filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
giải bóng đá vô địch quốc gia 2013.txt
Giải bóng đá vô địch quốc gia 2013, có tên gọi chính thức là Giải bóng đá vô địch quốc gia - Eximbank 2013 hay Eximbank V.League - 2013, được diễn ra từ ngày 2 tháng 3 năm 2013 đến ngày 25 tháng 8 năm 2013. Mùa giải 2013 sẽ chỉ còn 12 đội tham gia do câu lạc bộ bóng đá Hà Nội và Navibank Sài Gòn không tham dự. Giải nằm dưới sự chỉ đạo của VPF. == Thay đổi trước mùa giải == Danh sách các đội bóng có sự thay đổi so với mùa giải 2012: ^[a] CLB Hà Nội (á quân) không tham dự vì cùng một ông bầu với Hà Nội T&T, vì vậy suất đá chính thức V.League 1 2013 thuộc về Đồng Nai (hạng ba). ^[b] Vicem Hải Phòng đứng cuối bảng nhưng tiếp tục chơi vì mua lại suất của Khatoco Khánh Hòa. ^[c] Hà Nội FC, Navibank Sài Gòn, Khatoco Khánh Hòa vì lý do tài chính nên không tham dự. Đội tuyển U22 Việt Nam cũng có đề xuất tham dự từ mong muốn tăng cơ hội cọ xát cho các cầu thủ trẻ, chuẩn bị cho SEA Games 27 nhưng khó triển khai vì rất nhiều vướng mắc ở các khía cạnh khác nhau. Vì vậy đội tuyển U22 không tham dự, chỉ còn 12 câu lạc bộ tham dự, và chỉ còn 1 suất xuống hạng. == Đội bóng tham dự == === Thông tin các đội bóng === === Thay đổi Huấn luyện viên trưởng === === Cầu thủ ngoại binh === Ghi chú:1Những cầu thủ sinh ra và bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của họ ở nước ngoài nhưng có thời gian thi đấu ở Việt Nam;2Là cư dân nước ngoài nhưng nhập tịch và đã thi đấu cho Đội tuyển Quốc gia Việt Nam;3Là cầu thủ mang Quốc tịch Việt Nam đã được lựa chọn để đại diện cho một đội tuyển quốc gia == Bảng xếp hạng == == Kết quả == Cập nhật lần cuối: ngày 31 tháng 8 năm 2013. Nguồn: Eximbank V-League 1 ^ Đội chủ nhà được liệt kê ở cột bên tay trái.Màu sắc: Xanh = Chủ nhà thắng; Vàng = Hòa; Đỏ = Đội khách thắng. == Thống kê toàn mùa giải ==
oxbridge.txt
Oxbridge là một từ ghép được dùng để chỉ nhóm hai trường đại học Oxford và Cambridge của Anh. Xuất hiện lần đầu trong văn học, Oxbridge hiện được dùng để nói tới vị trí và danh tiếng hàng đầu của hai trường đại học trong hệ thống giáo dục cũng như xã hội Anh. Oxford và Cambridge là hai trường đại học lâu đời nhất của Anh, chúng đều đã có hơn 800 năm tuổi và là hai trường đại học duy nhất của Anh cho tới thế kỷ 19. Rất nhiều giảng viên và sinh viên của hai trường đại học này là những nhân vật trí thức ưu tú của xã hội Anh qua nhiều thế kỷ. Hơn thế, Oxford và Cambridge có hệ thống đào tạo tương đối giống nhau với nhiều trường đại học thành viên. == Lịch sử == Mặc dù Oxford và Cambridge đều đã có lịch sử lâu đời nhưng từ ghép Oxbridge mới chỉ xuất hiện từ thế kỷ 19. Theo Từ điển tiếng Anh Oxford (Oxford English Dictionary) thì cụm từ này xuất hiện lần đầu trong tiểu thuyết Pendennis của nhà văn William Makepeace Thackeray xuất bản năm 1849, trong đó nhân vật chính theo học tại Trường Boniface (Boniface College) thuộc Oxbridge. Trong Pendennis cũng còn đề cập tới từ ghép Camford, vốn cũng ghép từ Oxford và Cambridge, tuy nhiên cụm từ này không có tính phổ biến như Oxbridge. Oxbridge được nữ nhà văn Virginia Woolf dùng với ý chỉ trích trong tác phẩm A Room of One's Own của bà. Tương tự ý tưởng về Oxbridge, một số từ ghép để chỉ cụm trường đại học của Anh cũng từng xuất hiện trên báo chí như Doxbridge (chỉ các trường đại học Durham, Oxford và Cambridge) hay Loxbridge (chỉ các trường đại học Luân Đôn, Oxford và Cambridge). Tuy nhiên các cụm từ này không phổ biến và mang ý nghĩa như Oxbridge. == Tham khảo == == Xem thêm == Ivy League == Liên kết ngoài == University of Cambridge University of Oxford
chung sức.txt
Chung Sức là một trò chơi truyền hình dành cho mọi đối tượng do HTV7 – Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Chương trình khởi động vào ngày 6.1.2004, phát sóng vào 20 giờ tối thứ ba hàng tuần, từ Tháng 3 năm 2012 chương trình chuyển khung giờ sang 21h tối thứ ba hàng tuần. Chương trình này là phiên bản tiếng Việt của chương trình "Family Feud" (Mỹ) - được ra mắt vào năm 1976 và được phát sóng đến nay, với Steve Harvey (từ năm 2010) dẫn chương trình. == Luật chơi == Mỗi gia đình gồm bốn người chơi (như trường hợp ở Úc, nhưng không phải trong các phiên bản Hoa Kỳ, trong đó sử dụng năm) mà sẽ chơi trong bốn vòng riêng biệt, mỗi chơi hệt. Mỗi vòng bắt đầu với một toss-up giữa hai cầu thủ đối lập, với các máy chủ đặt câu hỏi khảo sát trước đó đã được đặt ra cho một nhóm gồm 100 người. (Ví dụ: "Đặt tên cho giờ đó bạn thức dậy vào buổi sáng chủ nhật.") Một số lượng nhất định các câu trả lời (lên đến tám) được giấu kín trên bảng, bắt đầu với những câu trả lời phổ biến nhất, và duy nhất nhận được hai hoặc nhiều phản ứng có thể xuất hiện trên bảng. Các cầu thủ đầu tiên trong buzz cho một câu trả lời; nếu nó là phổ biến nhất, / gia đình của mình ngay lập tức thắng toss-up. Nếu không, các đối thủ phản ứng như tốt và các câu trả lời xếp hạng cao hơn sẽ thắng. Quan hệ đang bị hỏng trong lợi của cầu thủ người kêu ro ro trong đầu. Nếu câu trả lời không phải của người chơi là vào ban lãnh đạo, sáu cầu thủ khác có cơ hội trả lời, một lúc từ hai bên luân phiên, cho đến một câu trả lời được tìm thấy. Các gia đình thắng toss-up có thể chọn để chơi các câu hỏi hoặc vượt qua kiểm soát để các đối thủ của họ. Các gia đình có kiểm soát của câu hỏi bây giờ cố gắng để giành chiến thắng trong vòng bằng cách đoán tất cả các câu trả lời giấu còn lại, với mỗi thành viên đưa ra một câu trả lời theo thứ tự. Đưa ra một câu trả lời không ở trên diễn đàn, hoặc không trả lời trong thời gian quy định, kiếm được một bàn thắng nữa. Nếu gia đình kiếm được ba cuộc đình công, đối thủ của họ được cho một cơ hội để ăn cắp các điểm cho vòng bằng cách đoán bất kỳ câu trả lời vẫn còn che giấu; nếu không làm được như vậy giải thưởng điểm cho các gia đình mà ban đầu đã kiểm soát. Mỗi câu trả lời đúng là giá trị một điểm cho mỗi người đã cho câu trả lời trong cuộc khảo sát (ví dụ, một câu trả lời nơi 25 người đã cho rằng phản ứng trong cuộc khảo sát có giá trị 25 điểm). Các gia đình chiến thắng trong từng điểm số vòng tổng số điểm của các tiết lộ câu trả lời cho câu hỏi đó, bao gồm cả những người được đưa ra trong toss-up nhưng, nếu gia đình thắng vòng bằng cách ăn cắp câu trả lời, không phải số điểm của câu trả lời được sử dụng trong các thành công đánh cắp. Ba vòng đầu tiên (không phải hai như trong các phiên bản hiện tại ở Hoa Kỳ và Úc) đang chơi cho điểm duy nhất, vòng thứ tư cho đôi điểm, và điểm thứ ba vòng. Không giống như hầu hết các phiên bản của chương trình, trong đó 300 điểm là cần thiết để giành chiến thắng trong trò chơi, các gia đình hàng đầu sau năm vòng (ba vòng duy nhất, một vòng đôi, và một vòng ba) thắng trò chơi. Tuy nhiên, không giống như hầu hết các phiên bản của chương trình, thậm chí nếu một gia đình thắng trò chơi bằng cách có một dẫn của 300 hoặc nhiều hơn các điểm sau bốn vòng, vòng ba vẫn còn chơi. Các chiến thắng lượt gia đình vòng đặc biệt. Từ khi Vfresh tài trợ chương trình, có thêm một đáp án may mắn xuất hiện trong bất cứ câu hỏi nào. Nếu trả lời trùng đáp án may mắn thì thành viên đó nhận ngay 1 triệu đồng. Kể từ năm 2015, khi Nguyễn Kim tài trợ cho chương trình thì có thêm một phần thi dành cho khác giả trả lời thông qua trang Facebook của chương trình, cách thức chơi cũng tương tự với giải thưởng là phiếu mua hàng 5 triệu đồng. Giải thưởng của đáp án may mắn cũng được thay đổi thành phiếu mua hàng 3 triệu đồng thay vì 1 triệu đồng như trước đây. Kết thúc bốn vòng thi đấu, đội cao điểm hơn chiến thắng và cử hai thành viên để thi vòng đặc biệt. == Vòng đặc biệt ("Fast Money") == Các gia đình thắng chọn hai thành viên của mình để chơi vòng này. Thành viên đầu tiên có 20 giây để trả lời năm câu hỏi khảo sát, với thành viên thứ hai cô lập ở hậu trường để ông / bà không thể nhìn thấy hoặc nghe thấy câu trả lời. Sau khi các giá trị điểm được phát hiện và đạt tổng cộng, bảng hết sạch và thành viên thứ hai được đưa ra 25 giây để trả lời năm câu hỏi tương tự. Nếu thành phần này sao lại một câu trả lời được đưa ra trước đó, anh / cô ấy được phép đưa ra một khác nhau. Hoặc người chơi có thể vượt qua trên một câu hỏi và trở lại với nó sau khi tất cả năm đã được yêu cầu, nếu vẫn còn thời gian trên đồng hồ. Nếu hai thành viên tích lũy 200 điểm trở lên giữa họ, gia đình thắng giải thưởng lớn là mười triệu đồng. == Dẫn chương trình == Nghệ sĩ ưu tú Tạ Minh Tâm là người dẫn chương trình cho Chung Sức từ lúc bắt đầu phát sóng đến tháng 1 năm 2012 thì nghỉ do bận việc riêng. Vị trí MC được giao lại cho siêu mẫu Bình Minh. Ngoài ra có một MC khác chỉ nói ba câu: "chào mừng quý vị đến với chương trình Chung Sức của đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, hôm nay sẽ là trận thi đấu của hai đội nguyên thủy và hiện đại Và người dẫn chương trình hôm nay là siêu mẫu bình minh Kể từ năm 2015, Bình Minh được thay thế bởi hai MC mới là Trường Giang và Hari Won, cũng từ năm nay chương trình không còn MC chỉ nói ba câu mở đầu chương trình như trước nữa. Kể từ năm 2016, Trường Giang và Hari Won được thay thế bởi hai MC mới là Đại Nghĩa và Lê Khánh. == Câu nói nổi tiếng == Một câu nói nổi tiếng đã trở thành thương hiệu của hệ thống chương trình Family Feud toàn thế giới là "Survey says..." - Khảo sát nói... (đây là cách dịch sát nghĩa). Ở Chung Sức, MC Tạ Minh Tâm đôi khi hay dẫn "Khảo sát!", ý nghĩa cũng tương tự như trên. = Kết thúc sứ mệnh = Chương trình đã nói lời chia tay khán giả sau 12 năm phát sóng từ 21h45 ngày 28/6/2016. == Chú thích == == Liên kết ngoài == HTV Trang web của Đông Tây Promotion FamilyFeud.com
shimomura osamu.txt
Shimomura Osamu (tiếng Nhật: 下 村 修) là nhà hóa học người Mỹ gốc Nhật. Ông cùng với Martin Chalfie và Roger Y. Tsien giành Giải Nobel Hóa học năm 2008 nhờ sự khám phá đầu tiên về GFP và một loạt các phát triển quan trọng dẫn tới việc sử dụng nó như một công cụ quan trọng trong sinh học. == Chú thích ==
tổng tuyển cử.txt
Tổng tuyển cử là một cuộc bầu cử trong đó tất cả hoặc hầu hết các thành viên của đoàn thể chính trị được quy định tham gia. Thuật ngữ này thường được dùng để chỉ các cuộc bầu cử được tổ chức cho bộ phận lập pháp chính của một quốc gia (như Quốc hội của Việt Nam) để phân biệt với các cuộc bầu cử phụ và bầu cử địa phương. Thuật ngữ này bắt nguồn từ các cuộc tổng tuyển cử Vương quốc Anh tiến hành cho Hạ Nghị viện Vương quốc Anh. == Tổng tuyển cử Quốc hội Việt Nam == Xem Bầu cử ở Việt Nam == Ở Hoa Kỳ == Xem Tổng tuyển cử Hoa Kỳ, 2006 == Ở Vương quốc Anh == == Ở Canada == Ở Canada, các cuộc tổng tuyển cử được tổ chức để bầu các nghị sĩ cho Hạ Nghị viện Canada, hoặc các thành viên của bộ phận hành pháp của các tỉnh bang và vùng tự trị Canada. == Ở Nhật Bản == Xem Bầu cử ở Nhật Bản == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Luật bầu cử quốc hội Việt Nam Những chuyện ít biết về Tổng tuyển cử năm 1946 International IDEA's Electoral Processes Program A New Nation Votes: American Election Returns 1787-1825
20th century fox.txt
Twentieth Century Fox Film Corporation (từ 1934 đến 1985 gọi là Twentieth Century-Fox Film Corporation), cũng được biết đến như 20th Century Fox, Fox 2000 Pictures, hay đơn giản Fox, là một trong sáu tập đoàn truyền thông lớn nhất nước Mỹ. Toạ lạc tại Century City ở Los Angeles, phía Tây Beverly Hills, hãng là công ty con của News Corporation, đồng sở hữu bởi Rupert Murdoch. Tập đoàn được thành lập năm 28 tháng 12 năm 1934, là kết quả của sự hợp nhất Fox Film Corporation sáng lập bởi William Fox năm 1915, và Twentieth Century Pictures, ra đời năm 1933 bởi Darryl F. Zanuck, Joseph Schenck, Raymond Griffith và William Goetz. Những bộ phim nổi tiếng nhất của 20th Century Fox gồm có Chiến tranh giữa các vì sao, Ở nhà một mình, Die Hard, Kỉ băng hà, Revenge of the Nerds, X-Men (phim), Alien, Rio (phim), Mr. Peabody & Sherman và Predator. Một số ngôi sao đã nổi lên từ Fox như Shirley Temple, Betty Grable và Marilyn Monroe. == Xem thêm == Công ty liên quan: 20th Century Fox Television 20th Century Fox Animation Fox Atomic Fox Broadcasting Company Fox Entertainment Group Fox Interactive Fox Home Entertainment Fox Searchlight Pictures Sản phẩm liên quan: 20th Century Fox Studio Classics - Đĩa bộ DVD đặc biệt Fox Family Fun - Đĩa bộ DVD gia đình Khác: Blu-ray Disc Association List of Hollywood movie studios CinemaScope == Liên kết ngoài == FoxMovies.com [1] 20th Century Fox From Box Office Mojo == Chú thích ==
quan hệ nhật bản – việt nam.txt
Quan hệ Nhật Bản–Việt Nam hay Việt-Nhật quan hệ bắt đầu từ cuối thế kỷ 16 khi các nhà buôn Nhật đến Việt Nam buôn bán. Việt Nam chính thức lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào ngày 21 tháng 9 năm 1973. Năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam. Quan hệ giữa Việt Nam-Nhật Bản phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực và đã bước sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu. Các mối quan hệ kinh tế chính trị, giao lưu văn hóa không ngừng được mở rộng; đã hình thành khuôn khổ quan hệ ở tầm vĩ mô; sự hiểu biết giữa hai nước không ngừng được tăng lên. == Lịch sử == Thế kỷ thứ 8, thời nhà Đường còn đô hộ Việt Nam, một viên quan nhà Đường gốc Nhật Bản là Abe no Nakamaro đã được cử sang làm Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ. Đến thế kỷ 16, các thương nhân Nhật Bản thường xuyên qua lại khu vực biển ở Đông Nam Á để buôn bán, trong đó có lãnh thổ Đại Việt nhà Lê. Các thuyền chu ấn của Nhật Bản lúc này đã sang lãnh thổ Việt Nam. Sang thế kỷ 17, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đẩy mạnh giao thương, chúa Nguyễn Hoàng cho phép thương gia Nhật Bản buôn bán và cư trú ở Hội An. Mạc phủ Tokugawa Ieyasu còn trao đổi công văn thương mại với chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên còn gả cả công nữ Ngọc Hoa (có nguồn ghi là Ngọc Khoa) cho thương nhân nổi tiếng Araki Shutaro (荒木宗太郎). Tuy nhiên, từ năm 1635 với sự ra đời của Luật bế quan tỏa cảng (Tỏa Quốc), Nhật Bản chỉ cho phép buôn bán với Trung Quốc, Triều Tiên và Hà Lan nên sự giao thương với Việt Nam bị gián đoạn. Đến giữa thế kỷ 20, năm 1940, đế quốc Nhật mới thiết lặp căn cứ chống lại phe Đồng Minh ở Đông Nam Á và xâm lược Việt Nam đến tận năm 1945. Tháng 9 năm 1973, Nhật Bản và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. == Về chính trị == Hàng năm đều có các cuộc gặp cấp cao. Thủ tướng Nhật Bản thăm Việt Nam 5 lần (Tomiichi Murayama 8/1994, Ryutaro Hashimoto 1/1997, Keizo Obuchi 12/1998, Junichiro Koizumi 4/02,Shinzou Abe 2012.) Ngoại trưởng Nhật thăm chính thức 2 lần (1996 và 2004). Thủ tướng Việt Nam thăm Nhật Bản 6 lần (1993, 1999, 2001, 2003 - 2 lần - và 6/2004). Từ 1993 đến nay, Tổng Bí thư (2 lần vào 1995 và 2002), Chủ tịch Quốc hội và Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam cũng đã thăm Nhật Bản. Năm 2002, Lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất xây dựng quan hệ Việt Nam-Nhật Bản theo phương châm "đối tác tin cậy, ổn định lâu dài". Trong chuyến thăm Việt Nam 7/2004 của Ngoại trưởng Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung "Vươn tới tầm cao mới của đối tác bền vững". Hai bên đã tạo dựng được cơ chế đối thoại ở nhiều cấp. Ngoài đối thoại chính trị định kỳ ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao (từ năm 1993), hai bên cũng đã xây dựng được cơ chế đối thoại kinh tế, an ninh và quốc phòng. Hai bên đã trao đổi tùy viên quân sự, mở Tổng lãnh sự quán ở Thành phố Hồ Chí Minh ở Việt Nam và Osaka ở Nhật Bản Nhật Bản ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới (vào APEC, WTO, ASEM, ARF, vận động OECD giúp Việt Nam về kỹ thuật...); coi trọng quan hệ với Việt Nam, lấy lợi ích và mục tiêu lâu dài làm trọng. Việt Nam ủng hộ Nhật làm thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mở rộng, và vận động Nhật ủng hộ Việt Nam ứng cử làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009. == Quan hệ kinh tế == Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam. === Về mậu dịch === Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ 1999. Nhật Bản là bạn hàng số một của Việt Nam. Kim ngạch 2 chiều năm 2003 đạt 5,9 tỷ USD, nhanh chóng tăng lên đến 8,5 tỷ USD vào năm 2005, 10 tỷ USD năm 2006, 12 tỷ năm 2007, và 17 tỷ năm 2008. Tuy nhiên trong năm 2009, vì khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tổng thương mại giảm xuống 12,2 tỷ trong năm 2009, nhưng nhanh chóng phục hồi lại đến 16 tỷ USD trong năm 2010. === Đầu tư trực tiếp === Đến tháng 11/2003 có 354 dự án với số vốn đăng ký 4,47 tỷ $. Trong số 62 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, Nhật đứng thứ 3 sau Singapore và Đài Loan về số vốn đăng ký nhưng đứng đầu về kim ngạch đầu tư đã đi vào thực hiện (3,7 tỷ $). 11 tháng đầu năm 2003, Nhật đứng thứ 5 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với số vốn 78 triệu USD, giảm 35% so với cùng kỳ năm 2002. Hai nước đã ký kết Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư tháng 11/2003. Tháng 12/03 hai bên đã thoả thuận Sáng kiến chung nhằm cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam. === Về ODA === Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, từ 1992-2003 đạt khoảng 8,7 tỷ USD, chiếm khoảng 30% tổng khối lượng ODA của cộng đồng quốc tế cam kết dành cho Việt Nam, trong đó viện trợ không hoàn lại khoảng 1,2 tỷ USD. Từ năm 2001, Nhật Bản cắt giảm 10% ngân sách ODA nhưng vẫn giữ và tăng kim ngạch ODA cho Việt Nam. Năm 2003, mặc dù cắt giảm 5,8% ODA cho các nước nói chung, nhưng ODA cho Việt Nam vẫn là 91,7 tỷ yên, giảm khoảng 1.2% so với năm 2002. Hai bên đã thoả thuận chương trình viện trợ lâu dài của Nhật Bản cho Việt Nam nhằm vào 5 lĩnh vực chính là: phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế; xây dựng và cải tạo các công trình giao thông và điện lực; phát triển nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phát triển giáo dục đào tạo và y tế; bảo vệ môi trường. Ngày 2/6/04, Nhật Bản đã công bố chính sách viện trợ ODA mới cho Việt Nam với 3 mục tiêu chính: Thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện đời sống - xã hội, hoàn thiện cơ cấu. Tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Shinzo Abe công bố khoản ODA trị giá khoảng 100 tỷ yên (tương đương 1 tỷ USD) cho 5 dự án thuộc đợt 2 tài khóa 2013. === về hợp tác lao động === Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã cử 16 ngàn tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật. Nhật là một thị trường tiềm năng cho lao động Việt Nam trong 5-10 năm tới. Tuy nhiên mấy năm gần đây nổi lên vấn đề lao động Việt Nam bỏ trốn tại Nhật (tỷ lệ bỏ trốn năm 2002 là 24,7%, cao nhất trong các nước cử lao động sang Nhật) gây khó khăn cho việc hợp tác lao động. === Về văn hóa giáo dục === Hai nước đang triển khai các chương trình đào tạo con người, chương trình thanh niên ASEAN (100 người/năm) và trao đổi các đoàn văn hóa, những người người tình nguyện, chuyên gia. Hàng năm Chính phủ Nhật viện trợ cho Việt Nam từ 1 đến 2 dự án viện trợ văn hoá không hoàn lại như thiết bị học ngoại ngữ, thiết bị bảo quản tư liệu Viện Hán-Nôm, Bảo tàng Lịch sử, xưởng phim hoạt hình. Về giáo dục, Chính phủ Nhật Bản nhận khoảng trên 100 học sinh sinh viên Việt Nam sang Nhật Bản đào tạo hàng năm. Ngoài ra còn có nhiều học sinh du học tự túc. Tổng số lưu học sinh Việt Nam ở Nhật hiện nay khoảng hơn 1000 người. Trong 5 năm (1994-1999), Chính phủ Nhật đã viện trợ 9,5 tỉ yên để xây dựng 195 trường tiểu học ở các tỉnh miền núi và vùng ven biển hay bị thiên tai. === Về du lịch === Nhật Bản cũng là một thị trường được chú trọng để phát triển du lịch Việt Nam. Năm 2002 đã có 280 ngàn khách Nhật Bản thăm Việt Nam. Do ảnh hưởng của SARS, du lịch Nhật Bản vào Việt Nam trong năm 2003 giảm sút. Từ tháng 1/2004, Việt Nam đã chính thức đơn phương miễn thị thực cho người Nhật Bản đi du lịch và kinh doanh vào Việt Nam trong vòng 15 ngày và gần đây nhất từ 1/7/2004, Việt Nam đã quyết định miễn thị thực nhập cảnh ngắn hạn cho công dân Nhật. Đây là thuận lợi lớn để thúc đẩy du lịch Nhật Bản vào Việt Nam. Từ ngày 1/5/2005, Việt Nam và Nhật Bản song phương miễn thị thực hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ. Trong năm 2011, du khách Nhật Bản đến thăm Việt Nam đã tăng lên đến 428.000 lượt, tăng 8,9% so với năm 2010. == Nhiệm vụ ngoại giao == === Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản === Ngoại trừ các đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Nhật. Nguyễn Giáp (1976-1980) Nguyễn Tiến (1981-1984) Đào Huy Ngọc (1984-1987) Võ Văn Sung (1988-1992) Nguyễn Tâm Chiến (1992-1995) Nguyễn Quốc Dũng (1995-1999) Vũ Dũng (1999-2003) Chu Tuấn Cáp (2003-2007) Nguyễn Phú Bình (2008-2011) Đoàn Xuân Hưng (2012-2015) Nguyễn Quốc Cường (2015-) === Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Nhật Bản === Nguyên Triệu Đan (1972-1975) == Xem thêm == Abe no Nakamaro - Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đại sứ quán Nhật tại Việt Nam Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies.
học viện bóng đá hoàng anh gia lai - arsenal jmg.txt
Hoàng Anh Gia Lai – Arsenal JMG Academy là một học viện bóng đá tại Pleiku, Gia Lai, Tây Nguyên của Việt Nam. Học viên được hợp tác giữa câu lạc bộ bóng đá Arsenal, JMG Academy và thuộc quyền sở hữu của Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai. Đây là học viện đầu tiên tại Việt Nam.. Ở Việt Nam, bóng đá là môn thể thao vua - số một. Tuy nhiên, thành tích tốt nhất mà Việt Nam đã giành được là chức vô địch AFF Suzuki Cup với Thái Lan từ năm 2008. Nguyên nhân của tỷ lệ thành công thấp của Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam là không có hệ thống đào tạo cầu thủ. Tháng 8 năm 2009 hai cầu thủ của Hoàng Anh Gia Lai đã được tập luyện cùng với đội Arsenal Vào tháng 8 năm 2009, 2 cầu thủ được gửi đi tập luyện với đội 1 của Arsenal. == Chỉ trích == Các quyết định thành lập học viện đã bị chỉ trích từ Tổng công ty Hoàng Anh Gia Lai đang gây nhiều tranh cãi liên quan đến việc phá rừng. == Tham khảo == == Liên kết == Official website
santiago de chile.txt
Santiago (tiếng Tây Ban Nha: , Santiago là chỉ về Thánh Giacôbê, con ông Dêbêđê) (phiên âm: Xan-tia-gô) là thủ đô Chile và cũng là thành phố lớn nhất của Chile. Thành phố tọa lạc tại độ cao 520 m, ở thung lũng miền trung nước này và về mặt hành chính là một phần của Vùng đô thị Santiago. Dù Santiago là thủ đô nhưng cơ quan lập pháp họp ở Valparaíso gần đó. Khoảng 2 thập kỷ phát triển kinh tế liên tục đã biến Santiago thành một trong những vùng đô thị tinh tế nhất châu Mỹ Latin với vùng phát triển ngoại ô rộng lớn với hạ tầng cơ sở như hệ thống đường cao tốc, tàu điện ngầm. Santiago là một trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế có tầm quan trọng về tài chính trong khu vực. Dân số đô thị năm 2002 của Đại đô thị Santiago là 5.456.326 người. Diện tích 64.140 ha (641,4 km²). == Lịch sử == === Thành lập thành phố === Santiago là thủ đô của Chile. Santiago được thành lập bởi Conquistador Tây Ban Nha Pedro de Valdivia ngày 12 tháng hai 1541, với tên Santiago de Nueva Extremadura, tỏ lòng tôn kính Thánh James và Extremadura và trong mối quan hệ với tên đầu tiên cho Chile, Nueva Extremadura. Extremadura là nơi sinh của Valdivia ở Tây Ban Nha. Lễ thành lập được tổ chức ở đồi Huelén (sau này đổi tên Cerro Santa Lucia). Valdivia đã chọn vị trí của Santiago vì khí hậu, thảm thực vật phong phú của nó, và sự dễ dàng phòng vệ - sông Mapocho lúc đó chia thành hai nhánh và quay trở lại vùng hạ lưu, tạo thành một hòn đảo. Nhà cai trị Inca Manco Capac II cảnh báo các nhà lãnh đạo mới rằng những người dân của ông sẽ thù địch đối với những kẻ chiếm đóng. Những kẻ xâm lược Tây Ban Nha đã phải chiến đấu chống lại nạn đói gây ra sự kháng cự này. Pedro de Valdivia cuối cùng đã thành công trong việc ổn định nguồn cung cấp thực phẩm và các nguồn lực cần thiết cho Santiago để phát triển mạnh. Việc bố trí các khu đô thị mới bao gồm các tuyến đường thẳng 12 varas (rộng 14,35 m, cắt với những khoảng bằng nhau bởi 138 varas (165,08 m) vuông góc với nhau. Với chín tuyến đường theo hướng đông-tây và 15 theo hướng Bắc-Nam, có 126 khối phố hình thành các manzana, hoặc cắt vuông. === Cố gắng phá hủy === Sự phản kháng tiếp tục của người dân bản địa dẫn đến một loạt các cuộc xung đột. Ngày 11 Tháng 9 năm 1541, tù trưởng Picunche, Michimalonco, đã dẫn đầu một cuộc tấn công vào Santiago, bắt đầu một cuộc chiến tranh kéo dài ba năm. Vào thời điểm đó, Conquistadores ở trong tình trạng bấp bênh, bị thiếu lương thực liên tục trong sự cô lập gần như hoàn toàn với phần còn lại của thế giới. Trong tháng 1 năm 1542, Pedro de Valdivia đã phái một sứ giả, Alonso de Monroy, đến Peru để thỉnh cầu giúp đỡ. Những người thực dân phải chịu 20 tháng khắc nghiệt cho đến khi de Monroy trở về từ Peru với quân tiếp viện, chấm dứt sự cô lập và tình hình nản chí của những người lính ở Santiago. Các cuộc nổi dậy cuối cùng thất bại và người dân bản địa di chuyển về phía nam. === Santiago thuộc địa === Bất chấp các mối đe dọa từ các cuộc tấn công của người Anh Điêng bản địa và các thảm họa thiên nhiên như động đất và lũ lụt, Santiago đã nhanh chóng có dân định cư. Trong số 126 khối được thiết kế bởi Gamboa năm 1558, 40 đã có dân định cư vào năm 1580, trong khi các khu vực đất khi gần đó hỗ trợ hàng chục ngàn gia súc. Những người định cư đầu tiên xây dựng các tòa nhà quan trọng đầu tiên trong thành phố, bao gồm cả nhà thờ đầu tiên năm 1561 và Giáo hội của San Francisco, xây dựng vào năm 1618. Cả hai cấu trúc này được xây dựng chủ yếu bằng gạch sốnge và đá. Năm 1767, Corregidor Luis Manuel de Zañartu bắt đầu xây dựng cây cầu Calicanto, một trong những công trình kiến ​​trúc quan trọng nhất của toàn bộ thời kỳ thuộc địa ở Chile. Cây cầu được hoàn thành vào năm 1779 và liên kết hai nửa của thành phố qua sông Mapocho. Năm 1770, Thống đốc Agustín de Jáuregui thuê kiến ​​trúc sư Ý Joaquín Toesc thiết kế các công trình quan trọng khác, mặt tiền của Đại giáo đường đô thị Santiago và La Moneda, dinh tổng thống. Chính phủ Ambrosio O'Higgins cho mở một con đường lớn để Valparaíso năm 1791 === Độc lập === Ngày 12 1817, trận Chacabuco đã diễn ra ở một khoảng cách ngắn ở phía bắc của Santiago ở thị trấn Colina. Quân đội Argentina và Chile, chỉ huy bởi José de San Martín và Bernardo O'Higgins, chiến đấu với những người hoàng gia Tây Ban Nha. Cùng ngày, Chile tuyên bố độc lập Trong thời kỳ độc tài của nước Cộng hoà, từ 1830 đến 1891, hệ thống trường học đã được du nhập và đời sống văn hóa bắt đầu phát triển. Năm 1843 Universidad de Chile được thành lập, tiếp theo Pontifica Universidad Catolica vào năm 1888. Đến năm 1885, dân số của Santiago đã lên tới 189.322 người. === Thế kỷ 19 === Trong những năm của thời đại Cộng hòa, các tổ chức như Đại học Chile (Universidad de Chile), các trường học sư phạm Preceptors, Trường Nghệ thuật và Thủ công mỹ nghệ, và Quinta Normal, trong đó bao gồm Bảo tàng Mỹ thuật (nay là Bảo tàng Khoa học và Công nghệ) và Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia, đã được thành lập. Tạo ra chủ yếu để sử dụng cho giáo dục, chúng cũng đã trở thành ví dụ quy hoạch công cộng trong thời gian đó. Năm 1851, hệ thống điện tín đầu tiên nối thủ đô với cảng Valparaíso đã được khánh thành Một động lực mới trong phát triển đô thị của thủ đô đã diễn ra trong cái gọi là "Cộng hòa tự do" và Thị trưởng Benjamín Vicuña Mackenna. Trong số các công trình chính trong giai đoạn này là tu sửa Cerro Santa Lucia, mặc dù vị trí trung tâm, đã được trong hình dạng rất nghèo nàn Trong một nỗ lực để biến đổi Santiago., Vicuña Mackenna bắt đầu xây dựng "Camino de Cintura", một con đường xung quanh toàn bộ thành phố. Một công trình tái phát triển mới đại lộ Alameda biến nó thành động mạch giao thông chính của thành phố. Cũng trong thời gian này và với các tác phẩm của công nhân xây dựng châu Âu vào năm 1873, công viên O'Higgins ra đời. Công viên, mở cửa cho công chúng, trở thành một điểm quan tâm trong Santiago do nó có các khu vườn lớn, hồ, và những con đường mòn vận chuyển. Các tòa nhà quan trọng khác đã được khai trương trong thời đại này, chẳng hạn như Teatro Municipal nhà hát opera, và [[Club Hípico de Santiago. Đồng thời, triển lãm quốc tế 1875 được tổ chức tại Quinta Normal. == Khí hậu == == Các trường đại học == Pontificia Universidad Católica de Chile (Pontificial) spanishenglish Pontificia Universidad Católica de Valparaíso (Pontificial) spanishenglish Universidad de Chile (Of Chilean State) spanish Universidad Técnica Federico Santa María (Tư thục) spanishenglish Universidad de Valparaíso (Of Chilean State) spanish Universidad de Santiago (Of Chilean State) spanish Universidad Tecnológica Metropolitana (Of Chilean State) spanish Universidad Metropolitana de Ciencias de la Educación (Of Chilean State) spanish Universidad de los Andes (Tư thục) spanish Universidad Adolfo Ibañez (Tư thục) spanish Universidad Finis Terrae (Tư thục) spanish Universidad Andrés Bello (Tư thục) spanishenglish Universidad del Desarrollo (Tư thục) spanish Universidad Mayor (Private) spanish Universidad Diego Portales (Tư thục) spanish Universidad La República (Tư thục) spanish == Tham khảo ==
máy tính xách tay.txt
Máy tính xách tay hay máy vi tính xách tay (tiếng Anh: laptop computer hay notebook computer) là một máy tính cá nhân gọn nhỏ có thể mang xách được. Nó thường có trọng lượng nhẹ, tùy thuộc vào hãng sản xuất và kiểu máy dành cho các mục đích sử dụng khác nhau. Máy tính xách tay có đầy đủ các thành phần cơ bản của một máy tính cá nhân thông thường. == Lịch sử == Chiếc máy tính xách tay đầu tiên trên thế giới là một chiếc Osborne 1 ra đời năm 1981. == Đặc điểm thiết kế == Tuy có đầy đủ các chức năng như các máy tính cá nhân thông thường, nhưng máy tính xách tay với một không gian nhỏ gọn nên các đặc điểm sau có sự khác biệt so với các máy tính cá nhân. Chi tiết hơn về từng thiết bị ở các hệ thống máy tính cá nhân thông thường xem các bài riêng về chúng: === Bảng mạch chủ === Bo mạch chủ là phần quan trọng nhất được thiết kế các linh kiện thu nhỏ từ máy tính để bàn và được đặt vừa với không gian bên trong máy tính xách tay. Nếu một trong các thành phần máy tính xách tay bị hỏng, chủ nhân có thể tháo toàn bộ phần bo mạch và các thành phần trong máy và có thể biến nó thành máy tính để bàn nhỏ gọn, đầy đủ tính năng. === Màn hình và cảm ứng === Màn hình của những máy tính xách tay ngày nay luôn thuộc loại màn hình tinh thể lỏng, chúng được gắn trực tiếp với thân máy dạng gập. Một số máy tính xách tay có màn hình cảm ứng với thiết kế màn hình quay gập lại được và có loại tháo rời phần màn hình ra khỏi bàn phím và thân máy. === Bộ xử lý === Bộ xử lý được thiết kế riêng với sự chú trọng vào hiệu năng và tiết kiệm năng lượng, chúng có thể thay đổi tốc độ làm việc tuỳ theo yêu cầu của hệ thống. Một vài bộ vi xử lý đắt tiền như core I7 có hiệu năng gần bằng máy tính để bàn. === RAM === RAM: Máy tính xách tay sử dụng loại RAM (So-DIMM) dành riêng, chúng ngắn hơn (và thường rộng hơn) các thanh RAM (Long-DIMM) thông thường cho máy tính để bàn. Một vài máy tính xách tay thường được thiết kế hai khe cắm RAM để người dùng tự năng cấp. === Thẻ đồ hoạ === Thẻ Đồ hoạ: Thường được tích hợp trên các chipset hoặc tích hợp riêng biệt trên bo mạch chủ. Đa phần các máy tính xách tay phổ thông và tầm thấp sử dụng chức năng đồ hoạ tích hợp trên chipset và sử dụng bộ nhớ đồ hoạ đựoc lưu trữ chung RAM hệ thống. Các máy tính xách tay cao cấp thẻ đồ hoạ có thể được tách rời và gắn trực tiếp trên bo mạch chủ, chúng có thể có bộ nhớ RAM riêng hoặc sử dụng một phần RAM của hệ thống. === Ổ đĩa cứng === Ổ đĩa cứng của máy tính xách tay là loại ổ (2,5") có kích thước nhỏ hơn các ổ cứng của máy tính thông thường (3,5"), chúng có thể sử dụng giao tiếp ATA truyền thống hoặc SATA thông dụng. Còn có loại máy tính dùng ổ SSD, eMMC hoặc PCIe thay cho HDD. === Pin và nguồn năng lượng cung cấp === Nguồn là phần quan trọng nhất giúp cung cấp toàn bộ máy tính hoạt động và một phần còn lại lưu trữ vào trong pin hay còn gọi là sạc pin, nguồn thường được đặt một khối bên ngoài hay còn gọi là Adapter sạc. Pin là phần quan trọng thứ hai của cấu trúc máy tính xách tay và cũng là phần quan trọng nhất trong lúc máy tính khi đi mang máy di chuyển và làm việc mà không cần dùng đến nguồn điện. === Tản nhiệt === Vấn đề tản nhiệt luôn được chú ý đối với các máy tính nói chung, ở máy tính xách tay, do thiết kế nhỏ gọn nên càng khó khăn cho các thiết kế tản nhiệt từ các thiết bị và linh kiện trong máy. Thiết kế tản nhiệt trong máy tính xách tay thường là: Các thiết bị toả nhiệt (CPU, chipset cầu bắc, bộ xử lý đồ hoạ (nếu có) được gắn các tấm phiến tản nhiệt, chúng truyền nhiệt qua các ống dẫn nhiệt sang một khối tản nhiệt lớn mà ở đây có quạt cưỡng bức làm mát. Các thiết bị còn lại được tản nhiệt trên đường lưu thông gió (theo cách bố trí hợp lý) hút gió vào trong vỏ máy (thông qua các lỗ thoáng) để đến khối tản nhiệt chung để thổi ra ngoài bằng quạt. Quạt tản nhiệt trong máy tính xách tay được thiết kế điều khiển bằng một mạch điện (có cảm biến nhiệt ở các bộ phận phát nhiệt) để có khả năng tự điều chỉnh tốc độ theo nhiệt độ (Điều này khác với quạt tản nhiệt trên các máy tính thông thường khi chúng thường được điều khiển bằng phần mềm hoặc với các hệ thống cũ có thể chỉ quay ở một tốc độ nhất định). Máy tính xách tay Asus ROG GX700VO là máy tính xách tay đầu tiên trên thế giới dùng đế tản nhiệt bằng chất lỏng. === Bàn phím === Bàn phím máy tính xách tay thường không tuân theo tiêu chuẩn của các bàn phím máy tính để bàn. Máy tính xách tay lớn có phím số bên phải bàn phím, còn máy tính xách tay cỡ nhỏ phím số đặt ngay trong bàn phím. Ngoài các phím chức năng thường thấy (như F1, F2...đến F12) trên các bàn phím thông dụng của máy tính cá nhân, máy tính xách tay còn có một loạt các phím chức năng dành riêng, các phím này thường là chức năng thứ hai và chỉ được kích hoạt sau khi đã bấm phím chuyển đổi thường có ký hiệu Fn hoặc một số phím chức năng khác được làm riêng biệt tùy theo hãng sản suất. === Touchpad === Là bàn di chuột dùng để điều khiển con chuột trên máy tính với 2 phím trái phải như con chuột trên máy tính để bàn và nằm dưới bàn phím. === Cổng kết nối === Cũng như máy tính để bàn, cổng kết nối trên máy tính xách tay thường thấy như USB, VGA, HDMI, cổng âm thanh, khe cắm thẻ SD, ổ đĩa cứng,... === Kết nối mạng === Các máy tính xách tay hiện nay đều kết nối với mạng có dây là mạng LAN và kết nối mạng không dây là Wi-Fi. === Âm thanh === Loa trên máy tính xách tay là thiết bị ra phát âm thanh nhưng chúng có chất lượng và công suất tối thiểu. Micro trên máy tính xách tay là thiết bị dùng để nhập âm thanh (như giọng nói). Camera trên màn hình của máy tính xách tay là thiết bị nhập dùng để nhập hình ảnh. Vài máy tính còn thích hợp cả công nghệ quét bống mắt thông qua chiếc camera này. === Hệ điều hành === Hệ điều hành dành cho máy tính xách tay dùng chung với hệ điều hành trên máy tính để bàn và không riêng biệt gì nhiều. == Một số chức năng thường thấy == Chức năng khôi phục nhanh: Để khôi phục hệ thống nhanh nhất khi xảy ra lỗi, máy tính xách tay thường được thiết kế các hình thức khôi phục hệ thống thông qua các bộ đĩa CD hoặc DVD (điều này cũng thường thấy trên một số máy tính cá nhân để bàn sản xuất đồng bộ của các hãng sản xuất phần cứng), hoặc bằng một nút (có thể có phương thức một vài thao tác) từ dữ liệu lưu sẵn trên ổ cứng (thường đặt trên các phân vùng ẩn). Nhận dạng vân tay: Để tăng mức độ bảo mật, máy tính xách tay được trang bị hệ thống nhận dạng vân tay, người sử dụng chỉ có thể khởi động hệ thống hoặc mua hàng trực tuyến khi nếu máy xác thực đúng vân tay của người đang sử dụng trên máy tính (vân tay được cài đặt sẵn bên trong máy). Nhận dạng vân mắt: Được dùng với Intel Realsense và Windows Hello trong windows 10 của microsoft. Tính năng này chỉ được thích hợp chỉ dùng với một số máy tính mới sau này. Tính năng bảo mật TPM: Một số máy tính doanh nhân cần bảo mật cao (TPM là con chip thích hợp trên bo mạch chủ) == Những chú ý với máy tính xách tay == === Tạo thuận lợi cho tản nhiệt === Máy tính xách tay được thiết kế đặt trên các mặt phẳng đủ cứng vững. Các chân đế cao một khoảng nhất định tạo nên một không gian cần thiết cho lưu thông không khí. Việc đặt máy tính xách tay lên các vị trí mềm (làm các chân đế bị lún và khi này toàn bộ các mặt dưới tỳ trực tiếp vào vị trí mềm. Chính vì vậy không nên đặt máy tính xách tay lên đùi hoặc lên các đệm mút (giường) khi làm việc hoặc giải trí trong thời gian dài bởi những vị trí như vậy có thể làm bít các lỗ thông thoáng làm nguồn lưu thông gió cưỡng bức trong cơ chế tản nhiệt. Để tạo điều kiện cho sự tản nhiệt tốt hơn, một số hãng sản xuất thiết bị hỗ trợ máy tính đã chế tạo các tấm đế giải nhiệt cho máy tính xách tay. Chúng thường có dạng tấm thoáng (có thể gắn quạt) để tối ưu việc lưu thông gió. Không những có tác dụng thông gió, các tấm đế này còn tạo cho máy tính xách tay chếch lên một góc nhỏ để thuận tiện hơn cho người sử dụng khi nhập thông tin vào bàn phím và nâng cao màn hình gần hơn với tầm mắt. Một số hãng sản xuất các tấm đế này có thể kể đến là Cooler Master. Nếu như bắt buộc phải làm việc với các máy tính xách tay trên các nền đệm mềm thì nên đặt chúng lên một tấm bìa cứng để tạo ra một nền cứng nhằm tránh bít kín lỗ thông gió. === Bảo dưỡng pin === Những pin sử dụng trước đây, nhất là thế hệ nickel-cadmium hay nickel-metal-hydrid trước khi có pin lithium, yêu cầu rất khắt khe về quy trình sử dụng phóng và nạp điện. Nếu sử dụng pin không đến mức cạn đã sạc đầy trở lại có thể gây ra hiện tượng "chai" pin sau một thời gian. Các pin ngày nay (lithium) thường ít có hiện tương "chai" hơn tuy nhiên vẫn cần thực hiện bảo dưỡng pin để đảm bảo tăng tuổi thọ của pin. Các hình thức bảo dưỡng khác nhau tuỳ theo từng chế độ: Sau một thời gian dài không dùng pin (liên tục sử dụng nguồn điện dân dụng mà không sử dụng pin (đối với những người sử dụng máy tính xách tay tại văn phòng) thì khoảng 2 đến 3 tháng cần thực hiện bảo dưỡng một lần. Hình thức bảo dưỡng bao gồm sử dụng pin (không cắm điện) cho máy hoạt động cho đến khi còn khoảng dưới 5% (đảm bảo không hết sạch điện ở các loại pin Li-ion gây hư hỏng và chai pin) thì lại cắm điện để sạc cho đến mức đầy pin. Mức năng lượng dử dụng của pin có thể thìn thấy ngay trên máy tính đang bật. Trong trường hợp thường xuyên sử dụng pin kết hợp với sử dụng nguồn điện dân dụng, nên bảo dưỡng pin theo phương thức trên với thời gian ngắn hơn: Khoảng hai tuần một lần. Nếu các máy tính xách tay mới được sử dụng lần đầu tiên: cần được thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất như sạc pin trong vòng 3 tiếng đồng hồ sau đó bật máy (không rút dây sạc). === Chống sốc === Chấn động khi đầu đọc của ổ cứng đang di chuyển hoặc đang đọc bề mặt ổ đĩa đôi khi là một tai họa đối với ổ đĩa cứng. Một số biện pháp thường được áp dụng: Cẩn thận khi mang xách máy tính xách tay ra ngoài, đợi cho ổ đĩa cứng ngừng hoạt động (khi máy đã tắt), tránh gây tổn hại bề mặt đĩa. Một số hãng máy tính xách tay có thiết kế đời mới như chức năng "đóng băng hoặc treo" ổ đĩa cứng khi cảm thấy máy tính đang hoạt động có vấn đề va đập (như rơi vỡ hoặc làm rơi ly nước). Ngày nay, ngoài các biện pháp kể trên còn có lựa chọn sử dụng túi chống sốc, giúp giảm tác động do va đập lên máy tính xách tay tránh gây hư hai tới linh kiện bên trong cũng như bề mặt bên ngoài. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
âm nhạc nhật bản.txt
Âm nhạc Nhật Bản bao gồm nhiều thể loại với nhiều cách thể hiện khác nhau trong cả âm nhạc hiện đại lẫn truyền thống. Âm nhạc trong tiếng Nhật gọi là 音楽 (ongaku), là sự kết hợp của 2 từ kanji 音 "On" (âm thanh) với kanji 楽 "gaku" (thưởng thức). Nhật bản là thị trường băng đĩa lớn nhất thế giới, với 2 tỷ đô vào năm 2014 và là thị trường âm nhạc lớn thứ 2 với tổng doanh thu bán lẻ vào năm 2014 là 2,6 tỷ đô – chủ yếu là nghệ sĩ quốc nội với 37 trên 50 album bán chạy nhất và 49 trên 50 đĩa đơn bán chạy nhất vào năm 2014. Âm nhạc địa phương thường xuất hiện tại các địa điểm karaoke, được thuê từ các hãng thu âm. Âm nhạc truyền thống của Nhật hơi khác với phương Tây ở chỗ chúng thường dựa trên khoảng dừng khoảng nghỉ của lấy hơi hơn là căn chính xác thời gian. == Âm nhạc truyền thống và dân gian == Có hai hình thức âm nhạc được công nhận là cổ nhất của âm nhạc truyền thống Nhật Bản. Đó là shōmyō (声明 hay 聲明) hay Phật hát, và gagaku (雅楽) hay dàn âm nhạc triều đình, cả hai đều có lịch sử từ thời Nara và Heian. Gagaku là loại ca nhạc cổ được biểu diễn trong cung điện hoàng gia từ thời Heian. Kagura-uta (神楽歌), Azuma-asobi(東遊) và Yamato-uta (大和歌) là các tiết mục địa phương. Tōgaku (唐楽) và komagaku xuất phát từ thời nhà Đường của Trung Quốc thông qua bán đảo Hàn Quốc. Thêm vào đó, gagaku chia ra làm kangen (管弦) (âm nhạc nhạc cụ) và bugaku (舞楽) (nhảy đi kèm với gagaku). Bắt nguồn từ đầu thế kỷ 13 chính là honkyoku (本曲 "bản gốc"). Có bản chơi đơn là shakuhachi (尺八) được chơi bởi các nhà sư của trường thiền Fuke của phái phật Sơn. Những thầy tu này, gọi là komusō ("hư vô tăng"), chơi honkyoku để xin bố thí và sự khai sáng. Trường Fuke đã ngừng hoạt động từ thế kỷ 19 nhưng các bản viết và truyền miệng của honkyoko vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay, mặc dù thường xuất hiện trong bối cách các buổi biểu diễn. Các samurai vẫn thường nghe và tham gia biểu diễn trong các hoạt động âm nhạc này và qua đó làm phong phú thêm cho cuộc sống và hiểu biết của mình.. == Âm nhạc truyền thống == === Đàn Biwa hōshi, Heike biwa, mōsō, và goze === biwa (琵琶), một dạng đàn cổ ngắn như đàn tỳ bà của Trung Hoa, được chơi bởi những người nghệ sĩ lang thang (biwa hōshi) (琵琶法師, và các bài hát thì như những câu chuyện.Truyện nổi tiếng nhất là Heike truyền kỳ, một câu truyện về chiến thắng oanh liệt của nhà Minamoto trước nhà Taira. Biwa hōshi bắt đầu tổ chức thành những hội (tōdō) cho nhưng người trông có vẻ yếu ớt vào đầu thế kỷ 13. Hiệp hội này cuối cùng cũng nắm giữ phần lớn của nền văn hóa âm nhạc Nhật Bản. Biwa trở thành nhạc cụ truyền thống Nhật. Thêm vào đó, nhiều nhóm nhạc công mù nhỏ lẻ khác được thành lập ở khu vực Kyushu. Những nhạc công đó, được gọi là mōsō (盲僧 thầy tu mù) đi quanh khu vực địa phương và thi hành nhiều hoạt động tôn giáo và bán tôn giáo để trừ tà và mang lại sức khỏe và may mắn. Họ cũng duy trì các tiết mục thuộc thể loại cổ. Biwa mà họ chơi nhỏ hơn nhiều so với chiếc Heike biwa (平家琵琶) được chơi bởi những nhạc công biwa hōshi. Nhà văn Làccadiio Hearn đã đề cập trong cuốn Kwaidan: những câu truyện và nghiên cứu về điều dị thường "Mimi-nashi Hoichi" (Hoichi không tai), một câu truyện ma Nhật Bản về một nhạc công biwa hōshi biểu diễn bài "Heike truyền kỳ" Những người phụ nữ mù, được gọi là goze (瞽女), cũng đi khắp vùng đất từ thời trung cổ, ca hát đi kèm với chơi trống. Từ thế kỷ mười bảy họ vẫn thường chơi đàn koto hay shamisen. Các tổ chức Goze xuất hiện trên khắp vùng, và tồn tại cho đến ngày nay tại tỉnh Niigata. === Taiko === Taiko (太鼓) là một loại trống Nhật bản có nhiều kích thước khác nhau và được sử dụng để chơi nhiều thể loại nhạc. Chúng đang trở nên nổi tiếng trong mấy năm trở lại đây do là nhạc cụ chính của tiết mục đồng diễn dựa trên nhiều điển tích và nhạc lễ hội thời xưa.Những bài trống Taiko đồng diễn trên trống lớn được gọi là kumi-daiko. Mặc dù nguồn gốc không rõ ràng, trống Taiko có lịch sử kéo dài đến tận thể kỷ thứ 7 với bằng chứng là tượng đất sét của một người đánh trống. Tuy trống Taiko cũng du nhập vào Trung quốc, nhưng nhạc cụ và giai điệu vẫn mang phong cách Nhật Bản. Taiko được sử dụng trong thời kỳ đó như một công cụ để hăm dọa kẻ địch hoặc đưa ra mệnh lệnh trên chiến trường. Taiko sau đó tiếp tục dùng cho nhạc tôn giáo như của Phật giáo hay Shintō. Trong quá khứ, những người chơi thường là người sùng đạo, thường chỉ trong những dịp đặc biệt và trong nhóm nhỏ, nhưng rồi những người già (hoặc hiếm khi là phụ nữ) cũng chơi trống Taiko trong những lễ hội bán tôn giáo như là lễ hội Bon. Nhạc đông diễn taiko được cho là phát minh bởi Daihachi Oguchi vào năm 1951. Là một ty trống nhạc Jazz, Oguchi đã lồng ghép nhạc nền của mình với dàn trống Taiko mà chính tay ông thiết kế. Phong cách mạnh mẽ của ông đã làm cho nhóm nhạc nổi tiếng cả Nhật Bản, và góp phần làm cho vùng Hokuriku là trung tâm của nhạc Taiko. Các nhóm nhạc nổi lên từ phong trào này bảo gồm nhóm Oedo Sukeroku Daiko, với Seido Kobayashi. Năm 1969 chứng kiến nhóm mang tên Za Ondekoza thành lập bởi Tagayasu Den; Za Ondekoza đã tập trung các nhạc công trẻ để cải tiến một dòng của nhạc Taiko, cái mà trước đó được sử dụng như phong tục địa phương. Vào những năm 1970, chính phủ Nhật Bản trợ cấp tiền để bảo tồn văn hóa Nhật Bản, và nhiều cộng đồng Taiko đã ra đời. Vào thế kỷ tiếp, các nhóm Taiko đã vươn ra thế giới, đặc biệt là ở Mỹ. Một ví dụ điển hình cho nhóm nhạc Taiko hiện đại là nhóm Gocoo. === Nhạc dân gian Min'yō === Nhạc dân gian Nhật Bản (min'yõ) có thể được gộp và phân loại theo nhiều cách nhưng thường được chia theo 4 loại chính: nhạc công việc, nhạc tôn giáo(như là sato kagura, nhạc Thần đạo(Shinto), nhạc dùng trong dịp tụ tập như cưới hỏi, ma chay, lễ hội (đặc biệt là lễ hội Obon) và nhạc thiếu nhi(warabe uta) Trong min'yō, các ca sĩ thường chơi kèm với đàn 3 dây được gọi là shamisen, trống taiko, và một sáo trúc gọi là shakuhachi. Nhạc cụ khác cũng có thể đi kèm như là sáo ngang shinobue, một cái chuông gọi là kane, một cái trống tay gọi là tsuzumi, và/hoặc đàn tam thập lục được biết như koto. Ở Okinawa, nhạc cụ chính là sanshin. Đây là những nhạc cụ truyền thống của Nhật Bản, nhưng thiết bị hiện đại, như cái guitar điện và nhạc cụ điện tử, cũng được dùng ngày nay, khi những ca sĩ enka hát những bài min'yō truyền thống. Khi đề cập tới min'yō, người ta thường có những khái niệm như là ondo, bushi, bon uta, và komori uta. Một ondo thường dùng để miêu tả các bài hát với các nhịp đặc biệt có thể được nghe như nhịp 2/4 (mặc dù người biểu diễn không thường đánh nhịp theo nhóm). Những bài thường dùng ở lễ Obon sẽ thường là ondo. Bushi là một bài hát với một giai điệu đặc biệt. Ngay từ cái tên, "bushi" là tổ hợp của hai từ "giai điệu" và "nhịp điệu". Từ này ít khi dùng một mình mà đứng trước những khái niệm nói đến địa điểm, nghề nghiệp, tên riêng hoặc những gì tương tự. Bon uta, giống như tên gọi, là những bài hát cho Obon, lễ hội đèn lồng của người chết. Komori uta là bài hát ru trẻ con. Tên các bài hát của nhạc min'yo thường bao gồm các khái niệm miêu tả, thường là ở cuối, thường là ở cuối. Ví dụ như: Tokyo Ondo, Kushimoto Bushi, Hokkai Bon Uta, và Itsuki no Komoriuta. Rất nhiều bài hát trong số đó bao gồm thêm nhấn âm vào các âm tiết và tiếng hô (kakegoe). Kakegoe thường là tiếng cổ vũ nhưng trong nhạc min'yō, chúng thường dùng như một phần của đồng ca. Có nhiều loại kakegoe, dù ở từng vùng thì khác nhau. Ví dụ như trong vùng Okinawa, tiếng hô thường là "ha iya sasa!". Trong đại lục Nhật Bản,chúng ta có khả năng nghe thấy tiếng "a yoisho!," "sate!," hoặc "sore!". Những tiếng hô khác như là "a donto koi!," và "dokoisho!" Gần đây, có một hệ thống phường hội gọi là iemoto đã được áp dụng cho vài thể loại min'yō. Hệ thống này đầu tiên được phát triển để chuyển giao các loại nhạc cổ điển như nagauta, shakuhachi, hay nhạc koto, nhưng kể từ khi người ta chứng minh được là nó cũng mang lại lợi ích cho giảng viên và được hộ trợ bới sinh viên đang mong muốn có được tấm bằng certificates of proficiency và các tên tuổi nghệ sĩ mong muốn truyền bá các dòng nhạc như min'yō, Tsugaru-jamisen và các hình thức âm nhạc khác không được chuyển giao không chính thưc. Ngày nay, min'yō được truyền lại trong các tổ chức gia đình không theo huyết thống và các khóa học việc dài hạn đang rất phổ biến. === Nhạc dân gian Okinawan === Umui, nhạc tôn giáo, shima uta, nhạc múa, và đặc biệt là kachāshī, nhạc chúc mừng kỷ niệm, đều nổi tiếng. Nhạc dân gian Okinawan khác biệt so với nhạc dân gian trên đại lục Nhật Bản theo nhiều cách khác nhau. Đầu tiên, Okinawan thường sử dụng đàn sanshin trong khi trên đất liền Nhật, người ta sử dụng đàn Shamisen. Nhạc cũ khác của okinawan là sanba (nhạc cụ tạo ra tiếng lách cách như chiếc catanhet), taiko và kỹ thuật huýt sáo the thé gọi yubi-bue (指笛, yubi-bue) (指笛). Thứ hai, về khóa nhạc. Một ngũ cung, mà trong đó hơi giống với ngũ cung của nhạc lý phương tây, thường được nghe trong các bản nhạc min'yō trên những đảo chính của Nhật bản. Trong ngũ cung này, âm át dưới và âm dẫn (âm 4 và âm 7 trong âm giai của phương Tây) sẽ bị lược bỏ, tạo ra âm giai mà không có nửa cung giữa mỗi nốt. (Đồ, rê, Mi, Vậy, La trong solfeggio, hay 1, 2, 3, 5, and 6) Okinawan min'yō, tuy nhiên, có đặc điểm là có âm giai bao gồm cả nửa cung đã bị lược bỏ đi như ngũ cung đề cập ở trên sau khi đã được phân tích trong nhạc lý của phương Tây. Thực tế, hầu hết âm giai thường dùng trong Okinawan min'yō gồm âm độ 1, 2, 3, 4, 5, 6, và 7. === Nhạc cụ truyền thống === Biwa (琵琶) Fue (笛) Hichiriki (篳篥) Hocchiku (法竹) Hyōshigi (拍子木) Kane (鐘) Kakko (鞨鼓) Kokyū (胡弓) Koto (琴) Niko (二胡) Okawa (hay Ōtsuzumi) (大鼓) Ryūteki (竜笛) Sanshin (三線) Shakuhachi (sáo trúc dọc) (尺八) Shamisen (三味線) Shime-Daiko (締太鼓) Shinobue (篠笛) (sáo trúc ngang) Shō (笙) Suikinkutsu (水琴窟) Taiko (i.e. Wadaiko) 太鼓~和太鼓 Tsuzumi (鼓) (hay Kotsuzumi) == Sự du nhập của âm nhạc phương Tây == === Nhạc pop truyền thống === Sau Minh Trị duy tân, âm nhạc phương Tây đã du nhập vào Nhật Bản. Một công chức, tên là Izawa Shuji, biên soạn các bài hát như 'Auld Lang Syne" và giao nhiệm vụ sử dụng ngũ cung. Âm nhạc phương Tây, đặc biệt là hành khúc, sớm trở nên nổi tiếng ở Nhật. Hai thể loại âm nhạc được phát triển trong thời kỳ này là shoka, được sáng tác để mang âm nhạc phương Tây vào trường học, và gunka, hành khúc kết hợp với vài yếu tố của nước mình.. Khi Nhật Bản chuyển sang chế độ dân chủ gián tiếp ở cuối thế kỷ 19, các nhà lãnh đạo đã thuê ca sĩ để bán những bài hát mang theo thông điệp của họ vì việc diễn thuyết trước công chúng bị cấm. Những nghệ sĩ đường phố gọi là enka-shi. Cũng vào cuối thế kỷ 19, một loại hình hát rong đã trở nên nổi tiếng ở vùng Osaka gọi là rōkyoku. Hai ngôi sao nổi tiếng Yoshida Naramaru và Tochuken Kumoemon cũng trở nên nổi tiếng từ thời kỳ này. kayōkyoku là tên của dòng nhạc pop phương Tây, được cho là xuất hiện lần đầu trong vở kịch hồi sinh bởi Tolstoy. Bài hát "Kachūsha không Uta", sáng tác bởi Shinpei Nakayama, và do ca sĩ Sumako Matsui hát vào năm 1914. Những bài hát đã hết sức thành công trong giới enka-shi, và là một trong những bản thu âm lớn đầu tiên của Nhật Bản.. Ryūkōka, một thể loại nhạc đi theo phong cách cổ điển phương Tây, đã phủ sóng trên toàn quốc trước thời kỳ chiến tranh. Ichiro Fujiyama trở nên nổi tiếng trong thời kỳ tiền chiến tranh, nhưng sau đó các bài hát về chiến tranh lại được ưa chuộng trong Thế Chiến II. Kayōkyoku đã trở thành một ngành công nghiệp trọng yếu, đặc biệt là sau sự xuất hiện của siêu sao Misora Hibari.Từ những năm 1950, tango và các loại nhạc Latin khác, đặc biệt là âm nhạc Cuba, đã rất nổi tiếng ở Nhật bản. Một thể loại tango của Nhật,gọi là dodompa, cũng được phát triển. Kayōkyoku dần dần có mối liên hệ hoàn toàn với cấu trúc âm nhạc truyền thống Nhật Bản, trong khi nhiều bài hát theo phong cách phương tây xuất hiện gọi là J-pop (Japanese pop). Nhạc Enka, sau khi theo cấu trúc âm nhạc truyền thống Nhật Bản, đã trở nên khá nổi tiếng trong thời kỳ hậu chiến, mặc dù từ những năm 1970 không còn được ưa chuộng và được ít giới trẻ yêu thích. Các ca sĩ enka nổi tiếng bao gồm Hibari Misora, Saburo Kitajima, Ikuzo Yoshi và Kashiwada Hikawa. === Âm nhạc nghệ thuật === ==== Nhạc cổ điển phương Tây ==== Nhạc cổ điển phương Tây có sức hút mạnh mẽ ở Nhật Bản, và Nhật Bản cũng là một trong những thị trường âm nhạc quan trọng cho thể loại âm nhạc truyền thống này, cùngvới Toru Takemitsu (nổi tiếng trong việc đánh giá phim và những tác phẩm tiên phong) là người được biết đến nhiều nhất. Nhạc trưởng Seiji Ozawa cũng hết sức có tiếng tăm. Kể từ năm 1999 nghệ sĩ dương cầm Fujiko Hemming, nhờ chơi những bản của Liszt vàChopin, đã trở nên nổi tiếng và bán được hàng triệu đĩa CD. Nhật bản cũng là nhà của ban nhạc giao hưởng dẫn đầu thế giới.Tokyo Kosei Gió Orchestra, và phần lớn cuộc thi âm nhạc nào, giải thi đấu quốc gia All-Japan Band Association. Nhạc cổ điển phương Tây không đại diện cho văn hóa gốc của Nhật. Những người Nhật đầu tiền được tiếp xúc với nhạc cổ điển phương Tây vào nửa cuối thế kỷ 19, sau hơn 200 năm bế quan tỏa cảng. Sau đó, người Nhật Bản nghiêm túc du nhập nhạc cổ điển và biến thể loại này thành một phần của nền văn hóa. Các dàn giao hưởng Gunma Symphony Orchestra Hiroshima Symphony Orchestra Hyogo Performing Arts Center Orchestra Japan Philharmonic Orchestra Kanagawa Philharmonic Orchestra Kyoto Symphony Orchestra Kyushu Symphony Orchestra Nagoya Philharmonic Orchestra New Japan Philharmonic NHK Symphony Orchestra Orchestra Ensemble Kanazawa Osaka Philharmonic Orchestra Sapporo Symphony Orchestra Tokyo Metropolitan Symphony Orchestra Tokyo Philharmonic Orchestra Tokyo City Philharmonic Orchestra Tokyo Symphony Orchestra Yamagata Symphony Orchestra Yomiuri Nippon Symphony Orchestra ==== Jazz ==== Từ thâp niên 1930 (ngoại trừ trong Thế Chiến II, khi nó bị hạn chế do được coi là thứ âm nhạc của kẻ thù) jazz đã có sức hút lớn ở Nhật Bản. Nhật Bản là thị trường quan trọng của thể loại nhạc này và có khi có những bản thu âm chỉ có ở thị trường Nhật Bản mà không phải ở Mỹ hay Châu Âu. Một số lượng các nhạc sĩ nhạc Jazz Nhật đã giành được thành công ở nước ngoài lẫn trong nước. Các nhạc sĩ như June (sinh ra ở Nhật Bản) và Dan (Nhật kiều thế hệ thứ 3, thuộc ban nhạc Hiroshima), và Sadao Watanabe có lượng lớn người hâm mộ ở ngoại quốc. Gần đây, câu lạc bộ nhạc jazz hay nu-jazz đã trở nên nổi tiếng với số lượng lớn giới trẻ Nhật Bản. Các DJs bản địa như Ryota Nozaki (Jazztronik), hai anh em Okino Shuya và Okino Yoshihiro của Kyoto Jazz Massive, Toshio Matsuura (cựu thành viên của United Future Organization) và DJ Shundai Matsuo, người tạo ra của sự kiện nổi danh DJ hàng tháng, Creole ở Beppu, Nhật Bản cũng như nghệ sĩ nhạc nu-jazz, Sleepwalker, GrooveLine, và Soil & "Pimp" Sessions đã mang đến sự thay đổi lớn trong quan điểm truyền thống về nhạc jazz ở Nhật Bản. Một số ban nhạc mới bao gồm Ego-Wrappin' và Sakerock cùng với các nhạc sĩ nhạc thể nghiệm như Otomo Yoshihide và Keiji Haino. == Các thể loại nổi tiếng == === J-Pop === J-pop, viết tắt của nhạc pop Nhật, là khái niệm về một thể loại nhạc du nhập vào xu thế âm nhạc Nhật Bản vào những năm 1990. J-pop hiện đại có nguồn gốc từ nhạc pop và nhạc rock những năm 1960, như là ban nhạc TheBeatles, dẫn đến những ban nhạc như Happy End kết hợp rock với âm nhạc Nhật Bản. J-pop còn được định nghĩa rộng hơn bởi những những ban nhạc New Wave như là Yellow Magic Orchestra và Southern All Stars vào cuối những năm 1970. Cuối cùng, J-pop thay thế cho kayōkyoku ("giai điệu pop ", một thuật ngữ cho nhạc pop Nhật từ những năm 1920 đến những năm 1980) trong bối cảnh âm nhạc Nhật Bản. Thuật ngữ được tạo ra bởi giới truyền thông Nhật Bản để phân biệt nhạc Nhật với nhạc nước ngoài. Những thần tượng âm nhạc đóng một vai trò lớn trong thị trường âm nhạc Nhật, với những nhóm nhạc thần tượng nữ và nam thường xuyên dẫn đầu bản xếp hạng đĩa đơn. Trong đó bao gồm các ban nhạc như Arashi, có đĩa đơn bán chạy nhất năm 2008 và 2009, và nhóm AKB48, với đĩa đơn bán chạy nhất kể từ năm 2010. ==== Nhạc sàn và nhạc disco ==== Vào năm 1984, nhạc sĩ người Mỹ Michael Jackson trở thành nghệ sĩ phương Tây đầu tiên có album([ Thriller]) bán hơn 1 triệu bản theo như bảng xếp hạng Oricon. Phong cách của ông được coi như hình mẫu cho nhạc nhảy Nhật Bản, dẫn đầu danh sách ưa thích của công tyAvex Group và Johnny & Associates. Năm 1990, hãng Avex Trax bắt đầu phát hành loạt đĩa mang tên Super Eurobeat ở Nhật. Nhạc Eurobeat ở Nhật bản đã làm nên sự thành công của hình thức nhảy nhóm Para Para. Trong khi những nghệ sĩ của hãng Avex như là Every Little Thing và Ayumi Hamasaki trở nên nổi tiếng trong những năm1990, những tên tuổi mới cũng nổi lên vào cuối những năm 1990 bao gồm Hikaru Utada và Morning Musume. Album ra mắt của Hikaru Utada, First Love, trở thành album bán chạt nhất của Nhật với 7 triệu bản, còn Ayumi Hamasaki trở thành nữ nghệ sĩ và nhạc sĩ solo hàng đầu của Nhật, và Morning Musume vẫn là nhóm nhạc nữ được biết đến nhiều nhất của nền công nghiệp nhạc pop Nhật Bản. === Rock === Vào những năm 1960, nhiều ban nhạc rock Nhật chịu ảnh hưởng bởi dòng nhạc Rock phương Tây như của ban Beatles, Bob Dylan, và the Rolling Stones, cùng với dòng nhạc khác như nhạc dân gian Appalachian, psychedelic rock, mod và các thể loại tương tự: một hiện tượng mang tên Group Sounds (G. S.). John lennon của nhóm nhạc The Beatles sau này trở thành một trong những hình tượng nhạc sĩ phương Tây nổi tiếng nhất ở Nhật Bản. Group Sounds là một thể loại rock Nhật Bản nổi tiếng vào giữa cho đến cuối những năm 1960. Sau sự bùng nổ của thể loại nhạc này, có một vài nhạc sĩ sáng tác nổi danh. Nobuyasu Okabayashi là người đầu tiên được biết đến rộng rãi. Wataru Takada, chịu ảnh hưởng bởi ca sĩ Woody Guthrie, cũng trở nên nổi tiếng.. Họ đều đi theo phong cách của nhạc dân gian Mỹ nhưng thay vào đó là viết lời ca Nhật Bản. Takada sử dụng thơ hiện đại Nhật Bản cho lời nhạc, trong khi Kazuki Tomokawa sử dụng lời thơ của Chuya Nakahara. Tomobe Masato, lấy cảm hứng từ Bob Dylan, viết lên những bản nhạc được đánh giá rất cao. The Tigers lại là nhóm nhạc nổi tiếng nhất của thể loại nhạc này trong thời kỳ đó. Sau đó, là vài thành viên của The Tigers, The Tempters và The Spiders, tách nhóm và thành lập ra siêu ban nhạc Pyg. Dòng nhạc rock kết hợp với nhạc dân gian đã được hình thành từ những năm 1960. Những ban nhạc như Happy End được coi là gần như là đã tạo ra thể loại nhạc này. Vào những năm 1970, thể loại nhạc này càng trở nên nổi tiếng hơn. Những ban nhạc như Champloose, cùng với Carol (dẫn dắt bởi Eikichi Yazawa), RC Succession và Shinji Harada đặc biệt nổi tiếng và giúp định hình giai điệu của thể loại này. Đôi lúc, vào buổi đầu cuối những thập niêm 60, hoạt động mạnh vào những năm 70, có những nhạc sĩ kết hợp nhạc rock với nhạc dân gian Mỹ và các yếu tố nhạc pop, thường được người Nhật gọi là nhạc "dân gian" do dùng đàn guitar acoustic. Trong đó, có những ban nhạc là Off Course, Tulip, Alice (dẫn dắt bởi Shinji Tanimura), Kaguyahime, Banban, Garo và Gedō hoặc các nghệ sĩ độc tấu như Yosui Inoue, Yuming, và Iruka. Các nhóm sau này, như Kai Band (dẫn dắt bởi Yoshihiro Kai) và Southern All Stars thời kỳ đầu, cũng gắn liền với phong trào trên. Một số nhạc sĩ Nhật Bản đã bắt đầu thử nghiệm nhạc cụ điện tử vào rock vào đầu những năm 1970. Ví dụ điển hình như Isao Tomita, với album kết hợp nhạc cụ điện tử với nhạc rock đương đại và pop, Electric Samurai: Switched on Rock, vào năm 1972. Một vài bản thu khác bao gồm album Ice World (1973) của Inoue Yousui và album sử dụng Progressive rock, Benzaiten (1974), của Osamu Kitajima. Cả hai đều có sự đóng góp của Harruomi Hosono, người mà sau này lập ra ban nhạc mang tên "Yellow Magic Band" (sau này đổi thành "Yellow Magic Orchestra") vào năm 1977. Vào những năm 1980, ban nhạc Boøwy gợi cảm hứng cho các nhóm nhạc Alternative rock như Shonen Knife, The Pillows, và Tama & Little Creatures, cũng như nhiều nhóm nhạc thể nghiệm như Boredoms và những nhóm nhạc trào lưu như Glay. Vào năm 1980, Huruoma và Ry Cooder, các nhạc sĩ người Mỹ, hợp tác cùng làm nên album rock với Shoukichi Kina, tạo tiền đề cho nhóm nhạc Okinawan Champloose nêu lên ở trên. Cũng trong thòi kỳ những năm 1980, nhạc metal của Nhật và các ban nhạc rock đã tạo ra một phong trào mang tên visual kei, với các nhóm nhạc đại diện như X Nhật, Buck-Tick, Luna Sea, Malice Mizer và nhiều ban nhạc khác nữa, một trong số đó đã gặt hái được thành công ở trong nước cũng như quốc tế trong những năm gần đây. Trong những năm 1990, các ban nhạc rock Nhật Bản như B'z, Mr. Children, Glay, Southern All Stars, L'Arc-en-Ciel, Tube, Spitz, Wands, T-Bolan, Judy and Mary, Asian Kung–Fu Generation, Field of View, Deen, Ulfuls, Lindberg, Sharam Q, The Yellow Monkey, The Brilliant Green và Dragon Ash giành được những thành quả lớn. B'z là có tiết mục bán chạy số 1 tại Nhật kể từ khi Oricon bắt đầu xếp hạng., theo đó là Mr. Children. Những bài hát nhạc pop được sử dụng thường xuyên trong phim, anime, truyền hình quảng cáo và các chương trình drama, trở thành một trong những thể loại âm nhạc bán chạy nhất tại đất nước mặt trời mọc.Sự trỗi dậy của các bài hát pop có sẵn luôn được liên hệ với sự ưa thích karaoke, dẫn tới các chỉ trích của Kazufumi Miyazawa của ban nhạc The Boom rằng: "Tôi ghét việc các bài hát được mua, nghe rồi bỏ đi rồi lại được hát lại ở các quán karaoke." Các nhóm nhạc phong trào visual kei, như Luna Sea đã giành được thành công liên tiếp, trong khi đó các ban nhạc như Malice Mizer, La'cryma Christi, Shazna, Janne Da Arc, và Fanatic Crisis cũng đạt được thành công vào cuối những năm 1990. Lễ hội Fuji Rock đầu tiên bắt đầu vào năm 1997. Lễ hội Rising Sun Rock mở cửa vào năm 1999. Lễ hội Summer Sonic và lễ hội Rock in Japan đã mở vào năm 2000. Dù những năm 2000 không cuồn nhiệt bằng, các nhóm mới như Bump of Chicken, ONE OK ROCK, Sambomaster, Flow, Orange Range, Remioromen, Uverworld, Radwimps và Aqua Timez, đã đạt được thành công. Các nhóm từ trước như B'z, Mr. Children, Glay, and L'Arc-en-Ciel vẫn tiếp tục dẫn đầu bảng xếp hạng, mặc dù chỉ B'z và Mr. Children là hai nhóm duy nhất có số lượng bán đạt chỉ tiêu qua các năm. Nhạc rock underground cũng hết sức phát triển ở Nhật, những ban nhạc thể loại Noise rock nổi tiếng trên thế giới như Boredoms và Melt Banana, hay là ban nhạc stoner rock như là Boris, psychedelic rock như là Acid Mothers Temple và alternative rock như với nhóm Shonen Knife, Pizzicato Five vàThe Pillows(nhóm giành được nhiều sự chú ý của quốc tế vào năm 1999 với bản thu FLCL). Các nghệ sĩ nhạc indie rock truyền thống như như Eastern Youth, The Band Apart và Number Girl đã có chút thành công tại Nhật bản, nhưng ít giành được sự chú ý ở nước ngoài. Một số tiết mục lưu diễn của nhạc indie rock như là của nhóm Mono và Nisennenmondai. ==== Punk rock / alternative ==== Các ví dụ điển hình của thể loại punk rock ở Nhật bao gồm SS, The Star Club, The Stalin, Inu, Gaseneta, Bomb Factory, Lizard, Friction và The Blue Hearts. Những hình ảnh nhạc punk vẫn sống mãi trong bộ phim của Sogo Ishii, giám đốc chỉ đạo bộ phim Burst City vào năm 1982 có sự tham gia của các nhạc sĩ nhạc rock. Vào năm những năm 1980, những ban nhạc kỳ cựu như GISM, Gauze, Confuse, Lip Cream và Systematic Death bắt đầu xuất hiện, một số ban nhạc kết hợp với các yếu tố của thể loại crossover . Các cảnh độc lập cũng bao gồm đa dạng nghệ sĩ các thể loại như alternative/punk rock/new wave như là Aburadako, P-Model, Uchoten, Auto-Mod, Buck-Tick, Guernica và Yapoos, G-Schmitt, Totsuzen Danball và Jagatara, cùng với các ban nhạc noise/industrial như Hijokaidan và Hanatarashi. Các ban nhạc Ska-punk của những năm 90 kéo dài cho đến những năm 2000 bao gồm Shakalabbits và 175R (đọc là "inago rider"). === Heavy metal === Nhật Bản nổi tiếng có các ban nhạc metal đi luu diễn ở nước ngoài và có rất nhiều bản album trực tiếp được thu ở Nhật Bàn. Ví dụ điển hình như là Unleashed in the East củaJudas Priest, Maiden Japan của Iron Maiden, Made in Japan của Deep Purple, One Night at Budokan của Michael Schenker Group hay Live at Budokan của Dream Theater. Những ban nhạc heavy metal của Nhật bắt đầu xuất hiện vào cuối những năm 1970, tiên phong bởi những ban nhạc như Bow Wow thành klaapj vào năm 1975 bởi tay chơi ghita Kyoji Yamamoto và ban nhạc Loudness được thành lập vào năm 1981 bởi Akira Takasaki. Mặc dù có rất nhiều ban nhạc cùng thời như là Earthshaker, Anthem và 44 Magnum, những album ra mắt của họ chỉ được ra mắt vào tận những năm 80 khi mà các ban nhạc metal đã bắt đầu được quảng bá nhiều. Lần lưu diễn đầu tiên của Bow Wow là tại Hồng Kông và tại lễ hội Montreux Jazz ở Thụy sĩ, sau đó là ở Anh tại Reading Festival vào năm 1982. Loudness cũng lưu diễn tại Mỹ và Châu Âu và bắt đầu tập trung vào sự nghiệp công diễn nước ngoài kể từ 1983. Album Thunder in the East và Lightning Strikes của họ đã đứng thứ 74 (thứ 4 trong bảng xếp hạng Oricon trong nước) và thứ 64 tại Billboard 200 khi ra mắt và năm 1985 và 1986. Đến những năm cuối thập niên 80, chỉ có 2 ban nhạc là Ezo và Dead End có album ra mắt tại Mỹ. Cũng vào thời gian đó, chỉ có ít các ban nhạc có thành viên là nữ, như là ban nhạc nữ Show-Ya với ca sĩ chính là Keiko Terada, hay như Terra Rosa háy cùng với Kazue Akao. Vào tháng 9 năm 1989, album Outerlimits của Show-ya được ra mắt, đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng Oricon. Những ban nhạc heavy metal đạt đỉnh cao vào cuối những năm 1980 và sau đó nhiều nhóm tan rã vào giữa thập niên 90. Năm 1982 chứng kiến một số ban nhạc thể loại glam metal đầu tiên được thành lập, như là Seikima-II với phong cách trang điểm Kabuki và X Japan đi đầu trong phong trào visual kei (dần trở thành nhóm nhạc bán chạy nhất). Album của Seikima-II mang tên Seikima-II - Akuma ga Kitarite Heavy Metal đã ra đời vào năm 1985, mặc dù chỉ đứng thứ 48 trên bảng xếp hạng Oricon, lại bán ra đến 100.000 bản (lần đầu tiên trong lịch sử các ban nhạc metal tại Nhật). Những album của họ thường xuyên đứng top 10 trong thời kỳ giữa những năm 1990. Vào tháng 4 năm 1989, X Japan phát hành album thứ 2, Blue Blood, và ngay lập tức đứng vị trí thứ 6 và sau 108 tuần đã bán được 712.000 bản. Album Jelaousy ra vào tháng 7 năm 1991; đứng đầu bảng xếp hạng và bán được 1.11 triệu bản. Hai album tiếp theo, Art of Life và Dahlia, đều bán được hơn nửa triệu bán và đánh dấu cho sự kết thúc của ban nhạc vào năm 1997. Nhạc meta Nhật Bản nhận được sự chú ý của cộng đồng quốc tế qua sự thành công của ban nhạc Babymetal. Sự thành công nhờ có nhiều bản nhạc hot trên youtube như là Gimme Chocolate!! cùng với sự thành công của chuyến lưu diễn quốc tế bao gồm Sonisphere Festival 2014 ở Anh và Heavy MONTRÉAL ở Canada cùng với những ban nhạc như Metallica hay Slayer. Babymetal cũng tham gia vào một trong năm tiết mục mở đầu của buổi hòa nhạc của Lady Gaga trong chuyến công diễn ArtRave: The Artpop Ball. Babymetal còn giành được nhiều giải thưởng như là giải "Tinh thần độc lập" của Kerrang và "Ban nhạc đột phá" của Metal Hammer. Năm 2016, ban nhạc bắt đầu chuyến lưu diễn thế giới tại Wembley Arena ở Luân Đôn trước khi về công diễn tại Tokyo Dome, Nhật Bản. ==== Extreme metal ==== Các ban nhạc thể loại extreme metal được hình thành từ làn sóng các nước Châu Âu và Mỹ, tuy nhiên không được quảng bá rầm rộ, cũng như chỉ thường được coi là loại nhạc underground ở Nhật Bản. Các nhóm nhạc thrash metal được hình thành từ buổi đầu những năm 1980 như United hay Outrage. United có chuyến lưu diễn quốc tế tại lễ hội "Foundations Forum" tại Los Angeles vào tháng 9 năm 1995 và có một số album phát hành ở Bắc Mỹ. Nhóm nhạc Doom, sau khi thành lập vào giữa những năm 1980, được thuê biểu diễn ở Mỹ vào tháng 10 năm 1988 tại CBGB và tiếp tục cho đến khi giải thể vào năm 2000. Những nhóm nhạc đầu tiên chơi thể loại black metal là Sabbat(vẫn còn hoạt động) và Bellzlleb(hoạt động cho đến những năm 1990) hay như nhóm nhạc Sign. Doom metal cũng nhận được sự đón nhận từ Nhật Bản. Hai nhóm nhạc của Nhật được biết đến nhiều nhất là Church of Misery và Boris, cả hai đều khá nổi tiếng ở ngoài nước. === Hip hop === Hip-hop là thể loại nhạc mới của âm nhạc Nhật Bản. Một số người cho rằng đây chỉ đơn thuần là phong trào và sẽ sớm kết thúc. Tuy nhiên, thể loại này lại tiếp tục tồn tại và vẫn đang phát triển trong nhiều năm. Mặc dù trên thực tế, những rapper ở Nhật vẫn không gặt hái được thành công bằng những nghệ sĩ Hip-hop của những năm 1980. Điều này chủ yếu là do quan niệm trong thế giới âm nhạc rằng "Tiếng Nhật không có khả năng tạo ra những âm thanh vần điệu với nhau như trong những bản rap của Mỹ". Có một hệ thống chắc chắn và rành mạch của ngành công nghiệp âm nhạc gọi là "hệ thống kim tự tháp của ngành công nghiệp âm nhạc". Giống như Ian Condry giải thích, "Bằng cách sử dụng sơ đồ kim tự tháp chúng ta có thể hiểu theo nhiều hướng về sự quan trọng của các cấp độ và các bước thành công." Các cấp độ này như sau (từ thấp nhất đến cao nhất): fan hâm mộ và các nghệ sĩ tiềm năng, những nghệ sĩ biểu diễn, các nghệ sĩ thu âm, các nghệ sĩ có thương hiệu, và các ngôi sao. Các cấp độ này có thể được thấy ở các quán hộp đêm, gọi là genba. Một hội rapper thường cùng biểu diễn trên sân khấu, thường gọi là một "Gia đình". Một "gia đình" rapper về bản chất là tập hợp các nhóm rapper mà thường được dẫn đầu bới một trong những người biểu diễn nổi tiếng hơn ở Tokyo, thường có những người học việc đi theo. Khái niệm này rất quan trọng vì nó là chìa khóa để hiểu đặc điểm khác nhau về nghệ thuật giữa các nhóm Những người quyết định trong các câu lạc bộ đêm chính là những khác thính giả hâm mộ Hip-hop. Họ chính là những giám khảo để quyết định xem ai mới là người chiến thắng trong các rapper trên khán đài. Một ví dụ của việc này chính là trận tranh tài giữa Dabo (một nghệ sĩ có tên tuổi) và Kan. Kan thách đầu với Dabo trong khi anh đang biểu diễn. === Electropop === Nhạc pop điện tử ở Nhật Bản đã trở thành một thể loại nổi tiếng kể từ thời kỳ ưa chuộng nhạc "technopop" của những năm cuối 1970 và đầu 1980., bắt đầu với ban nhạc Yellow Magic Orchestra và album đơn của Ryuichi Sakamoto và Haruomi Hosono vào năm 1978 trước khi được nhiều người biết đến vào năm 1979 và 1980. Khi ảnh hưởng bởi nhạc disco, impressionistic, tác phẩm cổ điển thế kỷ 20, nhạc jazz/fusion pop, các nghệ sĩ nhạc pop điện tử đã ra đời như Kraftwerk và điện báo, họ tuy đã tham gia vào thị trường nhưng chưa thỏa hiệp với công ty nào. Ryuichi Sakamoto tuyên bố rằng đó là "Đối với tôi, việc viết ra nhạc pop không phải một sự thỏa hiệp vì tôi thích làm việc đó". Những người cùng theo dòng nhạc điện tử này cũng tổ chức không chặt chẽ tương tự như ở phương Tây, do vậy những ban nhạc thế hệ mới như là P-Model và The Plastics cũng rơi vào cũng nhóm với thể loại nhạc symphonic techno của Yellow Magic Orchestra. Sự nổi tiếng của dòng nhạc này kéo theonhuwngxx ca sĩ nổi tiếng của dòng nhạc acoustic trở thành nhạc pop điện tử, như Taeko Onuki và Akiko Yano, và những nhà sản xuất thần tượng bắt đầu thuê những bản nhạc điện tử cho những ca sĩ mới vào những năm 1980. Vào những năm 1990, Denki Groove và Capsule được thành lập và trở thành cơ sở chính cho nhạc điện tử Nhật Bản. Ngày nay, các nghệ sĩ mới như là như Polysics ngầm thể hiện lòng tôn trọng tới những người làm nên kỷ nguyên của dòng nhạc này.Yasutaka Nakata của Capsule đứng đằng sau sự thành công của các nhóm nhạc pop điện từ như Perfume và Kyary Pamyu Pamyu, cả hai đều gặt hái được thành công ở trong và ngoài nước; Kyary đặc biệt đã được phong là " đại sứ Kawaii Harajuku" nhờ sự nổi tiếng thấy rõ ở ngoài nước. === Nhạc dân gian === Những ban nhạc dân gian như Shang Shang Typhoon hay The Boom trở nên nổi tiếng vào cuối những năm 1980. Những ban nhạc dân gian Okinawan như là Nenes hay Kina nhận được thành công về mặt thương mại lẫn trong giới phê bình. Điều này dẫn đến một thế hệ thứ hai của dòng nhạc Okinawan, tiếp theo sự thành công của nhóm Rinken. Các nhóm nhạc đó bao gồm cả các ban nhạc quay trở lại như Champluse hay Kina, được dẫn dắt bởi Kikusuimaru Kawachiya. === Nhạc latin, raggae và ska === Một vài thể loại nhạc khác từ Indonesia, Jamaica và một số nơi khác cũng được đồng hóa. Nhạc soukous Chây Phi hay là nhạc Latin, như của Orquesta de la Luz (オルケスタ・デ・ラ・ルス), khá nổi tiếng cũng như là nhạc reggae và ska, ví dụ như nhóm Mice Teeth, Mute Beat, La-ppisch, Home Grown, Ska Flames, Determinations, và Tokyo Ska Paradise Orchestra. === Noise music (âm nhạc tiếng ồn) === Một thể loại nữa được công nhận tại Nhật Bản đó chính là "noise music". Tại Nhật Bản, nó cũng có tên gọi khác là "Japanoise". Đại điện nổi tiếng nhất cho thể loại nhạc này đó là Masami Akita với dự án âm nhạc Merzbow. === Nhạc chủ đề === Nhạc chủ đề sáng tác cho phim, anime (anison (アニソン)), tokusatsu, và phim truyền hình Nhật Bản cũng được xem là một thể loại nhạc. Một vài nghệ sĩ và nhóm nhạc đã dành cả sự nghiệp âm nhạc của mình để trình diễn và sáng tác nhạc phim. Các nghệ sĩ đó là Masato Shimon (hiện giữ kỷ lục thể giới cho bài hát đơn thành công nhất ở Nhật Bản với bài "Oyoge! Taiyaki-kun"), Ichirou Mizuki, tất cả các thành viên của JAM Project, Akira Kushida, Isao Sasaki, và Mitsuko Horie. Các nhạc sĩ sáng tác nhạc chủ đề đáng chú ý bao gồm bao gồm Joe Hisaishi, Michiru Oshima, Yoko Kanno, Toshihiko Sahashi, Yuki Kajiura, Kōtarō Nakagawa và Yuuki Hayashi. === Nhạc trò chơi (Nhạc game) === Khi trò chơi điện tử đầu tiên được bán ra, bên trong chúng chỉ có một con chíp âm thanh hết sức thô sơ. Nhưng khi công nghệ phát triển, chất lượng âm thành và nhạc trong các trò chơi đã được cải thiện đáng kể. Trò chơi đầu tiên được đánh giá cao về âm thanh là Xevious, đồng thời cốt truyện sâu sắc cũng được chú ý. Mặc dù nhiều trò chơi có những bản nhạc hay nhưng loạt trò chơi mang tên Dragon Quest lại hết sức quan trọng đối với lịch sử nhạc game. Koichi Sugiyama tham gia vào dự án game Dragon Quest chỉ vì tò mò và muốn chứng minh rằng trò chơi có thể có những bản nhạc hay. Ông còn là một nhà soạn nhạc được biết đến với những bản nhạc trong anime và chương trình truyền hình, trong đó có Cyborg 009 và bộ phim Godzilla vs. Biollante. Cho đến khi ông tham gia, nhạc và âm thanh thường bị sao nhãng trong quá trình thiết kế trò chơi và những nhà lập trình không có nhiều trình độ nhạc lý bị ép phải viết nhạc. Không nản chí bởi những giới hạn về kỹ thuật, Sugiyama chỉ làm việc với duy nhất 8 phần phức điệu để tạo ra các bản nhạc không làm người chơi cảm thấy nhàn chán sau khi chơi hàng giờ. Một tác giả sáng tác nổi tiếng khác là Nobuo Uematsu. Những tác phẩm đầu tay của ông cho trò chơi Final Fantasy trên hệ máy Famicom (Nintendo ở Mỹ), có thể được dàn xếp cho những bản hòa nhạc. Năm 2003, ông tạo ra những bản nhạc rock dựa trên những tác phẩm của mình và cùng lập ra ban nhạc The Black Mages. Yasunori Mitsuda là nhà soạn nhạc cho những tựa game như Xenogears, Xenosaga Episode I, Chrono Cross, và Chrono Trigger. Koji Kondo, quản lý âm thanh cho Nintendo, cũng hết sức có tiếng trong lĩnh vực nhạc trò chơi điện tử Nhật Bản. Ông được biết đến với những bản nhạc trong trò Zelda và Mario. Jun Senoue nổi danh nhờ sáng tác những bài nhạc trong game Sonic the Hedgehog. Ông ấy cũng là tay chơi ghita chính của Crush 40, đồng thời cũng được biết đến qua các bản nhạc chủ đề của trò chơi Sonic Adventure, Sonic Adventure 2, Sonic Heroes, Shadow the Hedgehog, và Sonic and the Black Knight, cũng như các trò Sonic khác. Motoi Sakuraba là một nhà sáng tác nổi tiếng khác. Ông biết đến qua các dòng game Tales of, Dark Souls, Eternal Sonata,Star Ocean, Valkyrie Profile, Golden Sun, và the Baten Kaitos, và nhiều phần của tựa game Mario sports. Yuzo Koshiro được chú ý qua việc tạo ra những bản nhạc electronic dành cho game như là Revenge of Shinobi và loạt game Streets of Rage. Nhóm nhạc techno/trance I've Sound đã tự tạo tên tuổi cho bản thân qua việc sáng tác nhạc chủ đề cho các công ty game eroge và rồi tham gia vào lĩnh vực anime. Không giống những nhóm khác, I've sound có những fan hâm mộ khác thế giới thông qua các trò chơi eroge và anime. Ngày nay, các bản nhạc game được bản trên đĩa cũng như tải trên các trang web hoặc phần mềm như iTunes. Các ca sĩ nổi tiếng như Hikaru Utada, Mizuki Nana và BoA đôi khi cũng tham gia vào các bài hát trong game, và các ca sĩ cũng qua đó mà gây dựng tên tuổi. == Tham khảo ==
quan thoại.txt
Quan thoại (tiếng Trung: 官話), còn gọi là phương ngôn quan thoại (官話方言, âm Hán Việt: quan thoại phương ngôn), tiếng phương Bắc (北方話 Bắc phương thoại), phương ngôn phương Bắc (北方方言 Bắc phương phương ngôn), là một phương ngôn của tiếng Hán. Đây là phương ngôn tiếng Hán có nhiều người sử dụng nhất và có phạm vi phân bố rộng nhất. Gần 70 phần trăm người nói tiếng Hán sử dụng phương ngôn quan thoại. == Phân loại phương ngôn quan thoại == Tiếng Hán có nhiều phương ngôn khác nhau, giữa các phương ngôn này có nhiều sự khác biệt về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng. Sự khác biệt này có thể lớn đến mức hai người nói hai phương ngôn tiếng Hán khác nhau và cả hai đều không biết bất cứ phương ngôn tiếng Hán nào khác hoàn toàn không thể hiểu được lời nói của nhau và do đó không thể nói chuyện với nhau được. Các nhà ngôn ngữ học khi tiến hành phân loại phương ngôn tiếng Hán thường chia phương ngôn tiếng Hán ra thành nhiều tầng bậc khác nhau. Các phương ngôn nằm ở tầng phân chia thứ nhất thường được các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc gọi là các đại phương ngôn (大方言). Tiếng quan thoại là một trong số các đại phương ngôn của tiếng Hán. Mỗi đại phương ngôn lại được tiếp tục các nhà ngôn ngữ học chia ra thành các phương ngôn khác nhau. Các phương ngôn ở tầng phần chia thứ hai này thường được các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc gọi là các thứ phương ngôn (次方言). Hầu Tinh Nhất (侯精一) chia quan thoại ra thành 8 thứ phương ngôn là: Quan thoại Bắc Kinh (北京) Quan thoại Đông Bắc (東北) Quan thoại Giao Liêu (膠遼) Quan thoại Ký Lỗ (冀魯) Quan thoại Trung Nguyên (中原) Quan thoại Lan Ngân (蘭銀) Quan thoại Tây Nam (西南) Quan thoại Giang Hoài (江淮) Mỗi thứ phương ngôn tiếng Hán lại có thể được các nhà ngôn ngữ học chia tiếp thành các phương ngôn khác nhau. == Tên gọi == Trong tiếng Anh, ngôn ngữ này được gọi là "mandarin" (từ gốc Sanskrit: mantrin, nghĩa là "bộ trưởng hoặc cố vấn") nghĩa là một vị quan chức triều Minh, Thanh. Các quan chức này sử dụng một dạng ngôn ngữ trung gian, tổng hợp của các phương ngữ phương Bắc để giao tiếp. Khi các giáo sĩ dòng Tên đến Trung Quốc vào thế kỉ 16, họ gọi ngôn ngữ này là Guānhuà (官话/官話), tức tiếng nói của nhà quan. Ngôn ngữ chính thức ở Trung Quốc (tiếng Hoa phổ thông), Đài Loan (Quốc ngữ), Malaysia (Tiêu chuẩn Hoa ngữ), Singapore,... phần lớn dựa trên tiếng Quan thoại, với tiếng Quan thoại vùng Bắc Kinh làm chuẩn. == Văn học và lịch sử == Đầu thế kỉ 20, dạng văn viết tiếng Trung dựa trên tiếng Quan thoại trong các tiểu thuyết dưới thời nhà Minh và nhà Thanh được dùng làm chuẩn văn viết cho tiếng Quan thoại. Dạng văn viết này gọi là Bạch thoại (白話/白话; báihuà; "lời nói rõ ràng"). == Tham khảo ==
chất chống ôxy hóa.txt
Chất chống oxi hóa là một loại hóa chất giúp ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình oxi hóa chất khác. Sự oxi hóa là loại phản ứng hóa học trong đó electron được chuyển sang chất oxi hóa, có khả năng tạo các gốc tự do sinh ra phản ứng dây chuyền phá hủy tế bào sinh vật. Chất chống oxi hóa ngăn quá trình phá hủy này bằng cách khử đi các gốc tự do, kìm hãm sự oxi hóa bằng cách oxi hóa chính chúng. Để làm vậy người ta hay dùng các chất khử (như thiol hay polyphenol) làm chất chống oxi hóa. Dù phản ứng oxi hóa thuộc loại cơ bản trong đời sống nhưng có thể ngăn chận nó, chẳng hạn động thực vật duy trì hệ thống rất nhiều loại chất chống oxi hóa như glutathione, vitamin C, vitamin E, enzyme catalase, superoxide dismutase, Axít citric. Chất chống oxi hóa yếu hay còn gọi là chất ức chế có thể phá hủy tế bào. == Một số thực phẩm chống ôxy hóa == Lá/rau: Bông cải xanh == Xem thêm == Các phytochemical trong thực phẩm == Tham khảo == == Nghiên cứu thêm == Nick Lane Oxygen: The Molecule That Made the World (Oxford University Press, 2003) ISBN 0-19-860783-0 Barry Halliwell and John M.C. Gutteridge Free Radicals in Biology and Medicine(Oxford University Press, 2007) ISBN 0-19-856869-X Jan Pokorny, Nelly Yanishlieva and Michael H. Gordon Antioxidants in Food: Practical Applications (CRC Press Inc, 2001) ISBN 0-8493-1222-1 == Liên kết ngoài == U.S. National Institute Health, Office on Dietary Supplements List of antioxidants, food sources, and Potential Benefits MedlinePlus: Antioxidants.
