filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
đội tuyển bóng đá quốc gia el salvador.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia El Salvador là đội tuyển cấp quốc gia của El Salvador do Liên đoàn bóng đá El Salvador quản lý.
Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển El Salvador là trận gặp đội tuyển Costa Rica vào năm 1921. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là hai ngôi vị á quân CONCACAF giành được vào các năm 1963 và 1981. Đội đã từng 2 lần tham dự World Cup vào các năm 1970 và 1982, tuy nhiên đều không vượt qua được vòng bảng.
== Danh hiệu ==
Vô địch CONCACAF: 0
Á quân: 1963; 1981
Hạng ba: 1977
Hạng tư: 1965; 1985
Vô địch Trung Mỹ: 0
Hạng ba: 1995; 1997; 2001; 2003; 2013
Hạng tư: 1991; 1993; 1999; 2007; 2009; 2011; 2014
== Thành tích tại giải vô địch thế giới ==
== Cúp Vàng CONCACAF ==
== Cúp bóng đá UNCAF ==
1991 - Hạng tư
1993 - Hạng tư
1995 - Hạng ba
1997 - Hạng ba
1999 - Hạng tư
2001 - Hạng ba
2003 - Hạng ba
2005 - Hạng sáu
2007 - Hạng tư
2009 - Hạng tư
2011 - Hạng tư
2013 - Hạng ba
2014 - Hạng tư
== Danh hiệu ==
Huy chương vàng Đại hội Thể thao Trung Mỹ và Caribe: 1954, 2002
Vô địch CCFC: 1943
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
20 cầu thủ dưới đây được triệu tập tham dự vòng loại World Cup 2018 gặp México vào ngày 2 và Canada vào ngày 6 tháng 9 năm 2016.Số liệu thống kê tính đến ngày 6 tháng 9 năm 2016 sau trận gặp Canada.''
=== Triệu tập gần đây ===
Chú thích:
Rút lui vì chấn thương
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia El Salvador trên trang chủ của FIFA |
bộ môi trường (nhật bản).txt | Bộ Môi trường Nhật Bản (環境省 Kankyo-shō ?) là cơ quan cấp Bộ thuộc Nội các của Chính phủ Nhật Bản chịu trách nhiệm bảo tồn về môi trường, kiểm soát ô nhiễm và bảo tồn thiên nhiên. Bộ được thành lập vào năm 2001 khi chuyển từ Cơ quan môi trường được thành lập vào năm 1971 thành Bộ. Bộ trưởng là thành viên của Nội các Nhật Bản và được chỉ định bởi Thủ tướng Chính phủ, thường là từ Quốc hội Nhật Bản.
Trong tháng 8 năm 2011, Nội các Nhật Bản thông qua kế hoạch thành lập một Cơ quan giám sát năng lượng mới thuộc Bộ Môi trường, và Cơ quan Quy chế hạt nhân được thành lập vào ngày 19 tháng 9 năm 2012.
Bộ trưởng Bộ Môi trường Nhật Bản hiện nay là ông Nobuteru Ishihara
== Lịch sử ==
== Tổ chức ==
Đứng đầu Bộ Môi trường là Bộ trưởng. Giúp việc cho Bộ trưởng ngoài Thư ký Bộ trưởng còn có các thứ trưởng, ban thư ký, các cục, văn phòng đại diện và viện nghiên cứu trực thuộc Bộ:
Thứ trưởng cao cấp
Thư ký Quốc hội
Thứ trưởng hành chính
Thứ trưởng phụ trách các vấn đề về Môi trường toàn cầu
Ban thư ký Bộ trưởng
Cục Chính sách Môi trường
Cục Môi trường Toàn cầu
Cục Quản lý Môi trường
Cục Bảo tồn Thiên nhiên
Viện Đào tạo và Nghiên cứu Môi trường Quốc gia
Văn phòng Môi trường khu vực (7 văn phòng)
== Nhiệm vụ ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official website |
kyushu shinkansen.txt | Kyushu Shinkansen (九州新幹線, Kyūshū Shinkansen, Cửu Châu tân cán tuyến) là một tuyến Shinkansen ở Nhật Bản nối các thành phố của Fukuoka (Ga Hakata) và Kagoshima trên đảo Kyushu (và có thể xem là một tuyến kéo dài của Sanyo Shinkansen từ Honshu), tuyến này chạy song song với tuyến Kagoshima và được khai thác bởi công ty JR Kyushu. Đoạn đường phía nam 127 km (79 mi) được xây dựng đầu tiên tương tương đoạn trước kia của tuyến Kagoshima chỉ có một rây, và đây là sự cải tiến đáng kể thời gian tàu chạy. Đoạn phía bắc 130 km (81 mi) hoàn thành vào 12 tháng 3 năm 2011 giúp cho tàu hoạt động liên tục từ Shin-Osaka (và những tàu đổi chuyến từ Tokyo).
== Các ga ==
Các tàu Tsubame dừng ở tất cả ga. Tàu Mizuho và Sakura dừng ở tất cả các ga có đánh dấu "●", một số tàu dừng ở ga có dấu "△".
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức (tiếng Nhật)
Bản mẫu:Kyushu Railway Company Lines |
thư viện quốc hội hoa kỳ.txt | Thư viện Quốc hội (tên tiếng Anh: Library of Congress), trên thực tế là thư viện quốc gia của Hoa Kỳ, là đơn vị nghiên cứu của Quốc hội Hoa Kỳ. Với trụ sở gồm 3 tòa nhà đóng tại Washington, D.C., đây là thư viện lớn nhất theo diện tích để sách và một trong những thư viện quan trọng nhất trên thế giới. Kho tư liệu của nó bao gồm hơn 30 triệu cuốn sách được phân loại và các tài liệu in ấn khác được viết bằng 470 thứ tiếng; hơn 61 triệu bản thảo viết tay; bộ sưu tập các cuốn sách hiếm lớn nhất Bắc Mỹ, bao gồm bản sơ thảo Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Kinh Thánh Gutenberg (một trong bốn bản in trên giấy da còn tồn tại nguyên vẹn được biết đến); hơn 1 triệu ấn bản các văn kiện của Chính phủ Hoa Kỳ; 1 triệu ấn bản báo chí thế giới trong suốt 3 thế kỷ qua; 33.000 bộ nhật báo đóng tập; 500.000 cuộn microfilm; hơn 6.000 tựa truyện tranh; cơ sở dữ liệu luật lớn nhất thế giới; các bộ phim; hơn 4,8 triệu bản đồ, bản nhạc; 2,7 triệu bản ghi âm; hơn 13,7 triệu hình in và chụp bao gồm các tác phẩm nghệ thuật chuyên nghiệp và nghệ thuật quần chúng, các bản vẽ kiến trúc; cây vĩ cầm cổ Betts Stradivarius; và cây viola Cassavetti Stradivarius;
Chức năng chính của Thư viện, thông qua Vụ Khảo cứu Quốc hội, là sưu khảo và phân tích thông tin và tư liệu nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của các nghị sĩ Quốc hội. Dịch vụ này không được mở rộng cho công chúng, mà chỉ dành riêng cho những nhà lập pháp, các thẩm phán Tối cao Pháp viện, và các viên chức cao cấp của chính phủ. Thư viện Quốc hội cũng tiếp nhận từ Cục Bản quyền Hoa Kỳ bản sao của tất cả sách, tiểu luận, ấn phẩm, nhạc phẩm đã đăng ký tại Hoa Kỳ. Trong thực tế là thư viện quốc gia của Hoa Kỳ, Thư viện Quốc hội góp phần quảng bá văn học Mỹ qua các đề án như American Folklife Center (Trung tâm Văn hóa Dân gian Mỹ), American Memory (Hồi ức Mỹ), Center for the Book (Trung tâm Sách), và Poet Laureate (Quán quân Thi ca).
Người đứng đầu Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ hiện thời là Thủ thư Quốc hội, James H. Billington.
== Lịch sử ==
Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ thành lập ngày 24 tháng 4 năm 1800 bởi một sắc lệnh của Tổng thống John Adams. Sắc lệnh Act of Congress quyết định dời thủ đô từ Philadelphia về Washington, D. C.. Một điều khoản trong sắc lệnh dành khoản tiền 5.000 USD "để mua các đầu sách cần thiết cho Quốc hội…, và trang bị nơi chứa sách…" Đặt hàng từ Luân Đôn, 740 cuốn sách và 30 bản đồ được lưu trữ tại thủ đô mới của nước Mỹ. Mặc dù số đầu sách không nhiều, tất cả đều hợp pháp, phản ánh vị trí của Quốc hội là thiết chế làm luật.
Thomas Jefferson thủ giữ vai trò quan trọng giai đoạn thành lập thư viện. Ngày 26 tháng 1 năm 1802, ông ký ban hành đạo luật đầu tiên về thiết lập cơ cấu Thư viện Quốc hội, quy định Tổng thống bổ nhiệm chức vụ Thủ thư Quốc hội và thành lập một Ủy ban Lưỡng viện về Thư viện nhằm giám sát và thiết lập nội quy cho thư viện, cũng như dành cho tổng thống và phó tổng thống quyền mượn sách. Tháng 8 năm 1814, Thư viện Quốc hội – lúc ấy chỉ là một thư viện nhỏ có 3.000 đầu sách - bị tàn phá hoàn toàn khi binh sĩ Anh xâm chiếm và đốt phá Đồi Capitol. Trong vòng một tháng, cựu Tổng thống Jefferson hiến tặng thư viện riêng của ông để thế chỗ thư viện cũ. Trước đó, Jefferson đã dành 50 năm để thu thập cho một bộ sưu tập sách đa dạng trong thể loại, trong đó có sách ngoại ngữ, và nhiều tuyển tập về triết học, khoa học, văn chương, và sách dạy nấu ăn. Tháng 1 năm 1815, Quốc hội tiếp nhận sự hiến tặng của Jefferson và trả 23.950 USD cho 6.487 cuốn sách của ông.
=== Suy yếu (1851 – 1865) ===
Thời tiền chiến là giai đoạn khó khăn cho Thư viện. Suốt trong thập niên 1850, thủ thư của Viện Smithsonian là Charles Coffin Jewett vận động tích cực cho Viện Smithsonian được công nhận là thư viện quốc gia. Song, nỗ lực của Jewett bị chặn đứng bởi Joseph Henry. Henry là Thư ký Viện Smithsonian, ông chủ trương chỉ tập chú vào các cuộc nghiên cứu khoa học và ấn hành chúng, cũng như vận động cho Thư viện Quốc hội phát triển thành thư viện quốc gia. Tháng 7 năm 1854, quyết định của Henry sa thải Jewett đã chấm dứt sự cạnh tranh, năm 1866 Henry chuyển giao thư viện của Viện Smithsonian với 40 ngàn đầu sách cho Thư viện Quốc hội.
Ngày 24 tháng 12 năm 1851, một vụ hỏa hoạn lớn đã thiêu rụi 35.000 cuốn sách, tức là khoảng hai phần ba trong tổng số 55.000 cuốn của Thư viện, trong đó có cả hai phần ba số sách hiến tặng của Jefferson . Năm 1852, Quốc hội nhanh chóng thông qua số tiền 168.700 USD chỉ đủ để thay thế số sách bị mất trong hỏa hoạn. Đây cũng là thời điểm đánh dấu sự khởi đầu giai đoạn trì trệ của Thư viện dưới quyền quản lý của Thủ thư John Silva Meehan và Chủ tịch Ủy ban Lưỡng viện James A. Pearce, hai người này chủ trương hạn chế các hoạt động của Thư viện . Năm 1857, Quốc hội quyết định chuyển trách nhiệm phân phối tài liệu công cho Bộ Nội vụ và giao trách nhiệm trao đổi sách báo và tài liệu ngoại quốc cho Bộ Ngoại giao. Ngoài ra, kể từ năm 1859, mọi hoạt động tác quyền đều phải tập trung về Cơ quan Đăng Kiểm Sáng Chế (the Patent Office) chấm dứt vai trò kéo dài 13 năm của Thư viện như là cơ quan lưu trữ toàn bộ sách và tiểu luận có đăng ký bản quyền. Sự kiện Abraham Lincoln bổ nhiệm John G. Stephenson làm thủ thư trong năm 1861 vì các mục tiêu chính trị khiến vị trí của Thư viện càng mờ nhạt hơn. Stephenson chỉ bận tâm đến các công việc không liên quan gì đến lãnh vực thư viện, trong đó có công việc sĩ quan phụ tá (ông mang quân hàm đại tá) tại các mặt trận Chancellorsville và Gettysburg trong thời kỳ Nội chiến Mỹ. Sau khi chiến tranh kết thúc, ban nhân sự của Thư viện có 7 người, quản lý 80 ngàn đầu sách .
=== Phát triển (1865 – 1897) ===
Suốt nửa sau thế kỷ 19, dưới quyền lãnh đạo của Thủ thư Ainsworth Rand Spofford từ năm 1865 đến 1897, Thư viện Quốc hội đã tái khẳng định vị trí của mình. Đồng hành cùng giai đoạn mở rộng toàn diện của Chính phủ liên bang cùng không khí chính trị thuận lợi, Spofford thành công trong nỗ lực kiến tạo một sự ủng hộ rộng rãi từ hai chính đảng dành cho Thư viện như là thư viện quốc gia và là tài nguyên của nhánh lập pháp. Ông cũng tiến hành thu thập tư liệu về văn hóa, lịch sử và dân ca Mỹ thời kỳ Tây tiến (Americana), và văn chương Mỹ, lãnh đạo việc xây dựng một tòa nhà mới cho Thư viện, cùng củng cố sức mạnh cũng như tính độc lập của Thư viện. Từ năm 1865 đến 1870, Quốc hội đồng ý chi tiền xây dựng tòa nhà Thomas Jefferson, giao cho Thư viện trách nhiệm quản lý việc đăng ký bản quyền, lưu trữ, và phục hồi chức năng trao đổi sách trên phạm vi quốc tế. Thư viện khổng lồ của Viện Smithsonian và thư viện của sử gia Peter Force cũng được sáp nhập vào Thư viện Quốc hội làm gia tăng đáng kể bộ sưu tập Americana. Đến năm 1876, Thư viện Quốc hội có 300.000 bộ sách, liên kết với Thư viện công Boston để trở thành thư viện lớn nhất nước. Khi dời về trụ sở mới trong năm 1897, thư viện đã có 840.000 bộ sách, 40% trong số này có được là nhờ lưu trữ tác quyền.
Một năm trước khi Thư viện chuyển đến địa điểm mới, Ủy ban Lưỡng viện về Thư viện tổ chức một phiên điều trần nhằm thẩm định hiện trạng, kế hoạch phát triển, và khả năng cải tổ Thư viện. Spofford và sáu chuyên gia từ Hiệp hội Thư viện Mỹ - trong đó có Thủ thư tương lai của Quốc hội, Herbert Putnam, và Melvil Dewey của Thư viện Tiểu bang New York - giải trình trước Ủy ban rằng Thư viện Quốc hội nên tiếp tục mở rộng để trở thành thư viện quốc gia thực thụ. Dựa trên kết quả của phiên điều trần, cũng nhờ sự trợ giúp từ các thượng nghị sĩ Justin Morrill từ Vermont và Daniel Voorhees từ Indiana, Quốc hội cho phép gia tăng thành phần nhân sự của Thư viện từ 42 lên 108 người, và thiết lập các bộ phận quản trị những hoạt động khác nhau của Thư viện trong lĩnh vực thu thập tư liệu. Quốc hội cũng gia tăng quyền hạn quản lý và bổ nhiệm nhân sự cho văn phòng Thư viện Quốc hội, đồng thời yêu cầu Thượng viện phê chuẩn các đề cử của tổng thống.
=== Giai đoạn hậu cải tổ (1897 – 1939) ===
Khởi từ cuộc cải tổ năm 1897, Thư viện Quốc hội bắt đầu phát triển mạnh. Người kế nhiệm Spofford, John Russell Young, dù ở cương vị này chỉ có hai năm, đã kiểm tra toàn diện bộ máy hành chính của Thư viện, sử dụng mối quan hệ với một nhân vật từng là nhà ngoại giao để thu thập tài liệu từ trên khắp thế giới, cũng như thành lập chương trình trợ giúp ban đầu cho người mù và người khuyết tật. Herbert Putnam, người kế nhiệm Young, đảm nhiệm chức vụ này trong suốt 40 năm (1899-1939), nhậm chức chỉ hai năm trước khi Thư viện Quốc hội trở thành thư viện đầu tiên ở Hoa Kỳ chạm mốc lưu trữ 1 triệu đầu sách. Putnam tập chú vào nỗ lực cho phép công chúng và những thư viện khác tiếp cận các dịch vụ của thư viện. Ông cũng thiết lập dịch vụ cho mượn sách liên thư viện, biến Thư viện thành một định chế được mọi người nhắc đến như là "thư viện tối hậu". Putnam cũng mở cửa Thư viện cho "những nhà điều tra khoa học và các cá nhân đủ phẩm chất", và ấn hành các nguồn tư liệu phục vụ giới học thuật.
Nhiệm kỳ của Putnam chứng kiến sự đa dạng trong khả năng thu thập tư liệu của Thư viện. Năm 1903, ông thuyết phục Tổng thống Theodore Roosevelt ký sắc lệnh chuyển các văn kiện của các nhà lập quốc từ Bộ Ngoại giao cho Thư viện. Putnam mở rộng phạm vi thu thập tư liệu ở nước ngoài, trong đó có vụ mua thư viện 4.000 đầu sách của Ấn Độ trong năm 1904, thư viện Nga 8.000 đầu sách của G. V. Yudin trong năm 1906, năm 1908 là bộ sưu tập các bản nhạc kịch cổ của Schatz, và đầu thập niên 1930 là bộ sưu tập vương triều Nga trong đó có 2.600 đầu sách về các chủ đề khác nhau từ thư viện gia đình Romanov. Cũng có những bộ sưu tập các tác phẩm tiếng Hebrew, Hoa, và Nhật. Quốc hội từng chủ động tìm kiếm tài liệu cho Thư viện như trong trường hợp Nghị sĩ Ross Collins từ Mississippi với đề án chi 1,5 triệu USD để mua bộ sưu tập sách cổ của Otto Vollbehr, trong đó có các ấn bản trên giấy da Kinh Thánh Gutenberg.
Năm 1914, Putnam thành lập Vụ Tham khảo Lập pháp như là một đơn vị hành chánh độc lập của Thư viện. Phỏng theo mô hình cơ quan khảo cứu đã áp dụng thành công tại các viện lập pháp tiểu bang, Vụ Tham khảo Lập pháp có chức năng cung cấp giải đáp cho các tra vấn khảo cứu của thành viên Quốc hội trong hầu hết các chủ đề. Năm 1925, Quốc hội thông qua luật cho phép Thư viện Quốc hội thành lập ban vận động để thu nhận các khoản đóng góp, cũng như dành cho Thư viện vai trò của một nhà tài trợ nghệ thuật. Trong số những người đóng góp cho Thư viện có các tên tuổi như John D. Rockefeller, James B. Wilbur, và Archer M. Huntington. Gertrude Clarke Whittall hiến tặng bộ sưu tập vĩ cầm Stradivarius, trong khi Elizabeth Sprague Coolidge chi trả cho việc xây dựng phòng hòa nhạc bên trong tòa nhà Thư viện.
Thời kỳ này đã giúp lấp đầy tòa nhà chính với các loại tư liệu, do đó Thư viện buộc phải mở rộng diện tích. Năm 1928, Quốc hội cấp thêm khu đất kế cận và cho phép xây dựng tòa nhà mới (về sau mang tên Tòa nhà John Adams). Do bị đình hoãn trong thời kỳ Đại Suy thoái, mãi đến năm 1938 tòa nhà mới hoàn tất, và mở cửa cho công chúng trong năm 1939.
=== Lịch sử đương đại (1939 -) ===
Năm 1939, Tổng thống Franklin D. Roosevelt bổ nhiệm Archibald MacLeish thay thế Putnam đã đến tuổi về hưu. Đảm nhiệm chức trách thủ thư từ năm 1939 đến 1944, giai đoạn đỉnh điểm của Chiến tranh thế giới thứ hai, MacLeish được xem là thủ thư nổi tiếng nhất trong lịch sử Thư viện Quốc hội. MacLeish đổi tên phòng đọc phía Nam trong tòa nhà Adams thành Phòng Thomas Jefferson và mời họa sĩ Ezra Winter vẽ bốn bức bích họa tại đây. Trong phòng đọc chính thuộc tòa nhà Jefferson, ông cho thiết kế "góc dân chủ", trưng bày các văn kiện quan trọng như Bản Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp, và các văn kiện liên bang. Thư viện đã hoạt động tích cực trong thời kỳ chiến tranh như bảo toàn Bản Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ tại Fort Knox, và nghiên cứu dữ liệu thời tiết trên dãy Himalaya cho các phi công. Năm 1944, MacLeish từ nhiệm để nhận chức Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao, Tổng thống Harry Truman bổ nhiệm Luther H. Evans thay thế. Evans, phục vụ đến năm 1953, không chỉ phát triển khả năng thu thập tư liệu, các dịch vụ thư mục và phân loại sách đến mức tối đa cho phép, mà còn khai mở các sứ mạng đặc biệt cho Thư viện: Tại San Francisco, thư viện đã hỗ trợ các đoàn đại biểu tham dự hội nghị thành lập Liên Hiệp Quốc, tại châu Âu thu thập các ấn phẩm châu Âu cho Thư viện Quốc hội và các thư viện khác tại Hoa Kỳ, cũng như hỗ trợ việc thành lập Thư viện Quốc hội Nhật Bản.
Năm 1953, L. Quincy Mumford kế nhiệm Evans. Nhiệm kỳ của Mumford, kéo dài đến năm 1974, chứng kiến việc khởi công xây dựng tòa nhà James Madison, tòa nhà thứ ba của Thư viện. Đây cũng là giai đoạn gia tăng các khoản chi tiêu dành cho giáo dục, nhờ đó Thư viện có thể thành lập các trung tâm thu thập tài liệu ở nước ngoài như tại Cairo và New Delhi. Năm 1962, theo yêu cầu của chủ tịch Ủy ban Lưỡng viện về Thư viện, Douglas Bryant thuộc Thư viện Đại học Harvard đệ trình đề án cải tổ, đề nghị mở rộng thư viện thành thư viện quốc gia và bớt chú trọng vào chức năng phục vụ Quốc hội. Bryant cũng đề nghị đổi tên Thư viện khiến Mumford gọi nó là "sự xúc phạm nặng nề đến truyền thống." Cuộc tranh luận kéo dài cho đến khi một đạo luật được thông qua xác định nhiệm vụ của Thư viện là tập chú nhiều hơn vào công cuộc khảo cứu hỗ trợ cho Quốc hội và các ủy ban của Quốc hội, và đổi tên Vụ Tham khảo Lập pháp thành Vụ Khảo cứu Quốc hội.
Daniel J. Boorstin được Tổng thống Gerald Ford bổ nhiệm làm thủ thư năm 1974 khi Mumford về hưu. Ngân quỹ Thư viện tăng từ 116 triệu USD năm 1975 lên đến 250 triệu USD năm 1987, Boorstin tích cực tăng cường quan hệ với các học giả, tác giả, nhà xuất bản, các nhà lãnh đạo văn hóa, và cộng đồng doanh nghiệp. Sự năng nổ cũng như những hoạt động đa dạng của ông đã làm thay đổi vị trí của Thư viện nhiều đến nỗi khi ông về hưu trong năm 1987, tờ New York Times đã đưa ra nhận xét, có lẽ Thư viện Quốc hội là định chế "hàng đầu trong giới trí thức trên toàn quốc." Năm 1987, bởi sự bổ nhiệm của Ronald Reagan, James H. Billington trở thành thủ thư thứ 13 của Thư viện Quốc hội. Năm 1991, Billington bắt đầu sử dụng các thành tựu kỹ thuật mới và Internet để nối kết Thư viện với các định chế giáo dục trên khắp nước. Sự kết thúc Chiến tranh lạnh cũng giúp Thư viện phát triển quan hệ với các nước Đông Âu, và giúp thành lập các thư viện quốc hội tại những quốc gia này. Cuối tháng 11 năm 2005, Thư viện công bố đề án thành lập Thư viện Số Thế giới, sử dụng kỹ thuật số lưu trữ sách và các tư liệu khác từ tất cả nền văn hóa trên khắp thế giới.
== Địa điểm ==
Trụ sở Thư viện Quốc hội bao gồm ba tòa nhà ở Thủ đô Washington, D.C..
=== Tòa nhà Thomas Jefferson ===
Tòa nhà Thomas Jefferson tọa lạc trên Đại lộ Độc lập bao quanh bởi con đường East Capitol Street và cổng chính ở số 1 đường First Street SE. Nơi này được mở cửa lần đầu tiên vào năm 1897 và được xem như là trụ sở chính đồng thời là tòa nhà lâu đời nhất của thư viện. Ban đầu được biết đến là tòa nhà Thư viện Quốc hội hay tòa nhà Chính, nó mang tên gọi như hiện này vào ngày 13 tháng 6 năm 1980.
=== Tòa nhà John Adams ===
Tòa nhà The John Adams tọa lạc giữa Đại lộ Độc lập và đường East Capitol Street, cổng chính ở số 2 Street SE. Nơi đây được mở cửa vào năm 1938 và được sát nhập vào tòa nhà Chính. Trong khoảng thời gian từ 13 tháng 4 năm 1976 và 13 tháng 6 năm 1980, Tòa nhà the John Adams mang tên tòa nhà Thomas Jefferson.
=== Tòa nhà tưởng niệm James Madison ===
Tòa nhà Tưởng niệm James Madison tọa lạc giữa con đường 1 và 2 trên Đại lộ Độc lập. Nơi này được mở cửa vào ngày 28 tháng 5 năm 1980 và được lấy làm trụ sở mới của Thư viện. Đồng thời đây cũng là nơi tưởng niệm chính thức James Madison Memorial. Trong thành phần của tòa nhà cũng bao gồm Thư viện Quốc hội về luật.
== Lưu trữ ==
Thư viện Quốc hội có hơn 32 triệu sách đã phân loại cùng các loại ấn phẩm khác trong hơn 470 ngôn ngữ, hơn 61 triệu bản thảo, bộ sưu tập sách hiếm lớn nhất Bắc Mỹ, trong đó có bản thảo thô của Bản Tuyên ngôn Độc lập, một bản Kinh Thánh Gutenberg (một trong bốn bản in trên giấy da hiện được biết đến), hơn 1 triệu văn kiện của Chính phủ Hoa Kỳ, 1 triệu ấn bản những nhật báo của thế giới trải dài hơn ba thế kỷ vừa qua, 33 000 tập nhật báo có bìa bao, 500 000 cuộn vi phim, hơn 6 000 đầu sách truyện tranh, bộ sưu tập văn kiện pháp luật lớn nhất thế giới, các bộ phim, 4, 8 triệu bản đồ, nhạc tờ, 2, 7 triệu bản ghi âm, hơn 13, 7 triệu ảnh trong đó có các tác phẩm hội họa và bản vẽ kiến trúc, cây vĩ cầm cổ Betts Stradivarius, và cây viola Cassavetti Stradivarius.
Thư viện cũng đã phát triển một hệ thống phân loại sách (Library of Congress Classification - LCC) được sử dụng tại hầu hết các thư viện đại học và viện nghiên cứu ở Mỹ, trong khi phần lớn thư viện công vẫn duy trì hệ thống thập phân Dewey.
Một chức năng khác của Thư viện là đăng ký và lưu trữ bản quyền, và được xem như là kho dữ liệu cho Cục Bản quyền Hoa Kỳ. Có đăng ký bản quyền hay không, thì tất cả nhà xuất bản đều được yêu cầu nộp cho Thư viện hai bản sao các tác phẩm xuất bản của họ - yêu cầu này gọi là mandatory deposit. Nếu không xuất bản thì chỉ cần nộp một bản sao. Mỗi ngày có gần 22 000 ấn bản ở Hoa Kỳ đệ nộp cho Thư viện. Không như nhiều người vẫn nghĩ, Thư viện không lưu trữ tất cả văn kiện này, nhưng mỗi ngày chỉ có khoảng 10 000 đơn vị được giữ lại. Sau khi chọn lọc, nhiều ấn phẩm được dùng để trao đổi với các thư viện trên khắp thế giới, phân phối cho các cơ quan của chính phủ liên bang, các trường học, cộng đồng, hoặc các tổ chức trong nước. Cũng giống các thư viện khác, Thư viện Quốc hội lưu trữ tất cả tài liệu tiếng Anh được xem là có giá trị.
Gần đây, Sách Kỷ lục Thế giới Guinness công nhận Thư viện Quốc hội là "thư viện lớn nhất thế giới", hiển nhiên là dựa trên diện tích kệ sách. Thư viện cho biết tài liệu lưu trữ của họ lấp đầy các kệ sách nếu xếp chúng nối đuôi nhau dài đến 530 miles (850 km), con số này của Thư viện Anh Quốc là 388 miles (625 km). Hiện Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ có 130 triệu đơn vị lưu trữ với 29 triệu cuốn sách, trong khi Thư viện Anh Quốc có xấp xỉ 150 triệu đơn vị lưu trữ với 25 triệu cuốn sách.
Thư viện đã số hóa hàng triệu văn kiện, gồm có hàng chục terabyte trên American Memory Website. Đây là nguồn tư liệu hình ảnh, audio, video và nội dung các trang web được sử dụng trong phạm vi công cộng. Gần hết thư mục và catalog của Thư viện được liệt kê ở đây. Thủ thư trên khắp thế giới có thể vào xem các catalog này, và có thể sử dụng Library of Congress Control Number để biết chính xác nguồn gốc cuốn sách.
Thư viện cũng có một văn khố online gọi là THOMAS, cung cấp những thông tin về các hoạt động của Quốc hội, trong đó có nội dung các dự luật, tường trình các hoạt động và các cuộc thảo luận tại Quốc hội, bản tóm lược và tình trạng các dự luật, và Hiến pháp Hoa Kỳ.
Dưới quyền quản lý của Thư viện còn có Dịch vụ Thư viện Quốc gia cho người khiếm thị và người khuyết tật, cùng một chương trình thư viện nói và chữ nổi braille dành cho 766 000 người Mỹ.
== Sử dụng thư viện ==
Thư viện mở cửa cho công chúng và tổ chức các tour du lịch cho du khách. Chỉ những người có làm thẻ bạn đọc mới có thể vào các phòng đọc. Thẻ bạn đọc có sẵn cho người ít nhất là 16 tuổi có xuất trình một trong các loại thẻ căn cước do chính quyền cấp (giấy phép lái xe, ID của tiểu bang, hoặc hộ chiếu). Tuy nhiên chỉ có thành viên và nhân viên Quốc hội, Tối cao Pháp viện, Thư viện Quốc hội và một số viên chức chính phủ mới có quyền mượn sách. Người có thẻ bạn đọc chỉ có thể đọc sách ngay tại phòng đọc.
== Xem thêm ==
Vụ Khảo cứu Quốc hội
Quốc hội Hoa Kỳ
Thư viện kỹ thuật số Thế giới
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ
Lịch sử của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ
American Memory
Search the Ca-ta-lô của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ
thomas.loc.gov, thông tin lập pháp
Các tác phẩm của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ tại Dự án Gutenberg
Standards, The Library of Congress
Library Of Congress Meeting Notices and Rule Changes from The Federal Register RSS Feed
Các bức ảnh của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ Flickr
Điêu khắc ngoài trời tại của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. |
đà nẵng.txt | Đà Nẵng là một thành phố thuộc trung ương từ năm 1996, nằm trong vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam, là trung tâm lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước. Đà Nẵng là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương ở Việt Nam, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Hải Phòng và Cần Thơ.
Nguồn gốc từ "Đà Nẵng" là biến dạng của tiếng Chăm cổ daknan, nghĩa là vùng nước rộng lớn hay "sông lớn", "cửa sông cái". Năm 1835, với chỉ dụ của vua Minh Mạng, Cửa Hàn (tên gọi Đà Nẵng khi đó) trở thành thương cảng lớn nhất Miền Trung. Sau khi hoàn thành xâm lược Việt Nam vào năm 1889, người Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam và đổi tên thành Tourane đánh dấu sự ra đời thành phố. Sau Cách mạng tháng tám, thành phố được mang tên nhà yêu nước Thái Phiên. Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại. Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ấn định là thành phố trực thuộc Trung ương. Sau năm 1975, Đà Nẵng là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Theo đó thành phố Đà Nẵng ngoài phần đất liền còn bao gồm huyện Hoàng Sa. Sau sự kiện Hải chiến Hoàng Sa 1974, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã kiểm soát toàn bộ Hoàng Sa và tuyên bố là lãnh thổ của họ. Hiện nay, cả Việt Nam, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đều đòi chủ quyền đối với quần đảo này.
Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của Việt Nam, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh; là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Đà Nẵng hiện nay có tám quận, huyện với tổng diện tích là 1285,4 km². Theo kết quả điều tra năm 2009 thì dân số thành phố là 887.435 người. Năm 2013, dân số thành phố là 992.800 người. Dân số Đà Nẵng đạt 1.029.000 người. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trên địa bàn năm 2012 là 46.368,6 tỷ đồng. Trong ba năm liền từ 2008-2010, Đà Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) đứng đầu cả nước. Tuy nhiên năm 2012, PCI của Đà Nẵng tụt xuống thứ 12/63 tỉnh, thành phố. Năm 2013, Đà Nẵng đã trở lại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng. Năm 2014 và 2015, Đà Nẵng tiếp tục giữ vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng, năm thứ ba liên tiếp trụ vững ngôi đầu bảng và lần thứ sáu thành phố này dẫn đầu cả nước kể từ khi chỉ số này được công bố 10 năm trước kể từ năm 2006. Trong những năm gần đây, Đà Nẵng đã tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao an sinh xã hội và được coi là "thành phố đáng sống" của Việt Nam.
Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Mục tiêu phát triển Đà Nẵng thành thành phố cấp quốc gia, hiện đại; tầm nhìn đến năm 2050, xây dựng và phát triển Đà Nẵng trở thành thành phố đặc biệt cấp quốc gia, hướng tới đô thị cấp quốc tế và phát triển bền vững.
== Tên gọi ==
Địa danh Đà Nẵng (chữ Hán: 沱㶞 hoặc 陀㶞) được nói đến sớm nhất trong sách "Ô Châu cận lục" (烏州近錄, in lần đầu năm 1555) của Dương Văn An (楊文安), quyển 5, "Tự từ" (寺祠, nghĩa là "chùa và đền"), "Thần từ" (神祠, đền thờ thần), "Tùng Giang từ" (松江祠, đền Tùng Giang):
Nguyên văn Hán văn:
松江祠. 祠在思榮縣思客海門,並在廣南陀㶞海門。
Phiên âm Hán Việt:
Tùng Giang từ. Từ tại Tư Vinh huyện Tư Khách hải môn, tịnh tại Quảng Nam Đà Nẵng hải môn.
Dịch nghĩa:
Đền Tùng Giang. Đền ở cửa biển Tư Khách, huyện Tư Vinh, còn một đền nữa ở của biển Đà Nẵng, Quảng Nam.
"Đà Nẵng" trong "Ô Châu cận lục" không phải là một địa danh hành chính mà chỉ là tên gọi của một cửa biển.
Đà Nẵng là một tên dịch theo kiểu dịch âm kiêm dịch ý một phần, địa danh cần dịch đã được dịch bằng chữ Hán có âm đọc (âm Hán Việt) tương cận, ý nghĩa của chữ Hán dùng để dịch có liên quan nhất định với ý nghĩa của tên gọi được dịch. Phần lớn các ý kiến đều cho rằng tên gọi Đà Nẵng xuất phát từ vị trí nằm ở cửa sông Hàn của thành phố. Đó là một biến dạng của từ Chăm cổ "Da nak", được dịch là "cửa sông lớn".
Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu về Chăm là Inrasara và Sakaya đã có những đề xuất khác. Inrasara (tức Phú Trạm, nhà thơ và nhà nghiên cứu văn hoá Chăm) cho rằng "Đà Nẵng" là biến dạng của từ Chăm cổ Đaknan. Đak có nghĩa là nước, nan hay nưn, tức Ianưng là rộng. Địa danh Đaknan hàm ý chỉ vùng sông nước rộng mênh mông ở cửa sông Hàn. Còn nhà nghiên cứu Sakaya (tức Trương Văn Món) cho rằng "Đà Nẵng" có thể xuất phát từ nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, Đakdơng - Đà dơng, có nghĩa là con sông. Đanang trong tiếng Chăm và Raglai cổ, cùng thuộc ngôn ngữ Malayo-Polynesia, có nghĩa là "nguồn". "Đà Nẵng" là "sông nguồn". Nhưng nếu chúng ta xét về phương diện ngôn ngữ Chăm hiện đại, thì trong ngôn ngữ Ê-đê, Gia Rai thuộc nhóm Chamic vẫn còn lưu giữ cách gọi từ cổ như Krông Năng hay Rơ Năng hay Da Năng. Hiện tại, ngay cả một tỉnh đông người Chăm ở Campuchia vẫn giữ cách gọi 1 bến sông của người Chăm là " Kam pong Ch'Năng" và trở thành tên một tỉnh của Campuchia Kampong Chhnang có đông người Chăm sau tỉnh Kampong Cham. Tất các biến thể của ngôn ngữ Chăm Pa từ "'Da Năng"' thành Ênang, Ch'nang, R'nang trong ngôn ngữ Chăm, Gia Rai, Ê đê, Raglai ngày nay đêu mang nghĩa là bình yên, thanh bình. Kampong Danang tức là Bến sông thanh bình.
Người Trung Quốc gọi Đà Nẵng là Hiện Cảng, vốn được viết bằng chữ Hán là 蜆港, về sau được đổi thành 峴港. Thời xưa tàu thuyền Trung Quốc đi Đà Nẵng thường lấy hòn Sơn Chà làm mốc định vị phương hướng. Hòn Sơn Chà có hình dáng giống con hến nên người Trung Quốc đã gọi nơi đây là "Hiện Cảng" (蜆港), có nghĩa là "bến hến". Về sau một số người không hiểu rõ nguồn gốc của tên gọi này, thấy xung quanh Đà Nẵng có nhiều núi non bao bọc nên đã thay chữ "hiện" 蜆 có nghĩa là "con hến" bằng chữ "hiện" 峴 là từ dùng để chỉ núi nhỏ mà cao.
Một tên gọi khác được đặt cho Đà Nẵng là Cửa Hàn (dịch nghĩa "cửa của sông Hàn"). Theo tác giả Võ Văn Dật thì từ Hàn đã được Việt hóa từ cách đọc theo tiếng Hải Nam của địa danh "Hiện Cảng" 蜆港 là "Hành Càng" hay "Hàn Càng".
Giáo sĩ Buzomi - đến Đà Nẵng năm 1615 - đã gọi nơi này là Porte de Kéan. Bản đồ châu Á do Sanson d'Abbeville vẽ năm 1652 ghi Đà Nẵng là Turaon. Giáo sĩ Christoforo Borri - đến Đà Nẵng năm 1618 - khi viết hồi ký về xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn thì đã gọi Đà Nẵng là Touron. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes là người từng lui tới Đà Nẵng nhiều lần và đã gọi nơi này là Turon; trong bản đồ của ông ghi là "Kean" ("Kẻ Hàn"; "kẻ" trong "kẻ chợ").
Cho đến giữa thế kỷ 19, địa danh "Đà Nẵng" vẫn còn là tên gọi của một vùng lãnh thổ gắn liền với một cửa biển, một vũng nước sâu, một "cửa quan" hay một "tấn sở". Các vua triều Nguyễn từ Gia Long đến cả Tự Đức nghiêng về ý nghĩa phòng thủ của nơi này hơn là phát triển Đà Nẵng thành một đô thị sầm uất. Vì vậy mà thời kì này Đà Nẵng được gọi là một "tấn", tức là một vị trí trọng yếu phòng thủ. Cho đến khi Pháp khai hỏa xâm chiếm thì Đà Nẵng vẫn chỉ là một vị trí, một địa bàn chiến lược về quân sự và chưa từng là một địa danh chỉ đơn vị hành chính.
Từ năm 1888 cho đến hết thời Pháp thuộc, Tourane là tên chính thức của Đà Nẵng. Có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc của từ Tourane. Thứ nhất đó là lối nói trại từ chữ Châu Ranh (chỉ ranh giới Việt Nam-Chiêm Thành). Ý kiến thứ hai cho rằng nó bắt nguồn từ một làng có tên là Thạc Gián bị viết lầm là Tu Gián. Ý kiến thứ ba giải thích rằng Tourane chỉ địa danh của một nơi vốn có một cái tháp (tour) trên cửa Hàn.
Trong văn hóa dân gian, Vũng Thùng là một tên thông tục khác để đề cập đến Đà Nẵng. Các nhà Nho nói chữ thì gọi là Trà U, Trà A, Trà Sơn hay Đồng Long Loan.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Tourane đổi tên thành Thái Phiên - nhà yêu nước nổi tiếng của đất Quảng Nam đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916. Tuy nhiên vào ngày 9 tháng 10 năm 1945, Hội đồng Chính phủ ra quyết nghị giữ nguyên tên cũ của các đơn vị hành chính từ cấp kỳ, thành phố, tỉnh, huyện trong cả nước để tiện việc thông tin liên lạc và công văn giấy tờ. Thành phố trở lại tên gọi cũ Đà Nẵng.
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
Tọa độ phần đất liền của thành phố Đà Nẵng từ 15°15' đến 16°40' vĩ độ Bắc và từ 107°17' đến 108°20' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông.
Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ của Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 766 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 961 km về phía Nam và cách kinh đô thời cận đại của Việt Nam là Thành phố Huế 101 km về hướng Tây Bắc theo đường Quốc lộ 1A.. Đà Nẵng còn là trung điểm của các di sản thế giới: Cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn. Thành phố Đà Nẵng nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, đông bắc Campuchia, Thái Lan và Myanma. Khoảng cách từ Đà Nẵng đến các trung tâm kinh tế chính của khu vực Đông Nam Á như Bangkok (Thái Lan), Kuala Lumpur (Malaysia), Singapore, Manila (Philipines) đều nằm trong khoảng 1.000–2.000 km. Bốn điểm cực trên đất liền của thành phố Đà Nẵng là:
Cực Bắc là phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu.
Cực Tây xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang.
Cực Nam là xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang.
Cực Đông là phường Thọ Quang, quận Sơn Trà.
Ngoài phần đất liền, vùng biển của thành phố gồm quần đảo Hoàng Sa (khu vực đang tranh chấp với Trung Quốc và Đài Loan) nằm ở 15°45’ đến 17°15’ vĩ độ Bắc, 111° đến 113° kinh độ Đông, ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Ngãi; cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi) khoảng 120 hải lý về phía Nam. Khu vực quần đảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 30.000 km². Tổng diện tích phần nổi của quần đảo khoảng 10 km², trong đó đảo Phú Lâm chiếm diện tích lớn nhất (nguồn Việt Nam: khoảng 1,5 km², nguồn Trung Quốc: 2,1 km²). Hoàng Sa án ngự đường hàng hải quốc tế huyết mạch từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Vùng biển này có tiềm năng lớn về khoáng sản, hải sản, có thuận lợi để phát triển kinh tế nhưng quan trọng hơn đây là vị trí quân sự chiến lược, khống chế đường giao thông trên biển và trên không trong khu vực phía Bắc biển Đông.. Bốn điểm cực của quần đảo Hoàng Sa là:
Cực Bắc tại bãi đá Bắc
Cực Nam tại bãi ngầm Ốc Tai Voi
Cực Đông tại bãi Gò Nổi
Cực Tây tại đảo Tri Tôn
=== Địa chất, địa hình ===
Về mặt địa chất, Đà Nẵng nằm ở rìa của miền uốn nếp Paleozoi được biết đến với tên gọi Đới tạo núi Trường Sơn - nơi mà những biến dạng chính đã xảy ra trong kỷ Than đá sớm. Cấu trúc địa chất khu vực Đà Nẵng gồm có năm đơn vị địa tầng chủ yếu, lần lượt từ dưới lên là: hệ tầng A Vương, hệ tầng Long Đại, hệ tầng Tân Lâm, hệ tầng Ngũ Hành Sơn và trầm tích Đệ tứ. Trong đó các hệ tầng A Vương, Long Đại, Tân Lâm có thành phần thạch học chủ yếu là đá phiến và cát kết. Hệ tầng Ngũ Hành Sơn chủ yếu là đá vôi hoa hóa màu xám trắng. Trầm tích Đệ tứ bao gồm các thành tạo sông, sông - biển, biển, biển - đầm lầy có tuổi từ Pleistocen sớm đến Holocen muộn, chủ yếu là cát, cuội, sỏi, cát pha, sét pha,...Vỏ Trái Đất tại lãnh thổ thành phố Đà Nẵng bị nhiều hệ thống đứt gãy theo phương gần á vĩ tuyến và phương kinh tuyến chia cắt, làm giảm tính liên tục của đá, giảm độ bền của chúng, nhất là tạo nên các đới nứt nẻ tăng cao độ chứa nước. Đây là hiểm hoạ trong khi xây dựng các công trình.
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi. Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía tây và tây bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp. Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500 m, độ dốc lớn (>40o), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố. Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố. Ở khu vực cửa sông Hàn và sông Cu Đê địa hình đáy biển bị phức tạp và tạo ra một số bãi cạn, trũng ngầm (lòng sông).Khu vực cửa vịnh ra ngoài khơi địa hình nhìn chung là nghiêng thoải về phía đông bắc. Khoảng cách các đường đẳng sâu khá đều đặn .
Quần đảo Hoàng Sa gồm hai cụm đảo chính là cụm Lưỡi Liềm ở phía tây và cụm An Vĩnh ở phía đông. Cụm Lưỡi Liềm nằm về phía tây, có hình cánh cung hay lưỡi liềm, bao gồm các đảo là Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quy, Tri Tôn cùng các mỏm đá, bãi ngầm. Cụm đảo An Vĩnh bao gồm các đảo tương đối lớn của quần đảo Hoàng Sa và cũng là các đảo san hô lớn nhất của biển Đông như đảo Phú Lâm, đảo Cây, đảo Linh Côn, đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam và cồn cát Tây. Nhiều thực thể trong quần đảo biểu hiện dạng vành khuyên cổ của các rạn san hô vòng Thái Bình Dương, vốn dĩ là kết quả phát triển của san hô cộng với sự lún chìm của vỏ Trái Đất. Hình thái địa hình các đảo tương đối đơn giản nhưng mang đậm bản sắc của địa hình ám tiêu san hô vùng nhiệt đới có cấu tạo ba phần khác nhau đó là phần đảo nổi, hành lang bãi triều (thềm san hô) bao quanh đảo và sườn bờ ngầm dốc đứng. Đa số các đảo nổi có độ cao dưới 10 m.
=== Khí hậu ===
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu cận nhiệt đới ở miền Bắc và nhiệt đới xavan miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới ở phía nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23 °C. Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C. Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 550-1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình 23–40 mm/tháng. Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng. Mỗi năm, Đà Nẵng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ một đến hai cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới. Năm 2006, Đà Nẵng chịu ảnh hưởng của bão Xangsane - cơn bão mạnh nhất đổ bộ vào Đà Nẵng trong 100 năm qua, gây thiệt hại nặng nề cho thành phố.
Thời gian nắng ở quần đảo Hoàng Sa dao động trong khoảng từ 2.400 đến 2.600 giờ/năm. Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình ở vùng biển quần đảo là 22°-24 °C trong tháng 1, tăng dần và đạt cực đại trung bình 28.5°-29 °C trong tháng 6 và tháng 7. Chế độ gió vùng quần đảo Hoàng Sa phức tạp và thể hiện ảnh hưởng của địa hình lục địa Việt Nam và Trung Quốc. Gió tây nam chiếm ưu thế vào mùa hè; gió đông bắc chiếm ưu thế trong mùa đông. Lượng mưa trung bình năm ở Hoàng Sa là khoảng 1.200-1.600 mm. Độ ẩm tương đối trung bình 80-85% và hầu như không biến động nhiều theo mùa.
=== Thủy văn ===
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía tây, tây bắc và tỉnh Quảng Nam. Có hai sông chính là sông Hàn với chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 5.180 km² và sông Cu Đê với chiều dài khoảng 38 km, lưu vực khoảng 426 km². Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có các sông khác: sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc,...Các sông đều có hai mùa: mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8 và mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 12. Thành phố còn có hơn 546 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản.
Nước ngầm của vùng Đà Nẵng khá đa dạng, các khu vực có triển vọng khai thác là nguồn nước ngầm tệp đá vôi Hoà Hải – Hoà Quý ở chiều sâu tầng chứa nước 50–60 m; khu Khánh Hoà có nguồn nước ở độ sâu 30–90 m; các khu khác đang được thăm dò. Đầu năm 2013, do các công trình thủy điện đầu nguồn tích nước không xả nước về vùng đồng bằng, vùng xuôi khiến cho người dân Đà Nẵng phải đối mặt với việc thiếu nước sinh hoạt và nguồn nước tưới tiêu cho cây trồng. Bên cạnh đó thành phố cũng phải đối phó với tình trạng nguồn nước bị nhiễm mặt hàng năm.
Vùng biển Đà Nẵng có chế độ thủy triều thuộc chế độ bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày trong tháng đều có hai lần nước lên và hai lần nước xuống, độ lớn triều tại Đà Nẵng khoảng trên dưới 1 m. Dòng chảy ở vùng biển gần bờ có hướng chủ đạo là hướng đông nam với tốc độ trung bình khoảng 20–25 cm/s. Khu vực gần bờ có tốc độ lớn hơn so với khu vực ngoài khơi một chút.
=== Môi trường ===
Quá trình mở rộng không gian đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác tài nguyên đất và sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp, du lịch của địa phương đã gây nên những tác động đến môi trường không khí, môi trường sinh thái và đa dạng sinh học của thành phố. Năm 2010, tổng lượng nước thải công nghiệp khoảng 6.835 m³/ngày. Các dự án lấn biển như Khu đô thị Đa Phước, Khu dịch vụ thủy sản Thọ Quang, Khu dịch vụ hậu cần Cảng Đà Nẵng,...có nguy cơ tác độ đến môi trường, hệ sinh thái vùng bờ Đà Nẵng. Kết quả điều tra năm 2006 cho thấy diện tích san hô khu vực ven biển Đà Nẵng không có khả năng phục hồi là 81%. Năm 2012, Khu dịch vụ thủy sản Thọ Quang là điểm nóng nhất về ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố. Chất lượng nước ở các con sông cũng có vấn đề, đặc biệt là vùng hạ lưu, các sông đều bị ô nhiễm bởi một lượng khá lớn coliform, BOD5, COD và chất khác. Trong nội ô thành phố Đà Nẵng, lượng bụi, lưu huỳnh điôxit, tiếng ồn, hóa chất độc hại đều vượt tiêu chuẩn cho phép.
Trước tình trạng ô nhiễm môi trường, vào tháng 10 năm 2008, thành phố Đà Nẵng đã phê duyệt đề án "Xây dựng Đà Nẵng - Thành phố môi trường". Đề án được xây dựng trên tiêu chí đến năm 2020, các yêu cầu về chất lượng môi trường đất, chất lượng môi trường nước, chất lượng môi trường không khí trên toàn thành phố được đảm bảo, tạo sự an toàn về sức khoẻ và môi trường cho người dân, các nhà đầu tư, cho du khách trong và ngoài nước khi đến với Đà Nẵng.
Theo báo Một Thế giới, bãi biển đường Nguyễn Tất Thành dài 8 km thuộc hai quận Thanh Khê và Liên Chiểu trong vịnh Đà Nẵng bị ô nhiễm môi trường trầm trọng (tháng 7 năm 2016). "Những dải nước ven bờ phần lớn trong tình trạng đen ngòm, khác hẳn gam màu xanh bên ngoài tầm 100m. Ai đi ngang về cạnh cửa sông Phú Lộc xả ra vịnh, luôn ngửi thấy mùi xú uế hôi thối thoảng trong gió biển. Những ngày nước đen nhiều, bạn mặc chiếc quần trắng xuống tắm biển, khi về sẽ là chiếc quần ố vàng. Nhiều người dân cho biết, sau khi tắm biển ở đây về cảm thấy ngứa ngáy dù đã tắm rửa lại sạch sẽ. Trên cả bãi biển dài tầm 8km, rác thải, túi ni lon ngổn ngang ít khi được dọn dẹp."
== Lịch sử ==
=== Thời Sa Huỳnh và Chăm Pa ===
Đà Nẵng nằm trong vùng đất xứ Quảng, nơi các cư dân cổ thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã định cư từ hàng nghìn năm trước. Đồng bằng xứ Quảng đã dựng lên một nền văn minh lúa nước và dâu tằm nổi tiếng. Người Sa Huỳnh không chỉ là những cư dân nông nghiệp mà còn đi biển và có hoạt động giao thương bằng đường biển khá phát triển. Tại di tích Vườn Đình Khuê Bắc (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn), các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật được những vết tích liên quan đến nơi ở và nơi chôn cất của cư dân thuộc thời kỳ Tiền Sa Huỳnh, cách đây khoảng 3.000 năm và một số hiện vật ở những lớp đất phía trên thuộc thời kỳ Chăm Pa sớm, cách đây gần 2.000 năm.
Khi nhà nước Chăm Pa ra đời, vùng đất Đà Nẵng thuộc về tiểu quốc Amaravati. Tại tiểu quốc này đã có ít nhất hai vương triều là Lâm Ấp và Indrapura tồn tại. Những dấu tích của thời kỳ Chăm Pa còn biểu hiện khá đậm nét qua các di tích từ miếu thờ tín ngưỡng ở Đình Dương Lâm (Xã Hòa Phong) chỉ thờ ngẫu tượng Linga - Yony quy mô nhỏ bé đến các phế tích có quy mô lớn như lũy đất Thành Lồi, phế tích của các tháp Chăm như tháp Quá Giáng, tháp Xuân Dương và tháp Phong Lệ. Trên địa bàn chùa ở Ngũ Hành Sơn còn lưu giữ một số hiện vật Chăm Pa như bệ thờ, mảnh bệ thờ, mảnh góc bệ thờ được khắc tạc với các đề tài như tượng, voi, sư tử, Drappla, hoa dây uốn xoắn,... thuộc phong cách nghệ thuật Đồng Dương thế kỷ IX. Ngoài ra còn có các giếng cổ Chăm Pa phân bố rải rác ở nhiều địa phương. Cuộc khai quật di tích Chăm ở làng Phong Lệ (quận Cẩm Lệ) năm 2012 với việc phát hiện nền tháp chăm có kích thước lớn nhất từ trước đến nay đã đưa đến giả thuyết: "rất có thể hơn 1.000 năm trước, vùng đất này là một trung tâm kinh tế, đô thị sầm uất hoặc là nơi giao thương qua lại".
=== Thời Đại Việt ===
Trong nửa sau của thế kỷ thứ 10, các vua của vương triều Indrapura đã xung đột với Đại Việt. Năm 982, ba sứ thần mà Lê Hoàn (người sáng lập ra nhà Tiền Lê) gửi đến Chăm Pa đã bị bắt giữ. Lê Hoàn đã quyết định mở một cuộc tấn công vào vương quốc Indrapura và giết chết vua Chăm Parameshvaravarman I. Như một kết cục của sự thất bại, người Chăm cuối cùng đã bỏ rơi Indrapura vào khoảng năm 1000.
Vào năm 1306, thông qua cuộc hôn nhân của Vua Jayasimhavarman III (Chế Mân) với Công chúa Huyền Trân bằng việc nhượng hai châu Ô, Lý cho nhà Trần thì các làng xóm của người Việt bắt đầu được hình thành. Tháng Giêng năm Đinh Mùi (1307), Vua Trần Anh Tông sai đổi tên châu Ô và châu Lý thành châu Thuận và châu Hoá.. Đà Nẵng từ đây là phần đất thuộc châu Hóa, và từ sau 1446 thì Đà Nẵng thuộc địa phận của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa. Sau khi sáp nhập vào Đại Việt, vùng Đà Nẵng trở vào vẫn là miền biên viễn, luôn bị quấy nhiễu và cướp phá. Vào năm 1470, Lê Thánh Tông đánh bại quân Chiêm Thành và mở rộng biên giới Đại Việt đến mũi Nạy (giữa Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay) thì vùng đất này mới được bình ổn và bắt đầu có những cuộc khai phá mở mang. Những cư dân Việt đến sinh sống ở vùng này đã tiếp nhận và cải biến những yếu tố của văn hóa Chăm Pa để hòa nhập vào văn hóa Việt.
Thời các Chúa Nguyễn, vùng đất này đã được khai phá và trở nên trù phú thịnh vượng; các thương nhân cùng tàu thuyền nước ngoài thường xuyên ra vào mua bán, trao đổi hàng hóa. Giữa thế kỷ 16, khi Hội An là trung tâm buôn bán sầm uất ở phía nam thì Đà Nẵng nằm ở vị trí tiền cảng với vai trò trung chuyển hàng hóa, tu sửa tàu thuyền. Đầu thế kỷ 18, vị trí tiền cảng của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế cho Hội An, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu ở châu Âu phát triển; những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu có thể ra vào vịnh Đà Nẵng dễ dàng.
Thời kỳ các Chúa Nguyễn cũng đánh dấu sự thành lập của Hải đội Hoàng Sa với nhiệm vụ ra đóng ở quần đảo Hoàng Sa, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo và những hoá vật do lấy được từ những tàu đắm đem về nộp cho triều đình. Quá trình hoạt động của Hải đội Hoàng Sa cũng là quá trình xác lập và thực thi chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa) kéo dài từ đầu thế kỷ XVII.
Đà Nẵng trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh và thời Tây Sơn trở thành vùng tranh chấp dữ dội và đã chứng kiến những trận đánh quyết liệt của quan quân nhà Nguyễn trong cuộc tấn công vào cửa Đà Nẵng và Đại Chiêm. Năm 1797, quân Nguyễn Ánh đem đại binh tiến đánh Đà Nẵng.
=== Thời nhà Nguyễn ===
Với vị trí chiến lược quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự an nguy của kinh đô Phú Xuân, Đà Nẵng là một quân cảng và một thương cảng quan trọng bậc nhất của triều Nguyễn. Ngay sau khi thành lập, vương triều Nguyễn đã chú trọng xây dựng tại đây một hệ thống quản lý và phòng thủ cảng biển đặc biệt. Năm 1813, triều đình sai Nguyễn Văn Thành lập pháo đài Điện Hải và đồn An Hải nằm hai bên tả hữu sông Hàn để quan sát ngoài biển và phòng thủ Đà Nẵng. Trung tâm hành chính của tỉnh Quảng Nam được chuyển từ Dinh Chiêm (gần Hội An) ra đại đồn La Qua (Vĩnh Điện). Đặc biệt, Gia Long quy định việc đón tiếp các đoàn sứ ngoại quốc đến quan hệ với vương triều nhất định phải vào cửa biển Đà Nẵng mà không được cập bến tại bất kỳ một cửa biển nào khác.
Năm 1835, khi Vua Minh Mạng có dụ: "...tàu Tây đậu tại cửa Hàn, còn các cửa biển khác không được vào, phép nước rất nghiêm, chẳng nên làm trái... Từ nay về sau, người Tàu phải đi tàu buôn nước Tàu, mới cho vào cửa biển, người Tây phải đi tàu nước Tây vào cửa Hàn thông thương, không được ghé vào các cửa biển khác..." thì Đà Nẵng trở thành hải cảng chính thức và duy nhất thực thi chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn với các nước đến quan hệ qua đường biển. Vua Thiệu Trị cũng đặc biệt quan tâm đến việc an ninh cảng biển tại Đà Nẵng và đưa ra những quy định chặt chẽ quản lý người phương Tây đến buôn bán tại đây.
Nhà Nguyễn tiếp tục thực thi nhiều chính sách khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Năm 1816, Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Năm 1835, Vua Minh Mạng cho xây miếu, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa được trao nhiều nhiệm vụ: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ quần đảo. Hải đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.
Ngay từ giai đoạn 1843-1857 thì mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Pháp đã trở nên nóng bỏng. Tháng 3 năm 1847, Augustin de Lapierre chỉ huy tàu Gloire cập bến Đà Nẵng, trình thư cho nhà Nguyễn nhưng bị từ chối. Sang ngày 15 tháng 4 năm 1847, tàu Pháp đụng độ với bốn tàu của triều đình Huế và đánh tan quân triều đình chỉ sau hai giờ giao tranh. Giữa tháng 9 năm 1856, tàu Catinat do Lelieur chỉ huy ghé Đà Nẵng, trình quốc thư nhưng tiếp tục bị nhà Nguyễn từ chối. Ngày 28 tháng 9, phía Pháp cho tàu Catinat nã súng vào các pháo đài bảo vệ Đà Nẵng và cho quân đổ bộ đóng đinh vô hiệu hóa nhiều khẩu thần công của Việt Nam. Tính chung suốt từ 1843 đến 1857, Pháp đã sáu lần gửi chiến hạm đến Đà Nẵng.
=== Thời Pháp thuộc ===
Năm 1858, cuộc xâm lược của Pháp tại Việt Nam khởi đầu bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng. Ngày 25 tháng 8 năm 1883, triều đình Huế buộc phải ký với Pháp Hiệp ước Harmand. Theo điều 6 và 7 của Hiệp ước này, ngoài việc yêu cầu mở cửa Đà Nẵng để thông thương còn quy định rằng Pháp sẽ được phép lập các khu nhượng địa ở đây..
Ngày 17 tháng 8 năm 1888, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập ba thành phố ở Việt Nam là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng. Ngày 3 tháng 10 năm 1888, Vua Đồng Khánh buộc phải ký một đạo dụ gồm 3 khoản quy định rõ "...Đà Nẵng được chính phủ Đại Nam kiến lập thành nhượng địa Pháp và nhượng trọn quyền cho chính phủ Pháp, và chính phủ Đại Nam từ bỏ mọi quyền hành trên lãnh thổ đó". Theo phụ đính của đạo dụ này, năm xã của huyện Hòa Vang gồm Hải Châu, Phước Ninh, Thạch Thang, Nam Dương và Nại Hiên Tây nằm bên tả ngạn sông Hàn được cắt giao cho Pháp để lập "nhượng địa" Tourane với diện tích 10.000 ha. Ngày 24 tháng 5 năm 1889, Toàn quyền Đông Dương Étienne Richaud ra nghị định thành lập thành phố Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam.. Đà Nẵng là thành phố loại 2, tương tự như thành phố Chợ Lớn thành lập trước đó. Đơn vị hành chính này chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương thay vì triều đình Huế. Đứng đầu thành phố là một viên Đốc lý do Khâm sứ đề nghị và Toàn quyền bổ nhiệm. Ngày 15 tháng 1 năm 1901, dưới sức ép của Pháp, Vua Thành Thái buộc phải ký một đạo dụ nới rộng nhượng địa Đà Nẵng thêm 14 xã, cụ thể là thêm 8 xã thuộc huyện Hòa Vang bên tả ngạn sông Hàn và 6 xã thuộc huyện Diên Phước bên hữu ngạn sông Hàn. Ngày 19 tháng 9 năm 1905, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách Đà Nẵng khỏi tỉnh Quảng Nam để trở thành một đơn vị hành chính độc lập gồm 19 xã. Như vậy vào đầu thế kỷ 20, thành phố Tourane/Đà Nẵng đã vươn về phía tây và tây bắc, còn phía đông thì đã vượt sang hữu ngạn sông Hàn chiếm trọn bán đảo Sơn Trà.
Đầu thế kỷ 20, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương. Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu tư. Sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hàng xuất khẩu, sửa chữa tàu thuyền, kinh doanh dịch vụ được hình thành và phát triển; cùng với Hải Phòng và Sài Gòn, Tourane trở thành trung tâm thương mại quan trọng. Cảng Đà Nẵng đã tương đối hoàn chỉnh và đi vào hoạt động từ giai đoạn 1933-1935. Sân bay dân dụng cũng được nhà cầm quyền sớm xây dựng vào năm 1926. Hầu hết các công ty lớn nhất hoạt động ở Đông Dương đều hiện diện ở Đà Nẵng. Dân số thành phố tăng lên nhanh chóng; năm 1936, Đà Nẵng có 25.000 người; năm 1945 có khoảng 30.000 người.
Trong thời gian này, người Pháp vẫn tiếp tục quản lý quần đảo Hoàng Sa. Ngày 8 tháng 3 năm 1925, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố quần đảo Hoàng Sa (và quần đảo Trường Sa) là lãnh thổ của Pháp. Từ năm 1925, Viện Hải dương học và Nghề cá Nha Trang đã thực hiện các cuộc khảo sát ở Hoàng Sa. Năm 1938, Pháp bắt đầu phái các đơn vị bảo an tới các đảo và tiến hành dựng bia chủ quyền, hải đăng, trạm vô tuyến, trạm khí tượng trên đảo Hoàng Sa cùng một trạm khí tượng nữa trên đảo Phú Lâm. Ngày 15 tháng 6 năm 1938, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié thành lập đại lý hành chính ở quần đảo Hoàng Sa. Tháng 6 năm 1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú Hoàng Sa.
=== Thời Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ===
Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính phủ Quốc gia Việt Nam dưới thời Quốc trưởng Bảo Đại. Từ tháng 10 năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành phân chia lại địa giới hành chính. Lúc này, Đà Nẵng trực thuộc tỉnh Quảng Nam. Đến ngày 31 tháng 7 năm 1962, tỉnh Quảng Nam được tách thành hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín. Đà Nẵng trực thuộc trung ương. Vào những năm 1954-1955, dân số Đà Nẵng có khoảng hơn 50.000 người.
Trong khi đó cuộc Chiến tranh Việt Nam ngày càng gia tăng. Tháng 3 năm 1965 các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn. Sân bay Đà Nẵng được coi là một trong những sân bay "tấp nập" nhất trong chiến tranh. Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định trực thuộc trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật. Mỹ cho xây dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân sự và kết cấu hạ tầng phục vụ cho mục đích quân sự như sân bay, cảng, kho bãi, cơ sở thông tin liên lạc...
Năm 1973, khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho phân chia lại địa giới hành chính Đà Nẵng, giữ nguyên 3 quận như cũ, chỉ sáp nhập 28 khu phố bên dưới cấp quận thành 19 phường. Thị xã Đà Nẵng được đặt dưới quyền điều hành của Hội đồng thị xã gồm 12 ủy viên và do một thị trưởng đứng đầu. Do chính sách đô thị hoá, dân số Đà Nẵng ngày càng tăng nhanh. Dân số thành phố từ mức 148.599 người vào năm 1964 tăng lên tới gần 500.000 người vào năm 1975.
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, Đà Nẵng là đô thị lớn thứ hai miền Nam. Tính đến trước sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, cảng Đà Nẵng là nơi cung cấp hàng hóa cho cả vùng I chiến thuật, đồng thời là trung tâm tiếp tế cho gần 3 triệu dân miền Nam. Toàn thị xã khi đó có hàng chục công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Người dân Đà Nẵng chủ yếu sống bằng nghề buôn bán.
Sau Hiệp định Genève, quần đảo Hoàng Sa được giao cho chính quyền Quốc gia Việt Nam quản lý. Ngày 13 tháng 7 năm 1961, Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh 174-NV quy thuộc quần đảo này vào tỉnh Quảng Nam và thiết lập tại đó một đơn vị hành chính lấy tên là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang.. Sau khi đã kiểm soát được nhóm đảo An Vĩnh từ trước, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vào [ngày 19] tháng 1 năm 1974 khi quân đội của họ tấn công quân đồn trú Việt Nam Cộng hòa và chiếm nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía tây.
=== Từ 1975 đến nay ===
Sau khi hòa bình lập lại, Đà Nẵng là thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, gồm 28 phường: An Hải Bắc, An Hải Đông, An Hải Tây, An Khê, Bắc Mỹ An, Bình Hiên, Bình Thuận, Chính Gián, Hải Châu I, Hải Châu II, Hòa Cường, Hòa Thuận, Khuê Trung, Mân Thái, Nại Hiên Đông, Nam Dương, Phước Mỹ, Phước Ninh, Tam Thuận, Tân Chính, Thạc Gián, Thạch Thang, Thanh Bình, Thanh Lộc Đán, Thọ Quang, Thuận Phước, Vĩnh Trung, Xuân Hà. Ngày 5 tháng 5 năm 1990, Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại 2. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương. Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa. Trên thực tế thì quần đảo Hoàng Sa đang nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc và Ủy ban Nhân dân huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng. Ngày 1 tháng 1 năm 1997, Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc trung ương. Ngày 23 tháng 1 năm 1997, 5 quận Hải Châu, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Thanh Khê được thành lập. Ngày 15 tháng 7 năm 2003, Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại 1 cùng với Hải Phòng. Năm 2005, một phần huyện Hòa Vang (xã Hòa Thọ, Hòa Phát và Hòa Xuân) và quận Hải Châu (phường Khuê Trung) được tách ra và thành lập nên quận mới là quận Cẩm Lệ.
Để chuẩn bị cho một cuộc bứt phá của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, những năm qua, Đà Nẵng đã nỗ lực cải thiện hình ảnh và vị thế của mình. Từ năm 2001, thành phố đề ra kế hoạch thực hiện chương trình "Thành phố 5 không": không hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma túy trong cộng đồng và không có cướp của, giết người. Sau kết quả ban đầu của chương trình "Thành phố 5 không", Đà Nẵng lại tiếp tục với chương trình "3 có" - có nhà ở, có việc làm và có nếp sống văn hóa, văn minh đô thị. Các chương trình này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đã tạo thành mục tiêu để chính quyền thành phố phấn đầu và tạo được niềm tin đối với người dân. Sau khi trở thành thành phố trực thuộc trung ương, Đà Nẵng luôn đạt tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn bình quân chung của Việt Nam. GRDP bình quân đầu người năm 2015 là 2.908 đô la Mỹ gần gấp đôi so với 2010, trong khi trung bình cả nước là 2.109 đô la Mỹ.
Với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã liên tục đưa ra những tuyên bố khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa. Năm 1994, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 và khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội Việt Nam tách huyện Hoàng Sa khỏi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng. Huyện Hoàng Sa được xác định có diện tích 305 km², với địa giới bao gồm một quần đảo có tên gọi là quần đảo Hoàng Sa nằm cách đất liền khoảng 170 hải lý (315 km). Cuối tháng 6 năm 2012, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển Việt Nam. Điều 1 đã khẳng định lại tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này. Ngày 4 tháng 7 năm 2012, kỳ họp thứ 4 Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa VIII nhiệm kỳ 2011-2016 đã thông qua Nghị quyết phản đối Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa..
== Quy hoạch và kết cấu đô thị ==
Đà Nẵng khi mới hình thành theo quy hoạch của người Pháp được chia thành hai khu vực rõ rệt. Khu người Pháp (quartier français) nằm ở trung tâm thành phố, chiều dọc từ đầu Quai Coubert (nay là đường Bạch Đằng) đến ngã ba Quai Coubert – Đồng Khánh (nay là Hùng Vương), chiều ngang đến đường Marc Pourpre (Lê Lợi). Khu bản xứ (quartier indigène) là nơi người Việt sinh sống gồm phần lớn diện tích còn lại của thành phố. Nếu như khu người Pháp có đại lộ tráng nhựa và đường dành cho đi dạo rợp bóng cây thì khu người bản xứ lại là một khu chen lẫn giữa nhà cửa lụp xụp và nhà khá giả, đường nhựa và đường rải đá, đường đất. Quai Courbet giữ vai trò là đường xương sống của Tourane thời Pháp thuộc, chạy từ bắc xuống nam dọc theo tả ngạn sông Hàn. Dọc theo đường này có nhiều công trình kiến trúc từ thời Pháp thuộc, cũng là điểm xuất phát để từ đó người Pháp mở rộng thành phố về hướng tây và hình thành những đường phố có khoảng cách gần như đều nhau. Tuy nhiên, Pháp chỉ chú ý đầu tư xây dựng bên tả ngạn.
Sau năm 1975, thành phố đã đầu tư cho quy hoạch đôi bờ sông Hàn với những công viên, đường đi dạo dọc hai bờ sông, nhiều cây cầu tiếp nhau nối liền hai bờ đông tây. Sông Hàn trở thành "chiếc ban công" thể hiện bộ mặt đô thị Đà Nẵng. Các dự án bất động sản hàng trăm triệu đô la Mỹ được đầu tư xây dựng hai bên sông Hàn, đặc biệt trong khu vực trung tâm với các công trình quy mô rất lớn tạo điểm nhấn cho thành phố. Khách sạn Novotel Sông Hàn cao 155m, hiện đang được xem là tòa nhà cao nhất miền Trung Việt Nam. Cầu Rồng với hệ thống phun nước, phun lửa được xem là con rồng thép lớn nhất thế giới. Không gian đô thị Đà nẵng cũng được quy hoạch theo hướng hướng ra sông, ra biển để tạo không gian tốt cho kinh tế phát triển. Thành phố đã phát triển nhanh các đô thị mới quy mô 500 - 1.000 ha, hình thành các khu công nghiệp thân thiện môi trường và triển khai nhiều dự án bất động sản.
Theo đồ án quy hoạch chung đến năm 2030, đồ án xác định đến năm 2030 dân số Đà Nẵng là 2,5 triệu người. Diện tích đất xây dựng đô thị sẽ phát triển tương ứng là 37.500 ha. Như vậy, so với hiện nay thì dân số và diện tích đất xây dựng đô thị sẽ tăng hơn 2,5 lần. Trong định hướng phát triển, thành phố Đà Nẵng sẽ mở rộng về các hướng tây bắc, nam và đông nam. Thành phố đặc biệt chú trọng đến việc quy hoạch trên nền tảng không gian xanh, thân thiện với môi trường. Cơ sở hạ tầng giao thông ngầm với các bãi đỗ xe ngầm và tàu điện ngầm cũng nằm trong mục tiêu quy hoạch của thành phố.
== Hành chính ==
Đà Nẵng là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam, được xếp vào đô thị loại I, thỏa mãn các tiêu chí như tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành (năm 2013) tối thiểu đạt 87,3% so với tổng số lao động, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh, cao nhất trong 5 Thành phố trực thuộc Trung ương.
Cũng như các tỉnh và thành phố khác của Việt Nam, Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng do người dân thành phố trực tiếp bầu lên và là cơ quan quyền lực nhà nước ở thành phố. Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2016–2021 gồm 49 đại biểu; chủ tịch là ông Nguyễn Xuân Anh được bầu ngày 16 tháng 6 năm 2016. Ủy ban nhân dân thành phố là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở thành phố, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Chính phủ Việt Nam và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố. Đà Nẵng hiện có sáu quận, hai huyện bao gồm 45 phường và 11 xã. Ngoại trừ quận Cẩm Lệ, năm quận còn lại của thành phố đều giáp biển. Dự kiến thành phố sắp thành lập thêm hai quận mới trên cơ sở chia tách huyện Hòa Vang thành quận Hòa Vang và quận Bắc Hòa Vang; sáp nhập một số phường của quận Sơn Trà trên đất liền với huyện đảo Hoàng Sa.
== Đơn vị hành chính ==
Đà Nẵng có 8 đơn vị hành chính, gồm 6 quận và 2 huyện (trong đó huyện đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm giữ trái phép). Với 56 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 45 phường và 11 xã:
== Kinh tế ==
Sau ngày chiến tranh Việt Nam chấm dứt, cơ sở hạ tầng của Đà Nẵng còn lại gần như nguyên vẹn nhưng quy mô ngành công nghiệp vẫn nhỏ bé, đồng thời đất đai ven thành phố bị bỏ hoang. Trải qua kế hoạch năm năm 1976-1980, thành phố đạt được một số thành tựu như công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 14,7%/năm, tổ chức khai hoang được 700 ha đất,... Tổng kết kế hoạch năm năm 1981-1985 kế tiếp, sản lượng công nghiệp thành phố trong năm 1985 tăng 47% so với năm 1982; số thu ngân sách năm 1985 gấp 5,3 lần so với năm 1983. Tuy vậy, giai đoạn 1986-1990 chứng kiến khó khăn chung của cả nền kinh tế, trong đó có kinh tế Đà Nẵng. Giá trị sản xuất công nghiệp bị sụt giảm, năm 1990 chỉ bằng 95,5% so với năm 1985; một số cơ sở phải dừng hoạt động hoặc giải thể; số lượng xí nghiệp quốc doanh sụt từ 64 còn 59. Từ sau năm 1991, kinh tế thành phố dần đi vào ổn định và tăng trưởng. Bình quân tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991-1998 là 15,6%/năm, cao hơn trung bình của cả nước. Sau khi trở thành thành phố trực thuộc trung ương, GDP bình quân giai đoạn 1997-8/2000 tăng 9,66%/năm; tỉ lệ đói nghèo giảm từ 8,79% của năm 1997 xuống còn hơn 2% vào năm 2000. Năm 2003, Đà Nẵng chiếm 1,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của toàn Việt Nam, tăng so với mức 1,31% của năm 1996 (năm cuối cùng còn thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng). Cũng trong năm này, tổng sản phẩm nội địa (GDP) của thành phố đạt 4.822,3 tỷ đồng Việt Nam, tăng 1,86 lần so với năm 1997 (giá so sánh 1994).. Từ năm 2015-2020, Đà Nẵng phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,5 - 7%/năm.
Lực lượng lao động của thành phố năm 2005 là 386.487 người đến năm 2010 đã tăng lên 462.980 người, chiếm 49,14% dân số. Đây là nguồn cung đảm bảo cho nền kinh tế phát triển, nhất là chất lượng lao động ngày một tăng; tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 37% năm 2005 tăng lên 50% năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng từ 25,5% năm 2005 lên 37% năm 2010. GDP của thành phố Đà Nẵng năm 2010 đạt 10.400 tỷ đồng. Năm 2012, đạt 14.230 tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm 2011 . GDP bình quân đầu người năm 2011 ước đạt 2283 USD, gấp 2,2 lần so với năm 2005 và bằng 1,6 lần mức bình quân chung của Việt Nam. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2012 ước đạt hơn 26 nghìn tỷ đồng. Sau 15 năm luôn vượt chỉ tiêu thu ngân sách thì vào năm 2012, Đà Nẵng hụt thu ngân sách hàng nghìn tỷ đồng và đang phục hồi trở lại. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2015 là 14.789 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 12.233,5 tỷ đồng đạt 133,2% dự toán Trung ương, 129,6% dự toán địa phương và bằng 133,3% so với năm 2014.
Đà Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đứng đầu Việt Nam liên tiếp trong ba năm 2008, 2009 và 2010, 2013, 2014, 2015, đồng thời đứng đầu về chỉ số hạ tầng và xếp thứ tư về môi trường đầu tư. Trong bảng xếp hạng PCI của Việt Nam năm 2012, Đà Nẵng xếp ở vị trí thứ 12 trên 63 tỉnh, thành. Năm 2013, Đà Nẵng đã trở lại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng. Năm 2011, Đà Nẵng có 36 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 318,9 triệu đô la Mỹ. Năm 2012, con số này là 33 dự án với tổng số vốn đăng ký 124,09 triệu đô la Mỹ, giảm hơn 60% so với năm 2011.
Đà Nẵng có ngành kinh tế khá đa dạng bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp cho tới dịch vụ, du lịch, thương mại, trong đó dịch vụ, du lịch chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế thành phố. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp và giảm tỷ trọng nông nghiệp. Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP năm 2011 là 51%, công nghiệp - xây dựng là 46% và nông nghiệp là 3%.. Đến năm 2020, ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng trong GDP từ 62-65%, công nghiệp-xây dựng 35-37%, nông nghiệp 1-3%. Đà Nẵng cũng là nơi đặt hội sở của Tập đoàn Sun Group (Công ty Cổ phần Tập đoàn Mặt trời) được thành lập năm 2007 và hiện nay tập đoàn có nhiều dự án lớn trên khắp các tỉnh thành của đất nước.
Ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm. Thuỷ sản, dệt may, da giày, cao su,... là những lĩnh vực mũi nhọn được tập trung phát triển. Bên cạnh đó, thành phố còn chú tâm đến ngành Công nghệ thông tin (Công viên Phần mềm Đà Nẵng, Khu đô thị Công nghệ FPT Đà Nẵng, Khu công nghệ cao quốc gia Đà Nẵng), ngành công nghệ sinh học (Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng). Đà Nẵng còn chủ trương ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp sạch phục vụ mục tiêu "Xây dựng Đà Nẵng – Thành phố môi trường". Năm 2008, chính quyền thành phố đã từ chối hai dự án FDI sản xuất thép và giấy với tổng vốn đăng ký lên đến 2,5 tỷ đô la Mỹ. Thành phố đề ra mục tiêu trở thành một trong những địa phương đi đầu trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá của Việt Nam, trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020.
Về thương mại, thành phố có 30 trung tâm thương mại và siêu thị. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 21,1%/năm. Đà Nẵng hiện có hai chợ lớn nhất nằm ở trung tâm thành phố là chợ Hàn và Chợ Cồn cùng những siêu thị lớn mới mở trong vòng vài năm trở lại đây như Metro, BigC, Vincom, Parkson, Lotte Mart, Co.opMart, Intimex, Viettronimex, Nguyễn Kim.... Đà Nẵng là trung tâm tài chính lớn, trên địa bàn thành phố hiện có đến 60 chi nhánh tổ chức tín dụng và 233 phòng giao dịch, điểm giao dịch, quỹ tiết kiệm với sự đa dạng về loại hình hoạt động: 55 ngân hàng thương mại, một ngân hàng chính sách xã hội, một công ty tài chính, một công ty cho thuê tài chính...
== Du lịch ==
Đà Nẵng là một thành phố có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, là trung tâm du lịch lớn của cả nước. Phía bắc thành phố được bao bọc bởi núi cao với đèo Hải Vân được mệnh danh là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan". Phía tây là khu du lịch Bà Nà nằm ở độ cao trên 1000m với hệ thống cáp treo đạt bốn kỷ lục thế giới (dài nhất, độ chênh lớn nhất, tổng chiều dài cáp dài nhất và sợi cáp nặng nhất) cùng khu vui chơi giải trí trong nhà Fantasy Park lớn nhất Đông Nam Á. Phía đông bắc là bán đảo Sơn Trà với 400 ha rừng nguyên sinh gồm nhiều động thực vật phong phú. Phía đông nam là danh thắng Ngũ Hành Sơn. Trên địa bàn thành phố còn có một hệ thống các đình, chùa, miếu theo kiến trúc Á Đông, các nhà thờ theo kiến trúc phương Tây như Nhà thờ Con Gà,...các bảo tàng mà tiêu biểu nhất là Bảo tàng Nghệ thuật điêu khắc Chăm. Đây là bảo tàng trưng bày hiện vật Chăm quy mô nhất ở Việt Nam.
Đà Nẵng đã xây dựng các sự kiện du lịch lớn, trong đó Cuộc thi Trình diễn Pháo hoa Quốc tế được tổ chức liên tục từ năm 2008. Vào tháng 5 năm 2012, Đà Nẵng lần đầu triển khai Cuộc thi dù bay Quốc tế. Tháng 6 là sự kiện "Điểm hẹn mùa hè" thường niên, quy tụ những hoạt động giải trí biển. Ngoài ra thành phố còn được bao bọc bởi 3 di sản văn hóa thế giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn. Xa hơn một chút nữa là Vườn Quốc gia Bạch Mã, và di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Vì thế Đà Nẵng được xem là điểm trung chuyển quan trọng trên Con đường di sản miền Trung.
Ước tính tổng lượng khách đến tham quan, du lịch tại Đà Nẵng trong năm 2013 đạt trên 3,1 triệu lượt khách, tăng 17,2% so với năm 2012. Trong đó khách quốc tế đạt trên 743.000 lượt, tăng 17,8%, khách nội địa đạt gần 2.347.000 lượt người, tăng 17%. Tổng thu du lịch đạt 7.784,1 tỷ đồng, tăng 29,8%. Tính đến tháng 5 năm 2009, Đà Nẵng có 145 khách sạn với khoảng 4.383 phòng lưu trú, trong đó khoảng trên 700 phòng lưu trú ven biển thuộc các khách sạn 2 đến 5 sao như Furama (198 phòng), Sandy Beach (123 phòng), Tourane (69 phòng), Công đoàn (125 phòng), cụm ba khách sạn Mỹ Khê (142 phòng),...Tính đến đầu năm 2013, Đà Nẵng có 60 dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch với tổng vốn 4.004 triệu đô la Mỹ. Trong đó có 13 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 1.457 triệu đô la Mỹ và 47 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn 2.546 triệu đô la Mỹ.
== Giao thông ==
Đà Nẵng nằm ở trung độ của Việt Nam, trên trục giao thông huyết mạch Bắc - Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Thành phố còn là điểm cuối trên Hành lang kinh tế Đông - Tây đi qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào và Việt Nam.
Với một vị trí đặc biệt thuận lợi về giao thông đường biển, Cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) là một cảng biển lớn của miền Trung. Cảng Đà Nẵng có độ sâu trung bình từ 15 – 20 m, có khả năng tiếp nhận các tàu lớn có trọng tải đến 28.000 tấn. Đến tháng 12 năm 2012, cảng đã đạt 4.092.373 tấn, tăng 15,14% so với cùng kỳ năm 2011. Thành phố cũng đang xúc tiến xây dựng cảng Liên Chiểu và đưa vào sử dụng vào năm 2025. Trong tương lai, khi cảng Liên Chiểu với công suất 20 triệu tấn/năm được xây dựng xong thì hệ thống cảng Đà Nẵng được nối liền với cảng Kỳ Hà, cảng Dung Quất ở phía nam sẽ trở thành một cụm cảng liên hoàn lớn, giữ vị trí quan trọng trên tuyến hàng hải Đông Nam Á và Đông Bắc Á.
Sân bay quốc tế Đà Nẵng là một trong ba sân bay quốc tế lớn nhất Việt Nam (sau Nội Bài và Tân Sơn Nhất. Đường hàng không Đà Nẵng có thể nối trực tiếp với Singapore, Bangkok, Đài Bắc, Quảng Châu, Hồng Kông, Seoul, Tokyo,... Từ khi được đầu tư nâng cấp và xây mới nhà ga vào năm 2010, Sân bay quốc tế Đà Nẵng với 36 quầy thủ tục và các tiện nghi hiện đại khác đã đảm bảo phục vụ 4 triệu lượt khách/năm và từ 6-8 triệu lượt khách/năm từ năm 2015 trở đi, tiếp nhận 400.000 - 1.000.000 tấn hàng/năm. Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam đã có kế hoạch nghiên cứu mở rộng nhà ga để đạt mức 10 triệu hành khách/năm vào năm 2020. Hiện nay, bên cạnh các đường bay nội địa đến các thành phố lớn của Việt Nam, sân bay này mới chỉ có một số ít các đường bay quốc tế. Chính phủ Việt Nam hy vọng sẽ phục vụ các chuyến bay quốc tế nhiều hơn trong các năm tiếp theo.
Tuyến đường sắt huyết mạch Bắc - Nam chạy dọc thành phố với tổng chiều dài khoảng 30 km. Trên địa bàn thành phố hiện nay có năm nhà ga, trong đó Ga Đà Nẵng là ga chính của thành phố, hàng ngày tất cả các chuyến tàu ra Bắc vào Nam đều dừng tại đây với thời gian khá lâu để đảm bảo cho lượng khách lớn lên xuống tàu. Cơ sở hạ tầng tại ga được đầu tư hiện đại; môi trường an ninh và vệ sinh được đảm bảo. Ngoài các chuyến tàu Bắc - Nam, Ga Đà Nẵng còn có thêm những chuyến tàu địa phương đáp ứng lượng khách rất lớn giữa các tỉnh, thành Đà Nẵng - Hà Nội, Đà Nẵng - Huế, Đà Nẵng - Quảng Bình, Đà Nẵng - Vinh, Đà Nẵng - Quy Nhơn, Đà Nẵng - TP. Hồ Chí Minh..
Thành phố Đà Nẵng kết nối với các địa phương trong nước thông qua hai đường quốc lộ: Quốc lộ 1A, nối Đà Nẵng với các tỉnh ở hai đầu Bắc, Nam và Quốc lộ 14B nối Đà Nẵng với các tỉnh miền Nam Trung Bộ và Tây Nguyên của Việt Nam. Việc đưa vào sử dụng hầm đường bộ Hải Vân khiến cho thời gian lưu thông được rút ngắn và giảm tại nạn giao thông trên đèo Hải Vân.
Đà Nẵng cũng đã có những bước tiến trong giao thông nội thị. Hạ tầng giao thông nội ô được xây dựng khá hoàn chỉnh với mạng lưới giao thông tiếp nối với các đường vành đai của thành phố khiến cho Đà Nẵng là một trong ít đô thị ở Việt Nam ít khi phải đối mặt với tình trạng tắc đường. Nhiều con đường cũ đã được mở rộng và kéo dài. Đường Hoàng Sa - Võ Nguyên Giáp - Trường Sa chạy dọc bờ biển theo hướng nam nối Đà Nẵng với Hội An được mệnh danh là "con đường 5☆" của Đà Nẵng vì là nơi tập trung hàng loạt khu nghỉ dưỡng cao cấp 4☆ và 5☆ đạt tiêu chuẩn quốc tế.. Nhiều cây cầu đã và đang xây dựng bắc qua Sông Hàn như cầu Thuận Phước, cầu sông Hàn, cầu Nguyễn Văn Trỗi, cầu Trần Thị Lý, Cầu Rồng,...không chỉ tạo nên những cảnh quan đẹp phục vụ du khách tham quan thành phố mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc điều tiết giao thông.
== Xã hội ==
=== Dân cư ===
Theo kết quả điều tra ngày 1 tháng 4 năm 1999, thành phố Ðà Nẵng có 684.846 người. Trong đó, dân số trong độ tuổi lao động xã hội toàn thành phố là 413.460 người, chiếm 57,7% dân số. Tính đến năm 2011, dân số toàn thành phố Đà Nẵng đạt gần 951.700 người, mật độ dân số đạt 740 người/km². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 828.700 người, dân số sống tại nông thôn đạt 123.000 người. Tính đến năm 2014, dân số Đà Nẵng sinh sống ở thành thị là 879.500 người và ở nông thôn là 128.200 người, ngoài ra thành phố còn tiếp nhận thêm lượng dân cư từ các tỉnh, thành là sinh viên, công nhân lao động, người nước ngoài... đến thành phố học tập và làm việc. Dân số nam của thành phố đạt 495.000 người, trong khi đó nữ đạt 512.600 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 12,7 ‰.
Dân số Đà Nẵng tăng trưởng ở mức từ 2,5% và 3% trong hầu hết các năm từ năm 2005 tới 2011, cao hơn trung bình toàn quốc là 1% đến 1,2%. Cá biệt tỷ lệ tăng trưởng đã tăng lên 3,6% trong năm 2010 trước khi trở lại 2,68% trong năm 2011. Đây là tốc độ tăng trưởng nhanh thứ ba trong cả nước sau Bình Dương (4,41%) và Đồng Nai (3,5%). Tỷ lệ tăng dân số của thành phố năm 2015 là 1,1%. Di cư là yếu tố chủ đạo trong tăng trưởng dân số của thành phố ít nhất là từ năm 2009. Tăng trưởng dân số tự nhiên của thành phố cao hơn một chút so với mức trung bình của cả nước. Tuổi thọ trung bình đạt 77,4 tuổi đối với nữ và 72,4 hoặc 74,8 tuổi đối với nam. Trong tổng điều tra dân số năm 2009, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở mức 9,9 trẻ sơ sinh tử vong trên 1.000 trẻ.
Trên địa bàn thành phố có trên 37 dân tộc và người nước ngoài cùng chung sống. Trong đó, nhiều nhất là dân tộc Kinh với 883.343 người, người Hoa đông thứ hai với 1.684 người, dân tộc Cơ Tu có 950 người, cùng các dân tộc ít người khác như dân tộc Tày với 224 người, Ê Đê với 222 người, Mường có 183 người, Gia Rai có 154 người...ít nhât là các dân tộc Chơ Ro, Hà Nhì, Si La và Ơ Đu chỉ có 1 người.
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên địa bàn toàn thành phố có chín tôn giáo khác nhau, chiếm 164.195 người. Trong đó, nhiều nhất là Phật giáo với 117.274 người, xếp thứ hai là Công giáo với 39.802 người, đạo Tin Lành có 3.730 người, Cao Đài có 3.249 người. Cùng các tôn giáo khác như Minh Sư Đạo với 53 người, Bahá'í với 34 người, Phật giáo Hòa Hảo với 25 người, Hồi giáo có 19 người, ít nhất là Bà La Môn chỉ với 9 người. Đà Nẵng là nơi có Hội thánh Tin Lành đầu tiên ở Việt Nam được thành lập vào năm 1911 bởi các giáo sĩ Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp (CMA).
=== Y tế ===
Đà Nẵng là một trong những trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước. Hệ thống y tế của thành phố ngày càng hiện đại, hoàn chỉnh và đồng bộ từ tuyến thành phố đến quận, huyện và xã, phường. Theo con số của Tổng cục Thống kê (Việt Nam) thì vào năm 2011, thành phố Đà Nẵng có 69 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở Y tế thành phố, trong đó có 12 bệnh viện, 1 Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng và 56 trạm y tế. Tính đến đầu năm 2015, Đà Nẵng có tỷ lệ 15,8 bác sĩ/10.000 dân, 66,15 giường/10.000 dân, số giường bệnh trực thuộc sở Y tế là 5.762 giường, thuộc các bệnh viện của Bộ ngành Trung ương là 1.490 giường. Cũng theo thống kê năm 2011, Đà Nẵng có 746 bác sĩ, 342 y sĩ, 756 y tá và 275 nữ hộ sinh.
Đà Nẵng cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân đang dần phát triển: Tháng 3 năm 2012, thành phố thành lập giải thưởng "Tỏa sáng blouse trắng" nhằm tuyên dương những cá nhân người tốt, việc tốt. Đến cuối năm 2012, Đà Nẵng đã hoàn thành mục tiêu Bảo hiểm y tế toàn dân, với 91,6% dân số tham gia Bảo hiểm y tế, đi trước 2 năm so với cả nước (2014). Với sự hình thành của trường Đại học Y Dược - Đại học Đà Nẵng, trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược, Trung tâm Tim Mạch - Bệnh viện Đà Nẵng, bệnh viện Đa Khoa Quốc tế Vinmec... trên địa bàn thành phố, Đà Nẵng đang hướng đến mục tiêu trở thành một trung tâm y tế lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước.
Bệnh viện Đà Nẵng: quy mô 1.250 giường (đường Hải Phòng, quận Hải Châu)
Bệnh viện Phụ sản – Nhi: quy mô 900 giường bệnh (đường Lê Văn Hiến, quận Ngũ Hành Sơn)
Bệnh viện Ung Bướu: quy mô 500 giường (đường Phùng Hưng, quận Liên Chiểu)
Bệnh viện Da Liễu: quy mô 100 giường (đường Dũng sĩ Thanh Khê, quận Thanh Khê)
Bệnh viện Mắt (đường Phan Đăng Lưu, quận Hải Châu)
Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi
Bệnh viện Y học Cổ truyền (đường Trần Thủ Độ, quận Cẩm Lệ)
Bệnh viện C Đà Nẵng – Bộ Y tế (đường Hải Phòng, quận Hải Châu)
Bệnh viện Giao thông vận tải Đà Nẵng (đường Hoàng Văn Thái, quận Liên Chiểu)
Bệnh viện Quân y 17 (đường Nguyễn Hữu Thọ, quận Hải Châu)
Bệnh viện 199 – Bộ Công An (đường Nguyễn Công Trứ, quận Sơn Trà)
Bệnh viện Tâm thần (đường Nguyễn Lương Bằng, quận Liên Chiểu)
Bệnh viện Chỉnh hình và Phục hồi Chức năng (đường Quang Trung, quận Hải Châu)
Bệnh viện Điều dưỡng – Phục hồi chức năng (đường Võ Nguyên Giáp, quận Ngũ Hành Sơn)
Bệnh viện Hải Châu (đường Cao Thắng, quận Hải Châu)
Bệnh viện Phụ nữ (đường Chu Văn An, quận Hải Châu)
Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ Đà Nẵng (đường Nguyễn Văn Linh, quận Hải Châu)
Bệnh viện Đa Khoa Vĩnh Toàn (đường Lê Duẩn, quận Hải Châu)
Bệnh viện Đa Khoa Bình Dân
Bệnh viện Đa Khoa Tâm Trí Đà Nẵng
Bệnh viện Gia đình Đà Nẵng
...
=== Giáo dục ===
Đà Nẵng là một trung tâm giáo dục và đào tạo chất lượng cao lớn nhất của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước. Hiện nay trên địa bàn thành phố có 15 trường đại học, học viện; 18 trường cao đẳng; 50 trường trung học chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề; 175 trường học ở cấp phổ trong đó Trung học phổ thông có 17 trường, Trung học cơ sở có 54 trường, Tiểu học có 100 trường, hai trường Phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 136 trường mẫu giáo với 1.249 lớp học, 2.422 giáo viên và 37,8 nghìn học sinh. Khác với các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng chỉ có 1 trường Trung học phổ thông chuyên. Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Đà Nẵng luôn là một trong các trường dẫn đầu ở khu vực miền Trung và trong cả nước. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông của thành phố năm học 2010-2011 là 96,7%. Chất lượng giáo dục có sự chênh lệch giữa khu vực trung tâm và ngoại ô đã khiến cho các trường trong trung tâm trở nên quá tải. Từ năm học 2013-2014, ủy ban nhân dân thành phố có văn bản quy định đến năm 2015-2016, các trường tiểu học phải có 100% học sinh học hai buổi/ngày, nếu có khả năng mới được tiếp nhận học sinh ngoại tuyến.
Năm 2016, Đà Nẵng có 139.755 sinh viên, trong đó sinh viên công lập là 85.528 chiếm 80.9%. Theo Đề án phát triển Đại học Đà Nẵng đến năm 2020 đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt thì sắp tới trên địa bàn thành phố sẽ có thêm một số trường đại học viện nghiên cứu được thành lập như: Đại học Sư phạm kỹ thuật, Đại học Quốc tế Việt-Anh (nâng cấp từ Viện nghiên cứu và đào tạo Việt - Anh trên cơ sở Tuyên bố chung của hai chính phủ Việt Nam và Vương quốc Anh), Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Y Dược (Nâng cấp từ khoa Y - Dược hiện nay cùng với Trung tâm Y Khoa trực thuộc), Đại học Mở, Viện Đào tạo Sau đại học,.... Ngoài ra trên địa bàn thành phố sắp tới có thêm một số trường đại học như: Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Hữu Nghị Việt Hàn...Tổng diện tích của làng Đại học Đà Nẵng sẽ là 300 ha với mục tiêu xây dựng Đại học Đà Nẵng trở thành một trong 3 trung tâm đại học lớn của cả nước theo Nghị Quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị nhưng đến nay mới có gần 50 ha được xây dựng tại khu vực dự án. Tính đến tháng 12 năm 2015, Đà Nẵng có 8 trường Đại học, trong đó có 4 trường thành viên thuộc Đại Học Đà Nẵng gồm
Đại học Bách khoa: Là 1 trong các trường kỹ thuật hàng đầu Việt Nam cùng với Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại học Kinh tế: Là 1 trong các trường kinh tế hàng đầu Việt Nam cùng với Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại học Sư phạm
Đại học Ngoại ngữ
Ngoài ra còn có các trường Đại học công lập thuộc các bộ và các trường tư thục:
Trường Đại học Kỹ thuật-Y Dược Đà Nẵng (thuộc Bộ Y tế) cùng với Trung tâm Chẩn đoán Y Khoa trực thuộc (Dự kiến sẽ được nâng cấp lên bệnh viện thực hành là Bệnh viện Đại học Kỹ thuật - Y Dược).
Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Trường Đại học Duy Tân (thành lập ngày 11 tháng 11 năm 1994) là trường Đại học tư thục đầu tiên và lớn nhất khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
Trường Đại học Đông Á
Phân viện Đại học Mở Hà Nội
== Đối ngoại ==
Hiện nay trên địa bàn của thành phố có các tổng lãnh sự quán phục vụ cho việc đối ngoại thành phố góp phần mở rộng giao thương, hợp tác với các quốc gia như: Tổng lãnh sự quán Lào tại Đà Nẵng, Tổng lãnh sự quán Nga tại Đà Nẵng, Lãnh sự quán Trung Quốc tại Đà Nẵng. Ngoài ra Bộ ngoại giao và thành phố đang xúc tiến mở thêm các Tổng lãnh sự quán của các quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc. Bên cạnh đó thành phố đang có các văn phòng đại diện tại Nhật Bản như Tokyo, Yokohama và đang xúc tiến mở thêm văn phòng tại Sapporo, Nagasaki, Fukuoka, Okinawa...
