filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
land rover.txt | Land Rover là một thương hiệu ô tô chuyên xe 2 cầu.Nó là một phần của công ty Jaguar Land Rover, công ty này lại là một công ty con của Tata Motors.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức
Land Rover tại DMOZ
Land Rover VIN codes on Wikibooks
List of current and former U.S. and Canadian Land Rover Clubs |
sự nảy mầm.txt | Sự nảy mầm là quá trình mà qua đó một cây phát triển từ một hạt giống. Ví dụ thường thấy nhất của sự nảy mầm là một mầm của cây con nhú ra từ hạt giống của cây hạt kín hay hạt trần. Tuy nhiên, sự phát triển của một bào tử con từ một bào tử, chẳng hạn như sự phát triển của sợi nấm từ bào tử nấm cũng là sự nảy mầm. Do đó, sự nảy mầm có thể được hiểu theo nghĩa chung là bất kỳ thứ gì trở nên lớn hơn từ một thực thể nhỏ hay một phần cơ thể sống, là một phương pháp thường hay được sử dụng trong nhiều dự án phát triển hạt giống.
== Sự nảy mầm hạt giống ==
Sự nảy mầm là sự phát triển của cây nằm bên trong một hạt giống; kết quả là sự hình thành cây con. Hạt giống của cây có mạch là một gói nhỏ được tạo thành bên trong quả hay quả hình nón sau khi tế bào mầm phôi đực và cái đã kết hợp. Tất cả những hạt giống đã phát triển hoàn toàn đều có chứa một phôi, và hầu hết ở các chủng loài cây thì đều kèm thêm nguồn “thức ăn” dự trữ; tất cả đều được bao trong một lớp áo hạt. Vài loài cây sinh ra một lượng hạt giống mà không có phôi; chúng được gọi là hạt lép và không bao giờ nảy mầm. Những hạt giống tiềm sinh là hạt đã chín nhưng lại không nảy mầm bởi vì chúng phụ thuộc vào các điều kiện môi trường bên ngoài mà ngăn cản sự khởi đầu quá trình chuyển hóa và phát triển tế bào. Ở những điều kiện thích hợp, hạt giống bắt đầu nảy mầm và mô phôi phát triển, trở thành một cây con.
Sự nảy mầm hạt giống phụ thuộc vào cả điều kiện bên trong lẫn bên ngoài. Những nhân tố bên ngoài quan trọng nhất bao gồm nhiệt độ, nước, ôxy, và đôi khi là ánh sáng hay bóng tối. Nhiều loài cây cần những điều kiện khác nhau để có thể nảy mầm hiệu quả. Điều này thường phụ thuộc vào sự đa dạng của hạt giống và có liên kết chặt chẽ với các điều kiện sinh thái tại nơi sống tự nhiên của cây. Với một số hạt giống, phản ứng của sự nảy mầm tương lai bị ảnh hưởng bởi những điều kiện môi trương trong suốt quá trình hình thành hạt giống; hầu hết những phản ứng này là những hình thức tiềm sinh.
Nước rất cần thiết cho sự nảy mầm. Những hạt giống trưởng thành thường rất là khô và cần phải hấp thu một lượng nước đáng kể, tương đương với trọng lượng khô của hạt, trước khi sự chuyển hóa và phát triển tế bào có thể được phục hồi. Hầu hết hạt giống cần đủ lượng nước để làm ẩm chúng nhưng không làm đẫm nước. Sự hấp thu nước bởi hạt giống được gọi là sự hút hơi ẩm (imbibition), mà sẽ làm cho lớp áo hạt nở ra và vỡ đi. Khi hạt giống được hình thành, hầu hết các cây đều trữ một lượng “thức ăn” dự trữ với hạt giống, chẳng hạn như tinh bột, protein, hay dầu. Nguồn dự trữ này cung cấp đủ dưỡng chất để phôi phát triển. Khi hạt giống hấp thu hơi nước, các enzyme thủy phân được kích hoạt và sẽ chuyển nguồn dự trữ này thành các chất hữu ích. Sau khi cây con xuất hiện từ lớp áo hạt và bắt đầu mọc rễ với lá, nguồn dự trữ thường sẽ cạn đi; và lúc này sự quang hợp sẽ cung cấp năng lượng cần thiết để cây con tiếp tục phát triển. Lúc này cây con sẽ cần một nguồn nước, dưỡng chất, và ánh sáng liên tục.
Ôxy rất cần thiết trong sự nảy mầm để cho sự chuyển hóa (trao đổi chất). Ôxy được sử dụng trong hô hấp hiếu khí, là nguồn năng lượng chính của cây con cho đến khi nó mọc lá.[2] Ôxy là một loại khí trong bầu khí quyển, được tìm thấy trong các khoảng hở của đất trồng; nếu hạt bị chôn quá sâu dưới đất hay đất bị úng nước, hạt giống có thể bị thiếu ôxy. Một số hạt giống có các lớp áo hạt không thẩm thấu được nên ôxy không thể xâm nhập, gây nên sự tiềm sinh vật lý mà sẽ mất đi khi lớp áo hạt bị mòn đủ để hạt trao đổi khí và hấp thu nước từ môi trường.
Nhiệt độ ảnh hưởng đến tốc độ chuyển hóa và phát triển tế bào. Hạt giống của các chủng loài khác nhau và kể cả từ cùng một cây sẽ nảy mầm ở nhiều nhiệt độ khác nhau. Hạt giống thường có một ngưỡng nhiệt độ mà chúng sẽ nảy mầm, và sẽ không nếu chúng nằm ở trên hay dưới ngưỡng đó. Nhiều hạt giống nảy mầm ở nhiệt độ cao hơn 60 – 75 độ F (16 – 24 độ C) một chút, trong khi những hạt khác nảy mầm ở nhiệt độ chỉ trên nhiệt độ đóng băng, và một số hạt chỉ nảy mầm khi phản ứng lại sự chuyển đổi trong nhiệt độ, giữa ấm và lạnh. Một số hạt giống nảy mầm khi đất lạnh (28-40 độ F – 2-4 độ C), và một số nảy mầm khi đất ấm (76-90 độ F – 24-32 độ C). Một số hạt thì cần tiếp xúc với nhiệt độ thấp (sự xuân hóa – vernalization) để phá vỡ trạng thái tiềm sinh. Một số hạt giống khi ở trong trạng thái tiềm sinh sẽ không nảy mầm kể cả khi các điều kiện đều thuận lợi. Hạt giống mà phụ thuộc vào nhiệt độ để kết thúc sự tiềm sinh thường là dạng tiềm sinh sinh lý. Ví dụ, hạt giống cần sự lạnh giá của mùa đông thì không thể nảy mầm cho đến khi chúng hấp thu nước vào mùa thu và trải qua nhiệt độ lạnh hơn. Bốn độ C là đủ lạnh để kết thúc sự tiềm sinh cho hầu hết các hạt giống tiềm sinh lạnh, nhưng ở một số nhóm cây, đặc biệt là trong họ Mao lương và các loài khác, chúng cần nhiệt độ thấp hơn âm 5 độ C. Một số hạt giống sẽ chỉ nảy mầm sau khi trải qua nhiệt độ cao trong suốt một trận cháy rừng mà sẽ làm nứt lớp áo hạt của chúng; dạng này là tiềm sinh vật lý.
Hầu hết các loại rau quả hàng năm thường gặp đều có nhiệt độ nảy mầm tối ưu giữa 75 – 90 độ F (24 – 32 độ C), dù nhiều loài (như cải củ hay rau chân vịt) có thể nảy mầm ở nhiệt độ thấp hơn đáng kể, ở 40 độ F (4 độ C), do đó cho phép chúng phát triển từ hạt ở những vùng khí hậu lạnh. Nhiệt độ cận tối ưu dẫn đến tỉ lệ này mầm thấp hơn và khoảng thời gian nảy mầm dài hơn.
Ánh sáng hay bóng tối có thể là một sự kích hoạt của môi trường cho sự nảy mầm và nó là một dạng tiềm sinh sinh lý. Hầu hết hạt giống không bị ảnh hưởng bởi ánh sáng hay bóng tối, nhưng nhiều loại hạt, bao gồm của những loài mà được tìm thấy ở trong môi trường rừng, sẽ không nảy mầm cho đến khi một khoảng hở ở tầng tán chính xuất hiện cho phép một lượng ánh sáng vừa đủ để hạt phát triển thành cây con.
Những vết rạch mô phỏng các quá trình tự nhiên sẽ làm yếu đi lớp áo hạt trước khi hạt có thể nảy mầm. Trong tự nhiên, một số hạt giống cần những điều kiện đặc thù để nảy mầm, chẳng hạt như nhiệt độ của một đám cháy (như nhiều loại thực vật bản địa ở Úc), hay nằm trong một khối nước rất lâu. Những hạt khác cần phải đi qua hệ tiêu hóa của động vật để làm mềm đi lớp áo hạt, đủ để cây con có thể phát triển.
=== Sự tiềm sinh ===
Một số hạt thuộc dạng tiềm sinh và cần nhiều thời gian hơn, và / hay cần phải chịu một số điều kiện môi trường đặc biệt trước khi chúng nảy mầm. Sự tiềm sinh của hạt có thể khởi nguồn ở nhiều bộ phận khác nhau, ví dụ như bên trong phôi; trong những trường hợp khác thì là lớp áo hạt. Phá vỡ sự tiềm sinh thường có liên quan đến những thay đổi ở các lớp màng, được bắt đầu bởi những dấu hiệu đặc biệt. Điều này thường chỉ xảy ra bên trong các hạt có nước. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự tiềm sinh của hạt bao gồm sự hiện diện của những hormone thực vật nhất định, đáng chú ý là axít abscisic (ngăn cản sự nảy mầm) và gibberellin (kết thúc sự tiềm sinh). Trong quá trình ủ rượu, hạt đại mạch được xử lý với gibberellin để đảm bảo sự nảy mầm đồng nhất nhằm sản xuất mạch nha
=== Sự hình thành cây con ===
Theo vài định nghĩa, sự xuất hiện của rễ mầm đánh dấu sự kết thúc của quá trình nảy mầm và bắt đầu “sự hình thành”, một thời kỳ mà sẽ kết thúc khi cây con đã sử dụng hết nguồn dự trữ của bên trong hạt. Sự nảy mầm và sự hình thành ở cây là những giai đoạn rất quan trọng vì khi đó chúng rất dễ bị tổn thương, bệnh tật, và thiếu nước. Thông số so sánh sự nảy mầm có thể được sử dụng làm chỉ thị cho độ tổn hại thực vật trong đất trồng. Tỷ lệ chết giữa sự phân tán hạt và sự hoàn thành việc hình thành cây có thể rất cao nên nhiều loài đã thích nghi bằng cách sinh ra một lượng lớn hạt giống.
== Tỷ lệ nảy mầm và năng suất nảy mầm ==
Trong nông nghiệp và làm vườn, tỷ lệ nảy mầm (germination rate) cho thấy có bao nhiêu hạt của một loài đặc thù mà có vẻ sẽ nảy mầm trong một khoảng thời gian đã cho. Nó là thước đo thời gian nảy mầm và thường được biểu diễn bằng phần trăm. Ví dụ: tỷ lệ nảy mầm là 85% thì có nghĩa là khoảng 85 trong 100 hạt sẽ có thể nảy mầm trong điều kiện thích hợp trong khoảng thời gian cho trước. Tỷ lệ nảy mầm rất hữu ích trong việc tính toán lượng hạt cần thiết với diện tích trồng cho trước hay số cây mong muốn. Với các nhà sinh lý học và các nhà khoa học về hạt, tỷ lệ nảy mầm là sự thuận nghịch của khoảng thời gian cần cho quá trình nảy mầm đến khi hoàn thành, bắt đầu từ lúc gieo hạt. Mặt khác, số lượng hạt có thể hoàn thành việc nảy mầm trong một tập hợp thì được xem là năng suất nảy mầm (germination capacity)
=== Sự nảy mầm của cây hai lá mầm ===
Bộ phận của cây mà nhú ra đầu tiên từ hạt giống là rễ phôi, được gọi là “rễ mầm” hay rễ chính. Nó cho phép cây con có thể cắm xuống đất và bắt đầu hấp thụ nước. Sau khi rễ hấp thụ nước, chồi mầm sẽ nhú ra từ hạt. Chồi gồm ba bộ phận chính: lá mầm, trụ dưới lá mầm (hypototyl), và trụ trên lá mầm (epicotyl). Cách mà chồi nhú ra giữa các loài cây thi khác nhau.
==== Nảy mầm trên mặt đất ====
Khi nảy mầm trên mặt đất, trụ dưới lá mầm kéo dài ra và tạo thành một cái móc, kéo lá mầm và mô phân sinh ngọn lên mặt đất. Khi đã lên mặt đất, nó thẳng ra mà kéo lá mầm với ngọn chồi của cây non lên cao. Các loại đậu, me, và đu đủ là những ví dụ của kiểu nảy mầm này.
==== Nảy mầm dưới mặt đất ====
Sự nảy mầm cũng có thể xảy ra dưới mặt đất, nơi mà trụ trên lá mầm kéo dài ra và tạo thành một cái móc. Ở kiểu nảy mầm này, lá mầm vẫn ở dưới mặt đất và sau cùng bị phân hủy. Các loại hạt đậu Hà Lan, đậu lăng và xoài nảy mầm theo kiểu này.
=== Sự nảy mầm của cây một lá mầm ===
Ở hạt giống của cây một lá mầm, rễ mầm của phôi và lá mầm được bao trong bao rễ mầm và lá bao mầm tương ứng. Bao rễ mầm là bộ phận đầu tiên nhú ra khỏi hạt, theo sau là rễ mầm. Lá bao mầm sau đó bị đẩy lên mặt đất. Khi đến mặt đất, nó không dài ra nữa và chiếc lá đầu tiên xuất hiện.
=== Sự nảy mầm sớm ===
Nếu hạt giống nảy mầm mà không trải qua tất cả bốn giai đoạn của sự nảy mầm, như giai đoạn hình cầu, hình trái tim, hình ống và giai đoạn tạo lá mầm, thì nó được gọi là nảy mầm sớm.
== Sự nảy mầm của hạt phấn ==
Một hiện tượng nảy mầm khác trong suốt vòng đời của thực vật hạt trần và thực vật có hoa là sự nảy mầm của hạt phấn sau khi thụ phấn. Giống như hạt giống, hạt phấn cũng bị mất nước khá nhiều nhằm tiện lợi hơn khi được phát tán ra ngoài từ cây này sang cây khác. Chúng có một lớp “áo” bảo vệ cho vài tế bào (8 ở thực vật hạt trần, 2 – 3 ở thực vật có hoa). Một trong những tế bào này là tế bào ống. Một khi hạt phấn rơi trên đầu nhụy của hoa nhận phấn (hay quả hình nón cái ở thực vật hạt trần), nó sẽ hút nước và nảy mầm. Sự nảy mầm của hạt phấn được đẩy nhanh bởi nước trên đầu nhụy, cũng như bởi cấu trúc và sinh lý của đầu nhụy và vòi nhụy. Hạt phấn cũng có thể làm cho nảy mầm trong ống nghiệm (hoặc đĩa Petri).
Trong suốt quá trình nảy mầm, tế bào ống kéo dài và đi vào ống phấn. Ở trong bông hoa, ống phấn mọc về phía noãn, nơi mà nó sẽ giải phóng tinh trùng bên trong hạt phấn đề thụ phấn. Hạt phấn đã nảy mầm với hai tinh trùng của nó thì là thể giao tử đực của các cây này.
=== Tính tự xung khắc ===
Vì hầu hết các cây đều có cả cơ quan sinh sản đực và cái ở hoa của chúng, sẽ có một rủi ro khá cao của việc tự thụ phấn và do đó xảy ra hiện tượng “đồng huyết”. Một số cây sử dụng khả năng kiểm soát sự nảy mầm của hạt phấn nhằm ngăn cản việc tự thụ phấn này. Sự nảy mầm và phát triển của ống phấn có liên quan đến các tín hiệu phân tử giữa đầu nhụy và hạt phấn. Trong tính tự xung khắc ở thực vật, đầu nhụy của một số cây nhất định có thể nhận diện được hạt phấn về mặt phân tử từ cùng một cây và ngăn không cho nó nảy mầm.
== Sự nảy mầm bào tử ==
Sự nảy mầm cũng có thể nói đến sự xuất hiện của những tế bào từ những bào tử bất động (resting spore) và sự phát triển của sợi nấm ở bào tử con hay tản từ những bào tử ở nấm, tảo và vài loài thực vật khác.
Các bào tử hạt đính là những bào từ sinh sản vô tính (sinh sản mà không có sự kết hợp giao tử) của các loài nấm mà nảy mầm ở những điều kiện đặc biệt. Nhiều loại tế bào có thể được hình thành từ các bào tử hạt đính đang nảy mầm. Thường gặp nhất là các ống mầm mà mọc và phát triển thành sợi nấm. Một dạng tế bào khác là ống nối hạt đính; những ống này khác với ống mầm là chúng mỏng, ngắn hơn và thiếu các nhánh, thường được xác định là phát triển hướng về phía nhau. Mỗi tế bào là một dạng hình ống, nhưng ống nối hạt đính tạo thành một cầu nối cho phép sự kết hợp giữa các tế bào hạt đính.
=== Dương xỉ và rêu ===
Ở những thực vật như rêu, dương xỉ, và một vài loài khác, bào tử nảy mầm thành thể giao tử độc lập. Ở các loài rêu (rêu và rêu tản), bào tử nảy mầm thành những sợi mềm, tương tự như sợi nấm, từ đó mà thể giao tử phát triển. Ở dương xỉ, thể giao tử là tản non (prothalli) nhỏ hình trái tim mà thường có thể được tìm thấy bên dưới một cây phát tán bào tử trưởng thành.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Sowing Seeds A survey of seed sowing techniques.
Seed Germination: Theory and Practice, Norman C. Deno, 139 Lenor Dr., State College PA 16801, USA. An extensive study of the germination rates of a huge variety of seeds under different experimental conditions, including temperature variation and chemical environment.
Rajjou, L; Duval, M; Gallardo, K; Catusse, J; Bally, J; Job, C; Job, D (2012). “Seed germination and vigor”. Annu Rev Plant Biol. 63: 507–33. doi:10.1146/annurev-arplant-042811-105550. PMID 22136565.
Germination time-lapse ~1 minuite HD video of mung bean seeds germinating over 10 days. Hosted on YouTube. |
empire earth mobile.txt | Empire Earth Mobile (tạm dịch: Đế quốc Địa Cầu Di động) là trò chơi chiến lược theo lượt dành cho điện thoại di động dựa trên bản gốc Empire Earth. Empire Earth Mobile được viết bằng Java và do hãng Vivendi phát triển thay vì Stainless Steel Studios (nhà sản xuất Empire Earth). Game được nhà phân phối game di động WonderPhone phát hành vào ngày 14 tháng 10 năm 2005.
== Cách chơi ==
Empire Earth Mobile là trò chơi chiến lược theo lượt giống như tựa game Civilization nhiều hơn so với phiên bản gốc Empire Earth. Trò chơi bao gồm bốn kỷ nguyên gồm: Đồ đá, Trung Cổ, Hiện đại và Nano. Game tự tách mình ra khỏi các bản Empire Earth khác với sự vắng mặt của nông dân. Thay vào đó, một số biểu tượng nằm trên bản đồ có thể được chinh phục bởi một đơn vị lính. Khi có chúng, một công trình mới có thể được tạo ra. Tuy nhiên, chỉ có một số lượng nhất định các biểu tượng tồn tại trên bản đồ, do đó, mỗi bên đều tranh giành việc kiểm soát của họ.
Bản Mobile cung cấp cho người chơi bốn loại lính, mỗi thứ đều biến đổi và thay đổi trong những kỷ nguyên khác nhau. Người lính tiêu chuẩn có thể hữu ích cho việc xây dựng công trình mới, những đơn vị xạ chiến, đơn vị hỗ trợ hạng nặng và các đơn vị trên không. Loại thứ hai trong số bốn là chỉ xuất hiện trong những kỷ nguyên sau này.
Bản Mobile có ba chế độ chơi gồm: Adventure (phiêu lưu), Skirmish (giao tranh) và Multiplayer (chơi mạng). Chế độ phiêu lưu dẫn dắt người chơi qua 10 màn chiến dịch, bao trùm tổng cộng 2.000 năm lịch sử nhân loại. Bắt đầu vào thời Tiền sử và kết thúc vào thời Nano, tương tự như Empire Earth. Mục giao tranh bao gồm các trận chiến chơi đơn tự do, còn mục chơi mạng giới thiệu khả năng chiến đấu giữa hai người chơi.
== Phát triển ==
Bản Mobile khi phát hành là tựa game thứ bảy mà hãng Vivendi chuyển thể và là một trong ba sản phẩm nhượng quyền thương mại lớn của năm.
== Đón nhận ==
Empire Earth Mobile được cộng đồng điện thoại di động đánh giá tốt. IGN cho số điểm 7.4/10 và nhận xét: "Empire Earth Mobile là một trò chơi di động chậm hơn nhịp độ không thực phù hợp với mùa lượm lặt và chơi nhanh". Nhưng "nếu bạn đang tìm kiếm một trò chơi di động, thì hãy dứt khoát rõ ràng hơn, ý nói lựa game một người chơi như Tetris, Empire Earth Mobile sẽ chỉ cung cấp vài ba lối chơi vấy bẩn mà thôi". Một game thủ Mobile cho biết "Tóm lại, Empire Earth là một thú vị mới cho thể loại chiến lược " và "nó không khó để giới thiệu".
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Empire Earth Mobile trên Gamespot
Empire Earth Mobile trên Sierra |
cha.txt | Trong tiếng Việt, cha còn gọi là ba, tía, bố, ba, thầy, thân phụ, phụ thân,... là một danh từ chung chỉ người, cùng cặp phạm trù với mẹ trong gia đình.
== Định nghĩa và phân loại ==
Theo y học, cha là con người trực tiếp cung cấp tinh trùng trong quá trình thụ tinh nhằm tạo ra một cơ thể mới qua quá trình mang thai và sanh nở của người mẹ.
Về xã hội học, một người được gọi là cha của một đứa trẻ khi đứa trẻ đó do vợ của ông ta sinh ra. Người cha có bổn phận bảo vệ và chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục,... con mình theo các quy định pháp luật cũng như bản năng làm cha.
Ngoài ra có nhiều trường hợp xã hội khác mà một người cũng được gọi là cha như:
Cha nuôi: chỉ người nuôi nấng, bảo vệ và chăm sóc một đứa trẻ mà không phải là con ruột mình và trong hình thức tự nguyện
Cha dượng/cha kế: của đứa con dùng chỉ người chồng thứ hai trở đi của người mẹ của đứa con đó
Cha đỡ đầu (Thiên Chúa giáo): người đỡ đầu về vấn đề tâm linh và tôn giáo trong cả đời một tín hữu Thiên Chúa giáo.
Cha cố (Thiên Chúa giáo): Thường là linh mục
Cha chồng, cha vợ: người con dâu/con rể gọi cha của chồng/vợ mình
Từ cha ở Thanh Hóa và một số tỉnh miền Bắc như Hà Nam được dùng để khóc người cha đã mất, không dùng trong đời sống như ở một số địa phương từ Nghệ An trở vào Nam
== Văn học ==
Trong văn học dân gian Việt Nam, hình ảnh người cha xuất hiện ít hơn người mẹ. Tiêu biểu ta có:
=== Ca dao ===
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ Mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Còn cha gót đỏ như son
Đến khi cha thác, gót con lấm bùn ("thác" đồng nghĩa với "qua đời" vì thơ văn nên tránh dùng chữ "chết".)
Đêm đêm thắp ngọn đèn trời
Cầu cho cha Mẹ sống đời với con
...
=== Tục ngữ, thành ngữ ===
Con không cha như nhà không nóc,
Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.
Con hơn cha là nhà có phước
Muốn nói ngoa làm cha hãy nói
== Xem thêm ==
Ngày của cha
== Tham khảo == |
tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế.txt | Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (tiếng Anh: Organization for Economic Co-operation and Development; viết tắt: OECD, tiếng Pháp: Organisation de coopération et de développement économiques, OCDE) có mục đích là để tìm ra các chính sách phát triển kinh tế cùng phúc lợi của người dân.
Đây là một diễn đàn dành cho các thành viên, hiện là chính phủ của 34 nước kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cũng như 70 nước không phải là thành viên, cùng nhau bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề kinh tế cũng như các vấn đề chung khác. Hiện OECD có 34 thành viên, hầu hết trong số đó là các quốc gia có thu nhập cao.
Trụ sở của tổ chức hiện nay cũng như tiền thân OEEC trước đó từ năm 1949 là ở Lâu đài La Muette ở Paris.
== Lịch sử phát triển ==
Tiền thân của OECD là Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC) của 16 nước châu Âu nhằm khôi phục kinh tế và giám sát phân bổ viện trợ.[1]
Năm 1950, Mỹ và Canada tham gia OEEC với tư cách quan sát viên.
Năm 1961, OEEC được chuyển thành OECD. 16 nước châu Âu trong OEEC cùng với Mỹ và Canada trở thành những thành viên sáng lập của OECD (tổng cộng 20 thành viên).
Trong những năm tiếp theo, OECD tiếp tục kết nạp một số quốc gia, bắt đầu từ Nhật Bản năm 1964, Phần Lan 1969, Úc 1971, New Zealand 1973, Mexico 1994, Cộng hòa Séc 1995, Hungary, Ba Lan và Hàn Quốc 1996, Slovakia năm 2000, và mới nhất là Chile, Slovenia, Israel, và Estonia năm 2010.
== Thành viên ==
OECD hiện đang có 35 thành viên.
Châu Âu: 26 thành viên.
Châu Mỹ: 4 thành viên, 3 thành viên từ Bắc Mỹ và một từ Nam Mỹ.
Châu Á: 3 thành viên.
Châu Đại Dương: 2 thành viên.
== Các quốc gia được mời để trở thành thành viên ==
Ngày 16 tháng 5/2007 OECD đã đồng ý mời Chile, Estonia, Israel, Nga và Slovenia thảo luận để trở thành thành viên. Ngoại trừ Nga, các nước còn lại hiện đã là thành viên.
Nga: Ngày 13.03.2014, OECD loan báo ở Paris là sẽ ngưng các đàm phán với Nga về việc nước này xin vào tổ chức theo như yêu cầu của 34 nước thành viên vì cuộc khủng hoảng Krym 2014.
Từ tháng 5/2013 OECD bắt đầu các cuộc thảo luận với Colombia, Costa Rica và Litva.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
OECD's Trang web các thành viên
OECD Anti-Bribery Convention
Text of the OECD Guidelines for Multinational Enterprises
OECD page on OEEC
OECD's Factbook presenting comparative economic, environmental and social data from the world's largest economies
OECD Antispam Task Force Report presenting an eight pronged set of measures for countering spam |
monaco.txt | Monaco, tên chính thức là Thân vương quốc Monaco (tên gọi tiếng Việt phổ biến nhưng không chính xác: Công quốc Monaco, tiếng Pháp: Principauté de Monaco; Tiếng Monaco: Principatu de Múnegu; tiếng Ý: Principato di Monaco; tiếng Occitan: Principat de Mónegue), là một quốc gia-thành phố có chủ quyền tại châu Âu. Monaco có ba mặt tiếp giáp với nước Pháp và mặt còn lại giáp với Địa Trung Hải và trung tâm của công quốc cách nước Ý khoảng 16 km (9,9 dặm). Diện tích của Monaco là 1,98 km² (0,76 mi²) và dân số năm 2011 là 35.986 người. Monaco là nước có GDP trên danh nghĩa cao nhất thế giới bình quân đầu người là 215.163 Đô la Mỹ và là quốc gia có mật độ dân cư cao nhất trên thế giới. Monaco cũng có tuổi thọ cao nhất thế giới với con số 90, và là nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất. Sau những lần lấn biển gần đây, tổng diện tích của Monaco là 2,05 km² (0,79 mi²).
== Địa lý ==
Monaco là một đất nước ở khu vực Tây Âu, nằm ở một eo biển nhỏ phía nam nước Pháp, bên bờ biển Côte d'Azur. Lãnh thổ Monaco trải dài trên 3 km, bề rộng không vượt quá từ 200 m đến 300 m, gồm bốn khu đô thị: Monaco-Ville, Monte Carlo, Condamine, Fontvieille.
== Lịch sử ==
Monaco là nơi định cư của người Phoenicia từ thời Cổ đại. Năm 1215, người Genova đến xây dựng một lâu đài kiên cố trên khu đất thuộc Monaco hiện nay. Quyền kiểm soát lãnh thổ này lại chuyển sang cho dòng họ Grimaldi năm 1297.
Monaco là xứ bảo hộ của Tây Ban Nha (1524-1641) rồi đến Pháp (1641-1793) và bị sáp nhập vào Pháp từ năm 1793 đến năm 1814, đến năm 1861 Monaco mới được độc lập khỏi Pháp. Từ năm 1865, liên minh thuế quan đã nối kết Monaco với Pháp và hiệp định cơ bản năm 1918 thừa nhận quyền đại diện ngoại giao của thân vương quốc. Monaco gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1993, và vẫn duy trì hiệp định chung về thuế quan với Pháp.
Hiến pháp năm 1911 quy định Monaco là một nước quân chủ lập hiến, hoàng tử là quốc trưởng. Ban lãnh đạo gồm một thủ hiến và 4 quan chức trong hội đồng Chính phủ. Thủ hiến là một công dân Pháp do Hoàng tử chọn từ những người do Pháp giới thiệu.
Thỏa ước Versailles năm 1918 cho phép Pháp có quyền "giúp bảo vệ hạn chế".
Hoàng tử cũng chia sẻ quyền lực với Hội đồng quốc gia (Quốc hội) gồm 24 thành viên làm việc theo nhiệm kỳ 5 năm
+ Các ông hoàng Monaco:
Francois - Rainier I: 1297 - 1301; Phụ thuộc vào Cộng hòa Genoise - Ghibelline từ 1301 - 1331
Charles I - Rainier II: 1331 - 1357, riêng Rainier II lên đồng cai trị với cha cho tới khi cha mất (1352 - 1357)
Louis - Jean I: 1395
Louis I: 1397 - 1402
Jean I - Ambroise - Catalan: 1419 - 1454, riêng Ambroise cai trị đến 1427 thì thoái vị, Catalan cai trị trong vai tháng của năm 1427 thì mất sớm.
Claudine: 1457 - 1458
Lamberto: 1458 – 1494
Jean II: 1494 – 1505
Lucien: 1505 – 1523
Honoré I: 1523 – 1581
Charles II: 1581 – 1589
Hercule: 1589 – 1604
Honoré II: 1604 - 1662
Louis I: 1662 – 1701, hoàng tử Monaco
Antonio I: 1701 – 1731
Louise Hippolyte: 1731
Jacques I: 1731 – 1751
Honoré III: 1751 – 1795
=> Thuộc Pháp (1793 - 1814):
Joseph Barriera
Armand Louis de Gontaut
Henri Grégoire
Grégoire Marie Jagot: 1793 - 1814; Napoleon I
Honoré IV: 1814 – 1819
Honoré V: 1819 – 1841
Florestan I: 1841 – 1856
Charles III: 1856 – 1889
Albert I: 1889 – 1922
Louis II: 1922– 1949
Rainier III: 1949 – 2005
Albert II: 2005 - nay
Jacques II: (sẽ kế vị)
== Chính trị ==
Ngày 17 tháng 12 năm 1962, Hiến pháp Monaco được ban hành, quy định quyền lập pháp thuộc về Hoàng thân và Hội đồng quốc gia (bao gồm 24 thành viên được bầu cử trực tiếp, nhiệm kỳ 5 năm). Quyền hành pháp được Hoàng thân giao cho Thủ tướng và 5 Cố vấn Chính phủ (Bộ trưởng). Quyền tư pháp hoàn toàn độc lập với Chính phủ, thuộc về các toà án. Nguyên thủ quốc gia là Hoàng thân Albert II (kế vị năm 2005). Thủ tướng là Jean Paul Proust. Cố vấn Chính phủ về Quan hệ đối ngoại và các vấn đề Kinh tế và Tài chính quốc tế là Frank Biancheri.
Monaco có 8 Đại sứ quán bổ nhiệm tại 17 quốc gia (tính đến ngày 1 tháng 5 năm 2008), chủ yếu tại Tây Âu, Mỹ và Toà thánh Vatican. Monaco có 2 Đại sứ không thường trực, được bổ nhiệm tại Úc, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Bồ Đào Nha. Ngoài ra, có 4 Phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế: tại New York bên cạnh Liên Hợp Quốc, tại Genève bên cạnh các tổ chức chuyên trách của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế có trụ sở tại Thụy Sĩ, tại Strasbourg bên cạnh Hội đồng châu Âu và tại Bỉ bên cạnh Liên minh châu Âu. Monaco có 113 Lãnh sự quán hoạt động tại 62 quốc gia, hai Tổng Lãnh sự quán tại London và New York.
2 Đại sứ quán thường trú tại Monaco là Sứ Quán Pháp và Sứ Quán Italia. 42 quốc gia bổ nhiệm Đại sứ kiêm nhiệm Monaco từ Paris, Madrid hoặc Bruxelles. Ngoài ra có 74 lãnh sự quán được bổ nhiệm tại Monaco.
== Kinh tế ==
Kinh tế Monaco chủ yếu dựa vào du lịch. Dịch vụ ngân hàng và các sòng bạc được thành lập từ năm 1862. Chính sách thuế quan ưu đãi thu hút các công ty nước ngoài. Các ngành công nghiệp gồm có: chế tạo mĩ phẩm, hóa chất, điện tử, đóng tàu, xây dựng... Monaco hoàn toàn hợp nhất thuế quan với Pháp để thu và giảm thuế mậu dịch, đồng thời tham gia vào hệ thống thị trường EU qua liên minh thuế quan với Pháp.
Dịch vụ du lịch và thu thuế từ các sòng bạc là nguồn thu nhập chủ yếu của Monaco (25% PIB). Ngành ngân hàng-tài chính phát triển mạnh và đều. Ngành công nghiệp tập trung chủ yếu vào công nghiệp nhẹ, không huỷ hoại môi trường và có hàm lượng giá trị gia tăng cao chiếm 8% nguồn thu nhập ngân sách.
Tuy chưa là thành viên chính thức của EU nhưng Monaco có quan hệ mật thiết với tổ chức này thông qua Hiệp định chung về thuế quan với Pháp. Đồng tiền của Monaco cũng là đồng euro.
== Dân tộc ==
Dân cư Monaco có điều khác thường là người Monegasque bản địa hiện chỉ chiếm thiểu số trên đất nước của mình. Phần lớn cư dân là người Pháp (28%), sau đó là người Monegasque (21.6%), người Ý (19%), người Anglo-Saxon (7,5% Anh & 1% Hoa Kỳ), người Đức, người Thụy Sĩ và người Bỉ mỗi dân tộc chiếm khoảng từ 2,5 đến 3%; 15% dân cư tự nhận là thuộc các dân tộc "khác".
== Ngôn ngữ ==
Ngôn ngữ chính thức của Monaco là tiếng Pháp. Ngôn ngữ quốc gia theo truyền thống là Monégasque, nhưng hiện chỉ được một thiểu số nhỏ dân cư sử dụng. Ngôn ngữ này tương tự như Tiếng Ligurian được sử dụng tại Genoa. Ở khu vực cũ của Monaco, các bảng hiệu trên đường phố được thể hiện bằng cả tiếng Pháp và Monégasque. Tiếng Ý cũng được một phần khá lớn cư dân Monaco sử dụng, đa số họ những người nhập cư từ Ý. Tiếng Anh được cư dân người Anh và Mỹ sử dụng.
== Tôn giáo ==
=== Công giáo ===
Điều 9 của Hiến pháp Monaco công nhận Công giáo La Mã là giáo hội chính thức của Monaco, và là tôn giáo chiếm đa số với 83,2% dân số. Tự do tôn giáo cũng được hiến pháp bảo đảm. Giáo hội Công giáo Monaco là một phần của Giáo hội Công giáo Rôma, dưới sự lãnh đạo tinh thần của Giáo hoàng và giáo triều Rôma. Tổng Giáo phận Monaco là một phần của Giáo hội Công giáo địa phương Pháp. Đất nước này tạo thành một tổng giáo phận duy nhất.
=== Anh giáo ===
Có một nhà thờ Anh giáo (Giáo hội của Thánh Phaolô), nằm tại Avenue de Grande Bretagne ở Monte Carlo. Có 135 cư dân theo Anh giáo trong thân vương quốc, tuy nhiên nhà thờ này cũng đang phục vụ một số lượng lớn đáng kể tín hữu Anh giáo tạm thời trong nước, chủ yếu là khách du lịch. Nhà thờ Anh giáo Monaco là một phần của giáo phận Anh giáo ở châu Âu.
== Hành chính ==
Monaco là quốc gia có diện tích nhỏ thứ hai trên thế giới chỉ sau Vatican. Monaco cũng là nền quân chủ nhỏ thứ hai trên thế giới và là nước có mật độ dân số cao nhất trên thế giới. Quốc gia này chỉ bao gồm một khu tự quản (commune, xã). Không có ranh giới địa lý giữa đất nước và thành phố Monaco mặc dù trách nhiệm của chính quyền cấp trung ương và cấp thành phố là khác nhau. Theo Hiến pháp 1911, thân vương quốc được chia thành 3 khu tự quản:
Monaco (Monaco-Ville), phần thành phố cũ trên một mũi đất đá thẳng ra Địa Trung Hải, hoặc được gọi đơn giản là Le Rocher (khối đá), nơi mà cung điện tọa lạc;
Monte Carlo, khu vực nhà ở của cư dân và các khu nghỉ dưỡng và Sòng bạc Monte Carlo ở phía đông và đông bắc;
La Condamine, phần đông bắc bao gồm khu vực cảng Hercule.
Các khu tự quản được sáp nhập thành một vào năm 1917, sau khi người dân cao buộc chính quyền áp dụng phương thức "chia để trị" và được thay thế bằng "phường". Hiện Monaco được chia thành 10 phường cộng thêm Le Portier, là phường đang được đề nghị thành lập:
Chú ý: Để phục vụ cho mục đích thống kê, các phường của Monaco được chia tiếp thành 173 khối phố (îlots).
== Giáo dục ==
=== Các trường tiểu học và trung học ===
Monaco có 10 trường công đang hoạt động, bao gồm: 7 nhà trẻ và tiểu học, với các trường trung học: Collège Charles III, Lycée Albert 1er (đào tạo về công nghệ), Lycée technique et hôtelier de Monte-Carlo (đào tạo nghề khách sạn). Ngoài ra còn có 2 trường tư, bao gồm cả viện François d'Assise Nicolas Barré và École des Sœurs Dominicaines. Trường tư còn lại là Trường quốc tế Monaco (International School of Monaco).
=== Các trường cao đẳng và đại học ===
Có một trường đại học nằm ở Monaco, cụ thể là Đại học Quốc tế Monaco (IUM), một trường dạy bằng tiếng Anh chuyên về đào tạo kinh doanh, được điều hành bởi Viện des Hautes Études et économiques Commerciales (INSEEC).
== Tham khảo == |
suriname.txt | Suriname (phiên âm tiếng Việt: Xu-ri-nam), tên đầy đủ là Cộng hòa Suriname (tiếng Hà Lan: Republiek Suriname) là một quốc gia tại Nam Mỹ. Suriname toạ lạc giữa Guyane thuộc Pháp về phía đông và Guyana về phía tây. Biên giới phía nam chung với Brasil còn ranh giới phía bắc là bờ biển Đại Tây Dương. Biên giới cực nam với Guiana thuộc Pháp đang bị tranh chấp nằm dọc theo các sông Marowijne và Corantijn. Suriname là quốc gia có chủ quyền nhỏ nhất về diện tích ở Nam Mỹ. Đây là khu vực nói tiếng Hà Lan duy nhất ở ở Tây Bán Cầu không thuộc Vương quốc Hà Lan. Suriname cực kỳ đa dạng về chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo. Diện tích quốc gia này gần 165.000 km². Quốc gia này có một phần tư dân số sống dưới 2 đô la Mỹ mỗi ngày.
== Tên gọi ==
Tên nước lấy tên sông Suriname, cũng có thể là tên của một bộ lạc ven bờ biển Caribe, không rõ ý nghĩa. Suriname nguyên là nơi cư trú của Thổ dân châu Mỹ. Năm 1593, là thuộc địa của Tây Ban Nha. Năm 1816, lại rơi vào sự thống trị của thực dân Hà Lan, gọi là "Guyana thuộc Hà Lan". Năm 1948, đổi tên là "Surina". Năm 1954, thực hiện chế độ tự trị. Ngày 25 tháng 11 năm 1975, tuyên bố độc lập, thành lập "Cộng hòa Suriname".
== Địa lý ==
Suriname nằm ở khu vực Nam Mỹ, Bắc giáp Đại Tây Dương, Nam giáp Brasil, Đông giáp lãnh thổ Guyane thuộc Pháp, Tây giáp Guyana. Phần lãnh thổ phía nam trải rộng trên vùng núi và cao nguyên Guyana, bao phủ bởi các khu rừng rậm xích đạo, thoải dần về phía bắc là vùng đồng bằng đầm lầy ven biển.
== Lịch sử ==
Surimane được Cristoforo Colombo phát hiện năm 1499. Vùng lãnh thổ này trở thành thuộc địa của Anh từ năm 1650, được nhượng lại cho Hà Lan năm 1667 để phát triển các đồn điền mía, bị Anh xâm chiếm từ năm 1796. Việc bãi bỏ chế độ nô lệ (1863) đã dẫn đến các đợt nhập cư từ Ấn Độ và Indonesia sang. Năm 1948, lãnh thổ này trở thành vùng Guyana thuộc Hà Lan, được đặt tên là Suriname. Hiến pháp năm 1954 mang lại cho vùng này quyền tự trị rộng rãi hơn. Suriname giành được độc lập năm 1975.
Cuộc đảo chính quân sự năm 1980 đưa Đại tá Desi Bouterse lên cầm quyền. Từ năm 1982, phong trào kháng chiến du kích phát triển ở miền Nam và miền Đông, buộc giới quân nhân chấp nhận tiến trình dân chủ hóa. Năm 1988, Ramsewak Shankar được bầu làm Tổng thống, trong khi Desi Bouterse vẫn cầm quyền kiểm soát quân đội. Năm 1990, giới quân nhân trở lại cầm quyền. Năm 1991, Ronald Venetiaan, ứng cử viên thuộc liên minh đối lập với quân đội đắc cử Tổng thống. Năm 1992, một hiệp định hòa bình được ký kết giữa Chính phủ và quân du kích.
Sau khi chấm dứt cuộc nội chiến, Suriname ra sức tái thiết kinh tế đất nước. Năm 1997, Jules Wijdenbosch, được sự hậu thuẫn của Bourterse, đắc cử Tổng thống. Năm 1999, một tòa án Hà Lan kết án tù vắng mặt đối với Desi Bouterse vì tội buôn lậu ma túy. Năm 2000, Ronald Venetiaan trở lại cầm quyền và ra sức tái thiết kinh tế với sự giúp đỡ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Hà Lan.
== Kinh tế ==
Nông nghiệp chủ yếu là ngành trồng trọt (lúa, mía, chuối và cam), các nguồn lợi khác thu nhập từ đánh bắt cá và khai thác gỗ. Bauxit và nhôm được sản xuất tại chỗ nhờ các công trình thủy điện và cũng là hai mặt hàng xuất khẩu chính. Tình trạng tham nhũng, lạm phát và thiếu năng lực kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Tính đến năm 2016, GDP của Suriname đạt 4.137 USD, đứng thứ 157 thế giới và đứng thứ 11 khu vực Nam Mỹ.
== Văn hóa ==
Suriname là nơi giao hòa của nhiều dòng chảy văn hóa Phi, Mỹ - Anh Điêng, [châu Á], Do Thái và Hà Lan. Tất cả phản ánh qua phong tục tập quán cũng như phong cách sống của con người vốn đa dạng nhưng cũng rất hài hòa.
Thủ đô cũng là hải cảng lớn Paramaribo nằm ngay cửa sông Suriname. Kiến trúc nổi bật gây ấn tượng với du khách về một thời thuộc địa Hà Lan, và đó cũng là lý do Paramaribo trở thành Di sản thế giới do UNESCO công nhận.
Suriname được độc lập năm 1975 khi thoát khỏi ách thống trị của người Hà Lan.
Ngôn ngữ chính thức ở Suriname là tiếng Hà Lan và tiếng Anh. Ngoài ra, còn có tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Sarnami (một tiếng địa phương của người Hindi), tiếng Java, Trung Quốc (tiếng Phổ thông, tiếng Quảng Đông và tiếng Hakka).
== Chính trị ==
Suriname theo chính thể cộng hòa.
Đứng đầu nhà nước là tổng thống. Đứng đầu chính phủ là thủ tướng. Tổng thống và Phó Tổng thống (đồng thời là Thủ tướng) do quốc hội bầu ra, nhiệm kì 5 năm. Tổng thống chỉ định các thành viên của Nội các. Hội đồng Nhà nước gồm 14 thành viên được chỉ định. Hội đồng Nhà nước lãnh đạo Quốc hội.
Cơ quan lập pháp là Quốc hội gồm 51 thành viên, được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm.
Cơ quan tư pháp là Tòa án Tối cao, các thẩm phán được đề cử suốt đời.
Các đảng phái chính gồm có: Mặt trận mới (NF), Đảng Cải cách tiến bộ (VHP), Đảng Quốc gia Suriname (NPS), Đảng Thống nhất và đoàn kết dân tộc (KTPI), Đảng Lao động Suriname (CSPA), Đảng Dân chủ dân tộc (NDP), v.v..
== Hành chính ==
Suriname được chia thành 10 quận:
Brokopondo
Commewijne
Coronie
Marowijne
Nickerie
Para
Paramaribo
Saramacca
Sipaliwini
Wanica
== Nhân khẩu ==
Dân số Surimane hiện khoảng 470,784 người. Gồm các nhóm dân tộc: Hindustani (còn được gọi là "người Đông Ấn" tổ tiên của họ di cư từ Bắc Ấn Độ vào cuối thế kỷ 19) chiếm 37% dân số, người Creole chiếm 31%, người Java 15%, người Maroon 10%, người Hoa 2%, người Da Trắng 1%, người bản xứ 2%. Ngôn ngữ chính thức của quốc gia là tiếng Hà Lan, ngoài ra còn có tiếng Anh, tiếng Hindustani (thổ ngữ của tiếng Hindi), tiếng Java.
Tôn giáo chiếm ưu thế trong nước là Kitô giáo chiếm 40,7% dân số gồm Công giáo La Mã và các giáo phái khác nhau của đạo Tin Lành, Giáo hội Moravian là lâu đời nhất và lớn nhất.
Ấn giáo chủ yếu tập trung ở vùng ven biển phía Bắc của Suriname. Nhất người Ấn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ. Theo điều tra dân số năm 2004, 23,9% dân số Surinam thực hành Ấn Độ giáo. Ấn giáo chủ yếu tập trung ở Nickerie, Wanica và Saramacca. Đây là những nơi Ấn giáo là nhóm tôn giáo lớn nhất.
Theo điều tra dân số gần đây nhất, Hồi giáo ở Suriname chiếm khoảng 13,5% tổng dân số của đất nước, đem lại cho đất nước này tỷ lệ phần trăm người Hồi giáo cao nhất trên lục địa châu Mỹ.
Người Hồi giáo đầu tiên đến Suriname là những nô lệ đến từ châu Phi. Nhóm tiếp theo của người Hồi giáo đến đất nước này bao gồm người lao động giao kèo từ Nam Á và Indonesia, mà hầu hết người Hồi giáo ngày nay ở Suriname là hậu duệ.
== Du lịch ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Suriname tại Wikimedia Commons |
bandar seri begawan.txt | Bandar Seri Begawan, (tiếng Mã Lai: Bandar Seri Begawan, Jawi: بندر سري بگاوان ; phiên âm tiếng Việt: Ban-đa Xê-ri Bê-ga-oan) dân số khoảng 27.285 người (2002), là thủ đô và là thành phố hoàng gia của Vương quốc Hồi giáo Brunei. Thành phố là nơi sản xuất đồ nội thất, dệt, hàng thủ công, và đồ gỗ. Đây là địa điểm tọa lạc của Nhà Nghi lễ Hoàng gia hay Lapau, Tòa nhà Hoàng gia, Nhà thờ Hồi Giáo Sultan Omar Ali Saifuddien, Bảo tàng Công nghệ Mã Lai và Trung tâm lịch sử Brunei. Bandar Seri Begawan có tọa độ 4°55' Vĩ Bắc, 114°55' Kinh Đông (4.91667, 114.91667).
Nhà thờ Hồi giáo Sultan Omar Ali Saifuddin, được xây năm 1958, nổi bật với mái vòm lớn và nội thất xa hoa bằng đá cẩm thạch Italia, trải thảm và thang máy. Nhà thờ này có các đường hầm để các vua sử dụng khi vi hành trong thành phố. Thành phố này cũng độc đáo vì nó cũng hợp nhất với một ngôi làng nước, Kampung Ayer, với các ngôi nhà nằm trên biển trong khoảng 500 m. Bảo tàng Công nghệ Mã Lai có các hiện vật của kiến trúc làng nước.
Bandar Seri Begawan được đặt tên theo nhà vua quá cố, cha đẻ của đương kim hoàng đế Omar Ali Safuddin năm 1975, tên gốc của nó là Bandar Brunei (Begawan là một tên đặt cho các nhà vua Brunei đã thoái vị). Bandar, có gốc từ tiếng Ba Tư بندر có nghĩa "cảng" hoặc "nơi trú chân" (bandar có nghĩa "thành phố" trong tiếng Mã Lai).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official website
Aerial view of Bandar Seri Begawan from the Brunei Eye
Tọa độ: 4°55′00″B 114°55′00″Đ |
trung quốc đại lục.txt | Trung Quốc đại lục (chữ Hán giản thể: 中国大陆; chữ Hán phồn thể: 中國大陸; bính âm: Zhōnggúo Dàlù), còn gọi là Hoa Lục, là một tên gọi thường đồng nghĩa với khu vực hiện đang dưới sự quản lý của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; tuy nhiên, nó thường không tính hai đặc khu hành chính Hồng Kông và Ma Cao, đang được quản lý dưới chính sách "một nước hai chế độ". Cụm từ này thường được dùng để phân biệt Trung Hoa lục địa với Đài Loan và một số đảo khác đang nằm dưới sự quản lý của Trung Hoa Dân quốc (Bành Hồ, Kim Môn, và Mã Tổ), cũng như hai đặc khu hành chính Hồng Kông và Ma Cao.
"Trung Quốc đại lục" hay "đại lục" thường được người Trung Quốc của cả hai phía của eo biển Đài Loan cũng như trong các cộng đồng Hoa kiều sử dụng. Cụm từ này trung lập trong vị thế chính trị của Đài Loan. Nó ngụ ý rằng có một quốc gia lớn hơn bao gồm cả lục địa và Đài Loan, nhưng không nói rõ do ai quản lý, và cho phép người Trung Quốc chỉ đến địa lục Trung Hoa mà không cần phải tranh cãi về chính trị. Tuy nhiên, "Trung Hoa địa lục" gần như không bao giờ được sử dụng bởi những người ủng hộ độc lập cho Đài Loan. Những người này gọi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là "Trung Quốc" và Trung Hoa Dân quốc là "Đài Loan".
Tại đại lục, cụm từ "Trung Quốc nội địa" cũng được sử dụng cho khu vực này để phân biệt với Đài Loan, Hồng Kông, và Ma Cao.
== Xem thêm ==
Trung Quốc
Đài Loan
Hồng Kông
Trung Quốc (khu vực)
Ma Cao
== Tham khảo == |
sự kiện tết mậu thân.txt | Sự kiện Tết Mậu Thân (hay còn được gọi với tên chính thức là Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968) là cuộc tổng tiến công và vận động quần chúng nổi dậy chiếm chính quyền vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với sự hỗ trợ của Quân đội Nhân dân Việt Nam trên hầu hết các tỉnh, thành phố lớn ở miền Nam Việt Nam. Đây là một trong những chiến dịch quân sự lớn nhất và có một vai trò và hệ quả mang tính bước ngoặt trong Chiến tranh Việt Nam.
Ba năm sau khi tham chiến trực tiếp, quân đội Mỹ đã ngăn chặn Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trong tay quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng quân Mỹ cũng không thể bình định được miền Nam. Nắm được điểm yếu của phía Mỹ là quân đội của họ đã bị sa lầy trong cuộc chiến tranh tiêu hao cực kỳ tốn kém, đồng thời dư luận của cả nhân dân và chính giới tại Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh khi quân đội tham chiến quá lâu tại nước ngoài, phía quân Giải phóng hoạch định một trận đánh gây tiếng vang lớn, "Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị" (như lời của Tổng bí thư Lê Duẩn) để tạo đột phá cho chiến tranh, nhằm buộc Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào đàm phán.
Chiến dịch tuy được gọi là Tổng tiến công Tết Mậu Thân, nhưng thực chất các trận đánh dịp Tết chỉ là giai đoạn mở màn. Quân Giải phóng coi toàn bộ các hoạt động chiến đấu ở miền Nam từ đầu tháng 2 cho tới hết năm 1968 (kéo dài trên 300 ngày) đều thuộc phạm vi chiến dịch, trong đó có 3 đợt tấn công cao trào (Đợt 1: 30-1 đến 28-3, Đợt 2: 5-5 đến 15-6, Đợt 3: 17-8 đến 30-9), xen giữa các đợt cao trào là giai đoạn tái bổ sung lực lượng, phòng ngự chống đối phương phản kích.
Xét về mặt chiến thuật, chiến dịch dẫn tới một kết quả mang tính bế tắc, kiềm chế lẫn nhau: Cả hai phía đều chịu thương vong nặng nề, Quân Giải phóng bị đánh bật ra khỏi các đô thị lớn, nhưng quân Mỹ cũng không thể bình định được các vùng nông thôn miền Nam. Nhưng xét về mặt chiến lược, đây là một bước đột phá lớn trong chiến tranh. Quân Giải phóng đã hoàn thành một trong những mục tiêu quan trọng được đề ra là “Đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn thương lượng”. Ngoài ra, Hàng rào điện tử McNamara của Mỹ nhằm khống chế đường Trường Sơn cũng đã bị phá hủy trong Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Đây được coi là thắng lợi chiến lược mang tính bước ngoặt của quân Giải phóng miền Nam trong cuộc chiến.
== Hoàn cảnh ra đời ==
Năm 1965, với việc đưa quân chiến đấu Mỹ và quân các nước phụ thuộc vào trực tiếp tham chiến ở chiến trường Việt Nam và tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt bằng không quân và hải quân chống Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mỹ đã đẩy cuộc chiến tranh Việt Nam lên quy mô và cường độ chưa từng có. Với chiến lược Chiến tranh cục bộ, sử dụng hai gọng kìm "tìm - diệt" và "bình định nông thôn", Mỹ tuyên bố sẽ tiêu diệt quân Giải phóng miền Nam trong vòng 18 tháng.
Hầu hết các loại vũ khí trang bị cho quân Mỹ dùng trong chiến tranh đều là những loại mới, như súng trường M-16, đại bác M107 175mm, xe tăng kiểu mới M48 Patton đến máy bay trinh sát điện tử, máy bay F-111, B-52; từ quả mìn mỏng "cây nhiệt đới", máy dò điện tử đến máy phát nhiễu cực mạnh, bom vô tuyến, bom điều khiển bằng lade, bom napan và chất độc hoá học, v.v… Ở thời kỳ đỉnh cao 1968 -1969, Mỹ huy động đến miền Nam Việt Nam 24 tiểu đoàn thiết giáp (2.750 chiếc, trong đó có 950 xe tăng) và 83 tiểu đoàn pháo binh với 1412 khẩu pháo. Tướng William Westmoreland "tin tưởng rằng nước Mỹ chưa hề cho ra trận một lực lượng tinh nhuệ, thiện chiến hơn lực lượng ở Việt Nam trong những năm 1966-1969".
Nhưng với hàng ngàn cuộc hành quân lớn nhỏ trên khắp chiến trường miền Nam, mà đỉnh cao là hai cuộc phản công chiến lược quy mô lớn vào mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, quân Mỹ vẫn không đạt mục tiêu đáng kể nào. Không thể tiêu diệt bộ chỉ huy cũng như các đơn vị lớn nào của quân Giải phóng, mục tiêu bình định sau 18 tháng cuối cùng vẫn dậm chân tại chỗ.
Cũng từ những thất bại về quân sự trên chiến trường, sự nghi ngờ về kết quả các cuộc ném bom miền Bắc và tăng quân Mỹ vào miền Nam trong nhân dân và Quốc hội Mỹ cũng tăng lên. Nhiều nghị sĩ ở Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Mỹ đã nhận thấy "tương lai không thể lường được của một cuộc chiến tranh hiện đang có tác động làm rã rời ý chí nhân dân Mỹ"
Nước Mỹ ngày càng sa lầy vào cuộc chiến tranh không có đường ra, chưa biết bao giờ kết thúc. Chính phủ Mỹ không còn cách nào ngoài việc tiếp tục tăng quân, tăng chi phí quân sự. Đến cuối 1967, quân chiến đấu Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam lên tới 480.000 quân và 68.800 quân của các nước phụ thuộc Mỹ. Nếu kể cả khoảng hơn 20 vạn quân đóng ở các căn cứ quân sự trên đất Thái Lan, Nhật Bản, Philíppin, Hạm đội 7, một bộ phận Hạm đội 6, đã có tới 80 vạn quân Mỹ trực tiếp tham chiến. Tổng cộng Mỹ đã huy động 70% lục quân, 60% không quân, 40% hải quân, 60% lực lượng lính thuỷ đánh bộ toàn nước Mỹ. Số quân Mỹ huy động lúc cao nhất bằng tổng số lục quân của 4 nước: Anh, Úc, Canada và Tây Ban Nha cộng lại. Năm 1967, quân đội Việt Nam Cộng hòa có 552.000 quân, đến cuối năm 1968 cũng đã tăng lên 555.000 quân.
Nếu chi phí cho cuộc chiến tranh Việt Nam 1965-1966 là 4,7 tỉ đôla, thì năm 1967 đã tăng lên 30 tỉ, gấp 1,5 lần Mỹ đã chi cho cuộc chiến tranh Triều Tiên trong ba năm. Do chi phí lớn cho cuộc chiến tranh, nền kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái, thâm hụt ngân sách 4 tỉ đôla, giá cả tăng vọt, lạm phát không kiểm soát được. Ngày 15-4-1967, tại Oasinhtơn, khoảng 40.000 người, có cả những cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam, tham gia biểu tình phản đối cuộc chiến tranh của Chính phủ Mỹ. Tháng 10-1967, nhiều cuộc biểu tình của nhân dân Mỹ chống chiến tranh lan rộng toàn nước Mỹ nhằm mục tiêu: đòi chăm lo tình cảnh cho người nghèo và chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Chính phủ Mỹ phải lo đối phó với những khó khăn lớn về quân sự, chính trị và tài chính không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trong nước Mỹ.
Do lực lượng hai bên chênh lệch quá xa cả về quân số và trang bị, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam xác định rằng không thể giành thắng lợi quyết định bằng những cách đánh thông thường, mà phải tìm cách đánh khác để đập tan ý chí tiếp tục chiến tranh của Mỹ, làm cho Mỹ hiểu rằng không thể thắng được dân tộc Việt Nam bằng vũ khí và bom đạn.
== Kế hoạch của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam ==
Trên thực tế, sự chuẩn bị cho đòn tấn công này đã bắt đầu khởi động từ cuối giai đoạn chiến lược Chiến tranh đặc biệt. Theo PGS-TS-Đại tá Hồ Khang, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam thì "Kế hoạch Xuân Mậu Thân có nguồn gốc từ những kế hoạch ban đầu chúng ta hình thành mà một số nhà nghiên cứu gọi là kế hoạch X. Kế hoạch này được khởi phát vào lúc mà cuộc chiến ở miền Nam đang tiến dần đến sự thay đổi, chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ tiến hành ở miền Nam đang sa lầy, thất bại". Đại tá Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) - nguyên Chỉ huy trưởng lực lượng biệt động Sài Gòn-Gia Định cho biết: "Tháng 5-1964, tôi được thuyên chuyển về phụ trách một đơn vị mà hồi đó gọi là F100 - biệt động của quân khu Sài Gòn-Gia Định. Sau này dần dần tôi mới biết rõ đơn vị này tổ chức ra để nhằm phục vụ cho ý đồ tập kích chiến lược. Hồi đó, tôi được lệnh là mọi thứ phải chuẩn bị xong trước tháng 12-1965". Nhưng việc Mỹ đổ quân vào bãi biển Đà Nẵng tháng 3-1965 đã làm trì hoãn việc thực hiện kế hoạch X. Quân Giải phóng tiếp tục chuẩn bị, khi nào có thời cơ sẽ đánh.
Tháng 6-1967, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục tính toán một chiến lược có ý nghĩa quyết định, tạo bước ngoặt cho chiến tranh. Theo đó, nếu không tranh thủ thời cơ, đi sớm một bước thì sang năm 1968, cách mạng miền Nam sẽ gặp bất lợi lớn khi quân đội Mỹ, dưới áp lực của dư luận nước Mỹ, buộc phải dốc toàn lực thực hiện một hành động quân sự lớn để phá vỡ thế bế tắc và kết thúc chiến tranh theo cách Mỹ muốn. Mặt khác, năm 1968 cũng lại là năm bản lề trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, khi mà các mâu thuấn chính trị tại Mỹ bị đẩy lên cao và dư luận Mỹ đặc biệt quan tâm tới tình hình thời sự chính trị. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị là trong dự thảo kế hoạch, cần phải tính đến các “yếu tố chính trị” sẽ diễn ra vào năm 1968 tại Mỹ, nhằm khoét sâu vào mâu thuẫn chính trị tại Mỹ trong năm này. Theo nhận xét của sử gia Mỹ Merle L. Pribbenow, chỉ thị này đã được thực tế chứng minh là chính xác, việc dự đoán thành công và biết khai thác điểm yếu chính trị của phía Mỹ đã tạo nên chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến dịch.
Do đó, Bộ Chính trị chủ trương: "Nhân lúc đế quốc Mỹ đang đứng trước thế tiến lui đều khó, lại phải tập trung vào cuộc vận động bầu cử Tổng thống Mỹ, ta cần chuẩn bị đánh một đòn quyết định tạo chuyển biến nhảy vọt cho cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, buộc Mỹ phải thua." Theo Đại tá Vũ Ba, nguyên cán bộ tham mưu Miền, "... thời cơ lịch sử có thể xảy ra trước hoặc sau năm 1968. Nhưng chắc chắn nó phải rơi vào đúng thời điểm sức mạnh và quân số Mỹ có mặt ở miền Nam lên đến đỉnh điểm nhưng họ không thể giành được thắng lợi quyết định. Và thời điểm đó chính là Mậu Thân 1968. Lúc đó, tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật của Mỹ gấp 800 lần Việt Nam. Các nhà bình luận phương Tây nhận định: Mỹ là một nước rất mạnh đem quân đánh một nước rất nhỏ, đã đem hết sức mình ra mà không đánh thắng nổi và phải bỏ cuộc, thì có nghĩa là Mỹ đã thua". Cố Trung tướng Nguyễn Đình Ước, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, bình luận: "Nếu năm 1967 ta đã tiến công như tết Mậu Thân thì không được. Westmoreland bảo: "Tôi chưa thực hiện xong kế hoạch ba năm tiêu diệt gãy xương sống Việt cộng. Chiến tranh cục bộ chưa đến đỉnh cao. Các anh chưa cho tôi quân hết, phải đánh ít nhất một năm nữa". Nếu ta để năm 1969, quá đi một năm, qua bầu cử tổng thống Mỹ rồi thì chưa chắc áp lực đã mạnh đến mức Johnson phải từ chức như thế".
Tháng 7 và tháng 8-1967, Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu bắt tay xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược cho năm 1968 theo tinh thần Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6 và chỉ thị của Quân ủy Trung ương.
Tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng gợi ý cho "Tổ kế hoạch" do Cục trưởng Cục Tác chiến Lê Ngọc Hiền phụ trách là nên nghĩ đến kế hoạch và cách đánh khác cách đánh "truyền thống" mà lâu nay quân Giải phóng vẫn làm, thì mới có thể giành thắng lợi quyết định. Trong khi "Tổ kế hoạch" còn đang suy nghĩ tìm cách đánh mới, thì TBT Lê Duẩn khi trao đổi với Quân uỷ Trung ương về kế hoạch chiến lược năm 1968 đã đề xuất giải pháp đánh thẳng vào sào huyệt địch trong các thành phố, thị xã. Ý kiến của Lê Duẩn được Quân uỷ Trung ương và Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng tán thành và trở thành ý định quyết tâm chiến lược năm 1968: chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu từ rừng núi, nông thôn vào đô thị - nhất là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Tổng bí thư Lê Duẩn nói: "Mỹ không còn con đường nào khác là phát huy sức mạnh quân sự. Đối phó với âm mưu này của Mỹ, ta phải đưa hoạt động quân sự lên một bước mới, đến mức Mỹ không chịu nổi và phải chấp nhận thất bại về quân sự, cô lập về chính trị. Nếu ta thực hiện được, Mỹ sẽ phải rút khỏi miền Nam"
Trong khoảng thời gian này, sức khỏe của chủ tịch Hồ Chí Minh bị sa sút, nên phải gác lại công việc và đi Trung Quốc chữa bệnh. Tuy nhiên với bề dày kinh nghiệm, uy thế to lớn trong Đảng Lao động và nhân dân, mọi quyết sách lớn vẫn phải được phê duyệt bởi chủ tịch. Do vậy, cuối tháng 7/1967, chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một chuyến về nước ngắn để nghe Quân ủy Trung ương trình bày kế hoạch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu ý những điểm sau:
1. Dự thảo báo cáo tốt, toàn diện, nhưng cần xem báo cáo của Quân ủy có chủ quan không
2. Tranh thủ giành thắng lợi sớm, nhưng phải chú ý đánh lâu dài.
3. Thuận lợi có nhiều nhưng phải thấy những khó khăn như mặt hậu cần bảo đảm.
4. Nói giành thắng lợi quân sự, nhưng phải chú ý đến việc giữ sức dân.
5. Phải chú ý mở rộng chiến tranh du kích, tăng cường trang bị cho du kích.
6. Phải làm sao ta càng đánh càng mạnh, đánh liên tục, đánh được lâu dài (nghĩa là có khả năng thực hiện một cuộc chiến tranh lâu dài)
Tháng 10-1967, trong các ngày từ 20 đến 24, Bộ Chính trị họp Bàn về kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967 – 1968. Tham gia hội nghị này có Uỷ viên Bộ Chính trị Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Lê Đức Thọ. Tuy nhiên cả 3 nhân vật quan trọng nhất là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp đều vắng mặt do phải đi chữa bệnh ở nước ngoài.
Bộ Chính trị đề ra ba mức trường hợp:
Một là, giành thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, công kích và khởi nghĩa thành công ở các đô thị lớn, ý chí xâm lược của Mỹ bị đè bẹp, phải chấp nhận thương lượng đi đến kết thúc chiến tranh theo mục tiêu, yêu cầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hai là, giành được thắng lợi quan trọng ở nhiều nơi, nhưng Mỹ vẫn còn lực lượng, dựa vào các căn cứ lớn và tăng thêm lực lượng từ ngoài vào phản công giành lại những vị trí quan trọng và các đô thị lớn - nhất là Sài Gòn để tiếp tục chiến tranh.
Ba là, Mỹ tăng cường lực lượng, mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, sang Lào và Campuchia, buộc quân Giải phóng phải lui về thế thủ, hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh và gỡ thế thua về chính trị.
Về sách lược: Bộ Chính trị đề ra tập trung mũi nhọn đấu tranh nhằm phân hoá, chia rẽ và cô lập Mỹ và chế độ Sài Gòn của Thiệu-Kỳ. Tiếp tục phổ biến thực hiện cương lĩnh Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Lập mặt trận thứ hai (chuẩn bị người cụ thể trước), tiến tới lập chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Kêu gọi các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, binh lính Sài Gòn đoàn kết với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, trung lập Mỹ, đánh đổ Thiệu - Kỳ, thương lượng với miền Bắc. Lập Chính phủ liên hiệp ba thành phần lấy Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam làm nòng cốt. Các sĩ quan cao cấp của Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị: cần tính đến các "yếu tố chính trị" – cuộc bầu cử tổng thống Việt Nam Cộng hòa vào tháng Chín năm 1967 và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 năm 1968.
Về ngoại giao: nhằm phục vụ cho công kích và khởi nghĩa, Bộ Chính trị nêu rõ là phải tranh thủ cao độ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình Liên Xô - Trung Quốc đang có chia rẽ sâu sắc, Bộ Chính trị chủ trương giữ quan hệ tốt với cả 2 nước, tránh việc quá nghiêng về 1 bên sẽ làm xấu quan hệ với nước còn lại.
Qua thực tế chiến trường, những ý đồ chiến lược đã dần dần hình thành, từng bước trở thành những quyết sách: Tổng tiến công và nổi dậy, đánh thẳng vào sào huyệt của địch trong các thành phố và thị xã. Từ Kế hoạch chiến lược năm 1968 do Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị, hai cuộc họp Bộ Chính trị tháng 10 và tháng 12-1967 đã ra nghị quyết và trở thành Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III), quyết định chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định.
Sau khi thảo luận kỹ khả năng đánh thành phố của lực lượng vũ trang và khả năng nổi dậy của quần chúng, Bộ Chính trị thông qua phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa do Bộ Tổng tham mưu soạn thảo đã được Quân uỷ Trung ương nhất trí. Phương án xác định chiến trường trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế, hướng phối hợp chiến lược quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh. Cụ thể là:
Cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiến công chiến lược đánh vào thành phố, thị xã quy mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng các đô thị và nông thôn, mở đầu cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế và các thành phố lớn.
Theo đó, trước Tết Mậu Thân 10 ngày, quân Giải phóng sẽ nổ súng mở màn Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, tiến công vào tập đoàn cứ điểm Khe Sanh để buộc Mỹ phải chú ý tập trung điều lực lượng chủ lực ra phía bắc đối phó, tạo điều kiện để giữ bí mật hướng trọng điểm và tiếp tục chuẩn bị.
Lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới cũng như ở Việt Nam, theo nghệ thuật "truyền thống" thì giai đoạn kết thúc chiến tranh, thông thường một trong các bên tham chiến thực hiện đòn đánh tiêu diệt chiến dịch lớn hoặc đánh tiêu diệt chiến lược lực lượng quân sự, chính trị đối phương, buộc chúng phải chịu thua. Tuy nhiên so sánh tương quan quân Giải phóng và quân Mỹ về quân số, vũ khí trang bị, sức cơ động và tính hiện đại đều thua kém nhiều lần, nên việc đánh tiêu diệt chiến dịch, chiến lược đối với quân viễn chinh Mỹ là điều gần như không thể thực hiện được. Do đó Bộ chính trị chủ trương: "Phải tìm cách đánh mới khác cách đánh truyền thống là đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ bằng phương pháp tổng tiến công đồng loạt đánh vào các trung tâm đầu não chính trị, quân sự ở các thành phố, thị xã. Tiến công vào các thành phố, thị xã sẽ tạo ra bất ngờ lớn đối với địch, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng, làm rung chuyển nước Mỹ. Qua đó, ta chứng minh cho Mỹ thấy chúng không thể thắng trong cuộc chiến tranh này, chúng đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, do đó phải tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam."
== Diễn biến ==
=== Sự khác biệt giờ chuẩn và lịch âm ===
Trước năm 1967, Việt Nam lấy giờ Bắc Kinh (GMT+8) làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành đổi lịch dùng múi giờ GMT +7 làm chuẩn nên âm lịch cũng thay đổi khi tháng chạp (tháng 12) chỉ có 29 ngày. Miền Nam vẫn theo âm lịch của múi giờ GMT+8 nên tháng chạp có 30 ngày giống như lịch Trung Quốc. Vì thế hai miền nam bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (Nếu tính theo giờ miền Bắc, miền Nam sẽ đón giao thừa lúc 23h00 ngày 29 tháng 1 trong khi miền Bắc đón giao thừa lúc 00h00 ngày 29 tháng 1 hay 1h00 ngày 29 tháng 1-trước miền Nam 23h00 đồng hồ).
=== Tuyên bố ngừng bắn đơn phương của các bên ===
Trước thời điểm Tết Mậu thân, các bên đã có một số tuyên bố chính thức thông qua các kênh chính thức về việc sẽ tạm ngừng bắn trong một số ngày Tết, cụ thể như sau:
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Trong buổi phát thanh ngày 19/10/1967 của Đài Tiếng nói Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố tự nguyện ngừng bắn từ 01h00 sáng giờ Hà Nội ngày 27/1/1968 đến 01h00 sáng giờ Hà Nội ngày 3/2/1968 (7 ngày).
Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam: Theo Đài phát thanh Giải phóng ngày 17/11/1967, Quân Giải phóng sẽ tự nguyện ngừng bắn từ 01h00 sáng giờ Hà Nội-00h00 giờ Sài Gòn ngày 27/1/1968 (28 tháng Chạp) đến 01h00 sáng giờ Hà Nội-00h00 giờ Sài Gòn ngày 3/2/1968 (05 tháng Giêng-ÂL). Tổng thời gian là 168 giờ. Phía VNDCCH trước đó đã điều chỉnh giờ miền Bắc chậm hơn giờ Bắc Kinh đã được 2 miền sử dụng 1h đồng hồ.
Việt Nam Cộng hòa: Ngày 16/12/1967, chính quyền Sài Gòn tuyên bố trên các phương tiện thông tin đại chúng rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ sẽ ngừng bắn trong 48h từ 00h00 ngày 30/1/1968 đến 00h00 ngày 01/02/1968.
Tuy nhiên, tuyên bố ngừng bắn của Việt Nam Cộng hòa đã sớm bị Hoa Kỳ ra lệnh hủy bỏ. Trước sức ép của Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn đã rút ngắn thời gian đơn phương ngừng bắn xuống còn 36 giờ. Cụ thể, ngày 21/01/1968, cả Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa cùng tuyên bố ngừng bắn đơn phương từ 18h00 ngày 29/1/1968 đến 06h00 ngày 30/1/1968. Đến ngày 25/01, Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn Ellsworth Bunker cùng Đại tướng William Westmoreland yêu cầu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu dỡ bỏ ngừng bắn từ Vùng chiến thuật I đến phía nam thành phố Vinh - Nghệ An (bởi quân đội Hoa Kỳ không ăn Tết âm lịch, việc dỡ bỏ ngừng bắn là để quân đội Hoa Kỳ có thể tiếp tục ném bom và càn quét tại các khu vực này). Việc đưa ra tuyên bố giới hạn lệnh ngừng bắn dự kiến sẽ được thông báo vào trưa ngày 29/01/1968, trước khi lệnh ngừng bắn đơn phương của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa bắt đầu có hiệu lực.
Tuy nhiên, tới chiều muộn ngày 29/01/1968, Đại sứ quán Hoa Kỳ và Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa mới chính thức đưa ra thông cáo báo chí về việc hủy ngừng bắn tại Vùng I chiến thuật đến nam thành phố Vinh. Sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã hủy bỏ ngừng bắn tại Vùng I chiến thuật, ngay đêm hôm đó, đúng 01h00 sáng ngày 30/01 giờ Sài Gòn (00h00 ngày 30/01 theo giờ Hà Nội), Quân Giải phóng phát lệnh tấn công tại Vùng I chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa. Tới 10h00 (giờ Sài Gòn) ngày 30/01/1968, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố hủy bỏ ngừng bắn trên toàn bộ miền Nam. Đêm 30, rạng sáng ngày 31/01, Quân Giải phóng phát lệnh tổng tấn công và nổi dậy toàn miền Nam.
=== Sự chuẩn bị của Quân Giải phóng Miền Nam ===
Trong hai năm 1967, 1968, các chiến sĩ vận tải, thanh niên xung phong, hải quân ở miền Bắc đã vượt Trường Sơn và biển cả để chi viện cho chiến trường miền Nam 118.923 tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và 42.619.081 đôla, cộng với 122.885 tấn vật chất do Trung Quốc chi viện quá cảnh qua cảng Xihanúcvin (trong ba năm 1966, 1967, 1968).
Năm 1967, hơn 94.000 cán bộ, chiến sĩ ở miền Bắc biên chế thành từng trung đoàn, sư đoàn bộ binh và binh chủng kỹ thuật đã hành quân vào bổ sung cho mặt trận Trị-Thiên, Khu V, Tây Nguyên, Nam Bộ, nâng tổng số Quân giải phóng miền Nam lên 220.000 quân chủ lực và 57.000 quân địa phương (không kể dân quân, du kích, tự vệ)
Phát huy thế trận chiến tranh nhân dân, quân Giải phóng đã huy động được lực lượng lớn nhân dân trên địa bàn các tỉnh miền Đông tham gia phục vụ cho tổng tiến công và nổi dậy. Nhiệm vụ của lực lượng này là vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm vào nội đô cất giấu trước và cứu thương, tải thương khi chiến sự nổ ra, và xây dựng "hũ gạo nuôi quân". Lực lượng quần chúng kết hợp với các đơn vị vận tải đã chuyển được hàng trăm tấn hàng từ vùng Mỏ Vẹt xuống vùng tây nam Sài Gòn. Quân Giải phóng đã huy động hàng trăm xe bò chở hàng từ Mỏ Vẹt xuống Hóc Môn, Gò Vấp. Huyện Đức Hoà có phong trào xây dựng "hũ gạo nuôi quân". Trước Tết, mỗi gia đình để sẵn năm lon gạo đón chủ lực, sau đó, cứ mỗi tuần lại quyên góp một lần (do Hội phụ nữ phát động).
Các huyện đều thành lập đội cung cấp chuyên lo việc huy động lương thực, thực phẩm trong nhân dân phục vụ tổng tiến công và nổi dậy. Mỗi xã có ban quân lương, đội cứu thương, tải thương. Các nhà đều đào sẵn hầm để nuôi giấu thương binh hoặc chôn giấu vũ khí. Ở Trảng Bàng, gia đình bà Nguyên (Má Bảy) đào hầm chôn tới 45 tấn vũ khí tại một vị trí chỉ cách đồn của Mỹ 1 km.
Đến đầu 1968, trước khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy nổ ra, quân Giải phóng đã xây dựng được 19 lõm chính trị với 325 gia đình, 12 kho vũ khí, 400 điểm ém quân, phần lớn ở gần các mục tiêu sẽ đánh chiếm. Mỗi lõm có nhiều cơ sở để cất giấu vũ khí, ém quân.
Lực lượng Biệt động Sài Gòn do Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu) chỉ huy, có khoảng 300 người, trong đó có hơn 100 tay súng tinh nhuệ, đã lên kế hoạch đánh 7 cơ quan đầu não chính trị trọng yếu của Mỹ giữa lòng Sài Gòn như Dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tư lệnh hải quân, Bộ Tổng tham mưu...
Sáng 31/12/1967, ngày cuối cùng của năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Phủ Chủ tịch để thu thanh chúc mừng năm mới Mậu Thân. Bài thơ “Toàn thắng ắt về ta” được ghi tiếng vào băng để phát lúc Giao thừa, là hiệu lệnh của cuộc Tổng công kích. Đến chiều, Hồ Chủ tịch căn dặn Bộ Chính trị trước khi sang Trung Quốc chữa bệnh. Ngoài liên lạc hàng ngày qua điện thoại, các lãnh đạo Đảng vẫn thay nhau đến Bắc Kinh, trực tiếp báo cáo và xin ý kiến Hồ Chủ tịch. Chiều 20/1/1968, Lê Đức Thọ sang làm việc, sáng ngày 25/1/1968, Võ Nguyên Giáp đến trực tiếp báo cáo với Hồ Chủ tịch. Tối 26/1/1968, đã gần Tết Mậu thân, những binh đoàn chủ lực, theo kế hoạch đang bí mật áp sát các bàn đạp tiến công. Hồ Chủ tịch chỉ thị cho các chiến trường là:
Do trong tháng 1 năm 1968 ngày dương lịch sát ngày âm lịch: ngày 29 (tháng 1) dương lịch là ngày 30 (tháng chạp) âm lịch và có sự lệch nhau một ngày của Tết hai miền nên có sự hiểu không thống nhất trong các cấp chỉ huy chiến trường của quân Giải phóng về thời điểm tiến công (ngày N): là ngày theo âm lịch hay theo dương lịch, là theo lịch cũ hay mới. Sự thiếu nhất quán này đã làm cuộc tiến công ở các địa bàn Quân khu 5 Quân Giải phóng đã nổ ra sớm hơn một ngày so với các địa phương khác trên toàn miền Nam. Tính bất ngờ của cuộc tấn công Tết Mậu Thân do vậy đã bị giảm đi, nhưng về cơ bản vẫn được bảo đảm.
Trước đó nửa tháng, tướng Westmoreland lúng túng: “Như tôi đã báo cáo trước Hội đồng phái bộ Mỹ ngày 15/1/1968, tôi thấy khả năng là 60 đến 40% đối phương sẽ đánh trước Tết, có thể vào ngày 25/1. Ngược lại, tướng Davidson, sĩ quan tình báo của tôi, lại thấy khả năng là 40-60% đối phương sẽ đánh sau Tết”. Nhưng cuộc tổng tiến công nổ ra không phải “trước” hoặc “sau” mà đúng vào ngày Tết, Westmoreland và Davidson đều đoán sai
Mặt khác, Quân đội Hoa Kỳ đã bị thu hút vào đòn nghi binh của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Khe Sanh, nơi được kỳ vọng là một thế trận "Điện Biên Phủ đảo ngược", theo đúng kịch bản chiến tranh quy ước kiểu Mỹ. Theo Đại tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), trong các báo cáo do điệp viên Phạm Xuân Ẩn chuyển về, từ cấp chỉ huy cho đến viên đại sứ Mỹ, tất cả đều tin rằng quân Giải phóng không đủ sức tấn công vào các thành phố, đô thị. Theo Mỹ, chiến trường chính nhất định sẽ diễn ra ở Khe Sanh. "Trung ương Cục miền Nam còn làm bộ để rơi những tài liệu vào tay Mỹ để họ tin rằng mình sẽ đánh mạnh trên vùng giới tuyến, nhất là Khe Sanh" - ông Tư Cang nói. Đại tá Hồ Khang cho biết: "Cái từ Điện Biên Phủ xuất hiện trong tư duy của phía Mỹ mà Cục II (tình báo) báo cáo lại chính là một gợi ý để chúng ta tương kế tựu kế thực hiện một "Điện Biên Phủ giả vờ" để lừa đối phương, ghìm chặt Mỹ ở chiến trường rừng núi, tạo điều kiện cho đòn tấn công vào các đô thị. Vì vậy sau này phía Mỹ và phương Tây cho rằng Việt Nam là bậc thầy trong việc nghi binh".
Mặc dù phía Mỹ cũng đã đưa ra một số dự đoán về cuộc tấn công này có thể diễn ra trước tết hoặc sau tết, và sẽ diễn ra ở phía bắc miền Nam Việt Nam (khu vực Quảng Trị), nên họ vẫn đặt hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế trong tình trạng chiến đấu và các cuộc ném bom của Mỹ ở vùng sát với hai tỉnh trên sẽ vẫn tiếp tục trong những ngày Tết. Nhưng trên thực tế nó nổ ra ngay đúng trong dịp tết, và diễn ra đồng loạt ở khắp miền Nam. Vì vậy phía Mỹ lẫn Việt Nam Cộng hòa đều bị bất ngờ cả về thời gian lẫn quy mô của cuộc tiến công này. Đây là một thất bại lớn về mặt tình báo mà sẽ khiến chính phủ Mỹ nếm trái đắng trước dư luận trong trận đánh được coi là "bước ngoặt của cuộc chiến". Sách giáo khoa của Học viện Quân sự West Point (Mỹ) đã viết: "Điều đầu tiên cần nói về cuộc tổng tiến công là tình báo của đồng minh đã thất bại ngang với trận Trân Châu Cảng năm 1941 và trận tiến công Ardennes năm 1944. Việt Nam đã giành được sự bất ngờ hoàn toàn".
Nhà sử học Nguyễn Hiến Lê viết trong hồi ký: "Khắp thế giới ngạc nhiên và phục "Việt cộng" tổ chức cách nào mà chính phủ Việt Nam Cộng hòa không hay biết gì cả. Họ đã lén chở khí giới, đưa cán bộ vào Sài gòn, Huế... từ hồi nào, chôn giấu, ẩn núp ở đâu? Chắc chắn dân chúng đã che chở họ, tiếp tay với họ, không ai tố cáo cho nhà cầm quyền biết. Trái lại mỗi cuộc hành quân lớn nhỏ nào của Việt Nam Cộng hòa họ đều biết trước ngày và giờ để kịp thời đối phó. Nội điểm đó thôi cũng đủ cho thế giới biết họ được lòng dân miền Nam ra sao và tại sao Mỹ thất bại hoài."
=== Chiến sự Đợt 1 ===
Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, để bảo đảm thống nhất lãnh đạo chỉ huy trong chiến dịch này ở miền Nam, Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền (B2) đã quyết định thành lập 2 Bộ Tư lệnh tiền phương:
Bộ Tư lệnh tiền phương cánh Bắc do Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh phụ trách các hướng Bắc, Tây Bắc và Đông thành phố Sài Gòn.
Bộ Tư lệnh tiền phương cánh Nam do Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng phụ trách các hướng phía Nam, Tây Nam, các lực lượng biệt động và chỉ đạo quần chúng nổi dậy ở nội thành Sài Gòn.
Ở Quân khu 5, Trung ương cử Võ Chí Công làm Bí thư Quân khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu, Chu Huy Mân làm Tư lệnh. Ở mặt trận Huế, Trung ương chỉ định Lê Minh làm Chỉ huy trưởng, Lê Chưởng làm Chính ủy (lúc này Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Văn Quang là Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên).
Ở mặt trận Đường 9 – Bắc Quảng Trị do Trần Quý Hai, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Lê Quang Đạo – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt nổ ra vào đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968 (đêm mồng một Tết Mậu Thân). Suốt từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau, các lực lượng vũ trang quân Giải phóng bất ngờ tiến công rộng khắp vào 6 thành phố lớn, 44 thị xã, hàng trăm quân lỵ, chiếm một số nơi, phát động quần chúng nổi dậy, đập tan bộ máy cơ sở của chế độ Sài Gòn ở nhiều vùng nông thôn. Hiệu lệnh mở màn là bài thơ chúc Tết của chủ tịch Hồ Chí Minh:
30-1-1968 (đêm 30 rạng ngày mồng 1 tết): Các lực lượng vũ trang ở khu 5 và Tây Nguyên tiến công bằng bộ binh, đặc công, pháo kích vào căn cứ quân sự của Mỹ ở các tỉnh lỵ, thị trấn: Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 Việt Nam Cộng hòa ở Đà Nẵng, Hội An, sân bay đà Nẵng, sân bay Non Nước, Nha Trang, Đắc Lắc, Plây Cu, Quy Nhơn (Bình Định)... Các trận pháo kích đã gây nhiều thiệt hại cho đối phương. Riêng trận pháo kích sân bay Đà Nẵng đã phá hủy 5 máy bay và làm hư hại nặng 25 chiếc khác).
31-1-1968 (Đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết): Tiến công bằng bộ binh, đặc công, pháo kích vào căn cứ Mỹ ở các tỉnh, thành phố Quảng Trị, Huế, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Phong Định, Vĩnh Long, Cần Thơ...
1-2-1968 (Đêm 2 rạng ngày 3 Tết): Các lực lượng vũ trang tiếp tục đánh vào các tỉnh lỵ khác: Kiến Hoà, Định Tường, Gò Công, Kiên Giang, Vĩnh Bình, Bình Dương, Tuy Hoà, Biên Hoà, Tuyên Đức, Châu Đốc, An Xuyên.
Để tăng tính bất ngờ, thời điểm cuộc tấn công diễn ra đúng vào giao thừa, thời điểm mà đối phương lơi lỏng phòng bị, nhiều sĩ quan Việt Nam Cộng hòa đang nghỉ ăn Tết. Sau này, có dư luận phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa công kích quân Giải phóng đã "vi phạm hiệp định đình chiến" khi nổ súng vào dịp Tết. Nhưng thực chất, không hề có văn bản nào là "hiệp định đình chiến" được 2 bên kí kết. Việc hưu chiến dịp Tết vào những năm trước chỉ là sự tự giác của binh sĩ 2 bên chứ không hề có quy định ràng buộc nào (tương tự như Hưu chiến đêm Giáng sinh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất), dù bên nào không muốn thực hiện thì cũng không thể nói là bên đó vi phạm quy ước chiến tranh (thực tế dịp Tết âm lịch năm 1968, quân Mỹ vẫn duy trì tình trạng chiến đấu và liên tục ném bom vì binh lính của họ không ăn Tết âm lịch). Việc quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa lơi lỏng phòng bị không phải vì "hiệp định đình chiến" - thứ không hề tồn tại, mà là do thất bại tình báo của chính họ khi không phát hiện ra đối phương, vẫn cho rằng chiến sự lớn sẽ không nổ ra trong thời gian sắp tới.
==== Tại Sài Gòn ====
Ngay đêm tiến công đầu tiên tại Sài Gòn các đội biệt động cảm tử của Giải phóng quân đã nhằm vào các mục tiêu khó tin nhất: Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, đài phát thanh, bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Sau đó quân tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tiến công đã gây bất ngờ lớn cho phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Cuộc tiến công cho thấy sự bất lực của hệ thống tình báo của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã không tiên liệu được khả năng, tính chất cũng như thời điểm, quy mô của sự kiện mặc dù có sự khập khiễng về ngày giờ tiến công của quân Giải phóng ở các địa phương.
Tại khu vực Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa và sân bay Tân Sơn Nhất, cụm biệt động 2 (gồm 27 người chia làm các đội 6, 7, 9) do Đỗ Tấn Phong, Ba Tâm và Đức chỉ huy đánh vào cổng 5 Bộ Tổng tham mưu và cổng Phi Long (sân bay Tân Sơn Nhất). Sau ít phút tiến công, đội chiếm được cả hai cổng. Song do lực lượng ít, Tiểu đoàn 267 (phân khu 2) và Trung đoàn 16 (Phân khu 1) bị lạc không đến kịp như dự kiến, quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa phản kích quyết liệt, cụm biệt động không lọt được vào bên trong. Sau gần một ngày, dựa vào các toà nhà dọc phố Trương Quốc Dung, cụm biệt động đánh trả quân Mỹ quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều lính Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, bắn cháy hai xe bọc thép. Đến 14 giờ ngày 30-1-1968, bị tổn thất và hết đạn, những người còn lại của cụm biệt động buộc phải rút lui.
Tại Đài phát thanh Sài Gòn, Đội biệt động số 4 (cụm 1) do Nguyễn Văn Tăng chỉ huy, sau ba phút chiến đấu đã chiếm được đài, loại khỏi vòng chiến đấu một trung đội cảnh sát dã chiến bảo vệ. Nhưng nhân viên kỹ thuật và bộ phận chính trị phụ trách phát thanh đã bị ngăn chặn ở Phú Thọ Hoà không đến kịp nên kế hoạch sử dụng Đài phát thanh làm công cụ tuyên truyền, gây tiếng vang dư luận không thực hiện được. Nhận rõ vị trí quan trọng của Đài phát thanh, ngay sau khi đài bị mất, quân Mỹ đã dùng cả trực thăng vũ trang, xe tăng yểm trợ nhanh chóng tổ chức lực lượng phản kích. Chỉ 15 phút sau khi biệt động nổ súng, quân Mỹ đã bao vây toàn khu vực. Tiểu đoàn 3 Dĩ An (Phân khu 5) không đến chi viện kịp như đã hiệp đồng. Sau ba ngày chiến đấu quyết liệt, những chiến sĩ biệt động còn sống sót quyết định dùng biện pháp cảm tử, dùng bộc phá phá hỏng một góc Đài phát thanh. Lực lượng biệt động thương vong gần hết (chỉ còn hai nữ phục vụ viên là bị bắt).
Ở Toà đại sứ Mỹ, lúc 2 giờ 30 phút ngày 31-1-1968, 17 chiến sĩ Đội biệt động số 11 do Ngô Thành Vân (Ba Đen) chỉ huy dùng xe du lịch có hoả lực B-40 yểm trợ đột nhập thẳng cổng Toà đại sứ. Sau khi diệt 4 quân cảnh Mỹ gác ở cổng, biệt động dùng thuốc nổ phá thủng tường, tiến đánh vào bên trong, chiếm gần hết tầng 1 phát triển lên tầng 2 và 3 Toà đại sứ. Một nhiệm vụ quan trọng đặt ra là phải bắt sống Đại sứ Bunker, nhưng các nhân viên an ninh sứ quán Mỹ đã lén đưa được Bunker rời khỏi biệt thự bằng một chiếc xe bọc thép sang ẩn nấp trong một hầm bí mật ở một địa điểm khác.
Chỉ 20 phút sau khi Đại sứ quán bị đánh, một toán quân cảnh Mỹ đến cứu viện, nhưng bị biệt động bắn chặn nên không vào được cổng chính. 7 giờ sáng ngày 31-1-1968, một trung đội quân cảnh Mỹ lọt được vào cổng chính. Cuộc chiến đấu trong sứ quán diễn ra quyết liệt.
7 giờ 20 phút, hãng tin Mỹ AP đưa tin nhanh do ký giả Peter Arnett từ Sài Gòn điện về New York: “Việt Cộng đã chiếm lĩnh bên trong tòa Đại sứ”, gây choáng váng cho Lầu Năm Góc và dư luận Mỹ. Sau đó, tờ Tin hàng ngày Washington loan báo: “Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán ở Sàỉ Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong hơn 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc chính phủ Johnson dẹp bỏ những nhận định lạc quan của mình...”.
9 giờ sáng ngày 31-1-1968, quân Mỹ đổ được một bộ phận lực lượng Sư đoàn dù 101 xuống sân thượng Toà đại sứ. Lực lượng tăng viện của quân Giải phóng không đến được như kế hoạch hiệp đồng. Các biệt động quân Đội 11 dũng cảm chiến đấu đến người cuối cùng. Trận đánh Toà đại sứ Mỹ kết thúc, trong 17 người của đội biệt động có 16 người tử trận, chỉ còn đội trưởng Ngô Thành Vân bị thương ngất đi và bị bắt. Quân Mỹ cũng thiệt hại nặng: 5 lính chết tại chỗ, 17 chết tại quân y viện và 124 bị thương.
Việc quân Giải phóng đánh chiếm và trụ lại trong Toà đại sứ Mỹ tới hơn sáu giờ đồng hồ đã gây một tiếng vang lớn, làm chấn động nước Mỹ. Tất cả các cấp chỉ huy quân sự, ngoại giao ở Sài Gòn và cả nước Mỹ bàng hoàng, sửng sốt. 9 giờ 30 phút sáng ngày 31-1-1968, Westmoreland có mặt ở Đại sứ quán chứng kiến "khu sứ quán thật là hỗn độn, xác người Mỹ và người Việt Nam vẫn nằm ngổn ngang. Nhưng không giống như hầu hết các chiến trường, các nhà báo, các nhà quay phim vô tuyến truyền hình Mỹ hình như có mặt khắp mọi nơi. Nét mặt họ ánh lên nỗi buồn bực và tâm trạng không tin tưởng như thể sự tận cùng của thế giới đã đến nơi rồi". Nhà báo Dave Richard Palmer nhận xét: "Nhiệm vụ của họ là xông vào sứ quán Mỹ. Làm được gì ở bên trong sứ quán không quan trọng, mà mục đích là phải xông vào được nơi đó đánh một đòn tượng trưng cho toàn bộ cuộc tiến công… Họ đã thành công hết sức to lớn."
Vào thời điểm đó, Westmoreland muốn che giấu tâm trạng bối rối đã tuyên bố “không một Việt Cộng nào vào được trong sứ quán. Sứ quán chỉ hư hại nhẹ”. Những lời đó thật vô ích, bị dư luận công kích, như Don Oberdorfer báo Washington Post viết: “Cuộc tấn công vào sứ quán hình như đã bác bỏ những lời dự đoán có tình chất tô hồng và những lời khoe khoang thắng lợi mà Westmoreland và những người khác đã tung ra”. Westmoreland báo cáo với Johnson rằng, Mỹ đã làm chủ tình hình, nhưng tổng thống Mỹ đã nói chua chát: "Việt cộng đã đi dạo mát trong sứ quán của ta rồi".
Tại dinh Độc Lập, khoảng 1h30 mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, đội biệt động số 5 do Tô Hoài Thanh (Ba Thanh) chỉ huy gồm 15 người trên ba xe tải nhỏ và hai chiếc Honda (trong đó có 1 nữ chiến sĩ 19 tuổi Vũ Minh Nghĩa) xuất phát từ hai hướng tiến thẳng vào. Xe tải đi đầu mang khối thuốc nổ gần 200 kg có nhiệm vụ phá cổng. Chiếc xe đi đầu đã tiêu diệt ụ gác đầu tiên rồi nhanh chóng phóng đến cổng sau dinh Độc Lập để một người lao vào đặt khối thuốc nổ phá cổng nhưng không nổ. 5 chiến sĩ trèo qua tường rào, tấn công vào trong dinh. Lính gác cổng bắn trả dữ dội, 5 người hy sinh tại chỗ. Bên ngoài, 3 xe của quân Mỹ chạy đến tiếp viện bị đội biệt động tiêu diệt. Gần sáng, không thấy quân chi viện, 8 người còn lại rút vào một cao ốc đang xây dở cạnh đó tiếp tục cố thủ, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của quân đội Mỹ nhưng mất thêm một người. Gần sáng mùng 3 Tết, lợi dụng những lỗ hổng trên tường do đạn bắn, 7 người dìu nhau thoát ra đường Thủ Khoa Huân. Đến sáng tổ bị bao vây, còn quả lựu đạn cuối cùng rút chốt nhưng không nổ, 7 người bị bắt
Tại Bộ Tư lệnh Hải quân, 16 chiến sĩ Đội biệt động số 3 (Cụm 1) do Trần Văn Lém (Bảy Lốp) chỉ huy dùng hai xe du lịch đưa lực lượng đến trước mục tiêu lúc 2 giờ 50 phút ngày 31-1-1968. Sau khi diệt hai lính gác ở đầu cầu Cửu Long, biệt động đánh bộc phá mở cửa và đột nhập vào bên trong, nhưng bị hoả lực ngăn chặn mạnh, không phát triển được. Các chiến sĩ biệt động chiến đấu cho đến khi hy sinh gần hết, chỉ còn hai người về được căn cứ và Phân khu 4.
Như vậy ở nội thành Sài Gòn, lực lượng biệt động thuộc Phân khu 6 trong ngày mùng 1 Tết Mậu Thân 1968 (theo lịch miền Nam - tức 31-1-1968) đã tiến công 6/9 mục tiêu chủ yếu. Mặc dù chiến đấu rất dũng cảm, song do chiến đấu đơn độc, các lực lượng tăng cường không đến kịp theo kế hoạch, nên chỉ chiếm được Đài phát thanh và Toà đại sứ, giữ trong thời gian ngắn, các mục tiêu khác không vào được bên trong. Trong số 88 chiến sĩ biệt động tham gia tác chiến, đã có 56 người tử trận và 10 người bị bắt.
Trong lúc đó, những trận tiến công của các sư đoàn chủ lực miền Đông và lực lượng vũ trang các huyện ngoại thành không tăng viện được cho nội thành Sài Gòn - Gia Định. Bộ đội chủ lực không tiến được vào nội đô; đặc công, biệt động và các đơn vị mũi nhọn tác chiến bên trong trở thành đơn độc, lực lượng bị tiêu hao đến 80%, một số đơn vị chiến đấu hy sinh đến người cuối cùng, cơ sở nội thành bộc lộ và tổn thất nặng, lương thực cất giấu bí mật đã hết. Vì thế, các đơn vị chiến đấu trong nội thành được lệnh rút ra vùng ven củng cố. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở trọng điểm Sài Gòn - Gia Định cao điểm 1 giảm dần và kết thúc.
Đến ngày 17-2, thì tại Sài Gòn - Gia Định, cao điểm 2 của cuộc tổng tiến công bắt đầu. Chủ trương của quân Giải phóng trong cao điểm 2 là: dùng pháo kích là chính, kết hợp với tiến công một vài mục tiêu nhằm tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân Sài Gòn, làm cho địch mất sức phản kích và khả năng phòng giữ, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ. Thực hiện chủ trương này, đêm 17-2-1968, trung đoàn 96 và 208 ĐKB pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, Nha cảnh sát đô thành, căn cứ Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ ở Phú Lợi. Kết quả theo bình luận của Hãng tin Anh BBC sáng 18-2, ở căn cứ Phú Lợi, "có ít nhất 400 người thương vong, nhiều kho tàng, máy bay bị phá huỷ". Đài này còn bình luận: "Đây là trận đánh khá trúng đích của Việt cộng". Với sân bay Tân Sơn Nhất "hoả tiễn rơi đúng phòng chờ đợi đang chật ních khách. Trong số 88 quân nhân Mỹ thuộc lực lượng tuần giang Cửu Long chờ máy bay về Mỹ, số đông bị chết, sáu máy bay bị phá hủy."
Ngày 2 tháng 3, quân Giải phóng thực hiện một cuộc phục kích gần sân bay Tân Sơn Nhất, khiến 48 lính Mỹ chết và hơn 100 lính bị thương
==== Tại Huế ====
Huế là một trong ba chiến trường chính và là một trong ba trọng điểm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Đây là thành phố lớn thứ ba của miền Nam (sau Sài Gòn và Đà Nẵng). Lực lượng Mỹ và Việt Nam Cộng hòa ở đây khá mạnh, toàn mặt trận Huế có khoảng 25.000 đến 30.000 quân (nòng cốt là Sư đoàn 1 bộ binh).
2 giờ 33 phút ngày 30-1-1968, pháo binh Quân giải phóng đồng loạt bắn phá các mục tiêu địch ở khu Tam giác, khu Phan Sào Nam, Phú Bài, Động Toàn, Đông Ba, mở đầu cho tổng tiến công vào Nội đô Huế. Sau loạt pháo mở màn, lực lượng quân Giải phóng trên hai hướng cùng lúc đánh vào 40 mục tiêu trong và ngoại thành Huế.
Đại đội 1 (Tiểu đoàn 12 đặc công) và Đại đội 2 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 6) đánh vào Mang Cá. Do không nắm chắc địa hình, các đơn vị phải dùng sức mạnh để đột phá vào cổng chính. Trận đánh ác liệt kéo dài, thương vong mỗi lúc một tăng. Đến 11 giờ trưa, toàn bộ lực lượng đặc công phải rút ra. Trận đánh vào Mang Cá chấm dứt.
Trong lúc đánh Mang Cá thì Đại đội 2 (Tiểu đoàn 12 đặc công) phối hợp với Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 6) đánh chiếm sân bay Tây Lộc. Được cơ sở bên trong hỗ trợ, một bộ phận đánh sân bay bí mật đột nhập qua cổng Thuỷ Quan, nhanh chóng theo sông Ngự Hà vào chiếm góc tây nam sân bay (gồm khu nhà lính bảo vệ và một phần khu vực để máy bay), phá hủy 20 máy bay và một số xe quân sự.
Tại khu Đại Nội, Cột Cờ, 2 giờ 40 phút ngày 30-1-1968, Đại đội 4 đột phá cửa Hữu, dùng một mũi thọc sâu nhanh chóng chiếm khu Cột Cờ lúc 4 giờ 30 phút. Còn lại đại bộ phận của Đại đội 4 cùng Đại đội 3 theo đường Yết Kiêu, Lê Huân đánh vào khu Đại Nội. Đến 5 giờ sáng quân Giải phóng chiếm toàn bộ khu Đại Nội, diệt một đại đội thám báo và 130 cảnh sát. 8 giờ sáng, lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên trên cột cờ báo hiệu đã làm chủ trung tâm thành phố Huế. Đến ngày 1-2, phần lớn Huế với 90% dân chúng đã nằm trong tay lực lượng quân Giải phóng.
Nhìn chung, trong những ngày đầu tổng tiến công và nổi dậy ở thành phố Huế, quân Giải phóng đánh chiếm được một số mục tiêu chủ yếu, đồng thời phát động quần chúng nổi dậy giành được chính quyền ở nhiều nơi. Mặt trận Liên minh dân tộc, dân chủ và hoà bình thành phố ra đời, tiếp đó Uỷ ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên - Huế được thành lập. Đó là một thắng lợi chính trị to lớn. Hãng tin Pháp AFP ngày 7-2-1968 đã bình luận: "Sau một đêm đánh nhau, Việt cộng đã kiểm soát 90% dân chúng thành phố Huế. Ngay sáng hôm sau, bộ máy hoạt động và cổ động chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã bắt tay vào làm việc. Rõ ràng họ có một tổ chức mạnh mẽ trong thành phố này vì họ có thể huy động rất nhiều người ra làm việc cho họ". Còn Hãng tin Anh Roitơ (cũng ngày 7-2-l968) thì viết: "Sau 5 ngày đánh nhau ác liệt giành giật từng ngôi nhà, Việt cộng vẫn chiếm hơn một nửa thành phố Huế và quân đồng minh tiến dần từng bước một cách vất vả. Các nhà quân sự ở đây cảm thấy rằng quân Việt cộng chứng tỏ là họ có thể vào và ra Huế bất cứ khi nào họ muốn. Cho đến nay không có dấu hiệu nào tỏ ra là họ có ý định rút lui".
Sau những thất bại ban đầu, từ ngày 8-2-1968, quân Mỹ bắt đầu huy động lực lượng phản kích dữ dội. Mỹ huy động cả lực lượng tổng dự bị từ Sài Gòn ra (Chiến đoàn A thuỷ quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa) và từ Vùng I chiến thuật tới. Ngày 11-2, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 5) thuỷ quân lục chiến Mỹ cũng được tăng cường cho khu Tam giác, đưa quân số ở đây lên 16 tiểu đoàn, khoảng gần 15.000 quân cả Mỹ lẫn Việt Nam Cộng hòa.
Từ ngày 9-2 đến ngày 12-2, quân Giải phóng phải liên tục chống phản kích. Không còn khả năng tiến công, quân Giải phóng chuyển sang tổ chức phòng ngự, ngăn chặn phản kích quyết liệt đồng loạt trên bốn cổng thành (cửa Chánh Tây, cửa Hữu, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba) và từ quốc lộ 1 vào An Hoà.
Ngày 16 và 17-2, quân Mỹ lại tổ chức phản kích dữ dội và chiếm được cả Đông Ba. Ngày 18-2, quân Mỹ chiếm cổng Thuỷ Quan, uy hiếp cửa Hữu, cửa An Hoà và cửa Thượng Tứ. Tình hình xấu đi rõ rệt. Mỹ đã tăng cường cho khu Mang Cá và Đông Ba một tiểu đoàn Thủy quân lục chiến để cùng lực lượng từ bên ngoài bao vây tiêu diệt quân Giải phóng đang giữ phần còn lại ở tả ngạn thành phố. Lực lượng quân Giải phóng bị đẩy lùi dần vào trong thành nội.
Chính vào thời điểm này, Mỹ ồ ạt tăng quân lên 23 tiểu đoàn (11 tiểu đoàn trong thành phố, 12 tiểu đoàn ở vòng ngoài) nhằm giải toả cho thành Huế. Sức ép của quân Mỹ ngày càng tăng. Trước tình hình đó, để bảo toàn lực lượng, tránh bị bao vây ngày 22-2-1968, Khu ủy Trị - Thiên và chỉ huy mặt trận Huế quyết định rút toàn bộ lực lượng ra ngoài thành phố.
Sau 25 ngày chiến đấu, quân Mỹ và Đồng minh có hơn 4.400 thương vong, quân Giải phóng cũng có hơn 4.000 thương vong. Tuy tổn thất lớn và phải rút lui, song với việc giữ được thành phố 25 ngày, quân Giải phóng tại Huế đã tạo thành công lớn nhất và giữ được thành phố lâu nhất so với các thành phố khác, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung về chính trị của tổng tiến công và nổi dậy trên toàn Miền.
Bên cạnh tác động chính trị là tác động tâm lý. Để giúp tiêu diệt quân Giải phóng, quân Mỹ dùng pháo hạm và máy bay ném bom bắn phá suốt ngày đêm. Các loại vũ khí có sức sát thương hàng loạt như pháo không giật 107mm bắn đạn tổ ong (mỗi viên khi nổ sẽ văng ra gần 5 vạn mảnh đinh sát thương), bom napalm, đạn pháo tăng, súng phun lửa... được sử dụng tối đa. Bên cạnh việc giúp tiêu diệt đối phương, những vũ khí này cũng gây tác hại rất lớn cho dân thường. Theo thống kê, sau 25 ngày chiến sự, 80% nhà cửa ở Huế đã bị bom đạn phá hủy, hàng ngàn thường dân cũng chết trong các cuộc giao tranh.. Những hình ảnh tàn phá ghê gớm tại Huế được trình chiếu đã góp phần lớn nhất thúc đẩy tâm lý phản chiến của dân Mỹ.
Một số tài liệu Mỹ và phương Tây cho rằng trong lúc chiếm giữ Huế, quân Giải phóng đã xử tử nhiều nhân viên quân sự và dân sự thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Theo ông Mark Woodruff, một báo cáo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng bắt được ngày 25 tháng 4 năm 1968 ghi rằng họ đã "diệt 1.892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, 790 tên ác ôn, sáu đại úy, 1 trung úy, 20 thiếu úy và nhiều sĩ quan trừ bị…" tại Huế. Ngược lại, phía quân Giải phóng và một số tài liệu Mỹ và phương Tây cho biết: Cái gọi là "cuộc thảm sát" chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế bom Mỹ đã làm nhiều thường dân chết lẫn lộn cùng binh lính hai bên. Quân Giải phóng đã tự chôn cất thường dân chết do hỏa lực của Mỹ, do vậy Hoa Kỳ mới phát hiện xác thường dân trong các ngôi mộ tập thể. Vào thời điểm đó, một số hãng thông tấn nước ngoài và các nhà báo độc lập đã đến kiểm chứng các hố chôn tập thể, nhưng bị phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa ngăn cản.
==== Tổn thất của các bên ====
Theo thống kê của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, Quân Giải phóng đã có đến 97 tiểu đoàn và 18 đại đôi trực tiếp tham chiến, tổng cộng khoảng 323.500 người. Số tổn thất từ ngày 29/1 đến 29/2/1968 được Mỹ ước tính là khoảng 41.000 người, trong tháng 3 là 17.192 người, tuy nhiên họ cũng nhận định con số ước tính này bị trội hơn so với thực tế (căn cứ theo khảo sát của phái đoàn Bộ Tổng tham mưu) Theo số liệu Cục tác chiến của Quân Giải phóng, tổn thất của họ trong đợt 1 (từ 29/1 tới hết tháng 3) vào khoảng 17.000 binh sĩ tử trận và 20.000 bị thương, tức là bằng khoảng 2/3 so với ước tính của đối phương
Tổn thất của quân đội Hoa Kỳ và quân đội các nước khác (gồm (Hàn Quốc, Úc, New Zealand, Thái Lan) theo thống kê của họ là 4.124 chết, 19.295 bị thương, 604 mất tích. Quân lực Việt Nam Cộng hòa tổn thất 4.954 chết, 15.917 bị thương, 926 mất tích. Tổng cộng tổn thất của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh của họ là 9.078 chết, 35.212 bị thương, 1.530 mất tích. Về trang bị, Hoa Kỳ bị tổn thất 552 máy bay các loại bị phá hủy hoặc bị hư hại nặng Nhiều kho đạn, kho xăng dầu tại các căn cứ quân sự cũng bị quân Giải phóng dùng đặc công hoặc pháo kích phá hủy.
==== Thành công ====
Quân Giải phóng đã đạt được những thành công sau:
Giữ được bí mật bất ngờ về mục tiêu và thời điểm tiến công: 10 ngày trước, hai sư đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã có hành động nghi binh bằng cách tấn công căn cứ của lính thuỷ đánh bộ Mỹ tại Khe Sanh làm bộ chỉ huy Mỹ tập trung tâm trí và binh lực lên miền núi Quảng Trị để tránh một trận Điện Biên Phủ mới. Việc lực lượng quân Giải phóng tiến công vào các đô thị không hề được lường trước, làm cho Mỹ và Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn bất ngờ khi một bộ phận sĩ quan và binh lính (kể cả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) đang về quê nghỉ Tết Nguyên đán.
Gây cho đối phương bất ngờ về quy mô tiến công: cuộc tiến công làm sửng sốt mọi người khi mà đồng loạt tại tất cả các đô thị cùng diễn ra các trận đánh quyết liệt trong gần một tháng (chỉ riêng đợt 1) và điều bất ngờ này cho thấy 3 năm tìm-diệt của quân đội Hoa Kỳ chỉ đạt được hiệu quả thấp. Để khuếch đại tiếng vang đến mức tối đa, các lãnh đạo của phía quân Giải phóng đã lựa chọn phương án mạo hiểm nhất là đánh thẳng vào hậu phương của địch, và đã tạo ra tiếng vang lớn.
Chiếm được một số thị xã thành phố, gây thiệt hại đáng kể cho đối phương và qua đó tác động mạnh vào nhân tâm nước Mỹ: từng dãy phố bị ném bom napal và nã pháo, quân hai bên đánh nhau quyết liệt ngay trước máy quay, thậm chí từ binh bị hành quyết ngay trên phố (Xem Sự kiện Nguyễn Ngọc Loan)... Những điều này được truyền thông nhanh chóng, gây ấn tượng rất lớn lên tâm lý dư luận thế giới.
Tại nông thôn, quân Giải phóng đã phá thêm 600 ấp chiến lược, giải phóng thêm 100 xã mới với hơn một triệu dân.
Về mặt tác chiến trong số các đô thị, quân Giải phóng đã phá hủy được 1/3 vật tư chiến tranh, loại khỏi vòng chiến hàng vạn quân Mỹ. Họ thành công nhất tại cố đô Huế (Xem Trận Mậu Thân tại Huế). Họ chiếm giữ thành phố lâu tới 25 ngày, buộc thủy quân lục chiến Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải đánh nhau ác liệt giành giật từng khu nhà đoạn phố.
Lực lượng Mỹ và Việt Nam Cộng hòa không lường trước được sự ủng hộ của người dân đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam việt Nam
Tuy nhiên qua đợt 1, bên cạnh những thành công, quân Giải phóng đã có những dự đoán không đúng với tình hình: họ hy vọng cùng với tiến công quân sự đánh vào các đô thị, họ có thể phát động dân chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa đánh sụp chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đặt Mỹ trước tình thế phải đi đến quyết định ra đi khỏi chiến tranh. Kế hoạch trên dựa trên nhận định thấp về khả năng của đối phương và đánh giá quá cao khả năng của họ, nên trong thực tế quân Giải phóng đã bị thương vong lớn mà. Quá trình nổi dậy tổng khởi nghĩa không diễn ra đúng như kế hoạch mặc dù đã có hàng vạn người ở đô thị và ven đô tham gia.
Mặt khác, trong quá trình phổ biến chủ trương chiến dịch, nhiều sĩ quan chỉ huy chiến đấu của quân Giải phóng đã không nắm rõ chủ trương của cấp trên khi phát động chiến dịch (đánh lớn gây tiếng vang hướng tới dư luận và chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, đàm phán), do vậy họ lại cho rằng mục tiêu chủ yếu của chiến dịch là đánh dứt điểm đối phương. Theo Đại tá Vũ Ba, ngày 18-1-1968 (13 ngày trước giờ nổ súng), Bí thư Lê Duẩn có gửi điện báo cho Trung ương Cục miền Nam, ông kể "Bức điện đó đại ý nói kế hoạch này chỉ nhằm làm lung lay ý chí xâm lược của địch, buộc địch phải chuyển giai đoạn chiến lược chứ không khẳng định mục tiêu giành chính quyền về tay nhân dân". Nhưng khi triển khai chỉ đạo này xuống dưới thì các địa phương chỉ phổ biến khả năng thắng lợi dứt điểm chứ không phổ biến các khả năng khác để khỏi ảnh hưởng đến quyết tâm của chiến sĩ. Cũng vì sự lệch nhau trong chỉ đạo này mà các chỉ huy địa phương đã lập kế hoạch tác chiến và tiến hành đánh theo kiểu trận đánh cuối cùng, không lập sẵn kế hoạch phòng thủ và rút lui, dẫn tới việc tác chiến giai đoạn sau bị lâm vào bị động đối phó
Cuối cùng, quân Giải phóng đã không linh hoạt thay đổi tuỳ theo tình hình. Khi đợt tấn công đầu tiên kết thúc, họ đã phát động tiếp đợt 2 vào tháng 5, đợt 3 vào tháng 8 khi mà kế hoạch đã bị lộ và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại của Giải phóng quân càng lớn.
Đánh giá về những hạn chế của quân Giải phóng trong cuộc tổng tấn công Mậu Thân, báo Quân đội Nhân dân đã liệt kê các điểm như: đánh giá sai về tương quan lực lượng giữa hai bên dẫn đến việc đề ra mục tiêu tổng tấn công giành chính quyền một cách chủ quan, không kịp thời chuyển hướng hoạt động quân sự khi tình hình đã thay đổi.
=== Chiến sự Đợt 2 ===
Do phía Hoa Kỳ trì hoãn đàm phán Hội nghị Paris, mặt trận ngoại giao năm 1968-1972 quá lâu, nên Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam buộc phải tiến hành đợt tấn công thứ 2.
Sau khi William Westmoreland bị cách chức, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc giao cho Creighton Abrams làm Tư lệnh lực lượng đồng minh Mỹ ở Nam Việt Nam. Để thực hiện chiến lược "quét và giữ" có hiệu quả, giữa tháng 4-1968, Clípphớt, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ chỉ thị cho Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam thực thi ba biện pháp cấp bách: một là, ra sức xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc ở trong và xung quanh các thành phố, các căn cứ, các tiểu khu, chi khu quân sự các điểm chốt trên các trục đường giao thông. Hai là, lập những vành đai đủ sức ngăn chặn các cuộc tiến công mới của quân Giải phóng. Đẩy chiến tranh ra xa các thành phố, thị xã quan trọng có ý nghĩa chiến lược. Ba là, mở các cuộc hành quân càn quét (kể cả các cuộc hành quân cảnh sát) để giải toả các thành thị, căn cứ, đường giao thông, ngăn chặn triệt để Quân giải phóng tiến công.
Song song với đó, Tổng thống Mỹ Johnsơn, Đại sứ Bunker ra sức tuyên truyền cứu vớt hình ảnh chính trị trong dư luận Mỹ và thế giới đang lên án mạnh mẽ. Các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ và Sài Gòn ngày đêm phát đi những tuyên bố của những nhà lãnh đạo Mỹ rằng: "Việt cộng và quân Bắc Việt Nam đã bị Mỹ và đồng minh truy kích; quân Mỹ và quân đội Sài Gòn đã nắm quyền chủ động chiến trường; Việt cộng đã đuối sức, hết hơi, v.v… để xoa dịu làn sóng đấu tranh của nhân dân Mỹ và những chất vấn của Quốc hội Hoa Kỳ, đồng thời trấn an tinh thần cho quân đội, chính quyền Sài Gòn.
Trước tình hình trên, ngày 24-4-1968, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp phân tích, đánh giá tình hình và kết quả cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, quyết định tổng tiến công và nổi dậy đợt 2.
Cuối tháng 3-1968, sau khi sơ bộ kiểm điểm đợt 1 tiến công vào Sài Gòn - Gia Định, Trung ương Cục và Quân uỷ Miền cử đại diện ra Hà Nội báo cáo về đề nghị cho chiến trường miền Đông Nam Bộ tiếp tục mở đợt 2 đánh vào Sài Gòn với lý do "yếu tố bất ngờ vẫn còn, mặc dù địch đã co về phòng giữ nội thành và vùng ven, nhưng chúng còn nhiều sơ hở, đợt 1 ta mới sử dụng bộ phận đặc công, một số đội biệt động, du kích mật và quần chúng. Các tiểu đoàn mũi nhọn, các trung đoàn khu vực, các sư đoàn chủ lực cơ động vẫn còn sung sức, quyết tâm lập công cao... Nếu ta khắc phục được khuyết điểm trong đợt 1 thì sức đột kích trong đợt 2 sẽ mạnh hơn nhiều và sẽ là một bất ngờ mới đối với địch"
Cùng thời gian này, để mở rộng mặt trận dân tộc đoàn kết chống Mỹ trong các tầng lớp nhân dân ở khắp các đô thị, ngày 20 và 21-4-1968, Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam ra đời từ trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tổ chức Đại hội bầu ra Uỷ ban Trung ương Liên minh do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch.
Ngày 4.5.68, một chất nổ được mang trên xe taxi gồm 60 ký TNT, nổ lúc 13 giờ trưa khiến 3 người chết chừng 30 người bị thương và làm sụp một căn nhà gần Đài Truyền hình Sài Gòn, cơ quan tuyên truyền chủ chốt của Mỹ và chính phủ Sài Gòn. Vụ nổ này được xem là một hiệu lệnh của quân Giải phóng phát động cho các lực lượng chủ lực mở cuộc tấn công vào Sài Gòn vào ngày hôm sau.
Đúng 0 giờ 30 phút ngày 5-5-1968, cuộc tổng tiến công và nổi dậy đợt 2 trên toàn Miền đã nổ ra. Trong tuần lễ đầu tổng tiến công và nổi dậy (từ ngày 5 đến 12-5), quân Giải phóng đánh trúng 89 thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ căn cứ địch từ Trị - Thiên đến Cà Mau, từ đồng bằng ven biển đến Tây Nguyên.
Trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, từ hướng tiến công chủ yếu phía tây thành phố, Trung đoàn 2 gồm các tiểu đoàn 267, 269, Tiểu đoàn 6 Bình Tân do Trung đoàn trưởng Võ Văn Hoàng chỉ huy tiến công cụm rađa Phú Lâm, phát triển vào Cầu Tre, tập kích đánh thiệt hại một tiểu đoàn biệt động quân, phát triển đánh chiếm khu vực đường Minh Phụng và Bình Thới.
Trong hai ngày 7 và 8-5, đại bộ phận Trung đoàn 2 đã bám trụ chiếm lĩnh hai nhà cao tầng ở ngã tư đường Minh Phụng khống chế các điểm xuất phát tiến công của quân Mỹ từ Bình Thới xuống đến Duy Linh. Quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa cho hàng chục lần chiếc máy bay A-37 ném bom bắn phá hai nhà cao tầng gây nhiều đám cháy. Hai tiểu đoàn biệt động quân được hàng chục xe tăng M41 yểm trợ phản kích quyết liệt hòng đẩy quân Giải phóng ra khỏi ngã tư. Trận đánh trên đường Minh Phụng kéo dài gần một tuần (từ ngày 5 đến ngày 10-5), sau đó Trung đoàn 2 được lệnh chia thành hai hướng. Một tiểu đoàn cơ động về hướng bắc đánh địch ở khu vực nghĩa trang Phú Thọ. Hai tiểu đoàn còn lại tiến xuống phía nam Cầu Gỗ đánh chiếm khu vực Bình Tiên.
Cũng thời điểm trên, Trung đoàn 1 (Sư đoàn 9) lực lượng phối thuộc của Phân khu 2, sau khi đột phá qua một số tuyến ngăn chặn vòng ngoài đã tiến công khu vực ngã tư Bảy Hiền và một số mục tiêu xung quanh sân bay Tân Sơn Nhất. Tại khu nghĩa địa Pháp, quân dù (lực lượng dự bị chiến lược Việt Nam Cộng hòa) từ trong sân bay đánh tràn ra quyết ngăn chặn lực lượng quân Giải phóng đang phát triển. Một trận đánh ác liệt đã xảy ra ở khu mả Xây. Qua hai ngày chiến đấu (ngày 5 và 6-5) 2 bên đều thiệt hại đáng kể. Ngày 7-5, trung đoàn 1 được lệnh của Phân khu 2 lui về phía tây Bà Quẹo, tổ chức phòng ngự đánh phản kích.
Phân khu 1 đảm nhiệm hướng tây bắc, được Trung đoàn 16 chủ lực Miền hỗ trợ, tiến công sân bay Tân Sơn Nhất và một số mục tiêu xung quanh Bộ Tổng tham mưu Việt Nam Cộng hòa. Nhưng trong quá trình hành quân vào nội đô, Trung đoàn 16 và các tiểu đoàn độc lập của Phân khu 1 liên tục đụng đầu với các tiểu đoàn dù 1, 5, 7 Việt Nam Cộng hòa. Quân Giải phóng phải tổ chức phòng ngự ở An Phú Đông, Tân Thới Hiệp từ ngày 4 đến ngày 7-5. Ngày 8-5, để cải thiện vị trí đứng chân, các lực lượng Phân khu 1 và phối thuộc tập kích cụm xe cơ giới ở Tân Thới Đông và Tân Thới Trung, phá hỏng 50 xe các loại, diệt và làm bị thương 230 lính.
Cùng thời gian, hàng chục trận địa pháo hoả tiễn tiếp tục pháo kích căn cứ Đồng Dù, sân bay Tân Sơn Nhất, Tân Cảng, kho Long Bình... phá huỷ nhiều kho tàng quân sự Mỹ.
Giai đoạn 1 của cuộc tổng tiến công và nổi dậy đợt 2 trong nội đô đến ngày 12-5 tạm thời lắng xuống. Hầu hết các lực lượng chủ lực quân Giải phóng được lệnh rút ra vùng ven để củng cố tổ chức, vừa đánh địch càn quét vừa làm công tác chuẩn bị sẵn sàng bước vào giai đoạn 2. Những vấn đề nổi bật của giai đoạn 1 là, các phân khu thực hiện tương đối tốt nhiệm vụ trên giao, diệt được khá nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh đói phương. Tuy nhiên, qua giai đoạn 1 hoạt động tác chiến trong thành phố, nhìn chung các phân khu còn bộc lộ nhiều hạn chế về chỉ huy và điều hành lực lượng. Một số phân khu hoạt động ở hướng tây và nam vào được khu vực trên giao, nhưng lại không bám trụ được lâu dài do bị thương vong nhiều. Một số phân khu hoạt động ở hướng bắc và đông chỉ vào được cửa ngõ nội đô, chỉ tác chiến ở những mục tiêu thứ yếu.
Ngày 24-5-1968, quân Giải phóng thực hiện một loạt trận tiến công mới vào các mục tiêu quan trọng trong nội đô. Để mở rộng hoạt động quân sự, phân tán sự đối phó của đối phương ở hướng đông bắc, ngày 26-5, Bộ chỉ huy Miền chỉ thị cho các đơn vị đang hoạt động ở hướng tây và nam khẩn trương đưa lực lượng mở các đợt tiến công vào nội đô. Phối hợp với bộ binh chiến đấu ở nội đô, các đơn vị pháo binh từ vùng ven liên tiếp bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất, bến cảng Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa, Toà đô chính, Sứ quán Mỹ, gây nhiều thiệt hại về vật chất và tinh thần.
Tại Chiến trường Khu V, Sư đoàn 3 bộ binh (thiếu một trung đoàn) của quân khu bám trụ ở Bình Định được lực lượng vũ trang tỉnh, huyện hỗ trợ, cùng một lúc tiến công tám mục tiêu trên đường số 1, đoạn từ cầu Ông Diệu đến huyện lỵ Phù Mỹ, nhằm kéo Lữ đoàn dù 178 Mỹ ra giải toả để tiêu diệt... Mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy đợt hai ở Đà Nẵng là trận tập kích bãi xe Cẩm Bình của tiểu đoàn 89 đặc công, phá huỷ 56 xe, diệt một đại đội Mỹ. Đồng thời pháo binh bắn phá sân bay Đà Nẵng, hai sân bay trực thăng Xuân Thiều, Nước Mặn, căn cứ hải quân Sơn Trà, tổng kho An Đồn.
Khoảng 23 giờ đêm ngày 6-5, một đoàn xe chạy từ Phù Mỹ ra, lọt vào trận địa phục kích của Sư đoàn 3, bị bắn cháy 32 chiếc, hơn 100 lính trên xe bị diệt. Cùng thời gian, Tiểu đoàn 53 tổ chức đánh quân Mỹ đổ bộ đường không xuống thôn Tường Lâm, Mỹ Trung (Hoài Ân), loại khỏi vòng chiến đấu 130 lính Mỹ, bắn rơi 2 máy bay trực thăng. Ngày 24-5, một đoàn xe 26 chiếc chở quân Mỹ, được một chi đoàn thiết giáp hỗ trợ tiến vào xã Mỹ Trinh, bị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương chặn đánh diệt 16 chiếc.
Đầu tháng 6-1968, Tiểu đoàn 40 đặc công tỉnh tập kích diệt hai đại đội Mỹ ở gò Ông Thường, xã Hoài Thanh và cầu Ông Tú, xã Hoài Châu. Giữa tháng 7, Tiểu đoàn 53 phục kích trên quốc lộ 1 đoạn Tam Quan đi Chợ Cát, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 lính Mỹ - Việt Nam Cộng hòa, bắn cháy 15 xe (có 4 xe bọc thép), 2 máy bay, 2 pháo 105 mm. Đặc công Đ10 tập kích cứ điểm tháp Bánh Ít, diệt 30 lính, đánh sập 8 lô cốt, đốt cháy 2 kho xăng. Giữa tháng 6, Tiểu đoàn 50 được bộ đội địa phương huyện và du kích phối hợp, chặn đánh một tiểu đoàn Nam Triều Tiên càn quét xã Cát Thắng, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 lính.
Nổi bật nhất trong chiến sự đợt 2 ở Khu V là Trận Khâm Đức, 2 trung đoàn của Sư đoàn 2 sau 2 ngày tiến công liên tục từ 10 đến 12-5 đã tiêu diệt hoàn toàn trại quân sự Khâm Đức do gần 1.000 lính Mỹ và 500 lính Việt Nam Cộng hòa trấn giữ, diệt gần 500 lính, bắt sống 104 lính khác và bắn rơi 9 máy bay.
Ở mặt trận bắc Tây Nguyên đầu tháng 4-1968, Sư đoàn 1 từ hướng đường 18 - Plây Cần hành quân sang hướng tây Kon Tum đánh quân Mỹ nống ra các khu vực Chư Tang Kra, Chư Mo, Chư Tô Bla, Chư Ben... Nổi bật nhất là những trận đánh cắt giao thông trên các mạng đường quốc lộ, tỉnh lộ ba tỉnh. Sáng ngày 9-5, một đoàn xe cơ giới Mỹ chạy trên đường 14 (Plâycu - Kon Tum) bị lực lượng vũ trang Gia Lai phục kích diệt tám chiếc. Ngày 28-5, Trung đoàn 95 đánh đoàn xe quân sự Mỹ trên đường 19 (An Khê - Măng Giang) diệt 20 chiếc (có 5 xe tăng, xe bọc thép). Nửa tháng sau cũng trên đoạn đèo này, Trung đoàn 95 phục kích diệt 25 xe, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 lính. Tổng kết lại, Suốt trong hai tháng 5 và 6, với các hình thức tác chiến phục kích, tập kích, vận động tiến công kết hợp chốt, Sư đoàn 1 đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.160 lính, bắn rơi 72 máy bay, phá huỷ 42 xe quân sự.
Cuộc tổng tiến công giai đoạn hai đợt 2 kéo dài đến ngày 13-6 kết thúc. Với tinh thần "đợt sau cao hơn đợt trước", các tiểu đoàn "cảm tử" của quân Giải phóng đã gây nhiều bất ngờ về chiến thuật và khả năng chiến đấu thọc sâu trong thành phố, tiếp tục gây nhiều thiệt hại cho quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa. Mặc dù vậy, các đơn vị bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương phải chiến đấu trong khi yếu tố bí mật không còn, đối phương tăng cường triển khai đối phó, hầu hết các cuộc hành quân tiếp cận đều bị ngăn chặn, nhiều đơn vị không đến được mục tiêu trên giao.
=== Chiến sự Đợt 3 ===
Sau 2 đợt của cuộc tổng tiến công, song song với việc tìm cách làm "yên lòng" dư luận thế giới và nhân dân Mỹ, tại miền Nam Việt Nam, Mỹ tìm mọi cách tăng cường sức mạnh quân sự hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường. Một mặt, Mỹ ráo riết thực hiện kế hoạch "bình định cấp tốc" ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn, ra sức bắt lính, đôn quân, tiếp tục chiến tranh. Chỉ tính từ ngày 19- 6-1968, khi Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh tổng động viên đến cuối năm 1968, chính quyền Sài Gòn chẳng những bù đắp đủ cho số quân đã mất, mà còn nâng tổng quân số từ 552.000 (11 sư đoàn, 11 trung đoàn) trong năm 1967 lên 555.000 (12 sư đoàn, 9 trung đoàn) vào cuối tháng 12-1968.
Cùng với gia tăng quân Việt Nam Cộng hòa, Mỹ đã chuyên chở một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh hiện đại vào Nam Việt Nam để bù đắp số mất mát, hư hỏng qua hai đợt tổng tiến công và nổi dậy, đồng thời thay thế một số chủng loại vũ khí cũ bằng vũ khí hiện đại hơn. Đến cuối năm 1968, tại Nam Việt Nam đã có 535.000 lính Mỹ và 65.791 lính thuộc quân đội các nước phụ thuộc Mỹ, được biên chế trong 9 sư đoàn, 5 lữ đoàn quân Mỹ, 2 sư đoàn và 3 trung đoàn quân các nước phụ thuộc.
Về phía quân Giải phóng miền Nam, qua hai đợt tổng tiến công liên tục Tết và tháng 5 lực lượng và vũ khí, đạn dược đã bị tổn thất lớn, chưa kịp bổ sung. Bên cạnh đó, lực lượng bí mật ém trong nội thành và phần lớn cơ sở - nơi cất giấu vũ khí, trang bị, chỗ đứng chân, nơi xuất phát tiến công cho các đợt tiến công tiếp sau đã bị lộ, bị đánh phá mất gần hết. Tại Sài Gòn, mặc dù thời cơ đã mất, nhưng "Không khí tổng công kích - tổng khởi nghĩa vẫn còn, nhưng có kèm theo tâm lý cay cú ở một số đồng chí muốn tấn công vào Sài Gòn như hai đợt trước". Ở mặt trận Quảng - Đà (Khu V) và một số mặt trận khác, do còn giữ được thế và lực còn mạnh, nên Bộ Tư lệnh Khu V đã đề nghị Trung ương cho mở tiếp đợt 3 tổng tiến công và nổi dậy. Ngược lại, cũng có nhiều nơi xin tạm dừng tiến công để xốc lại đội hình, bổ sung, củng cố lực lượng, vũ khí trang bị.
Sự kiện đáng chú ý trong giai đoạn này là việc chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh đã kết thúc với việc quân Mỹ tại Khe Sanh đã bị buộc phải phá hủy căn cứ và rút chạy khỏi đây do sức ép của quân Giải phóng. Cuộc rút quân được diễn ra bí mật, nhưng cuối cùng vẫn bị lộ ra và bị báo chí Mỹ đưa tin rầm rộ. Vụ việc này góp phần khuếch đại thành công chiến lược, đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ và cũng làm tăng khí thế cho quân Giải phóng.
Nhằm thống nhất chủ trương hoạt động trên chiến trường, ngày 24 và 25-7-1968, Thường trực Quân uỷ Trung ương, gồm: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Trần Quý Hai họp bàn kế hoạch hoạt động trong Đông - Xuân (1968 - 1969). Ngoài ra, Thường trực Quân uỷ Trung ương còn mời thêm Hoàng Anh, Lê Trọng Tấn, Trần Sâm, Đinh Đức Thiện, Nguyễn Đôn... cùng tham dự cuộc họp.
Bộ Chính trị xác định: "Để tạo ra bước ngoặt cho cách mạng miền Nam trong năm 1968, cần phải cố gắng diệt cho được 70 - 80% lực lượng dự bị chiến lược của Mỹ - ngụy". Đánh mạnh vào Sài Gòn, còn ở Đà Nẵng thì tuỳ theo khả năng mà đánh ở quy mô thích hợp. Song, dù thế nào cũng phải đẩy mạnh hoạt động ở nông thôn để tạo điều kiện cho đánh lâu dài. Đồng thời, đưa lực lượng dự bị chiến lược vào đứng chân ở Tây Nguyên chờ thời cơ. Để tránh bị bất ngờ, đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị: phải có phương án dự kiến thời cơ đến trước trong kế hoạch hoạt động Đông - Xuân. Mục tiêu của đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 vẫn được Bộ Chính trị xác định: chiến trường Sài Gòn, Gia Định và miền Đông Nam Bộ, Khu V là hướng phối hợp, trọng điểm là Quảng Đà. Thời gian nổ súng được ấn định vào ngày 17-8, kết thúc vào ngày 28-9-1968.
Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam, mặc dù yếu tố bí mật, bất ngờ không còn, song lực lượng pháo binh, đặc công, biệt động đã phối hợp đồng loạt tiến công trên 27 thành phố và thị xã, hơn 100 thị trấn, quận lỵ, chi khu quân sự, 47 sân bay các loại, 3 tổng kho hàng hoá quân sự 6 bộ tư lệnh cấp sư đoàn của Mỹ và Sài Gòn.
Trên địa bàn Sài Gòn, Chợ Lớn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, sau khi chống trả với đợt Tổng tiến công và nổi dậy tháng 5, Mỹ đã tập trung 38 tiểu đoàn Mỹ, 4 tiểu đoàn quân các nước phụ thuộc Mỹ và 61 tiểu đoàn chủ lực Việt Nam Cộng hòa, tổng cộng 90.000 quân cùng lực lượng địa phương tại chỗ tổ chức hệ thống phòng thủ bảo vệ Sài Gòn, với chiều sâu khoảng 100 km, chia làm ba tuyến. Đứng trước tình hình này, Bộ Chính trị chấp nhận: trong đợt 3, trọng tâm tiến công được chuyển ra vòng ngoài, hướng chủ yếu là địa bàn hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long, các địa bàn còn lại là hướng phối hợp. Riêng với nội đô Sài Gòn - Gia Định và các thành phố, thị xã khác chủ yếu sử dụng lực lượng pháo binh và biệt động, đặc công bí mật luồn sâu tập kích vào các mục tiêu quan trọng, gây mất ổn định trong các cơ quan chỉ huy đầu não của địch; đồng thời, đưa cán bộ thâm nhập vào nội thành củng cố, ráp nối lại các cơ sở cũ, xây dựng thêm các cơ sở mới, từng bước củng cố lại phong trào.
Ngày 17-8-1968, chiến dịch chính thức mở màn. Tại hướng chủ yếu, các trận tiến công của quân Giải phóng diễn ra như ý định và phát triển tốt. Điển hình là ngay trong đêm 17, Trung đoàn 3 (thiếu một tiểu đoàn) thuộc Sư đoàn 9 bất ngờ tập kích cụm cứ điểm Trà Phí, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 400 lính Mỹ, phá huỷ, phá hỏng 31 xe cơ giới các loại và 6 khẩu pháo. Trên trục đường số 22, Trung đoàn 33 (Sư đoàn 5) tổ chức phục kích đánh ba trận liên tục đạt kết quả tốt; trong đó nổi bật nhất là trận ngày 19-8, Trung đoàn diệt một tiểu đoàn bộ binh cơ giới và phá 57 xe bọc thép Mỹ.
Tiếp đó, đêm 21-8, cùng lúc Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9) tập kích căn cứ Mỹ tại Trà Phí lần thứ hai, loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn bộ binh cơ giới, phá huỷ, phá hỏng 96 xe quân sự các loại, 14 khẩu pháo và bắn rơi 4 máy bay lên thẳng của Mỹ; Trung đoàn 5 (Sư đoàn 5) tập kích cụm cứ điểm Chà Là lần thứ nhất, diệt hàng trăm Mỹ, bắn cháy, phá hỏng 140 xe quân sự các loại và 13 khẩu pháo, bắn rơi 1 máy bay.
Trên đà thắng lợi, đêm 22 rạng ngày 23-8, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 33, Sư đoàn 5) tập kích cụm xe quân sự Mỹ ở suối Ông Hùng, phá huỷ 60 xe quân sự, bắn rơi 4 máy bay, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm lính. Ngày 2-8, Trung đoàn 88 (thiếu một tiểu đoàn) tổ chức phục kích trên đường 22 (đoạn từ Đá Hàng đến Vên Vên thuộc huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh) đánh thiệt hại nặng một đoàn xe cơ giới 147 chiếc (trong đó có 33 xe tăng và xe bọc thép, 15 xe Jeép), loại khỏi vòng chiến đấu 400 lính.
Cũng trong khoảng thời gian trên, trên hướng thứ yếu chiến dịch ở tỉnh Bình Long, các đơn vị của Sư đoàn bộ binh 7 đã tiến công Chi khu quân sự Lộc Ninh. Mỹ đưa Trung đoàn 11 thiết giáp và một bộ phận quân của Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ đến ứng cứu, giải toả. Do vậy, Sư đoàn 7 phải cùng lúc vừa tổ chức tiến công chi khu, vừa đánh quân địch đến ứng cứu, giải toả, chưa tiêu diệt được mục tiêu đặt ra là Chi khu quân sự Lộc Ninh.
Sau một thời gian liên tục chiến đấu, đêm 31-8, quân Giải phóng quyết định kết thúc bước 1 chiến dịch trên cả hai hướng. Mỗi trung đoàn chỉ để lại một tiểu đoàn để tổ chức "đợt hoạt động đệm", đại bộ phận còn lại rút ra phía sau củng cố, chấn chỉnh, bổ sung quân số, trang bị, vũ khí đạn dược, chuẩn bị cho đợt 2 chiến dịch.
Ngày 12-9, Trung đoàn 2 (Sư đoàn 9) tập kích cụm quân Mỹ tại Lâm Vồ lần thứ hai, làm thiệt hại nặng một tiểu đoàn bộ binh cơ giới hỗn hợp, phá huỷ, phá hỏng 58 xe quân sự (trong đó có 39 xe bọc thép), 14 khẩu súng cối, bắn rơi 7 máy bay. Cùng ngày, trên mặt trận đường 22, Trung đoàn 88 (Sư đoàn 5) tổ chức phục kích và đánh phản kích, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 350 lính, 46 xe quân sự các loại, bắn rơi 6 máy bay lên thẳng.
Tại thị xã Tây Ninh, ngay từ đêm 10-9, các đơn vị lực lượng vũ trang tỉnh, các đội biệt động, đặc công, trinh sát Miền và Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 2) đã đồng loạt nổ súng tiến công tiêu diệt một số mục tiêu quan trọng trong nội và ngoại thị, gây sự hoang mang dao động mạnh về tinh thần trong nội bộ quân Việt Nam Cộng hòa ở tỉnh Tây Ninh.
Sau gần 20 ngày liên tục giữ thế chủ động bằng các chiến thuật: phục kích, tập kích, đánh bồi, đánh nhồi vào các cụm quân, tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, hoàn thành cơ bản các mục tiêu chiến dịch đặt ra, ngày 28-9-1968, quân Giải phóng đã chủ động kết thúc đợt 2, cũng là kết thúc toàn bộ chiến dịch. Tổng kết thành quả giành được sau 43 ngày đêm chiến đấu liên tục của chiến dịch Tây Ninh - Bình Long (từ ngày 17-8 đến 28-9-1968), các sư đoàn 5, 7, 9 chủ lực Miền và du kích Tây Ninh, Bình Long đã đánh 315 trận (có 53 trận cấp tiểu đoàn, 16 trận cấp trung đoàn), loại khỏi vòng chiến đấu 13 tiểu đoàn, 55 đại đội, tiêu hao nặng 7 tiểu đoàn thuộc các sư đoàn 1 và 25 bộ binh cơ giới Mỹ, một số đơn vị thuộc lực lượng tổng trù bị chiến lược Việt Nam Cộng hòa và nhiều đơn vị biệt kích, bảo an tại chỗ; loại khỏi vòng chiến đấu 18.406 lính, phá huỷ 1.507 xe quân sự, 112 máy bay, 107 khẩu pháo, thu được 24 máy vô tuyến điện, 282 súng các loại.
Song những thắng lợi trong đợt 3 ở miền Đông cũng không làm thay đổi được tình hình nhiều, vì lực lượng quân Giải phóng bị tổn thất nặng. Cuối năm 1968, sau ba đợt tiến công liên tục quân số, vũ khí đạn dược đã cạn kiệt, những bộ phận còn lại của các đơn vị được lệnh rút lên các căn cứ để củng cố và bổ sung quân số. Nhưng để lên được căn cứ, cán bộ và chiến sĩ phải tiếp tục đột phá mở đường qua các tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn từ xa của Mỹ với chiều sâu hàng trăm km của quân Mỹ, nên lực lượng lại tiếp tục bị tiêu hao thêm.
Ở Khu 5, đúng ngày 17-8, tiểu đoàn công binh quân Giải phóng đánh sập 3 cầu trên đèo Hải Vân, các tiểu đoàn bộ binh và đặc công cùng lực lượng vũ trang Hoà Vang tấn công một loạt căn cứ, trong đó có bãi xe Cẩm Bình, bãi xe Kim Liên, chiếm khu phố Cẩm Lệ, uy hiếp quận lỵ Hoà Vang. 1 tiểu đoàn bộ binh tấn công căn cứ biệt kích Nùng ở chân núi Non Nước. Đêm 22-8, sư đoàn 2 chủ lực quân khu và các lực lượng đặc công, pháo cối đồng loạt tấn công thành phố Đà Nẵng, thị xã Hội An, Tam Kỳ và các thị trấn, quận lỵ Hoà Vang, Vĩnh Điện. Sân bay Đà Nẵng bị pháo kích dữ dội, nhiều máy bay bị phá hủy, nhiều lính Mỹ bị giết. Kho xăng ESSO bị pháo kích bốc cháy đến 10 giờ sáng, tiêu hủy 6 triệu lít xăng. Đêm 16-11, quân Giải phóng lại tấn công căn cứ hải quân, sân bay Đà Nẵng và nhiều vị trí khác trong thành phố.
Nhìn lại diễn biến và kết quả của đợt 2 và đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Trung ương Đảng Lao động nhận định: "Chúng ta đã mắc một số khuyết điểm, chủ quan trong việc đánh giá tình hình cho nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó nhất là không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm ngay, nhằm đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời", nên để mất đất, mất dân, lực lượng vũ trang, cơ sở cách mạng và vật chất chiến tranh bị tổn thất nghiêm trọng, gây những khó khăn rất lớn cho phong trào đấu tranh năm 1969; song, thắng lợi trong đợt 2 và 3 tổng tiến công và nổi dậy cũng rất lớn, ta không chỉ tiêu diệt được một lực lượng chiến lược của Mỹ - ngụy, mà điều quan trọng là ta đã đánh bồi liên tiếp, đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đoàn đại biểu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là một trong bốn thành viên chính thức tham gia hoà đàm tại Paris. Những thắng lợi này góp phần cho ta thế mạnh chủ động đấu tranh ở Hội nghị Paris."
== Kết quả ==
Cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 đã dẫn đến các kết quả chính trị và quân sự cho cả thời kỳ 1969-1971, cũng như tạo nên bước ngoặt chiến lược cho toàn cuộc chiến ở Việt Nam.
=== Về chiến thuật ===
Trong 3 đợt của cuộc tấn công, quân Giải phóng đã gây cho quân Mỹ và đồng minh những thiệt hại lớn. Theo các thông cáo chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thì trong cả năm 1968 họ đã loại ra khỏi vòng chiến 630.000 quân đối phương cả Mỹ - Việt Nam Cộng hòa lẫn đồng minh, 13.000 xe cơ giới, 1.000 tàu chiến, 700 kho đạn, 15.000 đồn bót; trong đó riêng 2 tháng đợt 1 đã tiêu diệt được 147.000 quân đối phương.
Tài liệu Hoa Kỳ xác nhận tổn thất trong đợt 1 của Mỹ và đồng minh là hơn 48.500 quân thương vong và 552 máy bay bị phá hủy, và năm 1968 trở thành năm đẫm máu nhất đối với quân viễn chinh Mỹ tại Việt Nam với 16.511 lính chết và 87.388 bị thương chưa kể mất tích. Đối với quân lực Việt Nam Cộng hòa thì đây là năm đẫm máu thứ 2 (chỉ sau năm 1972) với 28.800 lính thiệt mạng và 172.512 bị thương chưa kể mất tích. Nhiều đơn vị tinh nhuệ của quân đội này phải mất 1 năm để tái huấn luyện bổ sung tổn thất. Như vậy tổng thương vong của quân đội Mỹ và đồng minh trong năm 1968 là khoảng 310.000 theo thống kê của chính họ, khiến năm 1968 trở thành năm có thương vong cao nhất cho Mỹ và đồng minh trong toàn cuộc chiến.
Tuy nhiên, để đạt kết quả trên, quân Giải phóng cũng chịu thương vong hơn 113.000 người. Tuy về số học thì quân Giải phóng bị thương vong ít hơn đối phương, nhưng vì quân Mỹ và đồng minh vượt trội 4 lần về quân số (1,2 triệu so với chưa đầy 300 ngàn), do đó tỷ lệ thương vong của quân Giải phóng là lớn hơn (tỷ lệ thương vong là 1/3 quân số so với 1/5 của đối phương). Về tổn thất vũ khí cũng tương tự, dù quân Mỹ có mất hàng trăm máy bay, xe tăng nhưng vẫn có thể được bổ sung nhanh chóng từ kho vũ khí khổng lồ của họ, trong khi đó thì quân Giải phóng rất thiếu thốn vũ khí và chỉ trông chờ vào những chuyến hàng tiếp tế khó khăn từ miền Bắc, dù họ chỉ mất một khẩu súng cối thì cũng đã khó bù đắp được.
Sau tổng tiến công Mậu Thân, vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam bị thu hẹp. Quân Giải phóng bị đánh bật khỏi vùng đô thị và suy yếu trầm trọng: các đơn vị quân sự suy yếu, nhiều lực lượng chính trị bị lộ, thương vong cao hơn hẳn các năm trước, phải đến năm 1970 lực lượng của họ mới hồi phục lại được. Do các tổ chức chính trị ngầm chuyên vận động nhân dân đã bị lộ nên trong năm 1969, tại nhiều nơi trên chiến trường, quân Giải phóng bị mất nguồn tiếp tế từ nhân dân. Họ phải rút về miền nông thôn, rừng núi hoặc phải sang ẩn tránh tại các vùng bên kia biên giới Lào và Campuchia. Do khó khăn về tiếp tế, đã có ý kiến trong giới lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và ở Hà Nội đề nghị giải tán các đơn vị cỡ sư đoàn, quay về lối đánh cấp trung đoàn trở xuống.
Chiến trường miền Nam trở nên yên tĩnh. Trong 2 năm sau Mậu Thân, từ 1969 đến đầu 1970, là thời gian quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa chủ động tiến công tìm diệt quân Giải phóng, đồng thời thực hiện chiến dịch Phượng Hoàng, nhằm bình định và triệt phá phong trào chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở nông thôn và thành thị. Vai trò đấu tranh chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam từ nay suy giảm đi nhiều vì các hệ thống cơ sở chính trị của họ bị phá và với sự ác liệt của chiến tranh ở giai đoạn này không cho phép họ tụ tập dân chúng để đưa ra yêu sách chính trị..
40 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân, tướng Lê Khả Phiêu lúc đó là chính uỷ kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, đơn vị chủ lực đánh vào thành Huế và giữ Huế 25 ngày, hồi tưởng: Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, chúng tôi ở chiến trường lao đao mất 2 năm rưỡi, đến năm 1971 ta mới có được những chuyền biến tích cực. Vinh quang có thật, tinh thần chiến đấu thì anh dũng tuyệt vời, nhưng đúng là có khó khăn. Giữ được Huế 25 ngày như thế đã là "ghê" lắm rồi. Khi rút ra ngoài, cả trung đoàn chỉ còn đúng 5 cân gạo..
Tuy nhiên, Trung tướng Nguyễn Trung Thu, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam có quan điểm khác: "Muốn thắng về chính trị thì phải thắng về quân sự trước. Chỉ khi nào thắng về chiến thuật mới thắng được về chiến dịch và đi tới thắng lợi chiến lược... Trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nói ta thua về mặt chiến thuật là chẳng đúng chút nào. Tất cả các thành phố, đô thị, những nơi chính quyền và các vị trí trú quân của Mỹ, ngụy ở miền Nam Việt Nam đều bị đánh, có nơi quân Mỹ bị đánh thiệt hại rất nặng, việc đó làm cho tinh thần binh lính địch suy sụp, rệu rã. Thử hỏi, nếu không có những trận chiến đấu thành công thì làm sao có được kết quả thay đổi sau này. Việc cho rằng ta thua về chiến thuật trong Tết Mậu Thân 1968 là phi lý và mang tính chất bảo thủ, không dám thừa nhận thất bại mà thôi".
=== Về chiến lược, Chính trị và ngoại giao ===
Trong các đợt cao trào, lực lượng vũ trang tại chỗ Quân giải phóng miền Nam cũng đã phát động nổi dậy tại nhiều nơi, giáng một đòn nặng vào hệ thống chính quyền cơ sở Việt Nam Cộng hòa ở nông thôn. Trong đợt Tết, phối hợp với đòn tiến công quân sự đánh vào các đô thị, Quân giải phóng đã tổ chức nổi dậy và kiểm soát thêm 1.600.000 dân, 100 xã, hơn 600 ấp chiến lược, dinh điền. Chương trình "bình định" của Hoa Kỳ tan vỡ từng mảng. Văn phòng hệ thống phân tích tình hình thuộc Lầu Năm Góc thì đánh giá: "Cuộc tiến công (Tết) hình như đã vĩnh viễn giết chết chương trình (bình định)". Chiến lược chiến tranh cục bộ của Hoa Kỳ đã phá sản sau đợt tấn công Tết.
Thành công của Tết Mậu Thân đã giáng một đòn quyết liệt vào uy thế của quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam, làm suy giảm vị trí và ảnh hưởng của chính quyền và quân đội Sài Gòn cả ở thành thị lẫn nông thôn, khiến cho giới lãnh đạo cao cấp Hoa Kỳ phải bàng hoàng, sửng sốt. Thượng nghị sĩ Robert Kennedy đã phải thốt lên rằng: Tại sao nửa triệu lính Mỹ, có 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công. Bộ Quốc phòng Mỹ khi tổng kết chiến tranh Việt Nam đã thừa nhận: "Nhờ nghiên cứu các phương pháp và thói quen có thể dự đoán được của Mỹ mà đối phương đã vạch ra kế hoạch nghi binh và phân tán chiến lược của họ. Trái lại sự hiểu biết của Mỹ về đường lối chiến lược của địch là nông cạn và chủ quan hơn"
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đúc kết: "Đường lối của chúng tôi không chỉ đơn thuần là quân sự, mà là một chính sách tổng thể, kết hợp toàn diện cả quân sự-chính trị-ngoại giao. Cuộc tiến công Mậu Thân có ý nghĩa cả về quân sự và chính trị"
Cuộc tổng tiến công đã làm dư luận Mỹ thấy rằng việc đưa quân tham chiến với nỗ lực cao đã gây căng thẳng trong xã hội Mỹ, phúc lợi giảm sút, gây nhiều hệ lụy xấu cho xã hội... mà vẫn không đánh bại được đối phương, và trong tương lai chiến tranh không biết sẽ kéo dài đến bao giờ. Điều này đưa đến kết luận là Hoa Kỳ không thể thắng được trong cuộc chiến này. Sau này, trong hồi ký, Lyndon B. Johnson xác nhận: Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là "một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ", "cố gắng của đối phương đã gây ra một hậu quả tác động xấu đến một số người trong và ngoài Chính phủ", nhân dân Mỹ và một số nhân vật trong chính quyền bắt đầu nghĩ rằng chúng ta đã thất bại"
Quy mô của cuộc tiến công làm dư luận Hoa Kỳ mất kiên nhẫn và tin tưởng với giới quân sự, họ đòi chấm dứt chiến tranh mang quân về nước. Một mặt họ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội, mặt khác các hành động bạo liệt mất nhân tính được trình chiếu trên TV đánh vào lương tâm công chúng (Xem Thảm sát Mỹ Lai, Thảm sát do đơn vị Lực lượng Mãnh Hổ). Người dân Mĩ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức bởi họ coi chiến tranh là bẩn thỉu. Sau này, ngoại trưởng Henry Kissinger thừa nhận: "Các thế hệ tương lai có thể khó hình dung được cơn biến động trong nước mà chiến tranh Việt Nam gây ra... Chính cơ cấu của chính phủ đã bị tan rã. Ngành hành pháp bị choáng váng. Cuối cùng, con em của họ và con em bạn bè của họ đã tham gia các cuộc biểu tình... Sự kiệt sức là dấu ấn của tất cả chúng tôi. Tôi phải đi từ nhà tôi, vây quanh là đám người phản đối, đến tầng dưới của Nhà Trắng để được ngủ đôi chút"
Các chính trị gia trong Quốc hội Hoa Kỳ gây sức ép lên chính phủ đòi xem xét lại cam kết chiến tranh, đòi hủy bỏ uỷ quyền cho chính phủ tiến hành chiến tranh không cần phê chuẩn, thúc ép giải quyết chiến tranh bằng thương lượng. Ngay các nhà lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ cũng chia rẽ trong quan điểm sẽ làm gì tiếp theo. Các cố vấn hàng đầu của tổng thống và ngay Tổng thống Lyndon B. Johnson thoái chí đi đến kết luận không thể tăng quân thêm nữa theo yêu cầu của giới quân sự mà phải xuống thang, đàm phán. Giới lãnh đạo Mỹ công nhận: Tết Mậu Thân 1968 đã đặt họ "trước một bước rẽ trên đường đi, và các giải pháp để lựa chọn đã phơi bày trong một thực tế tàn nhẫn".
Nhà sử học Larry Berman nhận xét: "Tháng 1-1968, có 515.000 lính Mỹ, 1 triệu lính Việt Nam Cộng hòa mà Sài Gòn vẫn không được bảo vệ. Tất cả người dân Mỹ đều nhìn thấy hình ảnh tòa đại sứ nằm dưới tầm lửa đạn trên tivi tại phòng khách mọi gia đình. Họ tự hỏi tại sao điều này lại có thể xảy ra. Tổng thống của chúng ta đã tuyên bố chúng ta đang đi đến khúc ngoặt của cuộc chiến và đang chuẩn bị giành thắng lợi đến nơi rồi. Cuộc tấn công tết bộc lộ ra cho người dân Mỹ thấy rằng toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá"
Trung tướng Bernard Trainor, từng phục vụ ở Việt Nam hai lần, nhận xét: "Tôi thấy cuộc kháng chiến của Việt Nam có nét tương đồng với chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ. Cũng như các nhà cách mạng Mỹ thời đó, người Việt quyết chiến đến cùng. Những người dân Mỹ hồi đó đã đi tới một quyết định rằng độc lập là thiết yếu. Họ đặt cược tính mạng và của cải của mình vào sự nghiệp giành độc lập... Hy vọng ban đầu là thu phục trái tim khối óc của người dân, nhưng hy vọng này đã bị tan tành bởi thất bại của chính quyền Sài Gòn trong việc giành tín nhiệm của dân và chiến lược Tìm và diệt của Westmoreland. Về cơ bản đây là chiến lược tiêu hao sinh lực... Chỉ việc chất đống quân lực và vũ khí, rồi bóp vụn quân địch. Đây cũng là cách mà Westmoreland xúc tiến ở Việt Nam. Một cách làm võ biền. Có thể nói, Quân Giải phóng đã xoay triết lý chiến tranh tiêu hao chống lại chính Westmoreland. Chiến lược của người Việt là nhằm làm sao xói mòn sinh lực của quân Mỹ, cho tới khi công luận Mỹ xoay chuyển, chống lại chiến tranh. Chiến lược này đã thành công…".
Với sức ép của Tết Mậu Thân, cùng với việc thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thống Mỹ còn cách chức William Westmoreland, Tổng chỉ huy quân Mỹ ở Việt Nam, đưa Abram lên thay (9-3-l968). Đồng thời, Johnson tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo. Cũng từ sau Mậu Thân trở đi, quyền lực tiến hành chiến tranh của Tổng thống Hoa Kỳ càng ngày càng bị hạn chế bởi Quốc hội và dư luận trong nước và quốc tế. Sự rút quân viễn chinh Mỹ về nước là không thể đảo ngược, Chiến tranh Việt Nam đi vào giai đoạn mới mà chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa phải tự bảo vệ lấy mình - Việt Nam hóa chiến tranh là không thể tránh khỏi.
Ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh, không tăng thêm quân theo yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến trường và từ chối tranh cử nhiệm kỳ tới. Tổng thống Richard M. Nixon, thắng cử vì hứa sẽ chấm dứt chiến tranh, tuyên bố sẽ dần rút quân về nước và đàm phán với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vấn đề của Hoa Kỳ bây giờ không còn là tìm cách chiến thắng cuộc chiến nữa mà là rút ra như thế nào.
Tất cả những điều trên đã tạo cơ sở cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam khẳng định: dù phải hy sinh to lớn, nhưng họ đã đạt được mục tiêu của cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968. Một chiến thắng như vậy không còn trong phạm trù chiến thuật, mà mang tầm vóc thắng lợi chiến lược, nó tác động toàn diện đến tình hình quân sự, chính trị, tâm lý xã hội nước Mỹ. Đây là thắng lợi mang tính chiến lược của họ: Hoa Kỳ buộc phải xuống thang và tìm cách rút khỏi Việt Nam. Các lực lượng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn Hoa Kỳ một khi đã rút đi thì khó mà trở lại được.
Về sự kiện Tết Mậu Thân, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, tháng 10-1973, đã kết luận: "Mặc dù có những khuyết điểm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) vẫn giữ một vị trí to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đánh với đối tượng là một siêu cường có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh nhất trên thế giới thì không dễ gì chiến thắng mà ít tổn thất. Đó là sự hy sinh, tổn thất cần thiết để dẫn đến hoà bình. Ta có khuyết điểm, sai lầm, nhưng cái chính và điều quan trọng là ta đã chiến thắng". Bộ Chính trị kết luận: Tết Mậu Thân thắng rất lớn, không phải chỉ ở chiến thuật mà nhất là đã đánh bại được ý chí xâm lược của Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh..
Đánh giá về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Đó là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn và sức mạnh của toàn dân đoàn kết quyết chiến, quyết thắng giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc"
Theo cách nói của Dean Rusk và Mc Namara, Mỹ đã "ý thức được rằng họ chẳng những không thắng được Việt Nam mà còn có thể thua to. Do đó Mỹ không còn cách thoát thân nào tốt hơn xuống thang chiến tranh và đề nghị đàm phán”. Trong hồi ký, thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ nhận địnhh:
Số thương vong đã lên rất cao: khoảng 4.000 quân Mỹ bị chết cùng 5.000 quân Nam Việt Nam. Mặc dù sự việc trên thê thảm thế nào đi nữa, những tổn thất lớn lao nhất vẫn là niềm tự hào và uy tín nước Mỹ bị sa sút. Đối với người Mỹ, vụ tấn công Tết đã gây nên tất cả những nỗi kinh hoàng của một vụ Trân Châu cảng khác và lần đầu tiên người Mỹ đã nhận ra rằng họ sẽ không thể nào thắng nổi cuộc chiến tranh này. Đã có một sự tan vỡ đến mất hết niềm tin.
Các nhà sử học phương Tây cũng đánh giá rất cao vai trò bước ngoặt của cuộc Tổng tấn công trong cuộc chiến tại Việt Nam. Nhà sử học Merle L. Pribbenow nhận định:
==== Mặt trận ngoại giao, thành quả phối hợp với chính trị-quân sự trong năm 1968 ====
Ngày 31-3-1968, Tổng thống Johnson phải tuyên bố: Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là bước nhượng bộ rất lớn của Mỹ bởi trước đó, họ luôn duy trì quan điểm cứng rắn: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ngừng chiến đấu, rút quân Giải phóng miền Nam khỏi miền Nam Việt Nam thì mới có đàm phán hòa bình.
Cuối cùng, 2 bên lấy Paris làm địa điểm họp chính thức. Phiên họp đầu tiên được hai bên ấn định vào ngày 10-5-1968, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm Trưởng đoàn, Hà Văn Lâu làm Phó trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hoa Kỳ cử Hariman và C.Vasner làm Trưởng đoàn và Phó trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Mỹ. Hình thức họp là 4 bên tham gia: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam - Hoa Kỳ - Việt Nam Cộng hòa. Đây lại là bước nhượng bộ nữa của Mỹ bởi trước đó họ từ chối công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và coi Việt Nam Cộng hòa là "chính phủ duy nhất của miền Nam Việt Nam". Tuy vậy, dù có 4 bên nhưng thực tế các phiên họp kín chỉ có 2 đoàn vốn thực sự nắm quyền điều khiển cuộc chiến là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ được tham dự.
Ngày 3-6-1968, Nguyễn Duy Trinh - Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, chỉ thị cho đoàn ở Paris: "Tiếp tục làm tốt việc đấu tranh công khai và chuẩn bị lúc nào thuận lợi thì vừa nói chuyện công khai vừa nói chuyện hậu trường"
Trong quá trình diễn biến các cuộc nói chuyện ở Paris, phía Mỹ đã thường xuyên thông báo tình hình cho chính quyền Sài Gòn, và Nguyễn Văn Thiệu luôn tỏ ra chấp nhận lập trường của phía Mỹ. Nhưng khi đạt được sự dàn xếp giữa Oasinhtơn và Hà Nội thì lại nảy sinh sự bất hoà giữa Mỹ và Sài Gòn. Ngày 29-10-1968, Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn báo cáo về Mỹ cho biết Nguyễn Văn Thiệu không chấp nhận tham gia vào các cuộc thương lượng tại Paris với lý do: Thiệu còn phải xin ý kiến Quốc hội; không muốn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được coi là một bên; cần giải quyết xong mọi thủ tục rồi mới họp. Mặc cho Việt Nam Cộng hòa phản đối, nửa đêm ngày 30-10, Trưởng và Phó đoàn Mỹ đến nơi ở của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris để thông báo sẽ công bố lệnh chấm dứt ném bom tối 31-10, vào 7 giờ hay 8 giờ, giờ Oasinhtơn ngày 31-10-1968.
Trải qua 28 phiên họp chính thức, 21 cuộc gặp riêng, bí mật, kiên quyết giữ đúng nguyên tắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đạt được hai yêu cầu cơ bản:
Buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt ném bom hoàn toàn và không điều kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà;
Mỹ phải ngồi vào đàm phán với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong một hội nghị bốn bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa).