ngọc lam.txt
Ngọc lam là một khoáng chất phốt phát ngậm nước của nhôm và đồng, có công thức hóa học là CuAl6(PO4)4(OH)8.5H2O, có màu từ xanh nước biển ngả sang xanh lá cây, không trong suốt. Ngọc lam hiếm, có giá trị nếu tinh khiết và được ưa chuộng dùng làm trang sức và trang trí từ hằng ngàn năm nay vì màu sắc độc đáo của nó. Trong thời gian gần đây do xuất hiện các loại ngọc lam giả hay được sản xuất nhân tạo trên thị trường, rất khó phân biệt ngay cả đối với giới chuyên môn, nên ngọc lam, cũng giống như các loại đá quý không trong suốt khác, không còn được ưa chuộng nhiều nữa. Ngọc lam xuất phát từ pierre turquoise trong tiếng Pháp có nghĩa là "đá Thổ", được coi như là một sự hiểu lầm vì ngọc lam không có trong tự nhiên ở Thổ Nhĩ Kỳ mà chỉ được buôn bán ở đó và loại đá quý vì thế được liên đới đến đất nước này. == Tính chất == Ngay cả những ngọc lam tinh khiết nhất cũng tương đối dễ vỡ, chỉ đạt độ cứng tối đa chưa đến 6 trong thang độ cứng Mohs, kém hơn thủy tinh dùng làm kính cửa một ít. Đặc trưng cho các khoáng chất có tinh thể kín (cryptocrystalline), ngọc lam hầu như không bao giờ tạo thành tinh thể đơn lẻ và tất cả các tính chất của ngọc lam đều biến đổi. Thông qua nhiễu xạ tia X, hệ thống tinh thể của ngọc lam được chứng minh là thuộc về tinh thể tam tà (triclinic). Đi cùng với độ cứng kém là tỷ trọng riêng thấp (từ 2,60 đến 2,90) và độ xốp cao. Các tính chất này phụ thuộc vào kích cỡ của hạt. Ngọc lam có độ bóng trong khoảng của sáp nến đến khoảng dưới độ bóng của thủy tinh, thường mờ đục nhưng có thể cho ánh sáng xuyên qua ở chỗ mỏng. Màu cũng biến đổi như các tính chất khác của khoáng chất này, từ trắng qua xanh lơ cho đến xanh da trời và từ xanh lá cây có sắc xanh nước biển sang xanh lá cây vàng. Màu xanh (nước biển) là do đồng mang lại trong khi màu xanh lá cây có thể là kết quả của tạp chất sắt (thay thế nhôm) hay bị khử nước. Chỉ số khúc xạ (đo bằng tia sáng natri có bước sóng 589,3 nm) của ngọc lam vào khoảng 1,61 cho đến 1,62, chỉ là giá trị trung bình đo trên máy đo khúc xạ đá quý vì tính chất đa tinh thể của ngọc lam. Nếu đo các tinh thể đơn hiếm có, chỉ số khúc xạ đạt vào khoảng 1,61-1,65. Quang phổ hấp thụ đo bằng kính quang phổ cầm tay cho thấy một đường ở 432 nm và một dải băng tần yếu ở 460 nm (được nhìn thây tốt nhất với ánh sáng phản xạ mạnh). Dưới các tia cực tím có bước sóng dài ngọc lam thỉnh thoảng phát huỳnh quang màu xanh (lá cây), vàng hay xanh sáng, ngọc lam có tính trơ dưới tia cực tím sóng ngắn hay tia X. == Các mỏ ngọc lam == Ngọc lam là một trong những loại ngọc được khai thác sớm nhất, nhiều mỏ đã cạn kiệt, một số vẫn hoạt động cho đến ngày nay. Đấy là những mỏ nhỏ, thường chỉ được khai thác theo mùa vì có phạm vi giới hạn và nằm ở nơi xa xôi. Đa số được khai thác thủ công, không được hoặc chỉ được cơ giới hóa ít. Tuy nhiên ngọc lam cũng thường là sản phẩm phụ khi khai thác các mỏ đồng lớn, đặc biệt là ở Mỹ. === Iran === Vùng đất được gọi là Ba Tư 2000 năm nay là nguồn cung cấp ngọc lam quan trọng nhất. Ngọc lam được khai thác ở đây rất tinh khiết. Nguồn mỏ "màu hoàn mỹ" này nằm trên ngọn núi Ali-mersai cao 2.012 m, đầy những hấm mỏ đã được khai thác. Cùng với mỏ ở bán đảo Sinai, mỏ này là mỏ lâu đời nhất được biết đến. === Sinai === Ít nhất là từ triều đại Ai Cập cổ đầu tiên (3.000 năm trước Công nguyên), có thể là trước đó nữa, ngọc lam đã được người Ai Cập sử dụng và khai thác ở bán đảo Sinai, được người Monitu gọi là "xứ sở ngọc lam". Có ít nhất là 6 mỏ ở vùng này, tất cả đều nằm ở bờ biển tây nam bán đảo, chiếm một diện tích vào khoảng 650 km². Nhìn từ phương diện lịch sử hai mỏ quan trọng nhất là Serabit et-Khadim và Wadi Maghareh, được xem là thuộc về những mỏ được biết đến lâu đời nhất. Mỏ đầu tiên nằm cách một đền cổ thờ thần Hathor khoảng 4 km. Ngọc lam ở đây có trong sa thạch, được phủ bởi bazan. Ngày nay khai thác mỏ ngọc lam quy mô lớn không còn mang lại lợi tức nữa nhưng các mỏ thỉnh thoảng vẫn được khai thác bởi người Bedouin (người Ả Rập du cư) dùng thuốc súng tự tạo. Đặc trưng của ngọc lam Sinai là có màu xanh (lá cây) đậm hơn ngọc của Iran, được tin là bền và dễ bảo quản. Thường được gọi là ngọc lam Ai Cập, ngọc Sinai có đặc điểm là tương đối trong nhất, cấu trúc mặt ngoài nhìn dưới kính phóng đại có những đĩa màu xanh nước biển đậm không nhìn thấy ở các ngọc nơi khác. === Mỹ === Miền Tây Nam nước Mỹ là nơi có nhiều nguồn ngọc lam đáng kể, Arizona, California (ở các quận San Bernardio, Imperial và Inyo), Colorado (ở các quận Conejos, El Paso, Lake và Saguache), New Mexico (ở các quận Eddy, Grant, Otero và Santa Fee) và Nevada là những nơi giàu (hay đã từng giàu có) về khoáng sản này. Các mỏ của California và New Mexico đã được người bản xứ khai thác dùng công cụ bằng đá. Cerrillos ở New Mexico được xem như là nơi có mỏ lâu đời nhất. Trước thập niên 1920 tiểu bang này là nơi sản xuất ngọc lớn nhất của nước Mỹ, nay đã gần như cạn kiệt. Ngày nay chỉ còn một mỏ ở California, nằm trong vùng Apache Canyon, là còn được khai thác có tính chất thương mại. Ngọc lam có trong các mạch đá hay ở giữa các vỉa quặng hoặc được tạo thành cục ngọc tự nhiên. Mặc dù ngọc khai thác thỉnh thoảng có chất lượng cao, có thể cạnh tranh với ngọc từ Iran, phần lớn ngọc lam ở Mỹ chỉ đạt chất lượng thấp (ngọc lam phấn), hàm lượng tạp chất sắt cao tạo cho ngọc thường có màu xanh (lá cây) và vàng, dễ vụn không dùng làm nữ trang được nếu không qua xử lý. Arizona hiện là nơi sản xuất ngọc lam quan trọng nhất tính theo trị giá, đa số là sản phẩm phụ khi khai thác mỏ đồng. Ngoài ra Nevada cũng là nơi sản xuất chính với khoảng 75 đến 100 mỏ được khai thác trong lịch sử. Ngọc lam Nevada có tiếng vì thường có các đường vân nâu hay đen rất đẹp, tạo thành cái gọi là "ma trận lưới nhện". Vào năm 1912, mỏ ngọc lam tinh thể đơn được tìm thấy đầu tiên ở Lynch Station, quận Cambell, Virginia. Các tinh thể này rất nhỏ, tinh thể 1 mm đã được coi là to. Cho đến thập niên 1980 người ta vẫn nghĩ rằng Virginia là nơi duy nhất có ngọc dưới dạng tinh thể rời, ngày nay ít nhất là có đến 27 nơi khác. Loại ngọc này rất được các người sưu tầm ưa thích. Nhằm tăng lợi tức và đáp ứng nhu cầu, phần lớn ngọc lam Mỹ đều được xử lý hay cải biến ở một chừng mực nhất định. Việc xử lý này bao gồm đánh bóng và các phương pháp đang bị tranh cãi khác như nhuộm hay thấm đẫm với nhựa epoxy hay chất dẻo. === Các mỏ khác === Trung Quốc đã là nguồn sản xuất ngọc lam nhỏ hơn 3000 năm nay. Phần lớn ngọc lam được xuất khẩu, một số ít được chạm trổ tương tự như ngọc thạch (jade). Ở Tây Tạng, nơi ngọc lam được ưa chuộng từ lâu, các mỏ với chất lượng có thể dùng làm nữ trang có tại các vùng núi Derge ở miền Đông và Nagari-Khorsum miền Tây. Tuy vậy người ta vẫn còn nghi ngờ vì sự tồn tại của các mỏ này chưa được chứng thực. == Lịch sử == Màu xanh nhạt của nó đã làm cho ngọc lam được ưa chuộng ngay từ trong các nền văn hóa thời Thượng cổ. Ngọc lam đã là trang sức cho các đấng trị vì Ai Cập cổ đại, của người Aztec, người Ba Tư, người vùng Lưỡng Hà, vùng đồng bằng sông Ấn Độ và ở chừng mực nào đó cũng ở Trung Quốc thời xưa. Mặc dù là một trong các loại đá quý lâu đời nhất, có lẽ đến châu Âu (qua Thổ Nhĩ Kỳ) lần đầu tiên cùng với các sản phẩm mới khác qua Con đường tơ lụa, ngọc lam không trở thành một loại đá trang sức quan trọng ở phương Tây cho đến thế kỷ thứ 14, sau khi ảnh hưởng của nhà thờ giảm đi, cho phép dùng ngọc lam làm trang sức ngoài nhà thờ. Ở Ấn Độ người ta hình như cũng không biết đến ngọc lam cho đến thời đại Muhgal và ở Nhật mãi cho đến thế kỷ thứ 18. Nhiều nền văn minh này có cùng niềm tin là ngọc lam có tính chất phòng bệnh, ngọc lam sẽ thay đổi màu tùy theo sức khỏe của người đeo ngọc và giúp người ấy chống lại các điều không may. == Xem thêm == Ngọc berin Hồng ngọc Kim cương Ngọc Ngọc lục bảo Xa-phia == Ghi chú ==
tiếng kazakh.txt
Tiếng Kazakh (Қазақ тілі, Қазақша, Qazaq tili, Qazaqşa, قازاق ٴتىلى, قازاقشا; phát âm [qɑˈzɑq tɘˈlɘ]) là một ngôn ngữ Turk thuộc về nhánh Kipchak (hay Turk Tây Bắc), và có quan hệ gần với tiếng Nogai, tiếng Kyrgyz, và đặc biệt là tiếng Qaraqalpaq. Đây là ngôn ngữ chính thức của Cộng hòa Kazakhstan và là một ngôn ngữ thiểu số đáng kể lại châu tự trị dân tộc Kazakh Ili tại Khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cũng như tại tỉnh Bayan-Ölgii của Mông Cổ. Tiếng Kazakh cũng được nói bởi nhiều người Kazakh trên khắp Liên Xô cũ (gồm chừng 500.000 tại Liên bang Nga theo thống kê 2002), Afghanistan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, và Đức. Như các ngôn ngữ Turk khác, đây là một ngôn ngữ chắp dính. == Phân bố == Tiếng Kazakh hiện diện trên một vùng rộng lớn, từ dãy núi Thiên Sơn tới bờ tây của biển Caspi. Nó là ngôn ngữ chính thức của Kazakhstan, với gần người 10 triệu người bản ngữ. Ở Trung Quốc, hơn một triệu người Kazakh định cư tại Ili thuộc Tân Cương. == Tham khảo ==
chim.txt
Chim (danh pháp khoa học: Aves) là tập hợp các loài động vật có xương sống, máu nóng, đi đứng bằng hai chân, có mỏ, đẻ trứng, có cánh, có lông vũ và biết bay (phần lớn). Trong lớp Chim, có khoảng 10.000 loài còn tồn tại, giúp chúng trở thành lớp đa dạng nhất trong các loài động vật bốn chi. == Tổng quan == Lớp chim cư trú ở các hệ sinh thái khắp toàn cầu, từ vùng Bắc Cực cho tới châu Nam Cực. Các loài chim có kích thước dao động khác nhau, từ nhỏ cỡ 5 cm (như Mellisuga helenae - một loài chim ruồi) cho tới lớn cỡ 2,7 m (như đà điểu). Các bằng chứng hóa thạch cho thấy, chim được tiến hóa từ các loài khủng long chân thú (Theropoda) trong suốt kỷ Jura, vào khoảng 150-200 triệu năm về trước, với đại diện đầu tiên được biết đến, xuất hiện từ cuối kỷ Jura là Archaeopteryx (vào khoảng 155–150 triệu năm trước). Hầu hết các nhà cổ sinh vật học đều coi chim là nhánh duy nhất của khủng long còn sống sót qua sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-Paleogen vào xấp xỉ 65,5 triệu năm trước. Các loài chim hiện đại mang các đặc điểm tiêu biểu như: có lông vũ, có mỏ và không răng, đẻ trứng có vỏ cứng, chỉ số trao đổi chất cao, tim có bốn ngăn, cùng với một bộ xương nhẹ nhưng chắc. Tất cả các loài chim đều có chi trước đã biển đổi thành cánh và hầu hết có thể bay, trừ những ngoại lệ như các loài thuộc bộ Chim cánh cụt, bộ Đà điểu và một số đa dạng những loài chim đặc hữu sống trên đảo. Chim cũng có hệ tiêu hóa và hô hấp độc nhất mà đáp ứng cao cho hoạt động bay. Vài loài chim, đặc biệt là quạ và vẹt, nằm trong những loài thông minh nhất của giới động vật; một số được quan sát đang chế tạo và sử dụng công cụ, nhiều loài sống thành bầy lại có thể truyền đạt những kinh nghiệm hiểu biết cho thế hệ sau. Nhiều loài chim hàng năm thường di trú đến những nơi rất xa, cùng rất nhiều loài lại thực hiện những chuyến bay ngắn hơn và bất thường. Chim là động vật sống bầy đàn, chúng giao tiếp với nhau thông qua tiếng kêu và tiếng hót, tham gia vào những hoạt động bầy đàn như hợp tác trong việc sinh sản, săn mồi, di chuyển và tấn công chống lại kẻ thù. Phần lớn chim là những loài đơn phối ngẫu xã hội, thường vào mùa giao phối trong một thời gian nhất định. Trứng chim thường được đẻ trong tổ và ấp bởi chim bố mẹ. Hầu hết chim non sau khi nở đều có thêm một thời gian được chim bố mẹ chăm sóc. Nhiều loài chim có tầm quan trọng đối với con người, đa phần được sử dụng làm thức ăn thông qua việc săn bắn hay chăn nuôi. Một vài loài, như phân bộ Sẻ hay bộ Vẹt, được biết đến với vai trò vật nuôi làm cảnh. Hình tượng chim xuất hiện trong tất cả các mặt của văn hóa con người, từ tôn giáo, thần thoại đến thi ca và âm nhạc phổ thông. Khoảng 120-130 loài chim đã bị tuyệt chủng do hành động con người trong thế kỷ 17, cùng với hàng trăm loài khác sau đó. Hiện nay, có khoảng 1.200 loài đang trong tình trạng đe dọa tuyệt chủng bởi các hoạt động từ loài người, cho dù vẫn đang có những nỗ lực bảo vệ chúng. == Tiến hóa và phân loại == Chim được phân loại lần đầu tiên bởi Francis Willughby và John Ray, đưa ra trong tập sách Ornithologiae năm 1676. Carolus Linnaeus sau đó đã sửa đổi công trình này vào năm 1758 và để lại hệ thống phân loại vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay. Trong hệ thống phân loại Linnaeus, các loài chim được phân vào lớp Aves. Việc phân loại dựa trên nguồn gốc phát sinh đã xếp Aves vào trong nhánh khủng long Theropoda (Khủng long chân thú). Aves cùng với nhóm chị em Crocodilia (Bộ Cá sấu) là những thành viên duy nhất còn sống sót của nhánh bò sát Archosaur. Xét theo phát sinh chủng loại, Aves được xác định là tất cả các hậu duệ của tổ tiên chung gần nhất của các loài chim hiện đại và Archaeopteryx lithographica. Theo định nghĩa này, Archaeopteryx, xuất hiện từ giai đoạn Tithonia của Jura muộn (150-145 triệu năm trước), là chi chim sớm nhất được biết đến. Những luận điểm khác, bao gồm Jacques Gauthier và những người ủng hộ hệ thống PhyloCode, đã xác định Aves chỉ bao gồm các nhóm chim hiện đại, chứ không gồm hầu hết các nhóm chim chỉ được biết đến qua hóa thạch, và thay vào đó đã xếp chúng vào nhóm lớn Avialae, một phần để tránh được sự không rõ ràng về vị trí của Archaeopteryx trong giới động vật mà theo quan điểm truyền thống thường coi chúng là những khủng long chân thú. Tất cả các loài chim hiện đại đều nằm trong phân lớp Neornithes, chia thành hai nhóm: Paleognathae, bao gồm hầu hết các loài không biết bay như đà điểu, và Neognathae đa dạng hơn, chứa tất cả những loài còn lại. Hai nhóm này thường được xếp ở cấp bậc siêu bộ, dù Livezey & Zusi đã đặt chúng ở cấp "cohort". Tùy vào quan điểm phân loại khác nhau, số lượng loài chim còn tồn tại dao động từ 9.800 cho đến 10.050 loài. === Khủng long và nguồn gốc của chim === Các bằng chứng hóa thạch và phân tích sinh học chuyên sâu đã chứng minh vượt qua bất cứ nghi ngờ có lý nào rằng chim là những loài khủng long chân thú. Cụ thể hơn, chúng là thành viên của Maniraptora, cùng với các nhóm khác như họ Dromaeosauridae và họ Oviraptoridae. Khi càng nhiều loài khủng long chân thú có mối quan hệ gần gũi với chim được các nhà khoa học phát hiện, thì những điểm khác biệt rõ ràng trước đây giữa chim và loài không phải chim lại càng bị xóa nhòa. Những phát hiện gần đây tại tỉnh Liêu Ninh phía Đông Bắc Trung Quốc, đã chứng tỏ rằng có nhiều khủng long chân thú cỡ nhỏ có lông vũ, lại càng góp phần thêm cho sự không rõ ràng này. Quan điểm đồng thuận trong giới cổ sinh vật học hiện đại cho rằng lớp Chim (Aves), chính là họ hàng gần gũi nhất của cận bộ Deinonychosauria, mà bao gồm hai họ Dromaeosauridae và Troodontidae. Chúng cùng nhau tạo thành một nhóm gọi là Paraves. Ở chi cơ sở Microraptor của họ Dromaeosauridae, cũng có bộ lông vũ mà có thể được chúng sử dụng để bay lượn. Hầu hết những loài Deinonychosauria cơ sở đều rất nhỏ bé; điều này gia tăng khả năng rằng tổ tiên của tất cả các loài Paraves có thể đã từng sống trên cây, và/hoặc có khả năng chao lượn. Archaeopteryx của thời kỳ Jura muộn được biết đến như là một trong những hóa thạch chuyển tiếp đầu tiên được tìm thấy, và điều này cũng giúp ủng hộ thêm cho học thuyết tiến hóa vào cuối thế kỷ 19. Archaeopteryx có những đặc điểm của động vật bò sát như: có răng, tay có móng vuốt, cùng một chiếc đuôi dài và giống thằn lằn, tuy nhiên nó cũng được trang bị riêng một đôi cánh tinh vi với những chiếc lông bay mà giống hệt như những con chim hiện đại. Nó không được công nhận là tổ tiên trực tiếp của chim hiện đại, nhưng vẫn là thành viên cổ xưa và nguyên thủy nhất của nhóm Aves hay Avialae, và gần như chắc chắn là có mối quan hệ gần gũi với chim tổ tiên thực sự. Tuy vậy, vẫn có giả thuyết cho rằng Archaeopteryx thực sự là khủng long và không có mối quan hệ gần gũi nào hơn với chim so với các nhóm khủng long khác, và rằng Avimimus còn giống với tổ tiên các loài chim hơn cả loài này. ==== Các thuyết và tranh luận khác ==== Đã có rất nhiều tranh luận nổ ra về nguồn gốc các loài chim. Khởi đầu, người ta tranh luận về chim bắt nguồn từ khủng long hay từ những Archosaur cổ xưa hơn. Trong phía ủng hộ giả thuyết khủng long, cũng có những bất đồng về Ornithischia hay khủng long chân thú mới gần hơn với những loài thủy tổ. Dù Ornithischia (khủng long "hông chim") có cấu trúc hông tương đồng với những loài chim hiện đại, chim vẫn được coi là bắt nguồn từ giống khủng long Saurischia ("hông thằn lằn"), mà đã tiến hóa cấu trúc hông của chúng một cách độc lập. Trên thực tế, bên cạnh hai nhóm trên, cấu trúc hông giống chim cũng được tiến hóa trong một nhóm khủng long chân thú riêng biệt, được biết đến là Therizinosauridae. Hai nhà khoa học Larry Martin và Alan Feduccia tin rằng chim không phải là khủng long, mà tiến hóa từ những loài Archosaur sơ khai như Longisquama. Luận điểm chính trong công bố của họ cho rằng những tương đồng giữa chim và khủng long Maniraptora thực tế là do sự đồng quy, và cả hai không liên quan gì tới nhau. Vào cuối những năm 1990, bằng chứng về chim là Maniraptora trở nên không thể chối cãi, nên Martin và Feduccia đã chấp nhận phiên bản sửa đổi trong giả thuyết của họ bởi nghệ sĩ dàn dựng khủng long Gregory S. Paul; trong đó những Maniraptora là những loài chim không biết bay thứ cấp, tuy nhiên trong phiên bản đó, chim lại tiến hóa trực tiếp từ Longisquama. Theo như vậy thì chim vẫn không phải khủng long, nhưng cũng không phải là hầu hết các loài được biết đến mà hiện tại đã được phân loại như khủng long chân thú. Maniraptora, thay vì thế, lại là những loài chim thuộc nhóm Archosaur và không biết bay. Giả thuyết của Martin và Feduccia không được thừa nhận bởi hầu hết các nhà cổ sinh vật học.. Những đặc điểm mà xem như bằng chứng của sự không bay được, theo xu thế chủ đạo của những nhà cổ sinh vật, được giải thích là "sự thích nghi ban đầu" (pre-adation hay exaptation), rằng Maniraptora đã thừa hưởng những đặc điểm từ tổ tiên chung của chúng cùng với các loài chim. Protoavis texensis được miêu tả năm 1991, coi là loài chim cổ hơn cả Archaeopteryx. Tuy nhiên, những người chỉ trích cho rằng hóa thạch phát hiện có chất lượng bảo quản kém, được phục dựng lại phần lớn, và có thể là một "chimera" (tức được tạo nên từ hóa thạch xương của nhiều loại động vật khác nhau). Hộp sọ của chúng thì gần như rất giống với một loài Coelurosauria thuở ban đầu. === Tiến hóa sơ khai của chim === Chim đã phát triển đa dạng khác nhau trong suốt thời kỳ Phấn trắng. Nhiều nhóm vẫn giữ những đặc điểm nguyên thủy (symplesiomorphy), như cánh có móng vuốt và có răng, dù đã mất đi một cách độc lập ở một số nhóm chim phía sau, bao gồm chim hiện đại (Neornithes). Trong khi những dạng ban đầu, như Archaeopteryx và Jeholornis, vẫn mang những chiếc đuôi dài và nhiều xương như tổ tiên chúng, thì chiếc đuôi của những dạng tiến hóa sau (nhánh Pygostylia) đã ngắn hơn với kiểu xương bánh lái bên trong. Giống lớn và đa dạng đầu tiên mà các chim đuôi ngắn tiến hóa là Enantiornithes, hay "chim đảo ngược", được mang tên này bởi kết cấu xương vai của chúng đảo ngược lại so với các loài chim hiện đại. Những Enantiornithes chiếm lĩnh đa dạng các ổ sinh thái, từ những loài chim cao cẳng tìm kiếm trong cát và ăn cá cho tới những loài sống trên cây và ăn hạt cây. Nhiều loài tiến hóa sau cũng thích ứng với việc ăn cá, trong đó tiêu biểu như phân lớp Ichthyornithes ("chim cá") có hình dáng giống mòng biển. Bộ chim biển Đại Trung sinh, Hesperornithiformes, cũng trở nên thích nghi cao cho việc săn bắt cá trong môi trường biển, khi chúng mất đi khả năng bay và chủ yếu bơi lội trong nước. Mặc dù có tính chuyên hóa rất cao, Hesperornithiformes vẫn là đại diện tiêu biểu cho những họ hàng gần nhất của các loài chim hiện đại. === Phân tỏa chim hiện đại === Bao gồm tất cả các loài chim hiện đại, phân lớp Neornithes, dựa trên sự khám phá chi Vegavis, hiện nay được coi là tiến hóa từ một số giống cơ bản vào cuối kỷ Phấn trắng (Creta), và sau đó đã tách thành hai phân bộ Paleognathae và Neognathae. Paleognathae bao gồm bộ Chim tinamou, sống tại khu vực Trung và Bắc Mỹ, cùng các loài thuộc bộ Đà điểu. Ở nhóm Neognathae cũng có sự phân ly cơ bản, tạo nên phân bộ Galloanserae, bao gồm bộ Ngỗng và bộ Gà, cùng phân bộ Neoaves gồm các loài còn lại. Thời điểm bắt đầu những quá trình tách ra được tranh cãi nhiều bởi nhà khoa học. Họ đồng ý với nhau rằng Neornithes đã tiến hóa trong kỷ Phấn trắng, và sự tách ra của Galloanserae khỏi các Neognathae khác được xảy ra trước sự kiện tuyệt chủng K-T, tuy nhiên có những ý kiến khác nhau về việc sự phát xạ tiến hóa của nhóm Neognathae diễn ra trước hay sau sự tuyệt chủng của các loài khủng long khác. Sự bất đồng này một phần bởi sự khác biệt giữa hai loại bằng chứng: phân tích về phân tử cho thấy sự phát xạ thuộc về kỷ Creta, nhưng bằng chứng hóa thạch lại ủng hộ cho việc thuộc về phân đại Đệ Tam. Những cố gắng dung hòa giữa hai bằng chứng hóa thạch và phân tử đều dẫn đến tranh cãi. Bên cạnh đó, hệ thống phân loại chim cũng là vấn đề gây tranh luận. Sibley và Ahlquist trong cuốn Phylogeny and Classification of Birds (Phát sinh và phân loại chim) (1990) đã đưa ra một công trình mang tính bước ngoặt trong việc phân loại chim, mặc dù nó thường xuyên bị tranh cãi và liên tục sửa đổi. Hầu hết các bằng chứng cho thấy dường như sự phân chia các bộ của lớp Chim là chính xác, nhưng các nhà khoa học vẫn không thống nhất được về mối quan hệ giữa các bộ với nhau; các bằng chứng từ giải phẫu, hóa thạch và ADN hiện đại đều được quy vào vấn đề, nhưng lại không có sự đồng thuận nào đủ mạnh. Những bằng chứng mới về hóa thạch và phân tử gần đây đang cung cấp thêm, giúp rõ ràng hơn cho bức tranh về sự tiến hóa của các bộ chim hiện đại. ==== Phân loại các bộ chim hiện đại ==== Dưới đây là danh sách các bộ trong phân lớp Chim hiện đại (Neornithes), sử dụng hệ thống phân loại truyền thống (thường gọi là bộ Clements): Phân lớp Neornithes Paleognathae: Struthioniformes— Bộ Đà điểu Tinamiformes— Tinamou Neognathae: Anseriformes— Bộ Ngỗng Galliformes— Bộ Gà Charadriiformes— Bộ Choi choi (Bộ Rẽ) Gaviiformes— Chim lặn Gavia Podicipediformes— Bộ Chim lặn (Bộ Le hôi) Procellariiformes— Bộ Hải âu (Bộ Chim báo bão) Sphenisciformes— Bộ Chim cánh cụt Pelecaniformes— Bộ Bồ nông Phaethontiformes — Chim nhiệt đới (tropicbird) Ciconiiformes— Bộ Hạc Cathartiformes — Kền kền Tân Thế giới Phoenicopteriformes— Bộ Hồng hạc Falconiformes— Bộ Cắt Gruiformes— Bộ Sếu Pteroclidiformes - Gà cát (sandgrouse) Columbiformes— Bộ Bồ câu Psittaciformes— Bộ Vẹt Cuculiformes— Bộ Cu cu Opisthocomiformes — Gà móng ở Nam Mỹ (hoatzin) Strigiformes— Bộ Cú Caprimulgiformes— Bộ Cú muỗi Apodiformes— Bộ Yến Coraciiformes— Bộ Sả Piciformes— Bộ Gõ kiến Trogoniformes— Bộ Nuốc Coliiformes - Chim chuột (mousebird) Passeriformes— Bộ Sẻ Hệ thống phân loại Sibley-Monroe có sự khác biệt cơ bản với hệ thống trên, khi phát triển dựa trên các dữ liệu phân tử. Nó cũng được công nhận tương đối rộng rãi ở một số mặt, tiêu biểu gần đây là việc sử dụng các bằng chứng phân tử, hóa thạch và giải phẫu trên phân bộ Galloanserae đã ủng hộ cho hệ thống này. === Phát sinh chủng loài === Phân loại và phát sinh chủng loài chim là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Tác phẩm Phylogeny and Classification of Birds của Sibley và Ahlquist xuất bản năm 1990 là một công trình quan trọng trong phân loại chim, mặc dù nó thường xuyên gây tranh luận và liên tục bị sửa đổi. Phần lớn chứng cứ dường như gợi ý rằng việc gán các bộ chim là khá chính xác, nhưng các nhà khoa học thì không đồng thuận về các mối quan hệ giữa chính các bộ; các chứng cứ từ giải phẫu học chim hiện đại, hóa thạch và phân tích ADN tất cả đều nhằm mục đích giải quyết vấn đề này, nhưng sự đồng thuận cao thì chưa thấy có. Gần đây hơn, các chứng cứ mới từ hóa thạch và phân tích phân tử ngày càng đưa ra bức tranh rõ ràng hơn về lịch sử tiến hóa của các bộ chim hiện đại. Các nỗ lực gần đây nhất được vẽ ra như hai biểu đồ dưới đây, tất cả đều dựa trên các dữ liệu lấy trình tự bộ gen của các loài đại diện tiêu biểu nhất cho mỗi bộ, với công trình năm 2014 là 48 loài, và công trình năm 2015 là 198 loài. Biểu đồ nhánh thứ nhất về các mối quan hệ phát sinh chủng loài chim hiện đại dựa theo Jarvis E.D. et al. (2014) với một số nhánh đặt tên theo bài báo của Yury T. et al. (2013). Năm 2015 Prum et al đã đưa ra một biểu đồ phát sinh chủng loài khác của chim, trong đó khác biệt cơ bản với cây phát sinh chủng loài trên đây là mối quan hệ giữa các nhánh trong phát sinh chủng loài của chim hiện đại (Neoaves) == Phân bố == Chim sống và sinh sản ở hầu hết các môi trường trên cạn cũng như ở cả bảy lục địa, trong đó nắm giữ kỷ lục phương Nam là loài hải âu pêtren tuyết (Pagodroma nivea) khi có thể sinh sản ở khu vực lấn sâu tới 440 kilômét trong châu Nam Cực. Tính đa dạng cao nhất về các loài chim thuộc những khu vực nhiệt đới. Trước đây, người ta nghĩ rằng tính đa dạng cao là kết quả của tốc độ hình thành loài cao ở những khu vực này, nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy, ở khu vực có vĩ độ cao, tốc độ hình thành loài dù cao hơn nhưng lại bị bù trừ bởi tốc độ tuyệt chủng mà cũng lớn hơn so với vùng nhiệt đới. Vài họ chim lại có cuộc sống thích nghi ở cả môi trường đại dương, trong số đó, có những loài chim biển vào bờ chỉ duy để sinh sản, và một số chim cánh cụt lại được ghi nhận là có thể lặn ở độ sâu tới 300 mét (980 ft). Nhiều loài chim đã thành lập những quần thể giao phối ở những vùng mà chúng được nhập nội bởi con người. Có những loài được nhập nội có chủ ý, ví dụ như loài trĩ đỏ, đã được đưa đi trên toàn thế giới như một loại chim để săn bắt. Số khác lại mang tính ngẫu nhiên, một ví dụ là sự thành lập của quần thể vẹt thầy tu đuôi dài (Myiopsitta monachus) ở vài thành phố của Bắc Mỹ, sau khi chúng thoát ra khỏi tình trạng nuôi nhốt. Vài loài khác, bao gồm cò ruồi, diều vằn đầu vàng và vẹt mào ngực hồng (galah) đã mở rộng phân bố một cách tự nhiên bên cạnh khu vực phân bố gốc, bởi các hoạt động nông nghiệp đã tạo nên sinh cảnh mới thích hợp cho chúng. == Giải phẫu và sinh lý == Xét hình thái bên ngoài, chim có cơ thể dạng hình bầu dục ngắn, cổ dài, đầu tròn, nhỏ. Toàn thân chim được phủ lông vũ, hai chi trước là cánh, hai chi sau có bàn chân hình trụ giúp chim đi đứng trên mặt đất. So với những động vật có xương sống khác, cơ thể chim có những đặc điểm thích nghi đặc biệt, chủ yếu để phù hợp cho hoạt động bay. === Bộ xương và hệ cơ === Chim có bộ xương với những chiếc xương nhẹ và xốp nhưng chắc. Xương chim có những khoang chứa đầy khí, được liên kết với hệ hô hấp. Xương sọ được nối liền và không có các đường khớp sọ. Ổ mắt lớn và được ngăn cách bởi một vách xương. Cột sống của chim được chia làm 4 phần: cổ, ngực, chậu và đuôi, với các đốt sống cổ có tính biến đổi cao và đặc biệt linh hoạt; tuy nhiên khả năng cử động chỉ ở các đốt sống ngực trở đi chứ không có ở các đốt sau. Những đốt cuối kết hợp với khung chậu tạo thành khối xương cùng, làm chỗ dựa vững chắc cho các chi sau. Trừ những loài không biết bay, xương sườn chim dẹt và xương ức phát triển có gờ lưỡi hái nhằm gắn kết với các cơ vận động bay. Hai chi trước của chim đã biến đổi thành cánh. Chim có tổng cộng khoảng 175 cơ trên cơ thể, trong đó các cơ phát triển liên quan đến những hoạt động như bay (cơ vận động cánh), chạy (cơ đùi và cơ ống chân ở các chim chạy), xù lông (cơ da) hay cử động đầu (cơ cổ). Cơ lớn nhất là cơ ngực (cơ hạ cánh) có thể chiếm từ 15-20% khối lượng cơ thể con chim. Bàn chân của chim không có cơ, tuy nhiên lại có các gân có thể tự động siết chặt khép quặp các ngón chân quanh cành cây khi chim đậu, giúp chúng bám lâu và chắc trên cành mà không bị mỏi. === Bài tiết và tiêu hóa === Giống như bò sát, chim căn bản là loài bài tiết axít uric (uricotelic): cật chim lọc các chất thải gốc nitơ từ máu và bài tiết chúng dưới dạng axít uric thay vì urê hay amoniac thông qua ống niệu trong ruột. Chim không có bóng đái hay niệu đạo mở bên ngoài, nên nước tiểu của chim được thải ra đi kèm với phân tạo thành chất thải nửa rắn. Tuy vậy, vẫn có những loài như chim ruồi lại thải hầu hết các chất thải nitơ dưới dạng amoniac. Các loài chim thường thải creatin, hơn là creatinin như ở động vật có vú. Loại chất này, cũng như các chất thải khác của quá trình tiêu hóa, được thải ra từ huyệt của chim. Huyệt chim là một ống mở đa chức năng, từ tống các chất thải ra ngoài tới giao phối và đẻ trứng. Ngoài ra, nhiều loài chim cũng ợ (đưa quay trở lại đẳng miệng) các thức ăn chưa tiêu hóa còn dư (pellet). Hệ tiêu hóa chim có đặc điểm độc nhất, với bộ phận diều để lưu trữ thức ăn và mề, chứa các hòn đá được chim nuốt, có khả năng nghiền thức ăn thay thế cho bộ răng chúng không có. Nhiều loài chim thích nghi cao với việc tiêu hóa nhanh giúp cho hoạt động bay. Một số loài chim cũng thích nghi bằng cách sử dụng protein từ nhiều bộ phận của cơ thể. để cung cấp thêm năng lượng trong quá trình di trú. === Hệ hô hấp và tuần hoàn === Chim có một trong những hệ hô hấp phức tạp nhất của tất cả các loài động vật. Bên cạnh phổi, chim còn có 9 túi khí, là các vi khí quản xuyên qua phổi tạo thành, dung tích hơn phổi nhiều lần, có vai trò chứa khí để hô hấp cũng như làm nhẹ cơ thể và điều hòa thân nhiệt. Lúc chim hít vào, 75% lượng không khí sạch không đi qua phổi mà tới trực tiếp các túi khí sau để sau đó lấp đầy các khoang trong xương. 25% lượng khí còn lại đi trực tiếp vào phổi. Khi chim thở ra, những luồng khí đã được sử dụng đi ra ngoài phổi và những khí sạch chứa trong xương cùng lúc đó lại đi vào phổi. Theo cách đó, phổi của chúng luôn được duy trì cung cấp không khí sạch trong cả khi thở ra và hít vào. Cơ quan tạo âm thanh của chim là minh quản (syrinx), một khoang cơ với một số màng nhĩ, đặt ở vị trí điểm cuối của khí quản, nơi khí quản phân thành hai phế quản. Tim chim có bốn ngăn, cung động mạch chủ phải tham gia vào vòng tuần hoàn lớn (không giống như động vật có vú là cung động mạch chủ trái). Tĩnh mạch chủ dưới nhận máu từ các chi thông qua một hệ gánh thận. Tim chim đập nhanh và nhịp tim tỉ lệ nghịch với khối lượng cơ thể. Ở gà, tim đập khoảng 250 lần/phút, ở sơn tước đầu đen khi ngủ là 500 lần, khi hoạt động lên tới 1000 lần/phút, riêng với loài chim ruồi ức đỏ (Archilochus colubris), tim mỗi phút có thể đập 1200 lần (20 lần/giây). Điều này giúp cho máu chim lưu thông nhanh, giúp vận chuyển nhanh ôxy và chất dinh dưỡng cho các cơ quan, cung cấp kịp thời năng lượng để bay và duy trì hoạt động mức độ cao. Bên cạnh đó, hồng cầu chim có nhân (khác với các loài thú), nhiều và lồi hai mặt, hemoglobin liên kết với ôxy và cacbonic yếu nên việc giải phóng các khí này diễn ra nhanh trong máu. Đây là lý do vì sao chim có thân nhiệt cao, vào khoảng từ 38-45,5oC, tuỳ mỗi loài. === Điều hòa thân nhiệt === Chim là động vật máu nóng, thân nhiệt ổn định không phụ thuộc vào nhiệt độ bên ngoài. Là sinh vật có chỉ số trao đổi chất cao, thân nhiệt chim cao và thường biến đổi từ 40-42oC. Các loài chim nhỏ thường có thân nhiệt ít ổn định hơn các loài chim lớn, thay đổi theo mùa hay thậm chí hàng đêm, một ví dụ là hồng tước nhà (Troglodytes aedon) có biến thiên thân nhiệt trong 24 giờ lên tới 8oC. Ở chim sơ sinh, dù cũng có thân nhiệt cao (xấp xỉ khoảng 38oC ở nhiều loài), nhưng lại chưa có cơ chế hằng nhiệt như chim trưởng thành, nên chúng phải dựa vào nhiệt độ cơ thể bố mẹ và tổ để giữ ấm. Bên cạnh trao đổi chất, khi nhiệt độ môi trường xuống thấp, chim thường xù lông để ngăn không cho không khí tiếp xúc với da, co các mạch máu da, hay đôi khi run để tăng nhiệt độ cơ thể. Khả năng điều hòa thân nhiệt là một nguyên nhân giúp các loài chim có thể phân bố rộng trên khắp hành tinh. === Thần kinh và giác quan === Hệ thần kinh của chim phụ thuộc nhiều vào kích thước cơ thể. Phần phát triển nhất của não điều khiển các chức năng liên quan đến hoạt động bay, trong khi tiểu não phối hợp sự cử động và đại não thì điều khiển các kiểu tập tính, tìm đường, giao phối và làm tổ. Đa phần các loài chim đều có khứu giác kém, ngoại trừ một số trường hợp nổi bật như kiwi, kền kền Tân Thế giới và bộ Chim báo bão (Procellariiformes). Ngược lại, thị giác của chúng thường phát triển ở mức độ cao. Các loài chim ở nước có thủy tinh thể linh hoạt đặc biệt, cho phép thích nghi với việc nhìn trong nước lẫn không khí. Một số loài trong mắt còn có hai vùng hoàng điểm (fovea). Các loài chim có khả năng nhận biết bốn loại nguồn sáng (tetrachromacy), có các tế bào hình nón nhạy cảm với tia cực tím bên cạnh các dải màu đỏ, xanh lam và xanh lá cây. Điều này cho phép chúng quan sát được các tia cực tím (UV), có liên quan trong quá trình ve vãn. Nhiều loài chim có những bộ lông sặc sỡ trong dải tia cực tím mà mắt người không nhìn thấy; một số loài mà hai giới tính tưởng như giống nhau với mắt thường, nhưng lại khác nhau dưới tia cực tím khi phản chiếu những vết đốm trên bộ lông của chúng. Tia cực tím còn được sử dụng trong việc kiếm ăn - một số loài cắt tìm kiếm con mồi là những loài gặm nhấm bằng cách xác định tia UV phản chiếu từ dấu nước tiểu trên mặt đất. Mí mắt của chim không được sử dụng để nháy mắt, thay vì thế chúng dùng một mí mắt thứ ba di chuyển theo chiều ngang, gọi là màng nháy. Màng nháy cũng bao phủ mắt và có vai trò như một loại kính áp tròng ở nhiều loài chim sống ở nước. Võng mạc chim có một hệ thống cung cấp máu hình quạt gọi là lược (pecten). Hầu hết chim không thể di chuyển mắt của chúng, trừ một số ngoại lệ, như chim cốc đế. Những loài chim với mắt ở hai bên đầu có tầm nhìn rộng, còn những loài có mắt ở trước mặt, như cú, có thị giác hai mắt (binocular vision) và có thể ước tính được chiều sâu của tầm nhìn. Chim không có tai ngoài nhưng tai chúng được bao phủ bởi lông vũ, dù ở một số chim, như các chi cú Asio, Bubo và Otus, lông vũ tạo nên những búi mà tương tự như tai. Tai trong có một ốc tai, nhưng không có dạng xoắn như các loài thú có vú. Tai chim có thể nghe được âm thanh có tần số gần với tai người nhưng lại hơn người nhiều lần về khả năng phân biệt cường độ âm thanh. So với các động vật xương sống ở cạn khác, xúc giác chim kém phát triển. === Chất hóa học === Một vài giống chim có khả năng sử dụng chất hóa học để chống lại kẻ thù; vài loài thuộc bộ Chim báo bão có thể phun ra một loại dầu nhờn khó chịu lên những kẻ gây hấn hay một số loài pitohui từ New Guinea, lại có một loại neurotoxin (độc tố thần kinh) mạnh nằm ở trên da và lông. === Lông vũ === Lông vũ là đặc điểm duy nhất chỉ có ở các loài chim. Nó hỗ trợ cho việc bay, tạo ra một lớp cách ly giúp điều hòa thân nhiệt, ngoài ra còn được sử dụng để phô bày, ngụy trang hay làm tín hiệu. Có một số loại lông vũ, được sử dụng cho từng mục đích. Lông vũ mọc lên từ lớp biểu bì của da, chỉ ở những vùng đặc biệt gọi là vùng lông (pterylae). Kiểu phân bố của những vùng lông (pterylosis) được ứng dụng trong phân loại và hệ thống học. Sự sắp xếp và vẻ ngoài của lông vũ trên cơ thể, gọi là bộ lông vũ (plumage), có thể khác nhau trong loài dựa trên tuổi, địa vị bầy đàn và giới tính. Các loài chim thay lông theo định kỳ; bộ lông thông thường của một con chim mà đã thay sau mùa sinh sản gọi là bộ lông "không sinh sản" (non-breeding) - hay theo thuật ngữ Humphrey-Parkes là bộ lông "cơ bản" (basic); còn bộ lông khi sinh sản hay các dạng khác của bộ lông cơ bản gọi theo Humphrey-Parkes là bộ lông "luân phiên" (alternate). Việc thay (rụng) lông là thường niên ở hầu hết các loài chim, dù có những loài thay hai lần trong năm, hoặc các loài chim săn mồi lớn có thể chỉ thay lông một lần duy nhất cho vài năm. Có các kiểu thay lông khác nhau giữa các loài. Ở các loài chim sẻ, lông bay (lông trên cánh và đuôi giúp cho việc bay) được thay thế một lần trong một thời gian với những chiếc lông vũ sơ cấp trong cùng sẽ thay đầu tiên. Sau khi lông sơ cấp được thay thế lần thứ năm hay thứ sáu, những chiếc lông bậc ba ngoài cùng bắt đầu rụng, sau đó đến lông thứ cấp và cuối cùng quá trình này lại đi tới những chiếc lông phía ngoài (rụng lông ly tâm). Những lông bao (tetrix) lớn được rụng lẫn đồng thời với lông sơ cấp. Một số nhỏ các loài, như vịt và ngỗng, lại có thể rụng tất cả các lông bay cùng lúc, khiến chúng tạm thời không bay được Theo một quy luật chung, lông đuôi lại rụng và thay khởi đầu từ những cặp trong cùng. Dù thế, việc rung lông ly tâm cũng tìm thấy ở các loài thuộc họ Trĩ. Bên cạnh đó, sự rụng lông ly tâm ở đuôi có sự thay đổi ở các loài chim gõ kiến và họ Đuôi cứng, khi khởi đầu với những cặp lông trong cùng thứ hai và kết thúc với cặp lông giữa, và vẫn giữa một cặp lông với chức năng leo trèo. Ở các loài sẻ, kiểu thay lông chung là lông cánh sơ cấp thay trước, lông thứ cấp thay sau, còn đuôi thì khởi đầu với những lông ở giữa. Trước khi xây tổ, đa phần các con chim mái đều rụng phần lông gần bụng tạo thành một "vết ấp" (brood patch). Phần da ở đấy sẽ được cung cấp tốt từ các mạch máu và hỗ trợ chim trong việc ấp trứng. Lông vũ đòi hỏi được giữ gìn và chim thường dành khoảng 9% thời gian mỗi ngày dành cho việc rỉa hay chải lông. Chim dùng mỏ để chải đi các hạt nhỏ từ bên ngoài, đồng thời bôi lên đó một loại sáp tiết ra từ tuyến phao câu; loại sáp này sẽ giúp giữ gìn tính linh hoạt của lông và là một tác nhân chống vi sinh vật, ngăn chặn sự phát triển của những vi khuẩn làm giảm chất lượng lông. Ngoài ra chất này còn giúp lông không thấm nước và cung cấp vitamin D (chứa ergosterol biến đổi thành vitamin D dưới ánh mặt trời). Bên cạnh đó, một số chim còn có hành động chà kiến (hay côn trùng khác) lên bộ lông của chúng, nhằm lấy axít formic tiết ra từ kiến, có vai trò tiêu diệt những sinh vật ký sinh trên lông. === Mỏ, chân và vảy === Mỏ là một cấu trúc bên ngoài của chim, được sử dụng cho việc ăn và nhiều mục đích khác. Trong mỏ không có răng, mỏ bao gồm 2 phần, phần hàm trên được bao phủ bởi một bao vỏ sừng (rhamphotheca), cấu tạo từ keratin. Giữa phần trên mỏ có hai lỗ mũi, ăn thông với hệ hô hấp. Ở một số loài, mỏ và lỗ mũi được bao bởi một phần mô mềm, sáp, được gọi là da gốc mỏ (cere). Bàn chân chim được bao phủ bởi vảy và có các ngón chân với móng vuốt. Đa phần các loài chim đều có 4 ngón, được chia thành 5 kiểu sắp xếp (dactyly) chính, bao gồm: anisodactyl (ngón không đều), zygodactyl (ngón kiểu chân trèo), heterodactyl (khác ngón), syndactyl (dính ngón) và pamprodactyl (ngón nhọn). Ở nhiều loài chim, chân có màng, và cũng có các loại: có nửa màng (semipalmate), có màng hoàn toàn (totipalmate), có màng kiểu chân vịt và có thùy. Mỏ cùng móng vuốt đều không ngừng phát triển về kích cỡ. Kiểu chân và mỏ của mỗi loài nhiều khi rất khác nhau, phụ thuộc vào lối sống và thức ăn của chúng. Ở gà trống và một số loài chim khác, chân có phần sừng cứng mọc lên, được gọi là cựa. Giống các bộ phận mỏ, vuốt và cựa, vảy chim là sản phẩm của da, được tạo thành từ cùng một loại keratin. Vảy được tìm thấy chủ yếu ở ngón chân và bàn chân, nhưng cũng có thể xuất hiện ở mắt cá chân một vài loài. Hầu hết ở các loài chim, vảy không che phủ đáng kể, ngoại trừ trường hợp gõ kiến và đuôi cứng. Vảy của chim được cho là tương đồng với vảy của động vật có vú và bò sát. == Đặc điểm sinh học == === Di chuyển === ==== Bay ==== Phần lớn chim đều có thể bay, điều này tạo nên sự khác biệt giữa chúng và hầu hết các loài động vật có xương sống khác. Bay là phương tiện chính để di chuyển của đa số loài chim, sử dụng cho các hoạt động sinh sản, kiếm thức ăn hay chạy trốn kẻ thù. Chim có nhiều đặc điểm thích nghi cho việc bay, bao gồm bộ xương khối lượng nhẹ, hai khối cơ vận động cánh lớn (cơ ngực và cơ quạ trên - supracoracoideus), cũng như hai chi trước đã biến đổi thành cánh, có vai trò tương tự như cánh máy bay. Hình dạng và kích thước cánh thông thường xác định kiểu bay của mỗi loài; nhiều loài chim có khả năng phối hợp giữa những cú đập cánh mạnh mẽ và kiểu chao liệng đòi hỏi ít năng lượng. Chim ruồi là một trường hợp đặc biệt của lớp Chim, khi chúng có thể bay lởn vởn tại chỗ bằng cách đập cánh 15-80 lần một giây (tùy mỗi loài), và đặc biệt có thể bay ngược phía sau, một khả năng mà không nhóm chim nào khác có. Chim cắt Falco peregrinus với sải cánh rộng là kẻ nhanh nhất trong giới động vật, với những cú liệng xuống dưới đạt tốc độ hơn 322 km/h (200 mph). Khoảng 60 loài chim còn tồn tại không biết bay, cũng như với nhiều loài chim đã tuyệt chủng. Việc không biết bay chủ yếu xuất hiện ở các loài sống biệt lập trên các đảo, phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên giới hạn và không có kẻ săn mồi. Dù không biết bay, những con chim cánh cụt vẫn sử dụng cơ và cách di chuyển tương đồng để "bay" xuyên qua làn nước, tương tự các loài chim anca, hét nước hay chim báo bão. ==== Các kiểu di chuyển khác ==== Bên cạnh bay, các loài chim còn có các kiểu di chuyển khác như leo trèo, bơi lặn hay đi trên mặt đất. Leo trèo là kiểu di chuyển nguyên thủy của nhiều loài chim tiền sử, ví dụ như Archaeopteryx sử dụng móng vuốt để leo lên cây sau đó thả mình lướt xuống đất. Trải qua thời gian, chân của các loại chim leo trèo nguyên thủy (với 3 ngón phía trước, 1 ngón phía sau) được biến đổi thành chân của các chim leo trèo hiện đại, với móng khỏe cùng 2 ngón trước và 2 ngón sau (kiểu ngón zygodactyly). Số loài chim leo trèo còn tồn tại không nhiều, bao gồm các loài thuộc các họ Gõ kiến, Đuôi cứng, Trèo cây cũng như vẹt và một số loài khác. Các loài này đều có cách leo trèo riêng của mình, một số loài như vẹt sử dụng mỏ như một chân thứ ba để trèo cây. Chim gõ kiến dùng móng sắc để bám và dùng đuôi cứng như một điểm tựa, di chuyển trên các thân cây. Các loài chim sống gần nước có các kiểu di chuyển khác nhau. Những loài bơi lặn giỏi có những đặc điểm thích nghi như chân có màng hay bộ lông không thấm nước. Chúng được chia làm 2 loại dựa trên cách thức bơi: nhờ chân, tức dùng chân như một mái chèo để tạo sức đẩy, ví dụ chim cốc, chim lặn, gavia và họ Vịt, và nhờ cánh - chủ yếu là các loài sống ở biển, tiêu biểu là chim cánh cụt, chim anca hay hải âu pêtren lặn. Các loài chim lặn nhờ cánh nhìn chung thường nhanh hơn các loài sử dụng chân. Tuy nhiên, dù dùng chân hay dùng cánh thì đều khiến các loài này bị hạn chế ở các cách di chuyển khác, như bay hay di chuyển trên mặt đất. Các loài chim cánh cụt không biết bay có thể là sinh vật thích nghi với nước nhất trong số các loài chim bơi lặn, đặc biệt chim cánh cụt Gentoo (Pygoscelis papua) là loài chim bơi nhanh nhất, với tốc độ đạt 36 km/h (22 mph). Bên cạnh đó, còn có các loài lặn bằng cách lao thẳng từ trên cao xuyên qua làn nước để bắt mồi, ví dụ chim điên, ó biển, bồ nông nâu và một số nhạn biển. Những loài chim như hồng hạc, sếu, diệc, cò... và nhỏ hơn như dẽ hay choi choi là những loài chim lội nước, với đôi chân dài, mảnh, có thể đi qua nước dễ dàng mà cơ thể không bị ướt, dùng chân hay mỏ để kiếm thức ăn. Hầu hết các loài chim đều có thể di chuyển trên mặt đất qua hai cách: đi và chạy, với khả năng khác nhau ở mỗi loài. Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ như chim yến, khi không có khả năng đậu hay chạy do đôi chân quá yếu ớt, mà chỉ có thể dùng chân bám lên các bề mặt thẳng; hay hầu hết các loài chim lặn gavia cũng không thể đi đứng bình thường trên mặt đất do kết cấu đôi chân chỉ phù hợp với việc bơi lặn. Ngược lại, có những chim như bộ Đà điểu, tinamou, ô tác, gà maleo cũng như nhiều loài thuộc bộ Gà, đã phát triển kết cấu chân thích hợp, là đại diện của những loài chim di chuyển tốt trên mặt đất. Các loài chim ở nước thường di chuyển trên mặt đất rất khó khăn; dù thế, để di chuyển nhanh hơn, chim cánh cụt lại có một phương thức đặc biệt, đó là "lướt ván" trên phần bụng của chúng, sử dụng cánh và chân để đẩy thân mình lướt đi trên băng tuyết. === Di truyền === Chim có hai giới tính: trống (đực) và mái (cái). Giới tính của chim được xác định bởi hai nhiễm sắc thể giới tính Z và W, không giống cặp nhiễm sắc thể (NST) X và Y ở động vật có vú. Các con trống có hai nhiễm sắc thể Z (ZZ) và con mái có một NST Z và một NST W (WZ). Gần như ở toàn bộ các loài chim, giới tính một cá thể được xác định tại thời điểm thụ tinh. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây đã cho thấy sự xác định giới tính phụ thuộc nhiệt độ ở những con gà tây bụi rậm Úc (Alectura lathami), khi mà nhiệt độ càng cao trong quá trình ấp trứng thì sẽ tạo tỉ lệ mái trên trống cao hơn. === Sức khỏe === ==== Tuổi thọ ==== Tuổi thọ của chim rất khác nhau tùy theo loài, có thể từ ba đến bốn năm tuổi đối với một số loài chim sẻ và hơn 50 năm đối với một số loài hải âu, và thậm chí hơn 60 năm tuổi đối với một số loài hiếm có như chim kakapo (Strigops habroptilus). Trong cùng một loài chim, việc thay lông không những phụ thuộc vào mùa, mà còn vào độ tuổi của chim, do vậy việc biết rõ các thông tin này sẽ giúp tính ra tuổi của nhiều loài chim hoang dã. Ngoài ra mức độ khí hóa khung xương cũng là một đặc điểm được sử dụng để ước tính ra tuổi của chim. ==== Ký sinh ==== Các sinh vật ký sinh phổ biến ở chim chủ yếu thuộc về các nhóm ghẻ, rận và chấy. Các loài ký sinh khác nhỏ hơn như một số loài thuộc động vật nguyên sinh, thường gây bệnh cho chim. Ít nhất 2.500 loài ghẻ thuộc 40 họ sống gắn với các loài chim, từ tổ chim, lông, thậm chí mỏ chim như một số loài ghẻ ký sinh trên chim ruồi. Các loài ghẻ này có thể chỉ đơn thuần là ký sinh vô hại hoặc có thể gây ngứa cho động vật chủ, thậm chí là ký sinh có hại như các loài thuộc chi Dermanyssus và Ornithonyssus. Tất cả các loài chim đều bị ảnh hưởng bởi sinh vật ký sinh, ngay cả chim cánh cụt cũng có ve ký sinh trên cơ thể. Đời sống các loài ve tất nhiên phụ thuộc vào từng giống chim cụ thể; tuy thế, ấu trùng ve thường sống trong tổ chim. Các loài ký sinh này có chu kỳ sinh sản ngắn và có thể sinh sôi rất nhanh chóng. Một số loài ký sinh sống bằng lớp da chết của chim, số khác như các loài ký sinh ở chim ruồi thì được mang từ bông hoa này sang bông khoa khác và sống bằng mật hoa. Trong các tổ chim, người ta thậm chí còn phát hiện thấy các loài ký sinh nhỏ sống bám vào các loài ký sinh lớn hơn. Một số lớn các loài ký sinh có thể gây hại cho chim non hoặc gà con. Tuy thế, một số nghiên cứu cho thấy sự hội sinh này không phải chỉ có hại cho chim. Có khá nhiều nghiên cứu về các tương tác phức tạp giữa sinh vật ký sinh và chim, và nhiều yếu tố đã được tìm hiểu. Và các nghiên cứu cho thấy việc đưa ra các quy tắc đơn giản trong trường hợp này là không dễ dàng. Một số loài thuộc bộ Ăn lông (như Ischnocera) thường sống bám ở một số loài chim nhất định. Rất nhiều loài thuộc ngành Giun dẹp như sán dây hay sán lá có thể lây nhiễm các loài chim và các con chim này có thể mang chúng đi từ lục địa này sang lục địa khác. Chẳng hạn như các loài chim biển khi ăn các loài nhuyễn thể thuộc chi Cerastoderma, có thể phát tán các loài sán lá ký sinh (các chi Meiogymnophalus, Himasthla,...), truyền sang các động vật chủ khác như các loài chim hoặc các loài động vật thân mềm khác. ==== Bệnh tật ==== Chim và gia cầm là một trong những véc tơ truyền bệnh chủ yếu ở các cự ly xa đối với con người như các bệnh virút vẹt, bệnh vi khuẩn Salmonella, bệnh vi khuẩn xoắn (do Campylobacter), bệnh lao gia cầm (do Mycobacterium), cúm gia cầm, sốt hải ly (bệnh do loài ký sinh Giardia lamblia, và bệnh Cryptosporidium. Các bệnh này cũng như sự lây lan của chúng cũng được nghiên cứu rất kỹ. Cũng do tầm phổ biến của ngành nuôi gia cầm, việc phát hiện ra các ổ bệnh gia cầm có thể khiến chính quyền địa phương áp dụng các biện pháp triệt để và ngặt nghèo đối với việc chăn nuôi này. Vào tháng 9 năm 2007, 205.000 con gia cầm tại Bavière đã bị thiêu hủy, 160.000 gia cầm tại Bangladesh cũng đã bị thiêu hủy vào tháng 2 năm 2008 do phát hiện ra ổ dịch cúm gia cầm... Một số bệnh đặc thù như bệnh Pacheco chỉ có ở các loài thuộc bộ Vẹt. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Chim Việt Nam (Tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Nhật, tiếng Thái, tiếng Mã Lai, tiếng Indonesia)
viêng chăn.txt
Viêng Chăn hay Vientiane (IPA: vjɛnˈtjɑːn; tiếng Lào ວຽງຈັນ), tiếng Việt xưa gọi là Vạn Tượng hay Mường Viêng là thành phố trực thuộc trung ương duy nhất ở Lào, là đơn vị hành chính địa phương cấp 1 ngang với các tỉnh của Lào. Viêng Chăn bao gồm 9 đơn vị hành chính cấp 2 trong đó có 5 đơn vị đô thị và 4 đơn vị nông thôn. Khu vực đô thị, hay nội thành, gồm 5 muang của Viêng Chăn được xác định là thủ đô Viêng Chăn của Lào.Tên được đặt tên cho 1 con đường tại quận 5 == Hành chính == Thủ đô Viêng Chăn gồm có khu vực nội thành và khu vực ngoại thành. Nội thành, hay Thủ đô Viêng Chăn, gồm 5 quận là: Chantabuly Sikhottabong Xaysetha Sisattanak Hadxaifong Ngoại thành gồm 4 huyện là: Mayparkngum Naxaithong Sangthong Xaythany == Địa lý == Viêng Chăn rộng 3.920 km² và có 692.900 dân (năm 2004) trong đó khu vực Thủ đô có 200.000 người (2005). Nếu tính cả vùng đô thị Viêng Chăn (toàn bộ các huyện nông thôn của Viêng Chăn và các tỉnh Viêng Chăn) được cho là hơn 730.000 người. Viêng Chăn nằm ở tả ngạn sông Mê Công, ở tọa độ 17°58' Bắc, 102°36' Đông (17.9667, 102.6). [1]. Ở đoạn này con sông chính là biên giới giữa Lào với Thái Lan. == Lịch sử == Theo trường thi lịch sử của Lào, Phra Lak Phra Lam thì ông hoàng Thattaradtha sau khi nhường ngôi xứ Muong Inthapatha Maha Nakhone huyền thoại cho em thì ra đi lập ra một thị trấn mới mang tên Maha Thani Si Phan Phao ở bờ phía tây sông Cửu Long; sử Lào cho đó là Udon Thani ngày nay thuộc Thái Lan. Ngày nọ có Naga bảy đầu khuyên Thattaradtha xây một thành phố mới ở bờ đối diện. Thattaradtha nghe theo mà xây nên Chanthabuly Si Sattanakhanahud tức là tiền thân của Viêng Chăn hiện nay. Khác với truyện Phra Lak Phra Lam thì sử học cho rằng Viêng Chăn nguyên thủy là một thị trấn của người Khmer tập trung quanh một ngôi đền Hindu. Ngôi đền đó là Pha That Luang sau này. Vào thế kỷ 11 và 12, người Lào và Thái tràn xuống Đông Nam Á từ Hoa Nam đánh đuổi người Khmer và đồng hóa số còn lại, chiếm cứ khu vực trung châu nước Lào. Năm 1354, khi Phà Ngừm lập ra vương quốc Lan Xang và Viêng Chăn trở thành một trung tâm hành chính quan trọng cho dù đó không phải là kinh đô Lan Xang. Hơn hai trăm năm sau vua Xaysethathirath mới thiên đô về Viên Chăn năm 1560, xây dựng thêm thành quách. Khi Lan Xang tan rã năm 1707 thì Viêng Chăn trở thành một vương quốc độc lập cai trị trung nguyên Lào và Đông Bắc Thái Lan. Không lâu sau đó năm 1779, Viên Chăn bị Xiêm La uy hiếp; tướng Xiêm là Phraya Chakri chiếm được và bắt người Lào thần phục Xiêm triều. Khi vua Anouvong (tiếng Việt phiên âm là A Nỗ, hay Chậu A Nụ) dấy binh đánh đuổi người Thái, lúc đầu lập được chiến công nhưng sau bị vua Xiêm phản công đánh đại bại. Năm 1827 quân Xiêm vây Viêng Chăn. Người Lào cố cầm cự nhưng kinh thành thất thủ; Viêng Chăn bị quân Xiêm tàn phá tiêu hủy gần như hoàn toàn. Cư dân trong thành phần bị người Xiêm bắt, phần thì xiêu tán cả, Viêng Chăn bị bỏ ngỏ hoang tàn. Mãi tới năm 1893 khi người Pháp xúc tiến đặt nền bảo hộ trên xứ Lào thì Viêng Chăn mới phục hồi, trở thành thủ phủ nước Lào năm 1899. Trước năm 1989, thành phố Viêng Chăn và tỉnh Viêng Chăn là một đơn vị hành chính. Sau khi tách ra, Lào vừa có tỉnh Viêng Chăn vừa có thành phố trực thuộc trung ương Viêng Chăn. === Nguồn gốc tên gọi === Thành phố Viêng Chăn trong tiếng Lào là Nakhonluang Viangchan (tiếng Lào: ນະຄອນຫຼວງວຽງຈັນ), trong đó Nakhon là "thành phố", luang là "chính" hoặc "lớn". Trong đó, phần Thủ đô Viêng Chăn trong tiếng Lào gọi là Kampheng nakhon Viangchan. Tên gọi của thành phố bắt nguồn từ tiếng Pali, ngôn ngữ diễn đạt văn chương của Phật giáo tiểu thừa, và những nghĩa ban đầu của nó là "Khu rừng đàn hương của nhà vua", loại cây quý vì mùi hương của nó theo kinh điển Ấn Độ. Nghĩa của Viêng Chăn là "Thành (phố) Trăng" trong tiếng Lào. Cách phát âm và phép chính tả hiện đại Lào không phản ánh rõ ràng từ nguyên tiếng Pali này. Tuy nhiên tên gọi trong tiếng Thái เวียงจันทน์ vẫn giữ được nguyên gốc từ nguyên, và "Thành Đàn hương" là nghĩa gốc của tên gọi này. Cách phát âm theo các ngôn ngữ latinh (Vientiane) có nguồn gốc từ tiếng Pháp, và phản ánh sự khó khăn của người Pháp khi đánh vần phụ âm "ch" của tiếng Lào; một cách Latin hóa từ chữ cái Lào (ວຽງຈັນ) là "Viangchan", từ chữ cái Thái (เวียงจันทน์) là "Wiangchan". == Khí hậu == == Thắng cảnh == Xứ Lào là xứ Chùa. Tổng cộng Lào có 1.400 ngôi chùa. Do đó, tại đây nổi tiếng như cảnh quan That Luang và Chùa Phra Keo, Chùa Ông Tự, Chùa Si Muong, Chùa Sisaket, Vườn Phật Suốn Xiêng Khuôn (tục gọi là Suốn Phụt tức Vườn Chư Phật), quần thể hàng trăm bức tượng đúc theo Phật thoại, trong vùng Thà-Đừa, cách Vientiane khoảng 25 km, gần cầu Hữu Nghị Lào-Thái. Ở Vientiane có một ngôi chùa Việt tên Bàng Long, khá nguy nga. Từ chợ sáng trên đại lộ Lan Xang, đã thấy sừng sửng đài Anou Savary(đài chiến sĩ vô danh), sau 1975 được đổi tên thành Khải Hoàn Môn (Patuxay), toạ lạc giữa bùng binh giới ranh phố Vientiane và khu vực That Luang. Đài Anou Savary được tạo dựng từ 1958, phần dưới và ngoài mô phỏng theo đài Arc de Triumphe tại Paris, phần trên và trong gồm những nét kiến trúc, phù điêu đặc thù Lào. Đứng trên tầng cao nhất của Anou Savary ta có thể thấy toàn diện cảnh quan Vientiane. Con đường huyết mạch ở Vientiane là đường Sí Mương-Samsenthay, sầm uất trù phú, dấu ấn kiến trúc còn lại của thực dân Pháp chạy xuyên suốt từ khu That Khao lên trung tâm Ô-Điên – SengLao, ra đến vùng Si Khay – Wattay, rồi bỗng dưng ngừng lại, nhường cho kiến trúc cổ truyền Lào: Nhà sàn. Vientiane nằm thoai thoải ven sông Mêkông. Bên kia bờ là tỉnh Nong Khai (Thái Lan). Khúc sông nầy, năm 1994 chính phủ Úc đã tài trợ xây chiếc Cầu Hữu Nghị Lào-Thái(Lao-Thai Friendship Bridge) dài 1240m. Chính nhờ chiếc cầu này mà đã ra mở ra hướng phát triển mới cho du lịch 2 nước, kết nối hành lang Đông – Tây và mở ra sự phát triển cho ngành du lịch của cả 3 nước Đông Dương. Bờ sông Vientiane chưa được khai thác đúng mức, chủ yếu mới ở mặt hàng ăn, quán cóc. Quán cóc ven bờ sông Vientiane rất đa dạng về thực phẩm, với nhiều món ăn ngon và lạ miệng. Ngoài ra còn có các điểm tham quan khác. Ho Phra Kaeo Bảo tàng quốc gia Lào Pha That Luang Talat Sao Chợ sớm That Dam Wat Ong Teu Mahawihan Wat Sok Pa Luang Viêng Chăn là nơi duy nhất có: nhà thờ Hồi giáo, chỗ chơi bowling, nhà thờ và nightclub ở Lào. Tại Viêng Chăn cũng có nhiều khách sạn cao cấp. == Các trường đại học và cao đẳng == Đại học quốc gia Lào == Giao thông == Cầu Hữu nghị Thái-Lào, được xây dựng trong thập niên 1990, bắc ngang qua con sông cách vài dặm về phía hạ lưu thành phố Nong Khai, ngang qua biên giới, và tạo nên một trong những điểm giao lưu chính giữa hai nước. Hiện nay, một tuyến đường sắt kết nối quốc tế đang được lắp đặt trên cầu, nhưng điểm ga tàu nằm lệch về phía nam bên trong biên giới Thái Lan. Viêng Chăn có Sân bay quốc tế Wattay. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Pictures of Vientiane on Flickr Map of Vientiane
hoodwinked too! hood vs. evil.txt
Hoodwinked Too! Hood vs. Evil là bộ phim phần tiếp theo của phim hoạt hình 3D năm 2005 Hoodwinked!, phim được Mike Disa làm đạo diễn và thực hiện vào năm 2011. Phim có sự tham gia của các diễn viên lồng tiếng Hayden Panettiere, Glenn Close, Martin Short, Patrick Warburton và Joan Cusack. == Nội dung == Trong phim này, Red sẽ hợp tác cùng Sói W. Wolf để giải cứu hai chị em Hansel và Gretel và bà ngoại Granny thoát khỏi tay mụ phù thủy Verushka độc ác. == Diễn viên == Hayden Panettiere vai Red Puckett Glenn Close vai Abigail "Granny" Puckett Patrick Warburton vai Sói W. Wolf Joan Cusack vai Verushka Bill Hader vai Hansel Amy Poehler vai Gretel Cory Edwards vai Sóc Twitchy Cheech Marin vai Mad Dog Tommy Chong vai Stone Phil LaMarr vai Wood David Ogden Stiers vai Nicky Flippers Andy Dick vai Boingo the Bunny Martin Short vai Kirk Kirkkendall Benjy Gaither vai Japeth Brad Garrett vai Gã khổng lồ Wayne Newton vai Jimmy 10-Strings Debra Wilson vai Iana David Alan Grier vai Moss == Chú thích và tham khảo == Website chính thức. Hoodwinked Too! Hood vs. Evil tại Internet Movie Database Hoodwinked Too! Hood vs. Evil tại AllRovi Hoodwinked Too! Hood vs. Evil tại Rotten Tomatoes Hoodwinked Too! Hood vs. Evil tại Metacritic == Tham khảo ==
thôn.txt
Thôn là tổ chức dân cư cấp cơ sở tại các vùng nông thôn Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan. Thôn là âm Hán Việt của từ tiếng Hoa 村 (bính âm: cūn), được du nhập vào Việt Nam theo trào lưu Hán hóa và Hán học trước đây. Tại nhiều vùng ở Bắc Bộ không có phân biệt "thôn" - "làng": khi "nói Nôm" thì dùng ví dụ "làng Gừng", "thôn Gừng" (không dùng "Gừng thôn"), còn trong văn tự Hán Việt (gọi là "nói Chữ", ví dụ trong bài cúng bằng văn Hán Việt) thì dùng "Khương thôn". Tuy nhiên cũng có vùng có quan niệm và sử dụng khác nhau giữa "thôn" và "làng", nêu ở mục dưới. Trong phân cấp hành chính Việt Nam hiện nay thì thôn không phải là một đơn vị hành chính nhà nước. Thôn là cấp cơ sở không pháp nhân dưới cấp xã để quản lý dân cư ở vùng sử dụng từ này, và cấp tương đương là khu dân cư (ở thành phố)/làng/bản/buôn/sóc tùy theo vùng. Tại Trung Quốc theo "phân cấp hành chính Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" thì trong hệ 5 cấp, cấp thứ 5 ở vùng nông thôn thì gọi là thôn. Thôn không phải là cấp chính quyền chính thức mà là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư. == Tại Việt Nam == Thôn là một hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của nông thôn người Việt (Kinh). Miền nam Việt Nam các tỉnh từ Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu trở xuống phía nam gọi là ấp. Tuy nhiên, có một số xã ở tỉnh Bình Phước và Bà Rịa - Vũng Tàu sử dụng "thôn" thay cho "ấp". Thôn bao gồm một số xóm. Có ý kiến cho thôn là làng; có ý kiến cho thôn là một phần của làng, ví dụ như ở xã Trường Yên, Hoa Lư gồm 7 làng với 16 thôn. 7 làng ở Trường Yên gồm: Yên Trung, Yên Thượng, Yên Thành, Yên Hạ, Yên Trạch, Chi Phong, Lạc Hối. 16 thôn ở Trường Yên gồm: thôn Đông, thôn Đoài, thôn Nam, thôn Bắc, thôn Trung, thôn Tam Kỳ, thôn Trường An, thôn Chi Phong, thôn Tự An, thôn Trường Sơn, thôn Trường Thịnh, thôn Trường Xuân, thôn Tân Kim, thôn Vàng Ngọc, thôn Yên Trạch, thôn Đông Thành. Làng Yên Thành gồm 4 thôn Đông, Đoài, Nam, Bắc trong khi làng Chi Phong chính là thôn Chi Phong. Từ thế kỉ 15 trở về sau, thông thường vài thôn hợp thành một xã, đôi khi thôn lớn là xã. Cư dân trong thôn thường có hai mối quan hệ: quan hệ láng giềng và quan hệ họ hàng. Thôn thường có hương ước, tín ngưỡng, thờ thành hoàng ở đình. Hiện nay trong hệ thống hành chính mới của Việt Nam, đơn vị cấp cuối cùng là xã. Những làng họp lại thành xã đều được gọi là thôn. Nhà nước Việt Nam ban hành trong phạm vi toàn quốc quy chế thôn, xem đó là điểm tụ cư dưới xã, có tính chất tự quản. Cư dân bầu ra trưởng thôn và một bộ phận giúp việc để điều hành công việc của thôn. == Tham khảo == == Xem thêm == Phân cấp hành chính Việt Nam Phum, Sóc Plây == Liên kết ngoài ==
hsdpa.txt
HSDPA hay truy nhập gói đường xuống tốc độ cao (tiếng Anh: High-Speed Downlink Packet Access) là một bước tiến nhằm nâng cao tốc độ và khả năng của mạng di động tế bào thế hệ thứ 3 UMTS. HSDPA đôi khi còn được biết đến như là một công nghệ thuộc thế hệ 3.5G. Hiện tại, tốc độ dự liệu đường xuống của HSDPA là 1.8, 3.6, 7.2 và 14.4 Mbit/s. HSDPA được thiết kế cho những ứng dụng dịch vụ dữ liệu như: dịch vụ cơ bản như tải tệp, phân phối email; dịch vụ tương tác như trình duyệt web, truy nhập server, truy tìm và phục hồi cơ sở dữ liệu; và dịch vụ Streaming. == Định nghĩa == HSDPA (High Speed Downlink Packet Access), gói đường truyền tốc độ cao, là một sản phẩm của công nghệ 3G cho phép các mạng hoạt động trên hệ thống UMTS có khả năng truyền tải dữ liệu với tốc độ cao hơn hẳn. Công nghệ HSDPA hiện nay cho phép tốc độ download đạt đến 1.8, 3.6, 7.2 và 14.4 Mbit/giây, và trong tương lai gần, tốc độ hiện nay có thể được nâng lên gấp nhiều lần. Khi đó, các mạng cung cấp có thể được nâng cấp thành Evolved HSPA, cho phép tốc độ download đạt đến 42 Mbit/giây. Với những ưu thế vượt trội đó, HSDPA đang trở thành một công nghệ được nhiều nhà cung cấp quan tâm phát triển. == Đặc trưng công nghệ HSDPA == HSDPA là một phương thức truyền tải dữ liệu theo phương thức mới. Đây được coi là sản phẩm của dòng 3.5G. công nghệ này cho phép dữ liệu download về máy điện thoại có tốc độ tương đương với tốc độ đường truyền ADSL, vượt qua những cản trở cố hữu về tốc độ kết nối của một chiếc điện thoại thông thường. Đây là giải pháp mang tính đột phá về mặt công nghệ và được phát triển trên cơ sở của hệ thống 3G W-CDMA. HSDPA có tốc độ truyền tải dữ liệu lên tối đa gấp 5 lần so với khi sử dụng công nghệ W-CDMA. Về mặt lý thuyết, HSDPA có thể đạt tốc độ truyền tải dữ liệu lên tới 8-10 Mbps (Megabit/giây). Mặc dù có thể truyền tải bất cứ dạng dữ liệu nào, song mục tiêu chủ yếu của HSDPA là dữ liệu dạng video và nhạc. HSDPA được phát triển dựa trên công nghệ W-CDMA, sử dụng các phương pháp chuyển đổi và mã hóa dữ liệu khác. Nó tạo ra một kênh truyền dữ liệu bên trong W-CDMA được gọi là HS-DSCH (High Speed Downlink Shared Channel), hay còn gọi là kênh chia sẻ đường xuống tốc độ cao. Kênh truyền tải này hoạt động hoàn toàn khác biệt so với các kênh thông thường và cho phép thực hiện download với tốc độ vượt trội. Và đây là một kênh chuyên dụng cho việc download. Điều đó cũng có nghĩa là dữ liệu sẽ được truyền trực tiếp từ nguồn đến điện thoại. Song quá trình ngược lại, tức là truyền dữ liệu từ điện thoại đến một nguồn tin thì không thể thực hiện được khi sử dụng công nghệ HSDPA. Công nghệ này có thể được chia sẻ giữa tất cả các user có sử dụng sóng radio, sóng cho hiệu quả download nhanh nhất. Ngoài HS-DSCH, còn có 3 kênh truyền tải dữ liệu khác cũng được phát triển, gồm có HS-SCCH (High Speed Shared Control Channel – kênh điều khiển dùng chung tốc độ cao), HS-DPCCH (High Speed Dedicated Physical Control Channel – kênh điều khiển vật lý dành riêng tốc độ cao) và HS-PDSCH (High Speed Physical Downlink Shared Channel – kênh vật lý chia sẻ đường xuống tốc độ cao). Kênh HS-SCCH thông báo cho người sử dụng về thông tin dữ liệu sẽ được gửi vào các cổng HS-DSCH. Trong năm 2007, một số lượng lớn các nhà cung cấp dịch vụ di động trên toàn thế giới đã bắt đầu bán các sản phẩm USB Modem có chức năng kết nối di động băng thông rộng. Ngoài ra, số lượng các trạm thu phát HSDPA trên mặt đất cũng tăng nhanh để đáp ứng nhu cầu thu phát dữ liệu. Được giới thiệu là có "tốc độ lên tới 3.6 Mbit/giây", song đây chỉ là con số có thể đạt được trong điều kiện lý tưởng. Do vậy, tốc độ đường truyền sẽ không nhanh như mong đợi, đặc biệt là trong điều kiện phòng kín. == Sự phát triển và định hướng tương lai của công nghệ HSDPA == Chính thức được đưa vào hoạt động lần đầu tiên vào năm 2005, tính đến cuối năm 2006 đã có 19 nhà cung cấp 66 sản phẩm ứng dụng công nghệ HSDPA, trong đó có 32 sản phẩm điện thoại di động. Với những cải tiến mang tính đột phá, HSDPA là một công nghệ đang được chú trọng phát triển. Trên thực tế, thị trường của HSDPA phát triển mạnh mẽ nhất, đặc biệt là ở giai đoạn khởi đầu, là ở những nước phát triển, nơi có lượng khách hàng khổng lồ sử dụng điện thoại di động chất lượng cao. Lý do là vì những chiếc điện thoại HSDPA sẽ có giá thành cao hơn hẳn những chiếc điện thoại thông thường – được nhắm vào thị trường những nước phát triển thấp hơn. Nhu cầu sử dụng điện thoại HSDPA được mong đợi là sẽ đạt con số 2100 sản phẩm tính đến cuối năm nay. Đến năm 2010, con số này có thể là 100 triệu chiếc, theo phân tích của IDC. Hơn nữa, theo Strategic Analytics, đến năm 2010, 70% điện thoại 3G sẽ sử dụng HSDPA. Tuy nhiên, sẽ mất nhiều thời gian để HSDPA thực sự trở nên phổ biến. Tính đến cuối năm 2005, hầu hết các nước trên thế giới không có mạng 3G. Rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ di động đang cố gắng triển khai mạng 3G và có thể được nâng cấp thành mạng 3.5G theo nhu cầu của thị trường. Xét về lâu dài, tương lai và sự thành công của công nghệ HSDPA vẫn còn khá mù mờ, bởi đây không phải là công nghệ download và truyền tải dữ liệu duy nhất được phát triển tại thời điểm này. Hơn nữa, những công nghệ truyền thống như CDMA2000 1xEV-DO và WiMax đang là những chuẩn công nghệ có nhiều triển vọng hơn. Do là một phiên bản nâng cấp của W-CDMA, HSDPA không có nhiều khả năng thành công tại những nơi mà W-CDMA đã được phát triển. Do đó, thành công cuối cùng của HSDPA như một sản phẩm của công nghệ 3.5G sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự thành công của W-CDMA với tư cách là một sản phẩm của công nghệ 3G. == Tham khảo ==
thần thoại.txt
Thần thoại là sáng tạo của trí tưởng tượng tập thể toàn dân, phản ánh khái quát hóa hiện thực dưới dạng những vị thần được nhân cách hóa hoặc những sinh thể có linh hồn, mà dù đặc biệt, phi thường đến mấy vẫn được đầu óc người nguyên thủy nghĩ và tin là hoàn toàn có thực. == Đặc điểm == Tuy thần thoại tồn tại như những truyện kể về thế gian, nhưng nó không hẳn là một thể loại ngôn từ, mà là những ý niệm và biểu tượng nhất định về thế giới. Bên cạnh đó, cảm quan thần thoại nói chung không chỉ bộc lộ bằng truyện kể mà còn bộc lộ trong những hình thức khác như hành động (nghi lễ, lễ thức, điều răn dạy), các bài ca, vũ điệu v.v. Đặc điểm của thần thoại thể hiện rõ nhất trong văn hóa nguyên thủy, nơi mà vị trí của thần thoại trong tâm thức cộng đồng có thể coi tương đương với "văn hóa tinh thần" hay "khoa học" của thời cận, hiện đại. Trong đời sống của các cộng đồng người nguyên thủy, thần thoại là một hệ thống mà nhờ nó, con người tri giác và mô tả thế giới bằng các biểu tượng (của hệ thống ấy). Do đó, có thể coi thần thoại là ý thức nguyên hợp của xã hội nguyên thủy. Tiến trình lịch sử về sau, dù đã phân chia thần thoại thành các hình thái ý thức xã hội khác như tôn giáo, nghệ thuật, văn học, khoa học, tư tưởng chính trị v.v., thì các hình thái ấy vẫn bảo lưu trong chúng hàng loạt mô hình thần thoại, được cơ cấu, tái chế để đưa vào các cấu trúc mới. == Thần thoại học == Trong khoa học nghiên cứu, thu thập và giải nghĩa thần thoại, thần thoại học, các nhà khoa học đã từng gặp những khó khăn nhất định khi không xác lập được giới hạn của các hệ thần thoại. Thường các giới hạn ấy được người ta gắn với việc trong tác phẩm có nói đến các sinh thể siêu nhiên (thần thánh, anh hùng, ma quỷ v.v.). Theo cách hiểu này, chỉ cần vạch ra trong tác phẩm có những tên tuổi và hình tượng của thần thoại (như thần thánh và các anh hùng trong các tác phẩm văn học cổ Huy Lạp, văn học trung-cận đại châu Âu). Bên cạnh đó, có thể sử dụng tiêu chuẩn về cấu trúc, do hầu hết phạm vi của thần thoại có chất liệu từ đời sống con người nhưng được lựa chọn và gán cho những ngữ nghĩa riêng biệt chỉ có trong văn cảnh thần thoại (như các bộ phận của con người: đầu, mắt, bộ phận sinh dục v..v; các động vật: sư tử, rắn, đại bàng; các loài cây: sồi, đa, cau, gạo; các hình dạng ký hiệu: con số, vòng tròn, chữ thập, vành khuyên v.v.). Trong những nỗ lực tìm về bản chất của thần thoại, học giả Đức E. Cassirer phân tích thần thoại như là "hình thức tượng trưng" và cho rằng ở những giai đoạn phát triển nhất định của nhân loại, thần thoại là hệ thống phổ quát duy nhất mà bằng các thuật ngữ của nó người ta tri giác thế giới. Tiếp nối tinh thần này, những nhà nghiên cứu người Nga tập trung tìm hiểu chỉnh thể thế giới quan của thần thoại. Bên cạnh đó là xu hướng đặt thần thoại vào văn cảnh ứng xử của các nhóm người, khảo sát thần thoại như một hệ thống được mô hình hóa trong đầu óc các cá thể đã hợp thành nhóm. == Thần thoại và văn học == Thần thoại khá gần gũi với văn học khi cả hai đều có tính hình tượng trong nội dung. Tuy vậy, thần thoại mang tính hình tượng một cách vô ý thức, khác biệt với những sáng tác văn học. S. S. Averintzev cho rằng, sự khác nhau giữa thần thoại và văn học có thể kể ra ở vài phương diện: thứ nhất, thần thoại là sản phẩm sáng tạo tập thể ở thời kỳ trong ý thức chưa hình thành sự phản tư (reflexion), trong khi đó văn học đã tách khỏi folklore là sự phản tư của chủ thể tác giả. Thứ hai, các hình tượng của thần thoại được "đồ vật hóa", chưa sử dụng các thủ pháp nghệ thuật như ẩn dụ, phúng dụ hay các hình thức chuyển nghĩa khác của văn học. Thứ ba, văn học hướng tới những tiêu chuẩn thẩm mỹ mang tính tự trị, trong khi đó thần thoại còn chưa biết đến việc tách phạm vi thẩm mỹ ra khỏi cái khối các nguyên tố tự phát chưa phân lập của ý thức. Bởi vậy thần thoại, với tất cả tính nguyên hợp tư tưởng của nó trong tư duy nguyên thủy, chẳng những là thi ca nguyên thủy mà còn là tôn giáo nguyên thủy, triết học nguyên thủy, khoa học nguyên thủy v.v. Có thể nói, văn học gắn bó mật thiết với thần thoại, không chỉ về mặt nguồn gốc (thông qua truyện cổ tích và sử thi dân gian) mà còn về kiểu phản ánh thực tại (tính hình tượng). Chính vì vậy, văn học về sau thường không từ bỏ các cơ sở thần thoại. Văn học cổ đại, Phục hưng, lãng mạn, hiện thực đều sử dụng các hình mẫu, môtip thần thoại, thủ pháp thần thoại hóa, thậm chí cả kiểu sáng tác huyền thoại (chủ nghĩa huyền thoại, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo v.v.). Một loạt motip văn học được xếp vào motip thần thoại và mở rộng đến cả những motip không thần bí, nhưng được xem là gắn với những mẫu gốc (archétype) của tư duy thần thoại. Dù vậy, văn học về nguyên tắc không phải là thần thoại; và các quy luật đặc thù của văn học không phải chỉ là đem phối hợp với các mẫu gốc của thần thoại. == Xem thêm == Cổ tích Truyền thuyết == Chú thích == Armstrong, Karen. "A Short History of Myth". Knopf Canada, 2006. Bascom, William. "The Forms of Folklore: Prose Narratives". 'Sacred Narrative: Readings in the Theory of Myth. Ed. Alan Dundes. Berkeley: University of California Press, 1984. 5-29. Bulfinch, Thomas. Bulfinch's Mythology. Whitefish: Kessinger, 2004. Doty, William. Myth: A Handbook. Westport: Greenwood, 2004. Dundes, Alan. "Binary Opposition in Myth: The Propp/Levi-Strauss Debate in Retrospect". Western Folklore 56 (Winter, 1997): 39-50. Dundes, Alan. Introduction. Sacred Narrative: Readings in the Theory of Myth. Ed. Alan Dundes. Berkeley: University of California Press, 1984. 1-3. Dunes, Alan. "Madness in Method Plus a Plea for Projective Inversion in Myth". Myth and Method. Ed. Laurie Patton and Wendy Doniger. Charlottesville: University of Virginia Press, 1996. Eliade, Mircea. Myth and Reality. Trans. Willard R. Trask. New York: Harper & Row, 1963. Eliade, Mircea. Myths, Dreams and Mysteries. Trans. Philip Mairet. New York: Harper & Row, 1967. "Euhemerism". The Concise Oxford Dictionary of World Religions. Ed. John Bowker. Oxford University Press, 2000. Oxford Reference Online. Oxford University Press. UC - Berkeley Library. ngày 20 tháng 3 năm 2009. Frankfort, Henri, et al. The Intellectual Adventure of Ancient Man: An Essay on Speculative Thought in the Ancient Near East. Chicago:University of Chicago Press, 1977. Frazer, James. The Golden Bough. New York: Macmillan, 1922. Graf, Fritz. Greek Mythology. Trans. Thomas Marier. Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1993. Honko, Lauri. "The Problem of Defining Myth". Sacred Narrative: Readings in the Theory of Myth. Ed. Alan Dundes. Berkeley: University of California Press, 1984. 41-52. Kirk, G.S. Myth: Its Meaning and Functions in Ancient and Other Cultures. Berkeley: Cambridge University Press, 1973. Kirk, G.S. "On Defining Myths". Sacred Narrative: Readings in the Theory of Myth. Ed. Alan Dundes. Berkeley: University of California Press, 1984. 53-61. Leonard, Scott. "The History of Mythology: Part I". Scott A. Leonard's Home Page. August 2007.Youngstown State University, ngày 17 tháng 11 năm 2009 Littleton, Covington. The New Comparative Mythology: An Anthropological Assessment of the Theories of Georges Dumezil. Berkeley: University of California Press, 1973. Meletinsky, Elea. The Poetics of Myth. Trans. Guy Lanoue and Alexandre Sadetsky. New York: Routledge, 2000. "myth." Encyclopædia Britannica. 2009. Encyclopædia Britannica Online, ngày 21 tháng 3 năm 2009 "myths". A Dictionary of English Folklore. Jacqueline Simpson and Steve Roud. Oxford University Press, 2000. Oxford Reference Online. Oxford University Press. UC - Berkeley Library. ngày 20 tháng 3 năm 2009 Oxfordreference.com Northup, Lesley. "Myth-Placed Priorities: Religion and the Study of Myth". Religious Studies Review 32.1(2006): 5-10. O'Flaherty, Wendy. Hindu Myths: A Sourcebook. London: Penguin, 1975. Pettazzoni, Raffaele. "The Truth of Myth". Sacred Narrative: Readings in the Theory of Myth. Ed. Alan Dundes. Berkeley: University of California Press, 1984. 98-109. Segal, Robert. Myth: A Very Short Introduction. Oxford: Oxford UP, 2004. Simpson, Michael. Introduction. Apollodorus. Gods and Heroes of the Greeks. Trans. Michael Simpson. Amherst: University of Massachusetts Press, 1976. 1-9. == Tham khảo == 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân biên soạn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 2003 Stefan Arvidsson, Aryan Idols. Indo-European Mythology as Ideology and Science, University of Chicago Press, 2006. ISBN 0-226-02860-7 Roland Barthes, Mythologies (1957) Kees W. Bolle, The Freedom of Man in Myth. Vanderbilt University Press, 1968. Richard Buxton. The Complete World of Greek Mythology. London: Thames & Hudson, 2004. E. Csapo, Theories of Mythology (2005) Edith Hamilton, Mythology (1998) Graves, Robert. "Introduction." New Larousse Encyclopedia of Mythology. Trans. Richard Aldington and Delano Ames. London: Hamlyn, 1968. v-viii. Joseph Campbell The Hero with a Thousand Faces. Princeton University Press, 1949. Flight of the Wild Gander: Explorations in the Mythological Dimension: Select Essays 1944-1968 New World Library, 3rd ed. (2002), ISBN 978-1-57731-210-9. Mircea Eliade Cosmos and History: The Myth of the Eternal Return. Princeton University Press, 1954. The Sacred and the Profane: The Nature of Religion. Trans. Willard R. Trask. NY: Harper & Row, 1961. Louis Herbert Gray [ed.], The Mythology of All Races, in 12 vols., 1916. Lucien Lévy-Bruhl Mental Functions in Primitive Societies (1910) Primitive Mentality (1922) The Soul of the Primitive (1928) The Supernatural and the Nature of the Primitive Mind (1931) Primitive Mythology (1935) The Mystic Experience and Primitive Symbolism (1938) Charles H. Long, Alpha: The Myths of Creation. George Braziller, 1963. O'Flaherty, Wendy. Hindu Myths: A Sourcebook. London: Penguin, 1975. Barry B. Powell, Classical Myth, 5th edition, Prentice-Hall. Santillana and Von Dechend (1969, 1992 re-issue). Hamlet's Mill: An Essay Investigating the Origins of Human Knowledge And Its Transmission Through Myth, Harvard University Press. ISBN 0-87923-215-3. E. Segura, Th. Honegger (eds.), Myth and Magic: Art according to the Inklings, Walking Tree Publishers (2007), ISBN 978-3-905703-08-5. Walker, Steven F. and Segal, Robert A., Jung and the Jungians on Myth: An Introduction, Theorists of Myth, Routledge (1996), ISBN 978-0-8153-2259-7. Watt, Ian. Myths of Modern Individualism. Cambridge: Cambridge UP, 1997. Zong, In-Sob. Folk Tales from Korea. 3rd ed. Elizabeth: Hollym, 1989. Daniel-Henri Pageaux: Huyền thoại. Đọc: http://phebinhvanhoc.com.vn/?p=9662 Iu.M. Lotman, B.A.Uspenski. Huyền thoại – tên gọi – văn hóa: http://phebinhvanhoc.com.vn/?p=2432
t.txt
T, t là chữ thứ 20 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 24 trong chữ cái tiếng Việt. Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ T hoa có giá trị 84 và chữ t thường có giá trị 116. Trong hệ đo lường quốc tế: t đôi khi được dùng như ký hiệu cho tấn, hay 1000 kilôgam. T là ký hiệu cho tiền tố têra, hay 1012. Trong hóa sinh học, T là biểu tượng cho threonine và thymine. Trong hóa học, T là ký hiệu cho triti, một đồng vị của hiđrô. Trong vật lý hạt, t là ký hiệu cho quark top. T được gọi là Tango trong bảng chữ cái âm học NATO. Trong bảng chữ cái Hy Lạp, T tương đương với Τ và t tương đương với τ. Trong bảng chữ cái Cyrill, T tương đương với Т và t tương đương với т. == Tham khảo ==
ecuador.txt
Ecuador (tiếng Tây Ban Nha: Ecuador), tên chính thức Cộng hoà Ecuador (tiếng Tây Ban Nha: República del Ecuador), IPA: [re'puβlika ðel ekwa'ðoɾ], Tiếng Việt: Cộng hòa Ê-cu-a-đo) là một nhà nước cộng hoà đại diện dân chủ ở Nam Mỹ, có biên giới với Colombia ở phía bắc, Peru ở phía đông và nam, và với Thái Bình Dương ở phía tây. Nước này gồm Quần đảo Galápagos (Archipiélago de Colón) tại Thái Bình Dương, khoảng 965 kilômét (600 dặm) phía tây lãnh thổ chính. Ecuador là từ tiếng Tây Ban Nha chỉ xích đạo. Ecuador trải dài cả hai bên đường xích đạo và có diện tích 256.370 km² (98.985 mi²). Thủ đô nước này là Quito; thành phố lớn nhất là Guayaquil. == Lịch sử == === Cuộc đọ sức châu Âu tới Nhà nước độc lập === Những dân tộc bản xứ đã sống tại Ecuador từ lâu trước khi vùng này bị người Inca chinh phục. Thông qua các cuộc chiến tranh và những cuộc hôn nhân liên tục giữa các quốc gia khác nhau tại vùng thung lũng Interandean, vùng này đã trở thành một phần của Đế chế Inca. Atahualpa, một trong những con trai của hoàng đế Inca Huayna Capac, sinh tại Quito. Tuy nhiên, ông không được nối ngôi Đế chế bởi hoàng đế còn có một người con khác, Huascar, sinh tại Cusco, thủ đô Đế chế Inca. Vì thế, ngay khi Huayna Capac chết, đế chế bị chia làm hai: Atahualpa nhận phía bắc với thủ đô tại Quito, và Huascar ở phía nam với thủ đô tại Cusco. Chưa tới một tuần sau, những kẻ chinh phục Tây Ban Nha, dưới quyền chỉ huy của Francisco Pizarro, đã tới đế chế Inca đang bị chia rẽ bởi nội chiến. Atahualpa muốn đánh bại Huascar và cai trị cả đế chế Inca thống nhất. Tuy nhiên, người Tây Ban Nha với những ước vọng chinh phục đã xây dựng một pháo đài của họ tại Cajamarca, bắt Atahualpa trong Trận Cajamarca và giữ ông để đòi tiền chuộc. Một căn phòng đầy vàng và hai căn phòng đầy bạc là cái giá của ông. Trong khi bị bắt, Atahualpa đã dàn xếp vụ ám hại người anh/em cùng cha khác mẹ là Huascar tại Cusco. Việc này càng tạo điều kiện để những kẻ chinh phục Tây Ban Nha chiếm cả đế chế Inca. Dù bị bao vây bởi số lượng quân đông đảo hơn nhiều, người Tây Ban Nha đã hành quyết Atahualpa. Để phá vây ra khỏi pháo đài, người Tây Ban Nha đã sử dụng tất cả các loại súng họ có và mở cửa qua nhiều tầng người Inca đang hoang mang. Những năm sau đó những kẻ thực dân Tây Ban Nha trở thành tầng lớp cao cấp mới tập trung quyền lực trong tay vị Phó vương Peru và Nueva Granada. Người dân bản xứ chết một phần mười vì bệnh dịch trong thập kỷ cai trị đầu tiên của Tây Ban Nha — khoảng thời gian khi những người bản xứ cũng bị bắt lao động trong hệ thống "encomienda" của những kẻ chủ đất Tây Ban Nha. Năm 1563, Quito trở thành nơi đóng trụ sở của một "audiencia" (quận hành chính) hoàng gia Tây Ban Nha và một phanà của vùng đất Phó vương Peru với thủ đô tại Lima. Sau gần ba trăm năm thuộc địa Tây Ban Nha, Quito hầu như luôn có dân số khoảng mười ngàn người, và chính tại đây, trong Trận Pichincha năm that Ecuador đã gia nhập Cộng hòa Đại Colombia của Simón Bolívar, và chỉ trở thành một nước cộng hòa riêng biệt từ năm 1830. === Từ thời độc lập tới hiện tại === Thế kỷ mười chín được đánh dấu bởi tình trạng bất ổn, với sự thay đổi nhanh chóng của các cá nhân cầm quyền. Nhân vật bảo thủ Gabriel Garcia Moreno đã thống nhất đất nước trong những năm 1860 với sự hỗ trợ của Nhà thờ Cơ đốc giáo La Mã. Cuối thế kỷ mười chín, nhu cầu cocoa của thế giới khiến nền kinh tế trở nên gắn chặt với xuất khẩu hàng hóa và dẫn tới những phong trào di cư từ các cao nguyên xuống những khu vực nông nghiệp ở biên giới ven biển. Một cuộc cách mạng tự do bắt nguồn từ vùng ven biển nổ ra năm 1895 dưới sự chỉ huy của Eloy Alfaro khiến quyền lực của giới tăng lữ và các chủ đất bảo thủ thuộc vùng cao nguyên giảm sút, và phe tự do giữ quyền lực cho tới tận cuộc "Cách mạng Julia" quân sự năm 1925. Những năm 1930 và 1940 được đánh dấu bởi tình trạng bất ổn và các chính trị gia dân tuy, như vị Tổng thống năm lần cầm quyền José María Velasco Ibarra. Quyền kiểm soát lãnh thổ lòng chảo Amazon đã dẫn tới tranh cãi kéo dài giữa Ecuador và Peru. Năm 1941, giữa lúc căng thẳng đang tăng cao giữa hai nước, chiến tranh bùng phát. Peru cho rằng sự hiện diện của quân đội Ecuador tại vùng lãnh thổ do Peru tuyên bố chủ quyền là hành động xâm lược, trong khi Ecuador cho rằng Peru đã xâm lược Ecuador. Tháng 7 năm 1941, quân đội được huy động. Peru có quân đội 11.681 người, đối đầu với đội quân có trang bị cũng như hậu cần kém cỏi của Ecuador với chỉ 5.300 lính, trong số đó chỉ hơn 1.300 người được triển khai tại các tỉnh phía nam đất nước. Tình trạng thù địch bùng phát ngày 5 tháng 7 năm 1941, khi các lực lượng Peru vượt qua sông Zarumilla ở nhiều điểm, thăm dò sức mạnh và địa điểm triển khai của quân biên phòng Ecuador. Cuối cùng ngày 23 tháng 7 năm 1941, quân Peru tung ra một cuộc tấn công lớn, vượt sông Zarumilla và tiến về phía tỉnh El Oro của Ecuador. Trong thời gian chiến tranh Peru chiếm quyền kiểm soát toàn bộ các lãnh thổ tranh chấp và chiếm tỉnh El Oro của Ecuador và một số vùng thuộc tỉnh Loja (khoảng 6% diện tích đất nước), yêu cầu chính phủ Ecuador phải từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ. Hải quân Peru đã phong tỏa cảng Guayaquil, cắt những đường viện trợ cho quân đội Ecuador. Sau vài tuần chiến tranh, và dưới sức ép của Hoa Kỳ cũng như nhiều quốc gia Mỹ Ltainh khác, tất cả các hành động chiến tranh ngừng lại. Ecuador và Peru đã đạt được một thỏa thuận tại Rio Protocol, ký kết ngày 29 tháng 1 năm 1942, để tạo lập một liên minh thống nhất chống lại Phe Trục trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Vì đã giành chiến thắng, Peru được trao số lãnh thổ tranh chấp. Hai cuộc chiến khác, và một thỏa thuận hòa bình đã đạt được năm 1999, và sẽ chính thức chấm dứt tình trạng tranh chấp. Cả hai cuộc chiến đều không được tuyên bố. (Xem Vụ Paquisha và Chiến tranh Cenepa.) Tình trạng giảm phát và náo động của dân chúng đã dẫn tới sự quay trở lại của nền chính trị dân túy và những cuộc can thiệp quân sự trong nước ở thập niên 1960, trong khi các công ty nước ngoài tìm kiếm và khai thác các nguồn tài nguyên dầu mỏ tại vùng Amazon của Ecuador. Năm 1972, việc xây dựng đường ống Andean, đưa dầu từ phía đông tới bờ biển hoàn thành, biến Ecuador trở thành nước xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ hai Nam Mỹ. Cùng năm ấy, một hội đồng "cách mạng và quốc gia" đã lật đổ chính phủ, và nắm quyền đến tận năm 1979, khi những cuộc bầu cử được tổ chức theo hiến pháp mới. Jaime Roldós Aguilera được bầu làm Tổng thống, và ông cầm quyền đến ngày 24 tháng 5 năm 1981, khi thiệt mạng trong một vụ rơi máy bay. Tới năm 1982, chính phủ Osvaldo Hurtado phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế, đặc trưng ở tỷ lệ lạm phát và thâm hụt ngân sách cao, đồng tiền mất giá nợ dịch vụ gia tăng, các ngành công nghiệp kém tính cạnh tranh, dấn tới sự bất ổn kinh niên. Nhiều năm quản lý kém cỏi, bắt đầu từ việc xử lý sai lầm món nợ quốc gia trong thập niên 1970 của chính quyền quân sự, đã đưa đất nước tới tình trạng không thể quản lý. Tới giữa thập niên 1990, chính phủ Ecuador đã trở thành một nhánh hành pháp kém cỏi đấu tranh với nhau để làm hài lòng các tầng lớp cầm quyền, tìm đại diện bên trong nhánh lập pháp và tư pháp. Ba vị tổng thống được bầu dân chủ cuối cùng không thể cầm quyền trọn nhiệm kỳ của mình trong giai đoạn 1996-2006. Sự nổi lên của những người bản xứ (chưa tới 2%) với tư cách nhóm cử tri năng động càng làm sự bất ổn dân chủ tăng thêm trong những năm gần đây. Dân chúng đã chán ngán với sự bất lực của chính phủ trong việc thực hiện những lời hứa về cải cách ruộng đất, hạ tỷ lệ thất nghiệm và tăng cường dịch vụ phúc lợi xã hội, và sự khai thác quá mức của tầng lớp thượng lưu chủ đất. Sự bất náo động dân sự, cùng với những hành động gây bất ổn của cả phe thượng lưu và các phong trào cánh tả, đã dẫn tới sự xói mòn quyền lực của phe lập pháp. Các nhánh chính phủ trao cho tổng thống rất ít quyền hành, như vụ việc xảy ra tháng 4 năm 2005 khi Nghị viện Ecuador lật đổ Tổng thống Lucio Gutiérrez. Phó tổng thống Alfredo Palacio lên thay và cầm quyền tới cuộc bầu cử tổng thống năm 2006, không ứng cử viên nào giành được thắng lợi quyết định và cuộc bầu cử vòng hai ngày 26 tháng 11 đã mang lại thắng lợi cho Rafael Correa trước Alvaro Noboa. Thắng lợi của ông (57% số phiếu hợp lệ) là thắng lợi với số phiếu cao nhất từ khi bắt đầu thời kỳ dân chủ tại quốc gia này năm 1979, sau Jaime Roldós (1979) và Sixto Durán Ballén (1992). == Địa lý == Ecuador có ba vùng địa lý chính, và một vùng hải đảo tại Thái Bình Dương: La Costa, hay khu vực ven biển, gồm các vùng đất thấp phía tây đất nước, gồm cả dải bờ biển Thái Bình Dương. La Sierra ("cao nguyên") là vành đai cao chạy từ phía bắc về phía nam dọc trung tâm đất nước, địa hình đồi núi của nó nổi bật nhất là dãy núi Andes. El Oriente ("phía đông") gồm các vùng rừng mưa nhiệt đới Amazon ở phía đông đất nước, chiếm gần một nửa tổng diện tích quốc gia, dù dân số chỉ chưa tới 5%. Región Insular là vùng gồm Quần đảo Galápagos, khoảng 1.000 kilômét (620 mi) phía tây lục địa trên Thái Bình Dương. Thủ đô Ecuador là Quito, nằm tại tỉnh Pichincha ở vùng Sierra. Thành phố lớn nhất nước là Guayaquil, tại tỉnh Guayas ở ven biển. Cotopaxi, nằm phía nam Quito, ở tỉnh cùng tên, là một trong những núi lửa cao nhất thế giới hiện đang hoạt động. Núi Chimborazo (6.310 mét) được coi là điểm xa nhất từ trung tâm Trái Đất, khi biết dạng hình trứng của vỏ quả đất, là nơi rộng nhất tại xích đạo. == Các tỉnh và các Tổng == Ecuador được chia thành hai mươi bốn tỉnh, mỗi tỉnh có thủ phủ hành chính riêng: Các tỉnh được chia thành 199 tổng và được chia nhỏ tiếp thành các xã (hay parroquias). == Kinh tế == Ecuador có nguồn tài nguyên dầu mỏ đáng kể và sở hữu nhiều vùng đất canh tác màu mỡ. Vì xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm như dầu mỏ, chuối, hòa và tôm, sự biến động giá trên thị trường thế giới có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế trong nước. Công nghiệp chủ yếu theo định hướng dịch vụ và thị trường nội địa, và một số sản phẩm xuất khẩu vào thị trường Chung Andean. Giảm phát kinh tế trong giai đoạn 1997-98 đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính nghiêm trọng năm 1999. Cuộc khủng hoảng cộng với một số cú sốc toàn cầu, như hiện tượng El Niño năm 1997, giá dầu giảm mạnh năm 1997-98, và sự bất ổn định ngày càng tăng của thị trường quốc tế năm 1997-98. Những yếu tố đó càng cho thấy sự yếu kém trong hoạch định chính sách kinh tế của chính phủ Ecuador cộng với tình trạng thâm hụt thuế nặng và chi tiêu cao khiến GDP giảm sút 7.3%, lạm phát hàng năm lên tới 52.2% và đồng tiền tệ quốc gia mất giá 65% năm 1999, khiến các khoản cho vay nước ngoài sụt giảm vào năm sau đó. Ngày 9 tháng 1 năm 2000, chính quyền của Tổng thống Jamil Mahuad thông báo dự định đưa đồng dollar Mỹ làm đồng tiền tệ chính thức của Ecuador để giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế đang diễn ra. Đồng dollar đã trở thành đồng tiền tệ chính thức từ ngày 10 tháng 9 năm 2000, khi đồng nội tệ được xác định tỷ lệ cố định với nó, như trường hợp Argentina từng làm, trên lý thuyết có nghĩa những lợi ích từ việc đúc tiền sẽ thuộc về nền kinh tế Mỹ. Những cuộc phản kháng sau đó liên quan tới những cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính khiến Mahuad phải rời bỏ chức vụ và sự thăng tiến của Phó tổng thống Gustavo Noboa. Tuy nhiên, chính phủ Noboa đã xác nhận cam kết của họ về việc lấy hành động dollar hóa làm chính sách chủ chốt để khôi phục kinh tế. Chính phủ cũng tiến hành thương lượng với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), hoàn thành thỏa thuận hoãn nợ hai mươi tháng với quỹ này. Các chính sách khác gồm nỗ lực giảm thâm hụt thuế của chính phủ, tiến hành cải cách cơ cấu để tăng cường sức mạnh cho hệ thống ngân hàng và lấy lại khả năng tiếp cận các thị trường vốn tư nhân. Nhờ giá dầu mỏ tăng cao, kinh tế Ecuador đã bắt đầu phục hồi trong năm 2000, với mức tăng trưởng GDP 1.9%. Tuy nhiên, ước tính 70% dân số vẫn sống dưới mức nghèo khổ trong năm 2000, gần gấp hai năm 1995. Tính đến năm 2016, GDP của Ecuador đạt 99.118 USD, đứng thứ 62 thế giới và đứng thứ 9 khu vực Mỹ Latin. == Nhân khẩu == Dân số Ecuador khá khác biệt về sắc tộc. Nhóm dân tộc lớn nhất gồm người Mestizo, những hậu duệ lai của những người thực dân Tây Ban Nha và người châu Mỹ bản xứ, chiếm 65% dân số. Người bản xứ châu Mỹ đứng thứ hai về số lượng với 25% dân số hiện tại. Người da trắng, chủ yếu là người criollos, những hậu duệ thuần chủng của những người thực dân Tây Ban Nha thời kỳ đầu, cũng như những người nhập cư từ các nước châu Âu và Mỹ Latinh khác, chiếm khoảng 7%. Thiểu số người Phi-Ecuador, gồm người Mulatto và người zambo, chủ yếu sống tại các tỉnh Esmeraldas và Imbabura, chiếm 3%. Có một cộng đồng người Ecuador sống ở nước ngoài khá lớn tại Tây Ban Nha và Italia, cũng như trên khắp Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada và Nhật Bản. Ước tính 700.000 người đã rời khỏi Ecuador sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1999, và tổng cộng số người Ecuador sống ở nước ngoài khoảng 2.5 triệu. Vùng rừng nhiệt đới ở phía đông dải núi non là nơi còn thưa thớt dân cư và chỉ chiếm khoảng 3% dân số. Hệ thống giáo dục công cộng miễn phí và bắt buộc, và độ tuổi bắt buộc tới trường từ năm tới mười bốn. Tuy nhiên, Bộ giáo dục đã báo cáo rằng chỉ 76% trẻ em hoàn thành sáu năm học. Tại các vùng nông thôn, chỉ 10% trẻ em học lên các cấp cao hơn. Những thống kê của bộ này cho thấy con số năm học trung bình là 6.7. Ecuador có sáu mốt trường Đại học, nhiều trường trong số đó hiện cấp bằng học tiếp lên trên (graduate degree), dù chỉ 87% số khoa tại các trường đại học nhà nước có cấp bằng này. 300 Viện Cao học hiện cung cấp các khóa học nghề sau cấp ba hay huấn luyện kỹ thuật kéo dài ba năm. == Tôn giáo == Xấp xỉ 68% người dân Ecuador là tín đồ Công giáo Rôma. [1] Đa số dân chúng thường thực hiện các hoạt động tôn giáo và thường xuyên tham gia thánh lễ. Tại những vùng nông thôn Ecuador, các đức tin bản xứ và Công giáo thỉnh thoảng hợp nhất lẫn nhau. Số lượng người tự cho mình là tín đồ Thanh giáo ngày càng tăng. Đa số các lễ hội và những cuộc diễu hành hàng năm dựa trên những ngày lễ tôn giáo. Trong những năm gần đây, Giáng sinh ngày càng trở nên Châu Mỹ hoá, số lượng nhà trang trí các đồ Nôel và đèn màu gia tăng. Có một cộng đồng Hồi giáo nhỏ với số lượng vài ngàn người. Cộng đồng Do Thái chỉ có hơn một ngàn người và chủ yếu có nguồn gốc Đức và Italia. Cũng có một số người Sephardic Jews (Judeo-Spanish Jews). == Văn hoá == Văn hoá chủ đạo của Ecuador được xác định bởi cộng đồng mestizo đa số và, như tổ tiên của họ, là một sự hòa trộn giữa các ảnh hưởng Châu Âu và Amerindian kết hợp với các yếu tố Châu Phi thừa hưởng từ những người nô lệ da đen. Các cộng đồng bản xứ Ecuador đã hòa nhập vào trong văn hóa chủ đạo ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng một số cộng đồng vẫn đang sống theo những tư tưởng văn hóa bản địa của họ, đặc biệt tại các cộng đồng hẻo lánh thuộc lòng chảo Amazon. === Thể thao === Môn thể thao được nhiều người ưa chuộng nhất tại Ecuador, cũng như tại hầu hết quốc gia Nam Mỹ khác, là fútbol (bóng đá.) Những đội bóng chuyên nghiệp nổi tiếng nhất gồm Barcelona S.C. và C.S. Emelec, thuộc Guayaquil, Liga Deportiva Universitaria de Quito, Deportivo Quito và El Nacional (đội bóng của các lực lượng vũ trang Ecuador) thuộc Quito, Olmedo thuộc Riobamba, và Deportivo Cuenca, thuộc Cuenca. Các trận đấu của Ecuador là những sự kiện thể thao được nhiều người theo dõi nhất nước. Ecuador đã vào tới vòng chung kết của cả World Cup 2002, 2006 và 2014. Ecuador đã vượt qua Ba Lan và Costa Rica đứng thứ hai sau Đức tại Bảng A và lần đầu tiên trong lịch sử được vào vòng 2 và bị loại với tỷ số 0-1 trước Anh Quốc. Futsal là môn thể thao được nhiều người tham gia. Trong những tầng lớp trung và thượng lưu thuộc xã hội Ecuador tennis rất được ưa chuộng, và nhiều tay vợt chuyên nghiệp Ecuador đã có tên tuổi trên đấu trường quốc tế như Francisco Segura, Andrés Gómez và Nicolas Lapentti. Bóng rổ cũng được nhiều người ưa thích, tuy người Ecuador thích kiểu biến thể Ecuavolley, với 3 người chơi của bóng rổ. Đấu bò chỉ được tổ chức cho những người chuyên nghiệp tại Quito, trong những hoạt động lễ hội hàng năm kỷ niệm việc thành lập thành phố của người Tây Ban Nha, dù những biến thể không đổ máu của môn thể thao này, được gọi là rodeos montubios vẫn thường được tổ chức trong nhiều dịp lễ hội tại các vùng quê. Các môn thể thao Olympic cũng được ưa chuộng đặc biệt từ khi Ecuador giành được huy chương vàng Olympic đầu tiên tại Olympic Games Atlanta năm 1996, nhờ công Jefferson Pérez, môn đi bộ 20. Các môn thể thao phi truyền thống khác như xe đạp địa hình (mountainbiking), đua xe máy, lướt ván và paintball cũng đang phát triển. === Thực phẩm === Thực phẩm tại Ecuador rất đa dạng, khác biệt theo độ cao cũng như theo các điều kiện canh tác. Lợn, gà, chuột là các loại thịt phổ biến tại các vùng núi và được dùng với nhiều loại ngũ cốc, khoai hay gạo khác nhau. Món ăn trên đường phố tại các vùng núi Ecuador là khoai dùng với thịt lợn quay (hornado). Fanesca cũng là một món nổi tiếng tại Ecuador, đó là một món súp được nấu trong dịp Lent và chế biến với 12 kiểu đậu (ví dụ đậu xanh, đậu lima, đậu lupini, đậu fava, vân vân) và sữa thường được ăn chung với cá tuyết. Có rất nhiều hoa quả tươi ở đây, đặc biệt tại các vùng thấp. Hải sản phổ biến tại vùng bờ biển, đặc biệt là tôm pandan (prawn). Tôm và cua cũng là những đồ ăn chính tại vùng bờ biển. Chuối lá và đậu phộng và thực phẩm là những đồ ăn chính trong những bữa ăn vùng bờ biển, nói chung được phục vụ theo hai lượt: một "caldo", hay súp, có thể là "aguado" (một loại súp loãng, thường với thịt), hay "caldo de leche", một loại súp kem rau. Món thứ hai thường là gạo, một ít thịt hay cá trong một "menestra" (bát), và salad cùng rau. Patacones cũng là món thường thấy tại các bữa ăn vùng ven biển. Một số món ăn tiêu biểu tại vùng biển là: ceviche, pan de almidón, corviche, guatita, encebollado và empanadas; tại vùng núi: hornado, fritada, humitas, tamales, llapingachos, lomo saltado, churrasco, vân vân. Trong rừng nhiệt đới một sản phẩm lương thực chủ yếu là yuca, một loại rễ cây (cũng được gọi là cassava). Rễ có nhiều tinh bột được bóc vỏ, nấu chín, rán, hay dùng chế tạo nhiều món khác nhau. Vùng này có rất nhiều loại hoa quả. === Nghệ thuật === Có nhiều nhà văn Ecuador đương đại, gồm tiểu thuyết gia Jorge Enrique Adoum, nhà thơ Jorge Carrera Andrade, người viết tiểu luận Benjamín Carrión, nhà thơ Fanny Carrión de Fierro, tiểu thuyết gia Enrique Gil Gilbert, tiểu thuyết gia Jorge Icaza (tác giả cuốn "Huasipungo", đã được dịch ra nhiều thứ tiếng), tác giả truyện ngắn Pablo Palacio và Jorge Queirolo Bravo, tiểu thuyết gia Alicia Yanez Cossio. Một số họa sĩ thuộc phong trào bản xứ cũng xuất thân từ Ecuador, gồm Oswaldo Guayasamín và Eduardo Kingman. (đọc thêm Họa sĩ Ecuador) === Điện ảnh === Ngoài phim, có nhiều cuốn sách và tiểu thuyết dựa trên bối cảnh Ecuador, gồm tiểu thuyết viễn tưởng của Rod Glenn, The King of America, và tiểu thuyết viễn tưởng "Galápagos", của Kurt Vonnegut. == Vận tải == Ecuador có một mạng lưới đường cao tốc quốc gia do Ministerio de Obras Públicas y Comunicaciones (Bộ công trình công cộng và viễn thông) điều hành [2]. Xa lộ xuyên Mỹ nối các vùng phía bắc và phía nam đất nước và nối nước này với Colombia ở phía bắc, Peru ở phía nam. Chất lượng đường sá, kể cả đường chính, rất khác biệt. Có một mạng lưới xe buýt liên thành phố dày đặc trên những xa lộ đó. == Xem thêm == == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Presidencia de la República (official government site) Ecuador tại DMOZ Bản mẫu:SACN Bản mẫu:Andean Community Bản mẫu:Mercosur Bản mẫu:OAS
diêm.txt
Diêm là một dụng cụ tạo lửa phổ biến từ thời kỳ cận đại tới nay. == Đặc điểm == Diêm ban đầu là loại diêm ma sát, vốn có thể tự cháy khi quẹt vào bất cứ bề mặt thô nhám nào. Diêm loại này do nhà hóa học John Walker sáng chế năm 1827 với đầu que sử dụng hỗn hợp lưu huỳnh, phốt pho trắng, oxit chì, oxit mangan. Ma sát sinh ra nhiệt và ở 40 độ thì diêm bắt lửa. Tuy nhiên chính vì thế diêm trở nên kém an toàn, chỉ va chạm nhẹ cũng có thể gây hỏa hoạn. Thêm vào đó, phốt pho trắng sử dụng ở đầu diêm rất độc. Diêm an toàn được thiết kế lại bằng việc sử dụng phốt pho đỏ vốn không tự cháy khi ma sát thông thường, nhưng nếu trộn với potassium chlorate (clorat kali) thì lại dễ cháy. Trong sản phẩm diêm an toàn hiện nay, potassium chlorate được tách riêng khỏi phốt pho đỏ để ngăn cháy ngoài ý muốn. Que diêm được thiết kế dưới dạng que nhỏ làm bằng gỗ, đầu tẩm lưu huỳnh và bọc potassium chlorate. Vỏ bao diêm (hoặc tờ bìa đi kèm kẹp diêm) thì bôi phốt pho đỏ. Người sử dụng quẹt đầu clorat kali vào phần phốt pho đỏ để ma sát tạo ra sự cháy. == Ưu và nhược điểm == Diêm được sản xuất nhanh, đại trà và giá thành rất rẻ nên phổ biến toàn cầu. Tuy nhiên diêm thường không giữ được lâu, dễ phát sinh hỏa hoạn và dễ hư hỏng vì ẩm. Hiện nay, các phương pháp khác để tạo ra lửa tiện lợi, sạch sẽ và đơn giản hơn (như sử dụng bật lửa, điện) trở nên phổ biến khiến trong nhiều trường hợp diêm đã không còn là lựa chọn của người sử dụng. == Thư viện == == Xem thêm == Bật lửa == Tham khảo ==
s.s.c. napoli.txt
Società Sportiva Calcio Napoli, được biết đơn giản với cái tên Napoli, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Ý có trụ sở ở Naples và thành lập vào năm 1926. Đội bóng dành phần lớn khoảng thời gian trong lịch sử chơi ở Serie A. Napoli đã vô địch Serie A 2 lần, vào năm 1986-87 và 1898-90. Họ cũng vô địch Coppa Italia 5 lần, và ở đấu trường châu lục họ vô địch cúp UEFA vào năm 1988-89. Napoli cũng là câu lạc bộ thành công nhất ở miền Nam nước Ý và đội bóng có số fan nhiều thứ 4 ở Ý. Đội bóng đã nhiều lần thay đổi tên từ khi họ lần đầu xuất hiện vào năm 1926; lần quan trọng nhất là vào năm 1964, khi họ đổi từ Associazione Calcio Napoli thành Società Sportiva Calcio Napoli. Lần thay đổi gần đây nhất vào năm 2004, khi đội bóng bị phá sản nhưng được thành lập lại bởi nhà sản xuất phim Aurelio De Laurentiis với cái tên Câu lạc bộ bóng đá Napoli; Ông đổi lại cái tên thành Società Sportiva Calcio Napoli vào đầu năm 2006. == Danh hiệu == === Giải nội địa === Serie A (Giải bóng đá quốc gia italia) Vô địch : 1987; 1990 Về nhì : 1968; 1975; 1988; 1989, 2013 Serie B (Giải bóng đá Hạng 2 quốc gia italia) Vô địch : 1950 Về nhì : 1962; 1965; 2000; 2007 Serie C1 Vô địch phía Bắc : 2006 Coppa Italia (Cúp Italia) Vô địch : 1962; 1976; 1987; 2012; 2014 Về nhì : 1972; 1978; 1989; 1997 Supercoppa Italiana (Siêu cúp Italia) Vô địch : 1990, 2014 Về nhì : 2012 === Đấu trường châu Âu === UEFA Cup/Cúp C3 Vô địch : 1989 Cúp C2 Bán kết : 1977 Tứ kết : 1963 Coppa delle Alpi Vô địch : 1966 Anglo-Italian League Cup Vô địch : 1976 == Đội hình hiện tại == Số liệu thống kê chính xác tới 9 tháng 9 năm 2015 Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Ra đi theo dạng cho mượn === Số liệu thống kê chính xác tới 8 tháng 9 năm 2015 Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Số áo bất tử === 10: Diego Maradona == Chủ tịch == == Huấn luyện viên ==
đảo man.txt
Đảo Man (tiếng Anh: Isle of Man, /ˈmæn/; tiếng Manx: Ellan Vannin [ˈɛlʲən ˈvanɪn]), cũng được gọi ngắn là Mann, là một vùng đất tự trị, lãnh thổ phụ thuộc của Hoàng gia Anh, nằm ở biển Ireland giữa đảo Anh và đảo Ireland. Nữ hoàng Elizabeth II là nguyên thủ, đồng thời là người cai giản Mann (tiếng Anh: "Lord of Mann" - chúa tể Mann). Quan hệ quốc tế và bảo vệ đảo Man do Chính phủ Anh lo liệu. Hòn đảo này đã có người định cư từ trước năm 6500 trước công nguyên. Ảnh hưởng của văn hóa Gael bắt đầu vào thế kỷ thứ 5 và tiếng Manx, một ngôn ngữ thuộc nhánh Goidel, xuất hiện. Năm 627, Edwin của Northumbria chinh phục đảo Man cùng với phần lớn Mercia. Thế kỷ thứ 9, người Norse lập ra Vương quốc Tiểu quần đảo. Magnus III, Vua của Na Uy, cũng là Vua Mann và các Tiểu Quần đảo (King of Mann and the Isles) từ năm 1099 tới 1103. Năm 1266, đảo Man trở thành một phần của Scotland nhờ Hiệp ước Perth, trước đó nó là một phần của Na Uy. Sau một thời kỳ được xen kẻ cai trị bởi những vị vua Scotland và Anh, hòn đảo được quản lý bởi Vương vị Anh năm 1399. Quyền quản lý được trao cho Vương vị Đảo Anh năm 1765, nhưng đảo Man chưa bao giờ là một phần Vương quốc Đảo Anh hay Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland, và hiện giữ tình trạng là lãnh thổ tự trị Thuộc địa Vương thất. == Địa lý == Đảo Man tọa lạc tại phía bắc của biển Ireland, gần như cách đều Anh, Bắc Ireland, Scotland (gần nhất), và Wales (xa nhất). Chiều dài đảo là 52 kilômét (32 mi) và rộng 22 kilômét (14 mi) tại điểm rộng nhất. Diện tích chừng 572 kilômét vuông (221 sq mi). Trừ một đảo chính, về mặt chính trị đảo Man còn gồm những đảo nhỏ xung quanh: Calf of Man, Chicken Rock, đảo St Patrick và đảo St Michael. Hai đảo sau có đường để nối liền với đảo chính. Một trung lũng trung tâm đảo xen giữa những dãy đồi phía bắc và nam. Có một bải biển đá cuội trầm tích tại điểm cực bắc của đảo (Point of Ayre). Đảo Man có một ngọt núi cao hơn 600 mét (2.000 ft) là Snaefell với chiều cao 620 mét (2.034 ft). Người lớn tuổi nói rằng đứng ở đỉnh núi có thể sáu vương quốc: Mann, Scotland, Anh, Ireland, Wales, và Thiên Đường. Một số người còn thêm một vương quốc thứ bảy, đó là vương quốc của Biển, hay Neptune. === Dân số === Theo thống kê 2011, đảo Man có 84.497 người định cư, trong đó 27.938 sống tại thủ phủ Douglas và 9.273 tại ngôi làng Onchan kế cận. Dân số tăng 5,5% từ năm 2006 tới 2011. Về nơi sinh, những người sinh tại đảo chiếm số lượng đông nhất (48,1%), số sinh ở Vương quốc Liên hiệp đông thứ hai với 42,2% (35.9% từ Anh, 3,2% từ Scotland, 2% từ Bắc Ireland và 1,1% từ Wales), 1,9% từ Cộng hòa Ireland và 0.2% từ Quần đảo Eo Biển. 7,5% còn lại còn lại sinh ra ở những nơi khác, trong đó 2,4% từ các nước EU (ngoài Vương quốc Liên hiệp và Ireland). 1.823 người tự nhận rằng có hiểu biết về tiếng Manx. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == isleofman.com Trang web về Đảo Man. Isle of Man Guide Hướng dẫn chi tiết về Đảo Man Manx Government Một trang web chi tiết nhiều mặt về Manx, từ ngư nghiệp đến tài chính. Thông tin về Cảng Douglas CIA World Factbook Các con số về Đảo Man Manx Scenes.com Thư viện ảnh. Isle of Man Tour Ảnh 360 độ về Đảo Man. Manxviews Hơn 1300 hình ảnh về Manx.
