filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
vĩnh phúc.txt | Vĩnh Phúc là một tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam vốn bao gồm tỉnh Vĩnh Yên và tỉnh Phúc Yên trước đây. Trong thời kỳ Pháp tạm chiếm đóng miền Bắc giai đoạn 1946-1954, tỉnh này còn có tên gọi là tỉnh Vĩnh Phúc Yên. Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Theo kết quả điều tra dân số 01/04/2009 dân số tỉnh Vĩnh Phúc là 1.100.838 người. Đây là tỉnh có vị trí nằm giữa trung tâm hình học của miền Bắc Việt Nam và là một trong số ít tỉnh thành của Việt Nam tự chủ được thu chi ngân sách từ năm 2003, là một trong những tỉnh thành luôn có đóng góp ngân sách lớn nhất ở miền Bắc sau Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh.
Hiện nay, vùng đất tỉnh Vĩnh Phúc chính là phần đất của tỉnh Vĩnh Yên cũ kết hợp với thị xã Phúc Yên, sau khi các huyện của tỉnh Phúc Yên cũ đã lần lượt sáp nhập vào thành phố Hà Nội là Đông Anh, Yên Lãng (nay đã hợp nhất lại với huyện Bình Xuyên thành huyện Mê Linh), Đa Phúc và Kim Anh (hai huyện này đã hợp lại thành một huyện Sóc Sơn)
== Địa lý ==
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung du và miền núi phía bắc, có tọa độ: từ 21° 08’ (tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo) đến 21°19' (tại xã Tráng Việt, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) vĩ độ bắc; từ 105° 109’ (xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô) đến 105°47’ (xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên) kinh độ đông. Diện tích tự nhiên, tính đến 31/12/2008 là 1.231,76 km², dân số 1.014.488 người, gồm 9 đơn vị hành chính: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Bình Xuyên, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc với 112 xã, 25 phường và thị trấn. Vĩnh Phúc nằm ở vùng đỉnh của châu thổ sông Hồng, khoảng giữa của miền Bắc nước Việt Nam, khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng vì vậy có ba vùng sinh thái: đồng bằng ở phía Nam tỉnh, trung du ở phía Bắc tỉnh, vùng núi ở huyện Tam Đảo.
Phía bắc giáp hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, đường ranh giới là dãy núi Tam Đảo.
Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới tự nhiên là sông Lô.
Phía nam giáp Hà Nội, ranh giới tự nhiên là sông Hồng.
Phía đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh – Hà Nội.
Vĩnh Phúc tiếp giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, là điểm đầu của quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh), đồng thời có đường sắt Hà Nội - Lào Cai, đường quốc lộ 2 chạy dọc tỉnh. Chảy qua Vĩnh Phúc có 4 dòng chính: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy và sông Cà Lồ. Hệ thống sông Hồng là tuyến đường thuỷ quan trọng, thuận lợi cho tàu bè.
== Hành chính ==
Vĩnh Phúc có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện:
Tỉnh Vĩnh Phúc có 137 đơn vị cấp xã gồm 13 phường, 12 thị trấn và 112 xã
Do đặc điểm vị trí địa lý Vĩnh Phúc có ba vùng sinh thái rõ rệt: đồng bằng, trung du và miền núi; liền kề với thủ đô Hà Nội, gần sân bay quốc tế Nội Bài; có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông thuận lợi trên trục phát triển kinh tế của Việt Nam.
== Lịch sử ==
Vĩnh Phúc là cái nôi của người Việt cổ, với di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu nổi tiếng. Thời kỳ 12 sứ quân, nơi đây là địa bàn chiếm đóng của sứ quân Nguyễn Khoan.
Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập vào ngày 12 tháng 2 năm 1950, do sự kết hợp của hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên cũ. Khi hợp nhất tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích 1.715 km², dân số 470.000 người.
Năm 1952, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp do Bảo Đại đứng đầu mà đại diện là Thủ hiến Bắc Việt cũng hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên thành một tỉnh mới nhưng lại lấy tên là tỉnh Vĩnh Phúc Yên. Tên gọi này chỉ tồn tại đến giữa năm 1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết và đất nước tạm thời bị chia đôi, theo đó chính quyền Quốc gia Việt Nam chuyển vào miền Nam.
Năm 1955, huyện Phổ Yên tách khỏi tỉnh Thái Nguyên nhập vào Vĩnh Phúc, đến năm 1957, lại trở về với tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 1 tháng 2 năm 1955, tái lập thị xã Phúc Yên.
Ngày 7 tháng 6 năm 1957, thị trấn Bạch Hạc chuyển sang tỉnh Phú Thọ và hợp nhất với thị trấn Việt Trì để trở thành thị xã Việt Trì (nay là thành phố Việt Trì trực thuộc tỉnh Phú Thọ).
Ngày 20 tháng 4 năm 1961, huyện Đông Anh (gồm 16 xã: Bắc Hồng, Cổ Loa, Đại Mạch, Hải Bối, Kim Nỗ, Nam Hồng, Nguyên Khê, Thụy Lâm, Tiên Dương, Uy Nỗ, Vân Nội, Việt Hùng, Vĩnh Ngọc, Võng La, Xuân Canh, Xuân Nộn), xã Kim Chung của huyện Yên Lãng, thôn Đoài xã Phù Lỗ (phía nam sông Cà Lồ) của huyện Kim Anh tách khỏi Vĩnh Phúc chuyển về thành phố Hà Nội., tỉnh Vĩnh Yên đổi tên thành tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 26 tháng 1 năm 1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị quyết số 504-NQ/TVQH về việc hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú.
Ngày 26 tháng 6 năm 1976, chuyển thị xã Phúc Yên thành thị trấn Phúc Yên thuộc huyện Yên Lãng.
Ngày 5 tháng 7 năm 1977, hợp nhất 2 huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc thành huyện Vĩnh Lạc; hợp nhất 2 huyện Lập Thạch và Tam Dương thành huyện Tam Đảo; hợp nhất 2 huyện Bình Xuyên và Yên Lãng thành huyện Mê Linh; hợp nhất 2 huyện Đa Phúc và Kim Anh thành huyện Sóc Sơn.
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, chuyển huyện Sóc Sơn; thị trấn Phúc Yên và 18 xã: Chu Phan, Đại Thịnh, Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Quang Minh, Tam Đồng, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tiền Châu, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tráng Việt, Tự Lập, Văn Khê, Vạn Yên của huyện Mê Linh về thành phố Hà Nội quản lý.
Ngày 26 tháng 2 năm 1979, tái lập huyện Lập Thạch và sáp nhập phần còn lại của huyện Mê Linh (sau khi chuyển thị trấn Phúc Yên và 18 xã về Hà Nội quản lý) vào huyện Tam Đảo.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, chuyển lại huyện Mê Linh đã lấy của thành phố Hà Nội năm 1978 về tỉnh Vĩnh Phú quản lý.
Ngày 7 tháng 10 năm 1995, chia huyện Vĩnh Lạc thành 2 huyện: Vĩnh Tường và Yên Lạc.
Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết (ngày 26 tháng 11 năm 1996) về việc Vĩnh Phú đổi lại tên tỉnh cũ là tỉnh Vĩnh Phúc. Tỉnh Vĩnh Phúc chính thức được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997. Khi tách ra, tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích 1.370,73 km², dân số 1.066.552 người, gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện: thị xã Vĩnh Yên và 5 huyện: Lập Thạch, Mê Linh, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc.
Tháng 6 năm 1998, tách huyện Tam Đảo thành 2 huyện Tam Dương và Bình Xuyên.
Ngày 9 tháng 12 năm 2003, chia huyện Mê Linh thành huyện Mê Linh và thị xã Phúc Yên và hợp nhất 3 xã của huyện Lập Thạch, 4 xã của huyện Tam Dương, 1 xã của huyện Bình Xuyên và thị trấn Tam Đảo của thị xã Vĩnh Yên thành huyện Tam Đảo mới.
Ngày 1 tháng 12 năm 2006, chuyển thị xã Vĩnh Yên thành thành phố Vĩnh Yên.
Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, huyện Mê Linh đã được tách ra và sáp nhập vào thành phố Hà Nội.
Ngày 23 tháng 12 năm 2008, chia huyện Lập Thạch thành 2 huyện: Lập Thạch và Sông Lô.
== Danh nhân ==
Nguyễn Thái Học
Trần Nguyên Hãn
Vũ Hồng Khanh
Kim Ngọc
Nguyễn Viết Xuân
Lê Xoay
Triệu Thái
== Khí hậu ==
Nhiệt độ trung hàng năm là 24 °C,Vùng Tam Đảo, ở độ cao 1.000 m so với mực nước biển có nhiệt độ trung bình năm là 18,4 °C. Tam Đảo có nhiệt độ hàng ngày thấp hơn vùng đồng bằng bắc bộ là 5 °C.
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.400 mm đến 1.600 mm.
Trong đó, lượng mưa bình quân cả năm của vùng đồng bằng và trung du tại trạm Vĩnh Yên là 1.323,8 mm. Vùng núi tại trạm Tam Đảo là 2.140 mm. *Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm.
Số giờ nắng: Tổng số giờ nắng bình quân trong năm là 1.400 đến 1.800 giờ, trong đó, tháng có nhiều giờ nắng trong năm nhất là tháng 6 và tháng 7, tháng có ít giờ nắng trong năm ít nhất là tháng 3.
Chế độ gió: Trong năm có 2 loại gió chính: Gió đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9; gió đông bắc: thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau
Độ ẩm không khí: Độ ẩm bình quân cả năm là 83%. Nhìn chung độ ẩm không có sự chênh lệch nhiều qua các tháng trong năm giữa vùng núi với vùng trung du và vùng đồng bằng. Vùng núi độ ẩm không khí được đo tại trạm Tam Đảo, vùng trung du được đo tại trạm khí tượng Vĩnh Yên.
Lượng bốc hơi: Bốc hơi bình quân trong năm là 1.040 mm, lượng bốc hơi bình quân trong 1 tháng từ tháng 4 đến tháng 9 là 107,58 mm, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau là 71,72 mm.
== Đặc sản ẩm thực ==
Trà Hoa Vàng - Kim Hoa Trà (Tam Đảo)
Thịt bò tái kiến đốt,Rau Su su (Tam Đảo);
Cá thính,bánh nẳng,bánh gạo (Lập Thạch);
Rượu dừa:Rượu dừa Tiên Tửu Ngọc Hoa (Yên Lạc);
Đậu rùa (Tuân Chính, Vĩnh Tường);
Dứa Tam Tương (Tam Dương);
Tép Dầu đầm vạc (Vĩnh yên);
Bánh trùng mật mía (Vĩnh Tường);
Bánh gio làng Tây Đình (Bình Xuyên);
Bánh ngõa Lũng Ngoại.
Cháo xe, bánh hòn (Hương Canh - Bình Xuyên);
Vó cần (Hương Canh - Bình Xuyên);
== Kinh tế ==
Vĩnh Phúc vốn là một tỉnh thuần nông đang chuyển đổi cơ cấu.
Năm 1997 cơ cấu kinh tế là nông nghiệp 52%, dịch vụ 36%, công nghiệp 12%, thu ngân sách đạt gần 100 tỷ đồng.
Năm 2004 có cơ cấu kinh tế là công nghiệp (49,7%); dịch vụ (26,2%); nông nghiệp (24,1%);
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 8 năm (1997-2004) là 16,6%.
Năm 2006, Vĩnh Phúc đã vươn lên đứng thứ 9 trong các tỉnh thành trên cả nước về thu ngân sách với 4.027 tỷ đồng. Với hàng trăm doanh nghiệp trong nước và nước ngoài với tổng mức vốn đầu tư khoảng gần 600 triệu USD và 15.600 tỷ đồng, được đầu tư ở 14 cụm, khu công nghiệp, khu vui chơi, giải trí, du lịch trên khắp địa bàn.
Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh liên tục đứng ở vị trí tốp đầu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong bảng xếp hạng những năm gần đây.
Năm 2011 tỉnh có cơ cấu kinh tế là công nghiệp-xây dựng 54,8%, dịch vụ 29,6%; nông, lâm nghiệp, thuỷ sản là 15,6%. Thu ngân sách 16.484 tỷ;thu nội địa là 11.638 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người khoảng 2200 USD, tăng 15 lần so với năm 1997. Thu hút được 681 dự án, trong đó có 127 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký 2.420,9 triệu USD và 554 dự án DDI, với tổng vốn đăng ký 32.829,8 tỷ.
Đến năm 2012. Bối cảnh kinh tế thế giới,trong nước gặp nhiều khó khăn nhưng tỉnh Vĩnh Phúc vẫn đạt được các thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế.Tốc độ tăng trưởng kinh tế 11,5%.Vĩnh Phúc thu hút được thêm 33 dự án, trong đó: 25 dự án DDI, với số vốn đầu tư đăng ký là 1.200 tỷ đồng giảm 37,5% về số dự án, giảm 29,5% về vốn đầu tư;8 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký 180 triệu USD, tăng 33,3% về số dự án và tăng 88,2% số vốn so với năm 2011.Cơ cấu kinh tế năm 2012 công nghiệp-xây dưng 53,4%,Dich vụ 33,1%,nông,lâm,thủy sản 13,5%.GDP bình quân đầu người theo năm 51,16 tr/người(khoảng 2520 USD),tỷ lệ hộ nghèo còn 6,5% theo chuẩn mới (năm 2013).Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2012 đạt 49.306,6 tỷ đồng,đứng thứ 7 của cả nước, đứng thứ 3 ở miền bắc sau Hà Nội,Hải Phòng về giá trị sản xuất công nghiệp.
Năm 2013.Tuy kinh tế khủng hoảng chạm đáy nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt kết hợp với những chính sách tháo gỡ khó khắn tích cực cho doanh nghiệp của đội ngũ lãnh đạo tỉnh, kinh tế Vĩnh Phúc vẫn đạt được những kết quả khá ấn tượng và đầy hứa hẹn vào năm 2014. 2013, tốc độ tăng trưởng đạt 7,89%, đứng thứ 3 trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, sau Hà Nội(10.2%) và Bắc Ninh(8,25%). Kết quả năm 2013 số dự án thu hút (FDI, DDI) tăng cao so với năm 2012 và vượt kế hoạch đề ra. Cụ thể đã thu hút 42 dự án, trong đó gồm 21 dự án FDI, với tổng vồn đăng ký 314,8 triệu USD tăng 3,5 lần về số dự án và 206% về số vốn đăng ký so với năm 2012, đạt 157% kế hoạch; và 21 dự án DDI với 6.247 tỷ đồng vốn đăng ký, bằng 95% về số dự án và tăng 3,34 lần về vốn đăng ký so với năm 2012, đạt 416% kế hoạch đề ra. Lũy kế đến hết năm 2013 toàn tỉnh có 675 dự án còn hiệu lực, gồm 137 dự án FDI với tổng vốn đầu tư là 2.767,6 triệu USD và 538 dự án DDI với tổng vốn đầu tư 31.727 tỷ đồng.Lĩnh vực thu ngân sách nhà nước tăng cao so với cùng kỳ đạt 19.275 tỷ đồng tăng 45% so với năm 2012, thu nội địa đạt 15.700 tỷ đồng tăng 60%, với kết quả thu nội địa này Vĩnh Phúc tiếp tục khẳng định vị trí thứ 2 miền Bắc sau Hà Nội và đứng thứ 5 cả nước. Cơ cấu kinh tế năm 2013, công nghiệp - xây dựng 60,39%, Dịch vụ 28,92%, Nông -lâm - ngư nghiệp giảm còn 10,09%. GRDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) ước đạt 56,8 triệu đồng/người, tương đương 2.569 USD/người, tăng 12,3% so với thực hiện năm 2011, cao hơn 1,3 lần GDP bình quân đầu người của cả nước.
Năm 2014 tăng trưởng kinh tế 6,11% Cơ cấu kinh tế năm 2014 của tỉnh Vĩnh Phúc là: Khu vực I: 9,76%; khu vực II: 62,54%; khu vực III: 27,7% (năm 2013 tương ứng là: 10,09%; 63,55% và 26,36%). Năm 2014 (tính từ 21/12/2013 đến 20/12/2014) cấp mới 45 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký 354,65 triệu USD và 12 dự án điều chỉnh, tăng vốn đầu tư với số vốn tăng 74,8 triệu USD. Tổng cả cấp mới và điều chỉnh năm 2014 là 429,45 triệu USD. Lũy kế đến nay toàn tỉnh có 183 dự án FDI còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký là 3.091,3 triệu USD, dự kiến sử dụng lao động 51.700 người. Năm 2014 (tính từ 21/12/2013 đến 20/12/2014) cấp mới 39 dự án DDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2.789,67 tỷ đồng và 07 dự án tăng vốn đầu tư với số vốn tăng 1.577,6 tỷ đồng. Tổng số cấp mới và điều chỉnh là: 4.297,3 tỷ đồng. Lũy kế đến nay (20/12/2014): Toàn tỉnh có 575 dự án DDI còn hiệu lực, với tổng số vốn đăng ký là 39.574 tỷ VND. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2014 dự kiến đạt 1.413 triệu USD, tăng 36,18% so năm trước. Trong đó, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.293 triệu USD, tăng 39,70 %; kinh tế trong nước 119,8 triệu USD, tăng 7,07%. Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2014 đạt 1.955,3 triệu USD, tăng 8,95% so với năm trước. Trong đó, kinh tế trong nước đạt 114,5 triệu USD, giảm 35,44%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.840,8 triệu USD, tăng13,82% so năm trước. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị hàng nhập khẩu. Cơ cấu giá trị hàng nhập khẩu có sự thay đổi đáng kể. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2014 xấp xỉ 21.000 tỷ đồng, vượt dự toán đề ra, tăng 6,42% so với năm 2013. Chi ngân sách địa phương đáp ứng kịp thời nhiệm vụ chi của tỉnh, dự kiến cả năm đạt 17.212,2 tỷ đồng vượt dự toán và tăng 14% so với năm 2013.
Các khu, cụm công nghiệp.
Vĩnh Phúc là 1 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ,được thủ tướng chính phủ phê duyệt xây dựng 20 khu công nghiệp. Và 41 cụm công nghiệp trong đề án quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Vĩnh Phúc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
Hiện nay trên địa bàn đã có chủ đầu tư
KCN Kim Hoa
KCN Khai Quang
KCN Bình Xuyên
KCN Bình Xuyên II
KCN Bá Thiện
KCN Bá Thiện II
KCN Tam Dương II (Khu A, B)
KCN Chấn Hưng
== Làng nghề truyền thống ==
== Y tế ==
Một số mốc thời gian của ngành y tế Vĩnh Phúc
Năm 1997 Vĩnh Phúc có 4,6 bác sĩ/10 nghìn dân; 8,1% trạm y tế có Bác sĩ.
Đến năm 2012. Vĩnh phúc đã đạt tỷ lệ 7,5 bác sĩ/10nghìn dân; 87,6% trạm y tế có Bác sĩ,bình quân đạt 24 giường bệnh/10nghìn dân
Sau 15 năm tái lập tỉnh:sự nghiệp chăm sóc,bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân trong tỉnh có nhiều tiến bộ vượt bực,các chương trình y tế quốc gia triển khai có hiểu quả. Đến nay, Vĩnh phúc đã có 132/137 xã,phường,thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế và 100% trạm y tế được đầu tư kiên cố.
Hiện nay trên toàn tỉnh có 17 bệnh viện với quy mô 3.090 giường bệnh; 37 phòng khám đa khoa khu vực và 139 trạm y tế xã/phường. Một doanh nghiệp của Singapore đang đầu tư Bệnh viện chăm sóc sức khỏe khá lớn và hiện đại. Tỉnh đang đầu tư xây dựng mới Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Bệnh viện sản nhi tỉnh tầm cỡ khu vực...
Vĩnh Phúc có 1 bệnh viện tuyến TW,6 bệnh viện trực thuộc tỉnh,9 bệnh viện cấp huyện và nhiều phòng khám,trung tâm y tế. Các bệnh viện thuộc tuyến tỉnh và trung ương (không kể bệnh viên tư, cấp huyện,phòng khám,trung tâm y tế):
Danh sách các bệnh viện tuyến TƯ, tỉnh.
Bệnh viện 74 Trung ương (trực thuộc TW).
Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Vĩnh Phúc
Bệnh viện Đa Khoa KV Phúc Yên.
Bệnh viện quân y 109.
Bệnh viện giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc (BV ngành)
Bệnh viện hữu nghị Lạc Việt (BV tư nhân).
Bệnh viện Y học cổ truyền Vĩnh Phúc.
Bệnh viện Phục hồi chức năng Vĩnh Phúc.
Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Vĩnh Phúc.
Bệnh viện tâm thần Vĩnh Phúc.
== Giáo dục ==
Trong những năm qua ngành giáo dục của tỉnh Vĩnh Phúc đã có những bước tiến vượt bậc là một trong những tỉnh,thành có chất lượng giáo dục cao nhất cả nước, 3 năm liền (2012, 2013 và 2014) Vĩnh Phúc đứng đầu cả nước về điểm trung bình thi đại học. Năm 2013, học sinh Vĩnh Phúc đạt 1 huy chương bạc Olympic Toán, 1 huy chương đồng Olympic sinh học quốc tế, 49 học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia.
Năm 2014 học sinh Vĩnh Phúc đứng thứ 6 cả nước về số giải trong kỳ thi học sinh giỏi 2014 với 67 giải, tiếp tục khẳng định vị trí số 1 toàn quốc về điểm trung bình 3 môn thi đại học
.Là một trong 5 tỉnh đầu tiên của cả nước được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2.Từ một tỉnh mới với mô hình giáo dục nhỏ nay Vĩnh Phúc đã có một số trường Đại học và Cao đẳng quy mô như trường ĐHSP Hà Nội II, trường Cao đẳng Công nghiệp Phúc Yên, trường CĐSP Vĩnh Phúc, CĐ Việt Đức và sắp tới đây sẽ có một số trường ĐH được xây dựng trên địa bàn tỉnh. Vĩnh Phúc đặc biệt quan tâm và là tỉnh đi đầu cả nước về phát triển đào tạo nghề góp phần nâng cao chất lượng người lao động, tăng sức cạnh tranh thị trường lao động. Bằng chứng là hàng loạt các trường TC, CĐ nghề ra đời.
=== Đại học - Học viện - Cao đẳng - THCN ===
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải (cơ sở Vĩnh Yên)
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội (cơ sở Vĩnh Phúc).
Trường Đại học Trưng Vương
Trường Sĩ quan Tăng-Thiết giáp
Học viện kỹ thuật quân sự (cơ sở Vĩnh Yên)
Trường Cao đẳng Công nghiệp Phúc Yên
Trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Vĩnh Phúc(Đang xây dựng hạ tầng của trường ĐH,dự kiến được nâng cấp lên ĐH trước 2015)
Trường Cao đẳng Vĩnh Phúc (tiền thân là CĐSP Vĩnh Phúc)
Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc
Trường Cao đẳng nghề Cơ khí Nông nghiệp
Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1
Trường Trung cấp Công nghệ Vĩnh Phúc
Trường Trung cấp Kinh doanh và Quản lý Tâm Tín
Trường Trung cấp Kỹ thuật Vĩnh Phúc
Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Vĩnh Phúc
Trường Trung cấp Y tế Vĩnh Phúc
Hệ Trung cấp trong Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Vĩnh Phúc
Hệ Trung cấp trong Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc
== Di tích - danh thắng ==
Vĩnh Phúc có nhiều cảnh quan và danh thắng kỳ thú như khu danh thắng Tây Thiên với Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên (là một trong 3 thiền viện lớn nhất Việt Nam cùng với Yên Tử và Đà Lạt), khu nghỉ mát Tam Đảo, tháp Bình Sơn, đền Gia Loan - chùa Biện Sơn,… là nơi để phát triển các loại hình du lịch như tham quan, nghỉ mát,… Ngoài ra còn có trên 500 di tích lịch sử, văn hoá với 170 di tích được xếp hạng, trong đó 67 di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Vĩnh Phúc còn có nhiều đầm hồ ở những địa thế đẹp có thể phát triển thành điểm du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn.
=== Lễ hội ===
Hội bơi trải Tứ Yên (Tứ Yên,huyện Sông Lô) vào 2 ngày 25, 26 tháng 5 âm lịch hàng năm.
Lễ hội Tứ dân chi nghiệp (xã Đại Đồng-Vĩnh Tường) tổ chức vào ngày 20 tháng giêng.
Lễ hội Đúc Bụt làng Phù Liễn (xã Đồng Tĩnh – huyện Tam Dương) vào mồng 8 tháng giêng dân làng tổ chức lễ hội đúc "Bụt" tại đình làng.
Lễ hội đền Gia Loan - chùa Biện Sơn tôn vinh tướng quân Nguyễn Khoan thời 12 sứ quân.
Lễ hội Đả cầu cướp phết diễn ra chiều ngày 7 tháng giêng hàng năm tại đền Đông Lai, xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch.
Lễ hội chọi trâu Hải Lựu ở xã Hải Lựu, Sông Lô, Vĩnh Phúc.
Hội vật làng Hà (xã Hồ Sơn,Tam Đảo) diễn ra vào mồng 7 tháng Giêng.
Lễ hội Tây Thiên (xã Đại Đình,Tam Đảo)vào 15/2 âm lịch. Là một trong 3 lễ hội lớn nhất miền Bắc.
Lễ hội Kéo Song (Hương Canh, Bình Xuyên) mùng 3 – 5 âm lịch.(Tết Nguyên Đán).
Lễ hội Đình Thổ Tang diễn ra vào 10 tháng giêng.
Lễ hội đền Ngự Dội (xã Vĩnh Ninh, Vĩnh Tường) vào ngày 14, 15 tháng giêng.
Lễ hội đền Ngô Tướng Công (thị xã Phúc Yên) vào 9 tháng Giêng.
Lễ hội Đền Thính (xã Tam Hồng, Yên Lạc) vào ngày mùng 6 tháng Giêng.
Lễ hội chợ Rưng (thị trấn Tứ Trưng, Vĩnh Tường) vào ngày mùng 6 tháng giêng hàng năm.
=== Danh sách lịch sử cấp quốc gia ===
Ở huyện Vĩnh Tường:
Chùa Tùng Vân,Đình Thổ Tang,Đình Bích Chu,Đình Thủ Độ,Đình Cam Giá,Đền Phú Đa,Đình Hòa Loan,Cụm di tích thờ Lê Ngọc Chinh (đền Ngòi, đình Đông, đình Nam),Đền Đuông, Chùa Thượng Trưng,Địa điểm lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh,Chùa Hoa Dương,Đình - chùa Vĩnh Sơn,Đình Sông Kênh,Đình Tuân Lộ.
Ở huyện Yên Lạc:
Đền Thính,Đền Tranh,Đền Đồng Lạc,Đình Yên Lạc,Đình Hùng Vĩ,Chùa Tiền Môn,Chùa Đại An,Đình Tri Chỉ,Đình Yên Nội,Chùa Biện Sơn,Di tích khảo cổ học Đồng Đậu.
Ở tx Phúc Yên:
Chiến khu Ngọc Thanh,Chùa Bảo Sơn,Đình Khả Do,Đình Cao Quang,Đền Ngô Miễn,Đình Đạm Xuyên,Đình Sen Hồ,Đền Trần Nguyên Hãn,Đền Đỗ Khắc Chung,Chùa Vĩnh Phúc,Đình Tây Hạ,Chùa Đông Lai,Đền Triệu Thái,Đình Ngõa,Đình Đình Chu,Đình Thạch Trục,Đình Tiên Lữ.
Ở huyện Sông Lô
Tháp Bình Sơn
Ở huyện Bình Xuyên:
Đình Hương Canh,Đình Ngọc Canh,Đình Tiên Hường,Chùa Kính Phúc,Đền Xuân Lãng,Chùa Quảng Hựu,Đền Thánh Mẫu,Đình Mộ Đạo - Đình Bảo Đức - Đình Đại Phúc,Chùa Can Bi,Đình Quất Lưu.
Ở huyện Tam Đảo:
Khu thắng cảnh Tây Thiên(Đền Mẫu Sinh-Đền Cô, Đền Cậu-Đền Thượng-Đền Thõng-Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên)
Ở huyện Tam Dương
Đình Thứa Thượng,Đình Phú Vinh
Ở tp Vĩnh Yên:
Đình Đông Đạo,Chùa Tích Sơn, Chua Ha.
=== Khu, điểm du lịch nổi tiếng ===
Khu du lịch Tam Đảo.
Khu du lịch Hồ Đại Lải
Khu du lịch Đầm Vạc.
Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên.
Làng gốm Hương Canh.
Tháp Bình Sơn.
Thiền viện Trúc Lâm Tuệ Đức.
Đền thờ tả tướng quốcTrần Nguyên Hãn.
== Các tuyến xe buýt ==
VP01: Bồ Sao – Mê Linh Plaza: xã Bồ Sao (Vĩnh Tường) – Ngã ba Vĩnh Tường – Hợp Thịnh(Điểm giao tuyến 04) – Vĩnh Yên – Siêu Thị Sài Gòn Co.opMart - KCN Khai Quang – BX Vĩnh Yên mới(Điểm giao tuyến 03,04,05,06,07) BigC Vĩnh Phúc – Hương Canh(Đàm cả)(Điểm giao tuyến 08,09) – Phúc Yên – Mê Linh Plaza (Điểm giao Tuyến 07,56,58 Hà nội).
VP03: Vĩnh Yên – Lập Thạch – Sông Lô: BX Vĩnh Yên(mới) - KCN Khai Quang – Siêu Thị Sài Gòn Co.opMart - Bưu điện Tỉnh – Ngã Tư Quán Tiên – Hoàng Lâu – Hoàng Đan – Cầu Gạo – Tiên Lữ - TT Lập Thạch – Nhạo Sơn – Tam Sơn – Bến Phà Then.
VP04: Vĩnh Yên – Vĩnh Tường: Cao Đại – Tân Cương – TT GDTX Vĩnh Tường (TT Thổ Tang) – Trường thpt Lê Xoay - TT Vĩnh Tường – Vũ Di – Tề Lỗ - Nhà máy Gạch Đoàn Kết – Cây xăng Hợp Thịnh – Quán Tiên - Bưu điện Tỉnh - Siêu Thị Sài Gòn Co.opMart - KCN Khai Quang - BX Vĩnh Yên(mới).
VP05: Vĩnh Yên – Yên Lạc – Vĩnh Thịnh: BX Vĩnh Yên(mới) - KCN Khai Quang – Siêu Thị Sài Gòn Co.opMart – Bưu điện Tỉnh – Ngã Tư Quán Tiên – Đồng Cương – Minh Tân – TT Yên Lạc – Dốc Lũng Hạ - Trường thpt Yên Lạc 2 – Liên Châu – Đại Tự - Ngũ Kiên (Vĩnh Tường) – TT Tứ Trưng (Vĩnh Tường) – TT Vĩnh Tường – Trường thpt Đội Cấn (thpt Hồ Xuân Hương) – Bến phà Vĩnh Thịnh.
VP06: Vĩnh Yên – Tam Dương – Lập Thạch: BX Vĩnh Yên(mới) - KCN Khai Quang – Siêu Thị Sài Gòn Co.opMart – Bưu điện Tỉnh – Ngã ba Tam Dương – Thanh Vân – Đạo Tú – TT Hợp Hòa – Bồ Lý – Cầu Trang.
VP07: Vĩnh Yên – Tam Đảo: BX Vĩnh Yên(mới) - KCN Khai Quang - Tôn Đức Thắng - Mê Linh - Trần Phú - Chùa Hà Tiên - QL 2B – Kim Long(giao điểm xe 09) - Hợp Châu – Hồ Sơn - Tam Quan – Đại Đình – Đạo Trù – Bồ Lý.
VP08: Vũ Di – KCN Bá Thiện – ĐHSP II - Thanh Tước: BX TT Vĩnh Tường(Điểm giao tuyến 05) – Thị trấn Tứ Trưng – Yên Đồng – Tam Hồng – TT Yên Lạc – Cầu Trắng (Nguyệt Đức) – Thanh Lãng – QL2 (Đầm cả) (Điểm giao tuyến 01 và 09) – KCN Bình Xuyên – KCN Bá Thiện – Hồ Đại Lải – Xuân Hòa – ĐHSP HN II – Phúc Yên – Thanh Tước (Điểm giao tuyến 58 Hà nội)
VP09: Vĩnh Tường – Quang Hà – Phúc Yên 2: Xã Kim Xá – Chợ Vàng (Hoàng Đan) (Điểm giao tuyến 03) – TT Hợp Hòa (Ngã tư Me) (Điểm giao tuyến 06) – Hướng Đạo – Kim Long – Quang Hà – TT Hương Canh – QL2 (Điểm giao tuyến 01 và 08) – Phúc Yên – Thanh Tước (Điểm giao tuyến 58 Hà nội)
== Tỉnh kết nghĩa ==
Tỉnh Chungcheongbuk (Hàn Quốc).
Tỉnh Luang Namtha (Lào).
Tỉnh U-đôm- xay, (Lào).
Tỉnh Phông- xa-lỳ (Lào).
Tỉnh Bến Tre - Việt Nam.
......
== Thể dục, thể thao ==
Nhà thi đấu tỉnh Vĩnh Phúc Nằm bên quốc lộ số 2, ngay ngã ba đường vào tp.Vĩnh Yên là nơi tổ chức các hoạt động thể thao và văn hóa-xã hội của tỉnh. Đây cũng là nơi tổ chức các sự kiện thể thao mang tầm quốc gia,quốc tế như: diễn ra môn đá cầu tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003,VTV Cup, Salonpas cup, giải bóng chuyền Nữ thế giới, gần đây nhất là giải Eximbank cúp và giải bóng chuyền Nam Asian cup.
Sân Golf Tam Đảo Golf Resort là sân golf 27 hố, là một trong sân golf quốc tế xây dựng đầu tiên ở Việt Nam. Đây là nơi tổ chức các giải đấu trong nước,quốc tế như: Giải vô địch Câu lạc bộ sân golf Tam Đảo - Vòng loại MercedesTrophy(2011),Giải vô địch thường niên Câu lạc bộ sân golf Tam Đảo,Giải Tập đoàn VC Group,Giải thường niên Câu lạc bộ Hà Nội,Giải golf vô địch JBAV Kogyo Bukai lần 3 Golf Competition(2011),Giải golf mùa Xuân Câu lạc bộ golf Nữ Hà Nôi(2011),Giải golf Johnnie Walker Blue Label Trophy,...
Ngoài ra,Vĩnh phúc còn có Sân Golf Đầm Vạc Golf Club và các trung tâm thể dục thể thao khác tại các huyện, thị xã để phục vụ cho hoạt động thể dục,thể thao của người dân trong tỉnh.
== Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại lớn trên địa bàn Vĩnh Phúc ==
Cùng với hệ thống chợ truyền thống thì hệ thống siêu thị, tttm trên địa bàn Vĩnh Phúc khá sôi động và đầy đủ các thương hiệu lớn, phục vụ nhu cầu mua sắm và góp phần nâng cao phong cách tiêu dùng mua sắm người dân trong tỉnh.
Siêu thị Big C
Siêu thị Co.op Mart
Siêu thị An Phú
Siêu thị Media Mart
Siêu thị điện máy HC
Trung tâm điện máy Chất Mai
Siêu thị sách Nguyễn Văn Cừ
TTTM Soiva Plaza
Chợ - Trung tâm thương mại Vĩnh Yên
Chợ - Trung tâm thương mại Yên Lạc
Chợ - Trung tâm thương mại Vĩnh Tường
Chợ - Trung tâm thương mại Tam Dương
Siêu thị điện máy Pico
Siêu thị điện máy Trần Anh
Siêu thị điện máy Hương Anh
Chợ - Trung tâm thương mại Hương Canh - Bình Xuyên
Siêu thị Nam Thắng Hương Canh - Bình Xuyên
Trung tâm thế giới di động, Điện Máy Xanh, Viettel Store, Viễn thông A, VinPro trên địa bàn Vĩnh Yên, Phúc Yên.
== Hệ thống sân golf và resort. ==
Vĩnh Phúc có nhiều sân golf và resort đẳng cấp 3 - 5 sao, phục vụ nhu cầu khách du lịch nghỉ dưỡng trong và ngoài tỉnh, đặc biệt là thị trường Hà Nội và các chuyên gia nước ngoài sống - làm việc tại Vĩnh Phúc. Trong quy hoạch Vĩnh Phúc sẽ có 12 sân Golf xây dựng dọc theo chân núi Tam Đảo đất bạc màu và một số khu vực đầm lầy khác trong tỉnh.
Flamminggo Đại Lải resort.
Sông Hồng thủ đô resort.
Tam Đảo Belvedere resort.
Paradise Đại Lải resort
FLC Vĩnh Thịnh Resort
Tam Đảo Golf and resort.
Sân golf Đầm Vạc
Sân golf Ngôi sao Đại Lải
Sân golf Flamingo Đại Lải
= Các công trình văn hóa tiêu biểu =
Các công trình văn hóa tiêu biểu tỉnh Vĩnh Phúc là những công trình văn hóa kiến trúc mang nét đặc trưng văn hóa riêng có của đất và người Vĩnh Phúc, mỗi người con Vĩnh Phúc lấy đó làm tự hào và là nơi mà du khách không thể bỏ qua mỗi khi đặt chân đến đây cho dù chỉ để có được cho mình 1 nháy hình.
Quảng trường, công viên tỉnh Vĩnh Phúc
Nhà hát tỉnh Vĩnh Phúc
Rạp ngoài trời Hoàng Quy
Rạp chiếu phim 19/05
Bảo tàng Vĩnh Phúc.
Nhà hát Chèo Vĩnh Phúc
Nhà thi đấu tỉnh Vĩnh Phúc
Văn miếu tỉnh Vĩnh Phúc
Chùa Hà Tiên (Tp Vĩnh Yên)
Tháp Bình Sơn(Sông Lô)
Nhà thờ đá Tam Đảo
Đền Hai Bà Trưng - Phúc Yên
Đền Thính - Yên Lạc
Đền bà chúa Thượng Ngàn
Tháp Truyền hình Tam Đảo.
Thiền viện trúc lâm Tây Thiên
Thiền viện trúc lâm An Tâm
Thiền viện trúc lâm Tuệ Đức
Đại bảo tháp Madala Kim Cương Thừa
Cáp treo Tây Thiên.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Cổng thông tin điện tử Tỉnh Vĩnh Phúc
Cổng thông tin doanh nghiệp và đầu tư Vĩnh Phúc
Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc
Đài PT-TH Vĩnh Phúc
Báo Vĩnh Phúc |
tỷ phú.txt | Tỷ phú là người sở hữu tài sản có giá trị từ 1.000.000.000 đơn vị tiền tệ trở lên. Tương tự đối với Triệu phú. Đơn vị tiền tệ ở đây thường được sử dụng là Dollar Mỹ, Euro hoặc Bảng Anh. Trong danh sách những tỷ phú của thế giới được công bố hằng năm của tạp chí Forbes thì đơn vị tiền tệ được sử dụng để tính tài sản là Dollar Mỹ (USD).
Đến năm 2015, đã có hơn 1.800 tỷ phú trên toàn thế giới, tài sản tổng cộng của tất cả họ lại là hơn 7 nghìn tỷ Dollar Mỹ.
== Một số thông tin về các tỷ phú hiện tại trên thế giới ==
Theo tạp chí Forbes phát hành vào tháng 3 năm 2015, hiện có 1.826 Mỹ tỷ phú trên toàn thế giới, từ 66 quốc gia, với tổng tài sản của họ là 7,05 nghìn tỷ Dollar Mỹ, nhiều hơn cả tổng GDP của 152 quốc gia. Phần lớn các tỷ phú là nam giới, nhưng trong số đó cũng có 197 tỷ phú là nữ giới. Đồng thời có bảy tỷ phú là người da đen và mười tỷ phú là người đồng tính.
Trong đó, Hoa Kỳ có số lượng tỷ phú cao nhất thế giới, với 536 tỷ phú vào năm 2015, trong khi Trung Quốc, Ấn Độ và Nga lần lượt là 213, 90 và 88 tỉ phú. Các tỷ phú thường có tuổi trung bình là 66 tuổi; chỉ có 46 tỷ phú dưới 40 tuổi trên toàn cầu.
== Xem thêm ==
Danh sách tỷ phú
Danh sách tỷ phú (2007)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
guy demel.txt | Guy Roland Demel (sinh ngày 13 tháng 6 năm 1981 ở Orsay, Paris) là một cầu thủ bóng đá người Bờ Biển Ngà hiện đang chơi cho Red Star.
== Sự nghiệp ==
Demel bắt đầu sự nghiệp bóng đá trong màu áo đội bóng hạng hai Pháp Nîmes Olympique. Anh được phát hiện tài năng và được Arsenalkí hợp đồng, và có một năm ở đó trước khi chuyển sang Borussia Dortmund. Anh rời Arsenal bởi anh nhớ nhà và do vậy các đội bóng theo đuổi anh đều thất bại khi anh chuyển sang Dortmund. Anh có trận ra mắt ở Bundesliga vào năm 2003, anh rời Dortmund để sang Hamburg SV vào năm 205, sau khi không thể giữ nổi vị trí chính thức.
Trong khi ở Hamburg, Demel trở thành hậu vệ cánh phải chính thức và một tiền vệ. Vào ngày 4 tháng 5 năm 2006, anh ký hợp đồng mới với Hamburg, giữ anh ở lại đội bóng tới năm 2010.
== Thi đấu quốc tế ==
Vào năm 2004, Demel, một công dân Pháp, nhận được hộ chiếu Bờ Biển Ngà. Kể từ đó anh luôn được gọi vào đội tuyển, chơi ở giải vô địch bóng đá châu Phi 2006, và có tên trong đội hình tham dự World Cup 2006 và World Cup 2010.
== Xem thêm ==
Thống kê sự nghiệp tại Fussballdaten.de (tiếng Đức)
== Tham khảo == |
bóng đá.txt | Bóng đá hay đá banh là môn thể thao đồng đội được chơi giữa hai đội với nhau, mỗi đội có 11 cầu thủ trên sân. Trò chơi này dùng một quả bóng và thường được chơi trên sân cỏ hình chữ nhật với hai khung thành ở hai đầu sân. Mục tiêu của trò chơi là ghi điểm bằng cách đưa bóng vào khung thành của đội đối địch. Ngoại trừ thủ môn, các cầu thủ khác đều không được cố ý dùng tay hoặc cánh tay để chơi bóng. Đội chiến thắng là đội ghi được nhiều bàn thắng hơn khi kết thúc trận đấu.
Bóng đá được chơi ở đẳng cấp chuyên nghiệp trên thế giới. Hàng vạn người đến sân vận động để xem các trận thi đấu có đội bóng mà họ yêu thích, và hàng triệu người khác theo dõi qua tivi nếu không thể đến sân vận động. Ngoài ra, còn rất nhiều người chơi môn thể thao này ở đẳng cấp nghiệp dư.
Theo một cuộc khảo sát công bố vào năm 2001 của FIFA, tổ chức quản lý bóng đá trên thế giới, có hơn 240 triệu người thường xuyên chơi bóng đá ở hơn 200 quốc gia. Luật chơi đơn giản và dụng cụ thi đấu ít tốn kém giúp cho trò chơi này phát triển mạnh mẽ. Ở nhiều nước, bóng đá có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người hâm mộ, trong cộng đồng địa phương hay cả quốc gia; do đó có thể nói đây là môn thể thao phổ biến nhất thế giới.
== Tổng quan ==
Bóng đá là môn thể thao đồng đội được chơi theo các quy tắc đề ra trong Luật bóng đá (tiếng Anh: Laws of the Game). Các vận động viên tham gia chơi bóng đá được gọi là các cầu thủ, họ thường sử dụng một trái bóng hình cầu được gọi đơn giản là quả bóng đá, trái bóng hoặc trái banh. Trong trận đấu bóng đá, hai đội, mỗi đội gồm 11 cầu thủ sẽ tìm cách đưa trái bóng vào khung thành (còn gọi là cầu môn), đội nào đưa bóng vào khung thành đối phương nhiều hơn (ghi được nhiều bàn thắng hơn) sẽ là đội giành chiến thắng, nếu hai đội có số lần đưa bóng vào khung thành đối phương như nhau, hoặc không đội nào làm được việc này thì trận đấu sẽ kết thúc với kết quả hòa.
Quy tắc cơ bản nhất của môn bóng đá là các cầu thủ, trừ người bảo vệ khung thành (được gọi là thủ môn), được phép sử dụng bất cứ bộ phận nào trên cơ thể để chơi bóng trừ hai cánh tay và bàn tay của họ (tuy nhiên cầu thủ phải dùng tay để thực hiện việc ném biên). Trong một trận đấu thông thường, cầu thủ có thể chơi ở bất cứ vị trí nào và có thể đưa quả bóng theo bất cứ hướng nào trên sân, trừ trường hợp cầu thủ rơi vào thế việt vị thì không thể nhận bóng. Dựa vào các quy tắc cơ bản này, cầu thủ thường dùng chân để thực hiện các động tác kỹ thuật như rê bóng, lừa bóng, chuyền bóng cho đồng đội, sút bóng, với mục đích chính là tìm cách đưa bóng vào khung thành đối phương và ngăn không cho đối phương đưa bóng vào khung thành đội nhà. Cầu thủ hai đội có thể va chạm nhau thông qua các pha tranh bóng, tắc bóng nhưng tuyệt đối không được phạm những lỗi ghi trong luật như chuồi bóng từ phía sau, đẩy người, tiểu xảo. Điều khiển trận đấu là tổ trọng tài bao gồm một trọng tài chính và hai trọng tài biên, trọng tài chính sử dụng một chiếc còi cùng hai loại thẻ, thẻ vàng và thẻ đỏ, và có trách nhiệm bắt đầu, kết thúc hoặc tạm dừng trận đấu. Một trận đấu bóng đá thông thường có hai hiệp, mỗi hiệp 45 phút với khoảng thời gian 15 phút nghỉ giữa hai hiệp.
== Lịch sử ==
Các môn thể thao tương tự bóng đá hiện đại (với mục đích đá bóng vào khung thành đối phương) đã xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới từ rất lâu. Theo FIFA thì dạng bóng đá cổ xưa nhất bao gồm đầy đủ các kỹ thuật chơi bóng có lẽ xuất phát từ Trung Quốc vào khoảng thế kỷ 2 hoặc 3 TCN, môn xúc cúc (蹴鞠, đá bóng). Ở La Mã cổ đại cũng xuất hiện một môn thể thao chơi bóng có những nét giống bóng đá, đó là môn harpastum.
Môn bóng đá với các luật chơi gần như ngày nay bắt đầu phổ biến từ giữa thế kỷ 19 tại các trường học trên nước Anh. Bộ luật bóng đá hiện đại cổ nhất mà ta biết là bộ luật mà ngày nay thường được biết đến dưới tên Bộ luật Cambridge (tiếng Anh: Cambridge Rules). Sở dĩ có tên gọi này vì chính trong khuôn viên Trinity College thuộc Đại học Cambridge, đại diện của năm trường Eton, Harrow, Rugby, Winchester và Shrewsbury đã tổ chức họp mặt để thống nhất một luật chơi đầu tiên cho môn bóng đá. Cũng trong thập niên 1850, các đội bóng nghiệp dư bắt đầu được thành lập và thường mỗi đội xây dựng cho riêng họ những luật chơi mới của môn bóng đá, trong đó đáng chú ý có câu lạc bộ Sheffield F.C.. Việc mỗi đội bóng có luật chơi khác nhau khiến việc điều hành mỗi trận đấu giữa họ diễn ra rất khó khăn. Nỗ lực đáng kể nhất trong việc chuẩn hóa luật chơi môn bóng đá là việc thành lập Hiệp hội bóng đá Anh (The Football Association, thường viết tắt là FA) vào ngày 26 tháng 10 năm 1863 tại Great Queen Street, Luân Đôn. Sau 5 cuộc họp diễn ra từ tháng 10 đến tháng 12, bộ luật đầy đủ và toàn diện đầu tiên của môn bóng đá gồm 13 điều đã được FA thông qua dưới sự chủ trì của Ebenezer Cobb Morley. Hiện nay cơ quan chịu tránh nhiệm quản lý và theo dõi luật bóng đá trên thế giới là Ủy ban bóng đá quốc tế (International Football Association Board, thường viết tắt là IFAB). IFAB được thành lập năm 1886 tại Manchester trong một buổi họp với sự có mặt của đại diện FA, Hiệp hội bóng đá Scotland (Scottish Football Association), Hiệp hội bóng đá xứ Wales (Football Association of Wales) và Hiệp hội bóng đá Ireland (Irish Football Association).
Giải thi đấu bóng đá đầu tiên, Cúp FA (FA Cup), được C. W. Alcock tổ chức lần đầu cho các câu lạc bộ bóng đá Anh vào năm 1872. Trận thi đấu bóng đá cấp quốc tế đầu tiên giữa đội tuyển Anh và Scotland cũng diễn ra vào năm 1872 tại Glasgow. Nước Anh cũng là quê hương của giải đấu liên đoàn đầu tiên, The Football League, liên đoàn này được thành lập năm 1888 theo sáng kiến của giám đốc câu lạc bộ Aston Villa, ông William McGregor. Giải đấu này bao gồm 12 câu lạc bộ thuộc miền Trung và miền Bắc nước Anh.
Cơ quan quản lý bóng đá thế giới, FIFA (Fédération Internationale de Football Association, liên đoàn bóng đá quốc tế) được thành lập vào năm 1904 tại Paris với chủ tịch đầu tiên là ông Robert Guérin, một người Pháp, ngay từ khi thành lập FIFA đã tuyên bố sử dụng và tôn trọng bộ luật bóng đá do FA đưa ra. Từ năm 1913, cơ quan theo dõi luật bóng đá IFAB bắt đầu bổ sung các thành viên là đại diện của FIFA. Hiện nay ban điều hành của IFAB bao gồm 4 đại diện của FIFA và 4 đại diện đến từ các liên đoàn khai sinh luật bóng đá là Anh, Scotland, Ireland và xứ Wales. Tính cho đến năm 2008, FIFA có 208 quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có đại diện là thành viên, nhiều hơn Ủy ban Olympic Quốc tế 3 thành viên và nhiều hơn Liên Hiệp Quốc 16 thành viên.
Ngày nay bóng đá đã được chơi ở cấp độ chuyên nghiệp trên khắp thế giới với hàng triệu người đến sân theo dõi các trận đấu cũng như hàng tỷ người theo dõi qua truyền hình. Theo một cuộc thăm dò do FIFA tiến hành năm 2001, có trên 240 triệu người từ trên 200 quốc gia thường xuyên chơi bóng đá. Không chỉ là môn thể thao phổ biến nhất thế giới, bóng đá còn có ảnh hưởng lớn đến nền thể thao và xã hội nhiều quốc gia, hãng truyền hình ESPN từng cho rằng chính đội tuyển Bờ Biển Ngà đã giúp ngăn chặn nguy cơ một cuộc nội chiến tại nước này vào năm 2005, ngược lại cũng chính một trận bóng đá đã khởi đầu cho một cuộc chiến với cái tên Chiến tranh bóng đá xảy ra năm 1969 giữa El Salvador và Honduras.
== Luật thi đấu ==
Hiện nay Luật bóng đá chính thức có 17 điều được áp dụng cho mọi cấp độ chơi bóng và chỉ có một vài sửa đổi nhỏ cho phù hợp với bóng đá nữ và bóng đá trẻ.
=== Cầu thủ, trang phục và trọng tài ===
Mỗi trận đấu bóng đá bao gồm hai đội, mỗi đội 11 cầu thủ thi đấu chính thức trên sân kể cả 1 thủ môn. Thủ môn là người duy nhất được phép chơi bóng bằng tay, tuy nhiên việc này cũng chỉ được giới hạn trong khu cấm địa phía trước khung thành do thủ môn trấn giữ. Bên cạnh số cầu thủ chính thức mỗi đội cũng còn một số cầu thủ dự bị để thay thế khi cần thiết, thông thường trong một trận bóng đá thi đấu chính thức, mỗi đội chỉ được phép thay đổi 3 cầu thủ. Cầu thủ sau khi được thay ra sẽ không thể tiếp tục quay trở lại sân thi đấu. Người chỉ đạo chiến thuật cho đội bóng là huấn luyện viên, vị trí này không phải là quy định bắt buộc được ghi trong Luật bóng đá.
Trang phục thi đấu của các cầu thủ thường bao gồm áo phông, quần soóc, tất cao đến đầu gối, giày và bảo vệ ống đồng. Cầu thủ thi đấu trên sân bị cấm mặc, đeo hoặc mang theo các đồ vật có thể gây nguy hiểm cho cầu thủ đối phương như vòng, dây chuyền hoặc đồng hồ. Do là vị trí được sử dụng tay và thường xuyên phải bay người theo bóng, thủ môn được trang bị kĩ hơn các cầu thủ khác, họ thường mặc áo phông dài tay, đeo cả bảo vệ ống đồng và bảo vệ khuỷu tay và mang găng khi thi đấu.
Điều khiển trận đấu là tổ trọng tài bao gồm 1 trọng tài chính và 2 trọng tài biên, những người này có toàn quyền điều khiển trận đấu theo các quy định của Luật bóng đá, quyết định của trọng tài chính dù đúng hoặc sai cũng thường là quyết định cuối cùng và không thể đảo ngược. Ngoài ba trọng tài làm việc trên sân còn có một trọng tài thứ tư (còn gọi là trọng tài bàn) quản lý việc thay người, theo dõi thời gian bù giờ và thay thế trọng tài trên sân trong trường hợp cần thiết.
=== Sân thi đấu ===
Do được hình thành ở Anh, luật bóng đá trước đây quy định các kích thước theo hệ đo lường Anh tuy nhiên hiện nay các số đo này đã được đổi sang hệ SI cho phù hợp với sự phổ biến của bóng đá trên thế giới. Một sân bóng đá tiêu chuẩn cho các trận đấu quốc tế có dạng chữ nhật với chiều dài nằm trong khoảng từ 100 đến 110 mét, chiều rộng từ 64 đến 75 m. Còn đối với các trận đấu ở cấp độ thấp hơn, sân bóng có thể có chiều dài nằm trong khoảng từ 90 đến 120 m (100–130 yd) và rộng từ 45 đến 90 m (50–100 yd). Hai cạnh dài của sân bóng được gọi là hai đường biên dọc, hai cạnh còn lại là đường biên ngang. Ở chính giữa hai đường biên ngang là khung thành có dạng chữ nhật với chiều dài 7,32 m và chiều cao 2,44 m. Khung thành thường được giăng lưới để dễ phân biệt tình huống bóng vào khung thành hay ra ngoài, tuy nhiên điều này không nằm trong quy định chính thức của Luật bóng đá.
Phía trước mỗi khung thành là khu cấm địa. Khu vực này cũng có dạng chữ nhật với chiều dài dọc theo đường biên ngang của sân với kích thước 40,3 m dài, 16,5 m rộng. Ở giữa khu cấm địa, cách khung thành 11 m là điểm đá phạt đền, nơi các cầu thủ thực hiện các cú sút phạt đền (do cầu thủ đối phương phạm lỗi trong khu vực cấm địa). Khu cấm địa cũng là nơi duy nhất thủ môn được phép chơi bóng bằng tay. Ở phía trong khu cấm địa có một hình chữ nhật nhỏ hơn với chiều dài dọc theo đường biên ngang có kích thước 18,3 m dài, 5,5 m rộng (thường được gọi là khu 5 mét 50), đây là nơi cầu thủ đối phương tham gia tấn công không được phép va chạm trực tiếp với thủ môn đang trấn giữ khung thành.
=== Thời gian thi đấu ===
Một trận thi đấu bóng đá thông thường diễn ra trong hai hiệp chính thức liên tiếp, mỗi hiệp gồm 45 phút ngăn cách bằng 15 phút nghỉ giữa giờ. Sau khi hiệp 1, hai đội bóng sẽ phải đổi sân cho nhau để có sự công bằng trong vòng 1 phút. Người có quyền bắt đầu và kết thúc trận đấu là trọng tài chính. Trong các tình huống phải dừng bóng hoặc bóng ra ngoài sân, trọng tài sẽ tính thêm giờ, thời gian chết này sẽ được chơi bù vào cuối mỗi hiệp đấu (được gọi là những phút bù giờ), số phút bù giờ là ít hoặc nhiều đều hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của trọng tài chính, kể cả trường hợp nó khác biệt so với số phút bù giờ do trọng tài thứ tư công bố trên bảng điện tử. Quy định về thời gian đá bù xuất hiện sau trận đấu năm 1891 giữa Stoke và Aston Villa, khi chỉ còn 2 phút là hết giờ, trong tình thế bị dẫn trước 1–0, đội Stoke bất ngờ được hưởng một quả phạt đền, thủ môn Villa đã đối phó bằng cách đá bóng ra khỏi sân và đến khi bóng trở lại sân thì đồng hồ đã điểm 90 phút và Stoke thua trận.
Trong các giải thi đấu vòng tròn, một trận đấu có thể kết thúc với tỉ số hòa, tuy nhiên trong các trận đá loại trực tiếp (như ở các giải Cúp hoặc các trận playoff), bắt buộc phải xác định được một đội giành chiến thắng. Trong trường hợp này, nếu kết thúc 90 phút của 2 hiệp chính hai đội vẫn hòa, họ sẽ phải thi đấu thêm 2 hiệp phụ liên tiếp, mỗi hiệp 15 phút không có nghỉ giữa giờ. Nếu hết 2 hiệp phụ mà kết quả vẫn hòa, hai đội sẽ phải thi đá luân lưu 11 m (hai đội thay phiên nhau thực hiện các quả đá phạt đền) để xác định đội giành chiến thắng. Các bàn thắng ghi được trong hai hiệp phụ sẽ được tính vào kết quả chung cuộc, tuy nhiên các bàn thắng ghi trong những loạt đá luân lưu 11 m sẽ không được tính (mà chỉ dùng để xác định kết quả thắng thua). Trong thập niên 1990 và 2000, IFAB đã cho thử nghiệm luật Bàn thắng vàng, theo đó nếu trong hiệp phụ có một đội ghi được bàn thắng trước, trận đấu sẽ lập tức kết thúc với kết quả thắng cho đội vừa ghi bàn. Luật bàn thắng vàng đã được sử dụng ở cấp độ thế giới trong World Cup 1998 và World Cup 2002 với Pháp là đội tuyển đầu tiên tận dụng được lợi thế này khi giành chiến thắng trước Paraguay bằng bàn thắng vàng của Laurent Blanc (năm 1998), Pháp cũng là đội vô địch ở giải đấu năm 1998. Tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1996, đội tuyển bóng đá quốc gia Đức đã giành chức vô địch sau chiến thắng trước đội tuyển bóng đá quốc gia Cộng hòa Séc bằng bàn thắng vàng của Oliver Bierhoff. Tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2004, luật bàn thắng vàng được thay thế bằng luật Bàn thắng bạc theo đó nếu kết thúc hiệp phụ đầu tiên mà có một đội dẫn trước về tỉ số, trận đấu sẽ kết thúc với chiến thắng dành cho đội có lợi thế về tỉ số. Tuy nhiên hiện nay IFAB đã bỏ việc thử nghiệm cả 2 luật này.
Trong các trận đấu loại trực tiếp theo thể thức lượt đi-lượt về, thông thường người ta sẽ tính tới luật bàn thắng sân khách. Theo đó nếu sau hai trận mà hai đội có kết quả chung cuộc hòa nhau, đội nào ghi được nhiều bàn thắng hơn trên sân khách sẽ là đội giành chiến thắng. Tuy nhiên không phải giải đấu lớn nào cũng sử dụng lợi thế này, ví dụ như tại Copa Libertadores ở Nam Mỹ.
=== Trạng thái bóng trên sân ===
Theo luật bóng đá, có hai trạng thái bóng chính trên sân, đó là bóng động và bóng chết. Thời gian bóng động trong trận đấu được tính từ thời điểm các cầu thủ bắt đầu trận đấu bằng cú phát bóng giữa sân cho đến khi bóng rơi ra ngoài khu vực sân thi đấu hoặc trận đấu bị ngừng lại bởi quyết định của trọng tài (do cầu thủ phạm lỗi, chấn thương hoặc tình huống đặc biệt khác), khi đó bóng rơi vào trạng thái bóng chết. Trận đấu lúc này sẽ được khởi động lại bằng các cách chính sau:
Ném biên: Khi bóng rơi ra ngoài đường biên dọc do tác động của một cầu thủ đội nhà (dù ở trên mặt sân hay bay trên không). Đội đối phương sẽ được hưởng quyền ném bóng từ vị trí trên đường biên dọc mà bóng rời sân. Từ quả ném biên, bàn thắng chỉ được công nhận khi chạm chân cầu thủ khác
Phát bóng: Khi bóng rơi ra ngoài đường biên ngang do tác động của cầu thủ tấn công đối phương. Đội phòng ngự sẽ được hưởng quyền phát bóng lên. Từ quả phát bóng, nếu bóng được đá vào cầu môn, bàn thắng được công nhận.
Phạt góc: Khi bóng rơi ra ngoài đường biên ngang do tác động của cầu thủ phòng ngự. Đội tấn công sẽ được hưởng quyền đưa bóng vào trận đấu bằng cú đá từ điểm đá phạt góc (là điểm nối giữa đường biên dọc và đường biên ngang). Từ quả đá phạt góc, nếu bóng được đá vào cầu môn, bàn thắng sẽ được tính.
Đá phạt gián tiếp: Khi có cầu thủ bị phạm lỗi nhẹ. Đội đối phương sẽ được hưởng quyền đưa bóng vào trận đấu, nếu đá bóng trực tiếp vào cầu môn, bàn thắng không được công nhận. Bàn thắng chỉ được công nhận khi bóng chạm chân một cầu thủ khác
Đá phạt trực tiếp: Khi có cầu thủ bị phạm lỗi nặng (lỗi quy định trong điều 12 của Luật bóng đá, ví dụ bị phạm lỗi khi đang có lợi thế tấn công, bị phạm lỗi từ phia sau). Đội đối phương sẽ được quyền đưa bóng vào trận đấu và bàn thắng ghi vào cầu môn từ cú đá phạt này sẽ được tính.
Phạt đền: Khi có cầu thủ tấn công bị phạm lỗi trong khu vực cấm địa của đội phòng ngự. Đội tấn công sẽ được hưởng cú đá phạt từ vị trí đá phạt 11 m, đây là cú đá chỉ có sự tham gia của một cầu thủ đội tấn công (người sút phạt đền) và thủ môn đội phòng ngự.
Thả bóng: Khi trận đấu bị dừng lại không phải do bóng ra ngoài sân hoặc có cầu thủ bị phạm lỗi (ví dụ có cầu thủ bị chấn thương, có cổ động viên nhảy vào sân). Trọng tài sẽ là người cầm bóng và thả trước sự có mặt của một cầu thủ mỗi đội.
=== Phạm lỗi ===
Một lỗi xảy ra khi có cầu thủ vi phạm các điều ghi trong Luật bóng đá. Các lỗi vi phạm được quy định trong điều 12 của Luật bóng đá (đôi khi còn được gọi là Luật 12). Các lỗi thường thấy là câu giờ, đẩy người, kéo áo. Đội có cầu thủ vi phạm sẽ chịu cú đá phạt trực tiếp hoặc đá phạt đền từ phía đối phương.
Để cảnh cáo cầu thủ phạm lỗi, trọng tài sẽ sử dụng biện pháp nhắc nhở, nặng hơn là phạt thẻ vàng và nặng nhất là phạt thẻ đỏ. Cầu thủ bị phạt 2 thẻ vàng hoặc một thẻ đỏ sẽ bị đuổi khỏi sân và không được thay thế bằng cầu thủ dự bị. Cầu thủ ngoài sân nếu có hành vi không đúng mực cũng sẽ bị trọng tài sử dụng thẻ vàng hoặc thẻ đỏ để cảnh cáo. Với các thành viên ban huấn luyện và huấn luyện viên trưởng, trọng tài không sử dụng thẻ vàng, thẻ đỏ mà có quyền đuổi trực tiếp người vi phạm ra khỏi sân. Trong tình huống xét thấy tiếp tục cho bóng động có lợi hơn cho đội bị phạm lỗi, trọng tài có quyền tiếp tục cho trận đấu diễn ra và tiến hành việc cảnh cáo cầu thủ phạm lỗi sau khi bóng chết, tình huống này được gọi là phép lợi thế.
Luật phức tạp nhất của bóng đá là luật việt vị. Luật này đã có nhiều thay đổi kể từ ngày ra đời, theo quy định mới nhất thì một cầu thủ tấn công bị coi là việt vị khi so với đường biên ngang khung thành đội phòng ngự, cầu thủ này đứng thấp hơn 2 cầu thủ phòng ngự cuối cùng của đối phương (kể cả thủ môn).
== Cầu thủ và trận đấu ==
=== Các hình thức chơi bóng ===
Với luật chơi đơn giản và trang bị không đòi hỏi cầu kỳ, đắt tiền, mọi người ở mọi lứa tuổi đều có thể chơi bóng như một môn giải trí trong các sân tập, tại các giờ học thể dục hay thậm chí là trên đường phố. Tuy nhiên để chơi bóng chuyên nghiệp thì các cầu thủ thường phải tham gia các câu lạc bộ bóng đá từ khi còn trẻ để được huấn luyện kỹ thuật và chiến thuật cơ bản của môn bóng đá. Tại các cơ sở đào tạo này, cầu thủ trẻ sẽ được rèn luyện cả về thể lực và kỹ chiến thuật cũng như được tham gia nhiều trận đấu theo từng lứa tuổi để tích lũy kinh nghiệm. Do tính cạnh tranh rất cao của bóng đá chuyên nghiệp, chỉ một phần nhỏ trong số các cầu thủ trẻ có thể trở thành cầu thủ chuyên nghiệp, số còn lại chấp nhận chơi bóng như một sở thích hoặc tiếp tục sự nghiệp ở các câu lạc bộ bán chuyên nghiệp.
Để chơi trọn vẹn một trận đấu bóng dài 90 phút, cầu thủ cần một sức khỏe và độ bền lớn vì tùy theo vị trí, họ phải di chuyển (chủ yếu là chạy) trên quãng đường tổng cộng dài từ 6 đến 11 km. Bên cạnh đó, cầu thủ bóng đá còn bị đe dọa bởi các chấn thương rất dễ xảy ra trong trận đấu hoặc trong lúc tập luyện, chấn thương thường xảy ra với họ ở chân, ví dụ chấn thương gân khoeo, chấn thương gót chân và đôi khi thậm chí là gãy chân. Những cái chết trên sân đấu hoặc sân tập, tuy hiếm gặp nhưng cũng vẫn xảy ra trong môn bóng đá, một trường hợp như vậy là cái chết của cầu thủ Antonio Puerta người Tây Ban Nha, anh đã chết trong bệnh viện sau khi bị ngừng tim ngay trong một trận đấu thuộc giải La Liga vào ngày 25 tháng 8 năm 2007. Vì sự tiêu tốn thể lực và các mối đe dọa này, một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hiếm khi có đủ 100% khả năng để thi đấu suốt một mùa giải dài 9 tháng, họ thường có chiến thuật phân bổ sức lực chú trọng cho các trận đấu lớn. Cũng như nhiều môn thể thao hiện đại khác, hiện tượng doping cũng xuất hiện trong bóng đá. Sau một thời gian dài không chấp nhận hợp tác với Ủy ban chống doping quốc tế (AMA), FIFA vào năm 2006 đã đồng ý với đề nghị của IOC về việc tất cả các liên đoàn bóng đá phải ký công ước quốc tế về chống sử dụng doping. Tuy nhiên FIFA vẫn giữ quyền tự quyết định hình thức xử phạt với cầu thủ bị phát hiện dùng doping.
Một trong những đặc điểm hấp dẫn của môn bóng đá là tính bất ngờ của kết quả trận đấu, về mặt này bóng đá và bóng chày được coi là hai môn thể thao đồng đội có tính bất ngờ cao nhất. Có thể kể tới trường hợp của Đan Mạch vốn tham dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 1992 với tư cách đội thay thế Nam Tư bị cấm vận nhưng cuối cùng lại vượt qua nhiều đội mạnh để trở thành nhà vô địch châu Âu, hay chiến thắng 3-2 tại chung kết World Cup 1954 của Tây Đức trước Hungary, đội trước đó đã thắng họ tới 8-3 tại vòng đấu bảng. Có thể tóm tắt sự bất ngờ trong môn bóng đá bằng câu nói nổi tiếng của huấn luyện viên Sepp Herberger của đội tuyển Đức vô địch World Cup 1954:
=== Môi trường thi đấu ===
Những cầu thủ bóng đá hiện đại đầu tiên thường là các sinh viên, sau đó mới đến giới thượng lưu và công nhân. Ban đầu họ chỉ là các cầu thủ nghiệp dư và lấy bóng đá như một thú giải trí. Một thời gian dài đầu thế kỷ 20, việc chơi bóng một cách chuyên nghiệp cho các câu lạc bộ của những ông chủ lớn bị coi như hành động "đi làm nô lệ" vì đồng lương thấp và điều kiện thi đấu tồi, ví dụ cầu thủ quốc tế người Pháp Thadée Cisowski được nhận lương mỗi tháng 400 franc vào năm 1961, chỉ nhiều hơn 30% so với mức lương tối thiểu của Pháp (SMIC). Tuy các liên đoàn cầu thủ đã được thành lập ở Anh từ đầu thế kỷ 20, các tổ chức này thực tế đã không đấu tranh được nhiều cho việc cải thiện tình trạng tồi tệ đó. Từ thập niên 1960, điều kiện thi đấu của bóng đá chuyên nghiệp bắt đầu thay đổi, từ năm 1969 cầu thủ bắt đầu được ký hợp đồng có kỳ hạn ở Pháp, ở Anh là từ năm 1978.
Từ thập niên 1970, những "nô lệ đá bóng" bắt đầu trở thành "lính đánh thuê" với điều kiện kinh tế cao hơn khi họ có sự tư vấn của những người hoặc cơ quan đại diện. Tuy nhiên ngay cả mức lương của các ngôi sao tại các giải bóng đá lớn vẫn còn thua kém so với mức lương của các ngôi sao Công thức 1, NBA hoặc quyền Anh chuyên nghiệp. Ví dụ siêu sao Diego Maradona được câu lạc bộ SSC Napoli trả 7,5 triệu franc Pháp mỗi năm trong khi tay đấm Larry Holmes nhận được hơn 45 triệu vào cùng thời gian tương ứng. Theo bảng xếp hạng năm 2006 các vận động viên chuyên nghiệp có thu nhập cao nhất của tạp chí Sports Illustrated thì người có thu nhập cao nhất trong giới cầu thủ, Ronaldinho, nhận khoảng 32,7 triệu USD một năm, tương đương mức của ngôi sao quần vợt Roger Federer (31,3 triệu), nhưng vẫn còn thua xa tay golf Tiger Woods (111,9 triệu).
Cùng với sự gia tăng của lương cầu thủ, số tiền chuyển nhượng một cầu thủ từ câu lạc bộ này sang câu lạc bộ khác cũng tăng lên nhanh chóng, nếu như vào năm 1905, cầu thủ Anh Alf Common trở thành cầu thủ bóng đá đầu tiên được chuyển nhượng với giá 1000 bảng Anh thì vào năm 2001, vụ chuyển nhượng Zinedine Zidane từ Juventus sang Real Madrid đã lập kỷ lục thế giới với giá 76 triệu euro. Tại châu Âu có 2 mùa chuyển nhượng chính diễn ra vào khoảng thời gian giữa hai mùa giải kế tiếp (từ khoảng tháng 6 đến tháng 9 hàng năm) và khoảng thời gian nghỉ Đông của một mùa giải (từ tháng 12 năm trước đến tháng 1 năm sau).
=== Cách mạng về chiến thuật ===
Từ thập niên 1880 đến khoảng năm 1925, chiến thuật phổ biến của các đội bóng là bố trí đội hình gồm 5 cầu thủ tấn công (tiền đạo), 3 cầu thủ chơi giữa sân (tiền vệ) và 2 cầu thủ phòng ngự (hậu vệ). Sở dĩ phải bố trí nhiều tiền đạo như vậy là vì luật việt vị thời gian này quy định tiền đạo phải đứng trên ít nhất 3 cầu thủ đối phương. Việc luật việt vị giảm số cầu thủ phải đứng trên từ 3 xuống còn 2 đã ảnh hưởng lớn đến chiến thuật và số lượng bàn thắng, ngay năm đầu tiên áp dụng luật mới, số bàn thắng ghi ở giải vô địch bóng đá Anh đã tăng từ 4.700 bàn lên 6.373 bàn. Để ứng dụng luật việt vị mới, huấn luyện viên Herbert Chapman đã đưa ra chiến thuật mang tính cách mạng đối với môn bóng đá, chiến thuật "WM" với 3 hậu vệ, 2 tiền vệ phòng ngự (W), 2 tiền vệ công và 3 tiền đạo (M). Bộ tứ tiền vệ ở trung tâm thường được gọi là ô vuông kỳ ảo vì họ đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết bóng, phát động tấn công cũng như ngăn chăn các pha phản công của đối phương.
Chiến thuật WM chính thức phá sản vào năm 1953 sau thất bại nổi tiếng của đội tuyển Anh trước đội tuyển Hungary ngay trên sân vận động Wembley. Với chiến thuật mới "4-2-4", người Hungary đã hạ người Anh với tỷ số 6-3. Sau 4-2-4, bóng đá hiện đại bắt đầu chuyển sang chiến thuật "4-3-3" rồi "4-4-2". Về mặt phòng ngự, bước tiến đáng kể về chiến thuật là đội hình Catenaccio do huấn luyện viên người Argentina Helenio Herrera đưa ra và được áp dụng phổ biến trong các đội bóng Ý. Tại Đức, đội hình phòng ngự lại thường sử dụng một cầu thủ phòng ngự tự do (được gọi là libero) với những đại diện nổi tiếng như Franz Beckenbauer hoặc Lothar Matthaus. Kết hợp việc phòng ngự và tấn công, huấn luyện viên người Hà Lan Rinus Michels đã đưa ra triết lý bóng đá tổng lực theo đó mọi cầu thủ cùng tham gia tấn công hoặc phòng ngự tùy theo tình huống bóng, chiến thuật này đã đem lại thành công cho câu lạc bộ Ajax Amsterdam và đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan trong thập niên 1970 và 1980.
Bóng đá hiện đại ngày nay thường sử dụng những đội hình chắc chắn thay vì chỉ tập trung tấn công hoa mỹ, vì vậy những đội hình thường được các đội bóng sử dụng là 4-4-2, 5-3-2, 4-5-1 và đội khi là 5-4-1 tùy theo đối thủ và điều kiện thi đấu.
=== Ngôi sao bóng đá ===
Bóng đá hiện đại sau hơn 1 thế kỷ hình thành và phát triển đã sản sinh ra nhiều cầu thủ lớn với khả năng và thành tích đặc biệt. Những người này thường được gọi là các ngôi sao bóng đá hay siêu sao bóng đá. Việc xác định một cầu thủ là siêu sao hoặc huyền thoại bóng đá thường gây nhiều tranh cãi, ví dụ danh sách FIFA 100 gồm 125 cầu thủ còn sống được coi là vĩ đại nhất do "ông vua bóng đá" người Brasil Pelé đưa ra cũng gặp nhiều chỉ trích vì bị cho là đã bỏ qua nhiều cầu thủ vĩ đại của quá khứ. Hàng năm người ta thường tổ chức các cuộc bầu chọn cầu thủ xuất sắc nhất ở cấp độ quốc gia, châu lục và quốc tế. Những giải thưởng cầu thủ được coi là uy tín nhất thế giới gồm giải Quả bóng vàng FIFA (từ năm 2010), giải Quả bóng vàng châu Âu của tạp chí France Football (từ năm 1956 đến 2009), giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA (từ năm 1991 đến 2009), giải Quả bóng vàng châu Phi (từ năm 1970) và giải Cầu thủ Nam Mỹ xuất sắc nhất năm (từ năm 1971).
== Tổ chức điều hành ==
Tổ chức điều hành và quản lý bóng đá toàn thế giới là Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) có trụ sở tại Zürich, Thụy Sĩ. Dưới FIFA có 6 liên đoàn bóng đá cấp châu lục gồm:
Châu Á: Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC)
Châu Âu: Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA)
Châu Đại Dương: Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương (OFC)
Bắc, Trung Mỹ và Caribe: Liên đoàn bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribe (CONCACAF)
Nam Mỹ: Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL)
Châu Phi: Liên đoàn bóng đá châu Phi (CAF)
Mỗi một quốc gia thành viên FIFA đều có cơ quan điều hành riêng. Các cơ quan này có mối quan hệ chặt chẽ với FIFA cũng như liên đoàn cấp châu lục của quốc gia đó. Có một số ngoại lệ về quan hệ liên đoàn quốc gia-châu lục, ví dụ như Úc nằm ở Châu Đại Dương tuy nhiên Liên đoàn bóng đá Úc từ năm 2006 đã chuyển về trực thuộc Liên đoàn bóng đá châu Á, hoặc như Israel thuộc khu vực Tây Á tuy nhiên Liên đoàn bóng đá Israel lại trực thuộc Liên đoàn bóng đá châu Âu từ năm 1991.
== Giải đấu chính ==
=== Cấp quốc tế ===
Giải đấu cấp quốc tế lớn nhất của bóng đá thế giới là World Cup. World Cup được FIFA tổ chức lần đầu năm 1930 và đến nay đã trở thành giải thi đấu thể thao được nhiều người theo dõi nhất hành tinh, vượt qua cả Thế vận hội, ví dụ vòng chung kết World Cup 2006 tổ chức tại Đức đã thu hút 26,29 tỷ lượt khán giả xem truyền hình trong đó riêng trận chung kết đã thu hút 715,1 triệu khá giả trên khắp thế giới. World Cup được tổ chức theo thể thức 4 năm một lần với vòng đấu loại có sự tham gia của trên 190 quốc gia thành viên FIFA và vòng chung kết có sự góp mặt của 32 đội tuyển (trước năm 1982 là 16 đội, trước năm 1998 là 24 đội), vòng chung kết của World Cup 2014 được tổ chức tại Brasil.
Trong chương trình Thế vận hội Mùa hè cũng có hạng mục thi đấu của môn bóng đá kể từ năm 1900 (trừ Thế vận hội Mùa hè 1932 tổ chức tại Los Angeles). Cho đến trước Thế vận hội Mùa hè 1984, chỉ có các cầu thủ nghiệp dư được phép tham gia thi đấu (khác với World Cup không phân biệt cầu thủ chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư). Hiện nay hạng mục bóng đá nam tại Thế vận hội Mùa hè chỉ dành cho các cầu thủ dưới 23 tuổi (với một số cầu thủ nhất định quá 23 tuổi).
Bên cạnh World Cup do FIFA tổ chức, các liên đoàn châu lục cũng có các giải đấu cấp độ châu lục của riêng họ, đó là Giải vô địch bóng đá châu Âu của UEFA, Cúp bóng đá Nam Mỹ của CONMEBOL, Cúp bóng đá châu Phi của CAF, Cúp bóng đá châu Á của AFC, Cúp bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribe của CONCACAF và Cúp bóng đá châu Đại Dương của OFC. Các nhà vô địch của các giải đấu cấp châu lục cùng với đương kim vô địch World Cup sẽ gặp nhau tại Cúp Liên đoàn các châu lục, đây là giải đấu khởi động cho World Cup và được FIFA tổ chức trước World Cup 1 năm. Các câu lạc bộ của từng châu lục cũng có các giải đấu riêng trong đó đáng chú ý nhất là UEFA Champions League ở châu Âu và Copa Libertadores de América ở Nam Mỹ. Các câu lạc bộ vô địch giải đấu cấp châu lục sẽ gặp nhau trong Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ do FIFA tổ chức.
=== Cấp quốc gia ===
Tại mỗi quốc gia, cơ quan điều hành bóng đá cấp quốc gia thông thường sẽ chia giải đấu liên đoàn cấp câu lạc bộ thành nhiều hạng trong đó đội vô địch hạng dưới có thể lên thi đấu tại hạng trên và đội xếp cuối hạng trên sẽ phải xuống thi đấu tại hạng dưới. Các giải đấu liên đoàn này thông thường được tổ chức thành hai lượt đi và về theo đó các câu lạc bộ trong cùng hạng sẽ gặp nhau 2 lần. Các đội đứng đầu giải đấu liên đoàn hạng cao nhất của mỗi quốc gia sẽ tham dự các giải đấu cấp châu lục. Bên cạnh các giải đấu liên đoàn có phân chia thứ hạng, thông thường mỗi quốc gia còn có một giải cúp theo thể thức đấu loại trực tiếp dành cho câu lạc bộ thuộc tất cả các hạng.
Tại một số giải vô địch quốc gia, cầu thủ bóng đá được trả lương rất cao, đặc biệt là các siêu sao bóng đá, có thể kể tới các giải lớn ở châu Âu như La Liga (Tây Ban Nha), Premier League (Anh), Bundesliga (Đức), Serie A (Ý) và Ligue 1 (Pháp).
== Bóng đá và truyền thông ==
=== Báo viết ===
Khi bóng đá mới ra đời, nó ít được đề cập đến trong báo chí nói chung và báo chí thể thao nói riêng vì bị coi là quá "bình dân". Thậm chí tờ The Field (xuất bản tại Anh từ năm 1853) vốn chuyên về các môn thể thao "quý tộc" như đánh golf, tennis, đua ngựa chỉ còn mở hẳn một cột báo nhỏ để chê bai và châm biếm môn bóng đá. Một ví dụ khác là tờ L'Auto của Pháp chỉ bắt đầu đăng tin về bóng đá từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Tuy nhiên cùng với mức độ phổ biến của bóng đá trên thế giới, báo chí thể thao cũng bắt đầu dành mối quan tâm cho môn thể thao này. Hàng loạt báo và tạp chí chuyên về bóng đá ra đời, ví dụ các tờ A Bola, O Jogo và Record của Bồ Đào Nha, La Gazzetta dello Sport, Tuttosport và Corriere dello Sport - Stadio của Ý, Marca và As của Tây Ban Nha, Olé của Argentina và L'Équipe của Pháp. Những báo và tạp chí chuyên về bóng đá như vậy bắt đầu được xuất bản trong thời gian giữa 2 cuộc đại chiến thế giới, ngoài tờ tuần báo Le Football Association do chính FIFA xuất bản từ tháng 10 năm 1919 thì mãi đến năm 1929, tờ báo chuyên về bóng đá đầu tiên mới được xuất bản, đó là tuần báo Football của Pháp. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tờ báo này được tiếp nối bằng tờ báo nổi tiếng France Football.
Báo viết không chỉ có vai trò quan trọng trong việc quảng bá môn bóng đá với công chúng mà còn tham gia tổ chức và duy trì các giải đấu. Giải đấu danh giá Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu đã được chính tờ L'Équipe của Pháp tổ chức lần đầu năm 1955. Một số câu lạc bộ cũng dần xuất bản những tờ báo của riêng họ, ví dụ câu lạc bộ Celtic FC cho ra đời tuần báo The Celtic View từ năm 1965 để chuyên đăng tin tức về câu lạc bộ Scotland này. Câu lạc bộ của Ý AS Roma cũng sở hữu tờ Il Romanista (xuất bản từ năm 2004) với số lượng khoảng 10.000 bản mỗi kỳ.
=== Truyền hình ===
Từ những năm 1920 các trận đấu bóng bắt đầu được tường thuật trực tiếp trên đài phát thanh. Buổi tường thuật lại một trận đấu lần đầu tiên được phát trên sóng phát thanh của Ý ngày 6 tháng 10 năm 1924. Nghề bình luận viên bóng đá cũng bắt đầu xuất hiện với những tên tuổi lớn như Georges Briquet, người được mệnh danh là "Vua bình luận trên đài" của phát thanh Pháp. Ngay cả sau khi truyền hình ra đời, việc tường thuật trận đấu trên sóng phát thanh cũng không vì thế mà lụi tàn vì nhiều người không có điều kiện xem truyền hình vẫn có nhu cầu nghe đài để theo dõi diễn biến trận đấu.
Ngày 16 tháng 9 năm 1937, buổi phát hình đầu tiên một trận đấu bóng đá được đài BBC thực hiện với trận đấu giữa Arsenal và đội dự bị của họ. Arsenal được chọn cho buổi phát hình này với lý do đơn giản là sân đấu của câu lạc bộ gần với trụ sở đài BBC trên Alexandra Palace. Ở cấp độ quốc tế, World Cup 1954 là giải đấu lớn đầu tiên được truyền hình. Ngay từ giai đoạn đầu mối quan hệ giữa truyền hình và bóng đá đã có nhiều xung đột. Matt Busby, huấn luyện viên của Manchester United đã tuyên bố vào năm 1957: "Các cầu thủ bóng đá phải được trả tiền cho giá trị của họ. Không có thù lao, không có phát sóng." Mâu thuẫn về quyền lợi đã dẫn đến việc các sân bóng không cho phép đài truyền hình mang máy quay vào tường thuật trận đấu. Mãi đến thập niên 1980 khi các đài truyền hình chấp nhận chia sẻ lợi nhuận với các câu lạc bộ, những trận đấu cấp câu lạc bộ mới bắt đầu được tường thuật thường xuyên hơn trên màn ảnh nhỏ.