== Văn hóa ==
=== Truyền thông ===
Là một trong trung tâm truyền thông quan trọng của Việt Nam đặc biệt đối với khu vực miền Trung - Tây Nguyên, hiện Đà Nẵng có tám đơn vị báo chí thành phố, bốn cơ quan báo chí trung ương đóng trên địa bàn thành phố và 64 văn phòng đại diện báo chí trung ương và các tỉnh. Các cơ quan báo chí của thành phố bao gồm: Báo Đà Nẵng, Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng (với hai kênh DRT1 và DRT2), Báo Công an Đà Nẵng. Có 4 tạp chí là: Tạp chí điện tử Thông tin và Truyền thông (ICT Đà Nẵng), Tạp chí Khoa học và Phát triển, Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, Tạp chí Văn hóa và Du lịch và Tạp chí Non Nước. Cơ quan đại diện báo chí trung ương ở Đà Nẵng có: Trung tâm truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng, Trụ sở chính và tổng khống chế của kênh truyền hình quốc gia khu vực miền Trung-Tây Nguyên VTV8, Thông tấn xã Việt Nam tại Đà Nẵng và nhiều cơ quan báo, đài khác.
Trong những năm qua, hoạt động xuất bản của thành phố có nhiều biến động, thị trường xuất bản thu hẹp. Đà Nẵng nằm xa thị trường sách lớn của cả nước nên không có lợi thế cạnh tranh. Ước tính năm 2012, các nhà xuất bản phát hành khoảng 25,6 triệu cuốn sách và xuất bản phẩm; sản lượng in đạt 10 tỷ trang khổ 13x19 cm. Nhà xuất bản Đà Nẵng đã có những đóng góp quan trọng cho hoạt động xuất bản của cả nước. Năm 2008, nhà xuất bản bị đình chỉ hoạt động trong ba tháng nhưng phải đến sau gần sáu tháng, nhà xuất bản mới được hoạt động trở lại.
=== Các địa điểm văn hóa, giải trí ===
Trên địa bàn thành phố hiện nay có khá nhiều điểm vui chơi, văn hóa giải trí. Trên cơ sỏ một nhà hát cũ đã xuống cấp, Nhà hát Trưng Vương được xây mới và khánh thành năm 2006 với sức chứa hơn 1.200 chỗ ngồi. Đây là nơi thường xuyên tổ chức biểu diễn các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống như tuồng, cải lương và nghệ thuật sân khấu hiện đại như: vũ kịch, múa ba lê, opera, nhạc giao hưởng,...các hội thảo, hội nghị và các sự kiện văn hóa lớn của thành phố.
Dành cho sân khấu tuồng ở thành phố có Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh tiền thân là Đoàn tuồng giải phóng Quảng Nam. Nhà hát mang tên nhà sáng tác, người nghệ sĩ và người thầy - Nguyễn Hiển Dĩnh, người có công lớn trong hoạt động nghệ thuật tuồng Việt Nam. Nhà hát vẫn duy trì lịch biểu diễn vào thứ 4 và thứ 7 hàng tuần. Năm 2001, thành phố đã đầu tư 6 tỷ đồng để nâng cấp nhà hát.
Cho đến năm 2013, Đà Nẵng có bốn bảo tàng bao gồm Bảo tàng Nghệ thuật điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng Khu V và Bảo tàng Hồ Chí Minh (chi nhánh Quân khu V). Trong số đó, Bảo tàng Điêu khắc Chăm có tiền thân là Bảo tàng Chàm được Trường Viễn Đông Bác Cổ cho xây dựng từ 1915-1916 đến năm 1936 mới hoàn tất. Bộ sưu tập nguyên thủy là do nhà khảo cổ Henri Parmentier thu thập từ thế kỷ 19. Không gian của toà nhà bảo tàng gần 1.000 m² với 500 hiện vật được bố trí trưng bày trong các phòng chủ đề khác nhau. Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử thành phố Đà Nẵng đang được xây dựng trong khu vực Thành Điện Hải với mặt bằng trưng bày hơn 2.000 m². Thành phố cũng dự kiến xây dựng bảo tàng Bảo tàng Mỹ thuật thành phố và Bảo tàng Hải dương học.
Về hệ thống thư viện, năm 2012, thành phố có 3/8 quận, huyện và 13/56 xã có thư viện, 22 tủ sách tại các thôn, tổ dân phố... Hầu hết các thư viện đều ở trong tình trạng chật hẹp, nghèo nàn về đầu sách và không thu hút được người đọc. Riêng Thư viện Khoa học Tổng hợp Đà Nẵng hiện có khoảng 180.000 bản sách/68.000 tên, trong đó đặc biệt có 3000 bản có giá trị cao nhưng đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Dự án xây dựng công trình Thư viện Khoa học tổng hợp với tổng vốn đầu tư hơn 280 tỷ đồng được phê duyệt vào năm 2010 và đưa vào hoạt động năm 2015 có thể đáp ứng nhu cầu cho người đọc ở mọi lứa tuổi, nghề nghiệp.
Đà Nẵng có nhiều rạp chiếu phim. Rạp chiếu phim CGV Cinemas nằm trong tòa nhà Vinh Trung Plaza gồm 6 phòng chiếu và 854 ghế ngồi được khai trương từ ngày 3 tháng 7 năm 2008. Vào ngày 30 tháng 6 năm 2015, CGV Cinemas đã khai trương thêm một rạp chiếu phim tại Vincom Đà Nẵng. Ngoài ra còn có các rạp khác như Lotte Cinema Đà Nẵng nằm trên tầng 5 và 6 của khu trung tâm mua sắm Lotte Mart với bốn phòng chiếu riêng biệt; Galaxy Cinema nằm trong siêu thị Co.opmart; Starlight nằm ở tầng 4 của chợ Siêu thị Đà Nẵng. Với ưu thế về công nghệ, trang bị hiện đại, nên lượng khán giả đổ về hai rạp này ngày càng nhiều. Trong khi đó, rạp phim Lê Độ (rạp chiếu phim lâu đời nhất ở Đà Nẵng) và Cinema Fafilm rất vắng người vì không gian nhỏ, chất lượng âm thanh và hình ảnh kém. Các quán bar, vũ trường cũng là điểm đến của một bộ phận thanh niên Đà Nẵng. Lớn nhất Đà Nẵng là vũ trường New Phương Đông nằm ở quận Hải Châu.
Công viên châu Á - Asia Park Đà Nẵng do Tập đoàn Sun Group làm chủ đầu tư có diện tích 868.694 m² bên bờ Tây sông Hàn bao gồm ba khu vực chính: công viên giải trí ngoài trời hiện đại, công viên văn hóa với các công trình kiến trúc và nghệ thuật thu nhỏ mang tính biểu trưng của 10 quốc gia châu Á và khu Sun Wheel - nơi giao thoa giữa nét hiện đại và truyền thống. Công viên giải trí tại Asia Park mang đến hàng loạt trò chơi độc đáo như tàu lượn siêu tốc, tàu điện trên cao, tháp rơi tự do, máng trượt tốc độ cao…mang đến cho du khách và người dân nhiều trải nghiệm thú vị. Công viên văn hóa mở ra một không gian phương Đông qua từng nét văn hóa đa dạng, các công trình kiến trúc lịch sử và những hoạt động nghệ thuật, ẩm thực độc đáo của 10 quốc gia châu Á: Nhật Bản, Indonesia, Singapore, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nepal, Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc và Việt Nam.
Công viên 29/3 nằm trên đường Điện Biên Phủ với diện tích 20 ha chủ yếu là nơi những người dân đến tập thể dục và đi dạo. Năm 2010, khu công viên trên bãi biển Phạm Văn Đồng được Hội đồng nhân dân Thành phố ra nghị quyết đặt tên "Công viên Biển Đông". Đây còn được xem là "Công viên hòa bình" với đàn chim bồ câu hơn 1.000 con, là nơi nhiều đôi uyên ương chọn làm địa điểm chụp ảnh cưới và là địa điểm tổ chức lễ hội của thành phố. Hiện nay, thành phố đang chủ trương xây dựng một số công viên có quy mô lớn như công viên vui chơi giải trí quy mô 4.000 tỷ đồng dọc theo bờ tây sông Hàn hay công viên đại dương Sơn Trà được đầu tư 200 triệu đô la Mỹ.
=== Thể dục - thể thao ===
Với vai trò là trung tâm của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, Đà Nẵng là nơi tập trung các trung tâm huấn luyện, đào tạo thể thao thành tích cao cùng các công trình thể thao quan trọng của khu vực và cả nước. Điển hình là Trung tâm Huấn luyện thể thao Quốc gia III, Trung tâm Thể thao Quốc phòng III và Trường Đại học Thể dục Thể thao Đà Nẵng. Ngoài ra còn có Làng vận động viên và Khu tập luyện bóng đá rộng gần 8 ha, hay Khu thể thao thành tích cao rộng 7 ha, nằm ở khu đô thị mới Tuyên Sơn - Hòa Cường.
Thành tích của các vận động viên Đà Nẵng đà liên tục được cải thiện qua kỳ thi đấu. Từ năm 2000 đến năm 2010, tại các giải quốc gia, các vận động viên của thành phố đạt được tổng cộng 3.596 huy chương, trong đó có 1.026 huy chương vàng, 1.158 huy chương bạc và 1.402 huy chương đồng. Cũng trong giai đoạn 2000-2010, tại các giải khu vực và quốc tế, vận động của thành phố đạt được tổng cộng 182 huy chương, trong đó có 90 vàng, 47 bạc và 45 đồng. Nếu như tại Đại hội thể dục thể thao lần thứ III năm 1995, Đoàn Đà Nẵng xếp ở vị trí 28/52 thì ở Đại hội lần thứ VI năm 2010, thành phố đã ở vị trí 4/66. Đà Nẵng có những vận động viên xuất sắc và hàng đầu ở một số môn như vận động viên karatedo Vũ Kim Anh và vận động viên bơi lội Hoàng Quý Phước.
Câu lạc bộ bóng đá Đà Nẵng có tiền thân là đội bóng đá Công nhân Quảng Nam-Đà Nẵng rồi đội bóng đá Quảng Nam-Đà Nẵng. Vào cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, Quảng Nam-Đà Nẵng là một câu lạc bộ mạnh, đỉnh cao là khi vươn tới chức vô địch quốc gia năm 1992 cùng ba lần giành ngôi á quân vào các năm 1987, 1990 và 1991. Đến trước mùa giải 2008, câu lạc bộ bóng đá Đà Nẵng đổi tên thành SHB Đà Nẵng sau khi Sở thể dục thể thao Thành phố Đà Nẵng chuyển giao đội bóng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội. SHB Đà Nẵng từng sở hữu sân vận động Chi Lăng với sức chứa 30.000 ngàn người và được xem là một trong những sân vận động lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay toàn bộ khu đất rộng 5,5 ha trong đó có sân vận động Chi Lăng đã được bán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tập đoàn Thiên Thanh.
Thể thao phong trào ở Đà Nẵng còn rất hạn chế. Số công trình thể thao phục vụ nhu cầu rèn luyện sức khỏe của người dân tại các quận nội thành chỉ đếm trên đầu ngón tay và chủ yếu tập trung tại các bãi biển. Trong số sáu quận nội thành, mới chỉ có quận Sơn Trà được đầu tư xây dựng nhà tập luyện, quận Ngũ Hành Sơn có sân vận động còn những nơi khác vẫn chưa được đầu tư đầy đủ. Dù thành phố có các công trình thể thao đúng chuẩn như Cung thể thao Tiên Sơn, Câu lạc bộ Bơi lặn, Câu lạc bộ Đua thuyền Đồng Nghệ, Trung tâm Thể dục thể thao người cao tuổi, nhà tập luyện taekwondo nhưng có những công trình vẫn chưa được sử dụng hết công năng, gây lãng phí và thất thoát lớn..
Đà Nẵng cũng là thành phố đầu tiên của Việt Nam tổ chức thành công Đại hội Thể thao Bãi biển châu Á 2016 (ABG 2016).
=== Làng nghề ===
Trải qua những thử thách khốc liệt của thời gian, chiến tranh loạn lạc những làng nghề Đà Nẵng vẫn giữ cho mình nét hồn hậu, chân chất. Hết đời nọ đến đời kia, họ sống với nghề không chỉ bởi miếng cơm, tấm áo mà còn vì cái tâm của con người trên mảnh đất đã nuôi sống họ. Đà Nẵng có một số làng nghề truyền thống. Nổi tiếng nhất là làng đá mỹ nghệ Non Nước. Làng đá nằm dưới chân núi Ngũ Hành Sơn thuộc phường Hòa Hải - quận Ngũ Hành Sơn. Nghề chế tác đá ở đây được hình thành vào thế kỷ 18 do một nghệ nhân đến từ Thanh Hóa tên là Huỳnh Bá Quát sáng lập. Từ vật liệu là đá cẩm thạch, những nghệ nhân nơi đây chế tác các tác phẩm tượng Phật, tượng người, tượng thú, vòng đeo tay,... Tuy nhiên sự phát triển nhanh của làng nghề trong những năm gần đây đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước uống do các hộ đều dùng axít để tẩy rửa và tạo độ bóng cho đá. Bên cạnh đó, bụi đá và tiếng ồn cũng ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Làng chiếu Cẩm Nê nằm cách trung tâm thành phố 14 km về phía tây nam thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang. Nơi đây từ lâu đã nổi tiếng với các loại chiếu hoa truyền thống. Nghề chiếu Cẩm Nê có nguồn gốc từ Hoằng Hóa, Thanh Hóa theo chân các cư dân người Việt đến cư trú ở vùng đất này vào thế kỷ 15. Chiếu hoa Cẩm Nê đã từng được hiện diện trong cung vua nhà Nguyễn; những nghệ nhân Cẩm Nê xưa cũng đã từng được các triều đại vua sắc phong, ban thưởng. Chiếu Cẩm Nê có ưu điểm là viền chiếu được gấp kỹ hơn, dày hơn, bền hơn, nằm êm lưng hơn so với chiếu của các địa phương khác. Mùa hè nằm chiếu thấy mát; mùa đông nằm ấm và tỏa hương đồng cỏ nội dịu nhẹ.
Gắn với nghề cá và truyền thống đi biển của ngư dân, ở Đà Nẵng còn có làng nghề nước mắm Nam Ô được hình thành vào đầu thế kỷ XX. Nam Ô là làng đánh cá nhỏ nằm ở cửa sông Cu Đê, nay thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu. Đặc trưng nhất của nước mắm Nam Ô là được chế biến từ cá cơm than, đánh bắt vào tháng ba âm lịch. Chum để muối cá phải bằng gỗ mít, dưới đáy chum phải chèn sạn, chổi đót và phải lọc nước mắm bằng chuộc mới đảm bảo nước mắm tinh chất, thơm đậm. Muối ướp cá phải là muối lấy từ Nha Trang (Khánh Hòa), Quảng Ngãi và Bình Thuận. Hạt muối phải trắng tinh, to, già, được nắng, không bị nước mưa, mang về đổ trên nền xi măng khô ráo bảy ngày cho chảy hết chất nước đắng, sau đó cho vào vại cất vài năm rồi mới đem ra làm. Một chum 200–300 kg cá, sau 12 tháng cho ra 100-150 lít nước mắm loại 1. Còn lại là nước mắm loại 2 và loại 3. Sau một thời gian bị mai một bởi nghề làm pháo thì vào năm 2006, Chính phủ Việt Nam đã hỗ trợ 12 tỷ đồng để phục hồi làng nghề.
=== Lễ hội ===
Các lễ hội truyền thống của Đà Nẵng đã có từ rất xưa và được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Lễ hội của ngư dân Đà Nẵng được gọi là lễ hội Cá Ông. "Ông" là tiếng gọi tôn kính của ngư dân dành riêng cho cá voi, loài cá thường giúp họ vượt qua tai nạn trên biển cả. Lễ tế cá ông thường được lồng ghép dưới hình thức lễ hội cầu ngư và lễ ra quân đánh bắt vụ cá nam. Tại Đà Nẵng, lễ hội được tổ chức trong hai ngày vào trung tuần tháng 3 âm lịch ở những vùng ven biển như Mân Thái, Thọ Quang, Thanh Lộc Đán, Xuân Hà, Hòa Hiệp,... Trong ngày lễ, bên cạnh việc cúng tế cầu mong một mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn, dân làng còn làm lễ rước trên biển. Trong phần hội, có các trò chơi dân gian đặc trưng của vùng biển như lắc thúng, đua thuyền, bơi lội, kéo co...Một hình thức múa hát đặc trưng diễn ra trong lễ hội là múa hát bả trạo diễn tả tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trong một con thuyền, vượt qua sóng to gió cả, mang về một mùa bội thu cho ngư dân.
Lễ hội lớn nhất ở Đà Nẵng là lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1960. Sau một thời gian bị gián đoạn, lễ hội được khôi phục từ năm 1991, đến năm 2000 thì được công nhận là lễ hội cấp quốc gia và hiện là một trong 15 lễ hội lớn nhất cả nước. Lễ hội được tổ chức vào các ngày từ 17 - 19 tháng 2 âm lịch hàng năm diễn ra tại Chùa Quán Thế Âm, nằm trong quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn. Trong phần lễ, đặc sắc nhất là lễ rước tượng Quán Thế Âm. Ngoài ra còn có hội hoa đăng, hội đua thuyền truyền thống, biểu diễn võ thuật, chơi hô hát Bài Chòi...Mặc dù Ủy ban nhân dân thành phố đã có nhiều biện pháp chấn chỉnh nhưng trong lễ hội vẫn còn tình trạng người lang thang ăn xin, người mù bán hương xin ăn trá hình hay tình trạng trông giữ xe với giá quá cao.
Ngoài ra ở Đà Nẵng còn có một loạt các lễ hội gắn liền với các đình làng như: lễ hội đình làng Hòa Mỹ (quận Liên Chiểu), đình làng An Hải (huyện Hòa Vang), đình làng Túy Loan (huyện Hòa Vang),... Các lễ hội này đều nhằm thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn", cầu cho quốc thái dân an, nhân dân trong làng được hanh thông an lạc. Những năm gần đây, Đà Nẵng đã tạo cho mình những lễ hội mới như lễ hội đua thuyền được tổ chức vào ngày quốc khánh 2 tháng 9 hàng năm trên dòng sông Hàn. Lễ hội pháo hoa quốc tế được tổ chức vào dịp lễ 30 tháng 4 đã thu hút hàng nghìn người đến Đà Nẵng. Lễ hội pháo hoa năm 2013 đã có tới gần 400.000 lượt người đến thành phố.
=== Ẩm thực ===
Ẩm thực Đà Nẵng chịu ảnh hưởng của ẩm thực vùng ven biển miền Trung Việt Nam, đặc biệt là vùng đất xứ Quảng nhưng vẫn có những nét đặc trưng riêng. Gỏi cá Nam Ô gắn liền với tên làng biển Nam Ô. Cá để chế biến là cá mòi, cá tớp, cá cơm,...nhưng ngon nhất là cá trích. Trước khi ướp, cá được ép lấy nước để làm ráo cá và lấy nước cốt này làm món nước chấm. Rau ăn kèm với gỏi cá Nam Ô rất đa dạng và chỉ mọc trên đèo Hải Vân như cóc rừng, tim lan, lành ngạnh, lá trâm, lá dừng,... đã mang lại hương vị riêng cho món gỏi cá sống.
Cẩm Lệ thuộc phường Khuê Trung, quận Hải Châu có món bánh khô mè nổi tiếng trong đó người đi "tiên phong" là bà Huỳnh Thị Điểu, thường gọi là bà Liễu. Bánh khô mè được làm từ bột gạo, bột nếp, đường kính, gừng, và mè. Bột gạo pha với bột nếp được cho vào khuôn, hấp cách thủy, nướng khô, "tắm" đường, "tắm" mè,...Ruột bánh xốp giòn, đường dẻo, mè chín thơm, thường được người dân dâng cúng ông bà tổ tiên trong những ngày giỗ tết. Hiện nay bánh được sản xuất, tiêu thụ quanh năm cả trong và ngoài nước. Bên cạnh đó còn có bánh tráng Túy Loan. Theo phong tục của người dân Túy Loan cứ mỗi dịp lễ tết nhất là những ngày giỗ kỵ bánh tráng là món ăn không thể thiếu trên mâm cúng gia tiên.
Ngoài ra ở Đà Nẵng còn có nhiều món ăn ngon tuy không gắn liền với tên một địa danh cụ thể nhưng vẫn mang những nét đặc trưng riêng như món mì Quảng Đà Nẵng, bánh xèo Đà Nẵng, bánh tráng cuốn thịt heo, thịt bê thui, bún chả cá, bún mắm, mít trộn, ốc hút, bò né,...
== Thành phố kết nghĩa, bạn bè ==
Trong nước:
Hải Phòng (ở Đà Nẵng có 1 đường tên là Hải Phòng và ngược lại, ở Hải Phòng cũng có 1 đường tên Đà Nẵng). Có câu "Hải Phòng - Đà Nẵng, nặng lòng tình nghĩa" dùng để chỉ về sự kết nghĩa của hai thành phố anh em này.
Quốc tế:
== Một số người Đà Nẵng nổi tiếng ==
=== Chính trị ===
Nguyễn Bá Thanh: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng, Ủy viên Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội Việt Nam, Phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng - trực thuộc Bộ Chính trị, Nguyên Bí thư Thành ủy Thành phố Đà Nẵng, nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Nẵng.
Hồ Nghĩa Dũng: Nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.
Phan Diễn: Ủy viên Bộ Chính trị khóa VIII và IX, Nguyên Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX.
Trương Quang Nghĩa: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam, Nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Đà Nẵng
=== Quân sự ===
Thoại Ngọc Hầu: danh tướng nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.
Trần Quang Diệu: danh tướng nhà Tây Sơn, bạn thuở bé với Thoại Ngọc Hầu.
Ông Ích Đường: danh tướng chống thực dân Pháp.
=== Thể thao ===
Hoàng Quý Phước: vận động viên bơi lội Việt Nam, huy chương đồng cự li 100 m bơi bướm tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2009 (SEA Games 25) ở Lào.
Phan Thanh Hùng: cựu cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá Việt Nam, huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia và đội tuyển U23 quốc gia Việt Nam năm 2012.
Huỳnh Quốc Anh: cầu thủ đội tuyển quốc gia và đội tuyển U23 quốc gia Việt Nam. Anh cùng với SHB Ðà Nẵng đã có 2 chức vô địch V-League vào mùa giải 2009 và 2012;một cúp quốc gia 2009 và Quả bóng vàng Việt Nam năm 2012
=== Văn hóa ===
Phan Huỳnh Điểu: nhạc sĩ tiêu biểu của nền âm nhạc đương đại Việt Nam với những đóng góp to lớn cho sự phát triển của âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ XX. Ông được mệnh danh là "Con chim vàng của nền âm nhạc Việt Nam".
Huỳnh Thị Bảo Hòa: Nữ sĩ Việt Nam thời hiện đại, là một trong số ít tác giả nữ đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ, người phụ nữ thuộc hàng tiên phong trong phong trào Duy Tân ở Việt Nam.
Lưu Quang Vũ: nhà soạn kịch, nhà thơ và nhà văn hiện đại của Việt Nam.
Mỹ Tâm: nữ ca sĩ nổi tiếng ở Việt Nam.
== Xem thêm ==
Thành phố trực thuộc trung ương (Việt Nam)
Trận Đà Nẵng (1858-1859)
Trận Đà Nẵng (1859-1860)
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Thư mục ===
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Đà Nẵng tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Da Nang tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Website Chính quyền Thành phố Đà Nẵng
Website Cuộc thi Trình diễn pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng
Cổng thông tin du lịch thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Đà Nẵng trên Bách khoa Tự điển Larousse (tiếng Pháp)
Bản mẫu:Danh sách các đơn vị hành chính thuộc thành phố Đà Nẵng |
văn ký.txt | Văn Ký tên thật là Vũ Văn Ký (1 tháng 8 năm 1928) là một nhạc sĩ nhạc đỏ và nhạc trữ tình. Ông nổi tiếng với những ca khúc Cô gái Tày cầm đàn lên đỉnh núi, Nha Trang mùa thu lại về, Trời Hà Nội xanh... và đặc biệt với nhạc phẩm Bài ca hy vọng.
== Tiểu sử và sự nghiệp ==
Ông tên thật là Vũ Văn Ký, sinh ngày 1 tháng 8 năm 1928 tại xóm Nhì, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong một gia đình có truyền thống nho học. Ông lớn lên trong gia đình người chú tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.
Văn Ký tham gia cách mạng từ năm 1943, khi mới 15 tuổi. Năm 1944, ông bị Pháp bắt rồi sau đó được chính quyền Nhật thả ra. Năm 1945, ông cùng dân quân huyện Nông Cống tham gia giành chính quyền. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1946.
Trong năm 1946, ông viết ca khúc đầu tay mang tên Trăng xưa. Sau đó ông được cử đi học lớp âm nhạc Liên khu 4 tại Nghệ An. Sau khi học tập, ông được điều về hoạt động văn nghệ tại Bình Trị Thiên sau đó viết ca khúc Bình Trị Thiên quật khởi được giải thưởng của hội văn nghệ Liên khu 4. Ngoài ra, ông còn viết những tác phẩm khác như: Tình hậu phương, Chiến thắng hòa bình, Nhạc cảnh Dân công lên đường, Lúa thoái tô... Từ năm 1950 đến 1954, ông làm trưởng đoàn Văn công Liên khu 4.
Năm 1954, tại Đại hội văn công toàn quốc, ông giành giải thưởng lớn với 2 nhạc cảnh Dân công lên đường và Lúa thoái tô. Từ năm 1955 đến 1957, ông tham gia ban nhạc Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1957, ông trở thành hội viên sáng lập và sau đó là Ủy viên ban chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam và Ủy viên thường vụ của hội từ năm 1963 (khóa 1 và 2). Ông đã dự nhiều lớp học do chuyên gia nước ngoài hướng dẫn và sau dó được đi thực tập tại Liên Xô.
Ông hoạt động âm nhạc tại Hà Nội từ năm 1955 đến nay. Nhiều ca khúc tiêu biểu của ông đã được viết tại đây. Những ca khúc của Văn Ký đậm chất trữ tình, trong sáng và được nhiều công chúng yêu thích như: Tây Nguyên bất khuất, Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi, Nha Trang mùa thu lại về, Trời Hà Nội xanh, Hà Nội mùa xuân... và Bài ca hy vọng. Ca khúc Bài ca hy vọng ra đời năm 1959, được đông đảo công chúng đón nhận và yêu thích, được ca sĩ Khánh Vân rồi Mỹ Bình, Trung Kiên, Lê Dung, Hồng Nhung, Lan Anh, Rơ Chăm Phiang, Đặng Ngọc Long (độc tấu ghi ta)... và nhiều nghệ sĩ khác thể hiện. Nhiều ca khúc được viết trong những chuyến đi của ông như Nha Trang mùa thu lại về,Nhớ Nha Trang, Nam Định yêu thương, Vũng Tàu bến vui, Nhớ Đồng Nai, Tôi yêu Ban Mê, Nụ cười Sài Gòn, Kỷ niệm An Khê, Gia Lai thân yêu, Chuyện tình Mũi Né... Nhạc phẩm Nha Trang mùa thu lại về là một ca khúc nổi tiếng viết về Nha Trang. Ông cũng đã xuất bản 3 đĩa nhạc Gửi về đất mẹ, Bầu trời tuổi thơ, Tiếng đàn người thiếu phụ gồm các ca khúc phổ thơ.
Văn Ký đã viết khoảng 400 nhạc phẩm trong đó có ca khúc, ca kịch, nhạc múa, giao hưởng... Ông đã viết ca kịch Nhật ký sông Thương, Đảo xa; nhạc cho cho các bộ phim truyện Cô gái công trường, Trên vĩ tuyến 17, phim tài liệu Bác Hồ muôn vàn tình thân yêu... Tổ khúc kịch múa K'Nhi gồm 7 chương viết cho dàn nhạc giao hưởng đã được biểu diễn nhiều lần ở Liên Xô và Đông Đức, được xuất bản năm [1989].
Văn Ký đã được trao tặng: Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng 3, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huân chương Độc Lập hạng 3. Ông được phong tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật vào năm 2001.
== Tác phẩm chính ==
Bài ca hy vọng (1958) - nghe nhạc sĩ Đặng Ngọc Long độc tấu bản nhạc này.
Tây Nguyên bất khuất - Giải nhất ca khúc Hội Nhạc sĩ Việt Nam 1959).
Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi (1967) - Giải thưởng của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nha Trang mùa thu lại về (1978) - Giải thưởng của thành phố Nha Trang.
Hà Nội mùa xuân (1979)
Trời Hà Nội xanh (1983) - Giải thưởng Hồ Gươm thành phố Hà Nội.
Chiến thắng Hòa Bình - Giải nhất ca khúc Hội văn nghệ liên khu 4.
Ca cảnh Dân công lên đường - Giải thưởng Đại hội văn công toàn quốc năm 1954.
Tổ khúc thiếu nhi cho piano (1968)
2 tiểu phẩm Hồi tưởng và Trên đồng quê (1969) viết cho violon và piano
Biến tấu trên giai điệu Xe chỉ luồn kim (1969) cho cello và piano
Tổ khúc vũ kịch Kơ Nhí gồm 7 chương cho dàn nhạc giao hưởng (1970) - Bằng danh dự Festival âm nhạc Quốc tế lần thứ 2 (1984).
Ca kịch Nhật ký sông Thương (1971) và Đảo xa (1972)
== Băng đĩa, sách nhạc ==
Tuyển tập ca khúc Văn Ký
Băng nhạc Văn Ký (1994).
Tổ khúc K`Nhi xuất bản ở Matxcơva (1989)
CD Gửi về đất mẹ (2001)
CD Bầu trời tuổi thơ (2002)
Đĩa Tiếng đàn người thiếu phụ (2004)
== Nguồn tham khảo ==
Văn Ký trên trang của Hội nhạc sĩ Việt Nam
== Tham khảo == |
trần quang lộc.txt | Nhạc sĩ Trần Quang Lộc sinh năm 1945, tại Quảng Trị, theo học âm nhạc tại Trường Quốc gia âm nhạc Huế năm ông 20 tuổi. Ông bắt đầu sáng tác vào cuối thập niên 1960. Tuyển tập đầu tiên của ông Hát trong dòng sông xưa được xuất bản năm 1970.
Trần Quang Lộc viết và phổ nhạc những bài hát mang sắc thái tình người, tình quê hương, như bản "Về Đây nghe em", "Em còn nhớ Huế không", "Có phải mùa thu Hà Nội", "Chợt nghe em hát", "Định mệnh"...
== Hai tác phẩm trong ngành tân nhạc Việt Nam ==
Bản nhạc nổi tiếng nhất của Trần Quang Lộc có lẽ là bài "Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội?" hoàn tất năm 1972, phổ từ thơ của Tô Như Châu. Bài bát được đón nhận nồng nhiệt từ các ca sĩ cũng như thính giả, vì lời nghe lãng mạn, mơ màng của mùa thu, lồng trong một khung cảnh cổ kính của Thăng Long xưa với lịch sử của "hồn Trưng Vương sông Hát"...
Tháng tám mùa thu, lá khởi vàng chưa nhỉ
Từ độ người đi thương nhớ âm thầm...
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Ngày sang thu anh lót lá em nằm
Bên trời xa sương tóc bay...
Cũng là bài thơ phổ nhạc, nhạc phẩm "Về Đây nghe Em" rút từ bài thơ của A Khuê. Tác phẩm này ra đời năm 1967 nhưng bị vùi quên sau năm 1975 và mãi đến năm 1990 mới được phổ biến ở Việt Nam. Lời hát nghe mộc mạc, gần gũi với bất cứ một ai đã từng sinh ra và lớn lên tại Việt Nam...
Về đây nghe em, về đây nghe em
Về đây mặc áo the, đi guốc mộc
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới
Và về đây nghe lại tiếng nói thơ ấu khúc hát ban đầu...
Để hận thù người người lắng xuống
Và tìm nhau như tìm xót xa
Trong lúc lệ đã đầy vơi
Ca dao, guốc mộc, nồi ngô khoai thì còn gì Việt Nam hơn? Ai lớn lên mà không nghe câu ru ầu ơ của những bà mẹ giữa trưa hè, rồi tiếng guốc của những nàng áo trắng trên vỉa hè, và củ khoai sáng là món quà hàng ngày trước khi đến trường. Vì thế bài hát đã được rất nhiều ca sĩ trong và ngoài nước đón nhận. Qua quá trình lịch sử Việt Nam thì quả xót xa thật, chiến tranh bao nhiêu năm làm anh em một nhà, như gần, như xa. Và tùy mỗi thế đứng bên này hay bên kia bờ đại Dương, mà bài hát vẫn thích hợp cho người Việt trong nước lẫn người Việt hải ngoại.
== Tác phẩm == |
blitz.txt | Blitz là cuộc oanh kích Anh Quốc của Phát Xít Đức thực hiện trong Thế chiến II từ 7 tháng 9 năm 1940 tới 10 tháng 5 năm 1941. Trong khi chiến dịch thực hiện oanh tạc một loạt thành phố và thị trấn dọc vương quốc Anh, lực lượng không quân Đức bắt đầu tấn công London trong 57 ngày liên tiếp. Tính đến cuối tháng 5 năm 1941, hơn 43.000 dân thường, một nửa trong số đó là dân London đã bị giết hại bởi cuộc không kích, hơn một triệu ngôi nhà tiêu hủy hoặc tàn phá chỉ tính riêng tại London.
London không phải là thành phố duy nhất hứng chịu oanh tạc của lực lượng Luftwaffe trong chiến dịch Blitz. Các trung tâm công nghiệp và quân sự quan trọng khác của Anh cũng bị tấn công, những thành phố như Belfast, Birmingham, Bristol, Cardiff, Clydebank, Coventry, Greenock, Sheffield, Swansea, Liverpool, Hull, Manchester, Portsmouth, Plymouth, Nottingham và Southampton, đã hứng chịu những cuộc oanh tạc dữ dội và chịu những tổn thất nhân mạng to lớn. Mục tiêu đề ra của Adolf Hitler là đập tan nhuệ khí của Anh Quốc.
Mục tiêu làm suy nhụt nhuệ khí và buộc Anh đầu hàng đã không đạt được. Blitz chỉ là một màn cảnh báo cho một cuộc xâm lược có thể xảy ra của quân đội Đức. Đến tháng 5 năm 1941, mối đe dọa về một cuộc xâm lược đã không xảy đến khi Hitler quyết định chuyển hướng mục tiêu sang phía Đông. Dù không còn thực hiện những cuộc oanh tạc lớn tại Anh nhưng trong suốt Thế chiến Anh quân Đức vẫn thực hiện những vụ không kích nhỏ dẫn đến số người chết từ những vụ ném bom lên đến 51.509 người. Năm 1944, việc phát triển thành công máy bay ném bom không người lái V-1 và rocket V-2 đã giúp Đức có khả năng tiếp tục tấn công Anh với những vũ khí được phóng từ châu Âu đại lục. Tổng cộng, vũ khí loại V của Đức đã giết 8.938 dân thường tại London và vùng Đông Nam nước Anh.
== Liên kết ==
The Blitz Original reports and pictures from The Times
The Blitz: Sorting the Myth from the Reality, BBC History
Exploring 20th century London - The Blitz Objects and photographs from the collections of the Museum of London, London Transport Museum, Jewish Museum and Museum of Croydon.
Liverpool Blitz Experience 24 hours in a city under fire in the Blitz.
Forgotten Voices of the Blitz and the Battle for Britain
== Tham khảo == |
xã mcdonald, quận hardin, ohio.txt | Xã McDonald (tiếng Anh: McDonald Township) là một xã thuộc quận Hardin, tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của xã này là 862 người.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
American FactFinder |
daegu.txt | 35°52′B 128°36′Đ
Daegu (Hàn ngữ: 대구 광역시; Hán-Việt: Đại Khâu; phiên latinh cũ là Taegu và ngày nay là Daegu), là thành phố trực thuộc trung ương lớn thứ tư của Hàn Quốc (sau Seoul, Busan và Incheon). Nó còn được xem là thủ phủ của tỉnh Gyeongsangbuk-do mặc dù về mặt hành chính, nó không còn nằm trong tỉnh này. Dân số toàn thành phố theo thống kê năm 2005 là 2.464.547 người, diện tích là 885,62 kilômét vuông.
== Hành chính ==
Thành phố Daegu có 7 khu (구 gu) và 1 quận (군 gun).
== Kinh tế ==
Các ngành kinh tế chính của Daegu là công nghiệp dệt may, luyện kim và chế tạo máy. Bắt đầu từ cuối thập niên 1990, chính quyền trung ương và địa phương sử dụng mô hình dựa lỏng lẻo trên mô hình thành phố Milan của Ý, cố gắng tích cực phát triển công nghiệp dệt may của Daegu dưới khẩu hiệu 'Daegu:Thành phố thời trang'. Một vài xí nghiệp liên quan công nghiệp tới kính mắt và phụ tùng ô tô cũng có mặt tại đây.
== Giáo dục ==
Có 5 trường đại học tại Daegu, trong đó có Đại học quốc gia Kyungpook. Trường này thành lập năm 1946 và là một trong số những trường được công nhận và đánh giá cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học ở Hàn Quốc, cùng với Đại học quốc gia Seoul và Đại học quốc gia Pusan. Đại học Yeungnam, nằm ở Gyeongsan cận kề, là một trong các đại học tư thục danh tiếng nhất ở Hàn Quốc nằm ngoài thành phố Seoul, cùng với Đại học Keimyung ở Daegu và Đại học Dong-A ở Busan. Viện bảo tàng Đại học Yeungnam là bảo tàng lớn nhất trực thuộc các trường đại học tại Hàn Quốc.
== Người nổi tiếng ==
Cựu tổng thống Roh Tae-woo, đệ nhất phu nhân Kim Ok-sook, chính khách Park Geun-hye, người thành lập tập đoàn Daewoo Kim Woo Joong, nữ diễn viên Son Ye-jin, thành viên Key từ nhóm nhạc SHINee, thành viên Kim Junsu của 2PM, thành viên Suga, V của BTS và 2 thành viên Dae Guk Nam Ah Mika, Karam, Red Velvet Irene, Seventeen S.Coups là những người sinh ra tại thành phố này.
== Thành phố kết nghĩa ==
Almaty, Kazakhstan
Atlanta, Hoa Kỳ
Hiroshima, Nhật Bản
Milan, Italia
Minas Gerais, Brasil
Thanh Đảo, Trung Quốc
Sankt-Peterburg, Nga
Thẩm Dương, Trung Quốc
Plovdiv, Bulgaria
Đà Nẵng, Việt Nam
== Ghi chú == |
george iii của liên hiệp anh và ireland.txt | George III (tên thật: George William Frederick; 4 tháng 6, 1738 – 29 tháng 1 năm 1820) là Vua của Anh và Ireland từ 25 tháng 10, 1760 đến ngày ký kết Đạo luật sáp nhập hai quốc gia năm 1800 vào 1 tháng 1 năm 1801, sau đó ông là Vua của Nước Anh thống nhất đến khi qua đời. Ngoài ra ông còn Công tước và Vương công - Tuyển hầu của Braunschweig-Lüneburg ("Hannover") trong Thánh chế La Mã cho tới khi được phong làm Vua của Hannover ngày 12 tháng 10 năm 1814. Ông là vị vua Anh thứ 3 thuộc Nhà Hannover, nhưng không như hai người tiền nhiệm, ông được sinh ra ở Anh, nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, và không bao giờ đến thăm Hannover.
Cuộc đời và thời gian cai trị của ông dài hơn bất kì người tiền nhiệm nào, và đã được đánh dấu bởi một loạt các xung đột quân sự liên quan đến vương quốc Anh, nhiều vùng lãnh thổ khác tại châu Âu và lan đến cả châu Phi, châu Mỹ và châu Á. Đầu triều George III, nước Anh đánh bại nước Pháp trong chiến tranh Bảy năm và vươn lên địa vị đế quốc châu Âu nắm quyền thống trị Bắc Mỹ và Ấn Độ. Tuy nhiên nhiều thuộc địa của Anh tại Bắc Mỹ đã li khai sau Chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ. Sau đó quân Anh tham gia cuộc chiến chống lại Cách mạng Pháp và quân đội Napoleon từ năm 1793 cho đến thất bại của Napoleon tại trận Waterloo năm 1815.
Trong giai đoạn cuối của cuộc đời, tâm bệnh của George III tái phát, cuối cùng thì ông bị bệnh tâm thần vĩnh viễn. Mặc dù có suy đoán cho rằng ông mắc phải chứng porphyria, tuy nhiên đến nay vẫn chưa chính thức xác định nguyên nhân căn bệnh của ông. Cuối cùng vào năm 1810, Đạo luật nhiếp chính đã được thông qua, và con trai trưởng của nhà vua, George, Hoàng tử xứ Wales, cai trị với danh hiệu Hoàng tử Nhiếp chính. Sau cái chết của George III, Hoàng tử nhiếp chính nối ngôi cha và trở thành vua George IV.
Các phân tích lịch sử về cuộc đời của George III qua các giai đoạn là "kính vạn hoa của sự thay đổi nhận xét" ("kaleidoscope of changing views") phụ thuộc nhiều vào những định kiến của người viết tiểu sử và những nguồn tài liệu mà họ có được Đến khi người ta đánh giá lại thành quả của ông vào nửa cuối thế kỉ XIX, thì ông bị xem như là một quân vương bạo chúa ở Hoa Kỳ và ở Anh ông là "vật tế thần cho sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc"..
== Cuộc sống ban đầu ==
George chào đời ở kinh thành Luân Đôn, cụ thể là Norfolk House. Ông là cháu đích tôn của vua George II, và con trai trưởng của Frederick, Hoàng tử xứ Wales, với Augusta của Saxe-Gotha. Hoàng tử George, trong hai tháng đầu đời rất yếu ớt đến nỗi người ta cho rằng ông khó có thể tiếp tục sống, ông được rửa tội trong cùng ngày bởi Thomas Secker, Hiệu trưởng của trường St James's và là Giám mục của Oxford.
Một tháng sau, ông được rửa tội một lần nữa tại Norfolk House, cũng bởi Secker. Những người đỡ đầu của ông bao gồm Vua của Thụy Điển (thông qua đại diện là Lord Baltimore), cậu của ông, Công tước Saxe-Gotha (thông qua đại diện là Lord Carnarvon) và bà cô Hoàng hậu Sophia cuar Phổ quốc (thông qua đại diện là Lady Charlotte Edwin).
George lớn lên một cách khỏe mạnh nhưng là một đứa trẻ và nhút nhát. Gia đình ông đã chuyển đến Quảng trường Leicester, nơi George và em trai ông Hoàng tử Edward, Công tước xứ York và Albany, được đi giáo dục bởi cùng một gia sư. Những thư từ trong gia đình cho thấy rằng ông có thể đọc và viết tiếng Anh lẫn tiếng Đức, cũng như bình luận về các sự kiện chính trị đương thời, khi vừa mới lên 8. Ông là vị vua Anh đầu tiên được giáo dục khoa học một cách có hệ thống. Ngoài Vật lý và Hóa học, trong chương trình giảng dạy dành cho hoàng tử còn có Thiên văn học, Toán học, tiếng Pháp, tiếng Latin, Lịch sử, Âm nhạc, Địa lý, Thương mại, Nông nghiệp và Hiến pháp, cùng với đó là các môn thể thao và một số thứ nghiêng về xã hội như khiêu vũ, đánh kiếm, cưỡi ngựa... Tôn giáo mà ông được hướng đến là Anh giáo..
Ông nội của George, Vua George II, mâu thuẫn với Hoàng tử xứ Wales và không mấy quan tâm đến người cháu trưởng. Tuy nhiên vào năm 1751 khi Hoàng tử xứ Wales đột ngột qua đời vì áp xe phổi, George đã trở thành người đứng đầu danh sách thừa kế ngai vàng. Ông thừa kế danh hiệu của phụ thân và trở thành Công tước xứ Edinburgh. Từ bấy giờ nhà vua quan tâm nhiều hơn đến cháu nội mình; ba tuần sau ông phong George làm Hoàng tử xứ Wales (danh hiệu dành cho người thừa kế nam, không tự động truyền lại).
Vào mùa xuân năm 1756, gần đến ngày sinh nhật thứ 18 của George, nhà vua ban cho ông nơi ở tại Cung điện St James, song George từ chối theo lời khuyên của mẫu thân và người bạn thân của ông, Lord Bute, người về sau trở thành Thủ tướng. Mẹ của George, bấy giờ là Góa phụ công nương xứ Wales, muốn giữ George thường xuyên ở nhà, nơi và có thể giáo dục con trai bằng những chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt.
== Hôn nhân ==
Năm 1759, George say mê Lady Sarah Lennox, chị của Công tước Richmond, nhưng Lord Bute lại phản đối chuyện này và George buộc phải thay đổi quyết tâm kết hôn với người mình yêu. "Tôi được sinh ra vì sự hạnh phúc hoặc là đau khổ của một quốc gia," ông viết "và vì vậy thường phải hành động trái với đam mê của tôi.". Tuy nhiên, dự định của nhà vua về cuộc hôn nhân của George với Công chúa Sophie Caroline của Brunswick-Wolfenbüttel bị phản đối bởi ông và Góa phụ công nương xứ Wales; Thay vào đó Sophie kết hôn với Bá tước Bayreuth.
Năm sau, khi bước sang tuổi 22, George đăng quang ngôi vua khi ông nội của ông, George II đột ngột qua đời vào ngày 25 tháng 10, 1760, hai tuần trước sinh nhật lần thứ 77 của mình. Cuộc tìm kiếm cho tân vương một người vợ thích hợp được tiến hành khẩn trương. Ngày 8 tháng 9 năm 1761 tại Nhà nguyện Hoàng gial, Cung điện St James, Nhà vua kết hôn cùng công chúa Charlotte của Mecklenburg-Strelitz, người mà ông chỉ được gặp lần đầu vào ngay ngày cưới.. Mấy tuần sau, cả hai được cử hành lễ gia miện tại Tu viện Westminster. George được ca ngợi vì không có bất kì tình nhân nào bên ngoài (trái ngược hẳn với ông nội và con trai ông), và cặp vợ chồng đã có một cuộc hôn nhân rất là hạnh phúc. Họ có với nhau 15 đứa con: 9 trai 6 gái. Năm 1762, George mua lại Buckingham House (ở nơi mà nay gọi là Cung điện Buckingham) sử dụng như một nơi riêng tư cho gia đình ông. Những nơi ở khác của ông bao gồm Kew và Lâu đài Windsor. Cung điện St James Palace được giữ lại để chính thức sử dụng. Ông không đi du lịch nhiều nơi, và giành phần lớn cuộc đời mình ở miền nam đảo Anh. Trong những năm 1790, nhà vua và gia đình ông đã có một kì nghỉ lễ tại Weymouth, Dorset, và nơi đây trở thành một trong những khu nghỉ mát đầu tiên tại Anh.
== Thời kì đầu cai trị ==
Xem thêm thông tin: Nước Anh trong Chiến tranh Bảy năm
George, trong bài phát biểu đầu tiên trước Quốc hội, đã tuyên bố: "Chào đời và được giáo dục tại đất nước này, Quả nhân cảm thấy vinh dự với cái tên Anh quốc". Ông đưa những cụm từ này vào bài nói, được soạn thảo bởi Lord Hardwicke, nhằm để chứng tỏ mong muốn giữ khoảng cách với các tằng tổ phụ và tổ phụ, những vị vua được cho là quan tâm đến Hannover nhiều hơn là Anh quốc.
Mặc dù việc đăng cơ của nhà vua ban đầu được chào đón bởi tất cả tất cả các chính khách của các đảng, những năm đầu triều George III được đánh dấu bởi những bất ổn về chính trị, chủ yếu là do nguyên nhân từ sự bất đồng ý kiến giữa các phe trong quyết sách đối ngoại thời Chiến tranh Bảy năm. George được coi là ủng hộ Đảng Tory, dẫn đến việc các thành viên Đảng Whigs chê trách ông là một vị vua chuyên quyền. Khi ông lên ngôi, đất đai của hoàng gia thu được khá ít lợi tức bằng sản xuất, hầu hết doanh thu có được là do các loại thuế đặc biệt. George giao lại Động sản hoàng gia cho Quốc hội kiểm soái để đổi lấy một khoản tiền mỗi năm trợ cấp cho Hoàng gia và trang trải những chi phí cho chính phủ dân sự. Có lời xác nhận rằng nhà vua đã đem số tiền ấy trao cho những người ủng hộ như món quà biếu xén và hối lộ và vấn đề này đang bị các sử gia tuyên bố rằng: "còn lại trên không có gì nhưng sai lầm là bởi sự phản đối bất mãn". Các khoản nợ lên tới £3 triệu trong suốt triều George III đã được Nghị viện chi trả, và tiền chu cấp cho Hoàng gia tăng lên theo từng năm. Ông ủng hộ Viện Nghệ thuận Hoàng gia bằng các khoản tài trợ lớn rút ra từ tiền túi của ông, và có thể ông đã quyên góp hơn một nửa tiền thu nhập cá nhân để làm từ thiện. Trong bộ sưu tập của ông, có hai món hàng đáng chú ý là Johannes Vermeer Lady at the Virginals của Johannes Vermeer và một bộ Canaletto, nhưng đáng chú ý nhất vẫn là một bộ sưu tập sách của ông. Thư viện của nhà vua được mở và các học giả được phép vào thăm. Đó là nền tảng của thư viện quốc gia kiểu mới.
Tháng 5 năm 1762, chính phủ đương nhiệm đảng Whig do Công tước Newcastle lãnh đạo đã được thay thế bằng chính phủ được lãnh đạo bởi chính khách người Scotland, đảng Tory Lord Bute. Đối thủ của Bute đã hoạt động cực lực để chống lại ông ta bằng cách tuyên truyền vu khống rằng ông có quan hệ mờ ám với thân mẫu nhà vua, và khai thác định kiến kì thị người Scot của người Anh. John Wilkes, một thành viên trong Nghị viện, đã xuất bản cuối The North Briton, nội dung chính là lên án và phỉ báng sự có mặc của Bute trong chính phủ. Wilkes cuối cùng bị bắt vì tội dấy loạn phỉ báng nhưng ông ta đã chạy sang Pháp để trốn tội, ông bị kết tội vắng mặt bởi Tòa án Hoàng gia với các tội báng bổ và bôi nhọ. Năm 1763, sau khi ký kết Hiệp định hòa bình ở Paris nhằm kết thúc chiến tranh, Lord Bute từ chức, và đảng Whig giành lại quyền lực với Thủ tướng mới George Grenville.
Cuối năm đó, the Tuyên cáo Hoàng gia đặt ra một giới hạn về sự mở rộng về phía tây các thuộc địa ở châu Mỹ. Tuyên ngôn nhấn mạnh việc chuyển hướng mở rộng thuộc địa lên phía bắc (tới Nova Scotia) và xuống phía nam (Florida). Tuyên ngôn không nói nhiều đến đa số nông dân định cư trên đất Mỹ, nhưng nó đã khiến cho một bộ phận nhỏ quần chúng không hài lòng, trở thành một trong những mầm mống xung đột và người dân 13 thuộc địa Mỹ với chính phủ Đại Anh. Với việc người dân Mỹ phải nộp nhiều lô thuế cho chính quốc, chính phủ Anh nghĩ rằng như vậy là thích hợp để đảm bảo không có các cuộc nổi dậy của người dân thuộc địa, và có chi phí chống trả các cuộc tấn công của người Pháp. Vấn đề ở đây không phải số tiền thuế là bao nhiêu, mà là liệu người Mỹ có chấp thuận hay không, khi mà trong Nghị viện không có một ghế nào dành cho người Mỹ. Người Mỹ phản đối, họ cho rằng giống như tất cả người Anh, họ có quyền "không đánh thuế nếu không có người đại diện". Năm 1765, Grenville đề xuất Đạo luật tem, theo đó sẽ ấn định lệ phí chứng từ trên mọi tài liệu trong các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ. Kể từ khi báo được in trên những mẫu giấy có dán tem, những nhà tư sản bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi sự ra đời của thứ thuế này, bắt đầu tuyên truyền việc chống thuế. Trong khi đó, nhà vua trở nên bực tức với những chính sách của Grenville khi giảm bớt đặc quyền của quốc vương, và cố gắng nhưng không thành công khi thuyết phục William Pitt Già đồng ý nhận chức vụ Thủ tướng. Sau một thời gian ngắn bị bệnh, có thể đã được dự đoán trước thời gian bệnh, George chọn Lord Rockingham thành lập chính phủ mới, và sa thải Grenville.
Lord Rockingham, với sự đồng thuận của Pitt và nhà vua, bãi bỏ Đạo luật tem vốn không được số đông quần chúng tán thành, nhưng chính phủ của ông quá yếu kém và bị thay thế vào năm 1766 bởi Pitt, người được George phong làm Bá tước Chatham. Những hành động của Lord Chatham và George III bao gồm bãi bỏ Đạo luật rất được ưa chuộng ở Mỹ và bức tượng của hai người được dựng nên ở thành phố New York. Lord Chatham bị bệnh vào năm 1767 và Công tước xứ Grafton lãnh đạo chính phủ, mặc dù ông ta không được phong làm Thủ tướng cho tới năm 1768. Năm đó, John Wilkes trở lại Anh, ra tranh cử vào Quốc hội; và dẫn đầu về số phiếu bầu ở Khu vực bầu cử Middlesex. Wilkes một lần nữa bị Quốc hội trục xuất. Sau đó Wilkes lại được bầu và hai lần nữa bị trục xuất, trước khi Hạ viện tuyên bố ông không có tư cách ứng cử và chiến thắng thuộc về người đứng thứ 2. Chính phủ của Grafton giải thể năm 1770, cho phép đảng Tory dưới sử lãnh đạo của Lord North trở lại nắm quyền.
George là một người vô cùng sùng đạo và dành nhiều thời gian để cầu nguyện, nhưng lòng mộ đạo của ông không được anh em ông học theo. George cảm thấy kinh hoàng bởi những gì ông gọi là "nhân cách buông thả" của anh em mình. Năm 1770, em trai nhà vua, Hoàng tử Henry, Công tước xứ Cumberland và Strathearn, bị vạch trần có quan hệ lén lút với một phụ nữ đã có chồng. Năm sau, Cumberland kết hôn với một góa phụ trẻ, Anne Horton. Nhà vua cho rằng Công nương không phù hợp để trở thành một thành viên hoàng gia; bà đến từ một đẳng cấp quá thấp. George nhấn mạnh rằng nên có một đạo luật mới, cấm các thành viên trong hoàng gia kết hôn mà không có sự đồng ý của Quốc vương. Dự luật này không được sự ủng hộ trong Quốc hội, bao gồm cả những Bộ trưởng của George, song Đạo luật Hôn nhân hoàng gia 1772 đã được thông qua. Không bao lâu sau đó, một người em trai khác của nhà vua, Hoàng tử William Henry, Công tước xứ Gloucester và Edinburgh, thú nhận rằng ông có bí mật kết hôn với Maria, Nữ Bá tước Waldegrave, con ngoài giá thú của Sir Edward Walpole. Các tin tức khẳng định quan điểm của George rằng ông đã đúng khi ban hành đạo luật: Maria có liên hệ với những đối thủ chính trị của ông. Công nương đã không được hoàng gia thừa nhận.
Chính phủ của Lord North rất lo lắng về sự bất mãn của người dân 13 thuộc địa. Để xoa dịu dư luận, phần lớn các thứ thuế đã bị bãi bỏ, trừ thuế trà ra; điều mà George gọi là "một thứ thuế cần để duy trì điều đúng đắn (đánh thuế)". Năm 1773, tàu chở trà của người Anh neo tại Cảng Boston đã bị người dân thuộc địa đánh cướp và ném hết trà xuống biển; sự kiện này gọi là Tiệc trà Boston. Ở Anh, chính phủ bày tỏ thái độ cứng rắn, và Chatham đồng ý với North vụ cướp trà là "tội danh chắc chắn". Với sự ủng hộ tích cực từ Nghị viện, Lord North ban hành các biện pháp mới, gọi là, which were called the Đạo luật Không thể chấp nhận, cảng Boston bị đóng cửa và đặc quyền tiểu bang Massachusetts đã được thay đổi khi những người đứng đầu cơ quan lập pháp sẽ được chỉ định bởi nhà vua thay vì Hạ viện. Tính đến thời điểm đó, theo ý kiến của Giáo sư Peter Thomas, "niềm hy vọng của Thánh thượng được tập trung vào một giải pháp chính trị, và Ngài luôn luôn chấp thuận các ý kiến từ nội các ngay cả khi hoài nghi về thành công của chúng". Các bằng chứng chi tiết vào những năm 1763-1775 có xu hướng giải tội cho George III về tội ác thực sự đối với Cách mạng Mỹ." Mặc dù người Mỹ vẫn xem ông như một quân vương bạo chúa, nhưng trong những năm đó, ông đã hành động như một vị vua lập hiến khi chỉ ủng hộ các chính sách từ các bộ trưởng.
== Chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ ==
Chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ là đỉnh điểm của xung đột chính trị và Trào lưu khai sáng ở Mỹ. Mang trong đầu sự bất mãn vì người Mỹ không có được một ghế nào trong quốc hội, họ xem đó là minh chứng cho sự phủ nhận quyền giống như người Anh và việc thường bị Quốc hội đánh thuế nặng mà không thông qua sự đồng ý của họ, họ bắt đầu nổi dậy chống lại ách thống trị của chính quốc sau sự kiện Tiệc trà Boston. Bằng cách thành lập các khu vực tự trị, họ phá vỡ bộ máy chính quyền của người Anh vào năm 1774. Xung đột vũ trang đầu tiên của quân đội Anh và người dân thuộc địa nổ ra tại Trận Lexington và Concord vào tháng 4, 1775. Sau khi đơn kiến nghị lên quốc vương cho sự tham gia vào Quốc hội bị bác bỏ, các nhà lãnh đạo quân nổi dậy bị nhà vua tuyên bố là những kẻ phản loạn và chiến tranh nổ ra sau đó. Các thuộc địa tuyên bố độc lập vào tháng 7 năm 1776, họ lập danh sách những người bất bình chống lại vua Anh và cơ quan lập pháp đồng thời yêu cầu sự giúp sức từ quần chúng. Trong danh sách tội danh của George, Tuyên ngôn buộc tội, "Ông ta đã từ bỏ quyền thống trị của mình ở đây ... Ông ta tước đoạt biển cả của chúng ta, tàn phá bờ biển của chúng ta, thiêu hủy thành thị của chúng ta, phá hoại cuộc sống của nhân dân ta." Bức tượng nhà vua George III cưỡi ngựa được mạ bằng vàng ở thành phố New York bị hạ xuống. Người Anh bao vây thành phố năm 1776, nhưng bị mất Boston, và kế hoạch cho một chiến dịch lớn tấn công từ Canada và cắt đứt tuyến đường New England đã thất bại với sự đầu hàng của Trung tướng người Anh John Burgoyne tại Trận Saratoga.
George III thường bị cáo buộc là ngoan cố duy trì chiến tranh giữa chính phủ Anh với Cách mạng Mỹ, bất chấp những lời can ngăn từ các Bộ trưởng của ông. Theo như tác gia thời Victoria, George Trevelyan, Nhà vua tuyên bố "Không bao giờ thừa nhận sự độc lập của người Mỹ, và để trừng phạt cho sự vô lễ của chúng, Quả nhân sẽ kéo dài vô thời hạn một cuộc chiến tranh mà có thể sẽ là vĩnh viễn. Quả nhân muốn để cho đám phiến quân đó tiếp tục quấy rối, lo lắng và ngày càng nghèo xơ xác, cho đến một ngày, sự bất mãn và hối hận kia sẽ biến thành sám hối và hối hận". Tuy nhiên, nhiều nhà sử học gần đây bênh vực George bằng cách nói rằng trong hoàn cảnh như vậy, nhà vua khó có thể chấp nhận để mấy một vùng lãnh thổ lớn như vậy, và những vi của ông ít tàn nhẫn hơn rất nhiều quân vương đương đại ở châu Âu. Sau chiến dịch Saratoga, cả Nghị viện và người dân Anh đều ủng hộ chiến tranh; việc tuyển quân được tiến hành khẩn trương và mặc dù vẫn có một lượng chính khách chủ hòa, nhưng họ chỉ chiếm một bộ phận nhỏ. Với những thất bại ở Mỹ, Thủ tướng Lord North yêu cầu chuyển giao quyền lực cho Lord Chatham, người mà ông cho rằng có năng lực hơn, nhưng George không phê chuẩn; thay vào đó ông đề xuất rằng Chatham sẽ phục vụ như một tướng dưới quyền Lord North, nhưng Chatham từ chối. Ông qua đời vào cuối năm đó. Đầu năm 1778, nước Pháp (đối thủ chính của Anh) ký kết một hiệp định với Hoa Kỳ và cuộc xung đột leo thang. Hoa Kỳ và Pháp sớm thành lập một liên minh cùng Tây Ban Nha và Cộng hoà Hà Lan, trong khi Anh không có một đồng minh lớn nào. Lord Gower và Lord Weymouth đều rời khỏi chính phủ. Lord North một lần nữa đề nghị xin từ chức nhưng cuối cùng ông đã ở lại theo sự khẩn thiết lưu giữ của George III. Nhằm phản đối việc chi phí tốn kém cho cuộc chiến tranh ngày càng tăng lên, tháng 6 năm 1780 một cuộc bạo động nổ ra ở Luân Đôn, được biết đến với tên gọi Gordon Riots.
Mãi đến cuối Chiến dịch Charleston năm 1780, những người bảo hoàng vẫn tin vào một chiến thắng cuối cùng của họ, khi quân Anh đánh bại lực lượng kháng chiến ở trận Camden và trận Guilford Court House. Cuối năm 1781, thông tin Lord Cornwallis đầu hàng tại Chiến dịch Yorktown khiến cả Luân Đôn chấn động; chính phủ của Lord North đã bị mất đi sự ủng hộ và ông từ chức vào năm tiếp theo. Nhà vua đã chuẩn bị sẵn một chiếu thư thoái vị, song ông đã không bao giờ công bố, Cuối cùng ông phải chấp nhận thất bại ở Bắc Mỹ, và ủy quyền cho một cuộc đàm phán hòa bình. Hiệp ước Paris đã được ký kết giữa chính phủ Anh với các bang ở Bắc Mỹ, công nhận sự độc lập của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ và trả trả Florida cho người Tây Ban Nha, được ký kết vào năm 1882 và 1883. Khi John Adams được bổ nhiêmk làm Đại sứ Mỹ đến Luân Đôn năm 1785, George phải nhẫn nhịn mà cải thiện lại quan hệ giữa nước Anh với các thuộc địa cũ. Ông nói với Adams, "Quả nhân là người cuối cùng chấp nhận sự chia tách; nhưng sự chia tách ấy là điều không thể tránh khỏi và nay đã thành sự thực; Quả nhân đã luôn nói, và bây giờ cũng nói, rằng quả nhân sẽ là người đầu tiên đáp ứng tình hữu nghị với Hoa Kỳ như là một thế lực độc lập."
== Đấu tranh Hiến pháp ==
Với sự thất thế của chính phủ Lord North năm 1782, Lord Rockingham, đảng Whig trở thành Thủ tướng lần thứ 2, nhưng ông ta chết sau đó có vài tháng. Nhà vua sau đó bổ nhiệm Lord Shelburne lên thay. Charles James Fox, tuy nhiên lại khồng muốn phục vụ dưới trướng Shelburne, và đề nghị nên bổ dụng Công tước Portland. Năm 1783, Hạ viện đã buộc Shelburne từ bỏ chức vị và giải tán chính phủ. Chính phủ giờ nằm trong tay liên minh Fox–North. Công tước xứ Portland trở thành Thủ tướng, còn Fox và Lord North, là Bộ trưởng ngoại giao và Bộ trưởng nội vụ.
Nhà vua không thích Fox vì ông ta quá mạnh mẽ, ông cho rằng Fox bất lương và sẽ ảnh hưởng xấu đến Hoàng tử xứ Wales. George III đã đau khổ vì phải bổ nhiệm các bộ trưởng không theo ý thích của mình, nhưng phe đảng của Portland nhanh chóng xây dựng thế đa số trong Viện Thứ dân và không thể đánh đổ dễ dàng. Ông càng thất vọng hơn khi chính phụ đề xuất Đạo luật Ấn Độ, theo đó cải cách tình trạng chính phủ Ấn Độ bằng cách chuyển giao quyền cai trị của Công ty Đông Ấn sang cho Nghị viện. Mặc dù nhà vua ủng hộ để cho công ty tiếp tục cai quản Ấn Độ, song tất cả các ủy viên là đồng minh của Fox đều tuyên bố ủng hộ dự luật. Ngay sau khi Hạ viện thông qua dự luật, George ủy quyền cho Lord Temple thông báo với Thượng viện rằng ông sẽ coi bất kì người nào ủng hộ dự luật trên là kẻ thù của mình. Bởi vậy dự luật bị bác bỏ ở Thượng viện, và 3 ngày sang đó, chính phủ Portland bị giải tán, và William Pitt trẻ trở thành Thủ tướng mới, và Temple là Ngoại trưởng. Ngày 17 tháng 12 năm 1783, Nghị viện bỏ phiếu lên án sự can thiệp của nhà vua lên Quốc hội là "tội lỗi lớn" và buộc Temple phải từ chức. Sự ra đi của Temple gây ra xáo trộn trong chính phủ, ba tháng sau đó chính phủ hiện tại mất đi đa số ghế và Quốc hội phải giải tán; tiếp đó Pitt giành thắng lợi lớn trong cuộc tuyển cử năm sau.
== William Pitt ==
Đối với George III, việc Pitt lên nắm quyền là một thắng lợi lớn. Điều đó chứng minh rằng nhà vua có thể lựa chọn thủ tướng theo quan điểm của mình mà không cần phải dựa theo số đông trong Viện Thứ dân. Trong suốt nhiệm kì của Pitt, George đã ủng hộ nhiều mục tiêu chính trị của ông ta và phong cho khá nhiều người theo phe của Pitt vào Thượng viện. Trong và sau thời Pitt nắm quyền, George III được người dân Anh ngưỡng mộ. Người ta tán dương lòng mộ đạo của ông, và việc ông chung thủy với vợ mình. Ông rất yêu thương con cái, và rơi vào khủng hoảng tâm lý bởi cái chết của hai cậu con trai vào các năm 1782 và 1783. Tuy vậy, ông quản giáo các con với một chế độ cực kì nghiêm khắc. Họ được lên lịch là sẽ bắt đầu học một cách nghiêm túc từ 7 giờ sáng, "để sống một cuộc sống theo lễ nghi và đạo đức". Khi các con không làm theo đúng những nguyên tắc mà ông đặt ra, ông mất tinh thần và thất vọng.
Lúc này sức khỏe của nhà vua có chuyển biến xấu. Ông mắc bệnh thần kinh, và có triệu chứng rối loạn porphyria, mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến nghi ngờ giả thuyết này. Một nghiên cứu các mẫu tóc của nhà vua công bố vào năm 2005 cho thấy nồng độ asen, một chất gây bệnh, khá cao. Nguồn gốc của lượng asen này không được biết đến, nhưng có thể là từ các loại thuốc và mỹ phẩm mà nhà vua đã dùng. Nhà vua có thể đã có một thời gian ngắn nhiễm bệnh năm 1765, nhưng bệnh tình tái phát vào mùa hạ năm 1788. Vào cuối phiên họp Quốc hội, ông đến Cheltenham Spa để chữa bệnh. Đó là nơi xa nhà nhất mà ông từng tới trong suốt cuộc đời, cách London 100 dặm (150 km)—nhưng bệnh tình của ông trở nên tồi tệ hơn worsened. Vào tháng 11 ông trở nên loạn trí, đôi khi nói chuyện trong nhiều giờ mà không ngừng lại, khiến cho miệng cạn hết nước bọt và giọng nói khàn khàn. Các bác sĩ của ông đã không thành công khi chẩn đoán tình trạng bệnh tình, những câu chuyện về tình hình bệnh của ông lan ra ngoài, ví dụ như có lời ngoa truyền rằng nhà vua bắt tay với một cái cây mà ông cho rằng đó là Nhà vua nước Phổ. Cách điều trị bệnh cho nhà vua là nền tảng của phương pháp điều trị ngày nay, các bác sĩ của ông, bao gồm Francis Willis, điều trị cho vua bằng cách khống chế ông đến khi ông bình tĩnh hoặc hoặc áp dụng các thuốc đắp ăn da để vẽ ra "con quỷ dữ"".
Vào ngày Quốc hội được triệu tập, Fox và Pitt tranh cãi quanh chuyện ai sẽ nhiếp chính cho nhà vua điên. Trong khi cả hai đều nhất trí rằng con trai lớn nhất của George là George, Hoàng tử xứ Wales, sẽ là nhiếp chính, Fox tính rằng Hoàng tử sẽ có toàn quyền thay mặt người cha bệnh tật quyết định tất cả công việc trong triều đình, còn Pitt phản đối Fox vì sợ rằng nếu hoàng tử xứ Wales nắm được đại quyền tuyệt đối thì ông sẽ bị cách chức, nên đề nghị Quốc hội giới hạn lại quyền nhiếp chính. Vào tháng 2, 1789, Đạo luật nhiếp chính, ủy thác quyền hành cho Hoàng tử xứ Wales như là Nhiếp chính vương, được thông qua tại Hạ viện, nhưng trước khi nó được trình lên Thượng viện, George III bình phục.
== Cách mạng Pháp và những cuộc chiến tranh của Napoleon ==
Sau khi George hồi phục, Pitt, tiếp tục gia tăng chi phí của Fox và Hoàng tử xứ Wales. Cách đối xử khoan dung và đầy hiểu biết của ông đối với hai kẻ hành thích điên cuồng, Margaret Nicholson năm 1786 và John Frith năm 1790, càng làm tăng thêm uy tín của ông. Âm mưu thất bại của James Hadfield nhằm hành thích nhà vua ở Drury Lane Theatre ngày 15 tháng 5 năm 1800 không xuất phát từ lý do chính trị mà là do những ảo tưởng khải huyền của Hadfield và Bannister Truelock. George dường như không bị ảnh hưởng nhiều vì sự cố đó, hơn thế ông còn ngủ thiếp đi trong một khoảng thời gian.
Cách mạng Pháp nổ ra năm 1789, dẫn đến Chế độ quân chủ Pháp bị lật đổ, gây lo lắng cho nhiều lãnh chúa ở Anh. Pháp tuyên chiến với Anh năm 1793; trong một nỗ lực hỗ trợ chiến tranh, George cho phép Pitt tăng tiền thuế, chiêu mộ quân đội, và đình chỉ quyền của habeas corpus. Liên minh thứ nhất chống lại cách mạng Pháp với sự tham gia của Áo, Phổ, Tây Ban Nha tan vỡ vào năm 1795 khi Phổ và Tây Ban Nha giảng hòa riêng với Pháp. Liên minh thứ hai, bao gồm Áo, Nga và Đế chế Ottoman, bị đánh bại năm 1800. Chỉ có Anh tiếp tục chiến đấu chống Napoleon Bonaparte, Tổng tài thứ nhất của the Cộng hòa Pháp.
Một giai đoạn hòa hoãn ngắn với Pháp cho phép Pitt hướng sự chú ý tới Ireland, nơi đã chứng kiến một cuộc nổi dậy và một âm mưu tấn công của người Pháp vào năm 1798. Năm 1800, Quốc hội Đại Anh và Icreland thông qua Đạo luật liên minh có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 1801 hợp nhất Liên hiệp Anh (Great Britain gồm Anh, Wales, Scotland) và Ireland thành một quốc gia duy nhất với tên gọi Liên hiệp Anh và Ireland (United Kingdom of the Great Britain and Ireland). George nhân cơ hội này bỏ đi danh hiệu "Vua của Pháp", Tuyên bố chủ quyền của người Anh đối với ngai vàng Pháp từ thời trị vì của Edward III chấm dứt. Có đề nghị rằng George nên nhận danh hiệu "Hoàng đế của đảo Anh", nhưng ông từ chối. Như một phần của chính sách đối với Ái Nhĩ Lan, Pitt lên kế hoạch giảm bớt một số ràng buộc khắt khe đối với Người công giáo. George III tuyên bố rằng giải phóng cho người Công giáo là vi phạm lời thề của Quốc vương khi mới lên ngôi là bảo vệ đạo Tin Lành. Đối diện với cao trào chống chính sách cải cách tôn giáo từ cả nhà vua và dân chúng Anh, Pitt đe dọa là sẽ từ chức. Vào khoảng thời gian đó, Nhà vua tái phát bệnh cũ, có lẽ là do lo lắng về vấn đề Công giáo. Ngày 14 tháng 3 năm 1801, Pitt được thay thế bởi Người đứng đầu Hạ viện, Henry Addington. Addington phản đối dỡ bỏ ràng buộc đối với người Công giáo, bãi bỏ thuế thu nhập và bắt đầu chương trình giải trừ quân bị. Vào tháng 10, 1801, ông tìm kiếm hòa bình với Pháp, và sang 1802 thì ký Hiệp ước Amiens.
George không coi việc nghị hòa với Pháp là thực; ông xem đó là "một cuộc thí nghiệm". Năm 1803, chiến tranh tiếp tục nhưng quần chúng không tán thành để cho Addington lãnh đạo đất nước trong chiến tranh, và ủng hộ Pitt. Một cuộc xâm lược nước Anh của Napoleon có vẻ đang đến gần, và một phong trào tình nguyện lớn nổ ra nhằm ủng hộ nước Anh trong cuộc chiến với nước Pháp. George đã gặp 27.000 người tình nguyện tại Hyde Park, Luân Đôn, vào ngày 26 và 28 tháng 10 năm 1803 vào lúc cao trào của sự lo lắng về một chiến tranh, thu hút hơn 500.000 người xem mỗi ngày. The Times nhận xét, "Sự nhiệt tình của đám đông là vượt quá tưởng tượng." Một cận thần của nhà vua viết vào ngày 13 tháng 11 rằng, "Hoàng thượng thực sự đã chuẩn bị cho việc ra chiến trường trong trường hợp bị tấn công, tư trang của Ngài đã sẵn sàng và Ngài có thể di chuyển nhanh chóng sau khi được cảnh báo nửa giờ". George viết cho bạn của ông là Giám mục Hurd, "Bây giờ chúng ta hằng ngày ở đây để chờ Bonaparte sẽ cố gắng xâm lược và đe dọa chúng ta ... Liệu quân đội của hắn có có đổ bộ xuống đảo, Quả nhân chắc chắn sẽ tự đặt mình lên đầu chiến tuyến, và các cánh quân khác của Quả nhân, sẽ đẩy lùi được bọn chúng." Sau khi Đô đốc Lord Nelson giành được chiến thắng nổi tiếng tại Trận Trafalgar, nguy cơ xâm lược bị dập tắt.
Năm 1804, bệnh tật của George tái phát trở lại; sau khi ông bình phục, Addington từ chức và Pitt trở lại nắm quyền. Pitt tìm cách bổ nhiệm Fox vào chính phủ để cộng tác với mình, nhưng George III từ chối. Lord Grenville cảm thấy một sự đe dọa đến Fox, và từ chối tham gia chính phủ. Pitt tham gia vào liên minh với Ba Lan, Nga và Thụy Điển. Đây chính là Liên minh chống Napoleon lần thứ 3, tuy nhiên, kết cục cũng giống như hai lần trước, tan rã vào năm 1805. Những thất bại trên chiến trường châu Âu ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của Pitt và ông sớm qua đời vào năm 1806, mở ra một dấu chấm hỏi lớn về người kế nhiệm chức tướng. Lord Grenville trở thành Thủ tướng, và his "Chính phủ của tất cả nhân tài" bao gồm Fox. Nhà vua hòa giải với Fox, sau khi bị ép buộc phải bổ dụng ông ta. Sau cái chết của Fox vào tháng 9, 1806, nhà vua và Chính phủ lại xung đột với nhau công khai. Để lấp những chỗ trống trong quân ngũ, Nghị viện đề xuất một dự luật vào tháng 2, 1807, theo đó những người Công giáo sẽ có thể được bổ dụng vào tất cả các cấp bậc trong lực lượng vũ trang. George không những bác bỏ dự luật mà còn cấm trong tương lai không một ai được đề xuất những dự luật như vậy nữa. Chính phủ đồng ý không thực thi dự luật song từ chối việc ràng buộc trong tương lai. Họ đã bị giải tán và thay thế bởi một chính phủ của Thủ tướng là Công tước Portland, nhưng chỉ trên danh nghĩa, quyền lực thực tế thuộc về Bộ trưởng Tài chính, Spencer Perceval. Nghị viện bị giải tán và cuộc bầu cử tiếp theo, chứng kiến sự thắng thế của một bộ phận thế lực lớn trong Hạ viện. George III đã có những quyết định chính trị lớn hơn nữa trong triều đại của ông; Công tước xứ Portland bị thay thế bởi Perceval năm 1809 không có nhiều ý nghĩa thực tế.
== Cuối đời ==
Cuối năm 1810, George đã ở trên đỉnh cao của sự nổi tiếng nhưng ông gần như bị mù và đục thủy tinh thể cùng với những đau đớn từ căn bệnh thấp khớp, George III một lần nữa lâm bệnh nặng. Theo nhiều thông tin xác nhận bệnh tình của ông có sự tác động lớn từ cái chết của người con gái út mà ông thương yêu nhất, Công chúa Amelia. Y tá của ông tường thuật rằng "Hoàng thượng đã đau khổ và khóc khóc mỗi ngày ... những ưu sầu khôn tả." Ông cảm thấy cần thiết phải thông qua Đạo luật Nhiếp chính, và Hoàng tử xứ Wales nắm quyền nhiếp chính trong 10 năm cuối triều George III. Mặc dù đã có dấu hiệu hồi phục vào tháng 5 năm 1811, cuối năm nay George đã mất trí nhớ vĩnh viễn và sống ẩn dật trong Lâu đài Windsoruntil cho đến khi băng hà.
Thủ tướng Spencer Perceval bị ám sát vào năm 1812 và được thay thế bởi Lord Liverpool. Liverpool đã lãnh đạo Anh quốc giành chiến thắng sau cùng trước quân của Napoleon. Theo như kết quả của Hội nghị Vienna, lãnh địa Hannover được mở rộng đáng kể và từ một Tuyển hầu quốc đã trở thành vương quốc.
Trong khi đó, sức khỏe của nhà vua ngày càng tồi tệ. Bệnh mất trí nhớ ngày càng trầm trọng và nhà vua hoàn toàn mù và ngày càng điếc. Ông thậm chí không hiểu và không nhận thức được rằng ông đã được phong làm Vua của Hannover năm 1814 hoặc cái chết của vợ ông năm 1818. Vào Giáng sinh năm 1819, ông nói những chuyện vô nghĩa suốt 58 giờ, và trong vài tuần cuối cùng của cuộc đời ông không thể đi lại được Ông qua đời tại Lâu đài Windsor lúc 8:38 pm ngày 29 tháng 1 năm 1820, sáu ngày sau cái chết của người con trai thứ tư, Công tước xứ Kent. Người con trai mà ông thương yêu nhất, Frederick, Công tước xứ York, ở bên ông trong giờ phút cuối cùng. George III được an táng vào ngày 16 tháng 2 tại Nhà thờ St George, Lâu đài Windsor.
George được kế thừa bởi hai người con trai của ông, George IV và William IV, cả hai đều chết mà không có con hợp pháp để kế vị, để lại ngai vàng con người con gái duy nhất của Công tước xứ Kent, Victoria, quân chủ cuối cùng của vương triều Hannover.
== Di sản ==
George III đã sống trong 81 năm 239 ngày và trị vì 59 năm 96 ngày: cuộc đời và thời gian cai trị của ông dài hơn tất cả những người tiền nhiệm. Chỉ có Victoria và Elizabeth II sống lâu hơn và trị vì lâu hơn.
George III được mệnh danh là "Nông dân George" bởi những nhà thơ trào phúng, lúc đầu sự quan tâm của ông dành cho các vấn đề trần tục hơn là chính trị, nhưng sau đó tính cách giản dị và tiết kiệm của ông, đối lập với người con trai trưởng, khiến người ta gọi ông là con người của nhân dân. Dưới thời George III, Cuộc Cách mạng Công nghiệp đạt đến đỉnh cao của nó và những tiến bộ trong khoa học, công nghệ đã được ghi nhận. Có một sự tăng trưởng chưa từng có trong dân cư nông thôn, nhờ đó cung cấp một lực lượng lap động khá lớn cho cuộc Cách mạng Công nghiệp. Bộ sưu tập các dụng cụ toán học và khoa học của George hiện đang được trưng bào ở Bảo tàng khoa học, Luân Đôn; ông tài trợ công cuộc xây dựng và bảo trì công trình Kính thiên văn 40 dặm của William Herschel, công trình khoa học lớn nhất vào thời điểm đó. Herschel phát hiện ra hành tinh Uranus, lúc đầu nó có tên là Georgium Sidus (sao George) theo tên của nhà vua, vào năm 1781.
George III hi vọng rằng "những lời nói ác ý có thể không thể hiện được những ý định của Quả nhân trong những màu sắc phu nhân ngưỡng mộ, cũng không phải là nịnh bợ cho những gì mà quả nhân không xứng đáng", nhưng trong tâm thức của quần chúng, George III được ca ngợi và cả những ý kiến coi ông như quỷ dữ. Trong những năm đầu triều đại, George được lòng dân, nhưng giữa những năm 1770 mất đi sự trung thành từ người dân Bắc Mỹ từ sau cuộc Cách mạng, mặc dù có ý kiến cho rằng vẫn có một nửa số dân thuộc địa trung thành với hoàng gia. Những bất bình được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ được biểu thị là "nhắc đi nhắc lại những tổn thương và chiếm đoạt" rằng ông đã quyết tâm thành lập một "chính thể chuyên chế tuyệt đối" tại các thuộc địa. Những lời lẽ trong Bản Tuyên ngôn gây một cảm giác trong quần chúng Mỹ rằng George là một quân vương bạo chúa. Những lời bình luận hiện nay về cuộc đời của George III chia làm 2 luồng ý kiến: một là "thái độ chiếm ưu thế trong phần sau của triều đại, khi nhà vua đã trở thành một biểu tượng tôn kính của toàn quốc kháng chiến với những tham vọng của Pháp và thế lực của Pháp", trong khi luồng ý kiến còn lại "có nguồn gốc quan điểm của họ rằng thời đại của nhà vua tràn ngập xung đột phe phái quyết liệt của hai thập kỷ đầu tiên, và chúng tiếp tục thể hiện trong công trình của họ quan điểm của phe đối lập".
Xây dựng trên hai luồng ý kiến đánh giá này, những nhà sử học Anh thế kỉ XIX và đầu XX, bao gồm Trevelyan và Erskine May, đẩy mạnh sự chống đối với cuộc đời của George. Tuy nhiên, vào giữa thế kỉ XX, tác phẩm của Lewis Namier, người cho rằng triều đại của George "bị nhiều sự vu khống", và bắt đầu đánh giá lại nhân cách và triều đại của ông. Các học giả cuối thế kỉ XX, như Butterfield với Pares, Macalpine với Hunter, có xu hướng thông cảm hơn với George, xem ông như một nạn nhân của hoàn cảnh và bệnh tật. Butterfield đã bác bỏ lập luận của bậc tiền bối thời Victorian với thái độ khinh thị: "Erskine có thể phải là ví dụ tốt về cách một sử gia có thể rơi vào lỗi qua có quá nhiều nét đẹp kín đáo. Khả năng tổng hợp của ông ấy, và khả năng của ông ấy lắp mộng đuôi én vào nhiều bộ phận của bằng chứng. Mang ông ấy vào nhiều soạn thảo sâu sắc và phức tạp của những sai sót hơn vài người tiền nhiệm không lý thú hơn của ông ấy... Ông ấy chèn học thuyết phần tử vào lịch sử của ông ấy, cấp quang sai ban đầu của anh ấy, nhằm sắp đặt hệ thống lỗi của ông ấy, mang công trình của ông ấy bên cạnh đó từ xu hướng ở trung tâm hoặc sự thật." Đối với việc cố gắng duy trì chiến tranh với các thuộc địa Mỹ, George III tin rằng ông đã bảo vệ quyền của Nghị viện là thu tiền thuế, thay vì tìm cách mở rộng quyền lực hay đặc quyền của mình. Theo quan điểm của các học giả hiện đại, dưới triều đại lâu dài của George III, chế độ quân chủ tiếp tục để mất quyền lực chính trị của mình, và dần trở thành một biểu tượng của giá trị đạo lý quốc gia.
== Danh hiệu và huy hiệu ==
=== Danh hiệu ===
4 tháng 6 1738 – 31 tháng 3 1751: His Royal Highness Hoàng tử George
31 tháng 3 1751 – 20 tháng 4 1751: His Royal Highness Công tước xứ Edinburgh
20 tháng 4 1751 – 25 tháng 10 1760: His Royal Highness Hoàng tử xứ Wales
25 tháng 10 1760 – 29 tháng 1 năm 1820: His Majesty The King
Ở Anh, George III sử dụng danh hiệu chính thức "George đệ Tam, bởi Ân điển của chúa, Vua của Anh, Pháp, và Ireland, Người Bảo vệ Đức tin, Thủ lĩnh tối cao Giáo hội Anh". Năm 1801, khi danh hiệu Quốc vương của Anh và Ireland hợp nhất, ông từ bỏ danh xưng vua của Pháp, vốn được người Anh tuyên bố chủ quyền từ thời vua Edward III tự xưng vua Pháp vào thời Trung cổ. Danh hiệu bấy giờ là "George đệ tam, Bởi Ân điển của Chúa, Vua của Vương quốc Anh và Icreland, Người Bảo vệ Đức tin."
Ở Đức, ông là "Công tước xứ Brunswick và Lüneburg, Archtreasurer và Vương công - Tuyển hầu của Thánh chế La Mã" cho đến khi sự kết thúc của đế chế năm 1806. Ông tiếp tục sử dụng danh hiệu Công tước cho đến khi Hội nghị Vienna phong cho ông làm "Vua của Hannover" năm 1814.
=== Huy hiệu ===
== Con cái ==
== Tổ tiên ==
== Xem thêm ==
Mô tả văn hóa của George III của Anh
Danh sách những vị vua bị tâm thần
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Bibliography
Ayling, Stanley (1972). George the Third. Luân Đôn: Collins. ISBN 0-00-211412-7.
Benjamin, Lewis Saul (1907). Farmer George. Pitman và Sons.
Black, Jeremy (2006). George III: America's Last King. New Haven: Yale University Press. ISBN 0-300-11732-9.
Brooke, John (1972). King George III. Luân Đôn: Constable. ISBN 0-09-456110-9.
Butterfield, Herbert (1957). George III và the Historians. Luân Đôn: Collins.
Cannon, John (2004). "George III (1738–1820)". Oxford Dictionary của National Biography. Oxford University Press.
Cannon, John; Griffiths, Ralph (1988). The Oxford Illustrated History of the British Monarchy. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-822786-8.
Carretta, Vincent (1990). George III and the Satirists from Hogarth to Byron. Athens, Georgia: The University của Georgia Press. ISBN 0-8203-1146-4.
Colley, Linda (1994). Britons: Forging the Nation 1707–1837. Yale University Press.
Fraser, Antonia (1975). The Lives of the King and Queen of England. Luân Đôn: Weidenfeld và Nicolson. ISBN 0-297-76911-1.
Hibbert, Christopher (1999). George III: A Personal History. Luân Đôn: Penguin Books. ISBN 0-14-025737-3.
Medley, Dudley Julius (1902). A Student's Manual of English Constitutional History.
Pares, Richard (1953). King George III and the Politicians. Oxford University Press.
Reitan, E. A. (editor) (1964). George III, Tyrant Or Constitutional Monarch?. Boston: D. C. Heath và Company. một compilation của essays encompassing the major assessments của George III up to 1964.
Röhl, John C. G.; Warren, Martin; Hunt, David (1998). Purple Secret: Genes, "Madness" and the Royal Houses của Europe. London: Bantam Press. ISBN 0-593-04148-8.
Sedgwick, Romney (ed.; 1903). Letters from George III to Lord Bute, 1756–1766. Macmillan.
Simms, Brendan; Riotte, Torsten (2007). The Hanoverian Dimension in British History, 1714–1837. Cambridge University Press.
Thomas, Peter D. G. (1985). “George III và the American Revolution”. History 70: 16–31. doi:10.1111/j.1468-229X.1985.tb02477.x.
Trevelyan, George (1912). George the Third và Charles Fox: The Concluding Part của the American Revolution. New York: Longmans, Green.
Watson, J. Steven (1960). The Reign of George III, 1760–1815. Luân Đôn: Oxford University Press.
Weir, Alison (1996). Britain's Royal Families: The Complete Genealogy, Revised edition. Luân Đôn: Random House. ISBN 0-7126-7448-9.
Wheeler, H. F. B.; Broadley, A. M. (1908). Napoleon and the Invasion of England. Volume I. Luân Đôn: John Lane The Bodley Head.
Xem thêm
Ditchfield, G. M. (2002). George III: An Essay in Monarchy. Basingstoke: Palgrave. ISBN 0-333-91962-9.
Hecht, J. Jean (1966). "The Reign of George III in Recent Historiography". In: Elizabeth Chapin Furber, ed. Changing views on British history: essays on historical writing since 1939, các trang 206–234. Harvard University Press.
Macalpine, Ida; Hunter, Richard (1966). “The 'insanity' of the King George III: A classic case of porphyria”. Brit. Med. J. 1: 65–71. doi:10.1136/bmj.1.5479.65. PMC 1843211. PMID 5323262.
Macalpine,I.; Hunter, R.; Rimington, C. (1968). “Porphyria in the Royal Houses of Stuart, Hanover, và Prussia” (PDF). British Medical Journal 1: 7–18. doi:10.1136/bmj.1.5583.7. PMC 1984936. PMID 4866084.
May, Thomas Erskine (1896). The Constitutional History của Anh Since the Accession của George the Third, 1760–1860 11th ed. London: Longmans, Green và Co.
Namier, Lewis B. (1955). "Nhà vuaGeorge III: một Study in Personality" in Personalities và Power. London: Hamish Hamilton.
O'Shaughnessy, Andrew Jackson (Spring 2004). “'If Others Will Not Be Active, I Must Drive': George III and the American Revolution”. Bá tước y American Studies 2: iii, 1–46. doi:10.1353/eam.2007.0037.
Smith, Robert A. (1984). "Reinterpreting the Reign of George III". In: Richard Schlatter, ed. Recent Views on British History: Essays on Historical Writing since 1966, các trang 197–254. Rutgers University Press.
== Liên kết ngoài ==
Tài liệu lưu trữ liên quan đến George III của Liên hiệp Anh và Ireland liệt kê tại Cơ quan lưu trữ quốc gia Vương quốc Anh
Chân dung của Nhà vuaGeorge III tại Phòng Trưng bày Chân dung Quốc gia, Luân Đôn
George III papers, including references to madhouses và insanity from the Historic Psychiatry Collection, Menninger Archives, Kansas Historical Society |
21 (album của adele).txt | 21 là album phòng thu thứ hai của nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Anh Adele, phát hành ngày 24 tháng 1 năm 2011 ở nhiều nước châu Âu, và ngày 22 tháng 2 năm 2011 ở Bắc Mỹ. Tiêu đề album được đặt theo tuổi của Adele khi cô sản xuất album. Ngoài việc mang ảnh hưởng của thể loại folk và soul Motown đã có từ album đầu tay 19, album còn lấy cảm hứng từ nhạc đồng quê Mỹ và blues miền nam mà cô được tiếp cận trong chuyến lưu diễn An Evening with Adele (2008–09 tại Bắc Mỹ).
Adele bắt đầu việc sáng tác cho 21 từ tháng 4 năm 2009, khi cô vẫn còn giữ mối quan hệ với bạn trai, người đã trở thành cảm hứng cho album này về sau. Không hài lòng với vai bi kịch một lần nữa như album trước, cô đã định sáng tác các bài hát tiết tấu nhanh hơn. Tuy nhiên, việc thu âm sớm dừng lại do thiếu ý tưởng. Cô tiếp tục việc sản xuất album ngay sau khi mối quan hệ của cô đổ vỡ, đưa nỗi đau xót và phiền muộn vào những bài hát. Adele đã hợp tác với nhiều nhạc sĩ và nhà sản xuất, gồm đồng chủ tịch Columbia Records Rick Rubin, Paul Epworth, Ryan Tedder, Jim Abbiss và Dan Wilson.
Nhờ được khen ngợi về quá trình sản xuất đơn giản, thẩm mỹ đặc trưng và giọng ca của Adele, 21 bất chấp những dự đoán khiêm tốn về mặt thương mại của XL Recordings và trở thành album cực kì thành công của năm 2011. 21 dẫn đầu bảng xếp hạng album ở trên 30 quốc gia và có mặt trong ấn bản 2012 của Sách Kỷ lục Guinness khi là album bán chạy nhất thế kỉ 21 và bán chạy thứ tư mọi thời đại của Vương quốc Anh, album đầu bảng liên tục lâu nhất của một nữ nghệ sĩ hát đơn tại Anh với 23 tuần đứng đầu UK Albums Chart. Tại Hoa Kỳ, album giữ vị trí quán quân trong 24 tuần liên tục, lâu hơn bất cứ album nào kể từ năm 1985 và lâu nhất của một nữ nghệ sĩ hát đơn trên Billboard 200, và được chứng nhận kim cương của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Ba đĩa đơn "Rolling in the Deep", "Someone Like You" và "Set Fire to the Rain" trở thành những bài hát ăn khách trên toàn thế giới trong khi "Rumour Has It" có mặt trong top 20 tại nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ.
21 là đĩa nhạc bán chạy nhất năm 2011 và 2012, giúp vực lại doanh thu bán đĩa đang tụt dốc của nền công nghiệp âm nhạc Mỹ và Anh. Tính tới tháng 7 năm 2014, album đã bán ra trên 30 triệu bản trên toàn cầu. Giới phê bình ca ngợi album là bước chuyển so với hiện trạng khoa trương âm nhạc và lộ liễu về chủ đề tình dục, và coi thành công của album là từ những bài hát mang nặng tính tự truyện nhưng có tính phổ quát. Tại giải Grammy lần thứ 54, album đoạt giải Album của năm và tại giải Brit 2012, 21 đoạt giải Album Anh của năm.
== Sáng tác và sản xuất ==
=== Giai đoạn đầu ===
Vào tháng 4 năm 2009, Adele, khi đó 20 tuổi và vừa trải qua mối quan hệ tình cảm nghiêm túc đầu tiên cùng một người đàn ông lớn hơn cô 10 tuổi, bắt đầu sáng tác cho album kế tiếp thành công của album đầu tay 19. Để đáp lại việc giới truyền thông coi cô như một "tâm hồn xưa cũ" do cách sản xuất cổ điển và đặc trưng tình cảm trong các ca khúc của cô, Adele quyết định sẽ cho ra một album vui tươi lạc quan và hợp thời hơn. Tuy nhiên, các buổi thu âm không được như ý và, sau hai tuần, chỉ cho ra một ca khúc khiến cô hài lòng— "Take It All", một bản ballad piano sầu muộn do Jim Abbiss sản xuất không khác mấy so với các bài hát trong 19. Vỡ mộng vì thiếu cảm hứng và tiến độ thu âm ì ạch, cô quyết định hủy các buổi thu âm còn lại.
Adele viết "Take It All" trong một khoảnh khắc khó khăn của mối quan hệ tình cảm. Khi cô hát nó cho bạn trai của mình nghe, cả hai lao vào cuộc tranh luận căng thẳng và dẫn tới kết thúc cho mối tình kéo dài 18 tháng. Tuy đau đớn nhưng điều này giúp Adele có động lực dồn hết cảm xúc cho âm nhạc, nhào nặn nên các ca khúc chiêm nghiệm mối tình buồn từ quan điểm của một người tình cũ đầy hận thù, nạn nhân của sự đau khổ vì tình đang mang trong mình nhiều hoài niệm.
=== Giai đoạn với Epworth, Smith và Tedder ===
Việc viết bài hát cho album bắt đầu ngay sau khi cô chia tay bạn trai. Cô liên lạc với nhà sản xuất Paul Epworth, say mê thuật lại cảm xúc của cô trong một bài hát: "Chúng tôi cãi nhau nảy lửa vào đêm qua... Tôi giận sôi người lên. Thế là tôi vào phòng thu và hét lên." Mặc dù ban đầu cô định hoàn thành nốt bản ballad mà cô thực hiện cùng Epworth hơn một năm trước, nhà sản xuất này lại gợi ý rằng cô nên tạo ra giai điệu mạnh mẽ hơn. Họ cùng nhau cấu trúc lại bài hát cũng như viết lại lời để phản ánh những trải nghiệm gần đây của Adele và quyết định đặt tên cho bài hát là "Rolling in the Deep". Nhạc cụ phối khí cho bài hát được phát triển một cách hữu cơ. Sau khi thử nghiệm với vài điệu riff jazz, Adele thử kiểu a cappella cho đoạn lời đầu tiên, tạo ra cảm hứng để Epworth tao nên giai điệu bằng chiếc guitar của acoustic của anh. Nhịp trống đập liên hồi tạo ra cảm giác giống với nhịp đập của con tim. Trong hai ngày, một bản demo được thu để đồng chủ tịch Columbia Records Rick Rubin sản xuất tiếp vào cuối năm đó. Tuy nhiên, Adele tìm tới Epworth lần nữa vài tháng sau đó để hoàn thành việc sản xuất. Bản demo được đưa vào để hoàn thành bài hát. Epworth phát triển việc phối khí cho bài hát dựa trên bản demo đoạn hát một lượt của Adele sau nhiều bản thu không thể khơi dậy cảm xúc chân thực của lần thu đầu tiên. Bản thu xuất hiện trong album vẫn bao gồm âm thanh chìm lúc Epworth đếm nhịp cho Adele trong phòng cách âm ngay sau khi cô bắt đầu hát.
Nhà sản xuất người Anh Fraser T Smith vẫn nhớ về con đường tương tự khi anh hợp tác với Adele để sáng tác "Set Fire to the Rain" tại phòng thu MyAudiotonic Studios ở Luân Đôn. Sau khi tạo ra bản demo, Adele tìm đến với Smith để thu âm bài hát cùng anh thay vì Rick Rubin như dự kiến. Smith nghĩ rằng lần thu đầu tiên của Adele tốt hơn nhiều so với các lần thu tiếp theo, và quyết định dùng bản demo làm bản thu cuối cùng của bài hát, kết hợp với tiếng trống và tiếng nhạc cụ dây (hòa âm bởi nhạc sĩ người Anh Rosie Danvers).
Adele tìm tới nghệ sĩ người Mỹ và cũng là ca sĩ hát chính của nhóm OneRepublic Ryan Tedder, người vào thời điểm này đang ở Luân Đôn để thu một chương trình trên đài phát thành. Tedder từng bày tỏ mong muốn hợp tác với cô sau khi họ gặp nhau tại giải Grammy lần thứ 51 vào tháng 2 năm 2009. Anh tới buổi thu âm đầu tiên sớm hai tiếng để làm quen với một số tác phẩm của cô trước đây. Dù không ý thức về sự khó xử của Adele, anh vẫn sáng tác chuỗi piano mở đầu và một vài dòng đầu của bản ballad sầu muộn "Turning Tables": "Close enough to start a war/All that I have is on the floor". Trùng hợp là nó diễn tả một cách hoàn hảo tâm trạng của Adele, người tới phòng thu sau một cuộc tranh cãi nữa với người tình cũ. Trong lúc tức giận cô lên án ý định "giành ưu thế" ("turn the tables") của anh ta, và Tedder quyết định đưa thành ngữ này vào lời bài hát. Adele thu âm bản demo với Jim Abbis vào ngày hôm sau.
Adele và Tedder sắp xếp buổi gặp mặt thứ hai tại Serenity West Studios ở Los Angeles vài tuần sau đó để thu âm "Rumour Has It". Tedder thừa nhận anh bất ngờ trước khả năng âm nhạc và kĩ năng thanh nhạc sau khi cô hoàn thành bài hát trong có 10 phút: "Cô ấy hát bài hát một lần từ đầu đến cuối, hoàn hảo, cô ấy không bỏ sót một nốt nào. Tôi nhìn anh kĩ sư âm nhạc rồi nhìn cô ấy và nói, 'Adele tôi không biết phải nói gì với em nhưng tôi chưa bao giờ bảo ai phải làm thế trong mười năm qua'."