nam kinh.txt
Nam Kinh (tiếng Hoa: 南京; pinyin: Nánjīng; Wade-Giles: Nan-ching; nghĩa là "Kinh đô phía Nam") là thủ phủ tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Nam Kinh là một thành phố lớn trong lịch sử và văn hóa Trung Hoa. Nam Kinh đã từng là thủ đô Trung Hoa trong nhiều triều đại, được xem như một trong bốn cố đô lớn của Trung Hoa. Nam Kinh là một trong 15 thành phố cấp phố tỉnh của Trung Quốc, loại thành phố này được hưởng nhiều quyền tự chủ về kinh kế và hoạch định chính sách gần như là cấp tỉnh. Đây đã từng là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc. Diện tích: 6598 km², dân số: 6,4 triệu người. Năm 2004 GDP của Nam Kinh là 191 tỷ Nhân dân tệ (NDT) (thứ ba ở tỉnh Giang Tô), GDP đầu người là 33.050 NDT, tăng 15% so với năm 2003. Thu nhập bình quân đầu người dân nội đô là 11.601 NDT, ngoại ô: 5.333 NDT. Tỷ lệ thất nghiệp nội đô: 4,03%, thấp hơn mức chung của cả Trung Quốc là 4,2%. Thành phố này nằm tại hạ lưu sông Dương Tử (Trường Giang) và nằm trong Khu kinh tế Đồng bằng Sông Dương Tử. Nam Kinh luôn là một trong những thành phố quan trọng của Trung Quốc, đã từng là kinh đô của 6 triều đại phong kiến Trung Hoa và là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc, đây còn là trung tâm giáo dục, nghiên cứu, giao thông vận tải và du lịch trong suốt lịch sử Trung Hoa thời cận đại. Nam Kinh là thành phố trung tâm thương mại lớn thứ hai ở Đông Trung Quốc sau Thượng Hải. Thời Tam Quốc, Khổng Minh Gia Cát Lượng đã viết về Nam Kinh như sau: "Chung Sơn long bàn, thạch đầu hổ cứ, chân nại đế vương chi trạch dã" (Hán văn: 钟山龙蟠,石头虎踞,真乃帝王之宅也) nghĩa là "Núi Chung thế rồng cuộn, đá hình hổ phục, thật là chốn đế vương vậy". Trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Trung Quốc, thành phố Nam Kinh được nhiều người nhắc đến do có vụ Thảm sát Nam Kinh trong đó mấy trăm ngàn người dân Trung Quốc bị quân Nhật tàn sát. == Lịch sử == Khi Tần Thủy Hoàng mới thống nhất thiên hạ, đóng đô tại kinh thành Hàm Dương, một thầy phong thủy đã từng bày tỏ lo ngại về dương khí của một vùng đất nhỏ ở phía nam của Đế quốc Đại Tần. Vùng đất này chính là Nam Kinh ngày nay. Lo sợ dương khí trên sẽ hun đúc một vị hoàng đế khác để soán ngôi mình, Tần Thủy Hoàng đã theo lời tên thầy phong thủy nọ mà phá núi, chôn vàng và cúng tế hàng tháng trời để dập tắt luồng dương khí nọ. Chính vì chuyện chôn vàng phá núi này mà người ta đặt tên cho thành ở đây cái tên dân gian là "Kim Lăng" - Jinling hay mộ vàng. Kim Lăng còn có cái tên động trời khác là "Mạt Lăng" vì những hành động của Tần Thủy Hoàng đã tàn phá phong thủy vùng đất này một cách nghiêm trọng. Oái oăm thay, chính con trai Tần Thủy Hoàng là Doanh Phù Tô lại là vị vương tử đóng giữ thành. Chính vì hành động ngông cuồng của Tần Thủy Hoàng mà con trai ông đã phải chịu cái chết oan ức. "Mạt Lăng Hầu" Phù Tô đã chết vì bị Triệu Cao, viên thái giám tín cẩn của Tần Thủy Hoàng và em trai ông hại chết. Kim Lăng đã là một trong những chiến trường đẫm máu nhất trong chiến tranh Hán Sở, khi mà hai quân đều cố giành cho bằng được vị trí chiến lược quan trọng này. Dưới thời Tây Tấn, Kim Lăng có cái tên chính thức là "Kiến Khang" - "Jiankang". Khi Tây Tấn sụp đổ vì loạn Ngũ Hồ, Lang Nha vương đã trung hưng cơ nghiệp tại đất Kiến Khang, định đô tại đây. Trong suốt thời kỳ Đông Tấn đối địch Ngũ Hồ và Nam Bắc triều, Kiến Khang hay Kim Lăng liên tục là kinh sư của các triều đình phía nam. Cho đến khi Đại Tùy cất quân đánh Trần, Kiến Khang vẫn còn là kinh đô. Xuyên suốt từ thời Tùy mạt Đường sơ cho đến khi Đại Đường cực thịnh, Kim Lăng đã dần dà trở thành trung tâm kinh tế của Giang Nam. Do sông Dương Tử nối liền ra biển, các thương nhân nước ngoài có thể dễ dàng tiếp cận nền kinh tế màu mỡ của nơi này. Dẫu cho cả nước có bị biến động như thế nào đi chăng nữa thì nền kinh tế của Kim Lăng vẫn ít khi bị ảnh hưởng - thậm chí là không bao giờ. Khi Đường mạt, Ngũ Đại Thập Quốc tranh giành thiên hạ, một người Sa Đà họ Lý đã nhân cơ hội gầy dựng thế lực chiếm đóng Kim Lăng, dựng nên Nam Đường, một trong những "thập quốc" có thực lực lớn mạnh nhất. Kim Lăng đã là kinh sư của Nam Đường suốt thời Ngũ Đại Thập quốc cho đến khi Bắc Tống thu phục Nam Đường. Tào Bân lúc bấy giờ khi vào thành đã ra lệnh cấm chém giết hay cướp của bừa bãi trong thành, tích cực thu phục lòng dân ở khu vực này. Kim Lăng lấy lại tên cũ "Kiến Khang" và tiếp tục là trung tâm kinh tế của Đại Tống trong vòng 300 năm nữa. Khi loạn Tĩnh Khang khiến Bắc Tống diệt vong, Khang Vương Triệu Cấu đã chạy xuống Quy Đức đăng cơ rồi nhanh chóng tiến xuống Kiến Khang định đô. Khi quân Kim tiến xuống phía nam, tướng Đỗ Sung, một thuộc hạ của cố nguyên soái Tông Trạch đã dâng thành cho Hoàn Nhan Tông Bật làm quà xin hàng. Mất Kiến Khang đã khiến cho bộ tướng của Nhạc Phi bị chao đảo và khốn đốn, quân Tống cũng mất đi thành trì vững vàng nhất Giang Nam. Tuy nhiên, vào năm Kiến Viêm thứ 4 thời Tống Cao Tông, Nhạc gia quân cùng Hàn gia quân hai ngã thủy lục tiến đánh giành lại hết đất Giang Nam từ tay quân Kim. Nhưng do lo sợ khí thế của quân Kim mà kể từ đây, nhà Tống không dám định đô ở Kim Lăng mà lại đóng ở Lâm An. Khi quân Nguyên đánh Nam Tống, thành Tương Dương thất thủ thì Kiến Khang cũng theo tay quân Nguyên và mang tên mới là Tập Khánh. Nhà Nguyên cai trị không màng quan tâm tới phía Nam nên kinh tế dần kiệt quệ. Kim Lăng đã gần như hoang tàn mất đi phong độ đặc khu kinh tế của Giang Nam ngày nào. Cuối đời Nhà Nguyên, Kim Lăng trở thành căn cứ địa mới của Chu Nguyên Chương, thế lực quân phiệt lớn mạnh nhất thời kì đó, sau khi triều Minh được thành lập thì Kim Lăng được đổi tên mới là Nam Kinh và trở thành kinh đô của nhà Minh trong suốt thời gian trị vì của Thái Tổ Hồng Vũ đế Chu Nguyên Chương cũng như là cháu trai ông ta là Huệ đế Chu Doãn Văn. Sau sự kiện Tĩnh Nan chi biến thì Vĩnh Lạc đế quyết định dời đô về Bắc Bình (tức Bắc Kinh) nhưng Nam Kinh vẫn giữ được vị thế thủ phủ kinh tế, chính trị quan trọng của vùng Giang Nam trong suốt thời Nhà Minh. Vào thời Thanh, Nam Kinh trở thành căn cứ của cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên quốc do Hồng Tú Toàn lãnh đạo và mang tên gọi là Thiên Kinh. Đến thời Dân Quốc, Nam Kinh trở thành nơi đặt bộ máy chính quyền trung ương của nước Trung Hoa Dân Quốc suốt từ năm 1927 đến khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do chủ tịch Mao Trạch Đông lãnh đạo ra đời vào năm 1949. == Hành chính == Thành phố Nam Kinh được phân chia thành 11 khu (区 qu): == Khí hậu == == Thành phố kết nghĩa == Nam Kinh có 15 thành phố kết nghĩa: Alsace, Pháp Barranquilla, Colombia Bloemfontein, Nam Phi Eindhoven, Hà Lan Firenze, Ý Hauts-de-Seine, Pháp Houston, Hoa Kỳ Leipzig, Đức Limassol, Síp London, Ontario, Canada Mexicali, México Nagoya, Nhật Perth, Úc St. Louis, Hoa Kỳ Daejeon, Hàn Quốc == Tham khảo ==
tiếng sinhala.txt
Tiếng Sinhala (සිංහල, ISO 15919: siṁhala, phát âm: [ˈsiŋɦələ], cũng được gọi thay thế trong tiếng Anh là "Singhalese"), có khi được gọi là tiếng Helabasa là một ngôn ngữ thuộc nhánh Ấn-Aryan của Ngữ hệ Ấn-Âu. Đây là ngôn ngữ mẹ đẻ của người Sinhala, nhóm dân tộc đông nhất tại Sri Lanka với 15 triệu người sử dụng, tiếng Sinhala cũng là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc khác tại đất nước này với khoảng 3 triệu người. Tiếng Sinhala là một ngôn ngữ quốc gia và chính thức của Sri Lanka cùng với tiếng Tamil. Cho đến năm 1957, tiếng Anh vẫn giữ vai trò là ngôn ngữ chính thức và hiện vẫn là ngôn ngữ chính trong thương mại và giáo dục cấp cao. == Lịch sử == Tiếng Sinhala được cho là xuất hiện tại Sri Lanka cùng với những người định cư đến từ đông bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ 5 TCN. Các nhóm người định cư có quan hệ với hoàng tử Vijaya và những người tùy tùng của ông trong biên niên sử Mahavamsa. Những người định cư mới này kết hợp với các bộ tộc bản địa và tạo thành một dân tộc mới gọi là "Sinhala". Sau nhiều thế kỷ, có nhiều người di cư từ Bengal ở Đông Ấn Độ (Kalinga, Magadha]] đã dẫn đầu việc hòa trộn các dặc trưng của các ngôn ngữ Đông Prakit ("Prakit" là những ngôn ngữ không liên quan đến tiếng Phạn tại Ấn Độ). == Chữ viết == Hệ thống chữ viết của tiếng Sinhala gọi là chữ Sinhala Hodiya, kiểu chữ này được dựa trên cơ sở chữ Bà La Môn cổ giống như tất cả các chữ viết khác còn tồn tại của nhóm ngôn ngữ Ấn-Aryan. Hệ thống chữ viết hoàn chỉnh là Elu Hodiya gồm 54 ký tự, trong đó có 18 để chỉ nguyên âm và 36 để chỉ phụ âm. Tuy nhiên kiểu chữ Suddha Sinhala chỉ cần 36 chữ trong số đó. Tiếng Sinhala viết từ trái sang phải. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Cẩm nang ngôn ngữ và văn hóa Sinhala Tiếng Sinhala trên Ethnologue Từ điển tiếng Sinhala (Madhura) Từ điển tiếng Sinhala trực tuyến
kinh tế chile.txt
Chile có một nền kinh tế thị trường, mức độ trao đổi buôn bán với nước ngoài cao. Tăng trưởng GDP trung bình 8% một năm trong giai đoạn 1991-1997, nhưng giảm xuống mức một nửa vào năm 1998 do các chính sách thắt chặt tiền tệ thực hiện để giữ thâm hụt trong kiểm soát và do thu nhập từ xuất khẩu thấp hơn - từ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Gần đây nền kinh tế Chile đã phục hồi và tăng trưởng rõ rệt, khoảng 5-7% trong vài năm qua. Các Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009-2010 xếp Chile là nước có năng lực cạnh tranh đứng thứ 30 trên thế giới và là nước đứng đầu ở Mỹ Latinh, xếp trên từ Brasil (đứng thứ 56), Mexico (đứng thứ 60) và Argentina (xếp thứ 85). Các nước OECD đã đồng ý thảo luận việc Chile, một trong 4 quốc gia, trở thành thành viên chính thức của tổ chức này. Mặc dù vậy, Chile vẫn phải chịu nhiều vấn đề phổ biến ở châu Mỹ La tinh, có tỉ lệ thất nghiệp và mức độ bất bình đẳng cao hơn các nước khác như Mexico. == Tham khảo ==
cúp bóng đá châu đại dương.txt
Cúp bóng đá châu Đại Dương (tiếng Anh: OFC Nations Cup) là giải bóng đá giữa đội tuyển bóng đá quốc gia thuộc châu Đại Dương do Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương (OFC) tổ chức. Giải lần đầu tiên diễn ra tại New Zealand năm 1973 và nhà vô địch đầu tiên là đội tuyển nước chủ nhà. Từ năm 1996, giải được tổ chức 2 năm 1 lần. Tính đến nay, đội tuyển bóng đá quốc gia Úc đã 4 lần vô địch. Tuy nhiên Úc đã rút khỏi Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương từ 1 tháng 1 năm 2006 và gia nhập Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC). Từ năm 2004, giải được tổ chức 4 năm 1 lần. Hiện nay, đội tuyển bóng đá quốc gia New Zealand đã 5 lần vô địch. Đương kim vô địch hiện nay là đội tuyển bóng đá quốc gia New Zealand với chức vô địch Cúp bóng đá châu Đại Dương 2016. == Các trận chung kết và tranh hạng 3 == === Các đội lọt vào top 4 === ^ Năm 1973, vị trí thứ tư thuộc về đội tuyển Vanuatu với tên gọi Tân Hebrides. == Các đội chủ nhà == == Kết quả của các nước chủ nhà == == Kết quả của đương kim vô địch == == Giải thưởng == === Cầu thủ xuất sắc nhất giải === === Vua phá lưới === == Các đội tham dự == Chú thích Q — Vượt qua vòng loại của giải đấu sắp tới •• — Vượt qua vòng loại nhưng bỏ cuộc • — Không vượt qua vòng loại × — Không tham dự / Bỏ cuộc / Bị cấm tham dự — Chủ nhà == Thống kê theo số trận thắng == Tính đến mùa giải 2016. == Các huấn luyện viên vô địch == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
kinh tế thổ nhĩ kỳ.txt
Kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ là một nền kinh tế pha trộn giữa nghề truyền thống và ngành công nghiệp hiện đại. Công nghiệp ngày càng chiếm ưu thế hơn trong nền kinh tế. Ngành nông nghiệp rộng lớn của đất nước xếp thứ 7 trên thế giới tính theo tổng sản phẩm đầu ra năm 2005, chiếm 11,2% việc làm năm 2006. Thổ Nhĩ Kỳ có lĩnh vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh và mạnh, tuy nhiên nhà nước vẫn đóng vai trò chính trong công nghiệp, ngân hàng, vận tải và viễn thông. Trong những năm gần đây, nền kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ mở rộng nhanh chóng, biểu hiện ở tỷ lệ tăng trưởng cao 8,9 % trong năm 2004 và 7,4% trong năm 2005. == Xu hướng kinh tế vĩ mô == CIA xếp Thổ Nhĩ Kỳ là nước phát triển. Thổ Nhĩ Kỳ là một thành viên sáng lập của OECD từ năm 1961 và cũng là thành viên của các nước công nghiệp G20, với 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Dưới đây là biểu đồ xu hướng tổng sản phẩm quốc nội của Thổ Nhĩ Kỳthoe giá cả thị trường được ước tính bởi Quỹ tiền tệ quốc tế với đơn vị tính là triệu Lira Thổ Nhĩ Kỳ. Để tính toán theo sức mua tương đương, 1 USD = 0,85 Liras. == Chú thích ==
thành phố méxico.txt
Thành phố México (tiếng Tây Ban Nha: Ciudad de México) hay Đặc khu Liên bang (Distrito Federal), là thủ đô của México. Thành phố này cũng là đô thị lớn nhất México cũng như tại châu Mỹ và là trung tâm của một vùng đô thị lớn thứ ba thế giới về quy mô dân số, sau vùng đô thị Seoul và Tokyo. Đây là một thực thể liên bang của México và không thuộc bất kỳ bang nào trong tổng số 31 bang của đất nước. Thành phố México là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa quan trọng nhất của đất nước. Thành phố México là một thành phố toàn cầu . Đây là một trong những trung tâm tài chính quan trọng nhất tại Bắc Mỹ. Thành phố nằm trên Thung lũng México, một thung lũng lớn trên một cao nguyên ở trung tâm của đất nước México với độ cao trung bình 2.240 mét (7350 ft). == Lịch sử == === Thời kỳ Aztec === Thành phố mà nay là thủ đô của đất nước México vốn được thành lập bởi những người da đỏ Mexica, hay còn gọi là người Aztec. Thành phố Mexica cổ nay được đề cập đến là Tenochtitlan. Mexica là một nơi cuối cùng của những người nói tiếng Nahuatl, những người đã di cư đến sau sự sụp đổ của Đế chế Toltec. Sự hiện diện của họ đã gặp phải sự chống đối của những cư dân bảm địa trong thung lũng, nhưng người Mexica đã thành lập dược một thành phố trên một hòn đảo nhỏ ở phần phía tây của hồ Texcoco. Bản thân người Mexica có hẳn một câu truyện về cách mà thành phố của họ được xây dựng, sau khi dược Đấng tối cao Huitzilopochtli dẫn đường đến hòn đảo. Theo câu truyện, đấng tối cao đã cho biết quê hương mới của họ bằng một tín hiệu, một con đại bàng đã đậu trên một cây xương rồng với một con rắn trên mỏ của nó. Giữa các năm 1325 và 1521, Tenochtitlan đã phát triển cả về kích cỡ cũng như thực lực, cuối cùng đã chi phối các thành bang khác quanh hồ Texcoco, và tại Thung lũng México. Khi người Tây Ban Nha đến, Đế chế Aztec đã có phạm vi vươn tới nhiều nơi ở Trung Mỹ, giáp cả vịnh México cũng như Thái Bình Dương. === Tây Ban Nha xâm chiếm === Sau khi hạ thủy ở Veracruz, Hernán Cortés đã nghe nói về một thành phố vĩ đại và cả những kình địch cũng như bất bình với thành phố này. Mặc dù Cortés đến Mexico chỉ với một đội quân nhỏ, ông ta đã có thể thuyết phục nhiều người dân bản địa cùng với ông ta tiêu diệt Tenochtitlan. Cortés đã lần đầu nhìn thấy Technochtitlan vào ngày 8/11/1519. Do mới nhìn thấy thành phố lần đầu, Cortés và những người lính của ông đã sững sờ vì vẻ đẹp và quy mô của thành phố. Những người Tây Ban Nha hành quân dọc theo bờ đất chính để vào thành phố từ phía Iztapalapa. Mặc dù Montezuma đã đi ra khỏi trung tâm Tenochtitlan để chào đón họ và trao đổi quà biếu, sự thân thiết này đã không kéo dài lâu . Cortés đã quản thúc tại gia Montezuma và hy vọng quyền lực sẽ về tay ông . Căng thẳng tăng lên cho đến đêm ngày 30/6/1520, trong cuộc chiến thường được biết đến với tên gọi là "La Noche Triste", người Aztec đã nổi dậy chống lại sự xâm phạm của người Tây Ban Nha và đã bắt giam hoặc đuổi được những người châu Âu và những đồng minh người Tlaxcalan của họ. Cortés tái lập lực lượng ở Tlaxcala. Người Aztec sau đó đã bầu chọn vị vua mới Cuitláhuac nhưng ông đã chết sau đó vài tháng vì bệnh đậu mùa; vị vua tiếp theo là Cuauhtémoc. Cortéc đã quyết định bao vây Tenochtitlan vào tháng 5 năm 1521. Trong ba tháng, thành phố đã phải trải qua sự thiếu thốn về lương thực, nước sạch cùng như việc lây lan bệnh đậu mùa do những người châu Âu mang đến. Cortés và những đồng minh của ông đã đưa lực lượng của họ lên phía nam của hòn đảo và chiến đấu trong thành phố trên từng con phố, từng ngôi nhà . Cuối cùng, Cuahtémoc đã đầu hàng vào tháng 8 năm 1521 === Tái thiết === Người Tây Ban Nha trên thực tế đã san bằng Tenochtitlan. Cortés đầu tiên định cư tại Coyoacán, nhưng đã quyết định xây dựng lại Aztec để xóa bỏ tất cả các dấu tích xưa. Cortés không thiết lập một lãnh thổ độc lập mà xây dựng một lãnh thổ được chế ngự do ông là lãnh đạo duy nhất, ông ta vẫn trung thành với hoàng gia Tây Ban Nha. Phó vương đầu tiên của lãnh thổ mới đã đến Thành phố México 14 năm sau đó. Vào lúc đó, thành phố đã trở lại thành một thành bang, có sức mạnh vượt ra xa ranh giới của nó Mặc dù người Tây Ban Nha duy trì các bố trí cơ bản của Tenochtitlan, họ đã xây dựng các nhà thờ Công giáo lên trên các ngôi đến Aztec và tuyên bố cung điện hoàng gia cũ là của họ . Tenochtitlan được đổi tên thành "México" cho người Tây Ban Nha dễ dàng phát âm . === Thành phố thuộc địa === Thành phố phát triển cùng với sự gia tăng dân số, ngược lại là mực nước trong hồ. Thế kỷ 16 đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của các nhà thờ, nhiều trong số chúng vẫn còn tồn tại đến ngày nay và trở thành các di tích lịch sử. Về mặt kinh tế, thành phố México trở nên phồn thịnh là nhờ vào việc giao thương. Không giống như Brasil hay Peru, Mexcio có thể dễ dàng tiếp cận với cả các nước ở Thái Bình Dương cũng như Đại Tây Dương. Mặc dù hoàng gia Tây Ban Nha đã thử chỉnh đốn hoàn toàn tất cả ngành thương nghiệp trong thành phố, nhưng việc này đã chỉ thành công một phần . Một cách mà người Tây Ban Nha đã thử kiểm soát hoàn toàn là tôn giáo, nhưng sự thành công không được trọn vẹn. Người bản địa vẫn thi hành các phong tục của mình cùng với các nghi thức của Công giáo La Mã. Khái niệm về tầng lớp quý tộc phát triển ở Tân Tây Ban Nha theo một cách không giống như những nới khác ở châu Mỹ. Người Tây Ban Nha đã chạm trán với một xã hội mà ở đó khái niệm về tầng lớp quý tộc đã phản ánh chính họ. Người Tây Ban Nha tôn trọng những người bản địa thuộc tầng lớp quý tộc và gia nhập nó. Các thế kỷ tiếp theo, một danh hiệu quý tộc ở Mexico không có nghĩa là có quyền lực chính trị vô cùng lớn và quyền lực của một người bị hạn chế khi sự giàu có của họ không còn . Khái niệm về quý tộc ở México nói chung không liên quan đến địa vị chính trị nhưng phần nào vẫn là một xã hội Tây Ban Nha bảo thủ, dựa trên thế lực của gia đình. Hầu hết các gia đình này chứng tỏ giá trị của mình bằng việc thử vận may ở những vùng đất bên ngoài các thành phố ở Tân Tây Ban Nha, sau đó giành những thu nhập này cho thủ đô, xây dựng những nhà thờ, làm từ thiện và xây những cung điện nguy nga. Việc say mê xây dựng ngôi nhà sang trọng nhất có thể đã lên tới đỉnh vào nửa cuối của thế kỷ 18. Nhiều căn nhà trong số đó vẫn còn cho tới nay, khiến cho thành phố México có biệt danh là "Thành phố của những cung điện" do Alexander Von Humboldt đặt. === Thời kỳ đầu độc lập === México tuyên bố độc lập vào năm 1821 sau khi ông cùng nghĩa quân của mình tiến vào thành phố. Trong khi đó việc từ chức của Iturbide đã giữ cho hầu hết các công trình cổ còn lại nguyên vẹn. México sau đó đã tuyên bố là một nước cộng hòa năm 1824 với thành phố México là thủ đô quốc gia . Tình trạng bất ổn kéo dài vài thế kỷ sau đó và là kết quả của các hành động vũ lực để kiểm soát đất nước. Quận Liên Bang México được thành lập bởi chính phủ mới và được ghi vào trong Hiến pháp mới, khái niệm về một quận liên bang được phỏng theo Hiến pháp Hoa Kỳ. Trước đó, thành phố Mexcico giữ vai trò là trung tâm chính quyền đầy đủ của cả Bang México và đất nước. Texcoco và sau đó là Toluca trở thành thủ phủ của Bang México. Trong chiến tranh Hoa Kỳ-México, các lực lượng Hoa Kỳ đã hành quân tới gần thành phố sau khi chiếm được Veracruz. Cuộc xung đột lên đến đỉnh điểm với việc đột kích của lực lượng Hoa Kỳ vào Lâu đài Chapultepec ở bên trong thành phố. Hiệp ước Guadalupe Hidalgo được ký tại nơi mà nay thuộc về phía cực bắc của thành phố. Các sự kiện như Chiến tranh Cải cách đã để lại một thành phố tương đối hoàn chỉnh và thành phố tiếp tục phát triển sau đó, đặc biệt là dưới thời Tổng thống Porfirio Díaz. Trong thới kỳ này, thành phố phát triển các cơ sở hạ tầng hiện đại như đường phố, trường học, hệ thống vận tải và truyền thông. Tuy nhiên, chế độ này chỉ tập trung tài sản vào tay một số người trong khi phần còn lại trong xã hội sống trong cảnh nghèo nàn. Tình trạng này đã dẫn đến cuộc Cách mạng Mexico. Hầu hết các biểu tượng cho giai đoạn này của thành phố là La decena trágica ("10 ngày bi thương"), một cuộc đảo chính chống lại Tổng thống Francisco I. Madero và Phó Tổng thống José María Pino Suárez. Victoria Huerta, Tổng chưởng lý của Quân đội Liên bang đã nắm lấy quyền lực và bắt hai người phải viết đơn từ chức. Cả hai sau đó bị giết trên đường đến nhà tù === Thế kỷ 20 đến nay === Lịch sử thành phố México từ thế kỷ 20 tới nay nổi bật bởi sự phát triển nhanh chóng cũng như về môi trường và chính trị của mình. Năm 1900, dân số thành phố México chỉ là 500.000 người . Thành phố bắt đầu phát triển nhanh về hướng tây trong những năm 1950 với việc Torre Latinoamericana là tòa cao ốc đầu tiên. Thế Vận Hội năm 1968 đem lại nhiều công trình thuận lợi cho việc tổ chức các sự kiện thể thao tầm cỡ. Năm 1969, hệ thống Tàu điện ngầm được khánh thành. Dân số thành phố México bùng nổ bắt đầu từ thập niên 1960, với những khu dân cư đông đúc kéo dài từ trong ranh giới thành phố cho đến tận Bang México lân cận, đặc biệt là ở phía bắc, tây bắc và đông bắc. Từ năm 1960 đến 1980, dân số thành phố đã tăng gấp đôi lên 8.831.079. Năm 1980, một nửa số người làm trong các ngành kỹ nghệ trong cả nước sống ở thủ đô. Với sự phát triển quá nóng, chính quyền thành phố chỉ cung cấp vừa đủ các dịch vụ cho người dân. Những người dân từ các vùng nông thôn đổ về thủ đô để mong thoát khỏi cành nghèo nàn cũng đã góp phần làm cho tình hình thành phố thêm xấu đi. Những người này không có nhà để ở và rốt cuộc họ phải tìm đến những vùng ngoại ô và tạo nên những khu ổ chuột rộng lớn. Vấn đề ô nhiếm không khí và nguồn nước của thành phố khá trầm trọng và thành phố này đang thấp dần vì nạn khai thác nước ngầm quá mức. Tình hình ô nhiếm đã được cải thiện ở một số khu vực cùng với các dự án của chính quyền như nâng cấp các loại phương tiện và hiện đại hóa như xe máy,ôtô... nói riêng các phương tiện giao thông công cộng nói chung Các chính quyền độc đoán đã cầm quyền ở thành phố Mexico từ Cách mạng đã dần trở nên khoan dung hơn, chủ yếu vì những phát triển kinh tế từ sau Thế chiến II. Tuy nhiên nhiều vấn đề về dân sinh cũng như môi trường còn có những bất cập. Ngày 19/9/1985, thành phố México đã bị tàn phá một trận động đất mạnh 8,1 độ richter. Mặc dù mức độ phá hủy cũng như thương vong không lớn như ở một số trận động đất khác trên thế giới, nó đã chứng tỏ sự yếu kém của hệ thống chính trị một đảng. Chính quyền đã bị tê liệt vì nạn quan liêu và tham nhũng, bắt buộc những người dân bình thường không chỉ phải tạo lập và điều khiển lẫn nhau để giải thoát mình mà còn phải tự nỗ lực tái thiết những ngôi nhà bị phá hủy. Sự bất bình này cuối cùng đã dẫn đường cho Cauhtémoc Cárdenas, một thành viên của Đảng Cách mạng Dân chủ trở thành thị trưởng đầu tiên thông qua bầu cử ở thành phố México vào năm 1997. Cárdenas đã hứa hẹn một chính quyền dân chủ hơn và đảng của ông đã tuyên bố một số thắng lợi trong việc chống lại tội phạm, ô nhiễm, và các vấn đề chính khác. == Địa lý == Thành phố Mêxico nằm trên thung lũng cùng tên, đôi khi cũng được gọi là Lòng chảo Mêxico. Thung lũng này nằm trên Vành đai Núi lửa Xuyên Mêxico nằm ở các cao nguyên có độ cao lớn tại phía nam của miền trung đất nước này.. Nơi thấp nhất của thung lũng có độ cao là 2.200 mét (7.217 ft) trên mực nước biển và được bao quanh bởi các ngọn núi cũng như một số núi lửa cao trên 5000 mét . Thung lũng này không có hệ thống sông nào để có thể thoát nước chảy từ những ngọn núi xuống nên thành phố có thể bị nạn lũ lụt đe dọa. Một hệ thống thoát nước nhân tạo được thiết lập bằng cách sử dụng các con kênh và đường hầm bắt đầu vào thế kỷ 17.. Thành phố chủ yếu nằm trên Hồ Texcoco và các hoạt động địa chấn thường xuyên xảy ra tại đây. Hồ nước này bị cạn nước dần từ thế kỷ 17 và khi nó đã cạn hết, thành phố đã được xây dựng trên nó với một nền đất sét bão hòa. Nền đất mềm của thành phố là nguyên nhân gây ra nhiều vụ sập nhà và từ khoảng đầu thế kỷ 20, thành phố đã bị lún trên 9 mét ở một số khu vực. Việc sụt lún của thành phố là nguyên nhân gây ra các vấn đề về quản lý nguồn nước như nạn ngập lụt, đặc biệt là trong mùa mưa. Các khu rừng còn lại của thành phố nằm ở các phía nam của các khu Milpa Alta, Tlalpan và Xochimilco. === Khí hậu === Thành phố Mexico có kiểu khí hậu cao nguyên cận nhiệt đới. Khu vực htấp của thung lũng nhận được ít mưa hơn so với các khu vực thượng du ở phía nam; các khu thấp là Iztapalapa, Iztacalco, Venustiano Carranza và phần phía tây của khu Gustavo A. Madero, các khu này thường khô hơn và ấm hơn phần phía nam của các khu Tlalpan và Milpa Alta, có một khu rừng thông và sồi nằm trên rặng núi Ajusco. Nhiệt độ trung bình của thành phố dao động từ 12˚C đến 16˚C (54 đến 61˚F), phụ thuộc vào độ cao của các khu. Nhiệt độ thấp nhất thường xuất hiện vào tháng 1 và tháng hai, có thể xuống thấp đến -2 đến -5˚C (28 đến 23˚F) và thường đi cùng với tuyết rơi ở vùng phía nam Ajusco, nhiệt độ cao nhất xuất hiện vào cuối xuân và hè và có thể lên trên 32˚C (90˚F). Mưa tập trung chủ yếu vào mùa hè và có thể xuất hiện mưa đá. Trung tâm thung lũng México hiếm khi có tuyết vào mùa đông. Khu vực Thung lũng México nhận được một hệ thống xoáy nghịch, nghĩa là các cơ gió yếu không thể phân tán, bên ngoài lòng chảo, không khí bị ô nhiễm vì có hàng vạn cơ sở công nghiệp và hàng triệu phương tiện giao thông thuộc Vùng đô thị cũng như tại các vùng xa hơn. Khu vực nhận được 820 milimét (32,3 inch) lượng mưa trung bình năm, tập trung từ tháng 6 đến khoảng tháng 9 hay tháng 10 với hơi ẩm nhiệt đới thổi từ biển vào, các tháng mùa khô còn lại có rất ít hoặc thậm chí không có mưa, độ ẩm tương đối thấp. Mùa khô được phận ra thành thời kỳ lạnh từ tháng 11 đến tháng 2 và thời kỳ ấm từ tháng 3 đến tháng 5. == Hành chính == Đặc khu Liên bang được chia thành 16 "delegaciones" hay các khu. Mặc dù các khu này chưa đủ chức năng để tương đương với một khu đô thị tự trị, song 16 khu này có một số quyền tự trị đáng kể. Từ năm 2000, người đứng đầu các khu đã được bầu theo hình thức phổ thông đầu phiếu (trước đó do Thị trưởng Quận Liên bang bổ nhiệm). Thành phố México được định nghĩa tương đương với Đặc khu Liên bang, hầu hết các dịch vụ công của thành phố được đáp ứng bởi Chính quyền Đặc khu Liên bang chứ không phải bởi chính quyền cấp khu, điều này ngược lại với các bang khác ở México vì chính quyền các đô thị tự trị thuộc các bang là cấp chủ yếu phục vụ các dịch vụ công. 16 khu của Đặc khu Liên bang là: Álvaro Obregón Azcapotzalco Benito Juárez Coyoacán Cuajimalpa Cuauhtémoc Gustavo A. Madero Iztacalco Iztapalapa Magdalena Contreras Miguel Hidalgo Milpa Alta Tláhuac Tlalpan VenustianoCarranza Xochimilco Các khu được chia tiếp thành hàng trăm colonias hay các khu phố, chính quyền đơn vị này không có quyền tự quản hay đại diện. Tên của đơn vị hành chính này có nghĩa là "thuộc địa" hay "khu kiều dân", xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 khi một trong những khu đô thị phát triển đầu tiên bên ngoài trung tâm thành phố là dành cho những người thực dân Pháp định cư. Một vài colonias được biết đến như: Condesa được biết đến với kiểu kiến trúc Art Deco và là một trung tâm nghệ thuật của thành phố; Santa Fe là một tring tâm thương mại và tài chính đang phát triển; Roma là một trong những khu phố cổ nhất thành phố. == Y tế == == Kinh tế == == Nhân khẩu == Về mặt lịch sử, từ thời Tiền Tây Ban Nha, thung lũng Anáhuac đã là một trong những khu vực có mật độ dân số cao nhất tại México. Khi Quận Liên bang được thành lập vào năm 1824, khu vực đô thị của thành phố México được mở rộng xấp xỉ diện tích của khu Cuauhtémoc ngày nay. Bắt đầu thế kỷ 20, quá trình đô thị hóa phát triển và những người di cư đổ về khu vực phía tây và nam của thành phố và chẳng bao lâu các đô thị nhỏ Micoac và San Ángel được sáp nhập vào thành phố. Theo thống kê năm 1921, dân số thành phố México có dưới một triệu người và trong đó 54,78% dân số thành phố tự nhận mình là người Mestizo (lai giữa người da đỏ và người Âu), 22,79% tự nhận là người Âu và 18,74% tự nhận là người da đỏ. Đến thập niên 1980, Quận Liên bang đã trở thành thực thể liên bang đông dân nhất México, nhưng từ sau đó dân cư thành phố đã ổn định ở mức khoảng 8,7 triệu người. Sự phát triển của thành phố đã vươn ra xa giới hạn của Quận Liên bang đến 59 đô thị tự trị của Bang México và 1 đô thị tự trị của Bang Hidalgo. Vùng đô thị México có xấp xỉ 19,8 triệu người (năm 2008), và đây là một trong những siêu đô thị đông dân nhất trên thế giới. Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số hàng năm của Vùng đô thị Thành phố México thấp hơn nhiều sao với các khu vực đô thị lớn khác tại México, một hiện tượng được cho là bởi chính sách phi tập trung hóa. Tỷ lệ di cư thực của Quận Liên bang từ 1995 đến 2000 là gần như tương đương. Trong khi chiếm 18,74% dân số thành phố, những người da đỏ từ những vùng khác của đất nước México đã nhập cư đến thủ đô để tìm kiếm cơ hội tốt hơn. Các dân tộc da đỏ Náhuatl, Otomí, Mixteco, Zapoteco, và Mazahua là những ngôn ngữ bản xứ có số lượng người sử dụng lớn nhất tại Thành phố Mexico Trên một phương diện khác, Thành phố México là nơi sinh sống của nhiều cộng đồng ngoại kiều và những người nhập cư, đáng kể nhất là từ Nam Mỹ (chủ yếu từ Argentina), và Châu Âu (chủ yếu là Tây Ban Nha và Đức) , Trung Đông (chủ yếu từ Liban và Syria. và gần đây là từ Châu Á (chủ yếu đến từ Trung Quốc và Hàn Quốc). Mặc dù không số liệu chính thức, dân số của những cộng đồng này khá đáng kể. Thành phố Mexco là thành phố có nhiều công dân Hoa Kỳ sinh sống nhất bên ngoài nước này. Một số ước tính lên tới 600.000 người, trong khi Cục thống kê Hoa Kỳ ước tính năm 1999 có trên 440.000 người Mỹ sống ở Vùng đô thị Thành phố México === Tôn giáo === Đại đa số (90,5%) cư dân của Thành phố México là tín đồ Công giáo La Mã, cao hơn bình quân cả nước cho dù đã có sự suy giảm so với những thập kỷ trước. Tuy nhiên, nhiều tôn giáo cũng như triết lý sống khác cũng tồn tại trong thành phố như các nhóm giáo phái Tin Lành hay các nhóm Do Thái giáo, Phật giáo, Hồi giáo cũng như thuyết vô thần == Biểu tượng == Trung tâm Lịch sử (Centro Histórico) và "những khu vườn nổi" ở khu Xochimilco đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 1987. Các biểu tượng nổi tiếng tại Trung tâm Lịch sử bao gồm Plaza de la Constitución (Quảng trường Hiến pháp) (Zócalo), là một quảng trường chính ở khu vực trung tâm với thời kỳ xung đột giữa Nhà thờ lớn Chính quốc thời kỳ Tây Ban Nha và Cung điện Quốc gia, và Delran, một đền thờ Aztec cổ. Hầu hết biểu tượng được mọi người công nhận của Thành phố Mexico là Tượng Thiên thần Độc lập bằng vàng, dựa trên địa thế rộng rãi, tao nhã của Đại lộ Páeo de la Reorma, được thiết kế theo chỉ thị của Hoàng đế Maximilian của Mexico tiếp sau Đại lộ Champs-Élysées ở Paris. Đại lộ này là tuyến lộ cổ nhất Châu Mỹ trong thế kỷ 19, kết nối Cung điện Quốc gia (trụ sở chính phủ) với Lâu đài Chapultepec, dinh thự của hoàng đế. Ngày nay, đại lộ này là khu vực tài chính quan trọng và nhiều Công ty chứng khoán đặt trụ sở trên tuyến đường này. Các đại lộ quan trọng khác là Avenida de los Insurgentes, dài tới 28,8 km (17,9 mi) và là một trong những đại lộ đô thị dài nhất thế giới. Lâu đài Chapultepec nay là một bảo tàng trên một ngọn đồi và có thể nhìn thấy các bảo tàng, các đài tưởng niệm và sở thú quốc gia cũng như Bảo tàng Nhân loại học. Tổng cộng, thành phố có khoảng 160 bảo tàng, 100 nhà triển lãm nghệ thuật và khoảng 30 nhà hát, chúng đều duy trì được các hoạt động văn hóa trong suốt cả năm. Thành phố đứng thứ 4 về số lượng nhà ca kịch trên thế giới sau New York, Luân Đôn, và Toronto và là thành phố có nhiều bảo tàng nhất thế giới. == Giao thông == Thành phố Mé xico được phục vụ bởi Sistema de Transporte Colectivo Metro, một hệ thống tàu điện ngầm dài 207 km, lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Đoạn đầu tiên của hệ thống bts đầu hoạt động vào năm 1969 và sau đó được mở rộng với 11 tuyến và 175 nhà ga. Một hệ thống tàu ngoại ô, được gọi là Tren Suburbano, kết nối trung tâm thương mại của thành phố tới các khu ngoại ô phía bắc. Tuyến tàu điện ngầm thứ 12 đang được xây dựng và khi hoàn thành sẽ nâng chiều dài của toàn tuyến thêm 25 km. Hệ thống tàu điện ngầm của thành phố là một trong những hệ thống vận chuyển bận rộn nhất thế giới với xấp xỉ 4,5 triệu người hàng ngày, chỉ kém các tuyến xe điện ngầm ở Moskva (7,5 triệu), Tokyo (5,9 triệu) và New York (5,1 triệu). Hệ thống giao thông công cộng này được trợ cấp với tiền vé rẻ nhất thế giới, mỗi chuyến đi chỉ phải trả 3 Peso Mexico và hành khách có thể đi đến hầu khắp các nơi trong thành phố từ 5 giờ sáng đến nửa đêm. Một vài ga tàu trưng bày những đồ khảo cổ và các kiến trúc từ thời tiền Colombo được phát hiện trong quá trình xây dựng hệ thống tàu điện ngầm. Tuy nhiên, tàu điện ngầm không đi đến những khu vực ngoài ranh giới Đặc khu Liên bang và bởi vậy đi bằng xe bus vẫn là một lựa chọn phổ biển. Các xe bus được quản lý bởi các công ty tư nhân và được phép kéo dài lộ trình với điều kiện vẫn đảm bảo được chất lượng phục vụ. Chính quyền thành phố cũng điều khiển hoạt động của một mạng lưới các xe bus lớn, tương phản với các xe bus nhỏ của tư nhân (peseros), với tiền vé vượt trội so với xe điện ngầm. Ngoài ra còn có một vài tuyến xe điện và tuyến tàu hỏa Ánh sáng Xochimilco, cả hai được điều hành bởi Servicio de Transportes Eléctricos. Tuyến xe điện cuối cùng tại khu vực trung tâm đã đóng cửa năm 1979, nhưng đang có kếch hoạch tái sử dụng chúng để làm tăng thêm tính lịch sử cho khu vực trung tâm. Tuyến xe bus nhanh đầu tiên trong thành phố, Metrobús, bắt đầu hoạt động vào tháng 5 năm 2005, cùng với kỷ niệm Ngày khởi nghĩa. Một tuyến thứ hai đã được xây dựng dọc theo Eje 4 Sur, bắt đầu hoạt động vào tháng 12 năm 2008 và tuyến thứ ba được mở vào tháng 2 năm 2011. Sân bay Quốc tế Thành phố Mexico phục vụ giao thông bằng hàng không cho thành phố. Đây là sân bay bận rộn nhất và lớn nhất Mỹ Latinh, với các chuyến bay hàng ngày đến Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Caribe, Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Á cũng như các chuyến bay nội địa. Aeroméxico (Skyteam) và Mexicana (Oneworld) đặt trụ sở tại sân bay này, và cung cấp các thỏa thuận với các Hãng hàng không nước ngoài để nối chuyến đến toàn cầu. Sân bay phục vụ trên 26 triệu hành khách mỗi năm Thành phố có 4 trạm xe bus chính (Bắc, Nam, Observatorio (Đài Thiên Văn), TAPO), là một trong những tổ hợp chuyên chở lớn nhất thế giới, xe bus đi tới nhiều thành phố khắp nước và có kết nối quốc tế. Thành phố có một ga tàu hỏa, được sử dụng cho các mục đích thương mại và công nghiệp (chuyên chở giữa các bang gần như không tồn tại ở Mexico). Vào cuối thập kỷ 1970 có nhiều trục đường chính đã được thiết kế lại thành "ejes viales"; đường một chiều có dung lượng lớn, có thể băng từ đầu này tới đầu bên kia của thành phố. Để giải quyết vấn đề môi trường, thành phố đã lập ra ngày không lái xe "Hoy No Circula", dựa vào số cuối của biển xe để lưu thông trong một số ngày nhất định == Thể thao == == Giáo dục == Trường đại học cổ thứ nhì của Châu Mỹ, Đại học Quốc gia Tự trị Mexico (UNAM) nằm tại Thành phố Mexico. Đây là đại học lớn nhất toàn lục địa với 305.969 sinh viên đang theo học. Ba người từng được trao giải Nobel, một số doanh nhân hàng đầu Mexico và hầu hết các tổng thống Mexico ngày nay đều từng là sinh viên cũ của trường. UNAM xếp thứ 45 trong số 200 Trường Đại học Thế giới và là trường đại học nói tiếng Tây Ban Nha có thứ hạng cao nhất. Một khu các trường đại học, được gọi là Ciudad Universtaria (Thành phố đại học), đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới năm 2007. Học viện giáo dục bậc cao lớn thứ nhì là Học viện Bách khoa Quốc gia (IPN), các cơ sở giáo dục bậc cao khác trong thành phố là Đại học Tự trị Thủ đô (UAM), ITAM, ITESM (3 khu), Universidad Panamerica (Đại học Liên Mỹ) (UP), Universidad Anáhuac, Đại học Quốc tế Liên minh (AIU), Universidad Iberoamerica, El Colegio de Mexico (Colmex), Escuela Libre de Derecho và Centro de Investigación y Docencia Económica, (CIDE). == Truyền thông == Thành phố Mexico là trung tâm của ngành công nghiệp truyền hình, âm nhạc và phim truyện của cả khu vực Mỹ Latinh. Đây cũng là trung tâm quan trọng nhất của ngành in và xuất bản Mexico. Hàng chục các tờ nhật báo được xuất bản trong thành phố, như El Universal, Excélsior, Reforma và La Jornada. Các tạp chí hàng đầu là Expansión, Proceso, Poder, hay ấn bản địa phương của tạp chí Vogue. Hai công ty truyền thông lớn nhất trong cộng đồng các nước nói tiếng Tây Ban Nha là Televisa và TV Azteca có trụ sở tại thành phố Mexico. Các mạng truyền hình khác gồm có Canal 11, Canal 22, Cadena Tres, Teveunam và 11 kênh truyền hình miễn phí. Thành phố cũng là trung tâm của ngành công nghiệp quảng cáo. Hầu hết các hãng quảng cáo lớn có tầm cỡ quốc tế đều có văn phòng tại thành phố, có thể kể đến là Grey, JWT, Leo Burnett, Euro RSCG, BBDO, Ogilvy, Saatchi & Saatchi, và McCann Erickson. Nhiều hãng địa phương cũng khá thành công trong lĩnh vực này như Alazraki, Olabuenaga/Chemistri, Terán, Augusto Elías, và Clemente Cámara. == Mua sắm == Thành phố Mexico kihá rộng lớn và có nhiều tần lớp người tiêu dùng khác nhau, với hàng nghìn sự lựa chọn từ những thứ đồ ăn giản đơn đến những hàng hóa cấp cao. Khu vực trung tâm thương mại của thành phố được biết đến là khu bán lẻ chuyên dụng với giá cả thấp hơn. Mercado La Merced là một trong những nơi cổ nhất của thành phố và được coi là phiên bản thu nhỏ và cổ kính của Central de Abastos, nơi hàng nghìn món hàng được bán. Mercado de Jamaica đặc trưng với hoa tươi. Calle Dolores, một khu phố tại Avenida Juárez được biết đến là một khu Phố Tàu của Thành phố Mexico. Khu phố gồm nhiều cửa hiệu bán những đồ dùng quan trọng của người Hoa với những nhà hàng bán món vịt quay Bắc Kinh. Xa ra phía ngoài, khu dân cư Zona Rosa là nơi có vài khu phố được miêu tả là Phố Hàn (Quốc). Có hàng trăm cửa hàng bán lẻ hiện đại khắp thành phố. Có một số trung tâm hay phố mua sắm lớn, bao gồm Phố buôn bán Santa Fé với 300 cửa hiệu, nhà hàng và rạp chiếu phim. Các nơi khác có thể kể đến là Plaza Universidad, Plaza Satélite, Galerías Insurgentes, Galerías Coapa, Parque Delta, Parque Lindavista, Pabellón Polanco, Pabellón Bosques, Mundo E, Perinorte and Plaza Lindavista. == Văn hóa == == Thi hành luật pháp == == Tương lai phát triển == Hiện tại Thành phố Mexico có trên 30 dự án xây dựng các tòa nhà siêu cao tầng trong thời gian tới. Cùng với tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế Mexico cũng như thu nhập bình quân đầu người trong nước, tầng lớp thượng lưu và trung lưu phát triển ngày càng đông. Các trung tâm mua sắm và dịch vụ cao cấp sẽ tiếp tục được xây dựng ngày một nhiều trong thập kỷ 2010-2020 khi GDP của México được một số dự báo là sẽ tăng ít nhất là gấp đôi trong giai đoạn này. Những vấn đề thách thức như quá tải dân số, ô nhiễm hay phân bổ thu nhập và chi phí sinh hoạt đắt đỏ được cho rằng vẫn là những mâu thuẫn trong xã hội khi số người thuộc tầng lớp trên trở nên đông đảo hơn. Hiện tại chính quyền thành phố México đang cố gắng thực hiện vài dự án không chỉ để khắc phục hậu quả của tình trạng bùng nổ dân số vào khoảng thời gian trước đây mà còn hồi sinh những di sản từ thời Tiền Colombo. Các dự án như phục hồi hoàn toàn các kim tự tháp của Teotihuacan, cải tạo có giới hạn Hồ Texcoco và hồi sinh khu vực quận Xochimilco lịch sử. Chính quyền Thành phố México cũng đã cố gắng làm giảm việc nhập cư đến thành phố từ các khu vực nông thôn bằng những việc như tăng đầu tư, hạn chế ô nhiễm, giảm tỷ lệ tội phạm, tận dụng những dịch vụ công cộng cơ bản và di dời các cơ sở công nghiệp nặng ra xa các trung tâm dân cư. == Chú thích ==
quảng ninh.txt
Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi, biên giới. Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Đây là tỉnh khai thác than đá chính của Việt Nam và có vịnh Hạ Long là di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới. == Vị trí địa lý == Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một con cá sấu nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam. Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu Vịnh Bắc bộ, phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp. Toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc. Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 102 km. Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 195 km. Phía đông bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, có chiều dài bờ biển 250 km, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Hải Dương. Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, ngoài khơi là mũi Sa Vĩ. Điểm cực tây thuộc xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, thị xã Đông Triều. Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Điểm cực bắc thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. == Điều kiện tự nhiên == Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, với hơn 80% đất đai là đồi núi. Trong đó, có hơn hai nghìn hòn đảo núi đá vôi nổi trên mặt biển, phần lớn chưa được đặt tên. Địa hình của tỉnh có thể chia thành 3 vùng gồm có Vùng núi, Vùng trung du và đồng bằng ven biển, và Vùng biển và hải đảo. Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m. Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rặng san hô rất đa dạng. Quảng Ninh nằm vùng Khí hậu cận nhiệt đới ẩm đặc trưng cho các tỉnh miền bắc vừa có nét riêng của một tỉnh vùng núi ven biển có một mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, một mùa đông lạnh khô và ít mưa. Các quần đảo ở Cô Tô, Vân Đồn... có đặc trưng của khí hậu đại dương. Do ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa gồm có mùa hạ thì nóng ẩm với mùa mưa, còn mùa đông thì lạnh với mùa khô. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 21 – 23oC, lượng mưa trung bình hàng năm 1.995 m, độ ẩm trung bình 82 – 85%. Mùa lạnh thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, trong khi đó mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng. Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10. Ngoài ra, do tác động của biển, nên khí hậu của Quảng Ninh nhìn chung mát mẻ, ấm áp, thuận lợi đối với phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nhiều hoạt động kinh tế khác. Quảng Ninh có tất cả khoảng 30 sông, suối với chiều dài trên 10 km. Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 4 con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ. Tuy nhiên, hầu hết các sông suối đều ngắn, nhỏ và độ dốc lớn. Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa. Vào mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh. Lưu lượng mùa khô 1,45 m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần. Quảng Ninh là một trong 25 tỉnh, thành phố có biên giới, tuy nhiên lại là tỉnh duy nhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, với đường biên giới trên bộ dài 118,825 km và đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km. Mặc khác, Quảng Ninh là một trong 28 tỉnh, thành có biển, với đường bờ biển dài 250 km, trong đó có 40.000 hecta bãi triều và trên 20.000 hecta eo vịnh, có 2/12 huyện đảo của cả nước. Tỉnh có 2.077 hòn đảo, và diện tích các đảo chiếm 11,5% diện tích đất tự nhiên. == Lịch sử == === Thời Tiền sử === Quảng Ninh là vùng đất lịch sử lâu đời. Ở khu vực Vịnh Hạ Long đã khảo cổ được di chỉ của người tiền sử từ 3000 - 1500 năm TCN. Đặc trưng trong giai đoạn này là Văn hóa Hạ Long. Với nhiều di chỉ khảo cổ vỏ sò dùng làm trang sức và tiền trao đổi. Xương thú và xương người Cổ đại. Khi hình thành Nhà nước đầu tiên của người Việt. Thời Hùng Vương vùng đất Quảng Ninh nay là bộ Lục Hải. Một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. === Thời Phong kiến === Khu vực tỉnh Quảng Ninh hiện nay thời phong kiến có tên là: Thời Tự chủ và nhà Ngô là Lục Châu. Thời nhà Lý là Lộ Đông Hải. Thời nhà Trần là Lộ Hải Đông. Thời nhà Lê là Trấn An Bang. Thời nhà Nguyễn là Tỉnh Quảng Yên. Quảng ninh có nguồn tài nguyên than đá trữ lượng lớn. Năm 1839 tổng đốc Hải Yên (Hải dương, Quảng Yên) là Tôn Thất Bật thấy nhân dân ở đây bị mất mùa đói kém, cuộc sống khó khăn, ông đã dâng sớ xin triều đình cho nhân dân khai thác than trên núi Yên Lĩnh, nay thuộc xã Yên Thọ, huyện Đông Triều, Quảng Ninh. Tỉnh Quảng Ninh có những di tích như: Bãi cọc Bạch Đằng. Nay thuộc thị xã Quảng Yên, khu vực tiếp giáp với thành phố Hải Phòng. Thương cảng Vân Đồn. Với trận hải chiến chống quân Nguyên Mông của tướng Trần Khánh Dư. Nay thuộc khu vực đảo Quan Lạn và Minh Châu, huyện Vân Đồn. Khu quần thể lăng các vua Trần. Vốn đây là nơi ở của tổ tiên Vương triều Trần trước khi di cư xuống vùng Thái Bình, Thiên Trường. Nay thuộc xã An Sinh, thị xã Đông Triều. Núi Yên Tử. Nơi phát tích Thiền phái Trúc Lâm. Nay có Quần thể di tích danh thắng Yên Tử thuộc 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh. === Thời Pháp thuộc === Biên giới giáp với Trung Quốc trước năm 1887 là sông Dương Hà (còn gọi là An Nam Giang) bao gồm cả mũi Bạch Long nhưng Công ước Pháp-Thanh 1887 nhận kinh tuyến đông 105 độ 43 phút Paris làm đường phân định thì phần đất này Pháp nhường cho nhà Thanh. Phần đất bị cắt gồm hơn bảy xã thuộc tổng Bát Tràng và hai xã của tổng Kiến Duyên. Hiện nay có một số ý kiến cho rằng vùng đất của huyện Phòng Thành Cảng, tỉnh Quảng Tây, bao gồm khu vực Đông Hưng, Phòng Thành, Cảng Khẩu, Bạch Long, Trung Quốc là thuộc Việt Nam, nhất là sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập và tuyên bố hủy bỏ mọi hiệp ước về Việt Nam của thực dân Pháp với các nước khác. Như vậy vùng Bạch Long - Trường Bình đúng ra phải được trả lại về Quảng Ninh nhưng việc này đã không được thực hiện. Rất nhiều người Kinh sống ở khu vực này tuyệt nhiên trở thành người mất quê hương và trở thành một trong 56 dân tộc của Trung Quốc, gọi là dân tộc Việt. Sau khi xâm chiếm Bắc Kỳ, năm 1899 thực dân Pháp lại tách một phần bắc tỉnh Quảng Yên mà lập tỉnh Hải Ninh. Thấy được tài nguyên khoáng sản than đá. Thực dân Pháp tăng cường khai thác tại các khu Hồng Quảng, Mạo Khê, Vàng Danh, Cẩm Phả, Hà Tu. Họ thành lập Công ty than Bắc Kỳ thuộc Pháp (S.F.C.T) độc quyền khai thác và tiêu thụ than đá, ra sức vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân công thuộc địa. Cùng với công nghiệp than, Quảng Ninh là một trong những nơi giai cấp công nhân Việt Nam hình thành sớm nhất. Cuộc Tổng bãi công của hơn 30,000 Thợ Mỏ Ngày 12 tháng 11 năm 1936 đòi tăng lương giảm giờ làm giành thắng lợi vẻ vang đã trở thành một trong những sự kiện lịch sử tiêu biểu nhất của phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ và độc lập dân tộc. Sau này ngày này trở thành ngày truyền thống của Công nhân vùng mỏ, gọi là Ngày vùng mỏ bất khuất. === Sau năm 1945 === Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Việt Nam giành độc lập, bước sang giai đoạn dân chủ hiện đại. Năm 1963 với nền tảng là khu Hồng Quảng (trong đó có khu đặc biệt Hồng Gai và tỉnh Quảng Yên) và tỉnh Hải Ninh (trong đó có Hải Bằng và Ninh Tường), chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập tỉnh Quảng Ninh. Theo cách đặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên tỉnh là ghép tên của hai tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh cũ; thị xã Móng Cái chuyển thành huyện Hải Ninh. Diện tích của toàn tỉnh Quảng Ninh là 8.239,243 km². Khi hợp nhất, tỉnh Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính gồm 3 thị xã: thị xã Hòn Gai (tỉnh lị), thị xã Cẩm Phả, thị xã Uông Bí và 11 huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập, Đông Triều, Hải Hà, Hải Ninh, Hoành Bồ, Tiên Yên, Yên Hưng. Ngày 4 tháng 6 năm 1969, hợp nhất 2 huyện Đầm Hà và Hải Hà thành huyện Quảng Hà. Ngày 29 tháng 12 năm 1978, chuyển huyện Đình Lập về tỉnh Lạng Sơn quản lý vừa được tái lập. Ngày 27 tháng 12 năm 1993, Chính phủ bàn hành Nghị định số 102/CP, thành phố Hạ Long được chính thức thành lập trên cơ sở thị xã Hòn Gai. Ngày 23 tháng 3 năm 1994, đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân Đồn; tách quần đảo Cô Tô khỏi huyện Cẩm Phả để thành lập huyện Cô Tô. Ngày 20 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 52/1998/NĐ-CP, thành lập lại thị xã Móng Cái trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Hải Ninh. Ngày 29 tháng 8 năm 2001, huyện Quảng Hà được tách thành 2 huyện: Đầm Hà và Hải Hà. Ngày 24 tháng 09 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 03/NĐ-CP thành lập thành phố Móng Cái trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Móng Cái. Ngày 25 tháng 2 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 12/NQ-CP thành lập thành phố Uông Bí trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Uông Bí. Ngày 25 tháng 11 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 100/NQ-CP tái lập thị xã Quảng Yên trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Yên Hưng . Ngày 21 tháng 2 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 04/NQ-CP thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Cẩm Phả. Ngày 11 tháng 3 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 892/NQ-UBTVQH13 thành lập thị xã Đông Triều trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Đông Triều. == Hành chính == Quảng Ninh có 4 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện trực thuộc. Trong đó có 186 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 67 phường, 8 thị trấn và 111 xã. Quảng Ninh là tỉnh có nhiều thành phố trực thuộc nhất của Việt Nam. == Kinh tế == Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo. Quảng Ninh có nhiều khu kinh tế. Trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực. Năm 2015, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 3 ở Việt Nam Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản, về trữ lượng than trên toàn Việt Nam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90%. Nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh. Quảng Ninh với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 2 lần được Tổ chức UNESCO tôn vinh. Với di tích văn hóa Yên Tử, bãi cọc Bạch Đằng, Đền Cửa Ông, Đình Quan Lạn, Đình Trà Cổ, núi Bài Thơ... thuận lợi cho phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch văn hóa tâm linh. Quảng Ninh được xác định là 1 điểm của vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, là cửa ngõ quan trọng của hành lang kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh. Có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu có năng lực bốc xếp cho tàu hàng vạn tấn,... tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường biển giữa nước ta với các nước trên thế giới. Quảng Ninh có hệ thống cửa khẩu phân bố trên dọc tuyến biên giới, đặc biệt cửa khẩu quốc tế Móng Cái là nơi hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư. Là cửa ngõ giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong khu vực. Quảng Ninh xếp thứ 5 cả nước về thu ngân sách nhà nước (2014) sau thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà Rịa-Vũng Tàu và Hải Phòng. Tính đến hết năm 2014 GDP đầu người đạt hơn 3500 USD. Lương bình quân của lao động trong tỉnh ở các ngành chủ lực như than, điện, cảng biển, cửa khẩu và du lịch đều ở mức cao. == Dân cư == Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần 1.177.200 người, mật độ dân số đạt 193 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 620.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 557.000 người. Dân số nam đạt 607.350 người, trong khi đó nữ đạt 569.850 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 11,5 ‰ Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ninh có 34 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống. Trong đó, người Kinh đông nhất với 1.011.794 người, tiếp sau đó là người Dao đông thứ nhì với 59.156 người, người Tày 35.010 người, Sán Dìu có 17.946 người, người Sán Chay có 13.786 người, người Hoa có 4.375 người. Ngoài ra còn có các dân tộc ít người như người Nùng, người Mường, người Thái. Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ninh có 6 tôn giáo khác nhau chiếm 23.540 người, trong đó, nhiều nhất là Công giáo có 19.872 người, Phật giáo có 3.302 người, Đạo Tin Lành có 271 người, Đạo Cao Đài có 87 người, Hồi Giáo có 7 người, ít nhất là Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1 người. == Văn hóa, Du lịch == Quảng Ninh là một địa danh giàu tiềm năng du lịch, là một đỉnh của tam giác tăng trưởng du lịch miền Bắc Việt Nam, Quảng Ninh có danh thắng là vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và di sản thế giới bởi giá trị địa chất địa mạo. Vịnh Hạ Long là địa điểm du lịch lý tưởng của Quảng Ninh cũng như Việt Nam. Tiềm năng du lịch Quảng Ninh nổi bật với: === Thắng cảnh === Vịnh Hạ Long một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới (N7W), di sản thiên nhiên thế giới, có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo. Trong đó khu di sản thế giới được UNESCO công nhận có diện tích trên 434 km2 với 788 đảo, có giá trị đặc biệt về văn hoá, thẩm mĩ, địa chất, sinh học và kinh tế. Trên vịnh có nhiều đảo đất, hang động, bãi tắm, cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát triển nhiều điểm, nhiều hình thức du lịch hấp dẫn. Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà là khu du lịch trọng điểm quốc gia, động lực phát triển vùng du lịch Bắc Bộ. Vịnh Bái Tử Long nằm liền với vịnh Hạ Long ở phía bắc với nhiều đảo đá trải dài ven biển. Một vẻ đẹp hoang sơ cùng với các bãi tắm tại các đảo như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng...(Vân Đồn). Phục vụ các du khách thích khám phá tận hưởng vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên. Hàng chục bãi tắm bãi tắm đẹp hiện đại như Trà Cổ (Móng Cái), Bãi Cháy, đảo Tuần Châu được cải tạo, nâng cấp với nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đa dạng các nhu cầu của du khách. Đảo Cô Tô (phía đông bắc Quảng Ninh). Các bãi tắm đẹp như Hồng Vàn, Bắc Vàn, Vàn Chảy, đảo Cô Tô Con. Được đánh giá là những bãi biển đẹp nhất tại phía bắc. === Di tích lịch sử === Bãi cọc Bạch Đằng thuộc thị xã Quảng Yên, khu vực tiếp giáp với thành phố Hải Phòng. Thương cảng Vân Đồn với trận thủy chiến chống quân Nguyên Mông của tường Trần Khánh Dư. Nay thuộc khu vực đảo Quan Lạn và Minh Châu, huyện Vân Đồn. Khu quần thể di tích lăng các vua Trần, nơi ở của tổ tiên Vương triều Trần trước khi di cư xuống vùng Thái Bình, Thiên Trường thuộc địa phận thị xã Đông Triều. Núi Yên Tử, nơi phát tích thiền phái Trúc Lâm do phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập thuộc địa phận thành phố Uông Bí. Hiện nay Quần thể di tích danh thắng Yên Tử thuộc 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh đang được lập hồ sơ đề nghị công nhận di sản thế giới. Ngoài ra cả tỉnh có gần 500 di tích lịch sử, văn hoá, nghệ thuật... gắn với nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có những di tích như miếu Tiên Công, đình phong Cốc (TX Quảng Yên),đền Cửa Ông (Cẩm Phả), Đình Trà Cổ (Móng Cái), chùa Long Tiên (TP Hạ Long), Đệ tứ chiến khu Đông Triều, đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu - Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm (Vân Đồn). Đây là những điểm thu hút khách thập phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là vào những dịp lễ hội. === Ấm thực === Quảng Ninh nổi bật với các món chế biến từ hải sản như tôm, cua, ghẹ, tu hài, hầu, sò. Nhưng đặc biệt không thể không kể đến Chả mực giã tay của Hạ Long, cá thu một nắng, sá sùng,.... Ngoài ra còn có miến dong Bình Liêu, rượu Ba Kích, gà Tiên Yên, chè Ba Chẽ, bánh gật gù Tiên Yên, bánh bạc đầu.... === Nghệ thuật === Quảng Ninh là nơi sản sinh và nuôi dưỡng rất nhiều các tài năng nghệ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực âm nhạc. Có thể kể đến các nghệ sĩ thế hệ đầu như Nghệ sĩ Nhân dân Trần Khánh, Nghệ sĩ ưu tú Dương Phú, Nghệ sĩ Nhân dân Lê Dung, Nghệ sĩ Nhân dân Quang Thọ và sau này là những Hồ Quỳnh Hương, Ngọc Anh, Bích Phương, Kim Tiểu Phương, Tuấn Anh, Hoàng Thái, Hà Hoài Thu, Hoàng Tùng, Tô Minh Thắng v.v.. cùng với "cô con dâu" gốc Hà Nam Tân Nhàn. Đoàn Chèo Quảng Ninh là đơn vị nghệ thuật chèo chuyên nghiệp thuộc chiếng chèo Đông. Chèo Quảng Ninh hiện được đưa vào khai thác du lịch. == Giáo dục & Y tế == === Giáo dục === Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ninh có 421 trường học ở cấp phổ thông trong đó Trung học phổ thông có 46 trường, Trung học cơ sở có 146 trường, Tiểu học có 177 trường, có 45 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 205 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như vậy, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Quảng Ninh góp phần đạt phổ cập giáo dục các cấp bậc học trong những năm tới.. Về bậc đại học, hiện tại Quảng Ninh có trường Đại học Hạ Long, Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, Đại học Ngoại thương phân hiệu Quảng Ninh, và các trường cao đẳng, trung cấp khác. === Y tế === Quảng Ninh có hệ thống cơ sở vật chất của ngành y tế được đầu tư đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và các du khách trong và ngoài nước. Tính đến năm 2010, toàn tỉnh Quảng Ninh có 15 bệnh viện, 09 phòng khám đa khoa khu vực, 10 trung tâm y tế tuyến tỉnh, 14 trung tâm y tế tuyến huyện, 186 trạm y tế xã, phường. Trong đó, Đội ngũ bác sĩ, y sĩ rất chuyên nghiệp với 02 tiến sĩ y học, 53 thạc sĩ y học, 24 bác sĩ chuyên khoa II, 218 bác sĩ chuyên khoa I, 437 bác sĩ, 478 y sĩ, 109 kỹ thuật viên, 960 điều dưỡng viên, 225 nữ hộ sinh, 43 dược sĩ đại học, 99 dược sĩ trung học và 982 cán bộ chuyên môn khác đạt tỷ lệ 30 giường bệnh trên 10.000 dân, đạt tỷ lệ 8 bác sĩ trên 10.000 dân. == Giao thông == Hệ thống giao thông của Quảng Ninh rất phong phú bao gồm giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và cảng hàng không. Trong đó, hệ thống đường bộ có 5 tuyến Quốc lộ dài 381 km, đường tỉnh có 12 tuyến với 301 km, 764 km đường huyện và 2.500 km đường xã, toàn tỉnh có 16 bến xe trong đó 6 bến xe liên tỉnh hỗn hợp. Đối với hệ thống đường thuỷ nội địa toàn tỉnh có 96 bến thuỷ nội địa, 5 cảng biển (9 khu bến) thuộc Danh mục cảng biển trong Quy hoạch phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Các cảng biển lớn như Cảng Cái Lân, Cảng Vạn Gia, Cảng Cửa Ông, Cảng Hòn Nét và Cảng Mũi Chùa. Ngoài ra tỉnh còn có 65 km đường sắt quốc gia thuộc tuyến Kép - Hạ Long và hệ thống đường sắt chuyên dùng ngành than. Trong tương lai gần, tại huyện đảo Vân Đồn sẽ hoàn thành Cảng hàng không Quảng Ninh (Sân bay Vân Đồn) đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương và tham quan du lịch cho người dân và khách du lịch tới đây. Quảng Ninh cũng đã và đang phát triển dịch vụ thuỷ phi cơ cho mục đích di chuyển và ngắm cảnh. == Hình ảnh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức
đảo cocos.txt
Đảo Cocos (tiếng Tây Ban Nha: Isla del Coco) là một hòn đảo ngoài khơi của Costa Rica. Đảo này là một trong 13 huyện của tổng Puntarenas thuộc tỉnh Puntarenas [1]. Đây là một trong những vườn quốc gia Costa Rica. Đảo này nằm ở Thái Bình Dương, cách bờ biển Costa Rica 550 km (330 mi.), tọa độ 05°31′8″B 087°04′18″T. Đảo này có diện tích is 23,85 km² (16 mi²), kích thước 8x3 km (5x1.8 mi), hình hơi vuông. Wafer Station (Estación Wafer) nằm ở vịnh Wafer (Bahía Wafer) về phía bờ bắc. Chu vi của nó khoảng 21 km (12½ mi). Đây là nơi có cộng đồng cá mập đầu búa, cá mập trắng, cá đuối, cá heo và nhiều loại sinh vật biển khác. Đây cũng là nơi sinh sản của hàng ngàn con rùa biển mỗi năm (khoảng 450.000 con) và nơi sinh sống của một số loài động vật có vú cạn, bò sát (thằn lằn, tắc kè). Đảo Cocos này nằm chính đối diện qua địa cầu so với đảo Cocos (Keeling) ở miền nam Sumatra. == Chú thích ==
samsung galaxy tab 2 7.0.txt
Samsung Galaxy Tab 2 7.0 là máy tính bảng 7-inch chạy hệ điều hành Android sản xuất và phân phối bởi Samsung Electronics. Samsung Galaxy Tab 2 thuộc thế hệ thứ hai của dòng máy tính bảng Samsung Galaxy Tab series, bao gồm bản 10.1-inch, Galaxy Tab 2 10.1. Nó được công bố vào 13 tháng 2 năm 2012, và phát hành tại Mỹ vào 22 tháng 4 năm 2012. Nó là kết thừa của Samsung Galaxy Tab 7.0 Plus. == Lịch sử == Galaxy Tab 2 7.0 được công bố vào 13 tháng 2 năm 2012. Nó được ra mắt cùng với Galaxy Tab 2 10.1 tại Mobile World Conference 2012. Mặc dù ban đầu họ dự định phát hành vào tháng 3, nhưng họ đã không làm vậy, với Samsung giải thích rằng sự chậm trễ này nguyên nhân là vấn đề không xác định với Ice Cream Sandwich và buộc họ phải phát hành vào cuối tháng 4. Samsung sau đó xác nhận rằng Galaxy Tab 2 7.0 sẽ phát hành vào 22 tháng 4, với mức giá $250 cho bản 8GB. == Tính năng == Galaxy Tab 2 7.0 ban đầu ra mắt mới Android 4.0 Ice Cream Sandwich. Bản cập nhật Android 4.1.1 Jelly Bean được phát hành sau đó. Samsung tùy biến giao diện người dùng với TouchWiz UX. Cũng như các ứng dụng từ Google, bao gồm Google Play, Gmail và YouTube, nó cho phép truy cập đến ứng dụng Samsung như ChatON, S Suggest và All Share Play. Galaxy Tab 2 7.0 có bản WiFi, biến thể WiFi với IR Blaster, và 3G & WiFi. Bộ nhớ trong từ 8 GB đến 32 GB tùy theo mẫu, với thẻ nhớ mở rộng microSD. Nó có màn hình 7-inch PLS LCD với độ phân giải 1.024x600 pixel, và cùng với hai máy ảnh trước-sau. Một tính năng bổ sung của Samsung là "Tìm điện thoại của tôi" cho phép theo dõi vị trí thiết bị di động của bạn nếu nó bị mất. Thiết bị này sử dụng các kết nối độc quyền của Samsung để kết nối sạc cáp USB/dữ liệu. Ngoài ra một bộ chuyển đổi có thể được sử dụng được thêm vào như USB OTG cho phép máy tính bảng lưu trữ như thiết bị USB. Các thiết bị USB Mass Storage có thể được đính kèm không cần phải cài thêm trình điều khiển. Ngoài ra hỗ trợ cho bàn phím và chuột có thế với cổng USB HID. == Đón nhận == Galaxy Tab 2 7.0 đã được đón nhận theo hướng tính cực. The Verge - nhà phê bình David Pierce đã nhận xét, "Tab 2 mạnh hơn Kindle Fire hoặc máy tính bảng Nook, và bởi vì nó chạy phiên bản đầy đủ của Android nó là thiết bị có nhiều khả năng hơn nếu bạn quan đâm đến nhiều hơn là đọc." Cà Pierce và James Stables của TechRadar đều khen ngợi kích thước và cân nặng của thiết bị, cũng như mức giá thấp so với máy tính bảng đầy đủ khác. Đã có một số chỉ trích về chất lượng màn hình của nó, với Stables mô tả nó như là "đần độn và không phản hồi", và chuyên gia đánh giá David Ludlow so sánh độ phân giải thấp của nó với 2012 Google Nexus 7, mặc dù không nhìn thấy ấn tượng. == Tham khảo == == Liên kết == Website chính thức
ankola.txt
14.67°B 74.3°Đ / 14.67; 74.3 Ankola là một thị xã panchayat của quận Uttara Kannada thuộc bang Karnataka, Ấn Độ. == Địa lý == Ankola có vị trí 14.67°B 74.3°Đ / 14.67; 74.3 Nó có độ cao trung bình là 17 mét (55 feet). == Nhân khẩu == Theo điều tra dân số năm 2001 của Ấn Độ, Ankola có dân số 14.306 người. Phái nam chiếm 50% tổng số dân và phái nữ chiếm 50%. Ankola có tỷ lệ 78% biết đọc biết viết, cao hơn tỷ lệ trung bình toàn quốc là 59,5%: tỷ lệ cho phái nam là 83%, và tỷ lệ cho phái nữ là 74%. Tại Ankola, 10% dân số nhỏ hơn 6 tuổi. == Tham khảo ==
nạn đói lớn ở trung quốc.txt
Nạn đói lớn Trung Quốc (tiếng Trung: 三年大饑荒), chính thức đề cập đến nạn đói kéo dài 3 năm (Trung văn giản thể: 三年自然灾害; Trung văn phồn thể: 三年自然災害), là một giai đoạn thiếu đói từ năm 1958 đến 1961 tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó các chính sách kinh tế như Đại nhảy vọt, Chiến dịch diệt chim sẻ đã gây ra nạn đói khắp nơi. Theo thống kê của chính phủ, có khoảng 15 triệu người chết trong khoảng thời gian này. những nguồn tin không chính thức ước đoán khác nhau, các học giả cho là số nạn nhân chết đói từ 20 cho đến 43 triệu người. Sử gia Frank Dikötter, đã được cho phép đặc biệt tới Trung Quốc để nghiên cứu tài liệu trong văn khố ở đó, ước đoán số người chết ít nhất là 45 triệu người từ 1958 cho tới 1962. Nhà báo Trung Quốc Yang Jisheng kết luận là khoảng 36 triệu người chết vì đói, trong khi khoảng 40 triệu thai nhi chết vì hư thai, cho nên tổng số dân chúng mất trong thời gian nạn đói lớn là 76 triệu.. Các cụm từ 3 năm khó khăn kinh tế và Ba năm đắng cay cũng dùng để chỉ giai đoạn này. == Nguyên nhân == Nguyên nhân của Nạn đói lớn ở Trung Quốc là những áp lực xã hội, việc quản lý kinh tế sai lầm, những sự thay đổi quá khích trong nông nghiệp. Mao Trạch Đông, chủ tịch của đảng Cộng sản Trung Quốc, đưa vào những thay đổi lớn lao trong ngành nông nghiệp như cấm sản xuất nông nghiệp cá thể. Ai không tuân theo chính sách sẽ bị trừng phạt. Những áp lực xã hội áp đặt lên người dân về mặt nông nghiệp lẫn thương mại, mà chính phủ kiểm soát, dẫn tới tình trạng mất ổn định. Vì những luật lệ được ban hành, các chính sách kinh tế, nông nghiệp như Đại nhảy vọt, Chiến dịch diệt chim sẻ trong khoảng thời gian 1958–1962, theo như thống kê chính phủ, khoảng 36 triệu người đã chết trong thời kỳ này. Cho đến đầu thập kỷ 1980, lập trường của chính phủ Trung Quốc, được phản ánh qua tên gọi nạn đói trên là "3 năm thiên tai", rằng nạn đói phần lớn là do một loạt các thiên tai bị làm phức tạp hóa thêm bởi các lỗi hoạch định. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu bên ngoài Trung Quốc nhìn chung đồng ý rằng các thay đổi về chính sách và thể chế hàng loạt đi theo cuộc Đại nhảy vọt là các nhân tố chính dẫn đến nạn đói lớn này. Kể từ thập niên 1980, đã có sự thừa nhận chính thức lớn hơn của Trung Quốc về tầm quan trọng của các sai lầm chính sách trong việc gây ra tai họa trên, công nhận 35% là do thiên tai và 65% là xuất phát từ sự quản lý sai lầm. Trong thời kỳ Đại nhảy vọt, nông dân được tập hợp vào các công xã và các hoạt động sản xuất riêng bị cấm. Điều này dẫn đến động lực sản xuất của nông dân sút giảm. == Tham khảo ==
các dân tộc german.txt
Các dân tộc German (phiên âm từ Germain trong tiếng Pháp thành Giéc-manh; có gốc từ Germanus/Germani tiếng La-tinh, từ nguyên không chắc chắn, có lẽ gốc Celt) là các nhóm dân tộc Ấn-Âu có nguồn gốc từ Bắc Âu: phía đông sông Rhein và sông Danube, ở bên ngoài biên giới Limes Romanus của Đế chế La Mã cổ đại. == Tên gọi == Thủy tổ người Germanen sống ở Nam Thụy Điển, Đan Mạch, vùng Schlewig-Holstein, ở vùng đồng bằng thuộc phương Bắc nước Đức giữa lưu vực sông Weser và cửa sông Ode. Trong thời kỳ đồ đồng (Bronzezeit) khoảng 1500 tới 500 trước công nguyên hình thành một cộng đồng các tộc người Germanen có những tập tục và vóc dáng khác hẳn người Illyrer, người Kelten, người Slawen. Trong số các tộc người Germanen có người Franken, người Alamanen, người Sachsen, người Thủringen, người Goten, người Wandalen, người Langobarden v.v. Người Germanen được chia thành ba nhóm theo địa hình cư trú: người Germanen phương Bắc ở bán đảo Skandinavien và Đan Mạch, người Germanen phương Tây ở lưu vực giữa các sông Rhein, Elbe, Donau, người Germanen phương Đông ở lưu vực sông Elbe và sông Weichsel. Từ năm 500 trước Công nguyên, các tộc người Germanen tràn dần xuống phương Nam và đi sang phía tây. Người La Mã gọi vùng đất các tộc người Germanen sống ở lưu vực giữa các sông Rhein, sông Elbe, và sông Donau là Germania. Vùng đất Ostfrankisch dưới triều đại vua Otto I đại đế (936-973) chính là diện tích của nước Đức ngày nay. == Lịch sử == Thời tiền sử, người German sống ở các vùng lãnh thổ được gọi là Germania (tiếng La-tinh), Thule (Θούλη - Thoulē trong tiếng Hy Lạp, với nghĩa có lẽ là Scandinavia hoặc miền Bắc nước Đức), hay ven bờ Biển Đen (xem bài người Goth). Bắt đầu vào khoảng năm 1800 trước Công nguyên từ Văn hóa Corded Ware ở đồng bằng Bắc Đức, các dân tộc German bành trướng vào phía nam Scandinavia và hướng tới sông Vistula trong thời kì đồ đồng Bắc Âu, tới hạ lưu Danube vào khoảng năm 200 TCN Trong thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, Người Teuton và người Cimbri đã giao chiến với La Mã. Vào thời Julius Caesar, một nhóm người German dưới sự lãnh đạo của vị tù trưởng người Suebi Ariovistus đã bành trướng vào Gaul, cho đến khi họ bị chặn lại bởi Caesar ở trận Vosges. Những nỗ lực tiếp theo của Hoàng đế Augustus để sáp nhập vùng lãnh thổ phía đông của sông Rhine đã bị từ bỏ, sau khi Arminius tiêu diệt ba quân đoàn La Mã ở trận chiến rừng Teutoburg trong năm 9 CN. Vào lúc đó, những người lính German đã được tuyển mộ một cách ồ ạt vào quân đội La Mã, đặc biệt là trở thành các cận vệ cá nhân của Hoàng đế La Mã. Ở phía đông, các bộ lạc Đông German đã di cư từ Scandinavia đến hạ lưu Vistula [cần dẫn nguồn] thúc đẩy người Marcomanni xâm lược Ý vào năm 166 CN. Trong khi đó, người German, thông qua ảnh hưởng từ bảng chữ cái của Ý, đã phát minh ra bảng chữ cái Runes của họ. Vào thế kỷ thứ 3, Người Goth đã cai trị một khu vực rộng lớn ở phía bắc của Biển Đen, từ nơi đó họ hoặc có thể vượt qua hạ lưu sông Danube hoặc di chuyển bằng đường biển, cướp bóc bán đảo Balkan và Anatolia xa tới tận Cộng hòa Síp. Trong khi đó, sự lớn mạnh của liên minh giữa người Frank và người Alemanni đã phá vỡ các công sự biên giới và họ định cư dọc theo biên giới Rhine, xâm lược Gaul, Hispania và Ý xa tới tận Bắc Phi, trong khi cướp biển Saxon tàn phá vùng bờ biển Tây Âu. Sau khi người Hung trong thế kỷ thứ 4 xâm chiếm lãnh thổ của vua Goth Ermanaric, mà ở giai đoạn đỉnh cao của nó kéo dài từ sông Danube tới sông Volga, [cần dẫn nguồn] và từ đen đến biển Baltic, [cần dẫn nguồn] hàng ngàn người Goth bỏ chạy vào khu vực Balkan, đánh bại những người La Mã ở trận Adrianople và cướp phá thành Roma sau đó vào năm 410, trong khi hàng ngàn người German khác lại đang vượt qua sông Rhine. Bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất, thế giới La-tinh bắt đầu biết đến các dân tộc này được biết đến nhiều hơn, chủ yếu qua tác phẩm của nhà sử học Tacitus. Theo Tacitus, người German là các dân tộc thiện chiến. Vào thời Hậu Cổ đại (năm 300-600) và đầu thời Trung cổ. Các ngôn ngữ German trở nên phổ biến dọc theo biên giới La Mã (Áo, Đức, Hà Lan, Bỉ, và Anh), nhưng ở phần còn lại của các tỉnh La Mã (phía tây), người German di cư tiếp nhận các phương ngữ La-tinh (nhóm ngôn ngữ Rôman). Sự khác biệt ngày càng lớn về ngôn ngữ đã tách các cộng đồng dân cư thành 3 nhóm chính: nhóm German Đông, nhóm German Tây, và nhóm German Bắc. Con cháu của các dân tộc này trở thành các nhóm dân tộc vùng Bắc Tây Âu như người Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Iceland, Đức, Hà Lan, Anh, và người Frisia. Tất cả các dân tộc German cuối cùng đã được Ki-tô giáo hóa ở nhiều mức độ khác nhau. Các dân tộc này đã đóng một vai trò lớn trong sự biến đổi Đế chế La Mã thành châu Âu thời Trung cổ, và họ đóng góp vào sự phát triển một nền văn hóa, lịch sử, và bản sắc chung vượt qua các biên giới về ngôn ngữ. Người German cũng góp phần thành lập nước Đức cường thịnh. == Xem thêm == Người German Chủng tộc Aryan Người Viking Người Frank Anglo-Saxon == Tham khảo == Archer, Christon I., John R. Ferris, Holger H. Herwig, and Timothy H. E. Travers. World History of Warfare. Lincoln, NE: University of Nebraska Press, 2008. ISBN 978-0-8032-1941-0 Beck, Heinrich and Heiko Steuer and Dieter Timpe, eds. Die Germanen. Studienausgabe. Reallexikon der germanischen Altertumskunde. Berlin, New York: Walter de Gruyter 1998. Xi + các trang 258 ISBN 3-11-016383-7. Collins, Roger. Early medieval Europe. 300–1000. 2nd ed. Basingstoke: Macmillan 1999. XXV + 533 pp. ISBN 0-333-65807-8 Cunliffe, Barry. Europe between the Oceans, 9000 BC - AD 1000. New Haven & London: Yale University Press, 2008. ISBN 978-0-300-17086-3 Ferguson, Robert. The Vikings: A History. New York: Penguin, 2010. ISBN 978-0-143-11801-5 Geary, Patrick J. Before France and Germany. The creation and transformation of the Merovingian world. Oxford: Oxford University Press 1988. Xii + 259 pp. ISBN 0-19-504458-4. Geary, Patrick J. The Myth of Nations. The Medieval Origins of Europe. Princeton: Princeton University Press 2002. X + 199 pp. ISBN 0-691-11481-1. Heather, Peter. Empires and Barbarians: The Fall of Rome and the Birth of Europe. Oxford & New York: Oxford University Press, 2012. ISBN 978-0-19-989226-6 Herrmann, Joachim. Griechische und lateinische Quellen zur Frühgeschichte Mitteleuropas bis zur Mitte des 1. Jahrtausends unserer Zeitrechnung. I. Von Homer bis Plutarch. 8. Jh. v. u. Z. bis 1. Jh. v. u. Z. II. Tacitus-Germania. III. Von Tacitus bis Ausonius. 2. bis 4. Jh. u. Z. IV. Von Ammianus Marcellinus bis Zosimos. 4. und 5. Jh. u. Z. Berlin: Akademie Verlag 1988–1992. I: 657 pp. ISBN 3-05-000348-0. II: 291 pp. ISBN 3-05-000349-9. III: 723 pp. ISBN 3-05-000571-8. IV: 656 pp. ISBN 3-05-000591-2. Pohl, Walter. Die Germanen. Enzyklopädie deutscher Geschichte 57. München: Oldenbourg 2004. X + 156 pp. ISBN 3-486-56755-1. Pohl, Walter. Die Völkerwanderung. Eroberung und Integration. Stuttgart: Kohlhammer 2002. 266 pp. ISBN 3-17-015566-0. Monograph, German. Todd, Malcolm. The Early Germans. Oxford: Blackwell 2004. Xii + 266 pp. ISBN 0-631-16397-2. Udolph, Jürgen. Namenkundliche Studien zum Germanenproblem. DeGruyter, Berlin 1994, ISBN 3-11-014138-8 Ward-Perkins, Bryan. The Fall of Rome: And the End of Civilization. New York: Oxford University Press, 2005. ISBN 978-0-192-80728-1 Wolfram, Herwig. History of the Goths. Berkeley: University of California Press 1988. Xii + 613 pp. ISBN 0-520-05259-5 Wolfram, Herwig. The Roman Empire and its Germanic peoples. Berkeley: University of California Press 1997. XX + 361 pp. ISBN 0-520-08511-6. Woolf, Greg. Tales of the Barbarians: Ethnography and Empire in the Roman West. Malden, MA: Wiley-Blackwell, 2011. ISBN 978-1-118-78510-2.
trung tự.txt
Trung Tự là một phường thuộc quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Phường Trung Tự có diện tích 0,42 km², dân số năm 1999 là 13519 người, mật độ dân số đạt 32188 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
altyn-tagh.txt
Altyn-Tagh, Astyn-Tagh, dãy núi Altun, Altun Shan hay A Nhĩ Kim Sơn (tiếng Trung: 阿尔金山; bính âm: Ā'ěrjīnshān; Altyn Tagh có nghĩa là núi Vàng trong ngôn ngữ Turk; bản thân Astyn- Tagh là một phần của dãy núi phía nam của Lop Nur), là một dãy núi ở tây bắc Trung Quốc phân tách phần phía đông của lòng chảo Tarim với cao nguyên Thanh-Tạng. Một phần ba ở phía tây của dãy núi thuộc Tân Cương trong khi phần phía đông tạo thành ranh giới giữa Thanh Hải ở phía nam và Tân Cương cùng Cam Túc ở phía bắc. Altun Shan cũng là tên của ngọn núi cao 5.830 gần cực đông của dãy. == Địa lý == Một loạt các dãy núi chạy dọc theo rìa phía bắc của cao nguyên Thanh Tạng. Ở phía tây là dãy núi Côn Lôn. Khoảng nửa đường qua lòng chảo Tarim, nơi các dãy núi bắt đầu định hướng một chút về phía bắc, dãy núi ranh giới trở thành Altyn-Tagh, trong khi Côn Lôn tiếp tục thẳng hướng đông, tạo thành một hình chữ "V". Bên trong chữ "V" có một số lòng chảo nội lục. Cự đông của Altyn-Shan nằm gần tuyến đường Đôn Hoàng-Golmud ở cực tây Cam Túc. Phía đông của Altyn-Tagh các dãy núi ranh giới nân lên đến Kỳ Liên Sơn. Dọc theo phía bắc của dãy núi là tuyến thương mại con đường tơ lụa từ Trung Quốc bản thổ đến lòng chảo Tarim và hướng về phía tây. Altun-Tagh và Kỳ Liên Sơn đôi khi được gọi là Nam Sơn bởi chúng nằm ở phía nam tuyến đường chính. Gần cực tây của Altun-Shan, hành lang Hà Tây (hay Cam Túc) kết thúc và con đường tơ lụa bị chia tách. Một nhánh theo Altun-Tagh dọc theo phía nam của lòng chảo Tarim trong khi các nhánh khác đi theo biên phía bắc. Phần tây nam của dãy Altyn-Tagh có các ngọn núi tuyết cao tới 6295 m, mặc dù nó hạ xuống độ cao trung bình 4000 m tại các vùng hẹp giữa và cuối cùng nâng lên đến 5000 m tại đoạn giáp Nam Sơn == Lòng chảo nội lục gian sơn == Bên trong khu vực chữ "V" giữa Altyn-Tagh và dãy chính Côn Lôn (được gọi là Arka-Tagh) có một số lòng chảo nội lục. Trên địa bàn đông nam Tân Cương, chính trong số các lòng chảo này là lòng chảo Kumkol (tiếng Trung: 库木库里盆地; bính âm: Kùmùkùlǐ Péndì, Hán Việt: Khố Mộc Khố Lý bồn địa) Hai hồ nước chính của bồn địa này là hồ Aqqikkol (cũng gọi là Ajig Kum Kul, Achak-kum; tiếng Trung: 阿其克库勒湖; bính âm: Āqíkèkùlè Hú; 37°05′N,88°25′E, cao độ 4.250 m elevation) và hồ Ayakkum (tiếng Trung: 阿牙克库木湖; bính âm: Āyákèkùmù hú); 37°30′N,89°30′E; cao độ 3.876 m). Các hồ này là hai trong số các nguồn nước đáng kể của khu vực cực kỳ khô cằn này; khu vực xung quanh chúng được bảo tồn với tên gọi Khu bảo tồn thiên nhiên Altun Shan. Xa hơn về phía đông, ở tây bắc Thanh Hải, bồn địa Qaidam Basin lớn hơn nhiều bắt đầu từ giữa Altyn-Tagh và Côn Lôn rồi trải rộng ra; Altyn-Tagh phân tách phần phía tây của bồn địa này với sa mạc Kumtagh. == Các đỉnh chính == Sáu đỉnh chính của Altyn-Tagh là Ak Tag (6748 m), Sulamutag Feng (6245 m), Yusupu Aleketag Shan (6065 m), Altun Shan (5830 m), Muzluktag (5766 m) và Kogantag (4800 m). == Chú thích == == Tham khảo == Átlat Địa lý quốc gia Trung Quốc, 2008 Meng, Qing-Ren; Fang, Xiang (2008), “Cenozoic tectonic development of the Qaidam Basin in the northeastern Tibetan Plateau”, trong Burchfiel, B. C.; Wang, Erchie, Investigations into the tectonics of the Tibetan plateau, Volume 444 of Special paper - Geological Society of America, Geological Society of America, tr. 1–3, ISBN 0-8137-2444-9 Zheng, Mianping (1997), An introduction to saline lakes on the Qinghai-Tibet plateau, Springer, tr. 229, ISBN 0-7923-4098-1 == Liên kết ngoài == Ảnh của NASA về hồ Ayakkum cũng khu vực xung quanh
sakai, osaka.txt
Bài này nói về thành phố Sakai (堺市) thuộc tỉnh Osaka. Về thành phố Sakai (坂井市) thuộc tỉnh Fukui, xem bài Sakai, Fukui Sakai (堺市, Giới thị) là một đơn vị hành chính cấp hạt thuộc tỉnh Osaka, vùng Kinki trên đảo Honshu, Nhật Bản. == Khái quát == Thành phố Sakai nằm ở phía Nam khu vực giữa tỉnh Osaka, cũng đồng thời là vị trí trung tâm của vùng Kinki, bên bờ vịnh Osaka, tại cửa sông Yamato. Bắc thành phố Sakai tiếp giáp với Nam thành phố Osaka. Thành phố có diện tích là 149,99 km², dân số là 832.287 người. Xét chung cả về diện tích lẫn dân số, Sakai là thành phố lớn thứ hai của tỉnh Osaka (sau thành phố Osaka), lớn thứ tư của vùng Kinki, và lớn thứ 15 của cả Nhật Bản Sakai là một trong những hải cảng quan trọng của Nhật Bản từ thời trung cổ cho đến nay. Kinh tế của thành phố phụ thuộc nhiều vào ngoại thương. == Lịch sử == Năm 1889: Thành phố Sakai được thành lập. Năm 2005: Thị trấn Mihara được nhập vào thành phố Sakai. Năm 2006: Thành phố được Chính phủ Nhật Bản công nhận là đô thị quốc gia. == Hành chính == Thành phố được chia làm 7 khu (quận). == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của thành phố Sakai
hệ ngôn ngữ mông cổ.txt
Hệ ngôn ngữ Mông Cổ là một nhóm các ngôn ngữ được nói ở Đông và Trung Á, chủ yếu ở Mông Cổ và các khu vực xung quanh, và ở Kalmykia (Nga). Thành viên nổi tiếng nhất của hệ ngôn ngữ này là tiếng Mông Cổ, là ngôn ngữ chính của hầu hết các cư dân của Mông Cổ và người Mông Cổ ở Nội Mông, Trung Quốc, với khoảng 5,7+ triệu người nói. Những ngôn ngữ này không có sự khác nhau nhiều về từ vựng, nhưng lại khác nhau nhiều hơn về hình thái và cú pháp. Tiếng Khiết Đan đã tuyệt chủng dường như là ngôn ngữ gần nhất với ngôn ngữ Mông Cổ. Tại Mông Cổ thì bảng chữ cái Kirin được sử dụng. Tại vùng Nội Mông ở Trung Quốc thì chữ Mông Cổ truyền thống (hoặc chuẩn) hoặc chữ Hán được sử dụng. == Ngôn ngữ Mông Cổ và hệ ngôn ngữ Altai == Một số nhà ngôn ngữ học đã nhóm các ngôn ngữ Mông Cổ với các ngôn ngữ Turk, Tungus, và có thể cả tiếng Triều Tiên và Nhật Bản như là một phần của một hệ ngôn ngữ Altai lớn hơn, nhưng điều này đã không được thừa nhận rộng rãi. == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói Danh sách ngôn ngữ theo tổng số người sử dụng == Liên kết ngoài ==
lưu ba.txt
Lưu Ba (chữ Hán: 劉巴; ?-222) là quan nhà Thục Hán thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. == Thân thế == Lưu Ba có tên tự là Tử Sơ (子初), người ở nam quận Linh Lăng (thuộc Kinh châu). Ông nội của Lưu Ba là Lưu Diệu từng làm Thái thú Thương Ngô (thuộc Giao châu). Cha ông là Lưu Tường, nguyên là Thái thú Giang Hạ (cũng thuộc Kinh châu), Đãng Khấu tướng quân thời Đông Hán. Khi Tôn Kiên cử binh đánh Đổng Trác, Thái thú Nam Dương là Trương Tư không chịu cấp quân lương nên bị Tôn Kiên giết chết. Lưu Tường cũng đồng lòng với Kiên, vì vậy bị nhân sĩ Nam Dương oán hận, cử binh đến đánh. Lưu Tường giao tranh bại trận bị giết. == Sự nghiệp == === Ở Kinh châu === Sau đó Lưu Biểu đến làm thứ sử Kinh châu vốn cũng không có quan hệ tốt với Lưu Tường nên giam lỏng Lưu Ba. Lưu Biểu muốn giết ông, song lại chưa dứt khoát, bèn sai người thân tín cũ của Lưu Tường giả mật báo với Lưu Ba rủ ông cùng trốn. Ba lần rủ mà Lưu Ba đều không nghe theo. Lưu Biểu được thuật lại việc này, bèn bỏ ý định giết ông và thả ông ra. Năm mười tám tuổi, Lưu Ba làm Tào sử chủ ký chủ bộ ở quận Linh Lăng. Lưu Bị đến Kinh châu với Lưu Biểu, nghe tiếng Lưu Ba bèn viết thư cho ông, định sai cháu họ về bên ngoại là Chu Bất Nghi theo ông học tập. Lưu Ba viết thư khiêm nhường từ chối. Sau đó Lưu Biểu liên tục gọi mời, tiến cử làm Mậu Tài, Lưu Ba đều không tới. Năm 208, Lưu Biểu chết, Tào Tháo đánh Kinh châu. Lưu Bị chạy xuống phía Nam, kẻ sĩ vùng Kinh Sở đều chạy theo về phía đó, riêng Lưu Ba đi lên phía bắc gặp Tào Tháo, khuyên Tào Tháo nhất định không thể để Lưu Bị chiếm Kinh châu. Ông được Tào Tháo lấy làm Duyện, sai đi chiêu nạp kẻ sĩ ở các quận Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương. === Lưu lạc === Không lâu sau Tào Tháo bại trận ở Xích Bích, phải rút về phía bắc, Lưu Bị thu được ba quận Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương, vì vậy Lưu Ba không thể trở về với Tào Tháo nữa, định bỏ chạy đến quận Giao Chỉ (thuộc Giao châu) để mượn đường trở về Hứa Đô. Ông gửi thư cho quân sư tướng quân dưới quyền Lưu Bị là Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng khuyên ông về theo Lưu Bị nhưng ông tỏ ra không khuất phục khiến Lưu Bị rất hận ông. Lưu Ba đến Giao Chỉ, đổi thành họ Trương. Ông bàn bạc cùng Thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp nhưng không hợp, bèn theo đường quận Tường Kha (thuộc Ích châu) trở về bắc, bị quan trấn giữ ở quận trị quận Ích Châu. Thái thú quận Ích Châu muốn giết Lưu Ba nhưng viên Chủ bộ can ngăn rằng ông là người phi thường không nên giết. Thái thú Ích châu nghe lời Chủ bộ, cho giải ông đến Thành Đô cho Lưu Chương. === Tại Ích châu === Lưu Chương trọng dụng ông, mỗi khi có việc lớn đều đến hỏi han. Lưu Chương sai Pháp Chính đón Lưu Bị vào Tây Xuyên giúp chống Trương Lỗ, Lưu Ba can không nên nhưng Lưu Chương không nghe theo. Lưu Ba đóng cửa cáo bệnh. Năm 214, Lưu Bị đánh chiếm Tây Xuyên từ tay Lưu Chương. Lưu Bị hạ lệnh không ai được làm hại ông. Lưu Ba quyết định quy phục Lưu Bị, có lời tạ tội trái lệnh lúc trước, Lưu Bị không trách cứ ông. Lưu Ba được Gia Cát Lượng tán dương cân nhắc tiến cử, Lưu Bị dùng làm Tả Tướng quân Tây Tào duyện. Khi đánh Lưu Chương, Lưu Bị hẹn với quân sĩ sau khi thắng trận sẽ ban phát của cải trong kho cho họ. Vì vậy khi chiếm được Thành Đô, quân sĩ đều bỏ vũ khí chạy đến các kho tàng mà đua nhau lấy tài vật. Quân dụng chi dùng không đủ, Lưu Bị rất lo buồn. Lưu Ba hiến kế rằng: Đúc ngay tiền trị giá một trăm, điều hoà giá trị mọi vật, dùng thư lại làm quan kiểm soát.’’ Lưu Bị nghe theo, chỉ khoảng vài tháng, kho tàng lại đầy đủ sung túc. Năm 219, Lưu Bị xưng Hán Trung vương, cho Lưu Ba làm Thượng thư, sau kế tục Pháp Chính làm Thượng thư Lệnh. Lưu Ba khiêm hoà liêm khiết, không mưu làm giàu cá nhân, cung kính trầm mặc, không quan hệ riêng tư, chỉ bàn việc công. Năm 220, con Tào Tháo là Tào Phi giành ngôi nhà Hán. Lưu Bị muốn lên ngôi hoàng đế để kế tục Hán Hiến Đế. Lưu Ba cho rằng hãy tạm hoãn lại, không nên vội vàng như vậy khi chưa yên được thiên hạ. Ông cùng Chủ bộ Ung Mậu can Lưu Bị. Lưu Bị không nghe, sau đó mượn cớ khác giết Ung Mậu và lên ngôi hoàng đế vào tháng 4 năm 221. Khi Lưu Bị lên ngôi, các loại văn cáo sách mệnh đều do Lưu Ba chấp bút. Năm 222, Lưu Ba qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi. Sau khi ông mất, quan Thượng thư phó xạ nước Nguỵ là Trần Quần có viết thư gửi Thừa tướng Gia Cát Lượng hỏi thăm tin tức của ông, gọi ông là Lưu quân Tử Sơ, vô cùng kính trọng. Ở bên Đông Ngô, trong khi Trương Chiêu chê ông là người hẹp hòi thì Tôn Quyền lại ca ngợi ông là cao sĩ. == Xem thêm == Lưu Biểu Lưu Bị == Tham khảo == Trần Thọ, Tam quốc chí, Bùi Tùng Chi chú, thiên: Đổng Lưu Mã Trần Đổng Lã truyện Lê Đông Phương (2007), Kể chuyện Tam Quốc, Nhà xuất bản Đà Nẵng == Chú thích ==
lưu huỳnh.txt
Lưu huỳnh là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu S và số nguyên tử 16. Nó là một phi kim phổ biến, không mùi, không vị, nhiều hóa trị. Lưu huỳnh, trong dạng gốc của nó là chất rắn kết tinh màu vàng chanh. Trong tự nhiên, nó có thể tìm thấy ở dạng đơn chất hay trong các khoáng chất sulfua và sulfat. Nó là một nguyên tố thiết yếu cho sự sống và được tìm thấy trong hai axít amin. Sử dụng thương mại của nó chủ yếu trong các phân bón nhưng cũng được dùng rộng rãi trong thuốc súng, diêm, thuốc trừ sâu và thuốc diệt nấm. == Các đặc trưng nổi bật == Ở nhiệt độ phòng, lưu huỳnh là một chất rắn xốp màu vàng nhạt. Mặc dù lưu huỳnh không được ưa thích do mùi của nó - thường xuyên bị so sánh với mùi trứng ung - mùi này thực ra là đặc trưng của sulfua hiđrô (H2S); còn lưu huỳnh đơn chất không có mùi. Nó cháy với ngọn lửa màu xanh lam và tỏa ra điôxít lưu huỳnh, với mùi ngột ngạt dị thường. Lưu huỳnh không hòa tan trong nước nhưng hòa tan trong đisulfua cacbon và các dung môi không phân cực khác. Các trạng thái ôxi hóa phổ biến của nó là -2, -1(pirit sắt...), +2, +4 và +6. Lưu huỳnh tạo thành các hợp chất ổn định với gần như mọi nguyên tố, ngoại trừ các khí trơ. Lưu huỳnh trong trạng thái rắn thông thường tồn tại như là các phân tử vòng dạng vòng hoa S8. Lưu huỳnh có nhiều thù hình bên cạnh S8. Loại một nguyên tử từ vòng sẽ là S7, đây là nguyên nhân cho màu vàng đặc trưng của lưu huỳnh. Nhiều vòng khác cũng được điều chế ra, bao gồm S12 và S18. Trái lại, nguyên tố ôxy cùng phân nhóm nhưng nhẹ hơn về cơ bản chỉ tồn tại trong hai dạng cơ bản có ý nghĩa hóa học là: O2 và O3. Selen, nguyên tố nặng hơn cùng phân nhóm với lưu huỳnh có thể tạo ra các vòng nhưng thông thường nó nằm trong chuỗi polyme. Tinh thể lưu huỳnh rất phức tạp. Phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể, các thù hình của lưu huỳnh tạo thành vài cấu trúc tinh thể khác nhau, với các dạng hình thoi và xiên đơn S8 là các dạng được nghiên cứu kỹ nhất. Một tính chất đáng chú ý là độ nhớt của lưu huỳnh nóng chảy, không giống như phần lớn các chất lỏng khác, tăng lên theo nhiệt độ do sự hình thành các chuỗi polyme. Tuy nhiên, sau khi đã đạt được một khoảng nhiệt độ nhất định thì độ nhớt lại bị giảm do đã đủ năng lượng để phá vỡ chuỗi polyme. Lưu huỳnh vô định hình hay "dẻo" có thể được tạo ra khi làm nguội nhanh lưu huỳnh nóng chảy. Các nghiên cứu tinh thể bằng tia X chỉ ra rằng dạng vô định hình có thể có cấu trúc xoắn ốc với 8 nguyên tử trên một vòng. Dạng này là ổn định động ở nhiệt độ phòng và dần dần chuyển ngược thành dạng kết tinh. Tiến trình này diễn ra trong vòng vài giờ hay vài ngày nhưng có thể tăng tốc nhờ xúc tác. == Ứng dụng == Lưu huỳnh có nhiều ứng dụng công nghiệp. Thông qua dẫn xuất chính của nó là axít sulfuric (H2SO4), lưu huỳnh được đánh giá là một trong các nguyên tố quan trọng nhất được sử dụng như là nguyên liệu công nghiệp. Nó là quan trọng bậc nhất đối với mọi lĩnh vực của nền kinh tế thế giới. Sản xuất axít sulfuric là sử dụng chủ yếu của lưu huỳnh, và việc tiêu thụ axít sulfuric được coi như một trong các chỉ số tốt nhất về sự phát triển công nghiệp của một quốc gia. Axít sulfuric được sản xuất hàng năm ở Hoa Kỳ nhiều hơn bất kỳ hóa chất công nghiệp nào khác. Lưu huỳnh cũng được sử dụng trong ắc quy, bột giặt, lưu hóa cao su, thuốc diệt nấm và trong sản xuất các phân bón phốtphat. Các sulfit được sử dụng để làm trắng giấy và làm chất bảo quản trong rượu vang và làm khô hoa quả. Do bản chất dễ cháy của nó, lưu huỳnh cũng được dùng trong các loại diêm, thuốc súng và pháo hoa. Các thiosulfat natri và amôni được sử dụng như là các tác nhân cố định trong nhiếp ảnh. Sulfat magiê, được biết dưới tên gọi muối Epsom có thể dùng như thuốc nhuận tràng, chất bổ sung cho các bình ngâm (xử lý hóa học), tác nhân làm tróc vỏ cây, hay để bổ sung magiê cho cây trồng. Cuối thế kỷ 18, các nhà sản xuất đồ gỗ sử dụng lưu huỳnh nóng chảy để tạo ra các lớp khảm trang trí trong các sản phẩm của họ. Do điôxít lưu huỳnh được tạo ra trong quá trình nung chảy lưu huỳnh nên các đồ gỗ với lớp khảm lưu huỳnh đã bị loại bỏ rất nhanh. Từ xa xưa, người ta đã biết dùng Lưu huỳnh để làm đẹp da và trị mụn trứng cá. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm ra cách hoạt động của Lưu huỳnh trong việc điều trị mụn. Bằng thực nghiệm, người ta đã kết luận Lưu huỳnh có khả năng kháng viêm và kháng khuẩn cao, từ đó làm xẹp nốt mụn một cách nhanh chóng. Để đạt hiệu quả cao, Lưu huỳnh có thể được kết hợp với Axit Salicylic (BHA) hay Resorcinol trong thành phần dược liệu. == Vai trò sinh học == Các axít amin cystein và methionin chứa lưu huỳnh, cũng như mọi polypeptid, protein và enzym có chứa các axít amin này. Điều đó làm cho lưu huỳnh trở thành thành phần cần thiết cho mọi tế bào. Các liên kết disulfua giữa các polypeptid là rất quan trọng trong sự tạo thành và cấu trúc của protein. Homocystein và taurin cũng là các axít amin chứa lưu huỳnh nhưng không được mã hóa bởi ADN và chúng cũng không phải là một phần của cấu trúc sơ cấp của các protein. Một số dạng vi khuẩn sử dụng sulfua hiđrô (H2S) thay vào vị trí của nước như là chất cung cấp electron trong các tiến trình thô sơ tương tự như quang hợp. Thực vật cũng hấp thụ lưu huỳnh từ đất trong dạng các ion sulfat. Lưu huỳnh vô cơ tạo thành một phần của các cụm sắt-lưu huỳnh, và lưu huỳnh là chất cầu nối trong vị trí CuA của cytochrom c ôxidaza. Lưu huỳnh là thành phần quan trọng của coenzym A == Ảnh hưởng môi trường == Sự đốt cháy than và dầu mỏ trong công nghiệp và các nhà máy điện giải phóng ra một lượng lớn điôxít lưu huỳnh SO2, nó sẽ phản ứng với hơi nước và ôxy có trong khí quyển để tạo ra axít sulfuric. Đây là nguyên nhân của các trận mưa axít và làm giảm pH của đất cũng như các khu vực chứa nước ngọt, tạo ra những tổn thất đáng kể cho môi trường tự nhiên và gây ra phong hóa hóa học đối với các công trình xây dựng và kiến trúc. Các tiêu chuẩn về nhiên liệu đã thắt chặt các chỉ tiêu về hàm lượng lưu huỳnh trong các nhiên liệu hóa thạch để giảm thiểu sự hình thành của mưa axít. Lưu huỳnh được tách ra từ các nhiên liệu này sau đó sẽ được làm tinh khiết và tạo ra một phần lớn của sản lượng lưu huỳnh được sản xuất. == Lịch sử == Lưu huỳnh (tiếng Phạn, sulvere; tiếng Latinh sulpur), (còn được gọi là lưu hoàng, sinh diêm vàng, diêm sinh) đã được biết đến từ thời cổ đại, và nó được nhắc đến trong Pentateuch của Kinh Thánh (Sáng thế ký). Các phiên dịch ra tiếng Anh của nó đều coi lưu huỳnh như là "brimstone", tạo ra tên gọi của các bài thuyết giáo 'Fire and brimstone', trong đó địa ngục và sự quở trách của Thượng đế đối với những kẻ có tội được nhấn mạnh. Nó có từ phần của Kinh Thánh cho rằng địa ngục có mùi của lưu huỳnh. Trong tiếng Ả Rập sufra có nghĩa là màu vàng, có từ màu sáng của dạng tự nhiên của lưu huỳnh và người ta cho rằng nó là nguyên từ của các tên gọi để chỉ lưu huỳnh trong ngôn ngữ của một số quốc gia châu Âu hiện nay. Homer đã đề cập tới "lưu huỳnh ngăn ngừa các loài phá hoại" từ thế kỷ 9 TCN và năm 424 TCN thì bộ tộc ở Boeotia đã tiêu hủy các bức tường của thành phố bằng cách đốt hỗn hợp than, lưu huỳnh và hắc ín dưới chân tường. Vào khoảng thế kỷ 12, người Trung Quốc đã phát minh ra thuốc súng, nó là hỗn hợp của nitrat kali (KNO3), cacbon và lưu huỳnh. Các nhà giả kim thuật ban đầu cho lưu huỳnh ký hiệu giả kim thuật là một tam giác ở đỉnh của chữ thập. Vào những năm cuối thập niên 1770, Antoine Lavoisier đã củng cố niềm tin của cộng đồng khoa học khi cho rằng lưu huỳnh là một nguyên tố chứ không phải hợp chất. Năm 1867 lưu huỳnh đã được phát hiện trong các mỏ ở Louisiana và Texas. Lớp nằm trên của nó là cát chảy đã ngăn cản các hoạt động khai thác thông thường. Vì thế quy trình Frasch đã nảy sinh và được thực hiện. == Sự phổ biến == Lưu huỳnh dạng đơn chất có thể tìm thấy ở gần các suối nước nóng và các khu vực núi lửa tại nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là dọc theo vành đai lửa Thái Bình Dương. Các nguồn phổ biến này là cơ sở cho tên gọi truyền thống brimstone, do lưu huỳnh có thể tìm thấy gần các miệng núi lửa. Các trầm tích núi lửa hiện được khai thác tại Indonesia, Chile và Nhật Bản. Các mỏ đáng kể của lưu huỳnh đơn chất cũng tồn tại trong các mỏ muối dọc theo bờ biển thuộc vịnh Mexico và trong các evaporit ở Đông Âu và Tây Á. Lưu huỳnh trong các mỏ này được cho là có được nhờ hoạt động của các vi khuẩn kỵ khí đối với các khoáng chất sulfat, đặc biệt là thạch cao. Các mỏ này là nền tảng của sản xuất lưu huỳnh công nghiệp tại Hoa Kỳ, Ba Lan, Nga, Turkmenistan và Ukraina. Lưu huỳnh thu được từ dầu mỏ, khí đốt và cát dầu Athabasca đã trở thành nguồn cung cấp lớn trên thị trường, với các kho dự trữ lớn dọc theo Alberta. Các hợp chất chứa lưu huỳnh nguồn gốc tự nhiên phổ biến nhất là các sulfua kim loại, như pyrit (sulfua sắt), cinnabar hay chu sa (sulfua thủy ngân), galen (sulfua chì), sphalerit (sulfua kẽm) và stibnit (sulfua antimon) cũng như các sulfat kim loại, như thạch cao (sulfat canxi), alunit (sulfat nhôm kali) và barit (sulfat bari). Sulfua hiđrô là một chất khí tạo ra mùi đặc trưng của trứng thối. Trong tự nhiên, nó có trong các sản phẩm phun trào từ núi lửa, chẳng hạn từ các miệng phun thủy nhiệt, và do tác động của vi khuẩn với các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh khi bị phân hủy. Các màu đặc trưng của các vệ tinh núi lửa của Sao Mộc, như Io, là do các dạng khác nhau của lưu huỳnh gây ra (nóng chảy, rắn hay khí). Các khu vực sẫm màu trên Mặt Trăng gần hố Aristarchus có thể là mỏ lưu huỳnh. Lưu huỳnh cũng tồn tại trong nhiều loại thiên thạch. == Hợp chất == Sulfua hiđrô có mùi đặc trưng của trứng thối. Khi hòa tan trong nước nó có tính axít và phản ứng với nhiều kim loại để tạo ra các sulfua kim loại. Các sulfua kim loại khá phổ biến, đặc biệt là của sắt. Sulfua sắt còn được gọi là pyrit cũng như khoáng sản màu vàng. Một điều thú vị là pyrit có các tính chất bán dẫn [1]. Galen là sulfua chì tự nhiên, là chất bán dẫn đầu tiên được phát hiện và nó đã từng được dùng làm bộ chỉnh lưu tín hiệu trong các "râu mèo" của các radio tinh thể đầu tiên. Nhiều hợp chất hữu cơ của lưu huỳnh với mùi khó ngửi như các êtyl và mêtyl mecaptan được dùng làm chất tạo mùi cho khí đốt nhằm dễ dàng phát hiện rò rỉ. Mùi của tỏi và "mùi hôi như chồn hôi" cũng do các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh gây ra. Tuy nhiên, không phải mọi hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh đều có mùi khó ngửi, chẳng hạn, terpen-một hợp chất chứa lưu huỳnh là tác nhân tạo ra mùi thơm đặc trưng của quả bưởi chùm. Nitrua lưu huỳnh polyme hóa có các tính chất của kim loại mặc dù nó không chứa bất kỳ một nguyên tử kim loại nào. Hợp chất này cũng có các tính chất điện và quang học bất thường. Polyme này có thể tạo ra từ têtranitrua têtra lưu huỳnh S4N4. Các hợp chất quan trọng khác của lưu huỳnh còn có: Vô cơ: Các sulfua (S2-) là các hợp chất đơn giản nhất của lưu huỳnh với các nguyên tố hóa học khác. Các sulfit (SO32-), các muối của axít sulfurơ, H2SO3, được tạo ra bằng cách hòa tan SO2 trong nước. Axít sulfurơ và các sulfit tương ứng là các chất khử tương đối mạnh. Các hợp chất dẫn xuất khác từ SO2 còn có các ion pyrosulfit hay mêtabisulfit (S2O52−). Các sulfat (SO42-), các muối của axít sulfuric. Axít sulfuric cũng phản ứng với SO3 trong các tỷ lệ đẳng phân tử gam để tạo ra axít pyrosulfuric (H2S2O7). Các thiôsulfat (đôi khi được gọi là thiôsulfit hay "hyposulfit") (S2O32−)- như thiôsulfat natri được dùng như các chất cố định trong nhiếp ảnh (trong vai trò của các chất khử) và thiôsulfat amôni đã được phát hiện như là chất thay thế cho các xyanua trong lọc quặng vàng [2]. Đithiônit natri, Na2S2O4 tạo ra từ axít hyposulfurơ/đithiônơ - là một chất khử mạnh. Đithiônat natri (Na2S2O6) Các axít polythiônic (H2SnO6), trong đó n dao động từ 3 đến 80. Axít perôxymônôsulfuric (H2SO5) và axít perôxyđisulfuric (H2S2O8)-được điều chế từ phản ứng của SO3 hay H2SO4 với H2O2 đậm đặc một cách tương ứng. Các polisulfua natri (Na2Sx) Hexaflorua lưu huỳnh, SF6, một tác nhân đẩy nặng, dạng khí, không phản ứng và không độc Têtranitrua têtra lưu huỳnh S4N4. Các thiôxyanat là các hợp chất chứa ion thiôxyanat, SCN-. Liên quan đến các ion này là thiôxyanôgen, (SCN)2. Hữu cơ: đimêtyl sulfôniôprôpiônat (DMSP; (CH3)2S+CH2CH2COO-) là thành phần trung tâm của chu trình lưu huỳnh hữu cơ trong đại dương. Các thiôête là các phân tử với công thức tổng quát dạng R-S-R′, trong đó R và R′ là các nhóm hữu cơ. Các chất này là sự tương đương của các ête (lưu huỳnh thay thế ôxy). Các thiol (hay mecaptan) là các phân tử với nhóm chức -SH. Chúng là các chất tương đương với rượu (lưu huỳnh thay thế ôxy). Các thiolat có nhóm chức -S- gắn vào. Chúng là các chất tương đương của các ankôxít (lưu huỳnh thay thế ôxy). Sulfôxít là các phân tử với nhóm chức R-S(=O)-R′, trong đó R và R′ là các nhóm hữu cơ. Một chất phổ biến trong số các sulfôxít là DMSO. Sulfon là các phân tử với nhóm chức R-S(=O)-R′, trong đó R và R′ là các nhóm hữu cơ. Thuốc thử Lawesson là thuốc thử hóa học có thể lấy ôxy từ các chất hữu cơ khác và thay nó bằng lưu huỳnh. Naptalen-1,8-điyl 1,3,2,4-đithiađiphốtphetan 2,4-đisulfua == Đồng vị == Lưu huỳnh có 18 đồng vị, trong đó 4 đồng vị ổn định: S32 (95,02%), S33 (0,75%), S34 (4,21%) và S36 (0,02%). Các đồng vị khác và S35 là các đồng vị phóng xạ và có chu kỳ bán rã ngắn. S35 được tạo ra từ sự bắn phá của các tia vũ trụ với Ar40 trong khí quyển Trái Đất. Nó có chu kỳ bán rã là 87 ngày. Khi các khoáng chất sulfua theo nước mưa xuống đất thì cân bằng đồng vị giữa các thể rắn và các thể lỏng có thể sinh ra sự sai biệt nhỏ trong các giá trị của dS34 của các khoáng chất cùng nguồn gốc. Sự khác biệt trong các khoáng chất có thể sử dụng để ước tính nhiệt độ của cân bằng. dC13 và dS34 của các cacbonat cùng tồn tại và các sulfua có thể sử dụng để xác định pH và độ khó giữ ôxy của các chất lỏng mang theo quặng trong quá trình hình thành quặng. Trong phần lớn các hệ sinh thái rừng, sulfat chủ yếu thu được từ khí quyển hay sự phong hóa của các quặng khoáng sản và các chất đã thoát hơi nước cũng cung cấp một lượng lưu huỳnh nhỏ. Lưu huỳnh với thành phần đồng vị đặc biệt được sử dụng để xác định các nguồn ô nhiễm, và lưu huỳnh được làm giàu được thêm vào dưới dạng dấu vết trong các nghiên cứu thủy học. Các khác biệt trong độ phổ biến tự nhiên cũng được sử dụng trong các hệ thống mà trong đó có các biến đổi đủ lớn của S34 trong thành phần của hệ sinh thái. == Phòng ngừa == Các chất như đisulfua cacbon, ôxysulfua cacbon, sulfua hiđrô và điôxít lưu huỳnh cần phải rất cẩn thận khi tiếp xúc. Mặc dù điôxít lưu huỳnh là khá an toàn để sử dụng như là phụ gia thực phẩm với một lượng nhỏ, nhưng khi ở nồng độ cao nó phản ứng với hơi ẩm để tạo ra axít sulfurơ mà với một lượng đủ lớn có thể gây tổn thương cho phổi, mắt hay các cơ quan khác. Trong các sinh vật không có phổi như côn trùng hay thực vật thì nó ngăn cản sự hô hấp. Sulfua hiđrô là rất độc (nó độc hơn nhiều so với xyanua). Mặc dù ban đầu nó có mùi, nhưng nó nhanh chóng làm mất cảm giác mùi, vì thế các nạn nhân có thể không biết được sự hiện diện của nó cho đến khi đã quá muộn. == Xem thêm == Chu trình lưu huỳnh Liên kết đisulfua Sulfoni S+, S+R3 == Tham khảo == Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, Hoa Kỳ-Lưu huỳnh R. Steudel (ed.): Elemental Sulfur and Sulfur-Rich Compounds (phần I & II), Topics in Current Chemistry Vol. 230 & 231, Springer, Berlin 2003. == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Biểu đồ pha của lưu huỳnh. WebElements.com-Lưu huỳnh
in nghiêng.txt
Kiểu in nghiêng (tiếng Anh: Italic type) là một cách trình bày chữ kiểu nghiêng trong kiểu chữ học (typography), bên cạnh hai loại rất thông dụng khác là In đậm (Bold) và Gạch chân (Underline). Khi Johannes Gutenberg phổ biến kiểu in mẫu trượt. Ông khắc chữ cái theo mẫu viết tay, cho ra sản phẩm được xem phông chữ đầu tiên trên thế giới: Textura. Sau đó, những người thợ sắp chữ ở Ý nhận ra rằng, các từ in nghiêng vẫn có thể nhìn rõ và đọc được, lại còn tiết kiệm cả chiều dọc nên in được nhiều chữ hơn trong một trang. Đó là lý do tại sao chữ in nghiêng gọi là Italics vì được đặt tên theo nơi nó được phát minh ra, nước Ý == Tham khảo ==
tolypeutes tricinctus.txt
Tatu ba đai Brazil (tên khoa học Tolypeutes tricinctus) là một loài tatu trong họ Dasypodidae đặt hữu của Brazil, nơi mà nó được biết đến như tatu-bola (phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [tɐˈtu ˈbɔlɐ], lit. tatu trái bóng). Là một trong hai loài tatu (loài kia là tatu ba đai phía nam) có thể cuộn thành một quả bóng. Nó đã bị suy giảm 30% số lượng trong 10 năm qua. == Phạm vi == Như tên gọi của nó, nó là loài bản địa của Brazil, sống chủ yếu ở phía đông của nước này, ngay phía nam của đường xích đạo. Chúng hiếm khi được tìm thấy về phía tâh của kinh tuyến 50° Tây. == Đe dọa == Hệ phòng thủ của tatu ba đai Brazil làm cho nó an toàn trước phần lớn động vật ăn thịt. Nhưng báo sư tử và báo đốm Mỹ đủ mạnh để trở thành mối đe dọa nhỏ của loài này. Mối nguy hiểm thực sự của chúng là sự phá hủy môi trường sống để nhường chỗ cho chăn nuôi gia súc. == Linh vật World Cup 2014 == Hiệp hội Caatinga, một tổ chức bảo vệ môi trường Brazil, tháng 1 năm 2012 ra mắt một chiến dịch đề xuất tatu ba đai trở thành linh vật của World Cup 2014. Vào tháng 3 năm 2012, tuần báo Brazil, Veja, thông báo tatu ba đai sẽ là linh vật chính thức cho World Cup 2014 được tổ chức bởi Brazil. Thông báo chính thức vào tháng 9 năm 2012. == Hình ảnh == == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Tolypeutes tricinctus tại Wikispecies Phương tiện liên quan tới Tolypeutes tricinctus tại Wikimedia Commons
hương sơn.txt
Hương Sơn là một huyện trung du, miền núi nằm về phía tây bắc của tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam. == Vị trí địa lý và tự nhiên == Phía nam của huyện giáp huyện Vũ Quang, phía bắc giáp các huyện Thanh Chương và Nam Đàn (tỉnh Nghệ An), phía tây giáp tỉnh Bô-LyKhăm Say của Lào, phía đông giáp huyện Đức Thọ. Cách thủ đô Hà Nội, thành phố Vinh, thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Hà Tĩnh lần lượt khoảng 365 km, 55 km, 35 km và 70 km. Địa hình đồi núi xen đồng bằng thung lũng sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâu và các phụ lưu, dốc từ tây - bắc xuống đông - nam, cao nhất là núi Bà Mụ (1.357 m) trên biên giới Việt Lào. Các dãy núi chính: dãy núi Giăng Màn (thuộc dãy Trường Sơn); núi Kim Sơn (rú Vằng); dãy núi Mồng Gà; dãy núi Thiên Nhận; núi Hoa Bảy,... == Lịch sử == Nguyên là huyện Dương Toại, thuộc quận Cửu Đức. Đời Tấn Vũ Đế tách lập huyện Phố Dương, nay có 2 làng Phố Châu và Phúc Dương. Đời Đường là châu Phúc Lộc. Thời nhà Đinh và nhà Tiền Lê thuộc đất Hoan Châu. Thời nhà Lý là hương Đỗ Gia thuộc châu Nghệ An. Thời nhà Trần và thuộc nhà Minh là hai huyện Cổ Đỗ (vùng đất chủ yếu thuộc Hương Sơn ngày nay) và Thổ Hoàng (các vùng đất thuộc hai huyện Hương Khê và Vũ Quang ngày nay) Thời nhà Hậu Lê ban đầu là huyện Đỗ Gia, từ năm 1490, đời vua Lê Thánh Tông, là huyện Hương Sơn, thuộc phủ Đức Quang, xứ Nghệ An (sau đó là trấn Nghệ An). Từ năm 1831-1919, là huyện Hương Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Năm Tự Đức thứ 21 (1868) huyện Hương Khê (vùng đất của huyện Thổ Hoàng trước đây) tách ra khỏi Hương Sơn. Năm 1931, hệ thống hành chính nước ta bỏ cấp phủ. Huyện Hương Sơn trực thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Thời Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945-1975): huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1976- 1991: huyện Hương Sơn, tỉnh Nghệ Tĩnh. Năm 1976, xã Ân Phú thuộc Hương Sơn chuyển sang huyện Đức Thọ và đổi tên thành xã Đức Ân. Năm 2000 lại chuyển về huyện Vũ Quang và đổi lại tên cũ là xã Ân Phú. Từ đây, huyện Hương Sơn có 31 xã: Sơn An, Sơn Bằng, Sơn Bình, Sơn Châu, Sơn Diệm, Sơn Giang, Sơn Hà, Sơn Hàm, Sơn Hòa, Sơn Hồng, Sơn Kim, Sơn Lâm, Sơn Lễ, Sơn Lĩnh, Sơn Long, Sơn Mai, Sơn Mỹ, Sơn Ninh, Sơn Phố, Sơn Phú, Sơn Phúc, Sơn Quang, Sơn Tân, Sơn Tây, Sơn Thịnh, Sơn Thọ, Sơn Thủy, Sơn Tiến, Sơn Trà, Sơn Trung, Sơn Trường. Ngày 22-7-1989, thành lập thị trấn Phố Châu từ xã Sơn Phố. Từ năm 1991 đến nay: huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 19-11-1997, thành lập thị trấn Tây Sơn. Ngày 2-8-1999, sáp nhập xã Sơn Phố vào thị trấn Phố Châu. Đến năm 2000, huyện Hương Sơn có 2 thị trấn là Phố Châu, Tây Sơn và 30 xã: Sơn An, Sơn Bằng, Sơn Bình, Sơn Châu, Sơn Diệm, Sơn Giang, Sơn Hà, Sơn Hàm, Sơn Hòa, Sơn Hồng, Sơn Kim, Sơn Lâm, Sơn Lễ, Sơn Lĩnh, Sơn Long, Sơn Mai, Sơn Mỹ, Sơn Ninh, Sơn Phú, Sơn Phúc, Sơn Quang, Sơn Tân, Sơn Tây, Sơn Thịnh, Sơn Thọ, Sơn Thủy, Sơn Tiến, Sơn Trà, Sơn Trung, Sơn Trường. Ngày 4-8-2000, xã Sơn Thọ chuyển sang thuộc huyện Vũ Quang. Ngày 2-1-2004, chia xã Sơn Kim thành 2 xã: Sơn Kim 1 và Sơn Kim 2. Từ đó, huyện Hương Sơn có 2 thị trấn: Sơn Phố, Tây Sơn và 30 xã: Sơn An, Sơn Bằng, Sơn Bình, Sơn Châu, Sơn Diệm, Sơn Giang, Sơn Hà, Sơn Hàm, Sơn Hòa, Sơn Hồng, Sơn Kim 1, Sơn Kim 2, Sơn Lâm, Sơn Lễ, Sơn Lĩnh, Sơn Long, Sơn Mai, Sơn Mỹ, Sơn Ninh, Sơn Phú, Sơn Phúc, Sơn Quang, Sơn Tân, Sơn Tây, Sơn Thịnh, Sơn Thủy, Sơn Tiến, Sơn Trà, Sơn Trung, Sơn Trường, giữ ổn định cho đến nay. == Hệ thống giáo dục và đào tạo == Huyện Hương Sơn hiện nay có các trường Trung học Phổ thông là: Trường THPT Hương Sơn: thị trấn Phố Châu Trường THPT Lý Chính Thắng: xã Sơn Hòa Trường THPT Cao Thắng: xã Sơn Tây Trường THPT Lê Hữu Trác: xã Sơn Châu Trường THPT Nguyễn Khắc Viện: xã Sơn Bằng Một hoặc hai xã có 1 trường Trung học cơ sở và 1 trường tiểu học, riêng thị trấn Phố Châu có 2 trường Trung học cơ sở chất lượng cao mang tên Nguyễn Tuấn Thiện (trường Năng Khiếu cũ) và trường Trung học cơ sở Phố Diệm và trường Tiểu học Phố Châu Trung tâm Hướng nghiệp - Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên địa chỉ Thị trấn Phố Châu. Được sáp nhập từ hai đơn vị Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp dạy nghề và Trung tâm Giáo dục thường xuyên vào năm 2012; == Truyền thống văn hóa == Hương Sơn xưa kia thuộc phủ Đức Quang (gồm Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân, Thanh Chương, Nghi Lộc) được xem là vùng đất học của xứ Nghệ. Trong thời kỳ phong kiến, Hương Sơn có hơn 20 vị đỗ đại khoa (từ tiến sĩ trở lên) với những dòng họ nổi tiếng khoa bảng như: Đinh Nho, Tống Trần, Hà Huy, Lê Khánh, Nguyễn Khắc, Đào Duy, Lê Xuân, Văn Đình, Đặng Đình, Trần Đình … và các làng giàu truyền thống văn hoá như: Hữu Bằng, Tuần Lễ, Gôi Mỹ, Thịnh Xá... Ngày nay có nhiều người thành đạt ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nước ngoài. Hương Sơn là quê hương của danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Hiến sát sứ Nguyễn Kính Hài (1448-?), Đô Ngự sử Nguyễn Tử Trọng (1485-?); Hoàng giáp Nguyễn Văn Lễ; Hiến sát sứ- tiến sĩ Nguyễn Thủ Xứng (1442-?); Tiến sĩ Đinh Nho Công; Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn; Tiến sĩ, Thượng thư, Nghĩa quận công Tống Tất Thắng; Tổng binh đồng tri Đinh Nho Côn; Tiến sĩ Đinh Nho Điển; Hoàng giáp, Bố chính Phạm Huy (1829–1883); danh sĩ Lê Hữu Tạo; Thượng thư Đào Hữu Ích; Đốc học Nguyễn Xuân Đản; Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm; Lê Khánh Lam (Tham tri bộ Lễ); nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, nhà cách mạng Hà Huy Giáp; Lê Xuân Đồng, Lý Chính Thắng, Lê Bình...; các danh tướng Nguyễn Tuấn Thiện, Nguyễn Lỗi,Văn Đình Dận, Cao Thắng, Lương Hiển... === Những nhân vật thành đạt thời hiện đại === Có nhiều người con của Hương Sơn thành đạt ở Việt Nam Lê Xuân Tùng: cựu Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, quê quán: xã Sơn Lễ; Lê Minh Hương: cựu Ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng Bộ Công an, quê quán: xã Sơn Tân; Phạm Song: cựu bộ trưởng Bộ Y tế, quê quán: xã Sơn Long; Lê Đức Thúy: cựu thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quê quán: xã Sơn Thịnh; Trần Cẩm Tú: nguyên Bí thư tỉnh ủy Thái Bình, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng CSVN, quê quán: xã Sơn Ninh; Đinh Xuân Lâm: giáo sư sử học, quê quán: xã Sơn Tân; Lê Khả Kế: giáo sư, nhà ngôn ngữ học, quê quán: xã Sơn Bằng Hà Huy Khoái: giáo sư, viện sĩ toán học, cựu viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, quê quán: xã Sơn Thịnh; Lê Xuân Lựu: giáo sư, trung tướng, cựu giám đốc Học viện Chính trị Quân sự, quê quán: xã Sơn Lễ; Đặng Quang Phương: Tiến sĩ luật học, Phó chánh án Toà án Nhân dân Tối cao, quê quán: xã Sơn Thịnh; Hà Học Hợi: nguyên Phó Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa TW, quê quán: xã Sơn Hòa; Đinh Nho Liêm: nguyên Ủy viên Trung ương Đảng CSVN, nguyên Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao, quê quán: xã Sơn Hòa; Tống Trần Đào: nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, quê quán: xã Sơn Hòa; Nguyễn Đường: Trung tướng, nguyên Cục trưởng Cục Tài chính/ Bộ Quốc phòng, nguyên Ủy viên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, quê quán: xã Sơn Hòa; Lê Xuân Anh: Giáo sư, TSKH, giảng viên Trường Đại học Bách khoa Saint Petersburg - Liên bang Nga, quê quán: xã Sơn Thịnh; Lê Khánh Châu: Giáo sư, TSKH, giảng viên trường Ruhr-Univesity Bochum, Cộng hòa Liên bang Đức; Nguyễn Quang Đỗ Thống: Giáo sư, TSKH, giảng viên Trường Đại học Franche-Comté, Bretagne-Pháp Cù Xuân Dần: Giáo sư, TSKH, Nhà giáo Nhân dân, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội; Đinh Quang Báo: Giáo sư, TS, nguyên hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Hà Huy Cương: Giáo sư, TSKH, nguyên Trưởng Khoa Công trình Quân sự, Học viện Kỹ thuật Quân sự, quê Sơn Thịnh Trần Việt Thanh: Tiến sĩ, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, quê Sơn Thịnh Lê Minh Hưng: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XII, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng CSVN, quê Sơn Tân Nguyễn Hữu Dư: Giáo sư TSKH, nguyên Phó Hiệu Trưởng Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cao cấp Về Toán, quê quán: Xã Sơn Ninh Đoàn Minh Huấn: Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XII, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực I - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. == Di tích và danh thắng nổi tiếng == Chùa Tượng Sơn ở làng Yên Hạ, xã Sơn Giang. Được mẹ của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác sáng lập và xây dựng từ thời Hậu Lê (đầu thế kỷ 18). Khu di tích Hải Thượng Lãn Ông bao gồm: Nhà thờ Lê Hữu Trác thôn Bầu Thượng, xã Sơn Quang; và mộ Lê Hữu Trác ở núi Minh Từ xã Sơn Trung được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích Văn hóa cấp Quốc gia. Chùa Nhiễu Long (chùa Cao): thị trấn Phố Châu. Đình Tứ Mỹ ở xã Sơn Châu (Di tích lịch sử- cách mạng thế kỷ 20); Mộ và nhà thờ danh nhân Nguyễn Lỗi ở xã Sơn Bình (danh nhân lịch sử thế kỷ 15). Nhà thờ danh tướng Nguyễn Tuấn Thiện ở xã Sơn Ninh (danh nhân lịch sử thế kỷ 15) Nhà thờ Đại Tôn Họ Nguyễn Khắc ở Xã Sơn Hòa Nhà thờ danh thần Tống Tất Thắng ở xã Sơn Hòa Đền Gôi Mỹ xã Sơn Hòa Nhà thờ Lê Hữu Tạo ở xã Sơn Lễ (danh nhân lịch sử thế kỷ 18) Nhà thờ Đào Hữu Ích ở Xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn. Nhà thờ danh tướng Cao Thắng ở xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn (danh nhân lịch sử thế kỷ 19) Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá. Nhà thờ Nguyễn Thạc Chí ở xã Sơn An. Nhà thờ Hồ Đắc Thọ ở xã Sơn Bằng. Nhà thờ danh tướng Lương Hiển (năm 1784)- Khối 17 - TT Phố châu. Khu nghỉ mát Nước Sốt ở xã Sơn Kim Khu du lịch thác Xai Phố với những quang cảnh tự nhiên và thơ mộng Sơn Hồng, phía Tây Bắc Hương sơn Thành Lục Niên trên dãy núi Thiên Nhận [1], xã Sơn Thịnh: Nơi Lê Lợi làm căn cứ chống quân xâm lược nhà Minh. == Lễ hội truyền thống == Hội chợ Tết (chợ Trâu và chợ Bò) ở chợ Bè (làng Thịnh Xá- tổng Yên Ấp nay là xã Sơn Hòa) và ở chợ Choi (nay thuộc xã Sơn Hà) vào ngày 19, 20 tháng Chạp. Ngoài các di tích nổi tiếng nêu trên, ở xã Sơn Phúc còn có cây Thị hơn 100 năm tuổi, nằm ở vườn của gia đình ông Tường, xóm Kim Sơn 2, xã Sơn Phúc. Cây Thị này phải có đến 7 thanh niên nối tay nhau ôm mới xuể. Nhưng ở trong thân cây lại rỗng ruột, muốn leo lên ngọn người ta có thể chui vào trong ruột cây vào leo lên. chùa nhiễu long(còn gọi là chùa cao) ở thị trấn phố châu == Kinh tế == Nông nghiệp: Chăn nuôi: Trâu, bò, hươu, Trồng trọt: Lúa nước, hoa màu, cây ăn quả (Cam bù, chanh, mít, bưởi,...) Lâm nghiệp: Trồng rừng, Khai thác và chế biến Lâm sản Thương mại: Buôn bán với nước bạn Lào qua cửa khẩu Cầu Treo. Ngày 19/10/2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 162/2007/QĐ-TTg Ban hành Quy chế hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo- tỉnh Hà Tĩnh. Công nghiệp: khu công nghiệp cửa khẩu cầu treo đang được đầu tư và xây dựng. Dịch vụ và du lịch: Khu nghỉ mát Nước Sốt ở xã Sơn Kim. Khu nghỉ dưỡng sinh thái Hải thượng Lãn Ông ở xã Sơn Trung. == Đặc sản == Cam bù, nhung hươu, mật ong rừng, trầm hương, gỗ quý, kẹo cu đơ... Hương Sơn có quốc lộ 8 và đường Hồ Chí Minh chạy qua, có cửa khẩu Cầu Treo thông với nước Lào, có con sông Ngàn Phố thơ mộng đi vào thơ ca: ...Đẹp lắm em ơi con sông Ngàn Phố Sáng cả đôi bờ hoa bưởi trắng phau... == Liên kết ngoài == Huyện Hương Sơn từng bước thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Làm giàu từ đất Hương Sơn Ngôi trường mới và ông giáo già Sơn Hòa - đất học, anh hùng Một số kinh nghiệm nuôi hươu sao ở Hương Sơn - Hà Tĩnh == Tham khảo == Đại Nam nhất thống chí. Viện KHXH Việt Nam - Viện Sử học. Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1997
andrew marvell.txt
Andrew Marvell (31 tháng 3 năm 1621 – 16 tháng 8 năm 1678) – là nhà thơ Anh, một trong những đại diện cuối cùng của phái siêu hình và là một bậc thầy thơ ca của chủ nghĩa cổ điển Anh. == Tiểu sử == Marvell tốt nghiệp Đại học Cambridge năm 1639 và ngay sau đó ra sống ở nước ngoài. Những năm 1650 – 1652 ông viết trường ca Upon Appleton House, và bài thơ The Garden rất nổi tiếng. Những năm 1653 – 1657 được Oliver Cromwell bảo lãnh để làm gia sư cho William Dutton và sau đó làm cộng sự cho John Milton ở Bộ ngoại giao. Năm 1659 ông được bầu vào Quốc hội đại diện cho quyền lợi của thành phố Hull (nay là Kingston upon Hull) cho đến cuối đời. Suốt một quãng thời gian dài hàng thế kỷ (XVIII – XIX) Marvell là nhà thơ bị che khuất bởi bóng của những cây đa cây đề như John Milton và John Dryden. Trong những cuốn sách viết về lịch sử văn học, tên tuổi Andrew Marvell chỉ thỉnh thoảng được nhắc đến như là tác giả của những bài thơ trào phúng hoặc những bài thơ tôn giáo. Chỉ đến đầu thế kỷ XX nhà thơ T. S. Eliot mới tìm thấy thần tượng của mình bị lãng quên khi ông cho rằng bài thơ To His Coy Mistress là bài thơ hay nhất của thi ca Anh mọi thời đại. Nhà văn Vladimir Nabokov trong tiểu thuyết Lửa nhạt (Pale Fire, 1962) trích dẫn rất nhiều câu từ tác phẩm Nymph Complaining for the Death of her Fawn của Andrew Marvell. == Tác phẩm == Complete works, v. 1—4, L., 1872—1875; Poems and letters, v. 1—2, Oxf., 1952; The poems, L., 1963. == Thư mục == Eliot Т. S., Andrew Marvell, trong cuốn: Selected essays, 3 ed., L., 1958 Marvell. Modern judgements, ed. by М. Wilding, L., 1969 Andrew Marvell. A critical anthology, Harmondsworth, 1969 == Một vài bài thơ == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Andrew Marvell's Grave Andrew Marvell tại Dự án Gutenberg by Augustine Birrell Andrew Marvell index entry at Poets' Corner