Nhân dịp này, ngày 3-11-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song đó chỉ mới là thắng lợi bước đầu. Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt. Chúng nói "hoà bình", "thương lượng" nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng... Vì vậy nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc".
== Đánh giá ==
Hãng thông tấn Reuters của Anh ngày 3-2-1968 bình luận: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tấn công phối hợp ở Sài Gòn và ở các trung tâm chủ chốt khác tại Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi ngạc nhiên”. Kế đó, ngày 5-2-1968 hãng này thống kê: “Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu đô la mà vẫn không bảo vệ được một tấc vuông đất nào ở miền Nam Việt Nam cả”. Trong khi đó, báo Người quan sát (Anh) tỏ ra ngạc nhiên khi than rằng: “Người ta không thể tin là một tình hình như thế lại có thể xảy ra”.
Báo Pháp “Thế giới” (Le Monde) ngày 1-2-1968 mỉa mai: “Người Mỹ đã từng khẳng định dân chúng Nam Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ còn có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt Cộng như vậy”. Báo Chiến đấu ngày 1-2-1968 khẳng định: “Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này rồi. Những gì xảy ra ở Sài Gòn cũng đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc giải phóng đã nắm được các tầng lớp dân chúng ở miền Nam Việt Nam trong mức độ lớn biết nhường nào”.
Tờ Le Figaro (Pháp) ngày 2-2-1968 bình luận: “Cuộc tiến công lừng danh của Việt Cộng cho ta thấy trước hết cái tài tình của những người chỉ huy trong việc hướng dẫn cuộc chiến tranh vừa quân sự, vừa chính trị này. Về mặt đối nội, họ vừa thu được một thắng lợi lớn; họ chứng tỏ cho nhân dân Việt Nam thấy rằng, họ có thể đánh nơi nào và lúc nào cũng được hết. Họ làm cho chính phủ Sài Gòn và quân đội của chính phủ này trở thành một trò cười. Họ tăng cường sự kiểm soát của họ, và do đó, làm giảm bớt sự kiểm soát của chế độ Sài Gòn đối với dân thường, những người dân thường này thì đầy lòng kính nể và khâm phục đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng".
== Sự kiện Tết Mậu thân trong truyền thông ==
=== Âm nhạc ===
Hai bài hát “Bài Ca Viết Cho Những Xác Người,” và “Hát Trên Những Xác Người” được sáng tác năm 1968, sau khi Trịnh Công Sơn từ Huế trở về Sài Gòn. Những ngày diễn ra trận đánh tại Huế, Trịnh Công Sơn có mặt tại cố đô, chính ông cũng suýt chút nữa bị cuốn vào những biến cố trong tết Mậu Thân. Theo nhà văn Phạm Xuân Đài, hai bài ca mô tả những thi thể và những hình ảnh khốc liệt của chiến sự, được nhạc sĩ ghi lại trong vai trò của một nhân chứng.
Nhạc sĩ Anh Bằng có bài "Chuyện một đêm" tả nỗi đau của người mẹ có đứa con nhỏ chết do bị trúng đạn pháo vào dịp Tết Mậu Thân. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng thì có "Chuyện một chiếc cầu đã gãy" nhắc việc cầu Trường Tiền bị đánh sập trong trận chiến Mậu Thân tại Huế và bài "Những con đường trắng" nói lên cảnh tàn phá sau trận đánh 1968.
Bài hát "Dáng đứng Việt Nam" do nhạc sĩ Lê Anh Xuân sáng tác khi ông tham gia trong đội hình của mũi tấn công vào Sân bay Tân Sơn Nhất. Các chiến sĩ băng qua hàng rào thép gai đánh chiếm lô cốt địch, tràn vào sân bay phá hủy máy bay. Nhiều chiến sĩ bị thương vẫn chống trả lại kiên cường. Bài hát ca ngợi hình ảnh người chiến sĩ hiện lên thật oai hùng: “Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất/ Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng/ Và Anh chết trong khi đang đứng bắn/Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng... Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm/ Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công”. Sau này, người chiến sĩ trong bài hát được xác định tên là Nguyễn Văn Sáu, cán bộ chỉ huy mũi tấn công. Anh sinh năm 1937, quê ở thôn Liên Hưng, xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, một huyện vùng núi của Thanh Hóa..
Bài hát "Cô gái Sài Gòn đi tải đạn" do nhạc sĩ Lư Nhất Vũ kể lại đã sáng tác sáng mùng 1 rạng mùng 2 Tết Mậu Thân (1968), sau khi ông đọc bài báo nói về các cô gái Sài Gòn tình nguyện rời gia đình, tham gia dân công hỏa tuyến, làm mọi việc, trong đó có vác đạn cho bộ đội. Ông rất cảm kích và xúc động trước sự việc này nên đã sáng tác ra bài hát với giai điệu trẻ trung, tiết tấu hơi nhanh (allégretto), diễn tả vẻ hồn nhiên, nhí nhảnh, sôi nổi của những cô gái tuổi đời còn rất trẻ, đã hăm hở xung vào đội quân tiếp đạn cho chiến trường
=== Văn chương ===
Giải khăn sô cho Huế (1969) của Nhã Ca đoạt Giải Văn chương Quốc gia Việt Nam Cộng hòa năm 1970 tái bản ở Hoa Kỳ năm 2008) tường thuật lại những biến động với người dân Huế trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, những điều tác giả tuyên bố đã thấy tận mắt hoặc thu thập từ lời kể của những người khác. Hồi ký này được tiến sĩ sử học đại học Texas A&M, Olga Dror dịch sang tiếng Anh với tựa Mourning Headband for Hue (2014) Tính xác thực của cuốn sách này là vấn đề gây nhiều tranh luận cho tới nay. Sau này, theo Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân, Nhã Ca công nhận là cuốn sách đã hư cấu nên nhiều chuyện về các nhân vật có thật, vu oan cho rất nhiều nhân sĩ, trí thức ủng hộ quân Giải phóng khiến họ phải chịu oan nhiều tiếng xấu về sau
Bà Nguyễn Thị Thanh Sung sinh năm 1949 tại An Cựu (Huế), cựu học sinh Đồng Khánh, năm 1974 theo chồng sang Mỹ định cư. Đầu thập niên 1990, bà cho xuất bản một hồi ký mang tên “Không Biên Giới”. Hồi ký có 26 tiểu truyện. Trong một số tiểu truyện (số 16, 19, 23…) tác giả viết về sự tàn bạo của quân đội Mỹ - Việt Nam Cộng hòa, riêng tiểu truyện số 6 tác giả dành riêng kể chuyện trả thù của quân Việt Nam Cộng hòa sau Tết Mậu Thân 1968. Gia đình bà Sung từng suýt chết vì bị 1 trái bom Mỹ ném trúng nhà, sau khi tái chiếm Huế thì quân Việt Nam Cộng hòa cho lùng tìm những người có tên trong sổ quyên góp cho quân Giải phóng rồi xử bắn họ, cha bà Sung cũng bị bắt nhưng vì may mắn nên thoát được vụ xử bắn
=== Điện tử ===
Một số màn chơi trong game Call of Duty: Black ops lấy bối cảnh các trận đánh trong chiến dịch Tết Mậu thân.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Karnow, Stanley (1991). Vietnam: A History. New York: Penguin. ISBN ISBN 0-670-84218-4hc .
== Xem thêm ==
Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh
Trận Mậu Thân tại Huế
Thảm sát Huế Tết Mậu Thân
Trận Khâm Đức
Sự kiện tướng Nguyễn Ngọc Loan
Nguyễn Văn Lém
Chiến dịch Tết 1969
== Liên kết ngoài ==
Trung tướng Nguyễn Trung Thu, Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968: Không có chuyện “thắng về chiến thuật, thua về chiến lược”
Những câu chuyện Tết Mậu Thân 1968 - Loạt bài trên báo Tuổi Trẻ |
thập niên 1960.txt | Thập niên 1960 chỉ đến những năm từ 1960 đến 1969
== Sự kiện ==
+ Ban nhạc The Beatles tới nước Mỹ (1964), cuộc cách mạng âm nhạc đại chúng bùng nổ.
+ Chiến tranh lạnh giữa hai khối đối địch nhau thời bấy giờ: Phe XHCN do Liên Xô cầm đầu với phe Tư bản CN do Mỹ cầm đầu.
+ Phong trào Chống chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam lan rộng từ nước Mỹ ra khắp thế giới.
+ Những thành công trong việc chinh phục vũ trụ. Trong đó nổi bật là việc con người đặt chân lên Mặt Trăng (1969).
== Tham khảo == |
guatemala.txt | Guatemala, tên chính thức Cộng hoà Guatemala (tiếng Tây Ban Nha: República de Guatemala, IPA: [re'puβlika ðe ɰwate'mala], Tiếng Việt: Cộng hòa Goa-tê-ma-la), là một quốc gia tại Trung Mỹ, ở phần phía nam Bắc Mỹ, giáp biên giới với México ở phía tây bắc, Thái Bình Dương ở phía tây nam, Belize và Biển Caribe ở phía đông bắc, và Honduras cùng El Salvador ở phía đông nam.
== Lịch sử ==
Từ thế kỷ thứ 3 TCN tới thế kỷ thứ 12 sau Công Nguyên, các vùng đất thấp khu vực Petén và Izabal là nơi sinh sống của nhiều bộ lạc thổ dân thuộc bộ tộc Maya. Trong khi đó bộ tộc K'iche ngụ canh ở vùng cao nguyên miền trung Guatemala.
Khi được tin người Tây Ban Nha đã chinh phục được đế quốc Aztec ở Mexico thì bộ tộc K'iche ở Guatemala gửi sứ thần ra bắc bái yết Hernán Cortés và xin triều cống, nhận làm thuộc quốc. Bấy giờ là năm 1521. Hai năm sau Cortés phái Pedro de Alvarado vào Guatemala giám sát tình hình, dẫn theo 173 kỵ binh, 300 lính Tây Ban Nha cùng 200 quân Mexico thuộc bộ tộc Tlaxcala. Người K'iche thấy Tây Ban Nha động binh bèn chống cự lại nhưng thua to ở trận Quetzaltenango. Kinh thành Utatlán của K'iche bị đốt rụi. Chính quyền Tây Ban Nha từ đó trực tiếp cai trị xứ Guatemala, lấy Iximché làm thủ phủ. Năm 1527 vì tình hình bất an Alvarado bỏ Iximché, dời đô về Santiago de los Caballeros để dễ bề phòng thủ hơn. Dù vậy các bộ tộc miền núi như nhóm Achi' vẫn không quy phục nên vùng Alta Verapaz vẫn độc lập nhưng ngược lại nhờ hoạt động truyền giáo của Giáo hội Công giáo La Mã, ảnh hưởng của Tây Ban Nha dần dần lan rộng. Đến năm 1540 thì dân miền núi cũng công nhận chính quyền thuộc địa. Một số nhà truyền giáo, nổi tiếng nhất là tu sĩ Bartolomé de las Casas, đã bảo vệ người bản xứ khi quân đội Tây Ban Nha đàn áp thổ dân. Tuy nhiên Giáo hội thì thi hành chính sách hủy diệt các thư tịch cổ, và hầu như tất cả các sách vở Maya trước thế kỷ 16 nay đã thất truyền. Một số ít còn sót lại gồm có: Popol Vuh, Anales de los Kakchiqueles, và Chilam Balam. Những văn bản này may mắn là được các nhà truyền giáo Tây Ban Nha sau khi phát hiện đã cất giữ nên còn đến nay.
Cuộc xâm chiếm của người Tây Ban Nha cũng để lại hai hậu quả lớn. Thứ nhất là bệnh truyền nhiễm như bệnh dịch hạch, đậu mùa, thương hàn, sởi, đã theo chân người Âu Châu tàn phá nhiều nhóm thổ dân vì người bản xứ không có quá khứ miễn dịch để chống các căn bệnh này. Dân số bản xứ vì đó bị giảm thiểu trầm trọng. Có nguồn nhận xét rằng 3/4 thổ dân đã tử vong vì nhiễm bệnh.
Hậu quả thứ hai là địa danh "Goathemala" đã khai sinh sau cuộc xâm lăng của người Tây Ban Nha. Danh hiệu này có nguồn gốc từ tiếng thổ dân có nghĩa là "Xứ rậm cây" nhưng đến thế kỷ 16 mới có mặt trong văn bản.
=== Thời kỳ thuộc địa ===
Khi tình hình quân sự đã ổn định hơn thì triều đình Tây Ban Nha cho chỉnh đốn lại việc cai trị, thành lập đơn vị Trấn Guatemala (Capitanía General de Goathemala hay còn gọi là Audiencia de Guatemala) trông coi một dải đất rộng lớn từ phía nam Tân Tây Ban Nha (Nueva España, tức México) đến tận Panama. Đơn vị Guatemala này bao gồm cả Chiapas (nay thuộc México), El Salvador, Honduras, Nicaragua, và Costa Rica. Thủ phủ Santiago de los Caballeros không lâu biến thành đô thị lớn thứ ba ở châu Mỹ La Tinh, chỉ sau Thành phố México và Lima. Vùng đất này không giàu khoáng sản (vàng và bạc) như México và Perú nhưng cung cấp một số nông và lâm sản giá trị như mía, cocoa, phẩm chàm (añil), phẩm đỏ rệp son cùng các loại gỗ quý dùng trong việc xây cất và trang trí các công trình bên mẫu quốc.
Năm 1776 một chuỗi động đất lớn gây thiệt hại đáng kể, tàn phá thủ phủ Santiago de los Caballeros khiến chính quyền địa phương phải bỏ địa điểm cũ và dời đến Thung lũng Ermita về phía đông-bắc, lập nên Thành phố Guatemala, tức thủ đô của Guatemala ngày nay. Cố đô Santiago sau đó gọi là Antigua Guatemala tức cựu kinh.
Ngày 15 tháng 9 năm 1821, Guatemala trở thành một quốc gia độc lập. Nước Cộng hòa Guatemala mới gồm phần vùng Soconusco, và nơi hiện là các quốc gia El Salvador, Honduras, Nicaragua, và Costa Rica. 1.5 triệu dân nước này tập trung tại các trung tâm đô thị.
Năm 1821, tỉnh El Salvador thuyết phục được các tỉnh khác của Guatemala gia nhập Đế chế Mexico, một ý tưởng của Agustin Iturbide. Nhưng một năm sau Iturbide buộc phải thoái vị, đế chế của ông sụp đổ và Guatemala tách khỏi Mexico, mất hai vùng Chiapas và Soconusco.
Các tỉnh của Guatemala tạo thành Liên hiệp các Tỉnh Trung Mỹ, cũng được gọi là Liên bang Trung Mỹ (Federacion de Estados Centroamericanos). Thành phố thủ đô vẫn là Thành phố Guatemala, ngày nay đây vẫn là thành phố đông đúc nhất Trung Mỹ.
Một giai đoạn bất ổn chính trị nối tiếp sau đó, càng trầm trọng thêm với sự sụp đổ của thị trường añil (màu chàm) thế giới, sản phẩm xuất khẩu chính của nước này sang châu Âu, vì sự phát minh thuốc nhuộm nhân tạo. Việc này khiến các tỉnh tách khỏi Liên bang, từ năm 1838 đến năm 1840, bắt đầu với Costa Rica, và Guatemala trở thành một quốc gia độc lập.
Guatemala từ lâu đã tuyên bố chủ quyền với toàn bộ lãnh thổ của nước Belize láng giềng, trước kia là một phần của thuộc địa Tây Ban Nha, và sau này đã bị Vương quốc Anh chiếm đóng. Guatemala đã công nhận nền độc lập của Belize năm 1991, nhưng tranh cãi chủ quyền giữa hai nước vẫn chưa được dàn xếp. Những cuộc đàm phán hiện đang diễn ra dưới sự bảo trợ của Tổ chức Quốc gia châu Mỹ để giải quyết vấn đề. Xem: [1] và trang của OAS [2]
=== Thời hiện đại ===
Tháng 10 năm 1944, nhà độc tài Jorge Ubico bị cuộc cách mạng do sinh viên lãnh đạo lật đổ. Sự kiện này dẫn tới cuộc bầu cử đưa Jose Arévalo, tổng thống bầu cử dân chủ đầu tiên của Guatemala cầm quyền đủ nhiệm kỳ, lên nắm quyền. Các chính sách "Xã hội Thiên chúa giáo" của ông, có cảm hứng từ chính sách New Deal của Hoa Kỳ, bị các chủ đất và tầng lớp giàu có chỉ trích là mang hơi hướng cộng sản.
Giai đoạn này cũng là thời điểm khởi đầu cuộc Chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô ghi dấu ấn trong lịch sử Guatemala. Năm 1954, người kế nhiệm sau cuộc bầu cử tự do của Arévalo là Jacobo Arbenz bị một nhóm người Guatemala được Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) hậu thuẫn lật đổ, sau khi chính phủ sung công những vùng đất bỏ hoang thuộc sở hữu của Liên minh Công ty Hoa quả, một công ty buôn chuối có trụ sở tại Mỹ. Mật hiệu của CIA cho vụ đảo chính này là Chiến dịch PBSUCCESS, lần thành công thứ hai trong việc lật đổ một chính phủ nước ngoài của CIA. Thời gian cầm quyền quân sự sau đó, bắt đầu bằng nhà độc tài Carlos Castillo Armas, dẫn tới hơn 30 nội chiến, từ 1960, gây ra cái chết của ước tính 200.000 thường dân Guatemala. Vì chính quyền quân sự sử dụng các biện pháp tra tấn, bắt cóc, chiến tranh "tiêu thổ" không hạn chế và các biện pháp tàn bạo khác, đất nước đã trở thành một xã hội cùng khổ.
Từ thập kỷ 1950 tới thập kỷ 1990 (chỉ có một giai đoạn ngừng viện trợ quân sự trong giai đoạn giữa 1977 và 1982), chính phủ Hoa Kỳ trực tiếp hỗ trợ quân đội Guatemala trong huấn luyện và vũ khí cũng như cung cấp tiền bạc. Các lực lượng quân sự đặc biệt Hoa Kỳ (Mũ nồi Xanh) được gửi tới Guatemala để biến quân đội nước này trở thành một "lực lượng chống nổi lạon hiện đại" và biến nó trở thành đội quân mạnh nhất, tinh vi nhất vùng Trung Mỹ. Sự dính líu của CIA gồm cả việc huấn luyện 5.000 lính người Cuba chống đối Fidel Castro và dùng máy bay vận chuyển lực lượng này vào trong lãnh thổ Cuba trong sự kiện sau này được gọi là Sự kiện Vịnh con Lợn năm 1961. Năm 1999, tổng thống khi ấy của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Bill Clinton nói rằng Hoa Kỳ đã sai lầm khi cung cấp viện trợ cho các lực lượng quân đội Guatemala, lực lượng đã thực hiện những hành động giết dân thường tàn bạo [3].
Năm 1982, bốn nhóm Mác xít thành lập tổ chức du kích Tổ chức Cách mạng Thống nhất Quốc gia Guatemala (URNG).
Năm 1992, Giải Nobel Hòa bình được trao cho Rigoberta Menchú, một nhà hoạt động nhân quyền người bản xứ, vì những nỗ lực lôi kéo sự chú ý quốc tế tới cuộc diệt chủng được chính phủ hậu thuẫn chống lại những người bản xứ.
Cuộc chiến tranh đẫm máu dài 36 năm chấm dứt năm 1996 với một thỏa thuận hòa bình giữa phe du lích và chính phủ của Tổng thống Álvaro Arzú, với sự hỗ trợ của Liên hiệp quốc. Hai bên đều có những sự nhượng bộ lớn. Các trung tâm đô thị thuộc quyền kiểm soát của quân đội trong khi URNG tiếp tục có sự hiện diện mạnh mẽ ở vùng nông thôn. Theo Ủy ban Lòng tin do Liên hiệp quốc đỡ đầu, các lực lượng chính phủ và bán quân sự là thủ phạm gây ra hơn 90% các vụ vi phạm nhân quyền trong chiến tranh. Trong mười năm đầu tiên, số nạn nhân của những vụ khủng bố được chính phủ hậu thuẫn chủ yếu là sinh viên, công nhân, nhà chuyên nghiệp, và các nhân vật đối lập thuộc mọi khuynh hướng chính trị, nhưng ở những năm sau này, số nạn nhân lên tới hàng nghìn người chủ yếu là nông dân Maya và những người dân thường. Hơn 450 làng Maya đã bị phá hủy và hơn 1 triệu người trở thành người tị nạn. Đây được coi là một trong những vụ thanh lọc sắc tộc tồi tệ nhất tại Mỹ La tinh thời hiện đại. Ở một số vùng, như Baja Verapaz, Ủy ban Lòng tin cho rằng chính phủ Guatemala đã thực hiện một chính sách diệt chủng có chủ định chống lại một số nhóm sắc tộc.
Từ hiệp định hòa bình, Guatemala đã có được các cuộc bầu cử dân chủ, gần đây nhất là vào năm 2003. Tuy nhiên, nạn tham nhũng vẫn lan tràn ở mọi cấp chính phủ, con số các đảng chính trị tăng liên tục và không ổn định. Một lượng lớn các hồ sơ của Cảnh sát Quốc gia đã được khám phá vào tháng 12 năm 2005 tiết lộ những biện pháp an ninh chính phủ đã thực hiện nhằm đương đầu với tình trạng nổi dậy của người dân thời nội chiến [4].
== Chính trị ==
Chính trị Guatemala dựa trên hình thức cộng hoà đại diện dân chủ tổng thống, theo đó Tổng thống Guatemala vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là lãnh đạo chính phủ, và một hệ thống đa đảng phái. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp do cả chính phủ và Đại hội Cộng hoà đảm nhiệm. Tư pháp độc lập với hành pháp và lập pháp. Quốc hội Guatemala gồm 80 thành viên, được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 4 năm.
Các đảng phái chính: Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (DCG); Đảng Tiến bộ quốc gia (PAN); Phong trào Giải phóng dân tộc (MLN); Đảng Dân chủ xã hội (PSD); Đảng Cách mạng (PR); Mặt trận Cộng hòa Guatemala (FRG); Liên minh Dân chủ (UD).
== Khu vực hành chính ==
Guatemala được chia thành 22 bộ (departamentos) tương đương với "tỉnh". Nhỏ hơn là khoảng 332 thị xã (municipios).
Các bộ gồm:
Guatemala là quốc gia có mức độ tập trung trung ương cao, tương tự như Pháp. Văn hoá, giao thông vận tải, viễn thông, kinh doanh, chính trị, hội sở, và đa số các hoạt động đô thị khác đều tập trung ở Guatemala City cũng là thành phố hiện đại nhất Trung Mỹ. Sự nổi trội này khiến thị trưởng Guatemala trở thành nhân vật chính trị đứng thứ hai trong nước, chỉ sau Tổng thống và đây cũng là chức vụ nền tảng cần thiết trước khi tiến vào dinh tổng thống, Berger trước khi trở thành tổng thống cũng từng là thị trưởng Guatemala.
Guatemala City là thành phố khá lớn với khoảng 2 triệu dân sinh sống trong khu vực nội thành và 5 triệu tại các khu vực xung quanh, chiếm một số lượng đông đảo so với tổng số 12 triệu dân cả nước.
Trong suốt lịch sử Guatemala đã trải qua nhiều thay đổi. Một số thay đổi nhỏ, nhưng một số thay đổi mang lại những ảnh hưởng to lớn trên quốc gia. Từ khi nền văn minh hiện đại bắt đầu phát triển tại Guatemala, nó đã gây ra hàng loạt các vấn đề chính trị. Các vấn đề này, theo một số mặt, là đặc trưng các quốc gia vùng Trung Mỹ, khiến các nhà lãnh đạo phải đau đầu đối phó.
== Địa lý ==
Guatemala có địa hình nhiều núi non, ngoại trừ khu vực ven biển phía nam và những vùng đất thấp phía bắc thuộc khu Peten. Khí hậu nhiệt đới nóng – ôn hòa hơn ở vùng cao nguyên trong nội địa, và khô hơn ở các khu cực đông.
Tất cả các thành phố lớn đều nằm ở phần phía nam đất nước. Các thành phố chính gồm thủ đô Guatemala City, Quetzaltenango và Escuintla. Hồ lớn nhất Lago de Izabal nằm gần bờ biển Caribe.
Vị trí của Guatemala gần biển Caribe và Thái Bình Dương khiến nước này trở thành mục tiêu của nhiều cơn bão lớn, gồm cả trận Bão Mitch năm 1998 và Bão Stan năm 2005, làm thiệt mạng hơn 1.500 người.
== Kinh tế ==
Lĩnh vực nông nghiệp chiếm một phần tư Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), hai phần ba xuất khẩu và một nửa lực lượng lao động. Cà phê, đường, và chuối là các mặt hàng xuất khẩu chính. Chế biến và xây dựng chiếm một phần năm GDP. Cũng đóng góp một phần quan trọng trong nền kinh tế là các khoản tiền gửi từ nước ngoài, "remesas" trong tiếng Tây Ban Nha, từ những người Guatemala đang làm việc tại Hoa Kỳ, chủ yếu là lao động bất hợp pháp và tạm thời.
Việc ký kết hiệp ước hòa bình đã chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài hàng thập kỷ, dỡ bỏ chướng ngại cho đầu tư nước ngoài. Năm 1998, Bão Mitch gây ra thiệt hại cho Guatemala ở mức thấp so với các quốc gia láng giềng, đặc biệt là Honduras.
Những thách thức còn lại gồm tăng cường nguồn thu của chính phủ, đảm phán để có được viện trợ cao hơn nữa từ quốc tế, và tăng năng lực cũng như tính mở của chính phủ và các cơ sở tài chính tư nhân.
Năm 2005, dù có những cuộc biểu tình phản đối lớn trên đường phố, nghị viện Guatemala đã phê chuẩn Thỏa thuận Tự do Thương mại Cộng hòa Dominica-Trung Mỹ (DR-CAFTA) giữa nhiều quốc gia Trung Mỹ và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vì những thiệt hại khá lớn và ảnh hưởng tới kinh tế do cơn Bão Stan gây ra tháng 10, 2005, chính phủ đang đánh giá khả năng thực hiện các cơ cấu thỏa thuận trong tương lai và thời gian bắt đầu thực thi các điều khoản của DR-CAFTA vào tháng 2 năm 2006.
Tính đến năm 2016, GDP của Guatemala đạt 68.389 USD, đứng thứ 72 thế giới và đứng thứ 11 khu vực Mỹ Latin.
== Nhân khẩu ==
Theo World Fact Book của CIA, người Mestizo, hay như được gọi là Ladino tại Trung Mỹ, (lai người da đỏ châu Mỹ-Tây Ban Nha, hay người thuần chủng da đỏ châu Mỹ nhưng nói tiếng Tây Ban Nha) và những người có tổ tiên Âu (chủ yếu là người Tây Ban Nha, nhưng gồm cả người Đức, người Anh, người Italia, và người vùng Scandinavia) chiếm 60% dân số trong khi người da đỏ châu Mỹ chiếm xấp xỉ 40% (K'iche 9.1%, Kaqchikel 8.4%, Mam 7.9%, Q'eqchi' 6.3%, các nhóm khác Maya 8.6%, bản xứ không phải Maya 0.2%, khác 0.1%). Các nhóm dân tộc khác gồm người Garifuna là hậu duệ của các nô lệ châu Phi sống chủ yếu tại Livingston và Puerto Barrios, và những tộc người da đen và mulattos khác chiếm 1-2% dân số; người Ả rập gốc Liban và Syria, và người châu Á, chủ yếu là hậu duệ người Hán, chiếm khoảng 2% dân số. Cũng có một cộng đồng Triều Tiên tại Guatemala City và tại Mixco gần đó, hiện khoảng 50.000 người nhưng con số đang tiếp tục tăng lên.
Dù đa số dân cư Guatemala sống ở các vùng thôn quê, quá trình đô thị hoá đang tăng tốc. Guatemala City (trên 2 triệu dân) đang mở rộng với tốc độ nhanh, và Quetzaltenango, thành phố lớn thứ hai (xấp xỉ 300 ngàn dân), cũng đang mở rộng. Di cư từ nông thôn ra thành thị được thúc đẩy bởi sự sao lãng của chính phủ với vùng nông thôn, cộng thêm giá cả hàng nông sản thấp, các điều kiện lao động nặng nhọc, sự tập trung đất trồng trọt vào tay một số gia đình giàu có, và nhận thức (thường là sai lệch) về đồng lương cao sẽ có được trong các thành phố. Nói chung các nông dân nghèo thường tới những khu vực ngoại ô thành phố, sống một cuộc sống bấp bênh trên các sườn núi.
Tôn giáo chủ yếu là Cơ đốc giáo La Mã. Đạo Tin Lành và các tôn giáo Maya lần lượt được khoảng 33% và 1% người theo. Thường những lễ nghi truyền thống Maya được kết hợp vào trong các nghi lễ và tín ngưỡng Thiên chúa giáo, một quá trình được gọi là thuyết hổ lốn.
Năm 1900, dân số Guatemala là 885.000 [5]. Trong thế kỷ hai mươi dân số nước này đã tăng thêm mười bốn lần, tốc độ tăng trưởng cao nhất Tây Bán Cầu. Quá trình di cư ngày càng mạnh của người dân Guatemala sang Hoa Kỳ khiến số lượng các cộng đồng người Guatemala tại California, Florida, Illinois, New York,Texas và nhiều nơi khác không ngừng phát triển từ thập niên 1970.
== Ngôn ngữ ==
Dù ngôn ngữ chính thức là tiếng Tây Ban Nha, nó không được dùng phổ thông trong cộng đồng người bản xứ, hay chỉ được dùng như một ngôn ngữ thứ hai; 21 ngôn ngữ Maya riêng biệt vẫn được dùng, đặc biệt tại các vùng nông thôn, và tiếng Garifuna được một lượng nhỏ người ven biển Caribe sử dụng. Tiếng Xinca, một ngôn ngữ không phải Maya và gần như đã biến mất, cũng là một ngôn ngữ bản xứ Guatemala.
Hiệp định hòa bình được ký kết tháng 12 năm 1996 cho phép một số văn bản chính thức và các giấy tờ bầu cử được dịch sang các ngôn ngữ bản xứ, và giúp những người không nói tiếng Tây Ban Nha có quyền được phiên dịch tại các vụ xét xử. Hiệp định hòa bình cũng khiến cho hệ thống giáo dục song ngữ tiếng Tây Ban Nha và các loại tiếng bản xứ được đưa vào áp dụng. Tuy nhiên, việc người Guatemala nói tiếng Tây Ban Nha học hay sử dụng thêm một ngôn ngữ khác của đất nước hiếm khi xảy ra.
== Tôn giáo ==
Thời thuộc địa, Cơ đốc giáo La Mã là tôn giáo duy nhất, và hiện đây vẫn là đức tin vượt trội với khoảng hai phần ba dân chúng là giáo dân. Tuy nhiên, các giáo phái Tin lành cũng đã có sự tăng trưởng đáng kể trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt dưới thời cầm quyền của nhà độc tại đồng thời là mục sư Phúc Âm, Tướng Efraín Ríos Montt. Khoảng một phần ba người Guatemala theo Phúc Âm và Tôn giáo tin vào phép lạ.
Tôn giáo Maya truyền thống cũng ngày càng được nhiều người tin theo nhờ kết quả của chính sách bảo hộ truyền thống theo hiệp định hòa bình. Chính phủ đã đưa ra chính sách cung cấp án thờ cho mọi tàn tích Maya trong nước để làm nơi tổ chức các nghi lễ.
Ngoài ra cũng có các cộng đồng nhỏ Do Thái giáo (khoảng 1200), Hồi giáo (1200), và thành viên của các tín ngưỡng khác.
Lãnh đạo Cơ đốc giáo La Mã của Guatemala hiện nay là Ngài Álvaro Leonel Ramazzini Imeri.
== Giáo dục ==
Chính phủ điều hành một số trường tiểu học và trung học trong nước. Các trường này miễn phí, dù học sinh vẫn phải trả tiền đồng phục, sách vở, và tiền chuyên chở khiến những tầng lớp nghèo khó trong xã hội còn khó tiếp cận. Những trẻ em thuộc các gia đình trung lưu và thượng lưu theo học tại các trường tư. Một số trường gồm: Colegio Americano de Guatemala (CAG), Colegio Interamericano de Guatemala (CIG). Nước này cũng có một trường đại học công lập (Universidad de San Carlos de Guatemala), và 9 trường tư (xem Danh sách các trường Đại học tại Guatemala).
== Văn hoá ==
Giải Văn học Quốc gia Guatemala là giải chỉ trao một lần, công nhận toàn thể sự nghiệp của một nhà văn. Nó bắt đầu được Bộ Văn hóa và Thể thao trao hàng năm từ năm 1988. Guatemala City là nơi có nhiều bảo tàng và thư viện quốc gia, gồm Văn khố Quốc gia, Thư viện Quốc gia và Bảo tàng Khảo cổ học và Phong tục học với nhiều bộ sưu tập đồ thủ công Maya lớn. Bảo tàng Thuộc địa, tại Antigua Guatemala, có trưng bày nhiều đồ nghệ thuật từ thời thuộc địa.
== Các chủ đề khác ==
Viễn thông tại Guatemala
Vận tải Guatemala
Danh sách nhân vật Guatemala
Quetzal (biểu tượng quốc gia Guatemala)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Guatemala photos
Guatemalan Art
Guatemalan Literature
Encyclopaedia Britannica Guatemala - Country Facts Page
Association for the Study and Promotion of Security in a Democracy (SEDEM)
UK Foreign Office Country Profile for Guatemala
(tiếng Tây Ban Nha) Congreso de la República – Congress of the Republic of Guatemala
(tiếng Tây Ban Nha)Organismo Judicial de Guatemala Judicial Branch of Guatemala
(tiếng Tây Ban Nha) Gobierno de Guatemala Guatemalan Government Page
Instituto de Sismologia, Vulcanologia, Metereologia E Hidrologia Guatemala's Institute Of Seismology, Vulcanology, Metereology And Hydrology
Guatemala Institute of Tourism.
(tiếng Tây Ban Nha) http://www.mtcguatemala.org/
(tiếng Tây Ban Nha) Maya Spirit
Amnesty International Annual Report 2004 – Guatemala
NISGUA Network in Solidarity with the People of Guatemala |
thái nguyên.txt | Thái Nguyên là một tỉnh ở đông bắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội và là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực đông bắc hay cả Vùng trung du và miền núi phía bắc. Tỉnh Thái Nguyên được tái lập ngày 1/1/1997 với việc tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Thái Nguyên hiện đang được nghiên cứu để trở thành vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội. Thái Nguyên được coi là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
== Tên gọi ==
"Thái Nguyên" là từ Hán Việt: (太原). Thái (太) ở đây có nghĩa là to lớn hay rộng rãi, Nguyên (原) có nghĩa là cánh đồng hoặc chỗ đất rộng và bằng phẳng. Trước đây gọi là Bắc Thái.
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
Tỉnh Thái Nguyên có diện tích 3.562,82 km² phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Tỉnh Thái Nguyên trung bình cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km. Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế,giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi phía bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Việc giao lưu đã được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút.
=== Địa chất ===
Khu vực tây bắc Thái Nguyên bao gồm huyện Định Hóa và các xã phía tây của hai huyện Phú Lương, Đại Từ có lịch sử hình thành sớm nhất, thuộc chu kỳ kiến tạo sơn Caledonia bắt đầu cách đây 480 triệu năm và được hình thành xong trong đại cổ sinh cách đây 225 triệu năm. Các khu vực núi còn lại của Thái Nguyên có lịch sử địa chất trẻ hơn. Phần lớn lãnh thổ Thái Nguyên có lịch sử hình thành suốt trung sinh (bắt đầu từ cách đây 240 triệu năm và kết thúc cách đây 67 triệu năm, kéo dài trong khoảng 173 triệu năm).
Sau khi được hình thành xong (cách đây 67 triệu năm), lãnh thổ Thái Nguyên ngày nay tồn tại dưới chế độ lục địa liên tục 50 triệu năm. Với thời gian này, địa hình Thái Nguyên ngày nay được san bằng và trở thành bình nguyên. Đến kiến tạo sơn Hymalaya cách đây khoảng 25 triệu năm, do vận động nâng lên mãnh liệt, Thái Nguyên cũng được nâng cao từ 200 đến 500m, làm cho địa hình trẻ lại. Những miền được nâng cao có địa hình bị cắt xẻ, các vật liệu trầm tích trẻ, mềm bị ngoại lực bóc mòn, các núi cổ được cấu tạo bằng nham thạch cổ hơn, cứng hơn lại lộ ra, tái lập lại địa hình như lúc mới hình thành xong (cuối trung sinh).
=== Địa hình ===
Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng bắc-nam và thấp dần xuống phía nam. Cấu trúc vùng núi phía bắc chủ yếu là đa phong hóa mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ.
Phía bắc Thái Nguyên gồm rừng núi và đồng lầy. Về phía đông có những dãy núi cao nằm giữa những ngọn núi đá vôi ở phố Bình Gia. Về phía đông bắc, có cao nguyên Vũ Phái được giới hạn bởi những dãy núi đá vôi và có khu rừng núi ngăn chia Lâu Thượng và Lâu Hạ ở phương Nam. phía tây bắc Thái Nguyên có thung lũng Chợ Chu bao gồm nhiều cánh đồng và những thung lũng nhỏ. Giữa Đồn Đủ và Cổ Lương là một cánh đồng giáp với cao nguyên Trúc Thanh và Độ Tranh gồm nhiều đồi núi lan tới tận khu đồng lầy Phúc Linh.
Phía tây nam có dãy Tam Đảo dọc theo cao nguyên Văn Lang và cánh đồng Đại Từ. Tam Đảo có đỉnh cao nhất 1.591 m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng tây bắc-đông nam. Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hướng đông bắc-tây nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn cũng chạy theo hướng tây bắc-đông nam. Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác.
=== Thủy văn ===
Sông Cầu là con sông chính của tỉnh và gần như chia Thái Nguyên ra thành hai nửa bằng nhau theo chiều bắc nam. Sông bắt đầu chảy vào Thái Nguyên từ xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ và đến địa bàn xã Hà Châu, huyện Phú Bình, sông trở thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang và sau đó hoàn toàn ra khỏi địa bàn tỉnh ở xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên. Ngoài ra Thái Nguyên còn có một số sông suối khác nhưng hầu hết đều là phụ lưu của sông Cầu. Trong đó đáng kể nhất là sông Đu, sông Nghinh Tường và sông Công. Các sông tại Thái Nguyên không thuộc lưu vực sông Cầu là sông Rang và các chi lưu của nó tại huyện Võ Nhai, sông này chảy sang huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn và thuộc lưu vực sông Thương. Ngoài ra, một phần diện tích nhỏ của huyện Định Hóa thuộc thượng lưu sông Đáy. Ô nhiễm nguồn nước là một vấn đề đáng quan tâm, nhất là tình trạng ô nhiễm trên sông Cầu.
Ngoài đập sông Cầu, Thái Nguyên còn xây dựng một hệ thống kênh đào nhân tạo dài 52 km ở phía đông nam của tỉnh với tên gọi là Sông Máng, nối liền sông Cầu với sông Thương để giúp việc giao thông đường thủy và dẫn nước vào đồng ruộng được dễ dàng.
Thái Nguyên không có nhiều hồ, và nổi bật trong đó là Hồ Núi Cốc, đây là hồ nhân tạo được hình thành do việc chặn dòng sông Công. Hồ có độ sâu 35 m và diện tích mặt hồ rộng 25 km², dung tích của hồ ước tính từ 160 triệu - 200 triệu m³. Hồ được tạo ra nhằm các mục đích cung cấp nước, thoát lũ cho sông Cầu và du lịch. Hiện hồ đã có một vài khu du lịch đang được quy hoạch để trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia.
=== Cơ cấu đất đai ===
Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích là 356.282 ha. Cơ cấu đất đai gồm các loại sau:
Đất núi chiếm 48,4% diện tích tự nhiên, có độ cao trên 200 m, hình thành do sự phong hóa trên các đá Macma, đá biến chất và trầm tích. Đất núi thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng kinh doanh nhưng cũng thích hợp để trồng cây ăn quả, một phần cây lương thực cho nhân dân vùng cao.
Đất đồi chiếm 31,4% diện tích tự nhiên chủ yếu hình thành trên cát kết, bột kết phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo. Đây là vùng đất xen giữa nông và lâm nghiệp. Đất đồi tại một số vùng như Đại Từ, Phú Lương... ở từ độ cao 150 m đến 200 m có độ dốc từ 50 đến 200 phù hợp đối với cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm, đặc biệt là cây chè (trà) (một đặc sản của Thái Nguyên)
Đất ruộng chiếm 12,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó một phần phân bố dọc theo các con suối, rải rác, không tập trung, chịu sự tác động lớn của chế độ thủy văn khắc nghiệt (lũ đột ngột, hạn hán...) khó khăn cho việc canh tác.
Trong tổng quỹ đất 356.282 ha, đất đã sử dụng là 246.513 ha (chiếm 69,22% diện tích đất tự nhiên) và đất chưa sử dụng là 109.669 ha (chiếm 30,78% diện tích tự nhiên). Trong đất chưa sử dụng có 1.714 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp và 41.250 ha đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp.
=== Khí hậu ===
Nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhưng do địa hình nên khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:
Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai.
Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai.
Vùng ấm gồm: Thành phố Thái Nguyên, thành phố Sông Công, thị xã Phổ Yên và các huyện Đồng Hỷ, Phú Bình, Đại Từ.
Nhiệt độ trung bình của Thái Nguyên là 25 °C; chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9 °C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2 °C) là 13,7 °C. Tại thành phố Thái Nguyên, nhiệt độ cao nhất và thấp nhất từng được ghi nhận lần lượt là 41,5 °C và 3 °C. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm. Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp.
== Lịch sử ==
Từ xa xưa, Thái Nguyên đã là nơi sinh sống của người Việt cổ. Trên địa bàn hang Ốc thuộc xã Bình Long đã tìm được dấu tích của người tiền sử có niên đại ít nhất cách đây từ 7000 đến 8000 năm với những vỏ ốc bị chặt đuôi, xương động vật là những tàn tích thức ăn của người xưa. Từ những năm 1980, cũng tại huyện Võ Nhai, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra dấu tích của người Việt cổ tại khu vực Mái Đá Ngườm thuộc xã Thần Sa. Hàng chục ngàn hiện vật từ các hang Phiêng Tung, Mái đá Hạ Sơn I, Hạ Sơn II, hang Thắm Choong, Nà Ngùn và Mái Đá Ranh…ở Thần Sa, với những công cụ cuội được ghè đẽo như: Mảnh tước, rìu tay, công cụ chặt hình núm cuội, công cụ chặt rìa, công cụ chặt 2 lưỡi, công cụ hình sừng bò... Đặc biệt. các nhà khảo cổ đã tìm thấy 3 bộ xương người cổ được mai táng ở Mái Đá Ngườm, xóm Kim Sơn. Mái Đá Ngườm là một di chỉ quan trọng bậc nhất của khu di chỉ khảo cổ học Thần Sa với 4 địa tầng văn hóa khảo cổ, trong đó tầng thứ tư tiêu biểu cho trung kỳ Thời đại đá cũ.
Thái Nguyên xưa thuộc bộ Vũ Định, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Vào thế kỷ thứ III, Thái Nguyên thuộc huyện Vũ Định, sau đổi tên thành huyện Long Bình. Có những ý kiến cho rằng quê gốc của Lý Nam Đế là ở thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, ông tu tại chùa Hương Ấp đến năm 13 tuổi thì theo Phổ Tổ thiền sư về tu hành tại chùa Giang Xá thuộc Hoài Đức, Hà Nội. Đến thế kỷ thứ VII được gọi là huyện Vũ Bình, rồi thành châu Thái Nguyên dưới đời nhà Lý. Cuối thế kỷ 14, châu được đổi thành trấn, năm 1407 đổi lại thành châu, sang 1408 thì trở thành phủ, năm 1677 trở thành trấn. Mãi đến năm 1902, triều đình mới cử quan chức trấn nhiệm Thái Nguyên, đặt doanh sở ở Ngọc Hà.
Kể từ khi nhà Lý định đô ở Thăng Long, Thái Nguyên đã trở thành phên giậu trực tiếp che chở phía bắc kinh thành. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống năm 1076-1077, phần đất phía nam Thái Nguyên từng là địa đầu của phòng tuyến sông Cầu, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quan quân nhà Lý với Nhà Tống. Đầu thế kỷ 15, nhà Minh đem quân sang Việt Nam, dân chúng Thái Nguyên lại liên tiếp đứng lên khởi nghĩa. Tiêu biểu là Lưu Nhân Chú, người huyện Đại Từ, ông cùng cha và anh rể đã tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Vào thời nhà Nguyễn, Thái Nguyên là nơi nổ ra nhiều phong trào khởi nghĩa nông dân chống lại quan lại phong kiến. Người dân Thái Nguyên từng tham gia các cuộc khởi nghĩa của Dương Đình Cúc, Nông Văn Vân.
Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, đất Thái Nguyên là địa bàn hoạt động thường xuyên, là hậu cứ của Hoàng Hoa Thám. Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do Trịnh Văn Cấn (ông làm chức đội lính khố xanh nên còn gọi là đội Cấn) và Lương Ngọc Quyến đã nổ ra và đêm ngày 30 tháng 8 năm 1917, nghĩa quân đã chiếm được tỉnh lị. Tuy nhiên sau đó thực dân Pháp đem viện binh từ Hà Nội lên tấn công khiến nghĩa quân phải bỏ Thái Nguyên và rút về Vĩnh Yên rồi bị dập tắt sau đó. Tỉnh Thái Nguyên được thành lập vào năm Minh Mệnh thứ 12 (ngày mùng 1 tháng 10 âm lịch, tức ngày 4 tháng 11 năm 1831), tỉnh Thái Nguyên khi đó giáp với các tỉnh: Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Sơn Tây.
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiều Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ thường xuyên qua lại hoạt động, phát triển lực lượng ở Thái Nguyên. Năm 1947, Hồ Chí Minh đã tới Thái Nguyên và lãnh đạo cuộc Kháng chiến chống Pháp từ căn cứ chính tại ATK Định Hóa. Cũng tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định mở Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, Chiến cục đông-xuân 1953-1954 cũng như quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử và hàng loạt sự kiện quan trọng khác.
Từ năm 1956 đến 1975, Thái Nguyên là một tỉnh thuộc Khu tự trị Việt Bắc và thành phố Thái Nguyên là thủ phủ của khu tự trị này. Sáp nhập huyện Phổ Yên về tỉnh Vĩnh Phúc, và huyện này được cắt trả cho Thái Nguyên. Trước đó, năm 1890, chính quyền Pháp chia tỉnh Thái Nguyên thời nhà Nguyễn thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Năm 1965, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sáp nhập hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Tỉnh Bắc Thái cuối cùng lại tách thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn như ngày nay vào năm 1997.
Khi tách ra, tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính gồm: thành phố Thái Nguyên (tỉnh lị), thị xã Sông Công và 7 huyện: Đại Từ, Định Hóa, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phú Lương, Võ Nhai.
Theo Nghị quyết số 32/NQ-UBTVQH13 ngày 15 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII, thị xã Sông Công được nâng cấp thành thành phố Sông Công và huyện Phổ Yên được nâng cấp thành thị xã Phổ Yên.
== Kinh tế ==
Thái Nguyên thuộc Vùng trung du và miền núi phía bắc, một vùng được coi là nghèo và chậm phát triển nhất tại Việt Nam. Mặc dù vậy kinh tế Thái Nguyên đang dần chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng nông nghiệp đang giảm dần.
Thái Nguyên có tổ hợp Gang Thép được thành lập năm 1959, là nơi đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt đến sản xuất gang, phôi thép và cán thép. Khu công nghiệp đầu tiên của Thái Nguyên là Khu công nghiệp Sông Công và hiện tỉnh này đã được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hình thành 6 khu công nghiệp là KCN Sông Công I (220ha); KCN Sông Công II (250ha) thuộc thị xã Sông Công; KCN Nam Phổ Yên (200 ha), KCN Tây Phổ Yên (200ha) thuộc huyện Phổ Yên; KCN Điềm Thuỵ (350ha) thuộc huyện Phú Bình và KCN Quyết Thắng (200ha) thuộc thành phố Thái Nguyên, đều tập trung ở khu vực trung-nam của tỉnh. Ngoài ra, tỉnh Thái Nguyên cũng quy hoạch một số cụm công nghiệp tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh. Đến hết năm 2010 đã có 18 cụm công nghiệp được phê duyệt quy hoạch chi tiết với diện tích 620 ha (6,2 km²), trong đó diện tích đất công nghiệp là 407,6 ha (4,076 km²). Tuy nhiên nhà ở cho công nhân cũng là một vấn đề nan giải khi mà dự kiến đến năm 2015 Thái Nguyên sẽ có khoảng 163.750 công nhân, trong đó có khoảng 43.045 người có nhu cầu về nhà ở.
Tính đến năm 2010, tỉnh Thái Nguyên có tổng cộng 135 chợ, trong đó có 99 chợ nông thôn. Theo phân loại, có hai chợ loại 1, 7 chợ loại 2 và còn lại là chợ loại 3. Trong số các chợ, lớn nhất là chợ Thái, đây đồng thời cũng là chợ lớn nhất vùng Việt Bắc. Tổng diện tích sử dụng cho mạng lưới chợ của tỉnh Thái Nguyên là 476.295 m², trong đó diện tích chợ được xây dựng kiên cố là 108.559 m², chiếm 17,5%. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên còn 45 xã chưa có chợ, đa số là những xã vùng sâu, vùng xa. Tỉnh Thái Nguyên cũng quy hoạch xây mới 5 chợ tại các xã Thuận Thành (Phổ Yên), Phú Thượng (Võ Nhai), Yên Ninh (Phú Lương), Yên Lãng (Đại Từ và Thanh Ninh (Phú Bình) thành các chợ đầu mối nông sản, tương ứng với 5 cửa ngõ của tỉnh tiếp giáp tương ứng với Hà Nội, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang và Bắc Giang.
Thái Nguyên có tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, là một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng. Tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước, than mỡ trữ lượng trên 15 triệu tấn, than đá trữ lượng khoảng 90 triệu tấn; kim loại màu có thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thuỷ ngân… Khoáng sản vật liệu xây dựng cũng là tiềm năng nguyên liệu rất lớn để sản xuất xi măng, sản xuất đá ốp lát các loại và sản xuất vật liệu xây dựng. Riêng mỏ Núi Pháo trên địa bàn các xã phía đông của huyện Đại Từ được các cơ quan chuyên môn đánh giá có trữ lượng Vonfram khoảng 21 triệu tấn, lớn thứ 2 trên thế giới sau một mỏ tại Trung Quốc, ngoài ra mỏ còn có trữ lượng Flo lớn nhất thế giới khoảng 19,2 triệu tấn, và trữ lượng đáng kể bismuth, đồng, vàng và một số kim loại khác.
Trong giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Nguyên đạt trung bình 11,11% mỗi năm, trong khi giai đoạn 2001-2006 trước đó là 9,14% mỗi năm. Trong thời kỳ 2006-2010, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình quân đạt 14,91%, khu vực dịch vụ đạt 11,86% và khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản là 4,14% mỗi năm. Cơ cấu kinh tế của Thái Nguyên cũng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng của ngành nông lâm nghiệp trong GDP. Năm 2011, cơ cấu kinh tế của Thái Nguyên có tỉ lệ công nghiệp và xây dựng chiếm 41,77%; dịch vụ chiếm 36,95%, nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,28%. GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2011 dự ước đạt 22,3 triệu đồng/người, tương đương khoảng 1062 USD/người và tỉ lệ hộ nghèo giảm 2,1% so với năm 2010. Từ năm 2005 đến tháng 12 năm 2010, Thái Nguyên có 428 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký quy đổi đạt 105.000 tỷ đồng, trong đó có 16 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. GDP trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2011 ước đạt 3.352,8 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Thu nhập hàng tháng của lao động trong khu vực nhà nước do tỉnh Thái Nguyên quản lý theo kết quả sơ bộ năm 2009 là 2.527.900 đồng, thấp hơn mức trung bình cả nước cùng thời điểm là 2.867.100 đồng và của khu vực trung du miền núi phía bắc là 2.983.200 đồng. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Thái Nguyên xếp thứ 57/63 tỉnh thành. sang 2012, Thái Nguyên đã xếp ở vị trí thứ 17 Tháng 3 năm 2012, tập đoàn Samsung đã chính thức tổ chức lễ khởi công "Khu Tổ hợp Công nghệ cao" tại huyện Phổ Yên với tổng số vốn đầu tư bước đầu 2 tỷ Đô la Mỹ, dự kiến khi đi vào hoạt động sẽ có công suất thiết kế đạt khoảng 100 triệu sản phẩm mỗi năm.
== Đơn vị hành chính ==
Tỉnh Thái Nguyên được chia thành 2 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện. Các đơn vị hành chính này được chia tiếp thành 180 đơn vị hành chính cấp xã (gồm có 30 phường, 10 thị trấn, và 140 xã), trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du. Cũng như các tỉnh và thành khác của Việt Nam, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên do người dân tỉnh bầu nên, là cơ quan quyền lực nhà nước ở tỉnh. Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên hiện nay, nhiệm kỳ 2011–2016 gồm 70 đại biểu, chủ tịch là ông Vũ Hồng Bắc. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên có trụ sở tại số 18 đường Nha Trang, Chủ tịch là ông Dương Ngọc Long. Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên đang có kế hoạch xây dựng trung tâm hành chính mới ở phía tây thành phố Thái Nguyên.
== Nhân khẩu ==
Theo Niên giám thống kê 2010, dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.131.300 người, trong đó nam có 558.900 người chiếm 49,4% và nữ là 572.400 người chiếm 50,6%, tỉ số giới tính nam/nữ là 97,6/100. Tổng dân số đô thị là 293.600 người (25,95%) và tổng dân cư nông thôn là 837.700 người (74,05%). Số con trên mỗi phụ nữ là 1,9 và tỉ lệ tăng dân số là 0,53% bằng một nửa số với tỉ lệ tăng của cả nước là 1,05%.
Theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, quy mô hộ gia đình tại tỉnh Thái Nguyên là 3,4 người/hộ. Tỉ số già hóa là 39,5% và tỉ số phụ thuộc là 42,2%. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cư dân Thái Nguyên là 24 tuổi, trong đó nam là 25,7 tuổi và nữ là 22,3 tuổi, thấp hơn trung bình cả nước với các số liệu tương ứng là 24,5 tuổi, 26,2 tuổi và 22,8 tuổi. Tỷ lệ xuất cư là 30,2‰/năm còn tỷ lệ nhập cư là 39,6‰/năm. Tỉ lệ biết chữ đạt 96,5%, cao hơn mức trung bình cả nước là 93,5%. Diện tích nhà ở bình quân của Thái Nguyên là 20,1m²/người, trong đó nhà ở kiên cố đạt 61,7%, nhà ở bán kiên cố đạt 25,6%, nhà ở thiếu kiên cố đạt 4,5% và nhà ở đơn sơ đạt 8,2%. 93,7% nhà ở tại Thái Nguyên là nhà riêng. Khoảng 35,4% số người xuất cư khỏi Thái Nguyên có điểm đến là Hà Nội và 8,5% có điểm đến là Thành phố Hồ Chí Minh. Các địa phương có số người nhập cư nhiều nhất đến Thái Nguyên lần lượt là Bắc Giang, Hà Nội, Bắc Kạn và Cao Bằng.
Cũng như toàn quốc, Thái Nguyên có một dân số trẻ với nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 là 779.261 người, chiếm 69,38% tổng dân số. Nhóm tuổi dưới 15 có 249.001 người, chiếm 22,17% tổng dân số còn nhóm người trên 60 tuổi có 94.854 người, tức chiếm 8,45%
Không như nhiều tỉnh trung du miền núi phía bắc khác, tỉnh Thái Nguyên có đa số dân cư là người Kinh (73,1%), tỉ lệ người Kinh chiếm cao hơn tại tỉnh lị, thị xã Sông Công và các huyện phía nam như Phổ Yên, Phú Bình cũng như tại các khu vực ven quốc lộ, tỉnh lộ và thị trấn tại các huyện còn lại. Người Kinh ban đầu chỉ là dân tộc bản địa cư trú tại các khu vực trung du ven sông Cầu ở khu vực phía nam của tỉnh Thái Nguyên ngày nay. Vào thời nhà Trần, Lê, Nguyễn, nhiều làng xóm của người Kinh hình thành tại các khu vực phía nam của tỉnh và dân cư chủ yếu là các di dân đến từ các nơi thuộc đồng bắng Sông Hồng và Thanh Hóa ngày nay. Bên cạnh đó, khi các quan triều đình được cử đến Thái Nguyên, họ thường đem theo cả gia đình, dòng tộc tới định cư. Ngoài ra, nhiều người đến làm ăn và buôn bán rồi sau đó ở lại Thái Nguyên lập nghiệp. Đặc biệt, trong thời kỳ thuộc Pháp, rất nhiều người Kinh từ các tỉnh đồng bằng đã được chế độ thực dân đưa lên Thái Nguyên để làm việc trong các đồn điền và hầm mỏ. Trong kháng chiến chống Pháp, vì có vai trò là thủ đô kháng chiến nên số người Kinh đến Thái Nguyên ngày càng tăng. Quá trình người Kinh nhập cư đến Thái Nguyên tiếp tục tăng nhanh vào sau năm 1954, khi một số cơ sở công nghiệp lớn được hình thành và việc thực hiện chương trình "kinh tế mới". Ngay từ năm 1960, người Kinh đã chiếm 74,56% dân số tỉnh. Người Kinh ở Thái Nguyên nói chung vẫn giữ được nhiều phong tục truyền thống của cha ông tại miền xuôi, mặc dù vậy nhiều yếu tố đã bị phai nhạt, đặc biệt là ở khu vực các huyện phía bắc, họ chịu ảnh hưởng của các dân tộc thiểu số bản địa.
Dân cư Thái Nguyên phân bố không đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại dày đặc. Mật độ dân số thấp nhất là huyện Võ Nhai 72 người/km², cao nhất là thành phố Thái Nguyên với mật độ 1.260 người/km ². Theo tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, trong 10 năm (1999-2009) dân số tỉnh tăng bình quân 0,7%/năm, thấp hơn mức bình quân của cả nước là 1,2% do có nhiều người di chuyển đi các tỉnh khác, trong đó ba huyện Định Hóa, Đại Từ và Phú Bình có tăng trưởng dân số âm.
=== Thành phần dân tộc ===
Trên địa bàn tỉnh hiện có 46 dân tộc trên tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam sinh sống, trong đó 8 dân tộc đông dân nhất là:
=== Các dân tộc thiểu số ===
Năm 1999 dân tộc Tày có 106.238 người, đứng hàng thứ hai trong các dân tộc của tỉnh (chiếm 10,15%). Họ có mặt ở tất cả các huyện thị xã, thành phố trong tỉnh, tập trung đông nhất là ở huyện Định Hoá (41,1%), tiếp đến là các huyện: Phú Lương (18,6%), Đại Từ (12,7%), Võ Nhai (12,5%).
Trong quá trình phát triển tộc người, người Nùng ở Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng có hiện tượng là nhiều nhóm Nùng đến sớm đã bị Tày hoá, còn những nhóm Nùng hiện nay được biết đến thì tới Việt Nam chỉ khoảng vài trăm năm nay.
Những người Hoa đầu tiên đã có mặt ở Thái Nguyên khoảng trên dưới 150 năm. Họ là lưu dân có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây tại Trung Quốc. Tổ tiên của một bộ phận trong số họ vốn là những nông dân nghèo đói phải phiêu bạt mưu sinh, một số ít khác có thể là hậu duệ những chiến binh của phong trào Thái Bình Thiên Quốc chống lại nhà Thanh, bị đàn áp nên trốn sang Việt Nam. Khoảng những năm 60-70 của thế kỷ trước, một bộ phận người Hoa cũng chuyển từ Hà Cối (Quảng Ninh) về Thái Nguyên lập nghiệp.
Theo Tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999, người Ngái ở Thái Nguyên chỉ có 422 nhân khẩu, sinh sống phân tán ở các huyện Đại Từ (110 người, nam: 60, nữ: 50), thành phố Thái Nguyên (86 nhân khẩu, nam: 42, nữ: 44), Phổ Yên (31 nhân khẩu, nam: 21, nữ: 10). Người Ngái còn phân bố ở các huyện Phú Lương và Đồng Hỷ. Dân tộc Ngái không có các thôn bản riêng, họ sống xen kẽ với người Kinh, Tày, Hoa và Sán Dìu.
Người Sán Dìu tự gọi mình là Sán Dìu (Sán Dao/Sán Dìu, chữ Hán: 山由, Sơn Do). Các cộng đồng láng giềng gọi họ bằng nhiều tên khác nhau: Trại Đất, Trại ruộng, Mán Quần Cộc, Mán Váy Xẻ, Sán Nhiều, Slán Dao. Các nhà ngôn ngữ học xếp dân tộc Sán Dìu vào nhóm ngôn ngữ Hán, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng.
Người Dao ở Thái Nguyên thuộc 3 nhóm địa phương: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt và Dao Lô Gang. Dao Quần Chẹt tập trung chủ yếu ở huyện Đại Từ, Dao Đỏ cư trú phân tán ở huyện Phú lương và Đồng Hỷ, Dao Lô Gang tập trung ở huyện Võ Nhai. Ngoài ra, người Dao còn cư trú rải rác ở Định Hoá, Phổ Yên... Tuy thuộc 3 nhóm khác nhau nhưng đều tự gọi là Dao Đại Bản (Tầm Mả Miền), cùng nói phương ngữ Kiềm Miền
Theo số liệu của Ban chỉ đạo cuộc Tổng điều tra dân số Việt Nam năm 1979 thì vào năm này tỉnh Bắc Thái nói chung, Thái Nguyên nói riêng mới có số liệu về người H'Mông. Năm 1979, toàn tỉnh Bắc Thái có 650 người Hmông thì tại Thái Nguyên ngày nay có 644 người, trong đó gần 80% tập trung ở huyện Võ Nhai. Sau đó 10 năm (1989) dân số H'Mông ở Thái Nguyên đã lên tới 2.264 người, huyện có đông người H'Mông nhất là Đồng Hỷ tăng từ 54 người lên 1.022 người (tăng tuyệt đối 968 người), huyện Võ Nhai mặc dù đã tăng từ 513 người lên 923 người (tăng tuyệt đối 410 người) nhưng lại xuống vị trí thứ hai. Đến năm 1999, dân số Hmông trong toàn tỉnh đã lên tới 4.831 người, tăng hơn gấp đôi trong 10 năm.
Người Sán Chay bao gồm hai nhóm là Cao Lan và Sán Chí, đều là những cộng đồng mới di cư sang Việt Nam cách đây một vài trăm năm. Trong Đại Nam nhất thống chí, ở mục Phong tục tỉnh Thái Nguyên khi đề cập tới người Cao Lan có ghi: Mán Cao Lan cứ ba năm một lần thay đổi chỗ ở, không ở chỗ nào nhất định.
=== Tôn giáo ===
Cũng giống như phần lớn các tỉnh khác tại Miền Bắc Việt Nam, Thái Nguyên có đại đa số cư dân "không tôn giáo". Theo thống kê năm 2009, số người theo có tôn giáo tại tỉnh Thái Nguyên là 32.923 người, tức chiếm 2,93% tổng dân số của tỉnh. Hiện nay, Thái Nguyên có khoảng 100 chùa, gần 50 đền và khoảng 100 đình. Ðạo Tin Lành ở Thái Nguyên có từ năm 1963 và từ năm 1990 trở lại đây, tôn giáo này tiếp tục phát triển, tập trung chủ yếu vào người Mông, Dao. Thái Nguyên có 4 xứ đạo Công giáo hoạt động là: Thái Nguyên, Tân Cương, Nhã Lộng (Phú Bình) và Yên Huy (Ðại Từ), tất cả các hoạt động Công giáo ở Thái Nguyên đều do Toà giám mục Giáo phận Bắc Ninh chỉ đạo.
== Du lịch ==
Thái Nguyên từng là nơi tổ chức Năm Du lịch Quốc gia 2007 và có một số điểm du lịch nổi bật:
Khu du lịch hồ Núi Cốc, cách thành phố Thái Nguyên 20 km về phía tây (giáp dãy núi Tam Đảo) là khu du lịch lớn nhất của tỉnh. Mặt hồ rộng 25 km² và có đến 69 hòn đảo lớn nhỏ. Nơi đây đang thu hút nhiều khách trong và ngoài tỉnh đến nghỉ và tham quan. Hiện hồ đã có một vài khu du lịch đang được quy hoạch để trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia. Thái Nguyên cũng là nơi đăng cai Festival Trà Quốc tế lần thứ I từ 11-15/11/2011 tại thành phố Thái Nguyên và khu du lịch Hồ Núi Cốc.
Khu Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam với diện tích 28.000 m², đền Đội Cấn, công viên Sông Cầu tại trung tâm thành phố Thái Nguyên.
Khu du lịch hang Phượng Hoàng và suối Mỏ Gà (là suối chảy ra từ núi đá) tại huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên 45 km.
Khu di tích lịch sử an toàn khu (ATK) huyện Định Hóa. Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sinh sống nhiều năm trong Kháng chiến chống Pháp (1945-1954)
Thác nước 7 tầng Khuôn Tát, nằm trong khu di tích lịch sử ATK.
Các điểm đền chùa như đền Đuổm thờ Dương Tự Minh (Phú Lương); chùa Hang (Đồng Hỷ); chùa Phù Liễn; đền Xương Rồng (thành phố Thái Nguyên).
Khu di tích núi Văn, núi Võ được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia. Dấu tích cùng với truyền thuyết đẹp gắn với danh tướng Lưu Nhân Chú và đội nghĩa binh của ông.
Thái Nguyên có thể hình thành các tuyến du lịch nối các điểm tham quan du lịch trong tỉnh với các điểm du lịch của các tỉnh lân cận. Cụ thể như:
Thành phố Thái Nguyên-Hồ Núi Cốc, vùng chè Tân Cương - Cây đa Tân Trào (Tuyên Quang).
Thành phố Thái Nguyên - Đền Đuổm - Khu di lịch ATK Định Hoá - Hồ Ba Bể (Chợ Đồn, Bắc Kạn) - Pác Bó (Cao Bằng).
Thành phố Thái Nguyên - Chùa Hang - Hang Phượng Hoàng - suối Mỏ Gà - Động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn).
Thành phố Thái Nguyên - Tam Đảo (Vĩnh Phúc) - Hồ Đại Lải (Vĩnh Phúc).
Thành phố Thái Nguyên - Đền Hùng (Phú Thọ).
Thành phố Thái Nguyên - Côn Sơn, Yên Tử, Đền Kiếp Bạc, (Hải Dương).
Ngoài ra Thái Nguyên có nhiều dân tộc còn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc đặc sắc như dân tộc Tày, H’Mông, Dao có thể khai thác thành các điểm du lịch cho khách tham quan.
Năm 2010, tỉnh Thái Nguyên có 14 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ một đến 3 sao., trong đó có hai khách sạn có tiêu chuẩn ba sao là Khách sạn Dạ Hương II và Khách sạn Thái Dương. Số cơ sở lưu trú, nhà hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trong tỉnh tăng bình quân 15%/năm, hiện có 135 cơ sở, đáp ứng nhu cầu cho các đối tượng từ bình dân đến cao cấp với công suất phục vụ trên 3.000 lượt khách/ngày-đêm. Riêng 9 tháng đầu năm 2011, tổng số lượt khách đến Thái Nguyên đạt 1.149.100 lượt người, trong đó khách quốc tế đạt 18.360 lượt người, đạt 109% so với cùng kỳ năm trước, khách lưu trú đạt 481.800 lượt người, tổng doanh thu toàn xã hội về du lịch đạt 768 tỷ đồng, công suất sử dụng buồng phòng đạt 67%.
== Giao thông ==
Thái Nguyên hiện có 3 tuyến quốc lộ đi qua là Quốc lộ 3, Quốc lộ 1B, Quốc lộ 37. Tuyến quốc lộ 3 vốn chỉ có 2 làn xe và hiện được cho là quá tải, tuyến đường này đang được đầu tư để mở rộng song song với việc xây dựng tuyến đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên với 4 làn xe dự kiến hoàn thành vào năm 2013. Đường cao tốc có mặt đường rộng 34,5m và dài hơn 61 km có điểm đầu là Quốc lộ 1A mới thuộc xã Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) và điểm cuối là tuyến đường tránh thành phố Thái Nguyên, tuyến đường này sẽ nằm về bên phải quốc lộ 3 cũ trừ đoạn từ xã Lương Sơn (TPTN) đến tuyến đường tránh thành phố. Hiện tuyến đường đã được quy hoạch xây dựng với chiều rộng 4 km. Bên cạnh đó, tỉnh Thái Nguyên cũng nằm trong Dự án đường vành đai 5 Hà Nội, một tuyến đường đang được "nghiên cứu quy hoạch" và dự kiến đi quan nhiều tỉnh thành phố lân cận thủ đô, cũng theo nghiên cứu thì sẽ có Hầm Tam Đảo giữa hai tỉnh Thái Nguyên-Vĩnh Phúc trên tuyến đường này. Nếu dự án được khởi công và hoàn thành sẽ giảm bớt thời gian di chuyển từ tỉnh Thái Nguyên tới Vĩnh Phúc và một số tỉnh thành khác. Mặc dù từng được kỳ vọng là sẽ tiến hành khởi công hầm vào dịp Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội song cho đến nay dự án hầm vẫn chưa được triển khai Tháng 5/2011, một thông báo cho biết tỉnh Thái Nguyên là một trong hai tỉnh duy nhất có số người chết do tai nạn giao thông gia tăng liên tiếp trong 3 năm liền (tỉnh còn lại là Kiên Giang) Thái Nguyên trong thời gian gần đây cũng được một số báo chí phản ánh về nạn "mãi lộ" và "làm luật" trong đội ngũ Cảnh sát giao thông được cho là ở mức độ cao và nghiêm trọng so với các tỉnh khác.
Thái Nguyên cũng có một số tỉnh lộ, trong đó nổi bật là như tỉnh lộ 261 kết nối hai huyện Đại Từ và Phổ Yên, tỉnh lộ 260 kết nối phía tây thành phố Thái Nguyên và huyện Đại Từ, tỉnh lộ 264 kết nối hai huyện Định Hóa và Đại Từ, tỉnh lộ 254 kết nối huyện Định Hóa với Quốc lộ 3. Ngoài ra còn có các tỉnh lộ 242, 259, 262. Thái Nguyên là một trong những địa phương đi đầu cả nước về phong trào vận động nhân dân hiến đất giải phóng mặt bằng để làm đường giao thông, do vậy, kinh phí để hoàn thành các tuyến đường đã được giảm xuống.
Toàn tỉnh Thái Nguyên có 3.422,7 km đường bộ. Trong đó đường do Trung ương quản lý dài 80,1 km, chiếm 2,34%; đường do tỉnh quản lý dài 271 km, chiếm 7,91%; đường do huyện quản lý dài 759,6 km, chiếm 22,19%; đường do xã quản lý dài 2.312 km, chiếm 67,54%. Về chất lượng, đường cấp phối, đường đá dăm là 350,5 km, chiếm 10%; đường nhựa và bê tông nhựa là 379,7 km, chiếm 11%; đường đất là 2.692,7 km, chiếm 79%. Hiện nay, 100% số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đều có đường ô tô đến trung tâm.
Về đường sắt, tỉnh có tuyến đường sắt Hà Nội - Quan Triều hay còn gọi là tuyến đường sắt Hà Thái; tuyến đường sắt Quan Triều - Núi Hồng dài 33,5 km chỉ sử dụng để chuyên chở khoáng sản. Tuyến đường sắt Kép - Lưu Xá (Lạng Giang, Bắc Giang) được xây dựng trong thời chiến tranh để nhận viện trợ của các nước XHCN nay gần như bị bỏ không, cộng thêm hệ thống đường sắt nội bộ trong khu Gang Thép. Do là tỉnh trung du nên giao thông đường sông của tỉnh chủ yếu chỉ phát triển ở sông Cầu và sông Công đoạn cuối nguồn thuộc tỉnh, dự án Cụm cảng Đa Phúc đang được xây dựng tại huyện Phổ Yên và được mong đợi có thể kết nối đến cảng Hải Phòng.
Tỉnh Thái Nguyên hiện có nhiều tuyến xe buýt đi tới tất cả các huyện trong tỉnh, bao gồm:
Tân Long - TPTN - Sông Công - Đa Phúc - Phố Nỷ (Sóc Sơn, Hà Nội)
A Gang Thép (TPTN) - Đường Cách mạng tháng Tám - Trung tâm TPTN - Yên Lãng (Đại Từ)
B Gang Thép (TPTN) - Quốc lộ 3 - Đường tránh TPTN - Tân Long (TPTN)- Yên Lãng (Đại Từ)
Chợ Thái (TPTN)- Hồ Núi Cốc - TT Đại Từ - Ký Phú
TP Sông Công - TP Thái Nguyên - Đồng Hỷ
Tân Long (TPTN) - Phú Bình - Cầu Ca
TP Thái Nguyên - Phú Lương - Định Hóa
Quyết Thắng (TPTN) - Đồng Hỷ - Đình Cả (Võ Nhai)
TP Sông Công - TX Phổ Yên - Phố Nỷ (Sóc Sơn, Hà Nội)
TT Trại Cau (Đồng Hỷ) - Thịnh Đán, Thịnh Đức (TPTN) - TP Sông Công - P. Bãi Bông (TX Phổ Yên)
Thịnh Đán (TP.Thái Nguyên) - P. Ba Hàng (TX Phổ Yên) - Quân Chu (Đại Từ)
== Giáo dục ==
Tỉnh Thái Nguyên được coi là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trên địa bàn tỉnh hiện có Đại học Thái Nguyên, đây là một trường đại học cấp vùng của khu vực trung du, miền núi phía bắc và được thành lập vào năm 1994, đại học bao gồm nhiều đơn vị thành viên như: Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Nông lâm, Trường Đại học Y dược, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Khoa học, Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật, Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông, Khoa Quốc tế, Khoa Ngoại ngữ, Trung tâm học liệu, Trung tâm giáo dục quốc phòng và một số đơn vị trực thuộc khác. Tổng số sinh viên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ước tính vào khoảng trên 150.000 người. Ngoài ra, Trường Đại học Việt Bắc, một trường đại học tư thục cũng đã được thành lập trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên vào tháng 8 năm 2011.
Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cũng có 10 trường cao đẳng khác như: Cao đẳng kinh tế - tài chính Thái Nguyên, Cao đẳng thương mại - du lịch Thái Nguyên, Cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên, Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, Cao đẳng sư phạm Thái Nguyên, Trường Đại học Công nghệ giao thông vận tải, Trường Cao đẳng cơ khí luyện kim, Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Việt Bắc, Cao đẳng công nghiệp Việt-Đức, Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp cùng nhiều cơ sở giáo dục bậc cao đẳng nghề và trung cấp khác.
Năm 2009, Thái Nguyên có 441 trường phổ thông, trong đó có 227 trường tiểu học, 181 trường trung học cơ sở, 33 trường trung học phổ thông. Số học sinh phổ thông là 184.505 người với 6243 phòng học. Số giáo viên giảng dạy tại bậc phổ thông là 10748 người.
== Y tế ==
Theo thống kê năm 2010, tỉnh Thái Nguyên có 1 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế là Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, cùng với 15 bệnh viện trực thuộc sở y tế tỉnh, 13 phòng khám khu vực và 180 trạm y tế. Tổng số giường bệnh do Bộ y tế quản lý là gần 1000 giường, Sở Y tế tỉnh quản lý là 3300 giường trong đó 2120 giường tại các bệnh viện Cũng trong năm 2010, Bộ Y tế quản lý 856 cán bộ của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên - trong đó có 5 PGS-TS, 8 tiến sĩ, 14 bác sĩ chuyên khoa II, 61 thạc sĩ, 40 bác sĩ và dược sĩ chuyên khoa I; Sở y tế tỉnh Thái Nguyên quản lý 771 bác sĩ, 564 y sĩ, 1392 y tá và 207 nữ hộ sinh. Sở y tế tỉnh Thái Nguyên cũng có 55 dược sĩ cao cấp, 223 dược sĩ trung cấp và 72 dược tá. Dưới đây là thống kê các bệnh viện, trung tâm y tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên:
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên (bệnh viện đa khoa hạng I tuyến Trung ương trực thuộc Bộ Y tế)
Bệnh viện Quân đội 91 (trực thuộc Quân khu I)
Bệnh viện A (Là BV đa khoa hạng I tuyến tỉnh)
Bệnh viện C (Là BV đa khoa hạng I tuyến tỉnh)
Bệnh viện Gang Thép (Là BV đa khoa hạng II tuyến tỉnh)
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên (trực thuộc Đại học Thái Nguyên)
Các bệnh viện, trung tâm y tế chuyên khoa tuyến tỉnh:
Bệnh viện Tâm thần
Bệnh viện Mắt Thái Nguyên
Bệnh viện Y học cổ truyền Thái Nguyên
Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi Chức năng
Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình
Bệnh viện Lao và Phổi Thái Nguyên
Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS và Da liễu
Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản
Các bệnh viện tư nhân:
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm
Bệnh viện Đa khoa An Phú
Bệnh viện Đa khoa Việt Bắc
Bệnh viện Quốc tế Thái Nguyên
Các bệnh viện tuyến huyện:
Trung tâm Y tế Thành phố Thái Nguyên
Trung tâm Y tế Thành phố Sông Công
Bệnh viện Đa khoa Thị xã Phổ Yên
Bệnh viện Đa khoa Huyện Đại Từ
Bệnh viện Đa khoa Huyện Định Hóa
Bệnh viện Đa khoa Huyện Đồng Hỷ
Bệnh viện Đa khoa HuyệnPhú Lương
Bệnh viện Đa khoa Huyện Phú Bình
Bệnh viện Đa khoa Huyện Võ Nhai
|| |- |}
== Ẩm thực ==
Là địa bàn có nhiều dân tộc cùng sinh sống, cư dân trong tỉnh lại có nguồn gốc đa dạng nên ẩm thực tại tỉnh Thái Nguyên cũng khá phong phú. Một số dân tộc thiểu số trong tỉnh thường làm "xôi thập cẩm" có nhiều màu sắc trong các dịp lễ tết, các màu sắc đều được nhuộm từ các loại lá cây tự nhiên bằng một số công thức khác nhau có thể lấy ví dụ như xôi màu tím sẽ được ngâm vào chậu nước lá cây gạo cẩm trộn với nước gio, xôi màu vàng được ngâm vào chậu nước nghệ. Trên địa bàn huyện Định Hóa ở phía tây bắc tỉnh có đặc sản là cơm lam, được làm bằng cách cho gạo nếp đã ngâm vào ống nứa, cho thêm nước rồi nút lại bằng lá chuối non sau đó đem hơ trên ngọn lửa. Cơm nếp lam có thể để được cả tuần mà không bị thiu hay vữa. Cũng trên địa bàn huyện miền núi Định Hóa, một loại gạo đặc sản mang tên "Gạo Bao Thai Định Hoá" đã được bảo vệ nhãn hiệu tập thể từ năm 2007. Làng bánh chưng Bờ Đậu nằm ven quốc lộ 3 và quốc lộ 37 thuộc địa bàn xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương không chỉ nổi tiếng ở tỉnh Thái Nguyên mà còn được nhiều nơi khác biết đến vào mỗi dịp tết đến xuân về. Những năm gần đây, bánh chưng Bờ Đậu còn vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam. Bánh chưng Bờ Đậu được làm từ gạo nếp thuần chủng và lá dong nếp lấy từ trên rừng huyện Định Hóa, nước để làm bánh là nguồn tự nhiên ở địa phương được lấy từ những giếng khơi trên núi.
Chè (Trà) Thái Nguyên nổi tiếng trên khắp Việt Nam và được tôn vinh là một trong hai loại trà ngon nhất nước và cũng được mệnh danh là "Thủ đô Chè Việt Nam". Trong đó, trà tại vùng Tân Cương, một xã phía tây thành phố Thái Nguyên được đánh giá cao nhất. Giống chè tại Thái Nguyên được ông Đội Năm, tên thật là Võ Văn Thiệt di thực về vùng này khoảng năm 1920-1922 và vườn chè cổ nay đã 87 tuổi.
== Thể thao ==
Sân vận động Thái Nguyên và nhà thi đấu Thái Nguyên nằm ở khu vực trung tâm thành phố là những nơi tổ chức các hoạt động thể thao và văn hóa-xã hội của tỉnh. Câu lạc bộ bóng đá nữ Gang Thép Thái Nguyên là một trong sáu đội bóng tham dự Giải vô địch bóng đá nữ Việt Nam.
== Xem thêm ==
Báo Thái Nguyên
Đài phát thanh - truyền hình Thái Nguyên
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Khởi nghĩa Thái Nguyên
== Liên kết ngoài ==
Cổng thông tin điện tử Thái Nguyên
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên
Báo Thái Nguyên
Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên
Ban quản lý các khu công nghiệp Thái Nguyên
Quyết định 48/2014/QĐ-UBND quản lý bảo vệ phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh tại Thái Nguyên
== Chú thích == |
polo.txt | Polo hay còn gọi là Mã cầu (tiếng Ba Tư: چوگان, chowgan) là một môn thể thao đồng đội. Trong môn này, người chơi ngồi trên lưng ngựa và có nhiệm vụ ghi bàn để giành chiến thắng trước đội đối phương. Người chơi ghi bàn bằng cách dùng một cái vồ có cán dài điều khiển một quả bóng bằng nhựa trắng hoặc bằng gỗ vào cầu môn đối phương. Polo truyền thống được chơi ở tốc độ cao, trên một sân cỏ rộng hình chữ nhật, dài 300 yard, rộng 160 yard. Mỗi đội bao gồm 4 người chơi cưỡi trên 4 con ngựa. Polo trên sân (field polo) được chơi với một quả bóng bằng nhựa cứng thay vì bằng gỗ. Polo chơi trong đấu trường (arena polo) chỉ có 3 người chơi mỗi đội, thường là để diễn tập hoặc chỉ là nhưng trận đấu ngắn ở tốc độ thấp hơn do không gian hạn chế của đấu trường; quả bóng được dùng trong thể loại này là một quả bóng nhỏ bơm hơi, tương tụ một quả bóng đá nhỏ. Một trận polo hiện đại kéo dài khoảng 2 giờ và được chia thành những khoảng thời gian gọi là "chukka" (dài 7 phút rưỡi). Polo được chơi chuyên nghiệp ở 16 quốc gia.
Polo nhiều khi được coi là môn thể thao quý tộc, "The Sport of Kings". Người Ba Tư chơi môn này đầu tiên và nó rất phổ biến ở Iran cho đến năm 1979, sau đó do cuộc Cách mạng Hồi giáo mà tính phổ biến của nó ở đây đã giảm đi nhiều.
Trong quá khứ, polo từng là một môn thể thao Olympic.
== Tham khảo == |
thời kỳ băng hà cuối cùng.txt | Thời kỳ băng hà cuối cùng là thời kỳ băng hà gần đây nhất trong kỷ băng hà hiện tại diễn ra trong thời kỳ cuối của thế Pleistocen từ cách đây ≈110.000 đến 10.000 năm trước.
Khí hậu Trái Đất trong giai đoạn này tiếp tục rơi vào cảnh băng giá, lạnh lẽo trong một thời gian dài. Nhiệt độ vẫn rất thấp dù không lạnh bằng những kỷ băng hà trước đó. Băng tuyết lúc đó đã lấn xuống sát đường xích đạo. Trong thời kỳ này có nhiều biến động về sự phát triển và rút lui của băng. Giai đoạn phát triển cực đại băng hà cuối cùng cách đây khoảng 18.000 năm. Trong khi các yếu tố lạnh đi và đóng băng trên toàn cầu khá tương đồng thì có nhiều dấu hiệu khác nhau trong phạm vi khu vực đã gây ra nhiều khó khăn trong việc liên hệ đối sánh chi tiết giữa các lục địa.
Trên quan điểm tiến hóa của loài người, thì thời kỳ này tương đương với thời kỳ đồ đá cũ và thời kỳ đồ đá giữa. Trong thời kì băng hà này, thực vật rất hiếm. Nhiều quần thể động vật sinh sống trong thời kì khắc nghiệt này như voi ma mút, hổ răng kiếm và nhiều động vật lớp Thú phát triển rất mạnh. Con người cũng đã ra đời và bắt đầu biết cầm nắm đồ vật để đi săn, nhờ đó mà thích nghi được với môi trường. Khi kỷ băng hà cuối cùng kết thúc, một số động vật bị tuyệt chủng, còn con người thì vẫn tiếp tục tiến hóa.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
National Atlas of the USA: Wisconsin Glaciation in North America: Present state of knowledge |
vật cưng.txt | Vật cưng hay thú kiểng, thú cảnh, thú cưng là những loài động vật được nuôi để làm cảnh, ôm ấp, nâng niu chăm sóc của con người trái ngược với động vật dùng để lao động (lấy sức kéo như trâu, bò, lừa, ngựa, chó kéo xe) trong thể thao (chó, bò, ngựa), trong phòng thí nghiệm (chuột bạch, thỏ nhà) hay những loài vật được nuôi để lấy thịt, trứng và các sản phẩm từ chúng.
Vật cưng phổ biến nhất được ghi nhận xuất hiện như là một niềm vui, an ủi của con người. vật cưng thường dùng để làm niềm vui cho chủ sở hữu (hoặc người giám hộ, coi sóc) giúp họ giải tỏa về cảm xúc. vật cưng có thể giúp cho đồng cho người lớn tuổi và những người không có tương tác xã hội đầy đủ với những người khác để giúp họ đỡ buồn.
== Một số loài ==
=== Phổ biến ===
vật cưng phổ biến nhất là chó và mèo và thỏ nhà con vật nhỏ nhắn mà con người dành nhiều tình cảm hơn. Một số loài gặm nhấm như chuột nhảy, chuột đồng, chinchillas, chuột cảnh, và chuột lang nhà, vật cưng là gia cầm như chim hoàng yến, chim yến hót, vẹt, vật cưng loài bò sát, chẳng hạn như rùa, thằn lằn và rắn, vật cưng thủy sản chẳng hạn như cá cảnh và ếch và vật cưng động vật chân đốt như nhện và cua, thậm chí có người còn nuôi hổ như là vật cưng.
=== Các loài độc ===
Ở Việt Nam, thú nuôi chó, mèo, cá cảnh... đã quá phổ biến với giới trẻ, để chứng tỏ đẳng cấp, nhiều bạn trẻ sẵn sàng chi hàng triệu đồng cho sở thích nuôi thú cưng. Ngoài những con vật hiền lành, đẹp mắt, teen còn săn lùng những loài cá tính mạnh như rết khổng lồ, rắn sữa, nhện sát thủ, rồng đất... Thú cưng càng quái, càng độc càng thể hiện độ chơi của chủ nhân và nhiều trong số những con vật cưng này có giá trị rất lớn. Một số loài thú cưng giá trị:
Rắn phong thủy gồm 3 dòng rắn được bán làm cảnh nhiều nhất đó là rắn ngô (corn snake), rắn sữa (milk snake) và rắn chúa (king snake). Đây là những dòng rắn ngoại nhập, nguồn chủ yếu từ Thái Lan, không thuộc dòng rắn có nọc độc, có hình dáng nhỏ nhắn, màu sắc đẹp.
Sóc bay với kích thước nhỏ, hình dáng giống sóc, nhưng lại có khả năng bay lượn trong không khí như chim, những chú sóc bay đang dần trở thành thú chơi thời thượng. Có nguồn gốc từ Úc, những sinh vật nhỏ dễ thương biết bay có thể dễ dàng di chuyển từ cây này qua cây khác.
Nhện độc Nam Mỹ Tarantulas với đường kính trung bình tầm 10 cm có thể lên đến hơn 1 triệu đồng/con, chưa kể các loại chi phí như làm chuồng nuôi, thức ăn... cho nhện. Loài nhện này sống ở vùng khí hậu nhiệt đới, có tuổi thọ của loài nhện này tùy thuộc vào giới tính của chúng, ở nhện đực là 3-5 năm còn ở nhện cái là 8-15 năm.
Khỉ Marmoset là loài khỉ nhỏ, sinh sống hầu hết ở khu vực Nam Mỹ. Chúng là những giống loài thuộc bộ linh trưởng. Hầu hết các loại khỉ xinh xắn này đều có nguy cơ tiệt chủng. Có dáng vẻ xinh xắn, đáng yêu nên người nuôi rất thích nâng niu, vuốt ve chúng trên tay, cho khỉ con bú bình.
Nhím kiểng (tên tiếng Anh là Hedgehog), nhím kiểng có xuất xứ châu Á, châu Âu, châu Phi, New Zealand. Chúng hoạt động chủ yếu vào lúc đêm khuya. Thức ăn của nhím kiểng rất đơn giản, có thể là những loại côn trùng như châu chấu, kiến, mối... hoặc thức ăn đóng hộp dành cho mèo. Chúng có tuổi thọ trung bình 4 năm tuổi. Chu kì sống cao nhất kỉ lục đến 9 năm tuổi. Tuổi thọ đa số đạt 4 -6 năm tuổi.
Rồng đất. Khác với các loại rồng đất nuôi để lấy thịt, giá phụ thuộc vào cân nặng, kích thước, rồng đất cảnh được đánh giá cao nhờ hình dáng, màu sắc. Rồng đất càng màu sắc, dáng thanh thì giá trị càng cao
Rết khổng lồ, Mỗi con rết dài từ 15–20 cm, được nuôi trong tủ kính lớn hoặc trong các chai, lọ thủy tinh để hở nắp. Nuôi loài này khá dễ, chỉ cần đảm bảo đủ không khí, nước và ít mồi, là rết có thể sống được trong chai đến hai tháng.
Rồng Úc là loài bò sát dễ thương, có tên khoa học là Pogona barbata - Pogona vitticeps. Những con rồng Úc rất linh động, ăn nhiều, vì vậy người nuôi cần bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho sự phát triển mạnh mẽ của chúng. Trong vòng vài tháng đầu đời một con rồng Úc có thể phát triển cơ thể gấp 3-4 lần.
Ếch Pacman là vật cưng gây sốt khi nhiều bạn trẻ sẵn sàng bỏ ra 500.000 đồng để sở hữu chú ếch có nguồn gốc Nam Mỹ. với thân hình tròn ngộ nghĩnh, miệng rộng ngoác và màu sắc khá rực rỡ. Chúng được đánh giá là một con vật khá dễ nuôi. Chúng là loài rất phàm ăn. Đồ ăn ưa thích của chúng là cá, côn trùng và cả chuột con.
Thỏ sư tử (Lionhead rabbit) có xuất xứ ở các nước Hà Lan, Mỹ, Bỉ dễ thương, màu sắc phong phú, đa dạng. Khác với dáng vẻ các loại thỏ thông thường, thỏ sư tử có khuôn mặt dữ tợn, lông xù và có cả bờm sư tử. Mỗi khi chúng dựng lông trông y hệt một chú sư tử con.
Giông Axolotl được dân chơi cá cảnh, sinh vật cảnh gọi với cái tên "khủng long 6 sừng" luôn là hàng hiếm trên thị trường vì độ chơi và tính đỏng đảnh, mốt chơi giông Axolotl được dân mê sinh vật cảnh rỉ tai nhau từ năm 2010, ban đầu rộ lên tại khu vực phía Nam, sau này lan ra Bắc.
Vịt uyên ương, Uyên ương trống (còn gọi là uyên) có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn. Nó có mỏ đỏ, vệt lông hình lưỡi liềm lớn màu trắng phía trên mắt và mặt đỏ cùng.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Chim cảnh
Cá cảnh
Chó cảnh
Mèo cảnh
Chuột cảnh
Gà kiểng
Chuột lang nhà |
vườn quốc gia corcovado (chile).txt | Vườn quốc gia Corcovado là một vườn quốc gia nằm ở tỉnh Palena, thuộc vùng Los Lagos của Chile. Nó có diện tích 726.000 mẫu Anh (2.940 km2) bao gồm các khu Rừng mưa ôn đới Valdivian, đỉnh núi cao, hồ trên núi cao, và sông. Phía tây của vườn quốc gia là hai ngọn núi lửa mang tính biểu tượng của vườn quốc gia là núi Corcovado và Yanteles
Được thành lập vào năm 2004 bởi tổng thống Ricardo Lagos Escobar, đây là vườn quốc gia lớn thứ 4 tại Chile. Vườn quốc gia bao gồm khoảng 82 hồ được bao quanh bởi các khu rừng nguyên sinh. Đây là khu vực có sự đa dạng sinh học đáng kể với 18 loài thú, 64 loài chim và 133 loài thực vật. Các cửa sông nước lợ, nơi các con sông Corcovado và Tic Toc đổ ra Vịnh Corcovado là môi trường sống đặc biệt cho các loài động vật hoang dã. Nó là vườn ươm quan trọng đối với loài cá voi xanh cùng số lượng lớn hải cẩu, sư tử biển có mặt tại đây. Vùng biển liền kề đang được đề xuất để trở thành vườn quốc gia biển đầu tiên của Chile, đảm bảo tính liên tục cho việc bảo tồn từ đỉnh núi xuống đến đáy đại dương.
== Xem thêm ==
Núi lửa Corcovado
Dự án Alfaguara
== Tham khảo ==
(tiếng Tây Ban Nha) Parque Nacional Corcovado
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
tên lửa đất đối không.txt | Tên lửa đất đối không (tiếng Anh: surface-to-air missile hay SAM) là một loại đạn tự hành được thiết kế có thể phóng lên từ mặt đất để tiêu diệt các loại máy bay, hay bất cứ vật thể bay nào. Nó là một kiểu của hệ thống chống phi cơ.
Tên lửa đất đối không có thể được phóng lên từ những căn cứ cố định dưới mặt đất, từ những bệ phóng di động hay có thể đặt trên tàu sân bay. Những tên lửa đất đối không nhỏ nhất đã được chế tạo và phát triển bởi Liên Xô, chúng có thể được vận chuyển dễ dàng và sử dụng bởi chỉ một người. Những tên lửa của Liên Xô này đã được xuất khẩu sang rất nhiều nước trên thế giới và ngày nay vẫn còn rất nhiều khách hàng của loại tên lửa này.
== Ra đa dẫn đường ==
Akash - Ấn Độ
Arrow - Israel
Aster - Anh/Pháp/Italy
Bloodhound - Anh
Crotale - Pháp
Phóng từ mặt đất AMRAAM - NASAMS (AIM-120 AMRAAM AAM) -
Phóng từ mặt đất AMRAAM - CLAWS (AIM-120 AMRAAM AAM) -
Phóng từ mặt đất AMRAAM - SLAMRAAM (AIM-120 AMRAAM AAM) - Mỹ
Hongqi-9 - Trung Quốc
MEADS - Mỹ/Đức/Ý
MIM-3 Nike Ajax - Mỹ
MIM-14 Nike Hercules - Mỹ
MIM-23 Hawk - Mỹ
MIM-72 Chaparral FAADS
MIM-104 Patriot - Mỹ
MIM-146 ADATS - Canada
Nike Zeus - Mỹ
BAe Blindfire Rapier - Anh
RIM-2 Terrier - Hải quân Hoa Kỳ
RIM-7 Sparrow - Hải quân Hoa Kỳ
RIM-24 Tartar - Hải quân Hoa Kỳ
RIM-66 Standard Missile-1 - Hải quân Hoa Kỳ
RIM-67 Standard Missile-2 - Hải quân Hoa Kỳ
RIM-156 Standard Missile-2ER - Hải quân Hoa Kỳ
RIM-161 Standard Missile-3 - Hải quân Hoa Kỳ
RIM-162 Evolved SeaSparrow Missile - Hải quân Hoa Kỳ
Roland - Pháp/Đức
SA-1 'Guild' - Liên Xô
SAM-2 - Liên Xô
SA-3 'Goa' - Liên Xô
SA-4 'Ganef' - Liên Xô
SA-5 'Gammon' - Liên Xô
SA-6 'Gainful' - Liên Xô
SA-8 'Gecko - Liên Xô
SA-10 'Grumble' - Liên Xô
SA-11 'Gadfly' - Liên Xô
SA-12A 'Gladiator'/SA-12B 'Giant' - Liên Xô
SA-15 'Gauntlet' - Liên Xô
SA-17 'Grizzly' - Liên Xô
SA-19 'Grisom' - Liên Xô
SA-20 'Triumf' - Nga
Sea Cat - Anh
Sea Dart - Anh
Sea Slug - Anh
Sea Wolf - Anh
Thunderbird - Anh
Tên lửa Trishul - Ấn Độ
Những kiểu khác:
Patriot, SA-10, SA-12 và SA-20 sử dụng radar dẫn đường track-via-missile.
SA-1, SA-2, SA-3, SA-6 và SA-15 sử dụng radar dẫn đường điều khiển.
SA-5 sử dụng radar dẫn đường điều khiển với radar điều khiển chủ động giai đoạn cuối.
SA-4, SA-11 và SA-17 sử dụng radar điều khiển với radar điều khiển bán chủ động giai đoạn cuối.
SA-8 sử dụng dẫn đường line-of-sight điều khiển bán chủ động (SACLOS).
== IR-chỉ dẫn của SAM ==
Anza MK-I - Pakistan
Anza MK-II - Pakistan
Anza MK-III - Pakistan
CA 94 - România
CA 95 - Romania
Chaparral - Hoa Kỳ (đây là một phiên bản phóng từ mặt đất của AIM-9 Sidewinder AAM)
Enzian - Đức (thời Chiến tranh thế giới thứ hai)
FIM-43 Redeye - Hoa Kỳ
FIM-92 Stinger - Hoa Kỳ
Hongqi-7 - Trung Quốc
Igla - Nga
Mistral - Pháp
RIM-116 Rolling Airframe Missile - Mỹ/Đức, cũng có radar thụ động dẫn đường giai đoạn đầu (ESM)
SA-7 'Grail' - Liên Xô
SA-9 'Gaskin - Liên Xô
SA-13 'Gopher' - Liên Xô
SA-14 'Gremlin' - Liên Xô
SA-16 'Gimlet' - Liên Xô
SA-18 'Grouse' - Liên Xô
Type 91 - Nhật Bản
Umkhonto-IR - Nam Phi
== Xem thêm ==
Rest-of-World Missile Systems from the Federation of American Scientists website
== Tham khảo == |
axit clohydric.txt | Axit clohydric (bắt nguồn từ tiếng Pháp acide chlorhydrique) hay axit muriatic là một axit vô cơ mạnh, tạo ra từ sự hòa tan của khí hydro clorua (HCl) trong nước. Ban đầu axit này được sản xuất từ axit sunfuric và muối ăn vào thời Phục Hưng, thậm chí từ thời Trung Cổ, sau đó được các nhà hóa học Glauber, Priestley và Davy sử dụng trong các nghiên cứu khoa học của họ. Axit clohydric được tìm thấy trong dịch vị, và cũng là một trong những yếu tố gây bệnh loét dạ dày khi hệ thống tự bảo vệ của dạ dày hoạt động không hiệu quả.
Axit clohydric đậm đặc nhất có nồng độ tối đa là 40%. Ở dạng đậm đặc axit này có thể tạo thành các sương mù axit, chúng đều có khả năng ăn mòn các mô con người, gây tổn thương cơ quan hô hấp, mắt, da và ruột. Ở dạng loãng, axit clohydric cũng được sử dụng làm chất vệ sinh, lau chùi nhà cửa, sản xuất gelatin và các phụ gia thực phẩm, tẩy gỉ, và xử lý da. Axit clohydric dạng hỗn hợp đẳng phí (gần 20,2%) có thể được dùng như một tiêu chuẩn cơ bản trong phân tích định lượng.
Axit clohydric được sản xuất với quy mô lớn vào cách mạng công nghiệp thế kỷ 18, chủ yếu được sử dụng trong ngành công nghiệp hóa chất để sản xuất nhựa PVC, và các sản phẩm trung gian như MDI/TDI để tạo ra polyuretan. Có khoảng 20 triệu tấn axit clohydric được sản xuất hàng năm.
== Từ nguyên ==
Axit clohydric được các nhà giả kim thuật châu Âu gọi là dung dịch muối (spirits of salt) hay acidum salis (axit muối). Cả hai tên vẫn còn đang sử dụng, đặc biệt là trong các ngôn ngữ ngoài tiếng Anh như tiếng Đức: Salzsäure và tiếng Hà Lan: Zoutzuur. Khí HCl được gọi là khí axit biển (marine acid air). Tên cũ là axit muriatic (muriatic acid) có cùng nguồn gốc (muriatic nghĩa là "liên quan đến nước muối hay muối"), và tên gọi này thỉnh thoảng vẫn còn được sử dụng.
== Lịch sử ==
Không có nhiều tài liệu rõ ràng cho thấy axit clohydric được điều chế vào thời kỳ Trung cổ. Có vẻ như nguồn đầu tiên đề cập đến việc điều chế vào thế kỷ 15 và 16, nhưng vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Một số tác giả vẫn giữ quan điểm rằng axit này được Basil Valentine, thầy tu dòng Be-ne-dict Đức, phát hiện vào thế kỷ 15, bằng cách nung muối ăn (NaCl) và axit sunfuric (H2SO4) lục. Nước cường toan, một hỗn hợp giữa axit nitric và axit clohydric đã được mô tả bởi nhà giả kim thuật châu Âu thế kỷ 13 Pseudo-Geber (Paul of Taranto).
Vào thế kỷ 17, Johann Rudolf Glauber ở Karlstadt am Main, Đức, đã sử dụng muối ăn và axit sunfuric để điều chế natri sunfat Na2SO4 bằng phản ứng Mannheim giải phóng khí hiđro clorua. Joseph Priestley ở Leeds, Anh đã tạo ra hiđro chlorua tinh khiết năm 1772, và vào năm 1818 Humphry Davy ở Penzance, Anh đã chứng minh rằng thành phần hóa học bao gồm hiđro và clo. Phản ứng Mannheim được mô tả như sau:
2 NaCl + H2SO4 → Na2SO4 + 2 HCl
Trong suốt thời kỳ cách mạng công nghiệp ở châu Âu, nhu cầu kiềm tăng, một phương pháp điều chế công nghiệp do Nicolas Leblanc (ở Issoundun, France) đề xuất đã cho phép sản suất natri cacbonat (NaCO3 - tro soda) với số lượng lớn và giá rẻ. Theo công nghệ Leblanc, muối ăn được chuyển thành tro soda từ axit sunfuric và than, đồng thời giải phóng hiđro clorua. Trước khi có đạo luật Alkali 1863 ở Anh và các chính sách tương tự ở các quốc gia khác, lượng HCl dư được thải vào không khí. Sau khi thông qua đạo luật, các nhà sản xuất tro soda dùng nước để hấp thụ khí này, đồng thời sản xuất axit clohiđric theo quy mô công nghiệp.
Trong thế kỷ 20, công nghệ Leblanc được thay thế hoàn toàn bởi công nghệ Solvay không tạo ra sản phẩm axit clohiđric. Vì axit clohiđric đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nên nhu cầu thương mại cần có các phương pháp khác để sản xuất nó, một số trong các phương pháp này vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay. Sau năm 2000, axit clohiđric hầu hết được sản xuất bằng cách hấp thụ khí hiđro clorua từ việc sản xuất các hợp chất hữu cơ công nghiệp.
Từ năm 1988, axit clohiđric được liệt vào bảng II chất tiền chế, Công ước Liên Hợp Quốc về Chống vận chuyển trái phép ma túy và các chất hướng thần 1998 (Table II precursor under the 1988 United Nations Convention Against Illicit Traffic in Narcotic Drugs and Psychotropic Substances) do nó được sử dụng trong việc điều chế heroin, cocain, và methamphetamine.
== Tính chất ==
=== Tính chất hóa học ===
Axit clohiđric là axit một nấc, tức nó có thể phân ly cho ra một ion H+ và ion clo, Cl−. Khi hòa tan trong nước, H+ liên kết với phân tử nước tạo thành ion hydronium, H3O+:
HCl + H2O → H3O+ + Cl−
Do phân ly hoàn toàn trong nước nên axit clohiđric được xếp vào nhóm axit mạnh. Các axit monoproton có một hằng số điện ly, Ka, cho thấy mức độ phân ly của nó trong nước. Đối với các axit mạnh tương tự như HCl, thì Ka có giá trị lớn, và bên cạnh đó, cũng đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết để xác định giá trị Ka đối với HCl. Giá trị Ka thường được tính thông qua pKa, giá trị pKa của HCl, tùy theo nguồn, dao động trong khoảng -3 đến -7, thậm chí đến -9,3.
p
K
a
=
−
log
10
K
a
{\displaystyle \ pK_{\mathrm {a} }=-\log _{10}K_{\mathrm {a} }}
Khi cho các muối clorua như NaCl vào dung dịch HCl thì chúng không ảnh hưởng đến giá trị pH, điều này cho thấy rằng ion Cl− là một gốc bazơ liên hợp cực kỳ yếu và HCl bị phân ly hoàn toàn trong dung dịch. Đối với các dung dịch axit clohiđric trung bình đến mạnh, người ta cho rằng số mol H+ bằng với số mol HCl, với độ tin cậy 4 chữ số thập phân.
Trong số sáu axit vô cơ mạnh phổ biến, axit clohiđric là một axit monoproton ít có khả năng tạo phản ứng giảm số oxy hóa. Nó là một trong những axit mạnh ít độc hại nhất khi tiếp xúc bằng tay; ngoài tính axit, nó còn bao gồm các ion clo không phản ứng và không độc hại. Các dung dịch axit clohiđric trung bình-mạnh thì khá ổn định khi lưu trữ.
Axit clohiđric thường được dùng phổ biến trong việc chuẩn độ dung dịch bazơ. Các axit chuẩn độ mạnh cho các kết quả chính xác hơn do có điểm cuối rõ ràng. Axit clohiđric dạng hỗn hợp đẳng phí (gần 20,2%) có thể được dùng như một tiêu chuẩn cơ bản trong phân tích định lượng, mặc dù nồng độ chính xác của nó phụ thuộc vào áp suất khí quyển khi điều chế nó.
Axit clohiđric thường được dùng trong việc chuẩn bị mẫu trong hóa phân tích. Axit clohiđric đặc có thể hòa tan một số kim loại, tạo ra các khí hydro và clo. Nó phản ứng với các hợp chất bazơ như canxi cacbonat hoặc đồng(II) ôxít, tạo thành các dung dịch hòa tan có thể dùng để phân tích.
Như các loại axit khác, HCl có khả năng tác dụng với:
Kim loại: Giải phóng khí hiđrô và tạo muối clorua (trừ các kim loại đứng sau hiđro trong dãy hoạt động hóa học các kim loại như Cu, Hg, Ag, Pt, Au).
Fe + 2HCl → FeCl2+ H2
Ôxít bazơ: Tạo muối clorua và nước.
ZnO + 2HCl → ZnCl2 + H2O
Bazơ: Tạo muối clorua và nước.
NaOH + HCl → NaCl + H2O
Muối: tác dụng với các muối có gốc anion hoạt động yếu hơn tạo muối mới và axit mới.
CaCO3 + 2HCl → CaCl2 + CO2 + H2O
Ngoài ra, trong một số phản ứng HCl còn thể hiện tính khử bằng cách khử một số hợp chất như KMnO4(đặc), MnO2, KClO3 giải phóng khí clo.
2KMnO4(đặc) + 16HCl → 2KCl + 2MnCl2 + 5Cl2 + 8 H2O
MnO2 + 4HCl → MnCl2 + Cl2 + 2H2O
=== Tính chất vật lý ===
Ở điều kiện thông thường (nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn, chiếu sáng), dung dịch Axit clohydric thường được quan sát thấy là một chất lỏng không màu, trong suốt hoặc vàng nhạt (do lẫn hợp chất), có thể bốc khói, hơi nhớt, nặng hơn nước, khúc xạ ánh sáng nhiều hơn nước chút đỉnh:
Bảng trên sử dụng nhiệt độ 20 °C và áp suất 1 atm (101,325 kPa).
Các tính chất vật lý của axit clohiđric như điểm sôi và điểm nóng chảy, mật độ, và pH phụ thuộc vào nồng độ mol của HCl trong dung dịch axit. Chúng thay đổi trong dung dịch với nồng độ phần trăm rất thấp từ 0% HCl đến hơn 40% HCl.
Axit clohiđric ở dạng hỗn hợp hai hợp phần gồm HCl và H2O có điểm sôi hỗn hợp đẳng phí khi nồng độ 20,2% HCl và nhiệt độ 108,6 °C (227 °F). Có bốn điểm eutecti kết tinh cố định đối với HCl, giữa các dạng tinh thể của HCl•H2O (68% HCl), HCl•2H2O (51% HCl), HCl•3H2O (41% HCl), HCl•6H2O (25% HCl), và đóng băng (0% HCl). Cũng có điểm eutectic rất ổn định ở nồng độ 24,8% giữa dạng băng và HCl•3H2O kết tinh.
== Điều chế và sản xuất ==
Axit clohiđric được sản xuất với nồng độ lên đến 38% HCl (nồng độ phần trăm). Các mức nồng độ cao hơn khoảng 40% có thể được sản xuất về mặt hóa học nhưng sau đó tốc độ bay hơi cao dẫn đến mức việc cất giữ và sử dụng cần có những khuyến cáo đặc biệt, như trong môi trường áp suất và nhiệt độ thấp. Axit clohiđric trong công nghiệp thường sử dụng loại 30% đến 34%, nhằm tối ưu hóa trong việc vận chuyển và giảm thất thoát khí HCl ở dạng bay hơi. Các dung dịch sử dụng cho mục đích gia đình ở Hoa Kỳ, hầu hết là làm vệ sinh, thì có nồng độ nằm trong khoảng 10% đến 12%, với những khuyến cáo pha loãng trước khi dùng. Ở Anh, chất này được bán ở dạng "Spirits of Salt" dùng cho làm vệ sinh trong nhà, với độ axit tương tự như cấp công nghiệp ở Mỹ.
Hầu hết axit clohiđric được sản xuất ở Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản ở dạng sản phẩm phụ theo phương pháp clo hóa chất hữu cơ. Các nhà sản xuất chính trên thế giới gồm Dow Chemical, FMC, Georgia Gulf, Tập đoàn Tosoh, Akzo Nobel, và Tessenderlo. Trong đó, Dow Chemical sản xuất 2 triệu tấn hàng năm tính theo khí HCl; và các công ty còn lại sản xuất từ 0,5 đến 1,5 triệu tấn/mỗi năm. Tổng sản lượng trên thế giới, tính theo HCl, ước tính 20 triệu tấn/năm, với 3 triệu tấn/năm từ việc tổng hợp trực tiếp, và phần còn lại là sản phẩm phụ từ các quá trình tổng hợp hữu cơ và tương tự. Cho đến nay hầu hết axit clohiđric được tiêu thụ chủ yếu bởi các nhà sản xuất sử dụng làm nguyên liệu, phụ liệu để sản xuất các chế phẩm khác. Thị trường thế giới tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn/năm.
Axit clohiđric được sản xuất/điều chế theo các quy trình sau:
=== Tổng hợp từ các nguyên tố ===
Quá trình này tổng hợp trực tiếp từ khí clo và hiđro cho ra sản phẩm có độ tinh khiết cao.
H2 + Cl2 → 2 HCl
(ΔH= -184,74 KJ/mol)
Phản ứng diễn ra trong buồng đốt được cung cấp khí clo và hyđro ở nhiệt độ trên 2000 °C có mặt ngọn lửa. Để đảm bảo rằng phản ứng diễn ra hoàn toàn, người ta cung cấp lượng hyđro cao hơn clo một chút (1-2%) để không còn clo trong sản phẩm. Hỗn hợp của hyđro và clo có khả năng gây nổ do đó cần những thiết bị đặc biệt có khả năng chịu nhiệt cao, và một điểm không thuận lợi là các chất phản ứng có chi phí cao.
=== Phản ứng với clorua kim loại ===
Phản ứng với clorua kim loại, đặc biệt là natri clorua (NaCl), với axitsulfuric H2SO4) hoặc hydro sulfat: Quá trình này được sử dụng chủ yếu trong thế kỷ 18 hay còn gọi là quy trình Leblanc dùng trong sản xuất natri cacbonat. Phản ứng diễn ra gồm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 ở nhiệt độ khoảng 150-250 °C, và giai đoạn 2 ở nhiệt độ khoảng 500 đến 600 °C:
NaCl + H2SO4 đặc → NaHSO4 + HCl↑
NaCl + NaHSO4 → Na2SO4 + HCl↑
Phản ứng tổng có thể được viết như sau:
2 NaCl + H2SO4 → Na2SO4 + 2HCl↑
Chiều cân bằng phản ứng diễn ra theo hướng tạo khí HCl vì khí này được lấy ra liên tục. Phương pháp cho phép tạo ra các sản phẩm tinh khiết, thường được dùng trong phòng thí nghiệm. Phương pháp này không được dùng trong sản xuất thương mại vì axit sulfuric đắt hơn axit clohiđric.
=== Sản phẩm clo hóa trong sản xuất chất hữu cơ ===
Các phản ứng chính:
Nhiệt phân 1,2-dicloretan tạo thành vinyl clorua, 90% lượng axit clohiđric đường sản xuất ở Mỹ dùng phương pháp clo hóa này:
C2H4 + Cl2 → C2H4Cl2
C2H4Cl2 → C2H3Cl + HCl
Clorua hóa ankan:
Cl2 + RH → RCl + HCl
với R-là gốc hydrocacbon.
phản ứng trao đổi gốc clo với HF. Phản ứng này được dùng để chuyển sản phẩm clo hóa (RCl) tạo ra HCl.
RCl + HF → RF + HCl
Tổng hợp tetrafloreten từ việc nhiệt phân Clodiflomêtan:
2 CHF2Cl → CF2=CF2 + 2 HCl
Từ đốt rác thải hữu cơ clo:
C4H6Cl2 + 5O2 → 4CO2 + 2H2O + 2HCl
=== Hydrat hóa clorua kim loại nặng ===
2FeCl3 + 6H2O → Fe2O3 + 3H2O + 6HCl
Sau quá trình tạo khí HCl, dòng khí chứa HCl đưa qua tháp hấp thụ, ở đây HCl lỏng đậm đặc được tạo ra bằng cách hấp thụ hơi HCl vào trong dung dịch axit clohiđric yếu và được tách ra. Trong khi đó, dòng khí cuối cùng được đưa tới thiết bị làm sạch để loại HCl tự do trước khi thải ra ngoài không khí.
== Ứng dụng ==
Axit clohiđric là một axit mạnh được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp. Ứng dụng thường để xác định chất lượng sản phẩm theo yêu cầu.
=== Tẩy gỉ thép ===
Một trong những ứng dụng quan trọng của axit clohiđric là dùng để loại bỏ gỉ trên thép, đó là các oxit sắt, trước khi thép được đưa vào sử dụng với những mục đích khác như cán, mạ điện và những kỹ thuật khác. HCl dùng trong kỹ thuật có nồng độ 18% là phổ biến, được dùng làm chất tẩy gỉ của các loại thép cacbon.
Fe2O3 + Fe + 6 HCl → 3 FeCl2 + 3 H2O
Axit đã qua sử dụng được tái dùng nhiều lần gọi là các dung dịch sắt (II) clorua, nhưng mức độ các kim loại nặng cao trong dung dịch tẩy này làm giảm hiệu quả của phản ứng.
Công nghiệp tẩy thép đã phát triển các công nghệ "tái chế axit clohiđric", như công nghệ lò phun hoặc công nghệ tái sinh HCl tầng sôi, quá trình này cho phép thu hồi HCl từ chất lỏng đã tẩy rửa. Công nghệ tái chế phổ biến hất là pyrohydrolysis, thực hiện theo phản ứng sau:
4 FeCl2 + 4 H2O + O2 → 8 HCl+ 2 Fe2O3
Bằng cách hồi phục đặc tính của axit đã qua sử dụng, người ta thực hiện theo một chu trình axit khép kín. Sản phẩm phụ trong quá trình tái chế là sắt (III) ôxít được thu hồi và sử dụng vào nhiều mục đích trong công nghiệp.
=== Sản xuất các hợp chất hữu cơ ===
Một ứng dụng quan trọng khác của axit clohiđric là dùng trong sản xuất các hợp chất hữu cơ như vinyl clorua và dicloroetan để sản xuất PVC. Quá trình này sử dụng các axit do doanh nghiệp sản xuất chứ không từ thị trường tự do. Các hợp chất hữu cơ khác được sản xuất từ HCl như bisphenol A sản xuất polycacbonat, than hoạt tính, và axit ascobic, cũng như trong một số sản phẩm của ngành dược.
2 CH2=CH2 + 4 HCl + O2 → 2 ClCH2CH2Cl + 2 H2O
gỗ + HCl + nhiệt → than hoạt tính
=== Sản xuất các hợp chất vô cơ ===
Nhiều sản phẩm có thể được sản xuất từ axit clohiđric theo phản ứng axit-bazơ tạo ra các hợp chất vô cơ. Chúng bao gồm các hóa chất xử lý nước như sắt (III) clorua và polyaluminium clorua (PAC).
Fe2O3 + 6 HCl → 2 FeCl3 + 3 H2O (sắt (III) clorua từ magnetit)
Cả sắt (III) clorua và PAC đều được sử dụng làm chất keo tụ và chất đông tụ để làm lắng các thành phần trong quá trình xử lý nước thải, sản xuất nước uống, và sản xuất giấy.
Các hợp chất vô cơ khác được sản xuất dùng HCl như muối canxi clorua, niken (II) clorua dùng cho việc mạ điện và kẽm clorua cho công nghiệp mạ và sản xuất pin.
CaCO3 + 2 HCl → CaCl2 + CO2 + H2O (canxi clorua từ đá vôi)
=== Kiểm soát và trung hòa pH ===
Axit clohiđric có thể được dùng để điều chỉnh tính bazơ của dung dịch.
OH− + HCl → H2O + Cl−
Trong công nghiệp yêu cầu độ tinh khiết (thực phẩm, dược phẩm, nước uống), axit clohiđric chất lượng cao được dùng để điều chỉnh pH của nước cần xử lý. Trong ngành công nghiệp không yêu cầu độ tinh khiết cao, axit clohiđric chất lượng công nghiệp chỉ cần đủ để trung hòa nước thải và xử lý nước hồ bơi.
=== Tái sinh bằng cách trao đổi ion ===
Axit HCl chất lượng cao được dùng để tái sinh các nhựa trao đổi ion. Trao đổi cation được sử dụng rộng rãi để loại các ion như Na+ và Ca2+ từ các dung dịch chứa nước, tạo ra nước khử khoáng. Axit này được dùng để rửa các cation từ các loại nhựa.
Na+ bị thay thế bởi H+
Ca2+ bị thay thế bởi 2 H+
Trao đổi ion và nước khử khoáng được sử dụng trong tất cả các ngành công nghiệp hóa, sản xuất nước uống, và một số ngành công nghiệp thực phẩm.
=== Ứng dụng khác ===
Axit HCl có nhiều ứng dụng ở quy mô nhỏ như: xử lý da, vệ sinh nhà cửa, và xây dựng nhà. Trong khai thác dầu, axit HCl có thể được dùng để bơm vào trong tầng đá của giếng dầu nhằm hòa tan một phần đá hay còn gọi là "rửa giếng", và tạo các lỗ rỗng lớn hơn. Axit hóa giếng khoan là một quá trình phổ biến được sử dụng trong công nghiệp khai thác dầu biển Bắc. Khi trộn dung dịch axit clohydric đậm đặc và dung dịch axit nitric đậm đặc theo tỉ lệ mol 1:3 thì nó có khả năng hòa tan vàng và bạch kim, (xem nước cường toan).
Một số phản ứng hóa học liên quan đến axit HCl được ứng dung trong sản xuất thực phẩm, các thành phần thực phẩm và phụ gia thực phẩm. Các sản phẩm đặc trưng như aspartame, fructose, axit citric, lysine, thủy phân protein thực vật, và trong sản xuất gelatin. Axit HCl cấp thực phẩm (loại an toàn cho con người khi sử dụng) có thể được ứng dụng khi cần thiết trong sản phẩm cuối cùng.
== Trong sinh vật ==
Axit gastric là một trong những chất chính tiết ra từ dạ dày. Nó chứa chủ yếu là axit clohydric và tạo môi trường axit trong dạ dày với pH từ 1 đến 2.
Các ion clo (Cl−) và hydro (H+) được tiết ra riêng biệt trong vùng đáy vị của dạ dày (stomach fundus) bởi các tế bào vách của niêm mạc dạ dày vào hệ tiết dịch gọi là tiểu quản (canaliculi) trước khi chúng đi vào lumen dạ dày.
Axit gastric giữ vai trò là một chất kháng lại các vi sinh vật để ngăn ngừa nhiễm trùng và là yếu tố quan trọng để tiêu hóa thức ăn. pH dạ dày thấp làm biến tính các protein và do đó làm chúng bị dễ phân hủy bởi các enzym tiêu hóa như pepsin. pH thấp cũng kích hoạt các tiền enzym pepsinogen thành enzyme pepsin hoạt hóa bởi sự tự phân cắt (self-cleavage). Sau khi ra khỏi dạ dày, axit clohhydric của dịch sữa bị natri bicacbonat vô hiệu hóa trong tá tràng.
Dạ dày tự nó được bảo vệ khỏi axit mạnh bằng cách tiết ra một lớp chất nhầy mỏng để bảo vệ, và bằng cách tiết ra dịch tiết tố để tạo ra lớp đệm natri bicacbonat. Loét dạ dày có thể xảy ra khi các cơ chế này bị hỏng. Các thuốc nhóm kháng histamine và ức chế bơm proton (proton pump inhibitor) có thể ức chế việc tiết axit trong dạ dày, và các chất kháng axit được sử dụng để trung hòa axit có mặt trong dạ dày.
== An toàn ==
Axit clohydric đậm đặc tạo thành các sương mù axit. Cả dạng sương mù và dung dịch đều có khả năng gây ảnh hưởng ăn mòn các mô con người, có khả năng gây tổn thương cơ quan hô hấp, mắt, da và ruột. Khi trộn axit clohydric với các chất ôxy hóa phổ biến khác như natri hypoclorit (NaClO) hoặc kali permanganat (KMnO4) làm giải phóng khí độc clo.
NaClO + 2 HCl → H2O + NaCl + Cl2
2 KMnO4 + 16 HCl → 2 MnCl2 + 8 H2O + 2 KCl + 5 Cl2
Đồ bảo hộ như găng tay cao su, kính bảo vệ mắt, và quần áo, giày chống chất hóa học được sử dụng để giảm thiểu những tác tại của việc tiếp xúc với loại axit này.
Mức độ nguy hiểm của dung dịch axit clohydric phụ thuộc vào nồng độ của nó. Bảng bên dưới liệt kê theo cách phân loại của EU về nồng độ axit này.
Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ xếp axit clohydric vào nhóm chất độc. Số UN do Liên Hiệp Quốc quy định cho axit clohydric là 1789.
== Xem thêm ==
Nước cường toan
Hydro clorua
Muối clorua
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Axit Clohiđric tại Từ điển bách khoa Việt Nam
(tiếng Anh)
Hydrochloric acid (chemical compound) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Hydrogen chloride (chemical compound) - Hiđrô clorua tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Hydrochloric acid-d NIST WebBook
Thông tin về an toàn
Health Effects Notebook for Hazardous Air Pollutants Tóm tắt mức độ nguy hiểm theo EPA 25/4/2016
“Hydrochloric acid MSDS by American Bioanalytical - Axit clohiđric MSDS theo phân tích sinh học của American Bioanalytical, Inc., Hoa Kỳ” (PDF) (bằng tiếng Anh). American Bioanalytical, Inc. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2004.
Hydrochloric acid, 33 - 40%: Axit clohiđric MSDS theo Học viện công nghệ Georgia
Xử trí đúng cách khi bị dính axit Minh Đức - Thi Trân - Lê Phương. VnExpress Thứ năm, 31/3/2016 | 00:01 GMT+7 |
đảo liancourt.txt | Đảo Liancourt là tên quốc tế gọi nhóm đảo nhỏ nằm giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, cách đảo Honshu của Nhật Bản và góc đông nam bán đảo Triều Tiên thuộc Hàn Quốc khoảng 220 km. Liancourt đang trong vòng tranh chấp giữa Nhật Bản và Hàn Quốc.
Nhật Bản gọi đảo Liancourt là Takeshima (たけしま/竹島, âm Hán-Việt: Trúc đảo) trong khi Hàn Quốc gọi là Dokdo hay Tokdo (독도/獨島, âm Hán-Việt: Độc đảo) có nghĩa là "đảo đơn độc".
Hàn Quốc kiểm soát nhóm các đảo này kể từ tháng 7 năm 1954.
== Địa danh ==
Tên quốc tế của đảo Liancourt được lấy từ Le Liancourt, tên một ngư thuyền săn cá voi của Pháp suýt đắm ở vùng đá ngầm của nhóm đảo này vào năm 1849. Tiếng Anh theo một số bản đồ cũ còn ghi tên Hornet Rocks (1855) cho nhóm đảo này trong khi thư tịch hải hành của Nga đặt tên Manala và Olivutsa cho đảo Liancourt.
Địa danh tiếng Hàn và tiếng Nhật từng thay đổi theo thời gian, chứng tỏ nhiều bất nhất gây thêm rắc rối lịch sử về chủ quyền của nhóm đảo này.
== Địa hình ==
Nhóm đảo Liancourt bao gồm 90 đảo nhỏ, trong đó 37 mỏm đất không bị ngập. Số còn lại chỉ là đá ngầm. Trong số 37 đảo thì chỉ có hai hòn đảo cư trú được: đảo Tây và đảo Đông; 35 hòn đảo kia chỉ là mỏm đá. Tổng diện tích cua cả vùng đảo này chỉ khoảng 0,18745 km² với điểm cao nhất đo được 169 m (554,5 ft) trên đảo Tây.
Seodo (tiếng Hàn: 서도/西島 Tây đảo) hay Otokojima (tiếng Nhật: 男島 Nam đảo) và Dongdo (tiếng Hàn: 동도/東島 Đông đảo) hay Onnajima (tiếng Nhật: 女島 Nữ đảo), cách nhau khoảng 150 m. Đảo Tây lớn hơn, với diện tích khoảng 88.640 mét vuông (22 mẫu Anh); đảo Đông chỉ 73.300 mét vuông (18 mẫu Anh).
Đảo Tây là một đỉnh núi thấp với nhiều hang động dọc theo bờ biển. Bên đảo Đông có nơi bờ biển là vách đá dựng đứng cao khoảng 10 tới 20 m; có 2 hang lớn thông ra biển và một hố trũng.
Theo khảo cứu của địa chất học thì nhóm đảo này hình thành khoảng 4,5 triệu năm trước do núi lửa hình thành trong đại Tân sinh rồi sau đó bị xói mòn.
Vì Liancourt nằm án ngữ biển Nhật Bản nên có vai trò vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng đối với cả hai phía Nhật Bản và Hàn Quốc. Ngoài ra khu vực Liancourt là một nguồn ngư sản dồi dào và có tiềm năng lưu trữ lượng lớn hơi đốt sâu trong lòng đất.
=== Vị trí ===
Đảo Liancourt nằm ở tọa độ khoảng 131°52´ kinh đông và 37°14´ vĩ bắc. Đảo Tây nằm ở tọa độ khoảng 37°14′31″B 131°51′55″Đ còn đảo Đông nằm tại tọa độ 37°14′27″B 131°52′10″Đ.
Đảo Liancourt cách Hàn Quốc khoảng 217 km (135 dặm Anh) và cách Nhật Bản khoảng 212 km (131 dặm Anh). Khoảng cách, cao độ và các điều kiện thời tiết ảnh hưởng tới hình dạng đảo khi hiện, khi khuất.
Địa thể của Hàn Quốc gần Liancourt nhất là đảo Ulleung-do, cách khoảng 87 km (54 dặm Anh). Vào những ngày khí trời trong sáng người đứng trên Ulleung có thể thấy được Liancourt.
Đối với Nhật Bản thì quần đảo Oki là địa thể gần nhất lui về hướng đông nam, cách Liancourt 157 km (98 dặm Anh). Với khoảng cách đó người đứng ở Oki không thể trông thấy Liancourt bất kể khí trời và thời tiết.
== Dân cư ==
Hai công dân Hàn Quốc, cặp vợ chồng dân chài là hai cư dân duy nhất trên Liancourt. Ngoài ra là một đội cảnh sát cùng viên chức chính quyền và nhân viên hải đăng người Hàn Quốc luân phiên nhau làm việc để đảm bảo chủ quyền trên đảo.
== Tranh chấp chủ quyền ==
Từ cuối thế kỷ 20 Liancourt trở thành một điểm nóng trong các cuộc tranh chấp chủ quyền giữa Nhật Bản, Hàn Quốc, và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Hàn Quốc lập nhóm đảo này thành xã Dokdo-ri thuộc huyện Ulleung, tỉnh Gyeongsang Bắc. Nhật Bản thì khẳng định đảo này thuộc Thôn Okinoshima, huyện Oki, Tỉnh Shimane, Nhật Bản.
== Khí hậu ==
Do vị trí và diện tích quá bé nhỏ khí hậu đảo Liancourt hoàn toàn phụ thuộc vào thời khí của biển Nhật Bản đôi khi rất khắc nghiệt. Có lúc khi gió tây bắc thổi mạnh, thường là vào mùa đông, tàu thuyền không thể cập bến vào đảo được. Nói chung khí hậu đảo ẩm ướt và không quá lạnh, chịu tác động mạnh của nguồn hải lưu nước ấm. Lượng mưa cao quanh năm (trung bình khoảng 1.324 mm), thỉnh thoảng có tuyết rơi, nhưng thường có sương mù. Vào mùa hè gió chủ yếu thổi từ hướng nam.. Nhiệt độ nước biển quanh đảo lạnh nhất vào mùa xuân, khoảng 10 °C. Vào tháng 8 nhiệt độ nước biển có thể lên tới 25 °C.
== Sinh thái ==
Liancourt chủ yếu cấu tạo bởi đá bazan do núi lửa bồi lên. Trên lớp đá nền là một lớp đất mỏng, trên cùng rêu mọc phủ. Khoảng 80 loài thực vật, trên 22 loài chim và 37 loài côn trùng có mặt trên đảo; ngoài ra là một số sinh vật biển. Vì diện tích nhỏ, Liancourt không có nguồn ngọt đáng kể nào. Khe nước dù khi có chảy, con người cũng không dùng được vì nhiễm chất thải phân chim. Một công ty Hàn Quốc đã cho xây nhà máy lọc nước biển để cung cấp nước ngọt cho đảo.
Vào đầu thập niên 1970 người Hàn có cho trồng thêm cây cối, hoa cỏ trên đảo, tăng cường thảm thực vật vì Liancourt là đảo trọc.. Tuy nhiên theo thư tịch xưa thì Liancourt thuở trước có cây xanh; sau bị con người đốn chặt hết. Cây cối theo luật quốc tế là một yếu tố để xếp một mỏm đất ngoài biển vào hạng hải đảo tự nhiên, thay vì là một rạn san hô hay đá ngầm.
== Dân cư và kinh tế ==
Tới thời điểm năm 2009, có 2 người dân Hàn Quốc sống thường xuyên trên đảo là Kim Sung-do (김성도) và Kim Shin-yeol (김신열), với nghề nghiệp là đánh bắt cá. Ngoài ra, 37 cảnh sát Hàn Quốc (독도경비대/獨島警備隊) cũng tạm trú tại đây để làm nhiệm vụ bảo vệ. Bên cạnh đó còn có 3 viên chức của Bộ Hải dương và Ngư nghiệp Hàn Quốc và 3 nhân viên giữ tháp hải đăng sống luân phiên trên đảo. Trong quá khứ, một số ngư dân cũng tạm trú trên đảo.
Trong nhiều năm, du lịch của dân thường tới đảo phải được chính quyền Hàn Quốc cho phép do nhóm đảo này là khu bảo tồn tự nhiên. Các tàu chở du khách với tổng cộng 1.597 người đã được phép cho người lên đảo vào năm 2004. Kể từ giữa tháng 3 năm 2005, nhiều du khách hơn đã được phép lên đảo, tới 70 người mỗi lần. Một phà chạy tới đảo mỗi ngày và có hàng chờ khá dài. Chỉ 60% những người đi phà là có thể lên đảo, phần còn lại chỉ là khách đi vòng quanh đảo. Trên đường tới đảo Liancourt, trên phà người ta cho khách xem tranh biếm họa Hàn Quốc về một con robot khổng lồ bảo vệ các đảo khỏi bàn tay người Nhật. Vào thời điểm năm 2009, các công ty du lịch tithu từ mỗi du khách 350.000 won (khoảng 250 đôla Mỹ.
== Tranh chấp quốc tế ==
Đảo Liancourt bị Hàn Quốc và Nhật Bản tranh chấp, mặc dù hiện nay chúng do Hàn Quốc quản lý. Các tranh chấp giữa hai quốc gia đã kéo dài hàng trăm năm, và nhiều chứng cứ đã được cả hai bên đưa ra và tranh cãi
== Xây dựng ==
Dưới sự quản lý của Hàn Quốc, đảo Liancourt đã trải qua một cuộc xây dựng lớn. Hiện tại, trên đảo có một tháp hải đăng, một đường đậu cho máy bay trực thăng, một cột cờ lớn nhìn thấy từ trên không và một hòm thư, một cầu thang lên xuống và một đồn cảnh sát. Năm 2007, hai nhà máy khử mặn đã được xây xong, có thể sản xuất 28 tấn nước sạch mỗi ngày. Cả hai công ty điện thoại lớn của Hàn Quốc đều có các tháp viễn thông trên các đảo nhỏ.
== Vai trò trong quan hệ Nhật-Hàn ==
Đảo Liancourt là điểm tranh chấp căng thẳng, bên cạnh các tranh chấp Nhật–Hàn khác. Bộ Ngoại giao Nhật Bản cho rằng lập trường của mình là "không thay đổi". Khi quận Shimane của Nhật Bản thông báo "Ngày Takeshima" năm 2005, người Hàn Quốc đã phản ứng bằng các cuộc biểu tình và phản đối trong khắp cả nước. Năm 2006, 5 "Dokdo Riders" Hàn Quốc đã thực hiện một chuyến du hành thế giới để gây chú ý trên bình diện quốc tế về tranh chấp này.
== Liên kết ngoài ==
Takeshima (Chính quyền quận Shimane, Nhật Bản)
Cyber Dokdo History Hall (Hàn Quốc)
== Ghi chú == |
sana'a.txt | Sana'a (cũng được viết là Sanaa hay Sana; tiếng Ả Rập: صنعاء Ṣan‘ā’ phát âm [sˤɑnʕaːʔ], tiếng Ả Rập Yemen: [ˈsˤɑnʕɑ]) là thành phố lớn nhất tại Yemen và là trung tâm của vùng Sana'a. Về mặt hành chính thì thành phố không phải một phần của vùng, mà tạo nên một khu riêng gọi là "Amanat Al-Asemah". Theo hiến pháp Yemen, Sana'a là thủ đô của đất nước, dù trụ sở của chính phủ công nhận quốc tế đã được chuyển về Aden sau cuộc đảo chính Yemen 2014–15. Aden đã được tổng thống Abd Rabbuh Mansur Hadi tuyên bố là thủ đô tạm thời vào tháng 3 năm 2015.
Sana'a là một trong những thành phố có dân cư trú liên tục cổ nhất thế giới. Ở độ cao khoảng 2.300 mét (7.500 ft), đây cũng là một trong các thủ đô cao nhất thế giới. Dân số của thành phố là chừng 1.937.500 (2012).
== Tham khảo == |
đô la canada.txt | Đô la Canada hay dollar Canada (ký hiệu tiền tệ: $; mã: CAD) là một loại tiền tệ của Canada. Nó thường được viết tắt với ký hiệu đô la là $, hoặc C$ để phân biệt nó với các loại tiền tệ khác cũng được gọi tên là đô la. Đô la Canada được chia thành 100 Cent. Tính đến 2007, đồng đô la Canada là loại tiền tệ được trao đổi hàng thứ 7 trên thế giới.
== Lịch sử ==
=== Đô la vàng ===
Vào năm 1841, tỉnh Canada mới thành lập đã tuyên bố rằng đồng pound của mình là tương đương với một phần mười đồng eagle vàng của Mỹ (10 đô la Mỹ) và có giá trị bằng 5 s. (5 shilling) trong đơn vị tiền tệ địa phương. Đồng đô la Tây Ban Nha bạc được định giá bằng 5 s. 1 p. và đồng Sovereign được định giá bằng 1 bảng 4 s. 4 p., một giá trị chính xác theo hàm lượng vàng của nó so với hàm lượng vàng vàng của đồng đô la Mỹ vàng.
=== Đô la Canada độc lập ===
Tỉnh Canada tuyên bố rằng tất cả các tài khoản cần được duy trì theo đô la và cent vào thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 1858, và ra lệnh phát hành các đồng tiền xu Canada chính thức đầu tiên trong cùng một năm. Đồng đô la được chốt ngang giá với đồng đô la Mỹ, theo tiêu chuẩn vàng là $1 = 23,22 grain (1,505 g) vàng.
Các vùng thuộc địa kết hợp cùng nhau trong Liên bang Canada đã dần dần chấp thuận hệ thống thập phân trong vài năm sau đó. New Brunswick, British Columbia và đảo Hoàng tử Edward chấp nhận các đồng đô la có giá trị tương đương với đồng đô la Canada (xem đô la New Brunswick, đô la British Columbia và đô la đảo Hoàng tử Edward). Tuy nhiên, Nova Scotia và Newfoundland không chấp nhận cùng một đồng đô la như vậy (xem đô la Nova Scotia và đô la Newfoundland). Nova Scotia duy trì loại tiền tệ của mình cho đến năm 1871, còn Newfoundland thì phát hành tiền tệ của mình cho đến khi tham gia Liên bang Canada năm 1949, mặc dù giá trị của đồng đô la Newfoundland trong năm 1895 đã được điều chỉnh để làm cho nó tương đương với đồng đô la Canada.
Quốc hội liên bang thông qua đạo luật tiền tệ thống nhất vào tháng 4 năm 1871, kết thúc việc sử dụng các loại tiền tệ địa phương và thay thế chúng bằng đồng đô la Canada chung. Tiêu chuẩn vàng đã tạm thời bị từ bỏ trong thời gian thế chiến thứ nhất và bị hoàn toàn bãi bỏ từ ngày 10 tháng 4 năm 1933. Tại thời điểm bùng phát thế chiến thứ hai, tỷ giá trao đổi với đồng đô la Mỹ đã được chốt ở mức 1,1 đô la Canada = 1 đô la Mỹ. Nó được thay đổi thành ngang giá vào năm 1946. Năm 1949, đồng sterling bị phá giá và đồng đô la Canada cũng bị mất giá theo, trở về mức 1,1 đô la Canada = 1 đô la Mỹ. Tuy nhiên, đồng đô la Canada đã được thả nổi trong năm 1950, chỉ trở về tỷ giá hối đoái cố định vào năm 1962, khi đồng đô la Canada được chốt ở mức 1 đô la Canada = 0,925 đô la Mỹ. Mức này kéo dài cho đến năm 1970, sau đó giá trị của loại tiền tệ này đã được thả nổi.
== Thuật ngữ ==
Tiếng Anh Canada, giống tiếng Anh Mỹ, sử dụng từ lóng "buck" để chỉ đô la. (Từ này có nguồn gốc từ Canada; nó phát sinh từ đồng tiền xu do công ty Hudson's Bay đúc trong thế kỷ 17 với giá trị tương đương với một tấm da lông hải li đực - một "buck".) Do sự xuất hiện của hình con chim lặn mỏ đen (loon trong tiếng Anh) trên mặt sau của đồng đô la tiền xu, thay thế cho đồng đô la tiền giấy vào năm 1987, từ "loonie" đã được dùng trong cách nói chuyện tại Canada để phân biệt đồng đô la Canada tiền xu với đồng đô la Canada tiền giấy. Khi đồng hai đô la tiền xu được đưa vào sử dụng năm 1996, thì từ phái sinh "toonie" đã trở thành từ phổ biến để chỉ nó trong tiếng lóng của tiếng Anh Canada.
Trong tiếng Pháp, loại tiền tệ này được gọi là le dollar; các từ lóng trong tiếng Pháp Canada bao gồm piastre hoặc piasse (giống như buck, nhưng từ nguyên thủy được sử dụng trong tiếng Pháp thế kỷ 18 để phiên dịch dollar) và huard (tương đương với loonie, do huard là từ trong tiếng Pháp để chỉ loon, hình con chim xuất hiện trên đồng tiền xu). Cách phát âm trong tiếng Pháp cho từ "cent" (được phát âm tương tự như trong tiếng Anh là /sɛnt/ hoặc /sɛn/, không giống như từ để chỉ 100 /sɑ̃/ hay /sã/) nói chung thường được sử dụng cho sự phân chia; sou là một thuật ngữ khác, không chính thức.
== Tiền xu ==
Trong năm 1858, các loại tiền xu 1 ¢ bằng đồng thiếc và 5 ¢, 10 ¢ và 20 ¢ bằng bạc 0,925 đã được tỉnh Canada ban hành. Ngoại trừ tiền xu 1 ¢ được đúc năm 1859, không có đồng xu nào đã được phát hành cho tới tận năm 1870, khi việc sản xuất tiền xu 5 ¢ và 10 ¢ được phục hồi và các đồng xu 25 ¢ và 50 ¢ bằng bạc được đưa vào sử dụng. Giai đoạn từ năm 1908 tới năm 1919, sovereign (tiền tệ chính thức tại Canada với giá trị $ 4,866) được đúc tại Ottawa với một chữ "C" đánh dấu trên tiền. Tiền xu $ 5 và $ 10 bằng vàng đã được phát hành từ năm 1912 tới năm 1914.
Vào năm 1920, kích cỡ của 1¢ đã được giảm và bạc pha đã được giảm tới 0,800. Vào năm 1922, đồng 5 ¢ bằng bạc đã được thay thế bằng đồng tiền xu lớn hơn, đúc từ niken. Trong năm 1942, như là một biện pháp trong thời gian chiến tranh, niken đã được thay thế bằng tombac (tombac là hợp kim của đồng và kẽm) trong đồng xu 5¢, và hình dáng đã được thay đổi từ hình tròn thành hình thập nhị giác. Thép mạ crôm được sử dụng cho đồng 5¢ vào giai đoạn 1944-1945, và từ năm 1951 tới năm 1954, trước khi niken được chấp nhận trở lại. Đồng 5 ¢ quay trở lại hình dáng ban đầu vào năm 1963. Vào năm 1935, đô la Voyageur bằng bạc đã được giới thiệu nhưng việc sản xuất bị dừng lại năm 1939, không bắt đầu sản xuất trở lại mãi cho tới năm 1945.
Tiền xu 10¢ và 25¢ bằng bạc 0,500 đã được ban hành vào giữa năm 1967, trước khi bạc được thay thế hoàn toàn bằng niken, và tiền xu 10¢ và 25¢ vào giữa năm 1968 (vào đầu năm là đồng tiền xu 50¢ và $1, cùng thời gian đó cả hai đã được giảm kích thước). Năm 1982, đồng xu 1¢ đã thay đổi thành hình thập nhị giác còn đồng 5¢ được chuyển sang dùng hợp kim đồng-niken. Vào năm 1987, đồng xu $1 đúc từ niken mạ vàng đã được giới thiệu. Tiền xu $2 lưỡng kim ra đời năm 1996. Năm 1997, kẽm mạ đồng đã thay thế cho đồng thiếc trong tiền xu 1 ¢. Thời gian sau đó, vào năm 2000, các loại tiền xu 1¢, 5¢, 10¢, 25¢ và 50¢ bằng thép mạ đã được giới thiệu, với đồng xu 1¢ được mạ đồng và những đồng xu khác thì bọc bằng hợp kim đồng-niken.
Những đồng tiền xu được Xưởng dúc Canada hoàng gia sản xuất ở Winnipeg, Manitoba, và hiện nay được phát hành với mệnh giá 1¢ (penny), 5¢ (nickel), 10¢ (dime), 25¢ (twenty-five cent piece) ("quarter" không phải là một tên gọi chính thức tại Canada), 50¢ (50¢ piece) (mặc dù 50 ¢ piece ít khi được sử dụng), $1 (loonie), và $2 (toonie). Bộ tiêu chuẩn thiết kế là các biểu tượng của Canada (thường là động vật hoang dã) nằm trên mặt trái, và hình Elizabeth II nổi trên mặt phải. Tuy nhiên, một số đồng penny, nickel, dime hiện vẫn còn lưu thông có mang hình nổi của George VI. Những đồng xu kỷ niệm với các mặt trái khác nhau cũng được phát hành không định kỳ. Tiền xu 50¢ hiếm khi được tìm thấy trong lưu thông; chúng thường được sưu tập và không được sử dụng thường xuyên trong các giao dịch thường nhật. Đã có những cuộc thảo luận lặp đi lặp lại về việc rút penny ra khỏi lưu thông với lý do là Xưởng đúc Canada hoàng gia phải mất tới 4 cent để sản xuất và phân phối đồng tiền xu 1 cent này. Đồng penny Canada tiêu tốn ít nhất 130 triệu C$ mỗi năm để duy trì nó trong lưu thông, theo ước tính của một tổ chức tài chính kêu gọi rút bỏ đồng penny. Vào năm 2007 một cuộc khảo sát cho thấy, chỉ có 37% dân số Canada sử dụng penny, nhưng chính phủ vẫn tiếp tục sản xuất khoảng 816 triệu penny mỗi năm, tương đương 25 penny cho một người Canada.
== Giấy bạc ==
Tiền giấy có tên gọi là đô la được phát hành lần đầu ở Canada là British Army Bills, phát hành vào giữa những năm 1813 và 1815 với mệnh giá trong khoảng từ $1 tới $400. Chúng là sự phát hành khẩn cấp do cuộc chiến năm 1812. Giấy bạc đầu tiên được Ngân hàng Montreal phát hành năm 1817. Một lượng lớn các ngân hàng đủ tư cách được thành lập trong các thập niên 1830, 1850, 1860 và 1870, mặc dù nhiều ngân hàng chỉ phát hành tiền giấy trong một thời gian ngắn. Các ngân hàng khác, như ngân hàng Montreal, phát hành giấy bạc trong một vài thập niên. Cho đến năm 1858, rất nhiều giấy bạc đã được phát hành với mệnh giá là cả hai loại shilling/pound và đô la (5 shilling = $1). Một lượng lớn các mệnh giá khác nhau đã được ban hành, bao gồm cả $1, $2, $3, $4, $5, $10, $20, $25, $40, $50, $100, $500 và $1000. Sau năm 1858, chỉ các mệnh giá đô la là được sử dụng. Xem thêm Giấy bạc ngân hàng đủ tư cách tại Canada để biết thêm thông tin.
Sau khi thành lập vào năm 1841, trên địa bàn tỉnh Canada đã bắt đầu phát hành tiền giấy. Giấy bạc được ngân hàng Montreal sản xuất cho chính phủ vào giữa những năm 1842 và 1862, với các mệnh giá $4, $5, $10, $20, $50 và $100. Năm 1866, tỉnh Canada bắt đầu phát hành tiền giấy riêng của mình, với các mệnh giá $1, $2, $5, $10, $20, $50, $100 và $500. Năm 1870, sau khi thành lập Liên bang, nhà nước tự trị Canada đã giới thiệu giấy bạc 25¢ cùng với phát hành mới $1, $2, $500 và $1000. Giấy bạc $50 và $100 theo sau trong năm 1872, nhưng phần lớn giấy bạc chính quyền sản xuất sau này chỉ là giấy bạc $1 và $2, có $4 được thêm vào trong năm 1882. Các mệnh giá $500, $1000, $5000 và $50,000 được phát hành sau năm 1896 chỉ để giao dịch ngân hàng mà thôi.
Luật ngân hàng năm 1871 giới hạn các mệnh giá nhỏ nhất mà các ngân hàng đủ tư cách có thể phátn hành đến $4, tăng lên đến $5 trong năm 1880. Để tạo điều kiện mua hàng dưới $5 mà không cần sử dụng các giấy bạc của nhà nước tự trị, ngân hàng Molsons đã phát hành giấy bạc $6 và $7 trong năm 1871. Chính phủ ban hành giấy bạc $5 từ năm 1912. Tờ giấy bạc 25¢ cuối cùng, gọi là giấy bạc mất giá do kích cỡ nhỏ của chúng, có niên kỷ vào năm 1923.
Trong năm 1935, chỉ còn mười ngân hàng đủ tư cách (chartered bank) vẫn còn phát hành giấy bạc, ngân hàng Canada được thành lập và bắt đầu phát hành các giấy bạc với các mệnh giá $1, $2, $5, $10, $20, $50, $100, $500 và $1000. Năm 1944, các ngân hàng đủ tư cách đã bị cấm không cho phát hành tiền tệ riêng của mình, với Ngân hàng Hoàng gia Canada và Ngân hàng Montreal thuộc số những ngân hàng cuối cùng được phát hành giấy bạc.
Mặc dù tiền xu $1 được giới thiệu vào năm 1935, nhưng chưa tới khi giới thiệu nó thì giấy bạc ngân hàng $1 đã được rút khỏi lưu thông. Giấy bạc $2 cũng đã được thay thế bằng tiền xu năm 1996. Hiện tại tất cả các giấy bạc ngân hàng đều được Công ty giấy bạc Canada và BA International Inc in cho Ngân hàng Canada.
Trong năm 2000, Ngân hàng Canada ngừng việc phát hành giấy bạc $1000 và bắt đầu rút chúng ra khỏi lưu thông, "như là một phần của cuộc chiến chống rửa tiền và các tổ chức tội phạm."
== Tiền tệ chính thức ==
Giấy bạc đô la Canada được Ngân hàng Canada phát hành là tiền tệ chính thức ở Canada. Tuy nhiên, các giao dịch thương mại có thể được thanh toán hợp pháp theo bất kỳ cách nào mà các bên liên quan thỏa thuận.
Tiền tệ chính thức của hệ thống tiền tệ Canada được điều chỉnh bằng Đạo luật tiền tệ, trong đó đặt ra giới hạn của:
$40 nếu mệnh giá là $2 hoặc cao hơn nhưng không vượt quá $10;
$25 nếu mệnh giá là $1;
$10 nếu mệnh giá là 10¢ hoặc cao hơn nhưng không quá $1;
$5 nếu mệnh giá là 5¢;
25¢ nếu mệnh giá là 1¢.
Các nhà bán lẻ ở Canada có thể từ chối giấy bạc của ngân hàng mà không vi phạm quy định của pháp luật. Theo các chỉ dẫn pháp lý, phương thức thanh toán phải được thoả thuận khi các bên tham gia giao dịch. Ví dụ, các cửa hàng nhỏ có thể từ chối giấy bạc ngân hàng $100, nếu họ cảm thấy điều đó có thể làm họ trở thành nạn nhân của tiền giả; tuy nhiên, chính sách chính thức gợi ý rằng các nhà bán lẻ nên lượng giá tác động của cách tiếp cận này. Trong trường hợp không có hình thức thanh toán chấp nhận được giữa các bên đối với đồng tiền chính thức đó, các bên liên quan nên nhờ tư vấn pháp lý.
Ðô la Canada được một số doanh nghiệp ở các thành phố phía bắc Hoa Kỳ nhất chấp nhận, cũng như đô la Mỹ được nhiều doanh nghiệp Canada tại các thành phố gần biên giới nhất chấp nhận.
== Giá trị ==
Không giống như các loại tiền tệ khác trong hệ thống Bretton Woods, có giá trị cố định, đồng đô la Canada đã được cho phép để thả nổi từ năm 1950 tới năm 1962. Vào giữa năm 1952 tới 1960, đồng đô la Canada đã được trao đổi ở tỷ giá cao hơn so với đô la Mỹ, đạt mức cao $1,0614 đô la Mỹ trong ngày 20 tháng 8 năm 1957.
Đô la Canada bị mất giá sau năm 1960, và điều này có sự đóng góp của việc thủ tướng chính phủ John Diefenbaker thất bại trong cuộc bầu cử 1963. Đồng đô la Canada trở lại chế độ tỷ giá cố định vào năm 1962 khi giá trị của nó đã được thiết lập tại $0,925 USD, và nó còn duy trì đến năm 1970. Như là một biện pháp chống lạm phát, đồng đô la Canada đã được thả nổi vào năm 1970. Giá trị của nó được đánh giá cao và nó có giá trị hơn 1 đô la Mỹ trong một phần của thập niên 1970. Đỉnh cao là vào ngày 25 tháng 4 năm 1974, khi nó đạt tới mức 1,0443 USD.
Đồng đô la Canada mất giá so với đồng đô la Mỹ trong thời gian bùng nổ công nghệ thập niên 1990 với trung tâm là Hoa Kỳ, và được giao dịch thấp tới mức 61,79 ¢ US ngày 21 tháng 1 năm 2002, một tỷ giá thấp nhất mọi thời đại. Kể từ đó, giá trị của nó đối với tất cả các loại tiền tệ chính đã tăng, một phần là do giá cao của hàng hóa (đặc biệt là dầu mỏ) mà Canada xuất khẩu.
Giá trị của đô la Canada so với đô la Mỹ tăng mạnh trong năm 2007 do sự tiếp tục lớn mạnh của nền kinh tế Canada và suy yếu của tiền tệ Mỹ trên thị trường thế giới. Trong phiên giao dịch ngày 20 tháng 9 năm 2007 nó lần đầu tiên ngang giá với đô la Mỹ kể từ ngày 25 tháng 11 năm 1976.
Lạm phát giá trị của đồng đô la Canada là khá thấp từ thập niên 1990, nhưng là nghiêm trọng trong một số thập kỷ trước đó. Trong năm 2007 đô la Canada đã phục hồi đáng kể, tăng giá lên trong 23% giá trị.
Ngày 28 tháng 9 năm 2007, đồng đô la Canada đóng cửa ở mức trên so với đồng đô la Mỹ lần đầu tiên trong vòng 30 năm, ở mức $ 1,0052 US. Ngày 7 tháng 11 năm 2007, nó đạt mức US$1,1024 trong giao dịch, một tỷ giá cao hiện tại, sau khi Trung Quốc công bố sẽ đa dạng hóa $1,43 nghìn tỷ US dự trữ ngoại hối của mình ra khỏi đô la Mỹ. Tuy nhiên, vào ngày 30 tháng 11, đồng đô la Canada lại một lần nữa ngang giá với đô la Mỹ, và vào 4 tháng 12, đồng đô la Canada đã quay trở lại mức $0,98 US, thông qua việc cắt giảm lãi suất của Ngân hàng Canada, do quan ngại về việc xuất khẩu tới Hoa Kỳ. Tỷ giá dao động từ $0,9644 tới $1,0298, sau năm mới 2008 ở mức dưới $1,01 US. (Đô la Canada đã từng tăng cao tới mức US $2,78 vào ngày 11 tháng 7 năm 1864 sau khi Hoa Kỳ tạm thời từ bỏ tiêu chuẩn vàng.) Tuy nhiên, kể từ cuối tháng 7 năm 2008, đồng đô la Canada đã sụt giá đáng kể, đạt mức 84 cent Mỹ vào ngày 17 tháng 10 và giảm còn 80 cent vào ngày 22 tháng 10.
Do 84,2% xuất khẩu của Canada là vào Hoa Kỳ, và 56,7% nhập khẩu vào Canada là từ Hoa Kỳ, nên người Canada chủ yếu quan tâm đến giá trị của tiền tệ của mình so với đô la Mỹ. Mặc dù các e ngại quốc nội nảy sinh khi đồng đô la Canada được giao dịch thấp hơn nhiều so với đô la Mỹ, nhưng cũng có các mối e ngại của các nhà xuất khẩu khi đồng đô la được định giá cao một cách nhanh chóng. Sự tăng giá của đồng đô la Canada làm tăng giá cả hàng xuất khẩu của Canada vào Hoa Kỳ. Mặt khác, có những ưu thế cho một đồng đô la tăng giá, ở chỗ là các ngành công nghiệp Canada có thể mua nguyên vật liệu và các doanh nghiệp nước ngoài với giá rẻ hơn.
Ngân hàng Canada không có mục tiêu giá trị cụ thể cho đồng đô la Canada và đã không can thiệp vào các thị trường ngoại hối kể từ năm 1998. Quan điểm hiện tại của Ngân hàng Canada là các điều kiện thị trường sẽ xác định giá trị của đồng đô la Canada.
Trên thị trường thế giới, theo dòng lịch sử, đô la Canada có khuynh hướng xê dịch theo đô la Mỹ. Sự tăng giá biểu kiến của đô la Canada (so với đô la Mỹ) có thể vẫn chỉ là giảm giá so với các loại tiền tệ quốc tế khác; tuy nhiên, trong quá trình tăng giá của đô la Canada từ năm 2002, nó đã tăng giá trị so với cả đô la Mỹ cũng như so với các loại tiền tệ quốc tế khác.
Do giá trị tăng cao và tỷ giá cao kỷ lục mới, đô la Canada đã được tạp chí Time tặng danh hiệu Canadian Newsmaker of the Year (Sự kiện Canada của năm) cho năm 2007.
== Tiền tệ dự trữ ==
Một số ngân hàng trung ương (và ngân hàng thương mại) giữ đô la Canada như là tiền tệ dự trữ. Đô la Canada được coi là một loại tiền tệ kiểm chuẩn.
Trong nền kinh tế châu Mỹ đô la Canada đóng một vai trò tương tự như đô la Úc (AUD) tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Đô la Canada (trong vai trò như là một loại tiền tệ dự trữ cho ngân hàng) từng là một phần quan trọng của các nền kinh tế và các hệ thống tài chính các quốc gia vùng Caribe thuộc Anh, Pháp và Hà Lan kể từ thập niên 1950. Đô la Canada cũng được nhiều ngân hàng trung ương ở Trung Mỹ và Nam Mỹ nắm giữ. Việc nắm giữ đô la Canada tại châu Mỹ Latinh được thực hiện như thế là do tại mỗi quốc gia đều có sự lưu hành kiều hối và thương mại quốc tế có tầm quan trọng quốc gia.
Bằng cách theo dõi sự xê dịch của đô la Canada so với đô la Mỹ, các nhà kinh tế ngoại hối có thể gián tiếp theo dõi các trạng thái và các mẫu hình nội tại của nền kinh tế Mỹ mà có thể không nhận thấy bằng cách theo dõi trực tiếp. Đô la Canada chỉ tiến triển đầy đủ thành loại tiền tệ dự trữ toàn cầu kể từ thập niên 1970 khi nó được thả nổi so với tất cả các loại tiền tệ khác trên thế giới. Bản mẫu:Tỷ giá
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tìm tỷ giá ngoại tệ
Lịch sử của mỗi đồng đô la Canada
Ngân hàng Canada — giấy bạc ngân hàng
Royal Canadian Mint
Lịch sử hình thức sớm nhất của các loại tiền tệ ở Canada
Free CAD / USD Currency Price Chart
Tiền giấy Canada Một nguồn lực cho những người quan tâm về việc học tập, thu thập loại tiền giấy Canada
Giấy bạc ngân hàng của Canada ở Will's Online World Paper Money Gallery
Maple Leaf Web: The Canadian Dollar: Nature and Impacts of Canadian Exchange Rates
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng CAD ==
== Xem thêm ==
Canada
Kinh tế Canada |
flamenco.txt | Flamenco là một thể nhạc và điệu nhảy xuất phát từ Andalusia Tây Ban Nha. Nhạc Flamenco có đặc điểm ở các đoạn rất nhanh nhưng chi tiết (điển hình là cách búng ngón tay phải tròn đều và nhanh khi chơi đàn guitar flamenco). Đặc điểm của điệu nhảy Flamenco là những tư thế riêng biệt, tiếng búng hay vỗ tay và tiếng giày gõ nhịp điệu trên sàn nhảy (thường là sàn gỗ).
Từ flamenco không biết có từ khi nào nhưng chỉ được sử dụng nhiều vào thế kỷ 19 và thường có liên hệ đến dân du mục châu Âu (gypsy).
== Chú thích == |
chân lạp.txt | Chân Lạp (tiếng Khmer: ចេនឡា / Chenla, phát âm: Chên-la; Hán-Việt: 真臘) có lẽ là nhà nước đầu tiên của người Khmer tồn tại trong giai đoạn từ khoảng năm 550 tới năm 802 trên phần phía nam của bán đảo Đông Dương gồm cả Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện đại.
Triều đại các vị vua của Chân Lạp theo truyền thuyết có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại Campu, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Từ "campu" cũng bắt ngồn cho tên gọi của Campuchia sau này.
Các vương quốc láng giềng xung quanh vào thời kỳ ban đầu là Chăm Pa ở phía đông, Phù Nam ở phía nam và Dvaravati (thuộc Thái Lan ngày nay) ở về phía tây bắc.
Ban đầu là một nhà nước chư hầu của Phù Nam (khoảng cho tới năm 550), trong vòng 60 năm sau đó nhà nước này đã giành được độc lập và dần dần lấn lướt Phù Nam. Đến thế kỷ 6 thì họ đã xâm chiếm được miền bắc của Phù Nam. Cuối cùng, trong thế kỷ 7 (khoảng giai đoạn 612-628), nhà nước này đã xâm chiếm toàn bộ Phù Nam, chiếm toàn bộ dân cư của nhà nước đó nhưng lại hấp thu nền văn hóa của họ. Năm 613, Ishanapura trở thành kinh đô đầu tiên của đế quốc mới.
== Lịch sử ==
Người Khmer đã tiến tới sông Mê Kông từ phía bắc sông Chao Phraya thông qua Thung lũng sông Mun. Ban đầu người Khmer định cư trong một khu vực tương ứng với phần đất là miền trung và nam Lào cùng với vùng đông bắc Thái Lan ngày nay. Các ghi chép sử học Trung Hoa cổ đại đề cập tới hai vị vua, Shrutavarman (trị vì 435-495) và Shreshthavarman (trị vì 495-530), những người trị vì tại kinh đô Shreshthapura nằm ở miền nam Lào ngày nay, có lẽ trong khu vực cận kề Wat Phu gần Champasak. Đến thời vua Bhavavarman I (550-598) với kinh đô đặt tại Bhavapura (ngày nay có lẽ là khu vực Sambor Prei Kuk, tỉnh Kampong Thom, Campuchia), Chân Lạp bắt đầu một số chiến dịch chống lại Phù Nam. Sau khi Bhavavarman I chết năm 598, người anh em của ông là Citrasena (tên gọi khi trị vì là Mahendravarman, thực tế cầm quyền từ năm 590) đã tiếp tục công việc xâm chiếm Phù Nam. Ishanavarman I, con trai của Citrasena, đã hoàn thành công cuộc xâm chiếm vương quốc Phù Nam trong giai đoạn 612-628. Ông đổi tên kinh đô từ Bhavapura thành Ishanapura.
Sau khi vua Bhavavarman II chết năm 656, phần lớn Chân Lạp bị chia tách thành các tiểu quốc nhỏ độc lập. Vua Jayavarman I đã có những cố gắng để thống nhất đất nước và ông đã giành lại phần lớn phần lãnh thổ được vua Ishanavarman I cai trị trước đó.
Sau khi vua Jayavarman I chết năm 700, rối loạn trong vương quốc lại xảy ra và vương quốc lại bị chia nhỏ giữa nhiều thế lực cát cứ. Các sử liệu Trung Hoa thì cho rằng trong thế kỷ 8, Chân Lạp bị chia thành hai tiểu quốc là Lục Chân Lạp (với trung tâm của Lục Chân Lạp khi đó là tỉnh Champasak ngày nay của Lào) và Thủy Chân Lạp (tương ứng với khu vực đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam và miền nam Campuchia ngày nay). Từ hai quốc gia này có lẽ lại tách ra thành một vài tiểu quốc khác, tiếp tục làm suy yếu Chân Lạp. Các tiểu quốc chủ yếu tại Thủy Chân Lạp là Shambupura, Vyadhapura, Souht Prei Veng, Bhavapura, với trung tâm tại Sambor Prei Kuk. Năm 716, Pushkaraksha, người cai trị Shambhupura (khu vực Kratie ngày nay) tuyên bố mình là vua của toàn bộ Kambuja. Cũng trong khoảng thời gian này, Shambhuvarman, con trai của Pushkaraksha, đã kiểm soát phần lớn Thủy Chân Lạp cho tới khi (cũng trong thế kỷ 8) người Mã Lai và người Java thống trị trên nhiều tiểu quốc Khmer. Cổ sử còn đề cập tới Rjendravarman I, con trai của Sambhuvarman và Mahipativarman, con trai của Rjendravarman I. Ông này có lẽ là vị vua bị người Java chặt đầu.
== Các vị vua Chân Lạp ==
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
“"The State of Zhenla" History of the Khmer People.”. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006.
The Treasures of Angkor. ISBN 88-544-0117-X |
các dân tộc lào.txt | Các dân tộc Lào hay các bộ tộc Lào là một danh từ chung để chỉ các dân tộc sống trên lãnh thổ Lào.
Phần lớn các chuyên gia thống nhất trong việc phân loại dân tộc và ngôn ngữ của các dân tộc Lào. Trong điều tra dân số năm 1995, chính phủ Lào công nhận 149 nhóm dân tộc trong 47 dân tộc chính. Trong khi đó Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước (LFNC) gần đây đã sửa đổi danh sách bao gồm 49 dân tộc với hơn 160 nhóm dân tộc.
Trong số các dân tộc Lào thì người Lào là dân tộc đa số, chiếm xấp xỉ 68% dân số với 3,6 triệu người, tạo thành nhóm Lào Lùm ("người Lào vùng thấp", tiếng Lào: ລາວລຸ່ມ, tiếng Thái: ลาวลุ่ม, IPA: laːw lum). Thuật ngữ các dân tộc thiểu số thường được sử dụng để phân loại các nhóm dân tộc phi-Lào, trong khi thuật ngữ các dân tộc bản địa không được CHDCND Lào sử dụng.
160 nhóm dân tộc sử dụng tổng cộng 82 ngôn ngữ riêng biệt.
== Nguồn gốc ==
== Lịch sử ==
== Các dân tộc ==
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
== Liên kết ngoài == |
bầu cử tổng thống iran, 2009.txt | Bầu cử tổng thống lần thứ 10 của Iran được tổ chức vào ngày 12 tháng 6 năm 2009. Tổng thống Iran là vị trí cao nhất được bầu cử phổ thông, nhưng không điều khiển chính sách ngoại giao lẫn lực lượng quân đội. Các ứng viên phải được Hội đồng Vệ binh, một cơ quan gồm 12 thành viên bao gồm sáu giáo sĩ (do Lãnh đạo Tối cao Iran lựa chọn), và sáu luật sư (do người đứng đầu hệ thống tư pháp Iran đề cử và được bầu lên trong Nghị viện).
