phạm nhiều tội ác chiến tranh tại cả hai miền Nam Bắc Việt Nam. Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân Việt Nam quyết tâm đánh thắng Mỹ bằng mọi giá. Nếu Mỹ muốn trực tiếp đối thoại với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì trước tiên phải ngừng ném bom vô điều kiện miền Bắc Việt Nam. Chỉ có thể đạt được hoà bình nếu Mỹ chấm dứt những hoạt động quân sự, rút quân Mỹ và đồng minh khỏi miền Nam để người Việt Nam tự giải quyết vấn đề của mình, đồng thời công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam. ==== Giai đoạn cuối đời ==== Từ khoảng nửa cuối thập niên 1960, do sức khỏe suy giảm, Hồ Chí Minh giảm dần các hoạt động chính trị, thường xuyên sang Trung Quốc tham quan, nghỉ ngơi và dưỡng bệnh (nhất là trong 3 năm cuối đời khi ông liên tục ốm nặng). Ông muốn tìm người kế tục sự nghiệp đấu tranh cách mạng của mình cho tới thắng lợi cuối cùng. Bắt đầu từ năm 1963, Hồ Chí Minh dần bàn giao công việc cho Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, người mà Hồ Chí Minh đã gọi ra Hà Nội gấp vào năm 1957 để trực tiếp giúp ông điều hành công việc chung của Đảng.. Lê Duẩn chưa sát cánh làm việc với Hồ Chí Minh ngay từ những năm 1940 như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp hay Trường Chinh, nhưng khi mà đất nước Việt Nam đang bị chia cắt, cách hay nhất để bảo đảm Đảng Lao động Việt Nam sẽ đại diện cho tất cả người Việt Nam, là đưa một cán bộ từ Miền Nam lên lãnh đạo toàn Đảng. Quyết định của Hồ Chí Minh bàn giao công việc cho Lê Duẩn, và việc ông ủng hộ Lê Duẩn trong cuộc bầu cử 1960 là một cách để đảm bảo sự đoàn kết đất nước. Hồ Chí Minh dần lui về nắm giữ vai trò biểu tượng của cách mạng, dành nhiều thời gian để đi thăm hỏi, động viên cán bộ và đồng bào, và viết báo. Bí thư thứ nhất Lê Duẩn là người chủ trương tích cực thúc đẩy quá trình thống nhất đất nước bằng cách đẩy mạnh cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam. Tuy nhiên với vai trò và uy tín to lớn, các quyết sách lớn (như tổng tiến công Tết Mậu Thân hay việc đàm phán ở Paris) vẫn cần sự tham gia chỉ đạo và phê duyệt của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh liên tục ốm nặng trong khoảng hơn 3 năm cuối đời, phải đi sang Trung Quốc chữa bệnh nhiều lần. Hầu như cả năm 1967, ông ở Trung Quốc chữa bệnh. Trong thời gian chuẩn bị diễn ra sự kiện Tết Mậu Thân 1968, ông đang trong đợt dưỡng bệnh dài ngày tại Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tuy vậy ông vẫn quay về Việt Nam ít ngày vào tháng 12 năm 1967 để phê duyệt quyết định tiến hành cuộc tổng tấn công. Hiệu lệnh mở màn cuộc tổng tấn công chính là bài thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh phát trên Đài tiếng nói Việt Nam: "Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta." Hồ Chí Minh bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật lần thứ 75 của ông năm vào ngày 10 tháng 5 năm 1965, và sửa lại trong những dịp sinh nhật tiếp theo. Ông mang di chúc ra viết và dặn lại Vũ Kỳ: "Chú cất giữ cẩn thận, sang năm, mồng 10 tháng 5 nhớ đưa lại cho Bác". Mở đầu bản di chúc năm 1965 có đoạn: "Nhân dịp mừng 75 tuổi... Năm nay tôi 75 tuổi, tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người 'xưa nay hiếm'...". Trong di chúc, ông có viết: === Qua đời === Hồ Chí Minh qua đời vào hồi 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969 (tức ngày 21 tháng 7 âm lịch) tại thủ đô Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Do hoàn cảnh thời chiến, để tránh trùng với ngày Quốc khánh, ngày mất của ông ban đầu được Ban Lãnh đạo Đảng công bố là ngày 3 tháng 9, đến năm 1989 mới công bố lại là ngày 2 tháng 9. Hà Nội đã nhận được hơn 22.000 bức điện chia buồn từ 121 nước trên khắp thế giới. Nhiều nước trong khối xã hội chủ nghĩa đã tự tổ chức truy điệu và đưa ra những lời ca ngợi ông. Một tuyên bố chính thức từ Moskva đã gọi Hồ Chí Minh là một "người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng, nhà lãnh đạo xuất chúng của Cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, và một người bạn lớn của Liên bang Xô Viết". Từ các nước Thế giới thứ ba, người ta ca ngợi ông trong vai trò của người bảo vệ những con người bị áp bức. Một bài báo xuất bản ở Ấn Độ miêu tả ông là sự kết tinh của "nhân dân và hiện thân của khát vọng đấu tranh cho tự do và cho sự đấu tranh bền bỉ của nhân dân". Những bài báo khác đề cao phong cách giản dị và đạo đức cao của ông. Một bài xã luận trên một tờ báo của Uruguay viết: “ Ông có một trái tim bao la như vũ trụ và tình yêu trẻ thơ vô bờ bến. Ông là hình mẫu của sự giản dị trong mọi mặt. ” Phản ứng từ các nước phương Tây dè dặt hơn. Nhà Trắng và các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ từ chối bình luận. Báo chí phương Tây đặt sự chú ý cao đối với cái chết của Hồ Chí Minh. Các tờ báo ủng hộ phong trào phản chiến có xu hướng miêu tả ông như là một đối thủ xứng đáng và là người bảo vệ cho những con người bị áp bức. Ngay cả những tờ báo đã từng phản đối mạnh mẽ chính quyền Hà Nội cũng ghi nhận ông là người đã cống hiến cả cuộc đời cho công cuộc kiếm tìm độc lập và thống nhất đất nước Việt Nam của ông, đồng thời là tiếng nói nổi bật trong việc bảo vệ những dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Tại Vương quốc Anh, hay tin Hồ Chí Minh qua đời, vào ngày 12 tháng 9 năm 1969 Pet-ghi Đap-phơ - nhà báo tờ "Báo Diễn đàn", đã viết một bài báo, trong đó ông được xem như: "Hồ Chí Minh, một người vừa là G. Oasinhtơn, vừa là A. Linhcôn của đất nước mình". Tang lễ được tổ chức vào ngày 9 tháng 9 tại quảng trường Ba Đình với hơn 100.000 người đến dự, trong đó có các đoàn đại biểu từ các nước xã hội chủ nghĩa. Hàng triệu người trên khắp đất nước Việt Nam đã khóc. Điếu văn truy điệu ông do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc có những dòng sau: Trong di chúc, ông muốn được hỏa táng và đặt tro tại ba miền đất nước. Tuy nhiên, theo nguyện vọng của Đảng Lao động, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chí Minh để sau này nhân dân cả nước, nhất là nhân dân miền Nam, khách quốc tế có thể tới viếng ông. Theo lời kể của con trai cả của bí thư Lê Duẩn, Lê Duẩn đã nói với Hồ Chí Minh về việc thi hài ông nên được bảo quản lâu dài để đồng bào trong Nam và cả nước được đến thăm, nghe vậy Hồ Chí Minh trở nên trầm ngâm. Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nói với chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô: Các đồng chí biết Bác Hồ của chúng tôi đối với dân tộc Việt Nam là thiêng liêng như thế nào. Nhất là đối với đồng bào miền Nam, họ hy sinh chiến đấu để được độc lập, thống nhất và cũng là để được gặp Bác cho toại nguyện. Bác cũng rất muốn vào Nam gặp đồng bào Miền Nam, nhưng sức khỏe của Bác không cho phép. Vì vậy chúng tôi phải giữ thi thể của Bác để đồng bào Miền Nam chúng tôi được thấy dung nhan của Bác sau ngày chiến thắng. Từ đó đến nay, thi hài ông được bảo quản trong lăng tại Hà Nội, tương tự như đối với thi hài Lenin ở Moskva. == Hôn nhân và cuộc sống cá nhân == === Hôn nhân === Cho tới nay chưa có một tài liệu chính thức từ phía nhà nước Việt Nam nhắc đến việc Hồ Chí Minh đã từng kết hôn. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của một số sử gia ngoại quốc, Hồ Chí Minh đã kết hôn với Tăng Tuyết Minh ở Quảng Châu năm 1926 cho đến khi ông rời Quảng Châu, vào khoảng tháng 4 hoặc 5 năm 1927, từ đó không bao giờ còn gặp lại nhau. Theo Hoàng Tranh (Viện Khoa học xã hội Quảng Tây, Trung Quốc), sau khi trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh đã thử tìm nhau thông qua tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc và cơ quan ngoại giao Việt Nam tại Trung Quốc nhưng không thành công Một số Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, đặc biệt là Lê Duẩn phản đối việc này vì Hồ Chí Minh được nhân dân xem là cha già dân tộc, việc đoàn tụ với Tăng Tuyết Minh sẽ làm ảnh hưởng đến hình ảnh của Hồ Chí Minh và sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Về vấn đề Tăng Tuyết Minh, nhà nghiên cứu Sophie Quinn-Judge có ý kiến dè dặt hơn vì vào thời kỳ đó, đôi khi một cuộc hôn nhân diễn ra chỉ đơn thuần vì lý do chính trị, theo đó Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh đã sống chung với nhau như là một cách ngụy trang để duy trì các hoạt động chính trị của họ. Cũng theo Sophie Quinn-Judge, nếu căn cứ theo các tài liệu từ văn khố của Đệ Tam Quốc tế từ năm 1934 đến 1935, Nguyễn Thị Minh Khai từng nhận mình là vợ của Hồ Chí Minh vào thời điểm năm 1931. Khi Nguyễn Thị Minh Khai đến Moskva cuối năm 1934, bà đã viết rằng bà đã có gia đình với "Lin", bí danh của Hồ Chí Minh vào thời điểm này. Tuy nhiên, trong một cuộc phỏng vấn với Ban Tiếng Việt BBC, Sophie Quinn-Judge cũng nói thêm rằng mình "không biết chắc liệu đây có thuộc về dạng hôn nhân thật sự hay không", vì trong các thư từ của họ thường sử dụng nhiều loại mật mã, và nói chung những người hoạt động cách mạng có thể xem là "thuộc về một thế giới khác, vượt khỏi các khuôn khổ đạo đức bình thường" nên khó mà biết rõ cách thức hoạt động của họ. Ngoài ra, Sophie Quinn-Judge cũng tìm ra một bức thư mà Nguyễn Thị Minh Khai viết vào năm 1933, trong đó Nguyễn Thị Minh Khai khẳng định rằng mình không hề bị vướng bận bởi chuyện chồng con, vì "người chồng" duy nhất của bà chính là sự nghiệp Cách mạng. Theo Halberstam, năm 1945, Hồ Chí Minh từng nói với nhà báo Harold Isaacs rằng ông cô đơn, không có gia đình, không có gì cả nhưng đã từng có một người vợ. Nhưng trong nhiều cuộc gặp mặt khác, Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định ông không có vợ và sẽ không lấy vợ cho đến lúc dân tộc Việt Nam toàn thắng, thống nhất đất nước. Trong một buổi tiệc ở Bắc Kinh vào tháng 8 năm 1959, Hồ Chí Minh cũng đã tuyên bố với quan khách: chừng nào miền Nam chưa được giải phóng, ông sẽ không bao giờ kết hôn. Trong các thư từ, bản thân ông cũng nhiều lần khẳng định rõ ông là người không có gia đình riêng và không có con cái. Chẳng hạn như trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng khi nghe tin con trai ông này hi sinh: “ Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. ” === Cuộc sống cá nhân === Hồ Chí Minh là người nghiện thuốc lá nặng. Trong buổi tiếp William C. Baggs, biên tập viên của Tin tức Miami tại Hà Nội đầu năm 1967, ông liên tục hút thuốc, loại thuốc lá Mỹ nhãn hiệu Salem. Ông ăn mặc đúng mực, lịch thiệp, nhạy cảm và không tạo áp lực lên người khác. Kiểu ăn mặc thường là áo pijama trắng cao cổ, đi dép cao su. Ông Harry Ashmore, người của Trung tâm nghiên cứu của các tổ chức dân chủ và cựu biên tập viên của Công báo Arkansas nhớ lại: Ngày 19 tháng 5 năm 1946, sinh nhật Hồ Chí Minh lần đầu tiên được tổ chức nhằm mục đích nâng cao tinh thần đoàn kết dân tộc. Dù là người đứng đầu một nước nhưng sinh nhật của ông được tổ chức rất đơn sơ, giản dị và mộc mạc. Những năm sau đó, sinh nhật của ông thường chỉ được tổ chức vào năm chẵn, còn các năm khác thì ông thường lặng lẽ tổ chức một bữa "ăn tươi" nho nhỏ với vài cán bộ thân cận. Trong hai lần sinh nhật cuối đời, Hồ Chí Minh đều lấy dự thảo di chúc ra sửa lại. Tuy ông là chủ tịch của một nước nhưng đời sống sinh hoạt hằng ngày cũng chẳng khác mấy so với người thường, ông sống trong một căn nhà tranh hay còn gọi là túp lều. Bữa ăn đạm bạc của ông đã được nhận xét là rất giản dị và đơn sơ và theo thủ tướng Phạm Văn Đồng, người đã nhiều lần ăn chung với ông, nhận xét ông ăn vừa đủ không bỏ món thừa và ăn không sót một hột cơm vì ông tôn trọng thành quả lao động của nông dân. Hồ Chí Minh là người rất chăm tập thể dục và thích chăm sóc cây cối, là người có cuộc sống khá điều độ, tuy có tật hút thuốc là đến 2 năm cuối đời mới bỏ được. Theo Giáo sư Hoàng Chí Bảo, Hồ Chí Minh nói được 29 thứ tiếng, chưa kể tiếng đồng bào các tộc người ở Việt Nam, trong đó ông nói thành thạo các thứ tiếng gồm: Nga, Pháp, Trung Quốc, Anh, Ý. Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 7, Hồ Chí Minh được miêu tả: "Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha". Bên cạnh đó, theo lịch sử ghi chép về các chuyến công du nước ngoài hoặc tiếp đón ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có khả năng nói Tiếng Xiêm (Thái Lan bây giờ), tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập. == Tư tưởng Hồ Chí Minh == Là một nhà lãnh đạo nổi tiếng ở Đông Nam Á, ông đã kết hợp chủ nghĩa Marx-Lenin với chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Tư tưởng chủ đạo trong các cuộc đấu tranh của Hồ Chí Minh là kết hợp cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản. Ông đi theo trào lưu chủ nghĩa cộng sản do Karl Marx và Friedrich Engels đề xuất vốn đang nổi lên vào thời của ông. Ông tiếp nhận tư tưởng của Lenin về vấn đề thuộc địa, và xem đó làm kim chỉ nam cho các hoạt động của mình sau này. Ông viết trên tạp chí Các vấn đề phương Đông (Liên Xô), dẫn lại trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 4 năm 1960: "Chủ nghĩa Lenin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản." Nhiều lần ông bảo: "bệnh quan liêu, mệnh lệnh chỉ đưa đến kết quả là hỏng việc và thực hành dân chủ rộng rãi cũng là cách chống quan liêu tích cực". Chính vì thế, ông đề nghị tất cả mọi người đều tuân theo 6 điều: "Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ. Có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình. Sẵn sàng học hỏi nhân dân. Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính để nhân dân noi theo". Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng: Về giáo dục, ông là người rất quan tâm đến cách dạy học cụ thể và thiết thế. Ông cho rằng: Năm 1955, trong Lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam vào ngày 19 tháng 1, ông có bài nói chuyện với những sinh viên cũng như thanh niên. Trong bài nói chuyện này có đoạn: (Tổng thống Mỹ John F. Kennedy sau này cũng có ý tưởng tương tự trong diễn văn nhậm chức năm 1961) Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào? Theo Hồ Chí Minh, đồng bào lương hay giáo đều là người Việt Nam, cách mạng là sự nghiệp chung không phải chỉ của một, hai người: "Lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh". == Di sản == Tại Việt Nam, ông được xem là nhân vật chính trong công cuộc giải phóng dân tộc. Đối với nhiều người, ông là một nhà yêu nước đã vận dụng chủ nghĩa Marx-Lenin vào công cuộc giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thực dân và đế quốc. Tính giản dị và kiên cường của ông được nhiều người kính mến. Giáo sư David Thomas cho rằng "Chính viễn kiến của ông, sự hy sinh, tính bền bỉ và sự lãnh đạo của ông trong một nước nghèo nàn, lạc hậu đã thúc đẩy người Việt Nam đứng dậy, đánh thắng thực dân Pháp và quân đội Mỹ." Cũng chính giáo sư này xem ông là một nhân vật trong thời kỳ Phục Hưng, là người nói giỏi không ít ngoại ngữ, lại còn viết được thơ bằng chữ Hán. Trong đời, Hồ Chí Minh đã tham khảo những danh nhân về văn học và triết học như Victor Hugo, Charles Dickens, Lev Nikolayevich Tolstoy hay Fyodor Mikhailovich Dostoevsky thông qua các tài liệu bằng ngôn ngữ bản xứ của họ. Tuy nhiên, ông cũng nói rằng "Họ (Chính phủ Việt Nam) đã thánh hóa hình ảnh của ông, biến ông thành một vị thánh và điều đó khiến việc có được bức tranh thực và đầy đủ về cuộc đời ông trở thành bất khả." Nhiều người dân Việt Nam yêu quý ông, gọi ông bằng cái tên thân mật Bác Hồ. Trong văn thơ, ông còn được gọi là "Người Cha già dân tộc". Một số dân tộc thiểu số Việt Nam, như Vân Kiều, Pa Cô, Kor, đã lấy họ Hồ vì yêu quý ông. Ông được thờ tại nhiều gia đình Việt Nam, cũng như tại nhiều gia đình Việt kiều ở Thái Lan, Lào,... và một số gia đình ở các nước khác như Na Uy. Với chiến thắng quyết định ở trận Điện Biên Phủ, những nước thuộc địa trước đây của Pháp, chủ yếu ở Bắc Phi và Tây Phi cũng theo gương Việt Nam nổi dậy. Hồ Chí Minh được người dân ở những nước này rất kính trọng, và được coi như tấm gương cho cuộc giải phóng tại đất nước họ. Tuy nhiên, tại một số cộng đồng người Việt hải ngoại có tư tưởng chống Cộng, đặc biệt là ở Hoa Kỳ mà đa phần là những người rời khỏi Việt Nam sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, hình ảnh của ông bị phản đối mãnh liệt. Năm 1999, khi một người cho thuê băng đĩa treo chân dung Hồ Chí Minh trước cửa tiệm mình tại Little Saigon, hàng vạn người Mỹ gốc Việt và cựu binh Hoa Kỳ tại Việt Nam đã tham gia biểu tình phản đối, gây ra nhiều tranh cãi về vấn đề tự do ngôn luận tại Hoa Kỳ. Một cuộc triển lãm nghệ thuật về ông tại Oakland, California năm 2000 cũng bị hàng trăm người biểu tình phản đối. Trong một hành động phản đối chuyến thăm của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tới Hoa Kỳ, hình nộm của ông bị đem ra treo cổ và hình ảnh ông bị giẫm đạp, một số cuộc biểu tình phản đối chính quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng có những hành động tương tự. === Tưởng niệm === ==== Trong nước ==== Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, phủ toàn quyền Đông Dương bên cạnh Quảng trường Ba Đình, nơi ông đã đọc Tuyên ngôn độc lập được chọn là nơi làm việc của Đảng, Nhà nước và đồng thời là nơi ở, nơi làm việc của Chủ tịch nước. Từ đó trở đi, nơi đây trở thành Khu di tích Phủ Chủ tịch. Khu này là nơi sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông - từ 19 tháng 12 năm 1954 đến 2 tháng 9 năm 1969 (đây cũng là khoảng thời gian ông có những đóng góp quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam). Khu di tích Phủ Chủ tịch hàng năm đón nhiều khách tham quan trong và ngoài nước. Một công trình khác là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi tuần có hơn 15.000 người đến đây viếng thăm, trong đó có nhiều nguyên thủ các nước. Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội là khu tưởng niệm về Hồ Chí Minh lớn nhất Việt Nam. Tại các tỉnh thành phố khác cũng có các bảo tàng, nhà lưu niệm về ông, đặt tại những địa điểm ông đã từng sống và làm việc. Nổi bật nhất là bến Nhà Rồng tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi ông đã xuống tàu "Đô đốc Latouche Tréville" ra đi tìm đường cứu nước, và Nhà tưởng niệm xây dựng năm 1970 ở quê nội của ông. Nhằm tôn vinh ông, năm 1976, kỳ họp Quốc hội đầu tiên sau ngày Việt Nam được thống nhất đã thống nhất quyết định đổi tên thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh. Chiến dịch quân sự lịch sử xảy ra trên thành phố này, kết thúc Chiến tranh Việt Nam và mở đầu thời kỳ thống nhất của Việt Nam cũng mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh. Tên ông còn được đặt cho các giải thưởng và huân chương cao quý nhất của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Huân chương Hồ Chí Minh là huân chương bậc cao thứ nhì của Nhà nước; Giải thưởng Hồ Chí Minh là giải thưởng cao quý nhất dành cho những cống hiến trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ. "Cháu ngoan Bác Hồ" là danh hiệu dành cho các thiếu nhi có thành tích cao trong học tập và hoạt động xã hội. Tên ông còn được đặt cho hai tổ chức chính của thanh thiếu niên Việt Nam: Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Các tên Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc hay Nguyễn Tất Thành còn được đặt cho nhiều công trình công cộng, như đường quốc lộ, quảng trường, đường phố, trường học. Hình ảnh và tượng ông hiện diện tại nhiều nơi công cộng, cũng như trên tất cả các đồng tiền giấy đang lưu hành tại Việt Nam. Cùng với quốc kỳ, tượng bán thân hoặc hình ông được đặt tại nơi trang trọng nhất của mỗi cơ quan nhà nước và trường học tại Việt Nam. ==== Quốc tế ==== Tại các quốc gia khác cũng có các nhà lưu niệm về Hồ Chí Minh, chẳng hạn như ở Pháp. Ngoài ra còn có rất nhiều đài kỷ niệm và bia tưởng niệm. Tại Việt Nam, Hồ Chí Minh còn được thờ trong một số đền, chùa và gia đình. Ngoài phạm vi Việt Nam, Hồ Chí Minh được tưởng niệm tại nhiều công trình trên thế giới. Tên ông đã được đặt cho các đại lộ tại Luanda (Angola), tại Ouagadougou (Burkina Faso) và tại Maputo (Mozambique). Tại Berkeley, California, nơi có nhiều cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, nhiều nhà hoạt động cộng đồng đã từng gọi Công viên Frances Willard là Công viên Hồ Chí Minh một cách không chính thức. Nhiều nước trên thế giới đã phát hành tem bưu chính kỷ niệm ông: Liên bang Xô viết, Ấn Độ, Lào, Madagascar, Algérie, Cuba, Đông Đức, Triều Tiên, Quần đảo Marshall, Dominica,... Tượng đài ông được đặt tại nhiều thành phố trên thế giới, trong đó có La Havana (Cuba), Moskva (Nga), Zalaegerszeg (Hungary), Montreuil (Pháp), Calcutta (Ấn Độ), Antananarivo (Madagascar), và Caracas (Venezuela) === Danh hiệu === ==== Đề cử kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của Hồ Chí Minh ==== Ngày sinh nhật lần thứ 100 của ông Hồ Chí Minh được đoàn Việt Nam đề cử đưa vào Lịch kỷ niệm các nhân cách vĩ đại và các sự kiện lịch sử (sau đây gọi tắt là Lịch kỷ niệm) năm 1990 - 1991. Đề cử của đoàn Việt Nam đã được chép nguyên văn trong văn kiện kỳ họp Đại Hội đồng 24 từ 20/10 - 20/11/1987 ở Paris , tại tiểu mục 18.65, mục 18.6 về việc lập Lịch kỷ niệm năm 1990 - 1991. Nguyên văn đề cử của đoàn Việt Nam, mục Lưu ý (Noting), mục Đề cử (Recommend) và mục Yêu cầu (Request). Tạm dịch: Lưu ý là năm 1990 đánh dấu 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng đất nước và danh nhân văn hóa người Việt, 1. Đề cử các nước thành viên tham gia vào việc kỷ niệm ngày sinh lần thứ 100 của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách tổ chức những sự kiện tưởng nhớ đến ông, để phổ biến kiến thức về sự vĩ đại của tư tưởng và những việc làm của ông để giải phóng đất nước; 2. Yêu cầu Tổng Giám đốc Unesco thực hiện các bước thích hợp để kỷ niệm ngày sinh lần thứ 100 của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt các hoạt động tổ chức tại Việt Nam. Cụm từ "Anh hùng giải phóng đất nước và danh nhân văn hóa người Việt" (Vietnamese hero of national liberation and great man of culture) xuất hiện 1 lần tại mục Lưu ý trong đề cử của đoàn Việt Nam, văn kiện khóa họp 24. Cụm từ "danh nhân văn hóa" (great man of culture) xuất hiện tổng cộng 3 lần trong cơ sở dữ liệu của UNESCO từ năm 1974 - nay (2017): Lần đầu tiên: năm 1987, văn bản kỳ họp đại hội đồng lần thứ 24, mục 18.6 lập Lịch kỷ niệm 1990-1991, trong nội dung 18.65 đoàn Việt Nam đề cử ngày sinh lần thứ 100 của Hồ Chí Minh Lần thứ hai: năm 1995, văn bản kỳ họp 147 Hội đồng Điều Hành (Executive Board) ngày 29/09/1995 để lập Lịch kỷ niệm 1996-1997, trong nội dung của đoàn Philippine, có nhắc lại cụm từ này. Lần thứ ba: năm 2001, văn bản kỳ họp đại hội đồng lần thứ 31, ông Phạm Văn Khiêm nhắc lại cụm từ này khi nói về Hồ Chí Minh trong phát biểu của mình. Đề cử của đoàn Việt Nam đã được Đại hội đồng khóa 24 (họp từ ngày 20/10 tới 20/11/1987)) của UNESCO thông qua và ban hành dưới dạng Nghị quyết, quyển số 01. Như vậy, nghị quyết vinh danh Hồ Chí Minh của UNESCO là có thật Tuy nhiên tên của Hồ Chí Minh đã không được in trong Lịch kỷ niệm năm 1990 - 1991 bởi sự phản đối của một số người tại Pháp. Trong cuốn sách Contesting Indochina của M. Kathryn Edwards, Phó Giáo sư sử học Pháp tại Đại học Tulane, tại trang 96 có nói đề cử vinh danh Hồ Chí Minh của UNESCO bị chống đối mạnh từ Hội cựu chiến binh Quốc gia và bạn bè Đông Dương (Association nationale des anciens et amis de l’Indochine - ANAI, một tổ chức gồm các cựu binh quân đội Pháp từng tham chiến ở Đông Dương giai đoạn 1945 - 1954, năm 2012 đã bị giải thể) Vào năm 1988-89, Hội (ANAI) đã tổ chức một chiến dịch thành công chống lại đề xuất của UNESCO kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của Hồ Chí Minh đã được lên kế hoạch cho năm 1990; mặc dù Hội thừa nhận ông Hồ là một "người đàn ông trung thực" và một "người yêu nước", Hội cũng xem ông là một "thủ phạm của tội ác chống lại loài người, chống lại chính người dân của mình, và chống lại quân đội nước ngoài" (quân đội Pháp). Vấn đề được đưa ra Quốc hội Pháp bởi đại diện cánh hữu Eric Raoult (thuộc Đảng liên minh vì phong trào nhân dân, UMP), người đã trình Quốc hội với quan điểm gần như hoàn toàn tương đồng với ANAI. Ông còn lập luận xa hơn rằng Quốc hội đang tranh luận xem có thiết lập tình trạng "tù binh (Pháp) của Việt Minh" hay không, nó có vẻ vô lý khi vinh danh người đã chịu trách nhiệm cho việc đối xử với các tù binh Pháp này. Cuối cùng, Chính phủ Pháp đã ra quyết định bãi bỏ những lễ kỷ niệm cấp nhà nước cho sinh nhật 100 [của ông Hồ]. Trong cuốn sách về tiểu sử Hồ Chí Minh của Pierre Brocheux cũng có nhắc đến sự kiện kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh tại trụ sở chính của UNESCO ở Paris, sau khi đề cử của Việt Nam được Nghị quyết UNESCO thông qua, với khuyến nghị các nước thành viên tưởng nhớ "tư tưởng và thành quả của Hồ Chí Minh trong công cuộc giải phóng dân tộc". Văn bản gốc đề cử kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh của Việt Nam được in trong "Tập biên bản của Ðại Hội đồng UNESCO khóa họp lần thứ 24 tại Paris, từ ngày 20-10 đến 20-11 năm 1987, Quyển 1: NGHỊ QUYẾT", được UNESCO xuất bản đồng thời bằng 6 thứ tiếng (tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ả Rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Nga), được in và đóng quyển tại xưởng in của UNESCO, Paris, vào năm 1988. Năm 2010, văn bản gốc bằng tiếng Pháp của bản Nghị quyết tôn vinh Hồ Chí Minh của UNESCO đã được Tổng Giám đốc UNESCO là bà Irina Bokova trao tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh để trưng bày. ==== Các bình chọn của Tuần báo TIME ==== Tuần báo TIME của Hoa Kỳ bình chọn Hồ Chí Minh là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20. Danh sách này đã gây ra nhiều tranh cãi, vì tiêu chí của Time chỉ dựa trên tầm ảnh hưởng, bất kể tốt hay xấu (Adolf Hitler và Benito Mussolini cũng có tên trong danh sách này) Tờ Time 2000 đã nhận định ông là người đã góp phần "làm thay đổi diện mạo hành tinh chúng ta trong thế kỷ XX". Ngày 15 tháng 10 năm 2010, báo Time cũng đã bầu chọn Hồ Chí Minh là một trong 10 tù nhân chính trị nổi bật chiến đấu cho tự do nổi tiếng nhất mọi thời đại cùng với Aung San Suu Kyi, Nelson Mandela, Martin Luther King Jr., Mohandas Gandhi... == Ảnh hưởng của Hồ Chí Minh ở Việt Nam ngày nay == Tại Việt Nam, hình ảnh Hồ Chí Minh phổ biến khắp nơi như là một "tấm gương sáng ngời về đạo đức", một "nhân cách cao thượng" và được coi là một "thần tượng". Những tác phẩm nói về Hồ Chí Minh thường ca ngợi những đức tính tốt đẹp của ông. Các cấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức, lối sống của Hồ Chí Minh. Mỗi năm, chính quyền và Đảng bộ đều tổ chức các cuộc thi Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho nội bộ lẫn quần chúng. Ngoài những phát biểu của chính Hồ Chí Minh và hình vẽ, hình chụp của ông, những câu nói và khẩu hiệu tuyên truyền có thể đọc thấy ở mọi nơi đó là: Đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta == Các câu nói được ghi lại == === Các câu nói nổi tiếng === "Hỡi đồng bào cả nước. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc!". Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do! "Người ta sinh ra và mãi mãi tự do và bình đẳng về quyền. Các quyền ấy là: tự do, tư hữu, an ninh và chống áp bức.". "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người", lấy ý từ câu "thập niên chi kế, mạc như thụ mộc; chung thân chi kế, mạc như thụ nhân" (Hán văn: 十年之計,莫如樹木;終身之計,莫如樹人) trong sách "Quản tử", chương thứ ba Quyền tu. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi. Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập Tôi nói, đồng bào nghe rõ không? Quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Nay, tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu (tôi) cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài. Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Hình ảnh miền Nam luôn ở trong trái tim tôi. "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi Nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho Nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi Nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích Nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào? Chúng ta thường nêu vấn đề dân chủ, đồng chí nào cũng thấy phải thực hành dân chủ. Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế! === Các câu nói khác === ==== Trước 1945 ==== Theo tác phẩm "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" của tác giả Trần Dân Tiên, trước khi Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng đến Pháp năm 1911, cậu rủ một người bạn đi cùng để có gì giúp đỡ lẫn nhau. Người bạn hỏi cậu lấy tiền đâu mà ra đi, cậu giơ tay ra mà nói: Đây tiền đây! Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Về mục đích đi ra nước ngoài của mình, năm 1923 Nguyễn Ái Quốc đã trả lời rằng: "Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái... Tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy". Một lần khác anh nói: "Nhân dân Việt Nam trong đó có cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi" Khi lần đầu đến thăm tượng Nữ thần Tự do năm 1913, Nguyễn Tất Thành là nhìn xuống chân tượng và ghi vào sổ: "Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp, số phận người phụ nữ bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?". Vào mùa xuân 1919, một người bạn Pháp đưa cho Nguyễn Tất Thành một bản sao báo cáo của Lênin in trong báo Nhân đạo (L’Humanité): "Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa". Anh vui mừng đến phát khóc lên, nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!" Năm 1920, trong bài "Đây "công lý" của thực dân Pháp ở Đông Dương", Nguyễn Tất Thành nói về báo chí An Nam thời Pháp thuộc: "Giữa thế kỷ 20 này, ở một nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! [...] Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi. Chính quyền Pháp quyết định rằng không một tờ báo bằng tiếng An Nam nào được xuất bản nếu không được viên toàn quyền cho phép, rằng họ chỉ cho phép với điều kiện là bản thảo đưa đăng phải trình viên toàn quyền duyệt trước đã, và giấy phép ấy họ thu hồi lúc nào cũng được [...] Trên thực tế còn tệ hơn nữa. Mãi đến bây giờ, chưa có người An Nam nào được phép xuất bản một tờ báo cả. Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay vǎn học như ta thấy ở châu Âu và các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển, chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn, ca tụng công ơn của nền khai hoá và ru ngủ dân chúng. Báo đầu độc người ta như thế, thì ở Đông Dương cũng có ba hay bốn tờ đấy. Ngay cho đến cả những tờ thông tin thuần tuý về kinh tế và thương mại, người ký giả bản xứ cũng chỉ xin được phép bằng những biện pháp quanh co." Trong bài báo nhan đề "Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa", Nguyễn Ái Quốc viết: "Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra" Trong tác phẩm "Nên Học Sử Ta", Hồ Chí Minh đã viết: "Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập tự do. Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi…" ==== 1945 - 1946 ==== Sau 80 năm bị thực dân Pháp giày vò, nước Việt Nam ta cái gì cũng kém cỏi, chỉ có lòng sốt sắng của dân là rất cao. Bọn ấy sang thì chả tử tế gì đâu. Chúng sẽ ăn hại, báo hại, đưa phản động về phá ta, làm những điều chướng tai gai mắt. Theo tinh thần "bốn bể đều là anh em", tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau. Hỡi các bà mẹ Pháp! Tôi kêu gọi tinh thần yêu nước cao quý và tình mẫu tử của các bà. Các bà hãy giúp chúng tôi ngăn chặn những hiểu lầm và mau chóng gây dựng mối tình hữu nghị và tinh thần hoà hợp giữa con em chúng ta. Các ông có thể giết 10 người của chúng tôi, trong khi chúng tôi chỉ giết được 1 người của các ông, nhưng cuối cùng các ông sẽ là người kiệt sức "Tôi tin và đồng bào cả nước đều tin vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời oanh liệt của một nhà đại cách mạng Pháp: Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ... Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của toàn dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa" Không, không vô vọng. Đó sẽ là một cuộc chiến gay go và quyết liệt nhưng chúng tôi sẽ thắng. Chúng tôi có một vũ khí mạnh chẳng kém những cỗ đại bác: đó là tinh thần dân tộc! Đừng có đánh giá thấp điều đó. Người Mỹ chắc hẳn phải nhớ là một đám nông dân chân đất Mỹ đã đánh thắng quân đội hoàng gia Anh như thế nào Nó (chiến tranh Đông Dương) sẽ là một cuộc chiến giữa voi và hổ. Nếu hổ đứng yên thì sẽ bị voi dẫm chết. Nhưng hổ không đứng yên. Ban ngày nó ẩn nấp trong rừng và ra ngoài vào ban đêm. Nó sẽ nhảy lên lưng voi, xé những mảnh da lớn, và rồi nó sẽ chạy trở lại vào rừng tối. Và dần dần, con voi sẽ chảy máu đến chết. Cuộc chiến tranh ở Đông Dương sẽ như vậy. ==== 1950 - 1960 ==== “Mỗi Đảng viên, trước hết là mỗi cán bộ, phải thật thà tự phê bình, tự sửa chữa những khuyết điểm của mình. Đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết. Kiên quyết chống bệnh tự mãn tự túc, tự tư tự lợi, kiêu ngạo, ba hoa. Phải thực hành khẩu hiệu: “Chí công vô tư, cần, kiệm, liêm, chính! - Tháng 10 năm 1947” "Bây giờ, Đảng cầm quyền, có nhà cao cửa rộng, có ô tô sang trọng, dễ lên mặt “quan” lắm. Xe của cơ quan là để đi việc công, không phải để các chú đi chơi, mang theo cả quan ông, quan bà, quan cô, quan cậu, thế là hỏng đấy", "Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì coi thường, đối với cấp dưới thì độc quyền, lấn áp, đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách, làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân." . "Không có việc gì khó / Chỉ sợ lòng không bền / Đào núi và lấp biển / Quyết chí ắt làm nên", đọc trong lần đến thăm liên phân đội thanh niên xung phong 312 ở Nà Tu thuộc tỉnh Bắc Cạn đêm ngày 30 tháng 3 năm 1951, lấy ý từ bốn câu trong bài thơ ngũ ngôn "Huấn mông ấu học thi" (Hán văn: 訓蒙幼學詩) của Uông Thù (汪洙), người thời Bắc Tống ở Trung Quốc: "Tạc sơn thông đại hải / Luyện thạch bổ thanh thiên / Thế thượng vô nan sự / Nhân tâm tự bất kiên" (鑿山通大海 / 煉石補青天 / 世上無難事 / 人心自不堅) Bốn câu thơ trên là nguồn cảm hưng để năm 1953 Hoàng Hà sáng tác bài hát "Thanh niên làm theo lời Bác", sau này trở thành đoàn ca của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. "Đất có bốn phương Đông Tây Nam Bắc. Trời có bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Người có bốn đức Cần Kiệm Liêm Chính. Thiếu một phương thì không thành đất. Thiếu một mùa thì không thành trời. Thiếu một đức thì không thành người." "Hoàn cảnh thế nào không quan trọng, quan trọng là đối phó thế nào." Chủ nghĩa Mác-Lênin Việt Nam là chủ nghĩa Mác-Lênin có lý có tình! Chúc mừng chú mới thắng trận. Nhưng đừng chủ quan, còn phải đánh với Mỹ nữa. (nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngay sau trận Điện Biên Phủ) Tôi xin mời Johnson tới Hà Nội như là khách của chúng tôi. Ông hãy đến với vợ và con gái, người thư ký, người bác sĩ và người đầu bếp của mình. Nhưng đừng mang theo tướng lĩnh và đô đốc! Mỹ phải cút đi! Chúng tôi trải thảm đỏ cũng được, nhưng Mỹ phải cút đi! Mỹ phải chấm dứt xâm lược. Johnson miệng nói hòa bình tay lại ký những lệnh điều động quân. Chúng tôi không bác bỏ gì hết, nhưng nhân dân chúng tôi phải được yên ổn. Chúng tôi không muốn trở thành người chiến thắng. Chúng tôi chỉ muốn Mỹ cút đi! Gút-bai! Chúng ta căm thù Đế quốc Mỹ xâm lược nhưng không được căm thù nhân dân Mỹ. Tôi nói với nhân dân Việt Nam rằng họ là con cháu tôi, vì vậy tôi sống rất bình yên và giản dị, tôi ngủ rất ngon, ngay cả khi có việc ném bom của các ông. Tôi là người đa nghi và tôi có lý do để ngờ vực. Người Mỹ các ông ít nhiều đều là nhà kinh doanh. Tôi cũng là nhà kinh doanh... Khi việc ném bom chấm dứt, câu chuyện bắt đầu. Chúng ta sẽ xem các mặt hàng. Chúng tôi và nhân dân chúng tôi sẵn sàng nói chuyện với nhà cầm quyền Mỹ và nhân dân Mỹ. Nhưng với Johnson và McNamara thì hoặc là trải thảm đỏ hoặc đá đít ra ngoài cửa. Chúng tôi ở trên đất nước chúng tôi. Chúng tôi không làm điều gì tổn hại cho nước Mỹ. Đế quốc Mỹ hãy chấm dứt sự xâm lược của chúng và cuốn gói thì lập tức hòa bình sẽ được lập lại ở Việt Nam. Đế quốc Mỹ dù điên cuồng đẩy mạnh chiến tranh đến mức nào, chúng tôi cũng quyết đánh bại chúng. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào thắng lợi của mình vì sự nghiệp của chúng tôi là chính nghĩa!". Chúng tôi sẵn sàng đem hoa và nhạc tiễn họ và mọi thứ khác họ thích, nhưng ông biết đấy, tôi thích tiếng lóng của các ông: qu'ils foutent le camp! ("qu'ils foutent le camp" có nghĩa là "hãy cút đi") Đế quốc Mỹ chán rồi, nhưng rút ra như thế nào. Thua mà danh dự. Đó là điều Mỹ muốn! Đế quốc Mỹ đang thua ở Việt Nam và chúng nhất định sẽ thua. Song chúng chỉ chịu thua sau khi đã thua trên bầu trời Hà Nội! Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta làm cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước. ==== Trích dẫn từ báo chí ==== “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân” == Tác phẩm == Trong các tác phẩm của ông có thể nói bản tuyên ngôn độc lập do ông biên soạn là có tiếng vang nhất và được sánh vai cùng các bản tuyên ngôn độc lập trong lịch sử Việt Nam như bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà tương truyền của Lý Thường Kiệt và Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) Đường kách mệnh (1927) Con rồng tre (1922, kịch, nhằm đả kích vua Khải Định) Các truyện ngắn: Pari (1922, Nhân đạo), Lời than vãn của bà Trưng trắc (1922, Nhân đạo), Con người biết mùi hun khói (1922, Nhân đạo), Vi hành (1923, Nhân đạo), Đoàn kết giai cấp (1924, Người cùng khổ), Con rùa (1925, Người cùng khổ), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925, Người cùng khổ) Nhật ký trong tù (1942, thơ) Sửa đổi lối làm việc (1947) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (bút danh Trần Dân Tiên) Vừa đi đường vừa kể chuyện (bút danh T. Lan) Trong cuốn sách này, Hồ Chí Minh hóa thân thành một cán bộ trong đoàn tùy tùng (T. Lan), đi công tác cùng với Hồ Chí Minh trong rừng núi Việt Bắc và được Hồ Chí Minh vui miệng kể chuyện cho nghe nhiều chuyện. Di chúc Hồ Chí Minh == Tên gọi, bí danh, bút danh == Sau nhiều năm hoạt động trong nước và ngoài nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng rất nhiều bí danh và tên gọi khác nhau để đánh lạc hướng kẻ thù. Tuy nhiên, danh xưng Hồ Chí Minh được chọn là tên gọi chính thức của ông và được nhiều người chấp nhận nhất. Theo một số tài liệu thì ông bắt đầu sử dụng danh xưng Hồ Chí Minh từ năm 1940 nhưng không ai biết cho đến khi bị chính quyền Trung Quốc bắt do nghi ngờ là gián điệp vào năm 1942. Từ đó ông bắt đầu công khai và dùng tên gọi Hồ Chí Minh với mọi người. Và từ đó trở đi danh xưng Hồ Chí Minh đã trở thành tên gọi chính thức của ông. Ngoài tên gọi Hồ Chí Minh (dùng từ 1942), và tên tự Nguyễn Tất Thành (阮必成), trong cuộc đời mình, ông còn có nhiều tên gọi và bí danh khác như Paul Tất Thành (1912); Nguyễn Ái Quốc (阮愛國, từ 1919); Văn Ba (khi làm phụ bếp trên tàu biển, 1911); Lý Thụy (李瑞, khi ở Quảng Châu, 1924-), Hồ Quang (1938-40), Vương (Wang) (1925–27, 1940), Tống Văn Sơ (1931–33), Trần (1940) (khi ở Trung Quốc); Chín (khi ở Xiêm La, 1928–30) và được gọi là Thầu (ông cụ) Chín; Lin (khi ở Liên Xô, 1934–38); Chen Vang (trong giấy tờ đi đường từ Pháp sang Liên Xô năm 1923); ông cũng còn được gọi là Bác Hồ, Bok Hồ, Cụ Hồ. Khi ở Việt Bắc ông thường dùng bí danh Thu, Thu Sơn và được người dân địa phương gọi là Ông Ké, Già Thu,. Tổng thống Indonesia Sukarno gọi ông là "Bung Hồ" (Anh Cả Hồ). Ông dùng 173 bút danh khi viết sách, báo: Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn, Nguyễn A.Q, Ng A.Q, Ng. Ái Quốc, N.A.Q, N., Wang, N.K., A.N; P.C. Lin, P.C. Line (1938, Trung Quốc), Line (1938, Trung Quốc), Q.T, Q.TH, Lê Quyết Thắng (1948–50), A.G, X.Y.Z (1947–50), G., Lê Nhân, Lê, Lê Ba, Lê Nông, Lê Thanh Long, L.T., T.L. (1955–69), T.Lan (1955–69), Tuyết Lan, Thanh Lan, Đin (1950–53), Tân Trào, Đ.X (trong chuyên mục "Thường thức chính trị" trên báo Cứu quốc năm 1953), C.B (trên báo Nhân dân 1951-57), V.K., K.C., C.K., Trần Lực (1948–61), C.S, Chiến Sĩ, Chiến Đấu, La Lập, Nói Thật, Thu Giang, K.V., Trầm Lam, Luật sư TH. Lam, Nguyễn Kim, K.O, Việt Hồng..v.v. Trần Dân Tiên được một số người nghiên cứu ngoài Việt Nam gán cho là một bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng không có bằng chứng để xác thực. == Giai thoại == Tại xứ Nghệ, người ta đã lưu truyền những câu sấm của Trạng Trình như sau: “Đụn Sơn phân giới/Bò Đái thất thanh/Thủy đáo Lam Thành/Song Ngư thuỷ thiển” Vào cuối thế kỷ 19 đấu thế kỷ 20, khi các phong trào cứu nước như Văn Thân, Cần Vương, lần lượt thất bại. Vào lúc đó, có thể có một nhà nho yêu nước nào đó đã sửa câu sấm ký có mấy trăm năm trước thành câu sấm mới. "Đụn Sơn phân giải/ Bò Đái thất thanh/ Thủy đáo Lam thành/ Nam Đàn sinh thánh" (Khi núi Đụn chẻ đôi, khe Bò Đái mất tiếng, sông Lam khoét vào chân núi Lam Thành, đất Nam Đàn sẽ sinh ra bậc thánh nhân). Sau phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, câu sấm này được nhắc lại và bàn tán. Lúc đó, khe Bò Đái cũng đã ngừng chảy, tiếng suối chảy ở khe không còn nghe được nữa. Vào thời Tự Đức (1848-1883), nước lũ sông Lam đã cuốn mất làng Triều Khẩu thuộc huyện Hưng Nguyên và nước sông Lam đã chảy đến chân núi Lam Thành, còn hai đảo Song Ngư (Hòn Ngư) ở (Cửa Lò) là hòn Son và hòn Mực ở ngoài cửa Hội nối liền nhau bởi nước biển đã cạn, do đó người dân càng tin vào lời sấm và chờ đợi thánh nhân xuất hiện. Trong một cuộc gặp giữa Phan Bội Châu (lúc này đã bị Pháp bắt và quản thúc) với Đào Duy Anh và nhà nho Trần Lê Hữu, ông Hữu có hỏi: "Thưa cụ Phan, "Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh" chẳng phải là cụ hay sao? Cụ còn thất bại nữa là người khác!". Phan Bội Châu đáp: "Kể cái nghề cử tử xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ta thường có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng nọ tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thực thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ chẳng phải ai khác" Trong cao trào của Cách mạng tháng Tám 1945, đại thần Phạm Khắc Hòe không ngừng nhắc lại cho Bảo Đại câu sấm truyền: "Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh". Vị thánh đó có thể là nhà chí sĩ Phan Bội Châu, nhưng Phan Bội Châu đã không thành công và đã mất năm 1940. Từ những năm 1930, người ta lại giải thích vị thánh cứu nước chỉ có thể là Nguyễn Ái Quốc, cùng quê ở Nam Đàn (Nghệ An). Chính câu sấm truyền ấy cùng với dư luận đồn đại, theo ông Hòe kể lại sau này, đã khiến Bảo Đại đi đến quyết định cuối cùng. Ngày 20 tháng 8, Bảo Đại cho biết ông sẵn sàng thoái vị ngay nếu người đứng đầu Việt Minh là Nguyễn Ái Quốc (khi đó Bảo Đại chưa biết Nguyễn Ái Quốc chính là Hồ Chí Minh). == Hồ Chí Minh trong văn học, nghệ thuật == Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ, nhà thơ sáng tác nhiều tác phẩm. === Âm nhạc === Bài hát "Ca ngợi Hồ Chủ tịch" của nhạc sĩ Văn Cao: Người về đem tới ngày vui Mùa thu nắng toả Ba Đình Với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời. Người về đem tới xuân đời từ đất nước cằn, Từ bùn lầy cả cuộc đời vùng lên. Bài hát "Ca ngợi Hồ Chủ tịch" của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước: Hồ Chí Minh sáng ngời gương đấu tranh. Vững bền đưa chúng ta vượt khó khăn. Hồ Chí Minh muôn năm chỉ lối cho nhân dân. Đến ngày chiến thắng vẻ vang. Bài hát "Người là niềm tin tất thắng" của nhạc sĩ Chu Minh: Đất nước nghiêng mình đời đời nhớ ơn. Tên người sống mãi với non sông Việt Nam. Lời thề sắt son theo tiếng bác gọi, bốn ngàn năm dồn lại hôm nay, người sống trong muôn triệu trái tim... Thế giới nghiêng mình, loài người tiếc thương. Đây người chiến sĩ đấu tranh cho tự do. Người là ước mơ của các dân tộc. Tiếng người vang vọng đến mai sau. Nguyện ước theo con đường Bác đi... Bài hát "Bác Hồ, một tình yêu bao la" của nhạc sĩ Thuận Yến ...Bác thương các cụ già xuân về gửi biếu lụa, Bác yêu đàn cháu nhỏ trung thu gửi cho quà. Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương..." Bài hát "Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người" của nhạc sĩ Trần Kiết Tường: ...Trên cánh đồng miền Nam, đau thương mây phủ chân trời. Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe lòng phơi phới niềm tin... Bài hát The Ballad of Ho Chi Minh (Bài ca Hồ Chí Minh) của nhạc sĩ người Anh Ewan MacColl ...From VietBac to the SaiGon Delta. Marched the armies of Viet Minh. And the wind stirs the banners of the Indo-Chinese people. Peace and freedom and Ho Chi Minh... Bài hát Teacher Uncle Ho (Bác Hồ - Thầy giáo) của Pete Seeger: ...I'll have to say in my own way. The only way I know, that we learned power to the people and the power to know. From Teacher Uncle Ho! Bài hát Inolvidable Ho Chi Minh (Hồ Chí Minh - Không thể nào quên) của Alí Primera: Tenía la figura pequeña y la barbita blanca el camarada Ho Chi Minh querido tío Ho Chi Minh inolvidable Ho Chi Minh indoblegable Ho Chi Minh inolvidable Ho Chi Minh indoblegable Ho Chi Minh... Nhiều sáng tác khác: "Bác đang cùng chúng cháu hành quân" (Huy Thục), "Thanh niên làm theo lời Bác" (Hoàng Hà), "Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ" (Triều Dâng), "Tấm áo Bác Hồ", "Gửi tới Bác Hồ" (Kapapúi - Tường Vi), "Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác" (An Thuyên), "Vầng trăng Ba Đình", "Miền Trung nhớ Bác", "Người về thăm quê" (Thuận Yến), "Bên lăng Bác Hồ", "Bên tượng đài Bác Hồ" (Lê Giang), "Đêm Trường Sơn nhớ Bác" (Trần Trung), "Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên", "Cô gái Pakô con cháu Bác Hồ" (Huy Thục), "Đôi dép Bác Hồ" (Văn An - thơ Tạ Hữu Yên), "Bài ca dâng Bác" (Trọng Loan), "Như có Bác trong ngày đại thắng" (Phạm Tuyên), "Lời Bác dặn trước lúc đi xa" (Trần Hoàn), "Tình Bác sáng đời ta" (Lưu Hữu Phước), "Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người" (Trần Kiết Tường)... === Thơ, văn, tuyển tập === Bài thơ "Người đi tìm hình của nước" của nhà thơ Chế Lan Viên: ...Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba-lê Một viên gạch hồng Bác chống lại cả một mùa băng giá Và sương mù thành Luân Đôn, người có nhớ Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya... Bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu: ...Nhớ ông cụ mắt sáng ngời Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường... Bài thơ "Bác ơi" của Tố Hữu, sáng tác ngày 6 tháng 9 năm 1969 ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, có đoạn: Bác để tình thương cho chúng con Một đời thanh bạch, chẳng vàng son Mong manh áo vải hồn muôn trượng Hơn tượng đồng phơi những lối mòn. Bài thơ "Viếng lăng Bác" của Viễn Phương: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên:: Giữa một vầng trǎng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! Bài thơ "Một con người chủ nghĩa Mác sinh ra" của Hải Như: Bác đã cho ta, Bác đã cho đời Lẽ sống của ngày mai trên Trái Đất Lẽ sống đẹp, không coi mình cao nhất Mong kiếp người, ai cũng cất đầu cao Bài thơ "Chúc tụng Bác Hồ" của Ismael Gomes Braga (Brazil): Vị thánh sống của nghìn thánh sống Và ân nhân của cả muôn đời Hồ Chí Minh! - Chưa dễ thấy người Chúng tôi đây bọn mù mắt sáng! Tác phẩm Búp sen xanh của Sơn Tùng kể về thời tuổi trẻ của Hồ Chí Minh. Trong tiểu thuyết Đỉnh cao chói lọi của Dương Thu Hương, Hồ Chí Minh được hư cấu thành nhân vật chính Chủ tịch. Hồ Chí Minh toàn tập, ấn bản I: Nhà xuất bản Sự thật (1980-1989), ấn bản II: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1995-1996), bản số hóa trên CD-ROM: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2001-đến nay) === Hội họa === Đã có ít nhất bốn bức vẽ bằng máu về Hồ Chí Minh (huyết họa) === Điện ảnh === Hình tượng Hồ Chí Minh trong phim truyện video "Hà nội - Mùa đông 1946" do NSƯT Tiến Hợi thể hiện. Hình tượng Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) trong phim truyện nhựa "Hẹn gặp lại Sài Gòn" do NSƯT Tiến Hợi thể hiện. Hình tượng Tống Văn Sơ trong phim truyện Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông do NSƯT Trần Lực thể hiện. === Sân khấu === Hình tượng Hồ Chí Minh trong vở kịch "Đêm trắng" NSƯT Tiến Hợi thể hiện. Hình tượng Hồ Chí Minh trong vở chèo "Những vần thơ thép" do NSƯT Mạnh Kiên thể hiện. Hình tượng Hồ Chí Minh trong nhiều vở kịch nói do nghệ sĩ Văn Tân thể hiện từ năm 1974 - nay. == Đánh giá == Giáo sư David Thomas cho biết ông đã từng đọc một tạp chí tin tức và thời sự có tiếng tăm tại Hoa Kỳ có ghi nhận về một cuộc thăm dò ý kiến người dân Mỹ. Người ta tham khảo ý kiến về các lãnh tụ trên toàn cầu, xem ai là người Thiện (good), ai là người Ác (evil). Kết quả cho thấy Hồ Chí Minh, cùng với các lãnh đạo Adolf Hitler và Iosif Vissarionovich Stalin bị xem là những nhân vật ác, trong khi Nelson Mandela, Franklin D. Roosevelt và Mahatma Gandhi thì được xem là những nhân vật thiện. Giáo sư không tán thành với quan điểm này vì theo ông "ai từng nghiên cứu một cách khách quan cuộc đời và những thành tựu của Hồ Chí Minh thì không thể nào đi đến kết luận như vậy được". Là một người lãnh đạo cuộc đấu tranh của Việt Nam giành độc lập khỏi chế độ thực dân Pháp, ông lại không phải là một nhà dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Điều này thể hiện qua nhận định tích cực về ông của nhiều người ngoại quốc. Trong một hội thảo "Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay" - một hội thảo mang tầm cỡ quốc tế, Ahn Kyong Hwan - một giáo sư của Trường Đại học Chosun (Đại Hàn Dân quốc) nói: "Hồ Chí Minh có thể khác về mặt tư tưởng hay tôn giáo so với các vĩ nhân khác trên thế giới nhưng nhân cách của Người thì đáng để mọi người trên thế giới tôn kính…. Những nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới phải noi gương tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, yêu đồng bào vĩ đại của Người". Nhà báo Úc Wilfred Burchett, người từng có nhiều cuộc phỏng vấn Hồ Chí Minh, cho biết: "Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng. Trong những cuộc gặp gỡ tiếp theo với nhân cách vĩ đại này, sự ấm áp, giản dị, cách thể hiện rõ ràng xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp và sự thấu hiểu trọn vẹn chủ đề khiến tôi có ấn tượng vô cùng sâu sắc". Thượng tọa Thích Huệ Đăng, một nhà tu hành rất nổi tiếng ở Việt Nam mà nhiều người gọi là một vị Bồ Tát tái sinh, có những tham luận của ông về tư tưởng Phật giáo của Hồ Chí Minh, Trần Nhân Tông và của Phật Thích Ca Mâu Ni. Thượng tọa cho rằng, giữa 3 người này có một nét chung đó là tìm đường cứu dân, cứu nước bằng chân lý Phật pháp. Đó là: Tư tưởng hy sinh cho nhân loại và chúng sinh; Tư tưởng vì con người, lo cho con người; Tư tưởng sống thanh bạch, giản dị, tránh xa hoa lãng phí; Tư tưởng chống chủ nghĩa cá nhân, chống thói hư tật xấu tha hóa về đạo đức; Báo Nhân dân coi ông như một vị bồ tát, một vị la hán, còn Thượng tọa Thích Huệ Đăng thì gọi ông là đại bồ tát: "Người là một vị Đại Bồ Tát tái sinh, đã nhập thế, từ bỏ mọi vinh hoa phú quý, từ bỏ cuộc sống đang yên bình để dấn thân vào con đường mịt mù chông gai, gian khổ, từ đó tìm ra con đường giành độc lập cho dân tộc. Điều này giống Phật Thích Ca Mâu Ni từ bỏ cung vàng điện ngọc, ngai vàng, vợ đẹp con ngoan, đi tu hành tìm ra chân lý cứu độ chúng sinh." == Xem thêm == Nguyễn Sinh Sắc Gia đình Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh Nếp sống của Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh toàn tập Cháu ngoan Bác Hồ Huy hiệu Bác Hồ Giải thưởng Hồ Chí Minh Bài hát về Hồ Chí Minh == Chú thích == == Liên kết ngoài == Hồ Chí Minh tại Từ điển bách khoa Việt Nam Hồ Chí Minh tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) === Diễn văn của Hồ Chí Minh === Lời kêu gọi toàn quốc chống Mỹ cứu nước của Hồ Chủ tịch trên YouTube tải lên 8/4/2010 Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại ĐH Phụ nữ toàn quốc lần III trên YouTube tải lên 7/5/2010 Hồ Chủ tịch nói chuyện tại cuộc mitting của nhân dân Thủ đô trên YouTube tải lên 16/5/2010 Hồ Chủ tịch nói chuyện với Quốc hội nước VNDCCH trên YouTube tải lên 17/5/2010 Hồ Chủ tịch phát biểu tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng trên YouTube tải lên 8/8/2010 Thơ chúc Tết của Bác Hồ năm 1968 và 1969 trên YouTube tải lên 2/2/2010 Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại đại hội thi đua anh hùng phần 1 trên YouTube tải lên 17/9/2010 Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại đại hội thi đua anh hùng phần 2 trên YouTube tải lên 17/9/2010 The actual voice of Ho Chi Minh - Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu bằng tiếng Anh trên YouTube (tiếng Anh) === Tác phẩm của Hồ Chí Minh === Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập Hồ Chí Minh toàn tập - Những bài viết của Hồ Chí Minh [5] [6] Các tác phẩm của Hồ Chí Minh, website của Đảng Cộng sản Việt Nam Toàn văn di chúc (bản đầy đủ) Những bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh === Viết về Hồ Chí Minh === Ngô Tự Lập (2004), "Về thực tiễn luận nhân đạo Hồ Chí Minh và nhiệm vụ đổi mới Đảng hiện nay" truy cập 7/4/2015 Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh: The Missing Years 1919-1941, University of California Press, 2002. ISBN 0520235339 Bản dịch sang tiếng Việt có thể lấy xuống tại đây: Hồ Chí Minh, những năm chưa biết đến, Dân Luận Clark D. Neher, Southeast Asia: crossroads of the world, Southeast Asia Publications, Center for Southeast Asian Studies, Northern Illinois University, 2000. ISBN 1-891134-06-X. Bác Hồ kính yêu Tiểu sử Hồ Chí Minh trên website của Bộ Ngoại giao Việt Nam Trang đặc biệt của đài BBC: Hồ Chí Minh - Huyền thoại và Di sản, 19.05.1890 - 2005 Lời truyền miệng dân gian về thân thế của Hồ Chí Minh, Trần Quốc Vượng kể lại. Cuộc gặp gỡ với người suốt đời chờ đợi thần tượng Nguyễn Tất Thành Chuyên đề kỷ niệm 110 năm sinh nhật Bác - báo VDC David Thomas và Charles Fenn Ho Chi Minh - A potrait - (Sách nghệ thuật với số bản in giới hạn). Ngô Tự Lập (14 tháng 5 năm 2005). “Nguyễn Ái Quốc và văn học Pháp ngữ”. Báo Tiền Phong online. Truy cập 26 tháng 3 năm 2013. Tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh: NHỮNG TÊN GỌI, BÍ DANH, BÚT DANH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH === Những người từng gặp Hồ Chí Minh kể về ông === "Nhà cháu mà không đến thì đến nhà ai!", Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên cận vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, kể về lần Hồ Chí Minh bí mật đến chúc Tết gia đình nghèo nhất Hà Nội. Nguyễn Văn Tiến Hùng ghi, báo Tuổi Trẻ cập nhật 06/02/2008 Những lần gặp 'cụ' Hồ - Vũ Thư Hiên kể lại trên BBC tiếng Việt Nhà báo Wilfred Burchett: "Tôi lớn lên với huyền thoại về Bác Hồ, về đất nước Việt Nam"
matt busby.txt
Sir Alexander Matthew "Matt" Busby (sinh ngày 26 tháng 5 năm 1909 - mất ngày 20 tháng 1 năm 1994) là một cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Scotland. Ông là cầu thủ của Manchester City và Liverpool trước khi làm huấn luyện viên Manchester United trong giai đoạn 1945-1969 và nửa sau của mùa giải 1970-1971, là huấn luyện viên trưởng có thời gian làm việc tại câu lạc bộ Manchester United chỉ sau Sir Alex Ferguson. Matt Busby là người có công rất lớn giúp Manchester United trở thành CLB nước Anh đầu tiên giành được danh hiệu Vô địch châu Âu năm 1968 tiền thân của UEFA Champions League ngày nay. == Tuổi thơ == Busby sinh ra trong một ngôi nhà tranh của 1 người thợ mỏ trong làng khai thác mỏ Orbiston, Bellshill, Bắc Lanarkshire. Gia đình ông có một phần gốc là của những người Do Thái Đông Âu. Khi ông được sinh ra, mẹ của Busby đã nói với các bác sĩ rằng: "Một cầu thủ bóng đá đã đi vào ngôi nhà này ngày hôm nay". Cha Busby là một thợ mỏ, nhưng được gọi vào phục vụ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, bị mất bởi 1 viên đạn của một tay bắn tỉa vào ngày 23 tháng 4 năm 1917 tại trận Arras. Ba người chú của ông cũng hy sinh trong các cuộc chiến tại Pháp với Trung đoàn 79 Foot (Cameron Highlanders). Mẹ Busby đã nuôi Matt và ba chị em đến lớn cho đến khi cô kết hôn với một người đàn ông tên là Harry Matthie năm 1919. Busby thường đi theo cha xuống hố than nhưng khát vọng của ông là trở thành cầu thủ chuyên nghiệp. Năm 1973, trong cuốn tự truyện của mình Busby tự mô tả, ông đam mê bóng đá cuồng nhiệt như bất kỳ cậu bé khác tại Bellshill, ông đặc biệt ấn tượng với hai cầu thủ Alex James và Hughie Gallacher. Mẹ của ông có thể đã bị dập tắt những giấc mơ của ông khi bà muốn Matt đến Hoa Kỳ vào cuối năm 1920, nhưng ông may mắn trì hoãn được chín tháng. Trong khi chờ đợi, Busby có một công việc toàn thời gian tên một tàu chở than và chơi bóng đá bán thời gian cho Stirlingshire của Denny Hibs. Ông đã chỉ chơi một vài trận đấu cho Denny Hibs, không lâu sau đó ông ký hợp đồng với Câu lạc bộ Manchester City trong một vài trận đấu nữa là đội bóng này thăng lên Giải bóng đá hạng nhất. == Sự nghiệp cầu thủ == === Sự nghiệp tại câu lạc bộ === Từ năm 18 tuổi, Busby đã ký với Manchester City bằng hợp đồng một năm trị giá 5£ mỗi tuần vào ngày 11 Tháng 2 năm 1928. Trong mùa giải 1933-1934, ông cùng với Manchester City dành chức vô địch Cup FA; Busby đã được bán lại cho Liverpool với giá 8.000£ vào ngày 12 tháng 3 năm 1936 sau khi ra sân hơn 200 trận cho Manchester City. Busby chuyển đến chơi bóng cho Liverpool năm 1936 và ngay lập tức được làm đội trưởng. Thành tích chơi hơn 100 trận của Matt Busby cũng luôn được câu lạc bộ bóng đá Liverpool F.C. ghi nhớ. Sự nghiệp của ông ở sân Anfield đã phải dừng lại bởi Thế chiến thứ II, được bổ nhiệm làm sĩ quan hướng dẫn tại trường huấn luyện thể lực của quân đội. Nhưng sự yêu mến vẫn tồn tại - giữa ông và các cổ động viên Liverpool. Ông viết vào năm 1957 khi đã làm huấn luyện viên cho United 11 năm: "Liverpool có được sự ủng hộ từ những người hâm mộ tuyệt vời nhất nước Anh. Chỉ một người đã từng mặc chiếc áo đỏ của Liverpool, khi đội nhà tấn công cầu môn dưới khán đài the Kop, mới hiểu và trân trọng giá trị của những cổ động viên Liverpool." Ông được nhắc đến trong bài hát Dig It ra mắt năm 1970 của ban nhạc Liverpool The Beatles. Ông cũng được vinh danh với vị trí 66 trong danh sách 100 cầu thủ được yêu mến nhất trong lịch sử Liverpool F.C.. === Sự nghiệp tại Đội tuyển Quốc gia === Busby chỉ một lần thi đấu quốc tế chính thức cho Đội bóng Scotland; ông chơi trong một trận thua 3-2 trước xứ Wales tại Ninian Park, Cardiff vào ngày 4 Tháng 10 năm 1933. Busby được làm trợ lý tương lai tại đội tuyển quốc gia cho Jimmy Murphy. Busby cũng huấn luyện viên 7 trận cho Đội tuyển Scotland chống lại Đội tuyển Anh trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng chỉ có một trận thắng trong những trận đấu được coi là không chính thức. Ông đại diện cho đội Scottish League XI trong một trận đấu giao hữu vào năm 1941, khi đó ông là một cầu thủ khách mời của câu lạc bộ Hibernian. == Sự nghiệp làm huấn luyện viên == Năm 1945 ở độ tuổi còn khá trẻ 36, ông đã được mời làm trong đội ngũ huấn luyện tại sân Anfield. Và thật may mắn là ông đã từ chối để nhận chức huấn luyện viên trưởng của Manchester United. Đó là 1 nhiệm vụ rất dễ gây chán nản bởi bởi lúc đó câu lạc bộ đang trong lộn xộn. Old Trafford đã bị tàn phá nặng nề bởi bom đạn trong thế chiến thứ 2 và câu lạc bộ đang rất nghèo, chỉ có một chút thành công trong 15 năm trước và đang đứng thứ 14 trong bảng xếp hạng giải hạng nhất (ngang ngoại hạng bây giờ). Đội hình vĩ đại đầu tiên của Busby: Busby chuẩn bị thay đổi mọi thứ. Ông luôn tin vào thứ bóng đá tấn công khoáng đạt, ông muốn đội bóng không chỉ thành công mà phải làm cả người xem phải cuồng nhiệt. Phương pháp này đã đặt nền móng cho phong cách chơi bóng của United ngày nay. Đội bóng đã chơi tại sân Main Road trong 3 năm đầu tiên của ông tại đây bởi Old Trafford đã bị đánh bom trong chiến tranh. Trong khi sân vận động đang được xây dựng lại, đội bóng cũng được như vậy vào năm 1947, 1 chính sách lớn về cầu thủ trẻ đã được thiết lập và hệ thống tuyển trạch được mở rộng và tổ chức lại. Bằng kế hoạch khéo léo, mua bán hợp lý Busby đã tạo nên 1 đội hình tiến đến trận CK cúp FA năm 1948 và đánh bại Blackpool 4-2. Những người đã tạo nên 1 United vĩ đại trước chiến tranh Carey, Mitten, Pearson and Rowley. Từ thành công này và tiếp đó sau nhiều năm phải đứng thứ 2, United đã chiến thắng trong giải vô địch quốc gia 1952, ghi được hàng tá những bàn thắng trên con đường của họ. Busby người đàn ông: Không giống như những người tiền nhiệm trước đó, Scott Duncan hay nhũng huấn luyện viên ở những giai đoạn khác nhau, Busby là 1 sự chuyển giao lớn với phương pháp quản lý hiện đại. Ông luôn thích mắc quần áo thể thao và huấn luyện cầu thủ trên sân tập, cách đó ông có thể truyền đạt ý tưởng trực tiếp đến các cầu thủ. Hình ảnh của Busby luôn như là 1 người ông tận tình, nhân ái người luôn thích để trợ lý của mình là Jimmy Murphy làm công việc kỷ luật. Sự thật đó là hình ảnh của Busby với công chúng nhưng trong việc riêng ông ta có thể không khoan nhượng với bất kỳ ai.. Sẽ là ngây thơ nếu nghĩ 1 người nào đó với trái tim sắt đá có thể chiến thắng trong thế giới bóng đá khốc liệt này. Không giống như mọi người, ông ta luôn không ủng hộ việc tăng thêm quyền lực cho cầu thủ bằng lương hay thưởng. Trong khi ông rộng lượng với tài năng bướng bỉnh George Best thì ông lại trừng phạt rất nặng với các cầu thủ khác, điển hình là Charlie Mitten vì việc bước ra khỏi sân bóng ngầm chống lại uy quyền lãnh đạo của ông. Những cục cưng của Busby và thảm hoạ Munich: Sau mùa giải 1952 thành công, Busby cảm thấy đội của ông đã mất sự sắc bén, sự bùng nổ và tinh tế đã không còn. Để cứu vãn ông đã có 1 quyết định rất nổi tiếng và có tác động manh mẽ đó là thay thế hầu hết các cầu thủ ở đội hình 1 bằng những cầu thủ trẻ triển vọng: Những cục cưng huyền thoại của Busby ra đời từ đây. 1 đội hình với phần lớn là cầu thủ trẻ đã làm mưa làm gió ở giải vô địch quốc gia, mang đến lạc quan với 1 luồng sinh khí trong sạch đến với nước Anh khắc khổ sau chiến tranh. Với những tài năng như Bobby Charlton, Duncan Edwards, Eddie Colman, Dennis Viollet, Tommy Taylor, Bill Foulkes và Jackie Blanchflower họ có đầy lòng say mê, tài năng và sức công phá. 2 chức vô địch quốc gia năm 1956 và 1957, Busby huyền ảo đưa United vào cúp châu Âu C1. Là câu lạc bộ đầu tiên làm vậy, Busby đã đúng khi nhìn ra giải đấu châu Âu là tương lai của 1 câu lạc bộ, bất chấp sự phản đối của các câu lạc bộ trong nước. Ý kiến đó đã không được tán thành bởi tư tưởng hẹp hòi của một số tổ chức bóng đá lúc đó. Họ chẳng giúp gì United trong việc làm lịch thi đấu, có nghĩa là đội bóng đã luôn bị kìm nén với các trận đấu ở châu Âu bằng rất ít sự chuẩn bị. Sau khi quay về sau trận đấu tại cúp châu Âu với Sao Đỏ Belgrade năm 1958, bi kịch đã xảy ra khi máy bay gặp nạn tại sân bay Munich, cướp đi rất nhiều sinh mạng của hành khách trên chuyến bay, bao gồm 8 cầu thủ và chấn thương nghiêm trọng với Busby. Đội bóng vô địch nước Anh 2 mùa trước đã gần như bị xóa sổ. "Những cục cưng của Busby" tan rã, thế giới đã bị cướp mất những tài năng như Edwards và Taylor mãi mãi.Bi kịch đó đã có tác động sâu xắc đến người dân Anh thời đó. Munich không chỉ là thảm họa với Manchester United mà còn là 1 thảm họa quốc gia. Trong thời khắc tuyệt vọng đó, 1 làn sóng khổng lồ của lòng cảm thông và động viên đã dành cho United. Cổ động viên trên toàn thế giới giờ đã biết đến 1 đội bóng vĩ đại tại Manchester vừa bị cuốn đi. Những người vẫn dõi theo bước chân của đội bóng đã cảm thấy tồi tệ cho đội, nhũng người mà từ trước chưa theo United thì giờ đã có 1 vị trí quan trọng trong trái tim họ dành cho United Busby trở lại chinh phục châu Âu: Sau những hoài nghi về khả năng ông có thể tiếp tục, hồi phục sau chấn thương và chuẩn bị làm đội hình vĩ đại thứ 3 và vĩ đại nhất trong tất cả. Người có thể làm được những việc mà cục cưng của ông ta chưa bao giò làm được.. 1 lần nữa chính sách cầu thủ trẻ đã thiết lập và United đã khám phá ra tài năng của những Stiles, Brennan, Kidd và George Best xuất chúng. Cùng với người sông sót sau thảm họa Munich Bobby Charlton, mua về Crerand và Denis Law, United đã sớm quay lại thời kỳ đỉnh cao vô địch cúp FA 1963 và 2 danh hiệu vô địch quốc gia 1965 và 1967. Chơi như những cục cưng trước đó, với phong cách, tài năng, sự tinh tế và tấn công đẹp mắt. Những năm 60 United của Charlton, Best và Law đã thu hút vô số các cổ động viên và là hình tượng của cổ động viên bóng đá toàn cầu. Chiến thắng năm 1967 có thể là vết nứt cuối của chiếc cốc thiêng liêng mà chúa dùng trong bữa cơm tối cuối cùng, và vào tháng 5 ngày 29 năm 1968, đội hình vĩ đại nhất trong 3 đội hình của ông vô địch cúp C1 châu Âu, đánh bại Benfica 4-1. Cả nước Anh đêm đó đã ở đằng sau United, mọi người đều muốn họ thắng để bù đắp nỗi đau Munich. Đây chính là thành tích vĩ đại nhất của Busby, đội bóng Anh đầu tiên chiến thắng tại giả đấu này, làm tan biến đi hết những bóng ma ám ảnh của Munich, bây giờ Manchester đã trở thành đế chế của 1 quốc gia. Busby được phong hiệp sĩ vào năm 1968 bởi những thành công ông đã đạt được, nghỉ hưu với cương vị là huấn luyện viên trưởng của United năm 1969, những vẫn tiếp tục điều hành đội đến năm 1971, Busby đã được vào ban lãnh đạo của đội. Thật buồn là sau đó, những người kế tục ông toàn sống dưới cái bóng của ông và ko thể đưa đội bóng lên 1 tầm cao như ông đã làm. Là những ngôi sao từ những năm 60 nghỉ hưu hay vẫn tiếp tục đá, họ đã không có sự kế tục xứng đáng. Đội bóng đã xuống dốc rất nhanh và chính thức xuống hạng năm 1974. Chỉ 6 năm sau khoảnh khắc vĩ đại nhất, United lại quay trở lại thời kỳ của họ những năm 30. Và cuối cùng United đã quay lại con đường chiến thắng nhưng chưa ai có thể đạt gần đến thành tích của Busby cho đến tân năm 1986 khi một người Scotland khôn ngoan khác vượt qua biên giới của họ, tiến xuống phía Nam, Alex Ferguson. Busby trở thành chủ tịch câu lạc bộ năm 1982 có 1 vị trí cao trong liên đoàn bóng đá Anh. Hàng loạt huyền thoại của Manchester United được phát hiện khi ông là HLV cho CLB như Sir Bobby Charlton, George Best, Denis Law... Để cảm ơn những gì Matt Busby đã đóng góp cho CLB Manchester United, tượng của ông đã được dựng trước sân Old Trafford - sân nhà của CLB Manchester United. == Những năm cuối của cuộc đời == Vào ngày 20 tháng 1 năm 1994, Busby qua đời ở tuổi 85, nhưng ông ta đã sông đủ đến khi thấy được 1 triều đại Quỷ Đỏ mới bắt đầu được tạo ra dưới tay ông. Ông ta đã có sự thoả mãn tột đỉnh khi là chủ trì của công cuộc phục hưng mà Alex Ferguson tạo ra cho United, chơi với phong cách, sự tinh tế điều mà ông rất yêu quý trong đội hình cũ của mình. United đã trở thành đội bóng hùng mạnh nhất trong nước 5 năm sau đó, vào ngày sinh nhật của ông năm 1999, họ đã có thành tích tốt hơn cả của ông năm 1968 với cú ăn ba C1, Ngoại hạng và cúp FA. Những di sản của Busy là ông đã mang đến nền tảng vững chắc, triết lý, phong cách và niềm đam mê tất cả đã biến 1 câu lạc bộ bình thường ở vùng công nghiệp cằn cỗi phía Bắc nước Anh thành một trong những câu lạc bộ nổi tiếng nhất, quyến rũ nhất, giàu có nhất và ko phải bàn cãi: vĩ đại nhất trên thế giới. Ngài Matt Busby đã tạo ra truyền thuyết về Manchester United, và bởi lẽ đó, ông ta mãi mãi là huyền thoại trong lịch sử bóng đá thế giới. == Vai trong phim truyền hình == Busby đã được miêu tả bởi diễn viên Dougray Scott trong bộ phim truyền hình năm 2011 của United, Bộ phim đã được tập trung vào những thành công của Busby Babes và vụ tai nạn máy bay ở Munich, cũng như việc xây dựng lại đội bóng của Jimmy Murphy trong khi Busby hồi phục từ chấn thương của mình. Con trai của Busby là Sandy nói với BBC News rằng ông đã "chán ghét" của bộ phim. == Thống kê sự nghiệp == === Cầu thủ === === Với vai trò Huấn luyện viên === == Thành tích == === Cầu thủ === ==== Với Manchester City ==== FA Cup Vô địch (1): 1933–34 Hạng nhì (1): 1932–33 === Với cương vị HLV === ==== Với Manchester United ==== First Division Vô địch (5): 1951–52, 1955–56, 1956–57, 1964–65, 1966–67 FA Charity Shield Vô địch (5): 1952, 1956, 1957, 1965, 1967 Hạng nhì (2): 1948, 1963 FA Cup Vô địch (2): 1947–48, 1962–63 Hạng nhì (2): 1956–57, 1957–58 European Cup Vô địch: 1967–68 Intercontinental Cup Hạng nhì: 1968 === Cá nhân === Giải thưởng PFA: 1980; Huấn luyện viên nổi tiếng bóng đá Anh: 2002; Huấn luyện viên nổi tiếng bóng đá Châu âu: 2008; === Giải thưởng đặc biệt === Trung tá Hải quân xuất sắc của Đế quốc Anh: 1958; Hiệp sĩ cử nhân: 1968; Hiệp sĩ Order of St. Gregory the Great (KCSG): 1972 == Tham khảo ==
quốc huy việt nam.txt
Quốc huy Việt Nam hiện nay (nguyên thủy là Quốc huy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) được Quốc hội Việt Nam khóa 1, kỳ họp Quốc hội thứ VI (từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955), phê chuẩn từ mẫu quốc huy do chính phủ đề nghị. Mẫu quốc huy này do họa sĩ Bùi Trang Chước vẽ mẫu và họa sĩ Trần Văn Cẩn chỉnh sửa. == Lịch sử == Năm 1976, khi Việt Nam thống nhất, mẫu Quốc huy được sửa đổi phần quốc hiệu (theo phê chuẩn của Quốc hội Việt Nam khóa VI). Quốc huy Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho Đảng Cộng sản Việt Nam, cho lịch sử cách mạng của dân tộc Việt và tiền đồ sáng lạng của quốc gia; bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp; bánh xe tượng trưng cho công nghiệp và chính giữa, phía dưới là dòng chữ tên nước. === Lỗi kỹ thuật === Đầu năm 2007, họa sĩ, đại biểu Quốc hội Trần Khánh Chương cho rằng việc in ấn, sao chép hình quốc huy Việt Nam có nhiều sai sót như : Hạt lúa không thuôn nhỏ mà to tròn như hạt lúa mì. Bánh xe không đủ 10 bánh răng. Các đường tròn đồng tâm trong bánh xe không chính xác. Khe giữa 2 vành bông lúa phía trên cùng to nhỏ tùy hứng. == Những mẫu quốc huy khác từng xuất hiện trong lịch sử == === Toàn lãnh thổ === === Một phần lãnh thổ === == Xem thêm == Quốc hiệu Việt Nam Quốc kỳ Việt Nam Quốc ca Việt Nam == Tham khảo == Tác giả Quốc huy Việt Nam trên Cục Văn thư và Lưu trữ Việt Nam Chuyện chưa kể xung quanh tác giả mẫu Quốc huy Việt Nam Quốc huy Việt Nam ngày ấy và bây giờ Báo Thanh niên
tàu đệm khí.txt
Tàu đệm khí là loại tàu có bộ phận tạo ra một lực rất lớn đẩy tàu lên cách mặt đất,mặt nước một khoảng cách nhất định.tàu di chuyển được nhờ lực đẩy của động cơ hay cánh quạt. Nguyên lý hoạt động của tàu đệm khí là dùng một luồng khí nén áp lực cao nâng con tàu lên, không tiếp xúc với mặt đất. Tàu đệm khí là một trong những giải pháp thay thế tàu đệm từ. Trong cả hai trường hợp, mục đích đệm này là để ngăn chặn phương tiện không tiếp xúc với mặt đất. Trong khi tàu đệm từ thực hiện việc này thông qua sử dụng từ trường, một xe lửa đệm khí sử dụng đệm không khí. Lợi thế tàu đệm khí là chi phí xây dựng thấp hơn tàu đệm từ. Nhược điểm của loại tàu này là phải duy trì liên tục năng lượng để giữ cho tàu nâng lên và tàu có thể bị ảnh hưởng của gió, nhiễu loạn không khí, và thời tiết. Trong khi tàu bay lên từ tính có thể hoạt động trong chân không để giảm thiểu sức cản không khí, việc đào tạo hiệu ứng mặt đất phải hoạt động trong bầu khí quyển một để cho các đệm không khí để tồn tại. == Tham khảo ==
pho mát.txt
Pho mát, phó mát, phô mai, phổ mách hay phôma (từ tiếng Pháp fromage) là thực phẩm làm bằng cách kết đông và lên men sữa của bò, trâu, dê, cừu, hoặc quý hiếm hơn, từ sữa thú vật khác. Có thể kết đông sữa tạo thành pho mát sau khi axít hóa sữa bằng cách cấy vi khuẩn rồi thêm vào enzyme rennet (hay những enzyme thay thế). Phần rắn được tách ra và được nén lại thành hình dạng nhất định. Một số loại pho mát có khuôn mẫu trên vỏ hoặc trong suốt. Hầu hết các loại pho mát tan chảy ở nhiệt độ nấu. Hàng trăm loại pho mát từ các nước khác nhau đã được sản xuất. Phong cách, kết cấu và hương vị của chúng phụ thuộc vào nguồn gốc của sữa (bao gồm cả chế độ ăn của động vật), sữa đã được tiệt trùng hay không, các thành phần của bơ, các loại vi khuẩn và nấm mốc, cách thức xử lý và lão hóa. Các loại thảo mộc, gia vị, hoặc khói gỗ có thể được sử dụng như là các hương liệu. Màu vàng chuyển sang màu đỏ của nhiều loại pho mát, như Red Leicester, được sản xuất bằng cách thêm annatto. Các thành phần khác có thể được thêm vào một số loại pho mát, như ớt đen, tỏi, hẹ hoặc việt quất. Đối với một vài loại pho mát, sữa được chiết tách bằng cách thêm axit như giấm hoặc nước chanh. Hầu hết các loại pho mát được axit hóa đến một mức độ thấp hơn do vi khuẩn, chất đường trong sữa thành axit lactic, tiếp đó bổ sung các men dịch vị để hoàn thành quá trình chiết tách. Có sẵn các phương pháp thay thế để làm pho mát chay; hầu hết chúng được sản xuất bằng quá trình lên men của nấm Mucor miehei, nhưng những loại men khác đã được chiết xuất từ các loài khác nhau của họ thistle Cynara. Pho mát được đánh giá cao vì khả năng có thể vận chuyển, lưu trữ lâu dài, hàm lượng chất béo, protein, canxi và phốt pho của nó. Pho mát nhỏ gọn hơn và có hạn sử dụng dài hơn sữa, mặc dù hạn sử dụng của pho mát phụ thuộc vào loại pho mát; nhãn bao bì trên gói pho mát thường chỉ ra pho mát nên được tiêu thụ trong vòng 3-5 ngày kể từ ngày sản xuất. Nói chung, các loại pho mát cứng có hạn sử dụng dài hơn các loại pho mát mềm, chẳng hạn như Brie hoặc pho mát sữa dê. Những người sản xuất pho mát ở gần khu vực chăn nuôi bò sữa có thể được hưởng lợi từ sữa tươi hơn, giá thấp hơn, và chi phí vận chuyển thấp hơn. Thời gian lưu trữ lâu dài của một số loại pho mát, đặc biệt lâu nếu nó được bọc trong một lớp vỏ bảo vệ, cho phép chỉ bán đi khi giá thị trường thuận lợi. Trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực pho mát đòi hỏi một nền giáo dục chính quy và nhiều năm nếm và kinh nghiệm thực tiễn, giống như trở thành một chuyên gia trong rượu vang hoặc trong ngành nấu ăn. Những người bán pho mát chịu trách nhiệm về tất cả các khía cạnh của hàng tồn kho pho mát: chọn menu pho mát, mua, nhận, lưu trữ, và làm chín pho mát. Có cuộc tranh luận về cách tốt nhất để lưu trữ pho mát, nhưng một số chuyên gia cho rằng gói nó trong giấy pho mát cho kết quả tối ưu. Giấy phô mai được bọc bằng một lớp nhựa xốp bên trong, còn bên ngoài có một lớp sáp. Sự kết hợp giữa nhựa ở bên trong và sáp bên ngoài đã bảo vệ pho mát bằng cách tạo sự ngưng tụ pho mát được loại đi trong khi ngăn chặn sự suy giảm độ ẩm từ bên trong pho mát. Loại vi khuẩn và cách xử lý phần sữa kết tủa có vai trò chính nhằm làm thay đổi độ chắc và hương vị khiến mỗi loại pho mát có đặc trưng riêng. Một số pho mát cũng có mốc, hoặc ở trên vỏ hay ở toàn bộ miếng pho mát thành phẩm. == Từ nguyên == Từ Latinh caseus là nguồn của tên queso trong tiếng Tây Ban Nha, queijo trong tiếng Bồ Đào Nha, keju trong tiếng Mã Lai (mượn từ tiếng Bồ Đào Nha), caş từ tiếng Romana, và cacio trong tiếng Ý. Hình như caseus cũng là nguồn gốc của tên trong nhiều ngôn ngữ gốc Đức, cũng như tên protein casein. Hình thức sớm nhất có lẽ là gốc từ *kwat- trong ngôn ngữ tiền hệ Ấn-Âu, có nghĩa là "làm men, làm chua". Khi người La Mã cổ bắt đầu làm pho mát cứng để những quân lính mang theo, người ta bắt đầu dùng tên mới: formaticum, từ caseus formatus, tức là "pho mát định hình". Từ thuật ngữ này có fromage trong tiếng Pháp, "pho mát" trong tiếng Việt (mượn từ tiếng Pháp), formaggio trong tiếng Ý, formatge trong tiếng Catalan, fourmaj trong tiếng Breton, và furmo trong tiếng Oc. Trong tiếng Anh, từ hiện đại cheese dẫn xuất từ chese trong tiếng Anh trung cổ, và cīese hay cēse trong tiếng Anh cổ. Có những tên tương tự trong nhóm ngôn ngữ Tây Đức: tsiis trong tiếng Frysk, kaas trong tiếng Hà Lan, Käse trong tiếng Đức, và chāsi trong tiếng Đức chuẩn cổ. Các tên này có lẽ bắt nguồn từ gốc Tây Đức *kasjus, nó được mượn từ Latinh. == Đặc điểm == Có hàng ngàn loại pho mát được sản xuất ở khắp thế giới với đủ các hương vị, màu sắc, độ mềm cứng khác nhau. Có những loại và vị khác nhau của pho mát vì lấy sữa từ thú vật haychất béo sữa khác, dùng những loài vi khuẩn hay mốc khác, và thay đổi thời gian để già hóa hay những quá trình xử lý khác nhau. Ngoài ra, những nhân tố như chế độ ăn uống của thú vật và sự thêm vào những gia vị, thảo dược, hay hun khói cũng góp phần làm pho mát thêm phong phú về hương vị và chủng loại. Đối với một số loại pho mát, sữa được đông lại bằng cách thêm những axít như giấm hay nước chanh. Tuy nhiên, phần nhiều pho mát được axít hóa ít hơn do vi khuẩn, nó đổi đường sữa thành axít lactic, sau đó thêm rennet để đông nó lại xong. Rennet là một hỗn hợp enzyme ngày xưa lấy từ lớp lót bụng bò, nhưng ngày nay cũng được sản xuất trong phòng thí nghiệm. Có những chất thay thế hợp với người ăn chay; phần nhiều được sản xuất bằng cách làm men loài nấm Mucor miehei, những có chất khác được rút khỏi một số loài thuộc chi Atisô. Sau khi sữa đông, người ta hớt lấy, ép ráo nước rồi cho vào khuôn có kích cỡ khác nhau tùy thích. Sau đó các khuôn chứa pho mát sẽ được cho xuống các hầm ủ, chứa, nơi không khí đảm bảo không quá ẩm cũng không quá khô. Tùy từng loại pho mát mà có thời gian ủ mau hay chậm, người ta sẽ có pho-mát thành phẩm và có thể bán ra thị trường. == Dinh dưỡng == Pho mát được ăn liền hoặc dùng kết hợp trong nhiều món ăn, như trong món bánh pizza của người Ý, với bánh mì nướng giòn và rượu vang đỏ kiểu Pháp, trộn salad với dầu ô liu kiểu Hy Lạp, dùng kết hợp với mì ống kiểu Ý. Phần nhiều loại pho mát tan ra khi được nóng lên tuy có một số loại cứng như pho mát mốc có thể nướng phồng, xào, rán hoặc chiên. Pho mát đã là một cách tránh nạn đói và là một món ăn hợp với việc đi du lịch. Nó có ích vì dễ mang theo, giữ được lâu, và có nhiều chất béo, protein, canxi, và phốtpho. Những hãng pho mát ở gần vùng nuôi bò thì sản phẩm có giá và rẻ hơn do chi phí nguồn nguyên liệu không phải vận chuyển đi xa. Thời gian giữ được của pho mát khá lâu, nên các hãng sản xuất pho mát có thể giữ nó đến khi giá pho mát cao lên hoặc khi cần thêm tiền. == Một số quốc gia của pho mát == Đất nước sản xuất pho mát hàng đầu thế giới là Hoa Kỳ với khoảng 5 triệu tấn mỗi năm. Sự đa dạng về chủng loại pho mát có thể kể đến nước Pháp, nơi mà thống kê chưa đầy đủ cho thấy có tới hơn 1000 loại pho mát khác nhau. Bởi vậy người Pháp có câu thành ngữ Un fromage par jour de l’année (Mỗi loại pho mát cho một ngày trong năm). Hy Lạp là quốc gia tiêu thụ nhiều pho mát nhất trên thế giới tính theo đầu người. Mỗi người dân nước này dùng khoảng 27,3kg pho mát một năm. Một món pho mát mang tên Casu marzu có nguồn gốc từ Sardinia, Ý nằm trong số những món ăn kinh dị nhất hành tinh. Món ăn được loại vi khuẩn có tên khoa học là Piophila (thường được hiểu là "ruồi" pho mát) lên men, tạo nên những con giòi trong miếng pho mát. == Chú thích == == Xem thêm == Nghề làm pho mát == Đọc thêm == Layton, T. A. (1967) The... Guide to Cheese and Cheese Cookery. London: Wine and Food Society (reissued by the Cookery Book Club, 1971) == Liên kết ngoài == Cheese Making Illustrated – The science behind homemade cheese. The Complete Book of Cheese tại Dự án Gutenberg Cheese.com – includes an extensive database of different types of cheese. Classification of cheese – why is one cheese type different from another?