=== Giai đoạn với Rubin, Wells và Wilson ===
Sau khi làm việc cùng Smith, Tedder và Epworth, Adele tới Mỹ thực hiện nốt album. Từ lời đề xuất của chủ tịch Columbia Records Ashley Newton, cô gặp nhạc sĩ Greg Wells tại studio của anh ở Culver City, Los Angeles, nơi họ cùng nhau sáng tác bản ballad đượm chất gospel "One and Only". Bài hát được phát triển từ một vòng hợp âm piano bốn đặt trong nhịp 6/8 mà Wells có từ trước. Lời bài hát, nói về mối tình mới của Adele, nhanh chóng được hoàn tất cùng Dan Wilson, người cũng cùng cô sáng tác "Someone Like You".
Vào năm 2008, sự xuất hiện của Adele trong Saturday Night Live khiến Rick Rubin đặc biệt chú ý. Trong giai đoạn đầu sản xuất album Rubin nhận làm người sản xuất duy nhất, và dự định sản xuất tất cả các bài hát. Các bản demo từng thu cùng Epworth, Smith và Tedder (trong đó có "Rolling in the Deep" và "Set Fire to the Rain") được Rubin thu âm lại tại Shangri-La Studio của ông ở Malibu, California vào thang 4, 2010.
Rubin, nổi tiếng vì phong cách sản xuất kì quái, giúp Adele thoát khỏi sự cầu toàn, và mặc dù vậy, Adele miêu tả việc được làm việc cùng ông thật gây nản chí. Rubin dự nhiều buổi diễn của cô trong giai đoạn 2008–2009, và sau màn trình diẽn ở Hollywood Bowl, ông tới gặp để khen ngợi khả năng hát trực tiếp của cô. Ở Malibu, ông cố gắng đưa khả năng trình diễn của cô vào bản thu bằng việc tập hợp một đội ngũ nhạc công bao gồm—tay trống Chris Dave, tay guitar Matt Sweeney, nghệ sĩ chơi piano James Poyser, và bass thuộc về Pino Palladino—để tạo ra âm thanh nhạc cụ cho các buổi thu. Ông cũng quyết không sử dụng nhạc mẫu và nhạc cụ điện tử. Rubin dựa nhiều vào trạng thái cảm xúc ngoài âm nhạc để hòa quyện giai điệu và nhạc khí cho các bài hát. Trong phòng thu ông tách riêng Adele và khuyến khích cô, cũng như các nhạc công, hãy đi vào quá trình sản xuất một cách tự nhiên và thoải mái. Adele thậm chí còn nhớ những lúc khiến đội ngũ sản xuất bật khóc khi đang thu một số bài hát. Trong một buổi phỏng vấn, Rubin bình luận về các buổi thu âm:
Cô ấy hát mạnh mẽ và đau đớn trong phòng thu, rõ ràng là có một thứ đặc biệt nào đó đang diễn ra... Các nhạc công có nhiều hứng thú khi ít phải chơi nhạc khi có sự hiện diện của ca sĩ, ít tiếng hát hơn nhiều... Ngày nay, người ta thường thêm nhạc nền vào sau. Thực sự là một thời điểm mang tính tương tác khi mà các nhạc công không biết họ sẽ thể hiện được điều gì và tất cả mọi người sẽ nghe thật, thật sâu lắng và trọn vẹn để tìm ra chỗ nào hợp lý... tất cả các công việc này hợp với cảm xúc trong giọng hát mãnh liệt của Adele.
Sau khi kết thúc với Rubin, Adele không hài lòng với nhiều bài hát. Cô quyết định bỏ gần hết các sản phẩm để quay về với các bản thu ban đầu của Epworth và Tedder nhằm phản ánh cảm xúc thực của cô ngay sau lúc cuộc tình tan vỡ. Chỉ có năm bản hợp tác với Rubin xuất hiện trong album: "Don't You Remember", "He Won't Go", "I'll Be Waiting", "One and Only" và track tại Mỹ "I Found a Boy". Vài tuần sau khi kết thúc làm việc cùng Rubin, Adele biết về việc người yêu cũ đính hôn. Điều này tạo cảm hứng để cô hoàn thành nốt bài hát cuối cùng của album "Someone Like You". Hãng thu âm của Adele ban đầu không hài lòng với sự sơ sài trong quá trình sản xuất, khi chỉ có giọng của Adele được đệm bởi giai điệu của một chiếc piano duy nhất, và yêu cầu thu âm lại cùng nhóm của Rubin. Tuy nhiên cô quyết giữ nguyên cách hòa âm này vì cho rằng nó riêng tư đối với cô và cô viết nó để "tự giải thoát bản thân."
=== Đặt tên ===
"[21] khác 19, nó cùng một chủ đề nhưng trên một phương diện khác. Cách tôi xử lý giờ cũng khác. Tôi kiên nhẫn hơn... biết tha thứ hơn và ý thức nhiều hơn về sai sót của bản thân... Chắc là do tôi lớn hơn theo năm tháng. Bản thu này mang tên 21 là chuẩn rồi... Giống như cuốn album ảnh bạn thấy sự tiến bộ và đổi thay [của tôi]... qua từng năm. Tôi đã cố nghĩ ra tên album khác tìm ra cái tên nào thích hợp cho album cả".-- Adele, nói về ý nghĩa tên album.
Adele đầu tiên định đặt tên album là Rolling in the Deep, lấy từ cụm từ lóng "roll deep", một cụm từ lột tả trọn vẹn những gì cô nghĩ về mối tình. Theo cách tạm dịch của cô, cụm từ này nói về việc có ai đó "chống lưng cho bạn" và luôn ủng hộ bạn. Tuy nhiên sau đó cô cho rằng nó quá khó hiểu với một vài người nghe. Mặc dù không muốn theo mô típ đặt tên con số cho album giống sản phẩm đầu tay, Adele thấy "21" có lẽ là tựa đề phù hợp nhất khi nó là tuổi của cô khi bắt đầu thực hiện album, với mục đích như một kiểu tự truyện, và đánh dấu sự trưởng thành và sự phát triển nghệ thuật kể từ khi ra mắt.
== Âm nhạc và ảnh hưởng ==
21 chịu ảnh hưởng từ sự tiếp xúc lâu dài của Adele với âm nhạc miền nam Hoa Kỳ trong trong chuyến lưu diễn diễn An Evening with Adele (2008-09). Những quãng nghỉ để hút thuốc với tài xế xe buýt lưu diễn, một người gốc Nashville, Tennessee, đưa cô tới với các thể loại bluegrass và rockabilly, âm nhạc của Garth Brooks, Wanda Jackson, Alison Krauss, Lady Antebellum, Dolly Parton và Rascal Flatts. Adele dần đề cao nhạc đồng quê hơn, và cô miêu tả rằng nhạc nền tới tức thì, lối kể chuyện cởi mở của nhiều ca khúc cô được nghe; cô cũng rất nhiệt tình học hỏi thể loại âm nhạc mới. Dù vậy, 21 vẫn giữ nguyên ảnh hưởng Motown từ 19 và thể hiện sự chuyển điệu gospel và soul. Các nhạc cụ như kèn saxophone, đàn hạc, đàn banjo và đàn accordéon đóng góp nhiều vào sự kám phá nhạc blues và soul. Cô cũng lấy cảm ứng từ Mary J. Blige, Kanye West, Elbow, Mos Def, Alanis Morissette, Tom Waits và Sinéad O'Connor để trau chuốt âm nhạc của album đồng thời coi Yvonne Fair, Andrew Bird, Neko Case và The SteelDrivers là những nhân tố quyết định tới định hướng âm nhạc.
Nhìn chung được các nhà phê bình phân 21 ở thể loại soul. mặc dù một số khác cho rằng album không hướng đến bất kì một thể loại riêng biệt nào. John Murphy của musicOMH mô tả album thuộc thể loại nhạc soul Anh. Jon Caramanica của The New York Times viết rằng âm nhạc của album là một phần của công cuộc hồi sinh nhạc soul Anh gần đây và đã "gợi lại phong cách từ thời các nhóm nhạc nữ nhạc Motown và Dusty Springfield". Ryan Reed của Paste gọi Adele là một "tài năng nhạc alt-soul Anh Quốc" và âm nhạc của album là "chất liệu của bối cảnh pop-noir hiện đại gây nhiều hứng thú, nặng về các kết cấu hoài cổ và sự kịch tính trong quan hệ tình cảm." Danyel Smith của Billboard nhìn nhận rằng âm nhạc của Adele thể hiện ự ảnh hưởng từ nhạc soul miền bắc, Aretha Franklin, Sade và Bette Midler. Larry Flick của SiriusXM gọi 21 là "một bản thu pop mang khuynh hướng soul". Mike Spies của Slate cho rằng nhạc soul liên kết chặt chẽ tới kiến thức về chính trị, lịch sử, và văn hóa của người Mỹ gốc Phi, còn Adele và những người đương thời, do quá tách biệt với môi trường văn hóa xã hội này, chỉ có thể tạo ra một bản sao của nhạc "soul" thực sự, dù có khả năng nắm bắt âm điệu của dòng nhạc này một cách thuyết phục.
== Các bài hát ==
Danh sách bài hát trong album tương ứng với mức độ cảm xúc mà Adele trải qua sau khi chia tay, từ sự giận dũ và cay đắng, tới cảm xúc cô đơn, dau khổ và nuối tiếc, và cuối cùng là chấp nhận. "Rolling in the Deep", được cô coi như sự trả đũa người tình cũ sau những lời bình phẩm rằng cô thật yếu đuối và cuộc sống của cô sẽ "nhàm chán và cô độc và vô giá trị" khi không có anh ta. Mở đầu bằng nhịp guitar acoustic, những câu hát đầu tiên của bài hát như nói thay cả album. Những nhịp đập mạnh mẽ liên hồi, qua lại giữa trống và piano tạo thành đoạn điệp khúc kịch tính, nhiều tầng được tạo nên từ "cuộc tìm kiếm giai điệu và ngôn từ thích hợp để bộc lộ sự thiếu kiềm chế vì một người đàn ông đã dám là đau trái tim cô." "Rolling in the Deep" cũng là một trong những bài hát điển hình cho ảnh hưởng của âm nhạc Hoa Kỳ lên album.
"Rumour Has It" là lời đáp trả đầy mỉa mai đối với những lời đồn thổi ác ý từ chính những người bạn của cô xoay quanh sự tan vỡ trong chuyện tình cảm của Adele. Hòa trộn giữa các yếu tố của nhạc blues kiểu doo-wop và Tin Pan Alley, bài hát được xây dựng nên từ những hòa âm kiểu nhóm nhạc nữ, hợp âm piano, tiếng kick drum và tiếng vỗ tay, cho thấy "hơi hướng của một nữ ca sĩ phòng trà [...] thập niên 40". Jon Caramanica của The New York Times chỉ ra "giọng ca đối âm giả tạo" và slow, đoạn nối "đáng sợ một cách táo bạo" của bài hát đã thay đổi chiều hoàn toàn từ nhịp điệu dồn dập trước khi trở lại với tiếng trống rộn ràng ấy. Trong phòng thu, Tedder thử nghiệm một đoạn riff được tryền cảm hứng từ "I Might Be Wrong" của Radiohead. Trong "Turning Tables", bài hát về mâu thuẫn nội bộ, có thể coi là lời tự hứa của Adele tạo ra một khoảng cách về mặt cảm xúc nhằm tranh đau đớn về sau. Bryan Boyd của The Irish Times ví cô với rocker thạp niên 1980 người xứ Wales Bonnie Tyler trong cách truyền tải giọng hát bằng sự hòa trộn giữa sự căm giận, đau thương và sự cảm động.
Bài hát do Rick Rubin sản xuất "Don't You Remember", đồng sáng tác bởi Adele và Dan Wilson, là một sự thay đổi chủ đề trong album, từ tức giận và tự vệ sang suy xét và đau khổ. Được miêu tả là bản ballad downtempo phong cách country, bài hát được thêm vào quá trình sản xuất album một cách muộn màng bởi cô thấy ái ngại vì chân dung có phần quá tiêu cực của người yêu cũ trong suốt album. Lời bài hát là lời cầu xin người tình cũ hãy nhớ về những phút giây hạnh phúc thuở ban đầu. Trong "Set Fire to the Rain" cô miêu tả những giai đoạn xung đột của một sự hòa hợp đầy rắc rối và vật lộn với sự bất lực trong việc dứt khoát từ bỏ người đàn ông. Được tạo điểm nhấn từ những khúc nhạc công phu, tiếng dây đàn cuộn trào, từ sự tăng dần của âm điệu, và hiệu ứng âm thanh ấn tượng khi càng tới kết thúc, Bài hát khá là tương phản với quá trình sản xuất đơn giản của album, và được các nhà phê bình xếp là một bản ballad pop rock đầy nội lực.
"Take It All", được viết và thu âm cùng Francis "Eg" White và Jim Abbis trước khi mối quan hệ của Adele tan vỡ, là bản ballad piano ảnh hưởng mạnh từ pop, soul và gospel. Matt Collar của AllMusic gọi bài hát là tâm điểm của album, "một bản instant-classic" cùng điệu với "And I Am Telling You I'm Not Going" và "All by Myself", và là một "khoảnh khắc giải thoát cho những người hâm mộ đồng cảm với tính cách sầu muộn của thần tượng của họ." "I'll Be Waiting", bài hát còn lại sản xuất cùng Epworth, vốn tách ra từ một "Rolling in the Deep" đầy gay gắt trong giai điệu lạc quan, du dương hơn. Vốn là một sự nhận lỗi sau mối tình dang dở, cô tuyên bố sẽ kiên nhẫn chờ đợi sự trở lại chắc chắn của người cô yêu. Bài hát được ví với âm nhạc của Aretha Franklin vì "giọng hát tuyệt vời ở đoạn điệp khúc, tiếng piano rền vang", còn Tom Townshend của MSN Music miêu tả phần kèn của bài hát là "bản barroom gospel" mang phong cách Rolling Stones.
Mặc dù album chủ yếu đi khám phá mối tình đã lỡ của Adele, không phải mọi bài hát đều chĩa về người yêu cũ của cô. "He Won't Go", mang hơi hướng của hip hop và R&B, là lời thán phục gửi tới người bạn đã chiến đấu với cơn nghiện heroin. "One and Only", nổi bật về đoạn xướng âm, tiếng piano và phong cách hòa âm mang hơi thở gospel, nói về người bạn thân cùng Adele sẻ chia những cảm xúc lãng mạn. Còn "Lovesong" được dành cho ẹ và những người bạn của Adele, ở nơi họ cô tìm thấy sự khuây khỏa mỗi khi nhớ nhà và cô đơn khi thu âm ở Malibu.
Album khép lại với "nhịp khoan thai trong nỗi khổ đau" mang tên "Someone Like You", bản ballad piano kết hợp giữa giọng ca của Adele và tiếng piano ngân đều. Cô coi đây là sự tổng kết suy nghĩ của cô về người cũ khi quá trình sản xuất album chuẩn bị kết thúc. Lời bài hát nói về nỗ lực giải tỏa nỗi lòng sau khi cô biết về đám cưới và cuộc sống mới hạnh phúc của anh chàng kia. Sean Fennessey của The Village Voice ca ngợi giọng ca không lẫn đi đâu của cô trong bài, từ "lời thì thầm gần như muốn hét lên" trong đoạn điệp khúc trước khi lấy lại sự điềm tĩnh. "Someone Like You" còn được ca ngợi vì lời bài hát sâu sắc và sự đơn giản không cần phô trương.
== Phát hành và quảng bá ==
Để chuẩn bị cho việc ra mắt 21 tại thị trường Bắc Mỹ vào ngày 22 tháng 2 năm 2011, ban điều hành Columbia Records sử dụng "lý thuyết bán hàng long tail" để định hình chiến dịch marketing, điều, theo phó chủ tịch về marketing của Columbia Scott Greer, đòi hỏi "xây dựng một khối lượng tối thiểu trong suốt tháng 2 nhằm tiếp cận tất cả những ai đã mua 19." Chìa khóa của vấn đề nằm ở việc công ty thu âm tiếp cận các đối tác internet và truyền thông như Vevo, AOL và VH1 để bắt đầu quảng bá các ca khúc cũ và mới của Adele. Trong các tháng cận kề việc ra mắt của 21 tại thị trường châu Âu, Adele khởi động tour quảng bá khắp châu Âu, biểu diễn trong Royal Variety Performance ở Anh vào ngày 9 tháng 12 năm 2010, chung kết The Voice of Holland vào ngày 21 tháng 1 năm 2011, và Live Lounge của BBC Radio 1 6 ngày sau. Vào ngày 24 tháng 1 năm 2011, trong tuần lễ phát hành album tại Anh, cô biểu diễn một buổi hòa nhạc acoustic một số bài hát trong 21 tại hội trường âm nhạc ở Tabernacle, Luân Đôn, trực tiếp trên tran web cá nhân của cô. Màn thể hiện "Someone Like You" của Adele tại lễ trao giải Brit 2011 được đón nhận tích cực và giúp doanh thu của 19 và 21 khởi sắc.
Từ tháng chín tới tháng mười 2010, Adele tham gia vào tour quảng bá nhỏ ở Mỹ, dừng chân tại New York và Minneapolis, cũng như sự xuất iện dặc biệt tại Club Largo ở Los Angeles. Mặc dù chưa từng sử dụng Twitter, Columbia tạo ra tài khoản chuyển hướng người theo dõi về trang blog cá nhân của cô. Trong tháng hai, trang cá nhân của Adele tổ chức chiến dịch quảng bá "21 Days of Adele", với nội dung độc quyền hàng ngày, bao gồm nói chuyện trực tuyến và video Adele giải thích về cảm hưng của mỗi bài hát trong album. Tuần phát hành tại Hoa Kỳ đi cùng một chuỗi lên sóng trong nhiều chương trình trò chuyện ban ngày cũng như ban đêm ở Mỹ, ví dụ như Today Show ngày 18 tháng hai, Late Show with David Letterman ngày 21 tháng hai, cùng The Ellen DeGeneres Show và Jimmy Kimmel Live! ngày 24 tháng hai. Adele cũng biểu diễn "Someone Like You" ở MTV Video Awards 2011.
Adele tổ chức tour diễn Adele: Live để quảng bá cho 21, với trên 60 buổi tại châu Âu và Bắc Mỹ. Các buổi diễn nhận được nhiều nhận xét tích cực, đanh giá cao sự giản đơn, giọng hát và phong cách gần gũi của nữ ca sĩ. Tuy nhiên, sức khỏe không đảm bảo và vấn đề về thanh quản khiến cho chuyến lưu diễn bị thay đổi nhiều lần. Việc hủy tour Bắc Mỹ xuất phát từ chính lý do xuất huyết dây thanh quản. Cô đã phải trải qua ca phẫu thuật phục hồi thanh quản vào tháng 11 năm 2011 và chỉ xuất hiện trước công chúng vào tháng hai 2012. Adele biểu diễn "Rolling in the Deep" tại lễ trao giải ECHO Awards 2011, Giải Grammy 2012 và Giải Brit 2012.
Năm đĩa đơn được phát hành từ album 21. Đĩa đơn đầu tiên, "Rolling in the Deep", được phát hành đầu tiên tại Hà Lan ngày 29 tháng 11 năm 2010, nơi nó debut ở vị trí số 4 trên bảng xếp hạng. Ca khúc leo lên vị trí số một sau đó, trụ vững ở vị trí đó trong 7 tuần liên tục. Ca khúc cũng đạt vị trí số một ở Đức, Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ và Ý, lọt vào top 10 ở Áo, Đan Mạch, Canada, Ireland, Na Uy và New Zealand. Ngày 16 tháng 11 năm 2011, đĩa đơn được phát hành ở Anh, đạt được vị trí 2 trên UK Singles Chart. Tại Hoa Kỳ bài hát xuất hiện trong 12 bảng xếp hạng Billboard (bao gồm cả các bảng xếp hạng Rock Songs, Hot R&B/Hip-Hop Songs và Hot Latin Songs). Bài hát có bảy tuần liên tiếp dẫn đầu Billboard Hot 100, và là bài hát bán chạy nhất năm 2011.
Đĩa đơn thứ hai "Someone Like You" ra mắt ở vị trí 36 trên UK Singles Chart nhờ doanh số nhạc tải về lớn. Sau khi bài hát được biểu diễn tại giải Brit 2011, ca khúc leo từ vị trí 47 ở tuần trước đó lên vị trí số một. Bài hát đạt vị trí quán quân tại Úc, New Zealand, Ý, Phần Lan, Pháp, Thụy Sĩ, và Hoa Kỳ. "Set Fire to the Rain", đĩa đơn thứ ba, đứng dầu tại Hoa Kỳ, Hà Lan và Bỉ (Flanders), cũng như lọt vào top 5 ở Thụy Sĩ, Ý và Áo.
"Rumour Has It" được xác nhận là đĩa đơn thứ tư và cuối cùng tại Hoa Kỳ của album bởi Ryan Tedder tại giải Grammy 2012, và được phát hành vào ngày một tháng 3 năm 2012. Ở một số quốc gia khác, "Turning Tables" được phát hành làm đĩa đơn thứ tư. Bài hát cũng đóng vai trò đĩa đơn thứ năm ở một số đài phát thanh mainstream ở Hoa Kỳ, nhưng chỉ được phát ở mức giới hạn do không phải là đĩa đơn chính thức. Mặc dù "I'll Be Waiting" không trở thành đĩa đơn nhưng bài hát này vẫn xếp ở vị trí thứ 29 trên bảng xếp hạng Triple A của Hoa Kỳ.
== Thành tích xếp hạng và doanh số ==
Ngày 30 tháng 1 năm 2011, album xuất phát ở vị trí quán quân trên UK Albums Chart với doanh số tuần đầu là 208.000 bản. Với màn biểu diễn của Adele tại giải Brit 2011, doanh số tiêu thụ 21 trên Amazon.co.uk tăng 890% trong vòng 1 giờ phát sóng của chương trình. Album đầu tay 19 leo từ vị trí số 6 đến số 4 trên bảng xếp hạng album còn trên bảng xếp hạng đĩa đơn "Someone Like You" leo từ vị trí 47 lên vị trí số một, còn "Rolling in the Deep" thì tăng một bậc lên vị trí số 4. Adele trở thành nghệ sĩ đầu tiên sau The Beatles năm 1964 và là nghệ sĩ nữ đầu tiên có đồng thời 2 đĩa đơn và 2 album cùng nằm trong top 5 trên bảng xếp hạng đĩa đơn và album tại Anh. Thành tích này giúp cô được ghi vào sách Kỷ lục Guinness vào tháng 9 năm 2011. Trong tuần thứ năm mà 21 ở vị trí quán quân, hai album của Adele giữ hai vị trí cao nhất trên UK Albums Chart, đưa cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên sau The Corrs năm 1999 đạt được thành tích này.
Tới nay 21 đã có tổng cộng 23 tuần nắm giữ vị trí quán quân tại Anh Quốc. Trong suốt năm 2012, 21 là album bán chạy nhất dù được phát hành vào đầu năm 2011. Vào tháng 12 năm 2012, 21 vượt qua (What's the Story) Morning Glory? của Oasis để trở thành album bán chạy thứ tư tại Anh Quốc mọi thời đại. Đến tháng 12 năm 2012, 21 đã có 101 tuần trong top 75 UK Albums Chart, trong đó có 95 tuần trong top 40, 76 tuần trong top 10. Tới tháng 11 năm 2015 album đã tiêu thụ 4.800.000 bản, là album bán chạy thứ hai tại Anh Quốc mọi thời đại. 21 trở thành album đầu tiên tại Anh bán ra ba triệu bản trong một năm dương lịch và lập kỉ lục album của nghệ sĩ đơn ca nữ có nhiều tuần liên tiếp đầu bảng nhất tại Anh (với 11 tuần; vượt qua album tổng hợp The Immaculate Collection của Madonna vào năm 1990.) 21 đã được chứng nhận bạch kim 16 lần bởi British Phonographic Industry nhờ tiêu thụ 4.500.000 bản, album được chứng nhận cao nhất tại Anh Quốc. Đây cũng là album được tải xuống nhiều nhất trong lịch sử Anh Quốc, album bán chạy nhất thế kỉ 21 tại Anh. Doanh số của 21 giúp gia tăng lợi nhuận của XL Recordings, đưa số dư tài khoản ngân hàng từ 3 triệu bảng Anh lên 32 triệu bảng trong có 12 tháng.
Trên toàn cầu, 21 là album bán chạy nhất thập niên vừa qua theo IFPI, và dẫn đầu tại trên 30 quốc gia. Vào tháng bảy 2012, album được chứng nhận bạch kim mười lần bởi IFPI, tương ứng với doanh số 10 triệu trên toàn châu Âu, trở thành album được nhiều chứng nhận nhất tại châu Âu kể từ khi giải thưởng bạch kim châu Âu của IFPI được bắt đầu vào năm 1996. Album có 38 tuần ở vị trí quán quân tại Bỉ (Flanders), 14 tuần tại Thụy Sĩ, và 18 tuần ở Pháp. Ở Hà Lan 21 ra mắt ngay ở vị trí quán quân vào ngày 29 tháng 1 năm 2011 và có 30 tuần ở vị trí này Ở Đức, 21 dẫn đầu trong 8 tuần. Album có 35 tuần trên đỉnh của bảng xếp hạng tại Ireland, nhiều nhất trong lịch sử, và bán ra trên 270.000 bản. Với 124 tuần trên bảng xếp hạng tại Phần Lan từ đầu năm 2011 tới hè 2013 (11 tuần dẫn đầu) và trở lại vào đầu năm 2014, 21 trở thành album có mặt trên bảng xếp hạng lâu thứ nhì tại quốc gia này sau Keskiviikko... 40 ensimmäistä hittiä của Leevi and the Leavings. Album cũng là album bán chạy thứ năm 2011 và 2012 tại Phần Lan, với doanh số được chứng nhận bạch kim bốn lần (83.000 bản).
21 có 32 tuần ở vị trí số một trên ARIA Top 50 Albums Chart của Úc, trong đó có một chuỗi 10 tuần liên tiếp. Adele cũng lặp lại kỉ lục tại Anh khi có đồng thời hai bản thu trong top năm của hai bảng xếp hạng album và đĩa đơn của ARIA. Vào ngày 17 tháng 7 năm 2011, "Someone Like You" và "Rolling in the Deep" lần lượt giữ vị trí thứ nhất và thư tư trên bảng xếp hạng đĩa đơn, còn 21 và 19 giữ vị trí thứ nhất và thứ ba trên bảng xếp hạng album. Vào tháng 12 năm 2012, 21 được thông báo dang tiệm cận con số một triệu bản ở Úc, đưa 21 là album thứ bảy làm được điều này tại Úc và đầu tiên kể từ Innocent Eyes của Delta Goodrem. Trên bảng xếp hạng album của New Zealand, 21 ra mắt ở vị trí quán quân vào tháng 1 năm 2011, và giữ vị trí này trong 28 tuần trong năm 2011. Album trở lại ngôi đầu bảng vào tháng 1 năm 2012, đúng dịp kỉ niệm một năm phát hành. Ngoại trừ một lần đứng ở vị trí thứ 6 trong tuần lễ kết thúc vào ngày 21 tháng 11 năm 2011, album có mặt trong top 5 trong 70 tuần liên tục. Thành tích 38 tuần là số tuần nhiều nhất trong lịch sử xếp hạng tại New Zealand.
Phát hành ngày 22 tháng 2 năm 2012 tại Hoa Kỳ, 21 ra mắt ở vị trí số một trên Billboard 200 với doanh thu tuần đầu tiên là 352.000 bản. Album duy trì vị trí trong top ba 23 tuần, trong top năm 39 tuần liên tiếp (kỉ lục) và trong top 10 tổng cộng 84 tuần. 21 trở thành album kĩ thuật số bán chạy nhất mọi thời đại tại Hoa Kỳ với 2 triệu bản tính tới tháng 1 năm 2012. Vào ngày 17 tháng 5 năm 2012, 21 trở thành album thứ 29 kể từ năm 1991 bán ra trên 9 triệu bản ở Hoa Kỳ và là album đầu tiên tại đây có lượng bán ra nhiều như vậy kể từ Confessions của Usher năm 2005. Cho tới tháng 11 năm 2012, 21 bán ra 10 triệu bản, một thành tích có được sau 92 tuần và giúp nó trở thành album bán ra 10 triệu bản nhanh nhất kể từ No Strings Attached của 'N Sync năm 2001.
Với 21, Adele trở thành nữ nghệ sĩ đơn ca đầu tiên có cùng một lúc 3 bài hát trong top 10 Billboard Hot 100. Vào tuần lễ kết thúc này 23 tháng 2 năm 2012, cô trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có đồng thời hai bản thu trong top 5 của cả Billboard 200 và Hot 100, với 21 và 19 chiếm giữ lần lượt vị trí số một và số bốn trên Billboard 200, cùng "Set Fire to the Rain" và "Rolling in the Deep" lần lượt ở vị trí số hai và năm. Vào ngày 14/6/2012, 21 có tuần thứ 24 trên đỉnh của các bản xếp hạng tại Hoa Kỳ, nhiều nhất kể từ Purple Rain của Prince năm 1985. 21 cũng là album phòng thu Anh tại vị ở ngôi quán quân dài hơi nhất (ngoại trừ album nhạc phim và album của nhóm nhạc), album ở ngôi quán quân lâu nhất của một nghệ sĩ solo tại Hoa Kỳ, và album ở ngôi quán quân lâu nhất trong kỉ nguyên SoundScan. Album cũng có 24 tuần không liên tiếp ở vị trí thứ 2. 21 được coi là đã cứu vớt doanh số album quý I năm 2012 tại Mỹ. Nếu không có 21, doanh số album quý I năm 2012 sẽ giảm 3,4% so quý I năm 2011. Doanh số của 21 trong quý I năm 2012 nhiều hơn bất kì album nào kể từ 2005 và là album già nhất bán chạy nhất trong quý một của một năm kể từ Tragic Kingdom của No Doubt vào năm 1997. Vào ngày 28/11/2012, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) trao cho album chứng nhận kim cương sau khi bán ra trên 10 triệu bản tại Hoa Kỳ và trở thành album đầu tiên phát hành trong thập niên 2010 đạt chứng nhận kim cương. Vào tháng 12 năm 2012, 21 được thông báo là album bán chạy nhất trên iTunes trong hai năm liên tiếp.
Tại Canada, 21 trụ tại vị trí quán quân trong 28 tuần, và được chứng nhận kim cương vào tháng một 2012 bởi Music Canada nhờ tiêu thụ 800.000 album. Cho tới tháng một 2013 21 đã bán ra được 1,489 triệu bản, trở thành album bán chạy thứ ba tại Canada kể từ khi Nielsen SoundScan bắt đầu lưu trữ dữ liệu về doanh số. 21 là album bán chạy nhất trong hai năm 2011 và 2012 tại Mỹ và Canada dù chỉ mới phát hành hơn một năm. Đây là album bán chạy nhất hai năm liền kể từ Thriller của Michael Jackson vào năm 1983 và 1984. 21 cũng là một trong bốn album duy nhất trong kỉ nguyên Nielsen SoundScan bán ra trên 4 triệu bản/năm trong cả hai năm. Nhờ thành công này, Billboard chọn Adele là Nghệ sĩ của năm hai năm liên tiếp, và là nghệ sĩ đầu tiên nhận vinh dự này. Vào tháng 3 năm 2013, sau khi giành giải Oscar cùng "Skyfall", album trở lại với top 10 Billboard 200, đánh dấu tuần thứ 81 trong top 10; chỉ có hai album có thành tích tương tự trong top 10: Born in the U.S.A. và The Sound of Music. Vào tháng 11 năm 2013, 21 trở thành album đầu tiên tiêu thụ ba triệu bản kĩ thuật số tại Hoa Kỳ. Vào tháng 2 năm 2015, album được thông báo đã có 208 tuần liên tiếp, hay bốn năm, hiện diện trên Billboard 200, với chỉ 24 tuần nằm ngoài top 100. Tính tới tháng 2 năm 2016, 21 đã bán ra 11,5 triệu bản tại Hoa Kỳ, trở thành album bán chạy thứ mười kể từ khi Nielsen Music bắt đầu lưu trữ số liệu về doanh thu vào năm 1991.
== Đánh giá chuyên môn ==
21 nhìn chung nhận được nhiều ý kiến tích cực từ giới phê bình âm nhạc. Trên Metacritic, trang đánh giá điểm theo thang 100 từ các ý kiến phê bình đại chúng, album nhận được điểm trung bình 76, dựa trên 34 ý kiến nhận xét. Các ý kiến phê bình nhấn mạnh bước thăng tiến về mặt nghệ thuật của album so với sản phẩm đầu tay của Adele cả về việc sản xuất và sáng tác. Trong khi 19 bị chê vì sự gò bó trong lời và nhạc, Greg Kot của Chicago Tribune cho rằng, so với album đầu tay, 21 "tăng cường sự vần điệu và chất kịch tính trong việc hòa âm."
Cùng với quá trình sản xuất, các nhà phê bình còn khen ngợi sự gia tăng về chiều sâu và sự trưởng thành của Adele. Gary McGinley của No Ripcord gọi album là "bản thu đến từ sự trưởng thành", còn Simon Harper của Clash viết rằng, "[Trong] hai năm... cô rõ ràng đã nhìn thấy thế giới. Khi 19 đánh dấu sự vĩnh biệt đầy bất thường của tuổi mới lớn, 21 lại giới thiệu hiện thực của tuổi trưởng thành, nơi những trách nhiệm của người lớn va chạm với nỗi đau và những vết hằn tình cảm." John Murphy của MusicOMH khám phá ra sự tương đồng của 21 với Back to Black (2006) của Amy Winehouse, dặc biệt trong những chủ đề có sức lan tỏa về "nỗi đau, nỗi buồn và nỗi tức giận". và chỉ ra rằng 21 là "một trong những album về sự tan vỡ vĩ đại nhất, và là bản thu thực sự ấn tượng đầu tiên của năm 2011." Cùng chung quan điểm này, Joseph Viney của Sputnikmusic nói rằng 21 kết hợp "những gì hay nhất từ nhạc soul kiểu cổ của Aretha Franklin cùng sự ngang ngược và ý thức về nét nữ tính hiện đại có phần cay độc của Lauryn Hill." Sean Fennessey của The Village Voice viết rằng album "có nét của một diva và sự quyết đoán của một diva. Với một chút ngỗ ngược và nhiều phần trang nghiêm, đây luôn là một điều kì diệu từ sự quan trọng của nó." Ian Walker của AbsolutePunk gọi album là một "tuyệt phẩm pop", nhưng phê bình cảm giác không ổn dịnh về nó, còn Leah Greenblatt của Entertainment Weekly dùng từ "đi cùng năm tháng". Q bình luận rằng, dù "hơi thiếu sự đồng nhất... sự vĩ đại là hoàn toàn trong tầm với một cách trêu người".
Giọng hát của Adele cũng rất được đề cao. Jon Pareles, nhà phê bình âm nhạc uy tín của The New York Times, khen ngợi âm sắc gây xúc cảm của nữ ca sĩ, so sánh cô với Dusty Springfield, Petula Clark và Annie Lennox: "[Adele] có thể sôi sục, nức nở, chua ngoa, băm bổ, du dương và hét lên, theo những cách khiến người ta chú ý tới bài hát hơn là người thể hiện". Ryan Reed của Paste xem giọng của cô là "một thứ chua ngoa, già hơn tuổi của vẻ đẹp thuần khiết", còn Tom Townshend của MSN Music coi cô là "ca sĩ hay nhất trong thế hệ [của chúng ta]". Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng kĩ năng thanh nhạc của Adele là trở ngại trong việc sản xuất album. Matthew Cole của Slant Magazine cho rằng giọng hát của cô giấu đi "nhạt nhẽo" của nhiều bài hát, một sai lầm mà tác giả này tin rằng sẽ rõ ràng hơn nhiều nếu chúng được thể hiện bởi một tài năng ít tên tuổi hơn, trong khi đó Allison Stewart của The Washington Post khẳng định rằng nhiều track nổi bật "chỉ vì Adele hát nó." Robert Christgau của MSN Music cho album hai sao và nói đùa rằng, "Một nửa trong tôi thích thú với số album bán ra của bản thu white-soul vừa phải đầy tự hào này, nhưng nửa thích thú với những album nhanh đã chiến thắng".
== Thành tựu ==
Album được đề cử cho giải Mercury Prize 2011. Vào tháng mười một 2011, Adele giành ba giải tại American Music Awards 2011 trong đó có giải Album Pop/Rock yêu thích cho 21. Adele giành 7 Giải Grammy nhờ 21. Cụ thể vào tháng 2 năm 2012, Adele giành giải Album của năm và Album giọng pop xuất sắc nhất cho 21, Thu âm của năm, Bài hát của năm và Video âm nhạc xuất sắc nhất cho "Rolling in the Deep", và Trình diễn đơn ca pop xuất sắc nhất cho "Someone Like You". Nhà sản xuất Paul Epworth giành giải Nhà sản xuất của năm/Phi cổ điển. Vào tháng hai 2013, bản thu trực tiếp của bài hát "Set Fire to the Rain" trong Live at the Royal Albert Hall, giành giải Grammy cho Trình diễn đơn ca pop xuất sắc nhất. Vào ngày 21 tháng hai 2012, 21 giành giải Album Anh Quốc của năm tại giải Brit 2012. 21 còn giành giải Juno 2012 cho Album quốc tế của năm.
21 xuất hiện trong nhiều danh sách xuất sắc nhất cuối năm. Album được xếp là album xuất sắc nhất năm bởi Associated Press, The Austin Chronicle, Entertainment Weekly, Star Tribune, Digital Spy, MSN Music, New York Daily News, Rolling Stone, TIME, và USA Today. Các nhà phê bình của Billboard chọn 21 là album số một của năm, còn tờ Daily Record của Scotland, các biên tập viên của Amazon và Rhapsody cũng xếp album ở vị trí số một. Album đứng ở vị trí á quân trong Danh sách album xuất sắc nhất năm 2011 của MTV cũng như danh sách của The Boston Globe, và The Hollywood Reporter. 21 xuất hiện trong top 10 của American Songwriter, Q, Los Angeles Times, Clash, và The Washington Post. "Rolling in the Deep" cũng bay cao trên nhiều danh sách cuối năm của các nhà phê bình, và được xếp là bài hát xuất sắc nhất năm trong cuộc thăm dò Pazz and Jop của The Village Voice. Vào năm 2012, Rolling Stone xếp album ở vị trí thứ sáu trong danh sách Women Who Rock: The 50 Greatest Albums of All Time. Tháng 1 năm 2015, Billboard xếp 21 là album xuất sắc thứ ba của thập niên 2010 (tới nay).
== Danh sách bài hát ==
== Nhân sự ==
(Credit lấy từ AllMusic và ghi chú trong album 21.)
Sản xuất
Âm nhạc
== Xếp hạng ==
=== Bảng xếp hạng cuối năm ===
== Chứng nhận ==
== Lịch sử phát hành ==
== Tham khảo ==
=== Tham khảo chung ===
=== Cụ thể ===
== Liên kết ngoài == |
trần tuấn khải.txt | Trần Tuấn Khải (4 tháng 11 năm 1895 – 7 tháng 3 năm 1983) là một nhà thơ Việt Nam, nổi danh từ thời tiền chiến. Các bút danh của ông là: Á Nam (thường dùng), Đông Minh, Đông Á Thị, Tiểu Hoa Nhân, Lâm Tuyền Khách, Giang Hồ Khách, Lôi Hoàng Cư Sĩ.
== Tiểu sử ==
Trần Tuấn Khải người làng Quan Xán, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Xuất thân là nhà nho nghèo, có truyền thống yêu nước. Cha ông là Trần Khải Thụy, đỗ cử nhân khoa thi Hương tại Nam Định năm Canh Tý (1900). Năm lên 6 tuổi, ông bắt đầu học chữ Hán với cha. Nhờ mẹ ông cũng là người thuộc nhiều ca dao, thi phú, lại hết lòng dạy dỗ con, vì vậy mới 12 tuổi, ông đã biết làm đủ các thể thơ bằng chữ Hán.
Năm Giáp Dần (1914), cha ông lâm bệnh mất tại nơi nhiệm sở. Khi ấy, Trần Tuấn Khải vừa đúng 19 tuổi và cũng vừa lấy vợ được một năm. Qua năm 1919, ông trở lại làng Quang Xá dạy học, được ít tháng ông lại xuôi ngược khắp miền Bắc, rồi đưa vợ ra Hà Nội. Nhưng ít lâu sau, thấy chồng ghét cảnh náo nhiệt, bà Khải bán nhà đến mua một trang trại ở ấp Thái Hà, ven đô Hà Nội.
Năm 1921, ông xuất bản tập thơ thứ nhất Duyên nợ phù sinh I, được giới văn chương đương thời chú ý. Năm sau, ông được mời vào Ban biên tập nhật báo Khai Hóa tại Hà Nội và nhận lời viết giúp cho nhiều báo khác. Đến khi ông cho xuất bản Bút quan hoài I, gồm nhiều bài bi tráng, được nhiều người hoan nghênh, thì Pháp ra lệnh cấm lưu hành và tàng trữ tập thơ đó (1927).
Mấy lần, Trần Tuấn Khải định xuất dương mà không thành: 1915-1916: dự định qua Đông Hưng (Trung Quốc), 1927: dự tính sang Pháp. Nhà cầm quyền Pháp dò la biết ông có ý định trên, đồng thời có đến liên hệ các nhà cách mạng, như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng ở Huế và những nhà hoạt động lưu vong như Đào Trinh Nhất, Hoàng Tích Chu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Trường Tam ở Sài Gòn...nên cho người lùng bắt ông. Nhờ có người báo tin, ông lẻn ra ẩn trốn nơi động Huyền Không trong dãy Ngũ Hành Sơn (Quảng Nam).
Năm 1932, tác phẩm Chơi xuân năm Nhâm Thân được xuất bản, nhưng ngay sau đó bị Pháp ra lệnh tịch thu, khám nhà rồi bắt giam Trần Tuấn Khải và chủ nhà sách Nam Ký. Ông bị giam hơn 2 tháng rồi bị kêu án 2 tháng tù treo về tội viết sách "phá rối trị an, xúi dân nổi loạn". Trong nhà giam Hỏa Lò, Trần Tuấn Khải gặp được Nghiêm Toản và nhiều nhà trí thức có tâm huyết khác .
Ra tù, vợ chết, con nhỏ chết. Chôn cất vợ con xong, ông trở về Thái Hà, lại bắt đầu viết bài cho các báo. Năm 1938, ông cưới người vợ thứ họ Nguyễn, sinh được một con gái (nhà thơ Lan Hinh).
Năm 1947, ông đem theo con gái tản cư đến Nho Quan, nhưng đến năm 1954 thì di cư vào Nam, làm việc tại Thư viện Quốc gia, Viện Khảo cổ, chuyên viên Hán học tại Nha văn hóa và các báo Đuốc Nhà Nam, Văn hóa nguyệt san, Tin văn...
Năm 1966, ông cùng một số trí thức tiến bộ ký tên yêu cầu chính quyền Việt Nam Cộng hòa trực tiếp hiệp thương với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhằm vãn hồi hòa bình, nên bị buộc nghỉ việc. Sau đó, ông là chủ tịch danh dự lực lượng bảo vệ văn hoá dân tộc năm 1966 – 1967.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông giữ chức cố vấn Hội Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 cho đến khi mất vì bệnh già tại cư xá Trần Quốc Toản (cư xá Liberty của Pháp), hưởng thọ 88 tuổi (1983).
== Tác phẩm ==
=== Thơ ===
Duyên nợ phù sinh I (1921)
Duyên nợ phù sinh II (1922)
Bút quan hoài I (1924)
Hồn tự lập I (1924)
Bút quan hoài II (1927)
Hồn tự lập II (1927)
Với sơn hà I (1936)
Với sơn hà II (1949)
Hậu anh Khóa (1975)
=== Tiểu thuyết ===
Gương bể dâu I (1922)
Hồn hoa (1925)
Thiên thai lão hiệp(1935- 1936)
=== Kịch ===
Mảnh gương đời (1925)
=== Dịch thuật ===
Thủy hử (1925)
Hồng lâu mộng (1934)
Đông Chu liệt quốc (1934)
...
== Thành tựu nghệ thuật ==
Trong Tự điển văn học:
Văn xuôi của Trần Tuấn Khải tựu trung vẫn là lối văn cổ, từ hình thức đến nội dung đều có phần lạc hậu, chưa theo kịp đà phát triển của văn xuôi lúc bấy giờ. Thơ ca mới là phần chính trong sự nghiệp sáng tác của Trần Tuấn Khải và cũng là phần ông đạt được một số thành công nhất định.
Thơ Trần Tuấn Khải thường nói đến tình cha con, nghĩa vợ chồng, tình làng nghĩa nước, nghĩa đồng chủng, đồng bào, lòng thủ chung, nhân ái... đó là nếp sống, là đạo đức truyền thống của dân tộc.
Và thơ ông đều có ngụ ý nhắc nhủ về non sông, đất nước. Đất là cái nhìn ưu thời mẫn thế của tác giả, đồng thời đấy cũng chính là tình cảm phổ biến của nhiều người lúc bấy giờ: thiết tha với độc lập dân tộc... Chính vì thế mà thơ ca của ông được quần chúng yêu thích.
Các bài như "Gánh nước đêm", "Tiễn chân anh Khóa", "Mong anh Khóa", "Gửi thư cho anh Khóa", trong một thời gian dài đã được truyền tụng rộng rãi.
Về mặt nghệ thuật, ngoài những bài được sáng tác theo thể thơ Đường luật, ông còn viết bằng các thể thơ thuần Việt như: lục bát, song thất, các điệu hát ví, hát xẩm, sa mạc, hát nói... và phần thành công chính là ở đây
Trong Việt Nam thi nhân tiền chiến:
Thơ Trần Tuấn Khải không chứa đựng triết lý bí hiểm, tư tưởng cao siêu, nó giản dị như một chân tình, nó rỡ ràng như sự phơi bày trọn vẹn cả tấc lòng. Người đọc dễ dàng đạt ý và rung động qua trực cảm, vì Á Nam đã cấu tạo thơ mình bằng nhạc điệu quen thuộc của dân tộc, cho nên sức truyền cảm rất bén nhạy.
Khảo sát thơ ông, chúng tôi bắt gặp đó đây những tư tưởng đã thành châm ngôn và cũng không ngoài việc gieo vào lòng người một ý chí bất khuất, một hùng khí ngùn ngụt, một nghĩa vụ thiết yếu của con người đúng với danh nghĩa "làm người" của nó
== Nhớ Trần Tuấn Khải ==
Trích một vài mẫu chuyện của các nhà thơ và các nhà nghiên cứu văn học:
Trần Tuấn Kiệt, soạn giả bộ Thi ca Việt Nam hiện đại:
Chúng tôi từ nhỏ, lúc còn học ở trường tiểu học Sa Đéc, được thầy dạy vài câu thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải, không biết vì sao mà chúng tôi cảm thấy say sưa với những dòng thơ đó:
Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm
Cõi trời Nam giá thảm đìu hiu
Bốn bề hổ thét chim kêu,
Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình.
...Thơ ông đã gieo vào lòng chúng tôi một mối cảm thông hoàn cảnh đất nước. Như một ánh sáng chói lọi mở cho con mắt trẻ trung của chúng tôi nhìn thấy cảnh điêu tàn của quê hương...
Thi sĩ Nguyễn Vỹ:
Tôi đọc "Bút Quan Hoài" của Trần Tuấn Khải từ lúc còn nhỏ, và đã thuộc lòng:
Trời hè đương lúc nấu nung,
Nước đâu cô nỡ dứt lòng bán rao?
Bây giờ thiên hạ khát khao,
Khô gan ráo cổ kêu gào Nước luôn...
Cái bước đêm khuya thân gái ngại ngùng,
Nước Non gánh nặng, cái đức ông chồng hay hỡi có hay?...
Đầu óc con nít học trò, cảm thấy hai bài thơ chứa đựng tư tưởng thâm trầm và bi thương về Nước, của người dân mất Nước, tự nhiên chiêm ngưỡng tác giả như một thần tượng...
Thi sĩ Xuân Diệu:
Tôi không quên lúc học lớp nhì, 14 tuổi, tôi mượn được quyển "Bút quan hoài". Tôi chép vào quyển vở mới một số đoạn thơ thích nhất...Quyển vở thơ Trần Tuấn Khải quý báu của tôi, như là tiếng gọi của lương tâm!
== Xem thêm ==
Lan Hinh
== Chú thích ==
Á Nam Trần Tuấn Khải, anh Khóa với những vần thơ nước non. |
bernard montgomery.txt | Thống chế Anh Quốc Bernard Law Montgomery, Đệ nhất tử tước Montgomery của Alamein, còn được gọi là "Monty" (17 tháng 11 1887 - 24 tháng 3 1976) là một tướng lĩnh quân đội Anh, nổi tiếng vì đã đánh bại lực lượng Quân đoàn Phi Châu (Afrikakorps) của tướng Đức Quốc xã Rommel tại trận El Alamein thứ hai, một bước ngoặt quan trọng trong chiến dịch Sa mạc Tây ở châu Phi năm 1942. Quân do ông chỉ huy cũng góp một phần đánh bật các lực lượng khối Trục ra khỏi Bắc Phi. Ông cũng là một người chỉ huy nổi bật của quân đội Đồng Minh ở Ý và Tây Bắc châu Âu, trong chiến dịch Overlord và sau trận Normandy.
== Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất ==
Bernard Montgomery sinh tại Kennington, Luân Đôn năm 1887, con thứ 4 trong 9 người con của linh mục Anh giáo Henry Hutchinson Montgomery và bà Maud Montgomery (gia đình họ Farrar). Ông nội là Robert Montgomery, từng cai quản quân sự tại Ấn Độ và mất khi khi Bernard Montgomery mới được 1 tháng tuổi, để lại di sản của tổ tiên họ Montgomery tại New Park thuộc Moville, County Donegal.
Di sản này vẫn còn nợ £13.000 và Henry (cha của Bernard Montgomery) phải chật vật bán của cải trả nợ. Năm 1889 Henry Montgomery được phong làm giám mục tại Tasmania, Úc, bấy giờ còn là thuộc địa của Anh. Ông thường vắng nhà về quê giảng đạo. Bà vợ ở nhà chẳng những không chăm sóc mà còn thường xuyên đánh đập bỏ bê bầy con mình. Anh chị em của Bernard có người chết trẻ, và có người phải bỏ về Anh. Mẹ ông không dạy con, chỉ đôi lúc mướn người từ Anh sang dạy. Bernard do hoàn cảnh thơ ấu tệ hại không được dạy dỗ tốt, trở thành một thiếu niên với tính cách ngỗ ngược. Ông tự thú nhận:
Tôi là một đứa trẻ khá tệ. Hồi ấy chả ai chịu đựng được tính cách tồi tệ của tôi.
Vì vậy, Montgomery sau đó từ chối không cho con mình liên hệ với bà nội, và khi bà chết năm 1949, ông không đến dự đám tang.
Năm 1901 gia đình Montgomery về lại Luân Đôn, Bernard học tại trường St Paul's sau đó vào trường Quân sự Hoàng gia tại Sandhurst. Ông từng suýt bị trục xuất vì cố tình đốt cháy một học sinh cùng khóa, khi gây gổ vì cờ bạc. Năm 1908 Bernard nhập ngũ vào tiểu đoàn 1, Trung đoàn Warwickshire của quân đội Anh quốc, và hành quân lần đầu tại Ấn Độ.
== Chiến tranh thế giới thứ nhất ==
Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ vào tháng 8 năm 1914 và ít lâu sau đó, Bernard Montgomery chiến đấu cùng đồng đội tại chiến trường nước Pháp. Trong cuộc rút lui từ Mons, gần nửa tiểu đoàn của ông bị tử thương. Ngày 13 tháng 10 ông bị thương nặng, viên đạn trúng ngực làm thủng phổi bên phải nguy hiểm đến tính mạng. Đồng đội ông thấy vậy đã đào huyệt chờ chôn ông nhưng ông sống sót một cách thần kì. Một y sĩ quân đội tiến đến cứu Montgomery nhưng bị bắn chết và ngã gục đè lên ông. Xác chết người y sĩ che đạn cho gần như toàn bộ người ông và Montgomery chỉ bị thêm một phát đạn ở đầu gối. Khi hồi phục, Montgomery được trao huân chương xuất sắc.
Đầu năm 1915 Montgomery được cử làm chỉ huy huấn luyện cho bộ binh Anh, còn gọi là Đạo quân của Kitchener. Năm 1916 ông theo hành quân tại Mặt trận phía Tây tham gia các cuộc chiến tại Somme, Arras, và Passchendaele. Do khả năng chỉ huy và điều động quân sự giỏi, Montgomery giúp chì huy mình là tướng Herbert Plumer đạt nhiều mục đích chiến lược với thiệt hại thấp.
Montgomery tham gia cuộc chiến tại Lys và Chemin-des-Dames. Đến cuối chiến tranh ông được cử làm sĩ quan tư lệnh và sau đó lên chức tổng chỉ huy sư đoàn 47, với quân hàm trung tá.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Alanbrooke, Field Marshal Lord (edited by Alex Danchev and Daniel Todman) (2001). War Diaries 1939–1945. London: Phoenix Press. ISBN 1-84212-526-5.
Brereton, Lewis. The Brereton Diaries: The War in the Air in the Pacific, Middle East and Europe, 3 tháng 10 năm 1941 – 8 tháng 5 năm 1945. Morrow.
Bierman, John & Smith, Colin. Alamien: War without hate. Penguin Group. 2002 ISBN 0-670-91109-7
Brett-James, Anthony, Conversations with Montgomery, Irwin Pub., 1984. ISBN 978-0718305314
Bungay, Stephen, Alamein, Auram, 2002. ISBN 978-1854109293
Chalfont, Arthur Gwynne Jones, Montgomery of Alamein, Atheneum, 1976. ISBN 978-0689107443
D'Este, Carlo. Decision in Normandy: The Unwritten Story of Montgomery and the Allied Campaign. London: William Collins Sons, 1983. ISBN 0002170566.
Barnett, Corelli, The Desert Generals, Cassell, 1960. ISBN 978-0304352807
Dixon, Norman, On the Psychology of Military Incompetence, Pimlico, 1976. ISBN 978-0712658898
Eisenhower, Dwight D. (1948). Crusade in Europe. London: William Heinemann. OCLC 219971286.
Fraser, David, And We Shall Shock Them: The British Army in World War II, Sceptre, 1988. ISBN 978-0340426371
Hamilton, Nigel (2001). The Full Monty: Montgomery of Alamein 1887–1942. London: Allen Lane. ISBN 0-7139-9334-0.
Hamilton, Nigel (1981). Monty: The Making of a General. London: Hamish Hamilton Ltd.
Hamilton, Nigel (1984). Monty: Master of the Battlefield. London: Hamish Hamilton Ltd. ISBN 978-0241111048.
Hamilton, Nigel (1986). Monty: The Field-Marshal 1944–1976. London: Hamish Hamilton Ltd. ISBN 0-241-11838-7.
Harrison, Mark (2004). Medicine and Victory: British Military Medicine in the Second World War. Oxford University Press. ISBN 0199268592.
Hart, Stephen (2000). Montgomery and "Colossal Cracks": The 21st Army Group in Northwest Europe, 1944–45. Praeger.
Heathcote, Tony, The British Field Marshals 1736–1997, Pen & Sword Books Ltd, 1999. ISBN 0-85052-696-5
Hastings, Max, Armageddon: The Battle for Germany, 1944–1945, Knopf, 2004. ISBN 0375414339
Lattimer, Jon, Alamein, John Murray, 2002. ISBN 978-0674013766
McKee, Alexander, Caen: Anvil of Victory, 1984. ISBN 978-0333383131
Mead, Richard (2007). Churchill's Lions: A biographical guide to the key British generals of World War II. Stroud (UK): Spellmount. ISBN 978-1-86227-431-0.
Montgomery, Bernard Law,A Concise History of Warfare, 1968. ISBN 978-1840222234
Montgomery, Bernard Law, The Path to Leadership, 1957.
Montgomery, Maud (1933). Bishop Montgomery: A Memoir. London: Society for the Propagation of the Gospel.
Neillands, Robin, The Battle for the Rhine 1944, 2005. ISBN 978-1590200285
Playfair, Major-General I.S.O.; with Flynn, Captain F.C. (R.N.); Molony, Brigadier C.J.C. & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO:1960]. Butler, Sir James, biên tập. The Mediterranean and Middle East, Volume III: British Fortunes reach their Lowest Ebb (September 1941 to September 1942). History of the Second World War, United Kingdom Military Series. Uckfield, UK: Naval & Military Press. ISBN 1-845740-67-X.
Playfair, Major-General I.S.O.; Molony, Brigadier C.J.C.; with Flynn, Captain F.C. (R.N.) & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO:1966]. Butler, Sir James, biên tập. The Mediterranean and Middle East, Volume IV: The Destruction of the Axis Forces in Africa. History of the Second World War, United Kingdom Military Series. Uckfield, UK: Naval & Military Press. ISBN 1-845740-68-8.
Ryan, Cornelius (1974). A Bridge Too Far. Hodder.
Sheehan, William, British Voices from the Irish War of Independence, 2005. ISBN 978-1905172375
Schultz, James. A framework for military decision making under risks. Thesis, Air University, Maxwell Airforce Base, Alabama, 1998.
Weigley, Russel F., Eisenhower's Lieutenants, Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 1981. ISBN 0-253-13333-5 |
long đất.txt | Long Đất là huyện cũ ở phía nam tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
== Lịch sử ==
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, huyện Long Đất lúc bấy giờ là 2 quận Long Điền và Đất Đỏ thuộc tỉnh Phước Tuy.
Sau năm 1975, hai quận Long Điền và Đất Đỏ hợp lại thành huyện Long Đất thuộc tỉnh Đồng Nai, gồm 11 xã: An Ngãi, Láng Dài, Long Điền, Long Hải, Long Tân, Phước Hải, Phước Long Hội, Phước Long Thọ, Phước Thạnh, Phước Tỉnh, Tam An.
Ngày 11 tháng 7 năm 1984, chuyển 2 xã Long Hải và Long Điền thành 2 thị trấn có tên tương ứng.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, huyện Long Đất thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mới thành lập.
Ngày 30 tháng 10 năm 1995, thành lập xã Lộc An trên có sở 461,7 hécta diện tích tự nhiên và 1.461 nhân khẩu của xã Phước Hải; 1.181,8 hécta diện tích tự nhiên và 512 nhân khẩu của xã Phước Long Hội; 176,7 hécta diện tích tự nhiên của xã Láng Dài.
Ngày 23 tháng 7 năm 1999, chia xã Tam An thành hai xã Tam Phước và An Nhứt; thành lập xã Phước Hưng trên cơ sở 854,26 ha diện tích tự nhiên và 9.700 nhân khẩu của xã Phước Tỉnh; chia xã Phước Long Hội thành hai xã Phước Hội và Long Mỹ.
Từ đó, huyện Long Đất gồm 2 thị trấn: Long Điền, Long Hải và 13 xã: An Ngãi, An Nhứt, Láng Dài, Lộc An, Long Mỹ, Long Tân, Phước Hải, Phước Hội, Phước Hưng, Phước Long Thọ, Phước Thạnh, Phước Tỉnh, Tam Phước.
Ngày 9 tháng 12 năm 2003, huyện Long Đất được chia thành hai huyện Long Điền và Đất Đỏ theo nghị định 152/2003/NĐ-CP của Chính phủ:
Huyện Đất Đỏ có 8 xã: Láng Dài, Lộc An, Long Mỹ, Long Tân, Phước Hải, Phước Hội, Phước Long Thọ, Phước Thạnh.
Huyện Long Điền có 2 thị trấn: Long Hải, Long Điền và 5 xã: An Ngãi, An Nhứt, Phước Hưng, Phước Tỉnh, Tam Phước.
== Dân cư ==
Dân số năm 1999 là 160.300 người.
== Địa lý ==
Diện tích toàn huyện 262,5 km2. Địa hình đồng bằng xen đồi, ven biển có các bãi biển Long Hải, Phước Hải.
Phía Bắc giáp huyện Châu Đức, phía Nam giáp biển Đông, phía Đông giáp huyện Xuyên Mộc, phía Tây giáp thị xã Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu.
== Kinh Tế ==
Cơ cấu kinh tế là nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, và công nghiệp. Về nông nghiệp, huyện Long Đất đã phát triển cả trồng trọt lẫn chăn nuôi, từng bước chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa, phát huy các loại hình kinh tế hợp tác, chuyển đổi thực hiện luật hợp tác xă. Cũng có 118 tập đoàn sản xuất, xây dựng 15 câu lạc bộ khuyến nông. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đă cải tạo 450 ha vườn tạp thành vườn chuyên canh ở các xă Long Tân, Láng Dài, Phước Thạnh và Phước Long Thọ. Giá trị sản xuất nông nghiệp từ 1996-2002 đạt 708.790 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 6,4%/năm.
Ngư nghiệp được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Long Đất. Huyện đă xây dựng được 3 cảng cá Lộc An, Tam Phước, Ḷ Vôi. Đến năm 2003 đã có 1.925 tàu cá với công suất bình quân 90 CV/chiếc. Tổng sản lượng khai thác 86.672,5 tấn/năm. Hiện nay, huyện có 33 cơ sở chế biến hải sản.
Long Đất còn có thế mạnh về du lịch biển. Bãi biển Long Hải của huyện Long Đất có khu du lịch Kỳ Vân và khu du lịch Thùy Dương, hàng năm thu hút hàng trăm ngàn lượt khách. Long Đất còn là quê hương của anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu, có chiến khu Minh Đạm… là những địa chỉ để phát triển loại hình du lịch "về nguồn".
Sản xuất công nghiệp: tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện đang có chiều hướng phát triển, trước hết trong lĩnh vực chế biến lương thực, thực phẩm, gia công cơ khí, sản xuất nước đá. Một số nhà máy công nghiệp có quy mô lớn đi vào hoạt động như: Nhà máy khí hóa lỏng Dinh Cố, Nhà máy Chế biến thức ăn gia súc Proconco, Nhà máy Chế biến hải sản Lộc An, Nhà máy bột cá, Cảng cá Lộc An… Tổng giá trị sản xuất công nghiệp từ năm 1996-2002 trên địa bàn đạt 9.453,4 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 98%/ năm, riêng công nghiệp địa phương tăng trưởng 8,97%.
Hệ thống cấp điện đă phủ kín địa bàn huyện Long Đất với 165 trạm hạ thế, 98 km đường dây hạ thế với tổng công suất 9.836 KVA, tăng 1.073 KVA so với năm 1996. Bình quân đầu người sử dụng điện 146 kWh/năm, đạt 87% số hộ sử dụng điện.
Về giao thông đường bộ, xây dựng cơ sở hạ tầng và thông tin liên lạc huyện Long Đất cũng có bước phát triển đồng bộ. Tất cả các xă đều có điện thoại và được phủ sóng điện thoại di động. Hiện nay, mật độ điện thoại hữu tuyến đạt 7 máy trên 100 dân. Trong 12 năm qua, Long Đất đă đầu tư nâng cấp hơn 178 km đường giao thông nông thôn, trong đó có trên 10 km đường bê tông nhựa, hơn 100 km láng nhựa. Long Đất đang là huyện có hệ thống đường giao thông nông thôn
== Liên kết ngoài ==
Nghị định Chính phủ Việt Nam về việc thành lập xã, phường thuộc thành phố Vũng Tàu và huyện Tân Thành, chia huyện Long Đất thành huyện Long Điền và huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. |
lịch sử bóng chày.txt | Nguồn gốc của môn bóng chày là một điều vẫn còn nghi ngờ và chưa ai dám chắc chắn. Người ta đã tìm được dấu vết của một môn thể thao chơi ở Ai Cập cổ đại sử dụng chày và bóng và một trái banh có hình dạng tương đương banh bóng chày có niên đại hơn 2000 năm tuổi hiện nay đang được trưng bày tại Bảo tàng Anh quốc tại London.
Những trò chơi khiến chúng ta liên tưởng đến môn bóng chày đã từng xuất hiện ở Walacchia - ngày nay là một phần của Rumani, (Oina: 2 liên bang ở Moldova và Rumani, là những nơi vẫn còn chơi trò chơi đó ở Châu Âu) và Nga (Lapta) trong thế kỷ 14. Trò chơi với chày và bóng đã từng rất phổ biến trong giới tu sĩ ở Pháp trong năm 1330. Trong cùng thời gian, một bài thơ của William Pagula đề cập đến một trò chơi tên là Stoolball, ban đầu được chơi bởi những người vắt sữa, người ta sử dụng milking stools (cái ghế vắt sữa có 3 chân và cũng có nghĩa là 3 cái cọc đặt phía sau batter trong môn wickets) giống như môn wickets. Ở Đức người ta cũng từng rất thích một trò chơi có tên là Schlagball (Một đội chơi gồm 12 người), mà người vẫn còn chơi ở khu vực Kiel, tổ chức một vài giải đấu một năm.
Có một số ít bằng chứng cho thấy bóng chày xuất phát từ môn Rounders. Trên thực tế, đó chỉ là bằng chứng của một trò chơi cải tiến từ môn Rounders (Trò chơi này trong đó, bạn sử dụng posts (các cây cọc dùng để đánh dấu chốt chạy cho runner) mà không cần có các base và người tấn công có thể chạy mà không cần đánh trúng bóng) được chơi tại Mỹ trong thế kỷ 19 và được gọi là Town Ball. Trong bất cứ trường hợp nào, sự liên hệ lịch sử tới môn Rounders (Vẫn còn được chơi tại các quần đảo thuộc Anh và theo luật của "Hiệp hội Gaelic Athletic " (www.gaa.ie) cùng với Gaelic football và Hurling) là vào năm 1744 và xuất hiện trong một cuốn sách cho trẻ em in bởi nhà xuất bản Anh John Newbery và đặt tên là "A little pretty pocket book". Cuốn sách vẫn chứa các vần thơ gây nhầm lẫn giữa bóng chày và Rounders.
Có vẻ như bóng chày và Rounders chia sẻ cùng xuất xứ với Cricket, một trò chơi được các mục đồng vùng Flemish (krick trong ngôn ngữ của họ có nghĩa là chày hoặc gậy) mang tới nước Anh trong thế kỷ 14, nhưng đã trở thành một môn thể thao có tổ chức trong thế kỷ 17.
Mặt khác, có bằng chứng rõ ràng rằng trong thế kỷ 18, một trò chơi được gọi là Bóng chày đã được chơi ở Anh. Trong "Northanger Abbey" (Một cuốn sách đã được xuất bản năm 1818, nhưng đã được viết từ năm 1790), tác giả người Anh Jane Austen mô tả nhân vật Catherine Morlan như là một người phụ nữ thích môn cricket, bóng chày. Tác giả người Đức Johann Gutsmuth đã viết vào năm 1796 một cuốn sách về những thú tiêu khiển phổ biến, trong đó ông đề cập đến một trò chơi có tên gọi tiếng Anh là Baseball.
Điều này là không đủ để kết luận rằng các trò chơi chúng ta biết ngày hôm nay như bóng chày là một trò chơi xuất phát từ Anh. Trên thực tế, có một trò chơi có tên tiếng Anh là Baseball (www.britishbaseballassociation.co.uk). Trò chơi đó hiện vẫn còn được chơi ở xứ Wales, luật chơi gồm có 11 cầu thủ trên sân và không có người ném bóng, nhưng lại có bowler (người phát bóng) như trong môn Cricket. Mỗi đội chơi 2 hiệp và một hiệp hoàn thành khi tất cả 11 cầu thủ có cơ hội đánh bóng. Người chạy có điểm cho mỗi lần chiếm chốt.
Việc gì đến cũng phải đến, vào cuối thế kỷ 18, khi các trò chơi đến các thuộc địa. Al Spalding, một cựu Pitcher và là 1 nhà sản xuất dụng cụ thể thao nổi tiếng trên thế giới, đã kiếm được một câu chuyện hoàn hảo về nguồn gốc bóng chày: một người đàn ông tên là Abner Doubleday (một sĩ quan quân đội, một anh hùng trong cuộc chiến tranh Seminoles và là một vị tướng trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ) đã phát minh trò chơi bóng chày vào năm 1839 trong một thành phố được gọi là Cooperstown, một trong những thành phố đầu tiên ở Hoa Kỳ dành riêng cho người bản xứ. Một câu chuyện quá hoàn hảo và Doubleday đã không tự mình tuyên bố.
Việc Doubleday phát minh ra môn bóng chày có lẽ là cơ sở xác thực nhất về nguồn gốc của việc phát minh ra bóng chày, nhưng có một số ít nghi ngờ rằng ông chỉ là người đóng góp trong ý tưởng của việc phát minh ra sân bóng chày (hoặc hình dạng kim cương của nó) như chúng ta đã biết hiện nay. Mặc khác người viết ra luật bóng chày lại là một người bán sách ở New York tên là Alexander Cartwright, ông đã sáng lập một đội bóng tên là The Knickerbockers vào năm 1839, viết các luật bóng chày vào năm 1845 (Quốc hội Mỹ đã thông qua vào năm 1953) và tổ chức các trận đấu đầu tiên tại Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 6 năm 1846 tại Hoboken, New Jersey. Mặc dù vậy, các trận đấu bóng chày đầu tiên không phải là ở Bắc Mỹ. Các trận đấu đầu tiên của bóng chày ở Châu Mỹ bắt đầu từ tháng 6 năm 1838 và là ở Ontario, Canada.
Cũng trong năm đó, bóng chày đã trở thành môn thể thao chuyên nghiệp đầu tiên. Năm 1850, "Hiệp hội quốc gia của các cầu thủ bóng chày" (NABBP) được sinh ra, the National League (liên đoàn bóng chày quốc gia) được thành lập và thi đấu vào năm 1876.
Mỹ đã cố gắng để biến nó thành trò chơi phổ biến trên toàn thế giới. Năm 1878, một cầu thủ chuyên nghiệp tên là Esteban Bellan đã giới thiệu trò chơi này ở Cuba (Phổ biến bóng chày ở toàn bộ vùng biển Caribbean) và năm 1870 chày và bóng đến Nhật Bản (từ đó nhanh chóng đến Triều Tiên và Đài Loan) nhờ Horace Wilson. Bóng chày đã được chơi tại Úc, New Zealand và Nam Thái Bình Dương vào năm 1888 và 1889. Trong tháng 2 năm 1889 một tour du lịch do Albert Spalding tổ chức đã mang trò chơi này đến Ý. Một giải vô địch đã được tổ chức ở Anh vào cuối thế kỷ 18.
Trò chơi thực sự được quốc tế hóa trong thế kỷ 20. Vào năm 1903 tại Hoa Kỳ the American League (Liên đoàn bóng chày Mỹ) bắt đầu thi đấu với the National League trong giải World Series. Baseball Leagues (có thể hiểu là các giải đấu bóng chày) bắt đầu được tổ chức lan rộng trên toàn thế giới: năm 1922 ở Hà Lan, 1934 tại Úc, 1936 tại Nhật Bản, 1938 ở Puertorico, 1945 tại Venezuela và México, năm 1948 tại Ý.
== Chú thích ==
Bài viết chỉ mang tính tham khảo. Mọi sự sao chép phải có chú thích ghi rõ nguồn gốc của bài.
== Tham khảo ==
Tìm kiếm, dịch và trình bày bởi B.T.H.P từ bài viết "ORIGINS OF BASEBALL" trên trang web http://www.ibaf.org |
bóng đá bãi biển.txt | Bóng đá bãi biển là một biến thể môn bóng đá trong đó trận đấu bóng đá được diễn ra trên một bãi biển hoặc các hình thức sân cát. Bóng đá bãi biển nhấn mạnh vào các kỹ năng, sự nhanh nhẹn và tình chính xác vì trái bóng trên cát rất khó điều kiển và việc di chuyển trên sân cát khó khăn hơn các hình thức sân thi đấu khác. Bóng đá bãi biển ít tốn kém, không cần sân cỏ, không cần giày thi đấu, chỉ cần có một bãi cát rộng, khung thành đơn giản... là mọi người có thể chơi bóng.
== Luật chơi ==
Mỗi trận bóng đá bãi biển có hai đội tham gia, mỗi đội không quá năm cầu thủ, một trong số đó là thủ môn. Mỗi trận đấu được chia làm ba hiệp, mỗi hiệp kéo dài 12 phút và nghỉ giữa hai hiệp là 3 phút. Nếu sau khi kết thúc thời gian đá chính tỉ số vẫn hòa thì hai đội sẽ đá hiệp phụ trong thời gian 3 phút, nếu vẫn hòa sẽ đá luân lưu 11m. Trong Luật bóng đá bãi biển, các cú sút phạt không được có hàng rào chắn. Khi ném biên, cầu thủ có thể chọn một trong hai cách: đá biên hoặc ném biên.
Sự ra đời của bóng đá bãi biển là một nỗ lực của việc hệ thống hóa các quy tắc cho môn này. Điều này đã được thực hiện vào năm 1992 bởi những người sáng lập môn bóng đá bãi biển trên toàn thế giới. Một liên đoàn được thành lập để phát triển các môn thể thao và chịu trách nhiệm cho phần lớn các giải đấu của mình cho đến ngày nay. Sân bóng đá bãi biển thường nhỏ gọn, nhỏ hơn nhiều so với một sân bóng đá, cho phép người chơi ghi bàn từ bất cứ nơi nào trên cát, bàn thắng trong một trận đấu không quá khó khăn.Mỗi trân đấu có 3 hiệp chính (môi hiệp 12 phút đá chính)
== Xem thêm ==
Bóng đá
Bóng đá mini
Bóng đá đường phố
== Chú thích == |
mountain view, california.txt | Mountain View là một thành phố thuộc quận Santa Clara, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Tên thành phố được đặt là "Mountain View" (quan sát từ trên núi) bởi từ trên dãy Santa Cruz có thể quan sát được toàn cảnh thành phố. Theo điều tra dân số năm 2010, toàn thành phố có tổng cộng 74.066 người.
Các thành phố kết nghĩa của Mountain View có Iwata, Nhật Bản và Hasselt, Bỉ.
== Địa lý ==
Mountain View nằm ở tọa độ địa lý 37°25′19″B 122°5′4″T (37.42223, −122.08429).1
Theo Cục thống kê dân số Hoa Kỳ, diện tích tổng cộng của thành phố là 31.7 km², trong đó có 31.2 km² là diện tích đất và 0.4 km² (chiếm 1.39%) là mặt nước.
Mountain View nằm ở phía cực bắc của đường quốc lộ 85, tại đây nó gặp quốc lộ 101. Tuyến đường lịch sử El Camino Real cũng chạy cắt qua Mountain View. Phía tây bắc thành phố được bao bọc bởi thành phố Palo Alto, phía tây nam là Los Altos, phía đông nam bởi Sunnyvale, và phía đông bắc bởi vịnh San Francisco.
== Lịch sử ==
== Nhân khẩu ==
Theo điều tra dân số2 của năm 2000, trong thành phố có 70.708 người dân, 31.242 hộ, và 15.902 gia đình cư trú. Mật độ dân số là 2,263.7/km². Có tổng cộng 32.432 căn nhà với mật độ đạt 1.038,3 căn/km². Tỷ lệ dân số theo chủng tộc của thành phố là 63.77% người da trắng, 2.53% người Mỹ gốc Phi, 0.39% người Mỹ bản xứ, 20.67% người châu Á, 0.26% người từ các đảo Thái Bình Dương, 8.32% thuộc các chủng tộc khác, và 4.07% thuộc hai hay nhiều hơn các chủng tộc. Người gốc Tây Bồ hay Latin trong mọi chủng tộc chiếm 18.26% dân số.
Trong tổng cộng 31.242 hộ thì có 23,3% số hộ có trẻ em dưới 18 tuổi sống cùng, 40,0% là các cặp vợ chồng sống cùng nhau, 7,3% có chủ hộ là phụ nữ không có chồng, và 49,1% không phải là một gia đình. Có 35,6% các hộ là hộ độc thân và 7.0% có người già từ 65 tuổi trở lên sống độc thân. Số nhân khẩu trung bình trong một hộ là 2,25 còn trong một gia đình là 2.97.
Trong thành phố, tỷ lệ dân số được chia theo tuổi là 18,0% đối với người dưới 18 tuổi, 8,3% với người từ 18 đến 24 tuổi, 43,4% là từ 25 đến 44 tuổi, 19,8% là từ 45 đến 64 tuổi, và 10,5% là người từ 65 tuổi trở lên. Độ tuổi trung bình là 35. Cứ 100 nữ giới thì có tương ứng 106,8 nam giới. Và cứ 100 nữ giới từ 18 tuổi trở lên thì có tương ứng 106,9 nam giới.
Theo một đánh giá năm 2006, thu nhập bình quân của một hộ gia đình ở Mountain View là $80.599, còn thu nhập bình quân của một gia đình là $98.836.[1] Nam giới có thu nhập bình quân đạt $64.585 trong khi đó nữ giới chỉ có thu nhập $44.358. Tổng cộng, thu nhập bình quân đầu người của thành phố là $39.693. Có khoảng 3,6% số gia đình tương ứng với 6,8% số dân sống dưới mức nghèo nàn, trong số đó có 7,2% số người ở dưới tuổi 18 và 5,9% có độ tuổi từ 65 trở lên.
== Các tập đoàn công nghệ ==
Mountain View là một trong những thành phố chính hợp thành thung lũng Silicon, và là địa điểm đặt đại bản doanh hoặc văn phòng đại diện lớn của nhiều tập đoàn tiếng tăm thuộc thung lũng Silicon, như:
Trụ sở tập đoàn Actel
AOL
Trụ sở Cavium Networks
Trụ sở Eye-Fi
Fenwick & West LLP
Trụ sở Google (còn gọi là Googleplex)
Trụ sở Intuit
Trụ sở Jajah
Trụ sở LinkedIn
Trụ sở Meebo
Chi nhánh của Microsoft gồm Tellme/MSN/Hotmail/PowerPoint/Xbox/MSNTV/Mediaroom/MacBU divisions
Trụ sở quỹ Mozilla/Tập đoàn Mozilla
Nokia
Omnicell
Diamond Systems Corporation
Pinnacle Systems
Plastic Logic
Polyvore Headquarters [2]
PortalSoft, Inc.
Red Hat
Soylent Communications
Trụ sở Synopsys
Symantec
VeriSign
Webroot Software
Wipro
WSO2
FriendFeed
=== Các trường học tư ===
View Academy[9-12]
German International School of Silicon Valley - provides bilingual education for PreK-12
Yew Chung International School of Silicon Valley - provides bilingual Mandarin and English education for PreK - 12
The Girls' Middle School - an all-girls middle school (6-8) with specialization in technology and entrepreneurial education
St. Joseph Elementary School - a Catholic elementary school (K-8)
Saint Francis High School - a Catholic high school
== Xem thêm ==
Thung lũng Silicon
Google
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
City of Mountain View
Báo Mountain View Voice
Thư viện thành phố
Sở cảnh sát
Mountain View Center for the Performing Arts
Hướng dẫn tới các cửa hàng ẩm thực trong khu buôn bán Mountain View
=== Các điểm thú vị khác ===
Monta Loma Neighborhood Neighborhood Web Site
Old Mountain View Neighborhood Neighborhood Web Site
Shoreline West Neighborhood Neighborhood Web Site
Bản mẫu:Santa Clara County Bản mẫu:San Jose and Silicon Valley attractions Bản mẫu:SF Bay Area |
victoria (úc).txt | 37°0′N 144°0′Đ
Victoria là một tiểu bang nằm tại góc đông nam của Úc. Tuy là tiểu bang có diện tích nhỏ thứ nhì (sau Tasmania), Victoria có dân số cao nhất Úc - vào năm 2005 dân số của Victoria đạt hơn 5 triệu người. Thủ phủ của Victoria là Melbourne, nơi tập trung hơn 70% dân số của tiểu bang.
== Xem thêm ==
Úc
Các Tiểu bang và vùng lãnh thổ Úc
Cháy rừng tại Victoria 2009
Phương tiện liên quan tới Victoria, Australia tại Wikimedia Commons
== Tham khảo == |
yamagata.txt | Yamagata (Nhật: 山形県 (Sơn Hình Huyện), Yamagata-ken) là một tỉnh thuộc vùng Tohoku trên đảo Honshū, giáp với Biển Nhật Bản. Trung tâm hành chính là thành phố Yamagata.
== Địa lý ==
Yamagata nằm ở góc phía Tây Nam của Tohoku, đối diện với biển Nhật Bản. Nó giáp với tỉnh Niigata và Fukushima ở phía Nam, với tỉnh Miyagi ở phía Đông, tỉnh Akita ở phía Bắc. Tất cả những đoạn biên giới này đều được đánh dấu bằng các ngọn núi, với phần lớn dân số định cư ở vùng đồng bằng Trung tâm khá nhỏ.
== Lịch sử ==
Thổ dân người Ezo từng sống ở vùng hiện nay gọi là Yamagata. Trong suốt thời kì Heian (794–1185), gia tộc Fujiwara (藤原) thống lĩnh vùng này. Thành phố Yamagata phát triển hưng thịnh thời kì Edo nhờ vị trí là một thị trấn thành lũy quan trọng. Nổi tiếng với beni (thuốc nhuộm màu đỏ rum sử dụng trong sản xuất lụa). Năm 1649, nhà thơ Haiku nổi tiếng, Matsuo Bashō thăm Yamagata trong chuyến đi 5 tháng xuống vùng phía Bắc Nhật Bản. Tỉnh Yamagata và tỉnh Akita đã từng thuộc tỉnh Dewa cho đến thời Minh Trị Duy tân.
== Hành chính ==
=== Thành phố ===
Tỉnh Yamagata có 13 thành phố:
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Yamagata
== Thể thao ==
== Du lịch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh Yamagata (tiếng Nhật)
Hướng dẫn định vị ngành công nghiệp tỉnh Yamagata
Thông tin Yamagata (Cơ sở dữ liệu thông tin du lịch)
Khí hậu tại thành phố Yamagata
Bảo tàng Nghệ thuật Yamagata
Festival film tài liệu quốc tế Yamagata |
merlin.txt | Merlin là một pháp sư trong truyền thuyết Arthur. Không hề có một bằng chứng lịch sử chắc chắn về sự tồn tại của Merlin hay vua Arthur - vị vua mà Merlin phò trợ. Trong thời Trung cổ, câu chuyện của Merlin được phổ biến rộng rãi trong một tác phẩm gọi là Romances Arthur, những câu chuyện lãng mạn đầu tiên được viết trong những thế kỷ 13. Những câu chuyện này đã được lưu truyền từ nhiều năm trước đó, trong thế kỷ thứ năm, khi Đế chế La Mã sụp đổ và nước Anh rơi vào tình trạng hỗn loạn, lãnh chúa bản địa chiến đấu với nhau, tệ hơn, Anglo-Saxon, Đan Mạch và Đức bắt đầu xâm lược. Theo Romances Arthur, Merlin đã cứu người Anh trong cơn hỗn loạn này.
== Truyền thuyết ==
Các truyền thuyết về Merlin đầu tiên được viết bởi các giáo sĩ và nhà thơ thời đại Trung cổ. Câu chuyện chi tiết đầu tiên về Merlin được miêu tả trong cuốn Lịch sử các vị vua nước Anh (Hítoria Regum Britanniae)của Geofrey vùng Monmouth vào năm 1136.
Trong tác phẩm của mình, Geofrey miêu tả Merlin là một Cambion - một người do con người và quỷ sinh ra. Mẹ của Merlin là người trần, còn cha là một con quỷ (Incubus - nam ác thần được truyền rằng sẽ đi giao hợp với phụ nữ trong lúc họ ngủ). Nhờ đó Merlin thừa hưởng những năng lực siêu nhiên. Tên của mẹ Merlin thường không được nhắc đến nhưng các phiên bản cổ xưa nhất gọi mẹ Merlin là Adhan.
Merlin đóng vai trò quan trọng giúp vua Arthur lên ngôi, đồng thời ông cũng giúp vị vua huyền thoại này trị vì với tư cách như một cố vấn cho đến ngày ông bị Tiên nữ của Hồ nước bỏ bùa mê và cầm tù.
== Tên gọi ==
Tên Merlin bắt nguồn từ tiếng của xứ Wales là Myrddin. Còn Geofrey trong tác phẩm của mình dùng tên là Merlinus. Trong một số miêu tả khác Merlin còn được gọi là Ambrosius. Khai sinh tựa Emrys
== Pháp sư Merlin ==
Có nhiều truyền thuyết huyền diệu bao quanh pháp sư Merlin. Ông là người bảo vệ Chén Thánh (Holy Grail) và giám hộ cho vua Arthur trẻ tuổi, người đã chiến đấu vì sự bình yên của nước Anh. Merlin xuất hiện như một người có trí tuệ siêu phàm - đã phò trợ cho bốn vị vua liên tiếp của nước Anh. Merlin cũng đã học cách để nói chuyện với các loài động vật hoang dã trong rừng. Ông rất có uy tín với các giáo sĩ, linh mục tại vùng đất huyền thoại Camelot. Điều đặc biệt nhất là Merlin được tất cả mọi người tôn kính bởi ông là một nhà tiên tri vĩ đại với nhiều lời tiên tri đã được ghi nhận.
Các vị vua rất tin tưởng vào tài tiên tri của Merlin, đặc biệt là vua Edward I và Triều đại Tudor đã sử dụng những lời tiên tri để chứng minh cho những yêu cầu của mình khi họ ngự trên ngai vàng ở xứ Wales. Vua Edward I đã gặp những rắc rối lớn và tổn hao chi phí để xây dựng lâu đài Caernarvon như thể đó là để hoàn thành một lời tiên tri của Merlin.
Mặc dù Merlin và Arthur đã duy trì hòa bình trong một thời gian, nhưng nước Anh cuối cùng lại rơi vào cuộc nội chiến khi Arthur ốm đau và hiệp sĩ trong Hội Bàn tròn của ông tranh đấu với nhau. Để thống nhất đất nước, Merlin nghĩ ra một nhiệm vụ. Ông là người giám hộ của Chén Thánh, một tách thiêng liêng mà khi uống có thể chữa tất cả các bệnh. Tuy nhiên, thay vì chỉ đơn giản là để cho Arthur uống từ Chén Thánh, Merlin phái các hiệp sĩ đi tìm kiếm nơi ẩn náu bí mật của nó, hi vọng thông qua đó họ sẽ học được sự khôn ngoan để một lần nữa làm việc như một thể thống nhất. Ngài Perceval người cuối cùng đã tìm thấy Chén Thánh, Arthur hồi phục, và đất nước được thống nhất. Merlin sau đó nghỉ hưu vào lâu đài Chén bí ẩn nơi di tích được lưu giữ, bổ nhiệm Perceval là người giám hộ mới của Chén Thánh.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
hoàn kiếm.txt | Quận Hoàn Kiếm là một quận ở trung tâm thủ đô Hà Nội, Việt Nam. Tên quận được đặt theo tên của hồ Hoàn Kiếm. Quận này bao gồm nhiều trung tâm buôn bán, thương mại lớn như: Tràng Tiền Plaza, chợ Đồng Xuân, chợ Hàng Da.
== Vị trí ==
Bắc và Tây Bắc giáp quận Ba Đình
Tây giáp quận Ba Đình và Đống Đa
Nam giáp quận Hai Bà Trưng
Đông giáp sông Hồng, qua bên kia sông là quận Long Biên
== Dân cư ==
Tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, toàn quận có 147.334 người trong đó 71.507 là nam chiếm 48,53%. Dân cư quận Hoàn Kiếm từ xưa (thời Cao Biền, thế kỷ 9) đến nay (thế kỷ 21) chủ yếu là dân tứ xứ tụ tập về.
== Lịch sử ==
Là một quận trung tâm của Hà Nội, lịch sử quận Hoàn Kiếm gắn liến với lịch sử nghìn năm xây dựng và gìn giữ Thăng Long - Hà Nội
Thời Tiền Lý, năm 545 Lý Nam Đế đã đóng quân, dựng bè gỗ trên sông Tô Lịch chống lại nhà Lương.
Thời kỳ nhà Nguyễn, Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội năm 1831, đây chính là đất thuộc huyện Thọ Xương.
Thời kỳ 1954-1961, khu vực này gồm toàn bộ khu phố Hoàn Kiếm, khu phố Đồng Xuân và một phần khu phố Hàng Cỏ voái khu phố Hai Bà; năm 1961 gộp thành khu phố Hoàn Kiếm; tháng 1/1981 đổi tên thành quận Hoàn Kiếm gồm 18 phường: Chương Dương, Cửa Đông, Cửa Nam, Đồng Xuân, Hàng Bạc, Hàng Bài, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Buồm, Hàng Đào, Hàng Gai, Hàng Mã, Hàng Trống, Lý Thái Tổ, Phan Chu Trinh, Phúc Tân, Trần Hưng Đạo, Tràng Tiền và giữ ổn định cho đến nay.
== Đơn vị hành chính ==
Hoàn Kiếm là quận nằm ở vị trí trung tâm của Kinh thành Thăng Long xưa và Thủ đô Hà Nội ngày nay. Từ năm 1954-1961, khu vực này gồm khu phố Hoàn Kiếm, khu phố Đồng Xuân và một phần của khu phố Hàng Cỏ, khu phố Hai Bà. Từ năm 1961-1981, các khu phố Hoàn Kiếm cũ, khu phố Đồng Xuân cũ, các khối 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 15, 16, 17 của khu phố Hàng Cỏ cũ và các khối 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41 của phu khố Hai Bà cũ hợp nhất thành khu phố Hoàn Kiếm. Từ tháng 1/1981, khu Hoàn Kiếm chính thức gọi là quận Hoàn Kiếm, theo đó, quận Hoàn Kiếm gồm 18 phường: Chương Dương, Cửa Đông, Cửa Nam, Đồng Xuân, Hàng Bạc, Hàng Bài, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Buồm, Hàng Đào, Hàng Gai, Hàng Mã, Hàng Trống, Lý Thái Tổ, Phan Chu Trinh, Phúc Tân, Trần Hưng Đạo, Tràng Tiền
Quận Hoàn Kiếm hiện được chia thành 18 phường như sau:
Các dự án đường sắt đi qua địa bàn quận là các tuyến số 1 (Ngọc Hồi - Yên Viên), tuyến số 2 (Nội Bài - Thượng Đình), tuyến số 3 (Trôi - Nhổn - Ga Hà Nội); trong đó tuyến số 2 đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo (một phần của tuyến Nội Bài - Thượng Đình) và tuyến số 1 hiện đang được đầu tư xây dựng.
== Đường phố ==
== Các trường cấp 3 của quận ==
Trường Việt Đức (công lập)
Trường Trần Phú (công lập)
Trường Marie Curie (dân lập)
== Địa điểm nổi tiếng ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Bảng giá đất thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội kèm theo quyết định số 59/2010/QĐ-ủy ban nhân dân ngày 28/12/2010 của ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.
Lịch sử hình thành quận Hoàn Kiếm
Bản đồ Hà Nội online
Hoàn Kiếm tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
heterapoderus hanoiensis.txt | Heterapoderus hanoiensis là một loài bọ cánh cứng trong họ Attelabidae. Loài này được Pic mô tả khoa học năm 1929.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Heterapoderus hanoiensis tại Wikispecies |
đồng tính luyến ái ở trung quốc.txt | Đồng tính luyến ái trong nền văn hóa Trung Hoa còn tương đối chưa rõ ràng mặc dù lịch sử có nhiều ghi chép về đồng tính luyến ái trong các triều đại phong kiến.
== Thuật ngữ và tiếng lóng ==
Từ đồng tính luyến (同性戀) chỉ tình yêu cùng giới hay đồng tính luyến giả (同性戀者) chỉ người yêu cùng giới được dùng chính thức. Tuy nhiên từ đồng chí (同志 – tongzhi) hay nữ đồng chí (女同志) thì phổ biến hơn trong cộng đồng người đồng tính. Từ này được dùng đầu tiên bởi các nhà hoạt động đồng tính ở Hồng Kông sau đó nó được dùng như tiếng lóng ở Trung Hoa đại lục.
== Quan điểm cổ xưa ==
Việc có con đặc biệt là con trai để nối dõi tông đường thì rất quan trọng trong xã hội Trung Hoa cổ xưa cho nên một người đàn ông có bạn đời là đàn ông là không hoàn thành bổn phận. Ngoài ra, Lão giáo đề cao Thuyết Âm Dương nên mối quan hệ dương-dương giữa hai người đàn ông là không cân bằng và không ổn định.
Tuy nhiên không có tôn giáo lớn nào ở Trung Hoa coi đồng tính luyến ái là tội lỗi như đạo Cơ-đốc ở phương Tây. Nó không được liệt kê trong danh sách hành vi tội lỗi của Khổng giáo. Khi nào người đàn ông hoàn thành bổn phận và có con cái, chuyện có người tình nam giới là chuyện riêng của anh ta.
Cũng theo Lão giáo, người đàn ông được coi như là dương (陽, nam tính), nhưng cũng đều có một chút âm (陰, nữ tính) trong đó.
== Tình yêu đồng giới trong văn học ==
Tình cảm sâu nặng và bền lâu của hai người nam được mô tả trong một số tiểu thuyết như Thủy Hử. Những tình cảm này mang sắc thái tình đồng chí hơn là đồng tính luyến ái. Tuy vậy, một số tác phẩm khác như Hồng Lâu Mộng có mô tả những người nam có những hành vi tình dục với người cùng giới và cả khác giới.
Văn thơ khiêu dâm thường bị đốt nhưng bản thảo còn lại của hợp tuyển Biện nhi sai mô tả một sinh nam môn sinh theo đuổi một nam môn sinh khác. Trong Qing Xia Ji, người chiến binh dũng cảm Zhang đã có hai người vợ nhưng lại bị một người trẻ tuổi Zhong hấp dẫn. Việc một người đàn ông có tuổi chủ động với một đứa con trai là một chuyện phổ biến. Tác phẩm xuất hiện vào khoảng năm 1630 đến 1640.
== Lịch sử ==
Đồng tính luyến ái đã được ghi nhận từ thời Thương Chu, thời Xuân Thu cũng như đời Hán về sau, đặc biệt là mối quan hệ tình cảm của nhiều hoàng đế.
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, vua Vệ Linh Công đã từng say mê và sủng ái Di Tử Hà, một thanh niên thông minh, khôi ngô, tuấn tú. Di Tử Hà đã từng lấy xe của vua đi thăm mẹ bệnh mà chưa được sự đồng ý của vua và từng mời vua ăn quả đào do mình đã cắn. Vua không những phạt anh ta mà còn khen hiếu thuận với mẹ và yêu quý vua. Mối tình chia đào vì thế mà hay được nhắc trong dân gian bằng câu thành ngữ dư đào đoạn tụ (余桃断袖). Khi Di Tử Hà không còn vẻ đẹp như xưa, nhà vua đâm ra chán ghét, sau đó lại thích một thanh niên khác là Công Tử Triều.
Câu thành ngữ mê Long Dương bắt nguồn từ mối tình của Ngụy An Ly vương và cậu học trò Long Dương Quân rất được nhà vua sủng ái.
Vị hoàng đế anh minh và hiếu thuận Hán Văn Đế, người khai sáng nền chính trị Văn Cảnh, một trong những thời kỳ thịnh trị của triều Hán rất yêu quý Đặng Thông. Họ đi đâu cũng có nhau và đêm thì ngủ chung giường. Nhà vua cho Đặng Thông nhiều vàng bạc và phong chức đại phu trong triều mặc dù Đặng Thông chỉ là một người chèo thuyền không biết y thuật. Sau này nhà vua còn cho phép Đặng Thông tự đúc tiền mà dùng. Câu thành ngữ tiền họ Đặng rất phổ biến ở Trung Hoa. Tuy nhiên, Đặng Thông là người trung thực, cẩn trọng và hết lòng chăm sóc khi nhà vua lâm bệnh nặng không ngại tanh hôi.
Hán Ai Đế cũng từng sủng ái và phong chức rất cao trong triều cho Đổng Hiền, một người giống phụ nữ, dịu dàng và có khuôn mặt kiều diễm. Có một lần ngủ trưa, Đổng Hiền gối lên cánh tay áo của nhà vua ngủ. Ai Đế muốn quay người nhưng cũng không muốn làm tỉnh giấc của Đổng Hiền nên cắt cánh tay áo của mình. Người ta sau gọi mối tình đồng tính là mối tình cắt tay áo cũng là có nguồn gốc là điển cố này. Khi nhà vua mất, hoàng đế mới là Vương Mãng cực lực phản đối Đổng Hiền. Vì sợ gặp họa và cũng để đáp lại tình yêu của vua dành cho mình, Đổng Hiền và vợ con đã tự sát tại nhà.
Nhà nghiên cứu Phan Quang Đán kết luận rằng hầu như hoàng đế nào của nhà Hán cũng có một hoặc nhiều bạn tình là nam giới. Một số sách lịch sử kể về một số người đồng tính nữ. Đồng tính luyến ái phổ biến vào đời Tống, đời Minh và đời Thanh.
Ở một số vùng, tình yêu đồng tính được đặc biệt coi trọng. Có một câu chuyện vui rằng vào đời nhà Minh, Phúc Kiến là nơi duy nhất mà quan hệ tình cảm của tầng lớp quý tộc và thương gia đối với các người bán dâm nam hạng sang rất phổ biến. Xie Zhaozhe, một tác giả ở Phúc Kiến đã phản bác điều này: "từ Giang Nam và Chiết Giang đến Bắc Kinh và Sơn Tây, không ai biết đến mối quan hệ kiểu này." Những nhà truyền giáo Dòng Tên chẳng hạn như Matteo Ricci cho rằng điều này có vẻ xuyên tạc nhưng ông thực sự đã lo lắng vì sự công khai của những mối quan hệ này. Hầu hết những người quan hệ đồng tính với người bán dâm nam hạng sang là những người xa hoa và suy đồi thuộc tầng lớp quý tộc và thương gia. Vài người không phải là người đồng tính vì họ cũng yêu cầu những cô gái phục vụ.
Tình yêu đồng giới cũng được ca tụng trong nghệ thuật, nhiều chứng cứ còn tồn tại qua nhiều vụ tàn phá trong lịch sử. Mặc dù chưa thấy bức tượng nào còn tồn tại, người ta tìm thấy nhiều bức tranh trong các bộ sưu tập cá nhân.
Vào năm 1944, học giả Sun Cizhou cho rằng nhà thơ nổi tiếng Khuất Nguyên là người yêu của nhà vua thời đó. Trong bài thơ hàng đầu của Khuất Nguyên, bài Ly Tao (離騷), ông tự gọi mình là mỹ nhân, từ thường dùng để chỉ người yêu là phụ nữ.
Luật phản đối đồng tính đầu tiên có tác dụng là vào năm 1740. Không có ghi nhận nào về việc thực thi luật này.
== Hiện đại ==
Cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, tình hình thay đổi đáng kể khi luật cấm kê gian bị bãi bỏ vào năm 1997. Tổ chức phân loại và chẩn đoán rối loạn tâm thần Trung Quốc đưa đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần vào ngày 20 tháng 1 năm 2001. Tình hình tiếp tục được cải thiện.
Một thăm dò năm 2000 cho thấy người Trung Quốc ngày càng cởi mở hơn đối với đồng tính luyến ái. Trong 10.792 người được thăm dò, 48.15% ủng hộ, 30.9% không chấp nhận, 14.46% phân vân và 7.26% không quan tâm. Phân biệt đối xử đối với người đồng tính hiếm xảy ra. Nhưng vài học giả than phiền rằng chính phủ còn dửng dưng trong vấn đề này khi không làm gì để cải thiện tình hình. Năm 2002, chỉ có 2 người từ Trung Hoa đại lục được cử tham gia Gay Games. Ngoài các trang web của giới đồng tính, thông tin đại chúng ít đưa tin về sự kiện này. Chính quyền vẫn còn từ chối cải thiện tình hình hoặc từ chối ủng hộ quyền người đồng tính. Mặc dù không có điều luật rõ ràng nào cấm đồng tính luyến ái hoặc hành vi tình dục đồng giới giữa những người lớn tự nguyện, không có điều luật nào bảo vệ người đồng tính khỏi sự kỳ thị và không có một tổ chức bảo vệ quyền lợi người đồng tính. Chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề đồng tính là Ba không: Không tán thành, không phản đối, không khuyến khích (不支持, 不反对, 不提倡).