isbn.txt
ISBN là chữ viết tắt của International Standard Book Number (Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho sách), nó là mã số tiêu chuẩn quốc tế có tính chất thương mại duy nhất để xác định một quyển sách. Hệ thống ISBN được tạo ở Anh năm 1966 bởi các nhà phân phối sách và văn phòng phẩm W H Smith cùng bạn bè, ban đầu được gọi là Standard Book Numbering (mã số tiêu chuẩn cho sách) hay SBN. Sau đó được công nhận quốc theo tiêu chuẩn ISO 2108 năm 1970. Một dạng định dạng tương tự, International Standard Serial Number (mã số tiêu chuẩn quốc tế cho tạp chí) hay ISSN, được dùng cho các ấn phẩm định kỳ như tạp chí. == Tổng quát == Mỗi bản sao và mỗi thay đổi (trừ khi in lại) của một quyển sách sẽ có số ISBN riêng. Số đó có thể có 10 số tự (kiểu cũ) hoặc 13 số tự (kiểu mới, áp dụng với mã vạch), gồm 4 hay 5 phần. Nếu là số ISBN với 13 số tự thì nó có tiền tố EAN là 978 hay 979. Xem thêm EAN-13. Nếu là số ISBN với 10 số tự thì chỉ cần gán cụm chữ "ISBN", hoặc tại các nước không sử dụng các ký tự Latinh thì có thể dùng các ký tự viết tắt bằng tiếng địa phương thay thế, Mã nước hay mã ngôn ngữ, Số của nhà phát hành, Số của cuốn sách, Số kiểm tra. Các phần khác nhau có độ dài khác nhau và thường nối với nhau bằng các gạch ngang. Gạch ngang không nhất thiết phải có, tuy nhiên, vì mã đầu cần dùng để chắc chắn không có 2 số bắt đầu bằng cùng một kiểu. Nếu hiện diện, gạch ngang phải đặt đúng (quy tắc có ở đây. Tuy nhiên chúng không đủ vì các cơ quan có thẩm quyền khác nhau chịu trách nhiệm cấp và thực hiện các khoảng số ISBN khác nhau. Ngay tại trang của isbn.org cũng không có một danh sách được cập nhật mới nhất. Mã nước (hay mã ngôn ngữ) 0 và 1 được dùng cho các nước dùng tiếng Anh; 2 cho các nước dùng tiếng Pháp; 3 cho tiếng Đức v.v. (Số SBN ban đầu thiếu mã nước, nhưng tiền tố 0 đến 9 tạo nên số ISBN hoàn chỉnh). Mã nước có thể tới 5 chữ số, ví dụ 99936 cho Bhutan. Xem danh sách hoàn chỉnh. Số của nhà xuất bản được đặt theo cơ quan ISBN của nước đó và số thứ tự được chọn bởi nhà phát hành sách. Không nhất thiết là các sản phẩm của nhà xuất bản phải có số ISBN, nhưng có ngoại lệ đối với Trung Quốc. Tuy nhiên có nhiều nhà sách chỉ phân phối các sản phẩm mang số ISBN. Nhà phát hành nhận một cụm số ISBN cho các sản phẩm nhưng khi dùng hết thì được nhận thêm các số ISBN khác, vì thế một nhà phát hành có thể có nhiều số ISBN. Tổ chức ISBN quốc tế [1] trong hướng dẫn chính thức của mình [2] thông báo rằng số tự thứ 10 của chuỗi số ISBN là số kiểm tra, nó là số tự cuối cùng của chuỗi số ISBN với 10 số tự, được tính toán theo phép chia cho 11 với các trọng số từ 10 đến 2, sử dụng X thay cho 10 trong trường hợp 10 là số kiểm tra. Điều này có nghĩa là mỗi số trong 9 số đầu tiên của chuỗi ISBN với 10 số tự – ngoại trừ số kiểm tra – được nhân lên theo các số theo trật tự từ 10 đến 2 và lấy tổng của các phép nhân này, cộng thêm với số kiểm tra, phải chia hết cho 11. Ví dụ, tính số kiểm tra cho chuỗi số ISBN 10 số mà 9 chữ số đầu tiên là 0-306-40615 được thực hiện như sau: 10×0 + 9×3 + 8×0 + 7×6 + 6×4 + 5×0 + 4×6 + 3×1 + 2×5 = 0 + 27 + 0 + 42 + 24 + 0 + 24 + 3 + 10 = 130 Số nhỏ nhất cần thêm vào để có thể chia hết cho 11 là 2, do 132/11 = 12 và không có dư. Vì thế số kiểm tra là 2, và chuối số hoàn chỉnh là ISBN 0-306-40615-2. Phương pháp thứ hai để tìm số kiểm tra được thực hiện như sau, lấy mỗi số trong 9 số đầu nhân với số chỉ vị trí của nó (từ 1 đến 9). Lấy tổng của các phép nhân và tính số dư trong phép chia cho 11, nếu là "10" thì thay bằng ký tự "X". Ví dụ, để tìm số kiểm tra cho số ISBN 10 số có 9 chữ số đầu tiên là 0-306-40615: 1×0 + 2×3 + 3×0 + 4×6 + 5×4 + 6×0 + 7×6 + 8×1 + 9×5 = 0 + 6 + 0 + 24 + 20 + 0 + 42 + 8 + 45 = 145 = 13×11 + 2 Vì thế số kiểm tra bằng 2, và chuỗi số hoàn chỉnh là ISBN 0-306-40615-2. Do 11 là số nguyên tố, mô hình này đảm bảo là các sai sót duy nhất (trong dạng của số bị biến đổi hay các số bị đảo chỗ) có thể được phát hiện ra. == Sử dụng định dạng EAN trong các mã vạch và kế hoạch nâng cấp == Hiện nay, các mã vạch được tìm thấy trên bìa sau của sách (hoặc bên trong trên trang bìa đầu tiên của các ấn phẩm khác) là EAN-13; chúng cũng có thể là "Bookland"— điều đó có nghĩa là, với mã vạch riêng biệt thì người ta mã hóa 5 số cho loại hình tiền tệ và giá bán lẻ được đề nghị. Mô tả chi tiết về định dạng EAN-13 có ở đây hoặc xem EAN-13. "978", mã sử dụng cho các loại sách, được dành cho ISBN trong các dữ liệu về mã vạch, và số kiểm tra được tính toán lại theo công thức của EAN-13 (chia cho 10, các trọng số là 1 và 3 cho các số khác nhau). Vì sự thiếu hụt trong các thể loại ISBN nào đó, ISO đã yêu cầu chuyển đổi sang hệ thống ISBN với 13 số tự, bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2005 và công việc này cần kết thúc vào ngày 1 tháng 1 năm 2007. Việc dịch chuyển này cũng làm cho hệ thống ISBN phù hợp với hệ thống mã vạch UPC. Ở đây là tài liệu về các câu hỏi thường gặp về thay đổi này. Hệ thống ISBN đang có sẽ được gắn tiền tố "978" (và số kiểm tra phải tính lại); khi các ISBN với "978" bị hết thì sử dụng tiền tố "979". Điều này hiện đang diễn ra nhanh chóng ngoài nước Mỹ. Lưu ý rằng các mã xác định nhà xuất bản là không chắc chắn sẽ giống như là các mã trong các ISBN 978 và 979. Cho đến khi các ISBN với 13 số tự mới sẽ được đồng nhất theo định dạng mã vạch của EAN cho bất kỳ một ISBN với 10 số tự nào thì quá trình này sẽ không phá vỡ tính tương thích với bất kỳ một hệ thống mã vạch nào hiện đang tồn tại. Điều này có nghĩa là nó sẽ cho phép các nhà bán sách sử dụng một hệ thống đánh số duy nhất cho cả sách lẫn các sản phẩm không phải là sách mà không phá hỏng sự tương thích với các thông tin dựa trên ISBN cũ, với một chi phí tối thiểu cho các hệ thống công nghệ thông tin của họ. Vì lý do này, nhiều nhà bán sách, như Barnes & Noble, đã chọn lựa việc bắt đầu loại bỏ việc sử dụng ISBN cũ để chuyển sang sử dụng các mã EAN từ tháng 3 năm 2005. == ISBN và kiểm duyệt sách tại Trung Quốc == ISBN được sử dụng như là phương tiện kiểm duyệt sách tại Trung Quốc. Để có thể in ấn hợp pháp sách thì chúng phải có số ISBN, nó được trao theo từng khối các số cho các nhà in quốc doanh. Tuy nhiên, kể từ những năm 1990, phương thức kiểm duyệt này trở nên ít hiệu quả hơn do các nhà in quốc doanh, giống như các xí nghiệp quốc doanh khác, đã không còn nhận được sự trợ cấp của nhà nước, sẽ bán các số ISBN cho những người trả giá cao nhất mà không cần quan tâm đến nội dung của sách được in ra. == Xem thêm == ASIN (Tiêu chuẩn số định danh Amazon) ISMN (Tiêu chuẩn số âm nhạc quốc tế) ISAN (Tiêu chuẩn số nghe nhìn quốc tế) ISSN (Tiêu chuẩn số tạp chí quốc tế) LCCN (Số kiểm soát của Thư viện Quốc hội Mỹ) == Tham khảo ==
biểu tượng tiền tệ.txt
Biểu tượng tiền tệ là biểu tượng hình ảnh được dùng để viết nhanh (tốc ký) tên của đồng tiền, đặc biệt là khi viết số tiền. Biểu tượng tiền tệ thường bao gồm ký tự đầu của tên loại tiền đó, được thay đổi nhỏ về mặt hình thức như nối dính ký tự lại với nhau hoặc thêm nét gạch ngang hay sổ dọc. Bên cạnh biểu tượng tiền tệ, ngày nay người ta còn dùng mã ISO 4217 để ký hiệu tên đồng tiền. == Cách dùng == Khi viết số tiền, vị trí biểu tượng tiền tệ so với con số cũng tùy thuộc mỗi loại tiền tệ. Biểu tượng tiền tệ của nhiều đồng tiền của các nước nói tiếng Anh cũng như các nước Mỹ Latinh thường được viết trước con số, ví dụ US$10.99. Nhiều nước khác lại viết biểu tượng sau con số, ví dụ 25.000đ. Có trường hợp lại đặc biểu tượng vào thế chỗ dấu ngăn cách phần thập phân, đó đồng escudo Cabo Verde, ví dụ 10$00. Nói về dấu ngăn cách phần thập phân thì mỗi nước có chuẩn riêng. Ví dụ, Mỹ viết $10.99, các nước khối euro viết €20,00, Anh lại viết £5·52 trên các thẻ ghi giá. == Nguồn gốc thiết kế == Biểu tượng $ có nguồn gốc từ ký hiệu đồng đô la Tây Ban Nha. Biểu tượng £ của đồng bảng bắt nguồn từ chữ L, nghĩa là libra - đơn vị đo khối lượng cơ bản của Đế quốc La Mã. Biểu tượng của đồng rupee Ấn Độ là sự kết hợp giữa ký tự Latinh với ký tự Devanagari. == Danh sách biểu tượng của các loại tiền tệ đang lưu hành == == Xem thêm == Danh sách tiền tệ == Tham khảo ==
oise.txt
Oise là một tỉnh của Pháp, thuộc vùng hành chính Picardie, tỉnh lỵ Beauvais, bao gồm 4 quận với các quận lỵ còn lại là: Clermont, Compiègne, Senlis. == Tham khảo ==
tìm kiếm tài năng
john isner.txt
John Robert Isner (sinh ngày 26 tháng 5 năm 1985) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Mỹ. Được coi là một trong những tay vợt giao bóng xuất sắc nhất của ATP World Tour, Isner có được thứ hạng cao nhất là thứ 9 vào tháng 4 năm 2012. Năm 2013, anh trở thành tay vợt thú 13 trong lịch sử đạt mốc 5000 cú ace trong sự nghiệp. Hiện tại, anh đang là tay vợt có nhiều cú ace thứ 10 lịch sử với hơn 7300 cú. Tại Wimbledon 2010, anh cùng Nicolas Mahut chơi trận đấu dài nhất lịch sử quần vợt với 11 tiếng 5 phút, kéo dài tới 3 ngày. Anh cũng từng chơi trận đấu dài thứ 10 lịch sử với 5 giờ 41 phút tại Roland Garros 2012. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức John Isner trên trang chủ ATP (tiếng Anh) John Isner trên ITF John Isner tại Davis Cup
general dynamics f-16xl.txt
General Dynamics F-16XL là một loại máy bay bắt nguồn từ F-16 Fighting Falcon, nó có kiểu cánh tam giác. == Tính năng kỹ chiến thuật (F-16XL số 2) == Dữ liệu lấy từ Darling, F-16.net Đặc điểm tổng quát Kíp lái: 1 (XL #1) hoặc 2 (XL #2) Chiều dài: 54 ft 2 in (16,51 m) Sải cánh: 34 ft 3 in (10,44 m) Chiều cao: 17 ft 7 in (5,36 m) Diện tích cánh: 646 ft² (60 m²) Trọng lượng rỗng: 22.000 lb (9.980 kg) Trọng lượng có tải: 48.000 lb (21.800 kg) Trọng lượng cất cánh tối đa: 48.000 lb (21.800 kg) Động cơ: 1 × General Electric F110-GE-100 Lực đẩy thô: 17.100 lbf (76,3 kN) Lực đẩy khi đốt tăng lực: 28.900 lbf (125 kN) Hiệu suất bay Vận tốc cực đại: Mach 2,05 (1.400 mph, 698 m / s) Vận tốc hành trình: 600 mph (268 m / s) Tầm bay: 2.480 nmi (2.850 mi, 4.590 km) Trần bay: 50.000 ft (15.000 m) Vận tốc lên cao: 62.000 ft/phút (320 m/s) Trang bị vũ khí Súng: 1× pháo M61 Vulcan (Gatling) 20 mm (0.79 in) Giá treo: 17 điểm treo tải được 15.000 lb (6.800 kg) == Xem thêm == Máy bay có sự phát triển liên quan General Dynamics F-16 Fighting Falcon General Dynamics F-16 VISTA Máy bay có tính năng tương đương McDonnell Douglas F-15E Strike Eagle Saab 35 Draken Lockheed Martin FB-22 Danh sách khác Danh sách máy bay tiêm kích Danh sách máy bay quân sự của Hoa Kỳ == Tham khảo == Chú thích Tài liệu Darling, Kev. F-16 Fighting Falcon (Combat Legend). London: Airlife, 2003. ISBN 1-84037-399-7. Jenkins, Dennis R. and Tony R. Landis. Experimental & Prototype U.S. Air Force Jet Fighters. Minnesota, US: Specialty Press, 2008. ISBN 978-1-58007-111-6. == Liên kết ngoài == NASA/DFRC F-16XL photo gallery number 1, photo gallery number 2 F-16XL experiment report, NASA, December 1999 The Revolutionary Evolution of the F-16XL, Air Force magazine, November 1983 NASA Could Put The F-16XL Back In The Air, Flight International, 2007 Harry Hillaker — Father of the F-16 F-16XL, in Joe Baugher's site
trận ngọc hồi - đống đa.txt
Trận Ngọc Hồi - Đống Đa (hay Chiến thắng Kỷ Dậu) là tên gọi do các nhà sử học Việt Nam dành cho loạt trận đánh chống ngoại xâm thắng lợi của nước Đại Việt thời Tây Sơn do vua Quang Trung lãnh đạo vào đầu năm Kỷ Dậu 1789, đánh tan hàng vạn quân Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy - kéo sang do sự cầu viện của vua Chiêu Thống nhà Lê Trung Hưng. Trận Ngọc Hồi - Khương Thượng là một chiến thắng quân sự tiêu biểu thể hiện tài năng của hoàng đế Quang Trung nhà Tây Sơn, khi chỉ trong 5 ngày ông đã hành quân thần tốc và đánh tan lực lượng quân Thanh, chiếm lại được kinh đô Thăng Long. Chiến thắng này khẳng định sự tồn tại của nước Đại Việt trước hoạ xâm lược, chấm dứt sự tồn tại của nhà Hậu Lê, đồng thời đánh dấu việc nhà Tây Sơn chính thức thay thế nhà Hậu Lê trong việc cai quản đất Bắc Hà và trong quan hệ với nhà Thanh. == Bối cảnh == Nước Đại Việt cuối thế kỷ 18 rất rối ren và phân liệt nhiều hơn sau hơn 200 năm chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài. Vua nhà Lê Trung Hưng chỉ tồn tại trên danh nghĩa ở Đàng Ngoài, thực chất quyền hành trong tay các chúa Trịnh; còn từ sông Gianh trở vào nam là Đàng Trong, đất đai do chúa Nguyễn cai quản, cũng lấy danh nghĩa "phù Lê". Năm 1771, ba anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nổi dậy khởi nghĩa chống chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Sau hơn 10 năm kịch chiến, năm 1783, Nguyễn Nhạc lật đổ sự thống trị của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, tự lập làm vua Thái Đức ở Quy Nhơn. Chúa Nguyễn mới là Nguyễn Ánh phải chạy sang Xiêm lưu vong. Năm 1786, Nguyễn Nhạc cử em là Nguyễn Huệ mang quân đánh Phú Xuân – kinh thành cũ của chúa Nguyễn, bị chúa Trịnh đánh chiếm năm 1775. Nguyễn Huệ đánh lấy Phú Xuân rồi đánh thẳng ra Thăng Long với danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh", tiêu diệt chúa Trịnh. Anh em Tây Sơn giao hiếu với vua Lê rồi rút quân về nam. Do sự tranh chấp về quyền lực, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nổ ra xung đột đầu năm 1787. Nguyễn Huệ thắng thế nhưng chấp nhận lời cầu hòa của vua anh. Nhân cơ hội đó, các lực lượng chống Tây Sơn trỗi dậy. Phía nam, Nguyễn Ánh nhờ sự giúp đỡ của người Pháp, trở về đánh chiếm Gia Định. Đông Định vương nhà Tây Sơn là Nguyễn Lữ bỏ Gia Định về Quy Nhơn. Phía bắc, các lực lượng thân họ Trịnh dựng lại người trong tông tộc là Trịnh Bồng lên ngôi, bị tướng Bắc Hà đã hàng Tây Sơn là Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An kéo ra đánh bại. Chỉnh ra cầm quyền ở Thăng Long mưu thay chúa Trịnh chống Tây Sơn. == Mâu thuẫn giữa vua Lê và Tây Sơn == Lê Chiêu Thống lên ngôi trong bối cảnh chúa Trịnh vừa bị diệt, muốn lấy lại quyền hành về tay, nhưng liên tiếp bị các tướng áp chế để lập lại họ Trịnh. Lê Chiêu Thống triệu Nguyễn Hữu Chỉnh về đánh trừ được họ Trịnh thì lại đến lượt Nguyễn Hữu Chỉnh lộng hành. Lúc đó Tây Sơn không còn ở Bắc Hà nhưng vẫn giữ đất Nghệ An, mà cương thổ cũ của Đàng Ngoài là tới sông Gianh thuộc Bắc Bố Chính (Quảng Bình). Vua Lê Chiêu Thống tuy không thích việc Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền nhưng lại đồng thuận với ông ta trên 2 điểm: Không muốn sự quay lại của họ Trịnh Không muốn chịu ảnh hưởng của Tây Sơn và không bằng lòng việc mất Nghệ An cho Tây Sơn. Do đó, Lê Chiêu Thống đồng tình với Nguyễn Hữu Chỉnh trong việc cử Trần Công Xán vào Phú Xuân đòi Nguyễn Huệ đất Nghệ An. Nguyễn Huệ không bằng lòng "trả" Nghệ An, điều thêm quân ra Nghệ An cho Vũ Văn Nhậm để chuẩn bị đánh ra Bắc. Trong khi đó tình hình Bắc Hà vẫn rối ren, Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn phải lo đánh dẹp các lực lượng thân họ Trịnh. Tháng 11 năm 1787, Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở hợp sức với Vũ Văn Nhậm mang quân ra Bắc. Nguyễn Hữu Chỉnh mang quân ra đánh bị thua to. Tháng 12 năm 1787, Vũ Văn Nhậm tiến vào Thăng Long, Lê Chiêu Thống cùng Chỉnh chạy sang Bắc Giang, đóng ở Mục Sơn. Chỉnh bị quân Tây Sơn đuổi kịp, bắt được và giết chết. Vũ Văn Nhậm tiến quân đi đánh tan các lực lượng phò Lê rồi sai người đi mời vua Lê về kinh. Vua Lê không thuận, vẫn hô hào quân các trấn Bắc Hà cần vương chống Tây Sơn. Bắc Hà rối loạn, các lực lượng thân vua Lê, thân họ Trịnh cũ và quân đội Tây Sơn đánh lẫn nhau. Trong lúc tướng Tây Sơn là Phạm Văn Tham đang cầm cự với quân Nguyễn Ánh ở Nam Bộ, Vũ Văn Nhậm lại chuyên quyền có ý chống lại Nguyễn Huệ ở Thăng Long. Tháng 4 năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, giết chết Vũ Văn Nhậm. Nguyễn Huệ bèn dựng hoàng thân Lê Duy Cận làm giám quốc, sai Ngô Văn Sở cầm quân giữ Thăng Long và tháng 5 năm 1788 trở về Phú Xuân để chuẩn bị Nam tiến đánh Nguyễn Ánh theo thỉnh cầu của vua anh Nguyễn Nhạc. == Quân Thanh tiến vào Đại Việt == Lực lượng phù trợ Lê Duy Kỳ (tên khác của Lê Chiêu Thống) thất thế. Tháng 5 năm 1788, Lê Duy Kỳ cùng các bầy tôi sang Long Châu cầu viện nhà Thanh phát binh đánh Tây Sơn. Tháng 7 năm 1788, Lê Chiêu Thống ở Kinh Bắc cũng sai người sang Trung Quốc cầu viện. Càn Long nhân cơ hội đánh chiếm Đại Việt bèn sai Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị mang từ 18.000 đến hơn 20 vạn quân (xem phần "Các ý kiến về số quân Thanh" bên dưới), gồm các đạo binh huy động từ Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa phù Lê. Quân Thanh chia làm 3 đường tiến sang Đại Việt: Quân Vân Nam, Quý Châu do đề đốc Vân Quý là Ô Đại Kinh, từ Vân Nam qua ải Bạch Mã, theo đường Tuyên Quang xuống Sơn Tây vào Thăng Long. Quân Quảng Đông, Quảng Tây do Tôn Sĩ Nghị (chức tổng đốc Lưỡng Quảng) trực tiếp chỉ huy, qua ải Nam Quan vào Lạng Sơn; phó chỉ huy là Hứa Thế Hanh (chức đề đốc) cùng các tướng Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long (cả hai đều đang mang chức tổng binh), Lý Hóa Long (chức phó tướng). Quân tình nguyện Điền châu do Sầm Nghi Đống chỉ huy, theo đường Long châu tiến vào Cao Bằng rồi tiến về Thăng Long. Cả 3 đạo quân xuất phát vào cuối tháng 10 âm lịch năm 1788. Càn Long còn đặc cử Phúc Khang An chuyên trách hậu cần. Theo sách Thánh vũ ký, phần "Càn Long chinh phủ An Nam ký" của Ngụy Nguyên đời Thanh, Phúc Khang An đã thiết lập trên 70 đồn quân lương to lớn và kiên cố từ hai đường Quảng Tây và Vân Nam tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ ải Nam Quan tới Thăng Long, Khang An thiết lập 18 kho quân lương trong khi Tôn Sĩ Nghị hành quân. Tổng số chi phí mà nhà Thanh đã tiêu vào cuộc chiến ở Việt Nam là 1.346.508 lượng bạc, bao gồm tỉnh Quảng Tây chi ra 1.057.322 lượng và tỉnh Vân Nam chi ra 289.186 lượng == Tiền quân Tây Sơn vừa đánh vừa rút lui == Khi quân Thanh tiến qua biên giới, quân lính Tây Sơn bỏ trốn hết khiến viên trấn thủ của Tây Sơn là Phan Khải Đức phải đầu hàng Theo thư Lê Chiêu Thống gửi cho Tôn Sĩ Nghị, tổng số quân Tây Sơn đóng ở miền Bắc khoảng 60 ngàn quân, trong đó có 30 ngàn quân do bắt lính tại địa phương, không có lòng chiến đấu. Ngô Văn Sở được tin quân Thanh kéo sang liền nhóm họp các văn võ quan nhà Lê Trung Hưng đưa một bức thư ký tên Giám Quốc Sùng Nhượng Công, Lê Duy Cẩn sang xin hoãn binh với Tôn Sĩ Nghị. Rồi các tướng Tây Sơn mở cuộc thảo luận. Nhiều người bàn dùng phục binh đánh quân Thanh như Lê Lợi diệt tướng Minh là Liễu Thăng, Lương Minh trước đây, duy Ngô Thì Nhậm chủ trương kế hoạch, nhử quân Thanh vào sâu nội địa, thủy quân rút về Biện Sơn trước, lục quân kéo vào đóng giữ núi Tam Điệp rồi báo tin vào cho Bắc Bình Vương. Chiến lược này được chấp thuận, binh sĩ các đạo đều được lệnh về hội ngay dưới cờ của Tiết Chế Ngô Văn Sở tại bờ sông Nhị vào năm hôm sau. Sở bàn kế hoạch lui quân. Ngô Văn Sở sai tướng chặn giữ bến đò Xương Giang chặn quân Thanh, và sai Phan Văn Lân đưa hơn 10 ngàn quân tinh nhuệ từ Thăng Long đi đánh. Quân Tây Sơn vượt sông Nguyệt Đức đánh vào quân Thanh đang đóng ở núi Tam Tầng, bao vây doanh trại của Tôn Sĩ Nghị. Súng hỏa sang của quân Thanh bắn ra như mưa, đồng thời cung tên từ hai cánh phải và trái của quân Thanh cũng bắn ra, quân Tây Sơn chết rất nhiều. Tôn Sĩ Nghị lại phái một toán kỵ binh từ mạn thượng lưu vượt qua sông đánh úp lấy đồn Thị Cầu. Đồn này phát hỏa, Văn Lân cả sợ rút về. Ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), thành Thăng Long bỏ ngỏ, quân của Nghị vào đóng và tướng doanh của Nghị đặt tại Tây Long Cung. Theo lời vua Thanh dặn, Sĩ Nghị lấy xong thành này rồi trao ấn cho Duy Kỳ, tấn phong làm An Nam quốc vương lấy lòng dân Đại Việt.. Ngày 22, Sĩ Nghị làm lễ ở điện Kính Thiên để làm lễ sách phong cho vua Lê Chiêu Thống. Lê Chiêu Thống được tin quân Tây Sơn rút khỏi các trấn, bèn điều các tướng dưới quyền đi chiếm lại những nơi đó. Giữa tháng 11 năm 1788, quân Thanh tới bờ bắc sông Thương. Quân Tây Sơn rút về bờ nam nhưng chặt phá hết cầu và lấy hết thuyền bè. Theo sách Thánh vũ ký, phần "Càn Long chinh phủ An Nam ký" của Ngụy Nguyên, quân Thanh đã tổn thất khá nhiều mới bắc được cầu qua sông do đạn của quân Tây Sơn bắn sang trước khi rút hẳn. Quân Thanh tiến đến Thị Cầu, Phan Văn Lân đã chặt cầu và tận dụng bờ nam cao hơn bờ bắc mà bắn đại bác sang khiến quân Thanh mất 3 ngày (15 đến 17 - 11) không bắc nổi cầu. Nửa đêm 17 tháng 11, Phan Văn Lân mang một ngàn quân bản bộ theo khúc sông Cầu định tập kích trại Tôn Sĩ Nghị nhưng bị thiệt hại do hoả lực của quân Thanh bắn ra. Sau đó Văn Lân đụng độ tướng Thanh là Trương Triều Long ở Tam Tằng. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, Quân Tây Sơn ít và yếu thế bại trận, nhiều người bị rét cóng hay chết đuối lúc vượt sông, quân Tây Sơn chết gần hết, phải rút lui. Trong khi đó, lục quân của Ngô Văn Sở cũng rút về tới Ninh Bình cố thủ. Ngày 20 tháng 11, quân Tây Sơn đóng đồn từ Tam Điệp tới Biện Sơn, Ngô Văn Sở cho đô đốc Tuyết vào nam cấp báo với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ. Tôn Sĩ Nghị tính chuyện truy kích Nguyễn Huệ nhưng Tôn Vĩnh Thanh tâu là Quảng Nam xa cách đô thành nhà Lê 2.000 dặm, dùng quân 1 vạn người thì phải cần 10 vạn phu vận tải, cũng bằng từ Trấn Nam Quan đến thành họ Lê. == Quân Thanh đóng đồn phòng thủ == Tôn Sĩ Nghị từ Tam Tằng tiến vào Thăng Long. Lê Duy Kỳ từ Kinh Bắc ra đón rồi cùng theo vào kinh thành. Không lâu sau, các đạo quân Vân - Quý và Điền châu cũng tiến vào hội binh. Theo các nhà nghiên cứu, cuộc hành quân của Tôn Sĩ Nghị từ 28/10 tới 20/11 tức là mất 22 ngày mới tới Thăng Long, lâu hơn nhiều so với thời gian 6 ngày mà Nghị từng dự liệu với Càn Long. Tôn Sĩ Nghị bố trí quân Thanh đóng ở phía nam tới phía tây thành Thăng Long, cho đạo quân Lưỡng Quảng đóng hai bên bờ sông Hồng, quân Điền châu đóng ở Khương Thượng, quân Vân Quý đóng ở Sơn Tây. Theo Hoàng Lê nhất thống chí và Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục của nhà Nguyễn, quân Thanh ở Thăng Long chểnh mảng phòng thủ, thường đi cướp bóc hãm hại dân Đại Việt nên bị oán ghét. Lê Duy Kỳ thực hiện thanh trừng những người hợp tác với Tây Sơn. Theo Đại Nam thực lục, Nguyễn Ánh ở Gia Định nghe tin quân Thanh vào Thăng Long cũng sai Phan Văn Trọng và Lâm Đồ mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra cho quân Thanh nhưng giữa đường bị bão biển, cả người và gạo đều bị đắm hết. Tôn Sĩ Nghị ban đầu chủ quan, sau nghe lời cảnh báo của các tướng dưới quyền Lê Duy Kỳ cũng quyết định ngày 6 tháng Giêng sẽ ra quân đánh Tây Sơn. Để tăng cường phòng thủ, Nghị bố trí đồn Ngọc Hồi ở Thanh Trì (Hà Nội), đồn Hà Hồi ở Thường Tín (Hà Nội), đồn Nhật Tảo ở Duy Tiên (Hà Nam) và đồn Nguyệt Quyết huyện Thanh Liêm (Hà Nam). Quân Cần vương của Duy Kỳ do Hoàng Phùng Tứ chỉ huy cũng được điều từ Sơn Tây xuống Gián Khẩu làm tiền đồn chặn quân Tây Sơn. Quân Thanh đồng thời cũng tụ tập thêm được các Hoa Kiều sống ở phía Bắc Đại Việt được chừng một vạn người đóng thành một trại, nhóm quân này ỷ thế đi cướp phá, và hãm hiếp không kiêng sợ gì ai. Dù Tôn Sĩ Nghị có ra sắc lệnh nghiêm quân kỷ nhưng vì quân kiêu nên cũng không có tác dụng lắm. == Vua Quang Trung bắc tiến == === Ra quân === Bốn ngày từ khi xuất phát tại Biện Sơn, ngày 24 tháng 11, đô đốc Tuyết vào tới Phú Xuân cấp báo với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ. Ngay ngày hôm sau 25 tháng 11, Nguyễn Huệ quyết định ra quân. Quân đội dưới quyền ông thực ra đã có chuẩn bị tác chiến từ trước. Từ giữa năm 1788, tướng Tây Sơn ở Nam Bộ là Phạm Văn Tham không chống nổi các tướng của Nguyễn Ánh, thành Gia Định thất thủ và sau đó liên tiếp thua trận, đang cố cầm cự ở Ba Thác. Nguyễn Nhạc tuổi cao lắm bệnh, bất lực không thể cứu ứng Nam Bộ, xin nhường ngôi hoàng đế, đất đai và binh quyền cho Nguyễn Huệ, tự xưng là Tây Sơn vương và thỉnh cầu ông vào cứu. Để chuẩn bị Nam tiến, Nguyễn Huệ tổng động viên binh lính ở Thuận Hoá, ngày đêm tập luyện. Tuy nhiên đạo quân hùng mạnh từ phương bắc trở thành nguy cơ lớn hơn và Nguyễn Huệ quyết định bắc tiến trước. Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế tại Phú Xuân, lấy niên hiệu Quang Trung và ra lệnh xuất quân. Một giai thoại được truyền lại về việc Quang Trung lập kế để động viên quân sĩ trước khi ra quân đánh quân Thanh, tại lễ đăng quang ở Phú Xuân. Sau lúc làm lễ, Quang Trung sai mang đến cái mâm, trên để các đồng tiền, có phủ vải điều, rồi tuyên bố với quân sĩ: Ba quân hãy cùng ta quan sát, nếu cả hai trăm đồng tiền này đều sấp, thì đó là điềm trời báo chúng ta đại thắng. Ngược bằng, có đồng ngửa, thì đó là đại sự của chúng ta có điều trắc trở. Nguyễn Huệ chắp tay khấn vái, đặng bưng mâm tiền, cung kính dâng lên cao, rồi hất tung xuống sân. Quân sĩ thấy các đồng tiền nhất loạt đều sấp, reo hò mừng rỡ, tin chắc trận ra bắc sẽ thắng quân Thanh. Kỳ thực, Nguyễn Huệ đã sai đúc 200 đồng tiền có cả 2 mặt đều là mặt sấp. === Tăng quân ở Nghệ An === Ngày 29 tháng 11, quân Tây Sơn đến Nghệ An, đóng lại hơn 10 ngày để tuyển thêm quân, cứ 3 suất đinh lấy 1 suất lính. Sau một thời gian ngắn, ông đã có thêm hơn hàng vạn người. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, số quân cũ và mới của Quang Trung là 10 vạn và hơn 100 voi chiến. Về thái độ của dân chúng, sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong sách Đại cương Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ghi thì thanh niên địa phương nô nức gia nhập hàng ngũ Tây Sơn còn theo sử gia Tạ Chí Đại Trường trong sách Lịch sử nội chiến Việt Nam 1771- 1802 thì trích trong thư giáo sĩ Longer là người đương thời gởi cho Julliard cho biết quân Tây Sơn bắt lính "gay gắt đến nỗi người ta không biết trốn vào đâu để tránh quân dịch. Các kẻ sai nha đem chó theo để tìm người trong khu rừng bên cạnh như người ta tìm thú: người ta lấy dao xỉa vào các đống rơm dùng để đun nấu" Quang Trung tổ chức duyệt binh và tiến ra bắc. Ngày 20/12, Quang Trung tiến đến Tam Điệp và tán thành chủ trương rút lui của Ngô Thì Nhậm. Theo sách Lê triều dã sử, sở dĩ quân Tây Sơn hành quân nhanh chóng vì Nguyễn Huệ đã bố trí 3 người 1 tốp thay nhau 2 người cáng 1 đi suốt ngày đêm. Theo Quân doanh kỳ lược của Trần Nguyên Nhiếp (là bí thư dưới quyền Tôn Sĩ Nghị), nghe tin thám tử quân Thanh các nơi chạy về báo Nguyễn Huệ đang lấy thêm lính Thanh - Nghệ và sắp đánh ra bắc, Tôn Sĩ Nghị vội cho quân tập dượt để chuẩn bị tác chiến, sai phó tướng Hứa Thế Hanh trực tiếp chỉ huy mặt trận phía nam Thăng Long. === Chia đường xuất phát === Theo các nhà nghiên cứu hiện đại, Quang Trung chia quân làm 5 đạo: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ông phân quân cũ cho các tướng còn tự mình chỉ huy số quân mới tuyển để những người lính mới yên tâm chiến đấu. Các giáo sĩ phương Tây khi nhìn thấy đạo quân Tây Sơn này đã mô tả họ tàn tạ như những bệnh nhân do cuộc hành quân gấp gáp (dù họ chưa phải chiến đấu trận nào). Đạo quân do Quang Trung chỉ huy có Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm tiên phong, có cả tượng binh và kỵ binh đánh vào chính mặt nam Thăng Long. Đạo quân do đô đốc Tuyết chỉ huy theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, đánh đồn quân cần vương của Lê Duy Kỳ ở Hải Dương, chặn đường rút của quân Thanh bên kia sông Hồng. Đạo quân đô đốc Lộc chỉ huy cùng đạo quân đô đốc Tuyết theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, tới đây tách ra đi gấp lên Phượng Nhãn, Lạng Giang chặn đường rút của quân Thanh phía bắc. Đạo quân đô đốc Bảo chỉ huy, cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Ứng Hoà (Hà Tây) ra làng Đại Áng, phối hợp với cánh quân Quang Trung đánh đồn Ngọc Hồi của Hứa Thế Hanh. Đạo quân đô đốc Long chỉ huy, cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Chương Đức, hướng lên Sơn Tây nhưng sẽ rẽ quặt sang làng Nhân Mục tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống và tiến vào Thăng Long từ hướng tây. Đến nay, còn nhiều tranh luận chưa đi đến thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về người chỉ huy đánh đồn Khương Thượng. Giáo sư Nguyễn Phan Quang trong "Phong trào nông dân Tây Sơn" nêu các giả thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng người chỉ huy là đô đốc Long, có ý kiến cho rằng đó là tướng Đặng Tiến Đông. Lại có ý kiến cho rằng hai người là một; và ý kiến khác cho rằng đô đốc Long thực ra tên là đô đốc Mưu.... Ngày 30 tháng chạp, Quang Trung cho quân ăn tết trước rồi hạ lệnh tiến quân. Ông hẹn với ba quân mồng 7 tháng Giêng âm lịch sẽ vào ăn tết ở Thăng Long. == Quang Trung đại phá quân Thanh == Xem thêm: Trận Hà Hồi, Trận Ngọc Hồi, Trận Đống Đa, Trận Thăng Long === Diệt tiền đồn === Đêm trừ tịch (30 tết), từ phòng tuyến Tam Điệp, quân Tây Sơn xuất phát. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy vượt sông Giao Thuỷ đánh đồn Gián Khẩu của quân cần vương nhà Lê. Quân Lê tan vỡ, Hoàng Phùng Tứ bỏ chạy. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, quân Quang Trung thần tốc tiến lên bắt gọn đám quân Thanh do thám và tiêu diệt các đồn bắc sông Nguyệt Quyết và đồn Nhật Tảo (Duy Tiên). Do đạo quân Tây Sơn hành quân nhanh và các đám quân do thám bị bắt, quân Thanh từ đồn Hà Hồi tới Thăng Long không biết gì về cử động của quân Tây Sơn. === Dụ hàng đồn Hà Hồi, áp sát Ngọc Hồi === Ngày 3 tháng Giêng, quân Tây Sơn tiến đến Hà Hồi cách Thăng Long khoảng 20 km. Quang Trung cho quân vây chặt đồn rồi sai bắc loa kêu gọi quân Thanh đầu hàng. Quân Thanh bị bất ngờ trước sự áp sát quá nhanh của quân Tây Sơn, không kịp kháng cự, đều ra hàng. Ngày 4 tháng Giêng, Quang Trung tiến đến đồn Ngọc Hồi. Hứa Thế Hanh ở đây nghe tin đồn Hà Hồi bị diệt vội báo về Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị vội điều Thang Hùng Nghiệp mang quân ra tăng viện, lại đặc sai 20 kỵ binh phải thay nhau chạy đi chạy lại báo cáo tình hình. Nhưng khi tiến quân tới Ngọc Hồi, Quang Trung không đánh ngay. Quân Thanh bị động cũng không dám giao tranh trước nhưng cũng không biết bị đánh khi nào. Cả ngày mùng 4, Quang Trung chỉ cho quân hư trương thanh thế để uy hiếp tinh thần quân Thanh và gây sự chú ý của quân Thanh tới đạo quân do ông chỉ huy vào mặt trận Ngọc Hồi để tạo điều kiện cho yếu tố bất ngờ của các đạo quân đô đốc Long và đô đốc Bảo. Chính Tôn Sĩ Nghị nghe báo cáo của kỵ binh cũng bị hút vào đồn Ngọc Hồi mà không nhận ra nguy cơ từ cánh quân của đô đốc Long. === Diệt đồn Đống Đa === Khi Quang Trung diễu võ ngoài đồn Ngọc Hồi, đô đốc Long đang trên đường bắc tiến hướng đến Sơn Tây – nơi có đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh – thì bất thần rẽ sang làng Nhân Mục nay thuộc xã Nhân Chính và Khương Đình và nửa đêm bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống. Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các đội voi của Tây Sơn đều có đại bác trên lưng nã vào đồn. Quân Thanh bị đánh bất ngờ trong đêm tối, chết rất nhiều, tan vỡ bỏ chạy. Sầm Nghi Đống thấy không thể giữ được đồn bèn tự sát trên đài chỉ huy ở Loa Sơn (Khu vực phố chùa Bộc – Hà Nội hiện nay). Một số tài liệu mới mà giới nghiên cứu đưa ra gần đây lại cho thông tin khác về diễn biến trận diệt đồn Khương Thượng. Theo đó, khi quân Thanh bị diệt đáng kể, Sầm Nghi Đống bỏ chạy lên cố thủ tại đài chỉ huy ở Loa Sơn. Đô đốc Long chia quân làm 2: một cánh đánh sang Nam Đồng để tiến vào Thăng Long, một ít quân tiếp tục vây hãm Loa Sơn. Sầm Nghi Đống không tự vẫn ngay mà cố thủ trên đài chờ cứu viện của Tôn Sĩ Nghị, nhưng tới ngày hôm sau không có quân cứu, Sầm mới tuyệt vọng và thắt cổ tự sát. Nhà thơ đương thời Ngô Ngọc Du đã làm bài thơ Loa Sơn điếu cổ có câu: Thánh Nam thập nhị kình nghê quán Chiến điệu anh hùng đại võ công Dịch: Thánh nam xác giặc mười hai đống Ngời sáng anh hùng đại võ công Khu vực Khương Thượng và xung quanh, do xác quân Thanh chết quá nhiều, sau chất thành 12 gò cao, có đa mọc um tùm gọi là Gò Đống Đa. Trận diệt đồn Khương Thượng cũng còn gọi là trận Đống Đa. === Tiến vào Thăng Long === Hạ xong đồn Khương Thượng, ngay trong đêm mùng 4, đô đốc Long tiến vào bắn phá đồn Nam Đồng ở phía tây thành Thăng Long. Khi Tôn Sĩ Nghị nhận được tin báo việc đồn Khương Thượng thất thủ thì đô đốc Long đã diệt xong đồn Nam Đồng và tiến vào đánh bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị vội vàng tháo chạy. Các tài liệu cũ đều mô tả cảnh hỗn loạn của quân Thanh. Hoàng Lê nhất thống chí viết: "Nghị lên ngựa không kịp đóng yên, quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hốt tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô nhau rơi xuống nước mà chết... Lát sau cầu lại đứt, quân lính bị rơi xuống nước, sông Nhị Hà bị tắc không chảy được..." Đại Nam chính biên liệt truyện viết: "Tôn Sĩ Nghị đóng trên bãi cát, được tin bại trận vội vàng cưỡi ngựa một mình chạy về bắc. Tướng sĩ thấy vậy tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn cả xuống sông, chết đến vài vạn người, làm cho nước sông không chảy được." Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên nhà Thanh: "Sĩ Nghị chạy trốn qua được bờ bắc sông Phú Lương (Tức sông Hồng) liền cắt đứt cầu phao khiến các đạo quân của Hứa Thế Hanh và Trương Triều Long bị bỏ lại ở bờ nam. Do đó hơn 1 vạn người vừa tướng vừa quân xô nhau nhảy xuống sông để bơi sang bờ bắc và đều bị chết đuối cả",. Lê Chiêu Thống được tin Sĩ Nghị đã bỏ chạy, vội dắt gia quyến chạy theo, ra đến bờ sông thì cầu đã gãy, phải men theo bờ sông phía Nghi Tàm, lấy được chiếc thuyền đánh cá chèo sang được bên kia sông Hồng. Em Lê Chiêu Thống là Lê Duy Chi được sai giữ cửa ô Yên Hoa (Tức Yên Phụ ngày nay) thấy Chiêu Thống đã chạy, cũng bỏ chạy lên Tuyên Quang. === Trận Ngọc Hồi === Sáng mồng 5 Tết, khi đô đốc Long tiến vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy, Quang Trung hạ lệnh đánh đồn Ngọc Hồi. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, đồn này được Sĩ Nghị quan tâm phòng thủ nhất, có phó tướng Hứa Thế Hanh đích thân ra chỉ huy. Đồn có hỏa lực mạnh, xung quanh có địa lôi và chông sắt. Để phá hỏa lực địch, Quang Trung làm sẵn 20 tấm mộc đỡ đạn có tẩm rơm ướt dàn đi trước. Theo Lê quý kỷ sự và Việt sử Thông giám cương mục, mờ sáng mùng 5, 100 voi chiến Tây Sơn tiến lên. Ngựa quân Thanh sợ voi lui lại, giẫm lên nhau, lùi về đồn. Quân Thanh không dám ra nữa, cố thủ trong đồn bắn ra. Quang Trung chia tượng binh làm hai cánh, một cánh vòng qua sau đồn Ngọc Hồi, đóng phía đông đê Yên Duyên để chặn đường địch rút; cánh kia dùng mộc tẩm rơm ướt tiến lên hãm đồn. Đại bác quân Thanh bị vô hiệu lực. Quân Tây Sơn tiến vào đồn hỗn chiến. Đại Nam chính biên liệt truyện mô tả, quân Thanh không chống nổi chạy tản ra tứ phía, lại giẫm phải địa lôi chính mình đặt từ trước nên bị chết rất nhiều. Đồn Ngọc Hồi bị quân Tây Sơn thiêu cháy. Quân Thanh từ đồn Ngọc Hồi chạy tới đê Yên Duyên, trông thấy phục binh Tây Sơn chặn đánh, phải chạy theo đường Vịnh Kiều trốn về Thăng Long. Nhưng chạy tới nửa đường thì gặp cánh quân đô đốc Bảo đánh tới từ làng Đại Áng. Quân Thanh phải chạy lên làng Quỳnh Đô định trốn vào đầm Mực. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, quân đô đốc Bảo tiến vào đầm Mực tiêu diệt toàn bộ quân Thanh còn lại chạy từ Ngọc Hồi về đây. Như vậy toàn bộ hệ thống đồn do Tôn Sĩ Nghị thiết lập để phòng thủ ở nam Thăng Long đều bị quân Tây Sơn tiêu diệt. Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các tướng Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng đều tử trận. === Khải hoàn === Cũng theo Thánh vũ ký, đạo quân Vân Nam – Quý châu đóng ở Sơn Tây được tin các đồn thất thủ, tướng Ô Đại Kinh không giao chiến trận nào đã bỏ chạy, nhờ tướng người Việt là Hoàng Văn Đồng dẫn đường chạy về Trung Quốc. Chiều mồng 5 tết (tức 30 tháng 1 năm 1789), Quang Trung và đô đốc Bảo tiến vào Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân, đô đốc Long ra đón rước vào thành. Đại Nam chính biên liệt truyện mô tả, áo bào của Quang Trung sạm màu khói súng. Trên đường tháo chạy, Tôn Sĩ Nghị bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh ở Hải Dương và Phượng Nhãn, tơi tả chạy về, bỏ lại cả quân ấn, kỳ bài, sắc thư. Trần Nguyên Nhiếp là bí thư dưới quyền Nghị sau này mô tả: Sĩ Nghị cùng Nguyên Nhiếp đi lạc lối, quanh co nhiều chỗ, bị đói khát 7 ngày đêm mới tới ải Nam Quan. Theo giáo sĩ De la Bissachere ở Việt Nam khi đó, số quân Thanh kịp theo Nghị qua bên kia biên giới chỉ có khoảng 50 người. Lê Duy Kỳ vội chạy theo Nghị thoát sang bên kia biên giới. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được Nghị và Duy Kỳ mới thôi. Bởi thế dân Trung Quốc ở biên giới dắt nhau chạy làm cho suốt vài chục dặm không có người. Như vậy sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đã đánh tan quân Thanh. Cánh quân Điền châu gần như bị diệt hoàn toàn, cánh quân Lưỡng Quảng chủ lực bị thương vong nặng và tan rã gần hết, riêng quân Vân Nam – Quý châu không giao chiến mà rút êm về nước. Quang Trung đã hẹn với ba quân mồng 7 vào ăn tết ở Thăng Long nhưng chỉ đến mồng 5, quân Tây Sơn đã khải hoàn ở kinh thành. Ngô Ngọc Du là một nhà thơ đương thời, đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày chiến thắng oanh liệt đó của Tây Sơn trong một bài thơ: Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng Quân vua một giận oai bốn phương Thần tốc ruỗi dài xông thẳng tới, Như trên trời xuống dám ai đương Một trận rồng lửa giặc tan tành, Bỏ thành cướp đó trốn cho nhanh Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến, Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh Mây tạnh mù tan trời lại sáng Đầy thành già trẻ mặt như hoa, Chen vai khoác cánh cùng nhau nói: "Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta" === Các đồn bị hạ === Gián Khẩu Yên Quyết Nhật Tảo Hà Hồi Ngọc Hồi Đống Đa Nam Đồng == Tế quân Thanh == Sau cuộc chiến, Quang Trung ra lệnh thu nạp và nuôi dưỡng hàng vạn tù binh Mãn Thanh. Ông sai thu nhặt xương cốt quân Thanh tử trận, chôn thành những gò đống, lập đàn cúng tế và sai Vũ Huy Tấn soạn văn tế, biểu thị sự thương xót với những quân, dân Trung Quốc chết xa nhà. Bài văn có đoạn: Nay ta Sai thu nhặt xương cốt chôn vùi Bảo lập đàn bên sông cúng tế Lòng ta thương chẳng kể người phương Bắc Xuất của kho mà đắp điếm đống xương khô Hồn các ngươi không vơ vẩn ở trời nam, hãy lên đường mà quay về nơi hương chí Nên kính ngưỡng ta đây là chủ, chan chứa lòng thành Nhưng mong sao đáp lại đạo trời, dạt dào lẽ sống. == Chiến thuật, hậu quả và ý nghĩa == Chiến thắng Kỷ dậu 1789 là một trong những trận chiến chống ngoại xâm nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam và cũng được các nhà nghiên cứu Việt Nam như Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng đánh giá là chiến công oanh liệt nhất của hoàng đế bách chiến bách thắng Nguyễn Huệ. Chiến thắng này đã chặn đứng ý định xâm chiếm Đại Việt của nhà Thanh dưới thời Càn Long thịnh trị. Sử quan nhà Nguyễn là Trần Trọng Kim năm 1920 cũng phải ngợi khen chiến tích này: Hành quân thần tốc, hạ chớp nhoáng liên tiếp gần 10 đồn, tiêu diệt quân địch đông hơn (theo sử Việt Nam) từ cường quốc phương bắc. Tất cả chỉ diễn ra trong 6 ngày. Yếu tố bất ngờ trong chiến thuật của Quang Trung luôn khiến quân Thanh lâm vào thế bị động. Bất ngờ chiến lược mà ông giành được là đánh địch ở không gian và thời gian do mình lựa chọn. Đầu tiên là việc ra quân thần tốc. Tôn Sĩ Nghị ban đầu yên tâm với hệ thống đồn phòng thủ liên tiếp nương tựa nhau, định cho quân nghỉ ngơi tới mồng 6 ra quân đánh Tây Sơn. Nhưng Tây Sơn hành quân quá nhanh tới Tam Điệp ngay từ trước Tết nguyên đán buộc Nghị phải thay đổi kế hoạch. Từ chủ định tấn công, Nghị không kịp điều quân thực hiện ý định đó mà phải phòng thủ chờ quân Tây Sơn đến.. Trong suốt cuộc hành quân bắc tiến, đạo quân chủ lực do đích thân Quang Trung chỉ huy chính là đạo quân giao chiến nhiều nhất. Liên tiếp hạ các đồn Gián Khẩu, Nguyệt Quyết, Nhật Tảo rồi Hà Hồi, tưởng chừng mũi chủ công đang đà thắng trận này sẽ sấn ngay tới Ngọc Hồi dù nó kiên cố. Thấy quân Tây Sơn tiến nhanh và đã bị choáng váng vì mất liền mấy đồn từ Hà Hồi về phía nam nên quân Thanh sẵn sàng nghênh chiến ở Ngọc Hồi ngoài cửa ngõ Thăng Long. Việc Quang Trung hành quân quá nhanh và hạ các đồn tiền tuyến cũng quá mau lẹ khiến quân Thanh ở Ngọc Hồi bị động, không dám chủ động tác chiến. Nhưng đó chính là lúc biến ảo nhất trong chiến thuật quân sự của Quang Trung tại lần bắc tiến này. Theo sách của Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng thì mũi tên bay rất nhanh, từng xuyên thủng liên tiếp các rào cản thì bất chợt dừng lại trước đồn Ngọc Hồi. Quang Trung bất ngờ hoãn binh không đánh, chỉ phô trương thanh thế cho đạo quân của đô đốc Long, tưởng như sẽ đánh thẳng vào đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh ở Sơn Tây thì lại rẽ bước ngoặt quyết định vào đồn Khương Thượng - sườn tây Thăng Long - chỗ Tôn Sĩ Nghị không ngờ đến. Cuộc tập kích của đô đốc Long bất ngờ và mạnh mẽ tới mức khi đồn Ngọc Hồi – lá chắn tin tưởng nhất của Nghị - chưa mất, Nghị đã bỏ chạy. Việc quân đô đốc Long tung hoành trong kinh thành khiến đồn Ngọc Hồi dù kiên cố song quân Thanh ở đó cũng giảm nhiều nhuệ khí khi kinh thành sau lưng đã bị hạ - không còn được che chắn và tiếp viện từ đại doanh của chủ soái họ Tôn. Mục tiêu trước mắt đạo quân chủ lực của Quang Trung, chỉ sau 1 hôm, lại không còn là trở ngại lớn như ban đầu nữa. Đó mới là lúc ông thúc quân đánh chiếm đồn. Như vậy là đạo quân chủ lực tác chiến nhiều nhất lại không phải là đạo quân đâm nhát kiếm quyết định vào quân Thanh để giải phóng Thăng Long. Đại doanh tan vỡ, chủ soái Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy khiến quân Vân Quý không đánh phải tự rút. Trường hợp này tương tự như đạo quân Vân Nam của Mộc Thanh tháo chạy trong khởi nghĩa Lam Sơn, khi đạo quân chủ lực của Liễu Thăng đã bị diệt. Theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, chiến thuật kết hợp vừa gấp gáp vừa thư thả, giương đông kích tây, tránh chỗ mạnh nhằm chỗ yếu hơn ở Ngọc Hồi – Khương Thượng đã đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ. Trong 3 đạo quân Thanh, cánh quân đông đảo nhất, mạnh nhất là của Tôn Sĩ Nghị và cánh quân ít nhất, yếu nhất chính là quân Điền châu của Sầm Nghi Đống. Quang Trung đã chọn mục tiêu đánh vào quân Điền châu vừa yếu nhất lại vừa dùng kỳ binh đánh bất ngờ, vào thời điểm nửa đêm nên khả năng chiến thắng rất cao. Xét trên toàn cục, với lực lượng ít hơn, quân Tây Sơn (10 vạn) thực tế chỉ đương đầu với khoảng già nửa số quân Thanh sang Đại Việt nên lực lượng tương đối cân bằng. Quang Trung đã không dàn lực lượng tác chiến cùng lúc với tất cả các cánh quân Thanh (không đụng quân Vân Quý của Ô Đại Kinh) mà vẫn có chiến thắng lớn trên toàn mặt trận, đuổi được quân Thanh ra khỏi bờ cõi. Những trận kịch chiến ở Khương Thượng (hay Đống Đa) và Ngọc Hồi là lớn nhất, ác liệt nhất, mang tính quyết định nhất trong toàn bộ chiến dịch bắc tiến đánh quân Thanh của Quang Trung. Vì vậy, mặc dù chiến dịch phá quân Thanh còn nhiều trận đánh khác nhưng đời sau vẫn thường gọi trận chiến này là trận Ngọc Hồi - Đống Đa. Trận Ngọc Hồi - Đống Đa chấm dứt sự tồn tại của nhà Hậu Lê. Lê Duy Kỳ chạy sang lưu vong rồi chết ở Yên Kinh. Vua Tây Sơn – hoàng đế Quang Trung sau đó không lâu chính thức được nhà Thanh công nhận, trở thành người cai quản Bắc Hà. Chiến thắng này cũng đánh dấu bước phát triển cực thịnh – dù không dài - của nhà Tây Sơn. == Chiến dịch Tết Mậu Thân == Năm 1968, trước việc Hoa Kỳ đưa đưa hơn 50 vạn quân vào Miền Nam Việt Nam, Quân Giải phóng miền Nam đã tiến hành chiến dịch Tết Mậu Thân. Giống như trận Ngọc Hồi Đống Đa, cuộc tổng tiến công và nổi dậy đã đồng loạt nổ ra vào đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968 (mồng một Tết Mậu Thân). Suốt từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau, các lực lượng vũ trang quân Giải phóng bất ngờ tiến công rộng khắp vào 6 thành phố lớn, 44 thị xã, hàng trăm quân lỵ, chiếm một số nơi, phát động quần chúng nổi dậy, đập tan bộ máy cơ sở của chế độ Sài Gòn ở nhiều vùng nông thôn. == Các ý kiến khác nhau về số quân Thanh == Số quân Thanh sang Đại Việt được ghi chép trong các sử sách của Việt Nam, của Trung Quốc, cũng như của phương Tây có những điểm khác biệt rất lớn. Các nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Quang, Tạ Chí Đại Trường, Trần Gia Phụng đã có những tổng hợp về các nguồn tài liệu liên quan tới vấn đề này; nguồn tài liệu do các nhà nghiên cứu Việt Nam dẫn ra khá tương đồng: === Việt Nam === Sử sách của Việt Nam như Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Đại Nam Thực Lục, Lê Quý Kỷ Sự, Tây Sơn Thuật Lược... không ghi chép rõ số quân Thanh. Hoàng Lê nhất thống chí có chép lại "Tám điều quân luật" và "Bài hịch" của Tôn Sĩ Nghị. Trong "Bài hịch", Tôn Sĩ Nghị tuyên bố số quân Thanh có 50 vạn. Theo "Tám điều quân luật" thì "mỗi người lính được cấp một tên phu" (điều 8). Vậy số quân Thanh 50 vạn thì số phu cũng 50 vạn và toàn bộ lên đến 1 triệu người. Hầu hết các nhà sử học đều cho con số đó có tính chất khoa trương lực lượng. Nhưng nó cũng cho ta biết rằng 1 người lính chính quy sẽ có 1 người phu đi theo. Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện sơ tập (Q.30) và Nguyễn Thị Tây Sơn Ký chép số quân là 20 vạn, nhưng không xác định con số đó có bao gồm lực lượng thổ binh, nghĩa dũng và dân phu hay không. Tỷ lệ giữa binh lính và dân phu trong các tài liệu cũng không thống nhất. Điều 8 trong "Quân luật" của Tôn Sĩ Nghị quy định 1 lính được cấp 1 phu, trong lúc "Lê Sử Toản Yếu" và "Minh Đô Sử" của Việt Nam lại chép 1 chiến binh có 3 dân binh phục vụ. Bài Hàng binh Chiếu của Quang Trung do Ngô Thì Nhậm viết, là tài liệu được công bố ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu. Bài chiếu có đoạn viết: Theo bài chiếu, tổng số quân Thanh là 29 vạn. Theo ý kiến một nhà nghiên cứu Việt Nam là Nguyễn Phan Quang, bài Chiếu phát phối hàng binh nội địa của Quang Trung là một văn bản chính thức, đương thời, đáng tin cậy. còn theo ý kiến của 1 người Việt Nam khác là Giáo sư Trần Gia Phụng thì 29 vạn quân tuy do Ngô Thời Nhậm là người trong cuộc viết nhưng đây là một văn thư có tính tuyên truyền nên cũng chưa hẳn sát với thực tế. === Phương Tây === Một số thương nhân, giáo sĩ phương Tây đến Đại Việt vào khoảng thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 có ghi lại trong hồi ký và thư từ, một ít tư liệu về chiến thắng Kỷ Dậu 1789. Một thương nhân Anh là J. Barrow đến Đại Việt năm 1792 lại ghi nhận một số liệu khác, số quân Thanh là 10 vạn. Một nguồn thông tin thư từ của một số người nước ngoài sống ở vùng Thăng Long ngay trong thời gian xảy ra trận chiến này. Số thư từ này còn được ghi lại trong tập "Nhật Ký của hội truyền giáo Bắc Kỳ" lưu trữ tại Nha văn khố quốc gia Paris. Một bức thư gửi từ Thăng Long đề ngày 25/10/1788 phản ánh một "tin đồn" về 30 vạn quân Thanh sắp kéo sang cứu viện cho Lê Chiêu Thống. Bức thư của một linh mục trông coi giáo dân ở vùng Thăng Long đề ngày 26 tháng 12 năm 1788 cho biết rõ: "Viện binh Trung Hoa gồm độ 28 vạn người, một nửa đóng trong thành phố, nửa còn lại ở bên kia sông". Theo nhận định của Giáo sư Trần Gia Phụng thì: Theo nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường thì: Một tài liệu khác trong hồi ký của giáo sĩ Pierre-Jacques Lemonnier de la Bissachère (1764-1830) xuất bản tại Pháp năm 1812 cho biết rằng quân Thanh sang Đại Việt khoảng 40.000 người và bị giết tại trận khoảng 20.000 người. Do ông De la Bissachère tới Đàng Ngoài năm 1790-chỉ 1 năm sau trận chiến và ở lại cho đến năm 1798 nên Giáo sư Trần Gia Phụng cho rằng "có thể ông (de la Bissachère) thu thập được nhiều nguồn tin và lượng định con số quân Thanh sang nước Việt". === Trung Quốc === Đại Thanh Thực Lục, bộ sử chính thức của nhà Thanh, ghi chép đầy đủ những lệnh dụ của vua Thanh cho biết toàn bộ quân Thanh được lệnh sang đánh Đại Việt là gần 30.000, trong đó số quân Lưỡng Quảng do Tôn sĩ Nghị trực tiếp thống lãnh là 21.500 (ban đầu có 10.000, sau tăng viện thêm 11.500) và số quân Vân Quý do đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy là 8.000. Đó chỉ mới là số quân chủ lực tinh nhuệ điều động ở bốn tỉnh phía nam, chưa kể gần 6.000 quân địa phương và dân phu chuyển vận lương thực. Theo tuần phủ Quảng Tây là Tôn Vĩnh Thanh thì số dân phu phục vụ cho đạo quân Lưỡng Quảng đã hơn 10 vạn. Trong "Càn Long chinh vũ An Nam Ký", Ngụy Nguyên đời Thanh khoảng vài chục năm sau có chép: số quân Thanh là 18.000, trong đó đạo quân Lưỡng Quảng là 10.000 (chưa kể số viện binh sau này) và đạo quân Vân Quý là 8.000. Nhưng Ngụy Nguyên cho biết thêm: "bấy giờ các thổ binh, nghĩa dũng đi theo, tiếng đồn đại binh có vài chục vạn". Như vậy, số quân chủ lực có khoảng 2 vạn (chưa kể số viện binh sau này), chưa tính số "nghĩa binh", "nghĩa dũng" và dân phu vận chuyển có vài chục vạn người. Dù vậy như Ngụy Nguyễn cũng nói, đây chỉ là "tiếng đồn". Theo các nhà nghiên cứu Tạ Trí Đại Trường, Phan Huy Lê, Hồ Bạch Thảo và Trần Gia Phụng, sử sách nhà Thanh hạ thấp số quân viễn chinh để giảm bớt sự thất bại trầm trọng của triều Thanh. Các sử gia Trung Quốc đó không ghi chép đầy đủ các lực lượng của toàn bộ quân viễn chinh, nhưng chính những đoạn ghi chép của sử sách nhà Thanh, nhất là bộ Đại Thanh Thực Lục, lại bộc lộ nhiều mâu thuẫn: Số quân vài vạn mà Đại Thanh Thực Lục ghi không tính đến "thổ binh", "nghĩa dũng" và dân phu. Hơn nữa, với đạo quân vài vạn thì triều đình nhà Thanh chỉ cử tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị làm thống soái và dưới trướng gồm một loạt võ quan cao cấp như: Đề đốc Phó tướng Hứa Thế Hanh, Đề đốc Ô Đại Kinh, Phó tướng Khánh Thành, Phó tướng Hình Đôn Hạnh; các tổng binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Lý Hóa Long cùng nhiều Tham tướng, Tri phủ, Tri huyện, v.v... Nếu chỉ điều một vài vạn quân, Càn Long không phải quan tâm tới mức vài ngày lại ra một chỉ dụ. Theo Tiến sĩ Nguyễn Duy Chính của Đại học Irvine, Hoa Kỳ thì sổ trả lương và kế toán của nhà Thanh ghi rằng ở phía Đông (vùng Bắc Việt Nam) họ có 10.000 quân, phía Tây có 8.000 và cộng thêm số viện binh theo những nguồn tài liệu khác, cũng không quá 30.000 quân chính quy. Và cũng trong phân tích này, tiến sĩ có dẫn lại sử gia Ba Lan tên là Wieslaw Olszewski ghi quân Thanh có 200.000 quân (không ghi rõ là loại quân gì) sang nước Việt nhưng không rõ số đánh nhau với Tây Sơn là bao nhiêu. Trong bài viết in trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Nguyễn Duy Chính dẫn lại những tổng kết của Lại Phúc Thuận, một học giả đã dày công dựa vào các tài liệu của Thanh triều như Thanh Cao Tông Thuần Hoàng Đế thực lục, Khâm định An Nam kỷ lược, Thanh sử cảo, Đông Hoa tục lục và các sổ sách của Bộ Hộ, Bộ Hình v.v. để biên soạn thành Càn Long Trọng Yếu Chiến tranh chi Quân Nhu Nghiên cứu (乾隆重要戰爭之軍需研究), xác định quân Thanh vào Việt Nam bao gồm quân chính quy và quân phụ trợ. Quân chính quy ở cánh Lưỡng Quảng có 21.500 người (Quảng Tây đợt một 10.000, đợt hai 3.500; Quảng Đông đợt đầu 5.000, đợt sau 3.000), bố trí 4.000 quân đóng ở các quan ải dọc biên, 5.000 quân không theo đại quân mà chia ba toán (2.000 phòng thủ Lạng Sơn, 1.300 canh giữ 17 kho lương dọc đường Lạng Sơn-Thăng Long, 1.700 canh phòng các nơi hiểm yếu), chỉ có 12.500 người ở cánh này theo Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh chỉ huy đưa xuống Thăng Long. Số quân phụ trợ (gồm thổ binh phối hợp, mã phu, dân phu) ước vài chục vạn người. Theo tính toán của Giáo sư Trần Gia Phụng thì theo chính sử nhà Thanh, hai cánh quân của Tôn Sĩ Nghị và Ô Đại Kinh khi cộng lại có 15.000 quân chính quy (chưa kể gần 15.000 viện binh bổ sung thêm sau đó), thêm đoàn quân tiếp liệu của Tôn Vĩ Thanh không dưới 10.000 người nên khi cộng lại đã được 40.000 quân chính quy. Mỗi quân chính quy lại được quyền đem theo ít nhất một người phu (điều thứ 8 của quân luật Tôn Sĩ Nghị) thì số người Thanh qua Đại Việt tối thiểu là 80.000. Đây là con số tối thiểu, mà thực tế theo ông, phải cao hơn nữa do các tướng lãnh và sĩ quan Thanh chắc chắn phải đem theo nhiều hơn một người phu, và trước đó để đánh một bộ lạc 150.000 người nhà Thanh huy động đến 8 vạn quân, Đại Việt dân đông hơn rất nhiều nên con số 1-2 vạn quân là quá ít. Tài liệu này khá khớp với tài liệu của giáo sĩ Pierre-Jacques Lemonnier de la Bissachère khi ông cũng ghi lại rằng quân chính quy của nhà Thanh sang Việt Nam năm đó có tối thiểu (đã bị chính sử Trung Quốc ghi chép giảm bớt) 40.000 người. Giáo sư Phụng tin rằng con số quân Thanh có thể còn cao hơn nữa chút ít, tuy nhiên có thể tạm tin được con số 40.000 quân chính quy. == Trong thơ ca == Trong Đại Nam Quốc Sử diễn ca có đoạn nói về vua Quang Trung đại phá quân Thanh như sau: == Chú thích == == Xem thêm == Nguyễn Huệ Nhà Tây Sơn Lê Chiêu Thống Tôn Sĩ Nghị Ngoại giao thời Tây Sơn Gò Đống Đa Phòng tuyến Tam Điệp == Tham khảo == Thanh Thực lục, Hồ Bạch Thảo dịch, Nhà xuất bản Hà Nội, 2007 Nhiều tác giả, Quang Trung - Nguyễn Huệ những di sản và bài học, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2006. Nhiều tác giả, Quang Trung - Nguyễn Huệ, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2006. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1976. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược GS Nguyễn Phan Quang, Một số công trình lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006 Tạ Chí Đại Trường, Việt Nam thời Tây Sơn - Lịch sử nội chiến 1771-1802, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2007 Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, khoảng năm 1856-1881 Lê Đình Sĩ chủ biên (2010), Thăng Long Hà Nội những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm, Nhà xuất bản Hà Nội == Liên kết ngoài == Chiến sử Việt - Thanh: quân số mang sang đánh An Nam? Nhìn lại Tây Sơn
jazz.txt
Jazz là một thể loại âm nhạc bắt nguồn từ cộng đồng người châu Phi ở Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Jazz nổi lên ở nhiều nơi trên nước Mỹ với phong cách âm nhạc độc lập phổ biến vào thời đó; liên kết bằng kết nối chung giữa âm nhạc Mỹ gốc châu Âu và âm nhạc Mỹ gốc Phi với một xu hướng thiên về biểu diễn. Jazz có lịch sử kéo dài hơn 100 năm, từ thời kỳ ragtime tới ngày nay, và rất khó để có thể định nghĩa hoàn hảo. Jazz thường ứng tác, sử dụng polyrhythm (phức điệu), nhấn lệch (syncopation) và nốt swing, cũng như những khía cạnh của hòa âm châu Âu, âm nhạc đại chúng nước Mỹ, và các yếu tố âm nhạc châu Phi như nốt blue và ragtime. Jazz lan ra khắp thế giới, nó hiện diện tại mọi nền văn hóa âm nhạc quốc gia, vùng, và khu vực, nảy sinh ra nhiều phong cách riêng biệt. New Orleans jazz khởi đầu vào đầu thập niên 1910, kết hợp đội hình brass band quân đội, điệu quadrille, biguine, ragtime và blues với ứng tác phức điệu tập thể. Thập niên 1930, swing big band, Kansas City jazz, và Gypsy jazz là những phong cách nổi trội. Bebop xuất hiện vào thập niên 1940, đưa jazz từ thứ âm nhạc đại chúng nhảy nhót thành "âm nhạc của nhạc công", với nhịp độ nhanh và ứng tác dựa trên hợp âm. Cool jazz phát triển vào cuối thập niên 1940, giới thiệu loại âm nhạc bình tỉnh và mượt mà hơn với những dòng giai điệu dài. Thập niên 1950 chứng kiến sự nổi lên của free jazz, khi nhạc công chơi nhạc mà không cần beat hay cấu trúc nào, và hard bop, mang theo ảnh hưởng từ rhythm and blues, nhạc Phúc âm, và blues, đặc biệt ở cách chơi piano và saxophone. Modal jazz ra đời cũng vào những năm 1950, sử dụng mode làm cơ sở của cấu trúc âm nhạc và ứng tác. Jazz-rock và jazz fusion xuất hiện vào cuối thập niên 1960 - đầu 1970, kết hợp ứng tác jazz với phần nhịp (rhythm), nhạc cụ điện và âm thanh được khuếch đại của rock. Thập niên 1980, smooth jazz trở nên thành công, có được nhiều lượt phát trên radio cũng như sự chú ý từ đại chúng. == Tên và định nghĩa == Câu hỏi về nguồn gốc của từ jazz đã được xác định qua một số nghiên cứu, và có nhiều thông tin về lịch sử của nó. Từ này khởi đầu [dưới một số cách viết khác nhau] như một từ lóng Bờ Tây vào năm 1912, nó được sử dụng với nhiều nghĩa nhưng đều không liên quan đến âm nhạc. Việc dùng từ này với ý nghĩa âm nhạc được xác định sớm nhất là vào năm 1915 trong báo Chicago Daily Tribune. Số báo ngày 14 tháng 11 năm 1916 của tờ Times-Picayune có một bài viết về "những ban nhạc jas", đây là lần đầu tiên từ jazz được dùng trong ngữ cảnh âm nhạc tại New Orleans. Khó để định nghĩa được jazz, vì nó có lịch sử dài hơn 100 năm qua nhiều thời kỳ và bối cảnh khác nhau, từ ragtime tới jazz fusion ảnh hưởng bởi rock thập niên 2010. Nhà phê bình Joachim-Ernst Berendt cho rằng thuật ngữ jazz nên có một định nghĩa rộng hơn, xác định nó là "một dạng âm nhạc nghệ thuật xuất hiện tại Hoa Kỳ qua sự kết hợp giữa âm nhạc người da đen và âm nhạc châu Âu". Theo ý kiến của Robert Christgau, "đa số chúng tôi sẽ nói rằng tạo ra nghĩa mới đồng thời nới lỏng nó ra là tinh túy và lời hứa của jazz." Một định nghĩa bao gồm tất cả những thời kỳ khác nhau của jazz được đề xuất bởi Travis Jackson: "nó là loại âm nhạc gồm những tính chất như swing, ứng tác, tác động cộng hưởng trong nhóm, phát triển một 'tiếng nói cá nhân', và mở rộng cho những khả năng âm nhạc khác". Krin Gibbard cho rằng "jazz là một cấu trúc" mà, tuy nhân tạo, vẫn hữu dụng để gọi "một số loại nhạc có đủ nét chung để hiểu rằng là một phần của một truyền thống [âm nhạc] nhất quán". == Lịch sử == === Nguồn gốc === === Thập niên 1890–1910 === ==== Ragtime ==== Sự giải phóng nô lệ năm 1865 đã đem đến những cơ hội mới cho người Mỹ gốc Phi tự do. Dù vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều người trong số họ đã tìm được chỗ đứng trong ngành giải trí. Những nhạc công da đen đã có thể chơi nhạc trong những buổi khiêu vũ, những đoàn hát rong, và vaudeville, nhiều ban nhạc cũng được thành lập. Các nhạc công piano da đen biểu diễn trong bar, club, và cả nhà thổ. Ragtime được phổ biến bởi những nhạc sĩ như Ernest Hogan (một số ca khúc của ông trở thành hit năm 1895). Năm 1897, Vess Ossman thu âm một medley banjo solo có tên "Rag Time Medley". Cũng trong năm này, nhà soạn nhạc người da trắng William H. Krell ra mắt "Mississippi Rag", bản nhạc piano ragtime không lời đầu tiên được sáng tác, và Tom Turpin phát hành "Harlem Rag", bản ragtime đầu tiên được ra mắt bởi một người Mỹ gốc Phi. Nhạc công piano Scott Joplin thu âm "Original Rags" năm 1898, và 1899 có bản hit toàn cầu "Maple Leaf Rag", một bản hành khúc ragtime gồm bốn phần với những đoạn "theme" tuần hoàn. Cấu trúc của bản nhạc này đã trở thành cơ sở cho những khúc nhạc rag khác. ==== Blues ==== ==== New Orleans ==== === Thập niên 1920 và 1930 === ==== Thời đại Jazz ==== ==== Swing ==== ==== Khởi đầu của nhạc jazz châu Âu ==== === Thập niên 1940 và 1950 === ==== "Âm nhạc Mỹ"—ảnh hưởng của Ellington ==== ==== Bebop ==== Vào đầu thập niên 1940, những nghệ sĩ phong cách bebop bắt đầu đưa jazz từ một thể loại âm nhạc đại chúng "nhảy nhót" thành một loại "âm nhạc của nhạc công." Các nhạc công bebop có nhiều ảnh hưởng nhất là Charlie Parker (saxophone), Bud Powell và Thelonious Monk (piano), Dizzy Gillespie và Clifford Brown (trumpet), và Max Roach (trống). Vì bản chất không phải nhạc nhảy, bebop ít phổ biến và ít thành công thương mại hơn. ==== Afro-Cuban jazz ==== ==== Dixieland revival ==== ==== Cool jazz ==== Cuối thập niên 1940, bebop được thay thế bởi những âm thanh thiên về sự bình tỉnh và mượt mà của cool jazz, thường có những dòng giai điệu dài. Thể loại này nổi lên tại thành phố New York, và thống trị jazz trong nữa đầu thập niên 1950. Điểm bắt đầu của cool jazz là một album tổng hợp các đĩa đơn 1949 và 1950 của một nhóm nhạc sĩ do Miles Davis chỉ huy, album này tên Birth of the Cool. Các bản thu cool jazz của các tên tuổi như Chet Baker, Dave Brubeck, Bill Evans, Gil Evans, Stan Getz và the Modern Jazz Quartet có âm thanh "nhẹ hơn" đối nghịch với tốc độ và sự khó nghe của bebop. Cool jazz sau đó bị đồng hóa với giới West Coast jazz, nhưng đã nó dấu ấn nhất nhất định tại châu Âu, đặc biệt là Scandinavia, nơi tạo nên nghệ sĩ tenor saxophone Lars Gullin và piano Bengt Hallberg. Thể loại này cũng ảnh hưởng lên sự phát triển của bossa nova, modal jazz, và thậm chí free jazz. ==== Hard bop ==== Hard bop về bản chất là sự mở rộng của bebop (hay "bop") bằng cách thêm vào các ảnh hưởng của rhythm and blues, nhạc Phúc âm và blues, đặc biệt trong cách chơi saxophone và piano. Hard bop định hình năm 1953 và 1954, phát triển từ giữa thập niên 1950; sự phát triển của nó một phần là để đáp lại phong cách cool jazz phổ biến đầu thập niên 1950. Bộ ngũ Art Blakey and the Jazz Messengers, thành lập bởi Art Blakey (với sự tham gia của Horace Silver và Clifford Brown), và Miles Davis, đã tiên phong cho phong trào hard bop. ==== Modal jazz ==== ==== Free jazz ==== === Thập niên 1960 và 1970 === ==== Latin jazz ==== ==== Post-bop ==== Post-bop jazz là một dạng nhạc jazz xuất phát từ những phong cách "bop" trước đó. Nguồn gốc của tiểu thể loại này nằm ở những tác phẩm của John Coltrane, Miles Davis, Bill Evans, Charles Mingus, Wayne Shorter và Herbie Hancock. Thông thường, thuật ngữ post-bop được dùng để chỉ jazz từ giữa thập niên 1960 trở về sau mang theo ảnh hưởng của, nhưng không thể đồng nhất với hard bop, modal jazz, avant-garde jazz và free jazz. Nhiều đĩa nhạc post-bop được thu âm cho Blue Note Records, nổi bật gồm Speak No Evil của Shorter; The Real McCoy của McCoy Tyner; Maiden Voyage của Hancock; Miles Smiles của Davis; và Search for the New Land của Lee Morgan. ==== Soul jazz ==== ==== Ảnh hưởng bởi âm nhạc châu Phi ==== ==== Jazz fusion ==== ==== Jazz-funk ==== ==== Xu hướng khác ==== === Thập niên 1980 === ==== Sự phục hồi của jazz truyền thống ==== ==== Smooth jazz ==== Đầu thập niên 1980, một dạng thương mại của jazz fusion được gọi là "pop fusion" và "smooth jazz" trở nên thành công. Điều này thiết lập và hỗ trợ cho sự nghiệp của các ca sĩ gồm Al Jarreau, Anita Baker, Chaka Khan và Sade, cũng như các nhạc công saxophone như Grover Washington, Jr., Kenny G, Kirk Whalum, Boney James và David Sanborn. Nói chung, smooth jazz có nhịp độ chậm (hầu hết các track có nhịp độ 90–105 BPM), và có một nhạc cụ chính chơi giai điệu (saxophone, thường là soprano và tenor, guitar điện legato cũng phổ biến). ==== Acid jazz, nu jazz và jazz rap ==== Acid jazz phát triển ở Anh vào thập niên 1980 và 1990, ảnh hưởng bởi jazz-funk và nhạc điện tử. Nghệ sĩ jazz-funk gồm Roy Ayers và Donald Byrd thường được xem là những người báo hiệu về acid jazz. Nu jazz được ảnh hưởng bởi hòa âm và giai điệu jazz, nhưng thường không có khía cạnh ứng tác. Nó có thể thử nghiệm (experimental) và có nhiều âm thanh và chủ đề khác nhau. Có thể kết hợp nhạc cụ biểu diễn với các beat của jazz house (như St Germain, Jazzanova và Fila Brazillia) hoặc jazz ứng tác đội hình ban nhạc với các yếu tố nhạc điện tử (như The Cinematic Orchestra, Kobol và phong cách "future jazz" Na Uy dẫn đầu bởi Bugge Wesseltoft, Jaga Jazzist và Nils Petter Molvær). Jazz rap phát triển vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, và cho ảnh hưởng nhạc jazz vào hip hop. Năm 1988, Gang Starr phát hành đĩa đơn đầu tay "Words I Manifest", lấy đoạn nhạc mẫu (sample) từ "Night in Tunisia" của Dizzy Gillespie, Stetsasonic phát hành "Talkin' All That Jazz", lấy sample từ Lonnie Liston Smith. Album đầu tiên của Gang Starr, No More Mr. Nice Guy (1989) và "Jazz Thing" cũng lấy sample từ Charlie Parker và Ramsey Lewis. Những nhạc phẩm hip hop mang chất jazz khác là Straight Out the Jungle (1988) của Jungle Brothers, People's Instinctive Travels and the Paths of Rhythm (1990) và The Low End Theory (1991) của A Tribe Called Quest. Bộ đôi Pete Rock & CL Smooth đưa âm hưởng jazz vào album đầu tay Mecca and the Soul Brother (1992). Series Jazzmatazz của rapper Guru bắt đầu năm 1993, sử dụng nhạc sĩ jazz trong các bản thâu phong thu. ==== Punk jazz và jazzcore ==== Với sự nới lỏng về tính chính thống được tập trung vào post-punk đương thời ở London và thành phố New York đưa đến cảm hứng mới cho nhạc jazz. Tại London, the Pop Group bắt đầu kết hợp free jazz và dub reggae vào chất nhạc punk rock. Tại New York, No Wave lấy thẳng nguồn cảm hứng từ free jazz và punk. Ví dụ cho phong cách này là Queen of Siam của Lydia Lunch, James Chance and the Contortions (kết hợp Soul với free jazz và punk) và the Lounge Lizards (nhóm nhạc đầu tiên tự gọi mình là "punk jazz)." John Zorn nhấn mạnh vào tốc độ và sự nghịch tai thường thấy trong punk rock, và hợp nhất phong cách này vào free jazz với việc phát hành Spy vs. Spy năm 1986, một tập hợp những bản cover của Ornette Coleman bằng phong cách thrashcore. Trong cùng năm, Sonny Sharrock, Peter Brötzmann, Bill Laswell và Ronald Shannon Jackson thu âm album dưới tên Last Exit, một sự pha trộn giữa thrash metal và free jazz. Những sự phát triển này là nguồn gốc của jazzcore, một sự trộn lẫn free jazz và hardcore punk. ==== M-Base ==== === Thập niên 1990–2010 === Từ thập niên 1990, các phong cách nhạc jazz có độ phổ biến gần bằng nhau và gần như không có thể loại nào chiếm ưu thế. Mỗi nhạc công khác nhau chơi có thể chơi nhiều biến thể jazz. Tay piano Brad Mehldau và bộ tam The Bad Plus lấy nhạc rock đương đại, đưa nó vào cái gốc piano jazz mộc truyền thống; họ còn làm lại (cover) các bài hát của các nghệ sĩ rock. The Bad Plus cũng phối hợp vài ảnh hưởng free jazz vào âm nhạc. Avant-garde jazz và free jazz vẫn được duy trì bởi một số nhạc công như Greg Osby và Charles Gayle Mặt khác, thậm chí một ca sĩ như Harry Connick, Jr. (người có mười album đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng jazz Mỹ) đôi khi cũng được gọi là nhạc sĩ jazz, mặc dù chỉ có vài yếu tố jazz trong chất nhạc thiên hướng pop của anh. Vài ca sĩ đạt thành công thương mại nhờ pha trộn jazz và pop/rock là Diana Krall, Norah Jones, Cassandra Wilson, Kurt Elling và Jamie Cullum. == Tham khảo == == Sách tham khảo == == Liên kết ngoài == Jazz Foundation of America Jazz at the Smithsonian Museum Alabama Jazz Hall of Fame website Jazz Artist and Discography Resource Red Hot Jazz.com Jazz at Lincoln Center website Jazz At Lincoln Center Hall of Fame American Jazz Museum website The International Archives for the Jazz Organ Classic and Contemporary Jazz Music The Jazz Archive at Duke University Jazz Festivals in Europe Free 1920s Jazz Collection available for downloading at Archive.org DownBeat’s Jazz 101 A Guide to the Music This section of the Downbeat magazine website has several short pages to allow the beginning student of jazz to acquire an education. Nairn, Charlie, (1975): Earl "Fatha" Hines: [3]. 1hr documentary filmed at Blues Alley jazz club, Washington DC. Produced and directed by Charlie Nairn for UK ATV Television, 1975. Original 16mm film, plus out-takes of additional tunes, archived in British Film Institute Library at bfi.org.uk; also at http://www.itvstudios.com; DVD copies with the "Jean Gray Hargrove Music Library" (which holds The Earl Hines Collection/Archive), University of California, Berkeley, California; also at University of Chicago "Hogan Jazz Archive", Tulane University New Orleans and at the Louis Armstrong House Museum Libraries: see also www.jazzonfilm.com/documentaries. Thêm tin tức và bình luận về Jazz trên The New York Times Thêm tin tức và bình luận về Jazz trên The Guardian Jazz tại DMOZ
asia's next top model.txt
Asia's Next Top Model (viết tắt là "AsNTM") là chương trình truyền hình thực tế mà đại diện của mỗi nước trong châu Á sẽ cùng nhau tranh tài để giành được danh hiệu "Asia's Next Top Model", hiện tại đang phát sóng trên STAR World Vòng sơ tuyển đầu tiên của chương trình được mắt đầu vào ngày 28 tháng 3 năm 2012 và dự kiến kết thúc vào ngày 5 tháng 5 năm 2012 nhưng sau đó được kéo dài đến ngày 21 tháng 5 năm 2012. Ở mỗi mùa thi, chương trình được quay tại một đất nước trong châu Á. Ngày 11 tháng 4, chương trình tiết lộ rằng Nadya Hutagalung sẽ đảm nhận vai trò dẫn chương trình, giám đốc thời trang Daniel Boey, nhiếp ảnh gia thời trang Todd Anthony Tyler và người mẫu Joey Mead-King sẽ đảm nhận vai trò giám khảo. Khoảng đầu tháng 10, kênh STAR World công bố 14 thí sinh chính thức của Asia's Next Top Model mùa đầu tiên đến từ 13 đất nước khác nhau trong châu Á. Chương trình dự kiến sẽ công chiếu tập đầu tiên vào ngày 4 tháng 11 năm 2012. Tuy nhiên, buổi công chiếu trên STAR World được dời đến ngày 25 tháng 11 năm 2012. Người chiến thắng của mùa thi đầu tiên là cô gái 27 tuổi Jessica Amornkuldilok đến từ Thái Lan. Mùa 2 bắt đầu công chiếu từ ngày 8 tháng 1 năm 2014 và kết thúc vào ngày 9 tháng 4 năm 2014. Người chiến thắng của mùa thi thứ 2 là cô gái 20 tuổi Jodilly Pendre đến từ Philippines. Vào ngày 12 tháng 9 năm 2014, Nadya Hutagalung tuyên bố rằng sẽ rời khỏi vị trí dẫn chương trình. Vào ngày 7 tháng 11, STAR World công bố rằng Georgina Wilson sẽ thay thế vị trí dẫn chương trình của Nadya Hutagalung. Người chiến thắng của mùa thi thứ 3 là cô gái 23 tuổi Ayu Gani đến từ Indonesia. Ngày 9/3/2016, mùa 4 đã lên sóng STAR World, Nữ hoàng sắc đẹp kiêm người mẫu thời trang Thái Lan Cindy Bishop thay thế Georgina Wilson làm MC kiêm giám khảo chính, cùng với 2 giám khảo khác là người mẫu Indonesia Kelly Tandiono và cựu Tư vấn người mẫu của America's Next Top Model Yu Tsai. Mùa này có điều đặc biệt về cách tính điểm áp dụng ở chương trình America's Next Top Model mùa thi 22. BGK sẽ cộng điểm thử thách và photoshoot để xác định thí sinh bị loại. Ngày 2/6/2016, tập cuối của mùa giải khép lại với chiến thắng của Tawan "Jiratchaya" Kedkong đến từ Thái Lan. Mùa 5 bắt đầu vào ngày 5/4/2017, muộn hơn 1 tháng so với lịch chiếu hàng năm. Nữ hoàng sắc đẹp kiêm người mẫu thời trang Thái Lan Cindy Bishop vẫn sẽ tiếp tục làm Host và BGK cùng Yu-Tsai. Siêu mẫu Hồng Kông Cara G Mcilroy sẽ thay thế vì trí GK của Kelly Tandiono. Mùa này sẽ áp dụng tiếp cách tính điểm của America's Next Top Model mùa thi 22. == Điều kiện tham dự == Thí sinh tham dự phải từ độ tuổi 16-27 và cao ít nhất từ 1m67. Các thí sinh đã tham gia chương trình Next Top Model khác trước đây cũng có thể tham gia Asia's Next Top Model chỉ cần họ không phải là quán quân hay người mẫu chuyên nghiệp. == Giám khảo == == Điểm khác biệt giữa ANTM và AsNTM == Có một vài sự khác biệt giữa Asia's Next Top Model và America's Next Top Model. Ban giám khảo sẽ tham gia nhiều hơn vào các thử thách và buổi chụp ảnh, cung cấp những góp ý mang tính xây dựng cho các thí sinh. Ngoài ra, người cố vấn cho các cô gái, Joey Mead-King đã huấn luyện các cô gái trong những khía cạnh khác nhau của nghề người mẫu và cô cũng là người giám sát và đưa ra lời khuyên cho các cô gái trong các buổi chụp ảnh. Ảnh đẹp nhất của mỗi tuần sẽ được làm ảnh nền trong buổi đánh giá tiếp theo thay vì chiếu trên TV trong nhà chung của các người mẫu. Mục danh sách == Các mùa == == Danh sách các thí sinh tham gia đại diện các quốc gia: == === Đông Á và Nam Á === === Đông Nam Á === Bold text indicates winners. Italic text indicates runners-up.
marcos baghdatis.txt
Marcos Baghdatis (tiếng Hy Lạp: Μάρκος Παγδατής) (sinh 17 tháng 6 năm 1985) là 1 vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người đảo Síp gốc Hy Lạp. Anh nổi lên từ khi lọt vào trận chung kết Giải quần vợt Úc Mở rộng 2006 với lối đánh mạnh mẽ và bền bỉ. Baghdatis được người hâm mộ tại quê nhà gọi là "Hoàng tử đảo Síp". Anh từng đạt đến hạng 8 thế giới. == Các trận chung kết == === Đơn: 10 (4–6) === === Đôi: 1 (0–1) === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Marcos Baghdatis (tiếng Anh) (tiếng Pháp) (tiếng Hy Lạp) Marcos Baghdatis trên trang chủ ATP (tiếng Anh)
chandragupta maurya.txt
Chandragupta Maurya (340 TCN – 298 TCN) là vua sáng lập vương triều Maurya trong lịch sử Ấn Độ cổ, trị vì từ khoảng 322 TCN đến 298 TCN. Tên ông được các tài liệu Hy Lạp và Latinh đề cập như Sandrokuptos (Σανδρόκυπτος), Sandrokottos (Σανδρόκοττος) hay Androcottus. Trước khi Chandragupta lên nắm quyền, miền tây bắc Ấn Độ nằm dưới sự thống trị của người Hy Lạp trong khi vương triều Nanda hùng cứ ở đồng bằng sông Ấn-Hằng. Năm 323 TCN, Chandragupta xây dựng lực lượng đánh bại các thống đốc của người Hy Lạp ở miền tây bắc. Tiếp theo đó ông hạ bệ vua Nanda năm 321 TCN rồi khởi lập triều đại Maurya. Năm 304 TCN ông chặn đứng một cuộc xâm lược của quân đội Syria do vua Seleukos I Nikator chỉ huy. Kết quả là Seleukos phải ký hoà ước, nhượng vùng Balochistan và gả công chúa cho Chandragupta đổi lấy 500 thớt voi. Seleukos còn gửi sứ thần Megasthenes đến thực hiện các nghi thức giao hảo tại thủ đô Pataliputta (Hoa Thị) của Chandragupta, mà đến nay những tấu chương của Megasthenes vẫn tồn tại. Sau một loạt cuộc chinh phạt, Chandragupta đã trị vì trên một đế quốc rộng lớn, trải dài từ Bengal và Assam ở phía đông tới Afghanistan và Balochistan ở phía tây, tới Kashmir và Nepal ở phía bắc, và tới Cao nguyên Deccan ở phía tây, kiểm soát được hầu hết Ấn Độ. Điều này khiến ông được người đời xem là ông vua thực thụ đầu tiên cai quản hầu hết tiểu lục địa Ấn Độ. == Xem thêm == Lịch sử Ấn Độ Ashoka Bindusara Dasaratha Maurya Chanakya Gupta Arthashastra Danh sách vua Ấn Độ Nghệ thuật Maurya Người Hy-Bactria Vương quốc Ấn-Hy Quân đội Macedonia cổ đại == Chú thích ==
kinh tế latvia.txt
Kinh tế Latvia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất ở châu Âu. Nước này có tốc độ tăng GDP cao từ năm 2000. Trong năm 2003, GDP đạt 7,5% và tỉ lệ lạm phát chỉ ở mức 2,9%. Thất nghiệp là 8,8% trong năm 2003. Tăng trưởng GDP thực tế các năm tiếp theo đều tăng nhanh, năm 2006 đạt 11,9 %. Việc tư nhân hóa gần như đã hoàn tất, ngoại trừ một vài lĩnh vực phục vụ công cộng phần lớn thuộc sở hữu nhà nước. Vào 1 tháng 4 năm 2004, Latvia đã gia nhập Liên minh châu Âu. == Các số liệu thống kê == GDP: theo sức mua tương đương - 35,684 tỉ USD (2006) Tỉ lệ tăng trưởng thực GDP: 11,90% (2006) GDP - bình quân đầu người: theo sức mua tương đương - 16.000 USD (2006.) GDP - theo lĩnh vực:nông nghiệp: 4,4%công nghiệp: 24,8%dịch vụ: 70,8% (2006 est.) So sánh thu nhập:10% thấp nhất: 2,9%10% cao nhất: 25,9% (1998) Chỉ số Gini: 30,9 (2003) Lực lượng lao động: 1,17 triệu người (2004.) Lao động theo ngành: Nông nghiệp và lâm nghiệp 15%, công nghiệp 25%, dịch vụ 60% (2000) Tỉ lệ thất nghiệp: 7,5% (2005.) Ngân sách:Thu: 4,231 tỉ USDChi: 4,504 tỉ USD (2004.) Xuất khẩu: 3,569 tỉ USD (2004) Đối tác xuất khẩu: Anh 22,1%, Đức 9,9%, Hoa Kỳ 8,2%, Thụy Điển 7,3%, Pháp 6,6%, Lithuania 6,4%, Estonia 5,2%, Đan Mạch 4,2%, Nga 4,1% (2004) Nhập khẩu: 5,97 tỉ USD (2004) ĐỐi tác nhập khẩu: Đức 16,1%, Nga 14,4%, Lithuania 7,6%, Phần Lan 6,5%, Thụy Điển 5,6%, Estonia 5,1%, Italy 4,2%, Ba Lan 4% (2004) Nọ nước ngoài: 23,704 tỉ USD (2006.) Nhận viện trợ kinh tế: 96,2 triệu USD (1995) Tiền tệ: 1 Latvian lat (LVL) = 100 santims == Xem thêm == Kinh tế châu Âu Latvia == Chú thích ==
starcraft.txt
StarCraft là trò chơi điện tử chiến lược thời gian thực loại khoa học quân sự viễn tưởng do Blizzard Entertainment phát triển. Trò chơi đầu tiên của thương hiệu Starcraft được phát hành cho Microsoft Windows vào ngày 31 tháng 3 năm 1998.. Với hơn 11 triệu bản bán ra trên toàn thế giới vào tháng 2 năm 2009, nó là một trong những trò chơi bán chạy nhất trên máy tính cá nhân . Một phiên bản cho Mac OS cũng được phát hành vào tháng 3 năm 1999 và một bản cho Nintendo 64 mà Blizzard cộng tác với Mass Media Interactive Entertainment được phát hành vào ngày 13 tháng 6 năm 2000 . Với cốt truyện ở thế kỷ 26, trò chơi xoay quanh ba chủng tộc đấu tranh cho sự thống trị trong một phần xa của dải Ngân hà được gọi là Koprulu Sector: Terran là con người lưu vong từ Trái Đất có khả năng thích ứng với mọi tình huống; Zerg là chủng tộc ngoài hành tinh có hình dáng côn trùng theo đuổi sự hoàn hảo về di truyền, bị ám ảnh với việc đồng hóa các chủng tộc khác; và Protoss một chủng tộc hình người với công nghệ tiên tiến và khả năng tâm linh, cố gắng bảo tồn nền văn minh và triết học chặt chẽ của họ khỏi Zerg. Trò chơi đã được ca ngợi cho việc tiên phong sử dụng các phe phái độc đáo của trò chơi chiến lược thời gian thực và cho một câu chuyện hấp dẫn . Starcraft được đánh giá là có sự cân bằng hoàn hảo giữa các chủng tộc hoàn toàn khác nhau và yêu cầu tốc độ điều khiển rất cao từ người chơi. Ngoài ra chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh rất hiệu quả trong Starcraft cũng là một điểm nổi bật so với các trò chơi chiến lược thời gian thực khác.Sau đó, Blizzard đã có ý định tiếp tục câu truyện của StarCraft bằng việc phát triển game nhập vai StarCraft: Ghost song nó đã bị ngưng lại với nhiều lý do . Phần tiếp theo chính thức, StarCraft II, đã được công bố vào ngày 19 tháng 5 năm 2007. == Cách chơi == Việc Blizzard Entertainment sử dụng 3 chủng tộc khác biệt trong StarCraft được cho là đã cách mạng hóa thể loại Game chiến lược thời gian thực (ngoài ra còn có chủng tộc Xel'Naga chỉ được đề cập đến trong câu truyện của trò chơi như là một chủng tộc có nền văn minh rực rỡ từ rất xa xưa song hiện tại đã bị tuyệt chủng bởi Zerg (có ý kiến cho rằng chủng tộc này còn rải rác ngoài vũ trụ). Tất cả các đơn vị đều đặc trưng cho chủng tộc của mình, tuy có thể so sánh máy móc giữa các đơn vị quân trong cây công nghệ, nhưng mỗi đơn vị lại đòi hỏi phải các chiến thuật khác nhau để có thể chiến thắng. Protoss sở hữu những đơn vị uy lực, máy móc và công nghệ tiên tiến như lá chắn năng lượng và khả năng dịch chuyển nhờ sức mạnh tâm linh của họ. Tuy nhiên, lực lượng của Protoss rất tốn kém và phát triển mất nhiều thời gian nên chủng tộc này khuyến khích người chơi đi theo chiến lược về chất lượng hơn là số lượng . Zerg có các đơn vị và công trình hoàn toàn hữu cơ, có thể được sản xuất tại chỗ một cách nhanh chóng và rẻ hơn, nhưng lại yếu hơn, phải dựa vào số lượng tuyệt đối và tốc độ để áp đảo kẻ thù . Terran thì đứng giữa 2 chủng tộc kia, được cung cấp các đơn vị linh hoạt và mềm dẻo. Họ sở hữu những đơn vị hỏa lực, máy móc, chẳng hạn như xe tăng và vũ khí hạt nhân . Mặc dù mỗi chủng tộc có những nét độc đáo riêng, nhưng không chủng tộc nào là có lợi thế tuyệt đối so với những chủng tộc còn lại. Mỗi chủng tộc đều được tính toán kỹ lưỡng, khiến chúng tuy có các thế mạnh khác nhau nhưng xét trên tổng thể thì sức mạnh của các chủng tộc vẫn cân bằng. Sự cân bằng được dần hoàn thiện thông qua các bản vá lỗi thường xuyên (cập nhật trò chơi) được cung cấp bởi Blizzard . StarCraft có tính năng thông minh nhân tạo quy mô khá khó, mặc dù người chơi không thể thay đổi mức độ khó khăn trong chiến dịch chơi đơn. Mỗi chiến dịch bắt đầu với phe đối phương chạy chế độ AI dễ dàng, nhân rộng thông qua quá trình để đến chế độ AI khó nhất. Trong trình biên tập cung cấp cho trò chơi, một nhà thiết kế có quyền truy cập đến 4 mức độ AI khó khăn: "dễ dàng", "trung bình", "khó" và "mất trí", mỗi thiết lập khác nhau trong các đơn vị và công nghệ cho phép AI lên kế hoạch chiến lược và chiến thuật này . Phần chiến dịch chơi đơn bao gồm 30 nhiệm vụ, chia thành 10 cho mỗi chủng tộc. Đầu tiên, người chơi bắt đầu với chủng tộc Terran sau đó tới Zerg và cuối cùng là Protoss. Mở đầu và cuối mỗi phần chơi của một chủng tộc là những đoạn phim 3D để minh họa cho cốt truyện của trò chơi. Sau khi kết thúc cả ba phần, người chơi có thể tiếp tục bằng phần chơi tự chọn (Custom play), ở phần chơi này người chơi có thể chọn lựa chủng tộc cho mình, cho đối phương, chọn bản đồ, số lượng đối thủ v..v.. Đối thủ trong phần chơi này là AI của trò chơi với mức độ không quá khó để người chơi có thể trau dồi kỹ năng. Có hai cách chọn AI cho đối thủ là Melee và Free for All. Với Melee, người chơi phải đồi đầu với tất cả đối thủ AI, điều này có nghĩa là các đối thủ AI liên minh với nhau và người chơi là quân địch duy nhất. Còn với Free for All thì tất cả các đối thủ bao gồm cả người chơi lẫn AI đều là quân địch của nhau. === Quản lý tài nguyên === Các chủng tộc đều cần 2 loại tài nguyên để duy trì nền kinh tế và xây dựng lực lượng: khoáng sản (Mineral) và khí đốt (Vespene Gas). Chúng được khai thác bởi các công nhân khai thác ("SCV" - Terran, "Drone" - Zerg và "Probe" - Protoss) và sẽ được đưa về căn cứ chính ("Command Center" - Terran, "Hatchery" - Zerg và "Nexus" - Protoss); người chơi có thể xây thêm căn cứ chính ở những vị trí khác cũng có mỏ khoáng sản trên bản đồ để tăng cường tài nguyên. Khoáng sản, có hình dáng như những khối pha lê màu xanh chồi lên từ lòng đất, cần thiết cho tất cả các đơn vị và công trình, thu được bằng cách sử dụng một công nhân khai thác trực tiếp. Khí đốt, nằm trong các chỏm núi và đòi hỏi phải có nhà máy chế biến ("Refinery" - Terran, "Extractor" - Zerg và "Assimilator" - Protoss) được xây ngay tại đó, cần thiết cho những đơn vị, công trình cấp cao hơn và những sự nâng cấp vũ khí. === Xây dựng căn cứ === Công trình của Protoss và Zerg được giới hạn đến các địa điểm cụ thể: công trình Protoss cần phải được liên kết với một mạng lưới năng lượng , trong khi hầu hết các công trình của Zerg phải được đặt trên một tấm thảm sinh khối, được gọi là "creep", đó là sản phẩm của các công trình nhất định . Công trình Terran có ít hạn chế, với một công trình chính nhất định sở hữu khả năng cất cánh và bay từ từ đến vị trí mới . Công trình Terran tuy nhiên lại yêu cầu đơn vị lao động tiếp tục xây dựng cho đến khi nó được hoàn tất. Ngoài ra, khi một công trình Terran nhận được một thiệt hại nhất định, nó sẽ bắt lửa và cuối cùng biến mất mà không có bất kì hành động nào của đối phương, mặc dù điều này có thể được ngăn ngừa bằng cách sửa chữa thực hiện bởi một đơn vị công nhân. Protoss, ngược lại, chỉ cần một đơn vị lao động để bắt đầu quá trình vận chuyển một tòa nhà đến vị trí hoạt động thông qua các sợi liên kết, và lá chắn công trình của họ (nhưng không phải chính công trình) có khả năng tự phục hồi. Đơn vị công nhân Zerg thì biến đổi thể chất thành công trình, có khả năng tự phục hồi. Mỗi công trình trong trò chơi lại có những công dụng riêng, trong khi quân đội được huấn luyện từ các nhà sản xuất quân thì một số công trình khác dùng để nâng cấp sức mạnh cho toàn quân đội hay nghiên cứu để có thể tạo ra được những đơn vị hay xây được các công trình cao cấp. Tạo ra mỗi đơn vị tốn một lượng tài nguyên cùng với một số lượng đòi hỏi về sự cung cấp quân nhu khác nhau. Số lượng quân tối đa người chơi có thể tạo phụ thuộc vào số lượng nhà cung cấp mà bạn có ("Supply Depot", "Overlord" và "Pylon") và số lượng cao nhất của sự cung cấp cho một chủng tộc là 200 - điều đó có nghĩa số lượng các đơn vị trong một chủng tộc cũng bị giới hạn. Khả năng xây dựng căn cứ mới, bảo vệ căn cứ, do thám đối phương, sử dụng tài nguyên hợp lý xây dựng quân đội và điều khiển quân chiến đấu là những yếu tố quyết định thắng lợi. === Phần chơi mạng === Như nhiều game chiến lược khác, StarCraft hỗ trợ chế độ thi đấu giữa các người chơi với nhau (multiplayer). Đây là điều đặc biệt có ý nghĩa với sự thành công của game trong khi trí tuệ nhân tạo (AI) của game khá kém khi phải đương đầu với những người chơi giàu kinh nghiệm. Một người chơi StarCraft đẳng cấp cao có thể một mình đánh bại máy trong trận chiến 1 đấu 7 chỉ trong 45 phút. StarCraft hỗ trợ chơi qua mạng nội bộ LAN, qua kết nối dial-up, qua internet thông qua kênh battle.net của Blizzard và qua kết nối máy tính của cổng COM. Tám người chơi có thể cùng chơi một lúc qua mạng LAN và battle.net, bốn người cho kết nối cáp trực tiếp và hai người cho kết nối qua modem . Battle.net là nơi cung cấp dịch vụ chơi trực tuyến miễn phí của Blizzard, ở đây, những người say mê StarCraft đã gặp nhau để chơi thành nhóm chống lại các đối thủ được máy tính điều khiển hay đấu với những nhóm chơi khác. Trong các trận đấu tập thể, nhiều người chơi có thể trong cùng một đội, cùng điều khiển một đơn vị hay chơi trong những đội riêng nhưng liên minh với nhau vì thế không lo sợ tấn công nhầm nhau.Các phe cánh dần phát triển để qui tụ những nhóm người chơi và để cạnh trạnh với các phe nhóm khác. Những phe này được tập trung lại với nhau do sự gặp gỡ ngẫu nhiên, do quan hệ ngoài xã hội hay do những mục đích chung như để chiến thắng những giải đấu lớn có tổ chức . Trong chế độ thi đấu nhiều người trực tuyến này, một số người chơi đã can thiệp, sửa đổi các client của StarCraft - phần mềm trò chơi được cài trên PC của người chơi để có thể tham gia chơi trực tuyến - để được hưởng những lợi thế không công bằng. Những lợi thế này bao gồm khả năng điều khiển được hơn 12 đơn vị cùng một lúc, không có sương mù (fog of war), có tài nguyên vô hạn hay mọi cách không công bằng để chiến thắng. Blizzard đã cố gắng phát hiện và cấm những người chơi sử dụng những client đã bị thay đổi này và cài đặt các phần mềm chống bẻ khóa để tạo sự công bằng trong battle.net. Trong năm 2003, hơn 400.000 tài khoản gian lận hay bị phát hiện hack đã bị khóa . Ngoài server battle.net của blizzard người chơi thường xây dựng cho mình nhiều server riêng. Nhưng con số người chơi StarCraft chơi trên battle.net cũng thật khổng lồ: trên 50.000 gamer bất kể thời điểm nào. Từ bản v1.08, StarCraft hỗ trợ lưu lại các trận đấu thành các bản replay để có thể xem lại diễn biến trận đấu trên mọi version của StarCraft. Các bản replay này cho phép người xem có thể học hỏi các chiến thuật trong trận đấu, vì vậy những bản replay của những trận đấu trình độ cao, chuyên nghiệp rất ít khi được công bố để giữ bí mật cho các đội và vì theo luật của các giải đấu chuyên nghiệp. Ngoài ra, người hâm mộ StarCraft thường ghi hình lại các trận đấu StarCraft chuyên nghiệp trên truyền hình rồi upload lên youtube để chia sẻ cho nhau, các file video đó thường được gọi là VOD (Video on demand). === Phần tạo mới và sửa bản đồ === Trò chơi được phát hành bao gồm có cả phần tạo mới và chỉnh sửa bản đồ (StarCraft Campaign Editor hay StarEdit) cho phép người chơi có thể tạo mới hay chỉnh sửa một phần hay toàn bộ bản đồ theo ý muốn của mình. Bên cạnh đó, cộng đồng Starcraft cũng đã phát triển những phần mềm chỉnh sửa bản đồ StarCarft riêng có thể giúp cho người sử dụng có thêm khả năng thể thay đổi trò chơi. Năm 1998, công ty Micro Star đã phát hành một đĩa CD phần mềm tạo bản đồ StarCraft - có tên Stellar Forces - với những chức năng cao cấp hơn so với StarEdit. Song sự phát hành đã bị buộc phải ngừng lại khi Blizzard đã thắng trong vụ kiện chống lại sự phát hành phần mềm này . == Cốt truyện == === Thiết lập === StarCraft diễn ra trong một vũ trụ khoa học viễn tưởng được tạo ra bởi Chris Metzen và James Phinney cho Blizzard Entertainment. Theo câu chuyện được trình bày trong mục hướng dẫn của trò chơi, việc quá tải dân số của Trái Đất trong thế kỷ 21 đã buộc các chính phủ quốc tế trục xuất các phần tử lưu vong của con người, chẳng hạn như tội phạm, và đột biến gien để họ xâm chiếm những nơi xa của thiên hà . Trong Koprulu Sector của thiên hà đã hình thành nhiều chính phủ lưu vong, nhưng nhanh chóng rơi vào cuộc xung đột với nhau. Một chính phủ thống nhất Terran, tên là Confederacy of Man cuối cùng đã nổi lên như là phe phái mạnh nhất, nhưng bản chất đàn áp và các phương pháp đàn áp tàn bạo các nhà đối lập của nó đã khuấy động sự chống đối và nổi loạn lớn trong hình thức của một nhóm khủng bố được gọi là Sons of Korhal - một tổ chức bán quân sự được dựng lên nhằm những mục đích tranh giành quyền lợi. Trong một thời gian ngắn trước khi bắt đầu của trò chơi, vào tháng 12 năm 2499, một chủng tộc ngoài hành tinh sở hữu công nghệ tiên tiến và năng lượng psionic, Protoss, tiến hành cuộc tiếp xúc đầu tiên với nhân loại bằng cách phá hủy một thuộc địa của Confederate mà không có bất kỳ cảnh báo trước. Ngay sau đó, Terran phát hiện ra rằng một chủng tộc ngoài hành tinh thứ 2, Zerg, đã lén lút lây nhiễm bề mặt một số thuộc địa Terran, và Protoss đang phá hủy các hành tinh đó để ngăn chặn sự lây lan của Zerg. Với Confederate bị đe dọa bởi 2 chủng tộc ngoài hành tinh và cuộc nổi loạn bên trong, nó bắt đầu sụp đổ . === Nhân vật === Người chơi giả định vai trò của 3 nhân vật vô danh trong quá trình của trò chơi. Trong chương đầu tiên, người chơi sẽ đóng vai trò như là một thẩm phán Confederate của một thuộc địa xa xôi hẻo lánh của Mar Sara, bị đe dọa bởi cả Zerg và Protoss, và buộc phải tham gia vào tổ chức nổi loạn Sons of Korhal sự lãnh đạo của Arcturus Mengsk. Chiến dịch của Mengsk được đi kèm với Jim Raynor, một sĩ quan thực thi pháp luật ở Mar Sara, và Sarah Kerrigan, một sát thủ tâm linh và chỉ huy thứ hai của Mengsk. Chương thứ hai của trò chơi thấy người chơi là một Cerebrate, một chỉ huy trong Zerg Swarm. Người chơi được cai trị bởi Overmind, biểu hiện của ý thức tập thể của Swarm và nhân vật đối kháng chính của trò chơi, và được đưa ra lời khuyên từ Cerebrates xếp hạng cao hơn. Trong phần cuối cùng của StarCraft, người chơi sẽ là một nhân viên mới được bổ nhiệm (gọi là Executor) trong quân đội Protoss, báo cáo cho Aldaris, một đại diện của chính phủ Protoss. Aldaris có mâu thuẫn với người nắm giữ vị trí cũ của người chơi, Tassadar, qua liên minh của ông với Zeratul, một thành viên của Dark Templar, một nhóm được coi là dị giáo bởi chính phủ Protoss . === Cốt truyện === Câu chuyện của StarCraft được trình bày thông qua mục hướng dẫn của nó, các cuộc giao ban với từng nhiệm vụ và các cuộc hội thoại trong chính nhiệm vụ, cùng với việc sử dụng các đoạn cắt cảnh điện ảnh tại các điểm quan trọng. Trò chơi được chia thành 3 tập, cho người chơi điều khiển 3 chủng tộc. Trong đoạn đầu tiên của trò chơi, người chơi cùng Jim Raynor cố gắng kiểm soát thuộc địa Mar Sara khi các cuộc tấn công của Zerg trên các thế giới khác của Terran bắt đầu. Sau khi bị Confederacy bắt giữ vì đã phá hủy tài sản của Confederacy, cho dù nó đã bị nhiễm khuẩn bởi Zerg, người chơi gia nhập tổ chức Sons of Korhal của Arcturus Mengsk . Raynor, người được giải phóng bởi quân đội của Mengsk, cũng tham gia và thường xuyên đi kèm với người chơi làm nhiệm vụ. Mengsk sau đó bắt đầu sử dụng công nghệ Confederacy chiếm được trên Mar Sara để thu hút Zerg tấn công trung tâm của Confederacy và phục vụ cho những mưu đồ của mình sau này . Sau khi ép buộc được Tướng Edmund Duke của Confederacy theo mình, Mengsk đã hy sinh viên chỉ huy phó của mình, Sarah Kerrigan cho Zerg để đảm bảo cho sự hủy diệt của Confederacy bằng cách thu hút Zerg đến thủ đô Tarsonis của Confederacy . Jim Raynor tỏ ra bất bình và bỏ đi cùng với người chơi và mang theo một đội quân nhỏ của lực lượng dân quân thuộc địa cũ của Mar Sara. Mengsk sau đó quản lý tất cả dân số Terran còn lại vào Terran Dominion, thâu tóm mọi quyền lực và tự phong cho mình là Hoàng đế . Chiến dịch thứ hai của trò chơi cho thấy rằng Kerrigan đã không bị giết bởi Zerg, mà là bị bắt và bị nhiễm khuẩn trong một nỗ lực để kết hợp đặc điểm psionic của cô và gen của Zerg. Cô do đó xuất hiện trở lại với rất nhiều sức mạnh psionic thể chất cùng với DNA của cô hoàn toàn thay đổi . Trong khi đó, chỉ huy Protoss là Tassadar phát hiện ra rằng, các Cerebrate của Zezg không thể bị giết bởi các phương tiện thông thường nhưng có thể bị tổn hại bởi những Dark Templar dị giáo. Tassadar do đó liên minh với thầy tế Zeratul của Dark Templar, người đã ám sát một trong những Zerg Cerebrates ở trong cụm tổ của chúng trên Char . Cái chết của Cerebrates khiến cho đám quân Zezg trở nên hỗn loạn, song cũng khiến cho ký ức của Overmind và Zeratul nhập lại trong khoảnh khắc, cho phép Overmind biết được địa điểm của Aiur, hành tinh quê hương bí hiểm của chủng tộc Protoss là nơi mà Overmind tìm kiếm trong suốt nhiều thiên niên kỷ. Zerg nhanh chóng xâm lược Aiur bất chấp lực lượng phòng vệ dày đặc của Protoss và Overmind có thể tự liên kết chính mình vào trong lớp vỏ của hành tinh , Tập cuối cùng của trò chơi cho thấy Aldaris và chính phủ Protoss kết tội Tassadar là một kẻ phản bội và theo dị giáo khi liên minh với những Dark Templar. Ban đầu, người chơi theo lệnh của Aldaris chiến đấu chống lại sự xâm lăng của quân Zerg ở Aiur, tuy nhiên, trong nhiệm vụ đi tìm bắt Tassadar, thay vì dẫn giải ông về, người chơi lại về phe của Tassadar . Một cuộc nội chiến do đó bùng nổ giữa Tassadar, Zeratul và các đồng minh của họ với Hội đồng Protoss. Các Dark Templar chứng minh giá trị của họ khi sử dụng năng lượng của mình để kết liễu hai Cerebrate của Zerg và Hội đồng mới giải hòa với phe của Tassadar . Với sự hỗ trợ của Jim Raynor và quân đội của anh là người đứng về phía Tassadar lúc ở Char, cuối cùng, sau khi đã phá hủy được tấm vỏ chắn của Overmind và gặp thương vong nặng nề trong quá trình, Tassadar đã chuyển năng lượng psionic của mình và các Dark Templar vào thân tàu chỉ huy của ông là Gantrithor và đâm thẳng vào Overmind, hy sinh bản thân để phá hủy nó . == Phát triển == Blizzard Entertainment đã bắt đầu quy hoạch phát triển StarCraft vào năm 1995, ngay sau khi bắt đầu sự phát triển của Diablo . Sử dụng egine của Warcraft II làm cơ sở, StarCraft ra mắt tại E3 1996. Phiên bản của trò chơi được hiển thị bởi lập trình viên lãnh đạo của nhóm là Bob Fitch đã nhận được một phản ứng không tốt từ hội nghị và bị chỉ trích bởi nhiều người là "Warcraft trong không gian" . Như một hệ quả toàn bộ dự án đã được đại tu, nâng tập trung vào việc tạo ra 3 loài riêng biệt. Bill Roper, một trong những nhà sản xuất của trò chơi, tuyên bố đây sẽ là một khác biệt lớn từ phương pháp tiếp cận của Warcraft và nói rằng StarCraft sẽ cho phép người chơi "phát triển nhiều chiến lược độc đáo trên cơ sở của loài [được chơi], và sẽ đòi hỏi [chơi] việc nghĩ về các chiến lược khác nhau để chống lại hai loài khác" . Vào đầu năm 1997, phiên bản mới của StarCraft được công bố và nhận được rất nhiều phản ứng tích cực hơn. Tuy nhiên, game vẫn gặp trở ngại bởi những khó khăn kỹ thuật, do đó, Bob Fitch hoàn toàn thiết kế lại egine Warcraft II trong vòng 2 tháng để đảm bảo nhiều tính năng mong muốn của nhà thiết kế, chẳng hạn như khả năng cho các đơn vị để đào hang và ẩn, có thể được thực hiện . Các cải tiến sau này cho trò chơi bao gồm các đoạn họa tiết và hình nền, xây dựng bằng 3D Studio Max. Các sometric trong trò chơi cũng được xem tại, trái ngược với tầm nhìn 3/4s của Warcraft II. Ngoài ra, trò chơi cũng sử dụng âm nhạc chất lượng cao, sáng tác bởi nhà soạn nhạc thường trú của Blizzard, và diễn viên lồng tiếng chuyên nghiệp đã được thuê . Mặc cho tiến độ phát triển, StarCraft vẫn còn chậm xuất hiện. Việc trì hoãn liên tục lấy cảm hứng cho một nhóm người hâm mộ StarCraft trên các diễn đàn chính thức mang tên "Operation: Can't Wait Any Longer" để viết một loạt các câu chuyện hư cấu, trong đó các thành viên của Operation CWAL cố gắng lấy được phiên bản beta của StarCraft từ trụ sở Blizzard tại Irvine, California . Để tỏ lòng kính trọng với sự hiện diện của họ trên các diễn đàn và sự nhiệt tình với trò chơi, Blizzard Entertainment sau đó kết hợp tên nhóm vào StarCraft là một cheat code để tăng tốc độ sản xuất của các đơn vị và đã cho nhóm một khoản tín dụng . Trò chơi được phát hành cho Windows vào 31 tháng 3 năm 1998 . với phiên bản Mac OS một năm sau đó vào tháng 3 năm 1999 . Sự phát triển của phiên bản StarCraft 64 trên Nintendo 64, bắt đầu vào năm 1999, được chuyển đổi từ PC bởi Mass Media Interactive Entertainment-công ty con của THQ , và xuất bản bởi Nintendo . StarCraft 64 đã được phát hành vào ngày 13 tháng 6 năm 2000 tại Mỹ và 16 tháng 6 cùng năm tại châu Âu . === Audio === Âm nhạc của StarCraft được soạn bởi nhà soạn nhạc giải trí trong nhà của Blizzard. Derek Duke và Glenn Stafford soạn các bài hát trong menu và âm nhạc trong trò chơi, trong khi Jason Hayes sáng tác âm nhạc được sử dụng trong phim cắt cảnh. Tracy W. Bush cung cấp hỗ trợ thêm trong việc sáng tác . Âm nhạc của trò chơi cũng đã được nhận xét tốt bởi một người nhận xét, người đã mô tả nó như "một cách thích hợp giai điệu và bóng tối" và "ấn tượng" , với một người xem chú ý là một số bài nhạc còn nợ rất nhiều cảm hứng từ âm nhạc mà Jerry Goldsmith soạn thảo cho bộ phim Alien . Nhạc trò chơi chính thức đầu tiên là StarCraft: Game Music Vol. 1, được phát hành vào năm 2000, bao gồm các bài nhạc từ cả StarCraft và Brood War, cũng như một phần khá lớn các bài nhạc remix và nhạc lấy cảm hứng từ StarCraft, được tạo ra bởi một số DJ Hàn Quốc. Âm nhạc đã được phân phối bởi Net Vision Entertainment . Vào tháng 9 năm 2008, Blizzard Entertainment thông báo rằng một nhạc trò chơi thứ hai, Starcraft Original Soundtrack, được phát hành trên iTunes. Nhạc này bao gồm toàn bộ các bản nhạc gốc từ StarCraft và Brood War, cả hai từ chủ đề trong trò chơi âm nhạc được sử dụng trong phim cắt cảnh . == Các bản mở rộng và phần tiếp == === Bản mở rộng trên PC === Ngay trước khi phát hành StarCraft, Blizzard Entertainment phát triển một phần mềm chia sẻ chiến dịch demo của trò chơi là Loomings. Bao gồm 3 nhiệm vụ và một hướng dẫn, chiến dịch này hành vi như là một phần trước cho các sự kiện của StarCraft, diễn ra trên một thuộc địa Confederacy of Man trong quá trình bị tràn ngập bởi Zerg . Trong năm 1999, Blizzard Entertainment đã làm cho phần trước này có sẵn cho trò chơi đầy đủ như là một bản đồ chiến dịch tùy chỉnh, bổ sung thêm 2 nhiệm vụ bổ sung và lưu trữ nó trên Battle.net . Ngoài ra, phiên bản đầy đủ của StarCraft bao gồm một chiến dịch phụ được gọi là Enslavers. Bao gồm 5 nhiệm vụ chơi như là Terran và Protoss, Enslavers được đặt trong chiến dịch thứ hai trong StarCraft và theo sau những câu chuyện của một tay buôn lậu Terran, người đã kiểm soát một Zerg Cerebrate và bị truy đuổi cả Protoss và Terran Dominion. Enslavers hoạt động như một chiến dịch chơi đơn mẫu mực cho trò chơi của cấp trình soạn thảo, nêu bật cách sử dụng các tính năng của chương trình Bản mở rộng đầu tiên, Insurrection được phát hành cho Windows ngày 31 tháng 7 năm 1998 . Nó được phát triển và phát hành bởi công ty Aztech New Media dưới sự đồng ý của Blizzard Entertainment . Câu truyện của nó tập trung vào vùng thuộc địa riêng biệt của Confederate được ám chỉ trong hướng dẫn sử dụng của StarCraft, theo sau một nhóm thực dân Terran và hạm đội Protoss trong cuộc chiến chống lại Zerg và một cuộc nổi dậy tại địa phương. Và cũng giống như ở StarCraft, người chơi cũng điều khiển lần lượt cả ba chủng tộc trong ba phần chơi riêng biệt. Ở phần đầu, đế chế Terran vừa phải phòng thủ quân Zerg đồng thời vừa phải chống lại quân nổi dậy ngày càng lớn mạnh. Trong khi đó, ở phần sau, người chơi sẽ điều khiển chủng tộc Protoss trong nhiệm vụ phá hủy tất cả những thành phố, hành tinh bị nhiễm khuẩn Zerg và phần cuối cùng, người chơi vào vai một Cerebrate để chỉ huy quân Zerg tiến hành quét sạch mọi đối thủ mà nó gặp. Bản add-on này chỉ đơn thuần bao gồm những phần chơi Single player mới cùng một số bản đồ dành cho Multiplayer, nó không có những đơn vị hay các mẫu địa hình mới.. Insurrection được đánh giá là không đạt được chất lượng cũng như sự đặc biệt như bản gốc và dù Blizzard Entertainment đã cho phép phát hành, công ty này cũng không đưa ra một lời bình luận nào về nó.. Retribution là bản add-on thứ hai trong số hai bản add-on được Blizzard Entertainment cho phép phát hành cho StarCraft trong vòng vài tháng sau Insurrection. Nó được công ty Stardock phát triển và được WizardWorks Software phát hành cho máy PC vào cuối năm 1998. Bối cảnh của phiên bản này được đặt vào thời điểm trong phần hai của bản StarCraft gốc, xoay quanh việc giành lấy một viên pha lê mang năng lượng khổng lồ - cầu nối với chủng tộc Xel'Naga xa xưa trêm một thuộc địa của Terran Dominion. Cũng được chia ra làm 3 phần chơi, Retribution đưa người chơi lần lượt vào vai của Người thừa hành dẫn đầu hạm đội Protoss, chỉ huy lực lượng đặc nhiệm của đế chế Terran và một Cerebrate của Zerg. Tất cả nhiệm vụ của cả ba phần chơi là bằng mọi giá phải chiếm được viên pha lê và mang nó ra khỏi hành tinh nhanh nhất có thể. Cũng giống như bản add-on ra trước nó, Retribution không hỗ trợ điểm gì mới ngoài những phần chơi một người và các bản đồ hỗ trợ chơi nhiều người. Phiên bản này thậm chí còn không nhận được những lời phê bình và thay vì ở mức trung bình, nó không được thừa nhận, sau đó, cùng chung số phận với Insurrection, Retribution cũng không được phổ biến rộng rãi . . StarCraft: Brood War là phiên bản mở rộng chính thức của StarCraft, được đồng phát triển bởi Saffire và Blizzard Entertainment, phát hành cho PC và Mac OS vào 30 tháng 11 năm 1998 tại Hoa Kỳ , sau đó tiếp tục được phát hành cho hệ máy Nitendo 64 dưới tên StaCraft 64 vào 13 tháng 6 năm 2000 . Bản mở rộng này được đánh giá là cải thiện đáng kể phiên bản gốc và đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi từ các game thủ cũng như các đánh giá chuyên môn. Phiên bản Brood War tiếp tục cốt truyện đã được kết thúc ở phiên bản chính thức cho phần Single player: Tiếp tục theo bước của chủng tộc Protoss trên hành trình đấu tranh cho sự sống còn của mình, sự trỗi dậy của Zerg song hành với quyền lực ngày càng lớn của Sarah Kerrigan và sự can thiệp của một thế lực mới là Chính phủ Trái Đất. Phiên bản mở rộng này cũng bổ sung thêm 7 đơn vị mới cùng các khả năng khác nhau để làm đa dạng hóa các chiến thuật cũng như hoàn thiện tính cân bằng giữa các chủng tộc . Ngoài ra, nó cũng cải thiện thêm những công cụ tạo kịch bản mới cho Phần tạo mới và sửa bản đồ (StarCraft Campaign Editor) khiến người sử dụng có thể dễ dàng thêm kịch bản cho những phần chơi tự tạo. Trước Insurrection, một gói mở rộng trái phép, gọi là Stellar Forces, đã được xuất bản bởi Micro Star nhưng đã được thu hồi tuần sau khi Blizzard đã thắng kiện chống lại nó. Nó bao gồm 22 bản đồ chơi đơn và 32 bản đồ chơi mạng khá đơn giản . === Phiên bản Nintendo 64 === Năm 2000, StarCraft 64 đã được phát hành cho Nintendo 64, đồng phát triển bởi Blizzard Entertainment và Mass Media Inc.. Trò chơi đặc trưng tất cả các nhiệm vũ của cả Starcraft và bản mở rộng Brood War, cũng như một số nhiệm vụ độc quyền, chẳng hạn như 2 hướng dẫn khác nhau và một nhiệm vụ bí mật mới, Resurrection IV . Resurrection IV được thiết lập sau khi kết thúc Brood War, theo sau Jim Raynor bắt tay vào nhiệm vụ giải cứu nhân vật Brood War là Alexei Stukov, một phó đô đốc từ Trái Đất là người bị bắt bởi Zerg. Các nhiệm vụ của Brood War yêu cầu việc sử dụng một bộ nhớ Expansion Pak của Nintendo 64 để chạy . Ngoài ra, StarCraft 64 có tính năng chia màn hình, cho phép 2 người chơi điều khiển một lực lượng trong trò chơi . StarCraft 64 đã không được phổ biến như các phiên bản PC, và thiếu nhiều tính năng trực tuyến và phát biểu tại cuộc họp nhiệm vụ. Ngoài ra, các đoạn cảnh cắt đã được rút ngắn . Blizzard Entertainment trước đây có ý định để một phiên bản PlayStation của trò chơi, nhưng sau cùng đã quyết định rằng trò chơi sẽ được phát hành trên Nintendo 64 . === Phần tiếp theo === ==== StarCraft: Ghost ==== StarCraft: Ghost là một trò chơi thuộc thể loại nhập vai hành động ở góc nhìn thứ 3 cho dòng máy console được phát triển dưới sự giám sát của Blizzard Entertainment. Được công bố vào năm 2002, trò chơi liên tục nhiều lần phải dời lại thời điểm phát hành với nhiều lý do, mà đáng chú ý nhất là thay đổi nhóm phát triển trò chơi từ công ty Nihilistic Software sang công ty Swingin' Ape Studios vào tháng 7 năm 2004. Những thông báo về trò chơi trở nên thưa thớt dần, các công nghệ đồ họa và thiết kế trò chơi trở nên lỗi thời và đã có ý kiến nên hủy bỏ việc tiếp tục phát triển nó. Cuối cùng, vào ngày 24 tháng 3 năm 2006, Blizzard chính thức công bố hoãn vô thời hạn việc phát triển StarCraft: Ghost . StarCraft: Ghost có bối cảnh đặt vào thế giới của StarCraft, nội dung xoay quanh một nhân viên đặc nhiệm tình báo có khả năng ngoại cảm (đơn vị Ghost) biệt danh Nova (còn được biết dưới tên Agent 12-862) thuộc Trung đoàn Nova, Terran Dominion và những âm mưu liên quan đến những nhân vật trong bản StarCraft nguyên gốc. ==== StarCraft II ==== StarCraft II là một trò chơi chiến thuật thời gian thực và là bản tiếp theo chính thức của StarCraft được phát triển cho PC và Mac OS X bởi Blizzard Entertainment. Nó đã được công bố trong buổi lễ Worldwide Invitational ngày 19 tháng 5 năm 2007 với một đoạn phim giới thiệu được dựng bằng đồ họa 3D và một đoạn gameplay của chủng tộc Protoss . Tại hội nghị BlizzCon tháng 8 năm 2007, một bản gameplay nữa của chủng tộc Terran và một số điểm đặc biệt của phần chơi đơn cũng được giới thiệu . StarCraft II đã sử dụng phối hợp nhiều công nghệ đồ họa 3D mới (VD như công nghệ tương tác vật lý ảo Havok...) để thực hiện việc phát triển , nó cũng tương thích với chuẩn DirectX 10 . Nội dung câu chuyện của phiên bản này được tiếp tục 4 năm sau khi Brood War kết thúc . Ngày 27 tháng 7 năm 2010, Starcraft II được phát hành trên toàn thế giới và được chia thành 3 đợt: trò chơi cơ bản với tựa đề Wings of Liberty, và 2 bản mở rộng sắp tới, Heart of the Swarm và Legacy of the Void . == Ảnh hưởng văn hóa == === Thành công và đánh giá === StarCraft được phát hành quốc tế vào ngày 31 tháng 3 năm 1998 và trở thành trò chơi trên PC bán chạy nhất năm đó với hơn 1.5 triệu bản được bán ra trên toàn thế giới . Trong thập kỷ tới, StarCraft đã tiêu thụ được hơn 9.500.000 bản trên toàn cầu với 4.500.000 bản được bán tại Hàn Quốc . Từ khi StarCraft ra mắt đầu tiên, Blizzard Entertainment thông báo rằng dịch vụ trực tuyến Battle.net của nó đã tăng 800 phần trăm . Starcraft do đó trở thành một trong những trò chơi trực tuyến phổ biến nhất trên toàn thế giới . Nói chung, StarCraft đã nhận được đánh giá tích cực của các nhà phê bình, với nhiều nhận xét ​​đương thời ghi nhận rằng trong khi trò chơi có thể không có chênh lệch đáng kể so với các trò chơi chiến lược thời gian thực hay nhất cùng thời, đó là một trong những tốt nhất để có áp dụng công thức . Ngoài ra, việc StarCraft tiên phong sử dụng 3 chủng tộc độc đáo và cân đối để tạo sự khác biệt so với hai phe cân bằng được ca ngợi bởi các nhà phê bình , với GameSpot bình luận rằng điều này đã giúp trò chơi "tránh được vấn đề đã cản các trò chơi khác cùng thể loại" . Nhiều nhà phê bình cũng ca ngợi sức mạnh của câu chuyện đi kèm với trò chơi, với một số nhận xét về ấn tượng tốt về việc câu chuyện đã được xếp vào lối chơi này . Các diễn viên lồng tiếng của trò chơi đã được khen ngợi; GameSpot sau đó ca ngợi công tác giọng nói trong game là một trong 10 cái tốt nhất trong ngành công nghiệp thời đó . Tương tự, nhiều khía cạnh của trò chơi đã nhận được tích cực. StarCraft đã nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm cả việc được đặt tên là một trong những trò chơi tốt nhất của mọi thời đại bởi cả GameSpot và IGN . Theo Blizzard Entertainment, StarCraft đã giành được 37 giải thưởng, và đã nhận được một ngôi sao trên sàn của Metreon là một phần của Walk of Game ở San Francisco đầu năm 2006 . IGN xếp StarCraft vào vị trí thứ 7 trong bảng danh sách "100 trò chơi hay nhất mọi thời đại" trong cả hai năm 2003 và 2005, gọi nó là "một game chiến lược thời gian thực hay nhất từng có" . Vị trí thứ 2 trong bảng trò chơi dòng PC hay nhất cũng thuộc về StarCraft đứng sau Civilization II .. Cũng như IGN, GameSpot cũng đánh giá StarCraft là một trong những trò chơi hay nhất mọi thời đại . Mặc dù tại thời đồ họa và âm thanh của StarCraft đã được ca ngợi bởi các nhà phê bình , cá đánh giá sau đó đã lưu ý rằng các hình ảnh đã không ở độ tuổi tốt so với nhiều trò chơi hiện đại . Năng lực AI của các trò chơi để điều hướng đi của các đơn vị cũng phải đối mặt với một số lời chỉ trích nặng nề, với PC Zone nói rằng không có khả năng cho các nhà phát triển để làm cho một hệ thống tìm đường hiệu quả là "yếu tố đáng căm giận duy nhất của thể loại chiến lược thời gian thực" . Ngoài ra, một số nhận xét ​​bày tỏ lo ngại về một số sự giống nhau giữa các công trình và đơn vị của mỗi chủng tộc, cũng như sự mất cân bằng về tiềm năng của việc người chơi sử dụng chiến thuật "rush" vào bắt đầu của phần chơi mạng . Blizzard Entertainment do đó cố gắng để cân bằng chiến thuật "rush" trong các bản cập nhật sau đó. Phiên bản Nintendo 64 của trò chơi đã không nhận được đón nhận tích cực bởi nhận xét, và đã bị chỉ trích vì đồ họa nghèo nàn so với phiên bản PC. Tuy nhiên, các nhà phê bình vẫn ca ngợi trò chơi và Mass Media về việc sử dụng điều khiển hiệu quả trên gamepad và duy trì chất lượng âm thanh cao . === Di sản === Việc StarCraft' sử dụng 3 chủng tộc khác nhau thường được ghi nhận là tạo ra cuộc cách mạng trong thể loại chiến lược thời gian thực. GameSpot miêu tả StarCraft là "trò chơi định nghĩa cho thể loại của nó. Đây là tiêu chuẩn mà tất cả các trò chơi chiến lược thời gian thực cần được đánh giá theo" trong khi IGN nói rằng StarCraft "nói thẳng ra là một trong những tốt nhất, nếu không phải là trò chơi chiến lược thời gian thực tốt nhất từng được tạo ra" . StarCraft là thường xuyên có mặt trong bảng xếp hạng ngành công nghiệp trò chơi hay nhất, với nó được xếp hạng 37 trong top 100 trò chơi của mọi thời đại bởi Edge . Starcraft thậm chí còn được đưa vào không gian, như là Daniel Barry lấy một bản sao của các trò chơi với mình trên sứ mệnh tàu con thoi STS-96 vào năm 1999 . Sự nổi tiếng của StarCraft được Sách Kỷ lục Guinness trao giải thưởng 4 kỷ lục thế giới về rò chơi, bao gồm cả "Trò chơi Chiến lược máy tính bán chạy nhất", "Thu nhập lớn nhất trong game chuyên nghiệp", và "Số lượng khán giả lớn nhất cho một cuộc thi Game" khi hơn 120 000 người hâm mộ đi xem trận cuối cùng của mùa SKY năm 2005 tại Busan, Hàn Quốc . Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các đối tượng xem StarCraft rất đa dạng và Starcraft thường sử dụng thông tin đối xứng để làm cho trò chơi giải trí cho khán giả nhiều hơn . Ngoài ra, StarCraft đã là chủ đề của một khóa học; UC Berkeley đã đưa ra một khóa học giới thiệu học sinh về lý thuyết và chiến lược vào mùa xuân năm 2009 . Động từ "to Zerg" đã bước vào sử dụng chung như là một thuật ngữ trò chơi để nói về chiến thuật tấn công ào ạt một đối thủ với một lực lượng rất lớn của các đơn vị yếu Sau khi phát hành, StarCraft nhanh chóng trở nên phổ biến tại Hàn Quốc và được đặc biệt hâm mộ như một môn thể thao thực sự . Các đội game thủ chuyên nghiệp thành lập có huấn luyện viên, người quản lý, nhà tài trợ, thi đấu trong các giải đấu tầm cỡ quốc gia được truyền hình trực tiếp ở 3 kênh truyền hình với hàng ngàn người hâm mộ ngồi xem trực tiếp và hàng triệu khán giả theo dõi qua màn ảnh nhỏ được so sánh với các giải bóng đá chuyên nghiệp ở châu Âu. Có những đấu thủ chuyên nghiệp nổi tiếng cũng thành lập các câu lạc bộ dành cho những người hâm mộ lên tới nửa triệu người như Lim Yo-Hwan (với biệt danh trong game là SlayerS `BoxeR`) và các đấu thủ này cũng có thu nhập nhờ chơi game, như Lee Yun-Yeol, một đấu thủ điều khiển quân Terran với biệt danh [Red]NaDa đã kiếm được tới 200.000 USD trong năm 2005 (224,966 $ trong năm 2011) . Có hai kênh truyền hình chính thường tường thuật các trận đấu ở Hàn Quốc là Ongamenet và MBCGame. Mỗi kênh tổ chức thường xuyên một giải đấu StarCraft chuyên nghiệp. Ngoài ra Starcraft cũng luôn là game thi đấu thường trực trong giải thể thao điện tử lớn nhất hành tinh: World Cyber Games. StarCraft là một phần của khóa học hàng không cơ bản thuộc Không quân Hoa Kỳ, được sử dụng để dạy cho hoạt động quan mới về lập kế hoạch khủng hoảng căng thẳng và làm việc theo nhóm dịch vụ chung . Những nỗ lực khác để thực hiện thêm cuộc chiến phần mềm hiện nay 'thực tế' đã dẫn đến phiền nhiễu khi mô phỏng phần cứng không phù hợp với các phần cứng hoạt động thực sự quan thuế biết. Thiết lập khoa học viễn tưởng của trò chơi cho phép học sinh tập trung vào các chiến thuật chiến đấu. === Những sản phẩm theo trò chơi === Với một số lượng lớn những người hâm mộ chìm đắm trong thế giới của StarCraft, nhiều cuốn tiểu thuyết chính thức cũng như các eBook viết về các cuộc phiêu lưu trong thế giới này cũng ra đời. Đầu tiên có thể kể đến StarCraft: Uprising được viết bởi nhân viên Blizzard là Micky Neilson và xuất bản trong năm 2000, hoạt động như một phần trước cho các sự kiện của StarCraft . Các tiểu thuyết khác là StarCraft: Liberty's Crusade của Jeff Grubb và StarCraft: Queen of Blades của Aaron Rosenberg , kể lại câu chuyện của trò chơi từ các quan điểm khác nhau. Tại BlizzCon năm 2007, tác giả Starcraft là Chris Metzen đã nói rằng ông hy vọng sẽ tiểu thuyết hóa toàn bộ StarCraft và bản mở rộng Brood War vào một câu chuyện dựa trên văn bản dứt khoát. Các tiểu thuyết sao đó chẳng hạn như StarCraft: Shadow of the Xel'Naga của Gabriel Mesta và StarCraft: The Dark Templar Saga của Christie Golden tiếp tục mở rộng cốt truyện, tạo ra các thiết lập cho StarCraft II. Nhà xuất bản Simon & Schuster cũng công bố phát hành cuốn StarCraft: the Dark Templar Saga #1: Firstborn vào cuối tháng 5 năm 2007 và cuốn StarCraft: the Dark Templar Saga#2: Shadow Hunters vào tháng 11 năm 2007. Một số nhân vật hành động và tượng sưu tập dựa trên các nhân vật và các đơn vị trong StarCraft đã được sản xuất bởi ToyCom . Một số bộ dụng cụ mô hình, được thực hiện bởi Học viện Sở thích Model Kits, cũng được sản xuất, hiển thị quy mô 1/30 các phiên bản "Marine" và "Hydralisk" . Ngoài ra Blizzard Entertainment cũng đã chấp thuận cho sự phát hành hai truyện ngắn trong tạp chí Amazing Stories, có tựa StarCraft: Hybrid và StarCraft: Revelations , Ngoài ra Blizzard Entertainment hợp tác với Fantasy Flight Games để tạo một bộ trò chơi được gọi là StarCraft the Board Game vào tháng 10 năm 2007 với các tác phẩm điêu khắc chi tiết của các nhân vật game.. Blizzard cũng cấp phép cho công ty phát hành game Wizards of the Coast phát hành trò chơi StarCraft Adventures đặt trong thế giới StarCraft. Những cuốn truyện tranh và các tượng đồ chơi cũng được tạo ra dựa theo thế giới hay các nhân vật trong StarCraft . == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ của StarCraft Trang chủ của StarCraft: Brood War
năng lượng phân rã.txt
Năng lượng phân rã là năng lượng được giải phóng từ sự phân rã phóng xạ. Phân rã phóng xạ là một quá trình mà một hạt nhân nguyên tử không bền mất năng lượng bằng cách phát ra các hạt ion hóa và phát xạ. Sự phân rã này, hoặc việc mất năng lượng này, làm cho một nguyên tử theo kiểu này hay còn gọi là hạt nhân mẹ biến đổi thành một nguyên tử theo kiểu khác hay còn gọi là hạt nhân con. == Tính toán phân rã == Sự khác biệt năng lượng của các chất phản ứng được viết là Q: Q = ( Kinetic energy ) after − ( Kinetic energy ) before , {\displaystyle Q=\left({\text{Kinetic energy}}\right)_{\text{after}}-\left({\text{Kinetic energy}}\right)_{\text{before}},} Q = ( ( Rest mass ) before × c 2 ) − ( ( Rest mass ) after × c 2 ) . {\displaystyle Q=\left(\left({\text{Rest mass}}\right)_{\text{before}}\times c^{2}\right)-\left(\left({\text{Rest mass}}\right)_{\text{after}}\times c^{2}\right).} Năng lượng phân rã thường được đo bằng MeV (mêga electronvolt) hay keV (kilo electronvôn). Các kiểu phân rã gồm: phân rã gamma, phân rã beta và phân rã alpha Năng lượng phân rã là sự chênh lệch khối lượng dm giữa đồng vị mẹ và đồng vị con. Nó bằng với năng lượng phát xạ E. Nếu A là khả năng hoạt động phóng xạ, ví dụ như số nguyên tử bị biến đổi theo thời gian M hay khối lượng mol, thì công suất phóng xạ W là: W = d m × ( A M ) . {\displaystyle W=dm\times \left({\frac {A}{M}}\right).} hay W = E × ( A M ) . {\displaystyle W=E\times \left({\frac {A}{M}}\right).} == Tham khảo == Radioactivity Radionuclides Radiation by Joseph Magill and Jean Galy, Springer Verlag, 2005 == Liên kết ngoài == University of Waterloo science
rau mùi.txt
Rau mùi hay còn gọi là ngò, ngò rí, hồ tuy, mùi tui, mùi ta,, ngổ, ngổ thơm, nguyên tuy, hương tuy, là loài cây thân thảo sống hằng năm thuộc họ Hoa tán (Apiaceae), có nguồn gốc bản địa từ Tây Nam Á về phía tây đến tận châu Phi. == Mô tả == Cao 30–50 cm, thân nhẵn, phía trên phân nhánh. Lá ở gốc có cuống dài, có 1 đến 3 lá chét, lá chét hình hơi tròn, xẻ thành 3 thuỳ có khía răng to và tròn; những lá phía trên có lá chét chia thành những thùy hình sợi nhỏ và nhọn. Hoa trắng hay hơi hồng, hợp thành tán gồm 3-5 gọng, không có tổng bao; tiểu bao gồm 2-3 lá chét đính ở một phía. Quả bế đôi hình cầu, nhẵn, dài 2 – 4 mm, gồm hai nửa (phân liệt quả), mỗi nửa có bốn sống thẳng và hai sống chung cho cả hai nửa. == Sử dụng == Cây có mùi thơm, thường được trồng làm rau thơm và gia vị. Ở nhiều nước vùng ven Địa Trung Hải, một số nước Trung Á, Ấn Độ, Trung Quốc, mùi được trồng quy mô lớn để lấy quả làm thuốc và cất lấy tinh dầu trong công nghiệp làm nước hoa. Ngoài ra, người ta còn dùng cả rễ và lá làm thuốc. Theo dân gian thì mùi kích thích tiêu hoá và lợi sữa, được dùng để làm cho sởi chóng mọc. == Tên gọi == Quả mùi (Fructus Coriandri) thường bị gọi nhầm thành hạt, là quả chín hay sấy khô của cây mùi. Mùi còn được gọi là hồ tuy (胡荽) vì Hồ là tên gọi của Trung Quốc cổ dành cho các nước khu vực Trung Á và Ấn Độ; và tuy là ngọn và lá tản mát. Theo truyền thuyết thì Trương Khiên là người đi sứ Hồ mang loài cây này về. Tên gọi của mùi trong các ngôn ngữ châu Âu là từ tiếng Latin "coriandrum", tên này lại có gốc từ tiếng Hy Lạp "κορίαννον". John Chadwick ghi chú rằng cách viết theo tiếng Hy Lạp vùng Mycenae - koriadnon "rất giống với tên người con gái Ariadna của thần Minos, và từ đó được viết thành koriannon hay koriandron." == Hình ảnh == == Chú thích == == Tham khảo == Đỗ Tất Lợi, Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, 2006. == Liên kết ngoài ==