Hiện nay, tiền bản quyền truyền hình đã trở thành một nguồn thu quan trọng của các đội bóng và giải đấu, vì vậy đôi khi lịch thi đấu của các đội phải được điều chỉnh cho phù hợp với giờ theo dõi thuận lợi của khán giả, ví dụ các trận cầu "đinh" của giải Serie A thường bao giờ cũng được tổ chức vào tối Chủ Nhật thay vì tối thứ Bảy như các trận đấu thông thường khác. Để giành quyền phát sóng các giải đấu quan trọng, các đài truyền hình lớn như Sky TV của Anh hay TF1 và Canal+ của Pháp cũng phải cạnh tranh nhau quyết liệt để đưa ra những số tiền bản quyền càng ngày càng tăng. Một ví dụ cho sự phổ biến của việc truyền hình các trận đấu là World Cup 2006, giải đấu này đã được tổng cộng 376 kênh truyền hình phát sóng trực tiếp trên khắp thế giới với tổng lượng khán giả lên tới 26,29 tỷ lượt, tức là trung bình mỗi trận có khoảng 506 triệu người trên Trái Đất theo dõi. Truyền hình không chỉ ảnh hưởng tới bóng đá về mặt kinh tế. Với công nghệ tường thuật ngày càng tiên tiến, các lỗi nhận định của trọng tài hoặc các pha tiểu xảo của cầu thủ trên sân dần không thể qua nổi mắt khán giả. Nghề trọng tài và luật 12 liên quan đến lỗi của cầu thủ vì thế cũng càng ngày càng được hoàn thiện.
Tương tự như báo viết, một số câu lạc bộ cũng bắt đầu thành lập cho riêng họ các kênh truyền hình. Middlesbrough FC là câu lạc bộ đầu tiên của Anh có kênh truyền hình của riêng mình, kênh Boro TV bắt đầu được phát sóng từ năm 2001. Một số kênh truyền hình của câu lạc bộ khác có thể kể tới OM TV, OL TV, Inter Channel, Milan Channel, Roma Channel, Manchester United TV, Real Madrid TV và Barca TV.
== Lợi ích kinh tế ==
Việc khai thác các lợi ích kinh tế của bóng đá bắt đầu diễn ra ngay từ thập niên 1880 ở Anh. Tiền vé vào sân của mỗi trận bóng đá đã giúp các đội bóng tự nuôi sống và xây dựng các sân đấu. Trung bình một trận đấu tại mùa giải vô địch đầu tiên của bóng đá Anh (mùa 1888-1889) thu hút khoảng 4.639 khán giả, cho đến cuối thế kỷ 19 con số này đã tăng lên khoảng 10.000 người và đến trước Chiến tranh thế giới thứ nhất là 20.000 người.
Vé vào sân tiếp tục là nguồn thu chính cho các câu lạc bộ bóng đá cho đến thập niên 1990, sau đó dần được thay thế bằng tiền bản quyền truyền hình. Cùng với truyền hình, các hình thức quảng cáo gắn với đội bóng và trận đấu cũng được tận dụng triệt để. Việc quảng cáo trên ngực áo cầu thủ bắt đầu xuất hiện ở Pháp từ năm 1969 với các câu lạc bộ đi tiên phong là Nîmes Olympique và Olympique de Marseille. Từ năm 1982, UEFA bắt đầu cho phép cầu thủ mặc áo có quảng cáo trong các giải đấu cấp câu lạc bộ trừ trận chung kết (giới hạn trận chung kết chỉ được dỡ bỏ từ năm 1995). Tuy nhiên việc quảng cáo trên ngực áo đội tuyển cấp quốc gia cho đến nay vẫn chưa được FIFA chấp nhận.
Theo thống kê của mùa bóng 2006-2007 thì câu lạc bộ có doanh thu lớn nhất thế giới là Real Madrid của Tây Ban Nha với 351 triệu euro, sau đó là Manchester United của Anh (315,2 triệu), FC Barcelona của Tây Ban Nha (290,1 triệu), Chelsea FC và Arsenal FC cùng của Anh (283 và 263,9 triệu). Doanh thu tăng nhưng các câu lạc bộ cũng phải đối mặt với số tiền phải chi trả cho lương cầu thủ, đặc biệt là các ngôi sao của đội. Theo thống kê của mùa bóng 2007-2008, 20 câu lạc bộ của Giải vô địch bóng đá Ý đã phải chi tổng cộng 768,4 triệu euro tiền lương cầu thủ, tăng thêm 101,9 triệu euro chỉ sau một mùa.
Bên cạnh các mối lợi kinh tế trực tiếp, bóng đá cũng đem lại nguồn thu cho các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là du lịch. Ví dụ thành phố Auxerre của Pháp vốn rất nhỏ với chỉ hơn 40.000 dân nhưng nhờ có đội bóng AJ Auxerre có thành tích khá tốt tại giải vô địch Pháp nên kéo theo đó du lịch của thành phố này cũng phát triển. Một ví dụ khác là việc tổ chức World Cup 2006 chỉ trong vòng 1 tháng đã giúp lượng khách du lịch đến Đức trong cả năm 2006 tăng thêm 9%.
Hiện nay, đa số các câu lạc bộ bóng đá kiếm được rất nhiều tiền từ các bản quyền truyền hình. Thống kê mùa giải 2016-2017, giải Ngoại Hạng Anh ký gói bản quyền có giá trị lên đến 1 tỉ bảng, đem lại cho các câu lạc bộ nhiều doanh thu hơn bất kì giải đấu nào khác và nó cũng trở thành giải đấu hấp dẫn nhất hành tinh. Điều này đồng nghĩa, giải Ngoại Hạng Anh nay có thể bạo chi hơn với thương vụ chuyển nhượng kỉ lục của Manchester United cho Pogba với giá 89 triệu bảng
== Bóng đá và chính trị ==
Không chỉ là một môn thể thao thông thường, bóng đá đôi khi còn có ảnh hưởng chính trị ở khu vực hoặc thậm chí là quốc tế. Một số câu lạc bộ bóng đá thành công thường được coi là biểu tượng cho địa phương hoặc chủ nghĩa dân tộc nơi đội bóng đóng quân, FC Barcelona được người Catalan coi là biểu tượng cho tinh thần tự trị của họ, hoặc như Athletic Bilbao là niềm tự hào của người dân xứ Basque với lý do tương tự. Ngược lại đôi khi bóng đá cũng được coi là liều thuốc đoàn kết tinh thần của một quốc gia, có thể kể tới chiến thắng của đội tuyển Pháp tại World Cup 1998 hay của Iraq tại Cúp bóng đá châu Á 2007, theo lời chủ tịch Liên đoàn bóng đá Iraq Hussein Saeed thì "người Iraq chỉ sống vì bóng đá, và đó là bí mật để họ có thể đối mặt với mọi khó khăn".
Ở mức độ quốc tế, lịch sử đã ghi nhận Chiến tranh bóng đá vào năm 1969 là cuộc xung đột đầu tiên bắt nguồn từ một trận đấu bóng. Đó là chiến thắng 3-2 tại vòng loại World Cup 1970 của El Salvador trước Honduras. Những xung đột trong và sau trận đấu đã dẫn đến việc El Salvador đem quân tấn công Honduras, cuộc chiến đã khiến hơn 2.000 người thiệt mạng và càng làm trầm trọng sự mâu thuẫn giữa hai nước láng giềng này. Bóng đá cũng trở thành phương tiện tuyên truyền cho Mặt trận giải phóng Algérie trong thời gian Chiến tranh Algérie. Đôi khi bóng đá lại trở thành phương tiện để thúc đẩy hoặc hàn gắn quan hệ ngoại giao giữa các nước có mâu thuẫn, có thể kể tới trận đấu lịch sử giữa Mỹ và Iran tại vòng đấu loại bảng F World Cup 1998 hay World Cup 2002, giải đấu được Nhật Bản và Hàn Quốc, hai quốc gia vốn có nhiều mâu thuẫn lịch sử, tổ chức chung khá thành công.
== Bóng đá trong văn hóa đại chúng ==
=== Văn hóa bóng đá ===
Bóng đá được nhiều nghệ sĩ coi là thứ "ngôn ngữ toàn cầu" với những đặc điểm thi đấu, luật lệ và truyền thống riêng của nó. Nhà văn Albert Camus, người từng một thời là thủ môn bóng đá, đã phát biểu rằng:
Tác phẩm văn học về bóng đá có thể kể tới Vua bóng đá của Aziz Nesin hay Fever Pitch (1992) của Nick Hornby. Âm nhạc, nhất là các bài hát tập thể, là một yếu tố không thể thiếu của các trận bóng. Các câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia thường có những bài đồng ca để cổ vũ tinh thần cầu thủ và huấn luyện viên. Đây có thể là những bài hát được sáng tác riêng cho câu lạc bộ như Leeds United (của Leeds Utd) hay Good old Arsenal (của Arsenal). Cũng có những bài hát không được viết riêng cho bóng đá nhưng lại trở thành ca khúc yêu thích của các cổ động viên, tiêu biểu là You'll Never Walk Alone, bài hát không chính thức của cổ động viên Liverpool FC. Ngược lại, một số nghệ sĩ cũng lấy cảm hứng từ các trận bóng để sáng tác các bài hát, có thể kể tới We Will Rock You và We Are the Champions của nhóm Queen.
Trong thế giới điện ảnh, bộ phim đầu tiên về bóng đá, Harry The Footballer, được đạo diễn người Anh Lewin Fitzhamon thực hiện từ năm 1911. Các tác phẩm điện ảnh về đề tài bóng đá có nội dung rất đa dạng, từ sự hâm mộ cuồng nhiệt của cổ động viên trong À mort l'arbitre (1984, đạo diễn Jean-Pierre Mocky) đến cái nhìn trào phúng về bóng đá trong Coup de tête (1979, Jean-Jacques Annaud) hay những trận đấu mang dấu ấn lịch sử trong Escape to Victory (1981, đạo diễn John Huston) hoặc Das Wunder von Bern (2003, đạo diễn Sönke Wortmann). Bóng đá đôi khi còn được "mượn" để nói tới các đề tài văn hóa khác, có thể kể tới vở kịch truyền hình Trận bóng của những triết gia do nhóm Monty Python thực hiện năm 1972.
Bóng đá cũng được chuyển thể thành các trò chơi, từ các trò chơi cổ điển như bóng đá bàn hay Subbuteo đến các trò điện tử hiện đại như loạt FIFA Football của hãng Electronic Arts hay loạt Pro Evolution Soccer của hãng Konami (trò chơi điện tử bán chạy nhất tại Pháp năm 2006).
=== Cổ động viên ===
Bóng đá, môn thể thao được hâm mộ nhất thế giới, đã tạo riêng cho nó một nền văn hóa cổ động riêng biệt. Cổ động viên là những người đóng góp tài chính nhiều nhất cho câu lạc bộ hoặc đội tuyển họ yêu thích thông qua nhiều hình thức như mua vé vào sân, mua đồ lưu niệm của đội bóng hoặc tham gia các hội người hâm mộ do đội bóng tổ chức. Bên cạnh đó, các cổ động viên cũng là động lực (và cả sức ép) cho đội bóng trong và ngoài sân đấu, vì vậy đôi khi cổ động viên bóng đá được coi như "cầu thủ thứ 12" của đội bóng.
Tuy nhiên, có một số cổ động viên quá khích được gọi là các hooligan, trong lịch sử bóng đá, không ít trường hợp các hooligan đã bị cấm vào sân vận động vĩnh viễn và cũng không ít trường hợp, các cầu thủ và hooligan đã ẩu đả với nhau.
Các hội cổ động viên bóng đá bắt đầu được hình thành từ cuối thế kỷ 19 tại Anh. Ban đầu các hội này thường phụ thuộc trực tiếp vào các đội bóng nhưng kể từ thập niên 1940 họ bắt đầu tách riêng đứng độc lập. Các hội cổ động viên thường đứng ra tổ chức các hình thức cổ động trên sân, đặc biệt là trong các trận đấu "derby" giữa các đội bóng kình địch. Những trận "derby" giữa các đội bóng kình địch nổi tiếng thường trở thành màn trình diễn không chỉ của các siêu sao hai đội mà còn là của các hội cổ động viên, có thể kể tới các trận "derby" nổi tiếng thế giới như Derby della Madonnina giữa A.C. Milan và Inter Milan của Ý, El Clásico giữa Real Madrid và FC Barcelona của Tây Ban Nha hay El Superclásico giữa CA Boca Juniors và CA River Plate của Argentina và gần đây nhất là Derby Manchester giữa Manchester United và Manchester City (Sau khi City có được sự hậu thuẫn của các ông chủ Ả rập, họ đang ngày càng mạnh lên và trở thành đối trọng với Mu)
Thông thường các cổ động viên bóng đá thường cổ vũ trận đấu một cách hòa bình, tuy nhiên đôi khi bạo lực cũng bùng phát, đặc biệt là trong các trận đấu giữa những đội bóng kình địch. Bạo lực thậm chí đã biến một số trận đấu trở thành thảm kịch, ví dụ điển hình là thảm họa Heysel diễn ra trên sân vận động Heysel tại Bỉ năm 1985 đã khiến 39 cổ động viên thiệt mạng, hơn 600 người khác bị thương. Trong một số trường hợp khác, cổ động viên bóng đá quá khích lại tràn xuống sân làm gián đoạn các trận thi đấu, đây là trường hợp của trận giao hữu giữa đội tuyển Algérie và đội tuyển Pháp diễn ra năm 2001 tại Stade de France, các cổ động viên tràn vào sân đã làm trận đấu phải kết thúc sớm 15 phút.
== Các loại hình bóng đá khác ==
Bóng đá thông thường được chơi với hai đội hình 11 người trên sân lớn, tuy nhiên đôi khi môn thể thao này cũng được biến đổi về số người chơi, luật lệ để phù hợp với các điều kiện chơi bóng khác nhau.
=== Futsal ===
Futsal hay bóng đá trong nhà là môn thể thao tương tự bóng đá nhưng các trận đấu được diễn ra trong nhà với một số luật lệ được thay đổi cho phù hợp ví dụ kích thước sân và bóng được thu nhỏ, các cầu thủ đi giày đế bằng thay vì giày đinh như ở các trận đấu sân cỏ. Futsal ra đời vào năm 1930 tại Uruguay và liên tục phát triển dưới sự bảo trợ của FIFA. FIFA cũng là tổ chức điều hành Giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới. Các đội tuyển quốc gia có truyền thống ở môn thể thao này có thể kể tới Tây Ban Nha, Ý và Brasil. Tại vòng chung kết Giải vô địch thế giới môn futsal gần đây nhất vào năm 2008 tại Brasil, đội vô địch là Brasil sau khi thắng Tây Ban Nha 4-3 sau loạt sút luân lưu (hai đội hòa 2-2 trong thời gian thi đấu chính thức) tại trận chung kết.
=== Bóng đá bãi biển ===
Bóng đá bãi biển là môn bóng đá chơi trên bãi cát, thông thường là bãi biển. Các trận đấu bóng đá bãi biển có 2 đội, mỗi đội 5 người với quyền thay người không hạn chế. Các cầu thủ chơi trên một sân nhỏ kích thước 28x37 m trong 3 hiệp, mỗi hiệp 12 phút. Giải vô địch thế giới môn bóng đá bãi biển được FIFA tổ chức từ năm 1995. Trong môn thể thao này, đội tuyển thống trị nhiều năm qua là đội bóng đá bãi biển Brasil, đội này đã 12 lần vô địch thế giới kể từ năm 1995, thành tích vượt xa so với 2 đội đứng tiếp theo là Bồ Đào Nha và Pháp (cùng 1 lần vô địch thế giới).
=== Loại hình khác ===
Bóng đá cho người khuyết tật có hai loại hình chính là bóng đá xe lăn (cho người khuyết tật chi) và bóng đá cho người khiếm thị (cho người có khuyết tật về mắt). Môn bóng đá cho người khiếm thị được đưa vào nội dung thi đấu của Paralympic kể từ năm 2004. Tại các loại hình bóng đá này thì những đội tuyển Nam Mỹ như Brasil và Argentina cũng là những người thống trị. Ngoài ra tại các thành thị còn thịnh hành loại bóng đá đường phố.
Ngoài những loại hình kể trên, cũng còn một số loại hình ít phổ biến hơn như môn jorkyball hay môn bóng đá tennis.
== Xem thêm ==
Lịch sử bóng đá Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
=== Tổ chức ===
(tiếng Anh) Trang chủ của liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA)
(tiếng Anh) Trang chủ của liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA)
(tiếng Anh) Trang chủ của liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL)
(tiếng Anh) Trang chủ của liên đoàn bóng đá châu Á (AFC)
(tiếng Anh) Trang chủ của liên đoàn bóng đá châu Phi (CAF)
(tiếng Anh) Trang chủ của liên đoàn bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribe (CONCACAF)
(tiếng Anh) Trang chủ của liên đoàn bóng đá châu Đại Dương (OFC)
(tiếng Anh) Luật bóng đá trên trang của FIFA
(tiếng Anh) Trang chủ của Tổ chức thống kê bóng đá (RSSSF)
(tiếng Anh) Trang chủ của Hiệp hội thống kê bóng đá (AFS) |
ẩm thực anh.txt | Ẩm thực cổ truyền của Anh, vì hay béo quá và nặng nề, ngoài nước Anh thường mang tiếng là khó tiêu và nhàm chán. Mặc khác nó lôi cuốn, như món thịt cừu với nước chấm bạc hà, vì sự phối hợp khá lạ đời các khẩu vị khác biệt.
== Lịch sử ==
Ẩm thực Anh trong thế kỷ thứ 19 đạt nhiều tiếng tăm. Ở bên Pháp vào thời đó khi người ta nói tới ẩm thực Anh (cuisine anglaise), người ta nghĩ tới những món ăn đặc biệt.
Cái tiếng tăm đó một phần là nhờ họ có thể có được những gia vị hiếm một cách dễ dàng, và việc ăn uống vào thời nước Anh còn có nhiều thuộc địa được giới thượng lưu coi trọng, và họ có những người làm truyền cách nấu nướng cho nhau. Khi nước Anh mất dần đi các thuộc địa, thì các gia vị trở nên đắt đỏ, giới thượng lưu cũng không còn nhiều người làm việc cho họ. Nghệ thuật nấu ăn bên Anh dần dần có thời bị thất lạc.
=== Ảnh hưởng của người di dân vào thói quen ăn uống ===
Đặc biệt là các nhóm di dân từ Ấn Độ và các nước Phi châu đã góp phần, khiến cho Ẩm thực Anh lại rộng mở chào đón thế giới và lấy lại phong độ ngày nào. Thực tế thì các món ăn chính gốc Anh đã thay thế dần trong đời sống hàng ngày bởi các món ăn thời kỳ hậu thực dân. Ngày nay các món ăn ưa thích của người Anh có gốc từ Ý hoặc Á châu, chẳng hạn như món Lasagne và Pizza, cũng như món Chicken tikka masala.
=== Ẩm thực mới ===
Những đầu bếp được yêu chuộng như Jamie Oliver và Heston Blumenthal định nghĩa lại một ẩm thực Anh cấp tiến và đầy sáng tạo.
=== Thức ăn nhanh ===
Món ăn nổi tiếng nhất là Fish and Chips (Cá và khoai tây chiên), có thể mua được tại các tiệm chip shops, quán nhậu (Pubs) hay take-aways. Take-away là một chữ tổng quát cho những nơi mà người ta có thể mua thức ăn mang về nhà. Take-aways thường bán các thức ăn của Ấn Độ, hay Trung hoa và dĩ nhiên cả Fish'n'Chips.
== Các món ăn truyền thống ==
Các món ăn truyền thống của người Anh thường là sự phối hợp giữa thịt, khoai tây, và rau cải (meat and two veg) chẳng hạn như món Sunday roast hay Sunday dinner, một bữa ăn, thường được thưởng thức vào trưa chủ nhật ở nhà, trong pub hay là trong quán ăn. Khoai tây thường được nấu kiểu roast potatoes, bằng cách lột vỏ và cắt làm đôi, sau đó phết dầu, rắt muối và đút lò. Các rau cải được ưa chuộng là cà rốt, đậu hà lan, bắp cải, su lơ, hay bông cải xanh. Thịt cho món ăn này thường là cừu, thịt heo, hay thịt bò, thit thường được cắt mỏng trước khi dùng. Những món ăn kèm quan trọng phổ biến khắp nước Anh là một món từ miền Bắc gọi là Yorkshire-Pudding.
Khoai tây đóng một vai trò quan trọng trong ẩm thực Anh. Nó thường được nấu như Jacket potatoes hay baked potatoes, khoai tây không lột vỏ phết dầu rồi đút lò cho chín, tới khi cái vỏ dòn. Trong các tiệm thường người ta bán các loại khoai tây thiệt lớn, có khi tới 200 gr cho việc nấu khoai kiểu này. Khoai tây chiên (Pommes frites) của Anh thí dụ như trong Fish and Chips chẳng hạn khác hơn khoai tây chiên thường thấy ở lục địa Âu châu về cỡ, hình dạng và độ dòn. Khoai tây nghiền nhừ (mashed potatoes) không chỉ được dùng làm món ăn phụ cho các món cá và thịt nguội (bangers/sausages and mash), nó còn được dùng để nấu các món như cottage pie, cumberland pie, shepherd's pie oder fisherman's pie. Đó là các món, mà thịt bầm, hay cá được cho gia vị, cùng với rau cải sào chín, trước khi người ta cho vào một loại bát mà đút lò không vỡ, rồi dùng khoai tây nghiền che nó, xong đút lò. Cả nước đều ưa chuộng món cừu với khoai tây gọi là Lancashire Hot Pot, cừu được nấu, rồi cắt thành những cục nhỏ, bỏ vào trong một bác có những miếng mỏng khoai tây, được nấu chín trong lò.
== Xem thêm ==
Sunday roast
Fish and chips
Lancashire hotpot
fisherman's pie
== Tham khảo == |
nathaniel hawthorne.txt | Nathaniel Hawthorne (1804–1864) là một nhà văn nổi tiếng người Mỹ, được xem là người mở đầu cho nền "văn học có bản sắc Mỹ".
== Tiểu sử ==
=== Thời niên thiếu ===
Nawathaniel Hawthorne sinh ngày 4 tháng 7 năm 1804 trong một gia đình Thanh giáo (Anh ngữ: Puritanism) ở thị trấn Salem, Massachusetts, Hoa Kỳ. Cha ông là một thuyền trưởng viễn dương, qua đời khi ông mới được 4 tuổi. Ông lớn lên dưới sự chăm sóc của bà mẹ, và hai mẹ con nương tựa vào nhau để an ủi và cảm thông nhau cho đến cuối cuộc đời của bà. Những người nổi tiếng đương thời với ông là Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln, nhà văn và triết gia Henry David Thoreau, nhà văn Edgar Allan Poe...
=== Sự nghiệp ===
Sau khi tốt nghiệp ở Đại học Bowdoin, tiểu bang Maine, vào năm 1824, Nathaniel Hawthorne bắt đầu theo đuổi văn chương cho đến 1836, với những tiểu phẩm lịch sử và tiểu thuyết vô danh gộp dưới tựa đề Fanshawe, đồng thời cũng làm biên tập và nhân viên kiểm hóa của hải quan.
Sự liên hệ ngày càng mật thiết với một nhóm trí thức đã khiến Nathaniel Hawthorne từ bỏ công việc hải quan để tham gia lối sống thử nghiệm không tưởng ở trang trại Brook, một cộng đồng sống theo những nguyên tắc tự lực cánh sinh và triết lý siêu việt (transcendentalism). Đấy là một phong trào thịnh hành trong thế kỷ 19, cổ suý mối liên hệ trực tiếp với thần linh qua cương vị cá nhân, thay cho tôn giáo được tổ chức có cơ cấu theo cộng đồng. Ý tưởng này được thể hiện trong tác phẩm The Scarlet Letter.
Vào năm 1842, sau khi kết hôn, Hawthorne dời về sống ở ngôi nhà được đặt tên là "The Old Manse" tại thị trấn Concord, Massachusetts. Bốn năm sau, ông xuất bản tập tiểu luận và truyện ngắn Mosses from an Old Manse, lập tức được giới văn học chú ý.
Năm 1846, Hawthorne trở lại với công việc kiểm hóa hải quan ở thị trấn bến cảng Salem, giống như nhân vật tự sự trong phần dẫn nhập của truyện The Scarlet Letter. Sau khi bị cho thôi việc do thay đổi đảng cầm quyền, vào năm 1850 ông cho xuất bản The Scarlet Letter, được đón tiếp nồng nhiệt tuy số độc giả thời ấy còn hạn chế. Những tiểu thuyết quan trọng kế tiếp gồm có The House of the Seven Gables (1851), The Blithedale Romance (1852), và The Marble Faun (1860).
Năm 1853, người bạn đồng môn thời đại học của Hawthorne, Franklin Pierce, giờ đã là tổng thống, cử ông vào chức vụ Lãnh sự Hoa Kỳ tại thành phố Liverpool, Anh quốc, trong 4 năm. Kế đến, ông sống ở Ý trong một năm rưỡi.
=== Cuối đời và cái chết ===
Hawthorne trở về nước ít lâu trước khi cuộc Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865) xảy ra, và qua đời ngày 19 tháng 5 năm 1864 tại Plymouth, New Hampshire trong một chuyến đi du lịch. Một số tác phẩm được xuất bản sau khi ông mất, trong đó có tập bút ký của tác giả được vợ ông tổng hợp, sắp xếp lại và cho in.
== Đánh giá ==
Nathaniel Hawthorne đã đóng góp một phần đáng kể vào nền văn học Mỹ, nhờ đó "bản sắc Mỹ" được thể hiện một cách đặc thù, thoát khỏi các quy ước trong nền văn học của những di dân đến Mỹ nhưng vẫn chịu ảnh hưởng từ đất nước họ rời bỏ. Vào đầu thế kỷ 19, nước Hoa Kỳ non trẻ đối diện với một thách thức khó khăn là làm thế nào tạo dựng bản sắc riêng cho văn hóa của mình. Đến thời kỳ của tác giả, Hoa Kỳ càng muốn nỗ lực tự chứng tỏ sự độc lập về văn hóa để bổ túc cho nền độc lập chính trị. Những tác phẩm đầu tay của Hawthorne đã trình bày mối quan tâm đến những vấn đề đặc thù của đất nước Hoa kỳ thời bấy giờ qua văn phong mới mẻ. Tính phổ cập và tinh tế trong kịch tính của các tác phẩm đã giúp tác giả có một vị trí vững chắc trong nền văn học Hoa Kỳ.
Với một khía nhìn tâm lý học hiện đại, Nathaniel Hawthorne đã đào sâu vào những động lực bí ẩn trong hành vi của con người, và những ý thức sai trái cùng khắc khoải mà ông tin là phát xuất từ tội lỗi phi nhân bản, đặc biệt là tội lỗi do định kiến của xã hội và tôn giáo gán ghép. Trong những suy ngẫm về tội lỗi, ông hướng theo truyền thống của Thanh giáo; nhưng trong quan niệm của ông về hệ lụy của tội lỗi, hoặc là hình phạt do thiếu nhân ái nhưng lại thừa định kiến, hoặc là sự phục hồi do lòng nhân ái và cứu rỗi, ông đã tách xa khỏi những điều mặc định của tổ tiên mình. Trong bối cảnh giáo hội luôn xen lấn nhiều vào công quyền, nhất là trong những phán xử pháp chế, việc này đã tạo cho ông tinh thần khoáng đãng để dựng nên bối cảnh và động thái của các nhân vật nhằm thể hiện một cách biểu trưng những đam mê, cảm xúc và day dứt trong tâm tư các nhân vật này, đồng thời vẽ nên "sự thật của con tim nhân loại" mà ông tin rằng bị ẩn khuất trong cuộc sống trần tục hàng ngày.
Được một số tác giả tôn vinh là "Shakespeare của Mỹ", Nathaniel Hawthorne là một trong những nhà văn Mỹ được tìm đọc nhiều nhất và được ưa thích nhất.
== Tác phẩm ==
=== Tiểu thuyết ===
Fanshawe (xuất bản khuyết danh, 1828)
Grandfather's Chair (1840)
The Scarlet Letter (1850)
Ngôi nhà có bảy đầu hồi (1851)
The Blithedale Romance (1852)
The Marble Faun (1860)
The Dolliver Romance (1863)
Septimius Felton; or, the Elixir of Life (1872)
Doctor Grimshawe's Secret: A romance (1882)
== Tập truyện ngắn= ==
Twice-Told Tales (1837)
Mosses from an Old Manse (1846)
The Snow-Image, and Other Twice-Told Tales (1852)
A Wonder-Book for Girls and Boys (1852)
Tanglewood Tales (1853)
The Dolliver Romance and Other Pieces (1876)
The Great Stone Face and Other Tales of the White Mountains (1889)
The Celestial Railroad and Other Short Stories
=== Truyện ngắn ===
My Kinsman, Major Molineux (1832)
Young Goodman Brown 1835
The Gray Champion (1835)
The White Old Maid (1835)
The Ambitious Guest (1835)
The Minister's Black Veil (1836)
The Man of Adamant (1837)
The Maypole of Merry Mount (1837)
The Great Carbuncle (1837)
Dr. Heidegger's Experiment (1837)
The Birth-Mark (1843)
Egotism; or, The Bosom-Serpent (1843)
The Artist of the Beautiful (1844)
Rappaccini's Daughter (1844)
P.'s Correspondence (1845)
Ethan Brand (1850)
Feathertop (1854)
== Xem thêm ==
Văn học Gothic
== Chú thích ==
== Nguồn ==
Cheever, Susan (2006). American Bloomsbury: Louisa May Alcott, Ralph Waldo Emerson, Margaret Fuller, Nathaniel Hawthorne, and Henry David Thoreau; Their Lives, Their Loves, Their Work. Detroit: Thorndike Press. Large print edition. ISBN 0-7862-9521-X.
McFarland, Philip (2004). Hawthorne in Concord. New York: Grove Press. ISBN 0-8021-1776-7.
Mellow, James R (1980). Nathaniel Hawthorne in His Times. Boston: Houghton Mifflin Company. ISBN 0-365-27602-0.
Miller, Edwin Haviland (1991). Salem Is My Dwelling Place: A Life of Nathaniel Hawthorne. Iowa City: University of Iowa Press. ISBN 0-87745-332-2.
Porte, Joel (1969). The Romance in America: Studies in Cooper, Poe, Hawthorne, Melville, and James. Middletown, Conn.: Wesleyan University Press.
== Liên kết ngoài ==
Hawthorne Community Association and boyhood home in Raymond, Maine
The Wayside in Concord, Massachusetts
The House of the Seven Gables in Salem, Massachusetts
Eldred's Hawthorne site at Eldritch Press
Legends of the Province House and Other Twice Told Tales, text and images
Các tác phẩm của Nathaniel Hawthorne tại Dự án Gutenberg
The Hawthorne in Salem Website
Herman Melville's appreciation, "Hawthorne and His Mosses" (1851)
Henry James's book-length study, Hawthorne (1879)
Second copy at Project Gutenberg
WBUR's celebration of Nathaniel Hawthorne at 200
Hawthorne Family Papers, ca. 1825-1929(1.5 linear ft.) are housed in the Department of Special Collections and University Archives at Stanford University Libraries |
scotland.txt | Scotland (phát âm tiếng Anh: /ˈskɒt.lənd/, phiên âm: Xcốt-len, hay còn được gọi là Ê-cốt, từ tiếng Pháp: Écosse), tiếng Gael Scotland: Alba [ˈal̪ˠapə], phiên âm Hán-Việt: Tô Cách Lan) là một quốc gia thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Scotland chiếm một phần ba diện tích phía bắc của đảo Anh, có biên giới với Anh ở phía nam, Đại Tây Dương bao quanh các mặt còn lại: trong đó biển Bắc ở phía đông, và eo biển Bắc cùng biển Ireland ở phía tây-nam. Ngoài phần đại lục trên đảo Anh, quốc gia còn có hơn 790 đảo, trong đó có quần đảo Phương Bắc và Hebrides.
Edinburgh là thủ đô và thành phố lớn thứ nhì của Scotland, và là trung tâm của vận động Khai sáng Scotland trong thế kỷ 18, cuộc vận động biến đổi Scotland thành một trong các cường quốc thương nghiệp, tri thức, và công nghiệp của châu Âu. Glasgow là thành phố lớn nhất của Scotland, một thời từng là một trong các thành thị công nghiệp hàng đầu thế giới và hiện là trung tâm của vùng đô thị Đại Glasgow. Vùng biển của Scotland gồm một khu vực lớn trên Bắc Đại Tây Dương và biển Bắc, có các trữ lượng dầu thô lớn nhất trong Liên minh châu Âu. Điều này giúp cho thành phố lớn thứ ba của Scotland là Aberdeen được nhận danh hiệu là thủ đô dầu thô châu Âu.
Trong Sơ kỳ Trung Cổ, Vương quốc Scotland xuất hiện với vị thế một quốc gia độc lập có chủ quyền. Sau khi Quốc vương James VI của Scotland kế vị vương vị của Anh và Ireland vào năm 1603, Scotland tham gia một liên minh cá nhân với hai vương quốc này. Đến ngày 1 tháng 5 năm 1707, Scotland tham gia một liên minh chính trị với Anh để hình thành một Vương quốc Đại Anh. Liên minh này là kết quả từ Hiệp ước Liên hiệp được thỏa thuận vào năm 1706 và được ban hành theo hai Đạo luật Liên hiệp được Nghị viện của hai quốc gia thông qua, bất chấp phản đối đại chúng và những vụ bạo động chống liên hiệp tại Edinburgh, Glasgow, và các nơi khác. Đại Anh sau đó tham gia một liên minh chính trị với Ireland vào ngày 1 tháng 1 năm 1801 để hình thành Vương quốc Liên hiệp Đại Anh và Ireland.
Hệ thống tư pháp của Scotland vẫn tách biệt với các hệ thống tư pháp của Anh và Wales hay Bắc Ireland, và Scotland thiết lập các quyền hạn riêng biệt trong pháp luật công cộng và cá nhân. Việc tiếp tục tồn tại những thể chế tư pháp, giáo dục và tôn giáo riêng biệt với phần còn lại của Vương quốc Liên hiệp góp phần cho sự liên tục của văn hóa Scotland và bản sắc dân tộc kể từ khi Liên hiệp vào năm 1707. Sau một cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1997, Nghị viện Scotland được tái triệu tập vào năm 1999, có quyền lực trên nhiều lĩnh vực nội vụ. Đến tháng 5 năm 2011, Đảng Dân tộc Scotland giành đa số quá bán trong Nghị viện Scotland. Sau đó, một cuộc trưng cầu dân ý được dự tính tổ chức vào ngày 18 tháng 9 năm 2014. Scotland có đại diện trong Liên minh châu Âu và được phân sáu ghế trong Nghị viện châu Âu.
== Từ nguyên ==
"Scotland" bắt nguồn từ Scoti, cách gọi trong tiếng Latinh cho người Gael, như trong các tác phẩm của Bêđa Khả kính. Thuật từ Latinh hậu kỳ Scotia ("vùng đất của Gaels") ban đầu được dùng để đề cập tới Ireland. Muộn nhất là vào thế kỷ 11, Scotia được dùng để chỉ vùng đất phía bắc sông Forth (nói tiếng Gael) của Scotland, cùng với Albania hay Albany, xuất phát từ Alba trong tiếng Gael. Việc dùng các từ ngữ Scots (người Scot) và Scotland để bao hàm cả Scotland như ngày nay đã trở nên phổ biến vào thời hậu kỳ trung đại.
== Lịch sử ==
=== Lịch sử sơ khai ===
Trước thời đại đồ đá giữa, Scotland liên tục bị băng tuyết bao phủ và phá hủy các dấu vết cư ngụ của người sơ khai. Khu định cư đầu tiên của dân Scot là vào khoảng năm 8500 TCN, được phát hiện ở Cramond, gần Edinburgh.
Một di chỉ thuộc niên đại thời Đá mới là trang trại còn nguyên vẹn được khai quật ở Knap of Howar thuộc Orkney. Ngôi nhà cổ có từ khoảng năm 3500 TCN, được xem là ngôi nhà cổ nhất tại Scotland mà đến nay vẫn còn vững chãi. Một di chỉ khác gồm một ngôi làng thuộc niên đại thời Đá mới tìm thấy gần làng Skara Brae, trên đảo chính của Orkney. Ngoài ra di tích của cư dân thời cổ đại gồm có các khu mộ và linh địa rải rác khắp các đảo Bắc và Tây như Callanish ở Lewis, Maeshowe và Ring of Brodgar ở Orkney. Tại miền nam Orkney, người ta phát hiện nhà crannog, một kiểu nhà ở phổ biến xây dựng trên đảo từ rất xưa.
Sau thế kỷ 8 trước công nguyên, văn hoá và ngôn ngữ Brythonic Celtic đã đến Scotland. Thời đồ sắt mang đến vô số các pháo đài trên đồi, các nhà đá tháp tròn, nhà cất trên đảo kiểu Scotland và những khu định cư được phòng thủ, được người La Mã ghi lại sau này.
=== Ảnh hưởng của La Mã ===
Lịch sử Scotland được ghi chép kể từ khi Đế quốc La Mã xâm lấn. Người La Mã chiếm cứ những nơi mà ngày nay là nước Anh và xứ Wales. Nhiều vùng ở miền nam Scotland cũng bị La Mã kiểm soát nhiều lần ngắn ngủi. Nhà sử học, Tacitus, gọi bắc Scotland Caledonia. Tên gọi này lấy ra từ tên gọi những bộ lạc Pictish trong vùng Caledonii.
=== Trung đại ===
Pictland bị cai trị bởi tiểu vương Pictish xứ Fortriu. Dân Gaels xứ Dál Riata đến sinh sống ở Argyll. Theo truyền thuyết, lá cờ có hình chéo Scottish Saltire được vua Óengus II xứ Fortriu chọn vào năm 832 sau chiến thắng chống vương quốc Northumbrians ở Athelstaneford. Vào năm 843 Cináed mac Ailpín (vua Kenneth Macalpine) từ Dál Riata, thống nhất vương quốc Scotland khi ông trở thành vua dân Picts và Scots.
Vào thế kỷ 10 và 11, vương quốc Scotland có mối quan hệ gần như tốt đẹp với các lãnh chúa Wessex xứ Anh. Thời kỳ này được đánh dấu bởi sự chia rẽ nội bộ vương triều rất lớn, mặc dầu vậy, Scotland cũng thực hiện được những chính sách bành trướng thành công tương đối. Vua Edmund của Anh đã trao Vương quốc Strathclyde cho vua Malcolm I của Scotland sau khi Edmund xâm lược và giành được vào năm 945. Vào khoảng năm 960 và vào thời vua Indulf, người Scots chiếm được thành Eden, nay gọi là Edinburgh. Thời Malcolm II các lãnh thổ này bị sát nhập gần như hoàn toàn. Một năm then chốt là vào năm 1018, khi Malcolm II đánh bại vương quốc Northumbria trong trận đánh Carham.
Người Norman thu phục nước Anh vào năm 1066 khởi sự cho một loạt các sự kiện làm cho vương quốc Scotland bắt đầu từ từ xa lìa nguồn văn hoá Gaelic của họ. Malcolm III của Scotland cưới Margaret, em gái của Edgar Ætheling, một trong số những người tranh ngôi vua nước Anh bị lật đổ. Margaret đóng vai trò chính yếu trong việc hạn chế ảnh hưởng Kitô giáo Celtic. Scotland chịu ảnh hưởng một phần "sự thu phục của Norman" khi con trai út của Margaret là David I của Scotland lên ngôi vua. David I đã trở thành một chúa tể Anglo-Norman quan trọng. Ông là người đem chế độ phong kiến vào Scotland. Ông khuyến khích dòng người di cư ồ ạt từ các nước có địa hình thấp đến các khu định cư vừa mới thành lập để tăng cường liên hệ thương mại với lục địa châu  và vùng Scandinavia. Vào cuối thế kỷ 13, rất nhiều gia đình dân Norman và Anglo-Norman được ban cấp đất của Scotland. Buổi họp đầu tiên của quốc hội Scotland được triệu tập trong thời kỳ này.
Edward I, vua nước Anh, được mời phân xử việc tranh giành ngôi vua bỏ trống của Scotland sau cái chết của Margaret, Maid of Norway vào năm 1290. Bà là người thứa kế trực tiếp và sau cùng của Alexander III của Scotland. Edward I lợi dụng tình trạng chia rẽ chính trị tại Scotland để trục lợi về mình. Người Scots nổi dậy chống lại người Anh dưới sự lãnh đạo của William Wallace và Andrew de Moray. Thời kỳ này được biết như là chiến tranh giành độc lập đầu tiên của Scotland. Vào ngày 23 tháng 5 năm 1306, Robert the Bruce được phong vương, gọi là vua Robert I. Ông giành thắng lợi quyết định trước nước Anh tại trận Bannockburn năm 1314. Tuy nhiên, chiến tranh lại tiếp diễn sau khi Robert I mất. Thời kỳ này là chiến tranh giành độc lập lần thứ hai của Scotland từ năm 1332 đến 1357. Tình hình ở Scotland bắt đầu ổn định vào thờiĐế chế Stewart.
Năm 1542 James V của Scotland mất để lại duy nhất một con nhỏ là Mary I thừa kế ngôi vàng. Mary chỉ được 6 ngày tuổi khi vua cha mất và lên ngôi lúc 9 tháng tuổi. Scotland được cai trị bởi quan nhiếp chính trong lúc Mary lớn lên. Thời kỳ này được biết như là thời The Rough Wooing, John Knox và Phục hưng Scotland. Chiến tranh triền miên với Anh, bất ổn chính trị và những thay đổi về tôn giáo ngự trị suốt cuối thế kỷ 16. Vào ngày 24 tháng 7 năm 1567, Mary bị ép nhường ngôi cho con trai mới 1 tuổi là James VI.
=== Cận đại ===
Năm 1603, James VI của Scotland kế vị Elizabeth I của Anh để trở thành vua James I của Anh. Trừ một khoảng thời gian ngắn dưới chế độ bảo hộ, Scotland là một nước độc lập. Có tranh chấp đáng kể giữa hoàng gia và các tín hữu Trưởng Lão về việc xác lập thể chế giáo hội. Sau cuộc cách mạng Glorious khi William và Mary (theo Kháng Cách) lật đổ James VII (ủng hộ Công giáo La Mã), Scotland dọa sẽ tôn một quân vương là người Kháng Cách đến từ nước Anh. Tuy nhiên, đến năm 1707, sau khi Anh đe dọa chấm dứt buôn bán và cấm thông hành qua biên giới, Quốc hội Scotland và Quốc hội Anh ra hai đạo luật giống nhau gọi là Đạo luật Liên hiệp để hợp nhất hai vương quốc thành Vương quốc Anh mới.
Những người đòi quyền thừa kế ngôi vua bị lật đổ Jacobite Stuart vẫn còn ảnh hưởng ở các vùng cao nguyên và đông bắc, đặc biệt là giữa những người theo Giáo hội Trưởng Lão. Hai cuộc nổi loạn Jacobite chính xuất phát từ vùng cao nguyên Scotland vào năm 1715 và 1745. Cuộc nổi loạn sau được lãnh đạo bởi Bonnie hoàng tử Charlie. Nó lên đến cao điểm bằng sự bại trận của những người Jacobites tại trận Culloden 16 tháng 4 năm 1746.
Suốt thời kỳ khai sáng của Scotland và cách mạng công nghệ, Scotland trở thành một trong những trung tâm công nghệ, trí tuệ và mậu dịch của châu Âu. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Scotland trải qua thời kỳ tụt hậu về công nghệ.
== Chính trị ==
Là một trong các quốc gia đồng sáng lập Vương quốc Liên hiệp Anh, quốc trưởng của Scotland là Vua nước Anh, hiện thời là Nữ hoàng Elizabeth II (kể từ năm 1952). Theo hiến pháp thì vương quốc liên hiệp Anh là một quốc gia nhất thể có chủ quyền, chính quyền và quốc hội. Theo một thể thức phân quyền (hay tự trị) được áp dụng sau các cuộc trưng cầu dân ý về phân quyền ở Scotland và xứ Wales vào 1997, hầu hết các quốc gia đồng sáng lập trong Vương quốc Liên hiệp được trao quyền tự trị giới hạn, trừ nước Anh. Quốc hội liên hiệp Anh ở Westminster giữ quyền khả dĩ tu chính, sửa đổi, nới rộng, hay giải tán các hệ thống chính quyền tự trị khi thấy cần thiết. Vì lẽ đó quốc hội Scotland là quốc hội không có chủ quyền. Tuy nhiên quốc hội liên hiệp Anh sẽ không đơn phương giải tán một quốc hội hay chính quyền tự trị mà không hỏi ý dân bằng một cuộc trưng cầu dân ý ở quốc gia thành viên của liên hiệp.
Dưới thể thức phân quyền, quyền hành pháp và lập pháp ở một số nơi theo hiến pháp nằm trong tay hành pháp và lập pháp Scotland ở Holyrood, Edinburgh. Quốc hội liên hiệp Anh nắm quyền chủ động về thuế của Scotland, hệ thống an sinh xã hội, quân đội, quan hệ đối ngoại, phát thanh, và các lãnh vực khác có ghi trong đạo luật Scotland 1998. Quốc hội Scotland có quyền hành pháp với những lãnh vực liên quan đến Scotland, và có quyền hành hạn chế về thay đổi thuế thu nhập nhưng ít khi sử dụng quyền hạn này.
Quốc hội Scotland là ngành lập pháp độc viện có 129 đại biểu. Được bầu lần đầu tiên vào ngày 6 tháng 5 năm 1999 với nhiệm kỳ 4 năm. Nữ hoàng bổ nhiệm một thành viên trong quốc hội làm Thủ hiến Scotland và nữ hoàng cũng bổ nhiệm các bộ trưởng khác theo chỉ định của quốc hội.
Scotland có 59 đại biểu ở Hạ viện Liên hiệp Anh, được bầu theo thể thức cử tri đoàn từ lãnh thổ Scotland. Văn phòng đặc trách Scotland, một bộ của chính quyền Liên hiệp Anh được lãnh đạo bởi Bộ Ngoại vụ Scotland, có trách nhiệm về những vấn đề cần bàn với chính quyền liên hiệp (reserved matters). Bộ trưởng Ngoại vụ Scotland là thành viên Nội các Anh. Và trước khi có chính sách phân quyền, Bộ trưởng Ngoại vụ Scotland là người lãnh đạo hệ thống chính quyền tại Scotland. Bộ trưởng Ngoại vụ Scotland đương chức là Douglas Alexander.
== Đòi độc lập ==
Trong Lịch sử, người dân Scotland đã nhiều lần thể hiện các động thái đòi tách khỏi Liên hiệp với Anh để trở thành một nhà nước độc lập. Gần đây nhất là vào đêm 21-09-2013, hàng ngàn người dân Scotland đã tuần hành hòa bình trên các đường phố tại thủ phủ Edinburgh, vận động các chính khách và dân chúng toàn quốc bỏ phiếu thuận để Scotland tách khỏi Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thành một quốc gia độc lập. Dự kiến cuộc trưng cầu ý dân đã được tổ chức vào ngày 18-9-2014. Để chuẩn bị cho sự kiện này, các tổ chức, đảng phái đã tổ chức biểu tình.
Khoảng 8.000 người đã tham gia tuần hành trong ngày 21-9. 30.000 người tham gia những hoạt động quanh sự kiện này. Alex Salmond - thủ hiến đầu tiên của Scotland - cũng tham dự cuộc tuần hành. Trả lời giới truyền thông, ông cho biết: "Nếu Scotland độc lập, đó là chiến thắng của nhân dân, điều đó có nghĩa tương lai của Scotland được quyết định bởi những người đang sinh sống và làm việc tại đây, không phải từ London".
Từ lâu Scotland đã muốn tách khỏi Anh để độc lập trong việc quyết định tương lai. Nếu thành một quốc gia độc lập, Scotland có thể trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc và Liên minh châu Âu (EU).
== Luật pháp ==
Luật Scotland căn bản dựa vào luật La Mã kết hợp điểm đặt trưng của cả luật dân sự có nguồn gốc từ thời Justinian I (hoàng đế Byzantine), và luật phổ thông có nguồn gốc thời trung đại. Thuật ngữ hiệp ước liên hiệp với Anh năm 1707, bảo đảm sự tồn tại liên tục 1 hệ thống pháp lý riêng của Scotland, khác với Anh và Wales. Trước năm 1611, có nhiều vùng ở Scotland có hệ thống pháp lý riêng.
Luật Scotland cung ứng ba loại toà án đặt trách điều hành tư pháp tại Scotland: luật dân sự, luật hình sự và luật quy định về phù hiệu (heraldry). Toà án tối cao dân sự còn gọi là Court of Session, dầu vậy những kháng án dân sự đều được thụ lý tại thượng viện (House of Lords) ở London. Toà thượng thẩm hình sự là toà án tối cao đặt trách xét xử tội phạm. Cả hai toà án đóng bên trong toà nhà quốc hội ở Edinburgh mà trước khi liên hiệp với Anh là toà quốc hội Scotland. Toà án địa hạt (sheriff court) là toà án dân sự và hình sự chính. Có 49 toà án địa hạt khắp lãnh thổ Scotland. Toà án địa khu (district court) được giới thiệu vào năm 1975 xử những vi phạm nhỏ. Toà án Lord Lyon quy định những gì có liên quan đến thiết kế, sản xuất, trình bày các phù hiệu tại Scotland.
== Phân khu hành chính ==
Những phân khu của Scotland trong lịch sử gồm có mormaerdom, stewartry, lãnh địa (earldom), thị trấn (burgh), xã (parish), huyện hay địa hạt (counties), vùng (regions) và quận (dictricts). Tên của các phân khu vẫn còn dùng ngày nay để chỉ các địa danh.
Scotland cận đại được phân chia theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo mục đích khác nhau. Về chính quyền địa phương, có tất cả là 32 vùng hội đồng (council areas) thành lập vào năm 1996 được điều hành bởi 32 thẩm quyền nhất thể (unitary authorities) phụ trách tất cả những dịch vụ của chính quyền địa phương bao gồm giáo dục, xã hội, môi trường và đường sá. Một vài vùng hội đồng lớn còn được phân chia thành những vùng uỷ ban (committee areas). Ngoài ra có nơi còn có hội đồng cộng đồng (community council) là một tổ chức không chính thức đại diện những phân khu nhỏ của một vùng hội đồng.
Về nghi thức hoàng gia thì Scotland được phân chia thành 35 vùng phụ (lieutenancy areas) mà nữ hoàng là người bổ nhiệm các người đại diện cho mình gọi là Lord Lieutenant (trừ các nơi như Glasgow, Edinburgh, Dundee và Aberdeen được bầu một cách dân chủ). Về điều hành tư pháp Scotland được chia ra thành 6 vùng gọi là sheriffdoms. Về quốc hội Scotland, có 8 vùng và được chia thành 73 tiểu vùng hay còn được gọi là cử tri vùng (constituencies). Về quốc hội vương quốc liên hiệp, có tất cả 59 cử tri vùng. Các đội cứu hoả và lực lượng cảnh sát vẫn còn hoạt động theo thể thức vùng được giới thiệu vào năm 1975. Về chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ bưu điện và những dịch vụ khác, Scotland lại được phân chia theo nhiều cách khác nhau. Các tổ chức vô chính phủ, đặc biệt là tôn giáo có những phương cách từ lâu phân chia Scotland cho mục đích hành chính riêng của họ
Có 6 thành phố tại Scotland: Aberdeen, Dundee, Edinburgh, Glasgow, Inverness, và Stirling.
== Địa lý ==
Scotland bao gồm một phần ba phía bắc đảo Anh, ngoài khơi về phía tây bắc Châu Âu. Tổng diện tích khoảng 78.772 kilômét vuông (30.414 mi²). Đường biên giới duy nhất trên đất liền của Scotland là với nước Anh, dài 96 kilômét (60 dặm) chạy từ sông Tweed trên bờ Đông đến vịnh Solway bên bờ Tây. Đảo Ireland nằm khoảng 30 km (20 dặm) ngoài khơi về phía nam của cực phía Tây Scotland, Thụy Điển nằm khoảng 400 km (250 dặm) về phía đông bắc, Faroes và Iceland ở phía Bắc của Scotland. Scotland nằm giữa Đại Tây Dương và Biển Bắc.
Lãnh thổ của Scotland được xác định bởi Hiệp ước York (ký năm 1237 giữa Scotland và Anh) và Hiệp ước Perth (ký năm 1266 giữa Scotland và Thụy Điển). Những phần lãnh thổ khác được định đoạt như sau:
Đảo Man, là lãnh thổ trực thuộc Vương quốc Anh, nằm ngoài nước Anh
Orkney và Shetland và Berwick-on-Tweed, được quy định chịu sự quản lý của luật pháp Anh theo Luật Wales và Berwic năm 1746
Rockall được sát nhập vào Vương quốc Anh năm 1972 và trờ thành một phần của Đảo Harris thuộc Scotland, vùng này vẫn đang chịu tranh chấp giữa Ireland, Iceland và Đan Mạch. Vì cả Vương quốc Anh (1997) và Ireland (1996) đã phê chuẩn United Nations Convention on the Law of the Sea, hiệp ước này không coi Rockall là đất thuộc quyền quản lý của một quốc gia nào dù cả Anh và Ireland đều cho rằng nó thuộc lãnh thổ của mình.
Scotland được tại thành bởi một phần đất liền và vài quần đảo. Phần đất liền có thể chia thành 3 miền: Cao nguyên Scotland ở phía bắc, Vành đai trung tâm (Central Belt) và Miền đất cao (Southern Uplands) về phía nam. Vùng cao nguyên chủ yếu là núi bị cắt ngang bởi thung lũng lớn (Great Glen). Những đỉnh núi cao nhất trên đảo Anh đều nằm ở đây trong đó có đỉnh Ben Nevis cao nhất, cao 1 344 mét (4.409 bộ). Những ngọn núi cao hơn 914 mét (3 000 bộ) gọi là Munros. Vành đai trung tâm của Scotland hầu hết có địa hình bằng phẳng và là nơi tập trung hầu hết dân cư của Scotland. Vành đai trung tâm lại đưo57c chia thành bờ Tây (gồm vùng lân cận Glasgow) và bờ Đông (gồm vúng lân cận thủ phủ Edinburgh). Miền đất cao phía nam là một rặng núi đồi dài khoảng 200 km (125 dặm), chạy từ Stranraer (gần biển Ireland) tới Đông Lothian thuộc Biển Bắc.
Scotland có hơn 790 hòn đảo, được chia thành 4 nhóm chính: quần đảo Shetland, quần đảo Orkney, riêng quần đảo Hebrides lại được chia thành quần đảo Hebrides trong và quần đảo Hebrides ngoài. Vịnh Clyde và Vịnh Forth cũng có nhiều đảo. St. Kilda là đảo xa nhất trong số những đảo có thể ở được của Scotland cách đất liền 160 km (100 dặm). Hầu như bất kể lớn nhỏ, tất cả các đảo quanh Scotland đều từng có người ở; điều này đã được chứng minh bằng các di tích khảo cổ học và chứng từ còn sót lại. Nói chung, chỉ có những đảo thuận tiện cho việc đi lại và đủ lớn là có người ở (mặc dù có vài ngoại lệ). Việc di chuyển giữa các đảo ở miền Bắc và miền Tây đã dần dễ dàng hơn nhờ việc xây cầu và đường ngầm (như Churchill Barriers), chúng đã được xây với mục đích chiến lược phục vụ cho Chiến tranh thế giới thứ hai, nối vài hòn đảo nhỏ ở phía đông Scapa Flow thuộc Orkney. Đã có kế hoạch (dù còn đang vấp phải sự tranh cãi) xây dựng thêm cầu nối giữa các đảo.
== Khí hậu ==
Scotland có khí hậu ôn hoà và mang tính đại dương, có chiều hướng thay đổi nhanh, ấm áp nhờ dòng biển nóng từ Đại Tây Dương. Khí hậu ấm áp hơn nhiều so với những vùng có cùng vĩ độ tương tựa, thí dụ như Oslo, Na Uy. Tuy nhiên, nhiệt độ thường thì thấp hơn những nơi khác của Vương quốc liên hiệp Anh. Nhiệt độ lạnh nhất chưa từng thấy là -27.2°C (-16.96°F) được ghi nhận ở Braemar thuộc vùng núi Grampian, ngày 11 tháng 2 năn 1895 và ngày 10 tháng 1 năm 1982. Nhiệt độ mùa đông trung bình cao nhất là 6 °C (42.8 °F) ở vùng đất thấp, và nhiệt độ mùa hè trung bình cao nhất là 18 °C (64.4 °F). Nhiệt độ cao nhất được ghi nhận là 32.9 °C (91.22 °F) ở Greycrook, vào ngày 9 tháng 8 năm 2003.
Nói chung thì miền tây Scotland ấm hơn miền đông nhờ ảnh hưởng trực tiếp của các dòng biển nóng Đại tây dương và nhiệt độ bề mặt lạnh hơn của biển Bắc. Tiree, vùng Inner Hebrides, là nơi có nắng nhiều nhất đất nước: 300 ngày nắng vào năm 1975. Mưa rơi không đều đặn khắp nởi trên Scotland. Cao nguyên phía tây Scotland là nơi ẩm ướt nhất, lượng mưa hàng năm vượt 3.000 mm (120 in). So với nhiều vùng thấp của Scotland hàng năm chỉ được ít hơn 800 mm (31 inches). Tuyết rơi nhiều không phổ biến ở vùng đất thấp, mà càng phổ biến ở cao độ. Braemar trung bình có đến 59 ngày tuyết rơi hàng năm.
== Kinh tế ==
Kinh tế Scotland liên quan mật thiết với kinh tế của các nước châu Âu và rộng hơn là kinh tế tây phương, đặt nặng về xuất khẩu. Về bản chất là nền kinh tế thị trường chịu một vài chi phối của chính phủ. Sau Cách mạng Công nghiệp, kinh tế tập trung vào công nghiệp nặng chủ yếu là đóng tàu, khai thác than, luyện kim. Scotland là một bộ phận không tách rời của Đế chế Anh đã giúp Scotland xuất khẩu hàng hoá của mình đi khắp thế giới.
Tuy nhiên công nghiệp nặng xuống dốc vào cuối thế kỷ 20 dẫn đến sự chuyển đổi lớn kinh tế Scotland sang nền kinh tế vựa vào kỹ thuật và cung ứng dịch vụ. Năm 1980 chứng kiến sự bùng nổ kinh tế tại khu hành lang kỹ thuật cao Silicon Glen giữa Glasgow và Edinburgh, có rất nhiều hãng kỹ thuật lớn dời về Scotland. Sự tìm ra dầu mỏ Biển Bắc vào năm 1970 cũng giúp chuyển tiếp nền kinh tế Scotland.
Edinburgh là trung tâm phục vụ tài chính của Scotland và là trung tâm tài chính lớn thứ 6 tại châu Âu, với nhiều công ty tài chính lớn đặt trụ sở tại đó, gồm có: Ngân hàng hoàng gia Scotland (ngân hàng lớn thứ nhì châu Âu); HBOS (là chủ của Ngân hàng Scotland); và Ngân hàng Standard Life.
Glasgow là hải cảng hàng đầu của Scotland và là trung tâm sản xuất lớn thứ tư tại Vương quốc Liên hiệp chiếm trên 60% hàng chế xuất khẩu của Scotland. Kỹ nghệ đóng tàu mặt dầu đình trệ đáng kể so với thời đỉnh cao vào đầu thế kỷ 20 vẫn tạo được phần lớn nền tảng sản xuất của thành phố. Thành phố cũng có khu bán lẽ và thương mại có tầm quan trọng kinh tế nhất và lớn nhất Scotland. Glasgow cũng là một trong 20 trung tâm tài chính đứng đầu của châu Âu và là nhà của nhiều công ty hàng đầu của Vương quốc Liên hiệp Anh.
Aberdeen, đôi khi được xem như là thủ đô dầu hoả của châu Âu, là trung tâm của công nghệ dầu mỏ Biển Bắc. Những ngành công nghệ quan trọng khác bao gồm sản xuất vải sợi, hoá chất, chưng cất, nấu rượu bia, đánh cá và du lịch.
Chỉ khoảng một phần tư đất đai được canh tác (chính yếu là ngũ cốc và rau cải), nhưng chăn nuôi cừu (trừu) thì quan trọng ở những vùng đảo và cao nguyên khó trồng trọt. Đa số đất đai tập trung vào một số ít người. Vì vậy vào năm 2003, Quốc hội Scotland thông qua luật cải cách đất đai cho phép nông dân mướn đất và cộng đồng địa phương quyền mua đất cho dù chủ đất không muốn bán.
Năm 2004, tổng sản lượng xuất khẩu của Scotland (không tính mua bán trong vương quốc liên hiệp Anh) được ước tính là khoảng £16.7 tỉ, trong đó 73% (£12.19 tỉ) là đóng góp của hàng sản xuất. Sản phẩm xuất khẩu lớn nhất của Scotland là rượu whisky, điện tử và dịch vụ tài chính. Bạn hàng lớn nhất là Hoa kỳ, Đức, và Hà Lan.
Năm 2002, tổng sản lượng nội địa của Scotland là trên £74 tỉ ($130 tỉ), qui ra đầu người là £14.651 ($25.546).
Mặt dù Ngân hàng Anh là ngân hàng trung ương của vương quốc liên hiệp Anh, ba ngân hàng của Scotland vẫn còn phát hành giấy bạc đồng Sterling của chính họ: Ngân hàng Scotland; Ngân hàng hoàng gia Scotland; và Ngân hàng Clydesdale. Những giấy bạc này chỉ có giá trị mua bán ở Anh, xứ Wales, hay bắc Ireland, và có mệnh giá tương đương với giấy bạc của Ngân hàng Anh nhưng không có giá trị mua bán ở ngoài Vương quốc Anh.
== Quân sự ==
Mặc dù Scotland có truyền thống quân sự lâu đời có từ trước đạo luật liên hiệp với Anh, quân đội hiện thời là một phần của quân đội Liên hiệp Anh. Năm 2006, các trung đoàn thuộc sư đoàn Scotland được hợp nhất thành trung đoàn hoàng gia Scotland.
Nhờ vào địa hình và sự xa xôi hiểm trở, nhiều nơi của Scotland là nhà của các cơ sở quốc phòng bảo mật gây nhiều phản ứng khác nhau của công chúng. Giữa năm 1960 và 1991, Holy Loch là căn cứ của hạm đội tàu ngầm mang hỏa tiễn liên lục địa Sao bắc cực Mỹ. Ngày nay, căn cứ hải quân nữ hoàng Clyde, cách Glasgow 25 mi (40 km) về phía tây, là căn cứ cho 4 tàu ngầm lớp Vanguard được trang bị hoả tiễn liên lục địa Trident. Tàu chiến HMS Caledonia ở Rosyth, Fife được dùng như là căn cứ tiếp tế cho các hoạt động hải quân ở Scotland và cũng như là văn phòng vùng của hải quân ở Scotland và bắc Ireland. Cơ sở phát triển lò phản ứng hạt nhân của hải quân hoàng gia đặt tại Dounreay, và cũng là nơi dành cho chương trình phát triển lò phản ứng nhiệt hạch của Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland. Tàu chiến HMS Gannet là trạm tìm kiếm và cứu cấp có căn cứ ở phi trường Prestwick, Ayrshire sử dụng 3 trực thăng Seaking Mk 5. Tàu RM Condor ở Arbroath, Angus là nhà của lực lượng đặc công 45, thuộc thủy quân lục chiến hoàng gia.
Hiện tại Scotland có đến 3 căn cứ không quân hoàng gia quan trọng: Không quân hoàng gia Lossiemouth cho máy bay tiêm kích Panavia Tornado, Không quân hoàng gia Kinloss là căn cứ của máy bay tuần tra lãnh hải Nimrod và cuối cùng là Không quân hoàng gia Leuchars là căn cứ không quân phòng không viển bắc tại Vương quốc liên hiệp. Vùng bầu trời mở để thử nghiệm bắn đạn thật vũ khí hạch tâm yếu (depleted uranium) duy nhất trên các Đảo Anh (British Isles) là ở gần Dundrennan. Kết quả là trên 7000 đạn dược có phóng xạ nằn dưới đáy biển Solway Firth. Điều này gây nhiều lo ngại về môi trường. Số lượng nhiều các căn cứ quân sự ở Scotland khiến nhiều người gọi Scotland bằng thuật ngữ pháo đài. Năm 2004, số đất đai sử dụng bởi Bộ Quốc phòng tại Scotland (sở hữu, mướn hoặc có quyền pháp lý) là 115.200 Ha tiêu biểu cho khoảng 31% đất sử dụng cho quốc phòng của cả Liên hiệp Anh.
== Nhân khẩu ==
Dân số của Scotland theo điều tra năm 2001 là 5.062.011. Nay tăng lên 5.094.800 theo điều tra dân số tháng 7 năm 2005. Như vậy, Scotland sẽ là quốc gia đông dân thứ 112 nếu Scotland là quốc gia có chủ quyền. Tuy Edinburgh là thủ đô của Scotland nhưng nó không phải là thành phố lớn nhất; thành phố lớn nhất Scotland với dân số 629.501 người là Glasgow. Vùng tập trung đông dân nhất là các vùng xung quanh Glasgow với khoảng 2,2 triệu người. Scotland có tỉ lệ tóc đỏ cao nhất, hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới với khoảng 13% dân số có tóc đỏ tự nhiên. Nhiều hơn 40% người Scotland mang gien biến đổi Mc1r là yếu tố tạo tóc đỏ ở người.
Nhờ di dân từ thế chiến thứ hai, Glasgow, Edinburgh và Dundee có dân số người châu Á và người châu Á lai Scotland đáng kể. Từ khi mở rộng liên hiệp châu Âu vừa qua, số lượng người trung Âu và đông Âu di chuyển đến Scotland gia tăng. Thí dụ, Aleksander Dietkow, Tổng lãnh sự Ba Lan, ước tính có khoảng từ 40.000 đến 50.000 người Ba Lan sinh sống tại Scotland. Cho đến năm 2003, có khoảng 16.315 người Hoa tại Scotland và 18,2% sinh viên quốc tế học ở các trường đại học Scotland đến từ Trung Hoa làm họ trở thành nhóm sinh viên quốc tế đông nhất tại Scotland
=== Ngôn ngữ ===
Vì Vương quốc liên hiệp Anh thiếu một nền hiến pháp được điều lệ hóa (codified constitution) nên không có ngôn ngữ chính thức (official language). Tuy nhiên, Scotland có 3 ngôn ngữ chính thức được công nhận: tiếng Anh, tiếng Gaelic Scotland và tiếng Scots. Tạm gọi chính thức thì tiếng Anh là ngôn ngữ chính và hầu như người Scotland nào cũng nói được tiếng Anh tiêu chuẩn giọng Scotland.
Suốt thế kỷ vừa qua, số người bản xứ nói tiếng Gaelic (giống tiếng Ireland) đã giảm từ 5% đến 1% dân số và số người nầy nói cả hai thứ tiếng tính cả tiếng Anh. Tiếng Gaelic đa số được nói ở vùng Đảo tây nơi mà hội đồng địa phương dùng cụm từ "Comhairle nan Eilean Siar" để chỉ Hội đồng Đảo tây. Tổng văn phòng hộ tịch Scotland ước tính có đến 30% dân số nói lưu loát tiếng Scots, một loại thuộc ngôn ngữ West Germanic chị em với tiếng Anh.
Tiếng Scots và tiếng Gaelic được công nhận trong bản hiến chương Liên hiệp châu Âu về ngôn ngữ vùng hay ngôn ngữ thiểu số và được chấp thuận qua bầu phiếu tại UK (Vương quốc liên hiệp) năm 2001. Dựa vào cam kết của UK, hành pháp Scotland rất quan tâm trong việc trợ giúp cả hai ngôn ngữ. Theo đạo luật ngôn ngữ về tiếng Gaelic được quốc hội Scotland thông qua năm 2005 tạo cơ sở pháp định cho việc cung cấp dịch vụ bằng tiếng Gaelic có tầm mức giới hạn, tiếng Anh và tiếng Gaelic được tôn trọng như nhau nhưng khác nhau về tư cách pháp lý. Trợ giúp của chính phủ từ từ gia tăng với việc hành pháp Scotland cung cấp tài chánh cho những cơ quan và các dự án về ngôn ngữ Scotland đa dạng, bao gồm tự điển tiếng Scots.
Có thể nói là số người nói những ngôn ngữ như Ba Lan, Slovak và Litva bằng số người nói tiếng Gaelic tại Scotland.
=== Tôn giáo ===
Giáo hội Scotland, với tên gọi phổ biến hơn là The Kirk, là quốc giáo tại Scotland. Giáo hội Scotland thuộc cộng đồng Kháng Cách (Tin Lành), chấp nhận nền thần học Cải cách với cấu trúc tổ chức theo thể chế Trưởng Lão. Mặc dù là quốc giáo, Giáo hội Scotland không chịu sự chi phối của chính phủ. Giáo hội được chính thức công nhận độc lập với Quốc hội Anh bởi Đạo luật về Giáo hội Scotland năm 1921, giải quyết những tranh chấp kéo dài hàng thế kỷ giữa giáo hội và chính phủ về pháp lý và về các vấn đề tâm linh.
Thời kỳ cải cách tôn giáo ở Scotland khởi đầu từ năm 1560 dưới sự lãnh đạo của John Knox được xem là giai đoạn chịu nhiều ảnh hưởng của nền thần học Calvin kéo dài suốt thế kỷ 17 và 18. Trong thời kỳ này, Giáo hội Scotland duy trì nghiêm nhặt thần học Calvin, và kiểm soát chặt chẽ đời sống tâm linh và đạo lý của đa số dân chúng. Giáo hội đã tạo lập ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình phát triển văn hóa Scotland trong những năm đầu thời hiện đại.
Theo thống kê năm 2001, trong số 40% dân số Scotland nhìn nhận có duy trì mối quan hệ với Giáo hội Scotland, chỉ có 12% là thuộc viên tích cực của giáo hội. Về tổ chức, Giáo hội chia thành nhiều giáo sở tương ứng với mỗi cộng đồng dân cư trên khắp nước, để mỗi nơi đều có một giáo đoàn.
Hiện vẫn tồn tại ở Scotland một cộng đồng Công giáo Rôma với số lượng đáng kể, nhất là ở phía Tây. Sau cuộc Cải cách Tin Lành, Giáo hội Công giáo tiếp tục duy trì ảnh hưởng trên Cao nguyên, và một vài đảo như Uist và Barra. Trong thế kỷ 19, những cuộc di dân từ Ireland giúp gia tăng dân số Công giáo tại Scotland. Điều này tiếp tục suốt thế kỷ 20 với số lượng đáng kể di dân công giáo từ Ý và Ba Lan vào Scotland. Nhiều khu vực ở Scotland (đặc biệt là vành đai Trung Tây quanh Glasgow) xảy ra những xung đột phe phái, nhất là sự hiềm khích giữa hai đội bóng đá: Celtic truyền thống Công giáo La Mã và Rangers truyền thống Kháng Cách.
Ngoài ra, còn có các giáo phái khác thuộc cộng đồng Cơ Đốc giáo như Giáo hội Tự do Scotland có cùng nguồn gốc với Giáo hội Scotland nhưng có khuynh hướng bảo thủ hơn trong lễ nghi và thần học, Giáo hội Giám nhiệm Scotland hình thành một phần của cộng đồng Anh giáo theo giám mục chế, Giáo hội Giám lý Scoland, cộng đồng Tự trị Giáo đoàn, và một vài phái khác.
Hồi giáo là một tôn giáo không thuộc Cơ Đốc lớn nhất tại Scotland (ước lượng có đến 50.000), mặc dầu chỉ chiếm 1% dân số. Cũng có nhiều cộng đồng Do Thái giáo và Sikh giáo, đặc biệt là tại Glasgow. Scotland có một tỉ lệ khá cao số người tự nhận không thuộc tôn giáo nào, chiếm khoảng 28% dân số.
== Giáo dục ==
Hệ thống giáo dục Scotland rất khác phần còn lại của Vương quốc liên hiệp, với đặc điểm chú trọng vào nền giáo dục phổ thông. Scotland là quốc gia đầu tiên kể từ khi vùng Sparta thuộc Hy lạp cổ đại áp dụng một hệ thống giáo dục công cộng phổ thông. Giáo dục bắt buộc lần đầu tiên được áp dụng tại Scotland vào năm 1496 khi Đạo luật Giáo dục được ban hành. Đến năm 1561, Giáo hội Scotland tiến hành một chương trình quốc gia với mục tiêu chấn hưng tâm linh, trong đó có việc thành lập một trường học tại mỗi giáo sở. Giáo dục tiếp tục là lãnh vực thuộc thẩm quyền giáo hội cho đến khi ra đời Đạo luật Giáo dục năm 1872. Từ đây, giáo dục được đặt dưới quyền điều hành của chính phủ thay cho giáo hội và trở thành bắt buộc với tất cả trẻ em. Kết quả là từ hơn 200 năm, Scotland có một tỉ lệ cao dân số được giáo dục ở bậc tiểu học, trung học và đại học hơn bất cứ quốc gia nào tại châu Âu. Sự khác biệt giáo dục đã tự nó chứng minh trong nhiều khía cạnh khác nhau. Nhưng đáng kể nhất là số người Scotland theo đuổi học vấn đã trở thành những nhà lãnh đạo trong các chuyên ngành của họ và là những người tiên phong trong cải tiến và khám phá dẫn đến nhiều phát minh của Scotland trong suốt thế kỷ 18 và 19.
Ngày nay trẻ em Scotland dự các kỳ thi tốt nghiệp trung học tiêu chuẩn ở tuổi 15 hoặc 16, đôi khi sớm hơn với 8 môn học trong đó có các môn bắt buộc như sau: Anh ngữ, toán, một ngoại ngữ, một môn khoa học và một môn xã hội. Mỗi trường có thể thay đổi nhóm các môn bắt buộc. Tuổi ra trường là 16 tuổi, sau đó học sinh có thể chọn ở lại trường và học tiếp để thi tốt nghiệp tiếp các bậc thứ cao hơn như Access, Intermediate hoặc Higher Grade và Advanced Higher. Một thiểu số học sinh ở vài trường tư, trường độc lập có thể học theo chương trình giáo dục của Anh thay vì của Scotland.
Hành pháp Scotland tài trợ trên 40 trường cao đẳng và huấn nghệ nơi sinh viên học tập các kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng theo đuổi cấp bằng và các lớp đặc biệt về hội họa hay nông nghiệp. Scotland có 13 trường đại học và một cao đẳng đại học (university college) trong đó có 4 trường đại học được thành lập thời trung đại. Không như các nơi khác của Vương quốc liên hiệp, sinh viên Scotland học tại các đại học Scotland không phải trả học phí.
== Văn hóa ==
Qua nhiều thế kỷ, một sự phối hợp đa dạng các nền truyền thống đã tạo nên văn hóa Scotland. Một vài môn thể thao truyền thống Scotland chỉ có độc nhất tại các Đảo Anh và cùng tồn tại với những môn phổ biến hơn như bóng đá và Rugby.
Cảnh quang âm nhạc Scotland là một khía cạnh nổi bật trong văn hóa Scotland, bị ảnh hưởng bởi cả truyền thống và hiện đại. Một thí dụ về nhạc cụ truyền thống Scotland là Great Highland Bagpipe, một loại kèn có một hay nhiều ống nhạc nối liền với một túi hơi. Clàrsach, fiddle và accordion (phong cầm) cũng là nhạc cụ truyền thống của Scotland, hai loại kể sau thì thường được chơi trong các ban nhạc múa dân ca Scotland. Người di cư Scotland mang âm nhạc Scotland truyền thống cùng với họ đã làm ảnh hưởng thể loại nhạc ban đầu của địa phương họ đến sinh sống thí dụ như nhạc đồng quê tại Bắc Mỹ. Ngày nay có rất nhiều ban nhạc Scotland thành công và nhiều nghệ sĩ biểu diễn đa dạng thể loại.
Văn chương Scotland bao gồm sách viết bằng tiếng Anh, Gaelic, Scotland, Pháp, Latin. Thi sĩ kiêm nhạc sĩ Robert Burns làm thơ và soạn nhạc bằng tiếng Scots mặt dù ông cũng viết nhiều bằng tiếng Anh. Walter Scott và Arthur Conan Doyle là hai nhà văn thành công và nổi tiếng thế giới trong cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. J. M. Barrie giới thiệu phong trào được biết đến là "truyền thống kailyard" ở cuối thế kỷ 19 kết hợp hai thành phần fantasy (trừu tượng) và folklore (dân gian) trở lại với văn cách. Vài tiểu thuyết gia hiện đại như Irvine Welsh viết bằng một thứ tiếng Anh riêng biệt của Scotland để phản ánh hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống đương thời.
Hệ thống truyền thông quốc gia BBC Scotland (tiếng Gaelic là BBC Alba) là một thành phần tạo nên British Broadcasting Corporation, một hệ thống truyền thông được tài trợ công cộng của Vương quốc Liên hiệp Anh. Hệ thống truyền thông này điều hành hai trạm phát hình quốc gia và nhiều trạm phát thanh quốc gia. Trạm phát hình thương mãi chính của Scotland là STV. Những tờ báo quốc gia như Daily Record, The Herald, và The Scotsman đều được phát hành tại Scotland. Nhật báo vùng quan trọng gồm có The Courier ở Dundee thuộc miền đông, và The Press and Journal phục vụ Aberdeen và phía bắc
Thể thao là thành phần quan trọng trong văn hóa Scotland. Scotland tổ chức nhiều cuộc tranh tài thể thao cấp quốc gia riêng và được quyền đại diện độc lập ở các cuộc tranh tài thể thao quốc tế như Cúp Bóng đá Quốc tế, Cúp Bóng Quốc tế Rugby và hội thao khối liên hiệp Anh (mặt dầu không có mặt ở Thế vận hội). Scotland có các cơ cấu điều hành thể thao quốc gia riêng như Hội bóng đá Scotland và Liên đoàn bóng Rugby Scotland. Nhiều kiểu bóng đá đã được chơi tại Scotland hàng thế kỷ cho đến năm 1424 mới có hình thức về quy luật xử phạt đầu tiên. Nhưng người Scotland cũng nổi tiếng với tính keo kiệt vàbảo thủ của họ.
== Giao thông ==
Scotland có 4 phi trường quốc tế chính (Phi trường quốc tế Glasgow, Phi trường Edinburgh, Glasgow Prestwick International Airport và Aberdeen Airport) phục vụ rộng rãi nhiều đường bay liên lục địa và châu Âu với các chuyến bay có thời biểu và các chuyến bay thuê bao. Highland and Islands Airports (hệ thống phi trường Đảo và Cao Nguyên) điều hành 10 phi trường vùng phục vụ những vùng xa xôi của Scotland. Nói đúng ra thì không có hãng máy bay quốc gia nào ở Scotland, mặt dù nhiều hãng hàng không có cơ sở đặt tại Scotland như Loganair, Flyglobespan, City Star Airlines, Air Scotland và ScotAirways.
Scotland có 1 hệ thống hỏa xa trải rộng và hoạt động độc lập khỏi phần còn lại của UK theo đạo luật về hỏa xa năm 2005. Các đường hỏa xa East Coast Main Line, West Coast Mainline và Cross Country Line nối các thành phố chính và thị trấn chính của Scotland với hệ thống hỏa xa Anh. Hãng First ScotRail điều hành dịch vụ hỏa xa trong Scotland. Hành pháp Scotland đang theo đuổi chính sách xây dựng thêm đường hỏa xa mới và mở lại những đường đã bị đóng.
Đường xe hơi và các trục lộ chính do hành pháp Scotland quản lý. Phần còn lại được quản lý bởi chính quyền địa phương của từng nơi. Xa lộ bận rộn nhất đất nước là M8 motorway chạy từ ngoại ô Edinburgh đến trung tâm Glasgow, và tiếp tục đến Renfrewshire.
Dịch vụ phà hàng ngày hoạt động giữa đất liền Scotland và các cộng đồng ngoài các đảo. Các dịch vụ này đa số được điều hành bởi Caledonian MacBrayne, nhưng một ít được điều hành bởi các hội đồng địa phương. Những đường phà khác được phục vụ bởi nhiều công ty nối liền Bắc Ireland, Bỉ, Na Uy, Faroe Islands và Iceland.
== Biểu tượng quốc gia ==
The Saltire (dấu chéo X) hay thánh giá thánh Andrew là cờ Scotland, theo truyền thuyết có từ thế kỷ 9, như vậy thì quốc kỳ xưa nhất vẫn còn được sử dụng và được thấy bay khắp nơi tại Scotland. Hiện tại cờ the Saltire cũng có một phần trong kiểu mẫu của cờ Vương quốc Liên hiệp Anh (gọi là Union Flag).
Royal Standard of Scotland (Chuẩn hoàng gia) hay còn gọi Lion Rampant (sư tử chồm lên) là cờ có hình huy hiệu hoàng gia Scotland, cũng thường thấy, nhất là trong các dịp thể thao với sự hiện diện của 1 đội Scotland. Đúng ra thì cờ này là tài sản của vương triều và bất cứ ai khác sử dụng đều coi là bất hợp pháp. Tuy nhiên hầu như mọi người đều làm ngơ đều này và không bao giờ bị áp chế.
Unicorn (con kỳ lân) cũng là biểu tượng của Scotland. Royal Coat of Arms of Scotland (phù hiệu hoàng gia Scotland) được các quốc vương Scotland dùng trước năm 1603 trong đó có hình 1 tấm mộc sư tử chồm được bảo vệ bởi hai kỳ lân.
William Wallace là anh hùng dân tộc và là lãnh đạo của cuộc chiến tranh giành độc lập Scotland.
Thistle (cây kẽ) là cây biểu tượng của Scotland xuất hiện trong nhiều hình tượng và phù hiệu Scotland và trên tiền UK. Heather (cây thạch nam) cũng được xem là biểu tượng của Scotland.
Flower of Scotland (bông hoa Scotland) được công chúng nhìn nhận như quốc ca Scotland và được hát trong các sự kiện quốc tế như các cuộc tranh tài bóng đá hay rugby (giống bóng bầu dục Mỹ) có đội bóng quốc gia Scotland. Tuy nhiên kể từ khi phân quyền, nhiều cuộc thảo luận nghiêm chỉnh hơn về quốc ca dẫn đến kết quả là bài hát nầy đang trong vòng tranh cãi. Những bài hát được đề nghị gồm có Scots Wha Hae, Scotland the Brave và A Man's A Man for A' That.
Tartan là một loại hàng vải dệt đặc biệt thường biểu thị một tộc dân Scotland riêng biệt, có thể thấy trong loại quần áo gọi là kilt.
St Andrew's Day (Lễ Thánh Andrew), 30 tháng 11, là ngày quốc khánh mặt dù đêm Burns' Night có chiều hướng được kỷ niệm rộng rãi.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Scottish Executive - official site of the Scottish Executive
Scottish Parliament - official site of the Scottish Parliament
Scottish Tourist Board - official site of Scotland's national tourist board, VisitScotland
Maps and digital collections at the National Library of Scotland
The Gazetteer for Scotland - Extensive guide to the places and people of Scotland, by the Royal Scottish Geographical Society và University of Edinburgh
(PDF file) Scottish economic statistics 2005 - from the Scottish Executive
Scottish Census Results On Line - official government site for Scotland's census results
Scottish Neighbourhood Statistics - Scottish Executive's programme of small area statistics in Scotland |
1982.txt | Theo lịch Gregory, năm 1982 (số La Mã: MCMLXXXII) là một năm bắt đầu từ ngày thứ sáu.
== Sự kiện ==
1 tháng 1: Fritz Honegger trở thành tổng thống Thụy Sĩ
1 tháng 1: Javier Pérez de Cuéllar trở thành tổng thư ký Liên Hiệp Quốc
11 tháng 1: Honduras có hiến pháp mới
24 tháng 3: Bangladesh. Hussain Mohammed Ershad trở thành tổng thống
13 tháng 4: Bhutan trở thành thành viên của UNESCO
10 tháng 5: Belize trở thành thành viên của UNESCO
6 tháng 6: Israel bắt đầu den cuộc chiến tranh Liban 1982.