Một thăm dò năm 2008 của nhà tình dục học Lý Ngân Hà (李銀河) cho thấy thái độ của công chúng đối với người đồng tính còn khác nhau. 91% tán thành quyền làm việc của người đồng tính, 80% đồng ý người đồng tính và dị tính có quyền ngang nhau. Nhưng đa số lại cho rằng người đồng tính công khai không nên là giáo viên và 40% cho rằng người đồng tính là hoàn toàn sai trái.
Số lượng người đồng tính ở Trung Quốc vẫn chưa rõ ràng. Một báo cáo dựa trên tài liệu của chính phủ và các nghiên cứu cho rằng là 15 triệu người. Một thống kê khác trên tờ Trung Hoa nhật báo (China Daily) cho rằng là khoảng 30 triệu người.
Nhờ nới lỏng Internet, nhiều trang web đồng tính đã nở rộ ở Trung Hoa đại lục mặc dù đôi khi cảnh sát có can thiệp và đóng cửa nhiều trang web. Internet trở nên rất quan trọng đối với cộng đồng đồng tính ở đây. Mặc dù không có tổ chức dành cho người đồng tính, nhiều website có chức năng tư vấn.
Thông tin đại chúng đôi khi đưa tin về các hoạt động đồng tính ở nước ngoài như diễu hành đồng tính. Vài nhà phê bình cho rằng mục đích của việc đưa tin là bôi bác giới đồng tính. Không có hệ thống bình chọn phim ảnh, chính phủ Trung Quốc cấm truyền hình và rạp chiếu phim chiếu các phim về đồng tính vì chúng "không phù hợp". Bộ phim về đề tài đồng tính Lam Vũ bị cấm ở đại lục (bộ phim cũng có nhắc tới sự kiện Thiên An Môn năm 1989) mặc dù phim được chú ý nhiều ở Đài Loan, Hồng Kông và nhiều nơi khác đồng thời các diễn viên trong phim đều là người ở đại lục và dựa trên một câu chuyện khá nổi tiếng trên Internet được viết bởi một cư dân mạng ở đại lục (phiên bản DVD đã được sửa chữa rất nhiều). Bộ phim Brokeback Mountain năm 2006 bị từ chối chiếu ở đại lục dẫu cho phim của Lý An thường rất được hoan nghênh tại đây.
Mặc dù câu lạc bộ (club), quán rượu (bar), quán trà (tea house), dịch vụ xông hơi (sauna) cho người đồng tính và các trung tâm hỗ trợ thường phổ biến hơn ở các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu và Thẩm Quyến, các dịch vụ này cũng trở nên phổ biến hơn ở các thành phố nhỏ hơn như Tây An, Đại Liên và Côn Minh tuy nhiên thường bị cảnh sát làm khó dễ. Tương tự như ở các nước đang phát triển khác, ở đây cũng có các tụ điểm như công viên, phòng tắm công cộng, các con phố. Cuộc sống người đồng tính đặc biệt khó khăn ở thôn quê. Ở Trung Quốc vẫn còn một bộ phận rất lớn người dân không có điều kiện truy cập Internet và không có khả năng di chuyển đến các thành phố. Người dân ở thôn quê không đề cập vấn đề đồng tính luyến ái hoặc chỉ là coi nó như một căn bệnh.
Nhiều trường hợp cho thấy người đồng tính bị luật pháp kỳ thị, họ bị cảnh sát bắt bớ và giam cầm. Tháng 10 năm 1999, tòa án Bắc Kinh quy định đồng tính luyến ái là "bất thường và không chấp nhận được ở nơi công cộng" (trích báo Bưu điện Washington ngày 24 tháng 1 năm 2000). Đây cũng là lần đầu tiên thái độ chính thức được công khai. Tháng 7 năm 2001, 37 người đồng tính nam bị bắt ở Quảng Đông trong một vụ khá nổi tiếng. Tháng 4 năm 2004, Tổng cục Phát thanh Truyền hình và Điện ảnh Quốc gia (国家广播电影电视总局) thực hiện chiến dịch dẹp các nội dung bạo lực và khiêu dâm trong thông tin đại chúng. Các chương trình liên quan đến đồng tính cũng bị cấm vì được coi là vi phạm "cuộc sống lành mạnh của Trung Quốc".
Từ năm 2004, vì tỉ lệ nhiễm HIV tăng cao trong cộng đồng đồng tính và song tính nam ở các nước châu Á, các cơ quan sức khỏe cấp tỉnh và thành phố triển khai các nghiên cứu về nam có quan hệ tình dục với nam (MSM). Tháng 1 năm 2006, Hội đồng Quốc gia cho ra Quy định về Phòng chống AIDS. Tài liệu nói rằng MSM là bộ phận có nguy cơ nhiễm HIV cao và cơ quan các cấp phải đưa nhóm hành vi này vào chương trình hành động. Người ta thấy rằng chính phủ Trung Quốc quyết tâm trong vấn đề sức khỏe của người đồng tính và song tính nam.
== Hôn nhân đồng giới ==
Nhà tình dục học nổi tiếng Lý Ngân Hà, cũng là người đồng tính, đã cố gắng hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính trong Quốc hội (Hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính ở Trung Quốc năm 2000 – 中国同性婚姻合法化 và Đề án hôn nhân đồng tính Trung Quốc năm 2004 – 中国同性婚姻提案). Theo luật pháp, cần thiết phải có 35 chữ ký đại biểu để đưa một vấn đề ra thảo luận tại Quốc hội. Bà đã thất bại vì thiếu sự ủng hộ của nhiều đại biểu. Nhiều học giả cũng như người đồng tính cho rằng việc hợp pháp hóa trong một tương lai gần là điều khó khăn.
Tại Quốc hội năm 2006, bà lại đề trình dự thảo về vấn đề này một lần nữa. Nhiều trang web kêu gọi thành viên ký tên ủng hộ cho dự thảo này. Tuy nhiên theo như dự đoán, dự thảo này lại không được thông qua.
== Hồng Kông ==
Trước năm 1991, đồng tính luyến ái là bất hợp pháp ở Hồng Kông, hình phạt nặng nhất là tù chung thân. Hội đồng lập pháp Hồng Kông bỏ luật cấm hành động kê gian sau khi bàn cãi công khai vào năm 1980. Tuy nhiên, hai lần đề xuất luật cấm phân biệt đối xử vào năm 1993 và 1997 đã thất bại.
Có nhiều tổ chức bảo vệ quyền người đồng tính ở Hồng Kông như Rainbow Action và Hội văn hóa Tongzhi (Đồng Chí). Vào năm 2003, Giáo hội Thiên chúa Hồng Kông phát hành một bài báo chỉ trích hôn nhân đồng tính. Để đáp lại, một nhóm người phản đối đã tràn vào nhà thờ và ngăn chặn việc này.
== Văn Hóa ==
=== Người nổi tiếng ===
Dưới đây liệt kê một số người nổi tiếng ở Trung Hoa đại lục và Đài Loan đã công khai hoặc hoạt động tích cực cho quyền của người đồng tính:
Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung, đồng tính hoặc song tính, ca sĩ, diễn viên Hồng Kông).
Bạch Tiên Dũng (Pai Hsien-yung, nhà văn Đài Loan).
Lý Ngân Hà (Li Yinhe, nhà nghiên cứu tình dục học Trung Quốc).
Hà Xuân Nhuy (Josephine Ho, nhà nghiên cứu và hoạt động chính trị Đài Loan).
Siu Cho (nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội Hồng Kông).
=== Điện ảnh ===
Có nhiều phim đề tài đồng tính ở Hồng Kông, Đài Loan và Trung Hoa đại lục, một số phim là:
Bishonen (Mỹ thiếu niên, Hồng Kông)
Buffering (Hồng Kông)
Butterfly (Hồng Kông)
Crystal Boys (Đài Loan)
East Palace, West Palace (Đông cung tây cung, Trung Quốc)
Eternal Summer (Mùa hè vĩnh cửu, Đài Loan)
Farewell My Concubine (Bá vương biệt cơ, Trung Quốc)
Fleeing by Night (Đài Loan)
Formula 17 (Công thức tuổi teen, Đài Loan)
Happy Together (Xuân quang xạ tiết, Hồng Kông)
I Am Not What You Want (HK)
Lanyu (Lam Vũ, Trung Quốc)
Spider Lilies (Đài Loan)
Tongzhi in Love (Đồng tính ở Đài Loan, phim tài liệu, Trung Quốc/Hoa Kỳ, 2008)
The Wedding Banquet (Hỷ yến, Đài Loan)
Addicted & Heroin (Thượng Ẩn, Trung Quốc)
== Xem thêm ==
Đồng tính luyến ái ở Việt Nam
== Tham khảo ==
Brook, Timothy. (1998). The Confusions of Pleasure: Commerce and Culture in Ming China. Berkeley: University of California Press. ISBN 0-520-22154-0 (Paperback).
Zhou, Huashan. Wah-shan Chou, Chou Wah-Shan (2000) Tongzhi: Politics of Same-sex Eroticism in Chinese Societies. Haworth Press. ISBN 9781560231530.
== Chú thích == |
dược phẩm.txt | Dược phẩm hay thuốc là những chất dưới dạng đơn chất hoặc hỗn hợp có nguồn gốc rõ ràng, được dùng cho người hoặc sinh vật để chẩn đoán, phòng và chữa bệnh, hạn chế hoặc thay đổi điều kiện bệnh lý hay sinh lý.
== Phân loại ==
Thuốc có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, như theo tính chất hóa học, cơ chế, ảnh hưởng đến hệ sinh học, hoặc hiệu quả điều trị.
Theo mục đích sử dụng
Thuốc phòng bệnh
Thuốc chẩn đoán bệnh
Thuốc chữa bệnh
Theo tây y hay y học cổ truyền
Thuốc tân dược
Thuốc cổ truyền (đông y)
Theo nguồn gốc
Thuốc sơ chế với nguồn gốc tự nhiên
Thuốc tổng hợp
Theo dạng bào chế
Thuốc tiêm
Thuốc viên, cao, đơn, hoàn, tán...
Thuốc xoa
Theo tác dụng với các cơ quan cơ thể, các chức năng cơ thể hay theo loại bệnh
Thuốc tác dụng trên hệ thần kinh thực vật.
Thuốc tác dụng trên hệ giao cảm
Thuốc tác dụng trên hệ phó giao cảm
Thuốc tác dụng trên hệ thần kinh trung ương
Thuốc mê
Thuốc tê
Thuốc ngủ
Thuốc giảm đau gây ngủ (opiat)
Thuốc giảm đau chống viêm Non-steroid
Thuốc chữa động kinh
Thuốc chữa Parkinson
Dược lý tâm thần
Thuốc tác dụng trên cơ quan và hệ máu
Thuốc trợ tim
Thuốc chữa loạn nhịp tim
Thuốc chữa cơn đau thắt ngực
Thuốc điều trị tăng huyết áp
Thuốc lợi niệu
Các chất điện giải
Các dịch thay thế huyết tương
Các dịch điều chỉnh thăng bằng kiềm toan
Thuốc điều chỉnh rối loạn tiêu hoá
Thuốc điều chủnh rối loạn hô hấp
Thuốc chữa thiếu máu
Thuốc tác dụng trên quá trình đông máu và tiêu fibrrin
Thuốc tác dụng trên chuyển hóa và mô
Thuốc hạ lipid máu
Thuốc hạ glucose máu
Histamin và thuốc kháng histamin H1
Hormon và các thuốc điều chỉnh rối loạn nội tiết
Vitamin
Thuốc chống ung thư
Thuốc tác dụng trên hệ thống miễn dịch
Hóa trị liệu
Thuốc kháng sinh
Thuốc kháng lao
Thuốc điều trị phong
Thuốc chống sốt rét
Thuốc chữa amip
Thuốc chữa giun sán
Thuốc sát khuẩn
== Tác dụng phụ ==
Tác dụng phụ hay còn được gọi là tác dụng không mong muốn,là tác dụng gây phiền hà và gây độc cho người sử dụng thuốc. Trên thực tế bất kỳ một loại thuốc nào cũng có tác dụng phụ này. Công việc của những người sử dụng thuốc phải luôn luôn cân nhắc giữa tác dụng chính và tác dụng phụ để quyết định sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và tiết kiệm.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
leeds.txt | Leeds là thành phố lớn của West Yorkshire, Anh. Thành phố nằm bên Sông Aire và là trung tâm lõi của Vùng đô thị Leeds. Theo thống kê dân số của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland năm 2001, Nội thành Leeds có 443.247 dân trong khi Vùng đô thị Leeds có 787.700 dân,, là thành phố lớn thứ 30 trong Liên minh châu Âu. Leeds là trung tâm văn hóa, tài chính và thương mại của khu vực đô thị West Yorkshire, với dân số năm 2001 là 1,5 triệu người, và khu vực thành phố Leeds, một khu vực kinh tế với Leeds là lõi, có dân số 2,9 triệu dân. Leeds là trung tâm lớn thứ nhì về kinh doanh, dịch vụ tài chính tại Vương quốc Anh sau thủ đô London, và thị trường văn phòng tốt nhất châu Âu về giá trị. Leeds toạ lạc giữa một vùng nông nghiệp nằm về phía Bắc và phía Đông và vùng công nghiệp chế tạo ở phía Nam và phía Tây của thành phố. Thành phố Leeds là trung tâm công nghiệp và thương mại của khu vực này. Nhờ có hệ thống đường sắt, đường bộ và các hệ thống kênh đào hoàn hảo đã khiến cho thành phố là một điểm phân phối quan trọng. Thành phố Leeds cũng là một trung tâm sản xuất và bán sỹ hàng quần áo lớn. Các sản phẩm chế tạo của Leeds gồm có: thiết bị điện tử, các sản phẩm giấy, các mặt hàng kim loại. Thành phố có một nhà hát, gallery nghệ thuật thành phố (1888) và bảo tàng thành phố (1820). Các địa điểm lịch sử có: Tudor-Stuart Temple Newsom House, ngày nay là một viện bảo tàng, phế tích của Kirkstall Abbey thế kỷ 12. Leeds có các đại học: Đại học Leeds (1904), Đại học Leeds Metropolitan (1992, trước đây là một trường cao đẳng bách khoa), và một trường trung học (grammar school) (1552).
== Lịch sử ==
Trong thời kỳ Trung Cổ, Leeds là một phố thị nông nghiệp. Thành phố nhận hiến chương đầu tiên năm 1207. Trong thế kỷ 14, ngành sản xuất len lông cừu đã được du nhập vào đây bởi những người nhập cư Fleming. Sự phát triển công nghiệp của thành phố đã được tăng tốc nhờ sự khai thông Kênh đào Leeds và Liverpool năm 1816 và tiếp sau đó là tuyến đường sắt đầu tiên nối đến đây vào năm 1848.
== Thành phố kết nghĩa ==
Brno, Cộng hòa Séc
Colombo, Sri Lanka
Dortmund, Đức
Durban, Nam Phi
Hàng Châu, Trung Quốc
Lille, Pháp
Louisville, Hoa Kỳ
Siegen, Đức
== Tham khảo == |
việt nam quốc dân đảng.txt | Việt Nam Quốc dân Đảng - được gọi tắt là Việt Quốc - là một chính đảng được thành lập năm 1927 tại Hà Nội. Sau năm 1975, để hợp nhất các đảng, nên tổ chức này bị cấm hoạt động hầu như chỉ hoạt động bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Đảng ca: Cờ sao trắng.
== Quá trình thành lập ==
Vào thập niên 1920, dưới sự thống trị và đàn áp của thực dân Pháp với phong trào chống Pháp, Nguyễn Thái Học, một sinh viên trường Cao đẳng Thương mại Hà Nội, đã cùng một số người Việt yêu nước khác như Nhượng Tống, Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm, Hồ Văn Mịch, Phó Đức Chính, Nguyễn Ngọc Sơn, Lê Văn Phúc... bí mật thành lập một tổ chức đấu tranh cách mạng nhằm đánh đuổi thực dân giành độc lập và tự do cho dân tộc.
Hạt nhân đầu tiên là Nam Đồng Thư xã, một nhà xuất bản tiến bộ do Phạm Tuấn Tài, Nhượng Tống, và Phạm Tuấn Lâm thành lập vào cuối năm 1925. Thư xã ở số 6 đường 96, bờ hồ Trúc Bạch, gần đối diện với chùa Châu Long. Do ảnh hưởng của phong trào dân tộc dân chủ ở Trung Quốc, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn (một sáng lập viên của Trung Hoa Quốc Dân Đảng), nên vào đêm 24 rạng ngày 25 tháng 12 năm 1926 (có tài liệu nói là 25 tháng 9) những thành viên của Thư xã cùng một số nhà ái quốc, đa số từ Thanh Hóa trở ra, đã tổ chức một đại hội bí mật tại làng Thể Giao, Hà Nội thành lập một đảng cách mạng đặt tên là Việt Nam Quốc dân Đảng. Mục tiêu của Đảng là:
Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa. Đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ, đặc biệt là các nước lân cận: Ai Lao, Cao Miên.
== Tổ chức ==
Đại hội bầu ra ban lãnh đạo gồm:
Nguyễn Thái Học: Chủ tịch Tổng bộ
Nguyễn Thế Nghiệp: Phó Chủ tịch
Phó Đức Chính: Trưởng ban Tổ chức
Nhượng Tống: Trưởng ban Tuyên truyền
Nguyễn Ngọc Sơn: Trưởng ban Ngoại giao
Đặng Đình Điển: Trưởng ban Tài chánh
Nguyễn Hữu Đạt: Trưởng ban Giám sát
Tưởng Dân Bảo: Trưởng ban Trinh sát
Hoàng Văn Tùng: Trưởng ban Ám sát
Riêng Ban Binh vụ khuyết.
Đảng được tổ chức với ba đảng viên trở lên làm một "tổ". Mười chín đảng viên trở lên thì làm một "chi bộ". Cao hơn chi bộ là "xã bộ", "huyện bộ" rồi cuối cùng là "tổng bộ" ở cấp quốc gia. Mỗi chi bộ có ít nhất bốn tiểu ban: tuyên truyền, tổ chức, tài chánh và tình báo.
Sau khi thành lập, Việt Nam Quốc dân Đảng đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển cơ sở trong các tầng lớp dân chúng trên cả nước, nhất là ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Đảng đã liên lạc và sáp nhập thêm tổ chức Việt Nam Dân Quốc ở Bắc Giang do Nguyễn Khắc Nhu đứng đầu. Gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng còn có thêm các nhóm nhân sĩ và trí thức yêu nước ở Bắc Ninh do Nguyễn Thế Nghiệp tổ chức, nhóm khác ở Thanh Hoá do Hoàng Văn Đào đứng đầu, một nhóm ở Thái Bình do Hà Đình Điển tổ chức, và một nhóm ở Sài Gòn do Trần Huy Liệu lãnh đạo. Cơ sở tổ chức của Việt Nam Quốc dân Đảng phát triển tương đối nhanh. Chỉ trong hai năm, năm 1928 và đầu năm 1929, họ đã bí mật kết nạp hàng nghìn đảng viên bao gồm các thành phần trí thức, nông dân, địa chủ, thương gia, công chức, sinh viên, học sinh, công nhân, và binh lính người Việt yêu nước trong quân đội Pháp. Việt Nam Quốc dân Đảng cũng cử người liên lạc với Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội và Tân Việt Cách mạng Đảng để bàn thảo việc thống nhất về tổ chức và phối hợp hoạt động trong công cuộc giải phóng dân tộc, nhưng việc bất thành do những bất đồng trong quan điểm thực hiện. Mặc dù hoạt động bí mật, nhưng việc phát triển nhanh chóng trong một thời gian ngắn đã khiến Việt Nam Quốc dân Đảng không thể tránh khỏi sơ suất và sự theo dõi của chính quyền thuộc địa, vì vậy Pháp đã thành công cài người của họ vào tổ chức này. Mãi đến ngày 2 tháng 7 năm 1929, cả nước mới biết đến Việt Nam Quốc dân Đảng sau khi báo chí loan tin chính quyền thuộc địa sắp xét xử một số đảng viên của họ.
== Lịch sử ==
=== Giai đoạn 1927-1930 ===
Ám sát Bazin: Bazin là một tay thực dân chuyên dụ dỗ, tuyển mộ dân nghèo tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đi làm phu cho các đồn điền cao su tại Nam Kỳ, Miên, Lào, nơi những người phu này bị đối xử như nô lệ. Mặc dù không được Nguyễn Thái Học và Tổng Bộ chấp thuận, ngày 9 tháng 2 năm 1929, ba đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng là Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Đức Lung đã ám sát Bazin tại Chợ Hôm, Hà Nội. Nhân sự kiện này, Pháp khởi sự đàn áp khắp nơi nhằm tiêu diệt tiềm lực đang lớn mạnh của Việt Nam Quốc dân Đảng. Từ đó, lực lượng của Đảng này bị tổn thất nặng nề và hoàn toàn rơi vào thế bị động. Các lãnh tụ buộc phải tiến hành cuộc khởi nghĩa 8 tháng sau đó để tránh cho các cơ sở đang gặp nguy cơ bị tiêu diệt hoặc tan rã.
Khởi nghĩa Yên Bái: Trước tình hình trong hàng ngũ đảng có phản bội, công việc chuẩn bị khởi nghĩa bị bại lộ, thực dân Pháp càn quét các khắp nơi, nhiều đảng viên bị bắt. Do vậy, mặc dù không tin chắc vào thắng lợi, nhưng để tránh bị tiêu diệt, vào ngày 10 tháng 2 năm 1930 Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức cuộc tổng khởi nghĩa tại nhiều nơi ở miền Bắc Việt Nam như Yên Bái, Lâm Thao, Hưng Hóa, Hà Nội, Đáp Cầu, Phả Lại, Kiến An, Phụ Dực, Vĩnh Bảo, Thái Bình v.v. Tuy nhiên, do tin tức bị lộ nên cuộc tổng khởi nghĩa chỉ xảy ở Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Phụ Dực, Vĩnh Bảo. Mặt khác, vì do thiếu vũ khí và phương tiện liên lạc yếu kém, nên lực lượng khởi nghĩa không cố thủ được lâu dài ở các nơi họ đã đánh chiếm.
Ngày 20 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại làng Cổ Vịt, gần đồn Chi Ngại, tỉnh Hải Dương. Ông và 12 đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng bị Pháp áp giải từ ngục thất Hỏa Lò ở Hà Nội lên Yên Bái bằng xe lửa chiều ngày 16 tháng 6 năm 1930 để chém đầu. Lúc 5 giờ 35 sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930 tại pháp trường Yên Bái, Nguyễn Thái Học cùng 12 liệt sĩ khác là:
Phó Đức Chính
Bùi Tư Toàn
Bùi Văn Chuẩn
Nguyễn An
Hà Văn Lạo
Đào Văn Nhít
Ngô Văn Du
Nguyễn Đức Thịnh
Nguyễn Văn Tiềm
Đỗ Văn Sứ
Bùi Văn Cửu
Nguyễn Như Liên
đã bình thản bước lên đoạn đầu đài. Trước khi bị chặt đầu, mọi người đã hô to "Việt Nam vạn tuế". Hiện nay khu di tích mộ Nguyễn Thái Học và các đồng chí nằm ngay tại thị xã Yên Bái , được Nhà nước Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Nguyễn Thị Giang tức Cô Giang, đồng chí và là hôn thê của Nguyễn Thái Học, cũng tuẫn tiết tại làng Thổ Tang sau đó một ngày. Sau cuộc khởi nghĩa, Pháp tiếp tục truy lùng, bắt bớ, xử tử, bỏ tù khổ sai và lưu đày biệt xứ nhiều đảng viên khác. Một số đảng viên lánh sang Trung Quốc tiếp tục hoạt động và gây dựng cơ sở. Riêng Nhượng Tống thì không tham gia cuộc khởi nghĩa vì ông bị bắt và bị đầy ra Côn Đảo từ năm 1929, mãi đến năm 1936 mới được thả về.
=== Giai đoạn 1931-1946 ===
Sau khi Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, nhiều đảng viên trốn thoát đã cố gắng xây dựng lại lực lượng. Tuy nhiên, lực lượng của Việt Nam Quốc dân Đảng quốc nội bị phân hóa thành rất nhiều nhóm, trong đó có 2 nhóm lớn nhất là:
Nhóm Hà Nội (Tân Việt Nam Quốc dân Đảng) với lãnh tụ Nguyễn Thế Nghiệp, Ngô Thúc Địch, Nhượng Tống.
Nhóm Quảng Nam với lãnh tụ Phan Khôi, Phan Kích Nam.
Một số khác như Trần Huy Liệu, Nguyễn Bình li khai, hợp tác với Việt Minh hoặc xây dựng lực lượng riêng.
Số đảng viên ở Trung Quốc cũng bị phân hóa thành nhiều nhóm, trong đó 2 nhóm lớn nhất là:
Nhóm Quảng Châu với lãnh tụ Lệnh Trạch Dân và Vũ Hải Thu, về sau thành lập Việt Nam Cách mệnh Đảng (tức Đảng Cách mệnh An Nam), sau đó đổi tên là Việt Nam Quốc dân Cách mệnh Đảng (tức Đảng Quốc gia Cách mệnh An Nam).
Nhóm Vân Nam với lãnh tụ Lê Phú Hiệp và Nguyễn Thế Nghiệp. Nhóm chủ trương bạo lực vũ trang để gây thanh thế, thành lập "Trung - Việt Cách mệnh Liên quân" (tức "Liên minh cách mệnh Trung Hoa – An Nam") làm lực lượng quân sự.
Được sự hỗ trợ và khuyến khích của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, từ 15 đến 24 tháng 7 năm 1932, tại Nam Kinh, các nhóm hải ngoại đã họp hội nghị hợp nhất, thành lập một tổ chức chung mang tên Việt Nam Quốc dân Đảng Hải ngoại Biện sự xứ (Bureau d’Outre – Mer du Việt Nam Quốc dân Đảng), còn gọi là Hải ngoại bộ, với thành phần lãnh đạo ban đầu gồm: Vy Đặng Tường (nhóm Quảng Châu) làm Chủ nhiệm, Trưởng ban Tổ chức; Đào Chủ Khải (nhóm Vân Nam) làm Bí thư, Trưởng ban tuyên truyền giáo dục; Nghiêm Xuân Chí (Quảng Châu) làm Thủ quỹ, Trưởng ban kinh tài và trinh thám; Vũ Tiến Lữ (Vân Nam), Trần Ngọc Tuân (Vân Nam), Vũ Văn Giản tức Vũ Hồng Khanh (Vân Nam) và Vũ Bá Biền (nhóm Đông Hưng) làm ủy viên.
Bấy giờ, tinh thần của cuộc khởi nghĩa Yên Bái cũng đã làm dấy lên mạnh mẽ phong trào đấu tranh theo chủ nghĩa tam dân. Hàng loạt các đảng phái Quốc dân ra đời, mạnh nhất là Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội do Nguyễn Hải Thần sáng lập năm 1936, Đại Việt Quốc dân đảng do Trương Tử Anh (1914-1946) sáng lập 1938, Đại Việt Dân chính Đảng do Nguyễn Tường Tam sáng lập năm 1938. Một lần nữa, chính phủ Trung Hoa Quốc Dân Đảng đã khuyến cáo và hỗ trợ cho các đảng phái Quốc dân liên minh với nhau để tạo lợi thế chính trị sau này.
Tháng 5 năm 1945, tại Trùng Khánh (Trung Quốc), Việt Nam Quốc dân Đảng liên minh với Đại Việt Quốc dân đảng (lãnh tụ Trương Tử Anh) và Đại Việt Dân Chính đảng (lãnh tụ Nguyễn Tường Tam) thành một tổ chức mới, ở trong nước thì lấy tên là Đại Việt Quốc dân đảng, còn ở Trung Quốc thì lấy tên là Quốc dân Đảng Việt Nam, tránh dùng danh xưng Đại Việt vì lý do tế nhị trong giao tế với bạn đồng minh Trung Hoa. Sau đó các đại biểu của 3 đảng kết hợp trong tổ chức mới lên Trùng Khánh gặp Bí thư Trưởng Trung Hoa Quốc Dân Đảng Ngô Thiết Thành, yết kiến Ủy viên trưởng Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch, và dự lễ liên hoan do Quốc dân Đảng Trung Quốc tổ chức chào mừng Quốc dân Đảng Việt Nam.
Lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) bao gồm những đơn vị vượt biên giới Trung Quốc tiến vào Việt Nam cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc, các chi bộ đảng tại Công ty Đường sắt Đông Dương, Sở Bưu điện và Viện Đại học Đông Dương, các đảng viên Việt Quốc mới ra tù và các thành viên Đại Việt đang muốn liên kết với Việt Quốc. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương đánh giá Việt Quốc còn cao hơn Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskyist hay các đảng phái khác.
Đầu tháng 9/1945, Vũ Hồng Khanh, người đứng đầu Việt Quốc, sau nhiều lần bị Trung Quốc cản trở từ Vân Nam, Trung Quốc về đến Hà Nội ngày 20/10/1945. Trong khi ông vắng mặt, một nhóm đảng viên Việt Quốc sẵn sàng hợp tác với Việt Minh đã thành lập một ủy ban nhằm tái cơ cấu lại Việt Quốc. Vũ Hồng Khanh làm ngơ việc này. Nguyễn Tường Tam ở lại Trung Quốc trong suốt năm 1945 để vận động Trung Quốc và Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam nhưng không thành công. Vì vậy tài năng báo chí của Tam không được sử dụng.
Việt Quốc xuất bản Báo Việt Nam ra số đầu tiên ngày 15/11/1945. Trên trang nhất của số đầu tiên báo Việt Nam có bài viết tuyên bố Việt Quốc kế thừa sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông hy sinh năm 1930 đồng thời cáo buộc Hồ Chí Minh quay lưng với Mặt trận thống nhất (1942-1945) bằng cách đơn phương giành chính quyền vào tháng 8/1945. Bài báo cho rằng Việt Quốc hoàn toàn có thể lật đổ chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng vì lợi ích quốc gia nên họ không làm. Việt Quốc cũng tố cáo Việt Minh đang theo đuổi một chính sách sai lầm, thiếu hiệu quả, vì theo chủ nghĩa cực đoan nên đánh mất bạn bè quốc tế, khủng bố các đảng phái cách mạng khác, không xử lý nổi các vấn đề kinh tế và hoàn toàn thụ động trước việc Pháp đổ bộ vào miền Nam. Việt Quốc kêu gọi các đảng phái gạt bỏ bất đồng để thành lập Chính phủ liên hiệp lãnh đạo nhân dân giành độc lập, kêu gọi các thành viên Việt Minh hãy nhận thức rằng lãnh đạo của họ đang đưa đất nước đến thảm họa và sử dụng họ vào các mục tiêu quyền lực tham lam, ích kỷ. Trong 6 tuần sau, Báo Việt Nam hiếm khi sử dụng cụm từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nếu có dùng thì cũng để trong ngoặc kép đồng thời không thừa nhận quốc kỳ và quốc ca của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Họ buộc tội Hồ Chí Minh là độc tài, Việt Minh là băng đảng phát xít của Hồ Chí Minh và vẽ một số tranh biếm họa chỉ trích Hồ. Họ cũng tố cáo Tổng bộ Việt Minh lừa bịp, tống tiền, bắt cóc đối thủ và tổ chức các cuộc tấn công vũ trang vào văn phòng Việt Quốc. Họ cũng chỉ trích Báo Cứu quốc của Việt Minh. Báo Việt Nam rất ít nói về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngoại trừ thường xuyên lên án lực lượng an ninh và Bộ Tuyên truyền. Báo Việt Nam lưu hành rộng rãi tại các tỉnh với sự giúp đỡ của các đảng viên Việt Quốc và các cảm tình viên ở Sở Bưu điện và Công ty Đường sắt Đông Dương. Các chính quyền địa phương thường xuyên tịch thu Báo Việt Nam và bắt giữ những người đọc báo này.
Năm 1945, lực lượng quân sự Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) dưới sự hỗ trợ của quân đội Trung Hoa trở về Việt Nam. Việt Quốc đã đánh chiếm Lào Cai và cướp chính quyền ở Sa Pa.
Theo tài liệu của tổ chức Việt quốc, trong giai đoạn 1945 -1946: Tại miền Bắc và Trung Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng thành lập các chiến khu:
Ðệ Nhất Chiến Khu gồm các tỉnh Hải Dương, Kiến An, Hải Phòng, Quảng Yên, Hòn Gai và Móng Cáy.
Ðệ Nhị Chiến Khu gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, và bộ Tư lệnh tại Ðáp Cầu.
Ðệ Tam Chiến Khu là "địa bàn chủ lực" của Việt Nam Quốc dân Đảng, bao gồm một vùng rộng lớn từ Trung du đến Thượng du Bắc Việt và chia thành nhiều chiến khu quan trọng: chiến khu Hà Giang, Vĩnh Yên, Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì, Lào Cai.
Ðệ Tứ Chiến Khu gồm các tỉnh Hưng Yên và Thái Bình.
Ðệ Ngũ Chiến Khu gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Ðịnh và Ninh Bình. Chiến Khu này, trong đó có Phân Khu Phát Diệm thuộc Giáo Khu Phát Diệm dưới sự lãnh đạo của Bạch Vân, phụ tá bởi Phạm Quốc Trỵ, hoạt động đến cuối năm 1949.
Ðệ Lục Chiến Khu gồm tỉnh Thanh Hóa.
Ðệ Thất Chiến Khu gồm các tỉnh miền Trung: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Ðà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Phan Rang, và Bình Thuận.
Tại mỗi chiến khu, Quốc Dân Quân được tổ chức thành đội ngũ "lên tới cấp sư đoàn vào năm 46". Quốc Dân Quân thời đó cũng kiểm soát các tỉnh dọc biên giới như Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Móng Cáy, "với sự hậu thuẫn của các sắc dân thiểu số địa phương như Nùng, Tầy, Thái",...
Trong Nam, Nguyễn Hòa Hiệp thành lập Ðệ Tam Sư đoàn Dân quân, qui tụ Việt Nam Quốc dân Đảng và một số đảng phái không theo chủ nghĩa cộng sản như Việt Nam Quốc gia Ðảng, Huỳnh Long Ðảng, Việt Nam Ái Quốc Ðoàn, và một nhóm Phật giáo. Nguyễn Hòa Hiệp, cựu sĩ quan cấp tướng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc, giữ chức Sư Ðoàn Trưởng, "mở các mặt trận chống Pháp" tại miền Ðông cho đến Tây Ninh và Gia Ðịnh. Khi thành lập "Nam Kỳ tự trị quốc", Nguyễn Hòa Hiệp rời bỏ kháng chiến.
Thời gian này Việt quốc bị kẹp giữa Việt Minh và thực dân Pháp. Việt Quốc vừa chống thực dân Pháp vừa đối đầu với Việt Minh. Tại Hà Nội, Việt Nam Quốc dân Đảng ra tuần báo Chính nghĩa và nhật báo Việt Nam.
Ngay sau khi Việt Minh giành chính quyền ngày 19/8/1945, Lê Khang dẫn đầu một nhóm Việt Quốc rời Hà Nội đến Vĩnh Yên nằm trên tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội. Tại đây họ tổ chức một cuộc biểu tình của dân chúng để thuyết phục lực lượng Bảo an binh địa phương tham gia. Ngày 29/8/1945, hàng ngàn người ủng hộ Việt Minh thuộc 3 huyện lân cận tiếp cận căn cứ của Việt Quốc tại Vĩnh Yên kêu gọi Việt Quốc tham gia một cuộc diễu hành xuyên qua thị trấn. Khi bị từ chối, họ bắn thành viên Việt Quốc. Việt Quốc bắn trả khiến một số người chết đồng thời bắt giữ khoảng 150 người. Những người bị bắt được thả sau khi đã được tuyên truyền về Việt Quốc và thừa nhận mình bị lừa khi tham gia biểu tình. Sau đó, Việt Minh và Việt Quốc tiếp tục thảo luận về việc phóng thích những người còn bị Việt Quốc giam giữ, về việc tổ chức đàm phán và những đề xuất liên quan đến việc thành lập chính quyền liên hiệp ở địa phương. Trong khi hai bên thảo luận, Việt Minh cắt đứt nguồn cung cấp lương thực cho thị xã Vĩnh Yên khiến cuộc sống ngày càng khó khăn.
Ngày 18/9/1945, Hoàng Văn Đức, một thành viên quan trọng của Đảng Dân chủ Việt Nam cùng đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ Hà Nội đến Vĩnh Yên thương lượng. Cuộc thương lượng không thành công, Lê Khang tấn công Phúc Yên nhưng thất bại. Các đơn vị quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tấn công Vĩnh Yên nhưng không giành được thị xã này. Sau đó hai bên ngừng bắn trong vài tháng. Việt Quốc không tranh giành ảnh hưởng với Việt Minh ở vùng nông thôn ngoài việc chiếm giữ nông trại Tam Lộng tại Vĩnh Yên. Đầu tháng 12/1945, Việt Minh tấn công Tam Lộng nhưng bị đẩy lùi.
Tháng 9/1945, Việt Quốc thỏa thuận bí mật với đại úy Nguyễn Duy Viên theo đó đại đội lính khố đỏ của ông sẽ theo Việt Quốc. Tuy nhiên Việt Quốc nghi ngờ đại úy Viên là điệp viên hai mang của Pháp và sẽ điều động đơn vị của mình thủ tiêu đảng viên Việt Quốc ngay sau khi vượt biên giới về Việt Nam. Đầu tháng 11, Viên đến Hà Giang gặp các thành viên Việt Quốc tại đây. Những binh sĩ đào ngũ từ các đơn vị lính thuộc địa cũng đổ về Hà Giang giúp Viên có được một đội quân khoảng 400 người. Việt Quốc và Việt Minh tại Hà Giang mâu thuẫn nhau khiến Viên đến Hà Nội yêu cầu chính phủ cử đại diện đến thuyết phục mọi người cùng chống Pháp. Sau khi gặp Hồ Chí Minh, Viên trở về Hà Giang, cho quân bắt giữ các đảng viên Việt Quốc tại đây và xử bắn một số người trên một ngọn đồi gần thị xã. Tháng 4/1946, Việt Quốc cho người ám sát ông tại Hà Nội.
Ngày 19 tháng 11 năm 1945, tướng Tiêu Văn đứng ra tổ chức một cuộc hội nghị hòa giải có Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội và Việt Minh tham gia. Sau khi bàn bạc, cả ba phái đều thỏa thuận thành lập một Chính phủ liên hiệp, quân đội các bên không dùng vũ lực giải quyết những vấn đề bất đồng, đồng thời chấm dứt việc công kích nhau trên báo chí. Ngày 24 tháng 11, đại biểu ba đảng trên lại gặp nhau và ký vào bản "Đoàn kết tinh thần". Kết quả là Việt Quốc có 50 ghế đại biểu Quốc hội không qua bầu cử và Nguyễn Tường Long, người của Việt Quốc được cử làm Thứ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế trong Chính phủ liên hiệp lâm thời.
Tuy nhiên, sự liên hiệp này rất lỏng lẻo. Tháng 7 năm 1946, nhân vụ án phố Ôn Như Hầu (Hà Nội), Việt Minh tấn công lực lượng của Việt Nam Quốc dân Đảng, các lãnh tụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh phải trốn sang Trung Hoa. Trương Tử Anh mất tích (có giả thuyết cho rằng ông bị bắt cóc và thủ tiêu). Khi Pháp tái chiếm Đông Dương thì lực lượng Quốc dân Đảng đã bị tan rã. Riêng Bồ Xuân Luật thì theo Việt Minh.
Ngày 15 tháng 12 năm 1945, ở phố Jambert, khu Ngũ Xã (Hà Nội), thực hiện nghị quyết Trùng Khánh, Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam gồm 3 đảng ra công khai, với tên gọi chung là Việt Nam Quốc dân Đảng, với Trương Tử Anh (Đại Việt Quốc dân đảng), làm Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh (Việt Nam Quốc dân Đảng) làm Bí thư trưởng và Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân chính Đảng) làm Tổng Thư ký. Phần chỉ huy tối cao bí mật có: Trương Tử Anh, Nguyễn Tiến Hỷ, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ và Nguyễn Tường Tam.
Ngày 20/1/1946, Nguyễn Tường Tam và Nghiêm Kế Tổ từ Trùng Khánh về Việt Nam thông báo về cuộc đàm phán Hoa - Pháp khiến nội bộ Việt Quốc tranh luận căng thẳng về hành động tiếp theo khi Trung Quốc rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam. Ngày 10/2/1946, tại Hà Nội và Hải Phòng, Việt Quốc tổ chức lễ tưởng niệm cuộc nổi dậy năm 1930 ở Yên Bái. Tại Hải Phòng, cuộc tưởng niệm bị một số người phản đối vì không treo cờ đỏ sao vàng.
Ngày 24 tháng 2 năm 1946, tại Đại sứ quán Trung Hoa, dưới sự chủ trì của tướng Tiêu Văn, hội nghị giữa các đảng phái Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách, Đảng Dân chủ đã thống nhất về việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Cố vấn đoàn và Kháng chiến Ủy viên hội. Việt Cách và Việt Quốc nắm 4 bộ (Ngoại giao, Kinh tế, Xã hội và Canh nông).
Ngày 2 tháng 3 năm 1946 Quốc hội họp, thảo luận và đã thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm 12 thành viên, trong đó Hồ Chí Minh (lãnh đạo Việt Minh) làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) làm Phó Chủ tịch; Nguyễn Tường Tam (Việt Quốc) giữ Bộ trưởng bộ Ngoại giao; Vũ Hồng Khanh là Phó Chủ tịch Kháng chiến uỷ viên hội và Chu Bá Phượng (Việt Quốc) đảm trách bộ Kinh tế.
Tháng 4/1946, Ủy ban Hành chính Bắc bộ ký thỏa thuận với đại diện Việt Quốc tại 4 thị xã nhằm thành lập Ủy ban Hành chính liên hiệp giữa 2 bên. Đầu tháng 5/1946, Ủy ban Hành chính Bắc bộ cảnh báo với Ủy ban tỉnh Bắc Giang cần linh hoạt với các thành viên Việt Quốc để duy trì sự đoàn kết đồng thời phải chuẩn bị kế hoạch dự phòng nhằm tránh các tình huống bất thường xảy ra. Tại Phú Thọ, tướng Vương của Trung Hoa Dân quốc làm trung gian để Việt Minh và Việt Quốc thảo luận việc thành lập chính quyền liên hiệp nhưng hai bên ngừng thảo luận và đấu súng với nhau tại chợ khiến dân chúng bị thiệt hại nên họ đã gửi kiến nghị lên Hồ Chí Minh phàn nàn cả hai bên bắt cóc nhiều con tin, khiến giao thương đình trệ và không bên nào lắng nghe những bậc cao niên ở địa phương. Tướng Vương phải ép hai bên ngừng bắn, cuộc ngừng bắn kéo dài được 4 tháng.
Tháng 5/1946, Trần Đăng Ninh, phụ trách an ninh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến Vĩnh Yên với lý do thảo luận về công tác sửa chữa đê điều và bị Vũ Hồng Khanh bắt. Ninh và 2 người khác trốn thoát. Việc bắt giữ này trở thành lý do để đàn áp Việt Quốc. Vệ quốc quân bắt đầu tuần tra quanh nơi hoạt động của Việt Quốc. Ngày 20/5/1946, trong một cuộc đụng độ gần Phú Thọ, Việt Quốc bắt giữ và hành quyết một nhóm người ủng hộ Việt Minh, thả vài xác chết xuống sông Hồng để cảnh cáo.
Giữa tháng 5/1946, Bộ Nội vụ ra lệnh cho tất cả các cán bộ công chức đang làm việc tại 7 thị xã ở các tỉnh phía Tây và Tây Bắc Hà Nội sơ tán và tham gia vào các Ủy ban thay thế được thành lập ở các địa điểm mới. Những người không thực hiện lệnh này không còn là người của chính phủ.
Tháng 6/1946, khi quân đội Trung Quốc rút về Vân Nam, dân quân của Việt Minh cô lập các thị xã do Việt Quốc kiểm soát. Ngày 18/6/1946, Vệ quốc quân tấn công Phú Thọ và Việt Trì. Quốc dân quân của Việt Quốc ở Phú Thọ hết đạn sau 4 ngày và phải rút lui. Vũ Hồng Khanh chỉ huy 350 lính phòng thủ Việt Trì trong 9 ngày rồi rút lui về Yên Bái. Việt Quốc ở Vĩnh Yên do Đỗ Đình Đạo chỉ huy đàm phán với Việt Minh và đạt được thỏa thuận ngừng bắn trong 2 tháng. Đỗ Đình Đạo đồng ý sáp nhập lực lượng của ông vào Vệ quốc quân và thành lập Ủy ban Hành chính liên hiệp tại Vĩnh Yên. Lực lượng này được chia nhỏ đưa về các tiểu đoàn Vệ quốc quân tại nhiều nơi. Đỗ Đình Đạo được thuyên chuyển về Hà Nội. Trong suốt tháng 5 và tháng 6/1946, Báo Việt Nam của Việt Quốc tại Hà Nội khẩn thiết kêu gọi Việt Minh ngừng tấn công Việt Quốc.
Cuối tháng 6 tại Hà Nội, các thành viên Việt Quốc họp để thảo luận về việc có nên thừa nhận sự lãnh đạo của Việt Minh, rút lui về biên giới hay tổ chức đảo chính lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong khi đó, Trương Tử Anh, đảng trưởng Đại Việt Quốc dân Đảng là đồng minh của Việt Quốc, đang lên kế hoạch cho một cuộc đảo chính có thể bắt đầu bằng việc tấn công lính Pháp để gây rối loạn. Người Pháp lại có ý định diễu binh quanh hồ Hoàn Kiếm để kỷ niệm Quốc khánh Pháp (14/7/1789) khiến lực lượng an ninh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lo ngại sự kiện này có thể trở thành mục tiêu của các đảng phái đối lập với Việt Minh. Võ Nguyên Giáp hỏi ý kiến của chỉ huy quân Pháp tại Bắc Kỳ, đại tá Jean Crépin về thái độ của Pháp nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng cường trấn áp Việt Quốc và Việt Cách thì được ông này trả lời Pháp sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, khi đó rút vào hoạt động bí mật, chức danh công khai là Hội trưởng Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương) được Nha Công an Trung ương báo cáo phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị đảo chính Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chỉ đạo phải tập trung trấn áp Việt Nam Quốc dân Đảng, nhưng phải có đủ chứng cứ.
Sáng sớm ngày 12/7/1946, một tiểu đội công an do Lê Hữu Qua chỉ huy bao vây khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do nghi ngờ Đại Việt cấu kết với Pháp âm mưu tiến hành đảo chính lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đúng vào ngày quốc khánh Pháp 14/7/1946 khiến lính canh và các đảng viên Đại Việt không kịp phản ứng. Khi thực hiện cuộc bao vây khám xét này, lực lượng công an chưa có chứng cứ cụ thể và chưa có lệnh của cấp trên nhưng vẫn tiến hành để các thành viên Đại Việt không có thời gian rút vào bí mật và tẩu tán truyền đơn, hiệu triệu lật đổ chính quyền. Tại trụ sở của Đại Việt, lực lượng công an đã tìm thấy nhiều truyền đơn, hiệu triệu chưa kịp tẩu tán cùng nhiều súng ống, lựu đạn. Công an cũng được cho là đã phát hiện một bản kế hoạch có chữ ký của Trương Tử Anh, theo đó Đại Việt sẽ quăng lựu đạn vào lính Pháp gốc Phi trong ngày diễu binh của quân đội Pháp, tiếp đó quân đội Đại Việt hoặc quân đội Pháp sẽ bắt giữ những lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cuối cùng Trương Tử Anh sẽ công bố thành lập chính phủ mới. Lê Giản, Giám đốc Nha Công an Bắc bộ, đưa tài liệu này cho Quyền chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng. Ông này đọc rồi nói "Tiêu diệt chúng! Quét sạch toàn bộ! Lũ phản bội! Đồ chó má!". Tuy nhiên, tài liệu này là một bản dự thảo do Trương Tử Anh viết tay chỉ để sử dụng trong Đại Việt Quốc dân Đảng. Lê Giản không cung cấp được bằng chứng về sự thông đồng của Pháp với Đại Việt Quốc dân Đảng trong kế hoạch đảo chính ngày 14/7/1946 ngoài việc Sainteny tiếp tục muốn tổ chức diễu binh vào ngày đó. Lê Giản tìm Võ Nguyên Giáp và được Giáp chỉ thị tấn công tất cả các văn phòng của Việt Quốc ở Hà Nội và các tỉnh.
Sau đó, lúc 7h sáng ngày 12/7/1946, Việt Nam Công an vụ thực hiện phá vụ án phố Ôn Như Hầu. Chỉ đạo trực tiếp lực lượng công an phá vụ án này là các ông Lê Giản (Giám đốc Nha Công an Bắc bộ), Nguyễn Tuấn Thức (Giám đốc Công an Hà Nội) và Nguyễn Tạo (Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương). Lực lượng công an xung phong đã thực hiện khám xét các trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng (7 căn nhà) tại Hà Nội, bắt tại chỗ nhiều thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng cùng nhiều tang vật như truyền đơn, vũ khí, dụng cụ tra tấn, đồng thời phát hiện nhiều xác chết tại đó... Hơn 100 người bị bắt và một số người biến mất không dấu vết. Trong số các thành viên của Quốc dân Đảng bị bắt có một đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I là Phan Kích Nam. Theo điều tra của Nha công an, Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị những hành động khiêu khích rất nghiêm trọng. Dự định các thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng sẽ phục sẵn dọc đường quân Pháp diễu qua nhân ngày quốc khánh Pháp, bắn súng, ném lựu đạn để tạo ra những chuyện rắc rối giữa Pháp và Chính phủ, gây sự phá hoại hòa bình rồi tung truyền đơn hô hào lật đổ chính quyền và sau đó đứng ra bắt tay với Pháp.
Nhà nước sau đó thông báo sự việc với báo chí. Các cuộc tấn công được gọi tắt là "Vụ án phố Ôn Như Hầu". Các báo của Việt Minh và các đảng phái thân Việt Minh đều tường thuật vụ án này. Các báo đưa tin công an đã phá tan âm mưu chống chính phủ, đã bắt những kẻ tiến hành những vụ bắt cóc tống tiền, ám sát, bán nước, in truyền đơn chống chính phủ, làm bạc giả... Tuy nhiên Việt Quốc đã không bị kể tên trong một số bài báo.
Theo David G. Marr, nếu thật sự Pháp muốn đảo chính (họ đã cân nhắc và hoãn nhiều lần) thì không cần phải dựa vào Trương Tử Anh khơi ngòi, càng không cho Anh thành lập chính phủ. Công an cố tình lập lờ giữa Đại Việt Quốc Dân Đảng do Trương Tử Anh lãnh đạo và Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Tưởng Tam và Vũ Hồng Khanh lãnh đạo khi nhắm vào tòa soạn Báo Việt Nam và các trụ sở khác của Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau cuộc tấn công, có người trong chính quyền đã cố gắng hạn chế những lời lên án công khai Việt Quốc để tuyên truyền về Mặt trận Thống nhất. Việt Quốc trên danh nghĩa vẫn nằm trong mặt trận. Ngoại trừ một vài đảng viên Việt Quốc hợp tác với Việt Minh, mọi công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ đó trở đi đều sợ hãi khi bị cho là đảng viên Việt Quốc. Việt Quốc đồng nghĩa với tội phản quốc.
Ngày 20/7/1946, Ủy ban Hành chính Bắc Bộ dù không nhắc đến Việt Quốc đã thông báo đến các tỉnh rằng gần đây công an đã phát hiện được việc tống tiền, bắt cóc và làm tiền giả. Tất cả đều phải bị điều tra và truy tố. Ủy ban hướng dẫn các địa phương không để việc bắt bớ và giam giữ các phần tử phản động biến thành khủng bố. Các Ủy ban Hành chính địa phương giờ đã được chấp thuận cho việc bắt giữ các đảng viên Việt Quốc đã bị phát hiện hay còn tình nghi, tuy nhiên họ không săn lùng và hành quyết ngay lập tức. Trong những tháng sau đó, hàng ngàn người bị bắt, bị thẩm vấn. Hàng trăm người bị tống giam, bị đưa đến các trại cải tạo; hàng trăm người khác bị cách chức. Cán bộ phòng chính trị thuộc Sở Công an các tỉnh bắt những kẻ tình nghi, thẩm vấn, bắt ký vào lời khai, sau đó báo cáo lên chính quyền tỉnh là thả, xét xử hay biệt giam những người này. Từ cuối tháng 7/1946 cho đến cuối năm 1946, phần lớn những người bị công an giam giữ vì lý do chính trị đều bị xem là Việt Quốc. Công an tiếp tục thẩm vấn các đảng viên Việt Quốc về vụ bắt cóc một số đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương xảy ra vào cuối năm 1945.
Cuối tháng 7/1946, Báo Việt Nam bị đình bản nhưng Tuần báo Chính nghĩa vẫn tiếp tục xuất bản suốt 3 tháng sau. Báo chính nghĩa đăng một loạt bài xã luận lên án chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa đế quốc Xô Viết đồng thời chỉ trích hệ thống Ủy ban Hành chính của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và việc chính phủ không thể thành lập hệ thống tư pháp độc lập, chính sách ngoại giao của Hồ Chí Minh cũng bị hoài nghi. Cuối tháng 10/1946, các bài xã luận và tin tức trong nước bị loại bỏ. Tới đầu tháng 12, Tuần báo Chính Nghĩa hoàn toàn bị vô hiệu hóa, không còn một tin tức hay bài viết nào đáng phải kiểm duyệt nữa.
Từ tháng 7/1946 đến tháng 11/1946, nhiều đại biểu quốc hội là đảng viên Việt Quốc bị bắt. Đại biểu Phan Kích Nam, đảng viên Việt Quốc, bị bắt trong vụ án phố Ôn Như Hầu, bị buộc tội bắt cóc, tống tiền và bị tống giam ngay lập tức. Đại biểu Nguyễn Đổng Lâm bị công an Hải Dương bắt và bị kiến nghị gửi đến trại biệt giam trong 2 năm với lý do "chính quyền địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn nếu ông Lâm còn tự do ngoài vòng pháp luật". Trường hợp của Lâm được báo cáo lên Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nguyễn Văn Tố. Tố cùng Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra lệnh thả Lâm. Ngày 21/8/1946, Nguyễn Đổng Lâm được thả. Tại các địa phương khác, các đại biểu quốc hội là đảng viên Việt Quốc cũng bị sách nhiễu hoặc bắt giữ. Đại biểu Trình Như Tấu gửi kháng nghị đến 5 cơ quan chính phủ khác nhau sau khi ông bị dân quân bao vây nhà riêng để yêu cầu bồi thường một máy đánh chữ không có thật và đe dọa dùng vũ lực nếu ông không tuân thủ. Trình Như Tấu yêu cầu được bảo vệ với tư cách nghị sĩ nhưng không được hồi đáp. Tại kỳ họp lần thứ hai của Quốc hội vào cuối tháng 10/1946, chưa tới 12 người trong số 50 đại biểu Quốc hội thuộc Quốc dân Đảng tham dự.
Sau khi rút lui về Yên Bái, Vũ Hồng Khanh nhận ra rằng nguồn cung cấp lương thực tại địa phương chỉ đủ nuôi sống lực lượng quân đội Việt Quốc chứ không đủ cung cấp cho những người ủng hộ Việt Quốc từ đồng bằng sông Hồng đến. Vệc tiếp tế từ Lào Cai gặp nhiều khó khăn vì Việt Minh đã phá hủy đường sắt. Tới tháng 11, Lào Cai bị Vệ Quốc quân bao vây và lương thực sắp hết. Vũ Hồng Khanh quyết định sơ tán sang Vân Nam và ra lệnh hành quyết 2 giảng viên học viện quân sự vì cố gắng dẫn học viên của họ quay trở lại đồng bằng. Tháng 10/1947, khi Pháp nhảy dù xuống Phú Thọ, công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị cáo buộc giết chết hơn 100 tù nhân Việt Quốc trước nguy cơ họ có thể trốn thoát hoặc rơi vào tay người Pháp.
Trong khi đó, một nhóm đảng viên cũ Việt Nam Quốc dân đảng lập Ủy ban Vận động cải tổ và ra Tuyên ngôn (tháng 9 năm 1946), cho rằng "Sau bao nhiêu năm im lìm, Việt Nam Quốc dân Đảng nay đã được sống lại trên đất nước Việt Nam,...nhưng tiếc rằng các đồng chí đã vì không nghiêm mật tổ chức, nên đã thu nhặt vào Đảng nhiều phần tử phức tạp, làm sai tôn chỉ của Đảng" và đề nghị "cần phải cải tổ ngay lại đảng", cho rằng "Việt Nam Quốc dân đảng cải tổ sẽ là bạn đồng hành đắc lực của tất cả các đảng phái chân chính cách mạng Việt Nam trên con đường tranh đấu chống kẻ thù chung là bọn thực dân phản động Pháp" Ông Nguyễn Văn Xuân, cựu đảng viên Việt Quốc từng tham gia khởi nghĩa Yên Bái đã đăng bài trên báo Độc lập của Việt Nam Dân chủ Đảng, về cải tổ Quốc dân Đảng, phê phán Vũ Hồng Khanh đã cùng Nguyễn Thế Nghiệp giết hại Việt kiều và tiêu tán tài sản của họ bên Vân Nam (Nguyễn Thế Nghiệp sau đầu hàng Pháp), còn Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long, Khái Hưng... không tham gia một đảng phái nào cho đến năm 1941 bị Pháp bắt về vụ Đại Việt thân Nhật, trừ Nguyễn Tường Tam được Nhật mang chốn ra nước ngoài, sau cuộc đảo chính 9 tháng 3 năm 1945 họ làm việc cho Nhật.
=== Giai đoạn 1947-1954 ===
Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương và Trương Tử Anh mất tích, sự thống nhất của Mặt trận Quốc dân Đảng bị tan vỡ, các đảng viên Đại Việt Quốc dân đảng trở lại hoạt động dưới danh nghĩa Đại Việt. Các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng cố gắng tái tổ chức lại lực lượng tại Trung Quốc và một số vùng do Pháp kiểm soát. Ngày 17 tháng 2 năm 1947, Việt Nam Quốc dân Đảng tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất Toàn quốc, chống chính quyền Việt Minh, ủng hộ giải pháp Bảo Đại, thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, tháng 8 năm 1948, Hoàng Đạo qua đời tại Trung Quốc. Năm 1949 Nhượng Tống bị du kích Việt Minh ám sát vì cho là phản quốc tại Hà Nội. Từ đó, Việt Nam Quốc dân Đảng lại phân hóa thành nhiều nhóm khác nhau, chủ yếu là 3 nhóm là nhóm Vũ Hồng Khanh, nhóm Nguyễn Tường Tam, nhóm Nguyễn Hòa Hiệp (hệ phái miền Nam). Tuy nhiên, hoạt động cũng không còn thực lực như thời kỳ đầu nữa. Từ năm 1951, Nguyễn Tường Tam tuyên bố không tham gia hoạt động chính trị nữa và không thuộc bất kỳ đảng phái nào.
Cũng từ năm 1949, Ðảng phân hóa thành 2 khuynh hướng: khuynh hướng ủng hộ giải pháp Bảo Ðại, hợp tác với Pháp chống cộng sản, đáng kể là các GS Nghiêm Xuân Thiện (tổng trấn BV 1949), BS Trần Trung Dung (bộ trưởng Quốc phòng Ðệ I Cộng Hòa, Nghị Sĩ Ðệ II Cộng Hòa), Cụ Vũ Hồng Khanh, Cụ Ngô Thúc Ðịnh, LS Trần Văn Tuyên. Còn lại đại đa số chống Bảo Ðại vì quyết giữ lập trường chống Pháp, đáng kể là các Cụ Xuân Tùng, Hoàng Văn Ðào (tác giả quyển sử Việt Nam Quốc Dân Ðảng), Nguyễn Văn Chấn, LS Lê Ngọc Chấn (bộ trưởng Quốc phòng Ðệ nhất Cộng Hòa).
=== Giai đoạn 1955-1963 ===
Sau 1954, theo Hiệp định Genève, các lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng đều di chuyển xuống miền Nam. Năm 1955, nổ ra cuộc tranh giành quyền lực giữa chính quyền Ngô Đình Diệm với các lực lượng đối lập, lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng bị chính quyền đàn áp, bắt giam nhiều lãnh tụ. Một số có lực lượng quân sự như nhóm Nguyễn Hòa Hiệp do liên hiệp với Hòa Hảo nên bị quân Ngô Đình Diệm tiêu diệt. Vũ Hồng Khanh bị bắt giam năm 1958 mãi đến năm 1963 khi Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam bị lật đổ ông mới được thả. Nguyễn Tường Tam cũng chuyển hướng đối lập với chính quyền, cùng đường lối với đảng Đại Việt.
Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông chỉ huy cuộc đảo chính tại Sài Gòn. Lực lượng Việt Quốc và Đại Việt đối lập tham gia ủng hộ chính trị cho cuộc đảo chính. Do cuộc đảo chính thất bại, nhiều đảng viên bị bắt và cầm tù, chờ xét xử.
Ngày 26 tháng 2 năm 1962, 2 phi công Quân lực Việt Nam Cộng hòa là đảng viên Việt Quốc ném bom dinh Độc Lập mưu sát Ngô Đình Diệm bất thành. Phi công Nguyễn Văn Cử đào thoát sang Campuchia xin tỵ nạn chính trị. Phi công Phạm Phú Quốc bị bắn hạ và bị bắt. Vì sự biến này, chính quyền đã mở cuộc truy quét và bắt giữ nhiều đảng viên trong đó có Nguyễn Tường Tam.
Ngày 8 tháng 7 năm 1963, tòa án quân sự đặc biệt được thành lập để xét xử những người liên can tới vụ đảo chính 1960 và vụ binh biến năm 1962. Nhiều đảng viên bị xử với nhiều mức án khác nhau. Riêng Nguyễn Tường Tam tự sát, để lại di ngôn nổi tiếng: "Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử tôi cả".
=== Giai đoạn 1964-1975 ===
Sau đảo chính 1963, cả Việt Quốc và Đại Việt bắt đầu phục hồi lại. Đặc biệt, trong giai đoạn 1964-1965, liên minh 2 đảng tham gia trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa với Phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn và Thủ tướng Phan Huy Quát. Vũ Hồng Khanh sau khi được thả cố khôi phục lại địa vị lãnh đạo nhưng Đảng bị phân hóa, chia thành ba nhóm chính:
Kỳ bộ Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Đình Lương lãnh đạo, chủ lực ở ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Quảng Tín với khoảng 50.000 đảng viên;
Trung ương Việt Nam Quốc dân Đảng do Vũ Hồng Khanh và Phạm Thái lãnh đạo, chủ yếu ở Sài Gòn;
Xứ bộ Miền Nam Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Hòa Hiệp và Trần Văn Tuyên lãnh đạo, chủ lực ở Tiền Giang và Hậu Giang với khoảng 95.000 đảng viên.
Tuy nhiên, khi chính quyền thuộc về tay nhóm các tướng trẻ, cả Đại Việt lẫn Việt Quốc đều bị hạn chế lực lượng, không thể phát triển mạnh mẽ và chỉ còn là một đảng đối lập thiểu số trong Quốc hội Việt Nam Cộng hòa. Điển hình là trong cuộc bầu cử Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam năm 1967, Việt Nam Quốc dân Đảng chỉ chiếm được một ghế ở Thượng viện. Ở Hạ viện, đảng có 9 đảng viên là dân biểu trên tổng số 127 dân biểu.
=== Giai đoạn sau 1975 ===
Sau năm 1975, nhiều đảng viên đào thoát và tị nạn tại nước ngoài. Tổ chức trong nước hoàn toàn tan rã. Từ năm 1980, các đảng viên cũ và các đảng viên mới gia nhập ở nước ngoài đã tìm cách tổ chức lại đảng ở hải ngoại. Ngày 25 tháng 11 năm 1994, các đảng viên đã tổ chức việc thống nhất các hệ phái, tổ chức và hành động để thực hiện cương lĩnh của đảng kể từ lúc mới thành lập năm 1927. Tuy nhiên, chủ yếu hoạt động vẫn chỉ giới hạn ở hình thức vận động chính trị ở nước ngoài.
== Đảng viên nổi tiếng ==
Nguyễn Thái Học - đảng trưởng
Phan Khôi - chủ nhiệm chi bộ Quảng Ngãi
Nguyễn Tường Tam
Vũ Hồng Khanh
Nguyễn Khắc Nhu
Phó Đức Chính
Nhượng Tống
Cô Bắc
Cô Giang
Nguyễn Tôn Hoàn
Phan Huy Quát
== Xem thêm ==
Danh sách tổ chức chính trị Liên bang Đông Dương
Đại Việt Quốc dân Đảng
Đại Việt Dân chính Đảng
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Blair, Anne E. (2001). There to the Bitter End: Ted Serong in Vietnam. Crows Nest, New South Wales: Allen & Unwin. ISBN 1-86508-468-9.
Currey, Cecil B. (1999). Victory at Any Cost: the genius of Viet Nam's Gen. Vo Nguyen Giap. Washington D.C.: Brassey. ISBN 1-57488-194-9.
Duiker, William (1976). The Rise of Nationalism in Vietnam, 1900–1941. Ithaca, New York: Cornell University Press. ISBN 0-8014-0951-9.
Goodman, Allen E. (1973). Politics in war: the bases of political community in South Vietnam. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press. ISBN 0-674-68825-2.
Hammer, Ellen J. (1955). The Struggle for Indochina, 1940–1955. Stanford, California: Stanford University Press.
Hammer, Ellen J. (1987). A Death in November: America in Vietnam, 1963. New York City: E. P. Dutton. ISBN 0-525-24210-4.
Jacobs, Seth (2006). Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America's War in Vietnam, 1950-1963. Lanham, Maryland: Rowman & Littlefield. ISBN 0-7425-4447-8.
Jamieson, Neil L. (1995). Understanding Vietnam. Berkeley, California: University of California Press. ISBN 0-520-20157-4.
Karnow, Stanley (1997). Vietnam: A History. New York City: Penguin. ISBN 0-670-84218-4.
Marr, David G. (1981). Vietnamese Tradition on Trial, 1920–1945. Berkeley, California: University of California Press. ISBN 0-520-04180-1.
Marr, David G. (1995). Vietnam 1945: the quest for power. Berkeley, California: University of California Press. ISBN 0-520-21228-2.
Rettig, Tobias (tháng 11 năm 2002). “French military policies in the aftermath of the Yên Bay mutiny, 1930: old security dilemmas return to the surface”. South East Asia Research 10 (3): 309–331. doi:10.5367/000000002101297099.
Topmiller, Robert J. (2006). The Lotus Unleashed: The Buddhist Peace Movement in South Vietnam, 1964–1966. Lexington, Kentucky: University Press of Kentucky. ISBN 0-8131-9166-1.
Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social and Military History. Santa Barbara, California: ABC-CLIO. ISBN 1-57607-040-9.
Willbanks, James H. (2008). The Tet Offensive: A Concise History. New York City, New York: Columbia University Press. ISBN 0-231-12841-X.
== Liên kết ngoài ==
VietQuoc.org
VietQuoc.com
Nguyễn Thái Học Foundation
Sự ra đời của Việt Nam Quốc dân Đảng và những giá trị lịch sử
Liệt sĩ Nguyễn Thái Học, Chủ tịch Việt Nam Quốc dân Đảng 1930
Nguyễn Thái Học - Việt Nam Quốc dân Đảng
Tiểu sử đảng trưởng Việt Nam Quốc dân Đảng Nguyễn Thái Học
Kế Hoạch Dân Chủ Hóa Đông Dương - Nguyễn Đại Việt
Lansdale, Edward. Nationalist Politics in Viet-Nam. Saigon: US Embassy Viet-Nam, 1968.
Loạt bài "Việt Nam Quốc Dân đảng và người lãnh đạo Nguyễn Thái Học": phần 1, phần 2 và phần 3 của Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng đăng trên Đài RFA |
fukuzawa yukichi.txt | Fukuzawa Yukichi (tiếng Nhật: 福澤 諭吉, ふくざわ ゆきち; 1835-1901) là một trong những bậc khai quốc công thần và là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của Nhật Bản cận đại. Ông được xem là người có công khai sáng nước Nhật khỏi u mê, tối tăm và lạc hậu. Fukuzawa Yukichi là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà đấu tranh xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà văn, nhà dịch thuật và là một võ sĩ đạo.
Ông là một nhà tư tưởng lớn có ảnh hưởng sâu và rộng nhất đến xã hội Nhật Bản cận đại. Những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế và giáo dục mà Fukuzawa truyền bá đã thay đổi hoàn toàn diện mạo của Nhật Bản cận đại.
Người phương Tây mệnh danh ông là "Voltaire của đất nước mặt trời mọc". Ông cũng được xem là "Võ sĩ đạo vĩ đại nhất mà Nhật Bản từng có".
== Vài nét về Fukuzawa Yukichi ==
Lịch sử biết đến Fukuzawa Yukichi như một nhà cải cách chính trị-xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời kỳ Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. Lòng biết ơn của người Nhật đối với Fukuzawa được thể hiện qua việc hình ông được in trên tờ tiền 10.000 yen (tờ tiền có mệnh giá lớn nhất của Nhật), dù ông không phải là một đấng quân vương hay võ tướng lỗi lạc của đất nước mặt trời mọc.
Ông sinh năm 1835, mất năm 1901, thọ 66 tuổi. Một điều thú vị ngẫu nhiên là cuộc cải cách Minh Trị duy tân được bắt đầu vào năm 1868, lúc Fukuzawa 33 tuổi. Tức là nếu lấy năm Minh Trị thứ nhất làm mốc có thể chia chính xác cuộc đời 66 năm của ông thành hai nửa. Qua đó sẽ thấy được những biến cố lớn lao không chỉ đối với bản thân cuộc đời Fukuzawa mà của cả xã hội Nhật Bản.
Fukuzawa Yukichi sinh tại Ōsaka, khi cha ông đang làm cho phủ đại diện của lãnh địa Nakatsu ở đó. Cha ông vốn là một nhà Nho nhiệt tâm với kinh sử, nhưng suốt đời không thoát khỏi công việc tính toán tiền bạc và giằng co các khoản nợ cho lãnh địa. Ông luôn mang nặng mối bất bình với công việc nhuốm màu ô tục và chế độ đẳng cấp phong kiến kìm nén con người. Điều này đã có ảnh hưởng lớn đến Fukuzawa. Mặc dù cha mất sớm, nhưng như ông đã bộc bạch, từ nhỏ ông đã được hưởng một nền giáo dục Nho gia từ hình bóng của người cha nghiêm nghị. Bản thân ông từ năm 14 tuổi cũng là một học trò xuất sắc của đạo Khổng. Nhưng óc phê phán sâu sắc cùng sự nhạy cảm với những biến chuyển của thời đại đã sớm hình thành trong Fukuzawa tư tưởng nhìn nhận lại những giá trị cũ, những nếp nghĩ cổ hủ, cứng nhắc của các nhà Nho.
Năm 1836, sau khi cha mất, gia đình Fukuzawa chuyển về ở dưới lãnh địa và theo như ông kể thì họ không hòa nhập được với phong tục ở đó. Ông ví chế độ phong kiến ở lãnh địa quê ông như chiếc hộp đồ chật cứng, ngàn đời bó buộc con người. Không thể chịu đựng không khí ngột ngạt trong đó thêm ngày nào, năm 21 tuổi Fukuzawa quyết định lên đường đi Nagasaki học các môn khoa học của người châu Âu thông qua sách vở và thầy dạy người Hà Lan. Việc tiếp xúc với Hà Lan học đã làm nảy sinh trong Fukuzawa mối quan tâm và lòng cảm phục đối với nền học thuật của người phương Tây, làm tiền đề cho sự khởi xướng phong trào học tập khoa học kỹ thuật tiến bộ của người châu Âu cùng những tư tưởng mang tính cách mạng như độc lập tự tôn, nam nữ bình quyền, con người bình đẳng...
Sau đó, ông lên Osaka và tiếp tục học Hà Lan học ở trường tư thục của Ogata Kōan, đại gia Hà Lan học lúc bấy giờ. Trí thức uyên bác cùng tấm lòng nhân hậu của thầy Ogata Kōan đã tác động không nhỏ tới Fukuzawa. Đây có thể nói là thời kỳ định hình nhân cách cũng như tư tưởng của ông.uuuuu
Nhưng theo lệnh của lãnh chúa, năm 25 tuổi Fukuzawa lên Edo và mở một trường tư thục nhỏ, tiền thân của trường Đại học Keiō-gijuku ngày nay.
Một năm sau đó, trong chuyến đi thăm cảng Yokohama, Fukuzawa nhận ra rằng Hà Lan học đã lỗi thời và quyết tâm chuyển sang học tiếng Anh. Trong bối cảnh việc học tập, nghiên cứu Hà Lan học vẫn còn đang ở giai đoạn thịnh hành thì phát hiện này của Fukuzawa chứng tỏ ông là người vô cùng nhạy cảm với những biến chuyển của thời đại. Vì không nhờ được thầy dạy và cũng không thuyết phục được bạn bè học cùng, ông đã nhờ những thương nhân ở cảng Yokohama mua từ điển về tự học. Khi nghe tin Mạc phủ phái đoàn sứ giả sang Hoa Kỳ vào năm 1860, không đợi lời chiêu tập, ông đã tự mình đến gặp trưởng đoàn để xin đi. Vào thời mà kỹ thuật hàng hải Nhật Bản còn thấp, ra đi là đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro, có thể phải đổi cả tính mạng thì quyết định của Fukuzawa là hết sức táo bạo, vượt qua thời đại mà ông đang sống. Lần đi Mỹ này cùng chuyến đi châu Âu và chuyến đi Mỹ lần hai đã mang lại cho Fukuzawa tầm nhìn rộng lớn, quyết định đến những ảnh hưởng sau này của ông đối với Nhật Bản.
Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi cách có thể. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, thầm lặng dịch và viết sách. Tài năng văn chương trác việt cùng tầm nhìn sâu rộng, sự đánh giá sắc sảo thể hiện qua các trước tác của Fukuzawa đã cuốn hút mối quan tâm không chỉ của giới trí thức mà cả những người dân thường. Bản thân ông đã tiên phong nêu gương về tinh thần độc lập, đề cao thực học, thực hiện cải cách bằng việc mở trường Keiō-gijuku, trường đại học tư thục hiện đại đầu tiên và hiện nay vẫn là một trong những trường đại học tư lớn, có chất lượng giáo dục uy tín hàng đầu của Nhật Bản. Đây chính là nguồn cung cấp nhân tài về chính trị, khoa học, giáo dục với những tri thức tiên tiến khi Nhật Bản chuyển mình sang thời đại mới, thời kỳ Minh Trị.
Tài năng và nhân cách Fukuzawa Yukichi thăng hoa cùng với những năm tháng của cuộc cải cách Minh Trị duy tân. Ông đã để lại trước tác với số lượng lên tới hàng vạn trang, trong đó tiêu biểu phải kể đến là "Khuyến học" (Gakumon no susume), "Khái lược luận thuyết về văn minh" (Bunmeiron no gairyaku), "Tình hình châu Âu" (Seiyō jijō), "Phúc ông tự truyện" (Fukuō Jiden), v.v.
== Tư tưởng Thoát Á của Fukuzawa Yukichi ==
Có dịp được tiếp xúc với văn minh phương Tây qua sách vở và những chuyến viếng thăm Mỹ và châu Âu vào cuối thế kỷ 19, Fukuzawa nhận định rằng văn minh phương Tây phát triển hơn châu Á về nhiều mặt, và các nước châu Á khó lòng duy trì được nền độc lập nếu cứ đóng cửa trước văn minh phương Tây. Theo ông, giành được quyền tự trị chưa phải đã là độc lập, mà nền độc lập thật sự chỉ có thể thành hiện thực thông qua việc trở thành một quốc gia tiên tiến và văn minh. Nếu không có sự khai sáng và văn minh, nền độc lập giành được sẽ mau chóng mất đi để rồi lại lệ thuộc vào các quốc gia tiên tiến khác .
Nhận thức được các nước trong khu vực châu Á mới chỉ ở mức "bán văn minh", không thể là tấm gương cho Nhật Bản học hỏi, trong bài "Thoát Á luận", Fukuzawa kêu gọi nước Nhật hãy "tách ra khỏi hàng ngũ các nước châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương Tây". Ông chủ trương mở cửa giao thương với phương Tây, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm quản lý xã hội của phương Tây để phát triển Nhật Bản. Quan điểm này của Fukuzawa đã được chứng minh bằng thực tế: Ở châu Á, chỉ có Nhật Bản và Thái Lan, hai nước chủ trương mở cửa, là tránh được sự xâm lược và thôn tính của các nước phương Tây. Chính sự du nhập của những giá trị dân chủ và nền giáo dục khoa học kiểu phương Tây đã khiến Nhật Bản không bị phương Tây xâm lược, mà ngược lại, trở thành cường quốc từ cuối thế kỷ 19 .
Fukuzawa tin rằng giáo dục là cách duy nhất để đạt tới văn minh, bởi bản chất của văn minh là sự phát triển kiến thức và đạo đức nội tại của dân tộc:
"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, [do đó] bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người."
Fukuzawa cho rằng nền giáo dục Nho học truyền thống ở Nhật Bản chính là sự cản trở lớn nhất của nền văn minh: Nó vừa cổ hủ vừa chậm phát triển, hàng nghìn năm vẫn không thay đổi, chỉ coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo mà coi thường chân lý và nguyên tắc. Số lượng người đi học đã ít ỏi, lại chỉ được dạy đọc/viết mà không được khuyến khích phát triển tư duy sáng tạo và độc lập. Chính vì vậy, Fukuzawa kêu gọi người dân hãy theo đuổi nền giáo dục thực học của phương Tây, dựa trên nền tảng khoa học và kỹ thuật. Mỗi người trong xã hội, từ các học giả uyên bác, những viên chức nhà nước địa vị cao đến những nông dân nghèo và những người buôn bán nhỏ đều có thể đi học để thực hiện tốt hơn chức năng riêng của mình, từ đó đóng góp sức mình vào phát triển xã hội, chứ không nhất thiết phải học để ra làm quan theo lối suy nghĩ truyền thống của Nho học hủ lậu. Fukuzawa phê phán lối học ấy trong xã hội Nhật đương thời:
"Trong xã hội Nhật Bản, mười người thì cả mười, trăm người thì cả trăm, tất cả đều mưu cầu việc tiến thân, thăng quan tiến chức và trở thành công chức".
Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh cá nhân mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác (đây chính là tư tưởng Khai sáng của Immanuel Kant).
Để phổ biến kiến thức văn minh và tư tưởng tiến bộ phương Tây tới dân chúng, Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và cổ vũ cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ. Ông còn mở trường Đại học Keio (Trường Khánh Ứng Nghĩ Thục), nay trở thành một trong những trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, để đào tạo những thế hệ thanh niên Nhật Bản theo phương thức mới. Cùng với một nhóm trí thức cùng tư tưởng, Fukuzawa cho ra mắt tờ báo Jiji Shimpo năm 1882, đây là một cơ quan tuyên truyền có tác động rất lớn đến công chúng Nhật Bản. Ông không coi mình là người làm chính trị, mà chỉ là "bác sĩ bắt mạch chính trị". Ông không tham gia chính quyền, dù được mời nhiều lần, nhờ đó có cơ hội phê phán chính quyền một cách mạnh mẽ và kiên quyết hơn.
== Tác phẩm ==
Khuyến học (1872-1876)
Bàn về dân quyền (1878)
Bàn về tiền tệ (1878)
Bàn về quốc quyền (1879)
Bàn về quốc hội (1879)
Bàn về kinh tế tư nhân (1880)
Bàn về thời sự thế giới (1882)
Bàn về quân sự (1882)
Bàn về nghĩa vụ quân sự (1884)
Bàn về ngoại giao (1884)
Bàn về phụ nữ Nhật Bản (1885)
Bàn về phẩm hạnh (1885)
Bàn về cách nhân sĩ xử thế (1886)
Bàn về giao tiếp (1886)
Bàn về nam giới Nhật Bản (1888)
Bàn về hoàng gia Nhật Bản (1888)
Bàn về thuế đất (1892)
Bàn về tiền đồ và trị an quốc hội (1892)
Bàn về thực nghiệm (1893)
Fukuzawa Yukichi tuyển tập (1897-1899)
Bàn về đại học nữ, đại học nữ mới (1899)
Fukuzawa Yukichi tự truyện (1899)
=== Khuyến học ===
=== Phúc ông tự truyện ===
Fukuzawa Yukichi có lẽ bắt đầu được độc giả Việt Nam biết đến qua những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng đối với tư tưởng của Phan Bội Châu, Phong trào Duy Tân và lịch sử cận đại Việt Nam cùng bản dịch cuốn Gakumon no susume (Khuyến học) của giáo sư sử học Chương Thâu. Sự thành công của cuộc Minh Trị duy tân là tấm gương sáng, là nguồn cổ vũ cho rất nhiều chí sĩ tâm huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong đó có Phan Bội Châu và những sĩ phu của phong trào Duy Tân.
Sau thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dù giới nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn của Nhật Bản có thể có những nhìn nhận lại về tư tưởng Fukuzawa Yukichi, nhưng cần khẳng định một điều rằng không một nhà tư tưởng nào lại có ảnh hưởng sâu và rộng đến xã hội Nhật Bản cận hiện đại hơn Fukuzawa. Có thể nói, những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế mà Fukuzawa truyền bá là một căn nguyên phát triển của Nhật Bản cận hiện đại. Vì vậy, tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp cũng như tư tưởng Fukuzawa là điều cần thiết, không chỉ giúp người Việt nhìn nhận lại những vấp váp, sai lầm, ấu trĩ trong lịch sử cận - hiện đại Việt Nam, mà còn hữu ích cho cả sự phát triển hiện nay và sau này. Đây cũng chính là điều khiến dịch giả quan tâm đến các trước tác của Fukuzawa nói chung và cuốn "Phúc ông tự truyện" nói riêng.
Cuốn tự truyện kể về những bước thăng trầm của cuộc đời Fukuzawa Yukichi từ khi sinh ra cho đến những năm tháng tuổi già. Qua từng chi tiết nhỏ, từng vấp váp trong đời sống thường nhật hiện lên vóc dáng một con người kiên nghị, quyết đoán, luôn độc lập trong suy nghĩ, sắc sảo trong phê phán nhưng về mặt tâm tư, tình cảm lại không kém phần trầm lắng, sâu sắc.
Có thể nói, chưa đọc "Phúc ông tự truyện" thì chưa thể hiểu nhân cách cũng như tư tưởng của Fukuzawa Yukichi. Cuốn tự truyện không chỉ là lời tự thuật chân thực về những thăng trầm trong cuộc đời riêng Fukuzawa mà còn tái hiện được cả bối cảnh phức tạp của xã hội Nhật Bản trong thời kỳ chuyển biến dữ dội vào nửa cuối thể kỷ 19. Và một điều cần nói thêm rằng, tất cả những biến động lớn lao đó của lịch sử Nhật Bản được phản ánh qua những trải nghiệm thực tế, sự phân tích sắc sảo với tư cách người đương thời và bằng giọng kể chân thành, ngôn ngữ giàu nhạc điệu của Fukuzawa, nghĩa là những gì được tái hiện lại trong cuốn tự truyện khác xa với bất kỳ một sự tường thuật cứng nhắc ở cuốn sách về lịch sử nào khác.
Cuốn tự truyện có 15 chương, mỗi chương lại bao gồm những câu chuyện nhỏ khác nhau. Trong quá trình dịch cuốn Phúc ông tự truyện này, dịch giả chủ yếu dựa trên bản Fukuō Jiden do Tomita Masafumi khảo chú, được Nhà xuất bản Đại học Keiō-gijuku Daigaku ấn hành vào tháng 1 năm 2001. Tomita Masafumi là người đã dày công nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Fukuzawa Yukichi.
== Thư mục ==
Yukichi Fukuzawa, Phúc Ông tự truyện, Phạm Thu Giang dịch, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị và Sách Alpha, 2005
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Fukuzawa Yukichi- Thoát Á luận, Hải Âu, Kuriki Seiichi dịch |
nguyễn xuân phúc.txt | Nguyễn Xuân Phúc (sinh 1954) là một chính khách Việt Nam. Ông hiện là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, XII, Bí thư Ban Cán sự Đảng Chính phủ, đương kim Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khoá XI, XII, XIII, XIV.
== Thân thế sự nghiệp ==
Ông sinh ngày 20 tháng 7 năm 1954, tại xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Ông được gọi theo thông lệ miền Nam là Bảy do là người con thứ 6 và là con út trong gia đình.
Cha ông (Nguyễn Hiền) hoạt động cho chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước năm 1954, tập kết ra Bắc theo Hiệp định Genève. Ông cùng mẹ và các anh chị ở lại quê nhà, thuở nhỏ theo học ở trường làng. Mẹ và các anh chị của ông hoạt động bí mật cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, một người chị của ông bị quân đội Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa giết sau một trận đánh vào năm 1965. Năm 1966, mẹ ông cũng bị giết. Ông sống cùng người chị gái tại quê nhà một thời gian, sau đó được những người đồng chí của cha mẹ ông bí mật đưa ra Bắc học theo chế độ của học sinh miền Nam (năm 1967).
Từ năm 1973, ông theo học tại Đại học Kinh tế Quốc dân, tham gia hoạt động trong phong trào Đoàn thanh niên, từng làm Bí thư Chi đoàn.
Sau khi tốt nghiệp năm 1978, ông trở về và được nhận vào làm việc tại tỉnh nhà (bấy giờ là Quảng Nam - Đà Nẵng). Từ năm 1980 đến 1993, ông thăng dần từ các chức vụ Cán bộ Ban Quản lý kinh tế tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, lên đến Chuyên viên, Phó Văn phòng rồi Chánh Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 12 tháng 5 năm 1982, chính thức là ngày 12 tháng 11 năm 1983; lên đến chức vụ Bí thư Đảng ủy cơ quan, Đảng ủy viên Đảng ủy khối Dân Chính Đảng Quảng Nam – Đà Nẵng khóa 1, 2. Thời gian này, ông có theo học ngành Quản lý hành chính nhà nước tại Học viện Hành chính Quốc gia.
Từ năm 1993 đến 1996, ông lần lượt giữ các chức vụ Giám đốc Sở Du lịch, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, Tỉnh ủy viên khóa 15, 16 tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Ông được cử theo học ngành Quản lý Kinh tế tại Đại học Quốc gia Singapore.
Từ năm 1997 đến 2001, ông là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa 17, 18; Phó Chủ tịch rồi Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Nam kiêm Trưởng ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Quảng Nam, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khóa 6.
Năm 2001, ông được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam. Ông cũng được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa XI, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam, Ủy viên Ủy ban Kinh tế – Ngân sách của Quốc hội khóa XI.
2004 – 2006: Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam khoá 19; Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh Quảng Nam khoá 7; Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam khoá 7; Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kinh tế – Ngân sách Quốc hội khoá XI.
Tháng 3 năm 2006, ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng Thanh tra Chính phủ. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 6 năm 2006, ông được điều động sang giữ chức vụ Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Chính phủ. Tháng 8 năm 2007, ông được Quốc hội phê chuẩn giữ chức vụ Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Việt Nam.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, ông được tái cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được bầu vào Bộ Chính trị. Ông cũng tái cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII. Ngày 3 tháng 8 năm 2011, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa XIII, ông được Quốc hội phê chuẩn làm Phó Thủ tướng Chính phủ.
Tại Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, ông được đề cử là một trong các ứng viên cho chức vụ Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2016 - 2021 .
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, ông được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tái đắc cử Ủy viên Bộ Chính trị.
Ngày 7 tháng 4 năm 2016, với số phiếu tán thành là 446 phiếu, chiếm 90% đại biểu, ông Nguyễn Xuân Phúc trúng cử chức vụ Thủ tướng, kế nhiệm ông Nguyễn Tấn Dũng điều hành Chính phủ.
Ngày 13 tháng 6 năm 2016, ông Nguyễn Xuân Phúc thôi giữ chức Chủ tịch Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia, kế nhiệm ông là Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình.
== Phát biểu ==
Tại cuộc họp thứ nhất Ban chỉ đạo Đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức ngày 26.01.2013 với tư cách là Phó Thủ tướng:
Trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội ngày 12/6/2014:
Đối thoại về phòng chống tham nhũng lần thứ 13 với chủ đề "Các giải pháp phòng chống tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng" do Thanh tra Chính phủ phối hợp với Bộ Tư pháp và Đại sứ quán Vương quốc Anh tổ chức tại Hà Nội sáng 26/11/2014:
Phát biểu tại hội nghị "Doanh nghiệp Việt Nam - Động lực phát triển kinh tế của đất nước" ngày 29/4/2016 ở Sài Gòn:
Phát biểu tại buổi gặp mặt kỷ niệm 91 năm Ngày báo chí cách mạng VN ở trụ sở Bộ Thông tin - truyền thông chiều 21-6:
Về việc Formosa gây ra vụ cá chết hàng loạt:
Ngày 1/8/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, chủ trì phiên họp thường kỳ đầu tiên của Chính phủ khoá mới nhiệm kỳ 2016-2021, nói về chủ nghĩa gia đình trị: “Việc tuyển chọn, bổ nhiệm là để tìm ra người tài chứ không phải tìm người nhà”.. Tại buổi tiếp xúc cử tri TP Hải Phòng hai ngày hôm sau, cử tri Nguyễn Trọng Lô (84 tuổi, lão thành cách mạng) bày tỏ: " Thưa đồng chí, trên toàn quốc có hiện tượng tìm người nhà, TP Hải Phòng của chúng tôi cũng có hiện tượng tìm người nhà. Tôi có thể dẫn ra đây hàng chục trường hợp."
Đổi mới về tư duy Kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa so với thời Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định về quan điểm của Chính phủ đối với quá trình cổ phần hóa một số doanh nghiệp Nhà nước lớn hiện nay, trước mắt là hai doanh nghiệp thuộc Bộ Công Thương là Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội (Habeco) và Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco): “Chính phủ không đi bán bia, bán sữa. Những lĩnh vực ấy Chính phủ và ngân sách Nhà nước không cần nắm giữ. Tư nhân làm tốt hơn, thì để cho tư nhân làm!”.
Về vấn đề giao thông tại Hà Nội trong phiên họp Chính phủ chiều 28/12/2016:
Chia sẻ tại Hội nghị tổng kết công tác văn hóa, thể thao và du lịch (VH-TT-DL) năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017:
== Chú dẫn ==
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử tóm tắt
Trang chính thức |
tiếng bashkir.txt | Tiếng Bashkir ( [bɑʃqɵrt tɨiɨ]) là một ngôn ngữ Turk, là ngôn ngữ của người Bashkir. Đây là ngôn ngữ đồng chính thức với tiếng Nga ở Cộng hòa Bashkortostan.
Những người nói tiếng Bashkir chủ yếu sinh sống ở nước cộng hòa thuộc Nga Bashkortostan. Một số lượng người sử dụng khá đáng kể cũng sinh sống ở Chelyabinsk, Orenburg, Sverdlovsk, Samara và tỉnh Kurgan, Khanty-Mansi, Tatarstan và Udmurtia. Một số lượng lớn thiểu số dân Bashkir cũng sinh sống ở Kazakhstan và Uzbekistan.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
== Liên kết ngoài == |
2202 pele.txt | 2202 Pele là một tiểu hành tinh vành đai chính. Nó là dạng thiên thạch Sao Hỏa (Mars-crosser asteroid), và là dạng thiên thạch bay theo quỹ đạo của Sao Hỏa. Nó là dạng thiên thạch Amor, và là dạng thiên thạch tiếp cận quỹ đạo Trái Đất từ phía dưới nhưng không đi qua. Vì vậy nó được coi là thiên thạch gần Trái Đất.
== Xem thêm ==
Pele, là một Polynesian (specifically: Hawaiian) goddess of fire, lightning, dance, volcanoes và violence, who lives ngày Kilauea.
Pelé, a Brazilian football (soccer) player who won World Cup three times.
== Tham khảo == |
simav.txt | Simav là một huyện thuộc tỉnh Kütahya, Thổ Nhĩ Kỳ. Huyện có diện tích 1564 km² và dân số thời điểm năm 2007 là 76210 người, mật độ 49 người/km².
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
“Geonames Database”. Cơ quan Tình báo Địa không gian Quốc gia. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. |
starcraft ii | |
liên kết hydro.txt | Liên kết Hydro là 1 liên kết rất yếu được hình thành bởi lực hút tĩnh điện giữa Hydro (đã liên kết trong 1 phân tử) với 1 nguyên tử có độ âm điện mạnh có kích thước bé (N,O, F...) ở 1 phân tử khác hoặc trong cùng 1 phân tử
Liên kết Hydro được biểu diễn bằng ba chấm (...). Liên kết Hydro có thể hình thành giữa các phân tử hoặc trong cùng nội bộ 1 phân tử.
a.Liên kết Hydro liên phân tử: Nếu liên kết Hydro được hình thành giữa các phân tử của cùng một chất sẽ có hiện tượng hội hợp phân tử. Những hội hợp phân tử này có thể là những lưỡng phân, tam phân... Liên kết hydro có thể hình thành giữa những phân tử của những chất khác nhau. Vd giữa alcol và nước, alcol và ether oxyd, amin và nước.
b.Liên kết Hydro nội phân tử: LK Hydro có thể hình thành giữa 2 nhóm nguyên tử trong cùng 1 phân tử, gọi là LK Hydro nội phân tử, dẫn tới 1 vòng khép kín (vòng càng cua, chức chelat) Năng lượng của LK Hydro rất bé.Sự tồn tại của liên kết Hydro có ảnh hưởng đến nhiều tình chất vật lý của hợp chất như điểm sôi, độ tan. Do có LK Hydro nên alcol có điểm sôi cao hơn hẳn thioalcol tương ứng. LK Hydro đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoà tan,bơi vì độ tan phụ thuộc vào khả năng của chất đó tạo LK Hydro với dung môi. Khi đó thường tạo thành các sản phẩm của tương tác là các solvat. Một số chất hữu cơ như alcol, amin, acid carboxylic đầu dãy dễ tan trong nước là do chúng có khả năng tạo LK Hydro với nước.
== Tham khảo == |
biển nhật bản.txt | Biển Nhật Bản là một vùng biển nằm ở Đông Á, thuộc Thái Bình Dương.
== Địa lý ==
Phía Nam và Đông của biển là các đảo Honshu, Hokkaido và Kyushu thuộc Nhật Bản, phía Bắc là đảo Sakhalin thuộc Nga, phía Tây giáp với vùng đất liền thuộc Nga, CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc. Biển thông ra Thái Bình Dương qua eo biển Triều Tiên ở phía Nam, eo biển Tsugaru (nằm giữa hai đảo Honshu và Hokkaido của Nhật Bản), eo biển La Perouse nằm giữa hai đảo Hokkaido và Sakhalin, cũng như eo biển Tatar ở phía Bắc.
Biển có diện tích khoảng 1.048.950 km², độ sâu trung bình là 1.752 m, nơi sâu nhất là 3.742 m. Biển có thể được chia làm ba lòng chảo: lòng chảo Nhật Bản ở phía Bắc có độ sâu lớn nhất, lòng chảo Yamato nằm ở phía đông nam và Tsushima ít sâu hơn nằm ở phía tây nam. Bờ biển của các hòn đảo phía đông rộng và khá phẳng, trái ngược với các bờ biển vùng đất liền, đặc biệt là vùng bờ biển bán đảo Triều Tiên, dốc, gồ ghề, nhiều vách đá.
Biển Nhật Bản mặc dù có khí hậu lạnh hơn so với Thái Bình Dương, nhưng lại thường mang đến không khí dịu mát cho quần đảo Nhật Bản.
Biển Nhật Bản không có nhiều các hòn đảo lớn. Hầu hết các hòn đảo nhỏ hơn tập trung ở gần bờ phía đông, trừ đảo Ulleungdo (Hàn Quốc). Những hòn đảo quan trọng trên biển gồm có đảo Sado, Tsushima, Ulleungdo, Liancourt, Hatsushima, Okushiri, Rebun và Rishiri.
== Kinh tế ==
Nghề cá là một ngành Kinh tế quan trọng của các vùng ven biển. Việc tranh chấp các khu vực đánh bắt là điều không tránh khỏi, mâu thuẫn đã nổ ra giữa Hàn Quốc và Nhật Bản xung quanh chủ quyền của mình trên Đảo Liancourt
Trong lòng biển cũng chứa các mỏ khoáng sản, nhưng quan trọng hơn đây là một tuyến đường giao thông hàng hải quan trọng của khu vực Đông Bắc Á.
== Tên gọi ==
Trong khu vực mỗi nước lại đặt cho biển một cái tên khác nhau. Người Nhật gọi là Nihon-kai (Kanji: 日本海, Hán Việt: Nhật Bản Hải]), có nghĩa là "biển Nhật Bản"; người Hàn Quốc gọi là Donghae (Hangeul: 동해, Hanja: 東海, Hán-Việt: Đông Hải); Bắc Triều Tiên thì sử dụng tên gọi là Chosŏn Tonghae (Chosŏn'gŭl: 조선동해, Hanja: 朝鮮東海, Hán-Việt: Triều Tiên Đông Hải); Nga sử dụng tên biển Nhật Bản (Япо́нское мо́ре Yapónskoye móre). Chính phủ Bắc Triều Tiên cũng như Hàn Quốc lập luận rằng, cái tên "biển Nhật Bản" bắt nguồn từ thời kì đô hộ của Nhật. Theo họ, tên "biển Đông" ít ra cũng nên được đối xử ngang hàng.
Hiện nay, 97,2% các bản đồ quốc tế và các văn bản chỉ sử dụng tên gọi Biển Nhật Bản , số còn lại chủ yếu dùng cả tên Biển Nhật Bản và Biển Đông, thường với Biển Đông được liệt kê trong dấu ngoặc đơn hoặc được đánh dấu là một tên thứ cấp. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Việt Nam và hầu hết các nước chỉ sử dụng tên gọi là biển Nhật Bản. Liên Hiệp Quốc cũng sử dụng tên gọi biển Nhật Bản
== Chú thích == |
costus.txt | Costus là một chi thực vật có hoa trong họ Costaceae.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Costus tại Wikimedia Commons
Dữ liệu liên quan tới Costus tại Wikispecies |
biểu tượng.txt | Biểu tượng hay ký hiệu là một hình ảnh, ký tự hay bất cứ cái gì đó đại diện cho một ý tưởng, thực thể vật chất hoặc một quá trình. Mục đích của một biểu tượng là để truyền thông điệp ý nghĩa một cách nhanh chóng dễ dàng và ngắn gọn, đơn giản. Ví dụ, một hình bát giác màu đỏ có thể là một biểu tượng có nghĩa là "STOP" (dừng lại). Trên bản đồ, một hình ảnh lều có thể đại diện cho một khu cắm trại. Chữ số là biểu tượng cho số. Tên cá nhân là biểu tượng đại diện cho cá nhân. Một bông hồng đỏ tượng trưng cho tình yêu và lòng từ bi.
== Liên kết ==
symbols.com
Symbols meanings for hundreds of symbols
Symbolism Wiki
Symbols & signs
Ancient Symbolism
Numericana
logo search
== Tham khảo == |
martin luther king.txt | Martin Luther King, Jr. (viết tắt MLK; 15 tháng 1 năm 1929 – 4 tháng 4 năm 1968) là Mục sư Baptist, nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi, và là người đoạt Giải Nobel Hoà bình năm 1964. Ông là một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cũng như lịch sử đương đại của phong trào bất bạo động. King được nhiều người trên khắp thế giới ngưỡng mộ như một anh hùng, nhà kiến tạo hoà bình và thánh tử đạo.
King dẫn dắt cuộc tẩy chay xe buýt diễn ra ở Montgomery (1955-1956), và giúp thành lập Hội nghị Lãnh đạo Cơ Đốc miền Nam (1957), trở thành chủ tịch đầu tiên của tổ chức này. Năm 1963, King tổ chức cuộc tuần hành tại Washington, và đọc bài diễn văn nổi tiếng "Tôi có một giấc mơ" trước hàng ngàn người tụ tập về đây. Ông nâng cao nhận thức của công chúng về phong trào dân quyền, và được nhìn nhận là một trong những nhà hùng biện vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Năm 1964, King là nhân vật trẻ tuổi nhất được chọn để nhận Giải Nobel Hòa bình vì những nỗ lực chấm dứt nạn kỳ thị chủng tộc qua biện pháp bất tuân dân sự, và các phương tiện bất bạo động khác.