samsung galaxy grand prime.txt
Samsung Galaxy Grand Prime là một chiếc điện thoại thông minh Android tầm thấp được sản xuất và tiếp thị bởi Samsung Electronics. Dòng Grand Prime là sản phẩm tiếp theo của chiếc Core Prime. Nó được giới thiệu lần đầu vào năm 2014 như một sản phẩm độc quyền cho thị trường Pakistan, nhưng được phát hành như một chiếc điện thoại giá rẻ sau đó một năm cho một số thị trường tại châu Á. Nó cũng được bán tại Hoa Kỳ qua các nhà cung cấp di động như MetroPCS, Cricket, Verizon, T-Mobile, và Sprint. Nó cũng được bán ra bởi các nhà cung cấp tại Canada, như Freedom Mobile, Chatr Mobile, Koodo, SpeakOut và Public Mobile. Vào năm 2016, Samsung công bố họ sẽ ra mắt sản phẩm kế tiếp Grand Prime, có tên là Samsung Galaxy Grand Prime+. Sau đó nó có tên chính thức là Samsung Galaxy J2 Prime. == Tham khảo ==
thăm dò điện trở.txt
Thăm dò điện trở (Resistivity survey), là một phương pháp của địa vật lý thăm dò, bố trí phát dòng điện vào đất đá và đo hiệu điện thế tại các vị trí thích hợp thông qua hệ thống các điện cực (gọi gọn là Hệ điện cực, Electrode array), từ đó thu được thông tin về phân bố điện trở suất thuần (Ohmic) của môi trường. Từ đó thực hiện phân tích giải đoán để xác định và phân chia đất đá theo thành phần, tính chất và trạng thái của chúng. Phương pháp được sử dụng cho lập bản đồ địa chất, tìm kiếm dầu khí, khoáng sản, tìm nước ngầm, khảo sát địa chất công trình, địa chất môi trường và tai biến tự nhiên, khảo cổ học, tìm vật chưa nổ (UXO)... trên đất liền và trên biển gần bờ. Tại Việt Nam, nhiều dạng thực hiện trên mặt đất của phương pháp này được quy chuẩn trong TCVN 9432: 2012. == Lịch sử == Các dạng ban đầu của phương pháp điện trở được Conrad Schlumberger đưa ra từ năm 1912. Ngày nay phương pháp điện chiếm vị trí hàng đầu trong các phương pháp thăm dò về tính phổ biến, rẻ về mức thông tin, đa dạng kiểu đo, và còn đang phát triển kiểu đo mới. == Nội dung phương pháp == Trong đo đạc truyền thống, thăm dò điện trở dùng nguồn điện dòng không đổi (DC), ví dụ các pin hòm (Batt.), phát dòng vào đất qua hai điện cực dòng A và B (có nước gọi là C1 và C2, Current), có Ampe kế đo dòng phát I. Tại điểm cần đo là hai điện cực thế M và N (có nước gọi là P1 và P2, Potential), và MiliVolt kế đo hiệu điện thế ∆U. Vì dòng điện là không đổi, nên phân bố dòng và điện thế trong đất là quá trình dừng, tức là các phân bố này được xem xét giống như với trường tĩnh điện, khi biểu diễn bằng các đường dòng (Current Flow Lines) và mặt đẳng thế (Equipotential Surfaces) thì có dạng tương tự với đường dòng và mặt đẳng thế của các điện tích điểm, cũng như áp dụng Nguyên lý chồng chập để tính toán các phân bố này. Gọi các khoảng cách giữa các điện cực là AM, AN, BM, BN, và nửa không gian vô hạn có điện trở suất ρ. Nếu đẩy các điện cực B và N ra cực xa (tốt nhất là ngược hướng nhau), ta sẽ đo được điện thế tại M của nguồn điểm A là U = ρ I 2 π ( 1 A M ) {\displaystyle U=\rho {\frac {I}{2\pi }}({\frac {1}{AM}})} . Đó là hệ cực Pol - Pol hay hệ 2 cực. Đưa cực N lại gần M để lập ra lưỡng cực (Dipol) MN, thì hiệu điện thế đo được là Δ U = ρ I 2 π ( 1 A M − 1 A N ) {\displaystyle \Delta U=\rho {\frac {I}{2\pi }}({\frac {1}{AM}}-{\frac {1}{AN}})} . Đó là hệ cực Pol - Dipol hay hệ 3 cực. Với đủ 4 cực, thì hiệu điện thế đo được là Δ U = ρ I 2 π ( 1 A M − 1 B M − 1 A N + 1 B N ) {\displaystyle \Delta U=\rho {\frac {I}{2\pi }}({\frac {1}{AM}}-{\frac {1}{BM}}-{\frac {1}{AN}}+{\frac {1}{BN}})} Từ phép đo sẽ tính được điện trở suất ρ = k Δ U I {\displaystyle \rho =k{\frac {\Delta U}{I}}} trong đó k = 2 π 1 A M − 1 B M − 1 A N + 1 B N {\displaystyle k={\frac {2\pi }{{\frac {1}{AM}}-{\frac {1}{BM}}-{\frac {1}{AN}}+{\frac {1}{BN}}}}} cho trường hợp tổng quát, được gọi là hệ số thiết bị (geometric factor). Khi ∆U tính ra Volt, I tính ra Ampere, khoảng cách là mét, thì ρ là Ωm hay Ohm.m. Trong môi trường thực điện trở suất thay đổi theo cả phương thẳng đứng và phương ngang. Kết quả đo và tính như trên cho ra điện trở suất biểu kiến ρa (tiếng Anh: Apparent Resistivity, trong các văn liệu ở Việt Nam trước đây hay dùng ρK theo tiếng Nga Кажущееся Сопротивление). Các nghiên cứu lý thuyết cho thấy ρa phản ánh trung bình của khối đất đá đến độ sâu trong tầm 1/3 khoảng cách giữa điện cực dòng và thế ngắn nhất. Khoảng cách này thường được gọi là kích thước thiết bị, và độ sâu phản ánh gọi là độ sâu khảo sát. Khi môi trường có tương phản điện trở suất cao thì độ sâu khảo sát giảm hơn ở môi trường ít tương phản. Từ đây chia ra hai phân nhóm chính của thăm dò điện trở: Giữ nguyên kích thước thiết bị và đo di chuyển dọc tuyến, gọi là đo mặt cắt (Profiling) để khảo sát đến tầm sâu có chủ đích là độ sâu khảo sát. Một chuyến đo mặt cắt thực tế có thể bố trí kết hợp phù hợp để đo với nhiều kích thước thiết bị khác nhau. Giữ nguyên vị trí đo và tăng dần kích thước thiết bị để thu thập thông tin từ nông đến sâu, gọi là đo sâu (Sounding), các văn liệu tiếng Nga gọi là Вертикальное электрическое зондирование (đo sâu điện thẳng đứng) và viết tắt là ВЭЗ. Ngày nay tại các nước phát triển không thực hiện dạng đo mặt cắt đơn thuần, mà chuyển sang rải nhiều cực và thực hiện dạng hợp của mặt cắt và đo sâu, và đặt tên là ảnh điện trở (Resistivity Imaging). === Các Hệ điện cực thường dùng === Hệ Pol - Pol hay hệ 2 cực: Cả hai điện cực B và N đặt xa vô tận so với A và M. Hệ Pol - Dipol hay hệ 3 cực: Điện cực B đặt ở nơi coi là xa vô tận so với các điện cực còn lại. Hệ Wenner: Tất cả 4 điện cực nằm trên đường thẳng (A, M, N, B) cách đều nhau. Hệ Schlumberger: Cả 4 điện cực nằm trên đường thẳng (A, M, N, B), nhưng cặp M và N gần sát nhau còn A và B thì cách xa chúng (MN<<AB). Hệ Dipol - Dipol hay hệ lưỡng cực: Khoảng cách giữa trung điểm của cặp điện cực A, B với M, N lớn hơn độ dài lưỡng cực AB hay MN nhiều lần. Các điện cực không nhất thiết phải nằm trên một đường thẳng. === Các nguồn nhiễu === Điện trường thiên nhiên sinh ra do hiệu ứng điện hóa trong đất, giá trị có thể đến ±500 mV. Nó là đối tượng quan sát của thăm dò Điện trường thiên nhiên. Hiện tượng nạp điện của đất đá (Chargeability), là hiện tượng dẫn đến lúc đóng/cắt dòng phát thì mức điện thế không thiết lập được ngay, phải đợi một vài giây quá trình nạp hoàn tất mới đo được điện thế thật. Nó là đối tượng quan sát của thăm dò Điện phân cực kích thích. Điện thế phân cực tại điện cực sinh ra do hiệu ứng điện hóa khi vật kim loại là điện cực đo cắm vào đất. Nó cộng vào điện trường thiên nhiên và hiện ra ở ngõ vào máy đo. Để giảm điện thế này, sử dụng điện cực đồng, hoặc bạch kim (platin - Pt) như trong máy đo của IRIS Instruments (Pháp). Dòng lang thang trong đất, phát sinh do cảm ứng với thay đổi của trường điện từ do tác động của tầng điện ly và các hiện tượng điện từ khác. Nó là đối tượng quan sát của thăm dò điện từ Tellur. Dò điện giữa các dây phát - thu - đất: Phải khắc phục bằng dùng dây có độ cách điện cao. Nguồn cấp dòng phát I không ổn định: Phải khắc phục bằng dùng nguồn phát ổn định, lau sạch các điện cực phát để tiếp địa tốt, hoặc dùng nhiều điện cực đóng thành chùm tại vị trí phát, đổ nước để giảm trở tiếp địa. == Máy đo == Trong thời gian dài từ lúc ra đời đến những năm 1970, nhiều nỗ lực đổ vào việc chế máy đo điện thế có trở kháng (Impedance) ngõ vào cao để không làm nối ngắn mạch đôi cực thu M với N, cũng như có khả năng chống nhiễu, để đo trung thực tín hiệu nhỏ. Nó dẫn đến máy đo dùng khuếch đại Đèn điện tử chân không và nặng tới chục kg, như ЭСК-1 (Liên Xô cũ), DDC-2A (Trung Quốc),... được dùng ở Việt Nam thời đó. Ngày nay kỹ thuật chế Vôn kế hiện số nhỏ gọn có trở kháng ngõ vào cao ra đời, và đã được vận dụng vào chế tạo máy đo. Đồng thời vận dụng kiểu phát xung đảo cực để loại trừ các nhiễu trường thiên nhiên và phân cực điện cực, cũng như để đo Phân cực kích thích. Khả năng đo điện áp nhỏ được nâng cao, dẫn đến việc giảm dòng và điện áp phát, từ đó giảm chi phí và nguy hiểm trong đo đạc. Các máy kiểu cổ điển nhỏ gọn và rẻ tiền, ít chức năng. Các máy hiện đại có thể đo đồng thời Phân cực kích thích, như DZD-6A (Trung Quốc). Các máy cấp cao thì có trang bị hộp chuyển mạch (Switch Box) để đo với dãy đa cực phục vụ cho dạng đo Mặt cắt ảnh điện trở và/hoặc độ nạp (Resistivity/Chargeability Imaging), như Syscal Pro của IRIS Instruments (Pháp), SuperSting của Advanced Geosciences, Inc. (AGI, Mỹ), Resecs của DMT GmbH & Co. KG (Đức), Saris của Scintrex Ltd. (Canada),... Đo đạc được tự động hóa cao, như chọn dòng, bù phông (thể thiên nhiên và phân cực điện cực), chọn thang đo, tích lũy tín hiệu đến khi đạt độ chính xác đặt trước,... Việc phát xung đảo cực có thực chất là sử dụng dòng điện xoay chiều AC (xung vuông). Để kết quả đo tương đương với dùng dòng điện một chiều DC, thì tần số phát phải đủ nhỏ để độ sâu thấm theo hiệu ứng skin lớn hơn kích thước thiết bị vài ba lần. == Mặt cắt ảnh điện == Mặt cắt ảnh điện (Resistivity/Chargeability Imaging) là tên gọi của công nghệ đo điện rải đa cực, ra đời vào những năm 1990. Trong đo Mặt cắt ảnh điện, một dãy điện cực rải cách đều nhau, số lượng từ vài chục đến hàng trăm, được nối bằng các cáp nhiều ruột về hộp chuyển mạch điện tử (Switch Box). Chương trình điều hành đo sẽ căn theo chỉ định hệ cực đo, chọn ra số cực phù hợp, đo quét dọc chặng và từ “kích thước thiết bị” nhỏ đến lớn nhất có thể. Trong thực tế hệ cực Wenner dễ chọn nhất, còn hệ cực Dipol - Dipol cho kích thước thiết bị lớn nhất trên dãy cực đã rải. Cáp nối điện cực được phân đoạn từng nhóm, nhằm phục vụ thi công cuốn chiếu (hay cuốn dọc, Roll-Along) cho tuyến dài. Những đoạn ở xa trạm máy được nối về bằng hai cách: Dùng cáp trung chuyển (hay cáp nối dài), trạm máy cần có đủ lối vào cho chúng. Dùng hộp chuyển mạch quản lý nhóm tại chỗ, gọi là hộp Multinode, và các Multinode nối tiếp với nhau và về trạm máy bằng cáp riêng. Ví dụ Multinode của IRIS Instruments quản lý 16 cực, máy quản lý được 16 Multinode, cho ra tổng số là 256 cực. Đây là cách mềm dẻo, giảm trọng lượng thiết bị, và cho phép cuốn chiếu nhanh bằng cách có nhiều hơn 16 Multinode để rài cực lúc máy đang đo chặng trước. Đo ảnh độ nạp cần có điện cực bạch kim, và thường đo với hệ cực Wenner hay Schlumberger, vì điện thế phân cực thường rất nhỏ. Nếu đo bằng hệ cực Dipol - Dipol cần dùng dòng phát đủ lớn. Một số nhà địa vật lý gọi Mặt cắt ảnh điện là Electrical Resistivity Tomography (ERT), trong khi số khác chỉ gọi dạng đo Điện chiếu trường có sử dụng hố khoan là ERT. Tại Việt Nam Phương pháp ảnh điện được quy chuẩn trong TCVN 9433: 2012. Dạng đo ảnh điện với hệ cực Dipol - Dipol được gọi là Đo sâu lưỡng cực liên tục đều. == Điện chiếu trường == Điện chiếu trường (Electrical Resistivity Tomography, ERT) là phương pháp đo điện có bố trí điện cực trong công trình khoan đào. Cách bố trí điện cực, đo và xử lý số liệu rất đa dạng và là vùng đất đang tìm tòi. Kết quả xử lý là ảnh của điện trở suất hoặc của điện thế quy ước. Nó phục vụ theo dõi các thân quặng hay các đới đất đá có tính chất khác thường quanh công trình khoan đào. Đáng chú ý nhất là đo Mặt cắt ảnh điện thẳng đứng, tương tự đo trên mặt đất với hệ cực đặt trong hố khoan. == Xử lý phân tích tài liệu == Khi phương pháp mới ra đời, tài liệu đo mặt cắt điện trở được phân tích theo phương pháp các điểm đặc trưng để tìm ra vị trí các ranh giới ngang, và đôi khi thu được điện trở suất lớp nếu đủ dày. Tài liệu đo sâu điện trở thì phân tích bằng so sánh kết quả tại từng điểm với tập đường cong mẫu (Palette) do các nhà lý thuyết biên soạn ra, để chọn cột điện trở suất. Hiện nay các phần mềm phân tích đo sâu thực hiện xử lý đa điểm. Người sử dụng cần chỉ định tập con các Sounding có mô hình chờ đợi của môi trường tương tự nhau cho một phân tích. Tập con có thể là tuyến hay mảng diện tích, thậm chí tất cả số liệu của vùng. Khi đó chọn ra một điểm có đường cong biểu kiến điển hình, phân tích đơn điểm (1-D Sounding Inversion), sau đó gán mô hình thu được cho các điểm còn lại của tập, rồi phân tích đa điểm (Group Sounding Inversion). Vì trong phân tích tài liệu thăm dò điện thuộc nhóm đo sâu có nhiều phần giống nhau, nên nhiều hãng phần mềm gộp chung thành "phần mềm phân tích tài liệu thăm dò điện", trong đó mỗi phương pháp thăm dò chiếm 1 modul phân tích, ví dụ phần mềm IX1D của hãng Interpex (Mỹ). Tài liệu đo ảnh điện thường được thực hiện bằng phần mềm riêng, ví dụ Res2Dinv hay AGI EarthImager 3D. == Đối tượng nghiên cứu == Thạch quyển Thủy quyển == Xem thêm == Hệ điện cực Soil resistivity == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
gốm bát tràng.txt
Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm được sản xuất tại làng Bát Tràng, thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Theo nghĩa Hán Việt, chữ Bát (鉢) là bát ăn của nhà sư (tiếng Phạn là Patra), chữ Tràng (場, còn đọc là Trường) nghĩa là "cái sân lớn", là mảnh đất dành riêng cho chuyên môn. Theo các cụ già trong làng kể lại, chữ Bát bên trái là bộ "Kim-金" ví với sự giàu có, "本-bản" có nghĩa là cội nguồn, nguồn gốc. Dùng chữ Bát như vậy để khuyên răn con cháu "có nghề có nghiệp thì cũng không được quên gốc". Hiện nay, tại các đình, đền và chùa ở Bát Tràng đều vẫn còn các chữ Bát Tràng được viết bằng chữ Hán là 鉢場. == Vị trí == Xã Bát Tràng (社鉢場) là tên gọi từ trước năm 1945 của làng Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Khi nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, người dân thôn Bát Tràng di cư từ làng Bồ Bát (xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hóa ngoại, nay là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình), theo vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Khi những người dân Bạch Bát đến vùng đất bồi trên bờ sông Hồng, Họ đã lập phường làm nghề gốm; lúc đầu thôn Bát Tràng được gọi là Bạch Thổ Phường, sinh sống chủ yếu bằng nghề làm gốm sứ và buôn bán và làm quan. Thời nhà Hậu Lê, xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Sang thời nhà Nguyễn, năm 1822 trấn Kinh Bắc đổi làm trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi làm tỉnh Bắc Ninh, lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An. Đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn. Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên. Từ năm 1961 đến nay, huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành Hà Nội. Năm 1948, xã Bát Tràng nhập với xã Giang Cao và xã Kim Lan lập thành xã Quang Minh. Từ năm 1964, xã Bát Tràng được thành lập gồm 2 thôn Bát Tràng và Giang Cao như hiện nay. Năm 1958, nhà nước thực hiện đào sông Bắc Hưng Hải - Đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải làm thuỷ lợi tưới tiêu cho một vùng đồng ruộng rộng lớn của 3 tỉnh: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, tạo ra thêm một con đường mới đi vào xã Bát Tràng, vì vậy từ Hà Nội, có thể theo đường thuỷ từ bến Chương Dương hoặc bến Phà Đen, xuôi sông Hồng đến bến Bát Tràng, cũng có thể theo đường bộ qua sông Hồng rồi theo đê sông Hồng đến dốc Giang Cao rẽ xuống Bát Tràng (khoảng 15 km) hoặc theo quốc lộ số 5 đến Trâu Quỳ rẽ về phía tay phải theo đường liên huyện qua xã Đa Tốn đến Bát Tràng (khoảng hơn 20 km). Ngày nay việc đến Bát Tràng rất thuận lợi vì từ năm 2006, công ty vận tải Hà Nội đã mở tuyến xe buýt 47 về đến Chợ Gốm Làng cổ Bát Tràng là điểm cuối bến. == Lịch sử == Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Dư địa chí của Nguyễn Trãi, làng gốm Bát Tràng được hình thành từ thời Lý. Khi Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, 5 dòng họ làm nghề gốm nổi tiếng của làng Bồ Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên (nay thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình) là Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm đã quyết định đưa các nghệ nhân làm gốm và gia đình dời làng di cư về kinh thành Thăng Long tìm đất lập nghiệp. Đến Bạch Thổ phường thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An (nay là xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội) - nơi có nguồn nguyên liệu tốt để làm đồ gốm là đất sét trắng, 5 dòng họ đã kết hợp với dòng họ Nguyễn ở đây mở lò sản xuất gốm, lập nên làng gốm Bát Tràng. Theo ký ức và tục lệ dân gian thì trong số các dòng họ ở Bát Tràng, có dòng họ Nguyễn Ninh Tràng. Có ý kiến cho rằng Nguyễn Ninh Tràng là họ Nguyễn ở trường Vĩnh Ninh, một lò gốm ở Ninh Bình, nhưng chưa có tư liệu xác nhận. Gia phả một số dòng họ ở Bát Tràng như họ Lê, Vương, Phạm, Nguyễn... ghi nhận rằng tổ tiên xưa từ Bồ Bát di cư ra đây (Bồ Bát là Bồ Xuyên và Bạch Bát). Vào thời Hậu Lê khoảng cuối thế kỉ thứ 14 - đầu thế kỉ 15 và đầu thời Nguyễn, xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoá Ngoại. Ngày nay, Bồ Xuyên và Bạch Bát là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, vùng này có loại đất sét trắng rất thích hợp với nghề làm gốm. Theo truyền thuyết và gia phả một số họ như họ Vũ ở Bồ Xuyên, ngày xưa cư dân Bồ Bát chuyên làm nghề gốm từ lâu đời. Điều này được xác nhận qua dấu tích của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc tìm thấy nhiều nơi ở vùng này. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, Thăng Long trở thành trung tâm chính trị của nước Đại Việt. Do nhu cầu phát triển của kinh thành, nhiều thương nhân, thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long hành nghề và lập nghiệp. Sự ra đời và phát triển của Thăng Long đã tác động mạnh đến hoạt động kinh tế của các làng xung quanh, trong đó có làng Bát Tràng. Đặc biệt vùng này lại có nhiều đất sét trắng, một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm. Một số thợ gốm Bồ Bát đã di cư ra đây cùng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường (phường Đất Trắng). Những đợt di cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh. Cũng ở thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều (hay Cảo), Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) được cử đi sứ Bắc Tống. Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu (Quảng Đông) (hiện nay tại Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) gặp bão, phải nghỉ lại. Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho các làng nghề gốm Việt Nam. Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng. Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men sắc màu vàng đỏ. Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nước men màu đỏ màu vàng thẫm. === Thế kỉ 15–16 === Chính sách của nhà Mạc đối với công thương nghiệp trong thời gian này là cởi mở, không chủ trương "ức thương" như trước nên kinh tế hàng hoá có điều kiện phát triển thuận lợi hơn; nhờ đó, sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi. Gốm Bát Tràng thời Mạc có nhiều sản phẩm có minh văn ghi rõ năm chế tạo, tên người đặt hàng và người sản xuất. Qua những minh văn này cho thấy người đặt hàng bao gồm cả một số quan chức cao cấp và quý tộc nhà Mạc như công chúa Phúc Tràng, phò mã Ngạn quận công, Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn, Mĩ quốc công phu nhân... Người đặt hàng trải ra trên một không gian rộng lớn bao gồm nhiều phủ huyện vùng đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ. === Thế kỉ 16–17 === Sau những phát kiến địa lý cuối thế kỉ 15, nhiều nước phát triển của Tây Âu tràn sang phương Đông. Các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp... thành lập công ty, xây dựng căn cứ ở phương Đông để buôn bán. Hoạt động mậu dịch hàng hải khu vực Đông Nam Á vốn có lịch sử lâu đời càng trở nên sôi động, lôi cuốn các nước trong khu vực vào hệ thống buôn bán châu Á và với thị trường thế giới đang hình thành. Sau khi thành lập, nhà Minh (Trung Quốc) chủ trương cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài làm cho việc xuất khẩu gốm sứ nổi tiếng của Trung Quốc bị hạn chế đã tạo điều kiện cho đồ gốm Bát Tràng mở rộng thị trường ở vùng Đông Nam Á. Khi nhà Minh (Trung Quốc) bãi bỏ chính sách bế quan toả cảng (1567) nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu và mặt hàng quan trọng sang Nhật Bản, đã tạo cho quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản đặc biệt phát triển, qua đó nhiều đồ gốm Bát Tràng được nhập cảng vào Nhật Bản. Năm 1644 nhà Thanh (Trung Quốc) tái lập lại chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài, cho đến năm 1684 sau khi giải phóng Đài Loan. Trong thời gian đó, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có đồ gốm Bát Tràng không bị hàng Trung Quốc cạnh tranh nên lại có điều kiện phát triển mạnh. Thế kỉ 15–17 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất gốm xuất khẩu Việt Nam, trong đó ở phía bắc có hai trung tâm quan trọng và nổi tiếng là Bát Tràng và Chu Đậu-Mỹ Xá (các xã Minh Tân, Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Lúc bấy giờ, Thăng Long (Hà Nội) và Phố Hiến (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là hai đô thị lớn nhất và cũng là hại trung tâm mậu dịch đối ngoại thịnh đạt nhất của Đàng Ngoài. Bát Tràng có may mắn và thuận lợi lớn là nằm bên bờ sông Nhị (sông Hồng) ở khoảng giữa Thăng Long và Phố Hiến, trên đường thuỷ nối liền hai đô thị này và là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài. Qua thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và các nước phương Tây, đồ gốm Việt Nam được bán sang Nhật Bản và nhiều nước Đông Nam Á, Nam Á. Các công ty phương Tây, nhất là Công ty Đông Ấn của Hà Lan, trong phương thức buôn bán "từ Ấn Độ (phương Đông) sang Ấn Độ", đã mua nhiều đồ gốm Việt Nam bán sang thị trường Đông Nam Á và Nhật Bản. === Cuối thế kỉ 17& đầu thế kỉ 18 === Việc xuất khẩu và buôn bán đồ gốm Việt Nam ở Đông Nam Á bị giảm sút nhanh chóng vì sau khi Đài Loan được giải phóng (1684) và triều Thanh bãi bỏ chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài. Từ đó, gốm sứ chất lượng cao của Trung Quốc tràn xuống thị trường Đông Nam Á và đồ gốm Việt Nam không đủ sức cạnh tranh. Nhật Bản, sau một thời gian đóng cửa để bảo vệ các nguyên liệu quý như bạc, đồng, đã đẩy mạnh được sự phát triển các ngành kinh tế trong nước như tơ lụa, đường, gốm sứ... mà trước đây phải mua sản phẩm của nước ngoài. === Thế kỉ 18–19 === Một số nước phương Tây đi vào cuộc cách mạng công nghiệp với những hàng hoá mới cần thị trường tiêu thụ rộng lớn. Tình hình kinh tế đó cùng với chính sách hạn chế ngoại thương của các chính quyền Trịnh, Nguyễn trong thế kỉ 18 và của nhà Nguyễn trong thế kỉ 19 đã làm cho quan hệ mậu dịch đối ngoại của Việt Nam sa sút và việc xuất khẩu đồ gốm cũng bị suy giảm. Đó là lý do khiến một số làng nghề gốm bị gián đoạn sản xuất (như làng gốm Chu Đậu-Mỹ Xá). Gốm Bát Tràng tuy có bị ảnh hưởng, nhưng vẫn giữ được sức sống bền bỉ nhờ có một thị trường tiêu thụ rộng rãi trong nước với những đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí và gạch xây rất cần thiết cho mọi tầng lớp xã hội từ quý tộc đến dân thường. Trong giai đoạn này, gốm Bát Tràng xuất khẩu giảm sút, nhưng làng gốm Bát Tràng vẫn là một trung tâm sản xuất gốm truyền thống có tiếng trong nước. === Thế kỉ 19 đến nay === Trong thời Pháp thuộc, các lò gốm Bát Tràng tuy bị một số xí nghiệp gốm sứ và hàng ngoại nhập cạnh tranh nhưng vẫn duy trì được hoạt động bình thường. Sau Chiến tranh Đông Dương (1945–1954), năm 1957, 10 cá nhân là địa chủ, con địa chủ của thôn Giang Cao (sau cải cách ruộng đất năm 1955) góp vốn thành lập công ty gốm Trường Thịnh, để sản xuất gốm sứ dân dụng phục vụ xã hội, đây là nền tảng khởi đầu cho Xí nghiệp sứ Bát Tràng. Năm 1958 nhà nước làm công tư hợp doanh, chuyển đổi công ty gốm Trường Thịnh thành Xí nghiệp sứ Bát Tràng, thuê công nhân thôn Bát Tràng vào làm việc. Với cơ sở vật chất đầy đủ, nhân công Bát Tràng được thử nghiệm, thực hành, sáng tạo trên cơ sở sự chịu khó, cần cù đã tạo nên được một thế hệ có tay nghề gốm vững chãi. Cùng lúc đó một số hợp tác xã như Hợp Thành (1962), đóng ở phần đất gần với xã Đa Tốn, Hưng Hà (1977), Hợp Lực (1978), Thống Nhất (1982), Ánh Hồng (1984) và Liên hiệp ngành gốm sứ (1984)Xí nghiệp X51, X54 (1988)... Các cơ sở sản xuất trên cung cấp hàng tiêu dùng trong nước, một số hàng mĩ nghệ và một số hàng xuất khẩu. Những nghệ nhân nổi tiếng như của Bát Tràng như Đào Văn Can, Nguyễn Văn Khiếu, Lê Văn Vấn, Lê Văn Cam... đào tạo được nhiều thợ gốm trẻ cung cấp cho các lò gốm mới mở ở các tỉnh. Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng kinh tế thị trường. Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần, những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản xuất và phổ biến là những đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình. Xã Bát Tràng nay đã trở thành một trung tâm gốm lớn. Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như các loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa... kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện... và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu. Bát Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất. Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc... == Quy trình sản xuất đồ gốm Bát Tràng == Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò". Người thợ gốm quan niệm hiện vật gốm không khác nào một cơ thể sống, một vũ trụ thu nhỏ trong đó có sự kết hợp hài hòa của Ngũ hành (五行) là kim (金), mộc (木), thuỷ (水), hoả (火) và thổ (土). Sự phát triển của nghề nghiệp được xem như là sự hanh thông của Ngũ hành mà sự hanh thông của Ngũ hành lại nằm trong quá trình lao động sáng tạo với những quy trình kĩ thuật chặt chẽ, chuẩn xác. === Quá trình tạo cốt gốm === ==== Chọn đất ==== Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét làm gốm. Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sở khai thác nguồn đất tại chỗ. Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ dân làng Bồ Bát chọn khu vực làng Bát Tràng hiện nay làm đất định cư phát triển nghề gốm vì trước hết họ đã phát hiện ra mỏ đất sét trắng ở đây. Đến thế kỉ 18, nguồn đất sét trắng tại chỗ đã cạn kiệt nên người dân Bát Tràng buộc phải đi tìm nguồn đất mới. Không giống như tổ tiên, dân Bát Tràng vẫn định cư lại ở các vị trí giao thông thuận lợi và thông qua dòng sông bến cảng, dùng thuyền toả ra các nơi khai thác các nguồn đất mới. Từ Bát Tràng ngược sông Hồng lên vùng Sơn Tây, Phúc Yên, rẽ qua sông Đuống, xuôi dòng Kinh Thầy đến Đông Triều, khai thác đất sét trắng ở Hồ Lao, Trúc Thôn. Đất sét Trúc Thôn có độ dẻo cao, khó tan trong nước, hạt mịn, màu trắng xám, độ chịu lửa ở khoảng 1650°C. Thành phần hoá học (tính trung bình theo % trọng lượng) của đất sét Trúc Thôn như sau: Al203: 27,07; Si02: 55,87; Fe203 1,2; Na2O 0,7; CaO 2,57; MgO 0,78; K2O: 2,01; Ti02: 0,81. Tuy là loại đất tốt được người thợ gốm Bát Tràng ưa dùng nhưng sét Trúc Thôn cũng có một số hạn chế như chứa hàm lượng ôxít sắt khá cao, độ ngót khi sấy khô lớn và bản thân nó không được trắng. ==== Xử lý, pha chế đất ==== Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau mà có thể có những cách pha chế đất khác nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp. Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất truyền thống là xử lý thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khác nhau. Bể thứ nhất ở vị trí cao hơn cả là "bể đánh" dùng để ngâm đất sét thô và nước (thời gian ngâm khoảng 3-4 tháng). Đất sét dưới tác động của nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của nó và bắt đầu quá trình phân rã (dân gian gọi là ngâm lâu để cho đất nát ra). Khi đất đã "chín" (cách gọi dân gian), đánh đất thật đều, thật tơi để các hạt đất thực sự hoà tan trong nước tạo thành một hỗn hợp lỏng. Sau đó tháo hỗn hợp lỏng này xuống bể thứ hai gọi là "bể lắng" hay "bể lọc". Tại đây đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất (nhất là các chất hữu cơ) nổi lên, tiến hành loại bỏ chúng. Sau đó, múc hồ loãng từ bể lắng sang bể thứ ba gọi là "bể phơi", người Bát Tràng thường phơi đất ở đây khoảng 3 ngày, sau đó chuyển đất sang bể thứ tư là "bể ủ". Tại bể ủ, ôxyt sắt (Fe2O3) và các tạp chất khác bị khử bằng phương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá khử các chất có hại trong đất). Thời gian ủ càng lâu càng tốt. Nhìn chung, khâu xử lý đất của người thợ gốm Bát Tràng thường không qua nhiều công đoạn phức tạp. Trong quá trình xử lý, tuỳ theo từng loại đồ gốm mà người ta có thể pha thêm cao lanh ở mức độ nhiều ít khác nhau. ==== Tạo dáng ==== Phương pháp tạo dáng cổ truyền của người làng Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay. Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay, trước đây công việc này thường vẫn do phụ nữ đảm nhiệm. Thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm. Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném ("bắt nẩy") để thu ngắn lại. Sau đó người ta đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới "đánh cử" đất và "ra hương" chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải. Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết người thợ sẽ dùng sành dan để định hình sản phẩm. Sản phẩm "xén lợi" và "bắt lợi" xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào "bửng". Việc phụ nữ sử dụng bàn xoay vuốt tạo dáng ban đầu của sản phẩm là công việc bình thường phổ biến ở mỗi lò gốm cổ Việt Nam (không chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ với một số người thợ gốm phương Tây. Tuy thế, kĩ thuật này đã mất dần và hiện nay không còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có thể làm được công việc này nữa. "Be chạch" cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà và chủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm. Người thợ "đắp nặn" gốm là người thợ có trình độ kĩ thuật và mĩ thuật cao. Có khi họ đắp nặn một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, nhưng cũng có khi họ đắp nặn từng bộ phận riêng rẽ của một sản phẩm và sau đó tiến hành chắp ghép lại. Hiện nay theo yêu cầu sản xuất gốm công nghiệp hay mĩ nghệ, nghệ nhân gốm có thể đắp nặn một sản phẩm mẫu để đổ khuôn thạch cao phục vụ cho việc sản xuất hàng loạt. Việc tạo hình sản phẩm gốm theo khuôn in (khuôn thạch cao hay khuôn gỗ) được tiến hành như sau: đặt khuôn giữa bàn xoay, ghim chặt lại, láng lòng khuôn rồi ném mạnh đất in sản phẩm giữa lòng khuôn cho bám chắc chân, vét đất lên lợi vành, quay bàn xoay và kéo cán tới mức cần thiết đề tạo sản phẩm. Ngày nay người làng gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến kĩ thuật "đúc" hiện vật. Muốn có hiện vật gốm theo kĩ thuật đúc trước hết phải chế tạo khuôn bằng thạch cao. Khuôn có cấu tạo từ đơn giản đến phức tạp. Loại đơn giản là khuôn hai mang, loại phức tạp thì thường cớ nhiều mang, tuỳ theo hình dáng của sản phẩm định tạo. Cách tạo dáng này trong cùng một lúc có thể tạo ra hàng loạt sản phẩm giống nhau, rất nhanh và giản tiện. Ngoài ra người ta còn dùng phương pháp đổ rót: đổ "hồ thừa" hay "hồ đầy" để tạo dáng sản phẩm. ==== Phơi sấy và sửa hàng mộc ==== Tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho khô, không bị nứt nẻ, không làm thay đổi hình dáng của sản phẩm. Biện pháp tối ưu mà xưa nay người Bát Tràng vẫn thường sử dụng là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng mát. Ngày nay phần nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy hiện vật trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần. Sản phẩm mộc đã định hình cần đem "ủ vóc" và sửa lại cho hoàn chỉnh. Người thợ gốm đặt sản phẩm vào mà trên bàn xoay nhẹ đà rồi vừa xoay bàn xoay vừa đẩy nhẹ vào chân vóc cho cân, dùng dùi vỗ nhẹ vào chân "vóc" cho đất ở chân "vóc" chặt lại và sản phẩm tròn trở lại (gọi là "lùa"). Người thợ gốm tiến hành các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ khuyết, chắp các bộ phận của sản phẩm (như vòi ấm, quai tách...), khoan lỗ trên các sản phẩm, tỉa lại đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn mặt sản phẩm. Những sản phẩm sửa lại mà không dùng bàn xoay thì gọi là "làm hàng bộ", phải dùng bàn xoay thì gọi là "làm hàng bàn". Theo yêu cầu trang trí, có thể đắp thêm đất vào một vài vùng nào đó trên sản phẩm rồi cắt tỉa để tạo hình (đắp phù điêu), có khi phải khắc sâu các hoạ tiết trang trí trên mặt sản phẩm... === Quá trình trang trí hoa văn và phủ men === ==== Kỹ thuật vẽ ==== Thợ gốm Bát Tràng dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoa văn hoạ tiết. Thợ vẽ gốm phải có tay nghề cao, hoa văn họa tiết phải hài hoà với dáng gốm, các trang trí hoạ tiết này đã nâng nghề gốm lên mức nghệ thuật, mỗi cái là một tác phẩm. Thợ gốm Bát Tràng cũng đã dùng rất nhiều hình thức trang trí khác, có hiệu quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu... Gần đây, Bát Tràng xuất hiện kĩ thuật vẽ trên nền xương gốm đã nung sơ lần 1 hoặc kĩ thuật hấp hoa, một lối trang trí hình in sẵn trên giấy decal, nhập từ nước ngoài. Hai kiểu này tuy đẹp nhưng không phải là truyền thống của Bát Tràng. Những loại này không được coi là nghệ thuật và sáng tạo trong di sản gốm Bát Tràng, cũng như gốm Việt Nam nói chung. ==== Chế tạo men ==== Men tro là men đặc sắc của gốm Bát Tràng, ngoài ra còn có men màu nâu, thành phần loại men này bao gồm men tro cộng thêm 5% đá thối (hỗn hợp ôxít sắt và ôxít mangan lấy ở Phù Lãng, Hà Bắc). Từ thế kỉ 15 thợ gốm Bát Tràng đã từng chế tạo ra loại men lam nổi tiếng. Loại men này được chế từ đá đỏ (có chứa ôxít côban) đá thối (chứa ôxít mangan) nghiền nhỏ rồi trộn với men áo. Men lam phát màu ở nhiệt độ 1250 °C. Đầu thế kỉ 17 người Bát Tràng dùng vôi sống, tro trấu và cao lanh chùa Hội (thuộc Bích Nhôi, Kinh Môn, Hải Dương) có màu hồng nhạt điều chế thành một loại men mới là men rạn. Thợ gốm Bát Tràng thường quen sử dụng cách chế tạo men theo phương pháp ướt bằng cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kĩ trộn đều với nhau rồi khuấy tan trong nước đợi đến khi lắng xuống thì bỏ phần nước trong ở trên và bã đọng ở dưới đáy mà chỉ lấy các "dị" lơ lửng ở giữa, đó chính là lớp men bóng để phủ bên ngoài đồ vật. Trong quá trình chế tạo men người thợ gốm Bát Tràng nhận thấy để cho men dễ chảy hơn thì phải chế biến bột tro nhỏ hơn nhiều so với bột đất, vì thế mà có câu "nhỏ tro to đàn". ==== Tráng men ==== Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung. Người thợ gốm Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh. Sản phẩm mộc trước khi đem tráng men phải được làm sạch bụi bằng chổi lông. Những sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men phải có một lớp men lót để che bớt màu của xương gốm, đồng thời cũng phải tính toán tính năng của mỗi loại men định tráng lên từng loại xương gốm, nồng độ men, thời tiết và mức độ khó của xương gốm... Kĩ thuật tráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men lên bề mặt cốt gốm cỡ lớn, nhúng men đối với loại gốm nhỏ nhưng thông dụng nhất là hình thức láng men ngoài sản phẩm, gọi là "kìm men", và khó hơn cả là hình thức "quay men" và "đúc men". Quay men là hình thức tráng men bên trong và bên ngoài sản phẩm cùng một lúc, còn đúc men thì chỉ tráng men trong lòng sản phẩm. Đây là những thủ pháp tráng men của thợ gốm Bát Tràng, vừa là kĩ thuật vừa là nghệ thuật, được bảo tồn qua nhiều thế hệ, thậm chí đã từng là bí quyết trong nghề nghiệp ở đây. ==== Sửa hàng men ==== Người thợ gốm tiến hành tu chỉnh lại sản phẩm lần cuối trước khi đưa vào lò nung. Trước hết phải xem kĩ từng sản phẩm một xem có chỗ nào khuyết men thì phải bôi quệt men vào các vị trí ấy. Sau đó họ tiến hành "cắt dò" tức cạo bỏ những chỗ dư thừa men, công việc này gọi là "sửa hàng men". === Quá trình nung === Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ gốm. Vì thế giờ phút nhóm lò trở nên thiêng liêng trọng đại với người thợ gốm. Người thợ cả cao tuổi nhất thắp ba nén hương và thành kính cầu mong trời đất và thần lửa phù giúp. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò. Trước đây người thợ gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lò ếch (hay lò cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm, sau này, xuất hiện thêm nhiều loại lò nung khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong việc thao tác hơn. ==== Lò nung ==== Lò ếch là kiểu lò gốm cổ nhất được sử dụng một cách phổ biến ở khắp mọi nơi, hiện nay mất hết dấu tích nhưng qua các nguồn tư liệu gián tiếp vẫn có thể hình dung được lò có hình dáng giống như một con ếch dài khoảng 7 mét, bề ngang chỗ rộng nhất khoảng 3-4 mét, cửa lò rộng khoảng 1,2 mét, cao 1 mét. Đáy lò phẳng nằm ngang, vòm lò cao khoảng từ 2 mét đến 2,7 mét. Bên hông lò có một cửa ngách rộng 1 mét, cao 1,2 mét phục vụ cho việc chồng lò và dỡ sản phẩm. Lò có 3 ống khói thẳng đứng cao 3-3,5 mét. Trong mỗi bầu lò người ta chia thành 5 khu vực xếp sản phẩm là: hàng dàn, hàng gáy, hàng giữa, hàng chuột chạy và hàng mặt. Trong quá trình lâu dài sử dụng lò ếch, để khắc phục nhược điểm của lớp đất gia cố bên trong và sàn lò, người ta thay vào đó lớp gạch mộc và vữa ghép lại. Lò đàn xuất hiện vào giữa thế kỉ 19. Lò đàn có bầu lò dài 9 mét, rộng 2,5 mét, cao 2,6 mét được chia thành 10 bích bằng nhau. Vị trí phân cách giữa các bích là hai nống (cột). Cửa lò rộng 0,9 mét, cao l mét. Bích thứ 10 gọi là bích đậu thông với buồng thu khói qua 3 cửa hẹp. Để giữ nhiệt, bích lò kéo dài và ôm lấy buồng thu khói. Lớp vách trong ghép gạch Bát Tràng, lớp vách ngoài xây bằng gạch dân dụng. Mặt dưới của cật lò gần như bằng phẳng còn mặt trên hình vòng khum. Hai bên cật lò từ bích thứ 2 đến bích thứ 9 người ta dấu mở hai cửa nhỏ hình tròn, đường kính 0,2 mét gọi là các lỗ giòi để ném nhiên liệu vào trong bích. Riêng bích đậu người ta mở lỗ đậu (lỗ giòi rộng hơn nửa mét). Nhiệt độ lò đàn có thể đạt được 1250–1300 °C. Lò bầu, hay lò rồng, xuất hiện vào đầu thế kỉ 20. Lò bầu chia ra làm nhiều ngăn, thường có từ 5 đến 7 bầu (cũng có khi đến 10 bầu). Bầu lò có vòm cuốn liên tiếp vuông góc với trục tiêu của lò tựa như những mảnh vỏ sò úp nối với nhau. Người ta dùng gạch chịu lửa đề xây dựng vòm cuốn của lò. Lò dài khoảng 13 mét cộng với đoạn để xây ống khói ở phía đuôi dài 2 mét thì toàn bộ độ dài của lò tới 15 mét. Độ nghiêng của trục lò khoảng 12-15⁰. Nhiệt độ của lò bầu có thể đạt tới 1300 °C. Lò hộp hay lò đứng: Khoảng năm 1975 trở lại đây người Bát Tràng chuyển sang xây dựng lò hộp để nung gốm. Lò thường cao 5 mét rộng 0,9 mét, bên trong xây bằng gạch chịu lửa giống như xây tường nhà. Lò mở hai cửa, kết cấu đơn giản, chiếm ít diện tích, chi phí xây lò không nhiều, tiện lợi cho quy mô gia đình. Vì thế hầu như gia đình nào cũng có lò gốm, thậm chí mỗi nhà có đến 2, 3 lò. Nhiệt độ lò có thể đạt 1250 °C. Lò con thoi (hay lò gas), lò tuynen (lò hầm, lò liên tục): Trong những năm gần đây, Bát Tràng xuất hiện thêm những kiểu lò hiện đại là lò con thoi, hoặc lò tuynen, với nhiên liệu là khí đốt hoặc dầu. Trong quá trình đốt, nhiệt độ được theo dõi qua hỏa kế, việc điều chỉnh nhiệt độ mà thực chất là quá trình tăng giảm nhiên liệu được thực hiện bán tự động hoặc tự động, công việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều. Tuy nhiên, đây không phải là những lò truyền thống của Bát Tràng. ==== Bao nung ==== Trước đây, các lò gốm Bát Tràng dùng một loại gạch vuông ghép lại làm bao nung. Loại gạch này sau hai ba lần sử dụng trong lò đạt đến độ lửa cao và cứng gần như sành (đó chính là gạch Bát Tràng nổi tiếng). Gần đây bao nung thường được làm bằng đất sét chịu lửa có màu xám sẫm trộn đều với bột gạch hoặc bao nung hỏng nghiền nhỏ (gọi là sa mốt) với tỉ lệ 25–35% đất sét và 65–75% sa mốt. Người ta dùng một lượng nước vừa đủ để trộn đều và đánh nhuyễn chất hỗn hợp này rồi đem in (dập) thành bao nung hay đóng thành gạch ghép ruột lò. Bao nung thường hình trụ để cho lửa có điều kiện tiếp xúc đều với sản phẩm. Tuỳ theo sản phẩm mà bao nung có kích thước không giống nhau nhưng phổ biến hơn cả là loại có đường kính từ 15 đến 30 cm, dày 2–5 cm và cao từ 5 đến 40 cm. Một bao nung có thể dùng từ 15 đến 20 lần. Nếu sản phẩm được đốt trong lò con thoi hoặc lò tuynen, thường không cần dùng bao nung. ==== Nhiên liệu ==== Đối với loại lò ếch có thể dùng các loại rơm, rạ, tre, nứa để đốt lò, sau đó Bát Tràng dùng kết hợp rơm rạ với các loại "củi phác" và "củi bửa" và sau nữa thì củi phác và củi bửa dần trở thành nguồn nhiên liệu chính cho các loại lò gốm ở Bát Tràng. Củi bửa và củi phác sau khi đã bổ được xếp thành đống ngoài trời, phơi sương nắng cho ải ra rồi mới đem sử dụng. Đối với loại lò đàn, tại bầu, người ta đốt củi phác còn củi bửa được dùng để đưa qua các lỗ giòi, lỗ đậu vào trong lò. Khi chuyển sang sử dụng lò đứng, nguồn nhiên liệu chính là than cám còn củi chỉ để gầy lò. Than cám đem nhào trộn kĩ với đất bùn theo tỷ lệ nhất định có thể đóng thành khuôn hay nặn thành bánh nhỏ phơi khô. Nhiều khi người ta nặn than ướt rồi đập lên tường khô để tường hút nước nhanh và than chóng kết cứng lại và có thể dùng được ngay. ==== Chồng lò ==== Sản phẩm mộc sau quá trình gia công hoàn chỉnh được đem vào lò nung. Việc xếp sản phẩm trong lò nung như thế nào là tuỳ theo sản phẩm và hình dáng kích, cỡ của bao nung trên nguyên tắc vừa sử dụng triệt để không gian trong lò vừa tiết kiệm được nhiên liệu mà lại đạt hiệu nhiệt cao. Bởi cấu tạo của mỗi loại lò khác nhau nên việc chồng lò theo từng loại lò cũng có những đặc điểm riêng. Đối với loại lò ếch, người ta xếp sản phẩm từ gáy lò ra tới cửa lò, còn đối với loại lò đàn thì người ta xếp sản phẩm từ bích thứ 2 đến bích thứ 10 (riêng bích thứ 10 vì lửa kém nên sản phẩm thường để trần không cần có bao nung ở ngoài). Ở bầu cũi lợn (bầu đầu tiên) nơi dành để đốt nhiên liệu, có nhiệt độ cao nên đôi khi người ta xếp các loại sản phẩm trong các bao ngoại cỡ. Sản phẩm được xếp trong lò bầu giống như lò đàn. Riêng đối với lò hộp, tất cả các sản phẩm đều được đặt trong các bao nung hình trụ không đậy nắp và xếp chồng cao dần từ đáy lên nóc, xung quanh tường lò và chỗ khoảng trống giữa các bao nung đều được chèn các viên than. Làng Bát Tràng xưa có các phường Chồng Lò, mỗi phường thường gồm 7 người (3 thợ cả, 3 thợ đệm và 1 thợ học việc). Họ chia thành 3 nhóm trong đó mỗi nhóm có 1 thợ cả và 1 thợ đệm, còn thợ học việc có nhiệm vụ bưng bao nung và sản phẩm mộc phục vụ cho cả 3 nhóm trên. Nhóm thứ nhất có nhiệm vụ chồng đáy (xếp bao nung và sản phẩm ba lớp từ đáy lên), nhóm thứ hai có nhiệm vụ chồng giữa (xếp ba lớp giữa), còn nhóm thứ ba là nhóm gọi mặt (xếp ba lớp cuối cùng ở vị trí cao nhất trong lò). Phường Chồng Lò ở Bát Tràng chủ yếu tập hợp những người thợ gốm ở Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Tây) và Vân Đình (Mỹ Đức, Hà Tây) chuyên phục vụ chơ các lò gốm Bát Tràng. ==== Đốt lò ==== Nhìn chung đối với các loại lò ếch, lò đàn, lò bầu thì quy trình đốt lò đều tương tự nhau và với kinh nghiệm của mình, người "thợ cả" có thể làm chủ được ngọn lửa trong toàn bộ quá trình đốt lò. Ở lò đàn khoảng một nửa ngày kể từ khi nhóm lửa người ta đốt nhỏ lửa tại bầu cũi lợn để sấy lò và sản phẩm trong lò. Sau đó người ta tăng dần lửa ở bầu cũi lợn cho đến khi lửa đỏ lan tới bích thứ tư thì việc tiếp củi ở các bầu cũi lợn được dừng lại. Tiếp tục ném củi bửa qua các lỗ giòi. Người xuất cả bằng kinh nghiệm của mình kiểm tra kỹ các bích và ra lệnh ngừng ném củi bửa vào bích nào khi biết sản phẩm ở bích đó đã chín. Càng về cuối sản phẩm chín càng nhanh. Khi sản phẩm trong bích đậu đã sắp chín thì người thợ cả quyết định ném dồn dập trong vòng nửa tiếng khoảng 9-10 bó củi bửa qua lỗ đậu rồi kết thúc việc tiếp củi. Trong phường đốt lò, người phường trưởng (xuất cả) phụ trách chung về kỹ thuật, hai người thợ đốt ở cửa lò (đốt dưới), bốn người chuyên ném củi bửa qua các lỗ giòi (đốt trên). Sau khi nung xong người ta bịt hết các cửa lò, lỗ giòi, lỗ xem lửa để làm nguội từ từ. Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày 2 đêm, sau đó mới mở cửa lò và để tiếp 1 ngày 1 đêm nữa rồi mới tiến hành ra lò. Đối với lò đứng, việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều vì khi hoàn tất khâu chồng lò cũng có nghĩa là đã kết thúc việc nạp nhiên liệu. Thế nhưng do đặc điểm của lò, người thợ đốt lò dù có dày dạn kinh nghiệm cũng rất khó có thể làm chủ được ngọn lửa, đây thực sự là vấn ra khó khăn nhất trong khâu kĩ thuật ở làng Bát Tràng. Người ta dùng gạch chịu lửa bịt cửa lò lại rồi nhóm lò bằng củi. Lửa cháy bén vào than và bốc từ dưới lên. Than trong lò cháy hết cũng là lúc kết thúc công việc đốt lò. Thời gian đốt lò kể từ lúc nhóm lửa đến khi hoàn toàn tắt lửa kéo dài khoảng 3 ngày 3 đêm. Sau khi lò nguội, sản phẩm ra lò được đánh giá phân loại và sửa chữa lại các khuyết tật (nếu có thể được) trước khi đem ra phân phối sử dụng. == Những đặc điểm của gốm Bát Tràng == Căn cứ vào những đặc điểm chung về xương gốm, màu men, đề tài trang trí và đặc biệt nhờ các dòng minh văn, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của gốm cổ Bát Tràng. === Loại hình === Hầu hết, đồ gốm Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ rệt tài năng sáng tạo của người thợ lưu truyền qua nhiều thế hệ. Do tính chất của các nguồn nguyên liệu tạo cốt gốm và việc tạo dáng đều làm bằng tay trên bàn xoay, cùng với việc sử dụng các loại men khai thác trong nước theo kinh nghiệm nên đồ gốm Bát Tràng có nét riêng là cốt đầy, chắc và khá nặng, lớp men trắng thường ngả màu ngà, đục. Bát Tràng cũng là làng gốm có các dòng men riêng từ loại men ngọc cùng với nâu và trắng cho đến men rạn với cốt gốm xốp có màu xám nâu. Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia loại hình của đồ gốm Bát Tràng như sau: Đồ gốm gia dụng: Bao gồm các loại đĩa, chậu hoa, âu, thạp, ang, bát, chén, khay trà, ấm, điếu, nậm rượu, bình vôi, bình, lọ, choé và hũ. Đồ gốm dùng làm đồ thờ cúng: Bao gồm các loại chân đèn, chân nến, lư hương, đỉnh, đài thờ, mâm gốm và kiếm. Trong đó, chân đèn, lư hương và đỉnh là những sản phẩm có giá trị đối với các nhà sưu tầm đương đại vì lẽ trên nhiều chiếc có minh văn cho biết rõ họ tên tác giả, quê quán và năm tháng chế tạo, nhiều chiếc còn ghi khắc cả họ và tên của những người đặt hàng. Đó là một nét đặc biệt trong đồ gốm Bát tràng. Đồ trang trí: Bao gồm mô hình nhà, long đình, các loại tượng như tượng nghê, tượng ngựa, tượng Di Lặc, tượng Kim Cương, tượng hổ, tượng voi, tượng người ba đầu, tượng đầu khỉ mình rắn và tượng rồng. === Trang trí === Thế kỉ 14–15: Hình thức trang trí trên gốm Bát Tràng bao gồm các kiểu như khắc chìm, tô men nâu theo kĩ thuật gốm hoa nâu thời Lý–Trần, kết hợp với chạm nổi và vẽ men lam. Khoảng thời gian này đánh dấu sự ra đời của dòng gốm hoa lam đồng thời xuất hiện những đồ gốm hoa nâu vẽ theo gốm hoa lam. Đề tài trang trí còn giới hạn trong các đồ án hoa lá, tiếp nối gốm hoa nâu thời Trần. Thế kỉ 16, cùng với việc xuất hiện những chân đèn, lư hương có kích thước lớn hơn, kĩ thuật trang trí chạm nổi kết hợp vẽ men lam đạt đến trình độ tinh xảo. Đề tài trang trí phổ biến có các loại: rồng, phượng, xen kẽ cụm mây, ngựa có cánh, hoạt cảnh người, cánh sen đứng, hoa dây, lá đề, phong cảnh sơn thuỷ... Trang trí vẽ men lam còn giữ được nhịp độ phát triển, nhiều loại văn hình học và hoa lá còn thấy gần gũi với đồ gốm hoa lam xuất hiện cùng thời ở Chu Đậu, (Hải Dương). Thế kỉ 17, kĩ thuật chạm khắc, đắp nổi trên gốm Bát Tràng càng tinh tế, cầu kì, gần gũi với chạm đá và gỗ. Đề tài trang trí tiếp nối thế kỉ 16, đồng thời xuất hiện các đề tài trang trí mới: bộ tứ linh, hổ phù, nghê, hạc... Những đề tài chạm nổi, để mộc điển hình khác như bông cúc hình ôvan, bông hoa 8 cánh, bông cúc tròn, cánh hoa hình lá đề, cánh sen vuông, các chữ Vạn-Thọ (chữ Hán)... Việc sử dụng men lam kém dần, tuy đề tài trang trí vẽ tương đồng với chạm nổi. Thế kỉ 17 xuất hiện dòng gốm men rạn với sự kết hợp trang trí đề tài nổi bật như rồng, tứ linh, hoa lá, cúc-trúc-mai. Trong khoảng thời gian này còn xuất hiện loại gốm nhiều màu, nổi trội nhất là màu ngọc với các đề tài trang trí độc đáo: hoa sen, chim, nghê, hình người... Thế kỉ 18, trang trí chạm nổi gần như chiếm chủ đạo thay thế hẳn trang trí vẽ men lam trên gốm Bát Tràng. Các kỹ thuật đúc nổi, dán ghép, chạm khắc nổi đã thích ứng với việc sử dụng men đơn sắc (men trắng xám và men rạn). Đề tài trang trí ngoài bộ tứ linh, rồng, nghê còn thể hiện các loài cây tượng trưng cho bốn mùa. Ngoài đề tài sen, trúc, chim và hoa lá còn thấy xuất hiện các loại văn bát quái, lá lật... Hoa văn đường diềm phát triển manh các nền gấm, chữ vạn, cánh sen nhọn, hồi văn, sóng nước... Thế kỉ 19, gốm hoa lam Bát Tràng phục hồi và phát triển phong cách kết hợp sử dụng nhiều loại men vào trang trí. Bên cạnh các đề tài đã có, Bát Tràng còn xuất hiện thêm các đề tài du nhập từ nước ngoài theo các điển tích Trung Quốc như Ngư ông đắc lợi, Tô Vũ chăn dê, Bát tiên quá Hải, Ngư ông kéo lưới... Đối với các nhà khảo cổ, các nhà sưu tầm đổ cổ và các nhà nghiên cứu mỹ thuật, chủ đề rồng thể hiện qua các thời kì được nhiều người quan tâm nhất vì nó có những sự thay đổi đáng kể. Rồng là đề tài thường được trang trí trên nhiều loại hình, đặc biệt trên chân đèn và lư hương. Thế kỉ 16, rồng được đắp nổi hoặc để mộc như trên đồ gốm thời Nguyên (Trung Quốc) hay vẽ men lam, rồng có đôi cánh mọc ra từ chân trước, cong như cánh bướm. Rồng cùng với phượng mở ra cấu trúc trang trí rồng bay phượng múa. Đầu thế kỉ 17, rồng vẫn giữ nhiều nét tương đồng rồng thế kỉ 16, nhưng sau đó được cách điệu với 4 khúc không đều nhau, mở ra một kiểu rồng mới, khác lạ. Rồng bố cục theo chiều ngang, dáng rồng ngắn, thân uốn hình cánh cung, tay trước nắm râu. Rồng chạm nổi trong hình khánh hay thấu kính có thân nhỏ và đều có những dải mấy lửa kiểu đao mác. Nửa sau thế kỉ 17 lại xuất hiện dáng rồng gần gũi với rồng điêu khắc trên gỗ. Đuôi rồng từ bên trái trườn qua bên phải, đầu quay vào giữa. Mặt rồng tả chính diện, tay trước nắm râu. Xung quanh rồng có nhiều dải mây nổi vẽ men lam. Một kiểu rồng nữa được thể hiện trên lư hương, đế nghê, mô hình nhà là rồng nổi, đuôi vút lên trên, hai chân trước chống, đầu uốn lên, bố cục trong hình chữ nhật. Thế kỉ 18, rồng thân dài, đắp nổi theo dạng phù điêu, đầu nghiêng, hai mắt lồi, sừng và râu cong, bờm gáy dày, vây cá nhọn, vảy rắn, xung quanh rồng có những dải mây nổi hình 3 ngọn lửa. Sau đó, rồng ổ xuất hiện bao gồm một rồng mẹ và 6 rồng con, xen kẽ các dải mây hình khánh. Rồng được thể hiện trên bình con voi, lư hương hoặc trên bao kiếm thờ...Với rồng đắp nổi, chỉ thể hiện đầu rồng chính diện, hai chân trước dang rộng, lộ mũi hẹp, mắt lồi, miệng ngậm vòng tròn hay chữ Thọ kiểu triện còn được thể hiện trên những chiếc đỉnh. Thế kỉ 19, rồng lại được thể hiện theo phong cách tượng tròn với thân ngắn, mình tròn, đầu rồng có miệng rộng, mũi cao, vây cá, vảy tròn và được trang trí theo kiểu đắp nổi hoặc vẽ men lam trên đỉnh gốm hoặc trên bình men rạn vẽ nhiều màu. Ngoài ra, còn có đầu rồng với mặt nhìn chính diện, hai chân xoè ngang năm hai dải mây, miệng ngậm vòng... === Các dòng men === Gốm Bát Tràng có 5 dòng men đặc trưng được thể hiện qua mỗi thời kì khác nhau để tạo nên những sản phẩm đặc trưng khác nhau: men lam xuất hiện khởi đầu ở Bát Tràng với những đồ gốm có sắc xanh chì đến đen sẫm; men nâu thể hiện theo phong cách truyền thống và được vẽ theo kĩ thuật men lam; men trắng ngà sử dụng trên nhiều loại hình đồ gốm từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 19, men này mỏng, màu vàng ngà, bóng thích hợp với các trang trí nổi tỉ mỉ; men ngọc được dùng kết hợp với men trắng ngà và nâu tạo ra một đòng Tam thái rất riêng của Bát Tràng ở thế kỉ 16–17 và men rạn là dòng men chỉ xuất hiện tại Bát Tràng từ cuối thế kỉ 16 và phát triển liên tục qua các thế kỉ 17–19. ==== Men lam ==== Đây là loại men sớm nhất được sử dụng tại Bát Tràng từ thế kỉ 14. Men lam là men gốm được cộng thêm với gốc màu là ôxít côban. Thợ Bát Tràng sử dụng men lam đồng thời với kĩ thuật dùng bút lông làm công cụ vẽ trên đồ gốm. Men lam không để để trần như men nâu mà bao giờ cũng được phủ lớp men màu trắng bóng, có độ thuỷ tinh hoá cao sau khi nung. Men lam có sắc độ từ xanh chì đến xanh sẫm. Bên cạnh điểm tương đồng với các loại bình gốm hoa lam sản xuất ở lò Chu Đậu (Hải Dương), gốm hoa lam Bát Tràng ngay ở thời kì đầu đã có những nét riêng về dáng và về hoạ tiết trang trí. Những bát, âu, lọ, chân đèn gốm hoa lam của Bát Tràng thế kỉ 14–15 có nét chung dễ nhận là lối vẽ phóng bút, dù là vẽ phong cảnh, hoa dây lá hay vẽ rồng. Gốm hoa lam Bát Tràng thế kỉ 16, có sắc xanh đen. Men lam dùng để vẽ mây kết hợp với trang trí hình rồng nổi để mộc, vẽ cánh sen, các băng đường diềm các cặp chân đèn ngoài ra men lam dùng vẽ vào các hình trang trí nổi rồng, hoa dây và cánh sen của chân đèn và lư hương. Thế kỉ 17 là một thời kì men lam kém phát triển tại Bát Tràng. Trên một số các chân đèn, lư hương, hũ, tượng gốm Bát Tràng (thế kỉ 17) hiện còn, lớp men vẽ trang trí màu nâu ở những chỗ men phủ màu trắng ngà rạn bị bong tróc, chỗ còn men phủ, màu nâu có sắc xanh chì, đặc biệt là chân đèn và lư hương, các hình vẽ men lam kém chau chuốt và tình trạng khá phổ biến men lam chảy nhoè, không nhận ra các họa tiết. Trong khi đó khắc chạm nổi, để mộc rất tỉ mỉ, đạt tới đỉnh cao. Cuối thế kỉ 18, trong đỉnh cao về men rạn, Bát Tràng xuất hiện lối kết hợp trang trí nổi với vẽ lam như trên chân đèn, men lam được khôi phục trở lại trên đồ gốm Bát Tràng. Thế kỉ 19, men lam được vẽ trang trí trên lư, choé, bình, lọ, bát hương, nậm rượn phủ men rạn trắng ngà hoặc đỉnh gốm, bình gốm men nhiều màu. Nét biểu hiện đặc trưng của men lam gốm Bát Tràng là sắc màu và lối vẽ, nhìn chung có sắc trầm. Dùng men lam vẽ phong cảnh sơn thủy, nhà cửa, lâu đài, nhân vật khá thành công trên bình. Men lam có sắc tươi dùng tô vẽ trang trí nồi trên đỉnh có thể là một trong số những tiêu bản gốm hoa lam đẹp nhất của gốm Bát Tràng ở cuối thế kỉ 19. Trong xu hướng ảnh hưởng kiểu dáng, đề tài và cạnh tranh thị trường với gốm sứ Trung Quốc, đồ gốm Bát Tràng ở thế kỉ 19 còn có nhiều trường hợp dùng nhiều màu men. Chẳng hạn, để thể hiện đê tài Bát Tiên quá hải người thợ Bát Tràng dùng men nâu và men lam tô lên các hình trang trí nồi sau đó phủ men trắng rạn. Men lam cùng với men trắng vẽ các đề tài mã liễu, tiêu tượng, tùng lộc trên lư gốm men nâu, men lam vẽ cành liễu, khóm lan, bụi cỏ trong bức tranh nổi Tô Vũ chăn dê, men lam cùng với men nâu sắc sẫm và nhạt tạo nên chiếc đỉnh gốm men nhiều màu đồ sộ. Đó cũng là bằng chứng sinh động về bàn tay tài khéo của nhiều đời thợ gốm Bát Tràng được kế thừa và không ngừng tiến triển. ==== Men nâu ==== Một trong số các loại men sử dụng đầu tiên ở Bát Tràng là men nâu, sắc độ màu của men phụ thuộc nhiều vào xương gốm (xương gốm Bát tràng dày và thường có màu nâu xám). Trên các đồ gốm có niên đại thế kỉ 14 đầu thế kỉ 15, men nâu được dùng tô lên các đồ án trang trí kết hợp với men nền màu trắng ngà bao gồm chân đèn, thạp, chậu, âu, đĩa...Men nâu có sắc độ đỏ nâu hay gọi là màu bã trầu (chocolate), men này không bóng, trên bề mặt men thường có vết sần. Men nâu còn được dùng phủ toàn bộ rồi cạo bỏ phần men tạo thành đồ án hoa văn mộc. Thế kỉ 14, thợ gốm Bát Tràng đã biết hạn chế sự ảnh hưởng màu men nâu do mộc bằng cách vẽ men nâu trên lớp men trắng ngà để chuyển men nâu đỏ sang vàng nâu. Trong các loại hình của nhóm đồ gốm men nhiều mâu thế kỉ 16–17, men nâu được dùng xen lẫn với men ngọc, men ngà, tạo ra các sắc độ khác nhau. Men nâu giữ vị trí các đường chỉ chia băng, tô lên hoa sen hoặc các hình rồng, đối với lư hương chữ nhật men nâu tô lên phần chân đế... Các đồ gốm thế kỉ 18 tiếp tục sử dụng men nâu nhiều theo cách thức cổ truyền, một số nghệ nhân tìm tòi phát huy thêm để làm phong phú màu men này, đặc biệt trên cặp tượng hổ chế tạo khoảng năm 1740, men nâu dưới lớp men rạn tạo nên bộ da hổ có màu sắc đa dạng hơn. Thế kỉ 19, men nâu dùng làm nền cho các trang trí men trắng và xanh. Những bình, lọ men rạn ngà, thể hiện đề tài trang trí: Ngư ông đắc lợi, tùng hạc, Tô Vũ chăn dê, Bát tiên quá hải... men nâu dùng để tô trên những thân cây tùng, cây liễu hoặc điểm thêm vào các dải mây, tà áo của Bát tiên. Thế kỉ 19 là thời điểm đánh dấu men nâu đã chuyển sắc thành một loại men bóng (thường gọi là men da lươn), sử dụng rộng rãi ở Bát Tràng cho tới tận ngày nay. ==== Men trắng (ngà) ==== Đây là loại men trắng, nhiều trường hợp ngả màu vàng ngà, bóng khi nhiệt độ nung đạt độ cao nhưng cũng nhiều trường hợp có màu trắng xám, trắng sữa, đục. Cùng với kiểu dáng và trang trí, men trắng ngà cũng tạo nên một nét riêng biệt của đồ gốm Bát Tràng. Men trắng ngà đã thấy sử dụng phủ lên trang trí men lam hay men nâu, nhưng trong rất nhiều đồ gốm Bát Tràng chỉ thấy dùng men trắng ngà. Gốm Bát Tràng thế kỉ 17 đạt đỉnh cao trong kĩ thuật trang trí nổi với hầu hết các thủ pháp kĩ thuật chạm trổ, dán ghép. Men trắng ngà được sử dụng trên các lư hương để phủ trên các rìa, ước và đường viền ngoài phần trang trí nổi, rất ít khi phủ lên hình trang trí. Vì men trắng mỏng, xương gốm được lọc luyện kĩ và độ nung cao nên có chất lượng tốt, một số sản phẩm men trắng ngà phủ lên trang trí nổi dày vẫn có vết rạn men. Thế kỉ 18, men trắng ngà còn thấy sử dụng trên một số loại hình khác nhau cùng trang trí nổi để mộc. Những lư hương tròn được đắp nổi hình rồng và mặt nguyệt, phần còn lại phủ men trắng ngà. Vào thế kỉ 19, gốm Bát Tràng chưa mất hẳn kiểu trang trí nổi để mộc, men ngà còn thấy sử dụng trên các loại bình, lọ, lư hương, tượng tròn. Bình gốm có nắp có các hình rồng mây và lục bảo trang trí nổi để mộc, phần còn lại phủ men trắng ngà. Trên các loại bình, lư hương quai tùng, lư hương chữ Thọ; cặp tượng đầu khỉ thân rắn, tượng rồng trang trí kiến trúc, tượng ba đầu, tượng Phật Bà Quan Âm ngồi trên toà sen đều thấy sử dụng men ngà, xám. ==== Men ngọc ==== Thế kỉ 14–19 men ngọc được dùng khá nổi trội cùng với men trắng ngà và nâu. Men ngọc, men ngà và nâu tạo ra loại Tam thái riêng của gốm Bát Tràng thế kỉ 16–17. Trên chân đèn men ngọc tô lên những bông sen nổi, băng hoa tròn của dải cánh sen các bông hoa tròn hình bánh xe, các hình rồng, các bông hoa nổi đường diềm quanh vai. Men ngọc còn dùng vẽ mây, tô lên nhiều góc mảng diềm, đế và các cột dọc của long đình; men rêu sắc sẫm ở các cột vuông mô hình nhà 2 tầng hay một số mảng đường diềm lư hương chữ nhật. Men ngọc, sắc nhạt, trên chân đèn, đế nghê. Trên lư hương tròn men ngọc thấy điểm vào 4 hình chữ S nổi giữa thân và chân cùng một đôi chỗ trên bụng. Men ngọc sắc sẫm còn thấy tô trên một số mảng trang trí nổi, hình nghê của lư tròn và trên diềm trang trí nổi chân trước tượng nghê. Men ngọc, dù ở các sắc độ khác nhau nhưng sự xuất hiện của nó mang ý nghĩa rất lớn vì chỉ thấy trên đồ gốm Bát Tràng thế kỉ 16–17 và có thể xem đây là một dữ kiện đoán định niên đại khá chắc chắn cho các đồ gốm Bát Tràng trên nhiều loại hình khác nhau. ==== Men rạn ==== Đây là một loại men độc đáo tạo ra do sự chênh lệch về độ co giữa xương gốm và men. Cho đến nay các tài liệu gốm men cổ ở Việt Nam xác nhận mang men rạn chỉ được sản xuất tại lò gốm Bát Tràng từ khoảng cuối thế kỉ 16 và kéo dài tới đầu thế kỉ 20. Lư hương khắc minh văn, do gia đình Đỗ Phủ sản xuất vào cuối thế kỉ 16 thể hiện lớp men rạn trên 2 phần dưới của lư hương tròn có thể xem là tiêu bản gốm men rạn sớm nhất. Men rạn có sắc ngà xám các vết rạn chạy dọc và ngang chia ra nhiều hình tam giác, tứ giác. Cặp chân đèn do "Đỗ phủ xã Bát Tràng" tạo tạo khoảng năm 1600–1618, trong đó men rạn phủ toàn bộ từ miệng tới chân, có màu vàng ngà, rạn trong men, đường chỉ rạn màu đen. Những cặp hiện vật men rạn này rêu có trang trí nổi, ngoài men rạn ra không còn loại men nào khác, đó là những tiêu bản men rạn chuẩn mực của Bát Tràng vào thế kỉ 17. Thế kỉ 18 Bát Tràng còn sản xuất nhiều đồ gốm men rạn có ghi niên đại. Đỉnh gốm men rạn chế tạo năm 1736, men rạn có màu trắng xám. Một đỉnh gốm men rạn khác, có nắp, thân và đế, chế tạo vào khoảng năm 1740–1768 lại dùng men rạn có màu vàng ngà... Men rạn còn được sù dụng trên các loại hình: chân nến trúc hoá long; ấm có nắp, đài thờ các nắp, cặp tượng nghê. Thế kỉ 19, các đồ gốm dòng men rạn còn tiếp tục phát triển, bên cạnh việc sử dụng kết hợp men rạn với trang trí vẽ lam. Trên các đồ gốm, thợ Bát Tràng còn đắp nổi, khắc chìm hoặc không trang trí, men rạn có màu trắng xám. === Minh văn === Gốm Bát Tràng nhiều trường hợp có minh văn, thể hiện bằng khắc chìm hay viết bằng men lam dưới men trắng. Một số minh văn cho biết rõ năm sản xuất, họ tên quê quán tác giả chế tạo cùng họ tên, có khi là cả chức tước của người đặt hàng. Thế kỉ 15, một minh văn khắc trên phần dưới chân đèn có ghi: Thuận An phủ, Gia Lâm huyện, Bát Tràng xã tín thí Hoàng Li tỉnh thê Nguyễn Thị Bảo. Trên đai tô nâu giũa phần dưới chân đèn có viết bằng men 6 chữ Hán: Thời Trung xã, Hoàng Phúc tạo. Hoặc cặp phần dưới chân đèn minh văn cho biết: Tác giả: Vũ Ngộ Trên, Bùi Thị Đỗ, Hoàng Thị Vệ, Bùi Huệ, và Trần Thị Ngọ; Thời gian chế tạo: niên hiệu Diên Thành. Có minh văn ghi rõ người đặt hàng như cặp chân đèn hai phần: Người đặt hàng: Lê Thị Lộc, ở Vân Hoạch, Xuân Canh huyện Đông Ngạn. Thời gian chế tạo: Năm Diên Thành thứ 2. Một cặp chân đèn khác có khắc minh văn dài, một bên khắc 3 dòng và một bên 14 dòng, cho biết: Tác giả: Bùi Huệ và Bùi Thị Đỗ; thời gian chế tạo: ngày 25 tháng 11 năm Diên Thành thứ 3; những người đặt hàng: gia đình họ Lưu cùng họ Nguyễn, Lê, Đinh... Trong đớ, họ Lưu, tước Ninh Dương Bá, làm việc ở Thanh Tây vệ, Ti Đô chỉ huy sứ, Đô chỉ huy kiểm sự. Quê quán nhà họ Lưu: xã Lai Xá, huyện Đan Phượng, Phủ Quốc Oai... Và còn rất nhiều sản phẩm có ghi minh văn, những sản phẩm này một số đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, một số tại các bảo tàng nước ngoài, một số hiện được sở hữu bởi các nhà sưu tầm đồ cổ, một số lưu lạc trong dân gian và một số còn chìm sâu trong lòng đất. == Hình ảnh sản phẩm == == Chú thích == == Tham khảo == Gốm Bát Tràng thế kỉ 14–19. Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc. == Xem thêm == Gốm Chu Đậu Gốm Phù Lãng Đình Bát Tràng Đền Bát Tràng Kim Trúc Tự - Chùa Bát Tràng Xã Bát Tràng == Liên kết ngoài == Gốm sứ Bát Tràng trên đất Nhật Nghệ nhân Bát Tràng "biến đất thành hoa" Thăm chợ gốm Bát Tràng Một ngày với Bát Tràng Gốm Bát Tràng ra thị trường thế giới Tài liệu nghiên cứu Gốm Sứ Việt Nam
cộng đồng các quốc gia độc lập.txt
Cộng đồng các Quốc gia Độc lập là các quốc gia thành viên cũ của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết, đã lần lượt tách ra để trở thành các nước độc lập sau khi toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa châu Âu sụp đổ vào năm 1990. Các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ mặc dù đã tuyên bố độc lập nhưng vẫn có nhu cầu phối hợp hoạt động cùng nhau trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, chính sách đối ngoại… == Viết tắt == Một số tài liệu thường dùng cách viết tắt SNG (tiếng Nga: Содружество Независимых Государств, viết tắt: СНГ, chuyển tự sang tiếng La Tinh thành Sodruzhestvo Nezavisimykh Gosudarstv) hay CIS (tiếng Anh: Commonwealth of Independent States) để chỉ Cộng đồng các Quốc gia Độc lập này. == Lịch sử == Tổ chức được thành lập vào ngày 8 tháng 12 năm 1991 bởi các quốc gia Belarus, Nga, và Ukraina, khi các nhà lãnh đạo của ba quốc gia này họp tại Khu dự trữ tự nhiên Belovezhskaya Pushcha, cách khoảng 50 km (31 mi) về phía bắc của Brest thuộc Belarus và ký kết "Hiệp định thành lập Cộng đồng các Quốc gia độc lập", được gọi là Hiệp định Sáng lập (tiếng Nga: Соглашение, Soglasheniye), vào lúc giải thể Liên Xô và lập SNG làm một thực thể để kế thừa. Đồng thời, họ tuyên bố rằng liên minh mới sẽ mở cửa với toàn bộ các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, và cho các quốc gia khác có cùng các mục tiêu tương tự. Hiến chương SNG tuyên bố rằng toàn bộ thành viên là các quốc gia có chủ quyền và độc lập và do đó thủ tiêu Liên Xô trên thực tế. Ngày 21 tháng 12 năm 1991, các nhà lãnh đạo của tám cựu cộng hòa Xô viết khác là Armenia, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Turkmenistan, Tajikistan, và Uzbekistan – ký kết Nghị định thư Alma-Ata để mở rộng SNG bao gồm các quốc gia này, số quốc gia tham dự tổ chức do vậy tăng lên thành 11. Gruzia và Ukraina gia nhập hai năm sau đó, trong tháng 12 năm 1993. Đến lúc này, có 12 cựu cộng hòa Xô viết tham dự SNG, ba quốc gia Baltic không tham dự và gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 2004. Từ năm 2003 đến năm 2005, ba quốc gia thành viên SNG trải qua thay đổi chính phủ trong một loạt cách mạng sắc màu: Eduard Shevardnadze bị lật đổ tại Gruzia; Viktor Yushchenko đắc cử tại Ukraina; và Askar Akayev bị lật đổ tại Kyrgyzstan. Trong tháng 2 năm 2006, Gruzia rút khỏi Hội đồng Bộ trưởng Quốc phòng, với tuyên bố rằng "Gruzia đi theo hướng gia nhập NATO và không thể đồng thời là bộ phận của hai cấu trúc quân sự", song quốc gia này duy trì là một thành viên đầy đủ của SNG cho đến tháng 8 năm 2009, tức một năm sau khi chính thức rút ra ngay sau Chiến tranh Nga-Gruzia. Đến tháng 3 năm 2007, Tổng thư ký Hội đồng An ninh Nga Igor Ivanov bày tỏ nghi ngờ của mình về tính hữu ích của SNG, nhấn mạnh rằng Cộng đồng Kinh tế Á Âu đang trở thành một tổ chức có khả năng hơn nhằm thống nhất các quốc gia lớn nhất trong SNG. Sau khi Gruzia rút ra, các tổng thống của Uzbekistan, Tajikistan, và Turkmenistan bỏ hội nghị tháng 10 năm 2009 của SNG, đều vì các vấn đề nội bộ và bất đồng với Liên bang Nga. Tháng 5 năm 2009, Armenia, Azerbaijan, Belarus, Gruzia, Moldova, và Ukraina gia nhập Quan hệ Đối tác Phương Đông, một kế hoạch do Liên minh châu Âu đề xướng. == Thành viên == Cộng đồng các Quốc gia Độc lập có 9 quốc gia thành viên đầy đủ. Hiệp định Sáng lập vẫn là văn kiện hợp thành chủ yếu của SNG cho đến tháng 1 năm 1993, khi Hiến chương SNG (tiếng Nga: Устав, Ustav) được thông qua. Hiến chương chính thức hóa khái niệm quyền thành viên: một quốc gia thành viên được định nghĩa là một quốc gia phê chuẩn Hiến chương SNG (khoản 2, điều 7). Turkmenistan không phê chuẩn hiến chương và thay đổi vị thế trong SNG của bản thân sang thành viên liên kết vào ngày 26 tháng 8 năm 2005 nhằm phù hợp với tình trạng trung lập quốc tế được Liên Hiệp Quốc công nhận của mình. Mặc dù Ukraina là một thành viên sáng lập và phê chuẩn Hiệp định Sáng lập trong tháng 12 năm 1991, song quốc gia này lựa chọn không phê chuẩn Hiến chương SNG do bất đồng với Nga về việc liên bang này là quốc gia kế thừa hợp pháp duy nhất của Liên Xô. Do đó, Ukraina không tự xem mình như một thành viên của SNG. Năm 1993, Ukraina trở thành một "thành viên liên kết" của SNG. Tháng 9 năm 2015, Bộ Ngoại giao Ukraina xác nhận Ukraina sẽ tiếp tục là bộ phận trong SNG "trên cơ sở có chọn lọc". Kể từ tháng đó, Ukraina không có đại biểu trong tòa nhà Ủy ban Chấp hành SNG. Trong bối cảnh Nga ủng hộ cho các khu vực ly khai tại Moldova, Gruzia, và Ukraina, cũng như vi phạm Hiệp định Istanbul, các sáng kiến lập pháp nhằm bác bỏ hiệp định sáng lập SNG được đệ trình lên Nghị viện Moldova vào ngày 25 tháng 3 năm 2014, song chúng không được phê chuẩn. === Quốc gia thành viên === === Quốc gia liên kết === === Cựu thành viên === == Lãnh đạo == === Thư ký chấp hành === == Nhân quyền == Kể từ khi bắt đầu, một trong các mục tiêu chủ yếu của SNG là tạo một diễn đàn để thảo luận các vấn đề liên quan đến phát triển xã hội và kinh tế của các quốc gia mới độc lập. Nhằm đạt được mục tiêu này, các quốc gia thành viên chấp thuận xúc tiến và bảo vệ nhân quyền. Các nỗ lực ban đầu nhằm đạt được mục tiêu này chỉ gồm các tuyên bố thiện chí, song vào ngày 26 tháng 5 năm 1995, SNG thông qua một Công ước SNG về Nhân quyền và các quyền Tự do cơ bản. Thậm chí từ trước hiệp ước nhân quyền 1995, theo điều 33 của Hiến chương SNG được thông qua vào năm 1991, sẽ lập một Ủy ban Nhân quyền được đặt tại Minsk, Belarus. Điều này được xác nhận theo quyết định của Hội đồng các Nguyên thủ quốc gia SNG vào năm 1993. Năm 1995, SNG thông qua một hiệp ước nhân quyền gồm các quyền dân sự và chính trị cũng như xã hội và kinh tế. Hiệp ước này có hiệu lực vào năm 1998. Hiệp ước SNG theo mô hình của Công ước châu Âu về Nhân quyền, song thiếu các cơ chế thi hành mạnh. Trong Hiệp định SNG, Ủy ban Nhân quyền có quyền lực được xác định mơ hồ. Tuy nhiên, Quy chế Ủy ban Nhân quyền, cũng được các quốc gia thành viên SNG thông qua, trao cho Ủy ban quyền giao thiệp liên quốc gia cũng như cá nhân. Các thành viên của SNG, đặc biệt là tại Trung Á, tiếp tục nằm trong số quốc gia có hồ sơ nhân quyền tệ nhất thế giới. Nhiều nhà hoạt động chỉ ra thảm sát Andijan 2005 tại Uzbekistan, hay sùng bái cá nhân Tổng thống Gurbanguly Berdimuhamedow của Turkmenistan, để thể hiện rằng hầu như không có cải thiện về nhân quyền tại Trung Á kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Việc Tổng thống Vladimir Putin củng cố quyền lực dẫn đến suy giảm dần quá trình cải thiện nhân quyền khiêm tốn trong những năm trước tại Nga. Cộng đồng các Quốc gia Độc tiếp tục đối diện với các thách thức nghiêm trong để đáp ứng ngay cả các tiêu chuẩn quốc tế cơ bản. == Cấu trúc quân sự == Hiến chương SNG thiết lập Hội đồng Bộ trưởng Quốc phòng, được trao trách nhiệm điều phối hợp tác quân sự với các quốc gia thành viên SNG. Hội đồng phát triển các tiếp cận có khái niệm đối với các vấn đề quân sự và chính sách phòng thủ của các quốc gia thành viên SNG; phát triển các đề xuất nhằm ngăn ngừa xung đột vũ trang trên lãnh thổ các quốc gia thành viên hoặc với sự tham gia của họ; đưa ra các quan điểm chuyên môn về soạn thảo các hiệp định và thỏa thuận liên quan đến vấn đề phòng thủ và quân sự; các vần đề liên quan đến đề nghị và đề xuất chú ý lên Hội đồng Nguyên thủ quốc gia. Một công việc cũng quan trọng của Hội đồng là theo sát các hành động pháp luật trong khu vực về phát triển phòng thủ và quân sự. Một biểu thị quan trọng của quá trình hội nhập trong lĩnh vực hợp tác quân sự và phòng thủ của các quốc gia thành viên SNG là tạo ra Hệ thống Phòng thủ hàng không SNG chung vào năm 1995. Trong nhiều năm, các quân nhân trong Hệ thống phát triển gấp đôi dọc theo biên giới phía tây, biên giới châu Âu của SNG, và gấp 1,5 lần tại biên giới phía nam. Khi Boris Yeltsin trở thành Bộ trưởng Quốc phòng Nga vào ngày 7 tháng 5 năm 1992, nhân vật được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh Quân đội SNG là Yevgeny Shaposhnikov cùng nhân viên của mình bị đẩy khỏi tòa nhà Bộ Quốc phòng và Tổng tư lệnh và được trao cho văn phòng tại trụ sở cũ của Khối Warszawa tại 41 Leningradsky Prospekt on the northern outskirts of Moscow. Shaposhnikov từ chức vào tháng 6 năm 1993. Trong tháng 12 năm 1993, trụ sở quân đội SNG bị bãi bỏ. Thay vào đó, 'Hội đồng Bộ trưởng Quốc phòng SNG lập một trụ sở hợp tác phối hợp quân sự SNG (MCCH) tại Moskva, với 50% kinh phí do Nga cung cấp.' Tướng Viktor Samsonov được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh. Trụ sở nay chuyển về 101000, Москва, Сверчков переулок, 3/2, và 41 Leningradsky Prospekt do các cơ quan khác của Bộ Quốc phòng Nga tiếp quản. Các tổng tư lệnh thành viên SNG từng phát biểu ủng hộ hợp nhất quân đội quốc gia của họ. == Các tổ chức liên kết == === Khu vực mậu dịch tự do (CISFTA) === Năm 1994, các quốc gia thành viên SNG "đồng ý" thành lập một khu vực mậu dịch tự do (FTA), song họ chưa từng ký kết các hiệp định. Hiệp định năm 1994 bao gồm các thành viên SNG ngoại trừ Turkmenistan. Năm 2009, một hiệp định mới được khởi động để hình thành Khu vực Mậu dịch tự do Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CISFTA). Tháng 10 năm 2011, hiệp định mậu dịch tự do mới được ký kết giữa tám trong 11 thủ tướng của SNG; Armenia, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Nga, Tajikistan, và Ukraina trong một hội nghị tại St. Petersburg. Tính đến năm 2013, hiệp định được Ukraina, Nga, Belarus, Moldova, và Armenia phê chuẩn, và chỉ có hiệu lực giữa các quốc gia này. Hiệp định mậu dịch tự do loại bỏ thuế xuất nhập khẩu trong một số mặt hàng song cũng bao gồm một số ngoại lệ và được loại trừ trong tương lai. Một hiệp định cũng được ký kết dựa trên các nguyên tắc cơ bản về quản lý tiền tệ và kiểm soát tiền tệ trong SNG cũng trong hội nghị tháng 10 năm 2011. Tham nhũng và quan liêu là các vấn đề nghiêm trọng đối với mậu dịch trong các quốc gia SNG. === Cộng đồng Kinh tế Á-Âu === Cộng đồng Kinh tế Á-Âu (EurAsEC hay EAEC) bắt nguồn từ một liên minh thuế quan giữa Belarus, Nga và Kazakhstan vào ngày 29 tháng 3 năm 1996. It was named the EAEC on 10 October 2000 khi Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Nga, và Tajikistan ký kết hiệp ước. EurAsEC chính thức hình thành khi được toàn bộ năm quốc gia thành viên phê chuẩn vào tháng 5 năm 2001. Armenia, Moldova và Ukraina] giữ vị thế quan sát viên. EurAsEC hoạt động nhằm lập một thị trường năng lượng chung và khai thác sử dụng nước hiệu quả hơn tại Trung Á. === Tổ chức Hợp tác Trung Á === Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan thành lập Tổ chức Hợp tác Trung Á vào năm 1991 với tên gọi ban đầu là Thịnh vượng chung Trung Á (CAC). Đến năm 1994, tổ chức chuyển đổi thành Liên minh Kinh tế Trung Á (CAEU), song Tajikistan và Turkmenistan không tham gia. Năm 1998, tổ chức trở thành Tổ chức Hợp tác Kinh tế Trung Á (CAEC), đánh dấu Tajikistan trở lại. Ngày 28 tháng 2 năm 2002, tổ chức có tên như hiện tại. Nga gia nhập tổ chức vào ngày 28 tháng 5 năm 2004. Ngày 7 tháng 10 năm 2005, các thành viên quyết định rằng Uzbekistan sẽ gia nhập Cộng đồng Kinh tế Á-Âu và rằng các tổ chức sẽ hợp nhất. Các tổ chức hợp nhất vào ngày 25 tháng 1 năm 2006. === Không gian Kinh tế chung === Sau thảo luận về hình thành một không gian kinh tế chung giữa các quốc gia SNG là Nga, Ukraina, Belarus, và Kazakhstan, thỏa thuận trên nguyên tắc về việc thành lập không gian này được công bố sau một hội nghị tại Novo-Ogarevo ngoại ô Moskva vào ngày 23 tháng 2 năm 2003. Không gian kinh tế chung sẽ bao gồm một ủy ban siêu quốc gia về mậu dịch và thuế quan, đặt căn cứ tại Kiev, ban đầu do một đại biểu của Kazakhstan lãnh đạo, và sẽ không lệ thuộc chính phủ của bốn quốc gia. Mục tiêu cuối cùng là một tổ chức khu vực mở cửa cho các quốc gia khác gia nhập, và có thể cuối cùng dẫn đến một tiền tệ duy nhất. Ngày 22 tháng 3 năm 2003, Verkhovna Rada (Quốc hội Ukraina) bỏ phiếu với kết quả 266 ủng hộ và 51 phản đối gia nhập không gian kinh tế chung. Tuy nhiên, hầu hết tin rằng thắng lợi của Viktor Yushchenko trong bầu cử tổng thống Ukraina năm 2004 là một cú đánh mạnh chống dự án: Yushchenko biểu thị khôi phục quan tâm đến quyền thành viên của Ukraina trong Liên minh châu Âu và quyền thành viên như vậy sẽ xung khắc với ý tưởng không gian kinh tế chung. Người kế nhiệm Yushchenko là Viktor Yanukovych phát biểu vào ngày 27 tháng 4 năm 2010 "Việc Ukraina gia nhập Liên minh Thuế quan gồm Nga, Belarus và Kazakhstan hiện nay là không thể, do các nguyên tắc và pháp luật kinh tế của WTO không cho phép điều đó, chúng tôi phát triển chính sách của mình phù hợp với các nguyên tắc của WTO". Ukraina là một thành viên của WTO. Một Liên minh Thuế quan gồm Belarus, Kazakhstan và Nga do đó được thành lập vào năm 2010, với một thị trường chung được dự kiến vào năm 2012. === Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể === Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO) hay gọi đơn giản là Hiệp ước Tashkent bắt đầu với tên gọi Hiệp ước An ninh Tập thể SNG được ký vào ngày 15 tháng 5 năm 1992 bởi Armenia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Nga, Tajikistan và Uzbekistan, tại thành phố Tashkent. Azerbaijan ký kết hiệp ước vào ngày 24 tháng 12 năm 1993, Gruzia ký vào ngày 9 tháng 12 năm 1993 và Belarus ký vào ngày 31 tháng 12 năm 1993. Hiệp ước có hiệu lực vào ngày 20 tháng 4 năm 1994. Hiệp ước An ninh Tập thể được chế định tồn tại trong 5 năm trừ khi được gia hạn. Ngày 2 tháng 4 năm 1999, chỉ có sáu thành viên của hiệp ước ký kết một nghị định thư gia hạn hiệp ước thêm 5 năm nữa, trong khi Azerbaijan, Gruzia và Uzbekistan từ chối ký kết, và rút khỏi hiệp ước; cùng với Moldova và Ukraina, các nước này thành lập một tổ chức không liên kết thân phương Tây và Hoa Kỳ hơn mang tên "GUAM" (Gruzia, Uzbekistan / Ukraina, Azerbaijan, Moldova). Tổ chức mang tên Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể vào ngày 7 tháng 10 năm 2002 tại Tashkent, Nikolai Bordyuzha được bổ nhiệm làm tổng thư ký của tổ chức mới. Năm 2005, các đối tác của Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể tiến hành một số cuộc tập trận chung. Năm 2005, Uzbekistan rút khỏi GUAM, và vào ngày 23 tháng 6 năm 2006, quốc gia này trở thành một bên tham dự đầy đủ của CSTO và quyền thành viên của họ được quốc hội chính thức phê chuẩn vào ngày 28 tháng 3 năm 2008. CSTO là một tổ chức quan sát viên tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Hiến chương tái xác nhận đề nghị toàn bộ các quốc gia thành viên tham gia tránh việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Các bên ký kết sẽ không thể gia nhập các liên minh quân sự khác hay các tổ chức quốc gia khác, trong khi công kích một bên ký kết sẽ được cho là công kích toàn bộ các quốc gia ký kết. CSTO tổ chức tập trận chỉ huy hàng năm cho các quốc gia thành viên để có cơ hội cải thiện hợp tác liên tổ chức. Cuộc tập trận mang tên là "Rubezh 2008" được tổ chức tại Armenia với tổng cộng 4.000 binh sĩ từ toàn bộ 7 quốc gia thành viên. Tháng 5 năm 2007, Tổng thư ký CSTO Nikolai Bordyuzha đề xuất Iran có thể gia nhập CSTO khi phát biểu "CSTO là một tổ chức mở. Nếu Iran nộp đơn phù hợp với hiến chương của chúng tôi, chúng tôi sẽ xem xét đơn." Nếu Iran gia nhập, đây sẽ là quốc gia đầu tiên bên ngoài Liên Xô cũ trở thành một thành viên của tổ chức. Ngày 6 tháng 10 năm 2007, các thành viên CSTO đồng ý mở rộng lớn phạm vi của tổ chức, theo đó lập một lực lượng duy trì hòa bình CSTO có thể triển khai theo ủy thác của Liên Hiệp Quốc hay không phải tại các quốc gia thành viên. Hành động mở rộng sẽ cho phép toàn bộ các thành viên mua vũ khí của Nga với giá như của quân đội Nga mua. CSTO ký kết một hiệp định với Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), tại thủ đô Dushanbe của Tajikistan để mở rộng hợp tác trên các vấn đề như an ninh, tội phạm, và buôn bán ma túy. Ngày 29 tháng 8 năm 2008, Nga tuyên bố sẽ tìm kiếm sự công nhận của CSTO đối với nền độc lập của Abkhazia và Nam Ossetia, ba ngày sau khi Nga chính thức công nhận hai lãnh thổ ly khai này. Tháng 10 năm 2009, Ukraina từ chối cho phép Trung tâm Chống Khủng bố SNG thi hành diễn tập chống khủng bộ trên lãnh thổ của mình do Hiến pháp Ukraina cấm chỉ các đơn vị quân sự ngoại quốc hoạt động trên lãnh thổ quốc gia. Cuộc tập trận lớn nhất từng được CSTO tổ chức cho đến đương thời, với 12.000 binh sĩ tham dự, được tiến hành từ ngày 19 đến ngày 27 tháng 9 năm 2011 nhằm tăng cường sự chuẩn bị sẵng sàng và hợp tác các kỹ thuật dẹp loạn, nhằm chống lại bất kỳ nổ lực khởi nghĩa quần chúng nào như Mùa xuân Ả Rập. == Các hoạt động khác == === Sứ mệnh quan sát bầu cử tranh nghị === Tổ chức Giám sát Bầu cử SNG (tiếng Nga: Миссия наблюдателей от СНГ на выборах) được thành lập trong tháng 10 năm 2002, sau khi các nguyên thủ Cộng đồng các Quốc gia Độc lập họp và thông qua Công ước về các tiêu chuẩn bầu cử dân chủ, quyền bầu cử, và quyền tự do trong các quốc gia thành viên Cộng đồng các Quốc gia Độc lập. SNG-EMO đã cử các quan sát viên bầu cử đến các quốc gia thành viên SNG kể từ đó; họ tán thành nhiều cuộc bầu cử vốn bị các quan sát viên độc lập chỉ trích dữ dội. Bản chất dân chủ trong vòng cuối của bầu cử tổng thống Ukraina, 2004, kéo theo Cách mạng Cam đưa đối lập lên nắm quyền, bị SNG nghi ngờ, trong khi Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) cho rằng không có vấn đề đáng kể. Đây là lần đầu tiên các đội quan sát của SNG thách thức tính pháp lý của một cuộc bầu cử, cho rằng nó có thể được nhận định là bất hợp pháp. Ngày 15 tháng 3 năm 2005, Cơ quan Thông tin Độc lập Ukraina dẫn lời Dmytro Svystkov (phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Ukraina) rằng Ukraina đã đình chỉ tham gia tổ chức giám sát bầu cử SNG. SNG tán dương bầu cử nghị viện Uzbekistan năm 2005 là "hợp pháp, tự do và minh bạch" trong khi OSCE gọi cuộc bầu cử tại Uzbekistan không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ. Nhà cầm quyền Moldova từ chối mời các quan sát viên SNG trong bầu cử nghị viện năm 2005, hành động này bị Nga chỉ trích. Vài chục quan sát viên như vậy từ Belarus và Nga bị chặn nhập cảnh Moldova. Các quan sát viên SNG giám sát bầu cử nghị viện Tajikistan năm 2005 và tuyên bố rằng nó "hợp pháp, tự do và minh bạch." Tuy nhiên OSCE cho rằng cuộc bầu cử không đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ. Các quan sát viên SNG nhận định bầu cử nghị viện Kyrgyzstan năm 2005 là "tổ chức tốt, tự do, và công bằng", trong khi các cuộc tuần hành quy mô lớn và thường mang tính bạo lực bùng phát trên toàn quốc nhằm kháng nghị điều mà phe đối lập gọi là bầu cử gian lận. Trong khi đó, OSCE báo cáo rằng bầu cử không đạt các tiêu chuẩn quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Các quan sát viên thuộc Hội đồng Liên nghị viện SNG cho rằng bầu cử địa phương tại Ukraina năm 2010 được tổ chức tốt. Trong khi Hội đồng châu Âu phát hiện một số vấn đề liên quan đến một luật bầu cử mới được phê chuẩn ngay trước bầu cử và Chính phủ Hoa Kỳ chỉ trích tiến trình bầu cử, cho rằng không "không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính công khai và công bằng". === Hội đồng liên nghị viện === Hội đồng Liên nghị viện SNG được thành lập vào tháng 3 năm 1995, đây là một cánh nghị viện tư vấn của SNG được tạo ra nhằm thảo luận các vấn đề hợp tác nghị viện. Hội đồng tổ chức hội nghị toàn thể lần thứ 32 tại Saint Petersburg vào ngày 14 tháng 5 năm 2009. [Ukraina tham dự, tuy nhiên Uzbekistan không tham dự. === Vị thế của tiếng Nga === Nga xúc tiến tiếng Nga nhận được vị thế chính thức tại toàn bộ các quốc gia thành viên SNG. Tiếng Nga hiện là ngôn ngữ chính thức của bốn quốc gia trong tổ chức: Nga, Belarus, Kazakhstan, và Kyrgyzstan. Tiếng Nga cũng được xem là một ngôn ngữ chính thức tại khu vực Transnistria, và khu tự trị Gagauzia tại Moldova. Ứng cử viên tổng thống Ukraina Viktor Yanukovych trong kỳ bầu cử năm 2004 tuyên bố mục tiêu của ông nhằm biến tiếng Nga thành ngôn ngữ chính thức thứ nhì của Ukraina. Tuy nhiên, người giành chiến thắng là Viktor Yushchenko không làm như vậy. Sau khi giành chiến thắng trong bầu cử tổng thống năm 2010, Yanukovych tuyên bố rằng "Ukraina sẽ tiếp tục xúc tiến ngôn ngữ Ukraina làm ngôn ngữ quốc gia duy nhất của mình". === Sự kiện thể thao === Tại thời điểm Liên Xô tan rã vào tháng 12 năm 1991, các đội tuyển thể thao của họ đã được mời hoặc đủ điều kiện tham dự nhiều sự kiện thể thao trong năm 1992. Một đội tuyển chung của SNG tham gia một số giải đấu trong số đó. "Đội tuyển Thống nhất" tham dự trong Thế vận hội Mùa đông 1992 và Thế vận hội Mùa hè 1992, và một đội tuyển bóng đá SNG tham dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 1992. Một đội tuyển bandy SNG thi đấu một số trận giao hữu trong tháng 1 năm 1992 và xuất hiện lần cuối trong Giải vô địch Chính phủ Nga năm 1992, trong giải họ thi đấu với đội tuyển bandy Nga. Giải vô địch bandy Liên Xô mùa 1991-1992 đổi tên thành một giải thi đấu SNG. Sau đó, các quốc gia SNG tham gia độc lập trong thể thao quốc tế. == Chú thích == Phương tiện liên quan tới Commonwealth of Independent States tại Wikimedia Commons
tom cruise.txt