11 tháng 6: Tổng thống Mỹ Ronald Reagan thăm viếng Berlin
4 tháng 7: Cộng hòa Dominica: Jacobo Majluta trở thành tổng thống
9 tháng 7: New Orleans, Hoa Kỳ. Một chiếc Boeing 727 của PanAm rơi. 144 người trên máy bay và 8 dân cư chết
15 tháng 7: Antigua và Barbuda trở thành thành viên của UNESCO
8 tháng 10: Solidarność bị cấm tại Ba Lan
10 tháng 10: Bolivia. Siles Zuazo trở thành nhà lãnh đạo chính phủ
4 tháng 11: Cameroon. Tổng thống Ahmadou Ahidjo từ chức
13 tháng 12: Động đất trong Ả Rập, khoảng 2.800 người chết
== Sinh ==
1 tháng 1: David Nalbandian, vận động viên quần vợt Argentina
2 tháng 1: Athanasia Tsoumeleka, nữ vận động viên điền kinh Hy Lạp, huy chương Thế Vận Hội
4 tháng 1: Bernhard Kohl, tay đua xe đạp Áo
7 tháng 1: Joachim Johansson, vận động viên quần vợt Thụy Điển
13 tháng 1: Guillermo Coria, vận động viên quần vợt Argentina
16 tháng 1: Tuncay Şanlı, cầu thủ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ
17 tháng 1: Dwyane Wade, cầu thủ bóng rổ Mỹ
21 tháng 1: Stefanie Dreyer, nữ diễn viên Đức, nữ ca sĩ nhạc pop (Banaroo)
22 tháng 1: Fabricio Coloccini, cầu thủ bóng đá Argentina
22 tháng 1: Peter Jehle, cầu thủ bóng đá
23 tháng 1: Andrew Rock, vận động viên điền kinh Mỹ
25 tháng 1: Noemi, ca sĩ người Ý
31 tháng 1: Andreas Görlitz, cầu thủ bóng đá Đức
31 tháng 1: Enrico Gaede, cầu thủ bóng đá Đức
2 tháng 2: Dorcus Inzikuru, nữ vận động viên điền kinh
3 tháng 2: Roland Schwegler, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ
4 tháng 2: Roman Wallner, cầu thủ bóng đá Áo
5 tháng 2: Christoph Schubert, vận động viên khúc côn cầu trên băng Đức
6 tháng 2: Nick Audsley, diễn viên Anh
10 tháng 2: Tom Schilling, diễn viên Đức
10 tháng 2: Justin Gatlin, vận động viên điền kinh Mỹ
12 tháng 2: Markus Feulner, cầu thủ bóng đá Đức
17 tháng 2: Thimothée Atouba, cầu thủ bóng đá Cameroon
18 tháng 2: Christian Tiffert, cầu thủ bóng đá Đức
18 tháng 2: José Rujano, tay đua xe đạp
19 tháng 2: Camelia Potec, nữ vận động viên bơi lội Romania, huy chương Thế Vận Hội
22 tháng 2: Jenna Haze, nữ diễn viên phim khiêu dâm Mỹ
28 tháng 2: Axel Stein, diễn viên Đức
1 tháng 3: Steffen Schmitt, cầu thủ bóng đá Đức
2 tháng 3: Kevin Kurányi, cầu thủ bóng đá Đức
3 tháng 3: Jessica Biel, nữ diễn viên Mỹ
8 tháng 3: Matthew Krok, diễn viên Úc
11 tháng 3: Thora Birch, nữ diễn viên Mỹ
14 tháng 3: Thomas Paulus, cầu thủ bóng đá Đức
20 tháng 3: José Moreira, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha
21 tháng 3: Ejagayehu Dibaba, nữ vận động viên điền kinh
25 tháng 3: Danica Patrick, nữ đua xe Mỹ
26 tháng 3: Andreas Hinkel, cầu thủ bóng đá Đức
26 tháng 3: Michael Tschuggnall, ca sĩ nhạc pop Áo
30 tháng 3: Louis Marcel Powell de Aquino, người chơi đàn ghita Brasil
30 tháng 3: Philippe Mexès, cầu thủ bóng đá Pháp
30 tháng 3: Jason Dohring, diễn viên Mỹ
1 tháng 4: Andreas Thorkildsen, vận động viên điền kinh Na Uy
1 tháng 4: Róbert Vittek, cầu thủ bóng đá Slovakia
5 tháng 4: Thomas Hitzlsperger, cầu thủ bóng đá Đức
17 tháng 4: Lee Si Young, nữ diễn viên kiêm người mẫu, ca sĩ và VĐV Boxing Hàn Quốc
24 tháng 4: Kelly Clarkson, nữ ca sĩ nhạc pop Mỹ
26 tháng 4: Nadja Benaissa, nữ ca sĩ Đức
30 tháng 4: Kirsten Dunst, nữ diễn viên Mỹ
1 tháng 5: Tommy Robredo, vận động viên quần vợt Tây Ban Nha
1 tháng 5: Dario Srna, cầu thủ bóng đá Croatia
2 tháng 5: Lázaro Bruzón, người đánh cờ Cuba
3 tháng 5: Sebastian Furchner, vận động viên khúc côn cầu trên băng Đức
3 tháng 5: Tobias Rathgeb, cầu thủ bóng đá Đức
4 tháng 5: Markus Rogan, vận động viên bơi lội Áo
10 tháng 5: Marc Hennerici, đua xe Đức
10 tháng 5: Eva-Maria Fitze, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức
15 tháng 5: Veronica Campbell, nữ vận động viên điền kinh Jamaica
16 tháng 5: Billy Crawford, nam ca sĩ, nghệ sĩ múa, nhà sản xuất, nhà soạn nhạc, diễn viên
17 tháng 5: Tony Parker, cầu thủ bóng rổ Pháp
20 tháng 5: Petr Čech, cầu thủ bóng đá
24 tháng 5: Dominic Saleh-Zaki, diễn viên Đức, nam ca sĩ
24 tháng 5: Kim Frank, diễn viên Đức, nam ca sĩ
25 tháng 5: Ezekiel Kemboi, vận động viên điền kinh, huy chương Thế Vận Hội
26 tháng 5: Nelson Ferreira, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha
1 tháng 6: Justine Henin-Hardenne, nữ vận động viên quần vợt Bỉ
3 tháng 6: Horacio Peralta, cầu thủ bóng đá
4 tháng 6: Dana Bönisch, nhà văn nữ Đức
6 tháng 6: Marian Oprea, vận động viên điền kinh Romania
9 tháng 6: Christina Stürmer, nữ ca sĩ nhạc pop Áo
10 tháng 6: Tara Lipinski, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Mỹ
10 tháng 6: Leelee Sobieski, nữ diễn viên Mỹ
12 tháng 6: Andreas Wolf, cầu thủ bóng đá Đức
26 tháng 6: Ursula Holl, nữ cầu thủ bóng đá Đức
30 tháng 6: Janine Pietsch, nữ vận động viên bơi lội Đức
30 tháng 6: Otis Harris, vận động viên điền kinh Mỹ
5 tháng 7: Philippe Gilbert, tay đua xe đạp Bỉ
5 tháng 7: Alberto Gilardino, cầu thủ bóng đá Ý
10 tháng 7: Sebastian Mila, cầu thủ bóng đá Ba Lan
11 tháng 7: Alexander Madlung, cầu thủ bóng đá Đức
11 tháng 7: Guðrun Sólja Jacobsen, nữ ca sĩ
12 tháng 7: Antonio Cassano, cầu thủ bóng đá Ý
16 tháng 7: André Greipel, tay đua xe đạp Đức
18 tháng 7: Natalie Spinell, nữ diễn viên Đức
24 tháng 7: Anna Paquin, nữ diễn viên
25 tháng 7: Brad Renfro, diễn viên Mỹ
26 tháng 7: Eva Moser, người đánh cờ Áo
28 tháng 7: Jean-François Kornetzky, cầu thủ bóng đá Pháp
28 tháng 7: Silvia Night, nữ ca sĩ
29 tháng 7: Allison Mack, nữ diễn viên Mỹ
31 tháng 7: Edmond Kapllani, cầu thủ bóng đá Albania
2 tháng 8: Hélder Postiga, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha
3 tháng 8: Robert Stadlober, diễn viên Áo
5 tháng 8: Ryu Seung Min, vận động viên bóng bàn Hàn Quốc
7 tháng 8: Jana Klotschkowa, nữ vận động viên bơi lội Ukraina
9 tháng 8: Tyson Gay, vận động viên điền kinh Mỹ
11 tháng 8: Jasmin Schwiers, nữ diễn viên Bỉ
13 tháng 8: Gil Ofarim, nhạc sĩ, diễn viên
16 tháng 8: Cam Gigandet, diễn viên người Mỹ
16 tháng 8: Stefan Maierhofer, cầu thủ bóng đá Áo
16 tháng 8: Julia Schruff, nữ vận động viên quần vợt Đức
23 tháng 8: Natalie Coughlin, nữ vận động viên bơi lội Mỹ
28 tháng 8: LeAnn Rimes, nữ ca sĩ Mỹ
29 tháng 8: Felix von Jascheroff, diễn viên Đức
30 tháng 8: Andy Roddick, vận động viên quần vợt Mỹ
31 tháng 8: Patrick Nuo, nam ca sĩ Thụy Sĩ
31 tháng 8: Ian Crocker, vận động viên bơi lội Mỹ
3 tháng 9: Timo Achenbach, cầu thủ bóng đá Đức
7 tháng 9: Lorne Berfield, diễn viên Mỹ
10 tháng 9: Ronaldo Aparecido Rodrigues, cầu thủ bóng đá Brasil
16 tháng 9: Linus Gerdemann, tay đua xe đạp Đức
19 tháng 9: Amir Shapourzadeh, cầu thủ bóng đá
20 tháng 9: Hồ Ca, diễn viên - ca sĩ người Trung Quốc
22 tháng 9: Kosuke Kitajima, vận động viên bơi lội Nhật Bản
27 tháng 9: Jan Schlösser, cầu thủ bóng đá Đức
27 tháng 9: Darrent Williams, cầu thủ football Mỹ (mất 2007)
28 tháng 9: Alexander Gennadjewitsch Anjukow, cầu thủ bóng đá Nga
30 tháng 9: Lacey Chabert, nữ diễn viên Mỹ
1 tháng 10: Marcus Stolzenberg, cầu thủ bóng đá Đức
5 tháng 10: Francisco Bosch, diễn viên Tây Ban Nha
6 tháng 10: Lewon Aronjan, người đánh cờ
6 tháng 10: Michael Frater, vận động viên điền kinh Jamaica
7 tháng 10: Kasper Jensen, cầu thủ bóng đá Đan Mạch
13 tháng 10: Robbert Dessauvagie, ca sĩ nhạc pop Hà Lan (Banaroo)
13 tháng 10: Ian Thorpe, vận động viên bơi lội Úc
15 tháng 10: Saif Saaeed Shaheen, vận động viên điền kinh
19 tháng 10: Pekka Lagerblom, cầu thủ bóng đá Phần Lan
21 tháng 10: Jeremiah Rutherford, vận động viên cử tạ
2 tháng 11: William Beier, vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức
2 tháng 11: Fukada Kyōko, nữ diễn viên Nhật Bản, nữ ca sĩ, người mẫu
4 tháng 11: Bastiaan Giling, tay đua xe đạp Hà Lan
4 tháng 11: Kamila Skolimowska, nữ vận động viên điền kinh Ba Lan
9 tháng 11: Petra Wimbersky, nữ cầu thủ bóng đá Đức
11 tháng 11: Asafa Powell, vận động viên điền kinh Jamaica
14 tháng 11: Kim Jaggy, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ
16 tháng 11: Amaré Stoudemire, cầu thủ bóng rổ Mỹ
17 tháng 11: Mimoun Azaouagh, cầu thủ bóng đá Đức
18 tháng 11: Gracia Baur, nữ ca sĩ nhạc pop Đức
30 tháng 11: Elisha Cuthbert, nữ diễn viên Canada
6 tháng 12: Ryan Carnes, diễn viên Mỹ
6 tháng 12: Alberto Contador, tay đua xe đạp Tây Ban Nha
8 tháng 12: Nicki Minaj, ca sĩ, rapper nổi tiếng
8 tháng 12: Michael Essien, cầu thủ bóng đá
8 tháng 12: Hamit Altıntop, cầu thủ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ
8 tháng 12: Halil Altıntop, cầu thủ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ
8 tháng 12: DeeDee Trotter, nữ vận động viên điền kinh Mỹ, huy chương Thế Vận Hội
13 tháng 12: Ayumi Kinoshita, nữ diễn viên người Nhật Bản
15 tháng 12: Matias Emilio Delgado, cầu thủ bóng đá Argentina
16 tháng 12: Mika Kikuchi, nữ diễn viên người Nhật Bản
26 tháng 12: Aksel Lund Svindal, vận động viên chạy ski Na Uy
30 tháng 12: Kristin Kreuk, nữ diễn viên Canada, người mẫu
== Mất ==
3 tháng 1: Fritz Laband, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1925)
11 tháng 1: Bruno Diekmann, chính khách Đức (sinh 1897)
13 tháng 1: Marcel Camus, đạo diễn phim Pháp (sinh 1912)
13 tháng 1: Bernhard Reismann, chính trị gia Đức (sinh 1903)
19 tháng 1: Elis Regina, nữ ca sĩ Brasil (sinh 1945)
22 tháng 1: Eduardo Frei Montalva, chính trị gia Chile (sinh 1911)
24 tháng 1: Hans Schütz, chính trị gia Đức (sinh 1901)
27 tháng 1: Alexander Abusch, nhà báo, nhà văn, chính trị gia trong Cộng hòa Dân chủ Đức (sinh 1902)
4 tháng 2: Alex Harvey, nhạc sĩ nhạc rock Scotland (sinh 1935)
6 tháng 2: Ben Nicholson, họa sĩ Anh (sinh 1894)
10 tháng 2: Margrit Rainer, nữ diễn viên Thụy Sĩ (sinh 1914)
11 tháng 2: Eleanor Powell, nữ nghệ sĩ múa Mỹ, nữ ca sĩ, nữ diễn viên (sinh 1912)
19 tháng 2: Gerhard Leibholz, luật gia Đức (sinh 1901)
22 tháng 2: Arie den Arend, nhà soạn nhạc Hà Lan, nghệ sĩ đàn ống (sinh 1903)
25 tháng 2: Christian Schad, họa sĩ Đức (sinh 1894)
25 tháng 2: Zhao Yuanren, nhà ngôn ngữ học Trung Hoa (sinh 1892)
25 tháng 2: Hans-Joachim von Merkatz, chính trị gia Đức (sinh 1905)
28 tháng 2: Friedrich Liebling, nhà tâm lý học (sinh 1893)
2 tháng 3: Philip K. Dick, nhà văn Mỹ (sinh 1928)
3 tháng 3: Georges Perec, nhà văn Pháp (sinh 1936)
5 tháng 3: Heinz Heck, nhà sinh vật học Đức (sinh 1894)
5 tháng 3: John Belushi, nam ca sĩ Mỹ, diễn viên (sinh 1949)
6 tháng 3: Ayn Rand, nhà văn nữ Mỹ, nữ triết gia (sinh 1905)
22 tháng 3: Pericle Felici, Hồng y Giáo chủ (sinh 1911)
29 tháng 3: Carl Orff, nhà soạn nhạc Đức, nhà sư phạm (sinh 1895)
29 tháng 3: Walter Hallstein, chính trị gia Đức, luật gia (sinh 1901)
7 tháng 4: Harald Ertl, tay đua Công thức 1 (sinh 1948)
7 tháng 4: Manfred Schott, diễn viên Đức (sinh 1936)
16 tháng 4: Hermann Diebäcker, chính trị gia Đức (sinh 1910)
18 tháng 4: Hiroshi Ohguri, nhà soạn nhạc Nhật Bản (sinh 1918)
20 tháng 4: Archibald MacLeish, thi sĩ Mỹ, chính trị gia (sinh 1892)
24 tháng 4: Ville Ritola, vận động viên điền kinh Phần Lan, huy chương Thế Vận Hội (sinh 1896)
1 tháng 5: Wolfgang Stammberger, chính trị gia Đức (sinh 1920)
5 tháng 5: Irmgard Keun, nhà văn nữ Đức (sinh 1905)
10 tháng 5: Peter Weiss, nhà văn Đức, họa sĩ (sinh 1916)
12 tháng 5: Humphrey Searle, nhà soạn nhạc Anh, học trò của Anton von Webern (sinh 1915)
13 tháng 5: Věra Suková, nữ vận động viên quần vợt Tiệp Khắc (sinh 1931)
19 tháng 5: Reinhard Karl, nhiếp ảnh gia, nhà văn (sinh 1946)
20 tháng 5: Merle Antony Tuve, nhà vật lý học Mỹ (sinh 1901)
22 tháng 5: Cevdat Sunay, chính trị gia Thổ Nhĩ Kỳ, tướng (sinh 1899)
29 tháng 5: Romy Schneider, nữ diễn viên (sinh 1938)
30 tháng 5: Albert phía bắc, chính trị gia Đức (sinh 1904)
2 tháng 6: Herbert Quandt, nhà tư bản công nghiệp Đức (sinh 1910)
3 tháng 6: Günther Steines, vận động viên điền kinh Đức (sinh 1928)
5 tháng 6: Roger Bonvin, chính trị gia Thụy Sĩ (sinh 1907)
10 tháng 6: Rainer Werner Fassbinder, đạo diễn phim Đức, nhà sản xuất phim (sinh 1945)
12 tháng 6: Otto Brunner, nhà sử học Áo (sinh 1898)
12 tháng 6: Karl von Frisch, nhà sinh vật học, nhà động vật học, nhận Giải Nobel (sinh 1886)
13 tháng 6: Ricardo Paletti, tay đua ô tô (sinh 1958)
13 tháng 6: Chalid ibn Abd al-Aziz, vua Ả Rập Saudi (sinh 1912)
16 tháng 6: James Honeyman-Scott, người chơi đàn ghita Anh, thành viên của Pretenders (sinh 1956)
17 tháng 6: Zdeněk Kalista, nhà sử học Séc, thi sĩ, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản, dịch giả (sinh 1900)
18 tháng 6: Djuna Barnes, nhà văn nữ Mỹ (sinh 1892)
18 tháng 6: Curd Jürgens, diễn viên (sinh 1915)
18 tháng 6: John Cheever, nhà văn Mỹ (sinh 1912)
24 tháng 6: Jakob Streitle, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1916)
24 tháng 6: Paul Benthien, vận động viên bóng bàn Đức (sinh 1914)
26 tháng 6: Alexander Mitscherlich, bác sĩ Đức, nhà văn (sinh 1908)
28 tháng 6: Adolf Portmann, nhà động vật học Thụy Sĩ, triết gia (sinh 1897)
29 tháng 6: Henry King, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1886)
9 tháng 7: Kai Warner, nhạc sĩ Đức (sinh 1926)
10 tháng 7: Karl Hein, vận động viên điền kinh Đức (sinh 1908)
13 tháng 7: Barbara Allen Rainey, nữ phi công đầu tiên của Không quân Hoa Kỳ (sinh 1948)
15 tháng 7: Otto von Rohr, ca sĩ opera Đức (sinh 1914)
16 tháng 7: Patrick Dewaere, diễn viên Pháp (sinh 1947)
16 tháng 7: Charles Robert Swarts, chính trị gia Nam Phi (sinh 1894)
18 tháng 7: Roman Ossipowitsch Jakobson, nhà ngữ văn (sinh 1896)
20 tháng 7: Okot p'Bitek, thi sĩ, thầy giáo, nhà dân tộc học (sinh 1931)
23 tháng 7: Vic Morrow, diễn viên Mỹ (sinh 1929)
25 tháng 7: Gabriele Tergit, nữ nhà báo Đức, nhà văn nữ (sinh 1894)
28 tháng 7: Keith Green, nam ca sĩ Mỹ, nhà soạn nhạc (sinh 1953)
29 tháng 7: Harold Sakata, diễn viên Mỹ (sinh 1920)
29 tháng 7: Sep Ruf, kiến trúc sư Đức (sinh 1908)
1 tháng 8: Otto Bayer, nhà hóa học Đức (sinh 1902)
2 tháng 8: Rudolf Maros, nhà soạn nhạc Hungary (sinh 1917)
5 tháng 8: Dieter Borsche, diễn viên Đức (sinh 1909)
10 tháng 8: Peter de Mendelssohn, nhà văn, nhà sử học, nhà văn tiểu luận (sinh 1908)
12 tháng 8: Henry Fonda, diễn viên Mỹ (sinh 1905)
13 tháng 8: Werner Storz, vận động viên điền kinh Đức (sinh 1904)
15 tháng 8: Hugo Theorell, nhà hóa sinh Thụy Điển (sinh 1903)
21 tháng 8: Helmut Kajzar, đạo diễn phim Ba Lan (sinh 1941)
23 tháng 8: Alberto Cavalcanti, đạo diễn phim Brasil (sinh 1897)
23 tháng 8: Stanford Moore, nhà hóa sinh Mỹ, Giải Nobel (sinh 1913)
24 tháng 8: Giorgio Abetti, nhà thiên văn học Ý (sinh 1882)
29 tháng 8: Ingrid Bergman, nữ diễn viên Thụy Điển (sinh 1915)
1 tháng 9: Władysław Gomułka, chính trị gia Ba Lan (sinh 1905)
2 tháng 9: Werner Schwarz, chính trị gia Đức (sinh 1900)
3 tháng 9: Walter Lüthi, mục sư (sinh 1901)
9 tháng 9: Joseph Pütz, chính trị gia Đức (sinh 1903)
12 tháng 9: Arthur Jores, nhà y học Đức (sinh 1901)
12 tháng 9: Franz Grothe, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1908)
14 tháng 9: Grace Kelly, nữ diễn viên Mỹ, nữ hầu tước của Monaco (sinh 1929)
14 tháng 9: Kristján Eldjárn, tổng thống của Island (sinh 1916)
16 tháng 9: Sadegh Ghotbzadeh, chính trị gia Iran (sinh 1936)
17 tháng 9: Manos Loïzos, nhà soạn nhạc Hy Lạp (sinh 1937)
19 tháng 9: Samuel Barlow, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1892)
21 tháng 9: Franz Esser, cầu thủ bóng đá đội tuyển quốc gia Đức (sinh 1900)
29 tháng 9: Franz Seume, chính trị gia Đức (sinh 1903)
4 tháng 10: Glenn Gould, nghệ sĩ dương cầm Canada, nhà soạn nhạc (sinh 1932)
4 tháng 10: Leroy Grumman, người thiết kế máy bay (sinh 1895)
9 tháng 10: Philip Noel-Baker, Giải Nobel về hòa bình (sinh 1889)
14 tháng 10: Gerhard Kreyssig, chính trị gia Đức (sinh 1899)
16 tháng 10: Jean Effel, họa sĩ vẽ tranh minh họa Pháp (sinh 1908)
16 tháng 10: Jakov Gotovac, nhà soạn nhạc Croatia, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1895)
16 tháng 10: Hans Selye, nhà y học Canada (sinh 1907)
16 tháng 10: Mario del Monaco, ca sĩ opera Ý (người hát giọng nam cao) (sinh 1915)
18 tháng 10: Pierre Mendès-France, chính trị gia Pháp, thủ tướng (sinh 1907)
21 tháng 10: Hermann Berg, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1905)
25 tháng 10: Karl Bruckner, nhà văn Áo (sinh 1906)
26 tháng 10: Giovanni Benelli, Hồng y Giáo chủ (sinh 1921)
1 tháng 11: King Vidor, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1894)
3 tháng 11: Jo Miard, nhà điêu khắc Đức (sinh 1929)
4 tháng 11: Jacques Tati, diễn viên Pháp, đạo diễn phim (sinh 1908)
7 tháng 11: Bully Buhlan, ca sĩ, nghệ sĩ dương cầm, diễn viên (sinh 1924)
9 tháng 11: Emil Bettgenhäuser, chính trị gia Đức (sinh 1906)
12 tháng 11: Rudi Baerwind, họa sĩ Đức (sinh 1910)
12 tháng 11: Dorothy Round, nữ vận động viên quần vợt Anh (sinh 1908)
17 tháng 11: Eduard Tubin, nhà soạn nhạc Thụy Điển (sinh 1905)
17 tháng 11: Heinrich Lindenberg, chính trị gia Đức (sinh 1896)
18 tháng 11: Heinar Kipphardt, nhà soạn kịch Đức (sinh 1922)
22 tháng 11: Max Deutsch, nhà soạn nhạc Pháp, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1892)
22 tháng 11: Stanisław Ostrowski, bác sĩ Ba Lan, sĩ quan, chính trị gia (sinh 1892)
29 tháng 11: Percy Williams, vận động viên điền kinh Canada (sinh 1908)
29 tháng 11: Hermann Balck, tướng Đức (sinh 1893)
30 tháng 11: Adolf Heusinger, tướng Đức (sinh 1897)
2 tháng 12: Marty Feldman, tác giả, diễn viên, đạo diễn phim (sinh 1933)
7 tháng 12: Harry Jerome, vận động viên điền kinh Canada (sinh 1940)
8 tháng 12: Marty Robbins, ca sĩ nhạc country Mỹ, nhà soạn nhạc (sinh 1925)
9 tháng 12: Fritz Usinger, nhà văn Đức (sinh 1895)
19 tháng 12: Frederick Terman, kĩ sư Mỹ, (sinh 1900)
20 tháng 12: Arthur Rubinstein, nghệ sĩ dương cầm (sinh 1887)
21 tháng 12: John Hargrave, tác giả Anh, chính trị gia (sinh 1894)
24 tháng 12: Louis Aragon, nhà sử học Pháp, thi sĩ, nhà văn (sinh 1897)
27 tháng 12: John Leonard Swigert, nhà du hành vũ trụ Mỹ (sinh 1931)
31 tháng 12: Kurt Friedrichs, nhà toán học (sinh 1901)
== Giải thưởng Nobel ==
Hóa học - Aaron Klug
Văn học - Gabriel García Márquez
Hòa bình - Alva Myrdal, Alfonso García Robles
Vật lý - Kenneth G. Wilson
Y học - Sune K. Bergström, Bengt I. Samuelsson, John R. Vane
Kinh tế - George J. Stigler
== Xem thêm ==
Thế giới trong năm 1982, tình trạng thế giới trong năm này
== Tham khảo == |
apple a9.txt | Apple A9 là một hệ thống đơn chip 64-bit (SoC) được thiết kế bởi Apple Inc. Bộ vi xử lý được Samsung và TSMC đồng sản xuất cho Apple và xuất hiện lần đầu tiên trên iPhone 6S và 6S Plus - những sản phẩm được ra mắt vào ngày 9 tháng 9 năm 2015. Apple nhấn mạnh rằng, Apple A9 "nhanh hơn 70% về tổng hiệu năng hoạt động của CPU và nhanh hơn 90% về các tác vụ đồ họa (GPU) so với người tiền nhiệm Apple A8. Apple A9 cùng với Samsung Exynos 8890 và Qualcomm Snapdragon 820 hiện đang là những bộ vi xử lý mạnh mẽ nhất đang có mặt trên thị trường.
== Hình ảnh ==
Hai bộ vi xử lý có thiết kế giống nhau. Vỏ ngoài có kích thước giống nhau (ước tính 15.0×14.5 mm) và chỉ có những dòng chữ ở trên mặt là khác biệt.
== Sản phẩm sử dụng Apple A9 ==
iPhone 6S và 6S Plus
iPhone SE
== Tham khảo == |
chiến tranh bảy năm.txt | Chiến tranh Bảy Năm (1756–1763) là cuộc chiến xảy ra giữa hai liên quân gồm có Vương quốc Anh/Vương quốc Hannover (liên minh cá nhân), Vương quốc Phổ ở một phía và Pháp, Áo, Nga, Thụy Điển và Vương quốc Sachsen ở phía kia. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha sau này cũng bị cuốn vào chiến tranh, trong khi một lực lượng của nước trung lập Hà Lan bị tấn công tại Ấn Độ. Cũng như cuộc chiến tranh Kế vị Áo (1740 - 1748) trước đó, cuộc chiến tranh Bảy năm là cuộc chiến giữa vua Phổ - Friedrich II Đại Đế - và Nữ hoàng Áo Maria Theresia.
Tại Bắc Mỹ, cuộc chiến được gọi là Chiến tranh Pháp và người Da đỏ. Nhiều người thổ dân tại Bắc Mỹ đã theo phía Pháp. Tuy nhiên, bất chấp đội quân bản địa đông đảo, Pháp vẫn đại bại và mất gần hết lãnh thổ Bắc Mỹ vào Anh trừ vùng Québec.
Chiến tranh bắt đầu ở châu Âu năm 1756 với việc quân Pháp vây hãm Minorca thuộc Anh ở Địa Trung Hải và vua Friedrich II Đại Đế chinh phạt xứ Sachsen ở châu Âu lục địa. Mặc dù là chiến trường chính, các trận đánh đẫm máu ở châu Âu không mang lại thay đổi gì đáng kể so với tình trạng trước chiến tranh. Tuy nhiên, ý nghĩa của cuộc chiến tranh này là nhà vua nước Phổ đã giữ vững quyền kiểm soát tỉnh Silesia của ông ta, và đưa Vương quốc Phổ trở thành một quốc gia hùng mạnh ở miền Bắc Đức.
Trong khi đó, kết quả cuộc chiến ở châu Á và châu Mỹ đã làm thay đổi sâu sắc những khu vực này trong giai đoạn sau đó. Những thỏa thuận trong Hiệp ước Paris 1763 kết thúc vị trí cường quốc thuộc địa của Pháp ở châu Mỹ. Pháp mất các vùng đất ở Bắc Mỹ về phía đông sông Mississippi và nhiều vùng khác ở Canada, cộng thêm các đảo ở Tây Ấn. Anh Quốc củng cố các vùng đất thuộc địa ở Ấn Độ và Bắc Mỹ, trở thành cường quốc thực dân hàng đầu thế giới.
Với quy mô toàn cầu, một số nhà sử học gọi Chiến tranh Bảy năm là cuộc "Chiến tranh thế giới lần đầu tiên". Từ 900.000 tới 1.400.000 người đã thiệt mạng trong cuộc chiến và nhiều thay đổi quan trọng với cán cân quyền lực cũng như phân bố lãnh thổ đã diễn ra.
== Tên gọi ==
Ở Canada, Pháp và Anh, Cuộc chiến Bảy năm dùng để chi cuộc xung đột ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á kéo dài bảy năm từ 1756 tới 1763, Tại Mỹ, khi chiến tranh bùng nổ năm 1754, cuộc chiến được gọi dưới tên Chiến tranh Pháp và da đỏ Nhiều học giả và nhà sử học ở Mỹ, như Fred Anderson, không gọi như thế mà cũng sử dụng tên gọi Chiến tranh Bảy năm. Ở Quebec, cuộc chiến được gọi là La Guerre de la Conquête, có nghĩa là chiến tranh chinh phạt. Ở Ấn Độ, đó là Chiến tranh Carnatic lần thứ ba. Cuộc chiến giữa riêng Phổ và Áo được gọi là Chiến tranh Silesia lần thứ ba.
Winston Churchill gọi đây là cuộc "Chiến tranh thế giới lần đầu tiên", bởi nó là xung đột vũ trang đầu tiên của con người diễn ra trên quy mô toàn cầu, dù chiến trường chính là châu Âu và một số vùng đất thuộc địa. Do một phần cuộc chiến là cuộc đối đầu giữa Anh và Pháp, Chiến tranh Bảy năm cũng là phần quan trọng nhất của Chiến tranh Trăm năm lần thứ hai vào thế kỷ 18.
== Bối cảnh ==
Cuộc chiến thường được cho là tiếp nối của Chiến tranh Kế vị Áo kéo dài từ 1740 đến 1748, trong đó vua nước Phổ là Friedrich II, hay Frederick Đại đế, giành được tỉnh giàu có Silesia từ Áo. Nữ hoàng Maria Theresa của Áo ký Hiệp ước Aix-la-Chapelle chỉ để hoãn binh và có thêm thời gian xây dựng lực lượng và liên minh mới. Bản đồ chính trị châu Âu được vẽ lại chỉ trong vài năm sau khi Áo chấm dứt mối liên mình kéo dài 25 năm với Anh. Trong cuộc Cách mạng Ngoại giao năm 1756, những kẻ thù hàng thế kỷ của nhau, Pháp, Áo và Nga, bắt tay thành lập một liên minh chống Phổ.
Quân đội Áo tỏ ra hoàn toàn lép vế so với hệ thống quân sự của nước Phổ trong cuộc chiến trước đó. Maria Theresa, với kiến thức quân sự có thể làm nhiều vị tướng của bà phải hổ thẹn, đã thúc đẩy không ngừng nghỉ việc cải cách quân đội. Bà đặc biệt nhấn mạnh phúc lợi cho binh lính, điều giúp bà giành được sự ủng hộ chắc chắn từ quân đội. Quân Áo đã hứng chịu những thất bại quân sự thảm hại trước quân Phổ trong cuộc chiến 1740-1748 và rất không hài lòng vì những hỗ trợ hết sức dè dặt và hạn chế từ đồng minh Anh. Họ quay sang phía Pháp như đồng minh duy nhất có thể giúp Áo lấy lại vùng Silesia và ngăn chặn sự bành trướng của Vương quốc Phổ.
Nguyên nhân thứ hai dẫn đến chiến tranh là cuộc tranh giành thuộc địa ngày càng trở nên gay gắt giữa Anh và Pháp ở hai lục địa châu Á và Bắc Mỹ. Công cuộc xâm lấn thuộc địa của hai cường quốc thực dân này gặp nhau ở Ohio, nơi mà cả hai đều coi là vị trí chiến lược trong việc bành trướng ở Bắc Mỹ. Trên thực tế, chiến tranh đã diễn ra từ năm 1754 giữa Anh và Pháp trên đất Mỹ, dù ở châu Âu tình trạng hòa bình mong manh vẫn được duy trì.
== Mặt trận châu Âu ==
Trên mặt trận châu Âu, trong những năm đầu Quân đội Phổ đại thắng. Dù Quốc vương Frieidrich II Đại Đế bị bao vây dữ dội, ông hành quân cùng quân nhu một cách tài tình đến đánh từng đội quân một của liên quân chống Phổ, tiêu diệt mọi hiểm họa. Tuy nhiên, vào năm 1759, ông chịu áp lực nặng nề ở khắp nơi trên toàn Vương quốc Phổ và phải chịu một số thất bại. Bên cạnh đó, liên quân chống Phổ cũng chịu tổn thất nặng nề. Khi nước Phổ không còn bị đe dọa ở phía Đông nữa, ông tiếp tục giành thắng lợi trong vài trận đánh cuối cùng ở phía Tây và ông giữ vững được tỉnh Silesia.
=== Năm 1756 ===
Khi vua Phổ Friedrich II Đại Đế đánh quân Sachsen tại Pirna, vào ngày 1 tháng 10 năm 1756, ông ta kéo 24.000 quân Phổ tấn công đội quân Áo đông đảo hơn của Thống chế Brown. Khi ấy, Thống chế Brown đang kéo quân đến cứu vãn xứ Sachsen, và ông ta phải rút quân sau mộ trận đánh khốc liệt tại Lobositz, Quân đội Phổ giành chiến thắng. Cả hai phe đều mất khoảng 3.000 binh sĩ. Tuy nhiên, chiến thắng này có ý nghĩa lớn lao đối với nhà vua nước Phổ, 17.000 quân Sachsen và 80 hỏa pháo đầu hàng Quân đội Phổ.
=== Năm 1757 ===
Tuy nhiên, trước năm 1757 chiến tranh chưa chính thức bắt đầu. Vào ngày 17 tháng 1 năm 1757, nữ hoàng Áo là Maria Theresia tuyên chiến với Đại đế Friedrich II. Từ xứ Sachsen, ông bèn xua quân chinh phạt xứ Bohemia vào tháng 4 năm 1757, nhằm "phát động một chiến dịch quyết định diệt sạch Quân đội Áo và khiến họ không có khả năng tham gia chiến tranh nữa". Cùng năm đó, quân Phổ đánh bại quân Áo tại Reichenbach, và quân Pháp xâm lược xứ Westphalia. Vua Friedrich II Đại Đế thân chinh thống lĩnh Quân đội Phổ tiến đánh Vương công Charles xứ Lorraine và Thống chế Browne - những tướng Áo đang phòng thủ kiên cố trên núi Moldau trước kinh thành Praha.
Và, ông tấn công Vương công Charles tại thành Praha vào ngày 6 tháng 5 năm 1757. Trận chiến khốc liệt diễn ra từ 9 giờ sáng đến 8 giờ tối, đã đem lại chiến thắng cho Quân đội Phổ, cùng 4.500 tù binh Áo. Thống chế Browne - thống lĩnh đạo quân tiếp viện cho Quân đội Áo - bại trận tử vong. Sau chiến thắng đó, vào ngày 29 tháng 5, Quân đội Phổ bắn phá kinh thành Praha. Nhưng đến ngày 18 tháng 6 cùng năm, 30.000 quân Phổ của Đại Đế Friedrich II bị 50.000 quân Áo đập tan tác tại Kolin, mất 14.000 binh sĩ. Trong trận chiến này Quốc vương đã sáu lần thúc dục quân sĩ tiến công, và khi họ rút lui, ông quát tháo:
Và ông đã tập hợp với Quân đội Phổ để thân chinh chém giặc. Ông nhanh chóng tiến đến, nhưng một người Anh khuyên ông: "Muôn tâu Thánh thượng, chẳn lẽ Người muốn đơn phương độc mã lao vào đâm chém đạo quân kia sao?", do đó ông rút lui. Trong cuộc chiến năm 1757, một trung thần quả cảm của nhà vua là Schwerin tử trận; ông đã chú ý đến Friedrich Wilhelm Freiherr von Seydlitz (1721 – 1773), do vị tướng ấy khéo léo và quả quyết trong việc chỉ huy Kỵ binh Phổ. Sau trận chiến này, ông phong von Seydlitz làm Trung tướng. Còn tướng chỉ huy quân cánh trái là Vương công Moritz xứ Anhalt-Dessau - từng lập chiến công tại Hohenfriedberg - thì bị thất sủng. Sau chiến bại tại Kolin, Quân đội Phổ không còn đủ sức để tiếp tục cuộc vây hãm thành Praha, khiến nhà vua mất hết những gì mà ông chiếm được trước đó, phải rút khỏi xứ Bohemia và tiến về tỉnh Silesia. Đêm sau trận, ông đau buồn ngồi trước một con suối, và dùng gây vẽ hình người trên bãi cát. Thậm chí, nhà vua còn phải nghe một tin hết sức đau buồn: Thái hậu Sophia Dorothea qua đời.
Nữ hoàng Nga là Elizaveta Petrovna đứng về phe đối lập với Friedrich II Đại đế. Bà lo sợ ông sẽ tranh giành Ba Lan với nước Nga, theo ghi nhận của nhà ngoại giao C. Hanbury Williams (người Anh), "vị Nữ hoàng khó có thể dấu giếm sự căm ghét của bà đối với Quốc vương Phổ, vì bà nổi nóng trong mọi phút". Thủ tướng Chính phủ Nga cho rằng nước Phổ là "kẻ thù nguy hiểm nhất trong các nước láng giềng, Nga hoàng cần phải tiêu diệt đế chế này". Nữ hoàng Elizaveta cũng nói:
Vào ngày 17 tháng 5 năm 1757 85.000 quân Nga tiến đánh vùng Königsberg. Dưới sự chỉ huy của Bá tước William Fermor, Quân đội Nga đã đánh chiếm vùng Memel ở Đông Phổ. Vào ngày 30 tháng 8 năm đó, Thống chế Hans von Lehwaldt xua 25.000 quân Phổ tấn công quân Nga tại Gross-Jägersdorf, và bị 55.000 quân Nga của Thống soái Stepan Fyodorovich Apraksin đập tan, nhưng sau đó quân Nga rút lui do Apraksin không biết phát huy lợi thế. Lúc bấy giờ, Nga hoàng Elizaveta Petrovna đã già yếu, Apraksin không muốn làm mất lòng vị vua tương lai của nước Nga là Pyotr III bằng việc chạm trán với Friedrich II - người anh hùng của Pyotr III. Hơn nữa, quân Nga cũng chịu tổn thất nặng nề trong trận đánh với quân Phổ, và quân lương của quân Nga cũng trở nên hỗn loạn. Dù sao thì thất bại của Quân đội Phổ tại Gross-Jägersdorf đã lôi kéo Vương quốc Thuỵ Điển vào tham chiến.
Vào ngày 7 tháng 9 cùng năm, một sủng thần của vua Phổ là Winterfield bị đột kích và giết chết tại Moys. Tuy vậy, nhà vua Phổ nước vẫn giữ một cái đầu lạnh. Có một sự thật rằng những đạo quân đối thủ của ông tỏ ra chậm chạp trong việc phát huy lợi thế của phe mình. Từ ngày 12 đến ngaỳ 24 tháng 10 năm 1757, Quân đội Phổ còn phải đương đầu với cuộc tiến công thành Berlin của tướng Haidik và Quân đội Áo. Vào ngày 5 tháng 11 năm 1757, vua Friedrich II Đại Đế thân chinh cùng 30.000 quân Phổ phải đối mặt với 80.000 quân Áo và Pháp do Thống chế Soubise chỉ huy trong trận Rossbach. Liên quân Áo - Pháp tấn công nhà vua trên đỉnh núi Rossbach. Tuy nhiên, lực lượng Kỵ binh Phổ do Seidlitz chỉ huy phản công quân Áo, đẩy địch vào hỗn loạn, rồi lực lượng Bộ binh Phổ thừa thắng xông lên đập tan tác quân Áo, với tổn thất của liên quân là 4.000 binh sĩ tử trận hoặc thương vong, 7.000 binh sĩ, trong số đó có 11 tướng lĩnh và 63 hỏa pháo, bị Quân đội Phổ chiếm lĩnh. Quân đội Phổ chỉ tổn thất 3.000 binh sĩ.
Vào ngày 5 tháng 12 năm 1757, Quốc vương Friedrich II Đại Đế thống lĩnh 33.000 quân Phổ đánh trận Leuthen với 90.000 quân Áo do Vương công Charles xứ Lorraine và Bá tước Daun cầm đầu. Ông đánh nghi binh vào cánh phải của quân Áo, sau đó, ông nhờ vào địa hình của vùng Leuthen mà rút quân chính quy, và tấn công quyết liệt vào cánh trái của quân Áo, đẩy lui quân cánh trái của đối phương. Quân cánh trái của Áo đã bị tiêu diệt hoàn toàn trong một cuộc tấn công của lực lượng Kỵ binh Phổ. Quân Áo tổn thất đến 7.000 binh sĩ (trận vong hoặc bị thương), 20.000 tù binh (trong số đó có ba viên tướng lĩnh), và 134 khẩu đại pháo. 5.000 binh sĩ Phổ tử trận hoặc bị thương. Sau chiến thắng này, Quốc vương Phổ mang 18.000 quân tái chiếm Breslau vào ngày 10 tháng 12 năm 1757.
=== Năm 1758 ===
Vào năm 1758, Quốc vương Friedrich II Đại Đế đã gặt hái nhiều chiến công từ năm trước, nên trở nên tự tin hơn. Ông tiến đánh xứ Moravia, để đánh đuổi quân Áo ra khỏi bờ cõi Silesia. Tuy nhiên, ông thất bại. Quân đội Áo giữ được Olmütz, và do họ học được bài học từ chiến bại của họ tại Leuthen, họ không tiến hành một cuộc phản công quyết định. Họ chỉ đẩy lui cuộc tấn công bằng cách đánh lừa các cánh quân của ông. Quân đội Phổ phải rút quân về xứ Bohemia, sau đó kéo nhau về tỉnh Silesia.
Trong lúc đó, Quân đội Nga là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với nền quân chủ Phổ thời bấy giờ. Quân Nga chiếm được xứ Đông Phổ không được phòng thủ, sau đó tiến hành vây hãm Custria gần kinh thành Berlin. Với một số Trung đoàn hùng mạnh nhất của ông, Quốc vương Friedrich II Đại Đế kéo quân về phương Bắc. Vào ngày 25 tháng 8 năm 1758, trận Zorndorf giữa ra giữa 52.000 quân Nga do Fermor chỉ huy và 30.000 quân Phổ do vua Friedrich II Đại Đế thân chinh thống lĩnh. Ông tiến hành tấn công các chiến hào của quân Nga, và đánh đuổi quân Nga ra khỏi đây. Trận Zorndorf là trận đánh khốc liệt nhất trong cuộc chiến tranh Bảy năm, Quân đội Nga đã chiến đấu anh dũng dù thất bại thảm hại. Với tổn thất đến 21.000 binh sĩ, quân Nga buộc phải rút quân khỏi trận địa, và chấm dứt cuộc tiến công của họ. Vua Friedrich II Đại Đế giành chiến thắng, Quân đội Phổ mất khoảng 11.000 binh sĩ. Cũng như trận thắng vang dội tại Rossbach năm trước, ông giành chiến thắng lừng lẫy tại Zorndorf là nhờ sự phò tá đắc lực của hai viên chỉ huy Kỵ binh Phổ kiệt xuất là Friedrich Wilhelm von Seydlitz và Hans Joachim von Zieten.
Ở phương Bắc, các tướng Phổ đã đánh tan tác các cuộc tấn công của liên quân Nga - Thụy Điển. Quân Nga rút khỏi pháo đài Kolberg và rút về sông Vistula. Vào ngày 23 tháng 6 năm 1758, 32.000 liên quân Hannover - Hessen - Braunschweig do Công tước Ferdinand xứ Braunschweig, đánh trận Crefeld với 50.000 quân Pháp của Tử tước Clermont. Quân đội Hannover giành chiến thắng oanh liệt và gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp.
=== Năm 1759 ===
Cuộc chiến năm 1759 có lẽ là thảm họa kinh khủng nhất trong suốt cuộc đời của Quốc vương Friedrich II Đại Đế, nhưng cũng qua chiến dịch này mà ông ta giữ vững Vương hiệu "Đại Đế". Vào ngày 13 tháng 4 năm 1749, Công tước Ferdinand xứ Braunschweig bị quân Pháp của Công tước Broglio đánh bại trong trận Bergen. Không những thế, tại lãnh địa Brandenburg, đạo quân Phổ của tướng Wedel chịu thất baị thảm hại trước quân Nga trong trận Züllichau vào ngày 23 tháng 7 năm 1759. Vào ngày 12 tháng 8 năm 1759, quân Phổ đánh liên quân Nga - Áo trong trận Kunersdorf, một trong những trận đánh khốc liệt nhất trong thời kỳ cận đại. Quân Phổ thất bại và chịu tổn thất nặng nề, liên quân chống Phổ giành chiến thắng kiểu Pyrros.
Tuy nhiên, trong tình cảnh ấy, không có một dân tộc hay một người nào khác ngoài Quốc vương Friedrich II Đại Đế và dân tộc Phổ có thể phục hồi lại sau trận thảm bại. Do quân Nga và quân Áo cũng chịu tổn thất rất nặng nề, họ không đánh nữa, và nhà vua nước Phổ có thời gian để tái xây dựng lực lượng. Thế nhưng, với những trận chiến sau đó, tình hình vẫn chưa nghiêng về lợi thế cho nước Phổ.
Thậm chí vào ngày 10 tháng 9 cùng năm, trong trận hải chiến Newarp (Stettiner Haff), Hải quân Thuỵ Điển phá hủy một đội tàu nhỏ của người Phổ. Sau đó, ngày 25 tháng 9 năm ấy, quân Phổ của Hoàng tử Heinrich đánh tan quân Áo của tướng Wehla trong trận chiến Hoyerswerda, tiêu diệt 600 binh sĩ đối phương. Nhưng 14.000 quân Phổ dưới sự chỉ huy của Frederick Augustus Finck - một tướng giỏi của nhà vua - lại bị quân Áo đánh bại trong trận Maxen vào ngày 20 tháng 11 năm 1759.
=== Năm 1760 ===
Tuy lâm vào tình thế khó khăn như Quốc vương Friedrich II Đại Đế xuất quân đánh tan tác liên quân Nga - Áo trong trận Liegnitz (1760). Sau đó, ông lại đánh bại quân Áo trong trận Torgau.
=== Năm 1761 ===
Vào năm 1761, lực lượng Hải quân của Vương quốc Phổ đã được tái xây dựng. Trên đường bộ, người Thụy Điển cho 15.000 quân tiến đánh nước Phổ, và bị chặn đứng bởi đội kỵ binh nhẹ của viên Sĩ quan Wilhelm Sebastian von Belling cùng lực lượng dân quân tỉnh Pomerania. Quân đội Áo đã đẩy lùi Quân đội Phổ của Hoàng tử Friedrich Heinrich Ludwig ra khỏi vùng Freiberg trên dòng sông Mulde. Song, ông đã giành thắng lợi giữ vững xứ Sachsen trong tay Quân đội Phổ, không để xứ Sachsen rơi vào tay của Thống chế Daun. Trong lúc đó, bước tiến công của quân Pháp do Broglie chỉ huy đã bị Công tước Ferdinand xứ Braunschweig đánh lui, đánh đuổi quân Pháp ra khỏi xứ Hannover. Vào năm 1761, vua Friedrich II Đại Đế vẫn chặn đứng được liên quân đông đảo hơn hẳn, nhờ vào thiên tài quân sự của ông. Trong cuộc chiến năm 1761, ông không đánh một trận lớn nào cả. Tuy nhiên, nước Phổ gặp không ít khó khăn trong cuộc chiến vào năm 1761. Cuối cùng, nước Phổ đã đứng trước nguy cơ thất bại.
Sau vài lần bị Quân đội Phổ đẩy lui, vào tháng 12 năm 1761, liên quân Nga - Thụy Điển do Zakhar Grigoryevich Chernyshov và Pyotr Aleksandrovich Rumyantsev-Zadunaisky chỉ huy chiếm được Kolberg (Pomerania) - một pháo đài quan trọng của Quân đội Phổ trên vùng biển Baltic, đồng thời quân Áo đánh chiếm Schweidnitz. Như vậy là quân Phổ đã mất pháo đài cuối cùng của họ trên biển này. Trong khi Quân đội Áo đã có thể nghỉ đông tại Silesia và miền Tây Sachsen, Quân đội Nga cũng có thể nghỉ đông tại vùng Pomerania. Tuy nhiên, quân Nga thất bại trong việc đánh chiếm Stettin, còn quân Thụy Điển cũng bị quân Phổ của Đại tá Belling đánh bại. Vào năm 1762, nước Anh đánh Tây Ban Nha, vì vậy họ phải cắt giảm quân số hỗ trợ Phổ để tập trung vào việc đánh quân Tây Ban Nha.
Không những thế, do Thủ tướng Anh William Pitt Già mất chức vào tháng 10 năm 1761, nước Phổ không thể nhận được viện trợ của Anh Quốc nữa, nên tài nguyên và nhân lực của nước Phổ đều kiệt quệ. Tình hình nước Phổ nguy kịch đến mức vua Friedrich II Đại Đế đã nghĩ đến chuyện hoặc là nhận lấy cái chết anh dũng của nhà chính trị Cato Trẻ thời La Mã cổ đại với bình thuốc độc của ông, hoặc là làm theo những lời răn dạy của lãnh tụ Julius Caesar, cố gắng chiến đấu cho thật tốt. Ông có nói:
=== Toàn dân Phổ cùng vùng lên chiến đấu ===
Nhưng, toàn dân Phổ không hề tuyệt vọng. Họ trở nên kính trọng vị Quốc Vương của họ, trong hoàn cảnh khó khăn như thế, họ nhiệt liệt hỗ trợ và hoan nghênh ông, thể hiện rõ rệt niềm tin cậy của họ đối với ông. Tầng lớp thanh niên mọi giai cấp, với lòng yêu nước nồng nàn và lòng trung thành tận tụy đối với ông, họ đều nhập ngũ dưới ngọn cờ của vị Quân vương anh dũng. Không những thế, ông đã nhận thấy sức mạnh của đức tin Ki-tô giáo. Những vị tướng theo Ki-tô giáo của ông, Ziethen - lấy cảm hứng từ lòng yêu nước của một người theo Tin Lành được thức tỉnh là Zinzendorf ở vùng Moravia, Spener, Franke thẳng thắn can gián nhà vua, họ cho rằng tự sát là một hành vi trái ngược với đức tin Ki-tô giáo.
Trong khi vị Quốc vương vĩ đại thường tuyệt vọng, các vị tướng sùng đạo của ông đã dẫn dắt ông trên con đường đúng đắn, nhờ vào lòng tin của họ vào Thiên Chúa - "Người sẽ bảo vệ và giữ vững nước Phổ - thành lũy của đức tin Kháng Cách, chính nghĩa của Đức Chúa và Phúc Âm". Ở các xứ đạo, những mục sư Tin Lành cũng hợp tác với nhau, kêu gọi muôn dân hết lòng vì Tổ quốc, và giữ vững tỉnh thần dân tộc Phổ. Xưa vị vua thiên tài đã động viên tinh thần của nhân dân Phổ, nay nhân dân Phổ động viên tinh thần của ông. Rõ ràng, chừng nào Quân đội Phổ vẫn còn tiếp tục chiến đấu, lại còn trở nên vững mạnh bởi sự tham chiến của toàn dân Phổ, cả Quốc vương và Quân đội Phổ vẫn có thể thách thức quân xâm lược: Quốc vương, Quân đội và Nhân dân hợp nhất vô cùng chặt chẽ không thể nào rời ra, tất cả đều bị đe dọa bởi sự suy sụp của Vương quốc Phổ; nếu chuyện này là không thể tránh khỏi, tất cả mọi người Phổ nhất định phải nhận lấy nó trong niềm vinh quang. Bản thân ông cũng nói tiếp:
=== Năm 1762 ===
Trong lúc đó, toàn bộ liên quân chống Phổ đều kiệt quệ cả, mệt mỏi vì chiến tranh và suy sụp kinh tế, vì thế họ vẫn không thể diệt nổi nước Phổ. Nước Nga mất vô số nhân lực và tiền của, nước Pháp ngày càng lâm vào tình cảnh hấp hối trong khi Nữ hoàng Áo là Maria Theresia phải sa thải 20.000 binh sĩ vì họ đòi tiền. Tình hình chính trị và quân sự châu Âu trở nên bế tắc, nước Áo gặp những khó khăn về tài chính, nước Nga mệt mỏi với cuộc chiến tranh, nước Thụy Điển còn chuẩn bị rút khỏi cuộc chiến tranh, trong khi Đế quốc Ottoman - Thổ Nhĩ Kỳ tỏ ra lạnh lùng với nước Pháp. Với ý chí quyết đấu và tài năng tổ chức bộ máy Nhà nước - vốn là một trong những tài năng vĩ đại nhất của ông, nhà vua nước Phổ đã tăng gấp đôi quân số của mình. Vào năm 1762, trong lúc liên quân kiệt quệ, Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna qua đời, Nga hoàng Pyotr III lên kế ngôi vua. Cuộc chiến tranh Bảy năm là một cuộc chiến tranh tốn kém của nước Nga; người ta nói ông vô cùng ngưỡng mộ vua Friedrich II Đại Đế, và do đó ông đã ký kết Hiệp định Sankt-Peterburg vào ngày 15 tháng 5 năm 1762 - một chuyển biến lớn lao được xem là "Phép lạ của Nhà Brandenburg". Ông đã trả lại đất đai cho nhà vua nước Phổ, lại còn "biếu" cho Quân đội Phổ một quân đoàn của Quân đội Nga. Theo chân nước Nga, Vương quốc Thụy Điển cũng ký kết Hòa ước Hamburg vào ngày 22 tháng 5 năm 1762 với Vương quốc Phổ.
Sau khi liên quân chống Phổ đều kiệt quệ và Đế quốc Nga và Vương quốc Thuỵ Điển ký hoà ước với Đại đế Friedrich II, ông đã mở ra chiến dịch năm 1762 và tập trung vào việc đánh bại quân Áo và quân Pháp. Giờ đây, Tướng Zakhar Grigoryevich Chernyshov cùng một đạo quân Nga - từng sát cánh với Thống chế Áo Ernst Gideon von Laudon trước kia - đứng về phe nhà vua Phổ. Quân Anh và quân Phổ đã giành được lợi thế trong cuộc chiến tranh Bảy năm. Trên mặt trận miền Tây, Thống chế - Công tước Ferdinand vùng Braunschweig vẫn duy trì được sự huy hoàng của Vương quốc Phổ. Vào ngày 24 tháng 6 năm 1762, Công tước Ferdinand thống lĩnh quân Phổ cùng liên quân Anh-Hannover-Braunschweig-Hessen đánh thắng quân Pháp của Vương công Charles Rohan xứ Soubise và Duc D’Estrées trong trận chiến Wilhelmstahl, chỉ tổn thất 707 binh sĩ.
Vào ngày 9 tháng 7 năm 1762, Nga hoàng Pyotr III bị Hoàng hậu Ekaterina là vợ ông lật đổ. Tuy nhiên, Nữ hoàng Nga mới là Ekaterina II Đại Đế chỉ đề nghị rút đạo quân Nga đang hỗ trợ vua Phổ về nước, chứ vẫn đề cao nền hòa bình. Sở dĩ bà giữ vững nền hòa bình mà hai vua Pyotr III và Friedrich II Đại Đế đã thiết lập là do ngân khố quốc gia Nga đã trống rỗng, và quân sĩ Nga chưa được trả tiền công. Mặc dù có đồng minh, nhà vua nước Phổ bỏ thêm tiền vào ngân khố qua việc cướp phá tàn bạo các xứ Mecklenburg và Sachsen đang bị Quân đội Phổ chiếm đóng; không những thế, ông còn thực hiện một chính sách gây lạm phát cũng tàn nhẫn không kém, làm giảm giá đáng kể đồng tiền. Chính sách này của ông được những thương nhân người Do Thái hỗ trợ. Nhà vua nước Phổ vẫn tiếp tục đập tan tác liên quân Áo - Pháp trong một loạt trận chiến sau đó, với những chiến thắng lừng lẫy nhất là cuộc tái chiếm thành Schweidnitz và giữa vững được vùng Silesia phía Bắc thành Glatz. Trên mặt trận phía Tây, Công tước Ferdinand xứ Braunschweig vẫn đánh bại quân Pháp như các chiến dịch trước, vai trò của ông chỉ là phòng thủ và ông đã thể hiện tài năng xuất chúng. Không những thế, Hoàng tử Heinrich cũng xuất quân đánh tan tác Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh trong trận Freiberg vào ngày 29 tháng 10 năm 1762. Không những toàn thắng tại xứ Sachsen, vị vua năng nổ Friedrich II Đại Đế đẩy lui quân Áo đến tận bức tường thành Praha, xứ Bohemia. Nhưng vậy, liên quân chống Phổ đã hoàn toàn thất bại và không thể chống nổi sự chống trả của nhà vua và toàn quân Phổ nữa. Trong thời gian đó, quân Thổ Nhĩ Kỳ cũng hỗ trợ ông: họ mở đầu cuộc chinh phạt xứ Hungary. Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã kéo đến sông Danube và thắng lợi.
Dù Đại Đế Friedrich II đã dè bẹp quân Pháp tại Rossbach (1757), hai nước Pháp - Phổ chưa hề tuyên chiến với nhau; do đó, vua Louis XV ngừng bắn trên thực tế với nhà vua nước Phổ, thay vì ký kết hòa ước với ông. Vua Pháp phải trả cho vua Phổ những vùng đất bị quân Pháp chiếm đóng bên sông Rhein: Cleves, Gelders và Mörs. Vào ngày 3 tháng 2 năm 1763, Hòa ước Paris được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh Anh-Pháp. Mất đồng minh, nước Áo tuyệt vọng, với ngân khố đã kiệt quệ. Với sự hỗ trợ của các nhà ngoại giao người Sachsen, các cuộc đàm phán hòa bình giữa Vương quốc Phổ và Đế quốc Áo đã diễn ra tại lâu đài Hubertusburg của xứ Sachsen. Qua những cuộc tranh luận, Đại Đế Friedrich II giữ vững được toàn bộ những vùng đất mà ông đã chiếm được trong cuộc Chiến tranh Kế vị Áo. Vào ngày 15 tháng 2 năm 1763, cuộc chiến tranh Bảy năm kết thúc: Trong suốt bảy năm qua, Quân đội Phổ đã chiến đấu chống liên quân ba liệt cường quân sự Nga - Áo - Pháp và giữ vững đất nước, giờ đây tất cả mọi quốc gia đều kiệt quệ: sự cương quyết, lòng dũng cảm và tài năng của Đại Đế Friedrich II cuối cùng đã mang lại danh dự và chiến thắng cho ông. Nước Phổ hoàn toàn trở thành một liệt cường. Vào ngày 30 tháng 3 năm 1763, Đại Đế Friedrich II khảo hoàn trở về kinh đô Berlin. Tuy toàn thắng nhưng ông không tham dự bất kỳ một lễ mừng chiến thắng nào cả.
== Hậu quả ==
Theo ước tính của vua Phổ là Friedrich II Đại Đế:
Tuy Quân đội Nga chỉ tham gia bốn trận đánh lớn, họ mất đến 120.000 binh sĩ.
Tuy Quân đội Phổ tham gia đến 16 trận đánh lớn, họ chỉ mất khoảng 180.000 binh sĩ.
Trong khi Quân đội Áo tham gia đến 10 trận đánh lớn, họ chỉ mất khoảng 140.000 binh sĩ.
Vua Friedrich II Đại Đế chỉ cho rằng, ông chiến thắng chỉ là do liên quân chống Phổ thiếu tinh thần, những mưu kế thiển cận của quân Áo - vốn luôn giao cho đồng minh của họ mọi trách nhiệm, và cái chết của Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna - sự kiện dẫn tới sự tan rã của liên quân chống Phổ. Tuy nhiên, lòng quả cảm, kiên cường, bền chí và thiên tài của vua Friedrich II Đại Đế đã giúp cho Quân đội Phổ ít ỏi vẫn vững bền sau những trận bại, và thông qua những trận thắng vốn gây tổn hại hơn hẳn những trận bại, cứu vãn được Vương quốc Phổ nhỏ bé. Do những giáo sĩ Công giáo đã làm phản trong suốt những năm chinh chiến, ông xóa bỏ chính sách buộc các tín đồ Kháng Cách phải nộp thuế cho Giáo hội Công giáo tại tỉnh Silesia, làm mất uy thế của Giáo hội Công giáo. Tuy nhiên, Triều đình Phổ vẫn đối xử tốt đẹp với các tín đồ Công giáo hơn cả so với các Triều đình Kháng Cách khác.
== Các trận đánh ==
Trận đánh Minorca: 20 tháng 5 năm 1756
Trận đánh Lobositz: 1 tháng 10 năm 1756
Trận đánh Reichenberg: 21 tháng 4 năm 1757
Trận đánh Prague: 6 tháng 5 năm 1757
Trận đánh Kolín: 18 tháng 6 năm 1757
Trận đánh Plassey: 23 tháng 6 năm 1757
Trận đánh Hastenbeck: 26 tháng 7 năm 1757
Trận đánh Pháo đài William Henry: 3 tháng 8 – 8 tháng 8 năm 1757
Trận đánh Gross-Jagersdorf: 30 tháng 8 năm 1757
Trận đánh Moys: 7 tháng 9 năm 1757
Trận đánh Rossbach: 5 tháng 11 năm 1757
Trận đánh Breslau: 22 tháng 11 năm 1757
Trận đánh Leuthen: 5 tháng 12 năm 1757
Trận đánh Cuddalore: 29 tháng 4 năm 1758
Trận đánh Domstadtl: 30 tháng 6 năm 1758
Trận đánh Carillon: 7 tháng 7 – 8 tháng 7 năm 1758
Trận đánh Negapatam: 3 tháng 8 năm 1758
Trận đánh Zorndorf: 25 tháng 8 năm 1758
Trận đánh Hochkirk: 14 tháng 8 năm 1758
Trận đánh Bergen: 13 tháng 4 năm 1759
Trận đánh Kay: 23 tháng 7 năm 1759
Trận đánh Minden: 1 tháng 8 năm 1759
Trận đánh Kunersdorf: 12 tháng 8 năm 1759
Trận đánh Lagos: 19 tháng 8 năm 1759
Trận đánh Pondicherry: 10 tháng 9 năm 1759
Trận đánh Québec, cũng được gọi Trận đánh Đồng bằng Abraham: 13 tháng 9 năm 1759
Trận đánh Hoyerswerda: 25 tháng 9 năm 1759
Trận đánh Vịnh Quiberon: 20 tháng 11 năm 1759
Trận đánh Maxen: 21 tháng 11 năm 1759
Trận đánh Meissen: 4 tháng 12 năm 1759
Trận đánh Landshut: 23 tháng 6 năm 1760
Trận đánh Warburg: 1 tháng 8 năm 1760
Trận đánh Liegnitz: 15 tháng 8 năm 1760
Trận đánh Torgau: 3 tháng 11 năm 1760
Trận đánh Villinghausen: 15 tháng 7 – 16 tháng 7 năm 1761
Trận đánh Burkersdorf: 21 tháng 7 năm 1762
Trận đánh Lutterberg lần thứ 2: 23 tháng 7 năm 1762
Trận đánh Manila: 24 tháng 9 năm 1762
Trận đánh Freiberg: 29 tháng 10 năm 1762
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Brackenbury, C. B. (Charles Booth), 1831-1890, Frederick the Great, London: Chapman and Hall. 1884
Anderson, Fred. Crucible of War: The Seven Years' War and the Fate of Empire in British North America, 1754–1766. Faber and Faber, 2000.
Carter, Alice Clare. The Dutch Republic in Europe in the Seven Years War. MacMillan, 1971.
Dull, Jonathan R. The French Navy and the Seven Years' War. University of Nebraska Press, 2005.
A. Henry Higginson, The book of the horse, Nicholson & Watson, 1949.
Fish, Shirley When Britain ruled the Philippines, 1762–1764: the story of the 18th century British invasion of the Philippines during the Seven Years War. 1stBooks Library, 2003. ISBN 1-4107-1069-6, ISBN 978-1-4107-1069-7
Henry Morse Stephens, Syllabus of a course of eighty-seven lectures on modern European history (1600-1890), The Macmillan company, 1899.
Sir Richard Lodge, A History of Modern Europe from the Capture of Constantinople, 1453, to the Treaty of Berlin, 1878, General Books LLC, 2009, ISBN 1-150-00021-X.
Fowler, William H. Empires at War: The Seven Years' War and the Struggle for North America. Vancouver: Douglas & McIntyre, 2005. ISBN 1-55365-096-4.
Heidler, David Stephen; Heidler, Jeanne T.. Daily lives of civilians in wartime early America: from the colonial era to the Civil War. Greenwood Publishing Group; 2007. ISBN 978-0-313-33526-6.
Keay, John. The Honourable Company: A History of the English East India Company. Harper Collins, 1993
Marston, Daniel. The Seven Years' War. Essential Histories. Oxford, UK: Osprey, 2001. ISBN 1-84176-191-5.
McLynn, Frank. 1759: The Year Britain Became Master of the World. London: Jonathan Cape, 2004. ISBN 0-224-06245-X.
Rodger, N.A.M. Command of the Ocean: A Naval History of Britain 1649–1815. Penguin Books, 2006.
== Đọc thêm ==
Anderson, Fred. Crucible of War: The Seven Years' War and the Fate of Empire in British North America, 1754–1766. Faber and Faber, 2000.
Carter, Alice Clare. The Dutch Republic in Europe in the Seven Years War. MacMillan, 1971.
Ralph Griffiths, The Monthly review, Tập 68, Printed for R. Griffiths, 1812.
Dull, Jonathan R. The French Navy and the Seven Years' War. University of Nebraska Press, 2005.
Fish, Shirley When Britain ruled the Philippines, 1762–1764: the story of the 18th century British invasion of the Philippines during the Seven Years War. 1stBooks Library, 2003. ISBN 1-4107-1069-6, ISBN 978-1-4107-1069-7
Fowler, William H. Empires at War: The Seven Years' War and the Struggle for North America. Vancouver: Douglas & McIntyre, 2005. ISBN 1-55365-096-4.
Heidler, David Stephen; Heidler, Jeanne T.. Daily lives of civilians in wartime early America: from the colonial era to the Civil War. Greenwood Publishing Group; 2007. ISBN 978-0-313-33526-6.
Keay, John. The Honourable Company: A History of the English East India Company. Harper Collins, 1993
Marston, Daniel. The Seven Years' War. Essential Histories. Oxford, UK: Osprey, 2001. ISBN 1-84176-191-5.
McLynn, Frank. 1759: The Year Britain Became Master of the World. London: Jonathan Cape, 2004. ISBN 0-224-06245-X.
Rodger, N.A.M. Command of the Ocean: A Naval History of Britain 1649–1815. Penguin Books, 2006.
== Liên kết ngoài ==
The Seven Years' War from The Canadian Encyclopedia
Leuthen Journal
The French Army 1600–1900
Events and the participants in the Seven Years War
Seven Years' War timeline
The Columbia Encyclopedia, Sixth Edition's entry on the Seven Years' War
Another Seven Years' War timeline
Memorial University of Newfoundland's page about the war
Kronoskaf.com: Seven Years' War Knowledge Base
1759: From the Warpath to the plains of Abraham Virtual Exhibition.
The Seven Years' War in Canada
Clash of Empires and The Battle of the Plains of Abraham - The Canadian War Museum |
tây hạ.txt | Tây Hạ (tiếng Trung: 西夏; bính âm: Xī Xià; chữ Tây Hạ: hoặc ) (1038-1227) là một triều đại do người Đảng Hạng kiến lập trong lịch sử Trung Quốc. Dân tộc chủ thể của Tây Hạ là người Đảng Hạng, ngoài ra còn có người Hán, người Hồi Cốt, người Thổ Phồn. Do triều đại này nằm ở tây bắc bộ của khu vực Trung Quốc nên được sử sách chữ Hán gọi là "Tây Hạ".
Người Đảng Hạng vốn cư trú trên cao nguyên Tùng Phan ở Tứ Xuyên, đến thời Đường thì dời đến Thiểm Bắc. Do người Đảng Hạng có công bình loạn giúp triều đình, được hoàng đế Đường phong là Hà châu Tiết độ sứ, trước sau thần phục Đường, các triều Ngũ Đại và Tống. Sau khi chính quyền Hạ châu bị Bắc Tống thôn tính, Lý Kế Thiên không muốn đầu hàng nên một lần nữa dựng nước, nhận được sắc phong của Hoàng đế triều Liêu. Lý Kế Thiên chọn sách lược liên kết với Liêu chống Tống, liên tiếp chiếm lĩnh được khu vực Lan châu và Hà Tây tẩu lang. Năm 1083, Lý Nguyên Hạo xưng đế dựng nước, tức Hạ Cảnh Tông, Tây Hạ chính thức dựng nước. Trong chiến tranh với Tống và với Liêu, Tây Hạ về cơ bản giành được thắng lợi, hình thành cục diện chân vạc ba nước. Sau khi Hạ Cảnh Tông qua đời, đại quyền nằm trong tay thái hậu và mẫu đảng, sử gọi là thời kỳ mẫu đảng chuyên chính. Do đối đầu giữa hoàng đảng và mẫu đảng, Tây Hạ phát sinh nội loạn, Bắc Tống thừa cơ nhiều lần đem quân đánh Tây Hạ. Tây Hạ phòng ngự thành công, đồng thời đánh tan quân Tống, song bị mất Hoành Sơn khiến cho tuyến phòng ngự của Tây Hạ xuất hiện lỗ hổng. Sau khi triều Kim của người Nữ Chân nổi lên rồi tiêu diệt Liêu và Bắc Tống, Tây Hạ chuyển sang thần phục Kim, thu được không ít đất đai, hai bên kiến lập "Kim-Hạ đồng minh" và nhìn chung có quan hệ hòa bình. Trong thời gian Hạ Nhân Tông Lý Nhân Hiếu trị vì, Tây Hạ xảy ra sự kiện thiên tai và "Nhâm Đắc Kính phân quốc", song sau khi trải qua cải cách, đến những năm Thiên Thịnh thì lại xuất hiện thịnh thế. Tuy nhiên, Đại Mông Cổ Quốc ở Mạc Bắc nổi lên, sáu lần đem quân xâm lược Tây Hạ, phá vỡ đồng minh giữa Tây Hạ và Kim, khiến Tây Hạ và Kim tàn sát lẫn nhau. Trong nội bộ Tây Hạ cũng nhiều lần diễn ra việc giết vua, nội loạn, kinh tế do hậu quả của chiến tranh mà tiến đến bờ sụp đổ. Cuối cùng, Tây Hạ bị Mông Cổ tiêu diệt vào năm 1227.
Tây Hạ có nền chính trị liên hiệp Phiên-Hán, lấy người Đảng Hạng làm chủ đạo, người Hán và các dân tộc khác là phụ. Chế độ chính trị lưỡng nguyên Phiên-Hán dần biến thành chế độ nhất nguyên hóa theo Hán pháp. Quyền vua Tây Hạ phải chịu sự cạnh tranh với các thế lực quý tộc, mẫu đảng hay quyền thần, cho nên hỗn loạn không ổn định. Tây Hạ nằm tại khu vực Hà Tây tẩu lang và Hà Sáo, ở giữa các thế lực hùng mạnh, do vậy triều đại này về mặt đối ngoại thì chọn sách lược dựa vào kẻ mạnh, công kích kẻ yếu, dùng chiến tranh để cầu hòa bình. Phương pháp quân sự của người Đảng Hạng rất linh hoạt, phối hợp với địa hình sa mạc, lựa chọn chiến thuật là tới khi thuận lợi, lui khi bất lợi, dụ địch đến nơi bố trí mai phục, cắt đứt đường vận chuyển lương thảo của địch; đồng thời có các binh chủng đặc thù như "thiết diêu tử", "bộ bạt tử", "bát hỉ" phụ trợ. Về mặt kinh tế, Ngành chăn nuôi và thương nghiệp là chủ yếu, mậu dịch đối ngoại của Tây Hạ dễ chịu ảnh hưởng từ triều đại Trung Nguyên, việc có thể lũng đoạn Hà Tây tẩu lang và tuế tệ của Bắc Tống khiến cho nền kinh tế Tây Hạ được hỗ trợ rất lớn.
Tây Hạ là một đất nước Phật giáo, cho xây dựng một lượng lớn chùa tháp, nổi tiếng nhất là "Thừa Thiên tự tháp". Tuy vậy, Tây Hạ cũng là một quốc gia xem trọng Nho học và Hán pháp, trước khi dựng nước thì tích cực Hán hóa; tuy nhiên Hạ Cảnh Tông đề xướng văn hóa Đảng Hạng, Hồi Cốt và Thổ Phồn để duy trì bảo hộ văn hóa bản địa; đồng thời sáng lập ra chữ Tây Hạ, đặt ra hệ thống quan lại, tập quán riêng; song từ sau thời Hạ Nghị Tông đến Hạ Nhân Tông, Tây Hạ chuyển từ Phiên-Hán đồng hành sang Hán hóa toàn diện. Văn học Tây Hạ chủ yếu là thi ca và ngạn ngữ. Về nghệ thuật, tại hang Mạc Cao ở Đôn Hoàng, hang Du Lâm ở Qua Châu có các bích họa về Phật giáo, với điểm đặc sắc "lục bích họa". Ngoài ra, về những mặt điêu khắc, âm nhạc hay vũ đạo, Tây Hạ cũng có đặc điểm độc đáo.
== Lịch sử ==
=== Thiên di và cát cứ Hạ châu ===
Tây Hạ do người Đảng Hạng lập nên, tộc người này là một chi của người Khương, có thuyết thống Tiên Ti. Thời Đường, người Đảng Hạng cư trú tại khu vực cao nguyên Tùng Phan thuộc Tứ Xuyên ngày nay, là một trong các châu ki mi của triều Đường. Đương thời, người Đảng Hạng phân thành tám bộ, Thác Bạt thị là cường thịnh nhất. Thời trung Đường, Thổ Phồn khuếch trương lãnh thổ, áp bách người Đảng Hạng, triều đình Đường bang trợ thủ lĩnh Đảng Hạng đưa người dân thiên cư đến khu vực Thiểm Bắc, Năm 881, người thuộc Bình Hạ bộ là Thác Bạt Tư Cung do có công giúp Đường trấn áp loạn Hoàng Sào nên được Đường Hy Tông phong làm Hạ châu tiết độ sứ, hiệu là Định Nan quân. Sau khi Thác Bạt Tư Cung hiệp trợ triều đình thu phục Trường An, lại được hoàng đế Đường phong là Hạ quốc công, ban cho họ Lý, (của hoàng tộc triều Đường), được lĩnh vùng đất Hạ-Ngân chính quyền Hạ châu (tên gọi chính thức là Hạ châu tiết độ sử hoặc Định Nan quân) hình thành, trở thành một phiên trấn cát cứ ở Thiểm Bắc. Thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, chính quyền Hạ châu tránh tham gia vào các tranh đấu giữa những thế lực tại Trung Nguyên, xưng thần với Ngũ Đại và Bắc Hán để củng cố thế lực tại Thiểm Bắc. Thời Hậu Đường, Hậu Đường Minh Tông Lý Tự Nguyên có ý muốn hoán đổi chức vụ của Đình châu Tiết độ sứ An Trọng Tiến và Hạ châu Tiết độ sứ Lý Di Siêu, mục đích là để thôn tính chính quyền Hạ châu. Tuy nhiên, Lý Di Siêu cực lực phản đối, cuối cùng đẩy lui được đội quân Hậu Đường do An Trọng Hối lãnh đạo, sang những năm đầu Bắc Tống thì chính quyền Hạ châu có được thực lực hùng hậu.
Sau khi Triệu Khuông Dận kiến lập triều Tống vào năm 960, thủ lĩnh chính quyền Hạ châu là Lý Di Ân xưng thần với Bắc Tống, đồng thời nhiều lần hiệp trợ Bắc Tống trong việc đối kháng với Bắc Hán. Sau khi Bắc Tống liên tiếp bình định các nước phương nam, Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa chuyển chú ý sang phương bắc, có ý muốn trừ bỏ chính quyền Hạ châu. Năm 982, Tống Thái Tông mời Hạ châu Tiết độ sứ Lý Kế Phủng và tộc nhân thiên cư đến Khai Phong, mệnh một người thân Tống là Lý Khắc Văn kế nhiệm, chính quyền Hạ châu bị Bắc Tống thôn tính. Tộc đệ của Lý Kế Phủng là Lý Kế Thiên không muốn đầu hàng triều đình Tống, đem tộc nhân chạy đến Địa Cân Trạch (nay là đông bắc Hoành Sơn, Thiểm Tây) để kháng Tống. Năm 984, triều đình Tống cử Doãn Hiến, Tào Quang Thật đi đánh quân Hạ. Năm sau, thế lực của Lý Kế Thiên mạnh lên, sau khi công phá quân Tống lại liên tiếp thu phục các lãnh địa Hạ châu. Năm 990, Lý Kế Thiên được Liêu Thánh Tông sắc phong là Hạ quốc vương, sau này được truy tôn là Hạ Thái Tổ. Triều đình Tống lựa chọn phương thức "lấy Di chế Di", phái Lý Kế Phủng hồi nhiệm Hạ châu, chiêu phủ Lý Kế Thiên nhậm chức tại Ngân châu, ban họ Triệu của hoàng tộc Tống cho hai người. Không lâu sau, Lý Kế Thiên lại phản lại triều đình, năm 996 đánh lui được 5 lộ đại quân dưới quyền tướng Tống Lý Kế Long. Sau khi củng cố lãnh địa Hạ châu, Lý Kế Thiên cố gắng mở rộng lãnh địa về phía tây đến khu vực Hà Tây, cuối cùng trong lần tiến công thứ ba vào năm 1002 thì đánh hạ được Linh châu (nay ở tây nam Linh Vũ, Ninh Hạ), đổi tên thành Tây Bình phủ. Đến lúc này, triều đình Tống bất lực không thể vây chặn, năm sau phải thừa nhận Lý Kế Thiên nắm giữ lãnh địa Hạ châu. Lý Kế Thiên liên tiếp chiếm lĩnh các trọng trấn ở Hà Tây như Lương châu (nay là Vũ Uy, Cam Túc), đánh lui liên quân của Tống và Lục Cốc bộ Thổ Phồn. Năm 1004, Lý Kế Thiên qua đời do bị thủ lĩnh Phan La Chi của Lục Cốc bộ tập kích, con là Lý Đức Minh kế vị, sau được truy tôn là Hạ Thái Tông.
=== Lập quốc ===
Sau khi Lý Đức Minh kế vị, do lãnh địa được bành trướng nhanh chóng, nhằm củng cố quốc lực để chống lại nước đối địch tứ phương nên có ý muốn hòa đàm với triều đình Tống. Ngoài ra, triều Tống sau khi ký kết Thiền Uyên chi minh với Liêu cũng muốn ổn định khu vực tây bắc. Năm 1006, hai bên ký kết "Cảnh Đức hòa nghị". Để duy trì nền độc lập, Lý Đức Minh hòa bình với Tống ở phía đông, tuân phục triều Liêu ở phía bắc, đồng thời cho con là Lý Nguyên Hạo kết hôn với Hưng Bình công chúa của Liêu. Về mặt đối nội, Lý Đức Minh định đô ở Hưng châu (nay ở đông nam Ngân Xuyên, Ninh Hạ), lựa chọn sách lược "bảo cảnh an dân", chú trọng sản xuất. Đồng thời, Lý Đức Minh cũng thỉnh cầu Bắc Tống lập "các trường" (chợ biên) tại Bảo An quân (trị sở nay là Chí Đan, Thiểm Tây) nhằm làm nơi mậu dịch giữa hai bên. Ngoài ra, Lý Đức Minh còn tích cực tây chinh Hà Tây, năm 1028 phái Lý Nguyên Hạo đem quân đánh hạ Cam châu (nay là Trương Dịch, Cam Túc), thủ lĩnh Cam Châu Hồi Cốt là Dạ Lạc Cách Thông tự sát, hàng phục thủ lĩnh Lục Cốc bộ là Chiết Bô Du Long Bát. Sau đó, quân Đảng Hạng lại đoạt được Túc châu, hàng phục Quy Nghĩa quân Tiết độ sứ Tào Hiền Thuận. Đến lúc này, quốc lực của chính quyền Hạ châu đã rất thịnh, tạo nên cơ sở vững chắc để Lý Nguyên Hạo xưng đế lập quốc sau này. Năm 1032, Lý Đức Minh qua đời, Lý Nguyên Hạo kế vị.
Sau khi kế vị, Lý Nguyên Hạo hoàn thành việc chiếm lĩnh Hà Tây tẩu lang, đồng thời tích cực chuẩn bị chính thức độc lập khỏi triều Tống. Đầu tiên, ông bỏ họ Lý, tự xưng họ Ngôi Danh, tự xem mình là hậu duệ hoàng thất Bắc Ngụy. Lý Nguyên Hạo nghe theo kiến nghị của Dương Thủ Tố, lấy lý do là húy kỵ cha, cải niên hiệu triều Tống (Minh Đạo) sang niên hiệu riêng (Hiển Đạo). Sau đó, Lý Nguyên Hạo cho xây dựng cung điện, hạ "thốc phát lệnh" (lệnh tóc hói), khôi phục tục cũ, định đô tại Hưng Khánh phủ, thiết lập hai ban văn võ, lập quân danh, dùng binh chế, sáng tạo văn tự riêng, cải định lễ nhạc. Năm 1038, Lý Nguyên Hạ xưng đế, tức Hạ Cảnh Tông, định đô tại Hưng châu đồng thời đổi gọi là Hưng Khánh phủ, quốc hiệu là "Đại Hạ", đến lúc này thì Tây Hạ chính thức lập quốc. Hạ Cảnh Tông thoát ly quan hệ thần thuộc với Liêu và Tống. Để làm bá chủ ở phía tây, Lý Nguyên Hạo tiến hành mở rộng lãnh thổ ra bốn phía, trước sau khai chiến với Tống và Liêu, là giai đoạn đỉnh cao về vũ lực của Tây Hạ.
Năm sau, Hạ Cảnh Tông lựa chọn chiến lược 'liên Liêu kháng Tống', không ngừng cho quân xâm nhập biên cảnh Tống, đồng thời yêu cầu triều Tống thừa nhận Tây Hạ độc lập. Đương thời, Bắc Tống lập không ít thành lũy tại dãy núi Hoành Sơn, tuy nhiên khả năng phòng ngự của trọng trấn Diên châu ở phía đông lại mỏng yếu, tướng trấn thủ là Phạm Ung không có năng lực. Năm 1040, Hạ Cảnh Tông phát động trận Tam Xuyên Khẩu, suất 10 vạn đại quân bao vây Diên châu, tập kích viện quân của tướng Tống Lưu Bình, Thạch Nguyên Tôn ở Tam Xuyên Khẩu, cuối cùng quân Hạ do gặp tuyết lớn nên giải vây và triệt thoái. Đối diện với việc Tây Hạ xâm nhập trên quy mô lớn, triều đình Tống phái Hạ Tủng làm chính sứ, Hàn Kỳ và Phạm Trọng Yêm làm phó sứ kinh lược, tức đối phó với Tây Hạ. Đương thời, quân Tống có nhiều binh hơn Tây Hạ, song không giỏi dã chiến, việc tiếp tế cũng không dễ dàng, Hàn Kỳ chủ chiến còn Phạm Trọng Yêm thì chủ thủ nên tranh chấp không ngưng. Năm 1041, Hạ Cảnh Tông phát động đại quân bao vây khu vực Vị Xuyên, Hoài Viễn ở biên giới phía tây của Tống, Hàn Kỳ không lắng nghe kiến nghị của Phạm Trọng Yêm, phái đại tướng Nhâm Phúc suất đại quân cứu viện Hoài Viễn, Hạ Cảnh Tông dụ quân Tống đến chỗ mai phục rồi tập kích, tức trận Hảo Thủy Xuyên. Sau đó, triều đình Tống chuyển sách lược sang phòng ngự, cải phái Trần Chấp Trung, Hạ Tủng kinh lược, đồng thời lập ra bốn lộ phòng tuyến. Năm 1042, mưu thần của Tây Hạ là Trương Nguyên kiến nghị tránh phòng tuyến của Tống, đi đường vòng đánh úp Kinh Triệu phủ. Cùng năm, Hạ Cảnh Tông phát động trận Định Xuyên trại nhằm vào Kính Nguyên lộ của Tống, bao vây Định Xuyên trại và tiêu diệt toàn bộ quân Tống, mục tiêu là Trường An, song quân Tây Hạ bị Tri châu Nguyên châu Cảnh Thái của Tống chặn đứng nên phải bãi binh. Chiến tranh Tống-Hạ kéo dài đến năm 1044 mới thôi, hai bên ký kết "Khánh Lịch hòa nghị", triều Tống thừa nhận địa vị cát cứ của Tây Hạ, cấp cho nhiều tài vật và trà, phong Hạ Cảnh Tông là "Hạ quốc chủ". Tây Hạ xưng thần với Tống, chịu làm phiên thuộc chư hầu của Tống, song bên trong thì vẫn xưng đế như cũ, trên thực tế vẫn là một quốc gia độc lập.