Cơ quan Thông tấn Cộng hòa Hồi giáo, cơ quan thông tấn chính thức của Iran, đã thông báo với hai phần ba số phiếu được kiểm, tổng thống đương nhiệm là Mahmoud Ahmadinejad đã giành chiến thắng với tỷ lệ 63% số phiếu, và Mir-Hossein Mousavi nhận được 33%. Nhiều hãng truyền thông quốc tế, Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Âu (chủ yếu là Vương quốc Anh, Pháp và Đức), Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác đã biểu lộ sự lo ngại và chỉ trích về tình trạng được cho là gian lận bầu cử, kiểm duyệt và sự hung bạo của cảnh sát khi chống lại những cuộc biểu tình diễn ra ở khắp Iran. Trong khi đó nhiều quốc gia thành viên của Liên đoàn Ả Rập, cũng như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Brasil đã chúc mừng cho chiến thắng của Ahmadinejad.
Ông Mousavi nói rằng, "Tôi cảnh cáo rằng tôi sẽ không đầu hàng trò chơi này," và kêu gọi những người ủng hộ ông chống lại quyết định cũng như tránh những hành động bạo lực. Những cuộc biểu tình, ủng hộ Mousavi và phản đối nghi ngờ gian lận, đã nổ ra ở Tehran. Lãnh đạo tối cao Ayatollah Ali Khamenei kêu gọi đất nước hợp nhất dưới quyền Ahmadinejad, gọi sự thắng lợi của ông là "sự ước định thiêng liêng". Mousavi đưa ra lời chống án chính thức đối với kết quả lên Hội đồng Vệ binh vào ngày 14 tháng 6. Vào ngày 15 tháng 6, Khamenei thông báo sẽ có một cuộc điều tra về cáo buộc gian lận bầu cử, và sẽ mất chừng bảy đến mười ngày. Vào ngày 16 tháng 6, Hội đồng Vệ binh thông báo sẽ kiểm lại phiếu. Tuy nhiên, Mousavi nói rằng đã có 14 triệu phiếu chưa được kiểm đã biến mất, dẫn đến khả năng tác động đến kết quả.
== Ứng cử viên ==
Vào ngày 20 tháng 5 năm 2009, Hội đồng Vệ binh công bố chính thức danh sách các ứng cử viên được chấp nhận, và loại một số ứng viên đã đăng ký.
=== Các ứng cử viên được chấp nhận ===
Bảo thủ
Mahmoud Ahmadinejad, đương kim
Mohsen Rezaee, cựu Tổng tư lệnh Vệ binh Cách mạng Iran và là tổng thư ký đương nhiệm của Hội đồng Biệt Lý
cải cách
Mehdi Karroubi, cựu Phát ngôn viên của Đảng Majlis
Mir-Hossein Mousavi, Thủ tướng Iran cuối cùng
=== Các ứng cử viên bị loại ===
Bảo thủ
Rafat Bayat, đại diện nữ của đảng Majlis đến từ Zanjan
Độc lập
Akbar Alami, cựu đại diện Majlis đến từ Tabriz
Ghasem Sholeh-Saadi, cựu đại diện Majlis
== Kết quả ==
Cuộc bầu cử chứng kiến những hoạt động tranh cử sôi nổi ở các thành phố Iran, và số lượng người đi bầu là rất cao với báo cáo có hơn 80 phần trăm nhân dân. Nếu không có ứng cử viên nào dành đa số ủng hộ, một cuộc bỏ phiếu vòng hai sẽ ra vào ngày 19 tháng 6 năm 2009. Đến cuối thời điểm bỏ phiếu, cả hai ứng cử viên dẫn đầu, Mahmoud Ahmadinejad và Mir-Hossein Mousavi, đều tuyên bố thắng cuộc, cả hai đều nói với báo chí rằng nguồn tin tức của họ báo họ được từ 58–60% tổng số phiếu. Các báo cáo ban đầu cho thấy có khoảng 32 triệu phiếu được bỏ.
Kết quả từ từng địa phương:
== Hệ quả ==
=== Biểu tình ===
Sau khi kết quả được công bố, ông Mir-Hossein Mousavi đã nêu nghi vấn là cuộc bầu cử bị gian lận.
Nhiều người Iran, đặc biệt là giới trẻ, đã tham gia biểu tình khắp các đường phố lớn của Iran, bất chấp những hàng rào cảnh sát đan dày đặc để chống bạo động. Người biểu tình ném đất đá vào cảnh sát, đốt lốp xe trên đường phố và xô đẩy hàng rào cảnh sát ở nhiều tuyến đường. Hàng ngàn người đã xuống đường phản đối kết quả, dựng và đốt các hàng rào trên phố xá Tehran và đụng độ với cảnh sát dù cho ông Mir Hossein Mousavi, ứng cử viên theo phe cải cách đã kêu gọi những người ủng hộ tránh bạo lực. Ông Mousavi cho rằng: "Các vi phạm bầu cử là rất nghiêm trọng và việc các bạn tỏ thất vọng là đúng". Thế nhưng tôi kêu gọi các bạn không gây tổn hại cho bất cứ cá nhân hay nhóm người nào."
Trước đó ông Mousavi cũng đã chỉ trích cuộc bầu cử là "trò hề". Theo phe ông Mossavi, ứng cử viên ôn hoà về đầu với gần 60% phiếu. Theo một số nhà phân tích, số đông người đi bầu có thể sẽ không đem lại kết quả tốt cho Mamoud Ahmedinejad.
Cả 3 đối thủ của đương kim Tổng thống Mahmoud Ahmedinejad, đều kêu gọi Lãnh tụ tối cao Ayatollah Ali Khamenei hãy ngăn chặn việc gian lận. Ông Mousavi than phiền với một cơ quan thông tấn Iran rằng một vài người đại diện của ông đã bị ngăn không cho tới một số phòng phiếu, khiến họ không theo dõi hoạt động bầu cử được. Phe đối lập cũng đã lên tiếng cáo buộc ông Ahmadinejad sử dụng nguồn lực của chính phủ để duy trì quyền lực khi ông dùng xe của nhà nước chuyên chở những người ủng hộ tới những buổi thuyết trình do ông chủ trì
Trong một tuyên bố trên trang web riêng, ông Mousavi đã phản đối mạnh mẽ những vi phạm trắng trợn trong cuộc bầu cử tổng thống. Trước đó, tại cuộc họp báo tự tuyên bố thắng cử hôm thứ 6, ứng cử viên này đã đưa ra những dấu hiệu bất thường của cuộc bầu cử, như thiếu phiếu bầu và phòng bỏ phiếu đóng cửa quá sớm.
Cơ quan lập pháp cao nhất Iran nói họ đang phải điều tra 646 đơn khiếu nại của ba ứng viên thất cử trong cuộc bầu cử Tổng thống trong khi ngày càng có thêm các nhà hoạt động, chính trị gia và các phóng viên bị bắt lúc các cuộc biểu tình tiếp diễn.
Lãnh tụ tối cao của chế độ Hồi giáo Iran, giáo chủ Khamenei, người gián tiếp ủng hộ Ahmadinejad đã gọi kết quả bầu cử là "ngày hội lớn". Ông Khamenei kêu gọi người dân Iran bình tĩnh và tránh các hành động khiêu khích. Lãnh tụ tối cao của Iran nói: "Kẻ thù muốn lấy đi niềm vui của bữa tiệc này bằng những hành động khiêu khích mang mục đích xấu".
Sau khi giáo chủ Hồi giáo Ali Khamenei tỏ ý cảnh cáo đoàn biểu tình, cảnh sát đã được điều đến để trấn áp bằng bạo lực những người biểu tình. Đã có người bị giết.. Trong số những người bị bắn chết có cô gái Neda Agha-Soltan, đã trở thành biểu tượng của phong trào đối lập..
Hàng trăm ngàn người ủng hộ phe đối lập đã đổ ra các đường phố thủ đô Tehran của Iran để phản đối kết quả cuộc bầu cử Tổng thống và đám đông kéo dài tới 9 km. Một số lãnh đạo biểu tình đã bị bắt và Chính quyền Tehran tiếp tục trấn áp báo chí nước ngoài, trong đó có việc trục xuất phóng viên BBC Jon Leyne trong khi Tổ chức Nhà báo không Biên giới cho biết 23 nhà báo và blogger địa phương đã bị bắt trong tuần qua.
=== Phản ứng trong nước ===
Để đối phó với những cuộc biểu tình của phe đối lập, chính quyền Ahmadinjad đã hạn chế không cho các phóng viên nước ngoài đưa tin nên không rõ số người bị thương và bị bắt. Ngoài ra, chính quyền Hồi giáo Iran còn tìm cách khống chế, kiểm duyệt các trang Web và Blog cá nhân của những người phản đối.
Một quan chức Israel cho biết chiến thắng của ông Mahmoud Ahmadinejad là "rất đáng lo ngại" đối với Israel. Ông này nói: "Đây là một diễn biến rất đáng lo ngại, vì ông Ahmadinejad là ứng cử viên hiếu chiến nhất, và điều này có thể sẽ chỉ dẫn Iran tới một cuộc đối đầu với thế giới phương Tây".
=== Phản ứng quốc tế ===
Ngày 22/06 Thủ tướng Đức là bà Angela Merkel đã nói rằng:
"Nhân quyền và quyền công dân là không thể tách rời nên người Đức ủng hộ các đoàn biểu tình hòa bình ở Iran khi họ dùng quyền tự do ngôn luận để tụ họp và thực hiện quyền của họ."
Thủ tướng Angela Merkel cũng yêu cầu chính quyền Iran để báo chí, truyền thông được tự do đưa tin và không dùng vũ lực chống lại người biểu tình và hãy thả hết các thành viên phe đối lập.
Thứ trưởng Ngoại giao Israel, ông Danny Ayalon, cho rằng kết quả bầu cử tại Iran cho thấy mối đe dọa của Iran đối với thế giới ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Chính phủ Mỹ ngày 13/6/2009 đã tuyên bố đang điều tra về những cáo buộc gian lận bầu cử và không công nhận việc Ahmadinejad thắng thêm 1 nhiệm kỳ 4 năm.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Biểu tình ở Iran: Không chỉ vì chiếc ghế tổng thống |
danh sách vô địch đơn nam úc mở rộng.txt | Dưới đây là danh sách các vận động viên quần vợt đoạt chức vô địch nội dung đơn nam giải Úc Mở rộng.
== Xem thêm ==
Giải quần vợt Úc Mở rộng
Danh sách vô địch đơn nữ Úc Mở rộng
Danh sách vô địch đôi nam Úc Mở rộng
Danh sách vô địch đôi nữ Úc Mở rộng
Danh sách vô địch đôi nam nữ Úc Mở rộng
== Tham khảo == |
lý nam đế.txt | Lý Nam Đế (chữ Hán: 李南帝; 503–548), tên thật là Lý Bí hoặc Lý Bôn (李賁) (xem mục Tên gọi bên dưới), là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lý và nước Vạn Xuân.
== Tên gọi ==
Trong sử cũ viết bằng Hán văn như Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục tên thật của Lý Nam Đế được ghi lại là "李賁". Chữ "李" có âm Hán Việt là "lý", chữ "賁" thì có hai âm đọc là "bí" và "bôn", mà sử cũ viết bằng Hán văn thì lại không chỉ rõ chữ "賁" ở đây phải đọc là "bôn" hay "bí" nên có người đọc "李賁" là "Lý Bôn", lại có người đọc là "Lý Bí".
Ở thôn Giang xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có ngôi đình thờ Lý Nam Đế. Theo ông Lộ Khắc Lập (sinh năm 1936, thủ từ đình thôn Giang xá) ngày xưa Lý Nam Đế từng đi qua đây khi dẫn quân sang "xã bên" tập trận, vì vậy mà có câu hát "Nhong nhong ngựa ông đã về/Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn". Người dân thôn Giang cho rằng Lý Nam Đế tên thật là Lý Bí, do kiêng huý ông họ gọi quả bí xanh, bí đỏ và dây hoa thiên lý là "quả bầu" vì từ "lý" và "bí" trong tên gọi của các loại rau quả đó đồng âm với "lý" và "bí" trong "Lý Bí".
== Quê hương ==
Nhiều sách sử cho biết tổ tiên của Lý Nam Đế là người thuộc tộc Bách Việt, vào cuối thời Tây Hán thì tránh sang ở Giao Châu để trốn nạn binh đao. Qua 7 đời, đến đời Lý Bí thì dòng họ Lý đã ở Việt Nam được hơn 5 thế kỷ. Chính sử Trung Quốc đều coi Lý Bí là "Giao Châu thổ nhân".
Theo sách Văn minh Đại Việt của Nguyễn Duy Hinh căn cứ các thần phả thì Lý Bí không phải là thế hệ thứ 7 mà là thế hệ thứ 11 của họ Lý từ khi sang Việt Nam. Khoảng cách 11 thế hệ trong 5 thế kỷ hợp lý hơn là 7 thế hệ trong 5 thế kỷ. Theo đó, đời thứ 7 là Lý Hàm lấy bà Ma thị là người Việt, sinh ra Lý Thanh. Lý Thanh phục vụ dưới quyền thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi nhà Lưu Tống thời Nam Bắc Triều (Trung Quốc). Lý Thanh sinh ra Lý Hoa, Lý Hoa sinh ra Lý Cạnh. Lý Cạnh sinh ra Lý Thiên Bảo và Lý Bí. Nguồn tài liệu khác cho biết vợ Lý Cạnh là Phí thị, ngoài Lý Thiên Bảo và Lý Bí còn sinh ra Lý Xuân và Lý Hùng.
Về quê hương Lý Bí, các nguồn tài liệu ghi khác nhau. Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí ghi ông là người Thái Bình, phủ Long Hưng. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: "tên Thái Bình đặt từ thời Đường (618-907), còn Long Hưng đặt từ thời Trần (1225-1400)", như vậy gọi Thái Bình và Long Hưng là gọi theo tên sau này đặt. Các sử gia nhà Nguyễn xác định Long Hưng thuộc Thái Bình và cho rằng quê Lý Bí thuộc Thái Bình. Việt Nam Sử Lược ghi rằng phủ Long Hưng thuộc tỉnh Sơn Tây (cũ). Các nhà nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng: thời Bắc thuộc, tỉnh Thái Bình hiện nay vẫn là biển. Tên gọi Thái Bình thời Bắc thuộc nằm trong khoảng vùng Sơn Tây. Tại khu vực này có nhiều đền thờ Lý Bí và những người gắn bó với ông như Triệu Túc, Phạm Tu, Lý Phật Tử.
Nhân kỷ niệm 1.470 năm (542 - 2012) ngày cuộc khởi nghĩa Lý Bí bùng nổ, ngày 6/10 tại Hà Nội, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội thảo khoa học "Một số vấn đề về Vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế" với sự tham dự của đông đảo các nhà sử học, nhà khoa học và nhân dân địa phương (Hà Nội, Thái Nguyên, Phú Thọ,...). Dựa trên cơ sở tư liệu điền dã thực địa ở các vùng: xã Tiên Phong - huyện Phổ Yên và huyện Thái Thụy, kết hợp với thần tích, truyền thuyết… còn lưu giữ tại các xã Giang Xá, Lưu Xá (huyện Hoài Đức), 27 tham luận tại hội thảo đưa ra kết luận vua Lý Nam Đế có quê gốc ở thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
== Tuổi thơ ==
Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi (17-10-503). Từ nhỏ, Lý Bí đã tỏ ra là một cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha mất; 7 tuổi thì mẹ qua đời. Ông đến ở với chú ruột. Một hôm, có một vị Pháp tổ thiền sư đi ngang qua, trông thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú liền xin Lý Bí đem về chùa nuôi dạy. Sau hơn 10 năm rèn sách chuyên cần, Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu sâu. Nhờ có tài văn võ kiêm toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương.
Lý Bí có tài, được Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương mời ra làm chức Giám quân ở Đức châu (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay).
Thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tiêu Tư hà khắc tàn bạo nên mất lòng người. Do bất bình với các quan lại đô hộ tàn ác, Lý Bí bỏ quan, về quê, chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đô hộ.
== Đánh đuổi quân Lương và Lâm Ấp ==
=== Khởi nghĩa đuổi Tiêu Tư ===
Được nhiều người hưởng ứng, lực lượng của Lý Bí lớn mạnh. Tù trưởng ở Chu Diên (Hải Dương) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục phục tài đức của ông nên đã đem quân nhập với đạo quân của ông. Tinh Thiều, một người giỏi từ chương, từng đến kinh đô nhà Lương xin được chọn làm quan, nhưng chỉ cho chức "gác cổng thành", nên bỏ về Giao Châu theo Lý Bí. Ngoài ra trong lực lượng của Lý Bí còn có một võ tướng là Phạm Tu đã ngoài 60 tuổi. Thần phả còn ghi nhận thêm các tướng theo giúp Lý Bí là Trịnh Đô,Tam Cô, Lý Công Tuấn.
Lý Bí liên kết với các châu lân cận cùng chống lại Tiêu Tư. Cuối năm 541, Lý Bí chính thức khởi binh chống nhà Lương, khí thế rất mạnh. Theo sách Lương thư của Trung Quốc, Tiêu Tư liệu thế không chống nổi quân Lý Bí, phải sai người mang của cải đến đút lót cho Lý Bí để được tha chạy thoát về Quảng Châu. Quân của Lý Bí đánh chiếm lấy thành Long Biên.
Tuy Tiêu Tư đã bỏ chạy nhưng Lý Bí mới kiểm soát được vùng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay, các châu phía nam vẫn trong tay nhà Lương. Tháng 4 năm 542, Lương Vũ Đế sai Thứ sử Việt châu là Trần Hầu, thứ sử La châu là Ninh Cự, thứ sử An châu là Úy Trí, thứ sử Ái châu là Nguyễn Hán cũng hợp binh đánh Lý Bí. Nhưng Lý Bí đã chủ động ra quân đánh trước, phá tan lực lượng quân Lương ở phía nam, làm chủ toàn bộ Giao Châu.
=== Đánh lui cuộc phản công của nhà Lương ===
Cuối năm 542, Lương Vũ Đế lại sai thứ sử Giao Châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tân Châu là Lư Tử Hùng sang đàn áp. Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng sợ thế mạnh của Lý Bí nên không dám tiến quân, xin khất tới mùa thu năm sau. Thứ sử Quảng Châu là Hoán (theo Trần thư là Tiêu Ánh) không cho, Tiêu Tư cũng thúc giục, nên Quýnh và Hùng buộc phải tiến quân.
Được tin quân Lương lại tiến sang, Lý Bí chủ động mang quân ra bán đảo Hợp Phố đón đánh. Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng đi đến Hợp Phố, bị quân Lý Bí đánh bại, 10 phần chết đến 6-7 phần, quân tan rã.
Chiến thắng này giúp Lý Bí kiểm soát toàn bộ Giao Châu, tức là miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam cộng thêm quận Hợp Phố (khu vực huyện Hợp Phố thành phố Bắc Hải tỉnh Quảng Tây và bán đảo Lôi Châu tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay).
=== Đánh đuổi Lâm Ấp ===
Trong khi Lý Bí bận đối phó với nhà Lương ở phía Bắc thì tại phía nam, vua Lâm Ấp có ý nhòm ngó Giao Châu.
Biên giới giữa Giao Châu và Lâm Ấp lúc đó là dãy Hoành Sơn. Tháng 5 năm 543, vua Lâm Ấp Rudravarman I mang quân xâm chiếm quận Nhật Nam và tiến đến quận Cửu Đức. Lý Nam Đế sai Phạm Tu cầm quân vào nam đánh Lâm Ấp.
Sử sách không mô tả rõ diễn biến trận đánh này, chỉ ghi sơ lược: Phạm Tu tiến quân vào Nam đánh tan quân Lâm Ấp ở Cửu Đức khiến vua Lâm Ấp phải bỏ chạy.
Có ý kiến cho rằng người đi đánh Lâm Ấp là Lý Phục Man chứ không phải Phạm Tu và đây là 2 vị tướng khác nhau; lại có ý kiến cho rằng chính Phạm Tu là Lý Phục Man, vì có công đánh Lâm Ấp mà được ban họ Lý, đổi tên Phục Man (chinh phục người Man).
== Dựng nước Vạn Xuân ==
Năm 544, tháng giêng, ông tự xưng là Lý Nam Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiên Đức (đức trời), lập trăm quan, đặt tên nước là Vạn Xuân thể hiện mong muốn rằng xã tắc truyền đến muôn đời. Đóng đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Thành lập triều đình với hai ban văn, võ. Lấy Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều đứng đầu ban văn, Phạm Tu đứng đầu ban võ.
Hiện có một số mâu thuẫn về kinh đô của Lý Nam Đế. Một số nguồn cho rằng Lý Nam Đế đóng đô ở thành Long Biên. Tuy nhiên ngày nay đa số công nhận kinh đô của Lý Nam Đế là một tòa thành được xây ở cửa sông Tô Lịch (thuộc Hà Nội ngày nay).
== Chạy về động Khuất Lão ==
Năm 545, tháng 5, nhà Lương cho Dương Phiêu (hay Dương Thiệu) làm thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên làm tư mã, đem quân xâm lấn, lại sai thứ sử Định Châu là Tiêu Bột hội với Phiêu ở Giang Tây.
Trần Bá Tiên đem quân đi trước. Khi quân của Bá Tiên đến Giao Châu, Lý Nam Đế đem 3 vạn quân ra chống cự, bị thua ở Chu Diên, lại thua ở cửa sông Tô Lịch, tướng Tinh Thiều, Phạm Tu tử trận. Ông chạy về thành Gia Ninh (xã Gia Ninh, huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phúc cũ ngày nay thuộc xã Thanh Đình, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.). Quân Lương đuổi theo vây đánh.
Tháng giêng năm 546, Trần Bá Tiên đánh lấy được thành Gia Ninh. Lý Nam Đế chạy vào đất người Lạo ở Tân Xương. Quân Lương đóng ở cửa sông Gia Ninh.
Sau một thời gian tập hợp và củng cố lực lượng, tháng 8, ông đem 2 vạn quân từ trong đất Lạo ra đóng ở hồ Điển Triệt (xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ), đóng nhiều thuyền đậu chật cả mặt hồ. Quân Lương sợ, cứ đóng lại ở cửa hồ không dám tiến vào. Đêm hôm ấy nước sông lên mạnh, dâng cao 7 thước, tràn đổ vào hồ. Trần Bá Tiên nhân đó đem quân theo dòng nước tiến trước vào. Quân Vạn Xuân không phòng bị, vì thế tan vỡ.
Lý Nam Đế phải lui giữ ở trong động Khuất Lão, ông ủy cho con thái phó Triệu Túc là tả tướng là Triệu Quang Phục giữ việc nước, điều quân đi đánh Bá Tiên.
== Qua đời ==
Năm 548, ngày 20 (ngày Tân Hợi) tháng 3 (tức ngày 13-4 dương lịch), Lý Nam Đế ở động Khuất Lão lâu ngày bị nhiễm lam chướng, ốm qua đời. Ông ở ngôi được 5 năm (543-548), thọ 46 tuổi. Ngày nay, các sử gia trong hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã thống nhất xác định địa danh động Khuất Lão thuộc địa bàn xã Văn Lương, huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ.
Theo sách "Việt Nam văn minh sử cương" của Lê Văn Siêu dẫn một số nguồn tài liệu cổ, Lý Nam Đế ở lâu ngày trong động, vì nhiễm lam chướng nên bị mù hai mắt. Vì vậy đời sau đến ngày giỗ thường phải xướng tên các đồ lễ để vua nghe thấy. Lại cũng theo tài liệu này, có thuyết cho rằng không phải Lý Nam Đế ốm chết mà vua bị người Lạo làm phản giết hại. Tướng Lý Phục Man cũng mất theo vua vì nạn này.
== Hoàng hậu ==
Theo thần tích cổ, Lý Nam Đế có người vợ là Hứa Trinh Hòa, con ông Hứa Minh và bà Bùi Thị Quyền người làng Đông Mai, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Bà được Lý Nam Đế lập làm hoàng hậu. Bà đã cùng chồng chinh chiến ngoài mặt trận và bị tử trận do thuyền đắm tại hồ Điển Triệt cuối năm 546. Sau này bà được Triệu Việt Vương lập đền thờ tại quê nhà.
== Bình luận ==
Theo sử gia Lê Văn Hưu:
Binh pháp có câu: "Ba vạn quân đều sức, thiên hạ không ai địch nổi". Nay Lý Bí có 5 vạn quân mà không giữ được nước, thế thì Bí kém tài làm tướng chăng? Hay là quân lính mới họp không thể đánh được chăng? Lý Bí cũng là bậc tướng trung tài, ra trận chế ngự quân địch giành phần thắng không phải là không làm được, nhưng bị hai lần thua rồi chết, bởi không may gặp phải Trần Bá Tiên là kẻ giỏi dùng binh vậy.
Theo sử gia Ngô Sĩ Liên:
Tiền Lý Nam Đế dấy binh trừ bạo, đáng là thuận đạo trời, thế mà cuối cùng đến nỗi bại vong, là vì trời chưa muốn cho nước ta được bình trị chăng? Than ôi! Không chỉ vì gặp phải Bá Tiên là kẻ giỏi dùng binh, mà còn gặp lúc nước sông đột ngột dâng lên trợ thế cho giặc, há chẳng phải cũng do trời hay sao?
Khâm định Việt sử thông giám cương mục nhận xét:
Nam Đế nhà Lý dù không địch nổi quân Lương, việc lớn tuy không thành nhưng đã biết nhân thời cơ mà vùng dậy, tự làm chủ nước mình, đủ để tạo thanh thế và mở đường cho nhà Đinh, nhà Lý sau này. Việc làm của Lý Nam Đế há chẳng phải là hay lắm đó sao!
== Xem thêm ==
Nhà Tiền Lý
Triệu Việt Vương
Lý Thiên Bảo
Phạm Tu
== Tham khảo ==
Đại Việt sử ký toàn thư - Bản điện tử.
Khâm định Việt sử Thông giám cương mục - Bản điện tử, định dạng PDF.
Việt sử tiêu án - Bản điện tử dạng PDF
Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Viện Sử học (2001), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Nguyễn Duy Hinh (2005), Văn minh Đại Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử cương, Nhà xuất bản Thanh niên
Viện khoa học xã hội Việt Nam (2007), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 4, Nhà xuất bản khoa học xã hội
== Chú thích == |
ai cập cổ đại.txt | Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong sáu nền văn minh phát sinh một cách độc lập trên thế giới. Nền văn minh Ai Cập được thống nhất lại vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng.
Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực của nó vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu. Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemy I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemy gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.
Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.
Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite. Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.
== Lịch sử qua các thời kì ==
Sông Nile luôn là huyết mạch của khu vực này trong phần lớn chiều dài lịch sử. Các đồng bằng màu mỡ của sông Nile đã cho con người cơ hội để phát triển một nền kinh tế nông nghiệp định canh và tạo nên một xã hội tập trung, tinh vi hơn trở thành nền tảng trong lịch sử văn minh của con người. Những người du mục săn bắn hái lượm hiện đại bắt đầu sinh sống trong khu vực thung lũng sông Nile vào cuối giai đoạn Trung kỳ Pleistocen khoảng 120.000 năm trước. Vào cuối thời kỳ đồ đá cũ, khí hậu khô hạn của Bắc Phi ngày càng trở nên nóng và khô hơn, buộc cư dân của khu vực này tập trung về dọc theo lưu vực sông.
=== Thời kỳ Tiền triều đại ===
Trong thời kỳ Tiền triều đại và Sơ kỳ, khí hậu Ai Cập ít khô cằn hơn ngày nay. Một vùng rộng lớn của Ai Cập đã được bao phủ bởi những đồng cỏ xavan và những đàn động vật ăn cỏ. Hệ động thực vật từng phong phú hơn nhiều ở mọi hệ sinh thái và lưu vực sông Nile cung cấp những quần thể chim lớn. Săn bắn từng phổ biến ở Ai Cập, và đây cũng là thời kỳ nhiều loài động vật lần đầu tiên được thuần hóa.
Đến khoảng 5500 TCN, các bộ lạc nhỏ sống trong thung lũng sông Nile đã phát triển thành một loạt các nền văn hóa có khả năng làm chủ được trồng trọt và chăn nuôi, và có thể nhận biết được thông qua đồ gốm và các vật dụng cá nhân, chẳng hạn như lược, vòng đeo tay, và chuỗi hạt. Lớn nhất trong số những nền văn hóa sớm ở miền thượng (phía Nam) Ai Cập là Badari, mà có lẽ có nguồn gốc từ sa mạc phía Tây; nó từng nổi tiếng với đồ gốm chất lượng cao, công cụ bằng đá, và việc sử dụng đồng.
Tiếp theo sau nền văn hóa Badari là các nền văn hóa Amra (Naqada I) và Gerzeh (Naqada II), với một số cải tiến về công nghệ. Ngay từ thời kỳ Naqada I, người Ai Cập tiền triều đại đã nhập khẩu đá vỏ chai từ Ethiopia, được sử dụng để tạo nên các lưỡi dao và các vật dụng khác từ các mảnh đá. Trong thời kỳ Naqada II, đã xuất hiện các bằng chứng về sự tiếp xúc ban đầu với vùng Cận Đông, đặc biệt là Canaan và bờ biển Byblos. Trong một khoảng thời gian khoảng 1.000 năm, các nền văn hóa Naqada đã phát triển từ một vài cộng đồng nông nghiệp nhỏ thành một nền văn minh hùng mạnh trong đó các nhà lãnh đạo đã kiểm soát hoàn toàn người dân và các nguồn tài nguyên ở thung lũng sông Nile. Thiết lập nên trung tâm quyền lực tại Hierakonpolis, và sau đó tại Abydos, những nhà lãnh đạo Naqada III đã mở rộng quyền kiểm soát của họ về phía bắc Ai Cập dọc theo sông Nile. Họ cũng đã giao thương với Nubia ở phía nam, các ốc đảo sa mạc phía tây, và với các nền văn hóa miền đông Địa Trung Hải và Cận Đông. Những đồ tạo tác tại nghĩa địa hoàng gia Nubia thuộc Qustul mang những biểu tượng cổ xưa nhất được biết đến của các triều đại của Ai Cập, như vương miện màu trắng của Ai Cập và chim ưng.
Nền văn hóa Naqada đã tạo ra nhiều dạng của cải vật chất khác nhau, phản ánh sức mạnh ngày càng tăng và sự giàu có của tầng lớp thượng lưu, cũng như các đồ dùng cá nhân, trong đó bao gồm lược, những bức tượng nhỏ, gốm màu, bình đá có họa tiết chất lượng cao, phiến đá để chế tạo mỹ phẩm, và đồ trang sức làm bằng vàng, lapis, ngà voi. Họ cũng phát triển một dạng gốm tráng men được gọi là đồ sứ, được sử dụng tới tận thời kỳ La Mã để trang trí ly, bùa hộ mệnh, và các bức tượng nhỏ. Trong giai đoạn cuối cùng của thời kỳ tiền triều đại, văn hóa Naqada bắt đầu sử dụng các ký hiệu viết mà về sau phát triển thành một hệ thống chữ tượng hình hoàn chỉnh để ghi lại ngôn ngữ Ai Cập cổ đại.
=== Giai đoạn Sơ kỳ triều đại (khoảng 3050 TCN - 2686 TCN) ===
Giai đoạn sơ kỳ triều đại xấp xỉ tương đương với giai đoạn đầu của nền văn minh Sumer-Akkad ở Mesopotamia và văn minh Elam cổ. Một tư tế người Ai Cập vào thế kỷ thứ 3 TCN có tên là Manetho đã tập hợp phả hệ các pharaon từ Menes đến thời đại của ông và chia thành 30 triều đại, tạo thành một hệ thống vẫn được sử dụng cho tới ngày nay. Ông đã bắt đầu lịch sử chính thức của mình với vị vua tên là "Meni" (hoặc Menes trong tiếng Hy Lạp), người được cho là đã thống nhất cả hai vương quốc của Thượng và Hạ Ai Cập (khoảng năm 3100 trước Công nguyên).
Sự chuyển biến sang một nhà nước thống nhất xảy ra từ từ hơn cách các học giả Ai Cập trình bày, và ngày nay không còn lưu lại bất cứ ghi chép đương thời nào về Menes. Một số học giả hiện nay tin rằng vị vua Menes thần thoại này có thể là Pharaon Narmer, người được mô tả trong sắc phục hoàng gia trên bảng đá kỉ niệm của ông ta, Bảng đá Narmer, với một hành động biểu tượng cho sự thống nhất. Trong giai đoạn sơ kỳ triều đại khoảng năm 3150 trước Công nguyên, vị vua đầu tiên đã củng cố quyền kiểm soát đối với Hạ Ai Cập bằng cách thiết lập kinh đô tại Memphis, từ đó ông ta có thể kiểm soát nguồn lao động và nông nghiệp của vùng đồng bằng màu mỡ, cũng như các tuyến đường thương mại béo bở trọng yếu tới khu vực Levant. Sự gia tăng quyền lực và sự giàu có của các vị vua trong giai đoạn sơ kỳ triều đại đã được phản ánh thông qua các ngôi mộ được xây dựng công phu của họ và các kiến trúc thờ cúng mai táng tại Abydos, được sử dụng để ca tụng vị pharaon được phong thần sau khi ông ta qua đời. Các pharaon đã thiết lập nên một vương quyền hùng mạnh nhằm phục vụ cho việc hợp pháp hóa quyền kiểm soát nhà nước đối với đất đai, lao động và các nguồn tài nguyên thiết yếu cho sự sống còn và phát triển của nền văn minh Ai Cập cổ đại.
=== Thời kỳ Cổ Vương quốc (2686 TCN - 2181 TCN) ===
Những tiến bộ lớn trong kiến trúc, nghệ thuật, và công nghệ đã xuất hiện vào thời kì Cổ Vương quốc, nó được thúc đẩy bởi năng suất nông nghiệp gia tăng có thể nhờ một chính quyền trung ương phát triển tốt. Một số thành tựu đỉnh cao của Ai Cập cổ đại, kim tự tháp Giza và tượng Nhân sư vĩ đại, đã được xây dựng trong thời Cổ Vương quốc. Dưới sự chỉ đạo của tể tướng, các quan chức nhà nước thu thuế, phối hợp các dự án thủy lợi để nâng cao năng suất cây trồng, huy động nông dân làm việc trong các dự án xây dựng, và thiết lập một hệ thống tư pháp để duy trì hòa bình và trật tự.
Cùng với tầm quan trọng ngày càng tăng của một chính quyền trung ương, đã phát sinh một tầng lớp mới bao gồm những quan ký lục có học thức và các quan chức mà được ban phát đất đai bởi của các pharaon đổi lại cho sự phục vụ của họ. Các pharaon cũng thực hiện ban cấp đất đai cho các giáo phái và các đền thờ địa phương để đảm bảo rằng họ có nguồn lực để thờ cúng các vị vua sau khi ông ta qua đời. Các học giả tin rằng những điều này đã làm hao mòn một cách từ từ sức mạnh kinh tế của các pharaon suốt năm thế kỷ, và khiến cho nền kinh tế không còn có đủ khả năng để hỗ trợ cho một bộ máy trung ương tập quyền hùng mạnh nữa. Khi sức mạnh của các pharaon suy giảm, các thống đốc khu vực được gọi là nomarch bắt đầu thách thức uy quyền của các pharaon. Điều này cùng với nạn hạn hán nghiêm trọng từ giữa năm 2200 tới năm 2150 TCN, được coi là nguyên nhân khiến cho đất nước Ai Cập rơi vào giai đoạn kéo dài 140 năm của nạn đói và xung đột được gọi là Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Nhất.
=== Thời kỳ chuyển tiếp thứ nhất (2181-1991 TCN) ===
Sau khi chính quyền trung ương của Ai Cập sụp đổ vào cuối thời Cổ Vương quốc, chính quyền không còn có thể hỗ trợ hay giữ được sự ổn định cho nền kinh tế của đất nước. Thống đốc các vùng không còn có thể dựa vào nhà vua để được giúp đỡ trong thời gian khủng hoảng này, và tình trạng thiếu lương thực cùng tranh chấp chính trị leo thang gây ra nạn đói và các cuộc nội chiến quy mô nhỏ. Tuy nhiên, bất chấp những vấn đề khó khăn, các quan chức địa phương, do không cống nạp cho các pharaon, sử dụng sự độc lập mới có được để thiết lập một nền văn hóa phát triển mạnh ở các tỉnh. Một khi kiểm soát các nguồn tài nguyên của riêng mình, các tỉnh đã trở nên giàu có hơn về kinh tế, một thực tế chứng minh bằng sự chôn cất lớn hơn và tốt hơn trong tất cả các tầng lớp xã hội
Không bị ràng buộc bởi lòng trung thành của họ với pharaon, các nhà cầm quyền địa phương đã bắt đầu cạnh tranh với nhau để kiểm soát lãnh thổ và quyền lực chính trị. Khoảng năm 2160 trước Công nguyên, các vị vua ở Herakleopolis đã kiểm soát Hạ Ai Cập, trong khi một gia tộc đối thủ có căn cứ tại Thebes, gia tộc Intef, nắm quyền kiểm soát vùng Thượng Ai Cập. Vì nhà Intef mạnh hơn và bắt đầu mở rộng sự kiểm soát của họ về phía bắc, một cuộc đụng độ giữa hai triều đại đối thủ đã không thể tránh khỏi. Khoảng năm 2055 trước Công nguyên, phe Thebes dưới quyền Nebhepetre Mentuhotep II cuối cùng đã đánh bại các vị vua Herakleopolis, thống nhất hai vùng đất và mở ra một thời kỳ phục hưng kinh tế và văn hóa được gọi là thời Trung Vương quốc.
=== Thời kỳ Trung Vương quốc (2134 TCN - 1690 TCN) ===
Các pharaon thời Trung Vương quốc đã phục hồi sự thịnh vượng của đất nước và sự ổn định, qua đó tạo động lực cho sự hồi sinh của nghệ thuật, văn học, và các dự án xây dựng hoành tráng Mentuhotep II và các vị vua kế tục của vương triều thứ 11 cai trị từ Thebes, nhưng khi viên tể tướng Amenemhat I lên ngôi mở đầu cho triều đại thứ 12 khoảng năm 1985 trước Công nguyên, ông ta đã chuyển kinh đô của quốc gia tới thành phố Itjtawy nằm trong ốc đảo Faiyum. Từ Itjtawy, các pharaon triều đại thứ 12 đã tiến hành một chương trình cải tạo đất đai và thủy lợi nhằm tăng sản lượng nông nghiệp trong khu vực. Hơn nữa, quân đội còn tiến hành các chiến dịch quân sự tái chiếm lại vùng lãnh thổ Nubia vốn giàu các mỏ đá và mỏ vàng, trong khi người dân xây dựng một công trình phòng thủ ở phía đông vùng đồng bằng châu thổ, được gọi là "Trường thành của nhà vua", để bảo vệ vùng đất này khỏi các cuộc tấn công đến từ bên ngoài.
Với việc các vị vua sau khi củng cố được bộ máy quân sự và chính quyền cùng với sự giàu có đến từ nông nghiệp và khoáng sản, dân số của đất nước, nghệ thuật và tôn giáo đã phát triển mạnh mẽ. Trái ngược với quan điểm ưu đẳng đối với các vị thần thời Cổ Vương quốc, thời kỳ Trung Vương quốc đã diễn ra một quá trình gia tăng những biểu hiện của đạo đức cá nhân và những gì có thể được gọi là dân chủ hóa của thế giới bên kia, trong đó tất cả mọi người sở hữu một linh hồn và có thể được chào đón ở thế giới các vị thần sau khi qua đời. Văn học thời Trung Vương quốc mang đặc trưng là các chủ đề phức tạp với các nhân vật được thể hiện với sự tự tin, và phong cách hùng hồn. Phù điêu và các bức tác phẩm điêu khắc chân dung của thời kỳ này mang sự tinh tế, các chi tiết mang tính cá nhân đạt đến tầm cao mới với kỹ thuật hoàn hảo.
Vị vua vĩ đại cuối cùng của thời kỳ Trung Vương quốc, Amenemhat III, đã cho phép những người châu Á định cư trong khu vực đồng bằng để cung cấp một lực lượng lao động đủ để cho việc khai thác mỏ và đặc biệt là các công trình xây dựng của ông. Tuy nhiên các hoạt động xây dựng và khai thác mỏ đầy tham vọng, kết hợp với lũ lụt nghiêm trọng của sông Nile dưới triều đại của ông sau này đã gây nên căng thẳng kinh tế và dẫn đến sự suy yếu dần dần trong thời kỳ chuyển tiếp thứ hai dưới triều đại thứ mười ba và mười bốn sau này. Trong giai đoạn suy yếu này, những người định cư Canaan bắt đầu nắm quyền kiểm soát khu vực đồng bằng châu thổ, cuối cùng thì họ chiếm lấy quyền lực ở Ai Cập và được biết đến với tên gọi là người Hyksos.
=== Thời kỳ chuyển tiếp thứ hai (1674 TCN - 1549 TCN) và người Hyksos ===
Khoảng năm 1785 trước Công nguyên, khi mà sức mạnh của các vị vua thời Trung Vương quốc suy yếu, những cư dân châu Á sinh sống tại thành Avaris ở miền đông đồng bằng châu thổ đã nắm quyền kiểm soát khu vực và buộc chính quyền trung ương phải rút lui về Thebes, nơi các vị vua bị coi là một chư hầu và đặc biệt là phải cống nạp. Người Hyksos ("Các vị vua ngoại quốc") bắt chước mô hình của chính quyền Ai Cập và tự miêu tả mình là pharaon, do đó tích hợp các yếu tố Ai Cập vào nền văn hóa thời đại đồ đồng của họ. Họ và những dân tộc Semite xâm lược khác đã giới thiệu những công cụ chiến tranh mới tới Ai Cập, đáng kể nhất là loại cung hỗn hợp và chiến xa.
Sau khi rút lui về phía nam, các vị vua Thebes nhận thấy rằng bản thân họ bị mắc kẹt giữa người Hyksos ở phía bắc và đồng minh Nubia của người Hyksos, người Kush. Sau nhiều năm không động tĩnh, Thebes đã tập hợp đủ sức mạnh để có thể thách thức người Hyksos trong một cuộc chiến sau đó kéo dài hơn 30 năm, cho đến năm 1555 trước Công nguyên Các vị Pharaon Seqenenre Tao II và Kamose cuối cùng đã có thể đánh bại người Nubia, nhưng phải tới khi người kế vị của Kamose là Ahmose I lên ngôi, họ mới thành công trong việc tiến hành một loạt các chiến dịch vĩnh viễn loại trừ sự hiện diện của dân Hyksos ở Ai Cập. Vào thời kỳ Tân Vương quốc sau đó, quân đội đã trở thành một ưu tiên trung tâm cho các pharaon trong việc tìm cách mở rộng biên giới của Ai Cập và bảo đảm sự thống trị của họ ở vùng Cận Đông
=== Thời kỳ Tân Vương quốc (1549 TCN - 1069 TCN) ===
Các vị pharaon thời Tân Vương quốc đã thiết lập nên một thời kỳ thịnh vượng chưa từng có bằng cách củng cố chắc chắn biên giới của họ và tăng cường quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, bao gồm cả đế quốc Mitanni, Assyria, và Canaan. Các chiến dịch quân sự được tiến hành dưới triều đại Tuthmosis I và cháu trai của ông Tuthmosis III đã tạo nên một đế quốc Ai Cập lớn chưa từng thấy. Vào giai đoạn giữa triều đại của họ, Hatshepsut đã thúc đẩy hòa bình và khôi phục lại các tuyến đường thương mại bị gián đoạn trong thời kỳ người Hyksos cai trị, cũng như mở rộng tới các vùng đất mới. Khi Tuthmosis III qua đời năm 1425 TCN, Ai Cập đã có một đế chế trải dài từ Niya ở tây bắc Syria tới tận thác thứ tư của sông Nile ở Nubia.
Các vị pharaon thời kỳ này đã bắt đầu một chiến dịch xây dựng quy mô lớn để tôn vinh thần Amun, vị thần được thờ cúng tại Karnak. Họ cũng xây dựng những tượng đài để vinh danh những thành tựu của mình, cả trong thực tế và tưởng tượng. Ngôi đền Karnak là ngôi đền Ai Cập lớn nhất từng được xây dựng. Hatshepsut cũng đã sử dụng cường điệu tương tự và tạo nên sự huy hoàng trong suốt triều đại của gần hai mươi năm của bà. Triều đại của bà đã rất thành công, nó được đánh dấu bởi một thời gian dài hòa bình và các công trình xây dựng giàu có, các cuộc thám hiểm thương mai tới Punt, khôi phục lại mạng lưới thương mại nước ngoài và các dự án xây dựng lớn, trong đó có một ngôi đền mai táng thanh lịch sánh ngang với các kiến trúc Hy Lạp của một ngàn năm sau đó, một cặp cột tháp tưởng niệm khổng lồ, và một nhà nguyện tại Karnak. Bất chấp những thành tựu này của bà, Amenhotep II, vị vua kế vị của Tuthmosis III, đã tìm cách xóa bỏ di sản của bà vào giai đoạn gần cuối triều đại của cha ông và trong suốt triều đại của ông. Ông cũng đã cố gắng để thay đổi nhiều truyền thống đã được thiết lập và phát triển qua nhiều thế kỷ, mà một số được cho là một nỗ lực vô ích nhằm ngăn chặn những người phụ nữ khác trở thành pharaon và hạn chế ảnh hưởng của họ trong vương quốc.
Khoảng năm 1350 TCN, sự ổn định của Tân Vương quốc dường như đã bị đe dọa một lần nữa khi Amenhotep IV lên ngôi và tiến hành một loạt các cải cách triệt để và hỗn loạn. Ông đã đổi tên thành Akhenaten, và đưa vị thần mặt trời trước đó ít người biết đến là Aten trở thành vị thần tối cao, ngăn cấm hầu hết các vị thần khác, và tấn công vào quyền lực của các giáo sĩ Amun ở Thebes, những người mà ông xem là tham nhũng. Di chuyển kinh đô tới thành phố mới Akhetaten (ngày nay là Amarna), Akhenaten đã bỏ ngoài tai các sự kiện đang diễn ra ở vùng Cận Đông (nơi người Hittite, Mitanni và Assyria đang tranh giành quyền kiểm soát). Ông đã dành toàn lực cho tôn giáo mới của mình và phong cách nghệ thuật. Sau khi ông qua đời, sự thờ cúng thần Aten đã nhanh chóng bị từ bỏ và các giáo sĩ của Amun sớm giành lại được quyền lực và trở lại kinh đô Thebes. Dưới ảnh hưởng của họ, các pharaon như Tutankhamun, Ay và Horemheb sau đó đã tiến hành xóa bỏ tất cả những gì đề cập đến vị vua Akhenaten, mà ngày nay được gọi là thời kỳ Amarna.
Khoảng năm 1279 TCN, Ramesses II, còn được gọi là Ramesses Đại đế, lên ngôi vua và ông tiếp tục cho xây dựng nhiều ngôi đền cùng với nhiều bức tượng và tháp bia tưởng niệm khác, ông cũng là vị pharaon có nhiều con trai nhất trong lịch sử. Ông còn là một nhà lãnh đạo quân sự táo bạo, Ramesses II đã lãnh đạo quân đội của ông chống lại người Hittite trong trận Kadesh (tại Syria ngày nay) và sau một cuộc chiến tranh bất phân thắng bại, cuối cùng hai bên đã đồng ý ký kết hiệp ước hòa bình đầu tiên được ghi nhận, khoảng năm 1258 TCN. Với việc cả người Ai Cập và Hittite đều không thể chiếm được ưu thế hơn đối thủ và cả hai cường quốc cũng đều sợ hãi sự bành trướng của đế quốc Trung Assyria, Ai Cập sau đó đã rút khỏi nhiều vùng ở Cận Đông. Do đó người Hittite đã phải đơn độc chống đỡ với người Assyria hùng mạnh và người Phrygia mới đến.
Tuy nhiên sự giàu có của Ai Cập đã khiến cho nó trở thành một mục tiêu hấp dẫn cho các cuộc xâm lược, đặc biệt bởi người Berber Libya từ phía tây, và các dân tộc vùng biển, được cho là một liên minh của những người đi biển đến từ Aegea. Ban đầu, quân đội đã có thể đẩy lùi các cuộc xâm lược, nhưng cuối cùng Ai Cập đã đánh mất quyền kiểm soát các vùng lãnh thổ còn lại của mình ở miền nam Caanan, phần lớn rơi vào tay của người Assyria. Những ảnh hưởng từ các mối đe dọa bên ngoài còn trở nên trầm trọng hơn bởi các vấn đề nội bộ như tham nhũng, nạn cướp mộ, và tình trạng xã hội bất ổn. Sau khi giành lại quyền lực của mình, các đại tư tế Amun ở Thebes đã nắm trong tay những vùng đất rộng lớn và giàu có, và mở rộng quyền lực của họ ra khắp đất nước trong thời kỳ chuyển tiếp thứ ba.
=== Thời kỳ chuyển tiếp thứ ba (1069 TCN - 653 TCN) ===
Sau khi Ramesses XI qua đời trong năm 1078 TCN, Smendes đã trở thành pharaon cai trị phần phía bắc của Ai Cập, đóng đô ở thành phố Tanis. Miền nam thì lại nằm dưới sự kiểm soát một cách hiệu quả của các đại tư tế Amun ở Thebes, họ chỉ công nhận Smendes trên danh nghĩa. Trong thời gian này, các bộ lạc Berber đến từ Libya đã bắt đầu định cư ở vùng đồng bằng châu thổ phía tây, và tù trưởng của những người định cư đã bắt đầu gia tăng quyền tự chủ của họ. Các hoàng tử Libya này bắt đầu nắm quyền kiểm soát vùng đồng bằng châu thổ dưới thời Shoshenq I vào năm 945 TCN, thiết lập nên triều đại Libya của người Berber, hoặc triều đại Bubastite, cai trị trong khoảng 200 năm. Shoshenq cũng giành quyền kiểm soát miền nam Ai Cập bằng cách đưa các thành viên thuộc hoàng gia nắm giữ các vị trí tư tế quan trọng.
Vào giữa thế kỷ 9 TCN, Ai Cập đã tiến hành một nỗ lực bất thành nhằm giành lại địa vị xưa kia ở Tây Á một lần nữa. Pharaon Osorkon II của Ai Cập, cùng với một liên minh lớn bao gồm nhiều quốc gia và dân tộc khác trong đó có người Ba Tư, Israel, Hamath, Phoenicia / Caana, người Ả Rập, người Aramea, và Tân Hittite, tham gia vào trận Karkar chống lại vị vua Assyria hùng mạnh Shalmaneser III diễn ra trong năm 853 TCN. Tuy nhiên, liên minh này đã thất bại và đế quốc Tân Assyria tiếp tục thống trị Tây Á.
Sự cai trị của người Berber Libya bắt đầu suy yếu bắt đầu khi xuất hiện một triều đại đối thủ ở Leontopolis thuộc khu vực đồng bằng châu thổ. Ngoài ra, người Nubia của Kush cũng đe dọa Ai Cập từ các vùng đất phía Nam.
Trải qua hàng thiên niên kỷ tương tác (thương mại, tiếp xúc văn hóa, chiếm đóng, đồng hóa, và chiến tranh ) với Ai Cập, vị vua Piye của người Kush xuất phát từ kinh đô Napata ở Nubia của ông và tiến đánh Ai Cập khoảng năm 727 TCN. Piye dễ dàng chiếm được Thebes và cuối cùng là khu vực đồng bằng sông Nile. Ông đã cho ghi lại quá trình này trên tấm bia chiến thắng của mình. Piye sau đó thiết lập nên triều đại thứ 25, để thống nhất lại "Hai vùng đất" của miền Bắc và miền Nam Ai Cập. Đế chế thung lũng sông Nile một lần nữa lại trở nên rộng lớn như thơi Tân Vương quốc.
Triều đại thứ 25 đã mở ra một thời kỳ phục hưng cho Ai Cập cổ đại. Tôn giáo, nghệ thuật, kiến trúc đã được khôi phục lại vẻ huy hoàng như thời Cổ, Trung, và Tân Vương quốc. Các pharaon chẳng hạn như Taharqa, đã cho xây dựng hoặc phục hồi lại các đền thờ và tượng đài khắp toàn bộ khu vực thung lũng sông Nile, bao gồm cả ở Memphis, Karnak, Kawa, Jebel Barkal, vv Triều đại thứ 25 cũng là triều đại đầu tiên cho xây dựng nhiều kim tự tháp (phần lớn nằm tại Sudan ngày nay) ở thung lũng Nile kể từ thời Trung Vương quốc.
Piye đã tiến hành nhiều nỗ lực để mở rộng ảnh hưởng của Ai Cập ở vùng Cận Đông, vốn đang nằm dưới sự kiểm soát của Assyria, nhưng đều không thành công. Năm 720 TCN, ông phái một đội quân đến hỗ trợ của một cuộc khởi nghĩa chống lại Assyria, đang sảy ra tại Philistia và Gaza. Tuy nhiên, Piye đã bị Sargon II đánh bại và cuộc khởi nghĩa bị đàn áp. Năm 711 TCN, Piye lại ủng hộ một cuộc khởi nghĩa khác của người Do Thái ở Ashdod chống lại người Assyria và lại một lần nữa bị đánh bại bởi vua Assyria Sargon II. Sau đó, Piye đã buộc phải từ bỏ vùng Cận Đông.
Từ thế kỷ 10 TCN trở đi, Assyria đã tiến hành các cuộc chiến tranh nhằm kiểm soát miền Nam Levant. Các thành phố và các vương quốc miền nam Cận Đông thường xuyên kêu gọi Ai Cập trợ giúp họ trong cuộc chiến chống lại quân đội Assyria hùng mạnh. Taharqa đã đạt được một số thành công bước đầu trong nỗ lực nhằm giành lại một chỗ đứng ở Cận Đông. Taharqa đã trợ giúp cho vua Judea Hezekiah khi Hezekiah và Jerusalem bị vua Assyria, Sennacherib, vây hãm. Các học giả đã không đi đến thống nhất với nhau về lý do chính khiến cho người Assyria từ bỏ cuộc vây hãm Jerusalem của họ. Có thể nguyên nhân khiến cho người Assyria tránh một cuộc chiến với đội quân can thiệp Ai Cập / Kush có thể là do dịch bệnh hoành hành. Henry Aubin lại lập luận rằng quân đội Kush / Ai Cập đã cứu thoát Jerusalem khỏi tay người Assyria và ngăn cản người Assyria quay trở lại đánh chiếm Jerusalem suốt phần đời còn lại của Sennacherib (20 năm). Tuy nhiên biên niên sử của Senacherib khẳng định rằng Judea đã được buộc vào cống nạp.
Sennacherib sau đó đã bị những người con trai của mình sát hại bởi vì ông ta đã phá hủy thành phố Babylon nổi loạn, một thành phố thiêng liêng đối với toàn bộ người dân Mesopotamia, bao gồm cả Assyria. Năm 674 TCN, Esarhaddon tiến hành một cuộc xâm lược mở đầu vào Ai Cập, tuy nhiên nỗ lực này đã bị Taharqa đẩy lùi. Tuy nhiên, vào năm 671 TCN, Esarhaddon đã phát động một cuộc xâm lược toàn diện. Một phần quân đội của ông ta đã lưu lại để đối phó với các cuộc khởi nghĩa ở Phoenicia, và Israel. Phần còn lại tiến về phía nam tới Rapihu, rồi băng qua Sinai, và tiến vào Ai Cập. Esarhaddon giành một chiến thắng quyết định trước Taharqa, rồi chiếm lấy Memphis, Thebes và tất cả các thành phố lớn của Ai Cập, còn Taharqa bị đánh đuổi trở lại quê hương Nubia của ông. Esarhaddon lúc bây giờ tự gọi bản thân ông ta là "vua của Ai Cập, Patros, và Kush", và trở về với một lượng lớn chiến lợi phẩm từ các thành phố ở vùng đồng bằng; ông ta đã cho dựng lên một tấm bia chiến thắng vào thời điểm này và tiến hành một cuộc diễu hành với vị hoàng tử tù binh Ushankhuru, con trai của Taharqa ở Nineveh. Esarhaddon cho đóng một đội quân nhỏ ở miền bắc Ai Cập và mô tả cách "Tất cả người Ethiopia (cách gọi người Nubia / Kushi) đã bị ta trục xuất khỏi Ai Cập, để không còn kẻ nào không thần phục ta". Ông ta còn thiết lập các chư hầu Ai Cập bản xứ để cai trị thay mặt mình. Cuộc chinh phục của Esarhaddon đã đánh dấu sự kết thúc hoàn toàn của đế chế Kush ngắn ngủi.
Tuy nhiên, các chư hầu Ai Cập được Esarhaddon dựng lên đã không thể giữ được quyền kiểm soát toàn bộ đất nước một cách lâu dài. Hai năm sau, Taharqa quay trở lại từ Nubia và nắm quyền kiểm soát miền nam Ai Cập xa về phía bắc tới Memphis. Esarhaddon đã chuẩn bị để quay lại Ai Cập và một lần nữa để đánh đuổi Taharqa, tuy nhiên ông ta đã lâm bệnh và qua đời tại Nineveh, trước khi có thể rời Assyria. Vị vua kế vị, Ashurbanipal, đã phái một vị tướng Assyria có tên là Sha-Nabu-shu cùng với một đạo quân nhỏ, nhưng được huấn luyện tốt và đã đánh bại Taharqa tại Memphis, một lần nữa lại đánh đuổi ông ta ra khỏi Ai Cập. Taharqa qua đời ở Nubia hai năm sau đó.
Vị vua kế vị ông, Tanutamun, cũng đã tiến hành một nỗ lực nhằm giành lại Ai Cập cho Nubia nhưng không thành công. Bước đầu ông đã đánh bại thành công Necho, vị vua chư hầu Ai Cập được Ashurbanipal dựng lên, chiếm lấy Thebes trong quá trình này. Assyria sau đó đã phái một đội quân lớn tiến về phía nam. Tantamani (Tanutamun) bị đánh tan tác và phải chạy trốn trở lại Nubia. Quân đội Assyria sau đó cướp phá Thebes đến mức nó không bao giờ thực sự hồi phục lại được nữa. Một vị vua bản xứ, Psammetichus I đã được đưa lên ngôi, như là một chư hầu của Ashurbanipal, và Nubia không bao giờ trở thành một mối de dọa cho cả Assyria và Ai Cập nữa.
=== Thời hậu nguyên (672 TCN - 332 TCN) ===
Do không có kế hoạch lâu dài cho cuộc chinh phục, người Assyria tổ chức việc cai trị Ai Cập thông qua một loạt các chư hầu được biết đến như là các vị vua Saite của triều đại thứ 26. Năm 653 TCN, vua Saite Psamtik I (lợi dụng thời điểm Assyria đang tham gia vào một cuộc chiến tranh khốc liệt nhằm chinh phục Elam và chỉ có một đội quân Assyria nhỏ đóng ở Ai Cập) đã có thể giành lại độc lập cho Ai Cập thoát khỏi ách thống trị của người Assyria với sự giúp đỡ của người Lydia và lính đánh thuê Hy Lạp, những người sau đó đã được tuyển mộ để tạo thành lực lượng hải quân đầu tiên của Ai Cập. Tuy nhiên, Psamtik và những vị vua kế vị ông đã cẩn trọng trong việc duy trì quan hệ hòa bình với Assyria. Ảnh hưởng của người Hy Lạp đã mở rộng một cách đáng kể và thành phố Naukratis đã trở thành khu định cư của người Hy Lạp ở vùng đồng bằng.
Năm 609 TCN, Necho II đã tiến hành chiến tranh với Babylon, người Chaldea, người Medes và Scythia trong một nỗ lực nhằm cứu lấy Assyria, vốn vừa trải qua một cuộc nội chiến tàn khốc lại đã bị liên minh các cường quốc này giày xéo. Tuy nhiên, những nỗ lực của Ai Cập đã thất bại. Nhưng người Ai Cập lại đã trì hoãn sự can thiệp quá lâu và khi Necho II phái quân đội của ông tiến về phía bắc thì lúc đó thành Nineveh đã thất thủ và vua Sinsharishkun cũng đã tử trận. Tuy nhiên, Necho đã dễ dàng đánh bại một đội quân Israel của vua Josiah nhưng ông và người Assyria sau đó lại bại trận tại Harran trước người Babylon, Medes và người Scythia. Necho II và Ashur-uballit II của Assyria cuối cùng đã bị đánh bại tại Carchemish ở Aramea (Syria ngày nay) vào năm 605 TCN. Người Ai Cập sau dó vẫn còn tiếp tục tranh giành khu vực này trong một vài thập kỷ nữa với các vị vua Babylon như Nabopolassar và Nebuchadnezzar II để kiểm soát những vùng đất còn lại của cựu đế quốc Assyria ở Levant. Tuy nhiên, họ đã dần dần bị đẩy lùi về Ai Cập, và Nebuchadnezzar II thậm chí đã xâm lược Ai Cập vào năm 567 TCN. Triều đại của các vị vua Saite với căn cứ tại kinh đô mới ở Sais đã chứng kiến một sự hồi sinh ngắn ngủi trong nền kinh tế và văn hóa, nhưng trong năm 525 TCN, người Ba Tư hùng mạnh dưới sự chỉ huy của Cambyses II, đã bắt đầu cuộc chinh phục Ai Cập, và đã bắt sống được Pharaon Psamtik III ngay tại trận Pelusium. Cambyses II sau đó lấy tước hiệu của pharaon, nhưng lại cai trị Ai Cập từ quê nhà tại Susa ở Ba Tư (Iran ngày nay), và trao quyền cai trị Ai Cập vào tay một phó vương. Một vài cuộc khởi nghĩa nổ ra chống lại người Ba Tư vào thế kỷ thứ năm đã giành được thành công ngắn ngủi, tuy vậy Ai Cập đã không bao giờ có thể lật đổ vĩnh viễn ách thống trị của người Ba Tư.
Sau khi bị xáp nhập vào đế quốc Ba Tư, Ai Cập cùng với Síp và Phoenicia (Lebanon ngày nay) tạo thành satrap thứ sáu của Đế quốc Achaemenid. Giai đoạn đầu tiên mà người Ba Tư thống trị Ai Cập, còn được biết đến như là triều đại thứ 27, kết thúc vào năm 402 TCN, và từ năm 380-343 TCN đánh dấu triều đại Ai Cập bản địa cuối cùng, được biết đến là triều đại thứ 30, kết thúc với sự trì vì của vua Nectanebo II. Sự thống trị của người Ba Tư được phục hồi sau đó, đôi khi được gọi là triều đại thứ 31, bắt đầu từ năm 343 TCN, nhưng không lâu sau, năm 332 TCN, viên phó vương Ba Tư Mazaces đã đầu hàng và đem dâng Ai Cập cho vua Alexander Đại đế của Macedonia.
=== Thời kỳ thuộc Hy Lạp ===
Năm 332 trước Công nguyên, Alexander Đại đế chinh phục Ai Cập mà không gặp phải sự kháng cự đáng kể nào từ Ba Tư và được người Ai Cập chào đón như là người giải phóng. Chính quyền được những người kế tục Alexander thành lập, triều đại Ptolemy của Macedonia, dựa trên một mô hình của Ai Cập và trung tâm đặt tại kinh đô mới Alexandria. Thành phố đã trở thành một trung tâm về học thuật và văn hóa, với thư viện Alexandria nổi tiếng. Ngọn hải đăng Alexandria đã thắp sáng chỉ đường cho những con thuyền mà mang đến sự phồn vinh về thương mại cho thành phố.
Văn hóa Hy Lạp đã không thay thế văn hóa Ai Cập bản địa, bởi vì nhà Ptolemy đã ủng hộ những truyền thống lâu đời nhằm đảm bảo sự trung thành của dân chúng. Họ đã xây dựng những ngôi đền mới theo phong cách Ai Cập, ủng hộ tôn giáo truyền thống, và miêu tả bản thân là pharaon. Một số truyền thống đã hợp nhất với nhau, ví dụ như các vị thần Hy Lạp và Ai Cập đã hợp nhất với nhau thành các vị thần được thờ phụng chung, như Serapis, và các hình mẫu cổ điển của nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp đã chịu ảnh hưởng từ các họa tiết truyền thống của Ai Cập. Bất chấp những nỗ lực của họ để xoa dịu người dân Ai Cập, nhà Ptolemy đã bị thách thức bởi cuộc khởi nghĩa của cư dân bản địa, tranh chấp nội bộ, và bởi cả đông đảo cư dân Alexandria sau khi Ptolemy IV qua đời. Ngoài ra, bởi vì Rome ngày càng dựa nhiều hơn vào ngũ cốc nhập khẩu từ Ai Cập, người La Mã đã dành sự quan tâm rất lớn đối với tình hình chính trị ở Ai Cập. Những cuộc khởi nghĩa của người Ai Cập tiếp tục nổ ra, các chính trị gia đầy tham vọng, và các đối thủ hùng mạnh tới từ vùng Cận Đông càng làm cho tình hình trở nên mất ổn định, dẫn đến việc Rome phái quân đến bảo vệ Ai Cập như là một tỉnh thuộc đế chế.
=== Thời kì thuộc La Mã ===
Ai Cập trở thành một tỉnh của Đế chế La Mã vào năm 30 trước Công nguyên, sau thất bại của Marcus Antonius và nữ hoàng Cleopatra VII trước Octavian (sau này là Hoàng đế Augustus) trong trận Actium. Người La Mã phụ thuộc chủ yếu vào các chuyến hàng ngũ cốc từ Ai Cập, và quân đội La Mã, thuộc thẩm quyền của thái thú được bổ nhiệm bởi Hoàng đế, dẹp yên các cuộc khởi nghĩa, thi hành nghiêm túc việc thu thuế nặng, và ngăn chặn cuộc tấn công của bọn cướp, mà đã trở thành một vấn đề nổi tiếng trong giai đoạn này Alexandria đã trở thành một trung tâm ngày càng quan trọng trên tuyến đường thương mại với phương đông, vì những của cải xa hoa kỳ lạ có nhu cầu cao tại Rome.
Mặc dù người La Mã đã có một thái độ thù địch hơn so với người Hy Lạp đối với người Ai Cập, một số truyền thống như ướp xác và thờ cúng các vị thần truyền thống vẫn tiếp tục. Nghệ thuật vẽ chân dung xác ướp phát triển rực rỡ, và một số của các hoàng đế La Mã đã tự mô tả mình như pharaon, mặc dù không đến mức độ như nhà Ptolemy trước đây.
Từ giữa thế kỷ thứ nhất, Kitô giáo đã bắt đầu bén rễ ở Ai Cập và ban đầu được xem như một tôn giáo có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, đây là một tôn giáo không thỏa hiệp và luôn cố gắng cải đạo những người theo tôn giáo truyền thống của Ai Cập và tôn giáo Hy Lạp-La Mã cổ đại, và đe dọa các truyền thống tôn giáo lâu đời. Điều này dẫn đến những cuộc đàn áp những người cải đạo sang Kitô giáo, mà đỉnh cao là cuộc đại thanh trừng của Diocletianus bắt đầu vào năm 303, nhưng cuối cùng Kitô giáo đã thắng thế. Năm 391, hoàng đế Theodosius ban pháp lệnh nghiêm cấm các nghi thức thờ cúng đa thần giáo và đóng cửa các ngôi đền. Còn tại thành Alexandria thì đã diễn ra cuộc bạo loạn lớn chống lại đa thần giáo với việc phá hủy những hình tượng tôn giáo công cộng và tư nhân. Như là một hệ quả của điều này, văn hóa tôn giáo bản địa của Ai Cập đã dần biến mất. Trong khi những cư dân bản địa tiếp tục nói ngôn ngữ của họ, thì khả năng đọc những ghi chép bằng chữ tượng hình dần dần biến mất bởi vì vai trò của các giáo sĩ và nữ tư tế trong các ngôi đền Ai Cập ngày càng suy giảm. Các ngôi đền cổ bị chuyển đổi thành những nhà thờ Kitô giáo hoặc bị bỏ hoang trong sa mạc.
== Chính quyền và kinh tế ==
=== Tổ chức chính quyền và thương nghiệp ===
Pharaon là vị người nắm giữ toàn bộ quyền lực tối cao của vương quốc và ít nhất là trên lý thuyết sở hữu toàn bộ đất đai cùng tất cả các nguồn tài nguyên của nó. Nhà vua là tổng tư lệnh tối cao của quân đội và là người đứng đầu nhà nước, dựa vào một bộ máy quan lại giúp ông quản lý công việc của mình. Đứng đầu chính quyền của nhà nước chỉ sau nhà vua là tể tướng, người đóng vai trò là đại diện và quản lý toàn bộ đất đai, quốc khố, các công trình xây dựng, hệ thống pháp luật, và các tài liệu lưu trữ. Ở cấp độ khu vực, đất nước được chia thành 42 khu vực hành chính gọi là các nome nằm dưới sự cai trị bởi một nomarch, những người nằm dưới sự giám sát của tể tướng. Các ngôi đền hình thành nên xương sống của cả nền kinh tế. Không chỉ là nơi thờ cúng, chúng còn giữ nhiệm vụ thu gom và tích trữ của cải của vương quốc trong một hệ thống các kho thóc và Kho bạc được quản lý bởi những đốc công, họ giữ trọng trách phân phối thóc lúa và hàng hóa.
Phần lớn nền kinh tế được tổ chức một cách tập trung và nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ. Mặc dù những người Ai Cập cổ đại không sử dụng tiền đúc cho đến thời kỳ hậu nguyên, họ đã sử dụng một loại hệ thống trao đổi hàng hóa, sử dụng các bao tải thóc để làm tiêu chuẩn và deben, trọng lượng khoảng 91 gram (3 oz) bằng đồng hoặc bạc để tạo nên một đơn vị đo lường chung. Người lao động được trả bằng thóc và một người lao động bình thường có thể kiếm được 5 ½ bao tải (200 kg hoặc 400 lb) thóc mỗi tháng, trong khi một quản đốc có thể kiếm được 7½ bao tải (250 kg hoặc 550 lb). Giá cả được cố định trên toàn quốc và được ghi vào sổ sách để tạo điều kiện cho việc kinh doanh; ví dụ như một chiếc áo có giá năm deben đồng, trong khi một con bò có giá 140 deben. Thóc lúa có thể được trao đổi với các mặt hàng khác, theo một bảng giá cố định. Vào thế kỷ thứ 5 TCN, tiền đúc đã được du nhập vào Ai Cập từ nước ngoài. Ban đầu các đồng xu được sử dụng như những miếng đúc tiêu chuẩn từ kim loại quý hơn là một loại tiền tệ thật sự, nhưng trong các thế kỷ kế tiếp, những thương nhân quốc tế đã tín nhiệm loại tiền này.
=== Địa vị xã hội ===
Xã hội Ai Cập đã có sự phân chia giai cấp ở mức độ cao, và địa vị xã hội đã được phân biệt rõ ràng. Nông dân chiếm phần đông trong xã hội, nhưng nông sản lại thuộc sở hữu trực tiếp của nhà nước, đền thờ, hay các gia đình quý tộc mà sở hữu đất đai. Nông dân cũng phải chịu thuế lao động và bị buộc phải tham gia lao động trong các dự án thủy lợi, các công trình xây dựng theo một hệ thống sưu dịch. Nghệ sĩ và thợ thủ công lại có địa vị cao hơn nông dân, nhưng họ cũng nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước, làm việc tại các phân xưởng gắn với những ngôi đền và được trả lương trực tiếp từ quốc khố. Các viên ký lục và quan lại hình thành nên tầng lớp thượng lưu ở Ai Cập cổ đại, được gọi là "tầng lớp váy trắng", một sự ám chỉ đến việc sử dụng quần áo bằng vải lanh màu trắng như là một dấu hiệu cho địa vị của họ. Tầng lớp thượng lưu này còn làm nổi bật địa vị xã hội của họ thông qua nghệ thuật và văn học. Bên dưới giới quý tộc là các giáo sĩ, thầy thuốc, và các kỹ sư được đào tạo một cách chuyên môn trong lĩnh vực của họ. Nô lệ cũng đã được biết đến ở Ai Cập cổ đại, nhưng mức độ và tỷ lệ của nó lại không rõ ràng.
Người Ai Cập cổ đại coi đàn ông và phụ nữ, kể cả tất cả mọi người đến từ tất cả các tầng lớp xã hội, ngoại trừ nô lệ, về cơ bản là bình đẳng với nhau theo quy định của pháp luật, và ngay cả những người nông dân dưới đáy cũng được quyền kiến nghị tới tể tướng và triều đình. Mặc dù, nô lệ được sử dụng chủ yếu như là những người hầu chịu sự ràng buộc. Họ có thể bị mua và bán, hoặc có thể làm việc tự do và thường được điều trị bởi các thầy thuốc tại nơi làm việc. Cả đàn ông và phụ nữ đều có quyền sở hữu và mua bán tài sản, ký kết hợp đồng, kết hôn và ly hôn, nhận thừa kế, và theo đuổi các tranh chấp pháp lý tại tòa án. Các cặp vợ chồng có thể sở hữu tài sản chung và bảo vệ bản thân khi ly dị bằng cách đồng ý hợp đồng hôn nhân, trong đó quy định các nghĩa vụ tài chính của người chồng đối với vợ và con cái khi kết thúc cuộc hôn nhân của họ. So với phụ nữ ở Hy Lạp cổ đại, La Mã, và thậm chí là nhiều nơi trên thế giới vào ngày nay, phụ nữ Ai Cập cổ đại đã có nhiều quyền lợi hơn. Những người phụ nữ như Hatshepsut và Cleopatra VII thậm chí đã trở thành các pharaon, trong khi nhiều người khác nắm giữ địa vị Người vợ thần thánh của Amun. Mặc dù có được nhiều quyền tự do, phụ nữ Ai Cập cổ đại lại không thường xuyên nắm giữ các vị trí chính thức trong chính quyền, họ chỉ giữ vai trò thứ yếu trong các ngôi đền, và không được nhận nền giáo dục như nam giới.
=== Hệ thống pháp luật ===
Người đứng đầu của hệ thống pháp luật chính thức là pharaon, ông là người chịu trách nhiệm thi hành pháp luật, thực thi công lý, duy trì pháp luật và trật tự, một khái niệm được người Ai Cập cổ đại gọi là Ma'at Mặc dù không có bộ luật nào từ thời Ai Cập cổ đại còn tồn tại, các thư liệu của tòa án cho thấy luật pháp Ai Cập dựa trên một cái nhìn chung về ý thức đúng và sai mà nhấn mạnh tới việc đạt được thỏa thuận và giải quyết xung đột thay vì tôn trọng đúng một tập hợp quy chế phức tạp Hội đồng địa phương gồm những người cao tuổi, được biết đến như Kenbet vào thời Tân Vương quốc, chịu trách nhiệm về phán quyết trong các phiên tòa liên quan đến các vụ kiện nhỏ và tranh chấp nhỏ. Trường hợp nghiêm trọng hơn liên quan đến giết người, giao dịch đất lớn, và cướp mộ được đưa đến Đại Kenbet, mà tể tướng hoặc pharaon chủ trì. Nguyên đơn và bị đơn dự kiến sẽ đại diện cho bản thân và phải thề một lời tuyên thệ rằng họ đã nói sự thật. Trong một số trường hợp, chính quyền đóng cả hai vai trò là công tố viên và thẩm phán, và họ có thể tra tấn đánh đập bị cáo để có được một lời thú nhận và tên của bất kỳ đồng phạm nào. Bất kể lời buộc tội có thể là bình thường hoặc nghiêm trọng, viên ký lục của tòa án sẽ ghi nhận khiếu nại, lời khai, và phán quyết của vụ án để có thể xem xét đến trong tương lai.
Hình phạt cho những tội lỗi nhỏ có thể là phạt tiền, đánh đập, cắt xẻo khuôn mặt, hay lưu đày, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Những tội nghiêm trọng như giết người và cướp mộ thì bị trừng phạt bằng cách xử tử, có thể bằng cách chém đầu, dìm chết đuối, hoặc đóng cọc đối với người phạm tội. Hình phạt cũng có thể được mở rộng ra đối với gia đình của người phạm tội. Bắt đầu từ thời Tân Vương quốc, các nhà tiên tri đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật, xét xử cả trong trường hợp dân sự và hình sự. Trình tự cho quá trình này đó là hỏi thần linh một câu hỏi "có" hoặc "không" có liên quan đến việc đúng hay sai của một vấn đề. Thần linh thông qua một số vị thầy tế, sẽ phán quyết bằng cách chọn một hoặc theo cách khác là di chuyển về phía trước hoặc phía sau, hoặc chỉ vào một trong những câu trả lời được viết trên một mảnh giấy cói hoặc một ostracon.
=== Nông nghiệp ===
Sự kết hợp các điều kiện địa lý thuận lợi góp phần vào sự thành công của văn hóa Ai Cập cổ đại, quan trọng nhất trong đó là đất đai có độ màu mỡ cao, kết quả từ sự ngập lụt hàng năm của sông Nile. Như vậy, người Ai Cập cổ đại có thể tạo ra một nguồn lương thực dồi dào, cho phép dân cư dành nhiều thời gian và nguồn lực cho các mục đích văn hóa, kĩ thuật, và nghệ thuật. Quản lý đất đai có vai trò rất quan trọng trong thời Ai Cập cổ đại bởi vì số thuế được dựa trên số lượng đất mà một người sở hữu.
Công việc đồng áng ở Ai Cập phụ thuộc vào chu kỳ của sông Nile. Người Ai Cập ghi nhận ba mùa: Akhet (lũ lụt), Peret (trồng trọt), và Shemu (thu hoạch). Mùa lũ lụt kéo dài từ tháng sáu tới tháng chín, bồi đắp hai bên bờ sông một lớp phù sa lý tưởng, giàu khoáng chất cho việc trồng trọt. Sau khi nước lũ rút, mùa gieo trồng kéo dài từ Tháng Mười tới tháng hai. Nông dân cày và trồng hạt giống trên các cánh đồng, được tưới bằng mương, kênh rạch. Ai Cập vốn có lượng mưa hàng năm ít, do đó, nông dân đã dựa vào sông Nile để tưới nước cho cây trồng của họ Từ tháng ba tới tháng năm, nông dân sử dụng liềm để thu hoạch cây trồng của họ, mà sau đó đã đập với một cái đập lúa một để tách riêng rơm khỏi hạt thóc lúa. Sàng lọc loại bỏ trấu khỏi thóc, các hạt thóc lúa sau đó được nghiền thành bột, ủ làm bia, hoặc được lưu trữ để sử dụng sau này.
Người Ai Cập cổ đại trồng lúa mì và lúa mạch, và một số loại ngũ cốc khác, tất cả đều được sử dụng để làm cho hai loại thực phẩm chính là bánh mì và bia Các cây lanh bị nhổ bật gốc trước khi chúng bắt đầu ra hoa, vốn được trồng để lấy sợi. Những sợi này được tách dọc theo chiều dài của nó và xe thành sợi, được sử dụng để dệt vải lanh và may quần áo. Cây cói mọc trên các bờ của sông Nile đã được sử dụng để làm giấy. Rau và hoa quả được trồng ở những mảnh đất vườn, gần các ngôi nhà và trên khu đất cao hơn, và phải được tưới nước bằng tay. Rau bao gồm tỏi tây, tỏi, dưa hấu, bí, đậu, rau diếp, và các cây trồng khác, ngoài ra còn có nho đã được chế biến thành rượu.
==== Động vật ====
Người Ai Cập tin rằng một mối quan hệ cân bằng giữa con người và động vật là một yếu tố thiết yếu của trật tự vũ trụ, do đó con người, động vật và thực vật được cho là thành viên của một tổng thể chung duy nhất . Gia súc là những vật nuôi quan trọng nhất, việc quản lý thuế đánh vào vật nuôi trong những cuộc tổng điều tra thường xuyên, và kích thước của một đàn phản ánh uy tín và tầm quan trọng của điền trang hoặc ngôi đền mà sở hữu chúng. Ngoài ra cho gia súc, người Ai Cập cổ còn nuôi cừu, dê và lợn. Gia cầm như vịt, ngan, ngỗng, chim bồ câu đã bị bắt do mắc bẫy và được nuôi ở các trang trại, nơi chúng đã bị ép ăn với bột để vỗ béo. Ngoài ra sông Nile còn là một nguồn cung cấp cá phong phú. Ong cũng được thuần hóa ít nhất là từ thời Cổ Vương quốc, và chúng đã cung cấp cả mật ong và sáp.
Người Ai Cập cổ đại sử dụng lừa và bò để chuyên chở, và chúng còn được sử dụng trong việc cày ruộng và gieo hạt giống. Việc giết mổ một con bò được vỗ béo cũng là một phần trọng tâm trong các nghi lễ thờ cúng.Ngựa đã được người Hyksos du nhập vào Ai Cập trong thời kỳ chuyển tiếp thứ hai, và lạc đà, mặc dù được biết đến từ thời Tân Vương quốc, chỉ được sử dụng để chuyên chở vào thời Hậu nguyên. Ngoài ra còn có bằng chứng cho thấy những con voi đã được sử dụng trong một thời gian ngắn vào giai đoạn Hậu nguyên, nhưng phần lớn chúng đã bị bỏ rơi do thiếu đất chăn thả.Chó, mèo và khỉ là những loài thường được nuôi trong gia đình, trong khi các loài vật ngoại quốc khác được đưa về từ khu vực trung tâm của châu Phi, như sư tử, lại được dành riêng cho hoàng gia. Herodotus quan sát thấy rằng người Ai Cập là những người duy nhất giữ những loài vật nuôi ở cùng trong nhà với họ. Trong giai đoạn Tiền triều đại và Hậu nguyên, việc thờ cúng các vị thần trong hình dạng động vật của họ trở nên vô cùng phổ biến, chẳng hạn như nữ thần mèo Bastet và thần cò Thoth, nhiều loài còn được nhân giống với số lượng lớn tại các trang trại nhằm dành cho mục đích hiến tế trong các nghi lễ.
=== Tài nguyên ===
Ai Cập có nguồn tài nguyên đá phong phú dành cho các công trình xây dựng, cùng với đồng và chì, vàng, và đá bán quý. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên này cho phép người Ai Cập cổ đại xây dựng các công trình kiến trúc, tạc tượng, chế tạo các công cụ và đồ trang sức. Quá trình ướp xác sử dụng muối từ Natrun Wadi để làm khô các xác ướp, ngoài ra còn cung cấp nguồn thạch cao cần thiết để làm vữa. Còn có những mỏ vàng lớn Nubia, và một trong những bản đồ đầu tiên được biết đến là bản đồ về một mỏ vàng ở khu vực này. Wadi Hammamat là nơi cung cấp nguồn đá granit nổi tiếng, greywacke, và vàng. Đá lửa là loại khoáng chất đầu tiên được thu thập và sử dụng để làm công cụ, và những chiếc rìu đá là bằng chứng sớm nhất về quá trình định cư ở khu vực thung lũng sông Nile. Những viên đá nhỏ đã được mài một cách cẩn thận để làm lưỡi dao và đầu mũi tên nhờ vào độ cứng vừa phải của chúng và độ bền thậm chí chỉ kém đồng mà được sử dụng để thay thế sau này. Người Ai Cập cổ đại là những người đầu tiên sử dụng các khoáng chất như lưu huỳnh làm mỹ phẩm.
Người Ai Cập còn biết tách galen ra khỏi quặng chì tại Gebel Rosas để chế tạo lưới chì, các quả dọi bằng chì, và những bức tượng nhỏ. Đồng là kim loại quan trọng nhất được sử dụng để chế tạo công cụ ở Ai Cập cổ đại và loại quặng malachite dùng để nấu đồng lại được khai thác ở Sinai. Công nhân khai thác vàng bằng cách đãi quặng vàng ra khỏi các lớp đá trầm tích, hoặc thông qua quá trình nghiền và đãi loại quặng vàng lẫn với quartzi vốn tốn nhiều công sức. Quặng sắt được tìm thấy ở thượng Ai Cập đã được sử dụng vào thời Hậu nguyên. Những loại đá xây dựng với chất lượng cao rất dồi dào ở Ai Cập, người Ai Cập cổ đại đã khai thác đá vôi dọc theo thung lũng sông Nile, đá granite từ Aswan, và đá bazan cùng đá sa thạch từ các con sông cạn ở sa mạc phía đông. Những loại đá dùng để chạm khắc như Pocfia, greywacke, thạch cao tuyết hoa, và carnelian nằm rải rác ở sa mạc phía đông và được khai thác từ trước khi triều đại đầu tiên được lập nên. Vào thời kỳ nhà Ptolemy và La Mã cai trị, người Ai Cập đã tiến hành khai thác đá ngọc lục bảo ở Wadi Sikait và thạch anh tím ở Wadi el-Hudi.
=== Thương mại ===
Người Ai Cập cổ đại đã tiến hành giao thương với các nước láng giềng ngoại quốc của họ để có được hàng hóa quý hiếm và kỳ lạ vốn không được tìm thấy ở Ai Cập. Trong giai đoạn Tiền triều đại, họ đã thiết lập thương mại với Nubia để có được vàng và hương liệu. Họ cũng thiết lập thương mại với Palestine với bằng chứng là những chiếc bình quai chứa dầu theo phong cách Palestine đã được tìm thấy trong các ngôi mộ của các pharaon thuộc triều đại thứ nhất. Một khu thực dân của người Ai Cập đã được thiết lập ở miền nam Canaan có niên đại vào giai đoạn trước khi triều đại thứ nhất bắt đầu. Vua Narmer còn có các đồ gốm Ai Cập được sản xuất tại Canaan và sau đó xuất khẩu trở lại Ai Cập.
Tới triều đại thứ hai, thương mại giữa Ai Cập cổ đại với Byblos đã giúp cho Ai Cập có được một nguồn cung cấp gỗ chất lượng vốn không có ở Ai Cập. Đến triều đại thứ năm, thương mại với Punt đã đem về vàng, nhựa thơm, gỗ mun, ngà voi và các loài động vật hoang dã như khỉ và khỉ đầu chó. Thương mại giữa Ai Cập với khu vực Anatolia đã mang về một lượng lớn thiếc cần thiết cũng như nguồn cung cấp đồng bổ sung, cả ở dạng kim loại và quặng đồng dùng cho việc chế tạo đồ đồng. Người Ai Cập cổ đại cũng rất coi trọng loại đá lapis lazuli màu xanh, mà phải nhập khẩu từ vùng đất Afghanistan xa xôi. Các đối tác thương mại ở Địa Trung Hải của Ai Cập còn bao gồm cả người Hy Lạp và Crete, họ đã cung cấp cho người Ai Cập nhiều loại hàng hóa khác nhau trong đó có dầu olive. Về phần mình, Ai Cập chủ yếu xuất khẩu ngũ cốc, vàng, vải lanh, và giấy cói, ngoài ra còn bao gồm cả thủy tinh và những đồ vật bằng đá.
== Ngôn ngữ ==
=== Lịch sử phát triển ===
Tiếng Ai Cập là một ngôn ngữ Phi-Á phía bắc có mối quan hệ gần gũi với tiếng Berber và ngôn ngữ Semite. Nó là một trong những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời nhất (chỉ sau tiếng Sumer), và được viết từ khoảng năm 3200 TCN cho đến thời Trung Cổ và tồn tại là một ngôn ngữ nói còn lâu hơn nữa. Các giai đoạn của tiếng Ai Cập cổ đại là Cổ Ai Cập, Trung Ai Cập (tiếng Ai Cập cổ điển), Hậu kỳ Ai Cập, ngôn ngữ bình dân và tiếng Copt. Những ghi chép của người Ai Cập không cho thấy sự khác biệt về phương ngữ trước giai đoạn Copt, nhưng có thể co sự khác biệt trong cách nói tiếng địa phương ở khu vực xung quanh Memphis và Thebes sau này.
Ngôn ngữ Ai Cập cổ đại là một ngôn ngữ đa tổng hợp, nhưng nó đã dần trở thành một loại ngôn ngữ đơn lập sau này. Đến giai đoạn Hậu kỳ Ai Cập, nó đã phát triển các tiền tố hạn định và các mạo từ bất định, mà thay thế cho các hậu biến tố cũ. Đã có một sự thay đổi từ thứ tự động từ-chủ ngữ-bổ ngữ cũ thành dạng chủ ngữ-động từ-bổ ngữ. Các ghi chép bằng chữ tượng hình, chữ thầy tu, và ngôn ngữ bình dân Ai Cập đã dần dần bị thay thế bằng bảng chữ cái ngữ âm của tiếng Copt. Tiếng Copt vẫn được sử dụng trong các nghi thức tế lễ của Giáo hội Chính Thống Ai Cập, và dấu vết của nó còn được tìm thấy ở trong ngôn ngữ Ai Cập Ả Rập ngày nay.
=== Phát âm và ngữ pháp ===
Ngôn ngữ Ai Cập cổ đại có 25 phụ âm tương tự với những ngôn ngữ Phi-Á khác. Chúng bao gồm phụ âm đầu và trọng âm, âm tắc, âm xát và âm rung, âm vang và âm ồn. Nó có ba nguyên âm dài và ba nguyên âm ngắn, sau này vào thời Hậu kỳ Ai Cập thì nó được mở rộng lên thành chín. Các từ cơ bản của tiếng Ai Cập tương tự như tiếng Semite và Berber, bao gồm ba hoặc hai gốc phụ âm và bán phụ âm. Hậu tố được thêm vào để tạo thành từ. Việc chia động từ tương ứng với ngôi. Ví dụ, bộ khung ba phụ âm S-Ḏ-M là phần cốt lõi ngữ nghĩa của từ 'nghe'; chia động từ cơ bản của nó là sḏm, 'ông ta nghe'. Nếu chủ ngữ là một danh từ, hậu tố không được thêm vào động từ: sḏm ḥmt, 'người phụ nữ nghe'.
Tính từ đuợc tạo thành từ danh từ thông qua một quá trình mà các nhà Ai Cập học gọi là nisbation vì sự tương đồng so với tiếng Ả Rập. Thứ tự của từ là vị ngữ-chủ ngữ trong động từ và tính từ, và chủ ngữ-vị ngữ trong danh từ và phó từ. Chủ ngữ có thể được di chuyển đến đầu câu nếu nó dài và được theo sau bởi một đại từ bổ ngữ. Các động từ và danh từ dạng phủ định thì thêm tiếp đầu ngữ n, còn nn được sử dụng cho các trạng từ và tính từ. Trọng âm rơi vào âm tiết cuối cùng hoặc áp chót, có thể là mở âm (CV) hoặc đóng âm (CVC).
=== Chữ viết ===
Những ghi chép bằng chữ tượng hình có niên đại từ khoảng năm 3000 TCN, và bao gồm hàng trăm biểu tượng. Một chữ tượng hình có thể đại diện cho một từ, một âm thanh, hoặc một âm câm nhất định; và cùng một biểu tượng tương tự có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau trong những bối cảnh khác nhau. Chữ tượng hình là một dạng chữ viết chính thức, được sử dụng trên các công trình bằng đá và trong các ngôi mộ, và nó có thể mang tính chi tiết như các tác phẩm nghệ thuật cá nhân. Trong các ghi chép hàng ngày, các viên ký lục đã sử dụng một dạng chữ viết soạn thảo, còn được gọi là chữ thầy tu, giúp họ viết nhanh hơn và dễ dàng hơn. Trong khi chữ tượng hình chính thức có thể được đọc theo hàng hoặc cột hoặc cả hai hướng (mặc dù thường được viết từ phải sang trái), chữ thầy tu thì lại luôn luôn được viết từ phải sang trái, thường là theo các hàng ngang. Một dạng chữ viết mới, chữ viết bình dân (Demotic), sau này đã trở thành cách viết phổ biến, và dạng chữ viết này cùng với dạng chữ tượng hình chính thức đã được sử dụng trên phiến đá Rosetta kèm theo văn bản tiếng Hy Lạp.
Khoảng thế kỷ thứ nhất, bảng chữ cái Copt đã bắt đầu được sử dụng cùng với chữ viết bình dân. Chữ Copt là một dạng biến thể của bảng chữ cái Hy Lạp với việc bổ sung thêm một số dấu hiệu của chữ viết bình dân. Mặc dù chữ tượng hình chính thức được sử dụng trong các nghi lễ cho đến thế kỷ thứ tư, tới giai đoạn cuối chỉ có một số ít các thầy tu vẫn còn có thể đọc được chúng. Khi mà các tôn giáo truyền thống bị cấm đoán, hiểu biết về chữ viết tượng hình được coi là đã thất truyền. Những nỗ lực nhằm giải mã chúng đã bắt đầu từ thời Byzantine và trong thời kỳ Hồi giáo ở Ai Cập, nhưng mãi đến năm 1822, sau khi phiến đá Rosetta được phát hiện và qua nhiều năm nghiên cứu của Thomas Young cùng Jean-François Champollion, chữ tượng hình mới gần như được giải mã hoàn toàn.
=== Văn học ===
Những ghi chép đầu tiên xuất hiện gắn liền với vương quyền của nhà vua là trên các nhãn và thẻ của vật dụng được tìm thấy trong những ngôi mộ hoàng gia. Đó là công việc chính của những viên ký lục, họ làm việc trong tổ chức Per Ankh hoặc Ngôi nhà sinh mệnh. Thể chế này bao gồm các nghi lễ, thư viện (gọi là Ngôi nhà sách), phòng thí nghiệm và các đài quan sát. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của văn học Ai Cập cổ đại đó là các văn bản trong các kim tự tháp và trên những chiếc quan tài, được viết bằng ngôn ngữ Ai Cập cổ điển, mà vẫn tiếp tục được sử dụng để ghi chép cho đến khoảng năm 1300 TCN. Sau đó từ thời Tân Vương quốc trở đi, người Ai Cập sử dụng văn nói trong các văn bản hành chính thời kỳ Ramesse, trong các tập thơ tình và những câu chuyện, cũng như trong các ghi chép bằng ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ Copt. Trong thời gian này, những ghi chép truyền thống đã phát triển thành những tác phẩm tự truyện trong các ngôi mộ, chẳng hạn như của Harkhuf và Weni. Một thể loại khác được gọi là Sebayt ("lời chỉ dạy") đã được phát triển để truyền đạt những lời giảng dạy và hướng dẫn từ các quý tộc nổi tiếng; Cuộn giấy Ipuwer- một bài thơ ai ca mô tả thiên tai và biến động xã hội- là một ví dụ nổi tiếng. Tác phẩm Câu chuyện của Sinuhe, viết bằng ngôn ngữ Trung Ai Cập, được coi là một tác phẩm kinh điển của văn học Ai Cập. Cũng được viết vào thời điểm này là Cuộn giấy Westcar, một tập hợp các câu chuyện trong đó những người con trai Khufu kể về những kỳ công của ông, và do các thầy tu viết nên. Lời chỉ dạy của Amenemope còn được coi là một kiệt tác của văn học cận đông. Vào cuối thời Tân Vương quốc, ngôn ngữ bản địa đã thường xuyên được sử dụng để viết những tác phẩm phổ biến như câu chuyện của Wenamun và lời chỉ dạy của Any. Từ khoảng năm 700 TCN, những câu chuyện thuật lại và lời chỉ dạy, chẳng hạn như lời chỉ dạy của Onchsheshonqy, cũng như các thư tịch của cá nhân và dùng trong buôn bán đều được viết bằng ngôn ngữ bình dân và theo các giai đoạn của người Ai Cập. Nhiều câu chuyện được viết bằng ngôn ngữ bình dân trong thời kỳ Hy Lạp-La Mã lại lấy bối cảnh vào các thời kỳ lịch sử trước đây, khi Ai Cập là một quốc gia độc lập được cai trị bởi những vị vua vĩ đại như Ramesses II.
== Văn hóa ==
=== Cuộc sống thường nhật ===
Hầu hết người dân Ai Cập cổ đại là các nông dân gắn liền với đất đai. Ngôi nhà của họ chỉ giới hạn cho các thành viên trong một gia đình, và được xây bằng gạch bùn nhằm để giữ mát trong những ngày nắng nóng. Mỗi ngôi nhà có một nhà bếp với một mái trần, với một bánh mài để xát hạt và một lò nướng nhỏ để nướng bánh. Tường được sơn màu trắng và có thể được bao phủ bằng những tấm vải lanh được nhuộm màu. Sàn nhà được bao phủ bằng thảm sậy, trong khi các đồ nội thất bao gồm các chiếc ghế gỗ, giường được đắp cao lên từ sàn nhà và một chiếc bàn ăn.
Người Ai Cập cổ đại rất coi trọng sự vệ sinh và dáng vẻ bề ngoài. Họ hầu hết tắm trên dòng sông Nile và sử dụng xà phòng nhão làm từ mỡ động vật cùng với phấn. Đàn ông cạo sạch sẽ toàn bộ cơ thể của họ; nước hoa và các loại mỡ thơm được dùng để che đậy mùi hôi và làm dịu làn da. Quần áo được làm từ các tấm vải lanh đơn giản và được tẩy trắng, trong khi đàn ông và phụ nữ ở tầng lớp thượng lưu đội những bộ tóc giả, sử dụng đồ trang sức cùng mỹ phẩm. Trẻ em không mặc quần áo cho đến tuổi trưởng thành, khoảng 12 tuổi, ở tuổi này người con trai phải cắt bao quy đầu và cạo trọc. Người mẹ chịu trách nhiệm chăm sóc con cái, trong khi người cha mang về nguồn thu nhập cho gia đình.
Âm nhạc và nghệ thuật múa là những hình thức giải trí phổ biến đối với những người có thể biểu diễn chúng. Các dụng cụ âm nhạc thủa đầu bao gồm sáo và đàn hạc, trong khi các nhạc cụ tương tự như kèn trumpet, oboe, và ống tiêu chỉ xuất hiện sau này và dần trở nên phổ biến. Vào thời Tân Vương quốc, người Ai Cập đã chơi các nhạc cụ như chuông, chũm chọe, trống cơm, trống, cùng đàn luýt và đàn lia du nhập từ châu Á.
Người Ai Cập cổ đại đã có được nhiều loại hình giải trí khác nhau, bao gồm cả các trò chơi và âm nhạc. Senet, một dạng bảng chơi, trong đó các quân cờ di chuyển một cách ngẫu nhiên, vốn đặc biệt phổ biến từ thời xa xưa; một trò chơi khác tương tự là Mehen, với một bảng chơi hình tròn. Tung hứng và trò chơi liên quan đến bóng lại rất phổ biến với trẻ em, và đấu vật cũng được chứng thực trong một ngôi mộ tại Beni Hasan. Những thành viên giàu có của xã hội Ai Cập cổ đại rất thích săn bắn và chèo thuyền.
Những khai quật về ngôi làng của công nhân ở Deir el-Madinah đã kết lại những bản khảo nghiệm hoàn hảo nhất về cuộc sống cộng đồng trong thế giới văn minh cổ đại xuyên suốt 400 năm lịch sử. Không còn một nơi nào mà những cơ quan chính quyền, tương tác xã hội, công việc và điều kiện cuộc sống của một cộng đồng được nghiên cứu đầy đủ chi tiết như vậy.
=== Ẩm thực ===
Ẩm thực của người Ai Cập vẫn trường tồn mãi theo thời gian; quả thực, các món ăn của người Ai Cập hiện nay vẫn giữ được một số điểm tương đồng nổi bật với các món ăn của người xưa. Chế độ ăn uống chủ yếu bao gồm bánh mì và bia, bổ sung thêm các loại rau như hành tây và tỏi, các loại trái cây như quả chà là và sung. Rượu vang và thịt chỉ được dùng vào các ngày lễ hội trong khi tầng lớp thượng lưu lại thưởng thức chúng một cách thường xuyên hơn. Cá, thịt, gia cầm và có thể được ướp muối hoặc phơi khô, chúng có thể được nấu trong các món hầm hoặc nướng trên vỉ nướng.
=== Kiến trúc ===
Nghệ thuật kiến trúc của Ai Cập cổ đại với một số những công trình được coi là nổi tiếng nhất trên thế giới: Kim tự tháp Giza và các đền thờ tại Thebes. Các dự án xây dựng đã được nhà nước tổ chức và hỗ trợ tài chính cho mục đích tôn giáo và kỷ niệm,và còn để củng cố sức mạnh của các pharaon. Người Ai Cập cổ đại là những công nhân xây dựng có tay nghề cao; sử dụng các công cụ và phương tiện đơn giản nhưng lại vô cùng hiệu quả, các kiến trúc sư của họ có thể xây dựng các công trình đồ sộ bằng đá với độ chính xác cao.
Ngôi nhà của tầng lớp thượng lưu cũng như của những người dân thường Ai Cập đều được xây dựng từ các vật liệu dễ hỏng như gạch bùn và gỗ. Người nông dân sống trong những ngôi nhà đơn giản, trong khi nơi ở của tầng lớp thượng lưu lại là những cấu trúc phức tạp hơn. Một vài tòa nhà từ thời Tân Vương quốc còn sót lại như ở Malkata và Amarna, cho thấy các bức tường và sàn nhà được trang trí bằng những bức vẽ về người, chim, bể nước, các vị thần và những phác họa hình học. Những kiến trúc quan trọng như đền thờ và lăng mộ đã được dự định sẽ trường tồn thế nên chúng được xây bằng đá thay vì gạch.
Những ngôi đền Ai Cập cổ đại lâu đời nhất còn được bảo tồn tới ngày nay là ở Giza, chúng chỉ bao gồm duy nhất một đại sảnh bao quanh cùng phần mái được đỡ bởi các cây cột. Vào thời Tân Vương quốc, các kiến trúc sư đã xây dựng thêm tháp môn, khoảng sân ngoài, và một khu vực hành lang bao quanh với nhiều cây cột phía trước khu vực thánh đường của ngôi đền, một phong cách tiêu chuẩn điển hình cho đến giai đoạn Hy Lạp-La Mã. Những kiến trúc mai táng sớm nhất và phổ biến nhất vào thời Cổ Vương quốc là mastaba, đó là một cấu trúc mái bằng hình chữ nhật xây bằng gạch bùn hoặc đá phía trên một căn phòng chôn cất dưới lòng đất. Kim tự tháp bậc thang của Djoser là cấu trúc bao gồm một loạt các mastaba đá xếp chồng lên nhau. Các kim tự tháp được xây dựng vào thời Cổ và Trung Vương quốc, nhưng sau đó chúng dần bị các vị vua từ bỏ và họ tập trung vào xây dựng những ngôi mộ được đào sâu vào núi vốn ít bị chú ý hơn. Chỉ có triều đại thứ 25 là một ngoại lệ, bởi vì các vị pharaon của triều đại này lại xây dựng các kim tự tháp.
=== Nghệ thuật ===
Người Ai Cập cổ đại sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật nhằm phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Trong hơn 3500 năm, các họa sĩ luôn trung thành với những hình mẫu nghệ thuật và hình tượng đã được phát triển vào thời Cựu Vương quốc, và tuân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt mà chống lại những ảnh hưởng ngoại lại và những thay đổi nội tại. Những tiêu chuẩn mỹ thuật này với những đường nét đơn giản, khuôn mẫu, với các khu vực cùng màu kết hợp với những hình vẽ mang tính đặc trưng mà không có dấu hiệu của chiều sâu không gian- tạo ra một cảm giác trật tự và cân bằng trong một tổng thể chung. Hình vẽ và các bản văn thì lại hòa quyện với nhau trên các bức tường trong những ngôi mộ và đền thờ, trên các quan tài, bia đá, và thậm chí cả trên những bức tượng. Bia đá Namer là một ví dụ cho thấy những hình vẽ đó cũng có thể được đọc như là chữ tượng hình. Vì những quy tắc cứng nhắc này đã chi phối tính cách điệu và phong thái tượng trưng cao độ của nó, nghệ thuật Ai Cập cổ đại chủ yếu phục vụ mục đích chính trị và tôn giáo với độ chính xác và sự rõ ràng.
Nghệ nhân Ai Cập cổ đại sử dụng đá để tạc tượng và phù điêu, nhưng họ cũng sử dụng gỗ như là một sự thay thế rẻ hơn và dễ dàng khắc hơn. Màu vẽ được lấy từ các khoáng chất như quặng sắt (màu đỏ và màu vàng son), quặng đồng (màu xanh và màu xanh lá cây), bồ hóng hoặc than (màu đen), và đá vôi (màu trắng). Màu vẽ được trộn với nhựa gôm Ả rập như một chất kết dính và được ép thành bánh để có thể hòa vào nước khi cần thiết.
Các pharaon sử dụng các bức phù điêu để ghi lại chiến thắng của họ trong những trận chiến, chiếu chỉ của hoàng gia, và những cảnh tôn giáo. Những gười dân thường cũng có quyền tiếp cận với những tác phẩm nghệ thuật tang lễ, như các bức tượng shabti và sách của người chết, mà họ tin rằng sẽ bảo vệ họ ở thế giới bên kia. Trong suốt thời kỳ Trung Vương quốc, những khuôn mẫu bằng gỗ hoặc đất sét miêu tả quang cảnh cuộc sống hàng ngày đã trở thành một sự bổ sung phổ biến cho các ngôi mộ. Trong một nỗ lực nhằm để tái dựng lại các hoạt động của người sống sau khi bước sang thế giới bên kia, họ đã tạo nên các mô hình người lao động, nhà ở, tàu thuyền, và thậm chí cả mô hình quân sự để thể hiện những quan niệm của người Ai Cập cổ đại về thế giới bên kia. Mặc dù nghệ thuật Ai Cập cổ đại có sự đồng nhất, những phong cách đặc thù vào những khoảng thời gian và địa điểm cụ thể đôi khi phản ánh sự thay đổi thái độ văn hóa hay chính trị. Sau cuộc xâm lược người Hyksos trong thời kỳ chuyển tiếp thứ hai, những bức bích họa mang phong cách Minoan đã được tìm thấy tại Avaris. Ví dụ nổi bật nhất về một sự thay đổi định hướng chính trị trong các hình thức nghệ thuật đến từ thời kỳ Amarna, với những hình mẫu được thay đổi hoàn toàn để phù hợp với những ý tưởng tôn giáo mang tính cách mạng của Akhenaten. Phong cách này được gọi là nghệ thuật Amarna, và nó đã nhanh chóng bị xoá bỏ một cách hoàn toàn sau khi Akhenaten qua đời và được thay thế bằng phong cách truyền thống.
=== Niềm tin tôn giáo ===
Niềm tin vào các vị thần và thế giới bên kia đã ăn sâu vào trong nền văn minh Ai Cập cổ đại ngay từ thủa sơ khai; Luật lệ của Pharaon được dựa trên quyền lực thần thánh của các vị vua. Các ngôi đền Ai Cập là nơi trú ngụ của các vị thần, những người có quyền lực siêu nhiên và luôn được dân chúng cầu xin sự giúp đỡ và bảo vệ. Tuy nhiên, các vị thần không phải lúc nào cũng được coi là nhân từ, và người Ai Cập tin rằng họ có thể được xoa dịu bằng việc hiến tế và cầu nguyện. Hệ thống các vị thần này thay đổi liên tục bởi vì các vị thần mới luôn được phong cấp trong hệ thống cấp bậc, trong khi các vị tư tế lại không có bất cứ nỗ lực để thiết lập các thay đổi này cùng với những câu chuyện thành một thể thống nhất và đôi khi lại khiến cho những câu chuyện thần thoại này mâu thuẫn với nhau. Những quan niệm khác nhau về thần thánh không được coi là mâu thuẫn mà giống như là phân thành nhiều lớp theo nhiều khía cạnh của thực tại.
Các vị thần được thờ cúng trong những ngôi đền chiu sự quản lý của các vị tư tế đại diện cho nhà vua. Tại trung tâm của các ngôi đền đều có một bức tượng dược thờ cúng trong một điện thờ. Các ngôi đền không phải là nơi dành cho việc thờ cúng chung, và chỉ vào một số ngày lễ và lễ kỷ niệm thì là bức tượng của vị thần mới được đem ra để thờ phụng công khai trong một điện thờ. Thông thường, lãnh địa của các vị thần luôn cách biệt với thế giới bên ngoài và chỉ có các quan chức của ngôi đền mới được phép đặt chân vào. Người dân có thể thờ cúng các bức tượng riêng trong nhà của họ, và đeo những lá bùa hộ mệnh nhằm chống lại các thế lực gây ra sự hỗn loạn. Sau thời kì Tân Vương quốc, vai trò của pharaon như một trung gian tâm linh bị giảm nhẹ, hay nói cách khác những phong tục tín ngưỡng đã chuyển dịch tinh thần đến việc thờ phượng trực tiếp các vị thần thay vì phải qua pharaon. Kết quả là, các linh mục đã phát triển một hệ thống những nhà tiên tri nhằm giao thức với ý nghĩ của thần linh và truyền lại trực tiếp đến người dân.
Người Ai Cập tin rằng mỗi con người được cấu tạo từ các bộ phận cơ thể và phần linh hồn. Ngoài cơ thể, mỗi người còn có một swt (bóng), một ba (tính cách hay linh hồn), một ka (sức sống), và một cái tên. Trái tim chứ không phải là não được coi là nơi chứa đựng những suy nghĩ và cảm xúc. Sau khi chết, phần hồn sẽ được giải phóng khỏi cơ thể và có thể lang thang một cách tự do, nhưng nó cần một cơ thể khác (hoặc thay thế, chẳng hạn như một bức tượng) để làm một ngôi nhà vĩnh viễn. Mục tiêu cuối cùng của người đã khuất đó là đoàn tụ lại được với ka và ba của mình, để có thể trở thành một akh. Để điều này xảy ra, người đã khuất phải trải qua một phiên tòa, trong đó trái tim của họ được đem cân với một "sợi lông chân lý". Nếu được coi là xứng đáng, người đã khuất có thể tiếp tục tồn tại trên trái đất dưới dạng phần hồn.
=== Phong tục mai táng ===
Người Ai Cập cổ đại đã duy trì một tập hợp phức tạp các phong tục mai táng mà họ tin là cần thiết để đảm bảo sự bất tử sau khi qua đời. Những phong tục này liên quan đến việc bảo vệ cơ thể bằng cách ướp xác, thực hiện các nghi lễ chôn cất, và an táng cùng với đồ vật mà người chết sẽ sử dụng trong thế giới bên kia. Trước thời Cổ Vương quốc, thi hài người chết được chôn cất dưới các hố được đào trong sa mạc và nó được bảo quản khô một cách tự nhiên. Sự khô cằn của sa mạc là một điều kiện thuận lợi giúp cho việc chôn cất của những người dân nghèo trong suốt lịch sử của Ai Cập cổ đại, vì họ không có khả năng chi trả cho quá trình chôn cất công phu vốn dành cho tầng lớp thượng lưu. Những người Ai Cập giàu có đã bắt đầu chôn cất người chết trong những ngôi mộ bằng đá và sử dụng quá trình ướp xác nhân tạo, mà trong đó họ loại bỏ các cơ quan nội tạng, quấn toàn bộ cơ thể người chết bằng vải lanh, rồi chôn cất trong một quan tài bằng đá hình chữ nhật hoặc quan tài bằng gỗ. Bắt đầu từ triều đại thứ tư, một số bộ phận đã được bảo quản một cách riêng biệt trong các lọ đựng nội tạng. Vào thời kỳ Tân Vương quốc, người Ai Cập cổ đại đã hoàn thiện nghệ thuật ướp xác của họ; kỹ thuật tốt nhất mất tới 70 ngày để loại bỏ các cơ quan nội tạng, loại bỏ não thông qua mũi, và làm khô thi hài bằng một hỗn hợp muối gọi là natron. Thi hài sau đó được bọc trong vải lanh cùng với những tấm bùa hộ mệnh bảo vệ chèn vào giữa các lớp vải và được đặt trong một quan tài hình người được trang trí cầu kỳ. Nghệ thuật ướp xác dần trở nên suy tàn dưới thời Ptolemy và La Mã, trong khi lại nhấn mạnh hơn đến hình dáng bên ngoài được trang trí của xác ướp.
Trong khi người Ai Cập giàu có được chôn cất với một số lượng lớn các vật dụng xa xỉ, thì trong tất cả các ngôi mộ bất kể địa vị xã hội, luôn có những đồ đạc dành cho người chết. Bắt đầu từ thời Tân Vương quốc, sách của người chết luôn có đi kèm trong các ngôi mộ, cùng với những bức tượng shabti mà được tin là để lao động thay cho chủ nhân của chúng ở thế giới bên kia. Sau khi an táng, những người thân còn sống cũng thỉnh thoảng mang thức ăn đến các ngôi mộ và nguyện cầu thay mặt cho người đã khuất.
== Quân sự ==
Quân đội Ai Cập cổ đại có nhiệm vụ bảo vệ Ai Cập chống lại các cuộc xâm lăng từ bên ngoài và duy trì sự thống trị của Ai Cập ở vùng Cận Đông cổ đại. Quân đội còn bảo vệ các mỏ khai thác ở Sinai trong thời kỳ Cổ Vương quốc và tham gia vào các cuộc nội chiến trong thời kỳ chuyển tiếp thứ nhất và thứ hai. Họ còn chịu trách nhiệm bảo vệ các pháo đài dọc theo các tuyến đường thương mại quan trọng, chẳng hạn như tại thành phố Buhen trên đường tới Nubia. Các pháo đài cũng đã được xây dựng để làm các căn cứ quân sự, chẳng hạn như pháo đài ở Sile, mà đóng vai trò là một căn cứ chỉ huy trong các quộc viễn chinh tới Levant. Vào thời kỳ Tân Vương quốc, một loạt các vị vua đã sử dụng quân đội thường trực của Ai Cập để tấn công và chinh phục Kush cùng các khu vực của Levant.
Trang bị quân sự điển hình bao gồm cung tên, giáo, và loại khiên đầu tròn được chế tạo bằng cách bọc da động vật vào một khung gỗ. Vào thời kỳ Tân Vương quốc, quân đội đã bắt đầu sử dụng các cỗ chiến xa vốn được những kẻ xâm lược người Hyksos du nhập vào thời kỳ trước đó. Vũ khí và áo giáp tiếp tục được cải tiến với việc sử dụng đồng: khiên chắn bây giờ đã được làm từ một khối gỗ đặc với một thanh oằn bằng đồng, các ngọn giáo được gắn đầu chóp nhọn bằng đồng, và Khopesh đã được du nhập từ những người lính châu Á. Các vị pharaon thường được mô tả trong nghệ thuật và văn học là đang cưỡi trên các cỗ chiến xa ở phía trước đạo quân; có giả thuyết cho rằng đã có ít nhất một vài vị pharaon, như Seqenenre Tao II và những người con trai của ông, đã làm như vậy. Tuy nhiên, cũng có những lập luận cho rằng "những vị vua của thời kỳ này đã không đích thân chỉ huy quân đội trên chiến trường, chiến đấu cùng với quân đội của họ. " Binh lính được tuyển chọn từ những người dân thường, nhưng trong giai đoạn Tân Vương quốc và đặc biệt là thời kỳ sau đó, lính đánh thuê từ Nubia, Kush, và Libya đã được tuyển mộ để chiến đấu cho Ai Cập.
== Kỹ thuật, y học, toán học ==
=== Kỹ thuật ===
Trong lĩnh vục kỹ thuật, y học và toán học, người Ai Cập cổ đại đã đạt được một tiêu chuẩn tương đối cao về năng suất và sự tinh tế. Các cuộn giấy Edwin Smith và Ebers (khoảng năm 1600 TCN) đã ghi chép lại những kinh nghiệm truyền thống đầu tiên được biết đến của người Ai Cập. Người Ai Cập còn tạo ra bảng chữ cái riêng của họ và hệ thập phân.
=== Đồ sứ và thủy tinh ===
Ngay từ trước thời kỳ Cổ Vương quốc, người Ai Cập cổ đại đã tạo ra một loại vật liệu thủy tinh được gọi là sứ, và họ coi đó là một loại đá bán quý nhân tạo. Sứ là một loại đồ gốm được làm từ silica, một lượng nhỏ vôi và natri oxit, cùng với một chất tạo màu, thường là đồng. Nó được sử dụng để làm các chuỗi hạt, đá lát, các bức tượng nhỏ, và đồ gốm nhỏ. Người Ai Cập cổ đại còn tạo ra được một chất màu gọi là màu xanh Ai Cập, hay còn được gọi màu xanh thủy tinh, nó được tạo ra bằng cách nung chảy silica, đồng, vôi, và một loại chất kiềm như natron. Sản phẩm tạo ra có thể được nghiền nhỏ và được sử dụng làm một chất màu.
Người Ai Cập cổ đại đã có thể chế tạo một loạt các đồ vật bằng thủy tinh với kỹ năng tuyệt vời, nhưng hiện vẫn chưa rõ là liệu rằng họ đã phát triển quá trình này một cách độc lập hay không. Ngoài ra cũng không rõ ràng rằng họ đã chế tạo ra loại thủy tinh thô của mình hay chỉ đơn thuần là nhập khẩu các thỏi đã được chế tạo sẵn, sau đó họ nấu chảy và hoàn thiện. Tuy nhiên, họ lại có kĩ năng thuần thục trong việc tạo hình các đồ vật, cũng như việc thêm vào các yếu tố vi lượng để kiểm soát màu sắc của thuỷ tinh thành phẩm. Họ có thể tạo ra nhiều loại màu sắc bao gồm màu vàng, đỏ, xanh lá cây, xanh dương, tím, trắng, và có thể chế tạo ra loại thủy tinh trong suốt hoặc mờ đục.
=== Y học ===
Những vấn đề y tế của người Ai Cập cổ đại bắt nguồn trực tiếp từ môi trường sống của họ. Do cuộc sống và lao động diễn ra gần con sông Nile khiến cho họ dễ gặp phải những mối nguy hiểm đến từ bệnh sốt rét và trùng sán máng ký sinh, khiến tổn thương gan và đường ruột. Những loài động vật hoang dã nguy hiểm như cá sấu và hà mã cũng là một mối đe dọa phổ biến. Công việc đồng áng và lao động trong các công trình xây dựng đã gây nên áp lực đối với cột sống và các khớp xương, tổn thương trong quá trình xây dựng các công trình và chiến tranh cũng khiến cho họ mất đi một số bộ phận quan trọng trên cơ thể. Những hạt sạn và cát trong bột mỳ làm mòn răng của họ, khiến cho họ dễ bị áp xe (mặc dù vậy sâu răng lại rất hiếm).
Chế độ ăn của những người giàu thường có chứa nhiều đường, vì thế khiến cho họ dễ mắc phải bệnh răng lợi. Mặc dù luôn được miêu tả với vóc dáng thon gọn trên các bức tường trong những ngôi mộ, nhiều xác ướp của tầng lớp thượng lưu cho thấy tình trạng thừa cân vốn do ảnh hưởng từ một cuộc sống quá sung túc. Tuổi đời của một người trưởng thành là khoảng 35 đối với nam và 30 đối với phụ nữ, nhưng để sống được đến độ tuổi trưởng thành thì lại là một điều khó bởi vì khoảng một phần ba dân số đã qua đời khi còn đang trong độ tuổi thanh niên.
Các thầy thuốc Ai Cập từ xa xưa đã nổi tiếng ở vùng Cận Đông cổ đại nhờ vào tài năng chữa bệnh của họ, và một số chẳng hạn như Imhotep, thậm chí còn nổi tiếng rất lâu sau khi họ qua đời. Herodotos đã nhận xét rằng các thầy thuốc Ai Cập là những người có sự chuyên môn hóa cao, với việc có những người chỉ chuyên chữa những bệnh về đầu hoặc dạ dày, trong khi những người khác là các thầy thuốc chữa bệnh về mắt và là nha sĩ. Quá trình đào tạo các thầy thuốc diễn ra tại các phân viện Ankh hoặc "Ngôi nhà của sự sống", đặc biệt nổi tiếng là những nơi như ở Per-Bastet vào thời Tân Vương quốc và tại Abydos và Sais vào giai đoạn Hậu nguyên sau này. Các cuộn Giấy cói y học ghi lại những kiến thức thực nghiệm về giải phẫu, chấn thương, và những phương pháp điều trị thực tế.
Các vết thương lại được chữa trị bằng cách băng bó với thịt sống, vải lanh trắng, chỉ khâu, vải màn, tấm lót, băng gạc nhúng với mật ong để ngăn ngừa nhiễm trùng, trong khi thuốc phiện, cỏ dạ hương và belladona đã được sử dụng để giảm đau. Những ghi chép sớm nhất về cách điều trị bỏng đã mô tả cách băng bó vết bỏng mà sử dụng sữa từ người mẹ sinh con trai. Bánh mì mốc, mật ong và muối đồng cũng đã được sử dụng để ngăn ngừa nhiễm khuẩn vết bỏng. Tỏi và hành tây đã được sử dụng thường xuyên để tăng cường sức khỏe và được cho là có tác dụng tốt trong việc giảm các triệu chứng hen suyễn. Những thầy thuốc phẫu thuật Ai Cập cổ đại có thể khâu vết thương, cố định lại xương bị gãy, và cắt cụt chân tay bị hoại tử, nhưng họ cũng nhận ra rằng một số vết thương quá nghiêm trọng và họ chỉ có thể làm cho bệnh nhân cảm thấy thoải mái cho đến khi cái chết xảy đến.
=== Đóng tàu ===
Những người Ai Cập từ xa xưa đã biết cách lắp ráp các tấm ván gỗ vào một thân tàu và đã làm chủ được các kỹ thuật tiên tiến của ngành đóng tàu từ rất sớm vào khoảng năm 3000 TCN. Viện khảo cổ học Mỹ ghi nhận rằng một số chiếc thuyền cổ xưa nhất vẫn đang được khai quật và chúng được gọi chung là những chiếc thuyền Abydos. Đây là một nhóm gồm 14 con thuyền được phát hiện ở Abydos và chúng được tạo nên bằng cách "khâu" các tấm ván gỗ lại với nhau. Các con thuyền này được nhà Ai Cập học David O'Connor của đại học New York phát hiện ngoài ra còn có cả những chiếc dây đai được sử dụng để buộc các tấm ván lại với nhau, và họ dùng lau sậy hoặc cây cỏ để lèn vào giữa các tấm ván nhằm bịt các kẽ hở.. Vì những chiếc thuyền này đều được chôn cùng nhau và nằm gần khu nhà nguyện an táng của Pharaon Khasekhemwy, nên ban đầu tất cả chúng đều được cho là thuộc về ông, nhưng chỉ có một trong số 14 chiếc thuyền này có niên đại vào khoảng năm 3000 TCN, và những chiếc bình gốm được chôn cùng với các con thuyền này cũng được cho là có niên đại sớm hơn. Chiếc thuyền có niên đại khoảng năm 3000 TCN có chiều dài 75 feet (23 m) và ngày nay được coi là thuộc về một vị pharaon trước đó. Theo giáo sư O'Connor, chiếc thuyền có niên đại 5.000 năm tuổi có thể có thuộc về Pharaon Aha.
Người Ai Cập cổ đại cũng biết dùng các đinh gỗ để đóng những tấm ván gỗ chặt hơn lại với nhau, họ còn sử dụng hắc ín để bít các vết nối. Chiếc "thuyền Khufu" dài 43,6 mét (143 ft) được chôn trong một chiếc hố thuộc khu vực phức hợp kim tự tháp Giza và nằm ngay dưới chân của Đại kim tự tháp Giza có niên đại thuộc về triều đại thứ tư khoảng năm 2500 TCN, có thể chủ yếu mang tính biểu tượng là một chiếc thuyền mặt trời. Người Ai Cập cũng biết cách đóng chặt các tấm ván của con tàu này bằng các lỗ và khớp mộng.
Người Ai Cập còn sử dụng những chiếc tàu biển lớn trong hoạt động thương mại với các thành bang ở phía đông Địa Trung Hải, đặc biệt là Byblos (trên bờ biển Liban ngày nay), và trong một số cuộc thám hiểm dọc theo bờ Biển Đỏ đến xứ Punt. Trên thực tế, một trong những từ ngữ đuợc người Ai Cập sử dụng sớm nhất để chỉ tàu biển đó là "tàu Byblos", mà ban đầu được xác định là một lớp tàu biển mà người Ai Cập dùng để đi tới Byblos. Tuy nhiên, vào cuối thời Cổ Vương quốc, thuật ngữ này đã được dùng để chỉ những con tàu biển lớn, bất kể điểm đến của chúng.
Vào năm 2011, các nhà khảo cổ đến từ Ý, Hoa Kỳ, và Ai Cập đã khai quật một khu phá khô cạn được gọi là Mersa Gawasis, tại đó họ đã khai quật được dấu vết của một bến cảng cổ từng là nơi khởi đầu cho các chuyến hải trình giống như chuyến thám hiểm xứ Punt của Hatshepsut. Một số di chỉ được phát hiện đã minh chứng cho sức mạnh đi biển người Ai Cập cổ đại với những con tàu lớn bằng gỗ cùng hàng trăm feet dây thừng được làm từ giấy cói và được cuộn thành những bó lớn. Và vào năm 2013, một nhóm các nhà khảo cổ học của Pháp và Ai Cập đã phát hiện cảng biển được cho là có tuổi đời lâu nhất thế giới, có niên đại khoảng 4500 năm từ thời vua Cheops, nó nằm trên bờ biển Đỏ gần Wadi el-Jarf (cách kênh đào Suez khoảng 110 dặm về phía nam).
Năm 1977, một kênh đào nối liền bắc-nam cổ xưa có niên đại từ thời Trung Vương quốc Ai Cập được phát hiện nối dài từ hồ Timsah đến những hồ Ballah. Việc cho rằng niên đại của con kênh là ở thời kỳ Trung Vương quốc đến từ việc ngoại suy niên đại của những di tích lịch sử được xây dựng cùng thời kỳ.
=== Toán học ===
Những ví dụ sớm nhất về việc thực hiện các phép tính toán học là có niên đại vào thời kỳ Naqada thuộc giai đoạn Tiền triều đại, và nó cho thấy một hệ thống các chữ số đã phát triển đầy đủ. Tầm quan trọng của toán học trong quá trình giáo dục một người Ai Cập được thừa nhận thông một tác phẩm văn chương hư cấu vào thời Tân Vương quốc, trong đó tác giả sáng tạo ra một cuộc thi sự uyên bác giữa ông ta với một viên ký lục liên quan đến các công việc tính toán hàng ngày như tính toán đất đai, lao động, và thóc lúa. Những ghi chép như trên cuộn giấy toán học Rhind và cuộn giấy toán học Moscow cho thấy người Ai Cập cổ đại đã có thể thực hiện bốn phép tính toán học cơ bản -cộng, trừ, nhân, chia- sử dụng phân số, tính toán khối lượng của các bao và kim tự tháp, và ước tính diện tích bề mặt của hình chữ nhật, hình tam giác, và hình tròn. Họ còn hiểu được các khái niệm cơ bản của đại số và hình học, và có thể giải được hệ phương trình đơn giản.
Ký hiệu toán học thập phân thì lại dựa trên cơ sở các ký hiệu bằng chữ tượng hình cho mỗi luỹ thừa mười cho đến một triệu. Mỗi một ký hiệu trong số này có thể được viết đi viết lại nhiều lần nếu cần thiết để có thể đạt đến con số mong muốn; do đó, để viết các số tám mươi hay tám trăm, ký hiệu mười hay một trăm sẽ được viết tám lần tương ứng. Bởi vì phương pháp tính toán của họ không thể xử lý hầu hết các phân số với tử số lớn hơn một, họ đã phải viết phân số như là tổng của nhiều phân số. Ví dụ, họ có thể phân tích phân số hai phần năm thành tổng của một phần ba + một phần mười lăm. Bảng các giá trị tiêu chuẩn sẽ giúp thuận tiện cho điều này. Tuy nhiên, một số phân số thông dụng có thể được viết bằng một ký tự đặc biệt.
Những nhà toán học Ai Cập cổ đại đã nắm được các nguyên tắc cơ bản của định lý Pythagore, ví dụ như họ biết rằng một tam giác có một góc vuông đối diện với cạnh huyền khi các cạnh của nó có tỷ lệ 3-4-5. Họ đã có thể ước tính được diện tích của một hình tròn bằng cách trừ đi một phần chín đường kính của nó và bình phương kết quả:
Diện tích ≈ [(8⁄9)D]2 = (256⁄81)r 2 ≈ 3.16r 2,
gần xấp xỉ công thức πr 2.
Tỷ lệ vàng dường như cũng được hiện diện trong nhiều công trình xây dựng của Ai Cập, trong đó có các kim tự tháp, nhưng việc sử dụng nó có thể là một kết quả ngoài ý muốn trong quá trình kết hợp việc sử dụng những dây thừng thắt nút với một cảm giác trực quan về tỷ lệ và sự hài hòa.
== Dân số ==
== Di sản ==
Văn hóa và các công trình kiến trúc của Ai Cập cổ đại đã để lại một di sản lâu dài cho thế giới. Ví dụ như sự thờ cúng nữ thần Isis đã trở nên phổ biến vào thời đế quốc La Mã, các cột tháp tưởng niệm và các di tích khác đã được vận chuyển đến Rome. Người La Mã cũng nhập khẩu vật liệu xây dựng từ Ai Cập để xây dựng nên các kiến trúc mang phong cách Ai Cập. Những nhà sử học đầu tiên như Herodotus, Strabo và Diodorus Siculus đều nghiên cứu và viết các tác phẩm về vùng đất, mà người La Mã coi là một vùng đất huyền bí.
Trong suốt thời Trung Cổ và Phục Hưng, nền văn hóa đa thần của người Ai Cập vốn đã suy tàn sau khi Kitô giáo nổi lên và sau này là Hồi giáo, lại luôn nhận được sự quan tâm trong các tác phẩm của các học giả thời Trung Cổ như Dhul-Nun al-Misri và al-Maqrizi. Trong các thế kỷ XVII và XVIII, khách bộ hành và khách du lịch châu Âu đã mang về các cổ vật và viết nên những câu truyện ngắn về các cuộc hành trình của họ, điều này đã tạo nên một làn sóng Egyptomania trên khắp châu Âu. Làn sóng mới này khiến cho các nhà sưu tập đổ xô đến Ai Cập, họ đã mua, chiếm đoạt và được tặng nhiều cổ vật quan trọng.
Mặc dù sự chiếm đóng của thực dân phương Tây đến Ai Cập đã phá hủy một phần quan trọng các di sản lịch sử quốc gia, nhưng vẫn có một số người ngoại quốc đã để lại những dấu ấn tích cực hơn. Lấy ví dụ như Napoleon, ông đã chỉnh lý lại những nghiên cứu hàng đầu về Ai Cập học khi ông mua chúng từ khoảng 150 nhà khoa học và họa sĩ để học hỏi cùng với tài liệu lịch sử tự nhiên về Ai Cập, được phát hành trong chuỗi ấn phẩm Description de l'Égypte (Diện mạo Ai Cập).
Vào thế kỷ 20, Chính phủ Ai Cập và các nhà khảo cổ đều đã công nhận tầm quan trọng của sự tôn trọng văn hóa và sự toàn vẹn trong các cuộc khai quật. Hội đồng Tối cao Khảo cổ học hiện nay giữ vai trò phê duyệt và giám sát tất cả các cuộc khai quật, với mục đích là nhằm tìm kiếm thông tin chứ không phải là kho báu. Hội đồng cũng giám sát các bảo tàng và những chương trình đồ án tái thiết các di tích để bảo tồn các di sản lịch sử của Ai Cập.
== Xem thêm ==
Tàu thuyền Ai Cập cổ
Hội họa Ai Cập cổ
Xác ướp Ai Cập cổ
Danh sách pharaon
Lịch sử Ai Cập
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Baines, John & Jaromir Malek (2000). The Cultural Atlas of Ancient Egypt . Facts on File. ISBN 0-8160-4036-2. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
Bard, KA (1999). Encyclopedia of the Archaeology of Ancient Egypt. NY, NY: Routledge. ISBN 0-415-18589-0.
Grimal, Nicolas (1992). A History of Ancient Egypt (bằng tiếng Đức). Blackwell Books. ISBN 0-631-19396-0. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Helck, Wolfgang; Otto, Eberhard biên tập (1972–1992). Lexikon der Ägyptologie. O. Harrassowitz. ISBN 3-447-01441-5.
Lehner, Mark (1997). The Complete Pyramids. London: Thames & Hudson. ISBN 0-500-05084-8.
Redford, Donald B. biên tập (2001). The Oxford Encyclopedia of Ancient Egypt. Oxford University Press. ISBN 0-19-510234-7.
Wilkinson, R.H. (2003). The Complete Gods and Goddesses of Ancient Egypt. London: Thames and Hudson. ISBN 0-500-05120-8.
== Liên kết ngoài ==
BBC History: Egyptians—cung cấp một cái nhìn tổng thể đáng tin cậy cùng với nhiều liên kết có ích
Ancient History Encyclopedia tại Ai Cập
Ancient Egyptian Science: A Source Book Door Marshall Clagett, 1989
Ancient Egyptian Metallurgy—Một trang web cho biết lịch sử luyện kim của người Ai Cập cổ đại
Napoleon on the Nile: Soldiers, Artists, and the Rediscovery of Egypt, Art History.
Ancient Egypt—duy trì bởi Bảo tàng Anh, trang web này cung cấp một giới thiệu hữu ích về Ai Cập cổ đại cho trẻ em và thanh thiếu niên trẻ tuổi
Digital Egypt for Universities.—Những nghiên cứu sâu sắc đáng chú ý với tập kiến thức trải rộng kèm theo tài liệu tham khảo (nội bộ và bên ngoài). Những hình ảnh hiện vật được sử dụng để minh họa nhiều chủ đề trong đó.
Priests of Ancient Egypt—Những thông tin có chiều sâu về những linh mục của Ai Cập cổ đại, lễ tế tôn giáo và đền thờ. Cùng với nhiều tư liệu hình ảnh và tài liệu tham khảo. Bằng tiếng Anh và tiếng Đức.
Ancient Egypt
UCLA Encyclopedia of Egyptology
Ancient Egypt and the Role of Women của Tiến sĩ Joann Fletcher |
george washington.txt | George Washington (22 tháng 2 năm 1732 – 14 tháng 12 năm 1799) là nhà lãnh đạo chính trị và quân sự có ảnh hưởng lớn đối với quốc gia non trẻ Hoa Kỳ từ năm 1775 đến năm 1799. Ông đã lãnh đạo người Mỹ chiến thắng Vương quốc Anh trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ với tư cách là tổng tư lệnh Lục quân Lục địa năm 1775–1783, và ông cũng đã trông coi việc viết ra Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787. Quốc hội nhất trí chọn lựa làm tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ (1789–1797). Phong cách lãnh đạo của ông đã có ảnh hưởng đến thể thức và lễ nghi cho chính quyền mà được sử dụng từ đó cho đến nay, thí dụ như dùng một hệ thống nội các và buổi đọc diễn văn nhậm chức. Với tư cách là tổng thống, ông đã xây dựng một chính quyền quốc gia mạnh mẽ và giàu tài chính mà đã tránh khỏi chiến tranh, dập tắt nổi loạn và chiếm được sự đồng thuận của tất cả người Mỹ. Ông hiện nay được biết như vị cha già của nước Mỹ.
Ông có một viễn tưởng về một quốc gia hùng mạnh và vĩ đại, xây dựng trên những nền tảng của nền cộng hòa, sử dụng sức mạnh của liên bang. Ông tìm cách sử dụng chính phủ cộng hòa để cải thiện hạ tầng cơ sở, mở rộng lãnh thổ phía tây, lập ra một trường đại học quốc gia, khuyến khích thương mại, tìm nơi xây dựng lên một thành phố thủ đô (sau này gọi là Washington, D.C.), giảm thiểu những sự căng thẳng giữa các vùng và vinh danh tinh thần chủ nghĩa quốc gia. Ông nói "Cái tên người Mỹ" phải xóa bỏ bất cứ những liên hệ ràng buộc nào mang tính cách địa phương. Khi mất, Washington được táng tụng như là "người đầu tiên trong chiến tranh, người đầu tiên trong hòa bình, và người đầu tiên trong lòng dân tộc của ông". Những người theo chủ nghĩa liên bang đã coi ông như là biểu tượng của đảng nhưng những người theo chủ nghĩa Jefferson trong nhiều năm trời vẫn tiếp tục không tin vào ảnh hưởng của ông và cố tìm cách trì hoãn xây dựng tượng đài Washington. Với tư cách là nhà lãnh đạo cách mạng thành công đầu tiên chống lại một đế quốc thuộc địa trong lịch sử thế giới, Washington đã trở thành một hình tượng quốc tế đối với phong trào giải phóng dân tộc và chủ nghĩa quốc gia. Chủ nghĩa biểu tượng của ông đặc biệt gây âm vang tại Pháp và châu Mỹ Latin. Các học giả lịch sử luôn xếp ông là một trong số hai hoặc ba vị tổng thống vĩ đại nhất.
== Cuộc đời lúc thiếu thời (1732–1753)Sửa đổi ==
Là con đầu lòng của Augustine Washington (1694–1743) và người vợ thứ hai, Mary Ball Washington (1708–1789), George Washington sinh ra trong trang trại Pope's Creek gần nơi ngày nay là Colonial Beach trong Quận Westmoreland, Virginia. Theo lịch Julius (có hiệu lực vào lúc đó), Washington sinh ngày 11 tháng 1 năm 1731; theo lịch Gregory, sử dụng tại Anh và các thuộc địa thì ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1732. Tổ tiên của Washington đến từ Sulgrave, Anh; ông cố của ông là John Washington di cư đến Virginia năm 1657. Có ý kiến cho rằng: George Washington và Nữ hoàng nước Anh Elizabeth II có chung tổ tiên. Cha của ông, Augustine là một nhà trồng thuốc lá có sở hữu người nô lệ. Cha ông sau này có thử thời vận với nghề khai quặng sắt. Thời George còn trẻ, gia đình ông là những thành viên khá giả thuộc tầng lớp quý tộc nhỏ tại Virginia, ở vào cấp bậc trung lưu hơn là một trong những gia đình hàng đầu.
Sáu trong số các anh chi em của ông lớn lên đến tuổi trưởng thành trong đó có hai người anh cùng cha khác mẹ, Lawrence và Augustine, từ cuộc hôn nhân đầu tiên của cha ông và Jane Butler Washington. Bốn anh chị em ruột của ông là Samuel, Elizabeth (Betty), John Augustine và Charles. Ba anh chị em khác mất trước khi trưởng thành: em gái ruột, Mildred chết lúc một tuổi, người anh trai khác mẹ mất khi còn sơ sinh và người chị khác mẹ Jane chết lúc 12 khi George hai tuổi. Cha của George qua đời khi ông 11 tuổi. Người anh khác mẹ của George là Lawrence sau đó trở thành người cha thay thế và cũng là mẫu người George noi gương. William Fairfax, cha vợ của Lawrence và là người anh em họ với địa chủ lớn nhất Virginia, Thomas Fairfax cũng có ảnh hưởng lớn đối với ông. Washington dành nhiều thời gian lúc còn bé ở nông trại Ferry trong Quận Stafford gần Fredericksburg. Lawrence Washington thừa hưởng gia sản khác của cha, đó là một đồn điền nằm trên bờ sông Potomac mà sau này ông đặt tên là Mount Vernon. George thừa hưởng nông trại Ferry ngay khi cha ông qua đời, và dần sau đó nhận thừa kế Mount Vernon sau khi Lawrence qua đời.
Cái chết của cha khiến cho ông mất cơ hội vượt Đại Tây Dương để nhận sự giáo dục tại Trường Appleby của Anh như những người anh trai của mình đã từng làm. Ông đi học tại Fredericksburg cho đến tuổi 15. Mong muốn gia nhập Hải quân Hoàng gia không thành hiện thực sau khi mẹ ông biết nó rất là khó khăn cho ông. Nhờ mối liên hệ của Lawrence với gia đình quyền lực ở Fairfax nên vào năm 17 tuổi, George trở thành thanh tra quận Culpeper vào năm 1749. Đây là 1 công việc trả lương hậu đã giúp cho ông mua được đất đai trong thung lũng Shenandoah, đây cũng là lần đầu tiên trong số nhiều vụ mua đất đai của ông tại Tây Virginia. Cũng phải nói là nhờ đến sự có mặt của Lawrence trong Công ty Ohio, một công ty đầu tư đất đai được tài trợ bởi những nhà đầu tư tại Virginia và nhờ vào vị trí của Lawrence trong vai trò tư lệnh địa phương quân Virginia nên George được phó thống đốc mới của Virginia là Robert Dinwiddie chú ý đến. Washington khó mà bị lọt ra khỏi tầm mắt của người khác: cao 6 ft 2 inche (188 cm; ước tính về chiền cao của ông có thay đổi), ông cao hơn đa số người đương thời của ông.
Năm 1751, Washington cùng đi Barbados với Lawrence, người mắc phải bệnh lao, với hy vọng rằng khí hậu sẽ có lợi cho sức khỏe của Lawrence. Washington mắc phải bệnh đậu mùa trong chuyến đi này khiến cho khuôn mặt của ông có ít nhiều vết thẹo nhưng đã giúp cho ông miễn nhiễm với căn bệnh độc này về sau. Sức khỏe của Lawrence không cải thiện: ông quay về Mount Vernon và mất ở đó năm 1752. Vị trí lãnh đạo địa phương quân Virginia của Lawrence chia thành bốn chức vụ sau khi ông mất. Washington được Thống đốc Dinwiddie bổ nhiệm làm một trong bốn vị trí mới đó vào tháng 2 năm 1753 với cấp bậc thiếu tá trong địa phương quân Virginia. Washington cũng gia nhập Hội Tam Điểm tại Fredericksburg vào lúc đó.
== Chiến tranh chống người bản thổ và Pháp (1754–1758)Sửa đổi ==
Năm 1753, người Pháp bắt đầu mở rộng tầm kiểm soát quân sự của họ vào "Xứ Ohio", một lãnh thổ cũng bị các thuộc địa của Anh là Virginia và Pennsylvania tuyên bố chủ quyền. Cuộc tranh chấp chủ quyền này đã dẫn đến một cuộc chiến tranh mà các thuộc địa gọi là Chiến tranh chống người bản thổ và Pháp (French and Indian War) từ năm 1754–1762. Chiến tranh này đã góp phần khởi sự Chiến tranh 7 năm trên toàn cầu (1756–63). Washington ở tâm điểm của cuộc chiến này khi mới vừa bùng nổ. Công ty Ohio, một cỗ xe mà qua đó các nhà đầu tư người Anh có kế hoạch mở rộng vào lãnh thổ này, đang mở mang những khu định cư mới và xây dựng các trạm mậu dịch để buôn bán với người bản thổ Mỹ. Thống đốc Dinwiddie nhận lệnh từ chính phủ Anh cảnh cáo người Pháp về chủ quyền của Anh tại đó. Ông phái Thiếu tá Washington vào cuối năm 1753 giao một bức thư thông báo đến người Pháp về những tuyên bố chủ quyền của Anh và yêu cầu người Pháp rời bỏ lãnh thổ này. Washington cũng đến gặp mặt Tanacharison (cũng còn được gọi là "Half-King") và các lãnh tụ khác của người bản thổ Iroquois đang liên minh với Virginia tại Logstown để nhận sự ủng hộ của họ trong trường hợp có xung đột với người Pháp; Washington và Tanacharison trở thành bạn bè và đồng minh. Washington giao lá thư cho tư lệnh địa phương Pháp nhưng ông này từ chối một cách lịch sự là không rời bỏ lãnh thổ này.
Thống đốc Dinwiddie phái Washington trở lại Xứ Ohio để bảo vệ một nhóm nhân viên của Công ty Ohio đang xây dựng một pháo đài tại nơi mà ngày nay là Pittsburgh, Pennsylvania. Nhưng trước khi ông đến nơi thì một lực lượng Pháp đã đuổi các nhân viên làm việc của công ty ra khỏi khu vực này và họ bắt đầu xây dựng Đồn Duquesne. Một nhóm nhỏ quân Pháp do Joseph Coulon de Jumonville chỉ huy bị Tanacharison và một ít chiến binh của mình phát hiện ở phía đông khu vực mà ngày nay là Uniontown, Pennsylvania. Cùng với các đồng minh người bản thổ Mingo, Washington và một số đơn vị địa phương quân của mình liền phục kích người Pháp. Những gì thật sự đã xảy ra trong lúc và sau trận đánh vẫn còn gây nhiều tranh cãi nhưng kết quả ngay sau đó là Jumonville bị trọng thương trong cuộc tấn công đầu tiên và rồi bị giết chết... chẳng biết có phải là bị Tanacharison lạnh lùng chém bằng một lưỡi rìu hay do bị một người nào đó đứng gần đó dùng súng bắn chết khi vị sĩ quan bị thương này ngồi bên cạnh Washington - cả hai nghi vấn này đều hoàn toàn không rõ ràng. Người Pháp phản ứng trả đũa bằng một cuộc tấn công và bắt Washington tại Đồn Necessity vào tháng 7 năm 1754. Tuy nhiên, Washington được phép quay trở về Virginia cùng với binh sĩ của mình. Sử gia Joseph Ellis kết luận rằng tình tiết trận đánh này đã chứng tỏ sự can đảm, thế chủ động, sự hăng say chiến đấu nhưng chưa có kinh nghiệm của Washington. Những sự kiện này có những hậu quả quốc tế; người Pháp tố cáo Washington ám sát Jumonville vì họ cho rằng Jumonville đang thực hiện một sứ mệnh ngoại giao. Cả Pháp và Anh sẵn sàng lâm chiến để tranh giành kiểm soát vùng này và họ đã đưa quân đến Bắc Mỹ năm 1755; chiến tranh được chính thức tuyên bố vào năm 1756.
=== Tai họa Braddock năm 1755Sửa đổi ===
Năm 1755, Washington là phụ tá cao cấp người Mỹ của tướng Anh Edward Braddock trong một cuộc viễn chinh xấu số ở Monongahela. Đây là đoàn quân viễn chinh lớn nhất của Anh đến các thuộc địa Bắc Mỹ, và có ý định đánh đuổi người Pháp ra khỏi Xứ Ohio. Người Pháp cùng với các đồng minh người bản thổ Mỹ phục kích và Braddock bị tử thương trong trận Monongahela. Sau khi bị thiệt hại nặng nề về quân số, quân Anh rút chạy tán loạn; tuy nhiên, Washington cưỡi ngựa chạy quanh trận địa nhằm khích lệ và động viên tàn quân Anh và địa phương quân Virginia rút lui có tổ chức.
=== Tư lệnh Trung đoàn VirginiaSửa đổi ===
Thống đốc Dinwiddie thăng chức Washington năm 1755 lên cấp bậc "Đại tá Trung đoàn Virginia và Tổng tư lệnh tất cả các lực lượng được tuyển mộ để bảo vệ Thuộc địa của Nhà vua" và giao phó cho ông nhiệm vụ bảo vệ biên cương Virginia. Trung đoàn Virginia là đơn vị quân sự toàn thời gian đầu tiên của người Mỹ tại các thuộc địa (đối ngược lại là các đơn vị chính quy người Anh và các đơn vị địa phương quân người Mỹ bán thời gian). Washington được lệnh "hành động tự vệ hay phản công" bất cứ khi nào ông nghĩ là tốt nhất. Trong lúc làm tư lệnh của một ngàn binh sĩ, Washington là một sĩ quan có kỉ luật, luôn chú trọng vào việc huấn luyện. Ông lãnh đạo các binh sĩ của mình trong những chiến dịch tàn bạo chống người bản thổ Mỹ tại miền Tây; trong 10 tháng, các đơn vị thuộc trung đoàn của ông đã đánh 20 trận, và mất khoảng 1/3 quân số. Những nỗ lực chiến tranh hăng say của Washington có ý nghĩa quan trọng rằng dân chúng ở biên cương của Virginia chịu đựng thiệt hại ít hơn so với các thuộc địa khác; Ellis kết luận rằng "đây là thành công không được nhắc đến duy nhất của ông" trong cuộc chiến.
Năm 1758, Washington tham gia vào cuộc viễn chinh Forbes nhằm chiếm Đồn Duquesne. Ông sượng sùng vì một vụ đánh nhầm khi đơn vị của ông và một đơn vị Anh tưởng lầm nhau là người Pháp và nổ súng. Kết quả có 14 người chết và 26 người bị thương trong vụ đó. Washington không tham dự vào bất cứ trận đánh lớn nào khác trong cuộc viễn chinh đó. Người Anh ghi được một chiến thắng chiến lược lớn bằng việc giành quyền kiểm soát Thung lũng Ohio khi người Pháp rút bỏ đồn. Theo sau cuộc viễn chinh, Washington từ chức khỏi Trung đoàn Virginia vào tháng 12 năm 1758. Ông không trở về đời sống quân nhân cho đến khi cuộc cách mạng bùng nổ vào năm 1775.
=== Những bài học đã nghiệm quaSửa đổi ===
Tuy Washington chưa bao giờ được vào biên chế lục quân Anh mà ông mong ước nhưng trong những năm tháng chiến tranh đó, người thanh niên này đã tích lũy những kỹ năng về lãnh đạo, chính trị và quân sự quý giá. Ông luôn tiếp cận quan sát các chiến thuật quân sự của người Anh, nắm bắt và hiểu rõ các điểm yếu và điểm mạnh của người Anh. Điều này đã được chứng minh là vô giá trong suốt cuộc Cách mạng Mỹ sau này. Ông chứng tỏ là một người can đảm và kiên cường trong những tình huống cực kỳ khó khăn nhất trong đó có các vụ tai biến và tháo lui. Ông đã phát triển ra một phong cách chỉ huy: đem hết sức lực, khả năng chịu đựng và sự dũng cảm của mình vào trận chiến. Đối với các chiến sĩ của mình, ông xuất hiện như một vị chỉ huy tự nhiên và họ tuyệt đối tuân lệnh ông mà không thắc mắc điều gì. Washington học cách tổ chức, huấn luyện và kỷ luật các đơn vị trung đoàn và đại đội của mình. Qua đọc sách, quan sát và các cuộc trò chuyện với những sĩ quan nghiệp vụ, ông học được những căn bản về chiến thuật chiến trường cũng như hiểu rõ các vấn đề tổ chức và tiếp vận. Ông hiểu biết tổng thể về chiến lược, đặc biệt là việc tìm ra những địa điểm địa lý chiến lược. Sử gia Ron Chernow có ý kiến rằng vì Washington chán nản khi thương nghị với các viên chức chính phủ trong suốt cuộc xung đột nên ông đã tán thành những lợi ích của một chính phủ quốc gia mạnh mẽ với một cơ quan hành chính mạnh mẽ để có thể đạt được kết quả; các sử gia khác có chiều hướng gán ghép ông có thái độ này đối với chính phủ khi ông phục vụ Chiến tranh Cách mạng Mỹ sau này. Ông nảy sinh một ý tưởng rất tiêu cực về giá trị của địa phương quân. Coi họ có vẻ không đáng tin cậy, rất bất kỉ luật, và chỉ phục vụ rất ngắn hạn khi so sánh với quân chính quy. Mặt khác, kinh nghiệm chỉ huy của ông có giới hạn nhiều nhất là 1 ngàn binh sĩ và chỉ ở những địa hình biên cương xa xôi khắc hẳn với những tình thế đô thị mà ông đối diện trong suốt cuộc cách mạng ở các thành phố Boston, New York, Trenton và Philadelphia.
== Thời kỳ giữa các cuộc chiến tranh: ở Mount Vernon (1759–1774)Sửa đổi ==
Ngày 6 tháng 1 năm 1759, Washington kết hôn với một quả phụ giàu có tên Martha Dandridge Custis. Các bức thư còn sót lại cho thấy rằng ông có thể đang yêu Sally Fairfax, vợ của một người bạn vào lúc đó. Dù vậy, George và Martha rất xứng đôi vì Martha thông minh, duyên dáng, và có kinh nghiệm điều hành một đồn điền có nô lệ phục vụ. Cả hai cùng nuôi hai đứa con của bà với người chồng quá cố là John Parke Custis và Martha Parke Custis, được gia đình gọi thân mật là "Jackie" và "Patsy". Sau đó gia đình Washington nuôi hai trong số các cháu của bà Washington là Eleanor Parke Custis và George Washington Parke Custis. George và Martha Washington không có con cái chung — căn bệnh đậu mùa của ông vào năm 1751 có thể đã khiến cho ông không thể có con. Vì kiêu hãnh nên Washington không thể nào thừa nhận rằng minh không thể có con nhưng lúc riêng tư ông cảm thấy chán nản vì không thể có con. Cặp vợ chồng mới cưới dời về Mount Vernon gần Alexandria nơi ông sống cuộc đời của một người trồng trọt và một khuôn mặt chính trị.
Cuộc hôn nhân của Washington với Martha đã làm gia tăng tài sản và địa vị xã hội của ông rất lớn lao. Ông trở thành một trong số những người giàu có nhất Virginia. Ông được một phần ba trong số 18.000 mẫu Anh (73 km²) điền sản của gia đình vợ ngay sau khi kết hôn, đáng giá khoảng $100.000 và quản lý phần điền sản còn lại cho con của Martha, những đứa con riêng của vợ mà ông chân thành chăm sóc. Ông thường mua thêm đất và cũng được cấp phát đất ở vùng bây giờ là Tây Virginia như là tặng phẩm dành cho công lao phục vụ Chiến tranh chống người bản thổ và Pháp. Vào năm 1775, Washington tăng gấp đôi diện tích của Mount Vernon lên 6.500 mẫu Anh (26 km²) và tăng số lao động nô lệ ở đó lên trên 100 người. Vì là một anh hùng quân sự được nể trọng và một chủ đất lớn nên ông có chức vị tại địa phương và được bầu vào nghị viện tỉnh Virginia bắt đầu vào năm 1758.
Washington có lối sống quý tộc — săn cáo là một hoạt động nhàn rỗi ưa thích của ông. Ông cũng thích đi khiêu vũ và họp hội, ngoài ra còn có đi xem kịch, đua, và đá gà. Washington cũng được biết có chơi bài, backgammon và bi da. Giống như đa số các nhà trồng trọt, ông nhập cảng những đồ dùng xa xỉ và hàng hóa khác từ Anh và trả tiền cho hàng hóa bằng xuất cảng thuốc lá mà ông trồng. Chi tiêu quá độ và sự không lường trước về thị trường thuốc lá đồng nghĩa với việc nhiều nhà trồng trọt ở Virginia vào thời Washington mất tiền. (Chẳng hạn như Thomas Jefferson qua đời với nợ nần chồng chất.)
Washington bắt đầu cứu mình khỏi nợ bằng cách kinh doanh đa dạng và chú ý hơn đến công việc làm của mình. Năm 1766, ông thay đổi mùa vụ chính sinh lợi của Mount Vernon từ thuốc lá sang lúa mì. Lúa mì có thể bán được tại Mỹ, và làm nhiều thứ hoạt động kinh doanh khác trong đó có nhà máy làm bột mì, nuôi cá, nuôi ngựa, dệt vải. Patsy Custis (con gái riêng của vợ ông) mất năm 1773 vì động kinh giúp cho Washington trả hết nợ cho những chủ nợ người Anh vì phân nửa tài sản của Patsy được đưa sang cho ông.
Là người trồng trọt thành công, ông trở thành một lãnh đạo trong giới thượng lưu xã hội tại Virginia. Từ năm 1768 đến năm 1775, ông mời khoảng 2000 khách mời đến điền sản Mount Vernon của mình, đa số là những người được ông xem là "người có đẳng cấp". Đối với những người không có địa vị cao trong xã hội, lời khuyên của ông là "đối xử với họ lịch sự" nhưng "hãy giữ họ ở một tầm xa thích hợp vì khi họ càng quen biết mình thì đồng lúc bạn mất quyền lực đối với họ". Năm 1769, ông trở nên tích cực hoạt động chính trị, đệ trình lên nghị viện Virginia đạo luật cấm nhập cảng hàng hóa từ Vương quốc Anh.
Năm 1754 Phó thống đốc Dinwiddie có hứa ban tặng đất đai cho các binh sĩ và sĩ quan tình nguyện phục vụ trong cuộc Chiến tranh chống người bản thổ và Pháp. Washington nhiều năm cố tìm cách nhận lấy số đất đai được hứa cấp cho ông và binh sĩ của ông. Cuối cùng thì Thống đốc Norborne Berkeley cũng thực hiện lời hứa từ năm 1769-1770. Washington nhận được 23.200 mẫu Anh gần nơi mà dòng chảy của sông Kanawha đổ vào sông Ohio, hiện nay là Tây Virginia.
== Cách mạng Mỹ (1775–1787)Sửa đổi ==
Tuy ông bày tỏ sự chống đối Đạo luật Tem thuế 1765 (Stamp Act 1765), một đạo luật thuế áp đặt trực tiếp đầu tiên đối với các thuộc địa Bắc Mỹ nhưng ông đã không đóng một vai trò lãnh đạo trong cuộc phản kháng càng ngày gia tăng của các thuộc địa cho đến khi có các cuộc phản đối chống các đạo luật Townshend (được thông qua năm 1767) trở nên lan rộng. Tháng 5 năm 1769, Washington giới thiệu một đề nghị, được bạn của ông là George Mason thảo ra, kêu gọi thuộc địa Virginia tẩy chay hàng hóa của Anh cho đến khi nào các đạo luật này bị bãi bỏ. Quốc hội Vương quốc Anh bãi bỏ các đạo luật Townshend năm 1770. Tuy nhiên, Washington xem việc thông qua Các đạo luật bất khoan dung (intolerable acts) năm 1774 như là "một sự xâm lấn quyền lợi và đặc quyền của chúng ta". Tháng 7 năm 1774, ông chủ tọa phiên họp trong đó "các giải pháp Fairfax" được thông qua, kêu gọi triệu tập một Quốc hội Lục địa cùng với nhiều việc khác nữa. Vào tháng 8 năm đó, Washington tham dự Hội nghị đầu tiên của Virginia trong đó ông được bầu làm một đại biểu đại diện cho Virginia tại Đệ nhất Quốc hội Lục địa.
=== Tổng tư lệnhSửa đổi ===
Sau các trận đánh tại Lexington và Concord gần thành phố Boston vào tháng 4 năm 1775, tất cả các thuộc địa đều tham chiến. Washington xuất hiện tại Đệ nhị Quốc hội Lục địa trong quân phục, chứng tỏ rằng ông đã sẵn sàng cho chiến tranh. Washington có thanh thế, kinh nghiệm quân sự, sức thu hút, từng là một lãnh đạo quân sự và được người ta biết đến như là một người yêu nước cao độ. Là một thuộc địa lớn nhất trong số 13 thuộc địa và nằm ở miền Nam, Virginia đáng được công nhận. Tân Anh, nơi chiến tranh khởi sự, cảm thấy rằng họ cần có sự ủng hộ cần thiết của miền Nam. Washington bày tỏ rõ thái độ của mình là không muốn tìm cách làm tư lệnh, và ông có nói rằng ông không xứng với chức vụ đó nhưng chẳng có ai thật sự muốn tranh chức vụ này. Quốc hội Lục địa thành lập Lục quân Lục địa vào ngày 14 tháng 6 năm 1775. Được John Adams của thuộc địa Massachusetts đề cử, Washington sau đó được bổ nhiệm làm thiếu tướng và tổng tư lệnh.
Washington có ba vai trò trong cuộc chiến tranh. Năm 1775-77, và lần nữa vào năm 1781 ông lãnh đạo binh sĩ của mình đánh nhau với các lực lượng chính của Anh. Tuy ông thua nhiều trận nhưng ông chưa bao giờ ra lệnh cho quân đội mình đầu hàng trong suốt cuộc chiến tranh. Ông tiếp tục chiến đấu không nao núng chống người Anh cho đến khi chiến tranh kết thúc. Phối hợp với Quốc hội Lục địa, ông hoạch định toàn bộ chiến lược chiến tranh.
Thứ hai, ông đứng ra tổ chức và huấn luyện lục quân. Ông tuyển mộ quân chính quy và giao nhiệm vụ cho tướng von Steuben, một chuyên gia quân sự người Đức, huấn luyện họ. Ông không nhận trách nhiệm đối với nguồn tiếp liệu mà lúc nào cũng thiếu hụt nhưng ông luôn làm áp lực với Quốc hội và các tiểu bang cung cấp nhu yếu phẩm. Washington có tiếng nói quan trọng trong việc chọn lựa các tướng lãnh tư lệnh và trong việc hoạch định chiến lược cơ bản của họ. Những thành tựu của ông thì hỗn tạp vì một số người mà ông chọn lựa lại chưa bao giờ giỏi về thuật chỉ huy. Dần dần ông tìm được các sĩ quan có khả năng như tướng Nathaniel Greene, và tham mưu trưởng của ông là Alexander Hamilton. Các sĩ quan Mỹ không bao giờ đạt trình độ tương bằng với các đối thủ người Anh của họ trong chiến thuật và tác chiến. Dần dần họ thua phần lớn các trận đánh đã chọn địa điểm trước (pitched battles). Các thành công lớn tại Boston (1776), Saratoga (1777) và Yorktown (1781) xảy ra khi quân cách mạng gài bẫy dụ quân Anh ra xa khỏi căn cứ có nhiều quân số để dễ dàng tiêu diệt quân Anh hơn.
Thứ ba và quan trọng nhất, Washington là hiện thân của cuộc kháng chiến vũ trang chống Vương miện - ông là người đại diện của cuộc Cách mạng. Tầm vóc to lớn và tài năng chính trị của ông đã khiến cho Quốc hội Lục địa, lục quân, người Pháp, địa phương quân và các tiểu bang đều hướng về một mục tiêu chung. Bằng việc tự nguyện từ chức và giải ngũ lục quân của mình sau khi chiến tranh kết thúc thắng lợi, ông vĩnh viễn thiết lập ra nguyên tắc dân sự là trên hết trong quân vụ. Và còn nữa, ông thường luôn lặp lại quan điểm rằng các binh sĩ nhà nghề có kỉ luật tốt thì luôn hơn hẳn gấp đôi những binh sĩ tự nguyện nhưng vô kỉ luật. Các binh sĩ nhà nghề như thế sẽ giúp người ta bỏ đi ý tưởng ngờ vực đối với một quân đội hiện dịch.
=== Chiến thắng tại BostonSửa đổi ===
Washington nhận lại chức vụ tư lệnh Lục quân Lục địa tại chiến trường Cambridge, Massachusetts vào tháng 7 năm 1775 trong lúc cuộc bao vây thành phố Boston đang tiếp diễn. Nhận thấy quân của mình thiếu hụt thuốc súng trầm trọng nên Washington yêu cầu xin thêm nguồn tiếp tế mới. Quân Mỹ đột kích những kho thuốc súng của Anh trong đó có một số kho nằm trong vùng Caribbe, và cũng họ tự tìm cách sản xuất ra một số. Quân Mỹ nhận nguồn tiếp tế gần như vừa đủ (khoảng 2,5 triệu cân Anh) vào cuối năm 1776, phần lớn là từ Pháp. Washington tái tổ chức lục quân trong suốt cuộc bao vây kéo dài, và buộc quân Anh rút lui bằng pháo binh đặt trên điểm cao Dorchester Heights nhìn xuống thành phố. Quân Anh rút chạy khỏi Boston vào tháng 3 năm 1776 và Washington di chuyển quân đến Thành phố New York.
Tuy rất kinh thường đa số những người yêu nước Mỹ nhưng báo chí Anh luôn ca ngợi phẩm chất và tính cách cá nhân của Washington trong vai trò một tư lệnh quân sự. Những bài báo này được xem là rất bạo vì Washington là tướng quân thù địch đang lãnh đạo một quân đội theo đuổi một mục tiêu mà nhiều người Anh tin rằng sẽ hủy hoại Đế quốc Anh.
=== Bại trận tại Thành phố New York và chiến thuật FabiusSửa đổi ===
Tháng 8 năm 1776, tướng Anh là William Howe mở một chiến dịch hải bộ lớn nhằm mục đích chiếm thành phố New York. Lục quân Lục địa dưới quyền của Washington giao chiến với kẻ thù lần đầu tiên trong vai trò là một lục quân của Hiệp chủng Quốc mới độc lập tại trận Long Island, trận đánh lớn nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh này. Người Mỹ ít quân số hơn nhiều so với lực lượng Anh. Nhiều binh sĩ Mỹ đào ngũ, và Washington bị đại bại. Dần sau đó, Washington bị buộc phải tháo lui qua sông East vào ban đêm. Ông làm vậy mà không có tổn thất về nhân mạng cũng như trang bị. Washington rút lui về phía bắc khỏi thành phố để tránh bị bao vây, tạo cơ hội cho tướng Howe tấn công và chiếm đồn Washington vào ngày 16 tháng 1 với số tử thương cao cho Lục quân Lục địa. Washington sau đó rút lui ngang New Jersey; tương lai của Lục quân Lục địa bị ngờ vực vì lệnh nhập ngũ hết hạn và một loạt những cuộc bại trận. Vào đêm 25 tháng 12 năm 1776, Washington quay trở lại tấn công bất ngờ vào một tiền đồn của quân Hessian (quân đánh thuê người Đức trong thế kỷ 18) tại tây New Jersey. Ông dắt lục quân của mình vượt sông Delaware để bắt sống gần 1.000 binh sĩ Hessian tại Trenton, New Jersey. Sau chiến thắng của mình tại Trenton, Washington ghi thêm một chiến thắng khác chống quân chính quy Anh tại Princeton vào đầu tháng 1. Quân Anh rút lui trở về Thành phố New York và vùng phụ cận thành phố và họ chiếm giữ ở đó cho đến khi hiệp định hòa bình năm 1783. Các chiến thắng của Washington đã nhấn chìm chiến lược "củ cà-rốt và cây gậy" của người Anh - phô trương lực lượng mạnh rồi khuyến dụ với các ngôn từ rộng lượng. Người Mỹ quyết không thương thuyết điều gì cả ngoài độc lập. Những chiến thắng này tự nó không đủ bảo đảm chiến thắng sau cùng của phe yêu nước tuy nhiên nhiều binh sĩ đã không tái đầu quân hoặc có nhiều người đào ngũ trong mùa đông ác nghiệt. Washington và Quốc hội tái tổ chức lục quân bằng việc gia tăng tưởng thưởng cho binh sĩ ở lại trong quân ngũ và cũng gia tăng hình phạt cho những ai đào ngũ. Việc này có hiệu quả làm tăng quân số cho các trận chiến sau cuối.