Ngày 4 tháng 4 năm 1968, King bị ám sát tại Memphis, Tennessee. Năm 1977, Tổng thống Jimmy Carter truy tặng King Huân chương Tự do của Tổng thống. Đến năm 1986, ngày Martin Luther King, Jr. được công nhận là quốc lễ. Năm 2004, ông được truy tặng Huân chương vàng Quốc hội.
== Xuất thân ==
King chào đời tại Alanta, Georgia, là con trai của Mục sư Martin Luther King, Sr. và vợ, Alberta Williams King. Lúc đầu tên của King và cha là "Michael King", sau khi gia đình đến thăm nước Đức trong chuyến du lịch châu Âu năm 1934, ông bố quyết định đổi tên cả hai người thành Martin nhằm vinh danh nhà cải cách người Đức thế kỷ 16 Martin Luther. King có một chị gái, Willie Christine (sinh năm 1927), và em trai Alfred Daniel (1930 – 1969).
Từ khi còn bé, King đã sớm bộc lộ năng khiếu trong thuật hùng biện. King từng đoạt giải Elks với một bài diễn thuyết về chủ đề Người da đen và Hiến pháp. Khi đang học năm thứ hai tại Morehouse, King về hạng nhì trong Cuộc thi Hùng biện Webb. Những bài diễn từ của King chịu ảnh hưởng từ những bài thuyết giáo mỗi chủ nhật của cha đã thấm sâu vào ký ức ông.
Mười lăm tuổi, King vào Đại học Morehouse (dành riêng cho người da đen) sau khi học nhảy lớp ở bậc trung học (từ lớp 9 lên lớp 12). Năm 1948, King tốt nghiệp với văn bằng cử nhân chuyên ngành xã hội học, rồi đến Chester, Pennsylvania để theo học tại Chủng viện Thần học Crozer và tốt nghiệp với học vị Cử nhân Thần học (Bachelor of Divinity) năm 1951. Tháng 9 năm 1951, King bắt đầu nghiên cứu môn thần học hệ thống tại Đại học Boston, và nhận học vị Tiến sĩ ngày 5 tháng 6 năm 1955. Năm 1954, ở tuổi 25, King được mời làm quản nhiệm Nhà thờ Baptist Đại lộ Dexter ở Montgomery, Alabama.
== Đời tranh đấu ==
Năm 1954, King nhận chức quản nhiệm (pastor) Nhà thờ Baptist đại lộ Dexter, tại Montgomery, Alabama. Giáo đoàn qui tụ giới giàu có, trí thức và những người có nhiều ảnh hưởng trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi, nên khi bùng nổ cao trào tẩy chay xe buýt - đột ngột khởi phát sau khi một phụ nữ da đen, Rosa Parks, bị bắt giữ vì từ chối nhường chỗ ngồi trên xe buýt cho một người đàn ông da trắng theo quy định của "Luật Jim Crow" – King được xem là một trong số những người thủ lĩnh giữ vai trò lãnh đạo cuộc tẩy chay. Ngày 30 tháng 1 năm 1956, nhà riêng của King bị đánh bom, một đám đông giận dữ tụ tập trên con đường trước ngôi nhà, tự vũ trang với dao, súng, gậy gộc, đá và chai lọ. Song King nói với họ,
Cuộc tẩy chay kéo dài 385 ngày. Trong khi cuộc tẩy chay đang tiến triển, King bị bắt giam cho đến khi phán quyết của Tòa án Liên bang cấp Quận ra lệnh chấm dứt các hành vi phân biệt chủng tộc trên mạng lưới xe buýt ở Montgomery.
Sau cuộc tẩy chay, King tích cực hoạt động cho kế hoạch thành lập Hội nghị Lãnh đạo Cơ Đốc miền Nam (SCLC) năm 1957, với mục đích thiết lập một bộ khung cho tiến trình kiến tạo một thẩm quyền tinh thần, cũng như tổ chức mạng lưới các nhà thờ của người da đen vào Phong trào Phản kháng Bất bạo động nhằm tranh đấu cho sự bình đẳng trong quyền dân sự. King tiếp tục duy trì ảnh hưởng của mình trong tổ chức này cho đến khi ông mất. Nguyên tắc bất bạo động của Hiệp hội bị chỉ trích bởi những người trẻ tuổi cực đoan và bị thách thức bởi Ủy ban Hợp tác Bất bạo động Sinh viên (SNCC), lúc ấy dưới quyền lãnh đạo của James Foreman.
Thành viên của SCLC phần lớn đến từ những cộng đồng da đen có liên hệ với các nhà thờ Baptist. King theo đuổi triết lý bất phục tùng dân sự theo phương pháp bất bạo động được sử dụng thành công tại Ấn Độ bởi Mohandas Gandhi, ông ứng dụng triết lý này vào các cuộc phảng kháng được tổ chức bởi SCLC.
King nhận ra rằng các cuộc phản kháng bất bạo động có tổ chức nhằm chống lại hệ thống kỳ thị tại các tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ, được biết với tên Jim Crow, sẽ thu hút sự chú ý rộng rãi của các phương tiện truyền thông. Họ sẽ tìm đến để tường thuật cuộc đấu tranh giành sự bình đẳng và quyền bầu cử cho người da đen. Thật vậy, những bài viết trên các mặt báo cùng những thước phim được chiếu trên truyền hình về cuộc sống thường nhật của người da đen miền Nam, đầy ắp sỉ nhục và luôn bị tước đoạt, cũng như tình trạng bạo động cùng những hành vi quấy nhiễu và ngược đãi do người kỳ thị gây ra cho người biểu tình, dấy lên một làn sóng đồng cảm lan tỏa rộng khắp, là nhân tố quyết định đem Phong trào Dân quyền Mỹ vào điểm tập chú của công luận để trở thành một trong những điểm nóng của nền chính trị Hoa Kỳ trong những năm đầu của thập niên 1960.
King tổ chức và dẫn đầu các cuộc biểu tình tranh đấu cho người da đen quyền bầu cử, quyền được đối xử bình đẳng và các quyền dân sự căn bản khác. Những quyền này đã được ghi trong luật pháp Hoa Kỳ khi Luật về Quyền Dân sự được thông qua năm 1964 và Luật về Quyền Bầu cử được thông qua năm 1965.
Do có những quyết định chính xác khi chọn phương pháp và địa điểm để tổ chức các cuộc phản kháng cùng chiến lược phối hợp tốt, King và SCLC đã ứng dụng thành công các nguyên tắc bất bạo động. Tuy nhiên, đôi khi các cuộc đối đầu lại biến thành những vụ bạo động như những diễn biến xảy ra cho phong trào phản kháng tại Albany từ năm 1961 đến 1962, khi sự chia rẽ bên trong cộng đồng người da đen cùng đối sách cứng rắn và khôn khéo của chính quyền địa phương đã vô hiệu hóa mọi nỗ lực từ phong trào. Điều tương tự cũng xảy ra cho phong trào tại Birmingham vào mùa hè năm 1963, và tại St. Augustine, Florida năm 1964.
== Tuần hành đến Washington ==
King, đại diện cho SCLC, có mặt trong số các nhà lãnh đạo đến từ các tổ chức khác nhau giúp tổ chức cuộc Tuần hành đến Washington vì Việc làm và Tự do năm 1963.
Tại đây, họ đưa ra những thỉnh cầu như chấm dứt tình trạng kỳ thị chủng tộc tại trường công, ban hành các đạo luật bảo vệ dân quyền, bao gồm luật cấm phân biệt màu da trong tuyển dụng, bảo vệ người đấu tranh cho dân quyền khỏi sự bạo hành của cảnh sát cũng như ấn định mức lương tối thiểu, và quyền tự trị cho Đặc khu Columbia, khi ấy đang ở dưới quyền cai trị của một uỷ ban của Quốc hội.
Cuộc tuần hành là một thành công vang dội. Hơn 250 ngàn người thuộc các chủng tộc khác nhau đến tham dự, đám đông trải dài từ những bậc thềm của Đài Tưởng niệm Lincoln đến National Mall và bao kín bờ hồ sóng sánh nước. Cho đến khi ấy, đây là cuộc tụ tập lớn nhất trong suốt lịch sử của thành phố Washington, D.C. Tại đây, King đã dẫn dắt đám đông lên đến các cung bậc cao của cảm xúc khi ông đọc bài diễn văn Tôi có một giấc mơ (I Have a Dream). Cùng với bài Diễn văn Gettysburg của Tổng thống Abraham Lincoln, Tôi có một giấc mơ được xem là một trong những diễn từ được yêu thích nhất và được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông nói,
Bài diễn văn đã đi vào lịch sử và làm tên tuổi của King được biết đến trên toàn thế giới.
Suốt những năm tháng đấu tranh, King thường xuyên viết và đi khắp nơi để diễn thuyết, dựa trên kinh nghiệm lâu dài của một nhà thuyết giáo. Thư viết từ Nhà tù Birmingham năm 1963 là bản tuyên ngôn cảm động về sứ mạng của ông đấu tranh cho sự công chính. Ngày 14 tháng 10 năm 1964, King trở thành nhân vật trẻ tuổi nhất được trao Giải Nobel Hoà bình. Ông được chọn vì những thành quả trong nỗ lực lãnh đạo phong trào phản kháng với mục tiêu đấu tranh nhằm chấm dứt các định kiến về chủng tộc tại Hoa Kỳ.
King và SCLC, với sự hợp tác của SNCC, tổ chức một cuộc diễu hành từ Selma đến thủ phủ Montgomery vào ngày 25 tháng 3 năm 1965. Một nỗ lực trước đó vào ngày 7 tháng 3 đã thất bại khi bùng nổ bạo động giữa đám đông và cảnh sát với những người biểu tình. Ngày ấy được gọi là ngày Chủ nhật đẫm máu. Chủ nhật đẫm máu là ngả rẽ quan trọng trong nỗ lực giành sự ủng hộ của công chúng cho Phong trào Dân quyền. Sau lần hội kiến với Tổng thống Lyndon B. Johnson, King muốn dời cuộc diễu hành đến ngày 8 tháng 3, nhưng nó vẫn được tiến hành mà không có ông. Những đoạn phim ghi lại hình ảnh tàn bạo của cảnh sát được phát sóng toàn quốc đã giúp dấy lên sự phẫn nộ của công chúng.
Cuối cùng, cuộc diễu hành được ấn định vào ngày 25 tháng 3 với sự đồng ý và ủng hộ của Tổng thống Johnson, từ cuộc diễu hành này mà Willie Ricks đã ghi dấu thuật ngữ "Sức mạnh Da đen" (Black Power) trong lòng công chúng.
== Những thách thức khác ==
Từ năm 1965, King bắt đầu bày tỏ sự nghi ngờ của mình về vai trò của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Ngày 4 tháng 4 năm 1967 – một năm trước khi mất – King phê phán mạnh mẽ vai trò của nước Mỹ trong cuộc chiến. Ông cho rằng cuộc chiến đã làm suy yếu phong trào đấu tranh cho dân quyền và phá hoại các chương trình xã hội trong nước.
King cũng nói về sự cần thiết phải có thay đổi tận gốc rễ đời sống kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ. Càng đến gần những ngày cuối của đời mình, ông càng bày tỏ nhiều hơn quan điểm chống chiến tranh và mong ước được nhìn thấy các nguồn tài nguyên được tái phân phối sao cho giảm thiểu sự bất công trong các lĩnh vực kinh tế và chủng tộc.
Năm 1968, King và SCLC tổ chức "Chiến dịch cho Dân nghèo" với mục tiêu trình bày các vấn đề về công bằng trong kinh tế. Chiến dịch được đẩy lên cao điểm trong một cuộc diễu hành tại Washington, D.C., đòi hỏi trợ giúp về kinh tế cho các cộng đồng nghèo nhất tại Hoa Kỳ.
Ngày 3 tháng 4 năm 1968 khi nói chuyện với một đám đông đang phấn chấn, lời của King như một lời tiên tri:
Nhiều người tin rằng, đêm hôm đó, King đã đọc điếu văn cho chính mình.
== Ám sát ==
King bị ám sát vào chiều tối hôm sau, ngày 4 tháng 4 năm 1968, vào lúc 6 giờ 01 phút, khi ông đang đứng trên ban công của khách sạn Lorraine tại Memphis, Tennessee, sắp sửa rời khách sạn để dẫn đầu một cuộc tuần hành ủng hộ liên đoàn công nhân vệ sinh của người da đen tại Memphis. Vài người bạn đang ở bên trong, nghe tiếng súng vội chạy ra ban công để thấy King đã bị bắn vào hàm. Jesse Jackson, có mặt vào lúc ấy, thuật lại rằng, King nói lời sau cùng với Ben Branch, một nhạc sĩ được sắp xếp trình diễn trong đêm ấy: "Này Ben, hãy hứa với tôi là đêm nay anh sẽ chơi bài Take My Hand, Precious Lord, và phải chơi thật hay."
Sau cuộc giải phẫu, Bệnh viện St. Joseph tuyên bố King từ trần lúc 7giờ 5 phút tối cùng ngày. Ngay sau khi King bị ám sát đã bùng nổ những cuộc bạo động lan rộng trên hơn 100 thành phố trên khắp nước Mỹ.
Ngày 7 tháng 4, Tổng thống Johnson công bố một ngày quốc tang để bày tỏ sự tiếc thương cho cái chết của nhà lãnh đạo phong trào dân quyền. Ba trăm ngàn người đã tìm đến để tham dự tang lễ của ông.
Theo yêu cầu của bà King, bài thuyết giáo cuối cùng của King tại Nhà thờ Baptist Ebenezer vào ngày 4 tháng 1 năm 1968 được phát lại trong lễ tang. Trong đó, King yêu cầu đừng nhắc đến các giải thưởng mà ông được trao, nhưng hãy nói với mọi người rằng ông đã nỗ lực "cho người đói ăn", "mặc áo cho người trần truồng", "hành xử đúng đắn trong vấn đề chiến tranh Việt Nam", cũng như "yêu thương và phục vụ nhân loại". Bạn thân của King, Mahalia Jackson thể hiện ca khúc ông yêu thích "Take My Hand, Precious Lord".
Theo người viết tiểu sử King, Taylor Branch, cuộc giải phẫu tử thi cho thấy dù chỉ mới ba mươi chín tuổi, quả tim của King đã già cỗi như của người sáu mươi, một chứng cứ về mười ba năm căng thẳng trong cuộc đời của người đã cung hiến mình cho cuộc đấu tranh giành quyền bình đẳng cho các sắc dân thiểu số ở nước Mỹ.
Hai tháng sau, James Earl Ray bị bắt tại Phi trường Heathrow Luân Đôn khi đang tìm cách ra khỏi nước Anh với hộ chiếu giả. Ray bị giải giao về Tennessee, và bị kết án ám sát King. Ngày 10 tháng 3 năm 1969, Ray nhận tội, nhưng ba ngày sau lại phản cung. Theo lời khuyên của luật sư, Ray nhận tội nhằm tránh án tử hình, và lãnh án 99 năm tù. Ngày 10 tháng 6 năm 1977, một thời gian ngắn sau khi làm chứng trước Ủy ban Hạ viện về các vụ ám sát, Ray cho biết mình không bắn King, Ray và 6 tù nhân khác trốn khỏi Nhà tù Tiểu bang Núi Brushy, Tennessee. Song, ngày 13 tháng 6, họ bị bắt và bị đem trở lại nhà tù.
== Di sản ==
Sau khi chết, danh tiếng của King càng tăng cao, trở nên một trong những tên tuổi được kính trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ, và nhiều người bắt đầu ví sánh ông với Abraham Lincoln; theo nhận xét của họ, cả hai đều là những nhà lãnh đạo có công thúc đẩy sự tiến bộ về nhân quyền nhằm chống lại tình trạng nghèo khổ tại một quốc gia đang bị phân hoá vì chính vấn nạn này – và vì vậy, cả hai đều bị ám sát.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho Gerald Priestland của đài BBC vào tháng 11 năm 1968, King nói, "Tất cả những gì tôi làm cho phong trào dân quyền tôi xem đó là một phần của mục vụ, bởi vì tôi nghĩ rằng Phúc âm luôn quan tâm đến con người cách toàn diện, không chỉ linh hồn, nhưng cả thể xác và điều kiện sinh sống..." Elizabeth Hardwick nhận xét, "Hiếm có trường hợp nào khi lòng mộ đạo và chính trị kết hợp với nhau cách tự nhiên và đầy cảm động như trường hợp của King. Hoạt động chính trị của ông thật ra là một sứ mệnh truyền giáo."
Sau cái chết của King, Coretta Scott King tiếp bước chồng để trở thành nhà hoạt động đấu tranh cho dân quyền và công bằng xã hội. Trong năm Martin Luther King bị ám sát, Bà King thiết lập Trung tâm King nhằm mục đích bảo tồn các di sản của ông và cổ xuý tinh thần bất bạo động trong đấu tranh cũng như lòng khoan dung trên toàn thế giới.
Năm 1980, ngôi nhà thời thơ ấu của King ở Atlanta cùng các tòa nhà lân cận được công bố là Di tích Lịch sử Quốc gia Martin Luther King, Jr. Ngày 2 tháng 11 năm 1983, tại Vườn Hồng Nhà Trắng, tổng thống Ronald Reagan ký sắc lệnh thiết lập ngày lễ liên bang tôn vinh King. Ngày lễ Martin Luther King được cử hành lần đầu tiên ngày 20 tháng 1 năm 1986, vào ngày thứ Hai thứ ba của tháng 1 mỗi năm; như vậy ngày lễ sẽ là những ngày kế cận với ngày sinh của King (15 tháng 2). Ngày 17 tháng 1 năm 2000, lần đầu tiên Ngày lễ Martin Luther King được tổ chức trên toàn thể 50 tiểu bang của nước Mỹ.
Năm 1998, Hội Ái hữu Alpha Phi Alpha được sự ủy thác của Quốc hội Hoa Kỳ thành lập tổ chức gây quỹ thiết kế Đài Tưởng niệm Quốc gia Martin Luther King. King là thành viên danh tiếng của Hội Ái hữu Alpha Phi Alpha (ΑΦΑ), đây là hội ái hữu liên đại học đầu tiên của người Mỹ gốc Phi được đặt tên theo bảng chữ cái Hi văn. King sẽ là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được lập đài tưởng niệm trong khu vực thuộc công viên quốc gia National Mall, và là nhân vật thứ hai không phải là tổng thống Hoa Kỳ được vinh danh theo cách này.
King là một trong mười thánh tử đạo thế kỷ 20 được tạc tượng trên Great West Door của Tu viện Westminster tại Luân Đôn.
Ngoài Giải Nobel Hòa bình năm 1964 và Giải Pacem in Terris năm 1965, King được Ủy ban Do Thái Hoa Kỳ trao tặng Huân chương Tự do Mỹ vì những đóng góp đặc biệt "cho sự thăng tiến các nguyên tắc tự do của con người".
Đến năm 2006, có hơn 730 thành phố trên khắp nước Mỹ đặt tên ông cho những đường phố của họ. Năm 1986, Quận King, tiểu bang Washington được đặt tên để vinh danh ông. Trung tâm hành chính thủ phủ Harrisburg của tiểu bang Pennsylvania là tòa thị chính duy nhất của Hoa Kỳ mang tên ông.
Để tưởng nhớ King, một con đường ở Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh được đặt theo tên ông.
Năm 1977, Tổng thống Jimmy Carter truy tặng King Huân chương Tự do của Tổng thống.
Năm 1978, ông được trao Giải Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.
Theo một cuộc thăm dò của Gallup, King đứng thứ hai trong danh sách những nhân vật được ngưỡng mộ nhất trong thế kỷ 20.
Một cuộc thăm dò thực hiện bởi tạp chí TIME cho thấy King được xếp ở vị trí thứ sáu trong danh sách Nhân vật Thế kỷ.
King được chọn vào số Những người Mỹ vĩ đại nhất của mọi thời đại (đứng thứ ba), thực hiện bởi Kênh truyền hình Discovery và AOL.
== Hôn nhân và Gia đình ==
King gặp Coretta Scott tại Boston, mối quan hệ của hai người bắt đầu khi King nói với Coretta trên điện thoại, "Trước vẻ đẹp quyến rũ của cô, tôi chẳng khác gì Napoleon trong trận Waterloo." Ngày 18 tháng 6 năm 1952, King kết hôn với Coretta Scott. Hôn lễ được cha ông cử hành tại nhà của cha mẹ cô dâu.
Hai người có bốn con:
Yolanda Denise King (1955 – 2007): Diễn viên, và là nhà hoạt động dân quyền, cô qua đời năm 2007 có lẽ do bệnh tim.
Martin Luther King III (1957 -): Người ủng hộ nhân quyền và là nhà hoạt động cộng đồng.
Dexter Scott (1961 -): Diễn viên và là nhà sản xuất phim tài liệu.
Bernice Albertine: (1963 -): Mục sư Baptist, cùng Martin King III cô hoạt động tích cực nhằm cải tổ Hội nghị Lãnh đạo miền Nam.
== Xem thêm ==
Tôi Có một Giấc mơ
Phong trào Dân quyền Mỹ
Coretta Scott King
Người Mỹ gốc Phi
== Tác phẩm ==
Stride toward freedom; the Montgomery story (1958)
The Measure of a Man (1959)
Strength to Love (1963)
Why We Can't Wait (1964)
Where do we go from here: Chaos or community? (1967)
The Trumpet of Conscience (1968)
A Testament of Hope: The Essential Writings and Speeches of Martin Luther King, Jr. (1986)
The Autobiography of Martin Luther King, Jr. by Martin Luther King Jr. and Clayborne Carson (1998)
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Abernathy, Ralph. And the Walls Came Tumbling Down: An Autobiography. New York: Harper & Row, 1989. ISBN 0-06-016192-2
Beito, David and Beito, Linda Royster. T.R.M. Howard: Pragmatism over Strict Integrationist Ideology in the Mississippi Delta, 1942–1954 in Glenn Feldman, ed., Before Brown: Civil Rights and White Backlash in the Modern South. Tuscaloosa: University of Alabama Press, 2004, 68–95. ISBN 0-8173-5134-5.
Branch, Taylor. At Canaan's Edge: America In the King Years, 1965–1968. New York: Simon & Schuster, 2006. ISBN 0-684-85712-X
Carl Edwin Lindgren (Spring, 1992). Tour Resurrects Shantytown Art. Southern Exposure, Vol. XX, No. 1, 7. Information relating to Resurrection City and Dr. King.
Parting the Waters: America in the King Years, 1954–1963. New York: Simon & Schuster, 1988. ISBN 0-671-46097-8
Pillar of Fire: America in the King Years, 1963–1965.: Simon & Schuster, 1998. ISBN 0-684-80819-6
Chernus, Ira. American Nonviolence: The History of an Idea, chapter 11. ISBN 1-57075-547-7
Garrow, David J. The FBI and Martin Luther King, Jr. New York: Penguin Books, 1981. ISBN 0-14-006486-9
Jackson, Thomas F., From Civil Rights to Human Rights: Martin Luther King, Jr., and the Struggle for Economic Justice. Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 2006. ISBN 978-0-8122-3969-0.
Kirk, John A., Martin Luther King, Jr. London: Pearson Longman, 2005. ISBN 0-582-41431-8
Ayton, Mel, A Racial Crime: James Earl Ray And The Murder Of Martin Luther King Jr. Archebooks Publishing, 2005. ISBN 1-59507-075-3
== Liên kết ngoài ==
=== Tiếng Việt ===
Tôi có một giấc mơ, Mai Lung Sơn dịch
=== Tiếng Anh ===
I Have a Dream, text and audio, pdf format
This black history resource offers a biography of MLK and links to other related articles.
The Martin Luther King, Jr. Papers Project
The King Center
National Civil Rights Museum
MLK Online Martin Luther King Jr. Speeches, Pictures, Quotes, Biography, Videos, Information on MLK Day and more!
Martin Luther King Jr.'s, A New Sense of Direction (1968) article published in WorldView magazine.
Martin Luther King Jr.'s FBI file
Department of Justice investigation on King assassination
Martin Luther King in New York
Martin Luther King Jr. Photographs Photos by Benedict J. Fernandez
The Seattle Times: Martin Luther King Jr.
Winner of the 1964 Nobel Prize in Peace
About.com's Lesser Known Wise and Prophetic Words of Rev. Martin Luther King, Jr.
Speeches of Martin Luther King
Pamphlet on King and Socialism from the Socialist Party USA (PDF)
"The MLK you don't see on TV" from FAIR
The Martin Luther King Center (German)
Các tác phẩm của Martin Luther King, Jr. tại Dự án Gutenberg
Martin Luther King tại Notable Names Database
1956 Comic Book: "Martin Luther King and the Montgomery Story"
Kirk, John A. New Georgia Encyclopedia Short Biography
Declassified document, FBI's letter urging him to commit suicide.
Dyson, Michael Eric. No Small Dreams: The Radical Evolution of MLK's Last Years. LiP Magazine, January 2003
Wise, Tim. Misreading the Dream: The Truth About Martin Luther King Jr. and Affirmative Action. LiP Magazine, January 2003
Summary of plagiarism controversy
Shelby County Register of Deeds documents on the Assassination Investigation
Martin Luther King Philosophy on Nonviolent Resistance
==== Video và audio ====
Martin Luther King Videos full streaming video speeches on www.MLKOnline.net of "I Have a Dream" and "I've been to the mountaintop"
Martin Luther King Audio audio recordings of Martin Luther King speeches on www.MLKOnline.net including full "I Have a Dream" speech
"I Have a Dream" by Common popular new hiphop song sampling Dr. King
Internet Archive: The New Negro, King interviewed by J. Waites Waring.
RealAudio recording of the "I Have a Dream" speech at the History Channel's site |
sầm sơn.txt | Sầm Sơn là thành phố ven biển thuộc tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Thành phố Sầm Sơn là đô thị loại III và là địa điểm du lịch biển khá nổi tiếng tại Việt Nam. Sầm Sơn được nâng cấp lên thành phố vào ngày 19 tháng 4 năm 2017.
== Lịch sử ==
Trước thế kỷ 20, Sầm Sơn chưa xuất hiện trên bản đồ địa lý Việt Nam, vùng đất này thuộc huyện Quảng Xương và chỉ có dãy núi Gầm án ngữ phía Nam vùng đất mà ngư dân đi biển quen gọi là Mũi Gầm, sau dần dần đổi thành núi Sầm (Sầm Sơn), địa danh này cũng còn được gọi là núi Trường Lệ (làng chân núi này cũng gọi là Làng Núi hay làng Trường Lệ). Từ năm 1907, người Pháp đã nhận thấy và bắt đầu khai thác giá trị du lịch của Sầm Sơn để xây dựng thành nơi nghỉ mát phục vụ người Pháp và vua quan Triều Nguyễn. Đây là thời điểm đánh dấu sự ra đời của du lịch Sầm Sơn.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954). Được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ. Tại cảng Lạch Hới xã Quảng Tiến (nay là phường Quảng Tiến), Sầm Sơn được giao nhiệm vụ là điểm tập kết đón đồng bào, cán bộ, chiến sĩ và học sinh miền Nam tập kết ra Bắc (ngoài ra còn tập kết ở Cửa Hội, Nghệ An). Ngày 28/10/2014, tại phường Quảng Tiến, tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm sự kiện này.
== Địa lý ==
Sầm Sơn cách thành phố Thanh Hóa 16 km về phía Ðông. Diện tích tự nhiên khoảng 45 km² (14/5/ 2015), phía Bắc giáp huyện Hoằng Hóa (sông Mã làm ranh giới tự nhiên), phía Nam giáp huyện Quảng Xương, phía Ðông giáp vịnh Bắc Bộ, phía Tây giáp thành phố Thanh Hóa. Dân số năm 2017 là 150.902 người.
Sầm Sơn nằm trên vùng đồng bằng phù sa, độ cao dưới 50 mét. Khoáng sản: Không đáng kể. Động thực vật: Không đáng kể. Chăn nuôi không được chú trọng, chỉ nuôi gà với quy mô nhỏ. Dân cư Sầm Sơn chủ yếu là người Kinh.
Khoảng cách từ biển Sầm Sơn tới các điểm du lịch biển lân cận khác như sau:
Đảo Nẹ: 22 km
Đảo Cồn Nổi: 22 km
Bãi biển Hải Hòa: 13 km
Bãi biển Thịnh Long: 44 km
== Hành chính ==
Trước Cách mạng tháng Tám (năm 1945), vùng đất Sầm Sơn thuộc tổng Giặc Thượng, sau đổi là Kính Thượng, rồi Cung thượng, tổng này gồm các xã:
Xã Lương Niệm có 4 thôn là: Sầm Thôn (tên nôm là làng Núi), Lương Trung (làng Giữa), Cá Lập (làng Trấp), Hải Thôn (làng Hới);
Xã Triều Thanh Lộc có 3 thôn: Triều Dương (làng Triều), Thanh Khê (làng Vạn), Lộc Trung (làng Trung);
Xã Bình Tân (còn gọi là Hải Lộc) có một thôn là Bình Tân (làng Bến).
Sau Cách mạng tháng Tám, vùng đất Sầm Sơn được đặt tên mới là xã Lương Niệm, thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá. Tháng 6 năm 1946, xã Lương Niệm được chia làm 2 xã: Sầm Sơn và Bắc Sơn. Xã Sầm Sơn gồm làng Núi (Sầm Thôn) và làng Giữa (Lương Trung); xã Bắc Sơn gồm làng Trấp, làng Hới, làng Trung, làng Triều, làng Vạn, làng Bến.
Tháng 11 năm 1947 sáp nhập 2 xã Sầm Sơn và Bắc Sơn thành xã Quảng Tiến, thuộc huyện Quảng Xương. Tháng 6 năm 1954 xã Quảng Tiến được chia thành 4 xã: Quảng Tiến, Quảng Cư, Quảng Tường và Quảng Sơn. Ngày 19 tháng 4 năm 1963, Hội đồng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Quyết định số 50/CP thành lập thị trấn Sầm Sơn bao gồm khu nghỉ mát Sầm Sơn và xã Quảng Sơn, trực thuộc uỷ ban hành chính Tỉnh Thanh Hoá, các xã còn lại trực thuộc huyện Quảng Xương.
Thị xã Sầm Sơn chính thức được thành lập ngày 18 tháng 12 năm 1981 theo quyết định số 157/QÐ/HÐBT trên cơ sở tách thị trấn Sầm Sơn, 3 xã: Quảng Tường, Quảng Cư, Quảng Tiến và xóm Vinh Sơn (xã Quảng Vinh) thuộc huyện Quảng Xương. Ngày 29 tháng 9 năm 1983, thành lập 2 phường: Bắc Sơn và Trường Sơn trên cơ sở giải thể thị trấn Sầm Sơn.
Ngày 6 tháng 12 năm 1995, chuyển xã Quảng Tường thành phường Trung Sơn.
Ngày 8 tháng 12 năm 2009, chuyển xã Quảng Tiến thành phường Quảng Tiến.
Tháng 4 năm 2012, thị xã Sầm Sơn được công nhận là đô thị loại 3.
Ngày 14 tháng 5 năm 2015, thị xã Sầm Sơn được mở rộng thêm trên cơ sở sáp nhập thêm 6 xã: Quảng Châu, Quảng Thọ, Quảng Vinh, Quảng Minh, Quảng Hùng, Quảng Đại thuộc huyện Quảng Xương.
Ngày 19 tháng 4 năm 2017, chuyển 4 xã: Quảng Châu, Quảng Cư, Quảng Thọ và Quảng Vinh thành 4 phường có tên tương ứng, chuyển thị xã Sầm Sơn thành thành phố Sầm Sơn theo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, với 44,94 km2 diện tích tự nhiên và 150.902 nhân khẩu. Thành phố Sầm Sơn có 11 đơn vị hành chính gồm 8 phường: Bắc Sơn, Quảng Châu, Quảng Cư, Quảng Thọ, Quảng Vinh, Quảng Tiến, Trung Sơn, Trường Sơn và 3 xã Quảng Đại, Quảng Hùng, Quảng Minh.
== Du lịch ==
Trong những năm đầu của thế kỉ 20, Sầm Sơn không những được quan chức người Pháp biết đến mà còn có vua quan nhà Nguyễn và khách du lịch biết đến như một nơi nghỉ dưỡng lý tưởng với những bãi cát trắng mịn dài hơn 10 km, sóng đánh mạnh. Đây là một vùng trời nước mênh mông, nhiều hải sản quý và đặc biệt có dãy núi Trường Lệ với các thắng tích như hòn Trống Mái, chùa Cô Tiên, đền Độc Cước,Chùa Khải Nam .
Năm 1981, thị xã Sầm Sơn chỉ có gần 10 khách sạn, nhà nghỉ của các bộ, ngành, cho đến năm 2017 Sầm Sơn có hơn 415 khách sạn, nhà nghỉ, với hơn 20.000 phòng tiêu chuẩn.
Năm 2016, lượng khách du lịch đến Sầm Sơn tăng đột biến, đạt 4,1 triệu lượt khách, vượt 9,3% so kế hoạch cả năm, tăng 11% so với cùng kỳ, doanh thu đạt 2.855 tỷ đồng, vượt 17% kế hoạch, tăng 24% so vơi cùng kỳ. Kinh tế du lịch phát triển mạnh, góp phần đưa tốc độ phát triển kinh tế của thị xã tăng khá, đạt 17,3%, tăng 0,8% so kế hoạch.
== Truyền thuyết địa phương ==
Nơi đây còn lưu truyền những truyền thuyết về đôi trai gái yêu nhau hóa đá thành Hòn Trống-Hòn Mái.
== Tham khảo == |
thánh địa và đường hành hương vùng núi kii.txt | Thánh địa và đường hành hương vùng núi Kii là quần thể các kiến trúc chùa chiền, đền thờ và đường hành hương ở vùng núi Kii nằm tại các tỉnh Mie, Nara, và Wakayama, vùng Kansai, Nhật Bản. Ngày 7 tháng 7 năm 2004, quần thể này đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
Các địa điểm và đường hành hương của di sản này được dựa trên tầm quan trọng lịch sử trong tôn giáo hành hương. Nó cũng đã được ghi nhận cho sự giao thoa của Thần đạo và Phật giáo và một lịch sử được ghi chép lại các truyền thống hơn 1.200 năm. Phong cảnh thiên nhiên trên bán đảo Kii cũng đã được đưa vào xem xét với nhiều sông suối và thác nước và các khu rừng. Về mặt kiến trúc, các đền thờ và chùa chiền trong danh sách di sản này không phải là toàn bộ và con đường mòn hành hương cũng không phải toàn bộ chiều dài của nó. Tổng cộng có 242 yếu tố được lựa chọn.
== Hạng mục ==
Các hạng mục của di sản này bao gồm:
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Du lịch Nhật Bản
== Tham khảo == |
loeng nok tha (huyện).txt | Loeng Nok Tha (tiếng Thái: เลิงนกทา) là một huyện của tỉnh Yasothon ở đông bắc Thái Lan. Loeng Nok Tha town, trung tâm hành chính của huyện, cự ly 69 km so với Mueang Yasothon, và khoảng 600 km so với Bangkok.
== Lịch sử ==
Loeng Nok Tha được lập làm một tiểu huyện (king amphoe) thuộc Amnat Charoen ở tỉnh Ubon Ratchathani vào ngày 1 tháng 9 năm 1937. Lúc đo đơn vị này gồm 3 tambon Kut Chiang Mi, Bung Kha và Som Pho.
Ngày 1 tháng 11 năm 1947, Loeng Nok Tha đã được nâng cấp thành huyện (amphoe) thuộc tỉnh Ubon Ratchathani. Khi Yasothon được lập làm tỉnh năm 1972, Loeng Nok Tha là một trong những 6 huyện chuyển vào tỉnh này..
== Địa lý ==
Các huyện giáp ranh (từ phía bắc theo chiều kim đồng hồ) là: Nong Sung, Nikhom Kham Soi, Don Tan của tỉnh Mukdahan, Chanuman, Senangkhanikhom của tỉnh Amnat Charoen, Thai Charoen, Kut Chum của tỉnh Yasothon, và Nong Phok của tỉnh Roi Et.
== Hành chính ==
Huyện này được chia thành 10 phó huyện (tambon), bao gồm 143 làng (muban).
== Tham khảo == |
eric schmidt.txt | Eric Emerson Schmidt (sinh ngày 27 tháng 4 năm 1955) là một kỹ sư, một thành viên cũ trong hội đồng quản trị của công ty Apple, và hiện tại đang là chủ tịch điều hành của Google. Từ năm 2001 đến 2011, ông giữ chức CEO của Google. Ông là đồng tác giả của phần mềm phân tích từ vựng cho Unix. Ông đồng thời cũng là thành viên trong ban quản trị của đại học Carnegie Mellon và đại học Princeton.
== Tiểu sử ==
Schmidt sinh tại Washington, D.C và lớn lên tại Blacksburg, Virginia. Sau khi tốt nghiệp trường cấp ba Yorktown, Schmidt theo học trường đại học Princeton, nơi ông nhận được bằng kỹ sư khoa học máy tính năm 1976. Ở trường đại học California, Berkeley, ông nhận được bằng MS (Master of Science) năm 1979 vì đã thiết kế và thực hiện một mạng máy tính nhằm liên kết trung tâm máy tính của trường với khoa máy tính (CS department) và khoa kỹ thuật điện - khoa học máy tính (EECS department),, bên cạnh đó ông còn nhận bằng tiến sĩ năm 1982 ngành kỹ thuật điện - khoa học máy tính với bài luận văn về vấn đề quản lý sự phát triển của phần mềm được phân phối và những công cụ để khắc phục những vấn đề này. Ông là một trong các tác giả của lex - một phần mềm phân tích từ vựng và là công cụ quan trọng cho việc xây dựng các trình biên dịch. Ông đã từng giảng dạy tại trường kinh doanh Stanford khi đang làm một giáo sư bán thời gian.
Schmidt đang sống tại Atherton, California, với vợ là Wendy.
== Sự nghiệp ==
=== Buổi ban đầu ===
Vào những ngày đầu sự nghiệp của mình, Schmidt giữ một số vị trí về mảng công nghệ của một số công ty công nghệ thông tin như Bell Labs, Zilog và trung tâm nghiên cứu Palo Alto nổi tiếng của Xerox (PARC). Ông làm việc cho Sun Microsystems vào năm 1983 và dẫn đầu trong những nỗ lực phát triển Java của công ty, sau đó ông lên làm giám đốc công nghệ (CTO). Năm 1997, ông được bổ nhiệm làm CEO của Novell.
Schmidt rời Novell sau khi giúp công ty giành được Cambridge Technology Partners. Hai nhà sáng lập Google Larry Page và Sergey Brin đã phỏng vấn Schmidt. Bị ấn tượng bởi ông, họ tuyển dụng Schmidt để điều hành hoạt động của công ty vào năm 2001 dưới sự hướng dẫn của hai nhà đầu tư mạo hiểm John Doerr và Michael Moritz.
=== Google ===
Schimidt tham gia Google với chức chủ tịch hội đồng quản trị vào tháng 3 năm 2001 và trở thành CEO của công ty vào tháng 8 năm đó. Tại Google, Schmidt chia sẻ trách nhiệm về hoạt động hàng ngày của Google cùng với Sergey và Page. Theo như trang 29 của Google's 2004 S-1 Filing, Schmidt, Page và Brin hoạt động Google theo chế độ chuyên chính tay ba. Schmidt có nhiều nhiệm vụ theo pháp luật như: CEO của một công ty công khai, tập trung vào việc quản lý chức phó chủ tịch và cơ quan buôn bán.
Theo website của Google, Schmidt cũng tập trung vào việc "xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho tập đoàn để duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh của Google và đảm bảo chất lượng cao trong khi giữ cho thời gian phát triển sản phẩm ở mức tối thiểu".
Năm 2007, PC World bình chọn Schmidt ở vị trí số một trong danh sách 50 người quan trọng nhất trên web cùng với hai nhà sáng lập Google Sergey Brin và Larry Page.
Năm 2009, Schmidt được xem là một trong những "TopGun CEOs" bởi Brendan Wood International, một cơ quan tư vấn.
Ngày 20 tháng 1 năm 2011, Google thông báo rằng vào ngày 4 tháng 4, Schmidt sẽ rời chức CEO của Google, nhưng sẽ tiếp tục làm chủ tịch hành chính của công ty và làm cố vấn cho Sergey và Brin. Page sẽ thay thế Schmidt cho chức CEO.
Cuốn sách Bên trong Plex: Cách Google suy nghĩ, làm việc và định hình cuộc sống của chúng ta (In the Plex: How Google Thinks, Works, and Shapes Our Lives) xuất bản năm 2011 của Steven Levy cho biết, vào năm 2001, Schmidt đề nghị gỡ bỏ một đóng góp mang tính chính trị của ông ra khỏi kết quả tìm kiếm của Google. Lời đề nghị đã không được thỏa mãn. Schmidt đã phủ nhận và cho rằng điều này chưa hề xảy ra.
=== Apple ===
Schmidt được chọn vào hội đồng quản trị của Apple vào ngày 28 tháng 8 năm 2006. Vào tháng 8 năm 2009, người ta thông báo rằng Schmidt sẽ từ chức và rút khỏi hội đồng quản trị của Apple do những sự mâu thuẫn nảy sinh trong sự cạnh tranh tăng trưởng giữa Apple và Google.
=== Tổng thống Barack Obama ===
Schmidt là cố vấn viên của chiến dịch và là người đã đóng góp rất lớn cho Barack Obama. Và khi đã tuyên bố rời khỏi vị trí đó, ông đã quyết định sẽ vẫn ở lại là 'người đứng đầu nhóm liên quan đến chính phủ của Google'. Obama thậm chí đã xem xét ông cho chức Bộ trưởng Bộ Thương mại Hoa Kỳ. Schmidt đã từng là cố vấn viên không chính thức của chiến dịch tranh cử tổng thống của Obama bắt đầu từ ngày 19 tháng 10 năm 2008, vào việc thay mặt cho người ứng cử. Ông được nhắc đến như là một ứng cử viên có triển vọng cho chức giám đốc công nghệ do Obama tạo ra bởi sự ngưỡng mộ của ông đến Schmidt. Trong thông báo để trả lời Obama, Schmidt nói một cách hài hước rằng với tiền lương 1 đô-la Mỹ của ông, thì ông sẽ phải được giảm thuế. Sau khi Obama trúng cử, Schmidt là một thành viên của hội đồng tư vấn cho tổng thống Obama. Ông cho rằng cách dễ dàng nhất để khắc phục tất cả các vấn đề của Hoa Kỳ ngay lập tức, ít nhất là đối với các chính sách liên quan đến việc nội trợ, đó là bằng một chương trình có tác dụng kích thích đem lại nguồn năng lượng có thể khôi phục được, và trải qua thời gian, tham gia vào việc thay thế các nhiên liệu hóa thạch bằng năng lượng có thể khôi phục. Từ đó ông đã trở thành viên mới của Hội đồng tư vấn Khoa học và Công nghệ của tổng thống, viết tắt là PCAST.
=== Quỹ nước Mỹ mới ===
Quỹ "nước Mỹ mới" (New America Foundation) là một học viện chính sách công cộng phi lợi nhuận được thành lập năm 1999. Schmidt đã từng là chủ tịch Hội đồng quản trị. Ông đã lập James Fallows lên làm chủ tịch vào năm 2008.
== Lương thưởng ==
Eric Schmidt được trả lương là 250 000 đô-la Mỹ và bên cạnh đó là một lợi tức làm việc hàng năm. Ông đã được nhượng lại 14 331 703 cổ phần chung nhóm B với giá 30 cent cho một cổ phiếu và 426 892 cổ phần nhóm C với giá 2,34 đô-la Mỹ cho một cổ phiếu.
Trong khi đang nhậm chức CEO của Google vào năm 2008 và 2009, Schmidt nhận được mức lương cơ sở là 1 đô-la Mỹ, bên cạnh đó phần đền bù là 508 763 đô=la Mỹ vào năm 2008 và 243 661 đô-la Mỹ vào năm 2009. Ông không nhận tiền mặt, cổ phần hay quyền mua bán cổ phần. Schmidt là một trong số ít người trở thành tỷ phú dựa trên quyền mua bán cổ phần trong một tập đoàn mà không phải là người sáng lập hay liên quan đến người đồng sáng lập. Trong danh sách tỷ phú thế giới năm 2011, Forbes xếp Schmidt ở vị trí thứ 136, với tài sản ước lượng khoảng 7 tỷ đô-la Mỹ. Eric Schmidt nhận số tiền lương là 1 đô la Mỹ vào năm 2006. Google đã tặng ông 100 triệu đô-la Mỹ vào năm 2011 như là một món quà.
== Những quan điểm ==
Trong suốt cuộc nói chuyện vào ngày 3 tháng 12 năm 2009, trong tài liệu "Bên trong bộ não của Google" của CNBC, Schmidt được hỏi: "Mọi người đang đối xử với Google như với người bạn đáng tin tưởng nhất của mình. Họ có nên không?" Và ông trả lời: "Tôi nghĩ vấn đề là ở cách nhìn. Nếu bạn có điều gì đó mà không muốn cho mọi người biết, có thể bạn không nên làm cho nó trở nên công khai, nhưng nếu bạn thực sự muốn sự riêng tư như vậy, thì sự thật là các cỗ máy tìm kiếm bao gồm Google sẽ giữ lại những thông tin này của bạn trong một thời gian, và việc lưu trữ nó rất quan trọng, ví dụ như, tất cả chúng ta ở nước Mỹ đều là chủ đề của các việc làm yêu nước. Và thông tin có thể được cung cấp cho các nhà chức trách." Tại Hội nghị Techonomy ngày 4 tháng 8 năm 2010, Schmidt cho rằng công nghệ thì tốt, nhưng ông đã nói rằng chỉ có một cách để giải quyết thử thách đó là "phải minh bạch hơn nữa và xóa bỏ tình trạng nặc danh". Schmidt cũng cho rằng trong một kỷ nguyên của những mối đe dọa bất đối xứng thì "tình trạng nặc danh là quá nguy hiểm".
Vào tháng 8 năm 2010, Schmidt đã làm sáng tỏ quan điểm của công ty ông về thái độ trung lập trên mạng như sau: "Tôi muốn được rõ ràng rằng chúng ta định nghĩa thế nào là thái độ trung lập trên mạng: Chúng ta muốn nói gì nếu bạn có một dữ liệu là video chẳng hạn, bạn không phân biệt tương phản với video của một người với sự đồng ý của người khác. Nhưng cũng tốt khi phân biệt qua những loại khác nhau, vì vậy bạn có thể ưu tiên tiếng nói hơn là video, và đó là sự đồng ý chung giữa Verizon và Google về vấn đề đó".
== Thông tin thêm ==
Danh sách tỷ phú
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Eric Schmidt trên Twitter.
CNET: Google balances privacy, reach (ngày 14 tháng 7 năm 2005), dùng Eric Schmidt để ví dụ về việc tổ chức thông tin cá nhân trên Google.
Eric Eric Schmidt and Larry Page speaking at Stanford (ngày 1 tháng 5 năm 2002)
Google CEO Dr. Eric Eric Schmidt Joins Apple's Board of Directors
Eric Eric Schmidt talks about innovation on Executive Talks
=== Video ===
Eric Schmidt trên Charlie Rose năm 2010.
Mobile World Congress 2010 Keynote: Eric Eric Schmidt, CEO, Google (tháng 2 năm 2010)
Youtube: Eric Eric Schmidt at the Seoul Digital Forum. (ngày 5 tháng 6 năm 2007)
Eric Schmidt speaks as part of NASA 50 years Lecture Series |
kuna insularis.txt | Kuna insularis là một loài chân đều trong họ Cymothoidae. Loài này được Williams & Williams miêu tả khoa học năm 1985.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Kuna insularis tại Wikispecies |
bada (hệ điều hành).txt | Bada (cách điệu: bada, phát âm /ˈbɑːdɑː/) là một nền tảng phần mềm cho thiết bị di động do Samsung Electronics phát triển. bada được thiết kế để sử dụng trong các dòng điện thoại thông minh cao cấp và trung cấp. Samsung cho rằng bada sẽ nhanh chóng thay thế các chức năng tư hữu của điện thoại, chuyển đổi điện thoại cấp thấp thành điện thoại thông minh. Điều này sẽ khiến các khách hàng sử dụng các thiết bị cầm tay của Samsung chuyển sang dùng điện thoại thông minh.
Bada được đặt tên theo cụm từ tiếng Hàn 바다 (bada), mang nghĩa là đại dương hoặc biển.
== Lịch sử ==
Samsung giới thiêu nền tảng Bada vào ngày 10 tháng 11 năm 2009. Sau khi đó, các công ty Twitter, EA, Capcom, Gameloft, và Blockbuster giới thiệu sự hỗ trợ của họ đối với nền tảng bada. Sau khi thông báo, Wave S8500 lần đầu tiên xuất hiện tại Đại hội Di động Thế giới 2010 ở Tây Ban Nha vào tháng 2 năm 2010. Vào thời điểm này đã có khoảng 10 ứng dụng phát triển cho bada như Asphalt 5 của Gameloft.
Samsung bắt đầu cung cấp SDK cho Bada cho các lập trình viên. Trong thời gian tháng 5 năm 2010, Samsung phát hành SDK 1.0.0b2, tiếp tới là 1.0.0b3 và cuối tháng 5 năm 2010. Thêm vào đó, Samsung tổ chức cuộc thi phát triển ứng dụng cho bada với giải thưởng 2.700.000 USD.
Điện thoại chạy Bada đầu tiên là Wave S8500, ra mắt vào ngày 1 tháng 6 năm 2010.
== Phiên bản ==
Samsung S8500 Wave ra mắt với phiên bản Bada 1.0. Không lâu sau khi ra mắt, Samsung phát hành phiên bản 1.0.2, trong đó bao gồm sửa chữa nhỏ cho người dùng châu Âu. Phiên bản cuối cùng 1.2 đã phát hành cho Samsung S8530 Wave II. Phiên bản alpha của Bada 2.0 được giới thiệu vào ngày 15 tháng 2 năm 2011, với Samsung S8530 Wave II
Hiện thiết bị cầm tay hàng đầu Bada là Samsung Wave 3 S8600, chạy 2.0
== Samsung Apps ==
Cùng với sự phát hành của Samsung Wave, Samsung mở cửa gian hàng ứng dụng quốc tế, Samsung Apps, cho nền tảng Bada. Samsung Apps có hơn 2.400 ứng dụng. Cửa hàng này cũng có sẵn trên điện thoại Android của Samsung.
== Kiến trúc ==
Bada, theo như định nghĩa của Samsung, không phải là một hệ điều hành, nhưng là một nền tảng có nhân có thể cấu hình, cho phép sử dụng nhân Linux hoặc các hệ điều hành thời gian thực (RTOS). Nhân Linux thường được dùng nhiều hơn cho các điện thoại thông minh cao cấp, trong khi RTOS thường có trong các smartphone tầm trung do có chân bộ nhớ nhỏ hơn.
Mức trên của hệ lõi có Device, Service, và Framework Layers respectively. Device Layer cung cấp các chức năng cơ bản như đồ họa, giao thức, gọi điện, bảo mật.... Service Layer cung cấp các chức năng đặc trưng như SNS, bản đồ, mua ứng dụng. Để cung cấp các chức năng này, Samsung cung cấp các bộ điều hành bada Server. Lớp trên cùng, Framework Layer, cung cấp các API viết bằng C++ cho các nhà phát triển.
bada cung cấp rất nhiều cách điều khiển giao diện người dùng cho nhà phát triển: gồm các UI cơ bản như Listbox, Color Picker, Tab, vv. Thêm vào đó, nó có trình duyệt web dựa trên WebKit có hỗ trợ Adobe Flash phiên bản 9. Cả WebKit và Flash có thể nhúng vào bên trong các ứng dụng.
bada hỗ trợ khá nhiều các chức năng dựa trên phần cứng khác như: đa cảm biến, như cảm biến chậm, điều khiển rung, nhận diện khuôn mặt, gia tốc kế, từ kế, độ nghiêng, và GPS, có thể kết hợp với các ứng dụng, và đa cảm biến.
Các ứng dụng thuần được viết bằng C++ với SDK của bada, Eclipse. Các công cụ GNU được dùng để biên dịch và sửa lỗi. IDE còn có trình xây dựng UI, nơi các lập trình viên có thể kéo thả các control vào ứng dụng của mình. Để kiểm tra và dò bọ IDE có một trình mô phỏng để có thể chạy thử các ứng dụng.
== Bada 2.0 ==
Phiên bản Bada 2.0 được trưng bày tại IFA 2011 ở Berlin và phát hành vào cuối tháng 12 năm 2011 với rất nhiều chức năng mới và cải tiến so với phiên bản 1.2, như sau:
Hỗ trợ toàn bộHTML5
Khả năng tương thích WAC 2.0
Đa nhiệm đầy đủ
Công nghệ Wifi-Direct
Adobe Flash lite 4 (phiên bản Flash Player điện thoại, hỗ trợ Action script 3.0 của Adobe Flash 10 và 11)
Dolphin Browser 3.0 với quản lý tải xuống
Smart-wallpapers
Text-to-speech
Speech to text
Vocal commands based trên Vlingo
Thông báo Push
NFC
Chính sách bảo mật mới và chức năng bảo vệ
Quản lý máy ảnh mới
GUI mới
OpenAL
bao gồm các ứng dụng và dịch vụ độc quyền như ChatON, Caster, Music Hub
== Tương lai ==
Trong tương lai, Samsung sẽ hợp nhất hai hệ điều hành của họ lại với nhau là bada và Tizen, một hệ điều hành có sự hợp tác và hỗ trợ của nhiều phía như Intel, Huawei, Đây được xem là một quyết định sáng suốt của Samsung để họ không còn bị lệ thuộc vào Google.
== Chỉ trích bada ==
Một số bài báo đã đăng tin về việc chỉ trích bada:
Các nhà phát triển lo lắng về nền tảng mới và hỏi "tại sao cần có nền tảng khác?". Samsung trả lời rằng bada sẽ là một trong những nền tảng chính khi mà Samsung sẽ sản xuất điện thoại chạy nó.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
bada Developers - trang chính thức cho nhà phát triển
bada dev - trang cho nhà phát triển
Samsung bada blog tiếng Nga
Samsung's Mobile World Congress portal |
cô bé lọ lem iii | |
đảo chính.txt | Đảo chính còn có tên khác là chính biến, chánh biến hay coup d'état (từ ngữ tiếng Pháp) là việc lật đổ một chính phủ dùng biện pháp không theo hiến pháp - thường là thay đổi những viên chức cấp cao. Đảo chính hiện hành khi mà chính quyền bị lật đổ không còn nhận được sự ủng hộ của những lực lượng tham gia đảo chính. Một cuộc đảo chính có thể dùng bạo lực hay không bạo lực. Một cuộc đảo chính khác với một cuộc cách mạng vì cuộc cách mạng thường được tổ chức bởi những nhóm người lớn hơn và thường lật đổ cả chính thể chính trị của quốc gia.
Chữ "coup d'état" là một nhóm từ ngữ tiếng Pháp, có nghĩa là "đánh nhà nước". Trong một số ngôn ngữ, từ ngữ "putsch" vốn là tiếng Đức cũng được dùng, sau cuộc đảo chính không thành của Adolf Hitler tại München trong năm 1923.
== Ví dụ ==
Đảo chính quán bia
Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1960
Cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 do tướng Dương Văn Minh lãnh đạo.
Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1964
Cuộc đảo chính Xô viết năm 1991
Cuộc đảo chính ở Kyrgyzstan tháng 3 năm 2005
Cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Chile Salvador Allende năm 1973 do tướng Augusto Pinochet lãnh đạo.
Cuộc đảo chính ở Haiti năm 1986.
Đảo chính Thái Lan 2006
Đảo chính Thổ Nhĩ Kỳ 2016
== Tham khảo == |
1913.txt | 1913 (số La Mã: MCMXIII) là một năm thường bắt đầu vào thứ tư trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1913
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
10 tháng 1: Tây Tạng tuyên bố độc lập nhưng thừa nhận chính phủ Trung Quốc.
19 tháng 1: Tại Thượng Hải, Tôn Trung Sơn tổ chức họp Quốc Dân đảng.
=== Tháng 3 ===
25 tháng 3: Tại Thượng Hải, Tôn Trung Sơn quyết định khởi nghĩa vũ trang chống Viên Thế Khải.
=== Tháng 4 ===
8 tháng 4: Khai mạc cuộc họp Quốc Dân giới quốc.
24 tháng 4: Lê Nguyên Hồng trấn áp quân cách mạng tại Hồ Bắc.
=== Tháng 7 ===
8 tháng 7: Tại Giang Tây, Lý Liệt Quân phát động cách mạng lần 2 chống Viên Thế Khải.
18 tháng 7: Trần Quỳnh Minh tuyên bố Quảng Châu độc lập.
=== Tháng 8 ===
1 tháng 8: Quảng Châu độc lập thất bại, Trần Quỳnh Minh trốn sang Hương Cảng.
6 tháng 8: Hồ Vạn Thái thủ tiêu An Huy độc lập.
11 tháng 8: Viên Đình Khải thủ tiêu Hồ Nam độc lập.
16 tháng 8: Giang Tây Nam Xương độc lập thất bại.
=== Tháng 9 ===
1 tháng 9: Trương Huân công chiếm Nam Kinh, cách mạng lần 2 thất bại.
7 tháng 9: Tứ Xuyên chống Viên Thế Khải thất bại, Hùng Khắc Võ phải bỏ trốn.
12 tháng 9: Kiềm quân công chiếm Trùng Khánh.
=== Tháng 10 ===
6 tháng 10: Nga, Pháp, Anh, Nhật, Ý thừa nhận chính phủ Viên Thế Khải.
=== Tháng 11 ===
4 tháng 11: Viên Thế Khải hạ lệnh giải tán Quốc Dân Đảng.
15 tháng 11: Giang Tô Giang Dương xảy ra binh biến.
=== Tháng 12 ===
8 tháng 12: Tại Đại Lý, Vân Nam, Quốc Dân đảng phát động khỏi nghĩa vũ trang.
== Sinh ==
9 tháng 1 - Richard Nixon, Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ (m. 1994)
14 tháng 7 - Gerald Ford, Tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ (m. 2006)
13 tháng 9 - Trần Đại Nghĩa, kỹ sư quân sự Việt Nam (m. 1997)
20 tháng 10 - Lý Tự Trọng, nhà cách mạng trẻ tuổi người Việt Nam (m. 1931)
22 tháng 10 - Bảo Đại, Vua thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn (m. 1997)
== Mất ==
10 tháng 2 - Hoàng Hoa Thám, người lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Yên Thế chống Pháp (s. 1858)
18 tháng 3 - Rudolf Diesel, một nhà phát minh và kỹ sư người Đức (s. 1858)
18 tháng 8 - Anton Wilhelm Karl von L’Estocq, một sĩ quan quân đội Phổ (s. 1823)
22 tháng 9 - Tôn Thất Thuyết, người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp (s. 1839)
== Giải Nobel ==
Vật lý - Heike Kamerlingh Onnes
Hóa học - Alfred Werner
Y học - Robert Bárány
Văn học - Rabindranath Tagore
Hòa bình - Henri La Fontaine
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
aston villa f.c..txt | Câu lạc bộ bóng đá Aston Villa là câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh đặt trụ sở tại thành phố Birmingham, vùng Tây Midlands, nước Anh. Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1874. Villa là thành viên của Giải bóng đá hạng nhất Anh từ năm 1888 đồng thời là thành viên sáng lập của Premier League vào năm 1992.
Aston Villa là một trong nhưng câu lạc bộ lâu đời nhất và là câu lạc bộ giàu thành tích thứ 4 trong lịch sử bóng đá Anh. Villa là một trong 5 câu lạc bộ của Anh (cùng với Manchester United, Liverpool, Nottingham Forest F.C., Chelsea) vinh dự giành được cúp C1 với chức vô địch vào năm 1982 sau chiến thắng trước Bayern Munich. Đồng thời Villa cũng sở hữu 21 danh hiệu lớn nhỏ khác đặc biệt là 7 lần đoạt chức vô địch quốc gia Anh mặc dù phần lớn các danh hiệu đó đều diễn ra từ trước Chiến tranh thế giới thứ 2. Danh hiệu gần đây nhất Villa đoạt được là League Cup vào năm 1996.
Sân nhà của câu lạc bộ là sân vận động Villa Park với sức chứa khoảng 42.500 khán giả. Biệt danh của câu lạc bộ là "The Villans". Đối thủ truyền thống của Aston Villa là câu lạc bộ Birmingham City. Trận đấu được biết đến như trận derby vùng Birmingham hay còn có một cái tên khác là The Second City Derby. Màu áo truyền thống của câu lạc bộ là màu rượu đỏ và màu xanh của bầu trời. Hiện nay, câu lạc bộ đang thi đấu tại Premier League.
== Lịch sử đội bóng ==
Câu lạc bộ bóng đá Aston Villa được thành lập vào tháng 3 năm 1874 bởi thành viên của nhà thờ Weyslayan thuộc khu vực Aston, nay là một phần của thành phố Birmingham. Bốn thành viên sáng lập của câu lạc bộ bao gồm Jack Hughes, Frederick Matthews, Walter Price và William Scattergood. Trận đấu chính thức đầu tiên là với một đội Rugby địa phương Aston Brook St Mary's. Điều kiện để trận đấu được diễn ra là Aston Villa phải chơi hiệp đấu đầu tiên theo luật của môn Rugby và hiệp thứ hai theo luật bóng đá. Villa nhanh chóng trở thành một trong những đội bóng xuất sắc nhất của vùng Midlands, giành được chiếc cúp đầu tiên, Birmingham Senior Cup, vào năm 1880.
Aston Villa giành FA Cup đầu tiên trong lịch sử của mình vào năm 1887 với đội trưởng Archie Hunter và tở thành đội bóng đầu tiên đoạt danh hiệu này.
== Thành tích ==
=== châu Âu ===
UEFA Champions League/Cúp C1: 1
1982, 1-0 (thắng FC Bayern München)
UEFA Super Cup/Siêu cúp bóng đá châu Âu: 1
1983
Cúp Intertoto: 1
2001
=== Trong nước ===
Vô địch quốc gia
Giải vô địch quốc gia: 7
1894, 1896, 1897, 1899, 1900, 1910, 1981
Giải hạng nhì quốc gia Anh: 2
1938, 1960
Giải hạng ba quốc gia Anh: 1
1972
Cúp
Cúp FA: 7
1887, 1895, 1897, 1905, 1913, 1920, 1957
Cúp Liên đoàn bóng đá Anh: 5
1961, 1975, 1977, 1994, 1996
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
Số liệu thống kê chính xác tới 11 tháng 9 năm 2015.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Cầu thủ cho mượn ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Số áo được vinh danh ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Ban huấn luyện ==
=== Ban huấn luyện hiện tại ===
Cập nhật:25 tháng 7 năm 2011.
=== Các thế hệ huấn luyện viên ===
Các huấn luyện viên cập nhật đến 16.3.2013 (chỉ tính các trận chính thức)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ chính thức của Aston Villa F.C.
Aston Villa blog
Aston Villa tại trang chủ của Premier League
Aston Villa trên BBC
Aston Villa trên Sky Sports |
tổ chức lao động quốc tế.txt | Tổ chức Lao động Quốc tế, viết tắt ILO (tiếng Anh: International Labour Organization) là một cơ quan đặc biệt của Liên Hiệp Quốc liên quan đến các vấn đề về lao động.
ILO ra đời năm 1919 sau Hiệp ước Versailles và là thành viên của Hội Quốc Liên. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc và Hội Quốc Liên giải tán, Tổ chức Lao động Quốc tế trở thành một thành viên của Liên Hiệp Quốc.
Năm 1969, Tổ chức Lao động Quốc tế được trao tặng Giải Nobel Hòa bình và năm 1994 giải Hans-Böckler. Hiện nay ILO có 185 thành viên, đặt trụ sở ở thành phố Geneva, Thụy Sĩ.. Chủ tịch là Guy Ryder, đảm trách từ 2012.
== Mục tiêu ==
Nhiệm vụ của ILO là làm tăng cơ hội có việc làm tốt và có thu nhập cho mọi người trong điều kiện tự do, công bằng, an toàn và đảm bảo nhân phẩm.
Để thực hiện nhiệm vụ này, bốn mục tiêu chiến lược của ILO bao gồm: đưa ra các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc; tạo cơ hội lớn hơn cho mọi người nhằm đảm bảo việc làm và thu nhập tốt; tăng phạm vi và hiệu lực của bảo trợ xã hội; và tăng cường chủ nghĩa ba bên và đối thoại xã hội.
== ILO và Việt Nam ==
Việt Nam từng là thành viên của ILO trong 2 giai đoạn 1950-1976 và 1980-1985. Đến năm 1992, Việt Nam quay trở lại làm thành viên của tổ chức này.
== Ngày lễ lao động ==
Ngày Quốc tế Lao động, ngày 1 tháng 5 (May Day) là ngày lễ kỷ niệm và ngày hành động của phong trào công nhân quốc tế và của người lao động, và có lịch sử lâu dài, từ thế kỷ 19.
Ngày Thế giới chống Lao động Trẻ em, viết tắt là WDACL (World Day Against Child Labour) là ngày 12 tháng Sáu, là ngày được Tổ chức Lao động quốc tế đưa ra năm 2002 và được Liên Hiệp Quốc công nhận, nhằm nâng cao nhận thức và hành động để ngăn chặn lao động trẻ em. Nó được thúc đẩy bởi sự phê chuẩn của Công ước ILO số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu, và Công ước ILO số 182 về các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Nhóm Phát triển Liên Hiệp Quốc
== Liên kết ngoài ==
http://www.ilo.org Trang chủ của Tổ chức Lao động Quốc tế |
gia phả.txt | Gia phả hay gia phổ là bản ghi chép tên họ, tuổi tác, ngày giỗ, vai trò và công đức của cha mẹ, ông bà, tiên tổ và mộ phần của một gia đình lớn hay một dòng họ.
Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng họ. Gia phả có khi gọi là Phổ ký, có khi là Phổ truyền. Các nhà Tông thất (dòng dõi vua quan), có khi gọi gia phả của vương triều mình hay gia tộc mình bằng từ ngữ trân trọng hơn: Ngọc phả, Thế phả...
Tại các nước Đông Á, chịu ảnh hưởng của Đạo Khổng, các thế hệ sau trong dòng họ hay vương triều phải giữ đạo Trung đạo Hiếu. Việc xây dựng và lưu truyền gia phả được xem là một cách ghi nhớ công ơn tổ tiên, gây dựng lòng tự hào trong dòng tộc.
Ở Tây phương, người ta có tập tục làm cây phả hệ hay phả đồ, tương tự như Tông đồ của người Hoa hay người Việt.
Một Tông đồ, một Gia phả, một Phả ký, một Phổ truyền dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở nên những tài liệu quý báu cho nhà xã hội học, nhà sử học về sau. Nó còn có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di truyền học, huyết học, y học nữa.
Môn học nghiên cứu về gia phả là gia phả học.
== Trung Quốc ==
Tại Trung Quốc, gia phả đã xuất hiện dưới dạng thức "thế bản" từ thời nhà Chu (111-256 TCN).
== Việt Nam ==
Tại Việt Nam, gia phả sơ giản ghi chép tên cúng cơm, ngày giỗ và địa điểm an táng của ông cha. Theo các nhà sử học phỏng đoán thì gia phả đã xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú ở Giao Chỉ, hoặc gần hơn tức là từ thời Lý Nam Đế (khoảng nǎm 476-545). Nhưng phải đến thời nhà Lý, nhà Trần mới xuất hiện những cuốn tộc phả, thế phả (ghi cả thế thứ, tông tích toàn họ), phả ký (ghi lại hành trạng, sự nghiệp của tổ tiên).
Mới đầu gia phả xuất hiện chỉ trong Hoàng tộc cùng giới quan lại, nhà Lý có Hoàng Triều Ngọc Điệp - năm 1026; nhà Trần có Hoàng Tông Ngọc Điệp, nhà Lê có Hoàng Lê Ngọc Phả... Cùng với sự xuất hiện các gia phả của Hoàng tộc là gia phả của các danh gia, quan lại và cứ thế lan rộng, phổ biến ghi chép gia phả trong nhân dân.
Trước đây, gia phả chủ yếu được ghi chép bằng chữ Hán-chữ Nôm, nhưng qua nhiều năm chiến tranh, nhiều bộ gia phả của các dòng họ cũng mất dần...
Tục làm gia phả phát triển mạnh ở hai miền Bắc và Trung; miền Nam rất ít gia đình làm gia phả (ở đấy còn được gọi là "gia phổ") và biến thái thành "tông chi" tức tờ "tông chi tông đồ".
Trong gia phả, người đứng đầu ngành trưởng (trưởng họ, trưởng tộc) có bổn phận ghi hết những chi tiết về thân thích và dòng dõi; những người con khác sao lại bản gia phả chính đó. Các gia đình giữ gìn kỹ lưỡng và truyền từ đời cha tới đời con. "Họ" theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và dưới chế độ phong kiến, nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia đình, một họ. Họ và tên của một người định vị trí của cá nhân người đó trong xã hội, xác định cá thể trong một toàn thể.
=== Cấu trúc ===
Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải là một gia phả được ghi chép rõ ràng, chữ nghĩa chân phương, có nội dung cơ bản như sau:
Thông tin rõ ràng về người sao lục (biên soạn).
Nêu nguồn gốc xuất xứ của gia tộc, là phả ký hay là gia sử.
Ghi Thuỷ Tổ của dòng họ.
Ghi từng phả hệ phát sinh từ Thuỷ Tổ cho đến các đời con cháu sau này. Có phần phả đồ, là cách vẽ như một cây, từng gia đình là từng nhánh, từ gốc đến ngọn cho dễ theo dõi từng đời. Đối với tiền nhân có các mục sau đây:
Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường. Thuộc đời thứ mấy? Con trai thứ mấy của ai?
Ngày tháng năm sinh (mất), giờ (nếu nhớ). Mộ nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Thời gian nào?
Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất.
Vợ: chánh thất, kế thất, thứ thất... Họ tên, con thứ mấy của ai? Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh, ngày, tháng, năm mất, tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên. Nếu có thi đậu hoặc có chức tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.
Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bà nào? Con gái thì cước chú kỹ: con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước? Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).
Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng... Những lời dạy bảo con cháu đời sau (di huấn), những lời di chúc...
Ngoài những mục ghi trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự tích đặc biệt hay giai thoại của các vị tiên tổ, những đôi câu đối, những áng văn trước tác hay, những bài thuốc gia truyền...
Tiếp theo, là tộc ước. Đây là những quy định-quy ước trong tộc họ, đặt ra nhằm ổn định tộc họ, có công thưởng, có tội phạt, tất nhiên là phải phù hợp với luật pháp chung.
Với một tộc họ lớn, có thể có nhiều tông nhánh, chi phái. Phần này sẽ ghi những thông tin chi phái, ai là bắt đâu chi, chi hiện ở đâu, nhà thờ chi...
Những thông tin khác về tài sản hương hỏa, bản đồ các khu mộ tiền nhân; các câu đối, sắc phong nếu có v.v.
== Xem thêm ==
Gia phả học
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
vạn diệp tập.txt | Vạn diệp tập (tiếng Nhật: 万葉集 Man'yōshū) - với nghĩa khái quát có thể được hiểu là "tập thơ lưu truyền vạn đời", "tuyển tập hàng vạn bài thơ", "tập thơ vạn trang", "tập thơ vạn lời", "tập thơ của mười ngàn chiếc lá" là tuyển tập thơ của Nhật Bản lớn nhất và cổ xưa nhất còn lại đến ngày nay. Tập thơ có lẽ được Otomo Yakamochi (mất năm 785) và một số người khác biên soạn vào cuối năm 759 đời Thiên hoàng Junnin thời kỳ Nara, theo lệnh của hoàng đế đương triều.
== Tác giả ==
Vạn diệp tập quy tụ những tác giả trên toàn cõi Nhật Bản suốt bốn thế kỷ: từ hoàng đế, công chúa, vương phi, tướng lĩnh, cho tới binh sĩ, nông dân, người đốn củi, kẻ ăn mày... với gần 400 nhà thơ được định danh, còn lại là khuyết danh. Có thể thấy sự có mặt của chủ biên Otomo Yakamochi trong 16 tập với 415 thi phẩm. Đó là chưa kể ông còn đưa thêm vào thơ của cha ông là Tabito và của họ hàng nhà ông. Tuy nhiên, Yakamochi hoàn toàn xứng đáng, ông và cha của ông được đánh giá là hai trong năm nhà thơ lỗi lạc nhất của Vạn diệp tập, gọi là "Vạn diệp ngũ đại gia" hay "Vạn diệp ngũ danh bút": bao gồm thi thánh Kakinomoto no Hitomaro (662?-710), nhà thơ của thiên nhiên Yamabe no Akahito (700-736), nhà thơ nhân thế Yamanoue no Okura (660-733), nhà thơ của nhãn quan trào lộng Ōtomo no Tabito (665-731) và thi nhân của cái tôi mang phong cách cá nhân rất hiện đại Ōtomo no Yakamochi (718?-785).
== Phân loại ==
=== Phân loại theo thể thơ ===
Toàn bộ Vạn diệp tập gồm 20 cuốn với 4496 bài thơ viết bằng chữ Nhật kana hay manyogana, hệ thống ghi âm tiếng Nhật bằng chữ Hán, sử dụng 3 thể thơ truyền thống của Nhật:
Tanka (短歌 đoản ca), thể loại thơ với 31 âm tiết trong 5 câu trong theo cú pháp 5+7+5+7+7, chiếm số lượng lớn nhất trong Vạn diệp tập với 4173 bài.
Choka (長歌 trường ca, còn gọi là nagauta), thể loại thơ không giới hạn về số câu, có khi dài đến 150 câu, trong Vạn diệp tập có 262 bài.
Sedoka (旋頭歌 toàn/tuyền đầu ca, tức thể thơ lặp lại phần đầu), mỗi bài có 38 âm tiết chia 6 dòng (5+7+7 và 5+7+7), trong Vạn diệp tập có 61 bài.
Một số tài liệu làm tròn số Vạn diệp tập gồm 4500 bài thơ trong đó có 4200 bài tanka, 260 choka và 60 sedoka.
Trong khi hai thể choka và sedoka đạt được vẻ đẹp tráng lệ trong thời Nara nhưng đã không còn được ưa chuộng về sau, và các nhà nghiên cứu hiện nay khi tìm hiểu những thể loại này thường chỉ còn dựa vào hợp tuyển Vạn diệp tập, thì thể tanka vẫn tiếp tục phát triển và được đánh giá là thể thơ quan trọng nhất của mười hai thế kỷ thơ ca Nhật Bản, xứng đáng với tên gọi về sau là waka (和歌, Hòa ca, thơ Nhật). Mặc dù waka nguyên là tên chung cho các loại thơ khác nhau của người Nhật phân biệt với thơ Trung Quốc, nhưng từ cuối thế kỷ 8 trở đi chữ waka được xem là đồng nghĩa với tanka.
=== Phân loại theo đề tài ===
Là một bộ bách khoa thư về văn hóa, con người và đất nước Nhật Bản cổ xưa, Vạn diệp tập bao quát những đề tài hết sức rộng lớn tập trung trong ba mảng chính:
Tạp ca (zoka) miêu tả những chuyến ngao du, những bữa tiệc, những truyền thuyết, nói chung là những vấn đề xã hội;
Tương văn ca (somonka) chủ yếu nói về tình yêu nam nữ;
Vãn ca (banka) là những bi ca về cái chết.
Ngoài kiểu phân loại có lẽ dựa theo cách phân chia thơ ca Trung Hoa như trên, còn có thể xếp các bài trong Vạn diệp tập theo chủ đề: thơ thù tạc, thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ thường nhật, thơ nhật ký, thơ viễn du, v.v. Tuy nhiên hầu như không có các bài thơ giáo huấn, thơ thời sự, thơ châm biếm hay phản ánh chiến tranh, những đề tài phổ biến trong thơ ca Trung Hoa đương thời (thơ Đường), mặc dù ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa rất lớn trong đời sống Nhật Bản giai đoạn này, và các nhà thơ Nhật Bản cổ xưa rất am hiểu thơ Trung Hoa. Điều đó chứng tỏ nguồn cảm hứng thơ ca của các thi nhân Nhật Bản cổ đại hoàn toàn từ tiếng nói, tình cảm, tâm hồn và quê hương xứ sở Nhật Bản.
=== Phân chia theo lịch đại ===
Cách phân chia này cho phép tách thơ của Vạn diệp tập thành 4 thời kỳ:
Thời kỳ đầu kéo dài từ huyền sử đến loạn Jinshin năm 672. Những nhà thơ của thời kỳ này đều thuộc tầng lớp cao nhất trong giới quý tộc cung đình, như các thiên hoàng và hoàng thân quốc thích. Thời kỳ này nổi tiếng với những bài thơ của nhà thơ nữ vĩ đại, công chúa Nukada, như những đóa hoa đầu mùa đẹp nhất của thể loại waka và văn chương nữ lưu.
Thời kỳ thứ hai gồm khoảng 40 năm trước khi thành lập kinh đô Nara vào những năm 710, đây là thời kỳ của nhà thơ trữ tình kiệt xuất Kakinomoto no Hitomaro mà chiếc bóng vĩ đại của ông như che phủ Vạn diệp tập với 19 bài choka và 75 bài tanka, và 380 bài thơ mà Vạn diệp tập lấy từ Hitomaro ca tập (Hitomaro kashu) mà người ta không biết rõ bài nào đích thực là sáng tác của Hitomaro.
Thời kỳ thứ ba gồm 30 năm đầu của thế kỷ thứ VIII, với các nhà thơ nổi tiếng như Akahito, Tabito, Okura v.v..
Thời kỳ thứ tư của Vạn diệp tập gồm 30 năm từ năm 730 đến 760, với hình bóng của Yakamochi trong những năm trước khi ông đạt 42 tuổi vào năm 759. Yakamochi đã trở thành niềm vinh quang chói sáng trong thời đại cuối cùng của Vạn diệp tập.
== Khái quát về các quyển thơ ==
Quyển 1: hoàn toàn là tạp ca
Quyển 2: tương văn ca và vãn ca
Quyển 3: gồm cả ba thể tài tạp ca, tương văn ca, vãn ca
Quyển 4: tương văn ca
Quyển 5: đủ thể tài, có hai bài thơ chữ Hán và nhiều đoạn văn xuôi bằng chữ Hán.
Quyển 6: tạp ca
Quyển 7: hầu hết là thơ khuyết danh, nhiều thể tài
Quyển 8: các bài tương văn ca, chia thành bốn mùa và mùa nào cũng có thơ tình
Quyển 9: đầy đủ ba thể tài hơn cả
Quyển 10: là tập dài nhất, chứa đến 539 bài thơ
Quyển 11 và 12: rất giống nhau về phong cách, xếp theo loại thơ và tất cả đều khuyết danh, ngoại trừ các bài của Hitomaro
Quyển 13: đủ loại thơ, có cả thơ vấn đáp (mondo)
Quyển 14: là tập thơ duy nhất xếp loại theo thơ địa phương, nổi tiếng với Những bài ca phương Đông (Azuma uta)
Quyển 15: xếp thơ theo trình tự thời gian trong những cuộc du hành hay đối đáp về tình yêu
Quyển 16: tạp ca
Từ quyển 17 đến 20: là một loại nhật ký thơ ca của Yakamochi gồm thơ của ông và các thân hữu
== Những đề tài chính ==
Khi xem xét hệ thống đề tài của Vạn diệp tập, có thể nhận thấy đề tài tình yêu và quan hệ nam nữ thấm đẫm trong rất nhiều bài thơ và luôn là tâm điểm của Vạn diệp tập, thậm chí nhiều cuốn toàn thơ tình (quyển 8, quyển 2). Tình yêu trong Vạn diệp tập phản ánh những xúc cảm chân thành rất con người, không hề có sự khác biệt trong cách biểu cảm giữa một hoàng đế, một cung phi hay một nông dân, một người phụ nữ thuộc tầng lớp hạ lưu. Cũng có thể nhận thấy đặc điểm lớn phân biệt bản chất thơ tình trong Vạn diệp tập với thơ ca của những thời đại về sau cũng như với thơ tình Trung Hoa đương thời: thơ tình trong Vạn diệp tập luôn sử dụng hình thức biểu hiện tình yêu của một cá thể (hầu hết là tác giả) với một cá thể khác. Yêu không chỉ là nhận thức của người nói hướng tới một đối tượng bên ngoài, mà còn là sự tác động lên đối tượng ấy bằng những hành động như nụ hôn, ôm ấp, ngủ cùng, hoặc nằm cùng v.v. bao hàm những quan hệ thể xác cụ thể. Tình yêu trong Vạn diệp tập phản ánh đời sống tinh thần hòa ái tươi tắn không bị gò bó trong bất cứ một ràng buộc nào của mọi tầng lớp người dân Nhật Bản cổ đại.
Gần gũi với đề tài tình yêu, Vạn diệp tập còn bộc lộ đời sống tinh thần hết sức phong phú của con người qua những bài vãn ca bi thương viết khi đối diện với cái chết. Có 5 loại vãn ca trong hợp tuyển: dạng vãn ca quan phương viết khi hoàng đế băng hà hay một thành viên trong hoàng tộc qua đời; những vãn ca do vợ hoặc chồng viết nhân cái chết của người kia; những bài văn tế của nhà thơ viết cho những người hoàn toàn xa lạ, chẳng hạn khi thấy một thi thể vô thừa nhận; những xúc cảm của con người tuôn ra đầu ngọn bút trong khoảng khắc ngắn ngủi trước khi chết (như khi sắp bị hành hình); và cuối cùng là những vãn ca viết để khóc thương cho những nhân vật truyền thuyết. Có một đặc điểm dễ nhận thấy ở đây, trừ trường hợp một số vãn ca viết cho một lễ tưởng niệm đặc biệt, phần lớn các vãn ca, do tính chất riêng tư của nó, có thể được xếp vào một thể loại thơ tình đã được chuyên biệt hóa, thực sự là tiếng lòng khóc than cho số kiếp người yêu.
Bên cạnh đề tài về tình yêu và nỗi bi ca, những bài thơ trong Vạn diệp tập nuôi dưỡng một tình yêu vĩnh cửu với thiên nhiên tương đối khác biệt với tình yêu con người và những xúc cảm do mất mát người thân tạo ra. Có lẽ bởi tình yêu khó tìm, mất mát khó tránh, nhưng tình cảm với thiên nhiên lại thường trực và bao giờ cũng có thể viết nên một bài thơ tả cảnh tuyệt đẹp. Thiên nhiên trong các bài thơ của Vạn diệp tập là những thắng cảnh nổi tiếng trên đất nước Phù Tang với ngọn núi Fuji, hồ Omi, vùng Yoshino, biển Iwami, cánh đồng hoa Murasaki, những đám mây hoa anh đào, hoa mận trong tuyết trắng và lá thu phong đỏ thắm. Tuy nhiên, chiếm số lượng lớn lao trong hợp tuyển, thiên nhiên không thuộc về những bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của các vùng miền, của bốn mùa, mà rất phổ biến trong các bài tình ca hay vãn ca. Có lẽ bởi vì tình yêu, hoa nở, chim, gió, ánh trắng có ý nghĩa với thi nhân và dường như hoa lá cỏ cây trong con mắt thi nhân cũng có đời sống của chúng. Một đặc điểm dễ nhận thấy là thiên nhiên được miêu tả không chỉ thuần Nhật, cách thức miêu tả thiên nhiên cũng hoàn toàn khác thơ cổ Trung Hoa vốn thiên về ước lệ và cá nhân nhà thơ hoàn toàn là khách quan so với ngoại cảnh. Những bài thơ trong Vạn diệp tập luôn cho thấy hình bóng con người như là một phần của thiên nhiên, thiên nhiên và con người luôn hòa trộn trong những xúc cảm thống nhất, cân bằng. Đối diện với thiên nhiên khiến tâm trạng nhà thơ luôn hướng về người yêu dấu.
Đề tài về tình yêu và thiên nhiên ở trên không lấn át những đề tài khác: tình cảm mẹ con, tình bạn, tâm trạng của người lính thú xa nhà, sự hoài vọng tuổi thanh xuân của những người đã ở tuổi mãn chiều xế bóng, nỗi đau khi đối diện với bệnh tật, cảm hứng trước bầu rượu của thi nhân và được tập hợp thành từng cụm đề tài của Vạn diệp tập như những bài ca phương Đông, những bài ca lính thú, những bài ca xưa, mười ba bài tụng ca về rượu, thơ xướng họa v.v.
== Ý nghĩa ==
Với tất cả sự đồ sộ của khối lượng, sự bao quát lớn lao các tầng lớp sáng tác "từ quốc vương cho đến người đốn củi" và sự phong phú tuyệt vời về đề tài, công trình Vạn diệp tập không chỉ là kiệt tác của thời đại Nara mà còn xứng đáng là ngọn hải đăng của thơ ca Nhật Bản, không chỉ là tổng tập của thi ca Nhật Bản cổ đại mà còn xứng đáng là công trình độc nhất vô nhị không có bất cứ một công trình nào về sau được coi là tương đương với nó.
== Tham khảo ==
Mục từ Vạn diệp tập của Khương Việt Hà trên 101 vẻ đẹp văn chương Việt Nam và thế giới, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, H. 2006.
== Đọc thêm ==
N.I.Konrat, Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại, chương 2: Manyoshu, Trịnh Bá Đĩnh dịch, Nhà xuất bản Đà Nẵng, ĐN.1999.
Nhật Chiêu, Thơ ca Nhật Bản, Nhà xuất bản Giáo dục. H. 1998.
Shuichi Kato, History of Japanese Literature (Lịch sử văn học Nhật Bản), Kodansha International, Tokyo 1979, Tập I. |
voi ma mút.txt | Chi Voi ma mút hay chi Voi lông dài (danh pháp khoa học: Mammuthus) là một chi voi cổ đại đã bị tuyệt chủng. Tồn tại ở thế Pliocen, vào khoảng 4,8 triệu năm đến 4.500 năm trước. Có đặc điểm lông dài (xấp xỉ 50 cm), rậm (hơn so với voi hiện tại), ngà dài và cong (hoá thạch ở Xibia có ngà dài 3,5 m), răng voi ma mút rất dài, cong quặp vào trong, dài nhất tới 5 cm, chân sau ngắn nên trọng tâm toàn thân nghiêng về phía sau, vai nhô cao. Chân chỉ có 4 ngón (kém 1 ngón so với voi hiện nay), da dày. Voi ma mút có răng lớn, sắc cạnh, thích hợp cho nghiền nát cỏ. Vòi của voi ma mút có hai chỗ lồi giống như ngón tay, một ở phía trước và một ở phía sau, giúp chúng dễ dàng túm lấy cỏ. Da màu đen, nâu và nâu đỏ, lông vàng, cao từ 3 đến 3,3 m.
== Tiến hóa ==
Các động vật có vòi (Proboscidea) sớm nhất đã biết, nhánh chứa các loài voi, đã tồn tại khoảng 55 triệu năm trước (Ma) trong khu vực ven biển Tethys. Các họ hàng gần nhất của Proboscidea là bò biển và đa man (đề thỏ). Họ Elephantidae được biết là đã tồn tại khoảng 6 Ma tại châu Phi, và bao gồm các loài voi còn sinh tồn cũng như voi ma mút. Trong số nhiều nhánh hiện nay đã tuyệt chủng thì voi răng mấu (Mammut) chỉ là họ hàng xa của voi ma mút và là một bộ phận của họ Mammutidae tách biệt đã tách ra khoảng 25 Ma trước khi voi ma mút tiến hóa.
Biểu đồ sau chỉ ra vị trí của chi Mammuthus trong số các loài động vật có vòi, dựa theo các đặc trưng xương móng:
Do nhiều di cốt của các loài voi ma mút được tìm thấy tại nhiều nơi, nên người ta có thể phục dựng lịch sử tiến hóa của chi voi này thông qua các nghiên cứu hình thái. Các loài voi ma mút có thể được nhận dạng từ một số các gờ men răng trên răng hàm của chúng; các loài nguyên thủy có ít gờ, và số lượng gờ dần dần tăng lên khi các loài mới tiến hóa và thay thế các loài cũ. Cùng lúc đó, các chỏm răng cũng trở nên dài hơn, và hộp sọ thì cao hơn khi xét kích thước từ đỉnh đầu xuống đáy và ngắn hơn khi xét kích thước từ gáy tới trán theo thời gian để tích lũy điều này. Các thành viên đầu tiên đã được biết đến của chi Mammuthus có lẽ là các loài châu Phi là M. subplanifrons sinh sống trong thế Pliocen và M. africanavus sinh sống trong thế Pleistocen. Loài thứ nhất được cho là tổ tiên của loài thứ hai. Voi ma mút tiến vào châu Âu khoảng 3 Ma với loài sớm nhất đã biết là M. rumanus, với phạm vi sinh sống trải rộng khấu châu Âu cho tới Trung Quốc. Người ta chỉ biết các răng hàm của chúng, với 8-10 gờ men răng. Một quần thể đã tiến hóa đạt tới 12-14 gờ men răng; chia tách khỏi và thay thế cho loài sớm hơn, trở thành M. meridionalis. Kế tiếp theo, nó bị thay thế bởi voi ma mút thảo nguyên (M. trogontherii) với 18-20 gờ men răng, là loài đã tiến hóa ở Đông Á khoảng 1 Ma. Các loài voi ma mút phát sinh từ M. trogontherii đã tiến hóa răng hàm với 26 gờ men răng vào khoảng 0,2 Ma tại Xibia, và trở thành voi ma mút lông xoăn (Mammuthus primigenius). Voi ma mút Columbia (Mammuthus columbi) cũng tiến hóa từ một quần thể M. trogontherii đã tiến vào Bắc Mỹ. Một nghiên cứu di truyền năm 2011 chỉ ra rằng hai mẫu vật được kiểm tra của voi ma mút Columbia được gộp trong phạm vi của phân nhánh chứa voi ma mút lông xoăn. Điều này gợi ý rằng hai quần thể đã lai ghép với nhau và sinh ra con có khả năng sinh sản. Nó cũng gợi ý rằng dạng voi ma mút Bắc Mỹ được biết đến như là "Mammuthus jeffersonii" có thể chỉ là con lai của 2 loài nói trên.
Từ 3,0 Ma cho tới cuối thế Pleistocen, voi ma mút tại đại lục Á-Âu đã trải qua một sự biến đổi lớn, bao gồm sự co ngắn và nâng cao hộp sọ và hàm dưới, tăng chỉ số dài răng ở răng hàm, tăng số lượng gờ và sự mỏng dần của men răng. Do thay đổi mạnh mẽ này ở bề ngoài, người ta chia voi ma mút châu Âu thành các cụm có thể phân biệt được như sau:
Tiền Pleistocen: Mammuthus meridionalis
Trung Pleistocen: Mammuthus trogontherii
Hậu Pleistocen: Mammuthus primigenius
Có sự suy đoán về việc các biến đổi này đã xảy ra như thế nào ở 3 thời loài này. Các sai lệch về môi trường, thay đổi khí hậu và di cư cũng có vai trò trong quá trình tiến hóa của voi ma mút. Chẳng hạn, lấy ví dụ về M. primigenius, trong cuộc đời chúng, loài voi ma mút lông xoăn này có lẽ đã sinh sống trong các quần xã sinh vật đồng cỏ thưa. Môi trường thảo nguyên-lãnh nguyên lạnh ở Bắc bán cầu là lý tưởng để voi ma mút phát triển thịnh vượng do các nguồn thức ăn nó cung cấp. Với các đợt ấm lên trong thời kỳ băng hà thì khí hậu cũng sẽ thay đổi cảnh quan và những gì sẵn có cho voi ma mút bị thay đổi mạnh mẽ.
== Sự tuyệt chủng ==
Cho đến gần đây, người ta cho rằng con voi ma mút cuối cùng biến mất ở châu Âu và nam Xibia khoảng 12.000 năm trước đây, tuy nhiên có những khám phá dẫn đến kết luận là chúng còn sống ở đó khoảng 10.000 năm trước đây. Không lâu sau đó voi ma mút cũng biến mất khỏi Xibia. Một nhóm nhỏ còn sống ở đảo St. Paul cho đến 3750 TCN, và những con ma mút nhỏ của vùng đảo Wrangel sống đến 1650 TCN. Những nghiên cứu mới đây về trầm tích tại Alaska cho thấy voi ma mút còn sống ở lục địa châu Mỹ cho đến 10.000 năm trước đây.
Cho tới nay người ta vẫn chưa thể giải thích dứt khoát tại sao voi ma mút bị tuyệt chủng như thế. Có thể do thời tiết nóng lên khoảng 12.000 năm trước đây, rồi sau đó các tảng băng tan ra và thụt ra biển khiến cho mặt biển dâng lên, có thể đây là một yếu tố. Rừng rú bị thay thế bởi đồng cỏ trong lục địa. Môi trường sinh sống của voi ma mút cũng do dó mà bị thu hẹp lại. Tuy nhiên những thay đổi về thời tiết như thế đã xảy ra trước đây. Nhiều giai đoạn ấm rất tương tự như thế dã xảy ra trong kỷ băng hà xảy ra trong nhiều triệu năm đã không gây ra tuyệt chủng cho loài sinh vật, do đó chỉ một mình khí hậu không đóng vai trò quyết định ở đây. Sự xuất hiện của những thợ săn thiện nghệ ở lục địa Á-Âu và châu Mỹ vào khoảng thời gian sự tuyệt chủng xảy ra có thể đóng vai trò lớn lao khiến voi ma mút biến mất.
Voi ma mút tuyệt chủng do khí hậu thay đổi hay bị con người săn bắt quá độ vẫn còn là một vấn đề tranh cãi. Một giả thuyết khác cho rằng voi ma mút có thể bị mắc phải một chứng viêm vi trùng. Một giả thích họp lý cho sự tuyệt chủng của voi ma mút là do khí hậu kết hợp với bị con người săn bắt. Homo erectus đã bắt đầu tiêu thụ thịt voi ma mút khoảng 1,8 triệu năm trước đây. Có dấu hiệu ở Ucraina cho thấy người người Neanderthal xây nhà dùng xương voi ma mút.
Tuy nhiên Viện Khoa học Sinh học Mỹ khám phá ra rằng xương voi ma mút chết nằm lại trên mặt đất và sau đó bị các con voi ma mút khác giẫm lên cũng mang những dấu vết tương tự như là bị người ta làm thịt, do dó cũng có thể là loài người sát hại voi ma mút vì thịt cũng không hẳn đúng.
== Kích thước ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Voi
Voi châu Á
== Liên kết ngoài ==
Phát hiện hộp sọ voi ma mút cách đây 40.000 năm
Hình vẽ voi Ma mút trên hang đá cách đây 30.000 năm
Khả năng phục hồi, nhân bản voi Ma mút
Hoá thạch voi Ma mút tại Anh về cuộc giao tranh giữa các giống voi Ma mút
Tìm thấy tế bào còn sống của voi Ma mút
Ngà voi Ma mút 130.000 năm tuổi, dài 2,4 m
Công viên tiền sử của voi ma mút
Nuôi dưỡng voi Ma mút
Tái tạo hệ động vật kỷ Holocen
Dự án phục hồi voi Ma mút |
rama v.txt | Rama V, cũng được gọi là Chulalongkorn Đại đế (tên hoàng gia: Phra Chula Chomklao Chaoyuhua; tiếng Thái: พระบาทสมเด็จพระจุลจอมเกล้าเจ้าอยู่หัว) (20 tháng 9 năm 1853 – 23 tháng 10 năm 1910) là vị vua thứ năm của vương triều Chakri trong lịch sử Thái Lan. Ông được xem là một trong những ông vua kiệt xuất của Thái Lan và cũng được thần dân gọi là "Đức vua vĩ đại kính yêu".
Chulalongkorn sinh ngày 20 tháng 9 năm 1853 tại kinh đô Bangkok, là con trai trưởng của vua Mongkut (Rama IV) và vương hậu Debsirinda. Ông được vua cha cho học rộng, bao gồm cả học vấn từ những gia sư người châu Âu như Anna Leonowens.
Chulalongkorn kế vị cha mình ngày 1 tháng 10 năm 1868, nhưng thừa tướng Chao Praya Si Suriyawongse làm nhiếp chính vương trong 4 năm do Chulalongkorn vẫn còn quá trẻ để cai trị đất nước. Trong thời gian này, ông đã đi qua các thuộc địa phương tây, bao gồm Singapore, Java và Ấn Độ, để học chính trị, hành chính, lối sống và chính sách thực dân phương Tây. Sau này trong thời gian trị vì, ông cũng đi thăm châu Âu hai lần vào năm 1897 và 1907, là vua Xiêm đầu tiên viếng thăm châu Âu.
Ngày 16 tháng 11 năm 1873, ông đã lên ngôi lần thứ hai. Trong thời gian đi thăm các nước, ông đã học được nhiều chính sách cải cách để hiện đại hóa đất nước mình. Với sự giúp đỡ của một người Bỉ tên là Gustave Rolin-Jaequemyns, ông đã có thể giữ độc lập cho đất nước mình dù Pháp và Anh đang thuộc địa hóa phần lớn các nước Đông Nam Á và đế quốc Anh lúc đó đã tiếp tục chính sách đối nghịch và gây hấn trong quan hệ đối với Xiêm. Ông cũng đã phải nhượng một số lãnh thổ cho hai cường quốc thực dân này, đáng chú ý là các tuyên bố chủ quyền ở nhiều khu vực ngày nay là Lào, Campuchia và một số khu vực phía bắc của Malaysia.
Chulalongkorn đã hiện đại hóa triều đình Xiêm thông qua việc du nhập một chế độ Nội các, và hệ thống hành chính tỉnh bán phong kiến được đổi qua thành tỉnh (changwat) và huyện (amphoe) như ngày nay vẫn áp dụng. Ông đã tuyên bố ân xá cho tất cả tù nhân chính trị và dần bỏ chế độ nô lệ.
Sự giải phóng nô lệ này thường bị hiểu sai nhưng chủ ý của ông là giảm quyền lực của Bunnag, một gia đình quý tộc kiểm soát chặt chẽ triều Chakri vào lúc đó. Ngoài ra, động thái này cũng làm yếu đi các thủ hiến địa phương và trung lập hóa đất nước.
Tuyến đường sắt đầu tiên của Thái Lan đã được khai trương năm 1896 nối Bangkok với Ayutthaya. Trong thời kỳ trị vì của ông, lịch phương Tây đã thay thế âm lịch. Năm 1896, nhà ngoại giao người Anh là Alfred Mitchell-Innes đã được bổ nhiệm làm Cố vấn tài chính cho nhà vua trong 3 năm và ông này đã du nhập hệ thống giấy bạc cho Xiêm. Chulalongkorn cũng tuyên bố tự do tôn giáo, cho phép Ki-tô giáo và Hồi giáo được hành đạo trong vương quốc Phật giáo này.
Người ta thường hiểu nhầm rằng vua Chulalongkorn đã ban hành sắc lệnh năm 1909 trong thời kỳ trị vì của ông, bắt buộc một số lượng dân số người Thái gốc Hoa trên thực tế đồng hóa dân tộc khác vào xã hội Xiêm La và làm giảm căng thẳng dân tộc và tội phạm bạo động. Sắc lệnh này yêu cầu tất cả dân thường trú phải dùng họ Thái. Tuy nhiên, trên thực tế thì Đạo luật Họ được con trai ông là vua Rama VI ban hành năm 1913.
Vua Chulalongkorn có 4 vương hậu (พระมเหสี), Vương hậu Saovabha Bhongsi, Vương hậu Savang Vadhana, Vương hậu Sunandha Kumariratana và Vương hậu Sukumalmarsri và 92 phi tần khác. Ông có ít nhất 77 người con, trong đó 33 con trai. Con trai thứ hai của ông, Vajiravudh, đã kế vị ông làm vua Rama VI. Ngày qua đời của ông, 23 tháng 10 năm 1910, được làm ngày nghỉ lễ trong năm của dân Thái Lan.
== Tham khảo == |
nguyễn du.txt | Nguyễn Du (chữ Hán: 阮攸; sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766–1820) tên tự Tố Như (素如), hiệu Thanh Hiên (清軒), biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ (鴻山獵戶), Nam Hải điếu đồ (南海釣屠), là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam, Danh nhân văn hoá thế giới. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là "Đại thi hào dân tộc".
Tác phẩm Truyện Kiều của ông được xem là một kiệt tác văn học, một trong những thành tựu tiêu biểu nhất trong văn học Việt Nam.
== Tiểu sử ==
Theo một bản gia phả của dòng họ Nguyễn ở làng Nghi Xuân, Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (tức ngày 3 tháng 1 năm 1766) tại phường Bích Câu, Thăng Long. Cha là Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775), sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Tư, hiệu Nghị Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận công. Mẹ là bà Trần Thị Tần (24 tháng 8 năm 1740 - 27 tháng 8 năm 1778), con gái một người làm chức câu kế. Bà Tần quê ở làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm (kém chồng 32 tuổi sinh được năm con, bốn trai và một gái).
Tổ tiên của Nguyễn Du có nguồn gốc từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội), sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan.
Năm Đinh Hợi (1767), khi Nguyễn Du mới một tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công nên Nguyễn Du thời đó sống trong giàu sang phú quý.
Năm Giáp Ngọ (1774), cha Nguyễn Du sung chức tể tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Từ thời gian này Nguyễn Du chịu nhiều mất mát liền kề. Cụ thể, vào năm Ất Mùi 1775, anh trai Nguyễn Trụ (sinh năm 1757 qua đời). Năm Bính Thân 1776 thân phụ ông mất. Năm Mậu Tuất 1778 thân phụ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần cũng tạ thế. Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều (sinh năm 1745) được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa. Mới 13 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản (hơn ông 31 tuổi)
Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học.
Năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây.
Năm Quý Mão (1783) Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường (Tú tài). Ông lấy vợ là con gái Đoàn Nguyễn Thục và ông được tập ấm chức Chánh thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Cũng trong năm này anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Đề (sinh 1761) đỗ đầu kỳ thi Hương ở điện Phụng Thiên, và Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham tụng.
Năm Giáp Thìn Tháng 2 năm (1784), kiêu binh nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá, Nguyễn Khản phải trốn lên ở với em là Nguyễn Điều đang là trấn thủ Sơn Tây. Đến năm 1786 thì Nguyễn Khản bị mắc bệnh rồi chết ở Thăng Long.
Năm Kỷ Hợi (1789) Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Đoàn Nguyễn Tuấn hợp tác với Tây Sơn, giữ chức Thị lang bộ Lại. Lúc này Nguyễn Du về ở quê vợ (Quỳnh Côi, Thái Bình).
Tháng mười, năm Tân Hợi (1791), anh thứ tư cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh do chống Tây Sơn nên bị bắt và bị giết, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh bị Tây Sơn phá hủy.
Năm Quý Sửu (1793), Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền và đến cuối năm ông vào kinh đô Phú Xuân thăm anh là Nguyễn Đề đang làm thái sử ở viện cơ mật và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn.
Năm Giáp Dần (1794), Nguyễn Đề được thăng Tả phụng nghi bộ Binh và vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ. Đến năm 1795 Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long nhà Thanh, đến năm 1796 trở về được thăng chức Tả đồng nghị Trung thư sảnh.
Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù)
Mùa thu năm Nhâm Tuất (1802), Vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc Hà Nội).
Năm Quý Hợi (1803), Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long.
Năm Ất Sửu (1805) ông được thăng Đông các đại học sĩ (hàm Ngũ phẩm), tước Du Đức hầu và vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm Đinh Mão (1807) được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm Mậu Thìn (1808), ông xin về quê nghỉ.
Năm Kỷ Tỵ (1809) ông được bổ chức Cai bạ (hàm Tứ phẩm) ở Quảng Bình
Năm Quý Dậu (1813) ông được thăng Cần chánh điện học sĩ (hàm Chính tam phẩm) và được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham tri bộ Lễ (hàm Tòng nhị phẩm).
Năm Bính Tý (1816), anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng Nam.
Năm (Canh Thìn) 1820 Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 năm Canh Thìn (1820) lúc 54 tuổi.
Năm Giáp Thân (1824), di cốt của ông được cải táng về quê nhà là làng Tiên Điền, Hà Tĩnh.
Đại Nam thực lục chép về Nguyễn Du: Du là người Nghệ An, học rộng giỏi thơ, càng giỏi về Quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay nói gì. Đại Nam liệt truyện chép: Du là người ngạo nghễ tự phụ, mà bề ngoài tõ ra kính cẩn, mỗi khi vào yết kiến, sợ hãi như không nói được. Người đời sau, như ý kiến của các ông Trịnh Vân Định, Trần Nho Thìn cho đó là một cách khéo léo để giữ toàn mạng và thăng tiến trong thời loạn, mặc dù trong văn thơ của Nguyễn Du thường đề cao những anh hùng thời loạn, nhưng ông chọn cách sống khác, cống hiến nhưng "ẩn dật" trong chốn quan trường.
== Tác phẩm ==
Qua các tác phẩm của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm. Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành... nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà đỉnh cao là Truyện Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn trong thể loại truyện thơ.
Chính trên cơ sở này mà trong thơ Nguyễn Du luôn luôn vang lên âm thanh, bừng lên màu sắc của sự sống, hằn lên những đường nét sắc cạnh của một bức tranh hiện thực đa dạng. Và giữa những âm thanh, màu sắc, đường nét vô cùng phong phú đó, Nguyễn Du hiện ra: vừa dạt dào yêu thương, vừa bừng bừng căm giận. Đây là chỗ đặc sắc và cũng là chỗ tích cực nhất trong nghệ thuật của Nguyễn Du. Từ thơ chữ Hán đến truyện Kiều, nó tạo nên cái sức sống kỳ lạ ở hầu hết tác phẩm của ông.
=== Văn bản ===
Sáng tác của Nguyễn Du được lưu hành ngay từ lúc ông còn sống. Tương truyền Truyện Kiều được Phạm Quý Thích nhuận sắc và cho in ở phố Hàng Gai - Hà Nội lúc ấy. Sau khi Nguyễn Du mất chỉ vài chục năm, vua Tự Đức từng có sớ cho quan tỉnh Nghệ An thu thập tất cả di cảo của Nguyễn Du để đưa về kinh. Từ đó đến nay, việc sưu tập, nghiên cứu phổ biến di sản văn học của Nguyễn Du vẫn còn tiếp tục. Còn có những ý kiến hồ nghi tác giả một số bài thơ chữ Hán vẫn được coi là của Nguyễn Du. Việc xác định thời điểm ra đời của các tác phẩm chưa được giải quyết, kể cả thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều. Mặc dù đã mất nhiều công sức, nhưng các ý kiến trong giới nghiên cứu vẫn còn rất khác nhau.
=== Tác phẩm bằng chữ Hán ===
Những tác phẩm bằng chữ Hán của Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm 1959 mới được ba nhà nho là: Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm, phiên dịch, chú thích và giới thiệu tập: Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Nhà xuất bản Văn hóa, 1959) chỉ gồm có 102 bài. Đến năm 1965 Nhà xuất bản Văn học đã ra Thơ chữ Hán Nguyễn Du tập mới do Lê Thước và Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp, gồm 249 bài như sau:
Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.
Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh.
Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.
=== Tác phẩm bằng chữ Nôm ===
Những tác phẩm bằng chữ Nôm của Nguyễn Du gồm có:
Đoạn trường tân thanh (Tiếng than van mới đau lòng đứt ruột. Tên phổ biến là Truyện Kiều), được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc. Về thời điểm sáng tác, Từ điển văn học (bộ mới) ghi: "Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc (1814-1820), có thuyết cho nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809). Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn" .
Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại chúng sinh), viết bằng thể thơ song thất lục bát hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên "Đông Dương tuần báo" năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812). Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm.
Thác lời trai phường nón, 48 câu, được viết bằng thể lục bát. Nội dung là thay lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải.
-Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du viết về một cô gái Trung Quốc có tài và có sắc,16 tuổi cô làm vợ lẽ ở một nhà quyền qúy.vì vợ cả hay ghen,không được̣ bao lâu cô bệnh mà chết... Có người nói đây là thơ của nàng Tiểu Thanh.Có thể Nguyễn Du đã đọc Tiểu Thanh truyện.Được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật.
Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ, 98 câu, viết theo lối văn tế, để bày tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác.
== Đánh giá ==
=== Trước năm 1930 ===
Trong quãng thời gian hơn một trăm năm này, người bình luận các tác phẩm của Nguyễn Du là các nhà nho. Ở thế kỷ XIX, các nhà nho thường qua những bài thơ vịnh, những bài tựa mà bộc lộ cách nhìn, chính kiến của mình với tác phẩm. Sang thế kỷ XX, các nhà nho lại phát biểu bằng những bài văn chính luận. Nhưng bình luận ở giai đoạn nào họ cũng đều chia làm hai dòng khen và chê. Tuy nhiên, dù khen hay chê thì tất cả họ đều đánh giá cao nghệ thuật văn chương của Nguyễn Du. Nhưng văn chương được nhìn như có sự tách rời của hình thức với nội dung.
=== Từ 1930 đến 1945 ===
Nghiên cứu phê bình văn học thời gian này đã thành một bộ môn riêng biệt, mang ý nghĩa hiện đại. Các tác phẩm của Nguyễn Du trong giới nghiên cứu, phê bình thấy rõ ba khuynh hướng sau:
Khuynh hướng phê bình ấn tượng chủ quan với các ông Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư
Khuynh Hướng giáo khoa qua những công trình của các ông Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm
Cách tiếp cận kiểu khoa học của ông Nguyễn Bách Khoa
=== Từ 1945 đến 1975 ===
Trong giai đoạn chia đôi đất nước này, tại miền Bắc, việc nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Du trong quan hệ với hiện thực đời sống xã hội theo quan điểm mỹ học mácxít. Tác phẩm văn học được nhìn nhận như là sự phản ánh đời sống xã hội và bộc lộ thái độ của nhà văn đối với hiện thực đó. Hai công trình theo hướng này xuất hiện sớm và đáng chú ý hơn cả là cuốn: Quyền sống của con người trong "Truyện Kiều" của Hoài Thanh (1949) và bài báo Đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung "Truyện Kiều" của Đặng Thai Mai (1955). Vấn đề tinh thần nhân đạo và tính hiện thực của "Truyện Kiều" được hai tác giả chú ý đặc biệt và coi là giá trị cơ bản của tác phẩm.
Ở miền Nam, thời kỳ 1954 - 1975 cũng có nhiều người để tâm phê bình nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Du. Dịp kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du trên các tập san Văn (số 43, 44) và Bách khoa thời đại (số 209) nhiều bài phê bình được công bố. Trước đó, năm 1960 có cuốn Chân dung Nguyễn Du tập hợp một loạt bài viết về Nguyễn Du của nhiều tác giả. Trước sau năm 1970 cũng thấy một số công trình khá công phu của Phạm Thế Ngũ, Đặng Tiến, Nguyễn Đăng Thục...
=== Từ 1980 đến nay ===
Trong giai đoạn này, cac tác phẩm của Nguyễn Du được tiếp cận bởi nhiều phương pháp mới: phong cách học, thi pháp học, ký hiệu học... Đã xuất hiện một số công trình đáng chú ý của Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu...
Nhìn chung các tác giả đều cố gắng khách quan hóa việc phân tích tác phẩm, muốn làm cho các kết kuận của mình là hiển nhiên, "không còn tranh cãi". Tuy vậy mọi việc không đơn giản, các ý kiến vẫn cứ rất xa nhau, điều đó có nghĩa là những cuộc tranh luận sẽ vẫn tiếp diễn và như vậy nghiên cứu, phê bình về các tác phẩm của Nguyễn Du sẽ tiếp tục tiến triển.
Sáng tác của Nguyễn Du không thật đồ sộ về khối lượng, nhưng có vị trí đặc biệt quan trọng trong di sản văn học và văn hóa dân tộc. Hơn nữa nó lại rất năng sản. Từ Truyện Kiều đã nảy sinh biết bao những hình thức sáng tạo văn học và văn hóa khác nhau: thơ ca về Kiều, các phóng tác Truyện Kiều bằng văn học, sân khấu, điện ảnh; rồi rất nhiều những dạng thức của nghệ thuật dân gian: đố Kiều, giảng Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều... Đặc biệt là số lượng rất lớn những bài bình luận, những công trình phê bình, nghiên cứu.
=== Thơ văn viết về Nguyễn Du (trích) ===
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên)
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
(Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu)
Đời nay đẹp gấp trăm lần thuở trước
Giở trang Kiều còn rung động ý thơ
Thơ Người mãi sống cùng đất nước
Dù mai sau dù có bao giờ
(Thăm mộ cụ Nguyễn Du - Hoàng Trung Thông)
=== Trong mắt người nước ngoài ===
Nguyễn Du là một nhà thơ văn lớn của thế giới lúc bấy giờ.Trong mắt những người nước ngoài, họ coi ông là một vị thánh của nền thơ ca Việt Nam. Họ quý trọng ông vì ông đã góp công vào nền thơ ca thế giới. Ông là một nhân vật kiệt xuất của thơ ca việt nam
== Tưởng niệm ==
Ngày 17/11/2015, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức họp báo giới thiệu về các hoạt động kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông. Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 250 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du (1765-2015) diễn ra ngày 05/12/2015 tại thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. với chương trình nghệ thuật “Tiếng thơ ai động đất trời” do Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chỉ đạo và Nhà hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam thực hiện với sự tham gia của gần 650 nghệ sĩ
Lễ kỷ niệm có các chuỗi hoạt động chính: Tổ chức các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế; xuất bản Truyện Kiều, các tác phẩm của Nguyễn Du ra nhiều thứ tiếng khác nhau; xây dựng phim tư liệu, các tác phẩm âm nhạc, hội họa… về thời đại, cuộc đời, sự nghiệp, tác phẩm của Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, thi ngâm Kiều, lẩy Kiều, bình Kiều, diễn trò Kiều, nói chuyện về tác phẩm của Nguyễn Du; tổ chức các hoạt động hưởng ứng kỷ niệm tại Thủ đô Hà Nội là nơi sinh và tại tỉnh Bắc Ninh (quê mẹ của ông); tuần Văn hóa, Du lịch Nguyễn Du, bắt đầu từ ngày 28/11 đến 05/12/2015 tại Hà Tĩnh.
Bên cạnh đó, từ 17/11 đến 25/11/2015 tại Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra Tuần triển lãm về Nguyễn Du do Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam tổ chức. Triển lãm quy tụ tương đối đầy đủ các ấn bản bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán, chữ Nôm những sáng tác của Nguyễn Du cũng như các công trình nghiên cứu, biên khảo, chú thích về Nguyễn Du của nhiều lớp học giả. Điểm nhấn của triển lãm là những bản Nôm gốc như bản in Kim Vân Kiều tân tập (năm Bính Ngọ, niên hiệu Thành Thái - 1906), bản chép tay Kim Vân Kiều thích chú (Kỷ Mão 1879). Ngoài ra, còn có 20 bức thư pháp của các thành viên Chi hội Thư pháp (Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh) cũng sẽ được trưng bày với nội dung là những trích đoạn các sáng tác của Nguyễn Du (Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh…).
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
Ngữ văn 10 (Tập 2). Nhà xuất bản Giáo dục, tháng 5 năm 2008.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du (phần giới thiệu của Trương Chính). Nhà xuất bản Văn học, 1978
Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển 2). Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1963.
Thạch Trung Giả, Văn học phân tích toàn thư. Nhà xuất bản Lá Bối, 1973.
Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (quyển Thượng). Nhà xuất bản Trình Bày, Sài Gòn, 1967.
== Liên kết ngoài ==
Trịnh Văn Định, Những cách thế lựa chọn của kẻ sĩ tinh hoa trong lịch sử, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 29, số 2 (2013), trang 10-18 |
gìn giữ hòa bình liên hiệp quốc.txt | Gìn giữ hòa bình được Liên Hiệp Quốc xác định là "một cách giúp đỡ những nước bị tàn phá do xung đột để tạo ra các điều kiện cho hoà bình". Những quân nhân gìn giữ hòa bình theo dõi và giám sát tiến trình hòa bình trong những vùng hậu xung đột và giúp đỡ những cựu chiến sĩ trong việc thực hiện những thỏa thuận hoà bình mà họ đã ký. Các sự trợ như vậy có nhiều dạng, gồm phương pháp xây dựng lòng tin, thỏa thuận về việc chia sẻ quyền lực, hỗ trợ bầu cử, củng cố luật pháp, và việc phát triển kinh tế - xã hội. Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp quốc có thể bao gồm những người lính, những cảnh sát dân sự và các dân thường khác.
Hiến chương Liên Hiệp Quốc cho phép Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc có quyền lực và trách nhiệm, có thể dùng các hoạt động của tập thể để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.Do vậy, cộng đồng quốc tế thường xem Hội đồng Bảo an có quyền trong hoạt động gìn giữ hòa bình và toàn bộ các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp quốc phải được cho phép bởi Hội đồng Bảo an
Hầu hết các hoạt động này được thiết lập và thực thi do chính Liên Hiệp Quốc bởi những lính phục vụ dưới mệnh lệnh chỉ huy của Liên Hiệp Quốc. Trong các trường hợp này, những lính gìn giữ hòa bình vẫn thuộc về các đơn vị quân đội riêng của họ, không tạo thành một "quân đội của Liên Hiệp quốc" độc lập, do vậy Liên Hiệp Quốc không có lực lượng riêng.
Liên Hiệp quốc không phải là tổ chức duy nhất có quyền và nhiệm vụ gìn giữ hòa bình, một vài tổ chức hợp pháp cũng có quyền làm nhiệm vụ gìn giữ hòa binh. Những lực lượng gìn giữ hòa bình không phải của Liên Hiệp Quốc bao gồm Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Kosovo và Lực lượng Quan sát Đa quốc gia thực hiện nhiệm vụ trên Bán đảo Sinai.
== Bản chất của gìn giữ hòa bình ==
Gìn giữ hoà bình là những hoạt động đóng góp cho tương lai quá trình giải quyết và thiết lập nền hòa bình. Hoạt động này bao gồm (nhưng không bị hạn chế) việc theo dõi sự rút quân của những lực lượng tham chiến ở các vùng xung đột trước đây, việc giám sát bầu cử, hỗ trợ tái thiết. Lực lượng gìn giữ hòa bình thông thường là những quân nhân trong quân đội nhưng đôi khi có cả các lực lượng khác. Do vậy khi những lính gìn giữ hòa bình có trang bị vũ khí thì cũng không có nghĩa họ buộc phải chiến đấu.
Lực lượng gìn giữ hòa bình không phải là lực lượng được mong đợi sẽ tham gia chiến đấu. Thông thường, họ được triển khai khi lệnh ngừng bắn đã được thiết lập và các bên tham chiến đã đồng ý cho họ thực hiện sứ mệnh gìn giữ hòa bình.
== Tiến trình và cấu trúc ==
=== Sự thành lập ===
Khi một hiệp ước hòa bình đã được đàm phán, các bên tham gia có thể yêu cầu Liên Hiệp Quốc đưa một lực lượng gìn giữ hòa bình để giám sát các phần tử đã đồng ý với kế hoạch hòa bình. Việc này được thực hiện bởi một nhóm hoạt động dưới sự điều khiển của Liên Hiệp Quốc, gần như không đi theo lợi ích của bất kỳ bên nào, bản thân nó bị kiểm soát bởi nhiều nhóm, cụ thể là Hội đồng Bảo an gồm mười lăm thành viên và Văn phòng Tổng thư ký.
Nếu Hội đồng Bảo an phê duyệt nhiệm vụ thì Ban Hoạt động Gìn giữ hoà bình bắt đầu lập kế hoạch cho những nhân tố cần thiết. Theo đó, nhóm lãnh đạo cấp cao sẽ được chọn. Ban Hoạt động Gìn giữ hòa bình sẽ tìm kiếm những đóng góp từ các nước thành viên. Vì Liên Hiệp Quốc không có lực lượng gìn giữ hòa bình riêng nên nó phải thành lập các liên minh đặc biệt theo mỗi nhiệm vụ. Việc đó dẫn đến hai khả năng: bị thất bại phải thành lập lại lực lượng cho phù hợp hoặc làm giảm hiệu quả khi hoạt động trên thực địa.
Khi lực lượng gìn giữ hòa bình đang được tập hợp, thì các hoạt động ngoại giao khác nhau đang được thực hiện bởi Ban tham mưu của Liên Hiệp Quốc. Quy mô và quân số của lực lượng phải được sự đồng ý của chính phủ các quốc gia trong các vùng xung đột. Các luật lệ cam kết phải được triển khai và được sự chấp thuận của các bên và cả Hội đồng Bảo an. Các bên tham gia và Hội đồng bảo an đưa ra sự ủy nhiệm đặc biệt, mục đích cũng như phạm vi của nhiệm vụ của lực lượng gìn giữ hòa bình. (Ví dụ: Khi nào tham gia, có sử dụng vũ trang hay không, những nơi có thể sẽ có lực lượng của nước chủ nhà).
Khi tất cả các thỏa thuận đã đạt được, các lực lượng theo yêu cầu sẽ được tập hợp, và sau khi được sự phê chuẩn của Hội đồng Bảo an, lực lượng gìn giữ hòa bình sẽ được triển khai tới các vùng.
=== Chi phí ===
Chi phí cho gìn giữ hòa bình, đặc biệt từ sau chiến tranh lạnh, đã tăng lên đột ngột. Trong những năm 1993, chi phí cho gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc hàng năm đã đạt tới mức 3,6 tỉ đô la, chủ yếu là chi phí cho các hoạt động gìn giữ hòa bình ở Nam Tư trước đây và Somalia. Khoảng những năm 1998, chi phí cho gìn giữ hòa bình đã giảm xuống chỉ còn dưới 1 tỷ đô la. Chi phí này đã tăng lên tới 3 tỷ đô la với việc phục hồi trở lại các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc vào những năm 2001. Ngân sách chi đã được phê chuẩn năm 2004 là 2,8 tỷ đô la. Vài năm gần đây, tổng chi phí cho hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc khoảng 5,3 tỷ đô la.
=== Kết cấu ===
== Sự tham gia ==
== Xem thêm ==
Lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế
== Chú thích == |
halieutaea.txt | Halieutaea là một chi cá trong họ Ogcocephalidae.
== Các loài ==
Có 9 loài được ghi nhận thuộc chi này như sau:
Halieutaea brevicauda J. D. Ogilby, 1910
Halieutaea coccinea Alcock, 1889
Halieutaea fitzsimonsi (Gilchrist & W. W. Thompson, 1916)
Halieutaea fumosa Alcock, 1894
Halieutaea hancocki Regan, 1908
Halieutaea indica Annandale & J. T. Jenkins, 1910
Halieutaea nigra Alcock, 1891
Halieutaea retifera C. H. Gilbert, 1905
Halieutaea stellata (Vahl, 1797)
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Halieutaea tại Wikispecies |
các dân tộc việt nam.txt | Các Dân tộc Việt Nam hay người Việt Nam là một danh từ chung để chỉ các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam.
Hiện nay Việt Nam có 54 dân tộc và 1 nhóm "người nước ngoài", nêu trong Danh mục các dân tộc Việt Nam, theo Quyết định số 421, ngày 2/3/1979 của Tổng cục Thống kê Việt Nam.
== Nguồn gốc tự nhiên ==
Theo các tài liệu phổ biến trong thế kỷ 20 thì quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn :
Vào thời kỳ đồ đá giữa khoảng 10-20 Ka BP (Kilo annum before present, ngàn năm trước), có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở tiểu lục địa Ấn Độ di cư về phía đông, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai (tiếng Pháp: Indonésien).
Cuối thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đồ đồng khoảng 5 Ka BP. Tại khu vực mà ngày nay là miền bắc Việt Nam, miền nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống), có sự chuyển biến do chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống, sự chuyển biến này hình thành một chủng mới là chủng Nam Á (tiếng Pháp: austro-asiatique).
Thời kỳ sau đó, chủng Nam Á được chia thành một loạt các dân tộc mà các cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khmer, Việt-Mường, Tày-Thái, H'Mông-Dao,... Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Trong khi đó, phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chăm.
== Các dân tộc Việt Nam hiện nay ==
=== Dân số ===
Theo số liệu tổng điều tra dân số, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.846.997 người, tăng 9,47 triệu người so với năm 1999. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm trước.
54 dân tộc sống trên đất Việt Nam chia theo ngôn ngữ thì có 8 nhóm . Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm 86,2% dân số. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: Tày, Thái (Chữ Thái Đen: ꪼꪕ), Mường, Khmer, Hoa, Nùng, H'Mông, người Dao, Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Sán Dìu, Ra Glai. Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên, miền trung và đồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ đu và Rơ Măm chỉ có trên 300 người.
Số liệu dân số theo Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009.
Số liệu 2014, 2016 để tham khảo, không có chi tiết cho các dân tộc.
Có thể nhận thấy mỗi một dân tộc có thể có một hoặc nhiều tên gọi. Trong số các tên gọi đó có thể trùng nhau:
Dân tộc Mán có thể là: Sán Chay, Dao, H’Mông, Pu Péo, Sán Dìu (Mán quần cộc, Mán váy xẻ)
Dân tộc Xá là tên gọi chung cho các dân tộc thiểu số tại Tây Bắc trừ người Thái và người Mường
Dân tộc Brila có thể là: Giẻ Triêng, Xơ Đăng.
Dân tộc Thổ có thể chỉ dân tộc Tày.
== Các dân tộc chưa được xác định rõ ==
Đây là những dân tộc được nhắc đến trong hoạt động xã hội, nhưng lại không được nêu trong danh sách 54 dân tộc tại Việt Nam.
=== Người Pa Kô ===
Người Pa Kô là tên một cộng đồng thiểu số có vùng cư trú truyền thống là Trung Việt Nam và Nam Lào. Theo nghĩa trong tiếng Tà Ôi thì "Pa" là phía, "Kô" là núi, tức là người bên núi . Tại Việt Nam người Pa Kô chủ yếu sống ở các huyện Hướng Hóa, Đakrông tỉnh Quảng Trị, và A Lưới tỉnh Thừa Thiên - Huế . Tuy nhiên cộng đồng Pa Kô chưa được coi là một dân tộc riêng mà đang được xếp vào dân tộc Tà Ôi trong Danh mục các dân tộc Việt Nam. Theo Ethnologue tiếng Pa Kô là một ngôn ngữ riêng biệt tuy cũng có quan hệ gần với người Tà Ôi, và tại Lào thì người Pa Kô và Tà Ôi là hai dân tộc riêng biệt .
=== Người Nguồn ===
Người Nguồn là tên gọi cộng đồng người gồm 35 ngàn nhân khẩu, sống ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam. Hiện vẫn còn chưa có sự thống nhất về việc người Nguồn có phải là một sắc tộc riêng hay không. Tại Hội thảo khoa học xác định dân tộc Nguồn tổ chức ngày 19/10/2004 tại Đồng Hới, Quảng Bình, có ý kiến đề nghị xếp người Nguồn vào dân tộc Mường, Thổ hoặc Chứt, và cũng có ý kiến tách người Nguồn thành một dân tộc thiểu số riêng.. Tiếng Nguồn hiện được Glottolog xếp là một ngôn ngữ riêng .
=== Người Arem ===
Người Arem là tộc người hiện có 42 hộ với 183 người, sống ở vùng vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Năm 1992 họ được bộ đội biên phòng phát hiện trong các hang đá và đưa về sống với cộng đồng, hiện ở xã Tân Trạch, Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình . Họ nói tiếng Arem nhưng cũng nói được tiếng của những tộc láng giềng: gặp người Khùa họ nói tiếng Khùa, gặp người Ma Coong họ dùng tiếng Ma Coong để giao tiếp .
=== Người Tà Mun ===
Người Tà Mun là cộng đồng cỡ 3.000 người, với gần 2.000 người sống ở Tây Ninh và trên 1.000 người ở Bình Phước. Sở VH-TT-DL tỉnh Tây Ninh đã chủ trì một đề tài khoa học là "Nghiên cứu, xác định thành phần dân tộc của người Tà Mun tại Tây Ninh", trong đó đã xác định là khoảng những năm 1945 - 1954 nhóm người Tà Mun trú ngụ ở sóc 5, xã Tân Hiệp, huyện Bình Long (nay là huyện Hớn Quản, Bình Phước) đã di cư đến Tây Ninh. Người Tà Mun theo chế độ mẫu hệ. Theo người già thuật lại thì giấy chứng nhận sắc tộc trước kia hiện còn giữ lại, đã công nhận "sắc dân Tà Mun" là "đồng bào Thượng miền Nam". Sau năm 1975, trong CMND của người Tà Mun vẫn được ghi là dân tộc Tà Mun. Đến khi lập danh mục thành phần dân tộc VN thì người Tà Mun không còn vị thế riêng mà xếp vào nhóm dân tộc "được coi là có quan hệ gần gũi về văn hóa, ngôn ngữ trên địa bàn là người Xtiêng và Khmer". Tuy nhiên bà con người Tà Mun luôn khẳng định mình là người Tà Mun và không liên quan gì tới người Xtiêng, Khmer, hay Chơ Ro .
== Phân bố lãnh thổ ==
Người Kinh là dân tộc đa số, sinh sống trên khắp các vùng lãnh thổ nhưng chủ yếu ở vùng đồng bằng, các hải đảo và tại các khu đô thị
Hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số (trừ người Hoa, người Khmer, người Chăm) sinh sống tại các vùng trung du và miền núi. Trong đó các dân tộc thuộc nhóm Hàn-Tạng (trừ người Hoa), Tai-Kadai và Hmong-Dao phân bố chủ yếu ở Miền Bắc. Nhóm Nam Đảo chỉ sinh sống ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Riêng nhóm Nam Á phân bố trải dài trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Các nhóm dân tộc nói các ngôn ngữ thuộc các ngữ chi phía Bắc của ngữ hệ Nam Á,gồm ngữ chi Khơ Mú (Khơ Mú, Ơ Đu, Xinh Mun), ngữ chi Palaung (Kháng), và ngữ chi Mảng (Mảng), sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Tây Bắc (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái) và vùng cực Tây Nghệ An. Trong đó nhóm Khơ Mú luôn sinh sống về phía Tây của nhóm Việt-Mường, trong khi 2 nhóm còn lại thì sinh sống ở phía Bắc nhóm Việt-Mường. Cả ba nhóm đều sống xen kẻ với các nhóm người Thái, Hmong, Dao...và nhiều sắc tộc khác
Các dân tộc nói ngôn ngữ thuộc ngữ chi Việt-Mường của ngữ hệ Nam Á như Mường, Thổ và Chứt sống tại vùng trung du và miền núi các tỉnh từ Phú Thọ đến Bắc Quảng Bình. Trong đó người Mường chủ yếu trên các vùng đồi núi phía Tây đồng bằng sông Hồng và sông Mã, tập trung đông nhất ở Hòa Bình và Thanh Hóa. người Thổ sinh sống chủ yếu ở phía Nam Thanh Hóa miền Tây Nghệ An và người Chứt cư trú chủ yếu tại khu vực phía Bắc Quảng Bình và 1 vài xã phía Tây Nam Hà Tĩnh
Các dân tộc nói các ngôn ngữ thuộc ngữ chi Katu của ngữ hệ Nam Á như Bru-Vân Kiều, Cơ Tu, Tà Ôi sinh sống tại vùng miền núi các tỉnh Trung Trung Bộ từ Quảng Bình cho tới Quảng Nam, nằm về phía Nam địa bàn cư trú của nhóm Việt-Mường.
Còn các dân tộc nói các ngôn ngữ thuộc ngữ chi Bahnar của ngữ hệ Nam Á thì sinh sống tại Tây Nguyên và vùng miền núi, trung du các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, về phía Nam của nhóm Katu. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thuộc nhóm này đôi khi xen kẻ với các dân tộc thuộc nhóm Nam Đảo.
nhánh cực Nam của ngữ hệ Nam Á tại Việt Nam là người Khmer sinh sống ở Nam Bộ, nằm về phía Tây Nam của nhóm Bahnar.
Các nhóm nói ngôn ngữ Nam Đảo sinh sống tập trung tại các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, riêng 1 bộ phận người Chăm Islam sinh sống tại Nam Bộ. Các dân tộc Nam Đảo được cho là đã di cư đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên. Trong các dân tộc này, người Chăm sinh sống ở đồng bằng ven biển miền Trung, các dân tộc khác sống rải rác dọc theo dãy Trường Sơn.
Người Thái định cư ở bờ phải sông Hồng (Sơn La, Lai Châu, Điện Biên). Người Tày sống ở bờ trái sông Hồng (Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên), người Nùng sống ở Lạng Sơn, Cao Bằng.
Các nhóm dân tộc thiểu số khác không có các lãnh thổ riêng biệt; nhiều nhóm sống hòa trộn với nhau. Một số nhóm dân tộc này đã di cư tới miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam trong các thời gian khác nhau: người Thái đến Việt Nam trong khoảng từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 13; người Hà Nhì, Lô Lô đến vào thế kỉ 10; người Dao vào thế kỷ 11; các dân tộc H'Mông, Cao Lan, Sán Chỉ, và Giáy di cư đến Việt Nam từ khoảng 300 năm trước.
Hiện nay do hệ quả của các làn sóng di cư mới, nhiều người Kinh đã lên sinh sống tại các tỉnh miền núi, trong đó các tỉnh Tây Nguyên đã có đa số dân cư là người Kinh. Nhiều dân tộc thiểu số sinh sống tại các tỉnh phía Bắc cũng di cư với số lượng lớn vào các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ
== Chế độ gia đình ==
Ngoài ngôn ngữ và văn hóa, các dân tộc ở Việt Nam còn được phân loại dựa trên mô hình gia đình. Có 3 nhóm chế độ gia đình chính ở Việt Nam là
Phụ hệ: Con lấy theo họ bố và được xem là thuộc về gia đình bên phía bố. Vợ chồng sau khi cưới thì về sống bên nhà chồng và người vợ trở thành 1 thành viên của gia đình chồng. Người đàn ông là chủ của gia đình và có toàn quyền quyết định trong các vấn đề quan trọng. Tài sản thừa kế được để lại cho các con trai và con trai trưởng được ưu tiên.
Mẫu hệ: Con lấy theo họ mẹ và được xem là thuộc về gia đình bên phía mẹ. Vợ chồng sau khi cưới thì về sống bên nhà vợ và người chồng trở thành 1 thành viên của gia đình vợ. Người phụ nữ là chủ của gia đình, nhưng quyền quyết định các vấn đề quan trọng có thể vẫn phụ thuộc vào người chồng hoặc các họ hàng nam giới bên dòng họ mẹ. Tài sản thừa kế được để lại cho các con gái và con gái út được ưu tiên.
Không phân biệt tử hệ (đôi khi được hiểu là Song hệ nhưng quy định về các thuật ngữ trên trong tiếng Việt vẫn chưa được thống nhất): Không có họ hoặc có cách tính họ khác với 2 cách trên, con cái được xem là thuộc về cả dòng bên mẹ lẫn bên bố. Vợ chồng tự quyết định sống bên phía vợ hoặc phía chồng hoặc sống riêng tùy theo tính thuận tiện và điều kiện kinh tế. Quyền quyết định các vấn đề của gia đình phụ thuộc vào cả vợ lẫn chồng. Tài sản thừa kế được dành cho cả con trai lẫn con gái hoặc có các quy tắc thừa kế riêng
Trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam:
Các dân tộc thuộc các nhóm Hán-Tạng, Tày-Thái, Kadai và Hmông-Dao đều theo chế độ Phụ hệ.
Ngoại trừ cộng đồng Chăm Islam ở Nam Bộ theo chế độ phụ hệ do chịu ảnh hưởng bởi Hồi giáo chính thống, các dân tộc thuộc nhóm Nam Đảo (gốm cả các nhóm Chăm theo Bà La Môn và Bàni) đều theo chế độ Mẫu hệ
Riêng nhóm Nam Á có sự khác biệt lớn giữa các ngữ chi.
Các nhóm thuộc các ngữ chi ở phía Bắc như Kháng, Mảng, Khmuic (Khơ Mú, Ơ Đu, Xinh Mun), Việt-Mường và Katuic (Bru-Vân Kiều, Cơ Tu, Tà Ôi) có truyền thống theo chế độ Phụ hệ khá lâu đời. Một vài dân tộc thuộc ngữ chi Bahnar nhưng sinh sống ở Đông Nam Bộ như Mạ, Xtiêng cũng đã chuyển sang Phụ hệ
Các nhóm thuộc ngữ chi Bahnar ở Nam Tây Nguyên như Mnông, K'ho theo chế độ Mẫu hệ như các nhóm Nam Đảo láng giềng
Người Khmer, Chơ ro và các dân tộc thuộc ngữ chi Bahnar ở Bắc Tây Nguyên có truyền thống theo chế độ Không phân biệt tử hệ.
Hiện nay nhiều nét của chế độ Không phân biệt tử hệ cũng dần phổ biến ở người Kinh và một số dân tộc thiểu số khác do hệ quả của các phong trào tuyên truyền và vận động đòi quyền Bình đẳng giới. Các quy định của pháp luật về thừa kế cũng được biên soạn trên cơ sở không phân biệt giới tính giữa các con.
== Biến động ==
Do quá trình di cư và đồng hóa diễn ra liên tục trong lịch sử, hầu hết các dân tộc Việt Nam đều không thuần chủng. Trong một công trình nghiên cứu kết quả phân tích ADN trên nhiễm sắc thể Y của nam giới thuộc 2 nhóm dân tộc Kinh Việt Nam và Chăm cho thấy .
Khoảng 40% nam giới Kinh và Chăm thuộc về nhóm O2a-M95, là nhóm Haplogroup đặc trưng cho ngữ hệ Nam Á, trong đó dòng con O2a1-OM88 chiếm tỷ lệ cao (30%) ở người Kinh nhưng chỉ chiếm 8.5% ở nhóm Chăm.
6.58% nam giới Kinh và 5.08% nam giới Chăm thuộc về nhóm haplogroup O1a-M119, là nhóm đặc trưng của ngữ hệ Nam Đảo và Tai-Kradai, tuy rằng tiếng Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Điều này chỉ ra rằng ban đầu đa số tổ tiên người Chăm sử dụng các ngôn ngữ Nam Á sau đó mới chuyển dần sang sử dụng tiếng Chăm Nam Đảo do quá trình đồng hóa nhân chủng và ngôn ngữ.
Happlogroup O3-M134 của ngữ hệ Hán-Tạng chiếm 9.2% nam giới Kinh nhưng chỉ chiếm 1.7% nam giới Chăm.
Do mối quan hệ thương mại lâu đời giữa Ấn Độ và Chămpa và hệ quả của thời Pháp thuộc, 13.6% nam giới Chăm và 1% nam giới Kinh mang haplogroup R-M17 của ngữ hệ Ấn-Âu.
Các haplogroup thuộc các nhóm bên ngoài Nam Á, Hán-Tạng, Nam Đảo, Tai-Kadai như
O3-M17 - đặc trưng cho ngữ hệ Hmong-Mien nhưng cũng có tỉ lệ cao trong nhánh Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á.
O3-M200* - vốn chiếm tỷ lệ cao trong các nhóm thổ dân Negrito ở Phillipines.
C-M126 - được tìm thấy với tỷ lệ cao ở người Mông Cổ, thổ dân châu Mỹ và châu Úc nhưng cũng được tìm thấy với tỉ lệ đáng kể ở khu vực Đông Nam Á.
K-P131* - tìm thấy với tỷ lệ lớn với mức đa dạng cao ở thổ dân Úc.
N-231 - chiếm tỷ lệ cao ở nhóm ngôn ngữ Uralic cũng được tìm thấy với tỷ lệ đáng kể trong các mẫu nhiễm sắc thể Y của nam giới Kinh và Chăm cho thấy bức tranh di truyền vô đa dạng của lịch sử di cư và hình thành các dân tộc tại Việt Nam.
== Xem thêm ==
Danh mục các dân tộc Việt Nam
Danh sách các dân tộc Việt Nam theo số dân
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
Nguyễn Đình Khoa, Nhân chủng học Đông Nam Á, Nhà xuất bản ĐH và THCN, 1983
Phạm Đức Dương, Văn hóa học đại cương và cơ sở VHVN, Nhà xuất bản KHXH 1996
Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc VHVN, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh 2001
Hà văn Thùy "Lời cáo chung cho thuyết Aurousseau về nguồn gốc người Việt" [1]
Công bố kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009 [2]
== Liên kết ngoài ==
Các dân tộc Việt Nam trên bách khoa toàn thư văn hóa Việt Nam
Các dân tộc Việt Nam trên trang mạng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Các dân tộc Việt Nam trên trang mạng của Ủy ban Dân tộc Việt Nam
Đường di chuyển của người tiền sử theo Map of early human migration patterns
Các dân tộc thiểu số, tài liệu của UNDP
Đường di chuyển của người tiền sử theo Stephen Oppenheimer
Bản đồ phân bố dân tộc ở Việt Nam
Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam |
liên minh châu phi.txt | Liên minh châu Phi (viết tắt bằng tiếng Anh: AU) là một tổ chức liên chính phủ bao gồm 53 quốc gia châu Phi, có trụ sở tại Addis Ababa, Ethiopia. Tổ chức này dược thành lập tháng 9, năm 2002 là được xem là tổ chức kế thừa Tổ chức Liên đoàn châu Phi (OAU).
== Lịch sử ==
Sự thành lập của liên minh châu Phi bắt nguồn từ liên minh các quốc gia châu Phi (Union of African States), một liên bang ban đầu do Kwame Nkrumah thành lập thập niên 1960, cũng như một loạt các cố gắng để đoàn kết châu Phi, bao gồm Tổ chức châu Phi Thống nhất (OAU), được thành lập ngày 25 tháng 5 năm 1963, và Cộng đồng Kinh tế châu Phi năm 1981. Các nhà phê bình cho rằng OAU đã làm ít công việc để bảo vệ quyền và tự do của công dân châu Phi từ các lãnh đạo chính trị của họ, thường nó được mang tiếng là "Câu lạc bộ của những nhà độc tài.
Ý tưởng thành lập AU đã được hồi sinh vào giữa thập niên 1990 bởi nhà lãnh đạo Libya Muammar al-Gaddafi: người đứng đầu của OAU đã phê chuẩn Tuyên bố Sirte (đặt tên theo Sirte, ở Libya) vào ngày 9 tháng 9 năm 1999, nhằm kêu gọi thành lập Liên minh châu Phi. Sau tuyên bố trên là hội nghị thượng đỉnh ở Lomé năm 2000, khi đó Luận về Liên minh châu Phi được thông qua, và tại Lusaka năm 2001, khi kế hoạch thực hiện của Liên minh châu Phi được thông qua. Cùng thời gian này, sáng kiến cho việc thành lập Đối tác mới vì sự phát triển của châu Phi (NEPAD) cũng được thành lập.
Liên minh châu Phi chính thức thành lập ở Durban vào ngày 9 tháng 7 năm 2002, bởi chủ tịch đầu tiên là người Nam Phi Thabo Mbeki, tại kỳ họp đầu tiên của Hội đồng liên minh châu Phi. Kỳ họp thứ hai của Hội đồng này được diễn ra tại Maputo năm 2003, và thứ 3 ở Addis Ababa ngày 6 tháng 7 năm 2004.
== Kinh tế ==
Mục đích của AU là thiết lập một khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, ngân hàng trung ương, và đồng tiền chung, từ đó thiết lập liên minh kinh tế và tiền tệ. Kế hoạch hiện tại là thiết lập Cộng đồng kinh tế châu Phi với đồng tiền chung vào năm 2023.
== Ngôn ngữ ==
Ngôn ngữ làm việc của Liên minh châu Phi là tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Bồ Đào Nha, và các ngôn ngữ châu Phi "nếu có thể". Một nghị định thư sửa đổi Bộ Luật của tổ chức được thông qua năm 2003 nhưng đến năm 2007 vẫn chưa có hiệu lực, theo đó thêm tiếng Tây Ban Nha, tiếng Swahili và "bất kỳ ngôn ngữ châu Phi khác" và có 6 ngôn ngữ chính thức của Liên minh châu Phi. Trong thực tế, việc biên dịch tài liệu của AU sang 4 ngôn ngữ làm việc khác gây ra sự chậm trễ đáng kể và khó khăn trong việc xúc tiến thương mại.
Được thành lập năm 2001 dưới sự bảo trợ của AU, học viên ngôn ngữ châu Phi đã thúc đẩy việc sử dụng và sự ghi nhớ của ngôn ngữ châu Phi trong số những người châu Phi. AU tuyên bố năm 2006 là năm ngôn ngữ châu Phi.
== Thành viên ==
=== Hiện tại ===
Tất cả các quốc gia độc lập ở châu Phi và các vực nước châu Phi, cũng như vùng Tây Sahara, là thành viên hoặc từng là thành viên của AU hoặc OAU. Morocco đơn phương rút khỏi khối này; một quốc gia hiện đang chờ gia nhập. Các quốc gia thành viên của AU gồm:
=== Tạm ngưng liên kết ===
Guinea – ngừng tham gia sau cuộc đảo chính năm 2008
Madagascar – ngưng tham gia từ sau cuộc khủng hoảng chính trị Malagasy 2009.
Eritrea – tự ngưng tham gia sau khi Liên minh châu Phi kêu gọi Hội đồng bảo an Liên hợp quốc thực hiện các biện pháp trừng phạt vì hậu thuẫn cho người Somali đạo Hồi.
=== Cựu thành viên ===
Maroc
Quốc gia duy nhất tại châu Phi không phải thành viên Liên minh châu Phi là Maroc, nước này đã rút tên khỏi tổ chức tiền Liên minh châu Phi (Tổ chức Thống nhất châu Phi - OAU) vào năm 1984, trong lúc các quốc gia khác ủng hộ Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Sahrawi của Mặt trận Dân tộc Poliscario Sahrawi. Zaire, nước đồng minh của Maroc, cũng phản đối việc OAU thu nạp Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Sahrawi, và chế độ Mobutu cũng ra sức tẩy chay tổ chính trên từ năm 1984 đến 1986. Từ đó, dần dần một vài quốc gia ngưng ủng hộ Cộng hòa Sahrawi.
== Chú thích ==
== Tài liệu ==
Strengthening Popular Participation in the African Union: A Guide to AU Structures and Processes, AfriMAP and Oxfam GB, 2010
Towards a People Driven African Union: Current Challenges and New Opportunities AfriMAP, AFRODAD and Oxfam GB, January 2007
The New African Initiative and the African Union: A Preliminary Assessment and Documentation by Henning Melber, Publisher: Nordiska Afrikainstitutet, Sweden; ISBN 91-7106-486-9; (October 2002)
"The African Union, NEPAD and Human Rights: The Missing Agenda" Human Rights Quarterly Vol.26, No.4, November 2004.
Bibliography on the AU at the Peace Palace Library
== Liên kết ngoài ==
African Union Trang web chính thức |
nhiệt nóng chảy.txt | Nhiệt lượng nóng chảy hay nhiệt nóng chảy của một chất được định nghĩa là nhiệt lượng cần thiết để cung cấp cho một đơn vị đo về lượng chất đó (như đơn vị đo khối lượng hay số phân tử như mol) để nó chuyển từ trạng thái rắn sang trạng thái lỏng, tại nhiệt độ nóng chảy.
Nhiệt lượng nóng chảy cũng đúng bằng nhiệt lượng tỏa ra bởi một đơn vị đo lượng vật chất khi nó chuyển từ trạng thái lỏng sang rắn, tại nhiệt độ đóng băng.
Trong hệ thống đo lường quốc tế, đơn vị đo của nhiệt lượng nóng chảy là Joule trên kilôgam, J·kg−1 hay J/kg, hoặc Joule trên mol.
== Xem thêm ==
Nhiệt bay hơi
Nhiệt dung riêng
Nhiệt độ nóng chảy
== Tham khảo == |
tiếng maithil.txt | Tiếng Maithil (मैथिली, মৈথিলী, Maithilī) là một ngôn ngữ ở miền đông Ấn Độ, chủ yếu là các bang Bihar, Jharkhand và nhiều nơi ở bang Tây Bengal, trung tâm văn hóa và ngôn ngữ là các thành phố Madhubai và Darbhanga. Tiếng Maithil cũng được sử dụng ở vùng Terai ở Nepal, chủ yếu ở phía đông của Vùng Narayani . Cái tên Maithii xuất phát từ "Mithila", một vương quốc cổ xưa. Maithil cũng là một trong các tên của Sita, vợ của vua Rama và là con gái của vua Janaka.
Tiếng Maithil thuộc ngữ chi Ấn-Arya, Ngữ hệ Ấn-Âu. Các nhà ngôn ngữ học coi tiếng Maithil là một ngôn ngữ Đông Ấn, theo đó ngôn ngữ này khác biệt so với tiếng Hindi, vốn là một ngôn ngữ Trung Ấn. Theo thống kê tại năm 2001 tại Ấn Độ có 12.179.122 người nói tiếng Maithil, nhưng một số tổ chức khác nhau đã có ý kiến trái chiều và cho rằng con số thực những người nói tiếng Maithil cao hơn nhiều so với số liệu chính thức. Tổ chức SIL ước tính có hơn 35 triệu người. Năm 2003, tiếng Maithil trở thành một ngôn ngữ được thừa nhận trong Hiến pháp Ấn Độ, và có thể được sử dụng trong giáo dục, hành chính và trong các trường hợp chính thức khác.
Tiếng Maithil vốn viết bằng chữ Maithil (cũng được gọi là chữ Tirhuta hay Mithilakshar) và chữ Kaithi. Ngày nay, chữ Devanagari được sử dụng nhiều nhất. Một nỗ lực đang được thực hiện để bảo tồn chữ Maithil và phát triển ngôn ngữ này để có thể sử dụng trên các thiết bị truyền thông điện tử bằng việc mã hóa các chữ cái trong font Unicode.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Mithilaonline.com online maithili library
Know Details About Maithili Language
www.mithilaonline.net
Indian Poets Writing In Maithili
Ethnologue: Maithili
Maithili at the Rosetta Project
National Translation Mission's (NTM) Maithili Pages
The Linguist List: The Maithili Language
Samad e-paper in Maithili language
videha e-paper in Maithili language
Maithili Books
Youth Of Mithila |
1757.txt | Năm 1757 (số La Mã: MDCCLVII) là một năm thường bắt đầu vào thứ bảy trong lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Julius chậm hơn 11 ngày).
== Sự kiện ==
5 tháng 11: Nhà vua Friedrich II Đại Đế thân chinh thống lĩnh Quân đội Phổ đập tan tác liên quân Áo - Pháp trong trận Roßbach.
5 tháng 12: Một tháng sau chiến thắng tại Roßbach, nhà vua Friedrich II Đại Đế lại đại phá quân Áo trong trận Leuthen.
Vua Chân Lạp nhường cho chúa Nguyễn, chúa Nguyễn giao cho Nguyễn Cư Trinh vào và thành lập đạo Châu Đốc cùng với đạo Tân Châu và đạo Đông Khẩu (Sa Đéc).
== Sinh ==
== Mất ==
== Tham khảo == |
1873.txt | 1873 (số La Mã: MDCCCLXXIII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1873
== Sự kiện ==
== Sinh ==
== Mất ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
kinh tế hungary.txt | Kinh tế Hungary là kinh tế thị trường mở cửa nằm trong nhóm các nền kinh tế phát triển.
Kinh tế Hungary trải qua giai đoạn chuyển đổi từ hệ thống kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa sang kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ đầu thập niên 1990. Ngày 1 tháng 1 năm 1995, Hungary trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); năm 1996, Hungary trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đánh dấu sự hoàn tất quá trình chuyển đổi. Ngày 1 tháng 5 năm 2005, Hungary trở thành thành viên của Liên minh châu Âu nhưng đến này nước này vẫn chưa trở thành thành viên của Khu vực đồng Euro. Đơn vị tiền tệ chính thức hiện tại của Hungary là forint Hungary.
Năm 2008, kinh tế Hungary bị tác động nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ. Forint mất giá tới 10% so với Dollar Mỹ hôm 10 tháng 10 năm 2008. Ba tuần sau sự kiện này, Hungary đã đạt được một thỏa thuận với EU và IMF về việc nhận một gói cứu trợ trị giá 20 tỷ Dollar.
== Tham khảo == |
khối đồng minh thời chiến tranh thế giới thứ hai.txt | Đồng Minh là tên gọi một khối các quốc gia liên kết quân sự với nhau chống lại quân của khối Trục trong Đệ Nhị Thế Chiến.
Sau khi Đức Quốc xã cưỡng chiếm Ba Lan ngày 1 tháng 9 năm 1939, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Trong khi Đức hợp với Phát xít Ý tạo liên hiệp quân sự khối Trục, nhiều nước khác theo gia nhập phe Đồng Minh. Liên Xô gia nhập Đồng Minh sau khi Adolf Hitler tấn công vào đất Liên Xô. Sau cuộc oanh tạc Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ tham chiến theo Đồng Minh còn Đế quốc Nhật Bản vào khối Trục.
== Những quốc gia thuộc khối Đồng Minh ==
== Xem thêm ==
Đệ Nhị Thế Chiến
== Tham khảo == |
nào, các chàng trai !.txt | Nào, các chàng trai ! (tiếng Nga: А ну-ка, парни !) là một chương trình trò chơi truyền hình ra đời năm 1970 (ban đầu phát sóng lúc 20:00) của Đài phát thanh - truyền hình Liên Xô. Đây là một chương trình hướng nghiệp dành cho đối tượng nam giới, những người tham gia thi đấu để giành danh hiệu cao nhất trong nghề nghiệp. Chương trình còn có sự tham gia của nhiều ngôi sao trong làng giải trí Liên Xô.
== Hình thành và phát triển ==
== Sự kiện thú vị ==
== Xem thêm ==
"Nào, các chàng trai !" |
hypena palparia.txt | Hypena palparia là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Loài này có ở Nova Scotia phía tây ngang qua miền nam Canada tới British Columbia, phía nam đến Alabama và Texas.
Sải cánh dài 27–33 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 6 đến tháng 7 tùy theo địa điểm. There are at least two generations over much of east.
Ấu trùng ăn lá các loài Ostrya virginiana và Corylus.
== Liên kết ngoài ==
Owlet Caterpillars of Eastern North America (Lepidoptera: Noctuidae)
Bug Guide
Species info
Images
== Chú thích == |
tiếng anh mỹ.txt | Tiếng Anh Mỹ (viết tắt trong tiếng Anh AmE, AE, AmEng, USEng, en-US) - tiếng Anh còn gọi là United States English hay U.S. English - là một phương ngữ của tiếng Anh được sử dụng chủ yếu ở Hoa Kỳ. Khoảng 71% người sử dụng tiếng Anh làm tiếng mẹ đẻ sống ở Hoa Kỳ. Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất ở Hoa Kỳ. Mặc dù Chính phủ Liên bang không có ngôn ngữ chính thức nhưng tiếng Anh vẫn được xem là ngôn ngữ trên thực tế của Hoa Kỳ do tiếng Anh được sử dụng rộng rãi. Tiếng Anh đã được chính quyền 30/50 tiểu bang của Hoa Kỳ chính thức công nhận là ngôn ngữ chính thức.
Việc sử dụng tiếng Anh ở Hoa Kỳ kế thừa từ thời kỳ thuộc Anh. Làn sóng người định cư nói tiếng Anh đã đến Bắc Mỹ vào thế kỷ 17. Tại thời điểm đó ở Bắc Mỹ cũng có những người nói các ngôn ngữ khác như tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Hà Lan, tiếng Đức, tiếng Na Uy, tiếng Thuỵ Điển, tiếng Scotland, tiếng Nga, tiếng Phần Lan, tiếng Ireland cũng như các ngôn ngữ bản địa Mỹ.
== Tham khảo == |
won hàn quốc.txt | Won (원) (Ký hiệu: ₩; code: KRW) là đơn vị tiền tệ của Đại Hàn Dân Quốc. Một won được chia thành 100 joen. Joen không còn được dùng để giao dịch hằng ngày nữa và chỉ xuất hiện trong tỷ giá hối đoái. Won được ban hành bởi Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, có trụ sở tại thành phố thủ đô Seoul. Tiền tệ chính thức của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên được ban hành bởi Ngân hàng Trung ương của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có trụ sở tại thủ đô Pyongyang, được gọi là won Triều Tiên.
== Nguồn gốc ==
"Won" cũ là từ có cùng gốc với Yuan Trung Quốc và Yên Nhật. Nó có nguồn gốc từ Hanja 圓 (Hangul: 원, Hán-Việt: Viên), nó là một từ cùng gốc với ký tự Trung Quốc 圓 (yuan) có nghĩa là "hình tròn." Một won được chia thành 100 "joen" (Hangul: 전; hanja: 錢; RR: jeon; MR: chŏn), nó là một từ cùng gốc với ký tự Trung Quốc 錢 (qian) có nghĩa là "tiền tệ" và cũng được sử dụng như một đơn vị tiền tệ cổ.
== Won Hàn Quốc đầu tiên ==
Trong suốt thời kỳ Triều Tiên thuộc Nhật, won được thay thế bằng yên, tạo thành Yên Hàn Quốc.
Vào năm 1945 sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Triều Tiên bị chia cắt, kết quả là chia thành 2 loại tiền tệ, đều gọi là won cho cả Nam và Bắc. Cả won Nam và won Bắc thay thế tiền yên. Won Hàn Quốc đầu tiên được chia thành 100 joen.
Won Hàn Quốc ban đầu được ấn định với Đô la Mỹ với tỷ giá 15 won = 1 đô la. Một loạt đợt mất giá tiếp theo, những đợt cuối cùng là do Chiến tranh Triều Tiên. Các đợt như sau:
=== Tiền giấy ===
Vào năm 1946, Ngân hàng Joseon giới thiệu tiền giấy 10 và 100 won. Tiếp theo đó là vào năm 1949, tiền giấy 5 và 1000 won.
Một ngân hàng trung ương mới, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, được thành lập vào 12 tháng 6 năm 1950, và giả định các nhiệm vụ của Ngân hàng Joseon. Tiền giấy được giới thiệu (1949) mệnh giá 5, 10 và 50 jeon, 100 và 1000 won. Tiền giấy 500 won được giới thiệu vào 1952. Vào năm 1953, một loạt tiền giấy được ban hành, đồng thời tiền Won Hàn Quốc đầu tiên được thay thế bởi tiền hwan vào 15 tháng 2 năm 1953. Từ 9 tháng 6 năm 1962, Won là đơn vị tiền tệ của Đại Hàn Dân Quốc được sử dụng chính thức.
Năm 2016, ngân hàng Trung ương Hàn Quốc thông báo ngừng lưu hành tiền xu dưới 1000 won
Các mệnh giá đang áp dụng trong lưu thông:
1 Won: tiền kim loại bằng nhôm, màu trằng.
5 Won: tiền kim loại bằng hợp kim đồng và kẽm, màu vàng.
10 Won: tiền kim loại bằng hộp kim đồng và kẽm màu vàng hoặc hợp kim đồng và nhôm màu hồng.
50 Won: tiền kim loại bằng hợp kim đồng, nhôm và nickel, màu trằng.
100 Won: tiền kim loại bằng hợp kim đồng và nickel, màu trắng.
500 Won: tiền kim loại bằng hợp kim đồng và nickel, màu trắng.
1000 Won: tiền giấy, màu xanh da trời.
5000 Won: tiền giấy, màu đỏ và vàng.
10000 Won: tiền giấy, màu xanh lá cây.
50000 Won: tiền giấy,màu cam
== Tỷ giá hối đoái hiện tại ==
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Tiền Hàn Quốc tại Wikimedia Commons |
không tôn giáo.txt | Không tôn giáo là không có niềm tin tôn giáo, thờ ơ với tôn giáo, hoặc chống đối tôn giáo. Tùy thuộc vào ngữ cảnh, thuyết không tôn giáo có thể được hiểu như là thuyết vô thần, thuyết bất khả tri, thuyết hoài nghi, thuyết tư tưởng tự do, hay thuyết nhân văn thế tục.
== Niềm tin ==
Những người không tôn giáo thường có niềm tin về cuộc sống giống như những tín đồ tôn giáo vậy. Ví dụ, những người có quan điểm nhân sinh (life stance) của chủ nghĩa nhân văn tự cho mình có niềm tin sâu sắc vào quan điểm nhân sinh của họ cũng nhiều như bất kỳ niềm tin tôn giáo nào.
== Những người không tôn giáo ==
Tuy nhiên, những người được cho là không tôn giáo có thể không theo bất cứ tôn giáo nào, nhưng không phải tất cả những người này đều không có niềm tin vào siêu nhiên hay thánh thần. Họ dường như tin vào tôn giáo một cách miễn cưỡng, bất đắc dĩ. Cũng cần chú ý rằng những quốc gia như Ả Rập Saudi, nhà nước bắt mọi người phải theo Hồi giáo nên số người theo thống kê có thể không được chính xác cho lắm. Những người không tôn giáo thường tập trung vào công việc, khả năng sống sót và vũ trụ hơn những người theo đạo
== Thống kê theo quốc gia ==
== Ghi chú và tham khảo ==
== Xem thêm ==
Thuyết bất khả tri
Thuyết vô thần
Thuyết nhân văn thế tục
Chủ nghĩa thế tục
Chủ nghĩa hoài nghi
Bản mẫu:Không tôn giáo |
đền pantheon.txt | Đền Pantheon là một công trình kiến trúc ở Roma, Ý. Chiếm vị trí nổi bật nhất trong pho sử đền đài La Mã và thế giới là đền Pantheon - "Ngôi đền của mọi vị thần" được xây dựng vào năm 118 - 126 dưới triều vua Hadrianus. Hình thức và quy mô ngôi đền vượt lên tất cả các đền đài có trước đó.
== Kiến trúc ==
Tòa nhà có khối chính hình tròn, mái hình bán cầu lợp bằng một loại đá nhẹ. Đường kính mái 43,2m, đúng bằng chiều cao tòa nhà. Độ lớn của bán cầu này vượt lên mọi loại mái vòm của các công trình được làm từ trước và sau đó gần 20 thế kỷ (tới tận thế kỷ XIX). Tường nhà rất dày (6,3m) với nhiều hốc, vòm ở phần dưới, nhưng khi lên cao thì mỏng dần. Từ đáy vòm trở xuống nhà được chia làm 2 tầng. Tầng dưới cao 13m dùng hàng cột thức Coranh. Tầng trên cao 8,7m chỉ dùng các mảng tường nảy trụ làm bằng đá cẩm thạch. Những mảng tường nảy trụ này hợp làm một với 5 hàng ô cờ được khoét lõm trên vòm trần (gọi là kêxon) tạo nên cảm giác nhẹ nhàng, thư thái. Vòm mái được kết thúc bằng một lỗ tròn đường kính 8,92m - một giải pháp chiếu sáng gây được ấn tượng rất mạnh cho con người trong một không gian cao lồng lộng. Khác với loại đền Hy Lạp - La Mã thông thường (chỉ là chỗ đặt tượng thờ), đền Pantheon với 1500m2 sàn có sảnh vào sâu tới 14m có 16 cột tròn đường kính 1,5m, cao 14m, trên lợp mái dốc về hai phía. Hai dốc tròn hai bên sảnh đặt tượng Hoàng đế và tượng Marcus Agrippa - nhà kiến trúc, kỹ sư công binh đại tài - bạn của Hoàng đế. Một điều nữa gây được ấn tượng mạnh là khoảng sân trước đền dài tới 120m, có hàng cột và hiên bao quanh. Với đoàn người từ ngoài xa tiến vào, hiên này thoạt tiên che khuất tòa nhà đồ sộ bên trong. Chỉ sau khi đi qua hàng cột cổng, ngôi đền mới đột ngột hiện ra. Với vật liệu bê tông, gạch nung và đá ốp, bằng những tính toán thông minh và chính xác, đền Pantheon xứng đáng là đỉnh cao của tư duy kỹ thuật thời La Mã cổ đại.
== Tham khảo == |
máy gieo hạt.txt | Máy gieo hạt là thiết bị dùng để gieo hạt chính xác. Trước khi máy gieo hạt xuất hiện, phương pháp gieo hạt được thực hiện bằng tay. Phương pháp này vừa lãng phí, vừa thiếu chính xác, dẫn đến việc phân bố hạt giống không đều và làm giảm hiệu suất. Việc sử dụng máy gieo hạt có thể tăng hiệu suất lên tới 8 lần.
== Mô tả ==
Trong phương pháp trồng trọt cũ, người ta sẽ cày thành từng luống. Sau đó gieo hạt bằng cách rải các hạt giống. Hạt giống nằm trên các luống cày được bảo vệ khỏi thời tiết xấu, sự xói mòn tự nhiên, và giẫm đạp của con người tốt hơn là nằm phơi ra ngoài trời. Kết quả là cây được trồng ngay hàng thẳng lối, nhưng cũng có một lượng lớn cây xanh nằm ra ngoài các luống cày.
=== Cách dùng ===
== Lịch sử ==
== Xem thêm ==
Máy trồng cây
== Ghi chú ==
== Thư mục ==
== Liên kết ngoài ==
Tiscali encyclopedia article on seed drills
Conservation tillage
Zero Tillage seed drilling in Pakistan |
alabama.txt | Alabama (phát âm: A-la-ba-ma) là tiểu bang nằm thuộc miền Nam Hoa Kỳ, bên cạnh Tennessee về phía bắc, Georgia về phía đông, Florida về phía nam, và Mississippi về phía tây. Alabama có bờ biển kề cận với vịnh Mexico ở cực nam của tiểu bang.
== Địa lý ==
Alabama là tiểu bang lớn thứ 30 của Hoa Kỳ với tổng diện tích là 135.775 km² (52.423 dặm vuông). Diện tích mặt nước chiếm 3,19% tổng diện tích, cho nên Alabama là tiểu bang thứ 23 theo diện tích mặt nước. Tiểu bang này cũng có hệ thống đường nước lớn thứ hai của Hoa Kỳ. Vào khoảng ba phần năm của diện tích đất là đồng bằng thoai thoải xuống sông Mississippi và vịnh Mexico. Phần nhiều của miền Bắc Alabama là vùng lắm núi, với sông Tennessee nằm trong Thung lũng lớn, tạo ra nhiều con sông, dòng suối, sông, núi, và hồ. Nơi thấp nhất về phía đông của sông Mississippi thuộc Quận Dekalb gần một con sông giữa luống cao, nơi đó thuộc Công viên tiểu bang Buck's Pocket. Một kỳ quan tự nhiên khác là "Cầu Đất", cầu tự nhiên dài nhất về phía đông của sông Mississippi. Alabama thường có cao độ giữa mặt biển tại vịnh Mobile đến một tí hơn 550 mét (1.800 foot) ở dãy núi Appalachian về vùng đông bắc. Nơi cao nhất là Núi Cheaha.
Các vườn quốc gia của Dịch vụ Vườn Quốc gia bao gồm Vườn Quân đội Quốc gia Horseshoe Bend ở Daviston, Khu vực cấm săn Quốc gia Hẻm núi Little River ở Fort Payne, Đài kỷ niệm Quốc gia Russell Cave ở Bridgeport, Công viên Lịch sử Quốc gia Phi công Tuskegee ở Tuskegee, và Công viên Lịch sử Quốc gia Học viện Tuskegee gần Tuskegee.
Alabama cũng có Đại lộ Natchez Trace, Đường lịch sử Quốc gia Selma To, và Đường lịch sử Quốc gia Con đường Nước mắt.
=== Các thành phố quan trọng ===
Sau đây là các thành phố và dân số của nó (năm 2000)
Auburn
Birmingham (242.820)
Decatur
Dothan
Florence
Gadsden
Huntsville (158.216)
Mobile (198.915)
Montgomery (201.568)
Talladega
Tuscaloosa
== Lịch sử ==
Ảnh hưởng của các thổ dân Hoa Kỳ được nhớ rất nhiều ở Alabama. Vài trong những thổ dân ở Alabama ngày xưa là người Alabama (Alibamu), Cherokee, Chickasaw, Choctaw, Creek, Koasati, và Mobile. Những thổ dân bắt đầu buôn bán với vùng Đông Bắc dùng sông Ohio trong Chu kỳ Nấm mồ (1000 TCN – 700 CN), và họ tiếp tục buôn bán như vậy đến khi người Âu Châu đến. Ảnh hưởng Trung Mỹ rõ ràng trong văn hóa ruộng đất của người Mississippi tiếp theo.
Pháp xây dựng thuộc địa Âu Châu đầu tiên trong tiểu bang ngày nay là Mobile vào năm 1702. Miền Nam Alabama thuộc Pháp từ năm 1702 đến 1763, thuộc Tây Florida của Anh từ 1763 đến 1780, và thuộc Tây Florida của Tây Ban Nha từ 1780 đến 1814. Miền Bắc và Trung Alabama thuộc về Georgia của Anh từ 1763 đến 1783 và thuộc lãnh thổ Mississippi của Hoa Kỳ từ đấy. Quyền tiểu bang của nó bị hoãn lại vì không có bờ biên. (Andrew Jackson giải quyết vấn đề đó khi chiếm Mobile của Tây Ban Nha vào năm 1814.) Alabama được trở thành tiểu bang thứ 22 vào năm 1819.
Tiểu bang Alabama rút ra khỏi Liên bang ngày 11 tháng 1 năm 1861 và trở thành một tiểu bang của các Tiểu bang Liên minh Hoa Kỳ, được gọi Cộng hòa Alabama từ ngày 18 tháng 2 năm 1861. Tuy không nhiều trận đánh diễn ra ở tiểu bang này, nhưng Alabama đóng góp vào khoảng 120.000 lính trong Nội chiến Hoa Kỳ. Sau chiến tranh, chính phủ lâm thời được thành lập vào năm 1865, và Alabama được chính thức gia nhập lại vào Liên bang ngày 14 tháng 7 năm 1868.
Alabama là trung tâm của các Tiểu bang Liên minh trong Nội chiến và là nơi quan trọng nhất khi Phong trào Dân quyền của thời 1950 và 1960.
== Nhân khẩu ==
Cục điều tra dân số Hoa Kỳ ước tính rằng dân số của Alabama là 4.833.722 vào ngày 01 tháng 7 năm 2013, đại diện cho tăng 53.986, tương đương 1.1%, kể từ khi điều tra dân số năm 2010. Điều này bao gồm sự gia tăng tự nhiên từ điều tra dân số gần đây của 121.054 người (có nghĩa là 502.457 sinh trừ đi 381.403 trường hợp tử vong) và sự gia tăng do di cư thuần của 104.991 người vào nhà nước.
Nhập cư từ bên ngoài nước Mỹ dẫn đến một sự gia tăng ròng 31.180 người, và di cư trong nước đã sản xuất được một lợi ích ròng của 73.811 người. Nhà nước đã có 108.000 sinh ở nước ngoài (2,4% dân số của tiểu bang), trong đó ước tính 22,2% là người nhập cư bất hợp pháp (24.000).
Các trung tâm dân số của Alabama nằm ở quận Chilton, bên ngoài thị trấn Jemison.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Alabama.gov – trang chủ của chính phủ (tiếng Anh)
Liên hiệp Hội đồng miền Alabama (tiếng Anh)
TourAlabama.org – Bộ Du lịch Alabama (tiếng Anh)
Bộ Lưu trữ và Lịch sử Alabama (tiếng Anh)
Bộ luật Alabama năm 1975 – Cơ quan lập pháp Alabama (tiếng Anh)
Bản đồ các quận Alabama (tiếng Anh) |
1919.txt | 1919 (số La Mã: MCMXIX) là một năm thường bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1919
== Sự kiện ==
=== Tháng 2 ===
11 tháng 2: Lương Khải Siêu khởi sướng phóng trào liên minh đồng chí hội.
20 tháng 2: Tại Thượng Hải, diễn ra hội nghị hòa bình giữa các chính phủ quân sự Bắc Nam và Tây Trung Quốc
=== Tháng 3 ===
1 tháng 3: Tại bán đảo Triều Tiên, bùng phát bạo động chống Nhật Bản
2 tháng 3: Quân Bắc Dương tiến công Thiểm Tây
4 tháng 3: Thành lập quốc tế cộng sản thứ 3.
=== Tháng 5 ===
4 tháng 5: Bùng phát phong trào ngũ tứ tại Bắc Kinh
20 tháng 5: Xuất bản Tôn Văn học thuyết.
=== Tháng 6 ===
3 tháng 6: Tại Bắc Kinh, bùng phát biểu tình chống chính phủ quân phiệt
10 tháng 6: Tại Thiên Tân, xảy ra bãi công, bãi khóa lớn.
=== Tháng 7 ===
6 tháng 7: Trương Tác Lâm xưng bá 3 tỉnh đông bắc Trung Quốc
14 tháng 7: Mao Trạch Đông làm chủ biên Hồ Giang binh luận.
=== Tháng 9 ===
1 tháng 9: Đảng Cộng sản Hoa Kỳ thành lập
16 tháng 9: Tại Thiên Tân, Chu Ân Lai tổ chức Ngộ Xã giáo.
=== Tháng 10 ===
10 tháng 10: Tôn Trung Sơn cải tổ Trung Hoa cách mạng đảng thành Trung Quốc Quốc Dân đảng.
== Sinh ==
19 tháng 9: Hòa thượng Thích Huyền Quang (mất 2008), lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, vị tăng thống thứ tư của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
== Mất ==
== Giải Nobel ==
Vật lý - Johannes Stark
Hóa học - không có giải
Sinh lý học hoặc Y học - Jules Bordet
Văn học - Carl Friedrich Georg Spitteler
Hòa bình - Woodrow Wilson
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
người cống.txt | Dân tộc Cống (tên gọi khác Xắm Khống, Mông Nhé, Xá Xeng) là dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến cư trú chủ yếu tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và khu vực ven sông Đà.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Dân số: 1.676 người (năm 1999).
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cống ở Việt Nam có 2.029 người, cư trú tại 13 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Cống cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (1.134 người, chiếm 55,9% tổng số người Cống tại Việt Nam), Điện Biên (871 người, chiếm 42,9% tổng số người Cống tại Việt Nam), còn lại 24 người sinh sống ở một số tỉnh, thành khác.
== Đặc điểm kinh tế ==
Người Cống sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, canh tác theo lối phát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt giống. Gần đây, họ đã làm nương bằng cuốc và sử dụng trâu, bò làm sức kéo. Nhiều thức ăn của người Cống là tìm kiếm ở trong rừng, kiếm cá dưới suối chủ yếu bắt bằng tay hoặc bả thuốc độc lá cây.
Phụ nữ Cống không biết nghề dệt, chỉ trồng bông đem đổi lấy vải. Song nam nữ đều đan lát giỏi, có nghề đan chiếu mây nhuộm đỏ.
== Tổ chức cộng đồng ==
Mỗi họ của người Cống có một trưởng họ, có chung một kiêng cữ, có chung quy định về chỗ đặt bàn thờ tổ tiên và cách cúng bái. Trong từng gia đình, người chồng, người cha giữ vai trò đứng đầu, khi người cha chết thì con trai cả thay thế.
== Hôn nhân gia đình ==
Trước kia chỉ trai gái người Cống mới lấy nhau, nay đã có một số dâu rể là người Thái, Hà Nhì... Theo phong tục Cống, người cùng họ phải cách nhau bảy đời mới được lấy nhau. Việc cưới xin do nhà trai chủ động. Sau lễ dạm hỏi, chàng trai bắt đầu ở rể vài năm, còn cô gái bắt đầu búi tóc ngược lên đỉnh đầu, đó là dấu hiệu đã có chồng. Thường họ sinh vài đứa con mới cưới. Nhà trai phải có bạc trắng làm lễ cưới nộp cho nhà gái, còn nhà gái phải cho của hồi môn để cô dâu đem về nhà chồng. Ít ngày sau lễ đón dâu, đôi vợ chồng mới đến nhà bố mẹ vợ làm lễ lại mặt.
== Văn hóa ==
Nền văn nghệ dân gian Cống khá phong phú. Với các làn điệu dân ca sâu lắng người ta hát vào dịp lễ hội vui chung.
== Nhà cửa ==
Người Cống thường ở nhà sàn, nhà nào cũng ngăn ra thành 3-4 gian, gian giữa là nơi tiếp khách, chỉ có một cửa ra vào ở đầu hồi và một cửa sổ ở gian giữa.
== Trang phục ==
Chủ yếu biểu hiện qua trang phục nữ. Ống tay áo trang trí giống người Hà Nhì. Cổ trong giống cư dân Việt Mường, cúc giống phong cách Môn-Khmer. Váy đen, khăn đen không trang trí.
== Ghi chú == |
liên đoàn bóng đá alagoas.txt | Liên đoàn bóng đá Alagoas (tiếng Bồ Đào Nha: Federação Alagoana de Futebol), được thành lập ngày 14 tháng 3 năm 1927, là một cơ quan quản lý các giải đấu bóng đá chính thức tại bang Alagoas, Brasil, với giải đấu cao nhất là Campeonato Alagoano và các giải hạng dưới. Tổ chức này còn đại diện cho các câu lạc bộ bóng đá bang Alagoas tại Liên đoàn bóng đá Brasil (CBF).
== Lịch sử ==
=== Thành lập ===
Liên đoàn được thành lập vào ngày 14 tháng 3 năm 1927 với tên gọi Liên hiệp thể thao Alagoas, đến ngày 14 tháng 3 năm 1934, được đổi sang tên gọi Liên đoàn Thể thao Alagoas, và kể từ ngày 14 tháng 2 năm 1991 cho đến ngày nay, Tổ chức này được gọi là Liên đoàn bóng đá Alagoana.
=== Chủ tịch liên đoàn ===
== Chú thích == |
đại nam thực lục.txt | Đại Nam thực lục (chữ Hán: 大南寔錄) là bộ biên niên sử Việt Nam viết về triều đại các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn.
== Nội dung ==
Đại Nam thực lục ghi chép các sự kiện từ khi chúa Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến đời vua Khải Định (1925) do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn.
Phần đầu của Đại Nam thực lục gọi là Đại Nam thực lục Tiền biên (gồm 12 quyển) ghi chép các sự kiện lịch sử của 9 chúa Nguyễn Đàng trong từ Nguyễn Hoàng (1558) đến hết đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1777).
Phần thứ hai là Đại Nam thực lục chính biên (gồm 587 quyển), viết về triều đại các vua nhà Nguyễn, nhưng là phần chủ yếu, của bộ biên niên sử viết bằng chữ Hán.
Đại Nam Thực lục Chính biên ghi chép các sự kiện lịch sử từ khi Nguyễn Ánh làm chúa (1778) đến đời Đồng Khánh (1887), và sau này được viết thêm đến đời vua Khải Định (1925).
Cả hai phần Tiền biên và Chính biên của bộ sử Đại Nam thực lục được soạn bắt đầu từ năm 1821 (năm Minh Mạng thứ hai), sau 88 năm đến năm 1909 mới cơ bản hoàn thành (gồm toàn bộ phần Tiền biên và 6 kỷ đầu phần Chính biên).
Đại Nam Thực lục Chính biên được phân thành 8 phần (kỷ), bao gồm:
Đệ nhất kỷ, gồm 60 quyển, là biên niên lịch sử nhà Nguyễn đời vua Gia Long (Nguyễn Ánh) 1778 - 1819.
Đệ nhị kỷ, gồm 222 quyển, là biên niên lịch sử nhà Nguyễn đời vua Minh Mạng 1820 – 1840.
Đệ tam kỷ, gồm 74 quyển, là biên niên lịch sử nhà Nguyễn đời vua Thiệu Trị 1841 – 1847.
Đệ tứ kỷ, gồm 71 quyển, là biên niên lịch sử nhà Nguyễn đời vua Tự Đức 1848 - 1883.
Đệ ngũ kỷ, là biên niên lịch sử nhà Nguyễn đời vua Kiến Phúc (1883 - 1885).
Đệ lục kỷ, là biên niên lịch sử nhà Nguyễn đời các vua Hàm Nghi và Đồng Khánh (1885 - 1888).
Đệ lục kỷ phụ biên, gồm 29 quyển, là biên niên lịch sử nhà Nguyễn đời các vua Thành Thái (19 quyển) và Duy Tân (10 quyển), trong thời kỳ (1889 - 1916).
Đệ thất kỷ, gồm 10 quyển, là biên niên lịch sử nhà Nguyễn đời vua Khải Định (1916 - 1925).
Trước năm 2003, bộ Đại Nam thực lục chính biên được lưu trữ tại Việt Nam chỉ gồm 6 phần từ đệ nhất kỷ đến đệ lục kỷ. Đến năm 2003, hai phần đệ lục kỷ phụ biên và đệ thất kỷ được ông Roger Ngô Thiết Hùng phát hiện ra là đang được lưu trữ tại trường Viễn Đông Bác cổ Paris, sau đó gửi tặng cho Viện Sử học Việt Nam bản sao chụp.
== Các tác giả ==
Đại Nam thực lục tiền biên do các sử quan thời Minh Mạng và Thiệu Trị là: Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cẩn (tức Võ Xuân Cẩn), Hà Duy Phiên, Nguyễn Trung Mậu, Phan Bá Đạt biên soạn.
Bộ Đại Nam thực lục chính biên được biên soạn bởi tập thể các sử quan, trong nhiều thời kỳ của Quốc sử quán, bao gồm các tác giả sau: Trương Đăng Quế (tham gia biên soạn 3 kỷ đầu), Võ Xuân Cẩn, Hà Duy Phiên, Đỗ Quang, Phạm Hữu Nghi, Tô Trân, Trần Trứ, Trương Quốc Dụng, Trương Văn Tuyển, Lâm Duy Thiếp, Trần Tiễn Thành, Phan Thanh Giản, Đỗ Đăng Đệ, Đặng Văn Kiều, Trần Khánh Tiến, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Quang Đản, Bùi Ân Niên, Cao Xuân Dục, Cao Xuân Tiếu, Hồ Đắc Trung,...
== Bản dịch quốc ngữ đầu tiên ==
Vào năm 1962, Viện Sử học bắt đầu cho công bố bản dịch bộ Đại Nam thực lục, tập 1, phần Tiền biên, do Nhà xuất bản Sử học xuất bản. Sau đó đến năm 1978 (16 năm sau) thì phần Chính biên gồm 37 tập được hoàn thành với sự hợp tác của Nhà xuất bản Khoa học xã hội, kết thúc công việc xuất bản trọn bộ Đại Nam thực lục.
Bản dịch lần đầu bộ Đại Nam thực lục được chia thành 38 tập (khổ 13x19cm): trong đó Tiền biên 1 tập, Chính biên 37 tập (kỷ thứ nhất đến kỷ thứ 6).
Trong lời đề tựa của mình, Viện đã dành nhiều lời lẽ mang đầy tính bôi nhọ để nói về bộ sách này.
"Theo lệnh của các vua nhà Nguyễn, bọn sử thần của nhà Nguyễn làm công việc biên soạn Đại Nam thực lục đã cố gắng rất nhiều để tô son vẽ phấn cho triều đại nhà Nguyễn... Nhưng bọn sử thần ấy vẫn không che giấu nổi các sự thật của lịch sử. Dưới ngòi bút của họ, sự thật của lịch sử... vẫn phơi bày cho mọi người biết tội ác của bọn vua chúa phản động, không những chúng đã cõng rắn cắn gà nhà, mà chúng còn cố tâm kìm hãm, đày đọa nhân dân Việt Nam trong một đời sống tối tăm đầy áp bức"
== Tái bản bản quốc ngữ ==
Năm 2001, Viện Sử học liên kết với nhà xuất bản Giáo dục bắt đầu tái bản bộ Đại Nam Thực lục Chính biên dưới dạng bộ sách nhiều tập bằng chữ quốc ngữ (tiếng Việt), tập đầu xuất bản vào năm 2002.
Đến cuối năm 2007 thì hoàn thành việc xuất bản trọn bộ Đại Nam thực lục (phần Tiền biên, Chính biên từ kỷ thứ nhất đến kỷ thứ 6).
Lần xuất bản thứ 2, bộ Đại Nam thực lục được dồn lại còn 10 tập (khổ 16x24cm):
Tập một, gồm: Tiền biên và Chính biên-Kỷ thứ nhất (từ 1558 đến 1819) do Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch; Đào Duy Anh hiệu đính.
Tập hai: Chính biên-Kỷ thứ hai (từ 1820 đến 1829) do Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân, Phạm Huy Giu, Nguyễn Danh Chiên, Nguyễn Thế Đạt, Trương Văn Chinh, Đỗ Mộng Khương dịch; Đào Duy Anh hiệu đính.
Tập ba: Chính biên-Kỷ thứ hai (từ 1830 đến 1833) do Đỗ Mộng Khương, Trần Huy Hân, Trương Văn Chinh, Nguyễn Mạnh Duân, Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Thế Đạt, Thẩm Văn Điền, Nguyễn Trọng Hân, Phạm Huy Giu dịch; Đào Duy Anh, Hoa Bằng hiệu đính.
Tập bốn: Chính biên-Kỷ thứ hai (từ 1834 đến 1836) do Nguyễn Thế Đạt, Trương Văn Chinh, Nguyễn Doanh Chiên, Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân, Đỗ Mộng Khương dịch; Hoa Bằng hiệu đính.
Tập năm: Chính biên-Kỷ thứ hai (từ 1837 đến 1840) do Đỗ Mộng Khương, Phạm Huy Giu, Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nguyễn Mạnh Duân, Nguyễn Danh Chiên, Trương Văn Chinh dịch; Nguyễn Trọng Hân, Cao Huy Giu hiệu đính.
Tập sáu: Chính biên-Kỷ thứ ba (từ 1841 đến 1847) do Cao Huy Giu, Trịnh Đình Rư, Trần Huy Hân, Nguyễn Trọng Hân dịch; Hoa Bằng hiệu đính.
Tập bảy: Chính biên-Kỷ thứ tư (từ 1848 đến 1873) do Nguyễn Ngọc Tỉnh, Ngô Hữu Tạo, Phạm Huy Giu, Nguyễn Thế Đạt, Đỗ Mộng Khương, Trương Văn Chinh, Cao Huy Giu dịch; Nguyễn Trọng Hân, Cao Huy Giu hiệu đính.
Tập tám: Chính biên-Kỷ thứ tư (từ 1877 đến 1883) do Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân, Trần Huy Hân, Nguyễn Trọng Hân, Đỗ Mộng Khương dịch. Cao Huy Giu; Nguyễn Trọng Hân hiệu đính.
Tập chín: Chính biên-Kỷ thứ năm (từ 1883 đến 1885) do Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch; Nguyễn Mạnh Duân hiệu đính.
Tập mười: Chính biên-Kỷ thứ sáu (từ 1885 đến 1888) do Phạm Huy Giu, Trương Văn Chinh dịch; Nguyễn Trọng Hân hiệu đính.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tin về việc Tái bản bộ Đại Nam thực lục |
tân nhạc việt nam.txt | Tân nhạc (tiếng Anh: Vietnamese modern music) - tên gọi khác: nhạc tân thời (tiếng Anh: Vietnamese modern musical era), nhạc cải cách (tiếng Anh: Vietnamese reformed music) - là tên gọi thông dụng của dòng nhạc xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng năm 1928.
== Bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ 20 ==
Bối cảnh ra đời của tân nhạc là Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong nghệ thuật văn học Việt Nam nói chung. Tân nhạc xuất hiện sau phong trào thơ mới và dòng văn học lãng mạn vài năm.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Việt Nam xuất hiện một giai cấp mới, đó là giai cấp tư sản. Chủ nghĩa tư bản của người Pháp cùng với nền văn hóa phương Tây vào Việt Nam gây nên những xáo trộn lớn trong xã hội. Nhiều giá trị tư tưởng bền vững mấy ngàn năm trước đó lại bị giới trẻ có Tây học xem thường, thậm chí trở thành đối tượng để mỉa mai của nhiều người. Một tầng lớp tiểu tư sản ở thành thị hình thành.
Giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản lớp trên (trí thức, viên chức cao cấp) đã có một lối sinh hoạt thành thị mới với nhiều tiện nghị theo văn minh Tây phương. Họ ở nhà lầu, đi ô tô, dùng quạt điện, đi nghe hòa nhạc. Sinh hoạt của tư sản và tiểu tư sản thành thị cũng thể hiện ngay cả trong cách ăn mặc của thanh niên, mốt quần áo thay đổi mỗi năm. Những đổi thay về sinh hoạt cũng đồng thời với sự thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc. Những thay đổi đó cũng do sự tiếp xúc với văn hóa lãng mạn Pháp.
Giống như những nhà văn lãng mạn, thi sĩ của phong trào thơ mới chịu ảnh hưởng bởi văn học lãng mạn Pháp, các nhạc sĩ tiền chiến chịu ảnh hưởng bởi âm nhạc phương Tây.
== Giai đoạn tượng hình ==
Giai đoạn trước 1937 được xem là giai đoạn chuẩn bị của Tân nhạc. Trong bài Lịch sử Tân nhạc Việt Nam nhạc sĩ Trần Quang Hải gọi đây là "giai đoạn tượng hình". Còn Phạm Duy cho rằng những năm đầu thập niên 1930 là "thời kỳ đi tìm nhạc ngữ mới".
Âm nhạc của châu Âu theo chân những người Pháp vào Việt Nam từ rất sớm. Đầu tiên chính là những bài thánh ca trong các nhà thờ Công giáo. Các linh mục Việt Nam được cũng được dạy về âm nhạc với mục đích truyền giáo. Tiếp đó người dân được làm quen với "nhạc nhà binh" qua các đội kèn đồng. Tầng lớp giàu có ở thành thị được tiếp xúc với nhạc khiêu vũ, nhạc cổ điển phương Tây.
Từ đầu thế kỷ 20, các bài hát châu Âu, Mỹ được phổ biến mạnh mẽ ở Việt Nam với các đĩa hát 78 vòng rồi qua những bộ phim nói. Những thanh niên yêu âm nhạc thời kỳ đó bắt đầu chơi mandoline, ghita và cả vĩ cầm, dương cầm.
Thời kỳ này một số nhạc sĩ cải lương bắt đầu soạn các nhạc phẩm, thường được gọi là "bài tây theo điệu ta". Người tiêu biểu cho số đó là nghệ sĩ cải lương Tư Chơi, tức Huỳnh Thủ Trung. Ông đã viết các bài Tiếng nhạn trong sương, Hòa duyên và soạn lời Việt cho một vài ca khúc châu Âu thịnh hành khi đó để sử dụng trong các vở sân khấu như: Marinella trong vở Phũ phàng, Pouet Pouet trong Tiếng nói trái tim, Tango mystérieux trong Đóa hoa rừng, La Madelon trong Giọt lệ chung tình... Nghệ sĩ Bảy Nhiêu cũng có một nhạc phẩm là Hoài tình rất được ưu chuộng.
Không chỉ các nghệ sĩ, trong giới thanh niên yêu nhạc cũng có phong trào chuyển ngữ các bài hát của Tino Rossi, Rina Ketty, Albert Préjean, Georges Milton... mà họ yêu thích. Những nghệ sĩ sân khấu như Ái Liên, Kim Thoa đã được các hãng đĩa của người Pháp như Odéon, Béka mới thu âm các bài ta theo điệu tây. Khoảng thời gian từ 1935 tới 1938, rất nhiều các bài hát của Pháp như Marinella, C'est à Capri, Tant qu'il y aura des étoiles, Un jour loin de toi, Celle que j'aime éperdument, Les gars de la marine, L'Oncle de Pékin, Guitare d'amour, Créola, Signorina, Sous les ponts de Paris, Le plus beau tango du monde, Colombella... mà phần lớn là sáng tác của nhạc sĩ người Pháp Vincent Scotto và của Mỹ như Goodbye Hawaii, South of The Border... đã được phổ biến mạnh mẽ với lời ca tiếng Việt, soạn bởi một nhà báo trẻ tên là Mai Lâm và bởi những tác giả vô danh khác. Ca sĩ Tino Rossi đặc biệt được giới trẻ yêu thích, đã có những hội Ái Tino được thành lập ở Hà Nội, Hải Phòng.
Từ giữa thập niên 1930, nhiều nhóm thanh niên yêu âm nhạc ở Hà Nội đã tập trung cùng sáng tác. Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn, ba thành viên của nhóm Tricéa đã viết nhiều ca khúc như Bẽ bàng (1935), Nghệ sĩ hành khúc (1936) của Lê Yên; Tiếng sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937) của Văn Chung. Tại Huế, Nguyễn Văn Thương viết bản Trên sông Hương năm 1936. Lê Thương ở Hải Phòng cũng có Xuân năm xưa năm 1936.
Giai đoạn từ 1935 tới 1938 được nhạc sĩ Phạm Duy gọi là "thời kỳ chuẩn bị của Tân nhạc Việt Nam".
== Giai đoạn thành lập 1938-1945 ==
Năm 1938 được coi là điểm mốc đánh dấu sự hình thành của Tân nhạc Việt Nam với những buổi biểu diễn và thuyết trình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên tại Hà Nội.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên khi đó ở Sài Gòn, là người Việt duy nhất tham gia hội Hiếu nhạc (Philharmonique). Ông bắt đầu hát nhạc Tây và đoạt được cảm tình của báo chí và radio. Năm 1937 ông phổ một bài thơ của người bạn và viết thành ca khúc đầu tiên của mình. Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, khi đó làm việc cho đài Radio Indochine, có đưa thơ cho Nguyễn Văn Tuyên và giúp ông soạn lời ca. Nguyễn Văn Cổn còn giới thiệu ông với Thống đốc Nam Kỳ. Viên Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Pagès[1] nghe ông hát và mời ông du lịch sang Pháp để tiếp tục học nhạc nhưng Nguyễn Văn Tuyên từ chối vì lý do gia đình. Ngược lại ông lại đề nghị và được thống đốc Pagès tài trợ cho đi một vòng Việt Nam ra Huế, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định để quảng bá những bài nhạc mới này. Chính Nguyễn Văn Cổn là người đặt tên cho loại nhạc mới là "âm nhạc cải cách" (musique renovée).
Tới Hà Nội vào tháng 3 năm 1938, Nguyễn Văn Tuyên nói chuyện tại hội Trí Tri. Nhưng trong cuộc vận động cải cách, ông đã gặp một cử tọa đông đảo, ồn ào không trật tự. Một phần thất bại buổi đó do giọng nói địa phương của ông được ít người hiểu. Hơn nữa, có thể nhiều thanh niên Hà Nội lúc đó như đã cho việc hô hào của ông là thừa, vì bài hát cải cách đã có sẵn ở đây.
Tại hội Trí Tri Hải Phòng, Nguyễn Văn Tuyên đã may mắn hơn. Tuy số khán giả chỉ độ 20 người, nhưng Nguyễn Văn Tuyên đã có người thông cảm. Trong buổi nói chuyện này, một vài nhạc sĩ của Hải Phòng cũng trình một bản nhạc mới của miền Bắc. Sau đó nhân kỳ hội của trường Nữ học Hoài Đức, Nguyễn Văn Tuyên còn trình bày tại rạp chiếu bóng Palace một lần nữa. Lần này cử tọa rất tán thưởng giọng hát của ông trong bài "Bông cúc vàng".
Tiếp đó tờ Ngày nay số 121 ra ngày 31 tháng 7 năm 1938 của Nhất Linh, một tờ báo uy tín khi ấy, cho đăng những bản nhạc đầu tiên "Bình minh" của Nguyễn Xuân Khoát lời ca của Thế Lữ, số 122 ra ngày 7 tháng 8 năm 1938 đăng bài "Một kiếp hoa" của Nguyễn Văn Tuyên, rồi Bản đàn xuân của Lê Thương, "Khúc yêu đương" của Thẩm Oánh, "Đám mây hàng", "Cám dỗ" của Phạm Đăng Hinh, "Đường trường" của Trần Quang Ngọc,...
Nhiều ca khúc sáng tác từ trước được các nhạc sĩ phát hành. Từ đầu 1939, các bản nhạc của được bán tại các hiệu sách. Tân nhạc Việt Nam chính thức hình thành.
=== Nhạc tiền chiến ===
Sau thành công của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên và được sự ủng hộ của báo chí, nhiều nhóm nhạc được thành lập và các nhạc sĩ phổ biến rộng rãi những tác phẩm của mình. Và ngay từ thời kỳ này, nhiều nhạc sĩ tài năng đã ghi dấu ấn với các nhạc phẩm trữ tình lãng mạn. Một số thuật ngữ được dùng để chỉ nền tân nhạc Việt Nam giai đoạn này, phổ biến nhất là "nhạc tiền chiến". Dòng nhạc tiến chiến còn kéo dài tới năm 1954 và cả sau 1954 ở miền Nam.
Những bài hát cải cách nhanh chóng được giới trẻ sinh viên, trí thức ái mộ đón nhận, tuy vậy nó cũng gây nên nhiều ý kiến khác nhau. Các trí thức phong kiến thì chỉ trích còn giới dân nghèo thì thờ ơ. Với phong cách trữ tình lãng mạn, các ca khúc tiền chiến có lời ca mang tính văn học cao. Ngoài các ca khúc về tình yêu, chủ đề lịch sử, yêu nước là những đề tài chính của nhạc tiền chiến.
=== Các nhóm nhạc ===
Vì nhà cầm quyền Pháp không cho mở lại trường dạy nhạc Conservatoire français d'Extrême-orient, nên trước sự phát triển của phong trào âm nhạc cải cách, có hai tổ chức đào tạo nhạc sĩ ra đời. Đó là Hội Khuyến Nhạc với người đứng đầu là Nguyễn Văn Giệp và Nhạc Đường Học Xá của Lưu Quang Duyệt.
Mặt khác, có những thanh niên tự học nhạc phương Tây rồi tập trung để cũng thảo luận về âm nhạc, với những sinh hoạt văn nghệ có tình chất "salon". Trong số này có hai nhóm nổi danh nhất là nhóm Tricéa và nhóm Myosotis.
Nhóm Tricéa được thành lập từ rất sớm với ba thành viên Lê Yên, Văn Chung và Doãn Mẫn. Họ đã có những sáng tác từ trước khi Nguyễn Văn Tuyên ra Hà Nội quảng bá nhạc cải cách. Nhóm đã để lại nhiều ca khúc giá trị như Văn Chung với Bóng ai qua thềm, Lê Yên với Bẽ bàng, Ngựa phi đường xa, Xuân nghệ sĩ hành khúc và thành công hơn cả là Doãn Mẫn với Biệt ly, Hương cố nhân.
Nhóm Myosotis với hai thành viên chính là Dương Thiệu Tước và Thẩm Oánh. Myosotis có chủ trương sáng tác rõ rệt: Thẩm Oánh với nhạc theo âm hưởng dân tộc và Dương Thiệu Tước với những sáng tác theo ngữ nhạc Tây Phương. Giai đoạn này Myosotis rất nhiều nhưng về sau ít được nhắc tới. Tồn tại một thời gian, Myosotis không còn là một nhóm thuần nhất. Các thành viên chia tay, tiếp tục đi theo con đường sáng tác riêng. Dương Thiệu Tước tiếp tục với những ca khúc lãng mạn và ghi dấu ấn trong lịch sử tân nhạc với Ngọc lan, Đêm tàn bến Ngự, Tiếng xưa.
Ở Hải Phòng, năm 1939, nhạc sĩ Hoàng Quý thành lập nhóm Đồng Vọng. Đồng Vọng quy tụ nhiều nhạc sĩ tài năng như Phạm Ngữ, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Canh Thân, Tô Vũ[2] mở ra dòng nhạc hùng với Bên sông Bạch Đằng, Nước non Lam Sơn, Tiếng chim gọi đàn, Bóng cờ lau, Nắng tươi, Chiều quê của Hoàng Quý, Về đồng quê của Văn Cao, Ngày xưa của Tô Vũ. Riêng Hoàng Quý còn một ca khúc trữ tình rất nổi tiếng là Cô láng giềng.
Một nhóm khác cũng chủ trương nhạc hùng là Nhóm Tổng hội Sinh viên của Lưu Hữu Phước khởi đầu trong nhóm sinh viên ở Hà Nội trong đó sinh viên miền Nam tỏ ra nhiều khả năng văn nghệ. So với Đồng Vọng, nhạc của Tổng hội Sinh viên mang tính chính trị nhiều hơn. Nhóm chủ trương dùng tân nhạc trong việc đấu tranh chính trị chống Pháp và Nhật. Lưu Hữu Phước đã viết nhiều ca khúc Tiếng gọi sinh viên, Hồn tử sĩ, Bạch Đằng giang, Ải Chi Lăng, Hội nghị Diên Hồng, Hờn sông Gianh... và về sau trở thành một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc đỏ.
=== Các nhạc sĩ độc lập ===
Ngoài các nhóm nhạc, ở miền Bắc khi đó còn nhiều nhạc sĩ độc lập hoặc trong những nhóm nhạc rồi tách ra và ghi dấu ấn riêng.
Nhạc sĩ Lê Thương là một trong những người có sáng tác sớm nhất. Khi đó ông dạy học ở Hải Phòng và có tham gia cùng Hoàng Quý, Phạm Ngữ, Canh Thân. Thời kỳ này, Lê Thương đã để lại dấu ấn với các truyện ca như Bản đàn xuân, Nàng Hà Tiên, Một ngày xanh, Thu trên đảo Kinh Châu và đặc biệt bộ ba ca khúc Hòn vọng phu, được xem như một nhạc phẩm bất hủ của tân nhạc. Về sau Lê Thương di cư vào miền Nam, tiếp tục sáng tác các ca khúc thể loại khác như thiếu nhi, hài hước. Bài Thằng Cuội của ông trở thành một ca khúc thiếu nhi rất quen thuộc.