21st century fox.txt
Twenty-First Century Fox Inc. (còn gọi là 21st Century Fox hay đơn giản hơn là Fox) là một tập đoàn truyền thông đại chúng đa quốc gia của Hoa Kỳ có trụ sở ở Midtown Manhattan, thành phố New York. Nó là một trong hai công ty được hình thành từ vụ phân tách tài sản xuất bản của News Corporation, vốn do Rupert Murdoch sáng lập vào năm 1979. 21st Century Fox là người thừa kế hợp pháp mảng kinh doanh phim và truyền hình của News Corporation và hiện tại là tập đoàn truyền thông lớn thứ tư thế giới (sau Comcast, The Walt Disney Company và Time Warner). Công ty còn lại, News Corporation "mới", nắm giữ quyền lợi về in ấn của Murdoch (cả hai đều thuộc quyền sở hữu của ông và gia đình thông qua việc nắm giữ 39% quyền lợi ở mỗi công ty). Tài sản của công ty bao gồm Fox Entertainment Group—chủ sở hữu của studio phim 20th Century Fox và mạng truyền hình Fox, cùng nhiều tài sản khác, kênh truyền hình trả tiền dành cho người châu Á STAR TV; == Lịch sử == === Sự thành lập === 21st Century Fox được hình thành nhờ sự chia tách các tài sản giải trí và truyền thông của News Corporation. === Lịch sử kế tiếp === Vào ngày 8 tháng 1 năm 2014, Rupert Murdoch đã công bố kế hoạch huỷ bỏ cổ phần của công ty 21 Century Fox khỏi Sở Giao dịch Chứng khoán Úc, ủng hộ việc mua bán trên NASDAQ. == Hoạt động == Hoạt động của 21st Century Fox có thể được phân loại thành bốn mảng báo cáo chính: Chương trình truyền hình cáp Truyền hình Phim giải trí Truyền hình vệ tinh phát sóng trực tiếp. == Quản trị doanh nghiệp == == Tài sản == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức
cheshire.txt
Cheshire là một hạt của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Thủ phủ hạt đóng ở Chester. == Tham khảo ==
chính sách tài chính.txt
Chính sách tài khóa (fiscal policy) trong kinh tế học vĩ mô là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động tới nền kinh tế. Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, nhằm ổn định và phát triển kinh tế. == Tác dụng == Chính sách tài khoá: Khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái, nhà nước có thể giảm thuế, tăng chi tiêu (đầu tư công cộng) để chống lại. Chính sách tài chính như thế gọi là chính sách tài khóa nới lỏng. Ngược lại, khi nền kinh tế ở tình trạng lạm phát và có hiện tượng nóng, thì nhà nước có thể tăng thuế và giảm chi tiêu của mình để ngăn cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng quá nóng dẫn tới đổ vỡ. Chính sách tài khóa như thế này gọi là chính sách tài khóa thắt chặt. == Tranh luận về hiệu quả == === Hiệu quả của chính sách tài khóa qua phân tích IS-LM === Xem bài chính về phân tích IS-LM Các trường phái kinh tế học Keynes cho rằng chính sách tài khóa có hiệu quả to lớn trong chống chu kỳ kinh tế. Họ sử dụng phân tích IS-LM để cho thấy chính sách tài khóa phát huy tác dụng thông qua sự dịch chuyển của đường IS thế nào. Bản thân John Maynard Keynes đề cao chính sách tài khóa thông qua công cụ chi tiêu chính phủ. Tuy nhiên, dựa vào phân tích IS-LM có thể thấy chính sách tài khóa phát huy tác dụng hoàn toàn khi đường IS dốc xuống phía phải cắt đường LM ở đoạn nằm ngang, và phát huy tác dụng không hoàn toàn khi đường IS cắt đường LM ở đoạn dốc lên phía phải. Còn khi đường IS cắt đường LM ở đoạn thẳng đứng, chính sách tài chính không hề có tác dụng. Giả dụ nhà nước thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng, đường IS sẽ dịch song song sang phía phải. Phân tích IS-LM cho thấy lãi suất thực tế sẽ tăng lên, gây khó khăn cho các hãng đi vay để đầu tư mở rộng sản xuất. Hiện tượng chính sách tài khóa không phát huy hiệu quả hay phát huy không đầy đủ như thế này gọi là hiện tượng hất ra. === Hiệu quả trong nền kinh tế mở === Trong nền kinh tế mở, hiệu quả của chính sách tài khóa phụ thuộc vào chế độ tỷ giá hối đoái. Nếu là chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tài chính sẽ phát huy hiệu quả. Còn nếu là chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, chính sách tài chính(chính sách tài khóa) sẽ không có hiệu lực do những thay đổi tỷ giá gây ra bởi chính sách tài chính sẽ triệt tiêu hiệu quả của chính sách. === Thuyết cân bằng Barro-Ricardo === Xem bài chính về Cân bằng Ricard Nhà nước thực hiện chính sách tài chính nới lỏng bằng cách tăng chi tiêu chính phủ. Nhưng để có nguồn tài chính cho các khoản chi tiêu đó, nhà nước lại phát hành công trái và trái phiếu. Robert Barro khẳng định: người ta, với kỳ vọng hợp lý (rational expectations), sẽ hiểu rằng hôm nay nhà nước đi vay thì tương lai nhà nước sẽ tăng thuế để có tiền trả nợ, nên sẽ giảm tiêu dùng và tăng tiết kiệm hôm nay để tương lai có tiền nộp thuế. Như thế, tuy nhà nước tăng tiêu dùng của mình, nhưng lại làm giảm tiêu dùng cá nhân, nên hiệu quả của chính sách tài chính sẽ không cao như nhà nước mong đợi. === Những trở ngại về chính trị === Ở nhiều nước, chính phủ muốn tiến hành đầu tư (chi tiêu chính phủ) thường phải xin quốc hội phê duyệt. Khả năng bị quốc hội bác bỏ không phải là không có. Vì thế, không phải cứ muốn thực hiện chính sách tài chính nới lỏng thông qua tăng chi tiêu chính phủ là luôn có thể làm được. Mặt khác khi đã chi và tiến hành đầu tư rồi, mà lại muốn thực hiện chính sách tài chính thắt chặt lại cũng khó khăn vì không thể bỏ dở các công trình đầu tư đang triển khai được. Thực hiện chính sách tài chính nới lỏng thông qua giảm thuế thì dễ. Nhưng khi muốn thực hiện chính sách tài chính thắt chặt thông qua tăng thuế lại rất dễ bị người dân phản đối. === Độ trễ trong phát huy hiệu quả của chính sách tài chính === Chính phủ muốn thực hiện chính sách tài chính nới lỏng bằng cách tăng chi tiêu chính phủ. Giả sử được quốc hội thông qua thì cũng đã mất thời gian chờ đợi quốc hội xem xét thảo luận. Sau đó, để triển khai còn phải tiến hành các hoạt động như lập kế hoạch dự án, khảo sát-thiết kế để triển khai đầu tư. Những việc này cũng mất không ít thời gian. Chính vì vậy, có một độ trễ để chính sách tài chính nới lỏng bắt đầu phát huy tác dụng. == Xem thêm == Chính sách tiền tệ Đường IS Phân tích IS-LM Mô hình Mundell-Fleming == Tham khảo ==
bí mật đêm chủ nhật.txt
Bí Mật đêm Chủ Nhật là phiên bản Tiếng Việt của chương trình truyền hình nổi tiếng Whose Line is it Anyway? (tạm dịch: "Rốt cục thì... thoại này của ai?"). Nội dung chương trình xoay quanh việc thử thách khả năng ứng biến tại chỗ của các nghệ sĩ với các đề thi đa dạng được đưa ra từ phía chủ khảo. Trong mùa 1, nghệ sĩ Hoài Linh tham gia trong vai trò dẫn chuyện và chủ khảo của chương trình. Các nghệ sĩ cố định bao gồm Việt Hương, Trường Giang, Trấn Thành, Chí Tài, Khánh Nam (thay Chí Tài 2 tập) và Thanh Duy Idol (thay Chí Tài 1 tập). Năm 2016, mùa 2 của chương trình chính thức khởi động với một đội hình người chơi mới bao gồm: Vân Sơn, Quang Minh - Hồng Đào, Thanh Duy Idol và Trấn Thành. Vị trí chủ khảo trong mùa 2 của chương trình được thay đổi qua từng tập bắt đầu với: Lý Nhã Kỳ. Phiên bản gốc của chương trình phát sóng trên hệ thống kênh ABC và The CW. Phiên bản tiếng Việt thu hình tại nhà thi đấu Lãnh Binh Thăng và được phát sóng trên kênh HN1, HTV7 và Giải Trí TV vào lúc 21h Chủ nhật, bắt đầu từ ngày 28 tháng 6 năm 2015.. == Nội dung trò chơi == Chương trình bao gồm bốn nghệ sĩ cố định và một khách mời. Theo phân vai hướng dẫn của chủ khảo họ phải "tự chế" và diễn tại chỗ các kịch bản hài hước ngắn theo nhiều cách thức mà không biết trước kịch bản. Các thử thách trong mùa 1 của chương trình bao gồm: sân khấu nằm, diễn “đứng - ngồi - nằm”, đôi tay kỳ diệu, người bất động, nhìn - đoán - diễn, chuyển kênh TV… Một nghệ sĩ có phần ứng biến tốt nhất được chủ khảo lựa chọn sẽ nhận 50.000.000. Phần thưởng này phải được dùng cho mục đích từ thiện. Sau khi nhận giải, người chiến thắng sẽ thay thế chủ khảo ra đề cho chính chủ khảo và bốn bạn diễn còn lại trong một tình huống cuối cùng. == Danh sách tập == == Bố cục chương trình == === Mở màn === ==== Mùa 1 ==== Trong mùa 1, phần mở màn của mỗi đêm diễn là một thử thách có chuẩn bị trước của các nghệ sĩ khi họ hoá thân vào các nhân vật nổi tiếng. ==== Mùa 2 ==== Trong mùa 2, các nghệ sĩ tham gia sẽ đeo mặt nạ trong các phần mở màn. === Hát cho khách mời === Một thành viên sẽ chế lời tại chỗ một bài hát do chủ khảo quy định thành nội dung có liên quan tới khách mời đang tham gia. Trong mùa 1, Trấn Thành tham gia 6 lần, Chí Tài tham gia 2 lần, Trường Giang và Thanh Duy mỗi người một lần. === Danh sách thử thách === Sân khấu nằm: Nghệ sĩ diễn khi đang nằm trên sàn sân khấu, máy quay đặt thẳng đứng từ trên trần nhà. Thử thách khá giống với "Thế giới phẳng" của Chết cười Diễn “đứng - ngồi - nằm”: Có ba nghệ sĩ tham gia chơi phải bố trí sao cho luôn có một người đứng, một người ngồi và một người nằm trong suốt tiểu phẩm. Diễn “đứng - ngồi - quỳ - nằm”: Biến thể xuất hiện trong tập 3 của mùa 1 khi có bốn nghệ sĩ tham gia, chủ khảo thêm tư thế quỳ vào thử thách. Tổng cộng phải có một người đứng, một người quỳ, một người ngồi và một người nằm trong suốt tiểu phẩm. Diễn “đứng - ngồi - quỳ - nằm - lết”: Biến thể xuất hiện trong tập 8 của mùa 1 khi có năm nghệ sĩ tham gia, Chí Tài thêm tư thế quỳ và lết vào thử thách. Tổng cộng phải có một người đứng, một người quỳ, một người ngồi, một người nằm và một người lết trong suốt tiểu phẩm. Đôi tay kỳ diệu: Một nhân vật được cùng lúc hai nghệ sĩ thể hiện, một thể hiện tay và một làm tất cả những cái còn lại. Người bất động: Một hoặc nhiều nhân vật bị đơ như tượng trong suốt hoặc một phần tiểu phẩm. Xem, đoán và diễn lại: Bốn khách mời chia ra 2 cặp, một cặp thoải mái chế biến và diễn một vở kịch hay tình huống. Cặp kia phải diễn lại càng giống càng tốt với trở ngại là họ chỉ nhìn chứ không hề nghe được âm thanh từ vở diễn của cặp nghệ sĩ ra đề. Chuyển kênh TV: Các nghệ sĩ chia thành đội điều hành các "kênh TV" khác nhau để thu hút sự chú ý của một khán giả đang cầm điều khiển TV Quảng cáo bá đạo: Các nghệ sĩ phải tấu hài theo hướng quảng cáo. Thử thách xuất hiện đầu tiên trong tập 4 với khách mời Thanh Duy khi các nghệ sĩ phải quảng cáo bản thân thật bá đạo trong một buổi chọn dâu cho đại gia. Đệ nhất nổ: Các nghệ sĩ phải tấu hài theo hướng "nổ" càng nhiều càng tốt. Tự ứng biến: Các nghệ sĩ diễn tự do theo phân vai quy định bởi chủ khảo hoặc người chiến thắng chương trình. Đạo diễn rắc rối: nếu phần thi tự ứng biến có tên "Đạo diễn rắc rối" thì phần phân vai sẽ có hai nhân vật là đạo diễn và người quay phim. Lồng tiếng phim::Bốn khách mời chia ra 2 cặp, một cặp thoải mái chế biến và diễn một vở kịch hay tình huống không có thoại. Cặp kia phải chế thoại và "lồng tiếng" tại chỗ cho tình huống đó và ngược lại Hiệu ứng âm thanh: Người chơi chia ra hai đội, một đội diễn một vở kịch có thoại với nội dung quy định và một đội làm hiệu ứng âm thanh cho vở kịch đó với các đạo cụ lồng tiếng. Hai đội phải cố gắng để âm thanh và nội dung ăn khớp với nhau Tua phim: Một người chiếm quyền giữ remote của đầu đĩa tượng tượng và tha hồ tua tới tua lui vở kịch đang xem. Các nghệ sĩ khác phải diễn theo sự "tua phim" của người cầm remote. Nói ít - nói nhiều: Phần thoại của nghệ sĩ tham gia bị giới hạn theo yêu cầu của chủ khảo. Ví dụ: Nghệ sĩ chỉ được đặt câu hỏi, chỉ nói một vài câu cố định, nói càng nhiều càng tốt, không nói/câm,... Hai trong một: Cứ hai nghệ sĩ tham gia phải diễn một vai trong suốt vở diễn và phải nhập lại với nhau. Đạo cụ đặc biệt: Một người làm đạo cụ đang cử động, còn lại nói vở diễn. == Quảng bá == Các đoạn teaser quảng bá cho chương trình bắt đầu được phát kèm trong hai số phát sóng cuối của Người bí ẩn 2015 và trên mạng internet. Các clip này có nội dung giới thiệu các nhân tố chính của chương trình trong các tình huống cực đỉnh như: Chí Tài bị treo ngược trên thác nước, Hoài Linh bị đánh hội đồng vì quá đẹp trai, Trấn Thành và Việt Hương được người yêu âu yếm và Trường Giang giở giọng "sang chảnh" trước hoàng hôn. Tuy nhiên, tất cả những điều trên đều do họ tự bịa ra. Mùa 2 tiếp tục cách quảng bá tương tự như trên trong tập cuối của Người bí ẩn mùa ba với các clip: Trấn Thành muốn bay, Vân Sơn và giá múc canh, Quang Minh tập gym theo phương pháp lầy lội,... == Phản hồi == Chương trình nhận sự quan tâm rất tích cực ngay khi mở màn. Tỷ suất người xem Bí mật đêm chủ nhật trên HTV7 đạt 13,5 sau tập một. Tỷ suất đã ghi kỷ lục mới về tập phát sóng đầu tiên trên sóng HTV, cao hơn cả chương trình trước đó là Người bí ẩn. Bản đầy đủ tập 1 của chương trình sau 48 giờ đăng lên trên Youtube đã vượt mức 1,000,000 lượt xem. Tuy nhiên, về mặt nội dung, tương tự như "Ơn giời cậu đây rồi!", chương trình bị đánh giá là "thô tục", chưa "đột phá mà chỉ là chương trình “tổng hợp”, phát triển theo mô-tip của các chương trình hài trước đó". Lý do được đưa ra là do tính chất bất ngờ, không có kịch bản buộc các nghệ sĩ phải cương gấp trên sân khấu nên sẽ khó tránh việc họ không kịp điều chỉnh hay kiềm chế nội dung mà mình sẽ thể hiện. Một trong những tình huống bị mang ra so sánh trong tập 1 là tình huống nghệ sĩ Việt Hương và Khánh Nam đã không ngừng “sàm sỡ” Trấn Thành khiến nam diễn viên phải luôn che ngực và hét lên: “Bên này không phải buffet mà muốn lấy gì thì lấy nhé”. Chi tiết này tương tự như chi tiết trong tập đầu tiên của “Ơn giời, cậu đây rồi” khi Việt Hương "cua trai" táo bạo với ngôn từ như: “Đè”, “quất”, “dạo đầu”, “tấn công”… và bị cho là không phù hợp với khung giờ phát sóng tối ngày Chủ Nhật vốn có nhiều trẻ em theo dõi. == Tỉ suất người xem (mùa 2) == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Facebook của chương trình
danh sách sinh vật định danh theo việt nam.txt
Danh sách sinh vật đặt tên theo tên gọi của Việt Nam: == Chi == Vietnamocalamus: chi thực vật với loài duy nhất, Vietnamocalamus catbaensis Vietnamosasa: chi thực vật với 3 loài Vietnamosasa ciliata, Vietnamosasa darlacensis và Vietnamosasa pusilla Vietnamochloa: loài duy nhất Vietnamochloa aurea Vietnamaptera: chi côn trùng cánh nửa với một loài ở Việt Nam Vietnamaptera bogiessa và 3 loài ở Trung Quốc (Vietnamaptera quarta, Vietnamaptera secunda, Vietnamaptera tertia) Rubovietnamia: chi thực vật gồm ít nhất 3 loài trong Họ Thiến thảo == Loài == === Annamensis === Garrulax annamensis Megalaima annamensis hay Psilopogon annamensis === Sinovietnamicum === Disporum sinovietnamicum === Vietnamica === Asioreicheia vietnamica Begonia sino-vietnamica Curuzza vietnamica Gasterostena vietnamica Hartemita vietnamica Ichneumenoptera vietnamica Neostatherotis vietnamica Paradoxecia vietnamica Probles vietnamica Protoplotina vietnamica Roynortonia vietnamica Uroobovella vietnamica Zeuxinella vietnamica === Vietnamensis === Angulobaloghia vietnamensis (ve bét) Artabotrys vietnamensis Bronchocela vietnamensis Cupressus vietnamensis Dentocreagris vietnamensis Dixonius vietnamensis Gekko vietnamensis Mallinella vietnamensis Paracobanocythere vietnamensis Phaonia vietnamensis Ophiopogon vietnamensis Stenohya vietnamensis === Vietnamense === Aspinatimonomma vietnamense Bulbophyllum vietnamense Chryseobacterium vietnamense Craibiodendron vietnamense Cyathostemma vietnamense Dendrobium vietnamense Lachnoderma vietnamense Leucocraspedum vietnamense Elatostema vietnamense Paphiopedilum vietnamense Pithecellobium vietnamense Placolobium vietnamense Spatoglossum vietnamense Sphaerodorum vietnamense Theloderma vietnamense Tetrablemma vietnamense Trichosteleum vietnamense Vaccinium vietnamense == Xem thêm == Danh sách sinh vật đặt tên theo Hà Nội == Tham khảo ==
tiếng goth.txt
Tiếng Goth là một ngôn ngữ German từng được nói bởi người Goth. Những điều ta biết về nó chủ yếu là thông qua Codex Argenteus, một bản in thế kỷ 6 của một bản dịch Kinh Thánh thế kỷ 4, và là ngôn ngữ German Đông duy nhất với số văn liệu đáng kể. Những ngôn ngữ German Đông khác, gồm tiếng Burgundy và tiếng Vandal, chỉ được được biết đề từ những tên riêng còn sót lại trong văn bản lịch sử, và từ từ mượn trong những ngôn ngữ khác như tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Ban Nha, và tiếng Pháp. == Ghi chú == == Tham khảo == Bennett, William Holmes (1980). An Introduction to the Gothic Language. New York: Modern Language Association of America. W. Braune and E. Ebbinghaus, Gotische Grammatik, 17th edition 1966, Tübingen 20th edition, 2004. ISBN 3-484-10852-5 (hbk), ISBN 3-484-10850-9 (pbk) Fausto Cercignani, The Development of the Gothic Short/Lax Subsystem, in «Zeitschrift für vergleichende Sprachforschung», 93/2, 1979, pp. 272–278. Fausto Cercignani, The Reduplicating Syllable and Internal Open Juncture in Gothic, in «Zeitschrift für vergleichende Sprachforschung», 93/1, 1979, pp. 126–132. Fausto Cercignani, The Enfants Terribles of Gothic «Breaking»: hiri, aiþþau, etc., in «The Journal of Indo-European Studies», 12/3–4, 1984, pp. 315–344. Fausto Cercignani, The Development of the Gothic Vocalic System, in Germanic Dialects: Linguistic and Philological Investigations, edited by Bela Brogyanyi and Thomas Krömmelbein, Amsterdam and Philadelphia, Benjamins, 1986, pp. 121–151. N. Everett, "Literacy from Late Antiquity to the early Middle Ages, c. 300–800 AD", The Cambridge Handbook of Literacy, ed. D. Olson and N. Torrance (Cambridge, 2009), pp. 362–385. W. Krause, Handbuch des Gotischen, 3rd edition, 1968, Munich. Thomas O. Lambdin, "An Introduction to the Gothic Language", Wipf and Stock Publishers, 2006, Eugene, Oregon. F. Mossé, Manuel de la langue gotique, Aubier Éditions Montaigne, 1942 Skeat, Walter William (1868). A Moeso-Gothic glossary. London: Asher & Co. E Prokosch, A Comparative Germanic Grammar, 1939, The Linguistic Society of America for Yale University. C. Rowe, "The problematic Holtzmann’s Law in Germanic", Indogermanische Forschungen Bd. 108, 2003. 258–266. Wilhelm Streitberg, Die gotische Bibel , 4th edition, 1965, Heidelberg Joseph Wright, Grammar of the Gothic language, 2nd edition, Clarendon Press, Oxford, 1966 2nd edition, 1981 reprint by Oxford University Press, ISBN 0-19-811185-1 == Liên kết ngoài == Online Gothic language resources. Gots'ka Mova "The Gothic Language", by V.V. Evchenko; Gothic texts with Ukrainian apparatus Gotisch im WWW Portal for information on Gothic (in German) Website of the german association of the gothic language (german) English-Gothic Dictionary (Also contains neologisms and reconstructed words) "Gothic dictionary with etymologies" by Andras Rajki Gothic lessons by David Salo (copy at the Internet Archive) Germanic Lexicon Project – early (Public Domain) editions of several of the references. Texts: The Gothic Bible in Latin alphabet The Gothic Bible in Ulfilan script (Unicode text) from Wikisource The Gothic Bible in Runic alphabet (Unicode text) from Wikisource Titus has Streitberg's Gotische Bibel and Crimean Gothic material after Busbecq. Wulfila Project Skeireins Projet Bagme Bloma, a Gothic poem by J. R. R. Tolkien Gothic for Travellers: Good conversation starters are death, torture, eating and drinking. Gothic Online from the University of Texas at Austin Gothic Readings Video clips in Gothic language Gothic basic lexicon at the Global Lexicostatistical Database
giải vô địch các câu lạc bộ nam mỹ.txt
Giải vô địch các câu lạc bộ Nam Mỹ (Copa Libertadores de América) còn được gọi là Libertadores de América hay đơn giản với cái tên Copa Libertadores, (Tiếng Tây Ban Nha: [Kopa liβertaðoɾes], Bồ Đào Nha: [kɔpɐ libeʁtadoɾis]), là một giải đấu cấp câu lạc bộ quốc tế hàng đầu ở Nam Mỹ và được tổ chức hàng năm bắt đầu từ năm 1960. Đây cũng là giải đấu bóng đá cấp câu lạc bộ có uy tín nhất tại Nam Mỹ và là một trong những sự kiện được nhiều khán giả theo dõi nhất trên thế giới, phát sóng ở 135 quốc gia trên toàn thế giới. Ngày nay, nó được tài trợ bởi Bridgestone và do đó, tên chính thức được gọi là Copa Bridgestone Libertadores. Giải đấu có tên danh dự là Libertadores (Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha nghĩa là giải phóng quân), nhằm tưởng nhớ các nhà lãnh đạo chính trong các cuộc chiến tranh giành độc lập ở Nam Mỹ. Do đó, dịch theo nghĩa đen tên của giải đấu sẽ là " Cúp giải phóng quân của châu Mỹ ". Giải đấu đã có một số thay đổi trong suốt lịch sử của nó. Ban đầu, chỉ có các nhà vô địch của các giải đấu cấp quốc gia ở Nam Mỹ tham gia. Trong năm 1966, các á quân của các giải vô địch quốc gia Nam Mỹ bắt đầu được tham dự. Đến năm 1998, các đội bóng tới từ México đã được mời tham gia và thi đấu thường xuyên kể từ khi phiên bản giải đấu năm 2000, khi giải đấu đã được mở rộng từ 20 lên thành 32 đội. Hiện nay, mỗi quốc gia trong khu vực đều có 3 câu lạc bộ tranh tài trong các giải đấu, trong khi Argentina và Brazil từng có tới 5 câu lạc bộ tham gia. Theo truyền thống, luôn diễn ra các trận thi đấu tại vòng bảng nhưng số lượng của các đội trong mỗi bảng đấu đã thay đổi nhiều lần. Trong giai đoạn hiện nay, giải đấu bao gồm 6 giai đoạn, với giai đoạn đầu tiên diễn ra vào đầu tháng 2. Sáu đội còn lại từ giai đoạn đầu tiên cùng 26 đội trong giai đoạn thứ hai, được chia thành 8 bảng đấu thi đấu loạt trận vòng bảng. Tám đội đầu bảng và 8 đội nhì mỗi bảng sẽ vào bước vào 4 giai đoạn, hay còn gọi là vòng loại trực tiếp, mà kết thúc là một trận chung kết được tổ chức tại bất cứ sân vận động nào vào tháng 6 tới tháng 8. Đội chiến thắng ở Copa Libertadores sẽ có cơ hội tham gia thêm hai giải đấu uy tín nữa là: FIFA Club World Cup (Cúp thế giới các câu lạc bộ) và Recopa Sudamericana (Giống như Siêu cúp châu Âu). Đương kim vô địch là câu lạc bộ Brazil Corinthians, sau khi đội bóng này đánh bại Boca Juniors với tổng tỉ số 3-1 sau cả hai lượt trận đi và về. Câu lạc bộ Independiente của Argentina hiện vẫn là câu lạc bộ thành công nhất trong lịch sử giải đấu, khi có tới 7 lần bước lên bục vinh quang, tiếp sau đó là Boca Juniors với chỉ một lần ít hơn . Argentina cũng là quốc gia hiện có số lần vô địch Copa Libertadores nhiều nhất với 22 lần trong khi Brazil lại là quốc gia có số lượng câu lạc bộ vô địch nhiều nhất, với tổng số là 9 câu lạc bộ đã giành được danh hiệu. Cho tới nay đã có 23 câu lạc bộ khác nhau đã vô địch giải đấu. == Lịch sử == Các cuộc đụng độ tại Copa Río de La Plata giữa các nhà vô địch của Argentina và Uruguay đã nhen nhóm ý tưởng về một giải đấu lục địa trong những năm 1930. Năm 1948, Giải vô địch Nam Mỹ Champions (tiếng Tây Ban Nha: Campeonato Sudamericano de Campeones) ra đời được tổ chức bởi câu lạc bộ Chile Colo-Colo tổ chức sau nhiều năm lập kế hoạch,đaay chính là giải đấu tiền thân trực tiếp dẫn đến sự ra đời của Copa Libertadores. Giải đấu được tổ chức tại Santiago, với sự tham gia của các nhà vô địch các giải đấu quốc gia hàng đầu trong khu vực. Giải đấu kết thúc với sự đăng quang của câu lạc bộ Vasco da Gama tới từ Brazil . Tuy nhiên, mãi cho đến năm 1958 cơ sở và định hình của một giải đấu hàng đầu khu vực nhờ vào những nỗ lực của các nhà lãnh đạo hội đồng quản trị câu lạc bộ Peñarol. Ngày 5 tháng 3 năm 1959, tại Đại hội Nam Mỹ lần thứ 24 tổ chức tại Buenos Aires, ý kiến đã được sự chấp thuận bởi Ủy ban Quan hệ Quốc tế. Năm 1966, giải đấu được đặt tên để vinh danh những anh hùng trong phong trào giải phóng Nam Mỹ, chẳng hạn như José Gervasio Artigas, Bernardo O'Higgins, José de San Martín, Pedro I, và Simón Bolívar... cùng nhiều anh hùng dân tộc khác. === Giai đoạn khởi đầu (1960-1969) === Ấn bản đầu tiên của Copa Libertadores diễn ra trong năm 1960. Bảy đội tham gia giải đấu bao gồm: Bahia của Brazil, Jorge Wilstermann của Bolivia, Millonarios của Colombia, Olimpia của Paraguay, Peñarol của Uruguay, San Lorenzo của Argentina và Universidad de Chile. Trận đấu đầu tiên của giải diễn ra vào ngày 19 tháng 4 năm 1960. Đó là trận thắng của Peñarol trước câu lạc bộ Jorge Wilstermann với tỉ số 7-1. Cầu thủ đầu tiên trong lịch sử Copa Libertadores ghi bàn là Carlos Borges của Peñarol. Đội bóng tới từ Uruguay đã đăng quang trong lần đầu tiên tổ chức sau khi đánh bại Olimpia trong trận chung kết và tiếp tục bảo vệ thành công danh hiệu tại giải đấu năm 1961. Đóng góp lớn Peñarol được coi là một trong những nguyên nhân tạo ra giải đấu, nhưng Copa Libertadores đã không nhận được sự chú ý của quốc tế cho đến khi phiên bản thứ ba của nó, đến từ sự thành công của Santos nhờ vào ông vua bóng đá Pelé, là một trong số các câu lạc bộ thành công nhất. Os Santásticos, còn được gọi là O Balé Branco (hoặc ba lê trắng), khiến những người hâm mộ bóng đá thế giới lóa mắt trong thời gian đó, và câu lạc bộ này đã giành danh hiệu năm 1962 sau khi đánh bại Peñarol, đương kim vô địch trong trận chung kết. Một năm sau, O Rei và Coutinho đã chứng minh điều đó, với kỹ năng dắt bóng, và tấn công đẹp mắt thể hiện trong trận chung kết lượt về tại La Bombonera, để giành chiến thắng trước Boca Juniors 2-1 và bảo vệ thành công ngôi vô địch. Bóng đá Argentina cuối cùng ghi tên mình vào danh sách người chiến thắng khi vào năm 1964, Independiente trở thành đội vô địch sau khi đánh bại đương kim vô địch Santos trước khi hạ câu lạc bộ của Uruguay là Nacional trong trận chung kết Năm sau đó, họ cũng đã là đội bóng thứ 3 bảo vệ thành công danh hiệu trong năm 1965;. Peñarol đánh bại River Plate trong một trận playoff để giành danh hiệu thứ ba của mình, và Racing Club de AvellanedaRacing khẳng định vị thế khi vô địch vào năm 1967. Sau thời Santos của Pele, đã không có câu lạc bộ nào với lối đá tấn công như vậy cho đến khi vào năm 1968, với sự ra đời của Estudiantes. Estudiantes de La Plata, một câu lạc bộ nhỏ ở vùng bằng đồng Argentina, đã có một phong cách chuẩn bị rất tốt và kết quả đạt được xứng đáng với những gì họ đã bỏ ra. Được dẫn dắt bởi huấn luyện viên (HLV) Osvaldo Zubeldía cùng một đội hình bao gồm Carlos Bilardo, Oscar Malbernat và Juan Ramón Verón.. đã trở thành các tricampeon đầu tiên của giải đấu. Họ giành danh hiệu đầu tiên của mình vào năm 1968 bằng cách đánh bại Palmeiras. Sau đó là liên tiếp hai năm bảo vệ thành công danh hiệu trong năm 1969 và 1970 khi đối đầu với Nacional và Peñarol trong hai trận chung kết. Mặc dù Peñarol là câu lạc bộ đầu tiên giành ba danh hiệu, nhưng Estudiantes lại là câu lạc bộ đầu tiên trong lịch sử Copa Libertadores vô địch 3 lần liên tiếp. === Thập kỷ của các đội bóng Argentina (1970-1979) === Những năm 1970, duy nhất có 3 lần là các câu lạc bộ của Argentina không lên ngôi vô địch, còn lại lần lượt Estudiantes, Boca Juniors và Independiente lên ngôi vô địch. Trong trận chung kết tái đấu năm 1969, Nacional trở thành nhà vô địch của giải đấu năm 1971 sau khi vượt qua một đội Estudiantes đang suy giảm lực lượng khi mất đi các cầu thủ chủ chốt mà nhờ vào thế hệ đó đã đem đến vinh quang gần đây cho đội bóng. Với hai danh hiệu đã có, Independiente tiếp tục tạo ra một kỳ tích với những cái tên như Francisco Sa, José Omar Pastoriza, Ricardo Bochini và Daniel Bertoniđã liên tiếp 4 lần vô địch vào các năm 1972, 1973, 1974, và 1975 Cho đến nay, lịch sử bóng đá Nam Mỹ mới chỉ có duy nhất Independiente làm được điều này. Sân nhà của Independiente, La Doble Visera, trở thành một trong những thánh địa đáng sợ nhất của các câu lạc bộ khi ghé thăm. Danh hiệu đầu tiên trong thập niên 70 của câu lạc bộ là vào năm 1972 khi Independiente đối đầu với Universitario de Deportes của Peru trong trận chung kết. Universitario trở thành đội bóng đầu tiên đến từ bờ biển Thái Bình Dương (các quốc gia bên bờ Thái Bình Dương) có mặt trong trận chung kết sau khi loại gã khổng lồ Peñarol và đương kim vô địch Nacional. Trận lượt đi tại Lima kết thúc với tỉ số hòa 0-0, nhưng trận lượt về tại Avellaneda, đội bóng tới từ Peru không thể làm gì hơn khi để đội chủ nhà giành chiến thắng với tỉ số 2-1 và trở thành tân vương. Independiente tiếp tục bảo vệ thành công danh hiệu một năm sau đó khi đánh bại Colo-Colo với tổng tỉ số 2-1. Dưới thời Los Diablos Rojos, Independiente trở thành đội bóng thứ hai được giữ chiếc cúp Libertadores khi vào năm 1974 họ đánh bại São Paulo 1-0 trong một trận đấu khó khăn. Trong năm 1975, Unión Española, một câu lạc bộ tới từ Chile cũng không thể truất ngôi vô địch của Independiente khi họ thua trong trận chung kết với tổng tỉ số 2-0. Triều đại Los Diablos Rojos cuối cùng cũng kết thúc vào năm 1976 khi họ bị đánh bại bởi đội bóng đồng hương là câu lạc bộ River Plate ở giai đoạn thứ hai, trong một trận đấu kịch tính. Tuy nhiên, trong trận chung kết River Plate lại bị đánh bại bởi Cruzeiro của Brazil, kết thúc 13 năm không vô địch Copa Libertadores của các câu lạc bộ Brazil. Sau khi thất bại trong trận chung kết năm 1963 khi thua Santos của Pele, Boca Juniors cuối cùng cũng xuất hiện trên bản đồ bóng đá lục địa. Đến cuối thập kỷ này, Xeneizes ba năm liên tiếp vào tới trận chung kết. Năm 1977, Boca Juniors giành được chức vô địch đầu tiên trong lịch sử khi chống lại Cruzeiro đang khát khao bảo vệ ngôi vô địch. Sau khi cả hai đội giành được chiến thắng trên sân nhà cùng với tỉ số 1-0, thì tại trận đấu trên sân trung lập sau loạt sút luân lưu, Boca Juniors đã là đội chiến thắng. Câu lạc bộ tiếp tục giành chức vô địch một lần nữa vào năm 1978 sau khi đánh bại Deportivo Cali của Colombia với tỉ số 4-0 trong trận lượt về của vòng chung kết qua đó giành chiến thắng chung cuộc để lên ngôi vô địch. Trong những năm sau đó, người ta đã nghĩ tới việc Boca Juniors cũng sẽ đạt được dấu mốc 3 lần vô địch liên tiếp, nhưng Olimpia đã kết thúc giấc mơ của đội bóng tới từ Argentina sau trận đấu lượt về tại Buenos Aires. Cũng giống như năm 1963, Boca Juniors phải ngước nhìn đội khách nâng cúp Copa Libertadores ngay trên sân nhà của họ và Olimpia trở thành đội bóng đầu tiên của Paraguay (và duy nhất cho đến nay) làm được như vậy. == Danh hiệu == Đội chiến thắng ngoài danh hiệu, tiền thưởng còn được nhận cúp vô địch gọi là Cúp Libertadores hoặc chỉ đơn giản la Cúp, được trao cho đội chiến thắng tại Copa Libertadores. Chiếc cúp được thiết kế bởi nhà thiết kế người Ý Alberto de Gasperi, một người nhập cư sống tại Peru, làm việc tại Trang sức Camusso ở Lima (thuộc sở hữu của Gasperi) theo yêu cầu của CONMEBOL. Phía trên của chiếc cúp được làm bằng bạc, trừ hình ảnh cầu thủ bóng đá ở trên cùng được làm bằng đồng và phủ một lớp phủ bạc. Bệ của chiếc cúp có khắc phù hiệu của đội chiến thắng trong mỗi năm, được làm bằng gỗ ép cứng. Phù hiệu cung cấp năm vô địch, tên đầy đủ của các câu lạc bộ chiến thắng, cùng quê hương của đội bóng (thành phố và quốc gia). Bên trái của thông tin đó là biểu tượng của câu lạc bộ. Chiếc cúp hiện nay là chiếc thứ ba trong lịch sử của giải đấu, vào năm 1970 khi Estudiantes lần thứ ba vô địch giải đấu thì chiếc cúp mang tên của đội bóng đó và họ được giữ chiếc cúp gốc vĩnh viễn. Independiente là đội bóng giữ chiếc cúp thứ hai khi vào năm 1974 họ lần thứ ba liên tiếp vô địch. == Hồ sơ và thống kê == === Đội vô địch === === Quốc gia === == Xem thêm == Giải vô địch Nam Mỹ Champions (tiền thân của Copa Libertadores) Copa Río de La Plata == Tham khảo == == Đọc thêm == Goldblatt, David Goldblatt (2008). The Ball Is Round: A Global History of Soccer. Penguin Group. ISBN 1-59448-296-9. Jozsa, Frank (2009). Global Sports: Cultures, Markets and Organizations. World Scientific. ISBN 981-283-569-5. Barraza, Jorge (1990). Copa Libertadores de América, 30 años (bằng tiếng Tây Ban Nha). Confederación Sudamericana de Fútbol. Napoleão, Antonio Carlos (1999). O Brasil na Taça Libertadores da América (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Mauad Editora Ltda. ISBN 85-7478-001-4. == Liên kết ngoài == Conmebol.com Official Site of the Copa Santander Libertadores. Fútbol Santander Official Sponsor of the Copa Santander Libertadores. Copa Libertadores at Fox Sports en Español Copa Libertadores at ESPN Copa Libertadores at Goal Copa Libertadores at Univision Copa Libertadores at Fox Soccer Copa Libertadores results at RSSSF.com Copa Libertadores at worldfootball.net Copa Libertadores at southamericanfutbol.com Copa Libertadores at www.copalibertadores.ru/
tình khúc 1954-1975.txt
Tình khúc 1954-1975 hay tình ca 1954-1975 là một dòng nhạc thuộc tân nhạc Việt Nam. Đây là khái niệm không thật chính xác để chỉ một số các ca khúc được sáng tác tại miền Nam Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1975. Các bài hát thuộc "dòng" này thường theo điệu Slow Rock, Slow Ballad, Boston. Những nhạc sĩ tiêu biểu cho dòng nhạc này có thể kể đến Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An, Từ Công Phụng... với các ca khúc "Trả lại em yêu", "Áo lụa Hà Đông", "Niệm khúc cuối", các bài "Không tên", "Bây giờ tháng mấy", "Dạ khúc cho tình nhân", "Vũng lầy của chúng ta"... == Bối cảnh ra đời == Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết, tạm thời chia đôi Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự tại vĩ tuyến 17. Tại miền Nam Việt Nam, nền tân nhạc được phát triển tự do và đa dạng. Một số nhạc sĩ từ miền Bắc di cư vào miền Nam. Họ cùng với các nhạc sĩ ở miền Nam hoặc từ miền Bắc vào trước đó đã viết các ca khúc thuộc nhiều thể loại, khác biệt với dòng nhạc đỏ duy nhất ở miền Bắc. Những nhạc sĩ Cung Tiến, Phạm Đình Chương... với các ca khúc trữ tình lãng mạn như "Hương xưa", "Thu vàng", "Nguyệt cầm", "Hoài cảm", "Mộng dưới hoa"... thường được xếp vào dòng "nhạc tiền chiến" Những nhạc sĩ như Trần Thiện Thanh, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Trúc Phương... với những ca khúc với giai điệu nhẹ nhàng, đơn giản thường được gọi là "nhạc vàng" Những bài hát thuộc các phong trào thanh niên, sinh viên (Phong trào Du ca Việt Nam,...) hoặc những bài ca sinh hoạt cộng đồng của những tổ chức thanh niên như Hướng đạo, Thiếu nhi Thánh thể, Gia đình Phật tử, các tổ chức tôn giáo Những bài nhạc phản đối chiến tranh thường được gọi là "nhạc phản chiến". Tiêu biểu là dòng nhạc phản chiến của Phạm Duy hay nhạc da vàng của Trịnh Công Sơn Nhạc tiết điệu nhanh và lạ, lời ca dễ hiểu gọi là "nhạc trẻ", với các nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang... Nhạc tình tự dân tộc, ngợi ca quê hương. Nhạc "hùng ca" hoặc nhạc phục vụ chiến tranh (tâm lý chiến) Một thế hệ nhạc sĩ mới Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An, Từ Công Phụng... viết những ca khúc khác với nhạc tiền chiến và cũng không giống nhạc vàng, và khác những loại trên. Khi nói đến những ca khúc này, không có một thuật ngữ thật sự chính xác và phổ biến. Để phân biệt với các dòng nhạc khác, chúng được gọi là "tình khúc 1954-1975" Tuy chỉ có 20 năm, nhưng thời kỳ này tại miền Nam đã hình thành một số lượng nhạc khổng lồ, trong đó có nhiều bài nhạc nổi tiếng, được yêu thích và lưu truyền qua nhiều thế hệ. == Tình khúc 1954-1975 và nhạc vàng == Các tình khúc 1954-1975 và nhạc vàng đều được viết chủ yếu tại miền Nam trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1975, vì vậy hai khái niệm này không rạch ròi và nhiều khi bị dùng lẫn lộn. Các ca khúc nhạc vàng thường được viết với giai điệu đơn giản và lời ca bình dân, phổ thông, phần lớn là bài hát theo thể điệu bolero. Còn các tình khúc 1954-1975 với lời ca lãng mạn mang tính văn học và gần với nhạc tiền chiến hơn, cung điệu cũng trau chuốt hơn, khác nhạc tiền chiến là thường ít chậm hơn, hay thể hiện tâm trạng cá nhân ít có không gian cụ thể và có tính hiện đại hơn, nhưng cũng xa rời nhạc cổ điển hơn so với nhạc tiền chiến. Nhiều bài hát của Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Phạm Đình Chương được phổ từ các bài thơ nổi tiếng của Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê... Nhạc vàng với những chủ đề tình yêu, lính, quê hương thường được coi là dành cho tầng lớp bình dân, còn tình ca 1954-1975 là dòng nhạc được giới thanh niên, sinh viên yêu thích. Có một số nhạc sĩ sáng tác cả 2 loại nhạc, phần lớn là họ sáng tác các ca khúc nhạc vàng tình khúc nhưng cũng có những ca khúc được xếp vào tình khúc như Khánh Băng, Y Vân, Nguyễn Văn Đông, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Vũ, Song Ngọc, Lam Phương, Anh Bằng... Thực tế sự phân chia này là không hoàn toàn phản ánh hết các xu hướng sáng tác khi đó, mà chỉ là phân chia "sang" hay "sến" trong mảng tình ca, dù có khi ở cả hai mảng đều có các bài hát đều nói đến sự chia ly, thất tình, trách oán. Một số bài có khi hay được xếp vào dòng tiền chiến, như Áo lụa Hà Đông, Nỗi lòng người đi, Mùa thu không trở lại,... == Các nhạc sĩ tiêu biểu == Phạm Duy Trịnh Công Sơn Ngô Thụy Miên Vũ Thành An Từ Công Phụng Lê Uyên Phương Phạm Đình Chương Cung Tiến == Trước 1975 tại miền Nam == Một lớp nhạc sĩ trẻ hơn xuất hiện với các bản tình ca mới. Khác với dòng nhạc tiền chiến thường mượn cảnh mùa thu, mưa... để nói lên tình cảm của mình, những nhạc sĩ này có cách thể hiện trực tiếp hơn như Vũ Thành An với các Bài không tên, Lê Uyên Phương với các ca khúc trĩu nặng khắc khoải của tuổi trẻ. Năm 1965, Vũ Thành An viết ca khúc đầu tay "Tình khúc thứ nhất", phổ thơ Nguyễn Đình Toàn. Ngay từ ca khúc đầu tiên này, Vũ Thành An được nổi danh. Tiếp sau đó, ông viết một loạt Bài không tên được đánh số cùng một vài ca khúc có tên như "Em đến thăm anh đêm 30". Những nhạc phẩm của Vũ Thành An được yêu thích rộng rãi ở miền Nam khi đó, thường xuyên được nghe thấy trong các quán cà phê, trên sóng đài phát thanh, trong các băng nhạc. Ngô Thụy Miên bắt đầu với "Chiều nay không có em" được viết năm 1963, nhưng đến với công chúng vào năm 1965. Tiếp theo, ông phổ nhạc cho một số bài thơ của thi sỹ Nguyên Sa và giành được thành công rực rỡ. Các ca khúc "Niệm khúc cuối", "Mắt biếc", "Áo lụa Hà Đông", "Dấu tình sầu", "Bản tình cuối" đã ghi dấu ấn của Ngô Thụy Miên trong thời kỳ đó. Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện băng nhạc đầu tay "Tình ca Ngô Thụy Miên" gồm 17 tình khúc đã được viết trong khoảng thời gian 1965 tới 1972. Với sự góp mặt của các ca sĩ danh tiếng Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan... và nhạc sĩ hòa âm Văn Phụng, cuốn băng tạo được thành công rực rỡ. Từ Đà Lạt, đôi nghệ sĩ Lê Uyên và Phương xuất hiện mang đến cho tân nhạc những sắc thái mới với các ca khúc khắc khoải, nồng nàn. Bắt đầu từ nhạc phẩm đâu tay "Buồn đến bao giờ" viết năm 1960 tại Pleiku, Lê Uyên Phương với những "Bài ca hạnh ngộ", "Còn nắng trên đồi", "Dạ khúc cho tình nhân", "Lời gọi chân mây", "Vũng lầy của chúng ta", "Uống nước bên bờ suối",... được giới trẻ nồng nhiệt đón nhận. Một gương mặt nổi danh nữa của dòng nhạc này là nhạc sĩ Từ Công Phụng. Khởi sự từ ca khúc đầu tay "Bây giờ tháng mấy", các nhạc phẩm tiếp theo của Từ Công Phụng đều mang không khi man mác như "Lời cuối", "Trên ngọn tình sầu", "Mùa xuân trên đỉnh bình yên", "Giọt lệ cho ngàn sau", "Mắt lệ cho người"... Đặc biệt sau 1975 ở hải ngoại, các ca khúc của Từ Công Phụng còn được biết đến nhiều hơn qua giọng ca Tuấn Ngọc trình bày rất thành công. Một số nhạc sĩ khác cũng viết các tình khúc nổi tiếng rát được ưa chuộng vào thời gian này như Hoàng Nguyên với "Ai lên xứ hoa đào", "Cho người tình lỡ", Quốc Dũng với "Đường xưa", "Cơn gió thoảng", Nguyễn Ánh 9 với "Không", "Buồn ơi xin chào mi", Văn Phụng với "Yêu", "Tình", "Suối tóc", "Tôi đi giữa hoàng hôn"; Khánh Băng với "Sầu đông", "Vọng ngày xanh"; Y Vân với "Buồn", "Ngăn cách", "Ảo ảnh", "Những bước chân âm thầm"; Anh Bằng với "Nỗi lòng người đi"; Nguyễn Hiền với "Mái tóc dạ hương"; Đan Thọ với "Chiều tím"; Trần Trịnh với "Lệ đá"; Nguyễn Văn Đông với "Hải ngoại thương ca"; Phạm Trọng Cầu, học ở Paris, cũng đã viết "Mùa thu không trở lại"... Nổi bật nhất là Trịnh Công Sơn với hàng loạt tình ca muôn thuở như: "Tình nhớ", "Tình xa", "Phôi pha", "Diễm xưa"... Phạm Đình Chương cũng có "Nửa hồn thương đau" phổ từ thơ Thanh Tâm Tuyền rất nổi tiếng, hay là "Người đi qua đời tôi" phổ thơ Trần Dạ Từ, "Đôi mắt người Sơn Tây" phổ thơ Quang Dũng. Lê Trọng Nguyễn nổi danh với "Chiều bên giáo đường", "Lá rơi bên thềm" và đặc biệt "Nắng chiều", ca khúc còn được biết đến ở Hồng Kông, Đài Loan và Nhật Bản. Tuấn Khanh nổi danh với "Hoa xoan bên thềm cũ", "Chiếc lá cuối cùng". Hoàng Trọng thành công với các bài hát theo điệu tango "Ngỡ ngàng", "Lạnh lùng", "Tiễn bước sang ngang", đặc biệt bài "Ngàn thu áo tím" luôn được công chúng trước nay ưa thích. Nhưng người sáng tác mạnh mẽ nhất trong giai đoạn này là nhạc sĩ Phạm Duy, thuộc thế hệ tiền bối. Nhạc của ông được yêu thích và phổ biến rất rộng rãi, có nhiều thể loại như Tình ca trai gái, tình ca một mình, tâm ca, đạo ca... Nhiều bài hát nổi tiếng một thời như "Mùa thu chết", "Giết người trong mộng", "Trả lại em yêu", "Nghìn trùng xa cách", "Nha Trang ngày về", hay những bài phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư như "Ngày xưa Hoàng Thị", "Đưa em tìm động hoa vàng", "Thà như giọt mưa"... Trịnh Công Sơn trong một bài phỏng vấn sau này ghi nhận rằng "Phạm Duy bàng bạc trong đời sống âm nhạc miền Nam". == Sau 1975 == === Tại hải ngoại === Sau sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa năm 1975, cũng như dòng nhạc vàng, tình khúc 1954-1975 đều bị cấm lưu hành tại Việt Nam. Nhưng những ca khúc này cũng với nhạc tiền chiến và nhạc vàng trở thành dòng nhạc chủ đạo của người Việt tại hải ngoại. Một số các nhạc sĩ sang định cư ở nước ngoài vẫn tiếp tục sáng tác và có những ca khúc thành công như "Nghìn năm vẫn chưa quên" của Phạm Duy, "Đêm nhớ trăng Sài Gòn" của Phạm Đình Chương, "Riêng một góc trời" của Ngô Thụy Miên, cùng "Mười năm yêu em" và "Tưởng niệm" của Trầm Tử Thiêng, "Nỗi niềm" của Tuấn Khanh. Một số ca khúc của các nhạc sĩ nổi bật sau này tại hải ngoại như "Tháng sáu trời mưa" của Hoàng Thanh Tâm, "Mười năm tình cũ" của Trần Quảng Nam, "Em về có nào hay" của Hoàng Trọng Thụy, "Dòng sông kỷ niệm", "Cơn mưa hạ", "Em đã quên một dòng sông", "Khi ta rời xa nhau" của Trúc Hồ, "Phiến đá sầu", "Mình ơi" của Diệu Hương, "Dĩ vãng" và "Quên đi tình yêu cũ" của Trịnh Nam Sơn, "Đường xa ướt mưa", "Như đã dấu yêu", "Và con tim đã vui trở lại", của Đức Huy, "Em ngủ trong một mùa đông", "Ta muốn cùng em say" của Đăng Khánh,....... Ngoài những ca sĩ thành danh ở Sài Gòn trước 1975 như Khánh Ly, Lệ Thu, Sĩ Phú, Tuấn Ngọc, Duy Quang,... tình khúc 1954-1975 tiếp tục được các ca sĩ trẻ của hải ngoại như Ý Lan, Vũ Khanh, Khánh Hà, Trần Thái Hòa, Nguyên Khang, Thanh Hà, Ngọc Hạ, Thiên Kim,... trình bày. === Tại Việt Nam === Tình khúc 1954-1975 và nhạc vàng không được lưu hành tại Việt Nam, cho tới khoảng đầu thập niên 2000, mới dần dần được phép hát trở lại. Gần đây nhiều ca sĩ trẻ như Quang Dũng, Hồ Ngọc Hà, Đức Tuấn... đã ghi âm nhiều ca khúc thuộc dòng nhạc này và cùng với sự trở về của các ca sĩ hải ngoại Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Duy Quang, tình khúc 1954-1975 đã được giới trẻ hiện nay yêu thích. Nhiều đêm nhạc Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Lê Trọng Nguyễn.. được các phòng trà tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. == Nhận định == == Chú thích ==
ung thư.txt
Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn). Hiện có khoảng 200 loại ung thư. == Nguyên nhân == Nguyên nhân gây ung thư là sự sai hỏng của ADN, tạo nên các đột biến ở các gene thiết yếu điều khiển quá trình phân bào cũng như các cơ chế quan trọng khác. Một hoặc nhiều đột biến được tích lũy lại sẽ gây ra sự tăng sinh không kiểm soát và tạo thành khối u. Khối u là một khối mô bất thường, có thể ác tính, tức ung thư hoặc lành tính, tức không ung thư. Chỉ những khối u ác tính thì mới xâm lấn mô khác và di căn. Khái niệm ác hay lành tính ở đây nên hiểu về mặt giải phẫu bệnh học nhiều hơn là về khả năng gây chết người. Thật vậy, một người có thể sống nhiều năm với một ung thư hắc tố da, trong khi một khối u "lành tính" trong hộp sọ có thể chèn ép não gây tàn phế hoặc tử vong. Ung thư có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nhau phụ thuộc vào vị trí, đặc điểm và khả năng di căn của khối u. Chẩn đoán xác định ung thư thường đòi hỏi phải sinh thiết rồi quan sát trên kính hiển vi. Người bị ung thư có thể được chữa trị bằng phẫu thuật, hóa trị liệu hoặc xạ trị liệu. Nếu không được chữa trị sớm, hầu hết các loại ung thư có thể gây tử vong, đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong chính trong những nước phát triển. Hầu hết các bệnh ung thư có thể chữa trị và nhiều bệnh có thể chữa lành, nếu được phát hiện và điều trị sớm. Nhiều dạng ung thư có liên quan đến các yếu tố môi trường mà có thể tránh khỏi. Hút thuốc lá là một trong những yếu tố gây nguy cơ ung thư nhiều nhất. == Chẩn đoán ung thư == Hầu hết các ung thư lần đầu được chẩn đoán dựa vào các triệu chứng xuất hiện hoặc nhờ vào quá trình tầm soát. Qua đó không thể chẩn đoán xác định được mà phải nhờ vào sinh thiết. Một số trường hợp ung thư khác được chẩn đoán tình cờ nhờ khi đang khám hoặc điều trị bệnh khác. === Dấu hiệu và triệu chứng === Ban đầu,hầu hết bệnh nhân ung thư không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng. Khi xuất hiện triệu chứng rõ rệt thường là khi bệnh đã tiến triển trầm trọng. Thông thường,ung thư có thời gian ủ bệnh(tức là thời gian từ khi một tế bào bị đột biến thành tế bào ung thư đến khi các triệu chứng của bệnh được bộc lộ) khá dài, khoảng 10 năm hoặc hơn nữa tùy thể loại ung thư. Do đó cách phòng và điều trị ung thư hiệu quả nhất được khuyến cáo là nên đi khám sức khỏe định kì 6 tháng một lần. Do ung thư là tập hợp của nhiều dạng bệnh ung thư khác nhau nên triệu chứng của ung thư rất đa dạng và khác nhau ở tùy thể bệnh ung thư. Đại khái, triệu chứng của ung thư được phân làm ba nhóm chính: Triệu chứng tại chỗ: các khối u bất thường hay phù nề, chảy máu (hemorrhage), đau và/hoặc loét (ulcer). Chèn ép vào mô xung quanh có thể gây ra các triệu chứng như vàng da. Triệu chứng của di căn (lan tràn): hạch bạch huyết lớn lên, ho, ho ra máu, gan to, đau xương, gãy xương ở những xương bị tổn thương và các triệu chứng thần kinh. Đau có thể gặp ở ung thư giai đoạn tiến triển, nhưng thông thường đó không phải là triệu chứng đầu tiên. Triệu chứng toàn thân: sụt cân, chán ăn và suy mòn, tiết nhiều mồ hôi (đổ mồ hôi trộm), thiếu máu và các hội chứng cận u đặc hiệu, đó là tình trạng đặc biệt được gây ra bởi ung thư đang hoạt động, chẳng hạn như huyết khối (thrombosis) hay thay đổi nội tiết tố. Mỗi vấn đề nêu trên đều có thể gây ra bởi nhiều bệnh lý khác nhau (được xem như là chẩn đoán phân biệt). Ung thư có thể là một bệnh lý thường gặp hay hiếm gặp gây ra các triệu chứng này. === Sinh thiết === Một biểu hiện ung thư có thể gợi ý đến nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng để chẩn đoán xác định độ ác tính thì phải cần đến khám nghiệm vi thể tế bào ung thư của các nhà giải phẫu bệnh. Thủ thuật để lấy được tế bào và/hoặc các mẫu bệnh phẩm, và khám nghiệm chúng được gọi là sinh thiết. Chẩn đoán mô học sẽ xác định loại tế bào ung thư đang tiến triển, mức độ ác tính (mức độ loạn sản), sự lan tràn và kích thước của chúng. Di truyền học tế bào và hóa mô miễn dịch có thể cung cấp các thông tin về xu hướng phát triển sau này của ung thư (tiên lượng) và phương pháp điều trị tốt nhất. Tất cả ung thư đều có thể được chữa trị nếu như khối u được cắt bỏ hoàn toàn, và đôi khi điều này có thể thực hiện bởi sinh thiết. Khi toàn bộ khối mô tổn thương bất thường được loại bỏ, bờ của bệnh phẩm phải được khám xét cẩn thận để xác định chắc mô ác tính đã thực sự được loại bỏ. Nếu ung thư lan tràn đến vị trí khác của cơ thể (di căn), phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn là không thể. Bản chất của sinh thiết phụ thuộc vào cơ quan khám nghiệm. Nhiều sinh thiết (như là sinh thiết da, vú hay gan) có thể thực hiện ngoại trú. Sinh thiết những cơ quan khác thì được tiến hành dưới điều kiện vô cảm và phẫu thuật. === Chẩn đoán giai đoạn ung thư === Hiệp hội chống ung thư quốc tế đã phát triển một hệ thống phân chia giai đoạn của các khối u ác tính gọi là TNM (T: tumor - khối u, N: node - hạch lympho, M: metastasis - di căn). Trong một vài ung thư cụ thể, một số bảng phân loại khác lại thích hợp hơn, thí dụ hệ thống xếp loại FAB (French-American-Bristish cooperative group) dùng cho một số bệnh bạch huyết. === Tầm soát === Tầm soát ung thư là thử nghiêm nhằm thăm dò các dạng ung thư nghi ngờ trong quần thể dân cư. Các thử nghiệm tầm soát phù hợp phải có thể đáp ứng được cho một số lượng lớn người khỏe mạnh, an toàn, không xâm nhập đồng thời có tỷ lệ dương tính giả thấp chấp nhận được. Khi triệu chứng ung thư được phát hiện thì các phương pháp chẩn đoán kế tiếp thâm nhập hơn và có khả năng khẳng định hơn được thực hiện để xác nhận chẩn đoán. Tầm soát ung thư có thể giúp phát hiện sớm bệnh. Chẩn đoán sớm giúp kéo dài đời sống. Một số thử nghiệm tầm soát đã được triển khai. Tầm soát ung thư vú có thể được thực hiện bởi tự khám vú. Tầm soát bằng chụp tuyến vú phát hiện được khối u sớm hơn cả tự thăm khám, và nhiều nước sử dụng nó để tầm soát một cách hệ thống tất cả các phụ nữ trung niên. Ung thư đại trực tràng có thể được phát hiện nhờ vào xét nghiệm máu tiềm ẩn trong phân và soi đại tràng, chúng giúp làm giảm đi cả tỷ lệ mắc bệnh và tử vong nhờ phát hiện và loại bỏ các polyp tiền ác tính. Một cách tương tự, xét nghiệm tế bào học cổ tử cung (sử dụng Pap smear) giúp xác định và cắt bỏ các tổn thương tiền ung thư. Qua thời gian, những thử nghiệm như vậy đã dẫn đến giảm rõ rệt tỷ lệ ung thư cổ tử cung và tỷ lệ tử vong. Nam giới được khuyên tự khám tinh hoàn bắt đầu từ tuổi 15 để phát hiện ung thư tinh hoàn. Ung thư tiền liệt tuyến (nhiếp hộ tuyến) có thể được tầm soát nhờ vào khám trực tràng bằng ngón tay cùng với thử máu tìm kháng nguyên đặc hiệu tiền liệt tuyến (PSA). Tầm soát ung thư là vấn đề còn bàn cãi trong những trường hợp khi không biết chắc nó có thực sự cứu mạng sống hay không. Tranh cãi đặt ra khi không rõ là liệu lợi ích từ việc tầm soát có hơn hẳn nguy cơ của các xét nghiệm chẩn đoán tiếp theo và điều trị ung thư. Ví dụ trong trường hợp tầm soát ung thư tiền liệt tuyết, xét nghiệm PSA có thể phát hiện những ung thư nhỏ mà sẽ không bao giờ trở nên đe dọa đến tính mạng, nhưng khi đã được chẩn đoán thì sẽ dẫn đến điều trị. Tình trạng này gọi là chẩn đoán quá mức, đưa con người đối diện với nguy cơ các biến chứng của điều trị không cần thiết như là phẫu thuật hay xạ trị. Những thủ thuật tiếp theo được sử dụng để chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến (như sinh thiết tiền liệt tuyến) có thể gây ra các tác dụng phụ, như chảy máu và nhiễm trùng. Điều trị ung thư tiền liệt tuyến có thể dẫn đến viêc đái són (mất khả năng kiểm soát dòng nước tiểu) và rối loạn cường dương (cương không đủ cho giao hợp). Tương tự đối với ung thư vú, gần đây có những phê bình về chương trình tầm soát ung thư ở một vài nước đã gây là nhiều bất cập hơn là lợi ích thu được. Đó là vì tầm soát phụ nữ trong quần thể rộng sẽ gây ra một số lớn dương tính giả cần khảo sát tiếp theo để loại trừ ung thư, dẫn đến tăng số cần điều trị (hay số cần tầm soát) để phòng ngừa hay bắt gặp một trường hợp ung thư vú giai đoạn sớm. Về phương diện y tế công cộng, tầm soát ung thư cổ tử cung bằng Pap smear có hiệu quả - chi phí tốt nhất trong các dạng tầm soát ung thư vì ung thư này có yếu tố nguy cơ rõ ràng (tiếp xúc qua đường tình dục) và diễn tiến tự nhiên chậm qua nhiều năm do đó cho phép chúng ta có thời gian để tầm soát và phát hiện bệnh sớm. Hơn nữa, xét nghiệm này cũng dễ thực hiện và tương đối rẻ tiền. Sử dụng chẩn đoán hình ảnh để truy tầm ung thư ở những người không có triệu chứng rõ ràng cũng có những vấn đề rắc rối tương tự. Nguy cơ tăng đáng kể trong việc phát hiện những khối u mà gần đây được gọi là khối u tình cờ - đó là tổn thương lành tính được xem là ác tính để rồi trở thành điểm ngắm cho các thăm dò nguy hiểm khác. Vì những lý do này, điều quan trọng là lợi ích và nguy cơ của quá trình chẩn đoán và điều trị phải được cân nhắc khi tiến hành tầm soát ung thư. == Các loại ung thư == Ung thư có thể được phân loại dựa theo tính chất giải phẫu bệnh hoặc theo cơ quan bị tổn thương. Các tế bào ung thư trong một khối u (bao gồm cả tế bào đã di căn) đều xuất phát từ một tế bào duy nhất phân chia mà thành. Do đó một bệnh ung thư có thể được phân loại theo loại tế bào khởi phát và theo vị trí của tế bào đó. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người ta không xác định được khối u nguyên phát. Ung thư biểu mô (carcinoma) có nguồn gốc từ tế bào biểu mô (ví dụ như ở ống tiêu hóa hay các tuyến tiêu hoá). Bệnh lý huyết học ác tính (hematological malignancy), như bệnh bạch cầu (leukemia) và u lympho bào (lymphoma), xuất phát từ máu và tủy xương. Ung thư mô liên kết (sarcoma) là nhóm ung thư xuất phát từ mô liên kết, xương hay cơ. U hắc tố do rối loạn của tế bào sắc tố. U quái bắt nguồn từ các tế bào mầm. === Ung thư ở người lớn === Ở Mỹ và các nước phát triển khác ung thư chiếm khoảng 25% trường hợp chết do mọi nguyên nhân1. Theo thống kê hàng năm thì khoảng 0,5% dân số được chẩn đoán ung thư. Đối với đàn ông trưởng thành ở Mỹ, các loại ung thư hay gặp là ung thư tiền liệt tuyến (33% của tất cả các loại ung thư), ung thư phổi (13%), ung thư đại trực tràng (10%), ung thư bàng quang (7%) và u hắc tố ở da (5%). Nguyên nhân tử vong do ung thư phổi hay gặp nhất (31%), sau đó là ung thư tiền liệt tuyết (10%), ung thư đại trực tràng là (10%), ung thư tụy (5%) bệnh ung thư bạch cầu (4%)1. Đối với phụ nữ trưởng thành ở Mỹ, ung thư vú hay gặp nhất (32% của tất cả các loại ung thư) theo sau bởi ung thư phổi (12%), ung thư đại trực tràng (11%), ung thư nội mạc tử cung (6%) và u lympho bào không Hodgkin (4%). Theo nguyên nhân tủ vong, ung thư phổi lại là dẫn đầu (27% trong tống số chết do ung thư), theo sau bởi ung thư vú (15%), ung thư trực tràng (10%), ung thư buồng trứng (6%) và ung thư tụy (6%)1. Những con số thông kê này thay đổi theo từng nước. Những ung thư khác: Ung thư biểu mô: ung thư da (thực tế đây là ung thư hay gặp nhất nhưng lại không được phân loại theo thống kê sức khỏe), ung thư cổ tử cung, carcinoma hậu môn, ung thư thực quản, carcinoma tế bào gan, ung thư thanh quản, carcinoma tế bào thận, ung thư dạ dày, nhiều loại ung thư tinh hoàn và ung thư tuyến giáp. Bệnh lý ác tính về huyết học (máu và tủy xương): leukemia (bệnh bạch cầu), u limpho bào, bệnh đa u tủy, ung thư máu Sarcoma (ung thư mô liên kết): sarcoma xương, sarcoma sụn, sarcoma cơ vân. Có nguồn gốc hỗn hợp: u não, u mô đệm đường tiêu hóa (GIST), u trung biểu mô (ở màng phổi hay màng tim), u tuyến ức, u quái, u hắc tố. === Ung thư ở trẻ em === Ung thư có thể xảy ra ở trẻ nhỏ và thiếu niên. Ở đó các tiến trình di truyền bất thường, mà không có khả năng bảo vệ chống lại sự phát triển bất thường của các dòng tế bào bệnh lý, xảy ra rất sớm và có thể diễn tiến rất nhanh chóng. Lứa tuổi có tỷ lệ ung thư cao nhất là năm đầu tiên của cuộc sống. Bệnh bạch cầu (thường là bệnh bạch cầu nguyên bào lymphô cấp - acute lymphoblastic leukemia hay ALL) là dạng ung thư hay gặp nhất ở trẻ nhũ nhi (30%), theo sau đó là ung thư hệ thần kinh trung ương và u nguyên bào thần kinh (neuroblastoma). Phần còn lại thuộc về u Wilms, u lympho bào, sarcoma cơ vân, u nguyên bào võng mạc (retinoblastoma), sarcoma xương và sarcoma Ewing1. Bé gái và trai có chung về tỷ lệ ung thư, nhưng trẻ nhỏ da trắng có tỷ lệ ung thư cao hơn trẻ nhỏ da đen trong hầu hết các dạng ung thư. Tỷ lệ sống sót đối với trẻ nhỏ là rất cao trong các trường hợp u nguyên bào thần kinh, u Wilms và u nguyên bào võng mạc, và tương đối cao (80%) đối với leukemia, nhưng lại không tốt đối với các loại ung thư khác. == Nguyên nhân và sinh lý bệnh == === Nguồn gốc của ung thư === Phân chia tế bào (tăng sinh) là quá trình sinh lý xảy ra trong những điều kiện nhất định ở hầu hết các mô trong cơ thể sinh vật đa bào. Bình thường sự cân bằng giữa tốc độ của quá trình tăng sinh và quá trình chết của tế bào được điều hòa một cách chặt chẽ để đảm bảo cho tính toàn vẹn của cơ quan và mô. Khi các tế bào xảy ra những đột biến trong DNA, chúng có thể phá vỡ cơ chế điều khiển này và dẫn đến ung thư. Sự tăng sinh không kiểm soát và thường là nhanh chóng của tế bào sẽ tạo thành các khối u lành tính hay khối u ác tính (ung thư). Những khối u lành tính không lan tràn đến những nơi khác trong cơ thể hay xâm lấn vào các mô khác, và chúng hiếm khi đe dọa đến tính mạng trừ khi chúng chèn ép đến các cấu trúc sống còn. Các khối u ác tính có thể xâm lấn vào các cơ quan khác, lan đến những nơi xa hơn (di căn) và trở nên đe dọa đến tính mạng. === Bệnh học phân tử === Sinh ung thư (carcinogenesis) là quá trình rối loạn tốc độ phân chia tế bào do tổn thương của DNA. Do đó ung thư là một bệnh lý về gene. Thông thường, một tế bào bình thường để chuyển dạng sang tế bào ung thư phải trải qua một vài đột biến ở một số gene nhất định. Quá tình này liên quan đến cả hệ thống gene tiền ung thư (proto-oncogene) và gene áp chế ung thư (tumor suppressor gene). Gene tiền ung thư mã hoá cho nhóm protein tham gia vào quá trình hình thành những chất truyền tin (messenger) trong quá trình dẫn truyền tín hiệu tế bào. Các chất truyền tin này sẽ truyền tín hiệu "tiến hành phân bào" tới chính tế bào đó hay những thế bào khác. Do vậy, khi bị đột biến, các gene tiền ung thư sẽ biểu hiện quá mức (overexpression) các tín hiệu phân chia tế bào, và làm các tế bào tăng sinh thừa thãi, lúc này trở thành những gene ung thư (oncogene). Tuy nhiên, vì các gene ung thư thực chất là các gene cần thiết đối với quá trình phát triển, sửa chữa và hằng định nội môi của cơ thể, do đó không thể loại bỏ các gene này khỏi hệ gene nhằm làm giảm khả năng ung thư. Khác với gene ung thư, các gene áp chế ung thư mã hóa cho các chất truyền tin hóa học nhằm giảm hoặc ngừng quá trình phân chia của tế bào khi phát hiện thấy có sai hỏng về DNA. Đó là các enzyme đặc biệt có thể phát hiện các đột biến hay tổn thương DNA và đồng thời khích hoạt quá trình phiên mã của hệ thống enzyme sửa chữa DNA Điều này nhằm hạn chế tối đa khả năng các sai hỏng này được truyền cho thế hệ tế bào kế tiếp. Thông thường, các gene áp chế ung thư sẽ được kích hoạt khi có tổn thương DNA xảy ra, nhưng một số đột biến có thể bất hoạt protein áp chế ung thư hoặc làm mất khả năng truyền thông tin của nó. Điều này làm gián đoạn hoặc dừng cơ chế sửa chữa DNA, khi đó những tổn thương DNA được tích luỹ lại dần dần hình thành ung thư. Nhìn chung, điều kiện cần thiết để hình thành ung thư là phải đột biến ở cả hai nhóm gene tiền ung thư và gene áp chế ung thư. Chẳng hạn như đột biến giới hạn ở một gene ung thư sẽ bị ức chế bởi sự kiểm soát phân bào bình thường (giả thuyết Knudson hay giả thuyết 1-2 cú đánh) và các gene ức chế khối u. Và cũng vậy chỉ một đột biến gene ức chế khối u cũng không gây ra ung thư, do bởi có nhiều gene "dự phòng" cùng chức năng. Chỉ khi có đủ gene tiền ung thư bị đột biến thành gene ung thư và có đủ gene ức chế khối u bị bất hoạt hoặc tổn thương lúc đó các tín hiệu cho tế bào phát triển vượt quá các tín hiệu điều hòa thì sự phát triển tế bào sẽ nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát. Đột biến có thể từ các nguyên nhân khác nhau. Một số nguyên nhân riêng biệt đã được liên kết với các loại ung thư đặc hiệu. Hút thuốc lá liên quan đến ung thư phổi. Phơi nhiễm kéo dài đối với phóng xạ, đặc biệt là phóng xạ tia cực tím từ mặt trời, dẫn đến u hắc tố và các loại ung thư da khác. Hít các sợi amiăng có liên quan đến u trung biểu mô. Tổng quát hơn, các chất hóa học được gọi là chất gây đột biến (mutagen) và các gốc tự do được biết là nguyên nhân gây ra đột biến. Các dạng khác của đột biến cũng có thể gây ra bởi quá trình viêm mạn tính, vì bạch cầu hạt trung tính tiết ra các gốc tự do có thể làm tổn thương DNA. Hoán vị nhiễm sắc thể, ví dụ như nhiễm sắc thể Philadelphia, là một dạng đặc biệt của đột biến liên quan đến sự trao đổi giữa các nhiễm sắc thể khác nhau. Nhiều chất gây đột biến cũng là chất gây ung thư, nhưng một số chất gây ung thư không là chất gây đột biến. Ví dụ của chất gây ung thư nhưng không phải là chất gây đột biến bao gồm rượu và estrogen. Chúng được cho là thúc đẩy phát triển ung thư thông qua tác dụng kích thích tốc độ phân bào. Tốc độ phân bào nhanh chóng sẽ để lại ít khoảng cửa sổ hơn cho các enzyme sửa chữa DNA tổn thương trong quá trình sao chép DNA, và gia tăng khả năng sai lạc di truyền. Một sai lạc xảy ra trong quá trình phân bào có thể dẫn đến những tế bào nối tiếp nhận số lượng nhiễm sắc thể sai, dẫn đến dị bội nhiễm sắc thể và gây ra ung thư. Các đột biến cũng có thể được di truyền. Thừa hưởng các đột biến nào đó trong gene BRCA1, một gene ức chế khối u, làm cho phụ nữ dễ phát triển ung thư vú và ung thư buồng trứng. Đột biến ở gene Rb1 có thể gây ra u nguyên bào võng mạc, và các đột biến gene APC dẫn đến ung thư đại tràng. Một số loại virus có thể gây ra đột biến. Chúng đóng vai trò trong khoảng 15% các trường hợp ung thư. Virus khối u, chẳng hạn như retrovirus, herpesvirus và papillomavirus, thường mang một gene ung thư hoặc một gene kìm hãm quá trình ức chế khối u trong bộ gene của chúng. Khó có thể biết nguyên nhân đầu tiên gây ra ung thư. Tuy nhiên kỹ thuật sinh học phân tử có thể giúp xác lập đặc tính của đột biến hay sai lạc nhiễm sắc thể trong khối u, và cũng đã có tiến bộ nhanh chóng trong lĩnh vực tiên lượng dựa vào hình thái đột biến ở một số bệnh ung thư. Ví dụ như hơn phân nửa số ung thư có tổn thương gene p53, đây là gene ức chế khối u đồng thời cũng được biết như là "người bảo vệ bộ gene". Đột biến này liên quan đến tiên lượng xấu, vì tế bào của các khối u đó không đi vào quá trình apoptosis (cái chết được lập trình). Đột biến của telomerase đã loại bỏ các hàng rào hỗ trợ khác, làm tăng số lần tế bào có thể phân chia. Những đột biến khác giúp cho khối u tăng sinh mạch máu để cung cấp nhiều hơn chất dinh dưỡng, hay giúp cho việc di căn đến những nơi khác của cơ thể. Các tính chất đặc trưng của tế bào ác tính: tránh được apoptosis (chết theo chương trình) khả năng phát triển vô hạn (bất tử) tự cung cấp các yếu tố phát triển không nhạy cảm đói với các yếu tố chống tăng sinh tốc độ phân bào gia tăng thay đổi khả năng biệt hóa tế bào không có khả năng ức chế tiếp xúc khả năng xâm lấn mô xung quanh khả năng di căn đến nơi xa khả năng tăng sinh mạch máu Một tế bào thoái triển thành tế bào khối u thường không có tất cả đặc điểm này cùng một lúc, tuy nhiên hậu duệ của chúng sẽ được chọn lọc để có các đặc tính đó. Quá trình này được gọi là phát triển theo dòng (clonal evolution). Bước đầu tiên trong quá trình phát triển của một tế bào u thường là một biến đổi nhỏ trong DNA, thông thường là đột biến điểm, nó tạo ra bất ổn về di truyền trong tế bào. Sự bất ổn này có thể dẫn đến việc tế bào mất toàn bộ nhiễm sắc thể hay một vài nhiễm sắc thể tăng thêm số lượng. Cũng vậy quá trình methyl hóa DNA của tế bào thay đổi dẫn đến không kiểm soát được việc kích hoạt hay bất hoạt các gene. Tế bào có tốc độ phân chia cao, như biểu mô, tỏ ra có nguy cơ cao trở thành ung thư hơn tế bào phân chia ít hơn, như tế bào thần kinh. === Hình thái học === Mô ung thư có hình ảnh đặc biệt dưới kính hiển vi. Các đặc điểm nổi bật có thể thấy là một số lớn các tế bào phân chia, thay đổi hình dạng và kích thước nhân, thay đổi hình dạng và kích thước tế bào, mất các đặc điểm chuyên biệt của tế bào, mất cấu trúc mô bình thường, và ranh giới của khối u không rõ. Phương pháp hoá mô miễn dịch và các phương pháp phân tử khác có thể xác định chất đánh dấu đặc hiệu trên tế bào khối u, giúp cho chẩn đoán và tiên lượng. Sinh thiết và khám nghiệm vi thể có thể phân biệt được giữa ác tính và tăng sản. Tăng sản là trường hợp tăng sinh mô do tốc độ phân bào quá mức, làm gia tăng số lượng tế bào nhưng chúng vẫn giữ trật tự sắp xếp bình thường trong mô. Quá trình này được xem là có thể hồi phục được. Tăng sản có thể là một đáp ứng bình thường của mô đối với tác nhân kích thích, chẳng hạn như cục chai ở da. Loạn sản là một dạng bất thường của tăng sinh tế bào quá mức đặc trưng bởi mất đi sắp đặt bình thường của mô và cấu trúc tế bào. Thường thì những tế bào như vậy sẽ quay trở lại đặc tính bình thường của chúng, nhưng đôi khi chúng dần dần trở nên ác tính. Mức độ nặng nhất của loạn sản được xem như là "ung thư tại chỗ" (carcinoma in situ, trong tiếng Latinh, thuật ngữ "in situ" có nghĩa là "tại chỗ"). Ung thư biểu mô tại chỗ được xem là sự phát triển không kiểm soát của tế bào vẫn còn nằm tại vị trí nguyên thuỷ và chưa có biểu hiện xâm nhập đến nơi khác. Tuy vậy, ung thư biểu mô tại chỗ có thể phát triển thành ác tính xâm lấn và thường được phẫu thuật cắt bỏ nếu có thể. === Đặc điểm di truyền === Hầu hết các dạng ung thư là tự phát đơn lẻ, và không có cơ sở di truyền. Tuy nhiên một số hội chứng của ung thư đã được biết có mang yếu tố di truyền. Ví dụ như: Một số đột biến ở gene BRCA1 và BRCA2 liên quan đến tăng nguy cơ ung thư vú và ung thư buồng trứng Các khối u của các cơ quan nội tiết trong bệnh đa u tuyến nội tiết (multiple endocrine neoplasia - MEN thể 1, 2a, 2b) Hội chứng Li-Fraumeni (sarcoma xương, ung thư vú, sarcoma mô mềm, u não) do đột biến của p53 Hội chứng Turcot (u não và polyp đại tràng) Bệnh polyp tuyến gia đình là một đột biến di truyền trong gene APC dẫn đến phát triển sớm ung thư đại tràng U nguyên bào võng mạc trẻ em là ung thư di truyền === Môi trường và chế độ ăn uống === Qua nhiều thập kỷ nghiên cứu, phát hiện chắc chắn nhất là sự phối hợp chặt chẽ giữa hút thuốc lá và ung thư ở các vị trí khác nhau. Hàng trăm nghiên cứu dịch tễ học đã khẳng định mối liên kết này. Dữ liệu ủng hộ thêm nữa là tỷ lệ tử vong do ung thư phổi ở Mỹ phản ảnh mức độ hút thuốc lá, trong đó sự gia tăng hút thuốc lá dẫn đến gia tăng ung thư phổi, và gần đây hơn khi hút thuốc lá giảm đi kèm với tỷ lệ tử vong do ung thư phổi giảm ở nam giới. Đến phân nửa số ung thư tất cả các loại có sự đóng góp của hút thuốc lá, chế độ ăn uống và ô nhiễm môi trường. Nguyên nhân chủ yếu có thể kể đến là do nguồn nước ô nhiễm và nguồn thực phẩm có chứa chất bảo quản độc hại. Ở Việt Nam, hàng ngày, người tiêu dùng phải ăn những loại thực phẩm bị tẩm độc bởi những loại hóa chất độc hại, hầu hết đều có chứa các chất bảo quản gây nguy cơ mắc bệnh ung thư cho người tiêu dùng: táo, khoai tây, lê… hàng loạt các thực phẩm, hoa quả trong nước được tẩm ướp và chế biến, bảo quản bằng hóa chất như giá đỗ, chuối, đu đủ, cà chua, mít… Những thứ quà vặt cho trẻ em như bim bim, bánh kẹo hay những thứ đồ chơi cho trẻ như thú nhún, cây thông Noel, Đèn lồng cũng trở nên nguy hiểm đổi với con người bởi bên trong đó là những loại hóa chất trở thành tác nhân gây ra bệnh ung thư. Ngoài ra, ung thư vú hiện đang trở thành loại bệnh thường gặp nhất ở nữ giới và được dự báo có xu hướng tiếp tục tăng. == Thực phẩm bẩn gây ung thư == Theo tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Khánh Hoà - Research Asociate (Phụ tá nghiên cứu), Đơn vị nghiên cứu Đái tháo đường, khoa Y, Đại học Manitoba, Canada, những tác nhân nào gây ung thư có mặt trong thực phẩm bẩn gồm có: 1. Độc tố của nấm: Aflatoxin–tác nhân gây ung thư thuộc nhóm 1 (Theo phân loại của IARC-WHO- Nhóm 1 là nhóm chắc chắn gây ung thư cho người.) 2. Thuốc chống thối Formaldehyde- tác nhân gây ung thư thuộc nhóm 1 3. Thuốc nhuộm màu Auramine O- tác nhân gây ung thư thuộc nhóm 1 4. Thuốc trừ sâu, diệt cỏ malathion, diazinon và glyphosate "có nhiều" khả năng gây ung thư (Nhóm 2A). Hai loại còn lại, tetrachlorvinpho và parathion, được coi là “có thể” (Nhóm 2B). 5. Một số virus viêm gan B, C. Tác nhân gây ung thư nhóm 1. 6. Kháng sinh: Cloramphenicol- tác nhân gây ung thư nhóm 2A (Có khả năng gây ung thư cho người). == Điều trị ung thư == Ung thư có thể được điều trị bằng phẫu thuật, hóa trị liệu, xạ trị liệu, miễn dịch trị liệu hay các phương pháp khác. Việc chọn lựa phương pháp điều trị phụ thuộc vào vị trí và độ (grade) của khối u, giai đoạn của bệnh, cũng như tổng trạng của bệnh nhân. Một số điều trị ung thư thực nghiệm cũng đang được phát triển. Loại bỏ hoàn toàn khối u mà không làm tổn thương phần còn lại của cơ thể là mục tiêu điều trị. Đôi khi công việc này được thực hiện bằng phẫu thuật, nhưng khả năng xâm lấn ung thư đến các mô lân cận hay lan đến nơi xa ở mức độ vi thể thường hạn chế hiệu quả diều trị. Hiệu quả của hóa trị thì hạn chế bởi độc tính đối với các mô lành khác. Xạ trị cũng gây thương tổn đến mô lành. Bởi vì ung thư được xem như là tập hợp các bệnh lý, nên dường như chẳng bao giờ có một phác đồ điều trị ung thư đơn lẻ so với khả năng có một phác đồ điều trị duy nhất cho tất cả các bệnh lý nhiễm trùng. === Phẫu thuật === Nếu khối u còn khu trú, phẫu thuật là phương pháp thường được lựa chọn. Ví dụ có phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú ở ung thư vú, cắt bỏ tuyến tiền liệt ở ung thư tuyến tiền liệt. Mục đích của phẫu thuật là có thể cắt bỏ chỉ khối u đơn thuần hoặc toàn bộ cơ quan. Khi một tế bào ung thư phát triển thành một khối u khá lớn, việc chỉ cắt bỏ khối u đơn thuần dẫn đến tăng nguy cơ tái phát. Bờ của mô lành cũng thường được cắt bỏ để đảm bảo toàn bộ mô ung thư được loại bỏ. phương pháp này có thể gây tế bào ung thư bị biến dạng và khi ung thư đã di căn thì việc xác định được điểm xuất phát khối u là rất khó để loại bỏ hết. Bên cạnh việc cắt bỏ khối u nguyên phát, phẫu thuật cần thiết cho phân loại giai đoạn, ví dụ như xác định độ lan tràn của bệnh, xem thử đã có di căn đến các hạch bạch huyết vùng hay chưa. Phân loại giai đoạn cho biết tiên lượng và nhu cầu điều trị bổ sung. Đôi khi, phẫu thuật cần thiết cho kiểm soát triệu chứng, như chèn ép tủy sống hay tắc ruột. Đây được gọi là điều trị tạm thời. === Hóa trị liệu === Hóa trị liệu là điều trị ung thư bằng thuốc ("thuốc chống ung thư") có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư. Chúng can thiệp vào phân bào theo các cách khác nhau, ví dụ như sự sao chép DNA hay quá trình phân chia các nhiễm sắc thể mới được tạo thành. Hầu hết các dạng hóa trị đều nhắm vào các tế bào phân chia nhanh chóng và không đặc hiệu cho tế bào ung thư. Vì vậy, hóa trị có khả năng làm tổn thương các mô lành, nó cũng tiêu diệt các tế bào khỏe của cơ thể trong tủy xương và tế bào tiêu hóa trong ruột. Nó cũng làm hư hại các cơ quan khác như lá lách, thận, tim, phổi... đặc biệt là các mô có tần suất thay thế nhanh chóng (ví dụ như niêm mạc ruột). Những tế bào này thường tự sửa chữa sau khi hóa trị. Vì một số thuốc hoạt động tốt khi phối hợp với nhau hơn là dùng đơn độc, nên hai hay nhiều thuốc thường được kết hợp cùng lúc với nhau. Đó được gọi là "hóa trị phối hợp"; hầu hết các phác đồ hóa trị ở dạng phối hợp. Ví dụ như tác dụng hỗ trợ thuốc ung thư của mật gấu ngựa Một kỹ thuật mới liên quan đến việc lấy mẫu mô của bệnh nhân trước khi hóa trị. Những mẫu mô này được kiểm tra để đảm bảo chúng không chứa tế bào ung thư. Mẫu mô này được phát triển nhờ vào kỹ thuật phát triển mô (tissue engineering) sau đó chúng được cấy vào lại trong cơ thể để thay thế cho mô đã bị tổn thương hay hủy hoại bằng cách nào đó bởi quá trình hóa trị liều cao. Một dạng khác của phương pháp này là dùng mẫu mô dị gen (allogenic) (lấy từ người cho khác) thay cho mô của chính bệnh nhân4. === Miễn dịch trị liệu (Tăng cường hệ miễn dịch) === Miễn dịch trị liệu ung thư là sử dụng cơ chế miễn nhiễm chống lại khối u. Chúng được dùng trong các dạng ung thư khác nhau, như ung thư vú (trastuzumab/Herceptin®) và leukemia (gemtuzumab ozogamicin/Mylotarg®). Các chất đó là kháng thể đơn dòng nhằm chống lại các protein đặc trưng cho các tế bào ung thư, hay các cytokine điều hoà đáp ứng của hệ miễn dịch. -Miễn dịch trị liệu là kích hoạt và làm tăng số lượng của các tế bào miễn dịch của cơ thể gọi là macrophage và tế bào "sát thủ tự nhiên" NK Cell. Macrophage là hàng rào miễn dịch đầu tiên bảo vệ và chống lại bất cứ yếu tố ngoại lai nào xâm nhập cơ thể, kể cả các tế bào ung thư. NK Cell là một tế bào miễn dịch đặc hiệu có chức năng nhận biết và tiêu diệt tế bào Ung Thư. === Xạ trị liệu === Xạ trị liệu (điều trị bằng tia X hay chiếu xạ) là sử dụng một dạng năng lượng (gọi là phóng xạ ion hoá) để diệt tế bào ung thư và làm teo nhỏ khối u. Xạ trị làm tổn thương hay hủy hoại các tế bào được điều trị ("mô đích") bằng cách làm tổn thương vật chất di truyền của chúng, khiến chúng không thể phát triển và phân chia. Mặc dù xạ trị làm tổn thương cả tế bào ung thư và tế bào lành, hầu hết các tế bào lành có thể hồi phục và hoạt động bình thường. Mục tiêu của xạ trị là làm tổn thương càng nhiều tế bào ung thư trong khi giới hạn tổn thương đối với mô lành lân cận. Xạ trị có thể được dùng để điều trị hầu hết các loại u đặc, gồm ung thư não, vú, cổ tử cung, thanh quản, tụy, tiền liệt tuyến, da, cột sống, dạ dày, tử cung hay các sarcoma mô mềm. Xạ trị cũng có thể được dùng trong leukemia và lymphoma (ung thư của tế bào tạo máu và hệ thống bạch huyết). Liều xạ trị cho mỗi vị trí tùy thuộc vào một số yếu tố như loại ung thư và có hay không khả năng mô hay cơ quan xung quanh bị tổn thương bởi xạ trị. === Ức chế nội tiết tố === Sự phát triển của hầu hết các mô, bao gồm ung thư, có thể được gia tăng hay bị ức chế bằng cách cung cấp hay ngăn chặn các loại hormone nào đó. Điều này cho phép một phương pháp bổ sung trong điều trị nhiều loại ung thư. Các ví dụ thông thường của khối u nhạy cảm với hormone là một số loại ung thư vú, tiền liệt tuyến, và tuyến giáp. Việc loại bỏ hay ức chế estrogen (đối với ung thư vú), testosterone (ung thư tiền liệt tuyến), hay TSH (ung thư tuyến giáp) là phương pháp điều trị bổ sung quan trọng. === Kiểm soát triệu chứng === Mặc dù kiểm soát triệu chứng không là cách điều trị trực tiếp lên ung thư, nó vẫn được xem là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng sống của bệnh nhân, và giữ vai trò quan trọng trong quyết định áp dụng các điều trị khác trên bệnh nhân. Mặc dù mọi thầy thuốc thực hành đều có thể điều trị kiểm soát đau, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, xuất huyết và các vấn đề thường gặp khác ở bệnh nhân ung thư, chuyên khoa săn sóc tạm thời (palliative care) đã xuất hiện để đáp ứng nhu cầu kiểm soát triệu chứng ở nhóm bệnh nhân này. Thuốc giảm đau (thường là các opioid như morphine) và thuốc chống nôn rất thường được sử dụng ở bệnh nhân có các triệu chứng liên hệ đến ung thư. === Các thử nghiệm điều trị === Thử nghiệm điều trị, cũng còn gọi là nghiên cứu điều trị, dùng để kiểm tra các phương pháp điều trị mới trên bệnh nhân ung thư. Mục đích của nghiên cứu này là đi tìm ra các phương pháp tốt hơn để điều trị ung thư và giúp đỡ bệnh nhân ung thư. Các thử nghiệm lâm sàng khảo sát nhiều loại điều trị như thuốc mới, phương pháp phẫu thuật hay xạ trị mới, phối hợp trị liệu mới, hoặc phương pháp điều trị mới như gene liệu pháp. Thử nghiệm lâm sàng là một trong các giai đoạn cuối cùng của quá trình nghiên cứu ung thư cẩn thận và lâu dài. Việc tìm kiếm phương pháp điều trị mới bắt đầu trong phòng thí nghiệm, ở đó các nhà khoa học lần đầu triển khai và kiểm tra các ý tưởng mới. Nếu một hướng nghiên cứu có triển vọng, bước kế tiếp có thể là thử nghiệm điều trị trên động vật để xem nó ảnh hưởng thế nào đến ung thư trên cơ thể sống đồng thời xem thử độc tính của nó thế nào. Dĩ nhiên, các phương pháp điều trị có kết quả tốt trong phòng thí nghiệm hay trên động vật chưa hẳn đã là tốt trên người. Nghiên cứu được thực hiện trên bệnh nhân ung thư để xác định xem các phương pháp điểu trị hứa hẹn này có an toàn và hiệu quả hay không. Các bệnh nhân tham gia có thể đựợc giúp đỡ về mặt cá nhân nhờ vào điều trị mà họ nhận được. Họ nhận được sự săn sóc cập nhật nhất từ các chuyên gia ung thư, và họ nhận được hoặc một phương pháp điều trị mới đang được thử nghiệm hoặc một phương pháp điểu trị tiêu chuẩn tốt nhất đang có cho bệnh lý ung thư của họ. Lẽ dĩ nhiên không có sự đảm bảo nào về các phương pháp điều trị mới hay chuẩn này mang lại kết quả tốt. Các phương pháp điều trị mới cũng có những nguy cơ không được xác định, nhưng nếu một phương pháp điều trị mới chứng minh được hiệu quả hay hiệu quả hơn phương pháp chuẩn, các bệnh nhân nghiên cứu có thể nằm trong số những người đầu tiên hưởng được lợi ích này. Y khoa thế giới ghi nhận một liệu pháp chữa trị ung thư xuất phát từ Việt Nam đang được nghiên cứu và thử nghiệm đó là sử dụng các chế phẩm từ nấm lim xanh – một loài nấm đặc hữu của Việt Nam. Tạp chí Tin tức Y tế xuất bản tại Mỹ số ra tháng 5/2012 cho biết các bác sĩ ở bệnh viện St. John tại Birmingham nước Anh đã thử nghiệm sử dụng nấm lim xanh trong điều trị ung thư và cho kết quả khả quan. === Y học thay thế và bổ sung === Y học thay thế và bổ sung (complementary and alternative medicine - CAM) là nhóm phong phú các hệ thống săn sóc sức khỏe và y tế, thực hành và sản phẩm vốn không được xem là có hiệu quả bởi các chuẩn mực của y học quy ước. Một số phương pháp điều trị không quy ước được dùng "bổ sung" cho điều trị quy ước, nhằm tạo sự thoải mái và nâng cao tinh thần cho bệnh nhân. Một số phương pháp điều trị không quy ước khác được dùng thay thế điều trị quy ước với hy vọng chữa lành ung thư. Các phương pháp bổ sung thông thường như cầu nguyện hay các biện pháp tâm lý như "tưởng tượng." Nhiều người cảm thấy phương pháp này mang lợi ích cho họ, nhưng hầu hết không chứng minh được tính khoa học và vì thể phải đối diện với sự hồ nghi. Các phương pháp bổ sung khác bao gồm y học cổ truyền như Đông y (thuốc nam/thuốc bắc). Nhiều biện pháp điều trị thay thế đã được sử dụng trong ung thư ở thế kỷ qua. Tính hấp dẫn của trị liệu thay thế đến từ các nguy cơ gây chán nản với điều trị, chi phí và tác dụng phụ của điều trị quy ước, hoặc triển vọng chữa lành thấp. Những người đề nghị các phương pháp này không thể hay không muốn chứng minh tính hiệu quả bằng các tiêu chuẩn quy ước. Các điều trị thay thế bao gồm chế độ ăn đặc biệt hoặc bổ sung thành phần thức ăn (ví dụ "chế độ ăn nho" hay điều trị vitamin liều cao), các dụng cụ điện (ví dụ "các máy xoa bóp"), các chất có công thức đặc biệt (như laetrile), sử dụng không theo quy ước các thuốc quy ước (như insulin), xổ ruột hay thụt tháo, các thao tác vật lý trên cơ thể. Một vài phương pháp điều trị này mang tính lừa dối hay xảo thuật. Tóm lại chúng được đánh giá bởi các giới hồ nghi như phương pháp lang vườn điều trị ung thư. Một danh sách có giải thích các phương pháp điều trị này có sẵn tại Quackwatch (Quan sát lang vườn) [1]. Hầu hết các thầy thuốc chống lại việc sử dụng các phương pháp này đơn độc trong điều trị các bệnh lý có khả năng tử vong như ung thư. == Dịch tễ học == Ở các nước phương Tây như Mỹ1 và Anh2, ung thư đang vượt qua bệnh tim mạch là nguyên nhân gây chết hàng đầu. Ở nhiều quốc gia thuộc Thế giới thứ ba tỷ lệ phát hiện ung thư (đến mức có thể tính được) có vẻ thấp hơn nhiều, hầu hết do bởi tỷ lệ tử vong cao hơn vì các bệnh nhiễm trùng và chấn thương. Với sự gia tăng kiểm soát sốt rét và lao ở một số nước Thế giới thứ ba, tỷ lệ ung thư được trông đợi sẽ tăng lên; điều này được gọi là hiện tượng tảng băng trong thuật ngữ dịch tễ học. Dịch tễ học ung thư phản ánh sát sự phân bố yếu tố nguy cơ ở các nước khác nhau. Ung thư biểu mô tế bào gan (ung thư gan) hiếm gặp ở các nước phương Tây nhưng là ung thư chính ở Trung Quốc và các nước lân cận, hầu hết do hiện diện nội dịch của viêm gan B và aflatoxin trong dân cư. Cũng vậy, với việc hút thuốc lá đang càng ngày càng phổ biến ở các nước Thế giới thứ ba, tỷ lệ mắc ung thư phổi cũng tăng theo hướng song song. == Phòng ngừa == Phòng ngừa ung thư là các biện pháp tích cực nhằm đề phòng, ngăn chặn và giảm tỷ lệ ung thư. Điều này có thể thực hiện bằng cách tránh các tác nhân sinh ung thư hay thay đổi quá trình chuyển hóa của chúng: thay đổi lối sống và chế độ ăn uống nhằm ngăn ngừa các yếu tố gây ung thư hoặc can thiệp bằng y khoa (hóa dự phòng, điều trị sang thương tiền ác tính). Có nhiều hứa hẹn phòng ngừa ung thư rút ra từ các nghiên cứu dịch tễ học quan sát. Các nghiên cứu này chỉ ra mối liên hệ giữa các yếu tố lối sống có thể tác động được hay phơi nhiễm môi trường với các bệnh ung thư đặc biệt. Các thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát thực hiện trên các gợi ý can thiệp rút ra từ nghiên cứu dịch tễ và phòng thí nghiệm đã đưa ra bằng chứng về giảm tỉ lệ mới mắc và tỉ lệ tử vong. Các ví dụ về các nguy cơ có thể tác động được gồm có uống rượu (phối hợp với tăng nguy cơ ung thư miệng, thực quản, vú và các ung thư khác), không hoạt động chân tay (phối hợp với tăng nguy cơ ung thư đại tràng, vú, và có thể các ung thư khác), tình trạng béo phì (phối hợp với ung thư đại tràng, vú, nội mạc tử cung, và có thể các ung thư khác). Dựa vào các bằng chứng dịch tễ học, ngày nay người ta cho rằng tránh uống rượu quá mức, tích cực hoạt động thể lực và duy trì trọng lượng cơ thể thích hợp có thể góp phần làm giảm nguy cơ một số ung thư; tuy nhiên khi so sánh với phơi nhiễm thuốc lá, các phương pháp này có tính hiệu quả còn khiêm tốn và độ tin cậy của bằng chứng còn thấp. Các yếu tố về lối sống và môi trường khác được biết có ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư (có lợi hay hại) là hoạt động tình dục hay sinh sản, sử dụng hormone ngoại sinh, tiếp xúc với các phóng xạ ion hoá và tia cực tím, phơi nhiễm với hóa chất và nghề nghiệp nào đó, các tác nhân nhiễm trùng. Lời khuyên cho một cuộc sống lành mạnh: 1. Tránh hút thuốc và khói 2. Giảm tiêu thụ rượu và thức uống có cồn 3. Mặc quần áo kín khi ra nắng, tránh ánh nắng mặt trời trực tiếp vào buổi trưa, dùng quần áo được thiết kế đặc biệt chịu được ánh nắng mặt trời, sử dụng kem chống nắng. 4. Không sử dụng phòng tắm nắng (tanning bed) dùng tia tử ngoại. 5. Bảo vệ bạn chống lại các bệnh nhiễm trùng có thể gây ra ung thư. 6. Vận động và tập thể dục thường xuyên. 7. Hàng ngày dùng nhiều các loại trái cây tươi, rau và salad. 8. Tránh thừa cân. 9. Khi khát, ưu tiên dùng nước thường và trà không đường. 10. Thường xuyên kiểm tra sức khỏe và xét nghiệm sàng lọc sớm tại bác sĩ. === Chế độ ăn uống và ung thư === Chế độ ăn uống các thực phẩm chứa hóa chất (chất bảo quản, thuốc trừ sâu, phân bón hóa học...) làm tăng nguy cơ gây ung thư. Thói quen ăn uống thường giải thích cho sự khác biệt về tỷ lệ ung thư ở các nước (ví dụ như ung thư dạ dày hay gặp hơn ở Nhật Bản, trong khi ung thư đại tràng hay gặp hơn ở Mỹ). Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, người nhập cư cũng phát triển nguy cơ ung thư giống như ở đất nước mới đến của họ, gợi ý có sự kết nối giữa ăn uống và ung thư hơn là cơ sở về di truyền. Dù thường xuyên có các báo cáo về các chất đặc biệt (bao gồm cả thức ăn) có tác động lợi hay hại đến nguy cơ ung thư, chỉ một vài trong số chúng thiết lập được mối liên quan đến ung thư. Các báo cáo này dựa trên các nghiên cứu trong môi trường nuôi cấy tế bào hay động vật. Các lời khuyên về sức khỏe cộng đồng không nên dựa vào cơ sở các nghiên cứu này cho đến khi chúng được xác định trên các thử nghiệm quan sát (hay đôi khi là thử nghiệm can thiệp tiền cứu) trên người. Trường hợp của beta-carotene cho chúng ta ví dụ về sự cần thiết của thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên. Các nhà dịch tễ học nghiên cứu cả hai nồng độ trong thức ăn và huyết thanh thấy rằng nồng độ cao của beta-carotene, một tiền chất của vitamin A, có liên quan đến hiệu quả phòng bệnh, làm giảm nguy cơ ung thư. Hiệu quả này thật sự đặc biệt mạnh trong ung thư phổi. Giả thuyết này đã dẫn đến một loạt các thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở Phần Lan và Mỹ (nghiên cứu CARET) trong suốt hai thập niên 1980 và 1990. Nghiên cứu này cung cấp cho khoảng 80.000 người hút thuốc lá hoặc đã từng hút thuốc lá các bổ sung hằng ngày về beta-carotene hoặc placebo. Ngược lại với mong đợi, những kiểm tra này cho thấy bổ sung beta-carotene không có ích lợi trong giảm tỷ lệ mắc ung thư phổi và tỷ lệ tử vong. Thực ra, nguy cơ ung thư phổi tăng nhẹ, nhưng có ý nghĩa, ở người hút thuốc lá, khiến nghiên cứu kết thúc sớm3. ==== Một số chất chống ung thư trong thực phẩm ==== Alliinase, Myrosinase. Selen. β-Glucan (Beta glucan). Alliinase, Myrosinase. Probiotic (vi khuẩn có lợi). Curcumin, Catechin, Lycopene. Sulforaphane (Sulphoraphane), 3,3'-Diindolylmethane (DIM), Glucoraphanin. ==== Một số thực phẩm giúp ngăn ngừa ung thư ==== Lá/rau: Bông cải xanh, Cải xoăn, Rau chân vịt. Củ: Nghệ, Tỏi, Hành tây. Nấm. Quả: Cà chua. Sữa chua. === Các chất hóa dự phòng khác === Sử dụng hằng ngày tamoxifen, một chất điều hoà chọn lọc thụ thể estrogen, cho đến 5 năm, đã tỏ ra làm giảm nguy cơ phát triển ung thư vú ở phụ nữ nguy cơ cao khoảng 50%. Axít cis-retinoic cũng tỏ ra giảm nguy cơ các ung thư nguyên phát tái phát ở các bệnh nhân ung thư nguyên phát vùng đầu - cổ. Finasteride, là chất ức chế men 5-alpha reductase, có thể hạ thấp nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến. Các ví dụ khác về thuốc tỏ ra có hứa hẹn trong hóa dự phòng gồm thuốc ức chế men COX-2 (ức chế men cyclooxygenase liên quan đến tổng hợp prostaglandin tiền viêm). === Vắc xin trong ung thư === Ngày nay các nỗ lực đáng kể trong việc phát triển vaccine (để dự phòng các tác nhân lây nhiễm sinh u, cũng như phát động đáp ứng miễn dịch chống lại các epitope đặc hiệu cho ung thư) và để phát triển gene tri liệu đối với các cá thể có các đột biến di truyền hay đa hình thái khiến họ đối diện nguy cơ ung thư cao. Hiện tại không có vaccine nào được sử dụng, và hầu hết các nghiên cứu vẫn còn ở giai đoạn bắt đầu. === Xét nghiệm di truyền === Xét nghiệm di truyền được dùng cho cá thể nguy cơ cao, nhằm tăng cường giám sát, hóa dự phòng, hay phẫu thuật để giảm nguy cơ cho các đối tượng có xét nghiệm dương tính. Hiện tại xét nghiệm này đã có sẵn cho vài loại đột biến gene có liên quan đến ung thư. == Đối diện với ung thư == Nhiều tổ chức địa phương cung cấp các dịch vụ thực hành và hỗ trợ khác nhau cho các bệnh nhân ung thư. Hỗ trợ gồm các hình thức nhóm hỗ trợ, tham vấn, khuyên nhủ, hỗ trợ tài chính, vận chuyển đi lại trong điều trị, hay các thông tin về ung thư. Các tổ chức lân cận, các người cung cấp các dịch vụ y tế địa phương, hay các bệnh viện khu vực là nơi tốt để tìm kiếm hỗ trợ. Mặc dù có một số người lưỡng lự trong việc tìm kiếm tham vấn, các nghiên cứu chỉ ra rằng có người nào đó để trao đổi giúp giảm căng thẳng tinh thần và giúp họ về mặt tinh thần và thể chất. Tham vấn cũng có thể giúp hỗ trợ tình cảm đối với bệnh nhân ung thư và giúp họ hiểu tốt hơn bệnh lý của họ. Các dạng tham vấn khác nhau là cá nhân, nhóm, gia đình và tự giúp nhau (đôi khi được gọi là tham vấn đồng hành), thăm viếng người quá cố, bệnh nhân với bệnh nhân và vấn đề tình dục. Nhiều tổ chức chính phủ và từ thiện được thành lập để giúp đỡ các bệnh nhân đối diện với ung thư. Các tổ chức này thường liên quan đến dự phòng ung thư, điều trị ung thư và nghiên cứu ung thư. Ví dụ như: Hội ung thư Mỹ, Tổ chức ung thư BC, Tổ chức xoa dịu ung thư Macmillan, Nghiên cứu ung thư Anh, Hội ung thư Canada, Tổ chức quốc tế nghiên cứu ung thư và Viện ung thư quốc gia (Mỹ). == Tác động đối với xã hội == Ung thư có tiếng là căn bệnh chết chóc. Tuy nhiên điều này chỉ đúng cho một vài dạng cụ thể nào đó. Một số loại ung thư có tiên lượng còn tốt hơn các bệnh không ác tính như suy tim và tai biến mạch máu não. Các bệnh lý ác tính diễn tiến và lan tỏa có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng sống của bệnh nhân, và nhiều điều trị (như hoá trị) có thể có tác dụng phụ nặng nề. Ở giai đoạn tiến triển ung thư, nhiều bệnh nhân các săn sóc tăng cường, và ảnh hưởng đến người thân và bạn bè. Giải pháp săn sóc tạm thời có thể là săn sóc điều dưỡng nội trú vĩnh viễn hay ngắn hạn. == Nghiên cứu ung thư == Nghiên cứu ung thư là nỗ lực khoa học nhằm tìm hiểu quá trinh bệnh lý và phát hiện các phương pháp điều trị có thể áp dụng được. Trong khi ung thư tăng theo cấp lũy tiến từ thập niên cuối của thế kỷ 20, các phương pháp điều trị mới triệt để chỉ phát hiện và giới thiệu một cách từ tốn. Ức chế men tyrosine kinases (imatinib và gefitinib) vào cuối thập niên 1990 được xem như là bước đột phá lớn, chúng can thiệp một cách đặc hiệu vào protein đặc hiệu của khối u. Kháng thể đơn dòng chứng tỏ là một tiến bộ lớn khác trong điều trị ung thư. == Hiện tình bệnh ung thư == Mỗi năm, 14,1 triệu người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư và 8,2 triệu người chết vì căn bệnh này. Trong một so sánh tổng thể, cứ 4 người chết thì có 1 chết vì bệnh có bướu. Nam giới thường mắc bệnh ung thư phổi và phế quản và ung thư tuyến tiền liệt, ở nữ giới, ung thư vú là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất, tiếp theo là ung thư phổi và phế quản. Hiện khoảng 23 triệu người đang sống chung với ung thư. Nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời thì con số này sẽ lên tới 30 triệu vào năm 2020. Những việc phòng ngừa đúng cách và sống lành mạnh có thể giảm một phần ba những trường hợp mắc bệnh, một phần ba nữa có thể giảm qua việc thường xuyên kiểm tra sức khỏe và xét nghiệm sàng lọc sớm. Tại các nước phát triển, ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai sau tim mạch. Ở các nước đang phát triển, ung thư đứng hàng thứ ba sau bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng và tim mạch. Vào Ngày ung thư thế giới năm 2010, người đoạt giải Nobel về y học Harald zur Hausen khởi xướng việc nâng cao ý thức của người dân toàn cầu, và đề nghị cha mẹ và ông bà trên thế giới nên nêu gương sống lành mạnh cho trẻ em và các cháu: "Lối sống sẽ góp phần đáng kể vào việc mà bạn và con bạn được khỏe mạnh. Ai sống phóng túng, nguy hiểm, không chỉ gây hại cho sức khỏe của chính mình, mà còn của con trẻ của mình... Một sự thay đổi lối sống lâu dài là có thể ngăn chặn khoảng một nửa trong số tất cả các bệnh ung thư". === Việt Nam === Theo thống kê của ngành Ung thư và Bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam có khoảng 150 ngàn ca mới mắc và trên 75 ngàn trường hợp tử vong do ung thư. Trong bản đồ ung thư thế giới, tỷ lệ mắc ung thư ở nam giới Việt Nam được xếp vào nhóm nước cao thứ 3, với gần 200 ca mắc trên 100.000 người. Tuy nhiên, tỷ lệ nam giới tử vong do ung thư ở Việt Nam lại nằm trong nhóm nước dẫn đầu thế giới, với hơn 142 trường hợp tử vong trong số 100.000 người. Tại các nước phát triển, trên 80% ca bệnh ung thư có thể chữa khỏi được. Tại Việt Nam tỉ lệ này thấp hơn bởi lẽ, có tới 70% bệnh nhân ung thư ở Việt Nam đi khám và phát hiện ở giai đoạn muộn. Ước tính trong năm 2020 sẽ có ít nhất gần 200.000 ca ung thư mới mắc. Dẫn đầu ở nam là ung thư phổi, sau đó đến dạ dày, gan, đại trực tràng, thực quản, vòm, hạch, máu, tiền liệt tuyến... Tỷ lệ mắc mới ở nữ nhiều nhất lần lượt là ung thư vú, dạ dày, phổi, đại trực tràng, cổ tử cung, giáp trạng, buồng trứng... ==== Nguyên nhân ==== - Theo PGS. TS Trần Văn Thuấn, 80% nguyên do gây ra bệnh ung thư là do môi trường bên ngoài: Thuốc lá là nguyên nhân của trên 30% trong tổng số các loại ung thư bao gồm ung thư phổi. Có tới trên 90% bệnh ung thư phổi có liên quan tới thuốc lá. Bên cạnh đó, các loại ung thư khác như khoang miệng, thực quản, hà họng tinh quản, thậm chí, ung thư vú, ung thư cổ tử cung ở nữ cũng có liên quan tới thuốc lá. Chế độ dinh dưỡng không hợp lý, chế độ ăn có quá nhiều chất đạm, mỡ, đặc biệt là mỡ động vật, ít hoa quả và rau xanh và dùng các loại thực phẩm không rõ nguồn gốc, đặc biệt là các thực phẩm có bảo quản thuốc thực phẩm. Nhiễm trùng: nhiễm virut viêm gan B sẽ dẫn tới viêm gan, ung thư gan. Nhiễm virut HPV thì sẽ gây ra ung thư cổ tử cung, nhiễm vi khuẩn HP thì sẽ gây ra ung thư dạ dày. Khoảng 5 -10% ung thư có liên quan tới yếu tố di truyền. - Theo giáo sư Nguyễn Bá Đức, phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, 35% số ca mới mắc có nguyên nhân do ăn phải thực phẩm bẩn chứa chất gây ung thư. == Xem thêm == Ung thư học Các phytochemical trong thực phẩm Ngày ung thư thế giới Tác nhân gây ung thư == Tham khảo == Chú giải 1: Jemal A, Murray T, Ward E, Samuels A, Tiwari RC, Ghafoor A, Feuer EJ, Thun MJ. Cancer statistics, 2005. CA Cancer J Clin 2005;55:10-30. Fulltext. PMID 15661684. Chú giải 2: Cancer: Number one killer (ngày 9 tháng 11 năm 2000). BBC News online. Truy cập 2005-01-29. Chú giải 3: Questions and Answers About Beta Carotene Chemoprevention Trials Chú giải 4: Bilal A, Treating Cancer with Stem Cells, Medical Engineer, 25/07/2005 Fulltext == Chú thích == == Liên kết ngoài == (tiếng Việt) Ung thư tại Từ điển bách khoa Việt Nam Phương pháp nào điều trị ung thư? (tiếng Anh) Ung thư tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Trang web về ung thư của Tổ chức Y tế Thế giới Making a world of difference in cancer care
kịch nói.txt
Kịch nói hay thoại kịch là môn nghệ thuật trình diễn dùng ngôn ngữ để biểu đạt thay vì âm nhạc, động tác, hay vũ điệu. Ngôn ngữ ở đây là ngôn từ và động tác thường nhật rút từ cuộc sống, không phải những điệu múa hay dáng bộ ước lệ. Ở Việt Nam, loại kịch này du nhập qua trung gian văn hóa Pháp vào đầu thế kỷ 20. == Việt Nam == Những bộ môn trình diễn sân khấu truyền thống ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là hát chèo, hát tuồng, và cải lương. Cả ba đều dùng âm nhạc và ca điệu làm cách diễn tả chính trong khi lời nói thường chỉ dùng xen kẽ. Khi người Pháp đặt nền bảo hộ ở Đông Dương và mang môn giải trí trình diễn kịch sang thì người Việt mới dần quen với lối nghệ thuật mới này. Vở kịch đầu tiên theo thể cách kịch nói của Âu châu là vở Bệnh tưởng vốn là nguyên tác Malade imaginaire của văn sĩ người Pháp Molière do Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếng Việt. Tuy lấy mẫu từ kịch bản Pháp, kịch nói ở Việt Nam đã nhanh chóng thích nghi, trút tỉa từ nét văn hóa Việt Nam đương thời để Việt hóa môn này. Những vở kịch nói tiên khởi phải kể Nửa đêm truyền hịch (Trần Tử Anh), Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948 của Vũ Khắc Khoan), diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội. Mùa kịch thường là vào thu khi trời trở lạnh và khán giả ăn mặc trang trọng để đi xem kịch. Kịch thơ lúc đó cũng phát triển mạnh như các vở Tâm sự kẻ sang Tần (Vũ Hoàng Chương), Bến nước Ngũ Bồ (Hoàng Công Khanh)... Sang thập niên 1950 thì ban kịch Dân Nam đã có tiếng. Vở trường kịch đầu tiên ở Việt Nam là vở Áo người trinh nữ. Mười năm sau vào thập niên 1960 thì ở trong Nam đã có nhiều ban kịch như Ban kịch sống Túy Hồng. Trong khi các đoàn cải lương và hát tuồng dùng sân khấu sống, kịch nói vào giai đoạn này xuất hiện chủ yếu trên truyền hình THVN. Các đề tài lồng trong cốt truyện thường phản ảnh tình hình xã hội như các vở Gia đình Ông Ký, Ngã rẽ cuối cùng, Chuyện xảy ra lúc 0 giờ. Môn kịch nói được giảng dạy ở Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ. Diễn viên kịch nói nhiều khi là diễn viên cải lương như Kim Cương, Ba Vân, Túy Hoa, La Thoại Tân. Ngoài ra là những diễn viên không thuộc trường phái cải lương như Kiều Hạnh, Tú Trinh. == Tham khảo ==
dushanbe.txt
Dushanbe (tiếng Tajik: Душанбе, Dushanbe; trước đây là Dyushambe hay Stalinabad), dân số 778.500 người (điều tra năm 2014), là thủ đô của Tajikistan. Tên gọi lấy từ một từ tiếng Ba Tư có nghĩa là "thứ Hai" (du hai + shamba hay shanbe ngày, nghĩa "ngày hai") do thực tế là nó là một chợ phiên vào ngày thứ Hai phổ biến. == Lịch sử == == Khí hậu == == Kinh tế == == Điểm tham quan chính == == Giáo dục == == Vận tải == == Nhân khẩu học == == Huyện == == Quan hệ quốc tế == === Các thành phố kết nghĩa === Hiện tại, Dushanbe có 10 thành phố kết nghĩa. Kabul, Afghanistan Tehran, Iran Moskva, Nga Sankt Peterburg, Nga Akhisar, Thổ Nhĩ Kỳ Boulder, Hoa Kỳ Klagenfurt, Áo Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ Lahore, Pakistan Sana'a, Yemen Lusaka, Zambia == Một vài bức ảnh == == Ghi chú ==
nhóm nguyên tố 9.txt
Nhóm nguyên tố 9 là nhóm gồm 4 nguyên tố coban (Co), rhodi (Rh), iridi (Ir) và meitneri (Mt) trong bảng tuần hoàn, nhóm này còn có tên gọi khác là nhóm coban. == Tham khảo ==
thời kỳ khai sáng.txt
Thời kỳ Khai minh hay Thời kỳ Khai sáng (tiếng Anh: Age of Enlightenment; tiếng Pháp: Siècle des Lumières), còn gọi là Thế kỷ Ánh sáng, là giai đoạn thế kỷ 18 của triết học phương Tây, hay thời kỳ dài hơn gồm cả Thời đại Lý tính (Age of Reason). Từ này có thể được dùng với nghĩa hẹp hơn để chỉ phong trào của trí thức trong lịch sử, phong trào Khai sáng, phong trào ủng hộ lý tính với vai trò nền tảng căn bản của quyền lực. Thời kỳ Khai sáng thường được liên hệ chặt chẽ với cuộc Cách mạng Khoa học, do cả hai phong trào đều nhấn mạnh vào lý tính, khoa học hay sự hợp lý, trong khi phong trào Khai sáng còn tìm cách phát triển hiểu biết có hệ thống về các quy luật tự nhiên và thần học. Phong trào bắt nguồn từ cuộc cách mạng tri trức khởi đầu bởi Galileo và Newton, trong một bầu không khí ngày càng kém thiện cảm với quyền lực áp chế, trong những khám phá về cá nhân, xã hội, và nhà nước, các nhà tư tưởng Khai sáng tin rằng có thể áp dụng tư duy có hệ thống cho mọi lĩnh vực hoạt động của con người kể cả hoạt động nhà nước. Những người đi đầu phong trào tin rằng họ sẽ dẫn thế giới vào một thời đại mới của nhân tính, lý tính và tự do từ một thời kỳ dài đầy nghi ngờ, phi lý, mê tín dị đoan, và độc tài mà họ gọi là Thời kỳ Đen Tối (Dark Ages). Nhà văn thiên tài Pháp Voltaire nổi tiếng là một người chỉ trích việc áp đặt tôn giáo truyền thống, đồng thời là nhà triết học và nhà sử học văn hóa, được vị vua kiệt xuất của nước Phổ lúc ấy là Friedrich II Đại Đế rất ưa chuộng. Phong trào đã góp phần tạo ra nền tảng tư tưởng cho Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp, Phong trào độc lập Mỹ La Tinh, và Hiến pháp Ba Lan ngày 3 tháng 5; góp phần dẫn tới sự trỗi dậy của chủ nghĩa tự do cổ điển, dân chủ, và chủ nghĩa tư bản. Phong trào Khai sáng đi kèm với thời kỳ cổ điển và baroque trong âm nhạc và thời kỳ tân cổ điển trong nghệ thuật; thời hiện đại chú ý đến phong trào Khai sáng như là một trong những mô hình trung tâm cho nhiều phong trào thời hiện đại. Phong trào Khai sáng chỉ xảy ra tại Đức, Pháp, Anh, và Tây Ban Nha, nhưng tầm ảnh hưởng của nó lan xa hơn. Nhiều người trong số những người khai sinh ra Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã chịu ảnh hưởng lớn bởi các tư tưởng của thời kỳ Khai sáng, đặc biệt trong lĩnh vực tôn giáo (Thuyết thần giáo tự nhiên) và trong lĩnh vực chính trị với Hiến pháp Hoa Kỳ, Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ (Bill of rights), cùng với Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp. == Lịch sử triết học Khai sáng == Triết học Khai sáng là một phong trào quan trọng của triết học thế kỷ 18, với trọng tâm là niềm tin và lòng mộ đạo. George Berkeley, một trong những nhà triết học nổi bật của phong trào này, đã cố gắng chứng minh một cách hợp lý về sự tồn tại của một thực thể tối cao. Bên cạnh các học thuyết chính trị, lòng mộ đạo và niềm tin trong thời kỳ này là một phần không thể thiếu của sự khám phá về triết học tự nhiên và luân lý học. Tuy nhiên, các nhà triết học Khai sáng nổi bật như Thomas Paine, Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Immanuel Kant và David Hume đặt vấn đề và tấn công các thể chế hiện có của cả Giáo hội và Nhà nước. Do chỉ trích chính phủ và giáo hội Pháp, nhà triết học vĩ đại Voltaire đã hai lần chịu kiếp tù đày. Thế kỷ 19 còn chứng kiến sự tiếp tục nổi lên của các tư tưởng duy nghiệm và ứng dụng của chúng trong kinh tế chính trị, chính phủ và các khoa học như vật lý học, hóa học, và sinh học. Thời kỳ Khai sáng nối tiếp Thời đại Lý tính (nếu được coi là một thời kỳ ngắn) hay thời Phục hưng và phong trào Kháng cách (nếu được coi là một thời đại dài). Sau thời Khai sáng là thời kì Lãng mạn. Từ năm 1789, phong trào Cách mạng Pháp bùng nổ, các tác phẩm của Voltaire và Rousseau ảnh hưởng rất lớn đến nhân dân Pháp. Voltaire ủng hộ các văn sĩ phê phán Giáo hội và Quốc vương Pháp đương thời. Ông viết bài thơ ca ngợi chủ nghĩa anh hùng, những cuốn sử xuất sắc, v.v... Ông cũng coi trọng quyền công dân thế giới, đề cao một chính quyền trung ương dựa trên nền tảng của sự tự do. Rousseau đã kêu gọi đưa loài người trở về với tự nhiên, bị Voltaire bỉ bác. Các ranh giới của thời Khai sáng phủ phần lớn thế kỷ 17, dù một số người gọi thời kỳ trước đó là "Thời đại Lý tính" (The Age of Reason). Châu Âu đã bị tàn phá bởi các cuộc chiến tranh tôn giáo; khi hòa bình đã được khôi phục, sau Hiệp ước Westphalia và cuộc Nội chiến Anh, một cuộc nổi dậy của trí thức đã lật đổ niềm tin được chấp nhận rộng rãi rằng những điều huyền bí và mặc khải là những nguồn chính yếu cho tri thức và học vấn—người ta cho đây là điều đã khơi mào cho sự bất ổn định về chính trị. Thay vào đó, (theo những người chia đôi hai thời kỳ), Thời đại Lý tính tìm cách thiết lập một nền triết học tiên đề và chủ nghĩa chuyên chế để làm nền móng cho tri thức và sự ổn định. Trong các tác phẩm của Michel de Montaigne và René Descartes, nhận thức luận được dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm cực đoan và sự tìm hiểu sâu về bản chất của "tri thức". Mục đích của một hệ thống triết học dựa trên các tiên đề hiển nhiên đã đạt đến đỉnh cao với tác phẩm Luân lý học của Baruch Spinoza, cuốn sách đào sâu một cách nhìn phiếm thần về vũ trụ, nơi Chúa trời và Thiên nhiên là một. Tư tưởng này sau đó đã trở thành trung tâm cho thời Khai sáng, từ Newton tới Jefferson. Các tư tưởng của Pascal, Leibniz, Galileo và các triết gia khác của thời kỳ trước cũng đóng góp và có ảnh hưởng lớn đến thời Khai sáng; ví dụ, theo E. Cassirer, tác phẩm On Wisdom của Leibniz đã "... chỉ ra khái niệm trung tâm của thời Khai sáng và phác ra khung lý thuyết của nó" (Cassirer 1979: 121–123). Có một làn sóng các thay đổi trong tư duy châu Âu, điển hình là triết học tự nhiên của Newton, đó là sự kết hợp giữa ngành toán học của các chứng minh bằng tiên đề với ngành cơ học của các quan sát vật lý, một hệ thống gắn kết của các phán đoán kiểm chứng được, nó đã bắt nhịp cho những gì nối tiếp Philosophiae Naturalis Principia Mathematica của Newton vào thế kỷ sau. Thời kỳ Khai sáng còn có nhà triết học Pháp Claude-Arien Helvétius. Là một nhà triết học tiến bộ, ông nghiên cứu về hạnh phúc của loài người. Ông cho rằng, hạnh phúc lớn lao của con người là dựa trên nền giáo dục, và một bộ luật xuất sắc. Ông cũng tôn trọng môi trường. Chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế trở thành một nhận thức mới về Nhà nước trong thời kỳ đó. Quốc vương Friedrich II Đại Đế (1712 - 1786), trị vì nước Phổ từ năm 1740 cho đến năm 1786, có lẽ là vị vua sáng suốt nhất trong thời đại Khai sáng. Ông là một vị vua - triết gia, thực hiện chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế, và ân xá ngay cho nhà triết học tiến bộ Christian von Wolff của trào lưu Khai sáng - một danh sĩ từng bị tiên vương Friedrich Wilhelm I kết án. Nước Phổ lớn mạnh, tại chốn kinh kỳ Berlin, trào lưu Khai sáng nở rộ, với nhiều danh sĩ lỗi lạc. Vị vua vĩ đại hay ngự ở cung điện Sanssouci tại thành phố Potsdam - miền cực lạc của các nhà triết học, theo Voltaire. Thời đại Khai sáng còn nổi bật trong lịch sử Do Thái giáo, có lẽ là vì mối liên hệ của nó với sự chấp nhận ngày càng tăng của xã hội một số nước Tây Âu đối với người Do Thái. Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763) giữa nước Phổ và nhiều nước láng giềng, Quốc vương Friedrich II Đại Đế đã trọng dụng những chuyên gia kinh tế người Do Thái. Không những vậy, ông còn thực hiện chính sách tự do tôn giáo; nhưng do các giáo sĩ Công giáo đã vài lần mưu phản trong cuộc Chiến tranh Bảy năm, sau chiến thắng, ông giảm bớt chính sách này. Song, trong lúc ấy, nước Phổ vẫn là quốc gia Kháng Cách tự do nhất đối với tín đồ Công giáo trên toàn cõi châu Âu. Vốn có tư tưởng nhân văn, ông là độc giả của đại văn hào Voltaire, cùng với những danh sĩ Leibnitz, Montesquieu, Rousseau, Wolff, v.v... Tình bạn của nhà vua và Voltaire nổi tiếng trên toàn thế giới, cả vị vua quyết đoán và nhà văn tài hoa đều ca ngợi nhau. Trong thời kỳ của chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế, chiến tranh thường xảy ra. Mọi nước châu Âu đều nhanh chóng làm kiệt quệ nguồn tài nguyên hiếm hoi của mình, do đó một quốc gia bé nhỏ có thể giành thắng lợi nếu chống chịu được. Quốc vương Friedrich II Đại Đế, sau khi đánh bại Áo trong hai cuộc chiến tranh Silesia (1740 - 1745), đánh bại liên quân Áo - Pháp - Nga - Thụy Điển trong cuộc Chiến tranh Bảy năm. Friedrich Nicolai - người xuất bản lừng danh nhất của trào lưu Khai sáng ở kinh đô Berlin, đã ca ngợi những chiến công hiển hách của nhà vua, và thể hiện lòng yêu nước. Thời đó, nước Phổ cũng có nhà triết học nổi tiếng Immanuel Kant, viết về bản chất của trào lưu Khai sáng. Trong luận văn nổi tiếng "Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì ?", Immanuel Kant định nghĩa: Tấm gương sáng của vị minh quân Friedrich II Đại Đế được Hoàng đế nước Áo là Joseph II và vua nước Thụy Điển là Gustav III noi theo, nhưng họ không có thiên tài xuất sắc như ông, và rồi thất bại. Nhà triết học Helvetius cũng ca ngợi các vị minh quân thời đó, và được nhà vua vời đến kinh thành Berlin vào năm 1764. == Niên đại thời kỳ Khai sáng == == Chú thích == == Tham khảo == Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, University of California Press, 1968. Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, Harvard University Press, 2006. ISBN 0-674-02385-4. Heinrich Von Treitschke, George Haven Putnam, Doughlas Sladen, Confessions of Frederick the Great and the Life of Frederick the Great, The Minerva Group, Inc., 2001. ISBN 0-89875-536-0. Kelso Chetosky, She Officially Hates Social Studies, Hinsdale Central 2007 Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, Life of Frederick the Great, Delisser & Procter, 1859. Jackson J. Spielvogel, Western Civilization: Since 1500, Cengage Learning, 2008. ISBN 0-495-50287-1. James C. Humes, My fellow Americans: presidential addresses that shaped history, Greenwood Publishing Group, 1992. ISBN 0-275-93507-8. N. Jayapalan, Comprehensive History of Political Thought, Atlantic Publishers & Distributors, 2001. ISBN 81-269-0073-3. Jonathan Hill, Faith in the Age of Reason, Lion/Intervarsity Press 2004 Ernst Cassirer, The Philosophy of the Enlightenment, Princeton University Press 1979 Raymond Garfield Gettell, History of political thought, The Century Co., 1924. John James Clarke, Oriental enlightenment: the encounter between Asian and Western thought, Routledge, 1997. ISBN 0-415-13376-9. Ian Cumming, Helvetius: his life and place in the history of educational, Routledge, 2003. ISBN 0-415-17765-0. Mark Hulluing Autocritique of Enlightenment: Rousseau and the Philosophes 1994 Gay Peter. The Enlightenment: An Interpretation. New York: W. W. Norton & Company, 1996 Redkop, Benjamin, The Enlightenment and Community, 1999 Melamed, Yitzhak Y, Salomon Maimon and the Rise of Spinozism in German Idealism, Journal of the History of Philosophy, Volume 42, Issue 1 Porter, Roy The Enlightenment 1999 Jacob, Margaret Enlightenment: A Brief History with Documents 2000 Thomas Munck Enlightenment: A Comparative Social History, 1721-1794 Arthur Herman How the Scots Invented the Modern World: The True Story of how Western Europe's Poorest Nation Created Our World and Everything in It 2001 Stuart Brown ed., British Philosophy in the Age of Enlightenment 2002 Alan Charles Kors, ed. Encyclopedia of the Enlightenment. 4 volumes. Oxford: Oxford University Press, 2003 Buchan, James Crowded with Genius: The Scottish Enlightenment: Edinburgh's Moment of the Mind 2003 Louis Dupre The Enlightenment & the Intellctural Foundations of Modern Culture 2004 Himmelfarb, Gertrude The Roads to Modernity: The British, French, and American Enlightenments, 2004 Stephen Eric Bronner Interpreting the Enlightenment: Metaphysics, Critique, and Politics, 2004 Stephen Eric Bronner The Great Divide: The Enlightenment and its Critics Henry F. May The Enlightenment in America (New York: Oxford University Press, 1976)
liên bang micronesia.txt
Liên bang Micronesia là một đảo quốc nằm ở Thái Bình Dương, phía đông bắc của Papua New Guinea. Quốc gia này là một quốc gia có chủ quyền liên kết tự do với Hoa Kỳ. Liên bang Micronesia trước đây là một phần của Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương, một Lãnh thổ ủy thác Liên Hiệp Quốc do Mỹ điều hành. Vào năm 1979 họ đã viết một bản hiến pháp, và vào năm 1986 độc lập theo Hiệp ước Liên kết Tự do với Hoa Kỳ. Những vấn đề đáng quan tâm hiện nay là tỷ lệ thất nghiệp cao, đánh bắt cá đến cạn kiệt, và phụ thuộc nhiều vào viện trợ của Mỹ. Liên bang Micronesia nằm ở khu vực có tên Micronesia, khu vực này bao gồm hàng trăm hòn đảo nhỏ chia thành bảy lãnh thổ. Từ Micronesia có thể chỉ đến Liên bang này mà cũng có thể chỉ đến toàn bộ khu vực, mặc dù sự thiếu một chính phủ tập trung khiến nó là một tập hợp các bang có chủ quyền, chứ không phải một quốc gia. Micronesia lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 22 tháng 9 năm 1995. == Lịch sử == Quần đảo san hô và núi lửa này là nơi định cư của người Micronesia và Polynesia, là thuộc địa của Tây Ban Nha trong thế kỉ 17, bị Đức xâm chiếm (1899), Nhật Bản (1914) rồi đến Hoa Kỳ (1944). Năm 1947, Liên Hiệp Quốc ủy quyền cai trị quần đảo này cho Hoa Kỳ. Liên bang Micronesia được hưởng quyền tự trị năm 1979. Năm 1983, Micronesia bỏ phiếu chấp thuận Thỏa ước Hiệp hội Tự do (Compact of Free Association) với Hoa Kỳ. Micronesia trở thành quốc gia độc lập liên kết với Hoa Kỳ năm 1986. Quốc gia này gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1991, trở thành nước thành viên của tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) năm 1993. Micronesia cũng như nhiều nước khác ở vùng Nam Thái Bình Dương được cảnh báo trước hiện tượng nhiệt độ tăng dần làm khí hậu toàn cầu nóng lên, mực nước đại dương tăng gây ngập lụt ở các vùng thấp ven biển. == Chính trị == Liên bang Micronesia hiện là chính phủ lập hiến trong liên hiệp tự do với Hoa Kỳ. Hiệp ước về liên hiệp tự do có hiệu lực từ ngày 3 tháng 11 năm 1986. Liên bang Micronesia là một nước dân chủ lập hiến với cơ quan hành pháp, lập pháp và toà án riêng biệt. Quốc hội gồm 14 thành viên. Mỗi bang có 1 nghị sĩ nhiệm kỳ 4 năm, số nghị sĩ còn lại có nhiệm kỳ 2 năm và được chọn bầu theo tỉ lệ cử tri. Tổng thống và Phó Tổng thống được Quốc hội Micronesia bầu và có nhiệm kỳ 4 năm. == Đối ngoại == Từ khi gia nhập Liên Hiệp Quốc, quan hệ ngoại giao của Micronesia không ngừng được mở rộng. Liên bang Micronesia trở thành thành viên đầy đủ của Diễn đàn Nam Thái Bình Dương (SPF) vào tháng 5 năm 1987 và là nước chủ nhà của phiên họp diễn đàn cấp cao SPF được tổ chức vào năm 1991. Cho đến nay, Micronesia đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với khoảng 20 quốc gia, trong đó có Mỹ, Úc, Philippines, Trung Quốc, Quần đảo Marshall, Nauru, New Zealand, Vanuatu, Fiji, Papua New Guinea, Israel, Cộng hòa Kiribati, Tonga, Tuvalu, Chile, Hàn Quốc, Nhật Bản, Quần đảo Solomon, Việt Nam, Singapore và Samoa. == Phân chia khu vực hành chính == Bốn bang trong liên bang là: == Địa lý == Micronesia là quốc gia liên bang thuộc quần đảo Micronesia; gồm 600 đảo lớn nhỏ chiếm phần lớn quần đảo Caroline, trong đó có bốn đảo lớn: Chuuk, Kosrae, Pohnpei và Yap, ở Tây Thái Bình Dương, phía Bắc xích đạo, cách Hawaii 5.150 km về phía Tây - Tây Bắc. Về mặt địa chất, các nhóm đảo này thay đổi từ các đảo có núi cao đến các đảo san hô vòng tương đối thấp với những phần núi lửa lộ thiên ở đảo Pohnpei, Kosrae, Chuuk. Tài nguyên thiên nhiên Rừng, hải sản, khoáng sản dưới đáy biển. Khí hậu Micronesia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, lượng mưa lớn quanh năm, đặc biệt là các đảo ở phía Đông, nhóm đảo ở phía Nam nằm trong vành đai bão, thường bị tổn thất nặng. == Kinh tế == Lãnh thổ phần lớn là biển nên du lịch và ngư nghiệp là những ngành quan trọng. Dừa, bột sắn, cà chua là những mặt hàng xuất khẩu. Ngoài ra, kinh tế còn dựa vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ với khoảng 1,3 tỉ USD từ năm 1986 đến 2001. Tài nguyên biển là thế mạnh chính của Micronesia. Hàng năm Micronesia thu tiền lệ phí đánh cá khoảng 4 triệu USD. Công nghiệp du lịch cũng khá phát triển (chủ yếu là khách du lịch từ Nhật Bản). Kinh tế của Micronesia phụ thuộc nhiều vào bên ngoài, nhất là sự trợ giúp của Mỹ. Theo Hiệp ước Liên kết Tự do, Mỹ viện trợ cho Micronesia 1,3 tỉ USD từ năm 1986 đến năm 2001. == Dân cư == Dân số Micronesia hiện khoảng 107.862 người. Dân bản địa của Liên bang Micronesia, chủ yếu là người Micronesia, bao gồm các nhóm sắc tộc và ngôn ngữ khác nhau. Các sắc tộc chính gồm người người Chuuk 48,8%, người Pohnpei 24,2%, người Kosraea 6,2%, người Yape 5,2%, người Yap đảo xa 4,5%, người châu Á 1,8%, người Polynesia 1,5%, khác 6,4%, không rõ 1,4%. Một thiểu số khá lớn là người Nhật định cư trong thời kỳ phát xít Nhật. Ngoài ra còn có gia tăng dân số người nước ngoài như người Mỹ, Úc, người châu Âu, và người Trung Quốc, người Philippines đến từ những năm 1990. Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ chính thức của chính phủ cũng như cho giáo dục trung học và đại học. Ngoài các thành phố chính của bốn tiểu bang, các ngôn ngữ địa phương chủ yếu được nói tại các đảo nhỏ và nông thôn. Tăng dân số vẫn còn cao ở mức hơn 3% mỗi năm. == Tôn giáo == Một số giáo phái Tin Lành, cũng như Giáo hội Công giáo La Mã có mặt trong tất cả các bang Micronesia. Hầu hết các nhóm Tin Lành có nguồn gốc truyền giáo từ giáo phái Congregationalist ở Mỹ. Trên đảo Kosrae, dân số khoảng 7.800 người với 95% theo đạo Tin Lành. Đảo Pohnpei có dân số 35.000 người được chia đều giữa Tin Lành và Công giáo. Người Chuuk và Yap được ước tính có khoảng 60% là Công giáo và Tin Lành là 40%. Các nhóm tôn giáo với sau nhỏ bao gồm Báp-tít, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, Nhân chứng Jehovah, Mặc Môn và Đức Tin Bahá'i. Có một nhóm nhỏ Phật giáo trên đảo Pohnpei. Hầu hết những người nhập cư là người Công giáo Philippines đã tham gia nhà thờ Công giáo địa phương. Giáo hội Iglesia ni Cristo Philippines cũng có một nhà thờ ở Pohnpei. Trong những năm 1890, trên đảo Pohnpei đã xảy ra xung đột tôn giáo và sắc tộc dẫn đến sự chia rẽ tôn giáo cùng sắc tộc tồn tại đến ngày nay với người Tin Lành sống ở phía tây của hòn đảo, trong khi người Công giáo ít hơn sống ở phía đông. Thừa sai của nhiều truyền thống tôn giáo có mặt và được hoạt động tự do. Hiến pháp quy định quyền tự do tôn giáo, và chính phủ nói chung tôn trọng quyền này trong thực tế. == Ghi chú == == Tham khảo == US-CIA. CIA - The World Factbook: Federated States of Micronesia. The World Factbook. United States of America: Central Intelligence Agency. 2003. == Liên kết ngoài == Chính quyền Government of the Federated States of Micronesia Tổng quan Jane's Federated States of Micronesia Home Page Trust Territory of the Pacific Archives at the University of Hawaii Pacific Islands Legal Information Institute - Federated States of Micronesia Nature.org - Micronesia environmental conservation Open Directory Project - Federated States of Micronesia directory category myMicronesia.com Online resource center aboutquần đảo của Micronesia. Provides free listings and links to all Micronesian businesses, as well as civic, cultural, health and educational organizations. Mạng xã hội Yapese.com - Connecting hundreds of Micronesians around the globe. Thông tấn báo chí The Yap Networker - Yap's news source Du lịch Moon Handbooks Micronesia Travel Overview of Micronesia Bản đồ Map of Micronesia Nan Madol islet complex Provides computer based reconstruction of the main islets and features.