Sau khi đánh bại triều Tống, Tây Hạ tự xưng là Tây triều, gọi Liêu là Bắc triều. Liêu Hưng Tông Da Luật Tông Chân bất mãn trước một Tây Hạ lớn mạnh, có ý đồ một lần nữa buộc nước này quy phục. Năm 1043, Liêu Hưng Tông lấy lý do người Đảng Hạng ở tây nam bộ của Liêu làm phản nương nhờ Tây Hạ, vào năm sau suất đại quân đánh Tây Hạ. Tây Hạ cầu hòa bất thành, lựa chọn phương thức "kiên bích thanh dã" (lũy chắc đồng trống) mà đánh tan được quân Liêu. Sau khi Hạ Cảnh Tông qua đời vào năm 1048, quân Liêu thừa cơ tái xâm phạm Tây Hạ vào năm 1049, quân Tây Hạ tích cực kháng cự, cuối cùng hai bên hòa đàm.
Hạ Cảnh Tông kiến quốc, đồng thời thi hành thể chế trung ương tập quyền, mặc dù điều này giúp củng cố quyền lực cho hoàng đế song đồng thời lại khiến mâu thuẫn với quý tộc thêm sâu sắc. Hạ Cảnh Tông độc đoán chuyên chế, ngày càng kiêu ngạo phóng đãng đồng thời ham thích nữ sắc. Lộn xộn trong hậu cung dẫn đến quý tộc Vệ Mộ thị làm phản vào năm 1034. Hạ Cảnh Tông từng trúng kế phản gián của người Tống Chủng Thế Hành mà giết lầm Dã Lợi Vượng Vinh và Dã Lợi Ngộ Khất, đồng thời lại say đắm thê của Da Lợi Ngộ Khất là Một Tạng thị mà lấy về, sinh ra Lý Lượng Tộ. Thái tử Lý Ninh Minh oán hận phụ hoàng vì phế mẫu (Dã Lợi hoàng hậu) và đoạt thê (Một Di hoàng hậu), lại bị em của Một Tạng thị là Một Tạng Ngoa Bàng xúi giục, do vậy ám sát Hạ Cảnh Tông vào ngày 19 tháng 1 năm 1048. Sau khi Hạ Cảnh Tông mất, Một Tạng Ngoa Bàng giết Thái tử Lý Ninh Minh, lập Lý Lượng Tộ mới 1 tuổi lên kế vị, tức Hạ Nghị Tông.
=== Mẫu đảng chuyên quyền ===
Thời kỳ Hạ Nghị Tông (1048–1067) và Hạ Huệ Tông (1067–1086), triều đình Tây Hạ về đối nội đã tiến thêm một bước trong việc củng cố quyền thống trị, về đối ngoại thì thường cùng hai nước Tống và Liêu ở trong trạng thái chiến tranh và nghị hòa. Hạ Nghị Tông khi kế vị vẫn còn nhỏ tuổi, mẹ là Một Tạng thái hậu cùng với Một Tạng Ngoa Bàng chuyên chính. Đương thời, Liêu Hưng Tông lại một lần nữa đem quân tiến đánh Tây Hạ, Tây Hạ xưng thần với Liêu. Một Tạng thái hậu hoang dâm háo sắc, nhiều lần cấu kết với người ngoài, trong đó Lý Thủ Quý và Cật Đa Kỷ nhiều lần tranh sủng. Kết quả là Lý Thủ Quý giết Thái hậu và Cật Đa Kỷ, Một Tạng Ngoa Bàng giết Lý Thủ Quý. Một Tạng Ngoa Bàng lại đem con gái gả cho Hạ Cảnh Tông để khống chế tiểu hoàng đế. Năm 1059, Hạ Nghị Tông tham dự chính sự, Một Tạng Ngoa Bàng định mưu sát Hạ Nghị Tông, tuy nhiên việc không thành và cả nhà Một Tạng Ngoa Bàng bị giết. Sau khi thân chính, Hạ Nghị Tông kết hôn với Lương thị- người hiệp trợ cùng ông trừ khử Một Tạng Ngoa Bàng, bổ nhiệm những người như Lương Ất Mai, Cảnh Tuân. Về đối nội, Hạ Nghị Tông tiến hành chỉnh trị quân đội, phân lập văn võ quan viên ở cấp địa phương nhằm để họ kiểm soát lẫn nhau, đề xướng văn hóa và kỹ thuật Hán, phế bỏ Phiên lễ, đổi sang dùng Hán nghi, đồng thời vào năm 1063 lại đổi sang họ Lý. Về đối ngoại, Tây Hạ cùng Tống hoạch định lại biên giới, khôi phục 'các trường', bình thường hóa mậu dịch. Tây Hạ nhiều lần có chiến sự với các bộ lạc Thổ Phồn, chiếm lĩnh khu vực Hà Hoàng và Thanh Hải, vào năm 1063 chiêu phủ thủ lĩnh Thổ Phồn Vũ Tạng Hoa Ma ở Tây Vực thành (nay là Định Tây, Cam Túc). Cải cách của Hạ nghị Tông có ảnh hưởng sâu rộng đến các triều sau đó, tuy nhiên Hạ Nghị Tông trúng tên bị thương trong khi giao chiến với Bắc Tống vào năm 1066, hai năm sau thì qua đời, con là Lý Bỉnh Thường kế vị khi mới 7 tuổi, tức Hạ Huệ Tông.
Do Hạ Huệ Tông còn nhỏ tuổi, mẹ là Lương thái hậu nắm giữ đại quyền, hình thành cục thế Lương thái hậu và mẫu đảng (do em Thái hậu là Lương Ất Mai đứng đầu) chuyên quyền. Mẫu đảng nỗ lực phát triển thế lực, đề xướng Phiên lễ, trọng dụng Đô La Vĩ và Võng Manh Ngoa, chèn ép phái phản đối gồm Ngôi Danh Lãng Ngộ- em của Hạ Cảnh Tông. Năm 1080, Hạ Huệ Tông được hoàng tộc Ngôi Danh thị hiệp trợ nên bắt đầu thân chính. Hạ Huệ Tông xem trọng Hán pháp, hạ lệnh dùng Hán lễ Phiên nghi, bị phái bảo thủ đứng đầu là Lương thái hậu cực lực phản đối. Đối với việc này, Hạ Huệ Tông muốn nghe theo kiến nghị của đại thần Lý Thanh Sách, đem khu vực Hà Nam của Tây Hạ trả lại cho Tống nhằm lợi dụng triều Tống làm suy yếu thế lực ngoại thích. Tuy nhiên, cơ mật bị lộ, Lương thái hậu giết Lý Thanh Sách, quản thúc Hạ Huệ Tông. Hành động của Lương thái hậu khiến hoàng đảng và nhiều tộc làm phản, liên hợp với người Thổ Phồn là Vũ Tạng Hoa Ma thỉnh cầu triều Tống phái binh đánh Lương thái hậu. Vào lúc này, quốc lực triều Tống được tăng cường sau Vương An Thạch biến pháp, đồng thời vào năm 1071 do Vương Thiều chiếm lĩnh được Hi Hà lộ, tạo thành uy hiếp đối với Tây Hạ. Năm 1081, Tống Thần Tông nghe theo kiến nghị của Chủng Ngạc, thừa cơ Tây Hạ có nội loạn, cho Lý Hiến làm tổng chỉ huy, phát động 5 lộ phát Hạ, mục tiêu là Hưng Khánh phủ. Lương thái hậu chọn sách lược "kiên bích thanh dã" (lũy chắc đồng trống), tập kích đường vận chuyển lương thảo, quân Tống cuối cùng chỉ đoạt được Lan châu. Năm sau, quân Tống sử dụng chiến thuật 'điêu bảo' (xây công sự kiên cố), phái Từ Hi xây dựng Vĩnh Lạc thành, từng bước gia tăng áp lực lên không gian quân sự của Tây Hạ tại Hoành Sơn. Lương thái hậu lợi dụng Vĩnh Lạc thành mới xây, suất 30 vạn đại quân bao vây đánh chiếm, quân Tống thảm bại, sử gọi là trận Vĩnh Lạc thành. Mặc dù Tây Hạ nhiều lần đánh tan quân Tống, song việc mậu dịch với Tống bị gián đoạn khiến cho kinh tế Tây Hạ suy thoái, chiến sự thường xuyên cũng khiến cho quốc lực Tây Hạ tổn hại nhiều, trong khi nhân dân thì bất mãn. Cuối cùng, Lương thái hậu và Lương Ất Mai phải để cho Hạ Huệ Tông phục vị để làm dịu mâu thuẫn, song Hạ Huệ Tông vẫn không có thực quyền. Sau khi Lương Ất Mai qua đời, chính quyền Tây Hạ do con của ông ta là Lương Khất Bô kiểm soát. Năm 1086, Hạ Huệ Tông qua đời trong uất hận, con là Lý Càn Thuận kế vị khi mới 3 tuổi, tức Hạ Sùng Tông.
Lúc này, chính quyền Tây Hạ lại nằm trong tay tiểu Lương thái hậu và Lương Khất Bô. Thời kỳ Tống Triết Tông (1085–1100), tri Vị châu là Chương Tiết kiến nghị đối với Tây Hạ cần chọn chế tài về kinh tế và tác chiến kiểu điêu bảo, vào năm 1096 ông cho xây dựng Bình Hạ thành và Linh Bình trại ở Vị Xuyên trên đoạn biên giới phía tây, đồng thời nhiều lần đánh lui quân Hạ. Năm sau, quân Tống đánh vào Hồng châu và Diêm châu trên đoạn biên giới phía đông. Năm 1098, tiểu Lương thái hậu cùng Hạ Sùng Tông tiến công Bình Hạ thành song thất bại, đại tướng Ngôi Danh A Mai và Muội Lặc Đô Bô đều bị bắt, sử gọi là trận Bình Hạ thành. Quân Tống sau đó xây dựng Tây An châu và Thiên Đô trại, đả thông Kính Nguyên lộ và Hi Hà lộ, Tần châu biến thành nội địa. Sau khi triều Tống khống chế được khu vực Hoành Sơn, tình cảnh Tây Hạ ngày càng khó khăn. Năm 1099, dưới tác động của Liêu Đạo Tông, Tống và Tây Hạ lại tiến hành hòa đàm, Tây Hạ thỉnh tội với Tống, chiến tranh kết thúc. Tây Hạ ở trong tình trạng mẫu đảng chuyên quyền, Lương Khất Bô dựa vào uy thế "Lương thị nhất môn nhị hậu", liên tiếp phát động chiến tranh với Tống và Liêu, khiến Tây Hạ chịu tổn thất nghiêm trọng. Lương Khất Bô thường khoe khoang công lao của mình trước các đại thần tại triều đình, nói rằng Tây Hạ liên tục xuất chinh chủ yếu là buộc triều Tống khuất phục, chỉ có theo cách đó thì Tây Hạ mới có được hòa bình. Khi diễn ra trận Hoàn Khánh, Lương Khất Bô bị tiểu Lương thái hậu ngăn cấm xuất chinh nên ôm hận trong lòng. Lương Khất Bô có ý đồ làm phản, tuy nhiên cơ sự bị lộ. Tiểu Lương thái hậu lệnh cho Ngôi Danh A Ngô, Nhân Đa Tông Bảo, Tát Thần suất binh bắt giữ và xử tử Lương Khất Bô. Sau khi tiểu Lương thái hậu tự thân chuyên quyền, bà tăng cường chiến sự với Tống, nhiều lần xin viện quân của Liêu song bị từ chối. Triều đình Liêu đối với tiểu Lương thái hậu thì cực kỳ phản cảm, nhận định rằng chiến tranh Liêu-Hạ là do bà mà ra, tiểu Lương thái hậu nhiều lần bị cự tuyệt cũng có ác ngôn với Liêu. Năm 1099, gần đến lúc Hạ Sùng Tông thân chính, song Lương thị vẫn chuyên quyền, Liêu Đạo Tông khiển sứ đến Tây Hạ, dùng độc dược giết tiểu Lương thái hậu. Đến thời điểm này, cục diện kéo dài Thái hậu chuyên chính kết thúc, hoàng đế Tây Hạ có thể thân chính.
=== Khó khăn trong ngoài ===
Sau khi thân chính vào năm 1099, Hạ Sùng Tông lựa chọn sách lược dựa vào Liêu, kiến tạo hòa bình với Tống, giảm thiểu chiến tranh. Về đối nội, Hạ Sùng Tông cho phổ biến văn hóa Hán, chú trọng kinh tế, khiến kinh tế-xã hội Tây Hạ được phục hồi và phát triển. Thời kỳ Tống Huy Tông (1100-1126), triều đình Tống thực hiện chính sách "Thiệu thịnh khai biên", năm 1114, Đồng Quán kinh lược Tây Hạ, suất lĩnh 6 lộ quân Tống (bao gồm hai lộ Vĩnh Hưng, Tần Phượng) phạt Hạ. Mặc dù Tây Hạ nhiều lần đánh bại các tướng Tống là Lưu Pháp, Lưu Trọng Vũ hay Chủng Sư Đạo, song quân Tống vẫn đánh chiếm được không ít thành lũy. Cuối cùng, Tây Hạ phải khẩn cấp thỉnh cầu Liêu chu toàn giúp, đến năm 1119 quân Tống mới rút, Hạ Sùng Tông lại một lần nữa biểu thị thần phục với Tống. Đến lúc này, quốc thế Tây Hạ không còn như xưa, song Bắc Tống cũng đến bên bờ sụp đổ.
Từ khi triều Kim của người Nữ Chân được thành lập vào năm 1115, cục diện chân vạc ba nước bị phá vỡ, Liêu và Bắc Tống lần lượt bị Kim tiêu diệt, kinh tế Tây Hạ bị Kim khống chế. Năm 1123, Liêu Thiên Tộ Đế có ý muốn chạy từ Mạc Bắc xuống Tây Hạ, tướng Kim là Hoàn Nhan Tông Vọng khuyến dụ Hạ Sùng Tông tìm bắt Liêu Đế, đồng thời uy hiếp Tây Hạ. Hạ Sùng Tông đáp ứng theo, chuyển sang liên Kim diệt Liêu, từ đó Tây Hạ quy phục Kim. Sau khi Liêu bị diệt vào năm 1125, Kim hẹn Tây Hạ giáp công Bắc Tống, lấy đất Tống làm điều kiện. Sau khi Tây Hạ chiếm lĩnh các khu vực Thiên Đức quân, Vân Nội, năm 1126 lại bị Kim cưỡng chiếm, đồng thời còn bị đòi Hà Đông bát quán. Để bù đắp cho Tây Hạ, Kim đồng ý sau khi chiếm lĩnh Thiểm Tây sẽ trao lại Hoành Sơn cho Tây Hạ, song không giữ lời. Những điều này khiến cho quan hệ giữa Kim và Tây Hạ ở trong trạng thái bất tín nhiệm. Tuy nhiên, lúc này Tây Hạ và Nam Tống cách biệt, chỉ có thể dựa dẫm vào kinh tế của Kim. Tây Hạ do vậy duy trì quan hệ hòa bình lỏng lẻo với Kim, cùng lắm thì chỉ có chiến sự quy mô nhỏ. Năm 1141, Kim đồng ý thiết lập 'các trường', từng bỏ lệnh cấm xuất nhập sắt. Đến thời Kim Thế Tông (1161-1189), Kim không muốn dùng sản phẩm vải lụa để đổi lấy xa xỉ phẩm của Tây Hạ, vì vậy chọn phương thức giảm thiểu mậu dịch, 10 năm sau mới khôi phục mậu dịch bình thường. Hạ Sùng Tông mất vào năm 1132, con là Lý Nhân Hiếu kế vị, tức Hạ Nhân Tông.
Thời kỳ Hạ Nhân Tông, lĩnh vực văn hóa và tư tưởng của Tây Hạ phát triển đến đỉnh cao, nhìn chung ở trong trạng thái hòa bình với Kim. Tuy nhiên, Hạ Nhân Tông là người trọng văn khinh võ, chú trọng vào những thứ không thực, khiến quân lực Tây Hạ dần trở nên suy lạc. Hàng tướng Tống Nhâm Đắc Kính là người có tài trí, liên tiếp bình định tướng Tiêu Hợp Đạt làm phản vào năm 1140, và thủ lĩnh Sơn Ngoa là Mộ Vị, Mộ Tuấn chạy sang Kim vào năm sau, được Hạ Nhân Tông trọng dụng. Năm 1143, Tây Hạ xảy ra nạn đói lớn và động đất, người dân cực kỳ khó khăn, Xỉ Ngoa và những người khác phát động dân biến ở Uy châu, Tĩnh châu, Định châu, Hạ Nhân Tông lại phái Nhâm Đắc Kính đi bình định. Do được trọng dụng, Nhâm Đắc Kính nảy dã tâm bành trướng, lại được Tấn vương Lý Sát Ca tiến cử nhập kinh. Sau khi Lý Sát Ca qua đời vào năm 1156, Nhâm Đắc Kính kiểm soát chính quyền, mở rộng thế lực của bản thân. Năm 1160, Nhâm Đắc Kính được phong làm Sở vương, trên thực tế thể hiện giống như hoàng đế. Nhâm Đắc Kính có ý muốn soán vị, ông lấy Linh châu làm đô thành, vào năm 1170 buộc Hạ Nhân Tông phải cấp cho Linh châu, các lãnh địa ở tây nam Tây Hạ. Tuy nhiên, do nhiều lần không được triều đình Kim ủng hộ, Nhâm Đắc Kính cùng những người khác âm mưu làm loạn. Được Kim ủng hộ, Hạ Nhân Tông thành công trong việc đánh diệt phe của Nhâm Đắc Kính, tình trạng quyền thần khống chế chính quyền kéo dài suốt hai thập niên đến đây bị loại bỏ. Sau dân biến năm 1143, Hạ Nhân Tông tiến hành cải cách để khiến kinh tế ổn định. Hạ Nhân Tông sửa đổi chế độ địa tô và phú thuế; phát triển giáo dục, thực hành khoa cử; Nho giáo được đề cao, dùng khoa cử để chọn kẻ sĩ làm quan; những biện pháp này có tác dụng nhất định trong việc ức chế thế gia đại tộc; cải cách lễ nhạc và pháp luật. Đến những năm Thiên Thịnh (1149-1169), xuất hiện cục diện thịnh thế. Năm 1193, Hạ Nhân Tông qua đời, con là Lý Thuần Hựu kế vị, tức Hạ Hoàn Tông.
Về cơ bản, Hạ Hoàn Tông noi theo quốc sách của Hạ Nhân Tông, về đối nội thì 'an quốc dưỡng dân', thi hành Hán pháp Nho học, về đối ngoại thì hòa hảo với Kim. Tuy nhiên, vào lúc này do Tây Hạ quá an nhàn nên quân lực suy giảm mạnh. Không lâu sau, Đại Mông Cổ Quốc nổi lên ở phía bắc, phá vỡ cục diện chân vạc Kim-Tống-Hạ. Em của Tống Nhân Tông là Việt vương Lý Nhân Hữu có công lao trong việc đánh bại Nhâm Đắc Kính, sau khi qua đời thì con là Lý An Toàn thượng biểu thỉnh cầu tuyên dương công lao của cha đồng thời thừa tập vương vị. Tuy nhiên, Hạ Hoàn Tông không những không đồng ý, còn giáng Lý An Toàn làm Trấn Di quận vương. Lý An Toàn bất mãn, trong lòng nảy sinh ý soán đoạt đế vị. Năm 1206, Lý An Toàn cùng mẹ của Hạ Hoàn Tông là La thái hậu liên hiệp phế Hạ Hoàn Tông, Lý An Toàn tự lập làm hoàng đế, tức Hạ Tương Tông, Hạ Hoàn Tông mất không lâu sau đó.
=== Mông Cổ xâm lược ===
Khắc Liệt bộ ở Mạc Bắc và Tây Hạ có quan hệ rất hữu hảo, tuy nhiên sau này Thiết Mộc Chân lãnh đạo bộ lạc của mình tiến thôn tính các bộ lạc khác. Năm 1203, Khắc Liệt bộ bị Thiết Mộc Chân thôn tính, con của thủ lĩnh Vương Hãn là Tang Côn chạy sang Tây Hạ. Hai năm sau, Thiết Mộc Chân suất quân xâm nhập Tây Hạ, cướp bóc các thành thị ở vùng biên giới rồi rút lui. Để mong đẩy lui được ngoại hoạn, Hạ Hoàn Tông đổi tên Hưng Khánh phủ thành Trung Hưng phủ, mang ý nghĩa quốc gia trung hưng, trên thực tế Tây Hạ ngược lại phải chịu uy hiếp từ Mông Cỏ. Năm 1206, Thiết Mộc Chân kiến lập Đại Mông Cổ Quốc, tức Thành Cát Tư Hãn (sau này được triều Nguyên tôn xưng là Nguyên Thái Tổ). Thành Cát Tư Hãn muốn tiêu diệt triều Kim đối địch, do vậy tìm cách phá vỡ liên minh Tống-Kim, Tây Hạ trở thành một mục tiêu của Mông Cổ. Năm sau, khi Hạ Tương Tông đoạt vị chưa lâu thì Thành Cát Tư Hãn suất đại quân đánh phá Oát La Hài thành (nay ở phía tây kỳ Ô Lạp Đặc Hậu, Nội Mông)- một công sự kiên cố của Tây Hạ, các lộ quân Tây Hạ tận lực đề kháng và đẩy lui quân Mông Cổ. Năm 1209, Mông Cổ hàng phục Cao Xương Hồi Cốt ở phía tây Tây Hạ, khu vực Hà Tây do đó cũng nằm dưới uy hiếp của Mông Cổ. Trong lần đánh Tây Hạ thứ ba, quân Mông Cổ xâm nhập từ Hà Tây, xuất Hắc Thủy thành, vây đánh Oát La Hài quan khẩu. Hạ Tương Tông phái con là Lý Thừa Trinh suất quân kháng cự song thất bại, tướng Hạ là Cao Dật bị bắt rồi chết. Quân Mông Cổ lại đánh chiếm Tây Bích Ngoa Đáp- nơi thủ bị của Oát La Hài thành, tiến sát phòng tuyến cuối cùng của Trung Hưng phủ là "Khắc Di Môn". Tướng Hạ Ngôi Danh Lệnh Công suất quân phục kích quân Mông Cổ, song cuối cùng bị quân Mông Cổ đánh tan. Trung Hưng phủ bị quân Mông Cổ vây khốn, Hạ Tương Tông phái sứ sang cầu cứ Hoàng đế Hoàn Nhan Vĩnh Tế của Kim, song bị cự tuyệt. Cuối cùng, Hạ Tương Tông phải dâng con gái thỉnh hòa, dâng một lượng lớn vật tư cho Mông Cổ, đồng thời cam kết phụ Mông phạt Kim.
Sau khi Hạ Tương Tông chuyển sang phụ Mông phạt Kim, Tây Hạ tiến hành chiến tranh hơn 10 năm với Kim, hai bên tổn thất rất lớn. Ở trong nước, bách tính Tây Hạ rất nghèo túng, sản xuất kinh tế chịu bị phá hoại, quân đội suy nhược, chính trị hủ bại. Bản thân Hạ Tương Tông say đắm trong tửu sắc, cả ngày không lo việc triều chính. Năm 1211, Tề vương Lý Tuân Húc phát động chính biến cung đình, phế truất Hạ Tương Tông, tự lập làm hoàng đế, tức Hạ Thần Tông, hay còn gọi là Trạng nguyên hoàng đế. Bất chấp phản đối của các đại thần trong nước, Hạ Thần Tông vẫn tiếp tục kiên trì phụ Mông kháng Kim, Kim Tuyên Tông cũng nhiều lần phản kích Tây Hạ. Đến lúc này, kinh tế xã hội của Tây Hạ bị suy sụp, các cuộc dân biến diễn ra không ngừng. Lấy lý do Tây Hạ không đồng ý giúp đỡ Mông Cổ tây chinh năm 1216, Thành Cát Tư Hãn vào năm sau suất quân tiến công Tây Hạ lần thứ tư. Hạ Thần Tông cho Thái tử Lý Đức Vượng phòng vệ Trung Hưng phủ, còn bản thân tránh đến Tây Kinh Linh châu. Cuối cùng, Lý Đức Vượng phái sứ đến chỗ người Mông Cổ hòa đàm, chiến tranh kết thúc. Năm 1223, Hạ Thần Tông nhượng vị cho Thái tử Lý Đức Vương, tức Hạ Hiến Tông. Đến lúc này, triều đình Hạ nhận thấy rõ Mông Cổ muốn tiêu diệt Tây Hạ, do vậy Hạ Hiến Tông quyết định chuyển sang sách lược liên Kim kháng Mông. Nhân lúc Thành Cát Tư Hãn tây chinh, Tây Hạ phái sứ thuyết phục các bộ lạc ở Mạc Bắc liên hiệp kháng Mông, mục đích là để củng cố biên cương phía bắc của Tây Hạ. Đương thời, tướng Mông Cổ tổng quản Hán địa là Bột Lỗ (con của Mộc Hoa Lê) phát hiện ra ý đồ của Tây Hạ, vào năm 1224 suất quân từ phía đông đánh vào Tây Hạ, đánh chiếm Ngân châu, tướng Hạ Tháp Hải bị bắt. Năm sau, Thành Cát Tư Hãn hồi quốc sau khi tây chinh thắng lợi, đồng thời suất quân tiến công Sa châu. Cuối cùng, Hạ Hiến Tông phải đồng ý đầu hàng theo điều kiện của quân Mông Cổ, quân Mông Cổ triệt thoái.
Năm 1226, Thành Cát Tư Hãn lấy lý do Hạ Hiến Tông không làm đúng theo thỏa thuận, phân binh giáp công Tây Hạ từ đông và tây. Thành Cát Tư Hãn suất đội quân chủ lực đến Ngột Lạt Hài thành (nay thuộc Bayan Nur, Nội Mông) tiến về phía tây đánh chiếm Hắc Thủy thành, sau đó lại tiến đến Hạ Lan Sơn (nay ở tây bắc Ngân Xuyên, Ninh Hạ) ở phía đông, đánh tan quân của tướng Hạ A Sa Cảm Bất, cuối cùng đóng quân tại Hồn Thùy Sơn (nay ở bắc Tửu Tuyền, Cam Túc). Cánh quân Tây do A Đáp Xích suất lĩnh, cùng với Hốt Đô Thiết Mục Nhi, hàng tướng Tây Hạ Tích Lý Linh Bộ, Sát Hãn mượn đường Tây Châu Hồi Cốt, liên tiếp đánh chiếm Sa châu, Túc châu và Cam châu. Tuy nhiên, khi quân Mông Cổ vây đánh Cam châu, tướng trấn thủ của Tây Hạ là Hòa Điển Dã Khiếp Luật ngoan cường đề kháng, cuối cùng Thành Cát Tư Hãn tự thân đánh chiếm, đồng thời hàng phục tướng trấn thủ Lương châu là Oát Trát Quỹ. Đến lúc này, toàn bộ khu vực Hà Tây tẩu lang của Tây Hạ rơi vào tay Mông Cổ. Hạ Hiến Tông lo lắng mà qua đời, cháu là Nam Bình vương Lý Hiển kế vị, tức Hạ Mạt Đế. Tháng tám cùng năm, Thành Cát Tư Hãn suất quân xuyên qua Sa Đà, vượt Hoàng Hà đánh chiếm Ứng Lý (nay là Trung Vệ, Ninh Hạ). Sau đó, Mông Cổ phân binh đánh chiếm Hạ châu, chủ lực bao vây Linh châu. Hạ Mạt Đế phái Ngôi Danh Lệnh Công suất quân cứu viện, hai bên quyết chiến trên Hoàng Hà đang đóng băng. Sau đó, Ngôi Danh Lệnh Công và tướng trấn thủ là Phế Thái tử Lý Đức Nhâm hợp quân, Thành Cát Tư Hãn qua đời. Quân Mông Cổ bao vây Trưng Hưng phủ, đồng thời phân binh tiến về phía nam đánh chiếm các lãnh địa Tích Thạch châu (nay thuộc Tuần Hóa, Thanh Hải), Tây Ninh (nay thuộc Tây Ninh, Thanh Hải) của Tây Hạ, đồng thời lưu lại Lục Bàn Sơn của Tây Hạ. Tây Hạ chỉ còn lại Trung Hưng phủ, đến năm 1227 thì Hạ Mạt Đế bị vây tại Trung Hưng phủ, nửa năm sau thì đầu hàng, Tây Hạ mất. Mặc dù Thành Cát Tư Hãn qua đời từ trước song quân Mông Cổ không phát tang nhằm không để Tây Hạ tận dụng thời cơ, Đà Lôi giết Lý Hiển theo di chiếu của Thành Cát Tư Hãn. Sau khi quân Mông Cổ đánh chiếm Trung Hưng phủ, họ tiến hành đồ sát, đốt cháy cung thất và lăng viên, về sau do Sát Hãn khuyến gián mới thôi, song nhân khẩu trong thành đã không còn nhiều.
== Cương vực và hành chính ==
Khi Tây Hạ kiến quốc vào năm 1038, cương vực bao trùm các khu vực nay là Ninh Hạ, tây bắc bộ Cam Túc, đông bắc bộ Thanh Hải, bắc bộ Thiểm Tây và một phần Nội Mông. Đông đến Hoàng Hà, tây đến Ngọc Môn, nam đến Tiêu Quan (nay ở nam Đồng Tâm, Ninh Hạ), bắc đến Đại Mạc. Đông bắc Tây Hạ liền kề với Tây Kinh của Liêu, phía đông và đông nam giáp với Tống. Sau khi Kim diệt Liêu và Bắc Tống, các mặt đông bắc, đông và nam của Tây Hạ đều liền kề với Kim. Nam bộ và tây bộ của Tây Hạ liền kết với lãnh địa của các bộ lạc Thổ Phồn, Hoàng Đầu Hồi Cốt và Tây Châu Hồi Cốt. Trên hai phần ba lãnh thổ Tây Hạ có địa hình sa mạc, nguồn nước chủ yếu là Hoàng Hà và nước ngầm có nguồn gốc từ tuyết trên núi. Thủ đô Hưng Khánh phủ nằm tại bình nguyên Ngân Xuyên, tây có Hạ Lan Sơn làm rào cản, đông có Hoàng Hà cung cấp nước.
Tây Hạ là triều đại do người Đảng Hạng kiến lập, ban đầu tộc người này định cư ở cao nguyên Tùng Phan thuộc Tứ Xuyên ngày nay. Thời kỳ Đường Cao Tông, người Đảng Hạng bị Thổ Phồn áp bách, cuối cùng được triều đình Đường hiệp trợ thiên di đến khu vực Hà Sáo-Thiểm Bắc, phân thành Bình Hạ bộ và Đông Sơn bộ, có được vùng đất làm cơ sở cho việc hình thành Tây Hạ. Năm 881, nhân người Bình Hạ bộ là Thác Bạt Tư Cung có công giúp triều đình trấn áp loạn Hoàng Sào, được phong làm Hạ châu Tiết độ sứ, đến lúc này chính thức được lĩnh 5 châu: Ngân châu (nay là Mễ Chi, Thiểm Tây), Hạ châu (nay là Hoàng Sơn, Thiểm Tây), Tuy châu (nay là Tuy Đức, Thiểm Tây), Hựu châu (nay là Tĩnh Biên, Thiểm Tây), Tĩnh châu (nay là tây Mễ Chi, Thiểm Tây). Đến thời Tống, Tống Thái Tông thôn tính Hà châu Tiết độ sứ, tuy nhiên Lý Kế Thiên không muốn đầu hàng nên đem bộ lạc tiến công tứ xứ, cuối cùng thu phục đất đai 5 châu. Sau khi đánh hạ Linh châu, thế lực của người Đảng Hạng mở rộng đến khu vực Hà Sáo và Hà Tây tẩu lang. Sau khi Hạ Cảnh Tông kế vị, Tây Hạ tiếp tục củng cố Hà Tây tẩu lang, khi khai quốc xưng đế cương vực Tây Hạ bao gồm 20 châu. Sau đó, Hạ Cảnh Tông tiến hành chiến tranh với Tống ở khu vực Hoành Sơn, đồng thời có ý chiếm lĩnh Quan Trung. Sau thời Hạ Cảnh Tông, Tây Hạ và Bắc Tống tiến hành chiến tranh qua lại, hai bên chiếm lĩnh thành lũy hay trại của đối phương, chiến tranh còn lan đến khu vực Hà Hoàng ở Thanh Hải. Hậu kỳ Hạ Sùng Tông (1086-1139), Tây Hạ để mất khu vực Hoành Sơn, từng gặp phải nguy hiểm. Sau khi Kim diệt Liêu và Bắc Tống, Tây Hạ liên tục thu phục đất đai bị mất, đồng thời chiếm lĩnh khu vực Tiền Sáo Hoàng Hà. Tuy nhiên, thế lực của Tây Hạ bị Kim hạn chế, lãnh thổ được mở rộng không nhiều. Đến thời Hạ Nhân Tông, Tây Hạ ước tính có 22 châu, thời kỳ này là lần cuối bản đồ Tây Hạ ở trong trạng thái ổn định.
Về phân chia hành chính, nhìn chung Tây Hạ thi hành hai cấp châu (phủ) và huyện, lập phủ ở một số châu trọng điểm. Ngoài ra còn phân tả hữu sương 12 giám quân ty, là khu quân quản. Từ 5 châu trước khi kiến quốc, Tây Hạ sau khi chiếm lĩnh khu vực Hà Sáo và Hà Tây tẩu lang, vào thời Hạ Sùng Tông-Hạ Nhân Tông có 22 châu: 9 châu Hà Nam (nam Hoàng Hà), 9 châu Hà Tây (tây Hoàng Hà), ngoại Hi Hà-Tần Hà có 4 châu. Châu có số huyện không nhiều, một bộ phận chỉ có pháo đài và thành trấn, quy mô không bằng một châu của Tống. Mục đích của châu chỉ là để khuếch đại thanh thế, an trí thân tín để khống chế chặt chẽ. Các châu được thăng thành phú có: Hưng châu (Hưng Khánh phủ, Trung Hưng phủ) và Linh châu (Tây Bình phủ) ở Hà Sáo, Lương châu (Tây Lương phủ) và Cam châu (Tuyên Hóa phủ) ở Hà Tây tẩu lang. Hạ châu, Linh châu và Hưng châu nối tiếp nhau làm thủ đô của chính quyền Đảng Hạng trước khi lập quốc, có địa vị hết sức quan trọng. Lương châu ở giữa Hà Tây tẩu lang và Hà Sáo, có vị trí địa lý quan trọng. Ở Cam châu đặt ra Tuyên Hóa phủ nhằm phục trách xử lý các vấn đề Thổ Phồn và Hồi Cốt. Tả hữu sương và 12 giám quân ty chủ yếu do Hạ Cảnh Tông sắp xếp và thiết lập nhằm làm phương tiện quản lý và điều khiển quân đội. Mỗi một giám quân ty đều lập quân doanh phỏng theo chế độ của Tống, quy định đất trú đóng.
== Thể chế chính trị ==
Tây Hạ có nền chính trị Phiên-Hán liên hiệp, người Đảng Hạng là dân tộc thống trị chủ yếu, đồng thời liên hiệp với người Hán, người Thổ Phồn, người Hồi Cốt để cùng nhau thống trị. Hoàng tộc Tây Hạ chú ý đến quan hệ với quý tộc Đảng Hạng, dùng thông hôn và chia sẻ quyền lực để gắn kết, song mẫu đảng "quý sủng dụng sự" nên giữa hoàng tộc với mẫu đảng và quý tộc thường phát sinh xung đột. Vào tiền kỳ, Tây Hạ dùng quan chế Phiên-Hán giống như của Liêu, song đến trung hậu kỳ thì toàn diện sử dụng quan chế Tống, Phiên quan dần sa sút.
Thể chế quốc gia và phương thức thống trị của Tây Hạ chịu ảnh hưởng sâu của chính trị-văn hóa Nho gia, phần lớn dựa theo quan chế Tống. Khi lập quốc vào năm 1038, quan phân thành hai ban văn võ, "Trung thư ty", "Xu mật ty", "Tam ty" (Diêm thiết bộ, Độ chi bộ, Hộ bộ) phân biệt quản lý hành chính, quân sự và tài chính. "Ngự sử đài" phụ trách giám sát, "Khai Phong phủ" quản lý sự vụ ở khu vực thủ đô, ngoài ra còn có "Dực vệ ty", "Quan kế ty", "Thụ nạp ty", "Nông điền ty", "Quần mục ty", "Phi long uyển", "Ma khám ty", "Văn tư viện", các cơ cấu Phiên học và Hán học. Năm sau, Hạ Cảnh Tông phỏng theo chế độ của Tống mà thiết lập chức "Thượng thư lệnh", đổi nhị thập tứ ty của Tống thành thập lục ty, phân thành lục tào: công, thương, hộ, binh, pháp, sĩ; khiến chế độ và cơ cấu quan lại của Tây Hạ có quy mô đáng kể. Đến thời Hạ Nghị Tông, lại đặt thêm các chức thượng thư và thị lang các bộ, Nam-Bắc tuyên huy sứ và trung thư, học sĩ. Các chức quan và cơ cấu được phân nhỏ, cải cách quan chế chuyển từ đặt thêm quan chức chính trị-quân sự sang quan chức kinh tế-văn hóa-xã hội.
Phiên quan là các chức quan chuyên do người Đảng Hạng đảm nhiệm, có thuyết nói đây là chế độ tước vị. Phiên quan chủ yếu là nhằm bảo toàn địa vị chủ đạo của quý tộc Đảng Hạng trong chính quyền trung ương, người thuộc các dân tộc khác không được đảm nhiệm, có "ninh lệnh" (đại vương), "mô ninh lệnh" (thiên đại vương), "đinh lô", "đinh nỗ", "tố trai", "tổ nho", "lã tắc", "xu minh" và các chức khác. Sau khi Hạ Cảnh Tông đặt thêm phiên quan, còn học tập một số chế độ từ Liêu và Thổ Phồn như quan chế Nam-Bắc diện. Chế độ Phiên quan Tây Hạ rất lộn xộn, thời Hạ Nghị Tông lại đặt thêm không ít chức quan, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa rõ về chức năng của các chức quan này, có thuyết cho rằng Phiên quan chỉ là Tây Hạ văn biểu thị quan danh Hán quan mà thôi. Với việc các hoàng đế Tây Hạ sau này xem trọng Hán pháp, đổi Phiên lễ dùng Hán nghi, hệ thống Phiên quan dần sa sút. Sau thời Hạ Sùng Tông, Phiên quan không còn xuất hiện trong các văn hiến liên quan.
Liên quan đến phương diện pháp luật, do luật cũ của Tây Hạ có chỗ không rõ ràng, Hạ Nhân Tông theo chủ trương 'thượng văn trọng pháp' mà ban bố "Thiên Thịnh cải cựu tân định luật lệnh", còn gọi là "Thiên Thịnh luật lệnh", "Khai Thịnh luật lệnh". Chủ yếu do Bắc vương-Trung thư lệnh Ngôi Danh Địa Bạo và các quan lại trọng yếu của Trung thư, Xu mật viện, Trung Hưng phủ, Điện tiền ty, Cáp môn ty tham gia soạn viết. Pháp điển của bộ luật này tham khảo từ pháp điển của triều Đường và triều Tống, đồng thời kết hợp với tình hình quốc dân Tây Hạ, nâng cao độ thích hợp với thực tế. Trên một số phương diện (như súc mục nghiệp, quản chế, dân tục) lại có thêm đặc điểm bản dân tộc.
== Ngoại giao ==
Tây Hạ có địch thủ ở tứ phía, liên tiếp phải ứng phó với uy hiếp và chiến tranh từ Hậu Đường, Hồi Cốt, Thổ Phồn, Tống, Liêu, Kim và Mông Cổ, do vậy triều đình Tây Hạ xem trọng vấn đề ngoại giao. Sách lược ngoại giao của Tây Hạ chủ yếu là liên hiệp hoặc dựa vào kẻ mạnh đồng thời công kích kẻ yếu, dùng chiến tranh cầu hòa bình, nhờ đó quốc gia Tây Hạ có thể tiếp tục tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, do nước phụ thuộc vào quá lớn mạnh, cuối cùng vẫn không thoát khỏi số mệnh bị tiêu diệt.
Chính quyền Hạ châu (Định Nan quân) từ trước đó đã phụng sự triều Đường, các triều Ngũ Đại rồi Bắc Tống để duy trì thế lực của bản thân. Về sau, Bắc Tống thôn tính chính quyền Hạ châu, Lý Kế Thiên cất binh nổi dậy. Vào thời điểm đó, ông chọn sách lược liên Liêu kháng Tống, nhiều lần đánh lui quân Tống, đồng thời khuếch trương thế lực, đến năm 990 thì được Liêu Thánh Tông sắc phong làm Hạ quốc vương. Đến thời Lý Đức Minh, nhằm củng cố lãnh địa mới, người Đảng Hạng hòa đàm với Bắc Tống, đến năm 1006 thì ký kết Cảnh Đức hòa nghị, song Lý Đức Minh vẫn duy trì quan hệ với Liêu như xưa. Ngoài việc phải ứng phó chiến sự với Liêu-Tống, Tây Hạ vì muốn xưng bá vùng Hà Tây nên trước sau tiến hành đánh diệt Cam Châu Hồi Cốt, Quy Nghĩa quân, đối kháng với Lục Cốc bộ và Giác Tư La Quốc của người Thổ Phồn, tiếp cận Tây Châu Hồi Cốt.
Hạ Cảnh Tông chính thức xưng đế kiến quốc, tự xưng Bang Nê Định Quốc, xưng là con trai chứ không xưng thần với Tống, nhiều lần xâm nhập biên cương của Tống. Tống Nhân Tông bất mãn trước việc Tây Hạ độc lập, phái binh tiến đánh, chiến tranh Tống-Hạ bùng nổ. Hạ Cảnh Tông giành thắng lợi trước quân Tống trong ba chiến dịch lớn (Tam Xuyên Khẩu, Hảo Thủy Xuyên, Định Xuyên Trại), sau đó hai bên ký kết Khánh Lịch hòa ước vào năm 1004. Triều Tống cấp cho Hoàng đế Tây Hạ danh hiệu là "Hạ quốc chủ", Tây Hạ xưng thần với Tống song trên thực tế Hoàng đế Tây Hạ trong nước vẫn xưng là quân vương, Tống cũng cấp cho Tây Hạ tiền bạc, trà và một lượng lớn vật tư. Tây Hạ đánh bại Tống khiến Liêu bất mãn, hai bên phát sinh ba lần chiến tranh, cuối cùng Tây Hạ xưng thần với Liêu. Sau này, Tống Thần Tông thừa cơ Tây Hạ có nội loạn, phát động "Ngũ lộ phạt Hạ" và chiến dịch Vĩnh Lạc thành, song Tây Hạ đều giành chiến thắng. Tuy nhiên, quốc lực Tây Hạ dần suy yếu, khu vực Hoành Sơn cũng bị Bắc Tống chiếm lĩnh, sau đó nhờ vào Liêu sắp xếp mới có thể duy trì quân hệ chân vạc ba bên Tống-Liêu-Hạ.
Sau khi Kim nổi lên, diệt Liêu rồi diệt Bắc Tống, Tây Hạ từ bỏ đồng minh Liêu-Hạ, thần phục Kim nhằm tự bảo vệ. Lãnh thổ Kim bao quanh phía đông và phía nam của Tây Hạ, kiểm soát kinh tế của Tây Hạ, do vậy triều đình Tây Hạ không dám có hành động tùy tiện với Kim, cùng lắm giữa hai bên chỉ có chiến sự quy mô nhỏ. Sau khi Mông Cổ nổi lên, nhiều lần xâm nhập Tây Hạ, phá hoại đồng minh Kim-Hạ. Hạ Tương Tông và Hạ Thần Tông chuyển sang dùng sách lược "liên Mông công Kim", nhiều lần phát sinh chiến tranh với Kim, tuy nhiên đây là một phương châm sai lầm. Đến thời Hạ Hiến Tông, Tây Hạ lại chuyển sang "liên Kim kháng Mông", song Tây Hạ bị Mông Cổ tiêu diệt vào năm 1227. Kim sử viết về Tây Hạ "lập quốc hơn hai trăm năm, chống lại ba nước Liêu, Kim, Tống, mạn hương vô thường, xem xét thế mạnh yếu của ba nước để đưa ra sách lược khác nhau".
Đối với Hồi Cốt, Thổ Phồn và các dân tộc thiểu số khác, Tây Hạ chọn phương thức xoa dịu và chiêu phủ, so với Tống có vẻ họ còn làm tốt hơn. Như thủ lĩnh Thổ Phồn là Vũ Tạng Hoa Ma ở Tây Sứ thành (nay ở tây nam Định Nam, Cam Túc) không muốn hàng Tống, từng bị tướng Tống là Vương Thiều đánh cướp, Hạ Nghị Tông lập tức phái binh chi viện, còn gả tông nữ cho ông ta, Vũ Tạng Hoa Ma đem Tây Sứ thành và Lan châu dâng cho Tây Hạ.
== Chế độ quân sự ==
Chế độ quân sự của Tây Hạ lấy binh chế bộ lạc Đảng Hạng làm cơ sở, thêm vào chế độ của triều Tống để hoàn thiện hơn. Tây Hạ là quốc gia được dựng nên từ chiến tranh, quân đội là cơ sở trong việc duy trì sinh hoạt. Do vậy, Tây Hạ thi hành chế độ 'toàn dân là binh', thời bình thì sản xuất, thời chiến thì quân sự và kinh tế-xã hội hợp làm một. Ngoại trừ một phần rất nhỏ trang bị quân sự được cấp cho quân quan và chính quân, những người còn lại khi tác chiến đều phải tự mang lương thực. Đơn vị quân sự nhỏ nhất của Tây Hạ là "sao" (抄), mỗi sao do ba người hợp thành, một người chủ lực, một người phụ chủ, một người phụ đảm. Xu mật viện là cơ cấu lãnh đạo quân sự tối cao của Tây Hạ, bên dưới đặt ra các "ty". Hệ thống chỉ huy có: "thống quân", "hành chủ", "tá tướng", "thủ lĩnh", "tá thủ lĩnh", "tiểu thủ lĩnh". Quân đội toàn quốc phân thành hai hệ thống là quân trung ương và quân địa phương. Bố phòng quân sự lấy Hạ Lan Sơn, Hưng Khánh phủ và Lan châu làm phòng tuyến tam giác, là trung tâm trong việc tác chiến của Tây Hạ. Khi địch mạnh đến gần, quân biên phòng nhanh chóng hồi kinh trợ thủ; khi biên cương nguy cấp, quân chủ lực lập tức đến chi viện, quân đội được điều động rất linh hoạt. Khi tác chiến, quân Tây Hạ tiến khi thuận lợi và thoái khi bất lợi. Do địa hình Tây Hạ chủ yếu là sa mạc và núi, quân đội Tây Hạ do vậy mà giỏi về việc dụ địch vào nơi phục kích, cắt đường vận chuyển lương thảo của địch, tập trung binh lực tiến hành vận động chiến, do vậy đương thời có thể lấy ít thắng mạnh.
Hệ thống quân trung ương phân thành Cầm sinh quân, Vệ thú quân, Thị vệ quân, Bát hỉ, Thiết diêu tử, Tràng lệnh lang và Bộ bạt tử. Số quân của Cầm sinh quân ước tính khoảng 10 vạn, nhiệm vụ chủ yếu là bắt người trong khi chiến đấu để biến làm nô lệ, tương đương "đả thảo cốc kị" trong quân đội Liêu, không đảm trách nhiệm vụ quyết chiến. Số quân của Vệ thú quân ước tính có 25 nghìn, bộ thuộc tại khu vực quanh Hưng Khánh phủ, được trang bị rất hoàn thiện, phó binh phối bị bố trí đạt nhiều đến 7 vạn, là đội quân chủ lực của Tây Hạ. Thị vệ quân còn có tên là "Ngự viên nội lục ban trực", có khoảng 5 nghìn người, tuyển từ những con em hào tộc với tiêu chuẩn là giỏi cưỡi ngựa bắn cung, phụ trách việc bảo vệ an toàn của hoàng đế, phân thành tam phiên túc vệ. Bát hỉ ước có khoảng hai trăm người, là pháo binh của Tây Hạ, làm chủ kỹ thuật "hỏa thốc lê", cũng có thể bắn đạn đá, do kị binh bắn, hết sức linh hoạt. Thiết diêu tử có khoảng ba trăm người, sau mở rộng lên đến vạn người, là kị binh hạng nặng của Tây Hạ, có đặc điểm là cơ động linh hoạt, có uy lực khi tác chiến ở bình địa, thường theo hoàng đế tác chiến. Tràng lệnh lang gồm các binh sĩ tráng kiện người Hán bị Tây Hạ bắt được, dùng làm bia đỡ đạn khi tác chiến, giúp giảm thiểu tổn thất về người của quân đội Tây Hạ. Bộ Bát tử là bộ binh của Tây Hạ, giỏi về tác chiến ở vùng núi, hợp thành từ các tráng đinh thuộc những bộ lạc sống ở khu vực Hoành Sơn, thường cùng với Thiết diêu tử đột kích quân địch.
Đối với quân địa phương, Hạ Cảnh Tông đem quân khu toàn quốc phân thành tả sương, hữu sương với 12 giám quân ty, Tả sương: Thần Dũng quân ty trú tại Di Đà động ở Ngân Xuyên (nay là phía đông Du Lâm, Thiểm Tây), Tường Hựu quân ty trú tại Thạch châu, Gia Ninh quân ty trú tại Hựu châu, Tĩnh Tắc quân ty trú tại Vi châu, Tây Thọ Bảo Thái quân ty trú tại bắc Nhu Lang Sơn (nay thuộc Bình Xuyên, Cam Túc), Trác La Hòa Nam quân ty trú tại Khách La Xuyên (nay thuộc Vĩnh Đăng, Cam Túc); Hữu sương: Triều Thuận quân ty trú tại Khắc Di Môn ở Hạ Lan Sơn (nay thuộc vùng núi Thạch Chủy ở Ninh Hạ), Cam Châu Cam Túc quân ty trú tại đất cũ của huyện San Đan, Qua Châu Tây Bình quân trú tại Qua châu, Hắc Thủy trấn Yên quân ty trú tại Hắc Thủy thành (nay thuộc kỳ Ngạch Tể Nạp, Nội Mông), Bạch Mã Cường Trấn quân ty trú tại Lâu Bác Bối (nay thuộc trấn Cát Lan Thái, kỳ A Lạp Thiện Tả, Nội Mông), Hắc Sơn Uy Phúc quân ty trú tại Hà Sáo (nay thuộc huyện Ngũ Nguyên, Nội Mông). Thời kỳ toàn thịnh, "chư quân binh đạt hơn 50 vạn", binh chủng chủ yếu là kị binh và bộ binh. Mỗi một giám quân ty đều phỏng theo chế độ của Tống mà lập ra quân danh, đặt chức đô thống quân, phó thống quân và giám quân ty các, do hoàng đế bổ nhiệm người trong giới quý tộc. Ở bên dưới, đặt ra chức chỉ huy sứ, giáo luyện sứ và 10 tả hữu thị cấm quan, do người Đảng Hạng và người Hán chia nhau đảm nhiệm.
== Nhân khẩu ==
Không có ghi chép trong sử sách chuyên về nhân khẩu Tây Hạ, do vậy ước tính về nhân khẩu của Tây Hạ rất mơ hồ, hiện nay giới sử học cũng không thống nhất được số liệu. Tuy nhiên, do Tây Hạ theo chế độ toàn dân là binh nên có thể từ số lượng binh lực mà suy ra lượng nhân khẩu. Hiện nay nhận định rằng số lượng nhân khẩu của Tây Hạ không ít hơn 30 vạn hộ, không cao hơn 2 triệu hộ. Theo ghi chép trong "Tống sử" thì Tây Hạ có 50 vạn đại quân. Hiện có luận điểm cho rằng Tây Hạ có 37 vạn quân, đồng thời tại "Đông Đô sự lược- Tây Hạ truyện" thì ghi rằng "Nẵng Tiêu có 158.500 binh" (chỉ tính quân Tây Hạ là người Đảng Hạng). Lại có luận điểm cho rằng Tây Hạ có hơn 50 vạn quân địa phương, cộng thêm 19 vạn quân trung ương, tổng cộng có khoảng trên dưới 70 vạn quân, do vậy có thể suy ra số lượng nhân khẩu Tây Hạ là khoảng 2-3 triệu người. Tuy nhiên, còn có luận điểm cho rằng số liệu này quá phóng đại, họ căn cứ theo "Tục thư trị thông giám trường biên" và "Long bình tập", binh lực của Tây Hạ ước tính khoảng từ 15 vạn đến 18 vạn, tổng số hộ do vậy ước khoảng trên dưới 30 vạn.
Liên quan đến diễn biến nhân khẩu Tây Hạ, các nhà nghiên cứu cũng không có sự thống nhất, căn cứ theo "Trung Quốc nhân khẩu sử" của Triệu Văn Lâm và Tạ Thục Quân vào lúc đỉnh cao năm 1038 là 243 vạn người, sau đó giảm thiểu không ngừng do chiến tranh với Tống và Liêu, sau khi chiến tranh chấm dứt thì phục hồi chậm; năm 1069, nhân khẩu Tây Hạ đạt 230 vạn, mức cao nhất sau khi kiến quốc, rồi sau lại giảm thiểu; vào giai đoạn 1131-1210 thì nhân khẩu duy trì ở mức trên dưới 120 vạn. Tuy nhiên căn cứ theo "Trung Quốc nhân khẩu phát triển sử" của Cát Kiếm Hùng thì nhân khẩu Tây Hạ đạt mức cao nhất là 3 triệu vào thời Hạ Cảnh Tông; sau năm 1127 nhân khẩu Tây Hạ luôn dưới 3 triệu. Căn cứ theo "Trung Quốc nhân khẩu sử"-quyển 3- Liêu Tống Kim Hạ thời kỳ của Ngô Tùng Đệ thì nhân khẩu Tây Hạ đạt đỉnh cao vào năm 1100 thời Hạ Sùng Tông với khoảng 3 triệu người. Mật độ nhân khẩu của Tây Hạ về tổng thể thì thấp hơn mật độ các lộ của Bắc Tống hay các đạo của Đường, song riêng với Lũng Hữu đạo thời Đường thì cao hơn. Điều này là do lãnh thổ Tây Hạ phần lớn là sa mạc, phạm vi thích hợp cho con người cư trú không lớn, lại thêm việc thi hành chế độ toàn dân là binh nên nhân khẩu bị tiêu hao không ít do chiến sự kéo dài.
Tây Hạ là một triều đại đa dân tộc, dân tộc chủ thể là người Đảng Hạng, ngoài ra còn có người Hán, người Thổ Phồn, người Hồi Cốt. Người Tây Hạ phần lớn đều có vóc dáng cao và thanh mảnh, thể hiện ra tính cách thô thiển mạnh mẽ, mau lẹ thẳng thắn. Đẳng cấp xã hội phân biệt rõ ràng, phục sức lễ nghi hàng ngày có sự phân chia. Trang phục của hoàng đế, văn quan và võ quan đều có quy định tiêu chuẩn, bình dân bách tính chỉ được phép mặc y phục xanh lục. Vật đội trên đầu cũng là một căn cứ để phân chia đẳng cấp, hoàng đế đội mũ len, hoàng hậu đội mũ long phượng, mệnh phụ đội mũ hình cành cây hoa lá, văn quan quấn khăn che đầu, võ quan cũng có các kiểu đội đầu.
== Kinh tế ==
Kinh tế Tây Hạ lấy súc mục nghiệp làm cơ sở, lấy bò, cừu, ngựa và lạc đà làm chính. Nông sản phẩm chủ yếu là đại mạch, gạo, đậu tất, thanh khoa (lúa mạch núi). Nguyên liệu thuốc và một số chế phẩm thủ công của Tây Hạ đặc biệt nổi tiếng. Tại Tây Hạ, các ngành thủ công nghiệp như luyện kim, làm muối, nung gạch, gốm sứ, xe sợi dệt vải, làm giấy, in ấn, nấu rượu, chế tác đồ vàng bạc hay gỗ đều có quy mô và trình độ nhất định. Sau Khánh Lịch hòa nghị năm 1044, triều đình Tống lập ra 'các trường', khôi phục quan hệ dịch giữa Tống và Hạ, sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp mậu dịch của Tây Hạ phát triển nhanh chóng. Thời Hạ Sùng Tông và Hạ Nhân Tông, kinh tế Tây Hạ phát triển mạnh, vật phẩm tứ phương được đưa đến thủ đô Hưng Khánh, là thời kỳ kinh tế Tây Hạ thịnh vượng nhất.
=== Nông nghiệp ===
Người Đảng Hạng là dân tộc du mục, nông nghiệp của họ phát triển chậm hơn so với súc mục nghiệp, nông-mục đều được xem trọng là điểm đặc sắc trong kinh tế xã hội Tây Hạ. Thời Lý Kế Thiên, người Đảng Hạng liên tiếp chiếm lĩnh các khu vực ở Hà Sáo và Hà Tây tẩu lang, là những nơi thuận lợi cho việc sản xuất ngũ cốc. Trong đó, khu vực Hưng Khánh-Linh châu và khu vực Hoành Sơn là vùng sản xuất lương thực chủ yếu của Tây Hạ, sản lượng lương thực ở đó còn có thể dùng để cứu tế các cư dân chịu ảnh hưởng của thiên tai, lương thực ở khu vực Hoành Sơn đương thời thường được sử dụng để nuôi quân Tây Hạ đánh Tống. Nông sản phẩm chủ yếu của Tây Hạ là đại mạch, gạo, đậu tất, thanh khoa (lúa mạch núi), Dược tài khá nổi tiếng của Tây Hạ có đại hoàng, củ kỷ, cam thảo, nằm trong số các mặt hàng mà các thương nhân gắng sức mua lấy. Ngoài ra Tây Hạ còn có các dược tài như xạ tề, linh giác, sài hồ, thung dung, hồng hoa hay sáp ong. Người Đảng Hạng học tập các kỹ thuật canh tác tương đối tiên tiến của người Hán, sử dụng phổ biến nông cụ làm bằng sắt và dùng bò để cày. Lãnh thổ Tây Hạ phần nhiều là sa mạc, tài nguyên nước khan hiếm, do vậy triều đại này rất xem trọng việc xây dựng công trình thủy lợi. Kênh lạch thời Tây Hạ chủ yếu phân bổ tại Hưng châu và Linh châu, trong đó nổi danh nhất là Hán Nguyên cừ và Đường Lai cừ ở Hưng châu. Thời Hạ Cảnh Tông, triều đình Tây Hạ cho xây dựng kênh tưới nước từ Thanh Đồng Hạp đến Bình La hiện nay, thế gian gọi là "Hạ Vương cừ" hay "Lý Vương cừ". Tại khu vực Cam châu, Lương châu, người Tây Hạ lợi dụng nước tuyết tan từ Kỳ Liên Sơn, nạo vét và đào sâu thêm các sông lạch, dẫn nước tưới cho ruộng đồng, trong số các tài nguyên nước này thì Hắc Thủy tại Cam châu là được biết đến nhất. Vùng núi Hoành Sơn có các tài nguyên nước như Vô Định Hà, Bạch Mã Xuyên. Trong pháp điển "Thiên Thịnh cải cựu tân định luật lệnh" thời Hạ Cảnh Tông, triều đình Tây Hạ khuyến khích người dân khai khẩn đất hoang, đồng thời quy định về các vấn đề thủy lợi.
Súc mục nghiệp Tây Hạ rất phát triển, triều đình Tây Hạ còn đặt ra 'quần mục ty' để chuyên quản lý. Các khu chăn nuôi phân bố tại khu vực phía bắc của Hoành Sơn và Hà Tây tẩu lang, trọng yếu là ở Hạ châu, Tuy châu, Ngân châu, Diêm châu và Hựu châu, ngoài ra cao nguyên Ngạc Nhĩ Đa Tư, thảo nguyên A Lạp Thiện và Ngạch Tể Nạp cùng thảo nguyên Hà Tây tẩu lang đều là các khu chăn nuôi thuận lợi. Vật nuôi chủ yếu là bò, cừu, ngựa, và lạc đà, ngoài ra cũng có lừa, la hay lợn. Ngựa ở Tây Hạ dùng cho mục đích quân sự và sản xuất, đồng thời cũng là thương phẩm và cống phẩm trọng điểm đối với bên ngoài, khiến "ngựa Đảng Hạng" có được danh tiếng. Lạc đà chủ yếu được nuôi ở khu vực A Lạp Thiện và Ngạch Tể Nạp, chúng là công cụ vận chuyển trọng yếu ở khu vực cao nguyên và sa mạc. Trong từ thư Tây Hạ "Văn hải" có ghi chép nghiên cứu tỉ mỉ về chăn nuôi gia súc, ghi chép rõ ràng về việc cho ăn, bệnh tật, sinh sản và giống, cho thấy rằng người Tây Hạ có kinh nghiệm rất phong phú đối với chăn nuôi gia súc. Ngoài chăn nuôi gia súc ra, nghề săn bắn cũng rất phát triển, đối tượng săn chủ yếu là chim ưng, cáo, chó, ngựa. Quy mô săn bắn không nhỏ, như trong cống phẩm dâng cho Liêu có 1000 bộ da cáo thảo nguyên. Nghề săn bắn vào trung hậu kỳ Tây Hạ vẫn còn hưng thịnh, được đại thần Tây Hạ xem trọng, quân đội Tây Hạ thường dùng việc săn bắn để huấn luyện hay diễn tập quân sự.
=== Thủ công nghiệp ===
Thủ công nghiệp Tây Hạ phân thành hai loại là quan doanh và dân doanh, trong đó quan doanh là chính. Mục đích sản xuất chủ yếu là để cung cấp cho quý tộc Tây Hạ sử dụng, kế đến là sản xuất để bán ra bên ngoài. Các ngành thủ công nghiệp tương đối toàn diện, trong pháp điển "Thiên Thịnh cải cựu tân định luật lệnh- Ty tự hành văn môn" có phân loại chi tiết. Các ngành thủ công nghiệp chính là xe sợi dệt vải, luyện kim, chế tác đồ bằng vàng bạc hay gỗ, làm muối, nấu rượu, gốm sứ, xây dựng, nung gạch, chế tạo binh khí cũng khá phát triển.
"Thanh diêm" là thương phẩm được cư dân ở biên giới Tống-Hạ ưa chuộng, cũng là một trong các tài nguyên trọng yếu của Tây Hạ. Khu vực sản xuất chủ yếu là các giếng muối Ô Trì, Bạch Trì, Ngõa Trì và Tế Hạng Trì ở Diêm châu (nay ở bắc Diêm Trì, Ninh Hạ), hay là Ôn Tuyền Trì ở Linh châu (nay ở Ngô Trung, Ninh Hạ). Thanh diêm sản xuất ở Tây Hạ có vị ngon giá thấp, được hoan nghênh hơn so với muối từ Giải Trì ở Hà Đông (tức tỉnh Sơn Tây ngày nay) của Tống, ngoài ra ở Kiềm Ôi Xuyên tại Tây An châu (nay ở tây Hải Nguyên, Ninh Hạ) còn sản xuất bạch diêm, hồng diêm, chất lượng chỉ kém thanh diêm. Thanh diêm và bạch diêm sản xuất tại Tây Hạ ngoài việc dùng để cung cấp cho nhân dân trong nước, chủ yếu dùng để mậu dịch theo đường chính phủ với Liêu, Tống và Kim, trong đó hầu hết là vận chuyển đến Quan Trung của Tống và dùng nó để đổi lấy một lượng lớn lương thực. Do vậy, triều đình Tống từng cấm chỉ thanh diêm của Tây Hạ qua cửa khẩu, người Tống từ đó chỉ có thể nhập lậu và kiếm được lợi nhuận lớn.
Thảm len của Tây Hạ là một thương phẩm xuất khẩu quý hiếm, Livre des merveilles du monde ghi theo lời Marco Polo nhận xét loại len trắng làm từ lông lạc đà trắng ở khu vực Tây Hạ là tốt nhất thế giới. Tây Hạ có tài nguyên khoáng sản khá phong phú, do vậy nghề chế tạo binh khí của triều đại này, như áo giáp rèn nguội khiến cả "thần tí cung", "toàn phong pháo", "kính nỗ" cũng không thể bắn xuyên qua, đều được thế nhân khen ngợi; đặc biệt là "Hạ quốc kiếm" sắc nhọn đến mức đương thời không thứ nào bì được, được người Tống quý trọng.
Người Tây Hạ tiếp thu văn hóa Hán đồng thời duy trì văn hóa của mình, dùng hai loại văn tự Hán và Tây Hạ trong việc khắc in sách. Nhằm phát triển nghề in ấn, triều đình Tây Hạ còn đặt ra "Khắc tự ty" để chuyên quản việc xuất bản, ngoài ra tư nhân và học hiệu ở Tây Hạ cũng có khả năng in khắc sách. Chủng loại sách được khắc in thì có nhiều, như kinh Phật, kinh điển Hán học, văn học thi ca, âm vận, bói toán bùa chú, y học, kỹ thuật, trong đó kinh Phật có số lượng nhiều nhất. Năm 1189, Hạ Nhân Tông cho phát tán 10 vạn quyển "quan Di Lặc thượng thăng đâu suất thiên kinh" bằng chữ Tây Hạ và Hán, 5 vạn quyển "Kim cương Phổ Hiền hành tụng kinh" cùng "Quan Âm kinh" và các đầu sách khác bằng chữ Hán.
Tây Hạ vốn không có đồ sứ, số đồ họ có được chủ yếu là cướp đoạt từ người Tống. Sau Khánh Lịch hòa nghị năm 1044, Tây Hạ học được kỹ thuật làm đồ sứ của người Hán. Đến thời Hạ Nghị Tông, Tây Hạ bắt đầu phát triển nghề làm đồ sứ, chủ yếu lấy Hưng Khánh phủ làm trung tâm sản xuất. Từ những hiện vật khảo cổ khai quật được, có thể thấy đồ sứ được nung của Tây Hạ chủ yếu là bát sứ trắng, mâm sứ trắng. Kỹ thuật của đồ sứ Tây Hạ không bằng được sứ Tống, song đơn giản trang trọng, hình thành một phong cách độc đáo.
=== Thương nghiệp và tiền tệ ===
Lãnh thổ Tây Hạ bao trùm Hà Tây tẩu lang- nơi con đường tơ lụa đi qua, lại thêm việc trong nước chỉ sản xuất được nhiều gia súc, còn lại thì có nhu cầu lớn về lương thực, trà và một bộ phận sản phẩm thủ công, do vậy mậu dịch đối ngoại là một trong những huyết mạch của kinh tế Tây Hạ, chủ yếu phân thành mậu dịch triều cống, mậu dịch "các trường", chợ ngầm. Các thành thị thương nghiệp quốc nội của Tây Hạ rất phồn vinh, Hưng Khánh, Lương châu, Cam châu, Hắc Thủy thành đều rất hưng thịnh. Thương phẩm chính là thực phẩm, vải, lụa, vật nuôi, thịt. Tây Hạ có thể sử dụng việc khống chế Hà Tây tẩu lang để quản lý mậu dịch qua lại giữa Tây Vực và Trung Nguyên, bản thân Tây Hạ có mậu dịch thương mại thường xuyên với Bắc Tống, Liêu, Kim, Tây Châu Hồi Cốt và các bộ Thổ Phồn. Do Tây Hạ lũng đoạn quá độ Hà Tây tẩu lang, khiến một bộ phận thương nhân Tây Vực chuyển sang đi băng qua bồn địa Sài Đạt Mộc, qua Thiện châu (nay thuộc Thanh Hải, Tây Ninh) và men theo sông Hoàng Thủy mà sang Tần châu (nay thuộc Thiên Thủy, Cam Túc) của Tống, sử gọi là 'con đường Thổ Dục Hồn'.
Đối với triều đình Trung Nguyên và Liêu, Tây Hạ lựa chọn hình thức mậu dịch triều cống, đương thời thường dùng lạc đà hay bò cừu để đổi lấy lương thực, trà, hay vật tư trọng yếu. Sau khi Tây Hạ giành được thắng lợi trong chiến tranh Tống-Hạ, theo điều khoản trong Khánh Lịch hòa nghị năm 1044, Tây Hạ mỗi năm có được từ Tống 5 vạn lạng bạc, 13 vạn thất lụa, 2 vạn cân trà; ngoài ra vào các ngày lễ tết mỗi năm còn có thể thu thêm được 2,2 vạn lạng bạc, 2,3 vạn thất lụa, 1 vạn cân trà. Từ thời Lý Kế Thiên, người Đảng Hạng bắt đầu triều cống cho Liêu, đến khi mất nước thì có tổng cộng cống cho Liêu được 24 lần. Tây Hạ còn dùng trà và tuế tệ của Tống để đổi lấy cừu của người Hồi Cốt hay Thổ Phồn, rồi bán lại cho Liêu, Tống hay Kim, thu được lợi nhuận. Mậu dịch triều cống thường bị gián đoạn bởi chiến tranh, mức độ ổn định không lớn.
Mậu dịch 'các trường' tương đối quy mô mà lại ổn định, ở nơi biên cảnh giữa Tây Hạ với Tống, Liêu, Kim thì hai bên cho đặt 'các trường' dùng chung cho mục đích giao dịch biên mậu. Trên biên giới Hạ-Tống thì lập 'các trường' ở Bảo An quân (nay thuộc Chí Đan, Thiểm Tây), Trấn Nhung quân (nay thuộc Cố Nguyên, Ninh Hạ), Lân châu, Diên châu. Trên biên giới Hạ-Liêu, lập 'các trường' tại Thiên Đức phủ hay Vân Nội ở tây bắc Tây Kinh của Liêu, Ngân Úng Khẩu cùng Quá Yêu Đái và Thượng Thạch Lăng Pha ở tây bắc Vân Trung. Ở những nơi này có không gian ổn định cho hoạt động mậu dịch, có nha nhân đánh giá đẳng cấp của hàng hóa, được quan phủ hai bên trông coi, cùng quản lý thị trường và thu thuế. Vật nuôi, đồ đan len, thảo dược là những mặt hàng mậu dịch chính, ngoài "quan thị" thì các chủng loại thương phẩm có sự phong phú hơn. Sau khi Kim diệt Bắc Tống, mậu dịch đối ngoại của Tây Hạ nằm trong tay của Kim, kinh tế Tây Hạ phụ thuộc vào Kim. Năm 1141, Kim đồng ý mở cửa 'các trường' tại Bảo An quân, Lan châu, Tuy Đức, Hoàn châu, Đông Thắng châu. Năm 1172, Kim Thế Tông lấy cớ đóng cửa 'các trường' Bảo An quân, Lan châu, Tuy Đức; cho rằng việc đổi tơ lụa lấy xa xỉ phẩm của Tây Hạ là không thích hợp. Điều này khiến cho hai bên có chiến sự không ngừng vào cuối thời Hạ Nhân Tông, 10 năm sau mới khôi phục mậu dịch bình thường. Cuối cùng là "thiết thị" (chợ ngầm) có số lượng lớn và phân tán, là thị trường phi chính thức và buôn lậu, như mậu dịch 'thanh diêm' lựa chọn phương thức này để đổi lấy lương thực của Tống.
Do thương nghiệp Tây Hạ hưng thịnh, tiền tệ lưu thông cũng hết sức quan trọng: một loại là tiền do Tây Hạ đúc; còn có tiền đến từ Tống hay Kim. Tây Hạ đúc tiền ngay từ thời Hạ Cảnh Tông, các hoàng đế sau này chỉ trừ Hạ hiến Tông và Hạ Mạt Đế ra thì đều có cho đúc tiền, Hạ Nhân Tông và năm 1158 còn thiết lập 'Thông tế giám' để quản lý việc đúc tiền. Tiền tệ do Tây Hạ đúc phần lớn đều tốt đẹp, có thư pháp mềm mại thanh thoát. Hiện nay đã phát hiện được năm loại tiền tệ có Tây Hạ văn, phân biệt là "Phúc Thánh bảo tiền", "Đại An bảo tiền", "Trinh Quán bảo tiền", "Càn Hựu bảo tiền", "Thiên Khánh bảo tiền".
== Văn hóa ==
Văn hóa Tây Hạ chịu ảnh hưởng sâu của văn hóa Hán vùng Hà Lũng, cũng như văn hóa Thổ Phồn và Hồi Cốt. Người Tây Hạ đồng thời cũng tích cực tiếp thu văn hóa và chế độ phép tắc Hán, phát triển Nho học, phổ biến Phật học, hình thành một vương quốc Phật giáo có chế độ phép tắc Nho gia. Người Đảng Hạng khởi đầu là bộ lạc du mục, còn Phật giáo sau khi truyền đến Lương châu vào thế kỷ 1 thì dần trở nên hưng thịnh trong khu vực, người Tây Hạ sau khi kiến quốc đã sáng tạo ra nền văn hóa nghệ thuật Phật giáo độc đáo của riêng mình. Chùa khắc đá Bách Nhãn ở kỳ Ngạc Thác Khắc thuộc Nội Mông là kho báu nghệ thuật bích họa Phật giáo Tây Hạ. Trong Hắc Thủy thành ở kỳ Ngạch Tể Nạp phát hiện được kinh Phật bằng Tây Hạ văn, tháp Phật Thích Ca, tượng Quan Âm đắp bằng đất. Ngoài ra, Tây Hạ còn tích cực phát triển hang Mạc Cao ở Đôn Hoàng. Sau khi Tây Hạ đánh diệt Quy Nghĩa quân vào năm 1036, họ chiếm lĩnh Qua châu và Sa châu, kiểm soát hang Mạc Cao. Từ thời Hạ Cảnh Tông đến thời Hạ Nhân Tông, hoàng đế Tây Hạ nhiều lần hạ lệnh xây dựng sửa chữa trong hang Mạc Cao, khiến nơi đây thêm phần huy hoàng. Đương thời, hang Mạc Cao được bôi màu lục, tiếp thu văn hóa Trung Nguyên và phong cách Úy Ngột Nhi, Thổ Lỗ Phồn. Ngoài ra, biểu hiện cho văn hóa Tây Hạ còn có Tây Hạ văn, còn gọi là "Phiên thư". Tây Hạ thiết lập Phiên học và Hán học khiến ý thức dân tộc Tây Hạ được tăng cường, bách tính "thông Phiên-Hán tự", trình độ văn hóa được tăng thêm nhiều. Lý Nguyên Hạo từng ban bố "Thốc Phát lệnh", lệnh cho nam giới tên toàn quốc trong ba ngày phải cạo đầu, ai trái lệnh phải chết.
=== Tư tưởng và giáo dục ===
Thể chế quan liêu và văn hóa cùng chế độ chính trị của Tây Hạ chịu ảnh hưởng sâu của văn hóa Nho gia, từ thời Lý Kế Thiên đến những năm cuối, các đế vương Tây Hạ không ai không học tập và phỏng theo phép chế của người Hán. Thời Lý Kế Thiên, "ngầm đặt chức quan, khác biệt hoàn toàn so với quy chế của người Khương, hết lòng mời Nho sĩ, dần thi hành tập tục Trung Quốc"; đến thời Lý Đức Minh thì "đều như chế độ ở Trung Quốc". Các thế hệ hoàng thân tông thất của Tây Hạ sùng bái Khổng Tử, tôn trọng ngưỡng mộ văn hóa Hán tộc. Ngoài ra, người Tây Hạ còn soạn viết một số thư tịch dung hợp và tuyên dương học thuyết Nho gia, như "Thánh lập nghĩa hải", "Tam tài tạp tự", "Đức hành ký", "Tân tập từ hiếu truyền", "Tân tập cẩm hiệp đạo lý", "Đức sự yếu văn". Nho học được đề xướng tại các triều Cảnh Tông, Nghị Tông, Huệ Tông, và Sùng Tông, đến thời Nhân Tông thì trở nên rất thịnh.
Khi Hạ Cảnh Tông thiết lập quan chế, đồng thời cũng cho thiết lập Phiên học và Hán học để làm cái nôi giúp bồi dưỡng văn hóa. Nhà bác học đa tài Dã Lợi Nhân Vinh được phân chủ trì Phiên học do Hạ Cảnh Tông xem trọng Phiên học, đồng thời ở các châu đặt chức 'giáo thụ', để tiến hành giảng dạy Phiên học. Tây Hạ nhìn chung thiết lập 5 loại học hiệu: Phiên học, quốc học, tiểu học, cung học, thái học. Mục đích của việc thiết lập học hiệu chủ yếu là để bồi dưỡng nhân tài, tôn Khổng Tử làm Văn Tuyên Đế. Tây Hạ vào thời trung hậu kỳ còn phát triển chế độ khoa cử, hậu kỳ Hạ Sùng Tông thì bắt đầu tiến hành 'Đồng tử khoa', tiến hành khảo thí khoa cử; năm 1147 Hạ Nhân Tông phong cử nhân, lập lại 'Đồng tử khoa'. Tây Hạ vào hậu kỳ về cơ bản dùng khoa cử để chọn kẻ sĩ làm quan, bất luận là người Hán hay các dân tộc khác, cũng như tông thất quý tộc đều phải trải qua khoa cử trên con đường làm quan.
=== Chữ viết, văn học và sử học ===
Vào đêm trước khi dựng nước, để đáp lại kiến nghị về ngôn ngữ quốc gia, Hạ Cảnh Tông phái Dã Lợi Nhân Vinh phỏng theo kết cấu của chữ Hán để tạo ra chữ Tây Hạ, đến năm 1036 thì ban hành, cũng được gọi là "quốc thư" hoặc "Phiên thư"; biểu, tấu, văn thư qua lại với vương triều xung quanh đều sử dụng chữ Tây Hạ. Văn tự này được cấu thành phần nhiều là tương tự cấu tạo lục thư (tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú, giả tá) của chữ Hán, song so với chữ Hán thì có số nét nhiều hơn. Văn học gia người Tây Hạ là Cốt Lặc Mậu Tài nhận định quan hệ giữa chữ Tây Hạ và chữ Hán là "luận mạt tắc thù, khảo bổn tắc đồng"Bản mẫu:Cần dịch nghĩa (論末則殊,考本則同). Chữ Tây Hạ sau khi xuất hiện thì được sử dụng rộng rãi trong các sách lịch sử, pháp luật, văn học, y học, hay trên các văn bia được chạm khắc, các tiền tệ được đúc, trên các bùa chú hay thẻ bài. Triều đình Tây Hạ cũng thiết lập Phiên học, do Dã Lợi Nhân Vinh chủ trì, tuyển chọn bổ nhiệm con em quý tộc quan lại phiên dịch văn điển Hán hay kinh điển Phật giáo. Để phục vụ cho việc phiên dịch giữa văn tự Hán và Tây Hạ, Cốt Lặc Mậu Tài vào năm 1190 soạn viết ra "Phiên Hán hiệp thì chưởng trung châu" (番漢合時掌中珠), lời tựa có cả chữ Tây Hạ và chữ Hán, nội dung giống nhau. Nói rằng "không học nói tiếng Phiên thì không thể hòa hợp với dân Phiên, không biết tiếng Hán thì sao hợp được với phép tắc người Hán", ý rằng quyển sách này có mục đích là để cho người Tây Hạ và người Hán có thể học tập ngôn ngữ của nhau, là một chìa khóa quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử Tây Hạ hiện nay.
Tây Hạ xem trọng văn hóa Hán, song tác phẩm văn học sáng tác bằng Hán văn truyền đời không nhiều, phần lớn là thi ca và ngạn ngữ. Thi ca Tây Hạ có các thể loại như thơ cung đình, thơ tôn giáo khuyến thiện, thơ khai sáng, kỉ sự và sử thi. Thi ca Tây Hạ có luật vần, thường có kết cấu đối xứng, thông thường là thể ngũ ngôn hoặc thất ngôn, cũng có thể đa ngôn, mỗi câu thơ có số âm tiết khác nhau. "Đại tụng thi" của tác giả Tây Hạ văn Dã Lợi Nhân Vinh nhận được sự tán dương, khá có tiếng. "Hạ thánh căn tán ca" là tác phẩm mang tính sử thi, nội dung phần nhiều là truyền thuyết dân gian, cách dùng từ chọn câu giàu sắc thái ca dao dân gian. Trong đó, bắt đầu bằng ba câu: "Hắc đầu thạch thành mạc thủy biên, Xích diện phụ trủng bạch hà thượng, Cao di dược quốc tại bỉ phương"Bản mẫu:Cần dịch nghĩa (黑頭石城漠水邊, 赤面父冢白河上, 高彌藥國在彼方), được các học giả Tây Hạ học sử dụng trong việc nghiên cứu lịch sử khởi nguyên của người Đảng Hạng. Ngoài ra còn có "Tân tu Thái Học ca" khen ngợi Thái Học được xây dựng lại, mang phong cách thơ cung đình. Hạ Sùng Tông xem trọng văn học, bản thân cũng từng sáng tác "Linh chi ca" đối đáp với đại thần Vương Nhân Trung, truyền thành giai thoại.
Ngạn ngữ Tây Hạ đối ngẫu tinh tế chỉnh tề, kết cấu nghiêm ngặt, số từ không giống nhau, nội dung có phạm vi rộng và phản ánh các mặt của xã hội Tây Hạ, đồng thời liên quan đến các yếu tố sản xuất, phong tục, tôn giáo của bách tính. Tập sách ngạn ngữ Tây Hạ nổi tiếng có "Tân tập cẩm hiệp từ", bởi Lương Đức Dưỡng biên soạn vào năm 1176, được Vương Nhân Trì biên soạn bổ sung vào năm 1187, tổng cộng có 364 điều ngạn ngữ. Nội dung của tập sách có ghi rằng "Ngạn ngữ không thành thạo thì không cần phải nói"; "thiên thiên chư nhân", "vạn vạn dân thứ" đều không thể thiếu được ngạn ngữ, thể hiện ra tính quan trọng của ngạn ngữ đối với nhân dân Tây Hạ.
Hoàng đế Tây Hạ rất xem trọng công tác biên soạn quốc sử của nước mình. Oát Đạo Xung vào thời Lý Đức Minh đã giữ chức chủ quản việc soạn viết quốc sử của Tây Hạ, hậu duệ của người này sau đó kế tiếp nhiệm vụ. Đến thời Hạ Nhân Tông, đặt ra Hàn lâm học sĩ viện, mệnh Vương Thiêm, Tiêu Cảnh Nhan tham khảo chước theo quy cách viết quốc sử kiểu thực lục của Tống, phụ trách việc viết "Lý thị thực lục". Năm 1225, Nam viện tuyên huy sứ La Thế Xương sau khi bãi quan đã viết "Hạ quốc thế thứ", song sau đó bị mất.
=== Tôn giáo ===
Nhân dân Tây Hạ nhìn chung chọn Phật giáo làm tín ngưỡng chủ yếu, trước khi kiến quốc thì họ sùng bái tự nhiên là chính. Người Đảng Hạng khi còn ở khu vực Tùng Phan Tứ Xuyên vào thời Đường đã lấy "trời" làm đối tượng sùng bái Những người Đảng Hạng sau khi thiên di đến khu vực Thiểm Bắc, từ sùng bái tự nhiên phát triển đến tín ngưỡng quỷ thần. Sau khi kiến quốc, người Đảng Hạng vẫn tôn sùng tín ngưỡng đa thần, với các vị thần tự nhiên như sơn thần, thủy thần, long thần, thụ thần, các thần thổ địa. Ví dụ như Hạ Cảnh Tông từng "tự đến Tây Lương phủ cúng tế thần"; Hạ Nhân Tông từng lập bia cầu Hắc Thủy ở ven sông Hắc Thủy tại Cam châu, tế cáo chư thần, thỉnh cầu bảo hộ cầu, dẹp yên lũ lụt. Ngoài sùng bái quỷ thần, người Đảng Hạng còn tôn sùng vu thuật, tức ma thuật. Người Đảng Hạng gọi việc cúng quỷ là "tư" (廝), thầy cúng quỷ được gọi là "tư kê" (廝乩), là cầu nối giữa người và quỷ thần, chủ yếu đảm nhiệm về đuổi quỷ và xem bói. Trước chiến tranh, người Tây Hạ tiến hành việc xem bói để hỏi về lành dữ, trong chiến tranh thì họ thường xuyên tiến hành vu thuật "sát quỷ chiêu hồn".