Ở miền Bắc, ngoài Hà Nội và Hải Phòng, Nam Định cũng là nơi có nhiều nhạc sĩ sáng tác tân nhạc như Hoàng Trọng, Bùi Công Kỳ. Tiêu biểu nhất cho các nhạc sĩ Nam Định là Đặng Thế Phong. Sớm rời Nam Đinh, Đặng Thế Phong lên Hà Nội và học dự thính tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau đó, đầu năm 1941 ông vào miền Nam rồi sang Nam Vang mở một lớp dạy nhạc rồi lại quay về Hà Nội và mất ở Nam Định vào năm 1942 khi 24 tuổi. Đặng Thế Phong chỉ sáng tác ba nhạc phẩm và cả ba đều nổi tiếng: Đêm thu, Con thuyền không bến, Giọt mưa thu. Đặc biệt với hai nhạc phẩm bất hủ Con thuyền không bến và Giọt mưa thu, Đặng Thế Phong được xem như một trong những nhạc sĩ tiền chiến tiêu biểu nhất.
Nhạc sĩ Văn Cao ở Hải Phòng và cũng từng tham gia nhóm Đồng Vọng. Từ năm 16 tuổi Văn Cao đã có ca khúc đầu tay là Buồn tàn thu rất được ưu chuộng. Năm 1941, theo lời khuyên của Phạm Duy, Văn Cao lên Hà Nội. Thời kỳ này, ông đã viết nhưng ca khúc vượt thời gian như Thu cô liêu, Suối mơ, Bến xuân và đặc biệt Trương Chi và Thiên Thai. Tham gia Việt Minh, cuối năm 1944, Văn Cao viết Tiến quân ca, ca khúc trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh rồi quốc ca của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và quốc ca của Việt Nam hiện nay. Đến năm 1947, ông viết Trường ca Sông Lô ca ngợi chiến thắng sông Lô. Trương Chi, Thiên Thai và Trường ca Sông Lô của Văn Cao được công nhận nằm trong số những ca khúc hay nhất của Tân nhạc Việt Nam.
Một nhạc sĩ nổi tiếng khác ở Hà Nội là Đoàn Chuẩn. Là một người say mê Hạ Uy cầm, Đoàn Chuẩn viết nhạc và để lại hơn 10 ca khúc, hầu hết đều nói về mùa thu, trong đó nhiều bài giá trị như Đường về Việt Bắc, Lá đổ muôn chiều, Gửi người em gái... Nhạc phẩm Vĩnh biệt của ông cũng được sáng tác trong thời gian đó, nhưng đến cuối thập niên 1990 mới công bố và được ca sĩ Ánh Tuyết thể hiện.
Nhiều ca khác của các nhạc sĩ khác cũng ghi dấu ấn cho giai đoạn tiền chiến như Ngày về, Mơ hoa của Hoàng Giác, Giáo đường im bóng của Nguyễn Thiện Tơ, Em đến thăm anh một chiều mưa của Tô Vũ, Nỗi lòng của Nguyễn Văn Khánh, Trách người đi của Đan Trường, Đêm đông của Nguyễn Văn Thương, Ai về sông Tương của Văn Giảng, Trầu cau của Phan Huỳnh Điểu, Xuân và tuổi trẻ của La Hối, Dạ khúc của Nguyễn Mỹ Ca, Nhớ quê hương của Phạm Ngữ, Tình quê hương của Việt Lang, Màu thời gian của Nguyễn Xuân Khoát...
Vào thời kỳ đầu tiên, Phạm Duy với vai trò ca sĩ trong gánh hát Đức Huy là một trong những người góp phần phổ biến tân nhạc. Ông là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần. Phạm Duy có ca khúc đầu tay Cô hái mơ năm 1942 phổ từ thơ Nguyễn Bính. Sau đó, với rất nhiều các ca khúc, ông là một trong những nhạc sĩ Việt Nam có sức sáng tác mạnh mẽ nhất và thuộc nhiều thể loại.
Những giọng ca khác của tân nhạc thời kỳ đầu có thể kể tới Thương Huyền, tài tử Ngọc Bảo...
== Giai đoạn kháng chiến 1945-1954 ==
Từ năm 1945, tân nhạc Việt Nam bắt đầu có sự phân tách. Đa số các nhạc sĩ rời bỏ thủ đô và những thành phố lớn để tham gia kháng chiến. Nhưng một số vẫn ở lại trong vùng kiểm soát của Pháp hoặc có những nhạc sĩ theo kháng chiến rồi lại quay trở lại thành phố.
Với đề tài kháng chiến, ở miền Bắc, Phạm Duy có Xuất quân, Chiến sĩ vô danh, Bên ni bên tê, Đường Lạng Sơn, Việt Bắc, Bông Lau rừng xanh pha máu, Thanh niên Việt Nam, Nhạc tuổi xanh, Đường về quê, Bà mẹ Gio Linh, Bao giờ anh lấy được đồn Tây..., Nhớ người ra đi, Tiếng hát trên sông Lô, Đỗ Nhuận viết Du kích sông Thao, Áo mùa đông, Nhớ chiến khu, Hoàng Vân có Hò kéo pháo, Văn Chung viết Quê tôi giải phóng, Lê Yên viết Bộ đội về làng, Nguyễn Xuân Khoát viết Tiếng chuông nhà thờ, Nguyễn Đình Phúc viết Bình ca, Chiến sĩ Sông Lô, Nguyễn Đình Thi viết Người Hà Nội, Nguyễn Đức Toàn có Quê em miền trung du... Ở miền trung có Bình Trị Thiên khói lửa của Nguyễn Văn Thương, Lời người ra đi của Trần Hoàn, Đoàn vệ quốc quân, Có một đàn chim của Phan Huỳnh Điểu, Du kích Ba Tơ của Dương Minh Viên... Còn ở miền Nam, một lớp nhạc sĩ trẻ hơn như Hoàng Việt với Lên ngàn, Nhạc rừng, Nguyễn Hữu Trí với Tiểu đoàn 307, Trần Kiết Tường với Anh Ba Hưng, Con kênh xanh xanh của Ngô Huỳnh, Tình đồng chí của Minh Quốc. Một đề tài sáng tác mới nữa của các nhạc sĩ là ca ngợi Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam. Lưu Hữu Phước đã viết Chào mừng Đảng lao Động Việt Nam, Lưu Bách Thụ viết Biết ơn Cụ Hồ. Tham gia kháng chiến, Văn Cao đã sửa lời Bến xuân thành Đàn chim Việt và viết Trường ca Sông Lô, Ca ngợi Hồ Chủ tịch. Năm 1949 Văn Cao viết Tiến về Hà Nội. Năm 1951 Đỗ Minh sáng tác Chào mừng Đảng Lao động Việt Nam.
Các ca khúc này đánh dấu sự ra đời thực sự của nhạc kháng chiến, hay "nhạc đỏ". Tuy vậy, ngay trong số những nhạc sĩ trên, nhiều người vẫn tiếp tục viết các ca khúc lãng mạn và được các chính quyền tại miền Nam Việt Nam xếp vào dòng nhạc tiền chiến như Bên cầu biên giới, Tiếng đàn tôi, Cây đàn bỏ quên của Phạm Duy, Sơn nữ ca của Trần Hoàn, Dư âm của Nguyễn Văn Tý, Nụ cười sơn cước của Tô Hải, Tình quê hương của Việt Lang, Tình nghệ sĩ, Thu quyến rũ của Đoàn Chuẩn.
Ở các vùng đô thị thuộc kiểm soát của Pháp, những nhạc sĩ vẫn sáng tác nhạc lãng mạn như Văn Giảng với Ai về sông Tương, Lâm Tuyền với Tiếng thời gian, Văn Phụng với Mơ khúc tương phùng...Phạm Đình Chương có tác phẩm Ly rượu mừng, và Lê Thương viết Hòn vọng phu. Lê Thương khi vào miền Nam viết các bản nhạc hài hước, trào phúng Hòa bình 48, Liên Hiệp Quốc. Ở Hà Nội, năm 1947 Nguyễn Đình Thi viết ca khúc Người Hà Nội.
Trong giai đoạn này, tại Pháp trong những năm 1949 tới 1951, hãng đĩa Oria đã thu một số đĩa nhựa 78 vòng tiếng hát của các ca sĩ Hải Minh[3], Bích Thuận, Hoàng Lan, Văn Lý những ca khúc Hội nghị Diên Hồng của Lưu Hữu Phước, Chiến sĩ vô danh của Phạm Duy, Tiếng thùy dương, Hòa bình 48 của Lê Thương, Trách người đi của Đan Trường...
Sau hội nghị Việt Bắc 1950, nền nghệ thuật kháng chiến có bước chuyển biến rõ rệt với vụ phê bình kịch thơ của Hoàng Cầm và ca khúc Bên cầu biên giới của Phạm Duy vì "không theo chủ trương và đường lối của cách mạng". Sau hội nghị này, nhiều nhạc sĩ phải thay đổi cách sáng tác, hoặc rời bỏ kháng chiến về thành, điển hình nhất là Phạm Duy - nhạc sĩ thành công nhất của kháng chiến lúc bấy giờ. Cùng với Phạm Duy hàng loạt những tên tuổi nổi bật như Ngọc Bích, Phạm Đình Chương, Hoàng Thi Thơ...cũng rời bỏ cách mạng để sau này về miền Nam tiếp tục hoạt động. Phạm Duy tiếp tục sáng tác các nhạc phẩm đậm chất dân ca Bắc Bộ và thành công hơn cả là Tình ca năm 1952.
Trong chiến cuộc Đông Xuân và chiến dịch Điện Biên Phủ, ra đời một loạt các ca khúc được phổ biến rộng rãi như Qua miền Tây Bắc của Nguyễn Thành, Chiến thắng Điện Biên của Đỗ Nhuận.
== Giai đoạn 1954-1975 ==
Hiệp định Genève năm 1954 tạm chia Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự để chờ tổng tuyển cử toàn quốc năm 1956. Chính quyền Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa từ chối thi hành tổng tuyển cử theo hiệp định, hành động này đã chia Việt Nam thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam.
Tại miền Bắc, nhạc kháng chiến tiếp tục và cùng với nhạc dân ca, truyền thống, opera nhạc kịch và nhạc giao hưởng là những thể loại âm nhạc duy nhất được phát trên đài phát thanh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Bắc. Các ca khúc nhạc đỏ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ chiến tranh, truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng cộng sản, cũng có cả những bài hát trữ tình, thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng.
Ở miền Nam, với sự tự do, đa dạng hơn trong sáng tác nghệ thuật, các nhạc sĩ đã viết các ca khúc thuộc nhiều thể loại. Dòng nhạc tiền chiến được Cung Tiến, Phạm Đình Chương tiếp tục. Một số nhạc sĩ trẻ như Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An sáng tác các bản tình ca mới. Dòng "nhạc vàng" xuất hiện với các tên tuổi tiêu biểu Hoàng Thi Thơ, Trúc Phương, Lam Phương. Văn hóa Âu Mỹ tràn ngập miền Nam dẫn đến sự hình thành dòng nhạc trẻ. Bên cạnh đó là các phong trào Du ca và dòng nhạc phản chiến. Một nhạc sĩ tiêu biểu cho dòng nhạc phản chiến này và cả tình ca là Trịnh Công Sơn.
=== Miền Bắc ===
Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, tân nhạc cũng như điện ảnh, có nhiệm vụ chính là cổ vũ chiến đấu. Dòng nhạc Cách mạng chiếm vị trí độc tôn, các nhạc sĩ lãng mạn như Văn Cao, Đoàn Chuẩn ít sáng tác. Song song với lớp nhạc sĩ đầu như Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Lương Ngọc Trác, sau đó tới Doãn Nho, Tô Hải, Hồ Bắc, Huy Thục, Hoàng Việt đã xuất hiện một số nhạc sĩ trẻ hơn Trọng Bằng, Cao Việt Bách... Ca ca sĩ tiếp nối truyền thống cũ, hát bằng giọng đẹp Bel canto.
Việc một số nhạc sĩ được gửi đi học ở các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc... và nhiều đoàn ca múa chuyên nghiệp của các quốc gia Liên Xô và Đông Âu tới Hà Nội trình diễn đã tạo nên sự ảnh hưởng tới tân nhạc Việt Nam. Bốn chủ đề sáng tác chính của các nhạc sĩ miền Bắc thời kỳ này là:
Hồ Chí Minh
Ca ngợi hình ảnh lãnh tụ được thể hiện qua nhiều bài hát như Việt Bắc nhớ Bác Hồ của Phạm Tuyên, Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người của Trần Kiết Tường, Ðôi dép Bác Hồ của Văn An, Nhớ ơn Hồ Chí Minh của Tô Vũ, Lời ca dâng Bác của Trọng Loan, Trồng cây lại nhớ đến Người của Ðỗ Nhuận, Ca ngợi Hồ chủ tịch của Văn Cao, Tình Bác sáng đời ta của Lưu Hữu Phước...
Phong cảnh và tâm hồn Việt Nam
Một số ca khúc như Quảng Bình quê ta ơi của Hoàng Vân, Vàm Cỏ Ðông của Trương Quang Lục, Tây Nguyên bất khuất của Văn Ký, Bài ca Hà Nội của Vũ Thanh, Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây của Hoàng Hiệp, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh của Nguyễn Văn Tý, Những cô gái đồng bằng sông Cửu Long của Huỳnh Thơ, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn của Lư Nhất Vũ...
Dân tộc thiểu số
Do hoàn cảnh chiến tranh, một số nhạc sĩ có những tiếp xúc với các dân tộc thiểu số và đã viết các ca khúc như Tiếng đàn ta lư (Huy Thục), Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi (Văn Ký), Bản Mèo đổi mới (Trịnh Lai), Em là hoa Pơ Lang (Ðức Minh), Bóng cây kơ nia (Phan Huỳnh Ðiểu), Cánh chim báo tin vui (Đàm Thanh)...
Kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam
Tân nhạc với nhiệm vụ cổ vũ chiến đấu, đây là đề tài chính của nhiều bài hát: Anh vẫn hành quân (Huy Du), Chào anh giải phóng quân (Hoàng Vân), Lời anh vọng mãi ngàn năm (Vũ Thanh), Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý), Lá thư hậu phương (Phạm Tuyên), Trai anh hùng, gái đảm đang (Ðỗ Nhuận), Bài ca may áo (Xuân Hồng), Mỗi bước ta đi (Thuận Yến), Hành khúc giải phóng (Lưu Nguyễn Long Hưng, tức Lưu Hữu Phước), Giải phóng miền Nam (Huỳnh Minh Siêng, tức Lưu Hữu Phước)... trong đó bài Giải phóng miền Nam được dùng làm bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam từ năm 1960 tới năm 1975.
Anh hùng: Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương (Nguyễn Đức Toàn), Bế Văn Đàn sống mãi (Huy Du), Lời anh vọng mãi ngàn năm (Vũ Thanh), Bài ca anh Hồ Giáo (Nhật Lai),...
Những năm kháng chiến chống Mỹ, âm nhạc thiếu nhi đã có một đời sống phong phú, với các nhạc sĩ như: Phạm Tuyên, Hoàng Long, Hoàng Lân, Phong Nhã, Hàn Ngọc Bích, Vân Dung, Hoàng Vân, Huy Du,...
Ngoài các ca khúc phổ thông, nhiều thể loại khác cũng được các nhạc sĩ thể nghiệm. Ảnh hưởng bởi các màn hợp xướng do các đoàn văn nghệ Liên Xô và Đông Âu trình diễn ở Hà Nội, một số nhạc sĩ Việt Nam đã soạn các ca khúc cho nhiều bè như năm 1955 có Hò đẵn gỗ của Đỗ Nhuận, Sóng cửa Tùng của Doãn Nho, Chiến sĩ biên phòng của Huy Thục, năm 1956 và 1957 có Ta đã lớn, Hò kiến thiết của Nguyễn Xuân Khoát, Tiếng chim của Lưu Cầu, Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy của Tô Hải năm 1958...Hoàng Vân sáng tác Hồi tưởng, Hồ Bắc sáng tác Ca ngợi tổ quốc. Các tác phẩm khí nhạc viết về miền Nam như Huy Du có Miền Nam quê hương ta ơi (1959), Nguyễn Văn Thương với Trở về đất mẹ...
Một số vở thanh xướng kịch cũng xuất hiện: Vượt sông Cái của Nguyễn Xuân Khoát viết năm 1955, Nguyễn Văn Trỗi của Đàm Linh theo lời thơ Chu Điền năm 1965. Một vài thể loại nữa là các ca kịch nhỏ (như Tục lụy của Lưu Hữu Phước), kịch hát nói (Căn nhà màu hồng ngọc của Hoàng Vân). Vở nhạc kịch đầu tiên của Việt Nam Cô Sao được Đỗ Nhuận viết năm 1965.
Sự xuất hiện các bộ phim điện ảnh cách mạng cũng dẫn tới nhiều ca khúc cho phim được sáng tác. Tác giả nhạc phim đầu tiên là Nguyễn Đình Phúc với phim Chung một dòng sông và Lửa trung tuyến. Tiếp đó tới các nhạc sĩ khác như Trọng Bằng với Cù Chính Lan, Biển lửa, Hồng Đăng với Hà Nội mùa chim làm tổ, Hoàng Vân với Con chim vành khuyên...
=== Miền Nam ===
Khác với miền Bắc, ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 các nghệ sĩ về cơ bản được tự do sáng tác các loại nhạc, trừ nhạc phản chiến, nhạc cách mạng, và các nhạc phẩm thân Cộng hoặc có xu hướng chống Mỹ nói chung. Cũng như điện ảnh, tân nhạc ở miền Nam thời kỳ này hình thành một thị trường sôi động. Các dòng nhạc tiến chiến, tình khúc, nhạc vàng đều có đông đảo người nghe và các nghệ sĩ riêng. Dòng nhạc tiền chiến được các giọng ca hàng đầu như Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Hà Thanh, Duy Trác tiếp tục. Khác với giai đoạn tiền chiến và kháng chiến, thời gian này chủ yếu là các giọng ca trầm, hát bằng giọng ngực, phù hợp thị hiếu bấy giờ. Nhạc vàng của các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Lam Phương được các ca sĩ Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Thúy, Thanh Tuyền thể hiện. Các tình khúc mới của Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt qua các tiếng hát Khánh Ly, Lê Uyên, Lệ Thu. Một số ca sĩ, nhạc sĩ, ban nhạc trẻ xuất hiện đánh dấu sự ra đời của dong nhạc trẻ như Elvis Phương, Nguyễn Trung Cang, Quốc Dũng, Lê Hựu Hà. Các băng nhạc Sơn Ca, Trường Sơn, Shotguns... được phát hành đều đặn.
==== Dòng nhạc tiền chiến ====
Một số nhạc sĩ di cư vào miền Nam năm 1954 như Hoàng Trọng, Văn Phụng... hoặc từ trước đó như Lê Thương, Phạm Duy... và những nhạc sĩ trẻ hơn như Phạm Đình Chương, Cung Tiến... đã tiếp tục dòng nhạc tiền chiến tại miền Nam.
Những nhạc sĩ này trong khoảng 1954 đến 1975 có những sáng tác đa dạng, trong đó nhiều ca khúc của họ vẫn được xếp chung vào dòng nhạc tiền chiến. Một số tác phẩm nổi tiếng như Mộng dưới hoa, Trường ca Hội trùng dương của Phạm Đình Chương, Hương xưa của Cung Tiến. Những nhạc phẩm tiền chiến thường xuyên được trình diễn và thu âm bởi những tiếng hát hàng đầu như Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu, Duy Trác, Hà Thanh...
==== Tình khúc ====
Một lớp nhạc sĩ trẻ hơn xuất hiện với các bản tình ca mới. Khác với dòng nhạc tiền chiến thường mượn cảnh mùa thu, mưa... để nói lên tình cảm của mình, những nhạc sĩ này có cách thể hiện trực tiếp hơn như Vũ Thành An với các Bài không tên, Lê Uyên Phương với các ca khúc...
Giai đoạn này, bên cạnh nhạc sĩ tiền bối Phạm Duy vẫn sáng tác đều đặn những ca khúc giá trị (Cỏ hồng, Trả lại em yêu, Mùa thu chết...). Còn xuất hiện thêm những nhạc sĩ với phong cách riêng.
Năm 1965, Vũ Thành An viết ca khúc đầu tay Tình khúc thứ nhất, phổ thơ Nguyễn Đình Toàn. Ngay từ ca khúc đầu tiên này, Vũ Thành An được nổi danh. Tiếp sau đó, ông viết một loạt Bài không tên được đánh số cùng một vài ca khúc có tên như Em đến thăm anh đêm 30. Những nhạc phẩm của Vũ Thành An được yêu thích rộng rãi ở miền Nam khi đó, thường xuyên được nghe thấy trong các quán cà phê, trên sóng đài phát thanh, trong các băng nhạc.
Ngô Thụy Miên bắt đầu với Chiều nay không có em được viết năm 1963, nhưng đến với công chúng vào năm 1965. Tiếp theo, ông phổ nhạc cho một số bài thơ của thi sỹ Nguyên Sa và giành được thành công rực rỡ. Các ca khúc Niệm khúc cuối, Mắt biếc, Áo lụa Hà Đông đã ghi dấu ấn của Ngô Thụy Miên trong thời kỳ đó. Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện băng nhạc đầu tay Tình Ca Ngô Thụy Miên gồm 17 tình khúc đã được viết trong khoảng thời gian 1965 tới 1972. Với sự góp mặt của các ca sĩ danh tiếng Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan... và nhạc sĩ hòa âm Văn Phụng, cuốn băng tạo được thành công rực rỡ.
Từ Đà Lạt, đôi nghệ sĩ Lê Uyên và Phương xuất hiện mang đến cho tân nhạc những sắc thái mới với các ca khúc khắc khoải, nồng nàn. Bắt đầu từ nhạc phẩm đâu tay Buồn đến bao giờ viết năm 1960 tại Pleiku, Lê Uyên Phương với những Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta... được giới trẻ nồng nhiệt đón nhận.
Một gương mặt nổi danh nữa của dòng nhạc này là nhạc sĩ Từ Công Phụng. Khởi sự từ ca khúc đầu tay Bây giờ tháng mấy, các nhạc phẩm tiếp theo của Từ Công Phụng đều mang không khi mang mác như Lời cuối, Trên ngọn tình sầu, Mùa xuân trên đỉnh bình yên, Giọt lệ cho ngàn sau, Mắt lệ cho người... Đặc biệt sau 1975 ở hải ngoại, các ca khúc của Từ Công Phụng còn được biết đến nhiều hơn qua giọng ca Tuấn Ngọc trình bày rất thành công.
Một số nhạc sĩ khác cũng viết các tình khúc nổi tiếng rát được ưa chuộng vào thời gian này như Hoàng Nguyên với Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ, Quốc Dũng với Đường xưa, Cơn gió thoảng, Nguyễn Ánh 9 với Không, Buồn ơi xin chào mi, Văn Phụng với Yêu, Tình; Khánh Băng với Sầu đông, Vọng ngày xanh; Y Vân với Buồn, Thôi, Ảo ảnh, Anh Bằng với Khúc Thụy du, Nỗi lòng người đi; Trần Trịnh với Lệ đá; Nguyễn Văn Đông với Chiều mưa biên giới, Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp; Phạm Trọng Cầu, học ở Paris, cũng đã viết Mùa thu không trở lại...
Phạm Đình Chương cũng có Nửa hồn thương đau phổ từ thơ Thanh Tâm Tuyền rất nổi tiếng, hay Người đi qua đời tôi phổ thơ Trần Dạ Từ. Lê Trọng Nguyễn nổi danh với Chiều bên giáo đường, Lá rơi bên thềm và đặc biệt Nắng chiều, ca khúc còn được biết đến ở Hồng Kông, Đài Loan và Nhật Bản. Hoàng Trọng thành công với các bài hát theo điệu tango Ngỡ ngàng, Lạnh lùng, Tiến bước sang ngang.
==== Nhạc vàng ====
Bên cạnh các tình khúc, dòng nhạc vàng cũng đặc biệt phổ biến. Với các bài hát giai điệu nhẹ nhàng, đơn giản, dòng nhạc này đã thu hút một số lượng lớn khán giả bình dân. Trong hồi ký của mình[4], Phạm Duy viết: "Đầu thập niên 70 là lúc Nhạc Việt, trong phạm vi ca khúc, phát triển đến tột độ. Có sự thành công của những bài hát thông thường và chỉ được coi là nhạc thương phẩm - mệnh danh là nhạc vàng - với những tình cảm dễ dãi phù hợp với tuổi choai choai, với em gái hậu phương và lính đa tình, tuy không được coi trọng nhưng lại rất cần thiết cho vài tầng lớp xã hội trong thời chiến."
Từ trước 1963, các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Lam Phương đã soạn các bản như Gạo trắng trang thanh, Chiều hành quân... Nhưng phải tới sau 1963, khi nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam bắt đầu thì các bài hát về Tình và Lính mới trở nên thực sự phổ biến. Đây cũng là hai đề tài chủ yếu của nhạc vàng.
Hoàng Thi Thơ là một nhạc sĩ thành công trong nhiều lĩnh vực. Ông từng là trưởng đoàn nghệ thuật của Việt Nam Cộng hòa đi trình diễn ở một số nước. Hoàng Thi Thơ cũng từng tham gia sản xuất điện ảnh với phim Người cô đơn nói về đề tài âm nhạc. Trên lĩnh vực sáng tác ông viết nhiều bản với âm hưởng dân tộc như Trăng rụng xuống cầu, Rước tình về quê hương, Tình ca trên lúa, Đám cưới trên đường quê, các bản tình cảm như Chuyện tình người trinh nữ tên Thi, Đường xưa lối cũ... Ông còn soạn một vài vở kịch hát Cô gái điên, Ả đào say.
Lam Phương được biết tới với các bản nhạc tình Bài tango cho em, Em là tất cả, Tình bơ vơ... hoặc các bài chủ đề khác như Đoàn người lữ thứ, Cho em quên tuổi ngọc, Kiếp nghèo, Chuyến đò vỹ tuyến...
Các ca khúc với chủ đề Lính, người tiêu biểu nhất là Trần Thiện Thanh. Vốn cũng là một ca sĩ với nghệ danh Nhật Trường, ông đã sáng tác và tự trình diễn nhiều bài hát về hình ảnh người lính Việt Nam Cộng hòa: Biển mặn, Chiều trên phá Tam Giang, Hoa trinh nữ, Rừng lá thấp, Tâm sự người lính trẻ, Tình thư của lính... Một số ca khúc khác của ông cũng rất phổ biến như Chiếc áo bà ba, Khi người yêu tôi khóc, Gặp nhau làm ngơ, Mùa đông của anh. Một tác giả viết về lính khác là Trúc Phương, tác giả của Đò chiều, Kẻ ở miền xa, Tàu đêm năm cũ, Trên bốn vùng chiến thuật... và Ai cho tôi tình yêu, Đôi mắt người xưa, Thói đời, Mưa nửa đêm, Tình thắm duyên quê...
Những bản nhạc tình bi lụy còn có Châu Kỳ với Giọt lệ đài trang, Được tin em lấy chồng, Sao chưa thấy hội âm, Con đường xưa em đi. Một vài bản khác rất nổi danh như Người yêu cô đơn của Đài Phương Trang, . Ngoài ra còn một số ca khúc như Phiên gác đêm xuân của Nguyễn Văn Đông, Người yêu của lính của Anh Chương, Sang ngang của Đỗ Lễ, Căn nhà ngoại ô của Anh Bằng...
Giọng ca tiêu biểu của nhạc vàng, đầu tiên có thể kể đến Duy Khánh. Tiếp theo là ca sĩ Chế Linh, cũng là tác giả của ca khúc Đêm buồn tỉnh lẻ[5]. Các giọng ca nữ có Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hoàng Oanh. Cùng với các nhạc sĩ, các ca sĩ này cũng góp phần định hình dòng nhạc vàng với cách hát khác hẳn các ca sĩ của nhạc tiền chiến hay tình khúc 1954-1975.
==== Nhạc trẻ ====
Vào cuối thập niên 1950, nhạc kích động châu Âu và Mỹ bắt đầu thâm nhập thị trường miền Nam. Một số thanh niên trẻ con các thương gia, các học sinh học theo chương trình của Pháp thường nghe các ca khúc của Mỹ và Pháp. Nhưng phải tới khoảng thời gian 1963-1965 thì phong trào nghe các ca khúc phương Tây này mới thực sự bành trướng qua các buổi tổ chức khiêu vũ tại gia. Các danh ca của Mỹ như Paul Anka, Elvis Presley, The Platters... của Anh như Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones... của Pháp như Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida... trở thành thần tượng của giới trẻ Sài Gòn.
Đầu những năm 1960 thì nhạc trẻ trở thành một hiện tượng của âm nhạc Việt Nam. Những ban nhạc trẻ kích động như C.B.C., The Dreamers, The Uptight, The Blue Jets, The Spotlights (sau đổi thành Strawberry Four với Tùng Giang, Đức Huy, Tuấn Ngọc và Billy Shane) và một số ca sĩ Việt thích kèm theo tên ngoại quốc bên cạnh tên Việt như Elvis Phương, Pauline Ngọc, Prosper Thắng, Julie Quang, Carol Kim... nổi danh với các bạn nhạc ngoại quốc hát bằng lời Anh hoặc Pháp. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ năm 1968 khuyến khích nhiều ca sĩ hát nhạc Mỹ. Nhiều bản nhạc ngoại quốc nổi tiếng được các nhạc sĩ Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang, Trường Hải... đặt lời Việt.
Không chỉ dừng lại ở việc hát nhạc ngoại quốc, nhiều nhạc sĩ tự sáng tác các bạn nhạc kích động. Một trong những người đầu tiên có thể kể tới là Khánh Băng với Sầu đông, Có nhớ đêm nào, Tiếng mưa rơi. Các nhạc sĩ khác như Quốc Dũng, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà cũng là những người đầu tiên Việt hóa thể loại nhạc này.
Quốc Dũng, với nhiều ca khúc nổi tiếng, cùng với Thanh Mai tạo thành một đôi song ca được nhiều mến mộ. Ban Phượng Hoàng của Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà và ca sĩ Elvis Phương trở thành một trong nhưng ban nhạc thành công nhất của Sài Gòn giai đoạn đó.
Tới năm 1971, đại hội nhạc trẻ đầu tiên được tổ chức tại sân Hoa Lư do Trường Kỳ, Tùng Giang và Nam Lộc tổ chức. Sự thành công của đại hội nhạc trẻ đầu tiên ở Sài Gòn đã đẩy mạnh nhạc trẻ lên cao độ. Tiếp theo đó nhiều đại nhạc hội khác được tiếp tục được tổ chức: năm 1971 tại trường trung học Taberd với hơn 10.000 người nghe, năm 1974 tại sở thú với trên 20.000 khán giả.
Cho tới sau 1975, nhiều bản nhạc nước ngoài vẫn ăn khách trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một vài ca khúc còn được các ca sĩ trẻ trong nước hát, như Bang bang do Phạm Duy đặt lời Việt được Mỹ Tâm hát lại vào những năm đầu thập niên 2000. Nhạc Jazz/Blues đã thịnh hành tại miền Nam khi đó.
==== Nhạc phản chiến ====
Khi cuộc chiến tranh Việt Nam ngày càng lan rộng, ở miền Nam, không chỉ có các nhạc sĩ sáng tác các bài hát ca ngợi người lính Việt Nam Cộng hòa mà còn xuất hiện nhiều ca khúc phản chiến. Người tiêu biểu nhất cho phong trào nhạc phản chiến này là Trịnh Công Sơn.
Bắt đầu từ khoảng năm 1966, những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly đã chinh phục giới trẻ, đánh trúng tâm lý chán ghét chiến tranh, mong muốn hòa bình. Năm 1968, sau sự kiên Tết Mậu Thân, Trịnh Công Sơn tung ra tập nhạc Kinh Việt Nam. Năm 1969, Trịnh Công Sơn cho ra tiếp tập Ta phải thấy mặt trời, rồi sau đó là Ca khúc da vàng. Với các ca khúc Nối vòng tay lớn, Bài ca dành cho những xác người, Gia tài của mẹ... Trịnh Công Sơn kêu gọi mọi người ngừng chiến tranh, nêu lên một hình ảnh Việt Nam đau thương vì cuộc chiến.
Song song với nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, sau Tết Mậu Thân năm 1968, mầm mống chống đối chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu nảy nở ở các trường đại học tại Sài Gòn. Nhạc sĩ Miên Đức Thắng đã sáng tác các ca khúc như Hát từ cách đồng hoang, Lớn mãi không ngừng. Phong trào học sinh và sinh viên xuống đường xuất hiện cùng với Hát cho đồng bào tôi nghe, trong đó hai nhạc sĩ tiêu biểu là Trần Long Ẩn và Tôn Thất Lập. Năm 1971, một tập nhạc khác xuất hiện là Hát cùng đồng bào ta. Những bài hát xuống đường được giới sinh viên học sinh hát nhiều nhất lúc đó là: Sức mạnh nhân dân của Trương Quốc Khánh, Tình nghĩa Bắc Nam của Nguyễn Văn Sanh, Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tân... Phạm Thế Mỹ cũng viết Hoa vẫn nở trên đường quê hương, Thương quá Việt Nam.
Phạm Duy cũng sáng tác một số ca khúc phản đối cuộc chiến tranh Kỷ vật cho em, Chuyện hai người lính, Khi tôi về, Tình khúc trên chiến trường tồi tệ, Thầm gọi tên nhau trên chiến trường tồi tệ, Tưởng như còn người yêu... Trong đó ca khúc Kỷ vật cho em phổ từ thơ Linh Phương trở nên rất nổi tiếng, được các danh ca của Sài Gòn khi đó như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly hát thường xuyên tại các phòng tra, vũ trường gây nên các tác động mạnh mẽ tới khán giả.
Lê Hựu Hà cũng là một người có nhiều sáng tác trong phong trào phản đối chiến tranh tiêu biểu là bài hát Hãy nhìn xuống chân...
==== Phong trào du ca ====
Năm 1966, hai nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và Đinh Gia Lập thành lập phong trào Du ca, là một đoàn thể hoạt động về văn hóa và văn nghệ phục vụ cộng đồng, xuất hiện cùng lúc với phong trào làm công tác xã hội của sinh viên, học sinh. Chủ tịch phong trào từ 1967 là dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ và đến năm 1972 được thay thế bởi Đỗ Ngọc Yến. Trưởng xưởng Du ca do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang điều hành, đến năm 1972 được thay thế bởi Ngô Mạnh Thu. Phong trào được Bộ Quốc gia Giáo dục và Thanh niên Việt Nam Cộng hòa công nhận chính thức và cấp giấy phép hoạt động trên toàn quốc kể từ ngày 24 tháng 1 năm 1969.
Du ca quy tụ khá nhiều các nhạc sĩ tên tuổi, cũng như nhiều nhạc sĩ trẻ xuất phát từ phong trào: Nguyễn Đức Quang, Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu, Trần Tú, Nguyễn Quyết Thắng... Phạm Duy cũng có đóng góp tích cực trong phong trào du ca với nhiều ca khúc về xã hội, tuổi trẻ...
Du ca ra đời đúng lúc mọi người đang đòi hỏi một nền văn nghệ sống động, thức tỉnh và mới lạ. Những loại nhạc mà phong trào du ca thường sử dụng là Thanh niên ca, Thiếu nhi ca, Sinh hoạt ca, Nhận thức ca, Sử ca, Dân ca, những bài hát ca ngợi tình yêu con người và thân phận quê hương. Nhiều bài hát của du ca đã trở nên quen thuộc như Việt Nam, Việt Nam của Phạm Duy, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang, Hát từ tim, hát bằng hơi thở của Nguyễn Quyết Thắng, Anh sẽ về của Nguyễn Hữu Nghĩa, thơ Kinh Kha, Xin chọn nơi này làm quê hương của Nguyễn Đức Quang.
Những ca khúc trong phong trào du ca có mục đích kêu gọi thanh niên hãy tự hào, tin tưởng và hy vọng nơi tương lai. Trước năm 1975, phong trào du ca có tác dụng sâu mạnh đối với giới trẻ qua các đoàn, toán ca như Con Sáo Huế, Du ca Áo Nâu, Du ca Lòng mẹ, Du ca Trùng Dương... Họ trình diễn ở khắp nơi miền Nam khi đó, trong trường học, ngoài sân cỏ, trên sân khấu, trong các đoàn thể bạn, hướng đạo, hay Thanh sinh công, Gia đình Phật tử.
Du ca cũng đã phát hành một số tuyển tập nhạc như: Tuyển tập Du ca 1, Du ca 2, Du ca 3, Những bài ca khai phá, Ta đi trên dòng lịch sử, Những điều trông thấy, Những khuôn mặt Duca, Hát cho những người sống sót, Anh hùng ca, Sinh hoạt ca.
==== Các nhạc sĩ khác ====
Trong thời kỳ từ 1954 đến 1975, Phạm Duy vẫn là một trong những nhạc sĩ có sức sáng tác mạnh mẽ nhất và các ca khúc của ông cũng thuộc nhiều thể loại. Tiếp tục những ca khúc "dân ca mới", Phạm Duy còn sáng tác nhiều tình khúc như Nghìn trùng xa cách, Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi, Nha Trang ngày về, Cỏ hồng, Mùa thu chết, Nước mắt mùa thu... Ông còn có các bài hát Bé ca dành cho thiêu nhi: Ông trăng xuống chơi, Chú bé bắt được con công, Thằng Bờm, Bé bắt dế, Đưa bé đến trường, Đốt lá trên sân
Các trường ca Con đường cái quan, Mẹ Việt Nam cũng được Phạm Duy viết trong thời kỳ này. Ngoài ra có thể kể đến Đạo ca, Tâm ca... Trong các phong trào Nhạc trẻ, Du ca, Nhạc phản chiến Phạm Duy đều có tham gia với nhiều ca khúc.
Trịnh Công Sơn, ngoài các ca khúc phản chiến, ông là tác giả của rất nhiều tình khúc, giúp ông trở thành một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của thời kỳ đó và cả sau này. Từ sáng tác được coi là đầu tay Ướt mi xuất bản năm 1959, Trịnh Công Sơn tiếp tục thành công với Diễm xưa, Tuổi đá buồn, Tình xa, Tình nhớ... Cùng với tiếng hát Khánh Ly, các bản tình ca của Trịnh Công Sơn đã chinh phục giới thanh niên miền Nam khi đó, trở thành một hiện tượng của tân nhạc.
Một điểm khác biệt giữa âm nhạc miền Bắc và miền Nam khi đó là trong khi ở miền Bắc, các ca khúc chỉ được phát trên đài phát thanh, qua các buổi biểu diễn của những đội văn công... thì tại miền Nam, âm nhạc hình thành một thị trường sôi động với nhiều hãng băng đĩa. Các ca khúc được phát trên sóng phát thanh, truyền hình, được trình diễn tại các vũ trường, phòng trà và các đại nhạc hội.
Những người đi đầu trong việc sản xuất băng đĩa có thể kể đến Phạm Mạnh Cương, Nguyễn Văn Đông, Tùng Giang... Những băng nhạc Sơn ca, Trường Sơn, Nhã ca, Nhạc trẻ, Shotguns, Sóng nhạc... được phát hành đều đặn. Với lợi nhuận từ các băng nhạc, tập nhạc, các nhạc sĩ nổi tiếng có được thu nhập rất cao.
Phòng trà và vũ trường là hai điểm trình diễn phổ biến của Sài Gòn giai đoạn đó. Những phòng trà như Đêm Màu Hồng, Queen Bee... là điểm yêu thích của nhiều khán giả nghe nhạc.
== Giai đoạn sau 1975 ==
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước nền tân nhạc Việt Nam có nhiều thay đổi thăng trầm. Để xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, Việt Nam đã tiến hành cuộc cách mạng văn hoá tư tưởng và đấu tranh cải tạo công thương nghiệp, cải cách ruộng đất.
=== Giai đoạn 1975-1996 ===
==== Trong nước ====
Trong nước các dòng nhạc vàng bị cấm hoàn toàn vì không phù hợp với chủ trương, các ca sĩ nhạc vàng được khuyến khích chuyển sang hát nhạc truyền thống cách mạng (nhạc đỏ), các bài hát lạc quan. Nhiều ca sĩ & nhạc sĩ Việt Nam phải vượt biên sang định cư tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác. Nhiều bài hát tiền chiến và tình ca bị hạn chế lưu hành. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra. Tuy nhiên dòng nhạc quê hương mang màu sắc lạc quan vẫn được khuyến khích. Một số nhạc sĩ nhạc vàng chuyển sang sáng tác nhạc quê hương, như Trần Thiện Thanh với Chiếc áo bà ba, Trúc Phương với Chín dòng sông hò hẹn, Tô Thanh Tùng với Tình cây và đất, các sáng tác của Thanh Sơn.
Đề tài sáng tác chủ yếu trong giai đoạn này là:
-Ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh: có các bài hát tiêu biểu như: Viếng lăng Bác (Hoàng Hiệp), Miền Nam Nhớ mãi ơn người (Lưu Cầu), Lời Bác dặn trước lúc đi xa (Trần Hoàn)...
-Ca ngợi Đảng: Huyền diệu, Đảng đã cho ta một mùa xuân...
-Ca ngợi chiến công lẩy lừng của cuộc kháng chiến như: Dáng đứng Bến Tre, 40 thế kỷ cùng ra trận, Tổ quốc yêu thương,
-Tình yêu quê hương đất nước và tình yêu lứa đôi: Quê Hương (Giáp Văn Thạch phổ thơ Đổ Trung Quân), Đất nước lời ru (Văn Thành Nho), Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Xuân Hồng), Huyền Thoại Mẹ (Trịnh Công Sơn), Bài ca không quên (Phạm Minh Tuấn), Thuyền và Biển (Phan Huỳnh Điểu), Gửi em chiếc nón bài thơ (Lê Việt Hòa), Giai điệu Tổ quốc (Trần Tiến)...
-Ca ngợi và phát động các phong trào lao động tập thể như Thanh Niên Xung Phong: Đêm rừng Đắc Min (Nguyễn Đức Trung), Em ở nông trường anh ra biên giới (Trịnh Công Sơn), Huyền thoại Hồ núi Cốc (Phó Đức Phương), Trị An âm vang mùa xuân, Tàu anh qua núi, Đêm thành phố đầy sao, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ, Mùa xuân từ những giếng dầu...
Các nhạc sĩ tiêu biểu trong giai đoạn này là: Diệp Minh Tuyền, Trần Long Ẩn, Thế Hiển, Nguyễn Nam, Nguyễn Văn Hiên, An Thuyên, Phó Đức Phương, Phong Nhã, Trần Tiến...
Đặc biệt Ca sĩ kiêm nhạc sĩ Trần Tiến chịu ảnh hưởng của phong trào du ca trước năm 1975 nên đã có nhiều sáng tác mới lạ thời bấy giờ nên được công chúng yêu nhạc đón nhận với các ca khúc: Mặt trời bé con, Tuỳ hứng lý qua cầu, Tạm biệt chim én...
Các ca sĩ thành danh như: Cẩm Vân, Bảo Yến, Nhã Phương, Quang Lý, Tuấn Phong, Cao Minh, Thế Hiển, Trần Tiến...
Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển mạnh mẽ. Hội âm nhạc Việt Nam được thành lập. Hằng năm đều tổ chức nhiều chuyến du khảo hội trại sáng tác theo những chủ đề do nhà nước đặt hàng.
Các trường âm nhạc, văn hoá nghệ thuật được quan tâm thành lập tuy nhiên chỉ mới dừng lại ở quy mô dạy dòng nhạc thính phòng cỏ điển và âm nhạc tuyên truyền.
Nhiều văn nghệ sĩ có cơ hội giao lưu học tập tại Liên Xô (Nga) đã du nhập nhiều bản nhạc Liên Xô được hát bằng tiếng Nga hoặc dịch ra lời Việt: Một triệu đoá hoa hồng (Cẩm Vân trình bày), Chiều hải cảng, Đôi bờ, Chiều Matxcơva, Cây thuỳ dương.
Sau Đại hội Đảng lần VI đề ra chủ trương đổi mới tư duy, xoá bao cấp,văn hoá nghệ thuật được cởi mở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) đã tổ chức các cuộc thi tiếng hát truyền hình tạo cơ hội cho nhiều ca sĩ trẻ thành danh như: Như Quỳnh, Như Hảo, Thanh Thuý, Tạ Minh Tâm...
Hội thi tiếng hát Hoa Phượng Đỏ dành cho lứa tuổi học sinh.
Tại miền nam nhiều bài hát từ các nước phương Tây được các ca sĩ trình bày lời ngoại ngữ và lời việt(do Khúc Lan dịch): Tình cha (Phương Thảo)... Đặc biệt là phong trào hát nhạc Hoa lời Việt với các ca sĩ: Minh Thuận, Nhật Hào, Tú Châu, Lam Trường...
Nhạc chịu ảnh hưởng của ca trù được cho phép.
Nhạc tình ca (còn gọi là nhạc sến do đa số viết theo điệu B'lero và có giai điệu buồn với nội dung chủ yếu là mô tả tâm trạng thất tình) được tiếp tục phát triển với các nhạc sĩ như: Vinh Sử, Hàng Châu... với các giọng ca: Đình Văn, Ngọc Sơn, Chế Thanh, Thuỳ Dương...
Nhiều Trung tâm băng nhạc được thành lập như: Bến Thành Audio, Sài Gòn Audio, Kim Lợi Studio...
==== Hải ngoại ====
Các nhạc sĩ của Sài Gòn sau 1975 định cư tại nước ngoài vẫn tiếp tục sáng tác và cùng với những nhạc sĩ trẻ hơn đã tạo nên dòng nhạc hải ngoại.
Tại hải ngoại củng xuất hiện nhiều trung tâm phát hành băng đĩa nhạc như: Thúy Nga, Asia, Làng Văn... Trong số những ấn phẩm nổi bật là loạt đĩa chủ đề "Paris by night" của trung tâm Thuý Nga được thực hiện nghiêm túc, giàn dựng công phu, mang nhiều giá trị nghệ thuật được giới yêu nhạc đánh giá cao.
Những nhạc sĩ tên tuổi đầu tiên rời Việt Nam khoảng cuối năm 1975. Trong những năm đầu, một chủ đề sáng tác chính của họ là nỗi nhớ quê hương và Sài Gòn như Nam Lộc với Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt, Khi xa Sài Gòn của Lê Uyên Phương, Đêm nhớ về Sài gòn của Trầm Tử Thiêng... Chủ đề thân phận lưu vong cũng được nói đến với Tị nạn ca của Phạm Duy, Người di tản buồn của Nam Lộc, Ai trở về xứ Việt của Phan Văn Hưng, Một chút quà cho quê hương của Việt Dũng... Một chủ đề phổ biến nữa là "phục quốc kháng chiến" nói lên mong muốn được quay trở lại miền Nam của ca sĩ Nguyệt Ánh.
Từ khoảng đầu thập kỷ 1980, một số nhạc sĩ sau thời gian cải tạo tại Việt Nam ra định cư ở nước ngoài. Họ viết nhiều ca khúc tả lại thời gian cải tạo ở Việt Nam như Hà Thúc Sinh với tập Tiếng hát tủi nhục năm 1982, Châu Đình An với Những lời ca thép năm 1982... Phạm Duy cũng sáng tác 20 bài lấy tựa là Ngục ca phổ từ thơ của Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ Tiếng vọng từ đáy vực
=== Giai đoạn 1996 đến nay ===
==== Hải Ngoại ====
Đến giữa thập niên 1980, các nhạc sĩ bắt đầu bỏ chủ đề "phục quốc kháng chiến" quay lại viết các bản tình ca. Ở giai đoạn này, những nhạc sĩ tiêu biểu có thể kể đến Đức Huy với "Và Con Tim Đã Vui Trở Lại", "Đừng Xa Em Đêm Nay", Trần Quảng Nam với "Mười Năm Tình Cũ", Hoàng Thanh Tâm với "Tháng Sáu Trời Mưa", Trúc Hồ với "Trái Tim Mùa Đông", Ngọc Trọng với "Buồn Vương Màu Áo", Trịnh Nam Sơn với "Dĩ vãng", "Quên Đi Tình Yêu Cũ"... Ngô Thụy Miên tại hải ngoại cũng có nhiều sáng tác, trong đó nổi tiếng hơn cả là Riêng một góc trời viết năm 1997. Kể từ khi trong nước đổi mới các ca sĩ & nhạc sĩ ở hải ngoại được về nước biểu diễn đã tạo nên sự giao thoa (trao đổi nghệ thuật) về âm nhạc giữa trong và ngoài nước, có nhiều ca khúc trong nước được các ca sĩ hải ngoại biểu diễn rất thành công và ngược lại. Nhiều ca sĩ trẻ nổi danh như: Lưu Bích, Như Quỳnh, Quang Lê, Trần Thái Hoà, Ngọc Hạ, v.v... Tuy nhiên phần nhiều ca khúc hải ngoại vẩn là nhạc ngoại quốc (lời Việt)
==== Trong nước ====
Trong nước vẫn tiếp tục dòng nhạc được phân chia theo phong cách thính phòng, dân gian và nhạc nhẹ. Theo phong cách thính phòng chủ yếu là các nhạc sĩ đã qua thời tiền chiến, kháng chiến và số ít nhạc sĩ trẻ, vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của nhạc cổ điển. Dòng phong cách dân gian được tiếp nối bởi một số nhạc sĩ trẻ, bao gồm cả các nhạc sĩ thế hệ trước như Phó Đức Phương, An Thuyên, Nguyễn Tiến, Đoàn Bổng...Dòng dân gian nhiều tác giả theo đuổi "dân gian đương đại" như Trần Tiến, Nguyễn Cường, Lê Minh Sơn (pha trộn nhiều hơn phong cách nhạc nhẹ hoặc thính phòng, có tính hiện đại hơn). Dòng phong cách nhạc nhẹ ngoài các sáng tác ảnh hưởng ít nhiều của thính phòng, thì đa phần nghiêng về chủ yếu là pop và rock, chịu ảnh hưởng nhiều của nhạc trẻ phương Tây, và nhạc trẻ thường hay được dùng để tách khỏi nhạc nhẹ, giai điệu sôi động, trẻ trung và mang tính bình dân hơn. Ngoài ra còn có Chillout, Acoustic, Jazz/Blues, R&B, world music, dân gian đương đại...Những thử nghiệm nhạc mới du nhập thường hay được đánh giá trái chiều, như "hội nhập" hay "lai căng", nghệ thuật hay mang tính thị trường.
Vào năm 1996 bắt nguồn từ giải thưởng âm nhạc "Làn sóng Xanh" do đài tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. người đoạt giải là ca sĩ Lam Trường với ca khúc "Tình thôi xót xa" Bảo Chấn khiến cho trào lưu nhạc trẻ ra đời với hàng loạt ca khúc thành công sau đó như: Hà Nội mùa vắng nhửng cơn mưa, Bên em là biển rộng, giọt sương trên mí mắt, Hôn môi xa, Tình em ngọn nến... góp phần đưa hàng loạt ca sĩ trẻ nổi danh như: Phương Thanh, Mỹ Tâm, Đan Trường, Cẩm Ly, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thanh Lam, Quang Linh, Quang Dũng, Đức Tuấn, Tuấn Hưng, Đàm Vĩnh Hưng...
Nhạc sĩ trẻ Hoài An đoạt giải thưởng từ cuộc thi sinh viên với bài hát "Tình thơ" với phần hoà âm mới lạ hiện đại lúc bấy giờ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc Việt Nam: Phần nhạc dạo đầu bài hát và Phần hoà âm và phối khí được chú trọng hơn so với trước đây làm cho ca khúc Việt Nam trở nên hiện đại hơn, hay hơn.
Tại Việt Nam đã xuất hiện nhiều nhạc sĩ làm nhiệm vụ hoà âm phối khí như: Quốc Trung, Mạnh Trinh, Đức Trí, Hoài Sa, Dương Cầm... Nghề mix nhạc (DJ) cũng xuất hiện.
Bên cạnh đó dòng nhạc dân ca phát triển mạnh mẽ: "Vọng cổ buồn", "Đêm Ghành Hào nghe điệu Hoài Lang", "Quê tôi mùa nước lũ"... thể hiện thành công nhất là ca sĩ Cẩm Ly
Vài Ca sĩ Việt Nam có hoài bảo vươn ra thị trường âm nhạc thế giới và đã đạt được một số thành công ban đầu: Ca sĩ Mỹ Tâm được đài truyền hình ABC xếp hạng 6 trong số các ca sĩ châu Á thành công nhất; Hồ Quỳnh Hương đoạt giải Huy chương vàng Liên hoan âm nhạc tại Bình Nhưỡng
== Tân nhạc Việt Nam đương đại ==
== Chú thích ==
^ Một số tài liệu ghi là Rivoal
^ Thời kỳ này Tô Vũ còn mang tên Hoàng Phú
^ Biệt hiệu của giáo sư Trần Văn Khê
^ Trích Hồi ký - Thời phân chia Quốc Cộng của Phạm Duy
^ Tản mạn về "Nhạc sến, nhạc sang" trên RFA
== Tham khảo ==
Lịch sử Tân nhạc Việt Nam 1 - Bài viết của Trần Quang Hải
Lịch sử Tân nhạc Việt Nam 2 - Bài viết của Trần Quang Hải
Nền âm nhạc hay nền Ca khúc quần chúng không nhạc đệm Việt Nam?
Tân nhạc hay Ca khúc quần chúng?
Tân Nhạc, Những Năm Đầu - Bài viết của Phạm Duy
Nhạc Việt - Một phác thảo - Bài viết của Trần Minh Phi
Ca khúc phổ thông Việt Nam
Popular music trên Visiting Arts (tiếng Anh)
== Xem thêm ==
Danh sách các nhạc sĩ Tân nhạc Việt Nam |
thomas edison.txt | Thomas Alva Edison (11 tháng 2 năm 1847 – 18 tháng 10 năm 1931) là một nhà phát minh và thương nhân đã phát triển rất nhiều thiết bị có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống trong thế kỷ 20. Ông được một nhà báo đặt danh hiệu "Thầy phù thủy ở Menlo Park", ông là một trong những nhà phát minh đầu tiên ứng dụng các nguyên tắc sản xuất hàng loạt vào quy trình sáng tạo, và vì thế có thể coi là đã sáng tạo ra phòng nghiên cứu công nghiệp đầu tiên. Một số phát minh được gán cho ông, tuy ông không hoàn toàn là người đầu tiên có ý tưởng đó, nhưng sau khi bằng sáng chế đầu tiên được thay đổi nó trở thành của ông (nổi tiếng nhất là bóng đèn, trên thực tế là công việc của rất nhiều người bên trong công ty của ông). Edison được coi là một trong những nhà phát minh giàu ý tưởng nhất trong lịch sử, ông giữ 1.093 bằng sáng chế tại Hoa Kỳ dưới tên ông, cũng như các bằng sáng chế ở Anh Quốc, Pháp, và Đức (tổng cộng 1.500 bằng phát minh trên toàn thế giới)
== Gia đình ==
Tổ tiên Edison (Gia đình Edison ở Hà Lan) đã nhập cư tới New Jersey năm 1730. John Edison vẫn trung thành với Anh Quốc khi các thuộc địa tuyên bố độc lập (xem Những người trung thành với Đế chế thống nhất), dẫn tới việc ông bị bắt giữ. Sau khi suýt bị treo cổ, ông và gia đình bỏ đi tới Nova Scotia,Canada, định cư trên vùng đất mà chính phủ thuộc địa dành cho những người trung thành với nước Anh.
== Ra đời và những năm thơ ấu ==
Thomas Edison sinh tại Milan, Ohio, con của Samuel Ogden Edison, Jr và Nancy Matthews Elliott (1810–1871). Thomas là đứa con thứ bảy trong gia đình. Thuở nhỏ, Edison nổi tiếng là một cậu bé hiếu kì. Edison đi học muộn vì ông vốn ốm yếu. Đầu óc ông luôn lơ mơ và giáo viên của ông là Reverend Engle gọi ông là "rối trí". Trong khi bạn bè đồng lứa còn ham chơi thì Edison đã không những luôn băn khoăn tìm hiểu mọi vật quanh mình mà còn muốn hiểu thấu đáo các vật đó. Vì những trò nghịch ngợm của mình mà Edison đã bị đuổi học ngay khi đi học được ba tháng. Mẹ ông từng là một giáo viên ở Canada và bà rất vui mừng đảm nhận việc dạy con. Bà khuyến khích và dạy ông đọc và làm thực nghiệm. Sau này ông nhớ lại, "Mẹ tôi đã tạo ra tôi. Bà rất tin tưởng và chắc chắn về tôi; và tôi cảm thấy rằng tôi có một điều gì đó để sống, một ai đó để tôi không thể làm cho thất vọng."
Cuộc sống của Edison ở Port Huron vừa cay đắng vừa ngọt ngào. Ông bán kẹo và bán báo trên các chuyến tàu hỏa từ Port Huron đến Detroit. Hơi điếc từ thời thanh niên, ông đã trở thành một điện tín viên sau khi ông cứu Jimmie Mackenzie khỏi lao vào tàu hoả. Cha của Jimmie là nhân viên nhà ga J.U. Mackenzie ở Mount Clemens, Michigan, rất vui mừng bảo trợ cho Edison và dạy ông trở thành điện tín viên. Chứng nặng tai giúp Edison tránh khỏi mọi tiếng ồn ào và cũng không phải nghe nhân viên điện báo bên cạnh. Một trong những cố vấn của ông những năm đầu tiên này là một điện tín viên già và là một nhà phát minh tên là Franklin Leonard Pope, ông đã cho phép chàng trai trẻ sống và làm việc trong tầng hầm ở nhà ông tại nhà Elizabeth, New Jersey.
Một số trong những phát minh đầu tiên của ông liên quan tới điện tín gồm cả máy đếm phiếu. Edison đã xin cấp bằng phát minh đầu tiên, máy đếm phiếu điện tử, ngày 28 tháng 10 năm 1868.
== Các cuộc hôn nhân và cuộc sống sau đó ==
Năm 1871, ở tuổi 24, Edison trở thành chủ một xí nghiệp được nhiều người biết tiếng. Cuộc sống dần ổn định và nhu cầu có một mái ấm gia đình chợt đến trong đầu. Ông chú ý đến cô thư ký Mary Stilwell dịu dàng, thanh mảnh làm việc trong công ty, một hôm, ông đến gặp nàng và nói: "Thưa cô, tôi không muốn phí thì giờ nói những câu vô ích. Tôi xin hỏi cô một câu rất ngắn gọn và rõ ràng: Cô có muốn làm vợ tôi không?". Cô gái sửng sốt, không tin ở tai mình - "Ý cô thế nào? Cô nhận lời tôi nhé? Tôi xin cô hãy suy nghĩ trong năm phút" - Edison nhắc lại lời cầu hôn cấp tốc của mình. "Năm phút cơ à? thế thì lâu quá! Vâng em nhận lời" - đỏ mặt lý nhí, Mary đáp. Ngày 25 tháng 12 năm 1871, ông cưới Mary, và họ có ba người con: Marion Estelle Edison, Thomas Alva Edison, và William Leslie Edison. Mary - vợ ông - qua đời năm 1884. Ngày 24 tháng 2 1886, ở tuổi ba chín, ông lấy Mina Miller một cô gái mười chín tuổi. Họ có thêm ba người con nữa: Madeleine Edison, Charles Edison (người tiếp quản công ty sau khi cha qua đời, và sau này trở thành Bộ trưởng Hải quân, được bầu làm Thống đốc bang New Jersey) và Theodore Edison.
Thomas Edison mất ở New Jersey ở tuổi 84. Sáng Chủ Nhật ngày 18/10/1931, Thomas Edison lìa trần chỉ 3 ngày trước lễ kỉ niệm sinh nhật lần thứ 52 của chiếc bóng điện đầu tiên. Những từ cuối cùng của ông nói với vợ là: "Ở ngoài kia đẹp quá".
Nước Mỹ tưởng nhớ ông bằng cách tắt toàn bộ đèn điện trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ trong một phút để tưởng nhớ người vĩ nhân, "người bạn của nhân loại" đã mang đến cho con người một thứ ánh sáng quý giá, một "mặt trời thứ hai".
== Nhà phát minh ==
Không học ở trường, Edison tự học ở sách theo cách riêng của mình. Dần dần, với sự suy nghĩ, tìm tòi, thực hiện không chú trọng lý thuyết suông, từng bước Edison đã chinh phục những gì mà người thời bấy giờ cho là không tưởng. Phát minh đầu tiên của ông là một chiếc máy điện báo tải hai có khả năng cùng một lúc phát đi hai tin. Ít lâu sau, ông cải tiến thành máy tải ba, tải tư rồi đa tải. Tải tư được bán cho Western Union với giá 10.000 USD.
Một thời gian sau, chán nản với công việc của một điện báo viên, Edison đến New York, trung tâm tài chính bậc nhất lúc bấy giờ, với hy vọng sẽ kiếm thêm chi phí cho các cuộc thí nghiệm của mình. Tại đây, ông đã hợp tác với vài người bạn thành lập một công ty nhỏ chuyên về điện và điện báo. Phát minh thứ hai của ông là cải tiến chiếc máy điện báo đa tải thành Hệ thống điện báo nhận các tin tức hối đoái ngân hàng. Chiếc máy đầu tiên đã đem về cho ông một số tiền lớn. Toàn bộ số tiến kiếm được lúc này, ông trút hết vào các thí nghiệm của mình về sau.
Phát minh đầu tiên mang lại nổi tiếng cho Edison là máy quay đĩa năm 1877. Công chúng không thể ngờ được về phát minh này và coi nó là điều ma thuật. Edison bắt đầu được gọi là "Thầy phù thủy ở Menlo Park, New Jersey", nơi ông sống. Chiếc máy quay đĩa đầu tiên của ông ghi lại âm thanh trên các trụ bọc thiếc cho chất lượng âm thanh thấp và nó phá hủy luôn đường rãnh ghi âm khi nghe lại nên chỉ có thể nghe được một lần. Trong thập kỷ 1880, một model được thiết kế lại sử dụng các trụ bìa giấy các tông tráng sáp ong được chế tạo bởi Alexander Graham Bell, Chichester Bell, và Charles Tainter. Đây là một lý do khiến Thomas Edison tiếp tục làm việc để tạo ra chiếc "Máy hát hoàn thiện" của riêng ông.
Ông cũng từng phát minh ra máy Kiểm phiếu điện tử và đã xin cấp bằng sáng chế, nhưng đã bị từ chối.
== Menlo Park ==
Sự cách tân lớn nhất của Edison chính là phòng thí nghiệm ở Menlo Park, nó được xây dựng ở New Jersey. Đây là viện nghiên cứu đầu tiên được thành lập với mục đích chuyên biệt nhằm tạo ra các cải tiến và cách tân liên tục trong công nghệ. Chính tại đây, đa số các phát minh được đưa vào thực tiễn của ông đã ra đời, mặc dù việc căn bản của ông là quản lý và điều hành công việc của các nhân viên.
. Ông góp công trong việc thực nghiệm điện thoại, máy quay đĩa, tàu điện, máy phân tích quặng, đèn điện, và một số cải tiến phát minh khác. Tuy nhiên, ban đầu ông làm việc về đèn điện và chịu trách nhiệm thử nghiệm và ghi lại về thiết bị đó. Năm 1880 ông được chỉ định làm kỹ sư trưởng của Xưởng đèn Edison. Trong năm đầu tiên này, xưởng dưới sự quản lý của Francis Upton, đã sản xuất ra 50.000 bóng đèn. Theo Edison, Hammer là "một người tiên phong trong lĩnh vực đèn chiếu sáng".
Đa số các bằng sáng chế của Edison là những bằng sáng chế hữu ích, chỉ khoảng hơn mười chiếc là bằng sáng chế thiết kế. Nhiều phát minh của ông không hoàn toàn là ý tưởng ban đầu của ông, nhưng những cải tiến giúp nó có thể được sản xuất hàng loạt là của ông. Ví dụ, trái với điều mọi người vẫn nghĩ, Edison không phát minh ra bóng đèn điện. Nhiều thiết kế đã được phát triển bởi các nhà phát minh từ trước đó gồm cả bằng sáng chế mà ông mua lại từ Henry Woodward và Mathew Evans, Moses G. Farmer, Joseph Swan, James Bowman Lindsay, William Sawyer, Humphry Davy, và Heinrich Göbel. Năm 1878, Edison xin cấp phép cho thuật ngữ sợi dây tóc cho yếu tố dây phát sáng mang dòng điện, mặc dù nhà phát minh người Anh Joseph Swan đã sử dụng thuật ngữ đó từ trước. Edison đã lấy các đặc tính từ các thiết kế trước đó và trao nhiệm vụ cho các công nhân của ông tạo ra những bóng đèn có tuổi thọ cao hơn. Năm 1879, ông đã sản xuất ra một ý niệm mới: một chiếc đèn có sức chịu đựng cao trong một môi trường chân không lớn, nó sẽ cháy sáng hàng trăm giờ. Trong khi những nhà phát minh trước đó đã sản xuất ra đèn điện trong các điều kiện phòng thí nghiệm, Edison đã tập trung vào việc áp dụng thương mại hóa và đã có thể bán ý tưởng của mình tới các gia đình và các cửa hàng bằng cách sản xuất hàng loạt các bóng đèn có tuổi thọ cao và tạo ra một hệ thống phát và cung cấp điện.
Phòng thí nghiệm Menlo Park có thể được xây dựng nhờ tiền bán bộ máy thu phát cùng lúc bốn tín hiệu mà Edison sáng chế ra năm 1874. Chiếc máy điện báo thu phát bốn tín hiệu cùng lúc có thể gửi bốn tín hiệu điện báo cùng lúc trên cùng một dây dẫn. Khi Edison liên hệ bán máy cho Western Union, ông đã bị sốc khi Western Union đưa ra một cái giá không thể ngờ nổi; quyền sáng chế được bán với giá $10.000. Chiếc máy điện báo này là thành công tài chính lớn đầu tiên của ông.
== Lĩnh vực điện khí ==
Năm 1879 Edison thành lập ra Thomson-Houston đến năm 1890 ông thành lập công ty Edison General Electric. Hai năm sau Edison General Electric và Thomson-Houston hợp nhất hình thành công ty Edison General Electric and Thomson-Houston, tiền thân của tập đoàn điện khí khổng lồ GE ngày nay. Về sau có tới hơn 10 công ty mang tên ông
Bắt đầu vận hành nhà máy điện đầu tiên
Năm 1880 Edison đăng ký bằng sáng chế về phân phối điện, sự kiện đó đóng vai trò chính trong việc tích lũy để phát minh ra đèn điện. Tháng 12 năm 1880, Edison thành lập Công ty Chiếu sáng mang tên ông đặt tại số 257, đường Pearl thành phố New York và đến năm 1882 đã thành công khi đưa trạm phát điện đầu tiên đi vào hoạt động.
Trạm phát điện đầu tiên "Jumbo số 1" là một máy phát điện chạy bằng hơi nước trực tiếp nặng 27 tấn, riêng phần lõi (armature) nặng đến 6 tấn và được sử dụng để làm mát không khí. Trạm phát điện này có thể làm sáng 700 ngọn đèn gồm 16 nến. Trong vòng 14 tháng, nhà máy điện đầu tiên của Edison đã phục vụ cho 508 thuê bao và hỗ trợ 12.732 bóng đèn.
Thành công thực sự của Edison, giống như người bạn của ông Henry Ford, trong khả năng của mình để tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc thành lập hệ thống sản xuất hàng loạt và các quyền sở hữu trí tuệ. George Westinghouse và Edison đã trở thành đối thủ vì Edison xúc tiến việc sử dụng dòng điện một chiều (DC) cho phân phối điện trong hệ thống luân phiên thay vì một hệ thống đơn giản hơn là dòng điện xoay chiều (AC) được phát minh bởi Nikola Tesla và xúc tiến bởi Westinghouse. Không giống như DC, dòng điện xoay chiều có thể được tăng cường điện áp rất cao bằng các máy biến áp, và sau đó truyền qua những đường dây điện mảnh hơn và rẻ hơn, và hạ điện áp tại điểm đến để phân phối cho người sử dụng.
Năm 1887, có 121 trạm phát điện Edison ở Hoa Kỳ cung cấp điện dòng điện một chiều cho khách hàng. Khi những hạn chế của dòng điện một chiều đã được thảo luận trước công chúng, Edison đã phát động một chiến dịch tuyên truyền để thuyết phục mọi người rằng dòng điện xoay chiều là quá nguy hiểm để sử dụng. Vấn đề với dòng điện một chiều là các nhà máy điện này chỉ cung cấp cho khách hàng trong vòng khoảng một dặm rưỡi (khoảng 2,4 km) từ các trạm phát điện, do đó nó chỉ thích hợp cho các trung tâm thương mại. Khi George Westinghouse đề nghị sử dụng điện áp cao dòng điện xoay chiều thay thế, vì nó có thể mang điện hàng trăm dặm và ít tổn hao do truyền tải khi so với điện một chiều, Edison đã tiến hành một "cuộc chiến tranh dòng điện" để ngăn chặn dòng điện xoay chiều được sử dựng rộng rãi.
Cuộc chiến chống lại dòng điện xoay chiều đã khiến ông tham gia vào việc phát triển và xúc tiến việc tử hình bằng ghế điện (sử dụng dòng AC) như một nỗ lực để miêu tả dòng điện xoay chiều có khả năng gây tử vong lớn hơn so với DC. Edison đã thực hiện một chiến dịch ngắn gọn nhưng mạnh mẽ để cấm việc sử dụng dòng điện xoay chiều hoặc hạn chế điện áp nhằm những mục đích an toàn. Trong một phần của chiến dịch này, nhân viên của Edison cho giật điện công khai một số động vật để chứng minh sự nguy hiểm của AC; dòng điện xoay chiều hơi nguy hiểm hơn ở những tần số gần 60 Hz vì có khả năng đáng kể gây nguy hiệm đến tính mạng hơn dòng điện một chiều. Một trong những thí nghiệm đáng chú ý của ông vào năm 1903, những công nhân của Edison cho giật điện con voi tên Topsy tại Luna Park, gần đảo Coney, sau khi nó giết vài người và chủ của nó muốn giết nó. Công ty của ông đã quay phim lại những cuộc tử hình bằng giật điện.
Cuối cùng thì Nikola Tesla đã chứng minh được tính hiệu quả của việc truyền tải và sử dụng dòng điện xoay chiều. Dòng điện xoay chiều sau đó thay thế hầu hết dòng điện một chiều trong các trạm phân phối điện, nhanh chóng mở rộng phạm vi và cải tiến hiệu quả của các trạm phân phối điện. Mặc dù dòng điện một chiều không còn được ưa chuộng sử dụng, nó vẫn tồn tại đến ngày nay trong những hệ thống dẫn truyền dòng điện một chiều điện áp cao (HVDC), cũng như các mạch điện tử, với các IC, BJT, hay các vi điều khiển,... vẫn cần được cấp nguồn một chiều . Dòng điện một chiều điện áp thấp vẫn còn tiếp tục được sử dụng cho những khu vực dông dân cư trong nhiều năm nhưng cuối cùng bị thay thế bởi hệ thống dòng điện xoay chiều điện áp thấp.
== Nhà cửa ==
Vào Thập niên 1880, Thomas Edison mua đất đai ở Fort Myers, Florida, và xây Seminole Lodge làm nơi nghỉ đông. Henry Ford, ông trùm ô tô, sau này đã sống ở nhà nghỉ đông của ông, The Mangoes phía đối diện. Edison thậm chí cũng đóng góp về kỹ thuật cho ngành ô tô. Họ là bạn bè tới tận khi Edison mất trong trạng thái bình yên, thọ 84 tuổi. Edison and Ford Winter Estates hiện đang mở cửa cho công chúng.
== Chuyện ngoài lề ==
Thomas Edison là một người có tư tưởng độc lập, và giống như một nhà thần luận, tuyên bố rằng ông không tin vào "Chúa và các nhà thần học", nhưng lại không nghi ngờ rằng "có một sự hiểu biết siêu nhiên". Tuy nhiên, ông phản đối ý kiến về siêu nhiên, cùng với những ý tưởng về linh hồn, sự bất tử, và hiện thân của Chúa. Ông nói, "Thiên nhiên không nhân từ và đáng yêu, mà hoàn toàn tàn nhẫn, xa lạ."
Ông đã mua một ngôi nhà gọi là "Glenmont" năm 1886 coi đó là món quà cưới cho Mina ở Llewellyn Park tại West Orange, New Jersey. Mộ của Thomas và Mina Edison hiện đang được chôn cất tại đó. Vùng đất rộng 13.5 acre (55.000 m²) được National Park Service giữ gìn làm Di tích lịch sử quốc gia Edison.
Edison đã trở thành người sở hữu nơi sinh của ông Milan, Ohio năm 1906, và, trong lần tới thăm cuối cùng năm 1923, ông đã sốc khi thấy ngôi nhà cũ của mình vẫn được chiếu sáng bằng đèn và nến.
Năm 1878, ông được phong tước Hiệp sĩ Quân đoàn danh dự của Pháp, và năm 1889, ông được phong làm Chỉ huy Quân đoàn danh dự.
Bị ảnh hưởng bởi một chế độ ăn giàu chất béo vào hồi đó, trong những năm cuối đời "ông không ăn gì ngoài cứ ba giờ uống một lít sữa". Ông tin rằng chế độ ăn như vậy sẽ giúp ông hồi phục sức khỏe.
Trong cả cuộc đời ông rất nặng tai.
Thomas Edison đã viết một bức thư nổi tiếng cho nhà chế tạo đàn piano là Steinway & Sons sau khi định giá một trong những chiếc đàn của họ:
"Gửi Steinway & Sons —
"Thưa các quý ông,
"Tôi đã quyết định giữ chiếc đàn piano tuyệt vời của các vị. Vì một số lý do không thể hiểu được đối với tôi nó đã mang lại những kết quả tuyệt diệu so với những lần tôi từng thử trước đó. Xin hãy gửi hóa đơn cho tôi với giá rẻ nhất.
"— Thomas Edison.
"2 tháng 6 1890"
== Danh sách các cống hiến ==
Người ta thống kê được, Edison có tổng cộng đến 1.907 phát minh được cấp bằng sáng chế - một con số khổng lồ.
Máy quay đĩa
Máy chiếu phim
Máy ghi âm
Cung cấp hỗ trợ tài chính cho công việc của Guglielmo Marconi về truyền phát radio và có được nhiều bằng sáng chế.
Tattoo gun (Dựa trên Bút điện, được sử dụng để tạo ra các bản copy rô nê ô)
Bóng đèn
== Những cải tiến công việc của Edison ==
Lewis Latimer được cấp bằng sáng chế một cách cải tiến cách sản xuất dây tóc đèn trong bóng (không có bằng chứng rằng thứ này từng được sử dụng ở một công ty của Edison).
Nikola Tesla đã phát triển phân phối điện xoay chiều, có thể được dùng để truyền điện qua khoảng cách xa hơn điện một chiều của Edison nhờ vào máy biến thế. Việc phát hiện về khả năng tạo ra dòng điện xoay chiều bắt nguồn rằng dòng điện xoay chiều bắt nguồn từ thí nghiệm của Michael Faraday , và sau đó được Tesla phát triển qua nhiều bằng sáng chế về các máy phát điện nhiều pha. Tesla là cựu nhân viên của Edison, và sau đó bỏ công ty của Edison để đi theo con đường phát triển hệ thống truyền tải điện xoay chiều - mà Edison không ủng hộ.
Emile Berliner đã phát triển máy hát, về cơ bản nó là một máy quay đĩa cải tiến, với khác biệt căn bản là sử dụng bản ghi phẳng với các đường rãnh xoắn ốc.
Edward H. Johnson có những bóng đèn được chế tạo đặc biệt, và được lắp đặt ở nhà ông ở Fifth Avenue tại thành phố New York trên Cây thông Noel đầu tiên được trang trí bằng điện vào 22 tháng 12 năm 1882.
== Tưởng nhớ ==
Thị trấn Edison, New Jersey, và Thomas Edison State College, một trường trung học nổi tiếng quốc gia cho thanh niên ở Trenton, New Jersey, được đặt theo tên nhà phát minh. Có một Tháp tưởng niệm và Bảo tàng Thomas Alva Edison Memorial Tower ở thị trấn Edison.
Huy chương Edison được thành lập ngày 11 tháng 2 năm 1904 bởi một nhóm bạn và người cộng tác với Edison. Bốn năm sau Viện kỹ sư điện Hoa Kỳ (AIEE), sau này là IEEE, đã đồng ý với nhóm trên để dùng huy hiệu làm phần thưởng cao quý nhất của họ. Huy hiệu đầu tiên được trao năm 1909 cho Elihu Thomson, và đáng ngạc nhiên là cả Tesla năm 1917. Huy hiệu Edison là phần thưởng xưa nhất trong lĩnh vực điện và kỹ thuật điện, và được trao hàng năm "cho một thành quả chuyên môn xứng đáng trong khoa học điện, kỹ thuật điện hay nghệ thuật điện."
Tạp chí Life (Mỹ), trong một số đặc biệt, đã đưa Edison vào danh sách "100 người quan trọng nhất trong 1000 năm qua", ghi chú rằng bóng đèn của ông đã "chiếu sáng thế giới". Ông được xếp hạng ba mươi năm trên danh sách Những khuôn mặt có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ của Michael H. Hart.
Khách sạn của thành phố, ở Sunbury, Pennsylvania, là tòa nhà đầu tiên được chiếu sáng với hệ thống ba dây của Edison. Khách sạn này được đổi tên thành Khách sạn Edison, và hiện vẫn giữ tên đó.
Bảo tàng Port Huron, ở Port Huron, Michigan, vẫn gìn giữ bến xe lửa nơi Thomas Edison từng bán bánh kẹo. Bến xe lửa này đã được đổi tên một cách rất thích hợp thành Bảo tàng nhà ga Thomas Edison. Thị trấn có nhiều mốc lịch sử của Edison gồm mộ cha mẹ Edison.
Hải quân Hoa Kỳ đặt tên chiếc USS Edison (DD-439), một Gleaves-class tàu khu trục, để vinh danh ông năm 1940. Chiếc tàu này đã được giải giới vài tháng sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1962, hải quân đặt hàng chiếc tàu USS Thomas A. Edison (SSBN-610), một tàu ngầm năng lượng nguyên tử mang tên lửa đạn đạo. Nó được giải giới ngày 1 tháng 12 năm 1983, Thomas A. Edison đã bị tác động mạnh nhất từ Naval Vessel Register vào ngày 30 tháng 4 năm 1986. Nó thuộc Chương trình các tàu năng lượng nguyên tử và những tàu ngầm tái chế của hải quân ở Bremerton, Washington, bắt đầu vào 1 tháng 10 năm 1996. Khi nó kết thúc chương trình ngày 1 tháng 12 năm 1997, nó bị tháo dỡ thành những mảnh rời.
Để ghi nhớ những cống hiến to lớn của các nhà phát minh dành cho đất nước và thế giới, Nghị viện, theo Nghị quyết số 140 của cả hai nghị viện (Luật công cộng 97 - 198), đã chỉ định ngày 11 tháng 2, là ngày kỷ niệm ngày sinh của Thomas Alva Edison, là Ngày các nhà phát minh quốc gia.
Ở Hà Lan giải thưởng âm nhạc lớn được lấy theo tên ông.
Trong serie Kamen Rider Ghost, Edison là một trong 15 linh hồn danh nhân hỗ trợ các Kamen Rider, trong đó Edison mang số hiệu 02.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Các tác phẩm của Thomas Edison tại Dự án Gutenberg
Biography, Pictures, and Sounds
Edison cylinder recordings, từ Cylinder Preservation and Digitization Project tại Thư viện của Đại học California, Santa Barbara.
4-disc DVD set containing over 140 films produced by the Thomas Edison Company.
Danh sách đầy đủ 1.093 bằng sáng chế.
Tiểu sử
Edison, His Life and Inventions của Frank Lewis Dyer và Thomas Commerford Martin' tại Dự án Gutenberg
"Edison, His Life And Inventions" bởi Frank Lewis Dyer tại Worldwideschool.org
"Thomas Edison", bởi Gerry Beales.
"Thomas Alva Edison" bởi John Patrick Michael Murphy.
Những địa điểm lịch sử
Edison Birthplace Museum
Thomas Edison House
Edison National Historic Site
Menlo Park
Edison Depot Museum
Edison exhibit and Menlo Park Laboratory at Henry Ford Museum
Tài liệu
Rutgers: Edison Papers
Rutgers: Edison Patents
Edisonian Museum Antique Electrics
Thomas A. Edison in his laboratory in New Jersey, 1901
"Edison's Miracle of Light." American Experience, PBS.
William J. Hammer collection - ca. 1874-1935, 1955-1957. Archives Center, National Museum of American History, Smithsonian Institution. |
hàng rào điện tử mcnamara.txt | Hàng rào điện tử McNamara là tên gọi cho hệ thống các phương tiện điện tử phát hiện thâm nhập được quân đội Mỹ sử dụng dọc theo khu phi quân sự ở Vĩ tuyến 17 và đường mòn Hồ Chí Minh như một biện pháp trinh sát mặt đất tự động nhằm phát hiện các hoạt động vận chuyển của Quân đội Nhân dân Việt Nam lưu thông qua khu vực này trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, công trình này đã xem như bị phá sản từ sau năm 1968, sau khi Quân đội Nhân dân Việt Nam mở cuộc Tổng tiến công Mậu Thân và cuộc tấn công căn cứ Khe Sanh.
Hàng rào điện tử McNamara được quyết định xây dựng từ tháng 6 năm 1966 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của bộ trưởng quốc phòng Mĩ Robert McNamara, bao gồm hệ thống 17 căn cứ quân sự, kết hợp với hệ thống vật cản (hàng rào dây thép gai, bãi mìn...), các thiết bị trinh sát điện tử mặt đất và trên không (rađa, máy cảm ứng âm thanh, cảm ứng địa chấn...), được bố trí liên hoàn trong khu vực có chiều rộng 10–20 km, dài khoảng 100 km từ cảng Cửa Việt lên đường 9, tới biên giới Việt Nam – Lào, sang Mường Phìn (Lào). Công trình tiêu tốn 2 tỉ Mỹ kim (tương đương 12 tỷ USD theo thời giá 2015) dù trước khi khởi công, McNamara chỉ ước tính tốn kém khoảng 1 tỷ Mỹ kim.
Các máy phát hiện thâm nhập thường theo nguyên lý phát hiện địa chấn, vì vậy chúng có tên gọi kết thúc bằng 3 chữ SID (Seismic Intrusion Detector). Các máy này dùng để phát hiện thâm nhập bằng đường bộ. Loại máy được biết đến nhiều nhất, thường được gọi là "cây nhiệt đới" (ADSID hay Air Delivered Seismic Intrusion Detector), được thả từ trên máy bay để đầu nhọn có cảm biến địa chấn cắm vào trong đất. Phần thấy được còn lại trên mặt đất là ăng-ten. Có loại máy phát hiện địa chấn có kèm thêm bộ phận thu truyền âm thanh để trạm trinh sát kiểm tra đối tượng gây địa chấn là người hay xe vận tải (ACOUSID).
Ngoài các máy phát hiện địa chấn thả từ máy bay còn có các máy có tính năng tương tự do binh lính triển khai, thường dùng trong các hoạt động chiến thuật phục vụ canh phòng hay phục kích (GSID hay Ground Seismic Intrusion Detector, PSID hay Patrol Seismic Intrusion Detector và HANDSID).
Ở các vùng bùn nước nhiều, không thể dùng máy phát hiện địa chấn, quân đội Mỹ dùng máy phát hiện thâm nhập EMID (Electro-Magnetic Intrusion Detector) hoạt động theo nguyên tắc phát hiện nhiễu loạn cường độ sóng phản xạ. Tuy nhiên trên thực tế hầu như người ta không phát hiện thấy sử dụng loại máy này.
Cùng với các máy phát hiện, hệ thống còn có các máy thu (hiển thị kết quả phát hiện) xách tay dùng cho các hoạt động chiến thuật, các trạm chuyển tiếp sóng vô tuyến điện có và không người trông coi, các trạm thu ghi và phân tích kết quả phát hiện để có tin tình báo cấp chiến trường.
Sau khi việc xây dựng Hàng rào McNamara bị huỷ bỏ, một kế hoạch mới cũng sử dụng đến các thiết bị điện tử - Chiến dịch Igloo White - đã được tiến hành. Theo tài liệu tham khảo thì trong khoảng thời gian của chương trình Igloo White, từ 1968 đến 1971, Mỹ đã chi 1,7 tỷ đô-la cho mạng lưới 20.000 máy phát hiện rải trên đường mòn HCM ở Lào. Một Trung tâm Cảnh giới Xâm nhập (ISC hay Infiltration Surveillance Center) đặt tại căn cứ không quân Mỹ tại Nakhon Phanom, Thái Lan với diện tích 18.500 mét vuông, được trang bị máy tính IBM 360-65 thuộc loại hiện đại nhất khi đó làm nhiệm vụ thu nhận, lưu trữ và xử lý dữ liệu nhận được từ các máy phát hiện.
Khi quân đội Mỹ rút khỏi chiến tranh Việt Nam, thực hiện Hiệp định Paris 1973, hệ thống các phương tiện phát hiện thâm nhập đang có trong lãnh thổ Việt Nam được chuyển giao cho quân đội Sài Gòn.
== Tham khảo ==
Special Operations Forces and Elusive Enemy Ground Targets: Lessons from Vietnam and the Persian Gulf War, William Rosenau, ISBN 0-8330-3071-X, MR-1408-AF, © 2001. [1]
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
The McNamara Line
http://home.att.net/~c.jeppeson/igloo_white.html |
nhạc đại chúng.txt | Nhạc đại chúng hay nhạc phổ thông là bất kỳ thể loại nhạc nào "có sức hút rộng khắp" và thường được phân phối đến lượng khán giả lớn thông qua ngành công nghiệp âm nhạc. Nó trái ngược với cả nhạc nghệ thuật và nhạc cổ truyền, những thể loại nhạc mà thường được phổ biến thông qua học tập hay hình thức truyền miệng hướng tới lượng khán giả nhỏ hơn, mang tính địa phương. Mặc dù nhạc đại chúng đôi khi được hiểu như là "nhạc pop" nhưng hai thuật ngữ này không thể hoán đổi cho nhau được. Nhạc đại chúng là một thuật ngữ chung về âm nhạc của mọi lứa tuổi hướng tới những thị hiếu phổ thông, đại chúng, trong khi nhạc pop thường chỉ đến một thể loại âm nhạc cụ thể.
== Xem thêm ==
Văn hoá đại chúng
Tân nhạc Việt Nam
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
timothy anjembe.txt | Timothy Anjembe là một cầu thủ bóng đá người Nigeria hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Hoàng Anh Gia Lai tại V.League 1. Năm 2005, anh chơi cho câu lạc bộ Lobi Stars, nơi mà anh đã giành danh hiệu vua phá lưới Nigerian Premier League, giải đấu cao nhất của Nigeria, ở tuổi 18 và được coi là một trong những tài năng trẻ đầy triển vọng của giải. Một năm sau đó, anh chuyển đến câu lạc bộ Enyimba và thi đấu tại Giải vô địch các câu lạc bộ châu Phi.
Timothy Anjembe rời Nigeria để tới câu lạc bộ XM The Vissai Ninh Binh năm 2009 nhưng sau đó anh lại được đem cho câu lạc bộ Đồng Tháp mượn. Trong trận đấu ra mắt câu lạc bộ, anh lập 1 hattrick vào lưới Hoàng Anh Gia Lai qua đó ấn định chiến thắng 3-0 của câu lạc bộ Đồng Tháp. Kết thúc mùa giải, anh được đề cử cho danh hiệu cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất giải. Năm 2010, Timothy Anjembe gia nhập Hòa Phát Hà Nội, một câu lạc bộ có trụ sở tại Hà Nội.
== 2013 ==
Sau mùa giải 2012 tại Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội (Hòa Phát Hà Nội cũ), anh may mắn giành được danh hiệu vua phá lưới với 16 bàn chỉ kém Gaston Merlo của SHB Đà Nẵng 1 bàn do cầu thủ của đội bóng sông Hàn bị chấn thương trong giai đoạn cuối mùa giải.
Bầu Kiên sau đó bị bắt còn Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội cũng bị giải thể do đó anh và các đồng đội phải nhanh chóng tìm bến đỗ mới và điểm đến tiếp theo của anh chính là đội bóng Cố Đô Hoa Lư.
== Cá nhân ==
Vua phá lưới Nigerian Premier League 2005
Vua Phá Lưới V-League 2012
== Chú thích == |
sa mạc gobi.txt | Sa mạc Gobi ( /ˈɡoʊ.bi/; tiếng Mông Cổ: Говь, govĭ, /ɢɔwʲ/, "semidesert"; tiếng Trung: 戈壁; bính âm: Gēbì, Tiểu Nhi Kinh: قْبِ, /kɤ˥pi˥˩/) là một vùng hoang mạc lớn tại châu Á. Trãi rộng trên một phần khu vực Bắc-Tây Bắc Trung Quốc, và Nam Mông Cổ. Sa mạc Gobi được vây quanh bởi dãy Altai, thảo nguyên và đồng cỏ Mông Cổ về phía bắc, hoang mạc Taklamakan về phía tây, hành lang Hà Tây và cao nguyên Thanh Tạng về phía tây nam, và bình nguyên Hoa Bắc về phía đông nam. Gobi từng là một phần của Đế quốc Mông Cổ, và từng là nơi nhiều thành phố dọc theo con đường Tơ lụa hiện diện.
Gobi là một sa mạc bóng mưa, được tạo nên do dãy núi Himalaya chắn hết mây mưa từ Ấn Độ Dương.
== Tham khảo == |
forint.txt | Forint là đơn vị tiền tệ của Hungary. Nó có ký hiệu là Ft, và có mã ISO 4217 là HUF. Trước đây, Forint lại được chia thành đơn vị tiền tệ nhỏ hơn là filliér; từ năm 1999 đơn vị này không còn được lưu thông.
Forint gồm có 2 dạng: tiền giấy và tiền kim loại. Tiền giấy gồm các mệnh giá 200, 500, 1000, 2000, 5000, 10 000, 20 000 forint do Ngân hàng Quốc gia Hungary phát hành. Loạt tiền giấy hiện đang lưu thông bắt đầu được phát hành từ năm 1997.
Tiền kim loại gồm các mệnh giá 5, 10, 20, 50, 100, 200 forint do Công ty Đúc tiền Hungary phát hành. Loạt tiền kim loại hiện đang lưu thông được bắt đầu phát hành từ năm 1990 thay thế cho các tiền kim loại phát hành dưới thời xã hội chủ nghĩa.
Forint trở thành tên gọi của đơn vị tiền tệ của Hungary từ năm 1867. Từ năm 1892 đến năm 1946, đơn vị tiền tệ của Hungary không mang tên Forint mà lần lượt mang các tên Korona, Pengő, Adópengő. Từ năm 1946, Forint lại trở thành tên gọi chính thức của đơn vị tiền tệ của Hungary.
Hiện Hungary đang có mục tiêu gia nhập Khu vực đồng Euro. Khi trở thành thành viên chính thức của khối này, Euro sẽ thay thế Forint làm đơn vị tiền tệ của Hungary.
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng HUF ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tỷ giá HUF/USD qua Yahoo Finance.
Tỷ giá HUF/Euro qua Yahoo Finance.
== Xem thêm == |
tuvalu.txt | Tuvalu (IPA: [t:u:'valu]), còn được biết với tên Quần đảo Ellice, là một đảo quốc thuộc vùng phía Nam Thái Bình Dương, nằm giữa Hawaii và Úc. Diện tích Tuvalu bao gồm các đảo đá ngầm và san hô, và vùng rừng rậm chỉ rộng khoảng 26 km² (khoảng 10 dặm vuông) (đứng hàng thứ tư trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ nhỏ nhất thế giới, sau Vatican - 0.44 km²; công quốc Monaco - 1.95 km² và Nauru - 21 km²).
Căn cứ vào các tài liệu lịch sử, các nhà khoa học đã chứng minh rằng người Polynesia chính là những cư dân đầu tiên đặt chân lên Tuvalu. Đến cuối thế kỷ thứ 19, Tuvalu bị thực dân cai quản. Trong suốt một thời gian dài (1892-1916), một phần đặt dưới quyền bảo hộ của chính quyền Anh. Năm 1916, một phần của quần đảo Gilbert và Ellice trở thành thuộc địa của thực dân Anh. Đến năm 1974, người dân đảo quốc này đã bỏ phiếu biểu quyết, chia thuộc địa này thành thành 2 vùng: quần đảo Gilbert trở thành quốc gia Kiribati độc lập; quần đảo Tuvalu phụ thuộc Anh. Năm 1978, Tuvalu gia nhập các nước thành viên thuộc Khối thịnh vượng chung Anh.
== Lịch sử ==
Những cư dân đầu tiên ở các đảo Tuvalu hiện nay có lẽ là người Samoa và Tonga thuộc chủng tộc Polynesia đã định cư tại Tuvalu khoảng 3000 năm trước. Năm 1764, thuyền trưởng John Byron đặt chân đến các đảo này. Nhóm đảo này trở thành xứ bảo hộ của Anh năm 1892, là một phần của thuộc địa Anh với tên gọi quần đảo Gilbert và Ellice từ năm 1915 và hưởng quy chế tự trị từ năm 1971. Sau cuộc trưng cầu ý dân năm 1975, quần đảo Ellice tách khỏi quần đảo Gilbert (nay là Kiribati) và đổi tên là Tuvalu. Đảo quốc này giành độc lập năm 1978 và là nước thành viên thuộc Khối Liên hiệp Anh. Năm 1979, Hoa Kỳ và Tuvalu ký hiệp ước hữu nghị thừa nhận Tuvalu sở hữu 4 đảo trước đây của Hoa Kỳ. Ionatana giữ chức Thủ tướng từ tháng 3 năm 1999 cho đến khi qua đời (12-2000). Faimalaga Luka được bầu làm người kế nhiệm. Tuvalu gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 2000. Năm 2001, chính phủ Tuvalu đề nghị Úc và New Zealand giúp đỡ việc tái định cư các công dân nước này nếu hiện tượng nóng dần lên của toàn cầu làm mực nước biển dâng lên đáng kể. Điểm cao nhất của quốc gia này chỉ khoảng 5m so với mực nước biển. Năm 2001, Koloa Talake được bầu làm người kế nhiệm.
== Địa lý ==
Tuvalu thuộc quần đảo Polynesia, nằm ở phía Đông quần đảo Solomon và phía Bắc Fiji. Quần đảo san hô này gồm 9 đảo nhỏ, trước đây có tên gọi là quần đảo Ellice.
== Khí hậu ==
Khí hậu nhiệt đới, ôn hòa nhờ gió mậu dịch.
== Môi trường ==
Phần lớn nguồn nước sạch được trữ bằng hệ thống hồ chứa (Chính phủ Nhật Bản giúp xây dựng một nhà máy lọc nước biển, dự kiến sẽ xây dựng thêm một nhà máy nữa); các bãi biển bị xói mòn do khai thác cát để xây dựng; các dải đá ngầm san hô đang bị phá hủy; mực nước biển dâng cao do hiệu ứng nhà kính, có nguy cơ nhấn chìm đất đai.
== Chính trị ==
Chính trị của Tuvalu diễn ra trong khuôn khổ của một chế độ quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện, theo đó Nữ hoàng Anh là người đứng đầu nhà nước, đại diện bởi Thống đốc, trong khi Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Tuvalu theo hệ thống Westminster mặc dù Tuvalu là một nền dân chủ phi đảng phái và các cuộc bầu cử ở Tuvalu diễn ra mà không có các đảng chính trị chính thức tham gia.
Trong năm 2008, Tuvalu từ chối một cuộc trưng cầu hiến pháp đề xuất thay thế Nữ hoàng của Tuvalu, với một tổng thống được bầu làm người đứng đầu nhà nước.
Tuvalu duy trì một ngành tư pháp độc lập bao gồm một Tòa án Tối cao, Tòa án Sơ thẩm gọi là Funafuti và Toà án đảo và Toà án Lands trên mỗi đảo. Khiếu nại liên quan đến tranh chấp đất đai được thực hiện bởi Toà án phúc thẩm Panel. Kháng cáo từ Tòa án đảo và cToà án phúc thẩm được thực hiện bởi các Tòa án Sơ thẩm, trong đó có thẩm quyền xét xử vụ án dân sự liên quan đến lên đến trên 10,000$. Các tòa án tối cao là Tòa án Tối cao Tuvalu vì nó có thẩm quyền ban đầu không giới hạn và nghe kháng cáo từ tòa án thấp hơn. Phán quyết của Tòa án Tối cao có thể được kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm của Tuvalu. Từ Tòa án cấp phúc thẩm có quyền khiếu nại đến Nữ hoàng trong Hội đồng, tức là Hội đồng Cơ mật ở London.
Pháp luật của Tuvalu bao gồm các pháp luật của Quốc hội Tuvalu đặt ra và văn bản pháp luật đó trở thành luật; pháp luật chung và luật tục (đặc biệt liên quan đến quyền sở hữu đất) tồn tại ở các đảo.
Ngành lập pháp là Quốc hội đơn viện có 15 thành viên, được bầu với nhiệm kỳ bốn năm.
== Hành chính ==
Cư dân của Tuvalu sinh sống trên 9 đảo, 5 trong số chúng là rạn san hô vòng.
Các quận gồm hơn một đảo:
Funafuti
Nanumea
Nui
Nukufetau
Nukulaelae
Vaitupu
Các quận gồm một đảo:
Nanumanga
Niulakita
Niutao
== Ngoại giao ==
Tuvalu là thành viên của Ban Thư ký Cộng đồng Thái Bình Dương, Tòa án nhân dân tối cao Thái Bình Dương và là một thành viên của Diễn đàn các đảo Thái Bình Dương, Khối thịnh vượng chung Anh và Liên Hợp Quốc. Tuvalu có đại sứ ngoại giao của mình tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở thành phố New York từ năm 2000. Tuvalu là còn là thành viên của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á.
Tuvalu duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Fiji, New Zealand, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh và Liên minh châu Âu (EU). Tuvalu có quan hệ ngoại giao với Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Trung Hoa Dân Quốc duy trì Đại sứ quán thường trú tại Tuvalu và có một chương trình hỗ trợ lớn về nhiều mặt cho quốc đảo này.
Một ưu tiên quốc tế lớn dành cho Tuvalu bởi Liên Hợp Quốc, tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 2002 tại Johannesburg, Nam Phi và trong các diễn đàn quốc tế khác là thúc đẩy mối quan tâm về sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển có thể tăng lên. Tuvalu phê chuẩn và thực hiện Nghị định thư Kyoto. Trong tháng 12 năm 2009, Tuvalu phản đối các điều khoản trong các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu tại Hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc diễn ra tại Copenhagen, vì lo ngại một số nước phát triển khác không cam kết đầy đủ các thỏa thuận ràng buộc về giảm khí thải carbon, trưởng đoàn đàm phán của Tuvalu tuyên bố "Tuvalu là một trong những các quốc gia dễ bị tổn thương nhất thế giới do biến đổi khí hậu, và tương lai của chúng tôi dựa trên kết quả của cuộc họp này ".
Tuvalu cũng đã ký một hiệp ước hữu nghị với Hoa Kỳ về chủ quyền lãnh thổ, được ký kết ngay sau khi quốc đảo này độc lập và được phê chuẩn bởi Thượng viện Hoa Kỳ vào năm 1983, theo đó Hoa Kỳ từ bỏ các yêu sách trước đây khi tuyên bố lãnh thổ với bốn hòn đảo của Tuvaluan (Funafuti, Nukefetau, Nukulaelae và Niulakita) là của mình theo Đạo luật đảo phân chia năm 1856.
== Kinh tế ==
Tuvalu gồm 9 đảo san hô nằm rải rác và đông đúc dân cư, nhưng đất đai ít màu mỡ và không có tài nguyên khoáng sản. Các hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào đánh bắt cá và trồng cây lương thực. Thu nhập chính của chính phủ từ bán tem và các đồng tiền xưa, ngoại tệ của công nhân gởi về.