tự sát.txt
Tự sát (Hán-Việt: 自殺, có nghĩa là "tự giết", tiếng Anh:suicide bắt nguồn từ tiếng Latin: Suicidium từ chữ sui caedere nghĩa là "giết chính mình") hay tự tử, tự vẫn là hành động của một người cố ý gây ra cái chết cho chính mình. Tự sát thường có liên hệ với trạng thái tuyệt vọng, hoặc do một số rối loạn tâm thần cơ bản bao gồm trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt, nghiện rượu và lạm dụng ma túy. Chịu áp lực hoặc gặp những tình cảnh bất hạnh như khó khăn về tài chính hoặc rắc rối với các mối quan hệ giữa các cá nhân (thất tình, mâu thuẫn với gia đình, bạn bè....) có thể đóng một vai trò quan trọng gây ra quyết định tự sát. Hơn một triệu người chết do tự sát mỗi năm. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng nó là nguyên nhân đứng thứ 13 gây ra tử vong trên toàn thế giới và Hội đồng An toàn quốc gia Hoa Kỳ (National Safety Council) đánh giá tự sát là nguyên nhân đứng thứ 6 gây ra số người chết tại Hoa Kỳ. Mặt khác, tự sát là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở thanh thiếu niên và người trưởng thành dưới 35 tuổi. Tỷ lệ tự sát ở nam cao hơn nhiều so với ở nữ giới. Có khoảng 10-20 triệu vụ tự sát không thành xảy ra mỗi năm trên toàn thế giới. Quan điểm về hành vi tự sát bị ảnh hưởng bởi những quan niệm văn hóa rộng hơn về các khía cạnh như tôn giáo, danh dự, và ý nghĩa cuộc sống. Các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham xem tự sát như là một hành vi phạm tội đối với Thiên Chúa do niềm tin tôn giáo về sự thiêng liêng của cuộc sống. Ở phương Tây nó thường bị coi như là một tội ác nghiêm trọng. Ngược lại, trong thời kỳ samurai ở Nhật Bản, mổ bụng tự sát (gọi là Seppuku) được tôn trọng như một phương tiện để chuộc tội cho sự thất bại hoặc là một hình thức phản đối. Trong thế kỷ 20, tự sát bằng hình thức tự thiêu đã được sử dụng như là một cách để bày tỏ sự phản đối, trong phương thức cảm tử của thần phong và đánh bom tự sát được xem như là chiến thuật quân sự hoặc khủng bố. Sati là một nghi thức tang lễ của đạo Hindu, trong nghi thức này người góa phụ hoặc là tự nguyện, hoặc bị áp lực từ gia đình và luật lệ sẽ phải cùng chịu thiêu chung với xác chồng, nghi thức này cũng được thực hiện tương tự tại Chiêm Thành. Tự sát với sự hỗ trợ của y tế (chết tự nguyện, hoặc quyền được chết) là một đề tài gây tranh cãi về đạo đức có liên quan đến vấn đề của những người bị bệnh nan y, phải chịu đau đớn cùng cực, hoặc có (nhận biết và hiểu) về chất lượng cuộc sống cực tệ do bị thương tật hoặc bệnh tật. Tự hy sinh mình vì người khác không phải luôn luôn bị xem như là tự sát, vì mục đích không phải là để giết mình mà là để cứu những người khác, tuy nhiên, theo thuyết của Émile Durkheim gọi những trường hợp như vậy là hành vi "tự sát vị tha. == Phân loại == === Tự hại === Tự gây tổn hại cho bản thân không phải là một hành động cố gắng tự sát, tuy nhiên, ban đầu tự hại bị phân loại lầm như là một cố gắng tự sát. Có một mối quan hệ nhân quả tương quan giữa tự hại và tự sát đó là cả hai đều là dạng ảnh hưởng phổ biến nhất của bệnh trầm cảm. === An tử và Trợ tử === Những cá nhân muốn kết thúc cuộc sống của mình có thể nhờ đến sự trợ giúp của người khác để đạt được cái chết. Những người trợ giúp, thường là một thành viên trong gia đình hoặc bác sĩ, có thể giúp thực hiện các hành động nếu các cá nhân thiếu năng lực vật lý để thực hiện hoặc giúp cung cấp các phương tiện. Trợ tử là một vấn đề gây tranh cãi về mặt đạo đức và chính trị ở nhiều nước, như đã thấy xung quanh vụ bê bối của bác sĩ Jack Kevorkian, một nhân viên y tế, đã bị phát hiện có những hoạt động trợ giúp các bệnh nhân để kết thúc cuộc sống của họ, và sau đó bị kết án tù. === Tự sát giết người === Tự sát giết người là một hành động mà trong đó một cá nhân giết chết một hoặc nhiều người khác ngay lập tức trước hoặc cùng thời điểm với chính anh ta. Nguyên nhân giết người trong tự sát giết người có thể đơn thuần là một tội ác hoặc thủ phạm cảm thấy đó như là một hành động của sự quan tâm đến những người thân yêu của mình trong bối cảnh bị trầm cảm nặng. === Tấn công tự sát === Một cuộc tấn công tự sát khi kẻ tấn công gây ra một hành động bạo lực đối với những người khác, thường là để đạt được một mục tiêu quân sự hay chính trị, kết quả cũng bao gồm luôn cái chết của chính mình. Đánh bom tự sát thường được coi là một hành động khủng bố. Những dẫn chứng lịch sử như vụ ám sát Sa hoàng Alexander II hoặc các cuộc tấn công thần phong thực hiện bởi các phi công của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cũng như các cuộc tấn công thời gian gần đây, chẳng hạn như Sự kiện 11 tháng 9. === Tự sát tập thể === Một số vụ tự sát được thực hiện bởi áp lực ảnh hưởng của bạn bè hoặc của một nhóm người. Tự sát tập thể có thể diễn ra chỉ với 2 người theo một "hiệp ước tự sát" hoặc với sự tham gia của một nhóm nhiều người. Một vụ tự sát tập thể đã xảy ra ở Guyana vào năm 1978 bởi các thành viên của Peoples Temper, một giáo phái ở Mỹ cầm đầu bởi Jim Jones. === Hiệp ước tự sát === Một hiệp ước tự sát tức là một vụ tự sát của hai hoặc nhiều cá nhân theo một kế hoạch đã thỏa thuận. Kế hoạch có thể được chết cùng nhau, hoặc riêng lẻ và cùng một thời điểm. Hiệp định tự sát thường được phân biệt với tự sát tập thể. Những đề cập gần đây về những sự cố mà trong đó một nhóm nhiều người đã tự sát cùng nhau vì cùng một lý do về ý thức hệ, thường trong một bối cảnh tôn giáo, chính trị, quân sự hoặc bán quân sự. Hiệp định tự sát, mặt khác, thường liên quan đến một nhóm ít người (chẳng hạn như các cặp đã kết hôn, các thành viên trong gia đình, hoặc bạn bè) cùng có những động cơ cá nhân mạnh mẽ. === Tự sát phản đối === Tự sát phản đối hay còn gọi là tự sát vị tha là hành vi tự sát dưới hình thức hy sinh bản thân để đạt được một mục tiêu, để phục vụ một nguyên nhân hay là kết quả của việc thiếu nhận thức về thực tế hoặc thiếu sự lựa chọn thay thế. Các hình thức tự sát này thường là tự thiêu, tuyệt thực... Gandhi đã tuyệt thực 3 tuần vào mùa thu năm 1924 để ngăn chặn cuộc giao tranh giữa người Ấn Độ giáo và người Hồi giáo. Trong chiến tranh Việt Nam, đã có nhiều tu sĩ đã tự thiêu bằng xăng ở những nơi công cộng. Điều này chỉ để phản đối một chính sách hay sự việc nào đó, và khó có thể ảnh hưởng đến tiến trình của cuộc chiến. == Các yếu tố nguy cơ == Một số yếu tố có liên quan tới nguy cơ tự sát bao gồm: rối loạn tâm thần, nghiện ma túy, lý lịch gia đình, sẵn có các phương tiện, và các yếu tố về kinh tế - xã hội. Những hoàn cảnh bên ngoài, chẳng hạn như là một sự kiện đau buồn, có thể kích hoạt tự sát nhưng nó dường như không phải là một nguyên nhân độc lập. === Rối loạn tâm thần === Rối loạn tâm thần thường xuyên xuất hiện tại thời điểm tự sát với các ước tính từ 87% đến 98%. Khi phân loại các rối loạn tâm thần trong các vụ tự sát thì có 30% trường hợp bị rối loạn cảm xúc, 18% bị lạm dụng chất gây nghiện, 14% bị tâm thần phân liệt, và 13% bị rối loạn nhân cách. Khoảng 5% người tử vong vì bệnh tâm thần phân liệt là do tự sát. Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất với số lượng được chẩn đoán ngày càng tăng trên toàn thế giới, và thường là yếu tố thúc giục sự tự sát. Chỉ riêng tại Hoa Kỳ, trầm cảm làm ảnh hưởng đến 17.6 triệu người mỗi năm hoặc cứ 6 người thì có 1 người bị bệnh. Trong hai mươi năm tới, dự kiến trầm cảm ​​sẽ trở thành nguyên nhân gây bệnh tật đứng hàng thứ hai trên toàn thế và là nguyên nhân hàng đầu trong các quốc gia có thu nhập cao, kể cả Hoa Kỳ. Trong khoảng 75% các vụ tự sát thành công, các bệnh nhân đã đến gặp bác sĩ trong vòng một năm trước khi chết, 45% - 66% trong vòng một tháng trước khi chết. Khoảng 33% - 41% số người tự sát thành công đã có liên hệ với các dịch vụ sức khỏe tâm thần trong vòng một năm trước khi chết, 20% trong vòng một tháng trước. Nguyên nhân gây ra khoảng 10% những trường hợp có triệu chứng tâm lý có thể là do vấn đề y tế, kết quả của một nghiên cứu cho thấy khoảng 50% các cá nhân bị bệnh tâm thần nghiêm trọng có điều kiện y tế chung là phần lớn không được chẩn đoán và điều trị do đó có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm các triệu chứng tâm thần.(Rothbard AB,et al. 2009) === Lạm dụng chất gây nghiện === Lạm dụng chất gây nghiện là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây ra tự sát sau rối loạn tâm thần. Cả hai trường hợp lạm dụng mạn tính hay cấp tính đều liên quan đến tự sát, là do các hóa chất tác động lên thần kinh gây những hiệu ứng say và không kiểm soát được hành vi; Khi kết hợp với đau buồn cá nhân như mất người thân, thì nguy cơ tự sát sẽ tăng lên rất nhiều. Những khuyến cáo về việc nghiện ma túy hoặc nghiện rượu dễ sinh ra các ý nghĩ tự sát đã được đưa ra. Một cuộc điều tra trong các nhà tù ở New York cho thấy 90% tù nhân tự sát có tiền sử lạm dụng chất gây nghiện. ==== Cocain ==== Việc sử dụng các loại ma túy như cocain có một mối tương quan cao với tự sát. Tự sát có thể xảy ra trong giai đoạn đang "phê" thuốc hay giai đoạn cai nghiện đối với người nghiện mãn tính. Đối với những trường hợp tự sát ở người thành niên trẻ thường là do lạm dụng chất ma túy tổng hợp, trong khi đối với người lớn tuổi thì nguyên nhân chính là do nghiện rượu. Tại San Diego, khoảng 30% các vụ tự sát ở những người dưới 30 tuổi là do sử dụng cocain. Trong thời gian cai nghiện cocain có thể dẫn đến những triệu chứng trầm cảm mãnh liệt cùng với các hiệu ứng đau khổ về tinh thần khác làm tăng nguy cơ tự sát. ==== Methamphetamine ==== Sử dụng methamphetamine có quan hệ mật thiết với trầm cảm và tự sát cũng như gây ra một loạt các hiệu ứng khác bất lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần. ==== Các opioid ==== Người sử dụng heroin có một tỷ lệ tử vong cao gấp 13 lần so với những người nghiện các chất khác, trong số đó tự sát chiếm 3-35%, và cao gấp 14 lần so với những người chết vì tự sát do lạm dụng chất gây nghiện khác. 25% bệnh nhân điều trị cai nghiện heroin tại Úc bị trầm cảm. ==== Rượu ==== Lạm dụng rượu có liên quan đến một số rối loạn sức khỏe tâm thần và nghiện rượu có một tỷ lệ tự sát rất cao. Mỗi ngày uống 6 ly rượu mạnh hoặc nhiều hơn có nguy cơ tự sát cao gấp 6 lần người thường. Những người nghiện rượu nặng hoặc lạm dụng chất cồn có tỷ lệ trầm cảm cao. Tranh cãi trước đây cho rằng những người nghiện rượu phát triển trầm cảm là do họ tự uống thuốc (có thể đúng trong vài trường hợp), tuy nhiên theo nghiên cứu gần đây cho thấy việc thường xuyên uống rượu quá mức trong thời gian dài bản thân nó đã trực tiếp gây ra chứng trầm cảm. ==== Benzodiazepine ==== Benzodiazepine là một loại thuốc an thần, tuy nhiên nếu kê toa benzodiazepine hoặc lạm dụng trong thời gian dài có thể gây ra trầm cảm và tự sát. Nên cẩn thận trong việc kê toa loại thuốc này, đặc biệt là đối với những bệnh nhân có nguy cơ tự sát. Các thanh thiếu niên sử dụng benzodiazepine có nguy cơ tự hại hoặc tự sát tăng cao, mặc dù mẫu thống kê khá nhỏ. Những ảnh hưởng của các benzodiazepine đối với thanh thiếu niên dưới 18 tuổi cần phải được nghiên cứu thêm. Cần thiết phải thêm vào khuyến cáo cẩn trọng khi sử dụng benzodiazepine đối với thanh thiếu niên bị trầm cảm. === Hút thuốc lá === Có nhiều nghiên cứu được thực hiện cho thấy một mối quan hệ giữa việc hút thuốc với những ý nghĩ và cố gắng tự sát. Trong một nghiên cứu được thực hiện với các y tá, những người hút thuốc từ 1-24 điếu mỗi ngày có nguy cơ tự sát cao gấp đôi, hút 25 điếu hoặc hơn nguy cơ tự sát cao gấp 4 lần so với những người không bao giờ hút thuốc lá. Trong một nghiên cứu thực hiện với 300.000 nam quân nhân thuộc quân đội Hoa Kỳ cho thấy có một mối liên hệ rõ ràng giữa tự sát và hút thuốc, những người hút thuốc lá trên một gói một ngày có tỷ lệ tự sát cao gấp 2 lần so với những người không hút thuốc. === Nghiện cờ bạc === Người nghiện cờ bạc thường có những ý định và cố gắng tự sát cao hơn so người bình thường. Nghiện cờ bạc ở người trẻ tuổi làm tăng nguy cơ tự sát, tuy nhiên những cố gắng tự sát liên quan đến cờ bạc thường được thực hiện bởi những con nghiện cao tuổi. Nghiện cờ bạc kết hợp với lạm dụng chất gây nghiện hoặc rối loạn tâm thần sẽ làm tăng nguy cơ tự sát. Một nghiên cứu bệnh viện ở Úc phát hiện ra rằng 17% các trường hợp tự sát được đưa vào khoa cấp cứu của bệnh viện Alfred là những người nghiện cờ bạc. === Sinh học === Yếu tố di truyền có ảnh hưởng đến nguy cơ tự sát, với phương sai phân tán trong khoảng 30-50%, phần lớn là do di truyền của bệnh tâm thần. Có bằng chứng cho thấy nếu cha mẹ tự sát sẽ là một yếu tố dự báo mạnh mẽ về những nỗ lực tự sát trong số các người con của họ. === Yếu tố xã hội === ==== Tự sát như một hình thức thách thức và kháng nghị ==== Tại Ireland, phản đối bằng cách tuyệt thực cho đến chết đã được sử dụng như một chiến thuật trong thời gian gần đây vì các nguyên nhân chính trị. Trong xung đột vũ trang tại Bắc Ireland, một cuộc tuyệt thực đã được Quân đội Cộng hòa Ireland lâm thời (IRA) đưa ra để yêu cầu các tù nhân của họ phải được phân loại lại như là những tù nhân chiến tranh chứ không phải là những kẻ khủng bố, trong suốt cuộc tuyệt thực nổi tiếng vào năm 1981, dẫn đầu bởi Bobby Sands với kết quả là 10 trường hợp tử vong. Nguyên nhân cái chết được các nhân viên điều tra ghi nhận là "tự nhịn đói đến chết" ("starvation, self-imposed") chứ không phải là tự tử, sau khi bị gia đình của các nạn nhân phản đối thì sửa lại trên giấy chứng tử gọn lại là "đói" ("starvation"). Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tẩm xăng tự thiêu tại một ngã tư ở Sài Gòn vào ngày 11 tháng 6 năm 1963 nhằm phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm hay Norman Morrison tự thiêu bằng dầu hỏa dưới văn phòng thư ký Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara ở Lầu Năm Góc vào ngày 2 tháng 11 năm 1965 để phản đối chiến tranh Việt Nam cũng là một hình thức kháng nghị bằng tự sát. ==== Tự sát để thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật ==== Một tội phạm có thể quyết định tự sát để tránh bị truy tố và nhục nhã. Hermann Göring, một sĩ quan không quân cao cấp của Đức Quốc xã, đã tự sát bằng 1 viên nang chứa xyanua để thoát khỏi cảnh bị treo cổ sau phán quyết tại tòa án Nürnberg. Một số vụ nổ súng học đường, bao gồm cả vụ thảm sát trường trung học Columbine và thảm sát đại học bách khoa Virginia, đã kết thúc bằng việc thủ phạm tự sát. ==== Tự sát để phục vụ mục đích quân sự ==== Trong những ngày cuối cùng của chiến tranh thế giới thứ hai, một số phi công Nhật Bản tình nguyện cho các phi vụ Thần phong trong một nỗ lực để ngăn chặn thất bại của Đế quốc Nhật Bản, trong khi lực lượng dưới mặt đất bắt đầu những cuộc tấn công banzai. Gần cuối của Thế chiến II, Nhật Bản thiết kế Ohka, một loại máy bay nhỏ có mục đích duy nhất là nhiệm vụ Thần phong. Tương tự như không quân của Đức sử dụng Selbstopfereinsatz (những nhiệm vụ cảm tử) để phá các cầu của Liên Xô. ==== Tự sát vì nghĩa vụ ==== Tự sát vì nghĩa vụ hay bổn phận là một hành động tự sát có hoặc không gây tử vong, được thực hiện với niềm tin rằng việc này sẽ đạt được những điều tốt đẹp hơn, chứ không phải là để thoát khỏi những điều kiện quá đáng hoặc quá khắc nghiệt. Việc tự sát có thể là tự nguyện, để giảm bớt nỗi ô nhục hay như là một sự trừng phạt, hoặc phải cáng đáng danh tiếng của dòng tộc. Các quý tộc La Mã bị truất phế đôi khi được phép tự sát để cho gia đình của họ thoát khỏi những hình phạt. Ví dụ Hoàng đế Nero đã bị ép phải tự sát khi phải đối mặt với một cuộc nổi dậy và án tử hình. Gần đây hơn là trường hợp của Erwin Rommel trong vụ âm mưu 20 tháng 7 nhằm ám sát Hitler. Rommel bị đe dọa nếu không tự sát thì sẽ bị đem ra xét xử công khai, xử tử và gia đình ông sẽ bị liên lụy. Và cuối cùng ông đã chọn phương thức tự sát. ==== Tự sát như là một cách để giải thoát ==== Ở đây "giải thoát" là mong muốn của một cá nhân rằng họ sẽ không phải đối mặt với những sự việc xảy ra trong đời sống của họ. Nếu bỏ qua nguyên nhân tổn thương thần kinh thần kinh vật lý (não tổn thương) dẫn đến không kiểm soát được cảm xúc hành vi, một cá nhân có thể thực hiện hành động tự sát với hi vọng rằng được "giải thoát" khi cuộc sống của họ đã kết thúc. Những nguyên nhân khiến một cá nhân muốn tự sát để được "giải thoát" có thể liên quan trực tiếp đến chính sự sống và chất lượng cuộc sống của họ như bệnh tật hiểm nghèo, tình trạng kinh tế quá khắc nghiệt để duy trì sự sống, bị đe dọa giết hại hoặc giúp họ thoát khỏi những ám ảnh liên quan đến những sự kiện có thực đã xảy ra trong quá khứ, đang xảy ra ở hiện tại và có thể sẽ xảy ra trong tương lai. Dạng mục đích tự sát này có thể mang ý nghĩa bao trùm toàn bộ hoặc bao trùm một phần đối với các dạng mục đích tự sát khác, loại trừ (như đã nói) do tổn thương vật lý của hệ thần kinh. Ngoài ra quyết định chấm dứt cuộc sống với mục đích được "giải thoát" có thể là hậu quả của dạng bệnh thần kinh mà có mối liên quan chưa được làm rõ tới tổn thương của bộ não như chứng Tự kỷ, Rối loạn ám ảnh cưỡng chế. === Những yếu tố khác === Các yếu tố kinh tế - xã hội như nghèo đói, thất nghiệp, vô gia cư, và phân biệt đối xử có thể gây ra ý nghĩ tự sát. Nghèo không thể là một nguyên nhân trực tiếp nhưng nó có thể làm tăng nguy cơ tự sát, vì là nhóm có nguy cơ lớn với trầm cảm. Sự ủng hộ tích cực đối với tự sát cũng là một yếu tố góp phần. Trí thông minh ban đầu được đề xuất như là một yếu tố như trong một giải thích của tâm lý học tiến hóa về việc thừa nhận một trí thông minh tối thiểu cần thiết cho một quyết định tự sát, các mối liên hệ tích cực giữa chỉ số IQ và tự sát đã được nhắc lại trong một số nghiên cứu. == Phương thức tự sát == Các phương thức tự sát chính giữa các quốc gia khác nhau đáng kể. Các phương thức chính trong các khu vực khác nhau bao gồm treo cổ, uống thuốc trừ sâu, và dùng súng. 30% các vụ tự sát trên toàn thế giới là uống thuốc trừ sâu, tuy nhiên có sự thay đổi rõ rệt theo từng vùng với 4% ở châu Âu và hơn 50% trong khu vực Thái Bình Dương. 52% các vụ tự sát ở Hoa Kỳ là dùng súng. Làm ngạt (chẳng hạn như dùng túi tự sát) và uống thuốc độc là khá phổ biến, chiếm khoảng 40% các vụ tự sát tại Hoa Kỳ. Các phương thức tự sát khác như chấn thương đụng dập (nhảy từ một tòa nhà hoặc nhảy cầu, nhảy qua cửa sổ, đứng trên đường ray xe lửa, hoặc đụng xe,..). Mất máu (rạch cổ tay hoặc cổ họng), cố ý chết đuối, tự thiêu, điện giật, và tuyệt thực là những phương pháp tự tử khác. Có tiếp xúc với tự sát là yếu tố gây nguy cơ tự sát còn gây tranh cãi. Một nghiên cứu năm 1996 không thể tìm thấy mối quan hệ giữa các vụ tự sát trong một nhóm bạn, trong khi một nghiên cứu năm 1986 cho thấy tỷ lệ tự sát tăng sau khi TV chiếu những tin tức liên quan đến tự sát. == Phòng chống == Phòng chống tự sát là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ những nỗ lực tập thể để giảm tỷ lệ tự sát thông qua các biện pháp phòng chống. Trong khi các đường dây nóng hỗ trợ đã được phổ biến nhưng có rất ít bằng chứng cho thấy tác dụng trợ giúp hoặc bác bỏ hẳn hiệu quả của nó. Việc tầm soát ý định tự sát không gây ảnh hưởng đến nguy cơ tự sát. == Dịch tễ học == Tự sát là nguyên nhân đứng hạng thứ 10 gây chết người trên toàn thế giới, với khoảng một triệu người chết do tự tử hàng năm. Theo dữ liệu thống kê năm 2007 thì các vụ tự sát ở Hoa Kỳ nhiều hơn gần gấp đôi số vụ giết người và là nguyên nhân gây tử vong xếp hạng 11 ở Hoa Kỳ, xếp trên cả bệnh gan và bệnh Parkinson. Tỷ lệ tự sát tăng 60% trong vòng 50 năm qua trên toàn thế giới, chủ yếu là ở các nước đang phát triển. Một số lượng lớn các vụ tự sát là ở Châu Á, chiếm tới khoảng 60%. Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì ở các vụ tự sát ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản chiếm khoảng 40% tổng số các vụ tự sát trên thế giới. Lần đầu tiên trong 1 thập kỷ ở Hoa Kỳ có tỷ lệ tự sát gia tăng. Tỷ lệ tự sát tổng thể tăng từ năm 1999 đến năm 2005 chủ yếu là do sự gia tăng các vụ tự sát trong số những người da trắng tuổi từ 40-64, với phụ nữ da trắng trung niên tăng nhiều nhất. === Giới tính === Ở các nước phương Tây, nam giới bị chết bởi tự sát nhiều hơn nữ giới, mặc dù nữ giới lại cố gắng tự sát nhiều hơn. Một số chuyên gia y tế tin này điều này xuất phát từ thực tế là nam giới có nhiều khả năng kết thúc cuộc sống của họ bằng các biện pháp mạnh bạo hiệu quả hơn, trong khi phụ nữ chủ yếu sử dụng các phương thức ít nghiêm trọng ví dụ như uống thuốc quá liều. Trong The Eclipse: A Memoir of Suicide, tác giả Antonella Gambotto-Burke báo cáo rằng ở những nước phương Tây, nam giới đang dẫn đầu "tỷ lệ tự hủy diệt" (chiếm 40% tổng số các vụ tự sát) và "nguyên nhân của quyết định tự sát thường là do cuộc sống cách ly, thất nghiệp và nợ nần. Giới tính nam có bản chất là (hoạt động) chinh phục... Biểu hiện của cái gốc tự trọng trong nam giới là họ bỏ qua mọi xúc cảm đơn thể (sự chinh phục đòi hỏi phải có 1 đối tác). Một người đàn ông không thể cảm thấy mình là đàn ông nếu họ không có 1 đối tác, một đoàn thể hoặc một nhóm. Nam tính là một trò được chơi trên bình diện đối xứng. Do đó, ý nghĩa của nam giới tự tan rã khi đối tác vắng mặt." === Uống rượu và sử dụng ma túy === Tại Hoa Kỳ 16,5% các vụ tự sát có liên quan đến rượu. Nghiện rượu làm tăng khả năng tự sát lên gấp 5 đến 10 lần, trong khi dùng các chất kích thích khác làm tăng nguy cơ này lên 10 đến 20 lần. Khoảng 15% của những người nghiện rượu tự sát, và khoảng 33% các vụ tự sát ở người dưới 35 tuổi có chẩn đoán lâm sàng uống rượu hoặc lạm dụng các chất khác, hơn 50% tất cả các vụ tự sát có liên quan đến sự phụ thuộc vào rượu hoặc ma túy. Ở thanh thiếu niên, việc lạm dụng rượu hoặc ma túy đóng một vai trò quan trọng, chiếm đến 70% các vụ tự sát. === Sắc tộc === Tỷ lệ tự sát trong nước có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia và giữa các dân tộc. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, người da trắng không có nguồn gốc Tây Ban Nha có khả năng tự sát cao hơn 2,5 lần so với người Mỹ gốc Phi hoặc gốc Tây Ban Nha. Ở UK, tỷ lệ tự sát khác nhau đáng kể giữa các vùng miền khác nhau trong nước. Tại Scotland, tỷ lệ tự sát khoảng gấp đôi ở nước Anh. === Tỉ lệ tự sát ở các quốc gia trên thế giới === ==== Nhật Bản ==== Nhật Bản là một trong những nơi có tỷ lệ tự sát cao nhất trong thế giới công nghiệp (26 trên 100.000 người). Trong năm 2006, tỷ lệ tự sát của Nhật Bản là 23,6 trên 100.000 dân cư và tốt hơn đáng kể so với con số này ở các nước Đông Âu, chẳng hạn như Litva (38,8) và Nga (32,3). Tỉ lệ tự sát tại Nhật Bản xếp thứ 8 trên toàn thế giới. Số vụ tự sát đạt kỷ lục 34.427 vụ vào năm 2003 (tăng 7,1% so với năm 2002), so với 33.093 vụ trong năm 2007 (tăng 2,9%), 32.249 vụ trong năm 2008 (giảm 2,6%) và 32.845 trong năm 2009 (tăng 1,85%). Theo số liệu của cảnh sát quốc gia, ba phần tư số vụ tự tử trong năm 2007 là nam giới, và 60% là thất nghiệp, trong khi tỷ lệ tự tử ở cấp cao tăng lên. Chính phủ cho biết chỉ có 81 vụ tự tử trong năm 2007 là do làm việc quá sức hoặc căng thẳng, gây ra hiện tượng tử vong do làm việc quá sức, thông thường là do tình trạng thừa lao động. Tuy nhiên, cảnh sát quốc gia công nhận trong năm 2007 đã có 2.200 vụ tự sát xảy ra do vấn đề việc làm. Trong năm 2009, 6.949 người tự tử vì trầm cảm (21%), 1.731 người do những khó khăn của cuộc sống hàng ngày (5%) và 1.071 người do mất việc làm (3%). Theo thứ tự giảm dần, tháng 3, tháng 4 và tháng 5 là thời gian người Nhật tự tử nhiều nhất, điều này có lẽ bởi vì năm tài chính kết thúc ngày 31 tháng 3 theo truyền thống Nhật Bản. Trong năm 2009, thống kê ghi lại chủ yếu các vụ tự tử của người lao động vào tháng 3, người làm nội trợ trong tháng 4-tháng 5 và thất nghiệp trong tháng 5-tháng 6. Rất ít vụ tự tử xảy ra vào cuối tuần, nhiều nhất là vào thứ Hai. Trong năm 2008, một nghiên cứu chính phủ Nhật Bản cho thấy gần 1/5 người Nhật Bản từng nghiêm túc nghĩ về việc tự sát vào một số thời điểm trong cuộc sống của họ. Trong năm 2010, một nghiên cứu mới cho thấy rằng tự tử ở Nhật Bản có chi phí nền kinh tế khoảng 2,7 tỉ yên mỗi năm. ==== Canada ==== Bước vào thế kỷ 21, tỷ lệ tự sát ở Quebec là một kỷ lục đã vượt Nga, Litva và Kazakhstan. Trong năm 2001, 1.334 người dân Quebec - trong đó có 1.055 người (79%) - đã tự sát. Tỷ lệ tự sát ở nam giới trẻ tuổi là một trong những tỉ lệ cao nhất thế giới: 30,7 trên 100.000 dân. Tình hình trở nên tồi tệ hơn kể từ năm 1965, khi cuộc Cách mạng Thầm Lặng diễn ra. ==== Hàn Quốc ==== Hàn Quốc là nước xếp cao nhất trong các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và liên tục có số vụ tự sát thuộc hàng đầu trong các nước phát triển. Nhà ga tàu điện ngầm ở Seoul dựng hàng rào để ngăn người nhảy xuống lúc tàu đến, và 8 cây cầu trong thành phố đều lắp đặt hệ thống camera nhằm phát hiện người có ý tự sát. Quốc gia này là nơi thường xuyên diễn ra các vụ tự tử của sinh viên, ca sĩ, người mẫu, diễn viên, vận động viên thể thao, người nổi tiếng, trong đó bao gồm vụ tự sát của cựu tổng thống Roh Moo-hyun năm 2009. Trong chưa đầy 4 tháng đầu năm 2011, bốn sinh viên và một giáo sư trường đại học Kaist - ngôi trường danh tiếng nhất Hàn Quốc - lần lượt tự sát. Theo một chuyên gia về tâm thần học tại Đại học Seoul và cũng là thành viên trong Hiệp hội ngăn chặn tự sát ở Hàn Quốc, tự sát tập thể khá phổ biến ở nước này và có xu hướng tăng cao. Tỷ lệ này tăng mạnh sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và tiếp tục tăng sau đó. Trong vòng 5 năm trước 2007, tỉ lệ tự sát ở Hàn Quốc tăng gấp đôi. Năm 2011, trước tình hình này, một số người đứng ra tổ chức những khoá học chết thử, với lý do "trải nghiệm cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ". Mục đích của chương trình này là muốn người tham gia "nghĩ về cuộc sống và tận hưởng nó một cách có ý nghĩa hơn" thay vì tìm đến cái chết. ==== Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ==== Thống kê về tự sát ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có phần gây tranh cãi trong đó nghiên cứu độc lập thường tạo ra các ước tính chênh lệch đáng kể với số liệu thống kê chính thức do chính phủ cung cấp. Trên cơ sở dữ liệu thu thập vào năm 1999, chính phủ ước tính tỷ lệ tự sát là 13,9, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trong các nước Đông Á: Nhật Bản (24,4) và Hàn Quốc (21,9). Tuy nhiên, dựa trên cùng một nguồn dữ liệu, Trung tâm Phòng ngừa và Nghiên cứu tự sát Bắc Kinh đưa ra con số tỷ lệ trung bình là 28,7. Trong khi đó, theo báo cáo "Gánh nặng bệnh tật toàn cầu" do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố, tỷ lệ này ước tính khoảng 30,3. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là quốc gia duy nhất trong số các nước trên thế giới trong đó nữ giới tự sát nhiều hơn so với nam giới mỗi năm: theo số liệu thống kê chính thức của chính phủ, năm 1999 tỷ lệ tự sát trên 100.000 người là 13,0 đối với nam giới và 14,8 đối với nữ giới, tỷ lệ phụ nữ tự sát cao nhất trên thế giới. Theo số liệu thống kê chính thức của chính phủ, tỷ lệ nam giới (13,0 trên 100.000 người mỗi năm) là thấp hơn so với nhiều nước khác, bao gồm cả một số nước phương Tây, chẳng hạn như Hoa Kỳ, Úc và Đức. Trên cơ sở của một nghiên cứu năm 2008, nhiều kết luận khá khác nhau được đưa ra: nữ tự sát nhiều hơn nam giới theo tỉ lệ 3:1, nông thôn tự tử nhiều hơn đô thị theo tỉ lệ 3:1. Sự bùng nổ lớn về việc thanh niên và người lớn tuổi tự sát đã xảy ra, tỷ lệ tự tử quốc gia tương đối cao 2-3 lần so với trung bình toàn cầu là điều hiển nhiên, và một tỷ lệ nhỏ bệnh tâm thần, đặc biệt lâm sàng trầm cảm, tồn tại trong các nạn nhân tự tử. Có hơn 300.000 vụ tự tử ở Trung Quốc hàng năm. Trung Quốc chiếm hơn 30% số vụ tự sát trên thế giới. Tỷ lệ tự tử ở lưu vực sông Dương Tử cao hơn khoảng 40% so với các vùng khác của Trung Quốc. ==== châu Âu ==== Theo một nghiên cứu trên 10 quốc gia châu Âu năm 2011, tỷ lệ tự sát đã tăng đột biến trong nhóm người ở độ tuổi đi làm tại 9 quốc gia châu Âu. Số người tự sát trong nhóm dưới 65 tuổi tăng từ 5% cho đến 17% trong năm 2007 đến 2009. Kết quả cuộc nghiên cứu cho biết, khủng hoảng làm tăng tỷ lệ tự sát ở châu Âu do dẫn đến chỉ số thất nghiệp tăng hơn 1/3 so với trước đó. Một nhà nghiên cứu đánh giá rằng tỷ lệ tự sát vốn đang trên đà giảm nhẹ đã đột ngột tăng ngay sau khi khủng hoảng xảy ra. Bên cạnh đó, BBC đưa ra báo cáo cho biết số đơn thuốc chống trầm cảm đã tăng hơn 40% trong vòng 4 năm từ cuộc khủng hoảng. ==== Hoa Kỳ ==== == Các khía cạnh xã hội == === Sự can thiệp === Quan điểm chính của y học hiện đại cho rằng tự sát có quan hệ với sức khỏe tâm thần, kết hợp với yếu tố tâm lý như khó khăn trong việc đối phó với trầm cảm, những đau khổ không thể tránh được, sợ hãi, hoặc các rối loạn tâm thần và áp lực khác. Một cố gắng tự sát đôi khi như là một "tiếng cầu cứu" và kêu gọi sự quan tâm, hoặc để bày tỏ nỗi thất vọng và muốn giải thoát, chứ không phải là ý định thật sự muốn chết. Hầu hết những người cố gắng tự sát đều không thành công trong lần thực hiện đầu tiên; những người này nếu tiếp tục lặp lại hành động tự sát sẽ có xác suất thành công cao hơn. == Một số vụ tự sát nổi tiếng == === Chính trị gia === Roh Moo Hyun, Tổng thống Hàn Quốc. Nguyên nhân cái chết được đánh giá là không chịu nổi sức ép từ những cáo buộc tham nhũng nhằm vào ông cũng như người thân. Getulio Vargas, Tổng thống Brasil, đã chọn cái chết vào ngày 4 tháng 7, 1982 để trả lời cho sức ép yêu cầu từ chức từ những quan chức hàng đầu của quân đội. Lý do cho việc này đối thủ chính trị hàng đầu của Vargas khi đó là Carlos Lacerda bị ám sát không thành, và theo kết quả điều tra cho biết, kẻ đặt hàng vụ ám sát chính là chỉ huy lực lượng bảo vệ của tổng thống. Antonio Guzman, Tổng thống Dominica, tự sát trong phòng tắm bằng cách bắn vào đầu sau khi đảng cách mạng Dominica của Guzman từ chối ủng hộ ông trong Quốc hội. Nguyên nhân của sự từ chối này là những hứa hẹn về vấn đề kinh tế của đất nước và nạn tham nhũng ở lần tranh cử trước đều không được thực hiện mà còn có xu hướng tồi tệ đi. Chi phí của chính phủ vẫn tăng lên đều trong khi nền kinh tế Diminica phải đường đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng và sự xuất hiện của cơn bão David năm 1979 để lại thiệt hại nặng nề. Trong khi đó, phần lớn tiền việc trợ của các nước khác được phát hiện là chui vào túi riêng của các quan chức, trong đó Guzman là người bị buộc tội đầu tiên. Pierre Beregovoy, Thủ tướng Pháp, tự sát bằng cách bắn súng vào đầu bên bờ một con kênh vào ngày 1 tháng 5, 1993, sau khi từ chức thủ tướng vào tháng 3 cùng năm và tiếp tục chịu áp lực từ những cáo buộc khẳng định ông đã nhận 180.000 USD trong thời gian tranh cử, tuy một số người lập luận rằng điều này là không thể. Mahmoud Zuabi, Thủ tướng Syria, trong thời gian chờ điều tra bị quản thúc tại nhà đã tự sát bằng súng vào ngày 21 tháng 5, 2000. Trước đó, vào tháng 3 cùng năm ông đã bị cách chức, 2 tháng sau bi khai trừ khỏi Đảng Baath, sau đó dính vào rắc rối vụ điều tra của Viện Kiểm sát về tham nhũng từ hợp đồng máy bay. Vua Trùng Quang Đế và tướng Nguyễn Súy nhà Hậu Trần, cùng tự vẫn trên đường bị quân Minh áp giải về Kim Lăng Chúa Trịnh Tông tự sát trên đường bị Nguyễn Trang áp giải để không lọt vào tay quân Tây Sơn Thái hậu Bùi Thị Nhạn nhà Tây Sơn, tự sát khi không còn đường thoát để không lọt vào tay quân Nguyễn. Phan Thanh Giản, Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) của nhà Nguyễn, tự sát ngày 4 tháng 8 năm 1867 sau khi mất 3 tỉnh này. Hoàng Diệu, trấn thủ thành Hà Nội của nhà Nguyễn, tự sát tại Võ Miếu ngày 25 tháng 4 năm 1882 (tức ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ) sau khi thành Hà Nội thất thủ. Võ Tánh, danh tướng nhà Nguyễn. Trong cuộc nội chiến với quân đội Tây Sơn, ông đã tự thiêu bằng thuốc súng và rơm khô tại thành Bình Định vào ngày 7 tháng 7 năm 1801 với lời đề nghị Trần Quang Diệu tha chết cho quân lính của mình. === Các nhân vật khác === Norman Morrison tự thiêu để chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu cho đạo pháp. Van Gogh, danh họa Hà Lan, tự tử bằng một khẩu súng lục và chết 2 ngày sau đó (năm 1890). Ernest Hemingway, nhà văn người Mỹ tự sát bằng súng năm 1961. Jang Ja Yeon đã tự tử tại nhà riêng vì bị ép buộc quan hệ tình dục quá nhiều Kurt Cobain, gương mặt của ban nhạc Nirvana đã tự sát bằng súng tại nhà riêng năm 1994. == Chú thích == == Tham khảo == Anderson RN, Smith BL. Deaths: leading causes for 2001. National Vital Statistics Report 2003;52(9):1-86. Annenberg Public Policy Center of the University of Pennsylvania. Suicide and the Media. Available online from: URL: http://www.annenbergpublicpolicycenter.org/07_adolescent_risk/suicide/dec14%20suicide%20report.htm. Carney SS, Rich CL, Burke PA, Fowler RC. Suicide over 60: the San Diego study. Journal of American Geriatric Society 1994;42:174-80. Centers for Disease Control and Prevention, National Center for Injury Prevention and Control. Suicide Surveillance, 1970-1980. (1985). Centers for Disease Control and Prevention. Regional variations in suicide rates—United States 1990–1994, ngày 29 tháng 8 năm 1997. MMWR 1997;46(34):789-92. Available online from: URL: http://www.cdc.gov/mmwr/preview/mmwrhtml/00049117.htm. Centers for Disease Control and Prevention, National Center for Injury Prevention and Control (producer). Web-based Injury Statistics Query and Reporting System (WISQARS) [Online]. (2004). Available online from: URL: http://www.cdc.gov/ncipc/wisqars/default.htm. [2004 June 21accessed]. Department of Health and Human Services. The Surgeon General’s call to action to prevent suicide. Washington (DC): Department of Health and Human Services; 1999. Available online from: URL: http://www.surgeongeneral.gov/library/calltoaction/default.htm. Dorpat TL, Anderson WF, Ripley HS. The relationship of physical illness to suicide. In: Resnik HP, editor. Suicide behaviors: diagnosis and management. Boston (MA): Little, Brown, and Co.; 1968:209-19. Krug EG, Dahlberg LL, Mercy JA, Zwi AB, Lozano R, editors. World report on violence and health [serial online]. 2004 May. Available online from: URL: http://www.who.int/violence_injury_prevention/violence/world_report/wrvh1/en. Lubell KM, Swahn MH, Crosby AE, Kegler SR. Methods of suicide among persons aged 10–19 years—United States, 1992-2001. MMWR 2004;53:471-473. Available online from: URL: http://www.cdc.gov/mmwr/PDF/wk/mm5322.pdf. McCleary R, Chew K, Hellsten JJ, Flunn-Bransford M. Age-and Sec-Specific Cycles in United States Suicides, 1973-1985. American Journal of Public Health 1991;81: 1494-7. Warren CW, Smith JC, Tyler CW. Seasonal Variation in Suicide and Homicide: A Question of Consistency. Journal of Biosocial Sciences 1983;15:349-356. Suicide in South Korea Case of Too Little, Too Late, Oh My News, South Korea S. Korea has top suicide rate among OECD countries, Seoul, ngày 18 tháng 9 năm 2006 Yonhap News == Xem thêm == Danh sách các quốc gia theo tỷ lệ tự sát Bắt chước tự sát một cách mù quáng
sylhet.txt
Sylhet (tiếng Sylhet: সিলট Silôţ, tiếng Bengal: সিলেট Sileţ), là một thành phố lớn ở phía đông bắc Bangladesh. Đây là thành phố chính của vùng Sylhet và quận Sylhet, và đã được cấp tư cách khu tự quản thành phố vào tháng 3 năm 2009. Sylhet nằm bên bờ sông Surma và được bao quanh bởi đồi Jaintia, Khasi và Tripura. Thành phố có dân số 500.000 người, trong khi cũng có mật độ dân số cao. Đây là một trong những thành phố lớn nhất ở Bangladesh. Khu vực Sylhet nổi tiếng với những vườn chè và rừng nhiệt đới, thành phố tuy nhiên hiện đang được biết đến với sự bùng nổ kinh doanh - là một trong những thành phố giàu nhất ở Bangladesh, với khoản đầu tư mới của khách sạn, trung tâm mua sắm và bất động sản nhà ở sang trọng, mang lại chủ yếu từ ngoại kiều sinh sống tại Vương quốc Anh. == Tham khảo ==
bảng xếp hạng bóng đá nam fifa.txt
Bảng xếp hạng FIFA (BXH FIFA) là hệ thống xếp hạng dành cho các đội tuyển bóng đá nam trong các Liên đoàn bóng đá, hiện nay dẫn đầu đang là Brasil Các đội bóng quốc gia thành viên của FIFA, nơi điều hành các hoạt động bóng đá trên toàn thế giới, được xếp hạng dựa trên kết quả các trận đấu và đội có nhiều thắng lợi nhất sẽ được xếp hạng cao nhất. 1 hệ thống điểm được sử dụng, điểm được thưởng dựa trên kết quả các trận đấu quốc tế được FIFA công nhận. Trước hệ thống hiện nay, BXH được dựa trên thành tích của đội bóng trong 4 năm gần nhất, với nhiều kết quả gần hơn và nhiều trận đấu quan trọng hơn thì có ảnh hưởng nặng hơn cho việc giúp mang lại vị trí cao cho đội bóng. Hệ thống xếp hạng được sửa chữa sau World Cup 2006 với thông báo quan trọng về chuỗi xếp hạng mới được đưa ra vào ngày 12 tháng 6 năm 2009. Sự thay đổi quan trọng nhất là những vị trí bây giờ được dựa trên kết quả qua 4 năm trước thay vì 8 năm. Sự thay đổi được hiểu là để đáp lại sự chỉ trích cho rằng những thứ hạng không thể hiện cân xứng với sức mạnh thực tế của các đội tuyển. (Xem phần Những sự chỉ trích). Những hệ thống khác đã được đặt ra, giống như hệ số Elo bóng đá thế giới, dựa trên hệ thống hệ số Elo dùng trong cờ vua và cờ vây, xếp hạng các đội trên cơ sở tất cả các thời kì. UFWC (Giải vô địch bóng đá thế giới không chính thức) xếp hạng các đội vào số trận bảo vệ danh hiệu vô không chính thức của đội bóng, một phần thưởng được nghĩ ra chỉ duy nhất mục đích đó. == Bảng xếp hạng == === Các nước có điểm xuất sắc (hạng 1-10) === === Các nước có điểm rất cao (hạng 11-30) === === Các nước có điểm cao (31-60) === === Các nước có điểm khá (hạng 61-100) === === Các nước có điểm trung bình (hạng 101-140) === === Các nước có điểm thấp (hạng 141-170) === === Các nước có điểm rất thấp (hạng 171-199) === === Các nước có điểm kém (hạng 200-205) === == Phân hạng theo từng châu lục == === Top 10 nước có chỉ số điểm cao nhất === ==== châu Phi ==== ==== Châu Mỹ ==== ==== Châu Á ==== ==== Châu Âu ==== ==== Châu Đại Dương ==== === Top 10 nước có số điểm thấp nhất === ==== Châu Phi ==== ==== Bắc, Trung, Nam Mỹ và Caribe ==== ==== Châu Á ==== ==== Châu Âu ==== ==== Châu Đại Dương ==== == Lịch sử == Vào tháng 12 năm 1992, FIFA lần đầu tiên công bố 1 danh sách thứ tự xếp hạng của các liên đoàn thành viên quy định 1 cơ sở để so sánh sức mạnh của các đội bóng. Từ tháng 8 năm sau, với sự tài trợ từ Coca Cola, danh sách được cập nhật thường xuyên hơn, được công bố trong đa số các tháng. Những thay đổi quan trọng được tiến hành vào năm 1999 và 1 lần nữa vào năm 2006, để chống lại các chỉ trích nhằm vào hệ thống. Số thành viên của FIFA tăng lên từ 167 thành 208 từ khi BXH ra đời. Trong lịch sử có một số trường hợp thành viên bị loại khỏi bảng xếp hạng vì không thi đấu 1 trận đấu quốc tế được công nhận nào trong hơn 4 năm, đó là São Tomé và Príncipe (từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 11 năm 2011) và Papua New Guinea (từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2011). === Thay đổi năm 1999 === Từ khi BXH ban đầu được giới thiệu, 1 đội nhận được 1 điểm cho 1 trận hòa và 3 điểm cho 1 trận thắng trong các trận thi đấu được FIFA công nhận, cũng tương tự như hệ thống tính điểm trong các giải đấu. Đây là 1 phương pháp tính toán khá đơn giản, nhưng FIFA đã nhanh chóng nhận ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến các trận đấu quốc tế. Để đáp ứng các mục tiêu công bằng, khách quan và để so sánh chính xác sức mạnh tương xứng của nhiều quốc gia khác nhau, hệ thống được cập nhật. Các thay đổi chủ yếu như sau: bảng xếp hạng điểm được tăng cường bởi 10 nhân tố. phương pháp tính được thay đổi để đem vào các nhân tố tính toán bao gồm: số bàn thắng ghi được hay thừa nhận thua. trận đấu sân nhà hay sân khách. tính quan trọng của trận đấu hay cuộc thi. sức mạnh khu vực của đối thủ. một số điểm cố định được không nhất thiết trận đó thắng hay hòa. đội thua vẫn có thể nhận điểm. 2 danh hiệu mới được giới thiệu như là một phần của hệ thống: Đội bóng của năm Đội bóng tiến bộ của năm Sự thay đổi đó làm cho hệ thống BXH phức tạp hơn, nhưng nó giúp cải thiện độ chính xác bởi vì nó đã toàn diện hơn. === Thay đổi năm 2006 === FIFA thông báo rằng hệ thống xếp hạng được cải tiến sau World Cup 2006. Thời gian đánh giá được giảm bớt từ 8 năm xuống còn 4 năm, và 1 phương pháp tính toán đơn giản hơn được sử dụng cho đến bây giờ để quyết định vị trí xếp hạng. Lợi thế số bàn thắng ghi được trên sân nhà hay sân khách không còn đem vào để tính toán nữa. Các khía cạnh khác như tầm quan trọng của các loại trận khác nhau đã được xem xét lại. Bộ phương pháp tính toán và bảng xếp hạng sửa đổi đầu tiên được thông báo vào ngày 12 tháng 6 năm 2006. Sự thay đổi này được bắt nguồn ít nhất là từ một phần của cuộc chỉ trích lan rộng dành cho hệ thống xếp hạng trước kia. Nhiều người yêu bóng đá có cảm giác rằng nó không chính xác, đặc biệt khi so sánh với các hệ thống xếp hạng khác và cho rằng nó không đáp ứng đủ để phản ánh những thay đổi trong thành tích của từng đội bóng. Các thứ hạng cao đầy bất ngờ gần đây của Cộng hoà Séc và Mỹ đã vấp phải sự hoài nghi và ảnh hưởng tiêu cực đến sự tín nhiệm vào hệ thống dưới con mắt của nhiều nhà thể thao. Màn trình diễn nghèo nàn và việc bị loại sớm của 2 đội bóng trên tại vòng chung kết World Cup 2006 làm xuất hiện lên lòng tin vào các chỉ trích. === Các đội dẫn đầu === Từ khi hệ thống được giới thiệu, Đức là đội đầu tiên dẫn đầu sau khoảng thống trị kéo dài của họ khi đã 3 lần lọt vào trận chung kết của 3 VCK World Cup gần nhất và ho đã chiến thắng một trong 3 lần đó. Brasil nắm vị trí dẫn đầu trong hành trình đến World Cup 1994 sau khi thắng 8 và thua một trong 9 trận vòng loại, ghi được 20 bàn và để lọt lưới chỉ 4 bàn. Ý xếp đầu sau đó trong một thời gian ngắn khi đã hoàn thành thành công đợt vòng loại World Cup, sau đó đã bị Đức lấy lại. Sự thành công trong chiến dịch vòng loại dài giúp cho Brasil dẫn đầu BXH trong một thời gian ngắn. Đức lại dẫn đầu trong suốt VCK World Cup 1994, cho đến khi Brasil vô địch kì World Cup đó giúp họ có được một thời gian dẫn đầu rất lâu gần 7 năm cho đến khi họ bị vượt qua bởi Pháp, 1 đội mạnh trong thời gian đó khi đã vô địch World Cup 1998 và Euro 2000. Thành công tại World Cup 2002 giúp cho Brasil lấy lại vị trí đầu và giữ đến tháng 2 năm 2007, khi Ý trở lại dẫn đầu lần đầu tiên kể từ năm 1993 sau khi vô địch World Cup 2006 tổ chức tại Đức. Một tháng sau, Argentina lên thế chỗ Ý nhưng đã bị Ý lấy lại vào tháng 4. Sau chiến thắng tại Copa América 2007 vào tháng 7, Brasil trở lại nhưng chỉ 3 tháng sau vị trí này đã thuộc về Argentina. Vào tháng 7 năm 2008, Tây Ban Nha tiếp quản vị trí dẫn đầu lần đầu tiên sau khi vô địch Euro 2008. Brasil xếp thứ 6 nhưng đã trở lại dẫn đầu sau chiến thắng tại FIFA Confederations Cup 2009. == Mục đích của bảng xếp hạng == BXH được dùng bởi FIFA để xếp hạng sự phát triển và khả năng của các đội bóng thuộc các quốc gia thành viên, và đòi hỏi họ tạo nên "1 thước đo chính xác để so sánh các đội". Chúng được dùng như một phần kết quả tính toán, hay 1 cơ sở toàn bộ để chọn hạt giống cho các giải đấu. Tại vòng loại World Cup 2010, BXH sẽ được sử dụng để chọn hạt giống cho các bảng trong các vòng loại khu vực thành viên bao gồm CONCACAF (sử dụng BXH tháng 5), CAF (sử dụng BXH tháng 7), và UEFA sử dụng BXH tháng 11 năm 2007. Ngoài ra BXH này còn dùng để quyết định người đoạt 2 giải thưởng cho các đội bóng quốc gia hàng năm dựa trên cơ sở thành tích trong BXH. == Những sự chỉ trích == Từ khi giới thiệu vào năm 1993, BXH FIFA đã là vấn đề của nhiều cuộc tranh luận, đặc biệt là về cách tính kết quả và những cách biệt thông thường về đẳng cấp và thứ hạng giữa một vài đội bóng. Ví dụ như Na Uy được xếp hạng 2 vào tháng 10 năm 1993 và tháng 7-8 năm 1995, và Mỹ xếp hạng 4 năm 2006, thực sự ngạc nhiên ngay cả với các cầu thủ của chính họ. Tuy nhiên, những sự chỉ trích về BXH không chân thực vẫn tiếp diễn ngay cả sau khi đưa ra công thức tính mới, với việc Israel leo lên hạng 15 vào tháng 11 năm 2008 cũng làm cho báo chí nước này rất bất ngờ, với việc Israel bỏ lỡ cơ hội lớn để chen chân vào top 10 sau khi thua Latvia tại lượt cuối của vòng loại. Trước tháng 7 năm 2006, một trong những chỉ trích chính là BXH được tính bởi thành tích của đội bóng trong vòng 8 năm, và vị trí xếp hạng của đội không liên quan gì đến thành tích gần đây của đội. Sự chỉ trích này được giảm đôi chút với việc giới thiệu công thức tính mới, kết quả được tính trong 4 năm, giới thiệu vào tháng 7 năm 2006. Sự thiếu sót được nhận thấy trong hệ thống của FIFA đã bắt đầu cho sự hình thành một số BXH khác từ những nhà thống kê về bóng đá bao gồm Hệ số Elo bóng đá và RSSSF (Tổ chức thống kê nghiệp dư bóng đá thế giới). == Phương pháp tính toán gần đây == Sau World Cup 2006, 1 thủ tục tính toán mới sửa lại của BXH FIFA được công bố; đó là một thủ tục được đơn giản đáng kể. BXH mới được soạn ra để đáp lại sự chỉ trích từ các phương tiện truyền thông. Cuộc họp có sự tham dự của các nhân viên FIFA và các nhà chuyên môn, và một lượng lớn các nghiên cứu được quản lý bởi nhóm người này, kết quả của các nghiên cứu sẽ nằm trong hệ thống mới. Hệ thống mới được phê chuẩn tại Leipzig vào ngày 7 tháng 12 năm 2005 bởi ủy ban hành pháp của FIFA. Những thay đổi đáng chú ý bao gồm giảm đi lợi thế sân nhà-sân khách và số bàn thắng từ cách tính, và đơn giản hóa nhiều khía cạnh của hệ thống. Hệ thống này, giống như các hệ thống trước, là rất giống các hệ thống của các giải vô địch quốc gia, dù những thay đổi bảo đảm rằng nó sẽ tiếp tục đại diện cho thành tích các đội bất chấp thi đấu với số trận khác nhau mỗi năm, và gặp các đội với sức mạnh khác nhau. Các nhân tố có trong cách tính như sau: Kết quả trận đấu Cấp bậc của trận đấu Sức mạnh của đối thủ Sức mạnh khu vực. Kết quả thực tế của đội là điểm trung bình đạt được trong năm; các trận từ 4 năm trước được cân nhắc, với số điểm sẽ cao hơn nếu các trận được thi đấu gần hơn. Đội bóng phải thi đấu ít nhất 5 trận trong vòng 12 tháng để tăng thêm điểm. === Thắng, hòa hoặc thua === Trong những năm trước, một hệ thống cho điểm rắc rối được sử dụng, dựa vào đối thủ mạnh thế nào, và hiệu số bàn thắng-thua; thua mà được thêm điểm chỉ khi gặp đội mạnh hơn, nếu đạt được một trận đấu tốt. Với hệ thống mới này thì sự cho điểm đơn giản hơn: 3 điểm cho một trận thắng, 1 điểm cho một trận hòa và 0 điểm cho một trận thua, tương tự với các hệ thống của các giải quốc gia trên toàn thế giới. Trong các trận đấu phân định thắng thua bằng loạt sút penalty 11m thì đội thắng được 2 điểm, đội thua được 1 điểm. === Loại trận === Các trận đấu khác nhau có tính chất quan trọng khác nhau, và FIFA đã đánh giá điều đó bằng cách sử dụng hệ thống phụ, trong đó trận quan trọng nhất là vòng chung kết World Cup, và thấp nhất là các trận giao hữu. FIFA muốn công nhận các trận giao hữu cũng quan trọng, từ khi họ hình thành các trận nửa chính thức tính trong bảng xếp hạng. Dù thế nào, FIFA không có kế hoạch điều chỉnh cho các đội ngay tức khắc trong các giải quan trọng. Số nhân về loại trận như sau: === Sức mạnh của đối thủ === Hiển nhiên, một chiến thắng trước đối thủ có thứ hạng cao là một thành tích đáng kể hơn nhiều một chiến thắng trước đối thủ có thứ hạng thấp hơn, vì thế cho nên sức mạnh của đối thủ cũng là một nhân tố tính toán. Hệ thống mới dùng nhân tố sức mạnh đó dựa trên BXH. Hệ thống cũ thì dựa trên chênh lệch điểm số. Công thức tính là: H S = 200 − T H 100 {\displaystyle HS={\frac {200-TH}{100}}} trong đó: HS là hệ số sức mạnh của đội TH là thứ hạng của đội Các ngoại lệ như đội hạng 1 có hệ số nhân là 2, và các đội từ hạng 150 trở xuống được quy cho hệ số nhân tối thiểu là 0.5. Ví dụ 1: thứ hạng của đội là 8: 200 − 8 100 = 1.92 {\displaystyle {\frac {200-8}{100}}=1.92} vậy hệ số nhân của đội là 1,92. Ví dụ 2: thứ hạng của đội là 125: 200 − 125 100 = 0.75 {\displaystyle {\frac {200-125}{100}}=0.75} vậy hệ số nhân của đội là 0,75. Ví dụ 3: thứ hạng của đội là 188: Dưới hạng 150, nên hệ số nhân của đội là 0,5. Vị trí xếp hạng được lấy dựa trên BXH FIFA công bố gần nhất trước trận đấu. BXH công bố trước tháng 7 năm 2006 là quá khứ và không dùng cho công thức tính mới. Để thay thế, FIFA đã lấy BXH năm 1996 để áp dụng cho công thức mới và bây giờ dùng BXH mới để tính toán. Xem chi tiết sự giảm điểm của các đội bóng trong top 20 BXH tháng 11 năm 2007. === Sức mạnh khu vực === Ngoài hệ số về thứ hạng, FIFA còn cân nhắc về sức mạnh cân xứng của các liên đoàn thành viên trong cách tính. Mỗi liên đoàn được cho thêm hệ số từ 0.85 đến 1.0, dựa trên thánh tích của các liên đoàn trong 3 kì World Cup gần nhất. Các hệ số đó như sau: Hệ số trong cách tính là số trung bình cộng hệ số của 2 liên đoàn của 2 đội thi đấu: K V = D 1 + D 2 2 {\displaystyle KV={\frac {D1+D2}{2}}} trong đó: KV là hệ số nhân sức mạnh của khu vực D1 là sức mạnh khu vực của đội thứ nhất D2 là sức mạnh khu vực của đội thứ hai. === Thời gian đánh giá === Các trận trong vòng 4 năm (48 tháng) sẽ được cho điểm, nhưng có điểm tặng thêm cho các trận gần nhất. Trước đây thới gian tính là 8 năm. Điểm thêm về thới gian như sau: === Công thức xếp hạng === Số điểm cuối cùng cho một trận đấu được nhân với 100 và làm tròn đến hàng số nguyên. D X H = 100 ( K Q × L T × H S × K V ) {\displaystyle DXH=\ 100(KQ\ \times \ LT\ \times \ HS\ \times \ KV)} trong đó: DXH là số điểm được tính. KQ là kết quả trận đấu. (xem phần kết quả) LT là tính chất quan trọng của trận đấu. (xem phần loại trận) HS là sức mạnh của đối thủ. (xem phần sức mạnh của đối thủ) KV là sức mạnh khu vực. (xem phần sức mạnh khu vực) Kết quả của tất cả trận đấu trong năm được tính trung bình (5 trận gần nhất). Điểm trung bình trong 4 năm, tính bởi hệ số nhân trên, được cộng thêm vào để đạt được số điểm cuối cùng. === Ví dụ === Những ví dụ dưới đây sử dụng các đội bóng và các liên đoàn bóng đá giả thiết, và các trận đấu được thừa nhận trong vòng 12 tháng: Amplistan được xếp thứ 2 thế giới và là thành viên của liên đoàn bóng đá XYZ (hệ số 1.0); Bestrudia được xếp thứ 188 thế giới và là thành viên của liên đoàn bóng đá ABC (hệ số 0.88); Conesto được xếp thứ 39 thế giới và là thành viên của liên đoàn bóng đá QRS (hệ số 0.98); Delphiz được xếp thứ 30 thế giới và là thành viên của liên đoàn bóng đá HIJ (hệ số 0.94). Trận giao hữu gi­ữa Amplistan và Bestrudia. Amplistan thắng 2–1. Bestrudia được 0 điểm vì thua trận, nên tất cả các nhân tố nhân với hệ số là 0. Số điểm của Amplistan được tính như sau: 3 điểm cho 1 trận thắng; hệ số về loại trận là 1.0 (trận giao hữu); hệ số về sức mạnh của đối thủ là 0.50 (Bestrudia xếp hạng 188 nên có hệ số tối thiểu là 0.50); hệ số về sức mạnh khu vực là 0.94 (hệ số trung bình của 2 liên đoàn); hệ số nhân là 100. Một vài ví dụ: Conesto được nhiều điểm hơn so với Bestrudia trong trận gặp cùng Amplistan vì có hệ số khu vực cao hơn. == Công thức tính toán giai đoạn 1999-2006 == Vào năm 1999, FIFA giới thiệu một hệ thống tính toán được sửa đổi, kết hợp nhiều thay đổi trong sự trả lời những sự chỉ trích về bảng xếp hạng không thích hợp. Để xếp hạng tất cả các trận đấu, số bàn thắng và tính quan trọng của trận đấu được ghi lại, và được sử dụng cho thủ tục tính toán. Chỉ các trận của các đội tuyển quốc gia nam lớn tuổi mới được tính. Các hệ thống xếp hạng riêng rẽ được dùng cho các cấp khác như các đội tuyển nữ và tuyển trẻ, ví dụ như Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA. Bảng xếp hạng bóng đá nữ đã và đang dựa một hệ thống như là một kiểu của Hệ số Elo bóng đá thế giới. == Công thức tính toán giai đoạn 1993-1999 == Công thức xếp hạng giai đoạn 1993-1999 rất đơn giản và nhanh chóng trở nên được chú ý đến vì thiếu các nhân tố phụ. Các đội nhận được 3 điểm cho 1 trận thắng và 1 điểm cho 1 trận hòa. == Giải thưởng == Mỗi năm FIFA trao 2 giải thưởng cho các quốc gia thành viên, dựa vào thành tích trên bảng xếp hạng. Đó là: === Đội bóng của năm === Đội bóng của năm được trao cho đội bóng mà có tổng số điểm nhận được trong 7 trận là tốt nhất. Bảng dưới đây cho biết 3 đội bóng hay nhất của từng năm. === Đội bóng tiến bộ nhất của năm === Đội bóng tiến bộ nhất của năm được trao cho đội bóng mà có sự thăng tiến trên bảng xếp hạng tốt nhất trong năm. Trong bảng xếp hạng FIFA, không đơn giản cho đội bóng nào để có thể vươn lên nhiều nhất, nhưng một công thức tính mới được đưa ra để giải thích các sự thật rằng nó trở nên khó kiếm nhiều điểm mà đội bóng có thể. Công thức được dùng là số điểm có vào cuối năm (z) nhân với số điểm nhận được trong năm (y). Đội nào có chỉ số cao nhất trong công thức này sẽ nhận giải. Bảng dưới đây cho ta thấy top 3 đội tiến bộ nhất trong từng năm. Giải này không còn là một giải chính thức kể từ năm 2006. Trong khi giải thưởng này không còn dùng vì sự thay đổi vào năm 2006, FIFA đã đưa ra một danh sách 'Những đội thăng tiến nhất' trong bảng xếp hạng từ năm 2007.. Công thức tính dựa vào sự thay đổi điểm số trong năm (khác với công thức dùng trong thời gian từ 1993 đến 2006). Kết quả của các năm sau cũng có cônh thức tính cũng tương tự. == Lịch trình xếp hạng == Bảng xếp hạng được công bố hàng tháng, thường vào ngày thứ năm. Hạn chót cho các trận đấu để được cân nhắc là ngày thứ Năm trước ngày công bố. == Xem thêm == Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA Hệ số Elo bóng đá thế giới == Tham khảo == == Liên kết ngoài == FIFA.com hệ thống xếp hạng và thống kê, bảng xếp hạng mới nhất (để xem các đội có thứ hạng thấp, chọn các trang từ 2 đến 5) Bảng xếp hạng FIFA: Một chỉ dẫn đến lần phát hành đầu tiên năm 1993 (RSSSF) Bằng cách nào để tính điểm cho bảng xếp hạng
hypena orthographa.txt
Hypena orthographa là một loài bướm đêm trong họ Erebidae. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Dữ liệu liên quan tới Hypena orthographa tại Wikispecies Phương tiện liên quan tới Hypena orthographa tại Wikimedia Commons
số nguyên tử.txt
Số nguyên tử (ký hiệu Z), hay còn gọi là số hiệu nguyên tử, nguyên tử số hay số thứ tự (ý chỉ vị trí thứ tự của một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn), được xác định bằng số proton trong hạt nhân của nguyên tử đó. Do số lượng các hạt proton trong nguyên tử trùng với số lượng các hạt electron ở lớp vỏ nguyên tử (đây cũng là lý do nguyên tử khi ở trạng thái bình thường luôn bảo hòa về điện), vì vậy số hiệu nguyên tử - Z (hay còn gọi là số nguyên tử) còn cho chúng ta biết được số lượng hạt electron trong 1 nguyên tử. Số hiệu nguyên tử thường được ghi phía dưới bên trái của ký hiệu nguyên tố hóa học Z A X {\displaystyle {}_{Z}^{A}\mathrm {X} } , với A là số khối. Các nguyên tử có số hiệu nguyên tử (Z) bằng nhau cùng thuộc 1 nguyên tố, và có tính chất hóa học giống nhau. Còn những nguyên tử tuy có cùng số hiệu nguyên tử (Z) nhưng khác số neutron (dẫn đến sự khác nhau về số khối, vì công thức tính số khối là: A = P + N), thì gọi là đồng vị của nguyên tố đó. == Tham khảo ==
thể hiện giới tính.txt
Thể hiện giới tính hay vai trò giới tính (tiếng Anh: gender role) là một nhóm các chuẩn mực hành vi gắn liền với nam giới hay nữ giới được người khác cảm nhận. Đây có thể là một dạng phân chia công việc giữa nam và nữ. Thể hiện giới tính là một trọng tâm trong phân tích của khoa học xã hội và nhân văn. Giới tính là một thành phần của hệ thống giới tính. Hệ thống giới tính (gender/sex sytem) chỉ "sự sắp xếp mà trong đó xã hội quy định sự tương ứng giữa giới tính sinh học và hành vi con người, trong đó những nhu cầu được thỏa mãn" (Reiter 1975: 159). Hầu hết xã hội đều có một hệ thống giới tính đến một mức độ nào đó mặc dù các thành phần và đặc điểm của hệ thống này khác nhau đáng kể ở các xã hội. Giới tính là một "kiểu tâm lý" cá nhân. Nó đòi hỏi những trải nghiệm. Một cá nhân nào đó có thể được xem là nam tính cũng có thể là nữ tính. Thể hiện giới tính chỉ thái độ và hành vi nhận thực kiểu mẫu của một người ví dụ như cho rằng chính mình có nam tính hoặc nữ tính. Các nhà người cứu nhận thấy rằng hành vi cụ thể của một cá nhân là kết quả của những quy tắc và giá trị mà xã hội tác động lên và cả những đặc điểm cá nhân đó cho dù là bẩm sinh, hoặc có nhận thức được hay không. Vài nhà nghiên cứu nhấn mạnh yếu tố hệ thống xã hội khách quan và các nhà nghiên cứu khác thì nhấn mạnh yếu tố thiên hướng và đặc điểm chủ quan. Tính sáng tạo có thể làm cho các quy tắc và giá trị thay đổi theo thời gian. Văn hóa và xã hội luôn thay đổi tuy nhiên có sự tranh cãi rằng văn hóa và xã hội nên thay đổi như thế nào, nhanh hay chậm. Những tranh cãi thường đặc biệt căng thẳng khi chúng liên quan đên hệ thống giới tính vì mọi người có quan điểm rất khác nhau về sự phụ thuộc của giới tính nói chung vào giới tính sinh học. == Thay đổi thể hiện giới tính == Thể hiện giới tính của một cá nhân bao gồm nhiều yếu tố và có thể được thể hiện qua quần áo, hành vi, lựa chọn công việc, quan hệ cá nhân và các yếu tố khác. Các yếu tố này không cụ thể và phát triển theo thời gian (chẳng hạn như quần của phụ nữ). Trước đây, chỉ có thể hiện giới tính nam và thể hiện giới tính nữ, tuy nhiên, trải qua thời gian có những thể hiện giới tính khác nổi lên và được chấp nhận. Một cá nhân có thể tự xác định mình với một nhóm văn hóa hoặc xã hội riêng do đó thể hiện giới tính là đa dạng. Trong lịch sử, chẳng hạn, thái giám có một thể hiện giới tính khác nữa bởi vì giới tính sinh học của họ đã bị thay đổi. == Thể hiện giới tính và văn hóa == Trong nhiều trường hợp, truyền thống đóng một vài trò chủ đạo trong việc quy định nghề nào phù hợp với giới nào. Ở Hoa Kỳ trước đây, bác sĩ là nam và những ai bất chấp điều này sẽ bị gán cho một nghề đặc biệt là "bác sĩ nữ". Tương tự, có những từ tương tự như "y tá nam", "luật sư nữ", "thợ cắt tóc nữ", "thư ký nam," v.v. Nhưng ở Liên Xô trước đây, bác sĩ chủ yếu là nữ và ở Đức và Đài Loan thợ cắt tóc nữ rất phổ biến. Trong lịch sử có những giới tính gắn liền với vài nghề bị đổi ngược. Chẳng hạn, các nghề văn phòng trước đây thường là nam, nhưng khi phụ nữ phải làm những việc của nam trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các nghề văn phòng trở thành nghề của nữ. Nghề này trở nên nữ tính hơn và họ được biết đến là "thư ký". Có nhiều nghề khác có sự thay đổi về giới tính gắn liền. Nhiều nghề thì lại luôn chiếm lĩnh bởi nam hoặc nữ. == Chú thích == == Xem thêm ==
barbados.txt
Barbados (phiên âm Tiếng Việt: Bác-ba-đốt) là một đảo quốc độc lập ở phía tây của Đại Tây Dương, phía đông của biển Caribe. == Nguồn gốc tên gọi == Barbados nằm ở phía đông quần đảo Tiểu Antilles và Tây Indies. Nguồn gốc tên nước có nhiều cách giải thích khác nhau: 1. Bắt nguồn tên gọi một loại cây ăn quả không có hoa và có nhiều rau xoắn mọc khắp nơi ở đảo. Năm 1518, thực dân Tây Ban Nha lên đảo tìm bắt nô lệ để làm những công việc ở nông trường đường cát. Khắp nơi trên đảo mọc đầy loại cây ăn quả không hoa hoang dã, và trên cây mọc dài xuống những sợi tơ màu nâu đen, giống như những chòm râu. Thực dân Tây Ban Nha bèn đặt tên là "Los Barbados" có nghĩa là "đảo râu dài". 2. Bắt nguồn từ những người Indian (da đỏ) râu dài sinh sống trên đảo. Thế kỷ 9, một nhóm người Indian Alawak từ đại lục châu Mỹ vượt qua biển cả đến đảo này để mưu sinh. Trải qua hơn 400 năm sau, tộc người Caribbean ở phía bắc Nam Mỹ cũng đã đi thuyền độc mộc từ cửa sông Orinoco đến đây sinh sống bằng nghề đánh bắt cá. Năm 1518, thực dân Tây Ban Nha chiếm giữ đảo. Năm 1605, một nhóm người Anh đầu tiên đến Barbados định cư. Năm 1624, thực dân Anh tuyên bố Barbados thuộc về mình. Năm 1627, Anh thiết lập Tổng đốc cai quản và mua từ Tây Phi đến số lượng nô lệ lớn để khai khẩn trồng trọt vườn. Năm 1834, Anh buộc phải trả tự do cho nô lệ. Năm 1958, Barbados sáp nhập vào Liên bang West Indies. Tháng 10 năm 1961, giành được chế độ tự trị nội bộ. Ngày 30 tháng 11 năm 1966, độc lập, là nước thành viên trong Khối Liên hiệp Anh. == Lịch sử == Người Tây Ban Nha đến chiếm đảo này từ năm 1518. Barbados trở thành thuộc địa Anh năm 1627. Người Da đen được đưa đến đây để khai hoang và xây dựng các đồn điền mía, chế độ nô lệ được bãi bỏ năm 1834. Quyền lực chính trị nằm trong tay các chủ đồn điền cho đến năm 1937. Đảo quốc này giành được độc lập và là nước thành viên thuộc Khối Liên hiệp Anh năm 1966. Errol Walton Barrow, lãnh đạo chính quyền tự trị từ năm 1961, trở thành Thủ tướng từ năm 1966. Năm 1976, Thủ tướng Tom Adams thay thế Errol Walton Barrow. Năm 1994, Owen Seymour Arthur trở thành Thủ tướng mới của đảo quốc này, tiếp tục nhiệm kì mới năm 1999. == Chính trị == Barbados là một quốc gia độc lập kể từ ngày 30 tháng 11 năm 1966. Barbados là quốc gia có chế độ quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện, theo mô hình Hệ thống Westminster của Anh. Nữ hoàng Elizabeth II của Vương quốc Anh, là người đứng đầu nhà nước được đại diện bởi một vị Tòa quyền hiện nay là Elliot Belgrave. Thủ tướng là người đứng đầu của chính phủ. Quốc hội Barbados có 30 ghế. Chính phủ hiện nay của Barbados một chính phủ liên hiệp cầm quyền giữa hai đảng là Đảng Lao động Dân chủ cầm quyền và Đảng Lao động Barbados. Đến năm 2003, hai đảng này thay nhau cầm quyền với nhiệm kỳ 2 năm. Cuộc bầu cử năm 2003 đã giúp cho đảng Lao động Barbados giàng chiến thắng và lên cầm quyền nhiệm kỳ thứ ba. Ông David Thompson, người được bầu làm Thủ tướng của Barbados vào năm 2008, qua đời vì ung thư tuyến tụy vào ngày 23 tháng 10 năm 2010. Ông đã trao quyền lãnh đạo đất nước lại cho Phó Thủ tướng Freundel Stewart, người đã tuyên thệ nhậm chức trong ngày ông mất. === Luật pháp === Hiến pháp của Barbados được xem là luật tối cao của quốc gia. Tổng chưởng lý là người đứng đầu ngành tư pháp độc lập. Trong lịch sử, pháp luật Barbados dựa hoàn toàn vào luật pháp của Anh với một số điều chỉnh cho sự thích ứng địa phương. Vào thời điểm độc lập, Quốc hội Anh không còn có khả năng thay đổi luật pháp địa phương theo quyết định riêng của mình. Pháp luật của Anh và quy chế pháp lý khác nhau trong luật pháp Anh tại thời điểm này, và các biện pháp khác trước khi được thông qua bởi quốc hội Barbados trở thành cơ sở của hệ thống pháp luật hiện tại của quốc gia. Gần đây, luật pháp của Barbados có thể được định hình hoặc chịu ảnh hưởng của các tổ chức như Liên Hợp Quốc, Tổ chức các nước châu Mỹ, hoặc các diễn đàn quốc tế khác mà Barbados đã cam kết bắt buộc bởi hiệp ước. Ngoài ra, thông qua hợp tác quốc tế, các tổ chức khác có thể cung cấp cho Quốc hội Barbados về hình mẫu pháp luật để được điều chỉnh đáp ứng các hoàn cảnh địa phương trước khi đưa nó trở thành pháp luật pháp luật địa phương. Bất kỳ một luật mới nào của Barbados cũng phải được thông qua bởi Quốc hội Barbados và được sự đồng ý của Toàn quyền và trở thành luật được chính thức ban hành. === Hệ thống tòa án === Hệ thống tòa án của Barbados được thực hiện thành: Toà án sơ thẩm: Bao gồm tòa hình sự, dân sự trong nước, xét sử các vụ bạo lực gia đình, và các vấn đề vị thành niên. Toà án phúc thẩm: Xử lý các kháng cáo từ Tòa án Sơ thẩm. Tòa án Tối cao được tạo thành từ Tòa án Sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm. Tòa án tối cao bao gồm các bộ phận của pháp luật dân sự, hình sự, và gia đình. Tòa án Tư pháp vùng Caribe (CCJ), (có trụ sở tại Port của Tây Ban Nha, Trinidad và Tobago), là tòa án cuối cùng (thẩm quyền cuối cùng) trong hệ thống Tòa án Barbados. Nó thay thế Ủy ban tư pháp của Hội đồng Cơ mật (JCPC) trụ sở tại Luân Đôn. CCJ có thể giải quyết vấn đề tranh chấp giao dịch với các đơn vị là Vùng Caribe (CARICOM) và Kinh tế (CSME). == Địa lý và khí hậu == Barbados là đảo cực nhỏ trong số các đảo thuộc khu vực Caribe. Tương đối phẳng, nó hơi lồi lên tại khu vực trung tâm, với điểm cao nhất là núi Hillaby, trong quận Scotland, có độ cao 340 m (1.100 ft) trên mực nước biển. Đảo này nằm trong Đại Tây Dương, về phía đông của các đảo khác trong khu vực Caribe. Khí hậu mang tính nhiệt đới, với mùa mưa từ tháng 6 tới tháng 10. Barbados thường phải chịu các tác động tồi tệ nhất của các trận bão nhiệt đới trong khu vực trong mùa mưa do nó là điểm xa về phía đông trong Đại Tây Dương trong khu vực thường xuyên xảy ra các trận bão, còn các trận bão có cường độ mạnh (hurricane) đi qua đảo với tần suất 1 trận trong mỗi 26 năm. Trận bão mạnh đáng kể gần đây nhất gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho Barbados là Bão Janet năm 1955 có cấp bão là 5 trên thang bão Saffir-Simpson. Trong giáo xứ Saint Michael có thành phố lớn nhất và đồng thời là thủ đô của Barbado là thành phố Bridgetown. Người dân địa phương đôi khi còn gọi Bridgetown là "The City", nhưng đơn giản và phổ biến nhất chỉ là "Town". Các thị trấn nằm rải rác trên đảo còn có Holetown trong giáo xứ Saint James; Oistins trong giáo xứ Christ Church và Speightstown nằm trong giáo xứ Saint Peter. Về mặt địa chất, Barbados bao gồm lớp san hô dày 90 m (300 ft). Mặt đất hạ thấp theo một loạt các "thềm" ở phía tây và dốc hơn ở phía đông. Phần lớn Barbados được bao quanh bằng các rạn san hô. Khí hậu là nhiệt đới ôn hòa với 2 mùa: khô và mưa. Mùa khô (tháng 12 năm trước tới tháng 5 năm sau) và mùa mưa (tháng 6 tới tháng 11) với lượng mưa hàng năm khoảng 1.000-2.300 mm (40-90 inch). == Hành chính == Barbados được chia thành 11 giáo xứ: Christ Church Saint Andrew Saint George Saint James Saint John Saint Joseph Saint Lucy Saint Michael Saint Peter Saint Philip Saint Thomas == Kinh tế == Kinh tế chủ yếu dựa vào du lịch, ngân hàng và chế biến đường. Mức sống của người dân ở đảo quốc này tương đối cao. Các sản phẩm xuất khẩu: đường, mật, rượu rum, bia, hóa chất, quần áo. Việc xúc tiến dự án xây dựng cảng Charles Marina ở Speightstown tạo điều kiện cho ngành du lịch tiếp tục phát triển. Hiện nay, chính phủ ra sức giảm bớt số người thất nghiệp, khuyến khích đầu tư nước ngoài và tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Thành phần quan trọng nhất của nền kinh tế quốc đảo là hoạt động dịch vụ mang lại cho hòn đảo 3/4 tổng thu nhập quốc dần và thu hút khoảng 2/3 lực lượng lao động trong đó hoạt động mạnh nhất là lĩnh vực dịch vụ tài chính. Cuối năm 1995, trên đảo có 1.834 công ty kinh doanh đa quốc gia, 1.501 công ty thương mại nước ngoài, 230 công ty bảo hiểm và khoảng 34 ngân hàng nước ngoài có văn phòng tại Barbados. Tuy nhiên ngành du lịch mới là ngành mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn nhất. Hầu hết khách du lịch nghỉ lại ở bờ biển phía tây và phía nam hòn đảo, riêng trong năm 1995 hòn đảo đón 442.107 khách du lịch đến nghỉ lại và 484.670 người ghé vào tham quan. Ngành nông nghiệp trước đây là xương sống của nền kinh tế nhưng nay nó rất nhỏ chỉ đóng góp 5% thu nhập quốc dân và thu hút 5% lực lượng lao động. Tính đến năm 2016, GDP của Barbados đạt 4.473 USD, đứng thứ 154 thế giới và đứng thứ 5 khu vực Caribe. == Giao thông == Cơ sở hạ tầng giao thông: Sân bay: 1 (2006) Sân bay có bãi đáp: 1 đường băng dài 3.047 m (2006) Đường bộ: Tổng cộng: 1.600 km Có trải nhựa: 1.600 km (2004) Cảng biển: Bridgetown == Nhân khẩu == Barbados có dân số khoảng 281.968 và tỷ lệ tăng dân số 0,33% (giữa năm 2005 ước tính). Barbados hiện đang được xếp hạng là quốc gia có tỉ lệ tăng dân số thấp thứ 4 ở châu Mỹ (18 trên toàn cầu), và là quốc đảo đông dân thứ thứ 10 trong khu vực, (101 trên toàn cầu). Gần 90% của dân số Barbados (còn được gọi là người Bajan) có nguồn gốc châu Phi ("Afro-Bajans") và lai giữa người gốc châu Phi và người bản địa. Các thành phần dân tộc còn lại của Barbados bao gồm người gốc châu Âu (người Anh và người châu Âu lai với người Bajan) chủ yếu là từ Vương quốc Anh, Ireland. Ngoài ra còn có người Trung Quốc, người Hồi giáo từ Ấn Độ di cư đến. Các nhóm dân tộc nhỏ khác ở Barbados bao gồm những người từ Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Canada đến định cư. Các cộng đồng lớn nhất bên ngoài cộng đồng Barbados gốc châu Phi là: Người Guyana gốc Ấn Độ, đa phần họ là người nhập cư từ Guyana sang Barbados làm công nhân. Họ góp phần không nhỏ vào sự đa dạng văn hóa của Barbados. Đa số người Guyana gốc Ấn Độ theo Ấn giáo. Người gốc châu Âu (chiếm khoảng 4% dân số) đã định cư ở Barbados kể từ thế kỷ 16, có nguồn gốc từ Anh, Ireland và Scotland. Trong năm 1643, đã có 37.200 người da trắng ở Barbados (chiếm 86% dân số lúc đó). Người Trung Quốc ở Barbados là cộng đồng dân tộc nhỏ hơn so với các cộng đồng người Trung Quốc ở Jamaica, Trinidad và Tobago. Hầu hết người Trung Quốc đến Barbados vào những năm 1940 trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, có nguồn gốc chủ yếu từ các lãnh thổ Hồng Kông. Người Liban và Syria hình thành các cộng đồng người Ả Rập trên đảo và cộng đồng thiểu số Hồi giáo trong đó có một tỷ lệ phần trăm nhỏ dân số Hồi giáo. Phần lớn người gốc Liban và Syria đến Barbados do các cơ hội thương mại. Trong những năm gần đây cộng đồng này đã suy giảm do sự di cư và nhập cư sang các nước khác. Người Do Thái đến Barbados ngay sau khi những người da trăng đến định cư đầu tiên năm 1627. Bridgetown có một Hội đường Do Thái lâu đời nhất ở châu Mỹ, có niên đại từ năm 1654, mặc dù cấu trúc hiện tại được xây dựng vào năm 1833 thay thế Hội đường trước do bị hủy hoại bởi cơn bão năm 1831. Cộng đồng người Ấn Độ đến từ Gujarat ở Ấn Độ chiếm phần lớn dân số Hồi giáo ở Barbados. Cộng đồng này thường được coi là nhóm thành công nhất trong kinh doanh, cùng với cộng đồng người Trung Quốc, hai cộng đồng dân tộc này đã góp phần rất lớn trong sự phát triển của nền Kinh tế Barbados. === Tôn giáo === Hầu hết người Barbados có nguồn gốc châu Phi và châu Âu là Kitô hữu (chiếm 95% dân sô), chủ yếu là tín hữu Anh giáo (chiếm 40%). Các giáo phái Kitô giáo khác đáng kể Công giáo La Mã, Phong trào Ngũ Tuần, Nhân Chứng Giê-hô-va, Hội thánh Cơ Đốc Phục Lâm và Baptist. Tôn giáo dân tộc thiểu số bao gồm Ấn giáo, Hồi giáo, đạo Baha'i, Do Thái giáo và Wicca. == Văn hóa == == Chú thích == == Tham khảo ==
tân cương.txt
Tân Cương (Uyghur: شىنجاڭ, Shinjang; tiếng Trung: 新疆; bính âm: Xīnjiāng; Wade–Giles: Hsin1-chiang1; bính âm bưu chính: Sinkiang) tên chính thức là Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương hay Khu tự trị Uyghur Tân Cương là một khu vực tự trị tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đây là đơn vị hành chính cấp tỉnh lớn nhất của Trung Quốc với diện tích lên tới 1,6 triệu km². Tân Cương có biên giới với Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan và Ấn Độ. Tân Cương có trữ lượng dầu mỏ và là khu vực sản xuất khí thiên nhiên lớn nhất Trung Quốc. Tân Cương cũng quản lý về hành chính đối với khu vực Aksai Chin, là nơi Ấn Độ cũng tuyên bố chủ quyền. Tân Cương nghĩa là ‘biên cương mới’, tên gọi này được đặt từ thời nhà Thanh. Khu tự trị là nơi sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau, các dân tộc chính có thể kể tới là Uyghur (Duy Ngô Nhĩ), Hán, Kazakh, Hồi, Kyrgyz và Mông Cổ. Tân Cương cũng là nơi diễn ra nhiều vụ bạo lực sắc tộc đổ máu, như Bạo động tại Ürümqi, tháng 7 năm 2009. Tân Cương được chia thành Bồn địa Dzungarian ở phía bắc và Bồn địa Tarim ở phía nam. Chỉ có khoảng 4,3% diện tích đất đai của Tân Cương thích hợp cho con người cư trú. == Tên gọi == Khu vực Tân Cương ngày nay từng được gọi với nhiều tên khác nhau trong thời kỳ đầu, bao gồm: 西域 (Xiyu, Tây Vực), Tartary thuộc Trung Hoa, Thượng Tartary, Đông Chagatay, Mugholistan, Kashgaria, Altishahr ('sáu thành phố' của Tarim), Tiểu Bokhara và Serindia. Tên gọi Tân Cương xuất hiện trong thời Nhà Thanh. Trong giai đoạn đầu, triều đình nhà Thanh coi Tân Cương bao gồm tất cả các khu vực từng thuộc đế quốc Trung Hoa từng bị mất nhưng nay được nhà Thanh thu hồi lại. Sau năm 1821, nhà Thanh đặt lại tên cho các khu vực thu hồi và Tân Cương trở thành tên của khu tự trị cho đến nay. == Địa lý == Tân Cương chiếm khoảng một phần sáu diện tích toàn Trung Quốc và một phần tư chiều dài đường biên giới quốc gia. dãy núi Thiên Sơn (Uyghur: غات ىرڭەت, Tengri Tagh) chia tách khu tự trị thành hai bồn địa lớn: Bồn địa Dzungarian ở phía bắc và Bồn địa Tarim ở phía nam. Hầu hết bồn địa Tarim là sa mạc Taklamakan- điểm thấp nhất của Tân Cương, cũng như toàn Trung Quốc là Vệt lõm Turpan với cao độ 155 mét dưới mực nước biển, điểm cao nhất là K2, trên 8611 mét so với mực nước biển trên biên giới với Pakistan. Các dãy núi khác là Pamir ở phía đông nam, Karakoram ở phía nam và Dãy núi Altai ở phía bắc. Hầu hết Tân Cương có kiến tạo địa chất trẻ, được tạo thành từ sự va đập của mảng Ấn Độ vào mảng Âu Á, định hình Thiên Sơn, Côn Lôn Sơn và dãy núi Pamir. Do vậy, Tân Cương là một khu vực động đất chính. Các hình thành địa chất cũ hơn xuất hiện chủ yếu ở khu vực cực bắc nơi Khối Junggar là một phần về mặt địa chất của Kazakhstan, và ở phía đông là một phần của Bình nguyên Hoa Bắc. Tân Cương với vị trí biệt lập và rất xa biển. Điểm khó tiếp cận nhất trên đại lục Âu Á có tọa độ (46°16.8′B 86°40.2′Đ) nằm ở Sa mạc Dzoosotoyn Elisen, cách vùng biển gần nhất là 2648 km (1.645 mi) theo đường thẳng. Dãy núi Thiên Sơn nằm trên biên giới Tân Cương-Kyrgyzstan có đèo Torugrat cao 3752 mét. Quốc lộ Karakorum (KKH) kết nối Islamabad, Pakistan với Kashgar trên Hành lang Khunjerab. Vì là điểm cực tây của Trung Quốc, người dân địa phương sử dụng thời gian không chính thức là UTC+6, mặc dù múi giờ chính thức là UTC+8. == Kinh tế == Tân Cương được biết đến với các loại hoa quả và sản phẩm khác như nho, dưa, lê, bông, lúa mì, tơ lụa, quả óc chó và cừu. Tân Cương cũng có trữ lượng lớn về khoáng sản và dầu mỏ. == Nhân khẩu == Những người di cư Đông Á đã tới điểm phía đông của bồn địa Tarim khoảng 3000 năm trước, trong khi người Duy Ngô Nhĩ đã tới đây sau sự sụp đổ của Hãn quốc Hồi Hột tại Mông Cổ ngày nay vào khoảng năm 842. Tân Cương là nơi cư trú của nhiều nhóm dân tộc và tôn giáo khác nhau, tuy nhiên phần lớn cư dân tại đây theo Hồi giáo. Trong số các dân tộc có đức tin Hồi giáo, đáng chú ý nhất là các dân tộc Turk như Uyghur, Uzbek, Kyrgyz, Tatar và Kazakh, cũng có một số người Hồi giáo thuộc nhóm dân tộc Iran và người Hồi. Các dân tộc khác là Hán, Mông Cổ, Nga, Tích Bá và Mãn. Năm 1945, có khoảng 70.000 người gốc Nga sinh sống tại Tân Cương. Dân số Tân Cương ước tính vào khoảng 1.180.000 người năm 1880 và tăng lên rõ rệt sau đó do những người di cư và bị lưu đày từ Trung Nguyên. Tỷ lệ người Hán tại Tân Cương đã tăng từ dưới 7% vào năm 1949 lên tới 40% theo con số chính thức hiện nay. Số liệu này không bao gồm các quân nhân hay gia đình của họ và những người lao động di cư không đăng ký. Những biến đổi này được cho là do Binh đoàn sản xuất và xây dựng Tân Cương, một tổ chức bán quân sự của những người khai hoang đã xây dựng các nông trường, thị trấn và thành phố rải rác khắp Tân Cương. Sự biến đổi về mặt dân tộc được những người Uyghur ly khai coi là mối đe dọa đối với văn hóa bản địa của các dân tộc tại Tân Cương. Năm 1953, khoảng ba phần tư dân cư sinh sống ở phía nam các dãy núi, thuộc bồn địa Tarim và dòng người Hán di cư thẳng tới Dzungaria (phía bắc các dãy núi của bồn địa Tarim) bởi nơi này có các tài nguyên thiên nhiên. Các dân tộc thiểu số tại Tân Cương không phải thi hành chính sách một con. == Lịch sử == === Thời sơ khai === Các cư dân đầu tiên tại Tân Cương là những người Mongoloid Trung Á, người Europoid đã nhập cư đến Tân Cương trong vài nghìn năm trước. Theo J.P. Mallory và Victor H. Mair, các nguồn Trung Hoa mô tả sự hiện diện của những "người da trắng với tóc màu phớt" hoặc người Bạch trong Sơn Hải Kinh, họ sinh sống bên ngoài biên giới tây bắc của Trung Hoa. Các xác ướp Tân Cương có niên đại từ thế kỷ 3 TCN có tóc màu hung đỏ hoặc vàng hoe, nay được trưng bày tại Bảo tàng Ürümqi; các xác ướp này được phát hiện trong cùng khu vực lòng chảo Tarim. Các bộ lạc du mục như Nguyệt Chi thuộc nhóm người nhập cư nói tiếng Ấn-Âu, nhóm người này định cư ở phía đông Trung Á (có thể xa đến tỉnh Cam Túc). Văn hóa Ordos ở miền bắc Trung Quốc, nằm ở phía đông lãnh địa của người Nguyệt Chi, là một ví dụ khác. Các nền văn hóa du mục như Nguyệt Chi được ghi chép tại khu vực Tân Cương sớm nhất là vào năm 645 TCN, đó là trong các quyển 73: 78: 80: 81 của Quản Tử do Quản Trọng viết. Ông mô tả Ngu Thị 禺氏, hay Ngưu Thị 牛氏 là một dân tộc đến từ tây-bắc, họ cung cấp ngọc thạch đến Trung Hoa từ dãy núi Ngu Thị ở không xa thuộc Cam Túc. Việc cung cấp ngọc thạch từ lòng chảo Tarim từ thời cổ cũng được chứng minh thông qua khảo cổ học: "Người ta biết rằng các quân chủ Trung Hoa cổ đại gắn bó mật thiết với ngọc thạch. Toàn bộ các đồ ngọc thạch được khai quật từ Phụ Hảo mộ từ thời nhà Thương, bao gồm trên 750 miếng, đến từ Hòa Điền thuộc Tân Cương ngày nay. Ngay từ giữa thiên niên kỷ thứ nhất TCN, người Nguyệt Chi đã tham gia vào việc giao thương ngọc thạch, trong đó những người tiêu thụ chính là các vị quân chủ tại Trung Hoa nông nghiệp." Các bộ lạc du mục Nguyệt Chi được ghi chép chi tiết trong thư tịch lịch sử Trung Hoa, đặc biệt là trong "Sử ký" của Tư Mã Thiên, trong đó nói rằng họ "thịnh vượng" song thường xuyên có xung đột với bộ lạc Hung Nô láng giềng ở phía đông bắc. Theo các ghi chép này: Người Nguyệt Chi ban đầu sống tại khu vực giữa Kỳ Liên và Đôn Hoàng, sau khi bị Hung Nô đánh bại thì họ di chuyển ra xa [về phía tây], đi qua Uyên, tây kích người Đại Hạ, toại đô ở phía bắc Quy Thủy (媯水, tức Amu Darya). Lập vương đình. Một bộ phận nhỏ người dân không thể tiến hành cuộc hành trình về phía tây đã tìm cách tị nạn ở chỗ người Khương tại Nam Sơn, hiệu "Tiểu Nguyệt Chi". === Thời kỳ tranh chấp Hung Nô và nhà Hán === Từ thế kỷ thứ 2 TCN, sau khi Hán Vũ Đế phái Trương Khiên đi sứ Tây Vực, nhà Hán và Hung Nô đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh kéo dài hơn bảy mươi năm tại Tây Vực. Theo Hán thư ghi chép thì đồn điền bắt đầu vào năm 101 TCN, năm đó Nhị Sư tướng quân Lý Quảng Lợi lần thứ hai viễn chinh nước Đại Uyển thắng lợi. Tiếp thu lời răn dạy về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng lương thực trong các cuộc viễn chinh, nhà Hán bắt đầu lập đồn điền ở Tây Vực, đặt quan chuyên môn quản lý công việc đồn điền. Đánh chiếm nước Đại Uyển xa xôi là một cuộc chiến có ý nghĩa quyết định nhằm củng cố địa vị của nhà Hán tại Tây Vực. Nước Đại Uyển nằm ngoài Cao nguyên Pamir, trường kỳ bị người Hung Nô khống chế, đối với việc ngoại giao thời nhà Hán như vậy là mạo phạm. Năm 104 TCN, Hán Vũ Đế phái đặc sứ đi Đại Uyển để mua đổi ngựa quý, nhưng bị cự tuyệt và sứ giả bị làm nhục. Tin tức truyền đến Trường An, Hán Vũ Đế giận dữ bèn lệnh cho Đại tướng Lý Quảng Lợi xuất chinh. Nước Đại Uyển có thành tên là Nhị Sư, sản sinh ngựa quý. Hán Vũ Đế lấy tên là Nhị Sư tướng quân ban cho Lý Quảng Lợi biểu thị quyết tâm chinh phục Đại Uyển. Nhị Sư tướng quân suất lĩnh 6 ngàn kỵ binh và hàng vạn quân sĩ ra Ngọc Môn quan hướng tây chinh phạt. Khi đến vùng đất phèn ở La Bố thì mọi người đều mệt mỏi, yếu sức. Sau đó trên đường tiến về cao nguyên Pamir lại gặp quân Hung Nô sách động các nước nhỏ đánh lén, cắt đứt xe lương, đại quân trên đường tiến đến Đại Oản đã mất hết lợi thế. Năm 102 TCN, Nhị Sư tướng quân bị thất bại phải rút lui về Đôn Hoàng, đám tàn quân chỉ còn lại một, hai phần mười. Ông sai sứ trình thư về triều đình yêu cầu bãi binh, trong thư viết: "Đường sá xa xôi, vận lương, khó khăn, binh lính không sợ chiến đấu mà chỉ lo đói khát, người ít không đủ đánh thắng Đại Uyển". Hán Vũ Đế nghe Lý Quảng Lợi thua trận rút lui rất lấy làm giận dữ, hạ lệnh: "Kẻ bại trận bước vào Ngọc Môn quan, chém". Đồng thời tại triều, quan văn nào chủ trương đinh chiến, hòa hoãn cũng bị trị tội. Nhà vua hạ quyết tâm dốc toàn lực tăng cường tinh binh viễn chinh một lần nữa. Năm 101 TCN, Nhị Sư tướng quân chinh phạt miền tây lần thứ hai. Ông suất lĩnh 6 vạn binh sĩ, ba ngàn chiến mã và hơn một vạn trâu/bò, lừa, ngựa, lạc đà chuyển vận lương thảo và khí giới. Một đội quân hùng mạnh hơn bao giờ hết ào ào tiến về phía tây, các tiểu quốc dọc đường đều chấn kinh, tranh nhau dâng cấp rượu thịt. Đại quân thủ thắng sau hơn 40 ngày vây chặt thành Đại Uyển. Nước Đại Uyển bại trận phải dâng tặng ngựa quý hàng chục con, ngựa tốt hàng ngàn con. Hán Vũ Đế không tiếc sức người, sức của cả nước đi viễn chinh Đại Uyển, nếu nói là để lấy về ngựa quý thì tại sao không nói là để đẩy lùi thế lực của người Hung Nô ở Tây Vực, tăng cường uy thế của nhà Hán tại đây. Từ trước đến nay, ở Tây Vực bất kể là Đại Uyển hoặc các tiểu quốc khác đều bị sự khống chế và ảnh hưởng của Hung Nô dưới nhiều mức độ khác nhau. Sau lần viễn chinh này, vị trí của nhà Hán ở Tây Vực được củng cố hơn lên, quan viên quân sự, hành chính bắt đầu đặt trụ sở lâu dài ở Tây Vực, đồng thời cũng cho lập đồn điền bảo đảm việc cấp dưỡng lương thực cho quan viên, quân sĩ tại đây. Hán thư có ghi: "Từ sau khi Nhị Sư tướng quân chinh phạt Đại Uyển thành công, toàn xứ Tây Vực khiếp sợ, nhiều nước sai sứ triều cống, người Tây Vực nào có công sẽ được ban chức... Luân Đài, Cừ Lê đều có hàng trăm lính canh điền, đặt hiệu úy trông coi..." Luân Đài và Cừ Lê đời Hán nay là vùng trung được lưu vực sông Tarim thuộc Nam Tân Cương, nằm trên tuyến giữa của Con đường tơ lụa, đất cát phì nhiêu, nước nôi sung túc, khí hậu ôn hòa, theo báo cáo của các quan đại thần nhà Hán và Tang Hoằng Dương thì các đồn điền Luân Đài và Cừ Lê sau 10 năm khai khẩn, đất canh tác có đến năm ngàn khoánh, trồng ngũ cốc bội thu và chín cùng với lúa ở Trung Nguyên. Với tầm nhìn rộng lớn của Tang Hoằng Dương, ông đưa ra kế hoạch từng bước mở rộng đồn điền tại Tây Vực lên vua Hán Vũ Đế. Ông đề nghị khảo sát, xem xét địa hình, khai thác nguồn thủy lợi, sửa mương đào rãnh, phổ biến kinh nghiệm canh tác ở nội địa. Ông còn đề xuất binh sĩ sau khi khai khẩn tạo được thành tích có thể cho di dân từ nội địa đến để thay thế và làm tiếp. Các đề nghị của Tang Hoằng Dương không được triều đình bấy giờ chấp nhận, phải đợi đến 10 năm sau mới được Hán Chiêu Đế tiếp thụ. Hán Chiêu Đế bổ nhiệm Thái tử nước Vu Di làm Hiệu úy tướng quân chủ quản công việc đồn điền ở khu vực Luân Đài. Về sau, việc lập đồn điền mở ra khắp các nơi ở Tây Vực, nổi tiếng nhất là các đồn điền ở Thổ Lỗ Phồn, Cáp Mật, Cát Mộc Tát Nhĩ, Khố Nhĩ Lặc, A Khắc Tô... thậm chí còn lan qua vùng phụ cận hồ Issyk Kul thuộc địa phận Kyrgyzstan ngày nay. Tùy vào sự phát triển đồn điền, các nông cụ bằng sắt và nghề rèn được truyền vào Tây Vực, ngoài ra, công tác thủy lợi tưới tiêu và kỹ thuật đào giếng cũng được phổ biến. Công cụ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến ở nội địa lần lượt được du nhập vào Tây Vực, cuộc sống kinh tế của nhân dân ở đây và những ảnh hưởng canh tác nông nghiệp mang lại đã có những bước tiến rõ rệt và sâu sắc. Đến đời Hán Tuyên Đế, vào năm Thần Tước năm thứ hai (năm 60 TCN), vua Hung Nô là Nhật Trục Vương dẫn đại binh đầu hàng nhà Hán, bấy giờ nhà Hán mới chính thức thiết đặt việc đô hộ Tây Vực, cử trưởng quan tối cao thống lĩnh địa hạt Tân Cương. Năm 60 TCN, triều đình phong kiến nhà Hán bắt đầu thay thế sự thống trị của chế độ chủ nô Hung Nô ở Tây Vực, chọn Ô Lũy (nay là huyện Luân Đài, Tân Cương) làm trung tâm thiết lập Tây Vực đô hộ phủ đại diện cho vương triều hành xử chủ quyền quốc gia từ hồ Balkash đến phía đông Cao nguyên Pamia. Từ đó, sự thông thương của Con đường tơ lụa được bảo đảm an toàn. Lúc đó Bắc lộ Thiên Sơn vẫn còn một phần đất thuộc Hung Nô. Đến năm 58 TCN, toàn bộ vùng đất này mới trực thuộc chính quyền trung ương nhà Hán. Những năm đầu đời Đông Hán, khu Tân Cương xảy ra tình hình cát cứ, bắc Tân Cương bị người Hung Nô chiếm lại. Chính quyền Đông Hán một lần nữa phải tiến đánh mới thu phục lại toàn bộ Tân Cương. Cảnh Cung là viên quan chấp chưởng quân sự của triều đình Đông Hán được phái đến đóng quân ở Bắc Thiên Sơn. Quân Hung Nô quấy nhiễu vùng Xa Sư Hậu quốc, ông cố thủ thành Kim Mãn (nay là Jimsar) và đẩy lui quân địch. === Sau thời Hán === Triều Tây Tấn bị các sắc dân du mục phương Bắc tiêu diệt vào đầu thế kỷ thứ 4. Một số vương quốc thời Ngũ Hồ thập lục quốc đã nối tiếp nhau cai trị phần Tây Bắc: Tiền Lương, Tiền Tần, Hậu Lương và Tây Lương. Sau khi nước Bắc Lương bị diệt, Thư Cừ Vô Húy và Thư Cừ An Chu đã tiến về phía tây để mong phục quốc, chiếm giữ một phần Tân Cương trong một thời gian ngắn. Các nước này đều cố gắng duy trì chế độ bảo hộ với khu vực Tân Cương với các mức độ thành công khác nhau. Sau khi Bắc Ngụy thống nhất miền Bắc Trung Hoa, triều đại này kiểm soát khu vực đông nam Tân Cương ngày nay. Các quốc gia bản địa có thể kể đến như Sơ Lặc, Vu Điền, Quỷ Tử, Thả Mạt, Cao Xương, Yên Kỳ, Quy Từ, Thiện Thiện. === Đế chế Đột Quyết === Vào thế kỷ thứ 5, Thổ Dục Hồn và Nhu Nhiên bắt đầu mở rộng kiểm soát vào phía nam và bắc Tân Cương. Đến thế kỷ thứ 6 thì người Đột Quyết xâm chiếm vùng Altay, đánh bại người Nhu Nhiên và thành lập Đế chế Đột Quyết, kiểm soát hầu hết vùng Trung Á từ biển Aral phía Tây tới hồ Baikal phía đông. Với Tùy - Đường ở Trung Nguyên, Tây Đột Quyết thường hay uy hiếp Tây Vực giống như người Hung Nô đối với thời Lưỡng Hán. Đột Quyết là một dân tộc du mục cổ lão ở trên các sa mạc phía bắc Trung Quốc, từng liên minh Với bộ lạc Hung Nô, sau khi Hung Nô suy sụp thì bộ lạc này mới bắt đầu dùng tên gọi "Đột Quyết" và xuất hiện trên vũ đài lịch sử. Vào khoảng năm 552, nước Đột Quyết thành lập, nhưng không lâu sau đó lại bị phân liệt thành Đông Đột Quyết và Tây Đột Quyết. Tây Đột Quyết khống chế một khu vực rộng lớn từ Bắc Thiên Sơn, Tây A Nhĩ Thái Sơn đến đông Hắc Hải. Vào thời cực thịnh của Tây Đột Quyết thì một số nước nhỏ ở Nam Thiên Sơn đều bị họ khống chế hoặc uy hiếp. Tây Đột Quyết và chính quyền trung ương nhà Đường có mối quan hệ thân thuộc. Nhiều đời vua Tây Đột Quyết chịu nhận sắc phong của hoàng đế Đường và hàng năm về triều tiến cống. Sứ giả ngoại quốc gọi người Tây Đột Quyết là người Trung Quốc và cho rằng lãnh thổ phía tây của Tây Đột Quyết là cương vực Tây bộ của Trung Quốc. Thế nhưng Tây Đột Quyết lại dùng quân cát cứ, đôi khi chống lại, thậm chí còn đem quân đánh lại nhà Đường. Là một bộ lạc du mục, nên sự thống trị của Tây Đột Quyết ở Tây Vực cực kỳ khắc nghiệt. Họ cướp bóc lương thực, súc vật của các nước nhỏ, đốt phá làng mạc, thành quách, bắt bớ tù binh, nô lệ. Thương khách lai vãng trên Con đường tơ lụa đôi khi cũng bị uy hiếp, cướp đoạt. Tây Đột Quyết còn mưu đồ lũng đoạn việc buôn bán tơ lụa của Trung Quốc với phương Tây đến nỗi phá vỡ mối quan hệ hòa mục của người Ba Tư. Hàng loạt những hành động bạo ngược của Tây Đột Quyết đã làm trở ngại sự tiến bộ của Tây Vực và sự phồn vinh của nền giao thương của phương Tây. === Thời nhà Đường === Sau khi nhà Đường thống nhất Trung Nguyên, các tiểu quốc ở Tây Vực và các quốc gia Tây Á tấp nập cử sứ thần về triều yêu cầu nghiêm trị bọn Tây Đột Quyết để khôi phục con đường tơ lụa. Thoạt đầu, nhà Đường đem quân tiễu trừ lực lượng tây Đột Quyết ở nam Thiên Sơn, vào năm 658, nhà Đường đặt An Tây Đô hộ phủ tại Quy Từ, xác lập vị trí vững chắc của chính quyền trung ương tại đây. Sự kiện này khiến Tây Đột Quyết cát cứ ở bắc Thiên Sơn phải chấn động. Sa Bát La khả hãn A Sử Na Hạ Lỗ không đánh mà hàng, đích thân đến Trường An triều kiến Đường Thái Tông và xin thần phục. Đường Thái Tông bèn lập Dao Trì Đô đốc phủ tại bắc lộ Thiên Sơn, giao A Sử Na Hạ Lỗ làm đô đóc, đóng trú sở tại Đình Châu (nay là Jimusar). A Sử Na Hạ Lỗ là người đa mưu, ông sử dụng ngọn cờ của nhà Đường tự gây dựng thế lực, đến khi đủ hùng mạnh thì nổi dậy xưng vương, dời đô đến lưu vực sông Y Lê, đồng thời lần nữa đem binh tiến đánh nhà Đường. Sau khi ảo tưởng về một nền hòa bình thống nhất Tây Vực của nhà Đường bị phá vỡ, bắt đầu từ năm 652, nhà Đường nhiều lần đem binh đánh giáp công A Sử Na Hạ Lỗ từ hai cánh nam bắc, rồi tổng công kích tại lưu vực sông Y Lê; A Sử Na Hạ Lỗ đại bại đào thoát về phía tây, chạy thẳng đến Thạch Quốc và bị người Thạch Quốc bắt đem giao cho quân đội nhà Đường. Từ đó, Tây Đột Quyết xưng hùng xưng bá ở Tây Vực bị diệt vong, nhà Đường hoàn thành công cuộc thống nhất Tây Vực vào năm 657. Nhà Đường thiết lập hai Đô hộ phủ ở Côn Lăng và Mông Trì tại bắc lộ Thiên Sơn, phân chia việc cai trị lãnh thổ vùng tây sông Toái Diệp. Năm 702, để tăng cường sự thống trị tại Bắc Lộ Thiên Sơn, nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên lập Bắc Đình đô hộ phủ ở Đình Châu, quản hạt luôn hai Đô hộ phủ Côn Lăng và Mông Trì với số binh sĩ hơn hai vạn. Nhờ sự thiết lập Bắc Đình đô hộ phủ mà con đường thông vãng đông-tây ở bắc Thiên Sơn lại được khai thông. Sau khi thương khách trên con đường tơ lụa ra khỏi Đôn Hoàng, không những có thể theo tuyến nam và tuyết bắc từ sa mạc Taklamakan đi về phía tây mà còn có thể qua Ba Lý Khôn, Bắc Đình đi thẳng đến lưu vực sông Y Lê tiến lên phía tây để đến Ba Tư. Thời Thịnh Đường, biên giới phía tây xa đến tận Hàm Hải. Để cai quản khu tây bắc rộng lớn ấy, triều đình nhà Đường đã thiết lập ở đây hai trung tâm chính trị quân sự: một là An Tây đô hộ phủ, đặt tại nước Quy Từ (nay là huyện Khố Xa, Tân Cương), cai quản từ vùng Thiên Sơn đến địa phận phía nam sông Toái Diệp; và một là Bắc Đình đô hộ phủ, đặt tại Đình Châu (nay là huyện Jimsar, Tân Cương), cai quản từ bắc Thiên Sơn đến khu đông bộ Hàm Hải. Năm Trường An thứ 2 (702 CN), nữ hoàng Võ Tắc Thiên mới thiết đặt Bắc Đình đô hộ phủ tại Đình Châu để cai quản vùng lãnh thổ bắc Thiên Sơn. Việc thiết lập An Tây Đô hộ phủ và Bắc Đình Đô hộ phủ đánh dấu sự nghiệp to lớn của nhà Đường. đối với sự thống nhất Tây Vực. Có một thời việc giao thương đông - tây trên con đường tơ lụa bị gián đoạn nay mới được khôi phục và còn đạt đến trình độ phồn thịnh mà trước đó chưa từng có. === Đế chế Duy Ngô Nhĩ === Vào thế kỷ thứ III trước CN, tổ tiên người Duy Ngô Nhĩ gọi là bộ lạc Đinh Linh (hoặc người Thiết Lặc) sống bằng nghề du mục ở lưu vực sông Ngạc Nhĩ Hồn và sông Sắc Lăng Cách thuộc nội địa Mông Cổ. Hai sông này phát nguyên từ dãy núi Hàng Ái và chạy vào hồ Bối Gia Nhĩ (tức hồ Bunnur). Tùy thư và Đường thư đều nói người Hồi Hột "không có tù trưởng, ăn ở không ổn định, tùy thuộc vào nguồn nước và cỏ mà thiên di". Gọi là không có tù trưởng tức là không có chế độ thế tập (truyền nối) như các bộ lạc khác. Năm 647 CN, thủ lĩnh Hồi Hột Thổ Mật Độ tự xưng là Khả hãn và nhận sách phong của nhà Đường với danh hiệu: "Hoài Nhân Đại tướng quân kiêm Hãn Hải Đô đốc". Và trong lịch sử có lần một vương quốc Hồi Hột cường thịnh được hình thành. (Có thuyết cho rằng nước Hồi Hột được kiến lập vào năm 744 dựa trên sách phong thủ lĩnh Cốt Lực Bùi La nước Hồi Hột làm "Hoài Nhân khả hãn" trực tiếp thừa nhận ông ta là quốc vương chứ không phong tước hiệu nữa). Người Hồi Hột vốn lấy du mục làm chính, nhưng với sự giúp đỡ của thợ thuyền người Hán, họ đã bắt chước người Hán xây dựng nhiều thành thị. Người Hồi Hột còn học chữ Hán. Năm 788, một thượng thư nhà Đường người Hồi Hột xin đổi danh xưng thành "Hồi Cốt" có ý nghĩa là người Hồi nhanh nhẹn như chim ưng, điều này cho thấy tầng lớp trí thức người thiểu số tinh thông Hán học. Khi có loạn An Sử, nhà Đường đã từng yêu cầu nước Hồi Hột đem đội kỵ binh tiến vào Trung Nguyên giúp quân binh nhà Đường bình định bọn An Lộc Sơn và Sử Tư Minh. Để cảm tạ công lao trợ chiến ấy, hằng năm nhà Đường đem tặng cho Hồi Hột hai vạn tám lụa, đồng thời mua nhiều ngựa của người Hồi Hột với giá cao, mỗi con đổi được 40 tấm lụa. Do đó nền kinh tế Hồi Hột trở nên thuận lợi. Hồi Hột còn giúp nhà Đường duy trì bảo vệ đường giao thông giữa Trung Quốc và phương Tây. Khi nước Thổ Phồn chiếm Hành lang Hà Tây và cắt đứt đường giao thông giữa nhà Đường và Tây Vực, viên chức nhà Đường và thương nhân đều phải mượn đường qua nước Hồi Hột để đi lại. Với sự giúp đỡ của người Chiêu Vũ cửu tính, giỏi buôn bán kinh doanh, Hồi Hột đã từng là cầu nối mậu dịch quan trọng giữa Trung Quốc và Tây Vực. Họ nhận những quà biếu từ nhà Đường đồng thời thông qua việc trao đổi lụa - ngựa họ cũng thu về nhiều tơ lụa, trừ chi phí ra, họ cũng có một số lợi tức tương đương với những khách thương buôn bán qua lại trên các thị trường vùng Tây Vực. Đến cuối thế kỷ thứ 8, nước Hồi Hột bắt đầu suy thoái, thế kỷ thứ 9 xảy ra lục đục nội bộ, năm 840 thì bị người Điểm Giáp tiêu diệt. Sau khi nước Hồi Hột bị diệt vong, người Hồi Hột bắt đầu một cuộc đại di tản về miền tây nổi tiếng trong lịch sử. Một bộ phận định cư ở hành lang Hà Tây (Cam Túc), gọi là "Cam Châu Hồi Cốt", một bộ phận khác thì định cư ở Tân Cương, phần lớn tại khu vực Nam Thiên Sơn. Một chi khác lấy đất Thổ Lỗ Phồn làm trung tâm kiến lập ra nước Cao Xương của người Hồi Cốt, có cương vực đông giáp Tửu Tuyền, tây giáp Khố Xa, nam gặp đại sa mạc Taklamakan. Còn một chi nữa thiên di về Dãy núi Pamir và lập ra nước Ca La, lãnh vực bao gồm phần lớn vùng Nam Cương và một phần đất thuộc Trung Á. Người Hồi Cốt tại vùng lòng chảo Thổ Lỗ Phồn, lòng chảo Tarim và trên dãy Thông Lĩnh chung sống lâu dài với dân cư bản địa, kết hôn lẫn nhau, dần dần hình thành tộc người Duy Ngô Nhĩ hiện nay. Vương triều Kalahan là chính quyền được thành lập bởi người Đột Quyết và người Hồi Hột vào khoảng thế kỷ 10, cương vực bao gồm vùng đông và nam hồ Balkhash và vùng tây bộ Tân Cương ngày nay. Các thủ lĩnh của Vương triều Kalahan thường chứng tỏ mình là người Trung Quốc. Đầu họ đội mũ có dòng chữ đề: "Đào hoa Thạch Hãn" tức có nghĩa là "vua Trung Quốc". Vương triều này có hai trung tâm chính trị, một là Bát La Sa Cổn mà sử sách Trung Quốc gọi là Bùi La Tướng quân, và một là Ca Thập Hát Nhĩ. Vương triều Kalahan là vương triều đầu tiên theo tín ngưỡng đạo Hồi. Bắt đầu từ thế kỷ 10, các thủ lĩnh của vương triều nhiều lần dùng bạo lực cưỡng ép truyền bá đạo Hồi và đôi khi còn tiến hành những cuộc "thánh chiến". Ca Thập Hát Nhĩ vừa là trung tâm chính trị của Vương triều Kalahan, vừa là một trong những trung tâm Hồi giáo lớn nhất ở Tây Vực. === Thời kỳ Tây Liêu === Khi nhà Liêu của người Khiết Đan bị nhà Kim của người Nữ Chân tiêu diệt, một thành viên của hoàng tộc Liêu là Da Luật Đại Thạch đã dẫn một bộ phận người Khiết Đan tiến về phía tây, thủ lĩnh người Duy Ngô Nhĩ của Cao Xương Hồi Cốt cũng cam kết lòng trung thành của mình với ông. Da Luật Đại Thạch tăng cường lực lượng của mình, dần dần mở rộng quyền thế đến khu vực Qayaliq và Almaliq. Nỗ lực ban đầu nhằm chiếm Kashgar của lực lượng Da Luật Đại Thạch đã thất bại khi người cai trị của Khách Lạt hãn quốc (Kara-Khanid) tại đó đẩy lùi cuộc tấn công. Tuy nhiên, người cai trị tại Balasaghun, gặp khó khăn với các đội quân du mục của người Cát La Lộc (Karluk) và Khương Lý (Qanqli), đã nhờ Đại Thạch giúp đỡ và mời đội quân của ông đến. Đại Thạch thay vào đó đã chiếm thành phố, theo sử gia Ba Tư Ata-Malik Juvayni, "lên ngai vàng mà không mất gì.". Đại Thạch sau đó đã thiết lập quyền lực của mình tại Kashgar, Khotan, Kirghiz, và trung tâm của người Duy Ngô Nhĩ tại Beshbalik. Tuy nhiên, một nỗ lực nhằm tái lập triều Liêu tại Trung Quốc đã thất bại. Da Luật Đại Thạch mất năm 1143 khi đang là chủ nhân của phần lớn vùng Trung Á. Khi ông mất, đế quốc Tây Liêu bao trùm các khu vực Transoxiana, Ferghana, Semirechye, Lòng chảo Tarim và Dzungaria. Năm 1211, phò mã người Nãi Man Khuất Xuất Luật đã buộc Da Luật Trực Lỗ Cổ phải nhường ngôi. Khuất Xuất Luật lên nắm quyền, ông được ghi chép là đã thực hiện một chính sách chống Hồi giáo. Theo sử gia Ba Tư Ata-Malik Juvayni, ông yêu cầu dân cư theo Hồi giáo của một thị trấn lựa chọn cải sang Cảnh giáo hoặc Phật giáo, hoặc mặc trang phục Khiết Đan, dân cư đã lựa chọn mặc trang phục Khiết Đan. Khuất Xuất Luật đã tấn công thành Almaliq (A Lực Ma Lý), và người Cát La Lộc (Karluk) tại đây đã yêu cầu Thành Cát Tư Hãn giúp đỡ. Năm 1216, Thành Cát Tư Hãn cử tướng Triết Biệt (Jebe) đến truy kích Khuất Xuất Luật. Người Mông Cổ đầu tiên tới Almaliq, sau đó tiến vào kinh đô Balasaghun gần nơi họ đã đánh bại 30.000 quân Tây Liêu. Khuất Xuất Luật chạy về phía nam đến Kashgar, tuy nhiên hành vi cướp bóc và đốt phá trước đây khi ông chiếm được thành, chính sách chống Hồi giáo của ông, cũng như việc quân đội của ông trú chân tại các hộ dân bản địa, đã khiến người dân Kashgar trở nên đối kháng với ông. Khi quân Mông Cổ tiếp cận Kashgar, Khuất Xuất Luật đã không thể tìm được sự trợ giúp tại đây và lại phải chạy trốn một lần nữa. Theo Ata-Malik Juvayni, người dân Kashgar sau đó đã giết chết binh sĩ của ông. Ông tiếp tục đi về phía nam để đến dãy núi Pamir, cuối cùng đến ranh giới giữa Badakhshan và Wakhan vào năm 1218. === Thời kỳ người Mông Cổ cai trị === Sau khi Thành Cát Tư Hãn thống nhất Mông Cổ và khuếch trương lãnh thổ, nhà nước Duy Ngô Nhĩ ở vùng Turfan-Urumqi đã quy phục Mông Cổ vào năm 1209, đóng góp thuế và quân lính cho quân Mông Cổ, đổi lại các vị quân chủ Duy Ngô Nhĩ duy trì quyền lực cai quản vương quốc của họ. Dưới thời Đế quốc Mông Cổ, Tân Cương bị phân chia giữa triều Nguyên và Sát Hợp Đài hãn quốc, sau đó Sát Hợp Đài hãn quốc kiểm soát hầu hết khu vực. Đến giữa thế kỷ 14, Sát Hợp Đài hãn quốc bị chia cắt thành các hãn quốc nhỏ hơn, Tân Cương do nhiều hãn Mông Cổ bị Ba Tư hóa đồng thời cai quản, bao gồm Mogholistan (với sự trợ giúp của các Emir Dughlat bản địa), Uigurstan (sau là Turpan), và Kashgaria. Các thủ lĩnh này giao chiến với nhau và với triều Timur tại Transoxania ở phía tây và người Ngõa Lạt (Mông Cổ Tây) ở phía đông. Mặc dù khu vực đã phát triển nền văn hóa Ba Tư ở mức độ cao trong giai đoạn này, song các cuộc tranh giành quyền kế vị và phân liệt nội bộ (Kashgaria bị tách làm hai trong hàng thế kỷ) đồng nghĩa với việc có ít tác phẩm viết về khu vực vào thế kỷ 16 và 17. Vào thế kỷ 17, một nhánh của người Mông Cổ là người Chuẩn Cát Nhĩ đã lập ra một đế quốc bao trùm phần lớn Tân Cương. Người Chuẩn Cát Nhĩ nguyên là một vài bộ lạc Ngõa Lạt, họ đã thành lập và duy trì một trong các đế quốc du mục cuối cùng trong lịch sử. Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ chiếm cứ khu vực cùng tên và trải dài từ cực tây của Vạn Lý Trường Thành đến phía đông Kazakhstan ngày nay, và từ phía bắc Kyrgyzstan ngày nay đến phía nam Siberia. Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ tồn tại từ giữa thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 18, khi nó bị triều Thanh chinh phục. === Thời Thanh === Nhà Thanh đã giành quyền kiểm soát đông bộ Tân Cương sau các cuộc chiến kéo dài với người Chuẩn Cát Nhĩ, bắt đầu thế từ thế kỷ 17. Năm 1755, với sự giúp đỡ của thai cát Ngõa Lạt A Mục Nhĩ Tát Nạp, quân Thanh đã tiến công Y Ninh, bắt được khả hãn của Chuẩn Cát Nhĩ. Sau khi thỉnh cầu được sách phong là khả hãn Chuẩn Cát Nhĩ song chưa được chuẩn thuận, A Mục Nhĩ Tát Nạp đã nổi dậy chống nhà Thanh. Hai năm sau đó, quân Thanh đã tiêu diệt dư bộ của Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ và nhiều người Hồi đã chuyển đến khu vực. Người Chuẩn Cát Nhĩ chịu tổn hại nặng nề từ chiến tranh và dịch bệnh đậu mùa. Một nhà văn là Ngụy Nguyên đã mô tả cảnh tượng tan hoang tại khu vực nay là bắc bộ Tân Cương: "một vùng bằng phẳng trống không hàng nghìn lý, không có yurt của dân Ngõa Lạt ngoại trừ những nơi đã đầu hàng." Người ta ước tính rằng có đến 80% trong tổng số 600.000 (hoặc hơn) người Chuẩn Cát Nhĩ đã bị chết vì dịch bệnh và chiến tranh, và phải mất hàng thế hệ để phục hồi. Sau khi đánh bại Chuẩn Cát Nhĩ, triều Thanh đã lập các thành viên của một gia tộc sufi shaykhs được gọi là các "hòa trác" (Khoja) làm những người cai trị ở phía tây lòng chảo Tarim, phía nam Thiên Sơn. Tuy nhiên, vào các năm 1758–59, các cuộc nổi loạn chống lại sự sắp đặt này đã nổ ra ở cả phía bắc và phía nam Thiên Sơn. Triều đình Thanh sau đó đã bắt buộc phải thiết lập một hình thức cai trị quân sự trực tiếp đối với cả Dzungaria (Bắc Cương) và lòng chảo Tarim (Nam Cương). Người Mãn đặt toàn bộ khu vực dưới quyền quản lý của Y Lê tướng quân, người này thiết lập trị sở tại Huệ Viễn, 30 km về phía tây của Y Ninh (Yining). Sau năm 1759, khi hình thành nên các đồn điền, "đặc biệt là ở lân cận Urumqi, nơi đất đai màu mỡ và có nguồn nước tưới phong phú trong khi chỉ có ít cư dân." Từ năm 1760 đến 1830, ngày càng có nhiều đồn điền được mở ra và người Hán tại Tân Cương tăng nhanh chóng, lên đến khoảng 155.000 người. ==== Bành trướng Tân Cương ==== Trong khoảng thời gian 1850 trở đi, Đế quốc Nga không ngừng quan tâm đến Tân Cương. Vùng Turkestan và Đông Siberi thì bị nước Nga đe dọa xâm chiếm. Năm 1868, Tả Tông Đường được triều đình phái đến Cam Túc ổn định tình hình ở đây, đến năm 1873 Tả Tông Đường đã nhờ Ngân hàng Hối Phong Hồng Kông Thượng Hải (Anh Quốc) trợ giúp số tiền 5 triệu lạng bạc làm quân phí, dẫn quân băng qua sa mạc tiến vào vùng Tarim đàn áp cuộc khởi nghĩa do thủ lĩnh A Cổ Bách (Yaqub Beg, 1820 – 1877) lãnh đạo ở Tân Cương, và chiếm miền Y Lê từ tay người Nga. Trong thời gian này nhà Thanh chi tiêu quân phí rất tốn kém. Từ năm 1875 đến 1878, mặt trận phía Tây (Turkestan, thuộc Tân Cương) tốn mất 51 triệu lạng bạc trong đó 14 triệu lạng bạc được các ngân hàng của Anh cho vay, triều đình cung cấp 26,7 triệu lạng bạc trong vòng 3 năm. Năm 1865 Hão Hãn Cổ quốc A Cổ Bá xâm nhập vùng Tân Cương chiếm giữ các vùng biên giới phía nam Tân Cương, thành lập nên Triết Đức Sa Nhi hãn quốc. Năm 1870, A Cổ Bá đem quân tiến lên phía bắc đánh chiếm Ô Lỗ Mộc Tề. Tháng 5 năm 1872 A Cổ Bách ký kết với Đế quốc Nga điều ước cắt nhượng đất đai cho Nga. Hai nước Anh và Nga ganh đua trong việc ủng hộ A Cổ Bách, trong đó Anh đưa đến hàng vạn khẩu súng từ Ấn Độ đến. Chỉ trong một chuyến hàng đưa sang từ Ấn Độ, số lượng vũ khí đã lên tới 22.000 khẩu súng, 8 đại bác, 2.000 đạn pháo. Đế quốc Ottoman cũng công nhận A Cổ Bách là lãnh tụ chính trị Hồi giáo và gửi đến 12.000 súng trường, 8 khẩu đại bác. Quân số của A Cổ Bách lên tới 45.360 người được người Thổ Nhĩ Kỳ huấn luyện. Năm 1875 Tả Tông Đường được thăng Khâm sai đại thần Đốc biện Tân Cương quân vụ, Văn Hoa điện Đại học sĩ, trước đó Tả Tôn Đường đã chủ động chuẩn bị binh lương. Năm 1866, Tả Tông Đường bắt đầu thiết lập một hệ thống tiếp vận. Trước hết, ông xây 5 trung tâm hậu trạm tại Trung Hoa chia đều từ đông nam đến tây bắc (gồm ở Thượng Hải tại tỉnh Giang Tô, Thiên Tân thuộc tỉnh Hà Bắc, Phần Châu ở Sơn Tây, Bao Ninh và Thuận Tân ở Tứ Xuyên) và từ đó lương thực, vũ khí và các loại khí cụ khác được mua để chở tới mặt trận. Các trạm cung ứng dịch vụ quân đội ở gần hay tại mặt trận như ở Tây An vùng Thiểm Tây, Thiên Thủy vùng Cam Túc được thành lập để nhận vật liệu chở từ hậu trạm tới và cung cấp cho lực lượng ở trận tiền bằng cáng, xe hay lạc đà xuyên qua hàng ngàn cây số sa mạc. Giữa các trạm dịch vụ chính và hậu trạm có một hay nhiều trạm trung gian để nhận và giao vật dụng. Hán Khẩu chẳng hạn dùng làm hậu trạm phân phối thóc gạo cho mặt trận Thiểm Cam, từ đó tiếp liệu được chở tới Tây An theo nhiều đường khác nhau. Với hệ thống cung cấp như thế, Tả Tông Đường có thể giữ cho tiếp vận không bị gián đoạn. Ông cho người đến Lương Châu, Túc Châu, Ninh Hạ, Bao Đầu và cả nước Nga thu mua lương thực, chia đường chở đến Cáp Mật và nhiều vùng khác xa đến hàng ngàn dặm. Hàng đoàn người và xe vận chuyển lương thảo có quan binh bảo vệ vượt qua sa mạc tập trung về Cáp Mật. Sau 2 năm, số lương thực tại Cáp Mật đã lên tới hơn 1.000 tấn, các nơi khác cũng có đến hàng trăm tấn, tích trữ đủ quân lương. Cho quân đồn trú khai phá đất hoang: Ngoài việc thiết lập đường tiếp liệu từ các khu vực duyên hải, Tả Tông Đường còn theo đuổi một chiến lược cổ điển để giải quyết các vấn đề lương thực. Ông ra lệnh cho quân sĩ khai phá các đất hoang trong khu vực doanh trại để sản xuất thóc gạo cho riêng họ. Chiến lược này vốn dĩ dùng từ thời nhà Hán trong thế kỷ thứ nhất và thứ hai cho đến cuối thế kỷ 18 khi nhà Thanh đóng quân ở Tân Cương. Khai phá đất hoang tại các vùng biên giới chủ yếu là một chiến lược giải quyết các vấn đề tiếp liệu nhưng cũng có những ảnh hưởng xã hội - kinh tế đáng kể. Thay vì đóng quân để khai hoang, có khi triều đình cho hạt giống, nông cụ, gia súc và chia đất cho nông dân rồi để họ cày cấy. Sau mùa gặt, nhà nước mua hoa màu thặng dư để nuôi quân. Chính sách đó gọi là Dân Đồn nghĩa là để cho dân làm ruộng. Việc đó giúp cho chính quyền sở tại bình định được nông dân và tái lập trật tự. Ngoài ra, Tả Tông Đường cũng ra lệnh cho quân sĩ của ông tu sửa các hệ thống thủy lợi, đắp đường và trồng cây. Trong suốt chiến dịch này, quân của ông đã khai phá được hơn 19.000 mẫu, trồng 568.000 cây, làm được 96 cái cầu, đắp 800 dặm đường và sửa 13 hệ thống dẫn nước và sông rạch. Những công trình đó không những khiến cho cuộc chinh phạt thành công mà còn giúp cho phục hồi được trật tự chính trị và xã hội - kinh tế thời hậu chiến. Chiến lược đó đã có ảnh hưởng đáng kể trên hệ thống quân sự hiện đại. Để có quân phí, Tả Tôn Đường vay tiền Ngân hàng Hối Phong Hồng Kông Thượng Hải, giao cho Hồ Tuyết Nham lo liệu vật tư và quân trang cần thiết cho đội quân Tây chinh, cấp cho ông khoản tiền tiếp vận; cơ hội thứ tư là lệnh cho ông nhập vũ khí hiện đại cần thiết từ bên ngoài để thu phục Tân Cương. Tả Tôn Đường chỉnh đốn quân vụ, những ai không muốn tham gia quân Tây chinh đều được trở về quê, còn những ai ở lại phải chấp hành nghiêm minh kỷ luật không được tự ý dời doanh trại. Tả Tôn Đường lệnh cho Lưu Cẩm Đường chiêu mộ thêm tinh binh từ Hồ Nam nâng tổng số người gốc Hồ Nam trong quân Tây chinh lên tới 17.000 người, cộng thêm 16 đạo quân của Trương Diệu tạo thành lực lượng chủ lực của quân Tây chinh, tiếp theo quân Thục, quân Hoài cũng gia nhập đội quân Tây chinh, nâng tổng số quân lên tới 8 vạn người. Năm 1873 Tả Tôn Đường thành lập Lan Châu cơ khí cục, cải tạo quân khí theo kiểu của Đức, mua hàng ngàn súng trường và đại bác của hãng Krupp. ==== Tả Tông Đường Tây chinh ==== Tả Tông Đường thành lập quân Tây chinh gồm nhiều sắc tộc Hán, Mãn, Hồi. Quân Hán và Hồi do Đổng Phúc Tường chỉ huy, quân Mãn do Ngạc Nhĩ và Khánh Nhạc chỉ huy. Tả Tông Đường giáo dục tinh thần chiến đấu cho binh sĩ ông nói "Tân Cương từ thời Hán đã thuộc về Trung Quốc, còn người A Cổ Bá chỉ là dị tộc. Cuộc chiến tranh này là để thu hồi biên cương cho Tổ quốc vì thế các tướng sĩ phải có ý thức quân dân một nhà". Tiến chậm nhưng hành động nhanh: Để cho phù hợp với sự khó khăn của tiếp liệu, Tả Tông Đường phải chọn một chiến lược đặc biệt. Chiến lược đó gọi là Hoãn Tiến Tốc Chiến nghĩa là "di chuyển chậm nhưng quyết định nhanh trong chiến đấu". Nói một cách khác, chiến lược của ông là dùng nhiều thời gian để chuẩn bị cho các hành động quân sự. Ông chỉ dùng lực lượng sau khi tiếp liệu đã đầy đủ. Khi mọi sự sẵn sàng, ông tấn công nhanh vào những vị trí đã chọn và tiêu diệt địch càng nhanh càng tốt. Cho nên, về phương diện chiến lược là một cuộc chiến kéo dài nhưng trên phương diện chiến thuật là một chuỗi các cuộc tấn công nhanh và chắc chắn vào kẻ thù. Trước khi đại bác được dùng rộng rãi trong chiến tranh, chiến thuật cốt yếu của Trung Hoa muốn chiếm một vị trí hiểm yếu là bao vây rồi cắt đường lương thực nhiều tháng hay năm cho địch chết đói và làm cho họ phải ra ngoài đánh. Chiến lược bao vây kéo dài này được dùng nhiều trong các chiến dịch đánh giặc Thái Bình của Tăng Quốc Phiên. Chẳng hạn như khi đánh Nam Kinh, thủ phủ của giặc Thái Bình, Tăng Quốc Thuyên đã dùng khoảng 50,000 quân bao vây thành trì kiên cố này hơn 2 năm trước khi hạ được thành năm 1864 khi quân Thái Bình phải phá vòng vây. Nếu Tả Tông Đường dùng chiến thuật tương tự như thế trong chiến dịch chinh phạt ông sẽ gặp khó khăn rất nhiều về việc tiếp vận. Vì thế ông phải chọn chiến thuật đánh nhanh. Chiến thuật phối hợp hành động của nhiều đơn vị trong chiến đấu là một phương pháp xuất sắc để thực hiện việc đánh nhanh trong cả chiến dịch. Tả Tông Đường thường tập trung đại pháo và kỵ binh vào những mặt trận chính phối hợp với bộ binh. Đánh ban đêm và đánh bất ngờ là những chiến thuật tiêu biểu dùng trong những trận quyết định. Pháo binh cũng đã được nhóm Vạn Thắng quân dùng nhiều trong chiến tranh ở Trung Hoa thời đó để chống Thái Bình Thiên Quốc. Tương quân cũng theo cách đó. Tuy nhiên không một lực lượng nào của Trung Hoa đã dùng nhiều trong chiến đấu để sau này thành một chiến thuật mới đáng kể như về sau này. Chiến thuật tiêu biểu của quân đội Tả Tông Đường để chiếm các vị trí kiên cố là đem đại pháo ra trước lúc trời tối cho thật gần rồi bắn phá trước khi trời sáng. Sau khi oanh kích sẽ tấn công bất thình lình bằng bộ binh. Thường thì họ chiếm được chiếc đồn đổ nát ấy mà không mấy thiệt hại. Việc phối hợp hành động trong hành quân và việc dùng nhiều đại pháo để tấn công đã giảm được nhiều thời gian chiến đấu và cả chiến dịch chinh phạt. Theo Lư Phụng Các, Tả Tông Đường dùng khoảng 6 năm để chuẩn bị cho việc tây chinh nhưng ông chỉ mất một năm rưỡi là hoàn thành việc thu hồi cả Tân Cương ngoại trừ Y Lê vẫn do Nga chiếm đóng và chỉ trả lại cho Trung Hoa sau khi thương thuyết một thời gian dài. Sau một thời gian chuẩn bị kỹ càng, tháng 3 năm 1876 Tả Tôn Đường đặt bộ tư lệnh quân Tây chinh ở Túc Châu. Tháng 8 năm 1876, quân Thanh bắt đầu xuất phát với phương châm tiến chậm đánh thắng. Binh sĩ hành quân hơn 2 tháng vượt 2.000 dặm gặp địch là đánh, khẩu phần ăn chỉ có 8 ngày nên trong hành trang ai cũng phải mang theo khoai lang. Mỗi binh sĩ đeo mười mấy cân khoai chạy trên sa mạc nóng bỏng, tinh thần chiến đấu hy sinh quên mình. Quân Thanh do Lưu Cẩm Đường Đạo đài Tây Ninh chỉ huy tiếp cận thành Ô Lỗ Mộc Tề đến tháng 11 thì công hãm thành Mã Nạp Tư Nam (Manasi), tiêu diệt quân A Cổ Bá ở dải biên giới phía bắc, sau đó quân Thanh từ Ô Lỗ Mộc Tề tiến xuống phía nam công hãm thành Đạt Bản, nơi A Cổ Bá tập trung nhiều quân tinh nhuệ, tiêu diệt quân chủ lực của A Cổ Bá tại đây. Sau đó quân Thanh do Trương Diệu chỉ huy tiến đến Khắc Thác Khắc Tôn, Thổ Lỗ Phan. A Cổ Bá tại Khố Nhĩ Lạc (Korla) thế cùng phải tự sát. Tháng 1 năm 1878, Đổng Phúc Tường chiếm lại Vu Điền. Quân Thanh liên tiếp thu hồi các thành Khố Xa, A Khắc Tô (Aksu), Hòa Văn… đến năm 1878 biên giới phía nam hoàn toàn thuộc về Trung Quốc. ==== Chiếm được Y Lê ==== Y Lê (Ili) là tên gọi một vùng đất xung quanh lưu vực sông Y Lê (Ili river). Sông này bắt nguồn trong dãy núi Thiên Sơn, chảy về phía đông một đoạn ngắn rồi đột ngột quay về phía tây, sau đó vượt hơn một nghìn cây số trước khi đổ vào hồ Balkhash. Miền Y Lê nằm về phía bắc dãy Thiên Sơn, cư dân chủ yếu là người Uyghur (Duy Ngô Nhĩ) và người Kazazh (Cáp Tát Khắc). Dưới thời nhà Thanh, miền Y Lê hoàn toàn thuộc về Trung Quốc; người Nga chiếm Y Lê năm 1871, sau đó vài năm Tả Tông Đường chiếm lại một nửa phía đông Y Lê. Biên giới hai nước được định lại như ngày nay vào năm 1881, và ngày nay miền Y Lê xưa kia nằm trên lãnh thổ nước Kazakhstan và miền tự trị Tân Cương thuộc Trung Quốc. Do nằm về phía bắc dãy Thiên Sơn, nên miền Y Lê đời Thanh còn thường được gọi là Thiên Sơn Bắc Lộ. Thực ra vùng đất Y Lê đã nằm dưới ảnh hưởng Trung Quốc từ thời nhà Hán, nhà Đường, khi ấy thường gọi là Luân Đài (là tên cũ của Urumqi). Trong các bài thơ Đường tả cảnh biên tái thường nhắc đến miền này với những cảnh hoang vu gió tuyết. Sầm Tham có câu: "Luân Đài đông môn tống quân khứ, khứ thì tuyết mãn Thiên Sơn lộ", hùng tráng tuyệt vời! Vào thời Tống, Nguyên, Minh, Trung Quốc không kiểm soát được miền này. Vào thời nhà Thanh, Y Lê là miền đất xa nhất về phía tây thuộc về Trung Quốc, thủ phủ là Ô Lỗ Mộc Tề (Urumqi). Thời nhà Thanh hay nghe cụm từ "đày đi Y Lê", đó là một hình phạt nặng, vì đi từ Bắc Kinh đến Y Lê phải mất vài tháng mới tới nơi. Năm 1871 Nga viện cớ thu hồi những vùng đất trước đây đã bị nhà Thanh chiếm, tiến quân vào Y Lê (I-Li), tuyên bố "tạm chiếm Y Lê, đợi khi nào Thanh đình có đủ khả năng thống trị miền đó thì sẽ trả lại". Nhưng 7 năm sau khi Tả Tôn Đường đã bình định được Tân Cương rồi, nhà Thanh xin Nga trả lại Y Lê, Nga thản nhiên nuốt lời, bắt Công sứ Sùng Hậu của nhà Thanh phải ký Điều ước Livadia năm 1879 gồm 18 khoản mà các khoản chính là Thanh phải bồi thường quân phí 280 vạn lạng bạc cho Nga, và cắt nhường Nga miền phú nguyên duy nhất của Y Lê chiếm tới 70% diện tích của Y Lê, cho Nga mở 3 tuyến đường thương mại làm cho dư luận triều đình và dân chúng bất bình. Trương Chi Động dâng sớ phản đối kịch liệt. Từ Hi Thái Hậu lúc đó cầm quyền, không chịu, bãi nhiệm chức vụ của Sùng Hậu, chuẩn bị chiến tranh với Nga, cung cấp thêm 25,6 triệu lạng bạc chiến phí cho Tả Tôn Đường. Mùa hè năm 1880 Tả Tôn Đường lúc đó đã 68 tuổi điều quân từ Túc Châu tấn công Cáp Mật, sĩ khí quân Thanh rất cao. Thế tấn công của quân Thanh đã hỗ trợ rất nhiều cho ngoại giao nhà Thanh đàm phán với Nga. Nhờ vào tài năng của nhà ngoại giao Tăng Kỷ Trạch (Công sứ Trung Hoa tại Anh và Pháp) vào ngày 24 tháng 2 năm 1881, hai nước ký kết bản Hiệp ước tại St. Petersburg, theo đó Nga bị bắt buộc hoàn trả cho Trung Hoa một số phần đất chiến lược nằm trong vùng Ili, sau khi đã bị nhượng bởi chữ ký không được cố vấn tốt của Công sứ Sùng Hậu trong Điều ước Livadia năm 1879. Sự thành công vào dịp này của Tăng Kỷ Trạch một phần nhờ ở sự chiến thắng quân sự của Tả Tôn Đường tại Tân Cương và ở sự hậu thuẫn mãnh liệt của Tả Tôn Đường và các nhân vật khác trong các cuộc thương thảo tại Nga. Sau khi dẹp yên các cuộc khởi nghĩa Tả Tôn Đường đề xuất lên triều đình nhiều chủ trương chính sách thúc đẩy kinh tế văn hóa vùng Tân Cương có tác dụng tích cực đối với việc khai phá vùng biên giới, thành lập các cơ sở sản xuất kiểu mới ở vùng Tây Bắc như: Lan Châu cơ khí chức ni cục (là xưởng dệt len cơ khí đầu tiên của Trung Quốc dùng máy móc của Đức, thành lập năm 1878), Tổng cục tơ tằm A Khắc Tô, Lan Châu chế tạo cục thành lập năm 1871, Tây An cơ khí cục thành lập năm 1869. Nhờ công lao này, Tả Tôn Đường được thăng tước hầu, bổ nhiệm Quân cơ đại thần. === Thời kỳ Dân Quốc === Năm 1912, triều Thanh bị Trung Hoa Dân Quốc thay thế, tuần phủ Viên Đại Hóa (袁大化) chạy trốn. Một thuộc hạ của Viên Đại Hóa là Dương Tăng Tân (杨增新), đã nắm quyền kiểm soát Tân Cương và nhậm chức trưởng quan nhân danh Trung Hoa Dân Quốc vào tháng 3 cùng năm. Thông qua các thủ đoạn chính trị và khôn ngoan cân bằng giữa các cử tri đa sắc tộc, Dương Tăng Tân duy trì quyền kiểm soát Tân Cương cho đến khi ông bị ám sát vào năm 1928. Khởi nghĩa Cáp Mật và các cuộc khởi nghĩa khác chống lại người kế nhiệm là Kim Thụ Nhân (金树仁) đã diễn ra vào đầu thập niên 1930 trên khắp Tân Cương, với sự tham gia của người Duy Ngô Nhĩ cùng các sắc dân Đột Quyết khác, cũng như người Hồi. Kim Thụ Nhân đã dùng Bạch vệ để dập tắt cuộc khởi nghĩa. Tại vùng Kashgar vào ngày 12 tháng 11 năm 1933, Cộng hòa Đông Turkestan đã tuyên bố thành lập, sau khi có những tranh luận về việc quốc hiệu nên là "Đông Turkestan" hay "Uyghuristan." Khu vực Cộng hòa Đông Turkistan về mặt lý thuyết bao gồm Kashgar, Khotan và Aksu ở tây nam Tân Cương. Sư đoàn 36 của quân đội Quốc Dân đảng gồm hầu hết là người Hồi đã tiêu diệt quân đội của Đệ nhất Cộng hòa Đông Turkestan trong trận Kashgar (1934), nước Cộng hòa chấm dứt tồn tại sau khi quân Hồi hành quyết hai Emir của Cộng hòa là Abdullah Bughra và Nur Ahmad Jan Bughra. Liên Xô đã xâm lược Tân Cương vào năm 1934. Trong Chiến tranh Tân Cương (1937), toàn bộ tỉnh nằm dưới quyền kiểm soát của quân phiệt Tây Bắc Thịnh Thế Tài, ông cai quản Tân Cương trong thập niên sau đó với sự ủng hộ mật thiết từ Liên Xô. Liên Xô duy trì một căn cứ quân sự tại Tân Cương và triển khai một số cố vấn quân sự và kinh tế tại khu vực. Thịnh Thế Tài đã mời một nhóm người Cộng sản Trung Quốc đến Tân Cương, bao gồm em của Mao Trạch Đông là Mao Trạch Dân, song vào năm 1943 do lo sợ sẽ xảy ra một âm mưu, Thịnh Thế Tài đã cho hành quyết những người cộng sản này, bao gồm cả Mao Trạch Dân. === 1949–nay === ==== Thời Liên Xô (1949-1991) ==== Đệ nhị Cộng hòa Turkestan tồn tại từ năm 1944 đến 1949 với sự giúp đỡ của Liên Xô tại khu vực nay là châu Ili ở bắc bộ Tân Cương. Nước cộng hòa này chấm dứt tồn tại khi Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào Tân Cương năm 1949. Năm nhà lãnh đạo của nước cộng hòa đã thiệt mạng trong một tai nạn máy bay trong không phận nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan vào năm 1949, trước khi họ có thể đàm phán tình trạng cuối cùng của Đông Turkestan với chính quyền Bắc Kinh. Tướng người Hồi Bạch Sùng Hy của Quốc Dân đảng đã ngăn ngừa việc Liên Xô tràn ngập Tân Cương bằng cách giải tán binh lính. Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương được thành lập vào ngày 1 tháng 10 năm 1955, thay thế tỉnh Tân Cương. Vụ thử thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên của Trung Quốc được tiến hành tại Lop Nur, Tân Cương, vào ngày 16 tháng 10 năm 1964. Một nhà nghiên cứu Nhật Bản suy đoán rằng có thể đã có từ 100.000 đến 200.000 người thiệt mạng do bức xạ từ vụ thử nghiệm hạt nhân, mặc dù khu vực Lop Nur đã không có người định cư lâu dài từ thập niên 1920,. Phương tiện truyền thông Trung Quốc phản bác kết luận này song không cung cấp con số thay thế. Trong chia rẽ Trung-Xô, tình trạng căng thẳng giữa hai bên đã dẫn đến các vụ xung đột biên giới có đổ máu và ủng hộ kẻ thù của đối phương. Khi những người cộng sản Afghanistan thân Liên Xô đoạt lấy quyền lực vào năm 1978, mối quan hệ giữa Trung Quốc và những người cộng sản Afghanistan nhanh chóng chuyển sang thù địch. Những người cộng sản thân Liên Xô Afghanistan ủng hộ Việt Nam trong cuộc xung đột với Trung Quốc và cáo buộc Trung Quốc hỗ trợ các chiến sĩ chống cộng Afghanistan. Trung Quốc phản ứng với việc Liên Xô xâm chiếm Afghanistan bằng việc ủng hộ các chiến binh Mujahideen Afghanistan và thiết lập sự hiện diện quân sự gần Afghanistan tại Tân Cương. Trung Quốc mua thiết bị quân sự từ Hoa Kỳ để phòng vệ trước Liên Xô. ==== Từ năm 1992-nay ==== Vào những năm sau khi Nga ra đời, Tổng thống Nga Boris Yeltsin khi đó đã thực hiện cuộc cải tổ quan hệ Nga-Trung mà Gorbachyov từng làm. Tuy vậy, dưới thời Boris Yeltsin, quan hệ Nga-Trung vẫn nảy sinh bất đồng về người Duy Ngô Nhĩ, khi chính phủ thân phương Tây của Yeltsin cáo buộc Trung Quốc "đàn áp sắc dân thiểu số". Trung Quốc không đồng ý và nhiều lần gây tranh cãi với chính phủ Yeltsin, bất chấp Nga vẫn có được sự ủng hộ của Trung Quốc và phương Tây về vấn đề Chechnya, một xứ quốc ly khai ở phía nam nước Nga vùng Kavkaz. Song, khi Vladimir Putin lên cầm quyền từ năm 2000, chính phủ Nga ủng hộ Trung Quốc về vấn đề Tân Cương, và phản đối người Duy Ngô Nhĩ "gây bạo loạn" vào năm 2009. Tuy vậy, Nga vẫn cho phép người Duy Ngô Nhĩ lưu vong lẩn trốn ở Nga. == Chính trị == Hệ thống chính trị Tân Cương được tổ chức theo mô hình thời Xô viết với một chút thay đổi mang chất Trung Quốc. Chủ tịch khu tự trị thường là người bản địa trong khi đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy vùng thường là người dân tộc khác (chủ yếu là người Hán). == Hành chính == a. ^ Không bao gồm dân số của địa khu Altay và địa khu Tháp Thành. == Tôn giáo == Hiện nay, Tân Cương vẫn là một khu vực gồm nhiều tôn giáo, nhưng Đạo Hồi vẫn có ảnh hưởng lớn trong đời sống xã hội của Tân Cương. Hiện nay, toàn khu vực Tân Cương tổng cộng có hơn 23 nghìn Thánh đường Hồi giáo và nơi tổ chức hoạt động tôn giáo khác như: chùa Lạt-ma, nhà thờ Thiên chúa giáo v.v, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cư dân các dân tộc theo đạo. Tổ chức tôn giáo của Tân Cương chủ yếu có Hiệp hội Hồi giáo, Học viện kinh Islam, Hiệp hội Phật giáo v.v. Hiện nay tại Tân Cương, khoảng 10 dân tộc trở lên trong đó có người Uyghur (chủ yếu), người Kazakh, người Hồi, người Iran, người Tạng Hồi giáo, người Mông Cổ, người Tatar, người Kyrgyz, người Pakistan, người Tajik, người Uzbek v.v đều theo đạo Hồi, quần chúng theo đạo hơn 10 triệu người, chiếm 56,3% dân số Tân Cương. Người Mông Cổ ở Tân Cương đa số theo Phật giáo Tây Tạng và một số theo Hồi giáo (do chịu ảnh hưởng từ dân Trung Á), tổng cộng có khoảng 80 nghìn người, Tân Cương có 40 chùa Phật giáo Tây Tạng, gần 30 nghìn người theo Cơ Đốc giáo với 24 nhà thờ. Hiện nay Tân Cương có hơn 4000 người theo Thiên Chúa giáo, 25 nhà thờ và nơi hoạt động Thiên Chúa giáo. Ngoài ra, Tân Cường còn có hơn 100 người Nga theo Chính Thống giáo, có hai nhà thờ. == Giao thông vận tải == Nói chung giao thông vận tải ở Tân Cương gặp nhiều trở ngại do thời tiết khắc nghiệt, điều kiện hoang mạc ở vùng này. Hiện nay, các tuyến đường cao tốc xuyên Tân Cương đang được xây dựng để trở thành những tuyến đường huyết mạch phục vụ dầu mỏ và an toàn giao thông trong vùng. Song tình hình khắc nghiệt vẫn cản trở hoạt động phát triển giao thông ở đây. == Du lịch == == Văn hóa Tân Cương == == Các công trình kiến trúc tại Tân Cương == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