Các sử gia vẫn còn tranh luận rằng có phải chăng Washington thích chọn chiến lược Fabius để gây hoang mang cho quân Anh bằng các cuộc tấn công nhanh và sắc bén rồi sau đó rút lui để lục quân to lớn hơn của Anh không thể bắt được ông hay ông thích chọn đánh những trận chiến lớn. Trong khi tư lệnh miền Nam của ông là Greene sử dụng các chiến thuật Fabius vào những năm 1780-81 thì Washington chỉ dùng các chiến thuật này vào mùa thu năm 1776 đến mùa xuân năm 1777 sau khi để mất thành phố New York và nhìn thấy phần lớn lục quân của ông tan rã. Trận Trenton và Princeton là hai thí dụ về chiến thuật Fabius. Tuy nhiên vào mùa hè năm 1777, sau khi Washington đã tái lập sức mạnh và sự tự tin, ông ngưng dùng các trận đột kích và sẵn sàng các trận đối đầu có tầm cỡ lớn, thí dụ như các trận ở Brandywine, Germantown, Monmouth và Yorktown.
=== Các chiến dịch năm 1777Sửa đổi ===
Cuối mùa hè năm 1777, lực lượng Anh dưới sự chỉ huy của John Burgoyne đưa một quân đoàn xâm nhập lớn từ Quebec xuống phía Nam với ý định cắt đứt vùng Tân Anh nổi loạn. Tướng Anh là Howe tại New York đưa quân đoàn của ông về hướng nam đến Philadelphia thay vì lên phía trên sông Hudson để họp mặt với quân của Burgoyne gần Albany. Đây là một lỗi lầm chiến lược lớn đối với quân Anh. Washington liền vội vã tiến về Philadelphia để giáp chiến Howe trong khi đó theo dõi sát hành động trên vùng thượng bang New York. Trong các trận đánh giáp mặt quá phức tạp cho các binh sĩ tương đối không kinh nghiệm, quân của Washington bị đánh bại. Trong trận Brandywine ngày 11 tháng 9 năm 1777, chiến thuật của Howe hơn hẳn Washington. Kết quả là Howe hành quân vào thủ đô Mỹ vào lúc đó là Philadelphia mà không gặp sự phản kháng nào ngày 26 tháng 9. Quân của Washington tấn công bất thành quân đồn trú của Anh tại Germantown đầu tháng 10. Trong lúc Burgoyne ở ngoài tầm giải cứu của Howe nên bị vây bủa và buộc phải ra lệnh toàn bộ quân đoàn của mình đầu hàng tại Saratoga, New York. Đây là một điểm quay chính cả về mặt quân sự và ngoại giao. Pháp phản ứng việc Burgoyne bại trận bằng cách tham chiến, công khai liên minh với Mỹ và biến cuộc Chiến tranh Cách mạng thành một cuộc chiến tranh lớn có tầm cỡ thế giới. Việc Washington để mất Philadelphia đã khiến cho một số thành viên Quốc hội Mỹ thảo luận về việc tước quyền tư lệnh của Washington. Nỗ lực này bị thất bại sau khi những người ủng hộ Washington tề tựu ủng hộ đằng sau ông.
=== Valley ForgeSửa đổi ===
Lục quân gồm 11 ngàn binh sĩ của Washington đến đóng quân mùa đông tại Valley Forge nằm ở phía bắc Philadelphia vào tháng 12 năm 1777. Trong khoảng thời gian 6 tháng, con số người chết trong trại lên đến hàng ngàn người (đa số do bệnh tật), theo các ước tính của các sử gia thì con số người chết có từ 2000 đến 2500 thậm chí lên đến trên 3000 binh sĩ. Tuy nhiên, đến mùa xuân, lục quân lộ diện từ Valley Forge trong đội hình tốt một phần nhờ vào một chương trình huấn luyện tầm cỡ do Baron von Steuben, một cựu chiến binh của bộ tổng tham mưu Phổ. Người Anh rút bỏ Philadelphia về New York năm 1778 bị Washington theo dõi. Washington liền tấn công họ tại Monmouth. Đây là một trận đánh không phân thắng bại và là một trong các trận đánh lớn nhất trong cuộc chiến tranh. Sau cùng, người Anh tiếp tục hướng về New York, và Washington di chuyển quân của mình ra khỏi New York.
=== Chiến thắng tại YorktownSửa đổi ===
Mùa hè năm 1779, theo chỉ thị của Washington, Tướng John Sullivan thực hiện một chiến dịch tiêu thổ tàn phá ít nhất 40 ngôi làng của người bản thổ Iroquois trong khắp vùng mà ngày nay là trung và thượng tiểu bang New York; người bản thổ ở trong vùng này là đồng minh của Anh. Họ thường đột kích các khu định cư Mỹ trong vùng biên cương. Tháng 7 năm 1780, 5.000 binh sĩ thuộc cựu chiến binh Pháp, do Tướng Comte Donatien de Rochambeau chỉ huy, đến Newport, Rhode Island để trợ giúp nỗ lực chiến tranh của người Mỹ. Nhờ sự trợ giúp tài chính có giá trị khoảng $20.000 bằng vàng của Pháp cho Lục quân Lục địa, Washington đã thực hiện cú đánh cuối cùng chống người Anh năm 1781 sau khi chiến thắng của người Pháp trong 1 trận hải chiến đã giúp cho các lực lượng Pháp và Mỹ bao vây một quân đoàn Anh tại Virginia. Sự kiện người Anh đầu hàng tại Yorktown vào ngày 17 tháng 10 năm 1781 đã đánh dấu sự chấm dứt chiến sự lớn tại lục địa Bắc Mỹ.
=== Giải giớiSửa đổi ===
Washington không thể tin rằng sau trận Yorktown người Anh sẽ không tái mở các chiến dịch thù nghịch chống Lục quân Lục địa. Người Anh vẫn còn khoảng 26.000 quân đang chiếm đóng Thành phố New York, Charleston và Savannah cùng với một hạm đội hùng mạnh. Lục quân và hải quân Pháp đã rút đi, vì thế chỉ còn lại người Mỹ tự chống đỡ từ năm 1782-83. Ngân khố Mỹ trống trơn, các binh sĩ không được trả lương ngày càng ngang bướng, gần như đến lúc muốn nổi loạn hoặc có tiềm năng làm đảo chính. Washington giúp tránh bạo loạn trong hàng ngũ các sĩ quan của mình bằng việc can thiệp vào một sự kiện thường gọi là âm mưu Newburgh vào tháng 3 năm 1783. Kết cuộc là Quốc hội đưa ra lời hứa phát tiền thưởng trong 5 năm.
Theo Hiệp định Paris (ký vào tháng 9 năm đó), Vương quốc Anh công nhận nền độc lập của Hoa Kỳ. Washington giải tán lục quân của mình và vào ngày 2 tháng 11, ông đọc một bài diễn văn từ biệt hùng hồn trước binh sĩ.
Ngày 25 tháng 11, người Anh di tản khỏi Thành phố New York. Washington và thống đốc tiếp quản thành phố. Ngày 4 tháng 12, tại Quán rượu Fraunces, Washington chính thức từ biệt các sĩ quan của mình và vào ngày 23 tháng 12 năm 1783, ông từ chức tổng tư lệnh. Sử gia Gordon Wood kết luận rằng hành động vĩ đại nhất trong đời của Washington là việc ông từ chức tổng tư lệnh — một hành động đã làm cho quý tộc châu Âu phải bàng hoàng rúng động. Vua George III đã gọi Washington "nhân vật vĩ đại nhất thời đại" vì hành động này.
== Hội nghị Hiến pháp năm 1787Sửa đổi ==
Cuộc sống hưu trí của Washington ở Mount Vernon chỉ tồn tại ngắn ngủi. Ông thực hiện một chuyến thám hiểm đến biên cương phía Tây vào năm 1784, được thuyết phục tham gia Hội nghị Hiến pháp tại Philadelphia vào mùa hè năm 1787, và được bầu làm chủ tịch Hội nghị này. Ông tham dự ít vào các buổi tranh luận (tuy ông có bỏ phiếu chống hoặc thuận cho nhiều điều khoản khác nhau) nhưng uy tín cao của ông đã giúp ông duy trì quyền lực trong hội nghị và giữ chân các đại biểu tiếp tục làm việc của họ. Trong đầu các đại biểu là muốn lập ra chức tổng thống cho Washington, và họ sẽ cho phép ông định nghĩa chức vụ này một khi ông được bầu. Sau hội nghị, sự ủng hộ của ông đã thuyết phục nhiều người bỏ phiếu thông qua hiến pháp; Hiến pháp mới được tất cả 13 tiểu bang thông qua.
== Giai đoạn làm tổng thống (1789–1797)Sửa đổi ==
Đại cử tri đoàn nhất trí bầu Washington làm vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ năm 1789, và lần nữa vào năm 1792; ông là tổng thống duy nhất nhận được 100 phần trăm phiếu đại cử tri. John Adams, người có số phiếu cao tiếp theo sau, được bầu làm Phó tổng thống. Tại buổi lễ nhậm chức, Washington tuyên thệ nhận chức Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ vào ngày 30 tháng 4 năm 1789 tại Đại sảnh Liên bang trong thành phố New York.
Quốc hội Hoa Kỳ lần thứ nhất biểu quyết trả lương cho Washington $25.000 một năm - đây là một con số lớn vào năm 1789. Washington, đã giàu có vào lúc đó, từ chối nhận lương vì ông coi trọng hình tượng của mình như là một đầy tớ công bất vị kỷ. Tuy nhiên sau đó ông cũng chấp nhận tiền lương vì bị Quốc hội hối thúc để tránh tạo ra một tiền lệ rằng chức vụ tổng thống chỉ được nhìn nhận có giới hạn đến những cá nhân giàu có độc lập, có thể phục vụ mà không cần bất cứ tiền lương nào. Vì nhận biết rằng mọi thứ mà ông làm sẽ tạo nên một tiền lệ sau này nên Washington cẩn thận tham dự buổi lễ nhậm chức một cách trịnh trọng. Ông muốn chắc rằng chức danh và lễ phục phải xứng hợp với nền cộng hòa và không bao giờ mang nét phong kiến châu Âu. Vào lúc cuối, ông thích chức danh "Ngài Tổng thống" hơn là những cái tên gọi uy nghiêm hơn.
Washington chứng tỏ là một người có tài lãnh đạo chính phủ. Là một đại diện xuất chúng, nhà phán đoán lỗi lạc và cá tính, Washington nói chuyện thường xuyên với các lãnh đạo các bộ và lắng nghe lời khuyên cáo của họ trước khi tạo quyết định tối hậu. Khi xử lý công việc chính phủ hàng ngày, ông "rất có hệ thống, trật tự, nhiệt tâm, luôn xin ý kiến của người khác nhưng quả quyết..."
Washington miễn cưỡng phục vụ nhiệm kỳ thứ hai. Ông từ chối ra tranh cử nhiệm kỳ ba và đã tạo ra tiền lệ rằng tổng thống chỉ phục vụ tối đa hai nhiệm kỳ.
=== Các vấn đề đối nộiSửa đổi ===
Washington không thuộc một đảng phái chính trị nào và hy vọng rằng các đảng chính trị sẽ không được thành lập vì sợ sự xung đột đảng phái sẽ làm tiêu tan chủ nghĩa cộng hòa. Các cố vấn thân cận nhất của ông lập ra hai phe phái, khởi tạo ra khung sườn cho Hệ thống Đảng phái lần thứ nhất trong tương lai. Bộ trưởng Ngân khố Alexander Hamilton có các kế hoạch liều lĩnh nhằm thiết lập hệ thống tín dụng quốc gia và xây dựng một quốc gia mạnh về tài chính, và ông cũng đã lập ra cơ bản cho đảng Liên bang. Bộ trưởng Ngoại giao Thomas Jefferson, người sáng lập đảng Cộng hòa Jefferson, liên tiếp chống đối chương trình nghị sự của Hamilton nhưng nói chung Washington ưu ái Hamilton hơn là Jefferson. Kết quả, chương trình nghị sự của Hamilton trở thành có hiệu lực.
Đạo luật Dinh cư năm 1790, được Washington ký, cho phép Tổng thống Hoa Kỳ chọn lựa vị trí rõ rệt nào đó để làm nơi thường trực của chính phủ. Vị trí này phải nằm dọc theo sông Potomac. Đạo luật cho phép Tổng thống bổ nhiệm ba ủy viên tiến hành thị sát và tìm cách thu hồi vùng đất để làm thủ đô. Cá nhân Washington trông coi nỗ lực này trong suốt nhiệm kỳ tại chức của mình. Năm 1791, các ủy viên đặt tên cho thủ đô thường trực này là "Thành phố Washington trong Lãnh thổ Columbia" để vinh danh Washington. Năm 1800, Lãnh thổ Columbia trở thành Đặc khu Columbia khi chính phủ liên bang dời về nơi thích hợp theo các điều khoản của Đạo luật Dinh cư.
Năm 1791, Quốc hội áp đặt thuế môn bài lên các loại rượu khiến gây ra các cuộc phản đối nổ ra tại các khu vực biên cương, đặc biệt là tại tiểu bang Pennsylvania. Năm 1794, sau khi Washington ra lệnh những người biểu tình ra trình diện tại tòa án khu vực của Hoa Kỳ thì các cuộc phản đối trở nên bất chấp đối với chính phủ liên bang với quy mô lan rộng, được biết với tên gọi là Cuộc nổi loạn Whiskey. Lục quân liên bang quá nhỏ nhoi không thể dùng đến nên Washington áp dụng Đạo luật Quân sự 1792 để triệu hồi địa phương quân từ các tiểu bang Pennsylvania, Virginia và một số tiểu bang khác đến giúp. Các thống đốc phái binh sĩ đến. Washington tiếp nhận chức tư lệnh và đưa quân vào các khu vực nổi loạn. Những người nổi loạn tự giải tán và không có xung đột nào vì hành động mạnh bạo của Washington đã chứng minh rằng chính phủ mới có thể tự bảo vệ mình. Các sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên dưới hiến pháp mới rằng chính phủ liên bang đã sử dụng lực lượng quân sự mạnh để thực thi quyền lực của mình đối với các tiểu bang và công dân.
=== Ngoại giaoSửa đổi ===
Năm 1791, chẳng bao lâu sau khi Cách mạng Haiti bùng nổ, theo yêu cầu của người Pháp, chính phủ Washington đồng ý gởi tiền bạc, vũ khí và các đồ tiếp liệu khác đến thuộc địa Saint-Domingue (ngày nay là Haiti) thuộc Pháp để giúp những người thực dân đang hoang mang này. Sự trợ giúp này là một phần trong khoản trả nợ mà Hoa Kỳ thiếu trong Chiến tranh Cách mạng. Con số này dần dần lên đến khoảng $400.000.
Mùa xuân năm 1793, một cuộc chiến tranh lớn nổ ra giữa nước Anh bảo thủ cùng với đồng minh của họ chống nước Pháp cách mạng, mở đầu một thời đại chiến tranh lan rộng khắp châu Âu mãi cho đến năm 1815. Được sự chấp thuận của nội các, Washington tuyên bố nước Mỹ trung lập. Chính phủ cách mạng Pháp phái nhà ngoại giao Edmond-Charles Genêt (được biết đến là công dân Genêt) đến Mỹ. Genêt được chào đón nhiệt liệt tại Mỹ. Ông tuyên truyền cho phía Pháp trong cuộc chiến tranh giữa Pháp và Anh. Với mục đích này, ông giúp đẩy mạnh phát triển một hệ thống gồm nhiều hội Dân chủ ở các thành phố lớn. Ông cấp phát thư ủy quyền tấn công của chính phủ Pháp cho các tàu Pháp được điều khiển bởi thủy thủ đoàn người Mỹ để họ có thể tấn công chiếm dụng các thương thuyền của Anh. Việc này làm cho Washington giận dữ, yêu cầu chính phủ Pháp triệu hồi Genêt về nước. Washington cũng lên án các hội dân chủ.
Hamilton và Washington thảo ra Hiệp định Jay để bình thường hóa quan hệ mậu dịch với Anh, yêu cầu họ rút khỏi các pháo đài ở phía Tây, giải quyết các món nợ tài chính còn sót lại từ thời cách mạng. John Jay là người đứng ra thương thuyết và ký hiệp định này vào ngày 19 tháng 11 năm 1794. Phe phái của Jefferson ủng hộ Pháp và mạnh mẽ công kích hiệp định này. Sự ủng hộ mạnh mẽ của Washington đã vận động được ý dân và đã chứng tỏ có ý nghĩa định đoạt khi hiệp định này được thông qua tại Thượng viện với tỉ lệ 2/3 đa số phiếu cần thiết. Người Anh đồng ý bỏ các pháo đài của họ quanh Ngũ Đại Hồ, sau đó biên giới Hoa Kỳ-Canada được tái điều chỉnh, vô số các món nợ trước cách mạng Mỹ được thanh toán, và người Anh mở cửa các thuộc địa Tây Ấn của mình để giao thương với Mỹ. Quan trọng nhất, hiệp định đã giúp tạm gác lại chiến tranh với Anh và thay vào đó là một thập niên giao thương thịnh vượng với Anh. Hiệp ước này làm người Pháo giận dữ và trở thành một vấn đề trung tâm trong nhiều cuộc tranh cãi chính trị.
=== Diễn văn từ biệtSửa đổi ===
Bài diễn văn từ biệt của Washington (được công bố trong hình thức một lá thư gởi đến công chúng vào năm 1796) là một trong những lời tuyên bố có sức ảnh hưởng nhất về chủ nghĩa cộng hòa. Lá thư này phần lớn được Washington tự thảo ra cùng với sự giúp đỡ của Hamilton. Lá thư nhắn nhủ về nhu cầu và tầm quan trọng của sự thống nhất quốc gia, giá trị của Hiến pháp Hoa Kỳ và pháp quyền, những độc hại của các đảng phái chính trị và những đức tính đáng quý của một công dân cộng hòa. Ông gọi giá trị đạo đức là "một động cơ cần thiết của chính quyền nhân dân."
Bài diễn văn chính trị gởi công chúng của Washington cảnh báo chống lại sự ảnh hưởng của ngoại quốc trong các vấn đề đối nội và sự can thiệp của Mỹ trong các vấn đề của châu Âu. Ông cảnh báo chống lại chủ nghĩa đảng phái trong nền chính trị quốc nội và kêu gọi mọi người nên vượt ra ngoài đảng phái và phục vụ lợi ích chung. Ông cảnh báo chống lại "những liên minh thường trực với bất cứ phần nào trên thế giới ở ngoại quốc". Ông nói rằng Hoa Kỳ phải tập trung chủ yếu vào những lợi ích của Mỹ. Ông khuyên Hoa Kỳ nên làm bạn và giao thương với tất cả các quốc gia nhưng cảnh báo chống lại sự can thiệp của Mỹ tại các cuộc chiến tranh tại châu Âu hay gia nhập vào các liên minh "vướng bận" dài hạn. Bài diễn văn nhanh chóng ấn định những giá trị Mỹ liên quan đến các vấn đề đối ngoại.
== Về hưu (1797–1799)Sửa đổi ==
Sau khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống và về hưu vào tháng 3 năm 1797, Washington quay trở về Mount Vernon với cảm giác rất thoải mái. Ông dành ra nhiều thời gian cho nông trại và nhiều công việc thương mại khác trong đó có xưởng nấu rượu. Xưởng nấu rượu này cho ra lò một mẻ rượu đầu tiên vào tháng 2 năm 1797. Theo Chernow (2010) giải thích, các hoạt động nông trại của ông thì sinh lợi rất tốt đẹp. Những vùng đất xa ở biên cương phía Tây sinh lợi rất ít vì chúng thường bị người bản thổ Mỹ tấn công và những người lập nghiệp sống ở đó không chịu trả tiền thuê đất cho ông. Tuy nhiên đa số người Mỹ mặc định rằng ông thật sự rất giàu có vì "vẻ hào quang thịnh vượng và hùng vĩ" nổi tiếng của nông trại Mount Vernon của ông. Các sử gia ước tính tài sản của ông đáng giá khoảng 1 triệu đô la Mỹ của năm 1799, tương đương khoảng $18 triệu đô la của năm 2009.
Ngày 4 tháng 7 năm 1798, Washington được Tổng thống John Adams ủy nhiệm vào cấp bậc trung tướng và tổng tư lệnh tất cả các quân đoàn lục quân đã được hoặc sẽ được tuyển mộ để phục vụ một cuộc chiến tranh có thể xảy ra trong tương lai với Pháp. Ông phục vụ với tư cách là sĩ quan cao cấp của Lục quân Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ 13 tháng 7 năm 1798 và 14 tháng 12 năm 1799. Ông tham gia vào việc lập kế hoạch cho một lực lượng Lục quân Lâm thời để đối phó với bất cứ tình hình khẩn cấp nào có thể xảy ra nhưng ông không ra trận. Vị tư lệnh đứng thứ hai sau ông, Hamilton, là người trực tiếp lãnh đạo lục quân.
=== Qua đờiSửa đổi ===
Thứ năm ngày 12 tháng 12 năm 1799, Washington dành vài tiếng đồng hồ trên lưng ngựa để kiểm tra nông trại của mình bị tuyết rơi, mưa đá và mưa băng - đến chiều tối hôm đó, ông ngồi ăn buổi tối mà không có thay quần áo ướt. Sáng thứ sáu, ông tỉnh giấc thấy đau cổ họng dữ dội (có lẽ viêm họng hay đau thanh quản cấp tính) và cảm thấy càng thêm khan cổ khi ngày trôi qua. Vào khoảng 3 giờ sáng thứ bảy, ông đánh thức vợ ông và nói rằng ông cảm thấy bệnh trong người. Bệnh tình ngày thêm trầm trọng cho đến khi ông mất tại nhà vào khoảng 10h tối thứ bảy ngày 14 tháng 12 năm 1799, thọ 67 tuổi. Lời cuối cùng của ông là "'Tis well" (tạm hiểu là tốt lắm, tôi chết đau đớn nhưng tôi không sợ).
Khắp thế giới, mọi người đều buồn bã vì cái chết của Washington. Napoleon ra lệnh 10 ngày tang lễ khắp nước Pháp; tại Hoa Kỳ, hàng ngàn người vận quần áo tang trong nhiều tháng. Để bảo mật sự riêng tư của họ, Martha Washington đốt hết các thư từ của ông bà viết cho nhau sau khi ông mất. Chỉ còn lại ba lá thứ giữa hai người vẫn tồn tại đến ngày nay.
Ngày 18 tháng 12 năm 1799, lễ tang được tổ chức tại Mount Vernon. Ông được chôn cất tại nơi đây.
Với sự ủng hộ của vợ ông, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua nghị quyết chung nhằm xây một tượng đài bằng cẩm thạch trong Tòa Quốc hội Hoa Kỳ để cất giữ thân xác ông. Tháng 12 năm 1800, Hạ viện Hoa Kỳ đưa một đạo luật chi tiêu khoảng $200.000 để xây dựng lăng mộ hình kim tự tháp có đáy rộng 100 bộ vuông (30 mét vuông). Sự phản đối dự án này từ miền Nam đã đánh bại đạo luật vì người miền Nam cảm thấy để xác của ông tại Mount Vernon là tốt nhất (ông là người từ Virginia, một tiểu bang miền Nam vào thời đó).
Năm 1831, để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của ông, một ngôi mộ mới được xây cho ông. Năm đó, có một âm mưu đánh cắp xác của ông đã được thực hiện nhưng được chứng minh là không thành công. Dù vậy, một ủy ban quốc hội chung (ủy ban của cả hai viện lập pháp) vào đầu năm 1832 đã bàn thảo đến việc dời thân thể của Washington ra khỏi Mount Vernon để đưa đến một hầm mộ trong Tòa nhà Quốc hội do Charles Bullfinch xây vào thập niên 1820. Lại thêm một lần nữa, sự chống đối từ miền Nam tỏ ra rất dữ dội, do sự hiềm khích ngày càng sâu rộng giữa miền Nam và miền Bắc. Dân biểu Wiley Thompson của tiểu bang Georgia phát biểu về nỗi lo sợ của người miền Nam khi ông nói:
Điều này làm các cuộc bàn thảo về việc di dời hài cốt của ông chấm dứt, và ông được đưa vào ngôi mộ mới được xây dựng tại đó vào ngày 7 tháng 10 năm 1837 với sự chủ trì của John Struthers từ thành phố Philadelphia. Sau buổi lễ, cửa hầm mộ bên trong được đóng lại và chìa khóa mở ngôi mộ được quăng xuống sông Potomac.
== Di sảnSửa đổi ==
Dân biểu Henry "Light-Horse Harry" Lee, một người bạn chiến đấu của ông thời Chiến tranh Cách mạng Mỹ, nổi tiếng qua những lời lẽ ca ngợi Washington như sau:
Lời lẽ ca ngợi của Lee đã tạo ra chuẩn mực mà qua đó danh tiếng vượt bậc của Washington có ấn tượng sâu sắc trong ký ức của người Mỹ. Washington đã tạo ra nhiều tiền lệ cho chính phủ quốc gia, và đặc biệt là cho chức vụ tổng thống. Ông được gọi là "cha già dân tộc" bắt đầu kể từ năm 1778. Sinh nhật của Washington (được chào mừng trong ngày Lễ Tổng thống), là một ngày nghỉ lễ liên bang tại Hoa Kỳ.
Trong năm chào mừng "Hoa Kỳ 200 năm", George Washington được vinh thăng lên cấp bậc Đại thống tướng theo nghị quyết chung của Quốc hội Hoa Kỳ (xin xem Công luật 94-479), được thông qua vào ngày 19 tháng 1 năm 1976, có hiệu lực vào ngày 4 tháng 7 năm 1976. Hành động này đã nâng vị trí của Washington lên thành vị sĩ quan quân sự cao cấp nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.
=== Cây CherrySửa đổi ===
Những câu chuyện mơ hồ về tuổi thơ của Washington gồm có câu chuyện cho rằng ông đánh lướt một đô la bằng bạc chạy băng qua sông Potomac ở Mount Vernon và rằng ông đốn ngã cây cherry của cha ông, và thừa nhận hành vi này khi bị tra hỏi; "Con không thể nói dối, ba à". Giai thoại này lần đầu tiên được Parson Weems, người chuyên viết tiểu sử, tường thuật. Ông này đã phỏng vấn những người biết Washington lúc nhỏ. Phiên bản câu chuyện từ Weems được in ấn rộng khắp suốt thế kỷ 19, chẳng hạn như trong McGuffey Readers. Những người lớn có đầu óc đạo đức luôn mong muốn trẻ em học những bài học luân lý trong quá khứ lịch sử, đặc biệt từ những đại anh hùng quốc gia như Washington. Tuy nhiên sau năm 1890, các sử gia viện dẫn qua những phương pháp nghiên cứu khoa học để chứng thực từng câu chuyện, và họ đã không tìm được bằng chứng nào trong câu chuyện do Weems thuật lại. Vào năm 1904, Joseph Rodman ghi nhận rằng Weems đã đạo văn cho các câu chuyện khác về Washington từ các câu chuyện tiểu thuyết đã được xuất bản tại Anh Quốc; không ai tìm được một nguồn thay thế nào cho câu chuyện về cây cherry nhưng sự tín nhiệm của Weems thì đáng nghi ngờ.
=== Các con tem tưởng niệmSửa đổi ===
Hình của George Washington được in trên tiền của Hoa Kỳ trong đó có tiền giấy một đô la và tiền kim loại 25 xu. Trên tem thư Hoa Kỳ, hình của Washington được in vô số lần và trong nhiều loại khác nhau. Hình ông có trên một trong số những con tem đầu tiên do Bưu điện Hoa Kỳ phát hành vào năm 1847 cùng với hình của Benjamin Franklin. Bắt đầu vào năm 1908, Bưu điện Hoa Kỳ phát hành trong thời gian dài nhất một loạt tem thư trong lịch sử Bưu điện Hoa Kỳ khi phát hành bộ tem "Washington-Franklin". Đây là một bộ tem thư gồm có hơn 250 con tem có hình Washington và Franklin. Hình của Washington được in trên tem thư Hoa Kỳ nhiều hơn tất cả những người Mỹ nổi tiếng khác cộng lại, kể cả Abraham Lincoln và Benjamin Franklin.
=== Các tượng đài và đài tưởng niệmSửa đổi ===
Ngay sau khi chiến thắng trong cuộc cách mạng Mỹ, có nhiều lời đề nghị xây đựng một tượng đài ghi công Washington. Sau khi ông mất, Quốc hội Hoa Kỳ ra lệnh xây dựng một đài tưởng niệm phù hợp tại thủ đô quốc gia nhưng quyết định này bị đảo ngược khi đảng Cộng hòa nắm kiếm soát Quốc hội vào năm 1801. Các đảng viên Cộng hòa mất tinh thần vì Washington đã trở thành biểu tượng của đảng Liên bang; hơn thế nữa, các giá trị của chủ nghĩa cộng hòa dường như không phù hợp với ý tưởng xây dựng những tượng đài dành cho những người có quyền lực. Thêm chuyện cãi vã chính trị cùng với sự chia rẽ Nam-Bắc trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ đã ngăn cản việc hoàn thành tượng đài Washington mãi cho đến cuối thế kỷ 19. Đến thời điểm đó, hình ảnh của Washington được xem là vị anh hùng quốc gia được cả hai miền Nam và Bắc tôn sùng nên các tượng đài của ông không còn là chuyện gây tranh cãi nữa. Trước khi có tượng đài hình tháp nằm trên National Mall vào khoảng vài thập niên trước đó, công dân của thành phố Boonsboro, Maryland đã xây dựng đài tưởng niệm công cộng đầu tiên để tưởng niệm Washington vào năm 1827.
Ngày nay, hình tượng và khuôn mặt của Washington thường được dùng như những biểu tượng quốc gia của Hoa Kỳ. Hình ảnh ông có mặt trên các loại tiền hiện thời trong đó có tiền giấy một đô la và tiền kim loại 25 xu, và trên các loại tem thư của Hoa Kỳ. Ngoài việc hình ảnh ông có mặt trên các loại tem thư đầu tiên do Bưu điện Hoa Kỳ phát hành năm 1847, Washington cùng với Theodore Roosevelt, Thomas Jefferson, và Lincoln, được tạc tượng trên Đài tượng niệm Núi Rushmore. Tượng đài Washington, một trong số những địa điểm nổi tiếng nhất của Mỹ, được xây để vinh danh ông. Tượng đài Quốc gia Tam điểm George Washington tại Alexandria, Virginia được xây dựng giữa năm 1922 và 1932 với đóng góp tự nguyện của tất cả 52 cơ quan điều hành địa phương của Hội Tam điểm tại Hoa Kỳ.
Nhiều nơi và nhiều thực thể đã được đặt tên Washington để vinh danh ông. Tên Washington trở thành tên của thủ đô quốc gia, Washington, D.C., một trong hai thủ đô quốc gia trên thế giới đã được đặt tên của một vị tổng thống Mỹ (tên tổng thống Mỹ khác được đặt cho thủ đô của Liberia là Monrovia). Tiểu bang Washington là tiểu bang duy nhất được đặt tên của một vị tổng thống Mỹ. Đại học George Washington và Đại học Washington tại St. Louis được đặt tên ông cũng như Đại học Washington và Lee đã từng đổi thành Học viện Washington khi Washington quyên tặng rất nhiều tiền cho trường này vào năm 1796. Đại học Washington tại Chestertown, Maryland (do hiến chương tiểu bang Maryland thành lập năm 1782) được Washington ủng hộ suốt cuộc đời mình bằng việc trao tặng 50 đồng tiền vàng Anh và phục vụ trong ban hội đồng đặt trách quan khách và điều hành của trường cho đến năm 1789 (khi Washington được bầu làm tổng thống). Vô số thành phố và thị trấn Mỹ có một đường phố mang tên Washington.
Quốc ấn của Liên minh miền nam Hoa Kỳ nổi bật có hình George Washington trên lưng ngựa, trong tư thế tương tự như một tượng đá hình ông tại thành phố Richmond, Virginia.
Luân Đôn có một tượng đồng Washington, đây là một trong số 22 khuôn mẫu tượng đồng giống nhau. Dựa vào bức tượng bằng cẩm thạch ban đầu do Jean Antoine Houdon điêu khắc và được đặt trong gian phòng hình tròn của Tòa Quốc hội Tiểu bang ở Richmond, Virginia, bức tượng sao chép được Thịnh vượng chung Virginia trao tặng cho người Anh năm 1921. Bức tượng này đứng trước Phòng trưng bày Quốc gia (Luân Đôn) trong Quảng trường Trafalgar.
== Viết lách và tài liệu của George WashingtonSửa đổi ==
Việc sưu tầm và xuất bản trịnh trọng các tác phẩm viết lách và tài liệu của Washington được bắt đầu bằng tác phẩm tiền phong của Jared Sparks vào thập niên 1830 có tựa đề Life and Writings of George Washington (12 cuốn, xuất bản từ 1834–1837). The Writings of George Washington from the Original Manuscript Sources, 1745-1799 (1931–44) là một bộ sựu tập gồm có 37 cuốn do John C. Fitzpatrick biên tập. Bộ sưu tập này gồm có trên 17.000 lá thư và tài liệu và có thể tìm thấy tại đây.
Phiên bản cuối cùng in toàn chữ (không có hình ảnh) được Đại học Virginia bắt đầu xuất bản vào năm 1968, và đến nay đã có đến 52 cuốn được xuất bản và các cuốn nữa sẽ xuất bản. Bộ sưu tập này gồm có mọi thứ mà Washington viết hoặc do ông ký cùng với đa số thư từ ông nhận được. Một phần của bộ sưu tập này có tại đây.
== Đời sống cá nhânSửa đổi ==
Cùng với gia đình thân thuộc của vợ ông, Martha, có nói ở trên, George Washington có quan hệ gần gũi với cháu trai và cũng là người thừa kế tên là Bushrod Washington, con trai của em trai John Augustine Washington của ông. Sau khi chú qua đời Bushrod trở thành một thẩm phán của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Tuy nhiên mối quan hệ của George Washington với mẹ là bà Mary Ball Washington rõ ràng là có gì đó khó khăn và căng thẳng.
Khi còn là một thanh niên, Washington có mái tóc đỏ. Có một truyền thuyết dân gian cho rằng ông đội tóc giả như một kiểu thời trang vào thời đó. Sự thật Washington không có đội tóc giả; thay vào đó ông rắc phấn bột vào tóc của mình, như được thấy trong một số bức họa trong đó có bức họa nổi tiếng nhưng dở dang của họa sĩ Gilbert Stuart.
Washington bị răng của mình hành hạ suốt cả cuộc đời. Ông mất chiếc răng trưởng thành đầu tiên khi ông 22 tuổi và chỉ còn lại 1 chiếc khi ông trở thành tổng thống. John Adams tuyên bố rằng Washington mất răng vì ông dùng nó để cắn hạt Brasil nhưng các sử gia hiện đại cho rằng chính điôxít thủy ngân mà ông uống để trị bệnh như đậu mùa và sốt rét có lẽ đã góp phần vào việc làm rụng răng của ông. Ông được làm một vài bộ răng giả, bốn trong số đó do một nha sĩ có tên là John Greenwood. Không như công chúng nghĩ, các bộ răng giả này không phải làm bằng gỗ. Bộ răng được làm cho ông khi ông trở thành tổng thống là làm bằng ngà voi và ngà hà mã, giữ chặt lại bằng niềng vàng. Vấn đề của răng đã làm cho Washington thường hay đau răng nên ông phải dùng cồn thuốc phiện. Nỗi đau đớn vì chứng đau răng có thể được bộc lộ rõ ràng trong nhiều bức hình được họa khi ông vẫn còn tại chức, trong đó phải kể đến bức hình được sử dụng trên tờ giấy bạc $1 đô la Mỹ.
=== Vấn đề người nô lệSửa đổi ===
Sau cái chết của cha năm 1743, cậu bé George Washington 11 tuối thừa hưởng gia tài gồm 10 người nô lệ. Vào lúc ông kết hôn với Martha Custis năm 1759, cá nhân ông làm chủ ít nhất 36 nô lệ (vợ ông thừa hưởng và mang đến Mount Vernon một số nô lệ của chồng trước quá cố, ít nhất là 85 người). Ông dùng tài sản giàu có của vợ để mua thêm đất, tăng gấp ba lần diện tích đồn điền, và thêm nhiều nô lệ để canh tác đồn điền. Năm 1774, ông trả thuế đánh trên 135 nô lệ (không tính nô lệ của vợ ông được thừa hưởng từ người chồng đầu tiên quá cố của bà). Lần mua nô lệ cuối cùng của ông là vào năm 1772 dù sau này ông có nhận một số nô lệ để trừ nợ. Washington cũng dùng những người da trắng di cư làm người giúp việc gia đính để trả nợ di dân; tháng 4 năm 1775, ông đã trả tiền thưởng để nhận lại hai người da trắng giúp việc nhà sau khi hai người này bỏ trốn.
Một sử gia tuyên bố rằng Washington ước mong những lợi ích vật chất từ việc làm chủ nô lệ và muốn cho gia đình vợ của ông có một tài sản kế thừa thịnh vượng. Trước Cách mạng Mỹ, Washington không bài tỏ vấn đề đạo đức gì về chủ nghĩa nô lệ nhưng vào năm 1786, Washington viết cho Robert Morris như sau "Không ai mong muốn chân thành hơn tôi là thấy một kế hoạch được thông qua nhằm mục đích bãi bỏ chế độ nô lệ". Năm 1778, ông viết thư cho người quản lý của ông ở đồn điền Mount Vernon rằng ông muốn "bỏ hết người da đen". Duy trì một dân số nô lệ lớn và ngày càng già tại Mount Vernon thì không có lợi ích kinh tế. Tuy nhiên Washington không thể bán những "nô lệ thừa kế" của vợ (dower slaves) một cách hợp pháp, và vì những nô lệ này đã liên-hôn với các nô lệ của chính ông nên ông cũng không thể bán nô lệ của mình với lý do nếu ông bán nô lệ của mình thì ông gián tiếp làm cho gia đình họ ly tán.
Lúc làm tổng thống, Washington đưa 7 nô lệ đến Thành phố New York năm 1789 để làm người giúp việc nhà đầu tiên cho tổng thống. Sau khi thủ đô quốc gia chuyển đến Philadelphia năm 1790, ông đưa 9 nô lệ đến làm việc trong dinh tổng thống. Lúc ông mất, có 317 nô lệ làm việc tại Mount Vernon trong số đó Washington làm chủ 123 người, 154 người là "nô lệ thừa kế" của vợ và 40 người được một người hàng xóm mướn. Dorothy Twohig cho rằng Washington đã không lên tiếng công khai chống lại chủ nghĩa nô lệ vì ông không muốn tạo sự chia rẽ trong nước cộng hòa mới thành lập bằng một vấn đề rất nhạy cảm và gây chia rẽ lúc bấy giờ.
=== Tôn giáoSửa đổi ===
Washington là một thành viên của Giáo hội Anh giáo, sau này gọi là Giáo hội Giám nhiệm, "có địa vị được thiết lập" tại tiểu bang Virginia (điều đó có nghĩa là tiền thuế được dùng để trả cho các vị chức sắc nhà thờ). Ông là một thành viên phục vụ trong ban điều hành Nhà thờ Christ tại Alexandria, Virginia và Nhà thờ Pohick gần nhà của ông trong đồn điền Mount Vernon cho đến khi chiến tranh bắt đầu; tuy nhiên giáo xứ này là một đơn vị của chính quyền địa phương và giáo xứ này phần lớn lo những công việc dân sự như đường sá và giảm nghèo.
Theo sử gia Paul F. Boller Jr., thực tế mà nói Washington là một người theo thuyết thần giáo tự nhiên, có niềm tin sâu rộng vào "Sự quan phòng của Trời" hay cao hơn là "Ý Trời" bắt nguồn từ một "Đấng Tối cao" kiểm soát các sự kiện của loài người và như trong thần học Calvin thì tiến trình lịch sử đi theo một mô hình trật tự hơn chỉ là sự tình cờ. Năm 1789, Washington tuyên bố rằng "Đấng sáng tạo Vũ trụ" đã tích cực can thiệp về phía Cách mạng Mỹ. Tuy nhiên, theo Boller, Washington chưa bao giờ tìm cách cá nhân hóa quan điểm tôn giáo của chính mình hay bày tỏ sự ái mộ nào tới khía cạnh tốt đẹp của các đoạn văn Kinh thánh. Boller cho rằng "những lời bóng gió về tôn giáo của Washington hoàn toàn thiếu chiều sâu cảm xúc" Về khía cạnh triết lý, ông say mê và chọn triếc lý Stoic của La Mã cổ đại. Triết lý này coi trọng đức hạnh và nhân bản và có thể sánh cao bằng thuyết thần giáo tự nhiên.
Trong một lá thư gởi George Mason năm 1785, Washington viết rằng ông không phải trong số những người bị cảnh báo bởi một đạo luật "bắt người ta phải trả tiền để ủng hộ tôn giáo mà họ theo" nhưng cảm thấy rằng "không khôn ngoan" để thông qua một đạo luật như thế, và mong muốn rằng nó đã chưa từng được đề nghị vì tin rằng nó sẽ làm náo động cuộc sống yên ổn của công chúng.
Washington thường tháp tùng vợ đến lễ nhà thờ; tuy nhiên, không có ghi chép nào nói về việc ông hiệp lễ (nhận lễ ban thánh thể). Ông thường hay rời lễ nhà thờ trước khi hiệp lễ — cùng với những người không hiệp lễ khác. Đến khi bị một mục sư quở trách, ông thôi không tham dự các buổi thánh lễ vào những ngày chủ nhật. Khi làm tổng thống, ông khích lệ mọi người khi ông được người ta thấy tham gia thánh lễ tại vô số các nhà thờ trong đó có các nhà thờ Trưởng lão, Quaker và Công giáo để chứng tỏ sự ủng hộ đại thể của ông cho tôn giáo. Washington nổi tiểng rộng lượng. Ông tham dự nhiều sự kiện từ thiện và tặng tiền cho các trường, các đại học và cho người nghèo. Là công dân hàng đầu của Philadelphia, Tổng thống Washington dẫn đầu trong công cuộc cung cấp từ thiện cho các quả phụ và trẻ mồ côi trong thành phố thủ đô bị dịch sốt vàng hoành hành vào năm 1793.
Michael Novak và Jana Novak cho rằng đây có thể là "ý định của Washington khi duy trì sự mơ hồ có chủ ý (và sự riêng tư cá nhân) liên quan đến nhận thức tôn giáo sâu thẳm nhất của ông, để cho mọi người Mỹ, cả thời đó và mãi sau này, có thể cảm thấy tự ý để tiếp cận ông bằng cách riêng của mình, cũng như có thể cảm thấy mình là thành viên đầy đủ của một nền cộng hòa mới, bình đẳng với mọi người khác". Họ kết luận: "Ông được dưỡng dục trong Giáo hội Giám nhiệm mà ông luôn thuộc về; và quan điểm của tôi [sic] là ông tin vào các giáo lý nền tảng của Kitô giáo như vẫn được dạy trong Giáo hội, theo cách hiểu của ông; nhưng trong đó không có một chút sự bất khoan dung hay thiếu tôn trọng nào với các niềm tin và cách thức thờ phượng của các Kitô hữu thuộc hệ phái khác."
=== Thành viên Hội Tam ĐiểmSửa đổi ===
Năm 1752 Washington được thu nhận vào Hội Tam Điểm. Trong lễ nhậm chức tổng thống năm 1789, Đại sư phụ chi hội New York đã chủ trì lễ tuyên thệ nhậm chức của ông. Ngày 18 tháng 9 năm 1793, ông đặt viên đá góc của Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ có mang dấu hiệu Đại sư phụ Hội Tam Điểm. Washington kính trọng cao độ đối với nội quy của hội và thường hay ca ngợi nó nhưng ông ít khi tham dự các buổi họp của chi hội. Ông bị lôi cuốn bởi sự tận tụy của phong trào đối với những nguyên lý khai sáng; các chi hội Mỹ không chia sẻ triển vọng chống tăng lữ mà đã khiến cho các chi hội tại châu Âu bị tai tiếng
=== Gia đình riêngSửa đổi ===
George Washington là con đầu của ông Augustine Washington (1694-1743) với vợ hai là bà Mary Ball Washington (1708-1789). Trước khi tái giá, ông Augustine Washington đã có 4 con với vợ đầu Jane Butler, trong đó có 2 người chết lúc còn trẻ. Ông Augustine và bà Mary đẻ 6 người con, trong đó người con út mất ngay lúc 1 tuổi. Do đó, George Washington có tất cả 4 anh chị cùng cha khác mẹ và 5 em ruột.
Anh chị cùng cha khác mẹ
Butler Washington (1716)
Lawrence Washington (1718–1752)
Augustine Washington II (1720–1762)
Jane Washington (1722–1735)
Em ruột
Elizabeth Washington (1733–1797)
Samuel Washington (1734–1781)
John Augustine Washington (1736–1787)
Charles Washington (1738–1799)
Mildred Washington (1739–1740)
== Chú thíchSửa đổi ==
== Dẫn chứngSửa đổi ==
== Liên kết ngoàiSửa đổi ==
George Washington trên trang Quốc hội Hoa Kỳ
Tiểu sử George Washington Sean Spurr.
George Washington: A Brief Biography của Miland Brown
George Washington: A Life của Willard Sterne Randall
George Washington: Father of Our Country của Arjun, Barrett, Bella S., Eleni, Jason & Olivia, 2004 - 2005
The Writings of George Washington from the Original Manuscript Sources, 1745-1799 của John C. Fitzpatrick
Library of Congress: Washington's Commission as Commander in Chief
American President: George Washington (1732–1799)
Các tác phẩm của George Washington tại Dự án Gutenberg
George Washington historic sites in Virginia - Official Tourism Website
George Washington and Christianity
Scientific American Magazine (January 2006 Issue) Putting a Face on the First President Jeffrey H. Schwartz, 22/1/2006
George Washington's Mount Vernon Estate & Gardens
President's House in Philadelphia with first person accounts. Washington's presidential years (1790-96) in Philadelphia when it was the national capital.
George Washington Birthplace National Monument
George Washington (1732 - 1799) - Find A Grave Memorial |
golf.txt | Golf hay gôn là một môn thể thao mà người chơi sử dụng nhiều loại gậy để đánh bóng vào một lỗ nhỏ trên sân golf sao cho số lần đánh càng ít càng tốt.
Không giống như hầu hết các trò chơi với bóng khác, golf không yêu cầu một khu vực thi đấu được tiêu chuẩn hóa. Cuộc chơi diễn ra trên một sân đã được sắp xếp theo một chu trình định sẵn gồm chín hoặc 18 lỗ (hay hố). Mỗi lỗ trên sân đi kèm với một khu vực phát bóng, và một khu vực putting green bao gồm lỗ golf (rộng 10,79 cm). Ở giữa hai khu vực trên là các dạng địa hình tiêu chuẩn khác như fairway, rough (cỏ dài), hố cát, và các chướng ngại vật (nước, đá, bụi cỏ). Tuy nhiên mỗi khu vực lỗ trên sân có một thiết kế và cách bố trí khác nhau.
Có hai kiểu thi đấu golf chính. Trong kiểu stroke play (chơi theo gậy) người chơi golf cố gắng đạt số gậy thấp nhất; còn ở kiểu match play cá nhân hay đội chơi cố gắng thắng nhiều hố hơn đối phương. Stroke play là thể thức phổ biến nhất.
== Xuất xứ ==
Mặc dù môn golf hiện đại có xuất xứ tại Scotland thế kỷ 15, tuy nhiên xuất xứ cổ đại của môn thể thao này vẫn không rõ ràng và còn nhiều tranh cãi. Theo một số sử gia, trong môn paganica của người La Mã, người chơi sử dụng một cây gậy cong để đánh một quả bóng da nhồi. Lý thuyết này cho rằng paganica lan khắp châu Âu khi người La Mã chinh phục trong giai đoạn thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên và cuối cùng phát triển thành môn thể thao hiện đại. Những sử gia khác lại cho rằng môn golf hiện nay phát triển từ môn chùy hoàn, một trò chơi Trung Quốc tồn tại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 14. Một văn bản có niên đại 1368 mang tên "Bữa tiệc mùa thu" vẽ lại cảnh một người trong triều đình dùng một cây gậy đánh một trái bóng nhỏ với mục đích đưa bóng vào hố. Trò chơi này được cho là du nhập vào châu Âu từ thời Trung cổ. Một trò chơi có nét giống golf có tên là cambuca ở Anh (ở Pháp gọi là chambot).
Ở Việt Nam cũng có một trò chơi dân gian mang tính chất tương tự là môn "Đánh phết", về sau trò này trở thảnh một môn thể thao phổ biến trong các ngày tết, ngày hội. Tương truyền, từ thời Hai Bà Trưng, trò đánh phết đã được tổ chức để rèn luyển thể lực và mưu trí cho quân sĩ.
Môn thể thao hiện đại có nguồn gốc tại Scotland. Bản ghi chép đầu tiên về golf tại đây là lệnh cấm chơi trò chơi này của James II vào năm 1457 vì nó khiến quân sĩ tại đây bỏ bê việc luyện tập bắn cung. Vua James IV dỡ bỏ lệnh cấm vào năm 1502 khi chính ông cũng trở thành một tay golf. Đối với nhiều golfer thì sân Old Course tại St Andrews, một sân golf kiểu links có niên đại từ năm 1574, được coi là thánh địa của golf. Vào năm 1764, sân golf 18 lỗ tiêu chuẩn được ra đời tại St Andrews khi các thành viên cải tạo sân từ 22 lỗ thành 18 lỗ. Một cuộc thi đấu golf diễn ra tại Musselburgh Links, East Lothian, Scotland vào ngày 2 tháng 3 năm 1672. Musselburgh Links cũng được Guinness chứng nhận là sân golf lâu đời nhất thế giới. Luật golf cổ nhất còn tồn tại được soạn vào tháng 3 năm 1744 dành cho Company of Gentlemen Golfers, sau này trở thành The Honourable Company of Edinburgh Golfers, áp dụng cho sân golf Leith, Scotland. Giải golf cổ nhất còn tồn tại, và cũng là giải major đầu tiên, The Open Championship, diễn ra lần đầu vào ngày 17 tháng 10 năm 1860 tại câu lạc bộ golf Prestwick thuộc Ayrshire, Scotland với những chức vô địch major đầu tiên thuộc về những người Scotland. Hai người Scotland tới từ Dunfermline là John Reid và Robert Lockhart lần đầu biểu diễn golf tại Hoa Kỳ vào năm 1888. Reid sau đó thành lập câu lạc bộ golf đầu tiên tại Mỹ ngay trong năm đó mang tên St. Andrews Golf Club ở Yonkers, New York.
== Sân golf ==
Một sân golf gồm có 9 hoặc 18 lỗ, mỗi lỗ bao gồm một tee box (được đánh dấu bằng hai marker ở hai bên cho biết giới hạn của khu vực phát bóng hợp lệ), fairway, rough cùng các chướng ngại vật khác, và green (nơi có cột cờ và lỗ golf). Tee-box là nơi thực hiện cú đánh đầu tiên, để đưa bóng tới càng gần với vùng green càng tốt hay ít nhất là nằm trên vùng fairway. Từ vị trí fairway, người chơi đánh bóng hướng tới vùng green và đẩy bóng vào lỗ.
Sân golf thông thường có 18 lỗ, nhưng các sân golf 9 lỗ cũng phổ biến và có thể chơi 2 lần như một vòng của sân golf 18 lỗ.
Các sân golf Scotland thời kỳ đầu chủ yếu đặt trên đất nối nhau, các cồn cát phủ đất trực tiếp trên đất liền từ các bãi biển.
Sân golf 18 lỗ đầu tiên ở Hoa Kỳ nằm ở trang trại cừu thuộc Downers Grove, Illinois, năm 1892. Sân golf này vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Sân golf cổ nhất ở Việt Nam là câu lạc bộ Golf Dalat Palace, vị trí sân golf này đã được đưa vào quy hoạch năm 1923, và được xây dựng năm 1930.
== Cách chơi ==
Một vòng thi đấu golf gồm 18 lỗ theo thứ tự được xác định bởi cách thức bố trí sân. Người chơi chỉ chơi một lần tại một hố. Một cuộc chơi có thể có số lượng người chơi bất kỳ. Một nhóm chơi thường có 1, 2, 3 hoặc 4 người cùng chơi trong vòng đó. Thời gian thông thường để kết thúc một vòng 9 lỗ là hai tiếng và 18 lỗ là bốn tiếng.
Mỗi hố golf bắt đầu bằng việc đặt bóng vào cuộc chơi ở khu vực phát bóng (còn gọi là tee box hoặc tee) và đánh bóng đi bằng gậy. Đối với cú đánh đầu tiên ở mỗi hố, người chơi được phép (nhưng không bắt buộc) đặt trái bóng trên một giá đỡ gọi là tee trước khi đánh. Tee là một cọc nhỏ có tác dụng nâng trái bóng cao hơn mặt sân vài xentimét. Tee thường làm bằng gỗ hoặc chất dẻo. Trước đây các golf thủ sử dụng các đụn cát để nâng quả bóng lên cao. Một vài sân golf vẫn yêu cầu dùng cát thay vì dùng tee cắm để giảm thiểu rác và bớt làm hại mặt sân ở khu vực phát bóng. Tee giúp giảm thiểu sự tiếp xúc của mặt đất và cỏ lên chuyển động của gậy và dễ đánh trúng bóng hơn, và do đó đánh xa hơn.
Vì cú đánh ban đầu thường có mục đích là đưa bóng đi xa (tầm xa thông thường là 225 thước Anh (210 m)), nên cú phát bóng còn được gọi là cú "drive" bằng một cây gậy gỗ thân dài, đầu to (gọi là gậy "driver"). Các lỗ có khoảng cách ngắn có thể bắt đầu bằng các loại gậy khác, ví dụ như các loại gậy gỗ số lớn hoặc gậy sắt. Khi trái bóng ngừng lăn, tay golf sẽ tiếp tục thực hiện các cú đánh (gọi chung là "lay-up") như cú "tiếp cận", cú "pitch", hay "chip", cho tới khi bóng vào green, nơi người chơi sẽ "đánh nhẹ" quả bóng vào lỗ. Mục tiêu đưa bóng vào lỗ với số lần đánh càng ít càng tốt sẽ khó thành khi người chơi gặp phải các vật cản như những khu vực cỏ dài và rậm hơn gọi là "rough" (thường ở hai bên của fairway), có tác dụng làm chậm chuyển động của bóng khi tiếp xúc và người chơi cũng khó đánh bóng đi theo ý muốn nếu bóng nằm ở khu vực này; "dogleg", những khúc uốn ở fairway thường đòi hỏi người ta thực hiện những cú đánh ngắn; hố cát (hay bẫy cát); và bẫy nước như ao hồ hay dòng suối.
Ở các cuộc đấu tính gậy theo luật golf, mỗi vận động viên đánh bóng tới khi bóng vào lỗ bất kể phải mất bao nhiêu gậy. Ở lối chơi match play người chơi được phép nhấc bóng lên và bỏ cuộc tại hố đó nếu biết chắc mình không thể thắng. Khi chơi tính số gậy với mục đích giao hữu, người chơi có thể bỏ cuộc tại hố đó nếu có ba gậy nhiều hơn par (hay còn gọi là "triple bogey"); mặc dù việc này về cơ bản vi phạm điều luật 3-2, nhưng hành động bỏ cuộc trước này có thể coi là một cử chỉ lịch sự đối với những người chơi khác, đồng thời tránh việc để thua quá cách biệt, tự gây ức chế hay chấn thương cho bản thân.
Khoảng cách từ tee box thứ nhất tới green thứ 18 có thể sẽ rất dài, có thể lên tới 7.000 thước Anh (6.400 m), và nếu tính thêm quãng đường từ green của hố này tới tee của hố kia, một người dù kinh nghiệm tới mấy cũng phải di chuyển chừng hơn 5 dặm một vòng chơi. Việc di chuyển có thể được trợ giúp bằng xe golf chạy điện. Tuy nhiên đa phần người chơi thường đi bộ trên sân đồng thời vác thêm bao gậy ở vai hoặc dùng xe kéo bao gậy. Ở nhiều giải trẻ và nghiệp dư, người chơi buộc phải đi bộ và tự vác túi đồ của mình, nhưng ở giải chuyên nghiệp và một số giải nghiệp dư hàng đầu, cũng như các câu lạc bộ tư nhân hạng sang, người chơi có thể được một caddy tháp tùng. Những người caddy có nhiệm vụ mang và quản lý đồ đạc của người chơi và, theo luật, được phép đưa ra lời khuyên trên sân. Caddy chỉ được phép tư vấn cho người chơi mà họ phục vụ chứ không được tư vấn các đối thủ khác.
== Luật lệ và quy tắc ==
Luật chơi golf trên thế giới được chuẩn hóa và quản lý bởi The R&A và Hiệp hội golf Hoa Kỳ (USGA).
Người ta cũng đề ra các luật lệ nghiêm ngặt đối với các tay golf nghiệp dư. Về cơ bản, bất cứ ai từng nhận tiền công hoặc tiền bồi hoàn nhờ việc hướng dẫn, hay chơi golf để kiếm tiền, thì không được coi là nghiệp dư và không thể tham dự các giải đấu chỉ dành riêng cho người nghiệp dư. Tuy vậy, các tay golf nghiệp dư có thể nhận các khoản phí miễn là tuân theo các nguyên tắc nghiêm ngặt; họ cũng có thể nhận các giải thưởng không phải bằng tiền mặt trong giới hạn cho phép của Rules of Amateur Status.
Ngoài luật thành văn, các tay golf cũng cần tuan theo một bộ quy tắc gọi là quy tắc ứng xử golf. Các hướng dẫn quy tắc ứng xử bao trùm lên nhiều vấn đề như sự an toàn, công bằng, tốc độ chơi, sự tuân thủ của người chơi trong việc chăm sóc sân. Tuy việc vi phạm quy tắc ứng xử không bị phạt, nhưng người chơi vẫn thường tuân theo nó nhằm cải thiện trải nghiệm chơi của tất cả mọi người.
=== Hình phạt ===
Các hình phạt phát sinh trong từng tình huống nhất định. Người chơi bị phạt gậy nếu vi phạm quy tắc hoặc đánh bóng khiến bóng rơi vào một tình huống bóng không thể đánh được.
Làm mất bóng hoặc đánh bóng ra ngoài biên bị phạt một gậy và phạt thêm khoảng cách đánh bóng (luật 27–1). Trang bị của người chơi làm xê dịch trái bóng hoặc việc loại bỏ các trở ngại (như lá cây, gạch đá,...) khiến bóng bị xê dịch thì bị phạt một gậy (luật 18–2). Bóng của người chơi rơi vào chướng ngại nước thì bị phạt một gậy (luật 26). Nếu golfer đánh nhầm bóng (luật 19–2) hoặc dùng putt đánh vào bóng của bạn chơi (luật 19–5), thì người chơi bị hai gậy phạt. Đôi khi việc vi phạm có thể dẫn tới việc bị loại khỏi cuộc chơi. Người chơi có thể bị loại vì gian lận, viết điểm thấp hơn thực tế, hoặc vì những hình thức vi phạm luật dẫn tới cú đánh không hợp lệ.
== Trang bị ==
Gậy golf được dùng để đánh bóng golf. Một cây gậy bao gồm ba phần: cán gậy, thân gậy và đầu gậy ở phía dưới cùng. Những cây gậy dài được dùng để lái trái bóng đi xa, còn gậy ngắn hơn được dùng cho khoảng cách gần hơn.
Gậy golf được chia thành ba loại cơ bản. Gậy gỗ hay gậy wood có đầu to, thân dài được dùng để đưa bóng đi xa từ những vị trí "mở", ví dụ như tee box và fairway. Cây gậy gỗ quan trọng là driver hay "1-wood" với độ loft hay độ mở của mặt gậy thấp nhất. Loại gậy này được dành riêng cho những cú đánh xa, có thể lên tới 300 thước Anh (270 m), hoặc nhiều hơn dưới bàn tay của các golf thủ chuyên nghiệp. Trước đây các loại gậy được làm từ gỗ cứng đúng như tên gọi, nhưng nay các cây wood được làm từ vật liệu kim loại như titan, hoặc vật liệu tổng hợp. Gậy sắt hay iron là các cây gậy thân ngắn hơn có đầu làm từ kim loại, với mặt đầu gậy phẳng. Trước đây đầu gậy được rèn từ sắt; đầu gậy sắt hiện đại được đúc chính xác từ hợp kim thép. Gậy sắt với các độ loft khác nhau có thể được dùng cho hầu hết mọi vị trí trên sân, nhưng thường thấy nhất là những cú đánh ngắn tiếp cận green, hoặc để đưa bóng ra khỏi bẫy cát. Loại thứ ba là putter, loại gậy thăng bằng có độ loft thấp, được dùng để đưa bóng lăn trên green và vào lỗ. Putter hầu như luôn được dùng tại green hoặc tại các khu vực rough hay viền bao quanh. Loại gậy thứ ba, gậy hybrid, là sự kết hợp giữa gậy gỗ và gậy sắt, được dùng để thay thế các cây gậy sắt có độ loft thấp.
Người chơi được phép mang tối đa 14 cây gậy một lúc trong túi trong một vòng. Việc chọn lựa gậy hoàn toàn thuộc về phía golfer, mặc dù mỗi cây gậy phải tuân theo các mục trong được liệt kê trong luật lệ. Vi phạm luật có thể bị loại khỏi cuộc chơi.
Bóng golf hình cầu, luôn có màu trằng (nhưng vẫn được phép có màu khác), được bao phủ bởi nhiều vết lõm trên bề mặt có tác dụng làm giảm lực cản khí động học nhờ tăng độ nhiễu loạn của không khí xung quanh trái bóng khi di chuyển, giúp cho phép trái bóng bay xa hơn. Sự kết hợp giữa lớp biên mềm bên ngoài và lõi cứng bên trong cho phép độ xa và độ xoáy.
Tee chỉ được phép sử dụng trong cú đánh đầu tiên ở mỗi hố, trừ trường hợp người chơi đánh thử một cú đánh hoặc phải thực hiện lại cú phát bóng.
Nhiều golf thủ đi những đôi giày golf có đinh bằng kim loại hoặc chất dẻo để tăng sức bám để có được những cú đánh xa hơn và chính xác hơn.
Một chiếc túi đựng gậy golf được dùng để đựng các cây gậy và tư trang cá nhân của người chơi như tee, bóng, và găng tay. Túi golf có nhiều ngăn, có thể được di chuyển trên sân bằng cách mang vác, kéo đi trên một xe đẩy hoặc gắn lên xe golf. Túi golf có quai tay hoặc dây đeo vai, và đôi khi có thể có các chân thu ra thu vào được giúp túi gậy đứng thẳng khi để trên mặt đất.
== Cơ chế đánh ==
Một cú swing trong môn golf có vẻ ngoài tương tự với những chuyển động khác như vung rìu hay vung gậy bóng chày; tuy nhiên, kết quả của cú swing phụ thuộc không nhỏ vào một số chuyển động phụ được căn chỉnh chính xác và đúng lúc, đảm bảo rằng gậy hướng di chuyển của gậy tới bóng phù hợp với đường bóng mong muốn, mặt gậy phù hợp với đường swing, và bóng tiếp xúc với điểm chạm "sweet spot" của mặt gậy. Khả năng thực hiện điều này một cách thường xuyên, qua nhiều bộ gậy với đủ loại gậy và mặt gậy, là kỹ năng then chốt đối với bất kỳ tay golf nào.
Các tay golf chuẩn bị cú đánh với phía thân không thuận hướng về mục tiêu (với người thuận tay phải thì mục tiêu ở bên trái). Thân của người chơi và đường trung tâm của mặt gậy ở vị trí song song với đường bóng mong muốn, trong khi bàn chân có thể vuông góc với đường bóng hoặc hơi hướng ra ngoài. Chân thường dạng rộng bằng vai đối với gậy sắt cỡ trung và putter, hẹp hơn vai với gậy sắt ngắn và rộng hơn vai đối với gậy sắt dài và gậy gỗ. Bóng thường được đặt chếch về "phía trước" (gần chân trước) đối với gậy có độ loft thấp. Ngược lại bóng được đặt về "phía sau" khi độ loft tăng. Hầu hết các cú swing bằng iron và putt thì bóng ở chính giữa thế đứng, trong khi đó một vài cú đánh với gậy iron có độ dài nhỏ hoặc trung bình thì bóng hơi lệch tâm về phía sau để đảm bảo sự tiếp xúc ổn định giữa bóng và mặt gậy.
Người chơi lựa chọn gậy, cán gậy, và cú đánh phù hợp với khoảng cách tới lỗ:
Cú "drive" hay "full swing" được dùng tại khu phát bóng và fairway, thường bằng gậy gỗ hoặc gậy sắt dài, để đạt được khoảng cách tối đa có thể. Thân gậy ở tư thế kết thúc song song với mặt đất và quá vai.
Cú "tiếp cận" hay "3/4 swing" được sử dụng đối với khoảng cách trên trung bình đòi hỏi độ chính xác hơn là khoảng cách, ví dụ như để đưa bóng vào green hoặc vượt qua chướng ngại vật. Vị trí kết thúc "backswing" (động tác chuẩn bị đánh) của cú đánh này thường là gậy chỉ lên trời hoặc hơi chỉ về phía người chơi.
Cú "chip" hay "half-swing" dành cho khoảng cách ngắn gần green, dùng gậy sắt có độ loft cao hoặc gậy wedge. Mục đích của cú chip là đưa bóng vào green một cách an toàn và lăn về phía lỗ. Cú đánh này cũng dùng để đưa bóng từ các vị trí bất lợi tới các vị trí thuận lợi hơn. Độ cao của đầu gậy ở backswing nằm ở khoảng từ hông tới đầu.
Cú "putt" được sử dụng cho các cú đánh bóng ngắn trên hay gần green, thực hiện bằng gậy "putter". Backswing và tư thế kết thúc của cú putt gọn hơn rất nhiều so với các cú đánh khác, trong đó đầu gậy hiếm khi giơ cao quá đầu gối. Putt thường chỉ có mục đích là đưa bóng vào lỗ, mặc dù cú putt ở khoảng cách xa chỉ nhằm rút ngắn khoảng cách giữa bóng và lỗ, đồng thời tạo lợi thế cho cú đánh quyết định.
Sau khi chọn gậy và cú đánh phù hợp, người chơi sẽ vào bóng bằng cách tạo tư thế đứng về phía bên cạnh quả bóng và đưa gậy ra sau quả bóng. Người chơi liền thực hiện động tác backswing, đưa cây gậy, cánh tay và phần thân trên của cơ thể ra xa quả bóng, rồi bắt đầu cú vung gậy, đưa đầu gậy xuống trở lại và đánh bóng. Một cú swing thông thường là sự tổng hợp các chuyển động phức tạp, và một chút thay đổi nhỏ về tư thế và cách hay chọn vị trí cũng có thể tạo ra những hiệu quả đánh bóng hoàn toàn khác nhau. Mục tiêu chung của mỗi người khi thực hiện một quả full swing là làm sao để đầu gậy di chuyển nhanh nhất có thể nhưng vẫn duy trì đường chuyển động của cả gậy và đầu gậy.
Sự chính xác và ổn định vẫn được coi trọng hơn khoảng cách đạt được. Một người có cú drive thẳng chỉ bay xa 220 thước Anh (200 m) sẽ vẫn có thể đưa bóng vào một vị trí thích hợp trên fairway. Tuy nhiên người có cú drive đi xa tới 280 thước Anh (260 m) nhưng không bay thẳng sẽ khó lòng đưa bóng tới vị trí thuận lợi; đường bóng đó có thể bị "hook", "pull", "draw", "fade", "push" hoặc "slice" so với đường đi dự tính, khiến bóng bị bay ra ngoài bound hoặc rơi vào rough hoặc chướng ngại vật, và người chơi phải mất thêm nhiều lần đánh.
=== Các kiểu putt ===
Putt được coi là một trong những yếu tố quan trọng của golf. Có nhiều kỹ thuật putt và cách cầm gậy được phát triển nhằm giúp người chơi thực hiện putt thành công. Thời kỳ đầu, các tay golf putt với tay thuận ở phần dưới cán gậy và tay không thuận ở trên. Các cầm gậy và putt này được gọi là cách "thông thường". Có nhiều biến thể của cách thông thường như overlap (golfer sẽ lấy ngón trỏ tay không thuận đè lên ngòn út của tay thuận), interlock (ngón trỏ tay không thuận khớp với ngón út và áp út của tay kia), double hoặc triple overlap. Gần đây kiểu putt "cross handed" (tréo tay) trở nên phổ biến. Cross handed tức là tay thuận ở phần trên của cán còn tay không thuận ở dưới. Cách cầm gậy này hạn chế chuyển động ở bàn tay thuận và loại bỏ khả năng wrist breakdown trong quá trình putt.
Các kiểu putt phổ biến khác còn có "the claw", trong đó cán gậy ở giữa của ngón cái và ngón trỏ của tay thuận trong khi lòng bàn tay hướng về mục tiêu, tay không thuận đặt như bình thường vào cán gậy.
== Cách tính điểm và handicap ==
=== Par ===
Một hố golf được phân loại theo par hay số gậy chuẩn mà một tay golf giỏi cần đạt được để hoàn thành một hố. Par tối thiểu của một hố là 3 bởi par luôn gồm ít nhất một cú tee và hai cú putt. Các par 4 và 5 là các par phổ biến trên sân; một vài sân thậm chí có thể có các hố par 6 hay par 7. Ngoài tee và putt, các cú đánh khác thường (nên) được thực hiện tại fairway; ví dụ, một tay golf giỏi thường muốn vào green tại một lỗ có par là 4 trong hai gậy — một từ cú tee (hay drive) và một cú thứ hai vào green (cú "tiếp cận") — và sau đó đưa bóng lăn vào hố trong hai putt để đạt par. Khi bóng vừa vào green mà người chơi vẫn còn tối thiểu hai putt để đạt par thì có nghĩa người đó đã thực hiện "green in regulation" hay GIR thành công. Việc để lỡ GIR không có nghĩa là người chơi golf không giành par, nhưng sẽ khó thành công hơn; ngược lại, đạt được GIR không bảo đạm bạn có par, bởi đôi khi bạn phải mất ba putt để kết thúc lỗ. Các tay golf chuyên nghiệp thường có tỉ lệ GIR là 60% tới 70%.
Nhân tố chính để phân loại par cho một hố tương đối thẳng tắp và không có chướng ngại vật là khoảng cách từ tee tới green. Một hố par 3 thường ngắn hơn 225 m, par 4 là từ 225–434 m, par 5 là trên 435 m. Par 6 ít gặp có thể lên tới 590 m. Các khoảng cách này dựa trên tầm xa của cú drive trong khoảng 220 và 260 m của một tay golf thông thường. Tuy nhiên cũng cần phải xem xét tới các yếu tố khác. Độ dốc của mặt đất từ tee tới lỗ cũng gia tăng hoặc giảm thiểu quãng đường lăn của bóng. Những khúc ngoặt hay chướng ngại vật cũng buộc các tay golf phải "lay up" tại fairway để chuyển hướng hoặc đánh bóng qua chướng ngại vật ở cú đánh tiếp theo. Những yếu tố về mặt thiết kế này sẽ ảnh hưởng tới cách một tay golf thi đấu, bất kể khoảng cách từ tee tới green là ít hay nhiều, và do đó cũng cần được tính để đặt par cho hố. Tuy nhiên, điểm par không bao gồm việc có thể có gậy phạt, vì một người chơi thông thường không muốn đưa bóng vào bẫy nước hay các tình huống bóng không hợp lệ.
Các sân mười tám lỗ thường có điểm par tổng là 72 cho một vòng chơi, tức par trung bình của một lỗ là 4; thường một sân được thiết kế với số lỗ par 5 và par 3 bằng nhau, còn lại là par 4. Nhiều sân có tổng par là 68 cho tới 76, nhưng không có nghĩa sân đó kém giá trị hơn sân có par-72. Ở một số quốc gia, các sân thường được phân loại theo độ khó, và độ khó này được dùng để tính toán handicap hay điểm chấp của một golfer tại sân đó.
Hai loại điểm đánh giá độ khó tại Hoa Kỳ là Course Rating, hay điểm dành cho một "scratch golfer" (tay golf thông thường) có handicap bằng 0 thi đấu tại sân đó (và có thể sẽ khác so với par của sân), và Slope Rating, dùng để đo mức độ tồi tệ có thể của một "bogey golfer" (với handicap 18) so với một "scratch golfer". Hai loại điểm này áp dụng cho bất kỳ sân golf nào nằm dưới sự quản lý của USGA, và được sử dụng trong một hệ thống tính handicap.
==== Tính điểm ====
Mục đích mỗi vòng là mất càng ít gậy càng tốt. Điểm của người chơi luôn là hiệu số của số gậy trừ đi số điểm par. Một cú hole in one (còn gọi là "ace" hay ăn điểm trực tiếp) xảy ra khi người chơi đưa bóng vào lỗ ngay từ cú đánh ở tee. Số điểm ở mỗi hố thường có một tên gọi riêng biệt.
=== Hệ thống handicap ===
Handicap là phép đo bằng số về khả năng của một tay golf tại một sân golf 18 lỗ. Handicap của một người thường đại diện cho số gậy trên par mà người đó sẽ mắc trong một vòng đấu trung bình tại sân đó. Người chơi càng giỏi thì handicap càng thấp. Một số người có handicap 0 hoặc thấp hơn gọi là scratch golfer, và thông thường sẽ đạt hoặc vượt par của sân trong một vòng chơi (phụ thuộc vào độ khó của sân).
Tính toán handicap thường phức tạp, chủ yếu do không phải sân nào cũng khó như nhau hay không phải trình độ người chơi nào cũng như nhau. Một người có par ở sân A có thể có 4 gậy trên par ở sân B, hoặc một người có 20 gậy trên par ở sân A lại làm tốt hơn với 16 gậy trên par ở sân B. Đối với "scratch golfer", sân B khó hơn, nhưng với "bogey golfer", sân A khó hơn. Nguyên nhân là do các thử thách ở của sân có ảnh hưởng khác nhau đối với mỗi người. Khoảng cách thường là vấn đề với các tay golf "bogey" nghiệp dư vì tốc độ vung gậy của họ chậm nên bóng đi không xa, vì vậy cần nhiều gậy mới tới green. Tuy nhiên các sân thường thiết kế với các chướng ngại vật để giảm bớt lợi thế đánh xa hơn của các tay golf chuyên, buộc họ phải "lay up" để tránh hố cát hoặc bẫy nước, trong khi bogey golfer không bị ảnh hưởng nhiều vì chướng ngại vật nằm ngoài tầm của họ. Các yếu tố địa hình và duy trì fairway có thể ảnh hưởng tới tất cả các golfer ở mọi trình độ; làm hẹp fairway bằng nhiều vật cản hay mở rộng rough ở hai bên thường tăng tỉ lệ đánh bóng vào khu vực bất lợi, từ đó tăng thử thách cho mọi người chơi.
=== Các hình thức chơi golf cơ bản ===
Có hai hình thức chơi golf cơ bản là match play và stroke play. Stroke play là kiểu chơi phổ biến hơn.
==== Match play ====
Trong một trận match play, hai tay golf (hoặc hai đội) tranh tài tại mỗi hố như một cuộc thi đấu riêng rẽ. Bên có điểm số thấp hơn tại lỗ sẽ thắng lỗ đó, còn nếu hai bên có số điểm bằng nhau thì hố đó được "chia đôi" (hay là hòa). Sau khi tất cả các hố được hoàn thành, bên nào có nhiều hố thắng hơn sẽ chiến thắng trận đấu. Trong trường hợp một bên có khoảng cách dẫn điểm không thể bị san bằng hay vượt qua, thì trận đấu sẽ kết thúc luôn mà không cần phải thi đấu các hố còn lại. Ví dụ, nếu một bên đang dẫn sáu hố, và chỉ còn năm hố nữa là hết trận, trận đấu kết thúc và bên đang dẫn được coi là thắng "6 & 5". Ở bát cứ thời điểm nào, nếu số điểm dẫn trước bằng số lỗ còn lại, bên dẫn trước được gọi là "dormie", và trận đấu tiếp diễn cho tới khi bên dẫn trước gia tăng cách biệt thêm một hố hoặc hòa bất kỳ hố nào trong các hố còn lại, hoặc trận đấu kết thúc với tỉ số hòa với bên bị dẫn thắng tất cả các hố còn lại. Khi trận đấu kết thúc với tỉ số hòa, hai bên có thể tiếp tục chơi tới khi một bên thắng.
==== Stroke play ====
Điểm số đạt được ở mỗi hố tại một vòng hoặc cả giải đấu được tính vào tổng điểm, và người chơi có tổng điểm thấ nhất sẽ thắng stroke play. Stroke play là kiểu chơi phổ biến nhất. Tại các giải chuyên nghiệp, nếu có tỉ số hòa ở vị trí dẫn đầu sau tất cả các hố, tất cả các tay golf bằng điểm sẽ thi đấu một trận playoff. Playoff có thể theo thể thức sudden death hoặc diễn ra trong một số lượng hố được ban tổ chức đề ra trước (từ 3 tới 18). Trong sudden death, người chơi có số điểm thấp nhất tại hố so với tất cả các đối thủ sẽ thắng. Trong thể thức playoff với số lỗ cho trước, nếu có ít nhất hai người bằng điểm nhau sau khi tất cả các hố kết thúc thì những người bằng điểm sẽ bước vào sudden death, trong đó người nào thắng một hố sẽ vô địch giải đấu.
=== Các hình thức phổ biến khác ===
==== Lối chơi đồng đội ====
Foursome: theo Luật 29, foursome diễn ra giữa hai đội hai người, mỗi đội chỉ có một quả bóng và người chơi của mỗi đội thay phiên thực hiện cú đánh của đội mình. Ví dụ, nếu "A" và "B" cùng một đội, "A" tee ở hố thứ nhất, "B" sẽ đánh cú thứ hai, "A" thực hiện cú thứ ba, và cứ thế tới khi bóng vào lỗ. Ở hố thứ hai, "B" sẽ phát bóng (bất kể ai là người putt cuối cùng ở lỗ 1), "A" đánh cú thứ hai, và cứ thế tới hết lỗ. Foursome có thể đánh theo kiểu match play hoặc stroke play.
Fourball: theo Luật 30 và 31, fourball cũng diễn ra giữa hai đội hai người, nhưng mỗi người có một quả bóng riêng và khi so sánh kết quả hai bên thì sẽ tính kết quả của người có điểm số thấp hơn của mỗi đội. Fourball cũng có thể đánh theo kiểu match play hoặc stroke play.
== Golf chuyên nghiệp ==
Đa phần các tay golf chuyên nghiệp đóng vai trò quản lý câu lạc bộ hay dạy golf, và chỉ thi đấu ở một số giải địa phương. Một nhóm nhỏ các tay golf ưu tú thi đấu tại các tour quốc tế. Các tay golf tham gia quản lý và hướng dẫn golf bắt đầu sự nghiệp trong ngành công nghiệp golf trong vai trò caddy, và với một chút quan tâm, họ tìm việc tại các sân golf và cuối cùng lấy bằng chứng nhận nghề nghiệp. Các tay golf đi thi đấu giải thường bắt đầu trong vai trò vận động viên nghiệp dư, đạt vị thế "chuyên nghiệp" sau những thành công ở các giải lớn, nơi mang về cho họ tiền thưởng và tài trợ. Ví dụ Jack Nicklaus được chú ý nhờ đứng thứ nhì tại U.S. Open 1960 sau nhà vô địch Arnold Palmer, với điểm sau 72 hố là 282 (điểm số tốt nhất của một tay golf nghiệp dư cho tới nay tại U.S. Open). Ông thi đấu thêm nhiều giải vào năm 1961, vô địch U.S. Amateur Championship 1961, trước khi chính thức trở thành vận động viên chuyên nghiệp năm 1962.
=== Các tour đấu ===
Có ít nhất khoảng 20 tour đấu golf chuyên nghiệp, có thể của PGA hay một nhà tổ chức tour độc lập, chịu trách nhiệm lên lịch các giải đấu, tìm kiếm tài trợ, và đặt ra luật lệ của tour. Tour cho phép các thành viên thi đấu hầu hết các giải, đôi khi cũng mời các tay golf không thuộc tour đấu tham dự một số giải. Việc trở thành thành viên của các tour lớn không hề dễ dàng.
Tour nổi tiếng nhất hiện nay là PGA Tour bên cạnh các giải Major và bốn giải World Golf Championships. Các giải của PGA Tour có số tiền thưởng cho người vô địch là ít nhất 800.000 USD. European Tour, chủ yếu thu hút các tay golf ngoài Bắc Mỹ, xếp thứ hai sau PGA Tour về mức độ uy tín trên thế giới. Một số vận động viên không thuộc Bắc Mỹ thường cố gắng thi đấu đủ số giải nhằm duy trì quyền thành viên ở cả PGA Tour và European Tour. Kể từ năm 2010, có ba lần danh hiệu kiếm tiền thưởng tốt nhất của cả hai tour là cùng một người, trong đó Luke Donald làm được điều này năm 2011 còn Rory McIlroy là vào năm 2012 và 2014.
Các tour đấu lớn khác của nam bao gồm Japan Golf Tour, Asian Tour (châu Á ngoài Nhật Bản), PGA Tour of Australasia, và Sunshine Tour (Nam Phi). Các tour Nhật Bản, Australasia, Sunshine, PGA, và European là thành viên sáng lập của Liên đoàn các tour PGA quốc tế (International Federation of PGA Tours), cơ quan thương mại của các tour đấu chính thành lập năm 1996. Asian Tour trở thành thành viên chính thức năm 1999. Canadian Tour trở thành thành viên dự khuyết năm 2000, còn Tour de las Américas (Mỹ Latinh) trở thành thành viên dự khuyết năm 2007. Liên đoàn mở rộng vào năm 2009 với 11 thành viên mới chính thức – Canadian Tour, Tour de las Américas, Hiệp hội golf Trung Quốc, PGA Hàn Quốc, Professional Golf Tour of India, và các tổ chức điều hành sáu tour lớn của nữ. OneAsia Tour, thành lập năm 2009, không phải thành viên nhưng liên doanh với các tour Australasia, Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc. Vào năm 2011, Tour de las Américas được PGA Tour tiếp quản, và tới năm 2012 được nhập vào PGA Tour Latinoamérica mới ra đời. Cũng trong năm 2012 Canadian Tour đổi tên thành PGA Tour Canada sau khi được PGA Tour tiếp quản. Tất cả các tour thành viên của Liên đoàn (trừ Ấn Độ) và OneAsia Tour đóng góp điểm cho các tay golf để họ đua tranh thứ hạng trên Official World Golf Ranking (OWGR).
Golf cũng có các giải đấu hấp dẫn đối với các vận động viên cao tuổi. Có một số tour cho nam giới từ 50 tuổi trở lên, tiêu biểu là PGA Tour Champions.
Có sáu tour chính của nữ phân theo vùng địa lý. Tour lớn và uy tín nhất là LPGA Tour của Hoa Kỳ. Tất cả các tour lớn này đều đóng góp điểm cho các tay golf để họ đua tranh thứ hạng trên Women's World Golf Rankings.
=== Các giải major của nam ===
Các giải major của nam là bốn giải đấu cao quý nhất trong năm. Theo thứ tự thời gian trong một năm, các giải này bao gồm: The Masters, U.S. Open, The Open Championship (hay British Open) và PGA Championship.
Các giải này dành cho khoảng vài chục tay golf hàng đầu thế giới tranh tài. The Masters diễn ra tại Augusta National Golf Club ở Augusta, Georgia, lần đầu năm 1934. Đây là giải major duy nhất được tổ chức tại duy nhất một sân từ trước tới nay. U.S. Open và PGA Championship diễn ra tại các sân thuộc Hoa Kỳ, còn Open Championship diễn ra tại các sân thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh.
Trước khi PGA Championship và The Masters xuất hiện, bốn giải major là U.S. Open, U.S. Amateur, Open Championship và British Amateur.
=== Các giải major của nữ ===
Golf nữ không có một hệ thống giải major áp dụng cho toàn thế giới. Danh sách các giải major được LPGA của Hoa Kỳ công nhận đã nhiều lần thay đổi, gần đây nhất là vào năm 2001 và 2013. Có năm giải major dành cho nữ hiện nay được LPGA công nhận: ANA Inspiration, Women's PGA Championship (tên trước đây là LPGA Championship), U.S. Women's Open, Women's British Open (thay thế cho du Maurier Classic vào năm 2001) và The Evian Championship (gia nhập danh sách giải major vào năm 2013). Ladies European Tour chỉ công nhận Women's British Open và The Evian Championship là major. LPGA of Japan Tour không công nhận bất cứ giải nào trong số các giải trên mà có một hệ thống bốn giải major riêng.
== Các sự kiện cấp quốc tế ==
Golf tại Đại hội Thể thao châu Á
Golf tại Đại hội Thể thao Liên châu Mỹ
Golf tại Thế vận hội Mùa hè
Ryder Cup
Presidents Cup
Solheim Cup
International Crown
Seve Trophy
EurAsia Cup
Walker Cup
Curtis Cup
== Xem thêm ==
Danh sách thuật ngữ golf
Golf tại Thế vận hội Mùa hè 2016
Professional Golfers' Association of America
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
The R&A, St Andrews
USGA: United States Golf Association
Golf Australia
International Golf Federation (IGF) |
vườn quốc gia everglades.txt | Vườn quốc gia Everglades bảo vệ phần phía nam của Everglades (nam Tamiami Trail), nhưng chỉ chiếm 20% diện tích gốc của vùng đất ngập nước. Diện tích của vườn quốc gia là 6.105 km² và là một di sản thế giới. Đường cao tốc duy nhất chạy phần chính của vườn là State Road 9336 và các nhánh vào vườn quốc gia này, chạy dài 61 km từ thành phố Florida đến bờ biển Flamingo. Không kể trung tâm du khách và một vài cơ sở nhỏ hơn của khu vườn, không có khu phát triển trong vườn quốc gia này. 2.246 km² này được công nhận là Marjory Stoneman Douglas Wilderness.
Khu vực này được công nhận là vườn quốc gia Hoa Kỳ ngày 30 tháng 5 năm 1934 nhưng mãi đến ngày 6 tháng 12 năm 1957 mới hoàn toàn được thành lập. Vườn quốc gia được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới ngày 26 tháng 10 năm 1976. Ngày 10 tháng 11 năm 1978, phần lớn vườn quốc gia này được công bố là khu hoang dã. Khu hoang dã có diện tích 5.247 km² vào năm 2003 — khoảng 86% diện tích vườn quốc gia. UNESCO đã công nhận đây là di sản thế giới ngày 24 tháng 10 năm 1979 và một vùng đất ẩm ướt có tầm quan trọng quốc tế ngày 4 tháng 6 năm 1987. Tuy nhiên, phải đến năm 1993 thì vườn quốc gia này mới được đưa vào Danh sách các di sản thế giới có đang bị nguy cấp.
== Tham khảo == |
ấn độ giáo.txt | Ấn Độ giáo hay còn gọi gọn là Ấn giáo hay Hindu giáo là tên chỉ những nhánh tôn giáo chính có tương quan với nhau và hiện còn tồn tại ở Ấn Độ. Khoảng 80% người Ấn Độ tự xem mình là người theo Ấn Độ giáo và người ta cho rằng, có khoảng 30 triệu người theo Ấn Độ giáo sống tại hải ngoại.
== Từ nguyên ==
Kể từ thế kỉ 16 các nhà truyền giáo và du khách phương Tây thường nhắc đến tôn giáo và phong tục tại Ấn Độ và thường gọi những người bản xứ này là "ngoại đạo" (en. pagan, de. Heiden) nếu họ không tự nhận là theo một trong tôn giáo lớn (Ki-tô giáo, Do Thái giáo hoặc Hồi giáo). Họ được gọi theo tiếng Latin là gentiles, tiếng Bồ Đào Nha là gentio và từ đó ra tiếng Anh là gentoo và tiếng Hà Lan/tiếng Đức là Heyden (Heiden). Đến thế kỉ 18 thì từ "Hindoo" (tiếng Ba Tư Hindu) bắt đầu được dùng và cuối cùng, trong thế kỉ 19, danh từ "Hinduism" trở nên rất thông dụng. Như vậy thì từ "Hinduism" - được dịch là Ấn Độ giáo ở đây - không phải là một danh hiệu tự xưng của một tôn giáo Ấn Độ. Nhưng tên này lại ảnh hưởng đến quan điểm tự nhận của phong trào Tân Ấn Độ giáo (Neo-Hinduism) trong thế kỉ 19 và thế kỉ 20 vì nó gợi ý một sự thống nhất tôn giáo trong cuộc chiến giành độc lập Ấn Độ, và được dùng để phản ứng các khuynh hướng phân chia ngày nay.
Tuy vậy, từ Hinduism có thể gây hiểu lầm. Khi người ta bắt đầu dùng nó thì đã dựa trên hai điều kiện tiên quyết không đúng. Thứ nhất là người ta tin là từ phái sinh từ gốc Ba Tư Hindoo (Hindu) chỉ tín đồ của một tôn giáo nhất định. Thứ hai là người ta cho tất cả những người Ấn đều là tín đồ của tôn giáo này nếu họ không theo các tôn giáo lớn còn lại, ví như Hồi giáo, Công giáo, Do Thái giáo, Phật giáo, Kì-na giáo. Cả hai điều kiện tiên quyết bên trên đều bị nhìn nhận sai. Danh từ Ba Tư "Hindu" chỉ có nghĩa tương đương với từ có gốc Hy Lạp là "Indian", và cả hai đều có gốc từ tên con sông lớn Ấn Độ (tiếng Phạn: sindhu, tiếng Ba Tư: hindu, tiếng Hy Lạp: Indós), đã mang đến đất nước nó chảy qua tên này: Hindus là những người xuất xứ từ nước Ấn Độ (india). Ngay khi người Hồi giáo nói tiếng Ba Tư đến xâm chiếm, phân biệt giữa tín đồ Hồi giáo và Hindus thì sự việc này cũng không có nghĩa là tất cả những người Hindu đều là tín đồ của một tôn giáo.
Ngày nay, người ta biết được hàng loạt tôn giáo của người Ấn Độ và các thông tin nghiên cứu ngày càng phong phú. Thế nên, từ "Hinduism", "Ấn Độ giáo", không thể mang nghĩa là một tôn giáo nhất định của người Ấn mà chỉ là cách gọi mang ý nghĩa bao quát, chỉ một nhóm tôn giáo có sự tương quan với nhau, nhưng khác biệt nhau, xuất phát từ Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh). Các tôn giáo này dù có quan hệ với nhau nhưng cũng khác nhau như sự khác biệt giữa Do Thái, Phật, Thiên chúa và Hồi giáo. Chúng có những khái niệm thượng đế khác nhau, có những pho thánh điển khác nhau cũng như những phương pháp tu tập, hình thức thực hiện nghi lễ khác nhau. Chúng có những hệ thần học khác nhau, lập cơ sở trên những nhà thần học, những bậc đạo sư khác nhau, và tôn xưng các thần thể khác nhau như vị Thần tối cao.
Một cách gọi thường gặp nhưng không chính thức và cũng không chính xác của tín đồ Ấn giáo là Sanātana-dharma (सनातनधर्म), nghĩa là "Pháp trường tồn". Các tên khác như vaidikadharma (Ấn giáo Phệ-đà) hoặc brāhmaṇa, brāhmaṇya (Bà-la-môn giáo) chỉ nêu được những nhánh của Ấn Độ giáo mà thôi.
== Những chi phái Ấn Độ giáo quan trọng nhất ==
=== Ấn giáo thời Văn minh lưu vực sông Ấn Độ ===
Tôn giáo thời Văn minh lưu vực sông Ấn Độ (Indus Valley Culture, hưng thịnh khoảng 2300-1750 TCN) chỉ có thể được dựng lại một cách khiếm khuyết từ các công trình khảo cổ. Nhìn chung thì các cách diễn giảng những di tích này đều nhất trí ở điểm là những thành phần của nền văn hoá Indus vẫn tiếp tục tồn tại và có phần được hấp thụ bởi những tôn giáo cổ điển khác của Ấn Độ. Các hình tượng trên những con ấn bằng đá steatite (talc) ở những nơi như Mohenjodaro, Harappa và những khu định cư khác cho thấy những vị thần cây, được các nhà nghiên cứu xem là tiền thân của các loài La-sát (zh. 羅剎, sa. rākṣasa) và La-sát nữ (zh. 羅剎女, sa. rākṣasi) sau này.
Một hình Thần thể (zh. 神體, sa. devatā) trong tư thế ngồi của một hành giả Du-già cho thấy là có thể nguồn gốc của Du-già bắt đầu từ thời văn minh Indus. Người ta cũng tìm thấy một Thần thể ngồi giữa đám thú, được xem là Thú chủ (zh. 獸主, sa. paśupati), "chúa tể loài cầm thú" và - có thể là sai - tiền thân của thần Thấp-bà (sa. śiva). Hình tượng được xem là dương vật dựng đứng (sa. liṅga, en. phallus) của Thấp-bà có lẽ chỉ là một sợi thắt lưng lõng và vì những thần thể này mang trang vật trên cánh tay nên các nhà khảo cổ chưa xác định được đây là hình tượng nam hay nữ. Tắm rửa theo nghi lễ giữ một vai trò quan trọng vì có nhiều dấu tích của những nhà tắm trang trọng được xây rất công phu (có thể được hấp thụ bởi các nhánh tôn giáo Ấn Độ sau này dưới dạng cái ao ở đền thờ). Tuy nhiên, người ta không tìm thấy dấu tích của một ngôi đền thờ nào. Việc diễn giảng những vòng đá như dương vật Thấp-bà và âm hộ (nền của các vòng đá) và các tượng phụ nữ bằng đất nung như các vị Thiên mẫu vẫn là những phỏng đoán.
=== Ấn giáo vệ-đà ===
==== Nguồn gốc và thánh điển ====
Với tư cách là tôn giáo cổ nhất Ấn Độ với thánh điển còn lưu lại, Ấn giáo Phệ-đà (vedic religion) giữ một vai trò đặc biệt trong việc nghiên cứu tôn giáo sử của Ấn Độ. Tôn giáo này có nhiều điểm rất giống tôn giáo Cổ Iran và qua tên của các vị thần, người ta có thể thấy được mối quan hệ với tôn giáo La Mã, Hy Lạp và Điều Đốn (en. teuton, người Đức thời xưa). Trong một văn bản hợp đồng của Mitanni (một đế quốc Ấn-Ba Tư miền bắc khu vực Lưỡng Hà), người ta tìm thấy tên của các vị thần Phệ-đà như Mật-đa-la (密多羅, sa. mitra), Phạt-lâu-na (zh. 伐樓那, sa. varuṇa), Nhân-đà-la (zh. 因陀羅, sa. indra) và các Mã Đồng (zh. 馬童, sa. aśvin). Tín đồ Phệ-đà giáo là những bộ tộc bán du mục, du nhập Ấn Độ từ miền Tây và Tây bắc trong khoảng thời gian 1700-1200 trước CN qua nhiều đợt. Họ tự gọi là Nhã-lợi-an (zh. 雅利安, sa. ārya, de. arier, en. aryan). Tôn giáo của họ thuộc hệ đa thần với cơ sở nghi lễ tôn giáo là việc cúng tế thần linh. Người thực hiện cầu đảo thần linh bằng một bài tán tụng. Đàn tế lễ được lập một cách nghiêm trang với ba loại lửa, việc tế lễ được thực hiện bởi nhiều tế sư khác nhau cùng với các bài kệ tụng (sa. ṛc), ca vịnh (sa. sāman), câu tế đảo (sa. yajus), và các chân ngôn (sa. mantra). Vật tế lễ là Tô-ma (zh. 蘇摩, sa. soma), thú vật, bơ lỏng, ngũ cốc và thực phẩm đã được nấu chín. Tổ tiên (sa. pitṛ) cũng được cúng tế.
Bốn bộ Phệ-đà (Tứ Phệ-đà 四吠陀) là những tác phẩm tôn giáo và thi ca sớm nhất của gia đình hệ ngôn ngữ Ấn-Âu. Trong bốn bộ này, Lê-câu-phệ-đà (zh. 棃俱吠陀, sa. ṛgveda) giữ một vai trò đặc biệt, bao gồm mười mạn-đà-la (sa. maṇḍala) với 1028 bài tán tụng (vì vậy cũng được dịch nghĩa là Tán tụng minh luận 讚誦明論). Lê-câu-phệ-đà được xem là nguồn văn bản cổ nhất ghi lại các khái niệm thượng đế và thần thoại của những người Nhã-lợi-an Phệ-đà. Công trình biên tập Lê-câu-phệ-đà có lẽ được kết thúc vào khoảng 1000 TCN. Bốn bộ Phệ-đà cùng với các bộ Phạm thư (zh. 梵書, sa. brāhmaṇa, có nội dung chỉ rõ nghi thức tụng niệm, làm lễ), Sâm lâm thư (zh. 森林書, sa. āraṇyaka, có nội dung phỏng đoán về những vấn đề siêu hình), cũng như Áo nghĩa thư (zh. 奧義書, sa. upaniṣad) được xem là những văn bản Thiên khải (zh. 天啓, sa. śruti), tức là được "trời khai mở cho thấy". Chúng đã gây ảnh hưởng rất lớn đến các nhánh tôn giáo sau này tại Ấn Độ. Người Ấn Độ thời Phệ-đà cầu mong các thần thánh ban cho nhiều con, sức khoẻ, phồn vinh, thắng kẻ thù, một cuộc sống trăm năm cũng như sự thứ lỗi cho những lần vi phạm quy luật vũ trụ hoặc "chân lý" (sa. ṛta), và sau khi chết được lên thiên đường (sa. svarga), trú xứ của Đế Thích (sa. indra, Nhân-đà-la) và chư thiên khác. Trách nhiệm của những người sùng tín là: 1. nghiên cứu kinh điển, giữ đúng lễ nghi tế tự, 2. tế tự chư thiên và tổ tiên và 3. nuôi dưỡng con trai để có thể giữ truyền thống cúng tế lâu dài.
==== "Bà-la-môn giáo" và những bước phát triển mới ====
Sự phát triển của tôn giáo Phệ-đà theo hướng nhấn mạnh sự thanh tịnh trong khi thực hiện tế lễ thần thánh đã mang lại một sự chuyên hoá trong giới Bà-la-môn trong thời đoạn 1000-500 TCN. Nó cũng đồng thời loại những người ở cấp dưới, phần lớn là không thuộc nhóm Nhã-lợi-an, thuộc cấp nô lệ (zh. 奴隸, sa. śūdra, cũng gọi là Thủ-đà-la 首陀羅), ra khỏi việc thực hành tế lễ cũng như nghiên cứu Phệ-đà. Trong tay của các Bà-la-môn, bộ môn tế lễ đã trở thành một khoa học xử lý mối tương quan giữa năng lực hữu hiệu trong quá trình tế lễ và quy luật vũ trụ. Những mối tương quan giữa đại vũ trụ và vi quan vũ trụ, giữa chân ngôn với năng lực đi kèm và đối tượng được chân ngôn chỉ đến cũng như giữa hành vi tế lễ và sự việc xảy ra trong tương lai, tất cả đã dẫn đến một quan niệm bao gồm thế gian và sự tế lễ mà trong đó, người ta không cần thần thánh nữa. Thời đoạn này của Phệ-đà giáo cũng được gọi là Bà-la-môn giáo.
Trong thời gian này, người ta tìm thấy những gì ban đầu chỉ được nhắc đến sơ qua trong Phạm thư, và không lâu sau đó được các Áo nghĩa thư trình bày rõ ràng: Khái niệm tái sinh và quy luật nhân quả (nghiệp, sa. karman). Giáo lý mới này cho rằng, những hành động tốt cũng như xấu trong đời này sẽ mang kết quả trong đời sau và như thế, nó cũng khiến người ta rút lui dần từ mục đích nguyên thuỷ của Phệ-đà giáo: Một cuộc sống trên thiên đường giờ đây không còn là sự việc cứu cánh vì nơi đó vẫn chịu quy luật tái sinh tái tử cũng như nghiệp quả. Như vậy thì chỗ giải thoát không thể có được nơi chư thiên và cũng không thể đạt được qua việc cúng tế.
Giải thoát chỉ có thể được thực hiện qua trí huệ và mục đích của nhận thức này là trạng thái bất tử (sa. amṛtatva), cơ sở của tất cả những hiện hữu: brahman (Phạm 梵), hoàn toàn tương đồng với ātman, cái tiểu ngã. Với khái niệm này, tôn giáo Phệ-đà đã vượt qua cái bóng của chính nó. Ý nghĩa của sự cúng tế được nghi vấn lại và con đường được mở rộng cho những phong trào tôn giáo cải cách mới như Phật giáo, Kì-na giáo, cũng như những nhánh vô thần khác (ví như Số luận phái, xem thêm Triết học Ấn giáo), hệ Bất nhị nhất nguyên (sa. advaitavedānta) và những tôn giáo thờ Nhất thần. Một vài phong trào nêu trên phản đối độc quyền thực hiện nghi lễ của Bà-la-môn và phản đối chế độ chủng tính (sa. varṇa) nói chung.
Tôn giáo Phệ-đà mất vị trí hàng đầu ở Bắc Ấn trong những thế kỉ cuối trước CN, tại Nam Ấn thế kỉ thứ nhất. Nó vẫn tồn tại, nhưng chỉ trong một phạm vi hạn chế và gây ảnh hưởng nhất định trong lĩnh vực triết học dưới dạng Di-mạn-sai (zh. 彌曼差學派, sa. mīmāṃsā). Sau sự phát hiện Phệ-đà của các nhà nghiên cứu châu Âu và được kích động bởi tâm tư hào hứng truy nguyên của họ, người Ấn Độ cũng đã quay về với giáo lý Phệ-đà với những dấu hiệu rõ rệt trong trào lưu Tân Ấn Độ giáo cải cách sau này.
=== Ấn giáo Tì-thấp-nô ===
Tì-thấp-nô giáo (viṣṇuism, vaiṣṇavism) là một tôn giáo nhất thần với cơ sở xuất phát từ sự đồng hoá vị thần Tì-thấp-nô (sa. viṣṇu) trong tôn giáo Phệ-đà và vị thần siêu việt Na-la-diên-na (zh. 那羅延那, sa. nārāyaṇa), cũng như từ sự hoà nhập của một số lễ nghi phổ biến, đặc biệt là việc tôn xưng Hắc Thần (sa. kṛṣṇa) ở Bắc Ấn Độ giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 2 TCN. Tì-thấp-nô Na-la-diên-na (sa. viṣṇu-nārāyaṇa) được tôn xưng là Bạc-già-phạm (sa. 薄伽梵, sa. bhagavat) - nghĩa là Thế Tôn - và các tín đồ được gọi là Bạc-già-phạm đồ (sa. bhāgavata). Nên lưu ý là cách gọi Tì-thấp-nô giáo hoặc Tín đồ Tì-thấp-nô (sa. vaiṣṇava) chỉ mới xuất hiện ở thế kỉ thứ 5. Trong hình tượng Hắc Thần, người ta thấy được sự hoà hợp của nhiều trào lưu tế lễ thành một đơn vị.
Cùng với Ba-la-la-ma (sa. balarāma = saṃkarṣaṇa) - một Thần thể có những nét âm phủ cũng như tương quan đến phong tục tôn thờ rắn rồng và được xem là người anh - Hắc Thần được tôn thờ như một cặp thần và được xây đền thờ. Hắc Thần cũng được thờ trong nhóm Ngũ Anh Hùng (sa. pañcavīra) gồm chính Hắc Thần, em là Ba-la-la-ma, hai con trai là Tam-ba (sa. sāmba), Đại Hùng Kiệt (sa. pradyumna) và cháu là A-nậu-lâu-đà (sa. aniruddha) trong bộ tộc Vrishni (sa. vṛṣṇi). Sau việc loại Tam-ba ra khỏi nhóm này thì những đại biểu của một trong hai nhóm quan trọng còn lại - các vị thuộc nhóm Ngũ Dạ (sa. pañcarātrin) - trong bốn thiên nhân còn lại những bước phân tán (sa. vyūha) đầu tiên của thần thể tối cao.
Nội bộ những đại biểu của nhóm thứ hai, các tín đồ Bạc-già-phạm, thì Hắc Thần Bà-tu-đề-bà (sa. kṛṣṇavāsudeva = con của Vasudeva) được xem là hiện thân toàn vẹn (sa. pūrṇāvatāra) của thần Tì-thấp-nô Na-la-diên-na (sa. viṣṇu-nārāyaṇa), được tôn xưng là vị thần tối cao. Vào khoảng thế kỉ thứ 6, 7, Tì-thấp-nô giáo lại đạt được một vị trí quan trọng vì đã hấp thụ phần lớn của một trào lưu thờ tự thần mặt trời. Hai trường sử thi Ấn Độ, Rāmāyaṇa, miêu tả cuộc đời của vị anh hùng Rāma, hiện thân của thần Tì-thấp-nô, và Mahābhārata, bao gồm toàn bộ Chí Tôn ca, đã giúp phổ biến Tì-thấp-nô giáo đến những nước Đông Nam Á.
Hai nhóm quan trọng nhất của Tì-thấp-nô giáo là Ngũ Dạ (sa. pañcarātrin) và Bạc-già-phạm (sa. bhāgavata). Nhóm Bạc-già-phạm tuân thủ giáo lý của Bà-la-môn giáo trước đây trong khi nhóm Ngũ Dạ được xem là phi chính thống. Từ thời vương triều Cấp-đa (tk. 5) thì ranh giới giữa hai nhóm này đã mờ dần. Những nhóm quan trọng xuất hiện sau và tồn tại đến ngày nay là nhóm Śrīsaṃpradāya, có nguồn từ giáo lý Chế hạn bất nhị (sa. viśiṣṭādvaita) của La-ma-nã-già (sa. rāmānuja, 1055-1137) và được phân thành nhiều nhánh nhỏ khác nhau; nhóm Brahmasaṃpradāya với học thuyết Nhị nguyên (sa. dvaitavāda) của Madhva (~1238-1317); nhóm Rudrasaṃpradāya theo giáo lý Bất nhị nhất nguyên thuần tuý (sa. śuddhādvaita) của Viṣṇusvāmin với hai nhánh được lập bởi Vallabha và Caitanya; và nhóm Sanakādisaṃpradāya, được Nimbārka sáng lập, theo giáo lý Nhị nguyên kiêm bất nhị (sa. dvaitādvaita). Ngày nay, Tì-thấp-nô giáo được xem là một trong hai trào lưu tôn giáo Ấn Độ quan trọng nhất song song với Thấp-bà giáo.
=== Ấn giáo Thấp-bà ===
Thấp-bà giáo (śivaism) là một tôn giáo phần lớn theo thể hệ nhất thần, nhưng một vài nhánh thiên về mối quan hệ nhị nguyên Thấp-bà (śiva)-Tính lực (śakti) hoặc thừa nhận tính đa nguyên với nhiều linh hồn vĩnh cửu. Tôn giáo này cũng xuất phát từ mối quan hệ với một vị thần đã được nhắc đến trong thánh điển Phệ-đà là Lỗ-đặc-la (zh. 嚕特羅, sa. rudra). Lỗ-đặc-la được miêu tả là hung bạo, nguy hiểm. Ông cai quản lĩnh vực bệnh tật và chữa trị; mũi tên của ông là những điều âu lo của các vị thần khác và những cơn bão tố, hiện thân của thần gió (Phong thần 風神, marut, rudra), được xem là những hiện tượng tuỳ tòng ông. Thấp-bà (śiva), dịch ý là "cát tường", "thiện", là một uyển ngữ được dùng để hoãn hoà vị thần hung tợn này. Ông được gọi là Tự tại chủ (zh. 自在主, sa. īśvara), Đại tự tại chủ (zh. 大自在主, sa. maheśvara).
Theo giáo lý cao nhất thì Thấp-bà dưới dạng tối cao không mang bất cứ một thuộc tính nào (nirguṇa) và đồng nhất với Phạm thiên (sa. brahman) của hệ thống Phệ-đàn-đa (sa. vedānta). Về khía cạnh nhân cách thì Thấp-bà có thuộc tính (saguṇa), bao hàm hai nguyên lý nam cũng như nữ. Nguyên lý nữ được thể hiện qua tính lực (śakti), tức là nhân tố chủ động trong nhận thức, ý muốn, hành động, tự che đậy và ban ân của Thượng đế. Trong thần thoại, nguyên lý nữ được xem là vợ của thần Thấp-bà, dạng hiền hậu tịch tĩnh là Tuyết sơn thần nữ (zh. 雪山神女, sa. pārvatī), dạng phẫn nộ hoặc tàn phá là Đỗ-nhĩ-ca (zh. 杜爾嘉, sa. durgā).
Chính thần Thấp-bà lại xuất hiện trong thần thoại như một Du-già sư hoặc một vị thần hàng phục yêu quái, tàn phá thế giới. Hai hình tượng có liên hệ đến con đường giải thoát của tín đồ Thấp-bà giáo. Con đường xuất phát từ việc tôn xưng thần Thấp-bà, qua thiền quán cho đến sự giải thoát khỏi những trói buộc (sa. pāśa) của tâm linh cá biệt (sa. paśu) mang hình tướng trong thế gian. Sau đó, tâm linh này đạt tâm thức tối thượng của đấng tối cao (sa. pati).
Các trói buộc phát sinh từ sự vướng mắc vào vật chất và qua đó, năng lực tri thức và hoạt động vô biên của tâm thức tối thượng bị những nhân tố như sau hạn chế tối đa: Thời gian (kāla), không gian và quy luật nhân quả (niyati), giới hạn của cảm nhận (rāga), giới hạn của tri thức (vidyā) và khả năng hành động (kalā). Qua sự vây phủ làm u tối tâm thức (tirobhāva) nên dị biệt và đa dạng của các hiện tượng xuất hiện, thay thế cái đơn nhất trong tâm thức tối cao của tất cả những hiện hữu. Diệt trừ cái thiên hình vạn trạng này - và như thế cũng có nghĩa là diệt trừ thế gian qua ân sủng của thần Thấp-bà - được thực hiện bằng sự bộc phát của tri thức giải thoát, phá huỷ tấm màn vô minh, giải phóng linh hồn của tín đồ ra khỏi vòng sinh tử.
Đồ tượng quan trọng nhất của tín đồ Thấp-bà là Liṅga, được xem là biểu tượng của dương vật. Thánh điển bao gồm các bộ A-hàm (āgama) và Đát-đặc-la (tantra). Với thời gian, Thấp-bà giáo hấp thụ một loạt truyền thống sùng bái độc lập khác, trong đó có truyền thống thờ cúng vị thần chiến tranh Skanda (cũng được gọi là Kārttikeya hay Kumāra) và Gaṇeśa (cả hai đều được xem là con của Thấp-bà), sự sùng bái rắn rồng, một phần của truyền thống tôn thờ mặt trời và nhiều thần thể và nghi thức thờ phụng của các địa phương khác.
Có nhiều trường phái khác nhau trong Thấp-bà giáo. Trường phái Tôn thờ Thú chủ (pāśupata) giữ một vị trí quan trọng trong thời gian đầu với phong cách tu tập khổ hạnh, tự tách li ra khỏi xã hội một cách khiêu kích. Từ phái này lại phát triển một số nhánh nhỏ với những quan điểm rất cực đoan, ví dụ như nhánh Kāpālika. Ngược lại, trường phái Tôn thờ Thấp-bà (śaiva) lại theo các phong tục Bà-la-môn giáo rất sớm. Cả hai trường phái đều chú trọng việc luyện tập Du-già và đã góp phần rất nhiều trong việc phát triển phương pháp này. Khống chế du-già (haṭhayoga) hoặc Kuṇḍalinī du-già được nhánh Nātha (nāthasampradāya) tại Đông Bắc Ấn Độ phát triển. Tại Nam Ấn, trào lưu Tín ngưỡng (bhakti) đã dẫn chấn hưng Thấp-bà giáo. Song song với những bộ A-hàm (āgama) và sự tiếp xúc tư tưởng Phệ-đàn-đa (vedānta), những bài tụng niệm sùng tín của nhóm Nāyanār cũng được xem là nguồn gốc của trường phái Thấp-bà tất-đàn-đa (śaivasiddhānta), tự cho là sự hoàn tất tối hậu của Thấp-bà giáo.
Trong thế kỉ 12, một trường phái khác là Vīraśaiva (hoặc Liṅgāyat) xuất hiện, hàm chứa một thành tố cải cách xã hội khá lớn. Dưới ảnh hưởng của học thuyết Bất nhị phệ-đàn-đa (advaita-vedānta), trường phái Thấp-bà Kashmir được thành lập trong thế kỉ thứ 8, nhấn mạnh vào sự hoà hợp tín ngưỡng (bhakti) và Đát-đặc-la thành một giáo lý nhất nguyên. Thấp-bà giáo vẫn gây ảnh hưởng lớn đến xã hội Ấn Độ và song song với Tì-thấp-nô giáo, nó vẫn là nhánh tôn giáo lớn và quan trọng nhất của tín đồ Ấn Độ giáo.
=== Ấn giáo Tính lực ===
Giữ vị trí trung tâm sùng bái của Tính lực giáo (śāktism) là Thiên nữ Tính lực (devī hoặc śakti). Chỉ Thiên nữ này nhận thức và hành động, tạo tác, gìn giữ và tiêu huỷ thế giới, làm toại nguyện, ban ân, giải thoát. Thiên nữ Tính lực (śakti) là sự tổng hợp của tất cả những năng lực, nghĩa là năng lực của tất cả các vị thần, đặc biệt là thần Thấp-bà và Tì-thấp-nô. Về mặt lịch sử thì Tính lực giáo xuất phát từ những trào lưu tôn giáo bộ tộc. Có thuyết cho rằng, Tính lực giáo có thể bắt nguồn từ việc tôn thờ Thiên nữ thời Văn minh lưu vực sông Ấn Độ nhưng thuyết này vẫn chưa được chứng minh một cách thuyết phục.
Từ những thế kỉ đầu CN, Tính lực giáo được hoà nhập vào Thấp-bà giáo, và khoảng từ thế kỉ thứ sáu lại đạt vị trí quan trọng qua sự hỗ trợ của truyền thống Bà-la-môn, sau lại được chủng tính Sát-đế-lợi (kṣatriya, chủng tính vua chúa và quân đội) tôn sùng vì được xem là nữ thần chiến tranh. Nhưng chỉ từ thế kỉ thứ 10, Thiên nữ Tính lực mới vượt hẳn các vị thần nam tính khác, đặc biệt là Thấp-bà, và kể từ đây, mối quan hệ nam nữ được đảo ngược: Không có Thiên nữ Tính lực thì các vị thần khác không còn khả năng nhận thức và hoạt động. Với thời gian, Tính lực giáo đã hấp thụ nhiều truyền thống tôn sùng các nữ thần địa phương, hoà nhập họ vào truyền thống thờ phụng Thiên nữ Đỗ-nhĩ-ca hoặc Ka-li (durgā/kālī) và qua đó, đã góp phần rất lớn trong việc Ấn giáo hoá các trào lưu tín ngưỡng bộ tộc.
Hiện nay, Tính lực giáo vẫn còn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tôn giáo tại Ấn Độ. Song song với các bộ Đát-đặc-la (tantra) có cùng với Thấp-bà giáo, Tính lực giáo còn có những bộ thánh điển riêng, xuất hiện kể từ thế kỉ thứ 10. Việc sùng bái Thiên nữ Tính lực bao gồm việc cúng tế súc vật (cá, gà trống, dê, bò), thậm chí cả người cho đến thời đế quốc Anh. Công phu tu luyện bao gồm các nghi lễ Đát-đặc-la với chân ngôn (mantra) và những biểu tượng bí mật, thỉnh thoảng bao gồm sự giao hợp theo nghi thức Mật giáo.
=== Ấn giáo Bất nhị Phệ-đàn-đa nhất nguyên ===
Giáo lý Bất nhị Phệ-đàn-đa nhất nguyên (monistic advaitavedānta) cũng tự phát triển thành một giáo phái riêng biệt. Đại biểu xuất sắc nhất của tông phái này là Thương-yết-la (śaṅkara), theo truyền thuyết thì sống vào khoảng 788-820 (theo các nhà nghiên cứu hiện đại thì phải trước đó khoảng 100 năm). Ba điểm khởi phát (prasthānatrayī) của Thương-yết-la là Áo nghĩa thư (sa. upaniṣad), Chí Tôn ca (bhagavadgītā) và các bộ Phạm kinh (brahmasūtra). Trên cơ sở này, Thương-yết-la đã kiến lập một thế giới quan và một giáo lý giải thoát đi xa những quan điểm của Phệ-đà giáo trước đây: Thế giới, cùng với các vị thần, là sản phẩm của huyễn ảnh (māyā), là huyễn tượng. Chỉ Phạm thiên (brahman) mới sở hữu hiện thực tối cao và Phạm thiên lại đồng nhất với tiểu ngã (ātman).
Từ việc hoá đồng Phạm thiên và tiểu ngã, Thương-yết-la kết luận là không có những linh hồn cá biệt. Tất cả những đa dạng đều là hư huyễn, chỉ có giá trị tạm thời, chỉ là những hiện thực tương đối. Sự đa dạng biến mất khi trí huệ cứu cánh dẫn dắt tâm thức cá nhân hoà nhập với Phạm thiên và như vậy có nghĩa là dẫn đến giải thoát. Bất nhị Phệ-đàn-đa đã gây ảnh hưởng lớn đến Thấp-bà giáo, đã đóng dấu ấn của nó trong Thấp-bà giáo nhánh Kashmir. Bất nhị Phệ-đàn-đa được Tì-thấp-nô giáo cải biến rất nhiều, ví dụ như trong giáo lý Chế hạn bất nhị (sa. viśiṣṭādvaita) của La-ma-nã-già (sa. rāmānuja). Nhưng điểm nổi bật của giáo lý Bất nhị Phệ-đàn-đa này là việc nó ảnh hưởng rất lớn đến trào lưu Tân Ấn Độ giáo sau này.
=== Tân Ấn Độ giáo ===
Tân Ấn Độ giáo (neo-hinduism) khởi đầu như một phong trào cải cách, đã góp phần rất lớn trong phong trào đấu tranh giành độc lập tự do của Ấn Độ trong thế kỉ 19, 20 và đặc biệt được phổ biến trong giới thượng lưu thành thị. Tuy nhiên, Tân Ấn giáo sớm đã cho thấy khuynh hướng tập hợp rất mạnh, tìm cách dung hợp các truyền thống tôn giáo Ấn Độ và tiếp nối chúng với những khái niệm và lý tưởng có nguồn từ Cơ Đốc giáo và Hồi giáo. Phong trào này thể hiện dưới nhiều dạng - địa phương cũng như toàn quốc - và những nhánh quan trọng đáng kể nhất là:
Brāhma Samāj ("Phạm hội"), được thành lập bởi Rām Mohan Roy (1772-1833) năm 1828, sau lại mang đậm dấu ấn của hai nhà lĩnh đạo Devendranāth Tagore (1817-1905, bố của Rabindranath Tagore) và Keshab Chandra Sen (1838–1884). Brāhma Samāj bác bỏ chế độ chủng tính Ấn Độ cũng như những tín ngưỡng cực đoan của truyền thống Ấn Độ giáo như việc hoả thiêu goá phụ (satī), phản đối việc tôn thờ thánh tượng. Nhìn chung, quan điểm luân lý và thực hành của Brāhma Samāj chịu ảnh hưởng Cơ Đốc giáo rất mạnh.
Ārya Samāj ("Thánh hội"), được Dayānanda Sarasvati thành lập vào năm 1875. Nhóm này độc duy dựa vào nền tảng của thánh điển Phệ-đà (veda), nhưng lại dùng nó một cách rất tuyển trích. Chủ trương không tôn thờ thánh tượng tuy bị ảnh hưởng với Cơ Đốc giáo, nhưng lại được giải thích theo Phệ-đà. Nhìn chung, Ārya Samāj tìm cách đối đầu các nhà truyền đạo Cơ Đốc bằng một truyền thống tôn giáo tương đương, đặc thù Ấn Độ.
Rāmakṛṣṇa ("La-ma Hắc Thần"), được thành lập năm 1897 bởi Svāmī Vivekānanda (1863-1902) để tưởng niệm đến tôn sư là Rāmakṛṣṇa Paramahaṃsa (1836-1886). Trên cơ sở Bất nhị Phệ-đàn-đa (advaitavedānta), tất cả các tôn giáo đều được xem là những con đường dẫn đến mục đích tối hậu mặc dù chúng được xem là thấp vì còn vướng mắc vào những hiện thực cấp bên dưới. Từ Cơ Đốc giáo, hiệp hội Rāmakṛṣṇa hấp thụ thành phần tham gia công tác xã hội, nhưng lại giải thích bằng những truyền thống Ấn Độ như chúng được ghi lại trong Chí Tôn ca (bhagavadgītā) và giáo lý nghiệp quả (karman).
Các nhánh truyền đạo Ấn Độ được dẫn đầu bởi các "Gurus" gốc Ấn tại phương Tây có thể được liệt kê vào Tân Ấn Độ giáo. Tại Ấn Độ, Tân Ấn Độ giáo chính nó lại có khuynh hướng dễ bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa duy vật (materialism) và chủ nghĩa bất khả tri (agnosticism) của phương Tây hơn là hai tôn giáo có truyền thống lâu dài là Thấp-bà giáo và Tì-thấp-nô giáo.
=== Ảnh hưởng đến các tôn giáo khác ===
Sikh giáo (en. sikhism), Jaina giáo (sa. jaina, en. jainism, jinism) và Phật giáo được pháp luật Ấn Độ quy vào Ấn Độ giáo, nhưng được cả thế giới công nhận là những tôn giáo độc lập.
== Cơ sở chung của các nhánh Ấn Độ giáo ==
Vì xuất phát từ những truyền thống tương quan mật thiết với nhau, ảnh hưởng liên tục lẫn nhau và phát triển lâu dài trong một môi trường, dưới những điều kiện chính trị, xã hội và kinh tế gần như giống nhau nên tất cả những nhánh tôn giáo Ấn Độ đều mang những điểm tương đồng rất rõ.
=== Luân hồi ===
Thuộc về những điểm căn bản chung là quan điểm luân hồi, là thừa nhận hiện tượng thành, trụ, hoại và diệt của thế giới hiện tượng theo chu kì. Cùng với nó, người ta thấy một sự đánh giá rất cao của cội nguồn, được xem là thanh tịnh và toàn hảo. Từ đó lại phát xuất một cách đánh giá đạo đức ngược dòng: Thế giới không tiến bộ theo thời gian mà chỉ suy đồi cho đến lúc một vị thần xác định một khởi điểm mới. Trong giai đoạn ở giữa, luân lý suy đồi, trí huệ hạ giảm. Loài người hiện đang sống trong thời mạt thế (sa. kaliyuga), thời kì cuối của bốn thời kì của kiếp này (sa. kalpa).
Quan điểm này lại khởi phát một sự tôn kính truyền thống. Kiến thức truyền thống được tôn kính và gìn giữ vì tuổi tác mặc dù thực tế nó đã được thay thế bằng những kiến thức mới. Qua đó người ta có thể hiểu được vì sao tất cả tín đồ Ấn Độ giáo tôn kính các bộ Phệ-đà (veda) mặc dù thực tế họ gần như không biết chúng và cũng chẳng cần chúng trong giáo lý hoặc quá trình tu tập của họ.
Đi cùng với thuyết luân hồi là thuyết tái sinh (sa. punarjanman) và thuyết nhân quả (sa. karman). Tất cả những truyền thống tôn giáo cao cấp xuất phát từ tiểu lục địa Ấn Độ - kể cả Phật giáo và Kì-na giáo - đều thừa nhận thuyết này mặc dù có một vài điểm trong đó được biến đổi. Thuyết này đòi hỏi học thức nên chỉ ảnh hưởng đến những giai cấp trung lưu và thượng lưu: Trong giai cấp thấp hoặc ở những bộ tộc - như vậy là phần lớn của dân số Ấn Độ - thì thuyết này chỉ có ít, hoặc không có ảnh hưởng gì.
=== Chế độ chủng tính ===
Tất cả những nhánh Ấn Độ giáo đều hoạt động trong chế độ chủng tính, mặc dù phần lớn đã phản đối kịch liệt chế độ này. Trong những nhánh đề cao tín ngưỡng (sa. bhakti), chế độ này hoàn toàn không có một cơ sở hợp pháp hoá nào, nhưng lại được những văn bản cổ về luật pháp (sa. smṛti) đưa ra và đòi hỏi tuy chúng thuộc vào thời hậu phệ-đà và không có bản chất khải thị. Ta có thể xếp chế độ chủng tộc vào mô hình giải thích thuyết luân hồi tái sinh một cách vô mâu thuẫn, nhưng sự việc này không có nghĩa là nó phải được xem là một hiện tượng tất nhiên.
Trong Ấn giáo Tì-thấp-nô (viṣṇuism, vaiṣṇavism), Thấp-bà (śivaism) cũng như Tính lực (śāktism), người ta đã từng tìm thấy những cuộc đấu tranh phản đối chế độ chủng tính nhưng dưới sự đô hộ của các chế độ theo Hồi giáo và Cơ Đốc giáo sau này, không gian cho sự tranh đấu chống lại những cấu trúc truyền thống đã trở nên eo hẹp. Chỉ trong thời cận đại và đặc biệt là sau khi giành được độc lập (1947), chế độ chủng tính mới bị loại ra khỏi hiến pháp.
=== Tôn thờ Thánh tượng ===
Cuối cùng, điểm có chung của tất cả các nhánh Ấn Độ giáo là việc tôn thờ Thánh tượng. Việc tôn thờ này - thường có đối tượng là một vị thần nhất định - đã được phổ biến đến mực độ được thu nhập vào nhánh Bất nhị Phệ-đàn-đa nhất nguyên (monistic advaitavedānta), mặc dù theo giáo lý này, sự thể hiện của một thần linh vẫn còn nằm trên tầng cấp vô minh, hư huyễn.
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
địa trung hải.txt | Địa Trung Hải là một phần của Đại Tây Dương được vây quanh bởi đất liền – phía bắc bởi châu Âu, phía nam bởi châu Phi và phía đông bởi châu Á.
Địa Trung Hải có diện tích 2.509.000 km² (969.000 dặm vuông Anh) tới 2.510.000 km² (970.000 dặm vuông Anh). Chiều dài đông-tây là 4.000 km và chiều rộng trung bình là 800 km, nhưng tại chỗ thông với Đại Tây Dương (eo biển Gibraltar) chỉ rộng 13 km (8 dặm Anh) và bề rộng tối đa đạt 1.600 km. Nhìn chung biển này nông, với độ sâu trung bình khoảng 1.500 m, độ sâu tối đa khoảng 4.900 m tới 5.150 m, tại khu vực phía nam bờ biển Hy Lạp.
Địa Trung Hải là phần sót lại của một đại dương lớn thời cổ đại, gọi là đại dương Tethys, đã bị ép gần như đóng chặt trong thế Oligocen, khoảng 30 triệu năm trước, khi các mảng kiến tạo lục địa làm cho châu Phi và đại lục Á-Âu va chạm vào nhau. Các mảng này vẫn đang tiếp tục đè nén nhau, gây ra các đợt phun trào của các núi lửa, như đỉnh Etna, đỉnh Vesuvius và Stromboli, tất cả đều tại Ý, cũng như kích thích các trận động đất thường xuyên, tàn phá các phần của Ý, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ.
Một sóng ngầm đại dương từ Tunisia tới Sicilia chia Địa Trung Hải ra thành hai bồn địa đông và tây. Một sóng ngầm đáy biển khác, từ Tây Ban Nha tới Maroc, nằm tại lối thoát ra của Đại Tây Dương. Chỉ sâu 300 m (1.000 ft), nó hạn chế sự luân chuyển nước thông qua vịnh Gibraltar khá hẹp, vì thế nó làm giảm đáng kể khoảng lên-xuống của thủy triều tại biển này và cùng với tốc độ bốc hơi cao, làm cho Địa Trung Hải có độ mặn cao hơn của Đại Tây Dương.
Địa Trung Hải cũng là vùng nước được bao bọc bởi đất liền xung quanh lớn nhất thế giới (có diện tích ~ 2.5 triệu km2).Một phần do khí hậu Nam Âu ấm áp nên lượng nước bốc hơi từ biển Địa Trung Hải luôn nhiều hơn lượng nước được bù lại bởi các con sông đổ vào nó. Điều này dẫn tới việc luôn có nước từ Đại Tây Dương đổ vào Địa Trung Hải qua eo biển Gibraltar và nồng độ muối ở Địa Trung Hải cao hơn nồng độ muối ở Đại Tây Dương. Điểm sâu nhất của Địa Trung Hải nằm ở bên phía Đông với độ sâu khoảng 5200m. Nói Địa Trung Hải không có thủy triều thì không chính xác nhưng thủy triều ở Địa Trung Hải rất thấp, nhiều nơi chỉ chênh lệch vài cm.
Các hải cảng quan trọng nằm bên Địa Trung Hải gồm: Barcelona, Marseille, Genova, Trieste, Haifa. Các sông chính đổ vào Địa Trung Hải có Ebro, Rhone, Po và Nin.
=== Các quốc gia ven biển ===
Có 21 quốc gia/vùng lãnh thổ nằm trên bờ Địa Trung Hải:
Châu Âu (từ tây sang đông): Tây Ban Nha, Pháp, Monaco, Ý, Malta, Slovenia, Croatia, Bosna và Hercegovina, Montenegro, Albania, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ (Đông Thrace)
Châu Á (bắc xuống nam): Thổ Nhĩ Kỳ (Anatolia), Síp, Syria, Liban, Israel, Ai Cập (bán đảo Sinai)
Châu Phi (đông sang tây): Ai Cập, Libya, Tunisia, Algérie và Maroc
Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập là các quốc gia liên lục địa. Các đảo tận cùng phía nam của Ý, Quần Đảo Pelagie là một phần của lục địa châu Phi.
Các vùng lãnh thổ khác cũng có ranh giới với Địa Trung Hải (tây sang đông):
Lãnh thổ hải ngoại của Anh: Gibraltar
Các vùng đất của Tây Ban Nha: Ceuta và Melilla và các đảo lân cận
Akrotiri và Dhekelia
Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ Bắc Síp (tranh chấp)
Dải Gaza: Palestin
Các thành phố thủ đô của các quốc gia có chủ quyền và các thành phố chính có hơn 200.000 dân có ranh giới với Địa Trung Hải gồm (các thủ đô ít hơn 200.000 dân được ánh dấu hoa thị):
== Xuất xứ tên gọi ==
Tên tiếng Anh của biển là Mediterranean được xuất phát từ hai từ trong tiếng Latin: Medius ~ Middle trong tiếng Anh có nghĩa là ở giữa và Terra ~ Earth trong tiếng Anh có nghĩa là Trái Đất.
Nếu nhìn trên bản đồ thì bạn cũng có thể dễ dàng thấy rằng Địa Trung Hải nằm ở chính giữa các quốc gia bao bọc nó. Chỉ có eo biển Gibraltar ở Morocco (rộng 14.3 km) và eo biển Dardanelles ở Thổ Nhĩ Kỳ (hẹp hơn Gibraltar) là nơi mà Địa Trung Hải mở lòng ra để kết nối với các biển và đại dương khác.
== Cổ khí hậu ==
Do vĩ độ của nó và vị trí nằm giữa các vùng đất liền, Địa Trung Hải cực kỳ nhạy cảm với những dao động khí hậu gây ra từ yếu tố thiên văn, cũng được ghi nhận rõ ràng trong trầm tích. Vì Địa Trung Hải liên quan đến các tích tụ trầm tích gió từ sa mạc Sahara trong các giai đoạn khí hậu khô, ngược lại các trầm tích sông thì đổ vào trong các mùa ẩm ướt, các tập trầm tích chứa sapropel (các trầm tích sẫn màu giàu chất hữu cơ) nguồn gốc biển của Địa Trung Hải cung cấp các thông tin về khí hậu với độ phân giải cao. Dữ liệu này đã được sử dụng để tái lập lại thời gian biểu được hiệu chỉnh theo thiên văn cho 9 triệu năm gần đây nhất trong lịch sử Trái Đất, giúp làm rõ thời gian đảo cực địa từ gần đây nhất. Hơn thế nữa, độ chính xác đặc biệt của các dữ liệu cổ khí hậu này cũng giúp nâng cao kiến thức của con người về những dao động quỹ đạo của Trái Đất trong quá khứ.
== Các đe dọa về môi trường ==
=== Mực nước biển dâng ===
Mực nước biển của Địa Trung Hải có thể dâng từ 3–61 cm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Điều này có thể ảnh hưởng đến dân cư sống trong vùng Địa Trung Hải:
Mực nước biển dâng sẽ nhấn chìm các khu vực của Malta, và làm tăng mực nước mặn trong khu vực cấp nước ngầm ở Malta và làm giảm khả năng cung cấp nước uống.
Mực nước biển dâng 30 cm có thể gây ngập trên diện tích 200 km2 của châu thổ sông Nile, ảnh hưởng đến hơn 500.000 người Ai Cập.
Các hệ sinh thái ven biển cũng đứng trước nguy cơ bị đe dọa do nước biển dâng đặc biệt là các biển kín như biển Baltic, Địa Trung Hải và biển Đen. Mực nước biển dâng trong giai thế kỷ XXI có thể từ 30 cm (12 in) đến 100 cm (39 in) và nhiệt độ thay đổi 0.05-0.1 °C ở biển sâu là đủ để tạo ra các thay đổi đáng kể sự phong phú của các loài và chức năng đa dạng.
=== Ô nhiễm ===
Ô nhiễm khu vực này tăng rất cao trong các năm gần đây. Chương trình môi trường Liên hiệp quốc ước tính rằng 650.000.000 t (720.000.000 tấn thiếu) chất thải từ cống, 129.000 t (142.000 tấn thiếu) dầu khoáng, 60.000 t (66.000 tấn thiếu) thủy ngân, 3.800 t (4.200 tấn thiếu) chì và 36.000 t (40.000 tấn thiếu) phốt phát thải vào Địa Trung Hải mỗi năm. Công ước Barcelona được đưa ra nhằm giảm thiểu ô nhiễm trên Địa Trung Hải và bảo vệ và cải thiện môi trường biển trong khu vực này, ngoài ra còn góp phần vào sự phát triển bền vững của khu vực.' Một số loài sinh vật biển hầu như biến mất do ô nhiễm biển. Một trong số chúng là Hải cẩu Địa Trung Hải, là loài thú biển bị đe dọa nghiêm trọng trên thế giới.
Địa Trung Hải cũng tồn tại rác biển. Theo một nghiên cứu về đáy biển năm 1994 sử dụng lưới đánh cá xung quanh các bờ biển của Tây Ban Nha, Pháp và Ý cho thấy rằng rác tập trung với mật độ trung bình 1.935 loại/km². Rác nhựa chiếm 76%, trong đó túi nhựa chiếm 94%.
Trong tương lai, khi lục địa Phi chạm với lục địa Âu, Địa Trung Hải sẽ bị cô lập
== Ghi chú == |
keangnam hanoi landmark tower.txt | Keangnam Hanoi Landmark Tower là một khu phức hợp khách sạn-văn phòng-căn hộ-trung tâm thương mại tại đường Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội được đầu tư xây dựng bởi tập đoàn Keangnam có trụ sở chính tại Dongdaemun-gu, Seoul của Hàn Quốc. Keangnam Landmark Tower được bàn giao từ 20 tháng 3 năm 2011 đến cuối tháng 12 năm 2011 đã có 780 hộ chuyển vào sinh sống .
== Mô tả ==
Với tổng diện tích 609,673m2 và là tòa nhà cao nhất Việt Nam (350m), nơi đây có thể được coi là biểu tượng cho sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là sự tăng trưởng về xây dựng cũng như ngành công nghiệp dịch vụ, những ngành đang thúc đẩy sự phát triển của thành phố Hà Nội.
Khi được hoàn tất tòa tháp sẽ là tòa nhà cao nhất Việt Nam. Landmark 72 là khu phức hợp nằm ngay trung tâm khu đô thị mới của Hà Nội, Việt Nam. Với hai tòa nhà chung cư 50 tầng và một tòa tháp 72 tầng, một thành phố thu nhỏ trong lòng Hà Nội.
Khu chung cư bao gồm 922 căn hộ cao cấp nhất với các tiện ích như fitness center, bể bơi và khu mua sắm. Tại tòa nhà nối giữa tòa 72 tầng và tòa chung cư căn hộ là khu thương mại với khu mua sắm Parkson lớn nhất Đông Nam Á và rạp chiếu phim Lotte hiện đại.
Ngoài ra còn có khu vực văn phòng hạng A từ tầng 12 đến tầng 46 nhìn ra phong cảnh Hà Nội; Khu căn hộ dịch vụ Calidas từ tầng 48 đến tầng 60; Khách sạn Intercontinental nổi tiếng thế giới từ tầng 62 đến 70.
Thêm nữa là hội trường có sức chứa 2000 người, khu tổ chức sự kiện ngoài trời, bể bơi ngoài trời và bar ngoài bể bơi. Với độ cao 350m, bạn có thể ngắm bức tranh toàn cảnh Hà Nội tại đài quan sát trên tầng 72.
== Vụ thách cược 100 tỷ ==
Ngày 15/11/2008, các báo đưa tin về một vụ cá cược vô tiền khoáng hậu trị giá 100 tỷ đồng quanh việc liệu chủ đầu tư của dự án Hanoi Landmark Tower có hoàn thành nổi tòa nhà theo đúng tiến độ đã đề ra hay không. Trong thông cáo báo chí gửi các báo hôm 14/11/2008, Công ty TNHH một thành viên Keangnam - Vina, đại diện chủ đầu tư của tổ hợp chung cư cao tầng, khách sạn, dịch vụ này; ông Chủ tịch Ha Jong Suk đã cam kết hoàn thành phần thô và các tiểu cảnh sân vườn của 2 khối nhà 48 tầng và tòa nhà hỗn hợp khách sạn, văn phòng 72 tầng kịp thời gian kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội (đúng tháng 10/2010), nếu không sẽ nộp phạt 100 tỷ đồng.
Có thông tin cho rằng "chủ đầu tư Keangnam, vốn rất ít khi xuất hiện trước báo giới, bất ngờ công khai vụ cược tiền cho tiến độ thi công sau khi có thông tin về việc dự án này đăng ký lượng vốn rất lớn, nhưng thực tế chi ra khoản tiền nhỏ hơn hẳn để đầu tư, và làm ăn không minh bạch".
== Các sự kiện quanh việc thi công ==
Vào ngày 28/10/2008, Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã yêu cầu UBND thành phố Hà Nội xem xét nội dung phản ánh về việc xây dựng và bán căn hộ tại dự án tổ hợp văn phòng, căn hộ Keangnam trị giá 1 tỷ USD của Hà Nội. Việc này được giao cho Phó chủ tịch Thường trực UBND thành phố Hà Nội; ông Phí Thái Bình thực hiện.
Theo dư luận phản ánh, mới thấy bắt đầu thi công tầng hầm của tòa nhà này, nhưng chủ đầu tư đã bán khoảng 40% số căn hộ của 2 tòa nhà 48 tầng. Thậm chí trên một số trang rao vặt còn có đăng tải các thông tin rao bán các căn hộ ở vị trí từ tầng 20 đến tầng 40 với giá gốc từ 2.500 USD đến 3.000 USD mỗi m2, chưa bao gồm tiền chênh lệch.
Trong khi thi công, vào 2 ngày 21 và 22 tháng 7 năm 2009, đã xảy ra 2 tai nạn liên tiếp làm 4 công nhân thiệt mạng. Phó giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Bùi Văn Chiểu đánh giá, một công trình 4 người chết trong 2 ngày liên tiếp là "nghiêm trọng"
Ngày 01.08.2009, TAND huyện Từ Liêm. Tp Hà Nội đã có quyết định khởi tố vụ việc vi phạm an toàn lao động tại tòa nhà này sau khi có thêm 3 nạn nhân nữa bị rơi từ công trường cao ốc Keangnam.
Ngày 27/8/2011, một vụ cháy khá to đã xảy ra tại tòa nhà để xe 7 tầng.
== Tranh cãi về mức phí dịch vụ ==
Từ tháng 6 năm 2011, Ban quản lý tòa nhà và cư dân đã tranh cãi về mức thu phí dịch vụ. Thoạt đầu, ban quản lý thu phí dịch vụ là 17.130 đồng mỗi m2 , nhưng từ tháng 1 năm 2012, ban quản lý phải thu phí 4.000 đồng/m2, theo đúng giá trần của UBND thành phố Hà Nội quy định. Để cắt lỗ, ban quản lý buộc phải cắt bớt dịch vụ tiện ích như bớt thang mày, bớt đèn và thời gian chiếu sáng, bảo vệ và lễ tân, và cắt điện nước những hộ không đóng tiền, những điều này đã gây bất mãn và phản đối từ cư dân . Ban quản lý cho rằng, việc phải cắt bớt các dịch vụ tiện ích dẫn đến công tác quản lý tòa nhà bị hạn, do vậy, cư dân phải tự chịu trách nhiệm về việc giá trị tòa nhà căn hộ giảm sút cũng như các tổn thất thiệt hại về tài sản. Mâu thuẫn và tranh cãi kéo dài qua năm 2012, vẫn chưa có hồi kết.
== Ảnh ==
== Xem thêm ==
Hà Nội City Complex
Tòa nhà Financial Tower
Saigon Centre
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức (tiếng Việt)
Trang chủ của Keangnam (tiếng Anh) |
khu croydon của luân đôn.txt | Khu Croydon của Luân Đôn (tiếng Anh: London Borough of Croydon) là một khu tự quản Luân Đôn thuộc Nam Luân Đôn, Anh, và tạo thành một phần của vùng Ngoại Luân Đôn. Vùng đất bao phủ 87 km2 (33,6 sq mi) và là khu tự quản Luân Đôn đông dân cư nhất. Ngay trung tâm là đô thị lịch sử Croydon, từ một thị trấn chợ nhỏ bé, nơi đây đã vùng lên phát triển thành một trong những khu vực đông đúc nhất Luân Đôn. Croydon là trung tâm cư dân của khu tự quản và là trụ sở của những văn phòng và trung tâm bán lẻ lớn nhất nằm tại phía đông nam của nước Anh, bên ngoài trung tâm Luân Đôn. Khu tự quản này hiện nay là một trong những trung tâm dẫn đầu về văn hoá, tài chính và kinh doanh. Ảnh hưởng của nó về giải trí và nghệ thuật góp phần tạo nên vị thế trung tâm thủ đô chính.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Khu Croydon của Luân Đôn
Croydon TV
Du lịch Croydon |
trung quốc.txt | Trung Quốc (tiếng Trung: 中国), tên chính thức là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (tiếng Trung: 中华人民共和国), là một quốc gia có chủ quyền nằm tại Đông Á. Đây là quốc gia đông dân nhất trên thế giới, với số dân trên 1,382 tỷ người. Trung Quốc là quốc gia độc đảng do Đảng Cộng sản cầm quyền, chính phủ trung ương đặt tại thủ đô Bắc Kinh. Chính phủ Trung Quốc thi hành quyền tài phán tại 22 tỉnh, năm khu tự trị, bốn đô thị trực thuộc, và hai khu hành chính đặc biệt là Hồng Kông và Ma Cao. Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng tuyên bố chủ quyền đối với các lãnh thổ nắm dưới sự quản lý của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), cho Đài Loan là tỉnh thứ 23 của mình, yêu sách này gây tranh nghị do sự phức tạp của vị thế chính trị Đài Loan.
Với diện tích xấp xỉ 9,6 triệu km², Trung Quốc là quốc gia có diện tích lục địa lớn thứ nhì trên thế giới, và là quốc gia có tổng diện tích lớn thứ ba hoặc thứ tư trên thế giới, tùy theo phương pháp đo lường. Cảnh quan của Trung Quốc rộng lớn và đa dạng, thay đổi từ những thảo nguyên rừng cùng các sa mạc Gobi và Taklamakan ở phía bắc khô hạn đến các khu rừng cận nhiệt đới ở phía nam có mưa nhiều hơn. Các dãy núi Himalaya, Karakoram, Pamir và Thiên Sơn là ranh giới tự nhiên của Trung Quốc với Nam và Trung Á. Trường Giang và Hoàng Hà lần lượt là sông dài thứ ba và thứ sáu trên thế giới, hai sông này bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng và chảy hướng về vùng bờ biển phía đông có dân cư đông đúc. Đường bờ biển của Trung Quốc dọc theo Thái Bình Dương và dài 14500 km, giáp với các biển: Bột Hải, Hoàng Hải, biển Hoa Đông và biển Đông.
Lịch sử Trung Quốc bắt nguồn từ một trong những nền văn minh cổ nhất thế giới, phát triển tại lưu vực phì nhiêu của sông Hoàng Hà tại bình nguyên Hoa Bắc. Trải qua hàng nghìn năm, hệ thống chính trị của Trung Quốc dựa trên các chế độ quân chủ kế tập, được gọi là các triều đại, khởi đầu là triều đại nhà Hạ ở lưu vực Hoàng Hà. Từ năm 221 TCN, khi nhà Tần chinh phục các quốc gia khác để hình thành một đế quốc Trung Hoa thống nhất, quốc gia này đã trải qua nhiều lần mở rộng, đứt đoạn và cải cách. Trung Hoa Dân Quốc lật đổ triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc là nhà Thanh vào năm 1911 và cầm quyền tại Trung Quốc đại lục cho đến năm 1949. Sau khi Đế quốc Nhật Bản bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Cộng sản đánh bại Quốc dân Đảng và thiết lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, trong khi đó Quốc dân Đảng dời chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đến đảo Đài Loan và thủ đô hiện hành là Đài Bắc.
Trong hầu hết thời gian trong hai nghìn năm qua, kinh tế Trung Quốc được xem là nền kinh tế lớn và phức tạp nhất trên thế giới, với những lúc thì hưng thịnh, khi thì suy thoái. Kể từ khi tiến hành cuộc cải cách kinh tế vào năm 1978, Trung Quốc trở thành một trong các nền kinh kế lớn có mức tăng trưởng nhanh nhất. Đến năm 2014, nền kinh tế Trung Quốc đã đạt vị trí số một thế giới tính theo sức mua tương đương (PPP) và duy trì ở vị trí thứ hai tính theo giá trị thực tế. Trung Quốc được công nhận là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và có quân đội thường trực lớn nhất thế giới, với ngân sách quốc phòng lớn thứ nhì. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành một thành viên của Liên Hiệp Quốc từ năm 1971, khi chính thể này thay thế Trung Hoa Dân Quốc trong vị thế thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Trung Quốc cũng là thành viên của nhiều tổ chức đa phương chính thức và phi chính thức, trong đó có WTO, APEC, BRICS, SCO, và G-20. Trung Quốc là một cường quốc lớn và được xem là một siêu cường tiềm năng.
== Từ nguyên ==
Quốc hiệu chính thức hiện nay của quốc gia là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (tiếng Trung: 中华人民共和国; bính âm: Zhōnghuá Rénmín Gònghéguó; Hán-Việt: Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc). Tên gọi thông thường trong tiếng Trung là Trung Quốc (tiếng Trung: 中国; phồn thể: 中國; bính âm: Zhōngguó) và Trung Hoa (tiếng Trung: 中华l; phồn thể: 中華; bính âm: Zhōnghuá).
Từ "Trung Quốc" xuất hiện sớm nhất trong "Thượng thư- Tử tài", viết rằng "Hoàng thiên ký phó trung quốc dân", phạm vi chỉ là khu vực Quan Trung-Hà Lạc vốn là nơi cư trú của người Chu. Đến thời Xuân Thu, nghĩa của "Trung Quốc" dần được mở rộng đến mức bao quát các nước chư hầu lớn nhỏ trong khu vực trung hạ du Hoàng Hà. Sau đó, cương vực các nước chư hầu mở rộng, phạm vi "Trung Quốc" không ngừng mở rộng ra tứ phía. Từ thời Hán trở đi, triều dã và văn nhân học sĩ có tập quán gọi vương triều Trung Nguyên do người Hán lập nên là "Trung Quốc". Do đó, các dân tộc phi Hán sau khi làm chủ Trung Nguyên cũng thường tự xem bản thân là "Trung Quốc", như triều đại Bắc Ngụy do người Tiên Ti kiến lập tự xưng là "Trung Quốc" và gọi Nam triều là "Đảo Di". Đồng thời kỳ, Nam triều do người Hán kiến lập tuy dời Trung Nguyên song vẫn tự xem bản thân là "Trung Quốc", gọi Bắc triều là "Tác Lỗ". Kim và Nam Tống đều tự xưng là "Trung Quốc", không thừa nhận đối phương là "Trung Quốc". Do vậy, "Trung Quốc" còn bao gồm ý nghĩa về kế thừa văn hóa, và có chính thống. Tuy nhiên, trong suốt lịch sử, chưa có vương triều nào sử dụng "Trung Quốc" làm quốc danh chính thức. "Trung Quốc" trở thành quốc danh chính thức bắt đầu từ khi Trung Hoa Dân Quốc kiến lập vào năm 1912.
Triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc là Hạ, đương thời dân sống từ trước tại lưu vực trung hạ du Hoàng Hà tự xưng là "Hoa Hạ", hoặc giản xưng là "Hoa", "Hạ". Từ "Hoa Hạ" xuất hiện sớm nhất là trong "Tả truyện-Tương công nhị thập lục niên", ghi rằng "sở thất Hoa Hạ". Khổng Dĩnh Đạt thời Đường thì nói "Hoa Hạ vi Trung Quốc dã". "Trung Hoa" là giản lược từ liên kết "Trung Quốc" và "Hoa Hạ", ban đầu chỉ khu vực rộng lớn ở lưu vực trung hạ du Hoàng Hà. "Xuân Thu cốc lương truyện" quyển 1 "Ẩn công chú sơ" có viết rằng "Tần nhân năng viễn mộ Trung Hoa quân tử". Sau này, phàm là thuộc khu vực quản lý của vương triều Trung Nguyên thì đều được gọi chung là "Trung Hoa", ý chỉ toàn quốc. Hàn Ốc thời Đường có câu "Trung Hoa địa hướng biên thành tẫn, ngoại quốc vân tòng đảo thượng lai", đối lập giữa "Trung Hoa" và ngoại quốc. Do vậy, "Trung Quốc" cũng có thể gọi là Trung Hoa, gọi tắt là "Hoa", người Hán cư trú tại hải ngoại có thể gọi là "Hoa kiều", nếu đã nhập quốc tịch nước khác thì có thể gọi là "Hoa nhân ngoại tịch".
== Lịch sử ==
=== Tiền đế quốc ===
Bằng chứng khảo cổ học cho thấy rằng người nguyên thủy cư trú tại Trung Quốc từ 250.000 đến 2,24 triệu năm trước. Một hang tại Chu Khẩu Điếm (gần Bắc Kinh ngày nay) có những hóa thạch của họ Người có niên đại từ 680.000 đến 780.000 TCN. Các hóa thạch là người Bắc Kinh, một ví dụ của giống người đứng thẳng sử dụng lửa. Trong di chỉ người Bắc Kinh cũng có những hài cốt của người thông minh có niên đại từ 18.000–11.000 TCN. Một số học giả khẳng định rằng một hình thức chữ viết nguyên thủy tồn tại ở Trung Quốc ngay từ 3000 TCN.
Theo truyền thuyết Trung Hoa, triều đại đầu tiên là Hạ, bắt đầu từ khoảng 2070 TCN. Tuy nhiên, triều đại này bị các sử gia cho là thần thoại cho đến các khai quật khoa học phát hiện ra những di chỉ đầu thời kỳ đồ đồng tại Nhị Lý Đầu, Hà Nam vào năm 1959. Vẫn chưa rõ về việc liệu các di chỉ này là tàn tích của triều Hạ hoặc của một văn hóa khác cùng thời kỳ.
Triều đại đầu tiên để lại các ghi chép lịch sử là Thương với thể chế phong kiến lỏng lẻo, định cư dọc Hoàng Hà tại miền Đông Trung Quốc từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 11 TCN. Giáp cốt văn của triều Thương tiêu biểu cho dạng chữ viết Trung Quốc cổ nhất từng được phát hiện, và là tổ tiên trực tiếp của chữ Hán hiện đại. Triều Thương bị triều Chu chinh phục vào thế kỷ 12 TCN. Quyền lực tập trung của triều Chu dần suy yếu trước các chư hầu phong kiến, nhiều quốc gia độc lập cuối cùng xuất hiện từ triều Chu và liên tục tiến hành chiến tranh với nhau trong thời kỳ Xuân Thu kéo dài 300 năm. Đến thời Chiến Quốc trong thế kỷ 5–3 TCN, quân chủ bảy quốc gia hùng mạnh đều xưng vương như thiên tử triều Chu.
=== Thời đế quốc ===
Thời kỳ Chiến Quốc kết thúc vào năm 221 TCN, sau khi nước Tần chinh phục sáu vương quốc khác và thiết lập quốc gia Trung Hoa thống nhất đầu tiên. Tần vương Doanh Chính tuyên bố bản thân là "Thủy hoàng đế", tức hoàng đế đầu tiên, và tiến hành cải cách khắp Trung Quốc, đáng chú ý là cưỡng bách tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ, đo lường, chiều dài trục xe, và tiền tệ. Triều đại Tần chỉ tồn tại trong 15 năm, nó bị diệt vong không lâu sau khi Tần Thủy Hoàng băng hà, do các chính sách Pháp gia hà khắc và độc đoán dẫn đến nổi dậy rộng khắp.
Triều đại Hán cai trị Trung Quốc từ 206 TCN đến 220 CN, thiết lập một bản sắc văn hóa Hán bền vững trong dân cư và tồn tại cho đến nay. Triều đại Hán mở rộng đáng kể lãnh thổ thông qua các chiến dịch quân sự đến bán đảo Triều Tiên, Việt Nam, Mông Cổ và Trung Á, và cũng tạo điều kiện thiết lập Con đường tơ lụa tại Trung Á. Trung Quốc dần trở thành nền kinh tế lớn nhất của thế giới cổ đại. Triều Hán chọn Nho giáo làm hệ tư tưởng quốc gia, đây vốn là một tư tưởng triết học phát triển vào thời kỳ Xuân Thu. Mặc dù triều Hán chính thức bãi bỏ hệ tư tưởng chính thức của triều Tần là Pháp gia, song những thể chế và chính sách Pháp gia vẫn tồn tại và tạo thành nền tảng cho chính phủ triều Hán.
Sau khi triều Hán sụp đổ là một giai đoạn chia rẽ được mang tên Tam Quốc. Sau một thời kỳ thống nhất dưới quyền triều đại Tây Tấn, Trung Quốc tiếp tục chia rẽ trong các giai đoạn Đông Tấn-Thập Lục Quốc và Nam-Bắc triều. Năm 581, Trung Quốc tái thống nhất dưới quyền triều đại Tùy. Tuy nhiên, triều đại Tùy suy yếu sau khi thất bại trong chiến tranh với Cao Câu Ly kéo dài từ 598 đến 614.
Dưới các triều đại Đường và Tống, công nghệ và văn hóa Trung Quốc bước vào một thời kỳ hoàng kim. Loạn An Sử trong thế kỷ 8 đã tàn phá quốc gia và khiến triều Đường suy yếu. Triều Tống là chính phủ đầu tiên trong lịch sử thế giới phát hành tiến giấy và là thực thể Trung Hoa đầu tiên thiết lập một hải quân thường trực. Trong các thế kỷ 10 và 11, dân số Trung Quốc tăng lên gấp đôi, đến khoảng 100 triệu người, hầu hết là nhờ mở rộng canh tác lúa tại miền trung và miền nam, và sản xuất dư thừa lương thực. Thời Tống cũng chứng kiến một sự hưng thịnh của triết học và nghệ thuật, nghệ thuật phong cảnh và tranh chân dung đạt được trình độ mới về sự thành thục và độ phức tạp, và các tầng lớp tinh hoa trong xã hội tụ tập để chiêm ngưỡng nghệ thuật, chia sẻ tác phẩm của họ và giao dịch các tác phẩm quý báu. Thời Tống chứng kiến một sự phục hưng của Nho giáo, đối lập với sự phát triển của Phật giáo vào thời Đường.
Trong thế kỷ 13, Trung Quốc dần bị Đế quốc Mông Cổ chinh phục, Tây Hạ và Kim dần bị tiêu diệt. Năm 1271, đại hãn người Mông Cổ là Hốt Tất Liệt thiết lập triều đại Nguyên; triều Nguyên chinh phục tàn dư cuối cùng của triều Tống vào năm 1279. Trước khi Mông Cổ xâm chiếm, dân số Trung Quốc là 120 triệu; song giảm xuống 60 triệu trong điều tra nhân khẩu năm 1300. Một nông dân tên là Chu Nguyên Chương lật đổ triều Nguyên vào năm 1368 và kiến lập triều đại Minh. Thời Minh, Trung Quốc bước vào một thời kỳ hoàng kim khác, phát triển một trong những lực lượng hải quân mạnh nhất trên thế giới và có một nền kinh tế giàu có và thịnh vượng, trong khi phát triển về nghệ thuật và văn hóa. Trong giai đoạn này, Trịnh Hòa dẫn đầu các chuyến thám hiểm vượt đại dương, tiến xa nhất là đến châu Phi. Trong những năm đầu thời Minh, thủ đô của Trung Quốc được chuyển từ Nam Kinh đến Bắc Kinh. Cũng trong thời Minh, các triết gia như Vương Dương Minh tiếp tục phê bình và phát triển lý học với những khái niệm về cá nhân chủ nghĩa và đạo đức bẩm sinh.
Triều Thanh kéo dài từ năm 1644 đến năm 1912, là triều đại đế quốc cuối cùng của Trung Quốc. Trong thế kỷ 19, triều đại này phải đương đầu với chủ nghĩa đế quốc phương Tây trong Chiến tranh Nha phiến. Trung Quốc buộc phải ký các hiệp ước bất bình đẳng, trả bồi thường, cho phép người ngoại quốc có đặc quyền ngoại giao và nhượng Hồng Kông cho người Anh vào năm 1842. Chiến tranh Thanh-Nhật (1894–95) dẫn đến việc triều Thanh mất ảnh hưởng tại Triều Tiên, cũng như phải nhượng Đài Loan cho Nhật Bản. Trong những năm 1850 và 1860, cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc đã tàn phá miền nam Trung Quốc.
=== Thời Dân Quốc (1912–1949) ===
Ngày 1 tháng 1 năm 1912, Trung Hoa Dân Quốc được thành lập, Tôn Trung Sơn của Quốc dân đảng được tuyên bố là đại tổng thống lâm thời. Tuy nhiên, sau đó chức đại tổng thống được trao cho cựu đại thần của triều Thanh là Viên Thế Khải, nhân vật này tuyên bố bản thân là hoàng đế của Trung Quốc vào năm 1915. Do đối diện với chỉ trích và phản đối rộng khắp trong quân Bắc Dương của mình, Viên Thế Khải buộc phải thoái vị và tái lập chế độ cộng hòa.
Sau khi Viên Thế Khải mất năm 1916, Trung Quốc bị tan vỡ về chính trị. Chính phủ đặt tại Bắc Kinh được quốc tế công nhận song bất lực trên thực tế; các quân phiệt địa phương kiểm soát hầu hết lãnh thổ. Đến cuối thập niên 1920, Quốc dân đảng dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch thống nhất quốc gia dưới quyền quản lý của họ sau một loạt hành động khéo léo về quân sự và chính trị, được gọi chung là Bắc phạt. Quốc dân đảng chuyển thủ đô đến Nam Kinh và thi hành "huấn chính", một giai đoạn trung gian của phát triển chính trị được phác thảo trong chương trình Tam Dân của Tôn Trung Sơn nhằm biến đổi Trung Quốc thành một quốc gia dân chủ hiện đại. Chia rẽ về chính trị tại Trung Quốc gây khó khăn cho Tưởng Giới Thạch trong việc chiến đấu với lực lượng Cộng sản trong nội chiến từ năm 1927. Cuộc chiến này tiếp tục với thắng lợi của Quốc dân đảng, đặc biệt là sau khi lực lượng Cộng sản triệt thoái trong Trường chinh, kéo dài cho đến khi Nhật Bản xâm lược và sự biến Tây An năm 1936 buộc Tưởng Giới Thạch phải đối đầu với Đế quốc Nhật Bản.
Chiến tranh Trung-Nhật (1937–1945) là một mặt trận của Chiến tranh thế giới thứ hai, thúc đẩy một liên minh miễn cưỡng giữa hai phe Quốc dân và Cộng sản. Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện Trung Quốc vào năm 1945. Đài Loan, bao gồm cả Bành Hồ, được đặt dưới quyền quản lý của Trung Hoa Dân Quốc. Trung Quốc đóng vai trò là quốc gia chiến thắng song bị tàn phá và tài chính kiệt quệ. Sự thiếu tin tưởng giữa hai phe Quốc dân và Cộng sản khiến nội chiến tái khởi động. Năm 1947, hiến pháp được thiết lập, song do xung đột đang diễn ra, nhiều quy định trong Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc chưa từng được thực thi tại Trung Quốc đại lục.
=== Thời Cộng hòa Nhân dân (1949–nay) ===
Đại tác chiến trong Nội chiến Trung Quốc kết thúc vào năm 1949 với kết quả là lực lượng Cộng sản kiểm soát hầu hết Trung Quốc đại lục, Quốc dân đảng triệt thoái ra ngoài khơi với lãnh thổ chỉ còn Đài Loan, Hải Nam, và các đảo nhỏ. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc là Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Năm 1950, Quân Giải phóng Nhân dân đánh chiếm Hải Nam từ Trung Hoa Dân Quốc và hợp nhất Tây Tạng. Tuy nhiên, tàn quân Quốc Dân đảng tiếp tục tiến hành nổi dậy ở miền tây Trung Quốc trong suốt thập niên 1950.
Mao Trạch Đông khuyến khích tăng trưởng dân số, và dân số Trung Quốc tăng từ khoảng 550 triệu lên trên 900 triệu trong thời gian ông lãnh đạo. Tuy nhiên, kế hoạch cải cách kinh tế và xã hội quy mô lớn mang tên Đại nhảy vọt khiến cho hàng chục triệu người thiệt mạng từ năm 1958 đến năm 1961, hầu hết là do chết đói. Từ 1 đến 2 triệu địa chủ bị hành quyết vì tội "phản cách mạng." Năm 1966, Mao Trạch Đông cùng các đồng minh của ông tiến hành Đại cách mạng Văn hóa, kéo theo một giai đoạn tố cáo chính trị lẫn nhau và biến động xã hội kéo dài đến khi Mao Trạch Đông từ trần vào năm 1976. Trong tháng 10 năm 1971, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thay thế Trung Hoa Dân Quốc tại Liên Hiệp Quốc, giành được ghế một ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an.
Sau khi Mao Trạch Đông từ trần 1976 và vụ bắt giữ bè phái mang tên Tứ nhân bang, Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền và lãnh đạo quốc gia đến cải cách kinh tế quan trọng. Đảng Cộng sản sau đó nới lỏng kiểm soát của chính phủ đối với đời sống cá nhân của công dân và các công xã nhân dân bị bãi bỏ nhằm tạo điều kiện cho thuê đất tư nhân. Sự kiện này đánh dấu Trung Quốc chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế hỗn hợp, với sự gia tăng của môi trường thị trường mở. Trung Quốc thông qua hiến pháp hiện hành vào ngày 4 tháng 1 năm 1982. Năm 1989, hành động trấn áp bạo lực các cuộc biểu tình của sinh viên tại quảng trường Thiên An Môn khiến chính phủ Trung Quốc bị nhiều quốc gia chỉ trích và áp đặt chế tài.
Giang Trạch Dân, Lý Bằng và Chu Dung Cơ lãnh đạo quốc gia trong thập niên 1990. Trong thời gian họ cầm quyền, thành tích kinh tế của Trung Quốc đưa khoảng 150 triệu nông dân khỏi bần cùng và duy trì tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân năm là 11,2%. Trung Quốc chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao dưới quyền lãnh đạo của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo trong thập niên 2000. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh chóng cũng có tác động nghiêm trọng đến tài nguyên và môi trường quốc gia, và dẫn đến chuyển dịch lớn trên phương diện xã hội. Chất lượng sinh hoạt tiếp tục được cải thiện nhanh chóng bất chấp khủng hoảng cuối thập niên 2000, song kiểm soát chính trị tập trung vẫn chặt chẽ. Trong tháng 11 năm 2012, Tập Cận Bình kế nhiệm Hồ Cẩm Đào trong vai trò Tổng bí thư của Đảng Cộng sản.
== Địa lý ==
Trung Quốc là quốc gia lớn thứ nhì trên thế giới xét theo diện tích đất sau Nga, và là quốc gia lớn thứ ba hoặc bốn về tổng diện tích, sau Nga, Canada, và có thể là Hoa Kỳ. Tổng diện tích của Trung Quốc thường được tuyên bố là khoảng 9.600.000 km2 (3.700.000 sq mi). Số liệu diện tích cụ thể dao động từ 9.572.900 km2 (3.696.100 sq mi) theo Encyclopædia Britannica, 9.596.961 km2 (3.705.407 sq mi) theo Niên giám Nhân khẩu Liên Hiệp Quốc, đến 9.596.960 km2 (3.705.410 sq mi) theo CIA World Factbook.
Trung Quốc có tổng chiều dài đường biên giới trên bộ lớn nhất thế giới, với 22.117 km (13.743 mi) từ cửa sông Áp Lục đến vịnh Bắc Bộ. Trung Quốc có biên giới với 14 quốc gia khác, giữ vị trí số một thế giới cùng với Nga. Trung Quốc bao gồm phần lớn Đông Á, giáp với Việt Nam, Lào, Myanmar, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Pakistan, Afghanistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, Nga, Mông Cổ, và Triều Tiên. Ngoài ra, Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines cũng lân cận với Trung Quốc qua biển.
Lãnh thổ Trung Quốc nằm giữa các vĩ độ 18° và 54° Bắc, các kinh độ 73° và 135° Đông. Cảnh quan của Trung Quốc biến đổi đáng kể trên lãnh thổ rộng lớn của mình. Tại phía đông, dọc theo bờ biển Hoàng Hải và biển Hoa Đông, có các đồng bằng phù sa rộng và dân cư đông đúc, trong khi các thảo nguyên rộng lớn chiếm ưu thế ở rìa của cao nguyên nguyên Nội Mông. Đồi và các dãy núi thấp chi phối địa hình tại Hoa Nam, trong khi miền trung-đông có những châu thổ của hai sông lớn nhất Trung Quốc là Hoàng Hà và Trường Giang. Các sông lớn khác là Tây Giang, Hoài Hà, Mê Kông (Lan Thương), Brahmaputra (Yarlung Tsangpo) và Amur (Hắc Long Giang). Ở phía tây có các dãy núi lớn, nổi bật nhất là Himalaya. Ở phía bắc có các cảnh quan khô hạn, như sa mạc Gobi và sa mạc Taklamakan. Đỉnh cao nhất thế giới là núi Everest (8.848m) nằm trên biên giới Trung Quốc-Nepal. Điểm thấp nhất của Trung Quốc, và thấp thứ ba trên thế giới, là lòng hồ Ngải Đinh (−154m) tại bồn địa Turpan.