Khoảng 1.000 công nhân Tuvalu khai thác mỏ phosphat làm việc ở Nauru, nhưng các công nhân này phải hồi hương vì nguồn phosphat cạn kiệt. Tuvalu nhận tài trợ hàng năm từ nguồn quỹ ủy thác quốc tế do Úc, New Zealand, Anh, Nhật Bản và Hàn Quốc tài trợ. Hoa Kỳ cũng tài trợ phần lớn cho Tuvalu. Hiện nay chính phủ đang cố gắng giảm bớt lệ thuộc vào nước ngoài bằng cách tiến hành cải cách khu vực công kể cả tư nhân hóa một số chức năng trong chính phủ, và cắt giảm số công chức đến 7%.
Từ năm 1996 đến 2002, Tuvalu là một trong những nước có nền kinh tế phát triển tốt nhất trong các nền kinh tế ở châu Đại Dương và đạt được một số kết quả phát triển kinh tế đáng kể như tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng 5,6% mỗi năm. Từ năm 2002 tăng trưởng kinh tế đã chậm lại với GDP chỉ 1,5% trong năm 2008. Năm 2008, Tuvalu là một trong những nước có mức độ lạm phát cao nhất thế giới với mức lạm phát đạt đỉnh điểm 13,4%. Theo các báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dựa trên các ước tính kinh tế của Tuvalu thì quốc đảo này đã không có bất kỳ sự tăng trưởng kinh tế nào trong năm 2010, sau khi nền kinh tế này chỉ tăng trưởng khoảng 2% trong năm 2009.
Công nhân khu vực công chiếm khoảng 2/3 của lực lượng lao động chính thức. Khoảng 15% nam giới làm việc trên các tàu buôn nước ngoài. Lực lượng lao động còn lại làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và đánh cá.
Tuvalu tạo ra các khoản thu nhập cho ngân sách quốc gia từ các chương trình thương mại hóa các địa chỉ web, thu thuế đánh bắt cá, bán tem và tiền xu cổ, lượng tiên kiều hối từ những công dân Tuvalu sống tại Úc và New Zealand. Và các khoản thu từ các thủy thủ người Tuvalu làm việc trên tàu nước ngoài.
Năm 1998, Tuvalu đã bắt đầu có doanh thu từ việc sử dụng mã vùng của mình "900" trong điện thoại và từ việc bán "truyền hình", tên miền Internet.
Các khoản viện trợ khác của Tuvalu do Vương quốc Anh, Úc và New Zealand viện trợ từ năm 1987 với số tiền viện trợ khoảng 100 triệu USD mỗi năm.
Úc và New Zealand tiếp tục viện trợ lớn cho Tuvalu và cung cấp các hình thức hỗ trợ phát triển khác. Chính phủ Mỹ cũng là một nguồn viện trợ lớn cho Tuvalu, với năm 1999 viện trợ cho Hiệp ước Cá ngừ Nam Thái Bình Dương (SPTT) vào khoảng 9 triệu USD, tổng cộng dự kiến sẽ tăng lên hàng năm. SPTT có hiệu lực vào năm 1988 với các thỏa thuận SPTT hiện tại hết hạn vào ngày 14 tháng 6, năm 2013. Hỗ trợ tài chính để Tuvalu phát triển kinh tế cũng được cung cấp bởi Nhật Bản, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu (EU).
== Giao thông ==
Dịch vụ giao thông vận tải ở Tuvalu còn hạn chế. Có khoảng 8 km đường bộ. [103] Các đường phố ở Funafuti được trải nhựa và giữa năm 2002 những con đường ở các đảo khác được trải nhựa. Tuvalu là một trong số ít các quốc gia không có đường sắt.
Funafuti là cảng duy nhất nhưng chỉ có một bến nước sâu trong bến cảng ở Nukufetau. Các tàu biển thương mại bao gồm hai tàu chở hành khách hàng và hóa tàu là Nivaga II và Manu Folau. Các tàu vận chuyển hàng hóa, hành khách giữa các đảo san hô chính.
Sân bay duy nhất là sân bay quốc tế Funafuti. Hãng hàng không Thái Bình Dương, chủ sở hữu của Hãng hàng không Fiji hoạt động dịch vụ giữa Suva và Funafuti với một chiếc máy bay 40 chỗ ngồi, bay hai lần một tuần.
== Giáo dục - Y tế ==
Mỗi đảo đều có trường tiểu học công lập, một số đảo còn có trường trung học. Sau khi học xong bậc tiểu học, học sinh có thể theo học ở các trường dạy nghề. Tuvalu có trường hàng hải đào tạo các thợ máy trên tàu. Ngoài ra, tại đảo Funafuti còn có trung tâm mở rộng trực thuộc trường Đại học Nam Thái Bình Dương đặt ở Fiji. Chăm sóc sức khỏe được miễn phí. Tuvalu có một bệnh viện ở đảo Funafuti, ngoài ra các đảo khác đều có phòng khám cấp cứu.
== Văn hóa ==
=== Du lịch ===
Đảo chính Funafuti là trọng tâm của ngành du khách. Du lịch sinh thái là một động lực thúc đẩy du khách tới Tuvalu. Khu bảo tồn Funafuti bao gồm 33 km² biển, rặng san hô, đầm phá, kênh và sáu hòn đảo không có người ở.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Official Website of the Government of Tuvalu
TuvaluIslands.com
Timeless Tuvalu - The Official Travel Website of Tuvalu
Open Directory Project - Tuvalu directory category
PBS Rough Cut: Tuvalu: That Sinking Feeling
Effects of Climate Change on Tuvalu
Environment: Tiny Tuvalu Fights for Its Literal Survival |
cục sở hữu trí tuệ (việt nam).txt | Cục Sở hữu trí tuệ là cơ quan trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, thực hiện chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thống nhất quản lý nhà nước và đảm bảo các hoạt động sự nghiệp chuyên ngành về sở hữu trí tuệ trên phạm vi cả nước.
== Quá trình hình thành và phát triển ==
Thành lập Phòng Sáng chế phát minh, tổ chức tiền thân của Cục Sở hữu trí tuệ ngày nay.
Năm 1959, thành lập ủy ban Khoa học Nhà nước trong đó có Phòng Sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Năm 1973, cục được đổi thành Phòng Sáng chế phát minh.
Cục Sáng chế
Ngày 29/7/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 125/HĐBT về việc sửa đổi tổ chức bộ máy của ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước trong đó có Cục Sáng chế là một đơn vị trực thuộc. Và, Ngày 29/7 đã chính thức trở thành ngày thành lập Cục Sáng chế, sau đó là Cục Sở hữu công nghiệp và Cục Sở hữu trí tuệ ngày nay.
Theo Điều lệ tổ chức và Hoạt động thì Cục Sáng chế được xây dựng trên cơ sở Phòng Sáng chế phát minh, có trách nhiệm giúp Chủ nhiệm ủy ban thực hiện chức năng thống nhất quản lý hoạt động sáng kiến, sáng chế và công tác sở hữu công nghiệp trong cả nước, bảo hộ pháp lý sáng chế và các đối tượng sở hữu công nghiệp; Cục có 05 phòng chuyên môn, nghiệp vụ. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu, Cục chưa thành lập các phòng mà vẫn tiếp tục duy trì các tổ chuyên môn.
Khi mới thành lập, Cục có 27 cán bộ, được tổ chức thành 02 tổ chuyên môn: Tổ Quản lý và Tổ Thông tin.
Cục Sở hữu công nghiệp
Ngày 22/5/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 22-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Theo đó, Cục Sáng chế được đổi tên thành Cục Sở hữu công nghiệp. Cục đã tổ chức lại các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, thống nhất các thủ tục xác lập quyền theo nguyên tắc một đầu mối; củng cố các Phòng chuyên môn, nghiệp vụ.
Về cơ cấu tổ chức, Cục có 7 phòng, 01 trung tâm, 02 bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ và 01 văn phòng quản lý dự án.
Cục Sở hữu trí tuệ
Ngày 19/5/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học và Công nghệ. Theo đó, Cục Sở hữu công nghiệp được đổi tên thành Cục Sở hữu trí tuệ.
Ngày 25/6/2004, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ký Quyết định số 14/2004/QĐ-BKHCN ban hành Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Cục Sở hữu trí tuệ.
== Chức năng ==
Cục Sở hữu trí tuệ có 19 nhiệm vụ chính. Tuy nhiên có thể khái quát thành 5 nhiệm vụ trọng tâm cơ bản sau:
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về SHTT; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, biện pháp đẩy mạnh hoạt động và phát triển hệ thống SHTT trong phạm vi cả nước;
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc xác lập và bảo vệ quyền SHTT tại Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân;
Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về SHTT;
Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn về SHTT cho các cơ quan quản lý SHTT thuộc các Bộ, ngành và địa phương trong cả nước;
Thực hiện chức năng bảo đảm các hoạt động sự nghiệp chuyên ngành: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về SHTT; đào tạo, bồi dương chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học về SHTT; hỗ trợ và tư vấn về thủ tục xác lập, quản lý, sử dụng và chuyển giao, chuyển nhượng giá trị quyền SHTT; xây dựng, quản lý và tổ chức khai thác cơ sở dữ liệu thông tin sở hữu công nghiệp.
== Cơ cấu tổ chức ==
Cục Sở hữu trí tuệ có 20 đơn vị trực thuộc, trong đó có 18 đơn vị làm việc tại Cơ quan Cục (384-386, Nguyễn Trãi, Hà Nội) và 2 Văn phòng Đại diện của Cục tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng;: Cục được phân thành 2 khối:
Khối quản lý nhà nước gồm các đơn vị: Văn phòng, Phòng Kế hoach - Tài chính, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Pháp chế và Chính sách, Phòng Hợp tác quốc tế, Phòng Thực thi và Giải quyết khiếu nại, Phòng Công nghệ thông tin, Phòng Đăng ký, Văn phòng Đại diện của Cục tại thành phố Hồ Chí Minh, Văn phòng Đại diện của Cục tại thành phố Đà Nẵng và
Khối sự nghiệp phục vụ công tác quản lý nhà nước gồm các đơn vị: Phòng Sáng chế 1, Phòng Sáng chế 2, Phòng Sáng chế 3, Phòng Kiểu dáng công nghiệp, Phòng Nhãn hiệu hàng hóa số 1, Phòng Nhãn hiệu hàng hóa số 2, Phòng Chỉ dẫn địa lý và Nhãn hiệu quốc tế, Trung tâm Thông tin, Trung tâm Hỗ trợ và Tư vấn, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo.
== Biên chế ==
Tính đến tháng 11 năm 2012, Cục Sở hữu trí tuệ có 295 công chức, viên chức. Trong đó, số công chức là 100 người, viên chức hợp đồng làm việc không xác định thời hạn là 171 người, và hợp đồng làm việc có thời hạn là 24 người. Hầu hết công chức, viên chức có trình độ đại học trở lên (245 người chiếm tỷ lệ 87,2%), khả năng về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc; nhiều công chức, viên chức có thêm văn bằng thứ 2 hoặc thứ 3; 10 người có học vị tiến sĩ (chiếm tỷ lệ 3,6%); 26 người có học vị thạc sĩ (chiếm tỷ lệ 9,25%).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Các nhà khoa học chưa coi trọng sở hữu trí tuệ, VnExpress.net |
tổng cục du lịch (việt nam).txt | Tổng cục Du lịch (tiếng Anh: Vietnam National Administration of Tourism) là một cơ quan trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, (trước năm 2007 trực thuộc Chính phủ Việt Nam) có nhiệm vụ quản lý ngành du lịch ở Việt Nam.
Một số mốc thời gian về thay đổi tổ chức bộ máy và hoạt động của ngành Du lịch, trong 50 năm hình thành và phát triển.
Một số mốc thời gian
- Thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương. Nghị định số 26 CP ngày 9/7/1960 của Hội đồng Chính phủ.
- Bộ Ngoại thương ban hành Quyết định số 164-BNT-TCCB Ngày 16/3/1963 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam.
- Chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam sang Phủ Thủ tướng quản lý. Nghị định số 145 CP ngày 18/8/1969 của Hội đồng Chính phủ.
- Thành lập Tổng cục Du lịch trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Quyết nghị số 262 NQ/QHK6 ngày 27/6/1978 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước CHXHCNVN.
- Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch. Nghị định số 32/CP, ngày 23/01/1979 của Hội đồng Chính phủ.
- Công tác du lịch, trong đó quy định cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ... Quyết định số 157/CP ngày 13/4/1981của Thủ tướng Chính phủ.
- Giao Tổng cục Du lịch kiêm nhiệm vụ trực tiếp hoạt động kinh doanh du lịch; giải thể Công ty Du lịch Việt Nam. Quyết định số 01/HĐBT ngày 03/01/1983 của Hội đồng Bộ trưởng
- Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Nghị định số 120-HĐBT ngày 15/8/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.
- Thành lập Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao - Du lịch trên cơ sở Bộ Văn hoá, Bộ Thông tin, Tổng cục Thể dục thể thao và Tổng cục Du lịch. Quyết nghị số 244/NQ/HĐNN8, ngày 31/3/1990 của Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam.
- Thành lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch, Trên cơ sở tổ chức lại Bộ máy của Tổng cục Du lịch cũ. Nghị định số 119-HĐBT ngày 9/4/1990 của Hội đồng Bộ trưởng.
- Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch là cơ quan quản lý nhà nước đối với ngành Du lịch. Nghị định số 447-HĐBT ngày 31/12/1990 của Hội đồng bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch.
- Sáp nhập Tổng cục Du lịch vào Bộ Thương mại và Du lịch. Nghị quyết của Quốc hội về việc chuyển chức năng quản lý Nhà nước về du lịch sang Bộ Thương mại và Du lịch.Nghị quyết Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 8, ngày 12/8/1991.
- Thành lập Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Chính phủ. Nghị định số 05-CP ngày 26/10/1992. - Chính phủ ban hành Nghị định số 20-CP Ngày 27/12/1992 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch. - Thành lập Chi hội PATA Việt Nam, năm 1994.
- Chính phủ ban hành Nghị định số 53/CP, ngày 07/8/1995 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.
- Thành lập vụ Pháp chế. Quyết định số 1046/1997/QĐ-TTg ngày 8/12/1997 của Thủ tướng Chính phủ.
-Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV Ngày 25/12/2002 về việc cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam.
- Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2003/NĐ-CP, ngày 19/8/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch.
- Sáp nhập Tổng cục Du lịch vào Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Nghị định số 09/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ.
Tổng cục Du lịch (Việt Nam) chính thức được thành lập ngày 27 tháng 6 năm 1978. Tiền thân của Tổng cục là Công ty Du lịch Việt Nam (ra đời năm 1960).
Tổng cục Du lịch Việt Nam đặt trụ sở ở số 80, phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch hiện nay là ông Nguyễn Văn Tuấn, nguyên Chủ tịch ủy ban nhân dân TP Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh).
Các Phó Tổng cục trưởng: Hà Văn Siêu,Hoàng Thị Điệp, Nguyễn Quốc Hưng.
CÁC VỤ CHỨC NĂNG
1. Vụ Lữ hành
2. Vụ Khách sạn
3. Vụ Thị trường du lịch
4. Vụ Kế hoạch, Tài chính
5. Vụ Hợp tác quốc tế
6. Vụ Tổ chức cán bộ
7. Văn phòng
CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
1. Trung tâm Thông tin du lịch
Địa chỉ: Khu làm việc và nhà ở chuyên gia của Bộ VHTTDL, số 2 Núi Trúc, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 3943 7072 - Fax: (84-4) 3826 3956
2. Viện Nghiên cứu phát triển du lịch
Địa chỉ: 58 Kim Mã, Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 3734 3131 Fax: (84-4) 3848 9377
3. Tạp chí Du lịch
Địa chỉ: Tầng 9, Tòa nhà TID Centre, số 4 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 3825 7703 - Fax: (84-4) 3826 2071
4. Báo Du lịch
Địa chỉ: Tầng 2,Tòa nhà TID Centre, số 4 Liễu Giai, quận Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 3939 3942 - 3939 3943 - Fax: (84-4) 3939 3940
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang mạng chính thức của Tổng cục Du lịch Việt Nam
Trang mạng quản lý nhà nước về du lịch của Tổng cục Du lịch Việt Nam |
kinh tế paraguay.txt | Paraguay là một nền kinh tế thị trường có khu vực kinh tế phi chính thức lớn. Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, song phân phối đất đai không bình đẳng đã tạo ra một tầng lớp nông dân làm thuê lớn. Một bộ phận lớn dân cư của Paraguay là những nông dân tự cung tự cấp. Những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy bởi gia tăng xuất khẩu nông sản, đặc biệt là đậu tương. Cải cách chính sách tài chính và tiền tệ đã giúp cho kinh tế Paraguay ổn định hơn. Lạm phát đã giảm và đồng tiền của Paraguay đã lên giá. Tuy nhiên tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở khu vực thành thị vẫn luôn là vấn đề đối với Paraguay. Lợi thế của kinh tế Paraguay là dân số trẻ và tiềm năng thủy điện dồi dào. Tuy nhiên, hiếm tài nguyên khoáng sản và bất ổn định chính trị gần đây đã làm cho các lợi thế kinh tế mất ý nghĩa. Chính phủ nỗ lực thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
== Cơ cấu nền kinh tế ==
Thành phần quan trọng nhất của nền kinh tế Paraguay là ngành nông nghiệp, trong đó đã đóng góp 27% vào GDP trong năm 2006. Sự đóng góp của thương mại điện tử là 20,2%, và các dịch vụ khác, bao gồm cả cho chính phủ là 38,4%. Một phần của công nghiệp (bao gồm cả khai thác mỏ và xây dựng) được khoảng 20%.
Sau nhiều năm của cuộc khủng hoảng kinh tế, giữa những năm 1999 và 2002, nền kinh tế Paraguay đã tăng trưởng ở giữa khoảng 2,9 và 4,1%/năm từ năm 2003 đến năm 2006. Đối với năm 2007, tăng trưởng ước tính khoảng 6,4%. Lạm phát năm 2007 đạt 6,0%.
Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ, vi mô và cá nhân, bao gồm cả việc sinh hoạt như người bán hàng rong. Chỉ có 4% lực lượng lao động Paraguay làm việc trong các công ty có hơn 50 nhân viên.
Trong tháng 6 năm 2007 ngoài lượng dự trữ ngoại hối là 2.153 triệu đô la Mỹ và các khoản nợ chính thức của nước ngoài là 2.154 triệu đô la Mỹ, gần đạt mức cân bằng nhau.
Thặng dư tài chính tạm báo cáo là 0,5% GDP trong năm 2006 và 2007.
Nền kinh tế Paraguay (GDP) tăng trưởng 5,8% trong năm 2008, khu vực kinh tế phát triển nhanh nhất là nông nghiệp với tốc độ tăng 10,5%
== Các ngành kinh tế ==
=== Nông nghiệp, lâm nghiệp ===
Theo truyền thống, nền kinh tế Paraguay dựa trên gia súc nuôi và trồng trọt của mì, mía, bông, đậu nành và Yerba mate. Trong những năm qua, đậu nành đã trở thành sản phẩm nông nghiệp chính của Paraguay, và là sản phẩm xuất khẩu chính của đất nước. Sự gia tăng của sản xuất đậu nành góp phần thay đổi quan trọng về cấu trúc trong các khu nông thôn của Paraguay, chẳng hạn như giảm công ăn việc làm và cơ giới hoá nông nghiệp càng lớn của quá trình nuôi trồng.
Đồng thời, các sản phẩm như trái cây, lúa mì, stevia và đường hữu cơ đạt đến các thị trường bên ngoài và góp phần đa dạng hóa cao của một khu vực kinh tế chính Paraguay. Tính đến tháng 1 năm 2009 một số đồn điền trồng cây jatropha được dự kiến dành cho các khu khô cằn nhất của Gran Chaco.
Nông nghiệp chiếm khoảng 20 phần trăm của tổng sản phẩm trong nước hàng năm của Paraguay (25 phần trăm năm 2004) và hầu như toàn bộ các khoản thu nhập của xuất khẩu quốc gia. Đây là lớn nhất và phù hợp nhất nguồn gốc của việc làm của Paraguay, sử dụng khoảng 45 phần trăm dân số làm việc. Ngoài những người tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp chính thức, hàng ngàn gia đình Paraguay sống sót thông qua nền nông nghiệp tự túc.
Paraguay sản xuất đủ lương thực cơ bản được chủ yếu là tự túc. Ngô, sắn và lúa mì là cây lương thực chính cho tiêu thụ địa phương.
Việc tăng giá gạo trên toàn cầu trong năm 2007/2008 là một sự thúc đẩy lớn cho ngành nông nghiệp. Mở rộng trồng lúa mì, vì vậy đã làm lúa. Đáng kể nhất là sự gia tăng của sản xuất đậu nành. Năm 2004, Paraguay đã có khoảng 1,6 triệu ha chuyên dụng để biến đổi gen (GM). Giá trị xuất khẩu của đậu nành và các sản phẩm dẫn xuất từ nó tăng từ 1,25 tỷ USD năm 2007 lên 2,54 tỷ USD trong năm 2008.
Đồng bằng Chaco phía đông của Paraguay hỗ trợ chăn nuôi bò sữa của đất nước và nông trại theo hướng công nghiệp. Đằng sau đậu nành, xuất khẩu thịt bò chiếm một phần quan trọng của ngành nông nghiệp của Paraguay. Ngoài ra, Paraguay sản xuất đủ để cung cấp đủ thịt bò, thịt heo, bò sữa và các sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước. Việc phát hiện ra trường hợp bệnh lở mồm long móng trong năm 2002 và 2003 đã dẫn tới một lệnh cấm thịt bò của Paraguay ở nhiều nước. Tuy nhiên, trong sản xuất và xuất khẩu thịt 2004 của Paraguay đã có ảnh hưởng ngược trở lại. Theo kết quả của việc tăng giá quốc tế và phục hồi của thị trường quan trọng như Chile hoặc Nga, xuất khẩu thịt Paraguay đã tăng đến 143 triệu đô la Mỹ trong năm 2004. Kim ngạch đạt 353 triệu đô la Mỹ trong năm 2007 và 597 triệu đô la Mỹ trong năm 2008. Hiện nay, Paraguay có một đàn gia súc quốc gia nằm trong khoảng 9 đến 10 triệu đầu gia súc.
Mua đất của người nước ngoài, được thu hút bởi giá trị đất thấp, có cho lâu dài đã có một tính năng của sản xuất nông nghiệp Paraguay.
Rừng của Paraguay đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước cho gỗ xẻ và gỗ nhiên liệu. Tuy nhiên, khai thác gỗ xuất khẩu, cả hợp pháp và bất hợp pháp, có làm giảm sự phong phú của khu rừng Paraguay, dẫn đến một bản ghi lệnh cấm xuất khẩu từ những năm 1970. Ngân hàng Thế giới đã dự đoán rằng có rất nhiều diện tích rừng chính của Paraguay sẽ cạn kiệt vào năm 2005.Nạn phá rừng đã xảy ra nhanh nhất ở phía đông, bởi vì chi phí vận chuyển trong khu vực Chaco từ xa có nhiều khó khăn từ việc những người tham gia sử dụng rừng trong khu vực đó. Trồng rừng theo hướng bền vững bây giờ là ngày càng tăng.
Ngành công nghiệp đánh bắt cá ở Paraguay tồn tại gần như chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước.
=== Khai thác mỏ và khoáng sản ===
Không giống như nhiều quốc gia Nam Mỹ, Paraguay có ít tài nguyên khoáng sản và lịch sử khai thác rất ít thành công. Các công ty nước ngoài đã khám phá Paraguay trong những năm gần đây, tìm kiếm khoáng sản bị bỏ qua. Dự án khai thác nhỏ tồn tại, tìm kiếm vôi, đất sét, và các nguyên liệu cần thiết để làm cho xi măng, nhưng của quốc gia và các nhà sản xuất sắt thép phải nhập khẩu nguyên liệu từ các nước láng giềng.
=== Sản xuất ===
Ngành công nghiệp sản xuất chiếm khoảng 25 phần trăm sản phẩm quốc nội của Paraguay (GDP) và sử dụng khoảng 31 phần trăm của lực lượng lao động. Sản lượng tăng 2,9 phần trăm trong năm 2004, sau năm năm sản xuất giảm. Theo truyền thống, một nền kinh tế nông nghiệp, Paraguay có hiển thị một số dấu hiệu của sự tăng trưởng dài hạn công nghiệp. Ngành công nghiệp dược phẩm là một cách nhanh chóng thay thế nhà cung cấp thuốc nước ngoài tại cuộc họp của quốc gia có nhu cầu về thuốc. Doanh nghiệp của Paraguay bây giờ đáp ứng 70 phần trăm tiêu dùng trong nước và cũng đã bắt đầu xuất khẩu thuốc. Tăng trưởng mạnh mẽ cũng là điều hiển nhiên trong việc sản xuất các loại dầu ăn được, hàng may mặc, đường hữu cơ, chế biến thịt, và thép. Tuy nhiên, vốn đầu tư hơn nữa trong ngành công nghiệp của nền kinh tế là khan hiếm. Theo sau sự để lộ ra của tham nhũng tài chính phổ biến rộng rãi trong thập niên 1990, chính phủ vẫn đang làm việc để cải thiện các tùy chọn tín dụng cho các doanh nghiệp Paraguay.
Năm 2003 sản xuất đã tăng 13,6 phần trăm của GDP, và khu vực làm việc chiếm khoảng 11 phần trăm dân số làm việc trong năm 2000. Tập trung vào sản xuất chính của Paraguay là về thực phẩm và đồ uống. Sản phẩm gỗ, sản phẩm giấy, da và lông thú, và không phải sản phẩm khoáng sản kim loại cũng đóng góp vào tổng số sản xuất. Tốc độ tăng trưởng ổn định trong GDP của sản xuất trong năm 1990 (1,2 phần trăm mỗi năm) đặt nền tảng cho năm 2002 và 2003, khi tốc độ tăng trưởng hàng năm tăng đến 2,5 phần trăm.
=== Năng lượng ===
Paraguay gần như chỉ dựa duy nhất vào thủy điện để đáp ứng nhu cầu năng lượng của họ. Đập Itaipu, hoàn thành năm 1984, có quyền lực lớn thứ hai trên thế giới tạo ra năng lực: 13,3 GW. Đập này nằm trên sông Paraguay, hai nước Paraguay và Brasil đều chia sẻ quyền sở hữu, hoạt động và điện tạo ra. Ngoài ra, Paraguay đồng sở hữu một nhà máy thủy điện lớn là Yacyretá với Argentina. Paraguay chỉ sử dụng một phần nhỏ của năng lượng nó tạo ra thông qua đập Itaipu và đập Yacyretá. Trong năm 2002 Paraguay tạo ra nhiều hơn 48 tỷ kilowatt-giờ năng lượng. Họ chỉ tiêu thụ 2,5 tỷ kilowatt-giờ trong khi xuất khẩu 45,9 tỷ kilowatt-giờ. Đập Paraguay sẽ có thủy điện nhiều hơn để xuất khẩu tua bin khi lên kế hoạch mới được lắp đặt tại Itaipu và đập Yacyretá đã hoàn tất. Năm 2007 sản lượng điện tăng tới 70 TWh, và xuất khẩu đạt 64 TWh mà đặt Paraguay ở vị trí nhà xuất khẩu năng lượng điện thứ hai trên thế giới (một trong những nước đứng đầu về xuất khẩu điện là Pháp, đứng số một trong những nước xuất khẩu trên thế giới với 67 TWh, cũng phải nhập khẩu 10 TWh, trong khi Paraguay không cần nhập khẩu).
Paraguay không có trữ lượng dầu mà dựa vào dầu nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu hạn chế trong nước đối với dầu mỏ-năng lượng được sản xuất. Chính phủ Paraguay sở hữu Petróleos Paraguayos, có trách nhiệm cho tất cả các phân phối các sản phẩm dầu mỏ. Nhà nước chấp nhận giá thầu từ các công ty dầu quốc tế, lựa chọn một vài công ty hàng năm để đáp ứng nhu cầu của đất nước. Hiện nay, Paraguay không sản xuất hoặc tiêu thụ khí tự nhiên, nhưng tiêu thụ gas nhập khẩu chủ yếu là từ Argentina.
=== Dịch vụ ===
Các ngành dịch vụ đã tăng đến gần 50 phần trăm tổng sản phẩm quốc nội của Paraguay năm 2004 và tạo việc làm cho khoảng 19 phần trăm dân số làm việc của Paraguay. Việc nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là từ Argentina và Brasil, để bán và tái xuất khẩu bất hợp pháp tạo ra công ăn việc làm cho ngành công nghiệp dịch vụ. Các ngành dịch vụ có mức tăng trưởng trung bình là 0,9 phần trăm 1990-2003. Khu vực kinh tế giảm 7,8 phần trăm trong năm 2002, trước khi có ảnh hưởng ngược lại vào năm 2003 với tỷ lệ tăng trưởng 1,6 phần trăm. Sự bất ổn trong nền kinh tế và một thị trường ngầm rộng lớn đã cản trở sự phát triển của khu vực dịch vụ chính thức tại Paraguay.
=== Du lịch ===
Paraguay có một ngành du lịch nhỏ bé. Tổng thu ngành du lịch hàng năm từ năm 2000 đến năm 2002 đã giảm. Năm 2003 tỷ lệ khách sạn Paraguay có tỷ suất phòng đã được 38 phần trăm và tăng lên 15 phần trăm trong năm 2004. Nguồn thu nhỏ bé từ du lịch đến từ việc buôn bán hàng hóa hơn là từ các du khách sang trọng. Trong nhiều năm, Paraguay từng là một thị trường trung tâm cho hàng lậu và hàng miễn thuế. Tuy nhiên, việc ra tay nghiêm trị của chính phủ Brasil và Argentina đã chậm dòng chảy của người mua sắm đi du lịch Paraguay để tìm kiếm hàng lậu.
== Ngân hàng và tài chính ==
Ngân hàng của Paraguay và dịch vụ tài chính công nghiệp vẫn đang hồi phục sau cuộc khủng hoảng thanh khoản của năm 1995, khi tin tức về nạn tham nhũng tràn lan dẫn đến sự đóng cửa của các ngân hàng một số đáng kể. Thúc đẩy các nỗ lực cải cách của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới đã giúp khôi phục lại một số tin cậy trong ngành ngân hàng của Paraguay. Tuy nhiên, một sự lựa chọn tín dụng ít ỏi đã gây cản trở cho nền kinh tế nói chung. Paraguay có một lịch sử lâu dài như là một trung tâm chống rửa tiền. Chính phủ đã tiến hành các bước để kiềm chế được vấn đề, nhưng thực thi pháp luật về chống rửa tiền vẫn không phù hợp.
Các công ty nước ngoài hoặc là một phần hoặc toàn bộ của hầu hết các ngân hàng và các tổ chức tài chính tại Paraguay. Ngân hàng Paraguay giữ ít hơn 10 phần trăm tiền gửi. Trong số 16 ngân hàng hoạt động tại Paraguay vào năm 2003, 50 phần trăm được hoàn toàn vốn nước ngoài và 25 phần trăm là một phần thuộc sở hữu của công ty nước ngoài. Ngân hàng Trung ương của Paraguay tồn tại để ổn định khu vực tài chính, đảm bảo rằng những cái khác vận hành trên các ngân hàng, chẳng hạn như một sự kiện xảy ra vào năm 1995, không tái diễn. Superintendencia de Bancos quy định hệ thống ngân hàng, theo dõi tỷ lệ không thực hiện các khoản vay trong hệ thống ngân hàng. Tiền gửi ngân hàng tăng đáng kể trong năm 2004, cùng với tỷ lệ phần trăm của các loại tiền tệ địa phương trong tổng số tiền gửi. Tiền gửi tiền tệ địa phương tăng 26 phần trăm trong năm 2004, một dấu hiệu cho thấy Paraguayans đạt được sự tự tin vào sự ổn định của đơn vị tiền tệ Paraguay. Trong một phát triển đầy hứa hẹn, lãi suất giảm mạnh trong năm 2004, từ 50 phần trăm trong năm 2003 còn 27 phần trăm trong năm 2004.
Thị trường chứng khoán của Paraguay, là Bolsa de Valores y Productos de Asunción, bắt đầu kinh doanh tháng 10 năm 1993. Truyền thống công ty thuộc sở hữu của gia đình và giữ sự bất ổn định kinh tế đầu tư thấp trong suốt thập niên 1990. Giá trị của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Asunción tăng 390 phần trăm trong năm 2004, đạt 17,5 triệu đô la Mỹ.
== Lao động ==
Lực lượng lao động chính thức của Paraguay ước tổng số khoảng 2,7 triệu người lao động trong năm 2004. Khoảng 45 phần trăm làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, 31 phần trăm trong ngành công nghiệp, và 19 phần trăm trong lĩnh vực dịch vụ. Thất nghiệp ước tính đạt khoảng 15 phần trăm. Hiến pháp của Paraguay bảo đảm quyền của người lao động để liên hiệp và thỏa ước tập thể. Khoảng 15 phần trăm công nhân là thành viên của một trong 1.600 công đoàn của Paraguay. Cuộc đình công là hợp pháp và không ít gặp.
Các điều tra năm 2001 cho thấy rằng 5 phần trăm của lực lượng lao động của Paraguay là dưới 14 tuổi. Mặc dù Paraguay phê chuẩn công ước về tuổi lao động tối thiểu của Tổ chức Lao động quốc tế năm 2004, lao động trẻ em tiếp tục được phổ biến. Gần 14 phần trăm trẻ em trong độ tuổi từ 5 đến 17 được tuyển dụng, nhiều người trong điều kiện nghèo khổ và được trả tiền lương không đáng kể. Chính phủ đã uỷ thác một mức lương tối thiểu khoảng 158 đô la Mỹ mỗi tháng cho nhân viên khu vực kinh tế tư nhân. Nhân viên chính phủ không có lương tối thiểu. Tiêu chuẩn về một tuần làm việc là 48 giờ. Năm 2004 tỷ lệ thất nghiệp của Paraguay đứng ở mức 15 phần trăm.
== Tiền tệ, tỷ giá trao đổi và lạm phát ==
Tiền tệ của Paraguay là guarani (PYG). Vào giữa tháng 10 năm 2005, 1 đô la Mỹ ngang bằng với PYG6155.
Giá lạm phát đã giảm đáng kể giữa năm 2003 và năm 2004, từ 14,2 phần trăm đến 30-năm thấp nhất 4,3 phần trăm. Cải cách kinh tế của tổng thống Duarte và các chương trình nghiêm khắc có kết quả nhanh hơn nhiều so với dự kiến. Vào năm 2005, các chuyên gia dự báo rằng tỷ lệ lạm phát tại Paraguay có khả năng sẽ tăng trong những năm tới, nhưng vẫn còn dưới 10 phần trăm.
== Quan hệ kinh tế nước ngoài ==
Paraguay là một thành viên của khối thị trường chung của miền Nam (Mercado Común del Sur hay Mercosur). Hầu hết các thương mại của Paraguay diễn ra với hàng xóm Brasil và Argentina. Trong năm 2002 Paraguay thực hiện hơn 400 triệu USD trong thương mại với Argentina và gần 800 triệu USD với Brasil. Paraguay cũng là một thành viên của ngân hàng phát triển liên Mỹ, Hiệp hội Hội nhập Mỹ Latinh, và Hệ thống kinh tế Mỹ Latinh và đã ký thỏa thuận tạo cộng đồng các quốc gia Nam Mỹ. Năm 2004, Paraguay đã ký kết một thỏa thuận hợp tác năng lượng với Venezuela để mua dầu và xăng dầu. Venezuela đã đồng ý tài trợ ưu đãi cho phép Paraguay có thể thanh toán trong một khoảng thời gian 15 năm với lãi suất danh nghĩa.
Nhập khẩu đạt 3,3 tỷ đô la Mỹ trong năm 2004. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu bao gồm xe ô tô, sản phẩm hoá chất, hàng tiêu dùng, thuốc lá, xăng dầu, và máy móc. Brasil là nguồn hàng đầu về nhập khẩu tới Paraguay (24,3 phần trăm), tiếp theo là Hoa Kỳ (22,3 phần trăm), Argentina (16,2 phần trăm), Trung Quốc (9,9 phần trăm), và Hồng Kông (5 phần trăm).
Các chuyên gia lưu ý rằng các số liệu thống kê nhập khẩu rất khó để xác nhận cho Paraguay, vì một nửa tổng số hàng nhập khẩu là tái xuất bất hợp pháp để Argentina hay Brasil. Nhập khẩu từ các nước Mercosur tiếp tục tăng, lên đến 57 phần trăm trong năm 2003.
Kim ngạch xuất khẩu của Paraguay đạt khoảng 2,9 tỷ đô la Mỹ trong năm 2004. Hàng hóa nông nghiệp tiếp tục lái xe tổng số xuất khẩu của Paraguay. Đậu nành đặc biệt quan trọng, chiếm 35 phần trăm tổng doanh thu xuất khẩu năm 2003. Khác cây trồng nông nghiệp bao gồm tiền mặt bông, mía, sắn, hoa hướng dương, lúa mì, và ngô. Xuất khẩu quan trọng khác bao gồm thức ăn, thịt, dầu ăn, điện, gỗ, và da. Ngay cả khi doanh thu xuất khẩu của Paraguay có sự biến động giá, Brasil vẫn là điểm đến hàng xuất khẩu chủ yếu của Paraguay (27,8 phần trăm năm 2004), tiếp theo là Uruguay (15,9 phần trăm), Ý (7,1 phần trăm), Thụy Sĩ (5,6 phần trăm), Argentina (4,3 phần trăm), và Hà Lan (4,2 phần trăm). Năm 2003, gần 60 phần trăm xuất khẩu của Paraguay đã đi sang các nước Mercosur.
Paraguay có thâm hụt thương mại khoảng 400 triệu USD trong năm 2004. Các khoản thu nhập cao hơn từ đậu nành và bông không thể bù đắp khoản tăng nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng và sản phẩm dầu mỏ.
Sau nhiều năm có số thâm hụt, Paraguay đã đạt được một sự cân bằng tích cực của các khoản thanh toán tổng cộng 234 triệu đô la Mỹ vào năm 2003. Trong năm 2004, tuy nhiên, tài khoản hiện tại đã có một thâm hụt ước tính là 35,1 triệu đô la Mỹ.
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Paraguay có khoản nợ kéo dài. Nợ bên ngoài tổng cộng khoảng 3,4 tỷ đô la Mỹ trong năm 2004, ở mức thấp so với hầu hết các nước châu Mỹ Latinh. Nợ của Paraguay tiếp tục giảm đến tỷ lệ tổng sản phẩm quốc nội được dự kiến trong năm tới. Paraguay đã trả 412 triệu đô la Mỹ trong nợ dịch vụ cho IMF trong năm 2004.
Đầu tư nước ngoài tại Paraguay gần như biến mất vào năm 2002. Sau khi đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 84 triệu đô la Mỹ trong năm 2001, chỉ có 9 triệu đô la Mỹ trong đầu tư đến từ nước ngoài vào năm 2002. Sự sụp đổ này phần lớn là kết quả của cuộc khủng hoảng tài chính ở Argentina và sự sụp đổ của ngân hàng tại Paraguay. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thay đổi ngược lại trong năm 2003, đạt 90,8 triệu đô la Mỹ cho một năm.
Tới nay Paraguay vẫn đang phụ thuộc vào Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới trong việc nhờ hỗ trợ phát triển kinh tế. Ngân hàng Thế giới đã cam kết trợ giúp Paraguay với tổng số tiền là 325 triệu đô la Mỹ giữa những năm 2003 và 2007. Các dự án hiện tại ở Paraguay nhằm mục đích cải thiện giáo dục, giao thông vận tải và phát triển nông thôn.
== Giao thông vận tải ==
Mạng lưới đường sá Paraguay bao gồm gần như 4.500 km đường tráng nhựa và gần 60.000 km đường thứ cấp. Mật độ của mạng đường tập trung cao tại khu vực phía Đông và thấp hơn ở khu vực Chaco. Tuy nhiên, trong năm 2007 một con đường lát đá kết nối đến biên giới Bolivia được hoàn thành trên toàn khu vực Chaco.
Các Paraguay-Paraná đường thủy tạo thành một tuyến đường cần thiết cho việc vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Tuyến đường sắt nối Asunción tới Encarnación thực sự không hoạt động, nhưng hiện còn có một kết nối giữa Encarnación và Posadas (Argentina) cho việc vận chuyển hàng hoá nông nghiệp.
Paraguay có hai sân bay quốc tế, Sân bay quốc tế Silvio Pettirossi ở Asunción và Sân bay quốc tế Guarani, ở Ciudad del Este. Ngoài ra còn có các sân bay phụ ở một số vùng khác của đất nước.
== Phương tiện thông tin và truyền thông ==
Có năm báo chí quốc gia và một số lượng lớn của các ấn phẩm địa phương. Có năm đài truyền hình Paraguay. Ngoài ra, nhà ga quốc tế thiết yếu có thể được nhận bằng điện tín tại các khu đô thị chính.
Các mạng cố định được kiểm soát bởi công ty nhà nước COPACO. Mạng điện thoại di động mở cửa cho nhà khai thác tư nhân tham gia. Có bốn nhà khai thác cạnh tranh vận hành điện thoại di động ở Paraguay. Trong vài năm qua điện thoại di động phủ sóng cho người dân đã được trải rộng hơn vùng phủ sóng của điện thoại cố định.
== Thống kê ==
GDP (sức mua tương đương):
30.9 tỷ USD (2005 ước)
GDP (tỷ giá chính thức):
7,586 tỷ USD (2005 ước)
GDP - Tốc độ tăng trưởng thực: 3,3% (2005 ước)
GDP - bình quân đầu người: sức mua tương đương - 4.900 USD (2005 ước)
GDP - theo ngành:
Nông nghiệp: 27,5%
Công nghiệp: 24%
Dịch vụ: 48,5% (2005 ước)
Lực lượng lao động: 2.68 triệu (2005 ước)
Lực lượng lao động - theo nghề nghiệp: nông nghiệp 45%
Tỷ lệ thất nghiệp: 16% (2005 ước)
Dân số dưới mức nghèo: 32% (2005 ước)
Hộ gia đình có thu nhập hoặc tiêu dùng bằng cách chia sẻ phần trăm:
Thấp nhất 10%: 0,5%
Cao nhất 10%: 43,8% (1998)
Phân phối thu nhập của gia đình - Chỉ số Gini: 56,8 (1999)
Tỷ lệ lạm phát (giá tiêu dùng): 7.5% (2005 ước)
Đầu tư (tổng cố định): 20,1% của GDP (2005 ước)
Ngân sách:
Thu: 1,334 tỷ USD
Chi: 1,37 tỷ USD, bao gồm cả chi phí vốn của 700 triệu USD (2005 ước)
Nợ của nhà nước: 36,1% GDP (2005 ước)
Nông nghiệp - sản phẩm: bông, mía, đậu tương, ngô, lúa mì, thuốc lá, khoai mì (sắn), trái cây, rau quả, thịt bò, thịt lợn, trứng, sữa; gỗ
Các ngành công nghiệp: đường, xi măng, dệt may, đồ uống, các sản phẩm thép gỗ,, luyện kim, điện lực
Tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp: 0% (2000 ước)
Điện lực:
Sản xuất: 51,29 tỷ kWh (2003)
Tiêu thụ: 3,528 tỷ kWh (2003)
Xuất khẩu: 44,17 tỷ kWh (2003)
Nhập khẩu: 0 kWh (2003)
Điện - sản xuất theo nguồn:
Nhiên liệu hóa thạch: 0%
Thủy điện: 99,9%
Hạt nhân: 0%
Khác: 0,1% (2001)
Dầu mỏ:
Sản xuất: 0 bbl/ngày (2003 ước)
Tiêu thụ: 25.000 bbl/ngày (2003 ước)
Tài khoản số dư hiện tại:
170 triệu USD (2005 ước)
Xuất khẩu:
3,13 tỷ USD f.o.b. (2005 ước)
Xuất khẩu - đối tác: Uruguay 27,8%, Brasil 19,2%, Argentina 6,3%, Thụy Sĩ 4,1% (2004)
Nhập khẩu:
3.832 tỷ USD f.o.b. (2005 ước)
Nhập khẩu - đối tác: Brasil 30.9%, Argentina 23,3%, Trung Quốc 16,6%, Hoa Kỳ 4% (2004)
Dự trữ ngoại hối và vàng:
1.293 tỷ USD (2005 ước)
Nợ - bên ngoài:
3.535 tỷ USD (2005 ước)
Viện trợ kinh tế - người nhận: NA
Tiền tệ: 1 Guarani (G) = 100 centimos
Tỷ giá trao đổi: guarani (G) mỗi đô la Mỹ - 6,158.47 (2005), 5,974.6 (2004), 6,424.34 (2003), 5,716.26 (2002), 4,105.92 (2001), 3,332.0 (tháng 1 năm 2000), 3,119.1 (1999), 2,726.5 (1998), 2,177.9 (1997), 2,056.8 (1996), 1,963.0 (1995); lưu ý - kể từ đầu năm 1998, tỷ giá đã hoạt động như một quản lý thả nổi; trước khi đó, tỷ giá đã được xác định trên thị trường tự do.
Năm tài chính: Năm dương lịch
== Khác ==
== Liên kết ngoài ==
CIA - The World Factbook -- Paraguay
Ngân hàng trung ương Paraguay
Bộ Tài chính
Bộ Công nghiệp và Thương mại
Sở Nông nghiệp Hoa Kỳ - 2008 báo cáo về việc mở rộng cây trồng ở Paraguay |
các ngày lễ ở việt nam.txt | Các ngày lễ ở Việt Nam được tiến hành:
== Những ngày lễ được nghỉ ==
Các ngày lễ sau người lao động được nghỉ và hưởng nguyên lương:
== Hội Văn hoá Dân tộc ==
Một số lễ hội văn hóa của người Kinh:
== Những ngày lễ và ngày kỷ niệm khác ==
=== Theo dương lịch ===
=== Theo âm lịch ===
== Xem thêm ==
Lễ hội Việt Nam
Lễ hội các dân tộc Việt Nam
Ngày lễ quốc tế
== Chú thích == |
cận nhiệt đới.txt | Các khu vực cận nhiệt đới hay bán nhiệt đới là những khu vực gần với vùng nhiệt đới, thông thường được xác định một cách gần đúng là nằm trong khoảng 23,5-40° vĩ bắc và 23,5-40° vĩ nam. Các khu vực này có mùa hè từ rất ấm tới nóng, nhưng có mùa đông phi nhiệt đới. Trong một số khu vực nào đó thuộc vùng cận nhiệt đới của thế giới thì các trận bão và áp thấp nhiệt đới có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới có thể hoành hành trong khoảng thời gian của mùa hè và mùa thu. Cũng vì lý do này mà vùng biển yết hầu nằm ở gần Mũi Hảo vọng của Cộng hòa Nam Phi, nơi mà tất cả tàu bè từ nam Đại Tây Dương muốn tới Ấn Độ Dương (hoặc ngược lại) đều phải qua, được mệnh danh là nơi của "con số 40 đang gào thét".
== Các định nghĩa trong các sơ đồ phân loại khí hậu ==
Trong phần lớn các sơ đồ phân loại khí hậu thì khí hậu cận nhiệt đới được coi là kiểu phụ của khí hậu ôn đới:
Phân loại khí hậu Köppen: Nhiệt độ trung bình trên 22 °C (72 °F) trong những tháng ấm nhất, còn trong các tháng lạnh nhất thì nhiệt độ trung bình nằm trong khoảng -3 °C (hay 0 °C trong một số biến thể của sơ đồ này) và 18 °C (27-64 °F), với mùa hè ẩm ướt và tháng mùa đông khô nhất có lượng mưa trung bình lớn hơn 1/10 lượng mưa trung bình của tháng mùa hè ẩm ướt nhất.
Phân loại Trewartha: Trên 8 tháng có nhiệt độ trung bình 10 °C (50 °F) hoặc ấm hơn và ít nhất 1 tháng có nhiệt độ trung bình thấp hơn 18 °C.
Phân loại John Griffiths: Nhiệt độ trung bình trong tháng lạnh nhất nằm giữa 6 °C (42,8 °F) và 18 °C (64,4 °F).
Lưu ý rằng các khu vực có khí hậu Địa Trung Hải (với mùa khô rõ ràng trong mùa hè) là cận nhiệt đới khi xét theo quan điểm nhiệt học, nhưng thực vật và các mùa của nó không là cận nhiệt đới, do nó thiếu độ ẩm liên tục – một đặc trưng của các khu vực nhiệt đới.
== Ví dụ về các thành thị cận nhiệt đới ==
=== Bắc bán cầu ===
Tokyo, Nhật Bản (35,5º vĩ bắc)
Atlanta, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ (33,9° vĩ bắc)
Tallahassee, tiểu bang Florida, Hoa Kỳ (30,4º vĩ bắc)
Pensacola, tiểu bang Florida, Hoa Kỳ (30,2 º vĩ bắc)
New Orleans, tiểu bang Louisiana, Hoa Kỳ (29,9º vĩ bắc)
New Delhi, Ấn Độ (28,6º vĩ bắc)
=== Nam bán cầu ===
Buenos Aires, Argentina (34,6º vĩ nam)
Sydney, New South Wales, Úc (34,0º vĩ nam)
Brisbane, Queensland, Úc (27,3º vĩ nam)
Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi (26,1º vĩ nam)
== Tham khảo == |
tài sản.txt | Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Khi phân loại tài sản theo chu kỳ sản xuất, ta có tài sản cố định và tài sản lưu động. Còn khi phân loại tài sản theo đặc tính cấu tạo của vật chất, ta có tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
== Tài sản cố định ==
Tài sản cố định là những tư liệu sản xuất, là một trong những loại tài sản có giá trị lớn được huy động và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời. và thường thì các loại tài sản này có chu kì sử dụng trong dài hạn. Tai sản cố định được phân thành bất động sản và động sản. 1. Bất động sản là các tài sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai; d) Các tài sản khác do pháp luật quy định. 2. Động sản là những tài sản cố định không phải là bất động sản.
== Tài sản lưu động ==
Là đối tượng lao động chỉ dùng được trong một chu kỳ sản xuất. Đó là tổng thể nói chung tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và những khoản có thể chuyển ngay thành tiền mặt, như thương phiếu, v.v.
== Tài sản hữu hình ==
Bao gồm những vật(có những điều kiện nhất định) tiền và giấy tờ có giá (ngôn ngữ luật học). Tài sản hữu hình là những cái có thể dùng giác quan nhận biết được hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được. Điều kiện để vật trở thành tài sản là một vấn đề còn tranh cãi rất nhiều. Bởi vì khi vật không thuộc của ai gọi là vật vô chủ không ai gọi là tài sản vô chủ cả. Khi nói đến tài sản hữu hình bắt buộc chúng phải có một số đặc tính riêng như:
Thuộc sở hữu của ai đó;
Có đặc tính vật lý;
Có thể trao đổi được;
Có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất;
Là những thứ đã tồn tại(tài sản trước kia) đang tồn tại và có thể có trong tương lai.
Tài sản hữu hình khi có càng nhiều đặc tính nêu trên thì càng chắc chắn đó là tài sản hữu hình.
== Tài sản vô hình ==
Là những quyền tài sản (nghĩa hẹp) thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định và thường chỉ gắn với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao. Tuy nhiên một số quyền tài sản có thể chuyển giao như thương hiệu hàng hóa hoặc ủy quyền cho chủ thể khác. Tài sản vô hình là những thứ không thể dùng giác quan để thấy được và không thể dùng đại lương để tính. Nhưng trong quá trình chuyển giao có thẻ quy ra tiền (cái này là quan trọng nhất). Tùy từng thời điểm nhất định mà quyền tài sản có giá như thế nào. Việc gây thiệt hại về tài sản vô hình của chủ thể sẽ phải bồi thường nhưng rất khó để xác định giá trị của nó. Ngoài những quy định trong luật còn việc xác định giá trị của tài sản vô hình không thể xác định được.
== Liên kết ngoài ==
Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam về ban hành Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
== Bài liên quan ==
Tài sản trí tuệ
== Tham khảo == |
kết tủa.txt | Kết tủa là quá trình hình thành chất rắn từ dung dịch khi phản ứng ứng hóa học xảy ra trong dung lịch lỏng. Nếu không chịu tác dụng của trong lực (lắng đọng) để gắn kết các hạt rắn với nhau, thì các chất tồn tại trong dung dịch ở dạng huyền phù. Sau khi lắng đọng, đặc biệt khi sử dụng phương pháp ly tâm trong phòng thí nghiệm để nén chặt chúng thành khối, chất kết tủa có thể được xem là 'viên'. Sự kết tủa có thể được dùng làm như một môi trường. Chất lỏng không kết tủa còn lại ở trên được gọi là 'supernate' hay 'supernatant' (dịch nổi). Bột thu được từ quá trình kết tủa về mặt lịch sử được gọi là 'bông (tụ)'. Khi chất rắn xuất hiện ở dạng sợi cellulose qua quá trình hóa học, quá trình này được gọi là sự tái sinh (regeneration).
Đôi khi sự hình thành chất kết tủa thể hiện sự có mặt của phản ứng hóa học. Ví dụ, nếu dung dịch bạc nitrat đổ vào dung dịch natri clorua thì phản ứng hóa học xảy ra tạo thành chất kết tủa có màu trắng là bạc clorua. Hoặc khi dung dịch kali iodua phản ứng với dung dịch chì(II) nitrat, thì hình thành kết tủa màu vàng của chì(II) iodua.
Kết tủa cũng có thể xuất hiện nếu hàm lượng hợp chất vượt ngưỡng tan của nó (xuất hiện khi trộn các dung môi hoặc thay đổi nhiệt độ của chúng). Sự kết tủa có thể xảy ra rất nhanh từ dung dịch bão hòa.
== Ứng dụng ==
Các phản ứng kết tủa có thể được sử dụng trong làm chất tạo màu, loại muốn ra khỏi nước của quá trình xử lý nước thải, và trong phân tích định lượng truyền thống chất vô cơ.
Kết tủa cũng hữu ích trong việc phân lập các sản phẩm của phản ứng trong quá trình workup. Trong trường hợp lý tưởng, sản phẩm của phản ứng này là chất không tan trong dung môi phản ứng. Do đó, nó tạo thành chất kết tủa, đáng chú ý là tạo các tinh thể tinh khiết. Ví dụ cho trường hợp này là sự tổng hợp porphyrin trong dòng axit propionic. Bằng cách làm lạnh hỗn hợp phản ứng đến nhiệt độ phòng, các tinh thể của porphyrin được kết tủa, và thu sản phẩm bằng phương pháp lọc:
Sự kết tủa cũng có thể xuất hiện khi một phản dung môi (một dung môi mà trong đó sản phẩm không tan) được thêm vào, làm giảm mạnh tính tan của sản phẩm mong muốn. Sau đó, chất kết tủa có thể được tách ra dễ dàng bằng các phương pháp như lọc, tẩy, ly tâm. Ví dụ như việc tổng hợp cromic tetraphenylporphyrin clorua: nước được thêm vào dung dịch phản ứng DMF, và sản phẩm kết tủa. Precipitation is also useful in purifying products: crude bmim-Cl is taken up in acetonitrile, and dropped into ethyl acetate, where it precipitates. Another important application of an antisolvent is in ethanol precipitation of DNA.
Trong luyện kim, sự kết tủa từ một dung dịch rắn cũng là cách để tạo ra các hợp kim có độ bền cao; quá trình này được gọi là solid solution strengthening.
== Minh họa phương trình kết tủa ==
Ví dụ về phản ứng kết tủa: Dung dịch bạc nitrat (AgNO3) được thêm vào dung dịch chứa kali clorua (KCl), tạo ra kết tủa màu trắng là bạc clorua (AgCl), (Zumdahl, 2005)
AgNO
3
+
KCl
⟶
AgCl
↓
+
KNO
3
{\displaystyle {\ce {{AgNO3}+KCl->AgCl(v)+KNO3}}}
Bạc clorua (AgCl) này được tạo ra ở dạng rắn có thể quan sát rõ kết tủa.
Phản ứng này có thể được mô tả bằng phương trình phản ứng ion sau.
Ag
+
+
NO
3
−
+
K
+
+
Cl
−
⟶
AgCl
↓
+
K
+
+
NO
3
−
{\displaystyle {\ce {{Ag+}+{NO3^{-}}+{K+}+{Cl^{-}}->AgCl(v)+{K+}+NO3^{-}}}}
Phương trình ion rút gọn là:
Ag
+
+
Cl
−
⟶
AgCl
↓
{\displaystyle {\ce {{Ag+}+Cl^{-}->AgCl(v)}}}
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Zumdahl, Steven S. (2005). Chemical Principles (ấn bản 5). New York: Houghton Mifflin. ISBN 0-618-37206-7.
Smith, Mark (1993). Principles of Science.
== Liên kết ngoài ==
http://www.answers.com/supernatant
Digestion Instruments
A Thesis on pattern formation in precipitation reactions |
hiếu thảo.txt | Trong triết học Nho giáo, lòng hiếu thảo là một đức tính tôn trọng cha mẹ và tổ tiên của mình. Sách cổ Hiếu Kinh được cho là văn bản viết vào khoảng thời kỳ Tần-Hán, thuật về nguyên lý Khổng giáo về "lòng hiếu thảo" và những tấm gương hiếu thảo đời xưa. Trong sách thuật lại một cuộc trò chuyện giữa Khổng Tử và học trò của ông là Tăng Tử 曾子), là làm thế nào để thiết lập một xã hội tốt đẹp bằng cách sử dụng nguyên tắc của lòng hiếu thảo. Lòng hiếu thảo là trung tâm của vai trò đạo đức của Nho giáo.
Lòng hiếu thảo được coi là một đức tính quan trọng trong văn hóa Trung Hoa và vùng văn hóa Đông Á, và là mối quan tâm chính của một số lượng lớn những câu chuyện kể. Một trong những bộ sưu tập nổi tiếng nhất là bộ Nhị thập tứ hiếu kể lại sự tích của 24 tấm gương hiếu thảo.
== Từ nguyên ==
Hiếu (tiếng Hán: 孝, bộ lão ở trên bộ tử -con cái), theo tự điển Hán Việt Thiều Chửu, nghĩa là hết lòng phụng dưỡng cha mẹ hay là đạo lý phụng thờ cha mẹ.
Luận Ngữ 論語: Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ 弟子入則孝, 出則悌 (Học nhi 學而) Con em ở trong nhà thì hiếu thảo (hết lòng phụng dưỡng cha mẹ), ra ngoài thì kính nhường (bậc huynh trưởng).
Hiếu Kinh 孝經: Phù hiếu, đức chi bổn dã 夫孝, 德之本也 (Khai tông minh nghĩa chương 開宗明義章) Đạo phụng thờ cha mẹ, đó là gốc của đức.
== Quan niệm của Khổng giáo ==
Trong sách Trung Dung, Khổng tử nói: "Kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí giã" (nghĩa là: kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết cũng như lúc sống, lúc mất rồi cũng như lúc hãy còn, ấy là hiếu đến rất mực vậy). Ông cũng nói với học trò là Tử Du: "Đời nay chỉ bảo rằng nuôi được cha mẹ là hiếu. Nhưng suy đến loài hèn như khuyển mã (chó ngựa), cũng còn nuôi nó cả. Nếu nuôi cha mẹ mà chẳng kính, thì có khác gì đâu !".
Trong chương đầu Khai tông minh nghĩa của Hiếu Kinh, thuật lại lời Khổng Tử nói với Tăng Tử:
Trong Hiếu Kinh, Khổng Tử rất đề cao chữ hiếu vì đó là căn bản ứng xử của con người, từ đó mà việc thảo kính của con cái đối với cha mẹ đã được xem như là một đạo hiếu (hiếu đạo). Một cách tổng quát, theo Khổng giáo, lòng hiếu thảo có nghĩa là đối xử tốt với cha mẹ của mình; chăm sóc cha mẹ của mình; có hành vi cư xử tốt không chỉ đối với cha mẹ mà còn ở bên ngoài nhà để mang lại danh tiếng tốt cho cha mẹ và tổ tiên; thực hiện tốt các nhiệm vụ và công việc làm để có thể bảo đảm vật chất hỗ trợ các bậc cha mẹ cũng như để thờ phụng tổ tiên; không nổi loạn; thể hiện tình yêu, sự tôn trọng và hỗ trợ; thể hiện phong cách lễ độ; đảm bảo có người thừa kế nam giới, phát huy tình huynh đệ giữa các anh em; tư vấn cho cha mẹ một cách khôn ngoan, trong đó có việc giữ họ tránh khỏi những hành vi không đạo đức; thể hiện nỗi buồn khi cha mẹ bệnh tật và qua đời; và thực hiện tang lễ, sự cư tang, thờ phụng sau khi họ qua đời.
Tăng tử tóm lược: "Hiếu hữu tam: đại hiếu tôn thân, kỳ thứ phất nhục, kỳ thứ năng dưỡng", nghĩa là: "Hiếu đạo có 3 điều: Đại hiếu là tôn kính cha mẹ, thứ đến là không làm gì gây tai tiếng cho cha mẹ, sau cùng là nuôi dưỡng cha mẹ". Mạnh Tử bàn về chi tiết chữ “Hiếu” như sau: “Việc phụng sự cha mẹ của người con hiếu là: Cư xử hết lòng kính trọng, dưỡng nuôi cố làm đẹp lòng, bệnh đau tận tâm lo lắng, ma chay hết sức xót thương, tế lễ nghiêm trang rất mực”.
Người xưa thường quan niệm về chữ Hiếu rất cứng nhắc, nhưng Mâu Tử trong Lý hoặc Luận bàn thêm:
Về mức quan trọng của đạo Hiếu, Tăng Tử cũng viết trong Minh Tâm Bảo giám:
Vương Vĩnh Bân viết trong “Vi lô dạ thoại” (Chuyện kể bên bếp lửa): "Trường tồn nhân hiếu tâm, tắc thiên hạ bất khả vi giả, giai bất nhẫn vi, sở dĩ hiếu cư bách hạnh chi tiên", (tạm dịch là: Đạo hiếu con người sẽ lâu dài, người có hiếu thì sẽ không làm những chuyện mà thiên hạ không thể làm, do vậy hiếu đứng đầu trong cả trăm đức tính).
== Văn hóa Việt Nam ==
Ca dao Việt Nam có câu:
Việt Nam cũng có nhiều gương hiếu thảo. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chép chuyện vua Lê Thánh Tông: "Khi Hoàng thái hậu chưa băng, mùa đông, vua cùng Hoàng thái tử ngày đêm chăm sóc, không lúc nào rời bên cạnh. Khi dâng thuốc thang hay thức ăn uống, vua nhất định tự mình nếm trước; trong thì kêu với tổ tiên, ngoài thì dốc lòng cầu khẩn, không thần nào là không khấn. Đến khi hấp hối cũng tự kêu gào, Thái hậu còn nhếch mép một chút, muốn nói để từ giã. Mọi việc mặc áo, khâm liệm, bỏ gạo vào miệng người chết, vua đều tự làm lấy cả để tỏ lòng đau xót."
Việt Nam sử lược có chép chuyện vua Tự Đức, suốt 36 năm, cứ ngày lẻ thì ngự triều, ngày chẵn thì đến thăm mẹ là Phạm Thị Hằng (Từ Dũ), những điều mẹ dậy vua đều ghi chép cẩn thận vào "Từ Huấn Lục". Có lần do mải mê đi săn bị mưa lụt về trễ vào ngày kỵ của vua cha là Thiệu Trị, thấy mình phạm lỗi nên ông nằm ra, đặt chiếc roi lên mâm son để chờ Hoàng thái hậu Từ Dũ trừng phạt.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Nguyễn Trần Cung, Nhân mùa Vu Lan, đọc lại một số tư liệu về chữ Hiếu trong truyền thống tôn giáo và văn hóa Việt Nam
Tống Ngọc Hoàng Long, Bàn về chữ hiếu |
guy fawkes.txt | Guy Fawkes (sinh 13 tháng 4, 1570 - 31 tháng 1, 1606), còn được gọi là Guido Fawkes, là một thành viên của một nhóm tín đồ công giáo của Anh thực hiện vụ âm mưu thuốc súng nhằm mưu sát Vua James I của Anh, gia đình của ông, cũng như tầng lớp quý tộc theo đạo tin lành.
Dù Robert Catesby đã người xây dựng ý tưởng cho âm mưu này, nhưng Fawkes được giao trọng trách thực hiện kế hoạch nhờ những kinh nghiệm về quân sự và thuốc nổ. Kế hoạch bị chặn đứng khi chưa kịp hoàn thành, Fawkes bị bắt khi đang bảo vệ thuốc súng. Ông bị nghi ngờ khi mặc áo khoác, đi giày và đeo đinh thúc ngựa như thể có ý định bỏ đi gấp.
Fawkes đã để lại một dấu ấn lâu dài trong lịch sử và văn hóa đại chúng. Ông đã được nhắc đến trong phim ảnh, văn học và âm nhạc qua các tác phẩm của Charles Dickens hay John Lennon. Tên ông cũng được đặt tên cho một vài địa danh như Isla Guy Fawkes trên Quần đảo Galápagos hay Sông Guy Fawkes tại Australia.
Ngoài ra, mặt ông còn được lấy làm mẫu cho mặt nạ của những kẻ chiến đấu vì lý do chính trị và xã hội (Như hội Anonymous, nhân vật Vendetta trong V for Vendetta,...).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
An edition of the "King's Book" from 1679
Guy Fawkes
A biography on Guy Fawkes from the Gunpowder Plot Society
Guy Fawkes and Bonfire Night
Guy Fawkes Day Sayings and Chants, an extensive set of rhymes, often known as Bonfire "prayers" or "chants" which vary by community and location.
Guy Fawkes and the Theatre
Site of the Center for Fawkesian Pursuits
British parliament's Web site to commemorate the 400th anniversary of the plot
Parliament (Official Site) FAQ on Gunpowder Plot
Britannia on Fawkes
York in the time of Guy Fawkes, a walking trail exploring the Gunpowder Plot and its historical context
Ideas for Catholics to commemorate Guy Fawkes Day — with fireworks
History, Activities and Greeting Cards for the day
Guy Fawkes and the Gunpowder Plot |
trường đại học thăng long.txt | Trường Đại học Thăng Long - Thang Long University là một trường đại học tư thục ở TP Hà Nội, Việt Nam. Là cơ sở giáo dục bậc đại học ngoài công lập đầu tiên trong chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trường được thành lập năm 1988 với tên gọi ban đầu là Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long . Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định chuyển đổi loại hình của Trường Đại học dân lập Thăng Long từ loại hình trường dân lập sang loại hình trường tư thục và mang tên: Trường Đại học Thăng Long. Là một trong những trường đại học tốt nhất Việt Nam; Văn bằng của Trường nằm trong Hệ thống văn bằng Quốc gia.
Hội đồng sáng lập trường bao gồm các giáo sư, nhà khoa học có uy tín dưới sự khởi xướng của GS Bùi Trọng Liễu với nữ Giáo sư, TSKH Hoàng Xuân Sính làm chủ tịch kiêm Hiệu trưởng (Giám đốc) đầu tiên và GS Bùi Trọng Lựu làm Phó giám đốc. Trường ĐH Thăng Long cũng là nơi đầu tiên soạn thảo quy chế Đại học dân lập tạm thời tại Việt Nam lúc đó, và được phê duyệt, mở đường cho hàng loạt trường Đại học và Trung học dân lập đã đăng ký xin phép mở sau này .
== Lịch sử ==
Ngày 2 tháng 4 năm 1988, GS Bùi Trọng Liễu ở Pháp đã gửi thư cho 5 giáo sư trong nước kêu gọi hợp tác để mở một trung tâm đại học chất lượng quốc tế mà tự túc, không xin tài trợ của nhà nước. Hai trong số 5 vị giáo sư đó là GS Hoàng Xuân Sính và GS Bùi Trọng Lưu đã hưởng ứng để xúc tiến thủ tục .
Ngày 15 tháng 12 năm 1988, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Việt Nam ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long như một mô hình giáo dục đại học mới, ngoài công lập.
Ngày 21/2/1989, Trường làm lễ khai giảng tại Văn Miếu; tới dự có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng bộ Đại học Trần Hồng Quân và chủ nhiệm Ủy ban Giáo dục Thanh thiếu niên nhi đồng Trần Thị Tâm Đan. Lúc đầu, học phí tượng trưng là 10 kg gạo/tháng chỉ đủ thuê 1 phòng học (ở trường Quản lý Cán bộ y tế), toàn bộ nguồn sống của trường trông chờ vào số tiền tài trợ từ Pháp gửi về . Ông bà giáo sư Việt kiều Bùi Trọng Liễu đã thành lập tại Pháp một Hội Tương trợ Đại học Pháp - Việt (Amitié Universitaire France-Vietnam) để quyên góp tiền bạc, vật dụng từ các cá nhân, đoàn thể bên Pháp gửi về (cho đến năm 1993) . Trường ĐH Thăng Long cũng là trường đầu tiên tuyển sinh không có vấn đề lý lịch mà tuyển sinh theo hồ sơ khoa học, dựa theo khả năng học của sinh viên. Đối với những sinh viên có gia cảnh eo hẹp, có nâng đỡ về mặt miễn phí, hoặc cho học bổng. Văn phòng trường và phòng máy tính đầu tiên là học tại nhà GS Bùi Trọng Lựu tại căn nhà số 34 Hàn Thuyên, hiện nay tại đó còn 1 tấm văn bia để ghi nhớ sự kiện thành lập Trường, trên tấm bia có đoạn: "Việc thành lập trường đã truyền bá sự hiểu biết, nâng cao trí tuệ và độc lập suy nghĩ, hợp tác quốc tế và hòa nhập vào sự tiến triển chung của thế giới" .
=== Chuyển hướng hoạt động ===
Từ cuối năm 1992 và đầu năm 1993, trường chuyển hướng hoạt động, kết hợp với vài cơ sở đào tạo từ nước ngoài.
Ngày 11/8/1994, Trung tâm đại học dân lập Thăng Long đổi tên thành Trường Đại học dân lập Thăng Long theo quyết định số 441/Tg của Thủ tướng Chính phủ ngày 9 tháng 8 năm 1994).
Ngày 17/1/2005 trường Đại học dân lập Thăng Long chuyển đổi loại hình từ trường dân lập sang trường tư thục với tên mới là Trường Đại học Thăng Long. "...Trường Đại học Thăng Long là cơ sở giáo dục đại học có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục ban hành kèm theo quyết định số 14/2005/QĐ-TTg ngày 17/1/2005 và Quyết định số 1888/QĐ-TTg ngày 31/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ..." .
Tháng 10 năm 2001, thành lập Thư viện Đại học Thăng Long, được xem là trung tâm thông tin văn hóa, khoa học của nhà trường.
=== Di chuyển đến cơ sở mới ===
Từ năm 2008, Trường di chuyển đến cơ sở mới được xây dựng trên diện tích khuôn viên hơn 2,5 ha tại đường Nghiêm Xuân Yên, phường Đại Kim, Quận Hoàng Mai – Hà Nội, trên đường vành đai 3 .
== Hiệu trưởng qua các thời kỳ ==
GS-TSKH. Hoàng Xuân Sính
TS. Phan Huy Phú (2004-2009)
NGƯT-PGS.TS. Lê Văn Một (2010-01/2013)
TS. Phan Huy Phú (02/2013-nay)
== Chủ trương của trường ==
Giáo dục đại học có chất lượng;
Phương pháp dạy và học phù hợp cho cá nhân;
Theo dõi và quản lý học tập có hiệu quả;
Ban lãnh đạo lắng nghe nguyện vọng và nhu cầu;
Tất cả cho một nền học vấn hội nhập với quốc tế, làm nảy nở tài năng mỗi con người và phục vụ thị trường lao động .
Phương châm: Trường Đại học Thăng Long hoạt động trên nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận, tạo một môi trường giáo dục lành mạnh, tôn trọng tính trung thực, tình yêu thương và tinh thần hợp tác .
== Hợp tác đào tạo ==
Hiện nay trường đang liên kết hợp tác đào tạo Thạc sĩ Kinh doanh & Quản lý Quốc tế với Nice Sophia Antipolis (Pháp) học tại trường Đại học Thăng Long.
Bằng Thạc sĩ Kinh doanh và Quản lý Quốc tế do Đại học Nice – Sophia Antipolis cấp,
Nâng cao năng lực tiếng Anh, tiếng Pháp
Bằng MBA quốc tế của Trường được xếp hạng thứ 2 trong các chương trình thạc sĩ về kinh doanh của Pháp.
Nice Sophia Antipolis là trường đại học công lập trong số 15 trường đại học tốt nhất của Pháp, một trong những trường đại học tốt nhất ở châu Âu và nằm trong số 500 trường Đại học tốt nhất trên thế giới (bảng xếp hạng của tp Thượng Hải năm 2005).
Ngoài ra, trường còn hợp tác với các trường đại học: Toulouse 1, Nice Sophia Antipolis (Pháp); Nanzan (Nhật Bản), Đại học Sprott-Shaw Degree College (Canada) và với các tổ chức: CCFD (Pháp), JICA (Nhật Bản) .
== Các ngành đào tạo (Cử nhân - Thạc sĩ) ==
Trường Đại học Thăng Long có 5 khoa đào tạo, mỗi khoa có nhiều ngành (chuyên ngành). Văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia .
== Giảng viên và sinh viên ==
Trong đội ngũ 240 giảng viên cơ hữu của trường có 13 giáo sư, 17 phó giáo sư, 23 tiến sĩ và 124 thạc sĩ; 177 giảng viên thỉnh giảng (trong đó có 67 giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ) .
== Cơ sở ==
Tổng thể trường là một khu liên hợp hiện đại bao gồm các hạng mục:
Nhà học chính
Nhà hành chính hiệu bộ
Nhà hội trường - giảng đường
Nhà thể thao - Thể chất
Nhà ăn - Câu lạc bộ
Khu căn hộ cao cấp cho giáo sư thỉnh giảng
Vườn sinh viên
Quảng trường sinh viên
== Sinh hoạt ==
Bên cạnh học tập, Trường có tổ chức những sinh hoạt phong phú như: Các câu lạc bộ thể dục thể thao, các cuộc thi Miss Thăng Long, Thăng Long Idol, thi nấu ăn, thi cắm hoa, chụp ảnh...
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Sinh viên Thăng Long
Phòng học lãng mạn của sinh viên đại học Thăng Long
Không gian 'tình yêu' ở ĐH Thăng Long |
chiêm thành.txt | Chiêm Thành (chữ Hán: 占城) là tên gọi của vương quốc Chăm Pa (tiếng Phạn: Campanagara) trong sử sách Việt Nam từ 877 đến 1693. Trước 859 Việt Nam gọi vương quốc này là Hoàn Vương. Đầu thế kỷ thứ 11, Chiêm Thành bao gồm 4 tiểu vương quốc là: Amaravati (vùng Quảng Nam, Đà Nẵng ngày nay, và vùng Bình - Trị - Thiên nhưng sau này bị sáp nhập vào Đại Việt), Vijaya (vùng Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), Kauthara (vùng Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay) và Panduranga (vùng Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay).
== Các vương triều Chiêm Thành ==
(Các vương triều trước xin xem bài nhà nước Lâm Ấp và nhà nước Hoàn Vương)
Từ năm 875, sử Việt Nam gọi Chăm pa là Chiêm Thành Quốc. Riêng, vùng Phan Rang (Panduranga) ngày nay được gọi là Tân Đồng Long.
=== Vương triều thứ sáu (875-991) ===
Sống mãi trong xa hoa, vương triều Panduranga trở nên yếu đuối. Sau hơn 20 năm chinh chiến với Angkor quyền hành trong nước lọt dần vào tay các dòng vương tôn miền Bắc, chính họ đã chống trả lại các đợt xâm lăng của đế quốc Angkor.
Năm 859, một vương tôn mang nhiều chiến công, tên Laksmindra Bhumisvara Gramasvamin, được triều thần đưa lên ngôi, hiệu Indravarman II.
Trong những năm 861, 862 và 865, quân Chiêm Thành tổ chức nhiều cuộc tấn công vào phủ An Nam, mang về rất nhiều lương thực và của cải. Năm 889 vua Angkor là Yasovarman hai lần tiến quân vào Chiêm Thành nhưng đều bị đánh bại và chết trong rừng sâu (năm 890), một phần đất trên Đồng Nai thượng và lãnh thổ đông-bắc Angkor (cao nguyên Rattanakiri và Mondolkiri) đặt dưới quyền kiểm soát của Chiêm Thành.
Indravarman II. Kinh đô chính là Đồng Dương - Quảng Nam ngày nay. Thời gian của triều đại này là từ 875 - 889.
Jaya Sinhavarman. Thời gian của triều đại này là từ 898 - 903. Ông là cháu gọi Indravarman II là cậu.
Jaya Caktivarman.
Bhadravarman II(vào khoảng những năm 908 đến năm 910).
Indravarman III. Vào năm 918, Indravarman III cho đúc tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng dựng tại Tháp Bà. Năm 945 vua Khmer là Rajendravarman II cùng binh sĩ băng rừng từ Angkor vào Kauthara, cướp tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng - vị thần bảo vệ xứ sở và là biểu tượng uy quyền của Chiêm Thành - trong tháp Yan Po Nagara mang về nước. Năm 965, Jaya Indravarman I cho dựng lại tượng nữ thần Bhagavati bằng đá ở Kauthara. Lúc này đạo Bà La Môn trở thành quốc giáo. Cũng trong giai đoạn này, đọa Hồi được truyền bá thông qua một quý tộc từ Java đến tị nạn là Rahdar Ahmed Abu Kamil (Naqid Amr Ali).
Paramesvaravarman I (Ba Mỹ Thuế hay Tốt Lợi Đà Bàn Ấn Đồ hoặc Ba Mĩ Thế Hạt Ấn Bồ). Năm 979, hay tin Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, Ngô Nhật Khánh, một sứ quân Đại Cồ Việt, thuyết phục vua Paramesvaravarman I, dẫn hơn một ngàn chiến thuyền từ Chiêm Thành vào chiếm Hoa Lư, nhưng không thành. Ngô Nhật Khánh bị giết, quân Chăm phải rút về. Năm 982, vì bắt giữ sứ giả của Lê Đại Hành nên Lê Đại Hành đánh Chiêm Thành, chém Ba Mỹ Thuế tại trận, phá hủy thành trì tông miếu.
Indravarman IV (Xá Lợi Đà Ngô Nhựt Hoàn) lên ngôi năm 982 và trốn vào Phan Rang và kết thúc trị vì vào năm 986.
Năm 983, một quản giáp (trưởng làng) người Kinh sinh sống trên lãnh thổ Bắc Chiêm Thành tên Lưu Kỳ Tông nổi lên chém đầu một người con nuôi của Lê Đại Hành, lúc đó là một quan cai trị trực tiếp, xây thêm thành lũy quanh Phật Thành (Fo Che) phòng thủ lãnh thổ Bắc Chiêm Thành, rồI mộ hơn 10.000 người và nhiều voi ngựa đánh Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành tiến quân xuống đánh nhưng cuộc chiến đã không xảy ra, vì sau khi vượt núi Đông Cổ và sông Bà Hòa (Thanh Hóa), đại quân của nhà Tiền Lê chịu không nổi sương lam chướng khí phải rút về.
Năm 986, hay tin vua Indravartman IV (Ngô Nhựt Hoàn) của người Chăm từ trần, Lưu Kỳ Tông liền tự xưng vương và xin nhà Tống thừa nhận. Sự tiếm quyền này xúc phạm đến tín ngưỡng của người Chăm vì Lưu Kỳ Tông không xuất thân từ vương tộc hay đẳng cấp tôn giáo nào, và là một đe dọa cho cộng đồng người Hoa địa phương. Một người Chăm gốc Hoa tên Poulo Ngo dẫn theo khoảng 150 người đổ bộ lên đảo Hải Nam và vùng duyên hải nam Quảng Châu tị nạn. Năm 988, thêm 300 người khác do Ho Siuan dẫn đầu đổ bộ lên bờ biển Quảng Châu. Người Chăm gốc Nam Đảo còn lại theo Bằng Vương La (Cu-thì-lợi Hà-thanh-bài Ma-la), một người Champa sinh sống tại Phật Thành, kháng chiến chống Lưu Kỳ Tông.
=== Vương triều thứ bảy (991-1044) ===
Năm 989 Harivarman II (Dương-to-pai hay Dương Đà Bài) lật đổ Lưu Kỳ Tông, xưng vương tại Phật Thành (Vijaya). Lê Đại Hành đánh châu Địa Lý ngay sau khi Harivarman II lên ngôi. Năm 992, Lê Đại Hành sai mở con đường bộ đầu tiên khai thông với Chiêm Thành ở vùng biển Hà Tĩnh ngày nay. Sau đó Cu Thi Lợi lên ngôi vào năm 991 và trị vì cho đến năm 997.
Yan Pu Ku Vijaya (Dương Phô Củ). Cho dời đô về Vijaya(Đồ Bàn, Bình Định). Trị vì từ năm 997 đến năm 1007.
Sri. Bi Trà (Xà Lời) lên ngôi.
Harivarman III
Paramecvaravarman II(phiên âm là Thi Nặc Bài Ma Diệp) tồn tại khoảng trước và sau năm 1021.
Vikrantvarman IV.
Jaya Sinhavarman II(phiên âm chữ Hán là Hình Bốc Tộc Li Trị Tinh Ba Phật). Trị vì từ 1041 đến năm 1044. Vua Lý Thái Tông đã đánh thành Phật Thệ, chém được Sạ Đẫu, bắt các vợ và cung nữ của Sạ Đẩu, trong đó có nàng Mỵ Ê.
=== Vương triều thứ tám (1044-1074) ===
Jaya Paramesvaravavarman I. Ứng Ni lên ngôi vào năm 1044, kết thúc trị vì năm 1060.Ông đàn áp sự chống đối của dân Panduragan.
Bhadravarman III, làm vua khoảng 2 năm 1060 đến 1061.
Rudravarman III. Chế Củ (Dương Bộc Thi Lợi Luật Đà Bàn Ma Đề Bà) lên ngôi vào năm 1061. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành. Chế Củ dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý (Quảng Bình), Ma Linh (Quảng Trị). Năm 1074 đưa vợ con và 3000 lính sang cư trú ở Đại Việt.
=== Vương triều thứ chín (1074-1139) ===
Harivarman IV. Nhà vua bắt đầu trị vì vào năm 1074, đánh phá biên giới Đại Việt, đánh Chân Lạp đến Cambhupura, đốt phá nhiều đền điện của Chân Lạp. Năm 1075, Lý Thường Kiệt đi đánh Chiêm Thành nhưng không thu được kết quả. Harivarman IV dựng lại kinh đô Indrapura (Quảng Nam) đã bị bỏ từ lâu và cho xây nhiều đền tại Mỹ Sơn.
Jaya Indravarman II(lần thứ nhất) từ năm 1080 đến 1081. Ông bị chú là Paramabhodistava truất quyền.
Paramabhodistava. Bắt đầu vào năm 1081, bị giết năm 1086 nên Jaya Indravarman II lên ngôi lần 2.
Jaya Indravarman II(lần thứ 2). Chế Ma Na bắt đầu trị vì năm 1086. Năm 1104, Chế Ma Na đánh ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, nhưng bị Lý Thường Kiệt đánh bại.
Harivarman V (1114-1129)là cháu gọi Jaya Indravarman II là chú.
=== Vương triều thứ mười (1139-1145) ===
Jaya Indravarman III (1139-1145). Năm 1145, vua Chân Lạp là Suryavarman II đánh chiếm Vijaya, Jaya Indravarman III mất tích và triều đại này kết thúc.
=== Vương triều thứ mười một (1145-1318) ===
Rudravarman IV. Kinh đô chính là Panduranga. Kết thúc vào năm 1145.
Jaya Harivarman I (Chế Bì La Bút). Ông là hoàng tử Civanandana,con vua Rudravarman IV
Jaya Harivarman II. Ông là con vua Jaya Harivarman I. Làm vua khoảng 4 năm thì bị cướp ngôi.
Jaya Indravarman IV (1167-1190). Tên hiệu khác là Po Klong Garai. Ông đã tấn công nước Angkor bằng một trận thủy chiến ngược dòng sông Mêkong. Có giả thuyết ông bị vua Cao Miên bắt trong 1 cuộc hành quân vào Chiêm Thành.
Sau đó vào năm 1190, Chiêm Thành chia thành hai tiểu vương quốc riêng: Vương quốc Vijaya và Vương quốc Panduranga. Vào năm 1192 thì lại hợp nhất lại.
Jaya Paramecvaravarman II lên ngôi năm 1226, từ đây người Chân Lạp tự ý rút khỏi Chiêm Thành. Ông là con cả vua Jaya Harivarman II.
Jaya Indravarman VI. Jaya Indravarman VI là vị vua có mối quan hệ giao hảo với Đại Việt. Ông bị ám sát và cướp ngôi năm 1257.
Indravarman V (1265-1285). Indravarman V có tên thật là Cri Harideva, người cháu đã ám sát vua Jaya Indravarman VI, và đến năm 1266 thì làm lễ đăng quang. Nhường ngôi cho thái tử Harifit tức vua Jaya Sinhavarman III
Jaya Sinhavarman III (Chế Mân). Năm 1305 - 1306, Chế Mân đem vàng bạc và hai châu: châu Ô, châu Lý làm lễ cưới công chúa Huyền Trân. Năm 1307, Chế Mân chết, nhà Trần dùng kế đưa Huyền Trân trở về.
Jaya Sinhavarman IV (Chế Chí) (1307-1312). Vua Trần Anh Tông sai quân đi đánh Chiêm Thành, bắt được Chế Chí đem về hành cung ở Gia Lâm, phong Chế Chí làm Hiệu Trung Vương, sau đó đổi thành Hiệu Thuận Vương. Chế Chí mất năm 1313. Tác Chí lên ngôi sau Chế Chí. Vào năm 1312 thì Chế Năng (Chế Đà A Bà Niêm) lên ngôi, trị vì cho đến năm 1318. Năm 1318, Chế Năng đánh chiếm hai châu Ô, Lý, nhưng bị thua và phải chạy sang Java.
=== Vương triều thứ mười hai (1318-1390) ===
Chế A Nan lên ngôi, trị vì từ năm 1318 đến năm 1342. Năm 1342, vua Trần Minh Tông sai Huệ Túc Vương Đại Niên đem quân đi đánh Chiêm Thành nhưng không được.
Trà Hoa Bồ Đề, con rể của Chế A Nan và là hậu duệ của Chế Mân, trị vì từ năm 1342 đến năm 1360. Khi lên ngôi bị con của Chế A Nan là Chế Mỗ phản đối dẫn đến cuộc chiến suốt 10 năm để tranh giành quyền lực. Năm 1360, Trà Hoa Bồ Đề chết.
Chế Bồng Nga (A Đáp A Giả). Em của Chế A Nan, trị vì từ năm 1360 đến năm 1390. Chế Bồng Nga đem quân đi đánh châu Hoá vào các năm 1361, 1362, 1366, 1368. Ông chết trận vào ngày 23 tháng 1 năm 1390.
=== Vương triều thứ mười ba (1390-1458) ===
La Khải (1390-1397?, 1400?). Ông là tướng của Chế Bồng Nga và đã đoạt ngôi sau khi Chế Bồng Nga chết. Năm 1394, nhà Trần thu lại đất châu Hoá. Trong năm 1400, nhà Trần (thực chất là nhà Hồ) đem quân đi đánh Chiêm Thành, La Khải chết. Biên niên sử Hoàng gia Chăm gọi là Po Parichan. Năm con trâu (1397), sau khi vua Po Parichan mất, thủ đô Angwei bị thất thủ về tay quân Việt. Dân tỵ nạn Chăm Pa đổ vào vùng Parang (Panduranga, vùng Phan Rang ngày nay). Năm 1428, sau khi quân đội nhà Minh rút về. Vương quốc Vijaya Chăm Pa (Đồ Bàn) được phục hồi. Năm 1433, Vương quốc Panduranga Chăm Pa (Phan Rang) cũng được phục hồi.
Jaya Sinhavarman V (Ba Đích Lai, ?-1441). Nhà Hồ chiếm được đất Chiêm Động và Cổ Lũy. Năm 1403, nhà Hồ vây đánh thành Chà Bàn hơn một tháng nhưng không được. Năm 1434 và 1435, Chiêm Thành (Vương quốc Vijaya Chăm Pa) lại sang đánh Hoá Châu.
Maha Vijaya (Ma Ha Bí Ca, 1441-1446). Ông là cháu gọi Jaya Sinhavarman V là cậu. Năm 1446 bị quân nhà Lê bắt về Thăng Long.
Ma Ha Quý Lai (1446-1449). Ông là cháu của Maha Vijaya, bị em là Ma Ha Quý Do bắt giam và giành lấy ngôi vua.
Ma Ha Quý Do (1449-1458). Bị Bàn La Trà Nguyệt giết chết vào cuối năm 1457 đầu năm 1458
=== Vương triều thứ mười bốn (1458-1471) ===
Ban La Trà Nguyệt
Ba La Trà Toàn.
Năm 1470, vua Chiêm là Trà Toàn cầu viện nhà Minh, năm 1469, 1470 Trà Toàn sai quân đi đánh Hoá Châu. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông (1460 1497) thân chinh đi đánh Chiêm Thành (Vương quốc Vijaya Chăm Pa), hạ thành Đồ Bàn, giết 60.000 người, bắt Trà Toàn và hơn 30.000 tù nhân, kết thúc triều đại thứ mười bốn của Chiêm Thành. Tướng Chiêm là Bô Trì Trì sai sứ vào cống xin xưng thần.
=== 1471 - 1694 ===
Năm 1472: Bô Trì Trì ở Phan Rang tự xưng vương, giữ được 1/5 đất cũ Chiêm Thành. Lúc đó Chiêm Thành còn lại chia thành ba nước là Đại Chiêm (Đại Chiêm nghĩa là Chiêm Thành ở vùng xa), Hoa Anh (có khả năng là viết sai của chữ Trà Lai bởi vì tất cả 4 chữ Hán Hoa, Anh, Trà, Lai đều thuộc bộ Thảo) và Nam Phan (có khả năng là viết sai của chữ Nam Ban). Bồ Trì Trì được phong đất từ núi Thạch Bi trở vào. Thạch Bi Sơn là ranh giới Đại Việt – Hậu Chiêm Thành (Vương quốc Panduranga Chăm Pa). Vùng đất từ đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi các chúa Chăm Pa vẫn duy trì cho đến đời chúa Nguyễn Hoàng).
Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng đem quân vào đánh Chiêm Thành, lấy phần đất từ đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi, đặt làm Phủ Phú Yên.
Năm 1627 đến năm 1651. Pô Rome xưng vương. Vợ thứ ba của Pô Rome là công chúa Ngọc Hoa (Ngọc Khoa, tiếng Chăm gọi là Bia Ut - hoàng hậu xứ Bắc), con gái chúa Nguyễn Phúc Nguyên.
Năm 1653. Bà Tấm đem quân đánh Phú Yên, bị quân chúa Nguyễn Phúc Tần đánh đuổi đến sông Phan Rang. Đất Chiêm Thành giới hạn từ phía Tây sông Phan Rang trở vào.
Năm 1692. Bà Tranh đem quân đi cướp phá. Đến năm 1693, bị quân chúa Nguyễn Phúc Chu đánh bại. Bà Tranh bị bắt, giam tại Hòn Chén đến năm 1694 thì mất. Đổi Chiêm Thành Quốc thành Thuận Thành Trấn, rồi thành Bình Thuận Phủ.
Năm 1694. Quý tộc người Chăm Ốc Nha Đát và tướng người La Vũ (sử Việt ghi là người Mãn Thanh) A Ban phản công, đánh bại quân đội chúa Nguyễn. Theo Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (1848) và Hoa Di Biến Thái (1694), hơn 1.000 lính và 13 tướng Nguyễn bị giết chết.
Năm 1695. Chúa Nguyễn Phúc Chu cầu hòa với quân đội Chăm, cho phép lập lại Thuận Thành Trấn vương, phong Kế Bá Tử làm Trấn Vương, cai trị Thuận Thành Dân (người Chăm và các dân tộc miền núi Cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên – Đông Nam Bộ).
== Tham khảo ==
Nguyễn Văn Huy. Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt. Nam |
giàn nhún.txt | Giàn nhún hoặc Nghệ thuật nhún giàn (trampoline trong tiếng Pháp và tiếng Anh) là một trong ba môn thể dục dụng cụ đã được đưa vào tranh tài tại Thế vận hội Mùa hè. Hai môn còn lại là Thể dục nghệ thuật và Thể dục nhịp điệu.
Giàn nhún chỉ mới được đưa vào Thế Vận hội từ năm 2000 tại Sydney. Giàn nhún chủ yếu là một khung thép tròn, vuông hay chữ nhật, đính lò xo để căng một tấm vải dày ở giữa, và có chân cao 2m trở lên. Khi nhảy trên giàn, vận động viên sẽ bật rất cao, có thể thực hiện được nhiều động tác nhào lộn rất đẹp mắt trên không.
== Tham khảo == |
kilobyte.txt | Kilobyte (xuất phát từ tiền tố SI kilo-, có nghĩa là 1.000) là 1.000 byte hoặc 1.024 byte (210), tùy vào ngữ cảnh
Nó có thể được viết tắt theo nhiều cách: K, KB, Kbyte và kB.
== Sự nhập nhằng ==
Số byte chính xác trong một kilobyte từ xưa đến nay rất nhập nhằng. Những vị trí trong các mạch bộ nhớ điện tử được xác định bằng bit vector, nên kích thước có lợi về chi phí nhất đối với mạch bộ nhớ là sử dụng tất cả các giá trị địa chỉ, hay chính là một số mũ 2 nào đó. Vì 1024 là lũy thừa của 2 và chỉ lớn hơn 1000 một ít, nên những nhà sản xuất chip nhớ cho rằng sẽ thuận tiện khi sử dụng bội số của 1024 cho những sản phẩm bán ra thị trường, coi như xấp xỉ hoặc 24 byte thừa ra là chi phí cho sản xuất. Cùng thời gian đó, những tài liệu quảng bá cho sản phẩm không có mô hình lợi về chi phí, như đĩa từ và thiết bị mạng, tiếp tục sử dụng đơn vị dựa theo đúng thập phân.
Có người đã đề nghị sử dụng tiền tố được viết hoa K để phân biệt lượng số với tiền tố SI k, và mặc dù điều này chưa bao giờ chính thức được yêu cầu, chúng thường được dùng trong thực tế (mặc dù K đã được dùng như ký hiệu SI cho độ kelvin). Tuy nhiên, nó không thể mở rộng cho những tiền tố bậc cao hơn, vì SI đã sử dụng tiền tố m và M với nghĩa lần lượt là "nghìn" và "triệu". Cũng có những đề nghị viết hoa tất cả những tiền tố lớn hơn tiền tố cơ bản (D, H, K, M, G,...), điều này lại mâu thuẫn với ở trên.
Những tiền tố này do đó có thể được dùng với giá trị trong hệ thập phân (lũy thừa 1000) hoặc nhị phân (lũy thừa 1024), tùy vào ngữ cảnh:
1024 byte (210): Định nghĩa này luôn luôn được dùng để chỉ dung lượng chip bộ nhớ, và những lượng số khác dựa trên lũy thừa 2. Phần lớn phần mềm sử dụng nó để chỉ dung lượng lưu trữ. Định nghĩa này đã bị cấm tuyệt đối theo tiêu chuẩn SI, và từ năm 1998, phần lớn các tổ chức tiêu chuẩn đề nghị sử dụng thuật ngữ thay thế kibibyte (KiB). Mặc dù từ "kibibyte" ít khi nhìn thấy trong thực tế, nó đang bắt đầu được dùng bởi vài phần mềm, như BitTorrent hay Linux kernel. Tuy nhiên, theo như kiểm tra số hit trên Google, việc sử dụng đơn vị này ít hơn 0,3%.
1000 byte (103): Định nghĩa này gắn liền với tiền tố SI, và được khuyến khích sử dụng bởi tất cả các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế như IEC, IEEE, và ISO, với cách viết tắt là "kB". Sự phổ biến rộng rãi của định nghĩa 1024 cho bộ nhớ và kích thước tập tin có nghĩa là nếu bất kỳ ai sử dụng "kilobyte" với nghĩa là 1000 thì đó mới chính là nguyên nhân gây bối rối. Tuy nhiên, việc sử dụng 1000 rất thường xuyên khi lấy số đo kilobyte từ lượng số trong dựa trên lũy thừa 2, như bitrate (tỷ lệ bit).
Kilobyte (viết tắt là kB với B hoa) không nên bị nhầm lẫn với thuật ngữ kilobit (viết tắt là kb với b thường).
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Orders of magnitude (data)
Megabyte
tiền tố SI |
vĩnh phúc, quế lâm.txt | Vĩnh Phúc (chữ Hán giản thể: 永福县, bính âm: Yǒngfú Xiàn, âm Hán Việt: Vĩnh Phúc huyện) là một huyện thuộc địa cấp thị Quế Lâm, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Huyện Vĩnh Phúc nằm ở tây nam của Quế Lâm, có các mỹ danh như: Sơn thanh thủy tú, Nhân kiệt địa linh, Phúc thọ chi hương. Huyện này có diện tích 2.807 km², dân số năm 2002 là 270.000 người. Mã số bưu chính của huyện Vĩnh Phúc là 541800. Chính quyền nhân huyện đóng ở trấn Vĩnh Phúc.
== Các đơn vị hành chính ==
Huyện này có 6 trấn và 3 hương:
Trấn: Vĩnh Phúc (永福), Tô Kiều (苏桥), La Cẩm (罗锦), Bảo Lý (堡里), Tam Hoàng (三皇), Bách Thọ (百寿).
Hương: Quảng Phúc (广福), Vĩnh An (永安), Long Giang (龙江).
== Tham khảo == |
yukawa hideki.txt | Yukawa Hideki (湯川 秀樹, Yukawa Hideki, Thang Xuyên Tú Thụ) (23 tháng 1 năm 1907 - 8 tháng 9 năm 1981) là một nhà vật lý lý thuyết người Nhật Bản và là người Nhật đầu tiên được trao giải Nobel.
== Tiểu sử ==
Yukawa sinh tại Tokyo, Nhật Bản. Năm 1929, sau khi nhận bằng tốt nghiệp trường Đại học Đế quốc Kyoto, ông trở thành giảng viên đại học trong 4 năm. Sau khi tốt nghiệp, Yakawa trở nên đam mê với vật lý lý thuyết, đặc biệt là lý thuyết về hạt sơ cấp. Năm 1932, ông kết hôn với Sumi (スミ, Sumi?) và có hai người con, Harumi và Takaaki. Năm 1933, ở tuổi 26, ông trở thành phó giáo sư tại Đại học Osaka.
Năm 1935, ông cho xuất bản lý thuyết về hạt meson, trong đó giải thích về sự tương tác giữa các hạt proton và neutron, đây là một phát hiện có tầm ảnh hưởng to lớn về hạt sơ cấp. Năm 1940, Yukawa trở thành giáo sư tại Đại học Kyoto. Năm 1940 ông dành Giải thưởng đế quốc học viện Nhật Bản. Năm 1943, ông nhận huân chương danh dự văn hóa của chính phủ Nhật. Năm 1949, ông trở thành giáo sư tại Đại học Columbia, cùng năm đó thì ông giành được giải Nobel vật lý sau khám phá của Cecil Powell dựa trên những dự đoán về pion của Yukawa năm 1947. Yukawa cũng là người dự đoán về sự bắt điện tử.
Yakawa trở thành chủ tịch đầu tiên của Viện vật lý lý thuyết Yakawa năm 1953. Ông cũng từng nhận được bằng tiến sĩ honoris causa của Đại học Paris và ông là thành viên danh dự của Hội Hoàng gia Edinburgh, Học viện Khoa học Ấn Độ, Học viện Triết học và Khoa học quốc tế và Pontificia Academia Scientiarum.
Ông là người biên tập cuốn Progress of Theoretical Physics và cho xuất bản các bài báo Introduction to Quantum Mechanics (1946) và Introduction to the Theory of Elementary Particles (1948).
Năm 1955, Yakawa cùng 10 nhà khoa học hàng đầu khác đã cùng nhau ký vào Bản tuyên ngôn Russell-Einstein, kêu gọi sự giải trừ vũ khí hạt nhân.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Yukawa Hideki - Tiểu sử
Về Yukawa Hideki
Dự đoán của ông về sự tồn tại của meson trên cơ sở lý thuyết về lực hạt nhân. |
thế kỷ 11.txt | Thế kỷ 11 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1001 đến hết năm 1100, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory.
== Tham khảo == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.