hồ cẩm đào.txt
Hồ Cẩm Đào giản thể: 胡锦涛; phồn thể: 胡錦濤; bính âm: Hú Jǐntāo (sinh ngày 21 tháng 12 năm 1942) là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 16-17, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, và là người kế nhiệm Giang Trạch Dân trong thế hệ lãnh đạo thứ tư của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ông là người tiếp tục chính sách cải cách kinh tế của ông Đặng Tiểu Bình và có tư tưởng ôn hòa về kiểm duyệt báo chí. == Tiểu sử == Ông sinh ra và lớn lên tại Thái Châu, Giang Tô, quê gốc ở Tích Khê, An Huy, trong một gia đình kinh doanh. Cha ông là Hồ Tăng Ngọc. Ông học phổ thông ở Thái Châu, mùa hè năm 1959, thi đỗ vào khoa Thủy lợi của Đại học Thanh Hoa. Trong quá trình học tập tại đại học Hồ Cẩm Đào được đánh giá là sinh viên xuất sắc, năm 1962 ông được chọn vào lớp bồi dưỡng tài năng, tham gia nghiên cứu công trình mang số hiệu 930, một công trình quan trọng của nhà nước Trung Quốc lúc bấy giờ. Tháng 4 năm 1964 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng 7 năm 1965 tốt nghiệp đại học loại ưu. Trong quá trình học đại học ông còn là thành viên đội múa của trường Thanh Hoa. Ông đã từng diễn rất nhiều vở như Châu Phi đang gào thét, Quét sạch, En-đốt. Trong thời gian học đại học ông đã gặp và yêu Lưu Vĩnh Thanh, bạn học cùng lớp, sau này là vợ ông. == Tiến vào vai trò "hạt nhân chính trị" == Hồ Cẩm Đào khởi nghiệp ở Cam Túc, cơ quan đầu tiên của ông là Ủy ban Xây dựng tỉnh Cam Túc nay là Sở Xây dựng tỉnh Cam Túc. Và cất cánh từ đây để bay tới đỉnh cao chính trị tại Bắc Kinh. 1980: Giữ chức phó chủ nhiệm Ủy ban xây dựng tỉnh Cam Túc. Một thời gian ngắn sau, cũng trong năm này ông được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh đoàn Cam Túc (bí thư tỉnh đoàn trẻ nhất Trung Quốc khi đó). 1983: Giữ chức Bí thư thứ hai Trung ương Đoàn thanh niên. 1984: Được bầu là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn thay cho Vương Triệu Quốc. Tháng 7 năm 1985: Giữ chức bí thư tỉnh ủy Quý Châu, bí thư tỉnh ủy trẻ nhất Trung Quốc khi đó (43 tuổi). Tại Quý Châu ông đã có những thúc đẩy lớn trong việc cải cách việc đưa tin của ngành báo chí. Năm 1987: Khi Quý Châu bầu đại biểu dự đại hội XIII Đảng cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào được bầu với số phiếu cao nhất. Cuối năm 1988: Được Bộ Chính trị giao giữ chức bí thư đảng ủy khu tự trị Tây Tạng khi Tây Tạng đang xảy ra hỗn loạn. Năm 1992: Tại Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc được bầu là ủy viên thường vụ bộ chính trị. Năm 1993: Là ủy viên thường vụ Bộ Chính trị phụ trách công tác đảng, giữ chức hiệu trưởng trường Đảng Trung ương. Tháng 3 năm 1998: Tại kì họp thứ nhất Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX được bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Năm 1999: Hội nghị Trung ương 4 Khóa XV Đảng Cộng sản Trung Quốc bầu Hồ Cẩm Đào giữ chức Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Ngày 15 tháng 11 năm 2002: Tại Đại lễ đường nhân dân Trung Hoa, sau hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa XVI, Hồ Cẩm Đào được bầu giữ chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 2003: Được bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Năm 2004: Kế nhiệm Giang Trạch Dân giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Sự kiện này đánh dấu Hồ Cẩm Đào cùng 8 ủy viên thường vụ Bộ chính trị khác là: Ôn Gia Bảo, Tăng Khánh Hồng, Giả Khánh Lâm, Ngô Bang Quốc, Hoàng Cúc, Ngô Quan Chính, Lý Trường Xuân, La Cán chính thức lãnh đạo toàn cục chính trường Trung Quốc, kết thúc thời kì của Giang Trạch Dân, Lý Bằng và Chu Dung Cơ. == Những thách thức đặt ra cho thời kỳ "chính trị Hồ và kinh tế Ôn" == Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đều là những người ôn hòa, xuất thân từ sa mạc Gobi gian khổ của vùng Cam Túc và là những cán bộ khoa học của ngành kĩ thuật. Hai ông cùng chèo lái đất nước Trung Quốc trong một thời vận mới, thời vận Trung Quốc tiến lên công nghiệp và sự cạnh tranh, đối đầu đang ngày càng gia tăng từ nhiều phía. Về kinh tế: Vấn đề tam nông đang trở nên gay gắt hơn lúc nào hết, khi mà khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị gia tăng mạnh. Sự phát triển quá nóng của nền kinh tế cũng dễ đưa Trung Quốc vào một cuộc khủng hoảng có thể sẽ tồi tệ hơn khủng hoảng tài chính năm 1997. Việc Trung Quốc đăng cai Thế vận hội 2008 là cơ hội phát triển nhưng rất có thể sẽ mở đầu đà suy thoái cho nền kinh tế Trung Quốc. Về chính trị: Trung Quốc liên tục có những sự căng thẳng trong tranh chấp lãnh thổ với Hàn Quốc, Brunei, Nga, Việt Nam, Nhật Bản, Philippines, Malaysia, Ấn Độ, Trung Á và với các nước Tây Á. Vấn đề Đài Loan cũng là thách thức lớn cho bản thân Hồ Cẩm Đào, bên cạnh đó là vấn đề "một nước hai chế độ" của Hồng Kông và Ma Cao, một vấn đề không hề đơn giản cho sự thống nhất trong quyết sách lãnh đạo của Trung Quốc. == Bạo động Tây Tạng, tháng 3 năm 2008 == == Bạo động Tân Cương 2009 == Ngày 25 tháng 8 năm 2009, Hồ Cẩm Đào lần đầu tiên đến viếng thăm Tân Cương sau vụ bạo động chủng tộc đẫm máu vào tháng 7/2009, ra lệnh cho các giới chức chính quyền địa phương và lực lượng an ninh phải chú trọng vào việc duy trì an ninh trật tự và ổn định xã hội trong vùng và cảnh cáo rằng thành phần đòi ly khai "thế nào cũng thất bại." Ðài truyền hình trung ương nhà nước Cộng sản Trung Quốc chiếu hình ảnh Hồ Cẩm Ðào gặp gỡ đại diện các sắc tộc và dân chúng địa phương, viếng thăm nhà máy và nói chuyện với binh sĩ. Hồ Cẩm Ðào ra lệnh cho giới hữu trách phải "coi việc giữ gìn ổn định xã hội là ưu tiên hàng đầu và duy trì sức mạnh để bảo đảm thắng lợi trong cuộc đấu tranh duy trì ổn định ở Tân Cương," Hồ Cẩm Ðào nói với một nhóm binh sĩ và công an từng tham dự cuộc đàn áp bạo loạn khiến gần 200 người thiệt mạng và 1.700 người khác bị thương. Cuộc biến động này đánh dấu bạo loạn chủng tộc trầm trọng nhất ở Trung Quốc từ nhiều thập niên qua, cho thấy có sự bất mãn sâu xa trong thành phần dân thiểu số Uyghur và sự hận thù trong giới dân gốc Hán. Bạo động xảy ra ngày 5 tháng 7 năm 2009 sau khi công an ngăn chặn một cuộc biểu tình ôn hòa của giới trẻ Uighur, khiến đám đông nổi giận, đập phá cửa tiệm, đốt xe và tấn công người gốc Hán. Hai ngày sau đó, người Hán mở ra các cuộc tấn công trả thù nhắm vào nơi sinh sống của cộng đồng Uighur. Người Uyghur tại Tân Cương từ lâu nay vẫn than phiền là bị người Hán kỳ thị và gạt ra ngoài sự phát triển kinh tế ở vùng này khi người Hán ồ ạt kéo tới nơi vẫn là khu vực sinh sống bao đời của họ. == Gia đình == Cha Hồ Cẩm Đào là Hồ Tăng Ngọc, mẹ là Lý Văn Đoan, bà qua đời khi Hồ Cẩm Đào mới 7 tuổi. Ông là con trai một trong gia đình, ông có hai em gái là Hồ Cẩm Dung và Hồ Cẩm Lai. Phu nhân Hồ Cẩm Đào là Lưu Vĩnh Thanh, họ có một con trai Hồ Hải Phong, và một con gái là Hồ Hải Thanh. Hồ Hải Phong tốt nghiệp đại học Thanh Hoa với bằng thạc sĩ vật lý chế tạo, được nhận ngay vào làm phụ tá cho tổng giám đốc công ty Nuctech (Công ty Công nghệ Hạt nhân) và sau đó làm bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc của tập đoàn Thanh Hoa. Năm 2009, Công ty Nuctech bị điều tra về tham nhũng tại Namibia và bị cáo buộc có hành vi 'phá giá phi pháp' ở Anh Quốc. == Xem thêm == Ôn Gia Bảo == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
biển xe cơ giới việt nam.txt
Ở Việt Nam, biển kiểm soát xe cơ giới (hay còn gọi tắt là biển số xe) là tấm biển gắn trên mỗi xe cơ giới, được cơ quan công an cấp khi mua xe mới hoặc chuyển nhượng xe. Biển số xe được làm bằng hợp kim nhôm sắt, có dạng hình chữ nhật hoặc hơi vuông, trên đó có in những con số và chữ (biển xe dân sự không dùng các chữ cái I, J, O, Q, W; R chỉ dùng cho xe rơ-moóc, sơ-mi rơ-moóc) cho biết: Vùng và địa phương quản lý, các con số cụ thể khi tra trên máy tính còn cho biết danh tính người chủ hay đơn vị đã mua nó, thời gian mua nó phục vụ cho công tác an ninh.. Đặc biệt trên đó còn có hình Quốc huy Việt Nam dập nổi. == Màu sắc == Nền biển màu trắng, chữ và số màu đen là xe thuộc sở hữu cá nhân và xe của các doanh nghiệp. Nền biển màu xanh dương, chữ và số màu trắng là biển xe của các cơ quan hành chính sự nghiệp (dân sự) Nền biển màu đỏ, chữ và số màu trắng là xe quân đội, xe của các doanh nghiệp quân đội Nền biển màu vàng, chữ và số màu trắng là xe thuộc Bộ tư lệnh Biên phòng (ít gặp) Nền biển màu vàng, chữ và số đen là xe cơ giới chuyên dụng làm công trình == Biển xe dân sự == == Biển xe các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng == Do Bộ Quốc phòng cấp cho các đơn vị, cơ quan thuộc LLVT do Bộ quản lý. Biển xe có nền màu đỏ, chữ và số màu trắng gồm mã (2 chữ cái - như bảng dưới) và 4 chữ số (biểu thị thứ tự): Trong quân đội còn một số ký hiệu mới mà chưa biết ví dụ như: AN... == Biển số 80 == Biển xe có 2 mã số đầu là 80 do Cục Cảnh sát Giao thông đường bộ, đường sắt (C67) thuộc Bộ Công an, cấp cho các cơ quan sau: Cấp cho hầu hết các cơ quan Trung ương /thuộc Trung ương quản lý. Các liệt kê dưới đây nên hiểu là các ví dụ thực tế Các ban của Trung ương Đảng Văn phòng Chủ tịch nước Văn phòng Quốc hội Văn phòng Chính phủ Bộ Công an Xe phục vụ các uỷ viên Trung ương Đảng công tác tại Hà Nội và các thành viên Chính phủ Bộ Ngoại giao Tòa án Nhân dân Tối cao Viện Kiểm sát nhân dân Thông tấn xã Việt Nam Nhân dân Thanh tra Nhà nước Học viện Chính trị quốc gia Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng, khu Di tích lịch sử Hồ Chí Minh Trung tâm lưu trữ quốc gia Uỷ ban Dân số kế hoạch hoá gia đình (trước đây) Tổng công ty Dầu khí Việt Nam Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam Kiểm toán Nhà nước Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đài Truyền hình Việt Nam Hãng phim truyện Việt Nam Đài Tiếng nói Việt Nam Bộ Thông tin và Truyền thông (Việt Nam) Các Dự án liên quan đến Trung ương do các Doanh nghiệp đầu tư hoặc liên kết đầu tư khi đăng ký xe cho dự án đều được cấp biển 80 [cần trích dẫn quy định] == Biển đặc biệt == Biển xe có mã số đầu theo địa phương (tỉnh, thành) đăng ký và 2 ký tự NN (nước ngoài), NG (ngoại giao) hoặc QT (quốc tế) cùng dãy số, do Cục Cảnh sát Giao thông đường bộ, đường sắt (C67) thuộc Bộ Công an, cấp cho các cá nhân, tổ chức có yếu tố nước ngoài, trên cơ sở sự đề xuất của Đại sứ quán nước đó và sự đồng ý của Bộ Ngoại giao. Biển xe có nền màu trắng, chữ và số màu đen, (riêng ký tự NG và QT màu đỏ), bao gồm: Hai chữ số đầu: thể hiện địa điểm đăng ký (tỉnh/thành) Ba chữ số tiếp theo: mã nước (quốc tịch người đăng ký) Ký hiệu biển số xe ô tô, mô tô của tổ chức, cá nhân nước ngoài Áo: 001 - 005 Albania: 006 - 010 LHVQ Anh và Bắc Ireland: 011 - 015 Ai Cập: 016 - 020 Azerbaijan: 021 - 025 Ấn Độ: 026 - 030 Angola: 031 - 035 Afghanistan: 036 - 040 Algérie: 041 - 045 Argentina: 046 - 050 Armenia: 051 - 055 Iceland: 056 - 060 Bỉ: 061 - 065 Ba Lan: 066 - 070 Bồ Đào Nha: 071 - 075 Bulgaria: 076 - 080 Burkina Faso: 081 - 085 Brasil: 086 - 090 Bangladesh: 091 - 095 Belarus: 096 - 100 Bolivia: 101 - 105 Bénin: 106 - 110 Brunei: 111 - 115 Burundi: 116 - 120 Cuba: 121 - 125 Côte d'Ivoire: 126 - 130 Cộng hòa Congo: 131 - 135 Cộng hòa Dân chủ Congo: 136 - 140 Chile: 141 - 145 Colombia: 146 - 150 Cameroon: 151 - 155 Canada: 156 - 160 Kuwait: 161 - 165 Campuchia: 166 - 170 Kyrgyzstan: 171 - 175 Qatar: 176 - 180 Cabo Verde: 181 - 185 Costa Rica: 186 - 190 Đức: 191 - 195 Zambia: 196 - 200 Zimbabwe: 201 - 205 Đan Mạch: 206 - 210 Ecuador: 211 - 215 Eritrea: 216 - 220 Ethiopia: 221 - 225 Estonia: 226 - 230 Guyana: 231 - 235 Gabon: 236 - 240 Gambia: 241 - 245 Djibouti: 246 - 250 Gruzia: 251 - 255 Jordan: 256 - 260 Guinée: 261 - 265 Ghana: 266 - 270 Guiné-Bissau: 271 - 275 Grenada: 276 - 280 Guinea Xích Đạo: 281 - 285 Guatemala: 286 - 290 Hungary: 291 - 295 Hoa Kỳ: 296 - 300; 771 -775 Hà Lan: 301 - 305 Hy Lạp: 306 - 310 Jamaica: 311 - 315 Indonesia: 316 - 320 Iran: 321 - 325 Iraq: 326 - 330 Ý: 331 - 335 Israel: 336 - 340 Kazakhstan: 341 - 345 Lào: 346 - 350 Liban: 351 - 355 Libya: 356 - 360 Luxembourg: 361 - 365 Litva: 366 - 370 Latvia: 371 - 375 Myanmar: 376 - 380 Mông Cổ: 381 - 385 Mozambique: 386 - 390 Madagascar: 391 - 395 Moldova: 396 - 400 Maldives: 401 - 405 México: 406 - 410 Mali: 411 - 415 Malaysia: 416 - 420 Maroc: 421 - 425 Mauritanie: 426 – 430 Malta: 431 - 435 Quần đảo Marshall: 436 - 440 Nga: 441 - 445 Nhật Bản: 446 - 450; 776-780 Nicaragua: 451 - 455 New Zealand: 456 - 460 Niger: 461 - 465 Nigeria: 466 - 470 Namibia: 471 - 475 Nepal: 476 - 480 Nam Phi: 481 - 485 Serbia: 486 - 490 Na Uy: 491 - 495 Oman: 496 - 500 Úc/Australia: 501 - 505 Pháp: 506 - 510 Fiji: 511 - 515 Pakistan: 516 - 520 Phần Lan: 521 - 525 Philippines: 526 - 530 Palestine: 531 - 535 Panama: 536 - 540 Papua New Guinea: 541 - 545 Tổ chức quốc tế: 546 - 550 Rwanda: 551 - 555 România: 556 - 560 Tchad: 561 - 565 Cộng hòa Séc: 566 - 570 Cộng hòa Síp: 571 - 575 Tây Ban Nha: 576 - 580 Thụy Điển: 581 - 585 Tanzania: 586 - 590 Togo: 591 - 595 Tajikistan: 596 - 600 Trung Quốc: 601 - 605 Thái Lan: 606 - 610 Turkmenistan: 611 - 615 Tunisia: 616 - 620 Thổ Nhĩ Kỳ: 621 - 625 Thụy Sĩ: 626 - 630 CHDCND Triều Tiên: 631 - 635 Hàn Quốc: 636 - 640 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất: 641 - 645 Samoa: 646 - 650 Ukraina: 651 - 655 Uzbekistan: 656 – 660 Uganda: 661 - 665 Uruguay: 666 - 670 Vanuatu: 671 - 675 Venezuela: 676 - 680 Sudan: 681 - 685 Sierra Leone: 686 - 690 Singapore: 691 – 695 Sri Lanka: 696 – 700 Somalia: 701 – 705 Senegal: 706 – 710 Syria: 711 – 715 Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Xarauy: 716 – 720 Seychelles: 721 – 725 São Tomé và Príncipe: 726 – 730 Slovakia: 731 – 735 Yemen: 736 – 740 Liechtenstein: 741 – 745 Hồng Kông: 746 – 750 Đài Loan: 885 – 890 Đông Timor: 751 - 755 Phái đoàn Ủy ban châu Âu (EU): 756 - 760 Ả Rập Saudi: 761 - 765 Liberia: 766 - 770 2 chữ số khác ở bên dưới: số thứ tự đăng ký Trước đây các biển A, B, C là xe của ngành Công an, xe của UBND tỉnh thành hoặc xe của các cơ quan hành chính sự nghiệp, ví dụ: 31A tức là xe các cơ quan, đơn vị nhà nước của thủ đô Hà Nội. Biển ngoại giao hoặc quốc tế có gạch màu đỏ chạy ngang hàng chữ số thể hiện mức độ cao hơn của mỗi dòng biển đó (sự cấm xâm phạm dù bất cứ tình huống nào). Biển xe nước ngoài có gạch màu đỏ chạy ngang qua hàng chữ số là xe của Đại sứ. Theo Thông tư số 36/2010/TT-BCA ngày 12/10/2010 của Bộ Công an - Xe chuyên dùng của lực lượng Công an nhân dân sử dụng vào mục đích an ninh: Biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng có ký hiệu "CD". - Một số trường hợp có ký hiệu sê ri riêng: a) Xe Quân đội làm kinh tế có ký hiệu "KT"; b) Xe của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, xe thuê của nước ngoài, xe của Công ty nước ngoài trúng thầu có ký hiệu "LD"; c) Xe của các Ban quản lý dự án do nước ngoài đầu tư có ký hiệu "DA"; d) Rơ moóc, sơmi rơmoóc có ký hiệu "R"; đ) Xe đăng ký tạm thời có ký hiệu "T"; e) Máy kéo có ký hiệu "MK"; g) Xe máy điện có ký hiệu "MĐ"; h) Xe cơ giới sản xuất, lắp ráp trong nước, được Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai thí điểm có ký hiệu "TĐ" như xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ (là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ chạy bằng động cơ, có hai trục, bốn bánh xe, có phần động cơ và thùng lắp ráp trên cùng một xát xi (dàn khung dưới - tương tự ôtô tải có trọng lượng dưới 3.500 kg). Vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 60 km/h, khối lượng bản thân xe không lớn hơn 550 kg) i) Ô tô phạm vi hoạt động hạn chế có ký hiệu "HC". == Tăng lên thành năm chữ số == Theo quy định của Thông tư 36/2010/TT-BCA do Bộ Công an ban hành ngày 12 tháng 10 năm 2010, kể từ ngày 6 tháng 12, 2010, các biển số xe tại Việt Nam sẽ tăng từ bốn lên năm chữ số (phần mở rộng) khi đăng ký mới (biển cũ vẫn dùng bình thường, và có thể đổi sang biển mới nếu có nhu cầu). Về biển số xe mới, kích thước vẫn giữ nguyên nhưng các dãy số mở rộng trên biển sẽ không liền kề nhau mà bị ngắt quãng. Theo đó 3 số đầu của biển sẽ liên tiếp nhau và được ngắt quãng bằng một dấu chấm rồi nối tiếp hai số cuối (VD: 51A-000.01, 51B-000.01, 51C-000.01, 51D-000.01, 50R-000.01, 50LD-000.01, 50KT-000.01,...) === Thủ đô Hà Nội === Xe có dung tích xilanh <50 cc: 29-AA, 29-AB Xe có dung tích xi lanh >175 cc: 29-A1 Quận Ba Đình: 29-B1 Quận Hoàn Kiếm: 29-C1 Quận Hai Bà Trưng: 29-D1-D2 Huyện Ứng Hoà: 29-Y3 Quận Đống Đa: 29-E1-E2 Quận Tây Hồ: 29-F1 Quận Thanh Xuân: 29-G1 Quận Hoàng Mai: 29-H1 Quận Long Biên: 29-K1 Quận Nam Từ Liêm: 29-L1 Quận Bắc Từ Liêm: 29-L5 Quận Cầu Giấy: 29-P1 Quận Hà Đông: 29-T1 Thị xã Sơn Tây: 29-U1 Huyện Thanh Trì: 29-M1 Huyện Gia Lâm: 29-N1 Huyện Mê Linh: 29-Z1 Huyện Đông Anh: 29-S1 Huyện Sóc Sơn: 29-S6 Huyện Ba Vì: 29-V1 Huyện Phúc Thọ: 29-V3 Huyện Thạch Thất: 29-V5 Huyện Quốc Oai: 29-V7 Huyện Chương Mỹ: 29-X1 Huyện Đan Phượng: 29-X3 Huyện Hoài Đức: 29-X5 Huyện Thanh Oai: 29-X7 Huyện Mỹ Đức: 29-Y1 Huyện Thường Tín: 29-Y5 Huyện Phú Xuyên: 29-Y7 === Thành phố Hồ Chí Minh === Quận 2: 59-B1;59-BA Quận 4: 59-C1;59-CA Quận 7: 59-C2;59-CB Quận Tân Phú: 59-D1-D2;59-DB Quận Phú Nhuận: 59-E1;59-EA Quận 3: 59-F1;59-FA Quận 12: 59-G1-G2;59-GA Quận 5: 59-H1;59-HA Quận 6: 59-K1-K2; 59-KA Quận 8: 59-L1-L2;59-LA Quận 11: 59-M1- M2;59-MA Quận Bình Tân: 59-N1;50-N1; 59-NA Huyện Bình Chánh: 59-N2;59-NB Quận Tân Bình: 59-P1-P2;59-PA Quận Bình Thạnh: 59-S1- S2;59-SA Quận 1: 59-T1-T2;59-TA Quận 10: 59-U1-U2-U3 59UA Quận Gò Vấp: 59-V1-V2;59-VA Quận 9: 59-X1;59-XA Quận Thủ Đức: 59-X2-X3;59-XB Huyện Hóc Môn: 59-Y1;50-Y1, 50-YA Huyện Củ Chi: 59-Y2-Y3;59 YB Huyện Nhà Bè: 59-Z1;59-ZA Huyện Cần Giờ: 59-Z2;59-ZB Xe môtô phân khối trên 175cc: 59-A3 Xe mô tô biển đặc biệt: 59-xxx-NN-xx Xe máy điện: 41-MĐ1, 41-MĐ2 Xe mô tô của các công ty, doanh nghiệp có vốn nước ngoài: 59-LD BIỂN SỐ Ô TÔ TRẮNG: Xe ô tô dưới 9 chỗ: 51A, 51F, 51G Xe ô tô trên 10 chỗ: 51B Xe ô tô tải, xe bán tải, xe đầu kéo: 51C, 51D Xe ô tô van: 51D Xe ô tô công trình, xe ô tô dịch vụ công ích: 51E BIỂN SỐ Ô TÔ XANH: Xe ô tô của các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan Đảng: 50A Xe ô tô của đơn vị hành chính sự nghiệp, sự nghiệp công lập có thu: 50M Xe ô tô chuyên dùng của lực lượng Công an nhân dân sử dụng vào mục đích an ninh: 50CD BIỂN SỐ XE Ô TÔ KÝ HIỆU RIÊNG, BIẾN TRẮNG: Xe ô tô của quân đội làm kinh tế: 50KT Xe ô tô của các công ty, doanh nghiệp có vốn nước ngoài: 50LD Xe ô tô của các Ban quản lý dự án do nước ngoài đầu tư: 50DA Rơ moóc, sơmi rơmoóc: 50R, 51R Xe ô tô đăng ký tạm thời: T50, T41 Xe cơ giới sản xuất, lắp ráp trong nước, được Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai thí điểm: 50TĐ Xe ô tô hoạt động hạn chế: 50HC Xe ô tô của các tổ chức, cơ quan, cá nhân quốc tịch nước ngoài: 41-xxx(mã quốc gia)-NN/NG/QT/CV-xx (số thứ tự được cấp) Biển ngoại giao hoặc quốc tế có gạch màu đỏ chạy ngang hàng chữ số thể hiện mức độ cao hơn của mỗi dòng biển đó (sự cấm xâm phạm dù bất cứ tình huống nào) Biển số xe 4 số Quận 1: T Quận 2, 9, Thủ Đức: X Quận 3: F Quận 4, 7, Nhà Bè, Cần giờ: Z Quận 5: H Quận 6: K Quận 8: L Quận 10: U Quận 11: M Quận 12, Hóc Môn (Y5-Y9), Củ Chi (Y1-Y4) Quận Bình Tân (N1-5), Bình Chánh (N6-N9) Quận Gò Vấp: V Quận Bình Thạnh:S Quận Phú Nhuận: R Quận Tân Bình(P1-5), Quận Tân Phú(P6-P9) === An Giang === Thành phố Long Xuyên: 67-B1-B2 Huyện Châu Phú: 67-D1 Huyện Châu Thành: 67-C1 Thành phố Châu Đốc: 67-E1 Huyện Tịnh Biên: 67-F1 Huyện An Phú: 67-G1 Thị xã Tân Châu: 67-H1 Huyện Phú Tân: 67-K1 Huyện Chợ Mới: 67-L1 Huyện Thoại Sơn: 67-M1 Huyện Tri Tôn: 67-N1 === Bà Rịa - Vũng Tàu === Thành phố Vũng Tàu: 72-C1 Thành phố Bà Rịa: 72-D1 Huyện Tân Thành: 72-E1-T1 Huyện Châu Đức: 72-F1 Huyện Xuyên Mộc: 72-G1 Huyện Đất Đỏ: 72-H1 Huyện Long Điền: 72-K1 === Bạc Liêu === Thành phố Bạc Liêu: 94-K1 Thị xã Giá Rai: 94-D1 Huyện Phước Long: 94-E1 Huyện Hồng Dân: 94-F1 Huyện Vĩnh Lợi: 94-C1 Huyện Đông Hải: 94-B1 Huyện Hòa Bình: 94-G1 === Bắc Giang === Thành phố Bắc Giang: 98-B1- B2 Huyện Hiệp Hòa: 98-D1 Huyện Việt Yên: 98-K1 Huyện Lạng Giang: 98-M1 Huyện Lục Nam: 98-F1 Huyện Tân Yên: 98-H1 Huyện Yên Thế: 98-C1 Huyện Yên Dũng: 98-G1 Huyện Sơn Động: 98-L1 Huyện Lục Ngạn: 98-E1 === Bắc Kạn === Thành phố Bắc Kạn Huyện Ba Bể Huyện Bạch Thông Huyện Chợ Đồn Huyện Chợ Mới Huyện Na Rì Huyện Pắc Nặm Huyện Ngân Sơn === Bắc Ninh === Thị xã Từ Sơn: 99-B1 Huyện Tiên Du: 99-C1 Huyện Yên Phong: 99-D1 Huyện Quế Võ: 99-E1 Huyện Thuận Thành: 99-F1 Thành phố Bắc Ninh: 99-G1 Huyên Gia Bình: 99-H1 Huyện Lương Tài: 99-K1 === Bình Dương === Thành phố Thủ Dầu Một: 61-B1 Thị xã Thuận An: 61-C1 Thị xã Dĩ An: 61-D1 Thị xã Tân Uyên: 61-E1 Huyện Phú Giáo: 61-F1 Thị xã Bến Cát: 61-G1 Huyện Dầu Tiếng: 61-H1 Huyện Bàu Bàng: 61-K1 Huyện Bắc Tân Uyên: 61-N1 === Bình Định === Huyện Vân Canh: 77-B1 Huyện Hoài Nhơn: 77-C1 Huyện Phù Mỹ: 77-D1 Huyện Phù Cát: 77-E1 Thị xã An Nhơn: 77-F1 Huyện Tuy Phước: 77-G1 Huyện Tây Sơn: 77-H1 Huyện Hoài Ân: 77-K1 Thành phố Quy Nhơn: 77-L1 Huyện An Lão: 77-M1 Huyện Vĩnh Thạnh: 77-N1 === Bình Phước === Huyện Chơn Thành: 93-B1 Huyện Hớn Quản: 93-C1 Thị xã Bình Long: 93-E1 Huyện Lộc Ninh: 93-F1-N1 Huyện Bù Đốp 93-G1 Huyện Bù Gia Mập 93-H1 Thị xã Phước Long: 93-K1 Huyện Bù Đăng: 93-L1 Huyện Đồng Phú: 93-M1 Thị xã Đồng Xoài: 93-P1-P2 === Bình Thuận === Huyện Tuy Phong: 86-B1 Huyện Bắc Bình: 86-B2 Huyện Hàm Thuận Bắc: 86-B3 Huyện Hàm Thuận Nam: 86-B4 Huyện Hàm Tân: 86-B5 Thị xã La Gi: 86-B6 Huyện Tánh Linh: 86-B7 Huyện Đức Linh: 86-B8 Huyện Phú Quý: 86-B9 Thành phố Phan Thiết: 86-C1 === Bến Tre === Thành phố Bến Tre: 71-B1-B2-B3 Huyện Châu Thành: 71-B1-B2-B3 Huyện Giồng Trôm: 71-B1-B2-B3 Huyện Mỏ Cày Bắc: 71-B1-B2-B3 Huyện Mỏ Cày Nam: 71-B1-B2-B3 Huyện Bình Đại: 71-C1 Huyện Ba Tri: 71-C2 Huyện Thạnh Phú: 71-C3 Huyện Chợ Lách: 71-C4 Xe mô tô trên 175cc: 71-A1 Xe mô tô dưới 100cc: 71-AA Xe mô tô biển đặc biệt: 71-xxx-NN-xx Xe máy điện: 71-MĐ1 Xe mô tô của các công ty, doanh nghiệp có vốn nước ngoài: 71-LD BIỂN SỐ Ô TÔ TRẮNG: Xe ô tô dưới 9 chỗ: 71A Xe ô tô trên 10 chỗ: 71B Xe ô tô tải, xe bán tải, xe đầu kéo: 71C Xe ô tô van: 71D Xe ô tô công trình, xe ô tô dịch vụ công ích: 71E BIỂN SỐ Ô TÔ XANH: Xe ô tô của các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan Đảng: 71A Xe ô tô của đơn vị hành chính sự nghiệp, sự nghiệp công lập có thu: 71M Xe ô tô chuyên dùng của lực lượng Công an nhân dân sử dụng vào mục đích an ninh: 71CD BIỂN SỐ XE Ô TÔ KÝ HIỆU RIÊNG, BIẾN TRẮNG: Xe ô tô của quân đội làm kinh tế: 71KT Xe ô tô của các công ty, doanh nghiệp có vốn nước ngoài: 71LD Xe ô tô của các Ban quản lý dự án do nước ngoài đầu tư: 71DA Rơ moóc, sơmi rơmoóc: 71R Xe ô tô đăng ký tạm thời: T71 Xe cơ giới sản xuất, lắp ráp trong nước, được Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai thí điểm: 71TĐ Xe ô tô hoạt động hạn chế: 71HC Xe ô tô của các tổ chức, cơ quan, cá nhân quốc tịch nước ngoài: 71-xxx(mã quốc gia)-NN/NG/QT/CV-xxx(số thứ tự được cấp) Biển ngoại giao hoặc quốc tế có gạch màu đỏ chạy ngang hàng chữ số thể hiện mức độ cao hơn của mỗi dòng biển đó (sự cấm xâm phạm dù bất cứ tình huống nào) === Cao Bằng === Thành phố Cao Bằng: 11-X1-B1 Huyện Trùng Khánh: 11-K1 Huyện Thông Nông: 11-T1 Huyện Trà Lĩnh: 11-Y1 Huyện Quảng Uyên: 11-U1 Huyện Hà Quảng: 11-S1 Huyện Phục Hòa: 11-P1 Huyện Thạch An: 11-V1 Huyện Bảo Lạc: 11-M1 Huyện Bảo Lâm: 11-L1 Huyện Hạ Lang: 11-R1 Huyện Nguyên Bình: 11-N1 Huyện Hòa An: 11-H1 === Cà Mau === Thành phố Cà Mau: 69-B1-C1 Huyện Thới Bình: 69-D1 Huyện Cái Nước: 69-E1 Huyện Đầm Dơi: 69-F1 Huyện U Minh: 69-H1 Huyện Phú Tân: 69-K1 Huyện Ngọc Hiển: 69-L1 Huyện Năm Căn: 69-M1 Huyện Trần Văn Thới: 69-N1 === Cần Thơ === Quận Ninh Kiều: 65-B1 Quận Cái Răng: 65-C1; 65V1-2 4 số 50cm3 65-BA Quận Bình Thủy: 65-D1; 65-U1-2 4 số 50cm3 65-CA Quận Ô Môn: 65-E1; 65-T1-2 4 số 50cm3 65-DB Quận Thốt Nốt: 65-F1; 65-R1-2 4 số 50cm3 65- EA Huyện Phong Điền: 65-G1; 65-L1 4 số 50cm3 65-FA Huyện Thới Lai: 65-H1; 65-K2; 65-M1-2 4 số 50cm3 65-GA Huyện Cờ Đỏ: 65-K1; 65-Y1 4 số 50cm3 65-HA Huyện Vĩnh Thạnh: 65-L1; 65-S1-2 4 số 50cm3 65-KA Biển chung toàn thành phố(2004): 65-F1-9; 65-H1-9; 65-P1-9; 65-Z1; 65-N1-2; 65-K1; 65-D1 4 số Biển xe bốn bánh(2010) 65K;65Z;65N;65M;65L === Đà Nẵng === Quận Hải Châu: 43-B1-C1 Quận Thanh Khê: 43-D1 Quận Sơn Trà: 43-E1 Quận Liên Chiểu: 43-F1 Quận Cẩm Lệ: 43-G1 Quận Ngũ Hành Sơn: 43-H1 Huyện Hòa Vang: 43-K1 === Đắk Lắk === TP. Buôn Ma Thuột: 47-B1-B2 Thị xã Buôn Hồ: 47-C1 Huyện Ea H'leo: 47-D1 Huyện Krông Năng: 47-E1 Huyện EaKar: 47-F1 Huyện M'Drăk: 47-G1 Huyện Cưmgar: 47-H1 Huyện Krông Bông: 47-K1 Huyện Krông Ana: 47-L1 Huyện Lăk: 47-N1 Huyện Krông Pắc: 47-M1 Huyện Ea Sup: 47-P1 Huyện Buôn Đôn: 47-S1 Huyện Cư Kuin: 47-T1 Huyện Krông Búk: 47-U1 Xe có phân khối từ 50cc trở xuống: 47 - AB === Đắk Nông === Thị xã Gia Nghĩa: 48-B1 Huyện Đắk R'Lấp: 48-H1 Huyện Tuy Đức: 48-K1 Huyện Đắk Glong: 48-G1 Huyện Đắk Song: 48-F1 Huyện Đắk Mil: 48-E1 Huyện Cư Jút: 48-D1 Huyện Krông Nô: 48-C1 === Điện Biên === Thành phố Điện Biên Phủ 27-P1 Huyện Điện Biên 27-N1 Thị xã Mường Lay 27-X1 Huyện Tuần Giáo 27-Z1 Huyện Điện Biên Đông 27-U1 Huyện Mường Nhé 27-S1 Huyện Mường Ẳng 27-Y1 Huyện Mường Chà 27-V1 Huyện Tủa Chùa 27-L1 === Đồng Nai === Thành phố Biên Hòa: 60-B1-F1-F2 Thị xã Long Khánh: 60-B2 60-AB Huyện Tân Phú: 60-B3; 60-AC Huyện Định Quán: 60-B4; 60-AD Huyện Xuân Lộc: 60-B5; 60-AE Huyện Cẩm Mỹ: 60-B6;60-AF Huyện Thống Nhất: 60-B7; 60-AH Huyện Trảng Bom: 60-B8; 60-AK Huyện Vĩnh Cửu: 60-B9; 60-AL Huyện Long Thành: 60-C1; 60-AM Huyện Nhơn Trạch: 60-C2; 60-AN Xe mô tô trên 175cc: 60-A1 Xe con: 60A Xe khách: 60B Xe tái và xe bán tải: 60C === Đồng Tháp === Thành phố Cao Lãnh: 66-P1 Thành phố Sa Đéc: 66-S1 Thị xã Hồng Ngự: 66-H1 Huyện Cao Lãnh: 66-F1 Châu Thành: 66-C1 Hồng Ngự: 66-G1 Lai Vung: 66-L1 Lấp Vò: 66-V1 Tam Nông: 66-N1 Tân Hồng: 66-K1 Thanh Bình: 66-B1 Tháp Mười: 66-M1 === Gia Lai === Thành phố Pleiku: 81-B1-B2 Thị xã An Khê: 81-G1 Thị xã Ayun Pa: 81-M1 Huyện Chư Păh: 81-X1 Huyện Chư Prông: 81-T1 Huyện Chư Sê: 81-P1 Huyện Đắk Đoa: 81-C1 Huyện Đak Pơ: 81-F1 Huyện Đức Cơ: 81-U1 Huyện Ia Grai 81-V1 Huyện Ia Pa: 81-L1 Huyện K'Bang: 81-H1 Huyện Kông Chro: 81-K1 Huyện Krông Pa: 81-N1 Huyện Mang Yang: 81-E1 Huyện Phú Thiện: 81-D1 Huyện Chư Pưh: 81-S1 Xe có phân khối từ 50cc trở xuống: 81 -AA === Hà Giang === Thành phố Hà Giang: 23-B1 Huyện Bắc Quang: 23-D1 Huyện Quang Bình: 23-E1 Huyện Hoàng Su Phì: 23-F1 Huyện Xín Mần: 23-G1 Huyện Vị Xuyên: 23-H1 Huyện Bắc Mê: 23-K1 Huyện Quản Bạ: 23-L1 Huyện Yên Minh: 23-M1 Huyện Đồng Văn: 23-N1 Huyện Mèo Vạc: 23-P1 === Hà Nam === Huyện Kim Bảng: 90-A1 Thành phố Phủ Lý: 90-B1 Huyện Thanh Liêm: 90-B2 Huyện Duy Tiên: 90-D1 Huyện Bình Lục: 90-E1 Huyện Lý Nhân: 90-L1 === Hà Tĩnh === Huyện Vũ Quang: 38-E1 Huyện Đức Thọ: 38-D1 Huyện Hương Sơn: 38-H1 Huyện Hương Khê: 38-B1 Huyện Nghi Xuân: 38-N1 Thành phố Hà Tĩnh: 38-P1 Huyện Can Lộc: 38-C1 Huyện Kỳ Anh: 38-K1 Thị xã Hồng Lĩnh: 38-F1 Huyện Cẩm Xuyên: 38-X1 Huyện Lộc Hà: 38-L1 Huyện Thạch Hà: 38-M1 Xe Mua Ở Các Tỉnh Khác Gủi Về Đăng Ký: 38-P === Hải Dương === Thành phố Hải Dương: 34-B1-B2-B3 Thị xã Chí Linh: 34-C1 Huyện Kinh Môn: 34-D1 Huyện Ninh Giang: 34-E1 Huyện Thanh Miện:34-F1 Huyện Gia Lộc:34-P1 Huyện Nam Sách: 34-M1 Huyện Thanh Hà: 34-M2 Huyện Tứ Kỳ:34-N1 Huyện Bình Giang: 34-P1 Huyện Cẩm Giàng: 34-K1 Huyện Kim Thành: 34-?1 === Hải Phòng === Quận Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân, Hải An: 15-B1-B2 Huyện An Dương: 15-C1 Huyện An Lão: 15-D1 Huyện Cát Hải: 15-E1 Huyện Kiến Thuỵ: 15-F1 Huyện Thuỷ Nguyên: 15-G1 Huyện Tiên Lãng: 15-H1 Huyện Vĩnh Bảo: 15-K1 Quận Dương Kinh: 15-L1 Quận Đồ Sơn: 15-M1 Quận Kiến An: 15-N1 === Hậu Giang === Thành phố Vị Thanh: 95-B1 Thị xã Ngã Bảy: 95-F1 Huyện Châu Thành: 95-G1 Huyện Châu Thành A: 95-H1 Huyện Long Mỹ: 95-D1 Huyện Phụng Hiệp: 95-E1 Huyện Vị Thủy: 95-C1 === Hòa Bình === Thành phố Hòa Bình: 28-H1 Huyện Lương Sơn: 28-G1 Huyện Kỳ Sơn: 28-K1 Huyện Kim Bôi: 28-B1 Huyện Lạc Thủy: 28-L1 Huyện Yên Thủy: 28-F1 Huyện Cao Phong:28-C1 Huyện Đà Bắc: 28-D1 Huyện Mai Châu: 28-M1 Huyện Tân Lạc: 28-E1 Huyện Lạc Sơn: 28-N1 === Hưng Yên === Thành phố Hưng Yên: 89-B1 Huyện Ân Thi: 89-C1 Huyện Kim Động: 89-D1 Huyện Phù Cừ: 89-G1 Huyện Tiên Lữ: 89-H1 Huyện Khoái Châu: 89-E1 Huyện Văn Giang: 89-K1 Huyện Mỹ Hào: 89-F1 Huyện Yên Mỹ: 89-M1 Huyện Văn Lâm: 89-L1 === Khánh Hòa === Thành phố Nha Trang: 79-N1-N2 Thành phố Cam Ranh: 79-C1 Thị xã Ninh Hòa: 79-H1 Huyện Diên Khánh: 79-D1 Huyện Vạn Ninh: 79-V1 Huyện Khánh Vĩnh: 79-X1 Huyện Khánh Sơn: 79-K1 Huyện Cam Lâm: 79-Z1 Huyện Trường Sa === Kiên Giang === Thành phố Rạch Giá: 68-X1 Thị xã Hà Tiên: 68-H1 Huyện An Biên: 68-B1 Huyện An Minh: 68-M1 Huyện Châu Thành: 68-C1 Huyện Giồng Riềng: 68-G1 Huyện Gò Quao: 68-E1 Huyện Hòn Đất: 68-D1 Huyện Kiên Hải: 68-S1 Huyện Kiên Lương: 68-K1 Huyện Phú Quốc: 68-P1 Huyện Tân Hiệp: 68-T1 Huyện Vĩnh Thuận: 68-N1 Huyện U Minh Thượng: 68-L1 Huyện Giang Thành: 68-F1 === Kon Tum === Thành phố Kon Tum: 82-B1 Huyện Đắk Glei 82-N1 Huyện Đắk Hà: 82-H1 Huyện Đắk Tô 82-F1 Huyện Ia H'Drai Huyện Kon Plông Huyện Kon Rẫy: 82-K1 Huyện Ngọc Hồi 82-E1 Huyện Sa Thầy: 82-M1 Huyện Tu Mơ Rông === Lai Châu === (cần được bổ sung) === Long An === Thành phố Tân An: 62-B1 Huyện Tân Hưng: 62-C1 Huyện Vĩnh Hưng: 62-D1 Huyện Tân Thạnh: 62-E1 Huyện Thạnh Hoá: 62-F1 Huyện Thủ Thừa: 62-G1 Huyện Tân Trụ: 62-H1 Huyện Châu Thành: 62-K1 Huyện Cần Đước: 62-L1 Huyện Cần Giuộc: 62-M1 Huyện Bến Lức: 62-N1 Huyện Đức Hoà: 62-P1 Huyện Đức Huệ: 62-S1 Huyện Mộc Hoá: 62-U1 Thị xã Kiến Tường: 62-T1 === Lào Cai === Thành phố Lào Cai: 24-B1 Huyện Bảo Thắng: 24-T1 Huyện Văn Bàn: 24-V1 Huyện Bắc Hà: 24-Z1- R1 Huyện Bát Xát: 24-X1 Huyện Sa Pa: 24-S1 Huyện Mường Khương: 24-M1 Huyện Simacai: 24-U1 Huyện Bảo Yên: 24-Y1 === Lạng Sơn === Thành phố Lạng Sơn 12-P1 Huyện Tràng Định: 12-T1 Huyện Lộc Bình 12-L1 Huyện Chi Lăng 12-X1 Huyện Hữu Lũng 12-H1 Huyện Đình Lập 12-Z1 Huyện Văn Lãng 12-V1 Huyện Bình Gia 12-B1 Huyện Văn Quan 12-U1 Huyện Cao Lộc 12-D1 Huyện Bắc Sơn 12-S1 === Lâm Đồng === Thành phố Đà Lạt: 49-B1 Huyện Đam Rông: 49-C1 Huyện Lâm Hà: 49-D1 Huyện Đức Trọng: 49-E1 Huyện Đơn Dương: 49-F1 Huyện Di Linh: 49-G1 Huyện Bảo Lâm: 49-H1 Thành phố Bảo Lộc: 49-K1-S1 Huyện Đạ Huoai: 49-L1 Huyện Đạ Tẻh: 49-M1 Huyện Cát Tiên: 49-N1 Huyện Lạc Dương: 49-P1 === Nam Định === Thành phố Nam Định: 18-B1 Huyện Mỹ Lộc: 18-B1 Huyện Vụ Bản: 18-C1 Huyện Ý Yên: 18-D1 Huyện Trực Ninh: 18-E1 Huyện Xuân Trường: 18-F1 Huyện Giao Thủy: 18-G1 Huyện Hải Hậu: 18-H1 Huyện Nam Trực: 18-K1 Huyện Nghĩa Hưng: 18-L1 === Nghệ An === Thành phố Vinh: 37-B1-B9 Huyện Con Cuông: 37-C1 Huyện Tương Dương:37-D1 Huyện Đô Lương: 37-B1- 4XX.XX, 7XX.XX, 37D1-5XX.XX - 9XX.XX Huyện Thanh Chương: 37E1-XXX.XX Huyện Diễn Châu: 37-B1, 37-B2, 37F1 - 5XX.XX - 9XX.XX Huyện Quỳ Châu: 37G1-XXX.XX Huyện Nghĩa Đàn: 37-Bx, 37G1-5XX.XX - 9XX.XX Thị xã Thái Hòa: 37B1-3XX.XX 37B2- 3xx.xx. 37H1-5XX.XX - 9XX.XX Huyện Quỳ Hợp: 37H1-XXX.XX Huyện Kỳ Sơn: 37K1-XXX.XX Huyện Nghi Lộc: 37-K1- 5XX.XX - 9XX.XX Huyện Quỳnh Lưu: 37L1-XXX.XX,37 L2- XXX.XX Thị xã Hoàng Mai: 37L1-5XX.XX -9XX.XX Huyện Anh Sơn: 37-M1 Huyện Nam Đàn: 37-Bx, 37 M1- 5XX.XX - 9XX.XX Huyện Tân Kỳ: 37N1-XXX.XX Huyện Hưng Nguyên: 37-Bx, 37N1-5XX.XX -9XX.XX Huyện Yên Thành: 37P1-XXX.XX Huyện Quế Phong: 37F1-XXX.XX Thị xã Cửa Lò: 37-Bx, 37S1- XXX.XX === Ninh Bình === Thành phố Ninh Bình: 35-B1 Thành phố Tam Điệp: 35-T1 Huyện Gia Viễn: 35-G1 Huyện Hoa Lư: 35-H1 Huyện Kim Sơn: 35-K1 Huyện Nho Quan: 35-N1 Huyện Yên Khánh: 35-Y1 Huyện Yên Mô: 35-M1 === Ninh Thuận === Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm: 85-B1 Huyện Bác Ái: 85-G1 Huyện Ninh Hải: 85-C1 Huyện Ninh Phước: 85-D1 Huyện Ninh Sơn: 85-F1 Huyện Thuận Bắc: 85-H1 Huyện Thuận Nam: 85-E1 === Phú Thọ === Thành phố Việt trì: 19-B1 Thị xã Phú Thọ: 19-M1 Huyện Tam Nông: 19-N1 Huyện Cẩm Khê: 19-G1 Huyện Hạ Hòa: 19-F1 Huyện Thanh Sơn: 19-C1 Huyện Thanh Thủy: 19-L1 Huyện Thanh Ba: 19-K1 Huyện Tân Sơn: 19-D1 Huyện Lâm Thao: 19-S1 Huyện Đoan Hùng: 19-E1 Huyện Yên Lập: 19-H1 === Phú Yên === Thành phố Tuy Hòa: 78-C1 Thị xã Sông Cầu: 78-D1 Huyện Phú Hòa: 78-E1 Huyện Tây Hòa: 78-F1 Huyện Đông Hòa: 78-G1 Huyện Tuy An: 78-H1 Huyện Đồng Xuân: 78-K1 Huyện Sơn Hòa: 78-L1 Huyện Sông Hinh: 78-M1 === Quảng Bình === Thành phố Đồng Hới: 73-B1 Huyện Minh Hóa: 73-C1 Huyện Tuyên Hóa: 73-D1 Huyện Quảng Trạch: 73-E1 Huyện Bố Trạch: 73F1 Huyện Quảng Ninh: 73-G1 Huyện Lệ Thủy: 73-H1 === Quảng Trị === Thành phố Đông Hà: 74 - C1 Huyện Gio Linh: 74 - C1(trước đây: 74 - B1) Huyện Triệu Phong: 74 -C1 (trước đây: 74 - D1) Huyện Hải Lăng: 74 - F1 Huyện Vĩnh Linh: 74 - L1 Huyện Cam Lộ: 74 - C1 (trước đây: 74 - G1) Huyện Hướng Hóa: 74 - H1 Huyện Đakrông: 74 - C1 (trước đây: 74 - K1) Huyện đảo Cồn Cỏ: 74 - P1 Thị xã Quảng Trị: 74 - C1 (trước đây: 74 - E1) Xe dưới 9 chỗ: 74A Xe chở khách trên 16 chỗ: 74B Xe chở hàng: 74C Xe hoán cải: 74D Xé sơ mi rơ móc: 74R === Quảng Nam === Thành phố Tam Kỳ: 92-B1 Thành phố Hội An: 92-C1 Thị xã Điện Bàn: 92-D1 Huyện Thăng Bình: 92-H1 Huyện Bắc Trà My: 92-V1 Huyện Nam Trà My: 92-X1 Huyện Núi Thành: 92-N1 Huyện Phước Sơn: 92-P1 Huyện Tiên Phước: 92-M1 Huyện Hiệp Đức: 92-K1 Huyện Nông Sơn: 92-Y1 Huyện Đông Giang: 92-T1 Huyện Nam Giang: 92-S1 Huyện Đại Lộc: 92-E1 Huyện Phú Ninh: 92-L1 Huyện Tây Giang: 92-U1 Huyện Duy Xuyên: 92-F1 Huyện Quế Sơn: 92-G1 === Quảng Ngãi === Thành phố Quảng Ngãi: 76-B1 Huyện Bình Sơn: 76-C1 Huyện Sơn Tịnh: 76-D1 Huyện Tư Nghĩa: 76-E1 Huyện Nghĩa Hành: 76-F1 Huyện Mộ Đức: 76-G1 Huyện Đức Phổ: 76-H1 Huyện Trà Bồng: 76-P1 Huyện Tây Trà: 76-S1 Huyện Sơn Hà: 76-M1 Huyện Sơn Tây: 76-N1 Huyện Minh Long: 76-L1 Huyện Ba Tơ: 76-K1 Huyện Lý Sơn: 76-T1 === Quảng Ninh === Thành phố Hạ Long: 14-B1-B4 Thành phố Móng Cái: 14-K1 Thành phố Uông Bí: 14-Y1 Thành phố Cẩm Phả: 14-U1 Thị xã Quảng Yên: 14-X1 Thị xã Đông Triều: 14-Z1 Huyện Ba Chẽ: 14-R1 Huyện Bình Liêu: 14-P1 Huyện Cô Tô: 14-B9 Huyện Đầm Hà: 14-M1 Huyện Hải Hà: 14-D1 Huyện Hoành Bồ: 14-V1 Huyện Tiên Yên: 14-N1 Huyện Vân Đồn: 14-S1 === Sóc Trăng === Thành phố Sóc Trăng: 83-P1-P2-P3 Thị xã Vĩnh Châu: 83-P1-P2-P3 Huyện Mỹ Xuyên: 83-P1-P2-P3 Huyện Trần Đề: 83-P1-P2-P3 Huyện Long Phú: 83-P1-P2-P3 Huyện Mỹ Tú: 83-P1-P2-P3 Huyện Thạnh Trị: 83-P1-P2-P3 Huyện Kế Sách: 83-C1 Huyện Châu Thành: 83-C1 Thị xã Ngã Năm: 83-E1 Huyện Cù Lao Dung: 83-D1 === Sơn La === Thành phố Sơn La: 26-B1-B2 Huyện Sông Mã: 26-C1 Huyện Phù Yên: 26-D1 Huyện Bắc Yên: 26-E1 Huyện Sốp Cộp: 26-F1 Huyện Mộc Châu: 26-G1 Huyện Quỳnh Nhai: 26-H1 Huyện Mai Sơn: 26-K1 Huyện Mường La: 26-L1 Huyện Thuận Châu: 26-M1 Huyện Yên Châu: 26-N1 Huyện Vân Hồ: 26-P1 === Thanh Hóa === Thành phố Thanh Hóa: 36-B4-B5 Huyện Quảng Xương: 36-B1 Huyện Thọ Xuân: 36-D1 Huyện Thạch Thành: 36-E1 Huyện Hậu Lộc: 36-F1 Huyện Nga Sơn: 36-G1 Huyện Quan Hóa: 36-H5 Huyện Cẩm Thủy: 36-L1 Huyện Ngọc Lặc: 36-K5 Huyện Thường Xuân: 36-M1 Huyện Hà Trung: 36-B3 Thị xã Bỉm Sơn: 36-F5 Huyện Nông Cống 36-B2 Huyện Tĩnh Gia 36-C1 === Thái Bình === Thành phố Thái Bình: 17M1- xxxx; 17N1- xxxx, 17B1- 0xxxx, 17B1- 1xxxx, 17B1- 9xxxx, 17B9- xxxxx Huyện Đông Hưng: 17M3- xxxx; 17N3- xxxx, 17B1- 3xxxx, 17B3- xxxxx Huyện Hưng Hà: 17M4- xxxx; 17N4- xxxx, 17B1- 4xxxx, 17B4- xxxxx Huyện Kiến Xương: 17M7- xxxx; 17N7- xxxx, 17B1- 7xxxx, 17B7- xxxxx Huyện Quỳnh Phụ: 17M5- xxxx; 17N5- xxxx, 17B1- 5xxxx, 17B5- xxxxx Huyện Thái Thụy: 17M6- xxxx; 17N6- xxxx, 17B1- 6xxxx, 17B6- xxxxx Huyện Tiền Hải: 17M8- xxxx; 17N8 -xxxx, 17B1- 8xxxx, 17B8- xxxxx Huyện Vũ Thư: 17M2- xxxx; 17N2- xxxx, 17B1- 2xxxx, 17B2- xxxxx === Thái Nguyên === Thành phố Thái Nguyên: 20-B1 Thành phố Sông Công: 20-B1 Huyện Đồng Hỷ: 20-B1 Huyện Định Hoá: 20-C1 Huyện Võ Nhai: 20-D1 Huyện Phú Lương: 20-E1 Huyện Đại Từ: 20-F1 Huyên Phú Bình 20-G1 TX Phổ Yên: 20-H1 === Thừa Thiên - Huế === Xe có phạm vi hoạt động hạn chế (nội bộ trong khu du lịch, khu thành nội Huế, dọc bờ sông Hương...): 75-HC xxx.xx Xe xích lô: 75-XL Xe máy điện: 75-MĐ1 Xe mô tô >= 175cc: 75-A1 xxx.xx Thành phố Huế: 75-B1, 75-F1 Thị xã Hương Thủy: 75-S1, 75-G1 Thị xã Hương Trà: 75-D1 Huyện A Lưới: 75-L1 Huyện Nam Đông: 75-Y1, 75-M1 Huyện Phong Điền: 75-C1 Huyện Phú Lộc: 75-K1 Huyện Phú Vang: 75-H1 Huyện Quảng Điền: 75-E1 === Tiền Giang === Huyện Cái Bè: 63-B1 Thị Xã Cai Lậy: 63-B2 Huyện Châu Thành: 63-B3 Huyện Chợ Gạo: 63-B4 Huyện Gò Công Tây: 63-B5 Thị xã Gò Công: 63-B6 Huyện Gò Công Đông: 63-B7 Huyện Tân Phú Đông: 63-B8 Huyện Tân Phước: 63-B8 Thành phố Mỹ Tho: 63-B9 Huyện Cai Lậy: 63-P1 === Trà Vinh === Thành phố Trà Vinh: 84-B1-C1 Huyện Càng Long: 84-L1 Huyện Châu Thành: 84-D1 Huyện Cầu Kè: 84-K1 Huyện Tiểu Cần: 84-H1 Huyện Cầu Ngang: 84-E1 Huyện Trà Cú: 84-G1 Thị xã Duyên Hải: 84-F1 Huyện Duyên Hải: 84-M1 === Tuyên Quang === Thành phố Tuyên Quang: 22-B1-B2 Huyện Chiêm Hóa: 22-F1, Huyện Sơn Dương: 22-S1-S2 Huyện Hàm Yên: 22-Y1 Huyện Na Hang: 22-N1 Huyện Yên Sơn: 22-B1 Huyện Lâm Bình: 22-L1 === Tây Ninh === Thành phố Tây Ninh: 70-B1 Huyện Tân Biên: 70-H1 Huyện Tân Châu: 70-K1 Huyện Dương Minh Châu: 70-E1 Huyện Hòa Thành: 70-G1 Huyện Bến Cầu: 70-C1 Huyện Gò Dầu: 70-F1 Huyện Trảng Bàng: 70-L1 Huyện Châu Thành: 70-D1 === Vĩnh Long === Xe Motor PKL >175cc: 64-A1, 64-A2, 64-A3, 64-A4 Xe máy điện: 64-MĐ1, 64-MĐ2 Thành phố Vĩnh Long: 64-B1; 64-B2; 64-B3; 64-C1; 64-CA (50cc) Thị xã Bình Minh: 64-H1; 64-HA (50cc) Huyện Bình Tân: 64-K1; 64-KA (50cc) Huyện Long Hồ: 64-B1; 64-BA (50cc) Huyện Mang Thít: 64-G1; 64-GA (50cc) Huyện Tam Bình: 64-E1; 64-EA (50cc) Huyện Trà Ôn: 64-F1; 64-FA (50cc) Huyện Vũng Liêm: 64-D1; 64-DA (50cc) === Vĩnh Phúc === Thành phố Vĩnh Yên: 88-B1 Huyện Sông Lô: 88-C1 Huyện Lập Thạch: 88-D1 Huyện Tam Đảo: 88-E1 Huyện Yên Lạc: 88-F1 Huyện Bình Xuyên: 88-G1 Thị xã Phúc Yên: 88-H1 Huyện Tam Dương: 88-K1 Huyện Vĩnh Tường: 88-L1 Huyện Mê Linh: 29-Z1 === Yên Bái === Thành phố Yên Bái: 21- B1 Huyện Lục Yên: 21-C1 Huyện Yên Bình: 21-D1 Huyện Trấn Yên: 21-F1 TX Nghĩa Lộ: 21-K1 Huyện Văn Chấn: 21-L1 == Chú thích ==
cộng hòa tự trị nam kỳ.txt
Cộng hòa tự trị Nam Kỳ (tiếng Pháp: République autonome de Cochinchine) hay các tên gọi khác: Nam Kỳ Cộng hòa quốc, Nam Kỳ quốc, Cộng hòa Nam Kỳ, Nam Kỳ Tự trị là một chính quyền tồn tại từ 1946 đến 1948, về danh nghĩa quản lý lãnh thổ Nam Kỳ (Nam Bộ) Việt Nam. Đây là một chính thể không được ngành sử học chính thống tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại hiện nay nhắc đến nhiều. == Một số đặc điểm của Nam Kỳ == Nam Kỳ là vùng đất mới được khai hoang có những đặc điểm lịch sử, xã hội, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hoá, tâm lý, phong tục, tập quán,... khác với Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ là thuộc địa do người Pháp trực tiếp cai trị với một hệ thống luật pháp khác hệ thống được áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tại Nam Kỳ không tồn tại bộ máy hành chính của Triều đình Huế như ở Bắc và Trung Kỳ. Về mặt kinh tế, Nam Kỳ hình thành một tầng lớp đại địa chủ người Việt giàu lên nhờ chính sách khai hoang của Chính quyền thuộc địa, nhiều người trong tầng lớp này mang quốc tịch Pháp. Thương mại tại Nam Kỳ đặc biệt là ngoại thương (xuất khẩu nông sản) khá phát triển. Do kinh tế phát triển nên mức sống tại Nam Kỳ cao hơn các miền khác. Nam Kỳ có nền báo chí hình thành sớm nhất tại Việt Nam và phát triển tương đối tự do vì người Pháp áp dụng quy chế thuộc địa chứ không phải quy chế bảo hộ như tại Bắc và Trung Kỳ. Hơn nữa Nam Kỳ còn có một tầng lớp trí thức Tây học, nhiều người trong số này từng du học tại Pháp hoặc có quốc tịch Pháp. Chính vì thế mức độ Âu hoá về kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, luật pháp, tập quán, lối sống... ở Nam Kỳ khá cao. Ngoài ra còn phải kể đến những khác biệt do điều kiện địa lý, đặc điểm dân cư, cấu trúc xã hội và lịch sử chia cắt nhiều thế kỷ với miền Bắc (Trịnh-Nguyễn phân tranh) tạo ra. Tất cả tạo nên một tâm lý phổ biến trong dân cư Nam Kỳ coi các vùng miền khác là những xứ sở xa lạ. Tâm lý này có thể được một số chính trị gia khai thác vì mục đích chính trị. Trước năm 1945, ở Nam Kỳ đã có những cá nhân và tổ chức vận động, tuyên truyền đòi người Pháp mở rộng quyền tự trị cho người Việt như Đảng Lập hiến Đông Dương. Các cuộc vận động này do tầng lớp trung lưu và thượng lưu chủ xướng. Sau năm 1945, ý tưởng chính trị này vẫn còn tồn tại. == Hình thành == Từ trước khi giải phóng được nước Pháp, Tướng De Gaulle nhân danh Chủ tịch Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp đã tuyên bố chính sách của Pháp với Đông Dương vào ngày 24 tháng 3 năm 1945. De Gaulle cho rằng "Năm quốc gia tạo nên Liên bang Đông Dương được phân biệt bằng văn minh, chủng tộc và truyền thống, sẽ vẫn duy trì những đặc điểm riêng của họ trong Liên bang.". Như vậy, cho đến cuối Thế chiến thứ II, người Pháp vẫn xem Bắc, Trung, và Nam Kỳ của Việt Nam là ba quốc gia khác nhau, cùng với Lào và Cao Miên, tạo thành năm xứ Đông Dương. Việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ sau đó cũng nằm trong kế hoạch tái lập Liên bang Đông Dương cũ của Pháp. Ở Viễn Đông, khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và Đế quốc Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945 thì lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống do Quân đội Anh dưới quyền chỉ huy của tướng Douglas Gracey nhân danh lực lượng Đồng Minh tiếp quản. Ngày 23 tháng 9 năm 1945 người Pháp tái vũ trang và sẵn sàng tiếp thu Sài Gòn nhưng phải đợi đến tháng 10 khi quân Anh chính thức trao chủ quyền lại cho Pháp thì Quân đội Pháp mới ồ ạt đổ bộ rồi mở rộng đánh chiếm toàn Nam Bộ. Tháng 2 năm 1946, Ủy viên Cộng hòa Nam Kỳ (Commissaire République, tức chức vụ mới lập để gọi người Pháp cầm đầu hành chánh ở Nam Kỳ) Jean Cédile cho lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) với 12 ủy viên, trên danh nghĩa giúp người bản xứ tự quyết định tương lai xứ sở, nhưng cũng có thâm ý tách dần chính trị Nam Kỳ khỏi những biến động và thương thuyết ở Bắc và Trung Kỳ. Thành phần Hội đồng gồm 4 người Pháp và 8 người Việt nhưng tất cả đều có quốc tịch Pháp. Chính Hội đồng này sang tháng 3 đã đệ trình một kiến nghị với chữ ký của 8 ủy viên người Việt lên Cao ủy Đông Dương (tương đương với chức Toàn quyền Đông Dương cũ) là đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu xin lập một xứ Nam Kỳ tự trị. Cédile tỏ rõ ý định ủng hộ ý đồ "Nam Kỳ tự trị" và hậu thuẫn những đảng phái thân Pháp như Đảng Nam Kỳ của Béziat để vận động công chúng. Những nhóm khác như Đông Dương Tự trị Đảng và Việt Nam Tân dân Đảng cũng ngả theo lập trường "Nam Kỳ tự trị" của Pháp. Cùng lúc đó thì Đảng Tân Dân chủ của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tuy tham gia vào Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ vẫn cố gắng tìm chỗ đứng riêng để thu hút các lực lượng không Việt Minh. Ngày 31 Tháng 5, 1946 Hội đồng tư vấn Nam Kỳ lấy tên mới là Hội đồng Nam Kỳ (Conseil de Cochinchine) và tăng số ủy viên lên 42 người. Trong khi Hội nghị Fontainebleau sắp diễn ra ở Pháp thì Cao ủy Đông Dương là d'Argenlieu đơn phương tán thành việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ ngày 27 tháng 5 năm 1946 và ra tuyên cáo ngày 1 tháng 6 trước đám đông tụ tập ở Nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. Ngày 5 tháng 6, tổng trưởng Pháp Marius Moutet chấp thuận hành xử của d'Argenlieu để "bảo vệ quyền lợi của dân tộc Nam Kỳ". Cũng vào đầu tháng 6, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đề cử làm Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ tự trị. Ủy viên Cédile liền ký với tân Thủ tướng một hiệp ước nhìn nhận xứ Nam Kỳ là một xứ tự do, riêng biệt trong khuôn khổ của Liên bang Đông Dương. Sau đó, báo Cứu quốc (Việt Minh) phản hồi: "Chúng tôi mong đô đốc Đác giăng li ơ ra lệnh hạ màn cái trò hề vô vị "Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ" đó đi. Nếu người Pháp cần phải thử xem Nam bộ có phải là đất Việt Nam không? Thì cứ mở cuộc trưng cầu dân ý cho công bằng. Tại sao lại một chính phủ tự trị rồi mới trưng cầu dân ý? Phải chăng người ta muốn đặt dân Việt Nam vào một việc dĩ nhiên? việc lập một chính phủ tự trị ở giữa nơi quân Pháp đóng trước khi mở cuộc trưng cầu dân ý để lộ ra một cách vụng về cái ý muốn chia sẻ nước Việt Nam. Việc lập chính phủ bù nhìn ấy làm cho người ta cảm thấy người Pháp muốn dùng bọn bù nhìn uy hiếp dân chúng trong cuộc trưng cầu dân ý. Ban Thường trực Quốc hội ra phản đối chính thức. Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau phản đối. Báo Độc lập ngày 18 tháng 7 năm 1946 bình luận "Ở Cà Mâu, bọn Abalain, Guillemet chẳng đếm xỉa gì đến chính phủ bù nhìn Quisling Nguyễn Văn Thinh cả... Đồng thời ở khắp tỉnh, quận, tổng, làng ở Nam Bộ, Pháp thâu dụng một bọn cướp khác. Bọn này giả danh lập Mặt trận bình dân..." == Giải thể == Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đề cử làm Thủ tướng nhưng chỉ được ít lâu thì ông tự sát. Thay ông là bác sĩ Lê Văn Hoạch rồi Nguyễn Văn Xuân. Trong thời gian này, để thu hút sự ủng hộ của dân chúng đối với nhà nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ mới thành lập, một số người cổ động cho khẩu hiệu "Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ". Tình hình chính trị tại Nam Kỳ thời điểm này rất phức tạp. Có nhiều phe nhóm khác nhau cùng tồn tại. Các phe phái cố gắng củng cố quyền lực riêng như Trần Văn Soái (Năm Lửa) chiếm đóng Cái Vồn (Cần Thơ), Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) giữ Cái Dầu (Châu Đốc), Lê Quang Vinh (Ba Cụt) giữ Thốt Nốt (Long Xuyên), Nguyễn Giác Ngộ đặt bản doanh ở Cao Lãnh (Kiến Phong), Cao Đài cát cứ ở Tây Ninh và Bình Xuyên của Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) định doanh ở Chánh Hưng (Chợ Lớn). Đó là chưa kể đến các tổ chức chính trị như Việt Minh, Đại Việt, v.v. Người Pháp thì không thực lòng tái thiết trật tự hay xây dựng một xứ Nam Kỳ chân chính mà còn có dụng ý võ trang mỗi nhóm riêng, trên danh nghĩa là giữ an ninh, nhưng chủ ý là chống lại lực lượng Việt Minh. Những nhóm này thường xung đột, tranh giành quyền lực khiến tình hình thêm hỗn loạn. Theo ông Nguyễn Kỳ Nam, Mặt trận Quốc gia liên hiệp, một ủy ban liên hiệp kháng chiến chống Pháp của các tổ chức cách mạng miền Nam, chủ trương chấp nhận cho bác sĩ Nguyễn Văn Thinh thành lập chính phủ lâm thời Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ vì "nếu không có một Chính phủ ở Nam Kỳ, Nam Kỳ là lãnh thổ của Pháp, theo công pháp quốc tế, nước Pháp vẫn còn ở duyên hải Thái Bình Dương. Tiền đồ tổ quốc sẽ bị xô vào hai ngả hoặc bị đô hộ lại bởi thực dân, hoặc bị đô hộ lại bởi cộng sản quốc tế. Hai viễn tượng đều tai hại cho giống nòi.". Nhưng người cộng sản, Việt Minh, đã tách ra sau sự kiện này, Hội Liên hiệp quốc dân ra đời trong hoàn cảnh đó. Theo kế hoạch của Mặt trận Quốc gia liên hiệp, họ sẽ đưa bác sĩ Lê Văn Hoạch, người của Mặt trận, chính thức thành lập chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ thay thế chính phủ của bác sĩ Thinh. Cuối cùng Mặt trận sẽ ủng hộ Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân thành lập Chính phủ Cộng hòa Nam Phần Việt Nam làm tâm điểm hoạt động chính trị cho các đảng phái quốc gia để đi đến thống nhất dân tộc. Chính phủ Cộng hòa Nam Phần Việt Nam do Nguyễn Văn Xuân lãnh đạo sẽ tạo ra thế cân bằng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chính phủ này sẽ được thay thế bằng chính phủ Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại lãnh đạo. Đây là một giai đoạn để đi đến sự đoàn kết cuối cùng của dân tộc đúng với lập trường của Mặt trận. Mặt trận ủng hộ việc thành lập Cộng hòa Vệ binh Việt Nam thuộc Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Quân đội Cao Đài là thành viên của Mặt trận được phép nhận khí giới của Pháp để lập quân đội làm nền tảng cho quân đội quốc gia sau này. Ngày 19 Tháng Chạp năm 1947 Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân bay sang Hương Cảng yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại và xác nhận ý định thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam và mời cựu hoàng ra chấp chánh hầu điều đình tìm một giải pháp thứ ba ngoài Pháp và Việt Minh. Việc giải thể Cộng hòa tự trị Nam Kỳ mãi đến ngày 8 Tháng Ba năm 1949 mới bắt đầu theo Hiệp ước Élysées giữa tổng thống Pháp Vincent Auriol và Bảo Đại. Theo đó thì Pháp công nhận nước Việt Nam thống nhất. Ngày 23 tháng 4 năm 1949 Nam Kỳ mở cuộc bầu cử Quốc hội chọn 16 dân biểu Pháp và 48 dân biểu người Việt. Quốc hội này đã biểu quyết chấm dứt "nước Nam Kỳ" và hiệp nhất vào nước Việt Nam, để sau đó lập ra chính phủ Quốc gia Việt Nam. Cuối cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thông qua việc sáp nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam. Phản ứng trước sự thành lập Quốc gia Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố với thế giới chỉ có Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam. Tuyên bố trên nhanh chóng nhận được sự ủng hộ khi vào ngày 18-1-1950, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tiếp sau đó là Liên Xô công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. == Quốc kỳ và Quốc ca == Từ ngày 1 tháng 6, quốc gia này dùng quốc kỳ nền vàng, với 3 sọc xanh vắt ngang ở giữa. Ý nghĩa của lá cờ là tượng trưng ba con sông Đồng Nai, Tiền Giang và Hậu Giang (màu xanh lam) trên đất Nam Kỳ. Dư luận bấy giờ không ưa lá cờ này vì cho rằng màu sắc không hợp nhãn quan nên biếm gọi là "cờ sốt rét". Lá cờ này tồn tại được 2 năm cho đến khi chính quyền Cộng hòa tự trị Nam Kỳ giải thể và sát nhập vào Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu ngày 2 tháng 6 năm 1948. Về quốc ca, bản nhạc này lấy tám câu đầu của Chinh phụ ngâm làm lời ca, bị công luận cười chê vì nội dung lấy lời than khóc của một người vợ nhớ chồng mà lại đem làm lời ca. Tác giả của bài này là Võ Văn Lúa. == Chính phủ == Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ hay còn gọi tên khác là "Nam Kỳ tự trị", về danh nghĩa được Hội đồng Nam Kỳ thành lập ngày 27 tháng 5 năm 1946, dưới sự "sắp đặt" của Jean Marie Arsène Cédile (Ủy viên cộng hòa Pháp tại Nam Bộ) và Georges Thierry d'Argenlieu (Cao ủy Pháp tại Đông Dương). Đây được xem là một chiêu bài chủ đạo của Pháp nhằm tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, chính quyền này bị công luận cho là "bù nhìn" và ly khai, phá hoại việc đất nước thống nhất, nên chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi bị giải thể. Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ là một Chính phủ lâm thời thân Pháp có quyền lực nhỏ bé. Cộng hòa tự trị Nam Kỳ không được công luận ủng hộ. Người Pháp cũng không tin tưởng giao thực quyền cho Chính phủ này. Vì những lý do đó Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ có thể được xem là một thất bại. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng do Hội đồng Cố vấn Nam Kỳ bầu lên. Hội đồng này do Ủy viên Cộng hòa Pháp, chức danh mới của Thống đốc Nam Kỳ, tuyển chọn. Người đó là Jean Marie Arsène Cédile, nắm quyền an ninh bên trong và bên ngoài nước Cộng hòa. Ngoài ra Cao ủy Pháp tại Đông Dương (chức danh mới của Toàn quyền Đông Dương) còn có quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ mọi bổ nhiệm của Thủ tướng. Khi Chính phủ tự trị Nam Kỳ được thành lập, ngoài các cuộc xung đột vũ trang ở Nam Bộ, Pháp đã nhiều lần gây hấn với Chính quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng việc tố cáo Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ là bất hợp pháp. Cao ủy Pháp tại Đông Dương thông báo với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng Nam Bộ là thuộc địa của Pháp do đó chỉ Quốc hội Pháp mới có thể quyết định sự thay đổi chính thể tại Nam Kỳ dựa trên kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân tại Nam Kỳ. Đáp lại những tuyên bố gây hấn của Pháp về tính hợp pháp của Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời cao ủy Pháp d'Argenlieu rằng ủy ban này được thành lập từ tháng 8/1945 dưới quyền chỉ huy của Chính phủ trung ương, ủy ban này được Hiệp định sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9 công nhận. Chính phủ Nam Kỳ trải qua cải tổ nhiều lần: Chính phủ lâm thời ở Nam Kỳ (26 tháng 3 năm 1946 - 31 tháng 5 năm 1946) Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ tự trị (1 tháng 6 năm 1946 - 7 tháng 10 năm 1947) Chính phủ Cộng hòa Nam Phần Việt Nam (8 tháng 10 năm 1947 - 27 tháng 5 năm 1948) Ngày 27 tháng 5 năm 1948, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trở thành thủ tướng của Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam (Provisional Central Government of Vietnam). === Thủ tướng === == Lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa == Ban đầu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận giải pháp lập một Chính phủ chung cho Bắc và Trung Kỳ, còn vấn đề Nam Kỳ sẽ giải quyết bằng một cách trưng cầu dân ý tuy nhiên do sự đàn áp của Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ với những người kháng chiến ủng hộ chính phủ Trung ương Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chối giải pháp này. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong cuộc phỏng vấn với ông Vaxiđép Rao, thông tín viên hãng Reuter vào tháng 5-1947 rằng: "Trước kia, chúng tôi đã bằng lòng nhận phương sách đó. Ngày nay, chúng tôi không thể nhận được nữa, đồng bào chúng tôi ở Nam Kỳ đã chịu sự hy sinh to lớn để được ở trong Tổ quốc Việt Nam. Chúng tôi không thể phản bội họ được." Cũng theo chính Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thống nhất nghĩa là một Chính phủ Trung ương, một Nghị viện Trung ương cho toàn quốc, Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ sẽ có cơ quan hành chính tự trị riêng, do nhân dân mỗi kỳ bầu lên theo chế độ dân chủ và dưới sự kiểm soát của Chính phủ Trung ương. Bên cạnh đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ chỉ là một chính phủ bù nhìn và chẳng thể giải quyết được vấn đề gì. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Chính phủ bù nhìn ở Nam Bộ, nó đã không giải quyết được gì, mà chỉ làm kéo dài cuộc chiến tranh và ngǎn trở sự thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Pháp" Theo báo Cứu quốc, Hội nghị của chính phủ Nguyễn Văn Xuân là một hội nghị "của bọn Việt gian", là một "cuộc hội đồng chuột" như Hội nghị 19/12/1947 tại Hồng Kông nhằm lòe bịp nhân dân Việt Nam và dư luận thế giới. Quyết nghị và thông cáo của hội nghị này là quyết nghị bán nước. == Tham khảo == Goodman, Allan E. Politics in War. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1973. Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002. == Chú thích == == Xem thêm ==
lễ hội nhật bản.txt
Ngày 1 tháng 1: Ngày đầu năm mới. Từ ngày 1 đến ngày 3, hầu như tất cả các công y, nhà xưởng và các cơ sở kinh doanh đều nghỉ. Các gia đình chào mừng Năm mới bằng cách nấu nướng cùng nhau thưởng thức các món ăn đựac biệt, mặc kimono hoặc những trang phục đẹp nhất và đi viếng chùa chiền hoặc đền thờ để cầu nguyện một năm mới nhiều sức khỏe và hạnh phúc. Ngày 6 tháng 1: Lễ hội Dezomeshiki hay Diễu binh năm mới của lính cứu hỏa ở Tokyo với các pha nhào lộn nguy hiểm trên thang cao. Giữa tháng 1 (15 ngày): Thi đấu Sumo lần 1 ở Tokyo. Thứ bảy tuần thứ tư của tháng 1: Lễ đốt cỏ trên núi Wakakusayama, Nara. 7 ngày đầu tháng 2: Lễ hội Tuyết tại Sapporo, Hokkaido. Đây là lễ hội tuyết nổi tiếng nhất tại Nhật Bản với nhiều tuyệt tác điêu khắc bằng tuyết và băng khổng lồ. Đầu hoặc giữa tháng 2: Lễ hội Tuyết tại Asahikawa, Abashiri và các thành phố khác tại Hokkaido. Ngày 3 hoặc 4 tháng 2: Lễ hội Setsunbun hay còn gọi là lễ hội Ném Đậu ở các ngôi chùa hàng đầu tên toàn quốc. Ngày 3 hoặc 4 tháng 2: Lễ hội Lồng đèn của Đền Kasuga, Nara. Ngày 15 -16 tháng 2: Lễ hội Kamakura ở Yokote, Akita. Mọi người làm các ngôi nhà từ tuyết và thờ Thần Nước bên trong. Ngày 17 tháng 2: Lễ hội lồng đèn tại Yokote, Akita. Hàng chục lồng đèn tượng trưng cho Thần Sáng tạo được thực hiện bởi những người đàn ông trẻ. Thứ bảy tuần thứ ba của tháng 2: Lễ hội Eyo hoặc Lễ hội Hadaka (lễ hội khỏa thân) tại Chùa Saidaiji, Okayama. Các lễ hội Nhật Bản từ tháng 9 đến tháng 11: Ngày 15 tháng 9: Thi đấu Sumo lần thứ 5 ở Tokyo. Ngày 7-9 tháng 10: Lễ hội Takayama của đền Hachimangu nổi tiếng với đoàn thuyền diễu hành đầy màu sắc rực rỡ. Giữa tháng 10: Lễ hội thành phố Nagoya nổi tiếng với cuộc diễu hành chân dung ba lãnh chua thời phong kiến được khắc họa lộng lẫy. Ngày 14-15 tháng 10: Lễ hội Kenka Matsuri hay còn gọi là lễ hội "Đánh nhau" của đền Matsubara ở Himeji và đặt đến sự sôi động đỉnh điểm vào ngày 15. Giữa tháng 10 - giữa tháng 11: Triển lãm hoa cúc tại Đền Meiji và Chùa Asakusa Kannon ở Tokyo. Ngày 17 tháng 10: Lễ hội Mùa thu của Đền Toshogu ở Nikko, với cuộc diễu hành kiệu được tháp tùng bởi các thuộc hạ mặc áo giáp. Ngày 22 tháng 10: Lễ hội Jidai Matsuri hay còn gọi là Lễ hội Kỷ nguyên của Đền Heian ở Kyoto là một trong ba lễ hội lớn nhất Kyoto. Ngày 22 tháng 10: Lễ hội Lửa của đền Yuki, Kurama, ở Kyoto, với hàng dài ngọn đuốc được thắp sáng dọc theo lối vào ngôi đền. Ngày 2-4 tháng 11: Lễ hội Okunchi của Đền Karatsu ở Saga phổ biến với đoàn thuyền diễu hành đầy màu sắc. Ngày 3 tháng 11: Lễ hội Daimyo Gyoretsu ở Hakone là một nghi lễ rước vua chúa thời phong kiến. Giữa tháng 11: Lễ hội Tori-no-ichi hoặc Lễ hội Rake Fair của Đền Otori tại vùng Kanto. Giữa tháng 11 (15 ngày): Thi đấu Sumo lần 6 ở Fukuoka. Ngày 15 tháng 11: Lễ hội Shichi-go-san(7-5-3) là ngày các ông bố bà mẹ dẫn những đứa con 7,5 hay 3 tuổi đến các ngôi chùa, đền cổ để cám ơn các thần hộ mệnh và xin được chúc phúc. Ngày 15-18 tháng 12: Lễ hội On-matsuri của đền Kasuga ở Nara với một đám rước đeo mặt nạ. Ngày 17-19 tháng 12: Lễ hội Hagoita-ichi (Hội chợ Vợt cầu lông) của chùa Asakusa Kannon ở Tokyo. Ngày 32 tháng 12: Lễ hội Okera Mairi của đền Yasaka ở Tyoto. Lễ hội đốt lửa thiêng. Ngày 31 tháng 12: Lễ hội Namahage ở bán đảo Oga Peninsula, tỉnh Akita. Đàn ông cải trang thành ma quỷ gõ cửa từng nhà có trẻ em. == Tham khảo ==
grand slam (quần vợt).txt
Trong môn quần vợt, giành được Grand Slam nghĩa là trong 1 năm dương lịch đoạt chức vô địch một trong 4 giải sau: Úc mở rộng Pháp mở rộng Wimbledon Mỹ mở rộng 4 giải này do đó cũng gọi là các giải Grand Slam, và được xem là những giải đấu quan trọng nhất trong năm, cả đối với đại đa số khán giả cũng như về điểm xếp hạng và tiền thưởng cho đấu thủ. Các chức vô địch 4 giải cũng được gọi là các danh hiệu Grand Slam. Thắng được cả 4 giải Grand Slam trong cùng một năm là thành tích tột đỉnh của một đấu thủ quần vợt. Cho tới nay trong lịch sử chỉ có 2 tay vợt nam (Don Budge-1938 và Rod Laver-1962, 1969) và 3 tay vợt nữ (Maureen Connolly-1953, Margaret Court-1970, và Steffi Graf-1988) đã đạt được thành tích này. == Lịch sử == Thuật ngữ Grand Slam được ký giả Mỹ John Kieran dùng lần đầu tiên cho môn quần vợt năm 1933. Khi miêu tả nỗ lực của Jack Crawford giành cả 4 giải đấu lớn năm đó, nhà báo đã so sánh như "một cú grand slam trong bài bridge". Tuy nhiên, trong trận chung kết giải Mỹ mở rộng, Crawford đã không vượt qua được Fred Perry. Mãi đến năm 1938 mới có người đầu tiên giành được Grand Slam là Don Budge. Từ Grand Slam thoạt tiên chỉ thắng lợi trong các giải quần vợt chính, sau đó được dùng trong các môn thể thao khác với nghĩa tương tự, chẳng hạn trong môn đánh golf. == Những người chiến thắng == === Grand Slam thực sự === ==== Đánh đơn ==== Những đấu thủ giành được Grand Slam thực sự (cả 4 giải trong cùng 1 năm dương lịch) nội dung đánh đơn là: Don Budge (1938) Maureen Connolly (1953) Rod Laver (1962) Rod Laver (1969) (lần thứ hai) Margaret Smith Court (1970) Steffi Graf (1988) (cộng thêm huy chương vàng Thế vận hội, Graf giành được Slam Vàng) ==== Đánh đôi ==== Những đôi đấu thủ giành được Grand Slam thực sự là: Frank Sedgman & Ken McGregor (1951) Martina Navratilova & Pam Shriver (1984) 2 đấu thủ giành được Grand Slam thực sự, nội dung đánh đôi, với những đồng đội khác nhau: Maria Bueno (1960), đánh cặp với Christine Truman rồi Darlene Hard. Martina Hingis (1998), đánh cặp với Mirjana Lucic rồi Jana Novotna. 2 trường hợp trên đều thay bạn đồng đội sau giải Úc mở rộng. ==== Đôi nam nữ ==== Đôi nam nữ đấu thủ giành được Grand Slam thực sự: Margaret Smith & Ken Fletcher (1963) 2 đấu thủ giành được Grand Slam thực sự, nội dung đôi nam nữ, với những đồng đội khác nhau: Margaret Smith (1965), đánh cặp với John Newcombe, rồi Ken Fletcher và cuối cùng là Fred Stolle. Owen Davidson (1967), đánh cặp với Lesley Turner rồi Billie Jean King. === 4 danh hiệu Grand Slam liên tiếp === Mặc dù thuật ngữ ban đầu chỉ thành tích đoạt cả 4 giải đấu trong cùng 1 năm, ngày nay nó còn có nghĩa đương kim vô địch cả 4 giải Grand Slam, không bắt buộc trong 1 năm dương lịch. Trong một cuộc phỏng vấn Serena Williams tại giải Mỹ mở rộng, một phóng viên đã gọi thành tích vô địch 4 giải liên tiếp của cô là Serena Slam. Nhưng Serena chỉ dừng lại ở con số 4 giải, còn trong quá khứ, Martina Navratilova từng thắng đến 6 giải liên tiếp. Những đấu thủ thắng 4 giải Grand Slam liên tiếp, nhưng không giới hạn trong 1 năm dương lịch, gồm: Martina Navratilova (1983-84) (6 giải liên tiếp) Chú thích: Trong thời gian 1977 - 1985, giải Úc mở rộng được tổ chức vào tháng 12, từ năm 1987 lại tổ chức vào tháng 1 như khởi thuỷ. Chuỗi vô địch của Martina gồm Wimbledon, Mỹ mở rộng và Úc mở rộng năm 1983, tiếp theo là Pháp mở rộng, Wimbledon và Mỹ mở rộng năm 1984. Don Budge (6 giải liên tiếp): (Wimbledon 1937 đến the US Open 1938) Maureen Connolly Brinker (6 giải): (Wimbledon 1952 đến US Open 1953) Margaret Court (6): (US Open 1969 d0e61n Australia Open 1971). Steffi Graf (1993-94) Chú thích: Graf đã có 1 Grand Slam thực sự năm 1988. Serena Williams (4 giải) (2002-03) Novak Djokovic (4 giải) (2015-2016) === Grand Slam sự nghiệp === ==== Đánh đơn ==== Những đấu thủ từng thắng cả 4 giải Grand Slam nhưng không liên tục thì được xem là có một Grand Slam sự nghiệp: Fred Perry (1933-1934-1935) Doris Hart (1949-1950-1951-1954) Shirley Fry (1951-1956-1957) Roy Emerson (1961-1963-1964) Billie Jean King (1966-1967-1968-1972) Chris Evert (1974-1975-1982) Martina Navratilova (1978-1981-1982-1983) Andre Agassi (1992-1994-1995-1999) (cộng thêm huy chương vàng Thế vận hội 1996) Roger Federer (2003-2004-2009) Rafael Nadal (2005-2008-2009-2010) (cộng thêm huy chương vàng Thế vận hội 2008) Maria Sharapova (2004-2006-2008-2012) Serena Williams (1999--2002-2003) (cộng thêm huy chương vàng Thế vận hội 2012) Novak Djokovic (2008-2011-2016) Rất nhiều đấu thủ lừng danh một thời vẫn không có đủ bộ Grand Slam vì thiếu 1 giải, thường là do giải đó, đặc biệt là mặt sân, không hợp với lối chơi của đấu thủ. John Newcombe, Jimmy Connors, Boris Becker, Stefan Edberg, Pete Sampras đều không có danh hiệu Pháp mở rộng, còn Ken Rosewall, Ivan Lendl và Mats Wilander thì không có danh hiệu Wimbledon. ==== Đánh đôi ==== Những đôi đấu thủ có Grand Slam sự nghiệp: Todd Woodbridge & Mark Woodforde (1992-93-95-2000) Jacco Eltingh & Paul Haarhuis (1994-95-98) Serena Williams & Venus Williams (1999-2000-01) Những đấu thủ có Grand Slam sự nghiệp, nội dung đánh đôi (với những bạn đồng đội khác nhau): Doris Hart (1947-48-50-51) Shirley Fry (1950-51-57) Roy Emerson (1959-60-62) John Fitzgerald (1982-84-86-89) Anders Jarryd (1983-87-89) Jacco Eltingh (1994-95-98) Paul Haarhuis (1994-95-98) Jonas Bjorkman (1998-2002-03-05) ==== Đôi nam nữ ==== Những đấu thủ có Grand Slam sự nghiệp, nội dung đôi nam nữ (với những bạn đồng đội khác nhau): Billie Jean King (1967-68) Martina Navratilova (1974-85-2003) Daniela Hantuchova (2001-02-05) == Slam Vàng == === Slam Vàng thực sự === Slam Vàng, hay Grand Slam Vàng, là đoạt cả 4 giải Grand Slam cộng với huy chương vàng môn quần vợt Thế vận hội trong vòng 1 năm dương lịch. Cơ hội thành công như vậy rất hiếm, không chỉ vì 4 năm mới có 1 kỳ Thế vận hội, mà còn vì giữa các kỳ thế vận 1924 và 1988, quần vợt không phải là môn thi đấu có huy chương của đại hội. Cho đến nay thành tích này mới có 1 lần: Steffi Graf (1988) === Slam Vàng sự nghiệp === Giành đủ bộ Slam Vàng, nhưng không liên tục: ==== Đánh đơn ==== Đấu thủ có Slam Vàng sự nghiệp: Andre Agassi (1992-94-95-96-99) Rafael Nadal (2005-08-09-10) ==== Đánh đôi ==== Đôi đấu thủ có Slam Vàng sự nghiệp: Serena Williams & Venus Williams (1999-2000-01) == Grand Slam "trọn bộ" trong sự nghiệp == Có lẽ chiến tích vĩ đại nhất liên quan đến các giải Grand Slam là trong 1 năm dương lịch giành "trọn gói" các danh hiệu Grand Slam — vô địch đánh đơn, đánh đôi và đôi nam nữ cả 4 giải. Chưa có tay vợt nam nào đạt nổi thành tích đó, nhưng có 3 phụ nữ đã kịp hoàn tất "trọn bộ" trong sự nghiệp: Doris Hart Margaret Smith Court Martina Navratilova == Xem thêm == en:List of Grand Slam Men's Singles champions en:List of Grand Slam Women's Singles champions en:List of Grand Slam Men's Doubles champions en:List of Grand Slam Women's Doubles champions == Tham khảo ==
công đoàn.txt
Công đoàn (nghiệp đoàn, liên đoàn lao động) là "một hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mướn họ" Trải qua ba trăm năm, các công đoàn phát triển thành nhiều dạng thức dưới sự ảnh hưởng của các thể chế chính trị và kinh tế. Mục tiêu và hoạt động cụ thể của các công đoàn có khác nhau, nhưng thường bao gồm: Cung cấp lợi ích dự phòng: Các công đoàn thời xưa, như các Hội Ái hữu (Friendly Societies), thường cung cấp nhiều lợi ích để bảo trợ cho các thành viên trong trường hợp thất nghiệp, ốm đau, tuổi già hay chết. Ngày nay ở các nước phát triển những chức năng này được coi là thuộc về nhà nước, nhưng những quyền lợi khác như đào tạo huấn luyện, tư vấn và đại diện về luật pháp vẫn còn là những lợi ích quan trọng đối với thành viên công đoàn. Thương lượng tập thể: Ở các nước mà công đoàn có thể hoạt động công khai và được giới chủ thừa nhận, các công đoàn có thể thương lượng với chủ thuê mướn lao động về lương bổng và các điều kiện làm việc. Hành động áp lực: Các công đoàn có thể tổ chức đình công hay phản đối để gây áp lực theo những mục tiêu nào đó. Hoạt động chính trị: Các công đoàn có thể tác động đến những luật lệ có lợi cho toàn thể giới lao động. Họ có thể tiến hành những chiến dịch chính trị, vận động hành lang hay hỗ trợ tài chính cho những cá nhân hay chính đảng ứng cử vào các vị trí công quyền. == Lịch sử == Bắt đầu từ thế kỷ XVIII, hầu hết xã hội Phương Tây, nhất là Anh Quốc với nhiều biến động diễn ra trước hết, chứng kiến sự chuyển đổi từ nền văn hóa trồng trọt với nền tảng sản xuất thủ công sang cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Bên trong cuộc chuyển mình này nhiều biến động đã thúc đẩy sự xuất hiện của công đoàn. Những biến động lúc bấy giờ gây ra những lo ngại ngày càng tăng đối với thợ thủ công và các phường hội. Họ lo sợ bị chiếm mất những công việc đã ổn định từ xưa, sợ những đổi thay về lương bổng và phương thức lao động. Hơn nữa, sự bùng phát của xã hội công nghiệp đã lôi kéo phụ nữ, trẻ con, người lao động từ ruộng đồng vào lực lượng công nhân, với số lượng lớn và với những vai trò mới mẻ. Điều kiện làm việc và lương bổng không đạt tới tiêu chuẩn sống hiện đại. === Nguồn gốc và những ngày đầu lịch sử === Công đoàn đôi khi được xem như hậu duệ của các phường hội Âu Châu trung cổ mặc dù sự liên quan giữa chúng còn đáng bàn cãi. Các phường hội trung cổ tồn tại là để bảo vệ và cải thiện kế sinh nhai của các thành viên thông qua việc kiểm soát vốn kiến thức của thợ thủ công (bí quyết nghề nghiệp) và sự phát triển của các thành viên từ thợ học việc đến thợ lành nghề, thợ giỏi, và cuối cùng thành thợ cả hay trùm thợ của cả phường nghề. Chúng cũng cung cấp chỗ ăn ở cho các thành viên, giúp họ khi đi lại để tìm việc. Các phường hội có thể hiện một số khía cạnh của công đoàn hiện đại, nhưng đồng thời cũng có các đặc điệm của các hội nghề nghiệp hay các công ty hiện đại. Hơn nữa, cũng như vài hiệp hội nghề thủ công ngày nay, các phường hội rất khắt khe trong việc kết nạp thành viên và chỉ giới hạn trong số những thợ thủ công làm một nghề đặc thù nào đó. Nhiều công đoàn hiện đại có xu hướng bành trướng, thường xuyên tìm cách kết nạp nhiều loại công nhân khác nhau để tăng tầm hoạt động của toàn thể tổ chức. Một liên đoàn lao động của năm 2006 có thể chỉ gồm công nhân làm một nghề, mà cũng có thể kết hợp rất nhiều hay toàn bộ công nhân của một công ty hoặc của cả một ngành công nghiệp. Kể từ khi phát hành cuốn Lịch sử Chủ nghĩa Công đoàn (History of Trade Unionism) (1984) của Sidney và Beatrice Webb, quan điểm lịch sử rằng công đoàn là "một hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mướn họ" thắng thế. Có một định nghĩa hiện đại khác của Cục Thống kê Úc Đại Lợi rằng công đoàn là "...một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những người làm thuê, hoạt động cơ bản là thương lượng về lương bổng và điều kiện thuê mướn cho các thành viên của nó". Như nhà sử học R.A Leeson, trong cuốn United We Stand (Tạm dịch: Chúng ta hãy đoàn kết đứng lên) (1971) có viết: "Hai quan điểm mâu thuẫn nhau của phong trào công đoàn đấu tranh với nhau để giành ưu thế trong thế kỷ mười chín: một đằng là truyền thống phường hội nghiêm ngặt có tính phòng thủ truyền lại qua các câu lạc bộ thợ thuyền và các hội bạn thợ,... đằng khác là xu thế bành trướng có tính tấn công nhằm thống nhất toàn thể 'người lao động nam cũng như nữ' để thiết lập một 'trật tự mới'..." Trong nghiên cứu lịch sử gần đây, Trade or Mystery (2001), Tiến sĩ Bob James trình bày rằng công đoàn là một phần của một phong trào rộng lớn hơn của các cộng đồng chung lợi ích, nó bao gồm cả các phường hội trung cổ, các hội Tam điểm, hội ái hữu Oddfellow, các hiệp hội bạn thợ và các hội kín khác. Kinh tế gia thế kỷ XIX Adam Smith đã lưu ý sự bất cân đối về quyền lợi của người lao động so với của người sở hữu (hay "ông chủ"). Trong chương 8, tập I cuốn Của cải của các Quốc gia (The Wealth of Nations), Smith viết: Hiếm khi ta nghe nói đến sự liên hiệp của các ông chủ, mà thường nghe đến hội của những người làm công. Nhưng ai đó dựa trên điều này mà tưởng tượng rằng các ông chủ hiếm khi tập hợp lại thì kẻ đó thật dốt nát, cả về thế giới lẫn về vấn đề này. Các ông chủ ở mọi lúc mọi nơi đều liên hiệp với nhau một cách ngấm ngầm nhưng khư khư bất biến, hòng không nâng lương của nhân nhân công lên trên mức hiện hữu… [Khi những người lao động tập hợp lại,] các ông chủ… không ngừng làm ầm ĩ lên kêu gọi sự hỗ trợ của chính quyền dân sự, và đòi thực thi nghiêm khắc những luật lệ ngặt nghèo được ban hành nhằm chống lại sự liên hiệp của những người đầy tớ, người làm công và thợ thuyền. Như đoạn trích trên đây cho thấy, các công đoàn đều là bất hợp pháp trong nhiều năm ở hầu hết các nước. Đã có những hình phạt khắt khe đối với những mưu toan tổ chức công đoàn, thập chí đến mức tử hình. Mặc dù thế, các công đoàn vẫn được thành lập và dần dần có được sức mạnh chính trị, kết quả cuối cùng là một bộ luật lao động không chỉ hợp pháp hoá những nỗ lực tổ chức công đoàn mà có luật hoá mối quan hệ giữa giới chủ với những người làm thuê được tổ chức thành những công đoàn. Nhưng sự chống đối vẫn tồn tại thậm chí sau khi các công đoàn được hợp pháp hoá, như vụ án Tolpuddle Martyrs cho thấy. Nhiều người cho rằng đây là vấn đề công bằng, khi công nhân được phép góp chung những nguồn lực của họ vào một thực thể pháp nhân, tương tự như việc góp vốn tư bản vào các công ty. Quyền gia nhập công đoàn đã được nhắc đến trong điều 23 phân đoạn 4 của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR), và được khẳng định lại trong điều 20 phân đoạn 2 rằng "Không được ép buộc bất cứ ai trong việc tham gia vào một hiệp hội". Việc cấm đoán một người không được tham gia hay thành lập công đoàn, cũng như ép buộc một người làm việc ấy, dù là do chính phủ hay doanh nghiệp thực hiện, đều bị coi là hành vi xâm hại nhân quyền. Những lý lẽ tương tự cũng được đặt ra khi người thuê mướn phân biệt đối xử dựa trên việc có tham gia công đoàn hay không. Những mưu toan của người chủ, thường là với sự hỗ trợ của các lực lượng bên ngoàn, nhằm cấm đoán việc nhân viên của mình tham gia công đoàn được gọi là phá hoại công đoàn (union busting) === Chủ nghĩa Công đoàn thế kỷ XIX === Ở Pháp và Đức cũng như các quốc gia Âu Châu khác, các đảng phái chủ nghĩa xã hội và những người vô chính phủ đóng một vai trò nổi bật trong việc tạo lập và xây dựng các công đoàn, đặc biệt là kể từ những năm 1870 về sau. Ở Anh Quốc thì sự việc lại đối nghịch, các Công đoàn kiểu mới ôn hoà thống trị phong trào công đoàn kể từ giữa thế kỷ XIX và chủ nghĩa công đoàn lại mạnh hơn phong trào lao động có tính chính trị, mãi cho đến khi Công Đảng ra đời và phát triển hồi đầu thế kỷ XX. == Công đoàn ngày nay == === Cấu trúc và đời sống chính trị === Các công đoàn có thể tổ chức dựa trên một nhóm công nhân có cùng kỹ năng (chủ nghĩa công đoàn nghề nghiệp), những công nhân thuộc các ngành nghề khác nhau (chủ nghĩa công đoàn toàn thể), hay các công nhân trong toàn bộ một ngành công nghiệp (chủ nghĩa công đoàn ngành). Các công đoàn này thường phân chia theo địa phương và thống nhất với nhau thành các nghiệp đoàn quốc gia. Các nghiệp đoàn này lại liên kết với nhau thành các tổ chức quốc tế, kiểu như Liên hiệp Công đoàn Tự do Quốc tế (International Confederation of Free Trade Unions). Ở nhiều quốc gia, một công đoàn có thể có được vị thế của một pháp nhân, được ủy quyền thương lượng với giới chủ thay cho các công nhân mà nó đại diện. Trong một vài trường hợp, các công đoàn có một số quyền hợp pháp nào đó mà quan trọng nhất là quyền thương lượng một cách tập thể với người thuê mướn lao động về lương bổng, giờ làm cũng như các điều kiện thuê lao động khác. Việc hai bên không thể đạt đến một thỏa thuận nào đó có thể dẫn đến những hành động gây áp lực, đỉnh điểm là đình công hay đóng cửa nhà máy không cho công nhân vào làm. Trong một số trường hợp cực đoan, từ những sự này có thể nảy sinh bạo lực hay nhiều hành vi bất hợp pháp. Trong nhiều cảnh huống khác, các công đoàn có thể không có quyền đại diện hợp pháp cho công nhân, hoặc quyền này bị đặt vấn đề. Sự thiếu vị thế của công đoàn có thể ở mức độ không được thừa nhận cho đến việc truy tố các nhà hoạt động công đoàn như tội phạm, đã có nhiều vụ việc bạo động hay chết người được ghi nhận trong lịch sử cũng như ngày nay. Các công đoàn có thể tham gia vào cuộc đấu tranh chính trị hay xã hội rộng lớn hơn. Chủ nghĩa công đoàn xã hội bao gồm nhiều công đoàn có thể dùng sức mạnh quốc tế để ủng hộ cho những chính sách và luật lệ xã hội có lợi cho thành viên của chúng hay cho toàn thể giới công nhân. Các công đoàn ở nhiều nước cũng kề vai sát cánh với các chính đảng. Cũng có thể mô tả các công đoàn dựa theo mô hình phục vụ hay mô hình tổ chức. Công đoàn theo mô hình phục vụ tập trung hơn vào việc duy trì quyền lợi cho công nhân, cung cấp những dịch vụ và thu xếp những bất đồng. Trong khi đó, mô hình tổ chức thường có những nhà tổ chức làm việc toàn thời gian, họ lo xây dựng nên niềm tin, những mạng lưới và những nhà lãnh đạo mạnh mẽ trong lực lượng lao động cũng như những chiến dịch chống đối tập hợp rất nhiều thành viên công đoàn. Có nhiều công đoàn pha trộn giữa hai triết lý này, và định nghĩa về hai mô hình vẫn còn được tranh cãi. Mặc cho những cấu trúc chính trị và tính tự trị rất khác biệt với nhau, lãnh đạo công đoàn thường được bầu lên một cách dân chủ. Nhiều kết quả nghiên cứu, như của Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Quan hệ Công nghiệp Úc Đại Lợi (ACIRRT), cho thấy công nhân có tham gia công đoàn được hưởng lương và chế độ tốt hơn những người không tham gia. === Các loại hãng xưởng === Các công ty thuê công nhân có công đoàn thường hoạt động theo một trong những mô hình sau: Hãng loại đóng (closed shop – Mỹ) chỉ thuê những người đã là thành viên của công đoàn. Hãng loại công đoàn (union shop – Mỹ hay closed shop – Anh) có thể thuê những người chưa vào công đoàn, nhưng đặt một thời hạn để người được thuê phải tham gia công đoàn. Hãng loại môi giới (agency shop) yêu cầu các công nhân không tham gia công đoàn phải trả một khoản phí cho công đoàn cho việc nó thương lượng hợp đồng của họ. Tình huống này đôi khi được gọi là "Thể thức Rand". Hãng loại mở (open shop) khi thuê muớn hay giữ lại nhân công không phân biệt dựa trên tư cách thành viên công đoàn. Khi một công đoàn hoạt động tích cực, hãng loại mở cho phép những công nhân sắp được thuê có thể được lợi từ một sự thương lượng của công đoàn hay tập thể, mà không cần phải đóng góp vào đó. Tại Anh Quốc những năm 1980, chính phủ của Margaret Thatcher đã đưa ra một loạt những bộ luật nhằm hạn chế các hãng đóng hay hãng công đoàn. Tất cả những thoả ước bắt buộc công nhân phải tham gia công đoàn nay bị coi là bất hợp pháp. Ở Mỹ, Luật Taft-Hartley năm 1947 đã đặt các hãng đóng ra ngoài vòng pháp luật, nhưng vẫn cho phép các hãng loại công đoàn trong hầu hết các bang. === Sự đa dạng của các công đoàn quốc tế === Do luật lao động của các nước rất khác nhau nên chức năng công đoàn cũng thế. Chẳng hạn như ở Đức, chỉ có các hãng mở là hợp pháp. Tất cả các hành vi phân biệt dựa trên tư cách thành viên công đoàn đều bi cấm. Điều này ảnh hưởng đến chức năng và dịch vụ của công đoàn. Hơn nữa các công đoàn Đức chiếm vai trò lớn trong những quyết định của giới quản lý bằng cách tham gia vào ban lãnh đạo công ty và cùng ra quyết định. Ở Mỹ thì không bằng như thế. Ngoài ra, sự liên đới giữa các công đoàn với các chính đảng cũng khác biệt. Ở một số nước các công đoàn quan hệ chặt chẽ, thậm chí có cùng ban lãnh đạo, với một chính đảng nhằm đại diện cho quyền lợi của người lao động. Thông thường đây là một đảng cánh tả hay đảng xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng có một số ngoại lệ. Ở Mỹ thì ngược lại, mặc dù đã gắn kết từ lâu với Đảng Dân chủ, phong trào công nhân không nhất quán về mặt này; hội Hội Ái Hữu Nghiệp Đoàn Tài xế Xe Tải Quốc tế (International Brotherhood of Teamsters) ủng hộ mộ số ứng viên Đảng Cộng hòa, và hội Professional Air Traffic Controllers Organization (PATCO) đã ủng hộ Ronald Reagan vào năm 1980 (đến năm sau Reagan đã tàn hủy PATCO, phá vỡ một cuộc đình công bằng cách đưa vào những công nhân thay thế vĩnh viễn). Ở Anh Quốc, quan hệ giữa phong trào công đoàn với Công Đảng Anh đang căng thẳng vì lãnh đạo của đảng này tiến hành các kế hoạch tư nhân hoá xung đột với nhiều thứ mà người ta coi là quyền lợi của công nhân. Ở Tây Âu, các hiệp hội nghề nghiệp thường thực hiện chức năng của công đoàn. Trường hợp nổi bật là hội Verein deutscher Ingenieure ở Đức. Trong những trường hợp này chúng dứng ra thương lượng cho các công nhân cổ áo trắng như bác sĩ, kỹ sư hay giáo viên. Thường thì các công đoàn kiểu này tránh tham chính, hoặc ngả theo cánh hữu nhiều hơn so với công đoàn của công nhân cổ áo xanh. Cuối cùng, luật lao động ảnh hưởng đến vài trò của công đoàn và các thức hoạt động của chúng. Ở nhiều nước Tây Âu, lương bổng và quyền lợi chủ yếu là do chính quyền thiết lập. Nước Mỹ có một cách tiếp cận ít can thiệp hơn, thiết lập một số mức chuẩn tối thiểu nhưng để mặc lương bổng và quyền lợi của công nhân cho các cuộc mặc cả tập thể và thị trường quyết định. Trong lịch sử, Cộng hoà Hàn Quốc từng chỉnh đốn việc thương lượng tập thể bằng cách bắt buộc các chủ thuê lao động phải tham gia, nhưng thương lượng tập thể chỉ hợp pháp nếu tiến hành trước tết âm lịch. Trong những chế độ toàn trị như Đức Quốc xã, các công đoàn là những cơ quan nhà nước mặc định có chức năng làm cho các công xưởng hoạt động thông suốt và hiệu quả. == Xem thêm == Tổng liên đoàn Lao động Quốc tế Công đoàn Việt Nam Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam == Liên kết ngoài == Công đoàn cánh tay phải công nhân Tổng Liên Đoàn Lao động Việt Nam == Chú thích ==
atp world tour masters 1000.txt
Hệ thống giải quần vợt ATP World Tour Masters 1000 là 1 hệ thống gồm 9 giải đấu do Hiệp hội quần vợt nhà nghề tổ chức. Các giải đấu này được diễn ra trong năm tại châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á. Các giải quần vợt này quan trọng đối với các vận động viên nam chuyên nghiệp hàng đầu. Về mặt uy tín, hệ thống giải chỉ đứng sau hệ thống Grand Slam và giải đấu cuối năm ATP World Tour Finals. Hệ thống giải bắt đầu từ năm 1990 với tên gọi ATP Tour gồm 9 giải đấu. Kết quả thi đấu của từng vận động viên sẽ được chấm điểm theo luật của giải nhưng khác với các giải Grand Slam và ATP World Tour Finals. Cho đến năm 2007, giải Master Series diễn ra với tối đa 5 set thi đấu, hiện tại các giải chỉ diễn ra tối đa 3 set. Novak Djokovic đang là người nắm giữ kỷ lục 30 lần vô địch == Thay đổi từ năm 2009 == Năm 2009 giải có sự thay đổi về địa điểm thi đấu. Giải ATP Master Series được đổi tên thành ATP World Tour Masters 1000 với số 1000 tương ứng với số điểm mà người vô địch giành được. Giải Monte Carlo Master được duy trì theo hệ thống của giải nhưng không giống các địa điểm thi đấu khác nó không có tính bắt buộc tham dự đối với các vận động viên. Giải Hamburg Master chuyển thành một giải thuộc ATP World Tour 500 series. Madrid Master chuyển thành sân đất nện kể từ tháng 5 năm 2009. Địa điểm mới là Thượng Hải sẽ thay thế Hamburg Master. == Các giải đấu == == Số điểm ATP == Tay vợt không tham gia vòng 1 được nhận điểm. == Kết quả == === 2017 === === 2016 === === 2015 === === 2014 === === 2013 === === 2012 === === 2011 === === 2010 === === 2009 === === 2008 === === 2007 === === 2006 === === 2005 === === 2004 === === 2003 === === 2002 === === 2001 === === 2000 === === 1999 === === 1998 === === 1997 === === 1996 === === 1995 === === 1994 === === 1993 === === 1992 === === 1991 === === 1990 === == Vô địch các giải đấu == === Đơn === Từ năm 1990. === Đôi === Từ năm 1990. == Danh hiệu vô địch == === Đơn === Vận động viên với hơn 2 chức vô địch kể từ năm 1990: ^ IN = Indian Wells, MI = Miami, MO = Montecarlo, RO = Rome, MA = Madrid / HA = Hamburg, CA = Canada, CI = Cincinnati, SHA = Shanghai / MA = Madrid (Stockholm, Essen, Stuttgart), PA = Paris. ^ Giải thi đấu thứ 5 được thi đấu tại Hamburg cho đến hết năm 2008 nhưng sau đó lại chuyển sang Madrid từ năm 2009. Giải thi đấu thứ 8 thay đổi bất thường, tại Stockholm từ 1990 đến 1994, Essen 1995, Stuttgart từ 1996 đến 2001, and Madrid từ 2002 đến 2008 trước khi được chuyển đến Thượng Hải năm 2009. ^ Trận chung kết tại Rome Masters năm 2005 giữa Rafael Nadal and Guillermo Coria là trận chung kết lâu nhất kể từ kỷ nguyên mở rộng(từ 1968): 5 giờ và 14 phút. Trận chung kết được cho là kinh điển khác kéo dài 5 giờ 5 phút khi Rafael Nadal đánh bại Roger Federer. ^ Vận động viên còn thi đấu -đậm. Nhiều danh hiệu nhất - gạch dưới ^ Có 27 vận động viên chỉ thắng duy nhất 1 giải Masters Series. === Đôi === Vận động viên với hơn 5 danh hiệu từ 1990: == Tham khảo == ATP Masters 1000
tiếng mân.txt
Tiếng Mân (chữ Hán: 閩語; bính âm: Mǐn yǔ; POJ: Bân gí; BUC: Mìng ngṳ̄) là một thuật ngữ chung để chỉ một nhóm các phương ngữ của tiếng Trung được nói ở tỉnh nằm ở phía Nam Trung Quốc Phúc Kiến cũng như bởi dân nhập cư từ tỉnh này đến tỉnh Quảng Đông (xung quanh khu vực Triều Châu-Sán Đầu, hoặc Triều Sán, và bán đảo Lôi Châu), tỉnh Hải Nam, 3 huyện ở phía Nam của Chiết Giang, và quần đảo Chu San ngoài khơi Ninh Ba, và Đài Loan. Ngoài ra cũng có nhiều người nói tiếng Mân trong cộng đồng Hoa kiều ở Đông Nam Á. Tiếng Mân được chia ra một cách đặc thù, trên cơ sở không thể hiểu lẫn nhau, thành các tiếng Mân Bắc, Mân Nam và các tiểu nhóm khác. Mân Bắc tập trung xung quanh thành phố Phúc Châu, tỉnh lỵ của tỉnh Phúc Kiến (dù biến thể này cũng được một số người phân loại là Mân Đông), còn tiếng Mân Nam thì chiếm ưu thế ở các địa điểm khác. Qiong Wen, được nói tại Hải Nam, đôi khi được phân loại làm một tiểu nhóm riêng, nhưng thường được xem là một phần của Mân Nam. Tiếng Mân Nam cũng được gọi bằng tên của các biến thể khu vực của nó ở những nơi ngôn ngữ này được nói, đặc biệt là Tiếng Đài Loan. Phương ngữ Hạ Môn là một phương ngữ chính của Mân Nam ở Trung Hoa đại lục, với tiếng Triều Châu cũng là một phân nhóm biển thể. Cách chia nhóm phức tạp hơn theo đề nghị của SIL International: Mân Bắc (Min-Bei, xung quanh Kiến Âu ở Phúc Kiến), Mân Trung (Min-Zhong, xung quanh huyện Sa, Tam Minh), Mân Đông (Min-Dong ở Phúc Châu và Phúc An), Hưng Hoa (ở các huyện Bồ Tiên và Tiên Du) và Mân Nam (Min-Nan, ở Chương Châu, Tuyền Châu, Hạ Môn). Mân Nam cũng được nói bởi những người gốc Phúc Kiến Hoklo ở Quảng Đông, Đài Loan, Hải Nam... Tiếng Mân Nam ở Đài Loan được gọi là Hō-ló-oē, ở Quảng Đông gọi là Hoklo, ở Hải Nam là Qiong Wen hay Qiongzhou hua (dù nhiều người phân loại Qiong Wen là một phân nhóm riêng biệt). Mân Nam là phương ngữ tiếng Trung vượt trội được các cộng đồng thiểu số ở Philippines sử dụng, với tên gọi Lan-nang. Ở Singapore, Malaysia, Indonesia và các khu vực khác ở Đông Nam Á, Mân Nam được gọi là Hokkien, cùng với biến thể Triều Châu, xuất phát từ vùng Triều Sơn, là cố hương của nhiều người gốc Hoa ở Singapore. == Đọc thêm == DeBernardi, J. E. (1991). Linguistic nationalism--the case of Southern Min. Sino-Platonic papers, no. 25. Philadelphia, PA, USA: Order from Dept. of Oriental Studies, University of Pennsylvania. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Classification of Min Dialects Tham khảo về Tiếng Mân Bắc tại đây (Ethnologue ấn bản 17, 2013) Tham khảo về Tiếng Mân Đông tại đây (Ethnologue ấn bản 17, 2013) Tham khảo về Tiếng Mân Nam tại đây (Ethnologue ấn bản 17, 2013) Tham khảo về Tiếng Mân Trung tại đây (Ethnologue ấn bản 17, 2013) Tham khảo về Tiếng Bồ Tiên tại đây (Ethnologue ấn bản 17, 2013)
trung mỹ.txt
Trung Mỹ về mặt địa lý là vùng nằm giữa châu Mỹ trên trục bắc nam. Trung Mỹ có khi được xem là một vùng riêng biệt nhưng cũng thường coi là phần cực nam của lục địa Bắc Mỹ. Đây là nơi hai lục địa Bắc và Nam Mỹ gặp nhau, cũng là nơi hội tụ nhiều nền văn hóa. == Vị trí địa lý == Trung Mỹ nằm ở giữa hai lục địa lớn phía bắc và phía nam, và giáp hai bờ biển dọc hai bên đông tây. Khu vực này nối liền hai lục địa Bắc Mỹ và Nam Mỹ cùng chia cách Thái Bình Dương với biển Caribê. Trung Mỹ còn lưu giữ khu rừng nhiệt đới lớn và từ xưa đã phát triển một nền văn minh riêng. Ngày nay, hậu duệ dân bản địa châu Mỹ vẫn góp mặt trong xã hội Trung Mỹ. Bảy quốc gia tạo nên vùng Trung Mỹ là: Belize, Costa Rica, El Salvador, Guatemala, Honduras, Nicaragua, và Panama. Tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng trong các văn bản hành chính quốc gia ở Belize trong khi sáu nước kia dùng tiếng Tây Ban Nha. == Cơ quan lập pháp == Cơ quan lập pháp của các quốc gia Trung Mỹ hầu hết được tổ chức theo hệ thống đơn viện, chỉ ngoại trừ Belize được tổ chức theo hệ thống lưỡng viện. Nghị viện Guatemala có nhiều đại biểu nhất với 158 nghị sĩ, trong khi đó nghị viện Belize ít nhất, chỉ có 43 đại biểu (12 thượng nghĩ sĩ và 31 dân biểu). == Dân cư, văn hóa == Trung Mỹ là ngôi nhà của khoảng 36 triệu người, bao gồm nhiều sắc dân như người da đỏ, người Tây Ban Nha, người Anh, người Caribe, và người da đen gốc Phi. == Kinh tế, rừng, sinh vật, thảm họa thiên nhiên == Đa số người dân Trung Mỹ làm nghề trồng tỉa. Họ trồng cà phê, mía, bông vải, chuối và các loại cây ăn quả khác. Trung Mỹ có nhiều ngọn núi hiểm trở, chạy dọc bờ biển Thái Bình Dương. Rừng nhiệt đới bao phủ gần hết diện tích lãnh thổ Trung Mỹ. Báo đốm Mỹ sống trong những khu rừng nhiệt đới. Ngoài ra còn có khỉ, kì đà và nhiều loài vẹt đủ màu sắc. Khu vực ven biển Caribe là nơi sinh sống của rùa biển và các loài bò biển. Động đất xảy ra thường xuyên tại Trung Mỹ, có thể gây ra thiệt hại rất lớn về vật chất và cướp đi mạng sống của nhiều người. Trong khoảng 100 ngọn núi lửa ở Trung Mỹ thì có ít nhất 14 ngọn đang hoạt động. Bão lớn đôi khi tràn vào Trung Mỹ, nhất là từ phía biển Caribe. Năm 1998, bão Mitch đã giết chết hàng ngàn người và cuốn trôi nhiều làng mạc. Trước đây, các tàu thuyền chở hàng hóa đi từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương phải đi vòng xuống mũi cực nam châu Nam Mỹ rồi đi ngược lên phía bắc. Nhưng sau khi có kênh đào Panama (80 km), nối thông hai đại dương ở eo đất Panama thì tàu thuyền giao thông dễ dàng, giảm khoảng cách hơn 1200 km, thêm thuận lợi cho việc trao đổi và buôn bán. Kênh đào Panama do người Mỹ hoàn tất ngày 15-8-1914. Mỹ giữ quyền quản lý con kênh này cho đến 31-12-1999 thì chuyển giao cho Panama. == Tham khảo ==
tiếng khmer.txt
Tiếng Khmer, tiếng Khơ Me hay tiếng Campuchia (tên tiếng Khmer ភាសាខ្មែរ [pʰiːəsaː kʰmaːe], trang trọng hơn ខេមរភាសា [kʰeɛmaʔraʔ pʰiːəsaː]) là ngôn ngữ của người Khmer và là ngôn ngữ chính thức của Campuchia. Với chừng 16 triệu người nói, đây là ngôn ngữ phổ biến thứ hai trong hệ ngôn ngữ Nam Á (sau tiếng Việt). Tiếng Khmer được ảnh hưởng một cách đáng kể bởi tiếng Phạn và Pali qua Ấn Độ giáo và Phật giáo, đặc biệt trong phạm vi ngôn ngữ hoàng gia và tôn giáo. Tiếng Khmer nói thông tục hơn đã ảnh hưởng lên, và đã được ảnh hưởng bởi, tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Việt, và tiếng Chăm, tất cả, do sự gần gũi địa lý và ảnh hưởng văn hóa lâu dài, đã tạo nên một vùng ngôn ngữ Đông Nam Á. Đây cũng là ngôn ngữ Môn–Khmer được được ghi nhận sớm nhất và có hệ chữ viết lâu đời nhất, trước tiếng Môn và rất lâu trước tiếng Việt do tiếng Khmer Cổ là ngôn ngữ của các vương quốc Chân Lạp, Angkor và, có lẽ cả Phù Nam. Đa số người Khmer nói phương ngữ Trung Khmer, một phương ngữ Khmer của đồng bằng trung tâm nơi người Khmer tập trung. Tại Campuchia, giọng địa phương có tồn tại nhưng được xem là biến thể của Trung Khmer. Hai ngoại lệ là phương ngữ thủ đô, Phnom Penh, và Khmer Khe ở tỉnh Stung Treng, cả hai đều đủ khác biệt với Trung Khmer để có thể xem là những phương ngữ riêng. Ngoài Campuchia, ba phương ngữ được sử dụng bởi người Khmer địa phương mà về mặt lịch sử từng là một phần của Đế quốc Khmer. Phương ngữ Bắc Khmer được nói bởi một triệu người tại vùng phía nam Đông Bắc Thái Lan và được vài nhà ngôn ngữ học xem là một thứ tiếng riêng. Khmer Krom, hay Nam Khmer, là ngôn ngữ thứ nhất của người Khmer tại Việt Nam. Còn người Khmer ở dãy Kravanh nói một phương ngữ thể hiện những nét của tiếng Khmer Trung đại. Tiếng Khmer chủ yếu là một ngôn ngữ phân tích, đơn lập. Không có biến tố, chia động từ hay hậu tố cách ngữ pháp. Thay vào đó, tiểu từ và trợ từ được dùng để xác định mối quan hệ ngữ pháp. Cấu trúc từ nói chung là chủ–động–tân (subject–verb–object). Từ phân loại (classifier) xuất hiện sau số khi đếm danh từ, dù không luôn hiện diện như tiếng Trung Quốc. Trong ngôn ngữ nói, cấu trúc đề-thuyết (topic-comment) phổ biến và mối quan hệ xã hội giữa những người tham gia hội thoại được xác định cách dùng từ, như đại từ và kính ngữ. Tiếng Khmer khác với những ngôn ngữ lân cận như tiếng Thái, tiếng Miến Điện, tiến Lào và tiếng Việt là nó không phải ngôn ngữ thanh điệu. Ngôn ngữ này được viết bằng chữ Khmer từ ít nhất thế kỷ thứ bảy, đây là một abugida bắt nguồn từ chữ Brāhmī, thông qua chữ chữ Pallava Nam Ấn Độ. Hệ chữ viết Khmer hình thành và được sử dụng qua hàng thế kỷ. Khoảng 79% người Campuchia biết đọc chữ Khmer. == Phân loại == Tiếng Khmer là thành viên của hệ ngôn ngữ Nam Á, một hệ ngôn ngữ bản địa trong khu vực, phân bố từ bán đảo Mã Lai tới qua Đông Nam Á lục địa tới Đông Ấn Độ. Hệ Nam Á, gồm có cả tiếng Môn, tiếng Việt và tiếng Munda, đã được nghiên cứu từ năm 1856 và được đề xuất như một hệ ngôn ngữ vào năm 1907. Dù được nghiên cứu, vẫn có sự không rõ ràng trong mối quan hệ giữa những ngôn ngữ trong hệ này. Gérard Diffloth đặt tiếng Khmer trong nhánh đông của nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer. Theo cách phân loại này, tiếng Khmer có quan hệ gần nhất với ngữ chi Bahnar (Ba Na) và Pear. Cách phân loại gần đây hơn nghi ngờ tính chính xác của nhóm Môn-Khmer và đặt tiếng Khmer trong nhánh của chính nó, một trong 13 nhánh của hệ. == Phân bố địa lý và phương ngữ == Tiếng Khmer được nói bởi khoảng 13 triệu người ở Campuchia, nơi nó là ngôn ngữ chính thức. Nó cũng là ngôn ngữ thứ hai của đa phần các nhóm dân tộc thiểu số tại đây. Thêm vào đó, có khoảng 1 triệu người bản ngữ Khmer ở miền nam Việt Nam (ước tính 1999) và 1,4 triệu người ở đông bắc Thái Lan (2006). Các phương ngữ Khmer, dù thông hiểu lẫn nhau, đôi khi có thể gây bối rối. Chúng gồm các phương ngữ Phnom Penh (thủ đô Campuchia), vùng nông thôn Battambang, vùng đông bắc Thái Lan tiếp giáp với Campuchia như tỉnh Surin, dãy Kravanh, và miền nam Việt Nam. Người nói tiếng Khmer Campuchia chuẩn có thể hiểu được phương ngữ khác, nhưng, ví dụ, một người Khmer Krom từ Việt Nam sẽ gặp khó khăn lớn khi muốn giao tiếp với một người Khmer từ tỉnh Sisaket tại Thái Lan. Lược đồ dưới đây cho thấy sự phát triển của các phương ngữ Khmer hiện đại. Tiếng Khmer Trung đại Khmer Cardamom (Tây) Trung Khmer Khmer Surin (Bắc) Khmer Chuẩn và phương ngữ liên quan (gồm Khmer Krom) == Tham khảo == == Xem thêm == Nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer có 33 phụ âm, 32 chân phụ âm Chữ Khmer hiện nay được sử dụng rộng rãi tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ nước ta. Một số nước: Nga, Anh, Trung Quốc,...đều có` phát thanh tiếng Khmer. == Liên kết ngoài == Khmer phrasebook from Wikivoyage Kheng.info—An online audio dictionary for learning Khmer, with thousands of native speaker recordings and text segmentation software. Language Links Database - language links and resources for Khmer language SEAlang Project: Mon–Khmer languages. The Khmeric Branch Khmer Swadesh vocabulary list (from Wiktionary's Swadesh-list appendix) Dictionary and SpellChecker open sourced and collaborative project based on Chuon Nath Khmer Dictionary How to install Khmer script on a Windows 7 computer How to install Khmer script on a Windows XP computer Khmer at UCLA Language Materials project Online Khmer & English dictionary Khmer Online Dictionaries Khmer audio lessons at Wikiotics http://unicode-table.com/en/sections/khmer/ http://unicode-table.com/en/sections/khmer-symbols/
họ người.txt
Để có thêm diễn giải về thuật ngữ tương tự, xem Hominid. Để xem thêm về họ trong xã hội loài người, xin xem Họ (người) Họ Người là một họ có danh pháp khoa học Hominidae, tên thông thường trong tiếng Anh: great ape (khỉ dạng người loại lớn), bao gồm trong đó người, tinh tinh, gôrila và đười ươi. == Lịch sử phân loại == Họ này đã được sửa đổi nhiều lần trong vài thập niên gần đây. Ban đầu, nhóm này chỉ bao gồm người và các họ hàng gần đã tuyệt chủng, còn các dạng vượn người loại lớn khác được đưa vào trong một họ riêng, gọi là họ Pongidae. Định nghĩa này hiện vẫn còn được nhiều nhà nhân loại học và những người bình thường sử dụng. Tuy nhiên, định nghĩa này làm cho họ Pongidae trở thành nhóm cận ngành, trong khi hiện nay phần lớn các nhà phân loại học ưa thích các nhóm đơn ngành. Vì thế nhiều nhà sinh học coi họ Hominidae bao gồm cả họ Pongidae (trong vai trò của phân họ Ponginae), hoặc coi họ Pongidae này chỉ chứa đười ươi và các họ hàng đã tuyệt chủng của nó như Gigantopithecus. Phân loại ở đây tuân thủ việc phân chia nhóm theo nguyên tắc đơn ngành. Đặc biệt các họ hàng gần với người tạo thành một phân họ là Homininae. Một số nghiên cứu đã đi xa đến mức gộp cả tinh tinh và khỉ đột vào trong chi Homo cùng với người, nhưng phần lớn các chứng cứ di truyền học cho rằng các mối quan hệ giống như được chỉ ra tại đây. Nhiều loại vượn người đã được nghiên cứu để có thể hiểu mối quan hệ giữa người hiện đại và các dạng vượn người khác còn sinh tồn. Một số thành viên tuyệt chủng của họ này như Gigantopithecus, Orrorin, Ardipithecus, Kenyanthropus, các dạng vượn cổ phương nam như Australopithecus và Paranthropus. Các tiêu chuẩn chính xác về quan hệ thành viên trong phân họ Homininae là không rõ ràng, nhưng họ này nói chung bao gồm các loài nào có sự chia sẻ hơn 97% ADN của chúng với bộ gen của người hiện đại, cũng như biểu lộ khả năng ngôn ngữ và có trí tuệ đơn giản ngoài giới hạn gia đình hay bầy đàn. Thuyết trí tuệ, đưa ra khả năng ước lệ, là một tiêu chuẩn gây tranh cãi để có thể phân biệt được một người trưởng thành trong số các loại vượn người. Con người có khả năng này khi đạt độ tuổi khoảng 4-4,5 năm, trong khi các loại vượn người khác như tinh tinh lùn, khỉ đột và tinh tinh không bao giờ có thể có được. Tuy nhiên, do không có khả năng kiểm tra xem các thành viên cổ xưa của phân họ Homininae (chẳng hạn Homo erectus, Homo neanderthalensis, hay thậm chí là vượn cổ phương nam) có hay không có trí tuệ, nên sẽ rất khó để chối bỏ các nét tương tự được quan sát thấy ở những anh em còn sống của chúng. Mặc dù dường như thiếu trí tuệ thực sự và các khác biệt đáng kể về sinh lý và tâm lý, một số người cho rằng vượn người có thể thỏa mãn các tiêu chuẩn này. Các tranh cãi khoa học này dẫn tới ý nghĩa chính trị đối với các chủ trương về tư cách thể nhân của vượn người loại lớn. Năm 2002, một chiếc sọ hóa thạch có niên đại 6-7 triệu năm trước có tên do những người phát hiện ra nó đặt là "Toumaï" và về mặt hình thức được phân loại như là Sahelanthropus tchadensis, đã được tìm thấy tại Tchad và nó có lẽ là hóa thạch của vượn người sớm nhất được tìm thấy. Bên cạnh tuổi của nó thì Toumaï - không giống như vượn cổ phương nam đứng thẳng trẻ hơn, với niên đại 3-4 triệu năm trước và có tên gọi là "Lucy" - có khuôn mặt tương đối phẳng và không có phần mũi, hàm nhô rõ như các loại vượn người tiền-Homo khác. Một số nghiên cứu đã thực hiện cho rằng loài mà trước đây không biết này có thể trên thực tế là tổ tiên trực tiếp của người hiện đại (hoặc ít nhất là họ hàng gần với tổ tiên trực tiếp của người). Những người khác lại cho rằng một hóa thạch là không đủ để có thể kết luận như vậy do nó có thể làm đảo lộn các kết luận của trên 100 năm nghiên cứu của nhân loại học. Một báo cáo về nghiên cứu này đã được xuất bản trong tạp chí Nature vào ngày 11 tháng 7 năm 2002. Trong khi một số nhà khoa học cho rằng nó chỉ là sọ của một con tiền-khỉ đột cái thì những người khác lại gọi nó là hóa thạch trong tông người quan trọng nhất kể từ Australopithecus == Phân loại == Họ Hominidae: người và các loài vượn người loại lớn khác; các chi và loài tuyệt chủng đã bị loại ra. Phân họ Ponginae Chi Pongo Đười ươi Borneo, Pongo pygmaeus Pongo pygmaeus pygmaeus Pongo pygmaeus morio Pongo pygmaeus wurmbii Đười ươi Sumatra, Pongo abelii Phân họ Homininae Tông Gorillini Chi Gorilla - gôrila, khỉ đột. Gôrila phía tây, Gorilla gorilla Gôrila đất thấp phương tây, Gorilla gorilla gorilla Gôrila sông Cross, Gorilla gorilla diehli Gôrila phía đông, Gorilla beringei Gôrila núi, Gorilla beringei beringei Gôrila đất thấp phương đông, Gorilla beringei graueri Tông Hominini Chi Pan Tinh tinh thông thường, Pan troglodytes Tinh tinh trung tâm, Pan troglodytes troglodytes Tinh tinh châu Phi, Pan troglodytes verus Tinh tinh Nigeria, Pan troglodytes vellerosus Tinh tinh phương đông, Pan troglodytes schweinfurthii Tinh tinh lùn (bonobo), Pan paniscus Chi Homo Người, Homo sapiens sapiens Bổ sung thêm cho các loài và phân loài còn tồn tại trên đây, các nhà khảo cổ học, cổ sinh vật học và nhân loại học đã phát hiện hàng loạt các loài đã tuyệt chủng. Danh sách dưới đây là một số chi của các loài đã phát hiện. Phân họ Ponginae Gigantopithecus† Sivapithecus† Lufengpithecus† Ankarapithecus† Phân họ Homininae Homo Ouranopithecus† Paranthropus† Australopithecus† Sahelanthropus† Orrorin† Ardipithecus† Kenyanthropus† == Xem thêm == Tuyên bố về khỉ dạng người loại lớn Tiến trình tiến hóa loài người Tiến hóa của Homo sapiens Ngôn ngữ của khỉ dạng người loại lớn Dự án khỉ dạng người loại lớn Danh sách khỉ dạng người loại lớn Trí tuệ của khỉ dạng người Phân loại Động vật == Ghi chú == == Chú thích == == Tham khảo == Groves, Colin (16 tháng 11 năm 2005). Wilson, D. E. và Reeder, D. M. (eds) Mammal Species of the World, xuất bản lần thứ 3, 181-184, Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-8221-4. == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Hominidae tại Wikimedia Commons NPR News: Toumaï -Tổ tiên của loài người? Loài người tại talkorigins.org Các chi tiết về loài người, bao gồm các bức ảnh về người hóa thạch Phân loại hoàn thiện hơn so với danh sách trên, với danh sách các loài, bao gồm cả các loài tuyệt chủng, mặc dù chưa hoàn thiện.