Mùa khô và gió mùa ẩm chi phối phần lớn khí hậu Trung Quốc, dẫn đến khác biệt nhiệt độ rõ rệt giữa mùa đông và mùa hạ. Trong mùa đông, gió bắc tràn xuống từ các khu vực có vĩ độ cao với đặc điểm là lạnh và khô; trong mùa hạ, gió nam từ các khu vực duyên hải có vĩ độ thấp có đặc điểm là ấm và ẩm. Khí hậu Trung Quốc có sự khác biệt giữa các khu vực do địa hình phức tạp cao độ. Một vấn đề môi trường lớn tại Trung Quốc là việc các hoang mạc tiếp tục mở rộng, đặc biệt là sa mạc Gobi.
=== Đa dạng sinh học ===
Trung Quốc là một trong 17 quốc gia đa dạng sinh học siêu cấp trên thế giới, nằm trên hai khu vực sinh thái lớn của thế giới là Cổ Bắc phương (Palearctic) và Indomalaya (Đông Dương). Theo một đánh giá, Trung Quốc có trên 34.687 loài động vật và thực vật có mạch, do vậy là quốc gia đa dạng sinh học cao thứ ba trên thế giới, sau Brasil và Colombia. Trung Quốc ký kết Công ước về đa dạng sinh học Rio de Janeiro vào tháng 6 năm 1992, và trở thành một bên của công ước vào tháng 1 năm 1993.
Trung Quốc là nơi sinh sống của ít nhất 551 loài thú (nhiều thứ ba thế giới), 1.221 loài chim (thứ tám), 424 loài bò sát (thứ bảy) và 333 loài động vật lưỡng cư (thứ bảy). Trung Quốc là quốc gia đa dạng sinh học ở mức độ cao nhất trong mỗi hạng mục ngoài vùng nhiệt đới. Động vật hoang dã tại Trung Quốc chia sẻ môi trường sống và chịu áp lực gay gắt từ lượng dân cư đông nhất thế giới. Ít nhất có 840 loài động vật bị đe dọa, dễ bị tổn thương, hoặc gặp nguy hiểm tuyệt chủng địa phương tại Trung Quốc, phần lớn là do hoạt động của con người như phá hoại môi trường sống, ô nhiễm và săn bắn phi pháp để làm thực phẩm, lấy da lông và làm nguyên liệu cho Trung dược. Động vật hoang dã gặp nguy hiểm được pháp luật bảo hộ, tính đến năm 2005, Trung Quốc có trên 2.349 khu bảo tồn tự nhiên, bao phủ một tổng diện tích là 149,95 triệu ha, tức 15% tổng diện tích của Trung Quốc.
Trung Quốc có trên 32.000 loài thực vật có mạch, và là nơi có nhiều loại rừng. Những khu rừng thông lạnh chiếm ưu thế tại miền bắc của quốc gia, là nơi sinh sống của các loài động vật như nai sừng tấm và gấu đen, cùng với hơn 120 loài chim. Tầng dưới của rừng thông ẩm có thể gồm các bụi tre. Trên các vùng núi cao của bách xù và thủy tùng, thay thế cho tre là đỗ quyên. Các khu rừng cận nhiệt đới chiếm ưu thế tại miền trung và miền nam Trung Quốc, là nơi sinh sống của khoảng 146.000 loài thực vật. Những khu rừng mưa nhiệt đới và theo mùa bị hạn chế tại Vân Nam và Hải Nam, song bao gồm một phần tư tổng số loài động thực vật phát hiện được tại Trung Quốc. Ghi nhận được trên 10.000 loài nấm tại Trung Quốc, và trong số đó có gần 6.000 loài nấm bậc cao.
== Chính trị ==
Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một quốc gia xã hội chủ nghĩa công khai tán thành chủ nghĩa cộng sản. Chính phủ Trung Quốc được mô tả là cộng sản và xã hội chủ nghĩa, song cũng chuyên chế và xã đoàn, với những hạn chế nghiêm ngặt trong nhiều lĩnh vực, đáng chú ý nhất là truy cập tự do Internet, tự do báo chí, tự do hội họp, quyền có con, tự do hình thành các tổ chức xã hội và tự do tôn giáo. Hệ thống chính trị, tư tưởng, và kinh tế hiện tại của Trung Quốc được các lãnh đạo nước này gọi lần lượt là "chuyên chính dân chủ nhân dân", "chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc" và "kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa".
Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền thống trị quốc gia, quyền lực của đảng này được ghi trong hiến pháp của Trung Quốc. Hệ thống tuyển cử của Trung Quốc có phân cấp, theo đó các đại hội đại biểu nhân dân địa phương (cấp hương và cấp huyện) được tuyển cử trực tiếp, và toàn bộ các cấp đại hội đại biểu nhân dân từ cấp cao hơn cho đến toàn quốc được tuyển cử gián tiếp bởi đại hội đại biểu nhân dân ở cấp ngay bên dưới. Hệ thống chính trị được phân quyền, và các lãnh đạo cấp tỉnh và phó tỉnh có quyền tự trị đáng kể. Tại Trung Quốc còn có các chính đảng khác, được gọi là 'đảng phái dân chủ', những tổ chức này tham gia Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Nhân đại) và Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc (Chính hiệp).
Chủ tịch nước Trung Quốc là nguyên thủ quốc gia trên danh nghĩa, đóng vai trò là người đứng đầu về mặt lễ nghi và do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra. Thủ tướng Trung Quốc là nhân vật lãnh đạo chính phủ, chủ trì Quốc vụ viện gồm bốn phó thủ tướng cùng người đứng đầu các bộ và ủy ban cấp bộ. Chủ tịch nước đương nhiệm là Tập Cận Bình, ông cũng là Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chủ tịch Quân ủy Trung Quốc, do vậy ông là lãnh đạo tối cao của Trung Quốc. Thủ tướng đương nhiệm là Lý Khắc Cường, ông cũng là một thành viên cấp cao của Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, một cơ cấu quyết định hàng đầu của Trung Quốc trong thực tế.
=== Hành chính ===
Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quản lý về hành chính 22 tỉnh và nhìn nhận Đài Loan là tỉnh thứ 23, song Đài Loan hiện đang được Trung Hoa Dân Quốc quản lý một cách độc lập, chính thể này tranh chấp với yêu sách của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trung Quốc còn có năm phân khu được gọi chính thức là khu tự trị, mỗi khu dành cho một dân tộc thiểu số được chỉ định; bốn đô thị trực thuộc; và hai khu hành chính đặc biệt được hưởng quyền tự trị chính trị nhất định. 22 tỉnh, năm khu tự trị, bốn đô thị trực thuộc có thể được gọi chung là "Trung Quốc đại lục", thuật ngữ này thường không bao gồm các khu hành chính đặc biệt Hồng Kông và Ma Cao.
=== Quan hệ đối ngoại ===
Tính đến ngày 26 tháng 12 năm 2016, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quan hệ ngoại giao với 174 quốc gia (trong đó có Palestine, quần đảo Cook và Niue). Tính hợp pháp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là vấn đề tranh chấp đối với Trung Hoa Dân Quốc và một vài quốc gia khác (tính đến tháng 7 năm 2014 có 22 quốc gia có quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Hoa Dân Quốc). Năm 1971, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thay thế Trung Hoa Dân Quốc trong vị thế là đại diện duy nhất của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc và vị thế là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Trung Quốc là một cựu thành viên và cựu lãnh đạo của Phong trào không liên kết, và vẫn nhìn nhận bản thân là nước bênh vực cho những quốc gia đang phát triển. Trung Quốc là một thành viên trong nhóm BRICS cùng với Brasil, Nga, Ấn Độ và Nam Phi.
Theo chính sách một Trung Quốc, chính phủ trung ương tại Bắc Kinh đặt điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ ngoại giao là các quốc gia khác phải thừa nhận yêu sách của họ đối với Đài Loan và đoạn tuyệt các quan hệ chính thức với chính phủ Trung Hoa Dân Quốc. Các quan chức Trung Quốc nhiều lần kháng nghị khi các quốc gia khác tiến hành đàm phán ngoại giao với Đài Loan, đặc biệt là trong vấn đề giao dịch vũ khí. Trung Quốc cũng kháng nghị những hội nghị chính trị giữa các quan chức chính phủ ngoại quốc và Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.
Phần lớn chính sách ngoại giao hiện hành của Trung Quốc được tường thuật là dựa trên "Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình" của Thủ tướng Chu Ân Lai, và cũng được thúc đẩy bởi khái niệm "hòa nhi bất đồng", theo đó khuyến khích quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia bất kể khác biệt về ý thức hệ. Trung Quốc có quan hệ kinh tế và quân sự thân cận với Nga, và hai quốc gia thường nhất trí khi bỏ phiếu tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Ngoài yêu sách đối với Đài Loan, Trung Quốc cũng tham dự một số tranh chấp lãnh thổ quốc tế khác. Kể từ thập niên 1990, Trung Quốc tham dự các cuộc đàm phán nhằm giải quyết tranh chấp về biên giới trên bộ, trong đó có tranh chấp biên giới với Ấn Độ và một biên giới chưa phân định với Bhutan. Ngoài ra, Trung Quốc còn tham dự các tranh chấp đa phương quanh quyền chiếm hữu một số đảo nhỏ trên biển Đông và biển Hoa Đông, gồm bãi cạn Scarborough, quần đảo Senkaku quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Trung Quốc thường được tán tụng là một siêu cường tiềm năng, một số nhà bình luận cho rằng phát triển kinh tế nhanh chóng, phát triển năng lực quân sự, dân số rất đông, và ảnh hưởng quốc tế gia tăng là những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc sẽ giữ vị thế nổi bật trên toàn cầu trong thế kỷ 21. Một số học giả lại đặt câu hỏi về định nghĩa "siêu cường", lý luận rằng chỉ riêng kinh tế lớn sẽ không giúp Trung Quốc trở thành siêu cường, và lưu ý rằng Trung Quốc thiếu ảnh hưởng quân sự và văn hóa như Hoa Kỳ.
== Quân sự ==
Khoa học và kỹ thuật trong Công nghiệp quốc phòng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hầu hết được đặt nền móng khi Liên Xô đầu tư mạnh mẽ vào Trung Quốc vào những năm 1950. Và phần lớn các vũ khí quan trọng của Liên Xô đã được cấp giấy phép để sản xuất tại Trung Quốc. Cũng như Liên Xô đã giúp đỡ phát triển công nghệ hạt nhân và vũ khí nguyên tử tại Trung Quốc. CHND Trung Hoa cũng đã có được một số công nghệ của Hoa Kỳ khi mối quan hệ giữa hai nước trở nên nồng ấm vào những năm 1970. Cũng như Trung Quốc bắt đầu sao chép những vũ khí mà mình mua được từ phương Tây nhưng không nhiều do các nước phương Tây thận trọng hơn trong việc mua bán vũ khí với Trung Quốc cũng như bị cấm vận vũ khí vào năm 1989. Đến những năm 1990 thì Trung Quốc bắt đầu sao chép quy mô lớn các vũ khí hiện đại mua được từ Nga. Còn khi Nga từ chối bán các loại vũ khí của mình thì Trung Quốc chuyển sang mua của Ukraina vốn cũng sở hữu nhiều loại vũ khí hiện đại từ thời Liên Xô. Hiện tại thì Trung Quốc đang tích cực sao chép các loại vũ khí của phương Tây mua được từ Israel.
Đã từng có thời, Nga hào phóng với Trung Quốc đến mức cung cấp miễn phí một lượng lớn vũ khí và công nghệ quân sự giúp cho ngành công nghiệp quốc phòng nước này có được một nền tảng cực kỳ quan trọng. Giới phân tích quân sự quốc tế khẳng định, Trung Quốc đã thu được những kết quả "khó tin" nhờ sự trợ giúp của Nga. Các nhà phân tích cho rằng, Bắc Kinh tin tưởng là bằng cách vi phạm bản quyền sản phẩm họ sẽ từng bước ngừng nhập khẩu vũ khí của Nga và tiến tới trở thành một nhà xuất khẩu lớn, đủ sức cạnh tranh với các cường quốc khác. Kể từ đó, Nga đã rất hạn chế bán thiết bị quân sự cho Trung Quốc mặc dù vẫn tiếp tục cung cấp động cơ máy bay. Thêm vào đó, mọi lời đề nghị sử dụng các nghiên cứu công nghệ cao từ phía Trung Quốc đều bị Nga từ chối thẳng thừng nhưng Nga lại sẵn lòng bán cho các đối thủ của Trung Quốc trong khu vực.
Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc có 2,3 binh sĩ tại ngũ, là lực lượng quân sự thường trực lớn nhất trên thế giới và nằm dưới quyền chỉ huy của Quân ủy Trung ương. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc gồm có Lục quân, Hải quân, Không quân, và một lực lượng hạt nhân chiến lược mang tên Bộ đội Pháo binh số hai. Theo chính phủ Trung Quốc, tổng chi phí dành cho quân sự của quốc gia vào năm 2012 là 100 tỷ USD, đứng thứ hai thế giới về ngân sách quân sự. Tuy nhiên, các quốc gia khác như Hoa Kỳ thì cho rằng Trung Quốc không báo cáo mức chính xác về chi tiêu quân sự, vốn được cho là cao hơn nhiều ngân sách chính thức. Nhưng lực lượng quân đội nước này lại được huấn luyện rất yếu kém và nạn tham nhũng tràn lan gây ảnh hưởng mạnh đến năng lực tham chiến của quân đội, các chuyên gia quân sự cho rằng quân đội Trung Quốc ngày nay còn tham nhũng hơn cả thời nhà Thanh.
Trung Quốc được công nhận là một quốc gia vũ khí hạt nhân, được nhìn nhận là một cường quốc quân sự lớn trong khu vực và có tiềm năng trở thành một siêu cường quân sự. Theo một báo cáo vào năm 2013 của Bộ Quốc phòng Mỹ, Trung Quốc đưa ra thực địa từ 50 đến 75 tên lửa liên lục địa, cùng với một số tên lửa đạn đạo tầm ngắn. Tuy nhiên, so với bốn thành viên khác trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc tương đối hạn chế về năng lực viễn chinh. Nhằm khắc phục tình trạng này, Trung Quốc đã phát triển các tài sản phục vụ viễn chinh, hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu phục vụ từ năm 2012, và duy trì một hạm đội tầm ngầm đáng kể, gồm cả một số tàu ngầm tấn công hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Ngoài ra, Trung Quốc còn thiết lập một mạng lưới gồm các quan hệ quân sự hải ngoại dọc những tuyến đường biển then chốt.
Trung Quốc đạt được những tiến bộ đánh kể trong việc hiện đại hóa không quân kể từ đầu thập niên 2000, mua các chiến đấu cơ của Nga như Sukhoi Su-30, và cũng sản xuất các chiến đấu cơ hiện đại cho mình, đáng chú ý nhất là Tiêm-10 và Tiêm-11, Tiêm-15 và Tiêm-16. Trung Quốc còn tham gia phát triển máy bay tàng hình và máy bay chiến đấu không người lái. Nhưng việc không thể tự chế tạo động cơ máy bay khiến cho Trung quốc không thể chế tạo các loại máy bay như J-15 và J-16 với số lượng lớn thậm chí không có khả năng sản xuất máy bay chiến đấu J-11B do vấn đề với các động cơ máy bay nội địa như WS-10A. Vấn đề tương tự đã buộc lực lượng Hải quân Trung Quốc hủy bỏ kế hoạch sử dụng WS-10A cho J-15. Cả hai lực lượng không quân và hải quân Trung quốc đã yêu cầu để thay thế WS-10A bằng các động cơ AL-31F của Nga đáng tin cậy hơn. Việc này làm cho số lượng động cơ nhập khẩu đang có không thể cung cấp đủ cho việc sản xuất máy bay việc này có thể dẫn đến việc ngừng phát triển máy bay cho đến khi có thể tìm được cách tự chủ về động cơ. Trung Quốc cũng hiện đại hóa lực lượng bộ binh của họ, thay thế xe tăng từ thời Liên Xô bằng nhiều biến thể của tăng kiểu 99, và nâng cấp các hệ thống C3I và C4I chiến trường để tăng cường năng lực chiến tranh mạng lưới trung tâm của họ. Ngoài ra, Trung Quốc cũng phát triển hoặc kiếm được các hệ thống tên lửa tân tiến, trong đó có tên lửa chống vệ tinh, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo liên lục địa hạt nhân phóng từ tàu ngầm.
== Kinh tế ==
Tính đến năm 2016, kinh tế Trung Quốc lớn thứ hai thế giới xét theo GDP danh nghĩa, tổng giá trị khoảng 11.391.619 tỉ USD theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Nếu xét về GDP theo sức mua tương đương, Trung Quốc đạt 13.395 tỷ USD vào năm 2013, cũng xếp thứ hai sau Hoa Kỳ. Năm 2016, GDP PPP/người của Trung Quốc là 16,660 USD, trong khi GDP danh nghĩa/người là 8,141 USD. Theo cả hai phương pháp, Trung Quốc đều đứng sau khoảng 90 quốc gia (trong số 183 quốc gia trong danh sách của IMF) trong xếp hạng GDP/người toàn cầu.
Từ khi thành lập vào năm 1949 cho đến cuối năm 1978, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có một kinh tế kế hoạch tập trung theo kiểu Liên Xô. Sau khi Mao Trạch Đông từ trần vào năm 1976 và Cách mạng văn hóa kết thúc, Đặng Tiểu Bình và tập thể lãnh đạo mới của Trung Quốc bắt đầu cải cách kinh tế và chuyển đổi theo hướng kinh tế hỗn hợp định hướng thị trường hơn dưới sự lãnh đạo độc đảng. Tập thể hóa nông nghiệp bị tiệt trừ và đất ruộng được tư hữu hóa, trong khi đó ngoại thương trở thành một trọng tâm mới quan trọng, dẫn đến việc thiết lập các đặc khu kinh tế. Những doanh nghiệp quốc doạnh không hiệu quả bị tái cơ cấu và những doanh nghiệp thua lỗ phải đóng cửa hoàn toàn, dẫn đến tình trạng thất nghiệp lớn. Trung Quốc hiện nay có đặc điểm chủ yếu là một nền kinh tế thị trường dựa trên quyền sở hữu tài sản tư nhân, và là một trong các ví dụ hàng đầu về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Nhà nước vẫn chi phối trong những lĩnh vực "trụ cột" chiến lược như sản xuất năng lượng và công nghiệp nặng, song doanh nghiệp tư nhân mở rộng mạnh mẽ, với khoảng 30 triệu doanh nghiệp tư nhân vào năm 2008.
Kể từ khi bắt đầu tự do hóa kinh tế vào năm 1978, Trung Quốc nằm trong số các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới, dựa ở mức độ lớn vào tăng trưởng do đầu tư và xuất khẩu. Theo IMF, tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc trong giai đoạn 2001-2010 là 10,5%. Trong giai đoạn 2007-2011, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc tương đương với tổng tăng trưởng của các quốc gia G7. Năng suất cao, chi phí lao động thấp và cơ sở hạ tầng tương đối thấp khiến Trung Quốc dẫn đầu thế giới về chế tạo. Tuy nhiên, kinh tế Trung Quốc cần rất nhiều năng lượng và không hiệu quả; Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới vào năm 2010, dựa vào than đá để cung cấp trên 70% nhu cầu năng lượng trong nước, và vượt qua Hoa Kỳ để trở thành nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới vào tháng 9 năm 2013.
Trung Quốc là một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và là cường quốc giao thương lớn nhất thế giới, với tổng giá trị mậu dịch quốc tế là 3.870 tỷ USD trong năm 2012. Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đạt 2.850 tỷ USD vào cuối năm 2010, là nguồn dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới cho đến đương thời. Năm 2012, Trung Quốc là quốc gia tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhiều nhất thế giới, thu hút 253 tỷ USD. Trung Quốc cũng đầu tư ra hải ngoại, tổng FDI ra ngoại quốc trong năm 2012 là 62,4 tỷ USD, các công ty Trung Quốc cũng tiến hành những vụ thu mua lớn các hãng ngoại quốc. Tỷ giá hối đoái bị định giá thấp gây xích mích giữa Trung Quốc với các nền kinh tế lớn khác, và Trung Quốc cũng bị chỉ trích rộng rãi về việc chế tạo hàng giả với số lượng lớn với hơn 90% lượng hàng giả và hàng nhái trên thế giới có nguồn gốc xuất phát từ quốc gia này. Trung Quốc từ lâu đã được coi là đế chế hàng fake khổng lồ nhất toàn cầu như tại Quảng Châu, nơi được mệnh danh là "Thiên đường của hàng fake", những nhãn hàng thời trang từ bình dân tới cao cấp được nhái lại và bày bán công khai với giá rẻ. Và khá "ấn tượng" khi nhiều xưởng sản xuất hàng nhái tại Trung Quốc còn làm giả sản phẩm chỉ dựa trên hình ảnh của hàng hóa trên các tạp chí thời trang hoặc qua mạng Internet.
Dân số tầng lớp trung lưu tại Trung Quốc (có thu nhập hàng năm từ 10.000-60.000 USD) đạt trên 300 triệu vào năm 2012. Theo Hurun Report, số lượng tỷ phú USD tại Trung Quốc tăng lên 251 vào năm 2012. Thị trường bán lẻ nội địa của Trung Quốc có giá trị 20.000 tỷ tệ (3.200 tỷ USD) vào năm 2012 và tăng trưởng trên 12%/năm vào năm 2013, trong khi thị trường xa xỉ phẩm phát triển mạnh, với 27,5% thị phần toàn cầu vào năm 2010. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc góp phần vào lạm phát tiêu thụ nghiêm trọng, làm gia tăng các quy định của chính phủ. Trung Quốc có bất bình đẳng kinh tế ở mức độ cao, và tăng lên trong các thập niên vừa qua.
Đến cuối năm 2012, số người nghèo tại khu vực nông thôn của Trung Quốc là khoảng 98,99 triệu theo chuẩn nghèo Trung Quốc, chiếm 10,2% dân số khu vực nông thôn. Một báo cáo của Đại học Bắc Kinh cho biết theo số liệu thu nhập năm 2012, 1% các gia đình giàu có nhất tại Trung Quốc sở hữu hơn 1/3 giá trị tài sản toàn quốc, 25% các gia đình nghèo nhất chiếm 1% giá trị tài sản toàn quốc.
=== Hàng giả ===
Ngoài công nghệ sản xuất quy mô, nền kinh tế Trung Hoa lục địa còn có những điểm nghiêm trọng trực tiếp liên quan đến tội phạm và những đường dây buôn hàng giả. Hoa lục là nguồn xuất phát của 70% lượng hàng giả bị tịch thu trên toàn thế giới trong khoảng những năm 2008-2010. Tổng giá trị hàng giả trên thế giới là khoảng 25 tỷ USD, tương đương với 2% tổng mậu dịch thế giới. Gộp chung các tổ chức phạm pháp buôn người, buôn hàng tiêu thụ, dược phẩm, lâm sản và dã thú bị nghiêm cấm, Các tổ chức buôn hàng giả tại vùng Đông Á có lợi nhuận mỗi năm lên khoảng 90 tỷ USD. Riêng tại Hoa kỳ thì 87% hàng giả bị nhà chức trách bắt được là làm ở Hoa lục.
Hàng giả được bày bán công khai. Bắc Kinh tuy có ra tay dẹp bỏ hàng giả nhưng phần thi hành lỏng lẻo, lại vì chính quyền tham nhũng nên nhà sản xuất vẫn có thể hối lộ luồn lách để hoạt động như thường. Có địa phương như Yimu sống về sản xuất hàng giả. Công nghệ hàng giả quy mô đến mức chính quyền ngần ngại không dám dẹp bỏ vì đây là mối sinh nhai, cung cấp công ăn việc làm cho hàng triệu người.
== Khoa học và kỹ thuật ==
Trung Quốc dẫn đầu thế giới về khoa học và kỹ thuật cho đến thời Minh. Những phát hiện và phát minh từ thời cổ của Trung Quốc, như cách làm giấy, in, la bàn, và thuốc súng (Tứ đại phát minh), về sau trở nên phổ biến tại châu Á và châu Âu. Những nhà toán học tại Trung Quốc là những người đầu tiên sử dụng số âm. Tuy nhiên, đến thế kỷ 17, thế giới phương Tây vượt qua Trung Quốc trên phương diện phát triển khoa học và kỹ thuật.
Sau những thất bại quân sự liên tục trước các quốc gia phương Tây trong thế kỷ 19, những nhà cải cách người Trung Quốc bắt đầu đề xướng khoa học và kỹ thuật hiện đại, một phần của vận động Tự cường. Sau khi lực lượng Cộng sản lên nắm quyền vào năm 1949, họ tiến hành các nỗ lực nhằm tổ chức khoa học và kỹ thuật dựa theo mô hình của Liên Xô, theo đó nghiên cứu khoa học là bộ phận của kế hoạch tập trung. Sau khi Mao Trạch Đông từ trần vào năm 1976, khoa học kỹ thuật được xác định là một trong "Bốn cái hiện đại hóa", và chế độ học thuật theo phong cách Liên Xô dần được cải cách.
Kể từ khi kết thúc Cách mạng văn hóa, Trung Quốc đã đầu tư đáng kể cho nghiên cứu khoa học, dành trên 100 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển khoa học riêng trong năm 2011. Khoa học và kỹ thuật được nhìn nhận là trọng yếu để đạt được các mục tiêu kinh tế và chính trị, và có ảnh hưởng như một nguồn tự hào dân tộc đến mức đôi khi được mô tả là "Chủ nghĩa dân tộc kỹ thuật". Mặc dù một số nhà khoa học sinh tại Trung Quốc từng đoạt giải Nobel Vật lý và giải Nobel Hóa học, song họ đều đạt học vị tiến sĩ và tiến hành nghiên cứu đoạt giải Nobel tại phương Tây. Hiện tại thì Trung Quốc đang đối mặt với nhiều cáo buộc ăn cắp công nghệ như một phần trong xu hướng hiện đại hóa đất nước. Việc giành lấy các công nghệ bí mật một cách bất hợp pháp sẽ ít tốn kém và giúp Trung Quốc đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa bằng cách bỏ qua các vấn đề đòi hỏi nhiều năm nghiên cứu để giải quyết từ kinh tế cho đến quân sự bằng nhiều con đường khác nhau.
Trung Quốc đang phát triển nhanh chóng hệ thống giáo dục của mình với trọng tâm là khoa học, toán học, và kỹ thuật; năm 2009, hệ thống này đào tạo ra trên 10.000 tiến sĩ kỹ thuật, và 500.000 cử nhân, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Trung Quốc cũng là nơi xuất bản các bài báo khoa học nhiều thứ hai trên thế giới, với 121.500 bài trong năm 2010. Các công ty kỹ thuật của Trung Quốc như Huawei và Lenovo đứng hàng đầu thế giới về viễn thông và điện toán cá nhân, và các siêu máy tính Trung Quốc luôn có tên trong danh sách mạnh nhất thế giới. Trung Quốc cũng trải qua một sự tăng trưởng đáng kể trong việc sử dụng robot công nghiệp; từ năm 2008 đến năm 2011, việc lắp đặt robot đa chức năng tăng đến 136%.
Chương trình không gian của Trong Quốc nằm vào hàng tích cực nhất thế giới, và là một nguồn quan trọng của niềm tự hào dân tộc. Năm 1970, Trung Quốc phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của mình là Đông Phương Hồng I, trở thành quốc gia thứ năm có thể thực hiện điều này một cách độc lập. Năm 2003, Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba độc lập đưa người vào không gian, với chuyến bay vũ trụ của Dương Lợi Vĩ trên Thần Châu 5; đến tháng 6 năm 2013, có 10 công dân Trung Quốc đã thực hiện hành trình vào không gian. Năm 2011, môđun trạm không gian đầu tiên của Trung Quốc là Thiên Cung 1 được phóng, đánh dấu bước đầu tiên trong một kế hoạch nhằm lắp ráp một trạm quy mô lớn có người điều khiển vào đầu thập niên 2020. Năm 2013, Trung Quốc thành công trong việc hạ cánh tàu thăm dò Thường Nga 3 và một xe tự hành Ngọc Thố lên Mặt Trăng.
== Cơ sở hạ tầng ==
Trung Quốc hiện có số lượng điện thoại di động hoạt động nhiều nhất thế giới, với trên 1 tỷ người sử dụng tính đến tháng 2 năm 2012. Quốc gia này cũng đứng đầu thế giới về số người sử dụng Internet và băng thông rộng, với trên 591 triệu người sử dụng Internet tính đến năm 2013, tương đương khoảng 44% dân số toàn quốc. Một báo cáo vào năm 2013 biểu thị rằng tốc độ đường truyền Internet trung bình toàn quốc là 3,14 MB/s. China Telecom và China Unicom là hai nhà cung cấp băng thông rộng lớn nhất thế giới, chiếm 20% số thuê bao băng thông rộng toàn cầu. China Telecom phục vụ trên 50 triệu thuê bao băng thông rộng, con số của China Unicom là trên 40 triệu (đến năm 2010). Một số công ty viễn thông của Trung Quốc, đáng chú ý nhất là Huawei và ZTE, bị cáo buộc làm gián điệp cho quân đội Trung Quốc. Trung Quốc đang phát triển hệ thống định vị vệ tinh riêng được đặt tên là Bắc Đẩu.
Kể từ cuối thập niên 1990, mạng lưới đường bộ quốc gia của Trung Quốc được mở rộng đáng kể thông qua thiết lập một mạng lưới quốc đạo và công lộ cao tốc. Năm 2011, các quốc đạo của Trung Quốc đạt tổng chiều dài 85.000 km (53.000 mi), trở thành hệ thống công lộ dài nhất trên thế giới. Trung Quốc sở hữu thị trường lớn nhất thế giới đối với ô tô, vượt qua Hoa Kỳ về cả bán và sản xuất ô tô. Số xe bán được trong năm 2009 vượt quá 13,6 triệu và dự đoán đạt 40 triệu vào năm 2020. Trong các khu vực đô thị, xe đạp vẫn là một phương tiện giao thông phổ biến, tính đến năm 2012, có khoảng 470 triệu xe đạp tại Trung Quốc.
Hệ thống đường sắt Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, nằm trong số các hệ thống nhộn nhịp nhất trên thế giới. Tính đến năm 2013, mạng lưới đường sắt Trung Quốc có tổng chiều dài 103.144 km (64.091 mi), xếp hạng ba trên thế giới. Năm 2013, đường sắt Trung Quốc vận chuyển khoảng 2,106 tỷ lượt hành khách, khoảng 3,967 tỷ tấn hàng hóa. Hệ thống đường sắt cao tốc Trung Quốc bắt đầu được xây dựng từ đầu thập niên 2000, xếp hàng đầu thế giới về chiều dài với 11.028 kilômét (6.852 dặm) đường ray vào năm 2013. Mạng lưới đường ray đường sắt cao tốc được dự tính đạt khoảng 16.000 km (9.900 mi) vào năm 2020. Tính đến tháng 5 năm 2014, 20 thành phố tại Trung Quốc có hệ thống đường sắt đô thị đã đi vào hoạt động, dự tính sẽ có thêm nhiều thành phố sở hữu hệ thống này cho đến năm 2020.
Tính đến năm 2012, Trung Quốc có 182 cảng hàng không thương mại, và trên hai phần ba số cảng hàng không được xây dựng trên toàn cầu trong năm 2013 là tại Trung Quốc, và Boeing cho rằng phi đội thương mại hoạt động tại Trung Quốc sẽ tăng từ 1.910 trong năm 2011 lên 5.980 vào năm 2031. Khoảng 80% không phận của Trung Quốc vẫn bị hạn chế cho sử dụng quân sự, và các hãng hàng không Trung Quốc chiếm tám trong số mười hãng hàng không châu Á tệ nhất về phương diện trì hoãn. Trong năm 2013, Sân bay quốc tế Thủ đô Bắc Kinh xếp hạng nhì thế giới về vận chuyển hành khách.
Trung Quốc có trên 2.000 cảng sông và cảng biển, khoảng 130 trong số đó mở cửa cho thuyền ngoại quốc. Năm 2012, các cảng Thượng Hải, Hồng Kông, Thâm Quyến, Ninh Ba-Chu Sơn, Quảng Châu, Thanh Đảo, Thiên Tân, Đại Liên xếp hàng đầu thế giới về vận chuyển số lượng container và trọng tải hàng hóa.
== Nhân khẩu ==
Theo kết quả điều tra nhân khẩu toàn quốc năm 2010, dân số nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 1.370.536.875. Khoảng 16,60% dân số từ 14 tuổi trở xuống, 70,14% từ 15 đến 59 tuổi, và 13,26% từ 60 tuổi trở lên. Do dân số đông và tài nguyên thiên nhiên suy giảm, chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến tốc độ tăng trưởng dân số, và từ năm 1978 họ đã nỗ lực tiến hành với kết quả khác nhau, nhằm thi hành một chính sách kế hoạch hóa gia đình nghiêm ngặt được gọi là "chính sách một con." Trước năm 2013, chính sách này tìm cách hạn chế mỗi gia đình có một con, ngoại trừ các dân tộc thiểu số và linh hoạt nhất định tại các khu vực nông thôn. Một nới lỏng lớn về chính sách được han hành vào tháng 12 năm 2013, cho phép các gia đình có hai con nếu một trong song thân là con một. Dữ liệu từ điều tra nhân khẩu năm 2010 cho thấy rằng tổng tỷ suất sinh là khoảng 1,4. Chính sách một con cùng với truyền thống trọng nam có thể góp phần vào mất cân bằng về tỷ suất giới tính khi sinh. Theo điều tra nhân khẩu năm 2010, tỷ suất giới tính khi sinh là 118,06 nam/100 nữ, cao hơn mức thông thường là khoảng 105 nam/100 nữ. Kết quả điều tra nhân khẩu vào năm 2013 cho thấy nam giới chiếm 51,27% tổng dân số. trong khi con số này vào năm 1953 là 51,82%.
Trung Quốc chính thức công nhận 56 dân tộc riêng biệt, dân tộc đông dân nhất là người Hán, chiếm khoảng 91,51% tổng dân số. Người Hán là dân tộc đơn lẻ lớn nhất trên thế giới,, chiếm thiểu số tại Tây Tạng và Tân Cương và đông hơn các dân tộc khác tại các đơn vị hành chính cấp tỉnh còn lại. Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 8,49% tổng dân số Trung Quốc theo kết quả điều tra nhân khẩu năm 2010. So với điều tra nhân khẩu năm 2000, dân số người Hán tăng 66.537.177, hay 5,74%, trong khi tổng dân số của 55 dân tộc thiểu số tăng 7.362.627, hay 6,92%. Điều tra nhân khẩu năm 2010 cho thấy có 593.832 công dân ngoại quốc cư trú tại Trung Quốc, các nhóm lớn nhất đến từ Hàn Quốc (120.750), Hoa Kỳ (71.493) và Nhật Bản (66.159).
Trung Quốc có 292 ngôn ngữ đang tồn tại. Các ngôn ngữ phổ biến nhất thuộc nhánh Hán của ngữ hệ Hán-Tạng, gồm có Quan thoại (bản ngữ của 70% dân số), và các ngôn ngữ Hán khác: Ngô, Việt (hay Quảng Đông), Mân, Tương, Cám, và Khách Gia. Các ngôn ngữ thuộc nhánh Tạng-Miến như Tạng, Khương, Lô Lô được nói trên khắp cao nguyên Thanh Tạng và Vân Quý. Các ngôn ngữ thiểu số khác tại tây nam Trung Quốc gồm các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai như tiếng Choang, H'Mông-Miền và Nam Á. Tại khu vực đông bắc và tây bắc của Trung Quốc, các dân tộc thiểu số nói các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Altai như tiếng Mông Cổ và ngữ hệ Turk như tiếng Duy Ngô Nhĩ. Tiếng Triều Tiên là bản ngữ tại một số khu vực sát biên giới với Bắc Triều Tiên, và tiếng Sarikoli của người Tajik ở miền tây Tân Cương là một ngôn ngữ Ấn-Âu.
Tiếng phổ thông là một dạng của Quan thoại dựa trên phương ngôn Bắc Kinh, là quốc ngữ chính thức của Trung Quốc và được sử dụng làm một ngôn ngữ thông dụng trong nước giữa những cá nhân có bối cảnh ngôn ngữ khác biệt. Chữ Hán được sử dụng làm văn tự cho các ngôn ngữ Hán từ hàng nghìn năm, tạo điều kiện cho người nói các ngôn ngữ và phương ngôn Hán không hiểu lẫn nhau có thể giao tiếp thông qua văn tự. Năm 1956, chính phủ Trung Quốc đưa ra chữ giản thể, thay thế cho chữ phồn thể. Chữ Hán được latinh hóa bằng hệ thống bính âm. Tiếng Tạng sử dụng chữ viết dựa trên mẫu tự Ấn Độ, các dân tộc Hồi giáo tại Trung Quốc thường sử dụng mẫu tự Ba Tư-Ả Rập, còn tiếng Mông Cổ tại Trung Quốc và tiếng Mãn sử dụng chữ viết bắt nguồn từ mẫu tự Duy Ngô Nhĩ cổ.
Trong hàng thiên niên kỷ, văn minh Trung Hoa chịu ảnh hưởng từ nhiều phong trào tôn giáo khác nhau, Tam giáo Trung Hoa bao gồm Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo trên phương diện lịch sử có tác động quan trọng trong việc định hình văn hóa Trung Hoa. Các yếu tố của Tam giáo thường được kết hợp vào các truyền thống tôn giáo quần chúng hoặc dân gian. Hiến pháp Trung Quốc đảm bảo quyền tự do tôn giáo, song các tổ chức tôn giáo không được chính thức chấp thuận có thể phải chịu bách hại ở quy mô quốc gia. Ước tính về nhân khẩu tôn giáo tại Trung Quốc có sự khác biệt. Một nghiên cứu năm 2007 cho thấy 31,4% người Trung Quốc trên 16 tuổi là tín đồ tôn giáo, một nghiên cứu vào năm 2006 thì cho thấy 46% dân số Trung Quốc là tín đồ tôn giáo. Một nghiên cứu vào năm 2007 cho thấy các cá nhân tự xác định là tín đồ Phật giáo chiếm 11–16% dân số trưởng thành tại Trung Quốc, trong khi tín đồ Cơ Đốc giáo chiếm khoảng 3–4%, và tín đồ Hồi giáo chiếm khoảng 1%.
Trung Quốc trải qua đô thị hóa đáng kể trong các thập niên vừa qua. Tỷ lệ dân số trong các khu vực đô thị tăng từ 20% vào năm 1990 lên 46% vào năm 2007. và dân số đô thị của Trung Quốc được dự tính đạt một tỷ vào năm 2030. Năm 2012, có trên 262 triệu công nhân di cư tại Trung Quốc. Trung Quốc có trên 160 thành phố có dân số [đô thị] trên một triệu, trong đó có bảy siêu đô thị (dân số hành chính trên 10 triệu) là Trùng Khánh, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu, Thiên Tân, Thâm Quyến, và Vũ Hán. Đến năm 2025, ước tính Trung Quốc sẽ có 221 thành phố có trên một triệu dân cư [đô thị].
=== Giáo dục ===
Kể từ năm 1986, giáo dục bắt buộc tại Trung Quốc bao gồm tiểu học và trung học cơ sở, tổng cộng kéo dài trong chín năm. Năm 2010, khoảng 82,5% học sinh tiếp tục học tập tại cấp trung học phổ thông kéo dài trong ba năm. Cao khảo là kỳ thi đầu vào đại học toàn quốc tại Trung Quốc, là điều kiện tiên quyết để nhập học trong hầu hết các cơ sở giáo dục bậc đại học. Năm 2010, 27% học sinh tốt nghiệp trung học tiếp tục theo học giáo dục đại học.
Trong tháng 2 năm 2006, chính phủ cam kết cung cấp giáo dục chín năm hoàn toàn miễn phí, bao gồm sách giáo khoa và các loại phí. Đầu tư cho giáo dục hàng năm nâng từ dưới 50 tỷ USD trong năm 2003 lên trên 250 tỷ USD trong năm 2011. Tuy nhiên, vẫn còn bất bình đẳng trong chi tiêu giáo dục; như trong năm 2010, chi tiêu giáo dục trung bình cho một học sinh trung học cơ sở tại Bắc Kinh là 20.023 NDT, trong khi tại Quý Châu là 3.204 NDT.
Tính đến năm 2010, 94% dân số trên 15 tuổi biết đọc biết viết, so với 20% vào năm 1950.
=== Y tế ===
Bộ Y tế cùng sở y tế cấp tỉnh giám sát nhu cầu y tế của dân cư Trung Quốc. Đặc điểm của chính sách y tế Trung Quốc kể từ đầu thập niên 1950 là tập trung vào y học công cộng và y học dự phòng. Đương thời, Đảng Cộng sản bắt đầu Chiến dịch y tế ái quốc nhằm cải thiện vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân, cũng như điều trị và ngăn ngừa một số bệnh. Các bệnh hoành hành tại Trung Quốc khi trước như tả, thương hàn và tinh hồng nhiệt gần như bị tiệt trừ trong chiến dịch này. Sau khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu thi hành cải cách kinh tế vào năm 1978, tình hình y tế của quần chúng Trung Quốc được cải thiện nhanh chóng do dinh dưỡng tốt hơn, song nhiều dịch vụ y tế công cộng miễn phí tại khu vực nông thôn biến mất cùng với các công xã nhân dân. Chăm sóc y tế tại Trung Quốc bị tư nhân hóa phần lớn, và có sự gia tăng đáng kể về chất lượng. Năm 2009, chính phủ bắt đầu một sáng kiến cung cấp chăm sóc y tế quy mô lớn kéo dài trong 3 năm trị giá 124 tỷ USD. Đến năm 2011, chiến dịch đạt kết quả 95% dân số Trung Quốc có bảo hiểm y tế cơ bản. Năm 2011, Trung Quốc được ước tính là nước cung cấp dược phẩm lớn thứ ba thế giới, song dân cư Trung Quốc phải chịu tổn hại từ việc phát triển và phân phối các dược phẩm giả.
Tuổi thọ dự tính khi sinh tại Trung Quốc là 75 năm, và tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh là 11‰ vào năm 2013. Cả hai chỉ số đều được cải thiện đáng kể so với thập niên 1950. Tỷ lệ còi cọc bắt nguồn từ thiếu dinh dưỡng giảm từ 33,1% vào năm 1990 xuống 9,9% vào năm 2010. Mặc dù có các cải thiện đáng kể về y tế và kiến thiết cơ sở y tế tiến bộ, song Trung Quốc có một số vấn đề y tế công cộng mới nổi, như các bệnh về đường hô hấp do ô nhiễm không khí trên quy mô rộng, hàng trăm triệu người hút thuốc lá, và sự gia tăng béo phì trong các dân cư trẻ tại đô thị. Dân số lớn và các thành phố đông đúc dẫn đến bùng phát các dịch bệnh nghiêm trọng trong thời gian gần đây, như bùng phát SARS vào năm 2003. Năm 2010, ô nhiễm không khí khiến cho 1,2 triệu người chết sớm tại Trung Quốc.
== Văn hóa ==
Từ thời cổ đại, văn hóa Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng mạnh từ Nho giáo và các triết học bảo thủ. Trong hầu hết các triều đại, có thể đạt được cơ hội thăng tiến xã hội thông qua việc giành thành tích cao trong các kỳ khoa cử vốn bắt đầu từ thời Hán. Chú trọng văn chương trong các kỳ khoa cử tác động đến nhận thức chung về tinh thế văn hóa tại Trung Quốc, như niềm tin rằng thư pháp, thi họa là các loại hình nghệ thuật đứng trên nhạc kịch. Văn hóa Trung Quốc từ lâu đã tập trung vào ý thức lịch sử sâu sắc và phần lớn là hướng nội. Khảo thí và nhân tài vẫn được đánh giá rất cao tại Trung Quốc hiện nay.
Các lãnh đạo đầu tiên của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tìm cách thay đổi một số khía cạnh truyền thống của văn hóa Trung Quốc, như quyền chiếm hữu đất tại nông thôn, phân biệt giới tính, và hệ thống Nho học trong giáo dục, trong khi duy trì những khía cạnh khác, như cấu trúc gia đình và văn hóa phục tùng quốc gia. Một số nhà quan sát nhìn nhận giai đoạn sau năm 1949 như một sự tiếp tục lịch sử triều đại Trung Hoa truyền thống, một số khác thì cho rằng sự thống trị của Đảng Cộng sản gây tổn hại cho nền tảng của văn hóa Trung Hoa, đặc biệt là qua các phương trào chính trị như Cách mạng văn hóa trong thập niên 1960, khi đó nhiều khía cạnh văn hóa truyền thống bị phá hủy do bị nhìn nhận là lạc hậu hay tàn tích của phong kiến. Nhiều khía cạnh quan trọng của đạo đức và văn hóa Trung Hoa truyền thống, như Khổng giáo, nghệ thuật, văn chương, nghệ thuật trình diễn như Kinh kịch, bị biến đổi để phù hợp với các chính sách và tuyên truyền của chính phủ vào đương thời. Hiện nay, việc tiếp cận với truyền thông ngoại quốc bị hạn chế cao độ; mỗi năm chỉ có 34 phim ngoại quốc được phép trình chiếu trong các rạp chiếu phim tại Trung Quốc.
Ngày nay, chính phủ Trung Quốc chấp thuận nhiều yếu tố của văn hóa Trung Hoa truyền thống có tính nguyên đối với xã hội Trung Quốc. Cùng với sự gia tăng của chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa và kết thúc Cách mạng văn hóa, nhiều hình thức nghệ thuật, văn chương, âm nhạc, điện ảnh, trang phục, và kiến trúc về Trung Hoa truyền thống chứng kiến một sự phục hưng mạnh mẽ, Trung Quốc hiện đứng thứ ba thế giới về số du khách ngoại quốc đến tham quan, với 55,7 khách quốc tế trong năm 2010. Ước tính có 740 triệu du khách Trung Quốc lữ hành nội địa trong tháng 10 năm 2012.
Ẩm thực Trung Quốc rất đa dạng, có nền tảng là lịch sử ẩm thực kéo dài hàng thiên niên kỷ. Các quân chủ Trung Hoa cổ đại được biết là có nhiều phòng ăn trong cung, mỗi phòng lại chia thành vài gian, mỗi gian phục vụ một loại món ăn đặc trưng. Lúa gạo là cây lương thực phổ biến nhất, được trồng tại phía nam Hoài Hà; lúa mì là loại cây trồng phổ biến thứ nhì và tập trung tại đồng bằng miền bắc. Thịt lợn là loại thịt phổ biến nhất tại Trung Quốc, chiếm khoảng ba phần tư tổng lượng tiêu thụ thịt toàn quốc. Gia vị là trọng tâm trong ẩm thực Trung Hoa.
=== Thể thao ===
Trung Quốc sở hữu một trong những văn hóa thể thao lâu đời nhất trên thế giới. Có bằng chứng biểu thị rằng bắn cung (xạ tiễn) được thực hành từ thời Tây Chu. Đấu kiếm (kiếm thuật) và một dạng bóng đá (xúc cúc) cũng truy nguyên từ các triều đại ban đầu của Trung Quốc. Ngày nay, một số môn thể thao phổ biến nhất tại Trung Quốc gồm võ thuật, bóng rổ, bóng đá, bóng bàn, cầu lông, bơi và snooker. Các trò chơi trên bàn như cờ vây, cờ tướng, và gây đây hơn là cờ vua cũng được chơi ở cấp độ chuyên nghiệp.
Rèn luyện thể chất được chú trọng cao trong văn hóa Trung Hoa, các bài tập buổi sáng như khí công và thái cực quyền được thực hành rộng rãi, và phòng tập thể dục và câu lạc bộ sức khỏe thương mại trở nên phổ biến trên toàn quốc. Những thanh niên Trung Quốc cũng thích bóng đá và bóng rổ, đặc biệt là trong các trung tâm đô thị có không gian hạn chế. Ngoài ra, Trung Quốc là nơi có số người đi xe đạp lớn nhất, với 470 triệu xe đạp trong năm 2012. Nhiều môn thể thao truyền thống khác như đua thuyền rồng, vật kiểu Mông Cổ, và đua ngựa cũng phổ biến.
Trung Quốc tham dự Thế vận hội lần đầu tiên vào năm 1932, và với quốc hiệu hiện hành từ năm 1952. Trung Quốc đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2008 tại Bắc Kinh, và giành được số huy chương vàng nhiều nhất trong số các quốc gia tham dự.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web con người Trung Quốc tiếng Trung: {{{1}}}
Trang web của Ban Tiếng Việt Nam Đài Phát thanh Quốc tế Trung Quốc (tiếng Việt)
China.org.cn Wedsite chính quyền Trung Quốc (tiếng Anh)
Tin tức Trung Quốc
Chinese politics: New York Times (cần đăng ký)
China in red – PBS: Frontline
Khám phá Trung Quốc
Go Taikonauts! – Trang Web của một người dân Trung Quốc về chương trình vũ trụ Trung Quốc
Bài đọc về chương trình vũ trụ của Trung Quốc |
lục quân lục địa.txt | Lục quân Lục địa Mỹ (tiếng Anh: American Continental Army) là một quân đội được các thuộc địa mà sau này trở thành Hoa Kỳ thành lập sau khi bùng nổ Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Được thành lập theo một giải pháp của Quốc hội Lục địa vào ngày 14 tháng 6 năm 1775, lục quân được triển khai để điều hợp những nỗ lực quân sự của mười ba thuộc địa trong cuộc tranh đấu của họ chống lại sự cai trị của Vương quốc Anh. Lục quân Lục địa liên kết với các nhóm dân quân địa phương và quân lực khác mà đang nằm dưới sự kiểm soát của các tiểu bang thành viên. Tướng George Washington là tổng tư lệnh lục quân này trong suốt thời gian chiến tranh.
Phần lớn Lục quân Lục địa bị giải tán vào năm 1783 sau Hiệp định Paris (1783) kết thúc chiến tranh. Các đơn vị còn lại có lẽ được tập hợp thành những hạt nhân của lục quân mới mà sau đó trở thành Lục quân Hoa Kỳ.
== Thành lập ==
Khi Chiến tranh Cách mạng Mỹ bắt đầu với Các trận đánh Lexington và Concord vào tháng 4 năm 1775, các nhà cách mạng thực dân không có một quân đội. Trước đó, mỗi thuộc địa đều lệ thuộc vào dân quân được thành lập như những chiến sĩ-công dân bán thời gian vì mục đích bảo vệ địa phương. Khi cẳng thẳng với Vương quốc Anh gia tăng trong những năm dẫn đến chiến tranh, những người thực dân bắt đầu cải cách các nhóm dân quân để chuẩn bị cho cuộc xung đột tiềm ẩn. Việc huấn luyện dân quân gia tăng sau khi Vương quốc Anh thông qua Các Đạo luật bất nhân nhượng (Intolerable Acts) vào năm 1774. Những người thực dân như Richard Henry Lee đã đề nghị thành lập một lực lượng dân quân quốc gia nhưng Đệ nhất Quốc hội Lục địa bác bỏ ý tưởng này.
Sau trận Lexington và Concord, hàng ngàn dân quân từ Tân Anh Cát Lợi tập hợp lại để chống lại cuộc vây hãm Boston của quân Anh. Ngày 14 tháng 6 năm 1775, Đệ nhị Quốc hội Lục địa quyết định triển khai việc thành lập một Lục quân Lục địa vì mục đích phòng vệ chung, nhận các lực lượng dân quân đang có mặt bên ngoài Boston làm các đơn vị đầu tiên của quân đội. Ngày 15 tháng 6, quốc hội bỏ phiếu áp đảo bầu George Washington làm tổng tư lệnh. Washington chấp nhận cương vị này mà không đòi hỏi bất cứ tiền lương nào ngoài việc lấy lại tiền túi chi tiêu của mình.
Bốn thiếu tướng (Artemas Ward, Charles Lee, Philip Schuyler, và Israel Putnam) và tám chuẩn tướng (Seth Pomeroy, Richard Montgomery, David Wooster, William Heath, Joseph Spencer, John Thomas, John Sullivan, và Nathanael Greene) được bổ nhiệm trong thời gian vài ngày.
Khi Quốc hội Lục địa gia tăng đảm nhận thêm trách nhiệm và tình hình của một nghi viện của một quốc gia có chủ quyền thi vai trò của Lục quân Lục địa là chủ đề của cuộc tranh luận khá nổi bật. Duy trì một lục quân hiện dịch đã gây nên sự phản cảm trong số người Mỹ nhưng mặt khác vì điều kiện cần thiết của một cuộc chiến chống người Anh nên cần có sự kỷ luật và sự tổ chức của một lục quân hiện đại. Kết quả là lục quân đã trải qua nhiều giai đoạn rõ rệt bằng việc giải tán và tái tổ chức các đơn vị.
Binh sĩ trong Lục quân Lục địa là các công dân tình nguyện phục vụ trong lục quân (nhưng được trả lương). Có những thời điểm khác nhau trong suốt cuộc chiến, thời gian tại ngũ chuẩn kéo dài từ một đến 3 năm.
Nói chung thì các lực lượng của Lục quân Lục địa gồm có một số lục quân kế nhiệm sau:
Lục quân Lục địa năm 1775 gồm lục quân Tân Anh Cát Lợi ban đầu được Washington tổ chức thành ba sư đoàn. Ngoài ra còn có 10 trung đoàn của trung tướng Philip Schuyler được phái sang xâm nhập Canada.
Lục quân Lục địa năm 1776 được tái tổ chức sau thời kỳ nhập ngũ đầu tiên của các binh sĩ thuộc lục quân năm 1775 hết hạn. Washington đệ trình những kiến nghị đến Quốc hội Lục địa ngay sau khi ông nhận vị trí tổng tư lệnh nhưng những kiến nghị này mất một khoảng thời gian để được cứu xét và thực hiện. Mặc dù cố gắng mở rộng phạm vi tuyển quân ra ngoài vùng Tân Anh Cát Lợi nhưng lục quân năm 1776 vẫn nghiêng về vùng đông bắc cả về mặt trọng tâm địa lý và thành phần binh sĩ.
Lục quân Lục địa năm 1777-80 là kết quả của một số cải cách và quyết định chính trị tới hạn khi rõ ràng rằng người Anh đang đưa những lực lượng khổng lồ đến với mục đích dẹp tan Cách mạng Mỹ. Quốc hội Lục địa phê chuẩn giải pháp thành lập 88 tiểu đoàn, ra lệnh mỗi tiểu bang đóng góp số binh sĩ theo tỉ lệ dân số của mình, và Washington sau đó được quyền tuyển mộ thêm 16 tiểu đoàn nữa. Thời gian tại ngũ được nâng lên đến 3 năm hay "chiều dài của cuộc chiến" để tránh khủng hoảng thiếu quân vào cuối năm mà có thể làm suy yếu các lực lượng.
Lục quân Lục địa năm 1781-82 chứng kiến cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất bên phía lực lượng Mỹ. Quốc hội bị phá sản nên việc thay thế các binh sĩ sắp hết hạn quân dịch 3 năm gặp nhiều khó khăn. Sự ủng hộ của dân chúng dành cho chiến tranh đang ở mức độ thấp và Washington phải dập tắc các cuộc phản loạn tại cả hai quân khu Pennsylvania và New Jersey. Quốc hội bỏ phiếu cắt giảm tài chính cho lục quân nhưng dù thế Washington vẫn lãnh đạo giành được các chiến thắng quan trọng mang tính chiến lược.
Lục quân Lục địa năm 1783-84 được thừa kế bởi Lục quân Hoa Kỳ mà vẫn còn hoạt động đến ngày nay. Khi hòa bình đến gần với người Anh, phần đông các trung đoàn được giải tán một cách có trật tự.
Ngoài các binh sĩ Lục quân Lục địa chính quy, các đơn vị địa phương quân, được tuyển mộ và tài trợ bởi các tiểu bang/thuộc địa, đã tham chiến trong suốt thời gian chiến tranh. Đôi khi các đơn vị địa phương quân được kêu gọi để hỗ trợ và tăng cường cho lục quân chính quy trong suốt các cuộc hành quân.
Trách nhiệm tài chánh cung cấp tiền lương, thực phẩm, chỗ ở, quần áo, và trang thiết bị dành cho các đơn vị đặc biệt được giao cho các tiểu bang như một phần của việc thành lập các đơn vị này. Các tiểu bang bất đồng với nhau về các nghĩa vụ này. Thường hay xảy ra các vấn đề tài trợ và vấn đề tinh thần chiến đấu trong khi chiến tranh đang tiếp diễn. Điều này đã dẫn đến việc lục quân trả lương thấp, cung cấp thực phẩm hư, bắt làm việc vất vả. Quân nhân chịu đựng những điều kiện thời tiết nóng hoặc lạnh với quần áo và nơi trú ẩn tồi tệ, vô kỷ luật và xác suất bị thương vong cao.
== Các chiến dịch ==
Vào lúc có cuộc bao vây Boston, Lục quân Lục địa tại Cambridge, Massachusetts vào tháng 6 năm 1775 được ước lượng có quân số từ 14-16.000 người từ Tân Anh Cát Lợi (mặc dù con số thực tế có thể thấp hơn là 11.000 người vì đào ngũ). Cho đến khi Washington nhận chức tổng tư lệnh thì quân số này vẫn nằm với quyền tư lệnh của Artemas Ward trong khi đó John Thomas có vai trò là sĩ quan hành chính và Richard Gridley chỉ huy các đơn vị pháo binh và là công binh trưởng.
Lực lượng Anh tại Boston đang gia tăng với các đợt chuyển binh sĩ mới đến. Lúc đó họ có khoảng 10.000 binh sĩ. Các thiếu tướng William Howe, Henry Clinton, và John Burgoyne đến vào cuối tháng 5 và cùng với tướng Thomas Gage hoạch định và tiến hành các kế hoạch để đập tan quân nổi dậy. Cảm giác an toàn với sự hiện diện của các sĩ quan kỳ cựu này và các binh sĩ quanh mình; sự hiện diện của một số tàu chiến dưới quyền của đô đốc Samuel Graves— thống đốc ra lệnh thiết quân lực, gán danh cho toàn bộ Lục quân Lục địa và những người ủng hộ là "những kẻ nổi loạn" và "những kẻ phản bội Hiến pháp." Lệnh ân xá được ban hành dành cho những ai từ bỏ lòng trung thành đối với Lục quân Lục địa và Quốc hội Lục địa mặc dù Samuel Adams và John Hancock vẫn còn bị truy nã vì tội phản quốc. Việc tuyên bố như vậy chỉ làm tăng thêm sức mạnh của Lục quân Lục địa.
Sau khi người Anh rút bỏ Boston (bị bắt buộc rút khỏi vì hỏa lực pháo binh của Lục quân Lục địa đặt trên cao nhìn xuống thành phố vào tháng 3 năm 1776), Lục quân Lục địa di chuyển đến New York. Trong năm năm kế tiếp, những bộ phận chính của Lục quân Lục địa và lực lượng Anh mở các chiến dịch chống lại nhau tại New York, New Jersey, và Pennsylvania. Những chiến dịch này gồm có những trận đánh nổi bật như Trenton, Princeton, Brandywine, Germantown, và Morristown.
Lục quân Lục địa được hợp nhất về mặt chủng tộc, một điều mà Lục quân Hoa Kỳ sau đó không có được cho đến Chiến tranh thế giới thứ hai. Những người Mỹ nô lệ gốc châu Phi được hứa hẹn tự do nếu phục vụ trong lục quân tại Tân Anh Cát Lợi. Họ chiếm 1/5 quân số của Lục quân Lục địa miền Bắc.
Suốt thời gian tồn tại, Lục quân Lục địa gặp nhiều vấn đề như tiếp vận tồi tệ, thiếu huấn luyện, tuyển quân ngắn hạn, đối nghịch giữa các tiểu bang, và Quốc hội Lục địa không có khả năng áp chế các tiểu bang cung ứng lương thực, tiền bac hay tiếp liệu. Ban đầu binh sĩ được tuyển mộ với thời gian phục vụ là 1 năm. Phần lớn họ là những người tự nguyện vì lòng yêu nước. Nhưng khi chiến tranh lan rộng, tiền thưởng để gia nhập lục quân và các hình thức khuyến khích khác được dùng đến. Hai cuộc nổi loạn chính xảy ra vào cuối chiến tranh đã làm tổn hại nghiêm trọng đến sự hiệu quả của hai trong số các đơn vị chủ lực.
Lục quân gia tăng hiệu quả và tỉ lệ thành công qua một loạt các thử nghiệm và sai lầm, thường đi cùng với thiệt hại nhân mạng nặng nề. Tướng Washington và các sĩ quan nổi bật khác là những chỉ huy chủ đạo trong việc duy trì thống nhất, học tập và ứng dụng, và giữ kỷ luật trong suốt 8 năm chiến tranh. Vào mùa đông năm 1777-78, với sự tham dự của Friedrich Wilhelm von Steuben người gốc Phổ, việc huấn luyện và kỷ luật của Lục quân Lục địa bắt đầu cải thiện lớn lao.
Gần cuối chiến tranh, Lục quân Lục địa được tăng cường bởi một lực lượng viễn chinh của Pháp do tướng Jean-Baptiste Donatien de Vimeur chỉ huy và một hải đội của Hải quân Pháp. Cuối mùa hè năm 1781, bộ phận chính của lục quân di chuyển về miền nam đến Virginia để họp mặt với hạm đội Tây Ấn của Pháp dưới quyền chỉ huy của đô đốc Comte de Grasse. Việc này dẫn đến cuộc bao vây Yorktown, trận Chesapeake có tính quyết định, và việc quân đội Anh ở miền nam đầu hàng. Đến đây coi như đánh dấu sự kết thúc của cuộc chiến trên bộ tại Mỹ mặc dù Lục quân Lục địa còn quay trở lại phong tỏa quân đội Anh ở miền bắc tại New York cho đến khi hiệp ước hòa bình có hiệu lực hai năm sau đó.
== Giải ngũ và tái tổ chức ==
Một lực lượng còn lại vẫn đóng quân tại West Point, New York và một số tiền đồn biên giới cho đến khi Quốc hội Lục địa thành lập Lục quân Hoa Kỳ bằng nghị quyết 3 tháng 6 năm 1784.
Kế hoạch chuyển tiếp thành một lực lượng thời bình bắt đầu vào tháng 4 năm 1783 theo lời yêu cầu của một hội đồng quốc hội do Alexander Hamilton làm chủ tọa. Tổng tư lệnh thảo luận vấn đề với các sĩ quan chính trước khi trình lên bản báo cáo chính thức của lục quân vào ngày 2 tháng 5. Đáng nói ở đây là có một sự đồng thuận rộng rãi về khung sườn căn bản trong các sĩ quan. Washington đề nghị lập bốn bộ phận: một lục quân chính quy nhỏ, một đoàn địa phương quân có tổ chức và được huấn luyện, một hệ thống kho vũ khí, và một học viện quân sự để huấn luyện các sĩ quan công binh và pháo binh. Washington muốn có 4 trung đoàn bộ binh mà mỗi trung đoàn sẽ được bố trí đến một phần biên giới nào đó. Ngoài ra ông cũng muốn có một trung đoàn pháo binh. Lời đề nghị tổ chức các trung đoàn của ông theo đúng như kiểu mẫu của Lục quân Lục địa nhưng có một sự sẵn sàng gia tăng sức mạnh trong trường hợp có chiến tranh. Washington trông mong rằng địa phương quân chính yếu sẽ duy trì an ninh quốc gia vào lúc khởi sự chiến tranh cho đến khi lục quân chính quy có thể mở rộng vai trò như đã từng thực hiện trong năm 1775 và 1776. Steuben và Duportail đệ trình những lời đề nghị của chính họ lên quốc hội để được xem xét.
Mặc dù quốc hội từ chối bỏ phiếu quyết định về việc thành lập lục quân thời bình vào ngày 12 tháng 5, quốc hội đã đề cập đến nhu cầu cần thiết là duy trì một số quân hiện dịch cho đến khi người Anh rút ra khỏi Thành phố New York và các tiền đồn biên giới. Các đại biểu quốc hội yêu cầu Washington sử dụng các binh sĩ được tuyển mộ theo thời hạn quân dịch định kỳ làm quân đồn trú tạm thời. Một toán quân như thế từ West Point đến tái chiếm New York mà không xảy ra cuộc chạm trán nào với quân Anh vào ngày 25 tháng 11. Khi nỗ lực thương lượng của Steuben (phía Lục quân Lục địa) nhằm chuyển giao các tiền đồn biên giới với thiếu tướng Frederick Haldimand (phía quân Anh) bị đổ vỡ vào tháng 7 thì người Anh tiếp tục kiểm soát các tiền đồn này. Vì sự thất bại này và việc nhận thấy rằng phần lớn các binh sĩ bộ binh được tuyển mộ sắp mãn nhiệm vào tháng 6 năm 1784 nên Washington đã ra lệnh cho Knox, người được ông chọn làm tư lệnh lục quân thời bình, giải ngũ tất cả trừ 500 binh sĩ bộ binh và 100 pháo thủ trước khi mùa đông đến. Nhóm binh sĩ còn lại tập họp thành Trung đoàn Lục địa Jackson dưới quyền của đại tá Henry Jackson của Massachusetts. Đại đội pháo binh duy nhất, có tên là New Yorkers dưới quyền của John Doughty, tập hợp lại từ những thành phần còn lại của Trung đoàn Pháo binh Lục địa số 2.
Quốc hội ra tuyên bố vào ngày 18 tháng 10 năm 1783, chấp thuận việc giảm quân của Washington. Ngày 2 tháng 11, Washington cho đăng Sắc lệnh từ biệt của ông tại các tờ báo của Philadelphia để phân phát khắp đất nước đến những binh sĩ nghỉ phép. Washington tin rằng sự hòa đồng của mọi người từ mọi tiểu bang thành "một đoàn anh em yêu nước" là một thành quả lớn, và ông hối thúc các cựu chiến binh tiếp tục tận tụy trong cuộc sống dân sự.
Washington nói lời từ biệt đến các sĩ quan còn lại của mình vào ngày 4 tháng 12 tại Quán rượu Fraunces trong Thành phố New York. Ngày 23 tháng 12, ông xuất hiện trong quốc hội, lúc đó được nhóm hợp tại Annapolis, và trao lại chức vụ tổng tư lệnh. Quốc hội kết thúc Chiến tranh Độc lập Mỹ ngày 14 tháng 1 năm 1784 bằng việc phê chuẩn hiệp định hòa bình được ký kết tại Paris ngày 3 tháng 9.
Quốc hội lần nữa bác bỏ khái niệm về một lực lượng thời bình của Washington vào tháng 10 năm 1783. Khi những đại biểu ôn hòa giới thiệu một giải pháp thay thế vào tháng 4 năm 1784 nhằm cắt giảm lục quân xuống còn 900 người gồm 1 tiểu đoàn pháo binh và 3 tiểu đoàn bộ binh thì quốc hội cũng bác bỏ một phần vì New York sợ rằng các binh sĩ từ Massachusetts có thể đứng về phía tiểu bang của mình trong một cuộc tranh chấp đất đai giữa hai tiểu bang. Một đề nghị khác là giữ 350 binh sĩ và tuyển mộ thêm 700 tân binh cũng thất bại. Ngày 2 tháng 6, quốc hội ra lệnh giải ngũ toàn bộ binh sĩ trừ 25 binh sĩ đồn trú tại Đồn Pitt và 55 binh sĩ tại West Point. Ngày hôm sau, quốc hội thành lập lục quân thời bình mà các nhóm quan tâm khác nhau đều chấp nhận.
Kế hoạch này yêu cầu 4 tiểu bang tuyển mộ 700 binh sĩ phục vụ trong 1 năm. Quốc hội chỉ thị Bộ trưởng Chiến tranh thành lập lục quân thành 8 đại đội bộ binh và 2 đại đội pháo binh. Pennsylvania, với số lượng 260 binh sĩ, có quyền chỉ định một trung tá. Vị trung tá này sẽ là sĩ quan cao cấp. New York và Connecticut mỗi tiểu bang tuyển mộ 165 binh sĩ và mỗi tiểu bang được chỉ định một thiếu tá; phần còn lại 110 binh sĩ đến từ New Jersey.
Được chỉ huy bởi các cựu chiến binh, lục quân chính quy thời bình này lớn mạnh dần trong thập niên theo sau. Lục quân này thừa hưởng các quy định, luật lệ và truyền thống của Lục quân Lục địa. Sách Xanh của Steuben vẫn là sách chỉ nam chính thức cho quân chính quy cũng như địa phương quân của đa số tiểu bang cho đến khi Winfield Scott vào năm 1835 đã cho áp dụng những quy tắc quân sự năm 1791 của Pháp vào Lục quân Mỹ.
== Những trận đánh lớn ==
Cuộc bao vây Boston
Trận Long Island
Trận Trenton
Trận Princeton
Trận Brandywine
Trận Germantown
Trận Saratoga
Trận Monmouth
Cuộc bao vây Charleston
Trận Camden
Trận Cowpens
Trận Guilford Court House
Cuộc bao vây Yorktown
== Tham khảo ==
=== Ghi chú ===
=== Đọc thêm ===
Lengel, Edward G. General George Washington: A Military Life. New York: Random House, 2005. ISBN 1400060818.
Royster, Charles. A Revolutionary People at War: The Continental Army and American Character, 1775–1783. Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1979. ISBN 0807813850.
Carp, E. Wayne. To Starve the Army at Pleasure: Continental Army Administration and American Political Culture, 1775–1783. Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1984. ISBN 080781587X.
Gillett, Mary C. The Army Medical Department, 1775–1818. Washington: Center of Military History, U.S. Army, 1981.
Martin, James Kirby, and Mark Edward Lender. A Respectable Army: The Military Origins of the Republic, 1763–1789. 2nd ed. Wheeling, Illinois: Harlan Davidson, 2006. ISBN 0882952390.
Mayer, Holly A. Belonging to the Army: Camp Followers and Community during the American Revolution. Columbia: University of South Carolina Press, 1999. ISBN 1570033390; ISBN 1570031088.
Risch, Erna. Supplying Washington's Army. Washington, D.C.: Center of Military History, U.S. Army, 1981. Available online from the U.S. Army website.
=== Liên kết ngoài ===
RevWar75.com provides "an online cross-referenced index of all surviving orderly books of the Continental Army".
Wright, Robert K. The Continental Army. Washington, D.C.: Center of Military History, U.S. Army, 1983. Available, in part, online from the U.S. Army website |
hypena sordidula.txt | Hypena sordidula là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở Quebec và Maine phía nam đến miền bắc Florida và Texas, phía tây đến Louisiana và Kansas, phía bắc đến Manitoba.
Sải cánh dài 24–30 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 5 đến tháng 8. Có hai lứa trưởng thành một năm.
Ấu trùng ăn Laportea.
== Liên kết ngoài ==
Owlet Caterpillars of Eastern North America (Lepidoptera: Noctuidae)
Bug Guide
Images
== Chú thích == |
kinh tế slovakia.txt | Kinh tế Slovakia là một nền kinh tế cỡ vừa ở Trung Âu. Kinh tế Slovakia có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, tỉ lệ thất nghiệp đã giảm xuống. Năm 2006 theo thống kê chính thức, tăng trưởng GDP đạt 8,9%. Đến quý 3 năm, tăng trưởng GDP đạt 8.5%. [1]. Slovakia là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong số các nước thành viên của OECD và cao thứ ba trong EU (chỉ sau Estonia và Latvia).
Slovakia là thành viên của nhiều tổ chức quan trọng như Liên minh châu Âu, OECD, WTO. Thủ đô Bratislava là trung tâm tài chính lớn nhất của Slovakia.
== Chú thích == |
bành hồ.txt | Bành Hồ (chữ Hán: 澎湖; bính âm: Pénghú) là một quần đảo nằm tại eo biển Đài Loan, ở phía tây đảo Đài Loan. Quần đảo này bao gồm 90 đảo nhỏ với tổng diện tích 141 km². Cả quần đảo hình thành nên huyện Bành Hồ, thuộc Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), và là vùng đảo xa lớn nhất của Trung Hoa Dân Quốc.
== Tên gọi ==
Trong thế kỷ 16, khi người Bồ Đào Nha tiến đến phương Đông, phát hiện thấy vùng biển Bành Hồ có ngư sản phong phú, trên các đảo có rất nhiều ngư dân trú, vì thế đã gọi Bành Hồ là Pescadores (ngư phủ). Bành Hồ còn có các tên cổ là Đảo Di (島夷), Phương Hồ (方壺), Tây Doanh (西瀛), Đản Châu (亶州), Bình Hồ (平湖).
== Lịch sử ==
Việc tìm thấy đồ gốm văn thừng màu đỏ có chất lượng tốt ở Bành Hồ đã chỉ ra rằng người dân từ Tây Nam Đài Loan đã đến quần đảo này từ khoảng 5.000 năm trước, song họ không định cư lâu dài. Người Hán từ nam bộ Phúc Kiến bắt đầu thành lập các làng chài trên quần đảo từ thế kỷ 9 và 10, triều đình Nam Tống và Nguyên cho đóng quân một cách không liên tục tại quần đảo từ khoảng năm 1170. Tư liệu văn hiến có đề cập đến Bành Hồ sớm nhất của Trung Quốc xuất hiện vào thời Nam Tống, trong "Công quý tập" (攻媿集)- quyển 88 của Lâu Thược (樓鑰) có viết rằng: tháng 4 năm Càn Đạo thứ 7 (1171), khởi đầu từ Tuyền Châu, đến quận... quận thực Lâm Hải, giữa có bãi cát vài vạn mẫu, hiệu Bình Hồ, trong văn bản cũng mô tả Uông Đại Du (汪大猷) bảo hộ người Hán tại Bình Hồ chống lại sự cướp bóc của người Bì Xá Da (thổ dân Đài Loan), cho xây nhà 200 gian, khiển tướng trú thủ. Trong tiếng Mân Nam, Bình Hồ và Bành Hồ phát âm gần như nhau, giới học giả phổ biến đồng thuận rằng Bình Hồ là Bành Hồ. Đến thời Nguyên, với việc di dân ngày càng tăng lên, triều đình đã cho thiết lập tuần kiểm ti (巡檢司) tại Bành Hồ. Quần đảo cũng được mô tả trong một số chi tiết của sách Đảo di chí lược (島夷誌略) năm 1349 do thương nhân Uông Đại Uyên (汪大渊) viết.
Trong thế kỷ 15, nhà Minh đã ra hạ lệnh cho người Hán phải tản cư khỏi quần đảo, đây là một phần trong sách lược hải cấm của họ. Trong những năm Minh Thành Tổ và Minh Tuyên Tông tại vị, Trịnh Hòa đã tiến hành cuộc thám hiểm tây dương, và trong Trịnh Hòa hàng hải đồ có xuất hiện Bình Hồ tự (平湖嶼), tức là quần đảo Bành Hồ. Những hạn chế của nhà Minh đã bị bãi bỏ vào cuối thế kỷ 16, các làng chài được tái lập trên quần đảo, và đến khi người Bồ Đào Nha đến, họ đã đặt tên cho quần đảo là "Pescador" (ngư ông). Ngày 1 tháng 7 năm 1622, người Hà Lan đem 12 thuyền với 1024 lính xâm nhập cảng Ma Cung, lúc đó quân Minh đồn trú ở Bành Hồ đã rút đi, hàng nghìn cư dân Bành Hồ tiến hành kháng cự song không thành công. Sau khi chiếm cứ Bành Hồ, người Hà Lan tiến hành phòng bị lâu dài, bắt dân khuôn đá xây thành, bảo vệ các tuyến đường biển. Năm 1624, tuần phủ Phúc Kiến tấu lên triều đình và được chuẩn thuận tấn công người Hà Lan ở Bành Hồ, kết quả giành được thắng lợi, đuổi được người Hà Lan khỏi quần đảo, sau lại cho ba nghìn binh sĩ xây pháo đài phòng thủ.
Năm 1661, Trịnh Thành Công đã xuất binh từ Kim Môn, trước sau chiếm lĩnh Bành Hồ và khu vực do Hà Lan thống trị trên đảo Đài Loan, sau đó thiết lập An Phủ ti tại Bành Hồ. Năm 1683, thủy sư đề đốc nhà Thanh là Thi Lang tại hải chiến Bành Hồ đã đại phá hạm đội họ Trịnh, đánh chiếm Bành Hồ, tướng họ Trịnh là Lưu Quốc Hiên (劉國軒) phải rút chạy về Đài Loan, chính quyền họ Trịnh sau đó đầu hàng quân Thanh. Sau đó, triều Thanh đặt Bành Hồ dưới quyền cai quản của huyện Đài Loan ở nam bộ Đài Loan hiện nay. Năm 1767, thông phán Hồ Kiến Vĩ (胡建偉) hoàn thành việc biên soạn "Bành Hồ kỉ lược" (澎湖紀略), trở thành cuốn sách ghi chép hoàn chỉnh đầu tiên về Bành Hồ. Năm 1778, một tháp hải đăng được xây trên Tây Tự, hoàn thành vào năm sau, khởi đầu cho việc xây các hải đăng ở khu vực Đài Loan.
Tháng 3 năm 1885, quần đảo Bành Hồ bị người Pháp đánh chiếm trong những tuần cuối cùng của Chiến tranh Thanh-Pháp, và họ đã chỉ rút đi bốn tháng sau đó. Chiến dịch Bành Hồ là chiến dịch cuối cùng của đô đốc Amédée Courbet, ông đã giành được các thắng lợi trong các trận hải chiến và trở thành một anh hùng dân tộc tại Pháp. Courbet nằm trong số các chỉ huy và thủy thủ Pháp đã chết vì bệnh tả trong thời gian Pháp chiếm đóng quần đảo Bành Hồ. Ông qua đời trên tàu đô đốc Bayard của mình tại cảng Mã Công vào ngày 11 tháng 6 năm 1885.. Năm 1887, Hải Đàn trấn tổng binh Ngô Hoành Lạc (吳宏洛) nhậm chức Bành Hồ thủy sư tổng binh, giám sát xây dựng thành Bành Hồ (Ma Cung).
Trong chiến tranh Giáp Ngọ giữa Trung Quốc và Nhật Bản, quân Nhật đã tiến hành chiến dịch Bành Hồ trong thời gian 23–26 tháng 3 năm 1895. Quân Nhật giành được chiến thắng với tổn thất tối thiểu, lính Thanh hầu hết đều đầu hàng và được người Nhật cho hồi hương về Trung Quốc đại lục. Tuy nhiên, một đợt bùng phát dịch tả sau đó đã khiến hơn 1.500 lính Nhật thiệt mạng trong vòng vài ngày. Với việc chiếm đóng Bành Hồ, người Nhật có thể ngăn cản việc có thêm quân Thanh được đưa đến Đài Loan, thuyết phục các nhà đàm phán Đại Thanh tại Shimonoseki rằng Nhật Bản đã quyết tâm để thôn tính Đài Loan. Với Điều ước Mã Quan ký kết vào tháng 4 năm 1895, triều đình Thanh đã nhượng Bành Hồ cho Nhật Bản. Tuy vậy, người Nhật Bản cho rằng họ có thể sẽ gặp phải kháng cự khi cố gắng chiếm đóng Đài Loan, và việc chiếm được Bành Hồ đã đảm bảo thành công của chiến dịch xâm lược Đài Loan của người Nhật vào sau đó. Sau đó, người Nhật thành lập "Bành Hồ (Hoko) đảo thính" tại quần đảo Bành Hồ, rồi đổi thành "Bành Hồ thính", trực thuộc Đài Loan tổng đốc phủ. Năm 1920, Bành Hồ thính được đổi thành Bành Hồ quận thuộc Cao Hùng (Takao) châu, đến năm 1926 thì Bành Hồ quận đổi lại thành Bành Hồ thính, trực thuộc trực tiếp Đài Loan tổng đốc phủ. Năm 1923, hoàng thái tử Hirohito khi đến Đài Loan đã thị sát Bành Hồ. Trong chiến tranh Trung-Nhật, Mã Công (Mako) cảnh bị phủ là một căn cứ chính của Hải quân Đế quốc Nhật Bản và là một điểm thượng tải trong cuộc xâm lược Philippines của Nhật.
Trong Tuyên bố Cairo năm 1943, Hoa Kỳ, Anh Quốc, và Trung Hoa Dân Quốc đã tuyên bố rằng "tất cả các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm đoạt từ người Trung Quốc như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ phải được trao trả cho Trung Hoa Dân Quốc." Ngày 26 tháng 7 năm 1945, ba chính phủ đã đưa ra Tuyên bố Potsdam, thông báo rằng "Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện." Trong Hiệp ước San Francisco, Nhật Bản đã từ bỏ chủ quyền đối với Đài Loan và Bành Hồ.
Sau khi Nhật Bản chiến bại, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tiếp nhận quần đảo Bành Hồ, thiết lập huyện Bành Hồ thuộc tỉnh Đài Loan. Vào đầu thập niên 1990, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã thành lập khu phong cảnh quốc gia Bành Hồ bao gồm hấu hết các đảo của quần đảo. Từ thời điểm đó, du lịch trở thành một trong các nguồn thu chính của huyện. Ngày 25 tháng 5 năm 2002, trong Chuyến bay 611 của China Airlines, khi chiếc Boeing 747-200 bay từ Đài Bắc đến Hồng Kông, đã vỡ tan trên bầu trời quần đảo Bành Hồ. Các mảnh vụn đâm xuống eo biển Đài Loan, một vài dặm ngoài khơi. Toàn bộ 225 hành khách và phi hành đoàn trên máy bay đều thiệt mạng. Tháng 9 năm 2009, huyện Bành Hồ đã tiến hành trưng cầu dân ý việc hợp pháp hóa ngành cờ bạc tại huyện, kết quả là việc này đã không được thông qua với số phiếu tán thành là 13.397, số phiếu phản đối là 17.359.
== Địa lý ==
Quần đảo Bành Hồ nằm trên eo biển Đài Loan, gồm 90 đảo, trong đó, cực đông là Tra Mẫu tự, cực tây là Hoa tự, cực nam là Thất Mỹ tự, cực bắc là Đại Khiêu tự. Tổng diện tích của quần đảo Bành Hồ là 127,9636 km², thành phố Mã Công và hương Hồ Tây nằm chủ yếu trên đảo chính Bành Hồ, với diện tích 65,4132 km². Theo trắc lượng trong thời kỳ Nhật Bản cai trị, tổng diện tích của quần đảo là 126,864 km², nghĩa là nhỏ hơn 1,0996 km² so với diện tích hiện nay. Các đảo của quần đảo Bành Hồ nằm rải rác, trải dài trên một vùng biển rộng 60 km theo chiều bắc-nam và 40 km theo chiều đông-tây. Trong số 90 đảo của quần đảo, có 19 đảo có người ở với tổng diện tích là 124,9392 km², tổng diện tích của 71 đảo không có người ở là 3,0244 km². Ngoài đảo chính Bành Hồ, các đảo lớn khác của quần đảo Bành Hồ là: Tây Tự (西嶼) hay đảo Ngư Ông (漁翁島), đảo Bạch Sa (白沙島), Thất Mỹ Tự (七美嶼) và đảo Vọng An (望安島). Diện tích đất đăng ký tại Bành Hồ là 12.002,569147 ha, trong đó 853,37255 ha là đất đô thị, 11,149.196597 ha là đất không phải đô thị.
Đường bờ biển của các đảo trong quần đảo Bành Hồ có đặc điểm là quanh co, ngoài việc tạo ra các mũi đất và vịnh biển, còn có các thềm bị nước biển bào bòn, vách đá bị nước biển bảo mòn, hang động bị nước biển bào mòn, cùng với cát, bờ đá. Địa thế các đảo thoai thoải, hầu như đều có vách núi ở bốn phía, phần trên đỉnh là một vùng bằng phẳng. Các đảo chủ yếu được hình thành từ dòng nham thạch bazan từ các vụ phun trào núi lửa dưới đáy biển. Tổng chiều dài tuyến bờ biển của quần đảo là 448,974 km, địa thế dốc xuống từ nam đến bắc, đỉnh cao nhất của toàn quần đảo là Đại Miêu Tự (大貓嶼) với cao độ 70 mét. Điểm cao nhất trên các đảo khác là: Thất Mỹ Tự (64 mét), Võng An (54 mét), đảo chính Bành Hồ (56 mét), Bạch Sa (24 mét), Cát Bối Tự (吉貝嶼, 18 mét).
Nhiệt độ trung bình năm của Bành Hồ là 23 °C, nhiệt độ trung bình thấp nhất và tháng 1 và tháng 2, cao nhất vào tháng bảy. Mặc dù Bành Hồ bốn phía là biển cả, về mặt lý thuyết là sẽ ôn hòa hơn vùng nội địa, song do bề mặt các đảo thiếu thảm thực bì bề mặt, nên vào mùa hè dù có gió nam song vẫn cảm thấy nóng. Gió mùa đông bắc mạnh xuất hiện vào mùa đông, khiến cho mọi người có cảm giác rất lạnh, mặc dù nhiệt độ thực tế chỉ ở khoảng 7 °C. Do Bành Hồ không có núi cao nên lượng mưa chỉ khoảng 1000 mm mỗi năm, trong khi đó, do ảnh hưởng của tốc độ gió và ánh nắng mặt trời nên lượng nước bốc hơi hàng năm có thể đạt đến 1.600 mm.
== Hành chính ==
== Nhân khẩu ==
== Giao thông ==
Có các tuyến bay từ sân bay Mã Công ở Bành Hồ đến sân bay Tùng Sơn Đài Bắc, sân bay Đài Trung, sân bay Gia Nghĩa, sân bay Đài Nam, sân bay quốc tế Cao Hùng, sân bay Kim Môn. Ngoài ra, có tuyến bay từ sân bay Thất Mỹ đến Mã Công và Cao Hùng, từ sân bay Vọng An đến Cao Hùng. Cùng với đường bay đến Hồng Kông, từ khi hai bờ eo biển Đài Loan khai thông đường bay trực tiếp, cũng có thể bay trực tiếp từ sân bay Mã Công đến một số thành phố tại Trung Quốc đại lục.
Cảng Mã Công có các tuyến hàng hải đi và đến các cảng ở đảo chính Đài Loan như: cảng Đài Trung, cảng Bố Đại, cảng An Bình, cảng Cao Hùng và các cảng khác tại quần đảo Bành Hồ. Từ cảng Thất Mỹ cũng có tuyến hàng hải đến cảng Cao Hùng.
Huyện đạo 201 có chiều dài 10,560 km, từ Hưng Nhân (興仁) đến Phong Quỹ (風櫃) trong địa phận Mã Công
Huyện đạo 202 có chiều dài 12,631 km, từ Đông Vệ (東衛) của Mã Công đến Lý Chính Giác (裡正角) của Hồ Tây
Huyện đạo 203 có chiều dài 36,297 km, từ Mã Công, qua Hồ Tây, qua cầu vượt biển sang Bạch Sa, qua cầu vượt biển sang Tây Tự.
Huyện đạo 204 có chiều dài 10,957 km, từ Mã Công đến Hồ Tây
Huyện đạo 205 có chiều dài 7,632, từ đình Quan Âm đến Hưng Nhân trong địa phận Mã Công
Cầu vượt biển Bành Hồ (澎湖跨海大橋) trên huyện đạo 203 nối giữa đảo Bạch Sa và Tây Tự là một trong các yếu đạo giao thông của Bành Hồ. Trong lần xây dựng đầu tiên, nó là cầu vượt biển sâu đầu tiên của khu vực Đông Á, với chiều dài 2.159 mét và rộng 5,1 mét. Sau khi được xây dựng lại, cầu có chiều dài 2.494 mét và rộng 13 mét, trong đó hai làn xe rộng 9,5 mét còn hè rộng 3,5 mét. Cũng trên tuyến huyện đạo 203, có cầu Trung Chính nối đảo chính Bành Hồ với thôn Trung Đồn và cầu Vĩnh An nối từ thông Trung Đồn sang đảo Bạch Sa.
Năm 1924, tuyến đường ray cảng Mã Công khai thông, khi đó là tuyến đường sắt duy nhất tại Bành Hồ, song nó là một tuyến đường sắt quân dụng. Đến năm 1947 thì tuyến đường ray này bị bỏ, sang năm 1951 thì bị tháo dỡ.
== Giáo dục ==
Đại học Khoa học-Kỹ thuật Quốc lập Bành Hồ (國立澎湖科技大學)
Đại học Mở Quốc lập (國立空中大學)- Trung tâm Bành Hồ
Trung học Cao cấp Quốc lập Mã Công (國立馬公高級中學)
Trường sự nghiệp hàng hải thủy sản cao cấp Quốc lập Bành Hồ (國立澎湖高級海事水產職業學校)
== Chú thích ==
== Thư mục ==
Loir, Maurice (1886), L'escadre de l'amiral Courbet, Paris: Berger-Levrault.
Takekoshi, Yosaburo (1907), Japanese Rule in Formosa, London: Longmans.
Wills, John E., Jr. (2006), “The Seventeenth-century Transformation: Taiwan under the Dutch and the Cheng Regime”, trong Rubinstein, Murray A., Taiwan: A New History, M.E. Sharpe, tr. 84–106, ISBN 978-0-7656-1495-7.
== Xem thêm ==
Tỉnh Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)
Tỉnh Đài Loan (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)
Phân cấp hành chính Trung Hoa Dân Quốc
Lịch sử Trung Hoa Dân Quốc
Vị thế chính trị của Đài Loan
Đài Loan độc lập
Trung Hoa Đài Bắc
Quốc Dân Đảng Trung Quốc |
hòa bình.txt | Hòa Bình là một tỉnh miền núi thuộc vùng tây bắc Việt Nam, có vị trí ở phía nam Bắc Bộ, giới hạn ở tọa độ 20°19' - 21°08' vĩ độ Bắc, 104°48' - 105°40' kinh độ Đông, tỉnh lỵ là thành phố Hòa Bình nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 73 km. Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng Hà Nội
== Vị trí ==
Cũng giống như Ninh Bình và Thanh Hóa, tỉnh Hòa Bình nằm giáp ranh giữa 3 khu vực: tây bắc, đông bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam.
Địa giới Hòa Bình:
Phía bắc giáp với tỉnh Phú Thọ;
Phía nam giáp với các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình;
Phía đông và đông bắc giáp với thủ đô Hà Nội,
Phía tây, tây bắc, tây nam giáp với các tỉnh Sơn La, Thanh Hóa.
== Các đơn vị hành chính ==
Hòa Bình hiện có 1 thành phố và 10 Huyện, Trong đó có với 210 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 11 thị trấn, 8 phường và 191 xã:
== Diện tích ==
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662.5 km², chiếm 1,41% tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam. Thu nhập bình quân đầu người: 1500 USD (tương đương 34.090.909 đồng) (1/2016).
== Dân cư ==
Hòa Bình có 832.543 dân (tháng 7/2009).. Theo kết quả chính thức điều tra dân số ngày 01/04/2009 dân số tỉnh Hòa Bình chỉ có 786.964 người.
Theo thống kê dân số toàn quốc năm 1999, trên địa bàn tỉnh có 6 dân tộc sinh sống, đông nhất là người Mường chiếm 63,3%; người Việt (Kinh) chiếm 27,73%; người Thái chiếm 3,9%; người Dao chiếm 1,7%; người Tày chiếm 2,7%; người Mông chiếm 0,52%; ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh. Người Hoa trước đây sống tập trung ở Ngọc Lương, Yên Thủy; nhưng sau năm 1979 còn lại một số gia đình và hiện nay sống phân tán ở các xã Yên Trị, Ngọc Lương và Phú Lai huyện Yên Thuỷ. Ngoài ra, còn có một số người thuộc các dân tộc khác chủ yếu do kết hôn với người Hòa Bình công tác ở các tỉnh miền núi khác.
Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó có người Việt (Kinh) không chiếm đa số, đồng thời tỉnh này cũng được coi là thủ phủ của người Mường, vì phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ở đây. Người Mường xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người Kinh nhất. Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác.
Người Kinh, sống ở khắp nơi trong tỉnh. Những người Kinh sống ở Hòa Bình đầu tiên đã lên tới 4-5 đời; nhưng đa số di cư tới Hòa Bình từ những năm 1960 của thế kỉ trước, thuộc phong trào khai hoang từ các tỉnh đồng bằng lân cận (Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây...). Trong những năm gần đây, sự giao lưu về kinh tế và văn hóa mở rộng, nhiều người Kinh từ khắp các tỉnh thành đều tìm kiếm cơ hội làm ăn và sinh sống ở Hòa Bình.
Người Thái, chủ yếu sống tập trung ở huyện Mai Châu. Tuy sống gần với người Mường lâu đời và đã bị ảnh hưởng nhiều về phong tục, lối sống (đặc biệt là trang phục), nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa độc đáo. Đây là vốn quý để phát triển du lịch công động và bảo lưu vốn văn hóa truyền thống. Hiện nay, khu du lịch Bản Lác là một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước hàng đầu ở Hòa Bình.
Người Tày, chủ tập trung ở huyện Đà Bắc, sống xen kẽ với người Mường, người Dao. Người Tày có tập quán và nhiều nét văn hóa gần giống với người Thái, đặc biệt là ngôn ngữ. Tuy nhiên, xét theo khía cạnh trang phục thì người Tày ở Đà Bắc giống người Thái Trắng thuộc các huyện Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La.
Người Dao sống thành cộng đồng ở các huyện Đà Bắc, Lương Sơn, Kim Bôi, Cao Phong, Kỳ Sơn và thành phố Hòa Bình. Người H'mông sống tập trung ở xã Hang Kia và Pà Cò của huyện Mai Châu. Trước đây hai dân tộc này sống du canh du cư, nhưng từ những năm 70-80 đã chuyển sang chế độ đinh canh, định cư và đã đạt được những thành tựu đáng kể về phương diện kinh tế - xã hội.
Với sự đa dạng về sắc tộc như vậy và đặc biệt gần với đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội chỉ khoảng từ 80 tới 100 km, kết hợp với các điều kiện địa hình, phong cảnh của tỉnh; thì đây là tiềm năng lớn để phát triển du lịch.
== Địa lý và khí hậu ==
Hòa Bình là tỉnh miền núi, tiếp giáp với phía tây đồng bằng sông Hồng, Hòa Bình có địa hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng tây bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía tây bắc có độ cao trung bình từ 600 – 700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740 ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía đông nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 – 250, độ cao trung bình từ 100 – 200 m.
Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh phân bố tương đối đồng đều với các sông lớn như sông Đà,, sông Bưởi, sông Lạng, sông Bùi...
Hòa Bình có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa đông phi nhiệt đới khô lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23 °C. Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 - 29 °C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5 - 16,5 °C.
== Giao thông ==
=== Đường bộ ===
Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh như:
Quốc lộ 6 đi qua các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, thành phố Hòa Bình, huyện Tân Lạc, Mai Châu nối liền Hòa Bình với thủ đô Hà Nội và các tỉnh tây bắc khác, điểm gần trung tâm Hà Nội nhất trên quốc lộ 6 của Hòa Bình thuộc huyện Lương Sơn là gần 40 km;
Quốc lộ 15A đi từ huyện Mai Châu nối quốc lộ 6 với các huyện vùng cao tỉnh Thanh Hóa;
Quốc lộ 12B nối thẳng quốc lộ 6 (ở Mãn Đức- Tân Lạc) đi qua các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thuỷ và tỉnh Ninh Bình là con đường ngắn nhất từ tây bắc xuyên ra Biển Đông;
Quốc lộ 21 có điểm đầu là ngã ba giao cắt với quốc lộ 32, trước cửa ngõ vào thị xã Sơn Tây, điểm cuối là thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định qua thị trấn Xuân Mai Hà Nội qua các huyện Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy xuống Phủ Lý.
Đường Hồ Chí Minh chạy song song với quốc lộ 21, gặp quốc lộ 12B tại thị trấn Thanh Hà, Lạc Thủy và quốc lộ 12A tại địa bàn giáp ranh giữa xã Yên Nghiệp của huyện Lạc Sơn và xã Lạc Thịnh của huyện Yên Thuỷ.
Các tuyến đường chính này nối với hệ thống đường nối liền các huyện, xã trong tỉnh với thị xã và với các huyện, tỉnh bạn rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế - xã hội.
=== Đường thuỷ ===
Hệ thống sông ngòi thuỷ văn: Hòa Bình có mạng lưới sông suối phân bổ tương đối dày và đều khắp ở các huyện. Sông Ðà là sông lớn nhất chảy qua tỉnh có lưu vực 15.000 km2 chảy qua các huyện Mai Châu, Ðà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn và thành phố Hòa Bình với tổng chiều dài là 151 km. Hồ sông Ðà có dung tích 9,5 tỷ m3 nước nối liền với Sơn La, phần hạ lưu chảy qua Phú Thọ, Hà Tây thông với sông Hồng, được điều tiết nước bởi hồ sông Đà, tại đây có thể phát triển vận tải thuỷ thuận lợi, có hiệu quả; sông Bưởi bắt nguồn từ xã Phú Cường, huyện Tân Lạc, dài 55 km; sông Bôi bắt nguồn từ xã Thượng Tiến, huyện Kim Bôi, dài 125 km; sông Bùi bắt nguồn từ xã Lâm Sơn huyện Lương Sơn, dài 32 km; sông Lạng bắt nguồn từ xã Bảo Hiệu huyện Yên Thuỷ, dài 30 km.
== Lịch sử ==
Tỉnh Hòa Bình được thành lập ngày 22 tháng 6 năm 1886 theo nghị định của Kinh lược Bắc Kỳ với tên gọi là tỉnh Mường, tách phần đất có người Mường cư trú từ các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình. Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Chợ Bờ (thuộc châu Đà Bắc) nên cũng còn gọi là tỉnh Chợ Bờ, đến tháng 11 năm 1886 chuyển về xã Phương Lâm (thuộc huyện Bất Bạt, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây lúc bấy giờ). Tháng 4 năm 1888 được đổi tên thành tỉnh Phương Lâm, do Công sứ Pháp cai trị. Ban đầu tỉnh gồm cả Mộc Châu, Yên Châu và Phù Yên Châu (tháng 7 năm 1888, cắt 3 châu này để nhập vào Đạo Quan binh thứ tư, sau này thuộc Sơn La), cùng với vùng có dân tộc Mường thuộc hai châu Thanh Sơn và Yên Lập (tháng 10 năm 1888, cắt 2 châu này về tỉnh Hưng Hóa). Công sứ Pháp Rougery bị nghĩa quân Thanh Sơn tấn công và giết chết ở sở tại.
Ngày 18 tháng 3 năm 1891 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đổi tên tỉnh Phương Lâm thành tỉnh Hòa Bình với 6 châu: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Mai Châu (châu Mai) và Đà Bắc.
Ngày 24 tháng 10 năm 1908, châu Lạc Thủy chuyển sang tỉnh Hà Nam, và đến ngày 1 tháng 12 năm 1924, một số xã của Lạc Thủy được nhập vào phủ Nho Quan thuộc tỉnh Ninh Bình. Công sứ Pháp đầu tiên là Regnier, phó sứ là Patrich.
Năm 1939, hợp nhất châu Mai (tức Mai Châu) và châu Đà Bắc thành châu Mai Đà.
Trong kháng chiến chống Pháp, Hòa Bình có 4 huyện: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Mai Đà, riêng huyện Lạc Thủy vẫn thuộc tỉnh Hà Nam, sau này mới trả về Hòa Bình. Ba huyện của Hòa Bình (Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn) thuộc Liên khu 3, trong khi huyện Mai Đà lại thuộc Liên khu Việt Bắc từ tháng 11 năm 1949 cho đến ngày 9 tháng 8 năm 1950 mới trả về Liên khu 3.
Ngày 21 tháng 9 năm 1956, huyện Mai Đà chia thành 2 huyện: Đà Bắc ở phía bắc sông Đà và Mai Châu ở phía nam sông Đà.
Ngày 15 tháng 10 năm 1957, huyện Lạc Sơn chia thành 2 huyện: Lạc Sơn và Tân Lạc.
Ngày 17 tháng 4 năm 1959, huyện Lương Sơn chia thành 2 huyện: Lương Sơn và Kim Bôi.
Ngày 17 tháng 8 năm 1964, huyện Lạc Thủy chia thành 2 huyện: Lạc Thủy và Yên Thủy.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975 tỉnh Hòa Bình hợp nhất với tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình. Theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ 9 ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Hà Sơn Bình tách ra thành 2 tỉnh Hòa Bình và Hà Tây. Khi đó tỉnh có diện tích là 4.697 km², với dân số 670.000 người, gồm thị xã Hòa Bình và 9 huyện: Đà Bắc, Mai Châu, Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Kim Bôi, Tân Lạc, Yên Thủy.
Tháng 12 năm 2001, huyện Kỳ Sơn chia thành 2 huyện: Kỳ Sơn và Cao Phong.
Ngày 27 tháng 10 năm 2006, chuyển thị xã Hòa Bình thành thành phố Hòa Bình.
Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình và Yên Trung, đều nằm ở phía bắc của huyện Lương Sơn, được tách ra và sáp nhập vào thành phố Hà Nội (nay là một phần các huyện Thạch Thất và Quốc Oai).
== Kinh tế, Tiềm năng phát triển ==
Sức hấp dẫn du khách của Hòa Bình, một vùng đất đa dân tộc, là giá trị nhân văn đa dạng, phong phú của cộng đồng cư dân.
=== Phong cảnh du lịch Hòa Bình ===
Địa hình đồi núi trùng điệp với các động thác Bờ, Hang Rết, động Hoa Tiên, vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc mở ra những tuyến du lịch mạo hiểm leo núi, đi bộ, săn bắn, tắm suối. Sức người và thiên nhiên đã tạo cho Hòa Bình một vùng hồ sông Ðà thơ mộng cho phep phát triển du lịch vùng lòng hồ và ven hồ có đầy đủ vịnh, đảo và bán đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn. Thấp thoáng các bản Mường, bản Dao, bản Tày rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình.
Hòa Bình là một tỉnh có khá nhiều những suối nước khoáng nóng, những thung lũng hoang sơ huyền bí. Tiêu biểu nổi bật như:
Suối nước khoáng Kim Bôi với nguồn nước phun lên ở nhiệt độ 36 °C, đủ tiêu chuẩn dùng làm nước uống, để tắm, chữa bệnh. Nước suối Kim Bôi đã được đóng chai làm nước giải khát, nó cùng loại với nước khoáng Thạch Bích ở Quảng Ngãi, Kum-dua ở Nga và Paven Barbia của Hungari.
Thung lũng Mai Châu thuộc huyện lỵ Mai Châu là một thung lũng với đồng lúa và những nếp nhà sàn được quy hoạch bảo tồn phục vụ du lịch.
Đà Bắc- một huyện vùng cao thích hợp cho du khách tham quan du lịch sinh thái và văn hóa. Đà Bắc với cảnh quan nguyên sơ yên ả, thơ mộng của thị trấn miền núi tây bắc.
Những hang động thiên tạo đa dạng hình thù có đỉnh Phù Bua bốn mùa mây phủ. Có bản Nanh, bản Nưa của người Mường, người Dao và xen kẽ một số gia đình người Thái, với những mái nhà sàn cổ.
Lương Sơn - huyện cửa ngõ của tỉnh Hòa Bình, nới tiếp giáp giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền núi tây bắc, với vị trí chỉ cách Hà Nội khoảng 40 km tiện lợi về giao thông, là nơi tập trung rất nhiều khu du lịch sinh thái, địa điểm giải trí.
=== Thuỷ điện ===
Hòa Bình cũng là nơi đặt Nhà máy Thủy điện Hòa Bình công suất thiết kế đạt 1.920 megawatt. Đây là công trình do Liên Xô viện trợ cho Việt Nam. Công trình khởi công ngày 6 tháng 11 năm 1979, khánh thành ngày 20 tháng 12 năm 1994. Ngoài tác dụng phát điện, nhà máy này còn có chức năng ngăn lũ cho sông Hồng, cung cấp nước tưới tiêu và cải thiện giao thông đường thuỷ.
=== Nông nghiệp ===
Nhiều vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh nguyên liệu tập trung được phát triển và nhân rộng như: vùng cam huyện Cao Phong; vùng mía tím huyện Tân Lạc, Cao phong; vùng gỗ, luồng nguyên liệu ở huyện Đà Bắc, Mai Châu; vùng lạc, đậu ở huyện Lạc Sơn, Yên Thủy; vùng cây dưa hấu ở huyện Lạc Thủy, Kim Bôi; vùng cây dược liệu ở Tân Lạc, Lạc Sơn; vùng chè ở huyện Lương Sơn, Mai Châu, Đà Bắc.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Nhà máy thủy điện Hòa Bình
== Liên kết ngoài == |
nước mắm phú quốc.txt | Nước mắm Phú Quốc là tên gọi chung cho các loại nước mắm được sản xuất tại Phú Quốc, một đảo lớn ở phía tây nam của Việt Nam, thuộc tỉnh Kiên Giang. Nó là một trong các loại nước mắm không những nổi tiếng ở Việt Nam mà còn được biết ở nhiều nước trên khắp thế giới.
Từ năm 2001, Cục Sở hữu Công nghiệp đã công nhận tên gọi xuất xứ nước mắm Phú Quốc và đến năm 2005, Bộ Thuỷ sản đã ban hành Quy định tạm thời về sản xuất nước mắm mang tên gọi xuất xứ Phú Quốc, trong đó bắt buộc sau 3 năm, chỉ có nước mắm đóng chai tại Phú Quốc theo TCN230:2006 mới được chứng nhận xuất xứ từ Phú Quốc .
== Lịch sử ==
Vùng biển xung quanh đảo Phú Quốc có nhiều rong biển và phù du làm thức ăn cho các loài cá cơm, cho nên có nguồn lợi cá cơm rất lớn. Việc sử dụng nguồn lợi này để làm nước mắm ở Phú Quốc đã có lịch sử trên 200 năm. Cuối thế kỷ 19, người dân trên đảo Phú Quốc đã bán nước mắm sang Campuchia, Thái Lan. Tuy nhiên, nước mắm Phú Quốc chỉ nổi tiếng từ những năm 1950, đạt cực thịnh vào những năm 1965-1975. Trong thời kỳ bao cấp ở giai đoạn 1975-1986, ngành sản xuất này mất dần thị phần, nhiều nhà thùng đóng cửa, chuyển nghề. Tuy nhiên, kể từ khi nền kinh tế dần chuyển sang cơ chế thị trường, nghề làm nước mắm ở Phú Quốc dần dần hồi phục. Đến nay, nước mắm Phú Quốc đã đạt 8 triệu lít/năm.
Trước năm 1945, ở Phú Quốc đã có gần 100 nhà thùng làm nước mắm, chủ yếu tập trung ở Dương Ðông và Cửa Cạn. Trong thời gian chiến tranh, các nhà thùng ở Cửa Cạn bị tàn phá, nên các nhà thùng dần chuyển qua Dương Ðông và An Thới như hiện nay.
== Thiết bị ==
Nước mắm Phú Quốc được ngâm ủ trong những thùng gỗ lớn bằng gỗ bời lời có tại rừng Phú Quốc, hoặc thay thế bằng vên vên hoặc chai do bời lời khó tìm. Kích thước thùng từ 1,5-3m đường kính, cao từ 2-4m, ủ được từ 7-13 tấn cá. Mỗi thùng được niềng bằng 8 sợi đai, mỗi sợi bện bằng 120 sợi song mây lấy từ núi Ông Tám và Bắc Đảo. Mỗi thùng có thể dùng tới 60 năm nếu được sử dụng thường xuyên.
== Nguyên liệu ==
Bất cứ loại cá nào cũng có thể sử dụng để làm nước mắm, nhưng người sản xuất nước mắm Phú Quốc chỉ sử dụng cá cơm làm nguyên liệu. Cá cơm có khoảng chục loại, nhưng chỉ có Sọc Tiêu, Cơm Ðỏ và Cơm Than là cho chất lượng nước mắm cao nhất.
Ðiểm khác biệt của nước mắm Phú Quốc là cá cơm được trộn tươi trên tàu. Mùa đánh bắt chủ yếu trong năm là từ tháng 7 đến tháng 12. Khi lưới cá vừa được kéo cặp mạn, cá sẽ được vớt bằng vợt, loại bỏ tạp chất và súc rửa bằng nước biển, sau đó trộn đảo ngay với muối với tỷ lệ 3 cá 1 muối rồi đưa xuống hầm tàu. Cách trộn cá tươi như vậy giữ cho thịt cá không bị phân huỷ, nước mắm có hàm lượng đạm cao nhất, không có mùi hôi.
== Chế biến ==
Cá cơm Phú Quốc thường được ướp với muối Bà Rịa - Vũng Tàu, có hàm lượng tạp chất thấp. Muối cũng được lưu kho không ít hơn 3 tháng để các muối tạp gốc Can-xi và Ma-giê - vốn tạo ra vị chát trong nước mắm - lắng xuống dưới. Khi sử dụng để muối cá, phần muối lắng ở dưới sẽ bị bỏ đi.
Cá cơm đã được ướp muối gọi là chượp. Khi tàu cá cập bến, chượp được đưa vào thùng gỗ để ủ theo phương pháp gài nén (đặt vỉ và xếp đá trên mặt đã rải một lớp muối). Quy trình ủ chượp tiêu chuẩn ở Phú Quốc là 12 tháng, cá biệt tới 15 tháng. Sau thời gian này, nước mắm mới được rút: ban đầu là nước mắm cốt có độ đạm trên 30, tiếp đến là nước mắm long có độ đạm trên 20. Sau khi đã kéo rút kiệt đạm trong chượp, các loại nước mắm mới được đấu trộn lại để có độ đạm theo tiêu chuẩn.
Bằng phương pháp kéo rút nước nhất - phơi - đổ lại vào thùng mắm cái, một số nhà sản xuất ở Phú Quốc đã cho ra nước mắm có độ đạm tổng tới 42o, cao nhất bằng cách chế biến tự nhiên .
== Khác biệt ==
Sự khác biệt chính yếu của nước mắm Phú Quốc là màu cánh gián đặc trưng, hoàn toàn tự nhiên chứ không bằng cách pha màu như những nơi khác. Màu cánh gián này có được nhờ cách ướp tươi còn máu trong thân cá và thời gian ủ trong thùng gỗ tới 12 tháng.
== Một vài vấn đề về phát triển ==
Hiện tại, nước mắm Phú Quốc đang đối mặt với 2 vấn đề:
Nguồn nguyên liệu đang cạn kiệt do phương pháp đánh bắt bằng dàn đèn công suất lớn, tận diệt cá con, khiến nguồn cá không tái tạo được .
Trong thời gian trước đây, tên gọi Nước mắm Phú Quốc không được chú ý để bảo hộ, một số cơ sở đã đăng ký dành riêng cho mình dẫn tới khả năng tên gọi này bị từ chối đăng bạ ở nước ngoài .
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Thông tin về nước mắm Phú Quốc trên trang web Bộ Thủy sản Việt Nam
Bảo vệ thương hiệu nước mắm Phú Quốc |
lesotho.txt | Vương quốc Lesotho (phiên âm tiếng Việt: Lê-xô-thô; tiếng Sotho: Muso oa Lesotho; tiếng Anh: Kingdom of Lesotho) là một quốc gia tại cực Nam châu Phi. Nó nằm hoàn toàn bên trong nước Cộng hòa Nam Phi và là một thành viên của khối Thịnh vượng chung Anh.
== Lịch sử ==
Đầu thế kỉ 19, các cuộc chiến của người Zulu đã đẩy lùi người Sotho về vùng thượng nguồn sông Orange. Thủ lĩnh Moshoeshoe đã tập hợp người Sotho trên lãnh thổ thuộc Lesotho hiện nay. Năm 1868, Moshoeshoe ký hiệp ước bảo hộ với nước Anh nhằm chống lại người Boer. Lãnh thổ Basutoland (đất của người Basuto hoặc Suto) bị sáp nhập vào thuộc địa Cape năm 1878 và trở thành xứ bảo hộ tự trị năm 1884.
Năm 1966, Basutholand trở thành vương quốc độc lập dưới quyền trị vì của vua Moshoeshoe II và đổi tên thành Lesotho.
Từ năm 1970, Thủ tướng Leabua Jonathan dần dần chiếm quyền, nhà vua phải lưu vong. Năm 1986, Jonathan bị tướng Lekhanya lật đổ. Năm 1991, Hội đồng Quân sự lật đổ tướng Lekhanya và thiết lập thể chế đa đảng. Năm 1993, đảng Đại hội của nhà lãnh đạo Ntsu Mokhehle thắng cử. Năm 1995, Quốc vương Moshoeshoe II trở lại ngôi vua. Năm 1996, Moshoeshoe II chết trong một tai nạn xe hơi. Con trai là Letsie III lên nối ngôi.
Mùa thu năm 1998, hàng trăm người biểu tình tụ tập trước cung điện nhà vua trong nhiều tuần lễ để phản đối việc gian lận bầu cử tháng 5 qua đó Thủ tướng Pakalitha Mosisili lên cầm quyền. Họ yêu cầu Chính phủ từ nhiệm và tổ chức cuộc bầu cử mới. Quân đội của Nam Phi và Botswana tiến vào lãnh thổ Lesotho chặn đứng đám đông nổi dậy và dập tắt cuộc nổi loạn của quân đội.
Hiện nay, Lesotho phải đương đầu với tỉ lệ người nhiễm HIV cao và những dự đoán cho rằng dân số quốc gia này sẽ sút giảm trong nhiều năm tới nếu xu hướng này cứ tiếp tục gia tăng. Trong cuộc bầu cử Quốc hội 2002, đảng Đại hội vì Dân chủ Lesotho đương quyền giành thắng lợi với 54% phiếu bầu.
== Chính trị ==
Lesotho theo chế độ quân chủ nghị viện. Đứng đầu nhà nước là Quốc vương. Đứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Lesotho theo chế độ quân chủ cha truyền con nối, nhưng theo điều khoản của hiến pháp có hiệu lực sau cuộc bầu cử tháng 3 năm 1993, Quốc vương chỉ tượng trưng cho sự thống nhất quốc gia và bị cấm tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị.
Cơ quan lập pháp là Quốc hội lưỡng viện: Thượng nghị viện gồm 33 thành viên, trong đó 22 thành viên dành cho những người đứng đầu, 11 thành viên khác do đảng cầm quyền bổ nhiệm. Hạ nghị viện gồm 80 thành viên (từ sau năm 1998), được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm.
Cơ quan tư pháp là Tòa án cấp cao, chánh án do Quốc vương bổ nhiệm; Tòa Thượng thẩm; Tòa của các quan tòa; Tòa án phong tục (hay Tòa án cổ truyền).
Các đảng phái chính có: Đại hội vì quyền dân chủ của Lesotho (LCD); Đảng Quốc gia Basotho (BNP); Đảng Đại hội Basotho(BCP); Đảng Dân chủ thống nhất (UDP).
Hiến pháp cũng bảo vệ nhân quyền căn bản, trong đó có tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do báo chí, tự do hội họp hòa bình và tự do tôn giáo. Lesotho được xếp hạng thứ 12 trong số 48 nước châu Phi cận Sahara có chỉ số nhân quyền cao trong năm 2008.
== Khu hành chính ==
Lesotho được chia thành 10 huyện: Berea, Butha-Buthe, Leribe, Mafeteng, Maseru, Mohales Hoek, Mokhotlong, Qachás Nek, Quthing, Thaba-Tseka.
Các huyện được chia nhỏ thành 80 khu vực bầu cử, trong đó bao gồm 129 hội đồng cộng đồng địa phương.
== Địa lý ==
Lesotho nằm ở khu vực Nam Phi nằm hoàn toàn trong lãnh thổ nước Nam Phi. Địa hình phần lớn là cao nguyên (Highveld) nằm ở sườn trái của núi (Drakensberg, 3.482m) và bị cắt ngang bởi sông Orange và các phụ lưu. Ngoài kiểu khí hậu ôn hòa thuận tiện cho sự phát triển các đồng cỏ, Lesotho có nguồn nước dồi dào: bốn đập thủy điện đã vận hành và một dự án thủy lợi Lesotho Highland Water Project có thể sẽ cho phép cung cấp nước cho vùng Johannesburg vào khoảng năm 2020.
=== Khí hậu ===
Khí hậu cận nhiệt đới, ôn hòa nhờ độ cao. Mùa đông khô, mùa hè nóng và ẩm. Nhiệt độ: Mùa hè ở vùng đồng bằng: 34 độ C, mùa đông ở vùng núi: -16 độ C.
Lượng mưa hàng năm dao động từ khoảng 600 mm (23.6 in) trong các thung lũng thấp lên khoảng 1.200 mm (47.2 in) trong khu vực của phía bắc và đông giáp Nam Phi. Hầu hết mưa rơi như cơn dông mùa hè, 85% lượng mưa hàng năm bắt đầu từ tháng tháng 4 đến tháng 10. Mùa đông, bắt đầu từ giữa tháng 5 và tháng 9, thời tiết lúc này thường rất khô.
== Kinh tế ==
Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp trồng trọt (ngô), chăn nuôi dê, cừu và nguồn thu nhập từ công nhân làm trong các hầm mỏ ở Nam Phi (khoảng 1/2 lực lượng lao động nam giới). Len, lông cừu, da thuộc, quần áo may sẵn là các mặt hàng xuất khẩu. Từ sau cuộc đảo chính năm 1986, các điều kiện ưu đãi đã thu hút các công ty sản xuất và xuất khẩu quần áo. Tổng sản phẩm quốc nội gần như gia tăng gấp đôi trong thập niên 90. Tuy nhiên, Lesotho vẫn thuộc nhóm các nước kém phát triển, phụ thuộc nhiều vào Nam Phi.
Là quốc gia có diện tích nhỏ bé, bao quanh bởi Nam Phi, kinh tế Lesotho lệ thuộc phần lớn vào Nam Phi. Các công ty của Nam Phi đã thao túng, chi phối gần như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia này. Đồng tiền Rand của Nam Phi được lưu hành rộng rãi tại Lesotho song song với đồng Loti và có xung hướng thay thế đồng tiền này.
Lesotho có một nguồn tài nguyên quý giá đó là nước. Nước được coi như là vàng trắng của quốc gia này. Với việc hoàn thành nhà máy thuỷ điện vào năm 1998 đã mang lại cho quốc gia này một nguồn thu từ việc bán nước sang quốc gia láng giềng Nam Phi. Một nguồn thu quan trọng khác của Lesotho là từ các khoản thuế xuất nhập khẩu thu được từ Liên minh thuế quan Nam Phi. Ngoài ra, nguồn thu của Chính phủ Lesotho cũng đã được cải thiện trong những năm gần đây nhờ được hưởng các ưu đãi từ đạo luật AGOA của Mỹ khi xuất khẩu dệt may, nông sản sang thị trường này.
Nông nghiệp và chăn nuôi là 2 ngành kinh tế chính trong đó nghề dệt len tương đối phát triển. Công nghiệp của Lesotho hầu như chưa phát triển Lesotho chỉ có một số nhà máy chế biến thực phẩm, nhà máy dệt len, dệt may và da giày. Các sản phẩm công nghiệp và nguyên vật liệu sản xuất phải nhập từ nước ngoài.
Trong năm 2009, do tác động của khủng hoảng kinh tế, kinh tế Nam Phi suy thoái đã khiến cho kinh tế Lesotho cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Tốc độ tăng trưởng GDP của Lesotho năm 2009 là (-0,9%) và chỉ đạt 3,3 tỷ USD trong năm 2009.
Về ngoại thương, năm 2009, Lesotho xuất khẩu 872 triệu USD, trong đó các sản phẩm xuất khẩu chính của nước này chủ yếu là len, ngoài ra còn có quần áo, giày dép, thực phẩm và động vật tươi sống. Các đối tác xuất khẩu chính của nước này là: Mỹ (58.9%), Bỉ (37%), Madagascar (1.2%)
Kim ngạch nhập khẩu năm 2009 của Lesotho đạt 1,82 tỷ USD với các mặt hàng nhập khẩu chính là Lesotho nhập phần lớn là các mặt hàng: Thực phẩm, vật liệu xây dựng, xe cộ, máy móc, thuốc men, các sản phẩm từ dầu mỏ. Các đối tác mà Lesotho nhập hàng chủ yếu là: Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đức.
== Nhân khẩu học ==
Dân số hiện tại của Lesotho là 1.867.000 người. Mật độ dân số khoảng 61 người/km². Dân tộc chính là người Sotho, chiếm 99.7% dân số, các nhóm dân tộc khác chỉ chiếm 0,3%. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Sesotho, tiếng Anh, ngoài ra còn có tiếng Zulu, tiếng Xhosa cũng được sử dụng.
Có 25% dân số sống ở các khu vực đô thị và 75% ở nông thôn. Tuy nhiên, người ta ước tính rằng hàng năm sự gia tăng dân số đô thị là 3,5%.
== Tôn giáo ==
Kitô giáo là tôn giáo chiếm ưu thế trong Lesotho. Hội đồng Kitô giáo của Lesotho, là nơi bao gồm đại diện của tất cả các nhà thờ Kitô giáo lớn trong nước, ước tính rằng khoảng 90% dân số là người Kitô giáo. Trong đó Tin Lành đại diện cho 45% dân số (Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp 26%, Anh giáo và các giáo phái khác 19%), Công giáo Rôma đại diện cho 45%dân số, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo, Baha'i, và các thành viên của các tôn giáo bản địa truyền thống bao gồm 10% còn lại của dân số.
Trong khi các Kitô hữu có thể được tìm thấy trên khắp đất nước, thì người Hồi giáo sinh sống chủ yếu ở phía đông bắc. Hầu hết các tín đồ Hồi giáo có nguồn gốc từ châu Á, trong khi phần lớn các Kitô hữu là người bản địa.
Nhiều Kitô hữu vẫn thực hành văn hóa tín ngưỡng truyền thống bản địa của họ và cùng với nghi lễ Kitô giáo. Giáo hội Công giáo Lesotho đã hợp nhất một số khía cạnh của văn hóa địa phương vào các nghi lễ của nó. Ví dụ, hát thánh ca trong các buổi lễ đã phát triển thành một nghi thức địa phương và được hát bằng tiếng Sesotho, ngôn ngữ bản địa cùng với tiếng Anh. Ngoài ra linh mục Lesotho được mặc trang phục địa phương trong quá trình thực hiện nghi lễ. Vai trò nổi bật của Giáo hội Công giáo trong đất nước xuất phát từ việc thành lập thành các trường Công giáo trong nhiều thế kỷ qua và ảnh hưởng của họ đối với chính sách giáo dục. Giáo hội Công giáo được sở hữu khoảng 75% của tất cả các trường tiểu học và trung học trong cả nước, và họ cũng là một nhân tố trong việc xây dựng Đại học Quốc gia Lesotho. Giáo hội Công giáo Lesotho cũng đã giúp cho Đảng Quốc gia Basotho (BNP) được thành lập trong năm 1959 và tài trợ nó trong cuộc bầu cử vào năm 1966. Hầu hết các thành viên của BNP là tín hữu Công giáo Rôma. BNP cai trị đất nước từ khi độc lập vào năm 1966 cho đến năm 1985 khi nó bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự. Sau đó, phe đối lập Đảng Đại hội Basutoland (BCP) trong lịch sử đã liên kết với những người Tin Lành hoặc các nhóm truyền giáo khác. Họ bị buộc phải sống lưu vong vào năm 1973 sau khi bị từ chối chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1970. Các thành viên của BCP, vẫn là các tín hữu Tin Lành, đã giành chiến thắng khi cuộc bầu cử được tổ chức lại vào năm 1993 và họ có 65 ghế trong Quốc hội.
Hiến pháp Lesotho quy định quyền tự do tôn giáo, và Chính phủ Lesotho nói chung tôn trọng quyền này trong thực tế.
== Giáo dục ==
Hệ thống giáo dục của Lesotho được quản lý thông qua ba nhà thờ lớn nhất, dưới sự hướng dẫn của Bộ Giáo dục. Hệ tiểu học gồm 6 bậc gọi là các chuẩn mực. Học sinh tốt nghiệp có thể theo học tiếp chương trình trung học nếu đủ điều kiện và khả năng tài chính. Lesotho có tỉ lệ người biết chữ vào loại khá cao ở châu Phi.
Theo ước tính gần đây, 85% dân số trên 14 tuổi biết chữ. Không như nhiều nước khác, tỷ lệ nữ giới biết chữ là khoảng 94.5%, cao hơn hẳn so với nam giới (khoảng 75%). Như vậy, Lesotho tự hào là một trong những nước có tỷ lệ biết chữ cao so với các quốc gia khác ở châu Phi. Mặc dù giáo dục là không bắt buộc, nhưng Chính phủ Lesotho đã từng bước thực hiện một chương trình giáo dục tiểu học miễn phí. Đại học Quốc gia Lesotho nằm ở Roma là trường đại học duy nhất trong cả nước. Ngoài ra, cả nước có gần 20 trường học công cộng khác và 15 viện nghiên cứu tư nhân bậc giáo dục đại học.
== Vấn đề HIV/AIDS ==
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị và biên giới (dân cư vùng biên giới có thể sang Nam Phi chữa bệnh). Do địa hình nằm khá cao so với mặt nước biển nên Lesotho tránh được nhiều bệnh dịch thông thường như ở các nước châu Phi khác. Tuy nhiên số người chết vì căn bệnh HIV/AIDS lại đang tăng khá nhanh. Lesotho là nước có tỉ lệ HIV cao hàng thứ ba thế giới, với 29% tỉ lệ lây nhiễm nơi những người tuổi từ 16-49. Năm 2003, có 29 nghìn người đã chết vì những nguyên nhân có liên quan đến AIDS.
== Hệ thống thuế khóa ==
== Quan hệ với nước ngoài ==
Sau độc lập (tháng 10 năm 1966), Lesotho thực hiện đường lối đối ngoại thân phương Tây, đặc biệt với Anh và có xu hướng liên kết và lệ thuộc Nam Phi. Sau khi Angola và Mozambique giành độc lập (1975), Lesotho có chuyển biến tích cực, tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa Apartheid, ủng hộ Đại hội Dân tộc Phi (ANC) như cho phép vào tị nạn ở Lesotho, cấp học bổng.
Là nước nghèo, kém phát triển nên Lesotho có quan hệ ngoại giao và kinh tế rất hạn chế. Quan hệ mọi mặt của nước này hiện nay chủ yếu với Nam Phi và Anh.
== Văn hóa ==
Nhạc cụ truyền thống âm nhạc bao gồm lekolulo, Một loại sáo được sử dụng bởi herding trai, setolo-Tolo, Chơi của nam giới bằng cách sử dụng miệng của họ, và người phụ nữ của dây thomo.
Quốc ca của Lesotho là "Lesotho Fatše La Bo-ntata Rona", có nghĩa là dịch thành "Lesotho, Land of Our Fathers".
Phong cách truyền thống của nhà ở Lesotho được gọi là một rondavel.
Attire xoay quanh chăn Basotho, một dày bao phủ thực hiện chủ yếu của len. Các chăn được phổ biến trên cả nước trong tất cả các mùa.
Cái Morija Nghệ thuật & Lễ hội văn hoá Sesotho là một nghệ thuật nổi bật và lễ hội âm nhạc. Nó được tổ chức hàng năm tại thị trấn lịch sử của Morija, nơi mà các nhà truyền giáo đầu tiên đến năm 1833.
== Quyền con người ==
== Sự ám sát các nhà lãnh đạo ==
== Xem thêm ==
== Liên kết khác ==
== Tham khảo == |
hệ thống bretton woods.txt | Hội nghị Bretton Woods diễn ra ở Bretton Woods (New Hamshire, Hoa Kỳ) năm 1944, thống nhất mức tỷ giá cố định cho các đồng tiền chính và cho phép ngân hàng trung ương được can thiệp vào thị trường tiền tệ. Chế độ Bretton Woods quy định một ounce vàng có giá 35 đôla Mỹ. Hệ thống Bretton Woods kéo dài từ năm 1944 đến năm 1971
== Quá trình hoạt động ==
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các quốc gia đã cố gắng phục hồi lại hệ thống bản vị vàng nhưng nó đã sụp đổ hoàn toàn trong cuộc Đại khủng hoảng của những năm 1930. Trong hoàn cảnh đó, 730 đại biểu đến từ 44 quốc gia đã gặp nhau tại Bretton Woods, New Hampshire, năm 1944 để để xây dựng hệ thống tài chính thế giới sau chiến tranh, tránh nguy cơ tái diễn khủng hoảng kinh tế. Tại đây, các nước đã thống nhất thành lập ra một hệ thống tài chính được gọi là Bretton Woods - bao gồm Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và chế độ tỷ giá hối đoái cố định được xây dựng quanh đồng đôla Mỹ gắn với vàng. Do tại thời điểm đó nước Hoa Kỳ chiếm hơn một nửa tiềm năng sản xuất của thế giới và giữ gần như toàn bộ lượng vàng của thế giới nên các nhà lãnh đạo quyết định gắn các đồng tiền thế giới với đồng đôla, đồng tiền mà tiếp sau đó được họ đồng ý đổi ra vàng ở mức 35 USD một ounce.
Dưới hệ thống Bretton Woods, các ngân hàng trung ương của các nước trừ Hoa Kỳ phải có nhiệm vụ duy trì tỷ giá hối đoái cố định giữa các đồng tiền của họ với đồng đôla. Họ làm điều này bằng việc can thiệp vào các thị trường ngoại hối. Nếu đồng tiền của một nước quá cao so với đồng đôla thì ngân hàng trung ương của nước đó cần phải bán tiền của mình để đổi lấy đôla, đẩy giá trị của đồng tiền đó xuống. Ngược lại, nếu giá trị đồng tiền của một nước quá thấp thì nước đó cần phải mua vào tiền của chính mình, do vậy sẽ đẩy giá của đồng tiền đó lên.
== Tan vỡ ==
Hệ thống Bretton Woods đã kéo dài cho tới năm 1971. Tại thời điểm đó, lạm phát và thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ gia tăng đã làm suy giảm giá trị đồng đôla. Người Hoa Kỳ cố thuyết phục Đức và Nhật Bản, là hai nước đều có cán cân thanh toán thuận lợi, tăng giá trị các đồng tiền của họ. Nhưng các quốc gia này miễn cưỡng chấp nhận bước đi này, vì việc tăng giá trị đồng tiền của họ sẽ làm tăng giá hàng hóa của các nước đó và gây tổn hại đến xuất khẩu của họ. Cuối cùng, Hoa Kỳ đã bỏ giá trị cố định của đồng đôla và cho phép nó được thả nổi - tức là cho dao động đối với các đồng tiền khác. Đồng đôla ngay lập tức hạ giá. Các nhà lãnh đạo thế giới tìm cách khôi phục lại hệ thống Bretton Woods bằng một hiệp định có tên gọi Hiệp định Smithson năm 1971, nhưng cố gắng này đã thất bại. Năm 1973, Hoa Kỳ và các quốc gia khác đã chấp thuận cho phép tỷ giá hối đoái thả nổi.
Vào năm 1971, Hoa Kỳ rút khỏi Chế độ tiền tệ Bretton Woods. Lý do là hệ thống Bretton Woods đã giới hạn hoạt động chi tiêu của Hoa Kỳ và thế giới do lượng vàng sở hữu là có hạn trong khi nhu cầu sử dụng tiền lại lớn hơn rất nhiều. Việc Hoa Kỳ in tiền phục vụ cho việc tài trợ cho Chiến tranh Việt Nam hoặc viện trợ cho các nước khác đã khiến đôla mất giá và tăng lạm phát. Để xóa bỏ sự bất hợp lý trên, vào tháng 8 năm 1971 Tổng thống Hoa Kỳ Nixon đã phải rút hẳn khỏi hệ thống Bretton Woods và tiến hành thả nổi đồng tiền.
== Xem thêm ==
Bản vị vàng
== Tham khảo == |
13 tháng 8.txt | Ngày 13 tháng 8 là ngày thứ 225 (226 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 140 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
928 - Hậu Đường Minh Tông phong cho Vương Diên Quân tước Mân vương, tức ngày Mậu Thìn (25) tháng 7 năm Mậu Tý.
1521 – Quân Tây Ban Nha dưới quyền Hernán Cortés chiếm lĩnh thủ đô Tenochtitlan của Aztec.
1704 – Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha: Quân Anh-La Mã Thần thánh đánh bại quân Pháp-Bayern trong trận Blenheim.
1792 – Quốc vương Louis XVI của Pháp bị Tòa án quốc dân ra lệnh bắt giữ, và bị tuyên là kẻ thù của nhân dân.
1898 – Carl Gustav Witt phát hiện ra 433 Eros- tiểu hành tinh nằm gần Trái Đất nhất từng được tìm thấy.
1937 – Chiến tranh Trung-Nhật: Quân đội Nhật Bản bắt đầu tấn công Thượng Hải, chiếm được thành phố sau đó vài tháng.
1942 – Thiếu tướng Eugene Reybold ban hành quyết định kiến thiết cơ sở hạ tầng cho dự án "Phát triển vật liệu thay thế", được biết đến nhiều hơn với tên gọi Dự án Manhattan.
1961 – Cộng hòa Dân chủ Đức đóng cửa biên giới với Tây Berlin nhằm ngăn chặn người dân Đông Đức vượt biên, khởi đầu cho bức tường Berlin.
1999 – "Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca" của Nhật Bản được công bố và thi hành, chính thức hóa việc sử dụng những phù hiệu này.
Ngày Tay Trái - Ngày quốc tế cho người thuận tay trái
== Sinh ==
1903 - Agnès Nguyễn Hữu Hào, sau là nữ nam tước (baronne) Didelot, chị của Nam Phương Hoàng hậu
1910 – Trần Văn Cẩn, họa sĩ Việt Nam (m. 1994)
1922 - Y Ngông Niê Kdăm, là một trí thức, Bác sĩ, nhà giáo nhân dân người dân tộc Êđê của Việt Nam (m. 2001)
1926 – Fidel Alejandro Castro Ruz, Chủ tịch Cuba
1970 – Alan Shearer, cầu thủ bóng đá người Anh
== Mất ==
1991 - Hồ Dzếnh, nhà thơ nổi tiếng Việt Nam (s. 1916).
2008 - Sơn Nam, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam (s. 1926).
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
citrix systems.txt | Citrix Systems, Inc. là một công ty phần mềm đa quốc gia của Hoa Kỳ, cung cấp máy chủ, ứng dụng và ảo hóa desktop, mạng, Phần mềm dạng dịch vụ (SaaS), và công nghệ điện toán đám mây. Nó được thành lập ở Richardson, Texas vào năm 1989 bởi Ed Iacobucci, người từng giữ chức chủ tịch cho đến khi rời khỏi năm 2000.
Công ty bắt đầu bằng cách phát triển các sản phẩm truy cập từ xa cho hệ điều hành của Microsoft. Nó được cấp phép mã nguồn từ Microsoft và đã hợp tác với công ty trong suốt lịch sử của nó. Citrix trở nên nổi bật trong những năm 1990 như là một nhà lãnh đạo trong công nghệ thin client, mục đích được xây dựng để truy cập các máy chủ từ xa. Công ty đã có lần phát hành lần đầu ra công chúng đầu tiên vào năm 1995 and, với ít đối thủ cạnh tranh, đã có sự gia tăng doanh thu lớn giữa năm 1995 đến 1999.
Công ty này đã mua lại Sequoia Software Corp. vào năm 2001 và ExpertCity, một nhà cung cấp các sản phẩm máy tính để bàn truy cập từ xa, trong năm 2003. Từ năm 2005 đến năm 2012, Citrix đã mua lại hơn một chục công ty khác, cho phép mở rộng sang ảo hóa máy chủ và máy tính để bàn cũng như đám mây, hạ tầng dạng dịch vụ, và phần mềm dạng dịch vụ. Trong năm 2014, Citrix đã mua lại Framehawk và sử dụng công nghệ của nó để cải thiện việc cung cấp ảo hóa desktop và ứng dụng ảo hóa qua mạng không dây.
Citrix có trụ sở tại Fort Lauderdale, Florida và Santa Clara, California, với công ty con hoạt động ở California và Massachusetts, và các trung tâm phát triển bổ sung ở Úc, Canada, Đan Mạch, Đức, Ấn Độ và Vương quốc Anh. Hiện tại có khoảng 330.000 tổ chức trên khắp thế giới dùng dịch vụ của nó. Trong năm 2014, công ty đã được xếp hạng 741 trên Fortune 1000. Citrix đã báo cáo doanh thu 3,28 tỷ đô la và thu nhập ròng trên 300 triệu đô la vào năm 2015. Vào tháng 12 năm 2015, Citrix có khoảng 9.500 nhân viên, nhưng vào tháng 11 họ cơ cấu lại để loại bỏ gần 700 việc làm toàn thời gian. Cựu giám đốc điều hành Microsoft Kirill Tatarinov trở thành Giám đốc điều hành của nó vào tháng 1 năm 2016.
== Lịch sử ==
=== Ngày đầu ===
Citrix được thành lập ở Richardson, Texas vào năm 1989 bởi nhân viên cũ của IBM Ed Iacobucci với 3 triệu USD tài trợ. Sau ngày thành lập ban đầu, Iacobucci chuyển công ty đến nhà cũ của ông ở Coral Springs, Florida.
=== Trở nên phổ biến ===
=== Mở rộng ===
Năm 2001, Citrix mua lại Sequoia Software Corp. với giá 185 triệu USD. Cùng năm đó nó phát hành MetaFrame XP, một nền tảng mới sử dụng công nghệ MetaFrame. Sau đó nó được Citrix đổi tên thành Presentation Server, in 2005.
=== Gần đây ===
Citrix đã công bố thu nhập ròng là 251,7 triệu USD vào năm 2014, giảm từ 339,5 triệu USD vào năm 2013.
== Hoạt động ==
Citrix là một công ty Hoa Kỳ tạo ra phần mềm để sử dụng trên máy tính cá nhân và các thiết bị khác để kết nối từ xa tới máy tính để bàn, ứng dụng và mạng.
== Mua lại ==
== Sản phẩm ==
== Hoạt động xã hội ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Keith Schultz (ngày 14 tháng 12 năm 2011) VDI shoot-out: Citrix XenDesktop vs. VMware View. Citrix XenDesktop 5.5 and VMware View 5 vie for the most flexible, scalable, and complete virtual desktop infrastructure, InfoWorld
Keith Schultz (ngày 14 tháng 12 năm 2011) VDI shoot-out: HDX vs. PCoIP. The differences between the Citrix and VMware remote desktop protocols are more than skin deep, InfoWorld
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Citrix Monitoring: Real-Time vs Agent-Based |
hàng gai.txt | Hàng Gai là một con phố thuộc quận Hoàn Kiếm, trong khu phố cổ Hà Nội, đi từ quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục đến phố Hàng Bông. Phố Hàng Gai có chiều dài 252 mét.
== Lịch sử ==
Phố Hàng Gai nguyên là đất phường Đông Hà (nửa phố phía Đông) và phố Cổ Vũ (nửa phố phía Tây), đều thuộc tổng Tiền Túc (sau đổi thành tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương cũ.
Ở phố này có hai ngôi đình cổ: đình Đông Hà ở số nhà 46, thờ Quý Minh là một người con của Sơn Tinh, có công chống Thủy Tinh; đình Cổ Vũ ở số nhà 85 thờ Bạch Mã cùng Linh Lang. Tuy vậy hai ngôi đình này cho tới nay đã bị biến thành nhà tư và trường mẫu giáo.
Phố Hàng Gai đời xưa chuyên bán các thứ dây gai, dây đay, võng, thừng...Nhưng từ thế kỷ XIX, nghề in sách đã du nhập vào con phố này. Nhiều cửa hàng khắc ván, in sách và bán sách mở ra, đã đẩy các hàng bán dây gai lên phường Đông Thành, phố Bát Đàn.
Tên phố thời Pháp thuộc là rue de Chanvre nơi đặt hai dinh sở lớn là Dinh Kinh lược sứ Bắc Kỳ ở số 79-83 và Dinh công sứ Pháp đối diện ở số 80.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
văn phòng chính phủ (việt nam).txt | Văn phòng Chính phủ là một cơ quan ngang Bộ trong Chính phủ Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ là bộ máy giúp việc của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
== Lịch sử ==
Ngày 28 tháng 8 năm 1945, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu tuyên cáo trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới về việc thành lập Chính phủ nước Việt Nam mới. Cũng trong thời gian đó, một cơ quan đầu não giúp việc cho Chính phủ lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thành lập. Do lúc bấy giờ, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa ổn định, áp lực nội hoạn ngoại xâm rất lớn, nên tổ chức cũng như nhân sự của cơ quan này được giữ bí mật. Việc thành lập cơ quan này cũng không có văn bản thành lập chính thức.
Đến tháng 9 năm 1955, Chính phủ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được thành lập, ông Phạm Hùng được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Mặc dù vậy, mãi đến 26 tháng 7 năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới ra Lệnh số 18-LCT công bố Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó chính thức thành lập Văn phòng Phủ Thủ tướng và quy định chức năng như sau:
Năm 1971, bên cạnh Bộ trưởng Phủ Thủ tướng còn đặt thêm một Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng tương đương Bộ trưởng. Năm 1981, chức vụ Bộ trưởng, Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng tương đương với Bộ trưởng Phủ Thủ tướng cũ và Văn phòng Phủ Thủ tướng cũng chuyển thành Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, đứng đầu bởi Chủ nhiệm, tương đương Bộ trưởng. Trong hầu hết thời gian, 2 chức vụ này do 1 người kiêm nhiệm; đến năm 1987 thì sát nhập 2 chức vụ này làm một.
Đến năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng chuyển lại thành Chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng đổi sang tên gọi chức vụ mới là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
Ngày 19 tháng 4 năm 2001, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 489/QĐ-TTg, chọn ngày 28 tháng 8 làm "Ngày truyền thống Văn phòng Chính phủ".
== Nhiệm vụ ==
Tổ chức các hoạt động chung của Chính phủ và Thủ tướng;
Tham mưu cho Thủ tướng trong công việc chỉ đạo, điều hành các hoạt động chung của bộ máy hành chính nhà nước;
Giúp Thủ tướng tổ chức việc điều hoà, phối hợp hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để thực hiện chương trình kế hoạch công tác của Chính phủ, Thủ tướng
Xây dựng, quản lý và thực hiện đúng Quy chế làm việc, chương trình và kế hoạch công tác của Chính phủ, Thủ tướng; bảo đảm các điều kiện vật chất và kỹ thuật cho hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng.
== Lãnh đạo đương nhiệm ==
Bộ trưởng, Chủ nhiệm: Mai Tiến Dũng
Phó Chủ nhiệm: Nguyễn Văn Tùng
Phó Chủ nhiệm: Nguyễn Cao Lục
Phó Chủ nhiệm: Nguyễn Sĩ Hiêp
Phó Chủ nhiệm: Nguyễn Xuân Thành
Phó Chủ nhiệm: Lê Mạnh Hà
== Các cơ quan trực thuộc ==
Vụ Theo dõi khiếu nại, tố cáo và Phòng, chống tham nhũng (gọi tắt Vụ I).
Vụ Nội chính (gọi tắt là Vụ II).
Vụ Theo dõi phối hợp công tác giữa Chính phủ với Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan Trung ương các đoàn thể nhân dân và Chính quyền địa phương (gọi tắt là Vụ III).
Vụ Tổng hợp.
Vụ Tổ chức hành chính nhà nước và Công vụ.
Vụ Pháp luật.
Vụ Quan hệ quốc tế.
Vụ Kinh tế ngành.
Vụ Kinh tế tổng hợp.
Vụ Khoa giáo - Văn xã.
Vụ Đổi mới doanh nghiệp.
Vụ Thư ký - Biên tập.
Vụ Văn thư Hành chính.
Vụ Tổ chức cán bộ.
Vụ Kế hoạch tài chính.
Cục Quản trị.
Cục Hành chính - Quản trị II.
Trung tâm Tin học.
Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
== Bộ trưởng qua các thời kỳ ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Văn phòng Chính phủ Việt Nam |
analog devices.txt | Analog Devices, Inc., còn được gọi là ADI hay Analog, là một công ty bán dẫn đa quốc gia của Hoa Kỳ chuyên về kĩ thuật chuyển đổi dữ liệu và xử lý tín hiệu có trụ sở ở Norwood, Massachusetts. Vào năm 2012, Analog Devices dẫn đầu thị trường chuyển đổi dữ liệu toàn cầu với 48,5% thị phần, theo số liệu của công ty phân tích Databeans.
Công ty sản xuất ra các vi mạch (IC) analog, tín hiệu hỗn hợp và xử lý tín hiệu số (DSP) được sử dụng trong các thiết bị điện tử. Những công nghệ này được sử dụng để chuyển đổi, điều kiện và xử lý các hiện tượng trong thế giới thực, như ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, chuyển động và áp suất vào các tín hiệu điện.
Analog Devices có khoảng 100.000 khách hàng trong các ngành công nghiệp sau: truyền thông, máy tính, công nghiệp, thiết bị, quân sự / hàng không vũ trụ, ô tô, và các ứng dụng điện tử tiêu dùng.
== Lịch sử ==
== Địa điểm ==
== Nhân viên ==
=== Lịch sử ===
== Sản phẩm và công nghệ ==
=== Lịch sử ===
== Thị trường ==
=== Chăm sóc sức khỏe ===
=== Ô tô ===
=== Công nghiệp ===
=== Tiêu dùng ===
== Đối thủ ==
== Analog Dialogue ==
== Cộng đồng ==
=== Cộng đồng ===
=== Tài nguyên ===
== Mua lại ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
ADI Corporate Website
ADI Stock Price
EngineerZone
Analog Device Catalog |
bộ trưởng bộ quốc phòng hoa kỳ.txt | Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ (United States Secretary of Defense) là người lãnh đạo Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (DoD) đặc trách trông coi các quân chủng và các vấn đề quân sự của Hoa Kỳ. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đóng vai trò như là cố vấn chính về chính sách quốc phòng của Tổng thống Hoa Kỳ, có trách nhiệm lập ra chính sách quốc phòng tổng quát liên quan đến tất cả những vấn đề chính và vấn đề liên quan trực tiếp đến Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, và thực hiện chính sách quốc phòng mà đã được chấp thuận. Bộ trưởng do Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm nhưng phải có sự chấp thuận của Thượng viện Hoa Kỳ. Bộ trưởng là thành viên nội các Hoa Kỳ. Theo Mục 113, Điều 10, Bộ luật Hoa Kỳ, một người không thể được bổ nhiệm làm bộ trưởng quốc phòng trong vòng 7 năm sau khi giải ngũ với tư cách là sĩ quân của một thành phần chính quy của một lực lượng vũ trang. Bộ trưởng Quốc phòng là người thứ sáu trong thứ tự kế vị chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ. Lương bổng hàng năm của bộ trưởng là $191.300.
== Lịch sử ==
Chức vụ này được lập ra vào năm 1947 khi Không quân Hoa Kỳ mới được thành lập bị sát nhập vào Tổ chức Quân sự Quốc gia cũng mới được thành lập (National Military Establishment). Trong thời gian có sự tái tổ chức lớn tương tự, chức vụ Bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ bị thay thế bởi chức vụ Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Cùng với chức vụ Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ và chức vụ Bộ trưởng Không quân Hoa Kỳ mới lập sau đó, cả ba chức vụ bộ trưởng quân chủng được đặt dưới quyền của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ. Năm 1949, Tổ chức Quân sự Quốc gia được đổi tên thành Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và tất cả các bộ trưởng của các quân chủng bị đặt ra khỏi Nội các Hoa Kỳ và Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ.
== Tổ chức ==
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ và Tổng thống Hoa Kỳ hợp thành bộ phận "National Command Authorities", tạm dịch là những người có thẩm quyền của bộ tư lệnh quốc gia là bộ tư lệnh có thẩm quyền duy nhất khai hỏa các loại vũ khí hạt nhân chiến lược. Tất cả các vũ khí hạt nhân được kiểm soát bởi bộ hai người có thẩm quyền này - cả hai phải nhất trí trước khi một cuộc tấn công hạt nhân chiến lược được ra lệnh.
Thành phần tham mưu của bộ trưởng được gọi là Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng gồm có một phó bộ trưởng và năm thứ trưởng quốc phòng trong các lĩnh vực:
Quân dụng, Kỹ thuật và Tiếp liệu
Tài chính quốc phòng
Tình báo quốc phòng
Nhân sự và sẵn sàng tác chiến
Chính sách quốc phòng.
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, theo luật, cũng thực hiện quyền lực, chỉ đạo và kiểm soát đối với ba bộ trưởng quân chủng (Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ, Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ & Bộ trưởng Không quân Hoa Kỳ), Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, và các thành viên khác trong Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ (Tổng tham mưu phó Liên quân Hoa Kỳ, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, Tư lệnh Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ & Tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ), các tư lệnh tác chiến của các Bộ tư lệnh Tác chiến Thống nhất, các giám đốc các cơ quan quân sự (thí dụ như Giám đốc Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ)... Tất cả những chức vụ cao cấp này đều phải được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận sau khi được Tổng thống Hoa Kỳ đề cử.
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ cùng với Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ và Bộ trưởng Ngân khố Hoa Kỳ được xem là bộ bốn các viên chức nội các quan trọng nhất.
== Danh sách các bộ trưởng quốc phòng ==
== Thứ tự kế nhiệm bộ trưởng quốc phòng ==
Theo Lệnh hành pháp 13394, ngày 22 tháng 12 năm 2005, Tổng thống George W. Bush đã sửa đổi lại thứ tự kế nhiệm chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ trong trường hợp bộ trưởng vắng mặt hay không thể làm việc như sau:
Thứ trưởng bộ Quốc phòng Hoa Kỳ
Thứ trưởng quốc phòng đặc trách tình báo
Thứ trưởng quốc phòng đặc trách chính sách
Thứ trưởng quốc phòng đặc trách quân dụng, kỹ thuật và tiếp vận
Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ
Bộ trưởng Không quân Hoa Kỳ
Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ
== Các cựu bộ trưởng quốc phòng còn sống ==
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
“Histories of the Secretaries of Defense”. U.S. Department of Defense. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2002.
“Executive Order: Providing An Order of Succession Within the Department of Defense”. Office of the Press Secretary. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2005.
“The Department of Defense Organizational Structure”. U.S. Department of Defense. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2006.
== Liên kết ngoài ==
“Top Civilian and Military Leaders”. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2007. – Includes the Secretary of Defense
More information on each position and biographies of the current Deputy Secretary (DepSecDef) and Under Secretaries (USDs) |
kate upton.txt | Kate Upton (sinh ngày 10 tháng 6 năm 1992) là một nữ người mẫu kiêm diễn viên người Mỹ đã nổi tiếng trong năm 2011 trong số báo Sports Illustrated Swimsuit Issue. Kate Upton là thành viên người mẫu của hãng nội y danh tiếng Victoria's Secret. Kate đang khẳng định chỗ đứng của mình trong làng thời trang quốc tế.
== Tiểu sử ==
Kate Upton sinh ra ở St Joseph, Michigan và lớn lên tại Melbourne, Florida trong một gia đình có hai chị gái và một anh trai. Cô là siêu mẫu đang được các tạp chí hàng đầu thế giới hiện nay săn đón. Cô sở hữu vóc dáng đầy đặn với chiều cao 1m78, số đo ba vòng (cm): 84-63-92. Bước chân vào làng thời trang từ năm 2008 nhưng Kate Upton đã nhanh chóng khẳng định được chỗ đứng của mình. Kate còn là một tay đua ngựa cự phách. Kate từng đầu quân cho Hiệp hội đua ngựa Mỹ (American Paint Horse Association) và năm lần giành được chức vô địch APHA Reserve World.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Kate Upton at Sports Illustrated online]
Hình ảnh gợi cảm của Kate |
elizabeth i của anh.txt | Elizabeth I của Anh (tiếng Anh: Queen Elizabeth I of England; 7 tháng 9 năm 1533 – 24 tháng 3 năm 1603) là Nữ vương của nước Anh và Ireland từ ngày 17 tháng 11 năm 1558 cho đến khi qua đời. Bà được biết đến với những danh hiệu khác như Nữ vương Đồng trinh (The Virgin Queen), Gloriana, hoặc Good Queen Bess, và trở nên bất tử với tên Faerie Queene trong thiên sử thi cùng tên của Edmund Spenser. Elizabeth I là người thứ sáu, cũng là người cuối cùng, của Triều đại Tudor (những người khác thuộc dòng Tudor đã từng lên ngôi báu là ông nội Henry VII, cha Henry VIII, em trai cùng cha khác mẹ Edward VI, em gái đồng đường Jane Grey và chị cùng cha khác mẹ Mary I). Thời trị vì của Elizabeth I kéo dài 45 năm, nổi bật với hai sự kiện: Vương quốc Anh trở nên một thế lực có ảnh hưởng toàn cầu, và những tranh chấp tôn giáo luôn sục sôi trong nước.
Elizabeth khởi sự cai trị đất nước bằng cách tìm kiếm những lời tư vấn khôn ngoan và thích đáng, những quyết định chính trị của Nữ vương thường dựa vào một nhóm các cố vấn đáng tin cậy được đặt dưới sự dẫn dắt của William Cecil, Nam tước Burghley. Một trong những quyết định quan trọng đầu tiên của Elizabeth là quay sang ủng hộ việc xác lập giáo hội theo khuynh hướng Kháng Cách cho nước Anh, với Nữ vương là Thống đốc Tối cao của Giáo hội. Từ đây hình thành và phát triển Anh giáo. Trái với sự mong đợi của thần dân cũng như của Quốc hội, Elizabeth không hề kết hôn. Mặc dù luôn cẩn trọng trong đối ngoại và dè dặt khi ủng hộ các chiến dịch quân sự tại Hà Lan, Pháp và Ireland, chiến tích nước Anh đánh bại hạm đội của Tây Ban Nha (Armada ) năm 1588 được nối kết với tên tuổi của Nữ vương và thường được xem là một trong những chiến thắng lừng lẫy nhất trong lịch sử nước Anh.
Giai đoạn này thường được nhắc đến như là Thời kỳ Elizabeth hoặc Thời Hoàng kim Elizabeth. Các nhà viết kịch William Shakespeare, Christopher Marlowe và Ben Johnson đã tạo nên thanh danh cho mình trong thời kỳ này; Francis Drake trở thành người Anh đầu tiên thực hiện một chuyến hải hành vòng quanh Trái Đất; Francis Bacon thiết lập quan điểm chính trị và triết học; Bắc Mỹ trở thành thuộc địa của Anh do công của Walter Raleigh và Sir Humphrey Gilbert.
Elizabeth là một quân vương điềm tĩnh, quyết đoán và tỏ ra bảo thủ hơn vua cha và vua em. Câu nói được bà yêu thích là "video et taceo" (Tôi quan sát và tôi im lặng). Chính phẩm hạnh này đã nhiều lần cứu Nữ vương khỏi bị trói buộc vào những liên minh sai lầm trong chính trị và hôn nhân. Giống vua cha Henry VIII, bà thích viết lách và làm thơ. Nữ vương đã ban Chứng thực Hoàng gia (Royal Charter) cho những định chế nổi tiếng như Đại học Trinity ở Dublin (năm 1592) và Công ty Đông Ấn Anh Quốc (1600).
Virginia, một trong 13 khu thuộc địa, về sau hợp nhất để trở nên Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, được đặt tên theo một danh hiệu của Elizabeth, "Nữ vương Đồng trinh" (The Virgin Queen).
Tuy nhiên, các sử gia tỏ ra nghiêm khắc hơn, họ thường miêu tả Elizabeth là người nóng tính, đôi khi thiếu quyết đoán và cho rằng bà thành công là nhờ may mắn. Những năm cuối triều đại Elizabeth, một loạt những khó khăn về kinh tế và quân sự đã làm giảm sút uy tín của Nữ vương đến mức khi bà qua đời nhiều người đã thở phào nhẹ nhõm.
Dù vậy, Elizabeth vẫn được các sử gia xem là một nhà cai trị có sức thu hút cá nhân và biết cách vượt qua mọi trở ngại để tồn tại trong một thời kỳ mà chính quyền thường hạn chế và thiếu hiệu quả, và khi vua chúa các Vương quốc láng giềng luôn phải đối phó với các khó khăn trong nước với nguy cơ Vương quyền có thể bị tổn hại nghiêm trọng, như trường hợp của các đối thủ của Elizabeth như Nữ vương Mary của Scotland, bị tống giam năm 1568 rồi xử tử hình năm 1587.
Sau thời trị vì ngắn ngủi của em trai và chị, triều đại kéo dài 45 năm của Nữ vương Elizabeth đã cống hiến một giai đoạn ổn định rất quý báu cho Vương quốc Anh và là nhân tố chủ chốt giúp hình thành ý thức dân tộc cho người dân Anh.
== Thiếu thời ==
Elizabeth Tudor là con duy nhất của Quốc vương Henry VIII và Vương hậu Anne Boleyn. Hai người bí mật kết hôn vào một thời điểm giữa mùa đông năm 1532 và cuối tháng 1 năm 1533. Elizabeth chào đời tại Lâu đài Placentia ở Greenwich ngày 7 tháng 9 năm 1533, và được đặt tên theo bà nội, Elizabeth xứ York. Ngay khi ra đời, Elizabeth được ban quyền kế thừa ngai báu mặc dù Henry VIII đã có một con gái, Mary Tudor. Công nương Mary khi đó không được cha công nhận là người thừa kế hợp pháp vì nhà vua đã hủy bỏ hôn ước với người mẹ, Catherine xứ Aragon, Công chúa nước Tây Ban Nha.
Henry VIII mong chờ sự ra đời của một con trai để bảo đảm sự kế tục của triều đại Tudor, nhưng sau khi sinh hạ Elizabeth, Vương hậu Anne bị sẩy thai hai lần trong năm 1534 và đầu năm 1536, rồi nhà vua bắt đầu có quan hệ với Jane Seymour.
Vẫn còn nhiều tranh luận về nguyên nhân Anne Boleyn bị thất sủng, nhưng các sử gia đồng ý với nhau về sự vô tội của Anne Boleyn đối với các cáo buộc chống lại bà, họ tin rằng cái chết của bà đã được sắp đặt bởi những đối thủ chính trị. Anne Boleyn bị bắt ngày 2 tháng 5 năm 1536 và bị cầm tù. Mười bảy ngày sau bà bị hành quyết với các tội danh phản quốc, loạn luân với anh/em trai, George Boleyn, và tội phù thủy.
Công nương Elizabeth Tudor khi đó mới lên ba, bị tuyên bố là con bất hợp pháp và bị mất tước hiệu Công nương (Princess), cũng không được hưởng tài sản của người mẹ. Cô chỉ còn là Lady Elizabeth và không được sống gần cha khi ông kết hôn với Jane Seymour. Năm 1537, người vợ thứ ba của Henry VIII là Jane Seymour ra sinh con trai, Vương tử Edward; theo Đạo luật Kế vị năm 1544, Edward là người kế thừa ngai báu nước Anh, tức Edward VI của Anh.
Người bảo hộ đầu tiên của Elizabeth là Margaret Bryan, một nữ hầu tước cô gọi là Muggie. Lúc bốn tuổi, Elizabeth có người bảo hộ mới, Katherine Champernowne, mà cô thường gọi là "Kat". Champernowne tạo lập một mối quan hệ thân thiết với Elizabeth và trở nên người bạn tốt và thân tín suốt cuộc đời cô. Champernowne đóng góp nhiều cho học vấn của Elizabeth, với sự kèm cặp của William Grindal, cô có thể viết tiếng Anh, tiếng Latin và tiếng Ý, sau đó đạt nhiều tiến bộ trong việc học tiếng Pháp và tiếng Hy Lạp. Khi Grindal từ trần năm 1548, Roger Ascham thay thế Grindal hướng dẫn cô trong học thuật theo phương pháp mới, biến học tập thành một công việc thú vị. Matthew Parker, mục sư của mẹ cô, dành một mối quan tâm đặc biệt đến cuộc sống và quyền lợi của Elizabeth do Anne, khi ấy đang sống trong kinh hãi trước khi bị hành quyết, ủy thác Parker chăm sóc đời sống tâm linh cho con gái. Về sau Parker trở thành Tổng Giám mục thành Canterbury sau khi Elizabeth đăng quang năm 1558. Một người bạn thân tình khác mà Elizabeth thường nhắc đến với nhiều tình cảm là một người Ireland, Thomas Butler, về sau là Bá tước xứ Ormonde (mất năm 1615).
Elizabeth là người đa tài, kiên định và cực kỳ thông minh. Cô ham thích học hỏi vì khao khát hiểu biết. Giống song thân, cô là một cô gái lãng mạn và quyến rũ.
Henry VIII qua đời năm 1547, truyền ngôi cho Edward VI. Catherine Parr, người vợ cuối của Henry, kết hôn với Thomas Seymour, cậu của Edward VI. Seymour đem Elizabeth về nhà mình. Người ta tin rằng Seymour muốn tạo lập quan hệ thân tình với Elizabeth khi cô sống trong nhà ông. Ở đây, cô nhận lãnh giáo huấn từ Roger Ascham. Dưới ảnh hưởng của Catherine Parr và Ascham, Elizabeth được trưởng dưỡng trong đức tin Kháng Cách (Protestant).
Khi vua em Edward là người Kháng Cách sùng tín, còn trị vì, địa vị của Elizabeth vẫn còn an toàn. Đến năm 1553, Edward qua đời ở tuổi mười lăm vì bệnh tật từ khi còn nhỏ. Edward để lại một di chúc thay thế di chúc của Henry. Bất kể Đạo luật Kế vị 1544, di chúc này loại bỏ Mary và Elizabeth khỏi quyền kế thừa và công bố Lady Jane Grey, người được Thomas Seymour bảo hộ, là người kế vị. Một sự hợp tác giữa Thomas và John Dudley, Công tức xứ Northumberland, con trai của John, Guilford Dudley, đã kết hôn với Jane. Lady Jane lên ngai, nhưng bị phế truất chỉ hai tuần lễ sau đó. Trong sự tung hô của dân chúng, Mary chiến thắng tiến vào Luân Đôn, với cô em cùng cha khác mẹ, Elizabeth, ở bên cạnh.
Mối liên kết giữa hai chị em không kéo dài. Mary quyết tâm đàn áp đức tin Kháng Cách mà Elizabeth tiếp nhận từ khi còn bé, và buộc mọi người phải dự lễ Misa. Elizabeth không có sự lựa chọn nào khác phải tỏ ra phục tùng Nữ vương. Song uy tín của Mary sút giảm khi dân chúng biết dự định kết hôn với Hoàng tử Felipe của Tây Ban Nha (về sau là vua Felipe II của Tây Ban Nha) nhằm tìm kiếm sự hậu thuẫn cho phe Công giáo bên trong nước Anh. Sau cuộc nổi dậy của Wyatt năm 1554 tìm cách ngăn cản cuộc hôn nhân giữa Mary và Felipe nhưng thất bại, Elizabeth bị cầm giữ trong Tháp Luân Đôn vì bị cho là có dính líu đến cuộc nổi dậy. Có những sự đòi hỏi xử tử hình Elizabeth, nhưng đa số dân Anh không muốn nhìn thấy một thành viên thuộc dòng họ Tudor rất được lòng dân bị sát hại. Quan Chưởng ấn Stephen Gardiner muốn rút tên Elizabeth khỏi danh sách kế vị, nhưng cả Mary lẫn Quốc hội đều không đồng ý. Sau hai tháng bị giam giữ, Elizabeth được trả tự do vào đúng ngày mẹ cô bị hành quyết mười tám năm trước. Ngày 22 tháng 5, khi Elizabeth được đưa đến Woodstock để bị quản thúc tại gia dưới sự giám sát của Sir Henry Bedingfield, dân chúng đứng hai bên đường hoan hô cô.
Sau một thời gian trị vì ôn hòa, Mary, một người Công giáo sùng tín, khởi sự theo đuổi chính sách ngược đãi người Kháng Cách mà Nữ vương xem là những kẻ dị giáo và là mối de dọa cho thẩm quyền của bà. Do những cuộc bách hại chống phe Kháng Cách được tiến hành dưới thời trị vì của mình, Nữ vương bị gán cho biệt danh "Mary khát máu". Dù bị Mary thuyết phục cải đạo theo Công giáo La Mã, Elizabeth khôn khéo duy trì lòng trung thành với lương tâm và khát vọng của mình. Cuối năm ấy, khi có những lời đồn đại về việc Mary có thai, Elizabeth được phép trở lại triều đình theo lời yêu cầu của Felipe. Do lo ngại Nữ vương có thể chết khi sinh con, Felipe muốn Elizabeth, dưới sự bảo hộ của ông, sẽ là người kế vị, thay vì người có huyết thống gần Elizabeth nhất, Nữ vương Mary của Scotland. Mary lớn lên trong hoàng cung Pháp và có hôn ước với Thái tử Pháp, mặc dù là người Công giáo, Felipe không muốn Mary kế thừa ngai báu nước Anh vì sợ ảnh hưởng của người Pháp trên chính trường Anh qua Mary.
== Lên ngôi ==
Tháng 11 năm 1558, sau cái chết của Mary, Elizabeth I lên ngôi báu nước Anh. So với Mary, Nữ vương mới rất được lòng dân, người ta thuật lại rằng khi Mary qua đời dân chúng đổ ra đường reo mừng. Theo truyền thuyết, Elizabeth được báo tin kế vị khi đang ngồi dưới gốc cây sồi ở Hatfield đọc Kinh Thánh Hi văn, một người hầu đến gần và háo hức nói "Hoàng thượng...". Elizabeth thốt lên một câu Kinh Thánh từ Thi thiên (Thánh vịnh) 118: 23, "Ấy là công việc của Chúa, một sự diệu kỳ trong mắt chúng ta".
Elizabeth lên ngôi lúc 25 tuổi. Suốt trong lễ đăng quang ngày 15 tháng 1 năm 1559, Elizabeth được dân chúng chào đón tung hô, họ diễn kịch và đọc thơ tán tụng nhan sắc và trí tuệ của Nữ vương. Lúc ấy chức Tổng Giám mục thành Canterbury (đứng đầu chức sắc Giáo hội Anh) đang khuyết; Hồng y Reginald Pole vừa qua đời. Các Giám mục có thế lực từ chối tham dự lễ đăng quang vì chiếu theo giáo luật Công giáo, Elizabeth, một tín hữu Kháng Cách, bị xem là bất hợp pháp. Chỉ có một chức sắc ít tiếng tăm Owen Oglethorpe, Giám mục thành Carlisle, đến tham dự và trao vương miện cho Nữ vương. Lễ Tiệc Thánh được cử hành bởi tuyên úy của Nữ vương.