Thomas Cruise Mapother IV (sinh 3 tháng 7 năm 1962), được biết đến với tên gọi Tom Cruise, là một diễn viên, đạo diễn phim người Mỹ. Tom Cruise cùng Tom Hanks là hai diễn viên duy nhất từng đóng 7 phim bom tấn liên tiếp có doanh thu trên 100 triệu USD. Tạp chí Forbes từng xếp anh vào danh sách những nhân vật có ảnh hưởng nhất trên thế giới trong năm 2006. Tom Cruise được đề cử chính thức cho 3 giải Oscar và 3 lần nhận giải Quả cầu vàng. Vai diễn đầu tiên của anh là năm 1983, trong phim Risky Business. Sau đó anh bắt đầu vào vai hàng loạt các phim ăn khách nhất và trở thành một nhân vật nổi danh của Hollywood. Trong suốt nhiều năm liền, "đế chế Tom" (Tom Hanks và Tom Cruise) luôn được xác lập, là những nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất tại Hollywood. Họ luôn là những nam diễn viên đắt show nhất, cát-sê cao nhất, nhiều fan hâm mộ nhất. == Điện ảnh == Các bộ phim của Tom Cruise: The Mummy (2017) trong vai Nick Morton American Made (2017) trong vai Barry Seal Jack Reacher: Never Go Back (2016) trong vai Jack Reacher Mission: Impossible – Rogue Nation (2015) trong vai Ethan Hunt Edge of Tomorrow (2014) trong vai Thiếu tá William "Bill" Cage Oblivion (2013) trong vai Jack Harper Rock of Ages (2012) trong vai Stacee Jaxx Jack Reacher (2012) trong vai Jack Reacher Mission: Impossible – Ghost Protocol (2011) trong vai Ethan Hunt Knight and Day (2010) trong vai Roy Miller Valkyrie (2008) trong vai Claus von Stauffenberg Tropic Thunder (2008) trong vai Les Grossman Lions for Lambs (2007) trong vai Jasper Irving Mission: Impossible III (2006) vai Ethan Hunt War of the Worlds (2005) trong vai Ray Ferrier Collateral (2004) trong vai Vincent The Last Samurai (2003) trong vai Nathan Algren Austin Powers in Goldmember (2002) trong vai chính mình là Austin Powers Minority Report (2002) trong vai John Anderton Vanilla Sky (2001) trong vai David Aames Mission: Impossible II (2000) trong vai Ethan Hunt Magnolia (1999) trong vai Frank "T. J." Mackey Eyes Wide Shut (1999) trong vai Dr. William 'Bill' Harford Jerry Maguire (1996) trong vai Jerry Maguire Mission: Impossible (1996) trong vai Ethan Hunt Interview with the Vampire: The Vampire Chronicles (1994) trong vai Lestat de Lioncourt The Firm (1993) trong vai Mitch McDeere A Few Good Men (1992) trong vai Lt. Daniel Kaffee Far and Away (1992) trong vai Joseph Donnelly Days of Thunder (1990) trong vai Cole Trickle Born on the Fourth of July (1989) trong vai Ron Kovic Rain Man (1988) trong vai Charlie Babbitt Cocktail (1988) trong vai Brian Flanagan The Color of Money (1986) trong vai Vincent Lauria Top Gun (1986) trong vai Lt. Pete "Maverick" Mitchell Legend (1985) trong vai Jack All the Right Moves (1983) trong vai Stefen Djordjevic Risky Business (1983) trong vai Joel Goodson Losin' It (1983) trong vai Woody The Outsiders (1983) trong vai Steve Randle Taps (1981) trong vai David Shawn Endless Love (1981) trong vai Billy == Chú thích == == Xem thêm == Suri Cruise
hỗ trợ phát triển chính thức.txt
Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài. Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay. Số liệu năm 2004 của OECD cho biết lượng vốn ODA cung cấp bởi một số nước phát triển: == Ưu điểm của ODA == Lãi suất thấp (dưới 2%, trung bình từ 0.25%năm) Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm) Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA. == Bất lợi khi nhận ODA == Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị... Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới).Ví dụ: Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới). Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất. Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên. Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp... có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần. == Nguồn vốn ODA tại Việt Nam == Thụy Điển là một trong những nước phương Tây viện trợ sớm nhất cho Việt Nam, bắt đầu từ năm 1969. Tính đến năm 2008, Thụy Điển đã tài trợ cho Việt Nam tổng số vốn không hoàn lại trị giá 3,46 tỷ USD. Trong quá trình Việt Nam thoát khỏi mức thu nhập thấp và trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình, các khoản vay ưu đãi sẽ giảm dần và thay vào đó là khoản vay kém ưu đãi hơn. == Chú thích == == Liên kết ngoài == ODA cần thiết nhưng phải thận trọng History of ODA (pdf) OECD: Final ODA Data for 2004 == Xem thêm == Các hình thức đầu tư nước ngoài khác: Đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư gián tiếp nước ngoài Vay ngân hàng nước ngoài
thần.txt
Trong tôn giáo, một vị thần (deity hay god) là một thực thể tự nhiên hoặc siêu nhiên, được xem là thiêng liêng và quyền năng. Một số tôn giáo đều có một vị thần tối cao, trong khi những tôn giáo khác có nhiều vị thần của các bậc khác nhau. Vị thần được miêu tả trong một loạt các hình dạng, nhưng thường xuyên được mô tả là có hình dạng giống con người. Một số tôn giáo và truyền thống xem xét nó báng bổ để tưởng tượng hoặc mô tả các vị thần như có bất kỳ hình thức cụ thể. Các thần thường được cho là bất tử, và thường được giả định có tính cách và sở hữu ý thức, trí tuệ, ham muốn, và cảm xúc nhưng thường là siêu phàm hơn của con người. Theo giới tính, có thể có nam thần (god) và nữ thần (goddess). Trong lịch sử, hiện tượng tự nhiên mà nguyên nhân vật lý đã không được hiểu rõ, chẳng hạn như chớp và các thảm họa như động đất và lũ lụt, được xem là do các vị thần. Họ được cho là có khả năng làm phép lạ siêu nhiên và ảnh hưởng và điều khiển của các khía cạnh khác nhau của đời sống con người (chẳng hạn như sự sống hoặc thế giới bên kia). Một số vị thần đã được khẳng định là chủ của thời gian và số phận riêng của mình, người tặng pháp luật và đạo đức của con người, các thẩm phán tối cao về giá trị con người và hành vi, hoặc các nhà thiết kế của vũ trụ. == Xem thêm == Thánh Tiên Phật Nhơn == Tham khảo ==
thăng long tứ trấn.txt
Thăng Long tứ trấn là khái niệm xuất hiện trong dân gian để chỉ về bốn ngôi đền thiêng trấn giữ các hướng Đông Tây Nam Bắc của thành Thăng Long đó là: Trấn Đông: đền Bạch Mã (phố Hàng Buồm) thờ thần Long Đỗ - thành hoàng Hà Nội. Đền được xây dựng từ thế kỷ 9 Trấn Tây: đền Voi Phục (đúng ra là đền Thủ Lệ), (hiện nằm trong Công viên Thủ Lệ) thờ Linh Lang - một hoàng tử thời nhà Lý. Đền được xây dựng từ thế kỷ 11 Trấn Nam: đền Kim Liên, trước đây thuộc phường Kim Hoa, sau thuộc phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức (nay là phường Phương Liên, Đống Đa, Hà Nội), thờ Cao Sơn Đại Vương. Đền được xây dựng từ thế kỷ 17 Trấn Bắc: đền Quán Thánh (đúng ra là đền Trấn Vũ), (cuối đường Thanh Niên), thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Đền được xây dựng từ thế kỷ 10 Thăng Long tứ trấn còn một cách hiểu khác đó là bốn kinh trấn hay còn gọi là nội trấn (ngoài ra là các phiên trấn) bao quanh kinh thành Thăng Long, có nhiệm vụ che chắn, bảo vệ kinh thành ngay từ vòng ngoài khi kinh thành trực tiếp bị đe dọa. Ngoài ra, vì ở gần kinh thành nên bốn trấn còn là những lực lượng có nhiệm vụ "cứu giá" và dẹp yên nội loạn khi kinh thành có biến. Đó là các trấn: Kinh Bắc: bao gồm 4 phủ (20 huyện) các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Phúc Yên sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Đông Ngàn, Yên Phong, Tiên Du, Võ Giàng, Quế Dương (5 huyện - thuộc phủ Từ Sơn) Gia Lâm, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định, Lang Tài (5 huyện - thuộc phủ Thuận An) Kim Hoa, Hiệp Hoà, Yên Việt, Tân Phúc (4 huyện - thuộc phủ Bắc Hà), và cuối cùng là: Phượng Nhãn, Hữu Lũng, Yên Dũng, Bảo Lộc, Yên Thế, Lục Ngạn (6 huyện - thuộc phủ Lạng Giang). Vì trấn lỵ ở Đáp Cầu, huyện Võ Giàng (phía Bắc kinh thành), nên Kinh Bắc cũng được gọi là trấn Bắc hay trấn Khảm =>> Thành Bắc Ninh đặt tại Bắc Ninh. Sơn Nam: Gồm 11 phủ (42 huyện) tương đương các tỉnh Hà Đông, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và Hưng Yên sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Thanh Đàm, Thượng Phúc, Phú Xuyên (3 huyện - thuộc phủ Thường Tín) Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh, Hoài An (4 huyện - thuộc phủ Ứng Thiên) Nam Xang, Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục (5 huyện - thuộc phủ Lý Nhân) Đông An, Kim Động, Tiên Lữ, Thiên Thi, Phù Dung (5 huyện - thuộc phủ Khoái Châu) Nam Chân, Giao Thuỷ, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên (4 huyện - thuộc phủ Thiên Trường) Đại An, Vọng Doanh, Thiên Bản, Ý Yên (4 huyện - thuộc phủ Nghĩa Hưng) Thuỵ Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Đông Quan (4 huyện - thuộc phủ Thái Bình) Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê, Thanh Lan (4 huyện - thuộc phủ Tân Hưng) Thư Trì, Vũ Tiên, Chân Định (3 huyện - thuộc phủ Kiến Xương) Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang (3 huyện thuộc phủ Trường An) và cuối cùng là: Phụng Hoá, An Hoá, Lạc Thổ (3 huyện - thuộc phủ Thiên Quan). Vì trấn lị ở phía Nam kinh thành, nên Sơn Nam cũng được gọi là trấn Nam hay trấn Ly =>> Trấn lỵ lần lượt đặt tại Ninh Bình, Hưng Yên rồi Nam Định. Hải Dương: Gồm 4 phủ (18 huyện) bao gồm các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng và Kiến An sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Đường Hào, Đường An, Cẩm Giàng (3 huyện - thuộc phủ Thượng Hồng) Gia Phúc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại (4 huyện - thuộc phủ Hạ Hồng) Thanh Hà, Thanh Lâm, Tiên Minh, Chí Linh (4 huyện - thuộc phủ Nam Sách) và cuối cùng là: Giáp Sơn, Đông Triều, An Lão, Nghi Dương, Kim Thành, Thuỷ Đường, An Dương (7 huyện - thuộc phủ Kinh Môn). Vì trấn lị ở phía Đông kinh thành, nên Hải Dương cũng được gọi là trấn Đông hay trấn Chấn =>> Thành Đông -Thành Hải Dương đặt tại Hải Dương. Sơn Tây: Gồm 6 phủ (24 huyện) tương đương các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên và Sơn Tây sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Từ Liêm, Phúc Lộc, Yên Sơn, Thạch Thất, Đan Phượng (5 huyện - thuộc phủ Quốc Oai) An Lãng, An Lạc, Bạch Hạc, Tiên Phong, Lập Thạch, Phù Khang (6 huyện - thuộc phủ Tam Đái) Sơn Vi, Thanh Ba, Hoa Khê, Hạ Hoà (4 huyện - thuộc phủ Lâm Thao) Đông Lan, Tây Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương (5 huyện - thuộc phủ Đoan Hùng) Tam Nông, Bất Bạt (2 huyện - thuộc phủ Đà Dương) và cuối cùng là: Mỹ Lương, Minh Nghĩa (2 huyện - thuộc phủ Quảng Oai). Vì trấn lị ở phía Tây kinh thành, nên Sơn Tây cũng được gọi là trấn Tây hay trấn Đoài =>> Thành Tây - Thành cổ Sơn Tây đặt tại Sơn Tây. == Tham khảo == Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam - Nhà xuất bản Văn hóa thông tin - Hà Nội,1998 Việt sử thông giám cương mục Quốc Sử Quán triều Nguyễn – Nhà xuất bản Văn Sử Địa – Hà Nội 1957, 1958, 1959. Đại Nam nhất thống chí Quốc Sử Quán triều Nguyễn – Nhà xuất bản Khoa học xã hội – Hà Nội, 1971. Chiến tranh Pháp-Đại Nam hoặc chiến tranh Pháp-Việt, hay còn được gọi là Pháp xâm lược Đại Nam là cuộc chiến giữa nhà Nguyễn của Việt Nam và Đế quốc thực dân Pháp, diễn ra từ năm 1858 đến năm 1884. Cuộc chiến kết thúc bằng thắng lợi của Đế quốc thực dân Pháp, người Pháp xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và thiết lập bộ máy cai trị, bắt đầu thời kỳ Pháp thuộc trong lịch sử Việt Nam == Xem thêm == Hoa Lư tứ trấn Thăng Long tứ quán == Liên kết ngoài ==
liên đoàn bóng đá nam mỹ.txt
Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (tiếng Tây Ban Nha: Confederación Sudamericana de Fútbol; tiếng Bồ Đào Nha: Confederação Sul-Americana de Futebol; viết tắt: CONMEBOL) là một trong sáu liên đoàn bóng đá cấp châu lục. CONMEBOL được thành lập ngày 9 tháng 7 năm 1916. == Các thành viên == == Các quốc gia lọt vào vòng chung kết World Cup == Chú thích Q — Vượt qua vòng loại của giải đấu sắp tới • — Không vượt qua vòng loại — Không tham dự / Bỏ cuộc / Bị cấm thi đấu — Chủ nhà === World Cup nam === === World Cup nữ === == Các giải đấu quốc tế khác == === Cúp Liên đoàn các châu lục === === Giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới === === Giải vô địch bóng đá bãi biển thế giới === == Các giải thi đấu cấp đội tuyển quốc gia == Copa América (Cúp bóng đá Nam Mỹ) Giải vô địch bóng đá trẻ Nam Mỹ Giải vô địch bóng đá U-17 Nam Mỹ Giải vô địch bóng đá U-15 Nam Mỹ == Các giải thi đấu cấp câu lạc bộ == Copa Libertadores Copa Sudamericana Recopa Sudamericana == Cầu thủ xuất sắc nhất Nam Mỹ == xem Cầu thủ xuất sắc nhất Nam Mỹ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ
đội tuyển bóng đá quốc gia malaysia.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Malaysia là đội tuyển cấp quốc gia của Malaysia do Hiệp hội bóng đá Malaysia quản lý. Đội chưa từng tham dự vòng chung kết World Cup. Nhưng tuyển Olympic đã 2 lần tham dự Thế vận hội mùa hè. Ở lần đầu tham dự năm 1976 tổ chức tại Munich, sau khi để thua đậm 0–3 trước Olympic Đức và 0–6 trước Olympic Maroc, đội đã đánh bại tuyển trẻ Hoa Kỳ với tỉ số 3–0. Năm 1980, đội cũng đã vượt qua vòng loại, nhưng sau đó bỏ cuộc để phản đối việc Liên Xô đưa quân vào Afghanistan. Thời kỳ rực rỡ của bóng đá Malaysia là ở các thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ 20. Khi họ và Hàn Quốc là kỳ phùng địch thủ ở khu vực Đông Á. Sau đó, bóng đá Malaysia dần trượt dốc. Ngày nay, các fan hâm mộ gần như chỉ quan tâm đến bóng đá quốc tế, mặc dù giải bóng đá vô địch quốc gia chuyên nghiệp Malaysian Super League đã được tổ chức từ năm 2004. Còn ở cấp độ khu vực, thành tích lớn nhất của đội cho đến nay là chức vô địch AFF Cup 2010. == Danh hiệu == Vô địch AFF Cup: 1 Vô địch: 2010 Á quân: 1996; 2014 Hạng ba: 2000; 2004; 2007; 2012 Hạng tư: 2002 Bóng đá nam tại Asiad: 1962; 1974 Bóng đá nam tại SEA Games: 1961; 1977; 1979; 1989 1971; 1975; 1981; 1987 1973; 1983; 1985 Hạng tư: 1965 == Thành tích quốc tế == === Giải vô địch bóng đá thế giới === === Cúp bóng đá châu Á === Malaysia từng 3 lần lọt vào vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á, tuy nhiên chưa lần nào vượt qua được vòng bảng, kể cả khi họ làm chủ nhà năm 2007. === Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á === == Đội hình == 23 cầu thủ dưới đây được triệu tập tham dự trận giao hữu gặp Philippines.Số liệu thống kê tính đến ngày: 26 tháng 11 năm 2016, sau trận gặp Myanmar. === Triệu tập gần đây === == Tham khảo ==
bắc kạn (thành phố).txt
Thành phố Bắc Kạn là một thành phố trực thuộc của tỉnh Bắc Kạn, với diện tích tự nhiên là 137 km² và dân số 57.800 người. == Địa lý == === Vị trí địa lý === Địa giới hành chính của thành phố Bắc Kạn như sau: phía bắc, đông bắc và tây giáp huyện Bạch Thông, phía nam, đông nam và tây nam giáp huyện Chợ Mới. == Lịch sử == Sau khi hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn sáp nhập thành tỉnh Bắc Thái vào năm 1965, đến ngày 14 tháng 4 năm 1967, Hội đồng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hạ cấp thị xã Bắc Kạn thành thị trấn Bắc Kạn trực thuộc huyện Bạch Thông. Đến ngày 16 tháng 7 năm 1990, Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra quyết định tách phần lớn thị trấn Bắc Kạn vừa được giải thể (trừ phố Minh Khai chuyển về xã Huyền Tụng), một phần xã Dương Quang (phần phía bắc sông Cầu) và Bản Áng của xã Huyền Tụng để thành lập thị xã Bắc Kạn trực thuộc tỉnh Bắc Thái. Năm 1997, sau khi tỉnh Bắc Kạn được tái lập, thị xã Bắc Kạn trở thành tỉnh lị của tỉnh này. Khi tái lập thị xã Bắc Kạn, thị xã chỉ có 3 phường: Đức Xuân, Phùng Chí Kiên, Sông Cầu. Ngày 31 tháng 5 năm 1997, sáp nhập thị trấn Minh Khai và 4 xã: Dương Quang, Huyền Tụng, Nông Thượng, Xuất Hóa thuộc huyện Bạch Thông vào thị xã Bắc Kạn; đổi tên thị trấn Minh Khai thành phường Nguyễn Thị Minh Khai. Ngày 2 tháng 8 năm 2012, thị xã Bắc Kạn được công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Bắc Kạn. Ngày 11 tháng 3 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 892/NQ-UBTVQH13 chuyển 2 xã Xuất Hóa, Huyền Tụng thuộc thị xã Bắc Kạn thành 2 phường có tên tương ứng và chuyển thị xã Bắc Kạn thành thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. == Hành chính == Thành phố Bắc Kạn bao gồm 6 phường và 2 xã: 6 phường: Đức Xuân, Huyền Tụng, Nguyễn Thị Minh Khai, Phùng Chí Kiên, Sông Cầu, Xuất Hóa 2 xã: Dư­ơng Quang, Nông Th­ượng. == Giao thông == Nơi đây có tuyến quốc lộ 3 chạy qua, nối liền với Cao Bằng, Thái Nguyên và Hà Nội, nhánh quốc lộ 3B nối liền với Lạng Sơn và Quốc lộ 279 nối liền với tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Lạng Sơn. Các tuyến phố chính: °Trường Chinh °Trần Hưng Đạo °Võ Nguyên Giáp °Chiến Thắng Phủ Thông °Phùng Chí Kiên °Đức Xuân °Đội Kỳ °Nguyễn Thị Minh Khai °Hùng Vương °Thái Nguyên °Kon Tum °Hoàng Trường Minh °Nguyễn Văn Tố °Thanh Niên ....... == Chú thích == Bản mẫu:Thành phố Bắc Kạn
oracle.txt
Oracle là tên của một hãng phần mềm, một hệ quản trị cơ sở dữ liệu phổ biến trên thế giới. Hãng Oracle ra đời đầu những năm 70 của thế kỷ 20 tại nước Mỹ. Khởi đầu với phần mềm quản trị Cơ sở dữ liệu cách đây hơn 50 năm. Hiện tại ngoài sản phẩm Oracle Database Server, Oracle còn cung cấp nhiều sản phẩm phục vụ doanh nghiệp khác. == Xem thêm == Netsuite là một sản phẩm của Oracle, được xậy dựng từ năm 1998. Ngày nay đã được nhiều công ty sử dụng để quản lý bán hàng trên toàn thế giới. Sun Microsystems MySQL == Tài liệu học tập == == Chú thích == == Tham khảo ==
biệt tài tí hon.txt
Biệt Tài Tí Hon là chương trình truyền hình thực tế giới thiệu những tài năng nhí trong độ tuổi từ 3 – 7 tuổi ở tất cả các lĩnh vực. Các tài năng nhí từ khắp đất nước sẽ được tuyển chọn để bước lên sân khấu của Biệt Tài Tí Hon để trình diễn khả năng của mình và đối thoại trước hàng triệu khán giả. Chương trình còn tạo cơ hội cho tất cả trẻ em từ mọi miền đất nước, trong mọi lĩnh vực đều có thể tỏa sáng và trở thành niềm tự hào Việt Nam. Chương trình đầu tiên kết hợp giữa talk show và talent show cùng sự xuất hiện của các nghệ sĩ tên tuổi trên cùng một sân khấu với những màn trò chuyện vui nhộn, độc đáo. Các tài năng nhí sẽ trải qua 3 vòng (tuyển chọn, bán kết và chung kết) với 16 tập phát sóng trên VTV3 vào khung giờ vàng trong đầu năm 2017. Biệt Tài Tí Hon do Công ty Truyền thông và Giải trí Điền Quân phối hợp cùng Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất. Chương trình được phát sóng trên VTV3 vào lúc 20g00 Chủ nhật hàng tuần bắt đầu từ ngày 1/1/2017. == Format == - Vòng tuyển chọn: với 10 tập + Ở mỗi tập, Ban bình luận sẽ được xem một đoạn video về thí sinh đó và đoán xem thí sinh đó có khả năng gì. + Mỗi thí sinh sẽ bước ra sân khấu, biểu diễn khả năng của mình và tạo sự bất ngờ cho Ban bình luận, cho khán giả. + Ban bình luận sẽ ra sức “lôi kéo” các bé về đội của mình. + Sau 5 phần thi, thí sinh có số lượt bình chọn cao nhất từ 100 khán giả tại trường quay sẽ là người chiến thắng của tập đó và bước vào bán kết. Giải thưởng: + Giải nhất: 20.000.000 VNĐ + Ban bình luận có thí sinh thắng cuộc: 30.000.000 VNĐ - Vòng bán kết: với 4 tập + Với 15 thí sinh: 10 thí sinh giải nhất và 5 thí sinh có số bình chọn Online cao nhất. Mùa đầu tiên, có 2 thí sinh nhất tuần ở vòng tuyển chọn nên có 16 thí sinh. + Gồm có 2 phần thi: Tài năng và đối đáp. + Sau 4 phần thi tài năng của các bé, 4 bé sẽ đến phần thi đối đáp cùng Ban bình luận. + Ở mỗi tập sẽ chọn ra một thí sinh có lượt bình chọn cao nhất và bước vào chung kết. - Vòng chung kết: 1 tập Vòng chung kết với 6 thí sinh: 4 thí sinh giải nhất ở bán kết và 2 giải nhì cao nhất ở bán kết. Gồm có 3 giải thưởng và giá trị giải thưởng: + 1 Quán quân: 100.000.000 VNĐ + 2 Á quân: 30.000.000 + Đồng giải ba: Quà và giấy chứng nhận - Đêm gala: 1 tập Sự trở lại và là đêm diễn của các thí sinh Biệt Tài Tí Hon. Tất cả các thí sinh sẽ đêm đến những tiết mục hoàng tráng, bất ngờ và đầy hấp dẫn. == Ban bình luận == - Ban bình luận chính: + Diva Mỹ Linh + Danh hài Trấn Thành - Ban bình luận khách mời: + Ca sĩ Trịnh Thăng Bình + Ca sĩ Cẩm Ly + Diễn viên, MC Đại Nghĩa + Ca sĩ Chi Pu + Diễn viên hài Diệu Nhi + Ca sĩ Quang Vinh + Dancer John Huy Trần + Ca sĩ Thanh Duy == Thí sinh tham dự và giải thưởng == - Tập 1: Phát sóng vào lúc 20:00 ngày 01 /01/2017 với 04 bình luận viên: Thu Trang – John Huy Trần và Trấn Thành – Cẩm Ly. Chiến thắng của tập này thuộc về bé Phạm Minh Khánh (Team Trấn Thành – Cẩm Ly). - Tập 02 Phát sóng vào lúc 20:00 ngày 08/01/2017 với 4 bình luận viên: Trần Thành – Cẩm Ly và Thu Trang – John Huy Trần. Chiến thắng của tập này thuộc về bé Lê Đăng Bách (Team Thu Trang – John Huy Trần). - Tập 03 Phát sóng vào lúc 20:00 ngày 15/01/2017 với 4 bình luận viên: Trấn Thành – Cẩm Ly và Mỹ Linh – John Huy Nguyễn Chiến thắng của tập này thuộc về Mai Nguyên Hoàng (Team Trấn Thành – Cẩm Ly). - Tập 04 Phát sóng vào lúc 20g00 ngày 22/01/2017 với 4 bình Luận viên: Mỹ Linh – Chi Pu và Trấn Thành – Quang Vinh Chiến thắng tập này thuộc về Ninh Cao Bách và Nguyễn Tú Phương (Team Mỹ Linh – Chi Pu). - Tập 05 Phát sóng vào lúc 20:00 ngày 12/02/2017 với 4 bình Luận viên: Mỹ Linh – Chi Pu và Trấn Thành – Quang Vinh. Chiến thắng tập này thuộc về Thái Đại Mộc Quế Anh (Team Trấn Thành – Quang Vinh). - Tập 06 Phát sóng vào lúc 20:00 19/02/2017 với 4 bình Luận viên: Trấn Thành – Diệu Nhi và Mỹ Linh – Đại Nghĩa Chiến thắng tập này thuộc về Dương Công Tuyển (Team Mỹ Linh – Đại Nghĩa). - Tập 07 Phát sóng vào lúc 20:00 ngày 26/02/2017 với 4 bình Luận viên: Mỹ Linh – Đại Nghĩa và Trấn Thành – Diệu Nhi. Chiến thắng tập này thuộc về Phùng Nguyễn Minh Khang (Trấn Thành - Diệu Nhi). - Tập 08 Phát sóng vào lúc 20:00 ngày 05/03/2017 với 4 bình Luận viên: Mỹ Linh – Thanh Duy và Trấn Thành – Trịnh Thăng Bình. Chiến thắng tập này thuộc về Nguyễn Hạnh Mỹ Trâm (Team Trấn Thành – Trịnh Thăng Bình). - Tập 09 Phát sóng vào lúc 20:00 ngày 12/03/2017 với 4 bình Luận viên: Mỹ Linh – Trịnh Thăng Bình và Trấn Thành - John Huy Trần. Chiến thắng tập này thuộc về Minh Anh (Team Trấn Thành - John Huy Trần). - Tập 10 Phát sóng vào lúc 20:00 ngày 19/03/2017 với 4 bình luận viên: Trấn Thành - Trịnh Thăng Bình và Mỹ Linh - Chi Pu. Chiến thắng tập này thuộc về Tú Thanh (Team Mỹ Linh - Chi Pu). == Tham khảo == Bé 5 tuổi giỏi tiếng Anh vào bán kết 'Biệt tài tí hon' Cô bé 5 tuổi hát nhạc chế 'gây bão' ở Biệt tài tí hon Minh Khang nói tên các nước trong 'Biệt tài tí hon' Biệt tài tý hon: "Thần đồng Bolero" hát “Đèn khuya” cực dễ thương Biệt tài tí hon: Ca nương nhí khiến Trấn Thành ôm hận == Liên kết ngoài == Trang chủ Facebook Youtube
calymmaria sequoia.txt
Calymmaria sequoia là một loài nhện trong họ Hahniidae. Loài này thuộc chi Calymmaria. Calymmaria sequoia được miêu tả năm 2004 bởi Heiss & Draney. == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Calymmaria sequoia tại Wikispecies
hà giang (thành phố).txt
Thành phố Hà Giang là tỉnh lỵ của tỉnh Hà Giang, Việt Nam. == Giới thiệu == Thành phố Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Hà Giang, nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh, cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc 23 km và cách Hà Nội 318 km. Ba phía Bắc, Tây và Nam giáp với huyện Vị Xuyên, phía Đông giáp huyện Bắc Mê. Thành phố được thành lập ngày 27 tháng 9 năm 2010 trên cơ sở mở rộng và nâng cấp thị xã Hà Giang. Thành phố Hà Giang rộng 135,33 km² và có 71.689 nghìn nhân khẩu gồm 22 sắc tộc khác nhau trong đó người Kinh chiếm 55,7% và người Tày chiếm 22%.Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn (55%) trong giá trị sản lượng của Thành phố Hà Giang, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,2% (năm 2003 ). == Đơn vị hành chính thành phố Hà Giang == Thành phố có 5 phường: Minh Khai, Ngọc Hà, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Trần Phú và 3 xã: Ngọc Đường, Phương Độ, Phương Thiện. = Lịch sử = Cho đến thế kỷ 19, chia tách huyện Vị Xuyên, phía nam của Hà Giang (chữ Hán:河 江), là thị xã chính trong khu vực. Dưới triều Nguyễn thị xã Hà Giang, trong những gì bây giờ là phường Trần Phú, bắt đầu phát triển về diện tích. Năm 1842, thị xã đã được bao gồm trong các huyện, thị Tuyên Quang. Thị xã đã trở thành một tiền đồn quân sự của Pháp quan trọng trước năm 1886. Thị xã Hà Giang được thành lập vào năm 1904. Năm 1975, Hà Giang được sáp nhập với tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên, Thị xã Hà Giang trở thành thị xã trực thuộc tỉnh Hà Tuyên, gồm 3 phường: Nguyễn Trãi, Quang Trung, Trần Phú và 3 xã: Kim Thạch, Ngọc Đường, Phú Linh. Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tái lập tỉnh Hà Giang từ tỉnh Hà Tuyên. Khi chia ra, tỉnh Hà Giang có 10 đơn vị hành chính, thị xã Hà Giang trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Hà Giang. Ngày 29 tháng 8 năm 1994, chia phường Trần Phú thành 2 phường: Trần Phú và Minh Khai. Ngày 20 tháng 8 năm 1999, chia xã Kim Thạch thành 2 xã: Kim Thạch và Kim Linh. Ngày 9 tháng 8 năm 2005, thành lập phường Ngọc Hà trên cơ sở 120,90 ha diện tích tự nhiên và 2.399 người của xã Ngọc Đường, 117,20 ha diện tích tự nhiên và 628 người của phường Trần Phú. Ngày 23 tháng 6 năm 2006, chuyển 3 xã: Kim Linh, Kim Thạch, Phú Linh về huyện Vị Xuyên quản lý; còn lại 2 xã Phương Độ và Phương Thiện chuyển từ huyện Vị Xuyên về thị xã Hà Giang quản lý. Năm 2009, thị xã Hà Giang được công nhận là đô thị loại III. Ngày 27 tháng 9 năm 2010, thị xã Hà Giang được trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Hà Giang Ngay sau khi được nâng cấp lên thành phố và công nhận là đô thị loại III Đảng bộ và chính quyền thành phố đã bắt tay vào những công việc đầu tiên chỉnh trang, quy hoạch đô thị trong tương lai gần. Với một định hướng và chiến lược phát triển lâu dài đã được đề ra, (trong đó, xác định rõ những nội dung sẽ thực hiện trong từng giai đoạn) có thể thấy trong thời gian qua, bên cạnh việc đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng thì vấn đề quy hoạch xây dựng đô thị đã được chú trọng. Công tác chỉnh trang đô thị được đẩy mạnh nhằm tạo ra một không gian đô thị đồng bộ, văn minh trên cơ sở khắc phục được những hạn chế phát triển tự phát do lịch sử để lại để xứng tầm với vai trò một thành phố. Hiện nay, thành phố có 5 phường, 3 xã và trong thời gian tới sẽ tiếp tục hoàn thành việc quy hoạch mở rộng đô thị, triển khai các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật. Điều chỉnh địa giới hành chính để lập 2 phường mới. Diện tích đất ở và không gian đô thị sẽ tiếp tục được mở rộng hơn với việc Đảng bộ sẽ tập trung lãnh đạo thực hiện hoàn thành quy hoạch và triển khai đầu tư xây dựng khu trung tâm hành chính của Thành phố ở vị trí mới trên trục đường đôi Cầu Mè – Hà Phương; quy hoạch, đầu tư xây dựng và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các khu đô thị mới ở phường Quang Trung, Ngọc Hà, Nguyễn Trãi, Phương độ và Phương Thiện. Cùng với đó, thành phố sẽ đầu tư xây dựng các công trình tượng đài, biểu tượng; quy hoạch xây dựng các vườn hoa, công viên và khuôn viên để tạo điểm nhấn trong không gian văn hoá của đô thị... Thành phố sẽ nỗ lực để làm tốt công tác bảo vệ môi trường, xây dựng thương hiệu là Thành phố du lịch "Sáng, xanh, sạch, đẹp" Sau 4 năm, tháng 3 năm 2014, dự án phát triển đô thị loại II được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 190, gồm có tỉnh Vĩnh Phúc, Thừa Thiên Huế và Hà Giang. Trong đó tiểu dự án tại Hà Giang do UBND tỉnh là cơ quan chủ quản; UBND Thành phố Hà Giang làm chủ đầu tư, đơn vị tư vấn là Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Đại Việt - Hà Tĩnh; với tổng mức đầu tư khoảng 1.000 tỷ đồng, do vốn viện trợ không hoàn lại của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB). Gồm có các hạng mục như: Đề nghị nâng cấp 08 tuyến đường giao thông nội thị, trong đó có 02 tuyến đường đôi; đề xuất xây 02 cầu mới; Hệ thống thoát nước; gần 8 km bờ kè tại sông Miện, Sông Lô, suối Mè, suối Nậm Thấu và khu vực xử lý chất thải rắn. Việc đầu tư phát triển đô thị loại II tại Thành phố Hà Giang góp phần chỉnh trang, phát triển đô thị, thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển bền vững, là tiền đề cho phát triển các khu vực lân cận. == Tham khảo ==
người pháp gốc việt.txt
Người Pháp gốc Việt là nhóm người có tổ tiên xuất xứ từ Việt Nam nhưng sau định cư ở Pháp. Đây là một trong những cộng đồng người Việt hải ngoại lớn nhất thế giới. Vì Chính phủ Pháp không làm thống kê với dữ liệu về chủng tộc của công dân Pháp nên không có con số nào chính xác để biết về số người Pháp gốc Việt. Số người Việt tại Pháp được ước tính từ khoảng 200.000 đến 250.000 người (2002). Con số này tăng thành khoảng 300.000 vào năm 2013. == Lịch sử == === Trước 1945 === Một nhân vật người Việt đặt chân lên đất Pháp vào cuối thế kỷ 18 mà lịch sử nhắc đến nhiều là Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh khi theo Giám mục Bá Đa Lộc cầm đầu phái đoàn sang Pháp cầu viện. Cậu bé 3 tuổi này chỉ ở lại Pháp vài năm rồi lại hồi hương nhưng để lại ấn tượng tốt trong dư luận Pháp. Gần 100 năm sau người Việt mới bắt đầu sang định cư tại Pháp. Sứ bộ Phan Thanh Giản khi trong chuyến Tây du để chuộc lại Nam Kỳ đã ghi nhận sự có mặt của người Việt tại Pháp. Tuy nhiên con số đó chỉ là những người có quan hệ gia đình nên phải sang Pháp. Mãi đến đầu thế kỷ 20 cộng đồng người Việt mới tăng lên con số đáng kể. Nguyên nhân chính là tình hình khó khăn tại Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt buộc chính phủ Pháp phải tìm tuyển nhân công để sung vào các xưởng sản xuất trong khi dân Pháp chính gốc phải dồn vào phục vụ chiến cuộc. Cùng lúc đó Pháp cũng mở cuộc tổng động viên để bổ sung quân đội. Lệnh tuyển lính bản xứ tại Đông Dương thuộc Pháp được ban hành vào Tháng Mười Một, 1915. Sang Tháng Giêng, 1916, triều đình Huế cũng có dụ ban thưởng 80 đồng bạc Đông Dương cho những ai nhập ngũ. Đến năm 1918 khi có lệnh đình chiến thì đã có 48.922 lính gốc Đông Dương (Việt) trong quân ngũ tại Âu châu cùng Bắc Phi [3] và 51.000 thợ (ouvriers non spécialsés, viết tắt là ONS; tiếng Việt gọi là "lính thợ" hay "công binh") gốc Việt trong các công xưởng của Pháp. Trong số đó có 1.548 người tử vong. Số người Việt lưu trú tại Pháp sau giảm nhiều vì đa số chọn hồi hương. Số ở lại chỉ khoảng 3.000 người. Có người ở lại vì kết hôn với người Pháp nhưng phần lớn vì lý do giáo dục và công việc. “Nhóm người An Nam yêu nước” được Nguyễn Ái Quốc thành lập vào tháng 6/1919 nhằm kêu gọi sự đoàn kết của Cộng đồng người Việt ở Pháp cũng như ra tăng áp lực lên chính phủ thực dân trao thêm quyền lợi cho người Việt trong nước. Đây là tiền thân của Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF) hiện nay. Vì tình hình khó khăn kinh tế ở Pháp vào thập niên 1920 ảnh hưởng đến giới lao động, một số hội đoàn của người Việt xuất hiện với mục đích tương tế, tương trợ như Hội đồng bào Thân ái (La Fraternité des compatriotes), Association Amicale des Travailleurs Indochinois, Association de Laqueurs, Association des Cuisiniers Indochinois, và Association Mutuelle des Travailleurs. Đến năm 1928 thì có Comité de Défense des Travailleurs Annamites ra đời để bảo vệ quyền lợi của công nhân gốc Việt. Con số thợ thuyền, sinh viên, học sinh đó là hạt mầm của cộng đồng người Pháp gốc Việt. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai sắp bùng nổ thì chính quốc Pháp lại có lệnh tuyển mộ người Việt sang làm lao công thuộc địa (viết tắt tiếng Pháp MOI: main-d'oeuvre indigène), nhưng lần này với dạng cưỡng bách. Năm 1939 đã có 93.000 người, cả lính thợ lẫn lính chiến, bị đưa sang Pháp sung vào quân ngũ hỗ trợ chính quốc theo "Kế hoạch Mandel". Riêng ở Baumettes khoảng 20.000 người bị giam giữ để phục dịch trong các công xưởng với mức lương 1/10 lính Pháp. Một số đã định cư ở Pháp, nhất là vùng Camargue (tỉnh Bouches-du-Rhône), mở mang nghề trồng lúa và làm muối. Nghề trồng lúa ở Provence là do lính thợ người Việt sang khai khẩn vùng đồng lầy ở Camargue vào thập niên 1940, mở đầu cho kỹ thuật trồng lúa tại Pháp. === 1945-1975 === Số người Việt sang Pháp định cư tăng thêm vào những thập niên 1940-1960 sau Chiến tranh thế giới thứ hai và cuộc chiến Đông Dương tiếp theo. Khi chính thể bảo hộ của Pháp trên ba xứ Việt Nam, Campuchia, Lào cáo chung, đại đa số Pháp kiều, trong đó kể cả những người Việt mang quốc tịch Pháp đã rời bỏ Đông Dương để hồi hương về Pháp. Sau 1954, khoảng 50.000 người mang quốc tịch Pháp tại Đông Dương đã hồi hương, trong đó có 12.000 người bản xứ. Chính phủ Pháp đưa một số về Noyant-d’Allier, một thị trấn nhỏ thuộc Allier, Auvergne, có truyền thống khai mỏ than nhưng vào thập niên 1950 đã bị bỏ hoang. Bốn trăm gia đình, tổng cộng khoảng 2.000 người được đưa đến đây lập nghiệp. Số khác định cư ở Sainte-Livrade-sur-Lot (1600 người), thuộc Lot-et-Garonne, Aquitaine gần Bordeaux miền tây-nam nước Pháp. Nơi cư trú mang tên "Trung tâm tiếp quản Những người Pháp Đông dương" (tiếng Pháp: Centre d'Accueil des Français d'Indochine, CAFI) Nơi đó có cấu trúc giống như một ngôi làng truyền thống ở Việt Nam với đình, chùa. Trại CAFI ở Sainte Livrade tồn tại đến năm 2008 thì chính quyền địa phương có phá đi để hoạch định lại. Phần lớn đã được tân trang riêng có sáu căn là giữ nguyên dùng làm di tích cuộc di cư và để lưu trữ các hiện vật lịch sử ghi dấu. Ở Noyant-d'Allier thì nay còn ngôi chùa Pháp Vương. Giữa thị trấn là pho tượng Phật, sang thế kỷ 21 là thắng tích du lịch ở địa phương. ==== Nhóm ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ==== Từ năm 1945 đến 1975, nhiều trí thức, nhân sĩ đã về tham gia kháng chiến và xây dựng đất nước, trực tiếp cùng nhân dân cả nước trải qua khó khăn. Còn nhiều người khác tiếp tục sứ mệnh của mình nơi xa xứ, tổ chức các hoạt động đóng góp tiền bạc, thuốc men, dụng cụ y học từ các nguồn quốc tế, đóng góp về kinh tế, khoa học kỹ thuật, phương tiện và kiến thức y học về đất nước. Ngoài những hoạt động chính trị, tài chính, phong trào còn đóng góp rất nhiều thông qua hình thức văn hóa-văn nghệ. Để tổ chức được những hoạt động văn hóa-xã hội Việt Nam ở nước ngoài thật sự là điều không hề dễ dàng, nhất là mỗi sự kiện đều mang một ý nghĩa chính trị đặc biệt chuyển tải hình ảnh-tinh thần-con người-mong muốn Việt Nam đến với cộng đồng Việt Nam ở Pháp và với công chúng quốc tế, như: các Trại hè từ năm 1959 đến 1973 để kỷ niệm Hiệp định Genève ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào trong nước, những lần tham gia Đại hội Liên hoan văn hóa Thế giới do UNEF tổ chức, đi biểu diễn ở Ý, Thụy Sĩ, Hà Lan, tham gia các buổi mít-tinh cùng Phái đoàn Hội nghị Paris, tham gia Lễ hội Báo Nhân đạo, các buổi văn nghệ Tết... cũng là dịp để thu hút cảm tình viên cho Việt Nam và đào tạo cán bộ cho phong trào. Một sự kiện lịch sử quan trọng không thể không nhắc đến là Hiệp định Paris năm 1973 chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây là một trong những sự kiện góp phần vào di sản và bề dày lịch sử đặc trưng độc đáo và độc nhất của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp nói chung và Hội người Việt Nam tại Pháp nói riêng. Trong suốt quá trình hoạt động của hai phái đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam từ năm 1968-1973, bà con Việt kiều tại Pháp đã chào đón, hỗ trợ, giúp đỡ, bảo vệ và ủng hộ hết mình cho hai phái đoàn (VNDCCH và MTDTGPMNVN) hoàn thành nhiệm vụ. Khi Hiệp định Paris được ký kết, Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp – tiền thân của Hội người Việt Nam tại Pháp – năm ấy đã tổ chức hàng loạt sự kiện chia sẻ niềm vui cùng đất nước, nhất là trong mùa Tết vào tháng 2, như: đêm Tết “Hòa bình” tổ chức ngày 3/2 tại Nhà hát Mutualité đầy kín chỗ ngồi, Tết tại Choisy-Le-Roi ngày 4/2, Tết tại Verrrières-Le-Buisson ngày 6/2, Tết tại phòng Pleyel ngày 24/2... ==== Nhóm ủng hộ Việt Nam Cộng hòa ==== Sinh viên du học của Việt Nam Cộng hòa thì tập trung ở Paris, thành lập Tổng hội Sinh viên Việt Nam, hoạt động từ năm 1960. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa có cơ sở bán thức ăn số 80 đường Monge, quận V, cũng được gọi là Foyer Monge, thuộc tòa đại sứ quản lý cho các sinh viên tụ tập. Tính đến đầu năm 1975 cộng đồng ở Pháp là cộng đồng người Việt lớn nhất ở hải ngoại. === Sau năm 1975 === Đợt người Việt đông nhất sang định cư ở Pháp là vào thập niên 1970-1980 với nạn thuyền nhân vượt biển. Chỉ riêng trong bốn năm 1975-1979, Pháp đón nhận 51.515 người tỵ nạn sang định cư, tức là quốc gia đứng thứ ba sau Hoa Kỳ và Úc về số lượng tiếp nhận người tỵ nạn. Trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1989, Pháp đón nhận khoảng 150.000 người tị nạn, và theo một số nghiên cứu, số người tị nạn chiếm khoảng 80% cộng đồng người Pháp gốc Việt đầu thập niên 1990. Ngoài chính sách của chính phủ cho người tỵ nạn nhập cư, giới nhân sĩ Pháp như triết gia Jean-Paul Sartre, Michel Foucault, Raymond Aron còn tổ chức nhóm vận động "Un bateau pour le Vietnam" ("Một con tàu cho Việt Nam") kêu gọi gia tăng số người tỵ nạn nhập cảnh. Chính nhóm này cùng với Bernard Kouchner, sáng lập viên tổ chức Médecins Sans Frontières (Y sĩ không biên giới) đã tài trợ con tàu Ile-de Lumière ("Đảo Ánh Sáng") ra khơi cứu giúp người vượt biển. Chính giới Pháp như Jacques Chirac và François Mitterrand cũng bảo trợ một số gia đình người Việt tỵ nạn. Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, phong trào Việt kiều được tập hợp dưới một ngôi nhà chung, chính thức lấy tên là Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF) với mục tiêu tập trung hỗ trợ đất nước. Điều này tưởng chừng là đơn giản, nhưng ở thời điểm Việt Nam bị cấm vận kinh tế từ Mỹ, thì mới thấy hết những gì Hội người Việt Nam tại Pháp đã làm để hỗ trợ đất nước: vận động cộng đồng gửi ngoại tệ về, mua lại sản phẩm của các công ty trong nước dù chất lượng chưa cao để giúp cho nền kinh tế Việt Nam được giữ vững, hỗ trợ tư vấn và trang thiết bị ở sân bay, trang bị cho các cơ sở sản xuất công-nông nghiệp các thiết bị hiện đại. Tại Pháp, UGVF cũng phát triển được hoạt động sinh hoạt thiếu nhi cho trẻ từ 3 đến 14 tuổi. Hiện nay mỗi chiều thứ Bảy, sinh hoạt này của Hội đã trở thành địa điểm quen thuộc của cộng đồng cho con em đến học tiếng Việt, học hát, học múa, học bắn cung, học võ... Thế hệ tương lai của cộng đồng ngày một đặt dấu chân của mình lên con đường chung và tiếp tục những gì thế hệ trước đã gây dựng. == Văn hóa == Hệ thống giáo dục tại Pháp, khác với Canada và các quốc gia châu Âu khác, không chủ trương xây dựng một xã hội đa văn hóa. Vì thế, mặc dù người Pháp gốc Việt thuộc thế hệ thứ nhất cố gắng giữ gìn văn hóa Việt Nam và sử dụng tiếng Việt trong cộng đồng, những người thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba sinh ra và lớn lên tại Pháp biết rất ít về quốc gia và văn hóa của tổ tiên họ. Về ngôn ngữ họ cũng không sử dụng tiếng Việt. Trong một cuộc thăm dò ý kiến vào thập niên 1990, 41% người trẻ từ 11 đến 30 tuổi nói rằng họ được gia đình dưỡng dục theo truyền thống Phật giáo, và 28% nói rằng họ được dạy dỗ theo truyền thống Công giáo. Những ngày lễ văn hóa được cộng đồng người Pháp gốc Việt duy trì gồm có Tết Nguyên Đán, Vu Lan, và Tết Trung Thu. Ngoài ra, những người ủng hộ chính quyền Hà Nội còn tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ (8 tháng 3, gần trùng với ngày lễ Hai Bà Trưng vào Tháng Hai âm lịch), 30 tháng 4, và 2 tháng 9. Một trong những cơ sở tôn giáo lâu đời nhất của người Pháp gốc Việt là chùa Hồng Hiên xây từ năm 1917 ở Fréjus, Var, thuộc Provence-Alpes-Côte d'Azur. Chùa có một thời bị bỏ hoang phế nhưng từ thập niên 1970 trở đi đã hoạt động trở lại. Tính đến năm 2000 ở Pháp có 38 ngôi chùa của người Việt. Cũng theo chiều hướng phát triển, người Pháp gốc Việt đã cho xây cất chùa Khánh Anh ở Évry ngoại ô Paris. Vào thời điểm dự tính hoàn thành năm 2011-2012, ngôi chùa này được coi là ngôi chùa lớn nhất châu Âu của người dân gốc Việt. Dưới mắt người Pháp, người Pháp gốc Việt sống tương đối bình yên và hòa nhập vào xã hội Pháp, không gây nhiều vấn nạn như những nhóm thiểu số khác tại Pháp. Tuy không năng động như các cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Mỹ hay Úc, người Pháp gốc Việt cũng có những sinh hoạt chính trị như vinh danh 60 năm cờ vàng ba sọc đỏ ở Paris cùng Voisins Le Bretonneux và Montigny Le Bretonneux [4]. Về khía cạnh đóng góp văn hóa, di dân người Việt là yếu tố đem môn võ thuật Vovinam sang Pháp vào thập niên 1970. Môn võ này đã phát triển và nay có mặt ở nhiều quốc gia Âu châu. == Chính trị tại Pháp == Đầu thập niên 1980, tỷ lệ nhập tịch của người Việt tại Pháp là khoảng 5%, một trong những tỷ lệ cao nhất trong các cộng đồng người ngoại quốc tại Pháp (so với khoảng 0,25% cho cộng đồng người Algérie, cộng đồng lớn nhất). Điều tra dân số năm 1999 cho thấy khoảng 75% người từng có quốc tịch Việt Nam đã vào Pháp tịch. Mặc dù người Pháp gốc Việt có tỷ lệ nhập tịch khá cao, họ ít quan tâm đến chính trị tại Pháp và hiếm khi tham gia vào các cuộc bầu cử cấp địa phương và toàn quốc. Họ thường nhập tịch vì lý do kinh tế thay vì lập trường chính trị. Tuy không thiết tha với biến chuyển trên chính trường tại Pháp, họ rất quan tâm đến tình hình chính trị ở cố hương, và trong quá khứ từng đóng vai trò rất quan trọng trong các phong trào chính trị tại Việt Nam vào thế kỷ 20. Năm 2009 thì một số người Việt tại Pháp đứng ra thành lập Hội Người Việt thuộc đảng Cộng hòa (tiếng Pháp: Union des Vietnamiens Républicains, viết tắt là UVR) để tạo tiếng nói chính trị cho cộng đồng, trong đó có Bùi Kiệt Sĩ (Alain), Mai Quốc Minh. Tổ chức này của Đảng Cộng hòa Pháp (Parti républicain) hoạt động với mục đích dần tiến tới tranh cử Hạ viện Pháp năm 2012 và các hội đồng thành phố ở các địa phương năm 2014. == Quan điểm chính trị đối với Việt Nam == Sau 1975, cộng đồng người Pháp gốc Việt chia thành hai nhóm rõ rệt: một nhóm ủng hộ chính quyền Hà Nội và một nhóm chống cộng. Hầu hết các tổ chức và hội đoàn của người Việt, kể cả các tổ chức tôn giáo và kinh doanh, đều ngả theo nhóm này hay nhóm kia. Những người ủng hộ chính quyền Hà Nội tự nhận là "di dân" trong khi những người chống cộng tự nhận là "người tỵ nạn". Hai nhóm này có những mục tiêu chính trị trái ngược nhau và những thành viên của mỗi nhóm ít có quan hệ với thành viên nhóm kia. Sau khi Việt Nam tiến hành đổi mới và mở cửa, số người xin quy chế tị nạn giảm mạnh do con đường di cư hợp pháp thuận tiện hơn rất nhiều so với thập niên 80. === Nhóm ủng hộ chính quyền Hà Nội === Những người ủng hộ chính quyền Hà Nội, dưới sự lãnh đạo của Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF, Union Général des Vietnamiens de France), có tổ chức quy mô hơn và được chính quyền Việt Nam công nhận. Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF) có tiền thân là tổ chức “Nhóm người An Nam yêu nước” được Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập vào tháng 6/1919. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cộng đồng người Việt Nam tại Pháp tập hợp xung quanh UGVF, đã có đóng góp quan trọng trong việc huy động các nguồn lực của cộng đồng, sự hỗ trợ của nhân dân Pháp và nhiều nước trên thế giới nhằm ủng hộ các cuộc kháng chiến ở trong nước. Bên cạnh việc quan tâm đùm bọc nhau trong cuộc sống, cộng đồng người Việt Nam tại Pháp thông qua Hội UGVF và nhiều hội đoàn khác, phối hợp cùng với Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp, thường xuyên tổ chức các hoạt động giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc như Tết cổ truyền và các ngày lễ lớn, mở lớp dạy tiếng Việt, dạy nhạc cụ dân tộc, dạy hát, dạy võ cổ truyền Việt Nam...Liên quan đến tình hình Biển Đông, bà con cũng bày tỏ sự tin tưởng và ủng hộ mạnh mẽ đối với đường lối của Đảng và Nhà nước, kiên quyết bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ bằng đấu tranh ngoại giao, yêu cầu Trung Quốc giải quyết các tranh chấp thông qua đàm phán, đối thoại và dựa trên luật pháp quốc tế. ông Henry Đặng, thành viên Ban Thường trực hội UGVF phụ trách công tác đối ngoại, bày tỏ sự hãnh diện khi được ra thăm, tặng quà chiến sĩ và nhân dân trên quần đảo Trường Sa. Những người trong nhóm này là những người đến Pháp trước 1975 và con em của họ; vấn đề mưu sinh của họ khá ổn định, và họ được xem là thành phần ưu tú trong cộng đồng gốc Việt. Nhiều thành viên UGVF cũng là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và một số khác là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (nhà hoạt động chính trị Nguyễn Khắc Viện từng là chủ tịch UGVF). Trước 1975, mục tiêu của UGVF là chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam và ủng hộ chính quyền Hà Nội. Sau 1975, nhiều thành viên UGVF dự định hồi hương để đóng góp trong công cuộc xây dựng đất nước, nhưng chính phủ Việt Nam lại xem giới trí thức có nền giáo dục phương Tây là một mối đe dọa. Những người được đào tạo tại Liên Xô được trọng dụng hơn vì họ được xem là có quan điểm chính trị thích hợp hơn. Khi họ trở về Việt Nam, những Việt kiều Pháp thường không tìm được việc làm tương đương với công việc của họ tại Pháp. Từ đó, họ ủng hộ thành lập một cộng đồng người Việt ly hương lâu dài tại Pháp. Mục tiêu của UGVF cũng vì đó thay đổi, chú trọng đến việc giữ gìn di sản văn hóa Việt Nam cho các thế hệ sau. Chính phủ Pháp xem UGVF là một tổ chức cộng sản và các hoạt động chính trị của tổ chức không được công khai cho đến năm 1981, khi được chính phủ Đảng Xã hội công nhận. UGVF tổ chức nhiều lễ hội cho các ngày lễ lớn như Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu. Các sự kiện này luôn có sự hiện diện của đại sứ Việt Nam tại Pháp. Các thành viên của UGVF còn thành lập nhiều hội đoàn khác để tranh đua với những tổ chức chống cộng để giành sự ủng hộ từ những người tị nạn sau 1975. Tuy nhiên, các tổ chức này không công bố quan hệ của họ với UGVF vì nhiều người tị nạn sẽ rời bỏ tổ chức nếu họ biết được UGVF đứng sau các tổ chức này. Mặc dù không hẳn là một bình phong cho những người cộng sản Việt Nam tại Pháp, UGVF là một tổ chức với chủ trương sát cánh với chủ trương của chính quyền Hà Nội. Nhiều thành viên trẻ trong UGVF, sinh ra và lớn lên tại Pháp, cho rằng UGVF thiếu độc lập và quá phụ thuộc vào Hà Nội. Họ cũng đã bắt đầu quan tâm vào các vấn đề trong xã hội Pháp như nạn bị người Pháp bản xứ kỳ thị. Vào năm 2012, Hội sinh viên Việt Nam tại Pháp (UEVF) phối hợp với nhóm Biển Đông tại Pháp tổ chức cuộc thi "Tìm hiểu kiến thức Biển Đông" nhằm khuyến khích sinh viên, cộng đồng người Việt tại Pháp tăng cường tìm hiểu sâu rộng hơn về biển đảo Việt Nam cũng như những vấn đề pháp lý, địa chính trị của biển Đông và các khu vực biển đảo thuộc lãnh thổ chủ quyền Việt Nam. Vào năm 2010, Collectif Vietnam - Dioxin, tổ chức bảo vệ nạn nhân chất da cam/dioxin Việt Nam vừa tiến hành một cuộc vận động lớn nhằm thu hút sự chú ý của dư luận Pháp ủng hộ cho cuộc đấu tranh của các nạn nhân Việt Nam. Chiều 16/5/2014, gần 2.000 người Việt Nam tại Pháp cùng các bạn bè Pháp yêu chuộng hòa bình và công lý đã hưởng ứng lời kêu gọi của tổ chức Collectif Vietnam, một tổ chức tập hợp tất cả các hội, đoàn của người Việt Nam tại Pháp, tham gia cuộc tuần hành tại Paris chống lại các hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc, bày tỏ tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Đa số những người tham gia cuộc biểu tình là các bạn thanh niên, sinh viên đang sinh sống và học tập tại Pháp, những người căng tràn sức sống và nhiệt huyết. Bên cạnh đó, cũng có nhiều rất nhiều mái tóc đã điểm bạc. Đó là các kiều bào đã sống những năm tháng sục sôi của các cuộc biểu tình chống đế quốc Mỹ trước đây giữa lòng thủ đô nước Pháp, đòi độc lập tự do cho Việt Nam, hôm nay một lần nữa họ lại xuống đường đòi công lý cho Việt Nam. === Nhóm không có thiện cảm với chính quyền Hà Nội === Khác hẳn những người ủng hộ chính quyền Hà Nội, những người chống không có thiện cảm với chính quyền Hà Nội không thống nhất dưới một tổ chức nào tương tự như UGVF, nhưng họ chung một lập trường đối lập với chính quyền tại Việt Nam. Trước 1975, những nhóm người Việt không có thiện cảm với chính quyền Hà Nội hoạt động tại Pháp rất ít, và chủ yếu là các tổ chức sinh viên như Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Paris. Sau 1975, với số thuyền nhân tị nạn được nhận vào Pháp tăng vọt, những nhóm không có thiện cảm với chính quyền Hà Nội mới thật sự lớn mạnh để cạnh tranh với nhóm ủng hộ Hà Nội. Những nhóm không có thiện cảm với chính quyền Hà Nội bao gồm chủ yếu những người tị nạn đến Pháp sau 1975, vì thế họ có tình trạng kinh tế kém ổn định hơn nhóm kia. Trong lúc UGVF muốn miêu tả cộng đồng người Pháp gốc Việt như một cộng đồng đoàn kết ủng hộ chính quyền Hà Nội, những nhóm chống cộng hoạt động để nói rõ cho người Pháp bản xứ biết là trong cộng đồng người Việt có sự khác biệt chính trị sâu sắc. Họ thường biểu tình phản đối chính phủ Việt Nam, và kêu gọi những người tị nạn tẩy chay những cơ sở kinh doanh có liên quan đến UGVF. Những tổ chức của những người chống cộng cũng gồm những tổ chức sinh viên, lãnh đạo, xã hội, và văn hóa. Họ có những hoạt động tương trợ những người tị nạn mới đến Pháp trong thập niên 80. Hầu hết các thành viên hoạt động trong tổ chức Hướng đạo Việt Nam tại Pháp và các tổ chức Công giáo của người Việt đều nằm trong phái chống cộng. Họ cũng tổ chức các cuộc lễ hội cho các ngày lễ truyền thống, nhưng với quy mô nhỏ hơn nhiều so với UGVF và không được nhiều người trong nước biết tới. == Di tích == === Trước năm 1954 === ==== Đền tử sĩ ==== Rải rác ở Pháp có một số di tích ghi dấu chân người Việt. Ở Nogent-sur-Marne trong Jardin tropicale de Paris, thuộc Bois de Vincennes còn nền cũ ngôi đền tử sĩ tưởng niệm lính Đông Dương, tức temple du Souvenir Indochinois,[5] tức Nghĩa sĩ từ. Đây nguyên thủy là một ngôi nhà cất ở Thủ Dầu Một rồi rỡ ra đem sang Pháp dùng cho cuộc Exposition coloniale de Marseille 1906, thường gọi Đấu xảo Thuộc địa. Qua năm sau chính phủ Pháp cho chuyển về Nogent-sur-Marne và đến năm 1917 thì ngôi nhà đó được dùng làm đền tử sĩ, có sắc phong (1919) của vua Khải Định. Nhà vua còn đến viếng ngôi đền này năm 1922 nhân chuyến công du sang Pháp.[6] Năm 1984 đền bị phá hủy hoàn toàn trong cơn hỏa hoạn, nay chỉ còn phần nền với bậc tam cấp tạc đôi rồng đá. Một phương đình tân tạo nhỏ nay nằm ở vị trí này.[7] ==== Chùa Hồng Hiên ==== Ở miền nam nước Pháp thì có chùa Hồng Hiên, do người Việt lập nên từ năm 1917 và được biết đến là ngôi chùa cổ nhất ở Pháp. === Sau năm 1954 === ==== Ngôi nhà số 9, ngõ Compoint, quận 17, Paris ==== Ngôi nhà số 9, ngõ Compoint, quận 17, thành phố Paris (Pháp) là một phần quan trọng trong giai đoạn Nguyễn Ái Quốc ở Pháp. Căn phòng của Nuyễn Ái Quốc chỉ rộng chừng 9 m vuông, thiếu thốn, sơ sài, hầu như không có đồ đạc và không có phương tiện sưởi ấm do tọa lạc ở một khu dành cho dân lao động. Căn nhà này gắn liền với câu chuyện Nguyễn Ái Quốc dùng một viên gạch nung nóng và bọc bằng báo để sưởi ấm trong mùa đông của Pháp. Ngôi nhà cũ đã được phá đi để xây mới sau nhiều năm xuống cấp. Để tưởng nhớ quá trình Nguyễn Ái Quốc sống tại Pháp, chính quyền Thủ đô Paris đã gắn một tấm biển gợi nhớ về thời gian Hồ Chí Minh từng hoạt động tại Paris, trong đó ghi rằng “Tại đây, Nguyễn Ái Quốc, còn được biết đến với tên gọi Hồ Chí Minh đã từng sống và chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức từ năm 1921 đến năm 1923”. Các hiện vật của Nguyễn Ái Quốc khi sống tại đây đã được Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp chuyển về Bảo tàng Hồ Chí Minh bao gồm cả viên gạch hồng. ==== Không gian Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Lịch sử (Musée de l’Histoire Vivante), thành phố Montreuil, ngoại ô Paris ==== Từ năm 2000, Bảo tàng Lịch sử (Musée de l’Histoire Vivante) đã dành một phòng trưng bày mang tên “Không gian Hồ Chí Minh” với mục đích tái hiện căn phòng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sống ở ngõ Compoint. Căn phòng bao gồm những đồ đạc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sử dụng khi còn ở Pháp trong thập niên 1920 và tấm biển nhà số 9. Bên cạnh đó còn có tấm thẻ hành nghề, thẻ Đảng viên Đảng Cộng sản Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bức thư mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cho Đảng Cộng sản Pháp và các hoạt động của Hồ Chí Minh tại Pháp. Tại đây cũng lưu lại bút tích được ghi trong sổ vàng của khu tưởng căn phòng này của các nhà lãnh đạo Việt Nam như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Đây cũng là địa điểm thu hút nhiều du học sinh Việt Nam, Việt kiều cũng như các vị khách du lịch để bày tỏ cảm xúc và tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Danh nhân văn hóa thế giới. Ngay bên cạnh nhà bảo tàng là một bức tượng bán thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được đặt trong khu vực trang trọng, dưới những tán cây, được chăm sóc cẩn thận. Đây thường là nơi mọi người có thể tới dâng hoa, thể hiện tấm lòng thành kính đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nội dung ghi ở tấm biển dưới bức tượng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh 1890 – 1969, người anh hùng giải phóng đất nước, nhà văn hóa lỗi lạc của Việt Nam” (theo UNESCO 1987). ==== Tượng đài kỷ niệm người lính thợ ==== Trong sân tòa thị chính Arles ở Salin-de-Giraud Tháng 10 năm 2014 nhà chức trách cho dựng bức tượng cách thể vinh danh đóng góp của người lính thợ Việt Nam đã khai sáng ra nghề trồng lúa ở Camargue. Tháng 11 năm 2015, thành phố Montpellier, Hérault cũng dựng bia ghi nhớ 19 người lính thợ Đông Dương đã bỏ mình trên đất Pháp đóng góp cho chính quốc. Mặc dù họ đã bỏ công sức của xây dựng nước Pháp, nhóm lính thợ bị ngược đãi, giam giữ trong trại cấm Agde và đã chết tại đấy. ==== Đài kỷ niệm thuyền nhân ==== Ngày 12 tháng 9 năm 2010 tượng đài kỷ niệm thuyền nhân Việt Nam với tên Niềm mơ ước của Mẹ (tiếng Pháp: Le Rêve de la Mère) được dựng ở bùng binh "Rond point Saigon", ngã tư thông lộ André Malraux và đại lộ des Genêts thuộc xã Bussy-Saint-Georges, thị trấn Marne-la-Vallée. Tượng đài này có bốn mục đích: Tưởng niệm người tỵ nạn thuyền nhân Việt Nam Tri ân nước Pháp Ghi ơn bậc phụ huynh Vinh danh đóng góp của người Pháp gốc Việt. Đây là bức tượng bằng đồng do điêu khắc gia Vũ Đình Lâm thực hiện. == Nhân vật == Trong số những người Việt sống ở Pháp được nhiều người biết đến có thể kể tới thiền sư Thích Nhất Hạnh; nhà văn Dương Thu Hương; Trần Thị Nam Murtin, người nhận Bắc đẩu bội tinh Premier ministre grade chevalier năm 2008 của chính phủ Pháp;. Về âm nhạc có nhà nghiên cứu nghệ thuật và âm nhạc cổ truyền Trần Văn Khê, nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo; kỹ sư Trương Trọng Thi; đạo diễn Trần Anh Hùng; và các nữ diễn viên Phạm Linh Đan, Trần Nữ Yên Khê. Bên cạnh đó cũng có những người Pháp mang trong mình một phần dòng máu Việt như thanh tra cảnh sát Georges Nguyễn Văn Lộc, luật sư Jacques Vergès, diễn viên France Nuyen, và cầu thủ François Trinh-Duc và Yohan Cabaye. Cũng có người như nhà văn Bùi Đoàn, sinh ra tại Pháp trong một gia đình hai cha mẹ đều là người Việt, và chính bà không nói được tiếng Việt nhưng vẫn thành công trên văn đàn. Bà là tác giả cuốn Le Silence de mon père bằng tiếng Pháp. Về khoa học có các giáo sư Ngô Bảo Châu, Bùi Trọng Liễu, Bùi Huy Đường, Cao Huy Thuần, Nguyễn Quang Riệu, Trần Thanh Vân, bác sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu Về kinh doanh có Hoàng Việt Chúc, một nhà triệu phú sở hữu khách sạn Nikko ở Paris ngay bên bời sông Seine. Nhà thiết kế thời trang Barbara Bùi == Tham khảo == Blanc, Marie-Eve (2004), “Vietnamese in France”, trong Ember, Carol, Encyclopedia of Diasporas: Immigrant and Refugee Cultures Around the World, Springer, tr. 1158–1166, ISBN 978-0-306-48321-9 Bousquet, Gisèle L. (1991), Behind the Bamboo Hedge: The Impact of Homeland Politics in the Parisian Vietnamese Community, Ann Arbor: University of Michigan Press, ISBN 0472101749 . Cooper Cooper, Nicola. France in Indochina, Colonial Encounters. Oxford, UK: Berg, 2001., Nicola (2001), France in Indochina, Colonial Encounters, Oxfrd: Berg . Dorais, Louis-Jacques (1998), “Vietnamese Communities in Canada, France, and Denmark”, Journal of Refugee Studies (Oxford University Press) 11 (2): 107–124, truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2009 Hill, Kimloan. "Strangers in a Foreign Land". Việt Nam, Borderless Histories. Madison, WI: The University of Wisconsin Press, 2006. Nguyễn Thị Chân-Quỳnh. Lối Xưa Xe Ngựa. Paris: An Tiêm, 1995. == Chú thích == == Liên kết == Người Việt tại Pháp "Bến Việt trời Tây" theo RFA
nihontō.txt
Nihontō (日本刀 (にほんとう (Nhật Bản Đao), 日本刀)) là từ thông dụng để chỉ các loại binh khí lạnh có lưỡi dài và sắc bén như kiếm hay tương tự, xuất phát từ Nhật Bản. Từ này dùng chung cho nhiều loại binh khí tương ứng trong tiếng Nhật như katana, wakizashi và tachi. Một số loại vũ khí ngoài kiếm khác được tính vào dạng này là nagamaki, naginata, yari... == Chú thích == = Tham khảo =
william-adolphe bouguereau.txt
William-Adolphe Bouguereau (30 tháng 11 năm 1825 – 19 tháng 8 năm 1905) là một họa sĩ trường phái học viện người Pháp. William Bouguereau (Phát âm như vill-yam boo-guh-roe) là một họa sĩ truyền thống có nhiều bức họa về chủ đề hiện thực và chủ đề Thần thoại Hy-Lap như tuyên ngôn của Trường Phái Tân Cổ điển: "Trở về với cổ đại và vẽ tranh lịch sử". Đó là những chủ đề cực kỳ mang tính học viện (kinh viện) tập trung mô tả cao độ về vẻ đẹp của cơ thể nữ giới. Ông nhận được rất nhiều sự ưu ái từ những nhà bảo trợ tranh giàu có với những bức họa như ảnh chụp của mình. Tuy rất nổi tiếng vào thời của mình nhưng đến nay, những chủ đề ông vẽ và kỹ thuật của ông nhận được khá ít sự quan tâm khi đem so sánh với Chủ nghĩa ấn tượng. == Cuộc đời và sự nghiệp == William-Adolphe Bouguereau sinh ra tại La Rochelle, Pháp vào ngày 30 tháng 11 năm 1825 trong một gia đình buôn rượu và dầu olive. Ông đã cho thấy là sẽ nối nghiệp của gia đình nhưng vì sự can thiệp của người chú Eugène, một giáo sĩ Công giáo, người đã dạy ông về Kinh thánh và đã sắp xếp cho Bouguereau học trung học. Bouguereau tỏ ra có tài năng hội họa khá sớm và cha ông đã được một khách hàng thuyết phục cho ông đến học tại Trường Mỹ thuật - École des Beaux-Arts ở Bordeaux, nơi ông nhận được giải nhất với bức họa Thánh Roch. Để kiếm thêm tiền, ông nhận thêm việc thiết kế nhãn mứt. Thông qua người chú, Bouguereau được cho phép vẽ chân dung những người sống trong giáo phận và khi có đủ tiền, Bouguereau đến Paris để trở thành sinh viên Trường Mỹ thuật - École des Beaux-Arts tại đây. Để hỗ trợ cho việc học vẽ của mình, ông tham dự các lớp nhỏ về giải phẫu học, lịch sử y phục và khảo cổ học. Ông được nhận vào xưởng vẽ của François-Edouard Picot, nơi ông học vẽ theo phong cách Kinh viện. Những bức họa Kinh viện lấy chủ để về lịch sử và thần thoại đã giúp Bouguerau đạt học bổng Prix de Rome năm 1850 với bức Zenobia Found by Shepherds on the Banks of the Araxes. Giải thưởng của ông là được lưu lại Villa Medici ở Roma, Ý, nơi ngoài các lớp học chính quy, ông còn được trực tiếp học thêm về những họa sĩ Phục hưng và tranh của họ. Bouguereau hoàn toàn hòa hợp với phong cách Kinh viện, tổ chức triển lãm hàng năm ở Salon de Paris (một triển lãm tranh chính thức của Viện Hàn lâm Mỹ thuật). Một nhà phê bình đã nhận định, "M. Bouguereau có một thiên tài và kiến thức bẩm sinh về đường nét. Sự cân đối của cơ thể người chiếm trọn tâm trí ông [...] Người ta chỉ có thể ngưỡng mộ ông vì đã cố gắng bước theo dấu chân của những người đi trước. [...] Raphael cũng đã bị ảnh hưởng bởi nét cổ điển. Không ai có quyền phê phán ông là không độc đáo cả." Raphael là họa sĩ mà Bouguereau rất thích. Ông tiếp nhận lời phê bình này như một lời khen ngợi mình. Ông đã đáp ứng một trong những yêu cầu của học bổng Prix de Rome bằng cách hoàn thành một bức tranh chép từ bức họa của Raphael "Chiến thắng của Galatea". Trong nhiều tác phẩm của mình, ông theo đuổi cùng một cách tiếp cận Cổ điển về cách bài trí, hình dáng và chủ đề. Những bức chân dung phụ nữ của Bouguereau đều rất đẹp và quyến rũ, một phần bởi ông có thể tô điểm thêm cho vẻ đẹp của người mẫu và cũng giữ lại những nét vốn có của người đó. Năm 1856, ông cưới Marie-Nelly Monchablon và có năm đứa con. Đến cuối thập niên 1850, ông tạo ra nhiều mối giao hảo với những nhà buôn tranh, đặc biệt là với Paul Durand-Ruel (về sau bảo hộ tranh cho những họa sĩ Ấn tượng), người giúp khách hàng mua tranh của họa sĩ trưng bày ở Triển Lãm Paris. Triển Lãm hàng năm đều thu hút 300.000 người, do đó giúp nhiều họa sĩ trưng bày tranh ở đây bán được tranh. Danh tiếng Bouguereau lan sang tận Anh vào thập kỉ 1860, sau đó ông mua một căn hộ lớn và một xưởng vẽ ở Montparnasse bằng thu nhập của mình. Bouguereau là một họa sĩ truyền thống trung thành với những bức tranh hiện thực và thần thoại. Tranh của ông là những cách thức thể hiện hiện đại của chủ nghĩa Cổ điển - cả về vấn đề đa thần lẫn Kitô giáo - tập trung vào cơ thể người phụ nữ. Tuy tạo ra một thế giới lý tưởng, những bức họa như ảnh chụp của ông đã thổi sức sống vào những nữ thần, những thần nymph, những cô gái chăn cừu, Đức mẹ theo một cách mà những mà bảo trợ nghệ thuật thời đó đòi hỏi. Thế nhưng, một số nhà phê bình lại tỏ vẻ thích sự chân thực của những bức tranh miêu tả nông dân và người lao động cần cù giống với đời thực của Jean-François Millet hơn. Bouguereau sử dụng những phương thức vẽ truyền thống. Ông dùng bút chì vẽ chi tiết, sau đó phác bằng dầu. Cách ông vẽ tạo ra một hình mẫu người chính xác và hài hòa. Trong tranh ông, làn da, bàn tay và bàn chân được chú trọng đặc biệt. Ông cũng dùng nhiều biểu tượng tôn giáo và biểu tượng gợi tình, như trong bức "Chiếc bình vỡ" (The broken pitcher) thể hiện một nỗi buồn về sự ngây thơ bị mất đi. Một trong những thành quả của việc duy trì phong cách Kinh viện và triển lãm tranh ở Triển Lãm Paris là ông được đặt trang trí nhà riêng, các công trình công cộng và nhà thờ. Tùy theo từng lời đặt hàng mà đôi khi ông được vẽ theo phong cách của riêng ông, đôi khi ông lại phải vẽ theo cách vẽ của tập thể. Trước đây, Bouguereau được đặt hàng trong cả ba lĩnh vực trên. Điều này làm uy tín và danh tiếng của ông lên rất cao. Ông cũng tạo nhiều bản sao của các bức tranh công khai của mình để bán cho các nhà buôn tranh, bức "Lời truyền tin" (The Annuciation) là một ví dụ. Ông cũng là một họa sĩ chân dung rất thành công tuy nhiều bức vẽ chân dung của những nhà bảo trợ vẫn nằm trong bộ sưu tập riêng của ông. Bouguereau mau chóng nhận được vinh quang từ Viện hàn lâm, trở thành Thành viên Trọn đời vào năm 1876, nhận huân chương Bắc đẩu Bội tinh năm 1885. Ông bắt đầu dạy vẽ tại Học viện Julian năm 1875, một học viện độc lập của École dé Beaux-Arts cho cho cả nam và nữ, không cần thi đầu vào và học phí chỉ cần trả rất ít trên danh nghĩa. Năm 1877, cả vợ và đứa con trai nhỏ của ông đều qua đời. Dù đã khá lớn tuổi, Bouguereau đi bước nữa vào năm 1896, với Elizabeth Jane Gardner Bouguereau, một họa sĩ học trò người Mỹ. Ông đã dùng ảnh hưởng của mình để mở nhiều lớp dạy mỹ thuật Pháp cho phụ nữ. Gần cuối đời, ông miêu tả tình yêu nghệ thuật của mình như sau, "Mỗi ngày tôi đến xưởng vẽ của mình với tất cả niềm vui; vào buổi tối khi bắt buộc vào ngừng vẽ vì bóng tối tôi đều mong ngày hôm sau sẽ đến... Nếu tôi không đến với những bức tranh yêu quý của tôi, tôi cảm thấy thật bất hạnh". Ông đã vẻ tổng cộng 826 bức tranh. Mùa xuân năm 1905, nhà của Bouguereau và xưởng vẽ của ông ở Paris bị trộm. Ngày 19 tháng 8 năm 1905, Bouguereau qua đời tại La Rochelle ở tuổi 79 vì bệnh tim. == Thăng trầm == Ở thời của mình, Bouguereau được xem là một trong số những họa sĩ vĩ đại nhất của thế giới nghệ thuật Kinh viện, đồng thời ông cũng nhận được nhiều lời chê bai từ phía những nghệ sĩ cấp tiến (avant-garde). Danh tiếng của ông lan đến Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha và cả Hoa Kỳ và tranh của ông rất có giá. Sự nghiệp của Bouguereau gần như thăng tiến vùn vụt mà không gặp trở ngại nào. Với nhiều người, nghệ thuật của ông được cô đọng và tinh chắt, là một sự trân trọng đối với truyền thống. Với nhiều người khác, ông sử dụng một kỹ thuật vẽ xuất sắc theo truyền thống. Degas và những cộng tác của ông đã sử dụng thuật ngữ "Bouguereauté" một cách chê bai khi nói về những họa sĩ dựa dẫm vào cách vẽ tao ra "những bề mặt bóng bẩy và nhân tạo", cách vẽ của những họa sĩ Kinh viện chuyên nghiệp khi hoàn thành bức vẽ khiến cho dấu vết của họa sĩ trên bức tranh không còn được nhìn thấy nữa. Trong một bức thư năm 1872, Degas viết rằng ông đã cố gắng bắt chước cách vẽ theo thứ tự của Bouguereau, tuy vậy, sự hóm hỉnh sắc xảo và với khuynh hướng thẩm mỹ của một nhà Ấn tượng chủ nghĩa, có thể thấy được đây là một lời châm biếm.. Các tác phẩm của Bouguereau được những nhà triệu phú người Mỹ sốt sắng mua. Theo họ Bouguereau là họa sĩ quan trọng nhất của Pháp lúc đó. Nhưng sau năm 1920, danh tiếng Bouguereau bị rơi rớt thảm hại, do sự thay đổi về thị hiếu nghệ thuật và việc ông trung thành với nghệ thuật Kinh viện, phía đầu kia chiến tuyến của chủ nghĩa Ấn tượng, trào lưu hội họa đang ngày càng được chấp nhận rộng rãi lúc đó. Ngày nay chỉ có những nhà sử học hội họa mới biết đến tên tuổi của Bouguereau. == Tên == Những nguồn thông tin về tên đầy đủ của ông cho thấy có nhiều điểm sai lệch: một số nguồn ghi là William-Adolphe Bouguereau hoặc William Adolphe Bouguereau (William là tên, Bouguereau là họ), trong khi một số nguồn khác lại ghi là Adolphe William Bouguereau (Adolphe là tên). Tuy nhiên, ông ký tên dưới những bức họa của mình đơn giản chỉ là William Bouguereau (cho thấy "William" là tên của ông), hoặc chính xác hơn là"W.Bouguereau.ngày tháng" (dùng ký tự Pháp), sau đó là"W-BOVGVEREAV-ngày tháng" (dùng ký tự Latin). == Một số tác phẩm == Một số tác phẩm của William Bouguereau == Chú thích == == Tham khảo == Albert Boime: The Academy and French Painting in the Nineteenth Century (London, 1971). Aleska Celebonovic: Peinture kitsch ou réalisme bourgeois, l'art pompier dans le monde. Paris: Seghers, 1974. Art Pompier: Anti-Impressionism. New York: The Emily Lowe Gallery, Hofstra University, 1974. Mario Amaya (Forward), Robert Isaacson (catalogue and selection): William Adolphe Bouguereau. New York: New York Cultural Center, 1974. John Russell: Art: Cultural Center Honors Bouguereau. In New York Times, 1974. Louise d 'Argencourt and Douglas Druick: The Other Nineteenth Century. Ottawa: The National Gallery of Canada, 1978. James Harding: Les peintres pompiers. Paris: Flammarion, 1980. "The Bouguereau Market". The Art newsletter. ngày 6 tháng 1 năm 1981. pp. 6–8. Louise d'Argencourt and Mark Steven Walker: William Bouguereau. Montreal, Canada: The Montreal Museum of Fine Arts, 1984. Robert Rosenblum and H.W. Janson: 19th Century Art. New York: Harry N. Abrams, 1984. Michael Gibson: Bouguereau's "Photo-Idealism". In International Herald Tribune, 1984. Grace Glueck: To Bouguereau, Art Was Strictly "The Beautiful. In The New York Times, 1985. Cécile Ritzenthaler: L'école des beaux art du XIXe siècle. édition Mayer, 1987 Exhibition catalogue William Adolphe Bouguereau, L'Art Pompier. Borghi & Co., New York, 1991. == Liên kết ngoài ==
tổng thống hoa kỳ.txt
Tổng thống Hoa Kỳ là nguyên thủ quốc gia (head of state) và cũng là người đứng đầu chính phủ (head of government) Hoa Kỳ. Đây là viên chức chính trị cao cấp nhất về mặt ảnh hưởng và được công nhận như vậy tại Hoa Kỳ. Tổng thống lãnh đạo ngành hành pháp của chính phủ liên bang Hoa Kỳ và là một trong hai viên chức liên bang duy nhất được toàn quốc Hoa Kỳ bầu lên (người kia là Phó Tổng thống Hoa Kỳ). Trong số những trách nhiệm và quyền hạn khác, Điều khoản II Hiến pháp Hoa Kỳ giao cho Tổng thống hành xử một cách trung thành luật liên bang, đưa Tổng thống vào vai trò tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ, cho phép Tổng thống đề cử các viên chức tư pháp và hành pháp với sự góp ý và ưng thuận của Thượng viện và cho phép Tổng thống ban lệnh ân xá. Tổng thống được dân chúng bầu lên một cách gián tiếp thông qua Đại cử tri đoàn trong một nhiệm kỳ bốn năm. Kể từ năm 1951, các Tổng thống Hoa Kỳ chỉ được phục vụ giới hạn hai nhiệm kỳ theo Tu chính án 22, Hiến pháp Hoa Kỳ. Bốn mươi lăm cá nhân đã được bầu hoặc kế nhiệm trong chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ. Tổng thời gian phục vụ của tất cả các tổng thống là 56 nhiệm kỳ bốn năm. == Ban đầu == Năm 1783, Hiệp định Paris (1783) đã mang lại cho Hoa Kỳ một nền độc lập và hòa bình nhưng với một cơ cấu chính phủ chưa rõ ràng. Đệ nhị Quốc hội Lục địa đã phác thảo ra Các điều khoản Hợp bang vào năm 1777 có nói đến một hợp bang vĩnh viễn nhưng chỉ cho phép Quốc hội là cơ quan liên bang duy nhất - quá ít quyền lực để tài trợ cho chính mình hay bảo đảm rằng những nghị quyết của quốc hội có được thi hành hay không. Việc này một phần phản ánh quan điểm chống vương quyền trong thời cách mạng và hệ thống chính trị Mỹ mới này rõ ràng được tạo dựng lên để ngăn chặn sự trỗi dậy của một bạo chúa Mỹ. Tuy nhiên, trong suốt cuộc khủng hoảng kinh tế do sự sụp đổ của đồng tiền Lục địa theo sau cuộc Cách mạng Mỹ, sự sống còn của chính phủ Mỹ bị đe dọa bởi sự bất ổn chính trị tại một số tiểu bang, bởi những nỗ lực của những người thiếu nợ muốn dùng chính phủ nhân dân để xóa nợ cho họ, và bởi sự bất lực thấy rõ của Quốc hội Lục địa trong việc cưỡng bách công chúng thi hành bổn phận của mình từng được áp dụng trong thời chiến. Quốc hội có vẻ cũng không thể trở thành một diễn đàn hợp tác sản xuất trong số các tiểu bang khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại. Để đối phó, Hội nghị Philadelphia được triệu tập, bề ngoài như có vẻ phác thảo ra các tu chính cho Các điều khoản Hợp bang, nhưng thay vào đó đã bắt đầu thảo ra một hệ thống chính phủ mới gồm có ngành hành pháp có nhiều quyền lực hơn trong khi vẫn duy trì hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực với chủ đích là ngăn chặn bất cứ ai có ý muốn trở thành "đế vương" khi đang làm tổng thống. Các cá nhân chủ trì Quốc hội Lục địa trong thời Cách mạng Mỹ và dưới Hiến pháp Hợp bang có chức danh là "President of the United States in Congress Assembled" (có nghĩa là Tổng thống Hoa Kỳ tại Quốc hội nhóm họp), thường viết tắt thành "President of the United States" (Tổng thống Hoa Kỳ). Tuy nhiên, chức vụ này có ít quyền lực hành pháp riêng biệt. Sau khi Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1788, một ngành hành pháp riêng biệt được tạo ra và được Tổng thống Hoa Kỳ lãnh đạo. Quyền hành pháp của tổng thống theo Hiến pháp Hoa Kỳ, bị kiềm chế bởi hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực của hai ngành lập pháp và tư pháp của chính phủ liên bang, được tạo ra để giải quyết một số vấn đề chính trị mà quốc gia non trẻ đang đối diện và lại phải đối phó với các thử thách trong tương lai trong lúc đó vẫn ngăn cản được sự trỗi dậy của một kẻ độc tài. == Trách nhiệm và quyền lực == === Vai trò lập pháp theo Điều khoản I Hiến pháp === Quyền lực đầu tiên được Hiến pháp Hoa Kỳ quy định dành cho tổng thống là quyền phủ quyết của tổng thống đối với các quy trình lập pháp của Quốc hội Hoa Kỳ. Đoạn 2 và 3, Phần 7, Điều khoản 1, Hiến pháp Hoa Kỳ bắt buộc bất cứ đạo luật nào mà Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đều phải được trình lên tổng thống trước khi trở thành luật. Một khi đạo luật đã được trình lên thì tổng thống có ba sự chọn lựa: Ký văn bản luật và đạo luật sẽ trở thành luật. Phủ quyết văn bản luật, trả về Quốc hội kèm theo bất cứ lý do vì sao mình phản đối. Đạo luật sẽ không thành luật trừ khi cả hai viện lập pháp của Quốc hội biểu quyết với tỉ lệ 2/3 phiếu thuận để gạt bỏ sự phủ quyết của tổng thống. Không hành động gì. Trong trường hợp này, tổng thống không ký và cũng không phủ quyết văn bản luật. Sau 10 ngày, không kể chủ nhật, có hai trường hợp có thể xảy ra: Nếu Quốc hội vẫn còn nhóm họp thì đạo luật trở thành luật. Nếu Quốc hội không nhóm họp thì văn bản luật không thể trả về Quốc hội được. Lúc đó đạo luật không thành luật. Trường hợp này được biết đến là "pocket veto" (tạm dịch là "phủ quyết gián tiếp"). Năm 1996, Quốc hội tìm cách nâng cao quyền phủ quyết của tổng thống qua Đạo luật phủ quyết từng phần (Line Item Veto Act). Dự luật này cho phép tổng thống ký thành luật bất cứ đạo luật chi tiêu nào trong khi đó có quyền phủ quyết các mục chi tiêu nào đó trong đạo luật này, đặc biệt là bất cứ khoản chi tiêu mới nào, hay bất cứ tổng số chi tiêu nào, hoặc bất cứ lợi ích về thuế có giới hạn mới nào. Một khi tổng thống đã phủ quyết một mục nào đó trong đạo luật thì Quốc hội cũng có thể tái thông qua mục đó. Nếu tổng thống lại phủ quyết thì Quốc hội Hoa Kỳ có thể gạt bỏ sự phủ quyết của tổng thống bằng cách thông thường là biểu quyết với tỉ lệ 2/3 phiếu thuận tại cả hai viện lập pháp. Trong vụ kiện tụng Clinton đối đầu Thành phố New York, 524 U.S. 417 (1998), Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã phán quyết rằng việc thay đổi quyền lực phủ quyết như thế là vi hiến. === Điều khoản Hiến pháp II về quyền lực hành pháp === ==== Quyền lực đối ngoại và chiến tranh ==== Có lẽ điều quan trọng nhất trong số những quyền lực của tổng thống là quyền lực tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ trong vai trò tổng tư lệnh. Trong lúc quyền lực tuyên chiến được Hiến pháp đặt nằm trong tay Quốc hội thì tổng thống là người nắm quyền tư lệnh và điều khiển trực tiếp quân đội và có trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược quân sự. Những vị khai sinh ra Hiến pháp Hoa Kỳ đã thận trọng trong việc giới hạn các quyền lực của tổng thống liên quan đến quân sự; Alexander Hamilton giải thích điều này trong bài viết Federalist số 69: Tổng thống phải là tổng tư lệnh lục quân và hải quân của Hoa Kỳ.... Điều này không bao trùm hơn quyền tư lệnh tối cao và quyền điều khiển các lực lượng hải quân và quân sự... trong khi đó quyền lực này của vua Anh bao trùm cả việc tuyên chiến, tuyển mộ thành lập quân đội và đặt ra các quy định đối với các hạm đội và lục quân. Tất cả những quyền lực như thế... phải do quốc hội đảm trách. Quốc hội, theo Nghị quyết về Quyền lực Chiến tranh, phải cho phép bất cứ một cuộc khai triển quân đội nào kéo dài hơn 60 ngày. Ngoài ra, Quốc hội cũng đảm trách việc theo dõi quyền lực quân sự của tổng thống qua việc kiểm soát các quy định và chi tiêu quân sự. Song song việc nắm giữ các lực lượng vũ trang, tổng thống cũng là người nắm giữ chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Qua Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, tổng thống có trách nhiệm bảo vệ người Mỹ ở hải ngoại và công dân ngoại quốc tại Hoa Kỳ. Tổng thống có quyền quyết định việc có nên công nhận các quốc gia mới và chính phủ mới hay không, và thương thuyết các hiệp định với các quốc gia khác. Các hiệp định này có hiệu lực khi được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận với 2/3 số phiếu tán thành. Mặc dù không được quy định trong hiến pháp nhưng tổng thống đôi khi cũng có quyền thực hiện những "thỏa ước hành pháp" trong quan hệ đối ngoại. Thông thường, những thỏa ước này có liên quan đến các vấn đề nằm trong phạm vi quyền lực hành pháp; thí dụ, thỏa ước với một quốc gia nào đó mà Hoa Kỳ có lực lượng quân sự hiện diện tại đó, cách nào để một quốc gia thi hành các hiệp định về bản quyền, hay làm sao để thực hiện việc giao dịch thư từ ngoại quốc. Tuy nhiên, thế kỷ 21 đã cho thấy rằng có một sự mở rộng rất lớn về những thỏa hiệp hành pháp như thế. Những người chỉ trích đã chống lại việc nới rộng việc sử dụng những thỏa ước hành pháp như thế vì chúng đã bỏ qua các quy trình tạo ra hiệp định và cũng như loại bỏ sự kiểm soát và cân bằng quyền lực mà hiến pháp đã quy định đối với ngành hành pháp trong quan hệ đối ngoại. Những người ủng hộ đáp trả lại rằng những thỏa ước như thế tạo ra một giải pháp mang tính thời đại khi nhu cầu hành động nhanh chóng, bí mật và đồng điệu ngày càng gia tăng. ==== Quyền lực hành pháp ==== Tổng thống là viên chức hành chính trưởng của Hoa Kỳ và như thế ông là người đứng đầu ngành hành pháp của chính phủ Hoa Kỳ. Trách nhiệm của tổng thống là "trông coi việc luật pháp được thi hành một cách trung thực." Để thực hiện bổn phận này, tổng thống được giao trách nhiệm nắm giữ 4 triệu công chức ngành hành pháp liên bang. Tổng thống bổ nhiệm rất nhiều công chức trong ngành hành pháp: một vị tổng thống sắp nhận nhiệm sở có thể thâu nhận đến 6.000 viên chức trước khi ông nhận chức và thêm 8.000 người nữa trong suốt nhiệm kỳ của mình. Các đại sứ, các thành viên Nội các Hoa Kỳ, và những viên chức liên bang khác là được tổng thống bổ nhiệm với sự góp ý và ưng thuận của đa số tại Thượng viện Hoa Kỳ. Những cuộc bổ nhiệm viên chức được thực hiện vào thời điểm Thượng viện nghỉ họp chỉ có hiệu lực tạm thời và sẽ hết hạn vào lúc Thượng viện nhóm họp lại. Quyền của tổng thống sa thải các viên chức hành pháp từ lâu nay là một vấn đề tranh chấp chính trị. Thông thường, tổng thống có quyền sa thải các viên chức hành pháp theo ý của mình. Tuy nhiên, theo luật định thì Quốc hội có thể ngăn chặn và kiềm chế quyền của tổng thống khi sa thải các ủy viên của các cơ quan độc lập đặc trách về các quy định kiểm soát về các vấn đề đặc biệt nào đó hay một số các viên chức hành pháp cấp thấp. Tổng thống có khả năng điều hành phần nhiều ngành hành pháp bằng các sắc lệnh hành pháp. Những sắc lệnh này dựa vào luật liên bang hay quyền hành pháp mà Hiến pháp Hoa Kỳ ban cho và vì vậy có sức mạnh về mặt luật pháp. Những sắc lệnh hành pháp này có thể bị tòa án liên bang xem xét lại hoặc có thể bị vô hiệu quá bằng quy trình thay đổi luật. ==== Quyền tư pháp ==== Tổng thống cũng có quyền đề cử các thẩm phán liên bang trong đó bao gồm các phẩm phán tòa phúc thẩm và Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các thẩm phán được đề cử này phải được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận. Thật không dễ dàng đối với các vị tổng thống có ý định quay chiều hướng pháp lý liên bang về phía một lập trường tư tưởng đặc biệt nào đó bằng việc đề cử các vị thẩm phán có tư tưởng ủng hộ lập trường đó. Khi đề cử các thẩm phán tòa án sơ thẩm, tổng thống thường tôn trọng truyền thống xưa nay là hỏi thăm ý kiến của thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đại diện cho tiểu bang mà thẩm phán sẽ được đề cử. Tổng thống cũng có thể ban hành lệnh ân xá hay giảm án và việc này thường hay xảy ra ngay trước khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống của mình. Đặc quyền Hành pháp cho phép tổng thống cất giữ thông tin không cho Quốc hội và các tòa án liên bang xem với lý do vì vấn đề an ninh quốc gia. Tổng thống George Washington là người đầu tiên giành được đặc quyền này khi Quốc hội yêu cầu xem sổ ghi chép của Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ, John Jay có liên quan đến một cuộc thương lượng điều đình không được công bố với Vương quốc Anh. Mặc dù không có ghi trong Hiến pháp Hoa Kỳ hay trong bất cứ luật nào nhưng hành động của Washington đã tạo ra tiền lệ cho đặc quyền này. Khi Tổng thống Richard Nixon tìm cách sử dụng đặc quyền hành pháp này như một lý do để không giao nộp những bằng chứng mà Quốc hội Hoa Kỳ đòi cung cấp trong Vụ tai tiếng Watergate, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã phán quyết vụ Hoa Kỳ đối đầu Nixon, 418 U.S. 683 (1974) rằng đặc quyền hành pháp không có hiệu lực trong trường hợp một vị tổng thống cố tìm cách tránh né truy tố hình sự. Khi Tổng thống Bill Clinton tìm cách sử dụng đặc quyền hành pháp có liên quan trong Vụ tai tiếng Lewinsky, Tối cao Pháp viện phán quyết vụ Clinton đối đầu Jones, 520 U.S. 681 (1997) rằng đặc quyền hành pháp cũng không được sử dụng trong những vụ thưa kiện dân sự. Các vụ kiện này đã lập nên tiền lệ rằng đặc quyền hành pháp được công nhận tuy nhiên phạm vi giới hạn của đặc quyền này vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng. ==== Đề xuất và phụ trợ làm luật ==== Mặc dù tổng thống không thể trực tiếp giới thiệu luật nhưng ông có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra luật, đặc biệt nếu đảng chính trị của tổng thống chiếm đa số ghế tại một hoặc hai viện của quốc hội. Mặc dù các viên chức ngành hành pháp bị ngăn cấm không được cùng lúc giữ ghế trong quốc hội và ngược lại nhưng các viên chức hành pháp thường hay thảo ra các quy trình luật và nhờ cậy vào các Thượng nghị sĩ và Dân biểu để giới thiệu luật thay cho họ. Tổng thống có thể tạo thêm ảnh hưởng đối với ngành lập pháp bằng những báo cáo thường kỳ mà Hiến pháp bắt buộc trước Quốc hội. Những báo cáo này có thể bằng văn bản hay được đọc trước Quốc hội. Tuy nhiên trong thời hiện đại, các báo cáo này được đọc trong hình thức "Diễn văn về Tình trạng Liên bang" trong đó tổng thống nêu ra những đề nghị về luật của mình cho năm trước mắt. Theo Đoạn 2, Phần 3 của Điều khoản II, Hiến pháp Hoa Kỳ, tổng thống có thể triệu tập một hoặc cả hai viện của Quốc hội. Ngược lại, nếu cả hai viện không thể đồng ý được với nhau về 1 ngày nhóm họp thì tổng thống có thể chọn 1 ngày cho Quốc hội nhóm họp. == Tiến trình bầu tổng thống == === Điều kiện để trở thành tổng thống === Đoạn 5, Phần 1, Điều khoản II, Hiến pháp Hoa Kỳ có ấn định những điều kiện cơ bản mà một người cần hội đủ để trở thành Tổng thống Hoa Kỳ. Một vị tổng thống phải: là một công dân Mỹ được sinh ra tại Hoa Kỳ; ít nhất là 35 tuổi; là thường trú nhân tại Hoa Kỳ ít nhất là 14 năm. Một người hội đủ các điều kiện nói trên nhưng vẫn không đủ tư cách để giữ chức tổng thống vì một trong các điều kiện sau đây: Tu chính án 22 (năm 1951) quy định rằng không có người nào hội đủ điều kiện để được bầu làm tổng thống quá hai lần liên tiếp. Tu chính án 22 cũng có nói rõ rằng nếu bất cứ người nào hội đủ điều kiện để làm tổng thống hay quyền tổng thống trên hai năm của một nhiệm kỳ mà một người khác được bầu làm tổng thống (thí dụ người này thay thế một vị tổng thống bị trất phế) thì người này chỉ có thể được bầu làm tổng thống một lần mà thôi. Các học giả vẫn còn tranh cãi liệu có phải một người không còn hội đủ điều kiện để được bầu làm tổng thống vẫn có thể được bầu làm phó tổng thống theo như quy định về tiêu chuẩn đã được ấn định dưới Tu chính án 12. Theo Đoạn 7, Phần 3, Điều khoản I, Hiến pháp Hoa Kỳ, sau khi truy tố qua những cuộc luận tội, Thượng viện Hoa Kỳ có thể tước quyền của những cá nhân bị buộc tội và không cho phép họ giữ các chức vụ liên bang trong đó gồm có cả chức vụ tổng thống. Theo Phần 3 của Tu chính án 14, Hiến pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm không cho một người hội đủ điều kiện (làm tổng thống) trở thành tổng thống nếu người này đã tuyện thệ trung thành ủng hộ Hiến pháp Hoa Kỳ nhưng sau đó lại nổi loạn chống Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Quốc hội có thể hủy bỏ lệnh cấm này bằng tỉ lệ 2/3 phiếu thuận ở cả hai viện quốc hội. === Đề cử và chiến dịch tranh cử === Trong thời hiện đại, chiến dịch tranh cử tổng thống sẽ bắt đầu trước khi có các cuộc bầu cử sơ bộ. Hai đảng chính trị lớn của Hoa Kỳ (Dân chủ và Cộng hòa) dùng các cuộc bầu cử sơ bộ để tìm ra một số ứng cử viên trong đảng của mình trước khi đại hội đề cử toàn quốc của đảng mình khai mạc. Tại đại hội đảng đề cử toàn quốc, ứng cử viên nào thành công nhất trong các cuộc bầu cử sơ bộ sẽ được đề cử ra đại diện đảng của mình tranh cử chức vụ tổng thống. Thông thường thì ứng cử viên tổng thống của đảng sẽ tự chọn ra ứng cử viên phó tổng thống cho liên danh của mình và rồi được đại hội đề cử thông qua cho có lệ. Các ứng cử viên tổng thống sau đó sẽ tham gia vào các cuộc tranh luận trực tiếp trên truyền hình toàn quốc. Mặc dù các cuộc tranh luận trực tiếp trên truyền hình toàn quốc chỉ thu hẹp vào phạm vi dành riêng cho các ứng cử viên thuộc đảng Dân chủ và Cộng hòa nhưng các ứng cử viên thuộc đảng thứ ba cũng có thể được mời tham dự, thí dụ như trường hợp của Ross Perot không thuộc đảng Cộng hòa hay Dân chủ được mời tham dự các cuộc tranh luận vào năm 1992. Các ứng cử viên sẽ vận động tranh cử khắp nơi tại Hoa Kỳ để giải thích quan điểm của họ, thuyết phục cử tri bầu cho họ và vận động gây quỹ tranh cử. Phần nhiều tiến trình bầu cử hiện đại hay tập trung quan tâm đến việc chiến thắng các tiểu bang chưa rõ ràng thắng bại (swing states) bằng các cuộc viếng thăm thường xuyên của các ứng cử viên đến các tiểu bang đó hay dựa vào chiến dịch vận động bằng quảng cáo rầm rộ qua các hệ thống truyền thông đại chúng. === Bầu cử và tuyên thệ === Tổng thống được bầu gián tiếp tại Hoa Kỳ. Các đại cử tri, được gọi chung là đại cử tri đoàn là những người chính thức bầu chọn tổng thống. Vào ngày bầu cử, các cử tri tại mỗi tiểu bang và Đặc khu Columbia sẽ bỏ lá phiếu của mình để chọn các đại cử tri này. Mỗi tiểu bang được phân bố một con số đại cử tri bằng với tổng số đại diện của họ tại cả hai viện của Quốc hội cộng lại (tổng số dân biểu và thượng nghị sĩ đại diện cho mỗi tiểu bang). Thông thường, liên danh nào thắng được nhiều phiếu nhất tại mỗi tiểu bang sẽ giành được hết số phiếu đại cử tri của tiểu bang đó. Như thế khối đại cử tri thắng cử này sẽ được chọn đại diện cho tiểu bang mình ra bỏ phiếu ở đại cử tri đoàn. Khối đại cử tri thắng cử sẽ họp tại thủ phủ của tiểu bang mình vào ngày thứ hai đầu tiên sau thứ tư lần thứ hai trong tháng 12, khoảng 6 tuần sau khi cuộc bầu cử để bỏ phiếu của mình. Lúc đó họ sẽ gởi một bản báo cáo về cuộc bỏ phiếu đó đến Quốc hội. Phiếu của các đại cử tri sẽ được phó tổng thống đương nhiệm trong tư cách là Chủ tịch Thượng viện mở ra và đọc lớn trước một phiên họp chung gồm có cả hạ viện và thượng viện của Quốc hội sắp tới (Quốc hội này được bầu cùng lúc với cuộc bầu cử tổng thống). Theo Tu chính án 12, nhiệm kỳ của tổng thống bắt đầu vào đúng trưa ngày 20 tháng 1 của năm theo sau cuộc bầu cử. Vào ngày này, được biết là ngày nhậm chức, đánh dấu sự khởi đầu nhiệm kỳ bốn năm của cả tổng thống và phó tổng thống. Trước khi hành xử quyền lực chức vụ, một vị tổng thống, theo hiến pháp quy định, phải tuyên thệ nhậm chức: Tôi trịnh trọng tuyên thệ (hay xác nhận) rằng tôi sẽ hành xử chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ một cách trung thành, và sẽ cố gắng hết khả năng của mình bảo tồn, bảo vệ và che chở Hiến pháp Hoa Kỳ. Mặc dù không bắt buộc nhưng các tổng thống có truyền thống sử dụng một quyển thánh kinh để tuyên thệ nhậm chức và đọc thêm lời cuối "thế xin Thượng đế giúp tôi!" để kết thúc lời tuyên thệ. Hơn nữa, mặc dù không có luật lệ nào quy định rằng lời tuyên thệ nhậm chức phải được một người đặc biệt nào đó chủ trì nhưng theo truyền thống thì người đó là Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ. === Nhiệm kỳ và giới hạn nhiệm kỳ === Nhiệm kỳ chức vụ tổng thống và phó tổng thống là bốn năm. George Washington, Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên, đã tạo ra một tiền lệ không chính thức khi chỉ phục vụ hai nhiệm kỳ bốn năm mà sau đó đã được các tổng thống kế nhiệm làm theo cho đến năm 1940. Trước thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt cũng đã có hai tổng thống đã tìm cách ra tranh cử nhiệm kỳ ba vì được những người ủng hộ khuyến khích, đó là Tổng thống Ulysses S. Grant và Theodore Roosevelt. Tuy nhiên cả hai đều không thành công. Năm 1940, Franklin Roosevelt từ chối ứng cử nhiệm kỳ ba nhưng đã cho phép đảng chính trị của mình "chiêu mộ" mình làm ứng cử viên tổng thống cho đảng và sau đó được bầu làm tổng thống nhiệm kỳ 3. Năm 1941, Hoa Kỳ lâm trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chính vì Chiến tranh thế giới thứ hai nên cử tri sau đó lại bầu Roosevelt lần thứ tư vào năm 1944. Sau chiến tranh và để đối phó với tình trạng làm đảo lộn tiền lệ của Roosevelt, Tu chính án 22 được thông qua. Tu chính án này nghiêm cấm không cho bất cứ một ai được bầu làm tổng thống quá hai lần hoặc quá 1 lần nếu như người đó đã phục vụ hơn phân nửa nhiệm kỳ của một vị tổng thống khác (thay thế hoặc làm quyền tổng thống). Tổng thống Harry S. Truman, người làm tổng thống khi tu chính án này được thông qua, và vì thế không bị ảnh hưởng bởi quy định của tu chính án này nên ông đã tìm cách ứng cử lần thứ ba nhưng sau đó rút lui khỏi cuộc bầu cử tổng thống năm 1952. Kể từ khi tu chính án 22 được thông qua, năm vị tổng thống đã phục vụ hết hai nhiệm kỳ của mình: Dwight D. Eisenhower, Ronald Reagan, Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama. Jimmy Carter và George H. W. Bush tái ứng cử lần thứ hai nhưng bị đánh bại. Richard Nixon được bầu vào nhiệm kỳ hai nhưng từ chức trước khi kết thúc nhiệm kỳ hai của minh. Lyndon B. Johnson là tổng thống duy nhất theo tu chính án 22 có quyền phục vụ hơn hai nhiệm kỳ vì ông thay thế chức vụ tổng thống có 14 tháng sau khi Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát (ít hơn 2 năm). Tuy nhiên, Johnson rút tên ra khỏi cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ năm 1968 và làm cho người Mỹ ngạc nhiêm khi tuyên bố rằng "Tôi sẽ không tìm cách và tôi sẽ không chấp thuận sự đề cử từ đảng của tôi cho một nhiệm kỳ nữa trong vai trò tổng thống." Gerald Ford ra tranh cử cho một nhiệm kỳ sau khi phục vụ 2 năm và 5 tháng cuối trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Nixon nhưng thất cử. === Chức vụ bỏ trống hay tàn tật === Ghế tổng thống bị bỏ trống có thể xảy ra trong một số tình trạng khả dĩ như sau: qua đời, từ chức và bị truất phế. Phần 4, Điều khoản II, Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép Hạ viện Hoa Kỳ luận tội các viên chức cao cấp liên bang trong đó có tổng thống vì tội "phản quốc, hối lộ, hoặc tội đại hình và những sai trái khác." Đoạn 6, Phần 3, Điều khoản I cho phép Thượng viện Hoa Kỳ quyền lực truất phế các viên chức bị luận tội bằng việc biểu quyết với tỉ lệ 2/3 số phiếu để có hiệu lực. Tính đến nay, Hạ viện Hoa Kỳ đã luận tội hai vị tổng thống: Andrew Johnson năm 1868 và Bill Clinton năm 1998. Đến cuối cùng cả hai đều không bị Thượng viện kết tội; tuy nhiên, Johnson được tha bổng bởi tỉ lệ bằng một lá phiếu. Theo Phần 3, Tu chính án 25, tổng thống có thể chuyển giao quyền lực và trách nhiệm của tổng thống cho phó tổng thống, người sau đó trở thành quyền tổng thống bằng cách gởi 1 lời tuyên bố đến Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ và Chủ tịch Thượng viện Tạm quyền Hoa Kỳ nói rõ những lý do vì sao có sự chuyển quyền. Tổng thống nhận lại quyền lực và trách nhiệm tổng thống bằng việc chuyển một bản thông báo viết tay đến hai viên chức kể trên, nói rõ việc nhận lại quyền lực. Sự chuyển giao quyền lực này có thể xảy ra vì nhiều lý do khi tổng thống nghĩ rằng thích hợp; năm 2002 và rồi năm 2007, Tổng thống George W. Bush đã chuyển giao quyền lực tổng thống ngắn ngủi cho Phó Tổng thống Dick Cheney. Trong cả hai trường hợp, việc chuyển giao quyền lực được thực hiện để giúp tiện lợi cho 1 quá trình kiểm tra y khoa mà khi đó Tổng thống Bush phải được gây mê; cả hai lần, Tổng thống Bush nhận lại quyền lực sau đó trong ngày. Theo Phần 4, Tu chính án 25, phó tổng thống và đa số viên chức trong nội các có thể chuyển giao trách nhiệm và quyền lực tổng thống từ tổng thống đến phó tổng thống một khi họ chuyển đạt một thông báo viết tay đến Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ và Chủ tịch Thượng viện Tạm quyền rằng tổng thống không thể đảm trách được quyền lực và trách nhiệm tổng thống. Nếu điều này xảy ra, lúc đó phó tổng thống sẽ nhận trách nhiệm và quyền lực tổng thống trong vai trò quyền tổng thống; tuy nhiên, tổng thống có thể tuyên bố rằng không có chuyện tổng thống không thể đảm trách được trách nhiệm và quyền lực tổng thống và như vậy tổng thống có thể tiếp nhận lại quyền lực và trách nhiệm tổng thống của mình. Nếu như phó tổng thống và nội các vẫn tranh chấp tuyên bố của tổng thống thì sự việc phải được đưa ra Quốc hội quyết định. Quốc hội phải họp trong vòng hai ngày nếu Quốc hội đang trong lúc nghỉ họp để quyết định tính xác thật của lời tuyên bố nói trên. Hiến pháp Hoa Kỳ có nói đến sự từ chức tổng thống nhưng không có quy định về hình thức của một sự từ chức như thế hay những điều kiện đáng để từ chức. Theo luật liên bang, bằng chứng của việc từ chức tổng thống có giá trị duy nhất là một văn kiện viết tay đề cập đến hiệu lực của việc từ chức đó, được tổng thống ký tên và được chuyển giao đến văn phòng của bộ trưởng ngoại giao. Vào ngày 9 tháng 8 năm 1974, khi đối mặt với một cuộc luận tội có thể xảy ra vì Vụ tai tiếng Watergate, Tổng thống Richard Nixon đã trở thành vị tổng thống Hoa Kỳ duy nhất từ chức. === Thứ tự kế nhiệm tổng thống === Hiến pháp Hoa Kỳ có nói rằng phó tổng thống sẽ trở thành tổng thống nếu như tổng thống đương nhiệm bị truất phế, qua đời hay từ chức. Nếu như cả hai văn phòng tổng thống và phó tổng thống đều bị bỏ trống hay có người bị thương tật tàn phế thì viên chức kế tiếp trong thứ tự kế nhiệm tổng thống sẽ là Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ. Thứ tự kế nhiệm sau đó được mở rộng xuống đến Chủ tịch Thượng viện Tạm quyền, rồi đến các thành viên nội các với một thứ tự đã được định trước. Dưới đây là danh sách thứ tự kế nhiệm tổng thống hiện thời, như đã được ghi rõ chi tiết trong Hiến pháp Hoa Kỳ và Đạo luật Kế nhiệm Tổng thống năm 1947 (Bản mẫu:USCode) và các tu chính án sau này để thêm vào các bộ trưởng mới được thành lập. Đảng chính trị [a]: bộ trưởng yêu cầu sự xác nhận của Thượng viện cho việc kế nhiệm Tổng thống [b]: công dân không sinh tại lãnh thổ Hoa Kỳ, vì vậy không đủ điều kiện làm Tổng thống == Bổng lộc == Tổng thống Hoa Kỳ nhận được tiền lương là $400.000/năm cùng với 1 tài khoản chi tiêu $50.000/năm, một tài khoản $100.000 không tính thuế dành cho du hành và $19.000 cho giải trí. Việc tăng lương tổng thống gần đây nhất đã được Quốc hội Hoa Kỳ và Tổng thống Bill Clinton chấp thuận vào năm 1999 và có hiệu lực vào năm 2001. Nhà Trắng ở Washington, D.C. phục vụ trong vai trò là nơi cư ngụ dành cho tổng thống; ông được quyền sử dụng toàn bộ nhân viên và cơ sở của tòa nhà này trong đó gồm có các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giải trí, giúp việc nhà, và an ninh. Cơ sở Hỗ trợ Hải quân Thurmont, nổi tiếng với biệt danh Trại David, là một trại quân sự nằm trên núi trong Quận Frederick, Maryland được dùng làm nơi nghỉ ngơi miền quê cũng như được dùng để bảo vệ tổng thống và khách mời của ông khi có mức báo động cao. Blair House, nằm gần Tòa Cựu Văn phòng Hành chính ở Khu phức hợp Tòa Bạch Ốc và Công viên Lafayette, là một tòa nhà phức hợp gồm có bốn ngôi nhà phố dính liền nhau có tổng diện tích sàn rộng hơn 70.000 foot vuông (6.500 m2) và phục vụ trong vai trò của một nhà khách chính thức của tổng thống và nó cũng là nơi cư ngụ thứ hai của tổng thống khi cần thiết. Để du hành bằng đường bộ, tổng thống sử dụng công xa tổng thống, đây là một chiếc xe limousine bọc thép được chế tạo với sườn xe Cadillac được cải tiến rất nhiều. Một trong hai phi cơ Boeing VC-25 giống nhau, phiên bản cải tiến từ loại phi cơ chở khách Boeing 747-200B, phục vụ tổng thống trên những đoạn đường du hành dài. Chúng được gọi tên là Air Force One khi tổng thống có mặt trên phi cơ. Tổng thống cũng dùng một chiếc trực thăng của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, được gọi tên là Marine One khi tổng thống lên chiếc phi cơ trực thăng này. Sở Mật vụ Hoa Kỳ có nhiệm vụ bảo vệ tổng thống đương nhiệm và gia đình của ông. Như một phần của công việc bảo vệ họ, tổng thống, đệ nhất phu nhân, con cái và thân nhân gần khác của họ, các yếu nhân khác hay những địa điểm khác đều có mật danh do Sở Mật vụ Hoa Kỳ đặt. Lúc đầu việc sử dụng những mật danh như thế là vì mục đích an ninh và có lịch sử trở về thời kỳ mà việc liên lạc điện tử có yếu tố nhạy cảm chưa được mã hóa; ngày nay, các mật danh này chỉ phục vụ vì mục đích ngắn ngọn, rõ ràng và theo truyền thống. Tiện nghi của tổng thống == Hậu tổng thống == Bắt đầu vào năm 1959, tất cả các cựu tổng thống còn sống được nhận tiền hưu bổng, một văn phòng làm việc và một ban nhân sự. Tiền hưu bổng đã được tăng nhiều lần với sự chấp thuận của Quốc hội. Các tổng thống về hưu hiện nay nhận được tiền hưu bổng theo tiền lương của các bộ trưởng nội các của chính phủ đương nhiệm là $191.300 tính đến năm 2008. Một số cựu tổng thống cũng nhận được tiền hưu bổng quốc hội. Đạo luật Cựu Tổng thống, như đã được tu chính, cũng cung cấp cho các cựu tổng thống quỹ du hành và những đặc quyền ưu tiên. Tính đến năm 1997, tất cả các cựu tổng thống và gia đình của họ đều được Sở Mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ cho đến khi cựu tổng thống qua đời. Cựu tổng thống cuối cùng được Sở Mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ trọn đời là Bill Clinton. Các cựu tổng thống về sau này như George W. Bush và các cựu tổng thống tương lại sẽ được Sở Mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ tối đa là 10 năm sau khi rời nhiệm sở. Một số tổng thống có nghiệp vụ nổi bật sau khi rời nhiệm sở. Thí dụ nổi bật gồm có William Howard Taft trở thành Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ và Herbert Hoover làm việc trong chương trình tái tổ chức chính phủ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Grover Cleveland thất bại trong cuộc tái ứng cử chức vụ tổng thống vào năm 1888 nhưng lại đắc cử tổng thống 4 năm sau đó vào năm 1892. Hai cựu tổng thống phục vụ tại Quốc hội Hoa Kỳ sau khi rời Tòa Bạch Ốc: John Quincy Adams được bầu vào Hạ viện Hoa Kỳ, phục vụ ở đó 17 năm và Andrew Johnson trở lại Thượng viện Hoa Kỳ năm 1875. John Tyler phục vụ trong Quốc hội tạm thời của Liên minh miền Nam Hoa Kỳ trong thời Nội chiến Hoa Kỳ và được bầu vào Hạ viện Liên minh miền Nam nhưng qua đời trước khi hạ viên này nhóm họp. Gần đây hơn, Richard Nixon đã thực hiện rất nhiều chuyến du hành ngoại quốc đến các quốc gia như Trung Quốc, Nga và được ca ngợi như một chính khách lão thành. Jimmy Carter trở thành người vận động cho nhân quyền trên toàn cầu, giám sát bầu cử và phân giải quốc tế và là người nhận Giải Nobel Hòa bình. Bill Clinton đã làm một số công việc như một chính khách lão thành, nổi bật nhất là việc ông thực hiện các cuộc điều đình dẫn đến việc Bắc Hàn thả hai nhà báo Mỹ là Laura Ling và Euna Lee. Bill Clinton cũng tích cực hoạt động chính trị từ khi rời nhiệm sở. Ông đã làm việc cùng với phu nhân của mình là Hillary Clinton trong chiến dịch tranh cử tổng thống của bà. Hiện nay có năm cựu tổng thống còn sống: Các cựu tổng thống còn sống === Thư viện tổng thống === Mỗi tổng thống kể từ Herbert Hoover đã xây dựng một kho sách được biết với tên gọi là thư viện tổng thống để lưu giữ và giúp bạn đọc có thể tìm đọc các bài viết, tài liệu và những văn kiện khác của tổng thống. Các thư viện này khi hoàn thành sẽ được làm chứng thư giao cho Cơ quan Quản trị Văn khố và Hồ sơ Quốc gia Hoa Kỳ bảo trì; ngân quỹ ban đầu để xây dựng và trang bị mỗi thư viện phải là ngân quỹ tư nhân, không phải ngân quỹ liên bang. Hiện thời có tất cả 13 thư viện tổng thống trong hệ thống của Cơ quan Quản trị Văn khố và Hồ sơ. Cũng có một số thư viện tổng thống được chính quyền tiểu bang và quỹ tư nhân bảo trì, thí dụ như Bảo tàng và Thư viện Tổng thống Abraham Lincoln được điều hành bởi tiểu bang Illinois. == Dòng thời gian các tổng thống == == Chỉ trích == Những chỉ trích đối với tổng thống thường rơi vào một trong các mục sau đây: Tổng thống quá quyền lực Đa số những người lập quốc Hoa Kỳ kỳ vọng rằng Quốc hội Hoa Kỳ, được nói đến trước tiên trong Hiến pháp Hoa Kỳ, sẽ là ngành có nhiều ảnh hưởng chi phối chính phủ. Họ không muốn hay kỳ vọng đến một ngành hành pháp mạnh mẽ. Tuy nhiên, vô số những người chỉ trích ngày nay cho rằng tổng thống quá nhiều quyền lực, không bị kiểm soát và cân bằng quyền lực và bản chất giống như "đế vương". Người chỉ trích là Dana D. Nelson tin rằng các vị tổng thống suốt hơn 30 năm qua đã tìm cách tiến tới việc nắm trọn, không phân chia quyền lực tổng thống đối với ngành hành pháp và các cơ quan của ngành." Bà chỉ trích những người ủng hộ hành pháp đơn nhất vì điều đó khiến mở rộng "nhiều quyền lực hành pháp không bị kiểm soát vốn đã tồn tại – thí dụ như những lệnh hành pháp, sắc lệnh, tuyên cáo, giác thư, chỉ thị an ninh quốc gia – đã cho phép tổng thống hành xử rất nhiều chính sách đối nội và đối ngoại mà không cần sự trợ giúp, can thiệp hoặc ưng thuận từ Quốc hội." Những học giả về hiến pháp đã chỉ quyền lực quá mức của tổng thống và cho rằng tổng thống giống như "những nhà độc tài lập hiến" có "động cơ để tuyên bố tình trạng khẩn cấp" nhằm nắm lấy quyền lực "gần giống như độc tài." David Sirota nhận thấy có một mô hình "với mục tiêu cung cấp một cơ sở hợp pháp cho quyền lực tối cao toàn phần của Tòa Bạch Ốc đối với toàn chính phủ." Một người chỉ trích khác viết rằng quyền lực tổng thống mở rộng là "mối đe dọa lớn nhất chưa từng thấy đối với sự tự do cá nhân và luật pháp dân chủ." Hình ảnh và quan hệ công chúng Một số người cho rằng hình ảnh của tổng thống có chiều hướng bị các viên chức hành pháp đặc trách quan hệ công chúng và chính tổng thống ngụy tạo nên. Một người chỉ trích diễn tả tổng thống giống như "giới lãnh đạo bị tuyên truyền" mà có một "quyền lực mê hoặc quanh chức vị này"; một người chỉ trích khác diễn tả hiện tượng quanh chức vị tổng thống bằng từ "cult", có nghĩa là sự sùng bái Những quan chức điều hành về quan hệ công chúng của chính phủ đã dàn cảnh một cách mưu mẹo những dịp ghi hình có tổng thống đang tươi cười với đám đông cũng đang tươi cười cho các máy quay thu hình; chẳng hạn về một buổi ghi hình truyền hình, những khán giả xem truyền hình đã bị yếu tố hình ảnh của tổng thống chi phối hơn là câu chuyện thật về buổi thu hình đó. Một người chỉ trích viết rằng hình ảnh của John F. Kennedy được diễn tả hư cấu một cách thận trọng với đầy đủ chi tiết nhằm "vẽ ra một huyền thoại" có liên quan đến sự kiện PT 109 và tuyên bố rằng Kennedy đã hiểu cách sử dụng hình ảnh để nâng cao tham vọng tổng thống của mình. Ngay cả tang lễ tổng thống cũng được sắp đặt cẩn thận với giá trị năng suất cao nhằm tạo ra một cảm xúc về "uy quyền đế vương". Kết quả là người Mỹ có những kỳ vọng không thực tiễn từ tổng thống, người được kỳ vọng "lèo lái nền kinh tế, chế ngự kẻ thù, dẫn dắt thế giới tự do, an ủi nạn nhân lốc xoáy, làm lành linh hồn quốc gia và bảo vệ người mượn nợ chống lại những loại tiền phí ẩn hình mà các loại thẻ tín dụng áp đặt." Chi tiêu thâm thủng Trong suốt 100 năm qua, ít có vị tổng thống nào tinh thông trong việc kiềm chế mức chi tiêu nằm trong giới hạn. Các tổng thống hứa hẹn kiểm soát chi tiêu nhưng trên thực tế đã khó kiểm soát nổi ngân sách. Mô hình lịch sử dài hạn đối với việc chi tiêu của chính phủ Hoa Kỳ là có chút ít thặng dư trừ khi quốc gia gặp phải suy soái kinh tế hay chiến tranh, và mô hình này đã kéo dài cho đến thập niên 1980. Tổng thống Ronald Reagan đã làm gia tăng thâm thủng chi tiêu rất đáng kể trong lúc quốc gia không bị khủng hoảng kinh tế hay chiến tranh, và những thâm thủng ngân sách này, tính theo phần trăm GDP, tăng lên từ 1,6% năm 1979 đến 4,0% và 6,0% trong phần lớn thập niên 1980 mặc dù có một thời gian dài bốn năm có thặng dư, bắt đầu từ năm 1998 trong thời Tổng thống Bill Clinton và Tổng thống George W. Bush. Sau sự kiện 11 tháng 9, chi tiêu thâm thủng trở lại dưới thời Tổng thống Bush và giữ ở mức độ cao. Năm 2009, văn phòng ngân sách ước tính tổng số nợ liên bang sẽ lên đến $12 ngàn tỷ đô la, trong đó gồm có $565 tỷ đô la tiền lời phải trả, hay 4 phần trăm GDP. Trong 1 thập niên đầu của thế kỷ 21, $632 tỉ đã được thêm vào ngân sách. Năm 2009, theo ước tính, Hoa Kỳ có thể bị bắt buộc mượn nợ gần $9,3 ngàn tỉ trong vòng 10 năm tới. Một người chỉ trích đồng thời cũng là một thượng nghị sĩ cảnh báo rằng điều này "gần như tạo ra một kịch bản mà trong đó quốc gia này sẽ lâm vào tình trạng phá sản." Năm 2009, Tổng thống Barack Obama thừa kế một ngân sách thâm thủng choáng váng lên đến 10% GDP. Mức độ cao những việc làm liên bang được mang đến từ chương trình New Deal của Tổng thống Franklin D. Roosevelt vẫn được duy trì ở mức độ đều so với sự tăng trưởng dân số và kinh tế. Thí dụ, năm 1962 có khoảng 13,3 nhân công liên bang cho mỗi 1000 người trong khi đó vào năm 2007 chỉ có 8,7 nhân công liên bang cho mỗi 1000 người, tổng cộng giảm khoảng 1 triệu việc làm. Dù vậy, tổng số nhân sự liên bang năm 2007 là 4.127.000 làm việc trong các cơ quan của chính phủ liên bang. Ngoài ra, con số nhân viên làm việc cho tiểu bang và chính quyền địa phương đã tăng gấp đôi kể từ thập niên 1960. Ghi chú: Thâm thủng lớn nhất là thời Chiến tranh thế giới thứ hai. 1998–2002 có thặng dư. Để cho ngắn gọn, các con số hàng năm được kết hợp lại thành con số trung bình cho 10 năm. Nguồn: Sở thống kê Chính phủ Hoa Kỳ. Quyền lực đối với lập pháp và ngân sách Một số người chỉ trích tố cáo rằng các tổng thống đã lấn chiếm nhiều quyền lực quan trọng thuộc lập pháp và ngân sách mà thông thường phải thuộc về Quốc hội Hoa Kỳ. Tổng thống kiểm soát một số lượng lớn các cơ quan liên bang đặc trách việc tạo ra những quy định luật lệ nhưng chỉ có ít sự theo dõi của quốc hội. Một người chỉ trích khác tố cáo rằng tổng thống có thể bổ nhiệm một "đội quân gồm nhiều 'sa hoàng' ảo – những người này hoàn toàn không có trách nhiệm gì với Quốc hội nhưng được giao phó nhiệm vụ dẫn đầu những nỗ lực về chính sách lớn của Tòa Bạch Ốc". Các tổng thống đã bị chỉ trích vì thực hiện những tuyên bố bằng văn thư để giải thích họ hiểu một đạo luật ra sao hay có kế hoạch gì để thực thi đạo luật này (signing statements) khi ký các đạo luật quốc hội. Những người chỉ trích diễn tả hành động này là ngược lại tinh thần của Hiến pháp Hoa Kỳ. Những tuyên bố bằng văn thư như thế "làm lật cán cân quyền lực giữa Quốc hội và Tòa Bạch Ốc một ít theo chiều có lợi cho ngành hành pháp" và chúng đã được bốn tổng thống trước đây sử dụng. Hành vi này bị Hội Luật sư Mỹ chỉ trích là bất hợp hiến. Một người chỉ trích là George F. Will nhận thấy "một ngành hành pháp càng ngày càng phình to ra" và "sự lu mờ của Quốc hội". Ông cho rằng diễn biến này đã và đang tiếp tục kéo dài "hàng thập niên" và ông cũng đã chỉ trích "sự lu mờ" của Quốc hội. Lạm quyền Đôi khi các tổng thống dùng đến các hoạt động ngoài pháp chế và bất hợp pháp, đặc biệt là trong thời chiến. Tổng thống Abraham Lincoln đã đình chỉ luật bảo hộ giam giữ (habeas corpus) trong thời Nội chiến Hoa Kỳ; Woodrow Wilson tống giam những phần tử tình nghi là cộng sản mà không đưa ra xét xử trong vụ bố ráp Palmer; và Franklin Roosevelt giam cầm trên một trăm ngàn người Mỹ gốc Nhật trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Franklin D. Roosevelt sử dụng những nhà điều tra liên bang để nghiên cứu hồ sơ tài chính và thuế của những nhà chính trị đối lập. Trong một nỗ lực nhằm ngăn ngừa khủng bố, George W. Bush cho phép nghe lén trên hệ thống điện thoại mà không cần lệnh từ tòa án. Hành động này cũng như việc tra trấn và từ chối quyền pháp lý của những người bị giam giữ đã bị tòa án liên bang phán quyết là vi hiến. Richard Nixon phạm vô số luật lệ khi yêu cầu một nhóm người đột nhập văn phòng của một nhà tâm lý học thuộc đảng đối lập cũng như văn phòng của Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ Hoa Kỳ rồi tìm cách che giấu sự nhúng tay của Tòa Bạch Ốc qua việc mua chuộc những nhân chứng trong một sự kiện mà sau đó trở thành vụ tai tiếng Watergate. Hành động của Nixon theo 1 khía cạnh nào đó đã được Alexis de Tocqueville tiên tri trong một cuốn sách xuất bản vào năm 1835 có tựa đề là Democracy in America (Dân chủ tại Mỹ). Tocqueville cho rằng sự việc tổng thống có thể tái cử là một điều nghiêm trọng đáng quan tâm vì tổng thống ra tái tranh cử sẽ bị mê ngoặc, không chỉ làm mất tính công bằng của mình mà còn dùng cả một bộ máy quốc gia đồ sộ để giúp họ tái thắng cử. Phát động chiến tranh mà không có sự tuyên chiến từ Quốc hội Một số người chỉ trích tố cáo rằng ngành hành pháp đã lấn quyền tuyên chiến, vốn đã được Hiến pháp Hoa Kỳ giao phó cho Quốc hội. Mặc dù trong lịch sử các tổng thống đã khởi động tiến trình tiến tới chiến tranh nhưng họ đều xin phép và nhận được lệnh tuyên chiến chính thức từ Quốc hội Hoa Kỳ trong Chiến tranh 1812, Chiến tranh Mexico–Mỹ, Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, Chiến tranh thế giới thứ nhất, và Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, các tổng thống đã không nhận được lệnh tuyên chiến chính thức đối với các hành động quân sự khác trong đó có sự việc Tổng thống Theodore Roosevelt đưa quân vào Panama năm 1903, Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam, các vụ xâm chiếm Grenada và Panama (1990). Tuy nhiên dù không có sự tuyên chiến chính thức từ Quốc hội, tổng thống đã được Quốc hội chấp thuận tiến hành Chiến tranh Iraq lần thứ nhất vào năm 1991 và Chiến tranh Iraq lần thứ 2 năm 2003 Năm 1993, một người chỉ trích viết rằng "Quyền tuyên chiến của Quốc hội đã trở thành điều khoản bị xem thường rõ ràng nhất trong Hiến pháp Hoa Kỳ." Ưu thế bầu cử của đương kim tổng thống Các đương kim tổng thống tìm cách tái cử cho nhiệm kỳ 2 đều có lợi thế hơn đối thủ của mình, và những người chỉ trích tố cáo rằng đều này là không công bằng. Từ năm 1936, trong 13 lần bầu cử tổng thống có đương kim tổng thống ứng cử thì đã có đến 10 lần đương kim tổng thống thắng cử và đối thủ chỉ thắng có 3 lần (xem bản dưới đây). Các đương kim tổng thống tái tranh cử luôn có được lợi thế mà đối thủ của họ không có, trong đó phải kể đến quyền lực dẫn dắt giới truyền thống đưa tin nhiều hơn và gây ảnh hưởng với những sự kiện cũng như sử dụng nhiều nguồn tài trợ của chính phủ. Một thông tín viên ghi nhận rằng "gần như tất cả đương kim tổng thống đều gây quỹ nhiều hơn đối thủ của mình". Điều này đã mang lợi thế hơn cho những đương kim tổng thống. Ủy ban hành động chính trị trao phần lớn số tiền của họ cho các đương kim tổng thống vì họ là những người dễ thắng cử hơn. Một nhà dự báo chính trị cho rằng nên cộng thêm 5 phần trăm số điểm vào trong kết quả tái cử khả dĩ của một đương kim tổng thống cho dù các tình huống như sự phát triển kinh tế và lạm phát có thể làm ảnh hưởng đến kết quả bầu cử. Ghi chú: các cuộc bầu cử không có sự tham dự của ứng cử viên đương kim tổng thống cũng như các cuộc bầu cử có các ứng cử viên thuộc đảng thứ 3 đều không được đưa vào danh sách này. Số phiếu được ghi trên danh sách là số phiếu đại cử tri đoàn. Lạm dụng quyền ân xá Các tổng thống đã bị chỉ trích vì lạm dụng quyền lực này. Thí dụ, Gerald Ford ân xá người đã từng chọn mình làm phó tổng thống trước đó, Richard Nixon; Quyết định của Tổng thống Ford đã bị chỉ trích như là 1 hành động lạm dụng quyền ân xá. Các tổng thống cũng bị chỉ trích vì những quyết định ân xá khác. George H W Bush ân xá cho một viên chức bị tình nghi dấu diếm các tài liệu có liên quan đến vụ tai tiếng Iran-Contra. Bill Clinton đề xuất 140 lệnh ân xá trong những ngày cuối cùng còn tại chức, ân xá cho những người đào phạm và những người đóng góp quỹ vận động tranh cử nổi tiếng. George W Bush giảm án cho một nhân viên văn phòng bị truy tố vì che giấu sự dính líu của chính phủ trong vụ Valerie Plame Wilson. Điều hành chính sách ngoại giao Vì không có bắt buộc là các ứng cử viên tổng thống phải tinh thông về ngoại giao, quân sự hay chính sách ngoại giao và vì các tổng thống tự điều hành các chính sách ngoại giao nên chất lượng tạo ra quyết định khá khác nhau từ tổng thống này đến tổng thống khác. Nhiều đánh giá được các nhà chuyên môn về chính sách ngoại giao lập thành danh sách gồm những thành công và thất bại trong nữa thế kỷ trước. Những thành công quan trọng trong nữa thế kỷ trước gồm có việc Liên Xô sụp đổ và tránh để xảy ra Đệ tam Thế chiến cũng như việc xử lý cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Nhưng vô số quyết định của tổng thống đã bị chỉ trích trong đó có vụ xâm nhập Vịnh con lợn tại Cuba, những chọn lựa quân sự đặc biệt, trao đổi vũ khí để lấy con tin với Iran, và những quyết định khởi động chiến tranh. Việc chiếm đóng theo sau Chiến tranh Iraq bị chỉ trích là "không có kế hoạch một cách thê thảm" và toàn bộ chiến lược với Iraq bị gọi là một "việc tự đánh bại mình và làm cho đồng minh xa lánh" Một người chỉ trích nhận thấy rằng có một chiều hướng "quân sự hóa chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ." Các tổng thống bị tố cáo là ủng hộ những nhà độc tài như quốc vương của Iran, Pervez Musharraf của Pakistan, và Ferdinand Marcos của Philippines. Toàn bộ chiến lược có liên quan đến Trung Đông bị chỉ trích cũng như việc xử lý vấn đề Bắc Hàn và Iran. Những người chỉ trích đã tố cáo rằng nền chính trị lưỡng đảng đã can thiệp vào chính sách ngoại giao. == Địa vị == Tổng thống Hoa Kỳ là viên chức chính trị cao nhất tại Hoa Kỳ xét về mặt ảnh hưởng và công nhận. Vì địa vị của Hoa Kỳ trong vai trò siêu cường duy nhất còn lại trên thế giới nên Tổng thống Hoa Kỳ thường được xem là cá nhân quyền lực nhất trên thế giới và được gọi theo thông lệ là Nhà lãnh đạo của Thế giới Tự do. == Chú thích == == Xem thêm == Danh sách tổng thống Hoa Kỳ == Tham khảo == Leonard Leo, James Taranto, and William J. Bennett. Presidential Leadership: Rating the Best and the Worst in the White House. Simon and Schuster, June, 2004, hardcover, 304 pages, ISBN 0-7432-5433-3 Waldman, Michael, and George Stephanopoulos, My Fellow Americans: The Most Important Speeches of America's Presidents, from George Washington to George W. Bush. Sourcebooks Trade. September 2003. ISBN 1-4022-0027-7 Couch, Ernie, Presidential Trivia. Rutledge Hill Press. ngày 1 tháng 3 năm 1996. ISBN 1-55853-412-1 Lang, J. Stephen, The Complete Book of Presidential Trivia. Pelican Publishing. September 2001. ISBN 1-56554-877-9 Bầu cử tổng thống Mỹ diễn ra như thế nào? == Liên kết ngoài == Trang website của Nhà Trắng Bầu cử tổng thống Mỹ diễn ra như thế nào? Đình Chính, VnExpress cập nhật Thứ hai, 21/1/2008 | 11:18 GMT+7
sân vận động quốc gia mỹ đình.txt
Sân vận động quốc gia Mỹ Đình là sân vận động quốc gia ở Hà Nội, Việt Nam có sức chứa lớn thứ nhì Việt Nam (sau sân vận động Cần Thơ – tối đa 65.000 chỗ). == Đấu thầu xây dựng == Vào năm 2001 Việt Nam quyết định xây dựng một sân vận động quốc gia để tổ chức SEA Games 2003. Theo lời kể của ông Hà Quang Dự, khi đó là bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban TDTT, thì việc chọn nhà thầu xây dựng có nhiều khuất tất dẫn đến các hệ lụy về sau. Trong số các công ty tham gia đấu thầu có Philipp Holzmann AG International (Đức) bỏ thầu 57 triệu USD và Hanoi International Group (HISG - Trung Quốc) bỏ thầu 53 triệu USD, thấp nhất trong số các đơn vị tham gia đấu thầu. Trong khi Philipp Holzmann là một công ty có nhiều kinh nghiệm (có hai chuyên gia từng tham gia thiết kế xây dựng sân vận động State de France (Pháp)) và trang thiết bị đạt tiêu chuẩn Âu - Mỹ thì HISG chưa có kinh nghiệm xây dựng những công trình lớn cùng trang thiết bị chỉ đạt chuẩn Trung Quốc và Việt Nam. Sau vòng chấm thầu thứ nhất, ông Dự cho biết ông đã có văn bản gửi Chính phủ và đề nghị chọn nhà thầu Philipp Holzmann đồng thời hội đồng thẩm định đấu thầu do thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tấn Vạn làm chủ tịch đã có văn bản khẳng định phương án kiến trúc do HISG thiết kế không đạt yêu cầu. Tuy nhiên Bộ Xây dựng sau đó lại có văn bản khác khẳng định HISG đạt tiêu chuẩn và trúng thầu. Theo ông Dự thì "nếu chúng ta chọn nhà thầu Âu - Mỹ, chắc chắn chất lượng sân vận động Mỹ Đình sẽ tốt hơn thế này, thiết kế cũng đẹp hơn. Hằng năm ngành thể thao không phải bỏ ra hàng tỉ đồng để sửa sân như suốt những năm qua". == Mô tả == Sân chính là SVĐ đa chức năng: sân bóng đá có kích thước 105 mét x 68 mét, kết hợp thi đấu điền kinh với 8 đường chạy vòng 400 mét và 10 đường chạy thẳng 110 m, 2 sân nhảy cao, 2 sân ném tạ, ném lao, ném tạ xích, 2 khu nhảy sào kép, 2 khu nhảy xa kép. Tổng diện tích khu vực (1 sân chính, 2 sân tập): 17,5 ha. Sân có 4 khán đài: khán đài phía Tây và phía Đông có 2 tầng, cao 25,8 mét; khán đài phía Bắc và phía Nam có 1 tầng, cao 8,4 mét. Xung quanh sân vận động có 419 phòng chức năng. Hệ thống chiếu sáng của sân gồm 355 bóng, được bố trí ở 4 cột, cao 54 mét. Mái SVĐ nặng 2.300 tấn, khẩu độ 156 mét, đường kính 1,1 mét. Sức chứa 50.000 chỗ ngồi và 60.000 chỗ khi đứng xem (450 ghế VIP, 160 ghế dành cho phóng viên báo chí) và là trung tâm của Liên hợp thể thao quốc gia Việt Nam. === Các sự kiện được tổ chức === Sân vận động Mỹ Đình chính thức hoạt động ngày 2 tháng 9 năm 2003 với trận đấu đầu tiên giữa đội U23 Việt Nam với câu lạc bộ Thân Hoa Thượng Hải (Shanghai Shenhua) (Trung Quốc). Đây là sân vận động chính tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003 với lễ khai mạc và bế mạc, các trận thi đấu của môn bóng đá nam và các cuộc tranh tài trong môn điền kinh. Sân vận động Mỹ Đình còn là nơi tổ chức lễ khai mạc Đại hội Thể thao Trong nhà châu Á lần thứ III (tiếng Anh: Asian Indoor Games III) từ ngày 30 tháng 10 năm 2009 đến 8 tháng 11. Vào tháng 7 năm 2007, sân vận động Quốc gia Mỹ Đình là một trong những sân vận động trong 4 nước đăng cai giải tham gia tổ chức Cúp bóng đá châu Á 2007 với 5 trận vòng bảng (bảng B), 1 trận tứ kết và 1 trận bán kết. === Vị trí === Nằm tại đường Lê Đức Thọ (phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm), cách trung tâm Hà Nội 10 km về phía tây nam, sân vận động Mỹ Đình là sân vận động có sức chứa lớn thứ nhì Việt Nam (sau sân vận động Cần Thơ, có thể chứa 50.000 người). Chi phí xây dựng sân vận động Mỹ Đình là 52.983 triệu đô la Mỹ với đơn vị trúng thầu là Tập đoàn HISG (Trung Quốc). Tuy nhiên sau khi hoàn thành, nhiều sai phạm lớn đã bị phát hiện. == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Chọn tên cho sân Sân Mỹ Đình chuẩn bị cho Cúp bóng đá châu Á 2007 SVĐ Quốc gia Mỹ Đình bị "xà xẻo" thế nào?, Vietnamnet, ngày 02/11/2004.
sơ đồ mạch điện.txt
Sơ đồ mạch điện (Circuit diagram) hay sơ đồ điện, sơ đồ cơ bản, sơ đồ điện tử, là một biểu diễn đồ họa của mạch điện. Nó sử dụng các biểu tượng đồ họa tiêu chuẩn hóa gọi là ký hiệu điện tử để biểu diễn các thành phần và mối liên kết của các mạch. Trình bày của các mối liên kết giữa các thành phần mạch trong sơ đồ không nhất thiết phải tương ứng với sự sắp xếp vật lý trong thiết bị đã hoàn thành. Không giống như một sơ đồ khối hoặc sơ đồ bố trí, sơ đồ mạch điện cho thấy các kết nối điện thực tế. Một bản vẽ có nghĩa là để mô tả sự sắp xếp vật lý của các dây và các thành phần kết nối với nhau, được gọi là tác phẩm nghệ thuật bố trí, thiết kế vật lý, hoặc sơ đồ hệ thống dây điện (wiring diagram). Sơ đồ mạch điện được sử dụng cho việc thiết kế mạch, xây dựng mạch và bố trí bảng mạch in (PCB), và bảo trì các thiết bị điện và điện tử. Trong khoa học máy tính, sơ đồ mạch điện rất hữu ích khi biểu diễn trực quan bằng đại số Boole. == Ký hiệu điện tử == Sơ đồ mạch điện là bản họa hình với các biểu tượng . Các biểu tượng này khác nhau ở các quốc gia và đã thay đổi theo thời gian, nhưng nay đã đi một mức độ tiêu chuẩn quốc tế. Các thành phần đơn giản thường có ký hiệu có chủ đích thể hiện tính năng của linh kiện. Ví dụ, biểu tượng cho điện trở thể hiện ngày xưa nó được làm bằng đoạn dây quấn sao cho không làm phát sinh điện cảm. Điện trở như vậy nay chỉ dùng cho vị trí tiêu hao điện năng cao, phần lớn khác thì dùng điện trở nhỏ carbon. Các biểu tượng tiêu chuẩn quốc tế đối với một điện trở bây giờ đơn giản là hình chữ nhật, đôi khi có giá trị trong ohms bên trong, thay vì biểu tượng zig-zag. Các dây nối dẫn đến biểu diễn là đường giao cắt. Soạn thảo trên máy vi tính thì kết nối của hai dây giao nhau được thể hiện bởi "dot" hoặc "blob" để chỉ một kết nối, hoặc một qua dây không nối. Nhưng photocopy bản in thì biểu diễn dot dễ bị thất lạc. Vì thế có đề nghị sử dụng biểu diễn mối nối T. Trên sơ đồ mạch biểu tượng cho các phần tử được đặt nhãn với mô tả hoặc tham chiếu thiết kế tương ứng với phần tử đó trong danh sách các phần tử. Ví dụ, C1 là tụ đầu tiên, L1 là điện đầu tiên, Q1 là transistor đầu tiên, R1 là điện trở đầu tiên. Lưu ý rằng chỉ số không được viết như một subscript. Thường thì giá trị hoặc loại của các phần tử được đưa ra trên biểu đồ bên cạnh các chúng, nhưng thông số kỹ thuật chi tiết thì đưa vào danh sách các phần tử. Quy định chi tiết cho lập tham chiếu thiết kế được nêu trong tiêu chuẩn IEC International 61.346. == Sắp xếp == == Tác phẩm nghệ thuật == Khi các sơ đồ đã hoàn tất, nó được chuyển đổi thành một bố cục để có thể chế tạo thành bảng mạch in (PCB). Việc bố trí được bắt đầu bằng quá trình Schematic capture. Kết quả là những gì được biết đến như một Tổ chuột, một mớ lộn xộn dây điện (Line) dọc ngang nhau để đến nút đích của nó. Các dây này được định tuyến hoặc bằng tay hoặc bằng công cụ tự động hóa thiết kế điện tử (EDA). Các công cụ thiết kế vi mạch bố trí và sắp xếp lại vị trí của các thành phần và tìm đường dẫn cho các kết nối đến các nút đích khác nhau. Kết quả là tác phẩm nghệ thuật (Artwork) về bố trí cuối cùng mạch tích hợp hay bảng mạch in được hoàn tất. Dòng chảy thiết kế tổng quát có thể như sau: Sơ đồ → Schematic capture → rat's nest → routing → artwork → Tạo PCB và khắc → Gắn phần tử → Thử nghiệm == Tham khảo == == Xem thêm == == Liên kết ngoài == Electrical Circuit's Schematic Symbols Circuit Symbols of Electronic Components Electrical & Electronic Drawing Symbols Collection of Electronic Symbols Circuit Schematic Symbols Collection of Electrical and Electronic Schematic Symbols
học thuyết bush.txt
Học thuyết Bush (tiếng Anh: Bush Doctrine) là cụm từ chỉ các nguyên tắc chính sách ngoại giao của Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush. Cụm từ này lần đầu tiên được sử dụng bởi Charles Krauthammer vào tháng 6 năm 2001 để mô tả "sự rút lui đơn phương của chính quyền Bush khỏi hiệp ước ABM và Nghị định thư Kyoto". Sau sự kiện 11 tháng 9, cụm từ này mô tả chính sách mà Hoa Kỳ có quyền tự bảo vệ chống lại các quốc gia chứa chấp hoặc viện trợ cho các nhóm khủng bố, được sử dụng để biện minh cho cuộc xâm lược năm 2001 của Afghanistan. Các chuyên gia khác nhau sẽ đưa ra các ý nghĩa khác nhau "Học thuyết Bush", do nó mô tả các yếu tố khác, bao gồm cả chính sách gây tranh cãi của chiến tranh phòng ngừa, trong đó cho rằng Hoa Kỳ cần phải lật đổ chế độ nước ngoài đại diện cho một mối đe dọa tiềm năng hoặc một đe dọa nhận thức đến an ninh Hoa Kỳ, thậm chí nếu đó là mối đe dọa không phải là ngay lập tức; một chính sách truyền bá dân chủ trên thế giới, đặc biệt là ở Trung Đông, như một chiến lược cho cuộc chiến chống khủng bố; và sẵn sàng đơn phương theo đuổi các lợi ích quân sự của Hoa Kỳ. một số các chính sách này đã được hệ thống hóa trong một văn bản quốc gia Hội đồng An ninh Quốc gia với tựa "Chiến lược An ninh Quốc gia của Hoa Kỳ" được xuất bản vào ngày 20 tháng 9 năm 2002. Cụm từ "Học thuyết Bush" hiếm khi được sử dụng bởi các thành viên của chính quyền Bush. Khái niệm này dù vậy cũng đã được sử dụng ít nhất một lần, bởi Phó Tổng thống Dick Cheney, trong một bài phát biểu năm 2003 tháng sáu, trong đó ông nói, "Nếu có bất cứ ai trong thế giới ngày nay nghi ngờ mức độ nghiêm trọng của Học thuyết Bush, tôi sẽ hối thúc người đó xem xét số phận của Taliban ở Afghanistan, và chế độ Saddam Hussein tại Iraq". Các yếu tố chính của Học thuyết Bush được mô tả trong một tài liệu, Chiến lược An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, xuất bản ngày 17 tháng 9 năm 2002. Tài liệu này thường được trích dẫn là tuyên bố xác định của học thuyết. Nó được cập nhật năm 2006 và được nêu như sau: == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bush, George W. (tháng 9 năm 2002). ' The National Security Strategy of the United States of America. The White House. Bush, George W. (tháng 3 năm 2006). ' The National Security Strategy of the United States of America. The White House. Kolodziej, Edward A. (tháng 12 năm 2006). “Getting Beyond the Bush Doctrine” (PDF). Center for Global Studies. Speed, Roger; Michael May (March/April 2005). “Dangerous Doctrine”. Bulletin of the Atomic Scientists 61 (2): 38. doi:10.2968/061002012. Record, Jeffery (Spring 2003). “The Bush Doctrine and War With Iraq” (PDF, (html version)). Parameters. Long, Bryan; Chip Pitts (ngày 24 tháng 10 năm 2006). “War, Law, and American Democracy”. OpenDemocracy.net. Tyler, Patrick E. (ngày 8 tháng 3 năm 1992). “U.S. Strategy Plan Calls for Insuring No Rivals Develop A One-Superpower World; Pentagon's Document Outlines Ways to Thwart Challenges to Primacy of America”. New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2008. The document is known in Pentagon parlance as the Defense Planning Guidance, an internal Administration policy statement that is distributed to the military leaders and civilian Defense Department heads to instruct them on how to prepare their forces, budgets and strategy for the remainder of the decade. The policy guidance is typically prepared every two years.... “Defense Policy Guidance 1992–1994”. SourceWatch.org. Myers, General Richard B. (Chairman of the Joint Chiefs of Staff) (tháng 3 năm 2005). “=The National Military Strategy of the United States of America” (PDF). Dissident President April 2006 == Sách == Bacevich, Andrew J. The New American Militarism: How Americans Are Seduced By War, New York & London, Oxford University Press, 2005. ISBN 0-19-517338-4 Bennett, William J. Why We Fight: Moral Clarity and the War on Terrorism, New York, Regnery Publishing, Inc., 2003. ISBN 0-385-50680-5 Chernus, Ira Monsters To Destroy: The Neoconservative War on Terror and Sin, Boulder, CO, Paradigm Publishers, 2006 ISBN 1-59451-276-0 Dolan, Chris J (2005). In War We Trust: The Bush Doctrine And The Pursuit Of Just War. Ashgate Publishing, Ltd. tr. 229. ISBN 0-7546-4234-8. Dolan, Chris J; Betty Glad (2004). Striking First: The Preventive War Doctrine and the Reshaping of U.S. Foreign Policy. Palgrave Macmillan. tr. 232. ISBN 1-4039-6548-X. Donnelly, Thomas The Military We Need: The Defense Requirements of the Bush Doctrine, Washington, D.C., American Enterprise Institute Press, 2005. ISBN 0-8447-4229-5 Gaddis, John Lewis Surprise, Security, and the American Experience, Cambridge, MA, Harvard University Press, 2004. ISBN 0-674-01174-0 Grandin, Greg Empire's Workshop: Latin America, The United States, and the Rise of the New Imperialism, New York, Metropolitan Press, 2006. ISBN 0-8050-7738-3 Hayes, Stephen (2005). The Brain: Paul Wolfowitz and the Making of the Bush Doctrine. New York: HarperCollins. ISBN 0-06-072346-7.
thạc sĩ.txt
Thạc sĩ theo nghĩa đen là từ để chỉ người có học vấn rộng (thạc = rộng lớn; sĩ = người học hay nghiên cứu), nay dùng để chỉ một bậc học vị. Học vị thạc sĩ trong tiếng Anh được gọi là Master's degree (tiếng Latin là magister), một học vị trên cấp cử nhân, dưới cấp tiến sĩ được cấp bởi trường đại học khi hoàn tất chương trình học chứng tỏ sự nắm vững kiến thức bậc cao của một lĩnh vực nghiên cứu hoặc ngành nghề. Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, học vị này được gọi là học vị "cao học", trong khi lúc đó thạc sĩ lại là một học vị chuyên môn trên tiến sĩ, dành cho những tiến sĩ muốn làm giáo sư đại học (tiếng Pháp: professeurs agrégés des universités hay là agrégation). == Học vị thạc sĩ == Những người có trình độ thạc sĩ là những người có trình độ chuyên ngành vững chắc. Sau khi được học nâng cao và cùng với kinh nghiệm làm việc đã tích lũy được, họ sẽ có thêm kiến thức liên ngành và năng lực thực hiện công tác chuyên môn cũng như nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành đào tạo. Học vị thạc sĩ là một bậc đánh giá trình độ học vấn của một người. Những người muốn đi xa trên con đường học vấn và sự nghiệp đều sẽ học và theo đuổi tấm bằng thạc sĩ, rồi sau đó sẽ là tiến sĩ với đích đến cuối cùng là được phong (hoặc bổ nhiệm) làm Giáo sư. Ngoài ra, người lãnh bằng thạc sĩ có thể được dạy học tại trường đại học trên những lĩnh vực nào đó. === Danh hiệu === Hai học vị phổ biến nhất của chương trình thạc sĩ là Thạc sĩ Văn chương / xã hội (Master of Arts - M.A.) và Thạc sĩ Khoa học (Master of Science - M.S. hoặc M.Sc, Thạc sĩ Khoa học thông tin - Master of Science in Information - M.Si., hoặc Thạc sĩ Ứng dụng máy tính - Master of Computer Application - M.C.A.); các chương trình có thể dựa trên quá trình học tập, hoặc nghiên cứu, hoặc sự kết hợp của cả hai. Một số trường đại học sử dụng các tên bằng tiếng Latin; vì sự linh hoạt của cú pháp trong tiếng Latin, các Thạc sĩ Nghệ thuật và Thạc sĩ của độ khoa học có thể được gọi là Magister Artium hoặc Artium Magister (A.M.), Magister scientiæ hoặc Scientiæ Magister (S.M.). Đại học Harvard, Đại học Chicago, và MIT, ví dụ, sử dụng A.M và S.M. cho bằng thạc sĩ của họ. Thông thường hơn, Thạc sĩ Khoa học thường được viết tắt là MS hoặc M.S. tại Hoa Kỳ, và MSc hoặc M.Sc. tại các quốc gia thịnh vượng chung và châu Âu. Ngoài hai chương trình nêu trên còn có các chương trình thạc sĩ chuyên môn với tên cụ thể hơn, bao gồm, ví dụ, các Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA), Thạc sĩ Quản trị Y tế (MHA), Thạc sĩ CNTT trong kinh doanh (MITB), Thạc sĩ Kỹ thuật Kinh doanh (MBE), Thạc sĩ châu Âu kinh doanh (MEB), Thạc sĩ Tư vấn (MC), Thạc sĩ về Thần học (M.Div.), Thạc sĩ Thư viện Khoa học (MLS), Thạc sĩ Hành chính công (MPA), Thạc sĩ xã hội làm việc (MSW), Thạc sĩ Chính sách công (MPP), Thạc sĩ Luật (LL.M.), Thạc sĩ Âm nhạc (MM hoặc M.Mus.), Thạc sĩ Thông tin (MI), Thạc sĩ Mỹ thuật (MFA), Thạc sĩ y tế Công cộng (MPH). Bằng thạc sĩ chuyên môn còn được gọi là bằng thạc sĩ chuyên nghiệp (Professional Master’s Degrees) bởi nó tập trung vào việc đào tạo sinh viên để theo đuổi các ngành nghề trong tương lai. Thạc sĩ chuyên nghiệp (Master of Professional Studies hoặc MPS) là chương trình tập trung vào các ngành học thực tiễn của một lĩnh vực bao gồm nhiều ngành khác nhau. Trong khi các chương trình thạc sĩ Khoa học tự nhiên và thạc sĩ Văn chương/ xã hội thường tập trung vào lý thuyết và nghiên cứu, chương trình thạc sĩ chuyên nghiệp hướng đến việc phát triển các kiến thức ứng dụng và hiểu biết thực tế của sinh viên về lĩnh vực. Các chuyên ngành, bao gồm, ví dụ Kế toán và Quản lý, Thống kê ứng dụng, Nguồn nhân lực, Khoa học hình ảnh, Công nghệ thông tin, Khoa học vật liệu, Quản lý dự án, Đào tạo chiến lược, Công nghệ kĩ thuật truyền thông, v.v... Một số chương trình bao quát hơn, ví dụ như các Thạc sĩ Triết học (M.Phil.), Thạc sĩ nghệ thuật tổng hợp (MALS, MLA / ALM, và MLS), và Thạc sĩ nghiên cứu cao cấp (MAS, M.A.S., hoặc MAst.) === Thể loại === Thạc sĩ theo chuyên ngành (MA, MS, M.Ed., MEB, M.Des., MNCM, MSN, MSW, MPA, MPC, MPP, MPH, MC, MCA, M.Couns., MLA, MLIS, M.Div., ALM, MM, MBA, M.Tech., MITB, MBE, M.Com., MMC, MIB, MI, PSM và các ngành cụ thể khác) được thiết kế cho bất cứ ai có bằng cử nhân. Thạc sĩ nghiên cứu (M.Res, Mares, MSRes, M.St., M.Phil, M.Litt.....) được thiết kế cho những người có bằng cử nhân với nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu và / hoặc có một số phát hành xuẩt bản. Nó được thiết kế cho những người muốn theo đuổi nghiên cứu cao hơn. Thạc sĩ điều hành (Thạc sĩ quản trị kinh doanh cấp cap - E.M.B.A., E.M.S.) được thiết kế đặc biệt cho các chuyên gia quản lý. Tuyển sinh, yêu cầu tốt nghiệp, và cơ cấu của chương trình thạc sĩ điều hành khác biệt so với các chương trình toàn thời gian. Thạc sĩ chuyên nghiệp / tổng hợp (M.P.S., M.Eng., M.Pharm., M.Pharmacol., ThS., M.Math., M.Phys., M.Psych., M.Sci., M.Chem., M.Biol., M.Geol., v.v...) là một văn bằng kết hợp một năm của chương trình thạc sĩ sau khi tốt nghiệp cử nhân. == Các chương trình đào tạo thạc sĩ == Học vị và bằng thạc sĩ được cấp sau khi hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ được nhà nước hay trường đại học quốc tế công nhận. Hiện nay Việt Nam có rất nhiều chương trình đào tạo thạc sĩ được công nhận bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo (Việt Nam) do các trường đại học trong nước và các chương trình liên kết giữa các trường đại học với nước ngoài giảng dạy. Chương trình đào tạo thạc sĩ ở Việt Nam phải có khối lượng từ 80 đến 100 đơn vị học trình. Một đơn vị học trình được quy định bằng khoảng 15 tiết giảng lý thuyết, 30 đến 45 tiết giảng thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, 45 đến 60 tiết làm tiểu luận hoặc luận văn . Ở Việt Nam, bậc đào tạo thạc sĩ hầu như có ở tất cả các ngành học. Các chương trình thạc sĩ có thể có thời gian học dài, ngắn khác nhau tùy thuộc vào quy định của từng trường và từng quốc gia khác nhau. Chẳng hạn chương trình đào tạo thạc sĩ ở Anh khoảng 1 năm, ở Hoa Kỳ khoảng 1 hoặc 2 năm tùy từng trường và ngành học, còn ở Việt Nam là 2 năm. Người Việt Nam có cơ hội theo học các chương trình đào tạo thạc sĩ của nước ngoài hoặc chương trình đào tạo thạc sĩ liên kết với nước ngoài theo các chuyên ngành như: Quản trị Kinh doanh (MBA), Tài chính và Ngoại thương , Kế toán, Quản lý công == Xem thêm == Đào tạo sau đại học == Tham khảo ==
john mcafee.txt
John David McAfee (sinh ngày 18 tháng 9 năm 1945) là một lập trình viên máy tính người Mỹ năm 2016 ứng cử viên tổng thống đảng Tự Do, và phát triển của các chương trình chống virus thương mại đầu tiên. Chương trình này mang thương hiệu McAfee trong nhiều năm, cho đến khi nó đã được Intel mua và mang tên Intel. Tài sản của ông đã lên đến mức cao nhất 100 triệu USD, trước khi đầu tư của ông bị thiệt hại trong cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2007. McAfee cũng quan tâm các ứng dụng điện thoại thông minh, yoga, và thuốc kháng sinh hoàn toàn tự nhiên. Ông cư trú vài năm ở Belize, nhưng sau khi một số tranh chấp với các nhà chức trách ở Belize và Guatemala, ông trở về Hoa Kỳ vào năm 2013. Ngày 08 tháng 9 năm 2015, McAfee công bố rằng ông sẽ tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2016 với tư cách ứng cử viên của một đảng chính trị mới được thành lập gọi là Đảng Cyber. Ngày 24 tháng 12 năm 2015 ông tái công bố giá ứng cử của ông, nói rằng ông sẽ thay tìm kiếm sự đề cử cử đảng Tự do trong cuộc tranh cử Tổng thống. == Thời trẻ == McAfee sinh ra ở Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland ngày 18 tháng 9 năm 1945 hoặc năm 1946 trong một căn cứ Lục quân Hoa Kỳ, và lớn lên ở Salem, Virginia, Hoa Kỳ. Ông đã có bằng cử nhân toán và tiến sĩ danh dự từ Roanoke College lần lượt vào năm 1967 và năm 2008, respectively. == Chú thích ==
kinh tế việt nam.txt
Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, phụ thuộc cao vào xuất khẩu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây là nền kinh tế lớn thứ 6 ở Đông Nam Á trong số 11 quốc gia Đông Nam Á; lớn thứ 48 trên thế giới xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2013 và đứng thứ 128 xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người. Tổng Thu nhập nội địa GDP năm 2015 là 198,8 tỷ USD. Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng ở Việt Nam một hệ thống kinh tế thị trường. Tính đến tháng 11 năm 2007, đã có Trung Quốc, Nga, Venezuela, Nam Phi, ASEAN và Ukraina tuyên bố công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ, đến năm 2013 đã có 37 quốc gia công nhận Việt Nam đạt kinh tế thị trường (VCCI) trong đó có Nhật Bản, Đức,Hàn Quốc. Xét về mặt kinh tế, Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, ASEAN. Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước khác. Việt Nam cũng đã ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương. == Lịch sử == === Trước 1954 === Pháp thực hiện độc quyền thương mại, đặc biệt là công khai buôn bán thuốc phiện. Độc quyền nấu rượu thì giao cho công ty Société des Distilleries d'Indochine phân phối cho toàn Liên bang dưới hiệu "RA" (Régie de Alcool), tục gọi là "rượu ty". Những nguồn rượu khác thì bị liệt vào hạng rượu lậu và ai nấu hay mua thì bị truy tố và tài sản tịch thu. Đối với thuốc phiện thì quyền nhập cảng, chế biến và bán sỉ là do cơ quan Régie de l'Opium đảm nhận. Tính đến năm 1900 thì lợi nhuận chính phủ thu được từ thuốc phiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang Đông Dương. Riêng việc phân phối bán lẻ là để cho tư nhân, đa số là người Hoa. Theo giáo sư Trần Văn Thọ, kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc thịnh vượng nhất là năm 1938, cao hơn năm 1960 là 60%. Năm 1938, tổng sản phẩm quốc nội của Đông Dương là 1,014 tỷ tiền Đông Dương, trong đó công nghiệp chiếm 22%. Kinh tế thị trường có mức độ phát triển nhất định. So với thời trước thực dân, cơ cấu kính tế chuyển từ kinh tế phong kiến nặng tự cung tự cấp sang nền kinh tế có công nghiệp và thương mại phát triển ở mức độ nhất định, chủ yếu xuất khẩu lúa gạo, cao su, than...Lao động giá rẻ của người bản xứ được tận dụng. Nhiều công trình giao thông và thành phố hiện đại theo kiểu phương Tây được xây dựng, phục vụ cho lợi ích thực dân. === Giai đoạn 1954-1975 === Thời gian này, Chiến tranh Việt Nam nổ ra. Trong thời kỳ này, Việt Nam bị chia cắt thành hai vùng với hai chế độ chính trị và kinh tế khác nhau. Xem chi tiết: Kinh tế Việt Nam Cộng hòa Kinh tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong giai đoạn này, kinh tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát triển bình quân năm là 6% (GDP đầu người bình quân năm tăng khoảng 3%), còn kinh tế Việt Nam Cộng hòa phát triển trung bình 3,9%/năm (bình quân đầu người tăng 0,8%). Đặc biệt kinh tế Việt Nam Cộng hòa phát triển ở số âm trong giai đoạn 1965-75 phần lớn do chiến tranh đã lan rộng khắp miền và ở mức độ quyết liệt.. Tổng tăng trưởng bình quân cả hai miền 1,9% giai đoạn 1955 -1976. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1955-1975 được ghi tại bảng dưới đây (đơn vị: triệu USD, tính theo thời giá 2015). Ở thời điểm 1956, Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam Cộng hòa cao gấp 5 lần so với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Có sự chênh lệch lớn này là do lãnh thổ miền Bắc Việt Nam bị tàn phá nặng nề trong Chiến tranh Đông Dương, trong khi lãnh thổ miền Nam ít bị Pháp tàn phá hơn nhiều. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1955-1970, khoảng cách này dần bị thu hẹp, đặc biệt là kể từ năm 1963, khi kinh tế Việt Nam Cộng hòa suy thoái nhiều năm liền. Đến năm 1972 trở về sau thì tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa đã vượt cao hơn so với Việt Nam Cộng hòa GDP bình quân đầu người của Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1955-1975 được ghi tại bảng dưới đây (đơn vị: USD/người/năm): Giai đoạn đầu tiên là 1955-1963, cả Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều có mức tăng trưởng kinh tế cao (kinh tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng 1,7 lần trong khi Việt Nam Cộng hòa tăng 1,6 lần). Giai đoạn thứ 2 là năm 1964-1975, tăng trưởng trở nên bấp bênh khi mà cả 2 miền Việt Nam đều bị lôi vào sự leo thang chiến tranh với sự dính líu trực tiếp của Hoa Kỳ cho đến khi chiến tranh kết thúc Giai đoạn 1955-1975, nhìn chung, Việt Nam Cộng hòa có mức GDP bình quân đầu người cao hơn so với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nguyên nhân là từ mức viện trợ kinh tế cực kỳ lớn từ Mỹ. Tuy nhiên, 1 điều thú vị là năm 1974 (năm áp chót của chiến tranh), khoảng cách GDP bình quân đầu người giữa 2 miền Việt Nam đã biến mất, kinh tế 2 miền đã ở mức ngang nhau khi chiến tranh kết thúc Có thể giải thích điều này là do sự cắt giảm viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ từ năm 1973 khiến kinh tế Việt Nam Cộng hòa bị suy thoái. Việt Nam Cộng hòa tồn tại kinh tế thị trường, phân hóa giai cấp, thu nhập bình quân không cân xứng với GDP bình quân, tức là có thu nhập không theo lao động, không tính vào tổng GDP, trong khi Việt Nam dân chủ cộng hòa tồn tại hệ thống bao cấp, thu nhập dân chúng phụ thuộc nhiều vào chế độ tem phiếu, áp dụng theo quy luật "làm theo năng lực, hưởng theo lao động". Đặc điểm chung của hai miền là phụ thuộc nhiều vào viện trợ bên ngoài. Vốn đầu tư của người Hoa ở Việt Nam Cộng hòa năm 1969 chiếm 35% tổng vốn đầu tư kinh tế Việt Nam Cộng hòa. Các vùng do Mặt trận kiểm soát có chính sách kinh tế riêng. Sản xuất của miền Bắc ước tính bằng 70% của miền Nam, giai đoạn 1950-1975. Ở miền nam, chênh lệch thu nhập lớn trong dân chúng, giữa thành thị - nông thôn, và tác động của chiến tranh ảnh hưởng đến kinh tế theo cả hai chiều xấu tốt trong các bộ phận dân chúng khác nhau, xuất khẩu thô và dịch vụ liên quan chiến tranh phát triển. Kinh tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy có dựa vào viện trợ bên ngoài, nhưng nặng về tự cung tự cấp, tự lực tự cường, thương mại kém phát triển và nhà nước phân bổ thu nhập nên ít phân hóa giàu nghèo, nhưng chi phí cho chiến tranh lớn, đồng nghĩa tăng gánh nặng đóng góp của dân chúng cho chi phí chiến tranh. === Giai đoạn 1976-1986 === Năm 1976, Việt Nam thống nhất đổi tên thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 1980 ra Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam được quyết định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc năm 1976, nhằm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện ba cuộc cách mạng: về quan hệ sản xuất, khoa học - kỹ thuật, tư tưởng và văn hóa (phát triển từ một nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa). Các chính sách quốc hữu hóa và tập thể hóa được đẩy mạnh ở miền Nam, ngoài ra áp dụng phân bổ lại nguồn lực lao động trên cả nước, bao gồm cả xây dựng các vùng kinh tế mới, từng bước hoàn thiện phân phối xã hội chủ nghĩa làm theo năng lực hưởng theo lao động, xóa bỏ kinh tế hàng hóa. Chỉ tiêu kinh tế đặt ra rất cao trong hoàn cảnh chiến tranh tàn phá nặng nề cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các vùng nông thôn và một số cơ sở hạ tầng giao thông và công nghiệp miền Bắc, nhân lực hạn chế do tỷ lệ thương tật trong chiến tranh cao, tỷ lệ mù chữ khá cao, khả năng quản lý kinh tế yếu kém, phát triển kinh tế dàn trải, đầu tư nhiều cho nông thôn và các tỉnh (hòng sớm xóa bỏ hố phân hóa kinh tế giữa hai miền, nông thôn - thành thị, đồng bằng - miền núi) trong khi điều kiện các vùng về tài nguyên tự nhiên, nhân lực rất khác nhau (rất khác với mô hình kinh tế thị trường sau này các vùng có điều kiện phát triển như thành thị, duyên hải, có nhiều tài nguyên và chất lượng nhân lực tốt được đầu tư nhiều hơn và lợi nhuận chảy nhiều vào các khâu trung gian cấp vốn và đầu ra sản phẩm). Đường lối kinh tế chủ đạo của Việt Nam từ thời kỳ này là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động (gồm công nhân, nông dân tập thể, trí thức xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V do Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày, ngày 27 tháng 3 năm 1982: Công nghiệp nặng được ưu tiên phát triển Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được cải tạo, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên, nông dân ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ được khuyến khích tham gia sản xuất tập thể Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế quốc dân theo kế hoạch thống nhất. Hội nhập kinh tế thông qua triển khai các hiệp định hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ Kinh tế từ năm 1978. Thời kỳ này được nhắc đến với danh từ "bao cấp". Nền kinh tế hoạt động theo cơ chế tập trung kế hoạch hóa. Nhà nước lên kế hoạch cho mọi hoạt động kinh tế, các xí nghiệp nhà máy cứ theo kế hoạch nhà nước mà làm. Thành phần kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ (Hiến pháp cho phép kinh tế trên nền sở hữu tư nhân rất hãn hữu trong giai đoạn quá độ). Nông dân làm việc trong các hợp tác xã. Về lý thuyết các hợp tác xã thuộc thành phần kinh tế tập thể, tuy nhiên do ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân (do Nhà nước quản lý nhưng người dân không dễ giám sát với tư cách người chủ tối cao), cộng thêm cơ cấu quản lý hợp tác xã bất hợp lý, làm theo chỉ tiêu nhà nước và phụ thuộc nhà nước nên các ý tưởng lối làm ăn tập thể mang tính nhân đạo và đùm bọc lẫn nhau không thể phát huy tác dụng, thậm chí mang tính kinh tế nhà nước hơn là kinh tế tập thể. Từ năm 1976 đến 1980, thu nhập quốc dân tăng rất chậm, có năm còn giảm: Năm 1977 tăng 2,8%, năm 1978 tăng 2,3%, năm 1979 giảm 2%, năm 1980 giảm 1,4%, bình quân 1977-1980 chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa so với tốc độ tăng trưởng dân số, làm cho thu nhập quốc dân bình quân đầu người bị sụt giảm 14%. GDP bình quân đầu người là 80 USD năm 1980 thấp hơn Lào (94 USD), và Campuchia (191 USD). Theo một số thống kê, kế hoạch 5 năm lần thứ hai chỉ tiêu tăng 13-14% mỗi năm, nhưng chỉ tăng 0,4% mỗi năm, trong đó nông nghiệp tăng 1,9% và công nghiệp tăng 3,3%, phân phối yếu kém và lãng phí vốn đầu tư. Kết quả này do nhiều nguyên nhân, như không còn nhận nguồn viện trợ dồi dào từ bên ngoài, hậu/hệ quả của các cuộc chiến tranh, ngân sách quốc phòng lớn, cấm vận của Mỹ, nạn thuyền nhân và chảy máu chất xám, thiên tai, dân số tăng nhanh,... trong đó có cả "do khuyết điểm, sai lầm của các cơ quan Đảng và Nhà nước ta từ trung ương đến cơ sở về lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã hội" dẫn tới "chủ quan, nóng vội, đề ra những nhiệm vụ và chỉ tiêu của kế hoạch nhà nước quá cao so với khả năng, những chủ trương sản xuất, xây dựng, phân phối, lưu thông thiếu căn cứ xác đáng, dẫn đến lãng phí lớn về sức người, sức của;... rất bảo thủ, trì trệ trong việc chấp hành đường lối của Đảng và nhiều nghị quyết của Trung ương, trong việc đánh giá và vận dụng những khả năng về nhiều mặt của đất nước.... kéo dài cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với cách kế hoạch hóa gò bó, cứng nhắc, không đề cao trách nhiệm và mở rộng quyền chủ động cho cơ sở, địa phương và ngành, và cũng không tập trung thích đáng những vấn đề mà Trung ương cần và phải quản lý... duy trì quá lâu một số chính sách kinh tế không còn thích hợp, cản trở sản xuất và không phát huy nhiệt tình cách mạng và sức lao động sáng tạo của những người lao động... chưa nhạy bén trước những chuyển biến của tình hình, thiếu những biện pháp có hiệu quả," Hậu quả nghiêm trọng phải kể hai cuộc đổi tiền năm 1975 (do Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thực hiện) và đổi tiền năm 1978 trên toàn quốc để thực thi "đánh tư sản mại bản", làm cạn kiệt vốn liếng của người dân và làm xáo trộn kinh tế trầm trọng.. Ngoài ra do đa số cán bộ trình độ hiểu biết kém, như chính nhận định của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Mô hình kinh tế nặng về tự cung tự cấp, do đó không tận dụng giao lưu kinh tế (ảnh hưởng của Stalin), và chủ nghĩa lý lịch, không tận dụng chất xám (ảnh hưởng của Mao). Kim ngạch xuất khẩu năm 1980 chỉ đạt 15% kim ngạch nhập khẩu. Cùng năm đó, chỉ tiêu thóc lúa là 21 triệu tấn nhưng thu hoạch chỉ đạt 12 triệu tấn. Tình hình lương thực thiếu hụt trầm trọng khiến lượng gạo mua qua mậu dịch quốc doanh bị hạn chế tương đương với thời kỳ chiến tranh khốc liệt nhất ở miền Bắc. Khoảng 10-15% lương thực phải nhập khẩu. Hàng hóa không đủ, để trang trải các khoản nợ từ khối Cộng sản, chính phủ Việt Nam xoay sang trả nợ bằng lao động. Riêng tại Liên Xô đã có hơn 100.000 thợ thuyền người Việt được gửi sang để bù vào phần nào cán cân mậu dịch. Thu nhập bình quân đầu người năm 1976 là 101 USD, đến năm 1980 có 91 USD, trong khi năm 1982 là 99 USD, riêng tại miền Bắc năm 1976 là 82 USD, đến năm 1980 là 58 USD.. Tốc độ tăng kinh tế giai đoạn 1975 đến 1985 dao động ở 1,9%-0,6%. Năm 1982, Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận kinh tế Việt Nam trong thời kỳ 1976-1980 là: "kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra, những mất cân đối lớn của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội trong khi dân số tăng nhanh; thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định, đời sống của nhân dân lao động còn nhiều khó khăn". Vì thế, từ năm 1982, Đảng này quyết định Việt Nam sẽ tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp và coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, và kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý, tăng cường phân cấp cho địa phương trong công tác sản xuất và quản lý sản xuất. Kinh tế quốc doanh vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, kinh tế gia đình được khuyến khích. Thị trường không có tổ chức bị quản lý chặt chẽ. Tính chung tốc độ phát triển 5 năm, năm 1981 tăng 2,3%, năm 1982 tăng 8,8%, năm 1983 tăng 7,2%, năm 1984 tăng 8,3%, năm 1985 tăng 5,7%, bình quân 1981-1985 tăng 6,4%/ năm. Tốc độ tăng kinh tế cả giai đoạn 1975 đến 1985 trung bình là 3,7%, trong khi dân số tăng 2,3% song chỉ tiêu đặt ra cho kế hoạch 5 năm lần thứ ba chỉ từ 4,5%-5% mỗi năm nhưng tăng trung bình 6,4% mỗi năm, nông nghiệp tăng 5,3% và công nghiệp tăng 9,3%. Lạm phát đầu những năm 80 là cao với 50%, đến 1985 là 587,2% (giai đoạn 1975-1980 lạm phát trung bình mỗi năm có 21,2%). Tuy nhiên, thời kỳ 1981-1985 kinh tế Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đã đề ra trong nghị quyết đại hội V là cơ bản ổn định tình hình kinh tế-xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Sai lầm về tổng điều chỉnh giá - lương - tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn mới. Nền kinh tế-xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Siêu lạm phát xuất hiện và kéo dài, từ năm 1985 kéo dài đến 1988 từ 500% đến 800%. Nguồn gốc lạm phát một nguyên nhân là do thâm hụt ngân sách của các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên bất cập hệ thống phân phối cũng đáng kể. Để vượt qua khó khăn, các địa phương nhất là địa phương ở Nam Bộ đã có những biện pháp "xé rào" như khoán hộ, khoán sản phẩm, bù giá vào lương, tăng cường quan hệ ngoại thương với các nước ngoài khối xã hội chủ nghĩa. Những biện pháp "xé rào" này đã mang lại những hiệu quả nhất định trong tăng năng suất sản xuất, giải quyết tình trạng khan hiếm hàng hóa và nợ lương người lao động. Vì thế, chúng đã thu hút được sự chú ý của các nhà lãnh đạo Đảng và chính phủ. Khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động (hay Khoán 100 gọi dựa theo Chỉ thị 100 của Ban Bí thư trung ương Đảng CSVN khóa IV) và mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh (nghị quyết 25/CP của Chính phủ) được Đảng và Chính phủ cho phép thí điểm và dần áp dụng rộng rãi từ năm 1981. Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, một số nhà nghiên cứu kinh tế gồm cả những người được đào tạo thời Việt Nam Cộng hòa đã được lãnh đạo Đảng triệu tập để nghiên cứu, chuẩn bị cho Đổi Mới. Những thực tiễn "xé rào" và lý luận mới trên đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam triển khai chính thức chương trình Đổi mới tư duy quản lý kinh tế mà thể hiện trước hết là nghị quyết của Đại hội VI tổ chức vào giữa tháng 12 năm 1986. Các quyết định đổi mới gắn với tên tuổi của Tổng bí thư Trường Chinh và chỉ đạo bởi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. === Giai đoạn 1986-2006 === Xem thêm: Đổi mới Thời kỳ 1986-2000 gọi là thời kỳ chuyển tiếp của nền kinh tế Việt Nam (tiếng Anh: transitional economy), từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường, nhưng không phải là thị trường hoàn toàn tự do mà "có sự quản lý, điều tiết của nhà nước", theo chính phủ Việt Nam là để nhằm hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường. Giai đoạn 1986-1990, Việt Nam tập trung triển khai Ba Chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Các hình thức ngăn sông cấm chợ, chia cắt thị trường được xóa bỏ dần, kế hoạch kinh tế của nhà nước được thực hiện trên cơ sở hạch toán. Đặc biệt, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể được thừa nhận và bắt đầu được tạo điều kiện hoạt động. Nền kinh tế dần dần được thị trường hóa. Song Đảng chủ trương và thực hiện kinh tế quốc doanh là chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế khác. Cơ chế quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính dần dần giảm đi. Kinh tế Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến tốt. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã sản xuất đủ tự cung cấp, có dự trữ và còn xuất khẩu gạo. Khoán 10 được triển khai từ năm 1988 trên quy mô toàn quốc càng khuyến khích nông dân sản xuất lúa gạo. Hàng hóa, nhất là hàng tiêu dùng, nhiều hơn và đa dạng hơn. Xuất khẩu tăng mạnh, thâm hụt thương mại giảm. Từ năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầu thô, đem lại nguồn thu xuất khẩu lớn. Lạm phát được kiềm chế dần dần.. Đến năm 1990, GDP bình quân đầu người mới đạt mức 98 USD (Lào là 186 USD, và Campuchia là 191 USD). Tháng 6 năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, tại đây một văn kiện quan trọng đã ra đời, đó là "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội". Cương lĩnh này sau đó liên tục được bổ sung và điều chỉnh trong các kỳ họp của Ban Chấp hành trung ương Đảng và Đại hội Đại biểu toàn quốc tiếp theo. Cương lĩnh này và các văn kiện có tính chất sửa đổi nó tuyên bố rằng nhiệm vụ trung tâm của xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là: "đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" "gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện". Các văn kiện này nêu phương hướng: "thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước" và "phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Thời kỳ 1991-1999 được coi là giai đoạn phát triển thành công của Việt Nam, gắn với nhiệm kỳ Tổng bí thư Đỗ Mười, hai nhiệm kỳ của Thủ tướng Võ Văn Kiệt (từ tháng 8 năm 1991 – tháng 9 năm 1997). Việc chuyển sang kinh tế thị trường đã làm thay đổi toàn diện nền kinh tế. Tăng trưởng trên 9% đạt được vào các năm 1995 (9,54%) và 1996 (9,34%) tuy nhiên phân hóa xã hội và tham nhũng cũng gia tăng. Giai đoạn 1993-1997 là thời kỳ kinh tế Việt Nam kiềm chế thành công lạm phát đồng thời lại tăng trưởng nhanh chóng. Sau đó, kinh tế tăng trưởng chậm lại trong 2 năm 1998-1999, sau đó tiếp tục đà tăng nhanh trong những năm đầu 2000 trong hai nhiệm kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải. Thập niên 1990 và đầu 2000 là thời kỳ mà Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế mà đỉnh cao là việc ký hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (năm 2006) và Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (năm 2001). Các sách báo trong nước thời kỳ này dùng cụm từ "đổi mới" để mô tả thời kỳ 1986-2000, thời kỳ chuyển biến thực sự về nhận thức tư duy kinh tế, áp dụng kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Báo chí nước ngoài khen ngợi Việt Nam, ví Việt Nam như "con hổ" kinh tế trong tương lai gần. GDP bình quân đầu người đạt mức 396 USD (Lào 328 USD, Campuchia 283 USD) năm 2000. Tuy nhiên, đến thời điểm kết thúc nhiệm kỳ cuối của Thủ tướng Phan Văn Khải (2006), theo ông Khải phát biểu chia tay tại Quốc hội, nền kinh tế Việt Nam đã và vẫn còn nhiều tồn tại mà ông Khải vẫn chưa giải quyết được. Công tác cán bộ chậm được đổi mới là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo quản lý kinh tế, xã hội. Nền kinh tế còn chậm phát triển chiều sâu, tình trạng lãng phí thất thoát vốn và tài sản công còn nghiêm trọng nhất là trong các dự án đầu tư vốn nước ngoài. === Giai đoạn 2006-nay === Tháng 6 năm 2006, Nguyễn Tấn Dũng lên thay Phan Văn Khải làm Thủ tướng. Theo BBC, Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị cáo buộc đã không quyết liệt với nạn tham nhũng phổ biến gây nên sự sụp đổ của một loạt tập đoàn lớn như Vinashin . Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã mắc các sai phạm trong quản lý các vấn đề kinh tế, đã bị đề nghị kỷ luật Hội nghị 6 Trung ương đảng khóa XI tháng 10 năm 2012. Bản thân lãnh đạo Đảng Cộng sản cũng nhận lỗi và thừa nhận các vấn đề của nền kinh tế Việt Nam là do sai lầm trong hoạch định chính sách kinh tế, mà đại diện là Bộ Chính trị. Ông Dũng trong Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIII đã thừa nhận các sai lầm trong quản lý kinh tế đã dẫn tới các vấn đề nghiêm trọng của nền Kinh tế Việt Nam. Ông Dũng ký quyết định thành lập mới một loạt các Tập đoàn kinh tế Nhà nước lớn, như Tập đoàn dầu khí, (29-8-2006), Tập đoàn Công nghiệp Cao su (30-10-2006)... (trước đó chỉ là các Tổng công ty) đồng thời ông Dũng trực tiếp chịu trách nhiệm và quyền hạn liên quan, thay vì các Bộ như trước kia. Trong số 40 tập đoàn, có hai tập đoàn do sai lầm trong quản lý nên lâm vào khủng hoảng, gây lãng phí rất lớn, 5 tập đoàn nhà nước đầu ngành bị lỗ (2 tập đoàn lỗ trên 1.000 nghìn tỷ), 5 tập đoàn có nợ phải thu khó đòi hàng trăm tỷ tính tới cuối năm 2012 . Kinh tế năm 2007 tăng trưởng 8,5%, cao nhất kể từ năm 1997. Tuy nhiên năm 2008, nền kinh tế Việt Nam chững lại, được cho bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có khủng hoảng tài chính 2007-2010. Từ năm 2007, nền kinh tế đã có dấu hiệu lạm phát rất cao. Đặc trưng giai đoạn này là tốc độ tăng trưởng kinh tế chững lại (chỉ đạt 5-6%/năm so với 7-8% giai đoạn trước). 2008 là một năm không vui với tăng trưởng GDP của Việt Nam khi tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt ~6,23%, thấp nhất kể từ năm 1999. Các năm 2007-2008, lạm phát tăng tốc và hàng năm đều ở mức 10-20%.. Năm 2009, tốc độ tăng trưởng GDP tụt xuống còn 5,32%, năm 2010 là 6,78% và năm 2011 là 5,89% Tháng 5 năm 2009, Chính phủ tung ra gói kích cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng (tương đương 8 tỷ USD), sau đó tăng lên 160 nghìn tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD). Gói kích cầu có ảnh hưởng tốt nhất định (kích thích nhu cầu tăng, dẫn tới tăng GDP), tuy nhiên cũng để lại nhiều hệ lụy sau này: tạo bong bóng đầu cơ bong bóng chứng khoán và bất động sản, lạm phát tăng cao, thâm hụt ngân sách nặng dẫn tới nợ nhà nước tăng cao, gây bất ổn định tỷ giá và bất ổn định kinh tế vĩ mô. Ngày 25/11/2009 VNĐ bị phá giá khoảng 5% và đến tháng 12, Chính phủ phải tuyên bố dừng gói kích cầu Kinh tế Vĩ mô bất ổn định, lạm phát năm 2011 lên tới trên 20%. Trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã từng ba lần áp dụng biện pháp phá giá đồng tiền VND. Ngày 11/2/2011, VND bị phá giá 9,3%. Giai đoạn này, một số Tập đoàn kinh tế Nhà nước lớn như Vinashin, Vinalines (trước đó chỉ là các Tổng công ty) được dành rất nhiều tiền từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng do sai lầm trong quản lý nên lâm vào khủng hoảng, gây lãng phí rất lớn. Tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bước vào nhiệm kỳ hai, thay đổi một số nhân sự chủ chốt về kinh tế, đặc biệt là các bộ trưởng Nguyễn Văn Bình (Thống đốc NHNN) và Vương Đình Huệ (Bộ Tài chính). Trong giai đoạn này, lạm phát Việt Nam tăng rất cao. Nghị quyết số 11 được Chính phủ đưa rắt thắt chặt tiền tệ, nhằm mục tiêu giảm lạm phát. Theo đó, lãi suất ngân hàng tăng rất cao, các doanh nghiệp bị hạn chế cho vay. Trong năm 2011, nhiều phân tích kinh tế trong nước cho rằng Nghị quyết 11 đã phát huy tác dụng, là liều thuốc chữa lạm phát hữu hiệu. Tuy nhiên, sang năm 2012, do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân, trong đó có một phần từ Nghị quyết 11 đã thắt chặt mức cung tiền, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình thế rất khó khăn, trong đó nổi bật là nợ xấu ngân hàng và hàng tồn kho tăng cao, thị trường Bất động sản và Chứng khoán suy thoái, đặc biệt là thị trường bất động sản đóng băng, trong khi dư nợ lĩnh vực này có thể tới 50 tỷ USD. Một số lượng lớn các doanh nghiệp phá sản. Đa số các doanh nghiệp lâm vào khó khăn. Tính chung hai năm 2011 và 2012 thì tổng số doanh nghiệp rời khỏi thị trường bằng 20 năm trước đó. Và trong số gần 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động thì tỷ lệ thua lỗ cũng rất cao. Nợ xấu của toàn nền kinh tế tăng cao và tăng nhanh đe doạ sự ổn định của nền kinh tế. Tổng nợ công theo định nghĩa quốc tế vào cuối năm 2011 đã là 128.9 tỷ USD bằng 106% GDP (121.7 tỷ USD), trong đó nợ nước ngoài bằng 38,9% GDP.. Theo một dự báo được thực hiện đầu năm 2008 thì vào năm 2025, nền kinh tế Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế lớn thứ 28 thế giới với PPP đạt hơn 850 tỉ USD, cho đến năm 2050, nền kinh tế Việt Nam sẽ đứng vào top 20 trong các nền kinh tế lớn trên thế giới có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các nền kinh tế mới nổi và sẽ đạt 70% quy mô của nền kinh tế Vương quốc Anh vào năm 2050.. Tuy nhiên kinh tế tăng trưởng chậm lại trong hai giai đoạn sau năm 1997 (năm 1998 chỉ tăng 5,76% và năm 1999 tăng 4,77%) và từ 2008 và nhất là từ năm 2011 (năm 2011 tăng 6,24%, năm 2012 tăng có 5,25% và 2013 ước tăng 5,42%), thấp hơn 5 nước khác trong khu vực Đông Nam Á và thấp hơn mức bình quân khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương (theo World Bank năm 2013 Việt Nam tăng 5,3% trong khi toàn khu vực là 7,2%). Năm 2014, kinh tế tăng trưởng 5,98% (số liệu Nhà nước Việt Nam), là năm đầu tiên vượt mức do Quốc hội khóa XIII đề ra nhưng thấp hơn đề ra trong Kế hoạch 5 năm của Quốc hội khóa XIII, trong khi thấp hơn một số nước xung quanh (theo số liệu của ADB) như Lào (7,4%, theo thông tấn xã Lào GDP bình quân đầu người 1217 USD năm 2011 lên 1692 USD năm 2014 và dự kiến năm 2015 lên đến 1890 USD, với đà tăng trưởng trung bình 7,1% mỗi năm kế hoạch 2011-2015, tỷ lệ hộ nghèo của người dân trên cả nước đã giảm từ 33% năm 2003 xuống 16% năm 2013), Campuchia (7%, thông tấn xã Campuchia xác nhận tăng 7%, trong đó công nghiệp tăng là 9,6%, khu vực dịch vụ tăng 7,5% và tăng trưởng nông nghiệp là 2,6%, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống dưới 18%, ngành du lịch năm 2014, tăng 19,34% so với năm 2013), Trung Quốc (7,4%), Ấn Độ (7,4%), Myanmar (7,7%), và với đà tăng như vậy, không đạt được chỉ tiêu chung cho kế hoạch 5 năm là tăng 6,5%-7%/năm. Năm 2015 tăng trưởng GDP đạt 6,68% (số liệu Nhà nước), trong khi các nước láng giềng Trung Quốc là 6,9%, Lào 7,5% (năm tài chính 2014-2015 GDP tăng trưởng 7,9%, với thu nhập bình quân đầu người tăng lên đến 1.970 USD, kế hoạch tăng trưởng trung bình 7,5% mỗi năm giai đoạn 2016-2020, GDP bình quân đầu người 2,450 USD năm 2020, số liệu khác phấn đấu 3.190 USD vào năm 2020), Campuchia 6,9% (số liệu khác 7%, kế hoạch tăng 7% năm 2016). Theo The World Factbook, kinh tế Việt Nam năm 2014 tăng 5,5%, mức tăng đứng thứ 7 trong Đông Nam Á. Tính tổng quan trong 10 năm (đến 2015), GDP bình quân đầu người tăng khoảng 3,5 lần xếp thứ hạng tăng 16 trên thế giới (chỉ sau Myanmar tăng 14 lần, Timor-Leste tăng 8,9 lần, Ma Cao tăng 6,2 lần, Mông Cổ tăng 5,7 lần, Trung Quốc và Uzbekistan tăng 4,8 lần, Azerbaijan và Ethiopia 4,5 lần, Tuvalu 4,4 lần, Nigeria 4,1 lần, Cộng hòa Dân chủ Congo 4,0 lần, Lào, Guyana và São Tomé và Príncipe 3,9 lần, Paraguay 3,7 lần, bằng Montenegro, Papua New Guinea, Maldives, trên một số nước gần sát như Uruguay, Sri Lanka, Suriname, Solomon tăng khoảng 3,4 lần). Xét trên tổng quy mô kinh tế, thì Việt Nam chỉ xếp sau Trung Quốc về tăng GDP bình quân đầu người trong 10 năm qua. Các số liệu GDP bình quân đầu người không phản ánh hoàn toàn chính xác mức sống của người dân, do các số liệu GDP thường chênh lệch với GNP, nhất là trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, lợi nhuận được tính vào GDP của nước này có thể được tính vào GNP của nước khác, và các nguyên nhân khác. Cụ thể theo thống kê của WB, thì GDP năm 2014 là 186,2 tỷ USD, trong khi GNI là 172,9 tỷ USD nghĩa là tiền của người Việt Nam kiếm được ở nước ngoài ít hơn tiền của người nước ngoài kiếm được ở Việt Nam, cũng có nghĩa là phần tiền kiếm được ở VN (GDP) nhưng người nước ngoài tiêu hộ cao hơn ở chiều ngược lại. Ví dụ, một công ty của Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam, thì tất cả lợi nhuận (giá trị thặng dư), khấu hao tài sản và thu nhập của người Trung Quốc lao động tại công ty đó tính vào GNI của Trung Quốc (không tính vào GDP Trung Quốc), chỉ có tiền thu được từ thuế, bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước (thu nhập từ sở hữu, ví dụ quyền khai thác khoáng sản phục vụ cho quá trình sản xuất, cho thuê đất đai,...), tiền trả cho người lao động Việt Nam tại công ty đó được tính vào GNI của Việt Nam, cho dù tất cả các khoản này đều được tính vào GDP của Việt Nam. Ở đây không kể các khoản thu của nhà nước có thể có từ công ty đó như tiền thu phí vận chuyển hàng hóa (qua cầu, đường,...), phạt vi phạm luật bảo vệ môi trường, vi phạm luật về tiền lương tối thiểu hay an toàn lao động, vi phạm luật giao thông khi vận chuyển hàng hóa, vi phạm luật bảo vệ người tiêu dùng, tiền án phí nếu xảy ra kiện tụng.v.v và cũng không tính các khoản "bôi trơn" (ngoài luật) có thể có mà doanh nghiệp phải trả cho công chức nhà nước. Thu nhập bình quân đầu người của người lao động Việt Nam tại công ty đó (một phần để tính thu nhập bình quân đầu người dân cả nước) là trừ đi các khoản do nhà nước và doanh nghiệp nắm giữ (như tiền thuế sản xuất, tiền thu được từ sở hữu nhà nước, giá trị thặng dư,...), thu nhập lao động Trung Quốc nắm giữ, nhưng có thể có thêm các khoản thu khác ngoài lao động không được cộng vào GDP và tính GDP bình quân đầu người (ví dụ nhà nước thu thuế thu nhập của người lao động nhưng lại chi phúc lợi, ví dụ tiền trợ cấp hộ nghèo,..., những cái này không làm tăng thêm GDP mà chỉ là tiền chuyển từ chỗ này sang chỗ khác). Các nước XHCN trước đây thường có một hệ thống tính GNP rất khác với các nước tư bản, và do đó quy so sánh GNP các nước tư bản với các nước XHCN trước đây thường không chính xác, và các nước XHCN trước đây cũng hay đo kinh tế theo GNP hơn là GDP. Năm 2015, GDP tính theo sức mua tương đương bình quân đầu người của Việt Nam chỉ bằng 35% so với trung bình của thế giới (khoảng 5.600 USD so với 15.000 USD), mới thoát khỏi nhóm các nước nghèo và ở vào nhóm thu nhập trung bình thấp trên thế giới. Tốc độ phát triển kinh tế (GDP) giai đoạn 2011-2015 đạt 5,91%/năm (số liệu nhà nước), không đạt mục tiêu đề ra tại Đại hội XI của Đảng là tăng từ 7% đến 7,5%/năm. Nghị quyết của Đại hội XII năm 2016 đưa chỉ tiêu phát triển kinh tế kế hoạch 5 năm 2016-2021 là 6,5% đến 7%/năm. Tuy nhiên cán cân thương mại trong giai đoạn này đã khởi sắc khi mức nhập siêu đã giảm dần, và năm 2012 là năm đầu tiên Việt Nam xuất siêu kể từ năm 1992. == Đặc điểm nền kinh tế Việt Nam hiện nay == === Hệ thống kinh tế === Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp. Trong khi nền kinh tế ngày càng được thị trường hóa thì sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế vẫn còn ở mức độ cao. Hiện tại, nhà nước vẫn sử dụng các biện pháp quản lý giá cả kiểu hành chính với các mặt hàng thiết yếu như yêu cầu các tập đoàn kinh tế và tổng công ty điều chỉnh mức đầu tư, quyết định giá xăng dầu, kiểm soát giá thép, xi măng, than. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Đảng ra quyết định về chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho thời kỳ 10 năm và phương hướng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm. Trên cơ sở đó, Chính phủ Việt Nam xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm để trình Quốc hội góp ý và thông qua. Chính phủ Việt Nam tự nhận rằng kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, và nhiều nước và khối kinh tế bao gồm cả một số nền kinh tế thị trường tiên tiến cũng công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, cho đến nay Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản vẫn chưa công nhận kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Tổ chức Thương mại Thế giới công nhận Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp và đang chuyển đổi. Việt Nam có nhiều thành phần kinh tế. Theo cách xác định hiện nay của chính phủ, Việt Nam có các thành phần kinh tế sau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Một trong những biện pháp mà Đảng và Chính phủ Việt Nam thực hiện để khu vực kinh tế nhà nước trở thành chủ đạo của nền kinh tế là thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng cổng ty nhà nước. Tuy nhiên, từ đầu thập niên 1990 cho đến nay, Việt Nam đã liên tục thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù Đảng và Nhà nước chủ trương ưu tiên phát triển các thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, song tốc độ tăng trưởng của hai thành phần này lại thấp hơn so với của kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Thống kê, năm 2007, khu vực kinh tế nhà nước là khu vực lớn nhất, chiếm 36,43% GDP thực tế của Việt Nam, tiếp theo lần lượt là kinh tế cá thể (29,61 %), kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (17,66 %), kinh tế tư nhân (10,11 %). Xem thêm: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Kinh tế hỗn hợp, Kế hoạch 5 năm (Việt Nam), Cổ phần hóa. === Cơ cấu kinh tế === Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (hay còn gọi 3 ngành lớn) kinh tế, đó là: 1) nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; 2) công nghiệp (bao gồm công nghiệp khai thác mỏ và khoáng sản, công nghiệp chế biến, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất và phân phối khí, điện, nước); 3) thương mại, dịch vụ, tài chính, du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế. Các sản phẩm chính: Nông nghiệp: gạo, cà phê, cao su, chè, hạt tiêu, đỗ tương, đường trắng, chuối, lạc; các hải sản. Công nghiệp: chế biến thực phẩm, dệt may, giầy dép, máy xây dựng - nông nghiệp; khai thác mỏ, than, apatit, bô xít, dầu thô, khí đốt; xi măng, phân đạm, thép, kính, xăm lốp; điện thoại di động; công nghiệp xây dựng; sản xuất điện. Dịch vụ: Du lịch, nhà hàng, khách sạn, giáo dục tư nhân, y tế, chăm sóc sức khỏe, tình trí... Tỷ lệ phần trăm các ngành đóng góp vào tổng GDP (ước tính 2015): Nông nghiệp 17.4% Công nghiệp 38.8% Dịch vụ 43.7% === Địa lý kinh tế === Các bộ, ngành của Việt Nam hiện thường chia toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thành 7 vùng địa-kinh tế, đó là: Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, cũng còn nhiều cách phân vùng kinh tế khác được áp dụng. Ở 3 miền của đất nước có 4 vùng kinh tế trọng điểm làm đầu tàu cho phát triển kinh tế của cả nước và vùng miền. Ở ven biển, có 20 khu kinh tế với những ưu đãi riêng để thu hút đầu tư trong và ngoài nước và làm động lực cho phát triển kinh tế của các vùng. Ngoài ra, dọc biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuchia có hơn 30 khu kinh tế cửa khẩu, trong đó có 9 khu kinh tế cửa khẩu được ưu tiên phát triển (Móng Cái, Lạng Sơn-Đồng Đăng, Lào Cai, Cầu Treo, Lao Bảo, Bờ Y, Mộc Bài, An Giang, Đồng Tháp). Sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng, hay giữa thành thị và nông thôn. GDP bình quân đầu người của các tỉnh, thành năm 2007 có một số tỉnh, thành đạt trên 18 triệu đồng (Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương và Hà Nội, Hải Phòng), từ 15 đến 18 triệu đồng (Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đồng Nai, Cần Thơ) trong khi có 5 tỉnh GDP bình quân đầu người dưới 6 triệu đồng (Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang và Bắc Kạn). Năm 2007, GDP bình quân đầu người theo giá thực tế cả nước là 13,4 triệu/người, trong đó Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc là 17,2 triệu, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là 10,1 triệu và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là 25,9 triệu. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ các tỉnh, thành phố 2015: GDP bình quân đầu người Thành phố Hồ Chí Minh 5.538 USD/người, Bà Rịa – Vũng Tàu GDP bình quân đầu người (trừ dầu khí) đạt trên 5.230 USD, Bắc Ninh GDP bình quân đầu người đạt 5.192 USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 42 triệu đồng, Quảng Ninh thu nhập bình quân đầu người đạt 3.900 USD, Cần Thơ GRDP bình quân đầu người hơn 79 triệu đồng (3636 USD), Hà Nội bình quân thu nhập đầu người 3.600 USD/người (gần 77 triệu đồng), Bình Dương thu nhập bình quân đầu người đạt 72,3 triệu đồng, Đồng Nai thu nhập bình quân theo đầu người đạt gần 3.100 USD, Vĩnh Phúc 67 triệu đồng, Đà Nẵng ước đạt 62,65 triệu đồng (2908 USD), Hải Phòng GDP bình quân đầu người 2857 USD, Tây Ninh GDP bình quân đầu người đạt 2.630 USD, Kiên Giang hơn 2.500 USD, Lâm Đồng 52,2 triệu đồng, Quảng Ngãi đạt 2.485 USD, Khánh Hòa ước đạt 2.440 USD, Long An 50,4 triệu đồng, Tiền Giang 2.145 USD, Thái Nguyên ước đạt 46,4 triệu đồng, Hà Tĩnh trên 44 triệu đồng, Bạc Liêu hơn 43 triệu đồng (tương đương 2.031 USD), Hà Nam 42,33 triệu đồng, Thừa Thiên - Huế đạt 2.000 USD, Hải Dương 2000 USD, Bình Thuận đạt 1.864 USD, Vĩnh Long 1.862 USD, Quảng Nam GDP bình quân đầu người đạt khoảng 41,4 triệu đồng, Ninh Bình 41 triệu đồng, Bình Định trên 40,1 triệu đồng, Hưng Yên, 40 triệu đồng, Sóc Trăng sản phẩm nội địa đầu người 1.800 USD, Gia Lai gần 40 triệu đồng, Bình Phước 39,8 triệu đồng, Lào Cai 39,4 triệu đồng, An Giang đạt 39,274 triệu đồng, Nam Định 37 triệu đồng, Hòa Bình GDP bình quân đầu người đạt khoảng 36,5 triệu đồng, Cà Mau GDP bình quân đầu người đạt 1.700 USD (34 triệu đồng), Hậu Giang đạt 36,5 triệu đồng/người (tương đương 1699 USD), Đắk Nông 36,4 triệu đồng, Đắk Lắk khoảng 35 triệu đồng, Lạng Sơn đạt 34,76 triệu đồng, Bến Tre 34,7 triệu đồng, Quảng Trị GDP bình quân đầu người khoảng 34 triệu đồng, Kon Tum 1.555 USD, Trà Vinh 33,4 triệu đồng, Bắc Giang ước đạt 1.545 USD, Thanh Hóa GDP bình quân đầu người ước đạt 1.530 USD, Phú Yên ước đạt 33 triệu đồng, Đồng Tháp đạt 32,6 triệu đồng, Thái Bình khoảng 1.410 USD, Tuyên Quang 1.368 USD, Phú Thọ GDP bình quân đầu người đạt 29,5 triệu đồng, Nghệ An ước đạt 29 triệu đồng, Ninh Thuận ước đạt 28,8 triệu đồng, Quảng Bình đạt 28 triệu đồng, Sơn La GDP bình quân đầu người đạt 1.257 USD (tương đương 26,4 triệu), Yên Bái hơn 25 triệu đồng, Bắc Kạn 24,4 triệu đồng, Điện Biên bình quân GDP đầu người ước đạt 23,6 triệu VNĐ (1.130 USD), Cao Bằng 20,8 triệu đồng, Lai Châu đạt 18,2 triệu đồng, Hà Giang tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2015 đạt 17,64 triệu đồng. GDP bình quân đầu người Việt Nam năm 2015 ước đạt 45,7 triệu đồng/người, tương đương 2.109 USD. === Kinh tế vĩ mô - tài chính === Năm 2008, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam ước khoảng 22,97 %, cao hơn nhiều mức Quốc hội đề ra là dưới 8,5-9% trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2008. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế tính theo đơn vị tiền tệ quốc gia của Việt Nam năm này là 6,18%, thấp hơn mức Quốc hội đề ra là trên 7,5-8%. Những lo ngại về lạm phát tăng tốc nhanh trong năm 2007 và nửa đầu năm 2008 đã khiến Chính phủ quyết định thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ và tài chính cũng như tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến kinh tế tăng trưởng chậm hơn dự kiến. Thu chi ngân sách nhà nước được điều chỉnh bởi Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản pháp lý khác. Kỳ họp cuối năm là lúc Quốc hội phê duyệt dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm sau. Các cấp ngân sách nhà nước đều có nguồn thu riêng. Ngoài ra còn có một số nguồn thu chung - là nguồn thu của ngân sách cấp trên chia cho ngân sách cấp dưới. Hiện Việt Nam có 2 sở giao dịch chứng khoán, 1 ở Hà Nội và 1 ở thành phố Hồ Chí Minh. Tại HOSE có 172 cổ phiếu được niêm yết và sử dụng chỉ số giá chứng khoán Vn-Index; ngoài ra còn có 68 trái phiếu và 4 chứng chỉ quỹ. Tại HNX-Index có 170 cổ phiếu được niêm yết và sử dụng chỉ số HNX-Index; ngoài ra còn có 531 loại trái phiếu. Bên cạnh cổ phiếu được niêm yết, cổ phiếu chưa niêm yết (ở Việt Nam quen gọi là cổ phiếu OTC) cũng được giao dịch rất nhiều. Thị trường trái phiếu Việt Nam hiện chỉ có các loại trái phiếu (định danh bằng đồng hoặc dollar Mỹ) do chính phủ, kho bạc nhà nước và chính quyền một số tỉnh, thành phố phát hành; chưa có trái phiếu doanh nghiệp. Việt Nam cũng đã phát hành và niêm yết trái phiếu chính phủ tại thị trường chứng khoán nước ngoài. Người nước ngoài được phép mua bán chứng khoán Việt Nam. Cho tới nay, năm 2006 là năm sôi động nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam. Việt Nam có 43 ngân hàng thương mại trong nước và 4 chi nhánh ngân hàng nước ngoài. (Xem thêm: Danh sách ngân hàng tại Việt Nam). Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là ngân hàng trung ương của Việt Nam có văn phòng tại tất cả các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Ngân hàng Nhà nước đang quản lý tương đương 20,7 tỷ dollar dự trữ ngoại hối nhà nước của Việt Nam (tính vào thời điểm ngày 19/6/2008). Ngân hàng này quản lý tỷ giá hối đoái chính thức của Việt Nam thông quan can thiệp vào giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để tác động tới tỷ giá bình quân liên ngân hàng và tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu. Bộ Tài chính (Việt Nam) cũng công bố một tỷ giá chính thức nữa để phục vụ hạch toán ngoại tệ. Ngoài các loại tỷ giá hối đoái chính thức nói trên, Việt Nam còn có tỷ giá hối đoái không chính thức thường áp dụng trong giao dịch ngoại tệ tại các cửa hàng kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý của tư nhân. === Kinh tế đối ngoại - hội nhập kinh tế === Năm 2008, Việt Nam xuất khẩu được khoảng 64.8 tỷ dollar Mỹ, trong đó khoảng 32,1% giá trị xuất khẩu là hàng công nghiệp nặng và khoáng sản, 45.2% là hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, 23,5% là hàng nông, lâm, thủy sản. Trong khi đó cùng năm, giá trị nhập khẩu ước đạt 60,8 tỷ dollar, trong đó ước khoảng 30,2% giá trị nhập khẩu là máy móc, thiết bị, dụng cụ các loại, 63,7% là nguyên, vật liệu, chỉ có 6,1% là hàng tiêu dùng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp ngày càng tích cực vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, giá trị đầu tư thực tế và giá trị giải ngân thấp hơn nhiều so với giá trị đăng ký. Tính theo giá trị lũy kế từ năm 1988 đến hết năm 2007, công nghiệp và xây dựng là lĩnh vực thu hút được nhiều FDI nhất – 67% số dự án và 60% tổng giá trị FDI đăng ký. Sau đó đến khu vực dịch vụ - 22,3% về số dự án và 34,3% về giá trị. Trong 82 quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, các nước đầu tư nhiều nhất tính theo giá trị FDI đăng ký lần lượt là Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Nhật Bản. Còn theo giá trị FDI thực hiện thì Nhật Bản giữ vị trí số một. Các tỉnh, thành thu hút được nhiều FDI (đăng ký) nhất lần lượt là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu. Riêng năm 2008, số FDI mới đăng ký (nghĩa là không tính số xin phép tăng vốn phát sinh trong năm) đạt 32,62 tỷ dollar. Việt Nam cũng đầu tư ra nước ngoài tới 37 quốc gia và lãnh thổ, nhiều nhất là đầu tư vào Lào. Tính đến hết năm 2007, có 265 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký khoảng 2 tỷ dollar và vốn thực hiện khoảng 800 triệu dollar. Đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chiếm phần lớn, tiếp theo là nông, lâm nghiệp. Việt Nam bắt đầu chủ trương hội nhập kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), chủ trương này càng được đẩy mạnh. Hội nhập kinh tế của Việt Nam diễn ra càng ngày càng nhanh và càng sâu. Từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã tiến tới hợp tác kinh tế toàn diện, từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh tế đa phương. Cho đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc. Đỉnh cao về hợp tác kinh tế song phương là việc ký hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản, còn về hợp tác kinh tế đa phương là việc ký hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới với tiêu chuẩn "WTO Plus", nghĩa là chấp nhận các đòi hỏi về tự do hóa thương mại (hàng hóa và dịch vụ), đầu tư, mua sắm của chính phủ cao hơn so với mức độ quy định trong các văn kiện có hiệu lực đang áp dụng của WTO. Việt Nam đã tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Liên bang Nga (2001), Nhật Bản (2006), Ấn Độ (2007), Trung Quốc (2008), Hàn Quốc, Tây Ban Nha (2009), Vương quốc Anh (2010), Đức (2011), Pháp và Ý (2013). Trong số này, một số mối quan hệ như với Đức, Trung Quốc và LB Nga đã được nâng lên tầm "đối tác chiến lược toàn diện". Ngoài ra, từ năm 2009, Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ "đối tác toàn diện" với Australia. Xem thêm: Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, Tổ chức ACMECS, Tiểu vùng Sông Mekong Mở rộng, Vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, Hành lang kinh tế Đông - Tây, Hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, AFTA, Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ. === Khu vực kinh tế nhà nước === === Khu vực kinh tế tư nhân === === Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài === === Khu vực kinh tế phi chính thức === Là một nước đang phát triển, các hoạt động kinh tế phi chính thức ở Việt Nam khá phổ biến. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến tranh luận về quy mô thực của khu vực kinh tế này. Một nghiên cứu chung giữa Tổng cục Thống kê Việt Nam và Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp cho thấy khu vực kinh tế phi chính thức (hoạt động kinh tế ngoài nông-lâm-ngư nghiệp của cá nhân, hộ gia đình không phải hoặc chưa đăng ký) chiếm 27,7% lực lượng lao động trong toàn quốc; chiếm 55,7% số lao động phi nông nghiệp, và tạo ra giá trị sản lượng tương đương 20% GDP.. Tương tự, Ngân hàng Thế giới ước tính khu vực kinh tế phi chính thức có giá trị tương đương 15,6% tổng sản phẩm nội địa của Việt Nam. Tuy nhiên, con số này bị nhà kinh tế học Lê Đăng Doanh cho là không hợp lý với một nền kinh tế có mức độ phát triển như Việt Nam. Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng khu vực kinh tế phi chính thức có giá trị khoảng 30 - 50% giá trị của tổng sản phẩm nội địa, ít nhất là cao gấp đôi con số của Ngân hàng Thế giới và Tổng cục Thống kê Việt Nam. == Số liệu thống kê giai đoạn 2000-2010 == == Các số liệu khác (theo CIA) == Còn các số liệu dưới đây được dịch từ nguồn của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA). Tỷ trọng trong GDP (2012) Nông nghiệp: 21,5% Công nghiệp: 40,7% Dịch vụ: 37,7% Lực lượng lao động Có 49,18 triệu lao động (ước tính 2012) (xếp thứ 13 toàn cầu) Nông nghiệp: 48% Công nghiệp: 21% Dịch vụ: 31% Tỷ lệ thất nghiệp Đạt 4,5% (2012 ước lượng) (xếp thứ 40 toàn cầu) Dân số dưới mức nghèo Đạt 11,3% (2012). Mức nghèo của Việt Nam giảm từ hơn 58% năm 1993 xuống còn khoảng 10% trong năm 2010.. Hộ gia đình có thu nhập hoặc tiêu dùng bằng cách chia sẻ phần trăm Thấp nhất 10%: 3,2% Cao nhất 10%: 30,2% (2008) Đầu tư (tổng cố định) Đạt 28,2% của GDP (2012 ước) (xếp thứ 28 toàn cầu) Ngân sách Thu: 42,14 tỷ USD Chi: 47,57 tỷ USD (2012 ước lượng) Thâm hụt: -3,9 % (2012) (xếp thứ 135 toàn cầu) Nợ công 48,2% (2012 ước) (xếp thứ 67 toàn cầu) Tỷ lệ lạm phát Đạt 6,8% (giá tiêu dùng), (2012 ước) Đạt 18,1% (2011 ước) so với thế giới, (xếp thứ 176 toàn cầu) Xuất khẩu Đạt 132,2 tỷ USD (2013 ước lượng) (xếp thứ 35 toàn cầu) (96,91 tỷ USD 2011) Nhập khẩu Đạt 131,3 tỷ USD (2013 ước lượng) (xếp thứ 33 toàn cầu) (97,36 tỷ USD 2011) Tỷ suất hối đoái với USD 1 USD = 20.828,00 đồng (2012 ước lượng) 1 USD = 20.509,75 đồng (2011 ước lượng) 1 USD = 18.612,92 đồng (2010 ước lượng) 1 USD = 17.799,60 đồng (2009 ước lượng) 1 USD = 16.548,30 đồng (2008 ước lượng) Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI 2012) 10,5 tỷ USD tính toàn bộ các dự án đăng ký, chủ yếu tập trung vào công nghiệp và xây dựng. Các nhà đầu tư đã cam kết đầu tư 6,5 tỷ USD vào Việt Nam năm 2013. Lũy kế vốn Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (nhập đến 31 tháng 12 năm 2012): 75,45 tỷ USD, xếp thứ 46 toàn cầu. Lũy kế vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (FDI xuất đến 31 tháng 12 năm 2009) Đứng thứ 50 toàn cầu với 7,7 tỷ USD. Nợ nước ngoài 41,85 tỷ USD; 35,5% GDP (cuối 2012). 39,63 tỷ USD (2011) Cán cân thanh toán theo ngoại tệ chuyển đổi (2005) Xuất khẩu (f.o.b): 32,23 tỉ USD, tăng 21,6% so với 2004 Nhập khẩu (c.i.f): 36,88 tỉ USD, tăng 15,4% so với 2004 Thâm hụt thương mại: 4,65 tỉ USD (giảm từ mức thâm hụt 5,45 tỷ USD năm 2004) Các mặt hàng xuất khẩu chính (2012) Dầu thô, hàng dệt may, giày dép, hải sản, điện tử máy tính, gạo, cao su, cà phê. Các thị trường xuất khẩu chính (2012): Hoa Kỳ (18%), Nhật Bản (11%), Trung Quốc (11%), Úc (?%), Singapore (?%), Đài Loan (?%), Đức (3,7%), Anh (?%), Pháp (?%), Hà Lan (?%), các nước khác (?%). Các mặt hàng nhập khẩu chính (2012) Máy móc, thiết bị, xăng dầu, thép, vải, nguyên phụ liệu dệt may da, điện tử máy tính, phân bón. Các thị trường nhập khẩu chính (2011): Trung Quốc (22%), Hàn Quốc (13,2%), Nhật Bản (10,4%), Đài Loan (8,6%), Thái Lan (6,4%), Singapore (6,4%) * Tỷ giá liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ** Theo ước tính của Bộ Tài chính *** do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đánh giá xếp hạng trong 125 nước Xem thêm: Các số liệu thống kê kinh tế chi tiết theo thời gian có thể tham khảo website WorldBank hoặc Tổng cục thống kê, và Thông tin về Việt Nam trên CIA. == Các vấn đề hiện nay == Nền kinh tế Việt Nam bị coi là hoạt động kém hiệu quả. Việt Nam trong thời gian vừa qua phát triển kinh tế dàn trải theo chiều rộng. Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế chủ yếu theo chiều rộng cũng như bất kỳ một chính sách nào cũng đều có những hạn chế của nó. Phát triển kinh tế theo chiều rộng thông thường đòi hỏi vốn đầu tư cao và dàn trải. Do vậy, hiệu quả vốn đầu tư khó có thể cao, biểu hiện chỉ số ICOR của Việt Nam mặc dù có được cải thiện nhưng vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Hiệu quả đầu tư không cao và dàn trải được tích tụ qua các năm là nguyên nhân chủ yếu làm cho lạm phát tăng cao vào các năm 2008-2011. Nhu cầu đầu tư lớn dẫn đến tình trạng đầu tư vượt xa khả năng tích lũy của nền kinh tế, thâm hụt ngân sách luôn ở mức cao. Để bù đắp phần thiếu hụt phải trông cậy vào đầu tư nước ngoài và vay nợ nước ngoài. Thực tế này đã làm cho nợ quốc gia và nợ công nước ngoài tăng nhanh trong những năm vừa qua, mặc dù vẫn trong ngưỡng an toàn nhưng cũng đến lúc phải thận trọng. Thâm hụt cán cân thương mại, nhập siêu ở mức cao và trở thành căn bệnh kinh niên của nền kinh tế. Lạm phát cao, nhập siêu lớn là nguyên nhân cơ bản làm mất giá đồng Việt Nam, suy giảm dự trữ ngoại tệ quốc gia và làm giảm lòng tin của người dân vào VND, tạo cơ hội cho đầu cơ, găm giữ, buôn lậu, buôn bán trái phép ngoại tệ và vàng. Tới tháng 4/2011, các nước lân cận lạm phát đều không quá 5 – 6%, còn Việt Nam thì lên đến gần 18% so với cùng kỳ. Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ nguyên nhân: "Về khách quan, do tác động tiêu cực của tình hình kinh tế thế giới; về chủ quan là do những hạn chế, yếu kém vốn có của nền kinh tế, mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế chậm được khắc phục, bị tích tụ nặng nề hơn trong những năm phải đối phó với tình trạng suy giảm kinh tế và do một số hạn chế trong quản lý, điều hành của các cấp. Đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trong nhiều năm qua, nước ta luôn phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao và kinh tế vĩ mô không vững chắc, gay gắt hơn các nước trong khu vực." Mặc dù Việt Nam đã bước vào ngưỡng đầu của các nước có mức thu nhập trung bình, nhưng kết cấu cơ sở hạ tầng của nền kinh tế còn nhiều bất cập và yếu kém.. Tâm lý thỏa mãn lan tràn trong dân cư cũng như các nhà lãnh đạo; xung đột quyền lợi của các nhóm người trong xã hội trỗi dậy, đan xen và ràng buộc lẫn nhau, kìm hãm mọi quá trình cải cách trong nền kinh tế; tham ô, tham nhũng bóp méo mọi quan hệ của đời sống kinh tế xã hội. Trong những năm vừa qua khi lạm phát gia tăng, kinh tế vĩ mô có nhiều biểu hiện không ổn định, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã chững lại, đầu tư nước ngoài gián tiếp cũng nhỏ giọt. Sau khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới, mặc dù đã có dấu hiệu hồi phục song các nền kinh tế lớn tăng trưởng còn chậm, không rõ nét và còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, các luồng vốn đầu tư đang đổ dồn vào các nước Đông Nam Á. Nhiều nước trong khu vực đang phải vất vả tìm mọi giải pháp để hấp thụ các luồng vốn này một cách hiệu quả nhất, đồng bản tệ của họ liên tục lên giá. Trong khi đó tại Việt Nam, các luồng vốn này hầu như im ắng và VND liên tục mất giá. Ở những thời điểm nhất định trong thời gian qua Chính phủ Việt Nam cũng đặt vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát nhưng không nhất quán và nhiều khi còn bị đánh đổi lấy các mục tiêu kinh tế khác. Điều này đã làm giảm lòng tin của cộng đồng các nhà đầu tư, các nhà tài trợ vào môi trường đầu tư của Việt Nam. Mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư của Việt Nam bị giảm sút. Kinh tế Việt Nam còn có một số tồn tại, làm giảm tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Việt Nam đã bị bỏ lại quá xa bởi các nước khác trong khu vực, cho dù đã đạt được thành tựu tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian dài, theo tính toán của các chuyên gia quốc tế. Tuy nhiên việc tích cực tham gia một số FTA, đặc biệt TPP, tạo một số cơ hội cho Việt Nam, đặc biệt là đầu tư và xuất khẩu, nhưng cũng tạo ra nhiều sức ép cạnh tranh. Với Việt Nam, truyền thông trong nước cho hay, tham gia TPP sẽ giúp Việt Nam có cơ hội cải tổ mạnh mẽ về thế chế, nâng cao năng lực và trình độ của nền kinh tế, tạo cú hích không chỉ cho tái cơ cấu kinh tế, đầu tư, công nghiệp, mà còn giúp Việt Nam có đã đẩy tới các cải cách về xã hội, thị trường, thậm chí chính trị. Riêng về mặt kinh tế, tham gia TPP được cho là cơ hội giúp Việt Nam tăng trưởng và củng cố tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu mạnh mẽ, giảm lệ thuộc vào các quốc gia trong khu vực mà lâu nay Việt Nam được cho là bị thâm hụt mậu dịch, nhập siêu, đặc biệt liên quan tới quan hệ mậu dịch, kinh tế song phương với Trung Quốc, cường quốc thứ hai về kinh tế toàn cầu. ==== Cơ sở hạ tầng và môi trường đầu tư ==== Theo Giám đốc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), thách thức số 1 của Việt Nam là thiếu hụt hạ tầng cơ sở. Tổng đầu tư cho cơ sở hạ tầng của Việt Nam liên tiếp giữ ở mức 10% GDP, cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế, trong đó các tài trợ từ nguồn vốn quốc tế chiếm 40% tổng mức đầu tư. Nhưng cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn còn thiếu kém và với số lượng hiện sở hữu thì đã quá tải. Cơ sở hạ tầng là một trong những trở ngại lớn nhất của phát triển kinh tế tại Việt Nam. Cơ sở hạ tầng Việt Nam bị đánh giá là yếu kém, thiếu thốn. Việc nâng cấp hạ tầng vật chất của Việt Nam vẫn còn nhiều thiếu sót và trậm trễ. Nhất là trong việc phát triển cơ sở hạ tầng trọng yếu, như các tuyến đường liên tỉnh, cầu… Những hạn chế về cơ sở hạ tầng tại Việt Nam theo đánh giá bởi các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đe doạ các dự án FDI đối với xuất khẩu và sản xuất. Chừng nào Việt Nam còn chưa cải thiện hạ tầng và cơ sở hậu cần thì Việt Nam còn tụt hậu. Chi phí vận tải ở Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Việt Nam chưa có cảng biển mang tầm cỡ quốc tế. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí sản xuất hàng hóa ở Việt Nam, vì phải vận chuyển qua cảng trung gian. Vấn đề bất cập trong cơ sở hạ tầng hiện nay là thiếu một quy hoạch phát triển đồng bộ, chi phí đầu tư cao, chất lượng đầu tư thấp và thất thoát lớn trong quá trình đầu tư. Tình trạng ách tắc giao thông, giá đất cao, xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông đắt đỏ tại các đô thị lớn như Hà Nội và Tp. HCM là một trong những bước cản lớn cho phát triển của 2 thành phố lớn nhất nước này. Theo World Bank, một trong các trở ngại khác của môi trường đầu tư là thủ tục quan liêu. Trong Báo cáo "Môi trường Kinh doanh 2008" của Ngân hàng Thế giới và Tập đoàn Tài chính Quốc tế, Việt Nam đứng thứ 91 trong số 178 nền kinh tế về mức độ thuận lợi kinh doanh, trong khi Trung Quốc đứng thứ 83 và Thái Lan thứ 15. Năm 2012, Tạp chí kinh doanh Forbes của Mỹ đánh giá về thực trạng kém hấp dẫn của Việt Nam, số doanh nghiệp nước ngoài rời Việt Nam nhiều hơn số công ty tới đây làm ăn, trong khi giới chức Việt Nam đổ lỗi cho khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 hơn là thực trạng tham nhũng, nổ bong bóng tài chính và bất động sản, quyết định đầu tư kém cỏi của các doanh nghiệp nhà nước và quản l‎ý vĩ mô yếu kém của chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên bài của tạp chí Forbes cũng cho hay trong khi một số công ty cắt giảm đầu tư tại Việt Nam thì các nhà sản xuất của Hong Kong lại chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam. Các công ty Nhật duy trì mức đầu tư không đổi và đang tìm kiếm cơ hội chuyển đầu tư từ Thái Lan sang Việt Nam.. ==== Chất lượng tăng trưởng ==== Tại Hội thảo "Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2001 - 2010 và định hướng tới năm 2020" vừa diễn ra 24/2/2011 tại Hà Nội, theo đánh giá, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho tới chưa đạt, khối dịch vụ mới chỉ chiếm 40% GDP so với kì vọng 42% được Quốc hội đề ra; GDP bình quân đầu người tuy có sự tiến bộ, nhưng so với các nước cùng trình độ phát triển thì không đạt chỉ tiêu; Đóng góp của TFP (năng suất các yếu tố tổng hợp) vào tăng trưởng vẫn còn thấp, trong khi vẫn cần rất nhiều vốn; Hệ số ICOR kém hiệu quả so với nhiều nước; hiệu quả kinh tế và năng suất lao động cũng rất thấp; năng lực cạnh tranh còn nhiều yếu kém... Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào tăng vốn đầu tư và tăng số lượng lao động. Chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn thấp và chưa đạt được độ bền vững. Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, tính hiệu quả của kinh tế thấp, đồng thời, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu. Chất lượng tăng trưởng thấp còn thể hiện qua chỉ số ICOR cao cơ cấu trong nền kinh tế thiếu tính bền vững. Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực. ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Chất lượng tăng trưởng thấp đang đe dọa đến tính ổn định và sự bền vững phát triển kinh tế trong tương lai. ==== Cơ cấu kinh tế ==== Cơ cấu kinh tế Việt Nam không hợp lý thể hiện ở cơ cấu sở hữu (tài sản và đầu tư tập trung quá lớn vào khối doanh nghiệp nhà nước, trong khi khối này hoạt động không hiệu quả). Sự bất cập trong cơ cấu nền kinh tế còn được thể hiện qua việc lựa chọn ngành trong chiến lược phát triển công nghiệp chưa tận dụng được lợi thế cạnh tranh của Việt Nam đang có. Chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam không tạo ra được sự liên kết trước và sau để thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển. Nhiều dự án FDI đầu tư vào Việt Nam nhằm khai thác những quy định lỏng lẻo về môi trường hay chỉ lợi dụng chính sách bảo hộ của nhà nước để tìm kiếm lợi nhuận không tạo ra được nhiều tiền đề cho sự phát triển kinh tế. ==== Chất lượng của nguồn lao động ==== Một trong những trở ngại của nền kinh tế Việt Nam là thiếu nguồn nhân lực có trình độ. Nguồn lao động của Việt Nam dồi dào, trẻ, có trình độ học vấn nhưng thiếu kỹ năng và tay nghề. Nhiều dự án đầu tư của Việt Nam không phát huy được những lợi thế này. Chất lượng nhân lực không cao và chậm áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ khiến cho năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh của hàng hóa kém, giá trị gia tăng của các sản phẩm chưa cao. Trên thực tế, quá trình đưa nhân tố nguồn cung lao động vào nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các quá trình kinh tế-tài chính khác, cũng như chu kỳ sản xuất kinh doanh, không hoàn toàn do ý chí áp đặt được. Nguồn nhân lực giá rẻ không còn được xem là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Chất lượng nguồn nhân lực thấp trở thành một rào cản phát triển kinh tế. Số người lao động qua đào tạo đang chiếm một tỷ lệ thấp, chất lượng cũng chưa đáp ứng được những công việc đòi hỏi kiến thức và kỹ năng. Đào tạo đại học và nghề chưa theo sát với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề nhân lực là một trở ngại lớn đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam. ==== Chính sách tài chính và tiền tệ ==== Nợ nước ngoài của Chính phủ cao, rủi ro vỡ nợ là có. Việt Nam bị các tổ chức đánh giá tín nhiệm hạ thấp mức độ an toàn xuống "rủi ro cao". Tính tới tháng 3 năm 2011, Việt Nam là một trong 20 nước có khả năng vỡ nợ lớn nhất trên thế giới. Thị trường chứng khoán trong thời gian 2 năm 2009-2010 suy giảm mạnh. Thâm hụt cán cân thương mại, nhập siêu ở mức cao và trở thành căn bệnh kinh niên của nền kinh tế. Việt Nam bị mắc phải ba vấn đề liên quan: thâm hụt ngân sách nặng nề, nhập siêu dẫn tới thâm hụt tài khoản vãng lai, và dự trữ ngoại tệ quá mỏng. Chính vì vậy, lạm phát luôn là vấn đề nhức nhối. Chính phủ không thể ổn định được tỷ giá, một nguyên nhân dẫn tới lạm phát cao. Trong vòng 5 năm (2006-2010), tính cộng dồn đơn giản, lạm phát đã tăng gần 60% trong khi tổng tăng trưởng GDP chỉ đạt 35,1%. Hàng năm Chính phủ Việt Nam đều phải nỗ lực rất lớn trong điều hành để kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô. Các giải pháp thực thi chủ yếu đều mang tính ngắn hạn, tình thế (chữa cháy), nặng về hành chính, chưa tập trung xử lý các vấn đề cơ bản như cơ cấu, hiệu quả và sức cạnh tranh. ==== Thu chi ngân sách nhà nước ==== ==== Quản lý kinh tế ==== Việt Nam phát triển không bền vững là do thiếu tư duy kinh tế và quyết tâm chính trị đủ mạnh. Rất nhiều chính sách của Việt Nam thuộc dạng lỗi thời so với các nước Đông Nam Á, không chỉ riêng những chính sách về kinh tế, giáo dục hay khoa học công nghệ. Theo East Asian Bureau of Economic Research, bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã làm suy yếu tính cạnh tranh và hiệu quả kinh tế của quốc gia này. Và sự bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam không chỉ là một xáo động ngắn hạn mà thực sự là một vấn đề nghiêm trọng có hệ thống, bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về các khái niệm về nguyên tắc phát triển cũng như sự thiếu hụt về nỗ lực mang tính chiến lược nhằm xây dựng một nền quản lý hiệu quả. Về kinh doanh, hàng loạt các đại doanh nghiệp nhà nước như Tập đoàn Sông Đà, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn bị chính thanh tra của chính phủ phát hiện sai phạm gây tổn thất nặng nề. Việc đầu tư thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nước độc quyền dẫn đến chính người dân và những người đóng thuế sẽ phải bỏ tiền của mình ra để trả nợ vì những sai phạm kinh tế làm lỗ tới hàng tỷ đôla gây ra bởi các tập đoàn, tổng công ty của Nhà nước. Năm 2012, theo nghiên cứu của tổ chức nghiên cứu Brookings của Mỹ, người Việt Nam có gánh nặng thuế và chi phí cao bậc nhất khu vực. Việt Nam có tỷ lệ dân nghèo (người có thu nhập dưới 2 USD/ngày) chiếm 18,2% dân số; tầng lớp trung lưu (thu nhập trên 5.600 USD/năm) chỉ chiếm 5,6% dân số. Các tập đoàn nhà nước cốt lõi của nền kinh tế Việt Nam kinh doanh theo kiểu "lời ăn, lỗ dân chịu", nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ nặng như Vinashin (nợ từ 80.000 đến 120.000 tỷ đồng), Vinalines (nợ hơn 43.000 tỉ), VINACONEX (nợ nghìn tỷ), EVN, Petro Vietnam... Tổng số nợ của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay là trên 50 tỷ USD. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các Doanh nghiệp Nhà nước là 1,36 lần, chưa bằng 1 nửa so với quy định là 3 lần, nhưng trong số này có 30/85 Tập đoàn có chỉ số này vượt quá 3 lần. Giải pháp cốt lõi nhất là cần phải có chế tài mạnh mẽ hơn nữa để buộc các doanh nghiệp nhà nước công khai, minh bạch thông tin.. Năm 2014, các doanh nghiệp Nhà nước nộp ngân sách hơn 180 nghìn tỷ đồng, vượt xa số nợ trên danh nghĩa. Đến năm 2015, nộp ngân sách của các doanh nghiệp nhà nước cũng là lớn nhất. == Dự báo kinh tế == Năm 2014, Việt Nam đứng thứ 32 về xếp hạng GDP theo thống kê của IMF. Với đà tăng trưởng dự kiến từ 4,5-5%, Việt Nam sẽ đứng thứ 24 vào năm 2030 và đến năm 2050 sẽ nằm ở vị trí 20, đứng sau Thái Lan (thứ 18) Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng ở mức 5,93% trong cả năm 2014, theo số liệu được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra trong báo cáo mới nhất. Mức tăng trưởng trên cao hơn so với chỉ tiêu 5,8% được chính phủ đề ra trong năm nay. Cùng với Nigeria, Việt Nam được xem là nằm trong số các nền kinh tế phát triển nhanh nhất từ nay tới 2050. Dự báo của PricewaterhouseCoopers (PwC) cho thấy đánh giá của hãng này về GDP tính theo Cân bằng sức mua.Với tính toán này, Trung Quốc rõ ràng sẽ là nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2030 trong khi Ấn Độ sẽ tranh giành vị trí thứ hai với Hoa Kỳ vào năm 2050. Trong khi đó Anh sẽ bị loại ra ngoài nhóm 10 nước có nền kinh tế lớn nhất vào năm 2050, xếp thứ 11. Vị trí thứ 10 vào 2050 thuộc về Đức, hiện đang đứng thứ 5, tức là sẽ bị tụt hạng. == Chú thích == == Xem thêm == Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Các chủ đề địa lý kinh tế học Danh sách các công ty lớn của Việt Nam Việt Nam Kinh tế Việt Nam Cộng hòa Kinh tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa == Liên kết ngoài == Diễn đàn Kinh tế Việt Nam Báo chuyên đề về kinh tế Việt Nam Diễn đàn thảo luận các chủ đề kinh tế Thư viện Viện Kinh tế Việt Nam
kinh tế jamaica.txt
Jamaica có tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là bô xít, và có một khí hậu lý tưởng thuận lợi cho nông nghiệp và du lịch. Việc phát hiện ra bôxít trong những năm 1940 và nền kinh tế của Jamaica chuyển từ khai thác đường và chuối sang thành lập các ngành công nghiệp bô xít-nhôm vào thời gian sau đó. Vào những năm 1970, Jamaica đã nổi lên như là một nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu các khoáng chất cũng như được tăng đầu tư nước ngoài. Jamaica phải đối mặt với một số vấn đề nghiêm trọng nhưng nó có tiềm năng cho sự phát triển và hiện đại hóa. Nền kinh tế Jamaica bị bốn năm liên tiếp của nó tăng trưởng âm (0,4%) vào năm 1999. Tất cả các ngành trừ các ngành bôxít/nhôm, năng lượng và du lịch đều giảm mạnh trong năm 1998 và 1999. Năm 2000, Jamaica đã có kinh nghiệm của mình năm đầu tiên của nó có sự phát triển tích cực kể từ năm 1995. Tăng trưởng kinh tế danh nghĩa tiếp tục ngược dòng trong những khoảng với sự tăng trưởng của Hoa Kỳ kể từ đó. Đây là kết quả của việc tiếp tục các chính sách của chính phủ chặt chẽ kinh tế vĩ mô, đã đạt được phần lớn thành công. Lạm phát đã giảm từ 25% năm 1995 còn lạm phát một con số trong năm 2000, đạt được một mức thấp trong nhiều thập kỷ là 4,3% trong năm 2004. Thông qua chương trình can thiệp định kỳ trên thị trường, các ngân hàng trung ương cũng đã ngăn ngừa bất cứ sự đột ngột giảm nào trong tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, đồng đô la Jamaica đã bị trượt giá, bất chấp sự can thiệp, dẫn đến một tỷ giá bình quân của 73,4 J đổi 1 USD và 107,64 J đổi 1 € (Tháng 5 năm 2008). Ngoài ra, lạm phát đã có xu hướng tăng lên kể từ năm 2004 và dự kiến một lần nữa đạt được mức tăng gấp đôi con số 12-13% thông qua năm 2008 do một sự kết hợp của thời tiết bất lợi hại cây trồng và tăng nhập khẩu nông nghiệp và giá năng lượng cao. Điểm yếu trong lĩnh vực tài chính là đầu cơ và các cấp dưới của việc xói mòn lòng tin đầu tư trong lĩnh vực sản xuất. Chính phủ tiếp tục nỗ lực để tăng giới hạn các khoản nợ mới tại địa phương và thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng các nghĩa vụ nợ của mình bằng đồng đô la Mỹ, thu dọn để duy trì thanh khoản tỷ giá hối đoái và để giúp quỹ thâm hụt ngân sách hiện hành. Các chính sách kinh tế của chính phủ Jamaica khuyến khích đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực mà kiếm được hay tiết kiệm được ngoại tệ, tạo việc làm và sử dụng nguyên vật liệu địa phương. Chính phủ cung cấp một loạt các ưu đãi cho nhà đầu tư, bao gồm cả các cơ sở chuyển tiền để hỗ trợ họ trong việc hồi hương lại tiền của các nước xuất xứ; thời kỳ miễn thuế mà hoãn thuế cho khoảng thời gian của năm; và miễn thuế truy cập cho máy móc và nguyên liệu nhập khẩu cho các doanh nghiệp được chấp thuận. Khu thương mại tự do có kích thích đầu tư vào hàng may mặc, lắp ráp, sản xuất nhẹ, và nhập dữ liệu của các công ty nước ngoài. Tuy nhiên, trong 5 năm qua, ngành công nghiệp dệt may đã bị giảm thu nhập xuất khẩu, tiếp tục đóng cửa nhà máy, và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Điều này có thể được quy trách nhiệm cho cuộc cạnh tranh dữ dội, sự vắng mặt của hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) tính thay đổi, thuốc nhiễm độc trì hoãn giao hàng, và chi phí cao, hoạt động, bao gồm cả chi phí an ninh. Chính phủ Jamaica hy vọng để khuyến khích hoạt động kinh tế thông qua sự kết hợp của tư nhân hoá, chuyển dịch cơ cấu ngành tài chính, giảm lãi suất, và bằng cách thúc đẩy du lịch và các hoạt động sản xuất liên quan. == Ngành sản xuất cơ bản == === Nông nghiệp === Nông nghiệp Jamaica cùng với lâm nghiệp và đánh bắt cá chiếm khoảng 6,6% GDP vào năm 1999. Đường, các cây trồng xuất khẩu hàng đầu được sản xuất ở gần như tất cả các giáo xứ ở Jamaica. Đường được sản xuất trong năm 2000 ước tính đạt 175.000 tấn, giảm từ 290.000 tấn vào năm 1999. Đường đóng góp 7,1% tổng xuất khẩu trong năm 1999 & Jamaica đóng góp 4,8% sản xuất ở Caribê. Mía đường cũng được sử dụng để sản xuất theo sản phẩm như mật rỉ đường, rum & wallboard một số được làm từ bã mía. Chuối được sản xuất trong năm 1999 là 130.000 tấn. Chuối được đóng góp 2,4% tổng xuất khẩu trong năm 1999 & Jamaica đóng góp 7,5% sản xuất ở Caribê. Cà phê được chủ yếu trồng xung quanh núi Blue và tại các khu vực đồi núi, nơi đó có một loại cà phê, cà phê Blue Mountain, được xem là một trong những số tốt nhất trên thế giới bởi vì ở những đỉnh cao trong dãy núi Blue có khí hậu mát làm các quả để lâu chín và hạt cà phê phát triển thêm các chất đó vào làm cho cà phê rang hương vị của nó. Cà phê đóng góp 1,9% tổng xuất khẩu năm 1999. Mùa hái cà phê kéo dài từ tháng 8 đến tháng 3. Cà phê được xuất khẩu từ Kingston. Cocoa được trồng khắp Jamaica và bán hàng địa phương hấp thụ khoảng 1/3 sản lượng để được làm thành thức uống liền và bánh kẹo. Cam quýt chủ yếu là được trồng trong những phần trung tâm của Jamaica, đặc biệt giữa các cao độ 1.000-2.500 feet. Mùa hái quả kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4. Hai nhà máy ở may Pen và Bog Walk sản xuất nước hoa quả, trái cây đóng hộp, tinh dầu & mứt cam. Quả dừa được trồng trên bờ biển phía bắc và phía đông, trong đó cung cấp đủ cùi dừa khô để cung cấp cho các nhà máy để làm butterine, bơ thực vật, mỡ, dầu ăn được & xà phòng giặt ủi. Trồng cây xuất khẩu khác là ớt, gừng, thuốc lá, sisal và trái cây khác được xuất khẩu. Gạo được trồng xung quanh các khu vực đầm lầy quanh Black River & quanh Long Bay tại Hannover và giáo xứ Westmoreland cho tiêu thụ tại địa phương. === Chăn nuôi === Đồng cỏ đóng góp một tỷ lệ phần trăm tốt cho đất tại Jamaica. Nhiều của cải thu được nhờ chuyên nuôi gia súc. Tài sản chăn nuôi được 400.000 đứng đầu gia súc, 440.000 con dê, 180.000 heo & 30.000 cừu. Mặc dù sản phẩm động vật và số lượng vật nuôi đang ngày càng tăng, điều này là không đủ cho việc đáp ứng nhu cầu của địa phương cho một dân số ngày càng tăng. Sự sản xuất bơ sữa đã tăng lên kể từ khi có sự xây dựng của một nhà máy sữa đặc tại Bog Walk vào năm 1940. Mặc dù vậy, việc cung cấp các sản phẩm sữa là không đủ cho nhu cầu của địa phương và có lượng hàng nhập khẩu lớn về bột sữa, bơ và phó mát. === Đánh bắt cá === Các ngành công nghiệp đánh bắt cá phát triển trong những năm 1980, chủ yếu là từ việc tập trung vào đánh bắt cá nội địa. Vài nghìn ngư dân kiếm sống từ đánh bắt cá. Các vùng nước nông và những đảo nhỏ ngoài khơi bờ biển phía Nam là vùng giàu có hơn khu vực biển ở phía Bắc. Các ngư dân sống trên Cays Pedro, 80 dặm (130 km) về phía nam của Jamaica. Jamaica tự cung cấp cho khoảng một nửa các nhu cầu về cá của chính bản họ; hàng nhập khẩu chủ yếu là hàng đông lạnh và cá muối được nhập khẩu từ Hoa Kỳ & Canada. Tổng đánh bắt trong năm 2000 là 5.676 tấn, giảm từ 11.458 tấn năm 1997; việc bắt được chủ yếu thực hiện ở biển, với cá chép nước ngọt, cá râu,..., động vật giáp xác và động vật thân mềm. Cá da trơn là nguyên nhân gây ra hơn 4% cái chết của người Jamaica do nọc độc chết người tìm thấy trên đỉnh của vây lưng và ngực của chúng. Tuy nhiên những cá gây chết người được xem là một trong số các đồ ăn ngon cho người dân Jamaica, do hàm lượng cao của vitamin B12 được tìm thấy trong các mô mỡ mà là phong phú trong cá này. === Lâm nghiệp === Vào cuối những năm 1980, chỉ có 185.000 ha (457.000 mẫu Anh) so với số lượng ban đầu của Jamaica là 1.000.000 ha (2.500.000 mẫu Anh) của rừng vẫn còn. Sản xuất gỗ tròn là 881.000 mét khối (31,1 triệu foot khối) vào năm 2000. Khoảng 68% số gỗ cắt giảm trong năm 2000 đã được sử dụng như gỗ nhiên liệu, trong khi 32% đã được sử dụng cho việc sử dụng công nghiệp. Những cánh rừng, một khi được bảo hiểm của Jamaica bây giờ chỉ tồn tại ở các vùng miền núi. Họ chỉ cung ứng 20% nhu cầu gỗ đảo. Rừng còn lại được bảo vệ từ xa hơn, khai thác. Các vùng núi khác có thể truy cập được trồng cây gây rừng, chủ yếu là với cây gỗ thông, mahoe và gỗ gụ. === Khai mỏ === Jamaica là nhà sản xuất thứ ba thế giới của bô xít và nhôm vào năm 1998, với sản lượng 12,6 triệu tấn bô xít, chiếm 10,4% tổng sản lượng thế giới & 3,46 triệu tấn nhôm, chiếm 7,4% của tổng sản lượng thế giới sản xuất. Khai thác mỏ và khai thác đá đã đóng góp 4,1% GDP vào năm 1999. Bô xít và nhôm đóng góp vào 55,2% xuất khẩu trong năm 1999 và là nguồn thu tiền thứ hai sau khi du lịch. Jamaica đã dự trữ hơn 2 tỷ tấn và dự kiến đến cuối 100 năm. Bô xít được tìm thấy trong các giáo xứ trung tâm của St.Elizabeth, Manchester, Clarendon, St.Catherine, St.Ann & Trelawny. Có 4 nhà máy nhôm và 6 mỏ. Jamaica có lớp trầm tích của vài triệu tấn thạch cao trên sườn phía nam của Blue Mountains. Jamaica sản xuất 330.441 tấn thạch cao và một số này đã được sử dụng trong ngành công nghiệp xi măng địa phương và sản xuất vật liệu xây dựng. Các khoáng sản khác có mặt tại Jamaica bao gồm đá hoa, đá vôi và cát trắng và những quặng của đồng, chì, kẽm, mangan và sắt. Một số trong số chúng đang được dùng với số lượng nhỏ. Dầu mỏ đã được tìm kiếm, nhưng cho đến nay vẫn không được tìm thấy. == Sản xuất == Các lĩnh vực sản xuất có một đóng góp quan trọng cho nền kinh tế Jamaica. Mặc dù sản xuất chiếm 13,9% GDP vào năm 1999. Công ty của Jamaica đóng góp với nhiều ngành sản xuất như: thức ăn chế biến; tinh chế dầu; sản xuất hóa chất, vật liệu xây dựng, hàng hóa nhựa, sơn, dược phẩm, thùng, hàng hóa bằng da và cigar & lắp ráp điện tử, dệt và may mặc. Ngành công nghiệp may mặc là một ngành tạo ra việc làm cho hàng ngàn người dân địa phương và họ đã đóng góp cho 12,9% xuất khẩu trong năm 1999 kiếm được 159 triệu USD. Hóa chất đã đóng góp vào 3,3% tổng xuất khẩu trong năm 1999 kiếm được 40 triệu USD. Một nhà máy lọc dầu nằm gần Kingston chuyển xăng dầu thô được lấy từ Venezuela thành xăng và các sản phẩm khác. Đây là những chủ yếu là để sử dụng tại địa phương. Các ngành công nghiệp xây dựng đang gia tăng do khách sạn mới được xây dựng và thu hút du khách du lịch. Xây dựng và lắp đặt kỹ thuật đóng góp vào 10,4% GDP vào năm 1999. Sản xuất hàng hoá đã được nhập khẩu và đóng góp 30,3% của nhập khẩu và chi phí 877 triệu đô la Mỹ trong năm 1999. == Các ngành dịch vụ == === Du lịch === Du lịch là gắn liền với thanh toán quốc tế như là nguồn doanh thu trong phần cao nhất của Jamaica. Kiều hối chiếm khoảng 20% GDP, ngang bằng với thu nhập từ du lịch. Ngành du lịch kiếm được hơn 50 phần trăm tổng số thu nhập trao đổi của đất nước với nước ngoài và cung cấp khoảng một phần tư việc làm tại Jamaica. Hầu hết các hoạt động du lịch là trung tâm trên bờ biển phía bắc của hòn đảo, trong đó có cộng đồng của Montego Bay, Ocho Rios, và Port Antonio, tốt như là ở Negril nằm ở phía Tây của hòn đảo. === Dịch vụ tài chính === Dịch vụ khác là các dịch vụ tài chính công nghiệp. Những năm 1990 chứng kiến một sự mở rộng nhanh chóng trong ngân hàng, đầu tư, và các dịch vụ bảo hiểm. Năm 1999, tổ chức tài chính được đóng góp 7,8% GDP vào năm 1999. Có nhiều ngân hàng như là Century National Bank, National Commercial Bank, Pan Caribbean Bank, Scotia-Bank, Royal Bank of Canada và First Caribbean Int'l Bank. === Bán lẻ === Sự vắng mặt của các trung tâm thương mại lớn, khác hơn Kingston, Montego Bay và Ocho Rios có kết quả trong một lĩnh vực bán lẻ kém phát triển ở Jamaica. Trong khi Kingston và Montego Bay là nơi khởi nguồn của một số cửa hàng bán lẻ, bao gồm cả quyền thương mại thức ăn nhanh của người Mỹ như của Domino, Pizza Hut & Dairy Queen, phần lớn các thị trấn trong nội tại của đất nước, chẳng hạn như Mandeville, May Pen, và Spanish Town, có cửa hàng nhỏ, các thị trường công cộng, và tạm thời đứng ở bên lề. == Các thống kê == GDP: theo sức mua tương đương - 11,3 tỷ đô la Mỹ (2004 ước)GDP - Tốc độ tăng trưởng thực: 1,9% (2004 ước)GDP - bình quân đầu người: sức mua tương đương - 4,100 đô la Mỹ (2004 ước)GDP - theo ngành:nông nghiệp: 6,1%công nghiệp: 32,7%dịch vụ: 61,3% (2004 ước)Dân số dưới mức nghèo: 19,7% (2002 ước)Hộ gia đình có thu nhập hoặc tiêu dùng bằng cách chia sẻ phần trăm:thấp nhất 10%: 2,7%cao nhất 10%: 30,3% (2000)Tỷ lệ lạm phát (giá tiêu dùng): 9.4% (1999 ước)Lực lượng lao động: 1.14 triệu (2004)Lực lượng lao động - theo ngành: dịch vụ 63.4%, nông nghiệp 20.1%, công nghiệp 16,6% (2003)Tỷ lệ thất nghiệp: 15% (2004)Ngân sách:Thu: 2,27 tỷChi: 3,66 tỷ, bao gồm cả chi phí vốn của 1,265 tỷ (FY98/99 ước)Các ngành công nghiệp: du lịch, bô xít, dệt may, chế biến thực phẩm, ánh sáng sản xuất, rum, xi măng, kim loại, giấy, sản phẩm hoá chất.Tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp: NA%Điện lực - sản xuất: 6.386 GWh (1998)Điện lực - sản xuất bởi nguồn:nhiên liệu hóa thạch: 92,7%thủy điện: 2,21%hạt nhân: 0%khác: 5,09% (1998)Điện lực - tiêu thụ: 5.939 GWh (1998)Điện lực - xuất khẩu: 0 kWh (1998)Điện lực - nhập khẩu: 0 kWh (1998)Nông nghiệp - sản phẩm: mía, chuối, cà phê, chanh, khoai, rau quả, gia cầm, dê, sữaXuất khẩu: 1.4 tỷ USD (f.o.b., 1999 ước)Xuất khẩu - hàng hóa: nhôm, bô xít, đường, chuối, rượu mạnhXuất khẩu - đối tác: Hoa Kỳ 39,5%, liên minh châu Âu (ngoại trừ Anh) 15,6%, vương quốc Anh 12,1%, Canada 11.5% (1998)Nhập khẩu: 2,7 tỷ USD (f.o.b., 1999 ước)Nhập khẩu - hàng hóa: máy móc và thiết bị vận tải, vật liệu xây dựng, nhiên liệu, thực phẩm, hóa chất, phân bónNhập khẩu - đối tác: Hoa Kỳ 50.9%, liên minh châu Âu (không tính Anh) 9,5%, các quốc gia Caricom 10.4%, châu Mỹ Latin 6% (1998)Nợ - bên ngoài: 3,8 tỷ USD (1998 ước)Viện trợ kinh tế - người nhận: $102,7 triệu (1995)Tiền tệ: 1 đô la Jamaica (J$) = 100 centsTỷ giá trao đổi: Đô la Jamaica (J$) mỗi US$1 – 80,83 (tháng 1 năm 2009), 70,0 (tháng 12/2007), 62,5 (tháng 9 năm 2005), 45,7 (tháng 6 năm 2001), 41,139 (tháng 12 năm 1999), 9,044 (1999), 36,550 (1998), 35,404 (1997), 37,120 (1996), 35,142 (1995)Năm tài chính: 1 tháng 4–31 tháng 3 == Xem thêm == Jamaica == Chú thích ==
tam giáo.txt
Tam giáo chỉ đến ba truyền thống tôn giáo có ảnh hưởng lớn mạnh trong các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Tam giáo gồm có: Nho giáo: còn gọi là đạo Khổng Phật giáo Lão giáo == Tham khảo ==
carlos slim helú.txt
Carlos Slim Helú (sinh ngày 28 tháng 1 năm 1940 tại Thành phố Mexico) là nhà thương nhân México. Theo Forbes, ông hiện là người giàu thứ 3 trên thế giới. Carlos Slim Helu chi phối toàn bộ hệ thống viễn thông của Mexico. Thế nhưng ông không bị nhìn nhận như một ông trùm ghê gớm, đầy quyền lực của đất nước này, mặc dù ảnh hưởng của ông là rất lớn. Không chỉ giới trẻ mà cả các tầng lớp người dân khác nhìn nhận Carlos Slim là hình ảnh, thần tượng của họ. Có nhiều ý kiến phê bình sự thống trị của Carlos đối với nền kinh tế Mexico và gắn nó với những tác động tiêu cực. Năm 2006, Helu đã thu về 19 tỷ USD, mức thu nhập hàng năm lớn nhất mà một tỷ phú kiếm được trong 10 năm qua. == Gốc gác == Carlos Slim Helu thực ra không phải là người Mexico chính gốc. Ông có gốc từ châu Á. Cha ông, một di dân gốc Liban đã đến Thành phố México và đầu tư bất động sản thời Cách mạng 1910. Carlos Slim sinh năm 1940 và lớn lên trong khu phố của những người dân nước ngoài tại Thành phố Mexico. == Thiên bẩm kinh doanh == Slim "máu" buôn bán từ nhỏ. Cậu nhớ rất giỏi giá cả của mọi thứ, mới đến tuổi đi học đã thích mặc cả, đổi chác và mua bán để kiếm tiền. Các thành viên của gia đình nhớ lại chuyện cậu đã bán lại cho các anh trai khi cái kẹo, khi thỏi socola mà cậu dành dụm chưa ăn. Rồi cậu mua bán lại đồ chơi, đồ dùng với lũ bạn, bằng tuổi cậu cũng có mà lớn hơn cậu cũng không hiếm gì. Năm 15 tuổi, khi vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường Carlos Slim đã có 5.523 peso. Carlos Slim Helu mua được 44 cổ phiếu của ngân hàng Banamex, ngân hàng lớn nhất của Mexico lúc đó. Năm 17 tuổi, khi vừa tốt nghiệp phổ thông, cậu đã có 31.900,26 peso. Cậu tự nhận mình có một cảm nhận rất đặc biệt với những con số và có thể nhớ chúng cực kì chính xác. Trong một lần họp đại hội cổ đông, Carlos Slim Helu, khi ấy hãy còn là một anh chàng trẻ tuổi đang sở hữu một số lượng rất nhỏ cổ phần, đã làm mọi người ngẩn người vì thán phục khi nhắc lại vanh vách các số liệu quyết toán một cách chính xác đến tận con số... phần nghìn. == La Estrella del Oriente == Công ty thương mại La Estrella del Oriente của cha con Carlos Slim kinh doanh tổng hợp từ A đến Z, từ sách báo, quần áo, xà phòng, mỹ phẩm, hay thuốc lá, rượu. Dần dà, cả một hệ thống cửa hàng thương mại đã hình thành. Ở tất cả các khu vực trung tâm mua bán sầm uất quan trọng nhất trong thành phố Mexico đều có các cửa hàng của Carlos Slim. Kế đó là sự ra đời và phát triển chóng mặt chuỗi nhà hàng Sanborns - hệ thống nhà hàng cao cấp lớn nhất Mexico và có mặt tại hầu hết thành phố lớn. == Telmex và chiến lược miễn phí truy nhập Net cho thanh thiếu niên == Dẫu thành công là vậy, nhưng tới năm 1990 Carlos Slim mới chỉ được biết đến ở trong nước Mexico là chính. Chỉ đến khi trở thành ông chủ của tập đoàn viễn thông Telmex lớn nhất châu Mỹ Latinh thì Carlos Slim mới tạo ra được tiếng tăm toàn cầu. Chính nhờ Telmex mà ông mới trở thành một trong những tỉ phú giàu nhất thế giới. Năm 1990, Nhà nước Mexico quyết định tư nhân hóa công ty điện thoại và viễn thông quốc gia. Chẳng phải là một chuyên gia kỹ thuật - thậm chí ông còn không biết tiếng Anh và cũng chẳng xài được máy tính, nhưng Carlos Slim đã gom hết vốn liếng của mình để lao vào đấu thầu. Với 1,7 tỷ USD, Carlos Slim đã mua gần như toàn bộ số cổ phiếu của tập đoàn này. Cách nay 14 năm, khi mua 1 cổ phiếu của Telmex, Carlos Slim chỉ bỏ ra có 0,8 cent. Còn giờ, giá cổ phiếu của Telmex trên thị trường chứng khoán là 34 USD. Vào thời điểm hiện tại, giá trị cả tập đoàn được các công ty kiểm toán độc lập định giá là từ 10 cho đến 12 tỷ USD. Texmex là một trong những tập đoàn viễn thông đầu tiên trên thế giới có ngay dịch vụ Internet ADSL phục vụ khách hàng. Kề ngay sau những chiến dịch quảng cáo rầm rộ, Carlos Slim tiếp tục làm các đối thủ cạnh tranh giật nảy người khi ông tuyên bố cung cấp miễn phí Internet cho thanh thiếu niên. == Tầm nhìn chiến lược và các thương vụ bộn bạc == Mặc dù Mexico còn xa mới là một nước công nghiệp phát triển nhưng Carlos Slim đã đoán trước được sự giảm sút của mạng điện thoại dây truyền thống, thế vào đó sẽ là thời của điện thoại di động. Năm 2000, mới chỉ có các công ty nước ngoài từ Mỹ và châu Âu hoạt động tại Mỹ Latinh. Công ty America Movil của Carlos Slim là công ty nội duy nhất có thể cạnh tranh được. Thế rồi, "trùm" về thị phần là Telefonica của Tây Ban Nha đột nhiên bị cạnh tranh dữ dội. Đến cuối năm 2003, America Movil đã đạt số khách hàng là 40,4 triệu, đã chạm tới tương quan xấp xỉ về số lượng khách hàng 40,6 triệu của nhà cung cấp đến từ Tây Ban Nha này. Tin học, viễn thông là lĩnh vực kinh doanh có tính toàn cầu, Carlos Slim Helu biết điều đó, dù vẫn xin nhắc lại là hầu như ông không hiểu gì về kiến thức tin học cả!!!. Ông tìm cách vươn ra các thị trường quốc tế, thoạt đầu là thị trường Mỹ Latinh. Năm 2003, Carlos Slim mua đứt tập đoàn điện thoại di động Bell South tại São Paulo của Brasil chỉ với "nhõn" 625 triệu USD. Hiện nay Carlos Slim cũng đang nắm cổ phần chi phối tập đoàn viễn thông lớn nhất của Brasil là Embratel Participa. Tập đoàn viễn thông Mỹ MCI đã phải bán số cổ phần mà MCI đang nắm giữ cho Texmex sau khi tập đoàn viễn thông của Carlos Slim đã thắng trong đợt đấu thầu công khai. Phi vụ này ngốn của Slim không dưới 360 triệu. == Đóng góp cho xã hội == Đó không chỉ là số nộp ngân sách cũng như hàng chục nghìn việc làm tại một đất nước có tỉ lệ thất nghiệp khá cao này, Carlos Slim Helu còn thành lập ra khá nhiều các quỹ tài trợ và quỹ từ thiện Trong năm 2003, hai quỹ học bổng của ông đã cấp 20.000 suất cho sinh viên. Quỹ hỗ trợ trẻ em mang tên ông đã giúp trên 5.000 trẻ em phạm pháp có cơ hội trở lại cuộc sống bình thường. Hơn 11.000 ca mổ cho trẻ em đã nhận được sự hỗ trợ kinh phí từ quỹ từ thiện của ông. Ông cũng chi 50 triệu USD để tu sửa lại 34 tòa nhà cổ tại trung tâm tài chính cũ của Thành phố México, nơi được UNESCO công nhận là di sản văn và khoe khoang, mà ngược lại, Carlos Slim sống giản dị và bình dị quá mức bình thường. Phòng làm việc của ông được bố trí không khác gì của một nhân viên bình thường nhất. Một ngày ông làm việc tới 14 tiếng, lắm lúc quên bẵng cả ăn. Các nhân viên thuật lại rằng đôi lúc, họ có cảm giác Carlos Slim chỉ sống bằng những điếu xì gà luôn đỏ lửa trên môi. == Ảnh hưởng tới chính trường == Quan hệ chính trường cũng là yếu tố giúp Slim thuận lợi trong làm ăn. Nhiều người tin rằng cú đột phá lớn nhất với Slim là sự thăng tiến qinas, người từng tốt nghiệp Đại học Harvard và có khuynh hướng kỹ trị nhằm hiện đại hóa đất nước. Hai người từng thiết lập quan hệ bằng hữu giữa thập niên 1980. Thời Salinas, hàng trăm công ty nhà nước được tư nhân hóa trong đó có Telmex năm 1990. Tiến trình tư nhân hóa không chỉ có lợi riêng với Carlos Slim mà với doanh nghiệp Mexico nói chung. Năm 1991, Mexico chỉ có 2 tỉ phú lọt vào danh sách Forbes; đến trước năm 1994, giai đoạn cuối nhiệm kỳ Salinas, danh sách trên có 24 người và người giàu nhất là Slim. Và trong khi Mỹ phá thế độc quyền nhà nước bằng cách chia nhỏ và biến thành những công ty tư cạnh tranh với nhau, Mexico lại bê nguyên bản độc quyền nhà nước thành độc quyền tư nhân. Đó là lý do Telmex được hưởng ưu tiên trong kinh doanh điện thoại. Năm 1995, công ty điện thoại đường dài Avantel chi khoảng 1 tỉ USD để xây dựng mạng mới nhưng sau đó bắt đầu gặp khó khăn khi kết nối với hệ thống của Telmex. Một năm sau, sau nhiều thương lượng, Telmex bắt đầu mở cổng kết nối cho Avantel nhưng Avantel phải trả 0.7 USD cho mỗi USD mà họ kiếm được cho tập đoàn của Slim! Khi Avantel "rủ" Telmex ra tòa với tội độc quyền, tập đoàn của Slim phản ứng bằng cách yêu cầu tòa ra trát bắt Luis Mancera (luật sư hàng đầu Mexico làm cho Avantel)! Cuối cùng, năm 2001, Avantel mếu máo vỡ nợ và hầu hết tài sản công ty Slim đã mua lại rồi bán kiếm lời... Một lần nữa, quan hệ chính trường đã đem lại thuận lợi cho Telmex. Khi đắc cử Tổng thống năm 2000, Vicente Fox đã chọn viên chức Telmex, Pedro Cerisola, vào ghế bộ trưởng thông tin-giao thông. Quan hệ chính trị cũng giúp Slim dễ mở rộng thị trường. Hãng điện thoại di động América Móvil của ông hiện có 124 triệu khách hàng, hoạt động tại hơn 12 nước Mỹ Latinh. Trong nước, Slim lập tập trung vào công nghiệp dựa vào hợp đồng chính phủ. Công ty xây dựng mới thành lập của ông, Ideal SAB, hiện đấu thầu xây dựng vài trong số công trình xa lộ lớn nhất Mexico. Công ty dịch vụ dầu khí của ông hiện đang xây giàn khoan lớn nhất Mexico. Vương quốc Carlos Slim tại Mexico rộng đến mức công ty nước ngoài không thể làm ăn nếu phớt lờ Slim. Năm 2005, công ty hỏa xa Union Pacific (Mỹ) cùng Hutchison Port Holdings (nhà đầu tư cầu cảng hàng đầu thế giới, quản lý 5 trong 7 cảng container lớn nhất thế giới, xử lý 13% lưu lượng container thế giới; thuộc tập đoàn Hutchison Whampoa, tức Hòa Ký Hoàng Bộ, của Hồng Kông) cùng hợp tác đấu thầu công trình 6 tỉ USD xây cảng và hỏa xa tại Baja California (bang cực Bắc Mexico). Tuy nhiên, dự án bất thành, khi Slim thuyết phục thống đốc Baja California không giao công trình cho công ty nước ngoài. == Phê bình == Tài sản ngày càng tăng của Carlos là chủ đề gây tranh cãi vì nó được tạo ra trong một nước đang phát triển nơi thu nhập bình quân đầu người không quá 14.500 US$ một năm và gần 17% dân số sống trong cảnh nghèo khó. Những lời chỉ trích cho rằng Carlos là nhà độc quyền, dẫn chứng việc Telmex kiểm soát đến 90% thị trường điện thoại bàn của Mexico. Tài sản của Carlos tương đương 5% thành quả kinh tế hàng năm của Mexico. Telmex, với 49.1% do Carlos và gia đình sở hữu, thu phí sử dụng thuộc hàng đắt nhất thế giới, theo Organisation for Economic Co-operation and Development. Một người Mexico trung bình tiêu 1.50 pê-sô mỗi ngày vào hàng hoá và dịch vụ của Carlos, tính ra khoảng 140 million US$ một ngày và Federal Telecommunications Institute, một tổ chức chống độc quyền mới của Mexico nói trong tháng tư 2014 rằng các doanh nghiệp viễn thông của Carlos là độc quyền. Sự hiện diện về kinh tế của Carlos ở Mexico rộng rãi đến nỗi nhiều người Mexico cảm thấy nên gọi đất nước là "Slimlandia" (vùng đất của Carlos Slim) vì gần như không thể sống một ngày ở Mexico mà không góp phần vào sự giàu có của Carlos. Theo Celso Garrido, nhà kinh tế học của Universidad Nacional Autónoma de México, sự thống trị của các conglomerate của Carlos ngăn cản các công ty nhỏ hơn phát triển, dẫn đến thiếu việc làm có lương và buộc rất nhiều người Mexico phải đi tìm cuộc sống tốt hơn ở Mỹ. Một báo cáo năm 2012 của OECD ước tính thiệt hại xã hội do các công ty độc quyền của Carlos gây ra khoảng 129 tỷ USD. == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Carlos Slim Biography Worlds Greatest Business Biographies Forbes article on Slim Telmex Corporate SIte Latin Business Chronicle Latin American Billionaires Huyền thoại về Carlos Slim - người "động vào cái gì cái đó thành vàng" Những người giàu nhất thế giới 2004 Những người giàu nhất thế giới 2005 Những người giàu nhất thế giới 2006 Những người giàu nhất thế giới 2007 Một năm kiếm 19 tỷ USD Những "cỗ máy in tiền"
sở hữu trí tuệ.txt
Theo Điều 2(viii) của Công ước Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967 về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, sở hữu trí tuệ (intellectual property) được định nghĩa là các quyền liên quan tới: Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, Sự thể hiện của các nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm (thu âm), bản ghi hình (thu hình), Sáng chế thuộc mọi lĩnh vực nỗ lực của loài người, xem thêm bằng sáng chế Phát minh khoa học, Kiểu dáng công nghiệp, Nhãn hiệu (hàng hoá), nhãn hiệu dịch vụ, tên và chỉ dẫn thương mại, thương hiệu, biểu trưng Quyền (bảo vệ) chống cạnh tranh không lành mạnh, Và mọi quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp/kỹ thuật, khoa học, văn học hay nghệ thuật. == Xem thêm == Tổ chức sở hữu trí tuệ Quyền tác giả Vi phạm bản quyền Công ước Berne Công ước Stockholm Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Đối tượng sở hữu trí tuệ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới Cơ quan Sáng chế châu Âu Cơ quan Thương hiệu và Bản quyền Sáng chế Hoa Kỳ
1759.txt
Năm 1759 (số La Mã: MDCCLIX) là một năm thường bắt đầu vào thứ hai trong lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào thứ sáu của lịch Julius chậm hơn 11 ngày). Tại Anh, năm nay đã được biết đến như là mirabilis Annus vì chiến thắng của Anh trong cuộc Chiến tranh Bảy năm. == Sự kiện == == Sinh == 25 tháng 1 - Robert Burns, nhà thơ người Scotland (mất 1796) Ngày 15 tháng 2 - Friedrich Wolf Tháng Tám, nhà nôn ngữ học và nhà khảo cổ học Đức (mất 1824) 22 tháng 2 - Claude Lecourbe, người Pháp (mất 1815) 27 tháng tư - Mary Wollstonecraft, (mất 1797) 20 tháng 5 - William Thornton, kiến trúc sư người Mỹ (mất 1828) 28 Tháng Năm - William Pitt Trẻ, chính khách và Thủ tướng Chính phủ của Vương quốc Anh (mất 1806) 21 Tháng 6 - Alexander J. Dallas, người Mỹ (mất 1817) 24 tháng 8 - William Wilberforce, người Anh (mất 1833) Ngày 19 tháng 9 - William Kirby, nhà côn trùng học (mất 1850) 25 tháng 10 - Sophie Marie Dorothea của Württemberg, hoàng hậu của Paul I của Nga (mất 1828) 25 tháng 10 - Wyndham William Grenville, nam tước thứ nhất của Grenville, Thủ tướng Vương quốc Anh (mất 1834) 26 tháng 10 - Georges Danton, lãnh đạo cách mạng Pháp (mất 1794) Ngày 10 tháng 11 - Friedrich Schiller, nhà văn người Đức (mất 1805) 23 tháng 11 - Felipe Neri Enrique, nhà lập pháp Texas (mất 1820) == Mất == == Tham khảo ==
văn minh zapotec.txt
Nền văn minh Zapotec là một nền văn minh thời tiền Columbo bản địa phát triển mạnh mẽ trong thung lũng Oaxaca ở Trung Bộ châu Mỹ. Bằng chứng khảo cổ cho thấy văn hóa của họ tồn tại trước đây ít nhất 2.500 năm. Zapotec để lại bằng chứng khảo cổ ở thành phố cổ của Monte Albán trong các hình thức của các tòa nhà, sân bóng, ngôi mộ tráng lệ và đồ dùng chôn theo trong mộ bao gồm cả vàng trang sức chế tác tinh xảo. Monte Albán là một trong những thành phố lớn đầu tiên ở Trung Bộ châu Mỹ và trung tâm của một nhà nước Zapotec thống trị phần lớn lãnh thổ mà ngày nay thuộc về bang của Mexico Oaxaca. Zapotec phát triển một hệ thống lịch và một hệ thống chữ viết đặc biệt. Hệ thống này có một tự hình riêng biệt cho từng âm tiết của ngôn ngữ. Hệ thống văn bản này được cho là một trong những hệ thống chữ viết đầu tiên của Trung Mỹ và một tiền thân của những hệ thống khác được phát triển bởi người Maya, Mixtec, và nền văn minh Aztec. Tại thời điểm hiện tại, có một số tranh luận liệu các chữ tượng hình Olmec, có từ năm 650 trước Công nguyên, thực sự có được xem là một hình thức chữ viết và có trước các văn bản Zapotec lâu đời nhất có niên đại khoảng 500 TCN hay không. == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Zapotec tại Wikimedia Commons
michael phelps.txt
Michael Fred Phelps 2 (sinh ngày 30 tháng 6 năm 1985 tại Baltimore, Maryland) là một vận động viên bơi lội chuyên nghiệp người Mỹ và anh là một trong những vận động viên vĩ đại nhất Olympic, với 28 huy chương Olympic các loại. Phelps cũng đang là người giữ kỉ lục nhiều huy chương vàng nhất lịch sử Olympic (23 chiếc), kỉ lục nhiều huy chương vàng nhất trong nội dung cá nhân (13 chiếc), kỉ lục nhiều huy chương nhất trong nội dung cá nhân (16 chiếc). Bằng việc đoạt 8 huy chương vàng ở Beijing 2008, anh đã phá kỉ lục của Mark Spitz về số lần đứng đầu nội dung cá nhân (7 lần). Tại Thế vận hội Mùa hè 2004 tổ chức ở Athena, Hy Lạp, Phelps đã giành 6 huy chương vàng, 2 huy chương đồng, san bằng kỷ lục về số huy chương do một cá nhân đạt được trong một kỳ Thế vận hội (do vận động viên thể dục Alexander Dityatin thiết lập năm 1980). Bên cạnh đó Phelps còn phá và giữ nhiều kỷ lục thế giới trong môn bơi lội, anh được bầu là Vận động viên bơi lội thế giới của năm trong các năm 2003, 2004, 2006 và 2007. Tại Thế vận hội Mùa hè 2008 tại Bắc Kinh, Phelps tham dự 8 nội dung (5 cá nhân và 3 đồng đội) và đoạt được cả 8 huy chương vàng, lập 7 kỉ lục thế giới và 1 kỉ lục Olympic. Tại Thế vận hội Mùa hè 2012 tại London, Phelps giành bốn huy chương vàng và hai huy chương bạc. Sau đó anh đã tuyên bố giải nghệ nhưng đã trở lại thi đấu từ năm 2014. Tại Thế vận hội Mùa hè 2016 tại Rio de Janeiro, Phelps đã giành 5 huy chương vàng (nội dung bơi bướm 200m, bơi hỗn hợp cá nhân 200m, 2 huy chương bơi tự do đồng đội, 1 huy chương vàng bơi hỗn hợp tiếp sức) và 1 huy chương bạc nội dung bơi bướm 100m. Phelps là vận động viên bơi lớn tuổi nhất đoạt Huy chương vàng cá nhân ở Olympic, đồng thời phá bỏ một kỷ lục từng tồn tại 2168 năm ở Olympic, của Leonidas của Rhodes với 12 huy chương vàng cá nhân thời Hy Lạp cổ đại. Phelps đã đoạt tổng cộng 23 huy chương vàng (trong số đó có 13 huy chương vàng cá nhân), 3 huy chương bạc, 2 huy chương đồng Thế vận hội, khiến anh trở thành vận động viên thành công nhất trong lịch sử Olympic Đồng thời tại thế vận hội Rio 2016, Michael Phelps được chọn là người cầm cờ đoàn thể thao Mỹ trong ngày khai mạc. Michael Phelps cũng giành 26 huy chương vàng Giải vô địch thế giới bể dài, 1 huy chương vàng Giải vô địch thế giới bể ngắn, 16 huy chương vàng Giải vô địch Liên Thái Bình Dương, Tổng cộng là 66 huy chương vàng các loại. Phelps tuyên bố sẽ giải nghệ sau Thế vận hội 2016. == Đời sống cá nhân == Phelps đã được sinh ra ở Baltimore bang Maryland và lớn lên ở Rodgers Forge khu vực lân cận Towson. Anh từng học ở trường Tiểu học Rodgers Forge, Trung học Dumbarton, và Trung học phổ thông Towson. Phelps là con út trong ba người con và mẹ anh, bà Deborah Sue "Debbie" Phelps, là một hiệu trưởng trường trung học. Cha anh, ông Michael Fred Phelps, là một người đã về hưu sống ở bang Maryland, từng là cầu thủ bóng đá ở trường trung học và đại học. Phelps có thể nói được tiếng Anh, Đức, Ireland, Scotland, và tiếng xứ Wales. Cha mẹ anh ly dị vào năm 1994, khi anh được chín tuổi, và cha ông tái hôn vào năm 2000. Michael Phelps tốt nghiệp Trường trung học Towson vào năm 2003. Phelps bắt đầu bơi lội khi lên 7 tuổi, một phần do ảnh hưởng của chị em của mình và một phần để giúp anh thoát khỏi hội chứng giảm chú ý. Sau khi giải nghệ vào năm 2016, anh nói: "Lý do duy nhất mà tôi xuống nước là vì mẹ tôi muốn tôi tìm hiểu làm thế nào để bơi cùng các chị em, bản thân tôi cũng rơi vào tình yêu với môn thể thao này, và tôi đã quyết định để học bơi." Khi Phelps lên lớp sáu, anh được chẩn đoán rối loạn thiếu chú ý hiếu động thái quá (ADHD). ở tuổi 10, anh đã phá kỷ lục quốc gia dành cho độ tuổi của mình trong nội dung 100m bướm. Sau đó anh bắt đầu được đào tạo tại câu lạc bộ bơi lội ở Bắc Baltimore dưới sự chỉ hướng dẫn của huấn luyện viên Bob Bowman. Sau đó rất nhiều hồ sơ nhóm tuổi theo sau, và đến năm 2016 Phelps vẫn giữ 12 hồ sơ nhóm tuổi khi mình còn theo học. == Sự nghiệp == === Olympic 2000 === Năm 2000, ở tuổi 15, Phelps trở thành nam vận động viên bơi lội trẻ tuổi nhất trong vòng 68 năm của đoàn Hoa Kỳ tham dự Thế vận hội. Tuy không đạt huy chương nào ở Thế vận hội Mùa hè 2000 tại Sydney, chỉ 5 tháng sau Phelps đã phá kỷ lục thế giới ở nội dung 200 m bướm và trở thành vận động viên bơi lội trẻ tuổi nhất phá kỷ lục thế giới. Từ năm 2000 đến năm 2004 Phelps còn 5 lần phá kỷ lục thế giới ở các nội dung cá nhân hỗn hợp và bướm. === Giải vô địch thế giới === Tại Giải vô địch thế giới cho bộ môn thi đấu dưới nước vào năm 2001, ngày 30 tháng Ba, Michael Phelps đã phá vỡ kỷ lục thế giới trong bướm 200 mét để trở thành vận động viên nam trẻ tuổi nhất thiết lập một kỷ lục thế giới bơi với 15 năm và 9 tháng. Trước đây kỷ lục này đã được thiết lập bởi Ian Thorpe, người đã thi đấu với nội dung 400 mét bơi tự do với 16 năm, 10 tháng. Tại giải vô địch thế giới tại Fukuoka, Nhật Bản, Phelps đã phá vỡ kỷ lục thế giới của chính mình trong nội dung 200 mét bướm trên đường đua xanh để lần đầu tiên trở thành một nhà vô địch thế giới. Năm 2004 tại Athena, Phelps được kỳ vọng sẽ phá kỷ lục 7 huy chương vàng môn bơi lội do huyền thoại đồng hương Mark Spitz thiết lập năm 1972. Tuy san bằng thành tích 4 huy chương vàng cá nhân của Spitz (ở các nội 100 và 200 m bướm, 200 và 400 m cá nhân hỗn hợp) nhưng Phelps chỉ giành được 2 huy chương đồng tại các nội dung 4 x 100 m tiếp sức tự do và 200 m tự do vì vậy kỷ lục do Spitz giữ suốt 32 năm vẫn tiếp tục đứng vững. Dù sao thì với thành tích 6 vàng, 2 đồng, Phelps cũng đã san bằng kỷ lục về số huy chương do một cá nhân đạt được trong một kỳ Thế vận hội (do vận động viên thể dục Alexander Dityatin thiết lập năm 1980 ở Moskva). Tại giải bơi lội vô địch thế giới 2007, Phelps đã giành 7 huy chương vàng và phá 5 kỷ lục thế giới. Tại Thế vận hội Mùa hè 2008 tổ chức ở Bắc Kinh, ngay ở vòng đấu loại khởi động, Phelps đã phá kỷ lục thế giới ở nội dung 400 m cá nhân hỗn hợp. Ngày 17 tháng 8, Phelps đã giành được huy chương vàng thứ 8 trong Olympic 2008 (phá kỷ lục thế giới tại 7/8 nội dung giành huy chương vàng và là con số nhiều nhất trong lịch sử) và trở thành người nắm giữ kỷ lục mới về số huy chương vàng tại các kỳ Thế vận hội với 14 chiếc. Trong Olympic London 2012, chỉ cần anh dành thêm 3 huy chương nữa, sẽ phá kỷ lục dành 18 huy chương các loại của vận động viện Liên Xô Larissa Latynina, và trở thành vận động viên xuất sắc tuyệt đối của mọi thời đại. Tại Olympic London 2012, mặc dù khởi đầu chậm chạp khi chỉ về thứ 4 ở nội dung 400 hỗn hợp nhưng sau đó Phelps đã thi đấu khá xuất sắc khi giành 4 tấm huy chương vàng và 2 tấm huy chương bạc, thành tích tốt nhất trong số các vận động viên bơi tại Olympic 2012. Với thành tích này, Phelps đã nâng thành tích đầy vinh quang của mình với tổng cộng 22 huy chương trong đó có 18 huy chương vàng từ 4 kỳ Olympic. Sau đó anh đã tuyên bố giải nghệ. Vào năm 2014, anh tuyên bố trở lại đường đua xanh sau hơn 2 năm vắng bóng, tuy nhiên anh đã bị cấm thi đấu 6 tháng vì lái xe trong lúc say rượu. Tháng 4 năm 2015 lệnh cấm thi đấu kết thúc, anh nói rằng mục tiêu của anh là hướng đến kì Thế vận hội mùa hè tại Rio de Janeiro năm 2016, kì Olympic thứ 5 năm trong sự nghiệp của anh. Tại Thế vận hội Mùa hè 2016, Phelps đã giành 5 huy chương vàng ở các nội dung bơi bướm 200m, 2 huy chương bơi tự do đồng đội, 200m bơi hỗn hợp cá nhân, 1 huy chương vàng tiếp sức hỗn hợp và 1 huy chương bạc ở nội dung bơi bướm 100m. == Xem thêm == Danh sách vận động viên giành nhiều huy chương vàng Thế vận hội Danh sách kỷ lục thế giới trong bơi lội == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của Michael Phelps Thông tin trên USA Swimming Michael Phelps tại Internet Movie Database
giải quần vợt úc mở rộng 2009.txt
Giải quần vợt Úc Mở rộng 2009 là một giải Grand Slam quần vợt tổ chức tại Melbourne, Úc từ ngày 19 tháng 01 đến ngày 01 tháng 02 năm 2009. Đây là lần thứ 97 giải được tổ chức. Tay vợt đương kim vô địch giải đơn nữ, Maria Sharapova, không thể tham dự để bảo vệ chức vô địch của mình do chưa bình phục hẳn chấn thương vào trước giải. == Kết quả thi đấu == === Đơn nam === === Đơn nữ === === Đôi nam === === Đôi nữ === === Đôi nam nữ === == Danh sách hạt giống == == Chú thích ==
vùng đặc quyền kinh tế.txt
Trong luật biển quốc tế, vùng đặc quyền kinh tế (tiếng Anh: Exclusive Economic Zone - EEZ; tiếng Pháp: zone économique exclusive- ZEE) là vùng biển mở rộng từ các quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo, nằm bên ngoài và tiếp giáp với lãnh hải. Nó được đặt dưới chế độ pháp lý riêng được quy định trong phần V - Vùng đặc quyền kinh tế của Công ước Liên hiệp quốc về luật biển 1982, trong đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển (hay quốc gia quần đảo), các quyền cũng như các quyền tự do của các quốc gia khác đều được điều chỉnh bởi các quy định thích hợp của Công ước này. Vùng biển này có chiều rộng 200 hải lý (khoảng 370,4 km) tính từ đường cơ sở, ngoại trừ những chỗ mà các điểm tạo ra đó gần với các quốc gia khác. Trong khu vực đặc quyền kinh tế, quốc gia có đặc quyền khai thác và sử dụng các tài nguyên biển. Nó là một trong các vùng mà quốc gia có quyền chủ quyền. Khái niệm này của các quốc gia được phân chia vùng đặc quyền kinh tế đã cho phép kiểm soát tốt hơn các vấn đề trên biển (nằm ngoài giới hạn lãnh thổ mà quốc gia có đầy đủ chủ quyền) đã thu được sự chấp thuận của đa số quốc gia vào cuối thế kỷ 20 và đã được gắn với sự thừa nhận quốc tế theo Công ước Liên hiệp quốc về luật biển thứ ba năm 1982. Điều 55, phần V Công ước Liên hiệp quốc về luật biển quy định: Specific legal regime of the Exclusive Economic Zone The Exclusive Economic Zone is an area beyond and adjacent to the territorial sea, subject to the specific legal regime established in this Part, under which the rights and jurisdiction of the coastal State and the rights and freedoms of other States are governed by the relevant provisions of this Convention. Bản dịch tiếng Việt: Chế độ pháp lý đặc biệt cho vùng đặc quyền kinh tế Vùng đặc quyền kinh tế là vùng nằm ngoài và tiếp giáp với lãnh hải, là chủ thể của chế độ pháp lý đặc biệt được đưa ra tại phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền cũng như quyền tự do của quốc gia khác được điều chỉnh bởi các điều khoản liên quan của Công ước này. Quản lý nghề cá là một bộ phận đáng kể nhất của việc kiểm soát này. Các tranh cãi về mở rộng chính xác của các vùng đặc quyền kinh tế là nguồn chủ yếu của các mâu thuẫn giữa các quốc gia về biển. Ví dụ nổi tiếng nhất ở châu Âu có lẽ là chiến tranh cá tuyết giữa Iceland và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland năm 1893. == Lịch sử == Khái niệm và sự hình thành của vùng này có lẽ bắt nguồn từ sự kiện tổng thống Mỹ Truman ngày 28 tháng 9 năm 1945 đã đưa ra một tuyên bố về nghề cá ven bờ trong một số vùng của biển cả. Trong đó, Mỹ đề nghị thiết lập một vùng bảo tồn một phần nhất định của biển cả tiếp giáp với bờ biển nước Mỹ, tại đó các hoạt động nghề cá đã và sẽ phát triển trong tương lai ở mức độ quan trọng nằm ngoài lãnh hải của Mỹ 3 hải lý. Tiếp theo đó, các nước khu vực châu Mỹ-Latinh như Chile, Peru, Ecuador đã mở rộng lãnh hải tới 200 hải lý dưới các tên gọi như vùng biển di sản, lãnh hải di sản v.v. để loại bỏ quyền tự do hàng hải và các quyền tự do biển cả khác. Tình hình này gây ra sự lo ngại và chống đối từ các quốc gia có nghề hàng hải phát triển mạnh. Năm 1971, Kenya và sau đó là các nước khu vực Á-Phi đã đưa ra đề nghị trung hòa cả hai lập trường trên bằng khái niệm vùng đặc quyền kinh tế, trong đó các quốc gia ven biển có thẩm quyền đặc biệt trong kiểm soát; quy định; khai thác và bảo vệ các tài nguyên sinh vật cũng như phi sinh vật của vùng để ngăn ngừa và đấu tranh chống lại ô nhiễm, trong khi các quyền tự do hàng hải, tự do bay, tự do đặt dây cáp hay ống dẫn dầu dưới đáy biển vẫn được bảo lưu. Khái niệm này đã nhanh chóng được chấp nhận mà không có sự phản đối nào và nó có giá trị tập quán trước khi được ghi nhận trong Công ước Liên hiệp quốc về luật biển năm 1982. == Chế độ pháp lý == Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng biển đặc thù, trong đó có sự cân bằng về các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển với các quyền và các quyền tự do của các quốc gia khác. Theo các điều khoản của Công ước luật biển 1982 thì quốc gia ven biển có các quyền sau: Các quyền thuộc chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên của vùng nước trên đáy biển cũng như của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Các quyền này bao gồm: Các hoạt động thăm dò, khai thác vì mục tiêu kinh tế cũng như việc sản xuất năng lượng từ nước, dòng hải lưu và gió. Quyền tài phán về: Việc lắp đặt, sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển. Bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Các quyền và nghĩa vụ khác theo các điều khoản của Công ước. Điều này có nghĩa là quốc gia ven biển có toàn quyền trong đánh giá tiềm năng của các nguồn tài nguyên cũng như thi hành các biện pháp thích hợp để bảo tồn, quản lý các nguồn tài nguyên này. Các tổ chức quốc tế có thẩm quyền chỉ có thể tham gia vào việc duy trì các nguồn lợi này ở "mức độ thích hợp". Tuy nhiên, nếu tổng khối lượng đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật lớn hơn khả năng khai thác của quốc gia đó thì quốc gia này có nghĩa vụ "tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tối ưu các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền kinh tế". Trong vùng đặc quyền kinh tế, tất cả các quốc gia khác đều được hưởng các quyền sau (phải tuân thủ theo các điều khoản của Công ước này): Tự do hàng hải Tự do hàng không Tự do đặt ống dẫn ngầm và dây cáp. == Theo quốc gia == === Úc === Luật về biển và các vùng đất chìm ngập dưới biển năm 1973 Úc là quốc gia lớn thứ ba về diện tích của Vùng đặc quyền kinh tế, sau Mỹ và Pháp, và đứng trên Nga, với tổng diện tích thực tế còn lớn hơn diện tích vùng đất liền của mình. Theo công ước của Liên hiệp quốc, vùng đặc quyền kinh tế của Úc nói chung mở rộng thêm 200 hải lý (370,4 km) từ bờ biển của Úc cũng như các lãnh thổ ben ngoài của quốc gia này, ngoại trừ các khu vực mà theo thỏa thuận giữa Úc và các quốc gia liên quan thì nó nhỏ hơn. Úc cũng đòi hỏi trong các đệ trình của mình tới Ủy ban của Liên hiệp quốc về biển dành cho các giới hạn về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế tới 200 hải lý đối với Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Úc nhưng yêu cầu này không được chấp nhận do các quy định trong Hiệp ước Nam Cực. Tuy vậy, Úc vẫn duy trì được quyền khai thác và thám hiểm đáy biển và vùng nước trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế này. === Pháp === Do có nhiều các lãnh thổ bên ngoài chính quốc trên tất cả các đại dương của Trái Đất nên Pháp chiếm giữ vị trí thứ hai về vùng đặc quyền kinh tế trên thế giới, với diện tích 11.035.000 km² (4.260.000 dặm vuông), chỉ sau diện tích các vùng đặc quyền kinh tế của Mỹ (11.351.000 km² / 4.383.000 dặm vuông), nhưng đứng trên Úc. Theo tính toán khác đưa ra bởi Pew Research Center, diện tích vùng đặc quyền kinh tế của Pháp là 10.084.201 km² (3.893.532 dặm vuông), sau Mỹ (12.174.629 km² / 4.700.651 dặm vuông), nhưng trên Úc (8.980.568 km² / 3.467.416 dặm vuông) và Nga (7.566.673 km² / 2.921.508 dặm vuông). Tổng diện tích vùng đặc quyền kinh tế của Pháp chiếm khoảng 8% tổng diện tích bề mặt của tất cả các vùng đặc quyền kinh tế trên thế giới, trong khi diện tích của Cộng hòa Pháp chỉ chiếm 0,45% tổng diện tích Trái Đất. === Mỹ === Luật quản lý và bảo tồn nghề cá Magnuson-Stevens năm 1976 == Tham khảo == Maritime Boundary Definitions. ^ Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea. Commission on the Limits of the Continental Shelf, Submission by Australia. == Xem thêm == Nội thủy Lãnh hải Vùng tiếp giáp lãnh hải Vùng biển quốc tế Thềm lục địa == Liên kết ngoài == United Nations Convention on the Law of the Sea - Part V Sea Around Us Project - View the EEZ of all nations The USA zone since 1977 Submissions of the parties in a court case on the exercise of the right of Saint Vincent and the Grenadines in the exclusive economic zone of Guinea Maritime boundaries of the World (image)
weingarten, rhineland-palatinate.txt
Weingarten là một đô thị thuộc huyện Germersheim, trong bang Rheinland-Pfalz, phía tây nước Đức. Đô thị Weingarten, Rhineland-Palatinate có diện tích 6,67 km², dân số thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2006 là 1579 người. == Tham khảo ==
colorado.txt
Colorado (có thể phát âm như "Cô-lô-ra-đô") là một tiểu bang phía Tây ở miền trung Hoa Kỳ. Tiểu bang nổi tiếng về địa hình nhiều núi. == Địa lý == Colorado là một trong ba tiểu bang có các ranh giới nằm trên vĩ tuyến và kinh tuyến (hai tiểu bang kia là Wyoming và Utah). Tiểu bang bắt đầu từ 37° đến 41° vĩ độ bắc và từ 102° đến 109° kinh độ tây. Đài kỷ niệm Bốn Gốc ở cực tây nam ở 37° vĩ độ bắc và 109° kinh độ tây. Về phía đông của dãy núi Trước mặt (Front Range) của dãy núi Rocky là đồng bằng đông Colorado, phần của đồng bằng Lớn ở trong Colorado có cao độ từ 1.000 đến 2.000 mét (3.500 đến 7.000 foot). Kansas và Nebraska nằm bên cạnh Colorado về phía đông. Đồng bằng này dân cư thưa thớt và hầu hết người dân sống dọc theo hai con sông Nam Platte và Arkansas và Đường số 70. Tiểu bang có mưa rất ít, lượng mưa trung bình hàng năm là 380 milimét (15 inch). Miền này chỉ có vài vùng đất có nước tưới tiêu, và phần lớn đất dành cho nông nghiệp đất khô hay trại chăn nuôi gia súc. Cây lúa mì vụ đông là vụ mùa đặc trưng và hầu hết các thị trấn nhỏ trong vùng tự hào vì có cả tháp nước và máy hút lúa. Các thành phố lớn và thị trấn nằm phía đông dãy núi Trước mặt, gần Đường số 25. Phần lớn dân cư Colorado ở trong khu vực đô thị đông đúc này. Dãy núi Trước mặt của dãy núi Rocky có những đỉnh nổi tiếng như đỉnh Long, núi Evans, đỉnh Pike, và Spanish Peaks gần Walsenburg về phía nam. Nước ở vùng này chảy về phía đông, và vùng này có rừng và thành thị ở một phần. Khi các thành phố ở đây mở mang, đất ở đây không còn được sử dụng cho việc đốn gõ và nuôi vật ăn cỏ, dẫn đến dầu xăng đống lên. Trong hạn hán năm 2002, những vụ cháy rừng xảy ra ở vùng này. Về phía tây của dãy núi Trước mặt nằm đường chia lục địa của Bắc Mỹ. Về phía tây của đường chia là dốc Tây. Nước chảy từ phía đông của đường chia này vào vịnh Mexico theo sông Mississippi, và nước cũng chảy từ phía tây của đường chia vào Thái Bình Dương theo sông Colorado. Vào miền trung của dãy núi Rocky nằm vài lưu vực (ở đấy gọi là park) rộng và cao. Về miền bắc, về phía đông của đường chia lục địa là lưu vực Bắc (North Park). Nước chảy từ lưu vực này theo sông Bắc Platte, đó chảy về hướng bắc vào Wyoming. Một chút về phía nam nhưng ở bên tây của đường chia nằm lưu vực Trung (Middle Park), nước chảy theo sông Colorado. Lưu vực Nam (South Park) là thượng nguồn của sông Nam Platte. Về phía nam nằm thung lũng San Luis, thượng nguồn sông Rio Grande, nó chảy vào New Mexico. Qua dãy núi Sangre de Cristo về phía đông của thung lũng San Luis là thung lũng Núi ướt (Wet Mountain Valley). Những lưu vực này, nhất là thung lũng San Luis, nằm theo kẽ hở Rio Grande (Rio Grande Rift), thành hệ địa chất lớn, và các nhánh của nó. (Xem thung lũng Đại kẽ – Great Rift Valley.) Dãy núi Rocky trong Colorado có 54 đỉnh cao hơn 4.270 m (14.000 foot), được gọi fourteener trong nghề leo núi do độ cao trong hệ đo lường Hoa Kỳ. Các núi đây có cây tùng bách và cây lá rung tới đường giới hạn cây cối, cao độ từ khoảng 4.000 m (12.000 foot) vào miền nam tiểu bang đến 3.200 m (10.500 foot) vào miền bắc; trên đường này chỉ có cây cối Alpine. Dãy Rocky chỉ có thuyết vào mùa đông; phần nhiều tuyết tan ra vào giữa tháng 8 trừ một số sông băng nhỏ. Vành đai Khoáng vật Colorado, kéo ra từ dãy núi San Juan vào miền tây nam tới Boulder và Thành phố Trung (Central City) trên dãy núi Trước mặt, bao gồm phần nhiều của những khu vực mỏ vàng và bạc lịch sử của Colorado. Nước phần lớn chảy xuống dốc Tây theo sông Colorado và các nhánh của nó. Nổi tiếng về miền nam là dãy núi San Juan, một dãy núi rất lởm chởm, và về phía tây của dãy San Juan có cao nguyên Colorado, một sa mạc cao giáp với miền nam Utah. Grand Junction là thành phố lớn nhất trên dốc Tây. Grand Junction sử dụng Đường số 70. Về phía đông nam của Grand Junction là Grand Mesa, một núi mặt bàn lớn. Xa hơn nữa về phía đông nằm các khu nghỉ trượt tuyết ở Aspen, Vail, Crested Butte, và Steamboat Springs. Gốc tây bắc của Colorado bên cạnh miền bắc Utah và miền tây Wyoming phần nhiều là bãi cỏ rộng ít người ở. Từ miền tây qua bên đông, đất của tiểu bang này là lưu vực giống sa mạc, trở thành cao nguyên, rồi núi alpine, rồi đồng cỏ của đồng bằng Lớn. Núi Elbert là đỉnh cao nhất của dãy núi Rocky thuộc đất liền Hoa Kỳ. Đỉnh Pike nổi tiếng một tí về phía tây của Colorado Springs. Có thể nhìn thấy đỉnh hiu quạnh của nó từ gần biên giới Kansas vào những ngày nắng. === Các thành phố quan trọng === Các mục trong danh sách này tiêu biểu cho một khu vực đô thị hay khu vực tiểu đô thị của Thống kê Dân số Hoa Kỳ, đặt tên theo các thành phố chính của khu vực đó. Các thành phố được liệt kê bằng chữ đậm có dân số hơn 100.000 người: Các thành phố nổi tiếng khác (ít hơn 10.000 dân cư): Alamosa Aspen Glenwood Springs Leadville Trinidad Vail Walsenburg == Lịch sử == Tiểu bang này được đặt tên theo từ "Colorado" trong tiếng Tây Ban Nha, từ này có nghĩa là "hơi màu đỏ", có thể là để chỉ đến những sự hình thành sa thạch màu đỏ ở vùng đó hoặc là màu đỏ nâu của sông Colorado. Vùng đất, mà sau này là Colorado, trở thành một phần của Hoa Kỳ sau Vụ mua Louisiana năm 1803 và vụ Mexico nhượng lại phần đất năm 1848. Nhiều người đã đến vùng Denver khi diễn ra các cuộc đổ xô đi tìm vàng ở Colorado năm 1859 (xem thêm Fifty-Niner và ở California), nhưng nhiều người đã bỏ đi sau một cuộc mở mang công nghiệp mỏ ban đầu. Lãnh thổ Colorado là mộtlãnh thổ của Hoa Kỳ ngày 28 tháng 2 năm 1861, và Colorado được chính phủ tăng cấp thành tiểu bang ngày 1 tháng 8 năm 1876. Vì tiểu bang này được gia nhập Hoa Kỳ một thế kỷ sau khi Hoa Kỳ tuyên bố độc lập, tiểu bang được tên hiệu "Tiểu bang Trăm năm" ("Centennial State"). Phụ nữ Colorado có quyền bỏ phiếu từ ngày 7 tháng 11 năm 1893. Ba tàu chiến khác nhau được đặt tên USS Colorado để bày tỏ sự kính trọng đối với tiểu bang này. == Xem thêm == Lá cờ Colorado == Ghi chú == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Colorado.gov – trang chủ của chính phủ Colorado Colorado.com – trang chính thức về du lịch
iphone 6.txt
iPhone 6 và iPhone 6 Plus là điện thoại thông minh chạy hệ điều hành iOS do Apple Inc. thiết kế và sản xuất. iPhone 6 là một phần của dòng sản phẩm iPhone và được công bố tại Apple Live vào ngày 9 tháng 9 năm 2014 cùng với iPhone 6 Plus và Apple Watch. Sản phẩm được đưa ra thị trường từ ngày 19 tháng 9 năm 2014. iPhone 6 và iPhone 6 Plus là sự kế thừa của iPhone 5C và iPhone 5S. Sản phẩm đánh dấu sự gia tăng kích thước vật lý của màn hình lần đầu tiên cho các dòng iPhone từ iPhone 5 lên 4.7 inches và 5.5 inches (120 và 140 mm), bộ xử lý nhanh hơn, camera nâng cấp, cải thiện kết nối wifi và LTE. Đơn đặt hàng trước của iPhone 6 và iPhone 6 Plus vượt bốn triệu trong vòng 24 giờ đầu tiên-một kỷ lục của Apple. Hơn mười triệu iPhone 6 và iPhone 6 Plus với các thiết bị được bán ra trong ba ngày đầu tiên, một kỷ lục nữa của Apple. == Dòng sản phẩm == == Tham khảo == == Liên kết == Trang chủ
american international toy fair.txt
American International Toy Fair - Triển lãm Đồ chơi New York Toy Fair - là triển lãm đồ chơi được tổ chức thường niên vào giữa tháng 2 hàng năm tại Khu hội nghị Jacob K. Javits và tại các khu triển lãm vòng quanh nước Mỹ. Đây là triển lãm về đồ chơi lớn nhất tại phương Tây, và chỉ dành riêng cho các doanh nghiệp về đồ chơi: chuyên gia trong ngành, nhà bán lẻ và đại diện truyền thông. Triển lãm được tổ chức bởi Hiệp hội Doanh nghiệp Đồ chơi (Toy Industry Association). == Lịch sử == Triển lãm Đồ chơi New York Toy Fair được khởi xướng từ năm 1903. Buổi triển lãm đầu tiên đã có sự góp mặt của 10 công ty đồ chơi với các sản phẩm khác nhau. Về sau này, địa điểm tổ chức đã được chuyển sang một nơi rộng hơn là số 200 Fifth Avenue do nhu cầu mở rộng số lượng khách tham dự. Buổi triển lãm lần thứ 110 diễn ra trong khoảng 10-13 Tháng 2 năm 2013 đã thu hút được hơn 1,500 khách tham dự bao gồm các nhà phân phối, bán lẻ, đại diện nhãn hàng và nhân viên bán hàng từ 30 nước trên thế giới. == Địa điểm == Khu triển lãm Javits được tổ chức theo không gian mở, và tạo điều kiện cho đại diện từ các nhãn hàng, truyền thông đại chúng và người tiêu dùng có thể dễ dàng gặp mặt và giao lưu với nhau. Ngoài ra, các khu triển lãm khác là: 200 Fifth Avenue, nằm giữa đường 23rd & 24th 1107 Broadway tại đường 24th 230 Fifth Avenue, nằm giữa đường 26th & 27th 1115 Broadway tại đường 25th == Khách tham dự == Đăng ký tham dự triển lãm chỉ dành cho đại diện trong ngành. Đại diện của các nhãn hàng đồ chơi và của các kênh truyền thông phải đóng phí tham dự. == Tham khảo ==
deutsche presse-agentur.txt