ổ đĩa cứng.txt
:Xem các nghĩa có tên ổ đĩa tại bài định hướng Ổ đĩa Ổ đĩa cứng, hay còn gọi là ổ cứng (tiếng Anh: Hard Disk Drive, viết tắt: HDD) là thiết bị dùng để lưu trữ dữ liệu trên bề mặt các tấm đĩa hình tròn phủ vật liệu từ tính. Ổ đĩa cứng là loại bộ nhớ "không thay đổi" (non-volatile), có nghĩa là chúng không bị mất dữ liệu khi ngừng cung cấp nguồn điện cho chúng. Ổ đĩa cứng là một thiết bị rất quan trọng trong hệ thống bởi chúng chứa dữ liệu thành quả của một quá trình làm việc của những người sử dụng máy tính. Những sự hư hỏng của các thiết bị khác trong hệ thống máy tính có thể sửa chữa hoặc thay thế được, nhưng dữ liệu bị mất do yếu tố hư hỏng phần cứng của ổ đĩa cứng thường rất khó lấy lại được. Ổ đĩa cứng là một khối duy nhất, các đĩa cứng được lắp ráp cố định trong ổ ngay từ khi sản xuất nên không thể thay thế được các "đĩa cứng" như với cách hiểu như đối với ổ đĩa mềm hoặc ổ đĩa quang. == Tổng quan == Ổ cứng thường được gắn liền với máy tính để lưu trữ dữ liệu cho dù chúng xuất hiện muộn hơn so với những chiếc máy tính đầu tiên. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, ổ đĩa cứng ngày nay có kích thước càng nhỏ đi đến các chuẩn thông dụng với dung lượng thì ngày càng tăng lên. Những thiết kế đầu tiên ổ đĩa cứng chỉ dành cho các máy tính thì ngày nay ổ đĩa cứng còn được sử dụng trong các thiết bị điện tử khác như máy nghe nhạc kĩ thuật số, máy ảnh số, điện thoại di động thông minh (SmartPhone), máy quay phim kĩ thuật số, thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân... Không chỉ tuân theo các thiết kế ban đầu, ổ đĩa cứng đã có những bước tiến công nghệ nhằm giúp lưu trữ và truy xuất dữ liệu nhanh hơn: ví dụ sự xuất hiện của các ổ đĩa cứng lai giúp cho hệ điều hành hoạt động tối ưu hơn, giảm thời gian khởi động của hệ thống, tiết kiệm năng lượng, sự thay đổi phương thức ghi dữ liệu trên các đĩa từ làm cho dung lượng mỗi ổ đĩa cứng tăng lên đáng kể. == Lịch sử phát triển == === Năm 1955 === Ổ cứng đầu tiên trên thế giới có là IBM 350 Disk File được chế tạo bởi Reynold Johnson ra mắt năm 1955 cùng máy tính IBM 305. Ổ cứng này có tới 50 tấm đĩa kích thước 24" với tổng dung lượng là 5 triệu ký tự. Một đầu từ được dùng để truy nhập tất cả các tấm đĩa khiến cho tốc độ truy nhập trung bình khá thấp. === Năm 1961 === Thiết bị lưu trữ dữ liệu IBM 1301 ra mắt năm 1961 bắt đầu sử dụng mỗi đầu từ cho một mặt đĩa. Ổ đĩa đầu tiên có bộ phận lưu trữ tháo lắp được là ổ IBM 1311. Ổ này sử dụng đĩa IBM 1316 có dung lượng 2 triệu ký tự. === Năm 1973 === IBM giới thiệu hệ thống đĩa 3340 "Winchester", ổ đĩa đầu tiên sử dụng kĩ thuật lắp ráp đóng hộp (sealed head/disk assembly - HDA). Kĩ sư trưởng dự án/chủ nhiệm dự án Kenneth Haughton đặt tên theo "súng trường Winchester" 30-30 sau khi một thành viên trong nhóm gọi nó là "30-30" vì các trục quay 30 MB của ổ đĩa cứng. Hầu hết các ổ đĩa hiện đại ngày nay đều sử dụng công nghệ này, và cái tên "Winchester" trở nên phổ biến khi nói về ổ đĩa cứng và dần biến mất trong thập niên 1990. Trong một thời gian dài, ổ đĩa cứng có kích thước lớn và cồng kềnh, thích hợp với một môi trường được bảo vệ của một trung tâm dữ liệu hoặc một văn phòng lớn hơn là trong môi trường công nghiệp khắc nghiệt (vì sự mong manh), hay văn phòng nhỏ hoặc nhà riêng (vì kích cỡ quá khổ và lượng điện năng tiêu thụ). Trước thập niên 1980, hầu hết ổ đĩa cứng có các tấm đĩa cỡ 8" (20 cm) hoặc 14-inch (35 cm), cần một giá thiết bị cũng như diện tích sàn đáng kể (tiêu biểu là các ổ đĩa cứng lớn có đĩa tháo lắp được, thường được gọi là "máy giặt"), và trong nhiều trường hợp cần tới điện cao áp hoặc thậm chí điện ba pha cho những mô tơ lớn chúng dùng. Vì lý do đó, các ổ đĩa cứng không được dùng phổ biến trong máy vi tính đến tận năm 1980, khi Seagate Technology cho ra đời ổ đĩa ST-506 - ổ đĩa 5,25" đầu tiên có dung lượng 5 MB. Có một thực tế là trong cấu hình xuất xưởng, máy IBM PC (IBM 5150) không được trang bị ổ đĩa cứng. === Thập niên 1990 === Đa số các ổ đĩa cứng cho máy vi tính đầu thập kỷ 1980 không bán trực tiếp cho người dùng cuối bởi nhà sản xuất mà bởi các OEM như một phần của thiết bị lớn hơn (như Corvus Disk System và Apple ProFile). Chiếc IBM PC/XT được bán ra đã có một ổ đĩa cứng lắp trong nhưng xu hướng tự cài đặt nâng cấp bắt đầu xuất hiện. Các công ty chế tạo ổ đĩa cứng bắt đầu tiếp thị với người dùng cuối bên cạnh OEM và đến giữa thập niên 1990, ổ đĩa cứng bắt đầu xuất hiện trong các cửa hàng bán lẻ. Ổ đĩa lắp trong ngày càng được sử dụng nhiều trong PC trong khi các ổ đĩa lắp ngoài tiếp tục phổ biến trên máy Macintosh của hãng Apple và các nền tảng khác. Mỗi máy Mac sản xuất giữa giữa các năm 1986 và 1998 đều có một cổng SCSI phía sau khiến cho việc lắp đặt thêm phần cứng mới trở nên dễ dàng; tương tự như vậy, "toaster" (máy nướng bánh) Mac không có chỗ cho ổ đĩa cứng (hay trong Mac Plus không có chỗ lắp ổ đĩa cứng), các đời tiếp theo cũng vậy thế nên ổ SCSI lắp ngoài là có thể hiểu được. Các ổ đĩa SCSI lắp ngoài cũng phổ biến trong các máy vi tính cổ như loạt Apple II và Commodore 64, và cũng được sử dụng rộng rãi trong máy chủ cho đến tận ngày nay. Sự xuất hiện vào cuối thập niên 1990 của các chuẩn giao tiếp ngoài như USB và FireWire khiến cho ổ đĩa cứng lắp ngoài trở nên phổ biến hơn trong người dùng thông thường đặc biệt đối với những ai cần di chuyển một khối lượng lớn dữ liệu giữa hai địa điểm. Vì thế, phần lớn các ổ đĩa cứng sản xuất ra đều có trở thành lõi của các vỏ lắp ngoài. === Ngày nay === Dung lượng ổ đĩa cứng tăng trưởng theo hàm mũ với thời gian. Đối với những máy PC thế hệ đầu, ổ đĩa dung lượng 20 megabyte được coi là lớn. Cuối thập niên 1990 đã có những ổ đĩa cứng với dung lượng trên 1 gigabyte. Vào thời điểm đầu năm 2005, ổ đĩa cứng có dung lượng khiêm tốn nhất cho máy tính để bàn còn được sản xuất có dung lượng lên tới 40 gigabyte còn ổ đĩa lắp trong có dung lượng lớn nhất lên tới một nửa terabyte (500 GB), và những ổ đĩa lắp ngoài đạt xấp xỉ một terabyte. Cùng với lịch sử phát triển của PC, các họ ổ đĩa cứng lớn là MFM, RLL, ESDI, SCSI, IDE và EIDE, và mới nhất là SATA. Ổ đĩa MFM đòi hỏi mạch điều khiển phải tương thích với phần điện trên ổ đĩa cứng hay nói cách khác là ổ đĩa và mạch điều khiền phải tương thích. RLL (Run Length Limited) là một phương pháp mã hóa bit trên các tấm đĩa giúp làm tăng mật độ bit. Phần lớn các ổ đĩa RLL cần phải tương thích với bộ điều khiển nó làm việc với. ESDI là một giao diện được phát triển bởi Maxtor làm tăng tốc trao đổi thông tin giữa PC và đĩa cứng. SCSI (tên cũ là SASI dành cho Shugart (sic) Associates), viết tắt cho Small Computer System Interface, là đối thủ cạnh tranh ban đầu của ESDI. Khi giá linh kiện điện tử giảm (do nhu cầu tăng lên) các chi tiết điện tử trước kia đặt trên cạc điều khiển đã được đặt lên trên chính ổ đĩa cứng. Cải tiến này được gọi là ổ đĩa cứng tích hợp linh kiện điện tử (Integrated Drive Electronics hay IDE). Các nhà sản xuất IDE mong muốn tốc độ của IDE tiếp cận tới tốc độ của SCSI. Các ổ đĩa IDE chậm hơn do không có bộ nhớ đệm lớn như các ổ đĩa SCSI và không có khả năng ghi trực tiếp lên RAM. Các công ty chế tạo IDE đã cố gắng khắc phục khoảng cách tốc độ này bằng phương pháp đánh địa chỉ logic khối (Logical Block Addressing - LBA). Các ổ đĩa này được gọi là EIDE. Cùng lúc với sự ra đời của EIDE, các nhà sản xuất SCSI đã tiếp tục cải tiến tốc độ SCSI. Những cải tiến đó đồng thời khiến cho giá thành của giao tiếp SCSI cao thêm. Để có thể vừa nâng cao hiệu suất của EIDE vừa không làm tăng chi phí cho các linh kiện điện tử không có cách nào khác là phải thay giao diện kiểu "song song" bằng kiểu "nối tiếp", và kết quả là sự ra đời của giao diện SATA. Tuy nhiên, hiệu suất làm việc của các ổ đĩa cứng SATA thế hệ đầu và các ổ đĩa PATA không có sự khác biệt đáng kể. == Cấu tạo == Ổ đĩa cứng gồm các thành phần, bộ phận có thể liệt kê cơ bản và giải thích sơ bộ như sau: Cụm đĩa: Bao gồm toàn bộ các đĩa, trục quay và động cơ. Đĩa từ. Trục quay: truyền chuyển động của đĩa từ. Động cơ: Được gắn đồng trục với trục quay và các đĩa. Cụm đầu đọc Đầu đọc (head): Đầu đọc/ghi dữ liệu Cần di chuyển đầu đọc (head arm hoặc actuator arm). Cụm mạch điện Mạch điều khiển: có nhiệm vụ điều khiển động cơ đồng trục, điều khiển sự di chuyển của cần di chuyển đầu đọc để đảm bảo đến đúng vị trí trên bề mặt đĩa. Mạch xử lý dữ liệu: dùng để xử lý những dữ liệu đọc/ghi của ổ đĩa cứng. Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer): là nơi tạm lưu dữ liệu trong quá trình đọc/ghi dữ liệu. Dữ liệu trên bộ nhớ đệm sẽ mất đi khi ổ đĩa cứng ngừng được cấp điện. Đầu cắm nguồn cung cấp điện cho ổ đĩa cứng. Đầu kết nối giao tiếp với máy tính. Các cầu đấu thiết đặt (tạm dịch từ jumper) thiết đặt chế độ làm việc của ổ đĩa cứng: Lựa chọn chế độ làm việc của ổ đĩa cứng (SATA 150 hoặc SATA 300) hay thứ tự trên các kênh trên giao tiếp IDE (master hay slave hoặc tự lựa chọn), lựa chọn các thông số làm việc khác... Vỏ đĩa cứng: Vỏ ổ đĩa cứng gồm các phần: Phần đế chứa các linh kiện gắn trên nó, phần nắp đậy lại để bảo vệ các linh kiện bên trong. Vỏ ổ đĩa cứng có chức năng chính nhằm định vị các linh kiện và đảm bảo độ kín khít để không cho phép bụi được lọt vào bên trong của ổ đĩa cứng. Ngoài ra, vỏ đĩa cứng còn có tác dụng chịu đựng sự va chạm (ở mức độ thấp) để bảo vệ ổ đĩa cứng. Do đầu từ chuyển động rất sát mặt đĩa nên nếu có bụi lọt vào trong ổ đĩa cứng cũng có thể làm xước bề mặt, mất lớp từ và hư hỏng từng phần (xuất hiện các khối hư hỏng (bad block))... Thành phần bên trong của ổ đĩa cứng là không khí có độ sạch cao, để đảm bảo áp suất cân bằng giữa môi trường bên trong và bên ngoài, trên vỏ bảo vệ có các hệ lỗ thoáng đảm bảo cản bụi và cân bằng áp suất. === Đĩa từ === Đĩa từ (platter): Đĩa thường cấu tạo bằng nhôm hoặc thuỷ tinh, trên bề mặt được phủ một lớp vật liệu từ tính là nơi chứa dữ liệu. Tuỳ theo hãng sản xuất mà các đĩa này được sử dụng một hoặc cả hai mặt trên và dưới. Số lượng đĩa có thể nhiều hơn một, phụ thuộc vào dung lượng và công nghệ của mỗi hãng sản xuất khác nhau. Mỗi đĩa từ có thể sử dụng hai mặt, đĩa cứng có thể có nhiều đĩa từ, chúng gắn song song, quay đồng trục, cùng tốc độ với nhau khi hoạt động. ==== Track ==== Trên một mặt làm việc của đĩa từ chia ra nhiều vòng tròn đồng tâm thành các track. Track có thể được hiểu đơn giản giống các rãnh ghi dữ liệu giống như các đĩa nhựa (ghi âm nhạc trước đây) nhưng sự cách biệt của các rãnh ghi này không có các gờ phân biệt và chúng là các vòng tròn đồng tâm chứ không nối tiếp nhau thành dạng xoắn trôn ốc như đĩa nhựa. Track trên ổ đĩa cứng không cố định từ khi sản xuất, chúng có thể thay đổi vị trí khi định dạng cấp thấp ổ đĩa (low format ). Khi một ổ đĩa cứng đã hoạt động quá nhiều năm liên tục, khi kết quả kiểm tra bằng các phần mềm cho thấy xuất hiện nhiều khối hư hỏng (bad block) thì có nghĩa là phần cơ của nó đã rơ rão và làm việc không chính xác như khi mới sản xuất, lúc này thích hợp nhất là format cấp thấp cho nó để tương thích hơn với chế độ làm việc của phần cơ ==== Sector ==== Trên track chia thành những phần nhỏ bằng các đoạn hướng tâm thành các sector. Các sector là phần nhỏ cuối cùng được chia ra để chứa dữ liệu. Theo chuẩn thông thường thì một sector chứa dung lượng 512 byte. Số sector trên các track là khác nhau từ phần rìa đĩa vào đến vùng tâm đĩa, các ổ đĩa cứng đều chia ra hơn 10 vùng mà trong mỗi vùng có số sector/track bằng nhau. Bảng sau cho thấy các khu vực với các thông số khác nhau và sự ảnh hưởng của chúng đến tốc độ truyền dữ liệu của ổ cứng Các khu vực ghi dữ liệu của ổ đĩa cứng Hitachi Travelstar 7K60 2,5". ==== Cylinder ==== Tập hợp các track cùng bán kính (cùng số hiệu trên) ở các mặt đĩa khác nhau thành các cylinder. Nói một cách chính xác hơn thì: khi đầu đọc/ghi đầu tiên làm việc tại một track nào thì tập hợp toàn bộ các track trên các bề mặt đĩa còn lại mà các đầu đọc còn lại đang làm việc tại đó gọi là cylinder (cách giải thích này chính xác hơn bởi có thể xảy ra thường hợp các đầu đọc khác nhau có khoảng cách đến tâm quay của đĩa khác nhau do quá trình chế tạo). Trên một ổ đĩa cứng có nhiều cylinder bởi có nhiều track trên mỗi mặt đĩa từ. === Trục quay === Trục quay là trục để gắn các đĩa từ lên nó, chúng được nối trực tiếp với động cơ quay đĩa cứng. Trục quay có nhiệm vụ truyền chuyển động quay từ động cơ đến các đĩa từ. Trục quay thường chế tạo bằng các vật liệu nhẹ (như hợp kim nhôm) và được chế tạo tuyệt đối chính xác để đảm bảo trọng tâm của chúng không được sai lệch - bởi chỉ một sự sai lệch nhỏ có thể gây nên sự rung lắc của toàn bộ đĩa cứng khi làm việc ở tốc độ cao, dẫn đến quá trình đọc/ghi không chính xác. === Đầu đọc/ghi === Đầu đọc đơn giản được cấu tạo gồm lõi ferit (trước đây là lõi sắt) và cuộn dây (giống như nam châm điện). Gần đây các công nghệ mới hơn giúp cho ổ đĩa cứng hoạt động với mật độ xít chặt hơn như: chuyển các hạt từ sắp xếp theo phương vuông góc với bề mặt đĩa nên các đầu đọc được thiết kế nhỏ gọn và phát triển theo các ứng dụng công nghệ mới. Đầu đọc trong đĩa cứng có công dụng đọc dữ liệu dưới dạng từ hoá trên bề mặt đĩa từ hoặc từ hoá lên các mặt đĩa khi ghi dữ liệu. Số đầu đọc ghi luôn bằng số mặt hoạt động được của các đĩa cứng, có nghĩa chúng nhỏ hơn hoặc bằng hai lần số đĩa (nhỏ hơn trong trường hợp ví dụ hai đĩa nhưng chỉ sử dụng 3 mặt). === Cần di chuyển đầu đọc/ghi === Cần di chuyển đầu đọc/ghi là các thiết bị mà đầu đọc/ghi gắn vào nó. Cần có nhiệm vụ di chuyển theo phương song song với các đĩa từ ở một khoảng cách nhất định, dịch chuyển và định vị chính xác đầu đọc tại các vị trí từ mép đĩa đến vùng phía trong của đĩa (phía trục quay). Các cần di chuyển đầu đọc được di chuyển đồng thời với nhau do chúng được gắn chung trên một trục quay (đồng trục), có nghĩa rằng khi việc đọc/ghi dữ liệu trên bề mặt (trên và dưới nếu là loại hai mặt) ở một vị trí nào thì chúng cũng hoạt động cùng vị trí tương ứng ở các bề mặt đĩa còn lại. Sự di chuyển cần có thể thực hiện theo hai phương thức: Sử dụng động cơ bước để truyền chuyển động. Sử dụng cuộn cảm để di chuyển cần bằng lực từ. == Nguyên lý hoạt động == === Giao tiếp với máy tính === Toàn bộ cơ chế đọc/ghi dữ liệu chỉ được thực hiện khi máy tính (hoặc các thiết bị sử dụng ổ đĩa cứng) có yêu cầu truy xuất dữ liệu hoặc cần ghi dữ liệu vào ổ đĩa cứng. Việc thực hiện giao tiếp với máy tính do bo mạch của ổ đĩa cứng đảm nhiệm. Ta biết rằng máy tính làm việc khác nhau theo từng phiên làm việc, từng nhiệm vụ mà không theo một kịch bản nào, do đó quá trình đọc và ghi dữ liệu luôn luôn xảy ra, do đó các tập tin luôn bị thay đổi, xáo trộn vị trí. Từ đó dữ liệu trên bề mặt đĩa cứng không được chứa một cách liên tục mà chúng nằm rải rác khắp nơi trên bề mặt vật lý. Một mặt khác máy tính có thể xử lý đa nhiệm (thực hiện nhiều nhiệm vụ trong cùng một thời điểm) nên cần phải truy cập đến các tập tin khác nhau ở các thư mục khác nhau. Như vậy cơ chế đọc và ghi dữ liệu ở ổ đĩa cứng không đơn thuần thực hiện từ theo tuần tự mà chúng có thể truy cập và ghi dữ liệu ngẫu nhiên tại bất kỳ điểm nào trên bề mặt đĩa từ, đó là đặc điểm khác biệt nổi bật của ổ đĩa cứng so với các hình thức lưu trữ truy cập tuần tự (như băng từ). Thông qua giao tiếp với máy tính, khi giải quyết một tác vụ, CPU sẽ đòi hỏi dữ liệu (nó sẽ hỏi tuần tự các bộ nhớ khác trước khi đến đĩa cứng mà thứ tự thường là cache L1-> cache L2 ->RAM) và đĩa cứng cần truy cập đến các dữ liệu chứa trên nó. Không đơn thuần như vậy CPU có thể đòi hỏi nhiều hơn một tập tin dữ liệu tại một thời điểm, khi đó sẽ xảy ra các trường hợp: Ổ đĩa cứng chỉ đáp ứng một yêu cầu truy cập dữ liệu trong một thời điểm, các yêu cầu được đáp ứng tuần tự. Ổ đĩa cứng đồng thời đáp ứng các yêu cầu cung cấp dữ liệu theo phương thức riêng của nó. Trước đây đa số các ổ đĩa cứng đều thực hiện theo phương thức 1, có nghĩa là chúng chỉ truy cập từng tập tin cho CPU. Ngày nay các ổ đĩa cứng đã được tích hợp các bộ nhớ đệm (cache) cùng các công nghệ riêng của chúng (TCQ, NCQ) giúp tối ưu cho hành động truy cập dữ liệu trên bề mặt đĩa nên ổ đĩa cứng sẽ thực hiện theo phương thức thứ 2 nhằm tăng tốc độ chung cho toàn hệ thống. === Đọc và ghi dữ liệu trên bề mặt đĩa === Sự hoạt động của đĩa cứng cần thực hiện đồng thời hai chuyển động: Chuyển động quay của các đĩa và chuyển động của các đầu đọc. Sự quay của các đĩa từ được thực hiện nhờ các động cơ gắn cùng trục (với tốc độ rất lớn: từ 3600 rpm cho đến 15.000 rpm) chúng thường được quay ổn định tại một tốc độ nhất định theo mỗi loại ổ đĩa cứng. Khi đĩa cứng quay đều, cần di chuyển đầu đọc sẽ di chuyển đến các vị trí trên các bề mặt chứa phủ vật liệu từ theo phương bán kính của đĩa. Chuyển động này kết hợp với chuyển động quay của đĩa có thể làm đầu đọc/ghi tới bất kỳ vị trí nào trên bề mặt đĩa. Tại các vị trí cần đọc ghi, đầu đọc/ghi có các bộ cảm biến với điện trường để đọc dữ liệu (và tương ứng: phát ra một điện trường để xoay hướng các hạt từ khi ghi dữ liệu). Dữ liệu được ghi/đọc đồng thời trên mọi đĩa. Việc thực hiện phân bổ dữ liệu trên các đĩa được thực hiện nhờ các mạch điều khiển trên bo mạch của ổ đĩa cứng. == Các công nghệ sử dụng ổ đĩa cứng == === S.M.A.R.T === S.M.A.R.T (Self-Monitoring, Analysis, and Reporting Technology) là công nghệ tự động giám sát, chẩn đoán và báo cáo các hư hỏng có thể xuất hiện của ổ đĩa cứng để thông qua BIOS, các phần mềm thông báo cho người sử dụng biết trước sự hư hỏng để có các hành động chuẩn bị đối phó (như sao chép dữ liệu dự phòng hoặc có các kế hoạch thay thế ổ đĩa cứng mới). Trong thời gian gần đây S.M.AR.T được coi là một tiêu chuẩn quan trọng trong ổ đĩa cứng. S.M.A.R.T chỉ thực sự giám sát những sự thay đổi, ảnh hưởng của phần cứng đến quá trình lỗi xảy ra của ổ đĩa cứng (mà theo hãng Seagate thì sự hư hỏng trong đĩa cứng chiếm tới 60% xuất phát từ các vấn đề liên quan đến cơ khí): Chúng có thể bao gồm những sự hư hỏng theo thời gian của phần cứng: đầu đọc/ghi (mất kết nối, khoảng cách làm việc với bề mặt đĩa thay đổi), động cơ (xuống cấp, rơ rão), bo mạch của ổ đĩa (hư hỏng linh kiện hoặc làm việc sai). S.M.A.R.T không nên được hiểu là từ "smart" bởi chúng không làm cải thiện đến tốc độ làm việc và truyền dữ liệu của ổ đĩa cứng. Người sử dụng có thể bật (enable) hoặc tắt (disable) chức năng này trong BIOS (tuy nhiên không phải BIOS của hãng nào cũng hỗ trợ việc can thiệp này). === Ổ cứng lai === Ổ cứng lai (hybrid hard disk drive) là các ổ đĩa cứng thông thường được gắn thêm các phần bộ nhớ flash trên bo mạch của ổ đĩa cứng. Cụm bộ nhớ này hoạt động khác với cơ chế làm việc của bộ nhớ đệm (cache) của ổ đĩa cứng: Dữ liệu chứa trên chúng không bị mất đi khi mất điện. Trong quá trình làm việc của ổ cứng lai, vai trò của phần bộ nhớ flash như sau: Lưu trữ trung gian dữ liệu trước khi ghi vào đĩa cứng, chỉ khi máy tính đã đưa các dữ liệu đến một mức nhất định (tuỳ từng loại ổ cứng lai) thì ổ đĩa cứng mới tiến hành ghi dữ liệu vào các đĩa từ, điều này giúp sự vận hành của ổ đĩa cứng tối hiệu quả và tiết kiệm điện năng hơn nhờ việc không phải thường xuyên hoạt động. Giúp tăng tốc độ giao tiếp với máy tính: Việc đọc dữ liệu từ bộ nhớ flash nhanh hơn so với việc đọc dữ liệu tại các đĩa từ. Giúp hệ điều hành khởi động nhanh hơn nhờ việc lưu các tập tin khởi động của hệ thống lên vùng bộ nhớ flash. Kết hợp với bộ nhớ đệm của ổ đĩa cứng tạo thành một hệ thống hoạt động hiệu quả. Những ổ cứng lai được sản xuất hiện nay thường sử dụng bộ nhớ flash với dung lượng khiêm tốn ở 256 MB bởi chịu áp lực của vấn đề giá thành sản xuất. Do sử dụng dung lượng nhỏ như vậy nên chưa cải thiện nhiều đến việc giảm thời gian khởi động hệ điều hành, dẫn đến nhiều người sử dụng chưa cảm thấy hài lòng với chúng. Tuy nhiên người sử dụng thường khó nhận ra sự hiệu quả của chúng khi thực hiện các tác vụ thông thường hoặc việc tiết kiệm năng lượng của chúng. Hiện tại (2007) ổ cứng lai có giá thành khá đắt (khoảng 300 USD cho dung lượng 32 GB) nên chúng mới được sử dụng trong một số loại máy tính xách tay cao cấp. Trong tương lai, các ổ cứng lai có thể tích hợp đến vài GB dung lượng bộ nhớ flash sẽ khiến sự so sánh giữa chúng với các ổ cứng truyền thống sẽ trở lên khác biệt hơn. == Thông số và đặc tính == === Dung lượng === Dung lượng ổ đĩa cứng (Disk capacity) là một thông số thường được người sử dụng nghĩ đến đầu tiên, là cơ sở cho việc so sánh, đầu tư và nâng cấp. Người sử dụng luôn mong muốn sở hữu các ổ đĩa cứng có dung lượng lớn nhất có thể theo tầm chi phí của họ mà có thể không tính đến các thông số khác. Dung lượng ổ đĩa cứng được tính bằng: (số byte/sector) × (số sector/track) × (số cylinder) × (số đầu đọc/ghi). Dung lượng của ổ đĩa cứng tính theo các đơn vị dung lượng cơ bản thông thường: byte, kB MB, GB, TB. Theo thói quen trong từng thời kỳ mà người ta có thể sử dụng đơn vị nào, trong thời điểm năm 2007 người người ta thường sử dụng GB. Ngày nay dung lượng ổ đĩa cứng đã đạt tầm đơn vị TB nên rất có thể trong tương lai – theo thói quen, người ta sẽ tính theo TB. Đa số các hãng sản xuất đều tính dung lượng theo cách có lợi (theo cách tính 1 GB = 1000 MB mà thực ra phải là 1 GB = 1024 MB) nên dung lượng mà hệ điều hành (hoặc các phần mềm kiểm tra) nhận ra của ổ đĩa cứng thường thấp hơn so với dung lượng ghi trên nhãn đĩa (ví dụ ổ đĩa cứng 40 GB thường chỉ đạt khoảng 37-38 GB). === Tốc độ quay của ổ đĩa cứng === Tốc độ quay của đĩa cứng thường được ký hiệu bằng rpm (viết tắt của từ tiếng Anh: revolutions per minute) số vòng quay trong một phút. Tốc độ quay càng cao thì ổ càng làm việc nhanh do chúng thực hiện đọc/ghi nhanh hơn, thời gian tìm kiếm thấp. Các tốc độ quay thông dụng thường là: 3.600 rpm: Tốc độ của các ổ đĩa cứng đĩa thế hệ trước. 4.200 rpm: Thường sử dụng với các máy tính xách tay mức giá trung bình và thấp trong thời điểm 2007. 5.400 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng 3,5" sản xuất cách đây 2-3 năm; với các ổ đĩa cứng 2,5" cho các máy tính xách tay hiện nay đã chuyển sang tốc độ 5.400 rpm để đáp ứng nhu cầu đọc/ghi dữ liệu nhanh hơn. 7.200 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng sản xuất trong thời gian hiện tại (2007) 10.000 rpm, 15.000 rpm: Thường sử dụng cho các ổ đĩa cứng trong các máy tính cá nhân cao cấp, máy trạm và các máy chủ có sử dụng giao tiếp SCSI === Các thông số về thời gian trong ổ đĩa cứng === ==== Thời gian tìm kiếm trung bình ==== Thời gian tìm kiếm trung bình (Average Seek Time) là khoảng thời gian trung bình (theo mili giây: ms) mà đầu đọc có thể di chuyển từ một cylinder này đến một cylinder khác ngẫu nhiên (ở vị trí xa chúng). Thời gian tìm kiếm trung bình được cung cấp bởi nhà sản xuất khi họ tiến hành hàng loạt các việc thử việc đọc/ghi ở các vị trí khác nhau rồi chia cho số lần thực hiện để có kết quả thông số cuối cùng. Thông số này càng thấp càng tốt. Thời gian tìm kiếm trung bình không kiểm tra bằng các phần mềm bởi các phần mềm không can thiệp được sâu đến các hoạt động của ổ đĩa cứng. ==== Thời gian truy cập ngẫu nhiên ==== Thời gian truy cập ngẫu nhiên (Random Access Time): Là khoảng thời gian trung bình để đĩa cứng tìm kiếm một dữ liệu ngẫu nhiên. Tính bằng mili giây (ms). Đây là tham số quan trọng do chúng ảnh hưởng đến hiệu năng làm việc của hệ thống, do đó người sử dụng nên quan tâm đến chúng khi lựa chọn giữa các ổ đĩa cứng. Thông số này càng thấp càng tốt. Tham số: Các ổ đĩa cứng sản xuất gần đây (2007) có thời gian truy cập ngẫu nhiên trong khoảng: 5 đến 15 ms. ==== Thời gian làm việc tin cậy ==== Thời gian làm việc tin cậy MTBF: (Mean Time Between Failures) được tính theo giờ (hay có thể hiểu một cách đơn thuần là tuổi thọ của ổ đĩa cứng). Đây là khoảng thời gian mà nhà sản xuất dự tính ổ đĩa cứng hoạt động ổn định mà sau thời gian này ổ đĩa cứng có thể sẽ xuất hiện lỗi (và không đảm bảo tin cậy). Một số nhà sản xuất công bố ổ đĩa cứng của họ hoạt động với tốc độ 10.000 rpm với tham số: MTBF lên tới 1 triệu giờ, hoặc với ổ đĩa cứng hoạt động ở tốc độ 15.000 rpm có giá trị MTBF đến 1,4 triệu giờ thì những thông số này chỉ là kết quả của các tính toán trên lý thuyết. Hãy hình dung số năm mà nó hoạt động tin cậy (khi chia thông số MTBF cho (24 giờ/ngày × 365 ngày/năm) sẽ thấy rằng nó có thể dài hơn lịch sử của bất kỳ hãng sản xuất ổ đĩa cứng nào, do đó người sử dụng có thể không cần quan tâm đến thông số này. === Bộ nhớ đệm === Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer) trong ổ đĩa cứng cũng giống như RAM của máy tính, chúng có nhiệm vụ lưu tạm dữ liệu trong quá trình làm việc của ổ đĩa cứng. Độ lớn của bộ nhớ đệm có ảnh hưởng đáng kể tới hiệu suất hoạt động của ổ đĩa cứng bởi việc đọc/ghi không xảy ra tức thời (do phụ thuộc vào sự di chuyển của đầu đọc/ghi, dữ liệu được truyền tới hoặc đi) sẽ được đặt tạm trong bộ nhớ đệm. Đơn vị thường tính bằng KB hoặc MB. Trong thời điểm năm 2007, dung lượng bộ nhớ đệm thường là 2 hoặc 8 MB cho các loại ổ đĩa cứng dung lượng đến khoảng 160 GB, với các ổ đĩa cứng dụng lượng lớn hơn chúng thường sử dụng bộ nhớ đệm đến 16 MB hoặc cao hơn. Bộ nhớ đệm càng lớn thì càng tốt, nhưng hiệu năng chung của ổ đĩa cứng sẽ chững lại ở một giá trị bộ nhớ đệm nhất định mà từ đó bộ nhớ đệm có thể tăng lên nhưng hiệu năng không tăng đáng kể. Hệ điều hành cũng có thể lấy một phần bộ nhớ của hệ thống (RAM) để tạo ra một bộ nhớ đệm lưu trữ dữ liệu được lấy từ ổ đĩa cứng nhằm tối ưu việc xử lý đối với các dữ liệu thường xuyên phải truy cập, đây chỉ là một cách dùng riêng của hệ điều hành mà chúng không ảnh hưởng đến cách hoạt động hoặc hiệu suất vốn có của mỗi loại ổ đĩa cứng. Có rất nhiều phần mềm cho phép tinh chỉnh các thông số này của hệ điều hành tuỳ thuộc vào sự dư thừa RAM trên hệ thống. === Chuẩn giao tiếp === Có nhiều chuẩn giao tiếp khác nhau giữa ổ đĩa cứng với hệ thống phần cứng, sự đa dạng này một phần xuất phát từ yêu cầu tốc độ đọc/ghi dữ liệu khác nhau giữa các hệ thống máy tính, phần còn lại các ổ giao tiếp nhanh có giá thành cao hơn nhiều so với các chuẩn thông dụng. Trước đây, các chuẩn ATA và SATA thế hệ đầu tiên được sử dụng phổ biến trong máy tính cá nhân thông thường trong khi chuẩn SCSI và Fibre Channel có tốc độ cao hơn được sử chủ yếu nhiều trong máy chủ và máy trạm. Gần đây, các chuẩn SATA thế hệ tiếp theo với tốc độ giao tiếp cao hơn đang được sử dụng rộng rãi trong các máy tính cá nhân sử dụng các thế hệ chipset mới. Bảng dưới đây so sánh các chuẩn ATA thường sử dụng nhiều với ổ đĩa cứng trong thời gian gần đây. === Tốc độ truyền dữ liệu === Tốc độ của các chuẩn giao tiếp không có nghĩa là ổ đĩa cứng có thể đáp ứng đúng theo tốc độ của nó, đa phần tốc độ truyền dữ liệu trên các chuẩn giao tiếp thấp hơn so với thiết kế của nó bởi chúng gặp các rào cản trong vấn đề công nghệ chế tạo. Các thông số sau ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu của ổ đĩa cứng: Tốc độ quay của đĩa từ. Số lượng đĩa từ trong ổ đĩa cứng: bởi càng nhiều đĩa từ thì số lượng đầu đọc càng lớn, khả năng đọc/ghi của đồng thời của các đầu từ tại các mặt đĩa càng nhiều thì lượng dữ liệu đọc/ghi càng lớn hơn. Công nghệ chế tạo: Mật độ sít chặt của các track và công nghệ ghi dữ liệu trên bề mặt đĩa (phương từ song song hoặc vuông góc với bề mặt đĩa): dẫn đến tốc độ đọc/ghi cao hơn. Dung lượng bộ nhớ đệm: Ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu tức thời trong một thời điểm. Bảng so sánh sau tốc độ giữa các vùng ở các ổ cứng khác nhau dưới đây sẽ giúp chúng ta nhận ra một số yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu của ổ đĩa cứng. Như vậy ta thấy rằng tốc độ truyền dữ liệu thực sự ở mức trung bình 42,27 MBps ở ổ đĩa có giao tiếp Ultra-ATA/100 (với tốc độ thiết kế truyền dữ liệu 100 MBps) chỉ gần bằng 1/2 so với tốc độ giao tiếp. === Kích thước === Kích thước của ổ đĩa cứng được chuẩn hoá tại một số kích thước để đảm bảo thay thế lắp ráp vừa với các máy tính. Kích thước ổ đĩa cứng thường được tính theo inch (") Kích thước vỏ ngoài các loại ổ đĩa cứng: xem bảng. === Sự sử dụng điện năng === Đa số các ổ đĩa cứng của máy tính cá nhân sử dụng hai loại điện áp nguồn: 5 Vdc và 12 Vdc (DC hoặc dc: Loại điện áp một chiều). Các ổ đĩa cứng cho máy tính xách tay có thể sử dụng chỉ một loại điện áp nguồn 5 Vdc. Các ổ đĩa cứng gắn trong các thiết bị số cầm tay khác có thể sử dụng các nguồn có mức điện áp thấp hơn với công suất thấp. Điện năng cung cấp cho các ổ đĩa cứng phần lớn phục vụ cho động cơ quay các ổ đĩa, phần còn lại nhỏ hơn cung cấp cho bo mạch của ổ đĩa cứng. Tuỳ từng loại động cơ mà chúng sử dụng điện áp 12V hoặc 5 Vdc hơn (thông qua định mức tiêu thụ dòng điện của nó tại các mức điện áp này). Trên mỗi ổ đĩa cứng đều ghi rõ các thông số về dòng điện tiêu thụ của mỗi loại điện áp sử dụng để đảm bảo cho người sử dụng tính toán công suất chung. Ổ đĩa cứng thường tiêu thụ điện năng lớn nhất tại thời điểm khởi động của hệ thống (hoặc thời điểm đĩa cứng bắt đầu hoạt động trở lại sau khi tạm nghỉ để tiết kiệm điện năng) bởi sự khởi động của động cơ đồng trục quay các đĩa từ, cũng giống như động cơ điện thông thường, dòng điện tiêu thụ đỉnh cực đại của giai đoạn này có thể gấp 3 lần công suất tiêu thụ bình thường. Ổ cứng thông thường lấy điện trực tiếp từ nguồn máy tính, với các ổ đĩa cứng ngoài có thể sử dụng các bộ cung cấp điện riêng kèm theo hoặc chúng có thể dùng nguồn điện cung cấp qua các cổng giao tiếp USB. === Các thông số khác === Các thông số dưới đây những người sử dụng thường ít chú ý bởi chúng thường không ảnh hưởng nhiều đến hiệu suất làm việc của ổ cứng. Các thông số này không nên lấy làm chỉ tiêu so sánh giữa các ổ đĩa cứng trong sự lựa chọn trong sự sử dụng thông thường. ==== Độ ồn ==== Độ ồn của ổ đĩa cứng là thông số được tính bằng dB, chúng được đo khi ổ đĩa cứng đang làm việc bình thường. Ổ đĩa cứng với các đặc trưng hoạt động là các chuyển động cơ khí của các đĩa từ và cần di chuyển đầu đọc, do đó chúng không tránh khỏi phát tiếng ồn. Do ổ đĩa cứng thường có độ ồn thấp hơn nhiều so với bất kỳ một quạt làm mát hệ thống nào đang làm việc nên người sử dụng có thể không cần quan tâm đến thông số này. Những tiếng "lắc tắc" nhỏ phát ra trong quá trình làm việc của ổ cứng một cách không đều đặn được sinh ra bởi cần đỡ đầu đọc/ghi di chuyển và dừng đột ngột tại các vị trí cần định vị để làm việc. Âm thanh này có thể giúp người sử dụng biết được trạng thái làm việc của ổ đĩa cứng mà không cần quan sát đèn trạng thái HDD. ==== Chu trình di chuyển ==== Chu trình di chuyển của cần đọc/ghi (Load/Unload cycle) được tính bằng số lần chúng khởi động từ vị trí an toàn đến vùng làm việc của bề mặt đĩa cứng và ngược lại. Thông số này chỉ một số hữu hạn những lần di chuyển mà có thể sau số lần đó ổ đĩa cứng có thể gặp lỗi hoặc hư hỏng. Sau mỗi phiên làm việc (tắt máy), các đầu từ được di chuyển đến một vị trí an toàn nằm ngoài các đĩa từ nhằm tránh sự va chạm có thể gây xước bề mặt lớp từ tính, một số ổ đĩa có thiết kế cần di chuyển đầu đọc tự động di chuyển về vị trí an toàn sau khi ngừng cấp điện đột ngột. Nhiều người sử dụng năng động có thói quen ngắt điện trong một phiên làm việc trên nền DOS (bởi không có sự tắt máy chính thống) rồi tháo ổ đĩa cứng cho các công việc khác, quá trình di chuyển có thể gây va chạm và làm xuất hiện các khối hư hỏng (bad block). Chu trình di chuyển là một thông số lớn hơn số lần khởi động máy tính (hoặc các thiết bị sử dụng ổ đĩa cứng) bởi trong một phiên làm việc, ổ đĩa cứng có thể được chuyển sang chế độ tạm nghỉ (stand by) để tiết kiệm điện năng nhiều lần. ==== Chịu đựng sốc ==== Chịu đựng sốc (Shock - half sine wave): Sốc (hình thức rung động theo nửa chu kỳ sóng, thường được hiểu là việc dao động từ một vị trí cân bằng đến một giá trị cực đại, sau đó lại trở lại vị trí ban đầu) nói đến khả năng chịu đựng sốc của ổ đĩa cứng khi làm việc. Với các ổ cứng cho máy tính xách tay hoặc các thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân hay các ổ đĩa cứng ngoài thì thông số này càng cao càng tốt, với các ổ đĩa cứng gắn cho máy tính cá nhân để bàn thì thông số này ít được coi trọng khi so sánh lựa chọn giữa các loại ổ cứng bởi chúng đã được gắn cố định nên hiếm khi xảy ra sốc. ==== Nhiệt độ và sự thích nghi ==== Tất cả các thiết bị dựa trên hoạt động cơ khí đều có thể bị thay đổi thông số nếu nhiệt độ của chúng tăng lên đến một mức giới hạn nào đó (sự giãn nở theo nhiệt độ luôn là một đặc tính của kim loại), do đó cũng như nhiều thiết bị khác, nhiệt độ là một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình làm việc của ổ đĩa cứng nhất là bên trong nó các chuyển động cơ khí cần tuyệt đối chính xác. Nhiệt độ làm việc của ổ đĩa cứng thường là từ 0 cho đến 40 độ C, điều này thường phù hợp với nhiều môi trường khác nhau, tuy nhiên không chỉ có vậy: độ ẩm là yếu tố liên quan và kết hợp với môi trường tạo thành một sự phá hoại ổ đĩa cứng. Ổ cứng thường có các lỗ (chứa bộ lọc không khí) để cân bằng áp suất với bên ngoài, do đó nếu như không khí trong môi trường chứa nhiều hơi nước, sự ngưng tụ hơi nước thành các giọt hoặc đóng băng ở đâu đó bên trong ổ đĩa cứng có thể làm hư hỏng ổ nếu ta hình dung được tốc độ quay của nó lớn thế nào và khoảng cách giữa đầu từ với bề mặt làm việc của đĩa từ nhỏ đến đâu. Chính vì vậy trước khi đưa một ổ đĩa cứng vào làm việc lần đầu tiên (tháo bỏ vỏ nhựa bọc kín nó khi sản xuất) trong thiết bị hoặc ổ đĩa cứng đã sử dụng được đưa đến từ một môi trường khác đến một nơi làm việc mới (có nhiệt độ môi trường cao hơn), nên đặt nó vào khoang chứa trong một số thời gian nhất định trước khi kết nối các dây cấp nguồn và cáp dữ liệu để chúng làm việc. Thời gian thích nghi đủ lớn để để đảm bảo cho: Các giọt nước bị bay hơi hoặc các cụm băng tuyết biến thành hơi nước và cân bằng với môi trường bên ngoài. Đảm bảo sự đồng đều về môi trường bên trong và bên ngoài của ổ đĩa cứng, tránh sự biến đổi (do nhiệt độ thay đổi đột ngột) với các thiết bị cơ khí bên trong khi nhiệt độ của ổ đĩa cứng tăng lên sau một thời gian hoạt động. Thời gian thích nghi cần thiết: xem bảng. Tương tự việc đưa một máy tính xách tay từ ngoài trời ở xứ lạnh vào trong phòng làm việc ấm áp cũng nên để thời gian chờ như vậy bởi trong máy tính xách tay cũng có các ổ đĩa cứng - trừ trường hợp khi ở ngoài trời (xứ lạnh) máy đang hoạt động (đảm bảo nó không bị đóng băng tuyết bên trong ổ đĩa cứng). Với nhiệt độ theo bảng ta có thể thấy rằng khí hậu ở Việt Nam hoặc các nước gần xích đạo khác có nhiệt độ trung bình cao có lẽ ít cần có thời gian thích ứng trước khi đưa ổ đĩa cứng vào sử dụng (trừ những vùng có thể có nhiệt độ thấp và xuất hiện tuyết như Sa Pa ở Việt Nam) Với sự làm mát ổ đĩa cứng, xem thêm phần thông tin thêm của bài. ==== Các số thông số về sản phẩm ==== Phần dưới đây giải thích một số thông số khác của các ổ đĩa cứng. Model: Ký hiệu về kiểu sản phẩm của ổ đĩa cứng, model có thể được sử dụng chung cho một lô sản phẩm cùng loại có các đặc tính và thông số giống như nhau. Thông thường mỗi hãng có một cách ký hiệu riêng về thông số model để có thể giải thích sơ qua về một số thông số trên ổ đĩa cứng đó. Serial number: Mã số sản phẩm, mỗi ổ đĩa cứng có một số hiệu này riêng. Thông số này thường chứa đựng thông tin đã được quy ước riêng của hãng sản xuất về thời gian sản xuất hoặc đơn thuần chỉ là thứ tự sản phẩm khi được sản xuất. Firmware revision: Thông số về phiên bản firmware đang sử dụng hiện thời của ổ đĩa cứng. Thông số này có thể thay đổi nếu người sử dụng nâng cấp các phiên bản firmware của ổ đĩa cứng (nhưng việc nâng cấp này thường rất hiếm khi xảy ra). Một số hãng sản xuất phần mềm có thể sử dụng các thông số trên của ổ đĩa cứng để nhận dạng tình trạng bản quyền của phần mềm trên duy nhất một máy tính, tuy nhiên cách này không được áp dụng rộng rãi do việc đăng ký phức tạp, không thuận tiện cho quá trình nâng cấp ổ đĩa cứng của người sử dụng. == Thiết đặt các chế độ hoạt động của đĩa cứng == === Thiết đặt phần cứng thông qua cầu đấu === Cầu đấu (tạm dịch từ jumper) là một bộ phận nhỏ trên ổ đĩa cứng, chúng có tác dụng thiết đặt chế độ làm việc của các ổ đĩa cứng. ==== Thiết đặt kênh ==== Lựa chọn các kênh trên cable IDE: Các ổ đĩa cứng theo chuẩn giao tiếp ATA thường sử dụng hai kênh (trên cùng một cáp truyền dữ liệu), chúng có thể được đặt là kênh chính (Master) hoặc kênh phụ (Slave). Việc thiết lập chỉ đơn giản cần cắm các cầu đấu vào đúng vị trí của chúng trên các chân cắm. Về vị trí, chúng luôn được hướng dẫn trên phần nhãn hoặc viết tắt cạnh cầu đấu như sau: MA (hoặc chỉ M): Master, SL (hoặc chỉ S): Slave; CS (hoặc chỉ C): Cable select (tự động lựa chọn theo cáp truyền dữ liệu). Để giúp ổ đĩa cứng hoạt động tốt hơn, nên chọn các ổ đĩa cứng chứa các phân vùng có cài hệ điều hành làm kênh chính, các ổ đĩa cứng vật lý có tính dùng phụ, dùng cho lưu trữ hoặc các tập tin không được truy cập thường xuyên nên đặt tại ổ phụ (slave). ==== Thiết đặt chuẩn giao tiếp ==== Một số ổ đĩa cứng sử dụng giao tiếp SATA thế hệ thứ 2 (300 MBps) có thể hoạt động phù hợp hơn với bo mạch chủ chỉ hỗ trợ giao tiếp SATA thế hệ đầu tiên (150 MBps) bằng cách đổi các cầu đấu thiết đặt. Hướng dẫn về cách đổi có thể được ghi trên nhãn đĩa hoặc chỉ có thể tìm thấy trong các phần hướng dẫn tại website của hãng sản xuất. === Thiết đặt phần mềm === Thiết đặt phần mềm ở đây là các cài đặt, phân hoạch trên các ổ đĩa cứng giúp cho ổ đĩa cứng làm việc. Trong phạm vi bài viết về Ổ đĩa cứng, các mục dưới đây được trình bày tóm lược. ==== Phân vùng (Partition) ==== Phân vùng (partition): là tập hợp các vùng ghi nhớ dữ liệu trên các cylinder gần nhau với dung lượng theo thiết đặt của người sử dụng để sử dụng cho các mục đích sử dụng khác nhau. Sự phân chia phân vùng giúp cho ổ đĩa cứng có thể định dạng các loại tập tin khác nhau để có thể cài đặt nhiều hệ điều hành đồng thời trên cùng một ổ đĩa cứng. Ví dụ trong một ổ đĩa cứng có thể thiết lập một phân vùng có định dạng FAT/FAT32 cho hệ điều hành Windows 9X/Me và một vài phân vùng NTFS cho hệ điều hành Windows NT/2000/XP/Vista với lợi thế về bảo mật trong định dạng loại này (mặc dù các hệ điều hành này có thể sử dụng các định dạng cũ hơn). Phân chia phân vùng không phải là điều bắt buộc đối với các ổ đĩa cứng để nó làm việc (một vài hãng sản xuất máy tính cá nhân nguyên chiếc chỉ thiết đặt một phân vùng duy nhất khi cài sẵn các hệ điều hành vào máy tính khi bán ra), chúng chỉ giúp cho người sử dụng có thể cài đặt đồng thời nhiều hệ điều hành trên cùng một máy tính hoặc giúp việc quản lý các nội dung, lưu trữ, phân loại dữ liệu được thuận tiện và tối ưu hơn, tránh sự phân mảnh của các tập tin. Những lời khuyên dưới đây giúp sử dụng ổ đĩa cứng một cách tối ưu hơn: Phân vùng chứa hệ điều hành chính: Thường nên thiết lập phân vùng chứa hệ điều hành tại các vùng chứa phía ngoài rìa của đĩa từ (outer zone) bởi vùng này có tốc độ đọc/ghi cao hơn, dẫn đến sự khởi động hệ điều hành và các phần mềm khởi động và làm việc được nhanh hơn. Phân vùng này thường được gán tên là C . Phân vùng chứa hệ điều hành không nên chứa các dữ liệu quan trọng bởi chúng dễ bị virus tấn công (hơn các phân vùng khác), việc sửa chữa khắc phục sự cố nếu không thận trọng có thể làm mất toàn bộ dữ liệu tại phân vùng này. Phân vùng chứa dữ liệu thường xuyên truy cập hoặc thay đổi: Những tập tin đa phương tiện (multimedia) nếu thường xuyên được truy cập hoặc các dữ liệu làm việc khác nên đặt tại phân vùng thứ hai ngay sau phân vùng chứa hệ điều hành. Sau khi quy hoạch, nên thường xuyên thực thi tác vụ chống phân mảnh tập tin trên phân vùng này. Phân vùng chứa dữ liệu ít truy cập hoặc ít bị sửa đổi: Nên đặt riêng một phân vùng chứa các dữ liệu ít truy cập hoặc bị thay đổi như các bộ cài đặt phần mềm. Phân vùng này nên đặt sau cùng, tương ứng với vị trí của nó ở gần khu vực tâm của đĩa (inner zone). Có nhiều phần mềm có thể sử dụng để quy hoạch các phân vùng đĩa cứng: fdisk trong DOS, Disk Management của Windows (2000, XP) và một số phần mềm của các hãng khác, nhưng có thể chúng chỉ đơn thuần là tạo ra các phân vùng, xoá các phân vùng mà không thay đổi kích thước phân vùng đang tồn tại, chúng thường làm mất dữ liệu trên phân vùng thao tác. Partition Magic (hiện tại của hãng Symantec) thường được nhiều người sử dụng bởi tính năng mạnh mẽ, giao diện thân thiện (sử dụng chuột, giống các phần mềm trong môi trường 32 bit) và đặc biệt là không làm mất dữ liệu khi thao tác với các phân vùng ==== Định dạng của phân vùng ==== Lựa chọn định dạng các phân vùng là hành động tiếp sau khi quy hoạch phân vùng ổ đĩa cứng. Tuỳ thuộc vào các hệ điều hành sử dụng mà cần lựa chọn các kiểu định dạng sử dụng trên ổ đĩa cứng. Một số định dạng sử dụng trong các hệ điều hành họ Windows có thể là: FAT (File Allocation Table): Chuẩn hỗ trợ DOS và các hệ điều hành họ Windows 9X/Me (và các hệ điều hành sau). Phân vùng FAT hỗ trợ độ dài tên 11 ký tự (8 ký tự tên và 3 ký tự mở rộng) trong DOS hoặc 255 ký tự trong các hệ điều hành 32 bit như Windows 9X/Me. FAT có thể sử dụng 12 hoặc 16 bit, dung lượng tối đa một phân vùng FAT chỉ đến 2 GB dữ liệu. FAT32 (File Allocation Table, 32-bit): Tương tự như FAT, nhưng nó được hỗ trợ bắt đầu từ hệ điều hành Windows 95 OSR2 và toàn bộ các hệ điều hành sau này. Dung lượng tối đa của một phân vùng FAT32 có thể lên tới 2 TB (2.048 GB). NTFS (Windows New Tech File System): Được hỗ trợ bắt đầu từ các hệ điều hành họ NT/2000/XP/Vista. Một phân vùng NTFS có thể có dung lượng tối đa đến 16 exabytes. exFAT (extended File Allocation Table): được thiết kế đặc biệt cho các ổ flash USB. Không chỉ có thế, các hệ điều hành họ Linux sử dụng các loại định dạng tập tin riêng. ==== Format ==== Format là sự định dạng các vùng ghi dữ liệu của ổ đĩa cứng. Tuỳ theo từng yêu cầu mà có thể thực hiện sự định dạng này ở các thể loại cấp thấp hay sự định dạng thông thường. ===== Format cấp thấp ===== Format cấp thấp (low-level format) là sự định dạng lại các track, sector, cylinder (bao gồm cả các ‘khu vực" đã trình bày trong phần sector). Format cấp thấp thường được các hãng sản xuất thực hiện lần đầu tiên trước khi xuất xưởng các ổ đĩa cứng. Người sử dụng chỉ nên dùng các phần mềm của chính hãng sản xuất để format cấp thấp (cũng có các phần mềm của hãng khác nhưng có thể các phần mềm này không nhận biết đúng các thông số của ổ đĩa cứng khi tiến hành định dạng lại). Khi các ổ cứng đã làm việc nhiều năm liên tục hoặc có các khối hư hỏng xuất hiện nhiều, điều này có hai khả năng: sự lão hoá tổng thể hoặc sự rơ rão của các phần cơ khí bên trong ổ đĩa cứng. Cả hai trường hợp này đều dẫn đến một sự không đáng tin cậy khi lưu trữ dữ liệu quan trọng trên nó, do đó việc định dạng cấp thấp có thể kéo dài thêm một chút thời gian làm việc của ổ đĩa cứng để lưu các dữ liệu không mấy quan trọng. Format cấp thấp giúp cho sự đọc/ghi trên các track đang bị lệch lạc trở thành phù hợp hơn khi các track đó được định dạng lại (có thể hiểu đơn giản rằng nếu đầu đọc/ghi bắt đầu làm việc dịch về một biên phía nào đó của track thì sau khi format cấp thấp các đầu đọc/ghi sẽ làm việc tại tâm của các track mới). Không nên lạm dụng format cấp thấp nếu như ổ đĩa cứng của bạn đang hoạt động bình thường bởi sự định dạng lại này có thể mang lại sự rủi ro: Sự thao tác sai của người dùng, các vấn đề xử lý trong bo mạch của ổ đĩa cứng. Nếu như một ổ đĩa cứng xuất hiện một vài khối hư hỏng thì người sử dụng nên dùng các phần mềm che giấu nó bởi đó không chắc đã do sự hoạt động rơ rão của phần cứng. Một người viết bài này đã sử dụng một ổ đĩa cứng từ những năm 1995 cho đến nay nhưng chưa thấy có hiện tượng rơ rão cơ khí như nhắc đến trong bài. ===== Format thông thường ===== Định dạng mức cao (high-level format) là các hình thức format thông thường mà đa phần người sử dụng đã từng thực hiện (chúng chỉ được gọi tên như vậy để phân biệt với format cấp thấp) bởi các lệnh sẵn có trong các hệ điều hành (DOS hoặc Windows), hình thức format này có thể có hai dạng: Format nhanh (quick): Đơn thuần là xoá vị trí lưu trữ các ký tự đầu tiên để hệ điều hành hoặc các phần mềm có thể ghi đè dữ liệu mới lên các dữ liệu cũ. Nếu muốn format nhanh: sử dụng tham số " /q" với lệnh trong DOS hoặc chọn "quick format" trong hộp lựa chọn của lệnh ở hệ điều hành Windows. Format thông thường. Xoá bỏ các dữ liệu cũ và đồng thời kiểm tra phát hiện khối hư hỏng (bad block), đánh dấu chúng để chúng không còn được vô tình sử dụng đến trong các phiên làm việc sắp tới (nếu không có sự đánh dấu này, hệ điều hành sẽ ghi dữ liệu vào khối hư hỏng mà nó không báo lỗi - tuy nhiên khi đọc lại dữ liệu đã ghi đó mới là vấn đề nghiêm trọng).Đối với bộ nhớ Flash thì cũng không nên format nhiều dễ làm hỏng ổ đĩa. ===== Tham số khi format ===== Ở dạng format cấp thấp, các thông số thiết đặt phần nhiều do phần mềm của hãng sản xuất xác nhận khi bạn nhập vào các thông số nhìn thấy được trên ổ đĩa cứng (Model, serial number...) nên các thông số này cần tuyệt đối chính xác nhằm tránh sự thất bại khi tiến hành. Ở dạng format thông thường, nếu là hình thức format nhanh (quick) thì các thông số được giữ nguyên như lần format gần nhất, còn lại có một thông số mà người tiến hành format cần cân nhắc lựa chọn là kích thước đơn vị (nhỏ nhất) của định dạng là cluster (trong Windows XP mục Allocation unit size trong hộp thoại lựa chọn format). Kích thước cluster có thể lựa chọn bắt đầu từ 512 byte bởi không thể nhỏ hơn kích thước chứa dữ liệu của một sector (với kích thước một sector thông dụng nhất là 512 byte). Các kích thước còn lại có thể là: 1024, 2048, 4096 với quy định giới hạn của từng loại định dạng (FAT/FAT32 hay NTFS). Sự lựa chọn quan trọng nhất là phân vùng cần định dạng sử dụng chủ yếu để chứa các tập tin có kích thước như thế nào. Để hiểu hơn về lựa chọn, xin xem một ví dụ sau: Nếu lưu một tập tin text chỉ có dung lượng 1 byte (bạn hãy thử tạo một tập tin text và đánh 1 ký tự vào đó) thì trên ổ đĩa cứng sẽ phải dùng đến ít nhất 512 byte để chứa tập tin này với việc lựa chọn kích thước đơn vị là 512 byte, còn nếu lựa chọn cluster bằng 4096 byte thì kích thước lãng phí sẽ là 4096 - 1 = 4095 byte. Nếu như lựa chọn kích thước cluster có kích thước khá nhỏ thì các bảng FAT hoặc các tập tin MFT (Master File Table) trong định dạng NTFS lại trở lên lớn hơn. Như vậy ta nhận thấy: Nếu ổ đĩa cứng sử dụng cho các tập tin do các phần mềm văn phòng thường ngày (Winword, bảng tính excel...), nên chọn kích thước nhỏ: 1024 hoặc 2048 byte. Nếu chứa các tập tin là dạng các bộ cài đặt phần mềm hoặc các tập tin video, nên chọn kích thước này lớn hơn. Đặc biệt ở các ổ cứng nhỏ dành cho thiết bị di động thì sự lựa chọn thường là 512 byte (đây cũng thường là lựa chọn khi format các loại thẻ nhớ). Windows có thể cho bạn biết một tập tin kích thước thực (size) của nó và kích thước chứa trên đĩa (size on disk) của nó bằng cách bấm chuột phải và chọn Properties. Điều này giúp bạn có thể nhận ra sự lãng phí đã nêu Phần mềm Partition Magic của Symantec có thể so sánh việc lựa chọn kích thước các cluster trên một phân vùng tồn tại dữ liệu. == Ứng dụng == Ổ đĩa cứng được sử dụng chủ yếu trên các máy tính như: máy tính cá nhân, máy tính xách tay, máy chủ, máy trạm… Với các thiết bị lưu trữ dữ liệu chuyên dụng như: các thiết bị sao lưu dữ liệu tự động hoặc các thiết bị sao lưu dữ liệu dùng cho văn phòng/cá nhân bán trên thị trường hiện nay đều sử dụng các ổ đĩa cứng. Khi ổ đĩa cứng có dung lượng ngày càng lớn, chi phí tính theo mỗi GB dữ liệu rẻ đi khiến chúng hoàn toàn có thể thay thế các hệ thống sao lưu dữ liệu dự phòng trước đây như: băng từ (mà ưu điểm nổi bật của chúng là chi phí cho mỗi GB thấp). Ngày nay, một số hãng sản xuất ổ đĩa cứng đã có thể chế tạo các đĩa cứng rất nhỏ. Các ổ đĩa cứng nhỏ này có thể được sử dụng thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân, thiết bị cầm tay, điện thoại di động, máy ảnh số, máy nghe nhạc cá nhân, tai nghe không dây, máy quay phim kỹ thuật số (thay cho băng từ và đĩa quang với ưu thế về tốc độ ghi và sự soạn thảo hiệu ứng tức thời)... Những thiết bị gia dụng mới xuất hiện đáp ứng nhu cầu của con người cũng được sử dụng các ổ đĩa cứng như: Thiết bị ghi lại các chương trình ti vi cho phép người sử dụng không bỏ sót một kênh yêu thích nào bởi chúng ghi lại một kênh thứ hai trong khi người sử dụng xem kênh thứ nhất, hoặc đặt lịch trình ghi lại khi vắng nhà. == Một số thông tin và ghi chú trong bài == Nhiều người sử dụng thường gọi ổ C, ổ D…nhưng thực chất chúng chỉ là các phân vùng (partition) trong ổ đĩa cứng để tiện cho việc phân chia khu vực lưu trữ dữ liệu theo các mục đích riêng. Cách hiểu này nhiều khi được sử dụng ở các bài viết chính thống, tuy nhiên ở các bài viết cẩn thận, người truyền đạt thường sử dụng từ "ổ vật lý" để nói đến toàn bộ khối ổ đĩa cứng, nhằm tránh sự hiểu nhầm đến các "ổ luận lý". Một số người sử dụng đã làm mát ổ đĩa cứng bằng cách gắn các quạt làm mát thổi trực tiếp vào bo mạch của chúng (thổi từ dưới lên, có một số nơi lại bán sẵn các vỉ làm mát kiểu này), điều này hoàn toàn không cần thiết bởi bo mạch của ổ đĩa thường không tiêu thụ công suất quá lớn khiến các linh kiện của chúng nóng lên và bo mạch được làm mát không thể hấp thụ nhiệt từ các đĩa từ, động cơ của ổ đĩa cứng. Mặt khác điều này còn làm cho bo mạch chứa nhiều bụi sau một thời gian làm việc, chúng có thể trở thành môi trường dẫn điện nếu thời tiết trở nên ẩm thấp. Cách tốt để tản nhiệt ổ đĩa cứng là thổi không khí vào chúng từ phía trên hoặc phía ngang. Một số vỏ máy tính đã thiết kế quạt làm mát thổi song song với ổ đĩa cứng lấy gió từ phía mặt trước của thùng máy. Trong quá trình làm việc, hệ điều hành hoặc các phần mềm kiểm tra đĩa cứng, nếu chúng đọc và ghi dữ liệu tại một vị trí nào đó không thành công trong vài lần, chúng sẽ đánh dấu "khối hư hỏng" vào đó nhằm tránh sự ghi dữ liệu tiếp theo vào vị trí này. Nhiều trường hợp bởi một lý do khác mà hệ điều hành có thể đánh dấu sai. == Các hãng sản xuất == Có rất nhiều hãng, công ty sản xuất ổ đĩa cứng, có thể kể đến một số thương hiệu như sau (sắp xếp ngẫu nhiên không theo quy luật):IBM, Seagate, Hitachi, Western Digital. == Xem thêm == Ổ đĩa mềm Ổ USB == Tham khảo == Cấu trúc máy tính và thiết bị ngoại vi. Nguyễn Nam Trung. Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật 2000 Upgrading and Repairing Pcs, 17th Edition. Scott Mueller (tiếng Anh). == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Vietnamnet (23/9/2004): Thử thách lớn cho ổ cứng nhỏ Video minh hoạ về công nghệ ghi dữ liệu trên ổ đĩa cứng (phương ghi: vuông góc vs song song)
judo.txt
Jūdō (柔道 (Nhu đạo), Jūdō) là môn võ thuật của người Nhật Bản do võ sư đồng thời là giáo sư môn thể chất Kano Jigoro (嘉納治五郎) (1860-1938) sáng lập ra vào năm 1882 trên nền tảng môn võ cổ truyền Jūjitsu (柔術, Nhu thuật) của Nhật Bản. Jū có nghĩa là khéo léo, uyển chuyển còn dō là đạo với mục đích "lấy nhu thắng cương". Jūjitsu là một môn võ chiến đấu với những đòn như bẻ tay, bẻ cổ,... dễ gây tổn thương cho võ sinh, nên Kano đã bỏ bớt các yếu tố bạo lực đó và làm cho Judo mang tinh thần thể thao nhiều hơn. Môn Jūdō không dùng binh khí mà các đòn tấn công chủ yếu là quật ngã, đè, siết cổ và khóa tay, chân. Các đòn chém và đâm dùng bàn tay và bàn chân cũng như vũ khí phòng thủ là một phần của judo, nhưng chỉ trong các hình thức sắp xếp trước (kata, 形) và không được phép trong các cuộc thi judo hoặc tập luyện (randori, 乱 取 り). Một học viên judo được gọi là một judoka. Đây là môn võ tương tự Thái cực quyền với phương châm "lấy nhu thắng cương", "tá lực đả lực" (mượn sức đánh sức), "tứ lạng bát thiên cân" (bốn lạng đẩy ngàn cân) v.v. Ứng dụng chủ yếu vào việc tự vệ bản thân, rèn luyện sức khỏe, độ khéo léo và tinh thần. Jūdō nhanh chóng được chính phủ Nhật Bản xem như quốc võ và phổ biến trên khắp thế giới và có mặt tại Olympic tại Tokyo vào năm 1964. Đến năm 1988, Jūdō nữ được đưa vào thi đấu chính thức trong Olympic. Năm 1956, Liên đoàn Judo Quốc tế (IJF) được thành lập. Hiện nay IJF có 112 nước thành viên trong đó có Việt Nam. Triết lý và phương pháp sư phạm tiếp theo được phát triển cho judo đã trở thành mô hình cho các môn võ thuật Nhật Bản hiện đại khác được phát triển từ Koryu (古流, trường học truyền thống). Sự phổ biến trên toàn thế giới của judo đã dẫn đến sự phát triển của một số nhánh như Sambo và Brazil jiu-jitsu. == 10 điều tâm niệm của Jūdō == Đây là 10 điều tâm niệm mà mỗi võ sinh Jūdō phải thuộc lòng: Tôn trọng kỉ luật, nội quy nhà trường. Kính thầy yêu bạn, bênh vực người yếu đuối. Kính trọng các bạn trong môn phái võ nghệ khác. Ngoài những trận đấu giao hữu, tuyệt nhiên không thách đấu với bất kì ai. Thắng không kiêu, bại không nản, lúc nào cũng phải bình tĩnh. Chỉ tự vệ trong trường hợp bị tấn công, luôn dung thứ người thất thế. Luôn luôn tự rèn luyện để thân thể khỏe mạnh, tư tưởng ngay thẳng trong sạch khoan dung, tính nết nhẫn nhục, nhu hào và kiên trì. Nghe lời nói tư lợi thì ngoảnh mặt đi, khi bàn việc công thì băng mình tới. Thà chịu thiệt hại còn hơn làm điều hèn nhát, bất công. Mục tiêu của võ sinh Jūdō là Nhân-Trí-Dũng Người luyện môn Jūdō khi còn được học ở võ đường hay khi đã vào đời phải luôn luôn ghi nhớ những điều tam niệm để tu thân, hành xử việc đời và giúp ích cho xã hội. == Phòng tập Jūdō == Phòng tập Jūdō gọi là Dōjō trong đó Dō (道) là Đạo còn Jō (場) là nơi, chỗ. Từ này còn có ý nghĩa hướng dẫn kỹ thuật và lối sống của võ sinh Judo. Dōjō là 1 căn phòng rộng rãi, sáng sủa và trang nghiêm. Sàn tập được phủ thảm Tatami, một loại thảm đặc biệt để khi ngã không đau. Trước khi vào Dōjō học viên phải thay võ phục sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng, móng tay, móng chân cắt ngắn, không mang đồ trang sức, kim loại trên người. Bất cứ ai khi bước vào hoặc rời khỏi Dōjō phải cúi đầu chào theo nghi lễ Jūdō. == Đẳng cấp == Đẳng cấp trong Jūdō thể hiện trình độ kỹ thuật và khả năng thi đấu của mỗi võ sĩ. Từ đai vàng đến đai nâu, cuộc thi đấu tổ chức ở phòng tập và do võ sư trực tiếp dạy mình thăng cấp cho. Từ đai nâu đến đai đen võ sĩ phải thi đấu trước một hội đồng có uy tín. Việc thăng đẳng cấp này có quy định về quốc tế. Đẳng cấp Jūdō được ấn định như sau: Cấp 6: Đai trắng Cấp 5: Đai vàng Cấp 4: Đai cam Cấp 3: Đai xanh lá cây Cấp 2: Đai xanh lam Cấp 1: Đai nâu Từ 1 đẳng đến 5 đẳng đai đen thì có các vạch trắng. Từ 6 đến 8 đẳng đai đoạn đỏ, đoạn trắng. Từ 9 đẳng đến 10 đẳng đai màu đỏ. == Võ phục == Võ phục Jūdō gọi là Jūdōgi (柔道衣, Nhu Đạo Y). Jūdōgi gồm 3 thứ: quần, áo và đai. Quần và áo màu trắng và màu xanh dương còn đai tùy theo đẳng cấp. Đai có chiều dài 2,5 mét. == Nghi thức chào == Một buổi tập thường được bắt đầu và kết thúc bằng việc chào tổ sư và huấn luyện viên để tỏ lòng kính trọng (chào quỳ). Trước và sau khi tập hoặc thi đấu với bạn cũng phải chào nhau (đứng chào). == Đòn thế Jūdō == Đòn thế Judo (Judo waza) gồm có 2 phần chính: Nhóm kỹ thuật quật (vật, ném) - nage-waza (投げ技, nage-waza) Nhóm kỹ thuật khống chế/khoá siết - katame-waza (固技, katame-waza) Nhóm kỹ thuật đánh bằng chân/tay/cơ thể - atemi-waza (当て身技, atemi-waza) Judo được biết đến chủ yếu với nage-waza và katame-waza. === Nage waza === Trong các đòn ném Nage waza (hay đòn vật, đòn quật) được chia ra thành 2 nhóm: nhóm đòn đứng và nhóm đòn hi sinh. + Trong nhóm đòn đứng (Ta'ichi waza) có các bộ đòn: Nhóm đòn chân (Ashi waza) Nhóm đòn hông (Koshi waza) Nhóm đòn tay (Te waza) + Trong nhóm đòn hi sinh (Sutemi waza) có các bộ đòn: Nhóm đòn hi sinh ngã sau (Matsuemi waza) Nhóm đòn hi sinh ngã nghiêng (Yokotsutemi waza) === Katame waza === Nhóm đòn đè (Osaekomi waza) Nhóm đòn xiết cổ (Shime waza) Nhóm đòn khoá bẻ khớp (Kansetsu waza) == Judo ở Việt Nam == Judo được truyền bá vào Việt Nam từ năm 1954 nhờ nhà sư Thích Tâm Giác, trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm. Judo nhanh chóng được người dân Việt Nam yêu thích và tập luyện vì thích hợp với tố chất khéo léo của người Việt Nam. Trong những kì Sea Games và Asiad, Judo đã mang về nhiều huy chương vàng cho thể thao Việt Nam tiêu biểu là Cao Ngọc Phương Trinh vô địch 3 kỳ Sea Games liên tiếp, 17, 18 và 19.Võ sĩ Huỳnh Văn Có cùng tuyệt chiêu siết cổ cũng là một trong hai võ sĩ VN đầu tiên đạt chuẩn đai đen quốc tế năm 1961 cùng với võ sĩ Hoàng Xuân Dần, do Nhật Bản tổ chức. == Xem thêm == Thái cực quyền Dịch Cân kinh Võ thuật == Chú thích == == Tham khảo == Adams, Neil (1991), Armlocks, Judo Masterclass Techniques, London: Ippon Books Cachia, Jeffrey (2009), Effective Judo, Sarasota, FL: Elite Publishing Daigo, Toshiro (2005), Kodokan Judo Throwing Techniques, Tokyo, Japan: Kodansha International De Crée, Carl (2012), The origin, inner essence, biomechanical fundamentals, and current teaching and performance anomalies of Kōdōkan jūdō’s esoteric sixth kata: The Itsutsu-no-kata ―"Forms of five", Rome, Italy: University of Rome De Crée, Carl; Jones, Llyr C. (7 tháng 5 năm 2017), “Kōdōkan Jūdō's Elusive Tenth Kata: The Gō-no-kata - "Forms of Proper Use of Force" - Part 1”, Archives of Budo 5: 55–73 De Crée, Carl; Jones, Llyr C. (7 tháng 5 năm 2017), “Kōdōkan Jūdō's Elusive Tenth Kata: The Gō-no-kata - "Forms of Proper Use of Force" - Part 2”, Archives of Budo 5: 74–82 De Crée, Carl; Jones, Llyr C. (7 tháng 5 năm 2017), “Kōdōkan Jūdō's Elusive Tenth Kata: The Gō-no-kata - "Forms of Proper Use of Force" - Part 3”, Archives of Budo 5: 83–95 De Crée, Carl; Jones, Llyr C. (7 tháng 5 năm 2017), “Kōdōkan Jūdō's Inauspicious Ninth Kata: The Joshi goshinhō - "Self-defense methods for females" - Part 1”, Archives of Budo 7: 105–123 De Crée, Carl; Jones, Llyr C. (7 tháng 5 năm 2017), “Kōdōkan Jūdō's Inauspicious Ninth Kata: The Joshi goshinhō - "Self-defense methods for females" - Part 2”, Archives of Budo 7: 125–137 De Crée, Carl; Jones, Llyr C. (7 tháng 5 năm 2017), “Kōdōkan Jūdō's Inauspicious Ninth Kata: The Joshi goshinhō - "Self-defense methods for females" - Part 3”, Archives of Budo 7: 137–139 Fromm, Alan; Soames, Nicolas (1982), Judo - The Gentle Way, London: Routledge & Kegan Paul Ltd Fukuda, Keiko (2004), Ju-No-Kata, Berkeley, California: North Atlantic Books Harrison, E.J. (1952), Manual of Judo, London: Foulsham Hoare, Syd (2005), “Development of judo competition rules” (PDF), sydhoare.com, truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012 Hoare, Syd (2009), A History of Judo, London: Yamagi Books Inman, Roy (2005), The Judo Handbook, UK: Silverdale Books Inokuma, Isao; Sato, Noboyuki (1987), Best Judo, Tokyo, Japan: Kodansha International Ishikawa, Takahiko; Draeger, Donn F. (1999), Judo Training Methods, Boston, Massachusetts: Tuttle Publishing Jones, Llyr C.; Hanon, Michael J. (2010), “The way of kata in Kodokan Judo”, Journal of Asian Martial Arts 19: 8–37 Kano, Jigoro (1994), Kodokan Judo, Tokyo, Japan: Kodansha Kano, Jigoro (2005), Naoki, Murata, biên tập, Mind Over Muscle: Writings from the founder of Judo, Tokyo, Japan: Kodansha Kano, Jigoro (2008), Watson, Brian N., biên tập, Judo Memoirs of Jigoro Kano, Victoria, BC: Trafford Publishing Kashiwazaki, Katsuhiko (1992), Shimewaza, Judo Masterclass Techniques, London: Ippon Books Kashiwazaki, Katsuhiko (1997), Osaekomi, Judo Masterclass Techniques, London: Ippon Books Koizumi, Gunji (tháng 4 năm 1947), “1936 Conversation with Jigoro Kano”, Budokwai Bulletin Lowry, Dave (2006), In the dojo. A guide to the rituals and etiquette of the Japanese martial arts, Boston, MA: Weatherhill Mifune, Kyuzo (2004), The Canon of Judo: Classic teachings on principles and techniques, Tokyo, Japan: Kodansha Ohlenkamp, Neil (2006), Judo Unleashed: Essential Throwing & Grappling Techniques for Intermediate to Advanced Martial Artists, Maidenhead: McGraw-Hill Otaki, Tadao; Draeger, Donn F. (1997), Judo Formal Techniques: Complete guide to Kodokan randori no kata , Clarendon, Vermont: Tuttle Publishing Takahashi, Masao (2005), Mastering Judo, Champaign, Illinois: Human Kinetics Lê Thanh Vĩnh (2005). Căn bản Judo. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ. == Liên kết ngoài == Luật thi đấu Judo quốc tế (tập tin Microsoft Office Word) Liên đoàn Judo Thế giới Liên đoàn Judo Canada Liên đoàn Judo Hoa Kỳ Các kĩ thuật Judo Kĩ thuật Judo
cốm.txt
Cốm là đồ ăn được làm từ lúa nếp làm chín bằng cách rang và sàng sảy cho hết vỏ trấu, tuy bắt gặp tại nhiều vùng miền trên đất nước Việt Nam nhưng rất thịnh hành trong ẩm thực đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là tại Hà Nội. Trong các dân tộc tại miền Bắc Việt Nam lúa nếp để làm cốm thường là nếp non, hạt lúa bấm ra sữa, tuy ở miền Trung và Nam Bộ cốm thường sử dụng loại lúa nếp già tháng hơn rang nổ bung ra và sau đó được ngào với đường. == Cốm ở Việt Nam == Trong cộng đồng người Việt tại miền Bắc Việt Nam cốm được làm từ lúa nếp non, ngon nhất là cốm làm từ nếp cái hoa vàng, trong cả hai mùa: lúa chiêm và lúa mùa, tuy thường dùng lúa mùa vào khoảng cuối hè đầu thu (từ khoảng rằm tháng 7 đến hết tháng 9 âm lịch). Vào tháng 4, tháng 5 âm lịch có nơi như ở cánh đồng Gôi (Dịch Vọng, Từ Liêm, Hà Nội) đã gặt lúa sớm nên đã có cốm bán gọi là cốm chiêm. Cốm chiêm không khác cốm mùa, nhưng có lẽ do thời tiết còn nóng bức nên người ăn không cảm thấy ngon như cốm mùa Thu. Tại Hà Nội bên cạnh cốm Vòng là cốm Lủ và cốm Mễ Trì. Các bà, các mẹ bán cốm thường ăn mặc theo lối xưa với khăn xếp, áo cánh cổ lá sen, gánh đôi thúng với một bó lạt bằng rơm nếp nhuộm mạ xanh ngắt gắn trên đầu quang gánh, và chiếc mẹt đặt úp trên một bên thúng xếp vài chiếc lá sen để gói cốm. Từ Đèo Ngang trở vào trong Nam, cốm hay bánh cốm thường được làm từ lúa nếp già tháng, gạo nếp, thậm chí là ngô, rang nở phồng sau đó ngào với đường. Các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng có những loại cốm tương tự như cốm người Việt. Người Tày ở Yên Bái còn có lễ hội giã cốm mang tên Tăm Khảu Mau. Lễ hội tổ chức tổ chức vào khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch, là lúc lúa nếp vừa chớm vào trắc, hạt lúa ngả màu vàng nhạt là thời điểm người dân tập trung làm cốm. Cốm được làm từ thóc nếp. Để làm cốm thóc được chọn rất cầu kỳ, phải là thóc nếp hạt mẩy và có màu vàng nhạt đều. Cốm được làm theo hai cách, hoặc có thể luộc thóc hoặc rang thóc vừa chín tới, sau đó để nguội rồi đem giã, sàng sẩy để loại bớt vỏ trấu rồi đem bỏ vào đuống giã tiếp. Dân tộc Mường tại Việt Nam có lễ hội giã cốm gõ máng, tổ chức vào mùa xuân. Dân tộc Thái tại huyện Phong Thổ có hẳn một lễ hội cốm mang tên Kin Lẩu Khẩu Mẩu, cũng là nơi người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi phát triển. Không những thế lễ hội còn là nơi giao lưu tình cảm giữa các cư dân trên địa bàn. Lễ hội đã từng bị mai một vào năm 1946 và thời gian gần đây được phục dựng trở lại, tổ chức rằm tháng 9 (âm lịch). Cốm Thái cũng dùng lúa non như cách của người Việt Bắc Bộ và thường gọi là khầu hang. Cộng đồng dân tộc Khơ Mú tại Sơn La, Việt Nam trong tháng 8, tháng 9 âm lịch sẽ lên nương trong vai "mẹ lúa" (Ma ngọ) và cắt những bông xanh về làm cốm, bông vàng đem luộc chín phơi khô làm gạo luộc thóc non. Cốm và gạo non (thóc luộc) được dùng để làm lễ Mah Quai, ý nghĩa là dâng cơm, lúa non cho tổ tiên, ma nhà. == Nguyên liệu và quy trình chế biến == Nguyên liệu làm cốm trong cộng đồng người Việt thường là lúa nếp non tuy có địa phương sử dụng thóc già tháng. Có rất nhiều loại lúa nếp có thể làm cốm như lúa lương phượng, lúa nếp thơm, nếp tan, nếp quýt, nếp hoa, nhưng lúa nếp cái hoa vàng cho ra thành phẩm thơm ngon đặc biệt. Lúa gặt về tuốt hạt, sàng bỏ rơm và những hạt thóc lép, đãi qua nước rồi cho vào chảo rang. Bếp lò để rang cốm nếu cầu kỳ thường phải đắp xỉ than nhưng không đốt than mà dùng củi, và chảo rang thường bằng gang đúc. Cốm được rang trong lửa nhỏ, đảo liên tục sao cho nóng đều. Rang khoảng 30 phút thì xem thử bằng cách đặt 5 hạt lên miếng gỗ, dùng ngón tay miết mạnh, nếu thấy hạt "2 quằn 3 róc", tức 2 hạt chưa róc vỏ nhưng bị quằn lại, còn 3 hạt còn lại róc vỏ nhưng không bị quằn là được. Thóc rang xong, người làm cốm đợi nguội rồi cho từng mẻ, mỗi mẻ khoảng vài kilogam vào cối giã. Thóc được giã đều và vừa tay mươi phút, thấy có trấu thì xúc ra sảy bỏ trấu rồi lại giã tiếp. Tùy theo độ non của lúa khi gặt mà người giã cốm sẽ ước lượng, trung bình khoảng 7 lần giã là hoàn tất. Tại làng Vòng, người giã cốm thường giã đến lần thứ 5 thì phân loại thành 3 loại: cốm rón, cốm non và cốm gốc, sau đó mới giã riêng từng loại trong hai lần cuối. Cuối cùng, cốm thành phẩm sẽ được gói trong hai lớp lá, và buộc bằng lạt nếp màu xanh trước khi đưa đến tay người tiêu dùng. Lớp trong là lá ráy xanh và mát giữ cho cốm khỏi khô và không phai nhạt màu xanh ngọc; lớp ngoài là lá sen có hương thơm thoang thoảng. Một số dân tộc thiểu số có thể làm cốm bằng cách luộc thóc nếp và giã thành cốm. Cũng có khi trong cộng đồng người Việt, với trường hợp thóc hơi già tháng cũng thường được luộc cho mềm và giã thành cốm thay vì rang. == Thành phẩm == Thành phẩm cốm thường có ba loại: cốm đầu mùa có hạt mỏng, mềm, dẻo thích hợp cho ăn chay hoặc ăn kèm chuối tiêu, là loại cốm sử dụng nguyên liệu lúa nếp non đầu mùa còn dẻo; cốm giữa mùa thường dùng để làm chả cốm; cốm cuối mùa hạt thường to, dày, ăn hơi cứng, chỉ phù hợp cho việc nấu chè hoặc làm xôi cốm. Một số trường hợp khác còn phân tách thành 4 loại cốm:: cốm non dùng nguyên liệu là lúa nếp vừa đông sữa, tuốt hạt rang và giã, sàng sảy để lấy cốm; cốm già chọn và gặt lúa nếp vừa xong giai đoạn đông sữa tuốt lấy hạt, luộc chín, hong khô sau đó mới giã sàng giống như làm cốm non. Cốm mộc được làm khi lúa đã thành dạng hột cứng hoàn toàn nhưng chưa đủ để gặt và hạt cũng không còn sắc xanh đẹp nữa. Cốm làm ở dạng này có màu vàng xanh ngã qua màu ngà một chút. Cốm hồ là loại cốm được giã với lá lúa non cho ra dạng cốm ướt, dẻo. Về cơ bản ba loại cốm non, cốm già, cốm mộc có nguyên liệu và thành phẩm tương tự như phân loại ở trên, còn loại cốm hồ thì là một sản phẩm không phụ thuộc vào nguyên liệu là lúa nếp già hay non. Trong quy trình làm cốm, mỗi mẻ cốm cũng có thể được phân chia thành nhiều loại cốm có chất lượng khác nhau: cốm lá me, là những mầm nếp mỏng dính như thể hoặc hơn lá me, bé tí bay ra trong khi đang sàng cốm sau đợt giã cuối. Loại cốm này số lượng bao giờ cũng ít và hiếm, nếu có chỉ dành cho gia chủ thưởng thức mà thôi. Loại ngon thứ nhì và nhiều hơn là cốm rón, là những hạt nếp non sau khi giã đã tự vón vào với nhau thành từng hạt ngô, hạt đỗ. Tuy vậy, mỗi mẻ cốm cũng chỉ được khoảng 2/10 khối lượng cốm rón, thậm chí ít hơn, đặc biệt đến cuối mùa thì càng hiếm. Cốm còn lại trong cối giã gọi bằng tên cốm loại 1 hay cốm non, cốm loại 2 hay cốm mộc, là những loại cốm thường thấy bán đại trà tại các chợ. Cũng thường bắt gặp hai khái niệm cốm bột và cốm vắt tuy không hoàn toàn giống như những phân loại cốm nói trên. Cốm bột dùng gạo hoặc ngô rang vàng, giã bột nhỏ mịn, trộn đường, hơi giống như làm bánh in, bánh khảo. Cốm vắt thì để nguyên hạt bỏng rang trộn đường, vo thành từng vắt tròn. == Một số loại cốm tại các địa phương == Cốm làng Vòng: nổi tiếng trong ẩm thực Hà Nội. Là đặc sản của làng Vòng (thôn Hậu) cách trung tâm Hà Nội khoảng 5–6 km, nay là phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Cốm Mễ Trì: mỏng hơn và không dẻo bằng cốm Vòng, nhưng tại Hà Nội hiện nay có tình trạng người Mễ Trì bán cốm người làng Vòng bán thương hiệu. Cốm Thanh Hương: Cốm được sản xuất đại trà tại làng Thanh Hương, xã Đồng Thanh, huyện Vũ Thư, Thái Bình. Mỗi ngày hàng trăm nhà dân sản xuất cốm của làng cho ra lò khoảng 4.000-5.000 kg cốm trong đó xuất ra Hà Nội khoảng 2.500-3.000 kg. Làng cốm Thanh Hương có tuổi nghề hàng trăm năm, nhưng hiện vẫn phải mượn danh thương hiệu cốm Vòng khi bán tại Hà Nội. Cốm dẹp: Từ xa xưa cốm do người Khơ Me làm là chính, sau đó truyền đến người Việt. Cốm dẹp thịnh hành tại các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, dùng loại nếp vừa đỏ đuôi, chưa chín rộ, hạt còn mềm, đem quết bằng cối bồng. Ở nông thông người ta thường chọn những đêm trăng sáng để quết cốm, và hai người quết cốm bên cối bồng thường là một đôi nam nữ. Cốm được làm chủ yếu vào lúc giáp hạt, khoảng tháng 10, tháng 11 âm lịch, là một trong những món ăn bà con phum làng mừng mùa lúa mới. Ở phương diện nào đó quy trình làm cốm và thành phẩm cốm dẹp tương tự như cốm Vòng, tuy nhiên, thường thấy cách ăn cốm dẹp theo đúng điệu là trộn cốm với đường trắng, rưới nước dừa tươi và đậy vài tiếng đồng hồ cho cốm mềm ra. Cốm hộc Phan Thiết: gọi là cốm nhưng sử dụng gạo nếp rang nở bung, ngào với đường, dứa, gừng cho dẻo và nén trong các "hộc" (khuôn) hình vuông để thành phẩm là những miếng cốm vuông, phơi thật khô và đóng gói. Cốm nếp Phong Hậu: làm từ thóc nếp rang vàng (cũng có khi sử dụng ngô), tán bột mịn, ngào với đường tương tự như cách làm cốm hộc Phan Thiết. Thành phẩm đóng bánh bột trắng mịn gần giống như món bánh khảo ở miền Bắc Việt Nam. == Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm == Khi cốm được thương mại hóa trong cơ chế thị trường, rất nhiều nhà sản xuất và bán sản phẩm thiếu lương tâm tại Hà Nội đã sử dụng hóa chất, phẩm màu (màu xanh, màu vàng) để hồ cốm mộc cho có màu xanh đẹp; và đường hóa học để cốm có thêm vị ngọt; thậm chí cả loại hạt hóa chất không rõ nguồn gốc, xuất xứ, thành phần hóa học nhằm làm cốm được dẻo hơn. Những chiếc cối giã cốm đen xì, chiếu hồ cốm cáu bẩn và nơi chế biến cốm xung quanh bụi bẩn, rác rưởi và ruồi bu kín, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. == Thưởng thức cốm tươi == Là một thức quà vừa sang trọng vừa bình dân, cốm tươi thường được ăn thanh cảnh, nhẹ nhàng không phải là món ăn lấy no. Cốm được gói trong lá sen thơm mùi hương đồng gió nội chứ không bày đĩa hay gói túi nilon. Dùng tay để nhón từng chút cốm trong gói lá sen và bỏ vào miệng chứ không trút ra bát và dùng thìa xúc. Người sành ăn cốm không ăn kèm với bất kỳ thứ gì khác nhằm cảm nhận toàn diện vị ngọt và ngon của cốm. Tuy nhiên, cũng thường thấy cốm tươi được sử dụng ăn kèm với hồng chín đỏ hoặc chuối tiêu chín trứng cuốc. == Một số món ăn có nguyên liệu là cốm == Cốm tươi hoặc cốm sấy khô có thể trở thành nguyên liệu để chế biến một số món ăn đặc biệt như: Chè cốm: Đây là món chè rất dễ thực hiện, chỉ bao gồm cốm, bột sắn dây, đường và chút nước hoa bưởi. Đun sôi nước đường, hòa chút bột sắn dây và chế vào nồi cho đến khi có độ sánh nhất định thì rải cốm vào, vẩy chút nước hoa bưởi và múc ra bát. Chè cốm thường dùng cốm cuối mùa, tương đối cứng. Chè ngô cốm: Gần tương tự chè cốm nhưng có kèm thêm ngô nếp non và cơm dừa nạo, không cần nước hoa bưởi. Ngô nếp non bào ra, bỏ hết phần mày ráp, đun sôi trong nước cho đến khi chín nhừ thì đổ đường và chế thêm bột năng hoặc bột sắn dây cho đến khi nồi sánh thì rải cốm vào, múc ra bát và rắc chút dừa nạo. Bánh cốm: Bánh làm từ cốm, nhân đậu xanh dừa nạo và mứt bí hoặc mứt sen trần, thường dùng cho lễ ăn hỏi. Cốm được trộn nước theo tỷ lệ nhất định, đảo đều trên lửa, hoặc hấp chín trộn chút đường và nước hoa bưởi. Nhân bánh được làm từ đậu xanh hấp chín xay nhuyễn sau đó ngào đường và lại đun nhỏ lửa. Sau đó cho dừa nạo và mứt bí xắt hạt lựu hoặc mứt sen. Công đoạn cuối cùng là gói bánh, với nhân được chia ra từng nắm nhỏ và áo bên ngoài bằng cốm đã chế biến. Tại Hà Nội, bánh cốm Hàng Than ngon nổi tiếng, thường được đặt hàng cho các lễ ăn hỏi hoặc đem biếu bạn bè phương xa. Chả cốm: Chả làm bằng thịt lợn nạc (ngon nhất là nạc vai có chút mỡ lợn) và cốm (thường là cốm giữa mùa). Thịt nạc giã nhuyễn trộn với cốm và chút gia vị, nặn miếng hấp chín sau đó đem rán trong chảo mỡ. Vũ Bằng trong cuốn Món ngon Hà Nội cho rằng hương vị thanh tao của cốm không thể đi với hương vị tục của thịt. Xôi cốm: Được làm từ cốm hơi già cánh, cốm cuối mùa. Cốm được đồ chín, sau đó trộn với hạt sen đã nấu nhừ giã nhỏ và một chút đường kính trắng. Kem cốm, kẹo cốm: các món kem, kẹo có sử dụng cốm như một phần nguyên liệu, thường được sản xuất ở quy mô công nghiệp. == Cốm trong ngôn ngữ == Trong tiếng Việt còn có một số khái niệm sử dụng từ "cốm", dùng để chỉ những hạt nhỏ giống như hạt cốm (cốm can xi, vàng cốm); màu sắc (như màu xanh cốm); đặc tính (giọt chanh cốm) v.v. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Hà Nội mùa cốm Bất an với cốm Hương cốm
cung điện.txt
Cung điện là tòa nhà lớn thường ở trong thành phố, được xây dựng lên cho các vị vua chúa, lãnh tụ để họ sử dụng, để họ sống, làm việc, du lịch, tiếp tân,... Ở Việt Nam thì khái niệm cung điện được biết đến là Kinh thành (ví dụ: Kinh thành Huế,...) Trung Quốc Nhật Bản Châu Âu Ấn Độ == Xem thêm == Danh sách các lâu đài, cung điện Lâu đài == Tham khảo ==