Lễ đăng quang của Elizabeth I là lần cuối cùng được cử hành theo nghi thức Latin; từ đó, các lễ đăng quang, ngoại trừ của George I, đều được cử hành theo nghi thức Anh. Elizabeth thuyết phục Matthew Parker nhận lãnh chức vụ Tổng Giám mục Canterbury.
Ngày 20 tháng 11 năm 1558, Elizabeth nói chuyện với Hội đồng Tư vấn và các nhà quý tộc tụ họp về Hatfield để tuyên thệ trung thành với Nữ vương, trong đó lần đầu tiên bà đề cập đến ẩn dụ "hai định chế" thường được sử dụng sau này: định chế thiên nhiên và định chế chính trị.
Trước đó, trong cuộc diễu hành chiến thắng đi qua khắp thành phố ngay vào ngày trước lễ đăng quang, Elizabeth được thần dân hết lòng chào đón với những bài diễn văn cùng những lễ hội tung hô tân vương, hầu hết diễn ra theo khuynh hướng Kháng Cách. Sự duyên dáng và thái độ cởi mở của Elizabeth làm thần dân càng thêm yêu mến bà. Hôm sau, tại Điện Westminster, Owen Oglethorpe, Giám mục Carlise, đội vương miện cho Elizabeth. Lễ đăng quang được xem như là một sự kiện thể hiện sự đồng thuận của thần dân, trong âm thanh ồn ả của các loại nhạc cụ như đàn organ, sáo, kèn, trống, và chuông.
== Tôn giáo ==
Một trong những mối quan tâm hàng đầu của Elizabeth I khi bắt đầu trị vì là các vấn đề tôn giáo. Nhận biết thần dân muốn Nữ vương khước từ quyền lực của Giáo hoàng và ảnh hưởng của Tây Ban Nha, điều này phù hợp với ước nguyện của bà và những quyết sách được đề nghị bởi Sir William Cecil. Elizabeth cũng biết Giáo hoàng sẽ không chịu công nhận bà là con hợp pháp của Henry VIII và là quân vương của nước Anh. Vì vậy, Nữ vương quyết định thành lập một giáo hội Kháng Cách phù hợp với nguyện vọng người dân Anh. Năm 1559, Quốc hội làm luật thành lập giáo hội theo mô hình của Edward VI, với nhà vua là người đứng đầu giáo hội. Dự luật nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ tại Viện Thứ dân, nhưng gặp chống đối tại Viện Quý tộc, đặc biệt là từ các Giám mục. Tuy nhiên, may mắn cho Elizabeth, nhiều vị trí Giám mục đang khuyết, kể cả chức vụ Tổng Giám mục thành Canterbury. Điều này giúp các thành viên Viện Quý tộc ủng hộ Kháng Cách chiếm đa số phiếu khi biểu quyết. Đạo luật Đồng nhất (Act of Uniformity) được Nữ vương phê chuẩn năm 1559, quy định việc sử dụng Sách Cầu nguyện chung theo đức tin Kháng Cách trong các nhà thờ. Bí tích Thánh thể của Giáo hội Công giáo bị bác bỏ. Nữ vương nhận danh hiệu "Thống đốc Tối cao của Giáo hội Anh" thay vì "Đầu của Giáo hội".
Đạo luật Quyền Tối thượng năm 1559 buộc tất cả viên chức công phải chấp nhận quyền kiểm soát của nhà vua trên giáo hội. Nhiều Giám mục từ chối ủng hộ lập trường của Elizabeth bị bãi chức và được thay thế bởi những chức sắc ủng hộ Nữ vương. Bà bổ nhiệm Hội đồng Tư vấn mới, không còn có sự hiện diện của các thành viên Công giáo. Dưới triều Elizabeth, tình trạng chia rẽ và tranh chấp do bè phái giảm thiểu đáng kể. Cố vấn trưởng của Nữ vương, Sir William Cecil, đảm nhiệm chức Bộ trưởng Ngoại giao, và Sir Nicholas Bacon làm Quan Chưởng ấn.
Nhiều tín hữu Công giáo, nhất là ở châu Âu đại lục, xem Elizabeth là dị giáo. Ngày 25 tháng 3 năm 1570, Giáo hoàng Piô V ra chỉ dụ Regnans in Excelsis phạt vạ tuyệt thông Elizabeth và gọi là bà là "Nữ vương tiếm vị". Chỉ dụ này, trên lý thuyết giải phóng người Công giáo tại Anh khỏi nghĩa vụ trung thành với Elizabeth, lại khiến giáo hội Anh liên kết chặt chẽ với vương quyền và đặt người Công giáo tại Anh vào tình huống khó khăn
== Hôn nhân ==
Ngay từ lúc mới lên ngôi, chuyện hôn nhân của Nữ vương là vấn đề được mọi người quan tâm. Trong thực tế, Elizabeth chưa bao giờ kết hôn mà không ai biết rõ nguyên nhân. Nữ vương cũng từng tính đến việc chọn người phối ngẫu, trong đó có François, Công tước xứ Anjou. Tuy vậy, Elizabeth không thấy cần có một người đàn ông giúp đỡ để trị nước, và một cuộc hôn nhân có thể khiến Nữ vương vướng vào nguy cơ bị ngoại bang can thiệp vào nội tình nước Anh, như trường hợp của Mary. Mặt khác, hôn nhân có thể cho Nữ vương cơ hội có con nối dõi.
Nhiều người muốn kết hôn với Elizabeth, nhưng Nữ vương chỉ xem xét ba hoặc bốn trường hợp. Người bạn từ thuở thiếu thời, Robert Dudley, có lẽ là người có nhiều cơ may nhất. Nhưng Dudley đã kết hôn và William Cecil, cố vấn thân tín nhất của Elizabeth, phản đối mối quan hệ này. Năm 1560, cái chết không rõ nguyên nhân của Amy Robstart, vợ của Dudley, đã gây ra nhiều lời đồn đoán. Cuối cùng Nữ vương đặt bổn phận cao hơn tình cảm, phong Dudley làm Bá tước xứ Leicester và bổ nhiệm ông vào Hội đồng Cơ mật, hai người vẫn duy trì tình bạn lâu dài.
Sau Dudley, Elizabeth xem hôn nhân như là một phần trong chính sách đối ngoại, xem đây là nghĩa vụ hơn là tình cảm cá nhân. Quốc hội nhiều lần khẩn khoản Nữ vương kết hôn, nhưng bà cứ lẩn tránh. Khi Elizabeth mắc bệnh đậu mùa trong năm 1563, Quốc hội khẩn nài Nữ vương kết hôn hoặc chỉ định người kế nhiệm nhằm tránh một cuộc nội chiến có thể xảy ra khi bà băng hà, nhưng bị từ chối. Năm 1570, khi các nhân vật chủ chốt trong triều nhận biết Nữ vương không chịu kết hôn, cũng không chỉ định người kế nhiệm, William Cecil ra sức tìm kiếm giải pháp cho vấn đề thừa kế. Nhưng chính sự im lặng của Elizabeth đã củng cố sự an toàn chính trị cho bà: Nữ vương biết rằng nếu chỉ định người thừa kế có thể xảy ra một cuộc đảo chính. Trong khi đó, tình trạng độc thân của Elizabeth dấy lên trong dân chúng lòng sùng bái dành cho một Nữ vương đồng trinh. Trong thi ca cũng như trong hội họa, Nữ vương được miêu tả như là một nữ thần, không phải một phụ nữ bình thường.
== Đối ngoại ==
Chính sách đối ngoại của Elizabeth chủ yếu là phòng thủ, với một ngoại lệ là cuộc chiếm đóng Le Havre kéo dài từ tháng 10 năm 1562 đến tháng 6 năm 1563, khi phe Huguenot đồng minh với Elizabeth liên kết với phe Công giáo Pháp tái chiếm bến cảng này. Elizabeth định ý trao đổi Le Havre để lấy Calais mà người Pháp đã chiếm lại vào tháng 1 năm 1558. Năm 1560, bà gởi quân đến Scotland để ngăn cản ý định của người Pháp sử dụng đất nước này như một hậu cứ để tấn công nước Anh. Năm 1585, Elizabeth ký Hiệp ước Nonsuch với Hà Lan nhằm ngăn chặn hiểm họa từ Tây Ban Nha. Dựa vào sức mạnh của các hạm đội Anh Quốc mà Elizabeth có thể theo đuổi chính sách đối ngoại mạnh mẽ hơn. Khi tranh chấp với Tây Ban Nha, 80% cuộc chiến diễn ra trên mặt biển. Nữ vương phong tước cho Francis Drake sau chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới từ năm 1577 đến 1580, và sau những cuộc đột kích của ông nhắm vào những hải cảng và hạm đội của Tây Ban Nha. Triều đại của bà cũng chứng kiến việc thành lập những đồn điền đầu tiên trên những vùng đất mới ở châu Mỹ, và khu thuộc địa Virginia được đặt tên để vinh danh Nữ vương. Dù vậy, những vụ cướp biển và những vụ làm ăn bất chính của những tay phiêu lưu trên biển vẫn diễn ra ngoài vòng kiểm soát của triều đình.
Elizabeth phê chuẩn Hiệp ước Cateau-Cambresis năm 1559, mang lại hòa bình cho hai nước Anh và Pháp. Bà ủng hộ nguyên tắc "Nước Anh của người Anh". Tuy nhiên, một lãnh thổ dưới quyền cai trị của bà là Ireland không chấp nhận nguyên tắc này.
=== Mary của Scotland ===
Elizabeth có một đối thủ nguy hiểm là một người em họ, một giáo dân Công giáo, Mary Stuart, Nữ vương Scotland và là vợ của Vua nước Pháp, François II. Năm 1559, với sự ủng hộ của nước Pháp, Mary tuyên bố là Nữ vương Anh. Chính sách ban đầu của Elizabeth đối với Scotland là chống lại sự hiện diện của người Pháp ở đây do lo ngại âm mưu của người Pháp xâm lăng nước Anh và đặt Mary, Nữ vương Scotland lên ngai báu Anh Quốc. Elizabeth gởi quân đến Scotland hỗ trợ những người Kháng Cách chống đối. Tháng 7 năm 1560, Hiệp ước Edinburgh được ký kết giúp giải tỏa mối đe dọa của người Pháp từ phía bắc. Năm 1561, khi Mary quay trở lại Scotland để cầm quyền thì giáo hội Kháng Cách đã có vị trí vững chắc ở đây, và đất nước được cai trị bởi một hội đồng các nhà quý tộc Kháng Cách được Elizabeth hậu thuẫn. Mary từ chối phê chuẩn hiệp ước.
Năm 1565, Mary kết hôn với Huân tước Darnley, người tuyên bố quyền kế thừa ngai vàng nước Anh. Tuy vậy, cuộc hôn nhân là điểm khởi đầu một chuỗi những sai lầm khiến Mary mất quyền kiểm soát vào tay những người Kháng Cách Scotland và Elizabeth. Darnley bị mất lòng dân và mang tiếng xấu khi xử lý vụ án mạng David Rizzio, một thư ký người Ý của Mary. Tháng 2 năm 1567, Darnley bị James Hepburn, Bá tước xứ Bothwell giết chết. Tháng 5 năm 1657, Mary kết hôn với Bothwell, dấy lên những nghi ngờ cho rằng Nữ vương đồng mưu giết chồng.
Những sự kiện này mau chóng làm sụp đổ uy tín chính trị của Mary và dẫn đến việc bà bị giam cầm tại Lâu đài Loch Leven. Giới quý tộc Scotland buộc Mary thoái vị và lập con trai của bà, James, kế vị. James sinh năm 1566, được giáo dưỡng trong niềm tin Kháng Cách. Mary trốn thoát khỏi Loch Leven năm 1568, băng qua biên giới để vào nước Anh. Mary bị giam giữ tại đây trong 19 năm.
Năm 1569, những người chủ mưu vụ Nổi dậy ở phương Bắc âm mưu giải thoát Mary và lập kế hoạch cho bà kết hôn với Thomas Howard, Công tước xứ Norfork. Elizabeth cho bắt giam Howard. Năm 1570, xảy ra vụ mưu phản do Ridolfi cầm đầu nhằm ám sát Elizabeth để tôn Mary lên ngôi. Đến năm 1586 xảy ra vụ mưu phản Babington. Lúc đầu, Elizabeth chống lại chủ trương xử tử hình Mary, nhưng đến cuối năm Nữ vương chịu nhượng bộ trước áp lực của triều thần. Ngày 8 tháng 2 năm 1587, Mary bị chém đầu tại Lâu đài Fotheringhay, Northamptonshire.
=== Tây Ban Nha ===
Sau những thất bại thảm hại trong vụ Le Havre từ năm 1562-1563, Elizabeth chống lại việc mở các cuộc viễn chinh nhắm vào lục địa Âu châu mãi cho đến năm 1585, khi Nữ vương cử một đạo quân đến hỗ trợ lực lượng phiến quân Kháng Cách tại Hà Lan đang chống lại vua Tây Ban Nha Felipe II. Sau khi những đồng minh của Elizabeth, Hoàng thân Guillaume I của Orange-Nassau, và François (Công tước Anjou) từ trần, và một loạt các thị trấn Hà Lan chịu thần phục Alexander Farnese Công tước xứ Parma, Thống đốc Hà Lan thuộc Tây Ban Nha. Tháng 12 năm 1584, liên minh giữa Felipe II và Liên đoàn Công giáo Pháp tại Joinville làm xói mòn sức mạnh của Henri III của Pháp, em của Anjou, trong nỗ lực chống lại quyền thống trị của Tây Ban Nha tại Hà Lan. Nó cũng mở rộng ảnh hưởng của Tây Ban Nha dọc theo Eo biển Manche trên đất Pháp và trở thành mối đe dọa đối với nước Anh. Tháng 8 năm 1585, Anh và Hà Lan phản ứng bằng cách ký kết Hiệp ước Nonsuch, theo đó Elizabeth cam kết hỗ trợ quân sự cho Hà Lan. Hiệp ước này đánh dấu sự bùng nổ Chiến tranh Anh-Tây Ban Nha, kéo dài đến năm 1604 khi Hiệp ước Luân Đôn được ký kết.
Năm 1586, Sir Francis Drake bắt đầu tập kích các tàu buôn Tây Ban Nha trên Thái Bình Dương và vùng biển Caribbean, và mở một cuộc tấn công dữ dội vào cảng Cádiz.
Cuộc viễn chính dưới quyền chỉ huy của Robert Dudley, Bá tước xứ Leicester, là một thất bại. Thiếu hụt tiền và binh lính cộng với sự bất tài của Dudley đã làm hỏng chiến dịch. Đến tháng 12 năm 1587, Dudley phải từ nhiệm và vua Felipe II quyết định tiến chiếm nước Anh
Ngày 12 tháng 7 năm 1588, Armada Tây Ban Nha, hạm đội lừng danh và là sức mạnh thống trị trên mặt biển của Đế quốc Tây Ban Nha, giong buồm đến eo biển, chuẩn bị cho cuộc xâm lăng trong kế hoạch phối hợp với đạo quân tinh nhuệ của Công tước xứ Parma, từ Hà Lan tiến đánh vào bờ biển đông nam nước Anh. Nhờ thời tiết thuận lợi, với các tàu chiến nhỏ nhưng cơ động, cùng những tin tức tình báo gởi đi từ Hà Lan, hải quân Anh chuẩn bị sẵn sàng đối đầu Armada Tây Ban Nha với các tàu chiến lớn và trang bị hỏa lực mạnh. Do tính toán sai, thiếu may mắn và bị những con tàu lửa (những chiếc thuyền chất đầy vật liệu bắt lửa, phóng hỏa và lao vào hạm đội địch) của Anh tấn công. Mặt khác, vào ngày 1 tháng 8, các tàu chiến của Tây Ban Nha cắm neo trong hải cảng Graville bị đánh bạt lên phía đông bắc, Armada bị đánh bại. Hạm đội bị đánh tan tác quay về Tây Ban Nha sau khi gánh chịu những thiệt hại nặng nề gây ra bởi những cơn bão dữ trên biển Ireland.
Ngày 9 tháng 8 lịch Julius (tức ngày 19 tháng 8 theo Lịch Gregorius), Elizabeth đến thị sát quân binh trú đóng tại Tilbury ở Essex. Mang một áo giáp che ngực bằng bạc bên ngoài chiếc áo dài màu trắng, Nữ vương đã đọc một trong những bài diễn văn nổi tiếng nhất của mình:
Khi thoát nạn ngoại xâm, cả nước vui mừng. Buổi lễ Tạ ơn ở Đại giáo đường Thánh Phao-lô được tổ chức long trọng không kém lễ đăng quang. Việc đánh bại hạm đội lừng danh của Tây Ban Nha là một chiến thắng vang dội, cho Elizabeth và cho những người Kháng Cách tại Anh. Người dân Anh xem sự kiện này như là dấu chỉ về sự phù trợ của Thiên Chúa, và về sự bất khả xâm phạm của vương quốc dưới quyền cai trị của một Nữ vương đồng trinh. Tuy nhiên, chiến thắng này không thay đổi toàn cục cuộc chiến. Chiến tranh vẫn tiếp diễn, Tây Ban Nha tiếp tục kiểm soát Hà Lan, và hiểm họa xâm lăng vẫn còn đó.
=== Pháp ===
Khi Henri IV, một tín hữu Kháng Cách, lên ngôi báu năm 1589, Elizabeth điều quân đến hỗ trợ tân vương. Quyền kế thừa của Henri bị thách thức bởi Liên minh Công giáo và Felipe II, do đó Elizabeth e rằng Tây Ban Nha sẽ chiếm đóng các hải cảng dọc eo biển, song các chiến dịch của Anh tiến hành trên đất Pháp lại tổ chức kém và thiếu hiệu quả. Huân tước Willoughby, hầu như chẳng quan tâm đến các mệnh lệnh của Nữ vương, xua 4.000 quân lên phương bắc mà chẳng thu được kết quả nào. Tháng 12 năm 1589, quân Anh phải triệt thoái trong hỗn loạn, thiệt hại một nửa quân số. Năm 1591, John Norreys dẫn 3.000 quân tiến đến Bretagne để chuốc lấy thất bại thảm hại.
Trong các cuộc viễn chinh, Elizabeth không muốn đáp ứng yêu cầu của các tư lệnh mặt trận khi họ cần thêm quân dụng và viện binh. Norreys phải đích thân về Luân Đôn để cầu viện, khi ấy quân đội của Liên minh Công giáo tiến đến tàn sát binh lính của ông tại Craon, phía tây bắc nước Pháp, vào tháng 5 năm 1591. Tháng 7, Elizabeth gởi một đạo quân khác dưới quyền chỉ huy của Robert Devereux, Bá tước xứ Essex, đến giúp Henri IV vây hãm thành Rouen. Lại thêm một thất bại: Devereux chẳng làm được gì và phải trở về vào tháng 1 năm 1592. Thông thường, Elizabeth không kiểm soát được các tư lệnh một khi họ đem quân ra nước ngoài. "Ông ta ở đâu, làm gì, hoặc sẽ làm gì, trẫm không hề hay biết." Elizabeth viết như thế về Devereux.
=== Ireland ===
Mặc dù Ireland là một trong hai vương quốc của Elizabeth, bà phải đối diện với sự thù nghịch ở đây – trong những khu vực được dành cho quyền tự trị - ở đó cư dân Công giáo ủng hộ kẻ thù của Nữ vương. Chính sách của Elizabeth là ban đất cho các cận thần và ngăn chặn những người chống đối thiết lập hậu cứ cho Tây Ban Nha tấn công nước Anh. Để đáp trả các cuộc nổi dậy liên tiếp, quân Anh áp dụng chiến thuật đốt phá và tàn sát đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Năm 1582, trong cuộc nổi dậy ở Munster của Gerald FitzGerald, Bá tước xứ Desmond, ước tính có khoảng 30.000 người Ireland bị bỏ đói cho đến chết.
Từ năm 1594 đến 1603 là giai đoạn khó khăn nhất khi xảy ra cuộc nổi dậy gọi là Loạn Tyrone, hay Cuộc chiến Chín năm do Hugh O’Neill, Bá tước xứ Tyrone lãnh đạo với sự hậu thuẫn của Tây Ban Nha. Mùa xuân năm 1599, Elizabeth sai Robert Devereux, Bá tước xứ Essex, đến dẹp loạn, nhưng ông này không làm được gì mà còn tự ý bỏ về. Charles Blount, Huân tước Mountjoy, được cử đến thay thế Devereux, phải mất ba năm mới đánh bại quân phiến loạn. Năm 1603, O’Neill chịu đầu hàng, chỉ ít ngày sau khi Elizabeth qua đời.
== Cuối đời ==
Hình ảnh của Elizabeth thay đổi theo tuổi tác và khi cuộc sống độc thân được khẳng định. Nữ vương được miêu tả như là Belphoebe hay Astraea, sau chiến thắng Armada, là Gloriana, còn trong thi ca của Edmund Spencer, là Faerie Queene, Nữ vương muôn đời tươi trẻ. Các bức họa chân dung của Nữ vương ngày càng trở nên siêu thực và Nữ vương trở thành một hình tượng bí ẩn trông trẻ trung hơn thực tế rất nhiều. Trong thực tế, da mặt Nữ vương bị rỗ hoa do mắc bệnh đậu mùa năm 1562, bà bị hói đầu nên phụ thuộc vào tóc giả và mỹ phẩm.
Giai đoạn sau chiến thắng Armada năm 1588 là những năm khó khăn kéo dài cho đến lúc kết thúc triều đại Elizabeth. Tranh chấp với Tây Ban Nha và Ireland cứ dai dẳng, gánh nặng thuế má càng nặng hơn, thêm vào đó là thất mùa và chi phí chiến tranh. Vật giá càng leo thang mức sống càng xuống thấp. Trong khi đó, các biện pháp trấn áp người Công giáo được tăng cường, đến năm 1591, Elizabeth cho phép thẩm vấn và lục soát nhà ở người Công giáo. Elizabeth ngày càng phụ thuộc vào các phương tiện tuyên truyền để nuôi dưỡng trong dân chúng ảo tưởng về một đất nước an bình và thịnh vượng. Trong những năm cuối, sự chỉ trích gia tăng phản ánh sự bất bình của thần dân đối với Nữ vương.
Tuy nhiên, đây chính là thời kỳ hoàng kim của văn học Anh. Những dấu hiệu đầu tiên của phong trào văn học mới khởi phát vào cuối thập niên thứ hai của triều đại Elizabeth với "Euphues" của John Lyly, và "The Shepheardes Calender" của Edmund Spencer trong năm 1578. Trong thập niên 1590, một số trong những tài năng lớn nhất của nền văn học Anh đến độ chín mùi, trong đó có William Shakespeare và Christopher Marlowe. Cùng với thời kỳ Jacobe kế tiếp, nền kịch nghệ Anh đạt đến đỉnh điểm của mình. Khái niệm về thời đại Elizabeth huy hoàng được xây dựng bởi những tên tuổi trong các lãnh vực kiến trúc, kịch nghệ, thi ca và âm nhạc.
Ngày 4 tháng 8 năm 1598, cố vấn thân cận nhất của Elizabeth, Nam tước Burghley, từ trần. Con trai của ông, Robert Cecil, được chọn làm người thay thế, sau đó trở thành người lãnh đạo chính phủ. Một trong những nhiệm vụ của Cecil là chuẩn bị cho một tiến trình chuyển giao quyền lực êm thắm. Do Elizabeth không công khai chọn người kế nhiệm nên Cecil phải làm việc trong bí mật. Cecil thương thảo riêng với vua James VI của Scotland, người thừa kế hợp pháp nhưng không được công nhận. Theo lời khuyên của Cecil, James cố làm Elizabeth khuây khỏa và "chiếm được cảm tình của bậc chí tôn". Theo sử gia J. E. Neale, dù không công khai tuyên bố truyền ngôi cho James, quần thần đều biết ý định này của Nữ vương.
Sức khỏe của Elizabeth vẫn tốt cho đến mùa thu năm 1602, một loạt những cái chết của bạn hữu khiến Nữ vương rơi vào tình trạng trầm cảm nghiêm trọng. Tháng 2 năm 1603, cô em họ cũng là người bạn thân tín, Catherine Carey, Nữ Công tước xứ Nottingham, qua đời; đây là cú sốc đối với Nữ vương. Tháng 3, Elizabeth ngã bệnh và vùi mình trong "nỗi sầu khổ khôn nguôi". Elizabeth mất ngày 24 tháng 3 năm 1603 tại Lâu đài Richmond, khoảng giữa hai giờ và ba giờ sáng. Vài giờ sau, Cecil và hội đồng công bố James Stuart của Scotland trở thành vua James I của Anh.
Quan tài của Elizabeth được mang đi ngay trong đêm trên thuyền rồng đến Lâu đài Whitehall. Trong tang lễ tổ chức vào ngày 28 tháng 4, quan tài của Nữ vương, phủ bằng nhung tím, được đưa đến Điện Westminster trên xe tang bốn ngựa kéo. Ghi chép của nhà viết sử John Stow:
== Di sản ==
Dù than khóc tiếc thương, dân chúng cảm thấy nhẹ nhõm khi Nữ vương qua đời. Sự xuất hiện một thế hệ lãnh đạo mới mang đến những tín hiệu tốt ban đầu với nỗ lực kết thúc cuộc chiến chống Tây Ban Nha năm 1604 và cắt giảm thuế. Mãi cho đến năm 1612 khi Robert Cecil qua đời, chính sách của triều đình không có nhiều thay đổi so với trước đây. Tuy vậy, triều đại James I không được lòng dân khi nhà vua giao trọng trách cho những người thân tín; đến thập niên 1620, dân chúng bắt đầu nhớ về Elizabeth với sự tiếc nuối. Nữ vương được tôn vinh như là một nữ anh hùng đấu tranh cho chính nghĩa Kháng Cách và là nhà lãnh đạo một thời kỳ hoàng kim, trong khi họ xem James là người ủng hộ Công giáo, dưới tay là đám triều thần thối nát. Trong những năm cuối đời, hình ảnh huy hoàng của Elizabeth được tô điểm rực rỡ hơn, những khó khăn kinh tế, quân sự và tình trạng phân hóa được xem là những vấn nạn nhất thời và thanh danh của Nữ vương càng lên cao. Triều đại Elizabeth được lý tưởng hóa để trở thành một thời kỳ mà hoàng gia, giáo hội và quốc hội hoạt động hài hòa trong sự cân bằng quyền lực được quy định bởi hiến pháp.
Hình tượng của Elizabeth được miêu tả bởi những người Kháng Cách ngưỡng mộ bà từ thế kỷ 17 gây nhiều ảnh hưởng và có giá trị lâu dài. Ký ức về Nữ vương trở nên sống động khi xảy ra chiến tranh chống Napoleon, lúc ấy nước Anh đang cận kề họa ngoại xâm. Trong thời kỳ Victoria, huyền thoại Elizabeth hội nhập dễ dàng vào ý thức hệ của đế chế. Đến giữa thế kỷ 20, Elizabeth trở nên biểu tượng lãng mạn cho tinh thần dân tộc chống lại hiểm họa ngoại bang. Các sử gia trong giai đoạn này như J. E. Neale (1934), và A. L. Rowse (1950) xem triều đại Elizabeth là thời kỳ hoàng kim của sự tiến bộ.
Tuy nhiên, các sử gia hiện đại có quan điểm nghiêm khắc hơn về Elizabeth. Sự kiện nổi bật nhất trong thời trị vì của bà là chiến tích đánh bại Armada, và những cuộc tập kích nhắm vào người Tây Ban Nha như vụ Cádiz trong năm 1578 và 1596, song một số sử gia cũng chỉ ra những thất bại quân sự trên bờ cũng như trên mặt biển như vụ "Island voyage" năm 1597. Cung cách Elizabeth giải quyết các vấn đề ở Ireland là một vết ố trên bảng thành tích của bà. Do thiếu quyết đoán trong chính sách đối ngoại, khó có thể xem Elizabeth là một quân vương dũng cảm đứng ra bảo vệ các quốc gia Kháng Cách chống lại Tây Ban Nha và nhà Habsburg. Thường khi Nữ vương chỉ cung ứng sự trợ giúp tối thiểu cho các lân bang Kháng Cách, và không chịu cấp tiền đầy đủ cho các tướng lĩnh hầu có thể thay đổi tình hình ở hải ngoại.
Việc Elizabeth thiết lập giáo hội Anh đã giúp định hình bản sắc dân tộc cho nước Anh cho đến ngày nay. Song, những người tôn vinh bà như là người anh hùng của chính nghĩa Kháng Cách đã bỏ qua sự kiện Nữ vương từ chối bác bỏ tất cả nghi thức Công giáo. Các sử gia cũng ghi nhận rằng lúc ấy các tín hữu Kháng Cách sùng tín xem Đạo luật Settlement and Uniformity năm 1559 của Nữ vương là một sự thỏa hiệp. Thật vậy, Elizabeth xem đức tin là một vấn đề cá nhân, và không muốn, theo cách nói của Francis Bacon, "thâm nhập vào lòng và tư tưởng thầm kín của người khác".
Dù chủ trương phòng thủ trong chính sách ngoại giao, triều đại Elizabeth chứng kiến sự thăng tiến vượt bật của nước Anh trên trường quốc tế. Giáo hoàng Xíttô V nhận xét về bà với sự kinh ngạc, "[Elizabeth] chỉ là một phụ nữ, bà chủ trên một nửa hòn đảo, nhưng đã làm Tây Ban Nha, Pháp, [Thánh chế La Mã], và mọi người khiếp sợ". Trong thời trị vì của Nữ vương, nước Anh giành được lòng tự tin và quyền tự quyết trong khi cả thế giới Cơ Đốc giáo đang bị phân hóa. Elizabeth là người đầu tiên trong dòng họ Tudor thừa nhận rằng một quân vương chỉ có thể cai trị đất nước với sự đồng thuận của người dân. Do đó, Nữ vương luôn hợp tác với quốc hội và các cố vấn là những người bà tin là dám nói lên sự thật – nghệ thuật trị nước mà những quân vương thuộc dòng họ Stuart đã không chịu học hỏi. Trong khi một số sử gia cho rằng bà là người may mắn, Elizabeth tin rằng bà được Thiên Chúa phù trợ. Tự hào là một người Anh, Nữ vương tin rằng Thiên Chúa, những lời khuyên chân tình, và tình yêu thần dân dành cho bà là những nhân tố xây đắp sự thành công của triều đại Elizabeth. Trong một lần cầu nguyện, Elizabeth dâng lời tạ ơn Thiên Chúa:
== Hình ảnh Elizabeth I trong văn hóa ==
Trải qua bốn thế kỷ, Nữ vương Elizabeth I là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật.
=== Hội họa, văn học, kịch nghệ, và âm nhạc ===
Những bài viết của chính Elizabeth với số lượng đáng kể, được Nhà xuất bản Đại học Chicago sưu tập và ấn hành dưới tựa đề Elizabeth I: Collected Works.
Trong Portraiture of Elizabeth I, những bức chân dung của Nữ vương với trang phục sang trọng.
Trong vở King Henry VIII của William Shakespeare có cảnh thông báo sự ra đời của Elizabeth cũng như cảnh cô chịu lễ rửa tội.
Biệt danh "The Faerie Queen" của Elizabeth đến từ thiên sử thi cùng tên của Edmund Spenser.
Elizabeth là nhân vật chnhs trong vở kịch Mary Stuart của Friedrich Schiller (1800).
Elizabeth cũng xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết Kenilworth của Sir Walter Scott.
Cô thiếu nữ Elizabeth có mặt trong The Prince and the Pauper của Mark Twain.
Nhà soạn kịch người Mỹ và là khôi nguyên Giải Pulitzer Maxwell Anderson trình bày cuộc đời Elizabeth trong hai vở kịch nổi tiếng nhất của ông, Elizabeth the Queen (1930), và Mary of Scotland (1933).
Margaret Irwin viết ba cuốn tiểu thuyết về tuổi trẻ của Elizabeth: Young Bess (1945), Elizabeth, Captive Princess (1950), và Elizabeth and the Prince of Spain (1953).
Mary M. Luke cũng viết một ba cuốn về Nhà Tudor: Catherine the Queen (1968), A Crown for Elizabeth (1970), và Gloriana: The Years of Elizabeth I (1973).
All the Queen’s Men của Evelyn Anthony (1960).
No Great Magi của Fritz Leiber (1963).
Vivat! Vivat Regina! của Robert Bolt (1970)
The Queen and the Gypsy của Constance Heaven (1977)
My Enemy the Queen của Victoria Holt (1978)
Queen of This Realm của Jean Plaidy (1984)
Legacy của Susan Kay (1985)
Much Suspected of Me của Maureen Peters (1991)
I, Elizabeth của Rosalind Miles (1994).
To Shield the Queen, một bộ tám cuốn nói về Ursula Blanchard, một tùy tùng của Elizabeth, của Fiona Buckley (1997–2006).
Elizabeth I, Red Rose of the House of Tudor của Kathryn Lasky, viết cho thiếu nhi (1999).
Một bộ chín cuốn tiểu thuyết: The Poyson Garden (2000), The Tidal Poole (2000), The Twylight Tower (2002), The Queene's Cure (2003), The Thorne Maze (2003), The Queene's Christmas (2004), The Fyre Mirror (2006), The Fatal Fashione (2006), và The Hooded Hawke (2007) của Karen Harper.
Beware, Princess Elizabeth, tiểu thuyết cho trẻ em của Carolyn Meyer (2001).
Robin Maxwell viết ba cuốn tiểu thuyết về Elizabeth: Virgin: Prelude to the Throne (2001), The Secret Diary of Anne Boleyn, và The Queen's Bastard (1999).
Trong sáu cuốn sách của Philippa Gregory viết về Nhà Tudor, có năm cuốn viết về Elizabeth: The Other Boleyn Girl (2001), The Boleyn Inheritance (2006), The Queen's Fool (2003), The Virgin's Lover (2004), và "The Other Queen" (2008).
Queen Elizabeth I: A Children's Picture Book của Richard Brassey (2005)
Queen Elizabeth I and Her Conquests của Margret Simpson (2006)
The Lady Elizabeth (2008) của Alison Weir.
Elizabeth the Queen, kịch của Maxwell Anderson
Elizabeth Rex, kịch của Timothy Findley (2000)
Elizabeth I (2011) tiểu thuyết của Margaret George.
=== Opera ===
Henry Purcell wrote a 1692 semi-opera The Fairy-Queen, an adaptation of Shakespeare's A Midsummer Night's Dream. One of Elizabeth's nicknames was "The Faerie Queen", after the poem in her honour by Edmund Spenser.
Gioacchino Rossini wrote his first Neapolitan opera on the subject of Elizabeth I, Elisabetta, regina d'Inghilterra, in 1814–15, ultimately based on a three-volume Gothic romance novel, The Recess, by Sophia Lee.
Elizabeth appears in three operas by Gaetano Donizetti, Il castello di Kenilworth (1829) after Walter Scott, Maria Stuarda (1834), based loosely on Schiller's play; and Roberto Devereux (1837) about her affair with the Earl of Essex.
Benjamin Britten wrote an opera, Gloriana, about the relationship between Elizabeth and Essex, composed for the 1953 coronation of Elizabeth II.
=== Kịch, Điện ảnh, và Truyền hình ===
Hình tượng Elizabeth xuất hiện nhiều trên sân khấu kịch, trong phim điện ảnh và truyền hình. Thật vậy, bà là quân vương nước Anh được làm phim nhiều nhất. George MacDonald Fraser wrote "no historic figure has been represented more honestly in the cinema, or better served by her players".
=== Kịch ===
Lynn Fontanne trong Elizabeth the Queen, - 1930; kịch của Maxwell Anderson
Diane D'Aquila trong Elizabeth Rex, - 2000 kịch của Timothy Findley
Stephanie Barton-Farcas trong Elizabeth Rex, - 2008;
=== Điện ảnh ===
Trong điện ảnh, các diễn viên sau từng đóng vai Elizabeth:
Sarah Bernhardt trong phim câm của Pháp Les Amours de la reine Élisabeth (1912), về mối tình của Elizabeth với Bá tước Essex
Gladys Ffolliott trong phim câm của Anh, Old Bill Through the Ages (1924)
Athene Seyler trong Drake of England (1935)
Florence Eldridge trong Mary of Scotland (1936), chuyển thể từ một vở kịch của Maxwell Anderson với Katharine Hepburn trong vai Mary, Nữ vương Scots
Gwendolyn Jones trong The Prince and the Pauper (1937)
Yvette Pienne trong phim Pháp Pearls of the Crown (1937)
Flora Robson trong Fire Over England (1937) và The Sea Hawk (1940)
Bette Davis trong The Private Lives of Elizabeth and Essex (1939) và The Virgin Queen (1955)
Maria Koppenhöfer trong phim Đức Das Herz der Königin (1940), về Mary, Nữ vương Scots
Olga Lindo trong phim Anh Time Flies (1944)
Jean Simmons trong Young Bess (1953)
Agnes Moorehead trong The Story of Mankind (1957)
Irene Worth trong Seven Seas to Calais (1962)
Catherine Lacey trong The Fighting Prince of Donegal (1966)
Glenda Jackson trong bộ phim Elizabeth R (1971) của BBC, và trong Mary, Nữ vương Scotland (1971), với Vanessa Redgrave trong vai Mary
Jenny Runacre trong phim Jubilee của Derek Jarman (1977)
Lalla Ward trong phim Crossed Swords (1977), chuyển thể từ The Prince and the Pauper
Quentin Crisp trong phim Orlando (1992)
Cate Blanchett trong phim Elizabeth (1998) và Elizabeth: The Golden Age (2007), với cả hai phim này, Cate Blanchett đều được đề cử Giải Oscar cho diễn viên chính hay nhất.
Judi Dench trong phim Shakespeare in Love (1998), Judi Dench được trao giải Oscar cho vai phụ hay nhất.
Helen Mirren trong bộ phim truyền hình Elizabeth I (2005).
Vanessa Redgrave và Joely Richardson đóng vai Elizabeth trong phim Anonymous (2011)
=== Truyền hình ===
Trên truyền hình, vai Elizabeth được giao cho:
Dorothy Black trong The Dark Lady of the Sonnets (1946) trên đài BBC.
Mildred Natwick trong Mary of Scotland (1951), chuyển thể từ một vở kịch của Maxwell Anderson
Maxine Audley trong bộ phim Kenilworth (1957) của BBC, chuyển thể từ tiểu thuyết của Scott
Peggy Thorpe-Bates bộ phim Queen's Champion (1958) của BBC.
Mecha Ortiz trong Elizabeth Is Dead (1960)
Jane Wenham trong bộ phim An Age of Kings (1960) của BBC,
Jean Kent trong bộ phim phiêu lưu của Anh Sir Francis Drake (1961)
Katya Douglas trong The Prince and the Pauper (1962),
Susan Engel trong bộ phim The Queen's Traitor (1967) của BBC, về âm mưu của Ridolfi
Judith Anderson trong phim Elizabeth the Queen (1968), chuyển thể từ một vở kịch của Maxwell Anderson. Judith Anderson được đề cử Giải Emmy nhờ phim này.
Gemma Jones trong bộ phim Kenilworth (1968) của BBC, chuyể thể từ tiểu thuyết của Scott
Glenda Jackson trong bộ phim Elizabeth R (1971) của BBC, Glenda Jackson đoạt hai Giải Emmy nhờ bộ phim này.
Josephine Barstow trong Gloriana (2000)
Imogen Slaughter trong phim tài liệu Elizabeth (2000)
Lorna Lacey trong bộ phim Henry VIII (2003) của Granada Television
Catherine McCormack trong bộ phim Gunpowder, Treason & Plot (2004) của BBC
Anne-Marie Duff trong bộ phim The Virgin Queen (2005) của BBC
Helen Mirren trong bộ phim Elizabeth I (2005), Helen Mirren được trao giải Emmy
== Phả hệ ==
== Xem thêm ==
Triều đại Tudor
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Black, J. B. The Reign of Elizabeth: 1558–1603. Oxford: Clarendon, (1936) 1945. OCLC 5077207
Brimacombe, Peter. All the Queen's Men: The World of Elizabeth I. New York: St Martin's Press, 2000. ISBN 0312232519.
Camden, William. History of the Most Renowned and Victorious Princess Elizabeth. Wallace T. MacCaffrey (ed). Chicago: University of Chicago Press, selected chapters, 1970 edition. OCLC 59210072.
Clapham, John. Elizabeth of England. E. P. Read and Conyers Read (eds). Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1951. OCLC 1350639.
Collinson, Patrick. "The Mongrel Religion of Elizabethan England." Elizabeth: The Exhibition at the National Maritime Museum. Susan Doran (ed.). London: Chatto and Windus, 2003. ISBN 0701174765.
Croft, Pauline. King James. Basingstoke and New York: Palgrave Macmillan, 2003. ISBN 0333613953.
Davenport, Cyril. English Embroidered Bookbindings. Alfred Pollard (ed.). London: Kegan Paul, Trench, Trübner and Co., 1899. OCLC 705685.
Dobson, Michael; and Nicola Watson. "Elizabeth's Legacy". Elizabeth: The Exhibition at the National Maritime Museum. Susan Doran (ed.). London: Chatto and Windus, 2003. ISBN 0701174765.
Doran, Susan. "The Queen's Suitors and the Problem of the Succession." Elizabeth: The Exhibition at the National Maritime Museum. Susan Doran (ed.). London: Chatto and Windus, 2003. ISBN 0701174765.
Edwards, Philip. The Making of the Modern English State: 1460–1660. Basingstoke and New York: Palgrave Macmillan, 2004. ISBN 031223614X.
Elizabeth I: The Collected Works Leah S. Marcus, Mary Beth Rose & Janel Mueller (eds.). Chicago: Chicago University Press, 2002. ISBN 0226504654.
Elton, G.R. England under the Tudors. London: Routledge, 1991. ISBN 041506533X.
Flynn, Sian; and David Spence. "Elizabeth's Adventurers". Elizabeth: The Exhibition at the National Maritime Museum. Susan Doran (ed.). London: Chatto and Windus, 2003. ISBN 0701174765.
Frieda, Leonie. Catherine de Medici. London: Phoenix, 2005. ISBN 0173820390.
Gaunt, William. Court Painting in England from Tudor to Victorian Times. London: Constable, 1980. ISBN 0094618704.
Graves, Michael A. R. Elizabethan Parliaments: 1559–1601. London and New York: Longman, 1987. ISBN 0582355168.
Guy, John. My Heart is My Own: The Life of Mary Queen of Scots. London and New York: Fourth Estate, 2004. ISBN 184115752X.
Haigh, Christopher. Elizabeth I. Harlow (UK): Longman Pearson, (1988) 1998 edition. ISBN 0582437547.
Hasler. P. W (ed). History of Parliament. House of Commons 1558–1603 (3 vols). London: Published for the History of Parliament Trust by H.M.S.O., 1981. ISBN 0118875019.
Hogge, Alice. God's Secret Agents: Queen Elizabeth's Forbidden Priests and the Hatching of the Gunpowder Plot. London: HarperCollins, 2005. ISBN 0007156375.
Loades, David. Elizabeth I: The Golden Reign of Gloriana. London: The National Archives, 2003. ISBN 1903365430.
Neale, J.E. Queen Elizabeth I: A Biography. London: Jonathan Cape, (1934) 1954 reprint. OCLC 220518.
Ridley, Jasper. Elizabeth I: The Shrewdness of Virtue. New York: Fromm International, 1989. ISBN 088064110X.
Rowse, A. L. The England of Elizabeth. London: Macmillan, 1950. OCLC 181656553.
Russell, Conrad. The Crisis of Parliaments: English History, 1509–1660. Oxford: Oxford University Press, 1971. ISBN 0199130345.
Somerset, Anne. Elizabeth I. London: Phoenix, (1991) 1997 edition. ISBN 0385721579.
Starkey, David. "Elizabeth: Woman, Monarch, Mission." Elizabeth: The Exhibition at the National Maritime Museum. Susan Doran (ed.). London: Chatto and Windus, 2003. ISBN 0701174765.
Strong, Roy. Gloriana: The Portraits of Queen Elizabeth I. London: Pimlico, (1987) 2003. ISBN 071260944X.
Waller, Maureen, "Sovereign Ladies: Sex, Sacrifice, and Power. The Six Reigning Queens of England." St. Martin's Press, New York, 2006. ISBN 0-312-33801-5
Weir, Alison. Elizabeth the Queen. London: Pimlico, (1998) 1999 edition. ISBN 0712673121.
Williams, Neville. The Life and Times of Elizabeth I. London: Weidenfeld & Nicolson, 1972. ISBN 0297831682.
Willson, David Harris. King James VI & I. London: Jonathan Cape, (1956) 1963. ISBN 0224605720.
Wilson, Charles H. Queen Elizabeth and the Revolt of the Netherlands. Berkeley: University of California Press, 1970. ISBN 0520017447.
"Nữ vương băng giá" và những cuộc cầu hôn bất thành
Nữ vương Elizabeth Đệ nhất: Để giữ mãi vị trí độc tôn
== Xem thêm ==
Nữ vương Anh
Anh giáo
Anh
== Liên kết ngoài ==
William Camden. Annales Rerum Gestarum Angliae et Hiberniae Regnante Elizabetha. (1615 and 1625.) Hypertext edition, with English translation. Dana F. Sutton (ed.), 2000. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2007.
Tudor and Elizabeth Portraits. Tudor and Elizabethan portraits and other works of art, provided for research and education. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2007. |
malacca thuộc bồ đào nha.txt | Malacca thuộc Bồ Đào Nha là tên gọi lãnh thổ thuộc Malacca với 130 năm (1511–1641) là thuộc địa của Đế quốc Bồ Đào Nha.
== Lịch sử ==
Theo nhà sử gia người Bồ Đào Nha thế kỷ 16, Emanuel Godinho de Eredia. Ngày xưa, vị trí của Malacca có tên gọi xuất phát từ một loại mận anh đào, cây ăn trái mọc dọc một con sông có tên gọi là Airlele (Ayer Leleh). Con sông Airlele được cho là bắt nguồn từ Buquet China (Bukit Cina ngày nay). Eredia trích dẫn rằng, thành phố được thành lập bởi Permicuri (tức là Parameswara), vị vua đầu tiên của Vương quốc Malacca năm 1411.
== Chiếm đóng Malacca ==
Các thông tin về sự giàu có của Malacca thu hút sự chú ý của Manuel I, vua của Bồ Đào Nha và ông đã gửi Đô đốc Diogo Lopes de Sequeira để tìm Malacca, sau đó thiết lập cho một công ty thương mại với người đứng đầu của nó như là người đại diện tại Đông Ấn thuộc Bồ Đào Nha. Người châu Âu đầu tiên đến Malacca và Đông Nam Á, Sequeira thăm Malacca vào năm 1509. Mặc dù lúc đầu ông được đón tiếp bởi Sultan Mahmud Shah. Tuy nhiên, rác rối nhanh chóng đến sau đó. Sự cạnh tranh giữa Hồi giáo và Kitô giáo được thuật lại bởi một nhóm người Hồi giáo từ Goa, sau khi Goa bị chiếm đóng bởi Bồ Đào Nha. Cộng đồng hồi giáo quốc tế thuyết phục Mahmud tin rằng Bồ Đào Nha là một mối đe dọa nghiêm trọng. Mahmud ra lệnh bắt giữ, thủ tiêu một số người Bồ Đào Nha và cố gắng tấn công bốn tàu Bồ Đào Nha, mặc dù bốn tàu này đã trốn thoát được. Kinh nghiệm mà người Bồ Đào Nha đã học được từ Ấn Độ, một cuộc phạt là cách duy nhất để thiết lập cai trị ở Malacca.
Vào tháng 4 năm 1511, Afonso de Albuquerque rời cảng Goa đến Malacca với một lực lượng gồm 1,200 người và mười bảy hay mười tám tàu. Các chỉ huy ra một số yêu sách, một trong số đó là được cho phép là xây dựng một pháo đài của Bồ Đào Nha gần nơi giao thương của thành phố. Sultan từ chối tất cả các yêu sách. Xung đột không thể tránh khỏi và sau 40 ngày chiến đấu, Malacca bị đánh bại bởi Bồ Đào Nha vào ngày 24 tháng 08. Một cuộc tranh chấp gay gắt giữa Sultan Mahmud và con trai của ông Sultan Ahmad càng làm suy yếu Malaccan.
Sau thất bại của Vương quốc Malacca vào ngày 15 tháng 08 năm 1511, Bồ Đào Nha chiếm được Malacca. Afonso de Albuquerque đã tìm cách xây dựng một pháo đài kiên cố với dự đoán đủ để chống đỡ các cuộc phản công từ Sultan Mahmud. Một pháo đài được thiết kế và xây dựng bao gồm một ngọn đồi, dọc theo mép bờ biển, ở phía đông nam của cửa sông, trên nền cũ mà trước đây là cung điện của nhà vua. Albuquerque vẫn ở Malacca cho đến tháng 11 năm 1511 và chuẩn bị phòng thủ chống lại bất kỳ phản kháng nào của người Malay. Sultan Mahmud Shah đã buộc phải chạy trốn khỏi Malacca.
== Bồ Đào Nha trong khu vực bị thù địch ==
Như là thuộc địa đầu tiên của người châu Âu theo đạo Thiên chúa thiết lập với mục đích thương mại ở khu vực Đông Nam Á, nó được bao quanh bởi nhiều vương quốc Hồi giáo bản địa mới nổi. Ngoài ra, với sự tác động thù địch ban đầu với chính sách của người Malay địa phương, Malacca thuộc Bồ Đào Nha phải đối mặt với sự thù địch nghiêm trọng. Họ phải hứng chịu trong nhiều năm các trận đánh bắt đầu bởi các Sultan Malay, những người muốn thoát khỏi người Bồ Đào Nha và đòi lại đất đai của họ. Mahmud đã có nhiều nỗ lực để chiếm lại thủ đô. Mahmud nhận thêm được sự hỗ trợ từ các đồng minh của mình là Vương quốc Hồi giáo Demak của người Java và năm 1511 đã đồng ý gửi lực lượng hải quân để hỗ trợ. Được dẫn dắt bởi Pati Unus, Quốc vương Demak, những nỗ lực Malay-Java kết hợp nhưng có kết quả thất bại. Người Bồ Đào Nha chống trả và buộc vua phải chạy trốn để Pahang. Sau đó, vua đi thuyền tới Bintan và thành lập một thủ đô mới. Với nền tảng được củng cố, sultan tăng các lực lượng hỗn hợp Malay và tổ chức một số cuộc tấn công và phong tỏa đối với vị trí của Bồ Đào Nha. Cuộc tấn công thường xuyên nhắm vào Malacca gây ra những khó khăn nghiêm trọng đối với Bồ Đào Nha. Trong năm 1521, lần thứ hai Demak tiến hành chiến tranh để giúp sultan Malay chiếm lại Malacca. Tuy nhiên, một lần nữa chiến dịch lại thất bại với phí tổn ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của Sultra Demak. Sau này ông được nhớ đến như Hoàng tử Sabrang Lor hay Hoàng tử vượt qua (Biển Java) để đến phương Bắc (bán đảo Mã Lai). Sau các cuộc tấn công đã làm người Bồ Đào Nha tin rằng các lực lượng của sultra đã buộc phải từ bỏ ý định tái chiếm Malacca. Nhiều lần người Bồ Đào Nha đã cố gắng để ngăn chặn các lực lượng Malay. Nhưng sau đó vào năm 1526, Bồ Đào Nha đã dành chiến thắng và tàn phá Bintan. Sultra Malay buộc phải rút về Kampar ở Riau, Sumatra. Nơi ông qua đời hai năm sau đó, ông để lại ngôi vị cho hai con trai: Muzaffar Shah và Alauddin Shah Riayat II.
Muzaffar Shah được đưa lên làm vua của người dân ở phía bắc của bán đảo để thành lập Vương quốc hồi giáo Perak. Trong khi con trai khác của Mahmud là Alauddin, kế thừa sự nghiệp của cha mình và thành lập một thủ đô mới ở miền Nam. Quyền bính của Ngài là Vương quốc Hồi giáo Johor, vương quốc kế thừa của Malacca.
Một số nỗ lực để loại bỏ ách thống trị Bồ Đào Nha khỏi Malacca đã được thực hiện bởi sultan Johor. Một yêu cầu gửi đến Java vào năm 1550 dẫn đến Nữ hoàng Kalinyamat, quan nhiếp chính của Jepara đã gửi cùng 4,000 binh sĩ trên 40 tàu để đáp ứng yêu cầu của sultan Johor để lấy Malacca. Quân của Jepara sau đó gia nhập lực lượng với liên minh Malay và được quản lý để hợp nhất với khoảng 200 tàu chiến cho cuộc tấn công sắp tới vào Malacca. Lực lượng tấn công từ phía bắc và chiếm được vùng đất rộng lớn của Malacca, nhưng Bồ Đào Nha đã trả đũa và đẩy lùi lực lượng tấn công. Lực lượng liên minh Mã Lai trên các tàu bị đẩy trở ra biển, trong khi lực lượng của Jepara vẫn trên bờ và buộc rút lui sau khi các chỉ huy bị sát hại. Cuộc chiến tiếp tục diễn ra trên các bờ biển và trên biển kết quả làm hơn 2,000 binh sĩ Jepara bị giết. Một cơn bão mắc kẹt hai tàu Jepara trên bờ biển Malacca và họ đã trở thành nạn nhân cho Bồ Đào Nha. Chỉ ít hơn một nửa trong số lực lượng Jepara có thể rút khỏi Malacca.
Trong năm 1567, Hoàng tử Husain Ali I Riayat Syah từ Vương quốc Hồi giáo Aceh đã phát động một cuộc tấn công của hải quân để lật đổ người Bồ Đào Nha từ Malacca, nhưng điều này lại một lần nữa kết thúc trong thất bại. Năm 1574 một cuộc tấn công kết hợp từ Vương quốc Hồi giáo Aceh và Java Jepara cố gắng một lần nữa để giành lại Malacca từ Bồ Đào Nha, nhưng đã kết thúc trong thất bại do sự phối hợp kém.
Cạnh tranh từ các cảng khác như Johor làm cho các thương gia châu Á không còn neo ở Malacca nên thành phố bắt suy thoái. Thay vì đạt tham vọng chiếm lĩnh mạng lưới thương mại châu Á, người Bồ Đào Nha thực sự gây nên một mớ hỗn độn. Thay vì một thành lập trung tâm thành phố trao đổi của châu Á giàu có, hay một sự kiểm soát của nhà nước Malay ở eo biển làm cho an toàn hơn trong hàng hải thương mại, Bồ Đào Nha đã làm buôn bán rải rác ở các cảng khác nhau và các cuộc chiến khốc liệt ở eo biển Malacca.
== Trả đũa quân sự của Trung Quốc chống lại Bồ Đào Nha ==
Vương quốc Malacca là một chư hầu và đồng minh của Nhà Minh (Trung Quốc). Khi Bồ Đào Nha chinh phục Malacca vào năm 1511, người Trung Quốc đã đáp trả bằng hành động bạo lực chống lại người Bồ Đào Nha.
Sau cuộc chinh phục Malacca của Bồ Đào Nha, Trung Quốc đã từ chối thiết lập một đại sứ quán của Bồ Đào Nha.
Chính quyền Nhà Minh đã bắt giam và xét xử nhiều phái viên Bồ Đào Nha ở Quảng Châu. Một phái viên Malacca đã thông báo cho Trung Quốc việc Bồ Đào Nha đã chiếm đóng Malacca. Trung Quốc ngay sau đó đã phản ứng và thể hiện thái độ thù địch đối với người Bồ Đào Nha. Phái viên Malacca tiết lộ về sự dối trá của Bồ Đào Nha, cụ thể là che giấu ý định xâm lược bằng cách giả vờ giao thương hàng hóa đơn thuần và sự khó khăn khi trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha. Malacca đang dưới sự bảo hộ của Trung Quốc và cuộc xâm lược Bồ Đào Nha khiến Trung Quốc tức giận.
Như một kết quả của một lời thông điệp từ Sultan Malacca về cuộc xâm lược của người Bồ Đào Nha với vị hoàng đế Trung Quốc, người Bồ Đào Nha đã được chào đón với thái độ thù địch của người dân Trung Quốc khi họ đến Trung Quốc. Với thông điệp của Sultan đã "rất khó khăn" cho người Bồ Đào Nha ở Trung Quốc.. Người Trung Quốc đang rất "thân thiện" đối với người Bồ Đào Nha. Sultan Malacca có thủ phủ mới tại Bintan sau khi di tản khỏi Malacca, đã gửi một thông điệp tới Trung Quốc, kèm theo phàn nàn với hành vi của cướp bóc và bạo lực của những người Bồ Đào Nha ở Trung Quốc, khiến chính phủ Trung Quốc xét xử 23 người Bồ Đào Nha và một số khác bị tra tấn trong tù. Sau khi người Bồ Đào Nha thiết lập các điểm hoạt động thương mại và thực hiện các hoạt động vi phạm trái phép và các cuộc tấn công trong khu vực, người Trung Quốc đã đáp trả bằng việc tiêu diệt hoàn toàn người Bồ Đào Nha ở Ninh Ba và Tuyền Châu. Pires, phái viên thương mại của Bồ Đào Nha là một trong số những người Bồ Đào Nha chết trong một nhà tù Trung Quốc giai đoạn này.
Tuy nhiên, quan hệ đã dần cải thiện và sau khi Bồ Đào Nha giúp chống lại lũ cướp biển Uy khấu dọc theo bờ biển của Trung Quốc. Cuối cùng đến năm 1557, nhà Minh đã cho phép người Bồ Đào Nha đến định cư ở Macau như một thuộc địa mới của thương nhân Bồ Đào Nha. Vương quốc Hồi giáo Johor tiếp cũng cải thiện quan hệ với người Bồ Đào Nha và thậm chí đi đến chiến tranh cùng với họ chống lại vương quốc Hồi giáo Aceh.
== Tham khảo == |
giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới.txt | Giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới là giải vô địch thế giới của môn futsal, phiên bản trong nhà của bóng đá được tổ chức FIFA.
Giải vô địch thế giới được diễn ra bốn năm một lần, vào giữa hai kỳ World Cup. Giải lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1989, năm FIFA trở thành cơ quan điều hành của môn futsal. Giải được tổ chức tại Hà Lan để kỷ niệm nơi môn thể thao này được phổ biến. Tính đến giải năm 2008, chỉ có 2 quốc gia giành chức vô địch giải này. Brasil là đội đầu tiên vô địch 3 lần, đánh bại chủ nhà Tây Ban Nha năm 1996 để lần thứ 3 giành cúp, tiếp đó Tây Ban Nha vô địch 2 kỳ tiếp theo, thắng Brazil trong năm 2000, rồi Ý năm 2004 trong trận chung kết Giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới đầu tiên không có mặt Brazil. Năm 2012, Brazil trở thành chủ nhà tiếp theo vô địch giải này sau khi đánh bại Tây Ban Nha với tỷ số 3–2 bằng bàn thắng vàng.
Tất cả các kỳ World Cup trước năm 2008 có 16 đội tham dự. Giải đầu tiên bao gồm 6 đội từ châu Âu, 3 đội từ Nam Mỹ, hai đội từ châu Phi, hai đội từ châu Á, hai đội từ Bắc và Trung Mỹ, và một đội từ châu Đại Dương. Năm 2004, được phân chia suất dự VCK lại châu Âu 5 đội, châu Á 4 đội (gồm cả chủ nhà Đài Loan), Nam Mỹ 3 đội, Bắc và Trung Mỹ 2 đội, châu Phi và châu Đại Dương mỗi châu lục một đội. Năm 2008 lần đầu tiên, 20 đội tham dự làm lên giải đấu lớn nhất từ trước tới nay. Nhưng từ năm 2012 trở đi, giải đấu được nâng lên 24 đội.
Vòng bảng đầu tiên gồm 4 bảng mỗi bảng 5 đội. Hai đội đứng đầu mỗi bảng sẽ lọt vào vòng bảng thứ hai với hai bảng mỗi bảng 4 đội. Sau đó 4 đội sẽ đấu loại trực tiếp.
== Kết quả ==
=== Các trận chung kết và tranh hạng ba ===
=== Bảng xếp hạng huy chương ===
=== Các quốc gia tham dự ===
Chú thích
1st — Vô địch
2nd — Á quân
3rd — Hạng ba
4th — Hạng tư
QF — Tứ kết
R2 — Vòng 2 (1989–2008, Vòng bảng thứ hai, tốp 8; 2012–đến nay: Vòng 16 đội)
R1 — Vòng 1
Q — Vượt qua vòng loại cho giải đấu sắp tới
— Các chủ nhà
=== Bảng xếp hạng qua các kỳ ===
== Cầu thủ dẫn đầu danh sách ghi bàn ==
=== Ghi nhiều bàn thắng nhất ===
=== Vua phá lưới ===
== Xem thêm ==
Giải vô địch bóng đá trong nhà AMF thế giới
Giải vô địch bóng đá trong nhà nữ thế giới
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh)
FIFA Futsal World Cup, FIFA.com
Lưu trữ RSSSF |
12 tháng 6.txt | Ngày 12 tháng 6 là ngày thứ 163 (164 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 202 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
618 – Lý Uyên buộc Tùy Cung Đế Dương Hựu phải thiện vị
1117 – Khang vương Triệu Cấu đăng cơ làm hoàng đế tại Ứng Thiên phủ, kiến lập chính quyền Nam Tống
1560 – Thời kỳ Chiến Quốc: Oda Nobunaga đánh bại Imagawa Yoshimoto trong trận Okehazama tại địa phận tỉnh Aichi ngày nay.
1864 - Kết thúc Trận Cold Harbor trong thời Nội chiến Hoa Kỳ
1898 - Tướng Emilio Aguinaldo tuyên bố Philippines độc lập sau 300 năm bị Tây Ban Nha cai trị
1942 – Anne Frank được cha tặng cho một tập vở nhân kỷ niệm sinh nhật thứ 13 của cô, cô quyết định dùng nó để viết nhật ký.
1945 - Khâm sai Bắc Bộ Phan Kế Toại ra nghị định đổi tên Trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội thành Trường Quốc lập Trung học Chu Văn An
1965 - Máy bay của không quân Mỹ ném bom Trại điều dưỡng bệnh phong Quỳnh Lập (Nghệ An)
1968 - Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân và kêu gọi các nước phê chuẩn hiệp ước này
1969 - Quốc hội và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra tuyên bố về việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam
1978 - Nhật Bản xảy ra động đất ngoài khơi Miyagi
1979 - Thượng viện Hoa Kỳ bỏ phiếu chấm dứt cấm vận kinh tế đối với Zimbabwe Rhodesia
1987 – Chiến tranh Lạnh: Trước Cổng Brandenburg, Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan công khai thách thức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachyov phá đổ Bức tường Berlin.
1991 - Liên bang Nga tuyên bố chủ quyền quốc gia của mình. Sau đó, ngày 19/08, Liên Xô tan rã
1994 - Khởi hành chuyến bay đầu tiên của chiếc Boeing 777 do hãng Boeing của Hoa Kỳ chế tạo
1996 - Bangladesh tổ chức bầu cử quốc hội tự do
2005 - Tại Iran bắt đầu xảy ra Vụ đánh bom Ahvaz
2014 - Khai mạc World Cup 2014 tại thành phố Sao Paulo, Brasil
2016 - Xả súng tại hộp đêm Pulse dành cho người đồng tính ở Orlando,Florida, khiến 50 người chết và 53 người bị thương
== Sinh ==
1107 - Tống Cao Tông, hoàng đế nhà Tống
1854 - George Eastman, người sáng lập công ty Eastman Kodak
1892 - Djuna Barnes, nữ nhà văn Mỹ
1908 - Otto Skorzeny, Trung tá Đức Quốc xã
1921 - Phạm Thế Ngũ, nhà giáo, nhà nghiên cứu Văn học Việt Nam
1924 - George Herbert Walker Bush, tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ
1927 - Johanna Spyri, nữ nhà văn Thuỵ Sĩ
1927 - Đỗ Quang Thắng, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương Đảng, chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
1929 - Anne Frank, nạn nhân Phát-xít Đức, tác giả Nhật ký Anne Frank
1937 - Vladimir Igorevich Arnold, nhà toán học Liên Xô
1942 - Trần Thiện Thanh, cố nhạc sĩ, ca sĩ, hạ sĩ quan Việt Nam Cộng hòa
1953 - Nguyễn Thiện Nhân, phó thủ tướng Việt Nam
1957 - Hà Huy Thông, phó chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội Việt Nam
1960 - Dannavan Morrison, cựu vận động viên cricket người Bahamas
1972 - Hồ Thị Cẩm Đào, một nữ chính khách Việt Nam
1972 - Inger Miller, nữ vận động viên điền kinh Mỹ
1973 - Christian Vieri, cầu thủ Ý
1973 - Daron Rahlves, vận động viên chạy ski Mỹ
1979 - Diego Milito, cầu thủ bóng đá Argentina
1980 - Jerri Ariel Farias Hahn, cầu thủ Brazil
1981 - Nora Tschirner, nữ diễn viên Đức
1981 - Klemen Lavric, cầu thủ Slovenia
1982 - Andrea Wolf, cầu thủ bóng đá Đức
1983 - Anja Rubik, người mẫu Ba Lan
1983 - Christine Sinclair, cầu thủ Canada
1985 - Dave Franco, diễn viên Mỹ
1985 - Tasha-Ray Evin, nhạc sĩ Canada
1987 - Abbey Lee Kershaw, người mẫu Australia
1987 - Paul Janes, cầu thủ Đức
1993 - Kim Kwang Yeon, nam ca sĩ Hàn Quốc, thành viên nhóm nhạc Led Apple
== Mất ==
1972 - Ludwig von Bertalanffy, nhà sinh vật học Áo
1981 - Mahmoud Fawzi, thủ tướng Ai Cập
1981 - Anton Freiherr von Aretin, chính trị gia Đức
1981 - Harry Harlow, nhà tâm lý học Mỹ
1982 - Otto Brunner, nhà sử học Áo
1982 - Karl von Frisch, nhà sinh vật học, nhà động vật học từng nhận giải Nobel.
1985 - Dominique Laffin, nữ diễn viên Pháp
1985 - Helmuth Plessner, triết gia Đức
1988 - Marcel Poot, nhà soạn nhạc Bỉ
1990 - George Meistermann, hoạ sĩ Đức
1995 - Arturo Benedetti Michelangeli, nghệ sĩ dương cầm Ý
1997 - Bulat Shalvovich Okudzhava, thi sĩ, nhà soạn nhạc Nga
2002 - Bill Blass, nhà thiết kế thời trang Mỹ
2012 - Elinor Ostrom, nhà khoa học chính trị người Mỹ, phụ nữ đầu tiên đoạt giải Nobel Kinh tế
2013 - Kimura Jiroemon, cụ ông thọ nhất từ trước đến nay trong lịch sử thế giới
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày quốc khánh Liên bang Nga.
Ngày quốc khánh Philippines.
Ngày Valentine của Brasil, (ngày lễ tình nhân Dia dos Namorados).
== Tham khảo == |
tài nguyên thiên nhiên.txt | Tài nguyên thiên nhiên là những của cải vật chất có sẵn trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến, sử dụng, phục vụ cuộc sống của con người (rừng cây, các động vật, thực vật quý hiếm, các mỏ khoáng sản, các nguồn nước, dầu, khí...).
Tài nguyên thiên nhiên là một bộ phận thiết yếu của môi trường, có quan hệ chặt chẽ với môi trường.
== Các loại tài nguyên thiên nhiên: ==
Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v...) là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý. Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được. Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v...
Tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể cạn kiệt sau khi khai thác.
Tài nguyên năng lượng vĩnh cửu (năng lượng mặt trời, gió, sóng, thủy triều,...) được nghiên cứu sử dụng ngày một nhiều, thay thế dần các năng lượng đang bị cạn kiệt và hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
oregon.txt | Oregon (/ˈɒrɨɡən/ ORR-ə-gən) (phiên âm tiếng Việt: O-rơ-gần) là một tiểu bang ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Vùng này xưa kia có nhiều bộ lạc người bản thổ sinh sống trước khi những người mua bán da thú, các nhà thám hiểm và dân định cư đến. Lãnh thổ Oregon được thành lập năm 1848 sau khi người Mỹ đến đây định cư vào những năm đầu thập niên 1840. Oregon trở thành tiểu bang thứ 33 của Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng 2 năm 1859. Oregon nằm trên duyên hải Thái Bình Dương giữa tiểu bang Washington ở phía bắc, California ở phía nam, Nevada ở phía đông nam và Idaho ở phía đông. Sông Columbia và sông Snake tạo thành các ranh giới phía bắc và đông của Oregon theo thứ tự vừa kể. Salem là thành phố đông dân thứ ba của tiểu bang và cũng là thủ phủ. Thành phố đông dân nhất tiểu bang là Portland. Hiện tại Portland đứng thứ 30 trong số các thành phố lớn nhất Hoa Kỳ với dân số 575.930 người (ước tính năm 2008) và dân số vùng đô thị là 2.175.133 (ước tính năm 2007), vùng đô thị lớn thứ 23 tại Hoa Kỳ.
Thung lũng sông Willamette ở miền tây Oregon là vùng sản xuất nông nghiệp và có mật độ dân cư đông nhất và là nơi có 8 trong số 10 thành phố đông dân nhất Oregon. Theo điều tra dân số năm 2000, tổng dân số của Oregon là khoảng 3,5 triệu người, tăng 20,3% so với năm 1990; ước tính dân số đã đến con số 3,7 triệu người vào năm 2006. Công ty tư hữu lớn nhất Oregon là Intel, nằm trong khu vực Rừng Silicon ở phía tây Portland. Tiểu bang có 199 học khu trong đó học khu "Các trường công lập Portland" là lớn nhất. Có 17 trường đại học cộng đồng và 7 trường đại học công lập trong Hệ thống Đại học Oregon. Đại học Tiểu bang Oregon tại Corvallis và Đại học Oregon tại Eugene là hai viện đại học chính của tiểu bang trong khi đó Đại học Tiểu bang Portland có số lượng ghi danh theo học nhiều nhất.
Các xa lộ chính gồm có Xa lộ liên tiểu bang 5 chạy dọc theo toàn bộ chiều dài bắc-nam của tiểu bang, Xa lộ liên tiểu bang 84 chạy theo hướng đông-tây, Quốc lộ Hoa Kỳ 97 băng ngang miền trung tiểu bang, Quốc lộ Hoa Kỳ 101 chạy hoàn toàn dọc theo duyên hải tiểu bang, và Quốc lộ Hoa Kỳ 20 và Quốc lộ Hoa Kỳ 26 chạy theo hướng đông-tây. Phi trường Quốc tế Portland là phi trường thương mại bận rộn nhất trong tiểu bang, do Cảng Portland, một cảng bận rộn nhất, điều hành. Dịch vụ đường sắt gồm có Union Pacific Railroad và dịch vụ vận tải BNSF Railway, dịch vụ chuyên chở hành khách Amtrak cũng như các tuyến đường sắt đô thị trong Vùng đô thị Portland.
Oregon có đa dạng phong cảnh bao gồm một bờ duyên hải Thái Bình Dương đầy cảnh sắc và lộng gió, các núi lửa của Dãy núi Cascade phủ tuyết và ghổ ghề, những cánh rừng rậm xanh quanh năm, và các hoang mạc trên cao nằm khắp phần lớn phía đông của tiểu bang. Những cây linh sam Douglas và củ tùng vươn tàn cao dọc theo duyên hải Tây Oregon mưa nhiều là hình ảnh tương phản rõ nét với những rừng thông và rừng juniper, thưa thớt và dễ bị cháy, bao phủ những vùng nằm bên nữa phía đông của tiểu bang. Phần phía đông của tiểu bang cũng có các vùng đất nữa khô cằn có các loại cây cỏ bụi rặm, đồng cỏ, và hoang mạc. Những khu vực khô hơn vươn về phía đông từ Trung Oregon. Núi Hood là điểm cao nhất trong tiểu bang với cao độ 11.239 ft (3.425 m) trên mặt biển. Công viên Quốc gia Crater Lake là công viên quốc gia duy nhất tại Oregon. Oregon đứng hạng nhất về cháy rừng tại Hoa Kỳ; năm 2007 Oregon có trên 1.000 vụ cháy rừng.
== Lịch sử ==
Mặc dù có bằng chứng đáng kể rằng con người đã sống trong vùng Tây Bắc Thái Bình Dương 15.000 năm trước đây, ghi nhận đầu tiên về các hoạt động của con người tại nơi mà ngày nay là Oregon được nhà khảo cổ Luther Cressman khám phá vào năm 1938. Ông đã tìm thấy những đôi dép bằng vỏ cây sage gần Đồn Rock Cave. Điều đó chứng tỏ là con người đã sinh sống tại Oregon ít nhất là 13.200 năm trước đây. Khoảng năm 8000 trước Công nguyên, có nhiều khu định cư khắp nơi trên tiểu bang, đa số tập trung dọc theo hạ lưu Sông Columbia, trong các thung lũng miền tây, và quanh các nhánh sông duyên hải.
Vào thế kỷ 16, Oregon là nơi cư ngụ của nhiều nhóm người bản thổ châu Mỹ, bao gồm Bannock, Chasta, Chinook, Kalapuya, Klamath, Molalla, Nez Perce,Takelma, và Umpqua.
James Cook khám phá ra duyên hải năm 1778 trong lúc tìm kiếm Thủy đạo Tây Bắc (Northwest Passage). Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark đã đi qua vùng này trong cuộc hành trình khám phá Vùng đất mua lại Louisiana. Họ xây một đồn lủy mùa đông cho họ là Đồn Clatsop gần cửa Sông Columbia. Các cuộc thám hiểm của Lewis và Clark (1805–1806) và David Thompson của Vương quốc Anh (1811) đã công bố có rất nhiều thú lấy da trong khu vực. Năm 1811, nhà tài phiệt New York tên là John Jacob Astor đã xây dựng Đồn Astoria tại cửa Sông Columbia như một trạm miền tây cho Công ty Da thú Thái Bình Dương. Đồn Astoria là khu định cư thường trực đầu tiên của người da trắng tại Oregon.
Trong Chiến tranh năm 1812, người Anh đã giành được kiểm soát tất cả những trạm thu mua của Công ty Da thú Thái Bình Dương. Trong thập niên 1820 và 1830, Công ty Vịnh Hudson của người Anh đã chi phối Tây Bắc Thái Bình Dương từ tổng hành dinh Khu Columbia của họ tại Đồn Vancouver (do John McLoughlin là Khu vực trưởng xây dựng năm 1825 ở phía bên kia Sông Columbia của Portland, Oregon ngày nay).
Năm 1841, người đánh bẫy thú tài tình và cũng là nhà thương buôn tên là Ewing Young mất với số tài sản khá lớn nhưng không có người thừa kế, và cũng không có hệ thống pháp lý nào để định đoạt về tài sản của ông. Một cuộc họp được tổ chức sau đám tang của Young mà trong đó có đề nghị thành lập một chính quyền tài phán. Tiến sĩ Ira L. Babcock được bầu làm Thẩm phán Tối cao. Babcock triệu tập hai cuộc họp năm 1842 tại Champoeg để thảo luận về sói và những con vật khác đáng quan tâm. Các buổi họp này dọn đường cho một cuộc họp toàn dân năm 1843 mà kết quả là thành lập một chính quyền lâm thời do một ủy ban hành pháp lãnh đạo gồm có David Hill, Alanson Beers, và Joseph Gale. Chính quyền này là chính quyền công lập đầu tiên của Xứ Oregon trước khi sát nhập vào Hoa Kỳ.
Đường mòn Oregon rót vào vùng này nhiều người định cư mới, bắt đầu từ 1842–1843 sau khi Hoa Kỳ đồng ý với Vương quốc Anh cùng định cư Xứ Oregon. Biên giới được giải quyết năm 1846 bằng Hiệp ước Oregon sau một thời kỳ tưởng chừng cả hai sẽ lâm vào chiến tranh lần thứ ba trong 75 năm. Tranh chấp biên giới Oregon giữa Hoa Kỳ và Bắc Mỹ thuộc Anh được giải quyết theo vĩ tuyến 49 độ. Lãnh thổ Oregon được chính thức tổ chức năm 1848.
Định cư gia tăng nhờ vào Đạo luật ban cấp đất năm 1850 cùng với việc cưỡng bức di dời dân số người bản thổ vào các khu dành riêng cho người bản thổ châu Mỹ tại Oregon. Tiểu bang được gia nhập Liên bang vào ngày 14 tháng 2 năm 1859.
Lúc bộc phát Nội chiến Hoa Kỳ, các lực lượng chính quy Hoa Kỳ được lệnh rút về miền Đông Hoa Kỳ. Kị binh tự nguyện được chiêu mộ tại California và được đưa lên phía bắc đến Oregon để giữ trật tự và bảo vệ dân chúng. Đệ nhất Kị binh Oregon phục vụ cho đến tháng 6 năm 1865.
Trong thập niên 1880, việc đưa vào hoạt động các tuyến xe lửa đã giúp cho việc mua bán gỗ, lúa mì của tiểu bang cũng như sự phát triển nhanh hơn các thành phố của nó.
Sự mở rộng công nghiệp bắt đầu một cách nghiêm chỉnh theo sau việc xây dựng Đập nước Bonneville năm 1943 trên Sông Columbia. Năng lượng, thực phẩm, và gỗ của Oregon đã giúp khởi động phát triển miền Tây Hoa Kỳ.
Tiểu bang có một lịch sử dài xung đột: người bản thổ châu Mỹ với các người đánh bẫy thú Anh, người Anh với dân định cư từ Hoa Kỳ, các nhà nuôi gia súc với các nông gia, các thành phố giàu và phát triển với các khu nông thôn nghèo đã được thành lập, những người khai thác gỗ với những nhà hoạt động môi trường, người theo chủ nghĩa da trắng siêu đẳng với những người chống kỳ thị chủng tộc, chủ nghĩa cấp tiến xã hội với chủ nghĩa bảo thủ, những người ủng hộ phúc lợi xã hội với các nhà hoạt động chống tăng thuế, và người bản xứ Oregonia với người California. Người Oregonia cũng có một lịch sử dài với những tư tưởng ly khai. Nhiều người tại nhiều vùng khác nhau và mọi phía trong giới chính trị cố tìm cách thành lập những tiểu bang khác và thậm chí quốc gia khác. (Xem bài: Tiểu bang Jefferson, Cascadia và Ecotopia.) Các vấn đề đưa ra để bầu cử của tiểu bang Oregon thường có những lời đề nghị theo chiều hướng bảo thủ chính trị (thí dụ như các đề nghị đưa ra là chống đồng tình luyến ái, ủng hộ tôn giáo) bên cạnh với các lời đề nghị theo chiều hướng chính trị tự do.
== Tên của tiểu bang ==
Nguồn gốc tên "Oregon" thì không ai biết. Một lập luận do George R. Stewart đưa ra trong một bài báo đăng trong American Speech năm 1944 đã được Sách Địa danh Oregon tán thành như "lời giải nghĩa hợp lý nhất". Theo Stewart, cái tên là từ một sự nhầm lẫn khắc chữ trong một bản đồ Pháp xuất bản đầu thế kỷ 18 mà trên đó Ouisiconsink (Sông Wisconsin) bị đánh vần thành "Ouaricon-sint" và bị tách ra làm thành hai hàng với chữ -sint nằm bên dưới nên thành ra có nghĩa như là một con sông chảy về hướng tây có tên là "Ouaricon". Các giả thiết khác thì dựa vào nguồn gốc tiếng Tây Ban Nha với những chữ như Orejón ("lỗ tai to") hay Aragón.
== Địa lý ==
Địa lý của Oregon có thể được chia ra thành bảy vùng như sau:
Duyên hải Oregon - phía tây của Dãy núi Duyên hải Oregon
Thung lũng Willamette
Thung lũng Rogue
Dãy núi Cascade
Dãy núi Klamath
Cao nguyên Sông Columbia
Vùng Đại Bồn địa
Những vùng núi non của miền tây Oregon hình thành là do hoạt động núi lửa của Mảng Juan de Fuca, một mảng kiến tạo gây ra mối đe dọa liên tục về hoạt động núi lửa và động đất trong vùng. Hoạt động chính gần nhất là Động đất Cascadia năm 1700; Núi St. Helens thuộc tiểu bang Washington phun lửa năm 1980, một sự kiện có thể nhìn thấy được từ Portland.
Sông Columbia tạo phần nhiều ranh giới phía bắc của Oregon cũng đóng vai trò chính trong sự tiến hóa địa chất của vùng cũng như sự phát triển văn hóa và kinh tế của vùng. Sông Columbia là một trong những con sông lớn nhất Bắc Mỹ, và là con sông duy nhất cắt ngang Dãy núi Cascade. Khoảng 15.000 năm trước đây, Sông Columbia liên tục gây lũ lụt phần nhiều Oregon; sự màu mở hiện tại của vùng Thung lũng Willamette phần lớn là do kết quả của những vụ lụt lội đó. Nhiều cá hồi là một phần đặc điểm của con sông. Trong thế kỷ 20, có vô số đập thủy điện đã được xây dựng dọc theo Sông Columbia có tác dụng lớn đến cá hồi, giao thông và thương mại, điện năng, và kiểm soát lụt lội.
Ngày nay, phong cảnh của Oregon đa dạng từ rừng mưa nhiệt đới ở vùng Dãy núi Duyên hải Oregon đến hoang mạc khô cằn ở đông nam. Khoảng cách xa nhất của Oregon là 295 dặm Anh (475 km) từ bắc đến nam, và 395 dặm Anh (636 km) từ đông sang tây. Tính về tổng diện tích nước và đất, Oregon là tiểu bang lớn hạng chín với 97.073 dặm vuông Anh (251.418 km²). Điểm cao nhất tại Oregon là đỉnh của Núi Hood cao 11.239 feet (3.428 mét), và điểm thấp nhất là mực nước biển Thái Bình Dương dọc duyên hải Oregon. Độ cao trung bình là 3.300 feet (1.006 m). Công viên Quốc gia Hồ miệng núi lửa là Công viên Quốc gia duy nhất của tiểu bang, và là nơi có Hồ miệng núi lửa, hồ sâu nhất tại Hoa Kỳ với độ sâu là 1.943 feet (592 mét). Oregon cho rằng Sông D là con sông ngắn nhất trên thế giới, mặc dù tiểu bang Montana cũng tuyên bố tương tự đối với Sông Roe của mình. Oregon là nhà của Công viên Mill Ends (tại Portland), công viên nhỏ nhất trên thế giới với khoảng 452 in² (khoảng 3 ft², hay 0,29 m²).
=== Các thành phố chính và thị trấn ===
Dân số Oregon tập trung phần lớn tại Thung lũng Willamette kéo dài từ Eugene (nhà của Đại học Oregon, thành phố lớn thứ ba) qua Salem (thủ phủ, thành phố lớn thứ nhì) và Corvallis (nhà của Đại học tiểu bang Oregon) đến Portland (thành phố lớn nhất Oregon.)
Astoria nằm ở cửa Sông Columbia là một khu định cư thường xuyên đầu tiên của người nói tiếng Anh ở phía tây của Rặng Thạch Sơn. Oregon City là thành phố được tổ chức đầu tiên của Lãnh thổ Oregon, và là thủ phủ đầu tiên (từ năm 1848 cho đến năm 1852 khi thủ phủ được dời về Salem.) Nó cũng là nơi cuối của Đường mòn Oregon và là nơi có thư viện công đầu tiên được thiết lập ở phía tây Rặng Thạch Sơn có chứ chỉ 300 quyển sách. Bend, gần trung tâm địa lý của tiểu bang, là một trong mười vùng đô thị phát triển nhanh nhất tại Hoa Kỳ. Về phía nam của tiểu bang, vùng Medford là một vùng đô thị phát triển nhanh và là phần giàu có văn hóa của tiểu bang. Nó có Phi trường Quốc tế Thung lũng Rogue-Medford, phi trường bận rộn thứ ba của tiểu bang. Xa hơn về phía nam, gần ranh giới California-Oregon, là cộng đồng Ashland.
=== Khí hậu ===
Khí hậu Oregon — đặc biệt là phía tây của tiểu bang - bị ảnh hưởng nhiều bởi Thái Bình Dương. Khí hậu thường ôn hòa nhưng cũng có những thời kỳ rất nóng hay lạnh có thể làm ảnh hưởng nhiều nơi của tiểu bang. Lượng mưa trong tiểu bang đa dạng: các hoang mạc ở phía đông Oregon, thí dụ như Hoang mạc Alvord (vì bị che khuất bởi Núi Steens) chỉ có khoảng 200 mm (8 in) lượng nước mưa rơi hàng năm, trong khi vùng sườn núi duyên hải phía tây nhận được khoảng 5000 mm (200 in) hàng năm. Trung tâm dân số Oregon phần lớn nằm ở phần phía tây của tiểu bang thường thì ẩm ướt trong khi các hoang mạc trên cao ở giữa và phía đông của Oregon thì khô hơn.
== Luật pháp và chính quyền ==
Xứ Oregon hoạt động như một Cộng hòa độc lập với một văn phòng hành pháp gồm ba người và một hành chánh trưởng cho đến khi bị Hoa Kỳ sát nhập vào ngày 13 tháng 8 năm 1848. Ngay sau bị sát nhập vào Hoa Kỳ, một chính quyền lãnh thổ đã được thiết lập. Oregon duy trì chính quyền lãnh thổ cho đến khi được phép gia nhập thành một tiểu bang của Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng 2 năm 1859.
=== Chính quyền tiểu bang ===
Chính quyền tiểu bang Oregon có một sự chia sẻ quyền lực tương tự như chính phủ liên bang. Nó có ba ngành, được gọi là những bộ theo Hiến pháp Oregon:
Một Bộ lập pháp (lưỡng viện Quốc hội Oregon),
Một Bộ hành pháp bao gồm một "bộ quản trị" và Thống đốc Oregon phục vụ như hành chánh trưởng, và
Một Bộ tư pháp được Thẩm phán trưởng Tối cao Pháp viện Oregon lãnh đạo.
Các thống đốc tại Oregon phục vụ nhiệm kỳ bốn năm và giới hạn hai nhiệm kỳ liên tiếp, nhưng không giới hạn tổng số nhiệm kỳ. Thư ký tiểu bang Oregon là người thứ nhất kế vị thống đốc. Các viên chức khác của toàn tiểu bang là Trưởng ngân khố, Tổng biện lý, Giám sát viên, và Ủy viên Lao động. Quốc hội Oregon gồm có 30 thành viên Thượng viện và 60 thành viên Hạ viện. Tối cao Pháp viện Oregon có bảy thẩm phán được bầu lên, hiện thời có hai thẩm phán tối cao pháp viện tiểu bang đồng tính duy nhất công khai tại Hoa Kỳ. Họ tự chọn ra một người trong số họ để phục vụ nhiệm kỳ sáu năm với tư cách là thẩm phán trưởng. Tòa án duy nhất mà có thể đảo ngược hay chỉnh lý một quyết định của Tối cao Pháp viện Oregon là Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ.
Tiểu bang vẫn duy trì các mối liên hệ chính thức với 9 chính quyền bộ tộc được chính phủ liên bang công nhận tại Oregon:
Bộ lạc Paiute Burns
Liên hiệp các bộ lạc Coos, Hạ Umpqua và Siuslaw
Liên hiệp các bộ lạc cộng đồng Grand Ronde
Liên hiệp các bộ lạc Siletz
Liên hiệp các bộ lạc Warm Springs
Liên hiệp các bộ lạc Khu dành riêng cho người bản thổ châu Mỹ Umatilla
Bộ lạc Coquille
Nhóm người bản thổ châu Mỹ Umpqua Cow Creek
Các bộ lạc Klamath
=== Chính phủ liên bang ===
Giống như tất cả các tiểu bang Hoa Kỳ, Oregon co hai Thượng nghị sĩ tại Thượng viện Hoa Kỳ. Từ Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 1980, Oregon có năm Khu bầu cử Quốc hội.
Sau khi được gia nhập liên bang, Oregon bắt đầu với chỉ một đại diện duy nhất tại Hạ viện Hoa Kỳ (La Fayette Grover phục vụ trong Quốc hội Hoa Kỳ thứ 35 ít hơn một tháng). Theo Hiến pháp Hoa Kỳ thì số đại diện của một tiểu bang tại Hạ viện Hoa Kỳ là dựa vào dân số của tiểu bang đó. Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 1890 cho Oregon thêm một đại diện. Các lần Điều tra Dân số Hoa Kỳ sau đây đã cộng thêm cho Oregon mỗi lần một đại diện là vào năm 1910, 1940, và 1980. Hiện tại Oregon có tổng số là 5 đại diện tại Hạ viện Hoa Kỳ. Xem thêm danh sách Đại biểu Quốc hội Hoa Kỳ từ Oregon.
== Kinh tế ==
Đất trong Thung lũng Willamette màu mở là nhờ vào những vụ lụt lội thời rất xa xưa. Đất màu mở này là nguồn tài nguyên dồi giàu cho các nông sản như khoai tây, bạc hà, hoa bia, và táo (apple) và nhiều loại trái cây khác.
Oregon cũng là một trong bốn vùng chính của thế giới trồng hazelnut, và sản xuất 95% hazelnut trong quốc nội Hoa Kỳ. Trong khi lịch sử sản xuất rượu tại Oregon có thể truy tìm về nguồn gốc trước thời cấm rượu, sản xuất rượu trở thành một ngành công nghệ nổi bật bắt đầu từ thập niên 1970. Năm 2005, Oregon đứng hạng ba trong tất cả các tiểu bang Hoa Kỳ với 303 hãng làm rượu bia. Vì có sự tương đồng về vùng khí hậu và đất đai nên nho trồng tại Oregon thường là những giống nho tương tự tìm thấy tại những vùng làm rượu bia ở Pháp như Alsace và Burgundy. Tại vùng đông bắc của tiểu bang, đặc biệt là quanh Pendleton, có cả hai giống lúa mì đất khô và cầm thủy được trồng. Các nông gia và nhà chăn nuôi Oregon cũng nuôi trồng bò, trừu, các sản phẩm từ sữa, trứng và thịt gà.
Những khu rừng bạt ngàn rộng lớn trong lịch sử đã biến Oregon thành một trong những tiểu bang lâm nghiệp và sản xuất gỗ chính tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên những vụ cháy rừng, thu hoạch vượt mức đã giảm thiểu số lượng gỗ sản xuất. Theo Viện Tài nguyên Rừng Oregon, giữa năm 1989 và 2001, số lượng gỗ thu hoạch từ những khu rừng liên bang đã giảm 96%, từ 10 triệu xuống 408 ngàn mét khối mặc dù mức thu hoạch trên đất rừng tư vẫn gần như không thay đổi. Mặc dù có chuyển hướng về hàng thành phẩm như giấy và vật liệu xây dựng nhưng điều đó cũng không làm chậm được sự suy giảm của nền công nghiệp về gỗ tại tiểu bang. Hậu quả của sự xuống dốc này bao gồm việc Weyerhaeuser thu mua hãng Công nghiệp Willamette có tổng hành dinh tại Portland vào tháng 1 năm 2002, việc di chuyển tổng hành dinh công ty của Louisiana Pacific từ Portland đến Nashville, và sự suy sụp của các cựu thị trấn của công ty gỗ như Gilchrist. Dù có những sự thay đổi như thế nhưng Oregon vẫn dẫn đầu Hoa Kỳ về sản xuất gỗ mềm; năm 2001, 14 triệu m³ được sản xuất tại Oregon, so với 10,05 triệu m³ tại tiểu bang Washington, 6,444 triệu m³ tại California, 5,694 triệu m³ tại Georgia, và 5,491 triệu m³) tại Mississippi.
Oregon đôi khi là nơi để thực hiện các bộ phim. Các bộ phim toàn phần hay một phần quay tại Oregon gồm có: The Goonies, National Lampoon's Animal House, Stand By Me, Kindergarten Cop, One Flew Over the Cuckoo's Nest, Paint Your Wagon, The Hunted, Sometimes a Great Notion, Elephant, Bandits, The Ring, The Ring 2, Teenage Mutant Ninja Turtles 3, Short Circuit, Come See The Paradise, The Shining, Drugstore Cowboy, My Own Private Idaho, The Postman, Free Willy, Free Willy 2, 1941, và Swordfish.
Matt Groening, quê ở Oregon, là tác giả của bộ phim hoạt họa truyền hình dài The Simpsons đã thu thập nhiều dữ kiện từ thành phố nhà của mình là Portland vào loạt phim hoạt họa truyền hình dài này.
Các dịch vụ và công nghiệp kỹ thuật cao là những công ty mướn công nhân chính từ thập niên 1970. Tektronix là một công ty tư mướn công nhân nhiều nhất tại Oregon cho đến cuối thập niên 1980. Việc Intel thiết lập và mở rộng nhiều cơ sở sản xuất tại miền đông Quận Washington đã làm tiếp tục sự phát triển mà Tektronix từng khởi đầu. Intel, công ty tư lớn nhất tiểu bang, điều hành bốn cơ sở sản xuất lớn với Ronler Acres, Jones Farm và Hawthorn Farm nằm ở Hillsboro. Sự phân chia ra các công ty nhỏ và sự khởi sự của các công ty mới do hai công ty này tạo ra đưa đến sự thiết lập một khu vực có tên gọi là Rừng Silicon. Sự thối trào của các công ty Dot-com năm 2001 đã đánh gây ảnh hưởng nặng nề cho vùng; nhiều công ty kỹ thuật cao đã giảm số lượng nhân công hoặc khai phá sản. OSDL tạo chấn động tin tức năm 2004 khi họ mướn Linus Torvalds, người phát triển ra Linux. Hiện nay, Đại công ty công nghệ sinh học Genentech đã mua vài mẫu Anh đất tại Hillsboro để cố mở rộng khả năng sản xuất của họ.
Oregon cũng là nhà của nhiều công ty lớn trong những ngành kỹ nghệ khác. Tổng hành dinh thế giới của Nike nằm gần Beaverton. Medford là nhà của hai trong những công ty bán hàng qua thư tín lớn nhất tại Hoa Kỳ: Harry and David Operations Corp. bán những món hàng quà tặng dưới vài tên hiệu, và Musician's Friend, một nhà bán lẽ qua mạng quốc tế các sản phẩm nhạc cụ và có liên quan đến nhạc cụ.Medford cũng là nhà của tổng hành dinh quốc gia của công ty trong danh sách Fortune 1000 là Lithia Motors. Portland là nhà của một trong các nhà xuất bản buôn bán sách lớn nhất miền Tây Hoa Kỳ là Graphic Arts Center Publishing.
Oregon có một trong các ngành công nghệ đánh bắt cá hồi lớn nhất trên thế giới. Du lịch cũng là thế mạnh của tiểu bang; rừng núi xanh tươi, thác nước, hồ nguyên thủy của Oregon (gồm có Công viên Quốc gia Hồ miệng núi lửa), và những bãi biển có cảnh quang đẹp thu hút nhiều du khách quanh năm. Lễ hội Shakespeare Oregon, được tổ chức tại Ashland, là nơi thứ thu hút khách du lịch. Lễ hội bổ sung thêm cho các cảnh đẹp của miền nam tiểu bang và là dịp cho các hoạt động ngoài trời.
Oregon là nhà của một số hãng nấu rượu bia nhỏ và Portland có số lượng hãng nấu rượu bia lớn nhất so với bất cứ thành phố nào trên thế giới.
Tổng sản lượng của Oregon là 132,66 tỉ đô la Mỹ tính đến năm 2006, như vậy nó đứng hàng thứ 27 có tổng sản lượng lớn tại Hoa Kỳ.
== Nhân khẩu ==
Tính đến năm 2005, Oregon có dân số ước tính là 3.641.056, tăng 49.693, hay 1,4% co với năm trước đó và tăng 219.620 hay 6,4% kể từ năm 2000. Con số này bao gồm một sự gia tăng theo tự nhiên kể từ lần điều tra dân số cuối là 75.196 người (có nghĩa là 236.557 sinh trừ đi 161.361 chết) và một sự gia tăng vì di dân là 150.084 người vào tiểu bang. Di dân từ ngoài Hoa Kỳ đưa đến kết quả gia tăng 72.263 người, và di cư trong Hoa Kỳ cho ra một con số gia tăng là 77.821 người.
Trung tâm dân số Oregon nằm trong Quận Linn tại thành phố Lyons.
Tính đến năm 2004, dân số Oregon gồm có 309.700 cư dân sinh ở nước ngoài (chiếm 8,7% dân số tiểu bang) và một con số ước tính là có khoảng 90.000 người di dân bất hợp pháp (2,5% dân số tiểu bang).
Nhóm có nguồn gốc tổ tiên được ghi nhận lớn nhất tại Oregon là: người Đức (20,5%), người Anh (13,2%), người Ireland (11,9%), người Mỹ (6,2%), và người Mexico (5,5%).
Đa số các quận của Oregon có phần đông cư dân là người gốc châu Âu. Người Mỹ gốc Mexico sống tập trung cao nhất tại các quận Malheur và Jefferson.
6,5% dân số Oregon được ghi nhận là nhỏ hơn 5 tuổi, 24,7% dưới 18 tuổi, và 12,8% từ 65 trở lên. Phụ nữ chiếm khoảng 50,4% dân số.
=== Tôn giáo ===
Trong tất cả tiểu bang Hoa Kỳ, Oregon có tỉ lệ dân số cao nhất đứng hạng ba tự nhận mình không thuộc bất cứ tôn giáo nào (đồng hạng với Colorado là 21 phần trăm), nhưng sau tiểu bang Washington và Vermont.
=== Chiều hướng dân số 2000–2003 ===
Ước tính được đưa ra tính đến tháng 9 năm 2004 cho thấy một sự gia tăng dân hàng chục phần trăm trong nhóm người nói tiếng Tây Ban Nha và người gốc Á châu từ Điều tra Dân số năm 2000. Khoảng 60% trong số 138.197 cư dân mới là từ các nhóm dân thiểu số. Sự gia tăng dân số của người gốc Á châu phần đông là tại vùng đô thị Portland, Salem, và Eugene; riêng người nói tiếng Tây Ban Nha thì gia tăng khắp nơi trong tiểu bang.
== Đọc thêm ==
Thác nước Multnomah Falls
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang mạng tiểu bang Oregon tiếng Anh
TravelOregon.com trang chính thức của Ủy ban Du lịch Oregon
Sách xanh Oregon
Hội Lịch sử Oregon
Dự án về Lịch sử Oregon
Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ: Trang thông tin về Oregon
Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ
Báo chí Oregon
Bộ Phát triển và Cộng đồng Kinh tế Oregon
Các bản đồ quận của Oregon
Dữ liệu về tiểu bang Oregon
The Oregon Explorer: thư viện điện tử thông tin về tài nguyên Oregon |
â.txt | Â, â (a-mũ) là một ký tự của tiếng Rumani và tiếng Việt. Ký tự này còn xuất hiện trong tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Frisia, tiếng Friuli và tiếng Wallon như là một biến thể của ký tự "a".
== Cách dùng trong những ngôn ngữ khác nhau ==
=== Tiếng Rumani ===
 là ký tự thứ ba của bảng mẫu tự tiếng Rumani và đại diện cho âm /ɨ/. Âm này còn được đại diện bởi ký tự î.
=== Tiếng Việt ===
 là ký tự thứ ba của bảng mẫu tự tiếng Việt và đại diện cho âm /ɜ/. Trong âm vị học tiếng Việt, những dấu thanh có thể thêm vào để hình thành nên 5 dạng sau đây để đại diện cho 5 ngữ điệu khác nhau của â.
Ầ ầ
Ẩ ẩ
Ẫ ẫ
Ấ ấ
Ậ ậ
=== Tiếng Ukraina ===
 được sử dụng trong hệ thống ISO 9:1995 dùng để chuyển tự tiếng Ukraina cho ký tự Я.
=== Tiếng Bồ Đào Nha ===
 được sử dụng để biểu thị trọng âm. Phiên âm IPA của nó là /ɐ/ (trong tiếng Bồ Đào Nha của Brasil là /ɐ͂/ khi nó được dùng trước 1 phụ âm mũi).
=== Tiếng Wales ===
 để đại diện cho âm /ɑː/.
== Bảng mã ==
== Xem thêm ==
Dấu mũ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Omniglot - writing systems & languages of the world
Romanian language
Vietnamese language |
claudius ptolemaeus.txt | Bài này viết về nhà địa lý và thiên văn có tên gọi là Ptolemaeus. Các nghĩa khác của từ này, xem bài Ptolemaeus (định hướng).
Claudius Ptolemaeus (tiếng Hy Lạp: Κλαύδιος Πτολεμαῖος Klaudios Ptolemaios), hoặc một cách đơn giản là Ptolemaeus, Ptolemy hay Ptolémée hay Ptôlêmê, (khoảng 100-178) là một nhà bác học Hy Lạp xuất xứ từ Tebaida, học hành và làm việc tại Alexandria. Ông đã viết nhiều tác phẩm trong các lĩnh vực như toán học, thiên văn học, địa lý và nhạc.
== Tiểu sử ==
== Nghiên cứu ==
Các quan điểm của ông về cấu trúc của thế giới đã làm nền tảng cho thuyết địa tâm trong nhiều thế kỷ, một học thuyết mà đến đời Nicolaus Copernicus mới bị đánh đổ. Ptolemaeus cũng là tác giả của sơ đồ chuyển động của các thiên thể với sự có mặt của tuế sai.
Trong tác phẩm mang tựa đề "Địa lý học" của mình (Geographia), ông đã miêu tả tới hơn 3.000 địa danh. Ông cũng soạn ra các nguyên tắc về họa đồ, có ghi trong cuốn sách "Mở đầu về địa lý".
Các công trình nghiên cứu của Ptolemaeus trong lĩnh vực thiên văn học đã được tập hợp lại trong cuốn Hè Megalè Syntaxis, về sau này còn được biết đến với cái tên là Ho megas astronomos. Cái tên Almagest (Αλμαγέστη) của nó mà ngày nay ta thường gặp là có xuất xứ từ chữ megiste trong tiếng Hy Lạp, và do các nhà bác học Ả Rập ở thế kỷ 9 đã thêm cái tiếp đầu ngữ al vào mà thành. Almagest là sự tổng hợp tất cả các thành tựu về thiên văn của Hy Lạp, mà trong đó Hipparchus của Nicaea là nguồn của các dữ liệu chính về các khám phá.
== Các học trò ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
máy ảnh số.txt | Máy ảnh số (ngày nay, tại Việt Nam thường gọi là máy ảnh kĩ thuật số) là một máy điện tử dùng để thu và lưu giữ hình ảnh một cách tự động thay vì phải dùng phim ảnh giống như máy chụp ảnh thường. Những máy chụp ảnh số đời mới thường có nhiều chức năng, ví dụ như có thể ghi âm, quay phim. Ngày nay, máy chụp ảnh số bán chạy hơn máy chụp ảnh phim 35mm. Máy ảnh số hiện nay bao gồm từ loại có thể thu gọn vào trong điện thoại di động cho đến sử dụng trong các thiết bị chuyên nghiệp như kính viễn vọng không gian Hubble và các thiết bị trên tàu vũ trụ.
== Phân loại ==
Máy chụp ảnh số có thể chia ra các loại sau:
=== Máy quay phim ===
Máy quay phim là loại máy mà mục đích chính là để thu ảnh động.
Máy quay phim chuyên nghiệp là những máy dùng để làm chương trình truyền hình và phim. Chúng thường có nhiều bộ cảm biến ảnh (mỗi màu một bộ) để tăng độ phân giải và gam màu. Máy quay phim chuyên nghiệp đời đầu thường không có sẵn phần VCR và microphone.
Máy quay phim kết hợp (camcorder) thường có sẵn microphone để ghi âm và một màn hình tinh thể lỏng nhỏ để xem trong khi ghi hình và phát lại.
Webcam là máy chụp ảnh số gắn vào máy tính dùng để hội đàm truyền hình hay các mục đích khác. Webcam có thể thu ảnh động, một số cái còn có luôn microphone và có thể zoom.
Ngoài ra, nhiều kiểu máy chụp ảnh số xem ngay có chế độ ghi ảnh động, ảnh được ghi liên tục ở một tốc độ đủ nhanh để xem như ảnh động.
=== Máy chụp ảnh số xem ngay ===
Một máy chụp ảnh số xem ngay là một máy chụp ảnh mà hiện ảnh ngay trên màn hình điện tử để ngắm trước khi chụp. Tất cả các máy chụp ảnh số có màn hình đều thuộc loại này, trừ một vài loại máy ảnh số SLR.
Ranh giới giữa máy chụp ảnh số xem ngay và máy quay phim kết hợp không rõ rệt. Nhiều kiểu máy chụp ảnh số xem ngay có chế độ ghi ảnh động, và nhiều kiểu máy quay phim kết hợp có thể chụp ảnh. Tất nhiên, một cái máy chụp ảnh số xem ngay loại bình dân chụp ảnh tốt hơn máy quay phim kết hợp loại khá, và một cái máy chụp ảnh số xem ngay loại ghi hình kém hơn máy quay phim kết hợp loại bình dân. Ngoài ra, máy quay phim kết hợp đời mới cũng có thể ghi ảnh động vào flash memory và truyền đi qua USB hay FireWire như máy chụp ảnh số xem ngay. Máy chụp ảnh số xem ngay được chia hạng theo megapixel, là độ phân giải tối đa tính bằng triệu điểm. Việc truyền ảnh vào máy tính thường dùng USB mass storage device class (máy chụp ảnh được xem như một ổ đĩa), hoặc dùng Picture Transfer Protocol. FireWire ngày càng trở nên phổ biến và có nhiều máy chụp ảnh số có FireWire. Tất cả các máy chụp ảnh số đều dùng bộ cảm biến CCD hoặc CMOS, đó là một chip chứa một lưới các photodiode để thu nhận ánh sáng được hội tụ qua ống kính của máy chụp ảnh. Bộ cảm biến CMOS dùng loại vật liệu khác và ít hao điện hơn cảm biến CCD.
==== Máy chụp ảnh số gọn ====
Còn được gọi là digicam, chiếm phần lớn các máy chụp ảnh số hiện nay. Chúng rất dễ dùng, có khả năng thu ảnh động vừa phải. Chúng có khả năng zoom kém hơn máy chụp ảnh số loại khá (prosumer) và DSLR. Chúng có độ sâu của vùng chụp (depth of field) khá lớn, nhờ vậy những vật ở khoảng cách tương đối xa nhau cũng được chụp rõ nét, làm cho máy chụp ảnh loại này dễ dùng. Nhưng điều này cũng làm cho những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp không dùng nó, vì bức ảnh trông không nổi và có vẻ thiếu tự nhiên. Loại máy này thích hợp để chụp ảnh phong cảnh. Hình ảnh chụp bằng loại này được ghi theo một dạng duy nhất là JPEG.
==== Máy chụp ảnh lai ====
Máy chụp ảnh lai hay prosumer là một nhóm các máy chụp ảnh xem ngay hạng khá, nhìn bên ngoài giống máy chụp ảnh DSLR (nên còn được gọi là máy chụp ảnh số giống DSLR, DSLR-like), có một số tính năng cao cấp của DSLR nhưng cũng có những tính năng của máy chụp ảnh xem ngay. Máy chụp ảnh DSLR thường được coi là cao cấp hơn máy chụp ảnh lai. Nhưng một số máy DSLR mới ra sau năm 2003 làm cho sự phân biệt giữa DSLR và máy chụp ảnh lai bớt rõ rệt: một số DSLR có thể được xếp vào hạng bình dân, trong khi máy ảnh lai vẫn được xếp vào hạng khá.
Máy chụp ảnh lai thường có ống kính có độ zoom lớn. Người ta dễ lầm máy chụp ảnh lai với DSLR vì vẻ bề ngoài hơi giống nhau. Nhưng máy chụp ảnh lai thật sự không có gương phản chiếu bên trong, nên việc ngắm trước khi chụp phải qua màn ảnh tinh thể lỏng hoặc lỗ ngắm điện tử, và như vậy thì sẽ hơi chậm so với DSLR thật. Dù sao thì ảnh chụp được cũng có chất lượng và độ phân giải cao trong khi máy thì gọn nhẹ hơn máy DSLR. Hạng tốt nhất trong loại máy ảnh lai chụp ảnh tương đương với hạng vừa của máy DSLR. Ảnh chụp bằng loại máy này được ghi theo dạng JPEG hoặc .RAW.
=== Máy chụp ảnh số SLR ===
Máy chụp ảnh số SLR giống máy chụp ảnh phim SLR ở chỗ có một hệ thống gương phản chiếu bên trong. Các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp chọn DSLR bởi kích thước chíp cảm biến ảnh lớn hơn máy ảnh nhỏ(máy ảnh du lịch). Máy ảnh DSLRs có kích thước chíp cảm biến gần với kích thước của kích thước phim của máy ảnh phim mà họ đã quen sử dụng. Cho hiểu quả giống nhau về Độ sâu của ảnh và khung ảnh.
Cấu trúc phản xạ là điểm khác biệt chủ yếu giữa máy ảnh DSLR và máy ảnh du lịch, với chip ánh sáng luôn luôn phơi sáng, và cho phép hình ảnh hiện ra ở màn hình sau máy ảnh gọi là ống ngắm điện tử. Ở máy ảnh DSLR, việc có gương ngăn cản khả năng xem hình ảnh ở màn hình LCD trước khi ảnh được chụp. Tuy nhiên, nhiều loại máy DSLR gần đây có khả năng xem trước, cho phép màn hình LCD có thể dùng làm màn hình xem ngắm giống như máy ảnh du lịch, với một vài hạn chế và ống ngắm quang học không sử dụng được.
=== Máy chụp ảnh số chuyên nghiệp dạng rời ===
Loại này gồm có những máy rất chuyên nghiệp mà có thể được ráp lại từ từng bộ phận để thích hợp nhất với từng mục đích cụ thể. Hasselblad và Mamiya là những nhà sản xuất loại này. Chúng được chế ra để chụp phim cỡ vừa và lớn, chụp ra ảnh với độ nét cao hơn bình thường.
Máy ảnh loại này thường chỉ được dùng trong studio vì rất lớn và khó mang theo. Chúng có thể chuyển đổi giữa dùng phim và kỹ thuật số bằng cách thay phần thân sau. Máy loại này rất đắt (lên tới 40.000$) và người sử dụng thường ít có cơ hội đụng tới nó.
== Việc chuyển máy chụp ảnh phim thành máy chụp ảnh số ==
Khi máy chụp ảnh số trở nên thông dụng, nhiều người dùng máy chụp ảnh thường nghĩ đến việc chuyển các máy chụp ảnh phim thành máy chụp ảnh số. Việc này có thể làm được tùy theo loại máy ảnh. Phần lớn máy chụp ảnh dùng phim 35mm thì không thể chuyển được vì quá mất công và tốn kém. Một trường hợp đặc biệt là một dụng cụ do Silicon Film chế ra trong khoảng các năm 1998-2001 gọi là EFS-1. Nó có thể được lắp vào máy chụp ảnh phim thay cho cuộn phim, và cho phép chụp 24 tấm ảnh có độ phân giải 1,3MP. Năm 2002, hãng này sản xuất EFS-10, cho phép chụp với độ phân giải 10MP.
Một vài hãng sản xuất máy chụp ảnh phim 35mm đã sản xuất phần thân máy digital cho máy phim của họ, ví dụ như Leica. Các hãng cũng làm phần thân digital cho máy chụp ảnh phim cỡ trung và cỡ lớn (hơn 35mm) với giá rất đắt, cỡ 10.000$ trở lên. Vì bộ cảm biến ảnh trong các thân máy digital này rất lớn nên ảnh chụp được có độ phân giải rất cao và file ảnh rất lớn, ví dụ đầu năm 2006 máy P45 của Phaseone chụp ảnh 39MP vào file TIFF 224,6MB.
== Lịch sử ==
=== Những nghiên cứu đầu tiên ===
Ý tưởng số hoá ảnh bằng máy scan và ý tưởng số hoá tín hiệu ảnh động xuất hiện trước ý tưởng chụp ảnh số.
Ảnh số được chụp đầu tiên vào tháng 12 năm 1975 bằng máy của hãng Eastman Kodak. Máy đó dùng bộ cảm biến cảm biến CCD do Fairchild Semiconductor làm ra năm 1973. Máy này nặng 3,6Kg, chụp ảnh trắng đen có độ phân giải 10.000 pixel và ghi vào băng từ. Chụp mỗi tấm ảnh mất 23 giây.
Máy chụp ảnh số đầu tiên trông giống máy chụp ảnh thường là máy Sony Mavica (Magnetic Video Camera) sản xuất năm 1981. Máy này dựa trên công nghệ truyền hình analog để chụp ảnh. Ảnh có độ phân giải tương đương màn hình TV.
Mãi tới năm 1984 Canon giới thiệu Canon RC-701, một máy chụp ảnh điện tử analog, trong Thế vận hội. Máy này không phổ biến được vì nhiều lý do: giá đắt (tới 20.000$), chất lượng hình kém hơn ảnh phim, và máy in không có sẵn.
Những người dùng đầu tiên là giới làm tin, giá đắt đối với họ không phải là vấn đề khi mà họ cảm thấy tiện lợi khi truyền ảnh qua đường điện thoại. Chất lượng thấp cũng không sao vì như vậy là đủ để in trên giấy báo.
=== Máy ảnh số thật sự ===
Máy ảnh số thật sự đầu tiên là Fuji DS-1P vào năm 1988, hình chụp được ghi vào thẻ nhớ 16MB (phải nuôi bộ nhớ này bằng pin). Máy ảnh số đầu tiên được bán rộng rãi là Kodak DSC-100 năm 1991. Nó có độ phân giải 1,3MP và giá là 13.000$.
Máy chụp ảnh số đầu tiên có màn hình tinh thể lỏng là Casio QV-10 năm 1995. Máy chụp ảnh số đầu tiên dùng CompactFlash là Kodak DC-25 năm 1996.
Máy chụp ảnh số loại bình dân đầu tiên đạt đến độ phân giản 1MP vào năm 1997. Máy chụp ảnh số đầu tiên có thể ghi ảnh động là Ricoh RDC-1 năm 1995.
Năm 1999, Nikon giới thiệu Nikon D1, máy chụp ảnh DSLR đầu tiên với độ phân giải 2,74MP, có giá dưới 6.000$ (giá chấp nhận được đối với nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và giới chơi ảnh nhiều tiền). Máy này dùng ống kính theo chuẩn Nikon F-mount giống như các máy chụp ảnh phim.
Năm 2003, Canon cho ra đời Canon Digital Rebel, còn gọi là 300D, có độ phân giải 6MP và là chiếc DSLR đầu tiên có giá dưới 1.000$.
== Độ phân giải ảnh ==
Độ phân giải của máy chụp ảnh số thường được quyết định bởi bộ cảm biến, đó là phần đổi ánh sáng thành những tín hiệu rời rạc. Bộ cảm biến gồm hàng triệu lỗ nhỏ. Những lỗ nhỏ này phản ứng với một màu ánh sáng tùy theo kính lọc màu của nó. Mỗi lỗ đó gọi là một pixel. Chúng được sắp xếp xen vào nhau sao cho ba chấm màu RGB (đỏ-lục-lam) ghép lại thành một chấm có đủ màu.
Một thuộc tính quan trọng của máy chụp ảnh số là số pixel của nó, tính theo hàng triệu gọi là megapixel. Nhưng số pixel không chưa đủ quyết định độ phân giải thật của ảnh. Còn phải xét đến kích thước của bộ cảm biến, chất lượng của ống kính, và cách sắp xếp các pixel. Nhiều máy chụp ảnh số gọn có số pixel rất lớn nhưng kích thước bộ cảm biến lại nhỏ nên kích thước của mỗi pixel quá nhỏ, nhỏ hơn khả năng ống kính có thể phân biệt được, như vậy thì độ nét của ảnh không thật sự bằng số pixel đó.
Quá nhiều pixel có khi còn làm giảm chất lượng của ảnh theo một cách khác. Do pixel quá nhỏ, nó nhận được quá ít ánh sáng nên tín hiệu nó sinh ra quá yếu dễ bị lẫn với nhiễu của mạch điện tử. Kết quả là bức ảnh không rõ, nhất là ở những vùng chuyển màu.
Khi công nghệ càng tiến bộ, giá thành càng giảm đi nhiều. Người ta tính số pixel trên mỗi đô-la như một trong các chỉ số của máy chụp ảnh số. Số pixel trên mỗi đô-la ngày càng tăng theo thời gian, phù hợp với Định luật Moore.
== Các phương pháp thu ảnh ==
Từ thời của những máy chụp ảnh số đầu tiên tới nay, đã có ba phương pháp chính để thu ảnh, dựa trên các loại bộ cảm biến và lọc màu khác nhau.
Phương pháp thứ nhất gọi là chụp-một-lần. Bộ cảm biến được rọi sáng một lần. Máy kiểu này có một bộ cảm biến với bộ lọc màu Bayer, hoặc là có ba bộ cảm biến (cho ba màu cơ bản đỏ-lục-lam) được rọi sáng cùng lúc bởi ba tia sáng tách ra bằng bộ tách sáng.
Phương pháp thứ hai gọi là chụp-nhiều-lần. Bộ cảm biến được rọi sáng ít nhất ba lần liên tiếp. Có vài cách dùng phương pháp này. Thông thường nhất là dùng một bộ cảm biến với ba kính lọc lần lượt được đưa ra trước bộ cảm biến để thu lấy từng màu. Một cách khác là dùng một bộ cảm biến với bộ lọc Bayer giống như trên nhưng dịch bộ cảm biến nhiều lần để mỗi pixel nhận sáng vài lần để trộn lại thành ảnh có độ phân giải gấp nhiều lần độ phân giải của bộ cảm biến. Cách khác nữa là kết hợp vừa thay kính lọc vừa dịch bộ cảm biến (không có bộ lọc màu Bayer).
Phương pháp thứ ba gọi là quét. Bộ cảm biến được kéo trên mặt phẳng hội tụ sáng giống như bộ cảm biến của máy scan để bàn. Bộ cảm biến có thể là một hàng hay ba hàng (ba màu). Trong một số trường hợp việc scan không phải do kéo bộ cảm biến mà do quay camera; máy chụp ảnh số quay có thể tạo ra ảnh có độ phân giải rất cao. Khi góc quay rộng thì chụp ra ảnh panorama.
Tuỳ theo đối tượng cần chụp mà người ta dùng phương pháp thu ảnh nào. Ví dụ để chụp vật di chuyển thì phải dùng phương pháp chụp-một-lần. Còn để chụp tĩnh vật với độ phân giải cao thì người ta dùng phương pháp chụp-nhiều-lần.
Gần đây, máy chụp ảnh theo phương pháp chụp-một-lần đã có nhiều cải tiến nên đây là loại phổ biến nhất trong các kiểu máy thương mại.
== Lưới lọc màu, nội suy, chống răng cưa ==
Hầu hết các máy chụp ảnh số hạng bình dân đều dùng lưới lọc màu Bayer, kết hợp với bộ chống răng cưa, và dùng một giải thuật demosaic để nội suy từ ba điểm màu cơ bản thành các điểm có đủ màu.
Các máy chụp ảnh dùng phương pháp chụp-một-lần với ba bộ cảm biến hoặc dùng phương pháp chụp nhiều lần thì không cần phải chống răng cưa cũng như demosaic.
Firmware trong máy chụp ảnh số hoặc software xử lý ảnh RAW sẽ biến đổi dữ liệu thô từ bộ cảm biến thành ra ảnh màu đầy đủ. Một điểm ảnh màu đầy đủ phải có ba giá trị cho ba màu đỏ-lục-lam (hoặc ba màu cơ bản khác nếu dùng hệ màu khác). Một phần tử của bộ cảm biến không thể cùng lúc cho ra ba giá trị đó. Do đó cần có lưới lọc màu để chọn một màu cho mỗi pixel.
Bộ lọc màu Bayer là một lưới có kích thước 2x2 pixel, được lặp lại liên tiếp theo hai hướng ngang và dọc. Trong lưới đó, có 2 đỉnh đối nhau cùng mang màu lục, 2 đỉnh còn lại màu đỏ và lam. Có nhiều điểm màu lục hơn màu đỏ và lam, để thích hợp với mắt người, vốn nhạy với độ sáng-tối hơn là độ màu và phân biệt sáng-tối dựa phần lớn vào màu lục. Đôi khi người ta để hai điểm lục trong lưới lọc màu đó có cường độ khác nhau; như vậy thì ảnh màu sẽ chính xác hơn, nhưng cần phải có một giải thuật nội suy phức tạp hơn.
== Kết nối ==
Nhiều máy chụp ảnh số có thể nối với máy tính để truyền dữ liệu qua.
Những máy đời đầu thì dùng cổng nối tiếp. Bây giờ thì dùng USB (hầu hết máy chụp ảnh số đều được máy tính xem như một ổ đĩa USB, một số máy thì dùng USB PTP). Một số máy thì có cổng FireWire.
Một số máy thì dùng kiểu vô tuyến như BlueTooth, Wi-Fi.
Một cách khác cũng thường được thấy là dùng ổ đọc thẻ nhớ. Ổ đọc thẻ nhớ có thể đọc được nhiều loại thẻ. Dùng cách này giúp cho đỡ hao pin của máy chụp ảnh. Nhưng có hơi bất tiện là cứ phải tháo/gắn thẻ nhớ.
Nhiều máy đời mới theo chuẩn PictBridge, có thể gửi hình thẳng đến máy in, không cần qua máy tính.
== Tích hợp ==
Nhiều máy điện tử có tích hợp luôn máy chụp ảnh số vào nó. Ví dụ như máy điện thoại di động, PDA. Mục đích chính của sự tích hợp này là sự tiện lợi nên những máy chụp ảnh tích hợp này chỉ cho ảnh nhỏ và kém nét.
== Lưu ảnh ==
Có nhiều cách để lưu ảnh trong máy chụp ảnh số.
Ghi vào bộ nhớ flash liền trong máy
Hay gặp ở máy chụp ảnh số rẻ tiền hoặc máy chụp ảnh tích hợp với máy khác.
Đĩa mềm 3,5"
Trong dòng máy Mavica cuối những năm 199x.
Video Floppy
Những máy đầu tiên dùng một đĩa mềm cỡ 2"x2"
Đĩa cứng chuẩn PCMCIA
Những máy chuyên nghiệp đời đầu, bây giờ không còn nữa.
Đĩa CD hay DVD
Đĩa CD cỡ 3,5" chứa được 185MB. Cách này được Sony CD-100 dùng.
In nhiệt
Máy chụp rồi in luôn chứ không lưu ảnh lại.
=== Thẻ nhớ ===
Thẻ CompactFlash/Microdrive
Thường gặp ở máy chụp ảnh chuyên nghiệp. Microdrive là một ổ đĩa nhỏ xíu trong hình dáng của thẻ CompactFlash. Có loại adapter để biến một thẻ SD thành thẻ CompactFlash.
Memory Stick
Một loại thẻ nhớ của Sony.
SD/MMC
Thẻ nhớ có vỏ bên ngoài nhỏ hơn CompactFlash. Đang dần dần thay thế CompactFlash. Thiết kế ban đầu có dung lượng tối đa là 2GB và dùng FAT16, sau này theo chuẩn SDHC là 4GB và dùng FAT32.
Mini SD
Vỏ ngoài nhỏ bằng nửa SD. Được dùng cho các máy điện thoại di động.
Micro SD
Vỏ ngoài nhỏ bằng một phần tư SD. Được dùng cho các máy điện thoại di động.
XD Picture
Được thiết kế bởi Fuji và Olympus trong năm 2002, vỏ ngoài nhỏ hơn SD.
SmartMedia
Được thiết kế để cạnh tranh với COmpactFlash. Dung lượng giới hạn ở 128MB. Ngày nay không còn dùng nữa vì bị xD thay thế.
FP Memory
2-4MB flash memory, dùng trong các máy chụp ảnh Mustek/Relisys rẻ tiền.
== Pin ==
Máy chụp ảnh cần nhiều năng lượng trong khi vỏ máy ngày càng nhỏ. Do đó cần có một loại pin có kích thước nhỏ nhưng lại có nhiều điện năng để máy dùng được lâu.
Có hai trường phái dùng pin sau đây.
=== Pin thông dụng ===
Là những loại pin chuẩn có sẵn như AA, AAA, hay CR2. Pin CR2 là loại pin gốc lithium, không nạp lại được. Pin AA thông dụng hơn. Loại pin alkaline không có nhiều điện để máy dùng được lâu. Người ta thường dùng pin Nickel metal hydride, vừa tích nhiều điện vừa nạp lại được. Những máy chụp ảnh hạng khá và một số hạng bình dân thường dùng pin thông dụng.
=== Pin riêng ===
Phần lớn pin riêng là pin lithium ion, được nhà sản xuất máy thiết kế riêng. Pin lithium ion chỉ có thể nạp lại được chừng 500 lần, nhưng nó tích được nhiều điện trong một thể tích nhỏ. Những máy chụp ảnh hạng chuyên nghiệp và hạng bình dân hay dùng pin riêng.
== Dạng ghi file ==
Những dạng thông dụng là JPEG và TIFF.
Máy chuyên nghiệp hay DSLR thì có thể ghi dạng RAW. Ảnh RAW là ảnh đọc từ bộ cảm biến chưa được biến đổi gì hết. Mỗi hãng có một cách ghi ảnh RAW riêng.
Ảnh RAW phải được xử lý bằng software. Khi xử lý ảnh RAW, có thể đưa vào những thay đổi như độ cân bằng màu trắng, bù sáng, nhiệt độ màu... Từ ảnh RAW nhiếp ảnh gia có thể đưa những điều chỉnh vào mà không sợ mất chất lượng ảnh.
Ảnh động thì được ghi theo các dạng AVI, DV, MPEG, MOV, WMV, MP4.
== Xem thêm ==
Máy ảnh
Máy ảnh cơ
DSLR
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tạp chí Máy ảnh số VN
Tạp chí Thế giới vi tính với Máy ảnh số
Chip cảm biến ảnh 111 megapixel của Dalsa Semiconductor
Số hóa.Net
The History of Digital Cameras
Máy ảnh số tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) |
beirut.txt | 33°53′13″B 35°30′47″Đ
Beirut hay Bayrūt, Beirut (tiếng Ả Rập: بيروت, chuyển tự: Bayrūt), đôi khi được gọi bằng tên tiếng Pháp của nó là Beyrouth là thủ đô và là thành phố lớn nhất Liban, tọa lạc bên Địa Trung Hải, là thành phố cảng chính của quốc gia này.
Con số ước tính về dân số thành phố này không cố định, thấp nhất là 938.940 người, đến 1.303.129 người, đến con số cao 2.012.000 người. Sự thiếu chính xác này là do cuộc không có cuộc điều tra dân số toàn diện thực hiện ở Liban kể từ năm 1932. Thành phố nằm trên một bán đảo hơi nghiêng về phía Địa Trung Hải, thành phố bị bao trong Dãy núi Liban nhô cao lên về phía Đông. Khí hậu Địa Trung Hải của thành phố tạo ra mùa Hè nóng và mùa Đông êm dịu với độ ẩm cao về mùa Hè. Tên theo tiếng Ả Rập Beirut có nghĩa là "những giếng nước" do nguồn nước cung cấp ở khu vực này lấy từ nước ngầm. Khu vực thành phố có diện tích khoảng 19,8 km2, nhiều khu vực nằm ngoài ranh giới nội thành thường được tính vào nội thành.
Trong nhiều thập kỷ Beirut đã là trung tâm ngân hàng của khu vực Trung Đông, nhưng thành phố đã bị tàn phá trong Nội chiến Liban (1975-1990). Sau chiến tranh, thành phố bắt đầu quá trình xây dựng lại chậm chạp. Đầu thế kỷ 21, nền kinh tế của Beirut đã phục hồi, những chứng tích của sự tàn phá chiến tranh đã dần biến mất. Kể từ sau chiến tranh, Beirut đã nỗ lực lấy lại vị trí trung tâm thương mại và ngân hàng ở Trung Đông. Thành phố có các mặt hàng xuất khẩu như: lụa, vải bông, trái cây, da sống, gia cầm, lông cừu. Thành phố nhập khẩu vật liệu xây dựng, hàng quần áo, thực phẩm. Ngành xây dựng bùng nổ sau cuộc chiến khi thành phố tái thiết. Beirut được kết nối giao thông qua sân bay quốc tế Beirut. Ngoài ra, thành phố còn có các đường bộ nối với Damascus, Syria, và các thành phố Trung Đông khác.
Beirut đã lấy lại được vị trí trung tâm thương mại khu vực của mình. Beirut đã đăng cai Hội nghị thượng đỉnh khối Pháp ngữ (Francophonie) và Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn Ả Rập năm 2002. Năm 2007, Beirut đăng cai tổ chức lễ kỷ niện Le Prix Albert Londres, trao giải cho các phóng viên khối Francophone xuất sắc hàng năm. Thành phố sẽ tổ chức Ngày Pháp ngữ (Jeux de la Francophonie năm 2009. Beirut đang xem xét xin ứng cử đăng cai Thế vận hội mùa Hè 2024.
Thành phố là nơi có nhiều tổ chức quốc tế như Ủy ban Kinh tế Xã hội Tây Á (ESCWA) của Liên Hiệp Quốc có trụ sở ở trung tâm Beirut còn Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và UNESCO đều có văn phòng khu vực ở Beirut đảm trách khu vực thế giới Ả Rập. Tổ chức các hãng hàng không Ả Rập (AACO) cũng có trụ sở ở Beirut.
Tạp chí du lịch Travel and Leisure đã bầu chọn Beirut là thành phố 9/10 thành phố tốt nhất về "Giải thưởng Tốt nhất thế giới năm 2006", chỉ sau New York City và trên San Francisco.
== Những người sinh ra ở Beirut nổi tiếng ==
Fairuz, ca sĩ điển hình của Liban, sinh năm 1935.
Gibran Khalil Gibran, an international poet and philosopher who was born in 1883.
Keanu Reeves, diễn viên Canada.
Elie Saab, nhà thiết kế thời trang Liban nổi tiếng thế giới.
Krikor Agapian, hoạ sĩ.
Péri Cochin, host của chương trình truyền hình.
Amin Maalouf, tác gia sinh năm 1949.
Mika, ca sĩ và nhà sáng tác nhạc sinh năm 1983.
Serj Tankian, người hát chính của ban nhạc Los Angeles, System of a Down.
Michel Elefteriades, nhà chính trị, nghệ sĩ, nhà sản xuất và nhà kinh doanh Liban gốc Hy Lạp.
Hassan Kamel Al-Sabbah, Một nhà phát minh Liban ở New York, người tiên phong trong pin mặt trời.
K-Maro, ca sĩ RnB Liban sinh ra ở Canada.
Massari, ca sĩ Hip-Hop Liban.
Camille Allam, nghệ sĩ, nhà điêu khắc và nhà âm nhạc học Beirut.
Dom Joly, diễn viên hài kịch, phóng viên.
Steve Kerr, 5 lần vô địch NBA
Bloody-Death, người tạo ra The Famous Snake Virus.
Adel Termos, người anh hùng lao vào ôm chặt kẻ đánh bom liều chết IS ở Beirut ngày 12/11/2015
== Các thành phố kết nghĩa ==
Paris, Pháp (1992)
Yerevan, Armenia
Los Angeles, Hoa Kỳ (2006)
Vitória, Brasil
Buenos Aires, Argentina
São Paulo, Brasil
Rio de Janeiro, Brasil
Montreal, Canada
Nicosia, Síp
Cairo, Ai Cập
Athens, Hy Lạp
Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ
Dubai, UAE
Isfahan, Iran (2007)
== Tham khảo ==
Linda Jones Hall, Roman Berytus: Beirut in Late Antiquity, 2004.
Samir Kassir, Histoire de Beyrouth, Fayard 2003.
Richard Talbert, Barrington Atlas of the Greek and Roman World, (ISBN 0-691-03169-X), p. 69.
Abe F. March: author of To Beirut and Back - An American in the Middle East (ISBN 1-4241-3853-1) recounts the years shortly before and including the beginning of the Lebanese Civil War (1975-1990). He is also listed as an Expert on Israeli-Palestinian ProCon.org
== Liên kết ngoài ==
Panorama virtual images of Beirut, Modern photos of the heart of Beirut, very interesting
Actuplebanon.com: picture galleries of Beirut, Lebanon, portaits of life in the country, conflict resources
/ Images of new Architecture of Down Town Beirut
Municipality of Beirut
Videos of Beirut
Destination Lebanon: Beirut (includes interactive map)
Forum de Beyrouth
BIEL
ESCWA
Beirut News
Beirut IRC Network Beirut Internet Relay Chat Network
Beirut National Museum
American University of Beirut (AUB)
Beirut Arab University
Haigazian University
HaririCanadian University (HCU)
Lebanese American University (LAU)
Lebanese International University (LIU)
(tiếng Pháp) Université Libanaise (UL)
(tiếng Pháp) Université Saint-Joseph (USJ)
Near East School of Theology (NEST)
Saint George Hospital (SGH)
Grand Lycée Franco-Libanais Beyrouth (GLFL)
Paths to History (interactive archaeological map of Beirut)
Lebanon Atlas (interactive map of Beirut)
Gemayze-Art
Berytus Roman school of law
Downtown Beirut
The Beirut Green Line 1975-1990
Civil War 1975 to 1990 & War on Lebanon 2006 Pictures
Samidoun (Beirut-based NGOs platform) |
chủ nghĩa bảo thủ.txt | Chủ nghĩa bảo thủ (tiếng Pháp: conservatisme, tiếng Anh:conservatism, gốc từ tiếng Latinh conservo — giữ gìn) là các luận thuyết triết học chính trị ủng hộ truyền thống và sự thay đổi từ từ, trong đó truyền thống là các niềm tin hoặc tập quán tôn giáo, văn hóa hoặc dân tộc. Do các nền văn hóa khác nhau có các giá trị khác nhau, những người theo chủ nghĩa bảo thủ tại các văn hóa khác nhau có các mục tiêu không giống nhau. Một số người tìm cách bảo tồn trạng thái hiện tại (status quo) hoặc tìm cách cải tạo xã hội một cách từ từ, trong khi những người khác muốn quay lại với các giá trị trong quá khứ.
Nguồn gốc của chủ nghĩa bảo thủ bắt nguồn tự sự chống đối lại chủ nghĩa tự do (khi đó họ xem là cực đoan), được phát triển thành hai xu hướng. Xu hướng ở Pháp muốn quay lại thời kỳ trước cách mạng Pháp, và hay được xem là phản động - phản lại một sự chuyển động tất yếu- xu hướng này về sau lụi tàn. Xu hướng ở Anh có tính ôn hòa hơn, và sau là nền tảng của chủ nghĩa bảo thủ hiện đại. Sự phát triển của chủ nghĩa bảo thủ là một nguyên nhân ra đời các nhà nước quân chủ lập hiến ở nhiều nước, nơi tồn tại một chế độ quân chủ hình thức với một nền dân chủ. Những người bảo thủ thường coi trọng sự đoàn kết dân tộc và hay khêu gợi lòng yêu nước, cũng như các giá trị văn hóa dân tộc. Họ tin tưởng vào một chính quyền của những người có tài sản và trí thức, và mở rộng các quyền dân chủ trên cơ sở bảo đảm trật tự xã hội và tiệm tiến.
Những người theo chủ nghĩa bảo thủ ủng hộ cho tư hữu và chủ nghĩa tư bản.
Ngày nay, chủ nghĩa bảo thủ được coi là thuộc cánh hữu. Chủ nghĩa bảo thủ có nhiều sự phân hóa thành các trường phái khác nhau, và do các quốc gia có hoàn cảnh khác nhau nên những người bảo thủ các nước khác nhau về đường lối.
== Đảng bảo thủ ==
Các đảng chính trị bảo thủ:
Úc: Đảng Tự do Úc, Đảng Dân tộc Úc
Áo: Đảng Nhân dân Áo
Bangladesh: Đảng Dân tộc Bangladesh
Canada: Đảng Bảo thủ Canada
Colombia: Đảng Bảo thủ Colombia
Costa Rica: Đảng Thống nhất Cơ đốc giáo Xã hội
Croatia: Liên minh Dân chủ Croatia
Đan Mạch: Đảng Nhân dân Bảo thủ
Đức: Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo và Liên minh Xã hội Cơ đốc giáo
Hoa Kỳ: Đảng Cộng hòa
Ý: Đảng Ngôi nhà Tự do
Mexico: Đảng Hành động Dân tộc
== Xem thêm ==
Chủ nghĩa tự do
Chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa cộng sản
Chủ nghĩa phát xít
Chủ nghĩa tư bản
== Tham khảo == |
rhodi.txt | Rhodi (tiếng La tinh: Rhodium) là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Rh và số nguyên tử 45. Là kim loại chuyển tiếp cứng màu trắng bạc khá hiếm đồng thời là thành viên của họ platin, rhodi được tìm thấy trong quặng platin và được sử dụng trong các hợp kim với platin và như là một chất xúc tác. Nó thuộc về nhóm những kim loại quý đắt tiền nhất, nhưng giá cả dao động mạnh, phụ thuộc vào nhu cầu thị trường.
== Đặc trưng ==
Rhodi là một kim loại màu trắng bạc, cứng và bền, có hệ số phản xạ cao. Rhodi kim loại thông thường không tạo ra ôxít, ngay cả khi bị nung nóng. Ôxy bị hấp thụ từ khí quyển ở điểm nóng chảy của rhodi, nhưng khi hóa rắn thì ôxy lại được giải phóng. Rhodi có điểm nóng chảy cao hơn nhưng tỷ trọng riêng thấp hơn của platin. Nó không bị phần lớn các axít ăn mòn: nó hoàn toàn không hòa tan trong axít nitric và chỉ hòa tan một chút trong nước cường toan. Hiện tượng tan hoàn toàn của rhodi ở dạng bột chỉ thu được trong axít sulfuric.
== Ứng dụng ==
Ứng dụng chủ yếu của rhodi là làm tác nhân tạo hợp kim để làm cứng platin và paladi. Các hợp kim này được dùng trong các trục cuốn và ống lót của lò luyện để sản xuất các sợi thủy tinh, các thành phần của cặp nhiệt điện, các điện cực cho bu gi của tàu bay và các nồi nấu trong phòng thí nghiệm. Các ứng dụng khác có:
Dùng làm vật liệu chế tạo tiếp điểm điện do điện trở thấp, điện trở tiếp xúc thấp và ổn định cùng khả năng chống ăn mòn cao của nó.
Lớp mạ rhodi (do mạ điện hay phủ hơi rhodi) rất cứng và được dùng cho các thiết bị quang học.
Kim loại này cũng được dùng trong ngành kim hoàn và dùng trang trí. Nó được mạ điện trên vàng trắng để tạo ra cho chúng bề mặt trắng có tính phản chiếu ánh sáng. Trong nghề kim hoàn người ta gọi nó là lóe sáng rhodi. Nó cũng có thể được dùng để che phủ bạc mười nhằm giúp cho kim loại không bị xỉn màu, do có hợp chất đồng trong bạc mười.
Đóng vai trò chất xúc tác hữu ích của nhiều quy trình công nghiệp (đáng chú ý là nó được sử dụng trong hệ thống xúc tác của các bộ chuyển đổi xúc tác trong ô tô và để cacbonyl hóa có xúc tác của metanol nhằm sản xuất axít axetic theo quy trình Monsanto). Nó cũng xúc tác bổ sung cho các hydrosilan để tạo liên kết đôi, một quy trình quan trọng trong sản xuất một vài dạng cao su silic nhất định.
Phức chất của ion rhodi với BINAP tạo ra chất xúc tác bất đối xứng sử dụng rộng rãi trong tổng hợp bất đối xứng, như trong tổng hợp menthol.
Làm bộ lọc trong các hệ thống chụp chiếu ngực do các tia X đặc trưng mà nó sinh ra.
Tạo ra các loại bút mực chất lượng rất cao, sản xuất với số lượng giới hạn. Nổi tiếng với các hiệu: Graf von Faber-Castell, Caran D'ache và Montblanc.
== Lịch sử ==
Rhodi (tiếng Hy Lạp rhodon nghĩa là "hoa hồng") được William Hyde Wollaston phát hiện năm 1803, ngay sau khi ông phát hiện ra paladi. Ông thực hiện tìm kiếm này tại Anh, sử dụng quặng platin thô mà có lẽ ông đã thu được từ Nam Mỹ.
Trình tự công việc của ông là hòa tan quặng trong nước cường toan, trung hòa dung dịch bằng hiđrôxít natri (NaOH). Sau đó ông kết tủa platin dưới dạng cloroplatinat amoni bằng cách cho thêm clorua amoni (NH4Cl). Nguyên tố paladi được loại bỏ dưới dạng xyanua paladi sau khi xử lý dung dịch bằng xyanua thủy ngân. Vật chất còn lại là clorua rhodi (III) có màu đỏ (vì thế mà có tên gọi): rhodi kim loại được cô lập thông qua việc khử bằng khí hiđrô.
== Phổ biến ==
=== Khai thác thông thường ===
Việc chiết tách công nghiệp của rhodi là phức tạp do kim loại này có trong các quặng hỗn hợp với các kim loại khác như paladi, bạc, platin, vàng. Nó được tìm thấy trong quặng platin và thu được ở dạng tự do như là một kim loại trơ màu trắng rất khó nóng chảy. Các nguồn chủ yếu của nguyên tố này nằm tại Nam Phi, trong cát bãi sông ven dãy núi Ural, ở Bắc và Nam Mỹ cũng như trong khu vực khai thác sulfua đồng-niken ở Sudbury, Ontario. Mặc dù sản lượng ở Sudbury là rất nhỏ, nhưng một lượng lớn quặng niken được chế biến làm cho sự phục hồi rhodi là hiệu quả về mặt giá thành. Các nhà xuất khẩu rhodi chính là Nam Phi (>80%), sau đó là Nga. Sản lượng toàn thế giới mỗi năm khoảng 25 tấn và có rất ít các khoáng vật rhodi. Nói chung rất khó xác định nó nếu mẫu đá có chứa các nguyên tố khác cũng thuộc nhóm platin. Vào tháng 4 năm 2008, giá của cùng lượng rhodi khoảng 9 lần cao hơn vàng, 500 lần cao hơn bạc. Giá của rhodi trong quá khứ chỉ ở ngưỡng khoảng 1.000 USD/troy oz (31,1034768 gam), nhưng gần đây đã tăng tới khoảng $9.000/troy oz.
=== Như là sản phẩm phân hạch ===
Cũng có thể tách rhodi từ nhiên liệu hạt nhân đã sử dụng, trong đó có chứa rhodi (1 kg các sản phẩm phân hạch của U235 chứa khoảng 13,3 gam Rh103. Do nhiên liệu đã sử dụng điển hình chứa khoảng 3% là các sản phẩm phân hạch theo trọng lượng nên trong 1 tấn nhiên liệu đã sử dụng sẽ chứa khoảng 400 gam rhodi). Đồng vị phóng xạ tồn tại lâu nhất của rhodi là Rh102m có chu kỳ bán rã 2,9 năm, trong khi trạng thái nền (Rh102) có chu kỳ bán rã 207 ngày.
Mỗi kilôgam rhodi phân hạch sẽ chứa 6,62 ng Rh102 và 3,68 ng Rh102m. Do Rh102 phân rã theo phương thức phân rã beta để tạo ra hoặc là Ru102 (80%, một số bức xạ positron sẽ xảy ra) hoặc là thành Pd102 (20%, một số photon tia gama với năng lượng khoảng 500 keV được sinh ra) và trạng thái kích thích phân rã theo phương thức phân rã beta (bắt điện tử) để thành Ru102 (một số photon tia gama với năng lượng 1 MeV được sinh ra). Nếu như sự phân hạch diễn ra ngay lập tức thì 13,3 gam rhodi sẽ chứa 67,1 MBq (1,81 mCi) Rh102 và 10,8 MBq (291 μCi) Rh102m. Do thông thường người ta để nhiên liệu hạt nhân đã sử dụng trong khoảng 5 năm trước khi tái chế nên phần lớn hoạt động này sẽ phân rã mất, chỉ để lại 4,7 MBq Rh102 và 5,0 MBq Rh102m. Nếu như rhodi kim loại này được để lại tới 20 năm sau khi phân hạch thì 13,3 gam rhodi kim loại chỉ chứa 1,3 kBq Rh102 và 500 kBq Rh102m. Thoạt nhìn thì rhodi có thể bổ sung vào giá trị tài nguyên của rác thải phân hạch tái chế, nhưng giá thành của việc tách rhodi ra khỏi các kim loại khác cần phải được lưu ý.
== Đồng vị ==
Rhodi nguồn gốc tự nhiên chỉ chứa một đồng vị (Rh103). Các đồng vị phóng xạ ổn định nhất là Rh101 với chu kỳ bán rã 3,3 năm, Rh102 (207 ngày), Rh102m (2,9 năm) và Rh99 (16,1 ngày). Hai mươi đồng vị phóng xạ khác cũng đã được nêu đặc trưng, với nguyên tử lượng trong khoảng từ 92,926 (Rh93) tới 116,925 (Rh117). Phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 1 giờ, ngoại trừ Rh100 (20,8 giờ) và Rh105 (35,36 giờ). Nó cũng có một số đồng phân hạt nhân, ổn định nhất là Rh102m (0,141 MeV, 207 ngày) và Rh101m (0,157 MeV, 4,34 ngày). Xem thêm Đồng vị của rhodi.
Phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị nhẹ hơn Rh103 là bắt điện tử còn phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị nặng hơn Rh103 là bức xạ beta. Sản phẩm phân rã chủ yếu trước Rh103 là rutheni còn sản phẩm phân rã chủ yếu sau Rh103 là paladi.
== Phòng ngừa ==
Rhodi kim loại là một kim loại quý và trơ về mặt hóa học. Tuy nhiên, khi nó có liên kết hóa học thì lại hoạt hóa. Các hợp chất của rhodi thông thường ít khi bắt gặp nhưng nó có độc tính và có khả năng gây ung thư. Liều gây tử vong (LD50) cho chuột cống là 12,6 mg/kg clorua rhodi (RhCl3). Các hợp chất này cũng có thể làm sạm màu da người mặc dù nó không đóng vai trò sinh học nào ở người. Ở dạng kim loại thì nó không độc hại gì.
== Biểu tượng ==
Rhodi đã từng được sử dụng như là biểu tượng cho danh dự hay sự giàu có, khi các kim loại quý khác được sử dụng phổ biến hơn như bạc, vàng hay platin được coi là chưa đủ. Năm 1979, Guinness Book of World Records tặng Paul McCartney một đĩa mạ rhodi vì họ coi ông là nhạc sĩ sáng tác bài hát cũng như là nghệ sĩ có lượng bài hát được bán nhiều nhất mọi thời đại. Guinness cũng ghi nhận các đồ như "bút đắt tiền nhất" hay "bàn cờ đắt tiền nhất" thế giới đều là những vật chứa rhodi.
== Xem thêm ==
Hợp chất rhodi
Họ platin
Vàng trắng
Bạc mười
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Rhodi
Giá rhodi hiện tại
Dữ liệu kỹ thuật và an toàn của rhodi
Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Rhodi |
các tổ chức liên kết với hiệp hội các quốc gia đông nam á.txt | Đây là danh sách của các tổ chức liên kết trực tiếp với Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN).
== Các tổ chức thuộc thẩm quyền của ASEAN == |
giải vô địch bóng đá nữ u-17 thế giới.txt | Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới (tiếng Anh: FIFA U-17 Women's World Cup) là giải vô địch bóng đá thế giới dành cho các cầu thủ nữ ở độ tuổi dưới 17 do FIFA tổ chức. Giải đấu được tổ chức 2 năm một lần, được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2008.
== Lịch sử ==
Vào năm 2003 sau thành công của Giải vô địch bóng đá nữ U-19 thế giới 2002 tại Canada, FIFA có dự định tổ chức thêm một giải bóng đá nữ trẻ nữa. Liên đoàn các châu lục cho rằng sẽ khó tổ chức giải đấu thứ hai với giới hạn tuổi (U-19) tại thời điểm đó. Vì thế, FIFA thành lập giải World Cup nữ U-17 và Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới (sau này đổi tên là "World Cup nữ U-20" vào năm 2007), giống như hệ thống giải của nam.
Giải đấu chính thức đầu tiên diễn ra vào năm 2008 tại New Zealand.
== Vòng loại ==
== Các trận chung kết và tranh hạng ba ==
Nguồn: RSSSF
== Giải thưởng ==
== Các đội đoạt thành tích cao ==
== Thành tích các đội ==
Chú thích
VĐ — Vô địch
H2 — Á quân
H3 — Hạng ba
H4 — Hạng tư
TK — Tứ kết
VB — Vòng bảng
V1 — Vòng 1, Vòng bảng
• — Không qua vòng loại
— Không tham dự / Bỏ cuộc
XX — Quốc gia không tồn tại hoặc đội tuyển quốc gia không thường xuyên thi đấu tại thời điểm đó
— Chủ nhà
q — Có mặt tại giải đấu sắp diễn ra
== Xem thêm ==
Giải vô địch bóng đá nữ thế giới
Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới
Giải vô địch bóng đá nam U-17 thế giới
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh) Trang web của World Cup U-17 nữ |
vụ watergate.txt | Vụ Watergate là một vụ bê bối chính trị trên chính trường Mỹ, từ năm 1972 đến năm 1974, dẫn đến việc Tổng thống Richard Nixon phải từ chức.
Vụ việc xảy ra vào thời điểm Chiến tranh Việt Nam, khi chính quyền Nixon đã lạm dụng quyền lực để ngăn cản phong trào phản chiến và lực lượng chính trị đối lập là Đảng Dân chủ.
Có thể tóm tắt vụ việc như sau. Sau khi bắt năm "tên trộm" đột nhập văn phòng của Đảng Dân chủ tại Khách sạn Watergate (Washington D.C.) vào ngày 17 tháng 6 năm 1972, Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) lần ra manh mối của chiến dịch do thám này: chính các nhân vật thân cận của Tổng thống Nixon, cùng với ủy ban vận động bầu cử của ông đã tổ chức vụ đột nhập này nhắm vào đối thủ chính trị là Đảng Dân chủ. Tuy nhiên, các kết quả điều tra của FBI đã bị ỉm đi dưới những âm mưu che đậy của Nhà Trắng cho tới khi hai nhà báo Bob Woodward và Carl Bernstein của tờ Washington Post công bố trên mặt báo. Quốc hội Mỹ bèn lập ủy ban điều tra. Trước nguy cơ bị quốc hội phế truất, ngày 9 tháng 8 năm 1974, Tổng thống Nixon tuyên bố từ chức.
Nhân vật giấu tên cung cấp thông tin có mật danh "Deep Throat" đã được công bố danh tính vào tháng 5 năm 2005, đó là một cựu nhân viên FBI, ông W. Mark Felt.
== Các nhân vật liên quan ==
Howard Baker
Alfred Baldwin (Watergate)
Alexander Barkan
Richard Ben-Veniste
Robert Foster Bennett
Hale Boggs
Robert Bork
Benjamin C. Bradlee
Pat Buchanan
Alexander Butterfield
William Byrne
Dwight Chapin
Charles Colson
John Conyers
Archibald Cox
Kenneth H. Dahlberg
Maxwell Dane
Samuel Dash
David Young (Watergate)
Sidney Davidoff
John Dean
Deep Throat
Ron Dellums
John Doar
S. Harrison Dogole
Charles Dyson
John Ehrlichman
Daniel Ellsberg
Sam Ervin
Bernard T. Feld
W. Mark Felt
Fred F. Fielding
Gerald Ford
William Gaines (professor)
Leonard Garment
Sam Garrison
Seymour Glanzer
Katharine Graham
L. Patrick Gray
Ed Guthman
Alexander Haig
H. R. Haldeman
Halloween Massacre
Morton Halperin
Sally Harmony
Richard Helms
Howard Hughes
William L. Hungate
Leon Jaworski
Herbert W. Kalmbach
Egil Krogh
Samuel M. Lambert
Angelo Lano
Fred LaRue
G. Gordon Liddy
Allard K. Lowenstein
Mary McGrory
Jeb Stuart Magruder
Robert Mardian
James W. McCord, Jr.
Cord Meyer
John N. Mitchell
Stewart Rawlings Mott
S. Sterling Munro, Jr.
Richard Nixon
Bernard W. Nussbaum
Larry O'Brien
Robert C. Odle, Jr.
John Paisley
Kenneth Parkinson
Arnold Picker
Herbert Porter
Raymond Price (speechwriter)
Charles Rebozo
Elliot Richardson
Peter W. Rodino
William Ruckelshaus
Charles Ruff
Daniel Schorr
Donald Segretti
John Sirica
Hugh W. Sloan, Jr.
Maurice Stans
Ben Stein
Howard Stein
Gordon C. Strachan
Jerald terHorst
Fred Thompson
Watergate scandal
Frank Wills (security guard)
Leonard Woodcock
Rose Mary Woods
Ron Ziegler
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh
White House tape transcripts
The White House tapes themselves
Washington Post Watergate Archive
Washington Post Watergate Tape Listening Guide
BBC News reports on Watergate
Watergate.info - The Scandal That Destroyed Pres. Richard Nixon
Watergate Timeline
Watergate Key Players by Washington Post
Schemers In the Web
Extensive set of online Watergate biographies at Spartacus
Tiếng Việt
Năm hiểu lầm về Watergate, BBC 20-6-2012
Mưu đồ bất thành của Tổng thống Nixon trong vụ Watergate, CAND 5-9-2014
Watergate, “cú ngã ngựa” đau đớn của cựu Tổng thống Nixon, CAND 5-7-2005
Năm 1968, Nixon đã phá hoại Hội nghị Paris như thế nào?, CAND 31-7-2009 |
môi trường phát triển tích hợp.txt | Môi trường phát triển tích hợp (tiếng Anh: Integrated Development Environment; viết tắt: IDE) còn được gọi là "Môi trường thiết kế hợp nhất" (tiếng Anh: Integrated Design Environment) hay "Môi trường gỡ lỗi hợp nhất" (tiếng Anh: Integrated Debugging Environment) là một loại phần mềm máy tính có công dụng giúp đỡ các lập trình viên trong việc phát triển phần mềm.
Các môi trường phát triển hợp nhất thường bao gồm:
Một trình soạn thảo mã (source code editor): dùng để viết mã.
Trình biên dịch (compiler) và/hoặc trình thông dịch (interpreter).
Công cụ xây dựng tự động: khi sử dụng sẽ biên dịch (hoặc thông dịch) mã nguồn, thực hiện liên kết (linking), và có thể chạy chương trình một cách tự động.
Trình gỡ lỗi (debugger): hỗ trợ dò tìm lỗi.
Ngoài ra, còn có thể bao gồm hệ thống quản lý phiên bản và các công cụ nhằm đơn giản hóa công việc xây dựng giao diện người dùng đồ họa (GUI).
Nhiều môi trường phát triển hợp nhất hiện đại còn tích hợp trình duyệt lớp (class browser), trình quản lý đối tượng (object inspector), lược đồ phân cấp lớp (class hierarchy diagram),... để sử dụng trong việc phát triển phần mềm theo hướng đối tượng.
Phân theo số lượng các ngôn ngữ được hỗ trợ, ta có thể chia các môi trường phát triển hợp nhất được sử dụng rộng rãi ngày nay thành hai loại:
Môi trường phát triển hợp nhất một ngôn ngữ: làm việc với một ngôn ngữ cụ thể, ví dụ: Microsoft Visual Basic 6.0 IDE.
Môi trường phát triển hợp nhất nhiều ngôn ngữ: có thể làm việc với nhiều ngôn ngữ lập trình, ví dụ: Eclipse IDE, NetBeans, Microsoft Visual Studio.
== Lịch sử ==
Khi các thế hệ máy tính đầu tiên ra đời, lập trình viên không có cách nào để viết ra các chương trình trên các máy này. Việc "viết chương trình" trong thời gian này gắn liền với việc phải thay đổi cấu trúc, linh kiện,... của cả máy, hoặc đục lỗ lên những tấm thẻ để biểu thị cho những thông tin nào đó. Ví dụ: để thay đổi mã lệnh cho máy tính đa chức năng đầu tiên là ENIAC (do hai kĩ sư người Mỹ J. W. Machily và J. Presper Eckret chế tạo vào năm 1946), các nhà chế tạo phải thiết kế lại ENIAC.
Sau đó, khi màn hình ra đời và việc phát triển có thể được thực hiện trên các thiết bị đầu cuối (terminal), các môi trường phát triển hợp nhất mới ra đời. BASIC là ngôn ngữ đầu tiên có một môi trường phát triển hợp nhất cho riêng mình. Tuy nhiên, môi trường này (một phần của Hệ thống chia sẻ thời gian Dartmouth) hoàn toàn dựa trên giao diện ký tự, và cũng không có nhiều tính năng so với các môi trường phát triển đồ họa ngày nay. Dù vậy, nó cũng đã tích hợp trình soạn thảo, quản lý tập tin, biên dịch, dò lỗi và thực thi.
Trước đây, khi chưa có hệ thống cửa sổ (như Microsoft Windows và X11, giao diện của các môi trường phát triển hợp nhất hoàn toàn dựa trên văn bản. Người dùng phải sử dụng các phím chức năng, phím nóng để thực hiện tất cả các công việc. Turbo Pascal là một môi trường phát triển điển hình thuộc loại này. Theo dòng phát triển của lịch sử, ngày nay, hầu hết các môi trường phát triển hợp nhất đều có giao diện đồ họa và được tích hợp ngày càng nhiều chức năng.
Ngày nay, khái niệm "Môi trường phát triển hợp nhất" được phân biệt với khái niệm "công cụ soạn thảo văn bản" (như vi, emacs trên Linux). Khi nói đến "môi trường phát triển hợp nhất", các lập trình viên thường nghĩ ngay đến chương trình mà với đó, hầu hết công việc của họ - như viết, chỉnh sửa mã, biên dịch, triển khai và gỡ lỗi - đều có thể được thực hiện.
Những lập trình viên chuyên nghiệp thường sử dụng các môi trường phát triển hợp nhất để phát triển ứng dụng. Họ tận dụng chúng để làm tăng tính hiệu quả và giảm thời gian thực hiện công việc của mình. Ngoài ra, người mới học cũng có thể tận dụng những tiện ích của các môi trường phát triển hợp nhất để giảm bớt thời gian học của mình, vì những cấu hình, những dòng lệnh phức tạp (mà nếu không có môi trường phát triển hợp nhất phải thực hiện bằng tay) đều đã được che giấu và tự động hóa, ta chỉ cần bấm nút là mọi việc có thể được thực hiện.
Trong thời gian gần đây, người ta thấy nổi lên các môi trường phát triển hợp nhất nguồn mở (Open Source IDE), như NetBeans, Eclipse. Các môi trường phát triển loại này ngày càng thông dụng, nhất là trong cộng đồng nguồn mở.
== Xem thêm ==
Danh sách các môi trường phát triển tích hợp
So sánh giữa các môi trường phát triển tích hợp
Bộ công cụ phát triển phần mềm (SDK)
== Tham khảo == |
1985.txt | Theo lịch Gregory, năm 1985 (số La Mã: MCMLXXXV) là một năm bắt đầu từ ngày thứ năm.
Bản mẫu:Tháng trong năm 1985
== Sự kiện ==
1 tháng 1: Kurt Furgler trở thành tổng thống Thụy Sĩ
11 tháng 3: Mikhail Gorbachev trở thành tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô
15 tháng 3: Tái thiết lập nền dân chủ trong Brasil; José Sarney trở thành tổng thống
11 tháng 6: Trao đổi điệp viên lớn nhất tại Berlin. 25 điệp viên phương Tây và 4 điệp viên phía Đông được trao trả tại Cầu Glienicke
23 tháng 6: Một chiếc Boeing 747 của Air India rơi xuống Đại Tây Dương sau khi nổ bom. 329 nạn nhân tử vong
10 tháng 7: Chiếc tàu Rainbow Warrior của Greenpeace bị điệp viên Pháp đánh chìm trong cảng của Auckland
2 tháng 8: Fort Worth, Dallas, Texas, Hoa Kỳ. Một chiếc Lockheed L-1011 TriStar của Delta Air Lines rơi trong một cơn bão. 134 người đã chết, 30 được cứu
6 tháng 8: Bolivia. Víctor Paz Estenssoro trở thành tổng thống thứ 4
12 tháng 8: Một chiếc Boeing 747 của Japan Airlines rơi gần Otsuki, Nhật Bản. Chỉ có 4 người trong số 524 người trên máy bay sống sót.
19 tháng 9: Động đất tại Michoacán, México, khoảng 15.000 người chết
23 tháng 9: Maldives. Tổng thống Gayoom tái đắc cử.
6 tháng 11: Aníbal Cavaco Silva trở thành thủ tướng Bồ Đào Nha.
13 tháng 11: Núi lửa Nevado del Ruiz, Colombia hoạt động. 31.000 người chết
31 tháng 12: Vương quốc Anh và Bắc Ireland li khai khỏi UNESCO
== Sinh ==
8 tháng 1: Elisabeth Pähtz, kì thủ
11 tháng 1: Mark Yeates, cầu thủ bóng đá Ireland
19 tháng 1: Daniyel Cimen, cầu thủ bóng đá
22 tháng 1: Thomas Bröker, cầu thủ bóng đá Đức
25 tháng 1: Paul Thomik, cầu thủ bóng đá Đức
28 tháng 1: Basharmal Sultani, võ sĩ quyền Anh
2 tháng 2: Massoud Azizi, vận động viên điền kinh
5 tháng 2: Cristiano Ronaldo, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha
7 tháng 2: Tina Majorino, nữ diễn viên Mỹ
9 tháng 2: David Gallagher, diễn viên Mỹ
26 tháng 2: Sanya Richards, nữ vận động viên điền kinh Mỹ, huy chương Thế Vận Hội
1 tháng 3: Andreas Ottl, cầu thủ bóng đá Đức.
2 tháng 3: Reggie Bush, cầu thủ bóng đá Mỹ.
2 tháng 4: Stéphane Lambiel, vận động viên trượt băng nghệ thuật Thụy Sĩ
18 tháng 3: Lewis Hamilton, tay đua công thức 1 người Anh.
26 tháng 3: Keira Knightley, nữ diễn viên Anh.
19 tháng 4: Jan Zimmermann, cầu thủ bóng đá Đức.
30 tháng 4: Elena Fanchini, nữ vận động viên chạy ski Ý.