Phật giáo là quốc giáo của Tây Hạ, người Đảng Hạng trước khi kiến quốc từng sáu lần xin đổi lấy kinh Phật của Tống, triều đình Tống ban cho "Đại tạng kinh". Hạ Cảnh Tông sau khi lập quốc liền bắt đầu cho phiên dịch kinh Phật sang Tây Hạ văn. Trong vòng năm mươi mấy năm, dịch được 820 bộ kinh Đại Thừa và Tiểu Thừa, với 3.579 quyển, đáp ứng nhu cầu của nhân dân đối với Phật giáo. Ngoài ra, Hạ Cảnh Tông cùng các hoàng đế và thái hậu sau đó của Tây Hạ cũng cho xây dựng nhiều chùa chiền Phật giáo, với các trung tâm Hưng Khánh phủ-Hạ Lan sơn, Cam châu-Lương châu, Đôn Hoàng-An Tây, Hắc Thủy thành. Ví dụ, Thừa Thiên tự được xây dựng dựa theo yêu cầu của Một Tạng thái hậu- mẫu hậu của Hạ Nghị Tông, năm 1093 lại trùng tu tháp Cảm Thông và chùa miếu ở Lương châu, năm sau lập "Trùng tu Hộ Quốc tự Cảm Thông tháp bi". Thời kỳ Hạ Sùng Tông, lại xây dựng thêm Ngọa Phật tự ở Cam châu. Triều đình Tây Hạ hết sức đề xướng Phật giáo, đề cao địa vị của tăng nhân, tăng nhân do đó không cần nộp thuế và gánh vác tạp dịch; nếu phạm tội có thể được giảm miễn tội hình, khu vực xung quanh khuôn viên chùa cũng được triều đình bảo hộ. Đến hậu kỳ, Tây Hạ có xu thế ngày càng chịu ảnh hưởng lớn của Phật giáo Tạng truyền, năm 1159 sơ tổ Đô Tùng Khâm Ba của Già Mã Già Cử phái cho lập chùa Thô Bố, Hạ Nhân Tông phái sứ đến Tây Tạng nghênh tiếp cung phụng. Đô Tùng Khâm Ba phái đại đệ tử Cách Tây Tạng Tỏa Bố đem theo kinh văn đến Hưng Khánh phủ của Tây Hạ, được Hạ Nhân Tông tôn làm thượng sư, đồng thời tham dự vào việc phiên dịch kinh văn. Tây Hạ còn đặt ra chức đế sư, điều mà sau này triều Nguyên cũng thực hiện, và đề cao địa vị của Phật giáo Tạng truyền. Ngoài đế sư ra, Tây Hạ còn có 'quốc sư', các tăng nhân còn có nhiều tôn hiệu cao cấp khác, đóng vai trò là trung tâm và xương sống trong việc thúc đẩy sự phát triển của Phật giáo Tây Hạ.
Bên cạnh Phật giáo, Tây Hạ cũng bao dung các tôn giáo khác. Đạo giáo cũng được lưu truyền ở Tây Hạ, như hoàng tử của Hạ Cảnh Tông là Ninh Minh học tập tịch cốc thuật của Nho gia mà chết. "Văn hải" giải thích chữ "tiên" (仙) là "người cầu đạo trên núi", "người cầu trường thọ trên núi). Đến vãn kỳ của Tây Hạ, tại khu vực Sa châu và Cam châu còn lưu truyền Cảnh giáo và Hồi giáo, như Livre des merveilles du monde ghi theo lời kể của Marco Polo ghi rằng tại Đôn Hoàng (tỉnh Tangut) và Cam châu có bộ phận môn đệ Cảnh giáo và Hồi giáo.
=== Nghệ thuật ===
Nghệ thuật của Tây Hạ rất đa nguyên và phong phú, trên các mặt như hội họa, thư pháp, điêu khắc, vũ đạo và âm nhạc đều có thành tựu. Hội họa Phật giáo của Tây Hạ vẫn còn truyền lại cho đến nay, xuất hiện tại bích họa trong các hang đá hay chùa miếu, cho đến nay thì hang Mạc Cao ở Đôn Hoàng và hang Du Lâm ở Qua Châu là những nơi phong phú nhất. Thời đầu, nghệ thuật hội họa Tây Hạ học tập phong cách của Bắc Tống, sau đó thì chịu ảnh hưởng của Phật giáo Hồi Cốt và Phật giáo Tạng truyền từ Thổ Phồn, cuối cùng hình thành nên phong cách nghệ thuật độc đáo. Nội dung hội họa bao gồm cố sự và thuyết pháp Phật giáo, cung dưỡng Bồ Tát và nhân tượng, hoa văn trang trí trong hang, các tác phẩm có tiếng nhất là "Văn thù biến đồ", "Phổ Hiền biến đồ", "Thủy nguyệt Quan Âm đồ", và "Thiên thủ thiên nhãn Quan Âm kinh biến đồ". Ngoài ra, trong "Nông canh đồ", "Đạp đối đồ", "Đoán thiết đồ" còn quan sát được khung cảnh sản xuất và sinh hoạt trong xã hội Tây Hạ. Về tranh khắc gỗ, phần nhiều là bắt nguồn trong kinh Phật Tây Hạ văn và Hán văn. Tại Hắc Thủy thành khai quật được một lượng lớn tranh vẽ Phật giáo, như "Văn Thù đồ", "Phổ Hiền đồ", "Thắng Tam Thế Minh vương Mạn đồ la đồ", được vẽ đậm với màu nặng, sắc điệu thâm trầm. Còn bản vẽ "Mại nhục đồ" và "Ma quỷ hiện thế đồ" miêu tả sinh động, phản ánh chiều sâu của hội họa Tây Hạ.
Về thư pháp, khải thư được thấy nhiều trên các bản kinh được chép và bia văn, triện thư xuất hiện trên đầu bia và quan ấn. Thời kỳ Hạ Nhân Tông, Hàn lâm học sĩ Lưu Chí Trực giỏi về thư pháp, ông dùng bút được làm từ lông đuôi của linh dương Mông Cổ, người thời đó cũng bắt chước theo. Điêu khắc rất phát triển, có đúc đồng, khắc đá, khắc gạch, khắc gỗ, khắc tre, nặn tượng đất, gốm sứ; chúng có đặc điểm là cân đối, đao pháp tinh tế, rất chân thực. Nặn tượng đất lấy đắp tượng chùa Phật làm đại biểu, phần nhiều vận dụng thủ pháp tả thực và khoa trương nghệ thuật, tạo ra hình tượng nhân vật sinh hoạt hiện thực. Ví dụ như vào thời kỳ Hạ Sùng Tông cho dựng Thích Ca Mâu Ni Niết Bàn tượng ở Đại Phật tự tại Cam châu, tượng Tây Hạ cung dưỡng thiên nữ đầy màu sắc ở hang số 491 tại quần thể hang Mạc Cao tại Đôn Hoàng. Các sản phẩm nghệ thuật gốm sứ khác có kỹ thuật khắc tinh tế và sinh động.
Thời kỳ đầu, người Đảng Hạng dùng các nhạc khí tì bà, hoành xuy, kích phữu là chính, trong đó hoành xuy tức là ống sáo trúc. Sau đó, người Đảng Hạng tiếp thụ văn hóa âm nhạc Trung Nguyên, thời Lý Đức Minh lựa chọn khuôn phép âm nhạc kiểu Tống và dần dần phát triển. Hạ Cảnh Tông sau khi kiến quốc lại trừ bỏ đi âm nhạc mang tính lễ tiết quá nhiều của Đường-Tống, "đổi nhạc ngũ âm thành nhất âm". Năm 1148, Hạ Nhân Tông lệnh cho nhạc quan là Lý Nguyên Nho cải đính âm luật, ban danh là "Đỉnh tân luật". Âm nhạc Tây Hạ rất phong phú, cũng đặt ra 'Phiên-Hán nhạc nhân viện', thời Hạ Huệ Tông từng chiêu dụ giới kỹ nữ, nhạc nhân người Hán gia nhập nhạc viện, các hí khúc như "Lưu Tri Viễn chư cung điệu" cũng được truyền nhập tới Tây Hạ. Vũ đạo vào thời kỳ Tây Hạ được lưu lại trên các bia khắc và bích họa trong hang đá, có hình tượng sinh động, dung nạp phong cách vũ đạo Đường-Tống và vũ đạo Mông Cổ. Ví dụ như hai bên trên phần đỉnh bia của "Lương châu Hộ Quốc tự Cảm Ứng tháp" có khắc vũ kỹ, tư thế của người múa đối xứng, khỏa thân, cầm khăn và đeo chuỗi ngọc ở cổ, trong khung cảnh hào phòng cũng hiện ra vẻ tha thướt yêu kiều. Trong hang số 3 trong quần thể hang Du Lâm có bích họa Tây Hạ "Nhạc vũ đồ", với tư thế mạnh mẽ.
== Khoa học kỹ thuật ==
Khoa học kỹ thuật của riêng Tây Hạ tương đối yếu kém, chủ yếu tiếp thu kỹ thuật từ Tống hay Kim, tuy nhiên có chỗ độc đáo trên phương diện rèn đúc vũ khí. Về mặt thiên văn khí tượng, chủ yếu là học tập thiên văn và lịch pháp của triều Tống. Người Tây Hạ đặt ra 'Ty thiên giám' để quan sát thiên văn, đồng thời đặt ra chức 'thái sử', 'ty thiêm' và 'chiêm giả' để phân tích, giải thích thiên văn. Trong "Phiên Hán hiệp thì chưởng trung châu" của Cốt Lặc Mậu Tài có ghi chép chi tiết về thiên văn tinh tượng. Ví dụ như phân bầu trời thành các phương vị Thanh Long (đông), Bạch Hổ (tây), Chu Tước (nam), Huyền Vũ (bắc), mỗi phương vị lại đặt ra 7 Tinh tú. Trên phương diện khí tượng, người Tây Hạ cũng có phân tích chi tiết, ví dụ về gió có hòa phong (gió ôn hòa), thanh phong (gió mát), kim phong (gió thu), sóc phong (gió bắc), hắc phong (cuồng phong), toàn phong (gió lốc); về mưa có cao vũ, cốc vũ, thì vũ, ti vũ; mây có yên vân, hạc vân, quyền vân, la vân, đồng vân. Về mặt lịch pháp, Tây Hạ vào năm 1004 có được "Nghi Thiên lịch" từ Bắc Tống, là bản sách lịch đầu tiên của Tây Hạ. Sau khi lập quốc, Tây Hạ thiết lập cơ cấu "Đại hằng lịch viện" để quản lý biên chế và ban hành lịch pháp. Tây Hạ dùng hai loại sách lịch là sách lịch Phiên-Hán hợp bích và sách lịch do triều Tống ban cho, tình hình chi tiết cần phải nghiên cứu thêm.
Tri thức y học của người Đảng Hạng vào thời kỳ đầu hết sức thiếu thốn, bách tính mê tín quỷ thần, đại đa số chữa bệnh bằng cách cầu khấn thần linh. Sau khi lập quốc, người Tây Hạ tích cực tiếp thu nền y học và dược học của triều Tống, đồng thời xuất bản tác phẩm y học như "Trị liệu ác sang yếu luận" (治療惡瘡要論). Triều đình Tây Hạ cũng thiết lập "y nhân viện", trong cơ cấu chính phủ thì thuộc về "trung đẳng ty". Đối với việc nhận biết bệnh lý thì người Tây Hạ đại đa phân thành các quan điểm huyết mạch không thông, truyền nhiễm, "tứ đại bất hòa" (địa, thủy, hỏa, phong) trong đó thì "tứ đại bất hòa" bắt nguồn từ thuyết pháp của Phật giáo Tạng truyền. Do nền y học Tây Hạ không bằng được triều đại Trung Nguyên, vì vậy không thể chữa khỏi một số chứng bệnh nan giải, phải cầu trợ Tống hoặc Kim. Vào thời Hạ Nhân Tông, quyền thần Nhâm Đắc Kính mắc bệnh, điều trị lâu nhưng không khỏi, Hạ Nhân Tông phải phái sứ sang Kim để thỉnh cầu chi viện y liệu. Thời kỳ Hạ Hoàn Tông, mẹ của hoàng đế mắc bệnh khiến ông phải khiển sứ sang Kim cầu y.
Người Tây Hạ chế tác vũ khí hết sức tinh thâm chất phác, trong đó "Hạ quốc kiếm" là có tiếng nhất, được người Tống khen là "thiên hạ đệ nhất". Áo giáp Tây Hạ được khen ngợi là cứng trơn chói sáng, không nỏ nào bắn vào được, chuyên cấp cho "Thiết diêu tử" sử dụng. Ngoài ra, Tây Hạ còn có các vũ khí có tiếng khác: chiến xa dùng để công thành gọi là "đỗi lũy", có thể vượt hào rãnh mà tiến; "toàn phong pháo" đặt trên yên lạc đà, có thể bắn ra đạn đá lớn; "thần tí cung" rất mạnh, có thể bắn trong khoảng từ 240 đến 300 bộ, "có thể xuyên qua áo giáp".
== Quân chủ ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Văn hiến ===
=== Thư mục tham khảo ===
《中國通史·宋遼金元史》,王明蓀,九州出版社,ISBN 978-7-5108-0061-0
《西夏王國與東方金字塔》,李躍龍,世潮出版社,ISBN 957-776-456-8
《簡明西夏史》,李蔚,人民出版社,ISBN 978-7-01-002437-0
《中國文明史 宋遼金時期》,地球出版社編輯部,地球出版社,ISBN 957-714-048-3
《征服王朝的時代》,竺沙雅章,稻香出版社,ISBN 4-311-30446-3
《遼史金史西夏史》,劉鳳翥、李錫厚、白濱,香港中華书店,ISBN 962-231-934-3
《遼金西夏史》,李錫厚、白濱,上海人民出版社,ISBN 7-208-04392-2
Herbert Franke(傅海波)& Denis C. Twitchett(崔瑞德)編:《劍橋中國遼西夏金元史》(北京:中國社會科學出版社,1998)。 |
nauru.txt | Nauru (phát âm tiếng Anh /nɑːˈuːruː/), tên chính thức là nước Cộng hòa Nauru, là một đảo quốc tại Micronesia thuộc Nam Thái Bình Dương. Với 9.378 cư dân sống trên một diện tích 21 kilômét vuông (8,1 sq mi), Nauru là quốc gia nhỏ nhất tại Nam Thái Bình Dương, nhỏ thứ ba trên thế giới về diện tích, chỉ sau Thành Vatican và Công quốc Monaco, và là đảo quốc nhỏ nhất trên thế giới. Ngoài ra, Nauru còn là nước cộng hòa có diện tích nhỏ nhất trên thế giới.
Sau khi người Micronesia và người Polynesia định cư tại Nauru, hòn đảo bị Đế quốc Đức thôn tính và tuyên bố là một thuộc địa vào cuối thế kỷ 19. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nauru trở thành một lãnh thổ ủy thác của Hội Quốc Liên do Úc, New Zealand, và Anh Quốc quản lý. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nauru bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng. Sau chiến tranh, đảo lại trở thành lãnh thổ ủy thác. Nauru giành được độc lập vào năm 1968.
Nauru là một đảo đá phosphat, giàu tài nguyên gần bề mặt, do vậy có thể dễ dàng tiến hành khai thác lộ thiên. Đảo còn lại một số trữ lượng phosphat, song không còn có hiệu quả kinh tế để tiến hành khai thác. Vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, Nauru có thu nhập bình quân đầu người cao nhất trong số các quốc gia có chủ quyền. Khi trữ lượng phosphat cạn kiệt, và môi trường bị tổn hại nghiêm trọng do hoạt động khai thác, một quỹ được thành lập để quản lý nguồn tài sản đang dần giảm giá trị của hòn đảo. Để kiếm được thu nhập, Nauru nhanh chóng trở thành một thiên đường thuế và trung tâm rửa tiền phi pháp. Từ năm 2001 đến 2008, Nauru cho Úc đặt trung tâm giam giữ Nauru để đổi lấy viện trợ.
Tổng thống Nauru cũng là người đứng đầu nghị viện đơn viện gồm 19 thành viên. Nauru là một thành viên của Liên hiệp quốc, Khối Thịnh vượng chung, Ngân hàng Phát triển châu Á và Diễn đàn các đảo Thái Bình Dương. Nauru cũng tham gia Đại hội thể thao Thịnh vượng chung và Thế vận hội.
== Lịch sử ==
Người Micronesia và người Polynesia là những dân tộc đầu tiên sinh sống tại Nauru, ít nhất là từ 3.000 năm trước. Theo truyền thống, có 12 thị tộc hay bộ tộc tại Nauru, được đại diện bằng một sao 12 cánh trên quốc kỳ. Cũng theo truyền thống, người Nauru truy nguồn gốc của họ dựa trên mẫu hệ. Các cư dân trên đảo làm nghề nuôi trồng thủy sản: họ bắt cá ibija còn nhỏ, cho chúng thích nghi với môi trường nước ngọt, và nuôi chúng tại phá Buada, chúng cung cấp cho người dân trên đảo một nguồn thực phẩm ổn định. Trong thành phần bữa ăn của họ có những thứ khác được nuôi trồng tại địa phương như dừa và dứa dại. Tên gọi "Nauru" có thể bắt nguồn từ Anáoero, trong tiếng Nauru, có nghĩa là "Tôi đi đến bãi biển".
Năm 1798, thuyền trưởng người Anh John Fearn, một thợ săn cá voi, trở thành người phương Tây đầu tiên đến Nauru, ông đặt tên đảo là "Pleasant". Từ khoảng năm 1830, người Nauru có tiếp xúc với người Âu do các tàu đánh bắt cá voi và các thương nhân bổ sung nguồn dự trữ của họ (đặc biệt là nước ngọt) tại Nauru. Khoảng thời gian này, những người đào tẩu từ các tàu châu Âu bắt đầu đến sống tại đảo. Người dân trên đảo trao đổi thực phẩm lấy rượu dừa và các loại súng cầm tay. Các loại súng cầm tay được sử dụng trong Chiến tranh bộ tộc Nauru bắt đầu từ năm 1878 và kéo dài 10 năm.
Nauru bị Đức thôn tính vào năm 1888 và được hợp nhất vào Lãnh thổ bảo hộ Quần đảo Marshall thuộc Đức. Việc người Đức đến đã kết thúc nội chiến trên đảo, và các vương được đặt làm những người cai trị của đảo. Người được biết đến rộng rãi nhất trong số họ là Vương Auweyida. Các nhà truyền giáo Ki-tô từ quần đảo Gilbert đến Nauru vào năm 1888. Những người Đức định cư gọi đảo là Nawodo hoặc Onawero. Người Đức cai trị Nauru trong gần ba thập niên. Robert Rasch là một thương nhân người Đức kết hôn với một phụ nữ Nauru, ông là quản trị viên đầu tiên của đảo, được bổ nhiệm vào năm 1890.
Năm 1900, nhà thăm dò Albert Fuller Ellis phát hiện ra phosphat tại Nauru. Công ty Phosphat Thái Bình Dương bắt đầu khai thác tài nguyên này vào năm 1906 theo thỏa thuận với Đức, xuất khẩu lô hàng phosphat đầu tiên vào năm 1907. Năm 1914, sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, quân Úc chiếm Nauru. Úc, New Zealand và Anh Quốc ký Hiệp định đảo Nauru vào năm 1919, lập ra một ủy ban gọi là Ủy ban Phosphat Anh Quốc, thể chế này tiếp quản quyền khai mỏ phosphat.
Nauru trải qua một đại dịch cúm vào năm 1920, với tỷ lệ tử vong là 18 phần trăm trong số người Nauru bản địa. Năm 1923, Hội Quốc Liên trao cho Úc quyền quản trị ủy thác đối với Nauru, với Anh Quốc và New Zealand là đồng quản trị. Ngày 6 và 7 tháng 12 năm 1940, các tuần dương hạm phụ trợ Komet và Orion của Đức đánh đắm năm tàu tiếp tế tại vùng biển lân cận Nauru. Komet sau đó nã pháo vào các khu vực khai mỏ phosphat, kho chứa dầu, dầm chìa bốc hàng lên tàu trên đảo.
Quân đội Nhật Bản chiếm đóng Nauru vào ngày 25 tháng 8 năm 1942. Người Nhật xây dựng một sân bay, sân bay này bị Đồng Minh oanh tạc lần đầu vào ngày 25 tháng 3 năm 1943 nhằm ngăn chặn cung cấp thực phẩm được chở bằng đường không đến Nauru. Người Nhật trục xuất 1.200 người Nauru đến quần đảo Chuuk làm lao công. Nauru bị quân đội Hoa Kỳ bỏ qua và bỏ lại trong các chiến dịch trên Thái Bình Dương của họ, và cuối cùng được giải phóng vào ngày 13 tháng 9 năm 1945, khi sĩ quan chỉ huy Hisayaki Soeda đầu hàng giao đảo cho quân đội Úc. Các dàn xếp được tiến hành để hồi hương 737 người Nauru còn sống từ Chuuk. Họ trở về Nauru vào tháng 1 năm 1946. Năm 1947, Liên Hiệp Quốc thiết lập một chế độ ủy thác tại Nauru, với Úc, New Zealand, và Anh Quốc là các ủy viên quản trị.
Nauru được tự trị vào tháng 1 năm 1966, và trở thành quốc gia độc lập vào năm 1968 dưới quyền Tổng thống Hammer DeRoburt. Năm 1967, nhân dân Nauru mua lại tài sản của Ủy ban Phosphat Anh Quốc, và vào tháng 6 năm 1970 quyền kiểm soát được chuyển cho Công ty Phosphat Nauru thuộc sở hữu địa phương. Thu nhập từ khai mỏ giúp người Nauru trở thành một trong những nhóm dân cư có mức sống cao nhất tại Thái Bình Dương. Năm 1989, Nauru thực hiện hành động pháp lý chống lại Úc tại Tòa án Công lý Quốc tế về sự quản lý của Úc đối với hòn đảo, cụ thể là thất bại của Úc trong việc khắc phục các tổn hại về môi trường do hoạt động khai mỏ gây ra. Certain Phosphate Lands: Nauru v. Australia dẫn đến một dàn xếp ngoài tòa án nhằm cải tạo các khu vực đã khai thác hết của Nauru.
== Địa lý ==
Nauru là một đảo hình trái xoan với diện tích 21 kilômét vuông (8 sq mi) tại tây nam Thái Bình Dương, cách Xích đạo 42 kilômét (26 mi) về phía nam. Bao quanh đảo là một ám tiêu san hô, lộ ra khi triều thấp và rải rác khi đỉnh triều. Sự hiện diện của ám tiêu ngăn trở việc thiết lập một cảng biển, song các kênh tại ám tiêu cho phép các tàu nhỏ tiếp cận đảo. Một dải duyên hải màu mỡ rộng 150 đến 300 mét (490 đến 980 ft) nằm trong nội địa xuất phát từ bãi biển, là nơi dừa mọc xum xuê.
Các vách đá san hô bao quanh cao nguyên trung tâm của Nauru. Đỉnh cao nhất của cao nguyên gọi là đỉnh Chỉ huy (Command Ridge), có cao độ 71 mét (233 ft) trên mực nước biển. Vùng đất quanh phá Buada nuôi dưỡng các cây chuối, dứa, rau, dứa dại, và các cây gỗ cứng bản địa như mù u.
Nauru là một trong ba đảo đá phosphat lớn tại Thái Bình Dương (hai đảo còn lại là Banaba của Kiribati và Makatea của Polynésie thuộc Pháp). Trữ lượng phosphat tại Nauru nay hầu như đã hoàn toàn cạn kiệt. Khai mỏ Phosphat tại cao nguyên trung tâm để lại một địa hình cằn cỗi với các đỉnh nhọn đá vôi cao đến 15 mét (49 ft). Hoạt động khai mỏ làm trơ trụi và tàn phá khoảng 80% diện tích đất liền của Nauru, và cũng ảnh hưởng đến vùng đặc quyền kinh tế xung quanh; 40% sinh vật hải dương được ước tính là đã chết do rò rỉ bùn và phosphat.
Nauru có tài nguyên nước ngọt tự nhiên hạn chế. Các bể chứa trên nóc nhà thu thập nước mưa, song người dân trên đảo chủ yếu phụ thuộc vào ba nhà máy khử muối đặt tại Cơ quan Công ích Nauru. Khí hậu Nauru nóng và rất ẩm quanh năm vì nằm gần xích đạo và nằm giữa đại dương. Nauru chịu mưa gió mùa từ tháng 11 đến tháng 2, song không thường gặp lốc xoáy. Lượng mưa từng năm biến thiên lớn và chịu ảnh hưởng của El Niño-Dao động phương Nam, với một số hạn hán được ghi nhận có quy mô đáng kể. Nhiệt độ tại Nauru dao động từ 26 °C (79 °F) đến 35 °C (95 °F) vào ban ngày và từ 22 °C (72 °F) đến 34 °C (93 °F) vào ban đêm.
Do là một đảo, Nauru dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và mực nước biển. Có ít nhất 80% đất liền tại Nauru có cao độ phù hợp, song các khu vực này sẽ không cư trú được cho đến khi chương trình phục hồi môi trường sau khai thác phosphat được thi hành.
== Sinh vật hoang dã ==
Đảo có hệ động vật thưa thớt do các nguyên nhân là thiếu thảm thực vật và hệ quả của việc khai thác phosphat. Nhiều loài chim bản địa biến mất hoặc trở nên hiếm do môi trường sống của chúng bị phá hoại. Chỉ có khoảng 60 loài thực vật có mạch được ghi nhận là loài bản địa của đảo, không có loài nào trong số đó là loài đặc hữu. Nông trại dừa, khai mỏ, và việc đưa đến các loài ngoại lai khiến các loài thực vật bản địa bị xâm phạm nghiêm trọng. Không có loài thú đất liền bản địa nào trên đảo, song có những côn trùng, cua đất, và chim bản địa, bao gồm loài đặc hữu chích sậy Nauru. Chuột lắt, mèo, chó, lợn, và gà được các chuyền tàu đưa đến Nauru. Sự đa dạng của đời sống sinh vật biển ám tiêu khiến câu cá là một hoạt động phổ biến đối với du khách thăm đảo, cùng với hoạt động lặn biển.
== Chính trị ==
Nauru là một nước cộng hòa với chính quyền có một hệ thống nghị viện. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và chính phủ. Nghị viện đơn viện gồm 19 thành viên được bầu cử mỗi ba năm. Nghị viện bầu tổng thống từ các thành viên của mình, và tổng thống bổ nhiệm một nội các gồm sáu thành viên. Nauru không có bất kỳ cấu trúc chính thức nào cho các chính đảng, và các ứng cử viên thường ứng cử chức vụ với tư cách độc lập. Bốn đảng hoạt động trên chính trường Nauru là Đảng Nauru, Đảng Dân chủ, Nauru Trước tiên, và Đảng Trung tâm. Tuy nhiên, các liên minh trong chính quyền thường được hình thành dựa trên cơ sở các mối quan hệ đại gia đình thay vì đảng tịch.
Từ năm 1992 đến 1999, Nauru có một hệ thống chính quyền địa phương được gọi là Hội đồng đảo Nauru (NIC) gồm chín thành viên. NIC bị bãi bỏ vào năm 1999 và toàn bộ tài sản và nợ được trao cho chính phủ quốc gia. Quyền sử dụng đất tại Nauru là bất thường: toàn bộ người Nauru có các quyền nhất định đối với toàn bộ đất đai trên đảo, thứ là sở hữu của các cá nhân hoặc nhóm gia đình. Chính phủ và các đoàn thể không sử hữu bất kỳ mảnh đất nào, và họ cần phải lập hợp đồng thuê với địa chủ để sử dụng đất. Nếu không phải người Nauru thì không thể sở hữu đất đai trên đảo.
Nauru có 17 thay đổi chính phủ từ năm 1989 đến năm 2003. Bernard Dowiyogo mất khi đang tại vị vào tháng 3 năm 2003 và Ludwig Scotty được bầu làm tổng thống, sau đó ông tái đắc cử để phục vụ một nhiệm kỳ đầu đủ vào tháng 10 năm 2004. Sau một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm vào ngày 19 tháng 12 năm 2007, Scotty bị Marcus Stephen thay thế. Stephen từ nhiệm vào tháng 11 năm 2011, và Freddie Pitcher trở thành tổng thống. Sprent Dabwido sau đó đệ trình kiến nghị bất tín nhiệm đối với Pitcher, kết quả là Dabwido trở thành tổng thống. Sau cuộc bầu cử nghị viện vào năm 2013, Baron Waqa được bầu làm tổng thống.
Nauru có một hệ thống tư pháp phức tạp. Tòa án Tối cao, đứng đầu là Chánh án, là cơ quan tối cao trong các vấn đề hiến pháp. Các vụ tố tụng khác có thể kháng cáo lên Tòa Thượng tố gồm hai thẩm phán. Nghị viện không thể bác bỏ các phán quyết của tòa án, song có thể kháng cáo các quyết định của Tòa Thượng tố Nauru đến Tòa Cao đẳng Úc. Tuy nhiên, điều này hiếm khi xảy ra trên thực tế. Các tòa án cấp thấp hơn gồm có Tòa án khu vực và Tòa án gia đình, cả hai đều do Quan tòa cư dân đứng đầu, người này cũng là hộ tịch viên (Registrar) của Tòa Tối cao. Còn có hai bán pháp viện khác: Ủy ban Thượng tố phục vụ công cộng (Public Service Appeal Board) và Ủy ban Thượng tố Cảnh sát (Police Appeal Board), cả hai đều do Chánh án nắm quyền tối cao.
=== Hành chính ===
Nauru được chia thành 14 khu, chúng được nhóm lại thành tám khu vực tuyển cử.
== Quan hệ đối ngoại ==
Sau khi độc lập vào năm 1968, Nauru gia nhập Thịnh vượng chung các quốc gia với tư cách một thành viên đặc biệt; và trở thành một thành viên đầy đủ vào năm 2000. Quốc gia này được nhận vào Ngân hàng Phát triển châu Á năm 1991 và vào Liên Hiệp Quốc năm 1999. Nauru là một thành viên của Diễn đàn các đảo Thái Bình Dương, Chương trình Môi trường Khu vực Nam Thái Bình Dương, Ủy ban Nam Thái Bình Dương, và Ủy ban Khoa học Địa cầu ứng dụng Nam Thái Bình Dương. Chương trình Quan trắc bức xạ khí quyển của Hoa Kỳ vận hành một cơ sở giám sát khí hậu trên đảo.
Nauru không có lực lượng vũ trang, song có một lực lượng cảnh sát nhỏ nằm dưới quyền kiểm soát dân sự. Úc chịu trách nhiệm về quốc phòng của Nauru theo một hiệp định không chính thức giữa hai quốc gia. Tháng 9 năm 2005, Bị vong lục Thông hiểu giữa Úc và Nauru đem đến cho Nauru viện trợ tài chính và giúp đỡ kỹ thuật, bao gồm một Bộ trưởng Tài chính để chuẩn bị ngân sách, và các cố vấn về y tế và giáo dục. Sự giúp đỡ này là để đổi lấy việc cung cấp nhà ở cho những người tìm kiếm nơi trú ẩn trong lúc thỉnh cầu đến Úc của họ được xử lý. Nauru sử dụng đô la Úc làm tiền tệ chính thức của mình.
Nauru sử dụng tư thế một thành viên Liên Hiệp Quốc của mình để đạt được hỗ trợ tài chính từ cả Đài Loan và Trung Quốc đại lục, quốc gia này thay đổi sự công nhận của mình sang phía bên kia theo chính sách một Trung Quốc. Ngày 21 tháng 7 năm 2002, Nauru ký một thỏa thuận về việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhận được 130 triệu đô la Mỹ từ Bắc Kinh cho hành động này. Nhằm phản ứng, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao với Nauru hai ngày sau đó. Nauru sau đó tái lập liên kết với Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 14 tháng 5 năm 2005,
Năm 2008, Nauru công nhận Kosovo là một quốc gia độc lập, và vào năm 2009 Nauru công nhận Abkhazia và Nam Ossetia- các khu vực ly khai của Gruzia. Nga được tường thuật là trao cho Nauru 50 triệu đô la Mỹ tiền viện trợ nhân đạo như một kết quả của sự công nhận này. Ngày 15 tháng 7 năm 2008, chính phủ Nauru tuyên bố một chương trình tân trang cảng, sử dụng 9 triệu đô la Mỹ viện trợ phát triển từ Nga. Chính phủ Nauru tuyên bố rằng viện trợ này không liên quan đến việc Nauru công nhận Abkhazia và Nam Ossetia.
== Kinh tế ==
Kinh tế Nauru đạt đỉnh vào đầu thập niên 1980, khi nó phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tài nguyên phosphat có nguồn gốc từ phân của các loài chim biển. Hòn đảo có ít các tài nguyên khác, và hầu hết nhu yếu phẩm phải nhập khẩu. RONPhos, trước đây gọi là Công ty Phosphat Nauru, vẫn tiến thành khai thác quy mô nhỏ. Chính quyền đưa một tỷ lệ tiền lãi của RONPhos vào trong Quỹ Hoa hồng Phosphat Nauru. Quỹ quản lý các khoản đầu tư dài hạn, mục đích là để hỗ trợ các công dân khi trữ lượng phosphat cạn kiệt. Tuy nhiên, do quản lý yếu kém, các tài sản cố định và lưu động của quỹ suy giảm đáng kể, và nhiều khoản không bao giờ có thể phục hồi hoàn toàn. Các đầu tư thất bại bao gồm nhạc kịch Leonardo the Musical vào năm 1993, là một thất bại về tài chính. The Mercure Hotel tại Sydney và tòa nhà Nauru House tại Melbourne được bán vào năm 2004 để trả các khoản nợ và một chiếc Boeing 737- máy bay duy nhất của Air Nauru bị tái chiếm hữu vào tháng 12 năm 2005. Dịch vụ hành không bình thường được tiếp tục sau khi nó được thay thế bằng một máy bay dân đụng Boeing 737–300 vào tháng 6 năm 2006. Năm 2005, Nauru bán tài sản còn lại của mình tại Melbourne, địa điểm quán Savoy, với giá 7,5 triệu đô la Mỹ.
Giá trị của Quỹ Hoa hồng Phosphat Nauru ước tính giảm từ 1,3 tỷ đô la Úc vào năm 1991 xuống 138 triệu đô la Úc vào năm 2002. Nauru hiện thiếu tiền tệ để thi hành nhiều chức năng cơ bản của chính quyền; ví dụ, Ngân hàng Quốc gia Nauru bị vỡ nợ. CIA World Factbook ước tính GDP bình quân đầu người của Nauru là 5.000 đô là Mỹ vào năm 2005. Ngân hàng Phát triển châu Á trong báo cáo kinh tế 2007 về Nauru ước tính GDP bình quân đầu người từ 2.400 đến 2.715 đô la Mỹ
Không có thuế cá nhân tại Nauru. Tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 90%, và 95% trong số những người có việc làm là người làm việc cho chính quyền. Ngân hàng Phát triển châu Á lưu ý rằng mặc dù chính quyền có chỉ thị công khai mạnh mẽ về thi hành các cải cách kinh tế, song trong khi không có nguồn thay thế cho khai thác phosphat, triển vọng trung hạn của kinh tế Nauru tiếp tục phụ thuộc vào giúp đỡ từ bên ngoài.
Trong thập niên 1990, Nauru trở thành một thiên đường thuế và quốc gia này cấp hộ chiếu cho công dân ngoại quốc để thu phí. Nhóm hành động tài chính chống Rửa tiền (FATF) xác định Nauru là một trong 15 quốc gia "không hợp tác" trong cuộc chiến chống rửa tiền. Trong thập niên 1990, có thể lập một ngân hàng có giấy phép tại Nauru chỉ với 25.000 đô la mà không cần đáp ứng các yêu cầu khác. Dưới áp lực của FATF, Nauru ban hành luật chống trốn thuế vào năm 2003, sau đó nguồn tiền nóng nước ngoài dời khỏi Nauru. Vào tháng 10 năm 2005, sau khi Nauru thỏa mãn yêu cầu ban hành và thực thi luật, FATF chấm dứt xác định quốc gia này là không hợp tác.
Từ năm 2001 đến năm 2007, trung tâm giam giữ Nauru cung cấp một nguồn thu nhập đáng kể cho quốc gia này. Nhà cầm quyền Nauru phản ứng lo lắng trước việc Úc đóng cửa trung tâm. Vào tháng 2 năm 2008, Bộ trưởng Ngoại giao Nauru Kieren Keke phát biểu rằng việc đóng cửa trung tâm sẽ dẫn đến viẹc 100 người Nauru mất việc làm, và sẽ ảnh hưởng đến 10% dân số trên đảo một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Trung tâm giam giữ được mở cửa trở lại vào tháng 8 năm 2012.
== Nhân khẩu ==
Nauru có 9.378 cư dân vào tháng 7 năm 2011. Dân số đảo trước đây đông hơn, song vào năm 2006 có khoảng 1.500 người dời khỏi đảo trong một chuyến hồi hương của các công nhân nhập cư đến từ Kiribati và Tuvalu. Nguyên nhân của việc hồi hương là sự giảm thiểu nhân lực quy mô lớn trong ngành công nghiệp khai thác phosphat. Ngôn ngữ chính thức của Nauru là tiếng Nauru, một ngôn ngữ đảo Thái Bình Dương khác biệt, được 96% người thuộc dân tộc Nauru nói tại nhà. Tiếng Anh được nói phổ biến và là ngôn ngữ của chính quyền và thương mại, do tiếng Nauru không phổ biến bên ngoài quốc gia.
Các dân tộc đông nhất tại Nauru là người Nauru (58%), người các đảo Thái Bình Dương khác (26%), người gốc Âu (8%), và người Hoa (8%). Tôn giáo chính được thực hành trên đảo là Ki-tô giáo (2/3 là Tin Lành, 1/3 là Công giáo La Mã). Có một số lượng tín đồ đáng kể Bahá'í (10%) – đây là tỷ lệ cao nhất trong số các quốc gia trên thế giới – Phật giáo (9%) cùng Hồi giáo (2,2%). Hiến pháp Nauru quy định quyền tự do tôn giáo. Tuy nhiên, chính quyền cản trở việc thực hành tôn giáo của Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky Tô và Nhân Chứng Giê-hô-va, hầu hết các tín đồ này là công nhân ngoại quốc làm việc cho Công ty Phosphat Nauru thuộc sở hữu của chính quyền.
Tỷ lệ biết chữ tại Nauru là 96%. Giáo dục là bắt buộc đối với trẻ em từ 6 đến 15 tuổi, và hai năm không bắt buộc được đề nghị (lớp 11 và 12). Có một khu trường sở của Đại học Nam Thái Bình Dương tại Nauru. Trước khi khu trường sở này được xây dựng vào năm 1987, các sinh viên sẽ phải học tại nước ngoài.
Người Nauru là những người béo phì nhất trên thế giới; 97% nam giới và 93% nữ giới bị thừa cân hoặc béo phì. Kết quả là Nauru có mức độ mắc đái đường tuýp 2 cao nhất thế giới, với trên 40% dân số mắc bệnh. Các vấn đề quan trọng khác liên quan đến chế dộ ăn uống tại Nauru gồm có bệnh thận và bệnh tim. Tuổi thọ tại Nauru vào năm 2009 là 60,6 năm đối với nam và 68,0 năm đối với nữ.
== Văn hóa ==
Người Nauru có nguồn gốc từ các thủy thủ người Polynesia và người Micronesia, những người này tin vào một nữ thần là Eijebong, và một vùng đất thánh là một đảo gọi là Buitani. Hai trong số 12 thị tộc ban đầu bị tuyệt chủng trong thế kỷ 20. Ngày Angam được tổ chức vào 26 tháng 10 nhằm tán dương sự phục hồi của dân cư Nauru sau hai thế chiến và dịch cúm năm 1920. Văn hóa thuộc địa và hiện đại phương Tây thay thế đáng kể văn hóa bản địa. Chỉ một vài trong số các phong tục cổ được bảo tồn, song một số loại hình âm nhạc, nghệ thuật, thủ công nghiệp, ngư nghiệp truyền thống vẫn được thực hành.
Không có nhật báo xuất bản tại Nauru, chỉ có một ấn phẩm phát hành hai tuần một lần là Mwinen Ko. Có một đài truyền hình do nhà nước sở hữu là Truyền hình Nauru (NTV), nó phát sóng các chương trình từ New Zealand và Úc, và một dài phát thanh phi thương mại thuộc sở hữu nhà nước là Phát thanh Nauru, truyền các chương trình của Đài phát thanh Úc và BBC.
Bóng đá luật Úc là môn thể thao phổ biến nhất tại Nauru; nó và cử tạ được xem là các môn thể thao quốc gia. Nauru có một giải bóng đá Úc với tám đội tuyển. Các môn thể thao phổ biến khác tại Nauru gồm có bóng chuyền, bóng lưới, câu cá, và quần vợt. Nauru tham gia Đại hội thể thao Thịnh vượng chung và Thế vận hội Mùa hè.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phái đoàn thường trực của Nauru tại Liên Hiệp Quốc
Hãng hàng không Nauru |
o.txt | O, o là chữ thứ 15 trong phần nhiều chữ cái dựa trên tiéng Latin và là chữ thứ 17 trong chữ cái tiếng Việt. O có gốc từ chữ ajin của tiếng Semite, tuy rằng ajin được dùng như một phụ âm. Trong hầu hết các ngôn ngữ dùng chữ cái Latinh, chữ O được đọc như chữ Ô trong tiếng Việt.
Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ O hoa có giá trị 79 và chữ o thường có giá trị 111.
O là một trong 4 nhóm máu chính và gồm 2 loại: O+ và O-.
Trong kinh tế học và tin học, O được sử dụng làm ký hiệu cho đầu ra (output).
O được gọi là Oscar trong bảng chữ cái âm học NATO.
Trong bảng chữ cái Hy Lạp, O tương đương với Ο và o tương đương với ο.
Trong bảng chữ cái Cyrill, O tương đương với О và o tương đương với о.
O là từ đồng nghĩa với cô để gọi người là em bố chủ yếu dùng ở miền Trung Việt Nam
Trong hóa học, O là ký hiệu của nguyên tố Oxi
== Tham khảo == |
seiko.txt | Tập đoàn cổ phần Seiko (セイコーホールディングス株式会社 Seikō Hōrudingusu Kabushiki-gaisha?) hay ngắn gọn là Seiko (đọc là xêê-cô) là một công ty Nhật Bản thành lập vào năm 1881; nổi tiếng trong lĩnh vực sản xuất và mua bán đồng hồ, thiết bị điện tử, phụ kiện bán dẫn và quang học. Trong đó Seiko nổi tiếng nhất trong lĩnh vực sản xuất đồng hồ và công ty này cũng là công ty đầu tiên trên thế giới sản suất đồng hồ chạy bằng máy thạch anh (quartz) có tên gọi là Astron. Công ty cũng được biết đến là nhà sản xuất đồng hồ Chronograph tự động đầu tiên được sử dụng trong vũ trụ.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Seiko Holdings Corporation website (tiếng Anh)
Seiko Holdings Corporation website (tiếng Nhật)
Seiko Holdings Group Companies (tiếng Anh)
Seiko Watch Corporation website (tiếng Nhật)
Seiko Watch Corporation International website (tiếng Anh)
Seiko Clocks website (tiếng Anh)
Seiko Spring Drive website (tiếng Anh)
Seiko Calibers (tiếng Anh)
A detailed evaluation of the mechanics of a Seiko 7S26 watch movement (tiếng Anh)
Do It Yourself Project: Seiko 7S26 for Novice Horologists by Nicholas Hacko (tiếng Anh)
SEIKO-Citizen Watch Forum (tiếng Anh) |
nguyễn việt thắng.txt | Nguyễn Việt Thắng (sinh 13 tháng 9 năm 1981), là một cựu cầu thủ bóng đá Việt Nam từng thi đấu cho đội tuyển Việt Nam và nhiều câu lạc bộ khác tại Việt Nam ở vị trí tiền đạo.
== Sự nghiệp câu lạc bộ ==
Việt Thắng được xem là một cầu thủ khá tài năng của Việt Nam sau khi chơi rất thành công tại Câu lạc bộ bóng đá Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Vào năm 2002, anh chuyển đến Câu lạc bộ Hoàng Anh Gia Lai sau 3 năm chơi cho câu lạc bộ cũ.
Trong năm 2003, Việt Thắng bị phát hiện liên quan đến một vụ bê bối bóng đá trong khi câu lạc bộ Hoàng Anh Gia Lại đang thi đấu tại Giải vô địch bóng đá các câu lạc bộ châu Á 2003. Liên đoàn bóng đá Việt Nam đã quyết định cấm cầu thủ này thi đấu tại tất cả các giải trong nước trong vòng 3 năm. Đến năm 2006, Việt Thắng quay trở lại với sân cỏ và gia nhập Câu lạc bộ Đồng Tâm Long An.
Trong suốt thời gian bị cấm thi đấu, năm 2005, Việt Thắng được gửi đến học tập tại Câu lạc bộ bóng đá Porto B để có thể chuẩn bị cho việc quay trở lại đội tuyển của mình tại Giải bóng đá vô địch quốc gia..
Năm 2009 Việt Thắng ngược ra miền bắc khoác áo thi đấu cho The vissai Ninh Bình. Chưa hết hợp đồng 3 năm anh được Becamex Bình Dương mua về cuối năm 2011 với mức giá 9 tỷ đồng. Sau giai đoạn lượt đi của V-league 2012 chủ yếu ngồi trên ghế dự bị. Tới giai đoạn lượt về của V-league 2012 Việt Thắng chuyển đến thi đấu cho Thanh Hóa theo hình thức cho mượn từ câu lạc bộ chủ quản.
Trở lại Bình dương sau nửa năm thi đấu cho Thanh Hóa, anh tiếp tục chuyển đến câu lạc bộ cũ Đồng Tâm Long An với một bản hợp đồng cho mượn có thời hạn 1 năm. Sau một mùa giải thi đấu với phong độ ổn định, ngày 14 tháng 10 năm 2013, Đồng Tâm Long An đã đàm phán thành công với Bình Dương về việc chuyển nhượng Việt Thắng với mức phí không được tiết lộ. Chấn thương ngay trước mùa giải V-League 2014 cùng với việc anh không thể hiện được nhiều trong màu áo đội bóng đã khiến Việt Thắng bị câu lạc bộ thanh lý hợp đồng. Ngày 8 tháng 11 năm 2014, anh tuyên bố từ giã sự nghiệp sân cỏ sau 17 năm gắn bó.
== Sự nghiệp đội tuyển ==
Việt Thắng khoác áo đội tuyển quốc gia lần đầu tiên vào tháng 8 năm 2000. Tiếp đó được chọn để thi đấu trong vòng loại World Cup năm 2002, anh có cơ hội chơi với những cầu thủ nổi tiếng như Lê Huỳnh Đức nhưng đến phút cuối lại bị loại do án phạt của Liên đoàn.
Trong năm 2007, anh được gọi trở lại đổi tuyển quốc gia nhưng lại không thể có mặt tại Cúp bóng đá châu Á 2007. Năm 2008, Việt Thắng được huấn luyện viên Henrique Calisto gọi trở lại đội tuyển Việt Nam và là một trong những tiền đạo đá cặp cùng với Lê Công Vinh tại Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008. Tại giải này, anh đã ghi được một bàn thắng và có một số đường chuyền tạo cơ hội cho các cầu thủ khác ghi bàn.
=== Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia ===
Cập nhật lần cuối ngày 29 tháng 1 năm 2008
== Thành tích ==
Với đội tuyển Việt Nam
Huy chương vàng AFF Cup 2008 - Vô địch 2008
Huy chương đồng - Hạng 3 AFF Cup 2010 2010
Với Công An TP.HCM
2 Cup Quốc gia: 1998 - 1999, 1999 - 2000
Với Hoàng Anh Gia Lai Club
Vô địch V-League: 2002 - 2003
Siêu Cup Quốc gia: 2002 - 2003
Với Đồng Tâm Long An Club
Vô địch V-League: 2005 - 2006, 2006 - 2007
Siêu Cup Quốc gia: 2005 - 2006
Cup Quốc gia: 2005 - 2006
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử tại national-football-teams.com |
đất đỏ.txt | Đất Đỏ là một huyện của tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu, Việt Nam, có trung tâm hành chính đặt tại thị trấn Đất Đỏ. Nó được thành lập khi Chính phủ chia huyện Long Đất cũ thành hai huyện Đất Đỏ và Long Điền theo nghị định 152/2003/NĐ-CP ngày 9 tháng 12 năm 2003.
== Địa lý ==
Đông giáp huyện Xuyên Mộc và biển Đông, tây giáp huyện Long Điền và thành phố Bà Rịa, nam giáp biển Đông, và bắc giáp huyện Châu Đức.
Diện tích tự nhiên 18.957,63 ha. Gồm 2 thị trấn mới được thành lập là thị trấn Đất Đỏ và thị trấn Phước Hải; các xã thuộc huyện Đất Đỏ gồm: Láng Dài, Lộc An, Long Mỹ, Long Tân, Phước Hội, Phước Long Thọ.
Trên địa bàn huyện có 29 trường học các cấp, 10 trường mầm non, 12 trường tiểu học và 7 trường Trung học Cơ Sở; 8 trạm y tế cấp xă; 6 chợ. Huyện Long Đất cũ có bờ biển dài 27 km.
== Kinh tế ==
Cơ cấu kinh tế là nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, và công nghiệp. Về nông nghiệp, huyện Long Đất đã phát triển cả trồng trọt lẫn chăn nuôi, từng bước chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa, phát huy các loại hình kinh tế hợp tác, chuyển đổi thực hiện luật hợp tác xă. Cũng có 118 tập đoàn sản xuất, xây dựng 15 câu lạc bộ khuyến nông. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đă cải tạo 450 ha vườn tạp thành vườn chuyên canh ở các xă Long Tân, Láng Dài, Phước Thạnh và Phước Long Thọ. Giá trị sản xuất nông nghiệp từ 1996-2002 đạt 708.790 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 6,4%/năm.
Ngư nghiệp được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Long Đất. Huyện đă xây dựng được 3 cảng cá Lộc An, Tam Phước, Ḷ Vôi. Đến năm 2003 đã có 1.925 tàu cá với công suất bình quân 90 CV/chiếc. Tổng sản lượng khai thác 86.672,5 tấn/năm. Hiện nay, huyện có 33 cơ sở chế biến hải sản.
Long Đất còn có thế mạnh về du lịch biển. Bãi biển Long Hải của huyện Long Đất có khu du lịch Kỳ Vân và khu du lịch Thùy Dương, hàng năm thu hút hàng trăm ngàn lượt khách. Long Đất còn là quê hương của anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu,là nơi ở của người con gái nhà cách mạng nổi tiếng Dương Bạch Mai mà nhân dân xã Long Mỹ hay gọi với cái tên triều mến là Bà Hai Mắt Kiếng, có chiến khu Minh Đạm… là những địa chỉ để phát triển loại hình du lịch "về nguồn".
Sản xuất công nghiệp: tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện đang có chiều hướng phát triển, trước hết trong lĩnh vực chế biến lương thực, thực phẩm, gia công cơ khí, sản xuất nước đá. Một số nhà máy công nghiệp có quy mô lớn đi vào hoạt động như: Nhà máy khí hóa lỏng Dinh Cố, Nhà máy Chế biến thức ăn gia súc Proconco, Nhà máy Chế biến hải sản Lộc An, Nhà máy bột cá, Cảng cá Lộc An… Tổng giá trị sản xuất công nghiệp từ năm 1996-2002 trên địa bàn đạt 9.453,4 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 98%/ năm, riêng công nghiệp địa phương tăng trưởng 8,97%.
Hệ thống cấp điện đă phủ kín địa bàn huyện Long Đất với 165 trạm hạ thế, 98 km đường dây hạ thế với tổng công suất 9.836 KVA, tăng 1.073 KVA so với năm 1996. Bình quân đầu người sử dụng điện 146 kWh/năm, đạt 87% số hộ sử dụng điện.
Về giao thông đường bộ, xây dựng cơ sở hạ tầng và thông tin liên lạc huyện Long Đất cũng có bước phát triển đồng bộ. Tất cả các xă đều có điện thoại và được phủ sóng điện thoại di động. Hiện nay, mật độ điện thoại hữu tuyến đạt 7 máy trên 100 dân. Trong 12 năm qua, Long Đất đă đầu tư nâng cấp hơn 178 km đường giao thông nông thôn, trong đó có trên 10 km đường bê tông nhựa, hơn 100 km láng nhựa. Long Đất đang là huyện có hệ thống đường giao thông nông thôn tốt nhất tỉnh.
== Người Đất Đỏ ==
Võ Thị Sáu, liệt sĩ.
Dương Bạch Mai, xã Long Mỹ có lăng mộ của gia tộc Dương Bạch Mai.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Giới thiệu tổng quan – Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu |
ōita.txt | Ōita (Nhật: 大分県 (Đại Phân Huyện), Ōita-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, trên đảo Kyūshū. Trung tâm hành chính thành phố Ōita.
== Địa lý ==
Ōita nằm ở bờ biển phía Đông Bắc của đảo Kyūshū. Được bao quanh bởi eo biển Suo và đảo Honshū ở phía Bắc, eo biển Iyo và đảo Shikoku ở phía Đông. Nó giáp tỉnh Miyazaki về phía Nam và tỉnh Fukuoka và Kumamoto về phía Tây.
Tỉnh này được bao phủ phần lớn bởi núi và chỉ có đồng bằng nhỏ hẹp ở eo biển.
== Lịch sử ==
Sau cuộc Minh Trị Duy tân, Bungo và phần phía Nam tỉnh Buzen được hợp thành tỉnh Ōita. Những tỉnh đó đã được phân chia giữa nhiều daimyo địa phương, do đó một thị trấn thành trì lớn không bao giờ được nhập vào Ōita.
== Hành chính ==
Các thành phố:
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Oita
Đại học APU
== Thể thao ==
Các đội thể thao được liệt kê dưới đây có trụ sở ở Oita.
Bóng đá
Oita Trinita
Bóng rổ
Oita Heatdevils (Beppu)
Bóng chuyền
Oita Miyoshi Weisse Adler (Oita)
Futsal
Vasagey
== Du lịch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức tỉnh của Oita. (tiếng Nhật)
Trang chủ Oita JETs
Tạp chí O-net |
nguyễn huy hoàng.txt | Nguyễn Huy Hoàng (sinh ngày 10 tháng 12 năm 1981 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An) là một cầu thủ bóng đá Việt Nam. Anh đang thi đấu cho Câu lạc bộ bóng đá Sông Lam Nghệ An và từng là thành viên của đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam.
== Sự nghiệp ==
Đầu tháng 3 năm 2007, Nguyễn Huy Hoàng tuyên bố từ giã đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam vì lý do chấn thương. Tuy nhiên, anh đã quay trở lại đội tuyển sau khi được huấn luyện viên Alfred Riedl và câu lạc bộ Sông Lam Nghệ An động viên.
Sau trận tứ kết Cúp bóng đá châu Á 2007 tại Băng Cốc, Huy Hoàng một lần nữa quyết định từ giã đội tuyển.
== Bê bối ==
Vào chiều ngày 7 tháng 9 năm 2012, Nguyễn Huy Hoàng đã gây tai nạn giao thông tại thành phố Thanh Hóa. Theo công an thành phố Thanh Hóa, anh đã điều khiển xe ô tô trong tình trạng say rượu, vượt lấn phần đường. Sau khi gây tai nạn, Nguyễn Huy Hoàng vẫn cho xe đi tiếp và bị người dân và cảnh sát áp sát khống chế đưa vào lề đường. Tuy nhiên, lúc đó, Nguyễn Huy Hoàng "mắt nhắm lim dim, đôi khi còn vỗ tay, uốn éo theo tiếng nhạc, không màng tới những người xung quanh" nên có nghi ngờ rằng anh lái xe trong tình trạng phê ma túy. Đến tận bây giờ việc Huy Hoàng có nghiện ma túy hay không vẫn là một câu hỏi.
== Thành tích ==
Với đội tuyển Việt Nam
Hạng nhì Cúp bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh 2002
Hạng nhất Cúp bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh 2003
Hạng ba giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2007
Hạng nhì King Cup 2007
Với Sông Lam Nghệ An
V-League (3): 1999-00, 2000-01 và 2010-11
Cúp Quốc gia (2): 2002; 2010
Siêu cúp Quốc gia (4): 2000, 2001, 2002, 2011
Danh hiệu cá nhân
Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất Việt Nam 2001
Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất U18 Việt Nam 1999
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
2014.txt | Năm 2014 là một năm thường, bắt đầu vào ngày Thứ Tư trong lịch Gregory. Phần lớn năm này thuộc năm Giáp Ngọ. Năm 2014 là một năm nhiều biến động từ việc Khủng hoảng Ukraine; Đại dịch Ebola; tai nạn hàng không; IS lộng hành đến việc Xung đột đẫm máu Israel-Palestine;
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1 – Latvia chính thức chấp thuận Euro là tiền tệ quốc gia và trở thành thành viên thứ 18 của Khu vực đồng euro.
=== Tháng 2 ===
Tháng hai – tiếp diễn – Dịch bệnh Ebola tại châu Phi năm 2014 bắt đầu, lan truyền làm hàng chục nghìn người mắc bệnh và thiệt mạng.
7 tháng 2–23 tháng 2 – Thế vận hội Mùa đông 2014 được tổ chức tại Sochi, miền nam Nga.
13 tháng 2 – Bỉ trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa an tử cho các bệnh nhân mắc bệnh trong giai đoạn cuối thuộc mọi lứa tuổi.
22 tháng 2 – Quốc hội Ukraina bỏ phiếu phế truất Tổng thống Ukraina Viktor Yanukovych khỏi chức vụ, thay thế ông ta bằng Oleksandr Turchynov, vài ngày sau khi bất ổn dân sự khiến khoảng 100 người thiệt mạng tại Kiev.
26 tháng 2– Náo động thân Nga tại Ukraina dẫn đến việc Nga sáp nhập bán đảo Krym và một cuộc nổi dậy tại các tỉnh Donetsk và Luhansk.
=== Tháng 3 ===
5 tháng 3 – Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro đoạn tuyệt các quan hệ ngoại giao và chính trị với Panama, cáo buộc Panama tham dự vào một âm mưu chống Chính phủ Venezuela.
8 tháng 3 – Chiếc máy bay Boeing 777 của Malaysia Airlines mang số hiệu MH370 đang trên đường đến Bắc Kinh từ Kuala Lumpur thì biến mất bí ẩn với 239 người trên khoang. Máy bay được cho là rơi xuống Ấn Độ Dương.
16 tháng 3 – Một cuộc trưng cầu dân ý về tình trạng của bán đảo Krym được tổ chức.
21 tháng 3 – Nga chính thức sáp nhập Krym sau khi Tổng thống Nga Vladimir Putin ký một dự luật hoàn thành quá trình sáp nhập.
24 tháng 3 – Trong một hội nghị khẩn cấp, Anh Quốc, Canada, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp và Ý tạm thời đình chỉ Nga khỏi G8.
27 tháng 3 – Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua Nghị quyết 68/262, công nhận bán đảo Krym trong biên giới quốc tế của Ukraina và bác bỏ giá trị pháp lý của Trưng cầu dân ý Krym 2014.
31 tháng 3 –Tòa án Công lý Quốc tế phán quyết rằng chương trình săn cá voi tại khu vực Nam Cực của Nhật Bản không vì khoa học mà là vì thương nghiệp và cấm chỉ cấp thêm các giấy phép.
=== Tháng 4 ===
10 tháng 4 – Phản ứng trước khủng hoảng Krym, Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu (PACE) thông qua một nghị quyết tạm thời tước quyền bỏ phiếu của Nga trong hội đồng.
14 tháng 4 – Khoảng 276 nữ giới bị bắt cóc từ một trường học tại Chibok thuộc miền đông bắc Nigeria.
16 tháng 4 – Phà MV Sewol lật và đắm tại vùng biển tây nam của Hàn Quốc, khiến 304 người thiệt mạng, hầu hết là học sinh trung học.
27 tháng 4 – Giáo hội Công giáo Rôma đồng thời tuyên thánh Giáo hoàng Gioan XXIII và Giáo hoàng Gioan Phaolô II.
28 tháng 4 – Các chế tài kinh tế mới của Tổng thống Hoa Kỳ Hoa Kỳ Barack Obama nhằm chống Nga có hiệu lực, mục tiêu là các công ty và cá nhân có quan hệ mật thiết với Tổng thống Nga Vladimir Putin.
=== Tháng 5 ===
5 tháng 5
Tổ chức Y tế Thế giới xác định sự lan truyền của Bại liệt tại ít nhất 10 quốc gia là một đại sự kiện y tế khẩn cấp toàn cầu.
Các chiến binh Boko Haram sát hại khoảng 300 người trong một cuộc tấn công tại Gamboru và Ngala thuộc miền đông bắc Nigeria.
20 tháng 5 – Các phần tử khủng bố tại Nigeria đánh bom tại Jos thuộc miền trung quốc gia, sát hại 118 người.
22 tháng 5 – Lục quân Hoàng gia Thái Lan lật đổ chính phủ tạm quyền của Niwatthamrong Boonsongpaisan sau một thất bại trong việc giải quyết náo động chính trị.
=== Tháng 6 ===
5 tháng 6–tiếp diễn – Một nhóm chiến binh Hồi giáo Sunni được gọi là Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant (ISIS hay ISIL) bắt đầu một cuộc tấn công tại miền bắc Iraq, mục tiêu là chiếm thủ đô Bagdad và lật đổ chính phủ trung ương.
12 tháng 6 – 13 tháng 7 – Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 được tổ chức tại Brasil, Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức giành chức vô địch.
19 tháng 6 – Quốc vương Juan Carlos I của Tây Ban Nha thoái vị, con trai ông là Felipe VI trở thành tân vương.
=== Tháng 7 ===
8 tháng 7–26 tháng 8 – Israel phát động Chiến dịch Vành đai Bảo vệ tại Dải Gaza. Có 2.100 người Palestine và 71 người Israel thiệt mạng trong giao tranh.
17 tháng 7–Một máy bay Boeing 777 của Malaysia Airlines bị rơi tại miền đông Ukraina sau khi bị bắn. Toàn bộ 298 người trên khoang đều thiệt mạng.
24 tháng 7 – Chuyến bay 5017 của Air Algérie bị rơi tại Mali, khiến toàn bộ 116 người trên khoang thiệt mạng.
=== Tháng 8 ===
7 tháng 8 – Các lãnh đạo Khmer Đỏ là Nuon Chea và Khieu Samphan bị tuyên có tội do các tội ác chống lại loài người và nhận án tù chung thân từ Tòa án Khmer Đỏ.
8 tháng 8 – Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu một chiến dịch hàng không tại miền bắc Iraq để ngăn chặn các chiến binh Nhà nước Hồi giáo.
=== Tháng 9 ===
22 tháng 9 – Hoa Kỳ và một số đối tác Ả Rập bắt đầu chiến dịch không kích của họ tại Syria.
=== Tháng 10 ===
19 tháng 10 – Giáo hội Công giáo Rôma tuyên phúc cho Giáo hoàng Phaolô VI.
26 tháng 10, đánh dấu sự kết thúc chính thức hoạt động chiến đấu ở Afghanistan của quân đội Anh và Mỹ sau 13 năm có mặt ở Afghanistan.
31 tháng 10 – Tổng thống Burkina Faso Blaise Compaoré từ chức sau cuộc nổi dậy Burkinabé nhằm phản ứng trước nỗ lực bãi bỏ các hạn chế nhiệm kỳ tổng thống.
=== Tháng 11 ===
2 tháng 11 – Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) phát hành phần cuối cùng của Báo cáo đánh giá thứ năm IPCC, cảnh báo rằng thế giới đối diện tổn thất "nghiêm trọng, phổ biến và bất khả nghịch chuyển" do phát thải CO2.
12 tháng 11 – Tàu thăm dò Philae của tàu không gian Rosetta đổ bộ thành công tại sao chổi Comet 67P, lần đầu tiên trong lịch sử một tàu không gian đổ bộ trên mục tiêu như vậy.
=== Tháng 12 ===
16 tháng 12 – Tehrik-i-Taliban Pakistan tiến hành một vụ tấn công trường học tại Peshawar, sát hại 141 người.
17 tháng 12 – Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tuyên bố tái lập quan hệ ngoại giao bình thường giữa Hoa Kỳ và Cuba.
28 tháng 12 – Chuyến bay 8501 của Indonesia AirAsia từ Surabaya, Indonesia đến Singapore rơi xuống Biển Java ngay ngoài khơi tây nam đảo Borneo, khiến toàn bộ 162 người trên khoang thiệt mạng.
== Sinh ==
20 tháng 2 - Công chúa Leonore, Nữ Công tước xứ Gotland, thành viên vương thất Thụy Điển.
== Mất ==
=== Tháng 1 ===
5 tháng 1 – Eusébio, cầu thủ bóng đá người Bồ Đào Nha (s. 1942)
7 tháng 1 – Thiệu Dật Phu, nhà làm phim và doanh nhân người Hồng Kông (s. 1907)
9 tháng 1 – Dale T. Mortensen, nhà kinh tế học người Mỹ (s. 1939)
11 tháng 1
Ariel Sharon, thủ tướng của Israel (s. 1928)
Vugar Gashimov, đại kiện tướng cờ vua người Azerbaijan (s. 1986)
16 tháng 1 – Onoda Hirō, sĩ quan người Nhật Bản (s. 1922)
27 tháng 1 – Pete Seeger, ca sĩ, nhạc sĩ người Mỹ (s. 1919)
=== Tháng 2 ===
1 tháng 2 – Luis Aragonés, cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Tây Ban Nha (s. 1938)
2 tháng 2 – Philip Seymour Hoffman, diễn viên người Mỹ (s. 1967)
10 tháng 2
Stuart Hall, nhà xã hội học người Jamaican-Anh (s. 1932)
Shirley Temple, diễn viên và nhà ngoại giao người Mỹ (s. 1928)
13 tháng 2 – Richard Møller-Nielsen, cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Đan Mạch (s. 1937)
26 tháng 2 – Paco de Lucía, nhạc công guitar người Tây Ban Nha (s. 1947)
=== Tháng 3 ===
=== Tháng 4 ===
6 tháng 4 – Mickey Rooney, diễn viên người Mỹ (s. 1920)
17 tháng 4 – Gabriel García Márquez, nhà văn người Colombia (s. 1927)
=== Tháng 5 ===
3 tháng 5 – Gary Becker, nhà kinh tế học người Mỹ (s. 1930)
28 tháng 5
Maya Angelou, thi nhân và tác gia người Mỹ (s. 1928)
Malcolm Glazer, doanh nhân người Mỹ (s. 1928)
=== Tháng 6 ===
18 tháng 6 – Stephanie Kwolek, nhà hóa học người Mỹ (s. 1923)
24 tháng 6 – Ramón José Velásquez, sử gia, nhà báo, chính trị gia người Venezuela (s. 1916)
=== Tháng 7 ===
7 tháng 7
Alfredo Di Stéfano, cầu thủ bóng đá người Argentina-Tây Ban Nha (s. 1926)
Eduard Shevardnadze, tổng thống của Gruzia (s. 1928)
11 tháng 7 – John Seigenthaler, Sr., nhà báo người Mỹ (s. 1927)
13 tháng 7 – Nadine Gordimer, nhà văn người Nam Phi (s. 1923)
24 tháng 7 – Toàn Shinoda, vlogger Việt Nam (s. 1987)
=== Tháng 8 ===
11 tháng 8 – Robin Williams, diễn viên người Mỹ (s. 1951)
12 tháng 8 – Lauren Bacall, diễn viên người Mỹ (s. 1924)
24 tháng 8 – Richard Attenborough, diễn viên và đạo diễn người Anh (s. 1923)
=== Tháng 9 ===
4 tháng 9 – Joan Rivers, diễn viên người Mỹ (s. 1933)
10 tháng 9 – Richard Kiel, diễn viên người Mỹ (s. 1939)
30 tháng 9 – Martin Lewis Perl, nhà vật lý học người Mỹ (s. 1927)
=== Tháng 10 ===
20 tháng 10 – Oscar de la Renta, nhà thiết kế thời trang người Dominica-Mỹ (s. 1932)
21 tháng 10 – Gough Whitlam, thủ tướng của Úc (s. 1916)
28 tháng 10 – Michael Sata, tổng thống của Zambia (s. 1937)
=== Tháng 11 ===
10 tháng 11 – Takakura Ken, diễn viên người Nhật Bản (s. 1931)
13 tháng 11 – Alexander Grothendieck, nhà toán học người Đức-Pháp (s. 1928)
30 tháng 11 – Ngô Thanh Nguyên, vận động viên cờ vây người Trung Quốc-Nhật Bản (s. 1914)
=== Tháng 12 ===
5 tháng 12 – Hoàng hậu Fabiola của Bỉ (s. 1928)
6 tháng 12 – Ralph H. Baer, nhà phát triển trò chơi người Mỹ (s. 1922)
18 tháng 12 – Virna Lisi, diễn viên người Ý (s. 1936)
21 tháng 12 – Udo Jürgens, nhà soạn nhạc và ca sĩ người Áo (s. 1934)
30 tháng 12 – Luise Rainer, diễn viên người Mỹ (s. 1910)
== Giải Nobel ==
Hóa học – Eric Betzig, Stefan Hell và William E. Moerner
Kinh tế – Jean Tirole
Văn học – Patrick Modiano
Hòa bình – Kailash Satyarthi và Malala Yousafzai
Vật lý – Akasaki Isamu, Amano Hiroshi và Nakamura Shuji
Sinh lý học hay Y khoa – John O'Keefe, May-Britt Moser và Edvard Moser
== Tham khảo == |
tecneti.txt | Tecneti (tiếng La tinh: Technetium) là nguyên tố hóa học có nguyên tử lượng và số nguyên tử nhỏ nhất trong số các nguyên tố không có đồng vị ổn định nào. Trên Trái Đất, nó là nguyên tố được con người phát hiện ra nhờ tổng hợp. Nó có số nguyên tử 43 và ký hiệu Tc. Các tính chất hóa học của kim loại chuyển tiếp màu xám bạc và kết tinh này là trung gian giữa rheni và mangan. Đồng phân hạt nhân bức xạ gama và có chu kỳ sống ngắn Tc99m được sử dụng trong y học hạt nhân cho nhiều loại thử nghiệm chẩn đoán lâm sàng. Tc99 được sử dụng như là nguồn chứa các hạt beta không chứa tia gama. Các ion pertecnetat (TcO4-) có thể được sử dụng như là tác nhân ức chế mạnh sự ăn mòn anôt cho thép mềm trong các hệ thống làm lạnh khép kín.
Trước khi nguyên tố này được phát hiện thì nhiều tính chất của nguyên tố số 43 đã được D.I Mendeleev dự báo. Mendeleev nhận thấy có lỗ hổng trong bảng tuần hoàn của ông và gọi nguyên tố ở vị trí này là ekamangan. Năm 1937, đồng vị Tc97 trở thành nguyên tố chủ yếu là nhân tạo đầu tiên được sản xuất, vì thế mà có tên gọi của nó (từ tiếng Hy Lạp τεχνητός nghĩa là "nhân tạo"). Phần lớn tecneti sản xuất trên Trái Đất là phụ phẩm của phân hạch U235 trong các lò phản ứng hạt nhân và được giải phóng từ các thanh nhiên liệu hạt nhân. Không có đồng vị nào của tecneti có chu kỳ bán rã dài hơn 4,2 triệu năm (Tc98), vì thế sự phát hiện ra nó trong các sao đỏ khổng lồ vào năm 1952 đã hỗ trợ cho học thuyết cho rằng các ngôi sao có thể sản sinh ra các nguyên tố nặng. Trên Trái Đất, tecneti có ở dạng dấu vết nhưng có thể đo đạc được như là sản phẩm của phân hạch ngẫu nhiên trong quặng urani hay do bắt nơtron trong các quặng molypden.
== Đặc trưng ==
Tecneti là một kim loại màu xám bạc có tính phóng xạ với bề ngoài tương tự như bạch kim. Tuy nhiên, nói chung nó hay thu được dưới dạng bột màu xám. Vị trí của nó trong bảng tuần hoàn là trung gian giữa rheni và mangan và theo như dự báo bởi luật tuần hoàn thì các tính chất của nó cũng là trung gian giữa hai nguyên tố này. Tecneti là bất thường trong số các nguyên tố nhẹ và trung bình ở chỗ nó không có đồng vị ổn định nào. Chỉ có tecneti và promethi (số 61) là không có đồng vị ổn định trong số các nguyên tố mà trước và sau chúng có các nguyên tố với các đồng vị ổn định.
Tecneti vì thế là cực kỳ hiếm trên Trái Đất. Tecneti không đóng vai trò sinh học tự nhiên gì và thông thường không tìm thấy trong cơ thể người.
Dạng kim loại của tecneti bị mờ xỉn chậm trong không khí ẩm. Các ôxít của nó là TcO2, Tc2O7. Trong các điều kiện ôxi hóa thì tecneti (VII) sẽ tồn tại như là các ion pertecnetat (TcO4-). Các trạng thái ôxi hóa phổ biến là 0, +2, +4, +5, +6 và +7. Tecneti sẽ cháy trong ôxy khi ở dạng bột. Nó hòa tan trong nước cường toan, axít nitric và axít sulfuric đậm đặc, nhưng không hòa tan trong axít clohiđric. Nó có các vạch quang phổ đặc trưng ở 363, 403, 410, 426, 430 và 485 nm.
Dạng kim loại của nó là hơi thuận từ, nghĩa là các lưỡng cực từ của nó hướng theo từ trường bên ngoài, mặc dù tecneti không là chất có từ tính thông thường. Cấu trúc tinh thể của tecneti kim loại là lục giác gắn kín. Tecneti kim loại tinh khiết đơn tinh thể sẽ trở thành chất siêu dẫn kiểu II ở 7,46 K; các tinh thể không đều và các tạp chất ở dạng dấu vết nâng nhiệt độ này lên 11,2 K đối với bột tecneti độ tinh khiết 99,9%. Dưới nhiệt độ này tecneti có hiệu ứng Meissner rất cao, lớn thứ hai trong số các nguyên tố, sau niobi.
Tecneti được sản xuất bằng phân hạch hạt nhân và lan truyền dễ dàng hơn so với nhiều nuclit phóng xạ khác. Nó dường như có độc tính hóa học thấp, mặc dù chứng cứ thực nghiệm là rất hiếm. Độc tính X-quang học của nó (trên đơn vị khối lượng) là hàm số của kiểu hợp chất, kiểu bức xạ của đồng vị đang xem xét và chu kỳ bán rã của đồng vị. Tc99m là đáng quan tâm trong các ứng dụng y học, do bức xạ từ đồng vị này là tia gama với bước sóng tương tự như các tia X dùng trong các ứng dụng chẩn đoán tia X thông thường trong y học, tạo cho nó có sự thâm nhập thích hợp trong khi gây ra tổn thương tối thiểu đối với lượng tử gama. Điều này cùng với chu kỳ bán rã cực ngắn của đồng phân hạt nhân này, kèm theo là chu kỳ bán rã tương đối dài của đồng vị được sinh ra (Tc99) cho phép nó được loại bỏ ra khỏi cơ thể trước khi nó phân rã. Điều này dẫn tới các liều lượng tương đối thấp của chiếu xạ chỉ định trong các lượng liều tương đương về mặt sinh học đối với các chiếu chụp hạt nhân dựa trên Tc99m điển hình.
Cần phải cẩn thận khi tiếp xúc với mọi đồng vị của tecneti. Đồng vị phổ biến nhất, Tc99, là nguồn bức xạ beta yếu; bức xạ của nó có thể bị ngăn chặn lại bởi thành của các thiết bị bằng thủy tinh trong phòng thí nghiệm. Các tia X mềm được sinh ra khi các hạt beta bị chặn lại, nhưng nếu cơ thể cách xa trên 30 cm thì các tia X này nói chung không gây ra vấn đề. Nguy hiểm chính khi làm việc với tecneti là hít thở phải bụi của nó; do nhiễm bẩn phóng xạ trong phổi có thể nâng cao độ rủi ro bị ung thư. Đối với phần lớn công việc thì mũ trùm chống hơi là vừa đủ; găng tay không thực sự cần thiết.
== Ứng dụng ==
=== Y học hạt nhân ===
Tc99m được sử dụng trong các thử nghiệm y học dùng đồng vị phóng xạ, chẳng hạn như là tác nhân dò vết phóng xạ mà các thiết bị y tế có thể phát hiện trong cơ thể người Nó thích hợp với vai trò này do nó bức xạ các tia gama có thể phát hiện được ở ngưỡng 140 keV, và chu kỳ bán rã của nó là 6,01 giờ (nghĩa là khoảng 87,5% khối lượng của nó bị phân rã thành Tc99 trong 24 giờ). Cuốn Technetium của Klaus Schwochau liệt kê 31 dược phẩm phóng xạ dựa trên Tc99m cho các nghiên cứu chiếu chụp và chức năng về não, cơ tim, tuyến giáp, phổi, gan, túi mật, thận, cột sống, máu và các khối u.
Chụp nhấp nháy miễn dịch đưa Tc99m vào trong kháng thể nhân bản đơn (moAb hay mAb) một protein hệ miễn dịch có khả năng liên kết với các tế bào ung thư. Vài giờ sau khi tiêm, thiết bị y tế được dùng để phát hiện các tia gama do Tc99m bức xạ; các mật độ cao chỉ ra nơi có khối u. Kỹ thuật này hữu ích để phát hiện các chỗ ung thư khó phát hiện, chẳng hạn những vùng liên quan tới ruột. Các kháng thể đã biến đổi này được công ty của Đức là Hoechst (hiện nay thuộc Sanofi-Aventis) bán dưới tên gọi "Scintium".
Khi Tc99m kết hợp với hợp chất thiếc nó liên kết với hồng cầu và vì thế có thể sử dụng để lập bản đồ các rối loạn trong hệ tuần hoàn. Nó thường được dùng để phát hiện các chỗ bị chảy máu trong hệ tiêu hóa. Các ion pyrophốtphat với Tc99m bám vào canxi tích lũy trong cơ tim bị tổn thương, làm cho nó trở thành có ích để phán đoán tổn thương sau khi bị nhồi máu cơ tim. Chất keo của Tc99m chứa lưu huỳnh được lá lách lọc sạch, làm cho nó là tiềm năng để chiếu chụp cấu trúc của lá lách.
Phơi nhiễm phóng xạ do xử lý lâm sàng bằng Tc99m có thể giữ ở mức thấp. Do Tc99m có chu kỳ bán rã ngắn và bức xạ các tia gama cao năng lượng nên nó dễ dàng phân rã thành Tc99 ít phóng xạ hơn, tạo ra liều phóng xạ tổng thể tương đối ít hơn cho bệnh nhân trên một đơn vị hoạt hóa ban đầu sau khi chỉ định. Trong dạng được chỉ định trong các thử nghiệm y học này (thường là pertecnetat) cả hai đồng vị đều bị loại trừ nhanh chóng từ cơ thể, nói chung trong phạm vi vài ngày.
Tecnetimcho các mục đích y học hạt nhân thông thường được tách ra từ các máy sinh tecneti-99m. Tc95m với chu kỳ bán rã 61 ngày, được sử dụng như là tác nhân dò vết phóng xạ để nghiên cứu chuyển động của tecneti trong môi trường và trong động, thực vật.
=== Công nghiệp/Hóa chất ===
Tc99 phân rã gần như hoàn toàn bằng phân rã beta, bức xạ ra các hạt beta với năng lượng thấp, khá ổn định và không kèm theo tia gama. Ngoài ra, chu kỳ bán rã dài của nó nghĩa là bức xạ này giảm rất chậm theo thời gian. Nó cũng có thể được chiết tách thành dạng có độ tinh khiết hóa học và đồng vị cao từ các chất thải phóng xạ. Vì lý do này, nó là nguồn bức xạ beta tiêu chuẩn của NIST Hoa Kỳ, được dùng trong các thiết bị định cỡ.
Tc99 cũng được đề xuất sử dụng trong các pin hạt nhân quang điện và thang độ nano.
Giống như rheni và paladi, tecneti có thể dùng làm chất xúc tác. Đối với một số phản ứng nhất định, chẳng hạn khử hiđrô của rượu isopropyl, nó là chất xúc tác có hiệu quả cao hơn so với cả rheni lẫn paladi. Tuy nhiên, tính phóng xạ của nó là vấn đề chính trong tìm kiếm các ứng dụng an toàn.
Trong một số điều kiện nhất định, nồng độ nhỏ (cỡ 5×10−5 mol/L) ion pertecnetat trong nước có thể bảo vệ sắt và thép cacbon không bị ăn mòn. Vì lý do này, pertecnetat có thể được sử dụng như là chất ức chế ăn mòn anôt cho thép, mặc dù tính phóng xạ của tecneti gây ra các vấn đề các ứng dụng hóa chất như thế. Trong khi CrO42− cũng có thẻ gây ức chế như thế nhưng nó cần nồng độ cao gấp 10 lần. Cơ chế mà pertecnetat ngăn chặn ăn mòn vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng dường như nó tham gia vào quá trình hình thành thuận nghịch một lớp mỏng trên bề mặt. Một giả thuyết cho rằng pertecnetat phản ứng với bề mặt thép để tạo ra một lớp ôxít tecneti có tác dụng ngăn ngừa ăn mòn sau đó; hiệu ứng tương tự cũng giải thích tại sao bột sắt lại có thể sử dụng để loại bỏ pertecnetat từ nước. (Cacbon hoạt hóa cũng có thể sử dụng với hiệu ứng tương tự.) Hiệu ứng biến mất rất nhanh nếu nồng độ của pertecnetat thấp hơn nồng độ tối thiểu hay nồng dộ quá cao của các ion khác được thêm vào.
Bản chất phóng xạ của tecneti (3 MBq mỗi lít ở các nồng độ yêu cầu) làm cho sự bảo vệ chống ăn mòn là gần như không thực tế trong nhiều tình huống. Tuy nhiên, sự bảo vệ chống ăn mòn như thế đã được đề xuất (nhưng không được chấp nhận) để sử dụng trong các lò phản ứng hạt nhân nước sôi.
== Lịch sử ==
=== Tìm kiếm nguyên tố 43 ===
Trong nhiều năm đã tồn tại khoảng trống trong bảng tuần hoàn giữa molypden (số 42) và rutheni (số 44). Nhiều nhà nghiên cứu thời kỳ đầu đã cố gắng để có thể là người đầu tiên tìm thấy và đặt tên cho nguyên tố còn bị bỏ sót này; vị trí của nó trong bảng tuần hoàn gợi ý rằng việc tìm kiếm nó phải dễ dàng hơn so với các nguyên tố chưa được phát hiện khác. Lần đầu tiên người ta cho rằng đã tìm thấy nó trong quặng platin vào năm 1828. Khi đó nó được đặt tên là polonium nhưng hóa ra nó chỉ là iridi không tinh khiết. Sau đó vào năm 1846 nguyên tố ilmenium được tuyên bố là đã tìm thấy nhưng lại được xác nhận là niobi không tinh khiết. Sai lầm này lặp lại vào năm 1847 với "sự phát hiện" ra pelopium. Dmitri Ivanovich Mendeleev dự báo rằng nguyên tố còn bỏ sót này, như một phần trong các dự đoán khác, về mặt hóa học phải tương tự như mangan và đặt tên cho nó là ekamangan.
Năm 1877, nhà hóa học Nga là Serge Kern thông báo về việc phát hiện ra nguyên tố còn sót này trong quặng platin. Kern đặt tên cho nó là davyum, theo tên nhà hóa học người Anh Humphry Davy, nhưng sau đó nó được xác định là hỗn hợp của iridi, rhodi và sắt. Một ứng cử viên khác, lucium, thông báo vào năm 1896 nhưng được xác định chính là yttri. Năm 1908, nhà hóa học Nhật Bản là Masataka Ogawa tìm thấy chứng cứ trong khoáng vật thorianit mà ông cho rằng chỉ ra sự tồn tại của nguyên tố 43. Ogawa đặt tên cho nó là nipponium, theo tên gọi của Nhật Bản (là Nippon trong tiếng Nhật). Năm 2004, H. K Yoshihara sử dụng "bản ghi phổ tia X của mẫu nipponium của Ogawa từ thorianit chứa trong một tấm kính ảnh do gia đình ông lưu giữ. Phổ được đọc và chỉ ra sự hiện diện của nguyên tố số 43 và sự hiện diện của nguyên tố số 75 (rheni)."
Các nhà hóa học Đức là Walter Noddack, Otto Berg và Ida Tacke (sau này là bà Noddack) thông báo về phát hiện ra nguyên tố số 75 và nguyên tố số 43 năm 1925 và đặt tên cho nguyên tố 43 là masurium (theo tên gọi Masuria ở miền đông Phổ, hiện nay thuộc Ba Lan, khu vực là quê hương của gia đình Walter Noddack). Nhóm này sử dụng phương pháp tấn công columbit bằng một luồng điện tử nguyên tố 43 được suy diễn ra là tồn tại nhờ kiểm tra các ảnh phổ nhiễu xạ tia X. Bước sóng của tia X sinh ra có liên quan với số nguyên tử theo công thức mà Henry Moseley đưa ra năm 1913. Nhóm này cho rằng đã phát hiện tín hiệu tia X mờ nhạt tại bước sóng sinh ra bởi nguyên tố số 43. Các thực nghiệm đương thời đã không thể lặp lại phát kiến này và trên thực tế nó đã bị gạt bỏ trong nhiều năm như là có sai sót.