Deutsche Presse-Agentur GmbH (tiếng Đức của Thông tấn xã Đức, viết tắt DPA) là hãng thông tấn ở Đức, được thành lập năm 1949, được phép hoạt động tại Việt Nam từ cuối năm 1990. Có trụ sở ở Hamburg, được phát triển để trở thành một phương tiện đại chúng có ảnh hưởng toàn cầu với các dịch vụ: báo chí, radio, tivi, điện thoại... Báo của hãng DPA có phiên bản tiếng Đức, Anh, Tây Ban Nha và Ả Rập. DPA là hãng thông tấn lớn nhất của Đức, ngoài trụ sở chính ở Hamburg, còn có trụ sở trung tâm báo chí ở Berlin. Văn phòng của DPA có ở hơn 100 quốc gia. == Lịch sử == DPA đựoc thành lập năm 1949, do 3 hãng: Deutsche Nachrichtenagentur (Dena) Deutscher Pressedienst và Süddeutsche News Agency (Südena) nhập lại. Ban đầu đựoc thành lập như một hợp tác xã tại Goslar vào 18 tháng 8 năm 1949, nhưng sau đó trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn vào năm 1951. Fritz Singer là tổng biên tập và giám đốc điều hành đầu tiên. Ông đã làm việc ở vị trí giám đốc điều hành cho tới năm 1955 và là tổng biên tập tới năm 1959. Lần đầu tiên phát sóng trên radio là vào 6 giờ sáng, ngày 1 tháng 9 năm 1949. 1986 dpa sáng lập Global Media Services GmbH (gms). Hãng này 1988 mua lại công ty cạnh tranh „Globus Kartendienst GmbH“. Từ mùa hè 2010 cơ sở chính của ban biên tập dpa được dọn về đường Markgrafenstraße khu vực báo chí lịch sử của Berlin, nhập lại cơ sở biên tập chính ở Hamburg (chữ, Internet, họa đồ), Frankfurt am Main (hình ảnh) và Berlin (chữ, hình, âm thanh & phim). Ở Hamburg, từ tháng 9 năm 1949 cho tới tháng 7 năm 2010 một biệt thự cổ ở đường Mittelweg khu Rotherbaum, trước đây là trung tâm ban biên tập, bây giờ chỉ còn cơ sở chính của công ty, nơi làm việc của ban giám đốc, cơ sở buôn bán, văn phòng thương mại, công ty con dpa-mediatechnology GmbH và news aktuell, cũng như ban biên tập địa phương. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của DPA (tiếng Đức, Anh, Tây Ban Nha, Ả Rập)
ngô thì nhậm.txt
Ngô Thì Nhậm (吳時壬; còn gọi là Ngô Thời Nhiệm 吳時任; 25/10/1746–1803), tự là Hy Doãn(希尹), hiệu là Đạt Hiên(達軒), là danh sĩ, nhà văn đời hậu Lê–Tây Sơn, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh. Ngô Thì Nhậm xuất thân gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, người làng Tả Thanh Oai, ngày nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội. == Sự nghiệp == Ngô Thì Nhậm thông minh, học giỏi, sớm có những công trình về lịch sử. Ông thi đỗ giải nguyên năm 1768, rồi tiến sĩ tam giáp năm 1775. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm quan ở bộ Hộ dưới triều Lê–Trịnh, được chúa Trịnh Sâm rất quý mến. Năm 1778 làm Đốc đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên. Khi đó cha ông làm Đốc đồng Lạng Sơn. Cha con đồng triều, nổi tiếng văn chương trong thiên hạ. Sau Vụ án năm Canh Tý (1780), ông bị nghi ngờ là người tố giác Trịnh Khải nên phải bỏ trốn về quê vợ ở Thái Bình lánh nạn. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh "cầu hiền" tìm kiếm quan lại của triều cũ. Danh sĩ Bắc Hà đã đầu quân cho nhà Tây Sơn từ trước đó mới chỉ có Trần Văn Kỉ, Ngô Văn Sở và Đặng Tiến Đông. Tuy vậy, tới thời điểm này thì cả vua Lê lẫn chúa Trịnh đều đã đổ. Ngô Thì Nhậm và một số thân sĩ Bắc Hà khác như Phan Huy Ích, Bùi Dương Lịch; các tiến sĩ Ninh Tốn, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lan; Đoàn Nguyễn Tuấn (anh rể Nguyễn Du); Vũ Huy Tấn; Nguyễn Huy Lượng (tác giả "Tụng Tây Hồ phú")...lần lượt ra làm quan cho nhà Tây Sơn. Sử cũ viết khi được Thì Nhậm, Nguyễn Huệ mừng mà rằng: "Thật là trời để dành ông cho ta vậy", và phong cho ông chức Tả thị lang bộ Lại, sau lại thăng làm thượng thư bộ Lại-chức vụ cao cấp nhất trong Lục bộ. Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại Việt, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn. Năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư. Tuy làm ở bộ Binh, nhưng Thì Nhậm chính là người chủ trì về các chính sách và giao dịch ngoại giao với Trung Hoa. Ông là người đứng đầu một trong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Hoa. Sau khi Quang Trung mất, ông không còn được tin dùng, quay về nghiên cứu Phật học. Sau khi Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch và một số viên quan triều Tây Sơn thì bị đánh bằng roi tại Văn Miếu năm 1803. Nhưng do trước đó có mâu thuẫn với Đặng Trần Thường nên cho người tẩm thuốc vào roi. Sau trận đánh đòn, về nhà, Ngô Thì Nhậm chết. == Câu ứng đối nổi tiếng == Tương truyền Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường có quen biết với nhau. Lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Nhậm thét bảo Thường: Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác. Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi vào Nam theo Nguyễn Phúc Ánh. Sau khi nhà Tây Sơn mất, các võ tướng và một số quan văn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt đánh bằng roi ở Văn Miếu, trong số đó có Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm. Chủ trì cuộc phạt đánh đòn đó là Đặng Trần Thường. Vốn có thù riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm: Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Ngô Thì Nhậm khẳng khái đáp: Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế Có thuyết nói rằng, nguyên câu đối lại của Ngô Thì Nhậm là: Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, dù thời thế, thế nào cũng thế hoặc là: Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế nào vẫn thế Đặng Trần Thường bắt ông phải sửa lại như câu nói "thế đành theo thế" (hay thế thời theo thế hoặc là thế thì phải thế). Ngô Thì Nhậm không nói lại. Thường tức giận sai người dùng roi tẩm thuốc độc đánh ông. Sau trận đòn về nhà, Phan Huy Ích không bị đánh bằng thuốc độc nên còn sống. Còn Ngô Thì Nhậm bị thuốc độc ngấm vào tạng phủ, biết mình không qua khỏi, trước khi qua đời ông có làm bài thơ gửi tặng Đặng Trần Thường như sau: Ai tai Đặng Trần Thường Chân như yến xử đường Vị Ương cung cố sự Diệc nhĩ thị thu trường Nghĩa là: Thương thay Đặng Trần Thường. Nay quyền thế lắm đấy, nhưng khác nào như chim yến làm tổ trong cái nhà sắp cháy, rồi sẽ khốn đến nơi. Giống như Hàn Tín giúp Hán Cao tổ, rồi bị Cao tổ giết ở cung Vị Ương. Kết cục của ngươi rồi cũng thế đó. Tạm dịch: Thương thay Đặng Trần Thường Tổ yến nhà xử đường Vị Ương cung chuyện cũ Tránh sao kiếp tai ương? Quả nhiên sau này bài thơ ứng nghiệm, Thường bị Gia Long xử tử. == Tác phẩm chính == Bang giao hảo thoại (văn) Bang giao tập (văn) Kim mã hành dư (văn) Hàn các anh hoa(Văn, thơ) Doãn thi văn tập (văn, thơ) Yên đài thu vịnh (thơ) Hoàng hoa đồ phả (thơ) Cúc đường bách vịnh (thơ) Hải Dương chí lược Hy Doãn thi văn tập Xuân Thu quản kiến == Xem thêm == Phòng tuyến Tam Điệp Ngô Thì Sĩ Nguyễn Huệ Đặng Trần Thường == Chú thích == == Liên kết ngoài == Ngô Thời Nhậm
windows 7.txt
Windows 7 (từng có tên mã là Blackcomb và Vienna) là thế hệ hệ điều hành kế tiếp của dòng họ hệ điều hành Microsoft Windows, được phát triển bởi hãng phần mềm Microsoft dành cho các loại máy tính cá nhân, bao gồm máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng và các máy tính doanh nghiệp, được phát hành trên toàn thế giới vào ngày 22 tháng 10 năm 2009. Microsoft tuyên bố trong năm 2007 rằng họ đang lên kế hoạch phát triển Windows 7 trong khoảng thời gian 3 năm bắt đầu từ sau khi thế hệ tiền nhiệm của nó được phát hành, Windows Vista. Microsoft cũng tuyên bố thời điểm phát hành cuối cùng sẽ được quyết định dựa trên chất lượng của sản phẩm này. Không giống hệ điều hành tiền nhiệm, Windows 7 là một bản nâng cấp lớn hơn từ Vista, với mục đích có thể tương thích đầy đủ với các trình điều khiển thiết bị, ứng dụng, và phần cứng đã tương thích với Windows Vista. Những giới thiệu về hệ điều hành này của Microsoft trong năm 2008 tập trung vào khả năng hỗ trợ tiếp xúc đa điểm, một Windows Shell mới được thiết kế lại với một taskbar mới, một hệ thống mạng gia đình có tên gọi HomeGroup, và các cải tiến về hiệu suất. Một số ứng dụng đi kèm trong những thế hệ trước của Microsoft Windows, điển hình nhất là Windows Movie Maker và Windows Photo Gallery, không có sẵn trong hệ điều hành này; thay vào đó, chúng được cung cấp riêng rẽ (miễn phí) như một phần của bộ Windows Live Essentials. == Quá trình phát triển == === Quá trình ban đầu === Ban đầu, một phiên bản Windows mang tên mã Blackcomb được dự định là phiên bản kế tiếp của Windows XP và Windows Server 2003. Những tính năng mới cơ bản được thiết kế cho Blackcomb bao gồm điểm nhấn trong khả năng tìm kiếm và truy vấn dữ liệu, và một hệ thống lưu trữ cấp tiến mang tên WinFS nhằm phục vụ cho kế hoạch này. Nhưng sau đó, Blackcomb bị trì hoãn dẫn đến hãng phải công bố một bản phát hành quá độ nhỏ hơn có tên mã "Longhorn" vào năm 2003. Tuy nhiên, đến giữa năm 2003, Longhorn đã đạt được một số tính năng nguyên được dự định dành cho Blackcomb. Sau khi ba loại virus khai thác được lỗ hổng ở các hệ điều hành Windows trong một khoảng thời gian ngắn năm 2003, Microsoft đã thay đổi ưu tiên phát triển bản phát hành này, hoãn lại một số thành quả phát triển chính của Longhorn nhằm phát triển một bản vá dịch vụ (service pack) mới cho Windows XP và Windows Server 2003. Quá trình phát triển Longhorn (Windows Vista) được tái khởi động vào tháng 9 năm 2004. Đầu năm 2006, Blackcomb được đổi tên thành Vienna, và một lần nữa thành Windows 7 vào năm 2007. Năm 2008, Microsoft công bố Windows 7 cũng sẽ là tên chính thức của hệ điều hành này. Bản phát hành ra bên ngoài đầu tiên dành cho các đối tác của Microsoft được đưa ra vào tháng 1 năm 2008 có tên phiên bản Milestone 1 (build 6519). === Những phiên bản kế tiếp === Bill Gates trong một cuộc phỏng vấn với Newsweek, đã cho biết phiên bản kế tiếp của Windows sẽ "chú tâm hơn vào người dùng". Gates còn cho biết Windows 7 cũng sẽ tập trung vào việc cải thiện hiệu suất làm việc; Steven Sinofsky sau đó đã mở rộng điểm này, giải thích trên blog Engineering Windows 7 (Công trình Windows 7) rằng hãng đang sử dụng nhiều công cụ truy vấn mới để đo hiệu suất của nhiều phân vùng thuộc hệ điều hành dựa trên cơ sở thực tế, giúp xác định vị trí những đoạn mã kém hiệu quả từ đó ngăn chặn sự suy giảm hiệu suất. Phó Chủ tịch có thâm niên của Microsoft Bill Veghte tuyên bố Windows 7 sẽ không có những vấn đề về khả năng tương thích đối với Windows Vista như Vista từng có đối với các phiên bản trước đó. Nói về Windows 7, ngày 16 tháng 10 năm 2008, Giám đốc điều hành Microsoft Steve Ballmer cũng một lần nữa khẳng định sự tương thích giữa Vista và Windows 7. Ballmer còn xác nhận mối liên hệ giữa Vista và Windows 7, chỉ ra rằng Windows 7 chính là một phiên bản cải tiến của Vista. == Bản Beta == === Bị rò rỉ trên Internet === Ngày 27 tháng 12 năm 2008, Windows 7 Beta đã bị rò rỉ trên Internet. Theo như một bài kiểm thử hiệu suất thực hiện bởi ZDNet, Windows 7 Beta đã vượt trội so với cả Windows XP và Vista trên nhiều phần then chốt, như về thời gian khởi động và tắt máy, làm việc với các tệp tin và tải các tài liệu; ngoài ra, còn vượt trội về các tiêu chuẩn PC Pro đối với các hoạt động văn phòng điển hình, biên tập video, còn lại đều tương đồng với Vista (bỏ một số phần gây khó chịu cho người dùng như UAC so với Vista) và chậm hơn Windows XP. Ngày 7 tháng 1 năm 2009, phiên bản 64-bit của Windows 7 Beta (build 7000) cũng bị rò rỉ trên nhiều trang web. === Bản Beta chính thức === Bản beta chính thức, được công bố tại hội chợ CES 2009, được thiết kế cho hai người mua là MSDN và TechNet vào ngày 7 tháng 1 năm 2009 và được rút gọn cho cộng đồng tải về dùng thử tại Microsoft TechNet vào ngày 9 tháng 1 năm 2009 trước khi bị thu hồi và thay thế bằng thông điệp sẽ sớm có mặt. Các máy chủ đã gặp phải khó khăn trước số lượng đông đảo người dùng muốn tải về dùng thử bản beta, mặc dù hãng rõ ràng có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này. Microsoft đã đưa thêm vào các máy chủ phụ để đáp ứng khối lượng nhu cầu khổng lồ từ cộng đồng người dùng. Do nhu cầu cao hơn dự tính, Microsoft đã quyết định loại bỏ giới hạn chỉ cho phép 2,5 triệu lượt tải ban đầu và cho phép cộng đồng tải về đến hết 24 tháng 1 năm 2009, rồi một lần nữa gia hạn đến ngày 10 tháng 2.Còn đối với các tệp tin DVD image còn đang được tải về dang dở hoặc bị tạm dừng có thể tải tiếp tục đến ngày 12 tháng 2. == Bản RC == Kế tiếp sau bản beta là bản RC (Release Candidate). Windows 7 chỉ có duy nhất 1 bản RC, không giống như dự đoán của nhiều người. Sau ngày 20 tháng 8 năm 2009, Microsoft đã chính thức dừng hoạt động cấp phép download bản Windows 7 RC của mọi cá nhân trên toàn thế giới. Bản RC FDA đã hết hiệu lực vào ngày 1 tháng 6 năm 2010, và trước đó đúng 3 tháng, từ ngày 1 tháng 3 năm 2010, hệ điều hành đã lên tiếng cảnh báo Windows sắp hết hiệu lực và khuyên người dùng nâng cấp lên phiên bản hoàn chỉnh để sử dụng lâu dài. Mới nhất, trên mạng đã rò rỉ phiên bản RTM (Release To Manufacture) có mã (Build) 7600. Đây là phiên bản được Microsoft phân phối đến các công ty máy tính để bán lẻ, nhưng cũng đã bị một số hacker tung lên mạng. Đầu tiên là bản RTM tiếng Trung Quốc, rồi không lâu sau là các phiên bản của các ngôn ngữ phổ thông khác như Anh, Pháp, Nga cũng đã xuất hiện đầy rẫy. Cho đến thời điểm này, việc tải về một phiên bản Windows 7 RTM còn dễ hơn cả các bản trước của nó. Phiên bản RTM này đã hoàn toàn hoàn thiện các tính năng, ít xung đột hơn so với bản Beta và RC. Bản 7600 được sử dụng mãi mãi chứ không giới hạn thời gian như Beta và RC. Không chỉ có 3 mã sản phẩm Windows 7 được biết đến, mà trên mạng còn tồn tại rất nhiều phiên bản có mã khác nhau của Windows 7 như 6068, 7057, 7077, 7201, 7300, 7260,... Đây đều là các bản thử nghiệm tiếp theo của Microsoft đối với Windows 7 nhưng họ không có tuyên bố chính thức. Những phiên bản mang mã hiệu này được phân phối cho một số lượng rất giới hạn các cá nhân đã được lựa chọn. Các phiên bản này phản ánh những gì diễn ra trên Windows 7 trước khi các bản chính thức là 7000, 7100 và 7600 ra đời. Microsoft đã ấn định ngày phát hành chính thức của Windows 7 là vào ngày 22 tháng 10 năm 2009 trên toàn thế giới. Ngày 24 tháng 7 năm 2009 tại Việt Nam, nhân buổi công bố bản Windows 7 RTM đã đến tay các nhà sản xuất máy tính Việt Nam, Microsoft Việt Nam cũng chính thức thông báo rằng Việt Nam cũng sẽ không lỗi hẹn với Windows 7. == Các phiên bản == Windows 7 sẽ bao gồm các phiên bản sau, gần giống với Windows Vista: Starter Edition: Phiên bản rút gọn các tính năng cao cấp, không cầu kì về giao diện, gọn nhẹ, thích hợp với các máy netbook, hướng tới đối tượng là người mua mới netbook, người mới làm quen với máy vi tính, người có thu nhập thấp. Home Basic: Lược bỏ một số các chức năng giải trí nâng cao (như Media Center) ở bản Home Premium, thích hợp với các loại netbook, máy tính cá nhân, công ty vừa và nhỏ, hướng tới đối tượng là người mua mới netbook, gia đình có thu nhập trung bình. Không có chủ đề dạng Aero. Home Premium: Các chức năng giải trí, giao tiếp, kết nối ở mức khá tốt, thích hợp với các máy netbook thế hệ mới, máy tính cá nhân (PC), máy tính xách tay (Laptop), hướng tới người sử dụng là các hộ gia đình, công ty vừa và nhỏ. Professional: Các chức năng kết nối mạng văn phòng cũng như kết nối mạng đầy đủ, hướng tới các công ty lớn, các doanh nhân thường xuyên làm việc với máy vi tính để trao đổi dữ liệu. Ultimate và Enterprise: Tập hợp đầy đủ các chức năng của tất cả các phiên bản kia cộng lại, giúp người dùng có được một sức mạnh toàn năng trong trao đổi thông tin và giải trí mọi lúc mọi nơi, hướng tới các cá nhân, tổ chức muốn một giải pháp trọn vẹn cho việc hoạt động máy vi tính của họ. Điểm khác biệt gần như duy nhất của Ultimate và Enterprise nằm ở chỗ Enterprise mang đến giải pháp về giá và hỗ trợ toàn diện hơn Ultimate. Vì vậy, Ultimate hướng đến các cá nhân sử dụng, còn Enterprise hướng vào môi trường có tính chất cộng đồng, tương tự như Professional. Cùng với đó, trong khi Ultimate là phiên bản thương mại toàn cầu, còn Enterprise không được bán lẻ mà chỉ dành cho các tổ chức đặt mua với số lượng lớn. Thin PC: Dành cho máy có cấu hình thấp (nhẹ gần bằng Windows XP), tất nhiên sẽ bị lượt bỏ một số phần không cần thiết lắm trong Windows. == Yêu cầu phần cứng == Microsoft đã đưa ra một số chi tiết khuyến cáo đối với hệ thống sử dụng cho Windows 7. Microsoft mới đây khẳng định rằng, Windows 7 sử dụng nhân của Windows Vista để làm nền phát triển nên các chi tiết cấu hình gần giống với Vista, nhưng sử dụng ít không gian đĩa cứng hơn. Yêu cầu bổ sung để sử dụng tính năng nhất định: Chế độ Windows XP (Professional, Ultimate and Enterprise): Yêu cầu thêm 1 GB RAM và thêm 15 GB dung lượng ổ đĩa cứng còn trống. Và yêu cầu một bộ xử lý có hỗ trợ ảo hóa phần cứng Windows Media Center (bao gồm trong Home Premium, Professional, Ultimate và Enterprise), yêu cầu một bộ thu TV để nhận và ghi lại chương trình TV == Các gói dịch vụ == === Gói dịch vụ 1 === Windows 7 SP1 đã ra mắt bản beta vào 12/7/2010. Bản chính thức được phát hành vào ngày 9/2/2011. Người dùng có thể cập nhật tự động bản SP1 qua Windows Update hoặc tải về trực tiếp. Các đĩa cài đặt Windows 7 cũng đã được nâng cấp lên bản SP1. == Xem thêm == Microsoft Windows 98 Windows 2000 Windows XP Windows Vista == Nguồn tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web giới thiệu Windows 7 (tiếng Anh) Trang web giới thiệu Windows 7 (tiếng Việt) Trang web của Windows 7 (tiếng Anh)
chính trị nhật bản.txt
Nền chính trị Nhật Bản được thành lập dựa trên nền tảng của một thể chế quân chủ lập hiến và cộng hòa đại nghị (hay chính thể quân chủ đại nghị) theo đó Thủ tướng giữ vai trò đứng đầu nhà nước và chính đảng đa số. Quyền hành pháp thuộc về chính phủ. Lập pháp độc lập với chính phủ và có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm với chính phủ, trong trướng hợp xấu nhất có thể tự đứng ra lập chính phủ mới. Tư pháp giữ vai trò tối quan trọng và đối trọng với chính phủ và hai viện quốc hội (the Diet) gồm thượng viện và hạ viện). Hệ thống chính trị Nhật được thành lập dựa trên hình mẫu cộng hoà đại nghị của Anh quốc và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các nước dân luật ở châu Âu, cụ thể là hình mẫu của nghị viện Đức Bundestag. Vào 1896 chính quyền Nhật thành lập bộ luật dân sự Minpo dựa trên mô hình của bộ luật dân sự Pháp. Mặc dù có thay đổi sau Thế chiến II nhưng bộ luật cơ bản còn hiệu lực đến nay. == Thiên hoàng == Hoàng gia Nhật do Thiên hoàng đứng đầu. Theo Hiến pháp Nhật Bản thì "Thiên hoàng là biểu tượng của quốc gia và cho sự thống nhất của dân tộc". Thiên hoàng sẽ tham gia vào các nghi lễ của quốc gia nhưng không giữ bất kì quyền lực chính trị nào, thậm chí trong các tình huống khẩn cấp của quốc gia. Quyền lực này sẽ do Thủ tướng và các thành viên nghị viện đảm nhận. Hiến pháp đóng vai trò tối cao đối với người Nhật, đặc biệt trong công tác xây dựng luật pháp. Vai trò chính trị của Thiên hoàng hiện vẫn còn nhiều bí ẩn, ví dụ như trong các dịp ngoại giao quan trọng của Nhật, Thiên hoàng sẽ là người đảm nhận các nghi thức quan trọng như là một người đứng đầu quốc gia (chào cờ hay tham gia lễ duyệt binh). Hiện tại Nhật Bản là quốc gia quân chủ duy nhất trên thế giới mà hoàng đế (Emperor) là nguyên thủ quốc gia hay nói cách khác Nhật Bản là Đế chế duy nhất còn lại trên thế giới. Tuy nhiều quốc gia khác vẫn tồn tại chế độ quân chủ nhưng nhà vua chỉ xưng vương: quốc vương, nữ vương (king, queen). == Nhánh hành pháp == Hành pháp có trách nhiệm báo cáo các vấn đề thường niên lên quốc hội. Đứng đầu nội các là Thủ tướng, được chỉ định bởi hoàng đế về hình thức dưới sự giới thiệu của quốc hội. Bắt buộc là công dân Nhật Bản và là thành viên của một trong hai viện quốc hội. Nội các được Thủ tướng và một vài bộ trưởng đứng đầu chỉ định và chịu trách nhiệm trước quốc hội. Thủ tướng phải là thành viên nghị viện được sự tín nhiệm của hạ viện và có quyền bổ nhiệm và cách chức các bộ trưởng và là người đứng đầu đảng đa số tại hạ viện. Đảng bảo thủ tự do LDP đương quyền từ 1955, ngoại trừ có một thời gian phải tiến hành chia sẻ quyền lực với đảng đối lập vào 1993; đảng đối lập lớn nhất hiện tại là Đảng Dân chủ Nhật Bản-JDP. == Nhánh lập pháp == Theo quy định hiến pháp, nghị viện gồm hai viện là cơ quan quyền lực nhất trong ba nhánh lập pháp hành pháp và tư pháp. Nghị viện sẽ giới thiệu cho Nhật hoàng để chỉ định người đứng đầu hành pháp (thủ tướng) và tư pháp (chánh án tối cao). == Nhánh tư pháp == Tư pháp Nhật Bản độc lập với hai nhánh hành pháp và lập pháp. Thẩm phán tối cao sẽ được chỉ định bởi Nhật hoàng theo giới thiệu của quốc hội. Tư pháp Nhật được định hình từ hệ thống luật tục (customary law), dân luật và thông luật, bao gồm vài cấp bậc toà án trong đó cao nhất là Tối cao pháp viện. Hiến pháp Nhật được công bố 3/11/1946 và có hiệu lực từ 3/5/1947 gồm cả Bản tuyên ngôn nhân quyền giống như của Hoa Kỳ và quyền xét xử lại của Tối cao pháp viện. Nhật không có ban bồi thẩm trong các phiên tòa xét xử, và không có Tòa hành chính (bảo vệ quyền lợi công dân trước cơ quan hành chính nhà nước) và Toà tiểu án. == Công tác làm luật == Dù có sự gia tăng không ngừng về các vấn đề trong nước và quốc tế, công tác làm luật không có gì thay đổi kể từ thời kì sau thế chiến II. Mối quan hệ chồng chéo của đảng đương quyền với quan chức cao cấp và các nhóm hưởng lợi gây ra khó khăn trong việc xác định ai là người ra các quyết định chính cho công tác làm luật. Nhân tố quan trọng đối với các cá nhân tham gia công tác làm luật là sự thuần nhất giữa những đóng góp tích cực của họ trong môi trường chính trị và kinh doanh. Những người này thường là nhóm nhỏ xuất sắc nhất tốt nghiệp từ các trường đại học danh tiếng như Đại học tổng hợp Tokyo hay Waseda. Bằng cách đó họ có thể đem đến cảm giác tin tưởng cho cộng đồng (trong và ngoài tổ chức) cũng như các cuộc hôn nhân giữa những chính trị gia tương lai với gia đình các nhà tài phiệt Zaikai. Nghỉ hưu khi đến 50 tuổi và sau đó giữ các chức vụ cao cấp tại các công ty công và tư cũng là một trong hình thức phổ biến của nhà làm luật ở Nhật. Từ cuối những năm 80 hầu hết Thủ tướng hậu chiến tranh của Nhật đều có một quá khứ trong ngành dân chính. == Thời kì sau chiến tranh == Đảng phái chính trị nhanh chóng được phục hồi gần như ngay khi bắt đầu thời kì bị chiếm đóng. Phe cánh tả như Đảng xã hội Nhật và Đảng Cộng sản Nhật nhanh chóng được thành lập trở lại cùng với sự ra đời của nhiều Đảng bảo thủ khác. Seiyokai và Rikken Minseito cũng nhanh chóng quay lại, tình hình tương tự với Jiyuto và Shimpoto. Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên sau chiến tranh vào năm 1948 đã có sự tham gia của nữ giới (được trao quyền vào năm 1947) với kết quả đưa phó chủ tịch Jiyuto Yoshida Shigeru lên làm thủ tướng 1878-1967. Đợt bầu cử 1947 phe chống Yoshida rời bỏ Jiyuto gia nhập Shimpoto và thành lập Minshuto. Nhờ sự chia rẽ trong tầng lớp bảo thủ này, phe cánh tả đã chiếm được đa số ở nghị viện và được thành lập nội các nhưng chỉ tồn tại chưa đến một năm. Sau cùng phe xã hội cánh tả dần suy yếu và một lần nữa, Yoshida trở lại nắm quyền 1948 và tiếp tục cương vị Thủ tướng đến 1954. Công việc phục chức cho 80, 000 công chức phục vụ trong thời kì chiến tranh đã được chính phủ tiến hành ngay cả trước khi người Nhật nhận lại quyền điều hành đất nước đầy đủ từ lực lượng chiếm đóng, những người này sau đó được xem xét và phần đông quay lại phục vụ ở các vị trí trước đây. Tranh cãi nổ ra về mức giới hạn chi tiêu quân đội và quyền lực của Nhật hoàng gián tiếp gây nên thất bại của cuộc bầu cử tháng 10/1952. Sau vài lần tổ chức lại lực lượng vũ trang, năm 1954 Cục phòng vệ Nhật được thành lập như một cơ quan phụ trách các vấn đề về công dân (một lực lượng như cảnh sát hơn là quân đội), đặc biệt hạn chế dùng các thuật ngữ quân đội ("xe tăng" chỉ được gọi là "phương tiện chuyên dụng" trên giấy tờ). Chiến tranh lạnh cũng đưa đến nhiều thay đổi cho chính trị Nhật, cuộc chiến Triều Tiên tác động đến chính sách tái thiết kinh tế của Hoa Kỳ cho Nhật, sự dè dặt với chính trị gia cộng sản, cùng chính sách hạn chế phạm vi hoạt động của các công đoàn tại Nhật Bản. Sự rạn nứt không ngừng của phe cánh hữu và thành công của phe xã hội nắm quyền đưa đến thỏa hiệp liên minh của phe bảo thủ chủ trương tự do kinh tế Jiyuto với Minshuto và một nhóm nhỏ còn lại của Đảng Dân Chủ cũ cùng thành lập Đảng Dân Chủ Tự Do (LDP) - Jiyu Minshuto vào tháng 11/1955. Đảng này sau đó nắm quyền từ 1955-1993 khi bị thay bởi phe thiểu số trong chính phủ. LDP có một thời gian dài thành công do sự lãnh đạo thu hút các mối ủng hộ từ thành phần chính trị gia chứng kiến từ thời Nhật bại trận và bị chiếm đóng, Đảng này cũng giành được nhiều hậu thuẫn từ các cựu quan chức,lãnh đạo địa phương, thương gia, nhà báo và nhiều thành phần khác. Được ủng hộ không kém là Đảng Komeito, được lập vào 1964 như một nhánh khác của Đảng Soka Gakkai. Komeito nhấn mạnh đến các giá trị truyền thống của Nhật Bản và đã thu hút được nhiều sự chú ý của thành phần dân nghèo thành thị cũng như nông thôn đặc biệt là với phụ nữ. Giống các Đảng xã hội trước đây về chính sách cải cách từng bước và dần xoá bỏ Hiệp ước hỗ trợ phòng thủ Mỹ-Nhật. == Quan hệ quốc tế == Nhật Bản hiện là thành viên Liên hiệp quốc và là thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an; một trong các thành viên "G4" tìm sự chấp thuận cho vị trí thành viên thường trực. Hiến pháp hiện tại không cho phép dùng sức mạnh quân sự để phát động chiến tranh chống một nước khác mặc dù vẫn cho phép duy trì Lực lượng phòng vệ gồm các đơn vị lục, không và hải quân. Nhật đã triển khai lực lượng không chiến đấu đến phục vụ cho công cuộc tái thiết Iraq trong cuộc chiến vừa qua, một ngoại lệ đầu tiên kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II. Hiện Nhật là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế gồm G8, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) và là một nước hào phóng trong các công tác cứu trợ và các nỗ lực phát triển các dự án quốc tế chiếm khoảng 0,19% Tổng thu nhập quốc dân (GNI) năm 2004. Tranh chấp với Nga khu vực đảo Kuril phía Bắc, khu đảo Liancourt ("Dokdo" ở Hàn Quốc, "Takeshima" ở Nhật), với Trung Quốc và Đài Loan với loạt đảo Senkaku, với riêng Trung Quốc về tình trạng hiện tại của Okinotorishima. Hầu hết các tranh chấp này đi kèm với việc sở hữu nguồn lợi thủy sản và tài nguyên xung quanh trong đó có cả dầu và khí đốt. Những năm gần đây Nhật đang nổ ra các mối bất đồng với Bắc Triều Tiên về vấn đề bắt cóc công dân Nhật từ 1977-1983 và chương trình vũ khí hạt nhân của nước này. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Nghiên cứu về nước Nhật Thảo luận về các chính sách hiện tại của Nhật Bản Project về Nhật Bản (ĐH S. Carolina)
the independent.txt
The Independent là một nhật báo Anh quốc, xuất bản bởi nhà xuất bản Independent Print Limited thuộc sở hữu của tỉ phú Alexander Lebedev. Được thành lập năm 1986, đây là một trong những nhật báo quốc gia trẻ nhất ở Anh. Phiên bản phát hành hàng ngày của The Independent đã đoạt giải Tờ báo quốc gia của năm (National Newspaper of the Year) tại Giải Báo chí Anh năm 2004. Từng là một tờ báo khổ rộng, nhưng từ năm 2003, The Independent đã chuyển sang xuất bản khổ nhỏ. Đây là một tờ báo được cho là theo khuynh hướng cánh tả, cho dù tờ báo không tự gắn mình với bất cứ đảng phái chính trị nào, các quan điểm đa dạng có thể tìm thấy trên các trang biên tập và bình luận của tờ báo. == Chú thích == == Liên kết == Website of the newspaper "The Independent"
9 tháng 3.txt
Ngày 9 tháng 3 là ngày thứ 68 (69 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 297 ngày trong năm. == Sự kiện == 141 TCN - Thái tử Lưu Triệt kế vị hoàng đế triều Hán ở tuổi 15, tức Hán Vũ Đế. 1500 - Hạm đội của Pedro Álvares Cabral rời Lisboa của Bồ Đào Nha để lên đường sang Ấn Độ, tuy nhiên cuối cùng lại phát hiện ra Brasil. 1776 - Của cải của các quốc gia, tác phẩm kinh tế chính trị học kinh điển của Adam Smith, lần đầu tiên được phát hành. 1908 - Câu lạc bộ bóng đá Ý Inter Milan được hình thành sau khi tách khỏi Câu lạc bộ Cricket và bóng đá Milan – tiền thân của A.C. Milan. 1945 - Chiến tranh thế giới thứ hai: Nhật Bản tiến hành đảo chính Pháp tại Đông Dương, sau đó Nhật Bản tuyên bố trao trả độc lập trên danh nghĩa cho Việt Nam, Campuchia và Lào. 1956 - Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thành lập tỉnh Cà Mau. 1959 - Búp bê Barbie xuất hiện lần đầu tiên trước công chúng tại Hội chợ đồ chơi quốc tế Mỹ được tổ chức tại thành phố New York. 1990 - Cách mạng Mông Cổ: Chính phủ độc đảng tại Mông Cổ từ bỏ quyền lực. 2016 - Nhật thực toàn phần ở Châu Á - Thái Bình Dương == Sinh == 1454 - Amerigo Vespucci, nhà thám hiểm, người vẽ bản đồ người Ý (m. 1512) 1564 - David Fabricius, nhà thiên văn người Đức (m. 1617) 1568 - Aloysius Gonzaga, người được phong thánh người Ý (m. 1591) 1737 - Josef Mysliveček, nhà soạn nhạc người Séc (m. 1781) 1749 - Honore Mirabeau, nhà văn, chính khách người Pháp (m. 1791) 1753 - Jean-Baptiste Kleber, tướng người Pháp (m. 1800) 1758 - Franz Joseph Gall, nhà nghiên cứu thần kinh học người Đức (m. 1828) 1763 - William Cobbett, nhà báo, tác gia người Anh (m. 1835) 1806 - Edwin Forrest, diễn viên, người làm việc thiện người Mỹ (m. 1872) 1814 - Taras Shevchenko, nhà thơ người Ukraina (m. 1861) 1825 - Alexander F. Mozhaiski, hàng không người đi đầu trong lĩnh vực người Nga (m. 1890) 1856 - Eddie Foy, ca sĩ, diễn viên múa người Mỹ (m. 1928) 1887 - Fritz Lenz, nhà di truyền học người Đức (m. 1976) 1890 - Vyacheslav Molotov, chính khách người Nga (m. 1986) 1892 - Vita Sackville-West, nhà văn, Gardener người Anh (m. 1962) 1894 - Frank Arnau, nhà văn người Đức (m. 1976) 1900 - Howard Aiken, máy tính người đi đầu trong lĩnh vực người Mỹ (m. 1973) 1902 - Will Geer, diễn viên người Mỹ (m. 1978) 1910 - Samuel Barber, nhà soạn nhạc người Mỹ (m. 1981) 1918 - Mickey Spillane, nhà văn người Mỹ (m. 2006) 1921 - Carl Betz, diễn viên người Mỹ (m. 1978) 1921 - Dimitris Horn, diễn viên người Hy Lạp (m. 1998) 1929 - Desmond Hoyte, tổng thống Guyana thủ tướng (m. 2002) 1930 - Ornette Coleman, nhạc sĩ người Mỹ 1931 - Thore Skogman, người dẫn chuyện giải trí người Thụy Điển (m. 2007) 1932 - Keely Smith, ca sĩ người Mỹ 1933 - Mel Lastman, chính khách người Canada 1933 - Lloyd Price, ca sĩ người Mỹ 1934 - Yuri Gagarin, nhà du hành vũ trụ người Liên Xô (m. 1968) 1934 - Marlene Streit, vận động viên golf người Canada 1934 - Joyce Van Patten, nữ diễn viên người Mỹ 1936 - Tom Sestak, cầu thủ bóng đá người Mỹ (m. 1987) 1936 - Mickey Gilley, nhạc sĩ, ca sĩ người Mỹ 1937 - Brian Redman, người đua xe người Anh 1938 - Lill-Babs, ca sĩ người Thụy Điển 1940 - Raúl Juliá, diễn viên người Puerto Rican (m. 1994) 1943 - Bobby Fischer, đấu thủ cờ vua người Mỹ (m. 2008) 1943 - Trish Van Devere, nữ diễn viên người Mỹ 1943 - Colin Murdock, diễn viên lồng tiếng người Mỹ 1945 - Dennis Rader, kẻ giết người hàng loạt người Mỹ 1947 - Keri Hulme, nhà văn người New Zealand 1948 - Jeffrey Osborne, ca sĩ người Mỹ 1948 - Emma Bonino, chính khách người Ý 1949 - Tapani Kansa, ca sĩ người Phần Lan 1950 - Doug Ault, vận động viên bóng chày (m. 2004) 1950 - Danny Sullivan, người lái xe đua người Mỹ 1951 - Michael Kinsley, nhà báo, chủ bút người Mỹ 1951 - Helen Zille, chính khách người Nam Phi 1955 - Teo Fabi, người đua xe người Ý 1955 - Ornella Muti, nữ diễn viên người Ý 1957 - Mark Mancina, nhà soạn nhạc người Mỹ 1957 - Faith Daniels, nhà báo người Mỹ 1957 - Mona Sahlin, chính khách người Thụy Điển 1960 - Linda Fiorentino, nữ diễn viên người Mỹ 1961 - Mike Leach, trường đại học bóng đá huấn luyện viên người Mỹ 1961 - Camryn Manheim, nữ diễn viên người Mỹ 1962 - Jan Furtok, cầu thủ bóng đá người Ba Lan 1963 - Sean Salisbury, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1963 - Terry Mulholland, vận động viên bóng chày người Mỹ 1964 - Juliette Binoche, nữ diễn viên người Pháp 1964 - Phil Housley, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Mỹ 1964 - Herbert Fandel, bóng đá trọng tài người Đức 1965 - Brian Bosworth, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1965 - Benito Santiago, vận động viên bóng chày người Puerto Rican 1968 - Youri Djorkaeff, cầu thủ bóng đá người Pháp 1969 - Mahmoud Abdul-Rauf, cầu thủ bóng rổ người Mỹ 1969 - Stefie Shock, ca sĩ, người sáng tác bài hát Quebec 1970 - Martin Johnson, cầu thủ bóng bầu dục người Anh 1971 - Emmanuel Lewis, diễn viên người Mỹ 1971 - C Miller, ca sĩ nhạc Rapp người Mỹ 1971 - Diego Torres, ca sĩ người Argentina 1972 - Kerr Smith, diễn viên người Mỹ 1973 - Aaron Boone, vận động viên bóng chày người Mỹ 1975 - Roy Makaay, cầu thủ bóng đá người Đức 1975 - Juan Sebastián Verón, cầu thủ bóng đá người Argentina 1976 - Ben Mulroney, người dẫn chương trình truyền hình người Canada 1977 - Yamila Diaz, siêu người mẫu người Argentina 1977 - Radek Dvořák, vận động viên khúc côn cầu người Séc 1978 - Lucas Neill, cầu thủ bóng đá người Úc 1979 - Chingy, ca sĩ nhạc Rapp người Mỹ 1981 - Antonio Bryant, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1981 - Anders Nøhr, cầu thủ bóng đá người Đan Mạch 1981 - Clay Rapada, vận động viên bóng chày người Mỹ 1982 - Paul Ballard, người dẫn chương trình truyền hình người Anh 1983 - Clint Dempsey, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1983 - Wayne Simien, cầu thủ bóng rổ người Mỹ 1985 - Parthiv Patel, cầu thủ cricket Ấn Độ 1986 - Brittany Snow, nữ diễn viên người Mỹ 1987 - Bow Wow, ca sĩ nhạc Rapp, diễn viên người Mỹ 1989 - Taeyeon,ca sĩ, diễn viên nhóm nhạc Girls' Generation 1993 - Suga, nhạc sĩ, rapper nhóm nhạc BTS 2001 - Somi, ca sĩ, người mẫu, diễn viên nhóm nhạc I.O.I == Mất == 1440 - St Frances của Roma, nữ tu người Ý (s. 1384) 1661 - Jules Cardinal Mazarin, giáo chủ hồng y, chính khách người Pháp (s. 1602) 1808 - Joseph Bonomi the Elder, kiến trúc sư (s. 1739) 1851 - Hans Christian Ørsted, nhà vật lý người Đan Mạch (s. 1777) 1888 - William I, hoàng đế người Đức (s. 1797) 1897 - Sondre Norheim, vân động viên trượt tuyết người Na Uy (s. 1825) 1937 - Paul Elmer More, nhà phê bình, người viết tiểu luận người Mỹ (s. 1864) 1954 - Eva Ahnert-Rohlfs, nhà thiên văn người Đức (s. 1912) 1954 - V. Walfrid Ekman, nhà hải dương học người Thụy Điển (s. 1874) 1960 - Jack Beattie, chính khách người Bắc Ireland (s. 1886) 1964 - Paul Erich von Lettow-Vorbeck, tướng người Đức (s. 1870) 1966 - Pablo Birger, người đua xe người Argentina (s. 1924) 1974 - Earl Wilbur Sutherland Jr., Physiologist, giải thưởng Nobel người Mỹ (s. 1915) 1975 - Gleb W. Derujinsky, nhà điêu khắc người Nga (s. 1888) 1983 - Faye Emerson, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1917) 1983 - Ulf von Euler, Physiologist, giải thưởng Nobel người Thụy Điển (s. 1905) 1989 - Robert Mapplethorpe, nghệ sĩ người Mỹ (s. 1946) 1993 - C. Northcote Parkinson, sử gia, nhà văn người Anh (s. 1909) 1993 - Bob Crosby, người chỉ huy dàn nhạc nhỏ, người hát lời người Mỹ (s. 1913) 1994 - Charles Bukowski, nhà văn người Mỹ (s. 1920) - Fernando Rey, diễn viên người Tây Ban Nha (s. 1917) - Eddie Creatchman, đô vật Wrestling người quản lý người Canada (s. 1928) 1996 - George Burns, diễn viên, ca sĩ người Mỹ (s. 1896) 1997 - The Notorious B.I.G., ca sĩ nhạc Rapp người Mỹ (s. 1972) 1999 - Harry Somers, nhà soạn nhạc người Canada (s. 1925) 2000 - Ivo Robić, ca sĩ, người sáng tác bài hát người Croatia (s. 1923) - Ngô Viết Thụ, kiến trúc sư (s. năm 1926) 2003 - Stan Brakhage, nhà sản xuất phim người Mỹ (s. 1933) - Bernard Dowiyogo, tổng thống Nauru (s. 1946) 2004 - Albert Mol, diễn viên người Đức (s. 1917) - Robert Pastorelli, diễn viên người Mỹ (s. 1954) 2005 - Chris LeDoux, nhạc country ca sĩ người Mỹ (s. 1948) - István Nyers, cầu thủ bóng đá người Hungary (s. 1924) 2007 - Glen Harmon, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Canada (s. 1921) == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
laura chinchilla.txt
Laura Chinchilla Miranda (sinh ngày 28 tháng 3 năm 1959) là một chính trị gia Costa Rica, và là nữ Tổng thống đầu tiên được bầu của Costa Rica. Trước đó, bà là một trong hai phó tổng thống của Óscar Arias Sánchez (người tiền nhiệm) kiêm Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Bà là ứng cử viên Đảng Giải phóng Dân tộc (Partido Liberación Nacional) tranh cử chức Tổng thống trong cuộc tổng tuyển cử năm 2010 và bà giành với 46,76% số phiếu. Trước khi tham gia chính trị, Chinchilla đã làm chuyên gia tư vấn của tổ chức phi chính phủ ở Mỹ Latin và châu Phi, chuyên về cải cách tư pháp và các vấn đề an ninh công cộng. Bà đã tiếp tục phục vụ chính phủ của María José Figueres Olsen với chức vụ Phó Bộ trưởng Bộ an ninh công cộng (1994-1996) và Bộ trưởng Bộ công an (1996-1998). Từ 2002-2006, bà phục vụ trong Quốc hội với chức vụ đại biểu của tỉnh San José. Chinchilla là một trong hai Phó Chủ tịch được bầu dưới chính quyền thứ hai của Arias (2006-2010). Bà từ chức Phó tổng thống vào năm 2008 để chuẩn bị chạy đua chức vụ tổng thống vào năm 2010. Ngày 7 tháng 6 năm 2009, bà đoạt vị trí dẫn đầu của Liberación Partido Nacional (PLN) với tỷ lệ thắng cao hơn 15% so với đối thủ gần nhất của mình, và do đó được chọn là ứng cử viên tổng thống của đảng. Bà là thành viên của Hội đồng Phụ nữ lãnh đạo thế giới. == Quan điểm chính trị == Đảng Giải phóng Dân tộc là thành viên của Quốc tế Xã hội Chủ nghĩa (Socialist International), có phương châm là thúc đẩy nền "chính trị cấp tiến cho một thế giới tốt đẹp hơn.". Bà chống việc hợp pháp hóa việc cho phép phá thai , kể cả dùng thuốc tránh thai khẩn cấp và hôn nhân đồng tính . Bà phản đối mọi sự thay đổi hiến pháp nhằm tách rời sự liên kết giáo hội ra khỏi nhà nước (Hiến pháp Costa Rica ghi rõ là Costa Rica là một quốc gia Công giáo Rôma), quan điểm này ngược lại với vị tổng thống tiền nhiệm (Oscar Arias) muốn thúc đẩy một nhà nước thế tục, tách ra khỏi mọi ảnh hưởng của giáo hội == Xem thêm == Tổng tuyển cử Costa Rica, 2010 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == laura-chinchilla.com - non-official Laura Chinchilla information portal Costa Rica News article World leaders
ni lông.txt
Ni lông (từ tiếng Pháp: nylon) là một tên gọi chung cho một nhóm các polyme tổng hợp được gọi chung về như polyamit, lần đầu tiên sản xuất trên 28 tháng 2 năm 1935 bởi Wallace Carothers ở DuPont. Nylon là một trong những polyme phổ biến nhất được sử dụng. == Tham khảo ==
stephen hawking.txt
Stephen William Hawking (stee-ven haw-king; sinh ngày 8 tháng 1 năm 1942) là một nhà vật lý lý thuyết, vũ trụ học, tác giả viết sách khoa học thường thức người Anh, hiện là Giám đốc Nghiên cứu tại Trung tâm Vũ trụ học lý thuyết thuộc Đại học Cambridge. Trong số những công trình khoa học quan trọng của ông, nổi bật nhất là sự hợp tác với Roger Penrose về lý thuyết kỳ dị hấp dẫn trong khuôn khổ thuyết tương đối tổng quát, và tiên đoán lý thuyết hố đen phát ra bức xạ (tức bức xạ Hawking). Hawking là người đầu tiên khởi đầu một nền vũ trụ học dựa trên sự thống nhất giữa thuyết tương đối tổng quát và cơ học lượng tử. Ông là người ủng hộ mạnh mẽ cách diễn giải đa vũ trụ về cơ học lượng tử. Ông nhận nhiều vinh dự khác nhau, trong đó có Huân chương Tự do Tổng thống, Giải Wolf, là thành viên của Hội Nghệ thuật Hoàng gia và Viện Hàn lâm Khoa học Giáo hoàng. Hawking đảm nhiệm vị trí Giáo sư Toán học Lucas tại Đại học Cambridge từ năm 1979 đến năm 2009. Hawking cũng nổi tiếng với việc viết những cuốn sách phổ biến khoa học trong đó ông thảo luận lý thuyết của ông cũng như vũ trụ học nói chung; cuốn Lược sử thời gian đứng trong danh sách bán chạy nhất của Sunday Times trong thời gian kỷ lục 237 tuần. Hawking mắc một căn bệnh về thần kinh vận động liên quan tới hội chứng teo cơ bên, khiến cho ông hầu như liệt toàn thân và phải giao tiếp qua một thiết bị hỗ trợ phát giọng nói. Ông đã kết hôn hai lần và có ba người con. == Tuổi trẻ == Hawking sinh ngày 8 tháng 1 năm 1942, tại Oxford, Anh quốc. Cha ông là Frank Hawking và mẹ ông là Isobel. Cả hai người có điều kiện kinh tế khó khăn nhưng phấn đấu vào học tại Đại học Oxford, Frank học y trong khi Isobel học ngành triết, chính trị và kinh tế học. Hai người gặp nhau trong những ngày đầu Chiến tranh thế giới thứ hai tại một viện nghiên cứu y học nơi Isobel làm thư ký còn Frank là nhà nghiên cứu. Cha mẹ Hawking sống tại Highgate nhưng khi London bị oanh kích trong chiến tranh, mẹ ông rời xuống Oxford để sinh nở an toàn hơn. Ông có hai em gái, Philippa và Mary, và một em trai nuôi, Edward. Hawking học tiểu học ở Trường Nhà Byron; về sau ông chỉ trích cái gọi là "phương pháp tiến bộ" của trường đã khiến ông không thể học đọc. Năm 1950, khi cha ông trở thành trưởng bộ môn ký sinh trùng tại Viện Nghiên cứu Y tế Quốc gia, gia đình Hawking chuyển tới sống tại St Albans, Hertfordshire. Hawking khi đó 8 tuổi đi học tại Trung học nữ sinh St Albans vài tháng (vào thời đó những cậu bé ít tuổi có thể học ở trường nữ sinh). Ở St Albans, cả gia đình thường được người xung quanh đánh giá là hết sức trí thức và có phần lập dị; trong các bữa ăn mỗi người cầm một quyển sách vừa ăn vừa im lặng đọc sách. Họ sống trong một cuộc sống thanh đạm trong một ngôi nhà chung lớn, huyên náo và tồi tàn, và đi lại bằng một chiếc xe taxi Luân Đôn thải hồi. Cha của Hawking thường xuyên vắng nhà vì công tác ở châu Phi, và trong một dịp như vậy bà Isobel cùng các con du hành tới Mallorca bốn tháng để thăm bạn của bà Beryl và chồng bà ta, nhà thơ Robert Graves. Trở về Anh, Hawking vào học Trường Radlett trong một năm và từ năm 1952 chuyển sang trường St Albans. Gia đình ông rất đề cao giá trị của việc học hành. Cha Hawking muốn con trai mình học trường Westminster danh giá, nhưng Hawking lúc đó 13 tuổi bị ốm vào đúng ngày thi lấy học bổng. Gia đình ông không thể trang trải học phí mà không có phần học bổng hỗ trợ, nên Hawking đành tiếp tục học ở St Albans. Một hệ quả tích cực của điều này đó là Hawking duy trì được một nhóm bạn thân mà ông thường tham gia chơi bài, làm pháo hoa, các mô hình phi cơ và tàu thuyền, cũng như thảo luận về Cơ đốc giáo và năng lực ngoại cảm. Từ 1958, với sự giúp đỡ của thầy dạy toán nổi tiếng Dikran Tahta, họ xây dựng một máy tính với các linh kiện lấy từ đồng hồ, một máy tổng đài điện thoại cũ và các thiết bị tái chế khác. Mặc dù thường được bạn bè ở trường gọi là "Einstein", ban đầu kết quả học tập của Hawking không xuất sắc cho lắm. Theo thời gian, ông ngày càng chứng tỏ năng khiếu đáng chú ý đối với các môn khoa học tự nhiên, và nhờ thầy Tahta khuyến khích, quyết định học toán tại đại học. Cha Hawking khuyên ông học y vì lo ngại rằng không có mấy việc làm cho một sinh viên ngành toán ra trường. Theo nguyện vọng của cha, Hawking tới học dự bị ở trường cha ông từng học là University College (thuộc Đại học Oxford). Vì khi đó tại trường không có ngành toán, Hawking quyết định học vật lý và hóa học. Mặc dù hiệu trưởng khuyên ông chờ thêm một năm, Hawking đã thi sớm và giành học bổng tháng 3 năm 1959. == Thời đại học == Tháng 10 năm 1959, Hawking vào học tại Đại học Oxford khi mới 17 tuổi. Trong 18 tháng đầu tiên ông thấy chán học và cô đơn: ông ít tuổi hơn phần lớn sinh viên, và thấy việc học hành "dễ một cách kỳ cục". Thầy dạy vật lý Robert Berman sau này kể lại, "Đối với cậu ta chỉ cần biết điều gì đó có thể thực hiện, và cậu có thể làm nó mà không cần phải ngó xem những người khác đã làm thế nào." Một sự thay đổi xảy ra vào năm thứ hai và thứ ba khi, theo Berman, Hawking cố gắng trở nên hòa nhập hơn với trang lứa. Hawking phấn đấu và trở thành một sinh viên được quý mến, hoạt bát, dí dỏm, hứng thú với nhạc cổ điển và tiểu thuyết viễn tưởng. Một phần sự biến chuyển này đến từ quyết định gia nhập Câu lạc bộ đua thuyền của trường, nơi Hawking phụ trách lái trong một đội đua thuyền. Huấn luyện viên khi đó nhận thấy Hawking trau dồi một phẩm cách táo bạo, lái đội đua theo những hướng nguy hiểm thường dẫn tới thuyền bị hư hại. Hawking ước tính rằng ông đã học chừng 1000 giờ trong 3 năm ở Oxford (tức trung bình 1 giờ/ngày). Thói quen học hành không ấn tượng này khiến cho các kì thi cuối kỳ của ông trở nên đáng ngại, và ông quyết định chỉ trả lời những câu hỏi vật lý lý thuyết và bỏ qua những câu đòi hỏi kiến thức thực tế. Trong khi đó, ông cần phải có một bằng danh dự hạng nhất để đăng ký học tại ngành vũ trụ học tại Đại học Cambridge mà ông đã dự tính. Kỳ thi diễn ra căng thẳng và kết quả nằm ở đúng điểm số ranh giới giữa hạng nhất và hạng nhì, và như thế cần có thêm buổi kiểm tra vấn đáp (viva) để phân hạng. Hawking lo rằng sẽ bị xem là một sinh viên lười nhác và khó tính, nên tại buổi vấn đáp khi được yêu cầu mô tả kế hoạch tương lai của mình, ông trả lời "Nếu các vị trao cho tôi hạng Nhất, tôi sẽ tới Cambridge. Nếu tôi nhận hạng Nhì, tôi sẽ ở lại Oxford, vì vậy tôi hi vọng các vị cho tôi hạng Nhất." Kết quả ông được hạng Nhất ngoài mong đợi: Berman bình luận rằng giám khảo "đủ thông minh để nhận ra rằng họ đang nói chuyện với ai đó thông minh hơn nhiều phần lớn người trong số họ". Với bằng cử nhân hạng nhất tại Oxford và sau một chuyến du lịch tới Iran cùng với một người bạn, Hawking bắt đầu vào học bậc trên đại học tại Trinity Hall (Đại học Cambridge) từ tháng 10 năm 1962. Năm thứ nhất là nghiên cứu sinh tiến sĩ của Hawking thực sự khó khăn. Ban đầu ông có phần thất vọng vì được chỉ định làm luận án dưới sự hướng dẫn của Dennis William Sciama thay vì nhà thiên văn học lừng danh Fred Hoyle, đồng thời thấy mình chưa được trang bị đầy đủ kiến thức toán học để nghiên cứu thuyết tương đối rộng và vũ trụ học.' Ông cũng phải vật lộn với sức khỏe suy giảm. Hawking bắt đầu vướng phải những khó khăn trong vận động kể từ năm cuối ở Oxford, bao gồm một cú ngã cầu thang và không thể đua thuyền. Nay vấn đề tệ hơn, và tiếng nói của ông trở lên lắp bắp; gia đình ông nhận thấy sự thay đổi này khi ông nghỉ kì Giáng Sinh và đưa ông đi khám bệnh. Năm Hawking 21 tuổi, người ta chẩn đoán ông mắc bệnh thần kinh vận động và khi đó các bác sĩ cho rằng ông chỉ sống thêm được 2 năm nữa. Sau khi có kết quả chẩn đoán, Hawking rơi vào trầm uất; mặc dù các bác sĩ khuyên ông tiếp tục học hành, ông cảm thấy chẳng còn mấy ý nghĩa. Tuy nhiên cùng thời gian đó, mối quan hệ của ông với Jane Wilde, bạn của em gái ông, người mà ông gặp ít lâu trước khi chẩn đoán bệnh, tiếp tục phát triển. Hai người đính hôn vào tháng 10 năm 1964. Sau này Hawking nói rằng việc đính hôn đã "cho ông điều gì đó để sống vì nó." Mặc cho căn bệnh ngày càng diễn tiến xấu đi-Hawking bắt đầu khó có thể đi mà không có giúp đỡ, và giọng của ông hầu như không thể hiểu được-ông giờ đây quay trở lại công việc với niềm hứng thú. Hawking bắt đầu nổi danh về trí tuệ xuất chúng cũng như tính cách ngược ngạo khi ông công khai thách thức công trình của Fred Hoyle và sinh viên của ông này, Jayant Narlikar, trong một bài thuyết trình tháng 9 năm 1964. Khi Hawking bắt đầu làm nghiên cứu sinh, có nhiều tranh cãi trong cộng đồng vật lý về các lý thuyết đang thịnh hành liên quan tới sự khai sinh vũ trụ: thuyết Vụ Nổ Lớn và thuyết vũ trụ tĩnh tại (được Hoyle cổ vũ). Dưới ảnh hưởng của định lý về kì dị không-thời gian trong tâm các hố đen của Roger Penrose, Hawking áp dụng ý tưởng tương tự cho toàn thể vũ trụ, và trong năm 1965 đã viết luận án tiến sĩ về chủ đề này. Bên cạnh đó, có những tiến triển tích cực khác: Hawking nhận học bổng nghiên cứu tại Cao đẳng Gonville và Caius (thuộc Đại học Cambridge), ông và Jane kết hôn ngày 14 tháng 7 năm 1965. Ông nhận bằng tiến sĩ tháng 3 năm 1966, và tiểu luận của ông, "Các kỳ dị và Hình học của Không-Thời gian" cùng với luận văn của Penrose nhận giải Adams (giải dành cho nghiên cứu toán học xuất sắc nhất hàng năm của Cambridge) năm đó. == Phần sau cuộc đời và sự nghiệp == === 1966-1975 === Những năm mới cưới đầy hoạt động sôi nổi: Jane sống ở London trong thời gian cô hoàn thành việc học đại học và họ du hành tới Hoa Kỳ vài lần cho hội thảo và các cuộc gặp liên quan tới vật lý. Cặp vợ chồng rất vất vả mới thuê được nhà trong tầm đi bộ tới Khoa Toán học Ứng dụng và Vật lý lý thuyết (DAMTP) ở Đại học Cambridge nơi ông nhận một vị trí giảng dạy. Jane bắt đầu làm nghiên cứu sinh, và một con trai đầu của họ, Robert, ra đời tháng 5 năm 1967. Hợp tác với Penrose, Hawking mở rộng các quan niệm về định lý điểm kì dị mà ông khám phá trong luận án tiến sĩ. Điều này không chỉ bao gồm sự tồn tại của các kỳ dị mà còn là lý thuyết rằng vũ trụ tự nó có thể khởi đầu từ một kì dị. Tiểu luận chung của họ tham gia và về nhì trong cuộc thi của Quỹ Nghiên cứu Lực Hấp dẫn năm 1968. Năm 1970 họ công bố một phép chứng minh rằng nếu vũ trụ tuân theo lý thuyết tương đối tổng quát và phù hợp với bất kỳ mô hình nào về vũ trụ học vật lý phát triển bởi Alexander Friedmann, thì nó phải khởi đầu từ một kì dị. Vào cuối thập niên 1960, năng lực thể chất của Hawkings lại suy giảm một lần nữa: ông bắt đầu phải dùng nạng và thường xuyên hủy các buổi giảng. Khi dần mất khả năng viết, ông phát triển các phương pháp thị giác để bù đắp, bao gồm nhìn các phương trình theo cách hiểu hình học. Nhà vật lý Werner Israel sau này so sánh những kỳ tích đó với việc Mozart sáng tác toàn bộ bản giao hưởng trong đầu. Mặt khác Hawking lại tỏ ra độc lập một cách mãnh liệt và không bằng lòng chấp nhận giúp đỡ hay chịu nhượng bộ vì sự tàn tật của mình. Hawking ưa thích được người khác xem "trước hết như một nhà khoa học, thứ đến như một nhà văn phổ biến khoa học, và, trong mọi cách mà nó đáng kể, một người bình thường với cùng những ham muốn, nghị lực, ước mơ và tham vọng như những người xung quanh." Jane Hawking về sau ghi nhận rằng "vài người sẽ gọi đó là tính cương quyết, người khác gọi là ngoan cố. Tôi vẫn gọi nó bằng cả hai tên cùng lúc hoặc từng lúc." Cần rất nhiều sự thuyết phục mới làm cho ông chấp nhận ngồi xe lăn vào cuối những năm 1960, nhưng sau này ông trở nên nổi tiếng trong học xá vì việc phóng xe lăn nhanh bừa bãi. Đồng nghiệp thấy ông là một người dễ mến và dí dỏm, nhưng bệnh tật cũng như danh tiếng về trí tuệ và sự ngạo ngược của ông tạo khoảng cách giữa ông và vài người.. Năm 1969, để giữ ông lại ở Caius, người ta tạo ra một chương trình dành riêng cho ông mang tên 'Học bổng Nghiên cứu Ưu tú trong Khoa học". Con gái của Hawking, Lucy chào đời năm 1970. Sau đó ít lâu Hawking khám phá ra thứ sau này được biết đến dưới tên "Định luật thứ hai của cơ học hố đen", khẳng định rằng chân trời sự kiện của hố đen không bao giờ có thể thu nhỏ hơn. Cùng với James M. Bardeen và Brandon Carter, ông đề xuất bốn định luật của cơ học lỗ đen, vạch ra một sự tương đồng với động lực học cổ điển. Dưới ảnh hưởng của Hawking, Jacob Bekenstein, một nghiên cứu sinh của John Wheeler, đi xa hơn—và cuối cùng tỏ ra chính xác—khi đơn thuần áp dụng các quan niệm động lực học sang cơ học lỗ đen. Những năm đầu thập niên 1970, công trình của Hawking với Carter, Werner Israel và David C. Robinson ủng hộ luận điểm của Wheeler về "hố đen không có tóc", rằng bất kể hố đen ban đầu tạo thành từ vật liệu nào, nó hoàn toàn có thể mô tả bằng ba tính chất khối lượng, điện tích và sự tự quay. Tiểu luận có tên "Những Hố đen" của ông thắng giải thưởng Quỹ Nghiên cứu Lực Hấp dẫn tháng 1 năm 1971. Cuốn sách đầu tiên của Hawking Cấu trúc Vĩ mô của Không-Thời gian viết với George Ellis xuất bản năm 1973. Từ năm 1973, Hawking bắt đầu chuyển sang nghiên cứu hấp dẫn lượng tử và cơ học lượng tử. Đề tài nghiên cứu này được dấy lên sau một chuyến thăm tới Moskva và những cuộc thảo luận với Yakov Borisovich Zel'dovich và Alexander Starobinsky, công trình của họ chỉ ra rằng theo nguyên lý bất định các hố đen quay phát ra các hạt. Gây phiền rà cho Hawking, những tính toán được kiểm tra nhiều lần của ông cho ra những phát hiện mâu thuẫn với định luật của ông, vốn khẳng định rằng các hố đen không bao giờ co lại (chỉ giữ nguyên hoặc lớn lên), và ủng hộ lập luận của Bekenstein về entropy của chúng. Các kết quả, được Hawking trình bày năm 1974, chỉ ra rằng hố đen phát ra bức xạ - mà ngày nay được gọi là bức xạ Hawking - cho đến khi chúng cạn kiệt năng lượng và bay hơi. Ban đầu, bức xạ Hawking gây nhiều tranh cãi. Nhưng đến cuối những năm 1970 và sau những công bố nghiên cứu sâu hơn, khám phá này được chấp nhận rộng rãi như một đột phá quan trọng trong vật lý lý thuyết. Tháng 3 năm 1974, vài tuần sau khi công bố bức xạ Hawking, Hawking trở thành thành viên của Hội Hoàng gia, và là một trong những nhà khoa học trẻ tuổi nhất từng nhận vinh dự này. Hawking hiếm khi thảo luận về bệnh tật và các vấn đề thể chất, ngay cả lúc mới yêu với Jane. Sự tật nguyền của Hawking khiến cho các trách nhiệm gia đình rơi xuống đôi vai ngày càng chất nặng của vợ ông, dành cho ông thêm thời gian để suy nghĩ về vật lý. Khi Hawking nhận Học bổng Ưu tú Sherman Fairchild làm giáo sư thỉnh giảng tại Viện Công nghệ California (Caltech) năm 1974, Jane đề xuất rằng một nghiên cứu sinh hoặc sinh viên hậu tiến sĩ sống với họ và giúp chăm sóc ông. Hawking chấp nhận, và Bernard Carr du hành tới California cùng gia đình, người đầu tiên trong số nhiều sinh viên đảm trách vai trò này. Gia đình đã có một năm nhìn chung là hạnh phúc và đầy hứng khởi ở Pasadena. Hawking làm việc với người bạn trong khoa Vật lý lý thuyết, Kip Thorne, và đánh cược với ông này về chuyện sao tối (sao chứa một hàm lượng lớn vật chất tối neutralino) Cygnus X-1 là một hố đen. Vụ cá cược là một kiểu "chính sách bảo hiểm" đáng ngạc nhiên chống lại đề xuất rằng hố đen không tồn tại. Hawking ghi nhận rằng ông đã thua cuộc năm 1990, trò cá cược khoa học vui vẻ đầu tiên trong số vài cuộc mà ông đánh cược với Thorne và những người khác. Hawking về sau vẫn duy trì các mối quan hệ chặt chẽ với Caltech, hầu như năm nào cũng thăm nơi này chừng một tháng. === 1975-1990 === Hawking trở về Cambridge tháng 10 năm 1975 với một căn nhà mới, một công việc mới-Độc giả (một vị trí đặc biệt ở các trường đại học Anh, cao hơn giảng viên cao cấp, nhưng chưa tới ghế giáo sư). Don Page, người bắt đầu thân thiết với Hawking ở Caltech, đến Anh để làm việc như một nghiên cứu sinh, trợ lý sống trong nhà ông. Với sự giúp đỡ của Page và một thư ký, các trách nhiệm của Jane nhẹ bớt và cô có thể quay lại với luận án của mình cũng như niềm yêu thích mới dành cho ca hát. Nửa sau thập niên 1970 là một thời kì công chúng có sự quan tâm ngày càng tăng tới hố đen và những nhà vật lý nghiên cứu đề tài này; do đó Hawking thường xuyên được báo chí và truyền hình mời phỏng vấn. Ông cũng hưởng ngày càng nhiều sự ghi nhận dành cho công trình của mình. Năm 1975 ông nhận Huy chương Eddington và Huy chương Vàng Pius XI, và năm 1976 là Giải Dannie Heineman, Giải thưởng Maxwell và Huy chương Hughes. Hawking được đề bạt chức giáo sư về vật lý hấp dẫn năm 1977, khi mới 35 tuổi. Năm sau đó ông nhận Huy chương Albert Einstein và một bằng tiến sĩ danh dự từ Đại học Oxford. Giọng nói của Hawking ngày càng khó khăn hơn, và đến cuối những năm 1970 chỉ còn gia đình và những người bạn thân nhất hiểu được ông. Để giao tiếp với những người khác, ai đó hiểu rõ sẽ dịch lời ông cho người kia. Bị khích động từ một cuộc tranh luận với Đại học về việc ai sẽ trả tiền cho các bờ dốc thoải để ông có thể đi xe lăn tới chỗ làm, Hawking và vợ vận động cho việc cải thiện các lối đi vào hỗ trợ cho những người bị tật nguyền ở Cambridge, bao gồm việc nuôi các sinh viên tàn tật trong trường. Dù vậy, nhìn chung Hawking có những cảm giác mâu thuẫn về vai trò của mình như một người bênh vực cho quyền của người tàn tật: trong khi muốn giúp đỡ người khác, ông tìm cách tách bản thân ra khỏi chuyện bệnh tật và các khó khăn của nó. Việc ông thiếu dấn thân vào cuộc đấu tranh khiến ông hứng chịu một số chỉ trích. Trong lúc ấy gia đình Hawking chào đón đứa con thứ ba, Timothy, vào tháng 4 năm 1979. Mùa thu đó Hawking được bổ nhiệm vào ghế Giáo sư Toán học Lucas, một vị trí danh tiếng hàng đầu ở Đại học Cambridge cũng như trên thế giới, từng là vị trí của Isaac Newton và Paul Dirac. Buổi giảng nhậm chức Giáo sư của Hawking có tựa đề "Is the end in sight for Theoretical Physics" (tạm dịch, "Có một viễn cảnh kết cục cho Vật lý lý thuyết?") đã đề xuất Siêu hấp dẫn N=8 như lý thuyết hàng đầu nhằm giải quyết nhiều bài toán nổi bật mà các nhà vật lý đang nghiên cứu. Sự thăng chức của Hawking lại trùng hợp với một cơn đột biến suy sụp sức khỏe khiến Hawking phải chấp chận, dù rất miễn cưỡng, một vài dịch vụ điều dưỡng tại gia. Cùng lúc đó ông cũng thực hiện một sự chuyển hướng tiếp cận đối với vật lý, trở nên suy nghĩ theo trực giác và ước đoán hơn là nhấn mạnh vào các phép chứng minh toán học. Ông nói với Kip Thorne: "Tôi sẽ là đúng đắn hơn là chính xác". Năm 1981 ông đề xuất rằng thông tin của một hố đen bị mất không thể phục hồi khi một hố đen bốc hơi. Nghịch lý thông tin hố đen này vi phạm nguyên lý cơ bản của cơ học lượng tử, và dẫn tới nhiều năm tranh cãi, trong đó có cái gọi là "Chiến tranh Hố Đen" giữa ông với Leonard Susskind và Gerard 't Hooft. Tháng 12 năm 1977, Jane gặp một tay chơi đàn organ tên là Jonathan Hellyer Jones khi hát tại một dàn nhạc nhà thờ. Hellyer Jones trở nên gần gũi với gia đình Hawking, và đến giữa những năm 1980, Jones và Jane nảy nở tình cảm lãng mạn với nhau. Theo Jane, chồng bà chấp nhận hoàn cảnh đó, khẳng định rằng "ông ấy sẽ không phản đối chừng nào tôi còn tiếp tục yêu ông ta." Jane và Hellyer Jones quyết định không phá vỡ gia đình và mối quan hệ của họ vẫn giữ trong sáng trong một thời gian dài. Vũ trụ lạm phát—một lý thuyết đề xuất rằng theo sau Vụ Nổ Lớn vũ trụ ban đầu mở rộng cực kỳ nhanh chóng trước khi giảm tốc độ thành một sự giãn nở chậm hơn— được Alan Guth đề xuất và sau đó Andrei Linde phát triển. Từ sau một hội nghị ở Moskva tháng 10 năm 1981, Hawking và Gary Gibbons tổ chức một cuộc hội thảo Nuffield dài ba tuần trong mùa hè năm 1982 về Vũ trụ Nguyên thủy tại Đại học Cambridge, tập trung chủ yếu vào lý thuyết mới này. Hawking cũng bắt đầu một hướng nghiên cứu lý thuyết lượng tử mới tìm hiểu nguồn gốc vũ trụ. Năm 1981 tại một hội nghị ở Vatican ông giới thiệu một công trình đề xuất rằng vũ trụ có thể không có biên-không có điểm đầu hay điểm cuối. Kế tiếp đó ông phát triển mối cộng tác với James Hartle, và vào năm 1983 họ xuất bản một mô hình, được gọi là trạng thái Hartle-Hawking. Mô hình này đề xuất rằng trước kỷ nguyên Planck, vũ trụ không có biên trong không-thời gian; trước Vụ Nổ Lớn, thời gian không tồn tại và khái niệm về một sự khởi đầu của vũ trụ do đó là vô nghĩa. Điểm kì dị ban đầu của các mô hình Vụ Nổ Lớn cổ điển được thay thế bằng một vùng tương tự như Bắc Cực. Người ta không thể đi về phía bắc của Bắc Cực, nhưng không có biên giới nào ở đó-đơn giản đó là điểm mà tất cả các đường kinh tuyến hướng về phía bắc gặp nhau và kết thúc. Ban đầu đề xuất không biên này tiên đoán một vũ trụ đóng với những ngụ ý về sự không tồn tại của Chúa Trời. Như Hawking từng giải thích, "Nếu vũ trụ không có biên mà tự bao bọc... thì Chúa sẽ không có bất kỳ tự do lựa chọn nào về việc vũ trụ bắt đầu ra sao." Hawking cũng không loại trừ sự tồn tại của một Đấng Sáng Thế, đặt câu hỏi trong Lược sử Thời gian "Lý thuyết thống nhất có phải vì quá hấp dẫn mà phải tồn tại không??" Trong thời kỳ đầu, Hawking nói về Chúa theo nghĩa siêu hình. Trong Lược sử Thời gian, ông viết: "Nếu chúng ta tìm được câu trả lời, thì đó là sự thắng lợi cuối cùng của trí tuệ con người - chúng ta sẽ biết được ý của Chúa." Cũng trong cuốn sách này ông đề xuất rằng sự tồn tại của Chúa Trời là không cần thiết để giải thích nguồn gốc của vũ trụ. Những cuộc thảo luận về sau với Neil Turok dẫn ông tới nhận thức rằng nó cũng tương thích với một vũ trụ mở. Những công trình về sau của Hawking trong lĩnh vực mũi tên thời gian dẫn tới một bài báo công bố năm 1985 lập luận rằng nếu đề xuất không biên là đúng, thì vào lúc vũ trụ ngừng dãn nở và cuối cùng suy sụp, thời gian sẽ chạy theo hướng ngược lại. Một công bố của Don Page và Raymond Laflamme khiến Hawking về sau từ bỏ quan niệm này. Những vinh dự tiếp tục đến với ông: năm 1981 ông nhận Huy chương Franklin, và năm 1982 nhận tước CBE (một tước bậc hiệp sĩ hạng thấp của Đế quốc Anh). Tuy nhiên các danh hiệu không giúp thanh toán hóa đơn, nên dưới nhu cầu trang trải chi phí việc học hành của con cái và sinh hoạt gia đình, năm 1982 Hawking quyết định một cuốn sách phổ biến khoa học về vũ trụ mà đông đảo công chúng có thể tiếp cận được. Thay vì đem in tại một nhà xuất bản chuyên về học thuật, ông ký hợp đồng với Bantam Books, một nhà xuất bản cho thị trường đại chúng, và nhận một khoản tiền đặt cọc lớn cho tác phẩm. Bản thảo đầu tiên của cuốn sách có tựa đề A Brief History of Time (tức "Một lịch sử tóm tắt về thời gian")hoàn thành năm 1984. Trong một chuyến đi thăm CERN ở Genève mùa hè năm 1985, Hawking mắc viêm phổi mà với thể trạng sẵn yếu ớt của ông nó có thể đe dọa tính mạng; ông yếu tới mức bác sĩ từng hỏi Jane có nên chấm dứt các thiết bị duy trì sự sống của ông. Bà từ chối và ông đã sống sót, nhưng phải trải qua một ca phẫu thuật mở khí quản đòi hỏi chăm sóc điều dưỡng suốt ngày đêm và loại bỏ năng lực phát âm ít ỏi còn lại của ông. Cơ quan Chăm sóc Sức khỏe Anh (NHS) nhận trả phí ở viện điều dưỡng nhưng Jane cương quyết muốn ông sống ở nhà. Chi phí chăm sóc được một quỹ ở Hoa Kỳ chu cấp. Các y tá được thuê suốt ba ca để chăm sóc ông hai mươi bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày. Một trong số những người được mướn là Elaine Mason, người về sau trở thành vợ thứ hai của ông. Để giao tiếp, ban đầu Hawking rướn lông mày để chọn những chữ cái trên một thẻ đánh vần. Nhưng về sau ông nhận được một chương trình máy tính tên là "Equalizer" từ Walt Woltosz. Trong một phương pháp mà ông sử dụng tới tận ngày nay, sử dụng một công tắc ông chọn các cụm từ, từ, hoặc chữ cái từ một bộ nhớ chứa khoảng 2500-3000 lựa chọn được quét qua bởi máy. Chương trình ban đầu chạy trên một máy tính đề bàn. Nhưng chồng của Elaine Mason là David, một kỹ sư máy tính, đã lắp một máy tính nhỏ và gắn nó vào xe lăn của Hawking. Thoát khỏi nhu cầu cần ai đó diễn giải giọng mình, Hawking bình luận rằng "Giờ tôi đâm ra giao tiếp tốt hơn là trước khi tôi mất giọng nói." Tiếng nói nhân tạo của chiếc máy ông dùng có một giọng Mỹ và không còn được sản xuất. Mặc dù có những tiếng nói khác, ông vẫn duy trì giọng ban đầu này, nói rằng ông ưa thích giọng hiện tại và đồng nhất với nó. Vào thời điểm đó, ông sử dụng công tắc bằng tay và có thể tạo đến 15 từ mỗi phút. Các bài giảng được chuẩn bị từ trước, và gửi tới bộ tổng hợp giọng nói thành những đoạn ngắn khi phát. Một trong những thông điệp đầu tiên Hawking đưa ra với thiết bị phát giọng nói của mình là yêu cầu trợ lý giúp ông hoàn thành việc viết "Lược sử Thời gian". Peter Guzzardi, biên tập ở Bantam, thúc đẩy ông phải giải thích các ý tưởng một cách rõ ràng trong ngôn ngữ không mang tính kỹ thuật, một quá trình đòi hỏi nhiều lần chỉnh sửa từ một Hawking ngày càng cáu kỉnh. Cuốn sách cuối cùng cũng ấn hành tháng 4 năm 1988 ở Hoa Kỳ và tháng 6 ở Anh quốc, và trở thành một thành công phi thường, nhanh chóng vươn lên đầu các danh sách bán chạy nhất ở cả hai quốc gia và duy trì vị trí không chỉ nhiều tuần mà nhiều năm liên tục. "Lược sử Thời gian" được dịch sang nhiều thứ tiếng, và tới năm 2009 bán được ít nhất 9 triệu bản. Truyền thông hết sức chú ý đến hiện tượng kỉ lục này, và cả trang bìa tờ Newsweek cùng một chương trình truyền hình đặc biệt mô tả ông là "Master of the Universe" (tạm dịch, "Bậc thầy Vũ trụ"). Thành công dẫn đến những khoản tiền hậu hĩnh, nhưng cũng đem lại thách thức trong vai trò người nổi tiếng. Hawking đã du hành liên tục để quảng bá công trình của mình, và tham gia tiệc tùng và khiêu vũ tới tận đêm khuya. Những lời mời và các vị khách khó từ chối khiến ông ít có thời gian dành cho công việc và các học trò. Vài đồng nghiệp phật ý vì sự chú ý dành cho Hawking, cảm giác rằng đó chủ yếu là do sự tàn tật của ông. Ông cũng nhận thêm nhiều ghi nhận về mặt học thuật, bao gồm thêm năm bằng tiến sĩ danh dự, Huy chương Vàng của Hội Thiên văn học Hoàng gia (1985), Huy chương Paul Dirac (1987) và, cùng với Penrose, Giải Wolf danh tiếng (1988). Năm 1989, ông được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước CH (tước hiệu dân sự cao thứ hai mà một bình dân Anh có thể đạt được, thấp hơn Huân chương Công trạng-OM). === 1990-2000 === Cuộc hôn nhân giữa Jane và Stephen Hawking trải qua áp lực trong nhiều năm. Jane cảm thấy bị đè nặng bởi sự dòm ngó vào đời sống gia đình họ bởi những người y tá và trợ lý. Tác động của việc Hawking trở nên nổi danh cũng gây thách thức cho các đồng nghiệp và thành viên gia đình, và trong một lần phỏng vấn Jane đã mô tả vai trò của bà "đơn thuần là nói cho ông ấy biết ông ấy không phải Chúa Trời." Quan điểm bất khả tri về tôn giáo của Hawking cũng tương phản với đức tin Ki tô giáo mạnh mẽ của người vợ, và dẫn đến những căng thẳng giữa họ. Vào cuối những năm 1980 Hawking trở nên ngày càng gần gũi với một trong số các y tá của ông, Elaine Mason, điều gây nên khó chịu cho một số đồng nghiệp, hộ lý và thành viên gia đình-những người thấy phiền toái bởi cá tính gây gổ và sự bao bọc của Elaine đối với Hawking. Cuối cùng Hawking nói với Jane rằng ông đang rời bỏ bà để tới với Elaine, và rời ngôi nhà vào tháng 2 năm 1990. Trong năm đó, Hawking nhận một cô gái Việt Nam sống ở Làng trẻ em SOS tên là Nguyễn Thị Thu Nhàn làm con nuôi, và họ từng sang Việt Nam năm 1997 để thăm Nhàn. Hawking và Jane chính thức ly dị vào mùa xuân năm 1995, sau đó tới tháng 9 Hawking kết hôn với Elaine, tuyên bố rằng "Thật tuyệt vời—Tôi đã cưới người phụ nữ tôi yêu." Hawking vẫn theo đuổi sự nghiệp vật lý: năm 1993 ông đồng biên tập một cuốn sách về hấp dẫn lượng tử Euclid với Gary Gibbons, và công bố một tuyển tập các bài viết của ông về hố đen và Vụ Nổ Lớn. Năm 1994 ở Viện Newton thuộc Cambridge, Hawking và Penrose trình bày một loạt sáu bài giảng, được in lại năm 1996 dưới tên "Bản chất của Không gian và Thời gian". Năm 1997 ông nhận thua một ván cược công khai năm 1991 với Kip Thorne và John Preskill ở Caltech. Hawking từng cá rằng đề xuất của Penrose về một "phỏng đoán kiểm duyệt vũ trụ"-rằng không thể nào có "kì dị trần truồng" không che bởi một chân trời-là đúng. Sau khi khám phá ra rằng sự nhận thua đó có phần vội vã, một ván cược mới, chặt chẽ hơn, được thực hiện, đặc tả rằng những kì dị như thế sẽ xảy ra mà không có các điều kiện phụ. Cùng năm đó, Thorne, Hawking và Preskill tiến hành vụ cược khác, lần này liên quan tới nghịch lý thông tin hố đen. Thorne và Hawking lập luận rằng vì thuyết tương đối tổng quát khiến cho hố đen không thể nào bức xạ và mất thông tin, thế thì khối lượng-năng lượng và thông tin mang bởi Bức xạ Hawking phải "mới", và không phải từ bên trong chân trời sự kiện của hố đen. Vì điều này mâu thuẫn với cơ học lượng tử về tính nhân quả ở cấp độ vi mô, tự thân lý thuyết cơ học lượng tử cần phải được viết lại. Preskill lập luận theo hướng ngược lại, rằng cơ học lượng tử đề xuất rằng thông tin phát ra bởi một hố đen liên quan tới thông tin rơi vào nó ở một thời điểm trước đấy, quan niệm về hố đen cho bởi thuyết tương đối tổng quát phải được hiệu chỉnh theo một cách nào đó. Hawking cũng duy trì bộ mặt công chúng của ông, bao gồm việc đem khoa học tới một lớp công chúng rộng rãi hơn. Năm 1992 phiên bản phim tài liệu "Lược sử Thời gian"-do Errol Morris đạo diễn và Steven Spielberg sản xuất-được trình chiếu. Hawking đã muốn bộ phim liên quan tới khoa học hơn là chân dung tiểu sử ông, nhưng người ta đã thuyết phục ông chấp nhận bộ phim phần lớn gồm những cuộc phỏng vấn liên quan tới ông. Phim nhận nhiều phê bình tích cực nhưng không được phát hành rộng rãi. Một tập hợp các tiểu luận dễ tiếp cận, các phỏng vấn và buổi nói chuyện của ông xuất bản năm 1993 dưới tên "Hố Đen và các Vũ trụ Sơ sinh và những Tiểu luận khác", trong khi một sê-ri chương trình truyền hình sáu phần "Vũ trụ của Stephen Hawking" và cuốn sách ăn theo xuất theo năm 1997. Như Hawking nhấn mạnh, lần này trọng tâm tuyệt đối dành cho khoa học. Ông cũng xuất hiện vài lần trước truyền thông đại chúng. Trong bữa tiệc nhân dịp phát hành phim "Lược sử Thời gian", Leonard Nimoy, người đóng vai Spock trong Star Trek, biết được rằng Hawking hứng thú với việc xuất hiện trong chương trình. Nimoy đã tiến hành các liên lạc cần thiết và Hawking xuất hiện với tư cách bản thân trong sê-ri Star Trek: The Next Generation năm 1993 . Cùng năm đó, giọng nói tổng hợp của ông được thu âm cho bài hát Keep Talking của ban nhạc Pink Floyd và xuất hiện năm 1999 trong sê-ri hài kịch tình huống The Simpsons. Trong những năm 1990, Hawking chấp nhận cởi mở hơn trong việc đóng vai trò như hình mẫu của những người tàn tật, bao gồm việc thuyết trình về chủ đề này và tham gia vào các hoạt động gây quỹ. Vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, ông và mười một danh nhân khác ký vào bản "Hiến chương Thiên niên kỷ thứ ba cho Người tàn tật", kêu gọi các chính phủ ngăn cản sự thương tật và bảo vệ quyền của người tật nguyền. Năm 1999 Hawking nhận Giải Julius Edgar Lilienfeld của Hội Vật lý Hoa Kỳ. Cũng năm đó, Jane Hawking công bố hồi ký, Âm nhạc Chuyển động các Vì sao, mô tả cuộc hôn nhân của bà với Hawking và sự đổ vỡ của nó. Những tình tiết bộc lộ trong sách gây một sự xúc động mạnh cho quần chúng và giới truyền thông, nhưng theo cách ông thường cư xử khi liên quan tới đời sống cá nhân, Hawking không có bình luận công khai nào ngoài việc nói ông không đọc những tiểu sử liên quan tới bản thân mình. === 2000 tới nay === Ít lâu sau đầu thế kỉ mới, và trong một giai đoạn chừng 5 năm, gia đình và những nhân viên giúp việc trở nên ngày càng lo ngại rằng nhà khoa học bị lạm dụng thể chất bởi người vợ mới độc đoán. Cảnh sát tiến hành các cuộc điều tra, nhưng chúng đều khép lại vì Hawking từ chối đưa ra khiếu nại. Hawking tiếp tục việc viết sách khổ biến khoa học, ấn hành Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ năm 2001, và A Briefer History of Time (tạm dịch, "Một Lược sử Tóm tắt của Thời gian"; ông viết cuốn này năm 2005 cùng với Leonard Mlodinow để cập nhật các kết quả nghiên cứu mới hơn và làm cho nó dễ hiểu hơn nữa), trong khi Chúa tạo nên Số nguyên xuất hiện năm 2006. Về mặt nghiên cứu lý thuyết, cùng với Thomas Hertog ở Cơ quan Năng lượng Nguyên tử châu Âu (CERN) và Jim Hartle, từ 2006 trở đi Hawking phát triển một vũ trụ học "trên-xuống", phát biểu rằng vũ trụ không phải có một trạng thái ban đầu duy nhất mà là nhiều trạng thái, và do đó là không thích hợp để hình thành một lý thuyết tiên đoán hình dạng hiện tại của vũ trụ từ một trạng thái ban đầu đặc biệt nào. Nền vũ trụ học này thừa nhận rằng hiện tại "lựa chọn" quá khứ từ sự chồng chập của nhiều lịch sử khả hữu. Khi khẳng định như vậy, lý thuyết đã đề xuất một giải pháp khả dĩ cho câu hỏi về một vũ trụ điều chỉnh chặt chẽ. Cũng năm 2006 Hawking và Elaine lặng lẽ ly dị, và từ đó Hawking nối lại quan hệ gần gũi hơn với Jane, cũng như các con và cháu của mình. Một phiên bản hiệu chỉnh của cuốn sách trước đây của Jane, nay mang tên mới "Hành trình tới Vô hạn, Cuộc đời tôi với Stephen", xuất hiện năm 2007, phản ánh giai đoạn hạnh phúc hơn này. Năm đó Hawking và con gái Lucy xuất bản Chìa khóa Vũ trụ của George, một cuốn sách thiếu nhi thiết kế để trình bày vật lý lý thuyết theo cách dễ hiểu và mô tả các nhân vật tương tự các thành viên gia đình Hawking. Cuốn sách đã ra những tập tiếp theo vào các năm 2009 và 2011. Hawking tiếp tục xuất hiện thường xuyên trên màn ảnh: các bộ phim tài liệu có tên The Real Stephen Hawking: (2001) và "Stephen Hawking: Profile" (2002), một phim truyền hình Hawking về giai đoạn bắt đầu căn bệnh của Hawking (2004), cùng một sê-ri phim tài liệu Stephen Hawking, Master of the Universe (2008). Hawking còn xuất hiện cả trong thể loại hoạt hình như trong The Simpsons, và Futurama trong đó giọng ông tham gia lồng tiếng, và với vai chính mình trong The Big Bang Theory. Hawking cũng tiếp tục du hành khắp nơi, bao gồm các chuyến đi tới Chile, Đảo Phục Sinh, Nam Phi, rồi Tây Ban Nha (để nhận Giải Fonseca năm 2008), Canada và nhiều chuyến đi tới Hoa Kỳ. Vì các lý do thực tế liên quan tới sự tàn tật của ông Hawking ngày càng thường xuyên di chuyển bằng máy bay phản lực cá nhân, từ 2011 đã trở thành phương tiện đi lại quốc tế duy nhất của ông. Qua năm tháng, Hawking vẫn duy trì bộ mặt công chúng với một loạt tuyên bố gây chú ý và thường gây tranh cãi: ông từng khẳng định rằng virus máy tính là một dạng sự sống, rằng con người nên sử dụng kĩ thuật di truyền để tránh khỏi bị vượt mặt bởi máy tính, và rằng người ngoài hành tinh có lẽ tồn tại và cần tránh giao tiếp với họ vì họ có thể sẽ chinh phạt con người. Hawking bộc lộ mối lo ngại rằng sự sống trên Trái Đất bị đe dọa do "một cuộc chiến tranh hạt nhân đột ngột, một virus được lập trình gien hay các mối hiểm họa mà chúng ta còn chưa nghĩ tới". Ông xem các chuyến bay không gian và việc lập thuộc địa ngoài vũ trụ là cần thiết cho tương lai nhân loại. Mong muốn tăng cường mối quan tâm của công chúng tới các chuyến bay ra ngoài không gian và thể hiện tiềm năng của những người tàn tật, năm 2007 ông tham gia vào chuyến bay không trọng lượng trên phi thuyền mô phỏng "Vomit Comet", do tập đoàn Zero Gravity tài trợ, trong đó ông trải nghiệm trạng thái không trọng lượng tám lần. Là một người từ lâu ủng hộ Đảng Lao động, Hawking cũng đưa ra quan điểm của mình về nhiều đề tài chính trị. Ông bày tỏ sự ủng hộ với ứng cử viên Dân chủ Al Gore trong cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2000, gọi Cuộc tấn công Iraq 2003 là một "tội ác chiến tranh", tẩy chay một hội thảo ở Israel do lo ngại về chính sách của Israel đối với người Palestine, duy trì chiến dịch lâu dài của ông vận động giải trừ vũ khí hạt nhân, và ủng hộ nghiên cứu tế bào gốc, hệ thống y tế toàn cầu, và hành động ngăn chặn biến đổi khí hậu. Hawking cũng dùng danh tiếng của mình để quảng bá cho một số sản phẩm và thương hiệu, bao gồm một chiếc xe lăn, National Savings, British Telecom, Specsavers, Egg Banking, và Go Compare. Trong địa hạt vật lý, tới năm 2003, ngày càng có sự thống nhất rằng Hawking đã sai lầm về sự mất mát thông tin của một hố đen. Trong một bài thuyết trình năm 2004 ở Dublin, nhà vật lý đã nhận thua cuộc cá cược năm 1997 với Preskill, nhưng đồng thời mô tả giải pháp có phần mâu thuẫn của mình đối với bài toán nghịch lý thông tin, đề cập tới khả năng các hố đen có nhiều hơn một tô pô. Trong bài báo năm 2005 về chủ đề này, ông lập luận rằng nghịch lý thông tin được giải thích bằng cách kiểm tra tất cả những lịch sử tương đương của vũ trụ, với mất mát thông tin trong những vũ trụ có hố đen sẽ được triệt tiêu bởi những vũ trụ không có. Trong một phần của một tranh luận khoa học kéo dài khác, Hawking đã khẳng định dứt khoát, và đánh cược, rằng sẽ không bao giờ tìm thấy được Boson Higgs. Hạt này, được Peter Higgs đề xuất năm 1964 trong lý thuyết Peter Higgs, trở nên có khả năng phát hiện với sự ra đời của siêu máy gia tốc Tevatron thuộc Fermilab gần Chicago và LEP (va đập electron-positron) cùng LHC (va đập hadron) tại CERN. Hawking và Higgs tham gia vào một cuộc tranh cãi nảy lửa công khai về vấn đề này năm 2002 và tiếp tục năm 2008, trong đó Higgs chỉ trích công trình của Hawking và phàn nàn rằng "vị thế nổi tiếng của Hawking đem lại cho ông ta sự tin cậy mà người khác không có." Hạt Higgs cuối cùng được tập thể nghiên cứu hùng hậu tại CERN phát hiện tháng 7 năm 2012 (và xác nhận chính thức tháng 3 năm 2013): Hawking nhanh chóng thừa nhận thua cuộc và nói rằng Higgs nên nhận được Giải Nobel Vật lý. Sự suy yếu do bệnh tật vẫn tiếp tục, và năm 2005 ông bắt đầu phải điều khiển thiết bị giao tiếp bằng cử động của cơ má do không thể sử dụng tay nữa, với tốc độ chỉ một từ mỗi phút. Điều này đặt Hawking trước nguy cơ bại liệt hoàn toàn (tiếng Anh: locked-in syndrome-LIS, tình trạng vẫn tỉnh táo nhưng không thể cử động bất cứ bộ phận nào ngoài mắt), vì vậy ông đang hợp tác với các nhà nghiên cứu về các hệ thống có thể diễn dịch các hình ảnh não bộ hoặc biểu diễn nét mặt thành phương thức kích hoạt công tắc. Đến năm 2009 ông không còn có thể tự lái xe lăn nữa. Ông ngày càng thở khó khăn hơn, đôi khi cần đến máy thở, và đã phải nhập viện vài lần. Năm 2002, trong một cuộc bầu chọn trên toàn vương quốc Anh và Bắc Ailen, BBC đưa ông vào danh sách 100 người Anh vĩ đại nhất trong lịch sử. Hawking cũng nhận Huy chương Copley từ Hội Hoàng gia (2006), vinh dự dân sự cao nhất của Hoa Kỳ-Huân chương Tự do Tổng thống (2009), và Giải thưởng Vật lý Cơ bản Nga (2012). Một số công trình đã được đặt theo tên ông, bao gồm Bảo tàng Khoa học Stephen W. Hawking ở San Salvador, El Salvador, tòa nhà Stephen Hawking ở Đại học Cambridge, và Trung tâm Stephen Hawking tại Viện Perimeter ở Canada. Với sự gắn bó của ông với thời gian, ông có vinh dự khánh thành Đồng hồ Corpus, một đồng hồ quả lắc đắt giá và tinh xảo ở Cao đẳng Corpus Christi thuộc Đại học Cambridge tháng 9 năm 2008. Theo yêu cầu của quy chế trường đại học, Hawking nghỉ chức Giáo sư Toán học Lucasian năm 2009. Bất chấp những gợi ý rằng ông có thể rời nước Anh để phản đối những cắt giảm trợ cấp chính phủ cho các hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản, Hawking vẫn tiếp tục làm một giám đốc nghiên cứu ở Khoa Toán học Ứng dụng và Vật lý Lý thuyết, và không tỏ ra có kế hoạch nào về chuyện nghỉ hưu. Hawking từng khẳng định rằng mình "không tín ngưỡng theo nghĩa thông thường" và rằng ông tin "vũ trụ được vận hành bằng các định luật khoa học. Các định luật đó có thể được Chúa Trời ban bố, nhưng Chúa không can thiệp để phá vỡ chúng." Trong một bài phỏng vấn trên tờ The Guardian, Hawking xem quan niệm về Thiên đường là một huyền thoại, tin rằng "không có thiên đường hay thế giới bên kia" và rằng một khái niệm như thế là "một truyện cổ tích dành cho những người sợ bóng tối." Năm 2011, khi dẫn tập đầu tiên của sê-ri truyền hình Curiosity trên Discovery Channel, Hawking tuyên bố rằng "Không có Chúa. Không ai tạo nên vũ trụ và không ai định vận mệnh chúng ta. Điều này dẫn tôi tới một nhận thức sâu sắc rằng chắc hẳn cũng không có cả thiên đường lẫn thế giới bên kia." Tại Hội nghị Zeitgeist do Google tổ chức năm 2011, Hawking nói rằng "triết học đã chết". Ông tin rằng các triết gia "không bắt kịp với những tiến bộ khoa học hiện đại" và rằng các nhà khoa học "đã trở thành người mang ngọn đuốc khám phá trong cuộc truy tầm tri thức của chúng ta." Ông nói rằng các vấn đề triết học có thể được khoa học trả lời, đặc biệt là những lý thuyết khoa học mới "dẫn chúng ta tới một bức tranh mới và hết sức khác biệt về vũ trụ và vị trí của chúng ta trong nó". Tháng 8 năm 2012 Hawking dẫn chương trình đoạn Khai sáng trong Lễ khai mạc tại Thế vận hội Paralympic 2012. == Tác phẩm == === Công trình học thuật tiêu biểu === Hawking, S. W.; Penrose, R. (1970). “The Singularities of Gravitational Collapse and Cosmology”. Proceedings of the Royal Society A: Mathematical, Physical and Engineering Sciences 314 (1519): 529–548. Bibcode:1970RSPSA.314..529H. doi:10.1098/rspa.1970.0021. Hawking, S. (1971). “Gravitational Radiation from Colliding Black Holes”. Physical Review Letters 26 (21): 1344–1346. Bibcode:1971PhRvL..26.1344H. doi:10.1103/PhysRevLett.26.1344. Hawking, S.W. (1972). “Black holes in general relativity”. Communications in Mathematical Physics 25 (2): 152–166. Bibcode:1972CMaPh..25..152H. doi:10.1007/BF01877517. Hawking, S. W. (1974). “Black hole explosions?”. Nature 248 (5443): 30–31. Bibcode:1974Natur.248...30H. doi:10.1038/248030a0. Hawking, S.W. (1982). “The development of irregularities in a single bubble inflationary universe”. Physics Letters B 115 (4): 295–297. Bibcode:1982PhLB..115..295H. doi:10.1016/0370-2693(82)90373-2. Hartle, J.; Hawking, S. (1983). “Wave function of the Universe”. Physical Review D 28 (12): 2960–2975. Bibcode:1983PhRvD..28.2960H. doi:10.1103/PhysRevD.28.2960. Hawking, S. (2005). “Information loss in black holes”. Physical Review D 72 (8). arXiv:hep-th/0507171. Bibcode:2005PhRvD..72h4013H. doi:10.1103/PhysRevD.72.084013. === Tác phẩm phổ biến khoa học === A Brief History of Time (1988)Bản tiếng Việt: Lược sử thời gian, Cao Chi và Phạm Văn Thiều dịch, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 1995; Black Holes and Baby Universes and Other Essays (1993) Stephen Hawking, The Universe in a Nutshell, Bantam, 2001. Bản tiếng Việt: Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ, Nguyễn Tiến Dũng và Vũ Hồng Nam dịch, Đặng Vĩnh Thiên và Chu Hảo hiệu đính, Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ & Tạp chí Tia Sáng, 2004 Bản dịch khác: Vũ trụ trong một vỏ hạt, Dạ Trạch dịch, Võ Quang Nhân hiệu đính On The Shoulders of Giants. The Great Works of Physics and Astronomy, (Running Press 2002) ISBN 0-7624-1698-X A Briefer History of Time, cùng viết với nhà vật lý người Mỹ sinh năm 1954 Leonard Mlodinow, (Bantam Books 2005) ISBN 0-553-80436-7 God Created the Integers: The Mathematical Breakthroughs That Changed History (2005) The Grand Design, cùng viết với Leonard Mlodinow, (Bantam Press 2010) ISBN 0-553-80537-1 Bản dịch tiếng Việt: Bản Thiết kế Vĩ đại, Phạm Văn Thiều, Tô Văn Hạ dịch, Nhà xuất bản Trẻ, 2012 === Truyện thiếu nhi === Đồng tác giả với con gái, Lucy. George's Secret Key to the Universe (2007)Bản dịch tiếng Việt: Chìa khóa Vũ trụ của George, Lê Minh Đức Dịch, Nhà xuất bản Văn học & Nhã Nam, 2008 George's Cosmic Treasure Hunt (2009) George and the Big Bang (2011) === Phim và chương trình truyền hình === A Brief History of Time (1992) Stephen Hawking's Universe (1997) Hawking (2004) Horizon: The Hawking Paradox (2005) Masters of Science Fiction (2007) Stephen Hawking: Master of the Universe (2008) Into the Universe with Stephen Hawking (2010) Brave New World with Stephen Hawking (2011) Stephen Hawking's Grand Design (2012) The Theory of Everything (2014) == Xem thêm == Nghịch lý Hawking Bức xạ Hawking Roger Penrose Điểm kỳ dị hấp dẫn == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website của Stephen Hawking Stephen Hawking tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Stephen Hawking trên C-SPAN Stephen Hawking tại Internet Movie Database Stephen Hawking tại Mathematics Genealogy Project Các công trình liên quan hoặc của Stephen Hawking trên các thư viện của thư mục (WorldCat) Thêm tin tức và bình luận về Stephen Hawking trên The Guardian Thêm tin tức và bình luận về Stephen Hawking trên The New York Times Tài liệu lưu trữ liên quan đến Stephen Hawking liệt kê tại Cơ quan lưu trữ quốc gia Vương quốc Anh Chân dung của Stephen William Hawking tại Phòng Trưng bày Chân dung Quốc gia, Luân Đôn Twitter Stephen Hawking trên Facebook
windows nt.txt
Windows NT là một họ các hệ điều hành được sản xuất bởi Microsoft, với phiên bản đầu tiên được phát hành vào tháng 7 năm 1993. Đây là một hệ điều hành vi xử lý độc lập, đa nhiệm và đa người dùng. Phiên bản đầu tiên của Windows NT là Windows NT 3.1 được sản xuất cho các máy trạm và máy chủ. Nó từng được dự định bổ sung cho các phiên bản khách hàng của Windows (bao gồm từ Windows 1.0 tới Windows 3.1x) đang dựa trên MS-DOS. Dần dần, họ Windows NT đã được mở rộng thành dòng sản phẩm hệ điều hành có mục đích chung của Microsoft dành cho tất cả các loại máy tính cá nhân, vượt lên dòng Windows 9x. "NT" trước đó thường được coi là từ viết tắt của cụm từ "New Technology" (Công nghệ mới) nhưng tới nay không còn mang bất cứ ý nghĩa cụ thể nào. Bắt đầu từ Windows 2000, cụm từ "NT" đã bị lược bỏ khỏi tên sản phẩm và chỉ còn được ghi lại trong các dòng mã phiên bản sản phẩm. NT ban đầu là phiên bản thuần 32-bit của Windows, trong khi các phiên bản hướng tới khách hàng của nó, Windows 3.1x và Windows 9x, là các hệ điều hành lai 16-bit/32-bit. Nó là một hệ điều hành đa nền tảng. Ban đầu, nó hỗ trợ một vài nền tảng CPU, bao gồm IA-32, MIPS, DEC Alpha, PowerPC và sau đó là Itanium. Các phiên bản mới nhất nay đã hỗ trợ x86 (cụ thể hơn là IA-32 và x64) và ARM. Các tính năng chủ yếu của họ Windows NT bao gồm Windows Shell, Windows API, Native API, Active Directory, Group Policy, Hardware Abstraction Layer, NTFS, BitLocker, Windows Store, Windows Update, và Hyper-V. == Các phiên bản phát hành == == Nền tảng hỗ trợ == === Nền tảng 32-bit === === Nền tảng 64-bit === === Yêu cầu phần cứng === == Xem thêm == Microsoft Windows Cấu trúc Windows NT == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Windows (official page), Microsoft . Russinovich, Mark, “Windows NT and VMS: The Rest of the Story”, Win 2000 (discussion of ancestry of NT), Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2002 . A Brief History of the Windows NT Operating System (fact sheet), Microsoft PressPass, 1998, Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2004 .