1 tháng 5: Philipp Fleischmann, diễn viên Áo, đạo diễn
2 tháng 5: Sarah Hughes, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Mỹ
8 tháng 5: Hidekaz Himaruya, họa sĩ truyện tranh, tác giả series manga/anime Hetalia: Axis Powers
16 tháng 5: Anja Mittag, nữ cầu thủ bóng đá Đức
19 tháng 5: Christopher Reinhard, cầu thủ bóng đá Đức
22 tháng 5: Tranquillo Barnetta, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ
23 tháng 5: Nicky Adler, cầu thủ bóng đá Đức
30 tháng 5: Josip Mihaljevic, cầu thủ bóng rổ Croatia
1 tháng 6: Tirunesh Dibaba, nữ vận động viên điền kinh
4 tháng 6: Anna-Lena Grönefeld, nữ vận động viên quần vợt Đức
4 tháng 6: Lukas Podolski, cầu thủ bóng đá Đức
9 tháng 6: Sebastian Telfair, cầu thủ bóng rổ Mỹ
11 tháng 6: Tim Hoogland, cầu thủ bóng đá Đức
22 tháng 6: Martin Liebers, vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức
27 tháng 6: Nico Rosberg, đua xe
30 tháng 6: Michael Phelps, vận động viên bơi lội Mỹ
1 tháng 7: Michael Delura, cầu thủ bóng đá Đức
2 tháng 7: Ashley Tisdale, nữ diễn viên, người mẫu Mỹ
7 tháng 7: Marc Stein, cầu thủ bóng đá Đức
9 tháng 7: Paweł Korzeniowski, vận động viên bơi lội Ba Lan
10 tháng 7: Mario Gomez, cầu thủ bóng đá
12 tháng 7: Timo Röttger, cầu thủ bóng đá Đức
17 tháng 7: Francis Banecki, cầu thủ bóng đá Đức
24 tháng 7: Teagan Presley, nữ diễn viên phim khiêu dâm Mỹ
28 tháng 7: Christian Süß, vận động viên bóng bàn Đức
20 tháng 8: Stephen Ward, cầu thủ bóng đá Ailen
30 tháng 8: Leisel Jones, nữ vận động viên bơi lội Úc
30 tháng 8: Tianna Madison, nữ vận động viên điền kinh Mỹ
4 tháng 9: Raúl Albiol, cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp Tây Ban Nha
7 tháng 9: Marcio Rafael Ferreira de Souza, cầu thủ bóng đá Brasil
11 tháng 9: Shaun Livingston, cầu thủ bóng rổ Mỹ
14 tháng 9: Felix Hell, nghệ sĩ đàn ống
16 tháng 9: Madeline Zima, nữ diễn viên Mỹ
17 tháng 9: Tomáš Berdych, vận động viên quần vợt Séc
22 tháng 9: Jens Byggmark, vận động viên chạy ski Thụy Điển
25 tháng 9: Marvin Matip, cầu thủ bóng đá Đức
4 tháng 10: Daniel la Rosa, đua xe Đức
9 tháng 10: Lukas Sinkiewicz, cầu thủ bóng đá Đức
10 tháng 10: Silvie Ketelaars, nữ vận động viên bơi lội
11 tháng 10: Michelle Trachtenberg, nữ diễn viên Mỹ
24 tháng 10: Wayne Rooney, cầu thủ bóng đá Anh
25 tháng 10: Arkadij Naiditsch, kì thủ Đức
31 tháng 10: Sascha Rabe, vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức
31 tháng 10: Kerron Clement, vận động viên điền kinh Mỹ
3 tháng 11: Philipp Tschauner, cầu thủ bóng đá
4 tháng 11: Vanessa Struhler, nữ ca sĩ Đức
14 tháng 11: Veroljub Salatic, cầu thủ bóng đá
18 tháng 11: Allyson Felix, nữ vận động viên điền kinh Mỹ
27 tháng 11: Alison Pill, nữ diễn viên Canda
27 tháng 11: Dominik Stroh-Engel, cầu thủ bóng đá Đức
3 tháng 12: László Cseh, vận động viên bơi lội Hungary
3 tháng 12: Amanda Seyfried, nữ diễn viên Mỹ
5 tháng 12: Frankie Muniz, diễn viên Mỹ
7 tháng 12: Dean Ambrose,vận động viên đô vật
8 tháng 12: Dwight Howard, cầu thủ bóng rổ Mỹ
== Mất ==
1 tháng 1: Hermann Reutter, nhà soạn nhạc Đức, nhạc sĩ (sinh 1900)
10 tháng 1: Anton Karas, nhà soạn nhạc Áo, nhạc sĩ (sinh 1906)
19 tháng 1: Eric Voegelin, nhà chính trị học, triết gia (sinh 1901)
22 tháng 1: Yusuf Lule, chính trị gia (sinh 1912)
6 tháng 2: Hans Domnick, nhà sản xuất phim Đức, đạo diễn (sinh 1909)
6 tháng 2: Eduard Wahl, chính trị gia Đức (sinh 1903)
8 tháng 2: Ernst Brüche, nhà vật lý học Đức (sinh 1900)
10 tháng 2: Werner Hinz, diễn viên Đức (sinh 1903)
11 tháng 2: Henry Hathaway, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1898)
11 tháng 2: Jochen Müller, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1925)
20 tháng 2: Isaac Kashdan, kiện tướng cờ vua Mỹ, tác giả (sinh 1905)
22 tháng 2: Emilie Kiep-Altenloh, nữ chính trị gia Đức (sinh 1888)
22 tháng 2: Efrem Zimbalist, nhà soạn nhạc Mỹ, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1889)
26 tháng 2: Gerd Böttcher, ca sĩ Đức, diễn viên (sinh 1936)
26 tháng 2: Tjalling Koopmans, nhà kinh tế học Mỹ (sinh 1910)
27 tháng 2: Henry Cabot Lodge Jr., chính trị gia Mỹ, nhà ngoại giao (sinh 1902)
28 tháng 2: David Byron, nhạc sĩ Anh (sinh 1947)
5 tháng 3: Oskar Ritter, cầu thủ bóng đá đội tuyển quốc gia Đức (sinh 1901)
6 tháng 3: Hans Brunke, cầu thủ bóng đá đội tuyển quốc gia Đức (sinh 1904)
14 tháng 3: Josef Spies, chính trị gia Đức (sinh 1906)
15 tháng 3: Emmy Meyer-Laule, nữ chính trị gia Đức (sinh 1899)
16 tháng 3: Roger Sessions, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1896)
21 tháng 3: Michael Redgrave, diễn viên Anh (sinh 1908)
23 tháng 3: Zoot Sims, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ (sinh 1925
24 tháng 3: George London, ca sĩ opera (sinh 1920)
26 tháng 3: Anders Cleve, nhà văn Phần Lan (sinh 1937)
28 tháng 3: Marc Chagall, họa sĩ (sinh 1887)
28 tháng 3: Hannelore Schlaf, nữ vận động viên bóng bàn Đức (sinh 1930)
29 tháng 3: Gerhard Stöck, vận động viên điền kinh Đức, huy chương Thế Vận Hội (sinh 1910)
1 tháng 4: Herman Roelstraete, nhà soạn nhạc Bỉ, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1925)
6 tháng 4: Mark Lothar, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1902)
20 tháng 4: Rudolf Gnägi, chính trị gia Thụy Sĩ (sinh 1917)
21 tháng 4: Tancredo Neves, chính trị gia Brasil (sinh 1910)
22 tháng 4: Alfred C. Gimson, nhà ngôn ngữ học Anh (sinh 1917)
23 tháng 4: Sam Ervin, chính trị gia Mỹ (sinh 1896)
29 tháng 4: Karen Fredersdorf, nữ diễn viên Đức (sinh 1892)
8 tháng 5: Ulrich Dübber, nhà báo, chính trị gia (sinh 1929)
8 tháng 5: Theodore Sturgeon, nhà văn thể loại khoa học giả tưởng (sinh 1918)
8 tháng 5: Edmond O'Brien, diễn viên Mỹ (sinh 1915)
11 tháng 5: Piet van Mever, nhà soạn nhạc Hà Lan (sinh 1899)
12 tháng 5: Jean Dubuffet, họa sĩ Pháp, nhà điêu khắc (sinh 1901)
19 tháng 5: Hilding Rosenberg, nhà soạn nhạc Thụy Điển (sinh 1892)
21 tháng 5: Karl Weber, chính trị gia Đức (sinh 1898)
26 tháng 5: Harold Hecht, nhà sản xuất phim Mỹ (sinh 1907)
2 tháng 6: Franz Korinek, chính trị gia Áo, bộ trưởng (sinh 1907)
5 tháng 6: Diarmaid Ó Súilleabháin, nhà văn (sinh 1932)
7 tháng 6: Georgia Hale, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1905)
12 tháng 6: Dominique Laffin, nữ diễn viên Pháp (sinh 1952)
12 tháng 6: Helmuth Plessner, triết gia Đức, nhà xã hội học (sinh 1892)
15 tháng 6: Andy Stanfield, vận động viên điền kinh Mỹ, người đoạt huy chương Thế Vận Hội (sinh 1927)
16 tháng 6: Alois Mertes, chính trị gia Đức (sinh 1921)
17 tháng 6: Czesław Marek, nhà soạn nhạc Ba Lan (sinh 1891)
18 tháng 6: Xuân Thủy, Cố Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam (sinh 2 tháng 9 năm 1912)
21 tháng 6: Tage Erlander, thủ tướng Thụy Điển (sinh 1901)
2 tháng 7: Josef Mühlberger, nhà văn Đức, nhà báo (sinh 1903)
3 tháng 7: Dương Quân, nhà thơ trào phúng Việt Nam (sinh 1926)
8 tháng 7: Simon Smith Kuznets, nhà kinh tế học, nhận Giải Nobel (sinh 1901)
13 tháng 7: Matthias Hoogen, chính trị gia Đức (sinh 1904)
16 tháng 7: Heinrich Böll, nhà văn Đức, Giải Nobel văn học (sinh 1917)
17 tháng 7: Susanne K. Langer, nữ triết gia Mỹ (sinh 1895)
17 tháng 7: Wynn Stewart, nhạc sĩ nhạc đồng quê Mỹ (sinh 1934)
25 tháng 7: Willie Perryman, nhạc sĩ blues Mỹ (sinh 1911)
26 tháng 7: Walter quan toà, diễn viên Đức (sinh 1905)
1 tháng 8: Alois Carigiet, nghệ nhân Thụy Sĩ, họa sĩ, nhà văn (sinh 1902)
6 tháng 8: Forbes Burnham, chính trị gia, tổng thống Guyana (sinh 1923)
8 tháng 8: Milton Greene, nhiếp ảnh gia Mỹ (sinh 1922)
8 tháng 8: Louise Brooks, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1906)
11 tháng 8: Karel Berman, nhà soạn nhạc Séc, ca sĩ opera (sinh 1919)
11 tháng 8: Nicolaus Darboven, doanh nhân Đức (sinh 1902)
12 tháng 8: Jakob Adlhart, nhà điêu khắc (sinh 1898)
12 tháng 8: Manfred Winkelhock, tay đua Công thức 1 Đức (sinh 1951)
15 tháng 8: Hubert Ehrengut, bác sĩ Đức (sinh 1911)
22 tháng 8: Paul Peter Ewald, nhà vật lý học Đức (sinh 1888)
24 tháng 8: Paul Creston, nhạc sĩ Mỹ, nhà soạn nhạc (sinh 1906)
24 tháng 8: Morrie Ryskind, tác giả Mỹ (sinh 1895)
27 tháng 8: Ernst Aust, chính trị gia Đức (sinh 1923)
28 tháng 8: Ruth Gordon, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1896)
28 tháng 8: Claus-Joachim von Heydebreck, chính trị gia Đức (sinh 1906)
30 tháng 8: Taylor Caldwell, nhà văn nữ Anh (sinh 1900)
31 tháng 8: Frank MacFarlane Burnet, nhà y học Úc (sinh 1899)
1 tháng 9: Stefan Bellof, đua ô tô (sinh 1957)
7 tháng 9: George Pólya, nhà toán học Mỹ (sinh 1887)
7 tháng 9: Rodney R. Porter, nhà hóa sinh Anh (sinh 1917)
9 tháng 9: Paul John Flory, nhà hóa học Mỹ, nhận Giải thưởng Nobel (sinh 1910)
11 tháng 9: William Alwyn, nhà soạn nhạc Anh (sinh 1905)
13 tháng 9: Werner Trillmich, nhà sử học Đức (sinh 1914)
15 tháng 9: Wolfgang Abendroth, nhà chính trị học Đức (sinh 1906)
19 tháng 9: John Caldwell Holt, tác giả Mỹ, nhà sư phạm (sinh 1923)
19 tháng 9: Italo Calvino, nhà văn Ý (sinh 1923)
24 tháng 9: Antonio Poma, tổng giám mục Bologna, Hồng y (sinh 1910)
2 tháng 10: Hugo Decker, chính trị gia Đức (sinh 1899)
2 tháng 10: Rock Hudson, diễn viên Mỹ (sinh 1925)
2 tháng 10: Alexander Möller, chính trị gia Đức (sinh 1903)
2 tháng 10: George Savalas, diễn viên Mỹ (sinh 1926)
5 tháng 10: Karl Menger, nhà toán học Áo (sinh 1902)
6 tháng 10: Nelson Riddle, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1921)
7 tháng 10: Wolfgang Kieling, diễn viên Đức (sinh 1924)
7 tháng 10: Cemal Reşid Rey, nhà soạn nhạc Thổ Nhĩ Kỳ (sinh 1904)
9 tháng 10: Emílio Garrastazu Médici, tổng thống Brasil (sinh 1905)
10 tháng 10: Yul Brynner, diễn viên Mỹ, nam ca sĩ (sinh 1920)
10 tháng 10: Orson Welles, đạo diễn phim Mỹ, diễn viên, tác giả (sinh 1915)
11 tháng 10: Tex Williams, ca sĩ nhạc country Mỹ (sinh 1917)
15 tháng 10: Max Zaslofsky, cầu thủ bóng rổ Mỹ (sinh 1925)
17 tháng 10: Josef Garovi, nhà soạn nhạc Thụy Sĩ (sinh 1908)
18 tháng 10: Stefan Askenase, nghệ sĩ dương cầm (sinh 1896)
22 tháng 10: Thomas Townsend Brown, nhà vật lý học Mỹ (sinh 1905)
23 tháng 10: Bernhard Bauknecht, chính trị gia Đức (sinh 1900)
24 tháng 10: Maurice Roy, tổng giám mục Québec, Hồng y (sinh 1905)
27 tháng 10: Paul Edwin Roth, diễn viên Đức (sinh 1918)
2 tháng 11: Robert Biberti, nam ca sĩ (sinh 1902)
4 tháng 11: Ferdinand Kramer, kiến trúc sư Đức (sinh 1898)
6 tháng 11: Sanjeev Kumar, diễn viên Ấn Độ (sinh 1938)
8 tháng 11: Nicolas Frantz, tay đua xe đạp Luxembourg (sinh 1899)
11 tháng 11: James Hanley, nhà văn Ireland (sinh 1901)
15 tháng 11: Meret Oppenheim, nữ nghệ nhân, nữ nhà thơ trữ tình Thụy Sĩ (sinh 1913)
17 tháng 11: Lon Nol, tổng thống Campuchia (sinh 1913)
19 tháng 11: Uwe Dallmeier, diễn viên Đức (sinh 1923)
24 tháng 11: Maurice Podoloff, luật gia Mỹ (sinh 1890)
24 tháng 11: László József Bíró, nhà phát minh người Hungary (sinh 1899)
25 tháng 11: Elsa Morante, nhà văn nữ Ý (sinh 1918)
4 tháng 12: Frederick H. Boland, chính trị gia Ireland (sinh 1904)
6 tháng 12: Günter Steffens, nhà văn Đức (sinh 1922)
6 tháng 12: Burleigh Grimes, vận động viên thể thao Mỹ (sinh 1893)
7 tháng 12: Robert Graves, nhà văn Anh, thi sĩ (sinh 1895)
12 tháng 12: Fritz Wotruba, nhà điêu khắc Áo (sinh 1907)
12 tháng 12: Josef Hornauer, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1908)
14 tháng 12: Roger Maris, cầu thủ bóng chày Mỹ (sinh 1934)
15 tháng 12: Carlos P. Rómulo, chính trị gia
17 tháng 12: Otto Gotsche, chính trị gia Đức, nhà văn (sinh 1904)
23 tháng 12: Prince Bira, đua xe Thái Lan (sinh 1914)
25 tháng 12: Friedrich Becker, nhà thiên văn học Đức (sinh 1900)
25 tháng 12: Franz Marx, chính trị gia Đức (sinh 1903)
27 tháng 12: Harry Hopman, vận động viên quần vợt Úc (sinh 1906)
27 tháng 12: Ferhat Abbas, chính trị gia Algérie (sinh 1899)
28 tháng 12: Josef Lense, nhà toán học Áo (sinh 1890)
== Giải thưởng Nobel ==
Hóa học - Herbert A. Hauptman, Jerome Karle
Văn học - Claude Simon
Hòa bình - Các nhà vật lý quốc tế chống chiến tranh hạt nhân (International Physicians for the Prevention of Nuclear War)
Vật lý - Klaus von Klitzing
Y học - Michael S. Brown, Joseph L. Goldstein
Kinh tế - Franco Modigliani
== Xem thêm ==
Thế giới trong năm 1985, tình trạng thế giới trong năm này
== Tham khảo == |
nam tiến.txt | Nam tiến là thuật ngữ chỉ sự mở rộng lãnh thổ của người Việt về phương nam trong lịch sử Việt Nam.
Thời kỳ đầu mới giành được độc lập tự chủ, lãnh thổ Đại Việt bao gồm khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, các đồng bằng nhỏ ven biển Bắc Trung Bộ. Sông Gianh là cực nam của đất nước.
Hành trình Nam tiến kéo dài gần 700 năm, nâng diện tích lãnh thổ từ ban đầu độc lập đến khi hoàn thành lên 3 lần, từ thế kỷ 11 đến giữa thế kỷ 18 lãnh thổ Việt Nam về cơ bản được hình thành và tồn tại như hiện nay.
== Các nhân tố tạo nên cuộc Nam tiến ==
Do yếu tố địa lý, đặc điểm dân cư, nhu cầu an ninh bảo vệ lãnh thổ mà cương thổ nước Đại Việt theo tiến trình lịch sử các triều đại phong kiến đã được mở rộng chủ yếu dần từ Bắc vào Nam.
Đặc điểm địa lý là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất, hướng Đông giáp biển, hướng Tây thì bị dãy Trường Sơn ngăn cản, phía bắc là cường quốc với lãnh thổ rộng lớn của người Hán; nên hướng thiên di, mở rộng khả thi nhất là tấn công và xâm chiếm các nước lân bang ở phương Nam.
Đặc điểm dân cư là yếu tố thứ 2, người Việt vốn sống chủ yếu ở các đồng bằng, phát triển văn minh dựa trên nông nghiệp lúa nước, họ cần những vùng đất bằng phẳng dồi dào nguồn nước để tưới tiêu. Với nhu cầu đó mà họ dần men theo các đồng bằng nhỏ hẹp ven biển. Với hình thức người dân đi trước làng nước theo sau mà người mới di dân đến sống hòa lẫn dần vào người bản địa, đem theo kĩ thuật canh tác, chế tác công cụ nông nghiệp.
Thời trước không có khái niệm dân tộc, chủng tộc người dân bị phân biệt bởi triều đình nhà nước phong kiến cai quản vùng đất đó. Khi dân số phát triển, nhu cầu mở rộng lãnh thổ đã dẫn tới các xung đột lớn, các cuộc chiến tranh có quy mô. Vùng biên là nơi xảy ra những xung đột đó; để bảo vệ lợi ích đảm bảo phát triển ổn định mà có các cuộc chiến bình định, triệt tiêu bên kia, đi kèm nó là mở rộng vùng ảnh hưởng, chiếm đóng.
== Sáp nhập Chiêm Thành ==
=== Nhà Lý-Trần-Hồ ===
Xem chi tiết: Lịch sử chiến tranh Việt-Chiêm
Đây là thời kỳ thường xuyên có các cuộc giao tranh giữa các vương triều của Đại Việt với Chiêm Thành ở phía nam. Phần thắng thường thuộc về nước Đại Việt.
Năm 1044, vua Lý Thái Tông đã đánh Chiêm Thành với lý do người Chiêm bỏ cống luôn 16 năm, phá quốc đô Phật Thệ, giết 3 vạn quân Chiêm, bắt sống 5.000 người, bắt được 30 con voi và giết chúa Sạ Đẩu.
Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh mang 10 vạn quân vào đánh Chiêm Thành với lý do nước này bỏ cống (1065 - 1069), bắt được vua Chiêm Thành bấy giờ là Chế Củ (Jaya Rudravarman). Nhà dân ở trong và ngoài thành Phật Thệ có hơn 2.660 căn đều bị thiêu rụi sạch.
Để chuộc tội Chế Củ dâng đất của ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh cầu hòa. Vua Lý Thánh Tông đặt tên cho vùng đất mới này là trại Tân Bình, lãnh thổ Đại Việt mở rộng thêm vùng đất này.
Năm 1306 là giai đoạn Chiêm Thành và Đại Việt có mối giao hảo tốt đẹp (Đại Việt và Chiêm Thành đã cùng liên minh chống quân Nguyên xâm lược), nhà Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành bấy giờ là Chế Mân (Jaya Simhavarman).
Đổi lại Chế Mân dâng đất cho Đại Việt gồm Châu Ô và Châu Rí. Các vùng đất này được vua Trần Anh Tông đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu, lãnh thổ Đại Việt phía nam tới Hải Vân Quan (đèo Hải Vân ngày nay).
Những năm đầu thời kỳ nhà Hồ, từ 1400 đến 1403, nhà Hồ liên tục đem quân tấn công Chiêm Thành.
Năm 1402, Hồ Hán Thương mang quân đi đánh Chiêm Thành, 2 bên giao chiến đều có thiệt hại nhưng cuối cùng quân Chiêm bị thua, vua Chiêm là Ba Đích sợ hãi dâng voi trắng, voi đen và xin nộp đất Chiêm Động (nam Quảng Nam) để làm điều kiện cho nhà Hồ lui quân. Hồ Quý Ly không chấp nhận, bắt phía Chiêm Thành phải làm tờ biểu khác và dâng cả đất Cổ Lũy (bắc Quảng Ngãi). Ba Đích thế yếu phải chấp nhận yêu sách của nhà Hồ, bèn chuyển dân về phía nam và nộp đất Chiêm Động, Cổ Lũy.
Năm 1403, Hồ Hán Thương lại ra lệnh đóng chiến thuyền nhỏ để tiếp tục đánh Chiêm. Nhà Hồ mang 20 vạn quân đánh Chiêm Thành lần thứ ba, quân nhanh chóng tiến đến bao vây kinh thành Chà Bàn của Chiêm Thành. Tướng Phạm Nguyên Khôi vây hãm Chà Bàn trong 9 tháng nhưng không hạ được. Quân Đại Ngu hết lương, đành phải rút về.
Tuy nhiên phần lãnh thổ nhà Hồ chiếm được từ Chiêm Thành bị họ lấy lại sau khi nhà Hồ sụp đổ (1407).
=== Nhà Hậu Lê ===
Xem chi tiết: Chiến tranh Việt-Chiêm 1471
Trong thời kỳ đầu nhà Hậu Lê, Chiêm Thành và Đại Việt quan hệ tương đối giao hảo.
Đến năm 1470 quan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành trở nên căng thẳng, vua Lê Thánh Tông phái danh tướng Đinh Liệt đưa 20 vạn quân đánh Chiêm Thành. Năm 1471, quân Việt phá tan kinh đô Vijaya (thuộc Bình Định ngày nay), vua Trà Toàn (Pau Kubah) bị bắt và chết trên đường về Thăng Long. Lê Thánh Tông đã sát nhập miền bắc Chiêm Thành, từ đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông vào Đại Việt, đặt tên vùng đất mới là thừa tuyên Quảng Nam.
Quân đội nhà Lê còn tiến tới phía nam vùng đất Phú Yên ngày nay, Lê Thánh Tông đã cho khắc chữ vào vách đá trên đỉnh núi Thạch Bi (đá bia), ghi công mở đất và phân định ranh giới. Chữ ấy nay vẫn còn, nhưng nét chữ lờ mờ sứt mẻ, không thể trông rõ được.
=== Chúa Nguyễn (Đàng Trong) ===
Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, do áp lực từ các cuộc tấn công của chúa Trịnh từ phương bắc và nhu cầu mở rộng đất đai về phương nam, các chúa Nguyễn đã bắt đầu một công cuộc mở mang bờ cõi nước Việt về phía nam chưa từng thấy trong lịch sử.
Năm 1611, vua Po Nit tiến đánh Quảng Nam, trước hành động này chúa Nguyễn Hoàng phái Văn Phong đem quân vào đánh nước Chiêm Thành lấy đất lập ra phủ Phú Yên chia ra làm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa, nay thuộc Phú Yên.
Năm 1653 vua nước Chiêm Thành là Bà Tấm (Po Nraop) nhằm đòi lại đất Phú Yên đã đưa quân sang đánh chiếm. Chúa Nguyễn Phúc Tần sai quan cai cơ là Hùng Lộc sang đánh. Bà Tấm xin hàng, chúa Nguyễn để từ sông Phan Lang trở vào cho vua Chiêm, còn từ sông Phan Lang trở ra lấy làm phủ Thái Ninh, sau đổi làm phủ Diên Khánh, nay thuộc Khánh Hòa. Tại đây đặt dinh Thái Khang để Hùng Lộc làm thái thú.
Năm 1693 với lý do vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh (Po Saot) bỏ không tiến cống, chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai quan tổng binh là Nguyễn Hữu Cảnh đem binh đi đánh bắt được Bà Tranh cùng thân thuộc về Phú Xuân (Huế). Chúa Nguyễn đổi đất Chiêm Thành làm Thuận Phủ, nay thuộc Bình Thuận. Đất này cho con cháu của Bà Tranh làm đề đốc trấn giữ, bắt đổi y phục như người Việt Nam để phủ dụ dân Chiêm Thành.
Tuy nhiên, do sự kháng cự của người Champa và cũng cần tập trung cho việc khai phá đất Nam bộ của Chân Lạp nên qua năm 1697, chúa Nguyễn đổi Thuận Phủ ra làm Thuận Thành Trấn, dành cho người Chăm cơ chế tự trị nhưng vẫn thuộc sự bảo hộ của chúa Nguyễn. Đến năm 1832, vua Minh Mạng xóa bỏ cơ chế tự trị trên và lập thành tỉnh Bình Thuận.
== Lấy đất cũ Phù Nam ==
=== Chúa Nguyễn ===
Trong thời kỳ này, nhiều dân Việt ở Đàng Trong bỏ dải đất miền Trung khắc nghiệt, vào khai khẩn đất làm ruộng ở Bà Rịa, Đồng Nai, Sài Gòn vốn là đất của Chân Lạp, nhưng không gặp phản kháng gì đặc biệt.
Năm 1623 chúa Nguyễn Phúc Nguyên nhân quan hệ hữu hảo với vua Chân Lạp Chey Chetta II (cha vợ - con rể), đã mượn vùng đất Prey Nokor (Sài Gòn ngày nay) của Chân Lạp đặt trạm và quan chức thu thuế lưu dân Việt đang sinh sống xung quanh ở Sài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa
Năm 1658, vua nước Chân Lạp mất, nội bộ nước Chân Lạp lục đục vì tranh giành ngôi. Chúa Nguyễn Phúc Tần đã giúp một hoàng thân Chân Lạp là Barom Reachea VIII lên ngôi, đáp lại vị vua mới của Chân Lạp đã ký hiệp ước triều cống chúa Nguyễn hàng năm và cho phép người Việt được làm chủ vùng đất đã khai hoang ở Sài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa. Tại khu vực này lưu dân Việt sinh sống ngày càng đông đúc, chúa Nguyễn đã phải cử một đội quân mạnh để giữ gìn an ninh cũng như đặt các quan cai trị và thu thuế.
Năm 1679 có quan nhà Minh gồm Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến là Tổng binh Trấn thủ đất Long môn (Quảng Tây - Trung Quốc), Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình là tổng binh châu Cao, Lôi, Liêm (Quảng Đông - Trung Quốc) không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3.000 người cùng 50 chiếc thuyền sang xin ở làm dân Đại Việt. Chúa Nguyễn Phúc Tần nhân muốn khai khẩn đất Chân Lạp, bèn cho vào ở đất Đông Phố (Gia Định). Những người này cùng với những lưu dân người Việt định cư trước đó đã chia nhau ở đất Đồng Nai, Biên Hòa, Mỹ Tho (Tiền Giang), cày ruộng, làm nhà, lập ra phường phố, có người phương Tây, Nhật Bản, Chà Và đến buôn bán khá đông.
Năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược đất Chân Lạp. Ông chia đất Đông Phố ra làm dinh, làm huyện, lấy Đồng Nai làm huyện Phúc Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Ông đặt Trấn Biên dinh (Biên Hòa), đất Trấn Biên thì lập làm xã Thanh Hà, và Phiên Trấn dinh (Gia Định), đất Phan Trấn thì lập làm xã Minh Hương, rồi sai quan vào cai trị. Chúa Nguyễn lại chiêu mộ thêm những người lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất, những người Việt và Tàu ở đây đều thuộc về sổ bộ nước Việt của chúa Nguyễn. Năm 1699 vua Nặc Thu của Chân Lạp tổ chức một cuộc phản công nhằm giành lại nhưng bị thất bại.
Mạc Cửu, một người gốc Quảng Đông, khi nhà Thanh diệt nhà Minh đã cùng gia quyến bỏ sang Chân Lạp năm 1680 khai khẩn và cai quản 7 xã gồm toàn lưu dân, gọi là Hà Tiên, Mạc Cửu mở rộng đất đai của mình gồm vùng đất Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc khi đó đang thuộc Chân Lạp nhưng Chân Lạp không kiểm soát được.
Năm 1708 để tránh áp lực thường xuyên của Xiêm La sang cướp phá, Mạc Cửu đã dâng đất khai phá xin nội thuộc về chúa Nguyễn Phúc Chú, chúa Nguyễn đổi tên thành Trấn Hà Tiên, phong cho Mạc Cửu làm chức Tổng binh, cai quản đất Hà Tiên. Khi Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ lại được làm chức đô đốc, tiếp tục cai quản Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đắp thành, xây lũy, mở chợ, làm đường và đưa người về dạy Nho học để khai hóa đất Hà Tiên.
Từ năm 1735 - 1739 Mạc Thiên Tứ mở rộng đất đai kiểm soát của mình sang bán đảo Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ. Đưa thêm các vùng đất mới này vào Trấn Hà Tiên thuộc lãnh thổ Đàng Trong
Năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Chú tiến chiếm vùng đất ngày nay là Vĩnh Long, Bến Tre, dựng dinh Long Hồ trực thuộc phủ Gia Định
Năm 1755, biết vua Chân Lạp là Nặc Nguyên thông sứ với chúa Trịnh ở ngoài Đàng Ngoài để lập mưu đánh chúa Nguyễn, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh Nặc Nguyên. Năm 1756, Nặc Nguyên thua bỏ thành Nam Vang chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ, rồi xin dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (nay là Tân An và Gò Công) cho chúa Nguyễn để cầu hòa.
Năm 1757 Nặc Nguyên mất, chú họ là Nặc Nhuận dâng hai phủ Trà Vinh và Ba Thắc (Sóc Trăng) xin chúa Nguyễn Phúc Khoát phong cho làm vua Chân Lạp. Sau đó Nặc Nhuận bị người con rể là Nặc Hinh giết và cướp ngôi. Quan tổng suất là Trương Phúc Du thừa kế sang đánh thắng Nặc Hinh. Chúa Nguyễn cho lập Nặc Tôn (Outey II) , con Nặc Nhuận vốn đang nương nhờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên trong lúc hoạn nạn làm vua Chân Lạp. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa Sông Tiền và Sông Hậu tương ứng với Châu Đốc, Sa Đéc) để tạ ơn chúa Nguyễn. Đất miền nam Việt Nam bây giờ thì trước đó là đất của Chân Lạp, tuy nhiên trước đó thì Chân Lạp lại là kẻ chiếm đất của Phù Nam đã từng tồn tại từ khoảng thế kỷ 1 đến thế kỷ 7 tại đồng bằng sông Mekong.
Nặc Tôn lại dâng 5 phủ là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn riêng Mạc Thiên Tứ, Mạc Thiên Tứ đem những đất ấy dâng chúa Nguyễn, chúa cho thuộc về trấn Hà Tiên cai quản, 5 phủ này về sau khi Pháp thành lập Liên bang Đông Dương đã cắt trả về cho Cao Miên, ngày nay là 2 tỉnh Takéo và Kampot
== Sáp nhập Tây Nguyên ==
Từ thời các chúa Nguyễn, các bộ lạc ở Tây Nguyên mà mạnh nhất là bộ tộc người Gia Rai với các vị tiểu vương Thủy Xá, Hỏa Xá đã từng triều cống chính quyền Đàng Trong, trước đây khu vực này là vùng đột giữa các nước Chiêm Thành và Chân Lạp, nó không thực sự thuộc về bên nào mà khi thì thuộc Champa, khi thì Chân Lạp, thậm chí có lúc một phần thuộc về Ai Lao tùy thuộc vào sức mạnh từng thời kỳ của các nước này.
Vào năm 1830, vua Minh Mạng sáp nhập vùng đất Tây Nguyên ngày nay và đưa vào bản đồ Đại Nam, mặc dù không hề có người Kinh sinh sống cũng như quan lại cai trị. Tây Nguyên lúc đó được xem là vùng tự trị của Việt Nam.
== Xem thêm ==
Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ
== Tham khảo ==
Đại Nam thực lục tiền biên, Quốc sử quán triều Nguyễn
Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn
Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh
Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim
Bài tham luận hội thảo Việt Nam học: Tính chất mở rộng lãnh thổ dưới thời Hậu Lê, Song Jung Nam, Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc.
== Liên kết ngoài ==
Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam |
sách.txt | Sách là một loạt các tờ giấy có chữ hoặc hình ảnh được viết tay hoặc in ấn, được buộc hoặc dán với nhau về một phía. Một tờ trong cuốn sách được gọi là một trang sách. Sách ở dạng điện tử được gọi là sách điện tử hoặc e-book.
Sách chứa đựng các giá trị văn hóa tinh thần (các tác phẩm sáng tác hoặc tài liệu biên soạn) thuộc các hình thái ý thức xã hội và nghệ thuật khác nhau, được ghi lại dưới các dạng ngôn ngữ khác nhau (chữ viết, hình ảnh, âm thanh, ký hiệu,...) của các dân tộc khác nhau nhằm để lưu trữ, tích lũy, truyền bá trong xã hội.
Sách là một khái niệm mở, hình thức sách còn được thay đổi và cấu thành các dạng khác nhau theo các phương thức chế tác và nhân bản khác nhau, tùy thuộc vào môi trường sống và sự phát triển của khoa học công nghệ ở mỗi thời đại.
Sách có thể được bán ở các cửa hàng sách hoặc mượn tại thư viện. Google ước tính, tới năm 2010 đã có xấp xỉ 130 triệu tựa sách khác nhau đã được xuất bản. Ở một số nước phát triển, lượng sách giấy in ra đã thấp hơn lượng sách điện tử, mặc dù lượng sách điện tử bán ra đã giảm trong nửa đầu năm 2015.
== Lịch sử ==
=== Thời cổ đại ===
Trong thời kỳ Ai Cập cổ đại, giấy cói đã được sử dụng để viết chữ, có thể cùng thời với triều đại đầu tiên của người Ai Cập cổ đại, nhưng các chứng cớ có được chính thức là các sách của vua Neferirkare Kakai của triều đại thứ năm (vào khoảng 2.400 năm trước Công nguyên. Các tờ giấy cói Châu Á là loại đã chiếm ưu thế trong các sách của Hy Lạp cổ đại - chất liệu cói/da khiến cho giấy cuộn bền hơn rất nhiều so với các loại giấy hiện nay, La Mã cổ đại, cổ Trung Hoa và văn minh Hebrew tận đến khi loại sách chép tay (the codex) bắt đầu chiếm lĩnh.
Khi hệ thống chữ viết được con người tạo ra trong các nền văn minh cổ đại, một loạt các đối tượng, như đá, đất sét, vỏ cây, kim loại được dùng để lưu lại chữ viết. Nghiên cứu những đối tượng chữ viết trên là một phần quan trọng của lịch sử (tiếng Anh: epigraphy). Chữ viết theo trật tự ABC xuất hiện đầu tiên ở Ai Cập. Người Ai Cập cổ đại thường viết trên giấy cói, một loại cây mọc dọc theo sông Nile. Lúc đầu các từ không được chia tách rời nhau (scriptura continua) và không có dấu chấm câu. Văn bản được viết từ phải sang trái, trái sang phải, hoặc thậm chí mỗi dòng được viết theo chiều khác nhau. Thuật ngữ cho việc viết mỗi dòng theo chiều khác nhau được gọi là boustrophedon, có nghĩa đen là quay-trâu vì lối viết này tương tự cách người nông dân quay đầu trâu khi đi hết một đầu của luống cày.
==== Sách tấm ====
Sách tấm có thể được định nghĩa là một phương tiện lưu trữ chữ viết chắc chắn, dùng để mang đi dễ dàng.
Các tấm đất sét bị san phẳng và được phơi khô có thể dễ dàng mang theo người, với một cây bút stylus để vạch lên đất sét đi kèm (có thể được nhúng nước). Chúng được sử dụng như một phương tiện lưu trữ văn bản, đặc biệt là cho các văn bản dạng chữ hình nêm, trong suốt thời đại đồ đồng và một thời gian dài của thời đại đồ sắt.
Các tấm sáp là những mảnh gỗ phủ một lớp sáp đủ dày để có thể lưu lại những gì bút stylus đã viết lên. Chúng là những thiết bị lưu trữ văn bản thông thường trong các trường học, kế toán, và dùng để ghi chú. Các tấm sáp có lợi thế là có thể tái sử dụng: sáp có thể nấu chảy và phủ lại mặt gỗ thành một tấm sáp mới. Phong tục buộc nhiều tấm sáp lại với nhau (tiếng La Mã: pugillares) có thể là bước khởi đầu cho một cuốn sách thời hiện đại. Từ nguyên cho từ codex (khối gỗ) cũng cho thấy nó có lẽ đã phát triển từ các tấm sách sáp phủ trên gỗ.
==== Giấy cuộn ====
Giấy cói, một chất liệu dày giống như giấy được làm bằng cách dệt các cành của cây cói, sau đó đập dẹp các tấm dệt bằng búa, đã được sử dụng để ghi lại chữ viết trong thời kỳ Ai Cập cổ đại, có lẽ sớm nhất là vào Triều đại thứ nhất, mặc dù bằng chứng đầu tiên là từ các sổ sách kế toán của vua Nefertiti Kakai ở triều đại thứ năm (khoảng 2400 TCN). Các tờ giấy cói được dán lại với nhau để tạo thành một cuộn giấy. Các loại vỏ cây như chi đoạn và các vật liệu khác cũng được sử dụng.
Theo Herodotus (History 5:58), người Phoenicia đã chuyển giao chữ viết và giấy cói cho Hy Lạp vào khoảng thế kỷ thứ 10 hoặc thứ 9 TCN. Từ Hy Lạp cho giấy cói với tư cách là một tài liệu lưu trữ chữ viết (biblion) và sách (biblos) đến từ tên của thành phố Byblos của người Phoenicia, tại đó giấy cói được xuất khẩu sang Hy Lạp. Từ ngôn ngữ Hy Lạp, chúng ta cũng có từ tome (tiếng Hy Lạp: τόμος), mà ban đầu có nghĩa là một lát hoặc mảnh và từ đó bắt đầu để biểu thị "một cuộn giấy cói". Tomus được sử dụng bởi người La Mã với cùng một ý nghĩa như volumen (xem giải thích của Isidore of Seville ở dưới).
Dù là làm từ giấy cói, giấy giả da, hoặc giấy, các cuộn giấy là hình thức phổ biến nhất của sách tại các nền văn hóa Hy Lạp, La Mã, Trung Quốc, Hebrew, và Macedonia. Các hình thức định dạng sách codex hiện đại đã rất phổ biến trong thế giới La Mã vào cuối thời kỳ cổ đại, nhưng các định dạng giấy cuộn còn tồn tại một thời gian dài hơn nữa ở châu Á.
==== Codex ====
Isiđơrô thành Seville (mất năm 636) giải thích mối quan hệ hiện tại khi đó giữa codex, sách và giấy cuộn trong Etymologiae của ông (VI.13):. "Một codex gồm nhiều cuốn sách, một cuốn sách là một cuộn giấy. Nó được gọi là codex bằng cách ẩn dụ từ những thân cây (codex) của cây hoặc dây leo, như thể nó là một khối gỗ, bởi vì nó có chứa trong nó vô số các cuốn sách, như thể sách là các nhánh cây".
Một codex (theo nghĩa hiện đại) là kho lưu trữ thông tin đầu tiên mà con người hiện đại có thể nhận ra như là một "cuốn sách": hàng loạt giấy với kích cỡ đồng đều bị buộc dọc theo một cạnh, và thường được kẹp giữa hai tấm bìa làm bằng các tài liệu cứng/dai hơn. Việc đề cập đến codex lần đầu như một cuốn sách là từ Martial, trong cuốn Apophoreta CLXXXIV của ông vào thời điểm cuối thế kỷ thứ nhất, khi ông khen ngợi sự nhỏ gọn của nó. Tuy nhiên, codex không bao giờ được phổ biến trong thế giới Hellenistic ngoại giáo, và chỉ trong các cộng đồng Kitô giáo nó mới được sử dụng rộng rãi. Sự thay đổi này xảy ra dần dần trong suốt thế kỷ thứ 3 và thứ 4, và lý do cho việc áp dụng hình thức codex cho sách bao gồm: định dạng này kinh tế hơn, vì cả hai bên của vật liệu chứa văn bản đều có thể được sử dụng; nó có thể mang đi được, tìm kiếm được, và dễ dàng che giấu. Một cuốn sách codex đọc dễ hơn, dễ tìm kiếm một trang nào đó mà bạn muốn, và lật trang cũng dễ hơn. Một cuộn sách giấy khá khó khăn khi sử dụng. Các tác giả Kitô giáo cũng có thể đã muốn phân biệt các tác phẩm của họ với các tác phẩm ngoại giáo và văn bản Do Thái được viết trên những cuộn giấy cói. Ngoài ra, một số sách kim loại đã được làm ra, với các trang nhỏ hơn bằng kim loại, thay vì một cuộn kim loại dài và cứng nhắc. Một cuốn sách cũng có thể dễ dàng lưu trữ ở những nơi nhỏ gọn hơn, hoặc đặt bên cạnh nhau trong một thư viện nhỏ hoặc kệ sách với không gian chật hẹp.
==== Sách chép ====
Sự sụp đổ của Đế quốc La Mã trong thế kỷ thứ 5 chứng kiến sự suy giảm của nền văn minh La Mã cổ đại. Giấy cói trở nên khan hiếm do thiếu giao thương với Ai Cập, và giấy giả da, vốn được sử dụng trong nhiều thế kỷ trước đó, đã trở thành vật liệu chính để viết.
Các tu viện theo truyền thống viết chữ La-tinh ở Đế quốc Tây La Mã. Cassiodorus trong tu viện Vivarium (được thành lập khoảng 540), đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sao chép văn bản. St. Benedict thành Nursia, trong tác phẩm Rule of Saint Benedict (hoàn thành vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6) cũng cổ vũ việc đọc sách. Cuốn Rule of Saint Benedict (Chương XLVIII), yêu cầu dành thời gian nhất định để đọc sách, đã ảnh hưởng rất nhiều đến văn hóa tu viện của thời Trung Cổ và là một trong những lý do tại sao các giáo sĩ là những độc giả chủ yếu của sách. Các truyền thống và phong cách của Đế chế La Mã vẫn chiếm ưu thế, nhưng dần dần văn hóa sách đặc trưng của thời Trung Cổ nổi lên.
Trước khi có phát minh và áp dụng đại trà kỹ thuật in ấn, gần như tất cả các sách đã được sao chép bằng tay, khiến sách rất đắt tiền và tương đối hiếm. Tu viện nhỏ thường chỉ có vài chục cuốn sách, tu viện vừa có thể có một vài trăm cuốn. Đến thế kỷ thứ 9, các bộ sưu tập sách lớn có được trên 500 cuốn và thậm chí vào cuối thời Trung Cổ, các thư viện của giáo hoàng tại Avignon và thư viện Paris tại Sorbonne chỉ có khoảng 2.000 cuốn sách.
Các phòng chép sách của tu viện thường được đặt trong phòng họp. Anh sáng nhân tạo đã bị cấm vì người ta lo ngại nó có thể làm hỏng các bản thảo. Có năm loại người liên quan đến việc chép sách:
Calligraphers, người sản xuất sách chất lượng cao
Copyists, người chép sách và thư từ đơn giản
Correctors, người thu thập và so sánh một cuốn sách hoàn chỉnh với bản thảo gốc của tác giả
Illuminators, người vẽ tranh minh họa
Rubricators, người vẽ các chữ lớn đầu mục màu đỏ.
Quá trình đóng sách dài và rất mất thời gian. Các tờ giấy da phải được chuẩn bị trước, sau đó các trang viết rời được sắp xếp đúng thứ tự và buộc lại với nhau, sau đó văn bản được người ghi chép sao lại, với các khoảng trống để chừa chỗ cho tranh minh hoạ và tô đỏ các đoạn cần nhấn mạnh. Cuối cùng, cuốn sách được những thợ đóng sách đóng lại.
Các loại mực khác nhau đã được biết đến từ thời cổ đại. Chúng thường được tạo thành từ bồ hóng và nhựa cây, và sau này từ hạt mật và sunfat sắt. Các thành phần này tạo ra cho chữ viết một màu đen nâu, nhưng màu đen hoặc nâu không phải là các màu duy nhất được sử dụng. Có những văn bản viết bằng màu đỏ hoặc thậm chí màu vàng, và các tranh minh họa đã được vẽ các màu khác nhau. Đối với bản thảo rất sang trọng toàn bộ giấy da có màu tím, và chữ viết trên giấy da đó đều được viết bằng nhũ vàng hay bạc (ví dụ, Codex argenteus).
Các tu sĩ Ireland đã phát minh ra cách viết dấu cách giữa các từ trong thế kỷ thứ 7. Điều này khiến việc đọc sách dễ dàng hơn, vì những tu sĩ này thường ít quen thuộc với tiếng Latin. Tuy nhiên, việc sử dụng dấu cách giữa các từ không trở thành phổ biến cho đến tận thế kỷ thứ 12. Có lập luận cho rằng việc sử dụng các khoảng trống giữa các từ cho thấy sự chuyển đổi từ việc đọc sách to thành tiếng chuyển sang đọc sách thầm trong não.
Những cuốn sách đầu tiên dùng da lợn hoặc da cừu để viết. Bìa cuốn sách được làm bằng gỗ và được phủ da. Bởi vì giấy da khi khô có xu hướng phục hồi hình dạng nó đã có trước khi chế biến, những cuốn sách được trang bị với các clip hoặc dây đai để giữ cho trang sách được thẳng. Trong thời Trung Cổ sau đó, khi các thư viện công cộng xuất hiện cho đến thế kỷ thứ 18, sách thường bị xích vào một kệ sách hoặc bàn để ngăn chặn việc trộm cắp. Những cuốn sách bị xích đó được gọi là libri catenati.
Lúc đầu, các cuốn sách đã được sao chép hầu hết là trong các tu viện, tại một thời điểm chỉ sao chép được một cuốn. Với sự phát triển của các trường đại học trong thế kỷ 13, nền văn hóa chép sách dẫn đến sự gia tăng nhu cầu về sách, và một hệ thống mới để sao chép sách đã xuất hiện. Những cuốn sách được chia thành các trang không ràng buộc (pecia) và được giao cho các thợ chép sách khác nhau, vì thế tốc độ sao chép một cuốn sách đã được tăng lên đáng kể. Hệ thống này được các phường hội văn phòng phẩm thời đó duy trì, với việc sao chép các cuốn sách tôn giáo và phi tôn giáo.
Do Thái giáo đã giữ nghệ thuật sao chép sách duy trì cho đến ngày nay. Theo truyền thống Do Thái, cuốn giấy cuộn Torah đặt trong các Hội đường Do Thái giáo phải được viết bằng tay trên giấy da. Một cuốn sách in sẽ không được tính, mặc dù các Hội đường có thể sử dụng cuốn sách cầu nguyện được in ấn và bản in của Thánh Kinh được sử dụng để nghiên cứu bên ngoài Hội đường. Một người sao chép sách Torah (sofer) là một thành viên có uy tín của bất kỳ cộng đồng người Do Thái nào.
==== Trung Đông ====
Người dân nhiều tôn giáo (Do Thái giáo, Kitô giáo, Hỏa giáo, Hồi giáo) và người dân tộc bản địa (Syria, Coptic, Ba Tư, Ả Rập, v.v...) ở Trung Đông cũng sản xuất và đóng sách trong thời đại vàng của Hồi giáo (từ thế kỷ thứ 8 đến năm 1258). Họ phát triển các kỹ thuật tiên tiến trong thư pháp Hồi giáo, xây dựng tiểu cảnh và đóng sách. Một số thành phố trong thế giới Hồi giáo thời Trung Cổ đã có các trung tâm sản xuất sách và các chợ sách. Yaqubi (mất năm 897) cho biết, trong thời đại ông sống Baghdad đã có hơn một trăm nhà sách. Các cửa hàng sách thường nằm xung quanh nhà thờ Hồi giáo chính của thị trấn như ở Marrakesh, Morocco, có một con phố tên là Kutubiyyin nghĩa là bán sách và nhà thờ nổi tiếng Koutoubia Mosque được đặt tên như vậy vì nó ở giữa con phố này.
Thế giới Hồi giáo thời Trung cổ cũng sử dụng một phương pháp sao chép sách đáng tin cậy với số lượng lớn bản sao được gọi là đọc kiểm tra, trái ngược với phương pháp truyền thống của một người ghi chép đơn chỉ sản xuất được một bản sao của một cuốn sách. Trong phương pháp đọc kiểm tra, chỉ có "tác giả có thể tạo ra các bản sao, và điều này đã được thực hiện trong một sự kiện công cộng, tại đó người sao chép sách đọc to các nội dung bản sao trong sự hiện diện của tác giả, sau đó tác giả xác nhận bản sao là chính xác." Với hệ thống đọc kiểm tra sách này, "một tác giả có thể sản xuất ra hàng chục hoặc nhiều bản sao hơn từ một lần đọc duy nhất," và với hai hoặc nhiều lần đọc "hơn một trăm bản sao của một cuốn sách duy nhất có thể dễ dàng được tạo ra."
Bằng cách sử dụng giấy làm tài liệu lưu trữ chữ viết tương đối rẻ thay vì da lợn hay giấy cói của người Hồi giáo, theo lời của Pedersen "đã thực hiện một cuộc cách mạng có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với lịch sử của sách Hồi giáo, mà còn cho toàn thế giới sách"
==== In khắc gỗ ====
Trong phương pháp in khắc gỗ, một hình ảnh ngược của toàn bộ trang được khắc vào các khối gỗ, sau đó khối gỗ được lăn mực và được sử dụng để in các bản sao của trang đó. Phương pháp này có nguồn gốc từ Trung Quốc, thời nhà Hán (trước năm 220), như một phương pháp in ấn lên vải và sau này là giấy. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong vùng Đông Á. Cuốn sách lâu đời nhất được in bằng phương pháp này là cuốn Kinh Kim Cương (năm 868).
Phương pháp này (gọi là khắc gỗ khi áp dụng vào nghệ thuật) phổ biến đến châu Âu trong những năm đầu thế kỷ 14. Sách (được gọi là khối sách-blockbooks), cũng như các quân bài và các hình tượng tôn giáo, bắt đầu được in bằng phương pháp này. Việc tạo ra toàn bộ một cuốn sách là một quá trình khó nhọc, đòi hỏi một bản khắc bằng tay cho từng trang; và các khối gỗ có xu hướng bị nứt nếu giữ trong thời gian dài. Các tu sĩ hoặc những người thợ chuyên khắc bản gỗ được trả lương cao.
==== Con chữ thay đổi được và các bản in đầu tiên ====
Nhà phát minh người Trung Quốc Tất Thăng đã phát minh ra cách in dùng các con chữ di động bằng đất nung khoảng năm 1045, nhưng không có cuốn sách nào do ông làm ra còn đến ngày nay. Khoảng năm 1450, Johannes Gutenberg phát minh độc lập ra cách in ấn dùng con chữ di động ở châu Âu, cùng với những đổi mới trong việc đúc các con chữ dựa trên một ma trận và bằng tay. Sáng chế này dần dần làm sách được sản xuất với giá thành rẻ hơn, và do vậy được phổ biến rộng rãi hơn.
Các sách in thời kỳ đầu, với các trang đơn và hình ảnh được in ra trước năm 1501 ở châu Âu được gọi là incunables hoặc incunabula. "Một người đàn ông sinh năm 1453, năm thành trì Constantinople sụp đổ, có thể nhìn lại từ năm thứ năm mươi của mình trên đời, trong đó khoảng tám triệu cuốn sách đã được in, có lẽ nhiều hơn so với số sách tất cả các người chép sách của châu Âu tạo ra kể từ khi Constantine thành lập thành phố của mình vào năm 330."
=== Thời hiện đại ===
Máy in chạy bằng động cơ hơi nước trở nên phổ biến trong những năm đầu thế kỷ 19. Những máy in này có thể in 1.100 tờ mỗi giờ, nhưng mỗi công nhân chỉ có thể sắp được 2.000 chữ mỗi giờ.
Máy sắp chữ đơn dòng và đa dòng đã được phát minh vào cuối thế kỷ thứ 19. Với các máy này có thể sắp hơn 6.000 con chữ mỗi giờ và sắp cả một dòng toàn bộ các con chữ cùng một lúc.
Sau thế kỷ 15 con người tập trung vào việc nâng cao công nghệ in ấn và các điều kiện cho tự do báo chí thông qua việc nới lỏng dần các luật kiểm duyệt gắt gao. Xem thêm sở hữu trí tuệ, phạm vi công cộng, và quyền tác giả. Trong giữa thế kỷ 20, công nghiệp xuất bản sách châu Âu đã tạo ra hơn 200.000 cuốn sách mỗi năm.
== Sản xuất sách trong thời hiện đại ==
Các phương pháp được sử dụng cho in ấn và đóng gáy của cuốn sách về cơ bản là không thay đổi từ thế kỷ 15 cho tới những năm đầu thế kỷ 20. Trong khi đã có nhiều thay đổi về mặt cơ giới, một cuốn sách do máy in vào năm 1900 có nhiều điểm chung với sách nguyên thủy do Gutenberg in.
Phát minh của Gutenberg là sử dụng các con chữ kim loại di chuyển được để lắp ráp thành các từ, các dòng, và trang; Sau đó dùng máy in chữ để tạo ra nhiều bản sao.
Sách giấy thời hiện đại được in trên giấy được đặc biệt thiết kế riêng cho việc in sách. Theo truyền thống, giấy in sách được làm trắng hay làm trắng hạn chế (để đọc dễ dàng hơn), được làm mờ đục để người xem không nhìn thấy chữ ở mặt giấy bên kia, và thường được quy chuẩn về độ dày đặc biệt là đối với trường hợp sách đóng gáy. Các loại giấy với phẩm chất khác nhau được sử dụng tùy thuộc vào loại của cuốn sách.
Ngày nay, phần lớn cuốn sách được in bằng phương pháp in offset. Khi một cuốn sách được in những trang này được đặt ra trên một mặt phẳng. Sau khi in sẽ đến công đoạn gấp các trang lại theo đúng trình tự. Hầu hết sách được in ra theo một vài kích cỡ tiêu chuẩn. Các kích thước của cuốn sách thường được quy định là "kích thước đã cắt": kích thước của trang sau khi giấy đã được gấp lại và cắt. Chuẩn kích cỡ này là kết quả của kích cỡ giấy (kích cỡ của máy in), trở thành phổ biến từ 200 hoặc 300 năm trước, và đã trở thành chuẩn mực trong nghề in. Kích cỡ chuẩn sách in của Anh đã trở thành chuẩn trên khắp thế giới nói tiếng Anh, ngoại trừ Mỹ. Ngành công nghiệp sản xuất sách tại châu Âu sử dụng các tiêu chuẩn khác hoàn toàn.
=== Quy trình in sách ngày nay ===
Một số sách đặc biệt là những sách được in ít bản hơn sẽ được in trên máy in ép offset từng trang, nhưng hầu hết các cuốn sách được in hiện nay sử dụng công nghệ ép mạng, với đầu vào là một cuộn giấy cuộn dài, và do đó có thể in nhiều bản trong một thời gian ngắn hơn. Trong dây chuyền công nghiệp, các "cuốn sách" đầy đủ được đặt cạnh nhau nhau thành một đống, các đống sách được ghép lại thành các đống lớn hơn.
Một máy in offset thực hiện việc gấp giấy, tạo ra hàng loạt các phần của sách sẵn sàng để đi vào các dây chuyền. Chú ý rằng khi cuốn sách được in nó được in một (hoặc hai) phần tại một thời gian, chứ không phải là in một cuốn sách hoàn chỉnh cùng lúc. Sách thường được in dư ra để sẵn sàng cho bất kỳ hư hỏng nào trong dây chuyền tiếp theo hoặc dùng làm trang thử nghiệm để đảm bảo chất lượng in.
Quá trình in thử là các công việc chuẩn bị được thợ in thực hiện để có được bản in đạt yêu cầu chất lượng ấn tượng. Bao gồm trong quy trình này là thời gian cần để gắn kết các tấm kẽm vào máy, làm sạch bất kỳ các sai sót từ các công đoạn trước đây, và đẩy tốc độ lên đến mức chuẩn. Ngay sau khi thợ in quyết định rằng nội dung in là đúng, tất cả các tờ in thử sẽ bị loại bỏ, và máy in sẽ bắt đầu in. Các quá trình chuẩn bị sẵn sàng như vậy cũng diễn ra trong dây chuyền gấp trang và đóng gói sách, mỗi dây chuyền này đều thực hiện làm dư ra một phần so với yêu cầu để phòng sai sót.
Sau khi các phần của sách được gấp lại và gom vào một chỗ, chúng được di chuyển vào chỗ đóng sách. Vào giữa thế kỷ trước vẫn còn nhiều công ty đóng sách thương mại - các công ty độc lập này không in sách mà chuyên đóng sách. Tại thời điểm đó, vì sự thống trị của in máy in chữ, việc sắp chữ và in sách được thực hiện tại một địa điểm, và đóng sách được thực hiện tại địa điểm khác. Khi các con chữ là kim loại, một cuốn sách chứa các con chữ khá cồng kềnh, dễ vỡ và nặng nề. Càng ít di chuyển nó thì càng tốt, nên in ấn được thực hiện cùng chỗ với nơi sắp chữ. Giấy đã in thì có thể dễ dàng di chuyển. Ngày nay, vì việc tự động hóa trong việc chuẩn bị in phát triển mạnh, phần việc sắp chữ trở nên dễ dàng, do các công ty ký hợp đồng riêng biệt làm việc cho các nhà xuất bản, nhà xuất bản, hay thậm chí là do chính tác giả thực hiện với các phần mềm soạn thảo. Quá trình sáp nhập công việc trong ngành công nghiệp sản xuất sách tăng lên, và một công ty đóng sách ngày nay thường lo việc in sách luôn (và ngược lại).
== Các loại sách ==
Sách có thể phân loại theo nhiều cách, như sách học, sách nghiên cứu, sách hướng dẫn, bách khoa toàn thư, sách khoa học, sách kinh tế, từ điển, nhật ký, bản thảo,...
== Xem thêm ==
Ngày Sách Thế giới
Sách giáo khoa
Thư viện
Sách trực tuyến
Sách điện tử
Truyện
== Các kho sách trực tuyến ==
Online Books Page Danh sách trên 25.000 quyển sách bằng tiếng Anh miễn phí trực tuyến.
Internet Public Library Một danh sách các sách internet không chỉ viết bằng tiếng Anh.
Online Books Page list of archives:
Dự án sách Gutenberg 19.000 quyển sách được đưa lên mỗi ngày.
Libraries Australia - Các quyển sách trong hơn 800 thư viện của Úc
Library of Congress catalog
Thư viện quốc gia Việt Nam
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh
Manuscripts, Books, and Maps: The Printing Press and a Changing World
Society for the History of Authorship, Reading and Publishing
Old Books, How to find information on publication history and value, Smithsonian Institution Libraries |
hầu tước cornwallis đầu hàng.txt | Hầu tước Cornwallis đầu hàng (tiếng Anh: Surrender of Lord Cornwallis) là một bức tranh sơn dầu của John Trumbull. Bức tranh được hoàn thành vào năm 1820, và được treo trong mái vòm của điện Capitol tại Washington D.C, Hoa Kỳ. Nó mô tả cuộc đầu hàng cuối cùng của người Anh sau khi thất bại trước Hoa Kỳ trong trận Yorktown năm 1781.
== Tham khảo == |
danh sách tiêu chuẩn iso.txt | Đây là một danh sách chưa đầy đủ của các tiêu chuẩn ISO.
Một số tiêu chuẩn được ISO/IEC JTC1 công bố, đã được đăng cho mọi người tự do truy cập
== ISO 1–ISO 999 ==
ISO 3 Những con số trọng dụng
ISO 9 Tin tức và tài liệu - Chuyển tự từ hệ chữ cái Kirin sang chữ La-tinh - từ ngôn ngữ Xla-vơ sang ngôn ngữ không thuộc hệ Xla-vơ
ISO 16:1975 Âm học – tần số tiêu chuẩn để lên dây (Tiêu chuẩn về cao độ trong âm nhạc)
ISO 31 Đơn vị và khối lượng
ISO 216 Cỡ giấy
ISO 233:1984 Chuyển tự từ tiếng Ả Rập sang tiếng La-tinh
ISO 233-2:1993 Chuyển tự từ tiếng Ả Rập sang tiếng La-tinh – Phần 2: Tiếng Ả Rập – Chuyển tự đơn giản hóa
ISO 259:1984 Tài liệu – Chuyển tự từ tiếng Hê-bơ-rơ sang tiếng La-tinh
ISO 259-2:1994 Chuyển tự từ tiếng Hê-bơ-rơ sang tiếng La-tinh – Phần 2: Chuyển tự đơn giản hóa
ISO 261 ISO Kích thước cơ bản - ren đinh vít - Kế hoạch chung.
ISO 262 ISO Kích thước cơ bản ren đinh vít - Cỡ loại chọn lọc của đinh vít, bu-lông, và đai ốc.
ISO 639 Bảng mã tên các ngôn ngữ
ISO 639-1 Bảng mã tên các ngôn ngữ – Phần 1: mã số sơ thảo, phiên bản 2
ISO 639-2 Bảng mã tên các ngôn ngữ – Phần 2: mã số sơ thảo, phiên bản 3
ISO/IEC 646 Các biến thể của quốc tế hóa 7 bit ASCII
ISO 657 Các phần về thép cuộn nóng
ISO 690 Tham khảo thư mục
ISO 732 Nhiếp ảnh – Phim cỡ 120 và 220 – các đo lường
ISO 838 Tiêu chuẩn dùi lỗ trên giấy lưu hồ sơ
ISO 843:1997 Đổi chữ cái từ tiếng Hy Lạp sang tiếng La-tinh
== ISO 1000–ISO 9999 ==
ISO 1000 Đơn vị đo lường SI và những tiến cử về cách dùng nhiều đơn vị đo lường chuẩn xác khác nhau của nó
ISO 1007 Loại phim 135
ISO/IEC 1539-1 Ngôn ngữ lập trình Fortran
ISO 1629 Thiết lập hệ thống thuật ngữ và cách đặt tên cho các hợp chất cao phân tử
ISO/IEC 2022 Kỹ thuật tin học: Cấu trúc mã ký tự và phép mở rộng
ISO 2108 Số thứ tự cho sách theo tiêu chuẩn quốc tế (ISBN)
ISO 2145 Cách đánh số phần và đoạn trong các tài liệu
ISO 2171 Ngũ cốc và những sản phẩm ngũ cốc được xay nghiền - Phương pháp xác định lượng than tổng thể
ISO 2709 Khổ mẫu trao đổi thông tin (e.g. MARC)
ISO 3029 Loại phim 126
ISO 3082 Quặng sắt - lấy mẫu và quy trình chuẩn bị mẫu
ISO 3103 Phương pháp hâm chè để kiểm tra bằng giác quan
ISO 3166 Mã hóa tên quốc gia và các đơn vị hành chính
ISO 3166-1 Mã hóa tên quốc gia và tên của các vùng lãnh thổ trực thuộc, xuất bản lần đầu vào năm 1974
ISO 3166-1 lược thảo phiên bản-2 Hệ thống mã hóa tên quốc gia dùng hai ký tự
ISO 3166-1 lược thảo phiên bản-3 Hệ thống mã hóa tên quốc gia dùng ba ký tự
ISO 3166-1 Mã hóa tên quốc gia dùng số
ISO 3166-2 Sự phân chia các đơn vị hành chính quốc gia và các vùng lãnh thổ trực thuộc.
ISO 3166-3 Mã hóa tên quốc gia dùng số, bản mới thay thế bản ISO 3166-1, xuất bản lần đầu vào năm 1998.
ISO 3297 Số ấn phẩm định kỳ theo tiêu chuẩn quốc tế (ISSN)
ISO 3506 Tính chất chống rỉ của ốc vít thép không rỉ.
ISO 3602 La-mã hóa tiếng Nhật
ISO 3864 Thiết kế nhãn an toàn
ISO 3901 Tiêu chuẩn quốc tế về số mã đánh dấu các bản thu thanh (ISRC)
ISO 3977 Tiêu chuẩn thiết kế và thu mua các ứng dụng của máy tua-bin chạy bằng hơi đốt
ISO 4157 Hệ thống ký hiệu các bản vẽ xây dựng
ISO 4217 Mã số chỉ định tiền tệ
ISO/IEC 4873:1991 Chuẩn mã trao đổi dùng nhóm mã 8-bit
ISO 5167 Đo đạc tốc độ dòng chảy của chất lỏng dùng thiết bị đo áp xuất chênh lệch trong ống dẫn, khi ống dẫn đầy.
ISO 5167-1 Part 1: Thuật ngữ chung, nguyên tắc và yêu cầu.
ISO 5167-2 Part 2: Quy định riêng về màng chắn.
ISO 5167-3 Part 3: Quy định về vòi phun và vòi phun Venturi.
ISO 5167-4 Part 4: Quy định về vòi Venturi cổ điển.
ISO 5218 Quy định mã số định hình giới tính của nhân loại
ISO 5775 Lốp và vành xe đạp
ISO 5800 Tốc độc phim nhiếp ảnh
ISO 6166 Cấu trúc của hệ thống số bảo an quốc tế (ISIN)
ISO 6344 Giấy ráp – Phân tích về cỡ hạt
ISO 6344-1 Part 1: Kiểm nghiệm sự phân bổ cỡ hạt
ISO 6344-2 Part 2: Xác định sự phân bổ hạt đá mạt vĩ mô P12 đến P220
ISO 6344-3 Part 3: Xác định sự phân bổ cỡ hạt của đá mạt vĩ mô từ P240 to P2500
ISO 6429 Kỹ thuật tin học: hàm khống chế các bộ mã tự
ISO 6438 Tài liệu - Chuẩn bộ mã tự châu Phi dành cho việc trao đổi tin tức thư mục
ISO 6709 Tiêu chuẩn định vị điểm địa hình dùng vĩ tuyến, kinh tuyến, và độ cao.
ISO 7001 Những nhãn hiệu về tin tức công cộng
ISO 7098 La-mã hóa tiếng Trung Quốc
ISO 7372 Trao đổi dữ liệu thương mại
ISO/IEC 7501-1:1997 Thẻ chứng minh thư - giấy đi đường đọc được bằng máy (Phần 1 Hộ chiếu đọc được bằng máy; Phần 2 Giấy xuất nhập cảnh đọc được bằng máy; Phần 3 Giấy đi đường hợp pháp đọc được bằng máy)
ISO 7775 Tiêu chuẩn về thông điệp bảo an (lỗi thời - xem ISO 15022)
ISO 7810 Tiêu chuẩn về các thẻ tài chính (thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ)
ISO 7811 Kỹ thuật ghi dữ liệu trên các thẻ chứng minh thư
ISO 7816 Thẻ thông minh
ISO 8090 Xe đạp - thuật ngữ
ISO 8373 Vận dụng người máy công nghiệp - từ vựng
ISO 8583 Thông điệp dùng trong thẻ giao dịch tài chính - đặc tả thông điệp trao đổi
ISO 8583-1 Phần 1: Thông điệp, yếu tố dữ liệu và các giá trị mã
ISO 8583-2 Phần 2: Chương trình ứng dụng và thủ tục đăng ký số mã đại diện cho cơ quan tổ chức (IIC).
ISO 8583-3 Part 3: Thủ tục duy trì thông điệp, yếu tố dữ liệu và giá trị mã.
ISO 8601 Hình thức biểu thị ngày giờ
ISO/IEC 8613 Kiến trúc văn bản mở
ISO/IEC 8632 Metafile của đồ họa vi tính
ISO/IEC 8652: Kỹ thuật tin dụng - Ngôn ngữ lập trình - Ada
ISO 8807: ngôn ngữ đặc tả kỹ thuật theo trật tự thời gian (LOTOS)
ISO/IEC 8824 Ký hiệu cú pháp trừu tượng số một (ASN.1)
ISO/IEC 8825 ASN.1 Luật mã hóa
ISO 8859 mã hóa ký tự
ISO 8859-1 Chữ La-tinh 1
ISO 8859-2 Chữ La-tinh 2
ISO 8859-3 Chữ La-tinh 3 hoặc "Nam Âu"
ISO 8859-4 Chữ La-tinh 4 hoặc "Bắc Âu"
ISO 8859-5 Chữ kirin
ISO 8859-6 Chữ Ả-rập
ISO 8859-7 Chữ Hy-lạp
ISO 8859-8 Chữ Hê-bơ-rơ
ISO 8859-9 Chữ La-tinh 5
ISO 8859-10 Chữ La-tinh 6, sự sắp xếp lại của 8859-4
ISO 8859-11 Chữ Thái
ISO 8859-13 Chữ La-tinh 7 hoặc "Tiếng vùng bờ biển Ban-tích"
ISO 8859-14 Chữ La-tinh 8 hoặc "Tiếng Xen-tơ"
ISO 8859-15 Chữ La-tinh 9, bản duyệt lại của 8859-1
ISO 8859-16 Chữ La-tinh 10 Những ngôn ngữ ở vùng Đông Nam châu Âu và những ngôn ngữ khác
ISO 8879 Ngôn ngữ đánh dấu tổng quát chuẩn (SGML)
ISO 9000 Hệ thống quản lý chất lượng trong môi trường sản xuất
ISO 9001 Quản lý chất lượng
ISO 9069 SGML Tiện nghi hỗ trợ - SGML Dạng thức trao đổi tài liệu (SDIF)
ISO/IEC 9075 SQL
ISO 9126 Mô hình chất lượng phần mềm.
ISO 9241 Tính sử dụng của một trang Web (chưa được công bố vào thời điểm ngày 1 tháng 2 năm 2004
ISO 9362 Mã số chỉ đinh ngân hàng hoặc hệ thống BIC
ISO/IEC 9579 Truy cập cơ sở dữ liệu từ xa đối với SQL
ISO 9660 CD-ROM hệ thống tập tin
ISO 9899 Ngôn ngữ lập trình C
ISO/IEC 9945 Giao thức hệ điều hành di động (POSIX)
ISO 9984 Hệ thống đổi chữ Georgian sang chữ La-tinh
ISO 9985 Hệ thống đổi chữ Ác-mê-ni sang chữ La-tinh
ISO 9999 Hỗ trợ về kỹ thuật cho những người tàn phế. Phân loại và thuật ngữ.
== ISO 10000–ISO 19999 ==
ISO 10006 Quản lý chất lượng - Hướng dẫn về chất lượng trong quản lý đề án
ISO 10007 Quản lý chất lượng - Hướng dẫn về quản lý cấu hình
ISO/IEC 10021 Hệ thống trao đổi văn bản hướng thông điệp (MOTIS)
ISO/IEC 10026 Kết nối các hệ thống mở
ISO/IEC 10089 Kỹ thuật tin học: đĩa quang viết lại bao hộp 130 mm trong trao đổi dữ liệu - 650 MB một hộp
ISO 10161 Các giao thức thông thư viện cho trao đổi văn bản ảo hoặc VDX
ISO 10160 Các giao thức thông thư viện định nghĩa thuật ngữ dùng trong trao đổi văn bản ảo
ISO/IEC 10179:1996 Ngôn ngữ trang trí và đặc tả tài liệu (DSSSL)
ISO 10279 Ngôn ngữ lập trình BASIC
ISO 10303 Hệ thống tự động hóa công nghiệp và sự tích hợp - dữ liệu về sản phẩm, hình thức biểu thị và trao đổi, còn được gọi là STEP, (tiếng Anh là STandard for the Exchange of Product data - tạm dịch là Tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu về sản phẩm)
ISO 10383 Mã hiệu cho các cơ quan thị trường chứng khoán (MIC)
ISO 10646 Bộ mã chuẩn quốc tế (tương đương Unicode)
ISO 10664 Đặc trưng điều hướng nội lực của Bu-lông trong ốc vít; – Đầu ốc vít Torx
ISO 10957 Tin tức và tài liệu - Số đăng ký các sáng tác âm nhạc được in theo tiêu chuẩn quốc tế (ISMN)
ISO 10962 Công cụ tài chính
ISO/IEC 11172 MPEG-1
ISO 11170:2003 Hệ truyền lực chất lỏng - Các màng lọc - Loạt các thử nghiệm chứng minh tính năng hoạt động
ISO/IEC 11179 Kỹ thuật tin học –- Thuật ngữ quản trị được đăng ký (MDR)
ISO/IEC 11179-1:2004 Part 1: Khung hình cấu trúc
ISO/IEC 11179-2:2005 Part 2: Phân loại
ISO/IEC 11179-3:2003 Part 3: Mô hình thuật ngữ quản trị được đăng ký và những thuộc tính căn bản
ISO/IEC 11179-4:2004 Part 4: Công thức hóa và định nghĩa dữ liệu
ISO/IEC 11179-5:2005 Part 5: Nguyên tắc điền danh và nhận dạng
ISO/IEC 11179-6:2005 Part 6: Đăng ký
ISO 11180 Ghi địa chỉ bưu điện
ISO/IEC 11404:1996 Kiểu dữ liệu phi thuộc ngữ (Xem thêm Kiểu dữ liệu đa tính năng)
ISO 11521 được thay thế bằng ISO 15022
ISO/IEC 11578:1996 Kỹ thuật tin học -- Kết nối các hệ thống mở -- Kỹ thuật sử dụng viễn hàm (RPC)
ISO 11783 còn được gọi là IsoBus - giao thức truyền thông dựa trên nền tảng J1939 cho nông nghiệp
ISO/IEC 11801 Kỹ thuật tin học – Phương pháp lắp ráp đường dây tại cơ sở người dùng
ISO 12006 Xây dựng nhà cửa. Tổ chức và quản lý dữ liệu trong công việc xây dựng.
ISO 13239 Thủ tục điều khiển liên kết dữ liệu cao cấp (HDLC)
ISO/IEC 13249 SQL Các gói trình ứng dụng và gói trình đa phương tiện
ISO/IEC 13250 Mạng lưới kết nối tài liệu theo chủ đề
ISO 13346 Cấu trúc tập tin và bộ đĩa của những phương tiện ghi một lần, ghi nhiều lần, mà UDF sử dụng.
ISO 13450 Loại phim 110
ISO 13490 Kỹ thuật tin học: Bộ đĩa và cấu trúc tập tin của đĩa CD chỉ đọc ra, hoặc đĩa CD ghi một lần, dành cho việc trao đổi dữ liệu.
ISO 13567/1 đến 3 Phương pháp viết tài liệu cho các sản phẩm kỹ thuật; Tổ chức và đặt tên cho các tầng cho CAD (Thiết kế dùng sự hỗ trợ của máy tính)
ISO/IEC 13568:2002 Kỹ thuật tin học – Hệ thống đặc tả chính quy dùng ký hiệu Z – Cú pháp, Hệ thống định dạng và ngữ nghĩa.
ISO 13616 Số tài khoản nhà băng (IBAN)
ISO/IEC 13818 MPEG-2
ISO 14000 Tiêu chuẩn quản lý môi trường trong môi trường sản xuất.
ISO 14443 Thẻ thông minh phi tiếp xúc, còn được gọi là RFID
ISO/IEC 14496 MPEG-4
ISO 14644 Phòng sạch và những môi trường kiểm soát liên quan
ISO 14644-1:1999 Part 1: Phân loại độ sạch của không khí
ISO 14644-2:2000 Part 2: Quy định thử nghiệm và theo dõi để chứng minh độ thích hợp với mức độ sạch đòi hỏi trong ISO14644-1
ISO 14644-4:2001 Part 4: Thiết kế, xây dựng và khởi đầu
ISO 14651 Kỹ thuật tin học: Tiêu chuẩn quốc tế về sắp đặt thứ tự và so sánh chuỗi ký tự
ISO 14750 Kỹ thuật tin học – Phân bổ điều hành mở - Ngôn ngữ định dạng giao thức
ISO/IEC 14755 Phương pháp nhập dữ liệu cho phép đánh các ký tự trong bộ mã UNICODE của ISO/IEC 10646
ISO/IEC 14977 Định dạng Backus-Naur mở rộng (EBNF)
ISO/IEC 14882 Ngôn ngữ lập trình - C++
ISO 15000 Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng thương mại điện tử ebXML
ISO 15000-1:2004 Phần 1: Quy định thoả thuận và thủ tục hợp tác (ebCPP)
ISO 15000-2:2004 Phần 2: Quy định dịch vụ thông điệp (ebMS)
ISO 15000-3:2004 Phần 3: Quy định mô hình thông tin đăng ký (ebRIM)
ISO 15000-4:2004 Phần 4: Quy định các dịch vụ đăng ký (ebXML)
ISO 15000-5:2005 Phần 5: Quy định kỹ thuật của các bộ phận chính trong ebXML, phiên bản 2.01(ebCCTS)
ISO 15022 Bảo an: hệ thống thông điệp
ISO 15288 Kỹ thuật hệ thống - Chu kỳ điều hành của hệ thống
ISO/IEC 15291: Kỹ thuật tin học – Ngôn ngữ lập trình - Quy định giao thức ngữ nghĩa của Ada (ASIS)
ISO/IEC 15408 Tiêu chuẩn chung - tiêu chuẩn xét duyệt đối với bảo an trong kỹ thuật tin học
ISO/IEC 15434 Ma trận dữ liệu hai chiều của mã vạch
ISO/IEC 15444 JPEG 2000
ISO/IEC 15445:2000 ISO HTML, một chi nhánh của HTML phiên bản 4
ISO 15614-13:2002 Yêu cầu kỹ thuật và chất lượng kỹ thuật hàn đối với vật liệu kim loại. Thử kỹ thuật hàn.
ISO 15686 Thời hạn dịch vụ cho những công trình xây dựng - gồm 10 phần
ISO 15706 Tiêu chuẩn quốc tế số đăng ký những bản thu âm thanh và hình ảnh
ISO 15707 Tiêu chuẩn quốc tế số mã đăng ký cho những tác phẩm ẩm nhạc
ISO 15897 Tiêu chuẩn quốc tế đối với việc đăng ký mã địa phương POSIX và bộ mã tự POSIX
ISO 15924 Mã hiệu biểu thị tên của các scripts (???)
ISO 15930 PDF (Portable Document Format)
ISO/IEC 15948:2003. PNG
ISO/IEC 16262. ECMAScript
ISO/IEC 17025 Yêu cầu chung về năng lực của các phòng thí nghiệm thử nghiệm và hiệu chuẩn
ISO/IEC 17799 Kỹ thuật tin học: Mã thực hành cho quản lý thông tin mật
ISO/IEC 17894 Tàu và ngành công nghiệp đóng tàu. Ứng dụng máy tính. Các nguyên tắc chung để phát triển và sử dụng hệ thống điện tử lập trình trong các ứng dụng hàng hải.
ISO/IEC 18009: Kỹ thuật tin học – Ngôn ngữ lập trình - Ada: Đánh giá sự phù hợp của bộ điều hành ngôn ngữ (ACATS)
ISO 18245 Tiêu chuẩn thiết lập mã quy định để định loại hàng hóa trong các dịch vụ tài chính buôn bán lẻ
ISO 18629 Tiêu chuẩn hóa Ngôn ngữ đặc tả điều hành (PSL). (Ngôn ngữ phần mềm hỗ trợ trí tuệ nhân tạo)
ISO 19005 PDF (Portable Document Format)
ISO 19011 Tiêu chuẩn đánh giá hệ thống quản lý chất lượng và môi trường
ISO 19092-1 Dịch vụ tài chính - Bảo an - Phần 1: Khuôn hình của hệ thống bảo an
ISO 19092-2 Dịch vụ tài chính - Bảo an - Phần 2: Ngữ pháp thông điệp và quy định mật mã
ISO 19101 Dữ liệu địa dư: Mô hình tham chiếu
ISO 19105 Dữ liệu địa dư: Kiểm tra tính phù hợp
ISO 19107 Dữ liệu địa dư: Giản đồ không gian
ISO 19108 Dữ liệu địa dư: Giản đồ thời gian
ISO 19109 Dữ liệu địa dư: Quy tắc đối với giản đồ ứng dụng
ISO 19110 Dữ liệu địa dư: Phương pháp mục lục hóa nét đặc trưng
ISO 19111 Dữ liệu địa dư: Đối chiếu không gian bằng tọa độ
ISO 19111 Dữ liệu địa dư: Đối chiếu không gian bằng tên
ISO 19113 Dữ liệu địa dư: Nguyên tắc chất lượng
ISO 19115 Dữ liệu địa dư: Metadata
ISO 19123 Dữ liệu địa dư: Giản đồ bao phủ
ISO 19128 Dữ liệu địa dư: Dịch vụ bản đồ trên mạng Web
ISO 19136 Dữ liệu địa dư: Ngôn ngữ đánh dấu địa lý
ISO/IEC 19501 UML Ngôn ngữ mô hình hóa thống nhất
ISO/IEC 19502 MOF (Meta-Object Facility)
ISO/IEC 19503 XMI (XML Metadata Interchange)
ISO/IEC 19757 Ngôn ngữ định vị giản đồ văn bản (Document Schema Definition Languages) (DSDL)
ISO/IEC FDIC 19757-2 Kiểm chứng theo luật ngữ pháp thông thường RELAX NG
ISO/IEC 19757-3 Kiểm chứng theo quy tắc Schematron
ISO/IEC 19790 Quy tắc bảo an đối với những mô đun mật mã (xem thêm FIPS 140)
== ISO 20000–ISO 29999 ==
ISO/IEC 20000:2005 Hệ thống quản lý dịch vụ IT (dựa trên BS15000)
ISO 20022 Dịch vụ tài chính - kế hoạch thông điệp công nghiệp tài chính thông dụng
ISO/IEC TR 20943 Kỹ thuật tin học - Quy trình đồng bộ hóa nội dung của metadata đăng ký
ISO/IEC TR 20943-1:2003 Phần 1: Phần tử dữ liệu
ISO/IEC TR 20943-3:2004 Phần 3: Lĩnh vực giá trị
ISO/IEC TR 22250 Mô tả ngôn ngữ đại diện cho XML (Regular Language description for XML - RELAX)
ISO/IEC TR 22250-1:2002 Bộ phận chủ yếu của RELAX
ISO/IEC 23270:2003 Ngôn ngữ lập trình C#
ISO/IEC 23360 Tiêu chuẩn trên nền tảng của Linux (LSB) quy định chủ yếu, phiên bản 3.1 (được công bố tháng 12 năm 2005)
ISO/IEC 23360-1 -- Phần 1: Quy định chung
ISO/IEC 23360-2 -- Phần 2: Quy định cho kiến trúc IA32
ISO/IEC 23360-3 -- Phần 3: Quy định cho kiến trúc IA64
ISO/IEC 23360-4 -- Phần 4: Quy định cho kiến trúc AMD64
ISO/IEC 23360-5 -- Phần 5: Quy định cho kiến trúc PPC32
ISO/IEC 23360-6 -- Phần 6: Quy định cho kiến trúc PPC64
ISO/IEC 23360-7 -- Phần 7: Quy định cho kiến trúc S390
ISO/IEC 23360-8 -- Phần 8: Quy định cho kiến trúc S390X
ISO/IEC 26300: Dạng văn bản mở (.odf)
ISO/IEC 27001 Kỹ thuật tin học—Kỹ thuật bảo an—Hệ thống quản lý bảo an dữ liệu—Các quy định
== Theo bộ tiêu chuẩn ==
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 (gồm ISO 9000, ISO 9001, ISO 9004...): Hệ thống quản lý chất lượng.
Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 (gồm ISO 14001, ISO 14004...): Hệ thống quản lý môi trường.
Bộ tiêu chuẩn ISO 22000 (gồm ISO 22000, ISO 22002, ISO 22003, ISO 22004, ISO 22005, ISO 22006...): Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm.
ISO/TS 22003:2007: Quản lý hoạt động đánh giá hệ thống an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 22000.
ISO/IEC 17020:2012: Chuẩn mực chung cho các hoạt động của tổ chức tiến hành giám định, phiên bản cũ ban hành năm 1998, tương đương tiêu chuẩn TCVN ISO/IEC 17020:2001; Phiên bản mới ban hành ngày 1/3/2012 (bản dịch tạm thời được cung cấp bởi Đặng Khánh Hào)
ISO/IEC 17021:2006: Hệ thống tiêu chuẩn cho các tổ chức chứng nhận.
ISO/TS 16949: Được xây dựng bởi Hiệp hội ôtô quốc tế (IATF) - The International Automotive Task Force. Tiêu chuẩn ISO/TS 16949: 2002 là quy định kỹ thuật phù hợp với tiêu chuẩn HTQLCL ngành công nghiệp ôtô toàn cầu như: QS 9000 (Mỹ), VDA6.1 (Đức), EAQF (Pháp), AVSQ (Ý) với mục đích loại bỏ nhiều chứng nhận nhằm thỏa mãn yêu cầu của nhiều khách hàng. Đây không phải là tiêu chuẩn bắt buộc cho các nhà sản xuất ôtô trên thế giới.
ISO 15189: Hệ thống quản lý phòng thí nghiệm y tế (yêu cầu cụ thể về năng lực và chất lượng Phòng thí nghiệm Y tế), (Phiên bản đầu tiên ban hành năm 2003, phiên bản gần đây ban hành năm 2007 và có tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam tương đương là TCVN 7782:2008).
== Tham khảo == |
coban.txt | Coban hay côban (từ tiếng Đức: kobold) là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Co và số nguyên tử 27.
== Thuộc tính ==
Coban là kim loại màu trắng bạc, có từ tính mạnh, nhiệt độ Curie vào khoảng 1388°K. Coban và niken là hai thành phần đặc trưng trong thép thiên thạch. Trong cơ thể động vật tồn tại một lượng nhỏ các muối coban. Đồng vị phóng xạ nhân tạo Coban-60 được sử dụng làm tác nhân kiểm tra phóng xạ và điều trị ung thư. Độ thấm từ của coban bằng 2/3 của sắt. Coban kim loại thông thường biểu hiện ở dạng hỗn hợp của hai cấu trúc trục tinh thể là xếp chặt sáu cạnh (hcp) và lập phương tâm mặt (fcc) với nhiệt độ chuyển tiếp từ hcp→fcc vào khoảng 722°K. Trạng thái ôxi hóa phổ biến của nó là +2 và +3, rất ít hợp chất trong đó coban có hóa trị +1 tồn tại.
== Ứng dụng ==
Hợp kim, như là:
Siêu hợp kim: cho những bộ phận trong tuabin khí của động cơ máy bay.
Hợp kim chịu mài mòn, ăn mòn.
Thép dùng trong ngành vận tải cao tốc.
Cacbua hàn (còn gọi là các kim loại cứng), dụng cụ bằng kim cương.
Nam châm và lưu trữ từ tính (magnetic recording media):
Nam châm alnico
Chất xúc tác cho công nghiệp dầu khí và hóa chất.
Dùng trong kỹ thuật mã điện vì coban có độ cứng, có màu trắng bạc, và khả năng chống ôxi hóa.
Tác nhân làm khô cho sơn, véc ni, mực.
Dùng làm lớp phủ bề mặt cho gốm sứ, men, thủy tinh.
Thuốc nhuộm (coban màu xanh dương và coban màu xanh lục).
Điện cực trong pin điện.
Đồng vị coban-60 dùng làm nguồn tạo tia gamma:
Dùng trong xạ trị.
Tiệt trùng thực phẩm theo phương pháp Pasteur.
Dùng trong công nghiệp hạt nhân để tìm sai sót kết cấu trong những bộ phận bằng kim loại.
Tạo cho thủy tinh có màu xanh dương
Hợp chất của Coban và Gadolini là chất siêu làm lạnh
ĐIỀU CHẾ:
Dùng H2 khử coban(II) ôxit hoặc các ôxit khác: CoO + H2 -> Co+H20
Điện phân dd CoSO4 trong nước với cực dương bằng thép không gỉ đã được xử lý bề mặt và cực âm là 1 tấm chì tinh khiết. Sản phẩm thu được là 1 hỗn hợp gồm 99,1-99,2% còn lại là tạp chất Niken: CoSO4 + H2O -> 2Co + O2 + H2SO4
Đốt cháy Cobantin(CoAsS) để chuyển hóa thành As2O3 & SO2. Chế hóa các oxit kim loại thành dạng clorua với HCl. Tăng độ pH dd clorua còn lại và thêm clorua vôi vào để oxi hóa oxit coban (II): 2Co(OH)2 + CaOCl12 -> 2Co(OH)3 + CaCl12. Nung kết tủa thành ôxit rồi dùng cacbon khử: Co3O4 + 4C -> 3Co + 4CO
Đồng vị Co-60 được dùng làm nguồn tạo tia gamma vì nó có thể tạo ra một số lượng rất lớn, chỉ đơn giản bằng cách đặt coban tự nhiên dưới các nơtron trong lò phản ứng với một khoảng thời gian nhất định.
=== Ứng dụng trong y học ===
Đồng vị Co-60 (Co60) là kim loại phóng xạ dùng trong xạ trị. Nó tạo ra hai tia gamma với năng lượng lần lượt là: 1,17 MeV và 1,33 MeV. Nguồn Co-60 có đường kính khoảng 2 cm và được tạo ra bằng cách tạo một vùng nửa tối, làm cho góc của vùng bức xạ bị mờ đi. Kim loại này có đặc tính tạo ra bụi mịn, gây ra vấn đề về bảo vệ bức xạ. Nguồn Co-60 hữu dụng trong vòng khoảng 5 năm, nhưng ngay cả sau thời điểm này, mức độ phóng xạ vẫn rất cao. Vì vậy máy móc dùng coban đã không còn được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây. Hiện nay, người ta sử dụng phổ biến máy gia tốc hạt tuyến tính thay cho máy móc dùng coban trước đây.
== Lịch sử ==
Coban đã được biết đến từ thời cổ đại thông qua những hợp chất tạo cho thủy tinh có màu xanh dương đậm.
Georg Brandt (1694-1768) là nhà khoa học đã phát hiện ra coban. Thời điểm phát hiện vào khoảng thời gian 1730 - 1737. Ông đã chứng minh rằng coban là nguồn gốc tạo ra màu xanh dương trong thủy tinh, mà trước đây được người ta cho là do bitmut (Bismuth) (được phát hiện cùng với coban).
Trong suốt thế kỷ 19, coban xanh dương được sản xuất tại nhà máy Blaafarveværket (Na Uy), sản lượng coban sản xuất tại đấy chiếm 70-80% sản lượng thế giới.
Vào năm 1938, John Livingood và Glenn Seaborg đã phát hiện đồng vị Co-60.
Tên gọi Coban (cobalt) có xuất xứ từ tiếng Đức kobalt hoặc kobold, nghĩa là linh hồn của quỷ dữ. Tên này do những người thợ mỏ đặt ra vì nó mang tính độc hại, gây ô nhiễm môi trường, và làm giảm giá trị những kim loại khác, như niken. Những nguồn khác thì lại cho rằng tên gọi phát sinh từ những người thợ mỏ bạc vì họ tin rằng coban được đặt ra bởi kobolds là những người đã từng đánh cắp bạc. Một vài nguồn khác cho rằng tên gọi có xuất xứ từ tiếng Hy Lạp kobalos, nghĩa là 'mỏ', và có thể có nguồn gốc chung với kobold, goblin, và cobalt.
== Vai trò sinh học ==
Nhiều sinh vật sống (kể cả người) phải cần đến một lượng nhỏ coban trong cơ thể để tồn tại. Cho vào đất một lượng nhỏ coban từ 0,13-0,30 mg/kg sẽ làm tăng sức khỏe của những động vật ăn cỏ. Coban là một thành phần trung tâm của vitamin cobalamin, hoặc vitamin B-12.
== Phổ biến ==
Coban không thể tìm thấy như là một kim loại tự do, mà nói chung là ở trong các dạng quặng. Người ta luôn luôn không khai thác coban riêng rẽ, và có xu hướng được dùng làm sản phẩm phụ trong hoạt động khai thác niken và đồng. Những quặng coban chính là cobaltite, erythrite, glaucodot, và skutterudite. Những quốc gia sản xuất nhiều coban nhất thế giới là Cộng hòa dân chủ Côngô, Trung Quốc, Zambia, Nga, và Úc. Coban còn được tìm thấy ở Phần Lan, Azerbaijan, và Kazakhstan. Nó còn được sản xuất ở thành phố Cobalt, tỉnh Ontario, ở Canada ở dạng sản phẩm phụ của hoạt động khai thác bạc.
== Các hợp chất ==
Do có nhiều trạng thái ôxi hóa khác nhau, nên số lượng hợp chất coban khá phong phú. Các ôxít không có từ tính ở nhiệt độ thấp như CoO (nhiệt độ Neel là 291°K), và Co3O4 (nhiệt độ Neel là 40°K). Các hợp chất coban(II) được dùng làm mực đỏ. Tuy nhiên màu bị chuyển thành xanh dương khi bị nung nóng đến nhiệt độ sôi. Thêm quá nhiều clorua cũng sẽ làm đổi màu từ màu hồng sang màu xanh dương, do sự tạo thành ion phức [CoCl4]2-.
+ H2, O2, SO4 khác nhau tùy điều kiện
== Đồng vị ==
Coban trong tự nhiên bao gồm 1 đồng vị ổn định là 59Co. Coban có 22 đồng vị phóng xạ. Những đồng vị phóng xạ ổn định nhất là 60Co có chu kỳ bán rã là 5,2714 năm, 57Co có chu kỳ bán rã là 271,79 ngày, 56Co có chu kỳ bán rã là 77,27 ngày, và 58Co có chu kỳ bán rã 70,86 ngày. Tất cả đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã ít hơn 18 giờ và phần lớn những đồng vị này có chu kỳ bán rã ít hơn 1 giây. Nguyên tố này cũng có 4 đồng phân phóng xạ, tất cả các đồng phân này đều có chu kỳ bán rã ít hơn 15 phút.
Các đồng vị của coban có trọng lượng nguyên tử từ 50 amu (50Co) đến 73 amu.
== Cảnh báo ==
Bột kim loại coban dễ bùng cháy khi tiếp xúc với lửa. Các hợp chất của coban phải được xử lý cẩn thận do có độc tính nhẹ.
60Co là nguồn phát ra tia gamma mạnh nên tiếp xúc với nó sẽ dẫn đến nguy cơ ung thư. Nuốt 60Co sẽ khiến coban thâm nhập vào mô tế bào và quá trình thải ra rất chậm chạp.60Co là yếu tố rủi ro gây tranh cãi về vấn đề hạt nhân vì nguồn nơtron sẽ chuyển hóa 59Co thành đồng vị này. Một số mô hình vũ khí hạt nhân có chủ ý gia tăng lượng 60Co phát tán dưới hình thức bụi phóng xạ nguyên tử – nên có khi người ta gọi đó là bom bẩn hoặc bom coban. Một nhà khoa học hàng đầu đã dự đoán rằng loại bom này có khả năng hủy diệt tất cả sự sống trên Trái Đất. Nếu nguyên nhân bắt nguồn không phải là một cuộc chiến tranh hạt nhân, thì cũng do việc xử lý không phù hợp (hoặc trộm cắp) các bộ phận của máy xạ trị y học. Tuy nhiên, tia gamma phát ra từ 60Co hiện đang được sử dụng để diệt vi khuẩn và tăng sức đề kháng trên rau quả.
== Tham khảo ==
Los Alamos National Laboratory - Cobalt
== Liên kết ngoài ==
National Pollutant Inventory - Cobalt fact sheet
WebElements.com – Cobalt
London celebrates 50 years of Cobalt-60 Radiotherapy |
bảo tàng lịch sử việt nam.txt | Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cùng với Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là hai bảo tàng đã được sát nhập dưới tên Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (cũ) là nơi lưu giữ những hiện vật, phản ánh các nền văn hóa, lịch sử dựng nước và giữ nước của người Việt Nam từ thuở ban đầu khai sáng đến ngày ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Viện bảo tàng có phong cách kiến trúc Đông Dương, nằm ở số 1 phố Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Viện Bảo tàng mở cửa đón khách cả tuần, trừ thứ hai. Tại đây còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như Trống đồng Đông Sơn, gốm Bát Tràng, tượng thần Shiva, cọc gỗ trong trận Bạch Đằng,...
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là thành viên của Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (ICOM), là thành viên sáng lập Hiệp hội các bảo tàng quốc gia châu Á (ANMA).
== Lịch sử ==
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam được thành lập ngày 3 tháng 9 năm 1958 trên cơ sở kế thừa Bảo tàng Louis Finot do người Pháp xây dựng năm 1926 và hoạt động vào năm 1932. Đây là Viện bảo tàng của trường Viễn Đông Bác cổ. Ngày ấy, đây là nơi trưng bày những đồ cổ thu thập từ các nước ở Đông Nam Á. Nǎm 1958, người Pháp bàn giao lại ngôi nhà này cho chính quyền cách mạng mới.
== Kiến trúc ==
Bảo tàng Louis Finot (Bảo tàng lịch sử ngày nay) thuộc Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (École Française d’Extrème - Orient), do các kiến trúc sư C.Batteur và E.Hébrard thiết kế năm 1925 có thể được coi là một đại diện lớn của phong cách Kiến trúc Đông Dương, một phong cách nỗ lực kết hợp các giá trị của nền kiến trúc Pháp với các giá trị kiến trúc bản địa. Công trình được khởi công năm 1926 và hoàn thành năm 1932 trên khu đất phía sau Nhà hát lớn, chạy dọc theo bờ đê sông Hồng và là điểm kết thúc của tuyến phố Quaï Guillemoto (phố Trần Quang Khải ngày nay), một vị trí có thể tạo ra điểm nhấn kiến trúc cho tuyến đường bờ đê.
Mặt bằng bảo tàng được kiến tạo theo yêu cầu của không gian kiến trúc trưng bày nên được cấu tạo dựa trên những không gian khẩu độ lớn. Không gian chính sảnh hình bát giác có kích thước mỗi cạnh lớn lên đến 11m, không gian trưng bày chính nằm ngay sau đại sảnh có hình chữ nhật kéo dài và được tổ chức theo hình thức xuyên phòng có sự chuyển tiếp được tổ chức khéo léo. Ngoài ra còn có các không gian trưng bày chuyên đề nằm ở hai phía của đại sảnh tạo thành một tổng thể trưng bày khoáng đạt.
Phía dưới tầng trưng bày là một tầng trệt cao 2,5 m nơi tổ chức các phòng phục chế, lưu trữ, kho và bộ phận hành chính, tầng này cũng mang ý nghĩa của một tầng cách ẩm làm cho không gian trưng bày phía trên luôn khô ráo trong điều kiện độ ẩm cao ở Hà Nội.
Hình khối mặt đứng công trình được nhấn mạnh bởi hệ thống mái che khối sảnh hình bát giác nhô cao phía trên công trình. Đây là một hệ ba lớp mái bao gồm mái trên có độ dốc lớn và được ngăn cách với các mái dưới bởi hệ thống cửa lấy sáng và một hệ con sơn liên tục, phía dưới là hai lớp mái có độ dốc nhỏ hơn. Mặc dù hình khối theo kiểu bát giác mang nhiều nét của kiến trúc Trung Hoa cổ, nhưng nhìn toàn bộ khối mái này lại gợi cho chúng ta hình ảnh của tháp chuông chùa Keo, Thái Bình do cách xử lý khéo léo của các kiến trúc sư - tác giả theo kiểu hệ mái ba lớp với các con sơn liên tục chồng lên nhau. Bảo tàng là một công trình văn hoá lớn lúc bấy giờ nên khối sảnh bát giác mang nhiều tính hình thức của chủ nghĩa Biểu hiện là điều dễ hiểu và tạo được ấn tượng tốt.
Toàn bộ hệ mái cho các khu trưng bày được cấu tạo theo kiểu mái chồng diêm hai lớp thường thấy ở các công trình tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam truyền thống. Khe hở giữa hai lớp mái đóng vai trò thoát gió trong hệ thống thông gió tự nhiên của công trình. Lớp mái phía dưới đua rộng ra khỏi hệ thống tường ngoài, có tác dụng che nắng và chống mưa hắt cho hệ thống cửa mở rộng phía dưới, đồng thời tạo bóng đổ trên mặt đứng làm tăng vẻ duyên dáng cho toà nhà. Phần mái đua được đỡ bởi hàng cột kép kết hợp với hệ con sơn cách điệu cùng các hoạ tiết trên lan can tạo ra một dáng vẻ Á Đông rõ rệt.
== Tuyến tham quan ==
Hệ thống trưng bày chính của Bảo tàng rộng khoảng 2000 m2, được chia thành nhiều không gian cho các tuyến tham quan theo chủ điểm và thứ tự thời gian lịch sử.
Hệ thống trưng bày của Bảo tàng Lịch sử gồm bốn phần trọng tâm:
Phần thứ nhất: Việt Nam thời tiền sử
Phần thứ hai: Từ thời dựng nước đầu tiên đến triều Trần
Phần thứ ba: Việt Nam từ triều Hồ đến Cách mạng tháng Tám năm 1945
Phần thứ tư: Phòng trưng bày sưu tập điêu khắc đá Chăm Pa
== Một số hiện vật ==
== Xem thêm ==
Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức |
danh sách phát minh và khám phá của người nga.txt | Đất nước Nga và người Nga đã có những cống hiến cơ bản cho nền văn minh của thế giới trong nhiều lĩnh vực quan trọng, đóng góp đáng kể trong quá trình hình thành nên thế giới hiện đại ngày nay. Dưới đây là danh sách các phát minh, sáng kiến (ý tưởng đột phá) và khám phá được thực hiện bởi những người sinh ra tại Nga hoặc không sinh ra tại đây nhưng dành phần lớn cuộc đời và sự nghiệp họ trên lãnh thổ Nga ở những giai đoạn lịch sử khác nhau. Đây là những thành tựu mang tính đột phá của nước Nga và người Nga trong nhiều lĩnh vực như nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, thám hiểm, hàng hải...
Danh sách được sắp xếp theo thứ tự các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt mở rộng.
== A ==
AK-47, được phát triển lần đầu tiên tại Liên bang Xô Viết (Liên Xô) bởi Mikhail Kalashnikov vào năm 1947.
== B ==
Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, được đề xuất một cách chính thức bởi nhà hóa học người Nga Dmitri Mendeleev.
== D ==
Dubnium
Du hành vũ trụ có người lái (tên trong tiếng Anh: human spaceflight), với nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin là người đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử bay vào vũ trụ trên tàu vũ trụ Vostok 1 (trong tiếng Việt có nghĩa là Phương Đông 1) vào năm 1961.
== Đ ==
Đi dạo trong không gian, cũng được gọi là đi bộ trong không gian (tên trong tiếng Anh: space walk, extravehicular activity), với nhà du hành vũ trụ Alexei Leonov là người đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử (1965).
Định luật bảo toàn khối lượng, khám phá và công bố chính thức lần đầu tiên bởi nhà khoa học người Nga Mikhail Lomonosov vào năm 1756 sau những nghiên cứu bằng thí nghiệm.
== F ==
Flerovium
== G ==
Google, đồng sáng lập bởi doanh nhân người Nga Sergey Brin.
== H ==
Hiện thực xã hội chủ nghĩa, trào lưu nghệ thuật khởi đầu từ Liên bang Xô Viết (Liên Xô) và lan sang các quốc gia theo đường lối xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ 20.
Hình học Lobachevsky, đặt nền móng bởi nhà toán học người Nga Nikolai Lobachevsky.
== K ==
Khoa học du hành vũ trụ (tên trong tiếng Anh: astronautics, cosmonautics), với nhà khoa học người Nga Konstantin Tsiolkovsky được xem là một trong những người cha sáng lập của nó.
Kiến trúc Stalin
== N ==
Nam cực (lục địa), được khám phá chính thức lần đầu tiên (không bị tranh chấp) trong lịch sử là trong chuyến thám hiểm vào năm 1811 của những nhà thám hiểm phục vụ cho Đế chế Nga.
Người đầu tiên bay vào không gian là nhà du hành vũ trụ người Nga Yuri Gagarin vào năm 1961 trên tàu vũ trụ Vostok 1.
Người phụ nữ đầu tiên bay vào không gian là nhà du hành vũ trụ người Nga Valentina Tereshkova vào năm 1963 trên tàu vũ trụ Vostok 6.
Nguyên tố hóa học: Gallium, Germanium, Hafnium, Protactinium, Technetium là các nguyên tố hóa học được tiên đoán bằng lý thuyết bởi Dmitri Mendeleev trước khi chúng được khám phá chính thức sau đó nhiều năm bằng thực nghiệm.
Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên sản xuất điện tiêu thụ trên thế giới là Nhà máy điện hạt nhân Obninsk được xây dựng tại thành phố Obninsk (Liên bang Nga) thuộc Liên bang Xô Viết (Liên Xô) vào năm 1954.
Nobelium (1966)
== P ==
Phản xạ có điều kiện, là một hình thức phản xạ lần đầu tiên được chứng minh bởi nhà sinh lý học người Nga Ivan Pavlov vào năm 1927.
== T ==
Tầu phá băng dùng năng lượng hạt nhân (tên trong tiếng Anh: nuclear icebreaker), với tầu phá băng mang tên Lenin chế tạo và thử nghiệm thành công năm 1959 là mô hình đầu tiên của loại tầu này trên thế giới.
Tên lửa liên lục địa (tên trong tiếng Anh: Intercontinental ballistic missile, cũng được viết tắt là ICBM), với tên lửa do Liên Xô chế tạo và thử nghiệm thành công năm 1957 mang tên R-7 Semyorka.
Tetris, được phát triển trong Liên Xô bởi Alexey Pazhitnov (1984).
Thực phẩm vũ trụ (tên trong tiếng Anh: space food)
Tokamak
Trạm không gian (tên trong tiếng Anh: space station), với trạm vũ trụ bay quanh quỹ đạo Trái Đất mang tên Salyut 1 được phóng vào không gian năm 1971 là mô hình đầu tiên của loại này trên thế giới.
TRIZ (trong tiếng Việt nghĩa là Lý thuyết giải các bài toán sáng chế), phát triển trong Liên bang Xô Viết bởi Genrikh Altshuller.
== V ==
Vệ tinh nhân tạo đầu tiên trên thế giới bay quanh quỹ đạo Trái Đất được phóng lên không gian là vệ tinh Sputnik 1 (1957).
Vostok 1 (trong tiếng Việt có nghĩa là Phương Đông 1), là chuyến bay có người lái lần đầu tiên trong lịch sử bay vào vũ trụ (1961).
== Thư viện hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Danh sách phát minh và khám phá của người Hà Lan
Danh sách phát minh và khám phá của người Ấn Độ
Biên niên sử các phát minh
== Tham khảo ==
Bonhomme, Brian: Russian Exploration, from Siberia to Space: A History. (McFarland Publishers, 2012, 232pp)
== Chú thích == |
poloni.txt | Poloni (tên La tinh: Polonium) là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Po và số nguyên tử 84; đây là một nguyên tố kim loại phóng xạ cao. Polonium là kim loại có màu trắng bạc, về tính chất lý học giống với chì và bitmut. Poloni không có đồng vị bền mà có ít nhất 25 đồng vị phóng xạ đã biết.
== Một vài số liệu ==
Nhiệt độ nóng chảy: 254 °C
Nhiệt độ sôi: 962 °C
Năng lượng liên kết phân tử: 812,1 kJ/mol
== Nguồn gốc tên gọi ==
Poloni là nguyên tố phóng xạ được hai vợ chồng nhà hoá học Marie Curie và Pierre Curie phát hiện cùng với nguyên tố phóng xạ khác là radi ở trong quặng urani vào năm 1898. Nguyên tố được đặt tên là poloni để ghi nhớ tổ quốc của bà Marie (polinia trong tiếng Latinh là Ba Lan). Bà muốn cho quốc gia này được thế giới chú ý đến vì đang bị cả Nga, Phổ và Áo cai trị thời bấy giờ.
== Ứng dụng-Điều chế ==
Đồng vị Po210 được dùng để làm nguồn hạt alpha. Có thể điều chế trong lò phản ứng nguyên tử (với lượng mg hoặc g) khi bắn chùm neutron vào bitmut.
== Tính chất ==
Poloni thể hiện rõ nhất tính kim loại trong nhóm VIA, vì thế nó tác dụng được với axit.
=== Đồng vị ===
Poloni có 33 đồng vị, tất cả chúng đều là đồng vị phóng xạ. Chúng có khối lượng nguyên tử từ 188 đến 220 u.210Po (chu kỳ bán rã 138,4 ngày) là đồng vị phổ biến nhất.209Po (chu kỳ bán rã 103 năm) và 208Po (chu kỳ bán rã 2,9 năm) có thể tạo ra từ việc bắn phá hạt alpha, proton hoặc deuteron đối với chì hoặc bismut trong máy gia tốc.
210Po phát ra tia alpha có chu kỳ bán rã 138,4 ngày tạo ra đồng vị con bền nhất là 206Pb. 1 mg210Po phát ra các hạt alpha/1 giây bằng với lượng hạt alpha phát ra từ 4.5 gram 226Ra. Một ít curie (1 curie tương đương 37 gigabecquerels, 1 Ci = 37 GBq) của 210Po phát ra ánh sáng màu xanh do chúng làm kích thích không khí xung quanh. Một gram 210Po sinh ra 140 W năng lượng. Do nó phát ra nhiều hạt alpha, loại hạt bị ngăn chặn trong một khoảng cách rất ngắn trong môi trường đặc và giải phóng năng lượng, 210Po đã được sử dụng như nguồn nhiệt nhỏ để phát điện cho tế bào nhiệt điện trong các vệ tinh nhân tạo.
=== Trạng thái rắn ===
Poloni là nguyên tố phóng xạ có hai đồng phân kim loại. Đồng phân anpha là một vì dụ duy nhất được biết đến ở dạng cấu trúc tinh thể lập phương đơn giản trong một nguyên tử đơn, với cạnh dài 335,2 picometer; dạng beta có cấu trúc trực thoi. Cấu trúc của poloni được đặc trưng hóa bởi nhiễu xạ tia X và nhiễu xạ electron.
210Po (là dạng phổ biến như 238Pu) có khả năng hóa hơi để trở thành dạng khí dễ dàng: nếu một mẫu poloni dạng này được nung trong không khí đến 55 °C (131 °F), 50% của nó hóa hơi trong 45 giờ để tạo thành phân tử Po2, mặc dù điểm nóng chảy của nó là 254 °C (489 °F) và điểm sôi là 962 °C (1.764 °F).
== Tác động sinh học - Độc tính ==
Polonium là rất nguy hiểm và không có vai trò y sinh học.Một đồng vị của nguyên tố Polonium, Polonium-210 là một chất cực độc, chỉ cần một lượng rất nhỏ cũng đủ để gây chết người. Polonium-210 gây chết người bởi nó phóng ra hạt anpha với năng lượng đủ để làm hỏng cỗ máy gien tế bào. Nó không được dùng cho phóng xạ y học như các đồng vị caesium-137 hoặc cobalt-60.
=== Ngộ độc Polonium-210 ===
Nạn nhân đầu tiên của chất phóng xạ Polonium chính là con gái của Bà tên Irene Joliot Curie, kết quả của một vụ nổ trong phòng thí nghiệm. Cô Irene đã chết 10 năm sau khi tại nạn xảy ra do chứng leukemia. Hiện tại, mức sản xuất Polonium trên thế giới chỉ vào khoảng 100 gram với mục đích ứng dụng vào việc khử bụi trong các kính hiển vi điện tử và trong các cân tiểu li siêu chính xác.
Đứng về phương diện độc tố học, chất phóng xạ tạo ra những nguyên tử (atom) có khả năng ức chế tế bào của cơ thể con người, điện hoá các tế bào trên và sau cùng tiêu huỷ chúng. Đối với việc tiếp nhiễm do phóng xạ thiên nhiên ở nồng độ thấp, các tế bào bị điện hoá dược cơ thể tái tạo lại sau đó, do đó nguy cơbị ngộ độc không xảy ra.
Tuy nhiên, khi cơ thể tiếp nhiễm một số lượng lớn phóng xạ như trường hợp của Litvinenko, cơ thể không thể tự hàn gắn và trấn áp cùng thay thế các tế bào đã bị huỷ diệt, từ đó nguy cơ tử vong rất cao. Các loại tế bào trong cơ thể bị ảnh hưởng trực tiếp và bị nhiễm độc là bạch huyết cầu (white blood cell) và tế bào sinh sản hồng huyết cầu và bạch huyết cầu.
Sự thiếu hụt tế bào trong cơ thể là chỉ dấu đầu tiên của sự ngộ độc phóng xạ; sau đó, tế bào ruột non bị xâm nhập tạo ra sự nôn mửa kéo theo cơ thể bắt đầu bị mất nước.
Thời gian tiếp theo, tuỳ theo cường độ bị tiếp nhiễm và thể loại phóng xạ (có thời gian bán huỷ khác nhau), phóng xạ bắt đầu tàn phá các mô cứng và mềm (hard and soft tissue) qua các chứng sau đây như: - nhức đầu, - hơi thở dồn dập, - tim đập nhanh, - ho khan (không có đàm), - lồng ngực bị đau từng cơn, - da bắt đầu chuyển sang màu xậm, - ở phần dưới da và bất cứ nơi nào trong cơ thể đều xuất hiện những hạt máu nhỏ do các tĩnh mạch bị vỡ ra, - và chứng thiếu máu trầm trọng xuất hiện.
Trầm trọng hơn nữa, nếu bị tiếp nhiễm nặng khoảng 10 Gray (Gy- đơn vị phóng xạ), nạn nhân có thể mất mạng trong vòng hai đến bốn tuần lễ. Cường độ của mức phóng xạ tiếp nhiễm cho phép chúng ta có thể ước tính được mức nguy hai đến nạn nhân như sau: - Nếu cơ thể bị tiếp nhiễm 100 Roentgen, các chứng
bịnh do phóng xạ bắt đầu xuất hiện; - Nếu cơ thể bị tiếp nhiễm khoảng 400 Roentgen, nửa phần cơ thể có thể bị liệt; - Nếu cơ thể bị tiếp nhiễm khoảng 100.000 Roentgen, nạn nhân bị hôn mê tức khắc và chết trong vòng một tiếng đồng hồ.
(Đơn vị đo lường phóng xạ gồm: - Roentgen: lượng phóng xạ phóng thích do tia gamma trong 1cm3 không khí, ký hiệu là R; - Rad: lượng phóng xạ hấp thụ qua tiếp nhiễm. Đơn vị lầy dùng để ước tính lượng phóng xạ có trong cơ thể; - Gray: Ký hiệu là Gy, là đơn vị chuẩn quốc tế (SI) tương đương với 100 Rad.)
=== Cơ chế của sự ngộ độc Polonium-210 ===
Qua trường hợp của Litvinenko, ảnh hưởng sinh hoá học lên cơ thể của các đồng vị phóng xạ được soi rọi rõ ràng hơn vì trước đây, những việc tiếp nhiễm (nhiễm độc) cấp tính với liều lượng cao chỉ được diễn đạt qua tính toán và ước tính mà thôi.
Trung tá Litvinenko là nạn nhân của một sự thanh trừng thường thấy dưới các chế độ độc tài toàn trị như ở Liên bang Nga hiện tại. Qua bức thư trước khi qua đời, mặc dù không nêu đích danh Putin, nhưng mọi người đều biết ông ta là kẽ chủ mưu chính trong cái chết nầy: “Ông (Putin) có thể thành công trong việc làm tôi im lặng, nhưng sự im lặng sẽ đổi lấy một giá đắt cho ông. Ông đã tự cho thấy chính ông là dã
man và sắt máu mà thế giới đã từng phê phán ông. Ông đã mặc nhiên tự nhận là đã không tôn trọng đời sống con người, sự tự do, và bất cứ giá trị nào của thế giới văn minh”. (cần dẫn nguồn ?)
Trở lại nguyên tố có chứa phóng xạ Polonium-210, đây là hoá chất đã từng được dùng để chế bom nguyên tử qua tính tách rời (fission) các tia alpha. Những tia nầy có đời sống bán huỷ (half life) là 138 ngày. Nguyên tố Polomium-210 sau khi tách rời tất cả tia alpha, sẽ biến thành nguyên tố chì bền vững (Lead-206) và nhân Helium cùng phóng thích ra 5,3 MeV năng lượng.
Tia alpha rất dễ dàng bị ngăn chận bởi một mảnh giấy mỏng, do đó Polonium-210 chỉ độc hại một khi đã xâm nhập vào bên trong cơ thể qua đường khí quản hoặc thực quản mà thôi.
Nếu Litvinenko uống vào 1 ug Po-210 dưới dạng muối citrate hay chloride (đã được các nhà khoa học phỏng đoán), thì có khoảng 3.1015 (3 ngàn ức) đồng vị phóng xạ đã vào cơ thể ông ta, một lượng đồng vị đủ để cho hàng trăm đồng vị kết hợp với mỗi tế bào của cơ thể. Ở mỗi điểm đến của tia alpha, chúng để lại một số năng lượng lớn trong một vùng nhỏ của tế bào, căn cứ vào kết quả nghiên cứu của GS Roger Howell thuộc Đại học Y khoa. Mỗi tia alpha sẽ ngăn cách tế bào tạo thành một chuỗi gốc (radical) lần lần thiêu huỷ protein của cơ thể cũng như gây thương tổn đến các chuỗi DNA.
Litvinenko qua đời sau 22 ngày bị đầu độc, theo TS Wiley Jr. thuộc Radiation Emergency Assistance Center, Tennessee, có lẽ đến từ nguyên do là các tia alpha đã phá huỷ các tế bào gốc (stem) trong tuỷ bộ (bone marrow). Hiện tượng này làm mất sự cân bằng của số lượng hồng huyết cầu và ảnh hưởng đến các tế bào trong hệ miễn nhiễm của cơ thể.
=== Phương pháp chữa trị ===
Trong giai đoạn đầu sau khi bị nhiễm độc, thuốc ngăn chặn ói mửa và các loại thuốc chống đau nhức có thể được sử dụng để chống lại các dấu hiệu ban đầu qua ảnh hưởng của phóng xạ. Còn các ảnh hưởng tiếp theo, cần phải có thuốc kháng sinh mạnh trong việc trị liệu. Và nạn nhân cần phải được truyền máu để chống lại bệnh thiếu máu (anemia).
Thông thường trong những tai nạn về phóng xạ, như trường hợp ở, Liên bang Nga cách đây hơn 20 năm, ảnh hưởng của phóng xạ vẫn còn tiếp tục, và các chứng bệnh kể trên vẫn còn hiện diện. Các cơ quan trong cơ thể bị ảnh hưởng dài hạn như các tuyến nội tiết (endocrine) và tuyến hormone bài tiết (hormone secreting).
Tại Chernobyl, số lượng nạn nhân bị ung thư tuyến giáp trạng (thyroid) ở Belarus, quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất, tăng gấp 100 lần 20 năm sau khi tai nạn xảy ra.
Về các bịnh liên quan đến thần kinh, theo kết quả UNICEF công bố là bịnh rối loạn (disorder) về xương, bắp thịt tăng 43%, về mắt tăng 62%. Đặc biệt trong trường hợp tai nạn Chernobyl, TS George Vargo, thuộc Chương trình An toàn Hạch nhân Quốc tế (INSP) thuộc LHQ đã ra một khuyến cáo là hiện tượng suy dinh dưỡng và việc không đủ phương tiện y khoa để chữa trị như trường hợp ở Belarus cũng có thể là nguyên nhân của sự gia tăng số lượng nạn nhân, ngoài ảnh hưởng chính là do tiếp nhiễm phóng xạ.
Riêng về ảnh hưởng đến các thế hệ về sau, hiện tại, các khoa học gia vẫn còn đang tranh cãi về ảnh hưởng của phóng xạ lên hệ thống di truyền vì DNA của người bị tiếp nhiễm bị biến thể và chuyển qua các thế hệ tiếp nối. Điều này đã được chứng nghiệm qua trường hợp, nhưng vẫn chưa có báo cáo khoa học nào về vấn đề lầy đối với nạn nhân ở và trong thời thế chiến thứ hai.
=== ===
== Tham khảo ==
Hoá học vô cơ, tập 2, Hoàng Nhâm
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Poloni tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Polonium tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Chemistry in its element podcast (MP3) from the Royal Society of Chemistry's Chemistry World: Polonium
Polonium at The Periodic Table of Videos (University of Nottingham) |
samsung galaxy s5.txt | Samsung Galaxy S5 là điện thoại thông minh Android của Samsung Electronics, đóng vai trò thừa kế cho Samsung Galaxy S4. Thông báo vào thang 1 2014, nó được dự kiến sẽ ra mắt vào Mobile World Congress thường niên tại Barcelona, Tây Ban Nha, từ 24 đến 27 tháng 2 và công bố toàn thế giới vào tháng 4. Lee Young Hee của Samsung cho biết sự kế thừa thành công của Galaxy Gear (Gear 2), sẽ được ra mắt cùng lúc với S5.
== Thông số kỹ thuật ==
=== Phần cứng và thiết kế ===
Sự tiến hóa trong thiết kế của S5 phụ thuộc vào thiết kế của S4, với tổng thể, được làm từ polycarbonate mang một vẻ "quyến rũ hiện đại", và nắp lưng có thể thay thế. Không giống như sản phẩm trước, mặt sau của S5 sử dụng nhựa mềm chất lượng cao, và các họa tiết chấm tròn. S5 có chứng nhận IP67 chống bụi, và ngâm trong nước ở độ sâu 1 mét (3 ft 3 in) lên đến 30. S5 sẽ có sẵn màu đen, xanh, vàng, và trắng. Màn hình của S5 rộng 5,1 inch (130 mm) 1080p tấm nền Super AMOLED, lớn hơn S4 một chút, và cho phép tự động cân bằng trắng và điều chỉnh gam màu. Bên dưới màn hình là ba nút; gồm một nút "Home" vật lý nằm ở chính giữa có nhận diện vân tay bằng cách vuốt lên nó, cùng với nút "ứng dụng hiện tại" và "trở lại" cảm ứng điện dung; cùng với giao diện người dùng Android 4.0, S5 không sử dụng phím "Menu" như người tiền nhiệm của nó, mặc dù cách bố trí của nó còn đảo ngược so với thiết bị Android (như HTC One X và Galaxy Nexus, nơi mà phím "trở lại" nằm bên trái nút "Home"). S5 bao gồm máy ảnh 16 megapixel chính, cung cấp quay video 4K, tự động lấy nét (có thể lấy nét chỉ trong 0,3 giây), ảnh và video HDR, và cảm biến hình ảnh với công nghệ "Isocell" của Samsung, cô lập các điểm ảnh cá nhân trong cảm biến để nâng cấp khả năng nắm bắt ánh sáng. Samsung tuyên bố rằng máy ảnh sẽ tốt hơn và nhanh hơn so với S4 và có thể quay video 4K. Kế bên flash của máy ảnh chính của thiết bị là cảm biến đo nhịp tim có thể sử dụng như một phần của phần mềm S Health.
Sức mạnh của S5 là chip Snapdragon 801 2,5 GHz lõi tứ với 2 GB RAM. Mặc dù không được nhắc đến trong suốt buổi thuyết trình, một biến thể với Exynos 2,1 GHz tám lõi sẽ được phát hành trên thị trường nhưng chưa được xác định. Về kết nối, nó hỗ trợ 802.11ac MIMO Wi-Fi và LTE. S5 có pin 2.800 mAH; phần mềm nó có chế độ "Ultra Power Saving" để kéo dài thời lượng pin; khi kích hoạt, tất cả các quy trình không cần thiết sẽ bị vô hiệu hóa. Samsung tuyên bố rằng với Ultra Power Saving, S5 với 10% pin còn lại có thể kéo dài thêm 24 giờ ở chế độ chờ.
=== Phần mềm ===
S5 cài sẵn hệ điều hành Android 4.4.2 "KitKat" và giao diện TouchWiz của Samsung. Không như TouchWiz trên S4, TouchWiz của S5 có một giao diện tinh tế hơn, mặc dù một số khía cạnh bị ảnh hưởng đến một số thỏa thuận bằng sáng chế với Google, mà yêu cầu Samsung ít thay đổi "cải cách" giao diện Android trên TouchWiz. S5 thêm tính năng "My Magazine" của Galaxy Note 3 trang cuối cùng bên trái của màn hình chủ, menu cài đặt được cập nhật dựa trên giao diện mới, có thêm chế độ Kid Mode, công cụ "Download Booster" cho phép tải tập tin lớn được chia trên LTE và Wi-Fi nâng cấp tốc độ, trong khi đó ứng dụng S Health có chức năng mở rộng, tích hợp bộ cảm biến nhịp tim mới trên thiết bị, cùng với đồng hồ thông minh Gear 2 và Gear Fit theo dõi hoạt động mới.
Galaxy S5 có một số tính năng bảo mật mới. Quét vân tay sử dụng để mở khóa, trong khi SDK có sẵn cho nhà phát triển thứ ba cung cấp chức năng vân tay cho ứng dụng của họ; PayPal sẽ tích hợp hỗ trợ cảm biến vân tay để xác nhận mua hàng trực tuyến. S5 có thêm tính năng "Private Mode", cho phép người dùng có thể ẩn ứng dụng hoặc tập tin mà không thể đăng nhập nếu thiếu xác nhận. Ứng dụng máy ảnh được cập nhật với menu mới "Shot & More" cho phép người dùng có thể chỉnh sửa ảnh sau khi chụp, và chế độ lấy nét sau.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức
Trang web chính thức Samsung Galaxy S5 tại Vietnam |
8 tháng 8.txt | Ngày 8 tháng 8 là ngày thứ 220 (221 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 145 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1918 - Chiến tranh thế giới thứ nhất: Mở màn trận Amiens
1925 - Đại hội lần thứ nhất của Hội Ku Klux Klan (thường gọi là Đảng 3K) tại Washington D.C., Hoa Kỳ với 200.000 người tham gia
1945 - Chiến tranh thế giới thứ hai: Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản, mở màn Chiến dịch Mãn Châu (1945)
Đế quốc Việt Nam dưới sự điều hành của chính phủ Trần Trọng Kim thu hồi chủ quyền trên xứ Nam Kỳ
1949 - Bhutan ký hiệp định hữu nghị với Ấn Độ.
1952 - Hawker Sea Fury là chiếc máy bay tiêm kích gắn động cơ piston cuối cùng bắn rơi một chiếc tiêm kích phản lực Mikoyan-Gurevich MiG-15 trong Chiến tranh Triều Tiên
1957 - Thành lập Viện Đại học Đà Lạt, cơ sở giáo dục bậc đại học thứ nhì ở Miền Nam Việt Nam
1967 - thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Bangkok, Thái Lan
1974 - Sự kiện Watergate: Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon thông báo quyết định từ chức, có hiệu lực sau 1 ngày
1975 - Do mưa lớn bắt nguồn từ hoàn lưu bão Nina, hàng chục đập bị vỡ tại lưu vực Hoài Hà thuộc tỉnh Hà Nam, khiến hàng chục đến hàng trăm nghìn người thiệt mạng.
1988 - Bắt đầu Cuộc nổi dậy 8888 đòi dân chủ của sinh viên Yangon, sau lan rộng ra mọi tầng lớp dân chúng trên khắp Myanmar, biểu tượng Aung San Suu Kyi nổi lên.
1990 - Iraq chiếm Kuwait và sáp nhập nước này vào lãnh thổ Iraq
2008 - khai mạc Thế vận hội Bắc Kinh 2008
== Sinh ==
1079 - Nhật hoàng Horikawa
1881 - Paul Ludwig Ewald von Kleist, thống chế Đức
1901 - Ernest Orlando Lawrence, nhà vật lý học người Mỹ, giải thưởng Nobel năm 1939
1902 - Paul Dirac, nhà vật lý học lý thuyết người Anh
1921 - Lê Quang Đạo, Chính khách Việt nam
1926 - Dương Quân, nhà thơ trào phúng người Việt Nam
1948 - Svetlana Savitskaya, phi hành gia người Nga
1978 - Louis Saha, cầu thủ bóng đá người Pháp
1981 - Roger Federer, vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Thụy Sĩ
1987 - Katie Leung, diễn viên người Scotland
== Mất ==
1555 - Oronce Finé, nhà toán học người Pháp
1944 - Erwin von Witzleben, thống chế Đức (s. 1881)
1947 - Anton Ivanovich Denikin, tướng Nga (s. 1872)
1996 - Nevill Mott, người đoạt giải Nobel Vật Lý (s. 1905)
2005 – Trần Quốc Vượng, sử gia Việt Nam (s. 1934)
2009 – Daniel Jarque cầu thủ Tây Ban Nha(s. 1983)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày Toàn dân rèn luyện sức khoẻ tại Trung Quốc; ngày của Cha tại Đài Loan.
== Tham khảo == |
niobi.txt | Niobi hay columbi (phiên từ tên gọi của nguyên tố tại Hoa Kỳ) là tên gọi của một nguyên tố hóa học có ký hiệu Nb và số nguyên tử 41. Là một kim loại chuyển tiếp mềm, dễ uốn, màu xám và hiếm, niobi được tìm thấy trong pyrochlore và columbit. Nó được phát hiện lần đầu tiên trong khoáng vật thứ hai vừa đề cập và vì thế ban đầu được gọi là columbi; vì thế hiện nay khoáng vật đó còn được gọi là "niobit". Niobi được sử dụng trong việc sản xuất các hợp kim thép đặc biệt cũng như trong hàn, công nghiệp hạt nhân, công nghiệp điện tử, quang học và ngành kim hoàn.
== Đặc trưng ==
Niobi là kim loại mềm màu xám nhưng có ánh lam khi bị phơi ra ngoài không khí ở nhiệt độ phòng trong một thời gian dài. Các tính chất hóa học của niobi là gần giống như của tantali, nguyên tố nằm ngay dưới niobi trong bảng tuần hoàn.
Khi cần làm việc với niobi ở nhiệt độ hơi cao thì nó cần được đặt trong môi trường có bảo vệ. Kim loại này bắt đầu bị ôxi hóa trong không khí ở nhiệt độ 200 ° C; trạng thái ôxi hóa phổ biến nhất của nó là +3, +5, mặc dù các trạng thái khác cũng tồn tại.
== Ứng dụng ==
Niobi có nhiều ứng dụng: nó là thành phần của một vài loại thép không gỉ và hợp kim của các kim loại phi sắt khác. Nó cũng là thành phần bổ sung rất quan trọng cho thép HSLA, được sử dụng rộng rãi làm thành phần cấu trúc cho các ô tô ngày nay. Các hợp kim này rất bền và thường được dùng làm các đường ống. Các ứng dụng khác có:
Kim loại này có tiết diện bắt nơtron thấp đối với các nơtron nhiệt và vì thế có ứng dụng trong công nghiệp hạt nhân.
Được dùng trong các que hàn hồ quang cho một số cấp ổn định của thép không gỉ.
Lượng thích hợp niobi trong dạng ferroniobi và niken niobi độ tinh khiết cao được sử dụng trong các siêu hợp kim gốc niken, coban, sắt trong các ứng dụng như chế tạo các bộ phận của động cơ phản lực, tên lửa và các thiết bị chịu nhiệt.
Niobi được lượng giá như là vật liệu thay thế cho tantali trong các tụ điện.
Do niobi và một số hợp kim của niobi là trơ về mặt sinh lý (và vì thế ít gây dị ứng), chúng được sử dụng trong ngành kim hoàn và trong các thiết bị y tế như máy điều hòa nhịp tim. Niobi được xử lý bằng hiđrôxít natri tạo ra các lớp xốp hỗ trợ cho kỹ thuật cấy ghép xương.
Cùng với titan, tantali, nhôm, niobi cũng có thể được đốt nóng và anôt hóa bằng điện để tạo ra một mảng các màu sử dụng phương pháp gọi là anôt hóa kim loại phản ứng. Điều này làm cho nó trở nên hấp dẫn để sử dụng trong ngành kim hoàn.
Niobi cũng được bổ sung vào thủy tinh để thu được chiết suất cao hơn, một tính chất được sử dụng trong công nghiệp quang học để chế tạo các loại kính điều hòa mỏng hơn.
Năm 2005, Sierra Leone làm đồng tiền để tưởng nhớ Giáo hoàng John Paul II có chứa một đĩa vàng 24 cara (100%) được bọc bằng một vòng niobi màu tía.
Niobi trở thành chất siêu dẫn khi hạ nhiệt độ xuống dưới điểm sinh hàn. Ở áp suất thường, nhiệt độ tới hạn cao nhất của nó để có tính siêu dẫn là 9,3 K. Niobi có hiệu ứng Meissner lớn nhất trong số mọi nguyên tố đã biết. Ngoài ra, nó là một trong ba nguyên tố có tính siêu dẫn kiểu II (cùng vanadi và tecneti). Hợp kim niobi-thiếc và niobi-titan được sử dụng như là dây cuốn cho các nam châm siêu dẫn có khả năng tạo ra từ trường cực mạnh. Niobi cũng được sử dụng ở dạng tinh khiết để làm các cấu trúc gia tốc siêu dẫn cho các máy gia tốc hạt.
== Lịch sử ==
Niobi (nguồn gốc từ tên gọi một vị thần Hy Lạp là Niobe, con gái của Tantalus) được Charles Hatchett phát hiện năm 1801. Hatchett tìm thấy niobi trong một mẫu quặng được John Winthrop gởi từ Anh đến Massachusetts, Hoa Kỳ năm 1734 và đã đặt tên khoáng vật là columbite và nguyên tố mới là columbium theo tên Columbia. Columbium được Hatchett phát hiện có thể là một hỗn hợp của nguyên tố mới với tantali. Đã có một số nhầm lẫn đáng kể về các khác biệt giữa niobi và tantali có quan hệ gần gũi. Năm 1809, Nhà hóa học Anh William Hyde Wollaston đã so sánh cả hai ôxit của columbi—columbit, có mật độ 5,918 g/cm3, và tantali—tantalit, với mật độ 7,935 g/cm3, và kết luận rằng đó là 2 ôxít khác nhau đáng kể về mật độ, và do đó ông giữ tên gọi tantali. Kết luận này bị phản đối bởi nhà hóa học Đức Heinrich Rose năm 1846, ông cho rằng có hai nguyên tố khác nhau trong mẫu tantalit, và đặt tên chúng theo tên đứa con của Tantalus: niobium (theo Niobe), và pelopium (theo Pelops). Nhầm lẫn này xuất phát từ sự khác biệt được quan sát rất ít giữa tantali và niobi. Cả tantali và niobi phản ứng với clo và các vết cua ôxy, bao gồm cả hàm lượng trong khí quyển, với niobi tạo thành hai hợp chất: niobi pentaclorua (NbCl5) dễ bay hơi màu trắng và niobi oxyclorua (NbOCl3) không bay hơi. Các nguyên tố mới được công bố là pelopium, ilmenium và dianium thực chất là niobi hoặc các hỗn hợp của niobi và tantali.
Sự khác biệt giữa tantalum and niobium được chứng minh rõ ràng năm 1864 bởi Christian Wilhelm Blomstrand, và Henri Etienne Sainte-Claire Deville, cũng như Louis J. Troost, họ đã xác định các công thức của một số hợp chất vào năm 1865 và cuối cùng bởi nhà hóa học Thụy Sĩ Jean Charles Galissard de Marignac năm 1866, tất cả họ đã chứng minh rằng chỉ có 2 nguyên tố. Các phát hiện này đã không ngăn các nhà khoa học dùng trong các bài báo được xuất bản mãi cho đến năm 1871. năm 1864, De Marignac là người đầu tiên điều chế niobi nguyên chất khi ông khử niobi clorua bằng cách nung nóng nó trong môi trường hiđrô.
Mặc dù de Marignac đã có thể điều chế niobi nguyên chất với quy mô lớn vào năm 1866, mãi cho đến đầu thế kỷ 20 niobi mới được dùng trong thương mại, trong sợi tóc đèn dây tóc. Ứng dụng này nhanh chóng lỗi thời khi niobi bị thay thế bởi tungsten, do nguyên tố này có điểm nóng chảy cao hơn và đó là một lợi thế trong việc sử dụng làm dây tóc bóng đèn. Việc phát hiện ra niobi có khả năng làm tăng độ bền của thép được thực hiện vào thập niên 1920, và vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Năm 1961, nhà vật lý người Mỹ Eugene Kunzler và các cộng sự tại Bell Labs phát hiện ra rằng niobi-kẽm thể hiện tính siêu dẫn trong các dòng điện và từ trường mạnh.
Columbium (ký hiệu Cb) là tên gọi ban đầu Hatchett đặt cho nguyên tố, nhưng IUPAC đã chính thức công nhận tên gọi "niobium" như là tên cho nguyên tố số 41 vào năm 1950 sau khoảng 100 năm tranh chấp. Đây là một kiểu thỏa hiệp do IUPAC chấp nhận tên gọi tungsten thay cho tên gọi wolfram để chiều theo cách gọi tại Bắc Mỹ cho nguyên tố số 74; và niobium thay vì columbium để chiều theo cách gọi tại châu Âu cho nguyên tố số 41. Tuy nhiên, không phải là ai cũng đồng ý với điều này và trong khi nhiều hiệp hội hóa chất hàng đầu cũng như các tổ chức chính phủ đề cập tới nguyên tố này bằng tên gọi chính thức của IUPAC thì vẫn còn nhiều hiệp hội kim loại, các nhà luyện kim hàng đầu khác, và phần lớn các nhà sản xuất thương mại hàng đầu tại Hoa Kỳ vẫn dùng tên gọi "columbium".
== Phổ biến ==
Nguyên tố này không tồn tại ở dạng tự do trong thiên nhiên mà trong các khoáng vật như columbit ((Fe,Mn)(Nb,Ta)2O6), columbit-tantalit hay coltan ((Fe,Mn)(Ta,Nb)2O6), pyrochlore ((Na,Ca)2Nb2O6OH,F) hay euxenit ((Y,Ca,Ce,U,Th)(Nb,Ta,Ti)2O6). Các khoáng vật chứa niobi thường cũng chứa tantali. Một lượng lớn trầm tích của niobi được phát hiện gắn liền với cacbonatit (các dạng đá lửa cacbon-silicat) và như là thành phần hợp thành của pyrochlore. Brasil và Canada là các nhà sản xuất hàng đầu về khoảng vật niobi cô đặc và các nguồn quặng dự trữ lớn còn có Nigeria, Cộng hòa dân chủ Congo, Nga. Công ty sản xuất lớn nhất tại Brasil là CBMM nằm tại Araxá, Minas Gerais.
== Đồng vị ==
Niobi nguồn gốc tự nhiên chỉ bao gồm 1 đồng vị ổn định (Nb93). Các đồng vị phóng xạ ổn định nhất có Nb92 với chu kỳ bán rã 34,7 triệu năm, Nb94 (20.300 năm), Nb91(680 năm). Nb93 có dạng đồng phân hạt nhân (Nb93m) với đường năng lượng gama ở 31 keV và chu kỳ bán rã 16,13 năm. Hai mươi ba đồng vị phóng xạ khác cũng đã được nêu đặc trưng. Phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 2 giờ, ngoại trừ Nb95 (35 ngày), Nb96 (23,4 giờ) và Nb90 (14,6 giờ). Phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị nhẹ hơn Nb93 là bắt điện tử còn phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị nặng hơn Nb93 là bức xạ beta với một số bức xạ nơtron diễn ra trong phương thức đầu tiên của hai phương thức phân rã đối với Nb104, Nb109 và Nb110.
Chỉ có Nb95 (35 ngày) và Nb97 (72 phút) và các đồng vị nặng (chu kỳ bán rã chỉ tính bằng giây) là các sản phẩm phân hạch với lượng đáng kể, do các đồng vị khác bị lu mờ bởi các đồng vị rất ổn định hay chu kỳ bán rã rất dài (như Zr93) của nguyên tố zirconi đứng ngay trước nó từ sản phẩm sinh ra thông qua phân rã beta của các mảnh phân rã giàu nơtron. Nb95 là sản phẩm phân rã của Zr95 (64 ngày), vì thế sự biến mất của Nb95 trong nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng là chậm hơn so với có thể dự kiến từ chu kỳ bán rã 35 ngày của chính nó. Các lượng nhỏ của các đồng vị khác cũng có thể sinh ra như là các sản phẩm phân hạch trực tiếp.
== Phòng ngừa ==
Các hợp chất chứa niobi là tương đối hiếm gặp, nhưng một số trong chúng có độc tính và cần cẩn thận khi tiếp xúc. Niobi không có vai trò sinh học đã biết nào. Bụi niobi kim loại là tác nhân gây kích thích mắt và da cũng như chứa đựng nguy hiểm cháy. Tuy nhiên, niobi kim loại (không phải bụi) lại là trơ về mặt sinh lý và vô hại. Nó thường được sử dụng trong nghề kim hoàn.
== Xem thêm ==
Hợp chất niobi
Khoáng vật niobi
== Tham khảo ==
Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Niobi
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Niobi
Trung tâm nghiên cứu quốc tế Tantali-Niobi
Niobi cho các máy gia tốc hạt |
câu lạc bộ bóng đá hà nội.txt | Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội là tên gọi của một đội bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam trước đây, có trụ sở ở Thủ đô Hà Nội. Đội thường hay bị nhầm lẫn với một đội bóng khác cùng thành phố là Câu lạc bộ Hà Nội vốn đang thi đấu ở giải V-League.
== Lịch sử hình thành ==
Tiền thân của đội là Đội bóng đá Đường sắt Việt Nam, bị xóa phiên hiệu đầu năm 2000 và được Ngân hàng Á Châu tiếp quản nhân sự. Đội được chuyển sang mô hình chuyên nghiệp với tên gọi Câu lạc bộ bóng đá Ngân hàng Á Châu, hay Câu lạc bộ bóng đá ACB, do Công ty Cổ phần Thể thao ACB quản lý.
Mặc dù là đội bóng từng có thành tích cao, nhưng sau nhiều năm sa sút, lực lượng được chuyển giao của Đường sắt Việt Nam khá yếu kém. Để lấy được sức mạnh cũ, ngoài việc tổ chức lại, đội còn liên kết với Câu lạc bộ bóng đá Sông Lam Nghệ An để xây dựng lực lượng tuyển thủ trẻ.
Sau 2 năm đầu tư, đội chính thức giành được quyền thi đấu tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam 2001-2002 và chuyển tổng hành dinh về Hà Nội. Đội còn được nhận được sự tài trợ của LG Electronic, do đó đội còn có tên là Câu lạc bộ bóng đá LG.ACB.
Tuy nhiên, tại mùa bóng 2003, đội đã thi đấu không thành công và rơi trở lại giải hạng Nhất. Cũng trong mùa bóng 2003, Tổng công ty Hàng không Việt Nam (vừa tiếp quản đội bóng giàu truyền thống Công an Hà Nội) cũng tuyên bố ngưng tài trợ cho Câu lạc bộ bóng đá Hàng không Việt Nam vì thiếu kinh phí dù đội bóng vẫn được thi đấu tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam 2004. Công ty Cổ phần Thể thao ACB đã tiếp quản toàn bộ lực lượng của đội Hàng không Việt Nam. Hầu hết các cầu thủ chính của đội Hàng không Việt Nam chuyển sang làm nòng cốt cho đội bóng mới với tên gọi LG. Hà Nội ACB để thi đấu ở giải chuyên nghiệp với suất của đội Hàng không Việt Nam. Số nhân sự còn lại được Liên đoàn bóng đá Hà Nội tập hợp để thành lập một đội bóng bán chuyên nghiệp và được Tập đoàn Hòa Phát tài trợ, thi đấu ở giải hạng Nhất với tên gọi Câu lạc bộ bóng đá Hòa Phát Hà Nội.
Giữa mùa bóng 2006, LG rút tài trợ, đội được đổi tên thành Hà Nội - ACB. Cũng trong năm này, đội Hòa Phát Hà Nội cũng chính thức chuyển sang mô hình chuyên nghiệp và thi đấu ở giải chuyên nghiệp.
Tuy nhiên đến mùa bóng 2008, cả 2 đội đều thi đấu không thành công và đều phải chuyển xuống thi đấu ở giải hạng Nhất. Mùa bóng 2009, Hòa Phát Hà Nội thi đấu giành được quyền thăng hạng và đến năm sau, đội một lần nữa thi đấu ở V-League sau khi đoạt chức vô địch Giải hạng Nhất 2010.
Tuy nhiên, mùa bóng 2011 là một mùa thi đấu không may mắn, khi đội xếp chót bảng và rơi trở về giải hạng Nhất. Cuối năm 2011, đơn vị quản lý của đội là Công ty Cổ phần Thể thao ACB đã tiếp quản Câu lạc bộ bóng đá Hòa Phát Hà Nội. Một lần nữa nhân sự có sự thay đổi lớn khi phần lớn đội hình của Hòa Phát Hà Nội được giữ lại ở đội hình chính thức để chơi ở giải Ngoại hạng với suất của Hòa Phát Hà Nội cũ với tên gọi mới là Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội. Phần lớn đội hình Hà Nội ACB cũ được chuyển sang đội hình 2 với tên mới là Câu lạc bộ bóng đá trẻ Hà Nội và thi đấu ở giải hạng Nhất.
Kết thúc mùa bóng 2012, đội xếp thứ 9 trong bảng tổng sắp. Tuy nhiên, sau khi ông bầu Nguyễn Đức Kiên bị bắt, đội rơi vào tình trang khủng hoảng. Lãnh đạo câu lạc bộ đã quyết định không đăng ký dự V-League 2013 đồng thời cũng rút tên Trẻ Hà Nội khỏi danh sách dự giải hạng Nhất năm tới. Điều này đồng nghĩa với việc câu lạc bộ chuyên nghiệp sẽ bị giải thể.
=== Tên gọi ===
Câu lạc bộ bóng đá Ngân hàng Á Châu (2000-2003)
LG.Hà Nội.ACB (2003-2006)
Hà Nội - ACB (2006-2011)
Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội (2011-2012)
== Thành tích ==
==== Hà Nội - ACB ====
Cúp bóng đá Việt Nam:
Vô địch (1): 2008
Giải hạng nhất:
Vô địch (1): 2010
==== Hòa Phát Hà Nội ====
Cúp bóng đá Việt Nam:
Vô địch (1): 2006
Giải hạng nhất:
Á quân (2): 2004, 2009
== Đội hình ==
=== Đội hình chính thức ===
Tính đến lượt đi mùa giải Ngoại hạng 2012.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Đội hình 2 ===
Còn được gọi là Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội B hay Câu lạc bộ bóng đá Trẻ Hà Nội.
Tính đến đầu mùa giải Hạng nhất 2012.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Thành viên nổi bật ==
=== Quả bóng vàng Việt Nam ===
Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng Việt Nam khi đang chơi cho Hà Nội-ACB:
Phạm Thành Lương-2009
=== Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất ===
Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất khi đang chơi cho Hà Nội-ACB:
Vũ Đình Khải-2025
== Logo của câu lạc bộ ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
CLB LG.HN.ACB trên Vietnamnet
Trang web của hội CĐV Hà Nội-ACB |
bắn cung.txt | Bắn cung là một nghệ thuật, thực hành, hoặc kĩ năng sử dụng cung để đẩy các mũi tên đi. Thuật bắn cung có lịch sử, sử dụng cho đi săn hoặc chiến tranh; trong thời hiện đại, dù sao đi nữa, nó vẫn còn được sử dụng thông qua các phương thức giải trí. Người nào biết bắn cung được gọi là "cung thủ"."
== Lịch sử ==
Cung dường như được sáng tạo trong khoảng cuối thời kỳ Điif đá cũ hoặc đầu thời kỳ Mesolithic. Cây cung được sử dụng lâu đời nhất được biết tới ở Châu Âu từ Stellmoor trong Thung lũng Ahrensburg phía bắc của thành phố Hamburg, Đức. Nó được tiên đoán là ở cuối thời kỳ Paleolithic, khoảng 10.000–9.000 trước công nguyên. Cung tên được tạo bởi Cây thông và bao gồm có cán và phần thân dài 15–20 cen ti mét (6–8 inch) với mũi tên. Lúc đó chưa định nghĩa là cung; trước đó mũi tên đã được biết, nhưng bị thay đổi bởi Lao (vũ khí) được sử dụng nhiều hơn cung. Loại cung được biết tới như là cây cung cổ nhất tìm thấy ở đầm lầy Holmegaard trong Đan Mạch. Cung cuối cùng cũng được sử dụng thay cho lao và chiếm ưu thế hơn hẳn lao và một số người bắt đầu xếp lao và cung vô những loại dụng cụ được đẩy đi bởi lực nào đó, trên tất cả các lục địa trừ lục địa Úc (tuy lao vẫn tồn tại cùng với cung trong một phần lịch sử Châu Mỹ, đáng kể nhất là México (lao được sử dụng từ khi tên bộ tộc Nahuatl ra đời) và cùng với người Inuit).
Cung và mũi tên xuất hiện trong văn hoá Ai Cập từ thời kỳ Tiền Triều đại Ai Cập. Trong khu vực Levant, các mũi tên trong Văn hoá Natufian được làm thẳng hơn trước, (năm 12.800–10.300 trước khi cận đại (là tính từ năm 1950)). Người Khiamian dưới thời Đồ đá mới cùng với người Khiam có thể giỏi về đầu tên. Các nền văn minh trong Thời cổ điển, đáng kể nhất là Assyria, Hungary, Nhà Achaemenes, Parthia, Ấn Độ, Triều Tiên, Trung Quốc, và Nhật Bản có một lượng lớn cung thủ trong quân đội. Thuật bắn cung của người Phạn, dhanurveda, được biết đến như môn võ thuật.
Thuật bắn cung được phát triển mạnh ở Châu Á và trong giới Đạo Hồi. Ở Đông Á, các nền văn minh Triều Tiên cổ đại, như Tân La (Shilla), Bách Tế (Baekje), và Cao Câu Ly (Goguryeo) được biết đến với những cung thủ tài ba. ngoài ra Trung Quốc, Nhật Bản cũng phát triển mạnh về thuật bắn cung để phục vụ cho nhu cầu quân sự, đặc biệt là các dân tộc du mục ở phương Bắc Trung Quốc như người Mông Cổ, người Nữ Chân/Mãn Châu, người Khiết Đan, Đảng Hạ, Đột Quyết, Tây Vực..... là những chiến binh giỏi về thuật bắn cung, đặc biệt là đội kỵ xạ của người Mông Cổ từng làm mưa, làm gió trên thế giới vào thế kỷ XIII với tài cung ngựa của mình. Ở trung tâm Đồng bằng châu Á và châu Mỹ các thành viên nam của các bộ tộc nhỏ là những cung thủ cưỡi ngựa tài giỏi.
== Thụt lùi và thăng tiến ==
Với sự phát triển của súng đạn làm cung dần dần bị lãng quên và không sử dụng trong chiến tranh nữa. Mặc dù tình trạng kỹ thuật công nghệ lên cao, nhưng cung vẫn đang được phát triển và sử dụng trong một số nước như Anh,Hàn Quốc, Trung Quốc[1], Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Người da đỏ, Ai Cập, và nhiều chỗ khác, hầu hết tất cả các văn hoá đã sử dụng súng(lúc nó mới ra), thì thường bỏ mặc cung. Các loại súng sơ khai ban đầu thì yếu thế hơn về tốc độ bắn so với cung, và không thể dùng trong thời tiết ẩm ướt. Nhưng dù gì đi nữa, súng có thể làm thương nặng hơn. và về mặt chiến thuật thì có chiếm ưu hơn cung như có thể đứng bắn đằng sau những vật cản, những người người sử dụng súng không cần phải được huấn luyện kĩ càng và không cần phải có cơ bắp khoẻ như để bắn cung, điểm đặc trưng có thể xuyên lủng qua các áo giáp. Các đội quân dùng súng có thể có lợi thế cao khi số lượng lính càng nhiều, và hiện nay các cung thủ chuyên nghiệp rất hiếm trong các trận chiến. Dù vậy, cung thủ vẫn có ảnh hưởng rộng rãi và đã có những bước tiến đáng kể trong thế kỷ 21. Các phong tục truyền thống cung vẫn được sử dụng trong thể thao, và đi săn ở một số nơi.
== Chú thích ==
== Đọc Thêm ==
Ford, Horace (1887) The Theory and Practice of Archery London: Longmans, Green
Elmer, Robert P. (Robert Potter) (1917) American Archery; a Vade Mecum of the Art of Shooting with the Long Bow Columbus, OH: National Archery Association of the United States
Hansard, George Agar (1841) The Book of Archery: being the complete history and practice of the art, ancient and modern... London: H. G. Bohn
Hargrove, Ely (1792) Anecdotes of Archery; from the earliest ages to the year 1791. Including an account of the most famous archers of ancient and modern times; with some curious particulars in the life of Robert Fitz-Ooth Earl of Huntington, vulgarly called Robin Hood.... York: printed for E. Hargrove, bookseller, Knaresbro' (later editions: York, 1845 and facsimile reprint, London: Tabard Press, 1970)
Heath, E. G. & Chiara, Vilma (1977) Brazilian Indian Archery: a preliminary ethno-toxological study of the archery of the Brazilian Indians. Manchester: Simon Archery Foundation
Klopsteg, Paul (1963) A Chapter in the Evolution of Archery in America Washington, DC: Smithsonian Institution
Lake, Fred & Wright, Hal (1974) A Bibliography of Archery: an indexed catalogue of 5,000 articles, books, films, manuscripts, periodicals and theses on the use of the bow for hunting, war, and recreation, from the earliest times to the present day. Manchester: Simon Archery Foundation
Morse, Edward (1922) Additional notes on arrow release Salem, Massachusetts: Peabody Museum
Pope, Saxton (1925) Hunting with the Bow and Arrow New York: G. P. Putnam's Sons
Pope, Saxton (1918) Yahi Archery Berkeley: University of California Press
Thompson, Maurice (1878) The Witchery of Archery: a Complete Manual of Archery New York: Scribner & Sons
The Traditional Bowyer's Bible. [Azle, TX]: Bois d’Arc Press; New York, N.Y.: Distributed by Lyons & Burford
The Traditional Bowyer's Bible; Volume 1. 1992. ISBN 1-58574-085-3
The Traditional Bowyer's Bible; Volume 2. 1992. ISBN 1-58574-086-1
The Traditional Bowyer's Bible; Volume 3. 1994. ISBN 1-58574-087-X; ISBN 1558213112
The Traditional Bowyer's Bible; Volume 4. The Lyons Press, 2008. ISBN 978-0-9645741-6-8
== Liên kết ngoài ==
Click here for Hunters' Habitat - A social community designed for hunters by hunters
Bắn cung tại DMOZ |
sân khấu cổ truyền việt nam.txt | Ở Việt Nam, đã có nhiều hình thức sân khấu cổ truyền tồn tại từ lâu đời như hát chèo, hát tuồng, múa rối nước...và mới hơn như cải lương, kịch dân ca.
Theo truyền thống, ngày 12 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ Tổ sân khấu, và từ năm 2011 thủ tướng Việt Nam lúc đó là ông Nguyễn Tấn Dũng đã ra quyết định chính thức công nhận ngày 12 tháng 8 âm lịch là Ngày Sân khấu Việt Nam.
== Lịch sử hình thành ==
Lịch sử ngành sân khấu Việt Nam được manh nha từ thời nhà Đinh. Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam, là nơi khởi nguồn sản sinh nhiều giá trị văn hóa mang bản sắc Việt. Đây là nơi khai sinh ra dòng văn học viết và cũng được xem là vùng đất tổ của nghệ thuật sân khấu điện ảnh Việt Nam với việc hình thành các bộ môn chèo, tuồng và xiếc. Hoa Lư là quê hương của nghệ thuật sân khấu chèo mà người sáng lập là bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh. Đây là loại hình sân khấu được hình thành sớm nhất và tiêu biểu nhất của Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư chép: Mùa thu Ất Dậu, nhân ngày kỷ niệm lên ngôi, Lê Đại Hành cho tổ chức hội đèn bơi thuyền, lấy tre làm núi giả, gọi là Nam Sơn. Để cho sứ giả nhà Tống sợ, vua cho ba nghìn quân sĩ có thích ở trán ba chữ “Thiên tử quân” oai phong lẫm liệt, mở cuộc thao diễn vĩ đại, đóng trò giả cùng với dân bơi thuyền, gióng trống hò reo, cắm cờ, làm như bày binh bố trận, để phô trương thanh thế. Và, vẫn dẫn sách trên: Vua Lê Đại Hành ngự giá chinh phạt Chiêm Thành, bắt được hàng trăm ca kỹ ở kinh đô Chiêm quốc mang về nước, bắt họ múa hát vui chơi, đó là việc hình thành nghệ thuật kịch và xiếc. Các truyền thuyết lịch sử hát Tuồng cũng ghi rằng loại hình ngày hình thành vào thời Tiền Lê năm 1005, khi một kép hát người Tàu tên là Liêu Thủ Tâm đến Hoa Lư và trình bày lối hát xướng thịnh hành bên nhà Tống và được vua Lê Long Đĩnh thâu dụng, bổ làm phường trưởng để dạy cung nữ ca hát trong cung.
Trong cuộc chiến chống Nguyên Mông, nhà Trần bắt được nhạc sĩ Lý Nguyên Cát người Nam Tống vốn là trưởng ban kịch ca trong quân đội Nguyên Mông. Lý Nguyên Cát phỏng theo tiếng Việt mà soạn ra các vở tuồng và huấn luyện người Việt diễn tuồng. Sang thời Trần Dụ Tông, có người phường trò là Đinh Bàng Đức ở nhà Nguyên sang nương nhờ vì chiến tranh. Đinh Bàng Đức dạy người Việt lối hát cầm gậy. Nhảy múa thường xuyên được tổ chức trong cung đình và trong dân gian. Ngoài chèo, hát ả đào truyền thống khá phổ biến trong dân gian và giới quý tộc. Các quý tộc nhà Trần yêu thích hát chèo và diễn hề. Thời Trần Dụ Tông, các quý tộc trong cung đình say mê nghệ thuật, nhiều vở hát chèo trong cung đình do chính những người trong hoàng tộc dàn dựng, biểu diễn và nhà vua tự mình duyệt lại, thưởng hậu cho người diễn và làm trò giỏi. Việc ca hát trong cung đình nhà Trần được sứ nhà Nguyên là Trần Cương Trung mô tả trong tác phẩm Sứ giao tập, theo đó mỗi lần yến tiệc trong cung thường có ca nhạc và nhảy múa, các khúc ca giống như khúc Giáng Châu Long, Nhập hoàng đô của phương Bắc, âm điệu cổ nhưng ngắn hơn.
Nhưng từ thế kỷ XV, triều đình nhà Lê cho nghệ thuật sân khấu là trò du hí của tiểu nhân (nhân dân lao động thất học), cấm vào diễn ở cung đình, đồng thời ban hành nhiều văn bản khá khắc nghiệt hạn chế nghệ thuật này phát triển trong dân gian. Vì tình hình đó, nghệ thuật sân khấu vẫn tồn tại trong nông thôn nhưng không phát triển mạnh.
Cách mạng Tháng Tám thành công, nghệ thuật sân khấu bước vào thời kỳ sáng tạo mới. Các nghệ sĩ khắp nơi được tập hợp. Các đoàn văn công được thành lập. Hàng loạt vở diễn sân khấu ra đời ở các chiến khu phục vụ kháng chiến. Những năm hoà bình, Sân khấu phát triển mạnh mẽ, từ một phong trào sân khấu bán chuyên nghiệp, sân khấu lửa trại phát triển thành các Đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, đội quân Sân khấu hùng hậu ra trận đến với nhiều trận địa ác liệt với khẩu hiệu “Tiếng hát át tiếng bom”. Nhiều tác phẩm sân khấu ra đời trong thời kỳ này mang dáng vóc sử thi, ca ngợi chiến công, ca ngợi các anh hùng, liệt nữ, lên án kẻ thù, cổ vũ cuộc chiến đấu là những vở diễn có mặt trên nhiều trận địa để lại ấn tượng sâu sắc trong người xem. Sau năm 1975, cùng với cuộc hội tụ của cả dân tộc, Sân khấu về mái nhà Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Điểm nổi bật của sân khấu những năm 1975 đến 1990 ngoài những tác phẩm mang tính sử thi viết về chiến tranh, là một loạt vở diễn với đề tài xã hội đương đại.
Năm 2010, từ đề nghị của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Thông báo kết luận công nhận ngày 12/8 Âm lịch hàng năm là Ngày Sân khấu Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cũng đã có Quyết định số 13/QĐ-TTg ngày 04/01/2011 công nhận ngày 12/8 Âm lịch là Ngày Sân khấu Việt Nam.
== Chèo ==
Chèo là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng. Nội dung của các vở chèo lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm, mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc, đồng thời thể hiện tính dân tộc Việt. Sân khấu chèo đơn giản, với các diễn viên có thể không chuyên, biểu diễn ngẫu hứng.
Loại hình nghệ thuật truyền thống này được hình thành từ nguồn gốc cung đình Hoa Lư với vị tổ nghề Phạm Thị Trân nhưng sau đó đã phát triển mạnh ở nông thôn Việt Nam, trọng tâm ở đồng bằng Bắc Bộ và lan tỏa ra khu vực phía Bắc. Nó đạt đỉnh cao phát triển vào thời kỳ từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Đến thế kỷ 19, chèo nhận ảnh hưởng của tuồng. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị.
== Múa rối nước ==
Múa rối nước ra đời khoảng thế kỷ 10-11 ở đồng bằng Bắc Bộ gắn với mặt nước hồ ao đồng ruộng.
== Tuồng ==
Tuồng (còn gọi là hát Bội hay hát Bộ) là môn nghệ thuật từng thâm nhập vào cuộc sống cung đình và dần dà, có nhiều gánh hát đã được chuyên nghiệp hóa. Chữ tuồng có người cho là bởi chữ tường mà ra; tức hình dung dáng dấp, cử chỉ của người đời xưa. Thế kỷ 19 là thời hoàng kim của nghệ thuật tuồng. Tại từng địa phương ở Việt Nam còn có trường phái tuồng riêng, như tuồng Quảng Nam, tuồng Bình Định, tuồng Hà Bắc, hát bội Sài Gòn (tuồng Bình Định phát triển mạnh một phần nhờ ông Đào Duy Từ và ông Đào Tấn).
== Cải lương ==
Cải lương là một nghệ thuật kịch hát của miền nam Việt Nam, trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và đờn ca tài tử Nam Bộ. Nghệ thuật này ra đời vào năm 1917, chịu nhiều ảnh hưởng của âm nhạc Tây phương hơn so với các nghệ thuật thuần túy như hát chèo và hát bội. Đề tài của các tuồng cải lương thường liên quan đến các điển tích và những vấn đề xã hội. Hiện nay cải lương vẫn còn thịnh hành, đặc biệt là tại miền nam Việt Nam.
== Kịch dân ca ==
Loại hình sân khấu mới xuất hiện ở Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8, dựa trên nền tảng âm nhạc là các làn điệu dân ca ở địa phương, ví dụ như Kịch dân ca Bài chòi, Kịch dân ca Huế, Kịch dân ca Nghệ Tĩnh... Đây là loại hình nghệ thuật mới, tương tự như tuồng, chèo và cải lương.
=== Kịch bài chòi ===
Ca kịch Bài chòi bắt nguồn từ thú chơi bài chòi của người dân Quảng Nam - Đà Nẵng, về sau phát triển thành hình thức biểu diễn thơ tự sự, kể chuyện. Âm nhạc bắt nguồn từ các làn điệu dân ca miền Trung như Quảng Nam - Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị..., có các điệu chính là xuân nữ, nam xuân và xàng xê. Dàn nhạc đơn giản chỉ có đàn nhị, sanh sứa, sau có thêm đàn nguyệt, sáo và sinh tiền. Điều độc đáo của ca kịch Bài chòi là một diễn viên có thế thủ một lúc nhiều vai, với dàn nhạc đơn sơ nhưng vẫn lôi cuốn khán giả (tương tự như Pansori của Hàn Quốc). Bài chòi được phát triển chuyên nghiệp từ sự ra đời của Đoàn ca kịch Liên khu V với nghệ sĩ tiêu biểu như Lệ Thi.
=== Kịch ca Huế ===
=== Kịch dân ca Nghệ Tĩnh ===
== Các tổ ngành sân khấu Việt Nam ==
Một số nhân vật thường được ghi nhận là tổ một số ngành nghề sân khấu tại Việt Nam:
Phạm Thị Trân là bà tổ nghề hát chèo Việt Nam.
Liêu Thủ Tâm, Đào Tấn là các vị tổ của nghệ thuật sân khấu tuồng.
Tống Hữu Định (1896-1932) là ông tổ Cải Lương.. Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho, cũng là người được cho là có công nhất trong việc gây dựng lối hát Cải lương buổi ban đầu.
Vũ Đình Long là tổ nghề kịch nói.
Trần Quốc Đĩnh là tổ nghề hát xẩm.
Đinh Dự là tổ nghề ca trù Việt Nam. Ông được nhiều vùng có di sản ca trù thờ phụng như Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình. Ca trù sau này còn có một số vị tổ nghề địa phương như: Phan Tôn Chu tổ nghề ca trù Cổ Đạm ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Đào Thị Huệ tổ nghề ca trù Đào Đặng, Hưng Yên.
Nguyễn Lan Hương (1887 – 1949) là tổ nghề nhiếp ảnh (chủ cửa hiệu Hương Ký, là một hiệu ảnh ở phố Hàng Trống, bây giờ là khách sạn Phú Gia). Có thông tin khác lại cho là Đặng Huy Trứ là tổ nghề nhiếp ảnh.
== Xem thêm ==
Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
indomalaya.txt | Khu vực sinh thái Indomalaya trước đây được gọi là khu vực sinh thái Đông Dương.
Nó trải rộng từ khu vực Makran ở miền nam Pakistan qua tiểu lục địa Ấn Độ và Đông Nam Á tới các vùng đất thấp ở miền nam Trung Quốc, và qua Indonesia tới Java, Bali và Borneo, phía đông của nó nằm trên đường Wallace, ranh giới sinh thái được đặt theo tên của Alfred Russel Wallace, là người đã tách Indomalaya ra khỏi Australasia. Indomalaya còn bao gồm cả Philipin, vùng đất thấp của Đài Loan và quần đảo Lưu Cầu của Nhật Bản.
Phần lớn khu vực sinh thái Indomalaya nguyên thủy được che phủ bởi rừng, chủ yếu là các rừng ẩm ướt lá bản rộng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó rừng khô lá bản rộng nhiệt đới và cận nhiệt đới chiếm đa số ở Ấn Độ và một phần của Đông Nam Á. Các rừng ẩm nhiệt đới của Indomalaya chủ yếu là các loài cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae).
Malesia là một tiểu khu vực thực vật nằm trên ranh giới giữa Indomalaya và Australasia. Nó bao gồm cả bán đảo Mã Lai và các đảo miền tây Indonesia (gọi là Sundaland), Philipin, các đảo miền đông Indonesia và New Guinea. Trong khi khu vực này có nhiều điểm chung về hệ thực vật với cả khu sinh thái Indomalya thì lại rất khác về hệ động vật; Sundaland chia sẻ hệ động vật với châu Á đại lục, trong khi các đảo phía đông của đường Wallace hoặc là không có các động vật có vú như đất liền hoặc là quê hương của các động vật đất liền có nguồn gốc từ Australia, bao gồm cả các loài thú có túi và các loài chim thuộc bộ chim chạy.
Một trong các bộ động vật có vú, bộ Cánh da (Dermoptera), là đặc hữu của khu vực sinh thái này, cũng như các họ Đồi (Tupaiidae, thuộc bộ Nhiều răng (Scandentia)) và Vượn (Hylobatidae, thuộc bộ Linh trưởng (Primates)). Các loài động vật có vú lớn đặc trưng cho Indomalaya bao gồm báo hoa mai, hổ, trâu, voi châu Á, tê giác Ấn Độ, tê giác Java, heo vòi Mã Lai, vượn người, vượn và vượn Tarsius (cận bộ Tarsiiformes).
Indomalaya có ba họ chim đặc hữu, là các họ Chim xanh (Irenidae), họ Cu rốc (Megalaimidae) và Rhabdornithidae (sẻ Philipin). Các loài gà lôi (họ Phasianidae), chim đuôi cụt (họ Pittidae), khướu (họ Timaliidae) và chim sâu (họ Dicaeidae) cũng là đặc trưng của khu vực sinh thái này.
Hệ thực vật của Indomalaya là sự hỗn hợp các thành phần từ các siêu lục địa cổ là Laurasia và Gondwana. Các thành phần thuộc Gondwana được đưa tới từ Ấn Độ, khi tiểu lục địa này tách ra khỏi Gondwana khoảng 90 triệu năm trước, mang theo cùng với nó các hệ thực-động vật có nguồn gốc Gondwana về phía bắc, trong đó bao gồm cả cá rô phi (Cichlidae) và các họ thực vật có hoa như họ Lôi (Crypteroniaceae) và có thể là cả họ Dầu (Dipterocarpaceae). Tiểu lục địa này va chạm với châu Á khoảng 30-45 triệu năm trước và dẫn tới sự trao đổi các loài. Muộn hơn, khi mảng kiến tạo Australia-New Guinea trôi dạt về phía bắc, sự va chạm giữa các mảng kiến tạo Australia và châu Á đã làm nổi lên các đảo Wallacea, cách biệt với nhau chỉ bằng các eo biển hẹp, cho phép có sự trao đổi thực vật giữa Indomalaya và Australasia. Các loài thực vật rừng mưa châu Á khi đó như các loài dầu, vượt qua Wallacea tới New Guinea, và một số loài trong các họ thực vật của Gondwana, bao gồm kim giao (họ Podocarpaceae) và bách tán (chi Araucaria), đã từ Australia-New Guinea chuyển sang phía tây vào miền tây Malesia và Đông Nam Á.