Năm 1998, John T. Armstrong của Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Hoa Kỳ (NIST) chạy các "giả lập máy tính" cho thực nghiệm năm 1925 và thu được các kết quả rất gần với các kết quả mà nhóm của Noddack đã thông báo. Ông cho rằng điều này cũng được hỗ trợ thêm bởi công trình do David Curtis từ Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos công bố khi đo đạc sự phổ biến tự nhiên (nhỏ) của tecneti. Tuy nhiên, các kết quả thực nghiệm của Noddack không bao giờ có thể tái tạo lại và họ đã không thể cô lập được bất kỳ cái gì có thể gọi là nguyên tố số 43. Tranh cãi vẫn còn diễn ra về việc nhóm Noddack có thực sự tìm ra nguyên tố 43 vào năm 1925 hay không.
=== Phát hiện chính thức và lịch sử sau đó ===
Sự phát hiện ra nguyên tố 43 cuối cùng được xác nhận trong thực nghiệm năm 1937 tại Đại học Palermo ở Sicilia do Carlo Perrier và Emilio Segrè tiến hành. Mùa hè năm 1936, Segrè và vợ ông thăm Hoa Kỳ, đầu tiên tới New York ở Đại học Columbia, nơi ông đã tới vào mùa hè năm trước, và sau đó tới Berkeley thăm phòng thí nghiệm phóng xạ của Ernest O. Lawrence. Ông đã thuyết phục nhà phát minh ra cyclotron (Lawrence) cho phép ông lấy một vài bộ phận của cyclotron đã bỏ đi và có tính phóng xạ. Đầu năm 1937, Lawrence gửi cho ông một lá molypden từng là một phần của bộ làm lệch từ trong cyclotron. Segrè tranh thủ nhà hóa học giàu kinh nghiệm (đồng thời là đồng nghiệp của ông) là Perrier để cố gắng chứng minh thông qua hóa học so sánh rằng molypden hoạt hóa trên thực tế có Z = 43, một nguyên tố không tồn tại trong tự nhiên do tính không ổn định của nó trước phân rã hạt nhân. Với khó khăn to lớn đáng kể họ cuối cùng đã thành công trong việc cô lập 3 chu kỳ phân rã khác biệt (90, 80, 50 ngày) mà cuối cùng hóa ra là hai đồng vị, Tc95 và Tc97, của tecnetium, tên gọi mà sau đó Perrier và Segrè đặt cho nguyên tố đầu tiên do con người tạo ra. Các quan chức của Đại học Palermo muốn họ đặt tên cho phát kiến của mình là panormium, theo tên gọi trong tiếng Latinh của Palermo là Panormus. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã đặt tên cho nguyên tố số 43 theo từ trong tiếng Hy Lạp τεχνητός, nghĩa là "nhân tạo", do nó là nguyên tố đầu tiên được sản xuất nhân tạo. Segrè trở lại Berkeley và ngay lập tức tìm Glenn T. Seaborg. Họ đã cô lập được đồng vị Tc99m mà hiện nay được sử dụng trong khoảng 10 triệu thử nghiệm chẩn đoán y học mỗi năm.
Năm 1952, nhà thiên văn Paul W. Merrill tại California phát hiện tín hiệu quang phổ của tecneti (cụ thể là ánh sáng tại 403,1 nm, 423,8 nm, 426,8 nm và 429,7 nm) trong ánh sáng từ các sao đỏ khổng lồ kiểu S. Các ngôi sao khổng lồ này ở giai đoạn gần cuối cuộc đời của mình rất giàu nguyên tố có chu trình sống ngắn này, nghĩa là các phản ứng hạt nhân trong ngôi sao phải sinh ra nó. Chứng cứ này được sử dụng để ủng hộ cho giả thuyết khi đó chưa được chứng minh cho rằng các ngôi sao là nơi tổng hợp nhân của các nguyên tố nặng hơn diễn ra. Gần đây, các quan sát như vậy đã cung cấp chứng cứ cho thấy các nguyên tố được tạo ra bởi bắt nơtron trong tiến trình s.
Kể từ sau phát hiện ra nó, đã có nhiều tìm kiếm trong các vật chất trên Trái Đất để tìm các nguồn tự nhiên cho tecneti. Năm 1962, Tc99 được cô lập và nhận dạng trong pitchblend lấy từ Congo thuộc Bỉ với khối lượng cực nhỏ (khoảng 0,2 ng/kg); trong đó nó tồn tại như là sản phẩm từ phân hạch ngẫu nhiên của U238. Phát hiện này do B.T. Kenna và P.K. Kuroda thực hiện. Cũng có chứng cứ cho thấy lò phân hạch hạt nhân tự nhiên ở Oklo, Gabon sinh ra một lượng đáng kể Tc99, để sau đó nó phân rã tiếp thành Ru99.
== Phổ biến và sản xuất ==
Do tecneti không ổn định, chỉ tồn tại ở dạng dấu vết rất nhỏ một cách tự nhiên trong lớp vỏ Trái Đất như là sản phẩm phân hạch ngẫu nhiên của urani. Năm 1999, David Curtis ước tính rằng mỗi kilôgam urani chứa khoảng 1 nanogam (1×10−9 g) tecneti. Tecneti ngoài Trái Đất được tìm thấy trong một vài ngôi sao đỏ khổng lồ (kiểu S, M, N) mà vạch hấp thụ trong quang phổ của chúng chỉ ra sự hiện diện của nguyên tố này.
=== Sản xuất Tc-99 như phụ phẩm trong rác thải phân hạch ===
Trái với sự cực kỳ khan hiếm trong tự nhiên, khối lượng lớn Tc99 được sản xuất mỗi năm từ các thanh nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng, chứa nhiều loại sản phẩm phân hạch. Sự phân hạch của 1 gam U235 trong các lò phản ứng hạt nhân sinh ra 27 mg Tc99, làm cho tecneti có hiệu suất sinh sản phẩm phân hạch là 6,1%. Các đồng vị khác của tecneti do phân hạch cũng được sinh ra tương tự, chẳng hạn 4,9% từ U233 hay 6,21% từ Pu239.
Người ta ước tính cho tới năm 1994 khoảng 49.000 TBq (78 tấn) tecneti đã được sản xuất trong các lò phản ứng hạt nhân và đây cũng là nguồn chủ lực trong cung cấp tecneti trên Trái Đất. Tuy nhiên, chỉ một phần nhỏ được sử dụng về mặt thương mại. Vào năm 2005, Tc99 có thể được bán cho những ai có giấy phép của ORNL với giá 83 USD/g cộng với chi phí đóng gói.
Do Tc99 là sản phẩm từ phân hạch hạt nhân của cả U235 lẫn Pu239 với khối lượng vừa phải nên nó tồn tại trong rác thải hạt nhân của các lò phân hạch và được sản xuất khi bom hạt nhân nổ. Khối lượng tecneti sản xuất nhân tạo trong môi trường vượt xa sự tồn tại tự nhiên của nó. Điều này là do sự giải phóng bởi thử nghiệm hạt nhân trong khí quyển cùng với sự loại bỏ và chế biến các rác thải hạt nhân giàu tính phóng xạ. Do sản lượng sinh ra từ phân hạch lớn và chu kỳ bán rã tương đối dài nên Tc99 là một trong những thành phần chính của rác thải hạt nhân. Sự phân rã của nó, được đo theo becquerel trên khối lượng nhiên liệu đã dùng, chủ yếu ở mức khoảng 104 tới 106 năm sau khi có sự hình thành của rác thải hạt nhân.
Ước tính khoảng 160 TBq (khoảng 250 kg) Tc99 được các thử nghiệm hạt nhân trong khí quyển giải phóng vào môi trường cho tới năm 1994. Khối lượng Tc99 từ các lò phản ứng hạt nhân giải phóng vào môi trường cho tới năm 1986 là ở ngưỡng 1000 TBq (khoảng 1.600 kg), chủ yếu là do tái chế nhiên liệu hạt nhân; phần lớn trong số này bị thải vào biển. Trong những năm gần đây, các phương pháp tái chế đã được cải tiến để giảm bức xạ, nhưng vào năm 2005 nguồn xả Tc99 chính vào môi trường là nhà máy Sellafield, đã giải phóng khoảng 550 TBq (khoảng 900 kg) từ năm 1995 tới năm 1999 vào trong biển Ailen. Từ năm 2000 trở đi khối lượng đã bị hạn chế theo quy định ở mức 90 TBq (khoảng 140 kg) mỗi năm.
Như là kết quả của tái chế nhiên liệu hạt nhân, tecneti được thải vào biển ở một số khu vực và một số hải sản chứa tecneti ở lượng rất nhỏ nhưng có thể đo đạc được. Ví dụ, tôm hùm châu Âu từ miền tây Cumbria chứa một lượng nhỏ tecneti. Các vi khuẩn kỵ khí, tạo nội bào trong chi Clostridium có khả năng khử Tc (VII) thành Tc (IV). Vi khuẩn Clostridia đóng vai trò trong khử sắt, mangan và urani, vì thế có ảnh hưởng tới độ hòa tan của các nguyên tố này trong đất và trong các trầm tích. Khả năng của chúng trong khử tecneti có thể xác định một phần lớn độ linh động của tecneti trong các rác thải công nghiệp và các môi trường cận kề bề mặt khác.
Chu kỳ bán rã dài của Tc99 và khả năng của nó tạo ra các dạng anion làm cho nó (cùng với I129) là các mối e ngại chính khi xem xét tới sự xử lý dài hạn các rác thải có mức phóng xạ cao. Ngoài ra, nhiều quy trình được thiết kế để xử lý các sản phẩm phân hạch từ các luồng quy trình hoạt hóa trung bình trong các nhà máy tái chế được thiết kế để loại bỏ các dạng cation như xezi (chẳng hạn, Cs137) và stronti (chẳng hạn, Sr90). Vì thế pertecnetat có thể thoát khỏi các biện pháp của các quy trình xử lý này. Các tùy chọn loại bỏ phế thải hiện tại ưa dùng việc chôn cất trong các tầng đá ổn định về mặt địa chất. Nguy hiểm chính với việc làm này là chất thải có thể sẽ tiếp xúc với nước và nó có thể làm rò rỉ các chất ô nhiễm phóng xạ vào trong môi trường. Các anion pertecnetat và iodua ít có khả năng bị hấp thụ vào bề mặt của các khoáng vật vì thế chúng có thể có độ linh động cao.
Để so sánh, có thể thấy plutoni, urani, xezi có khả năng liên kết với các hạt đất tốt hơn. Vì lý do này, hóa học môi trường về tecneti là lĩnh vực tích cực trong các nghiên cứu. Biện pháp xử lý chất thải khác, chuyển hóa hạt nhân, đã chứng minh tại CERN cho Tc99. Quy trình chuyển hóa này là cách thức trong đó tecneti (Tc99 như một mục tiêu kim loại) bị tấn công bằng các nơtron để tạo ra Tc100 có chu kỳ sống ngắn (chu kỳ bán rã 16 giây) và nó bị phân rã theo phân rã beta để tạo ra rutheni (Ru100). Nếu sự phục hồi rutheni có thể sử dụng được là mục đích thì cần phải có mục tiêu tecneti cực kỳ tinh khiết; nếu các dấu vết của các nguyên tố nhóm actinid phụ, chẳng hạn americi và curi có mặt trong mục tiêu, chúng có thể trải qua quá trình phân hạch và tạo ra nhiều sản phẩm phân hạch làm tăng độ phóng xạ của mục tiêu bị chiếu rọi. Sự hình thành Ru106 (chu kỳ bán rã 374 ngày) từ phân hạch sạch có thể làm tăng độ hoạt hóa của rutheni kim loại cuối cùng và nó đòi hỏi thời gian làm nguội dài hơn sau chiếu rọi, trước khi rutheni có thể sử dụng được.
Sản xuất thực tế của Tc99 từ nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng là một quy trình dài. Trong tái chế nhiên liệu, nó xuất hiện trong dạng chất thải lỏng có tính phóng xạ cao. Sau khi để vài năm, độ phóng xạ giảm xuống tới điểm trong đó việc tách ra các đồng vị tồn tại lâu, bao gồm Tc99, trở thành khả thi. Một vài phương pháp chiết tách hóa học được sử dụng để sản xuất Tc99 kim loại có độ tinh khiết cao.
=== Kích hoạt nơtron cho molypden hay các nguyên tố khác ===
Đồng vị đồng phân hạt nhân (trạng thái khi hạt nhân bị kích thích) Tc99m được sinh ra như là sản phẩm phân hạch từ phân hạch urani hay plutoni trong các lò phản ứng hạt nhân. Do nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng được để lại trong vài năm trước khi tái chế, cả Mo99 và Tc99m sẽ bị phân rã theo thời gian mà các sản phẩm phân hạch được tách ra từ các nguyên tố nhóm actini chính trong tái chế hạt nhân thông thường. PUREX raffinate sẽ chứa hàm lượng cao tecneti như là TcO4- nhưng gần như tất cả nó sẽ là Tc99. Phần lớn Tc99m sử dụng trong y học được tạo ra từ Mo99 do kích hoạt nơtron của Mo98. Mo99 có chu kỳ bán rã 67 giờ, vì thế Tc99m tồn tại ngắn ngủi (chu kỳ bán rã 6 giờ, như là kết quả phân rã của Mo99), liên tục được tạo ra. Các bệnh viện sau đó tách tecneti ra khỏi dung dịch bằng cách dùng thiết bị sinh tecneti-99m ("con bò tecneti", hay đôi khi còn gọi là "con bò molypden").
Con bò tecneti thông thường là cột alumina chứa Mo98; do nhôm có tiết diện bắt nơtron nhỏ, nên nó là thuận tiện để các cột alumina chứa Mo98 không hoạt hóa được chiếu rọi bằng các nơtron để tạo ra cột Mo99 phóng xạ cho con bò tecneti. Làm việc theo cách này, không cần thiết phải có các bước hóa học phức tạp để tách molypden ra khỏi hỗn hợp sản phẩm phân hạch. Phương pháp thay thế này đòi hỏi phải có mục tiêu urani đã làm giàu được chiếu rọi bằng các nơtron để tạo ra Mo99 như là sản phẩm phân hạch rồi sau đó tách ra.
Các đồng vị khác của tecneti không được sinh ra với lượng đáng kể do phân hạch; khi cần thiết chúng được sản xuất bằng cách chiếu rọi nơtron của các đồng vị cha (ví dụ Tc97 có thể tạo ra bằng chiếu rọi nơtron cho Ru96).
== Đồng vị ==
Tecneti là một trong hai nguyên tố (trong số 82 nguyên tố đầu tiên) không có đồng vị ổn định (trên thực tế nó là nguyên tố có số nguyên tử thấp nhất chỉ tồn tại ở dạng các đồng vị phóng xạ); nguyên tố kia là promethi. Các đồng vị phóng xạ ổn định nhất là Tc98 (chu kỳ bán rã 4,2 triệu năm), Tc97 (2,6 triệu năm) và Tc99 (211.100 năm).
Hai mươi hai đồng vị khác cũng được nêu đặc trưng với nguyên tử lượng từ 87,933 (Tc88) tới 112,931 (Tc113). Phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 1 giờ; các ngoại lệ là Tc93 (2,75 giờ), Tc94 (4,883 giờ), Tc95 (20 giờ), Tc96 (4,28 ngày).
Tecneti cũng có nhiều đồng phân hạt nhân. Tc97m là ổn định nhất, với chu kỳ bán rã 90,1 ngày (0,097 MeV). Tiếp theo là Tc95m (61 ngày, 0,038 MeV) và Tc99m (6,01 giờ, 0,143 MeV). Tc99m chỉ bức xạ tia gama, sau đó phân rã thành Tc99.
Đối với các đồng vị nhẹ hơn đồng vị ổn định nhất (Tc98) thì phương thức phân rã chủ yếu là bắt điện tử tạo ra molypden. Đối với các đồng vị nặng hơn đồng vị ổn định nhất thì phương thức phân rã chủ yếu là bức xạ beta tạo ra rutheni, với ngoại lệ là Tc100 có thể phân rã bằng cả bức xạ beta lẫn bắt điện tử.
Tc99 là đồng vị phổ biến nhất và dễ có nhất, do nó là sản phẩm chính của phân hạch U235. Một gam Tc99 sinh ra 6,2×108 phân rã trong một giây (nghĩa là 0,62 GBq/g).
=== Độ ổn định của các đồng vị tecneti ===
Tecneti và promethi là các nguyên tố nhẹ bất thường ở chỗ chúng không có đồng vị ổn định. Nguyên nhân cho điều này khá phức tạp.
Sử dụng mô hình giọt lỏng cho hạt nhân nguyên tử, người ta có thể rút ra công thức bán kinh nghiệm cho năng lượng liên kết của hạt nhân. Công thức này dự báo "thung lũng của độ ổn định beta" mà theo đó các nuclit không trải qua phân rã beta. Các nuclit nằm "trên tường" của thung lũng có xu hướng phân rã bằng phân rã beta về phía tâm (bằng cách bức xạ một electron, bức xạ một positron hay bắt một electron).
Đối với số nucleon A cố định và lẻ, đồ thị của năng lượng liên kết theo số nguyên tử (số lượng proton) có hình dạng tương tự như parabol (hình chữ U), với nuclit ổn định nhất ở đáy. Một bức xạ beta hay bắt điện tử sẽ chuyển đổi một nuclit của khối lượng A thành nuclit kế tiếp hay trước đó, nếu sản phẩm có năng lượng liên kết thấp hơn và sai khác trong năng lượng là đủ để dẫn tới phương thức phân rã. Khi chỉ có một parabol thì cũng chỉ có một đồng vị ổn định nằm trên parabol này.
Đối với số nucleon A cố định và chẵn, đồ thị có dạng răng cưa và tốt nhất được hình dung như là hai parabol tách biệt cho các số nguyên tử chẵn và lẻ, do các đồng vị với số chẵn proton và số chẵn nơtron là ổn định hơn so với các đồng vị với số lẻ các nơtron và số lẻ các proton.
Khi có hai parabol, nghĩa là khi số nucleon là chẵn, một điều có thể xảy ra (hiếm) là có hạt nhân ổn định vởi số lẻ các nơtron và số lẻ các proton (mặc dù chỉ có 4 ví dụ ổn định thật sự đối lại với tồn tại rất lâu: các hạt nhân nhẹ: H2 Li6, B10, N14). Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra, thì cũng có thể không có đồng vị ổn định với số chẵn các nơtron và số chẵn các proton.
Đối với tecneti (Z=43), thung lũng ổn định beta có tâm ở khoảng 98 nucleon. Tuy nhiên, đối với mọi số nucleon từ 95 tới 102, đã có ít nhất một nuclit ổn định của hoặc là molypden (Z=42) hoặc là của rutheni (Z=44). Đối với các đồng vị với số lẻ các nucleon, nó ngay lập tức loại trừ đồng vị ổn định của tecneti, do chỉ có thể có duy nhất 1 nuclit ổn định với số lẻ cố định các nucleon. Đối với các đồng vị với số chẵn các nucleon, do tecneti có số lẻ các proton, nên bất kỳ đồng vị nào cũng phải có số lẻ các nơtron. Trong trường hợp như thế, sự hiện diện của nuclit ổn định có cùng số các nucleon và số chẵn các proton bác bỏ khả năng về hạt nhân ổn định.
== Tham khảo ==
=== Các công trình trích dẫn ===
The Encyclopedia of the Chemical Elements, Cifford A. Hampel chủ biên, mục từ "Technetium" do S. J. Rimshaw viết (New York; Reinhold Book Corporation; 1968; trang 689–693) Số thẻ catalog của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ: 68–29938
Nature's Building Blocks: An A-Z Guide to the Elements, John Emsley viết (New York; nhà in Đại học Oxford; 2001; trang 422–425) ISBN 0-19-850340-7
The radiochemical Manual, ấn bản lần thứ hai, B.J. Wilson chủ biên, 1966.
Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Tecneti *WebElements.com "Technetium" Sử dụng
EnvironmentalChemistry.com Nuclit / Đồng vị
Elentymolgy and Elements Multidict của Peter van der Krogt, "Technetium"
History of the Origin of the Chemical Elements and Their Discoverers của Norman E. Holden
Technetium as a Material for AC Superconductivity Applications của S. H. Autler, biên bản lưu của nghiên cứu hè năm 1968 về các thiết bị và chất gia tốc siêu dẫn
Technetium heart scan, Thư viện y học của Joseph F. Smith
Gut transfer and doses from environmental technetium, J D Harrison và ctv, 2001 J. Radiol. Prot. 21 9–11
Ida Tacke và cuộc chiến đằng sau phát kiến phân hạch, của Kevin A. Nies
TECHNETIUM của John T. Armstrong
Technetium-99 Behaviour in the Terrestrial Environment - Field Observations and Radiotracer Experiments, Keiko Tagami, tạp chí Nuclear and Radiochemical Sciences, Quyển. 4, số.1, trang. A1-A8, 2003
Chất siêu dẫn kiểu 2
The CRC Handbook of Chemistry and Physics, ấn bản lần thứ 85, 2004–2005, Nhà in CRC
K. Yoshihara, "Technetium in the Environment" trong "Topics in Current Chemistry: Technetium and Rhenium", vol. 176, K. Yoshihara và T. Omori (chủ biên), Springer-Verlag, Berlin Heidelberg, 1996.
Schwochau Klaus, Technetium, Wiley-VCH (2000), ISBN 3-527-29496-1
RADIOCHEMISTRY and NUCLEAR CHEMISTRY, Gregory Choppin, Jan-Olov Liljenzin, Jan Rydberg, ấn bản lần thứ 3, 2002, chương về độ ổn định hạt nhân (pdf)
WebElements.com – Technetium, EnvironmentalChemistry.com – Technetium
Nudat 2 biểu đồ nuclit từ Trung tâm Dữ liệu Hạt nhân Quốc gia Hoa Kỳ, Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven
Các nuclit và đồng vị Ấn bản lần thứ 14: Chart of the Nuclides, Công ty General Electric, 1989
=== Ghi chú ===
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Tecneti
pubs.acs.org – bài trên ACS về tính hợp lệ của phát hiện của Noddack và Tacke |
cầu vĩnh tuy.txt | Cầu Vĩnh Tuy là một cây cầu bắc qua sông Hồng, phía đầu cầu bên trung tâm Hà Nội nằm ở địa phận phường Vĩnh Tuy, thành phố Hà Nội, nối quận Hai Bà Trưng và quận Long Biên.
== Lịch sử ==
Khởi công xây dựng ngày 3 tháng 2 năm 2005, dự kiến khánh thành tháng 5 năm 2007. Nhưng do khó khăn về công tác giải phóng mặt bằng nên tiến độ khánh thành cầu đã bị chậm lại, sau đó có thông báo dự kiến hợp long cầu vào dịp tết âm lịch 2008. Tuy nhiên đến tháng 1/2008 ban quản lý lại tiếp tục thông báo đẩy lùi tiến độ do một số nguyên nhân và không thông báo ngày hoàn thành.
Ngày 25 tháng 9 năm 2009, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chính thức cắt băng khánh thành thông xe cây cầu rộng nhất Việt Nam này (giữ kỷ lục này đến khi Cầu Đông Trù được khánh thành vào 09/10/2014).
Ngày 26 tháng 9 năm 2010, cầu Vĩnh Tuy chính thức được khánh thành.
== Tính năng kỹ thuật ==
Đây là cầu kết cấu dầm hộp bêtông cốt thép dự ứng lực, sơ đồ cầu liên tục nhiều nhịp.
Cầu được thi công với công nghệ đúc hẫng và đạt kỉ lục về chiều dài nhịp đúc hẫng của Việt Nam (135m so với cầu Thanh Trì là 130m)
Cầu được thiết kế có 2 làn xe cơ giới, 1 làn xe buýt, 1 làn xe hỗn hợp. (giai đoạn I)
Bảo đảm lưu lượng vận tải khoảng 35.000 lượt xe/ngày đêm vào năm 2010.
Tổng chiều dài gần 5 km. Phần cầu qua sông dài 3.690 m. Phần cầu chính được bố trí chuỗi nhịp dài 990 m, rộng 38 m. Đây được cho là cây cầu rộng nhất Việt Nam hiện nay.
Cầu Vĩnh Tuy cùng với cầu Thanh Trì là 2 cây cầu mới được xây dựng tại Hà Nội, có ý nghĩa giao thông quan trọng nhưng đều chậm tiến độ không dưới 2 năm.
== Phân luồng giao thông ==
Từ năm 2010 tất cả các tuyến xe khách và xe trên 24 chỗ ngồi xuất phát từ trung tâm Hà Nội sang phía đông (Gia Lâm) đều phải qua cầu Vĩnh Tuy, thay cho trước kia được phép qua cầu Chương Dương.
== Vốn đầu tư ==
Theo thiết kế tổng vốn khoảng 3.600 tỷ đồng VN.
Sau quá trình thi công kéo dài, trượt giá tính lại khoảng 5.500 tỷ đồng Việt Nam.
== Giai đoạn 2 ==
Tổng mức đầu tư hơn 2.560 tỷ đồng, sử dụng ngân sách nhà nước, trong đó chi phí xây dựng gần 1.820 tỷ đồng.
Theo thiết kế, cầu Vĩnh Tuy giai đoạn 2 nằm song song cầu cũ, 2 mép cầu cách nhau 2 m về phía hạ lưu sông Hồng, dài hơn 3,5 km, bắt đầu từ điểm giao với đường Trần Quang Khải - Nguyễn Khoái - Minh Khai, kết thúc tại điểm giao với đường Long Biên - Thạch Bàn, mặt cầu rộng 19,25m.
Phần cầu chính vượt sông dài 955 m, phần cầu dẫn trên bãi sông phía Bắc dài gần 1,76 km, cầu vượt đê tả sông Hồng dài 220 m, cầu dẫn phía Long Biên dài 210m.
Ban Quản lý dự án hạ tầng Tả ngạn được giao làm chủ đầu tư dự án, thời gian thực hiện dự kiến từ năm 2012 đến 2014.
== Xem thêm ==
Dự án thành phố sông Hồng
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Khởi công xây dựng cầu Vĩnh Tuy
Hình ảnh về cầu Vĩnh Tuy
Quy hoạch GTVT Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 |
giải bóng đá vô địch quốc gia đức.txt | Giải bóng đá vô địch quốc gia Đức (tiếng Đức: Fußball-Bundesliga) là hạng thi đấu cao nhất của bóng đá Đức. Giải được tổ chức từ 1903 cho đến nay ngoại trừ thời gian xảy ra các cuộc chiến tranh thế giới (thứ nhất và thứ hai). Tên gọi "Fußball-Bundesliga" chính thức được sử dụng từ mùa bóng 1963 - nay
Thống kê mùa 2011/2012 cho thấy lượng khán giả trung bình vào xem một trận đấu ở Bundesliga là 45.116 người, qua đó giải đấu này trở thành giải vô địch quốc gia có lượng khán giả đi xem trực tiếp đông nhất thế giới. Trong số đó, Borussia Dortmund là đội bóng có lượng khán giả vào sân xem đội bóng thi đấu đông nhất với trung bình 80.521 khán giả mỗi trận trên sân nhà Westfallen.
== Lịch sử hình thành ==
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền bóng đá của Đức dần được phục hồi. Mở đầu là chức vô địch World Cup vào năm 1954. Nhưng bóng đá Đức sau đó đã không giữ được vị trí của mình, mà giành thất bại liên tiếp ở nhiều trận đấu quốc tế như World Cup 1958, không được tham dự kỳ Euro đầu tiên trong lịch sử năm 1960 và bóng đá Đức cũng không thành công ở kỳ World Cup 1962. Sau chiến tranh, nước Đức chịu ảnh hưởng nặng nề cả về vật chất lẫn tinh thần. Nước Đức bị chia cắt lãnh thổ ra thành hai miền Tây Đức và Đông Đức với hai thể chế chính trị khác nhau. Vào thời kỳ đó, bóng đá Tây Đức vẫn chưa có một giải vô địch thống nhất mà tồn tại đến năm giải đấu riêng lẻ tương đương Premier League ngày nay. Chính vì không có một giải đấu quốc gia chung cộng với sự định hướng không rõ ràng về phong cách đào tạo và huấn luyện đã làm cho bóng đá Tây Đức đi xuống và không phát triển được. Trước những thất bại liên tiếp, Bundesliga, một giải đấu bóng đá thống nhất của Đức chính thức ra đời ngày 28 tháng 7 năm 1962. Tuy nhiên, Bundesliga bắt đầu chính thức thu hút sự chú ý của mọi người và các đội bóng tham dự vào tháng 8 năm 1963.
== Đĩa bạc Bundesliga ==
Chiếc Đĩa bạc, có tên Meisterschale trong tiếng Đức, vẫn được gọi một cách dân dã là "Chiếc đĩa salad", là một cúp luân chuyển được trao tặng từ năm 1949. Đĩa bạc được Giáo sư Elizabeth Tresckow và các sinh viên Đại học Cơ khí Cologne thiết kế và chế tạo vào năm 1949, để thay thế cho chiếc cúp Victoria đã bị thất lạc trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Được làm bằng bạc, phiên bản gốc của Đĩa bạc có đường kính 50 cm, nặng 5,5 kg, gắn 5 viên lớn, 11 viên nhỏ đá quý Tourmalin với tổng trọng lượng 175 carat. Năm 1981 vì hết chỗ để khắc tên, nên cúp này được thêm một vòng ngoài, thêm 5 viên đá nữa, năm 2009 lại được làm lớn thêm hiện tại có đường kính 59 cm, nặng 11 kg. Trên chiếc Đĩa bạc này có khắc tên của các đội bóng, kèm theo năm vô địch quốc gia, từ năm 1903 (VfB Leipzig) cho đến năm 2013 (FC Bayern Munich), hiện tại đủ chỗ cho các đội tới năm 2026.
== Các đội vô địch trong lịch sử ==
== Các kỷ lục ==
=== Các kỷ lục khác ===
Đá phản lưới nhà nhiều nhất:Manfred Kaltz-Hamburger SV (6 bàn).
Cầu thủ nhiều tuổi nhất: Klaus Fichtel-FC Schalke 04 (43 tuổi).
Cầu thủ ghi bàn trẻ tuổi nhất: Nuri Şahin-Borussia Dortmund (16 tuổi 335 ngày).
Cầu thủ nhận thẻ đỏ nhiều nhất: Jens Nowotny (8), Stefan Effenberg, Sergej Barbarez và Torsten Kracht (7).
Cầu thủ ghi bàn từ chấm phạt đền nhiều nhất: Manfred Kaltz (53 với chỉ 7 lần sút hỏng).
Thủ môn nhận nhiều bàn thắng nhất: Eike Immel (829 bàn trong 534 trận).
Thủ môn nhận ít bàn thắng nhất: Oliver Kahn (196 bàn trong 557 trận).
Cầu thủ vô địch nhiều nhất: Mehmet Scholl và Oliver Kahn (8 lần).
Huấn luyện viên vô địch nhiều nhất: Udo Lattek (8 lần).
Huấn luyện viên tại vị lâu nhất: Volker Finke (hơn 16 năm).
Đội bóng tệ nhất: Tasmania 1900 Berlin (1965–66) là đội nắm giữ danh sách đặc biệt các kỉ lục tồi tệ nhất
Ghi bàn nhanh nhất: Ulf Kirsten-(Bayer Leverkusen) ghi bàn sau 11 giây (trong trận đấu với Kaiserslautern năm 2002.)
=== Cầu thủ ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Giải vô địch bóng đá Đức
DFB - Liên đoàn bóng đá Đức
Bundesliga Forum |
cpc.txt | CPC (Cost Per Click) hay PPC (Pay Per Click) là 1 hình thức quảng cáo trực tuyến, trong đó nhà quảng cáo sẽ không trả tiền cho lượt xem, và chỉ trả tiền khi có người dùng chuột nhấn vào liên kết vào quảng cáo của họ.
== CPC với các hình thức quảng cáo trực tuyến khác ==
CPD (Cost Per Duration - day): là hình thức tính tiền theo thời gian, hình thức này rất đắt, áp dụng cho quảng cáo thương hiệu, giới thiệu sự kiện hay công bố sản phẩm mới của các hãng lớn. Quảng cáo theo hình thức này thì vị trí quảng cáo thường thuộc các vị trí to và đẹp nhất của trang chủ...
CPM (Cost Per Mile): là hình thức tính tiền theo 1000 lượt xem (hay lượt lượt xuất hiện của một nhân tố). Cũng giống với quảng cáo CPD, CPM thường áp dụng cho quảng cáo thương hiệu (cần ngân sách lớn), chỉ khác là cách tính tiền phụ thuộc vị trí và kích thước hiển thị. CPM thường có kích thước hiển thị lớn (300x385), nhưng có vị trí không đẹp bằng quảng cáo CPD. CPM thường được chạy trên nhiều trang web cùng lúc trong khi CPD thường chỉ chạy trên 1 hay vài trang web cố định.
CPC: là hình thức quảng thích hợp cho các hãng, cửa tiệm bán lẻ. Với ngân sách hợp lý, qua hình thức này được những khách hàng tiềm năng từ những cú nhấp chuột của khách hàng...
== Các nhà cung cấp CPC ==
Tại Việt Nam, hình thức CPC chủ yếu được cung cấp từ Google Adwords, FacebookAds.
Sản phẩm của Việt: Vài năm trước đây, Việt Nam chứng kiến 2 mạng quảng cáo (chợ quảng cáo) có cung cấp hình thức CPC là vietad của Moore corp và AdNet của PeaseSoft, tuy nhiên cả 2 mạng này phát triển không như mong đợi, chủ yếu là do hạn chế về vấn đề công nghệ và mặt hàng hạn hẹp. Hiện tại, có thêm một nhà cung cấp nữa là AdMarket - Admicro của Vccorp, đây có lẽ là chợ quảng cáo lớn nhất Việt Nam trong thời điểm hiện tại. Với mặt hàng lớn phủ đến 30 triệu độc giả. Đặc biệt về công nghệ sản phẩm này có cung cấp thêm nhiều hình thức tiếp cận (như vùng miền, sở thích,...) mà các mạng quảng cáo khác chưa thể đáp ứng được, đây cũng là thế mạnh của vccorp, một công ty có độ phủ Internet lớn nhất Việt Nam.
Tính từ năm 2011 đến năm 2013, thị trường Việt Nam đã có hơn chục mạng quảng cáo ra đời như Ad360- mạng quảng cáo thông minh trực thuộc Netlink, Elick của FPT, Vatgia Ads (hiện giờ là Myads) trực thuộc Vật Giá, ngoài ra có Adlite, Adsnet trực thuộc Vivas-một thành viên của VNPT, Lava Adnetwork,và Novanet- mạng quảng cáo ngữ cảnh,...
== Vấn đề chống click ảo trong quảng cáo CPC ==
Quảng cáo CPC là hình thức luôn chống chọi với nạn click ảo nhiều nhất và thường cũng chỉ có hình thức này bị như vậy. Các mạng quảng cáo lớn như Google Adwords luôn phải chống chọi với thế giới hùng hậu chuyên click ảo nhằm kiếm lợi bất chính, gồm 2 loại:
Vô ý: thường bắt nguồn từ trẻ con hay người ít sử dụng tin học, họ click do vô ý, hay click đúp vào bảng quảng cáo,... (thường được xem là click vô hiệu hay click không hợp lệ).
Cố ý: Để kiếm lợi, người kinh doanh đăng quảng cáo (chủ blog, diễn đàn hay trang web nhỏ) có thể bảo nhân viên, thành viên của mình click vào các quảng cáo nhằm kiếm lợi. Một trường hợp khác cũng có thể gặp là đối thủ cạnh tranh click nhiều lần vào quảng cáo của đối thủ mình, nhằm giảm hiệu quả và tăng chi phí quảng cáo cho đối thủ của mình. Đôi khi có thể chính các nhà cung cấp quảng cáo click vào quảng cáo của khách hàng nhằm tăng doanh thu, điều này dễ xảy ra với các mạng quảng cáo nhỏ lẻ, ít trang web dẫn đến số liệu hạn chế và họ phải tự nhấp để làm 'đẹp' số liệu để báo cáo cho khách hàng.
== Công nghệ chặn click ảo (click spam) ==
Công nghệ chặn click ảo và những người chuyên làm việc này có thể so sánh như công nghệ diệt virus và người chuyên đi viết virus. Công nghệ chặn click ảo thường dựa vào rất nhiều yếu tố khác nhau (địa chỉ IP, cookies, trình duyệt, hệ điều hành, phiên bản flash,....), nhiều thuật toán, phương pháp thống kê để phát hiện các click bất thường trong hệ thống. Rõ ràng, công nghệ này không thể dựa vào 1 nhân tố tĩnh nào (vì như vậy người chuyên đi click ảo sẽ biết cách để vượt qua). Ngoài việc dựa vào cách chính sách quy định xử phạt thì các nhà cung cấp cũng phải luôn cải tiến công nghệ của mình để chống lại nạn click ảo, nhằm đem lại hiệu quả thực sự cho khách hàng của mình.
== Xem thêm ==
CPM
== Tham khảo ==
http://adwords.google.com/support/aw/bin/answer.py?hl=en&answer=6114 |
chủ nghĩa phát xít.txt | Chủ nghĩa phát xít là một hệ tư tưởng chính trị và phong trào số đông mà muốn đặt quốc gia trong những thuật ngữ về lịch sử, văn hóa, sinh học độc nhất, trên tất cả là các động lực của lòng trung thành, và muốn tạo nên 1 cộng đồng quốc gia được huy động.. Rất nhiều đặc điểm được quy cho chủ nghĩa phát xít bởi nhiều học giả khác nhau, nhưng những yếu tố sau thường được xem như cấu thành: chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa độc tài quân sự, chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa hợp tác, chủ nghĩa toàn trị, chủ nghĩa chuyên chế, chống lại chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cộng sản. Có rất nhiều tranh cãi giữa các học giả về bản chất của chủ nghĩa phát xít và những loại phong trào chính trị và những chính phủ mà có thể bị gọi là phát xít. Trên thực tế chủ nghĩa phát xít ở Ý, nơi khởi đầu của nó, khác với ở Đức, hay "chủ nghĩa phát xít" ở Nhật, ở Tây Ban Nha, và một số nơi khác, và cũng như các phong trào phát xít mới phát triển ở châu Âu hiện nay, xem xét các khía cạnh kinh tế, thủ thuật giành chính quyền, cương lĩnh, tư tưởng, mô hình nhà nước,... nhưng có điểm chung là gắn với tinh thần dân tộc.
Trong chương trình giáo dục tại Việt Nam, như trong Sách giáo khoa lịch sử lớp 8, Việt Nam có định nghĩa khác, cho rằng chủ nghĩa phát xít là "hình thức chuyên chính của tư bản chủ nghĩa, là lực lượng đế quốc phản động nhất, hiếu chiến nhất, có chủ trương thủ tiêu mọi quyền tự do cơ bản của con người, khủng bố, đàn áp tàn bạo nhân dân, gây chiến tranh xâm lược để thống trị thế giới"..
Phát xít có nguồn gốc chính thức tại Ý, còn có tên gọi là Fasium. Lúc đầu tổ chức này chỉ có ba người, mỗi người phải đi tuyên truyền chủ nghĩa này cho ba người khác và lại tiếp tục như vậy, nên cả tổ chức trở nên lớn mạnh. Đặc biệt người được tuyên truyền sau không biết mặt những người lãnh đạo lớn hơn mình.
== Nguồn gốc lịch sử ==
Chủ nghĩa phát xít có nguồn gốc từ Fasces (tiếng Latin), Fascismo (tiếng Ý), Fasciste (tiếng Pháp), Fascist (tiếng Anh), có nghĩa là bó hoặc nhóm.
Câu chuyện bắt đầu từ thời Servius Tullius (578-535 BC), vua (Rex) thứ sáu của La Mã cổ. Servius gả con gái của mình cho con của hoàng đế thứ 5, Tarquinius. Tuy nhiên cô con gái của Servius là một người vô cùng tham lam và không coi trọng bất cứ một nguyên tắc đạo đức nào. Chính cô này đã xui Tarquinius xông vào Viện Nguyên Lão để cướp ngôi của bố mình và đuổi bố mình ra khỏi ngai vàng. Tệ hơn, Servius đã bị giết bởi một nhóm người theo lệnh của Tarquinius khi trở về cung. Sau khi lên ngôi, Tarquinius làm đủ mọi chuyện ác gây phẫn nộ trong dân chúng. Cuối cùng, người con trai của nhà buôn từng bị Tarquinius giết chết đã kêu gọi nhân dân nổi dậy và giành lại quyền điều hành đất nước. Sau sự vụ này, Rome không còn ngôi vua nữa mà nhân dân bầu ra hai người đứng đầu gọi là Quan chấp chính. Vị quan chấp chính thường có các thị vệ (vệ sĩ) theo hầu, mỗi thị vệ vác theo mình một bó gậy (là một bó gồm nhiều que gỗ), giữa bó gậy được buột chặt với một cái rìu dùng để trừng phạt những người làm sai pháp luật bằng các hình phạt thể xác và tử hình.. Tuy nhiên, đây là một mô hình cực kỳ dân chủ và văn minh so với các mô hình ở thời cổ đại bởi có hai vị Quan chấp chính có quyền hành ngang nhau, thời gian chấp chính chỉ là 1 năm và nếu người dân có ý kiến bất đồng với Quan chấp chính thì có thể đưa ra Hội đồng Nhân dân hoặc Viện nguyên lão. Bó gậy mà người thị vệ vác theo mình được gọi là Fasces.
Ý nghĩa tượng trưng của bó que là sức mạnh thông qua sự thống nhất: một que gỗ thì dễ dàng bị bẻ gãy nhưng một bó gỗ thì rất khó để bẻ gãy. Từ đó các biểu tượng tương tự đã được các phong trào phát xít khác mô phỏng theo. Ví dụ như biểu tượng bó tên của đảng phát xít Falange Tây Ban Nha. Biểu tượng bó gậy cũng có thể là
Biểu trưng cho vương quyền hay luật pháp của giai cấp thống trị.
Tượng trưng cho quyền lực của nhân vật đứng đầu Nhà nước.
Biểu tượng của chính quyền hành chính nhân dân. Ví dụ con dấu của Thượng nghị viện Hoa kỳ vẫn còn sử dụng biểu tượng bó gậy để làm hình đại diện cho luật pháp của riêng Viện này. Từ Fascismo cũng được dùng để chỉ các tổ chức chính trị tại Ý như fasci, tương tự với công đoàn và phường hội.
== Các định nghĩa ==
Các nhà sử học, khoa học chính trị, và các học giả khác đã có nhiều tranh cãi xoay quanh bản chất tự nhiên của chủ nghĩa phát xít. Kể từ thập niên 90, các học giả như Stanley Payne, Roger Eatwell, Roger Griffin and Robert O. Paxton đã có được sự nhất trí mạnh mẽ về các triết lý cốt lõi của chủ nghĩa. Mỗi dạng của chủ nghĩa phát xít có sự khác biệt. Điều này làm cho nó có nhiều định nghĩa khi thì quá rộng khi thì quá hẹp.
Griffin định nghĩa:
"[Fascism is] a genuinely revolutionary, trans-class form of anti-liberal, and in the last analysis, anti-conservative nationalism. As such it is an ideology deeply bound up with modernization and modernity, one which has assumed a considerable variety of external forms to adapt itself to the particular historical and national context in which it appears, and has drawn a wide range of cultural and intellectual currents, both left and right, anti-modern and pro-modern, to articulate itself as a body of ideas, slogans, and doctrine. In the inter-war period it manifested itself primarily in the form of an elite-led "armed party" which attempted, mostly unsuccessfully, to generate a populist mass movement through a liturgical style of politics and a programme of radical policies which promised to overcome a threat posed by international socialism, to end the degeneration affecting the nation under liberalism, and to bring about a radical renewal of its social, political and cultural life as part of what was widely imagined to be the new era being inaugurated in Western civilization. The core mobilizing myth of fascism which conditions its ideology, propaganda, style of politics and actions is the vision of the nation's imminent rebirth from decadence."
Còn theo Paxton thì chủ nghĩa phát xít là:
"a form of political behavior marked by obsessive preoccupation with community decline, humiliation or victimhood and by compensatory cults of unity, energy and purity, in which a mass-based party of committed nationalist militants, working in uneasy but effective collaboration with traditional elites, abandons democratic liberties and pursues with redemptive violence and without ethical or legal restraints goals of internal cleansing and external expansion."
== Các nguyên nhân lịch sử về sự nổi dậy của chủ nghĩa phát xít ==
Có nhiều quan điểm khác nhau về nguyên nhân dẫn đến sự nổi dậy của chủ nghĩa phát xít. Trong đó có một quan điểm cho rằng chủ nghĩa phát xít Ý ra đời là một sự đáp lại các thất bại của nền dân chủ, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa Marx. Những chủ nghĩa này được nhìn nhận là có thiên hướng về chủ nghĩa cá nhân và toàn cầu hóa, làm tổn hại đến quốc gia. Và chủ nghĩa phát xít khi đó đã tự xưng mình là sự thay thế căn bản mang tính quốc gia cho chủ nghĩa Bolshevic. Dù vậy, nó lại mang nhiều đặc trưng của chủ nghĩa Bolshevic như: nhà nước có một đảng cầm quyền, quyền quyết định theo đa số và sự vận động ủng hộ từ giai cấp vô sản. Đặc biệt khi nhiều cựu binh trở về từ chiến tranh lại phải đối mặt với nạn thất nghiệp và các vấn đề kinh tế khác. Chủ nghĩa phát xít đã đưa ra mô hình của chủ nghĩa tập thể cũng như kêu gọi chấm dứt sự tồn tại của chủ nghĩa tư hữu cá nhân, cũng như đối đầu với chủ nghĩa Marx vì cho rằng chủ nghĩa này chống lại chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa yêu nước.
== Tư tưởng nguyên thuỷ của chủ nghĩa phát xít ==
Là kết quả cuộc bạo loạn của giai cấp tiểu tư sản, do nó bị chèn ép giữa giới đại tư sản và phong trào công nhân.Vì vậy nó không mang tính chất giải phóng áp bức, bất công mà nó chỉ mang tính chất giúp giới tiểu tư sản dễ thở hơn trong cuộc đấu tranh của giới đại tư sản (bóc lột) và giai cấp công nhân (bị bóc lột) mà không sớm hay muộn giới tiểu tư sản sẽ bị lôi kéo nhảy vào cuộc. Tuy nhiên nó không dừng lại ở tính chất của cuộc cách mạng tiểu tư sản,nó thể hiện ý thức phi lý của con người đã bị bóp méo, trở nên đần độn dẫn đến những tư tưởng ảo tưởng nhưng coi đó là sự thật và cần phải đấu tranh thực hiện nó. Nhà sử học người Italia, Dele Piane, gọi chủ nghĩa phát xít là "cuộc phản cách mạng triệt để"; còn L. Longo thì xem đó là "một trong những hình thái phản cách mạng triệt để".
== Đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa phát xít ==
Chủ nghĩa phát xít ra đời trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, sự thất trận của một số quốc gia (Đức) tổn hại niềm tự hào dân tộc, những nguy cơ của các cuộc cách mạng thường trực do phân hóa xã hội sâu sắc, sự yếu kém của các nền dân chủ đại nghị trước nguy cơ của chủ nghĩa cộng sản, hay vô chính phủ, những nguy cơ xâm lấn của các nền văn minh bên ngoài, cho nên chủ nghĩa phát xít có một sức hấp dẫn đối với dân chúng ở một số quốc gia trong những hoàn cảnh xã hội nhất định. Các đặc điểm cơ bản của nó có thể được thể hiện phương diện chính:
Xây dựng một Nhà nước tập trung hùng mạnh để đối phó các nguy cơ bạo loạn và các nguy cơ xâm lược từ phía bên ngoài, thủ tiêu dân chủ, nhà nước một đảng phátxít nắm quyền
Xây dựng một quân đội hùng mạnh, các sĩ quan quân đội có một vị trí chính trị quan trọng theo mẫu của chủ nghĩa quân phiệt
Đàn áp tất cả các phong trào cánh tả như chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa công đoàn, chủ nghĩa vô chính phủ,...(mà họ cho là làm tổn hại đến quốc gia, nhà nước hay dẫn đến sự bất ổn), các tư tưởng dân chủ hoặc các đòi hỏi dân sinh.
Thủ tiêu kinh tế thị trường, đặt toàn bộ nền kinh tế dưới sự kiểm soát chặt chẽ nhà nước, phục vụ cho nhà nước và quốc gia, nhưng không xóa bỏ giai cấp mà hướng tất cả giai cấp làm việc phụng sự cho quốc gia, hi sinh các quyền lợi hoặc đòi hỏi cá nhân, khêu gợi một sự đoàn kết trên cơ sở của một trật tự xã hội có phân hóa và nếp sống kỷ luật
Khêu gợi tinh thần yêu nước phụng sự Tổ quốc của cả dân tộc, kích động tư tưởng dân tộc, chống lại các dân tộc mà họ cho là làm tổn hại đến lợi ích dân tộc họ (như người Do Thái ở Đức,..)
Đưa ra các chiêu bài lần lượt lấy lòng của các tầng lớp khác nhau trong xã hội, thường trước hết là tầng lớp trung lưu, sau đó đến tư sản và vô sản, nông dân (đây không phải đặc điểm riêng có của chủ nghĩa phát xít nhưng không thể thiếu)
Đưa ra các luận điệu mang màu sắc của chủ nghĩa sô vanh hay chủ nghĩa bá quyền (nhưng chỉ có một số nước), đặt dân tộc trước các nguy cơ bị hủy diệt hoặc xâm lấn, khôi phục lại một số truyền thống bị lãng quên nhằm khẳng định tư tưởng dân tộc, kích động các tư tưởng phân biệt sắc (chủng) tộc một cách cực đoan
Tuy nhiên chủ nghĩa phát xít vẫn hay gây ra tranh cãi, vì có phong trào có một số đặc điểm giống với chủ nghĩa phát xít nhưng không toàn bộ. Một số phong trào phát xít hay được gán là phát xít vẫn hoạt động ở một số nước mà đặc điểm cơ bản bề ngoài của nó là chống lại người nhập cư một cách cực đoan, hay các dân tộc thiểu số ở nước họ (như người Hồi giáo ở một số nước châu Âu,...) thường được theo dõi chặt chẽ, tuy nhiên một số có lúc nổi lên như một lực lượng chính trị lớn.
Về cơ bản chủ nghĩa phát xít trước hết là một phong trào dân tộc cực đoan, và là một dạng "cánh hữu cách mạng", để chống lại cánh tả. Nguồn gốc quyền lực Nhà nước là quốc gia, dân tộc, dưới bàn tay tạo hóa Thượng đế, khác hẳn cách lý giải quyền lực Nhà nước từ nảy sinh tư hữu và phân hóa giai cấp của những người cộng sản. Tư tưởng phát xít đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa vô chính phủ.
== Triết lý cốt lõi ==
== Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và dân tộc ==
== Liên quan đến tôn giáo ==
== Các chủ nghĩa khác và sự phân dạng ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Bài hát Diệt Phát Xít |
fish and chips.txt | Fish and chips là một món ăn take-out truyền thống của nước Anh, phổ biến ở Anh quốc, Hoa Kỳ, Ireland, Australia, New Zealand, Canada và Nam Phi. Nó gồm có cá đã được tẩm bột rồi sau đó đem chiên ngập dầu ăn kèm với khoai tây chiên.
== Tham khảo == |
quân đội nhân dân việt nam.txt | Quân đội Nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Ngày truyền thống là ngày 22 tháng 12 hàng năm. Quân kỳ của Quân đội Nhân dân Việt Nam là lá quốc kỳ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có thêm dòng chữ "Quyết thắng" màu vàng ở phía trên bên trái. Ngoài việc bảo vệ tổ quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam có nhiệm vụ không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước Xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
== Danh xưng ==
Tên gọi "Quân đội Nhân dân" là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ". Một tên khác được nhân dân yêu mến đặt cho là "bộ đội cụ Hồ". Trong báo chí Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam thường được viết tắt là QĐND hoặc QĐNDVN. Việc lấy tên là "Quân đội nhân dân" với mục đích thể hiện và giữ vững bản chất giai cấp cùng yếu tố dân tộc của quân đội, một yếu tố trọng yếu của quân đội, đây là đội quân có nguồn gốc nhân dân, bảo vệ tính mạng, tài sản và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ nền độc lập thống nhất và bản sắc dân tộc.
== Nhiệm vụ ==
Quân đội nhân dân Việt Nam có 03 nhiệm vụ, bao gồm: chiến đấu, công tác phục vụ nhân dân và sản xuất để hoàn thành mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị của Tổ quốc, bảo vệ bản sắc dân tộc.
=== Chiến đấu ===
Đây là nhiệm vụ then chốt của Quân đội nhân dân Việt Nam. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Quân đội được tổ chức có hai thành phần:
Quân đội thường trực làm nòng cốt cùng lực lượng rộng rãi quần chúng vũ trang
Ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ.
Hướng tổ chức là tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài phù hợp, thường xuyên thực hành huấn luyện, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, vững vàng bản chất chính trị, nắm chắc tình hình đất nước, khu vực và quốc tế để có các biện pháp tác chiến phù hợp, đẩy mạnh hợp tác quốc tế.
=== Công tác phục vụ nhân dân ===
Trong công tác, Quân đội nhân dân luôn gắn bó mật thiết, đồng cam cộng khổ với nhân dân, thực sự là cầu nối vững chắc và tin cậy của chính quyền với nhân dân. Quân đội còn có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của chính quyền, phản bác lại các luận điểm bóp méo, bôi nhọ, không đúng sự thật. Bên cạnh đó, quân đội là một trong các lực lượng nòng cốt trong công tác cứu hộ, cứu nạn, giúp dân phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và tài sản của nhân dân. Công tác tích cực tham gia xoá đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân luôn được quân đội coi trọng. Giải quyết hậu quả chiến tranh bao gồm rà, phá bom mìn, tẩy độc môi trường và các chính sách hậu chiến là một trong các trụ cột trong công tác quân đội. Tại những khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quân đội chịu cả trách nhiệm phổ cập giáo dục và chăm sóc y tế với người dân. Để hoàn thành nhiệm vụ công tác phục vụ nhân dân, quân đội có các phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Hành trình Quân đội chung tay vì sức khỏe cộng đồng”, “Mái ấm cho người nghèo biên giới, hải đảo”, “Trái tim cho em”; khám, chữa bệnh miễn phí; thăm, tặng quà các đối tượng chính sách, người nghèo...
=== Sản xuất ===
Các đơn vị quân đội đã tận dụng mọi tiềm năng, nguồn lực lao động, đất đai, kỹ thuật..., đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tạo nguồn thực phẩm bổ sung tại chỗ, góp phần giữ ổn định và cải thiện đáng kể đời sống vật chất cho bộ đội. Các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc phòng đã sản xuất được một số loại vũ khí, trang bị khí tài phù hợp, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại, yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Nhiều đơn vị làm kinh tế của quân đội đã sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, trở thành các tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn của đất nước, đi đầu trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước... Hoạt động sản xuất kinh tế của lực lượng quân đội còn hướng tới giúp dân khai hoang, cải tạo đồng ruộng, xây dựng ruộng lúa nước, trồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc; hỗ trợ vốn làm nhà và cây con giống, giúp đỡ về kỹ thuật sản xuất, chống di dân và đón nhận dân ở tuyến sau đến định cư, giúp dân ổn định cuộc sống lâu dài.
Quân đội có vai trò xung kích, nòng cốt trong tham gia xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, đảo, với trọng tâm là triển khai xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng (KT-QP). Đến nay, Quân đội đã xây dựng được 23 khu KT-QP với diện tích hàng triệu ha nhằm tạo điều kiện phát triển bền vững cho hàng nghìn hộ dân định cư sinh sống lâu dài, hình thành thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Các khu KT-QP là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh của đất nước. Doanh nghiệp quân đội ngoài phục vụ các mục tiêu quân sự còn phục vụ nhu cầu dân sự, tiến hành đầu tư trong và ngoài nước. Quân đội sản xuất xây dựng kinh tế nhằm góp phần gìn giữ năng lực sản xuất quốc phòng, nâng cao năng lực chiến đấu cho Quân đội và góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách quốc phòng. Đặc biệt, các doanh nghiệp thuần kinh tế của Quân đội không được hưởng bất kỳ ưu tiên nào từ Nhà nước và nền Quốc phòng Việt Nam cũng không dùng ngân sách tài trợ cho doanh nghiệp, do vậy các doanh nghiệp hoàn toàn phải tự bươn chải... Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh rằng khối các doanh nghiệp Quân đội có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp quân đội là một bộ phận trong chiến lược "hướng ra biển lớn" của Việt Nam và đối với các doanh nghiệp có chức năng làm kinh tế thuần túy sẽ được cổ phần hóa.
== Quá trình phát triển ==
=== Trước Cách mạng tháng Tám-1945 ===
Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944. Lễ thành lập được tổ chức tại khu rừng Sam Cao nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Ban đầu gồm 34 chiến sĩ trong đó có 3 nữ với 34 khẩu súng các loại do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung; Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng; Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị; Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lý.
Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sát nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại rừng Thàn Mát, xã Định Biên, huyện Định Hóa (Thái Nguyên).
Trận đánh đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là trận Phai Khắt, Nà Ngần ngày 25 và 26 tháng 12 năm 1944.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, trong Cách mạng Tháng Tám, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng. Sau 7 ngày quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân.
=== Kháng chiến chống Pháp cứu nước ===
Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để đối phó với sức ép của quân Tưởng Giới Thạch đòi giải tán quân đội chính quy Việt Minh, tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân. Lúc này quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ. Một số chi đội đã "Nam tiến" để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp đang tấn công trở lại ở Nam Bộ. Riêng tại Nam Trung bộ, Nam bộ và cả Tây Nguyên cũng có những tổ chức vũ trang do các giáo phái hoặc các đảng phái quốc gia thành lập và lãnh đạo hợp tác với Việt Minh chống Pháp.
Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội... Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, chính phủ đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Lực lượng này tồn tại trên toàn quốc, nhiều đội du kích nổi tiếng và còn dư âm đến tận bây giờ, tiêu biểu như du kích Nha Trang, du kích Ba Tơ, Bến Tre... Đến cuối năm 1946, có khoảng 1 triệu dân quân tự vệ đã được tổ chức và huấn luyện quân sự. Ngoài lực lượng Quân đội Quốc gia Việt Nam, tại miền Nam thời điểm này còn có các đơn vị quân sự khác do các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và các đảng phái quốc gia như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng chỉ huy. Trong thời kỳ 1945-1950, có những người nước ngoài đã tình nguyện tham gia chiến đấu và các ngành khác như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền... Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan cao cấp. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng quân đội Việt Nam trong thời kì non trẻ. (Xem bài Chiến sĩ "Việt Nam mới").
Năm 1949, hoàn thiện tổ chức tiểu đoàn bộ binh. Đơn vị này gồm 3 đại đội bộ binh, một đại đội hỏa lực mạnh. Có súng máy hạng nặng và súng cối.
Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cần lưu ý là cùng thời gian này, một lực lượng bản xứ đã được thành lập trong chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, cũng mang tên Quân đội Quốc gia Việt Nam. Quân đội này được thành lập dựa trên Hiệp định quân sự giữa Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam (trực thuộc Liên hiệp Pháp) bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Quân đội Quốc gia Việt Nam tham chiến cùng quân đội Pháp chống lại Quân đội Nhân dân Việt Nam, và đây chính là tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau này. Do vậy, cần phân biệt rõ để tránh nhầm lẫn trong các giai đoạn sau.
Hầu hết các đơn vị bộ đội chủ lực được thành lập tại Việt Bắc, và từ sau năm 1949, nhiều đơn vị được huấn luyện tại các doanh trại của Trung Quốc ở Vấn Sơn (Wenshan), Long Châu (Long Zhou), Tĩnh Tây (Jing Xi) và Tư Mao (Szu Mao). Họ nhận được các trang thiết bị tốt hơn, các tuyến tiếp vận từ Trung Quốc vào Bắc Kỳ được phục vụ bằng một đội xe tải tăng lên đến gần 600 chiếc vào cuối năm 1953. Bộ đội chủ lực được huấn luyện kỹ lưỡng bởi các chuyên viên huấn luyện giàu kinh nghiệm của Trung Quốc, 261 chuyên viên cũng đã vượt biên giới vào Bắc Kỳ vào tháng 7 năm 1950 để thực hiện nhiệm vụ cố vấn. Gan dạ và được chỉ huy tốt, bộ đội chủ lực tạo thành một đạo quân vận động quy mô lớn dưới quyền trực tiếp của tướng Giáp và các cấp phó của ông.
Đội hình chủ lực đầu tiên là Liên Trung đoàn 308 được thành lập vào tháng 8 năm 1949, bao gồm các trung đoàn 308, 92 và 102. Đến cuối năm 1949, nó trở thành Đại đoàn 308, được bổ sung thêm các trung đoàn 174 và 209, từng được trang bị và huấn luyện tại Trung Quốc. Các sư đoàn bộ đội chủ lực có một phiên chế gồm 3 trung đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh; trong đó mỗi trung đoàn lại bao gồm 4 tiểu đoàn bộ binh và một đơn vị vũ khí hạng nặng (thông thường là 4 khẩu pháo 75mm, 4 khẩu cối 120mm). Các đơn vị hỗ trợ phát triển chậm chạp, bởi vì hầu hết pháo và cối hạng nặng đều được giữ lại để dành cho đội hình song song của đại đoàn "công pháo" được đánh số là 351. Quân số của sư đoàn ban đầu ở mức khoảng 12.000 người, và sau này được thiết đặt ở mức khoảng 10.000 người. Mỗi tiểu đoàn 800 người có 20 khẩu súng máy, 8 khẩu cối 82mm, 3 khẩu súng không giật 75mm và một số súng ba-dô-ka thêm vào cho các vũ khí loại nhỏ. Đến cuối năm 1951, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thành lập được các sư đoàn sau:
Đại đoàn 304 (gồm các trung đoàn 9, 57, 66 và tiểu đoàn pháo binh 345); Đại đoàn 308 (gồm các trung đoàn 36, 88, 102); Đại đoàn 312 (gồm các trung đoàn 141, 165, 209 và tiểu đoàn pháo binh 154); Đại đoàn 316 (gồm các trung đoàn 98, 174, 176 và đại đội vũ khí hạng nặng 812); Đại đoàn 320 (gồm các trung đoàn 48, 52, 64). Vào cuối năm đó, Đại đoàn 325 cũng được thành lập - ít nhất về mặt hành chính - từ các trung đoàn 18, 95 và 101 ở khu vực Thừa Thiên của Trung Kỳ.
Ngoài ra, còn có các trung đoàn độc lập tại Bắc Kỳ là: 148 (vùng trung du), 42, 46 và 50 (vùng châu thổ sông Hồng), 238 và 246 (bảo vệ các an toàn khu tại Việt Bắc); tại Trung Kỳ có các trung đoàn độc lập là 96, 108 và 803; còn tại Nam Kỳ có Trung đoàn Đồng Nai (các tiểu đoàn 301, 302, 303 và 304), Trung đoàn Đồng Tháp Mười (các tiểu đoàn 307, 309 và 311, hoạt động tại vùng Đồng Tháp Mười), Trung đoàn 300 (khu vực Phú Mỹ), Trung đoàn 950 (cho các chiến dịch đánh Sài Gòn), Trung đoàn Cửu Long (các tiểu đoàn 308, 310 và 312, hoạt động tại vùng Trà Vinh) và Trung đoàn Tây Đô (các tiểu đoàn 402, 404 và 406, hoạt động tại vùng Cần Thơ).
Đến năm 1953, các đơn vị của Đại đoàn Công pháo 351 gồm có: Trung đoàn Công binh 151, Trung đoàn vũ khí nặng 237 (cối 82mm), Trung đoàn pháo binh 45 (lựu pháo 105mm), Trung đoàn pháo binh 675 (sơn pháo 75mm và cối 120mm), và Trung đoàn phòng không 367 (pháo phòng không 37mm và súng máy cỡ đạn 50cal).
Các nguồn tư liệu đưa ra con số khác nhau về quân số của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhưng vào đầu năm 1947 họ có tổng cộng khoảng 50.000 bộ đội chủ lực, 30.000 bộ đội địa phương và 50.000 dân quân du kích. Vào mùa hè năm 1950, khoảng 25.000 bộ đội địa phương được nâng cấp lên thành bộ đội chủ lực, đem lại cho tướng Giáp khoảng 60 tiểu đoàn chủ lực cho chiến dịch đầu tiên của ông. Những con số ước tính vào các năm kế tiếp như sau: đến cuối năm 1951 có 110.000 bộ đội chủ lực, từ 200.000 đến 250.000 bộ đội địa phương và dân quân du kích; mùa hè năm 1952 có 110.000 bộ đội chủ lực, 75.000 bộ đội địa phương và 120.000 dân quân du kích; mùa xuân năm 1953 có 125.000 bộ đội chủ lực, 75.000 bộ đội địa phương và 250.000 dân quân du kích.
Đầu năm 1950, bộ đội chủ lực đã có những trung đoàn hoàn chỉnh, cũng đã thành thạo việc đánh công kiên. Biên chế các trung đoàn này đến nay vẫn còn như vậy, rất đặc trưng Việt Nam. Cũng thời gian này, để chuẩn bị thời phản công, các sư đoàn quan trọng được thành lập, đến nay vẫn là khối cơ động chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nhóm các đơn vị thuộc khối quân cơ động trung ương (thành lập 1950-1951) gồm các đại đoàn 304, 308, 312, 316, 320, 351. Sau này có thêm các đơn vị pháo binh, phòng không, pháo phản lực trong sư đoàn 351 như trung đoàn 237 (cối lớn), trung đoàn 367 (phòng không 37mm). Sư đoàn 351 còn dược gọi là bộ binh nặng, công pháo (công binh, pháo binh). Đại đoàn Bình Trị Thiên (sư 325) của thủ lĩnh Trần Quý Hai được thành lập ở miền trung. Để phù hợp với nhu cầu đánh lớn, đánh mạnh của cả quân đội, lần lượt các đơn vị cấp sư đoàn ở phía nam cũng được thành lập: "Đại đoàn" Ngự Bình 324, đại đoàn Quảng Ngãi 305 ở liên khu V, đại đoàn Đồng Nai 338, đại đoàn Bến Tre 330, cùng một số đơn vị cấp trung đoàn, tiểu đoàn độc lập.
Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên của một đất nước thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân cũ trong lịch sử thế giới của thế kỷ 20. Sau năm 1954, bộ phận Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam (dưới vĩ tuyến 17) cùng với thành viên Việt Minh (khoảng 140 ngàn người) tập kết về miền bắc Việt Nam, và được chính quy hóa. Cuối chiến tranh, Quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 24 vạn quân chủ lực và gần 1 triệu du kích.
Thiếu tá Bi-gia, đã có kinh nghiệm chiến trường chín năm liền ở Đông Dương, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ từ lúc xây dựng cứ điểm đến khi đầu hàng, đã bày tỏ sự kính trọng của mình đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam: "Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta".
=== Kháng chiến chống Mỹ ===
Sau 1954, Hoa Kỳ bắt đầu nhảy vào Đông Dương thế chân Pháp. Kế thừa chính sách Da vàng hóa chiến tranh của Pháp, Hoa Kỳ lập nên chế độ Việt Nam Cộng hòa để ngăn chặn việc thi hành hiệp định Geneve, nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam và ngăn chặn đến cùng sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Với mục tiêu "đánh đổ sự thống trị thực dân mới của Mỹ", ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, gọi tắt là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Trong thời kỳ đầu, hầu hết quân Giải phóng là người miền Nam, về sau được tăng viện thêm bộ đội hành quân từ miền Bắc vào.
Người Mỹ thường phân biệt Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (Việt Cộng, hoặc vi-xi) với Quân đội Nhân dân Việt Nam (mà Mỹ gọi là "Quân đội Bắc Việt Nam"). Cách gọi này xuất phát từ động cơ tuyên truyền của Việt Nam Cộng hòa, lợi dụng tên gọi vùng miền để gây chia rẽ nhân tâm cư dân miền nam, nhằm gây lầm tưởng rằng nhân dân hai miền Việt Nam có sự chia rẽ và đối địch nhau, qua đó biện hộ cho lý do tham chiến của Mỹ là để "bảo vệ Nam Việt Nam" (tương tự như cách gọi Bắc kì - Nam Kì của Pháp trước kia). Nhưng thực tế, cũng như cuộc chiến chống Pháp trước đó, cuộc chiến chống Mỹ của người Việt Nam ngay từ ban đầu đã mang tính chất toàn quốc, với sự tham chiến của cả ba miền. Người miền Nam đã trực tiếp đánh Mỹ ở tuyến đầu, còn miền Bắc chi viện và bổ sung nhân lực cho chiến trường miền Nam. Trong hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam đóng ở chiến trường miền Nam và Campuchia, Lào luôn tồn tại tỷ lệ lớn bộ đội có lý lịch quê quán ở miền Nam. Trong hàng ngũ du kích, bộ đội địa phương (chia thành các "huyện đội, tỉnh đội"), tỷ lệ người miền Nam chiếm đại đa số. Trong suốt chiến tranh, nhân dân cả ba miền Việt Nam luôn đoàn kết, ủng hộ và là hậu phương to lớn tiếp sức cho Quân đội Nhân dân Việt Nam chống lại Hoa Kỳ. Chính người dân miền Nam đã đóng góp hàng trăm nghìn chiến sĩ cho Quân đội Nhân dân Việt Nam, cũng như chịu những hy sinh lớn nhất với 29.220 trong số 44.253 Bà mẹ Việt Nam anh hùng (chiếm tỷ lệ 2/3) là người miền Nam, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam (cũng thuộc miền Nam) là huyện có nhiều liệt sĩ nhất Việt Nam với 18.773 người. Công trình tiêu biểu về sự can trường của người dân miền Nam chống Mỹ chính là địa đạo Củ Chi, chỉ cách Sài Gòn 70 km; và nhân dân huyện Củ Chi cũng đã có 10 nghìn thanh niên (cả nam và nữ) hy sinh khi chiến đấu trong hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam từ năm 1955 đến ngày 28/4/1975.
Về mặt chính trị và lãnh đạo, Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam là một nhưng về pháp lý đây là hai đội quân độc lập. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có lực lượng xuất thân từ mọi miền Việt Nam, không có gì phân biệt về vùng miền, tổ chức, chỉ huy. Nguồn gốc của Quân Giải phóng là lực lượng bán vũ trang của Quân đội Nhân dân Việt Nam đóng ở miền Nam Việt Nam (không bị buộc phải tập kết theo Hiệp định Geneva-1954), kết hợp cả bộ phận tăng viện từ miền Bắc cũng như chiêu mộ những người chống Mỹ tại miền Nam, tạo thành lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Cán bộ, chỉ huy và chiến sĩ có cả giọng nói bắc và nam. Quân đội Nhân dân Việt Nam khẳng định họ là lực lượng đại diện cho toàn dân tộc Việt Nam chứ không chỉ riêng vùng miền nào.
Với mục tiêu "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã liên tiếp làm phá sản 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ, bất chấp việc Mỹ vào lúc cao điểm đã huy động hơn một nửa lực lượng quân đội cho chiến trường Việt Nam. Đó là những thắng lợi chiến lược vĩ đại nhất đối với họ. Sau nhiều năm sa lầy và chịu những tổn thất lớn về người và của, Mỹ buộc phải rút các dính líu quân sự khỏi Việt Nam qua hiệp định Paris năm 1973. Mất đi sự tham chiến của quân đội Mỹ và viện trợ quân sự dồi dào, chỉ 2 năm sau, hơn 1 triệu quân Việt Nam Cộng hòa cũng bị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh tan chỉ sau vỏn vẹn 55 ngày đêm của chiến dịch Mùa Xuân 1975. Đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất cho tới nay, quân đội Mỹ phải chấp nhận thất bại trong một cuộc chiến tranh.
Tướng Lindsey Kiang là một nhà sử học Mỹ có nhiều năm công tác tại Việt Nam. Ông nhận xét: Trong mắt nhiều lính Mỹ, bộ đội Việt Nam là những người có kỷ luật, chiến đấu thông minh và rất gan dạ. Ông nói:
Đã gần 50 năm kể từ khi những người lính Mỹ đặt chân đến Việt Nam. Đối với nước Mỹ, đó là khởi đầu của một cuộc chiến dài, cay đắng và không nhận được nhiều sự ủng hộ. Đối với người dân Việt Nam, cuộc chiến còn tàn phá khủng khiếp hơn, nhưng cuối cùng họ đã thắng và giành được độc lập, thống nhất, điều mà họ khao khát đã quá lâu rồi.
Tất cả những điều tôi đọc, tôi nghe được từ họ đều toát lên một sự tôn trọng dành cho các cựu chiến binh Việt Nam, bất kể đó là Giải phóng quân của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam hay quân chính quy từ miền Bắc vào. Những nhận xét đó thường là: Bộ đội Việt Nam thông minh, tiết tháo, có kỹ năng và lòng quyết tâm. Họ cũng là những người dũng cảm tuyệt vời trước hỏa lực khủng khiếp của pháo binh và không quân Mỹ. Nhiều cựu chiến binh Mỹ thường nhắc lại với niềm cảm phục sâu sắc khả năng chống đỡ của đối thủ dưới làn đạn mà những trận rải thảm B-52 là ví dụ điển hình.
Ở miền Nam, lính Mỹ cũng đánh giá cao bộ đội của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Mặc dù có số lượng và hỏa lực áp đảo, có nguồn lực dồi dào và khả năng di chuyển cao nhưng lính Mỹ và đồng minh luôn vấp phải những khó khăn khi đối đầu với đối thủ, những người được quyết định đánh khi nào. Có thể thấy rằng, những người lính dũng cảm này đã tận dụng được yếu tố bất ngờ để giành chiến thắng trong những tình thế ngặt nghèo nhất
Miền Trung Việt Nam là nơi những đội quân tinh nhuệ nhất của quân đội Mỹ đối đầu với quân chính quy Bắc Việt Nam... một trung sĩ lính thủy đánh bộ nói với bạn tôi rằng: “Thưa ngài, lính Bắc Việt Nam đánh giỏi như chúng ta". Nên biết rằng, lính thủy đánh bộ Mỹ là những chiến binh ưu tú nhất, được chọn từ bộ binh sang. Đó quả là một lời khen ngợi đối thủ. “Họ rất dũng cảm, rèn luyện tốt và có tinh thần chiến đấu cao" - Anh ấy nói.
Do phải chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn hỏa lực mạnh, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tập trung phát triển các chiến thuật bộ binh phù hợp với số vũ khí hạn chế có trong tay và đúc kết kinh nghiệm thu được trong quá trình chiến đấu. Kết quả là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã có lực lượng bộ binh hạng nhẹ được coi là một trong những lực lượng thiện chiến hàng đầu trên thế giới. Trong một cuộc khảo sát sau cuộc chiến với các sĩ quan Hoa Kỳ từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, 44% đánh giá Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là "thiện chiến và gan góc". Một sĩ quan nhận xét "Có một khuynh hướng đánh giá thấp đối thủ. Trong thực tế, họ là địch thủ giỏi nhất mà chúng ta từng phải đối mặt trong lịch sử".
Nhờ sự kiên trì xây dựng từng bước lực lượng cũng như viện hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam với 1,26 triệu quân chủ lực và địa phương, đứng thứ tư thế giới về số lượng (sau Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ) và tương đương với các nước Đông Nam Á khác cộng lại, cùng với hàng triệu dân quân, du kích, tự vệ, so sánh với dân số Việt Nam lúc đó đứng hàng 15 trên thế giới. Quân đội cũng được tổ chức và xây dựng thành những quân đoàn chủ lực cơ động mạnh. Năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam có 4 quân đoàn chủ lực mang số thứ tự 1,2,3,4, gần 30 sư đoàn bộ binh, 40 trung đoàn pháo....
=== Chiến tranh biên giới (1975-1989) ===
Năm 1975, đất nước Việt Nam thống nhất. Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam hợp nhất thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Do yêu cầu tình hình chính trị - quân sự trên bán đảo Đông Dương đặc biệt là cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc chống lại sự xâm lược của Trung Quốc năm 1979, lực lượng vũ trang Việt Nam lúc cao điểm (thập niên 1980) được phát triển lên đến 1,6 - 2 triệu quân thường trực, xếp hạng thứ 4 thế giới về quân số.
Quân đội được tổ chức thành nhiều quân đoàn chủ lực, 8 quân khu và 2 bộ tư lệnh quân tình nguyện tại Lào và Campuchia. Thời kỳ này, chỉ riêng lực lượng cơ động chiến lược đã có 5 quân đoàn, mỗi quân đoàn bình quân có 4 sư đoàn. Lực lượng mỗi quân khu có ít nhất 5 sư đoàn, riêng quân khu I có trong tay 11 sư đoàn (gồm 2 quân đoàn và nhiều sư đoàn độc lập)... Lực lượng quân tình nguyện ở Campuchia thường xuyên ở mức từ 12 đến 16 sư đoàn, tại Lào thường có 4 sư đoàn. Tổng cộng trong thời kỳ này, quân đội Việt Nam có trong tay từ 70-80 sư đoàn bộ binh, nhiều sư đoàn quân binh chủng.
Tuy vậy, thời kỳ này, một số đơn vị quân đội có hiện tượng duy trì kỷ luật không tốt, có những đơn vị tình trạng chiến sĩ đào ngũ khá phổ biến. Các đơn vị bộ đội tại Campuchia thường chỉ được biên chế 60-70% quân số
Theo C.Thayer, tổng viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trong giai đoạn từ 1974 - 1989 lên đến chừng 14,5 tỷ đô la. Nhờ đó, trang bị của quân đội Việt Nam rất dồi dào và tương đối hiện đại. Một số tài liệu đánh giá đến năm 1985, riêng không quân đã có đến 1.000 máy bay, lực lượng xe tăng, xe thiết giáp có 3.000 chiếc.
Đây là giai đoạn Quân đội Nhân dân Việt Nam được đánh giá là mạnh nhất trong khu vực, có lực lượng thiện chiến, quân số đông, kỹ năng tác chiến cao. Tuy chính sách của nhà nước Việt Nam không tiến hành đe dọa an ninh với các nước trong khu vực nhưng việc quân đội Việt Nam có quân số đông cùng với việc đóng quân ở Campuchia và Lào đã khiến các nước Đông Nam Á nhất là Thái Lan lo sợ một cuộc xâm lược lớn từ Việt Nam. Tuy nhiên việc duy trì lực lượng quân đội lớn tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam. Giai đoạn này, quân đội Việt Nam tiếp tục tham chiến tiêu diệt tàn quân du kích Khmer Đỏ của Campuchia; đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm của Trung Quốc, đồng thời cũng có nhiều đợt xung đột với Thái Lan.
=== Thời kỳ cải cách mở cửa (từ 1989-2000). ===
Đợt cắt giảm đầu tiên là vào năm 1987, quân đội Việt Nam đã giảm hơn 600.000 quân, giải thể toàn bộ các quân đoàn của quân khu, chế độ nghĩa vụ quân sự không còn gắt gao như trước, thời gian thực hiện nghĩa vụ cũng giảm gần một nửa. Việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và rút quân khỏi Campuchia tạo điều kiện cho Việt Nam giảm số quân trường trực. Gần 30 năm tiếp theo, quân đội Việt Nam tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế, chuyển nhiều đơn vị sang thực hiện nhiệm vụ kinh tế quốc phòng, giảm số đơn vị sẵn sàng chiến đấu chuyển sang dự bị động viên.
Theo một số ước tính bên ngoài, hiện nay quân đội Việt Nam có hơn 400.000 quân bộ binh, hơn 50.000 lính hải quân và hơn 30.000 lính không quân, chưa kể sự yểm trợ của 60.000 bộ đội biên phòng, 260.000 công an, cảnh sát, 5 triệu quân dự bị động viên và hàng triệu dân quân tự vệ trên khắp đất nước.
Theo số liệu do Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố ngày 30/9/2013 cho tùy viên quốc phòng, tùy viên quân sự các nước thì lực lượng thường trực của Quân đội Nhân dân Việt Nam gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với tổng quân số khoảng 450.000 người và lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người.
Ước tính tương đối quân đội Việt Nam hiện nay có khoảng 600.000 quân nhân, Quân đội được duy trì trên ba nguồn: Sĩ quan, Quân nhân chuyên nghiệp và chiến sĩ nghĩa vụ. Một ước tính định lượng cho thấy: Lực lượng chiến sĩ nghĩa vụ hàng năm tuyển từ 100.000-110.000 người, với thời hạn tại ngũ thời bình là 2 năm do đó sẽ có 200.000-220.000 lính nghĩa vụ tại ngũ. Số học viên sĩ quan được tuyển dụng hàng năm khoảng từ 6.000-7000 người, thời hạn tại ngũ bình quân là 35 năm, số sĩ quan tại ngũ ước tính khoảng trên 200.000 người. Quân nhân chuyên nghiệp chủ yếu ở các quân binh chủng, tổng cục, nhà máy, có quân số khoảng 120.000-150.000 người. Tổng lực lượng khoảng từ 550.000-600.000 người. Nhìn chung, tuy đã cắt giảm nhiều xong Quân đội Việt Nam vẫn là một trong những lực lượng vũ trang lớn trên thế giới, nhưng tính chung lực lượng sẵn sàng chiến đấu không nhiều, phần lớn là các đơn vị khung thường trực. Trong tình huống xảy ra chiến tranh, để biên chế đầy đủ toàn bộ các đơn vị khung thường trực trong cả nước, cần ít nhất 1,2 triệu quân tại ngũ.
=== Hiện đại hóa từ năm 2000 đến nay ===
Với sự phát triển kinh tế trong thập niên đầu của thế kỷ 21, Việt Nam đang dần đầu tư mạnh và hiện đại hóa quân đội. Hiện đại hóa quân đội là tư tưởng chỉ đạo qua hai khóa Đại hội Đảng năm 2001-2006, 2006-2011. Từ năm 2012 đến năm 2015, Việt Nam sẽ trở thành một trong 3 nước nhập khẩu vũ khí của Nga nhiều nhất. Là một thành viên của ASEAN, thực lực quân sự của Việt Nam được các nước trong ASEAN rất coi trọng. Hiện nay, trình độ trang bị công nghệ cao của Quân đội Việt Nam chưa được hoàn thiện, nhưng Hải, Lục, Không quân Việt Nam vẫn có một số vũ khí hiện đại. Hơn nữa với kinh nghiệm của mình trong các cuộc chiến tranh đã trải qua, Việt Nam được đánh giá là có lực lượng quân đội thiện chiến nhất trong khu vực, có thể hành động hiệu quả khi xung đột vũ trang xảy ra. Tới năm 2016, quan hệ quân sự Việt-Mỹ thực sự được bình thường hóa khi phía Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam.
== Tham chiến ==
=== Các cuộc chiến tranh ===
Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu liên tục từ 1944 đến 1989 với 5 trong số các cường quốc trên thế giới bao gồm Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc:
Chiến tranh thế giới thứ hai (Chống lại sự chiếm đóng của Đế quốc Pháp và Đế quốc Nhật Bản tại Việt Nam và Đông Dương)
Chiến tranh Thái Bình Dương (Chống lại sự xâm lược của Đế quốc Nhật Bản tại Việt Nam và Đông Dương)
Nam Bộ kháng chiến (Chống quân đội Anh, Pháp, Nhật đóng quân tại Nam Bộ)
Kháng chiến chống Pháp (Chống lại Cộng hòa Pháp và các đồng minh tại 3 nước Đông Dương)
Chiến tranh Việt Nam (Chống lại Quân đội Hoa Kỳ và các đồng minh khác tại 3 nước Đông Dương)
Nội chiến Campuchia (Hỗ trợ lực lượng Khmer Đỏ chống lại chính phủ Cộng hòa Khmer được hậu thuẫn bởi Hoa Kỳ)
Nội chiến Lào (Hỗ trợ lực lượng Pathet Lào chống lại chính phủ Vương quốc Lào được hậu thuẫn bởi Pháp và Hoa Kỳ)
Chiến tranh biên giới Việt Nam-Campuchia (Chống lại lực lượng diệt chủng Khmer Đỏ được hậu thuẫn bởi Trung Quốc)
Chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc (Chống lại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)
Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990 (Chống lại sự xâm lấn biên giới của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa)
Xung đột Thái Lan-Việt Nam 1982-1988 (Chống lại Vương quốc Thái Lan và Khmer Đỏ)
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan (Chống lại Vương Quốc Thái Lan xâm lược Lào bảo vệ đồng minh Cộng Hòa Dân chủ Nhân dân Lào)
Xung đột năm 1997 tại Campuchia (Chống lại Khmer Đỏ và bảo vệ đồng minh Vương Quốc Campuchia)
Xung đột tại Lào, xung đột tại Lào từ năm 1975 (Chống lại người Hmong nổi dậy và bảo vệ đồng minh Cộng Hòa Dân chủ Nhân dân Lào)
=== Các trận đánh/chiến dịch quan trọng ===
Cách mạng tháng Tám
Trận Hà Nội 1946
Chiến dịch Việt Bắc 1947
Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng 1949
Chiến dịch Biên giới 1950
Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (Chiến dịch đường 18) 1951
Chiến dịch Hòa Bình 1952
Chiến dịch Tây Bắc 1952
Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 (chấm dứt Chiến tranh Đông Dương)
Trận Ấp Bắc 1963
Chiến dịch Bình Giã cuối 1964 đầu 1965
Chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction City 1967
Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968
Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh 1968
Chiến dịch đường 9 - Nam Lào 1971
Chiến dịch Xuân hè 1972
Trận cầu Hàm Rồng
Chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (trận Điện Biên Phủ trên không) 1972
Chiến dịch Tây Nguyên 1975
Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 (hoàn thành Kháng chiến chống Mỹ cứu nước)
Chiến tranh biên giới Tây Nam 1978-1979 (Chiến tranh Việt Nam-Campuchia)
Chiến tranh biên giới Việt - Trung, 1979
Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990
Giao tranh gần biên giới Thái Lan
Hải chiến Trường Sa 1988
Giao tranh biên giới Lào-Thái Lan
== Các tướng lĩnh tiêu biểu ==
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đầu tiên
Đại tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu Trưởng đầu tiên
Đại tướng Lê Đức Anh, Chủ tịch Nước
Đại tướng Chu Huy Mân, Phó Chủ tịch Nước
Đại tướng Nguyễn Quyết, Phó Chủ tịch Nước
Thượng tướng Chu Văn Tấn, chỉ huy Cứu quốc quân
Thượng tướng Trần Văn Trà, tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
Thượng tướng Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Trung tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh Nam Bộ - Trung tướng đầu tiên
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, tư lệnh Binh đoàn 559, Phó Thủ tướng.