âm hộ.txt
Âm hộ, hay còn gọi là cửa mình, nằm bên phía trong thành môi nhỏ, phía dưới lỗ niệu đạo và phía trên hậu môn, là cửa dẫn vào âm đạo ngoài ra cũng là phần bên ngoài của cơ quan sinh dục nữ. Âm hộ được phủ lông mu khi đến tuổi dậy thì. Bên dưới da, phần phía trên của âm hộ là một lớp đệm bảo vệ bằng mỡ trùm lên xương mu. Bắt đầu từ bên dưới đệm là một rãnh kép do các nếp da hình vòng cung tạo thành, đó là các môi lớn, hay môi ngoài, và môi bé hay môi trong. Chúng ngăn cách vùng cơ quan sinh dục nữ với lỗ thoát của hệ tiêu hoá (hậu môn). Phát triển của âm hộ xảy ra trong nhiều giai đoạn, chủ yếu trong giai đoạn bào thai và tuổi dậy thì. Là cổng vào của tử cung người, nó bảo vệ cửa mình bằng một "cửa kép": môi lớn và môi bé. Âm hộ có thể bị nhiều loại nhiễm trùng gây ngứa. Âm hộ có chức năng tình dục; các cơ quan bên ngoài được phân bố đa dạng và tạo ra khoái cảm khi được kích thích đúng cách. Trong các ngành nghệ thuật, âm hộ đã được mô tả vừa là cơ quan có quyền lực "tạo ra cuộc sống" (thường gắn liền với tử cung), và cơ quan tạo ra khoái lạc tình dục cho loài người. Âm hộ cũng có chứa lỗ niệu đạo nữ giới, nhưng ngoài việc này âm hộ không liên quan đến chức năng tiểu tiện. == Cấu trúcSửa đổi == Âm hộ bao gồm các cấu trúc sau: Xương mu, môi lớn và môi bé, phần ngoài của âm vật, gồm quy đầu âm vật và mui âm vật; lỗ niệu đạo; cửa vào âm đạo; màng trinh. Các cấu trúc khác bao gồm: tầng sinh môn, khe âm hộ, dây chằng hãm Fouchette, đáy chậu, các tuyến nhờn trên môi lớn, các tuyến âm đạo (tuyến Bartholin và tuyến Skene). Phần thịt mềm ở phía trước của âm hộ được hình thành bởi mô mỡ bao phủ xương mu, và được gọi là mu. Mons pubis là từ Latin chỉ "gò xương mu" và từ này không phân biệt giới nào. Tuy nhiên, một thuật ngữ biến thể xác định giới tính: ở nữ giới, gò xương mu thường được gọi tắt là mons veneris, tiếng Latin nghĩa là "gò của Venus" hay "gò của tình yêu". Mons pubis tách thành hai nếp gấp của da được gọi là môi lớn. Khe giữa môi lớn được gọi là khe hở âm hộ, hoặc khe Venus, và nó chứa đựng và bảo vệ các cấu trúc tinh tế hơn của âm hộ. Môi lớn gặp nhau tại một khu vực bằng phẳng giữa khe âm hộ và hậu môn, còn được gọi là đáy chậu. Màu sắc da bên ngoài của môi lớn thường gần giống với màu da của cá nhân, mặc dù có sự đa dạng đáng kể. Da bên trong và màng nhầy thường có màu hồng hoặc nâu. Sau khi đến tuổi dậy thì, gò xương mu và môi lớn được lông mu bao phủ. Các lông này đôi khi kéo dài đến đùi và đáy chậu, nhưng mật độ, kết cấu, màu sắc, và mức độ bao phủ lông mu khác nhau đáng kể, do các biến thể của cá nhân và tập quán văn hóa có thể dẫn đến sửa đổi hoặc cạo bỏ lông ở vùng này. Môi nhỏ là hai nếp gấp mềm mại của làn da nằm trong môi lớn và chứa nhiều tuyến nhờn. Trong khi labia minora được dịch là môi nhỏ với hàm ý nhỏ hơn môi lớn, thường môi nhỏ đều có kích thước đáng kể, và nó có thể nhô ra ngoài môi lớn. Sự đa dạng của âm hộ nằm trong sự khác biệt đáng kể trong kích thước, hình dạng, và màu sắc của môi nhỏ. Âm vật được đặt ở phía trước của âm hộ, nơi môi nhỏ gặp nhau. Các phần nhìn thấy của âm vật là qui đầu âm vật. Thông thường, qui đầu âm vật có kích thước và hình dạng của một hạt đậu, mặc dù nó có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn. Qui đầu âm vật rất nhạy cảm, có chứa nhiều đầu dây thần kinh như quy đầu dương vật của nam giới. Điểm môi nhỏ gắn vào âm vật được gọi là dây hãm âm vật. Mũ âm vật thường bao bọc và bảo vệ âm vật, tuy nhiên ở các phụ nữ với âm vật đặc biệt lớn hoặc mũ âm vật nhỏ, âm vật có thể lộ ra một phần hoặc toàn bộ. Phần mũ âm vật của nữ giới là tương đương với bao quy đầu của nam giới. Thường mũ âm vật chỉ ẩn một phần bên trong khe âm hộ. == Xem thêmSửa đổi == Âm đạo == Tham khảoSửa đổi ==
phân chia hành chính bangladesh.txt
Bangladesh được chia thành sáu vùng hành chính, mỗi vùng được đặt tên theo thủ phủ của nó: Barisal (বরিশাল), Chittagong (চট্টগ্রাম), Dhaka (ঢাকা), Khulna (খুলনা), Rajshahi (রাজশাহী) và Sylhet (সিলেট). Các vùng lại được chia tiếp thành các đơn vị hành chính được gọi là zila, hay các quận. Có 64 quận tại Bangladesh, mỗi quận lại được chia nhỏ thành các thana, hay các trạm cảnh sát (trước kia được gọi là upa-zila hay phường). Vùng bên trong mỗi đồn cảnh sát, trừ tại các khu vực đô thị, được chia thành nhiều cộng đồng, mỗi cộng đồng gồm nhiều làng. Tại các vùng đô thị, các đồn cảnh sát được chia thành các phường, phường được chia tiếp thành các mahallas. Các quan chức cấp vùng, quận hay thana không nhậm chức qua bầu cử, và bộ máy hành chính chỉ gồm các quan chức chính phủ. Các cuộc bầu cử trực tiếp được tổ chức cho mỗi cộng đồng (hay phường), lựa ra một chủ tịch và một số thành viên. Năm 1997, một đạo luật được thông qua tại quốc hội quy định dành ra 3 ghế (trong số 12 ghế) tại tất cả các cộng đồng cho các ứng cử viên nữ. Dhaka là thủ đô và là thành phố lớn nhất Bangladesh. Các thành phố lớn khác gồm Chittagong, Khulna, Rajshahi, Barisal và Sylhet. Các thành phố đô thị đó có các cuộc bầu cử thị trưởng, trong khi các vùng đô thị khác chỉ bầu một vị chủ tịch. Các vị thị trưởng và chủ tịch được bầu với nhiệm kỳ 5 năm. == Tham khảo ==
dân chủ nghị viện.txt
Hệ thống nghị viện, hay còn gọi là chế độ nghị viện, được phân biệt bởi phân nhánh hành pháp của chính phủ nơi phụ thuộc vào hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp của nghị viện, và thường được thể hiện thông qua cuộc bỏ phiểu tín nhiệm. Hệ thống nghị viện thường có sự phân biệt rõ ràng giữa người đứng đầu chính phủ và nguyên thủ quốc gia. Người đứng đầu chính phủ là thủ tướng, và nguyên thủ quốc gia thường là người được chỉ định chỉ có danh nghĩa hay được thừa kế có quyền rất giới hạn. Tuy nhiên, một số hệ thống nghị viện cũng có tổng thống đứng đầu nhà nước được bầu ra có quyền hạn hạn chế để cân bằng hệ thống này (được gọi là cộng hòa nghị viện). Theo một quy luật chung, chế độ quân chủ lập hiến cũng có hệ thống nghị viện. Thuật ngữ "hệ thống nghị viện" không có nghĩa là một quốc gia nào đó được điều hành bởi chính phủ liên hiệp gồm các đảng khác nhau. Sự sắp xếp đa đảng như vậy thường là kết quả của hệ thống bầu cử và được biết đến với tên "đại diện tỷ lệ". Các quốc gia sử dụng luật bầu cử thắng với đa số tương đối (first past the post) thường có chính phủ chỉ gồm một đảng. Tuy nhiên, hệ thống nghị viện ở Âu châu đại lục lại dùng đại diện tỷ lệ, và có khuynh hướng cho ra kết quả bầu cử không có đảng đơn nào có đa số ghế. Chế độ nghị viện có thể cũng được chú ý trong việc quản lý ở chính quyền địa phương. Ví dụ ở thành phố Oslo, hội đồng hành pháp có một phần trong hệ thống nghị viện. Hệ thống ban quản trị hội đồng của chính quyền địa phương ở các thành phố của Mỹ có nhiều điểm tương đồng với hệ thống nghị viện. == Thể loại == Có hai loại Chế độ Nghị viện phổ biến. Hệ thống Westminster, hay Mô hình Westminster, thường được tìm thấy ở các nước thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh mặc dù nó không phổ biến trong khối đó. Các nghị viện này thường có nhiều hình thức tranh luận hơn và các phiên họp toàn thể tương đối quan trọng hơn so với các phiên họp của ủy ban. Một số nghị viện theo hình thức này được bầu theo hình thức bầu cử thắng với đa số tương đối (First Past the Post) như Canada, Ấn Độ và Anh. Một số khác theo đại diện tỷ lệ như Ireland và New Zealand. Hạ nghị viện Úc được bầu thông qua cuộc bỏ phiếu lựa chọn hoặc ưu tiên ("cử tri đánh số ưu tiên chọn lựa trên các ứng viên") trong khi Thượng nghị viện được bầu theo hình thức mỗi tiểu bang có 12 nghị sĩ và mỗi vùng lãnh thổ có 2 nghị sĩ. Tuy nhiên, ngay cả khi dùng đại diện tỉ lệ, mô hình này có khuynh hướng cho phép cử tri bầu cho những ứng cử viên được nêu tên hơn là cho người trong đảng. Mô hình này cũng tạo ra sự phân chia quyền hành lớn hơn mô hình Tây Âu mặc dầu phạm vi của sự phân chia đó không lớn như ở Mỹ. Mô hình Nghị viện Tây Âu (như tại Tây Ban Nha, Đức) có một hệ thống tranh luận liên ứng hơn, và cũng có (lưỡng) viện có tranh luận bán chu kỳ. Ở đây, hệ thống bầu cử tỷ lệ được sử dụng và danh sách các đảng được dùng nhiều hơn mô hình Westminster. Mô hình này đôi lúc còn được gọi là Mô hình Tây Đức vì trước đây nó được dùng ở Tây Đức và sau này là nước Đức thống nhất. Ngoài ra, cũng tồn tại một mô hình lai từ cả hai hệ thống nghị viện và tổng thống như Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp. Nhiều quốc gia Đông Âu đã theo mô hình này từ đầu thập niên 1990. == Ưu điểm của chế độ nghị viện == Một số người tin rằng ở chế độ nghị viện thì dễ thông qua luật hơn bởi vì bộ phận hành pháp phụ thuộc vào sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp của bộ phận lập pháp và nó cũng thường bao gồm các thành viên của cơ quan lập pháp. Trong hệ thống có tổng thống, bộ phận hành pháp thường được chọn lựa độc lập đối với bộ phận lập pháp. Nếu bộ phận hành pháp và lập pháp trong hệ thống này bao gồm toàn bộ hay phần lớn các thành viên đến từ các đảng khác nhau thì bế tắc có thể xảy ra. Thêm vào đó, để đẩy nhanh các hành động lập pháp, chế độ nghị viện còn có những đặc điểm hấp dẫn cho các quốc gia bị chia rẽ về dân tộc, chủng tộc, hay ý thức hệ. Nghiên cứu gần đây của Ngân hàng Thế giới cho thấy rằng chế độ nghị viện ít bị tham nhũng hơn.[1] == Các chỉ trích về chế độ nghị viện == Một chỉ trích chính về nhiều hệ thống nghị viện là người đứng đầu chính phủ trong nhiều trường hợp không phải được bầu ra trực tiếp. Đôi khi cử tri ngạc nhiên vì người được đưa lên làm thủ tướng. Trong hệ thống tổng thống, tổng thống được cử tri hoặc những người dự đại hội đại biểu cử tri bầu ra trực tiếp riêng rẽ với bộ phận hành pháp. Thế nhưng, trong hệ thống nghị viện, thủ tướng lại được bầu từ bộ phận hành pháp và thường chịu ảnh hưởng lớn từ lãnh đạo đảng. Một chỉ trích chính khác về hệ thống nghị viện nằm ngay trong tính ưu việt của nó: không có hội đồng độc lập thực sự để phản đối hay phủ quyết nghị viện thông qua luật, và chính vì thế cũng không có quyền kiểm tra thực tế quyền lập pháp. Ngược lại, vì thiếu sự phân chia quyền lực vốn có, một số người cho rằng hệ thống nghị viện đặt quyền lực quá nhiều ở bộ phận hành pháp, dẫn đến việc người ta có cảm giác rằng bộ phận lập pháp hay bộ phận tư pháp có ít cơ hội thi hành việc kiểm tra hay cân bằng ở bộ phận hành pháp. == Chế độ nghị viện và hình thức thành lập đảng == Các đảng trong hệ thống nghị viện có kết dính về ý thức hệ chặt chẽ hơn nhiều so với các đảng trong hệ thống tổng thống. Một hệ thống nghị viện khó có thể có được một đảng giống như Đảng Dân chủ Mỹ, một đảng mà mãi cho tới những năm 1980 vẫn là một liên minh không có ý thức hệ thống nhất nào của những người theo đạo Tin lành bảo thủ miền Nam ('Dixiecrats') và những người theo chủ nghĩa tự do ở thành thị. Trong một hệ thống nghị viện, một đảng như vậy sẽ bị phân chia ra và điều này dẫn đến việc điều hành một chính phủ sẽ không hiệu quả. Mặc dù có bị phân chia ra, các đảng có thể liên kết với nhau để trở thành chính phủ liên hiệp. Hình thức chính phủ này thường được so sánh với hệ thống tổng thống. == Các quốc gia theo chế độ nghị viện == === Hệ thống độc viện === Bảng này gồm các quốc gia chỉ có một viện lập pháp. === Hệ thống lưỡng viện === Bảng này gồm các quốc gia có hai viện lập pháp (thượng viện và hạ viện.) == Ghi chú ==
đá mắt hổ.txt
Đá mắt hổ còn gọi là mắt hổ, đó là một loại đá chatoyant, nó là một loại đá vô định hình có màu vàng tới màu đỏ nâu mà có hiệu ứng ánh sáng. Là loại trong nhóm đá có cấu trúc tinh thể, trong thành phần của nó có các đơn tinh thể được thay thế bởi các sợi silica lên nó có sắc tố xanh. Một loại biến thể khác của loại đá này là dạng đá mắt hổ Hawk khi thiếu các hiệu ứng màu xanh. Đá mắt hổ vàng là đá có thành phần chủ yếu trong loại đá mắt hổ, màu đỏ do thành phần của loại đá mềm họ chalcedony và màu đen do chứa sắt dạng hematite. Các khối thành phần trong đá phản chiếu ánh sáng và màu sắc tạo ra hiệu ứng đẹp giống như mắt con hổ. Mắt hổ vàng phân bố rất phổ biến và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như làm vòng đá quý. Đá mắt hổ vàng được khai thác chủ yếu ở Nam Phi và phía Đông của châu Úc. Trong thành phẩn đá có chứa nhiều SiO2 và các nguyên tố tạo ra màu sắc của ion sắt. Tỷ trong của đá khoảng 2,64 tới 2,71 g/cm3. Nó được hình thành bởi sự tích tụ của các sợi khoảng sodium silica và nguyên tố sắt. Với hiệu ứng mắt hổ đẹp và tự nhiên nên loại đá này được sử dụng chủ yếu làm trang sức, vòng tay đá và làm các vật dụng trang trí. == Tham khảo ==
tài khoản (kế toán).txt
Trong kế toán, một tài khoản là một nhãn dùng để ghi chép lại và báo cáo về số lượng của gần như bất cứ thứ gì có giá trị bằng tiền trong doanh nghiệp. Thông thường nó là một bản ghi số tiền sở hữu hoặc nợ đối với một đối tượng cụ thể, hoặc được phân phối cho một mục đích đặc thù. Nó đại diện cho một số tiền thực tế nắm giữ hoặc đại diện cho một số lước lượng về giá trị tài sản, hoặc kết hợp những điều trên. == Các loại tài khoản == Tài khoản Tài sản: Đại diện cho các nguồn lực kinh tế khác nhau mà doanh nghiệp sở hữu. Ví dụ như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, nhà cửa, kho bãi, khoản phải thu,... Tài sản ngắn hạn (tài khoản loại 1). Tài sản dài hạn (tài khoản loại 2). Tài khoản Nợ (nợ phải trả - tài khoản loại 3): Đại diện cho các loại nợ khác nhau của doanh nghiệp. Ví dụ như khoản phải trả, khoản vay, lãi phải trả,... Tài khoản Vốn chủ sở hữu (tài khoản loại 4): Đại diện vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp đã góp sau khi trừ hết các khoản nợ trong tài sản, bao gồm cả lợi nhuận giữ lại và khoản dự phòng. Tài khoản Doanh thu (tài khoản loại 5): Đại diện cho khoản thu của doanh nghiệp. Ví dụ như doanh thu, doanh thu dịch vụ, tiền lãi nhận được,... Tài khoản Chi phí (chi phí sản xuất kinh doanh - tài khoản loại 6): Đại diện cho các khoản chi của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Ví dụ như tiền điện, tiền nước, tiền thuê văn phòng, khấu hao, lãi vay, bảo hiểm,... Tài khoản Thu nhập khác (tài khoản loại 7). Tài khoản Chi phí khác (tài khoản loại 8). Xác định kết quả sản xuất kinh doanh (tài khoản loại 9). Tài khoản ngoài bảng (tài khoản loại 0) Tài khoản đại diện cho các giao dịch tài chính và phi tài chính của một doanh nghiệp, để xác định kết quả đầu tư của nhà đầu tư. == Xem thêm == Kế toán Kế toán đơn Kế toán kép Bảng tài khoản == Tham khảo == Hệ thống tài khoản mới nhất công bố theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC == Liên kết ngoài ==
nhà mạc.txt
Nhà Mạc (chữ Hán: 莫朝 / Mạc triều) là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Mạc Đăng Dung, sau khi dẹp được các bè phái trong cung đình, đã ép vua Lê Cung Hoàng nhà Hậu Lê nhường ngôi tháng 6 năm 1527 và chấm dứt khi vua Mạc Mậu Hợp bị quân đội Lê-Trịnh do Trịnh Tùng chỉ huy đánh bại vào cuối năm 1592– tổng cộng thời gian tồn tại chính thức của triều đại là gần 66 năm. Tuy nhiên, giai đoạn sau đó hậu duệ nhà Mạc như Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Vũ vẫn còn tiếp tục chống lại nhà Hậu Lê thời kỳ trung hưng đến tận năm 1677 tại khu vực Cao Bằng. Thời kỳ 1533-1592 trong lịch sử Việt Nam còn được gọi là thời kỳ Nam-Bắc triều, do chính quyền nhà Mạc chỉ thực sự có quyền lực từ địa phận Ninh Bình ngày nay trở ra, còn từ Thanh Hóa trở vào là thế lực lấy danh nghĩa gây dựng lại nhà Lê từ năm 1533. == Nội chiến Lê-Mạc == Bài chính: Chiến tranh Lê-Mạc. Sau khi nhà Mạc nắm quyền, đã có một số hoạt động chống đối như cầu viện nhà Minh hoặc nổi dậy nhưng đều không thành. Chỉ đến khi nhà Hậu Lê tái lập thì chiến tranh quy mô mới thực sự bắt đầu. === Nguyễn Kim khởi nghĩa, họ Vũ cát cứ === Năm 1529, một võ tướng cũ của nhà Lê là Nguyễn Kim không thần phục nhà Mạc, bỏ chạy vào miền núi Thanh Hoá và sang Ai Lao (Lào), tập hợp lực lượng chống nhà Mạc. Năm 1533, Nguyễn Kim tìm một người tên là Lê Duy Ninh là con của vua Lê Chiêu Tông đưa lên ngôi trên đất Sầm Châu (Ai Lao), tức là vua Lê Trang Tông. Tuy nhiên các nhà sử học nghi ngờ Duy Ninh không phải là con của vua Chiêu Tông vì tuổi của Duy Ninh và Lê Chiêu Tông chênh nhau quá ít Từ khi Trang Tông lên ngôi, nhiều sĩ phu, tướng lĩnh bắt đầu tập hợp bên Nguyễn Kim để chống nhà Mạc. Năm 1540, Mạc Thái Tông chết. Thượng hoàng Mạc Đăng Dung lập cháu nội là Mạc Phúc Hải lên ngôi, tức là Mạc Hiến Tông. Năm sau, thượng hoàng Đăng Dung chết. Năm 1543, quân nhà Lê về nước đánh chiếm Tây đô (Thanh Hoá). Hoạn quan nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu hàng. Năm 1545, Chấp Nhất dâng dưa độc cho Nguyễn Kim, Kim ăn vào chết. Chấp Nhất bỏ trốn về nhà Mạc. Con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay cầm quyền chỉ huy quân đội. Ở phía tây bắc, vùng Hưng Hoá (Tuyên Quang), anh em Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên (Chúa Bầu) là thủ lĩnh trong vùng cát cứ không thần phục nhà Mạc. Nhà Mạc vài lần mang quân đánh nhưng không diệt được họ Vũ, sau lại phải đối phó với nhiều biến cố khác nên buộc phải để họ Vũ cát cứ. Họ Vũ sai người liên lạc theo về nhà Lê trung hưng. === Phụ chính Mạc Kính Điển === Năm 1546, Mạc Hiến Tông chết, con là Mạc Phúc Nguyên còn nhỏ lên thay, tức là Mạc Tuyên Tông, chú là Khiêm vương Mạc Kính Điển làm phụ chính. Trong triều xảy ra biến loạn. Tướng Phạm Tử Nghi muốn lập con Mạc Thái Tổ là Hoằng vương Mạc Chính Trung đã trưởng thành nhưng không được nên cùng Chính Trung khởi binh nổi loạn. Phạm Tử Nghi nhiều lần muốn đánh chiếm Đông Kinh không thành, bèn đem Chính Trung ra chiếm cứ Yên Quảng (Quảng Ninh), cướp phá Hải Dương và đánh phá sang Trung Quốc khiến nhà Minh lo ngại. Đến năm 1551 Mạc Kính Điển dẹp được Phạm Tử Nghi. Tử Nghi bị chém, Chính Trung bỏ chạy và bị giết. Có thuyết nói Tử Nghi chết về tay người Minh. Năm 1550, Thái tể Lê Bá Ly quyền thế quá lớn, có phần hống hách, hai sủng thần là Phạm Quỳnh, Phạm Dao cậy thế vua Mạc vây đánh. Bá Ly cùng thông gia là Nguyễn Thiến mang gia quyến gồm các tướng Nguyễn Quyện, Nguyễn Khải Khang, Lê Khắc Thận chạy vào Thanh Hóa hàng theo nhà Lê. Tuy nhiên sau vài năm, khi Nguyễn Thiến và Lê Bá Ly chết, các con là Nguyễn Quyện, Lê Khắc Thận lại về theo nhà Mạc và Nguyễn Quyện trở thành danh tướng nhà Mạc. Năm 1562, Mạc Tuyên tông mất, con là Mạc Mậu Hợp mới 2 tuổi lên nối ngôi. Việc chính sự đều do Khiêm vương Kính Điển điều hành. Bấy giờ nhà Lê chiếm lại được Thanh Hóa và Nghệ An. Năm 1558, con thứ Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh Kiểm hại như anh cả Nguyễn Uông nên xin vào trấn thủ Thuận Hoá. Năm 1570, Trịnh Kiểm lại giao cho Hoàng trấn thủ nốt Quảng Nam. Năm 1572, Hoàng dùng kế giết được tướng Mạc là Mạc Lập Bạo vào đánh. Nhà Mạc mất hẳn phía nam và chỉ còn kiểm soát Bắc Bộ. Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, hai con Trịnh Cối, Trịnh Tùng tranh ngôi. Trịnh Cối thua phải sang đầu hàng nhà Mạc. Tuy nhiên Trịnh Tùng là người thay thế xứng đáng của Trịnh Kiểm nên vẫn duy trì được thế cân bằng với nhà Mạc. Trong suốt những năm 1545-1580 là giai đoạn hai bên giằng co, khi thì Trịnh Kiểm và sau này là Trịnh Tùng dẫn quân ra đánh Sơn Nam, Ninh Bình, Sơn Tây, Thăng Long, khi thì Mạc Kính Điển cho quân tấn công Thanh Hóa - Nghệ An. Mạc Kính Điển nhiều lần phải mang vua Mạc qua sông tránh sang Kim Thành (Hải Dương) nhưng quân Lê vẫn không vào được Thăng Long. Hai bên khi được khi thua. Cuộc chiến giằng co nổi lên tên tuổi các tướng Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu bên Lê, Nguyễn Quyện bên Mạc. Tháng 10 năm 1580, Mạc Kính Điển mất, em là Mạc Đôn Nhượng lên thay làm phụ chính. Lực lượng quân đội nhà Mạc suy yếu đi nhiều vì thiếu đi người chỉ huy có tầm cỡ và uy tín. === Mất Thăng Long === Mạc Mậu Hợp từ nhỏ lên ngôi, khi lớn vẫn dựa vào các hoàng cha chính, không chú trọng việc chính sự. Sau khi Mạc Kính Điển chết, việc trong ngoài đều trông chờ vào Mạc Đôn Nhượng cùng các tướng Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn, Bùi Văn Khuê. Uy thế quân Mạc suy sút nhiều và thường bị thua trận. Năm 1591, Trịnh Tùng đem quân bắc tiến áp sát thành Thăng Long. Đầu năm 1592, Mạc Mậu Hợp chạy sang Gia Lâm, thống suất thủy quân để làm thanh thế trên sông Nhị Hà cho các tướng giữ thành Thăng Long. Trịnh Tùng thúc quân tổng tiến công. Các tướng Mạc Ngọc Liễn, Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên tan vỡ bỏ chạy. Phục binh của Nguyễn Quyện ở cầu Dền không kịp nổi dậy đã bị giết. Nguyễn Quyện bị bắt, hai con tử trận. Quân Mạc chết rất nhiều. Trịnh Tùng rút quân chủ lực về. Mạc Mậu Hợp thu tàn quân án ngữ sông Nhị Hà, lại ham sắc đẹp của vợ tướng Bùi Văn Khuê là Nguyễn thị Niên nên muốn giết Khuê. Tháng 8 năm 1592, Khuê biết chuyện bèn đem quân hàng Lê, hợp binh với Trịnh Tùng đại phá quân Mạc. Tháng 11 năm 1592, Trịnh Tùng lại tiến đánh Thăng Long. Mậu Hợp thua chạy về Kim Thành (Hải Dương). Thấy thế nguy cấp, Mậu Hợp lập con là Toàn lên ngôi, tự mình làm tướng thống suất quân đội. Sau các cuộc chiến đẫm máu tại khu vực các phủ Nam Sách, Hạ Hồng, Kinh Môn trong tháng 11 và 12 thì quân đội nhà Mạc chịu tổn thất cực kỳ nặng nề. Mạc Mậu Hợp phải bỏ trốn đến huyện Phượng Nhãn, bị bắt sống sau đó ít ngày và bị hành hình. === Tàn dư === Dù Mạc Mậu Hợp và sau đó là Mạc Toàn bị bắt và bị giết thì thế lực của nhà Mạc chưa bị tiêu diệt hết. Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, cho đến đầu thế kỷ 17 thì các vùng như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng vẫn thuộc quyền quản lý của nhiều người như Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan là thân thuộc của nhà Mạc (thuộc chi Mạc Kính Điển). Tại các khu vực này chiến trận vẫn tiếp diễn trong nhiều năm và nhân dân vẫn tiếp tục chịu cảnh lầm than, đồng ruộng bị bỏ hoang. Nhà Minh, vì muốn duy trì thế Nam Bắc triều ở Việt Nam có lợi cho họ nên can thiệp để họ Mạc được cát cứ ở Cao Bằng. Khi nhà Minh mất (1644), các vua Nam Minh - tàn dư nhà Minh - vẫn ủng hộ họ Mạc. Họ Mạc nối nhau trấn giữ ở đây trong nhiều năm, đến con Kính Khoan là Kính Vũ. Mãi đến khi nhà Minh mất hẳn (1662) về tay nhà Thanh, họ Trịnh mới ra tay dẹp họ Mạc. Tới năm 1677, việc trấn giữ Cao Bằng của họ Mạc mới chấm dứt. Những người họ Mạc bị đổi sang họ khác. Về sau, nhân khi chính sự Đàng Ngoài dưới thời Trịnh Giang rối ren, năm 1739, hậu duệ của họ Mạc là Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển lại nổi dậy khởi nghĩa chống Trịnh trong vài năm. === Thành nhà Mạc === Thành Nhà Mạc Lạng Sơn hiện nằm trong khu vực phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, dấu tích còn lại gồm 2 đoạn tường xây bằng đá giữa hẻm núi. Hiện nay di tích thành Nhà Mạc ở Lạng Sơn đã được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia và được đầu tư, tôn tạo đưa vào phục vụ du khách du lịch tham quan. Thành nhà Mạc nằm ở trung tâm thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang hiện nay. Theo sử sách ghi lại thành được xây vào năm 1592 đời nhà Mạc, và được sửa chữa vào thời đầu nhà Nguyễn (thế kỷ 19). Thành được xây theo kiểu hình vuông, mỗi cạnh dài 275m, cao 3,5m và dày 0,8m; mỗi mặt thành có một cửa hình bán nguyệt với kiến trúc theo lối phòng thủ quân sự.. Thành đã được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia và đang có nguy cơ xóa sổ. Thành nhà Mạc ở tỉnh Cao Bằng là thành Nà Lự: khi nhà Mạc chạy lên Cao Bằng (1594-1677), trong 83 năm, ba đời vua Mạc đóng đô ở Cao Bình đã cho tu sửa, xây thành cao lên, có cổng thành kiên cố để phòng thủ, đề phòng triều đình vua Lê – chúa Trịnh lên thôn tính. Nhưng có khả năng thành này xây từ nhà Đường 618-802. Thành nhà Mạc ở tỉnh Ninh Bình là thành Bình Sơn, thuộc xã Mai Sơn, Yên Mô, Ninh Bình. Thành hiện còn đoạn dài khoảng 1 km, gần quốc lộ 1A. Gần thành nhà Mạc là tuyến sông Nhà Mạc và nhiều di tích thời Mạc ở Ninh Bình. Ở xã Cao Xá, Lâm Thao, Phú Thọ nhân dân vẫn truyền tục câu nói: "Hăm mốt tháng chạp, gió đổ thành Mạc. Hăm hai tháng chạp, gió đổ thành Dung" để nói về thành Nhà Mạc xây dựng dở chừng thì bị mưa bão làm sụp đổ không thể xây dựng thành Thành được. Hiện nay, thường thường hàng năm vào những ngày "hăm mốt, hăm hai tháng chạp" ở Cao Xá vẫn thường có mưa bão. "Đầu Thành" là từ địa phương ở Cao Xá vẫn dùng để nói về địa điểm đoạn đầu thành Nhà Mạc xây ở thôn Dục Mỹ. Hiện nay các dấu tích của Thành Nhà Mạc ở Cao Xá hầu như không còn vì một thời kỳ nhân dân ở đây khai thác đất làm đường sá, xây dựng nhà ở. == Ngoại giao == === Giai đoạn 1528-1541 === Rút kinh nghiệm từ thất bại của nhà Hồ do việc cướp ngôi nhà Trần, ngay sau khi giành ngôi nhà Lê, Mạc Thái Tổ đã chủ động tìm giải pháp thương lượng với nhà Minh. Tháng 2 năm 1528, ông sai sứ sang nhà Minh "xin được tạm coi việc nước vì con cháu họ Lê không còn ai thừa tự". Nhà Minh tạm thời chưa có phản ứng nào đáng kể vì nội bộ cũng chưa hoàn toàn nhất trí về cách phản ứng với tình hình Đại Việt. Ngoài việc đi sứ, Mạc Thái Tổ còn sai người đút lót, tranh thủ sự đồng tình của các quan vùng biên giới của nhà Minh. Năm 1529, anh em Trịnh Ngung, Trịnh Ngang sang tố cáo nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê và cầu viện nhà Minh nhưng bị sự ngăn cản của các quan trấn thủ vùng biên của nhà Minh, do đó ý định của hai anh em họ Trịnh không thực hiện được. Sau khi lập lập Lê Trang Tông lên ngôi, Nguyễn Kim sai Trịnh Duy Liêu vượt biển sang Trung Quốc xin cầu viện nhà Minh đánh nhà Mạc. Chúa Bầu Vũ Văn Uyên ở Tuyên Quang cũng sai người sang tố cáo việc nhà Mạc cướp ngôi. Năm 1537, Minh Thế Tông giao quân cho Mao Bá Ôn chuẩn bị tiến xuống phía nam. Nhà Mạc ở vào tình thế "lưỡng đầu thọ địch". Các nhà sử học đánh giá rằng: trên thực tế, Minh Thế Tông không hoàn toàn có ý định dụng binh đánh Đại Việt vì ở Trung Quốc khi đó cũng gặp những khó khăn: một số khởi nghĩa nông dân nổ ra ở Hoa Bắc, "nuỵ khấu" người Nhật gây rối dọc vùng ven biển Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, được sự thông đồng của các phú thương người Hoa vừa buôn bán vừa cướp bóc; người Bồ Đào Nha bắt đầu nhòm ngó Áo Môn. Chính vì vậy, vua Minh theo chủ trương phô trương thanh thế bên ngoài, kích động cuộc nội chiến giữa nhà Hậu Lê và nhà Mạc và ép nhà Mạc hàng phục. Ý định chống cự quân Minh của nhà Mạc sớm tiêu tan vì không hề nắm bắt được những khó khăn mà nhà Minh đang phải đương đầu. Tháng 2 năm 1539, nhà Mạc dâng biểu sang nhà Minh xin hàng. Nhà Minh sai Mao Bá Ôn và Cừu Loan tiến áp sát biên giới, lấy danh nghĩa chỉ nhằm trừng phạt cha con Mạc Đăng Dung nhằm phân hoá người Đại Việt. Để tránh đổ máu, Mạc Đăng Dung chấp nhận đầu hàng. Ngày 3 tháng 11 âm lịch năm 1540, Mạc Đăng Dung cùng các bầy tôi Nguyễn Như Quế, Đỗ Thế Khanh, Đặng Văn Trị lên cửa ải. Ông tự trói mình đến dâng biểu xin hàng quân Minh. Trong biểu xin hàng, Mạc Đăng Dung nhấn mạnh 3 vấn đề: Thoái thác việc họ Mạc sang Yên Kinh (Bắc Kinh) Giao nộp đất, gồm 2 đô Như Tích, Chiêm Lãng và 4 động Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát Xin ấn tín để được thừa nhận sự cai trị ở An Nam. Mao Bá Ôn và Cừu Loan nhận biểu của Mạc Đăng Dung bèn lui binh, tâu lên Minh Thế Tông. Vua Minh hạ lệnh: Lệnh cho Phiên ty Quảng Tây hằng năm cấp lịch Đại Thống cho nhà Mạc, quy định lệ 3 năm cống 1 lần Nhận và nhập 2 đô Như Tích, Chiêm Lãng và 4 động Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát vào Khâm châu của Trung Quốc Hạ An Nam quốc xuống An Nam Đô thống sứ ty, đúc ấn và ban cho nhà Mạc. Tuy nhiên sau này ấn của nhà Minh mang sang thì Mạc Thái Tổ đã qua đời, Mạc Hiến Tông tiếp nhận. === Giai đoạn 1542-1592 === Tuy đạt được mục tiêu bảo vệ toàn vẹn quốc gia, nhưng về mặt ngoại giao, vị thế của nhà Mạc so với các triều trước không bằng: danh hiệu Đô thống sứ ty là vị thế nội thần chứ không phải ngoại thần. Sang thời Mạc Mậu Hợp, thái bảo Giáp Trưng từng dâng sớ xin triều đình bàn lại vì "việc đó là nhục nước". Tuy nhiên sau khi bàn luận, Mạc Mậu Hợp do dự không quyết định. Năm 1542 bắt đầu đánh dấu mốc bình thường hoá trong quan hệ Mạc-Minh. Đồ tiến cống từ giữa thời Mạc đổi ra lư hương, bình hoa bằng vàng bạc, nặng bằng người vàng. Năm 1548, đoàn sứ do Lê Quang Bí dẫn đầu sang cầu phong cho vua mới là Mạc Tuyên Tông bị nghi ngờ giả mạo đã bị giữ lại. Lê Quang Bí bị giữ tới 19 năm tại Trung Quốc, năm 1566 mới được trở về. Khi đó Tuyên Tông đã mất, vua mới là Mạc Mậu Hợp khen ngợi và phong làm Tô quận công, ví như Tô Vũ nhà Hán đi sứ Hung Nô. Thời Mạc Mậu Hợp, nhà Mạc đã suy yếu, thường thất thế trước quân Nam triều nhà Lê. Nhà Mạc dùng chính sách tăng cường ngoại giao, cống nạp cho nhà Minh để tranh thủ sự ủng hộ khi bị thất thế, duy trì lệ tiến cống 6 năm 1 lần. Năm 1592, họ Mạc rút chạy lên Cao Bằng. Nhà Hậu Lê xin cầu phong của nhà Minh. Sau lần hội khám năm 1597, nhà Minh vẫn chỉ phong cho Lê Thế Tông làm An Nam đô thống sứ ty như phong cho nhà Mạc trước đây. Đồng thời, nhà Minh dùng uy thế "thiên triều" ép họ Trịnh cắt đất Cao Bằng cho họ Mạc cát cứ trong nhiều năm, tới năm 1677 mới chấm dứt. == Tổ chức quân đội == Nhà Mạc rất chú trọng xây dựng lực lượng quân đội đủ mạnh để bảo vệ chính quyền. Trong cả nước, quân đội nhà Mạc được chia ra 4 vệ: Binh lính Hải Dương thuộc vệ Hưng Quốc Binh lính Kinh Bắc thuộc vệ Kim Ngô Binh lính Sơn Tây thuộc vệ Cẩm Y Binh lính Sơn Nam thuộc vệ Chiêu Vũ Toàn bộ quân đội nhà Mạc lúc đông đảo nhất có 12 vạn quân. Để khuyến khích tinh thần chiến đấu của quân sĩ trong thời chiến, nhà Mạc có những ưu đãi cho lực lượng quân đội. Chính sách này đã giúp nhà Mạc tạo nên một đội ngũ quân sĩ khá đông đảo và trung thành để bảo vệ quyền lợi triều đình. == Kinh tế == Mạc Thái Tổ đã đưa ra một số quy chế về ruộng đất bao gồm: binh điền, lộc điền, quân điền, dựa trên các quy chế đã có từ thời Hồng Đức (Lê Thánh Tông) hay việc cho đúc tiền Thông Bảo. Thời kỳ Mạc Thái Tông trị vì có thể coi là thời kỳ đỉnh cao của nhà Mạc. Lúc đó nhà Lê chưa trung hưng, toàn cõi do nhà Mạc cai quản, cảnh thịnh trị được các sử gia nhà Lê - triều đại đối địch với nhà Mạc - soạn Đại Việt sử ký toàn thư, phải ghi nhận: "đêm ngủ không đóng cửa, ngoài đường không ai nhặt của rơi". Nhưng từ khi Nguyễn Kim nổi dậy, chiến tranh nổ ra, đất nước bị tàn phá, kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chiến tranh liên miên đã làm cho đời sống của người dân trở nên đói nghèo hơn. Ví dụ năm 1572, sau khi nhiều phen bị nạn binh đao thì tại Nghệ An lại phát dịch. Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục có viết rằng: Các huyện, đồng ruộng bỏ hoang nhân dân đói khổ. Dịch lệ lại phát sinh, người chết đến quá nửa. Nhân dân xiêu giạt, hoặc tan tác vào Nam, ra Bắc. Trong cõi Nghệ An đìu hiu vắng tanh. Nhìn tổng thể, nhà Mạc có tư duy kinh tế cởi mở, sớm nhìn thấy xu thế tiến bộ của thủ công nghiệp, thương mại và kinh tế hàng hóa; điều đó khác hẳn với chính sách bảo thủ của nhà Lê. Nhà Mạc cai trị trong 65 năm đã đưa vùng đông bắc giàu mạnh lên, về ngoại thương đã vươn tới thị trường các nước châu Á. Tuy nhiên, kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp theo phương thức tiểu nông, tàn dư của phương thức sản xuất Á Đông cùng chế độ gia trưởng với nền kinh tế manh mún, khiến mầm mống tư bản chủ nghĩa chớm nảy sinh đã không phát triển được. == Văn học nghệ thuật == Văn học nhà Mạc chia làm 3 thể loại chính: Hiến chương: tiêu biểu là Giáp Hải (tác phẩm Ứng đáp bang giao) Thơ ca: tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nhậm Đại, Nguyễn Giản Thanh, Phạm Thiện, Hoàng Sĩ Khải, Nguyễn Hàng. Thể loại thơ vịnh thời Mạc khá phát triển với những chủ đề mới, thay cho thể loại ca tụng triều đình phổ biến dưới triều Lê Thánh Tông là mảng thơ phú điền viên, ẩn dật với thiên nhiên. Truyện ký: tiêu biểu là Dương Văn An (tác phẩm Ô châu cận lục) và Nguyễn Dữ (tác phẩm Truyền kỳ mạn lục). Nghệ thuật thời Mạc chủ yếu là trong lĩnh vực kiến trúc và trang trí, thể hiện ở những công trình xây dựng trong cung đình, chùa chiền và tại các làng xã. Công trình cung đình quan trọng thời Mạc chủ yếu ở Dương Kinh ([di tích hiện tại ở Cổ Trai, huyện Kiến Thụy, Thành phố Hải Phòng) – quê hương nhà Mạc như điện Phúc Huy, điện Hưng Quốc, điện Sùng Đức. Công trình xây và tu bổ chùa thời Mạc tại các địa phương gồm có: Hải Phòng 27 chùa; Hải Dương và Hưng Yên 36 chùa; Hà Tây cũ 28 chùa. Từ thời Mạc, đình làng được dùng làm nơi sinh hoạt cộng đồng làng xã. Hai ngôi đình nổi tiếng nhất thời kỳ này là đình Đông Lỗ và đình Tây Đằng. Nghệ thuật kiến trúc và trang trí thời Mạc được đánh giá là đã tạo một bước ngoặt lớn trong lịch sử nghệ thuật Việt Nam. == Tôn giáo tín ngưỡng == Nhà Mạc vẫn theo pháp độ cũ của nhà Lê từ hệ tư tưởng đến mô hình thiết chế nhà nước, lấy Tống nho làm tư tưởng cai trị chính, tuy nhiên không hạn chế các tôn giáo khác như đạo Phật, đạo Giáo như nhà Lê Sơ. Các quan lại và người trong hoàng tộc nhà Mạc đã cúng tiến nhiều đất cho nhà chùa và xây cất, tu bổ nhiều chùa. Việc truyền đạo Thiên chúa vào Đại Việt bắt đầu được xúc tiến từ năm 1533 thời Mạc Hiến Tông nhưng chưa thu được kết quả. Năm 1581 thời Mạc Mậu Hợp, các nhà truyền giáo lại đến, nhưng vì ngôn ngữ bất đồng nên cuối cùng giáo đoàn phải trở về Ma Cao. == Thi cử và chính sách dùng người == === Thi cử === Nhà Mạc rất chú trọng tới nhân tài từ tuyển chọn qua đường thi cử. Tuy chiến tranh, nhưng nhà Mạc cũng chú ý đào tạo và xây dựng hệ thống quan lại thông qua 22 kỳ khoa cử với chu kỳ ba năm một lần, bắt đầu từ năm 1529 và chấm dứt năm 1592. Chẳng hạn năm 1535, nhà Mạc mở khoa thi Hội, lấy Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bùi Khắc Đốc, Nguyễn Thừa Hưu đỗ tiến sĩ cập đệ; Nguyễn Di Lượng cùng 6 người khác đỗ tiến sĩ xuất thân; Nguyễn Trùng Quang cùng 21 người khác đỗ đồng tiến sĩ xuất thân. Một ghi nhận nữa là tận năm 1592, khi chiến sự bên bờ nam sông Hồng diễn ra ác liệt trước cuộc tổng tấn công của quân Lê Trịnh, vua Mạc Mậu Hợp vẫn tổ chức thi ở Bồ Đề bên kia sông theo đúng định kỳ để lấy được 18 tiến sĩ. Trong 65 năm tồn tại ở Thăng Long, nhà Mạc mở 21 kỳ thi Hội, lấy đỗ 485 Tiến sĩ và 13/46 trạng nguyên trong 800 năm thi cử Nho học thời phong kiến Việt Nam. Khi rút lên Cao Bằng, họ Mạc vẫn tổ chức thi cử để lấy người hiền tài. Có một kỳ thi người đỗ đầu là một phụ nữ tên là Nguyễn Thị Duệ tức Nguyễn thị Du Cách trân trọng nhân tài của nhà Mạc được tác giả Nguyễn Bá Trác thế kỷ 19, tác giả Hoàng Việt Giáp tý niên biểu nhắc tới mấy chữ dư âm: "Mạc thị sùng Nho" - Họ Mạc sùng đạo Nho. === Người cựu triều === Trong sách "Nhà Mạc và vấn đề nguỵ triều trong sử sách", các nhà nghiên cứu ghi nhận nhà Mạc đã mạnh dạn sử dụng quan lại cũ của nhà Lê, điển hình là 4 trạng nguyên đỗ thời Lê sơ: Nguyễn Giản Thanh, Hoàng Văn Tán, Ngô Miễn Thiệu, Trần Tất Văn. Ngoài ra, trong quá trình "bình định thiên hạ", Mạc Thái Tổ đã "thu phục" nhiều tướng lĩnh giỏi của nhà Lê như Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Vũ Hộ, Phạm Gia Mô... những người đắc lực giúp ông mở ra nhà Mạc. === Cởi bỏ thù hằn === Không chỉ dám dùng người cựu triều thù địch, nhà Mạc còn dám trọng dụng cả những người từng theo địch trở về. Điều này được các nhà chuyên môn đánh giá rất cao. Vụ ly khai của hai nhà thông gia Lê Bá Ly và Nguyễn Thiến năm 1550 kéo theo một loạt con em của hai họ này, cũng đều là đại thần nhà Mạc như Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn, Nguyễn Khải Khang, Lê Khắc Thận. Nhưng tới năm 1558, khi hai cha già họ Lê và họ Nguyễn qua đời, Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn trở về theo Mạc và được trọng dụng không chút nghi ngờ. Miễn được gả công chúa làm phò mã, Quyện trở thành cha vợ vua (Mậu Hợp) rồi sau đó liên tiếp lập công đánh bại quân Lê Trịnh, thành danh tướng Bắc triều. Kết quả đó lôi kéo Lê Khắc Thận, dù đã làm tới thái phó của Lê Trịnh vẫn vượt luỹ về Mạc năm 1572. Thật hiếm triều đại nào có chính sách dùng người cởi mở, bao dung trong thời kỳ loạn lạc như nhà Mạc, nếu so sánh những sự kiện trên với các triều đại khác. Sự bao dung của nhà Lý, nhà Trần với vài thủ lĩnh nổi dậy chỉ là cách đối phó để giữ miền biên xa xôi, không dùng với tướng sĩ "người miền xuôi" đã phản. Hậu Trần Giản Định Đế nghi ngờ Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân từng phục vụ nhà Hồ và hàng quân Minh nên giết 2 tướng giỏi; Lê Thái Tổ giết hết các người Việt từng theo phục vụ quân Minh; Lê Thánh Tông giết đại thần Lê Lăng vì từng ủng hộ Lê Khắc Xương lên ngôi... Có lẽ nhà Mạc đã học được tấm gương của Tề Hoàn Công thời Xuân Thu dám dùng Quản Trọng, dù từng có cái thù bắn tên vào đai áo. Chính sách dùng người của nhà Mạc còn được đời sau ca ngợi. Sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ cuối thời Lê trung hưng ghi: "cái đức chính của thời Minh Đức (niên hiệu của Mạc Thái Tổ) và Đại Chính (niên hiệu của Mạc Thái Tông) nhà Mạc vẫn còn cố kết ở lòng người chưa quên. Vậy nên thời vận đã về nhà Lê mà lòng người hướng theo nhà Mạc vẫn chưa hết...". == Nhận định == === Giành quyền === Nhà Hậu Lê suy thoái, triều chính rối ren đánh giết lẫn nhau, các vua quỷ Uy Mục đế, vua lợn Tương Dực đế và Chiêu Tông đều không đủ năng lực cầm quyền, các quyền thần họ Trịnh, họ Nguyễn đều chứa chấp mưu đồ riêng, nông dân nổi dậy khởi nghĩa. Mạc Đăng Dung đã xuất hiện trong bối cảnh đó và chỉ trong chưa đầy 10 năm ông đã dẹp yên tình hình nước Đại Việt. Việc nhà Mạc thay thế một nhà Hậu Lê không còn đủ năng lực và bị thiên hạ chán ghét là tất yếu của lịch sử. Nếu dòng họ Mạc không nổi dậy thì các dòng họ thế tộc khác cũng làm điều tương tự trong bối cảnh lúc đó. Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng sự thay thế nhà Lê của Mạc Đăng Dung là "hợp với đời và đạo". === Nội trị === Thời kỳ thịnh trị của Mạc Thái Tông cho thấy năng lực trị nước của nhà Mạc không kém nhà Lê. Đời sống nhân dân no đủ, xã hội ổn định, không gây những xáo trộn như khi nhà Hồ thay nhà Trần. Những lực lượng chống đối nhà Mạc chính là những thế lực cũ thân nhà Lê. Theo sử sách, thời Mạc không có một cuộc khởi nghĩa nông dân nào. Điều đó cho thấy nhà Mạc được lòng dân. Sách Đại Việt Thông sử của Lê Quý Đôn phải thừa nhận Thái Tổ Mạc Đăng Dung "được lòng người hướng về". Sau khi Hiến Tông qua đời, các vua Mạc lên thay đều là ấu chúa, biến loạn trong ngoài rất nhiều nhưng nhà Mạc vẫn đứng vững. Ngoài năng lực của người phụ chính, hẳn phải có nền tảng là sự ủng hộ của nhân dân Bắc Bộ lúc đó. Việc họ Mạc tiếp tục cát cứ tại Cao Bằng, ngoài sự can thiệp của nhà Minh, nếu không được lòng người thì không thể tồn tại tới 80 năm. Đặc biệt, nhà Mạc rất coi trọng việc phát hiện nhân tài, do đó dù chiến tranh liên miên nhưng các kỳ thi vẫn tổ chức khá đều đặn. Ngay cả khi cát cứ trên Cao Bằng, việc thi cử vẫn còn duy trì. Một đặc điểm nữa là cả 5 đời vua nhà Mạc không có nạn quyền thần trong thời gian cai trị, dù nhà Mạc khởi nghiệp từ một quyền thần trong triều Lê. Đó là điều mà các triều đại Ngô, Đinh, Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam đều gặp phải. Do đó thời Mạc không có việc phế lập, khuynh loát trong cung đình. Duy nhất vụ "bất đồng chính kiến" trong việc lập người thừa kế (Mạc Phúc Nguyên và Chính Trung) năm 1546 - 1551 đã bị đánh dẹp. === Về ngoại giao === Về ngoại giao, một số nhà sử học lên án hành động tự trói mình, tạ tội, đầu hàng nhà Minh của Mạc Đăng Dung ở biên giới năm 1540, vì điều đó làm mất thể diện của nước Đại Việt. Nhưng cũng có người cho rằng trong bối cảnh lúc đó, việc này là bắt buộc không còn lựa chọn khác. Ở Thanh Hoá, nhà Lê đánh ra, tại Tuyên Quang, chúa Bầu họ Vũ chưa dẹp được. Phía bắc, nhà Minh uy hiếp. Kẻ thù nguy hiểm nhất chính là người phương Bắc. Có lẽ Mạc Đăng Dung không muốn lặp lại thảm kịch của nhà Hồ sau khi thay ngôi nhà Trần nên buộc phải hành động như vậy, vì nếu đối đầu, nhà Mạc chắc chắn sẽ thất bại. Các nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm này còn cho rằng, chính vì hổ thẹn và suy sụp sau hành động này mà Mạc Đăng Dung, vốn đã cao tuổi, nên ốm và mất không lâu sau đó. Sự nhẫn nhục của Mạc Đăng Dung không những trực tiếp cứu nhà Mạc mà còn gián tiếp cứu nhà Lê trung hưng, bởi nếu nhà Mạc bị nhà Minh diệt như nhà Hồ thì nhà Lê cũng sẽ bị nhà Minh diệt như nhà Hậu Trần. Sau khi thất thế, nhà Mạc tiếp tục dựa vào ảnh hưởng của nhà Minh để tồn tại ở Cao Bằng, nhưng tuyệt nhiên không mượn quân nhà Minh. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, đại thần Mạc Ngọc Liễn (vốn là người khác họ được cải họ vua) trước khi mất tại Trung Quốc đã dặn lại vua tôi họ Mạc rằng: "Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng... Dân ta là dân vô tội mà để phải mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế!... Nếu thấy quân họ đến thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, nên cẩn thận mà giữ là hơn. Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng". (Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 17) Các đời sau họ Mạc đã làm đúng như Mạc Ngọc Liễn dặn lại. Thua trận, phải rời khỏi ngôi cai trị nhưng không cố giành giật lại bằng mọi giá, điều đó nhà Mạc hơn nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn sau này. === Chính thống === Nhà Mạc cuối cùng bị mất ngôi khi nhà Lê hồi phục nhờ sức quyền thần nên các sử gia của triều đại thắng trận ra sức hạ thấp nhà Mạc trong sử sách.Do sự chi phối quan điểm của nhà Lê và nhà nguyễn, Nhà Mạc bị gọi là "ngụy triều". Tuy nhiên, nếu căn cứ vào những gì nhà Mạc đã làm, đây thực sự là một vương triều tuy thời gian tồn tại ngắn, nhưng có vai trò tích cực nhất định trong lịch sử Việt Nam. Nhà Lê dù thắng trận nhưng về thực chất thì không còn, cơ nghiệp nhà Lê trung hưng thực ra là cơ nghiệp họ Trịnh. Giáo sư sử học Văn Tạo trong bài viết "Nhà Mạc và vấn đề ngụy triều" đã vạch rõ: Họ Trịnh và họ Nguyễn lấy tiếng là giúp nhà Lê nhưng thực ra là lo làm lợi cho mình. Họ Trịnh phù Lê nhưng lại phế truất và giết các vua Lê. Họ Nguyễn phù Lê nhưng chỉ lo phát triển cơ đồ riêng và cái cớ chống họ Trịnh. Giáo sư Tạo nhấn mạnh: "Mạc là ngụy công khai, Trịnh Nguyễn là ngụy giấu mặt". Cách nói "nguỵ" cũng chỉ là theo quan điểm của các sử gia thời phong kiến. Các nhà sử học ngày nay đã thay đổi quan điểm này và nhà Mạc đã được nhìn nhận như một triều đại bình đẳng với các triều đại "chính thống" khác. === Nguyên nhân thất bại === Lực lượng chống đối nhà Mạc, cụ thể là lực lượng nhân danh nhà Lê, những người ủng hộ nhà Lê còn mạnh. Vấn đề chính thống chỉ có một vai trò nhất định, vì Nam triều hay Bắc triều đều có lý lẽ của mình. Bắc triều dù là người đi cướp ngôi, nhưng từ Lê Uy Mục, nhân dân đã chán ghét nhà Lê. Nam triều dù đã mất uy tín nhưng với một bộ phận nhân dân, nhất là vùng "căn bản" quê hương nhà Lê (Thanh Hoá) trở vào còn nhớ công lao đánh quân Minh của nhà Lê. Do đó, khi yếu tố chính trị không đóng vai trò quyết định thì vấn đề nhân sự sẽ quyết định. Theo giáo sư Văn Tạo, về chính trị và kinh tế, tuy nhà Mạc đã khiến đất nước giàu mạnh lên trong thời kỳ đầu, nhưng địa bàn hoạt động của nhà Mạc bị bó hẹp, kẹp giữa một bên là nước lớn Trung Quốc, một bên là Nam triều trỗi dậy cùng tư tưởng "hoài Lê", không có điều kiện mở rộng như các chúa Nguyễn ở phía Nam sau này. Bản thân các tập đoàn chống Mạc đã có những chính sách phù hợp và lực lượng nhân sự đủ tài năng để đối phó với nhà Mạc nên trong một thời gian dài Nam triều đứng vững trước các cuộc tấn công của nhà Mạc. Thời hậu kỳ (sau khi Mạc Kính Điển chết), nhà Mạc không còn lực lượng nhân sự đủ mạnh, nhất là vua Mạc Mậu Hợp không đủ năng lực và phạm phải sai lầm nên đã thất bại về quân sự. Trong cuộc chiến trường kỳ đó, khi đã thất bại về quân sự thì chính trị của nhà Mạc cũng trở nên yếu thế trước khẩu hiệu "phù Lê" và nhà Mạc thành kẻ bại trận cuối cùng. == Các vua nhà Mạc == Lưu ý: Mạc Toàn thực sự không còn quyền lực gì. Giữa thời Mạc Hiến Tông và Mạc Tuyên Tông còn có Mạc Chính Trung tự xưng là vua nhà Mạc trong thời gian ngắn nhưng không được Nhà Mạc công nhận. Gia đoạn hậu kỳ Nhà Mạc sau khi Bắc triều sụp đổ gồm có Mạc Kính Chỉ (niên hiệu Bảo Định và Khanh Hựu 1592-1593), Mạc Kính Cung (niên hiệu Kiền Thống 1593-1594), Mạc Kính Khoan (niên hiệu Long Thái 1594-1628) và Mạc Kính Vũ (Mạc Kính Hoàn, niên hiệu Thuận Đức 1628-1677). == Thế phả vua Mạc == == Các quan lại, tướng lĩnh == Mạc Kính Điển Mạc Đôn Nhượng Nguyễn Kính Mạc Ngọc Liễn Phạm Tử Nghi Vũ Hộ Phạm Gia Mô Nguyễn Bỉnh Khiêm Giáp Hải Lê Quang Bí Nguyễn Quyện Mạc Đăng Lượng Mạc Đăng Hào, tức Mạc Đăng Tuấn (sau đổi tên Hoàng Tuấn Ngạn em Mạc Đăng Lượng) == Xem thêm == Thành Bản Phủ (Cao Bằng) Cao Bình (kinh đô) Nam-Bắc triều Chiến tranh Lê-Mạc Nhà Hậu Lê Mạc Đăng Dung Nguyễn Kim Trịnh Kiểm Trịnh Tùng Chúa Bầu == Tham khảo == Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 4, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Nhiều tác giả (1995), Nhà Mạc và vấn đề nguỵ triều trong sử sách, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Văn Tạo (2006), Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục Đại Việt Sử ký Toàn thư Nguyễn Huy Thức, Lê Văn Bảy (2006), Lê triều dã sử, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Viện Sử học (1996), Vương triều Mạc, Nhà xuất bản Khoa học xã hội == Chú thích == == Liên kết ngoài == Đại Việt sử ký toàn thư - Bản điện tử Khâm định Việt sử Thông giám cương mục - Bản điện tử
đội tuyển bóng đá quốc gia myanmar.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Myanmar là đội tuyển cấp quốc gia của Myanmar do Liên đoàn bóng đá Myanmar quản lý. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Myanmar là trận gặp đội tuyển Iran vào năm 1951. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là hai tấm huy chương vàng Asiad giành được vào các năm 1966, 1970, ngôi vị á quân của Cúp bóng đá châu Á 1968, 2 lần hạng tư Challenge Cup giành được vào các năm 2008, 2010, vị trí thứ tư của AFF Cup 2004 và lọt vào bán kết AFF Cup 2016. == Danh hiệu == Vô địch châu Á: 0 Á quân: 1968 Vô địch Cúp Challenge: 0 Hạng tư: 2008; 2010 Vô địch AFF Cup: 0 Hạng tư: 2004 Bóng đá nam tại Asiad: 1966; 1970 1954 Bóng đá nam tại SEA Games: 1965; 1967; 1969; 1971; 1973 1961; 1993; 2007 1975; 1977; 2001; 2011 Hạng tư: 1987; 1995; 2003 == Thành tích quốc tế == === Giải vô địch bóng đá thế giới === 1930 đến 1938 - Không tham dự 1950 - Bỏ cuộc 1954 đến 1990 - Không tham dự 1994 - Bỏ cuộc 1998 - Không tham dự 2002 - Bỏ cuộc 2006 - Không được tham dự vì bỏ cuộc giải trước 2010 đến 2018 - Không vượt qua vòng loại === Cúp bóng đá châu Á === 1956 đến 1964 - Không tham dự 1968 - Á quân 1972 đến 1992 - Không tham dự 1996 đến 2004 - Không vượt qua vòng loại 2007 - Không tham dự 2011 đến 2015 - Không vượt qua vòng loại === Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á === 1996 đến 2002 - Vòng 1 2004 - Hạng tư 2007 đến 2014 - Vòng 1 2016 - Bán kết === Cúp AFC Challenge === 2006 - Không tham dự 2008 - Hạng tư 2010 - Hạng tư 2012 - Không vượt qua vòng loại 2014 - Vòng bảng === Các giải khác === Myanma đã 2 lần vô địch bóng đá tại Đại hội Thể thao châu Á vào các năm 1966 và 1970; vô địch giải Merdeka năm 2006. == Cầu thủ == === Đội hình hiện tại === Đội hình dưới đây được triệu tập tham dự trận giao hữu gặp Indonesia và vòng loại Asian Cup 2019 gặp Ấn Độ vào các ngày 21 và 28 tháng 3 năm 2017.Số liệu thống kê tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Ấn Độ. === Triệu tập gần đây === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá quốc gia Myanma trên trang chủ của FIFA
máy tính.txt
Máy tính hay máy điện toán là những thiết bị hay hệ thống thực hiện tự động các phép toán số học dưới dạng số hoặc phép toán lôgic. Các máy tính cỡ nhỏ thường gọi là máy vi tính, trong số đó máy dùng cho cá nhân thường gọi là máy tính cá nhân. Máy tính được lắp ghép bởi các thành phần có thể thực hiện các chức năng đơn giản đã định nghĩa trước. Quá trình tác động tương hỗ phức tạp của các thành phần này tạo cho máy tính một khả năng xử lý thông tin. Nếu được thiết lập chính xác (thông thường bởi các chương trình máy tính) máy tính có thể mô phỏng lại một số khía cạnh của một vấn đề hay của một hệ thống. Trong trường hợp này, khi được cung cấp một bộ dữ liệu thích hợp nó có thể tự động giải quyết vấn đề hay dự đoán trước sự thay đổi của hệ thống. Khoa học nghiên cứu về lý thuyết, thiết kế và ứng dụng của máy tính được gọi là khoa học máy tính, hay khoa học điện toán. Từ "máy tính" (computers), đầu tiên, được dùng cho những người tính toán số học, có hoặc không có sự trợ giúp của máy móc, nhưng hiện nay nó hoàn toàn có nghĩa là một loại máy móc. Đầu tiên máy tính chỉ giải các bài toán số học, nhưng máy tính hiện đại làm được nhiều hơn thế. Máy tính có thể mua ở Anh đầu tiên là máy Ferranti Mark 1 Star sản xuất năm 1951 theo đề cương "bé". Đến những năm 1990, khái niệm máy tính đã thực sự tách rời khỏi khái niệm điện toán và trở thành một ngành khoa học riêng biệt với nhiều lĩnh vực đa dạng và khái niệm hơn hẳn ngành điện toán thông thường và được gọi là công nghệ thông tin. Tuy vậy đến ngày nay, một số người vẫn còn nhầm lẫn giữa hai khái niệm điện toán và công nghệ thông tin. == Các nguyên lý cơ bản == Máy tính có thể làm việc thông qua sự chuyển động của các bộ phận cơ khí, điện tử (electron), photon, hạt lượng tử hay các hiện tượng vật lý khác đã biết. Mặc dù máy tính được xây dựng từ nhiều công nghệ khác nhau song gần như tất cả các máy tính hiện nay đều là máy tính điện tử. Máy tính có thể trực tiếp mô hình hóa các vấn đề cần được giải quyết, trong khả năng của nó các vấn đề cần được giải quyết sẽ được mô phỏng gần giống nhất với những hiện tượng vật lý đang khai thác. Ví dụ, dòng chuyển động của các điện tử có thể được sử dụng để mô hình hóa sự chuyển động của nước trong đập. Những chiếc máy tính tương tự (analog computer) giống như thế đã rất phổ biến trong thập niên 1960 nhưng hiện nay còn rất ít. Trong phần lớn các máy tính ngày nay, trước hết, mọi vấn đề sẽ được chuyển thành các yếu tố toán học bằng cách diễn tả mọi thông tin liên quan thành các số theo hệ nhị phân (hệ thống đếm dựa trên các số 0 và 1 hay còn gọi là hệ đếm cơ số 2). Sau đó, mọi tính toán trên các thông tin này được tính toán bằng đại số Boole (Boolean algebra). Các mạch điện tử được sử dụng để miêu tả các phép tính Bool. Vì phần lớn các phép tính toán học có thể chuyển thành các phép tính Bool nên máy tính điện tử đủ nhanh để xử lý phần lớn các vấn đề toán học (và phần lớn thông tin của vấn đề cần giải quyết đã được chuyển thành các vấn đề toán học). Ý tưởng cơ bản này, được nhận biết và nghiên cứu bởi Claude E. Shannon - người đã làm cho máy tính kỹ thuật số (digital computer) hiện đại trở thành hiện thực. Máy tính không thể giải quyết tất cả mọi vấn đề của toán học. Alan Turing đã sáng tạo ra khoa học lý thuyết máy tính trong đó đề cập tới những vấn đề mà máy tính có thể hay không thể giải quyết. Khi máy tính kết thúc tính toán một vấn đề, kết quả của nó được hiển thị cho người sử dụng thấy thông qua thiết bị xuất như: bóng đèn, màn hình, máy in... Những người mới sử dụng máy tính, đặc biệt là trẻ em, thường cảm thấy khó hiểu về ý tưởng cơ bản là máy tính chỉ là một cái máy, nó không thể "suy nghĩ" hay "hiểu" những gì nó hiển thị. Máy tính chỉ đơn giản thi hành các tìm kiếm cơ khí trên các bảng màu và đường thẳng đã lập trình trước, rồi sau đó thông qua các thiết bị đầu ra (màn hình, máy in,...) chuyển đổi chúng thành những ký hiệu mà con người có thể cảm nhận được thông qua các giác quan (hình ảnh trên màn hình, chữ trên văn bản được in ra). Chỉ có bộ não của con người mỡi nhận thức được những ký hiệu này tạo thành các chữ hay số và gắn ý nghĩa cho chúng. Trong quan điểm của máy tính thì mọi thứ mà nó "nhận thấy" (kể cả khi máy tính được coi là có khả năng tự nhận biết) chỉ là các hạt electron tương đương với các số 0 và 1. Xem thêm trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence) và robot. == Phát triển == Các thiết bị tính toán tăng gấp đôi năng lực (được định nghĩa là số phép tính thực hiện trong một giây cho mỗi 1.000 USD chi phí) sau mỗi 18 đến 24 tháng kể từ năm 1900. Gordon E. Moore, người đồng sáng lập ra Intel, lần đầu tiên đã miêu tả tính chất này của sự phát triển vào năm 1965 (Xem định luật Moore). Cùng với việc tăng khả năng tính toán trên một đơn vị chi phí thì tốc độ của sự thu nhỏ kích thước cũng tương tự. Những chiếc máy tính điện tử đầu tiên như ENIAC (ra đời năm 1946) là một thiết bị khổng lồ nặng hàng tấn, tiêu thụ nhiều điện năng, chiếm một diện tích lớn, thực hiện được ít phép tính và đòi hỏi nhiều người điều khiển để có thể hoạt động được. Những cỗ máy này đắt đến mức chỉ có các chính phủ hay các viện nghiên cứu lớn mới có đủ điều kiện để duy trì hoạt động của chúng. Năm 1973, Trương Trọng Thi chế tạo ra Micral mà nhiều người coi là máy tính cá nhân đầu tiên trên thế giới. Một bản mẫu của nó hiện được trưng bày trong Viện bảo tàng máy tính Boston (Mỹ). Chiếc máy này ra đời hơn một năm trước máy Altair của công ty Mỹ MITS Electronics, công ty này cũng cho mình là cha đẻ của PC. == Phân loại máy tính == Những phần dưới đây miêu tả các xu hướng khác nhau trong sự phân loại các máy tính. === Theo mục đích sử dụng === Siêu máy tính Siêu máy tính cỡ nhỏ Mainframe Máy chủ doanh nghiệp Máy tính mini Máy trạm (workstation) Máy tính cá nhân (PC) Máy tính để bàn (Desktop) Máy tính xách tay (Laptop) Máy tính bảng Thiết bị hỗ trợ kỹ thuật số cá nhân (PDA) Máy tính tháo lắp Điểm yếu của xu hướng phân loại này là tính chất mơ hồ của nó. Cách phân loại này thường được sử dụng khi cần phân loại tại một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển của ngành công nghiệp máy tính. Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp máy tính đã làm cho định nghĩa trên nhanh chóng trở nên lạc hậu. Rất nhiều loại máy tính hiện nay không được còn sử dụng nữa, như máy phân tích vi phân (differential analyzer), không được đưa vào danh sách này. Những sơ đồ phân loại khác cần được đề ra để định nghĩa thuật ngữ máy tính một cách ít (hoặc không) mơ hồ hơn. === Theo mức cải tiến công nghệ === Một cách phân loại máy tính ít mơ hồ hơn là theo mức độ hoàn thiện của công nghệ. Những chiếc máy tính có mặt sớm nhất thuần túy là máy cơ khí. Trong thập niên 1930, các thành phần rơ le cơ-điện đã được giới thiệu vào máy tính từ ngành công nghiệp liên lạc viễn thông. Trong thập niên 1940, những chiếc máy tính thuần túy điện tử đã được chế tạo từ những đèn điện tử chân không. Trong hai thập niên 1950 và thập niên 1960, bóng điện tử dần dà được thay thế bởi transistor, và từ cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970 là bởi mạch tích hợp bán dẫn (chíp bán dẫn, hay IC) cho đến hiện nay. Một hướng nghiên cứu phát triển gần đây là máy tính quang (optical computer) trong đó máy tính hoạt động theo nguyên lý của ánh sáng hơn là theo nguyên lý của các dòng điện; đồng thời, khả năng sử dụng DNA trong công nghệ máy tính cũng đang được thử nghiệm. Một nhánh khác của việc nghiên cứu có thể dẫn công nghiệp máy tính tới những khả năng mới như tính toán lượng tử, tuy rằng nó vẫn còn ở giai đoạn đầu của việc nghiên cứu. === Theo đặc trưng thiết kế === Các máy tính hiện đại đã liên kết các đặc trưng thiết kế chính được phát triển bởi nhiều người đóng góp trong nhiều năm. Các đặc trưng này phần lớn không phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của công nghệ. Các máy tính hiện đại nhận được khả năng tổng thể của chúng theo cách mà các đặc trưng này tác động qua lại với nhau. Một số đặc trưng quan trọng được liệt kê dưới đây: ==== Kỹ thuật số và kỹ thuật tương tự ==== Một quyết định nền tảng trong việc thiết kế máy tính là hoặc sử dụng kỹ thuật số (digital) hoặc sử dụng kỹ thuật tương tự (analog). Các máy tính kỹ thuật số (digital computer) tính toán trên các giá trị số rời rạc (discreet value) hoặc giá trị tượng trưng (symbolic value), trong khi đó máy tính tương tự (analog computer) tính toán trên các tín hiệu dữ liệu liên tục (continuous data signal). Bắt đầu từ thập niên 1940, máy tính kỹ thuật số đã trở nên phổ biến hơn mặc dù máy tính tương tự vẫn được sử dụng cho một số mục đích đặc biệt như trong kỹ thuật robot và việc kiểm soát các lò xyclôtrôn. Các thiết kế khác dùng tính toán xung lượng và tính toán lượng tử cũng hiện hữu nhưng chúng hoặc được sử dụng cho các mục đích đặc biệt hoặc vẫn đang trong vòng thử nghiệm. ==== Nhị phân và Thập phân ==== Một phát triển quan trọng trong thiết kế tính toán kỹ thuật số là việc sử dụng hệ nhị phân như là hệ thống số đếm nội tại. Điều này đã bãi bỏ những yêu cầu cần thiết trong các cơ cấu kỹ thuật phức tạp của các máy tính sử dụng hệ số đếm khác, chẳng hạn như hệ thập phân. Việc áp dụng hệ nhị phân đã làm cho việc thiết kế trở lên đơn giản hơn để thực hiện các phép tính số học và các phép tính lôgic. ==== Khả năng lập trình ==== Khả năng lập trình của máy tính (programmability), nghĩa là cung cấp cho nó một tập hợp các chỉ thị để thực hiện mà không có sự điều khiển vật lý đối với nó, là một đặc trưng thiết kế nền tảng của phần lớn các máy tính. Đặc trưng này là một sự mở rộng đáng kể khi các máy tính đã được phát triển đến mức nó có thể kiểm soát động luồng thực hiện của chương trình. Điều này cho phép máy tính kiểm soát được thứ tự trong sự thực thi các chỉ lệnh trong chương trình dựa trên các dữ liệu đã được tính ra. Điểm nổi bật chính trong thiết kế này đó là nó đã được đơn giản hóa một cách đáng kể với việc áp dụng các phép tính số học theo hệ đếm nhị phân để có thể mô tả hàng loạt các phép tính lôgic. ==== Lưu trữ ==== Trong quá trình tính toán, máy tính thông thường cần phải lưu trữ các giá trị trung gian để có thể sử dụng trong các tính toán sau đó. Khả năng thực hiện của máy tính phần lớn phụ thuộc vào tốc độ đọc các giá trị từ bộ nhớ và tốc độ ghi vào bộ nhớ, cũng như dung lượng bộ nhớ. Ban đầu bộ nhớ chỉ được sử dụng cho các giá trị trung gian, nhưng từ thập niên 1940 thì chính bản thân chương trình cũng có thể được lưu trữ theo cách này. Điểm nổi trội này đã dẫn đến việc ra đời của những chiếc máy tính có sẵn chương trình đầu tiên của thế hệ máy tính ngày nay. === Theo năng lực sử dụng === Có lẽ cách tốt nhất để phân loại các thiết bị máy tính là theo năng lực nội tại của nó, hơn là theo việc sử dụng, sự hoàn thiện công nghệ hay các đặc trưng thiết kế. Máy tính có thể chia làm ba dạng chính dựa theo năng lực sử dụng: Các thiết bị có một mục đích chỉ có thể thực hiện duy nhất một chức năng (ví dụ cỗ máy Antikythera năm 87 trước công lịch, và máy dự báo thủy triều của Lord Kelvin năm 1876) Các thiết bị có mục đích đặc biệt có thể thực hiện một số chức năng hữu hạn (ví dụ động cơ vi phân số 1. - Difference Engine No 1 - của Charles Babbage năm 1832 và máy phân tích vi phân của Vannevar Bush năm 1932) Các thiết bị có mục đích không nhất định là các dạng máy tính sử dụng ngày nay. ==== Các máy tính có mục đích không nhất định ==== Các máy tính có mục đích không nhất định còn được gọi là các máy loại Turing hoàn tất và điều này được sử dụng như khả năng ngưỡng để định nghĩa các máy tính hiện nay, tuy nhiên, định nghĩa này có vài vấn đề. Một số thiết bị tính toán với thiết kế đơn giản đã được chứng tỏ là có tính Turing hoàn tất. Cho đến nay, Z3, phát triển bởi Konrad Zuse năm 1941, là chiếc máy tính hoạt động đầu tiên đã được chứng tỏ đạt được tính chất này, (chứng minh được hoàn thành vào năm 1998). Trong khi Z3 và có thể một số thiết bị khác có tính Turing hoàn tất trên lý thuyết, trên thực tế chúng không phải là những máy tính có mục đích không nhất định. Chúng thuộc về những cái được gọi một cách hài hước là Turing Tar-Pit - "chỗ ở đó mọi điều đều có thể nhưng chẳng có gì là thực tế" (Xem Jargon File). Các máy tính hiện đại không những có mục đích không nhất định trên lý thuyết mà còn có mục đích không nhất định trên thực tế. Các máy tính hiện đại như loại kỹ thuật số, loại điện tử hay loại có mục đích không nhất định được phát triển bởi nhiều người đóng góp trong một khoảng thời gian dài từ giữa thập niên 1930 tới cuối thập niên 1940. Trong giai đoạn này rất nhiều cỗ máy thử nghiệm đã được phát triển có thể coi là có tính Turing hoàn tất (như ABC, ENIAC, Harvard Mk I, Colossus v.v.) (Xem thêm Lịch sử phần cứng máy tính). Tất cả các cỗ máy này trong thời đại của chúng đều được cho là chiếc máy tính đầu tiên, nhưng tất cả đều có những giới hạn nhất định trong mục đích sử dụng và thiết kế của chúng đã sớm bị thải loại. ===== Các máy tính có sẵn chương trình ===== Trong cuối thập niên 1940 thiết kế đầu tiên cho máy tính có sẵn chương trình (stored-program computer) đã được phát triển và biên khảo (Xem thêm Bản thảo đầu tiên) tại trường công nghệ điện Moore của Đại học Pennsylvania. Phương pháp giải quyết, miêu tả trong tài liệu, được biết đến như là kiến trúc Von Neumann, mang tên của nhà toán học Jon von Neumann mặc dù các thành viên của trường công nghệ điện Moore mới thực sự sáng chế ra thiết kế này. Kiến trúc Von Neumann đã giải quyết vấn đề thuộc về thiết kế của máy ENIAC và sửa đổi bằng cách lưu trữ chương trình của máy trong bộ nhớ của nó. Von Neumann cung cấp thiết kế này cho các nhà nghiên cứu khác ngay sau khi ENIAC được công bố vào năm 1946. Nhiều kế hoạch đã được phát triển để hoàn thiện thiết kế này tại trường Moore trong chiếc máy có tên gọi là EDVAC. EDVAC đã không hoạt động được cho đến tận năm 1953 vì những khó khăn kỹ thuật trong việc hoàn thiện độ tin cậy của bộ nhớ. Từ bản sao của thiết kế này, các viện nghiên cứu khác đã giải quyết được vấn đề đó trước trường Moore và hoàn thiện các máy tính có sẵn chương trình của họ. Theo thứ tự của việc hoạt động thành công thì 5 chiếc máy tính có sẵn chương trình đầu tiên dựa trên cơ sở của kiến trúc Von Neumann là: Thiết kế "chương trình có sẵn", được định nghĩa bởi kiến trúc Von Neumann, cuối cùng đã cho phép máy tính khai thác tiềm năng "mục đích không nhất định" của chúng. Bằng cách lưu trữ chương trình trong bộ nhớ, chúng có thể nhanh chóng "nhảy" từ chỉ thị này tới chỉ thị khác dựa trên kết quả của một điều kiện như đã được định nghĩa sẵn trong chương trình. Các điều kiện này thông thường lượng giá các dữ liệu đã được tính toán bởi chương trình và cho phép chương trình trở thành động hơn. Thiết kế này cũng hỗ trợ vào khả năng tự động viết lại chương trình ngay trong khi nó đang thực thi - một đặc trưng rất mạnh nhưng cần sử dụng một cách cẩn thận. Các đặc trưng này là nền tảng cho các máy tính hiện đại. Nói một cách chính xác, phần lớn các máy tính hiện đại là thiết bị tính toán theo phép nhị phân, bằng điện tử, có sẵn chương trình và có mục đích không nhất định. ==== Các máy tính có mục đích đặc biệt ==== Các máy tính có mục đích đặc biệt (special-purpose computer) đã được phổ biến trong thập niên 1930 và đầu thập niên 1940 nhưng vẫn chưa bị thay thế hoàn toàn bởi các máy tính có mục đích không nhất định. Sự giảm xuống về kích thước và giá cả cũng như sự tăng năng lực của chúng đã khiến việc sử dụng máy tính có mục đích đặc biệt trong các ứng dụng đặc biệt trở thành một hiệu quả tốt về mặt chi phí. Rất nhiều các thiết bị dùng tại nhà và trong công nghiệp như điện thoại di động, máy thâu video, hệ thống đánh lửa tự động v.v có chứa loại máy tính có mục đích đặc biệt này. Trong một số trường hợp các máy tính này là loại Turing hoàn tất (như máy chơi trò chơi điện tử, PDA) nhưng rất nhiều trong số chúng được lập trình một lần tại nhà máy sản xuất và rất ít khi phải lập trình lại. Chương trình mà các thiết bị này thực thi thông thường được lưu trữ trong bộ nhớ chỉ đọc (ROM) mà khi cần thiết có thể thay thế để thay đổi hoạt động của máy. Các máy tính được nhúng bên trong các thiết bị khác thông thường được gọi là vi điều khiển (microcontroller) hay máy tính nhúng (embedded computer). ==== Các máy tính có một mục đích ==== Các máy tính có một mục đích (single-purpose computer) là loại xuất hiện sớm nhất của thiết bị máy tính. Khi được cung cấp dữ liệu, nó có thể tính kết quả của một hàm đơn giản đã được thiết lập trong cơ chế của nó. Các máy tính có mục đích không nhất định gần như đã thay thế hoàn toàn các máy tính có một mục đích và, do đó, đã phát sinh một lĩnh vực hoạt động mới của loài người: phát triển phần mềm. Các máy tính có mục đích không nhất định cần phải được lập trình với một bộ chỉ thị liên quan đến phần mềm máy tính. Việc thiết kế các thiết bị tính toán có một mục đích hay có mục đích đặc biệt hiện nay là những bài tập khái niệm thuần túy bao gồm các phần mềm thiết kế. === Theo hình thức hoạt động === Máy tính có thể được phân loại tùy theo cách thức người dùng vận hành. Có hai loại chính: kiểu xử lý tuần tự (batch processing) và kiểu xử lý tương tác (interactive =rocessing). == Các ứng dụng máy tính == Các máy tính điện tử dùng kỹ thuật số (digital computer) đầu tiên, với kích thước lớn và giá thành cao, phần lớn thực hiện các tính toán khoa học, thông thường để hỗ trợ các mục tiêu quân sự. ENIAC đầu tiên được thiết kế để tính toán các bảng đạn đạo cho pháo binh nhưng nó cũng được sử dụng để tính toán mật độ nơtron trên bình diện để hỗ trợ vào thiết kế bom khinh khí. Công việc tính toán này, xảy ra từ tháng 12 năm 1945 đến tháng 1 năm 1946 với hàng triệu thẻ đục lỗ, vạch ra rằng một thiết kế cho bom kinh khí đang được xem xét lúc đó sẽ không thành công. (Rất nhiều siêu máy tính hiện nay cũng được sử dụng để giả lập các vũ khí hạt nhân.) CSIR Mk I, chiếc máy tính có sẵn chương trình (stored-program computer) đầu tiên của Úc được sử dụng để lượng giá các mô hình mưa cho lưu vực các sông thuộc sơ đồ dãy núi Snowy, một dự án thủy điện lớn. Các máy khác được sử dụng trong việc phân tích mã hóa, ví dụ như chiếc máy tính với kỹ thuật số được lập trình đầu tiên trên thế giới (tuy không phải là máy tính có mục đích không nhất định) là Colossus, được lắp ráp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bất chấp sự định hướng ban đầu cho các ứng dụng khoa học, máy tính đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác. Trước tiên các máy tính có sẵn chương trình được sử dụng để giải quyết các vấn đề kinh doanh. LEO, máy tính có sẵn chương trình lắp ráp bởi công ty J. Lyons and Co tại Anh, đã hoạt động và được sử dụng để quản lý hàng tồn kho, cũng như các mục đích khác, cho 3 năm trước khi IBM lắp ráp chiếc máy tính có sẵn chương trình đầu tiên của họ. Việc giảm giá thành và kích thước của máy đã liên tục làm nó phù hợp cho những tổ chức nhỏ hơn. Với sự phát minh ra bộ vi xử lý trong thập niên 1970 thì việc lắp ráp máy tính rẻ tiền đã trở thành khả thi. Trong thập niên 1980 máy tính cá nhân trở lên phổ biến cho nhiều công việc từ kế toán, soạn thảo, in ấn tài liệu tới tính toán các dự báo và các công việc toán học lặp lại qua các bảng tính. === Internet === Trong thập niên 1970, các kỹ sư điện toán của các viện nghiên cứu trên khắp nước Mỹ bắt đầu liên kết máy tính của họ với nhau thông qua công nghệ của ngành liên lạc viễn thông. Những cố gắng này được ARPA hỗ trợ, và mạng máy tính mà nó cung cấp được gọi là ARPANET. Các công nghệ tạo ra Arpanet đã mở rộng và phát triển sau đó. Chẳng bao lâu, mạng máy tính mở rộng ra ngoài các viện khoa học và được biết đến như là Internet. Trong thập niên 1990, việc phát triển của công nghệ World Wide Web đã làm cho ngay cả những người không chuyên nghiệp cũng có thể sử dụng internet. Nó phát triển nhanh đến mức đã trở thành phương tiện liên lạc toàn cầu như ngày nay. == Phương thức hoạt động == Trong khi các công nghệ sử dụng trong máy tính không ngừng thay đổi kể từ những chiếc máy tính có mục đích không nhất định đầu tiên của thập niên 1940 (Xem Lịch sử phần cứng máy tính) thì phần lớn các máy tính vẫn còn sử dụng kiến trúc Von Neumann. Kiến trúc Von Neumann chia máy tính ra làm bốn bộ phận chính: Đơn vị số học và lôgic (ALU), Mạch điều khiển (control circuitry), Bộ Nhớ Các thiết bị Xuất/Nhập (I/O). Các bộ phận này được kết nối với nhau bằng các bó dây điện (được gọi là các bus khi mỗi bó hỗ trợ nhiều hơn một đường dữ liệu) và thường được điều khiển bởi bộ đếm thời gian hay đồng hồ (mặc dù các sự kiện khác cũng có thể điều vận mạch điều khiển). === Bộ nhớ === Bộ nhớ máy tính có 2 phần chính là bộ nhớ trong và bộ nhớ ngoài. Trong hệ thống này bộ nhớ là sự nối tiếp của các ô đánh số thứ tự, mỗi ô chứa một phần nhỏ của thông tin. Thông tin có thể là chỉ thị cho máy tính. Mỗi ô cũng có thể chứa dữ liệu mà máy tính cần để thi hành chỉ thị. Nội dung của một ô nhớ có thể thay đổi ở bất kỳ thời điểm nào. Kích thước một ô nhớ cũng như số lượng ô nhớ thay đổi theo từng máy tính giống như công nghệ sử dụng trong việc chế tạo bộ nhớ, từ rơ le cơ-điện tới ống chứa thủy ngân, từ băng từ tới transistor hay IC. === Bộ xử lý (CPU) === Đơn vị lôgic và số học, (tiếng Anh là Arithmetic and Logic Unit, viết tắt ALU), là thiết bị thực hiện các phép tính cơ bản như các phép tính số học (cộng, trừ, nhân, chia, v.v), các phép tính lôgic (AND, OR, NOT, v.v) cũng như các phép so sánh (ví dụ: so sánh nội dung của hai byte xem có bằng nhau). Đơn vị này là nơi mà các "công việc thực sự" được thực thi. Đơn vị kiểm soát theo dõi các byte trong bộ nhớ có chứa chỉ thị để máy tính thực thi, cung cấp cho ALU một chỉ thị cần phải thực thi cũng như chuyển kết quả thu được tới các vị trí thích hợp trong bộ nhớ. Sau khi điều đó diễn ra, đơn vị kiểm soát chuyển tới chỉ thị kế tiếp (thông thường nằm tại địa chỉ ngay sau), nếu không thì chỉ thị sẽ là chỉ thị nhảy thông báo cho máy tính là chỉ thị tiếp theo nằm tại một địa chỉ khác. Khi tham chiếu tới bộ nhớ, chỉ thị hiện thời có thể sử dụng một số phương thức đánh địa chỉ (addressing mode) để xác định địa chỉ liên quan trong bộ nhớ. Một số bo mạch chủ trong máy tính có thể gắn được hai hay nhiều bộ xử lý. Các loại máy tính phục vụ thường có hai hay nhiều bộ xử lý. === Thiết bị ngoại vi (I/O) === Thiết bị ngoại vi cho phép máy tính thu nhận thông tin từ bên ngoài qua thiết bị Nhập. Sau khi được xử lý bởi Hệ Điều Hành Trung ương sẻ được gửi kết quả công việc của nó đến Thiết Bị Xuất. Các Thiết Bị Nhập bao gồm: Con Trỏ (Con Chuột), Bàn Phím, Ổ Đĩa Mềm, Ổ Đĩa CD, Webcam, Touchpad Các Thiết Bị Xuất bao gồm: Màn Hình, Máy In, ổ USB flash, Ổ Cứng Di Động tới những thiết bị không thông dụng như Ổ ZIP. Công việc của thiết bị nhập (input) là mã hóa (chuyển đổi) thông tin từ nhiều định dạng sang dạng dữ liệu mà máy tính có thể xử lý. Các thiết bị xuất (output) thì ngược lại, thực hiện công việc giải mã dữ liệu thành thông tin mà người sử dụng có thể hiểu được. Với ý nghĩa này thì hệ thống máy tính có thể coi như một hệ thống xử lý dữ liệu. === Các chỉ thị === Tập hợp các ngôn ngữ dùng cho chỉ thị của máy tính thì không nhiều như ngôn ngữ của con người. Máy tính có một tập hợp hữu hạn gồm các chỉ thị đơn giản đã được định nghĩa trước. Nó chỉ có thể thực thi hai nhiệm vụ là đếm và so sánh. Các loại chỉ thị điển hình mà phần lớn máy tính có thể hỗ trợ, chuyển sang ngôn ngữ con người, là "sao chép nội dung ô 123, đặt bản sao đó vào ô 456", "thêm nội dung của ô 666 vào nội dung ô 042, đưa kết quả vào ô 013", "nếu kết quả của ô 999 là 0, chỉ thị tiếp theo nằm tại ô 345"... Các chỉ thị trong máy tính tương ứng với mã trong hệ nhị phân - hệ đếm cơ số 2. Ví dụ mã của chỉ thị sao chép ("copy") có thể là 001. Tập hợp các chỉ thị mà một máy tính hỗ trợ được gọi là ngôn ngữ máy của máy tính. Trong thực tế, người ta thông thường không viết các chỉ thị cho máy tính bằng ngôn ngữ máy mà sử dụng các ngôn ngữ lập trình "bậc cao" để sau đó chúng được dịch sang ngôn ngữ máy một cách tự động bởi các chương trình máy tính đặc biệt (trình thông dịch (interpreter) và trình biên dịch (compiler)). Một số ngôn ngữ lập trình rất gần với ngôn ngữ máy như assembler gọi là ngôn ngữ bậc thấp; Ngược lại các ngôn ngữ lập trình như Prolog, Basic, Delphi... dựa trên các nguyên lý trừu tượng rất xa với hoạt động thực sự của máy gọi là ngôn ngữ bậc cao. === Kiến trúc === Các máy tính hiện đại ghép chung ALU và đơn vị kiểm soát vào trong một IC gọi là đơn vị xử lý trung tâm hay CPU. Thông thường, bộ nhớ máy tính nằm trong một số IC nhỏ gần CPU. Phần lớn trọng lượng máy tính là các bộ phận phụ thuộc như hệ thống cung cấp điện hay các thiết bị đầu/cuối (I/O). Một số máy tính lớn khác biệt với mô hình trên ở điểm chính sau - chúng có nhiều CPU và đơn vị kiểm soát hoạt động đồng bộ. Ngoài ra, một số máy tính, sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu và tính toán khoa học, khác biệt rất đáng kể với mô hình trên, nhưng chúng ít có ứng dụng thương mại vì mô hình lập trình chúng vẫn chưa được chuẩn hóa. Vì vậy, hoạt động của máy tính thì không phức tạp trên nguyên lý. Thông thường, trong mỗi nhịp đồng hồ, máy tính sẽ nhận được các chỉ thị và dữ liệu từ bộ nhớ của nó. Các chỉ thị được thực thi, kết quả được lưu lại và chỉ thị tiếp theo được nhận về. Quá trình này tiếp diễn cho đến khi gặp chỉ thị dừng. === Chương trình === Chương trình máy tính đơn giản chỉ là một danh sách các chỉ thị để máy tính thực thi, có thể với các bảng dữ liệu. Rất nhiều chương trình máy tính chứa hàng triệu chỉ thị và rất nhiều chỉ thị được lặp đi lặp lại. Một chiếc máy tính thông thường ngày nay (năm 2003) có thể thực hiện 2-3 tỷ chỉ thị trong một giây. Máy tính không có các khả năng đặc biệt thông qua việc thực thi các chỉ thị phức tạp mà cơ bản là nó chỉ thực thi các chỉ thị đơn giản do lập trình viên đưa ra. Một số lập trình viên giỏi phát triển các tập hợp chỉ thị dùng cho một số công việc chung (như vẽ một điểm trên màn hình) và cung cấp các tập hợp chỉ thị đó cho các lập trình viên khác. Một số lập trình viên khác chỉ phát triển các ứng dụng thực tế dựa trên các nền tảng mà các lập trình viên kia cung cấp cho họ. Hiện nay, phần lớn máy tính có thể thực hiện cùng một lúc vài chương trình. Điều này được gọi là đa nhiệm (multitasking). Trên thực tế, CPU thực thi các chỉ thị của một chương trình, sau một khoảng thời gian ngắn, nó chuyển sang thực thi các chỉ thị của chương trình thứ hai v.v. Khoảng thời gian ngắn đó được xem như là sự phân chia thời gian của CPU và nó tạo ảo giác như là các chương trình được thực thi đồng thời. Điều này cũng tương tự như phim là sự chuyển động đơn giản của các ảnh kế tiếp nhau. Hệ điều hành là chương trình thông thường kiểm soát sự phân chia thời gian đó. ==== Hệ điều hành ==== Máy tính cần ít nhất một chương trình luôn luôn chạy để đảm bảo sự hoạt động của nó. Trong điều kiện hoạt động bình thường (đối với các máy tính tiêu chuẩn) chương trình này được gọi là hệ điều hành (operating system). Hệ điều hành sẽ quyết định chương trình nào được thi hành, khi nào và bao nhiêu tài nguyên (như bộ nhớ hay đầu vào/đầu ra) chúng được cấp. Hệ điều hành cũng cung cấp một lớp trừu tượng trên phần cứng và cho phép truy nhập bằng các dịch vụ cung cấp cho các chương trình khác, như mã ("driver") cho phép lập trình viên viết chương trình cho máy tính mà không cần thiết phải biết các chi tiết thuộc bản chất của các thiết bị điện tử đính kèm. Phần lớn các hệ điều hành có các lớp trừu tượng phần cứng đều có một giao diện người dùng (user interface) chuẩn hóa. Hệ điều hành phổ biến nhất hiện nay là Windows của Microsoft. == Xem thêm == Phần cứng máy tính Phần mềm máy tính Lý thuyết khả năng tính toán Bảng dữ liệu máy tính Triển lãm máy tính Khoa học máy tính Các dạng máy tính: máy tính để bàn, máy tính xách tay, desknote, Roll-away. Tính toán máy tính Những điều liên quan đến máy tính Máy tính trong truyện viễn tưởng Kỹ thuật số Lịch sử máy tính Máy tính cá nhân (PC) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Máy tính tại Từ điển bách khoa Việt Nam Thế hệ máy tính tại Từ điển bách khoa Việt Nam Máy vi tính tại Từ điển bách khoa Việt Nam Máy tính cá nhân tại Từ điển bách khoa Việt Nam Computer tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