== Xem thêm ==
Danh sách các vùng sinh thái của Indomalaya
Malesia
Sundaland
Các vùng sinh thái của Ấn Độ
Các vùng sinh thái của Philipin
== Khu vực sinh thái đất liền ==
== Liên kết ngoài ==
Bản đồ các khu vực sinh thái |
irn-bru.txt | Irn-Bru là một thức uống có ga nổi tiếng của hãng Barrs, Scotland, Anh quốc, được sáng chế tại Glasgow năm 1901. Thức uống này có màu cam sáng và có biệt danh "Scotland's other national drink" (một thức uống quốc gia khác của Scốt - len). "Thức uống quốc gia" còn lại là whisky. Nó được mô tả là có vị trái cây họ cam chanh nhẹ dịu.
Tên gọi Irn-Bru theo lời kể bắt nguồn từ quá trình xây lại Nhà Ga trung tâm Glasgow năm 1901 khi các công nhân của William Beardmore and Company Steel Works ở Glasgow uống quá nhiều bia để chống lại cơn khát do môi trường làm việc nóng bức khắc nghiệt. Công ty cần tìm cho họ một thức uống khác thay cho bia và hãng giải khát A.G. Barr đã giành được hợp đồng cung cấp loại nước uống này cho các công nhân. Thức uống không tên này về sau gọi là Iron Brew hay viết tắt là Irn-Bru (tạm dịch: chất lượng sắt) do có mối liên quan với các công trình sắt thép.
== Công thức ==
Công thức của Irn-Bru tới nay vẫn là bí mật, các hãng giải khát cạnh tranh khác đã thử pha chế Irn-Bru nhiều lần nhưng không thành công.
Câu khẩu hiệu thương mại nổi tiếng của Irn-Bru là "Made in Scotland from girders" (Hàng Scốt-len làm từ... dầm cầu). Dù không thực sự làm từ dầm cầu hay xà nhà, Irn-Bru vẫn thực sự chứa một lượng đáng kể kim loại sắt: năm 1999 người ta đo được nồng độ 0.002% sắt amoni citrate.
Năm 1999, Irn Bru được đưa vào Oxford Companion to Food cùng với trứng cá muối, chim cút và cá hồi như một trong những thực phẩm tuyệt nhất thế giới và được nhận xét là quan trọng cả về giá trị biểu tượng lẫn tính giải khát.
== Tài trợ ==
Irn-Bru là đơn vị tài trợ cho Scottish Football League, Scottish First Division, Scottish Second Division và the Scottish Third Division.
== Sản xuất ==
Irn-Bru và các nước giải khát hiệu Barr như Pineappleade, Cream Soda, Tizer, Red Kola, Barr Cola, và Limeade vẫn còn dạng chai thủy tinh tái chế 750 ml. Các vỏ chai có thể được trả lại cho nhà sản xuất thông qua bất kỳ cửa hàng bán lẻ mà bán cho họ.).
Irn-Bru và Diet Irn-Bru được sản xuất theo các cỡ sau:
150 ml: lon
250 ml: chai nhựa
330 ml: lon
330 ml: chai thủy tinh
500 ml: lon đặc biệt có hạn (lon bự Rugby League)
500 ml: chai nhựa
600 ml: chai nhựa (Nga)
1 lít: chai nhựa
1.25 lít: chai nhựa (Australia, New Zealand, Russia, Scotland)
2 lít: chai nhựa
2.5 lít: chai nhựa (Scotland "Big Bru")
3 lít: chai nhựa
355 ml: chai thủy tinh (in Canada)
750 ml: chai thủy tinh
5 lít: hộp si - rô.
Tháng 5/2007, Irn-Bru tái thiết kế toàn bộ chai và lon.
== Ảnh hưởng ==
Irn-Bru có thể pha với vodka và whisky.
Bảo tàng quốc gia Scotland, ở Edinburgh, có một buổi trưng bày các hiện vật do các ngôi sao chọn; hiệp sĩ - diễn viên Sean Connery chọn một thùng Irn-Bru.
Nhóm The Fratellis đã đặc biệt giới thiệu Irn-Bru trong chuyến lưu diễn năm 2008 của mình và uống Irn-Bru suốt thời gian lưu diễn.
Elvis Costello nhắc tới Irn-Bru trong "The St. Stephen's Day Murders," so sánh với một hỗn hợp thức uống Tia Maria và nhận xét "that drink made from girders".
Nhóm The Orchids nhắc tới Irn-Bru trong đĩa đơn đầu tay, "I've Got A Habit."
Nhóm nhạc Folk-n-Roll Scocha sáng tác bài hát về Irn-Bru trong album "ScattyBoo".Tên bài hát đó cũng là "Irn Bru"
== Phân bố ==
Irn-Bru được sản xuất tại năm nhà máy ở Nga và sản xuất nhượng quyền tại Canada, Mỹ và từ 5/ 2008 tại Na Uy. Irn-Bru và các sản phẩm Barr khác được xuất khẩu sang Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức, Gibraltar, Hy Lạp, và Cyprus, cũng như các phần của châu Phi và châu Á. Nó được bán ở Ba Lan, Úc, Canada, Trung Đông, Na Uy, Đan Mạch, Mỹ, cũng như có bán ở Ai Len, Malta, Bỉ và ở Phần Lan từ năm 2005 và Ai Len năm 2011.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
trang chính thức Irn-Bru
web của A.G. Barr cho sản phẩm Irn Bru
Irn-Bru Mỹ
Irn-Bru tại everything2
OFCOM A14 Advertising Report – Page 5 contains details of complaints regarding an Irn Bru advert
Irn-Bru gallery
web quảng bá Irn-Bru 32
web quảng bá Diet Irn-Bru
== Đọc thêm ==
Davidson, Alan. Oxford Companion to Food (1999), "Irn-Bru", p. 407. |
promethi.txt | Promethi hay prometi (tên La tinh: Promethium) là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Pm và số nguyên tử bằng 61. Nó đáng chú ý ở chỗ là nguyên tố chỉ có các đồng vị phóng xạ (ngoài tecneti) mà trước và sau nó đều có các nguyên tố với các đồng vị ổn định.
== Đặc trưng ==
Đồng vị có chu kỳ bán rã dài nhất của promethi, Pm145, là nguồn bức xạ beta mềm với chu kỳ bán rã 17,7 năm. Nó không bức xạ các tia gama, nhưng các hạt beta khi sinh ra sẽ tác động vào các nguyên tử của các nguyên tố có số nguyên tử cao có thể sinh ra các tia X, vì thế một mẫu Pm145 sẽ sinh ra một số bức xạ tia X mềm ngoài các hạt beta.
Promethi tinh khiết tồn tại dưới 2 dạng thù hình và các tính chất hóa học của nó là tương tự như của các nguyên tố khác trong nhóm Lantan. Các muối của promethi phát quang trong bóng tối với màu lam nhạt hay hơi lục do tính phóng xạ cao của nó. Promethi có thể tìm thấy ở dạng dấu vết trong một số loại quặng urani và các sản phẩm phân hạch. Promethi mới sinh ra cũng có thể phát hiện thấy trong các quang phổ của một số ngôi sao.
== Ứng dụng ==
Các ứng dụng của promethi bao gồm:
Nguồn bức xạ beta để đo độ dày.
Như là nguồn sáng cho tín hiệu cần hoạt động ổn định tin cậy và độc lập (sử dụng chất lân quang để hấp thụ bức xạ beta tạo ra ánh sáng).
Trong pin hạt nhân, trong đó chuyển hóa bức xạ beta thành dòng điện, có tuổi thọ hữu ích khoảng 5 năm khi sử dụng Pm147.
Clorua promethi (III) (PmCl3) trộn lẫn với sulfua kẽm (ZnS) từng có thời được sử dụng như là lớp sơn phát quang chính cho đồng hồ sau khi radi bị loại bỏ. Hỗn hợp này thỉnh thoảng vẫn được sử dụng cho một số ứng dụng cần sơn phát quang (mặc dù phần lớn ứng dụng như vậy với các vật liệu phóng xạ đã chuyển sang triti vì các lý do an toàn).
Promethi có ứng dụng tiềm năng như là các nguồn tia X có thể di động và là nguồn nhiệt hay điện phụ trợ cho các tàu thăm dò vũ trụ và vệ tinh (mặc dù nguồn bức xạ alpha Pu238 đã trở thành tiêu chuẩn cho phần lớn các ứng dụng liên quan tới thám hiểm không gian – xem Máy phát nhiệt điện đồng vị phóng xạ).
== Lịch sử ==
Sự tồn tại của promethi lần đầu tiên được Bohuslav Brauner dự đoán vào năm 1902; dự báo này được Henry Moseley ủng hộ năm 1914, khi ông phát hiện thấy lỗ hổng cho nguyên tố bị bỏ sót với số nguyên tử bằng 61, nhưng đã không được tìm thấy (tuy nhiên, Moseley không có mẫu vật nào để kiểm tra điều đó). Một vài nhóm nhà khoa học từng tuyên bố đã tạo ra nguyên tố này, nhưng họ không thể xác nhận điều đó do khó khăn trong việc tách promethi từ các nguyên tố khác. Promethi lần đầu tiên được tạo ra và chứng minh là tồn tại ở Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge (ORNL) năm 1945 bởi Jacob A. Marinsky, Lawrence E. Glendenin và Charles D. Coryell bằng chia tách và phân tích các sản phẩm phân hạch của nhiên liệu urani bị chiếu xạ trong lò phản ứng điều chỉnh bằng graphit; tuy nhiên, do quá bận với nghiên cứu liên quan tới quốc phòng trong Thế chiến II nên họ đã không thông báo phát hiện của mình cho tới tận năm 1947. Tên gọi promethium có nguồn gốc từ Prometheus, một vị thần khổng lồ (Titan) trong thần thoại Hy Lạp, đã ăn trộm lửa từ đỉnh Olympus và đưa nó cho loài người. Tên gọi này do Grace Mary Coryell, vợ của Charles Coryell, đề nghị do bà cảm thấy họ đã ăn trộm lửa từ các vị thần.
Năm 1963, các phương pháp trao đổi ion đã được sử dụng tại ORNL để điều chế khoảng 10 gam promethi từ các chất thải trong chế biến nhiên liệu cho lò phản ứng hạt nhân.
Ngày nay, promethi vẫn còn được phục hồi từ các phụ phẩm của phân hạch urani; nó có thể được tạo ra bằng bắn phá Nd146 bằng các nơtron, chuyển hóa nó thành Nd147 để sau đó phân rã thành Pm147 thông qua phân rã beta với chu kỳ bán rã 11 ngày.
== Phổ biến ==
Promethi có thể được hình thành trong tự nhiên như là sản phẩm của phân hạch tự phát của U238 và phân rã alpha của Eu151. Chỉ các lượng ở mức dấu vết có thể được tìm thấy trong các loại quặng tự nhiên: một mẫu pitchblende được phát hiện có chứa promethi ở hàm lượng khoảng 4 phần tỷ tỷ (4×10−18) theo khối lượng. Người ta đã tính toán rằng khối lượng cân bằng động của promethi trong lớp vỏ Trái Đất là khoảng 560 g từ phân hạch urani và khoảng 12 g từ phân rã alpha của europi-151 mới quan sát thấy gần đây.
Promethi cũng đã được nhận dạng trong quang phổ của sao HR 465 trong chòm sao Tiên Nữ (Andromeda) và có thể trong HD 101065 (sao Przybylski của chòm sao Bán Nhân Mã/Centaurus) và HD 965.
== Hợp chất ==
Các hợp chất của promethi bao gồm:
Các clorua
PmCl3
Các bromua
PmBr3
Các ôxít
Pm2O3
== Đồng vị ==
Ba mươi sáu đồng vị phóng xạ của promethi đã được nêu đặc trưng, với các đồng vị ổn định nhất là Pm145 có chu kỳ bán rã 17,7 năm, Pm146 có chu kỳ bán rã 5,53 năm và Pm147 có chu kỳ bán rã 2,6234 năm. Tất cả các đồng vị còn lại đều có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 364 ngày và phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 27 giây. Nguyên tố này cũng có 11 trạng thái giả ổn định với ổn định nhất là Pm148m (T½ 41,29 ngày), Pm152m2 (T½ 13,8 phút) và Pm152m (T½ 7,52 phút).
Các đồng vị của promethi nằm trong khoảng có nguyên tử lượng từ 127,9482600 u (Pm128) tới 162,9535200 u (Pm163). Phương thức phân rã chủ yếu trước đồng vị phóng xạ ổn định nhất, Pm145, là bắt điện tử, còn phương thức phân rã chủ yếu sau nó là phân rã beta trừ. Sản phẩm phân rã chủ yếu trước Pm145 là các đồng vị của neodymi (Nd) còn sản phẩm phân rã chủ yếu sau nó là các đồng vị của samari (Sm).
=== Độ ổn định của các đồng vị promethi ===
Ngoài tecneti, promethi là nguyên tố còn lại với số nguyên tử nhỏ hơn 83 mà không có đồng vị ổn định nào, nó là hiệu ứng hiếm xảy ra của mô hình giọt lỏng và độ ổn định của các đồng vị của các nguyên tố láng giềng.
== Phòng ngừa ==
Cần phải tiếp xúc với promethi với sự thận trọng cao do độ phóng xạ cao của nó. Trong thực tế, promethi có thể bức xạ các tia X trong quá trình phân rã beta của nó. Nó có chu kỳ bán rã nhỏ hơn của Pu239 (2,41×104 năm) khoảng 1.350 lần và vì thế độc tính sinh học của nó cũng tương ứng là cao hơn. Promethi không đóng một vai trò sinh học nào đã biết.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phòng thí nghiệm quốc gia Hoa Kỳ Los Alamos – Promethi
WebElements.com – Promethi
It's Elemental – Promethium |
1080p.txt | 1080p (còn được gọi là Full HD hay FHD và BT.709) là một tập hợp các màn hình HDTV độ nét cao chế độ đặc trưng của 1080 dòng ngang theo chiều dọc phân giải và quét liên tục, như là trường hợp của chuẩn hiển thị 1080i. Thuật ngữ này thường cho một màn hình rộng tỉ lệ của 16: 9, tương ứng với độ phân giải 1920x1080 (2.1 megapixel) thường được quảng cáo là Full HD.
== Tiêu chuẩn phát sóng ==
Bất kỳ thiết bị hiển thị mà quảng cáo 1080p thường đề cập đến khả năng chấp nhận tín hiệu 1080p ở định dạng độ phân giải gốc, có nghĩa là màn hình sẽ hiển thị đúng 1920 điểm ảnh chiều rộng và 1.080 pixel chiều cao, màn hình hiển thị không phải là quá trình quét, dưới quét, hoặc reinterpreting tín hiệu đến một độ phân giải thấp hơn. Các 1080p HD sẵn sàng chương trình logo, bởi DIGITALEUROPE, đòi hỏi các bộ truyền hình được chứng nhận hỗ trợ độ phân giải 1080p 24 fps, 50 fps 1080p, 1080p và 60 định dạng fps, trong số các yêu cầu khác, với fps nghĩa khung hình mỗi giây.
Đối với các ứng dụng truyền hình trực tiếp, một độ nét cao định dạng quét liên tục hoạt động ở độ phân giải 1080p ở 50 hoặc 60 khung hình mỗi giây hiện đang được đánh giá là một tiêu chuẩn tương lai cho việc di chuyển mua lại bức tranh. EBU đã được ủng hộ 1080p50 như một tương lai- chứng minh định dạng sản xuất vì nó cải thiện độ phân giải và không yêu cầu phải deinterlacing, cho phép phát sóng của 1080i25 tiêu chuẩn và tín hiệu 1080p50 720p50 cùng ngay cả trong các cơ sở hạ tầng hiện tại và tương thích với DCI dạng phân phối.
1080p50 / P60 dạng sản xuất sẽ yêu cầu một phạm vi hoàn toàn mới của thiết bị phòng thu bao gồm máy ảnh, lưu trữ và hệ thống biên tập, và liên kết đóng góp (như Dual-link HD-SDI và 3G-SDI) vì nó đã tăng gấp đôi tốc độ dữ liệu của hiện tại 50 hoặc 60 khung interlaced 1920x1080 từ 1,485 Gbit / s với danh nghĩa 3 Gbit / s sử dụng mã hóa RGB không nén. Hầu hết các phiên bản hiện tại của SMPTE 372M, 424M SMPTE và EBU Tech 3299 đòi hỏi YCbCr không gian màu sắc và 4: 2: 2 chroma mẫu phụ để truyền 1080p50 (trên danh nghĩa 2,08 Gbit / s) và tín hiệu 1080p60.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng đối với chương trình phát sóng kỹ thuật số nén với H.264 / AVC, tiết kiệm băng thông truyền tải video interlaced trên video đầy đủ tiến bộ là tối thiểu, ngay cả khi sử dụng gấp đôi tỷ lệ khung hình, tức là, tín hiệu 1080p50 (50 khung hình tiên tiến trong một giây) thực sự sản xuất giống tốc độ bit như tín hiệu 1080i50 (25 khung hình interlaced hay 50 tiểu lĩnh vực trong một giây)
=== ATSC ===
Tại Hoa Kỳ, các ban tiêu chuẩn ATSC HDTV hỗ trợ video 1080p, nhưng chỉ ở tốc độ khung hình của 23,976, 24, 25, 29,97 và 30 khung hình mỗi giây (thông tục gọi là 1080p24, 1080p25 và 1080p30).
Trong tháng 7 năm 2008, các tiêu chuẩn ATSC đã được sửa đổi để bao gồm H.264 / MPEG-4 AVC nén và 1080p với tốc độ 50, 59,94 và 60 khung hình mỗi giây (1080p50 và 1080p60). Như vậy tỷ lệ khung hình đòi hỏi H.264 / AVC cao Level 4.2, trong khi tỷ lệ khung hình HDTV chuẩn chỉ cần cấp 4.0.
Bản cập nhật này có thể sẽ không dẫn đến sự phổ biến của trình 1080p60, vì hầu hết các máy thu kỹ thuật số hiện tại sử dụng sẽ chỉ có thể giải mã cũ, kém hiệu quả hơn MPEG-2 codec, và bởi vì có một số lượng hạn chế băng thông cho subchannels.
=== DVB ===
Tại châu Âu, các tín hiệu 1080p25 đã được hỗ trợ bởi các bộ phần mềm DVB các tiêu chuẩn phát sóng. Các 1080p50 được coi là một định dạng tương lai chứng minh sản xuất và, cuối cùng, một phát sóng định dạng trong tương lai 1080p50 phát sóng nên yêu cầu băng thông tương tự như tín hiệu 1080i50 và chỉ 15-20% nhiều hơn so với tín hiệu 720p50 do quá trình nén tăng hiệu quả, mặc dù sản xuất 1080p50 đòi hỏi nhiều băng thông và / hoặc hiệu quả hơn các codec như JPEG 2000, cao-bitrate MPEG-2, hay H.264 / AVC và HEVC.
Từ tháng 9 năm 2009, ETSI và EBU, các nhà bảo trì của bộ phần mềm DVB, thêm hỗ trợ cho tín hiệu 1080p50 mã hoá với MPEG-4 AVC cao Level 4.2 với Scalable Video Coding mở rộng hoặc VC-1 chi tiết hồ sơ nén; DVB cũng hỗ trợ độ phân giải 1080p mã hoá ở tốc độ khung hình của ATSC 23,976, 24, 29,97, 30, 59,94 và 60.
EBU đòi hỏi rằng di sản của MPEG-4 AVC giải mã nên tránh rơi vào sự hiện diện của các gói SVC và / hoặc 1080p50 (và độ phân giải cao hơn). SVC cho phép khả năng tương thích với 1080p50 và 1080p60 phát sóng cũ thu MPEG-4 AVC, để họ sẽ chỉ nhận ra dòng SVC cơ bản được mã hóa với độ phân giải hoặc khung tỷ lệ thấp hơn (chẳng hạn như 720p60 hoặc 1080i60) và duyên dáng sẽ bỏ qua gói tin bổ sung, trong khi phần cứng mới hơn sẽ có khả năng giải mã tín hiệu đầy đủ độ phân giải (như 1080p60).
== Các ứng dụng sản phẩm ==
=== Chương trình phát sóng ===
Tại Hoa Kỳ, 1080p over-the-air chương trình phát sóng vẫn không tồn tại như trong tháng 3 năm 2015; tất cả các mạng lớn hoặc sử dụng hoặc 720p60 1080i60 mã hóa với MPEG-2. Tuy nhiên, các dịch vụ truyền hình vệ tinh (ví dụ, DirecTV, XstreamHD và Dish Network) sử dụng các 1080p / 24-30 với định dạng MPEG-4 AVC / H.264 mã hóa cho pay-per-view phim được tải về trước qua vệ tinh hoặc theo yêu cầu qua băng thông rộng. Tại thời điểm này, không có kênh dịch vụ trả tiền như Mỹ, HDNET, vv cũng không kênh phim phải trả tiền như HBO, vv, dòng dịch vụ của họ sống để các nhà phân phối của họ (MVPD) ở định dạng này bởi vì nhiều MVPDs, đặc biệt là DBS và cáp điện, làm không có đủ băng thông để cung cấp những định dạng trực tiếp đến các thuê bao của họ mà không ảnh hưởng tiêu cực đến các dịch vụ hiện tại của họ. Ngoài ra là cao "chi phí" của việc sử dụng băng thông cao hơn cho một 1080p / 24 kênh hơn là cần thiết cho một 1080i hoặc thậm chí là một kênh 720p và cho những chỉ tương đối ít các thuê bao có các thiết bị có thể hiển thị HDTV 1080p / 24 được sử dụng hiệu quả băng thông hạn chế của họ.
Đối với vật liệu có nguồn gốc từ một nguồn tiến bộ quét 24 khung hình / s (như phim), MPEG-2 cho phép các đoạn video được mã hoá là 1080p24, bất kể định dạng đầu ra cuối cùng. Các khung hình dần dần được mã hóa được gắn thẻ với siêu dữ liệu (theo nghĩa đen, các lĩnh vực của tiêu đề PICTURE) hướng dẫn một bộ giải mã như thế nào để thực hiện một 3: 2 pulldown để interlace họ. Trong khi sản lượng chính thức của quá trình giải mã MPEG-2 từ trạm như là 1080i60, nội dung thực tế này mang mã 1080p24 và có thể được xem như vậy (sử dụng một quá trình gọi là nghịch đảo telecine) vì không có thông tin bị mất ngay cả khi các đài truyền hình thực hiện 3: 2 pulldown.
=== Đĩa Blu-ray ===
Đĩa Blu-ray có thể chứa nội dung HD 1080p, và hầu hết các phim phát hành trên đĩa Blu-ray tạo ra một bức tranh đầy đủ 1080p HD khi người chơi được kết nối với một 1080p HDTV thông qua cổng HDMI cáp. Các đặc điểm kỹ thuật đĩa video Blu-ray cho phép mã hóa của 1080p23.976, 1080p24, 1080i50 và 1080i59.94. Nói chung loại này của video chạy ở 30-40 megabits mỗi giây, so với 3,5 megabit mỗi giây cho chương trình phát sóng độ nét tiêu chuẩn thông thường
=== Điện thoại thông minh ===
Điện thoại thông minh với màn hình 1080p FullHD đã có sẵn trên thị trường từ năm 2012. Tính đến cuối năm 2014 là tiêu chuẩn cho giữa điện thoại thông minh cao cấp và rất nhiều các thiết bị hàng đầu của năm 2014 sử dụng độ phân giải cao hơn.
=== Nội dung Internet ===
Một số trang web, bao gồm YouTube, cho phép các video được tải lên trong các định dạng 1080p. YouTube suối nội dung 1080p với tốc độ khoảng 4 megabit mỗi giây so với Blu-ray của 30-40 megabits mỗi giây. phân phối kỹ thuật số dịch vụ cũng cung cấp nội dung 1080p, chẳng hạn như phim có sẵn trên đĩa Blu-ray và / hoặc từ các nguồn phát sóng. Điều này có thể bao gồm các dịch vụ phân phối như các trang web peer-to-peer và mạng lưới theo dõi công cộng hay tư nhân.
Netflix là cung cấp SuperHD nội dung ở Mỹ và các nước khác thông qua các nhà cung cấp Internet chọn kể từ năm 2013
=== TV tiêu dùng và máy chiếu ===
Tính đến năm 2012, hầu hết các TV tiêu dùng được bán cung cấp đầu vào 1080p, chủ yếu thông qua HDMI và hỗ trợ độ phân giải full HD. Độ phân giải 1080p có sẵn trong tất cả các loại truyền hình, như plasma, LCD, DLP trước và chiếu phía sau và chiếu LCD.
Để hiển thị các tín hiệu 1080i60 phim dựa trên một chương trình gọi là 3: 2 pulldown đảo ngược (reverse telecine) đang bắt đầu xuất hiện trong một số màn hình 1080p mới hơn, có thể tạo ra hình ảnh chất lượng 1080p thực sự từ chương trình 1080i60 dựa trên phim. Tương tự như vậy, 25fps phát sóng nội dung tại 1080i50 chưa deinterlaced đến nội dung 1080p mà không làm giảm chất lượng hay độ phân giải.
Các nhà sản xuất thiết bị AV đã thông qua các hạn Full HD để có nghĩa là một tập hợp có thể hiển thị tất cả các độ phân giải HD có sẵn lên đến 1080p. Thuật ngữ này là sai lầm, tuy nhiên, bởi vì nó không đảm bảo các bộ có khả năng dựng hình video kỹ thuật số tại tất cả các tốc độ khung hình được mã hóa trong các tập tin nguồn với độ phân giải dọc 1.080 pixel. Đáng chú ý nhất, một "Full HD" tập hợp không được bảo đảm để hỗ trợ các định dạng 1080p24, dẫn đến sự nhầm lẫn của người tiêu dùng.
DigitalEurope (trước đây là EICTA) duy trì sự sẵn sàng 1080p HD chương trình logo mà yêu cầu truyền hình được chứng nhận thiết để hỗ trợ 1080p24, 1080p50 và 1080p60, mà không overscan / underscan và hình ảnh méo.
=== Màn hình máy tính ===
Hầu hết các màn hình rộng ống cathode ray (CRT) và màn hình tinh thể lỏng (LCD) màn hình có thể hiển thị nguyên bản nội dung 1080p. Ví dụ, màn hình rộng WUXGA màn hình hỗ trợ độ phân giải 1920x1200, có thể hiển thị một điểm ảnh cho điểm ảnh sinh sản của 1080p (1920x1080) định dạng. Ngoài ra, nhiều người 23, 24, và 27-inch (690 mm) màn hình rộng LCD sử dụng 1920x1200 như độ phân giải gốc của họ; 30 inch màn hình có thể hiển thị ngoài 1080p với tốc độ lên đến 2560x1600 (1600p). Nhiều 27 "màn hình có độ phân giải gốc của 2560x1440 và do đó hoạt động ở 1440p.
=== Video game consoles ===
Video game console như Sony 's PlayStation 3, Microsoft 's Xbox 360 và Nintendo của Wii U, cũng như microconsoles như Ouya, GameStick và Nvidia khiên trò chơi có thể hiển thị các upscaled và nội dung video 1080p, mặc dù phần lớn các trò chơi được kết xuất ở độ phân giải thấp hơn. Đối với tất cả các bàn giao tiếp, điều này được thực hiện thông qua kết nối HDMI (trong trường hợp của Xbox 360, HDMI chỉ có trên console sản xuất sau tháng 6 năm 2007). Ngoài ra, các video 1080p upscaled có sẵn trên PlayStation 3 và Xbox 360 thông qua một thành phần tương tự / D-Terminal(YPBPR) connection,†cũng như các kết nối VGA trên Xbox 360. Trên PlayStation 3, các nhà phát triển phải cung cấp hỗ trợ độ phân giải cụ thể ở cấp phần mềm như không có phần cứng hỗ trợ upscaling, trong khi trên Xbox 360 trò chơi có thể được sử dụng upscaled tích hợp sẵn trong chip scaler phần cứng. Tuy nhiên, hầu hết các trò chơi trên cả hai bàn giao tiếp không chạy ở độ phân giải 1080p bản địa.
Wii U, PlayStation 3, Xbox 360 và cung cấp dịch vụ video 1080p. Sony cung cấp cho cả PlayStation Store VOD dịch vụ và đĩa Blu-ray phát lại. Microsoft cung cấp các video Zune Marketplace cho "ngay lập tức về" 1080p † nội dung video nhưng không có khả năng phát đĩa Blu-ray. Tuy nhiên nó không hỗ trợ các doanh nghiệp không còn tồn tại HD DVD tiêu chuẩn đĩa thông qua Xbox 360 HD DVD Player add-on. Cả hai bàn giao tiếp cũng cung cấp hỗ trợ cho các tuyến 1080p † nội dung trong các định dạng khác nhau qua mạng gia đình từ các máy tính khác, và cũng thông qua kết nối USB với các thiết bị lưu trữ bên ngoài.
^† Do vấn đề bản quyền tiềm năng, khi một kết nối thành phần tương tự được sử dụng, chỉ có các menu hệ thống và lối chơi có sẵn trong 1080p; nội dung video được hiển thị ở độ phân giải thấp hơn hoặc 1080i.^‡ Trong khi sản lượng 1080p thành phần tương tự được hỗ trợ bởi các bàn giao tiếp, một số phần cứng hiển thị sẽ chỉ chấp nhận kết nối thành phần lên đến 1080i.
=== Máy quay phim và máy ảnh ===
Nhiều người tiêu dùng máy quay phim, video và chuyên nghiệp DSLR máy ảnh và điện thoại thông minh có thể chụp 1080p24, 1080p25, 1080p30 hay video, thường mã hóa nó trong khung phân đoạn tiến bộ dạng.
== Xem thêm ==
Danh sách các độ phân giải phổ biến
4320p, 2160p, 1080i, 720p, 576p, 576i, 480p, 480i, 360p, 240p
Truyền hình độ nét cao
Độ phân giải màn hình
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
1080p and the Acuity of Human Vision Audioholics Home Theater Magazine. ngày 2 tháng 4 năm 2007.
High Definition 1080p TV: Why You Should Be Concerned. Secrets of Home Theater and High Fidelity. ngày 28 tháng 2 năm 2007.
The Facts and Fiction of 1080p. ngày 17 tháng 4 năm 2006.
High Definition (HD) Image Formats for Television Production (EBU technical publication). December 2004. |
matthias buchinger.txt | Matthias Buchinger (2.6.1674 - 17.1.1740), thỉnh thoảng còn được gọi trong tiếng Anh là Matthew Buckinger, là một nghệ sĩ vẽ tranh bằng miệng và chân, nhà ảo thuật, nhà thư pháp người Đức mà sinh ra không có cánh tay lẫn cẳng chân và chỉ cao 29 in (74 cm). Buchinger đặc biệt nổi tiếng vẽ chữ thật nhỏ.
== Tiểu sử ==
Buchinger sinh ra ở Ansbach, Đức, không có cánh tay hoặc cẳng chân. Là một nghệ sĩ và người biểu diễn, ông "đi khắp Bắc Âu để giải trí vua chúa và quý tộc" và được biết đến như "một nhân vật vĩ đại Đức" và "người đàn ông nhỏ bé từ Nürnberg ". Ông đã đi đến Anh cố gắng để được gặp vua George I nhưng không thành công, sau đó ông sang Ireland, nơi ông đã biểu diễn trước công chúng, ở Dublin vào năm 1720 và ở Belfast vào 1722. Buchinger đã kết hôn bốn lần và đã có ít nhất 14 người con (với tám phụ nữ). Ông cũng được đồn đại là đã có con với 70 tình nhân khác. Tiếng tăm Buchinger phổ biến trong thập niên 1780 đến nỗi thuật ngữ "giầy của Buckinger" tồn tại ở Anh là một uyển ngữ cho từ âm đạo (vì " chân tay " duy nhất mà ông có là dương vật của ông).
Buchinger mất ở Cork.
== Tài nghệ ==
Mặc dù ông có bàn tay nhỏ có phần như vây cá, chạm khắc của ông cực kỳ chi tiết. Một trong những điêu khắc, một chân dung tự họa, rất chi tiết đến nỗi mà khi xem xét kỹ lưỡng các lọn tóc của ông trong tranh, người ta thấy được trên thực tế đó là bảy thánh vịnh trong Kinh Thánh và Kinh Lạy Cha, ghi bằng chữ thật nhỏ.
Tuy có khuyết tật Buchinger rất linh hoạt. Ông là một nhà ảo thuật tài năng, làm cho những quả bóng biến mất từ dưới cốc và các con chim xuất hiện từ hư không. Người ta cũng nói rằng không thể đánh bại được ông khi chơi bài và khán giả bị mê hoặc bởi tài thiện xạ của ông. Buchinger lại thích xây tàu trong một chai.
Về kỹ năng âm nhạc của Buchinger, ông có thể chơi nhiều nhạc cụ, một số trong đó ông tự chế ra.
== Chú thích == |
tổng cục thống kê (việt nam).txt | Tổng cục Thống kê (Việt Nam) (tên giao dịch trong tiếng Anh: General Statistics Office of Vietnam) là một cơ quan thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, hoạt động độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê theo Luật Thống kê và các văn bản pháp lý về thống kê; thực hiện các chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý nhà nước về thống kê; tổ chức các hoạt động thống kê và cung cấp thông tin thống kê kinh tế và xã hội cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật.
== Lịch sử ==
Ngay trong thời gian đầu cách mạng mới thành công, trong muôn vàn khó khăn của thời kỳ chống thù trong giặc ngoài, ngày 6 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ký sắc lệnh số 61/SL quy định bộ máy tổ chức của Bộ quốc dân kinh tế gồm các phòng, ban, nha trực thuộc, trong đó có Nha Thống kê Việt Nam. Ngày 6 tháng 5 năm 1946 được lấy là ngày thành lập ngành Thống kê Việt Nam.
Chiểu theo Sắc lệnh 61/SL ngày 6 tháng 5 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế đã ký Nghị định ngày 28 tháng 5 năm 1946 về tổ chức Nha Thống kê Việt Nam với những nội dung chính sau đây:
Điều thứ nhất: Nay tổ chức một Nha Thống kê Việt Nam phụ thuộc vào Bộ Quốc dân Kinh tế và đặt dưới quyền điều khiển của Giám đốc do sắc lệnh cử theo lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế.
Điều thứ hai: Nhiệm vụ của Nha Thống kê Việt Nam định như sau này:
1. Sưu tầm và thu thập những tài liệu và những con số có liên quan đến vấn đề xã hội, kinh tế hay văn hoá.
2. Xuất bản những sách về thống kê
3. Kiểm soát các công ty bảo hiểm Việt Nam hay hải ngoại.
Điều thứ 3: Nha Thống kê Việt Nam có thể liên lạc thẳng với các cơ quan Thống kê của các Bộ, các kỳ và các tỉnh và các công sở khác để sưu tầm tài liệu cần thiết.
Điều thứ tư: Nha Thống kê gồm có ba phòng, nhiệm vụ định sau đây:
1.Phòng nhất (phòng Hành chính) coi về nhân viên, kế toán, vật liệu, lưu trữ công văn, xuất bản các sách báo.
2.Phòng nhì: Thống kê dân số, văn hoá, chính trị
3.Phòng ba: Thống kê kinh tế, tài chính
Ngày 7 tháng 6 năm 1946 theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 98/SL cử ông Nguyễn Thiệu Lâu giữ chức Giám đốc Nha Thống kê Việt Nam.
Ngày 25 tháng 4 năm 1949 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký 2 sắc lệnh:
Sắc lệnh số 33/SL sát nhập Nha Thống kê Việt Nam vào Phủ Chủ tịch Sắc lệnh số 33/SL Sắc lệnh số 34/SL cử ông Nguyễn Thiệu Lâu giữ chức Giám đốc Nha Thống kê trong Chủ tịch phủ.
Ngày 1 tháng 7 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 124/SL bãi bỏ Sắc lệnh số 33/SL ngày 25 tháng 4 năm 1949 và Sắc lệnh số 34/SL ngày 25 tháng 4 năm 1949, quyết định " Một tổ chức tạm thời để theo dõi công việc thống kê sẽ do Nghị định Thủ tướng Chính phủ ấn định".
Ngày 9 tháng 8 năm 1950, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay mặt Thủ tướng Chính phủ, ra Nghị định số 38/TTg thành lập phòng Thống kê trong Văn phòng Thủ tướng phủ do ông Lương Duyên Lạc làm trưởng phòng. Phòng Thống kê có nhiệm vụ:
1. Thu thập và xếp đặt những tài liệu thống kê của các Bộ và các Uỷ ban hành chính kháng chiến địa phương.
2. Giúp các Bộ và các Uỷ ban hành chính kháng chiến tổ chức và hướng dẫn theo dõi công tác thống kê.
Ngày 20 tháng 2 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Điều lệ số 695/TTg về tổ chức Cục Thống kê Trung ương, các cơ quan thống kê địa phương và các tổ chức thống kê các Bộ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong Điều lệ 695/TTg có ghi:
Nay thành lập Cục Thống kê Trung ương trong Ủy ban Kế hoạch Nhà nước của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, các Ban Thống kê địa phương, các tổ chức thống kê ở các Bộ, các cơ quan xí nghiệp.
Cục Thống kê Trung ương và các cơ quan Thống kê ở địa phương là một hệ thống thống nhất, tập trung.
Cục Thống kê Trung ương trong Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một cơ quan của Nhà nước để lãnh đạo thống nhất và tập trung mọi việc thống kê và kế toán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Nhiệm vụ chủ yếu của Cục Thống kê Trung ương là sưu tầm, thu thập, nghiên cứu và đệ trình Chính phủ những tài liệu thống kê chính xác, phân tích một cách khoa học để có thể nêu được quá trình thực hiện kế hoạch Nhà nước, sự phát triển kinh tế và văn hoá trong nước, những nguồn tài nguyên và cách sử dụng tài nguyên đó, tỷ lệ phát triển của các ngành kinh tế, văn hoá và mức độ phát triển của từng ngành.
Cục Thống kê Trung ương tạm thời gồm các phòng: Thống kê Tổng hợp; Thống kê Nông nghiệp; Thống kê Công nghiệp, Vận tải; Thống kê Thương nghiệp Tài chính; Thống kê Văn hoá, giáo dục, Y tế, Dân số, Lao động.
Ngày 8 tháng 4 năm 1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 142-TTg quy định lại tổ chức, nhiệm vụ của các cơ quan thống kê các cấp các ngành, bãi bỏ Điều lệ số 695- TTg ngày 20- 2- 1956.
Về tổ chức thống kê: Bộ máy thống kê các cấp các ngành gồm có:
1. Cục Thống kê Trung ương (Trong Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước)
2. Các Chi cục Thống kê Liên khu, khu, thành phố, tỉnh.
3. Phòng Thống kê huyện, châu
4. Ban Thống kê xã.
5. Các tổ chức thống kê của các Bộ, các ngành Trung ương và các cơ quan trực thuộc.
Cục Thống kê Trung ương là cơ quan của Nhà nước phụ trách, lãnh đạo thống nhất và tập trung mọi việc thống kê về kinh tế, tài chính, văn hoá, xã hội trong cả nước.
Nhiệm vụ chủ yếu của Cục Thống kê Trung ương là sưu tầm, chỉnh lý, nghiên cứu, phân tích những tài liệu điều tra thống kê cơ bản về các ngành kinh tế quốc dân, văn hoá, xã hội, rồi đệ trình Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Chính phủ để làm căn cứ hoặc tài liệu tham khảo để định các chính sách, lập kế hoạch và kiểm tra kế hoạch.
Về tổ chức Cục Thống kê Trung ương tạm thời gồm có các phòng: Thống kê Tổng hợp; Thống kê Nông nghiệp; Thống kê Công nghiệp; Thống kê Xây dựng cơ bản; Thống kê Thương nghiệp Tài chính; Thống kê Văn hoá, Giáo dục, Y tế, Dân số Lao động.
Ngày 21 tháng 12 năm 1960, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành quyết định số 15-NQ/TVQH về việc tách Cục Thống kê Trung ương ra khỏi Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, thành lập Tổng cục Thống kê.
Đến ngày 29 tháng 9 năm 1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 131- CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê. Theo Nghị định này, Tổng cục Thống kê là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo tập trung và thống nhất toàn bộ công tác điều tra thống kê theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ sưu tầm, chỉnh lý phân tích các tài liệu thống kê có căn cứ khoa học về kinh tế, văn hoá, xã hội, nhằm phục vụ cho các công tác quản lý nhà nước, lãnh đạo và chỉ đạo công cuộc kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân.
Tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê gồm có: 7 vụ và Văn phòng.
Năm 1968, thực hiện Nghị quyết 02- CP của Chính phủ về tổ chức lại hệ thống thông tin thống kê, Tổng cục Thống kê được Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Cục Kỹ thuật tính toán, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Phương pháp chế độ và Vụ Cân đối.
Ngày 5 tháng 4 năm 1974 Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định số 72-CP ban hành điều lệ về tổ chức và hoạt động của Tổng cục Thống kê thay thế Nghị định số 131-CP ngày 29 tháng 9 năm 1961 của Hội đồng Chính phủ.
Tổng cục Thống kê là cơ quan Trung ương thuộc Hội đồng Chính phủ, có nhiệm vụ tổ chức và quản lý thống nhất công tác hạch toán và thống kê. Tổng cục Thống kê thực hiện nhiệm vụ của mình trên cơ sở đường lối chính sách và các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước.
Về tổ chức bộ máy có: 17 đơn vị cục, vụ thống kê chuyên ngành, văn phòng và 2 đơn vị sự nghiệp.
Thực hiện chỉ thị 45/TW của Ban Bí thư TW về tinh giản bộ máy, giảm nhẹ biên chế, ngày 2/6/1979 Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 207/CP về tổ chức lại bộ máy của cơ quan Tổng cục Thống kê gồm có 15 đơn vị: Vụ, Viện, Văn phòng và Thanh tra.
Thực hiện Thông báo số 46/TB-TW của Ban Bí thư TW và Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng về việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các cơ quan Đảng, Nhà nước và đoàn thể. Ngày 11-5-1988 Hội đồng Bộ trưởng ký ban hành Quyết định số 81/HĐBT, quy định lại số đơn vị trực thuộc Tổng cục giảm xuống còn 10 đơn vị vụ và Văn phòng. Ngoài ra còn có 3 phòng trực thuộc, 2 đơn vị sự nghiệp, và 2 đơn vị sản xuất kinh doanh.
Ngày 23/3/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê thay thế Nghị định số 72/CP ngày 5/4/1974 của Hội đồng Chính phủ.
Theo Nghị định này, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê cơ bản giống như nội dung đã được đề cập ở Điều lệ của Nghị định 72/CP ngày 5/4/1974 của Hội đồng Chính phủ.
Tuy nhiên tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê được sắp xếp gọn hơn so với tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê quy định tại Điều lệ của Nghị định 72/CP ngày 05/4/1974 của Hội đồng Chính phủ. Cụ thể gồm:
1. Các đơn vị giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước: có 12 đơn vị vụ, Văn phòng và Thanh tra. Sau đó Chính phủ có quyết định thành lập thêm Vụ Kế hoạch- Tài chính.
2. Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục: có 4 đơn vị.
3. Các đơn vị sản xuất do Tổng cục Thống kê quyết định có: 2 đơn vị
Ngày 03/9/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê thay cho Nghị định số 23/CP ngày 23/3/1994 của Chính phủ.
Về vị trí và chức năng: Tổng cục Thống kê là cơ quan thuộc Bộ nội vụ thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý Nhà nước về thống kê, tổ chức thực hiện hoạt động thống kê và cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật; quản lý Nhà nước các dịch vụ công và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn Nhà nước thuộc Tổng cục Thống kê quản lý theo quy định của pháp luật.
Về nhiệm vụ và quyền hạn: Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuộc Chính phủ quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực theo quy định tại Nghị định số 30/2003/NĐ-CP ngày 01/4/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan thuộc Chính phủ.
=== Các lãnh đạo ===
Tổng cục Thống kê Việt Nam đặt trụ sở ở số 6B, phố Hoàng Diệu, quận Ba Đình, Hà Nội.
== Cơ cấu bộ máy ==
=== Theo ngành dọc ===
Ở Trung ương có cơ quan Tổng cục Thống kê.
Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Cục Thống kê trực thuộc Tổng cục Thống kê.
Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chi cục Thống kê trực thuộc Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
=== Cơ cấu tổ chức của cơ quan Tổng cục Thống kê ===
Các tổ chức giúp Tổng cục trưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý Nhà nước có các đơn vị:
Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia
Vụ Phương pháp chế độ thống kê và Công nghệ Thông tin
Vụ Thống kê Tổng hợp
Vụ Thống kê Công nghiệp
Vụ Thống kê Xây dựng và Vốn đầu tư
Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản
Vụ Thống kê Thương mại và Dịch vụ
Vụ Thống kê Giá
Vụ Thống kê Dân số và Lao động
Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường
Vụ Thống kê Nước ngoài và Hợp tác quốc tế
Vụ Tổ chức Cán bộ
Vụ Kế hoạch tài chính
Vụ Pháp chế và Thanh tra Thống kê
Văn phòng
Các đơn vị sự nghiệp thuộc Tổng cục Thống kê có các đơn vị sau:
Viện Khoa học thống kê
Trung tâm Tin học thống kê khu vực I
Trung tâm Tư liệu thống kê
Tạp chí Con số và Sự kiện
Trường Cao đẳng thống kê (tại Bắc Ninh)
Trường Cao đẳng thống kê II (tại Đồng Nai)
Trung tâm Tin học thống kê khu vực II
Trung tâm Tin học thống kê khu vực III.
Các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Tổng cục Thống kê có các đơn vị sau:
Nhà Xuất bản Thống kê
Công ty In và Phát hành Biểu mẫu Thống kê
Xí nghiệp in Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh.
== Tham khảo == |
molycria upstart.txt | Molycria upstart là một loài nhện trong họ Prodidomidae.
Loài này thuộc chi Molycria. Molycria upstart được Norman I. Platnick & Barbara Baehr miêu tả năm 2006.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Molycria upstart tại Wikispecies |
tuyên bố asean.txt | Tuyên bố ASEAN', hay còn gọi là tuyên bố Bangkok, là văn bản thành lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Văn bản được ký kết tại Bangkok 8 tháng 8 năm 1967 bởi năm thành viên sáng lập Indonesia, Singapore, Philippines, Malaysia và Thái Lan như một biểu hiện của sự đoàn kết chống lại chủ nghĩa cộng sản đang phát triển ở Việt Nam và sự nổi lên của chủ nghĩa cộng sản trong lòng các quốc gia này. Nó cũng đặt nền móng cho những nguyên tắc cơ bản của ASEAN là hợp tác, thân thiện và không can thiệp vào tình hình nội bộ của nhau. Ngày 8 tháng 8 ngày nay đã trở thành Ngày ASEAN.
== Các vấn đề liên quan ==
=== Chủ nghĩa cộng sản ===
Trước khi tuyên bố này ra đời, năm nước Đông Nam Á đã nỗ lực chống lại ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. Khi đó, chính phủ Philippines đã cố gắng để ân xá cho các cựu binh sĩ Hukbalahap, những người đã gây ra xung đột vũ trang trên đảo Luzon trong suốt những năm 1950, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền trung ương. Xung đột giữa quân đội Indonesia và đảng Cộng sản Indonesia kết thúc vào cuối năm 1965 với việc ban hành đạo luật trật tự Mới của tổng thống thứ 2 Suharto chống cộng tuyệt đối, trong khi chính quyền tổng thống tiền nhiệm Sukarno có sự gia tăng số lượng người theo chủ nghĩa cộng sản. Cùng lúc đó, liên bang Malaya cũng đang bận chiến đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản.
== Căng thẳng giữa các nước láng giềng ==
Một vấn đề liên quan khác là sự thành lập của Malaysia. Năm 1961, tổng thống Tunku Abdul Rahman của Malaya đã tuyên bố kế hoạch thành lập một liên bang mới có tên là Malaysia. Việc này bị Indonesia và Philippines phản đối bởi vì Indonesia tin rằng chính thể này là một dạng của chủ nghĩa thực dân mới trong khi Philippines tuyên bố bắc Borneo thuộc lãnh thổ nước này.
Để xoa dịu căng thẳng, một liên minh phi chính trị có tên là Maphilindo được thành lập. Tuy nhiên điều này cũng không thành công khi mà người ta nhận ra rằng Maphilindo được tạo ra chỉ nhằm mục đích trì hoãn và ngăn cản sự thành lập của Malaysia.
Bất chấp những phản đối, quốc gia Malaysia đã ra đời năm 1963, dẫn đến sự đối đầu giữa Indonesia và Malaysia.
Các học giả tin rằng việc thành lập ASEAN đã ngăn chặn những sự thù địch tương tự giữa các quốc gia Đông Nam Á.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Thuyết Domino
Hiến chương ASEAN |
opostega afghani.txt | Opostega afghani là một loài bướm đêm thuộc họ Opostegidae. Nó được miêu tả bởi Donald R. Davis năm 1989. Nó được tìm thấy ở Afghanistan.
Chiều dài cánh trước là 3.8-4.2 mm. Con trưởng thành bay từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 6. Có một lứa một năm.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Opostega afghani tại Wikispecies |
raduga.txt | Huyện Raduga (tiếng Nga: ? райо́н) là một huyện hành chính tự quản (raion), của Khanty-Mansiy, Nga. Huyện có diện tích 3 km², dân số thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2000 là 45800 người. Trung tâm của huyện đóng ở Raduga.
== Tham khảo ==
Bản mẫu:Khanty-Mansiy |
hắc long giang.txt | Tỉnh Hắc Long Giang (giản thể: 黑龙江省; phồn thể: 黑龍江省; bính âm: Hēilóngjiāng Shěng) là một tỉnh phía đông bắc của Trung Quốc. Hắc Long Giang có nghĩa là "sông rồng đen", đây là tên tiếng Hán của sông Amur. Phiên âm tên tiếng Mãn của con sông là Sahaliyan ula (nghĩa là "sông đen"), và đây cũng là nguồn gốc tên gọi của đảo Sakhalin. Giản xưng của tỉnh Hắc Long Giang là "Hắc" (黑, Hēi). Tỉnh Hắc Long Giang giáp với tỉnh Cát Lâm ở phía nam và giáp với khu tự trị Nội Mông ở phía tây; tỉnh giáp với Nga ở phía bắc và phía đông.
Ở phía bắc tỉnh Hắc Long Giang, sông Amur tạo thành biên giới giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Nga. Tỉnh Hắc Long Giang sở hữu điểm cực bắc (tại huyện Mạc Hà dọc theo Amur) và điểm cực đông (nơi hợp lưu giữa sông Amur và sông Ussuri) của Trung Quốc. Tỉnh lị Hắc Long Giang là Cáp Nhĩ Tân.
== Lịch sử ==
=== Văn minh thượng cổ ===
Tại khu vực Song Áp Sơn của tỉnh Hắc Long Giang, người ta đã phát hiện các dấu tích khảo cổ học về nền một văn minh từ 7.000 năm trước. Ban đầu, vùng Đông Bắc Trung Quốc ngày nay có ba dân tộc lớn là Túc Thận (肃慎), Uế Mạch (濊貊) và Đông Hồ (东胡). Vào thời kỳ nhà Thương và nhà Chu tại Trung Nguyên, cư dân tỉnh Hắc Long Giang là các bộ lạc Túc Thận, sinh sống bằng việc săn bắn, theo tư liệu lịch sử thì họ đã từng tiến cống cung và tên cho Chu Thành Vương.
Uế Mạch là hợp xưng dùng để chỉ người Uế và người Mạch, họ có đặc điểm sinh sống bằng nông nghiệp, không giống với dân tộc du mục. Vào thời nhà Hạ và nhà Thương, người Uế cư trú tại bán đảo Sơn Đông, thuộc dân tộc Đông Di. Sau khi Chu diệt Thương, người Uế do bị triều Chu bức bách nên đại bộ phận đã di dời về phía đông bắc, lấy đồng bằng Tùng Nộn làm trung tâm định cư, song họ hoạt động trên một phạm vi rộng lớn, cực nam đến phía bắc của Trường Thành, liền kề với nước Yên, tiếp xúc với người Túc Thận ở phía đông của Liêu Hà. Thời kỳ Tây Chu, người Uế là một nước triều cống cho vương triều Chu. Thời kỳ Xuân Thu, Tề Hoàn công từng phát động chiến tranh với Uế. Thời Chiến Quốc, người Uế sống dựa vào nông nghiệp và ngư nghiệp, kê trở thành lương thực chủ yếu của người Uế. Người Uế đã tiến đến thời kỳ cuối của xã hội nguyên thủy, họ có lối sống định cư. Người Mạch là một dân tộc du mục trên thảo nguyên Mông Cổ, ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Altai.
=== Thời Tần, Hán, Tam Quốc ===
Thời nhà Tần và nhà Hán tại Trung Nguyen, người Túc Thận được gọi là "Ấp Lâu" (挹娄) và "Vật Cát" (勿吉). Tại Song Áp Sơn đã phát hiện được "quần thể di chỉ Pháo Đài Sơn" với Pháo Đài Sơn cổ thành (炮台山古城), được xác định là do tổ tiên của người Mãn là người Ấp Lâu xây dựng nên. Cùng với quần thể di chỉ Pháo Đài Sơn, di chỉ Phượng Lâm cổ thành (凤林古城遗址) được nhận định là đô thành của người Ấp Lâu trong thời kỳ lịch sử ban đầu của tỉnh Hắc Long Giang. Ngoài sinh sống bằng nông nghiệp, người Ấp Lâu còn săn dã thú, họ đã từng tiến cống thú vật săn được cho nước Tào Ngụy vào thời Tam Quốc. Trong thời kỳ này, cư dân trên địa bàn tại tỉnh Hắc Long ngày nay cũng bắt đầu thiết lập chế độ cai trị. Thời Tây Hán, nước Phù Dư được thành lập, một phần lãnh thổ của nước này nằm tại địa phận đông nam của tỉnh Hắc Long Giang ngày nay. Vào thời nhà Hán, và Ngụy Tấn, Hắc Long Giang (sông Amur) được gọi là "Nhược Thủy" (弱水).
=== Lưỡng Tấn, Nam-Bắc triều ===
Các cuộc tấn công của Cao Câu Ly vào một khoảng thời gian nào đó trước năm 347 đã khiến Phù Dư suy yếu. Đến khi để mất thành trì ở gần Cáp Nhĩ Tân ngày nay, Phù Dư đã di chuyển về phía tây nam đến Nông An (nay thuộc tỉnh Cát Lâm). Song có lẽ một bộ phận người Phù Dư vẫn ở lại khu vực quanh Cáp Nhĩ Tân và nằm dưới tầm ảnh hưởng của Cao Câu Ly. Đến năm 494, người Phù Dư bị người Vật Cát tiêu diệt, Phù Dư biến mất khỏi vũ đài lịch sử; cùng với đó, người Uế Mạch cũng suy yếu. Các dân tộc Tungus (khi đó chủ yếu là người Vật Cát) nổi lên tại khu vực tỉnh Hắc Long Giang cũng như toàn bộ vùng Đông Bắc Trung Quốc. Dưới thời trị vì của Trường Thọ vương (413-491), Cao Câu Ly đã mở rộng cương vực ở phía bắc đến hữu ngạn của sông Tùng Hoa. Năm 491, Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế đã sách phong cho Trường Thọ vương của Cao Câu Ly các chức tước: Xa kị đại tướng quân, thái phó, Liêu Đông quận khai quốc công, Cao Câu Ly vương, phạm vi thế lực của Cao Câu Ly bao trùm khu vực nam bộ tỉnh Hắc Long Giang ngày nay. Thời Nam-Bắc triều, dân tộc chủ thể trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang được gọi là "Vật Cát". Cũng trong thời Nam-Bắc triều, Hắc Long Giang được gọi là "Hoàn Thủy" (完水), sông Tùng Hoa được gọi là "Nan Thủy" (难水).
=== Thời Tùy, Đường ===
Thời nhà Tùy, đông nam bộ lưu vực Hắc Long Giang là nơi sinh sống của các bộ lạc Mạt Hạt, còn tây bộ là nơi sinh sống của các bộ lạc Thất Vi. Cả người Mạt Hạt và người Thất Vi đều duy trì quan hệ triều cống với triều đình Tùy.
Thời nhà Đường, một số văn hiến đã đề cập đến "Mạt Hạt" với nhiều bộ lạc, những người cư trú tại lưu vực Hắc Long Giang được gọi là "Hắc Thủy Mạt Hạt". Triều đình nhà Đường từng thiết lập phủ, châu và phái quan lại đến quản lý tại lưu vực Hắc Long Giang. Năm Thánh Lịch thứ 1 (689) thời Võ Tắc Thiên trị vì, người Túc Mạt Mạt Mạt vốn cư trú tại lưu vực Mẫu Đơn Giang sau khi thống nhất các bộ lạc Mạt Hạt, đã kiến lập nước Chấn (震国), thần thuộc triều Đường.
Năm 722, tù trưởng Hắc Thủy Mạt Hạt là Nghê Thuộc Lợi Kê (倪属利稽) đã đến Trường An triều kiến hoàng đế Đường, được Đường Huyền Tông phong chức "Bột Lợi (Bá Lực) châu thứ sử" [勃利(伯力)州刺史]. Lưu vực Nộn Giang là nơi cư trú của người Thất Vi, khi đó khu vực này của tỉnh Hắc Long thuộc cương vực quản hạt trên danh nghĩa của U châu nhà Đường.
Theo các phát hiện khảo cổ gần đây, trong thời kỳ này, tỉnh Hắc Long Giang còn xuất hiện một dân tộc di cư từ phương Bắc xuống, về sau biến mất một cách bí ẩn, không rõ là do bị tiêu diệt do chiến loạn hay lại tiếp tục di cư đến khu vực khác. Thời Tùy và Đường, hạ du Hắc Long Giang được gọi là Hắc Thủy (黑水), Hoàn Thủy được đổi thành Kiến Thủy (建水), Nan Thủy được đổi thành Na Hà (那河). Theo sử tịch Trung Quốc, Mạt Hạt có đất Quận Lợi Bộ (người Ni Phu Hách), triều đình đã thiết lập Hắc Thủy phủ để cai trị đất này. Về sau, khi Bột Hải hưng thịnh, đất này đã hàng phục Mạt Hạt. Có người cho rằng người Ni Phu Hách chính là Lưu Quỷ Quốc (流鬼国) trên địa phận tỉnh Hắc Long Giang ngày nay.
=== Bột Hải và Đông Đan ===
Sau khi Cao Câu Ly sụp đổ, vương quốc Bột Hải đã nổi lên, cương vực bao trùm một lãnh thổ rộng lớn tại Mãn Châu và vùng phía bắc sông Đại Đồng của bán đảo Triều Tiên. Quốc vương thứ ba của Bột Hải là Văn vương đã mở rộng cương vực của Bột Hải đến lưu vực Hắc Long Giang. Năm 756, trong thời gian trị vì của Văn vương, Bột Hải đã thiên đô đến thành Thượng Kinh tại khu vực gần hồ Kính Bạc ở Ninh An thuộc tỉnh Hắc Long Giang ngày nay. Trong các phủ của Vương quốc Bột Hải, các phủ có đất đai nằm trên địa phận tỉnh Hắc Long Giang ngày nay là Thượng Kinh Long Tuyền phủ (上京龙泉府), Thiết Lợi phủ (铁利府), Hoài Viễn phủ (怀远府) và Mạc Hiệt phủ (鄚頡府等). Đến thời gian trị vì của Tuyên vương, Bột Hải đã chinh phục được nhiều bộ lạc Mạt Hạt. Người Mạt Hạt ở trong tình trạng nô lệ và phải phục vụ cho giới cầm quyền Bột Hải có nguồn gốc từ Cao Câu Ly cũ.. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp người Mạt Hạt đã gia nhập vào tầng lớp thượng lưu Bột Hải song rất hiếm và họ chỉ được phong các tước vị "suryong", hay "tù trưởng", và chỉ đóng một vai trò nhất định trong tầng lớp cầm quyền. Một số sứ thần Bột Hải cũng mang họ Mạt Hạt.
Theo truyền thống, các sử gia tin rằng xung đột sắc tộc giữa những người gốc Cao Câu Ly nắm quyền lực và người Mạt Hạt đã làm suy yếu Bột Hải. Song các nghiên cứu gần đây khẳng định sự sụp đổ của Bột Hải chủ yếu là do núi Trường Bạch đã phun trào một cách dữ đội vào thế kỷ thứ 10, ngọn núi khi đó nằm ở trung tâm của vương quốc. Đến năm 926, Bột Hải bị người Khiết Đan tiêu diệt.
Khiết Đan sau đó đã lập nên vương quốc bù nhìn Đông Đan để kiểm soát địa hạt cũ của Bột Hải. Vua đầu tiên của Đông Đan là thái tử Da Luật Bội (耶律倍) của Khiết Đan, kinh đô của vương quốc này đặt tại đô thành Thượng Kinh của Bột Hải trước đó. Để tiếp tục quan hệ hữu nghị giữa Bột Hải và Nhật Bản, Đông Đan đã cử một đoàn sứ thần qua biển Nhật Bản vào năm 929. Triều đình Nhật Bản ở Kyoto đã từ chối phái đoàn của Đông Đan. Năm 931 và 935, Đông Đan hai lần cử sứ thần sang Đường. Đông Đan đã bị sáp nhập vào nhà Liêu năm 936.
=== Thời Liêu, Kim và Nguyên ===
Tỉnh Hắc Long Giang nằm dưới quyền cai quản của triều Liêu từ năm 936. Đến thế kỷ thứ 10, người Nữ Chân nổi lên, bộ lạc Hoàn Nhan ở hạ du sông Tùng Hoa đã thống nhất các dân tộc trong khu vực. Sau những thắng lợi liên tiếp, tháng 1 năm 1115, Hoàn Nhan A Cốt Đả đã tuyên bố lên ngôi vua nước Kim, định đô ở Hội Ninh phủ (nay là A Thành của tỉnh Hắc Long Giang). Sau khi Kim nam hạ diệt Kim đánh Tống rồi thiên đô đến Trung Đô (nay là Bắc Kinh), triều đình Kim đã phế bỏ tên hiệu "Thượng Kinh" và đổi thành Hội Ninh phủ lộ. Vào năm Thiên Quyến thứ 1 (1138) thời Kim Hi Tông, triều đình Kim đã thiết lập Thượng Kinh lộ với trị sở tại Hội Ninh huyện của Hội Ninh phủ (nay thuộc A Thành). Địa hạt của Thượng Kinh lộ nói chung tương đương với toàn bộ tỉnh Hắc Long Giang, đại bộ phận các khu vực Trường Xuân, Cát Lâm, Diên Biên, Bạch Sơn và Tùng Nguyên của tỉnh Cát Lâm; ba tỉnh Hamgyong Bắc, Hamgyong Nam và Ryanggang của Triều Tiên; cùng khu vực phía nam Ngoại Hưng An lĩnh của nước Nga ngày nay. Dưới thời Kim, toàn bộ lưu vực Hắc Long Giang nằm trong lãnh thổ của Kim, Hắc Long Giang trở thành nội hà của Kim.
Sau khi quân Mông Cổ diệt Kim và lập ra nhà Nguyên, địa bàn tỉnh Hắc Long Giang thuộc Khai Nguyên lộ (开元路) của Liêu Dương đẳng xứ hành trung thư tỉnh (辽阳等处行中书省). Sau trung kì nhà Nguyên, địa bàn tỉnh Hắc Long Giang ngày nay thuộc quyền quản lý của Khai Nguyên lộ và Thủy Đạt Đạt lộ (水达达路). Liêu sử được viết vào thời Nguyên là thư tịch lịch sử đầu tiên của Trung Quốc sử dụng tên gọi "Hắc Long Giang".
=== Thời Minh ===
Năm Vĩnh Lạc thứ 7 (1409) thời Minh Thành Tổ, triều đình nhà Minh đã thiết lập một cơ cấu quân sự và chính quyền là Nô Nhi Can đô chỉ huy sứ ti (奴兒干都指揮使司) nhằm quản lý lưu vực Hắc Long Giang, Ô Tô Lý Giang, Tùng Hoa Giang và Nộn Giang. Đến năm Vĩnh Lạc thứ 9 (1411), cơ cấu này đã chính thức bắt đầu thực thi quyền quản lý hành chính. Các quan viên của đô ti ban đầu chủ yếu là các lưu quan được luân chuyển điều đến, về sau do các lãnh tụ bộ lạc trong khu vực thế tập. Đến năm Tuyên Đức thứ 9 (1434), đô ti chính thức bị bãi bỏ, tổng cộng tồn tại trong 25 năm. Sau đó, nhà Minh vẫn duy trì quyền quản lý đối với khu vực. Đến cuối thời Minh, triều đình không còn khả năng vươn tầm quản lý đến khu vực tỉnh Hắc Long Giang ngày nay, tại đây, các bộ lạc Nữ Chân trở thành những thuộc quốc của triều đình nhà Minh. Thời Minh, người Nữ Chân có ba bộ phận chính: Kiến Châu Nữ Chân, Hải Tây Nữ Chân và Dã Nhân Nữ Chân; trong đó, trên địa bàn Hắc Long Giang ngày nay có người Hải Tây Nữ Chân và Dã Nhân Nữ Chân.
=== Thời Thanh ===
Sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích chiếm thành Đồ Luân, ông đã thừa cơ đánh chiếm các bộ lạc Kiên Châu Nữ Chân khác, Ni Kham Ngoại Lan cuối cùng chạy đến Ngạc Lặc Hồn (nay ở gần Tề Tề Cáp Nhĩ) để xin quân Minh bảo vệ. Tuy nhiên, khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích đuổi đến nơi, quân Minh sợ xảy ra chiến tranh nên đã để Nỗ Nhĩ Cáp Xích giết chết Ni Kham Ngoại Lan. Sau đó, thanh thế của Nỗ Nhĩ Cáp Xích lên cao, ông thống nhất toàn bộ Kiến Châu Nữ Chân, cuối cùng đã thống nhất toàn bộ người Nữ Chân. Năm 1616, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lên ngôi hãn tại Hách Đồ A Lạp (nay thuộc Liêu Ninh), lập ra triều Hậu Kim. Các hậu duệ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã đổi tên Hậu Kim thành Thanh và thống trị trên toàn cõi Trung Quốc.
Thời Thanh sơ, triều đình đã cấm chỉ người Hán đến vùng Mãn Châu, bao gồm cả địa phận tỉnh Hắc Long Giang ngày nay. Năm Thuận Trị thứ 4 (1647) thời Thanh Thế Tổ, triều đình Thanh đã thiết lập chức ngưu lục chương kinh (牛录章京) tại Ninh Cổ Tháp (宁古塔, nay thuộc Mẫu Đơn Giang), đến năm 1653 thì thiết lập ngang bang chương kinh (昂邦章京), đến năm 1662 thì thăng thành Ninh Cổ Tháp tướng quân trú tại địa phương. Năm Khang Hi thứ 22, triều Thanh đã thiết lập thể chế Hắc Long Giang tướng quân, lãnh thổ cắt từ phần tây bắc của Cát Lâm tướng quân. Địa phận tỉnh Hắc Long Giang ngày nay phân thuộc Hắc Long Giang tướng quân ở phía tây và Cát Lâm tướng quân ở phía đông.
Trị sở ban đầu của Hắc Long Giang tướng quân là Hắc Long Giang thành (còn gọi là Ái Hồn hay Hắc Hà), nằm bên Hắc Long Giang. Tuy nhiên, ngay sau đó, vào năm 1690, thì trị sở đã chuyển đến Nộn Giang bên dòng Nộn Giang, và đến năm 1699, thì chuyển xa hơn về phía nam đến Tề Tề Cáp Nhĩ. Theo các sử gia hiện đại, việc di chuyển này diễn ra sau khi có những cân nhắc nhất định: Nộn Giang và Tề Tề Cáp Nhĩ có kết nối đường thủy thuận tiện (theo Nộn Giang) với nam bộ Mãn Châu. Trong khi đó, khi muốn đi từ nam bộ Mãn Châu đến Ái Hồn (Hắc Hà) thì cần phải theo dòng Tùng Hoa đến điểm hợp lưu giữa nó và Hắc Long Giang rồi lại đi ngược dòng, hoặc phải đi đường bộ qua Tiểu Hưng An lĩnh giữa thung lũng Nộn Giang và thung lũng Hắc Long Giang. Một lợi thế nữa của Tề Tề Cáp Nhĩ là nó nằm ở điểm giao nhau giữa tuyến đường đi đến phía bắc (đến Nộn Giang) và tuyến đường đi đến phía tây (đến Mông Cổ), cho phép các đơn vị quân đồn trú có thể đảm bảo quốc phòng trước cả người Nga và những nhóm người Mông Cổ không chịu thần phục.
Thời kỳ đầu nhà Thanh, Ninh Cổ Tháp (宁古塔. nay thuộc Mẫu Đơn Giang) thuộc quyền quản hạt của Cát Lâm tướng quân, chủ yếu dùng làm nơi chăn thả gia súc và lưu đày tù nhân, một trong những người nổi tiếng đã bị lưu đày tại đó là Trịnh Chi Long. Năm Thuận Trị thứ 4 (1657), đã xảy ra Đinh Dậu khoa trường án (丁酉科場案), Ngô Triệu Khiên (吴兆骞) cũng bị đày đến Ninh Cổ Tháp. Các trọng thần Nạp Lan Minh Châu (纳兰明珠), Từ Can Học (徐乾学), Từ Nguyên Văn (徐元文) cùng từng bị lưu đày trong 23 năm. Trương Tấn Ngạn (张缙彦) từng nói "Những người bị lưu đày đến có nhiều người là người Ngô, Việt, Mân, Quảng, Tề, Sở, Lương, Tần, Yên, Triệu". Đến thời Khang Hy thì hủy bỏ chế độ lưu đày đến đó, song vào năm Ung Chính thứ 5, Lý Hú (李煦) lại bị lưu đày đến Hắc Long Giang.
Thời Khang Hy, đế quốc Nga nhiều lần xâm nhập vào lãnh thổ Đại Thanh, bị quân Thanh đánh bại trong chiến dịch Nhã Khắc Tát (雅克萨战役), dẫn tới việc ký kết điều ước Ni Bố Sở giữa Nga và triều Thanh, theo đó lấy Ngoại Hưng An lĩnh (Dãy Stanovoy) làm biên giới giữa hai bên. Hoàng đế Khang Hy đã lấy những tù binh chiến tranh Nga không có nguyện vọng hồi quốc để thành lập một đội quân cận vệ.
Sau chiến tranh Nha phiến, người Nga lại tiến hành xâm nhập Mãn Châu, với điều ước Ái Hồn 1858 và điều ước Bắc Kinh 1860, triều đình Thanh đã cắt nhượng vùng đất phía bắc Hắc Long Giang và phía đông Ô Tô Lý Giang rộng trên 1 triệu km² cho đế quốc Nga. Cũng trong khoảng thời gian này, triều đình nhà Thanh đã mở cửa Mãn Châu do các di dân người Hán. Sau đó người Hán chủ yếu là từ Trực Lệ và bán đảo Sơn Đông đã di cư đến vùng Đông Bắc, sự kiện này được gọi là Sấm Quan Đông (闯关东), đến đầu thế kỷ 20 thì người Hán đã trở thành dân tộc chiếm đa số tại địa bàn Hắc Long Giang ngày nay. Năm Quang Tự (1907) thứ 33, sau chiến tranh Nga-Nhật, chế độ Hắc Long Giang tướng quân được đổi thành Hắc Long Giang hành tỉnh, tỉnh lị đặt tại thành Tề Tề Cáp Nhĩ, tại Hắc Long Giang hành tỉnh có ba đạo (Ái Hồn binh bị đạo, Hô Luân binh bị đạo, Hưng Đông binh bị đạo), 7 phủ (Hô Lan, Tuy Hóa, Long Giang, Hải Luân, Nộn Giang, Hắc Hà, Lư Tân), 6 thính, 1 châu và 7 huyện. Khu vực thuộc Cát Lâm hành tỉnh song nay thuộc địa bàn tỉnh Hắc Long Giang thuộc 2 đạo, 7 phủ (Song Thành, Tân Châu, Ngũ Thường, Y Lan, Mật Sơn, Lâm Giang, Ninh An), 3 thính, 1 châu và 7 huyện. Đến năm Tuyên Thống thứ 3 (1911), toàn bộ Hắc Long Giang hành tỉnh gồm 7 phủ, 6 thính và 1 châu còn toàn bộ Cát Lâm hành tỉnh có 11 phủ, 1 châu, 5 thính, 18 huyện.
=== Thời Dân Quốc ===
Năm 1912, triều Thanh diệt vong, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc sau khi thành lập vẫn theo thể chế ba cấp tỉnh, đạo, huyện của nhà Thanh, với ba đạo Hắc Long Giang, Tuy Lan và Hắc Hà. Về sau, chính phủ tăng thêm Hô Luân đạo, tổng cộng tỉnh Hắc Long Giang có 4 đạo, 21 huyện và 6 thiết trị cục. Bấy giờ, các khu vực nay thuộc tỉnh Hắc Long Giang quản lý mà khi đó thuộc tỉnh Cát Lâm là 2 đạo Tân Giang và Y Lan với 18 huyện. Tính đến năm 1930, tỉnh Hắc Long Giang quản lý 42 huyện, 11 thiết trị cục còn vùng khi đó lệ thuộc tỉnh Cát Lâm có 22 huyện.
Năm 1896, nhà Thanh và Nga đã ký kết Mật ước Trung-Nga, theo đó Nga được phép xây dựng tuyến đường sắt qua Hắc Long Giang và Cát Lâm để rút ngắn khoảng cách đến Vladivostok. Tuyến đường sắt này hoàn thành vào năm 1903 cùng với một "tuyến nhánh" nối từ Cáp Nhĩ Tân đến cảng Lữ Thuận ở Bột Hải. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Chính phủ Quốc dân Trung Quốc đã dần dần thu hồi chủ quyền hành chính đối với vùng "đất phụ thuộc" đường sắt Đông Thanh (Trung Đông). Đến năm 1920, thì xác định khu vực này là "Đông tỉnh đặc biệt khu". Đến năm 1922, nhà đương cục ở Đông Bắc đã thiết lập trưởng quan hành chính của "Đông tỉnh đặc biệt khu", quản lý thống nhất các cơ quan quân sự, ngoại giao và tư pháp của khu vực. Tháng 5 năm 1924, chính phủ Bắc Kinh phê chuẩn việc "Đông tỉnh đặc biệt khu" độc lập với hai tỉnh Hắc Long Giang và Cát Lâm. Từ năm 1924, Trung Quốc và Liên Xô cùng quản lý phần phía bắc của tuyến đường sắt này.
Từ năm 1928, Phụng hệ quân phiệt Trương Học Lương ở Đông Bắc đã tuyên bố ly khai chính phủ Bắc Dương, quy phục chính phủ Trung ương Nam Kinh. Đến tháng 7 năm 1929, chính phủ Đông Bắc của Trương Học Lương đã hành động nhằm cắt đứt chi viện của Liên Xô cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, trục xuất các viên chức Liên Xô trên tuyến đường sắt Trung Đông, niêm phong các tổ chức thương nghiệp của Liên Xô tại Cáp Nhĩ Tân, bắt đầu tiến hành thu hồi đường sắt Trung Đông. Ngày 18 tháng 7 cùng năm, chính phủ Liên Xô do Stalin lãnh đạo đã tuyên bố đoạn giao quan hệ với Trung Quốc, lệnh cho quân Liên Xô đóng ở biên giới với Hắc Long Giang và Cát Lâm chuẩn bị can thiệp vũ trang. Ngày 14 tháng 8 năm 1929, Liên Xô ven theo tuyến đường sắt Trung Đông để tấn công Trung Quốc, quân Liên Xô giành được chiến thắng và buộc Trung Quốc phải phục hồi chế độ đồng quản lý tuyến đường sắt này như từ năm 1924. Cùng trong cuộc chiến này, Hồng quân Liên Xô đã chiếm đóng đảo Hắc Hạt Tử trên sông Amur.
=== Thời Mãn Châu Quốc ===
Sau sự biến Mãn Châu (1931-1932), Nhật Bản đã hình thành nên chính quyền Mãn Châu quốc do cựu hoàng đế nhà Thanh là Phổ Nghi đứng đầu trên danh nghĩa. Đến năm 1935, Liên Xô chuyển quyền quản lý đường sắt Trung Đông cho Mãn Châu quốc. Mãn Châu quốc sau đó phân lãnh thổ của mình ra thành các khu vực nhỏ hơn, trên địa phận tỉnh Hắc Long Giang ngày nay có 6 tỉnh là Long Giang, Tân Giang, Tam Giang, Hắc Hà, Bắc An, 5 thành phố là Cáp Nhĩ Tân, Tề Tề Cáp Nhĩ, Mẫu Đơn Giang, Giai Mộc Tư, Đông An, 74 huyện và 3 kỳ. Trong thời gian Nhật Bản chiếm đóng, một lượng lớn gỗ, lương thực, khoáng sản đã được người Nhật chuyển từ Mãn Châu quốc về Nhật Bản
Vào ngày 8 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản theo một thỏa thuận tại Hội nghị Yalta, và xâm lược Mãn Châu quốc từ Ngoại Mãn Châu. Đúng 0 giờ ngày 9 tháng 8 (giờ Viễn Đông Nga), hoạt động quân sự đầu tiên bắt đầu với 76 máy bay ném bom IL-4 của Phương diện quân Viễn Đông 1 đã thâm nhập không phận Mãn Châu quốc oanh kích các mục tiêu quân sự - hậu cần tại Cáp Nhĩ Tân và Trường Xuân. Từ ngày 19 đến hết ngày 20 tháng 8 năm 1945, hầu hết các đơn vị của Đạo quân Quan Đông đã ra hàng và giao nộp vũ khí cho Quân đội Liên Xô. Toàn bộ quân nhân Nhật Bản ra hàng ở Mãn Châu quốc gồm có 148 tướng, 594.000 sĩ quan và binh sĩ.
=== Sau Thế chiến 2 ===
Trong Nội chiến Trung Quốc, Hắc Long Giang trở thành tỉnh đầu tiên hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của lực lượng cộng sản Trung Quốc, Cáp Nhĩ Tân là thành phố lớn đầu tiên do họ kiểm soát. Với sự ủng hộ của Liên Xô, Nội Mãn Châu nói chung và tỉnh Hắc Long Giang ngày nay nói riêng trở thành một bàn đạp cho lực lượng cộng sản trong cuộc chiến mà họ giành chiến thắng vào năm 1949. Liên Xô đã trao trả hoàn toàn quyền quản lý đường sắt Trung Đông cho chính phủ Trung Quốc (mà nước này đồng quản lý từ năm 1945) vào năm 1952.
Sau năm 1945, trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang ngày nay trước sau đã xuất hiện 5 tỉnh là Hắc Long Giang, Nộn Giang, Hiệp Giang, Tuy Ninh và Tùng Giang. Đến năm 1949, trên địa phận tỉnh Hắc Long Giang ngày nay còn lại hai tỉnh là Hắc Long Giang và Tùng Giang. Đến năm 1954, tỉnh Tùng Giang bị bãi bỏ, hợp nhất vào tỉnh Hắc Long Giang. Chính quyền tỉnh Hắc Long Giang mới đặt trụ sở tại Cáp Nhĩ Tân, ranh giới tỉnh về cơ bản vẫn giữa nguyên từ đó đến nay.
Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, vẫn tồn tại vấn đề biên giới với Liên Xô. Sau sự kiện đảo Trân Bảo trên sông Ussuri, quan hệ hai nước xấu đi một cách nghiêm trọng, quân đội hai bên được triển khai suốt đoạn sông Amur biên giới. Vào ngày 14 tháng 10 năm 2004, Trung-Nga ký kết thỏa thuận biên giới phần phía đông, theo đó Nga đồng ý trao trả đảo Ngân Long/Tarabarov và khoảng một nửa đảo Hắc Hạt Tử/Bolshoy Ussuriysky cho Trung Quốc. Khoảng 170 km² của đảo Bolshoy Ussuriysky được chuyển cho phía Trung Quốc, phần còn lại vẫn thuộc quyền quản lý của Nga. Trước đó, vào năm 1991 hai bên đã đồng ý rằng đảo Trân Bảo sẽ thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng từ bỏ tuyên bố chủ quyền với Giang Đông lục thập tứ đồn.
Từ năm 1950, Trung Quốc đã tiến hành khai khẩn với quy mô lớn, lập ra các nông trường ở đồng bằng Tam Giang [gọi là Bắc Đại Hoang (北大荒)]. Trong Cách mạng Văn hóa, minh Hô Luân Bối Nhĩ đã được chuyển về thuộc quyền quản lý của tỉnh Hắc Long từ 1969 đến 1979 (trước năm 1949 vùng này thuộc tỉnh Hắc Long Giang cũ). Từ khi Trung Quốc đại lục tiến hành cải cách mở cửa, thương mại giữa tỉnh Hắc Long Giang và Nga đã tăng lên.
== Địa lý ==
Tỉnh Hắc Long Giang nằm ở Đông Bắc Trung Quốc, vừa là tỉnh cực đông và vừa là tỉnh cực bắc của Trung Quốc. Tỉnh Hắc Long Giang trải dài trên 14 kinh độ (từ 121°11' đến 135°05' kinh Đông) và 10 vĩ độ (từ 43°25' đến 53°33' vĩ Bắc). Phía bắc và phía đông, tỉnh Hắc Long Giang có đường biên giới dài 3.045 km giáp với Nga (vùng Zabaykalsky, tỉnh Amur, tỉnh tự trị Do Thái, vùng Khabarovsk và vùng Primorsky); phía tây tỉnh Hắc Long Giang là khu tự trị Nội Mông, phía nam tính Hắc Long Giang là tỉnh Cát Lâm. Diện tích toàn tỉnh Hắc Long Giang là trên 473.000 km² (bao gồm cả Gia Cách Đạt Kỳ và Tùng Lĩnh), là tỉnh có diện tích lớn thứ sáu tại Trung Quốc (sau Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông, Thanh Hải và Tứ Xuyên).
=== Địa hình ===
Một cách tổng thể, địa thế tỉnh Hắc Long Giang là cao ở phía tây bắc, bắc và đông nam; thấp ở đông bắc và tây nam; địa mạo chủ yếu là núi non, cao nguyên cùng bình nguyên và mặt nước. Ở tây bắc bộ tỉnh Hắc Long Giang là vùng núi non của dãy Đại Hưng An lĩnh có hướng đông bắc-tây nam; bắc bộ tỉnh Hắc Long Giang là vùng núi non của Tiểu Hưng An lĩnh có hướng tây bắc-đông nam; đông nam bộ tỉnh Hắc Long Giang có các dãy núi có hướng đông bắc-tây nam như Trương Quảng Tài lĩnh (张广才岭), Lão Gia lĩnh (老爷岭), Hoàn Đạt Sơn (完达山); các khu vực núi non này chiếm 24,7% tổng diện tích của tỉnh. Các khu vực gò đồi có cao độ trên 300 mét trên mực nước biển ước tính chiếm 35,8% diện tích tỉnh Hắc Long Giang. Đông bắc bộ Hắc Long Giang có đồng bằng Tam Giang, tây bộ tỉnh có đồng bằng Tùng Nộn và là một bộ phận của bình nguyên Đông Bắc Trung Quốc; đồng bằng chiếm 37% diện tích của tỉnh, với cao độ dao động từ 50-200 mét. Điểm cao nhất Hắc Long Giang là đỉnh Đại Thố Tử (大兔子峰) cao 1.690 mét. Diện tích đất ngập nước của toàn tỉnh Hắc Long Giang là 8,67 triệu ha, trong đó diện tích đất ngập nước tự nhiên là 5,56 triệu ha, chiếm 1/7 diện tích đất ngập nước tự nhiên của toàn Trung Quốc.
=== Khí hậu ===
Đại bộ phận tỉnh Hắc Long Giang thuộc đới khí hậu lục địa ẩm (Köppen Dwa hay Dwb), riêng khu vực cực bắc có khí hậu cận Bắc cực (Köppen Dwc). Tỉnh Hắc Long Giang có bốn mùa phân biệt, mùa hè ngắn, ấm và có mưa; mùa đông kéo dài. Nhiệt độ bình quân năm của tỉnh Hắc Long Giang là từ -4 °C đến 5 °C, cứ thêm một vĩ độ từ đông nam đến tây bắc thì nhiệt độ bình quân ước tính sẽ thấp hơn khoảng 1 °C, đường nhiệt độ bình quân 0 °C kéo thẳng từ Nộn Giang đến Y Xuân. Mỗi năm, toàn tỉnh có 100-160 ngày không có sương giá, sương giá xuất hiện từ hạ tuần tháng 9 ở hầu hết các khu vực trong tỉnh, kết thúc vào hạ tuần tháng 4 đến thượng tuần tháng 5.
Lượng giáng thủy bình quân hàng năm trên địa bàn toàn tỉnh là từ 400–650 mm, trong đó vùng núi trung bộ có lượng giáng thủy lớn nhất, kế đến là đông bộ, còn thấp nhất là tây bộ và bắc bộ. Lượng mưa từ tháng 5-9 chiếm 80%-90% tổng lượng giáng thủy cả năm. Khu vực tây nam bộ tỉnh Hắc Long Giang là vùng bán khô hạn. Tuy vậy, tỉnh Hắc Long Giang cũng có lượng bức xạ mặt trời phong phú với tổng lượng hàng năm đạt 4.400-5.028 triệu MJ/m², trong đó lượng bức xạ mặt trời từ tháng 5-9 chiếm 54-60% tổng lượng bức xạ mặt trời hàng năm. Số giờ nắng hàng năm trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang là từ 2.200-2.900 giờ. Tốc độ gió bình quân năm ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang là từ 2–4 m/s.
=== Sông hồ ===
Toàn tỉnh Hắc Long Giang có 1.918 sông suối có diện tích lưu vực trên 50 km². Năm hệ thống sông lớn nhất trên địa phận tỉnh Hắc Long Giang là: sông Amur (Hắc Long Giang), sông Ussuri (Ô Tô Lý Giang), Tùng Hoa Giang, Nộn Giang và sông Razdolnaya (Tuy Phân Hà). Nộn Giang từ phía bắc hợp lưu với Tùng Hoa Giang từ phía nam trên ranh giới giữa tỉnh Hắc Long Giang và Cát Lâm rồi sau đó chảy về phía đông rồi đổ vào sông Amur. Sông Ussuri ở phía đông tỉnh Hắc Long Giang tạo thành đường biên giới tự nhiên dài 455 km giữa Trung Quốc và Nga và cũng đổ vào sông Amur. Bản thân sông Amur ở phía bắc của tỉnh cũng là một đường biên giới tự nhiên giữa Trung Quốc và Nga dài 1861 km, sau khi nhận nước từ Ussuri, sông chảy hoàn toàn trên lãnh thổ của Nga rồi đổ vào eo biển Tatar. Riêng sông Razdolnaya không thuộc hệ thống sông Amur, nó chảy từ đông nam tỉnh Hắc Long Giang qua cực nam vùng Primorsky của Nga rồi đổ ra biển Nhật Bản. Các sông khác chảy trên địa phận Hắc Long Giang là
Hệ thống ven Hắc Long Giang: Ngạch Nhĩ Cổ Hà, Hô Mã Hà (呼玛河), Ngạch Mộc Nhĩ Hà (额木尔河), Tốn Hà (逊河) hay Tốn Biệt Lạp Hà (逊别拉河), Khố Nhĩ Tân Hà (库尔滨河)
Hệ thống Tùng Hoa Giang: Mẫu Đơn Giang, Hô Lan Hà (呼兰河), Lạp Lâm Hà (拉林河), A Thập Hà (阿什河)
Hệ thống Nộn Giang: Cam Hà (甘河), Nột Mô Nhĩ Hà (讷谟尔河), Thao Nhi Hà (洮儿河), Nặc Mẫn Hà (诺敏河), Nhã Lỗ Hà (雅鲁河)
Hệ thống Ô Tô Lý Giang: Mục Lăng Hà (穆棱河), Nạo Lực Hà (挠力河), Tùng A Sát Hà
Hắc Long Giang có đến 640 hồ lớn nhỏ, trong đó 4 hồ lớn nhất là hồ Khanka (hồ Hưng Khải) tại Mật Sơn trên biên giới Trung-Nga, hồ Kính Bạch (镜泊湖) tại Ninh An, hồ nước mặn Liên Hoàn (连环湖) tại Đỗ Nhĩ Bá Đặc, hồ Ngũ Đại Liên Trì (五大连池) tại thành phố cùng tên. Tỉnh Hắc Long Giang tính đến năm 2011 đã có 640 hồ chứa. Diện tích mặt nước của tỉnh Hắc Long Giang là trên 800.000 ha.
Trên các sông lớn của Hắc Long Giang cũng có nhiều hòn đảo, trong đó có đảo Trân Bảo trên sông Ussuri và là tâm điểm trong Xung đột biên giới Trung-Xô năm 1969, đảo Ngân Long và một nửa đảo Hắc Hạt Tử ở nơi hợp lưu giữa sông Amur và sông Ussuri đã thuộc về Trung Quốc sau hiệp định biên giới giữa Trung Quốc và Nga. Đảo Thái Dương trên Tùng Hoa Giang và nằm ở giữa khu đô thị mới và cũ của Cáp Nhĩ Tân là một khu phong cảnh và bảo tồn cấp quốc gia của Trung Quốc.
=== Khoáng sản ===
Tính đến năm 2011, người ta đã phát hiện được 133 chủng loại khoáng sản (bao gồm cả á khoáng), chiếm 56,12% tổng số chủng loại đã phát hiện được tại Trung Quốc. Trong đó, đã xác định được trữ lượng của 83 loại khoáng sản. Tỉnh Hắc Long có trữ lượng lượng 55 loại khoáng sản đứng vào hàng 10 đơn vị có trữ lượng cao nhất Trung Quốc, trong đó trữ lượng dầu mỏ, than chì, đất sét vàng dùng làm chất màu, feldspat, đá bazan dùng làm đá đúc khuôn, tro núi lửa, đá hoa dùng làm xi măng và sillimanite đứng ở vị trí dẫn đầu; trữ lượng quặng rheni, đá hoa dùng để làm thủy tinh, đá bọt, thạch anh dùng làm thủy tinh, quặng osmi và vàng đứng ở vị trí thứ hai. Tỉnh Hắc Long Giang có diện tích lớn, tài nguyên khoáng sản được phân bố trên phạm vi rộng song lại tương đối tập trung. Dầu mỏ và khí thiên nhiên tập trung chủ yếu tại khu vực Đại Khánh thuộc bồn địa Tùng Liêu; than đá phân bộ tại các khu vực Hạc Cương, Song Áp Sơn, Thất Đài Hà và Kê Tây ở đông bộ của tỉnh; các loại khoáng sản kim loại màu và kim loại đen chủ yếu phân bố tại khu vực Nộn Giang, Y Xuân và Cáp Nhĩ Tân; các mỏ vàng chủ yếu phân bố tại vùng núi Đại Hưng An lĩnh, Tiểu Hưng An lĩnh và các khu vực Y Xuân, Giai Mộc Tư và Mẫu Đơn Giang; các loại khoáng sản phi kim chủ yếu phân bố tại khu vực đông bộ và trung bộ tỉnh Hắc Long Giang.
== Sinh vật ==
Tỉnh Hắc Long Giang có trên 2.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có Taxus cuspidata (hồng đậu sam Đông Bắc), Đậu tương leo (Glycine soja) cùng 10 loài thực vật được bảo hộ cấp quốc gia. Tỉnh Hắc Long Giang có 476 loài động vật hoang dã sống trên cạn, trong đó có 88 loài thú, 361 loài chim, 16 loại bò sát, 11 loài lưỡng cư. Trong số các loài động vật hoang dã sống trên cạn tại tỉnh Hắc Long Giang, có hổ Siberi, sếu Nhật Bản cùng 17 loài động vạt hoang dã được bảo hộ quốc gia cấp một; bên cạnh đó là gấu ngựa, sếu gáy trắng cùng 66 loài động vật hoang dã được bảo hộ quốc gia cấp hai.
Tỉnh Hắc Long Giang là một trong những khu vực rừng trọng điểm của Trung Quốc. Độ che phủ rừng của tỉnh Hắc Long Giang đạt tỷ lệ 45,2%, diện tích đất có rừng đạt 20,53 triệu ha.
Tính đến cuối năm 2011, toàn Hắc Long Giang có 211 khu bảo tồn tự nhiên, trong đó có 24 khu cấp quốc gia và 88 khu cấp tỉnh, tổng diện tích là trên 6,52 triệu ha.
== Nhân khẩu ==
Tính đến cuối năm 2010, số nhân khẩu thường trú tại tỉnh Hắc Long Giang là 38,334 triệu người, tỷ xuất sinh năm 2010 là 7,35‰, tỷ suất tử vong trong cùng năm là 5,83‰. Theo tổng điều tra nhân khẩu toàn quốc lần thứ sáu của Trung Quốc tiến hành năm 2010, số người trong độ tuổi từ 0-14 chiếm 11,96% tổng dân số, số người trong độ tuổi 15-64 chiếm 79,72% tổng dân số, số người trên 65 tuổi chiếm 8,32% tổng dân số. Người Hán là dân tộc chiếm đại đa số tại Hắc Long Giang, các dân tộc thiểu số đã cư trú lâu dài trên địa bàn tỉnh gồm: người Mãn, người Triều Tiên, người Mông Cổ, người Hồi, người Đạt Oát Nhĩ, người Ngạc Luân Xuân, người Hách Triết, người Ngạc Ôn Khắc. Tỉnh Hắc Long Giang có huyện tự trị dân tộc Mông Cổ Đỗ Nhĩ Bá Đặc thuộc Đại Khánh và khu tự trị dân tộc Đạt Oát Nhĩ Mai Lý Tư thuộc Tề Tề Cáp Nhĩ. Cư dân Hắc Long Giang chủ yếu nói Quan thoại Đông Bắc, Quan thoại Giao-Liêu được nói tại Hổ Lâm và Phủ Viễn.
== Các đơn vị hành chính ==
Hắc Long Giang được chia làm 13 đơn vị hành chính cấp địa khu, bao gồm 12 thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị) và 1 địa khu:
Các đơn vị hành chính cấp địa khu trên đây được chia thành 130 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 65 quận (thị hạt khu), 19 thị xã (huyện cấp thị), 45 huyện, và 1 huyện tự trị. Các đơn vị hành chính cấp huyện này lại được chia nhỏ thành 1284 đơn vị hành chính cấp hương, gồm 473 thị trấn (trấn), 400 hương, 58 hương dân tộc, và 353 phường (nhai đạo). Gia Cách Đạt Kỳ và Tùng Lĩnh mặc dù trên danh nghĩa thuộc kỳ tự trị Ngạc Luân Xuân, Nội Mông nhưng trên thực tế thuộc quyền quản lý của Đại Hưng An Lĩnh.
== Kinh tế ==
Tổng GDP của toàn tỉnh Hắc Long Giang vào năm 2011 là 1,25 nghìn tỉ NDT, theo giá cả so sánh thì đạt mức tăng trưởng 12,2% so với năm trước. Kết cấu ba khu vực trong nền kinh tế của tỉnh Hắc Long Giang là 13,6:50,5:35,9. Năm 2011 Chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 5,8% so với năm trước. Trong năm này, tỷ lệ đăng ký thất nghiệp ở khu vực đô thị là 4,38%. Trong năm 2011, tổng vốn đầu tư cố định toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang là 752,38 tỉ NDT, tăng trưởng 31,8% so với năm trước, trong đó số vốn đầu tư cho bốn ngành chủ đạo là trang thiết bị, hóa dầu, năng lượng, thực phẩm đạt 217,77 tỉ NDT. Năm 2011, tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của tỉnh Hắc Long Giang đạt giá trị 38,51 triệu USD, trong đó giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 17,67 triệu USD còn giá trị hàng hóa nhập khẩu đạt 20,84 triệu USD. Năm 2011, các đối tác thương mại lớn nhất của tỉnh Hắc Long Giang lần lượt là Nga, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản.
=== Nông nghiệp ===
Nông nghiệp của tỉnh Hắc Long Giang chịu ảnh hưởng của khí hậu lạnh giá, dựa vào các cây trồng như đỗ tương, ngô, và lúa mì. Các cây trồng thương phẩm bao gồm củ cải ngọt, lanh, và hướng dương. Hắc Long Giang cũng là một nguồn cung cấp gỗ quan trọng tại Trung Quốc, thông, đặc biệt là thông Triều Tiên và thông rụng lá là các lâm sản quan trọng nhất tại Hắc Long Giang. Rừng tập trung hầu hết tại Đại Hưng An lĩnh và Tiểu Hưng An lĩnh.Năm 2011, tổng giá trị nông-lâm-mục-ngư nghiệp của tỉnh Hắc Long Giang đạt giá trị 170,56 tỉ NDT, theo giá cả so sánh thì đạt mức tăng trưởng 6,2% so với năm trước. Năm 2011, kết cấu nông-lâm-mục-ngư-dịch vụ nông nghiệp trong tổng thể nền nông nghiệp của tỉnh Hắc Long Giang là 68,5:3,5:24,8:1,3:1,9. Tỉnh Hắc Long Giang có 11,87 triệu ha đất canh tác, 60 nghìn ha đất vườn, 24,40 triệu ha đất lâm nghiệp, 2,23 triệu ha đất đồng cỏ.
Cũng trong năm 2011, tổng sản lượng lương thực của tỉnh Hắc Long Giang đạt 55.706.000 tấn, bội thu liên tục trong tám năm, đứng ở vị trí dẫn đầu tại Trung Quốc. Trong năm này, sản lượng bốn loại lương thực chủ yếu như sau: tổng sản lượng gạo đạt 20.621.000 tấn, tổng sản lượng ngô đạt 26.758.000 tấn, tổng sản lượng lúa mì đạt 1.038.000 tấn, tổng sản lượng đỗ tương đạt 5.413.000 tấn. Sản lượng các loại cây trồng khác như sau: sản lượng rau xanh đạt 7.899.000 tấn, sản lượng quả đạt 2.256.000 tấn, sản lượng củ cải ngọt đạt 2.750.000 tấn, sản lượng các loại hạt có dầu đạt 233.000 tấn, sản lượng thuốc lá đã sấy khô đạt 78.000 tấn, sản lượng lanh đạt 12.000 tấn.
Ngành chăn nuôi của tỉnh Hắc Long Giang tập trung vào ngựa và bò. Hắc Long Giang là đơn vị cấp tỉnh có số lượng bò sữa lớn nhất và sản xuất lượng sữa lớn nhất tại Trung Quốc. Năm 2011, sản lượng thịt lợn, bò và cừu của tỉnh Hắc Long Giang đạt 1.680.000 tấn, sản lượng thịt gia cầm đạt 310.000 tấn, sản lượng sữa bò tươi đạt 5.431.000 tấn, sản lượng trứng đạt 1.054.000 tấn.
=== Công nghiệp ===
Vùng Đông Bắc Trung Quốc nói chung và tỉnh Hắc Long Giang nói riêng từng là trái tim công nghiệp của Trung Quốc, tuy nhiên, sau cải cách mở cửa, nền công nghiệp của vùng đã tụt hậu so với những nơi khác tại Trung Quốc, vì thế chính quyền Trung Quốc đã phải đề ra kế hoạch Chấn hưng vùng công nghiệp cũ Đông Bắc (振兴东北老工业基地). Các sản phẩm công nghiệp chính của tỉnh Hắc Long Giang là than nguyên khai, dầu thô, khí thiên nhiên, đường thành phẩm, bia, giấy, dầu lọc, than cốc, amoniac tổng hợp, phân bón, êtilen, nguyên liệu dược phẩm hóa học, Trung dược, sợi tổng hợp, xi măng, gang thỏi, thép, lò hơi công nghiệp, máy cắt kim loại, ô tô, xăm lốp, phát điện, vi máy tính, sợi, kính phẳng, axít sunfuric, nông dược hóa học, thiết bị phát điện, máy kéo cỡ nhỏ, đồ uống có cồn, gỗ nhân tạo, đồ nội thất.
Năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang đạt giá trị 558,32 tỉ NDT, tăng trưởng 13,1% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế do nhà nước nắm giữ cổ phần khống chế đạt giá trị 344,3 tỉ NDT, tăng trưởng 12,9%; khu vực kinh tế tập thể đạt giá trị 15,39 tỉ NDT, tăng trưởng 14%. Cũng trong năm 2011, Giá trị các ngành công nghiệp nhẹ đạt 89,44 tỉ NDT, giá trị các ngành công nghiệp nặng đạt 391,42 tỉ NDT.
Mỏ dầu Đại Khánh (大庆油田) thuộc địa phận Đại Khánh là mỏ dầu lớn nhất tại Trung Quốc. Mỏ dầu này được phát hiện vào năm 1959 và người ta dự tính có thể khai thác lượng dầu thô và khí đốt quy đổi từ 20 triệu tấn đến 25 triệu tấn mỗi năm từ các giếng dầu của mỏ cho đến năm 2060. Tính đến năm 2009, số dầu thô đã khai thác từ mỏ dầu Đại Khánh là 2 tỉ tấn, chiếm tới 40% sản lượng dầu thô khai thác trên toàn Trung Quốc trong cùng kỳ.
Năm 2007, sản lượng dầu thô toàn tỉnh Hắc Long Giang là 41,698 triệu tấn, sản lượng than đá chưa tinh chế là 79,971 triệu tấn, sản lượng khí thiên nhiên là 2,55 tỉ m³.
== Du lịch ==
Trong năm 2011, tỉnh Hắc Long Giang đã tiếp đón hơn 204 triệu lượt du khách trong và ngoài nước, tăng trưởng 28,8% so với năm 2010, doanh thu từ ngành du lịch trong năm này đạt 109,15 tỉ NDT. Trong đó, số khách trong nước đạt 202,2369 triệu lượt người và số khách quốc tế đạt 2.065.000 người. Cũng tính đến năm 2011, toàn tỉnh Hắc Long Giang có 588 công ty du lịch và 221 khu thắng cảnh cấp A quốc gia (trong đó có 3 khu cấp 5A, 39 khu cấp 4A và 108 khu cấp 3A).
Tỉnh Hắc Long Giang có các khu rừng rộng lớn, tỷ lệ che phủ rừng đạt 43,6% với 97 công viên rừng. Các khu rừng tại Hắc Long Giang có phong cảnh đẹp, yên tĩnh và không khí trong lành. Công viên rừng Ngũ Doanh, công viên rừng Thủy Khê cùng nhiều công viên rừng khác đã phát triển các loại hình du lịch như leo núi, tản bộ, tắm rừng, đi thuyền hay bè mảng trên các sông suối hay hồ nước trong rừng.
Ngoài ra, vì nằm ở vĩ độ cao nên tỉnh Hắc Long có nhiều băng tuyết, thời gian có tuyết lại kéo dài và tuyết có chất lượng tốt. Vào mùa đông, băng tuyết bao phủ trên một diện tích rộng lớn, tạo ra cảnh quan tráng lệ. Tỉnh Hắc Long Giang là một trong những khu vực đầu tiên tại Trung Quốc phát triển lĩnh vực du lịch trượt tuyết, tính đến năm 2011 đã có gần 100 khu trượt tuyết, các khu trượt tuyết lớn là Á Bố Lực (亚布力), Cát Hoa (吉华), Mạo Nhi Sơn (帽儿山). Tỉnh Hắc Long Giang là cái nôi của nghệ thuật băng tuyết tại Trung Quốc. Lễ hội Băng đăng Quốc tế Cáp Nhĩ Tân được tổ chức hàng năm là một trong bốn lễ hội băng tuyết lớn nhất thế giới.
Tỉnh Hắc Long Giang có nhiều cảnh đẹp bên bờ hồ, nước trong các hồ thường gợn sóng, là một nơi thư giãn đáng chú ý. Hồ Hưng Khải là hồ biên giới lớn nhất châu Á, hồ Kính Bạch (镜泊湖) là hồ có chướng ngại và là một công viên địa chất thế giới của UNESCO từ năm 2006, và khu vực hồ Liên Hoàn (连环湖) là một nơi săn bắn thủy cầm thiên nhiên. Tỉnh Hắc Long Giang có 4,34 triệu ha đất ngập nước, chiếm 1/8 diện tích đất ngập nước của Trung Quốc, trong đó bốn khu vực đất ngập nước Trác Long (扎龙), Tam Giang, hồ Hưng Khải và Hồng Hà được liệt vào danh sách vùng đất ngập nước trọng yếu cấp quốc tế.
Trên địa phận tỉnh Hắc Long Giang có 16 nhóm núi lửa, trên 80 ngọn núi lửa. Tài nguyên du lịch núi lửa của Hắc Long Giang là một điểm đặc sắc, trong đó nổi tiếng ngất là nhóm núi lửa Ngũ Đại Liên Trì (五大连池) và hồ Kính Bạc. Công viên địa chất thế giới Ngũ Đại Liên Trì có 14 núi lửa cũ và mới, còn lại một cách khá hoàn chỉnh và tập trung, có địa hình địa mạo điển hình của núi lửa, vì thế, nó còn được gọi là "bảo tàng núi lửa thiên nhiên" và "sách giáo khoa mở về núi lửa". Suối khoáng ở Ngũ Đại Liên Trì có nhiều khoáng chất và 30 nguyên tố vi lượng thiết yếu của cơ thể con người, là một trong "tam đại lãnh tuyền" trên thế giới, có tác dụng nhất định trong việc chăm sóc sức khỏe.
Tỉnh lị Cáp Nhĩ Tân là một thành phố tương phản với ảnh hưởng rõ rệt của Trung Quốc, Nga và phần còn lại của thế giới. Nhà thờ Hồi giáo Bốc Khuê (卜奎清真寺) là một di sản quốc gia của Trung Quốc. Các nhà thờ Chính Thống giáo Đông phương, Công giáo La Mã, và Tin Lành nằm rải rác trong thành phố.
== Giao thông ==
Năm 2011, các loại hình phương tiện của tỉnh Hắc Long Giang có khối lượng hàng hóa luân chuyển là 198,47 tỉ tấn.km, trong đó ngành đường sắt là 109,23 tỉ tấn.km, ngành đường bộ là 84,35 tỉ tấn.km, ngành đường thủy là 740 nghìn tấn.km, ngành hàng không là 160 nghìn tấn.km; khối lượng hành khách luân chuyển là 67,83 tỉ người.km. Tính đến cuối năm 2011, tỉnh Hắc Long Giang có 2.423.000 người sử hữu ô tô dân dụng.
=== Đường sắt ===
Cục đường sắt Cáp Nhĩ Tân quản lý toàn bộ mạng lưới đường sắt trên địa bàn toàn tỉnh Hắc Long Giang và Hô Luân Bố Nhĩ của Nội Mông. Tính đến năm 2011, tổng chiều dài đường sắt cho cục này quản lý là 7014,3 km, trong đó có 5081,3 km nằm trên địa phận tỉnh Hắc Long Giang. Trong năm 2011, cục đường sắt Cáp Nhĩ Tân đã thực hiện vận chuyển 113,28 triệu lượt hành khách và 245,47 triệu tấn hàng hóa; con số tương ứng trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang là 104,49 triệu lượt người và 165,23 triệu tấn hàng hóa. Ngày 1 tháng 12 năm 2012, tuyến đường sắt cao tốc Cáp Nhĩ Tân-Đại Liên (哈大客运专线, Cáp-Đạt vận chuyển chuyên tuyến) đã chính thức được đưa vào vận hành. Đây là tuyến đường sắt cao tốc nằm ở vùng vĩ độ cao giá lạnh đầu tiên của Trung Quốc và thế giới. Tuyến đường sắt cao tốc này dài 921 km với tốc độ tàu chạy theo thiết kế là 350 km/h, nối liền ba tỉnh Liêu Ninh, Cát Lâm và Hắc Long Giang.
=== Đường bộ ===
Tính đến cuối năm 2011, tổng chiều dài hệ thống công lộ trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang là 155.592 km, đạt mật độ 34,3 km/km². Trong đó, có 6.985 km quốc lộ, 8.808 km tỉnh lộ, 7.906 km huyện lộ, 54.646 km hương lộ, 12.305 km công lộ chuyên dụng và 64.762 km thôn lộ. Về mặt kỹ thuật, phân thành bốn cấp: 3.811 km công lộ cao tốc, 1.186 công lộ cấp 1, 8.848 km công lộ cấp 2, 32.298 km công lộ cấp 3, 77.989 km công lộ cấp 4. Vẫn tính đến cuối năm 2011, toàn tỉnh Hắc Long Giang có 984 bến xe khách, 7.823 tuyến vận chuyển hành khách, mỗi ngày vận chuyển trung bình 691.000 người. 100% số hương trấn và 99,5% đơn vị cấp thôn trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang đã thông xe khách; ngoài ra tỉnh Hắc Long Giang còn có 119 trạm vận chuyển hàng hóa đường bộ. Trong năm 2011, hệ thống công lộ của tỉnh Hắc Long Giang đã vận chuyển được 390 triệu lượt hành khách và 440 triệu tấn hàng hóa, chiếm 77% và 67% lượng vận chuyển tổng hợp toàn xã hội. Số ô tô trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang tính đến cuối năm 2011 đạt 2,423 triệu xe, trong đó có 553 nghìn xe tải, 1.734.000 xe chở khách và 137.000 xe khác.
=== Đường thủy ===
Hệ thống sông Amur (Hắc Long Giang) là một trong ba thủy hệ thông hành chủ yếu tại Trung Quốc, các sông thông hành chủ yếu là Hắc Long Giang, Tùng Hoa Giang, Ô Tô Lý Giang, Nộn Giang và Ngạch Nhĩ Cổ Hà, Tùng Hoa Giang Đệ Nhị và hai hồ Hưng Khải, Kính Bạc. Tổng chiều dài các thủy hệ thông hành trên địa phận Hắc Long Giang là 7.667 km, có thể thông đến 9 địa cấp thị, 55 huyện (và kỳ) và trên 70 nông trường và lâm trường tại ba tỉnh Hắc Long Giang, Cát Lâm và khu tự trị Nội Mông cùng nhiều thành phố cấp trung và lớn ở vùng Viễn Đông Nga như Khabarovsk hay Blagoveshchensk. Có thể đi bằng đường thủy trực tiếp từ tỉnh Hắc Long Giang (qua lãnh thổ Nga) rồi vượt biển đến Nhật Bản, Hàn Quốc và các cảng ở duyên hải đông nam của Trung Quốc. Đường thủy là tuyến đường thông thương chủ yếu trong quan hệ mậu dịch cửa khẩu giữa Trung Quốc và Nga. Trong đó, biên giới Trung Nga trên địa bàn tỉnh Hắc Long Giang có 2593 là theo sông hồ (Hắc Long Giang: 1861 km, Ô Tô Lý Giang: 455 km, hồ Hưng Khải: 277 km). Đến năm 2011, toàn tỉnh Hắc Long Giang có 24 cảng, năng lực thông quan mỗi năm là 15 triệu tấn hàng hóa và 3,5 triệu lượt người, trong đó có hai cảng "chủ yếu" là Cáp Nhĩ Tân và Giai Mộc Tư; 13 cảng "trọng yếu" với hai cảng Hắc Hà và Đồng Giang là cảng ngoại thương trọng yếu.
=== Đường hàng không ===
Tính đến năm 2011, toàn tỉnh Hắc Long Giang có 125 tuyến bay hàng không, trong đó có 110 tuyến quốc nội và 14 tuyến quốc tế, 1 tuyến khu vực. Đến năm 2011, tỉnh Hắc Long Giang có 78 sân bay, trong đó có 9 sân bay dân dụng là sân bay quốc tế Thái Bình Cáp Nhĩ Tân, sân bay Tam Gia Tử Tề Tề Cáp Nhĩ, sân bay Hải Lãng Mẫu Đơn Giang, sân bay Giai Mộc Tư, sân bay Hắc Hà, sân bay Mạc Hà, sân bay Tát Nhĩ Đồ Đại Khánh, sân bay Lâm Đô Y Xuân, sân bay Hưng Khải Hồ Kê Tây. Ngoài ra, tỉnh Hắc Long Giang còn có căn cứ hàng không phòng hộ rừng Y Xuân, Tháp Hà, Nộn Giang, Gia Cách Đạt Ký, Hạnh Phúc, Đông Phương và 63 cơ sở bay phục vụ nông nghiệp. Năm 2011, ngành hàng không của tỉnh Hắc Long Giang đã vật chuyển được 7.841.521 lượt hành khách.
== Các trường đại học ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
sénégal.txt | Sénégal, tên chính thức Cộng hòa Sénégal (tiếng Pháp: République du Sénégal [ʁepyblik dy seneɡal]), là một quốc gia tại Tây Phi. Sénégal giáp Mauritanie về phía bắc, Mali đề phía đông, Guinée về phía đông nam, và Guiné-Bissau về phía tây nam. Sénégal vây quanh ba phía Gambia, một quốc gia có lãnh thổ là những dãi đất hai bờ sông Gambia, chia tách Casamance khỏi phần còn lại của Sénégal. Sénégal cũng có biên giới trên biển với Cabo Verde. Trung tâm kinh tế và chính trị của Sénégal là Dakar. Sénégal sở hữu phần đất cực tây của Cựu thế giới, hay Lục địa Phi-Á Âu, và lấy tên từ sông Sénégal. Cái tên "Sénégal" xuất phát từ "Sunuu Gaal" trong tiếng Wolof, có nghĩa là "con thuyền của chúng ta". Sénégal có diện tích chừng 197.000 kilômét vuông (76.000 sq mi) và dân số khoảng 13 triệu. Khí hậu điển hình của vùng Sahel, nhưng có mùa mưa.
== Lịch sử ==
Những khám phá khảo cổ học trên cả vùng này cho thấy Sénégal từng là nơi có người sinh sống từ thời tiền sử. Hồi giáo, tôn giáo chính tại Sénégal, lần đầu tiên tới đây vào thế kỷ 11. Ngày nay, 95% dân số Sénégal là người Hồi giáo. Trong thế kỷ thứ 13 và 14, vùng này nằm dưới ảnh hưởng của các đế chế Mandingo ở phía đông; Đế chế Jolof của Sénégal cũng được lập ra vào thời gian này. Nhiều cường quốc Châu Âu đã tới đây từ thế kỷ thứ 15 trở về sau, và chỉ chấm dứt khi Pháp kiểm soát hoàn toàn địa điểm khi ấy đã trở thành một đầu mối buôn bán nô lệ quan trọng. Nước này giành lại độc lập từ Pháp ngày 4 tháng 4 năm 1960.
Tháng 1 năm 1959, Sénégal và Soudan thuộc Pháp hợp nhất thành lập ra Liên bang Mali, và đã trở thành hoàn toàn độc lập ngày 20 tháng 6 năm 1960, nhờ thỏa thuận chuyển giao quyền lực được ký với Pháp ngày 4 tháng 4 năm 1960. Vì những khó khăn chính trị trong nước, Liên bang tan rã ngày 20 tháng 8. Sénégal và Soudan (được đổi tên thành Cộng hoà Mali) tuyên bố độc lập. Léopold Senghor được bầu làm tổng thống đầu tiên của Sénégal vào tháng 8 năm 1960.
Sau khi Liên bang Mali tan vỡ, Tổng thống Senghor và Thủ tướng Mamadou Dia cùng cầm quyền theo một hệ thống nghị viện. Tháng 12 năm 1962, sự đối đầu chính trị của họ dẫn tới một cuộc đảo chính của Thủ tướng Dia. Cuộc đảo chính đẫm máu bị dẹp yên, Dia bị bắt và bị cầm tù, Sénégal chấp nhận một hiến pháp mới trao nhiều quyền cho Tổng thống. Năm 1980, Tổng thống Senghor quyết định giã từ chính trường, trao lại quyền lực cho người kế nhiệm đã được lựa chọn từ trước là Abdou Diouf năm 1981.
Sénégal cùng Gambia cùng tham gia vào liên đoàn chỉ mang tính danh nghĩa Senegambia ngày 1 tháng 2 năm 1982. Tuy nhiên, liên đoàn này đã giải tán năm 1989. Dù có những cuộc đàm phán hòa bình, một nhóm ly khai phía nam tại vùng Casamance đã tiến hành các cuộc xung đột rời rạc với các lực lượng chính phủ từ năm 1982. Sénégal có lịch sử tham gia vào các đội quân gìn giữ hòa bình quốc tế khá lâu dài.
Abdou Diouf làm tổng thống giai đoạn 1981 và 2000. Ông thúc đẩy sự tham gia rộng lớn hơn vào chính trị, giảm bớt sự tham gia của chính phủ vào kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại của Sénégal, đặc biệt với các nước phát triển. Tình hình chính trị trong nước thỉnh thoảng lại bùng phát với những cuộc bạo động đường phố, căng thẳng biên giới và bạo lực từ phong trào ly khai ở vùng Casamance phía nam. Tuy nhiên, những cam kết dân chủ và nhân quyền của Sénégal cũng được tăng cường. Diouf làm tổng thống bốn nhiệm kỳ liên tục. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2000, lãnh đạo đối lập Abdoulaye Wade đã đánh bại Diouf trong một cuộc bầu cử được các quan sát viên quốc tế cho là tự do và công bằng. Sénégal trải qua cuộc chuyển giao quyền lực trong hòa bình lần thứ hai, và là lần thứ nhất từ đảng này sang đảng khác.
Ngày 30 tháng 12 năm 2004 Tổng thống Abdoulaye Wade thông báo ông sẽ ký một hiệp ước hòa bình với nhóm ly khai tại vùng Casamance.
== Chính trị ==
Sénégal là một nước cộng hòa trong đó tổng thống được trao nhiều quyền lực; tổng thống được bầu với nhiệm kỳ bảy năm, năm 2001 đã được sửa đổi thành nhiệm kỳ năm năm, theo phổ thông đầu phiếu. Tổng thống hiện tại là Macky Sall.
Sénégal có 65 đảng chính trị đóng góp vào sự phát triển của đất nước thông qua việc cùng hợp tác tiến tới một sự chuyển tiếp tới một nền dân chủ của đất nước, và thập chí trong số các nước phát triển tại lục địa châu Phi. Nghị viện một viện là Quốc hội có 120 thành viên được bầu cử riêng biệt với cuộc bầu cử tổng thống. Sénégal có một nhánh lập pháp, một nhánh hành pháp khá độc lập và công bằng. Tòa án cấp cao nhất của nước này là hội đồng hiến pháp, và tòa án công lý, các thành viên của hai tòa án này do tổng thống chỉ định.
Các hoạt động chính phủ Sénégal khá minh bạch. Mức độ tham nhũng kinh tế gây cản trở tới sự phát triển kinh tế đất nước khá thấp. Ngày nay Sénégal có một nền văn hóa chính trị dân chủ, là một trong những hình mẫu chuyển tiếp dân chủ thành công nhất tại Châu Phi.
Các quan chức hành chính địa phương đều được tổng thống chỉ định và chịu trách nhiệm trước tổng thống.
=== Thể chế ===
Cộng hoà Tổng thống. Tổng thống là Nguyên thủ quốc gia kiêm tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang và được bầu thông qua tuyển cử trực tiếp, nhiệm kỳ 7 năm. Quốc hội gồm 120 ghế được bầu cử trực tiếp, nhiệm kỳ 5 năm.
=== Đảng phái chính trị ===
Sénégal thực hiện chế độ đa đảng: Đảng cầm quyền hiện nay là Đảng Dân chủ Sénégal (Parti Démocratique). Đảng đối lập chính là đảng Xã hội (Parti Socialiste).
Từ đầu những năm 1980, Senegal phải đối phó với phong trào ly khai ở vùng Casamance do Đảng Phong trào các lực lượng dân chủ Casamance (MFDC) khởi xướng. Từ giữa những năm 1990, phong trào ly khai đã phát triển thành xung đột vũ trang. Chính phủ vẫn làm chủ được tình hình. Từ tháng 1 năm 1999, tiến trình hoà bình đã được đưa ra. Tháng 3 năm 2001, thoả thuận ngừng bắn đã được ký kết giữa Chính phủ và MFDC. Tình hình chính trị tại Sénégal hiện nay tương đối ổn định.
== Chính sách ngoại giao ==
Sénégal là thành viên Liên Hợp Quốc, UA (trước là OUA), Phong trào không liên kết, ICO, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp và hàng chục tổ chức quốc tế và khu vực khác.
Hiện nay, Sénégal theo đuổi đường lối đối ngoại đa dạng hoá, mở cửa nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật. Sénégal quan hệ mật thiết với phương Tây, nhất là Pháp. Pháp là nước viện trợ nhiều nhất cho Sénégal, và hiện vẫn cung cấp chuyên gia kỹ thuật, quân sự cho Sénégal. Hiện nay, Pháp với Hiệp định phòng thủ ký với Sénégal từ khi quốc gia này giành độc lập vẫn luôn có 1.200 quân tại đây. Từ cuối những năm 1980, Mỹ bắt đầu tăng cường quan hệ với Sénégal trong các lĩnh vực kinh tế, đào tạo. Hiện nay, trong khuôn khổ của chương trình " Sáng kiến đối phó với khủng hoảng ở châu Phi của Mỹ"(ACRI-2001), Mỹ đã gửi các chuyên gia quân sự tới giúp Sénégal đào tạo các binh lính gìn giữ hoà bình.
Sénégal chủ trương duy trì quan hệ láng giềng tốt với Mauritanie, Gambia và Guinée - Bissau. Tuy vậy, do xung đột ở vùng Casamance, vấn đề người tỵ nạn Sénégal và các tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết, quan hệ giữa Sénégal và các nước này có lúc căng thẳng.
== Địa lý ==
Sénégal nằm ở phía tây lục địa châu Phi. Nó nằm giữa vĩ tuyến 12° và 17° Bắc, kinh độ 11° và 18° Tây.
Sénégal giáp với Đại Tây Dương về phía tây, Mauritanie về phía bắc, Mali đề phía đông, Guinée về phía đông nam, Guiné-Bissau về phía tây nam, và gần như vây quanh Gambia (trừ một đường biển ngắn của nước này).
Khung cảnh tai Sénégal chủ yếu gồm những đồng bằng cát tây Sahel nâng cao lên thành những dãy đồi ở phía đông nam. Tại đây có điểm cao nhất Sénégal, cách Nepen Diakha 2,8 km, cao 638 m (2.093 ft). Biên giới phía bắc được tạo nên từ sông Sénégal; những con sống khác gồm sông Gambia và sông Casamance. Thủ đô Dakar nằm trên bán đảo Cap-Vert, điểm cực tây của châu Phi.
== Kinh tế ==
Tháng 1 năm 1994, Sénégal đã tiến hành một cuộc cải cách kinh tế sâu rộng và đầy tham vọng với sự hỗ trợ của cộng đồng các nước cho vay quốc tế. Cuộc cải cách bắt đầu với việc phá giá 50% đồng tiền tệ Sénégal, đồng franc CFA, vốn có tỷ giá cố định so với đồng franc cũ của Pháp và hiện nay là đồng euro. Sự kiểm soát và hỗ trợ giá cả của chính phủ dần được bãi bỏ. Sau khi kinh tế giảm sút 2.1% năm 1993, Sénégal đã có một bước chuyển quan trọng, nhờ chương trình cải cách đó, với tăng trưởng GDP thực tế hàng năm ở mức 5% trong giai đoạn 1995-2001. Lạm phát hàng năm từng chưa tới 1%, nhưng đã tăng tới ước tính 3.3% năm 2001. Đầu tư tăng trưởng vững chắc từ mức 13.8% GDP năm 1993 tới 16.5% năm 1997.
Với tư cách một thành viên của Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (WAEMU), Sénégal hiện đang nỗ lực hội nhập sâu hơn nữa vào khu vực với một mức thuế quan thống nhất. Sénégal cũng đã thực hiện kết nối Internet toàn bộ năm 1996, tạo ra một cuộc bùng nổ các dịch vụ dựa trên công nghệ thông tin nhỏ. Hoạt động tư nhân hiện chiếm 82% GDP. Những hậu quả tiêu cực là việc Sénégal phải đối mặt với những vấn đề kinh niên của đô thị như thất nghiệp, bất bình đẳng kinh tế xã hội, thanh thiếu niên phạm tội, và nghiện ma tuý—tương tự như vấn đề sinh ra từ các tầng lớp xã hội khác nhau tại vùng đô thị các nước phát triển/công nghiệp.
== Nhân khẩu ==
Sénégal có dân số hơn 13,5 triệu, trong đó 42% sống tại khu vực nông thôn. Mật độ dân cư dao động từ 77 người trên kilômét vuông (200 /sq mi) ở miền trung-tây tới 2 trên kilômét vuông (5,2 /sq mi) ở khu vực miền đông khô cằn.
=== Dân tộc ===
Sénégal có sự đa dạng về dân tộc, và như đa số các quốc gia Tây Phi, nhiều ngôn ngữ được sử dụng hàng ngày. Người Wolof là dân tộc đông nhất Sénégal (43% dân số); người Fula và người Toucouleur (cũng gọi là Halpulaar'en, nghĩa là "người nói tiếng Pulaar") (24%) là nhóm đông thứ nhì, theo sau bởi người Serer (14,7%), rồi người Jola (4%), người Mandinka (3%), người Moor (Naarkajors), người Soninke, người Bassari và nhiều nhóm nhỏ khác (9%).
Khoảng 50.000 người châu Âu (chủ yếu người Pháp) và người Liban cư ngụ ở Sénégal, chủ yếu ở các thành phố. Đa số người Liban làm công việc thương mại. Ngoài ra tại các đô thị, có những cộng đồng người Việt Nam và người Trung Quốc nhỏ, mỗi nhóm khoảng vài trăm người. Cũng có hàng chục nghìn người di cư từ Mauritanie, chủ yếu ở miền bắc.
=== Ngôn ngữ ===
Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức. Đa số người dân cũng nói ngôn ngữ dân tộc mình và, đặc biệt tại Dakar, tiếng Wolof là lingua franca. Tiếng Pulaar (Fula) là ngôn ngữ của người Fula và Toucouleur. Tiếng Serer được nói rộng rãi bởi cả người Serer và phia Serer. Nhóm ngôn ngữ Jola phổ biến rộng rãi tại Casamance.
Nhiều ngôn ngữ được hưởng tình trạng "ngôn ngữ quốc gia": tiếng Balanta-Ganja, tiếng Ả Rập Hassaniya, tiếng Jola-Fonyi, tiếng Mandinka, tiếng Mandjak, tiếng Mankanya, tiếng Noon (Serer-Noon), tiếng Pulaar, tiếng Serer, tiếng Soninke, và tiếng Wolof.
=== Thành phố lớn nhất ===
Thủ đô Dakar là thành phố lớn nhất Sénégal, với hơn hai triệu dân.
=== Tôn giáo ===
Hồi giáo là tôn giáo chính ở nước này với khoảng 94% dân số là tín đồ; cộng đồng Thiên chúa giáo chiếm 4% dân số gồm Công giáo La Mã, và các phái Tin lành.
== Các vùng hành chính ==
Sénégal được chia thành 14 vùng, mỗi vùng được quản lý bởi Conseil Régional (Hội đồng khu vực). 14 vùng lại được chia thành 45 Départements, 113 Arrondissements và Collectivités Locales.
Các vùng gồm:
== Văn hóa ==
Ẩm thực Sénégal
Danh sách các nhà văn Sénégal
Danh sách nhân vật Sénégal
Âm nhạc Sénégal
Ousmane Sembène Nhà văn và đạo diễn phim người Sénégal này được coi là 'người cha' của Điện ảnh châu Phi.
== Xem thêm ==
Viễn thông Sénégal
Quan hệ nước ngoài Sénégal
Các văn hóa bản xứ, các vương quốc và nhóm dân tộc tại Sénégal
Quân đội Sénégal
Vận tải Sénégal
Giáo dục Sénégal
Đại học Dakar
Liên đoàn hướng đạo sinh Sénégal
Đội tuyển bóng đá quốc gia Sénégal
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Chính phủ
(tiếng Pháp) Gouvernement du Sénégal - Official governmental website (bằng tiếng Pháp)
Embassy of the Republic of Senegal in London government information and links
Ministère de l'urbanisme
Observatoire sur les systemes d'information, reseaux et inforoutes
Tin tức
allAfrica.com - Sénégal news headline links
Tổng quan
(tiếng Pháp) L'Afrique - Sénégal Hundreds of photographs and articles
BBC News Country Profile - Sénégal
CIA World Factbook - Sénégal
Open Directory Project - Sénégal directory category
MSN encarta Senegal overview
Bản đồ
UN Map on Senegal
Âm nhạc
Cora Connection West African music resources
Du lịch
Guided Tours of Senegal
The Lonely Planet travel guide on Senegal
Other
(tiếng Pháp) Teranga Senegal - French Portal - Travel guide (bằng tiếng Pháp)
Encyclopaedia Britannica's Country Page - "Senegal"
- Senegal Pictures
Site on Senegal with maps, tourism,...
Very good site on Senegal with maps, culture,...
Senegal shows tolerant face of Islam...
Dân tộc
Senegals ethnic groups (in french)
Interactive map of senegal, turn on ethnic regions
MFDC
Peace deal MFDC |
quốc lộ 17 (hàn quốc).txt | Quốc lộ 17 (Tiếng Hàn: 국도 제 17호선, Gukdo Je Sipchil(17) Hoseon) là một đường quốc lộ ở Hàn Quốc. Nó nối thành phố Yeosu với thành phố của Suncheon, Namwon, Jeonju, Daejeon, Cheongju, và Yongin.
== Tham khảo == |
tổng hợp giọng nói.txt | Trên máy tính, tổng hợp giọng nói là việc tạo ra giọng nói của người từ đầu vào là văn bản hay các mã hóa việc phát âm. Hệ thống này còn được gọi là văn bản-sang-tiếng nói (text-to-speech, TTS); tuy rằng không phải hệ thống tổng hợp giọng nói nào cũng có đầu vào là văn bản (nhiều hệ thống thu nhận mã hóa cách phát âm, ví dụ mã IPA, như đầu vào). Hệ thống thực hiện việc này còn gọi là máy tổng hợp giọng nói (text to speech engine), có thể là hệ thống phần mềm hoặc phần cứng.
== Ứng dụng ==
Các hệ thống này có nhiều ứng dụng. Ví dụ như hệ thống này có thể giúp người có thị lực kém (hoặc khiếm thị) nghe được máy đọc ra văn bản; đặc biệt là các văn bản có thể xử lý trên máy tính. Hệ thống như vậy có thể lắp đặt trong phần mềm xử lý văn bản hay trình duyệt mạng.
== Tổng quan ==
Một máy tổng hợp giọng nói bao gồm hai phần: ngoại diện và hậu trường. Phần ngoại diện nhận đầu vào ở dạng văn bản rồi cho đầu ra là thể hiện biểu tượng ngôn ngữ của văn bản (tức là một cách mã hóa cách phát âm văn bản). Phần hậu trường nhận lấy thể hiện biểu tượng ngôn ngữ như đầu vào và cho ra giọng nói tổng hợp ở dạng sóng âm thanh.
Phần ngoại diện có hai nhiệm vụ chính. Trước tiên, nó nhận văn bản và chuyển đổi các ký tự như các chữ số hay cách viết tắt thành dạng viết đầy đủ. Quá trình này gọi là chuẩn hóa văn bản, hay tiền xử lý. Sau đó nó cho ra mã phát âm ứng với từng từ, rồi phân chia và đánh dấu văn bản thành từng đoạn văn, nhóm từ, mệnh đề, hay câu văn. Quá trình chuyển văn bản sang mã phát âm được gọi là văn bản-sang-âm vị. Kết hợp mã phát âm và thông tin đoạn văn tạo nên đầu ra cuối cùng thể hiện biểu tượng ngôn ngữ.
Phần hậu trường, nhận lấy thể hiện biểu tượng ngôn ngữ rồi chuyển nó thành âm thanh. Phần này thường được gọi là máy tổng hợp. Có nhiều kỹ thuật tổng hợp, được mô tả bên dưới.
== Lịch sử ==
Từ lâu trước khi kỹ thuật xử lý tín hiệu bằng thiết bị điện tử hiện đại ra đời, các nhà nghiên cứu giọng nói đã cố gắng xây dựng các máy móc bắt chước giọng nói của người. Các ví dụ đầu tiên của các máy này được chế tạo bởi Gerbert ở Aurillac (1003), Albertus Magnus (1198–1280), và Roger Bacon (1214–1294).
Năm 1779, nhà khoa học người Đan Mạch Christian Kratzenstein, lúc đó làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học Nga, xây dựng một mô hình có thể bắt chước giọng nói người với năm nguyên âm ([a], [e], [I], [o] và [u]). Máy này sau đó được cải tiến thành 'Máy Phát âm Cơ khí-Âm học' của Wolfgang von Kempelen ở Viên, Áo, được mô tả trong bài báo năm 1791 mang tựa đề Mechanismus der menschlichen Sprache nebst der Beschreibung seiner sprechenden Maschine ("phương pháp tạo giọng nói và mô tả máy thực hiện việc này," J. B. Degen, Wien). Máy này tạo ra mô hình của lưỡi và môi, cho phép tạo ra phụ âm thêm vào cho nguyên âm. Năm 1837 Charles Wheatstone tạo ra 'máy nói' dựa trên thiết kế của von Kempelen, và đến năm 1857 M. Faber chế tạo máy 'Euphonia'. Máy của Wheatstone lại được cải tiến năm 1923 bởi Paget.
Những năm 1930, Phòng thí nghiệm Bell tạo ra máy VOCODER, một máy phân tích và tổng hợp giọng nói điều khiển bằng bàn phím, được mô tả là phát âm rõ ràng. Homer Dudley cải tiến cỗ máy này thành VODER, và trưng bày nó tại Triển lãm Thế giới New York 1939.
Các máy tổng hợp giọng nói bằng kỹ thuật điện tử, trong giai đoạn này, có giọng nói không tự nhiên và khó nghe. Tuy nhiên, chất lượng tổng hợp giọng nói ngày càng được cải tiến, cho đến ngày nay giọng phát âm của nhiều hệ thống có chất lượng tương đương giọng nói của người thật.
Các hệ thống tổng hợp giọng nói đầu tiên được tạo ra vào những năm 1950 và hệ thống hoàn chỉnh đầu tiên ra đời vào năm 1968.
Năm 1961, nhà vật lý học John Larry Kelly, Jr dùng máy tính IBM 704 để tổng hợp giọng nói, đây là sự kiện đáng nhớ trong lịch sử của phòng thí nghiệm Bell. Máy ghi âm và tổng hợp giọng nói của Kelly tạo ra bài hát Daisy Bell, với âm nhạc phụ họa bởi Max Mathews. Vào lúc trình diễn, Arthur C. Clarke đang thăm bạn và đồng nghiệp John Pierce ở khu thí nghiệm Bell ở Murray Hill. Clarke đã bị ấn tượng mạnh bởi trình diễn của máy phát âm và đã dùng hình ảnh này trong tiểu thuyết và kịch bản phim của ông 2001: A Space Odyssey, trong đó máy tính HAL 9000 hát cùng bài hát khi nó sắp bị nhà du hành vũ trụ Dave Bowman đặt vào trạng thái ngủ.
Công nghệ tổng hợp giọng nói đã tiến hóa nhanh kể từ đó. Hiện nay có hàng trăm hệ thống tổng hợp giọng nói, thương mại cũng như tự do (xem liên kết ngoài).
Tuy đã đạt được thành tựu trong tổng hợp giọng nói bằng kỹ thuật điện tử, các nghiên cứu vẫn đang được tiến hành để tạo ra bộ tổng hợp giọng nói cơ học, mô phỏng thanh quản của người, dùng trong robot dạng người. Các bộ tổng hợp giọng nói điện tử bị giới hạn bởi chất lượng của loa, bộ phận cuối cùng tạo ra âm thanh, dù tín hiệu điện tử có hoàn hảo. Có hy vọng rằng bộ thanh quản cơ khí có thể tạo ra giọng nói chuẩn hơn loa thông thường.
== Công nghệ tổng hợp giọng nói ==
Hai tính chất quan trọng của chất lượng hệ thống tổng hợp giọng nói là mức độ tự nhiên và mức độ dễ nghe. Mức độ tự nhiên của giọng nói tổng hợp chỉ đến sự giống nhau giữa giọng tổng hợp và giọng nói tự nhiên của người thật. Mức độ dễ nghe chỉ đến việc câu phát âm có thể hiểu được dễ dàng không. Một máy tổng hợp giọng nói lý tưởng cần vừa tự nhiên vừa dễ nghe, và mục tiêu xây dựng máy tổng hợp giọng nói là làm gia tăng đến mức tối đa hai tính chất này. Một số hệ thống thiên về mức độ dễ nghe hơn, hoặc mức độ tự nhiên hơn; tùy thuộc vào mục đích mà công nghệ được lựa chọn. Có hai công nghệ chính được dùng là tổng hợp ghép nối và tổng hợp cộng hưởng tần số; ngoài ra cũng có một số công nghệ khác.
=== Tổng hợp ghép nối ===
Tổng hợp ghép nối dựa trên việc nối vào nhau các đoạn của một giọng nói đã được ghi âm. Thông thường, tổng hợp ghép nối tạo ra giọng nói tương đối tự nhiên. Tuy nhiên, giọng nói tự nhiên được ghi âm có sự thay đổi từ lần phát âm này sang lần phát âm khác, và công nghệ tự động hóa việc ghép nối các đoạn của sóng âm thỉnh thoảng tạo ra những tiếng cọ xát không tự nhiên ở phần ghép nối. Có ba kiểu tổng hợp ghép nối.
==== Tổng hợp chọn đơn vị ====
Tổng hợp chọn đơn vị dùng một cơ sở dữ liệu lớn các giọng nói ghi âm (thông thường dài hơn 1 giờ đồng hồ ghi âm). Trong lúc ghi âm, mỗi câu phát biểu được tách ra thành các đơn vị khác như: các âm tỏ lời đơn lẻ, âm tiết, hình vị, từ, nhóm từ, và câu văn. Thông thường, việc tách ra như vậy cần một máy nhận dạng tiếng nói được đặt ở chế độ khớp với văn bản viết tương ứng với đoạn ghi âm, và dùng đến hiển thị sóng âm và phổ âm thanh. Một bảng tra các đơn vị được lập ra dựa trên các phần đã tách và các thông số âm học như tần số cơ bản, thời lượng, vị trí của âm tiết, và âm tỏ lời gần đó. Khi chạy, các câu phát biểu được tạo ra bằng cách xác định chuỗi đơn vị phù hợp nhất từ cơ sở dữ liệu. Quá trình này được gọi là chọn đơn vị, và thường cần dùng đến cây quyết định để thực hiện.
Kỹ thuật chọn đơn vị tạo ra độ tự nhiên cao do không áp dụng các kỹ thuật xử lý tín hiệu số lên các đoạn giọng nói đã ghi âm, tuy rằng một số hệ thống có thể áp dụng xử lý tín hiệu tại các đoạn nối giữa các đơn vị để làm liền mạch kết quả sau khi ghép nối. Thực tế, các hệ thống chọn đơn vị có thể tạo ra giọng nói không thể phân biệt được với người thật. Tuy nhiên, để đạt độ tự nhiên cao, thường cần một cơ sở dữ liệu lớn chứa các đơn vị để lựa chọn; có thể lên tới vài gigabyte, tương đương với hàng chục giờ ghi âm.
==== Tổng hợp âm kép ====
Tổng hợp âm kép dùng một cơ sở dữ liệu giọng nói nhỏ chứa tất cả các âm kép (chuyển tiếp âm thanh) xuất hiện trong ngôn ngữ đang xét. Số lượng âm kép phụ thuộc vào đặc tính ghép âm học của ngôn ngữ: tiếng Tây Ban Nha có 800 âm kép, tiếng Đức có 2500. Trong tổng hợp âm kép, chỉ có một ví dụ của âm kép được chứa trong cơ sở dữ liệu. Khi chạy, lời văn được chồng lên các đơn vị này bằng kỹ thuật xử lý tín hiệu số như mã tiên đoán tuyến tính, PSOLA hay MBROLA.
Chất lượng của âm thanh tổng hợp theo cách này thường không cao bằng phương pháp chọn đơn vị nhưng tự nhiên hơn tổng hợp cộng hưởng tần số. Tổng hợp âm kép tạo ra các tiếng cọ xát ở phần ghép nối và đôi khi giọng nói kiểu robot do các kỹ thuật xử lý tín hiệu số gây ra. Lợi thế của phương pháp này là kích thước cơ sở dữ liệu nhỏ. Các ứng dụng thương mại của phương pháp này đang ít dần, tuy nhiên có nhiều hệ thống như thế này được phân phát tự do, và phục vụ cho nghiên cứu.
==== Tổng hợp chuyên ngành ====
Tổng hợp chuyên biệt ghép nối các từ và đoạn văn đã được ghi âm để tạo ra lời phát biểu. Nó được dùng trong các ứng dụng có các văn bản chuyên biệt cho một chuyên ngành, sử dụng lượng từ vựng hạn chế, như các thông báo chuyến bay hay dự báo thời tiết.
Công nghệ này rất đơn giản, và đã được thương mại hóa từ lâu, đã đi vào các đồ vật như đồng hồ biết nói hay máy tính bỏ túi biết nói. Mức độ tự nhiên của các hệ thống này có thể rất cao vì số lượng các câu nói không nhiều và khớp với lời văn và âm điệu của giọng nói ghi âm. Tuy nhiên các hệ thống này bị hạn chế bởi cơ sở dữ liệu chuyên ngành, không phục vụ mọi mục đích mà chỉ hoạt động với các câu nói mà chúng đã được lập trình sẵn.
=== Tổng hợp cộng hưởng tần số ===
Tổng hợp cộng hưởng tần số không sử dụng bất cứ mẫu giọng thật nào khi chạy. Thay vào đó, tín hiệu âm thanh cho ra dựa trên một mô hình âm thanh. Các thông số như tần số cơ bản, sự phát âm, và mức độ tiếng ồn được thay đổi theo thời gian để tạo ra dạng sóng cho giọng nói nhân tạo. Phương pháp này đôi khi còn được gọi là tổng hợp dựa trên quy tắc, dù cho nhiều hệ thống ghép nối mẫu âm thanh thật cũng có dùng các thành phần dựa trên quy tắc.
Nhiều hệ thống dựa trên tổng hợp cộng hưởng tần số tạo ra giọng nói nhân tạo, như giọng rôbốt, không tự nhiên, và phân biệt rõ ràng với giọng người thật. Tuy nhiên độ tự nhiên cao không phải lúc nào cũng là mục đích của hệ thống và hệ thống này cũng có các ưu điểm riêng của nó.
Hệ thống này nói khá dễ nghe, ngay cả ở tốc độ cao, không có tiếng cọ xát do ghép âm tạo ra. các hệ thống này hoạt động ở tốc độ cao, có thể hướng dẫn người khiếm thị nhanh chóng dò dẫm trên máy tính, bằng cách đọc to những gì hiện ra trên màn hình. Các hệ thống này cũng nhỏ gọn hơn các hệ thống ghép nối âm, vì không phải chứa cơ sở dữ liệu mẫu âm thanh lớn. Nó có thể dùng trong các hệ thống nhúng khi bộ nhớ và tốc độ xử lý có hạn. Hệ thống này cũng có khả năng điều khiển mọi khía cạnh của tín hiệu âm thanh đi ra, no cho ra một dải rộng các lời văn và ngữ điệu, và không chỉ thể hiện được câu nói thường hay câu hỏi, mà cả các trạng thái tình cảm thông qua âm điệu của giọng nói.
Các ví dụ về các hệ thống cho ra ngữ điệu chính xác (nhưng không cho ra ngay lập tức sau khi nhận đầu vào) là các công trình cuối những năm 1970 của đồ chơi Speak & Spell của Texas Instruments, và các trò chơi video của SEGA đầu những năm 1980 như: Astro Blaster, Zektor, Space Fury, và Star Trek. Hiện vẫn chưa có hệ thống cho ra intonation chính xác ngay sau khi nhận văn bản đầu vào.
=== Tổng hợp mô phỏng phát âm ===
Tổng hợp mô phỏng phát âm là các kỹ thuật tổng hợp giọng nói dựa trên mô hình máy tính của cơ quan phát âm của người và quá trình phát âm xảy ra tại đó. Hệ thống tổng hợp mô phỏng phát âm đầu tiên là ASY, thường được dùng cho các thí nghiệm trong nghiên cứu, được phát triển ở phòng thí nghiệm Haskins vào giữa những năm 1970 bởi Philip Rubin, Tom Baer, và Paul Mermelstein. ASY dựa trên mô hình cơ quan phát âm đã được tạo ra bởi phòng thí nghiệm Bell vào những năm 1960 và 1970 bởi Paul Mermelstein, Cecil Coker, và các đồng nghiệp khác. Tổng hợp mô phỏng phát âm đã từng chỉ là hệ thống dành cho nghiên cứu khoa học cho mãi đến những năm gần đây. Lý do là rất ít mô hình tạo ra âm thanh chất lượng đủ cao hoặc có thể chạy hiệu quả trên các ứng dụng thương mại. Một ngoại lệ là hệ thống dựa trên NeXT; vốn được phát triển và thương mại hóa bởi Trillium Sound Research Inc, ở Calgary, Alberta, Canada. Đây là một công ty tách ra từ Đại học Calgary nơi các nghiên cứu ban đầu đã được thực hiện. Theo sau các vụ chuyển nhượng các từng phần của NeXT (bắt đầu từ Steve Jobs vào cuối những năm 1980 và việc hợp nhất với Apple năm 1997), phần mềm của Trillium được phân phát với giấy phéo tự do GPL. Dự án gnuspeech, một dự án của GNU, tiếp tục phát triển phần mềm này. Phần mềm gốc NeXT và các chuyển đổi sang cho Mac OS/X và GNUstep trong GNU/Linux có thể tìm thấy tại trang GNU savannah; chúng đều kèm theo tài liệu hướng dẫn trực tuyến và các bài viết liên quan đến lý thuyết nền tảng của công trình. Hệ thống, vốn được thương mại hóa lần đầu vào năm 1994, tạo ra một máy tổng hợp giọng nói dựa trên mô phỏng phát âm hoàn chỉnh, dựa trên mô hình ống dẫn sóng tương đương với cơ quan phát âm của người. Nó được điều khiển bởi Mô hình Phần Riêng biệt của Carré; bản thân mô hình này lại dựa trên công trình của Gunnar Fant và các người khác ở Phòng thí nghiệm Công nghệ Giọng nói Stockholm thuộc Viện Cộng nghệ Hoàng gia Thụy Điển về tổng hợp giọng nói cộng hưởng tần số. Công trình này cho thấy các cộng hưởng tần số trong ống cộng hưởng có thể được điều khiển bằng cách thay đổi tám tham số tương đồng với các cách phát âm tự nhiên của cơ quan phát âm của người. Hệ thống bao gồm một từ điển phát âm cùng với các quy tắc phát âm tùy thuộc ngữ cảnh để giúp ghép nối âm điệu và tạo ra các tham số phát âm; mô phỏng theo nhịp điệu và ngữ điệu thu được từ các kết quả nghiên cứu ngữ âm học.
=== Tổng hợp lai ===
Các hệ thống tổng hợp lai kết hợp các yếu tố của tổng hợp cộng hưởng tần số với tổng hợp ghép nối để giảm thiểu các tiếng cọ xát khi ghép nối các đoạn âm thanh.
Một ví dụ là RecSimCat, phát triển bởi Shakti Singh Parmar có thể tạo ra giọng dễ nghe và tự nhiên.
=== Tổng hợp dựa trên HMM ===
Tổng hợp dựa trên HMM là một phương pháp dựa vào mô hình Markov ẩn (HMM, viết tắt cho thuật ngữ tiếng Anh Hidden Markov model). Trong hệ thống này, phổ tần số của giọng nói, tần số cơ bản, và thời lượng đều được mô phỏng cùng lúc bởi HMM. Dạng sóng của giọng nói được tạo từ mô hình Markov ẩn dựa trên tiêu chí khả thực cực đại.
== Kỹ thuật ngoại diện ==
=== Chuẩn hóa văn bản ===
Quá trình chuẩn hóa văn bản thường không đơn giản. Lý do là các văn bản thường chứa nhiều từ đồng tự, số và từ viết tắt đòi hỏi hiểu để diễn đạt lại trong văn bản đầy đủ.
Trong một số ngôn ngữ, các từ có thể được phát âm khác nhau tùy theo ngữ cảnh. Đa số hệ thống tổng hợp giọng nói không tạo ra thể hiện văn phạm cho văn bản, vì quá trình này hiện chưa có công nghệ đáng tin cậy. Thay vào đó, nhiều cách lần mò được dùng để phân biệt các cách phát âm, như tìm các từ kế cận hay dùng thống kê về tần số xuất hiện.
Việc chọn cách phát âm số cũng là một vấn đề. Lý do là cũng có nhiều cách phất âm số tùy theo văn cảnh. Như 1325 có thể đọc "một nghìn ba trăm hai mươi nhăm" nếu nó là một số tự nhiên, nhưng cũng có thể là "một ba hai năm" nếu nó là bốn số mật mã ngân khoản. Thường hệ thống tổng hợp giọng nói có thể đoán văn cảnh bằng việc quan sát các từ kế cận, các số hay dấu câu bên cạnh, hoặc dùng trường hợp mặc định khi không thể phân định.
Tương tự, các cách viết tắt cũng có thể mang nhiều nghĩa, tùy thuộc quy ước của người viết.
=== Văn bản sang âm vị ===
Các hệ thống tổng hợp giọng nói dùng hai cách cơ bản để xác định cách phát âm cho một từ, một quá trình còn được gọi là chuyển đổi văn bản-sang-âm vị hay tự vị-sang-âm vị, vì âm vị là thuật ngữ dùng bởi các nhà ngôn ngữ học để mô tả các âm khác nhau trong ngôn ngữ.
Cách thứ nhất, và đơn giản nhất, là dựa vào từ điển, sử dụng một từ điển lớn chứa tất cả các từ của một ngôn ngữ và chứa cách phát âm đúng tương ứng cho từng từ, lưu trong máy tính. Việc xác định cách phát âm đúng cho một từ chỉ đơn giản là tra trong từ điển và thay đoạn văn bản bằng mã phát âm đã ghi trong từ điển.
Cách thứ hai là dựa trên quy tắc, sử dụng các quy tắc phát âm để tìm ra cách phát âm tương ứng cho mỗi từ phù hợp với quy tắc.
Mỗi cách đều có ưu điểm và nhược điểm. cách dựa trên từ điển nhanh và chính xác, nhưng sẽ không hoạt động nếu từ cần phát âm không có trong từ điển và lượng từ vựng cần lưu là lớn. Cách dùng quy tắc hoạt động với mọi văn bản (miễn là phù hợp với quy tắc) nhưng độ phức tạp của các quy tắc có thể tăng cao nếu ngôn ngữ có nhiều trường hợp bất quy tắc trong phát âm. Hầu hết các hệ thống tổng hợp giọng nói đều dùng kết hợp cả hai cách.
Một số ngôn ngữ, như tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Việt, có hệ thống viết dựa trên cách phát âm một cách rất có quy tắc, và việc tiên đoán cách phát âm từ cách viết thường có tỷ lệ thành công cao. Các hệ thống tổng hợp giọng nói cho các ngôn ngữ này thường dùng chủ yếu cách dựa trên quy tắc, chỉ tra từ điển một vài từ đặc biệt như tên vay mượn từ nước ngoài.
Một số ngôn ngữ khác, như tiếng Anh, có hệ thống phát âm rất bất quy tắc, thường cần hệ thống tổng hợp giọng nói dựa chủ yếu trên từ điển và dùng các quy tắc cho những từ không có trong từ điển.
== Ngôn ngữ đánh dấu cho tổng hợp giọng nói ==
Có nhiều ngôn ngữ đánh dấu đã được hình thành cho việc tạo giọng nói từ văn bản, phù hợp với chuẩn XML. Một ví dụ cho ngôn ngữ kiểu này là SSML được W3C đề xuất. Các ngôn ngữ đánh dấu cũ hơn có SABLE và JSML. Các ngôn ngữ này đều được đề xuất là chuẩn chung, nhưng chưa có ngôn ngữ nào được dùng đủ rộng rãi để thiết lập thành chuẩn chung.
Một tập con của CSS 2 chứa ACSS cũng phục vụ mục đích tổng hợp giọng nói.
Ngôn ngữ đánh dấu tổng hợp giọng nói khác với ngôn ngữ đánh dấu đàm thoại (như VoiceXML). Các ngôn ngữ đánh dấu đàm thoại, ngoài chứa các thông tin chuyển văn bản sang giọng nói, còn có các thẻ cho phép nhận dạng giọng nói, quản lý đàm thoại và thông tin về quay số điện thoại bằng âm thanh.
== Các hệ điều hành có tổng hợp giọng nói ==
=== Mac OS và Mac OS X ===
Hệ thống tổng hợp giọng nói đầu tiên được tích hợp vào trong một hệ điều hành là Macintalk trên máy tính Macintosh của hãng Apple Inc. năm 1984. Apple Inc. là một trong những nhà sản xuất đầu tiên đưa hệ thống tổng hợp giọng nói vào các hệ điều hành thương mại. Trong những năm 1990, các giọng nói của Apple được tổng hợp từ các mẫu tự nhiên. Tuy nhiên gần đây, Apple đã thêm các mẫu giọng nói tổng hợp, là Vicki và Bruce - đặt tên theo giáo sư và nghiên cứu sinh tại khoa ngôn ngữ học UCLA, những người đã cung cấp các mô hình giọng nói này. Các phần mềm đầu tiên chỉ có ý định gây sự tò mò cho khách hàng và không được Apple hỗ trợ trực tiếp; tuy nhiên hệ thống tổng hợp giọng nói của máy tính Macintosh đã tiến hóa thành một chương trình được hỗ trợ đầy đủ cho người khiếm thị.
=== AmigaOS ===
Hệ điều hành thứ hai trên thị trường tích hợp hệ thống tổng hợp giọng nói là AmigaOS năm 1985. Hệ thống này được cấp phép cho Commodore International từ một bên thứ ba là một hãng phần mềm (Don't Ask Software, nay là Softvoice, Inc.) và nó có một hệ thống mô phỏng giọng người hoàn chỉnh, có cả giọng nam và giọng nữ với các âm sắc khác nhau, dùng các tính năng nâng cao của các chip điện tử trong phần cứng Amiga. Nó được chia làm hai phần: phần đọc bình luận và một thư viện dịch thuật. Phần mềm Speak Handler của Amiga có phần dịch thuật văn bản sang tiếng nói, dùng hệ thống tổng hợp âm vị ARPAbet. AmigaOS coi hệ thống tổng hợp giọng nói như một thiết bị phần cứng ảo, nên người dùng có thể chuyển tín hiệu ra từ phần mềm khác đến nó giống như đến máy in hay màn hình. Một số phần mềm trong Amiga, như trình soạn thảo văn bản, dùng nhiều hệ thống này.
=== Microsoft Windows ===
Các hệ điều hành Windows hiện đại dùng các hệ thống tổng hợp giọng nói dựa trên SAPI4 và SAPI5, kèm theo máy nhận dạng giọng nói. SAPI 4.0 có mặt trên các hệ điều hành như Windows 9x.
Nhiều phần mềm, như mIRC, dùng nhiều chức năng trong SAPI 4.0 hay SAPI 5.0. Windows XP có phần mềm Narrator. Hầu hết các phần mềm tương thích với Windows như Notepad, Office hay Adobe Acrobat có thể dùng các tính năng tổng hợp giọng nói; tùy theo lựa chọn trên trình đơn sau khi đã cài đặt. Chúng cung cấp hỗ trợ cho người khiếm thị.
Một ví dụ về việc SAPI 5 cho phép một phần mềm kết hợp công nghệ của Microsoft thành một màn hình nền có tính tương tác cao là Talking desktop. Phần mềm này kết hợp chức năng nhận dạng giọng nói với các phát âm của SAPI 5.
Microsoft Speech Server là một gói hoàn chỉnh để tổng hợp và nhận dạng giọng nói, và có thể ứng dụng cho các hệ thống liên lạc điện thoại có máy tính dùng Windows.
=== GNU/Linux ===
Có rất nhiều hệ thống tổng hợp giọng nói cho GNU/Linux và đều có mã nguồn mở. Ví dụ bao gồm Festival, của Đại học Edinburgh, hay gnuspeech, của Tổ chức Phần mềm Tự do.
=== TI-99/4 và TI-99/4A ===
TI-99/4 (1979) và TI-99/4A (1981) có thể đọc văn bản ở chế độ đọc từng chữ và đọc cả đoạn.
Trong máy TI Extended BASIC, lệnh CALL SAY có thể được dùng. Ví dụ, CALL SAY("I AM A TEXAS INSTRUMENTS T I 99 4 A HOME COMPUTER") sẽ khiến nó nói về bản thân với giọng Texas. Trong hệ thống này, ở chế độ đọc cả từ, các từ lạ sẽ được phát âm bằng cách đọc từng chữ cái. Ở chế độ đọc từng chữ cái, chất lượng giảm hẳn, dù hệ thống sẽ đọc bất cứ văn bản nào gửi đến nó.
TI-99/4 (1979) và TI-99/4A (1981) chứa các bộ vi xử lý 16-bit.
== Các phần mềm của bên thứ ba ==
Các hệ thống phát triển bởi bên thứ ba có thể được tích hợp vào trong các hệ điều hành (trừ SAPI) là Lernout & Hauspie (LH) TTS 3000, 1st Read It Aloud!, Total Speech, PCVoz, TextAloud, Read Genius, Speech RealSpeak, IBM ViaVoice và Dolphin Orpheus [1].
Balabolka: đáng chú ý ở khả năng mở trực tiếp nhiều định dạng tập tin doc, dox, txt, pdf, epub, odt nhanh chóng. Nó cũng có thể chuyển đổi các tập tin sang định dạng mp3, dễ dàng để nghe một tài liệu trên điện thoại hoặc máy nghe nhạc MP3. Thậm chí chuyển đổi hàng loạt tạo ra nhiều tập tin âm thanh của nhiều tài liệu.
TypeIt ReadIt: với giao diện đơn giản và khả năng xuất văn bản của bạn vào một tập tin txt hoặc wav, đây là một phần mềm miễn phí tuyệt vời đơn giản để đọc một cách nhanh chóng. Dán (paste) bất kỳ văn bản (chữ) nào vào cửa sổ của nó, hoặc mở một tập tin txt trực tiếp. Phần mềm sử dụng giọng nói đi kèm với Windows.
Natural Reader Free: Phiên bản miễn phí không thể xuất ra file mp3, nhưng có một giao diện đơn giản để dán và nghe đọc văn bản bằng cách nhấn vào nút play rõ ràng nhìn thấy được.
eSpeak: phần mềm chứa nhiều giọng đọc hoàn toàn khác với những giọng có sẵn trong Microsoft Windows. Chương trình này sử dụng động cơ, bộ máy (engine) của mình. Chương trình có thể mở các tập tin txt và xuất sang định dạng wav. Nó cũng có đôi môi đáng sợ di chuyển. Đó chủ yếu là một chương trình Linux, nhưng cũng được phát triển trên các phiên bản Windows với giao diện không kém phần độc đáo.
== Tham khảo ==
=== Chung ===
=== Lịch sử ===
Dennis Klatt's History of Speech Synthesis
History and Development of Speech Synthesis (Helsinki University of Technology)
== Xem thêm ==
Xử lý giọng nói;
Nhận dạng giọng nói;
Đọc chính tả;
Apple PlainTalk;
FreeTTS;
Lernout & Hauspie;
== Liên kết ngoài ==
=== Chung ===
(tiếng Anh)
Một hệ thống tổng hợp giọng nói tự do.
comp.speech các câu thường hỏi
Âm thanh của bài hát biểu diễn của phòng thí nghiệm Bell năm 1962
Pediaphon tạo tập tin MP3 từ bài viết Wikipedia.
=== Hệ thống tự do ===
ModelTalker
Feed2Podcast.com
Sapi 4.0
Festival.
Flite (Festival-lite).
FreeTTS.
MBROLA (hậu trường, 25 ngôn ngữ).
Gnuspeech.
Epos (tiếng Séc và Slovakia).
HTS và công cụ tạo giọng.
Hệ thống cho tiếng Ấn Độ, Tamil và Kannada.
eSpeak.
www.NewsCasta.com.
www.vnspeech.com (NHMTTS: engine tổng hợp tiếng Việt).
=== Thương mại ===
Acapela Group
AT&T |
giải bóng đá vô địch quốc gia tây ban nha.txt | Giải bóng đá vô địch quốc gia Tây Ban Nha (còn gọi là La Liga, từ tiếng Tây Ban Nha Liga de Fútbol Profesional) gồm:
Các hạng chuyên nghiệp
Hạng nhất (Primera división) (20 đội)
Hạng nhì (Segunda división) (22 đội)
Hạng nhì B (Segunda división B) (4 nhóm, mỗi nhóm có 20 đội)
Các giải nghiệp dư:
Hạng ba (Tercera división)
Các giải vô địch vùng
== Danh sách các đội vô địch ==
== Tổng số lần vô địch ==
== Kỷ lục ==
Lionel Messi là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử giải đấu (tính đến 18/02/2016) với 301 bàn.
Cristiano Ronaldo là cầu thủ lập nhiều hat-trick nhất trong lịch sử giải đấu (tính đến 12/9/2014) với 28 lần.
Lionel Messi là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải của La Liga với 50 bàn (mùa giải 2011-2012 trong màu áo Barcelona).
Chuỗi trận thắng liên tiếp: 22 trận của Real Madrid ở mùa giải 2014-2015 (từ vòng 1 đến vòng 18).
Bàn thắng nhanh nhất: 22 giây - do Karim Benzema (Real Madrid) ghi trong trận đấu giữa Real Madrid và FC Barcelona (FC Barcelona thắng 3-1) ngày 10 tháng 12 năm 2011.
Đội vô địch với số điểm cao nhất: 100 điểm của Real Madrid giành được ở mùa giải 2011-2012 và của Barcelona giành được ở mùa giải 2012-2013
Đội ghi được nhiều bàn thắng nhất trong 1 mùa giải: 122 bàn của Barcelona trong mùa giải 2014-2015
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha |
d.txt | D, d (/dê/, /dờ/ trong tiếng Việt; /đi/ trong tiếng Anh) là chữ thứ tư trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ sáu trong chữ cái tiếng Việt. Trong tiếng Việt, chữ D được phát âm như "dê". Trong hầu hết những ngôn ngữ sử dụng ký tự Latinh trên thế giới, chữ D được phát âm như chữ Đ trong tiếng Việt.
Chữ dâlet của tiếng Xê-mit có lẽ có gốc từ dấu tốc ký cho con cá hoặc cái cửa. Trong các tiếng Xê-mit, tiếng Hy Lạp cổ và cận đại và tiếng Latinh, chữ này đọc như /d/ (chữ Đ trong tiếng Việt). Trong bảng chữ cái Etruscan, chữ này không cần thiết nhưng vẫn được giữ (xem chữ B).
Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ D hoa có giá trị 68 và chữ d thường có giá trị 100.
Trong âm nhạc, D đồng nghĩa với nốt Rê.
D cũng là tên của một loại vitamin.
Trong hệ đo lường quốc tế, d là ký hiệu cho ngày và được dùng cho tiền tố deci – hay 1/10.
Trong tin học, D là tên của một ngôn ngữ lập trình; xem ngôn ngữ lập trình D.
Trong toán học:
d là ký hiệu cho toán tử vi phân.
D thông thường được sử dụng trong các hệ đếm cơ số lớn hơn 13 để biểu diễn giá trị số 13. Xem thêm hệ thập lục phân.
Trong hình học, d được sử dụng như tham số cho đường kính của hình tròn hay hình cầu.
Trong cách ghi số theo kiểu số La Mã, D có giá trị bằng 500.
Trong điện tử học, D là một kích cỡ tiêu chuẩn của pin khô.
Trong hóa học, D là ký hiệu của đơteri, một đồng vị của hiđrô.
Trong hóa sinh học, D là ký hiệu của axít aspartic.
Trong khí quyển Trái Đất, lớp D là một phần của tầng ion.
Theo mã số xe quốc tế, D được dùng cho Đức (Deutschland).
D được gọi là Delta trong bảng chữ cái âm học NATO; nhưng để tránh nhận lầm với hãng hàng không Delta, người ta dùng Dixie tại các phi trường để gọi D.
Trong bảng chữ cái Hy Lạp, D tương đương với Δ và d tương đương với δ.
Trong bảng chữ cái Cyrill, D tương đương với Д và d tương đương với д.
== Cách phát âm ==
== Tham khảo == |
nottingham forest f.c..txt | Câu lạc bộ bóng đá Nottingham Forest là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh hoạt động tại sân City Ground ở West Bridgford, một khu ngoại ô Nottingham, Anh. Hiện nay, câu lạc bộ đang thi đấu tại Football League Championship.Câu lạc bộ này đã vô địch 2 lần liên tiếp UEFA Champions League,là một trong 8 ngôi sao trên logo UEFA Champions League tượng trưng cho các đội bảo vệ thành công chức vô địch,cùng với danh hiệu trong nước Anh là: 2 FA Cup và 4 Cúp Liên đoàn.
Nottingham Forest lấy tên từ Forest Recreation Ground nằm ở phía bắc trung tâm thành phố, là nơi đội này chơi lần đầu và hiện là nơi thi đấu hàng năm của Nottingham Goose Fair. Người ta thường gọi tắt câu lạc bộ này bằng cái tên đơn giản Forest (không nên nhầm với tên Forest F.C., được gọi nhiều hơn bằng cái tên The Wanderers F.C.).
== Danh hiệu ==
Giải vô địch quốc gia: 1
Vô địch (1): 1978
FA Cup
Vô địch (2): 1898,1959
Football League Cup
Vô địch (4):1978, 1979, 1989, 1990
Siêu cúp Anh
Vô địch (1): 1978
UEFA Champions League
Vô địch (2): 1978–79, 1979–80
== Đội hình hiện tại ==
Số liệu thống kê chính xác tới ngày 12 tháng 11 năm 2015.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Ra đi theo dạng cho mượn ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Chú thích == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.