Đại tướng Lê Trọng Tấn, Tổng Tham mưu trưởng (1978-1986)
Thiếu tướng Dương Văn Dương, Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên
Thiếu tướng Hoàng Sâm, đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, vị tướng quân đầu tiên
Thiếu tướng Nguyễn Sơn, lưỡng quốc tướng quân
Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, nữ tướng đầu tiên, phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
== Tổ chức ==
Xem thêm bài: Tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam
Theo Luật Quốc phòng năm 2005 (luật số 39/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005), Quân đội nhân dân là một bộ phận và là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Lực lượng Thường trực và Lực lượng Dự bị Động viên. Lực lượng Thường trực của Quân đội nhân dân có Bộ đội Chủ lực, Bộ đội Địa phương và Bộ đội Biên phòng. Cấp tổ chức của Quân đội Nhân dân Việt Nam từ thấp đến cao là Tiểu đội, Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Lữ đoàn, Sư đoàn (trước đây gọi là Đại đoàn). Cấp cao nhất là Quân đoàn, hiện nay có 4 quân đoàn là các quân đoàn 1, 2, 3, 4. Đây chính là quân chủ lực cơ động.
Từ cấp tiểu đoàn trở lên có ban chỉ huy gồm cấp trưởng, cấp phó, tham mưu trưởng và cấp phó phụ trách công tác chính trị, theo chế độ một thủ trưởng.
Trước đây, khi thực hiện chế độ "2 thủ trưởng", thì ngoài thủ trưởng quân sự (đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng...), từ cấp đại đội trở lên còn có thủ trưởng chính trị, được gọi là chính trị viên (ở cấp đại đội và tiểu đoàn) hoặc chính ủy (ở cấp trung đoàn trở lên). Cấp thủ trưởng chính trị này từ sau Chiến tranh Việt Nam đã chuyển thành cấp phó phụ trách công tác chính trị.
Theo nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ X, chế độ chính ủy - chính trị viên lại được khôi phục trong toàn quân từ năm 2006.
== Lãnh đạo ==
Xem thêm: Danh sách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam
Chủ tịch nước có vai trò là Thống lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam thông qua Hội đồng Quốc phòng và An ninh Việt Nam. Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về nhiệm vụ Quốc phòng, An ninh. Tuy nhiên Quân đội Nhân dân chịu sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy trong quân đội là Quân ủy Trung ương.
Các chức vụ cao nhất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam gồm Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng, có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng. Ngoài ra, trước đây từng có chức vụ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang do đại tướng Võ Nguyên Giáp nắm giữ.
Đảng ủy Quân sự Trung ương, gọi tắt là Quân ủy Trung ương, là cơ quan lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập vào tháng 1 năm 1946 do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp làm Bí thư Quân ủy Trung ương.
Ngoài ra còn có Tòa án quân sự Trung ương và Viện Kiểm sát quân sự Trung ương là 2 cơ quan chức năng trực thuộc ngành Tư pháp và Kiểm sát hoạt động trong quân đội.
== Cấp bậc quân hàm ==
Xem thêm: Quân hàm Quân đội Nhân dân Việt Nam
Theo Lệnh số 32/2014/L-CTN ngày 09/12/2014 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc công bố Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 27/11/2014, các cấp bậc của Quân đội Nhân dân Việt Nam được quy định như sau:
Màu viền của quân hàm thể hiện các quân chủng:
Lục quân: màu đỏ tươi
Phòng không - Không quân: màu xanh da trời
Hải quân: màu tím than
Màu nền là màu vàng.
Quân hàm Bộ đội biên phòng có màu viền là màu đỏ tươi tương tự như Lục quân, nhưng có màu nền xanh lá cây.
Quân hàm Cảnh sát biển có màu viền vàng nhưng có màu nền là màu xanh nước biển.
== Phù hiệu ==
Theo quy định năm 2009 thì Quân đội Nhân dân Việt Nam có 25 loại phù hiệu ngành, quân chủng, binh chủng sau đây:
Binh chủng hợp thành - Bộ binh: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo. Khẩu súng và thanh kiếm có màu vàng trên nền phù hiệu hình chữ nhật có màu đỏ.
Cơ giới: hình xe bọc thép đặt trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.
Đặc công: hình dao găm đặt trên khối bộc phá, dưới có mũi tên vòng.
Tăng - Thiết giáp: hình xe tăng nhìn ngang.
Pháo binh: hình hai nòng pháo thần công đặt chéo.
Hóa học: hình tia phóng xạ trên hình nhân ben-zen.
Công binh: hình cuốc, xẻng trên nửa bánh xe răng.
Thông tin: Hình sóng điện.
Biên phòng: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, trên vòng tròn không khép kín, dưới hình vòng cung có ký hiệu đường biên giới quốc gia.
Phòng không - Không quân: hình sao trên đôi cánh chim.
Nhảy dù: hình máy bay trên dù đang mở.
Tên lửa: hình tên lửa trên nền mây.
Cao xạ: hình khẩu pháo cao xạ.
Radar: hình cánh ra-đa trên bệ.
Hải quân: hình mỏ neo.
Hải quân đánh bộ: hình mỏ neo trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.
Cánh sát biển: hình tròn, xung quanh có hai bông lúa dập nổi màu vàng, ở giữa có hình mỏ neo màu xanh dương và chữ CSB màu đỏ.
Hậu cần - Tài chính: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, dưới có bông lúa.
Quân y, thú y: hình chữ thập đỏ trong hình tròn.
Kỹ thuật: hình com-pa trên chiếc búa.
Lái xe: hình tay lái trên nhíp xe.
Quân pháp: hình mộc trên hai thanh kiếm đặt chéo.
Quân nhạc: hình chiếc kèn và sáo đặt chéo.
Thể dục thể thao: hình cung tên.
Văn hóa nghệ thuật: hình biểu tượng âm nhạc và cây đàn.
== Trang phục ==
Ngày 26 tháng 8 năm 2009, Thủ tướng Việt Nam ra Quyết định số 109/2009/QĐ-TTg quy định về quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu lễ phục của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Từ ngày 22 tháng 12 năm 2009, các sĩ quan Việt Nam cũng sử dụng quân phục mới kiểu K-08.
== Vũ khí, khí tài quân sự ==
Quân đội nhân dân Việt Nam không công khai các thông tin về vũ khí, khí tài của mình nên việc biết chính xác các thông tin này dường như là điều không thể. Hiện nay Quân đội nhân dân Việt Nam đang sở hữu một lượng vũ khí lớn, một phần là từ thời Chiến tranh Việt Nam. Vũ khí được sử dụng chủ yếu là từ Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ (Do năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tịch thu một số lượng vũ khí tương đối lớn do Hoa Kỳ viện trợ cho quân đội Sài Gòn trước đó). Từ năm 1990 trở đi, các bạn hàng vũ khí của Việt Nam được mở rộng, cả với Ấn Độ, Israel, Triều Tiên, Nga, Hàn Quốc...
Trong suốt Chiến tranh Việt Nam (1965-1975) và Chiến tranh biên giới Tây Nam (1979-1989), Việt Nam hầu như dựa hoàn toàn vào các hệ thống vũ khí trang bị có nguồn gốc từ Liên bang Xô viết. Kể từ sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, đã kết thúc giai đoạn "bán rẻ như cho" và Việt Nam bắt đầu phải thanh toán tiền mua vũ khí trang bị bằng ngoại tệ mạnh hoặc bằng hàng đổi hàng.
Việt Nam đã đặt việc phát triển kinh tế lên hàng đầu và chỉ duy trì mức tăng chi tiêu quốc phòng một cách nhỏ giọt. Việt Nam không tiến hành các đợt mua sắm hay nâng cấp vũ khí lớn. Phải tới tận cuối những năm 1990, Chính phủ Việt Nam công bố một loạt các chương trình mua sắm các hệ thống vũ khí trang bị hiện đại. Theo đó, Việt Nam chậm rãi phát triển hải quân và không quân để kiểm soát các vùng nước nông và vùng đặc quyền kinh tế.
Hầu hết các chương trình mua sắm quốc phòng chủ yếu được thực hiện để đảm bảo ưu tiên này. Việt Nam đã mua một số máy bay chiến đấu và tàu chiến có khả năng tác chiến cao. Việt Nam cũng lên kế hoạch phát triển nền công nghiệp quốc phòng với ưu tiên cho hải quân, có sự kết hợp với các đồng minh cũ (Nga, các nước Đông Âu) và Ấn Độ.
== Trang bị của Quân chủng Lục quân ==
=== Xe tăng, Pháo tự hành ===
Liên Xô T-34 Chủ yếu dùng để huấn luyện (50)
Liên Xô T-54/55 Xe tăng chiến đấu chủ lực (850)
Israel/ Việt Nam T-55M3 Xe tăng chiến đấu chủ lực (thử nghiệm)
Trung Quốc T-59 Xe tăng chiến đấu chủ lực (360)
Trung Quốc K62 Xe tăng hạng nhẹ (130)
Liên Xô T-62 Xe tăng chiến đấu chủ lực (220)
Liên Xô PT-76 Xe tăng lội nước hạng nhẹ (khoảng 300)
Trung Quốc K63 Xe tăng lội nước (150)
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên PT-85 Xe tăng lội nước hạng nhẹ (110)
Liên Xô SU-100 Pháo tự hành 100 mm (100)
Liên Xô 2S1 Gvozdika Pháo tự hành 122 mm (100-150)
Liên Xô 2S3 Akatsiya Pháo tự hành 152 mm (50-70)
Liên Xô ZSU-23-4 Shilka pháo phòng không tự hành 23mm 4 nòng (100)
Liên Xô ASU-85 Pháo tự hành đổ bộ đường không 85 mm (?)
==== Vũ khí loại bỏ ====
Hoa Kỳ M41 Walker Buldog
Hoa Kỳ M48 Patton Xe tăng hạng trung (dự bị)
Liên Xô ZSU-57-2 Pháo phòng không tự hành 57mm 2 nòng
=== Xe bộ binh ===
Liên Xô BMP-1 Xe chiến đấu bộ binh (150)
Liên Xô BMP-2 Xe chiến đấu bộ binh (150)
Liên Xô BTR-50 Xe thiết giáp chở quân (300)
Liên Xô BTR-60 Xe thiết giáp chở quân (500)
Liên Xô BTR-152 Xe thiết giáp chở quân
Liên Xô BRDM-1 Xe thiết giáp trinh sát (200)
Liên Xô BRDM-2 Xe thiết giáp trinh sát (480)
Hoa Kỳ M-113 Xe thiết giáp chở quân (500)
Israel RAM-2000 Xe thiết giáp chống mìn (100)
Hoa Kỳ V-100 Xe thiết giáp hạng nhẹ (300)
Hoa Kỳ V-150 Xe thiết giáp hạng nhẹ (200)
==== Vũ khí loại bỏ ====
Trung Quốc K63 Xe thiết giáp chở quân
Liên Xô BTR-40 Xe thiết giáp chở quân
=== Súng cối - Pháo ===
Liên Xô S-60 Pháo phòng không 57mm
Liên Xô 61-K Pháo phòng không 37mm
Liên Xô ZU-23-2 Pháo phòng không 23mm 2 nòng
Việt Nam Súng cối giảm âm 50mm
Liên Xô Súng cối 60mm (nhiều phiên bản)
Liên Xô Súng cối 82mm (nhiều phiên bản)
Trung Quốc Súng cối 100mm
Liên Xô 120-PM-38M Súng cối 120 mm.
Liên Xô 120-PM-43 Súng cối 120mm
Liên Xô 2B11 Súng cối 120 mm
Liên Xô M-160 Súng cối 160mm
Liên Xô SPG-9 Pháo không giật 73mm
Liên Xô B-10 Pháo không giật 82mm
Liên Xô D-44 Pháo bắn thẳng 85mm
Liên Xô BS-3 Lựu pháo 100mm
Hoa Kỳ M2A1 Lựu pháo 105mm
Liên Xô D-74 Lựu pháo 122 mm
Liên Xô D-30 Lựu pháo 122mm (450)
Liên Xô M-46 Lựu pháo 130mm (250)
Liên Xô D-20 Lựu pháo 152mm (350)
Hoa Kỳ M114 Lựu pháo 155mm (100)
Hoa Kỳ M107 Pháo tự hành 175mm
Liên Xô BM-14 Pháo phản lực 140mm 16 ống (400)
Liên Xô BM-21 Pháo phản lực 122mm 40 ống (400)
Liên Xô/ Trung Quốc H-12 Pháo phản lực 106,7mm 12 ống
Liên Xô ĐKB Pháo phản lực mang vác 122mm (1 ống phóng đơn phóng đạn BM-21)
==== Vũ khí loại bỏ ====
Liên Xô BM-13 Pháo phản lực phóng loạt 132mm 16 ống
Hoa Kỳ M-40 Pháo không giật 106mm
Liên Xô B-11 Pháo không giật 107mm
Liên Xô KS-19 100 mm Pháo phòng không tầm cao 100 mm.
Liên Xô/ Trung Quốc K-63 Pháo phòng không tự hành K-63 37 mm
=== Tên lửa chống tăng ===
Liên Xô 9M14 Malyutka Tên lửa chống tăng
Liên Xô 9K111 Fagot Tên lửa chống tăng
Liên Xô 9M113 Konkurs Tên lửa chống tăng
Nga 9K114 Shturm Tên lửa chống tăng (sử dụng phiên bản hải quân SHTURM-Ataka trang bị cho các Tàu tuần tra cao tốc Mirage mua của Nga)
=== Tên lửa đạn đạo ===
Liên Xô R-17 Scud-B Tên lửa đạn đạo tầm ngắn
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Hwasong-6 Tên lửa đạn đạo tầm ngắn
=== Vũ khí bộ binh ===
==== Súng ngắn ====
Liên Xô TT-33 Súng ngắn 7,62x25mm
Liên Xô PM Súng ngắn 9x18mm
Liên Xô Stechkin APS Súng ngắn tự động 9x18mm (trang bị cho đặc công)
Liên Xô K-67 Súng ngắn giảm thanh
Việt Nam Súng ám sát 2 nòng 7,62mm MCP
Tiệp Khắc CZ 52 Súng ngắn 7,62x25mm
Tiệp Khắc CZ 83 Súng ngắn (biến thể xuất khẩu của CZ 82, CZ 82 lại là phiên bản của PM nhưng tăng số đạn trong hộp tiếp đạn lên 12 viên)
Cộng hòa Séc CZ 75 Súng ngắn 9 mm, trang bị cho Cảnh sát
Ý Beretta M9 Súng ngắn 9 mm, trang bị cho Cảnh sát và KSQS.
Hoa Kỳ M-1911A1 Súng ngắn.45ACP
==== Súng trường ====
Liên Xô/ Việt Nam AK-47/AKS Súng trường tấn công
Liên Xô/ Việt Nam AKM/AKMS Súng trường tấn công
Hungary AMD 65 Súng trường tấn công (biến thể AKM)
Ba Lan Kbkg wz. 1960 Súng trường tấn công (biến thể AK-47)
Tiệp Khắc vz. 58 Súng trường tấn công (biến thể AK-47)
România AIM/AIMS Súng trường tấn công (biến thể AKM/AKMS)
Trung Quốc/ Việt Nam K-56 Súng trường tấn công (biến thể AK-47)
Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên K-58 Súng trường tấn công (biến thể AK-47)
Việt Nam STL-1A Súng trường tấn công cải tiến từ AKM, có báng nhựa gấp được và ống đầu nòng bù giật của AK-74, có ray ở phía dưới ốp lót tay và ở má trái súng để lắp khí tài quang học và súng phóng lựu M-203 của Mỹ. Một phiên bản khác được sản xuất với báng nhựa cố định nhằm trang bị cho lính nghĩa vụ.
Israel/ Việt Nam Galil ACE 31/32 Súng trường tấn công
Liên Xô AK-74 Súng trường tấn công (trang bị hạn chế cho hải quân và lữ đoàn 144)
Liên Xô APS Súng trường tấn công dưới nước (trang bị cho lực lượng đặc công nước, đặc công người nhái)
Hoa Kỳ M16A1 Súng trường tấn công
Hoa Kỳ CAR-15 Súng carbine (trang bị cho đặc công, cảnh sát biển, đặc nhiệm quân báo)
Việt Nam M-18 Súng carbine, biến thể của CAR-15 được Việt Nam cải tiến.
Israel TAR-21 Súng trường tấn công (trang bị cho hải quân đánh bộ)
Liên Xô CKC Súng trường bán tự động (trang bị cho dân quân tự vệ)
Belgium FN FNC Súng trường tấn công (trang bị cho đội tuyển bắn súng).
==== Súng tiểu liên ====
Đức Heckler & Koch MP5 Súng tiểu liên (trang bị cho lực lượng cảnh sát cơ động)
Israel Uzi Súng tiểu liên (trang bị cho đặc công), chủ yếu là phiên bản Mini Uzi và Micro Uzi gắn ống ngắm MARS. Phiên bản nội địa mang tên tiểu liên K-12.
Ba Lan PM-63 Súng tiểu liên
Tây Đức/ Pakistan MP5K Súng tiểu liên (Các đơn vị cảnh sát và đặc công là chủ yếu).
==== Súng bắn tỉa ====
Israel IMI Galatz Súng bắn tỉa 7,62 mm
Tây Đức PSG-1 Súng bắn tỉa 7,62 mm (Các đơn vị cảnh sát đặc nhiệm)
Liên Xô Mosin-Nagant Biến thể bắn tỉa chuyên dụng của phiên bản M91/30, dùng kính ngắm PU (trang bị cho dân quân).
Liên Xô SVD Súng bắn tỉa 7,62mm
Nga SVU Phiên bản khóa nòng sau cò của SVD (trang bị cho đặc công)
Việt Nam Súng bắn tỉa hạng nặng 12,7mm (Phát triển, cải tiến từ mẫu KSVK của Nga)
România PSL Phiên bản SVD của Romania.
==== Súng máy hạng trung và nặng ====
Liên Xô KPV Súng máy hạng nặng 14,5 mm
Liên Xô DShK Súng máy hạng nặng 12,7mm
Liên Xô NSV Súng máy hạng nặng 12,7mm
Liên Xô PK/PKM súng máy đa chức năng 7.62 mm
Liên Xô RPD Súng máy cá nhân 7,62mm
Liên Xô RPK Súng máy cá nhân 7,62mm
Nga RPK-74 Súng máy cá nhân 5.45mm (dùng cho Hải Quân đánh bộ và đặc công)
Israel IMI Negev Commando Súng máy cá nhân 5,56mm (trang bị cho hải quân đánh bộ)
Hoa Kỳ FN M249 Minimi Mk3 Súng máy cá nhân 5,56mm (trang bị cho đội tuyển bắn súng)
==== Súng phóng lựu ====
Liên Xô/ Việt Nam RPG-2 Súng phóng lựu chống tăng (trang bị cho dân quân).
Liên Xô/ Việt Nam RPG-7V Súng phóng lựu chống tăng.
Nga/ Việt Nam RPG-29 Súng phóng lựu chống tăng
Nga RPO Shmel Súng phóng đạn nhiệt áp
Hoa Kỳ M-72 Súng chống tăng, hiện đã cải biến thành súng phóng đạn cháy
Hoa Kỳ M79 Súng phóng lựu chống bộ binh
Hoa Kỳ M203 Súng phóng lựu (được lắp trên súng trường tấn công và súng carbine)
Liên Xô/ Nga GP-25 Súng phóng lựu (trang bị cho đặc công, được lắp trên súng trường tấn công và súng carbine)
Liên Xô AGS-17 Súng phóng lựu tự động
Nga DP-64 Súng phóng lựu chống mục tiêu ngầm (trang bị trên Tàu tuần tra cao tốc Mirage để chống tàu ngầm và người nhái)
Việt Nam Milkor MGL Súng phóng lựu ổ quay 6 viên, được tổng cục công nghiệp quốc phòng chế tạo theo mẫu của Nam Phi
Israel Matador Súng chống tăng vác vai 90 mm (trang bị cho Hải quân Đánh bộ)
==== Khác ====
Liên Xô MP-133 Súng shotgun
Liên Xô KS-23 Súng shotgun
Liên Xô LPO-50 Súng phun lửa
==== Vũ khí loại bỏ ====
Hoa Kỳ Browning Hi-Power Súng ngắn 9x18 mm
Hoa Kỳ Smith & Wesson Model 10 Súng ngắn.38/200
Liên Xô Nagant M1895 Súng ngắn ổ xoay
Đế quốc Nhật Bản Shiki 26 Súng ngắn ổ xoay
Đế quốc Nhật Bản Nambu Shiki 14 Súng ngắn
Đế quốc Nhật Bản Type 100 Súng tiểu liên
Pháp MAT-49 Súng tiểu liên
Hoa Kỳ Thompson Súng tiểu liên.
Hoa Kỳ M3 Grease Gun Súng tiểu liên
Anh Quốc Sten Súng tiểu liên
Đức Quốc xã MP-40 Súng tiểu liên
Việt Nam K-50M súng tiểu liên (sao chép PPSh-41 và sử dụng phụ kiện của PPS-43)
Liên Xô PPSh-41 Súng tiểu liên
Liên Xô PPS-43 Súng tiểu liên
Liên Xô Mosin Nagant Súng trường chiến đấu.
Liên Xô SVT-40 Súng trường chiến đấu
Anh Quốc Lee-Enfield Súng trường chiến đấu
Đức Quốc xã Karabiner 98k Súng trường chiến đấu
Hoa Kỳ M1903 Springfield Súng trường chiến đấu
Hoa Kỳ M1 Súng Carbine
Hoa Kỳ M1 Garand Súng trường chiến đấu
Hoa Kỳ M14 Súng trường chiến đấu
Đế quốc Nhật Bản Arisaka kiểu 99 Súng trường chiến đấu
Đế quốc Nhật Bản Arisaka kiểu 38 Súng trường chiến đấu
Pháp MAS-36 Súng trường chiến đấu
Pháp MAS-49 Súng trường chiến đấu
Liên Xô Maxim M1910 Súng máy hạng nặng 7,62 mm
Liên Xô SG-43 Súng máy hạng nặng 7,62mm
Liên Xô DS-39 Súng máy hạng nặng 7,62mm
Hoa Kỳ M1919 Súng máy hạng nặng 7.62mm
Hoa Kỳ Browning M1917 Súng máy hạng nặng 7.62mm
Hoa Kỳ Browning M2 Súng máy hạng nặng 12,7 mm
Hoa Kỳ M1918 BAR Súng máy cá nhân 7,62 mm
Hoa Kỳ M60 Súng máy cá nhân 7,62 mm
Đế quốc Nhật Bản Shiki 11 (LMG) Súng máy cá nhân 6,5 mm
Đế quốc Nhật Bản Shiki 99 (LMG) Súng máy cá nhân 7,7 mm
Pháp FM 24/29, súng máy cá nhân 7,5 mm
Liên Xô DP Súng máy cá nhân 7,62mm
Anh Quốc Bren Súng máy cá nhân 7,62 mm
Đức Quốc xã MG-34 Súng máy cá nhân 7,92mm
Đức Quốc xã MG-42 Súng máy cá nhân 7,92mm
Trung Quốc Type 69 RPG Súng phóng lựu chống tăng.
== Trang bị của Quân chủng Phòng Không-Không Quân ==
=== Máy bay ===
=== Tên lửa ===
=== Vũ khí loại bỏ ===
Liên Xô Kamov Ka-25 Hormone Trực thăng chống ngầm
Liên Xô Mi-6 Hook-A Trực thăng vận tải hạng nặng
Hoa Kỳ Boeing CH-47 Chinook - Trực thăng vận tải hạng nặng
Liên Xô Yakovlev Yak-11 Máy bay huấn luyện cánh quạt
Liên Xô Yakovlev Yak-18 Máy bay huấn luyện cánh quạt
Tiệp Khắc Aero L-29 Delfín Máy bay huấn luyện phản lực
Liên Xô Antonov An-24 Coke Máy bay vận tải đường bay nội địa (chuyển giao cho Vietnam Airlines)
Liên Xô Ilyushin Il-14 Máy bay vận tải
Hoa Kỳ Douglas C-47 Skytrain Máy bay vận tải
Hoa Kỳ Lockheed Martin C-130 A/B Hercules - Máy bay vận tải bán phản lực
Liên Xô Ilyushin Il-28 Máy bay ném bom hạng trung
Liên Xô Beriev Be-12 Máy bay săn ngầm
Liên Xô Mikoyan-Gurevich MiG-17 Máy bay tiêm kích cận âm
Liên Xô Mikoyan-Gurevich MiG-19 Máy bay tiêm kích siêu âm
Liên Xô Mikoyan-Gurevich MiG-21 Máy bay tiêm kích siêu âm
Liên Xô Sukhoi Su-7 Máy bay cường kích siêu âm
Hoa Kỳ A-1 Skyraider Máy bay cường kích cánh quạt
Hoa Kỳ F-5E Freedom Fighter Máy bay tiêm kích siêu âm
Hoa Kỳ A-37 Dragonfly Máy bay cường kích siêu âm
== Trang bị của Quân chủng Hải quân ==
=== Tàu ngầm - Tàu chiến ===
Nga Gepard Hộ tống hạm cỡ lớn mang tên lửa (4 chiếc)
Liên Xô Petya II Hộ tống hạm hạng nhẹ (5 chiếc)
Nga BPS-500 Hộ tống hạm mang tên lửa (1 chiếc)
Nga Tarantul I (1241.RE) Hộ tống hạm mang tên lửa (4 chiếc)
Nga/ Việt Nam Tarantul V (1241.8) Hộ tống hạm mang tên lửa (2 chiếc đóng tại Nga, đóng 10 chiếc đóng tại Việt Nam)
Liên Xô Osa II Tàu tuần tra mang tên lửa (8 chiếc)
Liên Xô Turya, Turya PTF Tàu phóng lôi
Liên Xô Shershen PTF Tàu phóng lôi
Liên Xô Yurka Tàu quét mìn
Liên Xô Sonya Tàu quét mìn
Liên Xô Yevgenya Tàu quét mìn
Việt Nam TT400 TP Tàu tuần tra mang pháo (6 chiếc)
Nga Svetlyak Tàu tuần tra
Nga Mirage Tàu tuần tra cao tốc (4 chiếc)
Ba Lan Tàu đổ bộ lớp Polnocny
Việt Nam Tàu đổ bộ hạng nhẹ 600 tấn.
Hoa Kỳ Tàu đổ bộ LST-1/542
=== Tên lửa phòng thủ bờ biển ===
Liên Xô 4K51 RUBEZH Hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển di động, sử dụng P-15 Termit, tầm bắn 80 km.
Liên Xô 4K44 REDUT Hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển di động, sử dụng P-5 Pyatyorka, tầm bắn 500 km.
Nga K-300P Bastion-P Hệ thống tên lửa chống hạm phòng thủ bờ biển, sử dụng tên lửa P-800 Yakhont, tầm bắn 300 km.
=== Tên lửa chống hạm ===
Liên Xô P-15M Tên lửa chống hạm cận âm
Liên Xô P-5 Pyatyorka Tên lửa chống hạm siêu âm
Nga Kh-35 Tên lửa chống hạm cận âm (400 quả, đang có kế hoạch sản xuất trong nước với công nghệ chuyển giao từ Nga)
Israel Extra Đạn phản lực có dẫn đường.
Israel Accular Đạn phản lực có dẫn đường.
Nga P-800 Yakhont Tên lửa chống hạm siêu âm (40 quả)
Nga 3M-54E Tên lửa chống hạm siêu âm, phóng từ tàu ngầm Kilo Project 636M (50 quả)
=== Ngư lôi ===
Nga VA-111 Shkval Ngư lôi dành cho tàu ngầm Kilo
Liên Xô/ Nga 53-65 Ngư lôi dành cho tàu ngầm Kilo, tàu phóng lôi
=== Thủy lôi ===
Liên Xô/ Việt Nam KMP Thủy lôi chạm nổ chống tàu mặt nước
Việt Nam UĐM Thủy lôi từ trường chống tàu ngầm và tàu mặt nước.
=== Các lớp tàu ngừng sử dụng ===
Liên Xô Tàu tên lửa lớp Komar Ngừng sử dụng thập niên 1980.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Tàu ngầm lớp Yugo Tàu ngầm mini, ngừng sử dụng 2012.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Báo Quân đội Nhân dân - Tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam
Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999
Thống kê về các trận không chiến phần 1
Hải quân nhân dân Việt Nam Những ngày đầu xây dựng trên Báo Quân đội Nhân dân điện tử
Số viện trợ quân sự cho Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến tranh |
tuần lộc.txt | Tuần lộc (tên khoa học Rangifer tarandus), còn được gọi là tuần lộc ở Bắc Mỹ, thuộc họ Hươu nai ở vùng Bắc cực và gần Bắc Cực, bao gồm cả hai quần thể cư trú và di cư. Trong khi tổng thể Bắc châu Mỹ phổ biến rộng rãi và rất nhiều, một số phân loài của nó là rất hiếm và một (hoặc hai, tùy thuộc vào phân loại) đã tuyệt chủng.
== Kích thước và đặc điểm ==
Tuần lộc thay đổi đáng kể trong màu sắc và kích thước. Cả hai giới đực cái đều phát triển gạc (sừng), mặc dù ở con đực, gạc thường lớn hơn. Có một số ít con cái thiếu gạc hoàn toàn. Tuần lộc đực thường rụng sừng vào mùa đông.
== Được sử dụng ==
Sự săn bắn và chăn nuôi tuần lộc hoang dã và tuần lộc nuôi (để lấy thịt, da, sữa, gạc và dùng trong giao thông vận tải) là quan trọng đối với người ở Bắc Cực và một số người cận Bắc Cực. Thậm chí đến nay bên ngoài lãnh thổ của nó, tuần lộc cũng được biết đến nhiều do huyền thoại Mỹ phổ biến, có thể có nguồn gốc vào đầu thế kỷ 19, trong đó xe trượt tuyết của ông già Noel được kéo bởi tuần lộc bay, một yếu tố thế tục phổ biến của lễ Giáng sinh
== Phân loài ==
R. t. buskensis
R. t. caboti
R. t. caribou
R. t. granti
R. t. fennicus
R. t. groenlandicus
R. tarandus osborni
R. t. pearsoni
R. t. pearyi
R. t. phylarchus
R. t. platyrhynchus
R. t. tarandus
R. t. terraenovae
R. t. sibiricus
†R. t. dawsoni
†R. t. eogroenlandicus
== Các loài tuần lộc ==
Tuần lộc núi
Tuần lộc rừng di cư
Tuần lộc rừng Phần Lan
Tuần lộc đất
Tuần lộc Bắc Cực
Tuần lộc Rudolph Mũi đỏ
Tuần lộc Porcupine
Tuần lộc Dawson
Tuần lộc Svalbard
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Rangifer tarandus tại Wikispecies
Phương tiện liên quan tới Rangifer tarandus tại Wikimedia Commons |
cương.txt | Chi Đưng hay chi Cương (danh pháp khoa học: Scleria) là một chi thực vật có hoa thuộc họ cói, Cyperaceae. Thân thô và khá cao, gốc ba cạnh và rậm lá, đôi khi có cánh ở các góc. Scleria có ở hầu hết các khu vực ẩm ướt và đôi khi cũng mọc ở những nơi khô, mát trong rừng.
Chi có các loài sau (danh sách này có thể chưa đầy đủ - có khoảng 16 loài có ở Malaysia):
Scleria afroreflexa Lye
Scleria bancana - đưng lông, cương lông, cói ba gân hoa đặc
Scleria laevis - đưng láng, cương láng, cói ba gân quả lông
Scleria lithosperma (L.) Sw. - đưng hạt cứng
Scleria sumatrensis Retz. - đưng Sumatra, cói ba gân
Scleria terrestris - đưng đất, cương đất
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Henderson, M. R. (1954). Malayan Wild Flowers Monocotyledons. Malayan Nature Society, Kuala Lumpur.
== Liên kết ngoài == |
tháng giêng đen.txt | Tháng Giêng đen (tiếng Azerbaijan: Qara Yanvar), cũng gọi là Thứ Bảy đen hoặc Thảm sát tháng Giêng, là một cuộc đàn áp dữ dội phong trào đòi độc lập cho Azerbaijan ở Baku trong các ngày 19 và 20 tháng 1 năm 1990, trong thời kỳ Liên Xô tan rã.
Trong một nghị quyết ngày 22 tháng 1 năm 1990, Xô viết tối cao Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaijan tuyên bố rằng Nghị định của Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô ngày 19 tháng 1 năm 1990, được dùng để áp đặt chế độ cai trị trong tình trạng khẩn cấp và dàn quân ra ở Baku, là một hành động gây hấn. Tháng Giêng đen được xem như sự hồi sinh của nước Cộng hòa Azerbaijan. Đó là một trong những trường hợp ở thời glasnost và perestroika mà Liên Xô sử dụng vũ lực chống những người bất đồng chính kiến.
== Các sự kiện ==
Trong tháng 12 năm 1989, những người Azerbaijan sống ở vùng giáp giới Iran đã phá tan hàng rào biên giới, đòi hỏi mối quan hệ gần gũi hơn với những người Azerbaijan thiểu số sống ở Iran. Các nhà chức trách địa phương ở Cəlilabad đã đầu hàng những người nổi loạn, chuyển giao việc cai trị cho Mặt trận Nhân dân Azerbaijan. Tiếp theo là việc chuyển giao quyền cai trị ở Lankaran cho "Mặt trận Nhân dân Azerbaijan" 2 tuần lễ sau, mà không có bạo lực.
Ngày 9.1.1990, Xô Viết tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô viết Armenia đã bỏ phiếu đưa vùng Nagorno-Karabakh vào trong ngân sách của mình và cho phép cư dân vùng này bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử ở Armenia, do đó bất chấp chính quyền Liên Xô cùng thẩm quyền pháp lý của Azerbaijan, và gây ra cơn giận dữ khắp nước Azerbaijan. Việc này đã dẫn tới các cuộc biểu tình đòi lật đổ các viên chức cán bộ cộng sản Azerbaijan, kêu gọi độc lập, tách khỏi Liên Xô. Theo một báo cáo của tổ chức Theo dõi Nhân quyền thì các cuộc biểu tình biểu lộ ý chí "chống Armenia mạnh mẽ".
Ngày 12.1.1990 Mặt trận Nhân dân đã lập ra "Ủy ban bảo vệ quốc gia" có các văn phòng ở Baku và các chi nhánh ở các nhà máy để huy động nhân dân nhằm chiến đấu chống lại người Armenia. Chính quyền địa phương Azerbaijan không thể tái lập trật tự vì tranh cãi nội bộ và chia rẽ đã làm tê liệt khả năng hành động của họ. Nhà chức trách Azerbaijan cũng ra lệnh cho 12.000 binh sĩ của Bộ Nội vụ tránh can thiệp vào các cuộc bạo loạn ở Baku.Nhiều đơn vị quân đội Liên Xô và hạm đội đồn trú ở Baku cùng tiểu hạm đội Caspi cũng đã không can thiệp để ngăn chặn các cuộc bạo loạn, nói rằng họ không nhận được lệnh từ nhà chức trách Moskva.
Ngày 13.1.1990, một cuộc bạo loạn cướp phá (pogrom) lớn chống người Armenia ở Baku bắt đầu nổ ra, làm chết 90 người, trong khi hàng ngàn người khác phải chạy trốn hoặc được quân đội Liên Xô di tản đi nơi khác.
Ngày 15.1.1990, chính quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở các vùng khác của Azerbaijan (nhưng không ở Baku), và hoạt động bạo loạn cướp phá bắt đầu giảm dần. Cùng lúc đó, do lo sợ một sự can thiệp của chính quyền trung ương Liên Xô, các nhà hoạt động Mặt trận Nhân dân bắt đầu tiến hành một cuộc phong tỏa các doanh trại quân đội. Trên thực tế, họ đã nắm quyền kiểm soát nhiều vùng của Azerbaijan.
Ngày 18.1.1990, Mặt trận Nhân dân ra lệnh cho các ủng hộ viên đặt chướng ngại vật ở các đường chính đi vào Baku bằng cách sử dụng hàng trăm xe ô tô, xe tải và xe buýt. Ngày hôm sau, chính quyền Liên Xô đã di tản các đại diện của mình cùng các quan chức địa phương vào các sở chỉ huy quân sự ở vùng ngoại ô của thành phố, nơi Bộ trưởng bộ Quốc phòng Liên Xô Dmitry Yazov và Bộ trưởng bộ Nội vụ Vadim Bakatin đã có mặt.
Khuya đêm 19.1.1990, sau khi lực lượng đặc biệt Liên Xô cho nổ tung đài truyền hình trung ương và cúp các đường dây liên lạc điện thoại và vô tuyến, thì 26.000 quân Liên Xô phá nát các chướng ngại vật tiến vào Baku, để dẹp tan Mặt trận Nhân dân Azerbaijan. Theo như Mikhail Sergeyevich Gorbachyov tuyên bố, thì những tay súng của Mặt trận Nhân dân Azerbaijan đã bắn vào các người lính Liên Xô; tuy nhiên, theo phát hiện của tổ chức phi chính phủ "Shield" (Lá chắn) ở Moskva thì không tìm thấy bằng chứng về "các chiến binh vũ trang của Mặt trận Nhân dân Azerbaijan", điều đã được sử dụng như là lý do để đàn áp dân chúng vào ngày 20.1.1990.
Tổ chức độc lập phi chính phủ "Shield" - gồm một nhóm luật sư và sĩ quan trừ bị, quan sát những vi phạm nhân quyền trong quân đội và ở những cuộc hành quân - đã kết luận rằng quân đội (Liên Xô) đã tiến hành một cuộc chiến tranh đối với thường dân của mình, và yêu cầu mở một cuộc điều tra hình sự đối với Bộ trưởng bộ Quốc phòng Dmitry Yazov, người đã đích thân chỉ huy cuộc hành quân này. Những viên chức bộ Nội vụ Azerbaijan đã giúp các nhà hoạt động của Mặt trận Nhân dân trong việc gây mất trật tự bằng cách cung cấp cho họ vũ khí, các phương tiện kỹ thuật, và báo tin cho họ biết hoạt động của các đơn vị quân đội.
Tuyên bố của Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô, do Tổng thống Mikhail Sergeyevich Gorbachyov ký tên cho thấy trong quá trình lao vào tấn công ồ ạt, quân đội đã tấn công những người biểu tình, bắn vào đám đông. Việc nổ súng vẫn tiếp tục trong 3 ngày. Quân đội đã hành động theo tình trạng khẩn cấp, được duy trì tiếp tục trong hơn 4 tháng sau đó. Tuy nhiên, tình trạng khẩn cấp chỉ được báo cho công chúng Azerbaijan biết vài giờ sau khi cuộc tấn công đã bắt đầu, khi nhiều thường dân đã nằm chết hoặc bị thương trên các đường phố, các bệnh viện hay nhà xác ở Baku.
Hầu như toàn bộ dân Baku đã tập hợp để chôn cất các người chết tới ngày 22 tháng 1 năm 1990, ba ngày sau vụ tấn công. 40 ngày tiếp theo, đất nước ngưng làm việc như một dấu hiệu để tang và phản đối của quần chúng nhân dân.
== Tình trạng khẩn cấp ==
Tổng thống Gorbachev và các quan chức khác đã khẳng định là cần phải chặn những cuộc tàn sát và bạo lực đối với người dân Armenia và ngăn chặn các nỗ lực của những kẻ cực đoan nhằm lật đổ chính phủ Azerbaijan. Nghị định của chính phủ viết: "Các nhóm cực đoan đang tổ chức phá rối trật tự hàng loạt, thổi bùng lòng thù địch dân tộc. Chúng đã phạm những hành vi tội phạm táo bạo, đặt mìn phá cầu, đường, bắn phá các khu định cư, bắt giữ các con tin".
Bộ trưởng bộ Quốc phòng Yazov cũng nói là những người theo chủ nghĩa dân tộc đã âm mưu một cuộc đảo chính ở Azerbaijan: "Một cuộc họp đã được dự trù, trong đó có đề xuất công bố việc chuyển giao quyền lực vào tay Mặt trận Nhân dân". Ông lưu ý "Mặt trận Nhân dân" đã tự tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở Baku như thế nào trước khi hành động, và các cơ quan nhà nước Xô viết "đã không còn kiểm soát tình hình như thế nào".
=== Số tử vong ===
Theo báo cáo, thì 93 người Azerbaijan và 29 binh sĩ Liên Xô bị giết trong các cuộc đụng độ trên đường phố. Các báo cáo khác cho biết 21 binh sĩ Liên Xô bị giết và 90 người khác bị thương trong cuộc đụng độ đó. Tuy nhiên, những người lính nói trên bị chết như thế nào thì vẫn còn là vấn đề đang ranh cãi. Số binh sĩ tử vong được chính quyền Liên Xô tuyên bố là do lực lượng kháng chiến vũ trang gây ra, mặc dù một số binh sĩ này có thể đã là nạn nhân của hỏa lực từ chính đồng đội họ bắn ra.
Hơn 130 người chết vì vết thương họ bị trong đêm đó và trong các cuộc đối đầu dữ dội tiếp theo kéo dài tới tháng Hai; phần lớn trong số này là thường dân bị binh lính Liên Xô giết. Hơn 700 dân thường dân khác bị thương. Hàng trăm người đã bị bắt giữ, nhưng chỉ có ít người trong số họ được đưa ra xét xử về tội phạm hình sự. Tự do dân sự đã bị cắt giảm.
Tuyên bố của chủ tịch Đoàn Xô Viết tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaijan E. Gafarova ngày 21 tháng 1 năm 1990 thì nói: "Những người Azerbaijan sẽ không bao giờ tha thứ cho bất cứ ai về cái chết bi thảm của những con trai con gái của họ..."
Trong một diễn văn ngày 27.4.1995 ở Istambul, Thổ Nhĩ Kỳ, ông Gorbachev nói: "Việc tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở Baku và gửi quân đội vào thành phố này là một lỗi lầm lớn nhất trong đời sống chính trị của tôi…"
Bộ trưởng bộ Quốc phòng Liên Xô thời đó, Dimitri Yazov, nói rằng việc sử dụng lực lượng quân sự ở Baku là nhằm để ngăn chặn việc tiếp quản trên thực tế chính phủ Azerbaijan của phe đối lập không Cộng sản, để ngăn chặn chiến thắng của họ trong các cuộc bầu cử tự do sắp tới (dự kiến tổ chức vào tháng 3 năm 1990), để tiêu diệt họ như là một lực lượng chính trị, và để đảm bảo rằng Chính phủ cộng sản vẫn nắm quyền.
Việc vi phạm thô bạo nhân quyền và việc giết người hàng loạt ở Azerbaijan đã ít gây ra phản ứng của các cường quốc phương Tây. Chế độ của Mikhail Gorbachev đã được ủng hộ mạnh mẽ để chống lại "các băng đảng có vũ trang mạnh của bọn côn đồ và những kẻ buôn bán ma túy".
Việc sử dụng vũ lực tàn bạo ở Azerbaijan tạo ra một phản lực. Nó đã phá mất các cơ hội duy trì đế chế khỏi bị sụp đổ, và đã làm sống lại phong trào dân tộc giành độc lập.
Các ước tính khác cho thấy là từ 133 tới 137 thường dân bị chết, còn số không chính thức là tới 300 người. Có tới 800 người bị thương tật và 5 người mất tích. Cộng thêm 26 người bị giết ở các vùng Neftchala và Lankaran của Azerbaijan.
== Việc loan tin ==
Trong cuộc đàn áp tháng Giêng đen, chính quyền Liên Xô đã dập tắt mọi nỗ lực nhằm phổ biến tin tức từ Azerbaijan cho cư dân địa phương và cộng đồng quốc tế. Vào tối hôm trước cuộc xâm lược quân sự của Liên Xô vào Baku, một trong những nhà lãnh đạo của Mặt trận Nhân dân, Ekhtibar Mamedov, đã đề nghị các quan chức điện Kremlin xuất hiện trên truyền hình Azerbaijan lúc 8 giờ tối công bố Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Azerbaijan, Abdurrahman Vazirov, sẽ ra đi và không có việc quân đội sẽ xâm nhập Baku để khôi phục lại trật tự.
Nhưng thay vào đó, nguồn cung cấp điện cho đài truyền hình Azerbaijan và đài phát thanh quốc gia đã bị các nhân viên tình báo phá bằng chất nổ lúc 7 giờ 15 tối để cắt không cho bất kỳ nguồn thông tin nào được truyền tới dân chúng. Truyền hình và đài phát thanh đã im tiếng và tất cả các phương tiện truyền thông in trên giấy đã bị cấm. Tuy nhiên, Mirza Khazar và toán nhân viên của ông tại Đài châu Âu Tự do/Đài Tự do đã thành công trong việc phát sóng các báo cáo hàng ngày từ Baku, trở thành nguồn tin tức duy nhất cho những người Azerbaijan bên trong và bên ngoài nước trong nhiều ngày. Lãnh đạo điện Kremli đã cố gắng hết sức để bưng bít không cho dân Azerbaijan và thế giới bên ngoài biết về cuộc xâm lược quân sự, nhưng Mirza Khazar và toán nhân viên của ông đã phá vỡ nỗ lực này. Nhờ Mirza Khazar và toán nhân viên của ông ở Đài châu Âu Tự do, người dân Azerbaijan trong và ngoài nước, cũng như cộng đồng quốc tế, biết được cuộc xâm lược của Liên Xô và đã có được cơ hội để tổ chức các hành động phản đối. Bị sốc bởi sự loan tin gây ngạc nhiên này, chính phủ Liên Xô đã chính thức phàn nàn Hoa Kỳ về việc loan tin cuộc xâm lăng quân sự Azerbaijan của Đài phát thanh châu Âu Tự do. Các cuộc phát thanh về ngày 20.1.1990 đã làm cho Mirza Khazar trở thành một nhân vật huyền thoại trong số người Azerbaijan bên trong và bên ngoài nước. Malahat Aghajanqizi, một nữ thi sĩ và nhà văn nổi tiếng người Azerbaijan, đã mô tả sự xuất hiện của Mirza Khazar trên đài phát thanh vào thời điểm xâm lăng quân sự của Liên Xô như sau: "Ngày 20.1.1990, Mirza Khazar với giọng nói thiên phú tuyệt vời, đã mang lại hy vọng cho nhân dân Azerbaijan đang hấp hối".
== Sự đánh giá ==
Một khóa họp của Xô Viết tối cao Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Azerbaijan được tổ chức ngày 22 tháng 1 năm 1990 theo yêu cầu của quần chúng và do sáng kiến của một nhóm nghị sĩ. Khóa họp đã cố gắng để đánh giá bước đầu biến cố ngày 20 tháng Giêng (1990) và thông qua một số tài liệu lên án hoạt động đàn áp của quân đội Liên Xô.
Hội Memorial (một tổ chức Nhân quyền Nga) và Helsinki Watch (tổ chức Theo dõi Nhân quyền Phần Lan) đã báo cáo trong tháng 5 năm 1991 là họ đã tìm thấy bằng chứng thuyết phục rằng việc áp đặt tình trạng khẩn cấp đã dẫn đến hành vi vi phạm không có cơ sở các quyền tự do công dân và rằng quân đội Liên Xô đã sử dụng sức mạnh phi lý dẫn đến nhiều cái chết. Điều này bao gồm việc sử dụng xe bọc thép, lưỡi lê và bắn vào xe cứu thương có mang dấu (chữ thập) rõ ràng.
Báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền mang tên "Tháng Giêng đen ở Azerbaijan", nói rằng: "Quả thực, bạo lực do quân đội Liên Xô sử dụng vào đêm 19-20 tháng 2 là quá đáng so với sự kháng cự của những người Azerbaijan, tạo thành một hành động trừng phạt tập thể. Vì các quan chức Liên Xô đã tuyên bố công khai rằng mục đích sự can thiệp của quân đội Xô Viết là để ngăn chặn việc phe đối lập có tinh thần dân tộc, không cộng sản lật đổ chính quyền cộng sản thống trị của Cộng hòa Azerbaijan, nên sự trừng phạt do binh lính Liên Xô thực hiện ở Baku có thể được coi như là một cảnh cáo cho những người theo chủ nghĩa dân tộc, không chỉ ở Azerbaijan, mà còn ở các nước cộng hòa khác của Liên Xô".
"Những sự kiện tiếp theo ở các nước cộng hòa vùng Baltic - nơi có sự tương đương đáng kể so với các sự kiện ở Baku – thì việc rối loạn dân sự đã được vin vào để biện minh cho việc can thiệp bằng bạo lực của quân đội Xô Viết; tiếp tục khẳng định rằng Chính phủ Liên Xô đã tỏ ra họ sẽ đối phó một cách tàn nhẫn với các phong trào dân tộc" báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền viết tiếp.
Bài xã luận của báo Wall Street Journal ngày 4 tháng 1 năm 1995 cho rằng Gorbachev đã chọn việc sử dụng bạo lực chống lại việc Azerbaijan tìm kiếm độc lập. Trong khi một năm sau, báo chí thế giới chỉ trích Gorbachev về các cuộc tàn sát thô bạo các thường dân trong Sự kiện tháng Giêng 1991 ở Litva và Sự kiện tháng Giêng 1991 ở Latvia, thì quần chúng Azerbaijan cay đắng về sự im lặng của các phương tiện truyền thông thế giới về các lệnh của Gorbachev một năm trước, trong tháng Giêng đen.
=== Độc lập ===
Ngày 18.10.1991, nghị viện Azerbaijan đã phục hồi nền độc lập của đất nước. Gorbachev sau đó đã xin lỗi Azerbaijan khi nói: "Việc tuyên bố tình trạng kẩn cấp ở Baku là sự sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của tôi". Năm 1994, Quốc hội Azerbaijan đã biểu quyết thông qua một sự đánh giá đầy đủ về chính trị và pháp lý sự kiện tháng Giêng đen. Theo sắc lệnh của tổng thống Azerbaijan Heydar Aliyev ngày 16.12.1999, mọi nạn nhân trong vụ đàn áp tháng Giêng đen đều được tặng danh hiệu danh dự "Người tử đạo 20 tháng Giêng" (tiếng Azerbaijan: 20 yanvar şəhidi).
Ngày 20 tháng Giêng được kỷ niệm như ngày Tử vì đạo (hoặc theo nghĩa đen: "ngày đau thương toàn quốc") ở Azerbaijan.
== Tham khảo và Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Parliamentary Assembly of the Council of Europe - Working Papers - 2008 Ordinary Session 21. Written Declaration No. 405. Doc. 11499 - ngày 21 tháng 1 năm 2008. Massacre of Azerbaijanis by Soviet troops
Black January: Baku (1990) / Azerbaijan International (Spring 1998)
http://www.january20.net
http://news.bbc.co.uk/1/hi/world/europe/1477933.stm |
madonna (ca sĩ).txt | Madonna Louise Veronica Ciccone ( /tʃɪˈkoʊni/; tiếng Ý: [tʃikˈkoːne]; sinh ngày 16 tháng 8 năm 1958) là nữ ca sĩ, người viết bài hát, diễn viên và thương nhân người Mỹ. Bà nổi danh trong việc phá bỏ giới hạn nội dung ca từ trong văn hóa âm nhạc đại chúng và hình tượng trong các video âm nhạc, thường xuyên xuất hiện trên MTV. Madonna còn được biết đến bởi khả năng biến hóa âm nhạc và hình ảnh của mình, đồng thời giữ vững quyền tự chủ trong ngành công nghiệp thu âm. Các nhà phê bình thường đón nhận các sản phẩm âm nhạc của bà một cách nồng nhiệt, cho dù gây nên một vài tranh cãi. Được mệnh danh là "Nữ hoàng nhạc pop", bà là nguồn cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ khác trên toàn thế giới.
Sinh ra tại Thành phố Bay, Michigan, Madonna tìm đến thành phố New York để theo đuổi nghiệp vũ công vào năm 1977. Sau khi trình diễn trong nhóm nhạc Breakfast Club và Emmy, bà ký kết hợp đồng cùng Sire Records (một hãng thu âm con của Warner Bros. Records) vào năm 1982 và phát hành album đầu tay cùng tên trong năm kế tiếp. Bà tiếp tục thực hiện một chuỗi các album thành công về thương mại, bao gồm chủ nhân giải Grammy Ray of Light (1998) và Confessions on a Dance Floor (2005). Trong xuyên suốt sự nghiệp, Madonna đã sáng tác và sản xuất cho hầu hết các bài hát của mình, bao gồm nhiều đĩa đơn đạt vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng thu âm như "Like a Virgin", "Into the Groove", "Papa Don't Preach", "Like a Prayer", "Vogue", "Frozen", "Music", "Hung Up" và "4 Minutes".
Madonna còn nổi tiếng qua các vai diễn trong Desperately Seeking Susan (1985), Dick Tracy (1990) và Evita (1996) mang về cho bà giải Quả cầu vàng cho "Nữ diễn viên xuất sắc nhất". Dù vậy, hầu hết các bộ phim khác của bà đều vấp phải những ý kiến chỉ trích từ các nhà phê bình. Ngoài ra, bà cũng tham gia làm phim, thiết kế thời trang và sáng tác sách dành cho trẻ em. Bà được khen ngợi trong vai trò của một nữ thương nhân, đặc biệt sau khi sáng lập nên công ty giải trí Maverick (trong đó có hãng thu âm Maverick Records). Vào năm 2007, bà ký một hợp đồng kỷ lục trị giá 120 triệu đô-la Mỹ cùng Live Nation.
Với hơn 300 triệu đĩa thu âm đã tiêu thụ trên toàn cầu, Madonna được công nhận là nữ nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất mọi thời đại bởi Sách Kỷ lục Guinness. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) xếp Madonna là nữ nghệ sĩ rock bán chạy nhất thế kỷ 20 và là nữ nghệ sĩ bán chạy thứ hai tại Hoa Kỳ, với 64.5 triệu chứng nhận album. Theo Billboard, Madonna là nữ nghệ sĩ lưu diễn hàng đầu mọi thời đại, thu về hơn 1 tỷ đô-la Mỹ từ các chuyến lưu diễn của mình. Bà đứng ở vị trí thứ 2, chỉ sau ban nhạc The Beatles, trong danh sách Billboard Hot 100 All-Time Top Artists, giúp bà là nghệ sĩ đơn ca thành công nhất lịch sử bảng xếp hạng đĩa đơn Hoa Kỳ. Madonna là một trong 5 thành viên sáng lập nên Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Liên hiệp Anh và được bổ nhiệm vào Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll trong năm hợp lệ đầu tiên.
== Cuộc đời và sự nghiệp ==
=== 1958–81: Thời thơ ấu và khởi nghiệp ===
Madonna Louise Veronica Ciccone sinh ngày 16 tháng 8 năm 1958 tại thành phố Bay, tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ; là con thứ ba trong số sáu người con của gia đình theo đạo Thiên Chúa giáo Silvio Anthony "Tony" Ciccone và Madonna Louise Fortin, (k. 1933 – 1 tháng 12 năm 1963). Ông bà nội của bà có gốc gác từ Pacentro, Ý, trong khi mẹ bà mang dòng máu Pháp-Canada. Tony là một kỹ sư thiết kế cho hãng Chrysler và General Motors. Vì trùng tên với mẹ, các thành viên trong gia đình thường gọi bà bằng cái tên "Little Nonni". Bà có hai người anh trai, Anthony (sinh năm 1956) và Martin (sinh năm 1957), cùng 3 người em: Paula (sinh năm 1959), Christopher (sinh năm 1960) và Melanie (sinh năm 1962).
Từ khi được ban Bí tích vào năm 1966, bà lấy Veronica làm tên Thêm Sức của mình. Bà lớn lên ở ngoại ô thành phố Detroit, thuộc Pontiac và Avon Township (nay là Rochester Hills). Nhiều tháng trước khi mẹ bà qua đời vì bệnh ung thư vú, Madonna nhận thấy nhiều thay đổi trong hành vi và tính cách của bà, cho dù không biết nguyên nhân. Madonna tìm đến sự an ủi từ bà nội mình, trong khi các anh chị em nhà Ciccone trở nên nổi loạn trước bất kỳ ai tỏ vẻ thay thế mẹ mình trong nhà. Trên Vanity Fair, Madonna chia sẻ tuổi trẻ của mình là một "cô gái đơn độc đang tìm kiếm một điều gì đó. Tôi không hề phiến loạn theo một cách nhất định. Tôi nỗ lực để trở nên xuất sắc về một điều gì đó. Tôi không tẩy nách và trang điểm như những cô gái khác. Nhưng tôi vẫn học và có điểm tốt.... Tôi muốn trở thành một người thành công". Năm 1966, Tony kết hôn với quản gia của gia đình, Joan Gustafson; họ có hai người con, Jennifer (sinh năm 1967) và Mario (sinh năm 1968). Vào thời điểm này, Madonna bắt đầu oán giận ông trong suốt nhiều năm và có thái độ bất trị.
Madonna theo học tại Trường Tiểu học Công giáo St. Frederick's và St. Andrew's trước khi gia nhập tại trường West Middle School. Bà nổi tiếng vì số điểm trung bình cao và thường xuyên có những hành vi bất thường. Bà nhào lộn và thực hiện tư thế trồng cây chuối trong hành lang lớp, đu người trên thanh xà bằng đầu gối trong giờ giải lao và tốc váy trong lớp để các bạn nam nhìn thấy nội y. Madonna sau đó đến học tại trường Trung học Rochester Adams, nơi bà trở thành một học sinh loại A và là một thành viên của đội hoạt náo viên. Sau khi tốt nghiệp, bà giành một học bổng khiêu vũ của đại học Âm nhạc, Kịch nghệ và Khiêu vũ Michigan và tham dự Ngày hội Khiêu vũ Hoa Kỳ suốt mùa hè. Bà nài nỉ bố mình cho phép tham gia khóa học ba-lê, và được giáo viên ba-lê Christopher Flynn thuyết phục theo đuổi sự nghiệp khiêu vũ.
Vào năm 1978, bà dừng việc học và dời đến Thành phố New York. Vì gặp khó khăn về tài chính, bà làm công việc của một bồi bàn tại Dunkin' Donuts trong khi cùng vũ đoàn tham gia khóa học nhảy tại Alvin Ailey American Dance Theater. Bà chia sẻ, "Khi tôi tới New York, đó là lần đầu tiên tôi đi máy bay, lần đầu tiên tôi gọi một chiếc taxi, lần đầu tiên với tất cả mọi thứ. Và trong ví của tôi chỉ vẻn vẹn có 35 đô-la. Không nghề ngỗng, không bạn bè, không nhà cửa. Đó là việc dũng cảm nhất mà tôi từng làm trong đời". Trong một đêm trở về sau khi luyện tập, bà bị hai người đàn ông dùng dao khống chế và buộc phải quan hệ tình dục bằng miệng. Madonna sau đó cho rằng "câu chuyện ấy thể hiện sự yếu đuối của tôi, cho thấy tôi vẫn không thể tự bảo vệ mình dù khoác lên vẻ ngoài mạnh mẽ. Tôi không thể nào quên đi điều ấy."
Trong khi đang làm vũ công và hát bè cho nghệ sĩ disco người Pháp Patrick Hernandez trong chuyến lưu diễn năm 1979, Madonna có mối quan hệ tình cảm với tay guitar Dan Gilroy. Cả hai cùng nhau thành lập ban nhạc rock đầu tiên, Breakfast Club, nơi bà hát, chơi trống và ghi-ta. Vào năm 1980 hoặc 1981, bà rời khỏi nhóm và thành lập nên Emmy, một ban nhạc khác với tay trống là người tình cũ Stephen Bray. Cả hai bắt đầu sáng tác và Madonna sau đó quyết định đưa tên tuổi mình trở thành một nghệ sĩ đơn ca. Âm nhạc của họ khiến DJ và nhà sản xuất thu âm Mark Kamins bị thuyết phục, người sau đó sắp xếp một cuộc gặp gỡ giữa Madonna và nhà sáng lập hãng thu âm Sire Records, Seymour Stein.
=== 1983–85: Bứt phá thành công và cuộc hôn nhân đầu tiên ===
Sau khi ký kết một hợp đồng thu âm cùng Sire, hai đĩa đơn đầu tiên của bà, "Everybody" và "Burning Up" lần lượt ra mắt vào tháng 10 năm 1982 và tháng 3 năm 1983. Cả hai đều là những bài hát ăn khách tại các hộp đêm Hoa Kỳ, đạt đến vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Hot Dance Club Songs của tạp chí Billboard. Sau thành công này, bà bắt đầu phát triển album đầu tay Madonna, dự định do Reggie Lucas của hãng Warner Bros. sản xuất chính. Dù vậy, bà lại không hài lòng với những bài hát đã hoàn thiện, bất đồng với kỹ thuật sản xuất của Lucas và quyết định tìm thêm sự giúp đỡ.
Madonna dọn đến cùng bạn trai John "Jellybean" Benitez, nhờ giúp đỡ hoàn thiện sản xuất album. Benitez phối lại hầu hết các bài hát và sản xuất nên "Holiday", đĩa đơn thứ ba và là bài hát ăn khách toàn cầu đầu tiên của bà. Âm thanh tổng thể của Madonna khá chói tai và mang hình thức của dòng nhạc disco tổng hợp tiết tấu nhanh, sử dụng một vài kỹ thuật tân tiến lúc bấy giờ, bao gồm máy đánh trống Linn, Moog bass và OB-X synthesizer. Album lên kệ vào tháng 7 năm 1983 và vươn đến vị trí thứ 8 trên Billboard 200 6 tháng sau đó, vào năm 1984. Album cho ra thêm hai đĩa đơn ăn khách khác, "Borderline" và "Lucky Star".
Vẻ ngoài và phong cách ăn mặc của Madonna, cùng những màn trình diễn và video âm nhạc của bà có sức ảnh hưởng đến phái nữ và những cô gái tuổi mới lớn, trở thành một trong những phong cách thời trang thịnh hành vào thập niên 1980. Do nhà tạo mẫu và thiết kế trang sức Maripol sáng tạo, phong cách bao gồm áo viền ren, váy cùng quần cộc, tất mắt lưới cho đến những đồ trang sức hình thánh giá, vòng tay lủng lẳng bằng nhựa, tóc nhuộm màu. Madonna được công chúng toàn cầu biết đến sau khi phát hành album phòng thu thứ hai, Like a Virgin vào tháng 11 năm 1984. Album dẫn đầu các bảng xếp hạng tại nhiều quốc gia và trở thành album đầu tiên của bà vươn đến ngôi quán quân Billboard 200. Bài hát chủ đề, "Like a Virgin" đạt vị trí số 1 trên Billboard Hot 100 trong 6 tuần liên tiếp. Nhiều tổ chức đưa ra những lời phàn nàn về video âm nhạc cùng bài hát này, khi được cho là ủng hộ tình dục trước hôn nhân và làm tổn hại giá trị gia đình, với mong muốn bài hát và video này bị cấm.
Màn trình diễn "Like a Virgin" của Madonna tại mùa giải Video âm nhạc của MTV (VMA) đầu tiên vào năm 1984 bị chỉ trích. Bà xuất hiện trên đỉnh một chiếc bánh cưới khổng lồ khi đang mặc một chiếc váy cưới và găng tay trắng. Màn trình diễn được MTV ghi nhận là một trong những khoảnh khắc đáng nhớ trong lịch sử VMA. Sau đó, bà xuất hiện trong video âm nhạc cho bài hát ăn khách "Material Girl" trong hình tượng của Marilyn Monroe khi trình bày "Diamonds Are a Girl's Best Friend", trích từ bộ phim Gentlemen Prefer Blondes (1953). Trong khi ghi hình cho video này, Madonna bắt đầu hẹn hò với nam diễn viên Sean Penn. Cả hai kết hôn trong ngày sinh nhật của bà vào năm 1985. Like a Virgin đạt chứng nhận Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ và chạm mốc 25 triệu bản bán ra trên toàn cầu. Vào tháng 2 năm 1984, theo đạo diễn Sir Richard Attenborough, Madonna tham gia dự tuyển tại Royale Theatre, Broadway cho một vai trong phiên bản điện ảnh của A Chorus Line và sử dụng tên khai sinh Ciccone của bà, nhưng ông đã từ chối.
Madonna lấn sân sang thể loại phim ảnh vào tháng 2 năm 1985, bắt đầu bằng một vai nhỏ là một cô ca sĩ hộp đêm trong Vision Quest, một bộ phim lãng mạn chính kịch. Trích từ nhạc phim là hai đĩa đơn mới, "Gambler" và nhà quán quân bảng xếp hạng đĩa đơn Hoa Kỳ "Crazy for You". Bà tiếp tục tham gia phim hài Desperately Seeking Susan vào tháng 3 năm 1985, giới thiệu bài hát "Into the Groove" trước công chúng và trở thành đĩa đơn quán quân đầu tiên của bà tại Vương quốc Liên hiệp Anh. Tuy Madonna không phải là diễn viên chính của phim, đây lại được nhìn nhận rộng rãi là một công cụ đánh bóng và quảng bá cho tên tuổi của bà. Nhà phê bình Vincent Canby từ The New York Times liệt bộ phim vào danh sách xuất sắc nhất của năm 1985.
Bắt đầu từ tháng 4 năm 1985, Madonna khởi động chuyến lưu diễn đầu tiên tại Bắc Mỹ, The Virgin Tour cùng tiết mục mở màn của Beastie Boys. Cùng thời điểm trên, bà phát hành thêm hai đĩa đơn ăn khách khác trích từ album, "Angel" và "Dress You Up". Vào tháng 7, tạp chí Penthouse và Playboy cho xuất bản một vài bức ảnh khỏa thân của Madonna chụp tại New York từ năm 1978. Bà tạo mẫu cho những bức ảnh này trong thời gian túng thiếu, với mức tiền chỉ khoảng 25 đô-la Mỹ một bối cảnh. Lần xuất bản này khiến dư luận xôn xao, trong khi Madonna vẫn tỏ ra "không biện hộ và ngang ngạnh". Những bức ảnh này sau cùng được bán với số tiền khoảng 100.000 đô-la Mỹ. Bà nhắc đến sự kiện này trong một đêm nhạc từ thiện ngoài trời Live Aid vào năm 1985, phát biểu rằng bà sẽ không cởi áo khoác vì "[giới truyền thông] có thể dùng nó để kháng cự tôi vào 10 năm sau."
=== 1986–91: True Blue, Who's That Girl và Like a Prayer ===
Lấy cảm hứng từ Sean Penn, album thứ ba của Madonna mang tên True Blue phát hành vào tháng 6 năm 1986. Tạp chí Rolling Stone lấy làm thuyết phục trước tác phẩm này, cho rằng album "nghe như tiếng nói đến từ tận trái tim". Album cho ra 3 đĩa đơn dẫn đầu Billboard Hot 100: "Live to Tell", "Papa Don't Preach" và "Open Your Heart", cùng với 2 đĩa đơn vươn đến top 5: "True Blue" và "La Isla Bonita". Album đứng đầu các bảng xếp hạng tại hơn 28 quốc gia trên toàn cầu, một thành tựu chưa từng thấy vào thời điểm đó và trở thành album phòng thu bán chạy nhất trong sự nghiệp của bà cho đến hiện nay, với doanh số đã vượt ngưỡng 25 triệu bản. Cùng năm đó, Madonna xuất hiện trong bộ phim bị chỉ trích Shanghai Surprise, mang về cho bà giải Mâm xôi vàng cho "Nữ diễn viên chính tồi nhất". Bà lần đầu lộ diện trong một tác phẩm sân khấu trong vở Goose and Tom-Tom của David Rabe; cả bộ phim lẫn kịch đều có sự góp mặt diễn xuất của Penn. Năm tiếp sau, Madonna tham gia bộ phim Who's That Girl và đóng góp 4 bài hát trong phần nhạc phim, bao gồm bài hát chủ đề và "Causing a Commotion".
Madonna mở đầu chuyến lưu diễn Who's That Girl World Tour vào tháng 7 năm 1987 và tiếp tục cho đến tháng 9 cùng năm. Chuyến lưu diễn phá vỡ nhiều kỷ lục về khán giả tham dự, trong đó có đêm nhạc diễn ra gần Paris thu hút hơn 130.000 khán giả, hiện vẫn đang là lượng người xem buổi diễn đông đảo nhất của bà. Cuối năm đó, bà phát hành một album phối khí lại của những bài hát ăn khách dưới tựa đề You Can Dance, vươn đến vị trí thứ 14 trên Billboard 200. Sau một cuộc hủy bỏ vào tháng 12 năm 1987, Madonna điền vào đơn ly hôn với Penn vào tháng 1 năm 1989, với lý do khác biệt không thể hòa giải.
Vào tháng 1 năm 1989, Madonna ký kết một hợp đồng chứng thực với hãng nước giải khát Pepsi và giới thiệu bài hát "Like a Prayer" trong quảng cáo cho hãng này. Video âm nhạc cho bài hát có xuất hiện những biểu tượng của Thiên chúa giáo như dấu Thánh hay đốt cháy cây Thánh giá, khiến Tòa Thánh lên tiếng kết tội báng bổ. Các Giáo hội đưa ra mong muốn hủy bỏ đoạn quảng cáo và tẩy chay sản phẩm của Pepsi. Pepsi sau đó chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ quảng cáo. Bài hát xuất hiện trong album phòng thu thứ tư của Madonna, Like a Prayer, do Patrick Leonard và Stephen Bray đồng sáng tác và sản xuất. Các phản ứng đến album đa phần là tích cực, với lời ca ngợi của Rolling Stone cho rằng "âm hưởng pop [của album] đã đạt tới sự gần gũi với nghệ thuật". Like a Prayer đạt vị trí số 1 trên Billboard 200 và bán ra 15 triệu bản trên toàn cầu, bao gồm 4 triệu bản chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ. Có 6 đĩa đơn trích từ album, bao gồm đĩa đơn quán quân "Like a Prayer" và hai nhà Á quân "Express Yourself" và "Cherish". Đến cuối thập niên 1980, Madonna được MTV, tạp chí Billboard và Musician vinh danh là "Nghệ sĩ của thập niên".
Madonna vào vai Breathless Mahoney trong bộ phim Dick Tracy (1990), cùng Warren Beatty trong vai chính. Vai diễn của bà mang về một đề cử giải Sao Thổ cho "Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất". Cùng với bộ phim, bà phát hành một album nhạc phim mang tên I'm Breathless cùng những bài hát lấy cảm hứng từ bối cảnh thập niên 1930 của bộ phim. Album có sự xuất hiện của đĩa đơn quán quân Hoa Kỳ "Vogue" và bài hát mang về cho tác giả Stephen Sondheim giải Oscar cho "Ca khúc trong phim hay nhất" vào năm 1991, "Sooner or Later (I Always Get My Man)". Trong khi ghi hình, Madonna bắt đầu có mối quan hệ tình cảm với Beatty, trước khi chấm dứt với ông vào cuối năm 1990. Vào tháng 4 năm 1990, Madonna mở đầu chuyến lưu diễn Blond Ambition World Tour, kéo dài đến tháng 8 cùng năm. Rolling Stone gọi chương trình "dàn dựng công phu, hoành tráng một cách khêu gợi" và tuyên bố đây là "chuyến lưu diễn xuất sắc nhất năm 1990". Chuyến lưu diễn vấp phải những phản ứng tiêu cực từ các Giáo hội bởi màn trình diễn "Like a Virgin" của Madonna, khi bà được hai vũ công nam vuốt ve cơ thể trước khi thực hiện các động tác như thủ dâm. Madonna trả lời "Chuyến lưu diễn này không hề tổn hại đến cảm xúc của bất kỳ ai. Nó dành cho những tâm hồn phóng khoáng và giúp họ nhìn nhận tình dục theo một cách khác biệt. Của chính họ và cả những người khác." Lần phát hành đĩa Laser của chuyến lưu diễn mang về cho Madonna giải Grammy năm 1992 cho "Video âm nhạc dài xuất sắc nhất."
The Immaculate Collection, album tuyển tập đầu tiên của Madonna, ra mắt vào tháng 11 năm 1990. Album phát hành hai bài hát mới "Justify My Love" và "Rescue Me". Album đạt chứng nhận Kim cương bởi RIAA với doanh số chạm mốc 30 triệu bản toàn cầu, trở thành album tổng hợp bán chạy nhất bởi một nghệ sĩ đơn ca trong lịch sử. "Justify My Love" vươn đến ngôi vị cao nhất tại Hoa Kỳ và đạt đến top 10 trên toần cầu. Video âm nhạc của bài hát có chứa nội dung liên quan đến bạo dâm, đồng tính luyến ái và khỏa thân, khiến kênh truyền hình MTV ra thông báo cấm trình chiếu trên hệ thống. Madonna phản ứng trước sự việc, cho rằng "Tại sao mọi người sẵn sàng đến xem một bộ phim về một người bị bắn đến chết không vì một lý do nào cả, nhưng lại không ai muốn xem hai cô gái đang hôn và hai chàng trai đang ôm ấp nhau?" Vào tháng 12 năm 1990, Madonna quyết định rút khỏi bộ phim Boxing Helena của Jennifer Lynch sau khi nhận lời tham gia mà không có lời giải thích nào đến nhà sản xuất. Trong khoảng thời gian này, Madonna có mối tình kéo dài 8 tháng với rapper Vanilla Ice; ông chấm dứt mối quan hệ của cả hai sau khi bà phát hành quyển sách Sex. Bộ phim tư liệu Truth or Dare (còn được biết đến với tên gọi In Bed with Madonna bên ngoài Bắc Mỹ) xuất bản vào tháng 5 năm 1991, ghi chép lại chuyến lưu diễn Blond Ambition World Tour của bà.
=== 1992–97: Maverick, Erotica, Sex, Evita và làm mẹ ===
Vào năm 1992, Madonna vào vai cầu thủ bóng chày Mae Mordabito trong A League of Their Own. Bà thu âm bài hát chủ đề cho phim, "This Used to Be My Playground" đạt ngôi quán quân Hot 100 Hoa Kỳ. Cùng năm đó, bà sáng lập nên công ty giải trí Maverick, bao gồm một hãng thu âm (Maverick Records), một hãng sản xuất phim (Maverick Films) và liên kết xuất bản âm nhạc, quảng bá truyền hình, xuất bản sách và đơn vị bán hàng. Hợp đồng liên doanh với Time Warner này giúp Madonna thu về 60 triệu đô-la Mỹ, trong đó bao gồm 20% tiền hoa hồng từ thủ tục âm nhạc, một trong những mức giá cao nhất ngành công nghiệp, ngang bằng với số tiền bản quyền uy tín mà Michael Jackson nhận được một năm trước với Sony. Sản phẩm đầu tiên từ sự đầu tư này là quyển sách mang tựa đề Sex của Madonna. Quyển sách gây nên sự bất bình và phản đối mạnh mẽ từ công chúng, khi chứa nhiều hình ảnh minh họa mang tính gợi dục do Steven Meisel chụp lại, dù tiêu thụ 1.5 triệu bản với giá thành 50 đô-la Mỹ chỉ trong một ngày xuất bản. Cùng lúc đó, bà phát hành album phòng thu thứ 5 Erotica, ra mắt tại vị trí thứ 2 trên Billboard 200. Bài hát chủ đề của album đạt đến vị trí thứ 3 trên Billboard Hot 100. Erotica cho phát hành 5 đĩa đơn khác: "Deeper and Deeper", "Bad Girl", "Fever", "Rain" và "Bye Bye Baby". Madonna mang hình tượng gợi cảm xuất hiện trong bộ phim tình ái ly kỳ Body of Evidence, với những cảnh liên quan đến bạo dâm. Phim bị chỉ trích bởi các nhà phê bình. Bà còn góp mặt trong Dangerous Game phát hành trên định dạng video tại Bắc Mỹ. The New York Times mô tả bộ phim "giận dữ và đau khổ, với nỗi đau mang cảm giác chân thật."
Vào tháng 9 năm 1993, Madonna mở đầu chuyến lưu diễn The Girlie Show World Tour, nơi bà mặc quần áo ngắn bó sát cùng roi da và nhiều vũ công ngực trần. Tại Puerto Rico, bà chà xát lá cờ của đảo quốc này giữa hai chân trên sân khấu, gây ra làn sóng phẫn nộ trong khán giả. Vào tháng 3 năm 1994, bà xuất hiện với tư cách khách mời trong chương trình Late Show with David Letterman, nơi bà sử dụng ngôn ngữ thô tục trước sự kiểm duyệt của nhà đài và đưa cho Letterman chiếc quần lót của mình, bắt ông phải ngửi chúng trong buổi phỏng vấn. Theo sau một loạt bộ phim, album và sách mang tính gợi dục cao, cùng sự xuất hiện gây tranh cãi lớn trên Letterman, Madonna khiến các nhà phê bình nghi ngờ bà là một kẻ phiến loạn tình dục. Các nhà phê bình lẫn người hâm mộ đều phản ứng một cách tiêu cực, cho rằng bà "đã đi quá xa" và sự nghiệp của bà đã chấm dứt.
Nhà viết tiểu sử J. Randy Taraborrelli mô tả bản ballad "I'll Remember" (1994) là một động thái làm dịu lại hình tượng nổi loạn của Madonna. Bà thu âm bài hát này cho bộ phim With Honors của Alek Keshishian. Sau đó, bà xuất hiện một cách dịu dàng cùng Letterman tại một buổi lễ trao giải và xuất hiện trên The Tonight Show with Jay Leno sau khi nhận ra mình cần phải thay đổi định hướng âm nhạc để tiếp tục giữ được sự yêu mến. Với album phòng thu thứ 6, Bedtime Stories (1994), Madonna sử dụng hình ảnh nhẹ nhàng hơn để cải thiện sự đón nhận của công chúng. Album mở đầu tại vị trí thứ 3 trên Billboard 200 và ra mắt 4 đĩa đơn, bao gồm "Secret" và nhà quán quân 7 tuần liên tiếp trên Hot 100, "Take a Bow", cũng là đĩa đơn có thời gian dẫn đầu lâu nhất của Madonna. Cùng thời gian đó, bà có mối quan hệ tình cảm với nhà huấn luyện thể hình Carlos Leon. Something to Remember, một tập hợp các bản ballad, ra mắt vào tháng 11 năm 1995. Album này chứa 3 bài hát mới: "You'll See", "One More Chance" và phiên bản trình bày lại "I Want You" của Marvin Gaye.
Trong Evita (1996), Madonna vào vai nhân vật chính Eva Perón. Trong một khoảng thời gian dài, Madonna có mong muốn nhận vai Perón và đã gửi thư đến đạo diễn Alan Parker để giải thích lý do vì sao bà là người hoàn hảo cho vai này. Sau khi trúng tuyển, bà tham gia khóa luyện giọng và tìm hiểu thêm về lịch sử của Argentina và Perón. Trong thời gian ghi hình, sức khỏe của bà bị suy sụp sau nhiều nỗ lực xúc cảm mãnh liệt khi nhập vai. Dù vậy, bà chia sẻ cùng Oprah rằng mình đã mang thai trong thời gian đó: "Tôi không thể thở sau mỗi cảnh quay. Tôi phải nằm trên trường kỷ mỗi 10 phút để có thể vực dậy sau những cơn chóng mặt, tôi lo mình đi lại quá nhiều và có thể làm tổn hại đứa bé." Madonna viết trong quyển nhật ký cá nhân vào thời điểm đó: "Trớ trêu thay, cảm giác mỏng manh và yếu ớt ấy đã giúp tôi thực hiện nên bộ phim. Tôi tin Evita cũng cảm thấy như vậy mỗi ngày kể từ khi biết mình bị ốm."
Sau khi ra mắt, giới phê bình đưa ra các đánh giá tích cực đến Evita. Zach Conner từ Time có viết "Thật nhẹ nhõm khi khẳng định Evita khá ổn, tuyển vai tốt và có hình ảnh đẹp. Madonna lần nữa khiến ta bất ngờ trước những kỳ vọng trước đây. Bà vào vai Evita với vẻ mệt nhọc chua chát và có đôi chút khí chất của một ngôi sao. Dù có yêu hay ghét Madonna-Eva, bà ấy vẫn lôi cuốn mọi ánh nhìn." Madonna giành giải Quả cầu vàng cho "Nữ diễn viên chính phim hài hoặc nhạc kịch xuất sắc nhất". Bà cho ra mắt 3 đĩa đơn từ album nhạc phim Evita, bao gồm "You Must Love Me" (giành giải Oscar cho "Bài hát trong phim xuất sắc nhất" vào năm 1997) và "Don't Cry for Me Argentina". Madonna sau đó trao giải Thành tựu Nghệ sĩ cho Tony Bennett tại Billboard Music Awards 1996. Ngày 14 tháng 10 năm 1996, Madonna hạ sinh Lourdes Maria Ciccone Leon, con gái của bà cùng Leon. Nhà viết tiểu sử Mary Cross viết rằng, cho dù Madonna thường xuyên ốm trong thời điểm quay phim và lo lắng việc mang thai có thể ảnh hưởng đến bộ phim, bà lại đạt được một vài mục tiêu cá nhân quan trọng: "Giờ đây ở tuổi 38, Madonna cuối cùng cũng giành được chiến thắng trên màn ảnh và thỏa ước mơ có một đứa con, chỉ trong đúng 1 năm. Bà đã đạt đến bước ngoặt của sự nghiệp, tái sáng tạo bản thân và hình tượng trước công chúng." Mối tình của bà cùng Carlos Leon chấm dứt vào tháng 5 năm 1997; bà chia sẻ rằng cả hai "nên làm bạn thì tốt hơn." Sau khi sinh Lourdes, Madonna có liên quan đến Đạo học phương Đông và Kabbalah. Bà được diễn viên Sandra Bernhard giới thiệu về Đạo học Do Thái vào năm 1997.
=== 1998–2002: Ray of Light, Music và cuộc hôn nhân thứ hai ===
Album phòng thu thứ 7 Ray of Light (1998) phản ánh sự thay đổi trong hình tượng của Madonna. Bà hợp tác cùng nhà sản xuất William Orbit, với mong muốn tạo nên một âm thanh hòa trộn nhạc dance cùng pop và British rock. Nhà phê bình âm nhạc Mỹ Ann Powers giải thích điều mà Madonna muốn tìm kiếm ở Orbit "là sự mới mẻ mà bà muốn ở bản thu âm này. Nhạc điện tử và rave đã xuất hiện vào thập niên 90 và hiện hữu ở nhiều biến thể khác nhau. Mọi thứ đều mang tính thử nghiệm cao, hạng nặng như Aphex Twin. Có không khí tiệc tùng như Fatboy Slim. Đó không phải là điều Madonna tìm kiếm. Bà ấy muốn điều gì đó mang tính cá nhân hơn. Và William Orbit đã giúp đỡ bà điều đó." Album được các nhà phê bình khen ngợi, với Slant Magazine gọi đây là "một trong những tuyệt phẩm pop thập niên 90". Ray of Light giành 4 giải Grammy và Rolling Stone liệt album này vào danh sách "500 album vĩ đại nhất". Về mặt thương mại, album này giành ngôi quán quân tại nhiều quốc gia và bán hơn 16 triệu bản toàn cầu. "Frozen", đĩa đơn đầu tiên của album, cũng là đĩa đơn đầu tiên của bà đạt vị trí số 1 tại Vương quốc Liên hiệp Anh, trong khi trở thành đĩa đơn thứ 6 giữ vị trí Á quân tại Mỹ, giúp Madonna lập thêm một kỷ lục khác cho nghệ sĩ có nhiều bài hát vươn đến vị trí thứ 2 nhất. Đĩa đơn thứ 2, "Ray of Light" ra mắt ở vị trí thứ 5 trên Billboard Hot 100.