champaign, illinois.txt
Champaign, Illinois là một thành phố thuộc quận Champaign trong bang Illinois, Hoa Kỳ. Thành phố có tổng diện tích km², trong đó diện tích đất là km². Theo điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2010, thành phố có dân số 81.055 người. Champaign có khoảng cách 135 dặm (217 km) về phía nam Chicago, 124 dặm (200 km) về phía tây của Indianapolis, Indiana, và 178 dặm (286 km) về phía đông bắc St Louis, Missouri. Mặc dù được bao quanh bởi các cộng đồng nông nghiệp, Champaign chia sẻ trong khuôn viên của Đại học Illinois tại Urbana-Champaign với thành phố kết nghĩa Urbana. Theo báo cáo điều tra dân số Mỹ 2010, thành phố là 81.055 người. Champaign là thành phố đông dân thứ 11 ở Illinois, và thành phố đông dân thứ tư trong tiểu bang bên ngoài của khu vực vùng đô thị Chicago. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
chính sách một trung quốc.txt
Chính sách một Trung Quốc (tiếng Hán phồn thể: 一個中國; tiếng Hán giản thể: 一个中国, bính âm: yī gè Zhōngguó) là một nguyên tắc trong đó chỉ có một Trung Quốc và Trung Quốc đại lục, Hong Kong, Macau và Đài Loan tất cả đều thuộc Trung Quốc. Việc chấp nhận hay từ chối nguyên tắc này là một nhân tố quan trọng trong quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nước kiểm soát Trung Quốc đại lục, Tây Tạng, Hong Kong và Macau và Trung Hoa dân quốc, nước kiểm soát Đài Loan. Chính sách một Trung Quốc được thực hiện khá cứng rắn, trong đó Trung Quốc đồng nghĩa với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Nguyên tắc này yêu cầu tất cả các quốc gia muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa phải công nhận chính sách này và không được duy trì quan hệ với Trung Hoa dân quốc. Việc công nhận chỉ có một Trung Quốc (mặc dù không nhất thiết phải đồng nhất "Trung Quốc" đồng nghĩa với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa) cũng là một điều kiện tiên quyết mà Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đặt ra trong khi đàm phán với chính quyền Trung Hoa dân quốc. Chính sách một Trung Quốc cũng là một chính sách hiện tại của Trung Hoa dân quốc và Trung Hoa dân quốc tiếp tục duy trì phiên bản nguyên tắc "Một Trung Quốc" của mình về mặt hiến pháp với việc tuyên bố chủ quyền với cả phần Trung Quốc đại lục. Dù tuyên bố này không còn được theo đuổi một cách tích cực, nó được tái khẳng định vào ngày 8 tháng 10 năm 2008. Về mặt ngoại giao, tất cả các nước có quan hệ chính thức với Trung Hoa dân quốc thừa nhận Trung Hoa dân quốc là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc. Tuy nhiên về mặt chính trị, vị thế của Trung Hoa dân quốc với chính sách này bị chia rẽ. Các đảng thuộc Liên minh Phàm-Lam đồng tình với chính sách một Trung Quốc, nhưng theo cách hiểu của họ, họ không đồng nhất Trung Quốc với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Tổng thống Trung Hoa dân quốc Mã Anh Cửu vào năm 2006 khi còn là chủ tịch Quốc dân đảng rằng đã phát biểu "Một Trung Quốc là Trung Hoa dân quốc". Các đảng trong Liên minh Phàm-Lục không đồng ý với chính sách này và nói rằng Đài Loan là một quốc gia tách biệt với Trung Quốc. == Tham khảo ==
đàng ngoài.txt
Đàng Ngoài (chữ Hán: 塘外), hay Bắc Hà (chữ Hán: 北河), An Nam (chữ Hán: 安南國 / An Nam quốc), Vương quốc Đông Kinh (Tunquin, Tonqueen, Tonquin, Tonkin, Ton Kin...) là tên gọi vùng lãnh thổ Đại Việt kiểm soát bởi Chúa Trịnh, xác định từ sông Gianh (tỉnh Quảng Bình) trở ra Bắc. Kinh đô Đàng Ngoài là Thăng Long (còn gọi là Đông Kinh, Kinh Kỳ hay Kẻ Chợ). == Lịch sử == Năm 1527, Mạc Đăng Dung phế bỏ triều Lê lập ra triều Mạc (1527 - 1592). Một tướng của nhà Lê là Nguyễn Kim tập hợp lực lượng chống Mạc ở Thanh Hoá nhằm khôi phục triều Lê; năm 1533, lập Lê Trang Tông lên làm vua. Năm 1545, Nguyễn Kim chết, binh quyền giao cho con rể là Trịnh Kiểm. Năm 1592, con Trịnh Kiểm là Trịnh Tùng đánh bại triều Mạc, chiếm lại kinh thành Thăng Long, cùng con cháu họ Trịnh kế tục xưng vương, nhân dân thường gọi là chúa Trịnh. Thực quyền nằm trong tay chúa Trịnh, còn vua Lê chỉ là danh nghĩa. Phạm vi thống trị của vua Lê - chúa Trịnh chỉ còn từ sông Gianh trở ra Bắc vì phía nam do Nguyễn Hoàng, con trai của Nguyễn Kim, và con cháu họ Nguyễn chiếm giữ, nhân dân cũng gọi là chúa Nguyễn. Hai bên Trịnh-Nguyễn thường xuyên giao chiến, trong gần nửa thế kỷ từ 1627 đến 1672, hai bên đánh nhau 7 lần mà không có kết quả. Hai họ Trịnh, Nguyễn phải ngừng chiến, lấy sông Gianh giới tuyến hai miền, phía bắc sông Gianh thuộc quyền vua Lê - chúa Trịnh gọi là Đàng Ngoài hay Bắc Hà (có kinh đô là Đông Kinh nên người phương Tây gọi là Tonquin hay Tonkin), phía nam sông Gianh thuộc chúa Nguyễn gọi là Đàng Trong hay Nam Hà. == Chính trị, quân sự == Năm 1600, Trịnh Tùng được phong vương, chính thức trở thành chúa. Họ Trịnh được hưởng quyền thế tập (cha truyền con nối). Từ đây họ Trịnh lập ra hệ thống tổ chức chính quyền ở phủ chúa tương ứng với chính quyền có sẵn bên cung vua. Nắm thực quyền điều hành triều đình, các chúa Trịnh đồng thời định đoạt các chính sách đời sống xã hội, khống chế triều đình nhà Lê. Một số vị vua Lê hoặc tông thất nhà Lê có ý định chống lại họ Trịnh để giành lại quyền bính như Lê Kính Tông, Lê Duy Mật, Lê Duy Vĩ đều thất bại và bị giết. Chính quyền Lê-Trịnh không có sơ sở vững chắc trong dân lại phải thường xuyên đương đầu với sự uy hiếp từ nhiều phía nên các chúa Trịnh đã sớm có ý thức hình thành một lực lượng quân đội thường trực đủ mạnh để tự vệ. Từ năm 1600, Trịnh Tùng chia quân đội làm 2 loại: quân thường trực và ngoại binh. Bên cạnh cuộc chiến chống họ Nguyễn phía nam từ năm 1627 đến 1672, họ Trịnh phải đối phó với tàn dư họ Mạc ở Cao Bằng tới năm 1677 và các chúa Bầu ở Tuyên Quang tới năm 1699. Kể từ giữa thế kỷ 18, do phải đối phó với các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài, chúa Trịnh còn huy động thêm nhiều dân đinh các làng xã, phiên chế thành đội ngũ gọi là hương binh, phủ binh. Trong số các cuộc khởi nghĩa nông dân, mạnh nhất là các cuộc nổi dậy của quận He, quận Hẻo, Lê Duy Mật, Hoàng Công Chất. Các cuộc khởi nghĩa này cuối cùng bị dẹp năm 1770. Sau khi dẹp yên các cuộc khởi nghĩa nông dân, nhân Đàng Trong có phong trào nổi dậy của anh em Tây Sơn, Trịnh Sâm điều quân vượt sông Gianh đánh Thuận Hóa. Đầu năm 1775 quân Trịnh chiếm được Phú Xuân, mở rộng bờ cõi Bắc Hà lần đầu tiên tới vùng đất Thuận Hóa mà trong 7 lần tranh chiến trong thế kỷ 17 chưa bao giờ họ Trịnh tiến đến được. == Hành chính == Trịnh Tùng bãi bỏ chức Tả, Hữu thừa tướng và Bình chương của thời trước, đặt ra chức Tham tụng làm việc Tể tướng và chức Bồi tụng đảm đương trọng trách trong phủ Chúa. Dưới Tham tụng và Bồi tụng, chúa Trịnh đặt thêm các Phiên, tương đương với các Bộ bên cung vua. Tuy nhiên thời Trịnh Tùng chỉ có 3 Phiên, phải tới năm 1718 Trịnh Cương mới đặt thêm 3 Phiên nữa, từ đó mới đầy đủ 6 Phiên tương đương 6 Bộ của triều đình vua Lê là Binh phiên, Hộ phiên, Lại phiên, Lễ phiên, Hình phiên, Công phiên. Tại các địa phương, Đàng Ngoài chia làm 11 trấn, sau chia lập thêm 2 trấn thành 13 trấn (Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hưng Hóa, An Quảng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An), và 1 phủ là phủ Phụng Thiên là vùng kinh thành. Đứng đầu các trấn là các cơ quan Trấn ty, Thừa ty và Hiến ty. Đứng đầu cơ quan Trấn ty là quan Trấn thủ, Đốc trấn và Lưu thủ. Các trấn gần thì đặt chức Trấn thủ nhưng các trấn xa thì đặt chức Đốc trấn. == Giáo dục khoa cử == Các chúa Trịnh cho duy trì hệ thống trường học từ trung ương đến địa phương vốn có từ thời Lê Sơ. Sang đầu thế kỷ 18, triều đình chú trọng hơn đến việc hỗ trợ vật chất cho trường học các địa phương. Năm 1723, triều đình ban hành quy định cấp ruộng cho các trường học, gọi là học điền theo các mức: trường Quốc học 60 mẫu, trường Hương học 16 - 20 mẫu tùy vào quy mô từ nhỏ đến lớn. Hoa lợi từ ruộng được mang chi dùng vào việc đèn dầu trong học tập. Năm 1595 khi mới trở về Thăng Long, nhà Lê trung hưng tổ chức kỳ thi Hội cho các cống sĩ ở bờ sông Nhị Hà và sau đó thi Đình, lấy đỗ Tiến sĩ xuất thân và Đồng tiến sĩ xuất thân. Sang thế kỷ 17, thể lệ thi cử được chỉnh đốn quy củ hơn. Tuy nhiên, theo đánh giá của Lịch triều hiến chương loại chí, việc thi cử thời Lê trung hưng không còn giữ được sự nghiêm túc như thời Lê Thánh Tông. Từ sau năm 1750, do loạn lạc, tư tưởng Nho giáo cũng suy, việc học hành và thi cử suy kém đi. Quy chế thi cử càng suy đồi, mất kỷ cương. Trong trường thi, việc trông coi cũng thả lỏng nên xảy ra hiện tượng quay cóp bài và mượn người khác vào thi hộ. Những tệ nạn đó diễn ra công khai làm trường thi rất lộn xộn. == Kinh tế == === Nông nghiệp === Kể từ khi đánh bại nhà Mạc, làm chủ vùng Bắc bộ, chính quyền Lê-Trịnh đã có nhiều cố gắng khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất nông nghiệp. Đối với việc thủy lợi, triều đình Lê-Trịnh cũng quan tâm. Khi thời tiết hạn hán nặng, triều đình cử quan xuống các đạo xem xét và sai làm xe tát nước để chống hạn. Việc tuần tra, sửa chữa đê điều cũng thực hiện thường xuyên. Vì thiếu đất nên mỗi người chỉ được một miếng đất nhỏ, người nông dân phải xen canh tăng vụ, tận dụng tối đa mảnh đất, mỗi năm thường thu hoạch 2-3 vụ. Kỹ thuật sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng đạt trình độ khá cao. Phương pháp cày cấy chủ yếu dựa vào sức người, nông cụ giản đơn như liềm, cuốc, cày, bừa, hái. Do chính sách khuyến nông và sức lao động chăm chỉ của người dân, đến đầu thế kỷ 18, nông nghiệp Đàng Ngoài có những tiến bộ đáng kể. Những năm không gặp phải thiên tai, lụt lội, nhiều năm được mùa. === Thủ công nghiệp === Ngoài những nghề truyền thống nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt như thợ đá, thợ sơn, thợ mộc, thợ rèn, thợ nề... như trước, còn có những ngành nghề phục vụ mục đích quân sự, chính trị mới như đóng tàu, đúc súng đạn. Đàng Ngoài có tài nguyên phong phú, tập trung chủ yếu ở vùng trung du phía bắc, gần biên giới với Trung Quốc. Do ảnh hưởng của nội chiến kéo dài, sang thế kỷ 18 việc khai thác mỏ mới được xúc tiến mạnh và quản lý chặt chẽ. Đồng thời, triều đình kiểm soát nghiêm việc mua bán các loại khoáng sản, nhất là đồng, chì và thiếc, những kim loại cần cho việc chế tạo vũ khí. Phương thức khai thác mỏ thời kỳ này vẫn mang tính thủ công: quặng đào lên bằng công cụ thô sơ rồi đãi và nấu trong lò nổi thô sơ. === Thương mại === Kinh tế hàng hoá phát triển khá mạnh trong thế kỉ 17, nhiều đô thị phồn thịnh, tiêu biểu là Thăng Long (Hà Nội) và Phố Hiến (Hưng Yên), quan hệ buôn bán với nước ngoài được mở rộng. Chợ là trung tâm kinh tế của nông thôn, là nơi trao đổi hàng hóa của một xã hay một làng. Tại đây người nông dân và thợ thủ công mang sản phẩm mình sản xuất được như lương thực, thực phẩm, công cụ lao động, đồ dùng gia đình… ra chợ để mua bán, trao đổi. Dù bị các chúa Trịnh và chúa Nguyễn ngăn cấm, giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài vẫn có luồng buôn bán trao đổi không chính thức. Khác với thời Lê Sơ thực hiện chính sách đóng cửa đối với ngoại thương, các chúa Trịnh thực thi chính sách mở cửa với nước ngoài. Ngoài những đối tác truyền thống từ phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, thời kỳ này đã có thêm các đối tác từ phương Tây như Pháp, Anh, Bồ Đào Nha, Hà Lan. == Chấm dứt == Tận dụng biến cố từ phong trào Tây Sơn ở Đàng Trong, họ Trịnh mở bờ cõi Bắc Hà tới Thuận Hóa năm 1775. Sau khi đánh bại được quân Tây Sơn tại trận Cẩm Sa (Quảng Nam) rồi thu hàng Tây Sơn, nhận Tây Sơn làm tiên phong đi đánh chúa Nguyễn, chúa Trịnh lo hưởng lạc không chú trọng việc phòng bị. Ngay cả khi Nguyễn Nhạc giết được hai chúa Nguyễn rồi tự xưng làm vua Thái Đức (1778), họ Trịnh vì Quảng Nam xa xôi hiểm trở và ngại dùng binh nên không hỏi đến. Sau khi Trịnh Sâm qua đời (1782), hai con là Trịnh Tông và Trịnh Cán tranh giành quyền lực. Cuối cùng Trịnh Tông giết phụ chính Hoàng Đình Bảo, lật đổ Trịnh Cán giành ngôi. Thủ hạ của Đình Bảo là Nguyễn Hữu Chỉnh vào nam đầu hàng Tây Sơn. Chính quyền Trịnh Tông không ổn định được Bắc Hà, ngày càng suy yếu. Năm 1786, sau khi đánh bật chúa Nguyễn Ánh ra khỏi Đại Việt, Tây Sơn tiến ra bắc đánh Trịnh với danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh" theo đề nghị của Nguyễn Hữu Chỉnh. Quân Trịnh lâu ngày không chiến đấu, chủ tướng trấn thủ Phú Xuân là Phạm Ngô Cầu không chú trọng việc binh nên thành Phú Xuân nhanh chóng thất thủ. Sang tháng 7 năm 1786, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến ra bắc. Quân Trịnh rệu rã liên tiếp thất bại. Trịnh Tông chạy trốn khỏi kinh thành, bị bắt đã tự sát trên đường bị áp giải. Họ Trịnh bị tiêu diệt, chính thể Đàng Ngoài chấm dứt tồn tại. Khi Tây Sơn rút về nam trả lại chính thể cho vua Lê, lực lượng họ Trịnh còn cố gắng tái lập nhưng không thành công. Chính thể của vua Lê sau đó mâu thuẫn với Tây Sơn, cầu viện nhà Thanh sang giúp nhưng thất bại và nhà Hậu Lê chấm dứt tồn tại năm 1789. == Xem thêm == Chúa Trịnh Nhà Hậu Lê Đàng Trong Trịnh-Nguyễn phân tranh == Tham khảo == Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 4, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Khâm định Việt sử thông giám cương mục == Chú thích ==
kiểm duyệt internet ở việt nam.txt
Chính quyền Việt Nam kiểm duyệt việc truy cập Internet một cách sâu rộng, dùng nhiều biện pháp, cả về pháp lý lẫn kỹ thuật. Công trình nghiên cứu OpenNet Initiative của Đại học Harvard, Đại học Toronto, Đại học Oxford và Đại học Cambridge đánh giá mức kiểm duyệt của Việt Nam trong lĩnh vực chính trị là "sâu rộng" (pervasive), trong khi tổ chức Phóng viên không biên giới liệt kê Việt Nam trong danh sách 10 nước "kẻ thù của Internet" trong năm 2011 và 12 nước năm 2012. Nỗ lực của chính phủ Việt Nam để quản lý, kiểm tra, và giám sát việc sử dụng Internet còn được gọi là "bức tường lửa tre" ("bamboo firewall"). Trong khi chính quyền Việt Nam cho rằng các nỗ lực kiểm duyệt Internet là để bảo vệ người dùng khỏi phải đối mặt với các nội dung tục tĩu hay "đồi trụy", nhưng phần lớn các website bị kiểm duyệt chứa các nội dung nhạy cảm về chính trị hay tôn giáo mà có thể thách thức sự thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo nghiên cứu của OpenNet, các website bị chặn hầu hết có nội dung về các hoạt động chống đối của người Việt hải ngoại, các tổ chức báo chí hải ngoại hay tổ chức phi chính phủ độc lập, nhân quyền, hay các đề tài tôn giáo. Một số mạng xã hội, như Facebook không truy cập được trong một vài tháng năm 2008. Chính quyền đã công khai phá sập một số website hay trang blog với nội dung "không phù hợp", trong khi một số website đối lập bị tin tặc tấn công. Tổ chức Ân xá Quốc tế cũng đã đưa ra nhiều trường hợp các nhà hoạt động Internet bị bắt bớ vì các hoạt động trên mạng. == Văn bản pháp lý == Điều 3 trong nghị định 21-CP ngày 5 tháng 3 năm 1997 (Quy chế tạm thời) đòi hỏi "mọi thông tin đưa vào, truyền đi và nhận đến mạng Internet qua cửa đi quốc tế tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định tại Điều 10 Luật Báo chí và Điều 22 Luật Xuất bản", cụ thể là: Không được kích động chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân. Không được kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, truyền bá tư tưởng, văn hoá phản động, lối sống dâm ô, truỵ lạc, các hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục; Không được tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại, bí mật đời tư của công dân và bí mật khác do pháp luật quy định; Không được thông tin sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm vĩ nhân, anh hùng dân tộc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của công dân. Quyến định 848/1997/QĐ-BNV(A11) ngày 23/10/1997 của Bộ Nội vụ ban hành quy định về biện pháp và trang thiết bị kiểm tra, kiểm soát đảm bảo an ninh quốc gia trong hoạt động Internet ở Việt Nam. Trong quyết định này, các nhà cung cấp dịch vụ Internet có nhiệm vụ "phát hiện, ngăn chặn, thông báo cho Bộ Nội vụ về các tổ chức, cá nhân đã hoặc đang có ý đồ, hành vi phổ biến trên mạng Internet những thông tin vi phạm Điều 3 'Quy chế tạm thời của Chính phủ' về Internet ở Việt Nam". Đồng thời, người dùng Internet có trách nhiệm: Báo cáo cho cơ quan gần nhất khi phát hiện những vấn đề nghi vấn về an ninh quốc gia trong hoạt động Internet Tuyệt đối tuân thủ các quy định của Nhà nước về việc cung cấp thông tin lên Internet; Không được truy nhập khai thác, truyền bá thông tin của các tổ chức, cá nhân trên Internet có nội dung vi phạm Điều 3 "Quy chế tạm thời của Chính phủ" về Internet ở Việt Nam; Không được tự ý tổ chức và tham gia hội thảo về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội liên quan đến Việt Nam trên mạng Internet; nếu muốn tổ chức diễn đàn và tham gia hội thảo trên Internet phải thực hiện thủ tục đăng ký theo quy định của Nhà nước về vấn đề hội thảo quốc tế. Không được lưu truyền các thông tin, dữ liệu đã được mã hoá trên Internet Phải kèm phần mềm giải nén đã đăng ký với Ban điều hành mạng chủ quản khi lưu chuyển những thông tin, dữ liệu được nén; Không được lưu giữ trên máy tính có kết nối với Internet các thông tin, tư liệu thuộc danh mục bí mật Nhà nước của tất cả các ngành, các địa phương. Thêm vào đó, thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHDT năm 2005 cấm các đại lý kinh doanh dịch vụ Internet ở Việt Nam "sử dụng hoặc hướng dẫn người khác sử dụng công cụ hỗ trợ để truy cập vào các trang thông tin trên Internet (trang Web) do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấm truy cập". Nhiều nhà hoạt động trên mạng tại Việt Nam thường bị truy tố với tội danh "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" được định nghĩa ở điều 88 Bộ Luật hình sự Việt Nam như sau: Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 258 cũng định nghĩa tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là việc "lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân". Cuối năm 2011, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lại ban hành quy định 47-QĐ/TW gồm 19 điều đảng viên không được làm, trong đó có các quy định về việc đảng viên phát biểu, viết bài (viết blog) hay tham gia phản biện và khiếu kiện, trong đó có mấy điều liên quan như cấm không được: Điều 2: Cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Ðảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Ðảng, pháp luật của Nhà nước. Tổ chức, xúi giục, tham gia các hoạt động bè phái, chia rẽ, cục bộ gây mất đoàn kết nội bộ. Lợi dụng việc phát ngôn, nhân danh việc phản ánh, góp ý kiến đối với Ðảng để đả kích, vu cáo, xúc phạm, nhận xét, đánh giá tùy tiện đối với người khác. Ðe dọa, trù dập, trả thù người tố cáo, phê bình, góp ý. Điều 3: Viết bài, cho đăng tải tin, bài sai sự thật, vu cáo, bịa đặt hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử, không đăng tải ý kiến phản hồi, cải chính theo quy định. Sáng tác, sản xuất, tàng trữ, tán phát các tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật không lành mạnh, mang tính kích động gây ảnh hưởng xấu trong xã hội; tán phát bài viết, hồi ký không đúng sự thật. Điều 5: Tố cáo mang tính bịa đặt; viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Cùng người khác tham gia viết, ký tên trong một đơn tố cáo. Tổ chức, tham gia kích động, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo. Cố ý gửi hoặc tán phát đơn khiếu nại, tố cáo đến những nơi không có thẩm quyền giải quyết. Điều 6: Tổ chức, tham gia các hội trái quy định của pháp luật; biểu tình, tập trung đông người gây mất an ninh, trật tự. Một luật sư bất đồng chính kiến cho rằng đây là quy định nội bộ riêng của Đảng Cộng sản, nhưng cho rằng "nó vi phạm rất nhiều các quy định đơn giản của con người... Trong đó, đặc biệt là việc cấm quyền tự do tư tưởng và quyền tự do bày tỏ chính kiến, bày tỏ quan điểm". Tháng 9 năm 2012, qua Công văn số 7169/VPCP-NC của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo điều tra, xử lý một số trang mạng vì "Qua xem xét các báo cáo số: 277/BC-BCA-A61 ngày 15/6/2012, số 335/BC-BCA-A61 ngày 09/7/2012 của Bộ Công an; công văn số 78/BTTTT-PTTH&TTĐT ngày 29/6/2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông; công văn số 2794-CV/BTGTW ngày 19/7/2012 của Ban Tuyên giáo Trung ương và báo cáo số 172-BC/VPTW ngày 07/9/2012 của Văn phòng Trung ương Đảng về tình trạng một số trang thông tin điện tử như: "Dân làm báo", "Quan làm báo", "Biển Đông"... và một số trang mạng khác, đã đăng tải thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội". Ngày 1 tháng 9 năm 2013, nghị định Chính phủ 72/2013/NĐ-CP trở nên hiệu lực, đòi hỏi các nhà cung cấp thông tin điện tử tổng hợp và các tổ chức thiết lập mạng xã hội phải đặt ít nhất một máy chủ tại Việt Nam để "đáp ứng việc thanh tra, kiểm tra, lưu trữ, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền". Nghị định cũng định nghĩa một "trang thông tin điện tử cá nhân" là "do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó...và không cung cấp thông tin tổng hợp". == Đối tượng bị kiểm duyệt == Công trình nghiên cứu của OpenNet vào năm 2006 kết luận rằng chính quyền Việt Nam đang tích cực kiểm duyệt mạng, và sự tinh vi kỹ thuật, bề rộng, cũng như hiệu lực của hệ thống kiểm duyệt ngày càng tăng lên. Sự kiểm duyệt này cũng được thực hiện một cách thiếu minh bạch và thiếu trách nhiệm. Năm 2015 Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (Reporters Sans Frontières – RSF) liệt kê Việt Nam là một trong 11 quốc gia "kẻ thù của internet". === Khiêu dâm === Mặc dù nội dung "đồi trụy" là một trong những lý do chính được chính quyền nêu ra để kiểm duyệt Internet, trên thực tế rất ít trang web với nội dung khiêu dâm bị kiểm duyệt tại Việt Nam. Việc này cho thấy việc kiểm duyệt trên thực tế không phải vì những lý do chính quyền nêu ra. Nghiên cứu của OpenNet cho thấy không trang web có nội dung khiêu dâm nào bị chặn (trừ một trang web có chứa liên kết đến một trang khiêu dâm, nhưng bị chặn vì lý do khác). Khi một số trang như Facebook và YouTube được đại diện công ty truyền thông tại Việt Nam cho là bị chặn vì lý do kinh tế do chiếm đến 70%-80% băng thông quốc tế chạy qua mà không đem lại lợi nhuận cho các nhà cung cấp, một số ý kiến phản hồi trong nước thắc mắc việc hàng nghìn trang web khiêu dâm có đem lại lợi nhuận cho nhà mạng không, mà không bị chặn . Điều này đặc biệt không hợp lý trong bối cảnh Việt Nam là nước có người tìm kiếm về sex nhiều nhất thế giới, theo thống kê từ khóa của Google năm 2007 đến 2010 . Thống kê lưu lượng băng thông của những trang web này cũng chưa từng được công bố. === Chính trị và tự do === Nghiên cứu của OpenNet cho thấy các trang web bị chặn chủ yếu có nội dung chính trị, như về các hoạt động chống đối của người Việt hải ngoại, báo chí hải ngoại hay độc lập, nhân quyền, hay tôn giáo. Phần lớn các website bị chặn đều đặc trưng đến Việt Nam: chúng được viết bằng tiếng Việt hay có nội dung về các vấn đề của Việt Nam. Những website không có nội dung liên quan đến Việt Nam hay viết bằng tiếng Anh ít khi bị chặn. Ví dụ, trang web Việt ngữ cho đài Á Châu Tự do bị cả hai nhà cung cấp dịch vụ Internet được khảo sát chặn lại, trong khi trang web tiếng Anh chỉ bị một nhà cung cấp chặn lại. Trong danh sách các trang web của các tổ chức nhân quyền quốc tế, chỉ có trang web của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền bị chặn, trong khi nhiều website tiếng Việt có nội dung chỉ động đến hay gián tiếp chỉ trích chính quyền thì bị chặn, cũng như những website trực tiếp chỉ trích chính quyền. Một số nội dung tôn giáo, như các trang web nói về tự do tôn giáo, Phật giáo, Cao Đài, cũng bị chặn. Những tổ chức không mang tính chính trị nhưng đề xướng tự do ngôn luận và tự do báo chí như Reporters Sans Frontières (RSF) hay Dân làm báo cũng bị chính quyền Việt Nam ngăn cản khiến người dân trong nước không thể truy cập trang web của những tổ chức này được. RSF đã phải đặt những phiên bản tương đồng nội dung qua đám mây điện toán để chống lại bức tường lửa của chính quyền. === Trang blog và mạng xã hội === Từ cuối năm 2009, Facebook đã bắt đầu có vấn đề truy cập và đến năm 2010 tình trạng này đã tăng lên. Nhiều người viết blog phải tự kiểm duyệt vì sợ bị chính quyền "chiếu cố", một số người khác đã gặp trường hợp bài blog bị xóa khi viết về đề tài nhạy cảm. Tại hội thảo do Viện Công nghệ thông tin thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức đầu năm 2012, ông Nguyễn Lâm Thanh, giám đốc VTC, khẳng định việc chặn Facebook "không phải vì lý do chính trị mà chỉ vì lý do kinh tế". Việc truy cập Facebook chỉ thỉnh thoảng tắc nghẽn, mang tính không đồng đồng loạt và liên tục là nhằm nhường băng thông cho những dịch vụ sinh lợi hơn. Sau đó, đại diện các nhà cung cấp dịch vụ Internet lại phủ nhận điều này với báo giới, nói rằng họ luôn "đặt lợi ích của khách hàng lên trên lợi ích kinh tế", "việc định tuyến với nước ngoài gặp trục trặc nên dẫn đến hiện tượng khó truy cập các trang web nước ngoài". Theo nghị định 72 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9 năm 2013, các mạng xã hội có nhiệm vụ "không được chủ động cung cấp thông tin công cộng có nội dung vi phạm quy định", "phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để loại bỏ hoặc ngăn chặn thông tin có nội dung vi phạm quy định", "cung cấp thông tin cá nhân và thông tin riêng của người sử dụng có liên quan đến hoạt động khủng bố, tội phạm, vi phạm pháp luật khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền", và "có ít nhất 01 hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam đáp ứng việc thanh tra, kiểm tra, lưu trữ, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền". Nghị định cũng không cho phép người dùng mạng xã hội cung cấp thông tin tổng hợp qua trang trang cá nhân trên các mạng xã hội. === Dụng cụ vượt tường lửa === Theo thông tư liên tịch 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT, các dụng cụ vượt tường lửa bị cấm sử dụng tại Việt Nam. Theo nghiên cứu của OpenNet, nhiều proxy server và dụng cụ vượt tường lửa cũng không truy cập được. OpenNet đánh giá mức độ kiểm duyệt của Việt Nam trong thể loại này là "đáng kể" (substantial). == Tấn công bằng tin tặc == Một số trang web có nội dung chính trị, như trang web Bauxite Việt Nam của giáo sư Nguyễn Huệ Chi và trang "Anhbasam", thường xuyên bị tấn công từ chối dịch vụ. Các báo của nhà nước cũng liên tục đả phá và lên án các trang cá nhân. Cuối tháng 8 năm 2010, nhân dịp lễ Quốc khánh Việt Nam, nhiều website và blog có nội dung đối lập và bất đồng chính kiến cùng lúc bị liên tục tấn công trong nhiều ngày.. Trong năm 2010, Google đã thông báo về một vụ tin tặc đột nhập trang web của Hội Chuyên gia Việt Nam rồi thay thế phần mềm đánh máy tiếng Việt VPSKeys với phần mềm ác ý nhằm để tấn công các website đối lập. Bộ phận an ninh mạng của tập đoàn Google cho hay đã phát hiện ra "chiến dịch" tấn công các trang web "nhạy cảm chính trị" bằng tiếng Việt và giám đốc kỹ thuật của công ty an ninh máy tính McAfee George Kurtz cho rằng "những kẻ thủ phạm có thể có động cơ chính trị và có thể có lòng trung thành đến chính quyền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Phát ngôn viên Bộ ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cho rằng những ý kiến này "không có cơ sở". Tại một cuộc Hội nghị báo chí toàn quốc ngày 5 tháng 5 năm 2010, Trung tướng Vũ Hải Triều, Tổng cục phó Tổng cục an ninh đã tuyên bố bộ phận kỹ thuật đã "phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu". == Giám sát và tuyên truyền trên mạng == Chính quyền Việt Nam dùng tuyên truyền viên, dư luận viên và công an mạng để giám sát và tuyên truyền trên mạng internet. Tiết lộ công khai đầu tiên về việc sử dụng đội ngũ chuyên gia bút chiến là từ lời tuyên bố của ông trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Hồ Quang Lợi trên báo Lao động, rằng đã thành lập một nhóm chuyên gia với mục đích "đấu tranh trực diện, tham gia bút chiến trên Internet trong việc đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch." Theo AFP, các giám sát viên internet để kiểm soát tin tức và hướng dẫn dư luận, giống hệ thống của Trung Quốc. Các dư luận viên này thường "bút chiến" lại các nhận xét phê phán chính quyền và Đảng, đồng thời định hướng dư luận theo hướng thân chính phủ và đảng Cộng sản Việt Nam. Trong khi đó các bình luận viên độc lập phê phán chính phủ bị bỏ tù vì bị buộc tội tuyên truyền chống nhà nước. Sau khi đàn áp và bỏ tù những blogger đối lập nhằm làm im lặng họ không được, chính quyền Việt Nam bắt đầu xây dựng một đội ngũ dư luận viên tuyên truyền nhằm thâm nhiễm các diễn đàn và ca bài ca ca ngợi chế độ . == Truy tố vì hoạt động trên mạng == Nhiều người đã bị truy tố với tội danh "tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" do các hoạt động của họ qua Internet. Theo tổ chức Phóng viên không biên giới, vào thời điểm năm 2011 Việt Nam giam giữ 17 công dân mạng, con số lớn thứ nhì trên thế giới, trong đó có những nhân vật bất đồng chính kiến như Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Lê Thăng Long, và blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải). Blogger Điếu Cày, người đã từng kêu gọi tẩy chay chặn đường đuốc của Thế Vận hội Bắc Kinh đi qua Thành phố Hồ Chí Minh, bị bắt vào tháng 4 năm 2008 vì tội "gian lận thuế" rồi bị kết án 2 năm rưỡi tù. Sau đó, ông bị truy tố vì tội "tuyên truyền chống nhà nước" và tiếp tục bị giam giữ tuy chưa có án. Nguyễn Tiến Trung, một nhà hoạt động dân chủ, bị bắt vào ngày 7 tháng 7 năm 2009 cũng vì điều 88 bộ luật hình sự và bị phạt tù 7 năm. Vi Đức Hồi, một cựu đảng viên cộng sản và thành viên của Khối 8406, cũng bị phạt 8 năm tù và 5 năm quản thúc tại gia cũng vì điều 88. Ông đã từng kêu gọi cải cách dân chủ và đã đăng trên mạng về nhiều chủ đề nhạy cảm như vụ chiếm đoạt tài sản, tham nhũng và đa nguyên. Tháng 9 năm 2010, một giảng viên hợp đồng cho Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh tên Phạm Minh Hoàng (mang hai quốc tịch Pháp và Việt Nam) bị bắt vì các hoạt động cho tổ chức Việt Tân - một tổ chức được cho là phản động, bao gồm việc ông đã phát tán 29 bài viết có nội dung "xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước" trên Internet. Trong tháng 7-8 năm 2011, một số blogger và nhà hoạt động liên quan đến hệ thống Công giáo Việt Nam bị bắt. Blogger Paulus Lê Sơn bị bắt vì muốn tường trình về phiên tòa của luật sư Cù Huy Hà Vũ, một người cũng bị truy tố vì những bài viết của mình trên mạng. Tháng 10 năm 2011, một giáo viên trung học phổ thông tên Đinh Đăng Định bị bắt về hoạt động "tuyên truyền chống Nhà nước" vì đã phát tán trên các trang mạng những nội dung như: phản đối dự án khai thác boxit ở Nhân Cơ, đòi đa nguyên đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng công an, quân đội và đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp, phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng... Sau khi ông bị khởi tố vào cuối tháng 2 năm 2012, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố bài xã luận phản ánh quan điểm chính thức về trường hợp này, trong đó "kêu gọi Việt Nam tôn trọng quyền tự do ngôn luận cho tất cả người Việt, kể cả quyền được bày tỏ ý kiến chính trị và quyền được chỉ trích các chính sách của chính quyền." Đài Tiếng nói Hoa Kỳ và một số trang mạng ở nước ngoài cũng lên tiếng về vấn đề này. Báo Quân đội Nhân dân đánh giá việc lên tiếng này là "sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của nước khác". Ngay cả những nhà văn có tiếng trong nước khi viết trên blog cũng bị truy tố như trường hợp Nguyễn Quang Lập với blog Quê Choa bị công an bắt tại nhà riêng ngày 6 Tháng 12, 2014 theo điều 258 Bộ luật Hình sự vì tội xuyên tạc "chống nhà nước". == Phản ứng == Các nỗ lực kiểm duyệt Internet của chính quyền đã khiến tổ chức Phóng viên không biên giới liên tục đưa Việt Nam vào danh sách các "kẻ thù của Internet". OpenNet đánh giá mức độ minh bạch cũng như sự nhất quán của hệ thống kiểm duyệt là "thấp". Các tổ chức nhân quyền và chính quyền tây phương luôn chỉ trích chính quyền Việt Nam khi các nhà hoạt động mạng bị bắt giữ. Dân biểu Hoa Kỳ Loretta Sanchez đã đưa ra dự luật "Kêu gọi Tự do Internet ở Việt Nam" vào năm 2011 kêu gọi Việt Nam hủy bỏ Điều 88 và những luật liên quan dùng để giới hạn Internet. Mặc dù thường gặp vấn đề truy cập, Facebook vẫn là website có lượng truy cập đứng thứ 3 tại Việt Nam, theo thống kê của Alexa và nhiều doanh nghiệp vẫn công khai quảng cáo trang Facebook của mình. Việc chặn Facebook diễn ra tại Việt Nam gây nhiều tranh cãi. Một nhóm trên Facebook kêu gọi "Cần 1 triệu chữ ký phản đối nhà mạng Việt Nam chặn FB" đã có gần 63.000 người tham gia từ tháng 2 năm 2011. Mặc dù việc sử dụng proxy server hay các biện pháp khác nhằm vượt tường lửa là bất hợp pháp, nhiều người dùng đã dùng nhiều biện pháp vượt tường lửa để truy cập những website bị chặn. Nhiều báo chí trong nước cũng đưa thông tin hướng dẫn độc giả cách vượt tường lửa. Sau khi chính phủ Việt Nam đề xuất Nghị định 72, một liên minh 21 nước trong đó có Hoa Kỳ, Anh, Pháp, và Đức đã lên tiếng phản đối nghị định, cho rằng nó "sẽ áp đặt thêm những hạn chế đối với cách thức truy cập và sử dụng Internet ở Việt Nam". Liên minh Internet châu Á (Asia Internet Coalition), một nhóm doanh nghiệp bao gồm các thành viên như Google, eBay, Facebook, và Yahoo!, cho rằng nghị định sẽ "đàn áp những sáng kiến mới và ngăn cản các doanh nghiệp muốn hoạt động tại Việt Nam." Để trấn an những người lo lắng về nghị định, Đài Tiếng nói Việt Nam khẳng định mục đích điều khoản cấm chia sẻ thông tin tổng hợp là để chấm dứt tình trạng "xâm phạm về bản quyền nội dung, thông tin" và "việc trích dẫn một đoạn hoặc viết lời bình luận rồi dẫn đường link để chỉ về trang gốc thì Nghị định 72 không cấm". Trả lời các chỉ trích cho rằng việc không được phép "cung cấp thông tin tổng hợp" là hạn chế tự do ngôn luận, ông Đỗ Quý Doãn, Thứ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông cho rằng đó là "tư duy ngụy biện". == Xem thêm == Internet tại Việt Nam Nhân quyền tại Việt Nam Kiểm duyệt Internet ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Internet ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Chuyên gia bút chiến Công an mạng == Tham khảo ==
lễ chiến sĩ trận vong.txt
Lễ Chiến sĩ trận vong hay Ngày Tưởng niệm Liệt sĩ (tiếng Anh: Memorial Day) là một ngày lễ liên bang tại Hoa Kỳ, diễn ra vào ngày thứ Hai cuối cùng trong tháng 5 hằng năm. Trước kia với tên gọi là Ngày Gắn Huy Chương (Decoration Day), ngày lễ này tưởng niệm những quân nhân Hoa Kỳ đã tử nạn trong quân ngũ. Ngày lễ đầu tiên tưởng niệm quân nhân Liên bang miền Bắc đã tử nạn trong cuộc nội chiến (được tưởng niệm gần ngày thống nhất sau cuộc chiến). Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất ngày lễ này bắt đầu được mở rộng để tưởng niệm các binh sĩ bị tử nạn trong các cuộc chiến khác. Từ năm 1971 Ngày Lễ chiến sĩ trận vong chính thức trở thành ngày lễ liên bang ở Hoa Kỳ. Vào ngày này người Mỹ đi viếng thăm các nghĩa trang và các đài kỉ niệm; lá cờ Mỹ để rũ cho đến trưa theo giờ địa phương. Nhiều người Mỹ coi Ngày Chiến sĩ trận vong là ngày bắt đầu mùa hè. Theo truyền thống ngày này kèm theo các hoạt động gia đình, đi cắm trại hay các sự kiện thể thao. == Lịch sử == Ngày 5 tháng 5 năm 1868, ba năm sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ kết thúc, tổ chức cựu chiến binh Liên bang miền Bắc Grand Army of the Republic thành lập Ngày Trang trí làm ngày để trang trí hoa lên các phần mộ binh sĩ hy sinh trong chiến tranh. Thiếu tướng John A. Logan, người lãnh đạo tổ chức Grand Army of the Republic, chọn ngày 30 tháng 5 để làm lễ này. Người ta tin rằng ngày này được chọn vì lúc đó hoa đang nở rộ khắp nước Mỹ. Lễ quan trọng đầu tiên được tưởng niệm tại Nghĩa trang quốc gia Arlington gần Washington, D.C. Song nhiều địa phương cho rằng họ mới là nơi đầu tiên đã tưởng niệm ngày lễ này vào mùa xuân năm 1866. Vào cuối thế kỷ 19, Lễ Chiến sĩ trận vong được tưởng niệm vào ngày 30 tháng 5 toàn quốc. Các cơ quan lập pháp tiểu bang đã thông qua luật chọn ngày này để làm lễ tưởng niệm. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, ngày này được mở rộng để tưởng nhớ tất cả các quân nhân tử nạn trong các cuộc chiến mà nước Mỹ đã tham gia. Năm 1971, Ngày Chiến sĩ trận vong được Quốc hội tuyên bố là ngày lễ quốc gia, nhưng nó vẫn thường được gọi là Ngày Trang trí. Cũng như một số ngày lễ liên bang khác, hàng năm lễ Chiến sĩ trận vong rơi vào ngày thứ Hai cuối cùng trong tháng 5. Một số tiểu bang có ngày lễ để tưởng nhớ các quân nhân của phe Liên minh miền Nam, như Mississippi (ngày thứ Hai cuối cùng của tháng 4), Alabama (ngày thứ Hai thứ tư của tháng 4), Georgia (26 tháng 4), Bắc và Nam Carolina (10 tháng 5), Louisiana (3 tháng 6), Tennessee, Texas (19 tháng 1), và Virginia (ngày thứ Hai cuối cùng của tháng 5). == Các truyền thống == Nhiều người tưởng niệm Lễ Chiến sĩ trận vong bằng cách thăm viếng các nghĩa trang và đài tưởng niệm. Vào đúng 3 giờ trưa giờ địa phương vào Ngày Chiến sĩ trận vong, người Mỹ được khuyến khích dành một phút mặc niệm cho những binh sĩ đã hy sinh trên chiến trường. Quốc kỳ Hoa Kỳ cũng được rũ xuống từ sáng đến trưa. Ngày lễ này cũng được nhiều người Mỹ coi là ngày truyền thống bắt đầu mùa hè (Ngày Lao động vào tháng 9 được xem là ngày lễ chấm dứt mùa hè). Nhân dịp ba ngày cuối tuần và thời tiết đẹp, nhiều người Mỹ thường vận dụng ngày lễ để sinh hoạt với gia đình và tham gia các hoạt động ngoài trời. == Xem thêm == Ngày Cựu chiến binh (Veterans Day) - ngày lễ tương tự dành cho tất cả các cựu chiến binh còn sống hay đã chết Ngày ANZAC - tại Úc và New Zealand Ngày Tưởng niệm (Remembrance Day) hay Ngày Đình chiến (Armistice Day) - kỷ niệm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất == Chú thích ==
tổ chức phi chính phủ.txt
Một tổ chức phi chính phủ (tiếng Anh: non-governmental organization–NGO; tiếng Pháp: organisation non gouvernementale–ONG) là một tổ chức không thuộc về bất cứ chính phủ nào. Mặc dù về mặt kỹ thuật, định nghĩa cũng có thể bao hàm các tổ chức phi lợi nhuận, thuật ngữ này thường giới hạn để chỉ các tổ chức xã hội và văn hoá mà mục tiêu chính không phải là thương mại. Một điểm nổi bật nhất của các tổ chức phi chính phủ là việc các tổ chức này tạo ra những hệ thống gắn kết và mạng lưới kết nối những cá nhân xuyên quốc gia. Một vài người cho rằng cái tên "NGO" là dùng sai vì nó hàm ý bất cứ cái gì "không phải là chính phủ" đều là NGO. Vì NGO thường là các tổ chức phi chính phủ mà ít nhất một phần ngân quỹ hoạt động đến từ các nguồn tư nhân, nên nhiều NGO ngày nay thích dùng từ Tổ chức tình nguyện tư nhân (Private voluntary organization–PVO). == Tư vấn Liên Hiệp Quốc == Tên gọi "Tổ chức phi chính phủ" (NGO) được chính thức đưa vào sử dụng ngay sau khi thành lập Liên Hiệp Quốc vào năm 1945, trong đó điều 71 chương 10 của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc [1] có đề cập đến vai trò tư vấn của các tổ chức không thuộc các chính phủ hay nhà nước thành viên – xem Chức năng tư vấn (Consultative Status). Vai trò quan trọng của các tổ chức phi chính phủ và các "tổ chức lớn" khác trong việc phát triển bền vững được công nhận trong chương 27 của Chương trình nghị sự 21, dẫn đến việc sắp đặt lại vai trò tư vấn giữa Liên Hiệp quốc và các tổ chức phi chính phủ.[2] == Mục đích == Các tổ chức phi chính phủ ra đời với nhiều mục đích khác nhau, thông thường nhằm đẩy mạnh các mục tiêu chính trị và/hay xã hội như bảo vệ môi trường thiên nhiên (ví dụ Greenpeace), khuyến khích việc tôn trọng các quyền con người (ví dụ Amnesty International), cải thiện mức phúc lợi cho những người bị thiệt thòi, hoặc đại diện cho một nghị trình đoàn thể. Có rất nhiều tổ chức như vậy và mục tiêu của chúng bao trùm nhiều khía cạnh chính trị, xã hội, triết lý và nhân văn. == Phương pháp == Các tổ chức phi chính phủ hoạt động theo nhiều phương pháp khác nhau, tuy nhiên có thể coi thuộc vào một trong hai kiểu sau. Một số chủ yếu tổ chức vận động hành lang để tạo áp lực chính trị, số khác chủ yếu tiến hành các chương trình và hoạt động (chẳng hạn như Oxfam là tổ chức chống nạn đói và nghèo khổ có các chương trình cung cấp phương tiện và thức ăn, nước uống sạch cho những người bị thiệt thòi). == Quan hệ == Quan hệ giữa các giới kinh doanh, chính phủ, và các tổ chức phi chính phủ vô cùng phức tạp và đôi khi có sự trái nghịch, đặc biệt là khi các tổ chức phi chính phủ hoạt động đi ngược lại với các chính phủ hay các tổ chức kinh doanh. == Tình trạng pháp lý == Các hình thức pháp lý của các tổ chức NGO thì đa dạng và phụ thuộc luật pháp và tập quán của mỗi nước. Tuy nhiên, có bốn nhóm chính của các NGO có thể được tìm thấy trên toàn thế giới: Hiệp hội tự nguyện chưa hợp nhất Trusts, tổ chức từ thiện và các quỹ Các công ty không chỉ vì lợi nhuận Các thụ thể được thành lập hoặc đăng ký theo luật phi chính phủ hoặc phi lợi nhuận đặc biệt. Hội đồng châu Âu ở Strasbourg soạn thảo Công ước châu Âu về Công nhận Tính cách pháp lý của các tổ chức phi chính phủ quốc tế trong năm 1986, trong đó đặt một cơ sở pháp lý chung cho sự tồn tại và hoạt động của các tổ chức NGO tại châu Âu. Điều 11 của Công ước châu Âu về Nhân quyền bảo vệ quyền tự do lập hội, đó cũng là một tiêu chuẩn cơ bản cho các tổ chức NGO. == Danh sách các tổ chức phi chính phủ == Số lượng các tổ chức NGO trong nước Mỹ được ước tính ở mức 1,5 triệu. Nga có 277.000 NGO. Ấn Độ được ước tính có khoảng 2 triệu NGO trong năm 2009, cứ 600 người Ấn Độ thì lại có một NGO, và nhiều gấp mấy lần số trường tiểu học và trung tâm y tế chính ở Ấn Độ. Các tổ chức chuyên môn/ nhân đạo International Youth Fellowship AEGEE AIESEC Alliance for the Prudent Use of Antibiotics American Civil Liberties Union Amnesty International Catholics for a Free Choice Council of Canadians Front d'action politique en réaménagement urbain (FRAPRU) Global Witness Greenpeace Human Rights Watch Humanitarian Services For Children Of Vietnam (HSCV) IAESTE Institute for International Assistance and Solidarity (IFIAS) JCI (Junior Chamber International) Oxfam Refugees International Saigon Children's Charity (SCC) Transparency International Vietnam les enfants de la dioxine (VNED) Các tổ chức từ thiện quốc gia Lions Clubs International International Relief và Development Organizations (PVOs) CARE Catholic Relief Services Christina Noble Children's Foundation Engineers Without Borders The Hunger Project Tổ chức chữ thập đỏ và lưỡi liềm đỏ quốc tế International Rescue Committee IRC International Water and Sanitation Centre Médecins Sans Frontières (Thầy thuốc không biên giới) Mercy Corps WaterAid World Vision Công nghệ thông tin FFII Free Software Foundation (FSF) Mạng lưới International Freedom of Expression Exchange Các tổ chức phi chính phủ gần như tự quản (QUANGO) Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn (ISO) là một trường hợp ngoại lệ. Nó tự coi là một tổ chức phi chính phủ nhưng lại là một mạng lưới các tổ chức tiêu chuẩn thuộc các chính phủ ở 147 quốc gia. W3C Các tổ chức thương mại và các nhóm lợi ích được công nghiệp tài trợ Americans for Balanced Energy Choices, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên vận động hành lang do ngành công nghiệp than của Mỹ hỗ trơ kinh phí hoạt động] Các tổ chức hiệp ước (là các tổ chức độc lập nhưng hoạt động như các tổ chức phi chính phủ, được thành lập và hoạt động bởi các hiệp ước quốc tế) Ủy ban quốc tế Chữ thập đỏ == Xem thêm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == (tiếng Anh) NGO - Những tổ chức vị tha tự chỉ định (tiếng Anh) Thế nào là một tổ chức phi chính phủ? City University, London
tòa án nhân dân (việt nam).txt
Tòa án nhân dân Việt Nam là cơ quan xét xử của quyền lực nhà nước Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, gồm bốn cấp: Tòa án nhân dân tối cao; các Tòa án nhân dân cấp cao; các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; các Toà án quân sự. Tòa án Nhân dân Tối cao, trực thuộc Trung ương, là tòa án nhân dân cấp cao nhất trong hệ thống luật pháp. Tòa án Nhân dân Cấp cao có thẩm quyền tư pháp trên phạm vi nhiều đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tòa án Nhân dân cấp tỉnh Tòa án Nhân dân cấp huyện Ngoài ra còn có Tòa án Quân sự các cấp. == Tòa án Nhân dân Tối cao == Xem bài chính: Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam Nhiệm kỳ của Tòa án Nhân dân Tối cao là 5 năm và cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao gồm có: Hội đồng Thẩm phán, gồm Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, các Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và một số Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Tổng số không được quá 17 người. Tòa án Quân sự Trung ương Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính Các Tòa phúc thẩm Tối cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh. Trong trường hợp cần thiết, ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Bộ máy giúp việc gồm: Ban Thanh tra, Ban Thư ký, Vụ tổ chức == Tòa án Nhân dân địa phương == Hiện nay Bộ Tư pháp không còn quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức vì theo Quyết định số 142/QĐ-QLTA ngày 21/3/1994 ban hành Quy định về việc uỷ quyền cho Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện công tác quản lý về mặt tổ chức đối với Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương === Tòa án Nhân dân cấp tỉnh === Tổ chức của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm:[5] Uỷ ban Thẩm phán Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính. Trong trường hợp cần thiết Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao Người đứng đầu Tòa án nhân dân cấp tỉnh gồm có: Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án. Chánh án cấp tỉnh do Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao bổ nhiệm sau khi có sự thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. === Tòa án Nhân dân cấp huyện === Người đứng đầu Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm có: Chánh án, một hoặc hai Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án. Chánh án cấp huyện do Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao bổ nhiệm sau khi có sự thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện == Xem thêm == Hệ thống tòa án Việt Nam Tòa án Quân sự Trung ương (Việt Nam) Tòa án nhân dân == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Luật 33/2002/QH10 ngày 2 tháng 04 năm 2002 - Luật của Quốc hội về tổ chức Tòa án Nhân dân. Nghị quyết Về việc thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao trả lời chất vấn
vũ như thành.txt
Vũ Như Thành (sinh 28 tháng 8 năm 1981 tại Nam Định) là một cầu thủ bóng đá chơi tại vị trí trung vệ,là cựu tuyển thủ của đội tuyển Việt Nam. Anh được coi là một trong những trung vệ xuất sắc nhất của bóng đá Việt Nam. Tại giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008, Như Thành được góp mặt trong tất cả các trận đấu của đội, đồng thời cũng là người giữ vai trò chủ đạo trong hàng phòng ngự, đây được coi là một giải đấu khá thành công của anh khi cùng đội tuyển Việt Nam đăng quang ngôi vô địch AFF Suzuki Cup 2008. == Sự nghiệp == Vũ Như Thành khởi đầu sự nghiệp không mấy suôn sẻ khi cuối năm 2003 anh bị dính vào nghi vấn bán độ của đội tuyển quốc gia Việt Nam tại cúp JVC mà tại giải đó anh được mang băng đội trưởng. Mặc dù chứng cớ không thực sự rõ ràng anh vẫn chịu án phạt rất nặng của Liên đoàn bóng đá Việt Nam là treo giò 5 năm để răn đe . Cho đến nay, bản án của Vũ Như Thành vẫn được coi là còn rất nhiều bí ẩn, được coi như một hành động "thí tốt" để ổn định đội tuyển trước thềm SEA Games 2003 . Trong một thời gian, cha và mẹ của anh đã chuẩn bị tất cả để kiện VFF vì treo giò và quy tội con mình mà không chứng cứ. Tưởng chừng như anh phải kiếm một nghề khác để mưu sinh, trong 2 năm rưỡi anh chỉ đi "đá phủi" trước khi được giảm nhẹ án phạt còn 2.5 năm và được Bình Dương đón nhận. Sau sự trở lại thành công, anh được gọi vào đội tuyển quốc gia Việt Nam, là trụ cột hàng phòng ngự của đội tuyển trong đội hình vô địch AFF Suzuki Cup 2008. Cuối tháng 12-2008 cũng nhờ thành tích vô địch AFF Suzuki Cup 2008 anh được bình chọn vào tốp 10 vận động viên thể thao tiêu biểu toàn quốc (đứng thứ 10). Anh cũng là cầu thủ Việt Nam duy nhất có trong danh sách bình chọn Quả bóng Vàng châu Á do tạp chí Super (UAE) tổ chức bầu chọn. == Thành tích == Với đội tuyển Việt Nam Vô địch AFF Suzuki Cup 2008 Với Bình Dương Vô địch V-League: 2007, 2008 Hạng nhì V-League: 2006, 2009 == Liên kết ngoài == Thông tin cầu thủ trên national-football-team.com == Chú thích ==
nước mắm phan thiết.txt
Nước mắm Phan Thiết là tên gọi chung các loại nước mắm xuất xứ từ Phan Thiết, một địa phương có nghề làm nước mắm truyền thống. == Lịch sử == Nước mắm Phan Thiết thuộc loại "lão làng" và đã có mặt ở hầu hết tại các thị trường trong nước. Nước mắm Phan Thiết đã có từ thời Phan Thiết có tên là Tổng Đức Thắng (1809). Những nhà làm nước mắm khi đó đã làm được nhiều nước mắm và bán ở Đàng Ngoài. Ðến đầu thế kỷ 20, nước mắm Phan Thiết đã có một nhãn hiệu nổi tiếng là nước mắm Liên Thành, được bán rộng rãi trong Nam ngoài Trung. Về mặt thương hiệu, từ năm 2007, tên gọi này đã được luật hoá khi Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận đăng ký bảo hộ vô thời hạn trên lãnh thổ Việt Nam để chứng nhận xuất xứ cho các loại nước mắm được chế biến theo đúng tiêu chuẩn chất lượng và An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) trong địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, ngoài Việt Nam, trước đó 8 năm, từ ngày 1 tháng 6 năm 1999 một công ty tên là Kim Seng, trụ sở tại California (Mỹ) đã đăng ký thương hiệu "nước mắm nhỉ thượng hạng Phan Thiết" tại Văn phòng bản quyền sáng chế và nhãn hiệu thương mại Hoa Kỳ . == Nguyên liệu == Nước mắm Phan Thiết chủ yếu được làm từ cá cơm và nhiều loài các khác tùy vào mỗi lần tàu về và muối hạt. Có nhiều loại cá cơm như cá cơm sọc tiêu, cơm than, cơm đỏ, sọc phấn, phấn chì, cơm lép... nhưng ngon nhất là cá cơm than và sọc tiêu. Cá cơm, xuất hiện từ tháng tư cho đến tháng tám âm lịch, là loại cá nhỏ, con to chỉ bằng ngón tay út hay bằng chiếc đũa, nhưng phân rã thành mắm nhanh, nên thời gian thành nước mắm cũng ngắn. Tuy nhiên, nhiều nhà làm nước mắm lâu năm cho biết chất lượng còn phụ thuộc vào thời gian đánh bắt cá, nhất là cá tháng tám, con nào cũng đều béo mập thì nước mắm mới ngon và đạt độ đạm cao nhất. == Cách chế biến == === Chế biến trong thùng lều === Nước mắm ủ trong thùng (giống cách làm của nước mắm Phú Quốc): Người ta dùng loại thùng gỗ hình trụ gọi là thùng lều, cao 2 - 2,5 m, đường kính 1,5 – 2 m, dung tích từ 2.5-8 m3 để muối cá. Sở dĩ người ta phải dùng loại gỗ mềm như bằng lăng, mít, bờ lời để làm thùng là vì khi "niền" lại bằng dây song, chạy quanh mặt ngoài thân thùng, các mảnh gỗ được siết chặt vào nhau, không còn khe hở. Cá cơm đánh bắt về được chọn lựa kỹ, bỏ những con to hay nhỏ quá hoặc không tươi. Cá được đem vào muối không cần rửa lại vì trước khi đem lên bờ, cá đã được rửa bằng nước biển. Khi muối tỷ lệ thường dùng là 10 cá 4 muối, hay 3 cá 1 muối . Hai thành phần đó trộn chung cho thật đều mà không để nát, gọi là chượp. Sau khi cho chượp vào đầy thùng lều thì phủ lên cá kè đã được kết lại như tấm chiếu, rải một lớp muối lên trên rồi cài vỉ tre trên mặt và xếp đá đè xuống. Sau 2-4 ngày người ta mở nút lù có cụm lọc ở đáy thùng lều tháo dịch cá chảy ra. Dịch này gọi là nước bổi, do các enzymes trong ruột cá giúp thuỷ phân phần nội tạng cá mà thành. Nước bổi có thành phần đạm, nhưng có mùi tanh, chưa ăn được, thường được lọc bỏ váng bẩn để làm nước châm vào các thùng chượp đã chín nhằm tăng độ đạm. Sau khi nước bổi rút, chượp trong thùng xẹp xuống và bắt đầu quá trình thuỷ phân chính. Tác nhân chính của quá trình này là một loại vi khuẩn kỵ khí thì cần thời gian từ 8-18 tháng thì mới thuỷ phân xong thân cá. Khi quá trình này hoàn thành, tức chượp chín, thì nước mắm hình thành trong suốt với màu từ vàng rơm tới nâu đỏ cánh gián (tuỳ theo từng mẻ cá) không còn mùi tanh mà có mùi thơm đặc trưng. Nước nhất được rút từ thùng lều được gọi là nước mắm nhỉ - hoàn toàn từ thân cá thuỷ phân mà thành. Sau khi đã rút nước nhỉ, người ta đổ nước châm vào để rút tiếp nước hai gọi là nước mắm ngang. Mỗi lần rút, độ đạm càng giảm, nên để có sản phẩm có độ đạm đồng nhất bán ra thị trường, người ta phải đấu trộn các loại nước mắm có độ đạm khác nhau. === Chế biến trong lu === Đây là phương pháp làm nước mắm phổ biến ở Phan Thiết, đặc biệt là trong các cơ sở nhỏ. Cách ướp chượp, tỷ lệ cá và muối, vẫn theo cách dùng thùng lều. Điểm khác biệt là chượp ướp trong lu và lu được đậy kín phơi ngoài trời thay vì để trong nhà như thùng lều. Bằng cách này, nhiệt độ trong lu thường cao hơn, chượp mau chín hơn. == Ðộ đạm của nước mắm == === Ðộ đạm dinh dưỡng === Quá trình thuỷ phân của chượp thường đi song song với quá trình phân huỷ của các vi khuẩn gây thối, vì thế, thành phần đạm của nước mắm bao gồm 2 sản phẩm của 2 quá trình đó, tức là đạm dinh dưỡng và đạm urê (tức đạm thối). Tỷ lệ đạm dinh dưỡng trong nước mắm càng cao, thì nước mắm càng ngon. Tỷ lệ trung bình ở các loại nước mắm ngon chiếm khoảng 60-70% đạm tổng. Tuy nhiên, theo luật định, độ đạm mà nhà sản xuất khai báo trên bao bì chỉ là đạm tổng, không phải là đạm dinh dưỡng. === Nước mắm cao đạm === Bằng phương pháp ủ chượp - kéo rút thông thường, nước mắm nhất - tức nước nhỉ - chỉ có độ đạm khoảng 28-30oN. Để có nước mắm nhỉ cao đạm từ 35-37 độ, một mặt người ta phải chọn được cá tốt, tỷ lệ thịt cao, tươi ngon, một mặt khác phải rút kiệt nước bổi để giảm lượng nước có trong thùng chượp. Ðể đưa độ đạm cao hơn, người ta phải đôn đạm. Phương pháp này thường sử dụng nước hoa cà (nước mắm chưa ngấu) có độ đạm khoảng 22-28o làm nước châm để kéo rút lần lượt qua nhiều thùng lều liên tiếp, mỗi một thùng sẽ làm tăng vài độ đạm. Tuy nhiên, độ đạm kỷ lục có thể đạt được cho đến hiện nay chỉ là 42-43o và chỉ có một số rất ít doanh nghiệp nước mắm ở Phan Thiết có thể làm được. == Khác biệt == Khác biệt chung nhất, dễ nhận thấy nhất của nước mắm Phan Thiết so với nước mắm Phú Quốc và các vùng khác là màu vàng rơm (nếu nguyên liệu là cá cơm) hay màu nâu nhạt (cá nục), trong sánh, có mùi thơm nồng và vị ngọt đậm do đạm cao . Khác biệt đó của nước mắm Phan Thiết được giải thích vì quá trình ủ chượp dưới trời nắng và gió - nhiệt độ trung bình cao, độ ẩm thấp tác động tích cực đến cơ chế lên men - điều mà khó có địa phương nào được ưu đãi như vùng cực Nam Trung bộ. Ngay trong làng nghề nước mắm ở Phan Thiết, cũng có 3 khu vực sản xuất nước mắm ít nhiều khác nhau: Khu vực phường Thanh Hải: Chủ yếu là các hàm hộ (nhà làm nước mắm) nhỏ, sản phẩm nước mắm vừa mặn, có màu cánh gián đẹp (nhưng để lâu dễ bị xuống màu), độ đạm trung bình. Tại đây còn sản xuất ra các sản phẩm gốc mắm như: mắm nêm, mắm tôm, mắm ruốc... Khu chế biến nước mắm Phú Hài: Đây là khu vực sản xuất quy mô tương đối lớn, sản phẩm nước mắm có độ mặn truyền thống. Khu vực phường Hàm Tiến-Mũi Né: nước mắm tại khu vực này có thể nói là tốt nhất vì nguyên liệu làm từ cá cơm và không có phụ gia. Tuy nhiên, sản phẩm sản xuất ra rất hạn chế. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Nước mắm Phan Thiết, Minh Đạt, Tạp chí Công nghiệp, số 19, năm 2004, trang 46.
1798.txt
== Người sinh == 17 tháng 1 - Auguste Comte (mất ngày 5 tháng 9 năm 1857) == Tham khảo ==
cười.txt
Cười là một phản ứng của loài người, là hành động thể hiện trạng thái cảm xúc thoải mái, vui mừng, đồng thuận hay cố tình tạo cho người đối diện hiểu là mình có cảm xúc ấy. Có khi cười còn là tâm trạng khi xúc động hoặc cười còn để xã giao. == Tác dụng == " Tiếng cười là liều thuốc bổ". Có nghiên cứu cho rằng 45 phút nghỉ ngơi của một người có ý nghĩa tương đương với một phút người ta cười thoải mái. == Phân loại == Cười cay đắng Cười cợt Cười cười Cười đắc ý Cười đau bụng Cười đau khổ Cười dê Cười đểu Cười duyên Cười gằn Cười hềnh hệch Cười hô hố Cười khúc khích Cười mỉm chi Cười ngộ nghĩnh Cười nham hiểm Cười nhạo Cười nhếch mép Cười nịnh Cười ra nước mắt Cười ruồi Cười sặc sụa Cười sảng khoái Cười thân thiện Cười tình Cười toe toét Cười vang Cười vô cảm Cười vô duyên Cười xí xóa Cười xòa Cười xuề == Hình ảnh == == Xem thêm == Tuổi Trẻ Cười Tranh vui - Tuổi Trẻ Cười == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
quả bóng vàng fifa.txt
Quả bóng vàng FIFA (FIFA Ballon d'Or) là giải thưởng hợp nhất hai giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA và Quả bóng vàng châu Âu, dành cho cầu thủ chơi xuất sắc nhất trong năm, được trao lần đầu vào tháng 1 năm 2011 và lần cuối vào tháng 1 năm 2016. == Nam == === Xếp hạng theo cầu thủ === === Xếp hạng theo quốc gia === Bảng xếp hạng cầu thủ thắng giải theo quốc tịch gốc (không phải quốc tịch của câu lạc bộ). === Xếp hạng theo câu lạc bộ === === 2010 === Giải thưởng đầu tiên được trao cho cầu thủ xuất sắc nhất năm 2010, tổ chức vào ngày 10/1/2011 tại Zürich, Thụy Sĩ. 3 cầu thủ lọt vào danh sách đề cử gồm: Lionel Messi Andrés Iniesta Xavi Hernandez Cuối cùng,mặc dù có màn trình diễn đáng thất vọng tại World Cup 2010 nhưng nhờ những đóng góp cho Barcelona, Messi đã là chủ nhân đầu tiên của Quả bóng vàng FIFA === 2011 === === 2012 === === 2013 === Lễ trao giải Quả bóng vàng FIFA 2013 được tổ chức tại nhà hát Kongresshaus ở thành phố Zurich, Thụy Sĩ ngày 13 tháng 1 năm 2014. Buổi lễ kéo dài trong thời gian 90 phút với sự tham dự của 1100 khách mời và 2 người dẫn chương trình là cựu danh thủ Hà Lan Ruud Gullit và siêu mẫu Fernanda Lima của Brasil Cuối cùng, sau khi tổng hợp phiếu bầu đến từ 184 huấn luyện viên đội tuyển quốc gia, 184 đội trưởng đội tuyển quốc gia và 173 nhà báo đại diện cho các quốc gia thì Cristiano Ronaldo (CR7) đã chiến thắng với 1365 điểm vượt qua Lionel Messi và Franck Ribéry với số điểm lần lượt là 1205 và 1127. == Nữ == == Chú thích == Phương tiện liên quan tới FIFA Ballon d'Or tại Wikimedia Commons == Liên kết ngoài == Website chính thức Chi tiết kết quả bầu chọn Quả bóng vàng FIFA 2013 ở nội dung cầu thủ nam, FIFA.com (tiếng Anh)