Kỷ lục Thế giới Guinness phiên bản năm 1998 khẳng định: "Không một nữ nghệ sĩ nào có lượng đĩa tiêu thụ trên toàn cầu nhiều hơn Madonna". Vào năm 1999, Madonna ký kết nhận vai một giáo viên vĩ cầm trong Music of the Heart nhưng đã bỏ qua dự án, vì "những bất đồng sáng tạo" cùng đạo diễn Wes Craven. Bà thu âm đĩa đơn "Beautiful Stranger" cho bộ phim Austin Powers: The Spy Who Shagged Me (1999). Bài hát vươn đến vị trí thứ 19 trên Hot 100, chỉ dựa trên lượng yêu cầu trên đài phát thanh. Madonna giành giải Grammy cho "Bài hát sáng tác cho phương tiện truyền thông xuất sắc nhất". Madonna xuất hiện trong The Next Best Thing (2000) và đóng góp 2 bài hát cho phần nhạc phim; "Time Stood Still" và phiên bản trình bày lại "American Pie" của Don McLean. Bà phát hành album phòng thu thứ 8, Music vào tháng 9 năm 2000. Album có sự góp mặt của các yếu tố nhạc nhảy điện tử-lấy cảm hứng từ thời kỳ Ray of Light và tiếp cận nhiều hơn đến bộ phận khán giả là người đồng tính. Hợp tác cùng nhà sản xuất người Pháp Mirwais Ahmadzaï, Madonna cho rằng: "Tôi thích làm việc cùng những kẻ lập dị mà chẳng ai biết tới—những người có tài năng thật sự và thực hiện âm nhạc không giống bất kỳ ai ngoài kia. Music là âm thanh của tương lai." Stephen Thomas Erlewine từ AllMusic cảm thấy "Music thành công bởi nét biến hóa khôn lường, kỹ thuật, phong cách và vật chất. Album có độ sâu và đa tầng nhiều đến nỗi đạt đến sự tự giác và nghiêm túc ở Ray of Light." Album này đạt đến vị trí đầu bảng tại hơn 20 quốc gia và đạt mốc 4 triệu bản chỉ trong 10 ngày đầu lên kệ. Tại Hoa Kỳ, Music ra mắt tại vị trí đầu bảng và là album quán quân đầu tiên của bà sau 11 năm, kể từ Like a Prayer. Album cho ra 3 đĩa đơn: nhà quán quân Hot 100 "Music", "Don't Tell Me" và "What It Feels Like for a Girl". Video âm nhạc cho "What It Feels Like for a Girl" đề cập đến vấn đề tội ác và phá hoại, khiến kênh MTV và VH1 thông báo cấm khỏi hệ thống trình chiếu.
Bà gặp gỡ người chồng thứ hai, đạo diễn Guy Ritchie, vào tháng 1 năm 1998 và hạ sinh người con trai Rocco John Ritchie vào ngày 11 tháng 8 năm 2000 tại Los Angeles. Rocco và Madonna đã phải trải qua nhiều biến chứng từ việc sinh nở do tình trạng nhau thai tiền đạo. Đứa bé được làm lễ rửa tội tại Dornoch Cathedral, Dornoch, Scotland vào ngày 21 tháng 12 năm 2000. Madonna kết hôn cùng Ritchie vào ngay ngày hôm sau gần Skibo Castle. Chuyến lưu diễn thứ năm của bà mang tựa đề Drowned World Tour mở đầu vào tháng 6 năm 2001, diễn ra tại nhiều thành phố tại Hoa Kỳ và châu Âu, trở thành chuyến lưu diễn của nghệ sĩ đơn ca thành công nhất trong năm, thu về 75 triệu đô-la Mỹ từ 47 đêm diễn cháy vé. Bà còn ra mắt album tuyển tập thứ 2 mang tên GHV2, trùng khớp với thời điểm phát hành video tại gia của chuyến lưu diễn. GHV2 mở đầu tại vị trí thứ 7 trên Billboard 200. Madonna vào vai chính trong bộ phim Swept Away (2002) do Ritchie đạo diễn. Ra mắt dưới định dạng video tại Vương quốc Liên hiệp Anh, bộ phim là một thất bại về doanh thu và bị chỉ trích nặng nề. Vào tháng 5 năm 2002, bà xuất hiện tại Luân Đôn trong vở diễn Up For Grabs tại Wyndhams Theatre (lấy tên là 'Madonna Ritchie'), với những phản hồi vô cùng tiêu cực và được mô tả là "sự thất vọng lớn nhất trong đêm". Tháng 10 năm đó, bà phát hành "Die Another Day", bài hát chủ đề cho bộ phim James Bond Die Another Day, nơi bà cũng có góp mặt trong một vai khách mời, với lời nhận xét từ The Guardian cho rằng diễn xuất của bà "cứng nhắc một cách đáng kinh ngạc". Bài hát vươn đến vị trí thứ 8 trên Billboard Hot 100, trong khi mang về cả hai đề cử "Bài hát trong phim hay nhất" tại giải Quả cầu vàng và giải Mâm xôi vàng cho "Bài hát trong phim dở nhất".
=== 2003–06: American Life và Confessions on a Dance Floor ===
Theo sau Die Another Day, Madonna hợp tác cùng nhiếp ảnh gia thời trang Steven Klein vào năm 2003 trong triển lãm mang tên X-STaTIC Pro=CeSS. Chương trình bao gồm những bức ảnh được chụp cho tạp chí W và 7 tiết mục video, diễn ra từ tháng 3 đến tháng 5 tại phòng triển lãm Deitch Projects đặt tại New York. Cùng năm đó, Madonna phát hành album phòng thu thứ 9 American Life, dựa trên quan điểm của bà về xã hội Hoa Kỳ; mang về những phản hồi trái chiều. Bà chia sẻ, "[American Life] giống như một chuyến đi trở về kỷ niệm, nhìn lại tất cả mọi thứ tôi đã hoàn thành và những điều tôi từng quý trọng và những thứ quan trọng với tôi." Larry Flick từ The Advocate gọi "American Life là một trong những album liều lĩnh và mang ca từ khôn ngoan nhất của bà" trong khi đánh giá đây là "một sản phẩm lười nhác, nửa vời để nhìn nhận bà và âm nhạc một cách nghiêm túc." Bài hát chủ đề của album vươn đến vị trí thứ 37 trên Hot 100. Video âm nhạc gốc của bài hát đã bị Madonna hủy bỏ do có nội dung liên quan đến bạo lực và chiến tranh, cùng lúc với thời điểm nước Mỹ đang có xung đột với Iraq. Với 4 triệu bản tiêu thụ trên toàn cầu, American Life từng là album có doanh số thấp nhất trong sự nghiệp của bà.
Không lâu sau, Madonna tham gia một màn trình diễn khêu gợi khác tại Giải Video âm nhạc của MTV 2003, trong khi trình bày "Hollywood" cùng Britney Spears, Christina Aguilera và Missy Elliott. Bà gây nên nhiều tranh cãi bằng một nụ hôn giữa Spears và Aguilera trên sân khấu. Vào tháng 10 năm 2003, Madonna tham gia làm khách mời trong đĩa đơn "Me Against the Music" của Spears. Sau đó, bà phát hành EP Remixed & Revisited, bao gồm phiên bản phối lại các bài hát trích từ American Life và "Your Honesty", một bài hát chưa ra mắt từ thời gian thu âm Bedtime Stories. Madonna còn ký một hợp đồng cùng Callaway Arts & Entertainment để trở thành tác giả cho 5 quyển sách dành cho trẻ em. Tác phẩm đầu tiên trong loạt sách này, mang tựa đề The English Roses, ra mắt vào tháng 9 năm 2003, kể về lòng đố kỵ diễn ra giữa 4 nữ sinh người Anh. Kate Kellway từ The Guardian nhận xét "[Madonna] là một diễn viên đang lấn sân sang một lĩnh vực không phải là lợi thế—một JK Rowling, một đóa hồng người Anh." Quyển sách dẫn đầu trong danh sách bán chạy nhất của New York Times và trở thành tập sách ảnh dành cho trẻ em bán chạy nhất mọi thời đại.
Năm kế đến, Madonna và Maverick khởi kiện Warner Music Group và công ty mẹ Time Warner, khẳng định chính sự quản lý tài nguyên lỏng lẻo và giấy tờ eo hẹp đã làm công ty thất thoát hàng triệu đô-la. Cuộc tranh chấp được dàn xếp khi cổ phần của Maverick, do Madonna và Ronnie Dashev sở hữu, được Warner mua lại. Công ty của Madonna và Dashev trở thành chi nhánh thuộc quyền sở hữu hoàn toàn của Warner Music, nhưng Madonna vẫn ký kết cùng Warner dưới một hợp đồng thu âm riêng biệt. Vào giữa năm 2004, Madonna mở màn lưu diễn Re-Invention World Tour tại Hoa Kỳ, Canada và châu Âu, trở thành chuyến lưu diễn thành công nhất năm 2004, thu về 120 triệu đô-la Mỹ và là chủ đề cho bộ phim tư liệu của bà, I'm Going to Tell You a Secret. Vào tháng 11 năm 2004, bà được bổ nhiệm vào Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Liên hiệp Anh như là một trong 5 thành viên sáng lập, cùng với The Beatles, Elvis Presley, Bob Marley và U2. Vào tháng 1 năm 2005, Madonna trình bày bài hát "Imagine" của John Lennon tại đêm nhạc Tsunami Aid: A Concert of Hope. Bà còn trình diễn tại đêm hòa nhạc từ thiện Live 8 ở Luân Đôn.
Album phòng thu thứ 10 của Madonna mang tên Confessions on a Dance Floor phát hành vào tháng 11 năm 2005. Album mang kết cấu do một DJ hộp đêm biên soạn; Keith Caulfield từ Billboard gọi album này là "sự chào đón trở lại của Nữ hoàng nhạc pop." Album giành giải Grammy cho "Album nhạc điện tử/dance xuất sắc nhất". Confessions on a Dance Floor cùng đĩa đơn đầu tiên, "Hung Up" lần lượt đạt ngôi quán quân tại 40 và 41 quốc gia trên toàn cầu, lập nên một kỷ lục thế giới mới. Bài hát có chứa đoạn nhạc mẫu từ "Gimme! Gimme! Gimme! (A Man After Midnight)" của ABBA, đánh dấu lần thứ hai mà nhóm nhạc này cho phép trích dẫn tác phẩm của họ. Tác giả Björn Ulvaeus từ nhóm ABBA nhận xét "Đây là một bài hát kỳ diệu—100% đậm chất pop." Đĩa đơn thứ hai, "Sorry" trở thành đĩa đơn quán quân thứ 12 của bà tại Vương quốc Liên hiệp Anh. Madonna mở màn Confessions Tour vào tháng 5 năm 2006, với lượng khán giả trên toàn cầu đạt 1.2 triệu người và mang về 193.7 triệu đô-la Mỹ, trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất của một nữ nghệ sĩ cho đến thời điểm trên. Madonna sử dụng nhiều biểu tượng tôn giáo trong chương trình, như Thánh giá hay Vương miện lá gai trong màn trình diễn "Live to Tell", gây nên nhiều tranh cãi trong các Giáo hội và khiến họ lên tiếng kêu gọi tẩy chay đêm nhạc của bà. Cùng thời điểm đó, Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế (IFPI) chính thức công nhận Madonna bán được hơn 200 triệu album trên toàn cầu.
Trong khi lưu diễn, Madonna mở ra Raising Malawi, một tổ chức quyên góp cho trẻ em cơ nhỡ tại Malawi và đích thân bà đã đến thăm đất nước của họ. Tại đó, bà quyết định nhận nuôi một bé trai tên là David Banda vào tháng 10 năm 2006. Việc nhận nuôi gây nên những phản ứng mạnh mẽ từ công chúng, vì luật pháp Malawi quy định người nhận nuôi phải có 1 năm cư trú tại đó. Bà diễn giải trên The Oprah Winfrey Show rằng Malawi không có quy định nào về việc nhận con nuôi dành cho những đôi vợ chồng người nước ngoài. Bà mô tả cách mà Banda phải trải qua căn bệnh viêm phổi sau khi mắc sốt rét và lao khi bà gặp cậu bé. Cha đẻ của Banda, Yohane lên tiếng rằng "Cái gọi là hoạt động từ thiện ấy đã giày vò tâm trí tôi hằng ngày. Vợ chồng Madonna đã yêu cầu tôi ủng hộ họ trong phiên tòa nhưng tôi nghĩ là mình không thể." Vụ việc hoàn tất vào tháng 5 năm 2008. Một dòng thời trang mang tên M by Madonna, thành quả hợp tác giữa Madonna với hãng bán lẻ H&M của Thụy Điển, bày bán trên thị trường quốc tế vào năm 2006. Bộ sưu tập bao gồm áo khoác da cỡ lớn, váy liền thân, quần ngố màu kem và áo khoác ngắn đồng bộ. H&M nhận xét bộ sưu tập phản ánh "phong cách trường tồn, độc nhất và luôn luôn thanh lịch" của Madonna.
=== 2007–09: Làm phim, Hard Candy và đầu tư kinh doanh ===
Madonna ra mắt bài hát "Hey You" cho chương trình hòa nhạc Live Earth dưới dạng tải nhạc số. Bà còn trình diễn bài hát tại đêm nhạc Live Earth tại Luân Đôn. Madonna thông báo rời khỏi Warner Bros. Records và ký kết một hợp đồng mới, trị giá 120 triệu đô-la Mỹ trong 10 năm cùng Live Nation. Bà sản xuất và sáng tác I Am Because We Are, một bộ phim tư liệu về các vấn đề mà người dân Malawi phải đối mặt do Nathan Rissman đạo diễn. Bà còn đạo diễn bộ phim đầu tay, Filth and Wisdom kể về câu chuyện giữa ba người bạn và khát khao của họ. The Times nhận thấy bà đã "khiến bản thân mình hãnh diện" trong khi The Daily Telegraph mô tả bộ phim là "nỗ lực đầu tiên [của Madonna] tuy không hoàn toàn thất bại [nhưng] nhà đạo diễn sẽ làm tốt để níu giữ công việc hàng ngày của mình." Vào tháng 12 năm 2007, Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll công bố Madonna là một trong 5 người được bổ nhiệm vào năm 2008. Trong buổi lễ bổ nhiệm vào ngày 10 tháng 3 năm 2008, Madonna nói lời cảm ơn đến Christopher Flynn, thầy giáo dạy khiêu vũ của bà từ 35 năm trước, bởi sự khuyến khích của ông để bà theo đuổi giấc mơ của mình.
Album phòng thu thứ 11 của Madonna mang tên Hard Candy phát hành vào tháng 4 năm 2008. Với những ảnh hưởng của R&B và urban pop, các bài hát trong Hard Candy đều mang tính tự truyện, hợp tác cùng Justin Timberlake, Timbaland, Pharrell Williams và Nate "Danja" Hills. Album này mở đầu tại vị trí đầu bảng tại 37 quốc gia và tại Billboard 200. Don Shewey từ Rolling Stone khen ngợi album là một "hương vị ấn tượng cho chuyến lưu diễn sắp tới." Các nhà phê bình đưa ra các đánh giá hầu hết là tích cực, mặc cho một vài ý kiến chê trách album như là "một hành động tiếp cận thị trường nhạc urban".
Đĩa đơn đầu tiên từ album, "4 Minutes" mở màn ở vị trí thứ 3 trên Billboard Hot 100, là bài hát đạt đến top 10 thứ 37 của Madonna trên bảng xếp hạng này—giúp bà vượt mặt Elvis Presley cho nghệ sĩ có nhiều bài hát vươn đến top 10 nhất. Tại Vương quốc Liên hiệp Anh, bà củng cố thêm cho kỷ lục của nữ nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn đạt ngôi quán quân nhất; "4 Minutes" là đĩa đơn thứ 13 của bà làm được điều này. Tại giải Japan Gold Disc Awards lần thứ 23, Madonna lần thứ 5 mang về giải "Nghệ sĩ của năm" từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản, nhiều hơn bất cứ nghệ sĩ nào. Để quảng bá album, Madonna mở màn cho Sticky & Sweet Tour; sự hợp tác lớn đầu tiên cùng Live Nation. Với doanh thu 280 triệu đô-la Mỹ, đây từng là chuyến lưu diễn thành công nhất của một nghệ sĩ đơn ca, phá vỡ kỷ lục trước đó của Madonna cùng Confessions Tour; trước khi bị vượt mặt lần nữa bởi The Wall Live của Roger Waters. Chương trình được mở rộng sang năm kế tiếp, với nhiều đêm diễn bổ sung tại châu Âu và mang về tổng doanh thu 408 triệu đô-la Mỹ sau khi kết thúc.
Vào năm 2008, Christopher Ciccone, em trai của Madonna, cho xuất bản cuốn tự truyện Life with My Sister Madonna, đạt hạng hai trong danh sách bán chạy nhất của New York Times. Quyển sách gây ra sự rạn nứt giữa hai chị em, vì không được bà cho phép phát hành. Các vấn đề cũng nảy sinh giữa Madonna và Ritchie, khi giới truyền thông cho rằng cả hai đang đứng trước bờ vực ly thân. Sau cùng, Madonna đệ đơn ly hôn với Ritchie, với lý do những bất đồng không thể hòa giải, được thông qua vào tháng 12 năm 2008. Bà quyết định nhận thêm một con nuôi từ Malawi. Tòa án tối cao của nước này lúc đầu ủng hộ việc nhận nuôi bé gái 4 tuổi có tên là Chifundo "Mercy" James, nhưng lại bác bỏ đơn xin nhận nuôi Mercy một lần nữa với lý do Madonna không phải là công dân Malawi. Khi luật sư của Madonna làm đơn kháng cáo, Tòa đã thay đổi quyết định và chính thức trao quyền nuôi Mercy James cho Madonna vào 12 tháng 6 năm 2009. Sau đó, Madonna phát hành Celebration, album tuyển tập thứ ba của Madonna và là sản phẩm cuối cùng giữa bà và Warner Bros. Album bao gồm 34 ca khúc xuyên suốt sự nghiệp của bà cùng hai ca khúc mới mang tên "Celebration" và "Revolver". Celebration vươn đến vị trí số 1 tại Vương quốc Liên hiệp Anh, giúp bà sánh bằng Elvis Presley cho nghệ sĩ đơn ca với nhiều album quán quân nhất lịch sử xếp hạng tại đây. Bà xuất hiện tại giải thưởng Video âm nhạc của MTV ngày 13 tháng 9 năm 2009 trong chương trình tưởng nhớ đến cố ngôi sao nhạc pop Michael Jackson.
Nhiều tranh cãi diễn ra khi Madonna quyết định nhận nuôi thêm một đứa trẻ khác từ Malawi. Bà được trao quyền nhận nuôi Chifundo "Mercy" James vào tháng 6 năm 2009. Madonna làm quen với Marcy từ thời gian bà nhận nuôi David. Bà của Marcy ban đầu không ủng hộ việc nhận nuôi, nhưng sau đó lại đồng ý, thổ lộ rằng "Ban đầu, tôi không muốn bà ấy đến nhưng khi cả gia đình chúng tôi ngồi xuống và thỏa thuận chấp nhận để Marcy đi. Người đàn ông cứ nài nỉ nhận nuôi Mercy và tôi không thể khước từ được nữa. Tôi vẫn yêu mến Mercy. Cô bé là người tôi quý mến nhất." Cha của Mercy vẫn cứng rắn cho rằng mình không thể ủng hộ việc nhận nuôi khi còn sống. Kết thúc thập niên 2000, Madonna là nghệ sĩ đơn ca bán chạy nhất thập niên tại Hoa Kỳ và là nghệ sĩ được nghe nhiều nhất thập niên tại Vương quốc Liên hiệp Anh. Billboard còn vinh danh bà là nghệ sĩ lưu diễn thành công thứ ba của thập niên—chỉ đứng sau The Rolling Stones và U2—với doanh thu hơn 801 triệu đô-la Mỹ, từ 6.3 triệu khán giả và 244/248 đêm cháy vé.
Madonna trình bày tại đêm nhạc Hope for Haiti Now: A Global Benefit for Earthquake Relief vào tháng 1 năm 2010. Vào tháng 4, bà phát hành album trực tiếp thứ 3, Sticky & Sweet Tour. Đây là sản phẩm đầu tiên của bà ra mắt thông qua hãng Live Nation, dù vẫn được phân phối bởi Warner Bros. Madonna cho phép chương trình truyền hình Mỹ Glee sử dụng toàn bộ mục lục âm nhạc của bà và nhà sản xuất dự định một tập phim độc quyền bao gồm những bài hát của Madonna. Glee: The Music, The Power of Madonna, một EP chứa 8 phiên bản trình bày lại các bài hát của Madonna xuất hiện trong tập phim này được phát hành sau đó và mở đầu ở vị trí đầu bảng Billboard 200. Madonna trình làng dòng thời trang Material Girl mà bà thiết kế cùng con gái, Lourdes. Lấy cảm hứng từ thời trang thập niên 1980, Material Girl lấy phong cách cô gái nổi loạn của Madonna khi bà mới nổi vào thập niên 1980, được ra mắt dưới nhãn hiệu Macy's. Madonna còn mở một loạt trung tâm thể hình trên toàn cầu mang tên Hard Candy Fitness. Vào tháng 11 năm 2011, Madonna và MG Icon thông báo phát hành dòng thời trang thứ 2 mang tên Truth or Dare by Madonna, bao gồm giày dép, nội y và phụ kiện đi kèm.
=== 2011–13: W.E., Super Bowl XLVI và MDNA ===
W.E., bộ phim dài thứ 2 do bà đạo diễn, kể về mối tình giữa Edward VIII của Anh và Wallis Simpson; do Alek Keshishian làm đồng biên kịch. Các phản hồi phê bình lẫn thương mại đến bộ phim này đều là tiêu cực. Madonna đóng góp bản ballad "Masterpiece" trong phần nhạc phim, mang về cho bà giải Quả cầu vàng cho "Ca khúc trong phim hay nhất". Vào năm 2012, Madonna trình diễn tại chương trình giữa giờ Super Bowl XLVI, do Cirque Du Soleil và Jamie King dàn dựng, với khách mời đặc biệt gồm ban nhạc LMFAO, Nicki Minaj, M.I.A. và Cee Lo Green. Đây từng là chương trình giữa giờ Super Bowl có lượng người xem cao nhất trong lịch sử với 114 triệu người xem, cao hơn cả lượng khán giả trung bình của trận đấu. Bà cũng thông báo ký kết một hợp đồng gồm 3 album cùng Interscope Records, nơi hỗ trợ phân phối cùng hợp đồng của bà với Live Nation.
Album phòng thu thứ 12 của bà, MDNA, phát hành vào tháng 3 năm 2013. Trong album này, bà hợp tác cùng nhiều nhà sản xuất, mà nổi bật là sự tái hợp cùng William Orbit và Martin Solveig. Album mang về các đánh giá tích cực, với Priya Elan từ NME gọi đây là "một cuộc nô đùa thú vị một cách lố bịch" và là "một trong số những điều nội tâm nhất mà bà từng thực hiện." MDNA mở màn tại vị trí đầu bảng Billboard 200 và nhiều quốc gia khác trên toàn cầu. Madonna phá vỡ kỷ lục của Elvis Presley cho nghệ sĩ đơn ca có nhiều album quán quân nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh. Đĩa đơn đầu tiên "Give Me All Your Luvin'", với sự góp mặt của Minaj và M.I.A., trở thành bài hát thứ 38 của Madonna xuất hiện trong top 10 Billboard Hot 100.
Chuyến lưu diễn quảng bá album The MDNA Tour mở màn vào tháng 5 năm 2012 tại Tel Aviv, Israel. Chuyến lưu diễn nhận được những phản hồi tích cực, nhưng lại gặp nhiều vấn đề gây tranh cãi như yếu tố bạo lực, súng cầm tay, nhân quyền, khỏa thân và chính trị. Chuyến lưu diễn đạt thành công thương mại lớn, với doanh thu 305.2 triệu đô-la Mỹ từ 88 đêm diễn cháy vé, trở thành chuyến lưu diễn thành công nhất năm 2012 và là chuyến lưu diễn có doanh thu cao thứ 10 mọi thời đại. Tại giải thưởng Âm nhạc Billboard 2013, Madonna giành 3 giải cho "Nghệ sĩ lưu diễn hàng đầu", "Nghệ sĩ dance hàng đầu" và "Album dance hàng đầu". Madonna là nghệ sĩ bội thu nhất của năm do Forbes bình chọn, thu về ước tính 125 triệu đô-la Mỹ, dựa trên thành công của chuyến lưu diễn.
Tính đến năm 2013, tổ chức Raising Malawi của Madonna đã xây dựng nên 10 trường học để phục vụ cho 4.000 trẻ em tại Malawi, với số tiền 400.000 đô-la Mỹ. Khi Madonna đến thăm những ngôi trường vào tháng 4 năm 2013, Tổng thống Malawi Joyce Banda lên tiếng chỉ trích Madonna cùng tổ chức từ thiện của bà, cáo buộc bà thổi phồng những đóng góp của tổ chức. Trong bài phát biểu hồi âm, Madonna chia sẻ nỗi buồn khi Banda đối xử một cách tiêu cực trước những nỗ lực của bà. "Tôi không có ý định sao nhãng trước những luận điệu lố bịch này," bà nói thêm. Sau đó, Banda xác nhận mình không cho phép đưa ra phát biểu trên cùng nhóm báo chí của bà và "vô cùng giận dữ" qua vụ nhầm lẫn này.
Hợp tác với nhiếp ảnh gia Steven Klein, Madonna thực hiện một bộ phim dài 17 phút mang tên secretprojectrevolution. Bà lựa chọn hợp tác cùng công ty BitTorrent trong quá trình phân phối, trước khi phát hành vào ngày 24 tháng 9 năm 2013, đi kèm với một loạt ảnh tĩnh, một bài phỏng vấn Vice và một thông điệp từ Madonna. Cùng với bộ phim, bà sáng lập nên dự án Art for Freedom, giúp quảng bá "nghệ thuật và tự do ngôn luận như là tiềm lực giải quyết các cuộc đàn áp và bất công trên toàn cầu." Trang mạng cho dự án có hơn 3.000 đệ trình nghệ thuật từ khi bắt đầu, trong khi Madonna thường xuyên kiểm tra và nhận được sự giúp đỡ từ các nghệ sĩ khác như David Blaine và Katy Perry trong vai trò quản lý khách mời.
=== 2014–nay: Rebel Heart ===
Bà lộ diện tại lễ trao giải Grammy lần thứ 56 vào tháng 1 năm 2014, trình bày "Open Your Heart" cùng rapper Macklemore & Ryan Lewis và ca sĩ Mary Lambert trong bài hát "Same Love", trong một đám cưới tập thể của 33 cặp đôi trên sân khấu, do Queen Latifah chủ trì. Nhiều ngày sau, bà góp mặt cùng Miley Cyrus trong chương trình MTV Unplugged đặc biệt, trình bày một bản mash-up của "Don't Tell Me" và đĩa đơn của Cyrus, "We Can't Stop" (2013). Bà còn mở rộng đầu tư kinh doanh của mình và ra mắt dòng sản phẩm chăm sóc da MDNA Skin vào tháng 2 năm 2014 tại Tokyo, Nhật Bản. Sau khi đến thăm quê nhà tại Detroit vào tháng 5 năm 2014, Madonna quyết định quyên góp cho 3 tổ chức trong thành phố để giúp đỡ xóa đói giảm nghèo.
Madonna bắt đầu thực hiện album phòng thu thứ 13 cùng Avicii, Diplo và Natalia Kills. Vào tháng 12 năm 2014, 13 bản thu thử cho album bị rò rỉ trên Internet. Bà đăng tải phản hồi, khẳng định phân nửa các bài hát trên sẽ không lọt vào phiên bản sau cùng, trong khi nửa còn lại đã "thay đổi và tiến triển". Album mang tựa đề Rebel Heart ra mắt vào tháng 3 năm 2015. Một trong những chủ đề chính trong đĩa nhạc này là sự mặc tưởng, cùng với "những phát biểu chân thực về bản thân và tham vọng sự nghiệp". Madonna giải thích với Jon Pareles của The New York Times rằng dù bà chưa bao giờ nhìn lại những nỗ lực trước đây, hồi tưởng về chúng lại là điều đúng đắn trong Rebel Heart. Giới phê bình đưa ra nhiều đánh giá tích cực tới album, gọi đây là tác phẩm xuất sắc nhất của bà trong hơn một thập niên. Rebel Heart là album đầu tiên của Madonna hụt mất vị trí dẫn đầu tại Billboard 200 kể từ năm 1998, nhưng giành hạng nhất tại nhiều thị trường âm nhạc lớn như Úc, Canada, Đức và Ý. Rebel Heart phát hành 3 đĩa đơn đạt quán quân bảng xếp hạng Dance Club Songs Hoa Kỳ, "Living for Love", "Ghosttown" và "Bitch I'm Madonna".
Bà mở đầu chuyến lưu diễn Rebel Heart Tour từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016 để quảng bá cho album này. Chương trình vòng quanh Bắc Mỹ, châu Âu, châu Á và là lần đến thăm châu Úc đầu tiên của Madonna trong 23 năm, nơi bà tổ chức thêm một đêm diễn cố định dành tặng người hâm mộ. Chuyến lưu diễn thu về 169.8 triệu đô-la Mỹ từ 82 đêm nhạc, với hơn 1.045 triệu vé tiêu thụ. Trong lúc lưu diễn, Madonna có liên quan đến vấn đề pháp lý với Ritchie, khi tranh chấp quyền giám hộ con trai Rocco. Cuộc tranh cãi diễn ra khi Rocco quyết định sống tại Anh cùng bố và Madonna muốn cậu quay lại với bà. Các phiên tòa diễn ra ở New York và Luân Đôn và Madonna quyết định rút lại đơn xin giám hộ, với mong muốn có một cuộc thảo luận giữa bà và Ritchie về Rocco.
Tháng 10 năm 2016, Billboard vinh danh Madonna là "Người phụ nữ của năm". Tại buổi lễ, bà đưa ra lời phát biểu "thẳng thắn và chân thực một cách tàn bạo" về con đường sự nghiệp và chủ nghĩa nữ quyền. Tháng kế đến, Madonna trình diễn trong một đêm nhạc tại Công viên quảng trường Washington để ủng hộ ứng cử viên Hillary Clinton trong cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2016. Madonna là một trong những người phát biểu sự bất mãn trước Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tại cuộc Tuần hành phụ nữ ở Washington, chỉ một ngày sau khi ông nhậm chức. Bà gây nhiều tranh cãi vì khẳng định "đã nghĩ đến việc muốn cho nổ tung Nhà Trắng". Ngày hôm sau, bà đính chính bản thân "không phải là người bạo loạn" và câu nói trên bị "xuyên tạc một cách dữ dội", nói thêm "Bài phát biểu ấy là lời ẩn dụ và tôi thường nghĩ về một sự vật theo hai hướng — đầy hy vọng, mà cũng rất giận dữ".
Bà dự định đồng sáng tác và đạo diễn bộ phim Loved, chuyển thể từ tiểu thuyết The Impossible Lives of Greta Wells của Andrew Sean Greer. Bộ phim kể về mối quan hệ giữa nhân vật chính và em trai Felix là người đồng tính. Tháng 2 năm 2017, Madonna được trao quyền nhận nuôi hai chị em song sinh 4 tuổi từ Malawi, tên là Esther và Stella.
== Phong cách nghệ thuật ==
=== Phong cách âm nhạc và sáng tác ===
Âm nhạc của Madonna là chủ đề cho nhiều phân tích và xem xét kỹ lưỡng. Robert M. Grant, tác giả của Contemporary Strategy Analysis (2005), cho rằng điều dẫn đến thành công của Madonna "chắc chắn không phải từ năng khiếu bẩm sinh. Trong vai trò của một ca sĩ, nhạc sĩ, vũ công, người viết bài hát hay diễn viên, tài năng của Madonna đều khá khiêm tốn." Ông khẳng định thành công của Madonna nằm ở tài năng của người khác, cùng những mối quan hệ riêng tư làm nền tảng cho nhiều sự biến hóa trong sự nghiệp kéo dài của bà. Ảnh hưởng của Madonna vượt xa tầm hiểu biết trong việc "Tìm nên một công thức thành công và làm đúng theo nó" của ngành công nghiệp âm nhạc. Sự nghiệp của bà là một sự thử nghiệm không ngừng nghỉ với nhiều ý tưởng âm nhạc và hình tượng mới mẻ và là một cuộc tìm kiếm đỉnh cao liên tiếp của danh vọng và sự tán dương. Grant tổng kết "quyết định đưa tên tuổi mình như là bà hoàng của dòng nhạc đại chúng, Madonna không chỉ dừng lại ở đó, mà còn tiếp tục tự tái sáng tạo mình." Nhà âm nhạc học Susan McClary viết "Chính bản thân nghệ thuật của Madonna đã liên tục mổ xẻ những quan niệm truyền thống về một chủ đề thống nhất với nhiều ranh giới bản ngã có giới hạn. Các tác phẩm của bà khai thác nhiều phương pháp cấu thành bản sắc, đồng thời chối bỏ tính ổn định, giữ nguyên dòng chảy và chống lại bất cứ sự định nghĩa nào."
Trong xuyên suốt sự nghiệp, Madonna tham gia sáng tác và sản xuất cho hầu hết âm nhạc của mình. Khả năng sáng tác sơ khai của Madonna được phát triển trong thời gian biểu diễn cùng Breakfast Club vào năm 1979. Theo tác giả Carol Gnojewski, ý định sáng tác đầu tiên của bà hình thành thông qua nhận thức về tầm quan trọng của việc tự mặc khải, khi Madonna chia sẻ: "Tôi không biết [những bài hát] xuất phát từ đâu. Chúng giống như ma thuật vậy. Tôi có thể viết một bài hát mỗi ngày. Tôi thốt lên rằng 'Ồ, đây là sứ mệnh của tôi'." Mark Kamins, nhà sản xuất đầu tiên của bà, tin rằng Madonna là "một nhạc sĩ và người viết lời bị xem nhẹ." Rolling Stone gọi bà là "một tác giả mẫu mực với năng khiếu sáng tác đoạn hook và lời ca đáng nhớ." Theo Freya Jarman-Ivens, khả năng phát triển những đoạn hook "đáng kinh ngạc" của Madonna trong những bài hát của mình đã giúp cho lời ca tạo được sự chú ý từ khán giả, mà không cần màng đến ảnh hưởng từ âm nhạc. Trong một ví dụ, Jarman-Ivens chỉ ra câu hát "Live out your fantasy here with me, just let the music set you free; Touch my body, and move in time, now I know you're mine" trong đĩa đơn năm 1985 "Into the Groove". Các sáng tác của Madonna thường mang tính tự truyện qua nhiều năm, mang các chủ đề trải dài từ tình yêu và các mối quan hệ, cho đến lòng tự trọng và ca ngợi vị thế của phụ nữ. Các bài hát của bà còn đề cập đến các vấn đề cấm kỵ và bất thường trong thời điểm phát hành, như về tình dục và AIDS trong Erotica (1992). Nhiều ca từ của bà có chứa nội dung ám chỉ và mang hai nghĩa, dẫn đến nhiều diễn giải từ giới phê bình âm nhạc lẫn học giả. Madonna từng hai lần được bổ nhiệm vào Đại sảnh danh vọng Sáng tác, trong buổi lễ năm 2014 và 2016.
Trước khi nổi danh là một ngôi sao nhạc pop, Madonna từng trải qua nhiều năm trong dòng nhạc rock cùng ban nhạc Breakfast Club và Emmy. Trong khi trình diễn cùng Emmy, bà thu âm khoảng 12-14 bài hát mang thể loại punk rock vào thời điểm đó. Gốc gác từ rock của Madonna có thể được nghe thấy từ album thu thử Pre-Madonna. Stephen Thomas Erlewine nhận thấy ở album phòng thu đầu tay cùng tên của bà, Madonna bắt đầu sự nghiệp của một nữ diva disco, trong một thời kỳ không có nhiều nữ danh ca phổ biến đến thế. Vào đầu thập niên 80, disco bị tẩy chay khỏi dòng nhạc pop đại chúng, và theo Erlewine, Madonna góp công lớn trong việc truyền bá nhạc dance vào dòng nhạc đại chúng. Các bài hát từ album bộc lộ nhiều xu hướng chủ đạo, giúp bà tiếp tục định nghĩa nên thành công của mình, bao gồm cách diễn đạt phần lớn dựa trên dòng nhạc dance, những đoạn hook bắt tai, phần cải biên tao nhã và chất giọng độc nhất của Madonna. Album phòng thu thứ 2, Like a Virgin (1984) là báo hiệu cho nhiều xu hướng xuất hiện trong các tác phẩm sau này của bà, bao gồm nhiều sự tham khảo từ các tác phẩm cổ điển (dòng tổng hợp pizzicato mở đầu "Angel"); khả năng nhận được những phản ứng tiêu cực từ các nhóm xã hội ("Dress You Up" nằm trong danh sách đen của Parents Music Resource Center); và phong cách retro ("Shoo-Bee-Doo", bài hát tri ân đến Motown của Madonna).
Lời tuyên bố nghệ thuật trưởng thành của Madonna dễ dàng được nhìn thấy trong True Blue (1986) và Like a Prayer (1989). Trong True Blue, bà kết hợp nhạc cổ điển nhằm tiếp cận đến đối tượng khán giả lớn tuổi hơn, những người thường tỏ vẻ hoài nghi đến âm nhạc của bà. Like a Prayer giới thiệu những ca khúc được thu âm trực tiếp và kết hợp nhiều thể loại âm nhạc, bao gồm nhạc dance, funk, R&B và phúc âm. Tính linh hoạt của bà còn được thể hiện trong I'm Breathless, nơi chủ yếu chứa những giai điệu showtune từ Broadway thập niên 1940-mang những ảnh hưởng từ jazz, swing và big band. Madonna tiếp tục sáng tác các bản ballad và dance tiết tấu nhanh trong Erotica (1992) và Bedtime Stories (1994). Cả hai album đều khám phá các yếu tố của new jack swing, với Jim Farber từ Entertainment Weekly khẳng định "bà có thể thật sự được nhìn nhận là mẹ đỡ đầu new jack swing." Bà cố gắng giữ vững nét hiện đại bằng việc kết hợp nhạc mẫu, mạch trống và hip hop vào âm nhạc của mình. Với Ray of Light, Madonna khiến nhạc điện tử trở nên phổ biến hơn trong bối cảnh âm nhạc đương đại.
Madonna thể nghiệm với folk và acoustic trong Music (2000) và American Life (2003). Có thể nhận thấy sự thay đổi trong nội dung bài hát ở Music, với hầu hết đều là những bản tình ca giản dị, nhưng mang giai điệu u sầu tìm ẩn. Theo tạp chí Q, American Life mang đặc điểm của "một giai điệu điện tử sôi động, dòng keyboard trong trẻo, một đoạn điệp khúc acoustic và một đoạn rap kỳ lạ của Madonna." "Các bài hát rock thông thường" của album tràn ngập lời ca sâu sắc về lòng yêu nước và thỏa hiệp, bao gồm sự xuất hiện của ca đoàn phúc âm trong "Nothing Fails". Madonna trở lại dòng nhạc dance với Confessions on a Dance Floor, chứa nhịp club và âm nhạc retro với lời ca mang phép ẩn dụ nghịch lý và đề cập đến các tác phẩm trước đây của bà. Madonna thay đổi sang hơi hướng urban cùng Hard Candy (2008), hòa hợp giữa R&B và hip hop cùng giai điệu dance. MDNA (2012) phần lớn tập trung vào dòng nhạc dance điện tử mà Madonna hướng đến từ Ray of Light.
=== Giọng hát và nhạc cụ ===
Sở hữu chất giọng mezzo-soprano (nữ trung), Madonna luôn e thẹn về giọng hát của mình, đặc biệt khi so sánh trước những ca sĩ thần tượng như Ella Fitzgerald, Prince và Chaka Khan. Mark Bego, tác giả cuốn Madonna: Blonde Ambition, gọi bà là "giọng ca hoàn hảo cho những bài hát nhẹ nhàng", dù không phải là một "tài năng nặng ký." Theo nhà phê bình Tony Sclafani của MSNBC, "giọng ca của Madonna là điểm then chốt đến gốc gác rock của bà. Ca sĩ nhạc pop thường hát những bài hát một cách 'chuẩn xác', nhưng Madonna lại dùng ẩn ý, sự trớ trêu, công kích và tất cả các loại giọng đặc biệt theo cách mà John Lennon và Bob Dylan đã thực hiện." Madonna sử dụng chất giọng timbre tươi sáng, nữ tính trong các album đầu tiên và thay thế điều đó trong những sản phẩm sau này. Sự thay đổi được cân nhắc từ khi giới phê bình thường xuyên đề cập đến giọng hát của bà như là "Chú chuột Minnie sử dụng khí heli". Trong thời gian ghi hình Evita, Madonna tham gia các khóa luyện giọng nhằm tăng cường quãng giọng. Bà bình luận về trải nghiệm này rằng, "Tôi học cùng một huấn luyện viên cho Evita và nhận ra phần lớn giọng của mình vẫn chưa được sử dụng. Trước đó, tôi tin mình đã thực sự đạt đến giới hạn giọng hát và dự định sử dụng hầu hết chúng."
Bên cạnh ca hát, Madonna còn có khả năng chơi một vài nhạc cụ. Bà học chơi trống và guitar từ người bạn trai cũ Dan Gilroy vào cuối thập niên 1970 trước khi gia nhập làm tay trống trong Breakfast Club. Điều này giúp bà lập nên ban nhạc Emmy, nơi bà trình diễn trong vai trò của một tay guitar và ca sĩ chính. Sau khi đạt thành công bứt phá, Madonna chủ yếu tập trung vào ca hát nhưng vẫn được ghi nhận chơi chuông trong Madonna (1983) và đàn synthesizer trong Like a Prayer (1989). Vào năm 1999, Madonna học chơi vĩ cầm trong 3 tháng để phục vụ cho vai diễn trong Music of the Heart, trước khi bỏ qua dự án. Sau hai thập niên, Madonna quyết định trình diễn bằng guitar lần nữa trong thời gian quảng bá Music (2000). Bà học các khóa chơi đàn từ tay guitar Monte Pittman để hoàn thiện thêm kỹ năng. Kể từ đó, Madonna thường xuyên chơi guitar trong các chuyến lưu diễn và album phòng thu. Tại giải Orville H. Gibson Guitar Awards 2002, bà được đề cử cho "Giải thưởng Les Paul Horizon" nhằm vinh danh những tay guitar có triển vọng.
=== Ảnh hưởng ===
Theo Taraborrelli, khoảnh khắc quyết định trong tuổi thơ của Madonna là cái chết bi thảm và không đúng lúc của mẹ bà. Bác sĩ tâm lý Keith Ablow cho rằng cái chết của mẹ bà có thể mang một ảnh hưởng quan trọng đến Madonna lúc thiếu thời, vào thời điểm mà cá tính của bà vẫn còn đang hình thành. Theo Ablow, đứa trẻ càng nhỏ trong thời điểm diễn ra mất mát lớn, thì ảnh hưởng đến chúng càng sâu sắc và kéo dài. Ông kết luận "một vài người không thể nào giảng hòa với bản thân vì một mất mát lớn ở thời niên thiếu, Madonna cũng không có khác biệt nào với họ." Ngược lại, tác giả Lucy O'Brien lại nhận xét chính những ảnh hưởng từ vụ cưỡng dâm đã là yếu tố thúc đẩy cho sự nghiệp của Madonna, thậm chí quan trọng hơn cả lúc mẹ bà qua đời: "Chỉ đôi chút đau buồn từ cái chết của mẹ là điều thúc đẩy bà, khi cảm giác bị bỏ rơi khiến bà không được chở che. Bản thân bà lại gặp phải tình huống xấu nhất lúc trở thành nạn nhân của bạo lực bởi nam giới và về sau toàn tâm đưa điều đó vào công việc của mình, lật lại thế cân bằng ở mọi cơ hội."
Khi lớn lên, chị em nhà Madonna cảm nhận được nỗi buồn sâu sắc khi những ký ức sinh động về mẹ mình bắt đầu phai nhạt dần. Họ nằm lòng những hình ảnh của bà ấy và bắt đầu tìm thấy nét tương đồng giữa bà cùng nhà thơ Anne Sexton và những nữ diễn viên Hollywood. Điều này giúp Madonna nuôi dưỡng niềm yêu thích với thơ ca, đặc biệt ở nhà thơ Sylvia Plath. Đến sau này, Madonna phát biểu rằng: "Chúng tôi đều bị tổn thương do [cái chết của bà ấy] và sau đó dành trọn cuộc đời còn lại để phản ứng, đối mặt hoặc cố biến chuyển nó thành một điều gì khác. Nỗi đau đớn khi mất mẹ khiến tôi cảm thấy cô độc và luôn khát khao một cách lạ thường về một điều gì đó. Nếu không cảm thấy trống trải đến thế, thì tôi đã không có được ngày hôm nay. Cái chết của bà rất quan trọng với tôi—sau khi vượt qua nỗi đau buồn—tôi tự nhủ mình phải thật mạnh mẽ nếu không có mẹ ở bên. Tôi sẽ tự chăm sóc cho mình." Taraborrelli cảm thấy trong thời gian đó, bởi sự suy sụp mà Madonna đã hứng chịu, bà không cho phép bản thân hoặc ngay cả đứa con gái của mình phải trải qua cảm giác bị ruồng bỏ mà bà phải trải qua trước kia. "Cái chết của bà ấy đã giúp [Madonna] rút ra một bài học quý giá, rằng bà sẽ phải tự đứng lên cho bản thân vì nỗi sợ yếu đuối—đặc biệt ở bản thân bà—và mong muốn trở thành nữ hoàng trong thành trì của riêng mình."
Vào năm 1985, Madonna tiết lộ bài hát đầu tiên gây ấn tượng mạnh đến bà là "These Boots Are Made for Walkin'" của Nancy Sinatra; bà mô tả bài hát tóm lược nên "thái độ kiểm soát" của chính mình. Khi còn trẻ, bà cố gắng mở rộng khiếu thẩm mỹ trong văn học, nghệ thuật và âm nhạc, đồng thời có niềm yêu thích đến nhạc cổ điển. Trong khi yêu thích nhạc baroque, Madonna còn cảm mến Mozart và Chopin vì "chất nữ tính" trong họ. Những ảnh hưởng lớn của Madonna bao gồm Karen Carpenter, The Supremes và Led Zeppelin, cùng các vũ công Martha Graham và Rudolf Nureyev. Buổi hòa nhạc đầu tiên mà Madonna có cơ hội đến dự là của David Bowie, người cũng được bà xem là nguồn cảm hứng lớn.
Xuất thân từ Ý và Thiên Chúa giáo cùng mối quan hệ với cha mẹ của Madonna được phản ánh trong album Like a Prayer. Đây là điểm sáng của những ảnh hưởng về tôn giáo xuất hiện trong sự nghiệp của bà. Video cho bài hát cùng tên có chứa các biểu tượng Thiên Chúa giáo, như dấu Thánh. Trong chuyến lưu diễn The Virgin Tour, bà mang một bộ tràng hạt và cầu nguyện cùng nó trong video âm nhạc "La Isla Bonita". Trong video âm nhạc "Open Your Heart", nhân vật của bà bị ông chủ quở trách bằng tiếng Ý. Trong Who's That Girl World Tour, bà đặc biệt trình diễn "Papa Don't Preach" đến Giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Thuở niên thiếu, Madonna tìm thấy cảm hứng ở các diễn viên, phát biểu "Tôi yêu mến Carole Lombard và Judy Holliday và Marilyn Monroe. Họ hài hước đến kinh ngạc... và tôi nhìn thấy mình ở họ... nét nữ tính, hiểu biết và sự trong trắng của tôi." Trong video "Material Girl", bà tái tạo lại hình ảnh của Monroe trong "Diamonds Are a Girl's Best Friend", trích từ bộ phim Gentlemen Prefer Blondes (1953). Bà tham khảo thể loại "kịch điên" ("screwball comedies") từ thập niên 1930, đặc biệt từ Lombard, để chuẩn bị cho bộ phim Who's That Girl. Video cho "Express Yourself" (1989) lấy cảm hứng từ bộ phim câm Metropolis (1927) của Fritz Lang. Video "Vogue" làm sống lại thời kỳ hoàng kim của Hollywood những năm 1930, đặc biệt từ Horst P. Horst, và mô phỏng tạo hình của Marlene Dietrich, Carole Lombard và Rita Hayworth, trong khi lời bài hát có nhắc đến nhiều ngôi sao đã tạo nên động lực cho Madonna, bao gồm Bette Davis, người được bà xem là một thần tượng. Dù vậy, sự nghiệp điện ảnh của Madonna lại bị giới phê bình chê trách. Stephanie Zacharek, nhà phê bình của tạp chí Time, khẳng định "[Madonna] trông cứng nhắc và gượng gạo khi là một diễn viên, và rất khó để xem vì bà rõ ràng đang cố làm quá sức mình." Theo nhà viết tiểu sử Andrew Morton, "Madonna mang một bộ mặt vững vàng trước những lời chỉ trích, nhưng bên trong bà thật sự bị tổn thương." Sau thất bại về doanh thu của Swept Away (2002), Madonna tuyên bố dừng nghiệp diễn xuất và hy vọng tai tiếng trong sự nghiệp điện ảnh của bà sẽ không bị đem ra bàn cãi lần nữa.
Các ảnh hưởng của bà cũng xuất phát từ hội họa, nổi bật là từ những tác phẩm của danh họa người Mexico Frida Kahlo. Video âm nhạc "Bedtime Story" có bao gồm nhiều hình ảnh lấy cảm hứng từ bức vẽ của Kahlo và Remedios Varo. Madonna còn là một nhà sưu tầm tranh Art Deco của Tamara de Lempicka và đem chúng vào những video âm nhạc và chuyến lưu diễn của mình. Video âm nhạc "Hollywood" (2003) là một sự thành kính gửi đến nhiếp ảnh gia Guy Bourdin; con trai của Bourdin sau đó đệ đơn kiện bà vì tự ý sử dụng các tác phẩm của cha mình. Các hình tượng mang tính bạo dâm trong các bộ phim underground của Andy Warhol được phản ánh trong các video âm nhạc "Erotica" và "Deeper and Deeper".
Madonna là một tín đồ của đạo Kabbalah; trong năm 2004, bà lấy tên Esther (theo tiếng Ba tư nghĩa là "ngôi sao"). Bà đã quyên góp hàng triệu đô-la Mỹ đến các ngôi trường dạy môn học này tại New York và Luân Đôn. Madonna phải đối mặt trước nhiều giáo sĩ, những người cảm thấy việc nhập đạo của bà là báng bổ và là sự ham mê không chính đáng của người nổi tiếng. Bà biện hộ cho hành động của mình, cho rằng "Mọi chuyện sẽ không ồn ào đến thế nếu tôi gia nhập Đảng Quốc xã" và sự liên quan đến đạo Kabbalah của bà "chẳng làm tổn hại gì đến ai cả". Những ảnh hưởng từ Kabbalah sau đó xuất hiện nhiều hơn trong âm nhạc của Madonna, đặc biệt ở các album Ray of Light và Music. Ở một tiết mục xuất hiện trong chuyến lưu diễn Re-Invention World Tour, Madonna và các vũ công mặc những chiếc áo thun in dòng chữ "Kabbalists Do It Better".
=== Video âm nhạc và trình diễn ===
Theo tác giả Allen Metz và Carol Benso trong The Madonna Companion, Madonna đã sử dụng hệ thống MTV và các video âm nhạc để thiết lập nên tính phổ biến và đề bật nên các tác phẩm thu âm của mình, nhiều hơn bất kỳ một nghệ sĩ nhạc pop tân thời nào. Theo họ, nhiều bài hát của bà sở hữu hình tượng có bối cảnh vững chắc trong video âm nhạc. Nhà phê bình văn hóa Mark C. Taylor có nhắc đến Madonna trong quyển Nots (1993), khi cảm thấy nét tuyệt diệu trong hình thức nghệ thuật hậu hiện đại là từ video và Madonna là "nữ hoàng video" tại vị. Ông còn khẳng định "thành tựu đáng chú ý nhất của MTV chính là Madonna. Phản hồi trước các video gợi dục quá mức của bà là điều mẫu thuẫn có thể được dự đoán trước." Giới truyền thông và phản ứng của công chúng trước những bài hát gây tranh cãi nhất của Madonna như "Papa Don't Preach", "Like a Prayer" và "Justify My Love" có liên quan mật thiết đến các video âm nhạc, yếu tố quảng bá và mang ảnh hưởng nhiều nhất đến các bài hát của bà. Morton cảm thấy "theo một cách khéo léo, các sáng tác của Madonna thường bị lu mờ trước những video nhạc pop gây ấn tượng mạnh của bà."
Các video âm nhạc đầu tiên của Madonna phản ánh phong cách Mỹ pha trộn Latin bụi bặm cùng nét khoa trương rực rỡ. Bà chuyển giao phong cách tiên phong trong thời trang trung tâm New York đến khán giả Mỹ. Hình tượng cùng sự sáp nhập văn hóa Latin và biểu tượng Thiên Chúa giáo tiếp tục xuất hiện trong các video kỷ nguyên True Blue. Theo tác giả Douglas Kellner, "động thái 'đa văn hóa' của bà đạt thành công đến mức tạo được sự yêu mến trong cộng đồng khán giả trẻ to lớn và đa dạng." Diện mạo mang nét Tây Ban Nha của Madonna trong các video trở thành một xu hướng thời trang vào thời gian đó, với điệu nhảy bolero và những chiếc váy nhiều lớp, cùng chuỗi tràng hạt và cây thánh giá trong video "La Isla Bonita".
Các học giả nhận thấy trong các video của Madonna, bà thường hoán đổi vai trò thường thấy của đàn ông như là giới tính chiếm ưu thế một cách tinh vi. Biểu trưng và hình tượng này xuất hiện nhiều nhất trong video âm nhạc "Like a Prayer", bao gồm nhiều cảnh của một ca đoàn nhà thờ Mỹ Phi, khi Madonna bị sao nhãng bởi một bức tượng thánh màu đen và trình bày trước một cây Thánh giá đang bốc hỏa. Sự hòa trộn giữa thiêng liêng và phàm tục này khiến Tòa thánh giận dữ và dẫn đến sự chấm dứt trong chiến dịch quảng bá cùng Pepsi. Vào năm 2003, MTV vinh danh bà là "Ngôi sao video âm nhạc vĩ đại nhất" và nhận xét "sự cải tiến, sáng tạo và đóng góp của Madonna đến hình thức video âm nhạc nghệ thuật đã giúp bà giành giải thưởng này."
Madonna bắt đầu nổi danh trong thời điểm bùng nổ của MTV; Chris Nelson từ The New York Times cho rằng "MTV, với các video hầu như chỉ nhép môi, mở ra một kỷ nguyên nơi người hâm mộ âm nhạc có thể vui vẻ dành cả ngày xem ca sĩ hát nhép." Mối quan hệ cộng sinh giữa video âm nhạc và nhép miệng dẫn đến mong muốn tái tạo hình tượng và bối cảnh trong video âm nhạc lên sân khấu trực tiếp. Ông nói thêm, "Các nghệ sĩ như Madonna hay Janet Jackson đã thiết lập nên tiêu chuẩn mới trong nghệ thuật quảng cáo, với những đêm nhạc không chỉ xuất hiện trang phục công phu và pháo hoa hẹn giờ chuẩn xác mà còn có vũ đạo vô cùng phức tạp. Các hiệu ứng này có thể ảnh hưởng đến chất lượng ca hát trực tiếp." Thor Christensen từ Dallas Morning News khẳng định khi Madonna bị phát hiện hát nhép trong Blond Ambition World Tour 1990, bà sau đó cải tổ lại phần trình diễn của mình bằng cách "hầu như đứng im trong những đoạn ca hát mãnh liệt nhất và dành lại phần vũ đạo cho vũ đoàn... hơn là cùng lúc cố gắng ngâm nga và nhảy hết mình."
Nhằm cử động uyển chuyển hơn khi đang hát và nhảy, Madonna là một trong những người tiên phong sử dụng bộ tai nghe micro tần số vô tuyến rảnh tay, với bộ ống nghe kẹp chặt bên tai hoặc trên đỉnh đầu, và micro dạng viên nang trên trục nối đến miệng. Vì được bà sử dụng thường xuyên, thiết kế microphone này trở nên nổi tiếng với cái tên "Madonna mic". Dù Madonna được nhìn nhận là một nhà trình diễn trong suốt sự nghiệp, với phần lớn diễn xuất điện ảnh bị chỉ trích, thì các màn trình diễn trực tiếp của bà lại được các nhà phê bình khen ngợi. Madonna là nghệ sĩ đầu tiên có các chuyến lưu diễn tái hiện lại những video âm nhạc của mình. Tác giả Elin Diamond giải thích khi tái tạo lại hình tượng từ video của Madonna trong dàn dựng trực tiếp, nét chân thực trong video gốc lại càng được gia tăng. Các màn trình diễn trực tiếp của bà cũng trở thành phương pháp đại diện quảng bá một cách tự nhiên. Taraborrelli cho rằng nhờ bao quát môi trường đa truyền thông, công nghệ và hệ thống âm thanh tân tiến, mà các đêm nhạc và những màn trình diễn của Madonna được xem là một "chương trình hoang phí và mang dáng dấp nghệ thuật."
== Di sản ==
Nhiều nhà báo âm nhạc, nhà lý luận phê bình và tác giả gọi Madonna là nữ nghệ sĩ thu âm có ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Tác giả Carol Clerk có viết "trong sự nghiệp của mình, Madonna đã vượt xa danh nghĩa của một 'ngôi sao nhạc pop' để trở thành một hiện tượng văn hóa trên toàn cầu." Tạp chí Rolling Stone Tây Ban Nha khẳng định "Bà trở thành hiện tượng Bậc thầy nhạc pop đầu tiên trong lịch sử, nhiều năm trước khi Internet được biết đến rộng rãi. Madonna ở khắp mọi nơi; trên các hệ thống truyền hình âm nhạc rộng lớn, đài phát thanh, trang bìa tạp chí và ngay cả trong các hiệu sách. Là một biện chứng chưa từng có của dòng nhạc pop, kể từ sự thống trị của The Beatles, cho phép bà giữ vững thăng bằng giữa xu hướng và tính thương mại." Laura Barcella trong quyển Madonna and Me: Women Writers on the Queen of Pop (2012) có viết rằng "thật vậy, Madonna đã thay đổi mọi thứ trong bối cảnh âm nhạc, diện mạo du jour những năm 80 và đáng kể nhất là những gì mà một nữ ngôi sao nhạc pop đương đại có thể (hoặc không thể) nói, thực hiện, hay hoàn thành trước con mắt dư luận." William Langley từ The Daily Telegraph cảm thấy "Madonna đã thay đổi lịch sử xã hội thế giới và thực hiện được nhiều điều hơn bất cứ ai khác." Alan McGee từ The Guardian cảm thấy Madonna là một thể loại nghệ thuật hậu hiện đại mà ta không còn được chứng kiến thêm lần nào nữa. Ông khẳng định chính Madonna và Michael Jackson đã sáng tạo nên danh hiệu Nữ hoàng và Ông hoàng nhạc pop.
Tony Sclafani từ MSNBC nhận thấy "trước Madonna, nhiều ngôi sao âm nhạc lớn đều là nam nhạc sĩ rock; sau khi bà đạt thành công, hầu hết họ đều là ca sĩ nữ... Khi The Beatles mang về vinh quang tại Mỹ, họ thay đổi mô hình của nghệ sĩ từ đơn ca sang ban nhạc. Madonna đã lật ngược tình thế—với sự nhấn mạnh ở nữ giới." Howard Kramer, giám đốc giám tuyển của Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, khẳng định "Madonna và sự nghiệp bà gầy dựng nên đã giúp nhiều nữ ca sĩ nhạc pop khác có cơ hội tiếp nối thành công... Bà chắc chắn đã nâng cao tiêu chuẩn của họ... và xác định lại thước đo cho nữ nghệ sĩ trình diễn đương đại." Theo Fouz-Hernández, nhiều nữ ca sĩ tiếp sau như Britney Spears, Christina Aguilera, Kylie Minogue, Spice Girls, Destiny's Child, Jennifer Lopez và Pink đều lớn lên cùng âm nhạc của Madonna và "quyết định trở thành một người như bà." Tạp chí Time xếp bà vào danh sách "25 người phụ nữ quyền lực nhất thập kỷ qua", nơi bà là một trong hai ca sĩ duy nhất xuất hiện, cùng với Aretha Franklin. Bà còn dẫn đầu trong danh sách "100 người phụ nữ vĩ đại nhất trong âm nhạc" và "50 người phụ nữ vĩ đại nhất kỷ nguyên video" do VH1 bình chọn.
Hình tượng gợi cảm của Madonna không chỉ giúp sự nghiệp của bà đạt thành công mà còn xúc tác cho nhiều cuộc đàm luận của công chúng về tình dục và chủ nghĩa nữ quyền. Theo tư liệu của Roger Chapman trong Culture Wars: An Encyclopedia of Issues, Viewpoints, and Voices, Volume 1 (2010), bà là đối tượng gây nên nhiều tranh cãi từ các Giáo hội, nhóm bảo thủ xã hội và bảo vệ trẻ em trước việc sử dụng lời ca và hình tượng gợi dục, biểu tượng tôn giáo và hành vi "không đúng mực" trong các màn trình diễn trực tiếp. The Times có viết bà "đã tạo nên cuộc cách mạng giữa phụ nữ trong âm nhạc... Thái độ và quan điểm của bà về tình dục, khỏa thân, phong cách và giới tính buộc dư luận phải ngồi xuống và chú ý." Giáo sư John Fiske nhận thấy tinh thần tự trao quyền mà Madonna mang lại có gắn bó chặt chẽ đến nỗ lực định nghĩa nên bản thân, tình dục và quan hệ xã hội cá nhân. Tác giả quyển Doing Gender in Media, Art and Culture (2009) có chú ý đến cách mà Madonna, một nữ ngôi sao, nghệ sĩ trình diễn và biểu tượng nhạc pop, có khả năng thay đổi quan niệm phản ánh và tranh cãi về chủ nghĩa nữ quyền. Theo nhà hoạt động chủ nghĩa nữ quyền đồng giới Sheila Jeffreys, Madonna đại diện cho sự thống trị của nữ giới về điều mà Monique Wittig gọi là thể loại giới tính, cũng như sự hùng mạnh và hân hoan đón nhận trách nhiệm tình dục về mình. Giáo sư Sut Jhally gọi Madonna "gần như là một biểu tượng thiêng liêng cho nữ quyền."
Madonna được ca ngợi trong vai trò của một nữ doanh nhân, khi "sở hữu được quyền kiểm soát tài chính mà nữ giới đã phải đấu tranh lâu dài trong ngành công nghiệp" và mang về doanh thu hơn 1.2 tỉ đô-la Mỹ ở thập kỷ đầu tiên trong sự nghiệp. Giáo sư Colin Barrow từ Cranfield School of Management mô tả Madonna là "nữ doanh nhân thông minh nhất nước Mỹ... người vươn đến đỉnh cao của ngành công nghiệp và giữ vững vị thế bằng cách tự tái sáng tạo chính mình." Viện hàn lâm London Business School gọi bà là một "doanh nhân năng động" đáng để học tập; họ xác định tầm nhìn thành công, sự thấu hiểu của bà về ngành công nghiệp âm nhạc, khả năng nhận biết giới hạn trình diễn (và mang lại sự giúp đỡ), sự tự nguyện nỗ lực chăm chỉ và khả năng tiếp nhận là những điểm then chốt dẫn đến thành công thương mại của bà. Morton có viết "Madonna biết nắm bắt cơ hội, lôi cuốn và tàn bạo—một người không chùn bước cho đến khi đạt được những gì mình muốn—và đó là điều nên học hỏi khi có thể phải khiến bạn mất đi những người thân yêu nhất. Nhưng điều đó không hề hấn gì với bà ấy." Hazel Blackmore và Rafael Fernández de Castro trong quyển ¿Qué es Estados Unidos? từ Fondo de Cultura Económica ghi nhận: "Madonna rõ ràng là người phụ nữ quan trọng nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng và bản thân cũng là một nữ doanh nhân vĩ đại; tạo nên xu hướng thời trang, phá vỡ những điều cấm kỵ và là đề tài gây tranh cãi."
== Thành tựu ==
Madonna đã bán được hơn 300 triệu đĩa thu âm trên toàn cầu. Sách Kỷ lục Guinness cho biết bà là nữ nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất và là nghệ sĩ bán chạy thứ 4 mọi thời đại, đứng sau The Beatles, Elvis Presley và Michael Jackson. Theo Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), bà là nữ nghệ sĩ rock bán chạy nhất thế kỷ 20 và là nữ nghệ sĩ có album bán chạy thứ hai tại quốc gia này, với 64.5 triệu chứng nhận album. Madonna là nghệ sĩ được chứng nhận nhiều nhất mọi thời đại tại Vương quốc Liên hiệp Anh, với 45 giải thưởng từ Công nghiệp ghi âm Anh, tính đến tháng 4 năm 2013. Billboard vinh danh Madonna là nữ nghệ sĩ lưu diễn thành công nhất mọi thời đại. Vào tháng 5 năm 2014, tạp chí này xếp bà là nghệ sĩ lưu diễn có doanh thu cao thứ 4 kể từ năm 1990 và đứng thứ 3 trong danh sách Billboard Boxscore mọi thời đại, với doanh thu 1.31 tỷ đô-la Mỹ, chỉ đứng sau The Rolling Stones (1.84 tỷ đô-la Mỹ) và U2 (1.67 tỷ đô-la Mỹ). Madonna đã mang về 20 giải Video âm nhạc của MTV, bao gồm giải Thành tựu trọn đời Video Vanguard Award vào năm 1986.
Madonna nắm giữ kỷ lục đạt nhiều vị trí quán quân nhất trên tất cả các bảng xếp hạng Billboard, bao gồm 12 bài hát đầu bảng Billboard Hot 100 và 8 album dẫn đầu Billboard 200. Với 46 bài hát đứng đầu Hot Dance Club Songs, Madonna trở thành nghệ sĩ có nhiều bài hát quán quân nhất trong một bảng xếp hạng Billboard còn hoạt động, phá vỡ kỷ lục 44 bài hát của George Strait trên Hot Country Songs. Bà còn có 38 đĩa đơn đạt top 10 trên Hot 100, nhiều hơn bất kể một nghệ sĩ nào trong lịch sử. Vào năm 2008, tạp chí Billboard xếp bà ở vị trí thứ 2, chỉ sau ban nhạc The Beatles, trong danh sách "Billboard Hot 100 All-Time Top Artists", giúp bà là nghệ sĩ đơn ca thành công nhất lịch sử bảng xếp hạng đĩa đơn Hoa Kỳ.
== Danh sách đĩa nhạc ==
Madonna (1983)
Like a Virgin (1984)
True Blue (1986)
Like a Prayer (1989)
Erotica (1992)
Bedtime Stories (1994)
Ray of Light (1998)
Music (2000)
American Life (2003)
Confessions on a Dance Floor (2005)
Hard Candy (2008)
MDNA (2012)
Rebel Heart (2015)
== Sự nghiệp điện ảnh ==
== Lưu diễn ==
The Virgin Tour (1985)
Who's That Girl World Tour (1987)
Blond Ambition World Tour (1990)
The Girlie Show World Tour (1993)
Drowned World Tour (2001)
Re-Invention World Tour (2004)
Confessions Tour (2006)
Sticky & Sweet Tour (2008–09)
The MDNA Tour (2012)
Rebel Heart Tour (2015–16)
== Sản phẩm kinh doanh ==
Boy Toy, Inc
Webo Girl Publishing, Inc (1992)
Maverick (1992)
Semtex Girls (2006)
Hard Candy Fitness (2010)
Truth or Dare by Madonna (2011)
== Xem thêm ==
Echiniscus madonnae
Danh sách nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa nhạc chạy nhất
Danh sách nghệ sĩ được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll
Kỷ lục của bảng xếp hạng Billboard Hot 100
Kỷ lục của bảng xếp hạng Billboard 200
Kỷ lục của UK Singles Chart
Danh sách nghệ sĩ nhạc dance-pop
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Thư mục ===
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Madonna trên Allmovie
Madonna trên AllMusic
Madonna tại Internet Movie Database
Madonna tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll
Madonna trên trang TCM Movie Database
Các công trình liên quan hoặc của Madonna trên các thư viện của thư mục (WorldCat) |
kinh tế học phát triển.txt | Kinh tế học phát triển là một chuyên ngành của kinh tế học ứng dụng đi tìm các phương thức để đưa một nền kinh tế kém phát triển thành một nền kinh tế thịnh vượng, nghiên cứu các đặc trưng kinh tế xã hội điển hình của một nền kinh tế kém phát triển từ quan điểm về nỗ lực của các hộ gia đình cũng như doanh nghiệp. Kinh tế học phát triển sử dụng tích cực các phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô khi nghiên cứu các nguyên nhân của phát triển kinh tế, các phương pháp của kinh tế học vi mô, và có thể bao gồm cả việc sử dụng các phương pháp toán học trên cơ sở toán cơ học như các phương trình vi phân và tối ưu hóa liên thời gian, hoặc sử dụng sự kết hợp giữa các phương pháp định lượng và định tính. Kinh tế học phát triển kết hợp các chiến lược về chính trị và xã hội để đưa được ra những kế hoạch về phát triển tại các nước thế giới thứ ba.
== Xem thêm ==
Đường cong Lorenz
Tình trạng nghèo đói
Chỉ số phát triển con người
== Tham khảo == |
quần đảo alexander.txt | Quần đảo Alexander (tiếng Anh: Alexander Archipelago) là một nhóm quần đảo chạy dài 300 dặm Anh ngoài khơi duyên hải đông nam Alaska. Nó gồm có khoảng 1.100 đảo là phần đỉnh của dãy núi duyên hải ngầm. Các dãy núi ngầm này nhô lên từ đáy Thái Bình Dương. Các eo biển sâu và các vịnh hẹp tách rời các đảo và cắt chúng khỏi phần đất liền. Phần phía bắc của Nội thủy lộ Alaska có nhiều đảo vây xung quanh khi thủy lộ này uốn ngoằn ngoèo quanh chúng.
Quần đảo này có các duyên hải dốc và bất thường và những khu rừng mưa ôn hòa quanh năm xanh tươi.
Các đảo lớn nhất là Đảo Chichagof, Đảo Admiralty, Đảo Baranof, Đảo Wrangell, Đảo Revillagigedo, Đảo Kupreanof, Đảo Dall và Đảo Prince of Wales. Tất cả các đảo này thì gồ ghề, rừng dày đặc và có đa dạng loài hoang dã.
Người Tlingit và người Kaigani Haida là dân bản thổ của vùng này. Người Tsimshian được thấy trên Đảo Annette có nguồn gốc không phải tại vùng này. Họ đã di cư đến vùng này từ British Columbia trong cuối thế kỷ 19.
Ketchikan trên Đảo Revillagigedo và Sitka trên Đảo Baranof là các thị trấn lớn nhất trên quần đảo. Thị trấn lớn của vùng là Juneau thật sự nằm trên đất liền và vì vậy không thuộc quần đảo.
Du lịch, đánh cá, và lâm nghiệp là các ngành công nghiệp chính của quần đảo.
Quần đảo này được người Nga viếng thăm vào năm 1741 và sau đó được thám hiểm bởi các nước Vương quốc Anh, Tây Ban Nha, và Hoa Kỳ. Kiểm soát quần đảo này được chuyển sang cho Hoa Kỳ từ Nga cùng với Vụ mua bán Alaska năm 1867.
Quần đảo có được cái tên của nó là từ tên của Alexander Baranov, người đứng đầu công ty mua bán da thú Nga có tên là Công ty Nga-Mỹ trong đầu thập niên 1800.
Trên một bản đồ Mỹ thuộc Nga (Alaska) năm 1860, nhóm đảo này được gọi là Quần đảo King George III.
57°29′B 135°06′T
== Tham khảo == |
saint vincent và grenadines.txt | Saint Vincent và Grenadines là một đảo quốc thuộc chuỗi đảo Tiểu Antilles trong lòng biển Caribe. Vùng lãnh thổ rộng 389 km² này bao gồm phần đảo chính Saint Vincent và phần lớn phía bắc Grenadines. Trước kia, trong suốt một thời gian dài từ thế kỷ 18 đến nửa cuối thế kỷ 20, nơi đây từng là thuộc địa cũ của thực dân Anh. Mãi tới năm 1979, đảo quốc này mới được trao trả nền độc lập. Ngày nay, Saint Vincent và Grenadines là một thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Khối Thịnh Vượng Chung và Cộng đồng Caribe.
== Lịch sử ==
Người Carib định cư trên đảo St. Vincent từ trước khi người châu Âu đặt chân đến. Đảo này vẫn còn nhiều những đồ tạo tác của người Carib xưa. Đảo này do Cristoforo Colombo phát hiện năm 1498 bị Anh và Pháp tranh giành quyền sở hữu, trở thành thuộc địa của Anh thông qua Hiệp ước Paris 1763. Năm 1773, đảo bị phân chia giữa người Anh và người Carib, nhưng xung đột vẫn kéo dài dai dẳng. Năm 1776, người Carib nổi dậy và bị đánh bại. Sau đó, thực dân Anh trục xuất họ sang các đảo trong vùng vịnh Honduras, và đem hàng ngàn người nô lệ châu Phi sang để phát triển các đồn điền mía.
Đảo này thuộc Liên hiệp Tây Ấn từ năm 1958 cho đến khi Liên hiệp này bị giải tán năm 1962, giành được độc lập năm 1979. Các đợt phun trào của núi lửa La Soufrière (1979), rồi đến cơn bão Allen (1980) gây thiệt hại trầm trọng đến nền kinh tế, đặc biệt là các vụ thu hoạch chuối.
Kinh tế bắt đầu phục hồi trong thập niên 1990 với sự phát triển của ngành du lịch.
Năm 1996, St. Vincent và Grenadines và Hoa Kỳ ký một hiệp định qua đó cho phép nhân viên của Cảnh sát liên bang Mỹ truy nã bọn buôn lậu ma tuý trong vùng lãnh hải nước này và cung cấp việc dẫn độ tội phạm.
== Chính trị ==
Saint Vincent và Grenadines là một nền dân chủ nghị viện và chế độ quân chủ lập hiến với Nữ hoàng Elizabeth II là người đứng đầu nhà nước, mang danh hiệu Nữ hoàng của Saint Vincent và Grenadines. Nữ hoàng có đại diện trong nước là Tòa quyền Sir Frederick Ballantyne.
Toàn quyền có chức năng chủ yếu là nghi lễ bao gồm việc khai mạc các cuộc họp của quốc hội và bổ nhiệm các quan chức chính phủ khác nhau. Quyền kiểm soát chính phủ thuộc về Thủ tướng được bầu trực tiếp và có quyền bổ nhiệm các vị trị trong nội các của mình. Thủ tướng hiện nay là Ralph Gonsalves.
== Địa lý ==
Saint Vincent và Grenadines nằm về phía tây của Barbados, phía nam giáp Saint Lucia và phía bắc giáp Grenada trong quần đảo Tiểu Antilles, một quần đảo hình vòng cung ở vùng biển Caribe. Các đảo Saint Vincent và Grenadines bao gồm hòn đảo chính Saint Vincent rộng 344 km2 và phía bắc là đảo Grenadines 45 km2 và một chuỗi các hòn đảo nhỏ trải dài về phía nam từ Saint Vincent đến Grenada.
Đảo Saint Vincent là đảo núi lửa và ít các vùng đất thấp. Phía đón gió của đảo có rất nhiều đá và dốc, trong khi phía dưới gió có những bãi cát ven biển và vịnh. Điểm cao nhất của nước này là núi lửa La Soufrière cao khoảng 1.234m.
== Kinh tế ==
Kinh tế quốc gia chủ yếu dựa vào trồng trọt và xuất khẩu chuối, dừa, các loại cây trồng cung cấp gia vị và hương liệu. Công nghiệp gồm các ngành khai thác (cát, sỏi) và sản xuất (bột, thuốc lá và rượu rum). Đánh bắt cá biển cũng giừ vai trò quan trọng. Du lịch phát triển ở các đảo phía Bắc (Grenadines).
Ngành nông nghiệp bị chi phối bởi sản xuất chuối, là lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế. Lĩnh vực dịch vụ, chủ yếu dựa vào một ngành công nghiệp du lịch phát triển, cũng rất quan trọng. Chính phủ đã giới thiệu một số ngành công nghiệp mới nhưng không thành công, và tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục tăng cao đến 22%. Sự phụ thuộc liên tục vào một loại cây trồng duy nhất đại diện cho cả nền kinh tế là những trở ngại lớn nhất để phát triển kinh tế của quốc đảo này.
Ngành du lịch có tiềm năng phát triển đáng kể. Việc bộ phim nổi tiếng Cướp biển Caribbean được quay trên đảo quốc này đã giúp cho ngành du lịch nước này phát triển. Tăng trưởng GDP gần đây đã được kích thích bởi hoạt động mạnh mẽ trong ngành xây dựng và cải thiện trong ngành du lịch.
Tính đến năm 2016, GDP của Saint Vincent và Grenadines đạt 766 USD, đứng thứ 182 thế giới và đứng thứ 10 khu vực Caribe.
== Hành chính ==
Saint Vincent và Grenadines được chia thành 6 giáo xứ. Năm giáo xứ ở Saint Vincent, trong khi giáo xứ thứ sáu được tạo thành từ các đảo Grenadine. Kingstown nằm trong Giáo xứ Saint George và là thành phố thủ đô cũng như là trung tâm hành chính của đất nước.
== Nhân khẩu ==
Tính đến tháng 5 năm 2009 dân số quốc đảo này là 104.574 người. Các thành phần dân tộc chính là 66% người gốc châu Phi, 20% có nguồn gốc khác, 6% người Ấn Độ, 4% người châu Âu (chủ yếu là người Bồ Đào Nha), 2% người Carib, 2% những người thuộc sắc tộc khác. Người gốc châu Phi là con cháu của người châu Phi được thực dân Bồ Đào Nha mang đến hòn đảo này để làm việc trên các đồn điền. Có những nhóm dân tộc khác như người Bồ Đào Nha (đến từ Madeira) và Đông Ấn Độ, cả hai sắc tộc này được đưa đến để làm việc trên các đồn điền sau khi bãi bỏ chế độ nô lệ đối với người Anh, và người Syria sống trên đảo. Ngoài ra còn có một dân số ngày càng tăng của người Trung Quốc.
== Xem thêm ==
Quan hệ ngoại giao của Saint Vincent và Grenadines
Vận tải tại Saint Vincent và Grenadines
Hội hướng đạo sinh Saint Vincent và Grenadines
Wesley Charles
== Tham khảo ==
Bobrow Jill & Jinkins Dana. 1985. St. Vincent and the Grenadines. 4th Edition Revised and Updated, Concepts Publishing Co., Waitsfield, Vermont, 1993.
Gonsalves Ralph E. 1994. History and the Future: A Caribbean Perspective. Quik-Print, Kingstown, St. Vincent.
Williams Eric. 1964. British Historians and the West Indies, Port-of-Spain.
CIA Factbook entry
US Dept of State Profile
== Liên kết ngoài ==
St. Vincent Paper Money
St Vincent and the Grenadines Genealogy Research
Official website of the Government of St. Vincent and the Grenadines
Official website of the SVG Indian Heritage Foundation
== Chú thích == |
abe shinzō.txt | Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Abe. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Abe Shinzō (安倍 晋三, あべ しんぞう, An Bội Tấn Tam, [abe ɕinzoː] (); sinh 21 tháng 9 năm 1954) là đương kim Thủ tướng Nhật Bản. Ông cũng từng là Thủ tướng từ ngày 26 tháng 9 năm 2006 đến ngày 26 tháng 9 năm 2007. Ông là người nhậm chức lúc trẻ nhất trong các Thủ tướng Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II và là Thủ tướng đầu tiên sinh sau Chiến tranh. Năm 2007, ông Abe từ chức Thủ tướng và chức Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do khi chưa làm được một năm, sau thất bại thảm hại của đảng này khi bầu cử Thượng viện. Kế nhiệm Abe là Fukuda Yasuo, người đáng lẽ đã làm Thủ tướng nhưng đã không ra ứng cử trước đó. 5 năm sau khi từ chức Thủ tướng và Chủ tịch Đảng, Abe lại tranh cử Chủ tịch Đảng và được bầu làm Chủ tịch Đảng trở lại vào ngày 26/9/2012. Trong cuộc tổng tuyển cử Nhật Bản năm 2012, đảng Dân chủ Tự do giành thắng lợi, Abe quay lại làm Thủ tướng Nhật Bản thêm một nhiệm kỳ nữa từ ngày 26 tháng 12 năm 2012.
== Tiểu sử ==
21 tháng 9 năm 1954: Sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm chính trị, có ông là cựu Thủ tướng Kishi Nobusuke, cha của ông từng là ngoại trưởng tại Tokyo, nhưng quê cha ở thị trấn Yuya (油谷町), nay là thành phố Nagato (長門市), tỉnh Yamaguchi (山口県). Cha là Abe Shintarō, mẹ là Kishi Yoko.
Tháng 3, 1977: Tốt nghiệp chuyên ngành chính trị học tại Khoa Luật, Đại học Seikei (成蹊大学)
Tháng 4, 1977: Làm việc ở Công ty Thép Kobe - KOBELCO (神戸製鋼所)
Tháng 11, 1982: Rời khỏi KOBELCO để làm thư ký (秘書官, bí thư quan) cho Bộ trưởng Ngoại giao Abe Shintarō.
Tháng 11, 1993: Được bầu vào Hạ viện Nhật Bản lần thứ nhất.
Tháng 10, 1999: Lên làm Chủ tịch Ủy ban Phúc lợi Xã hội của Hạ viện Nhật Bản.
Tháng 7, 2000: Làm Phó Chánh văn phòng Chính phủ (官房副長官, quan phòng phó trưởng quan) trong Chính phủ nhiệm kỳ thứ hai của Thủ tướng Mori Yoshirō.
Tháng 4, 2001: Làm Phó Chánh văn phòng Chính phủ trong Chính phủ của Thủ tướng Koizumi Junichirō.
Tháng 9, 2003: Làm tổng thư ký (tức phụ tá cho Chủ tịch) cho Đảng Dân chủ Tự do (自由民主党) của Nhật Bản.
Tháng 9, 2004: Làm trưởng ban Ban Xúc tiến Cải cách Đảng Dân chủ Tự do.
Tháng 10, 2005: Làm chánh văn phòng (官房長官, quan phòng trưởng quan) trong Chính phủ nhiệm kỳ thứ ba của Thủ tướng Koizumi Junichirō.
2006: Làm Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do và trở thành thủ tướng thứ 90 của Nhật Bản ở tuổi 52, thủ tướng trẻ nhất thời hậu chiến.
12 tháng 9 năm 2007: Nhiệm kỳ của ông lại bị phá hỏng vì hàng loạt cuộc từ chức của các Bộ trưởng Nội các và vụ tiết lộ về việc để mất số liệu lương hưu. Ông từ chức sau một năm tại nhiệm với lý do sức khỏe.
26 tháng 9 năm 2012: Abe giành được 108 trong tổng số 198 phiếu bầu chức Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do. Ông là người đầu tiên hai lần giữ chức chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do.
== Chủ trương trong nhiệm kỳ thủ tướng từ 26/12/2012 ==
Ông Abe có lập trường cứng rắn đối với tranh chấp quần đảo Senkaku. Abe cho rằng "Trung Quốc đang thách thức một thực tế rằng quần đảo là lãnh thổ vốn có của Nhật Bản. Mục tiêu của chúng ta là phải ngăn chặn ngay những thách thức ấy",..
Ông phủ nhận tội ác chiến tranh của Nhật Bản trong thế chiến 2 và ủng hộ việc tu chính Hiến pháp Nhật Bản để tăng quyền lực cho Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản.
Về chính sách đối với kinh tế Nhật Bản, ông Abe có chủ trương cố gắng kết thúc sự giảm phát, nâng cao giá trị đồng yên và thúc đẩy kinh tế phát triển.
Ngược với chủ trương của Yoshihiko Noda là tăng thuế để chi trả khối nợ công khổng lồ, Abe cam kết sẽ nới lỏng một cách "không hạn chế" chính sách tiền tệ, đồng thời tăng chi tiêu công.
Đối với điện hạt nhân, một trong những vấn đề quan trọng được người dân Nhật quan tâm, đảng Dân chủ Tự do sẽ ủng hộ việc phát triển nguồn năng lượng hạt nhân bất chấp thảm họa nhà máy điện Fukushima I năm 2011.
Ông Abe cũng thể hiện mong muốn Nhật Bản đóng góp một vai trò quan trọng hơn trong vấn đề an ninh toàn cầu.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official website (tiếng Nhật)
Abe Shinzō trên Twitter
Abe Shinzō trên Facebook
Prime Minister of Japan Official Website (tiếng Anh)
Discussion of the Prime Minister's policies and actions (tiếng Anh)
Biography by CIDOB Foundation (tiếng Tây Ban Nha) |
tầng lớp trung lưu.txt | Thông thường, thuật ngữ tầng lớp trung lưu thường được dùng để chỉ những người có một mức độ độc lập kinh tế nào đó, nhưng không có ảnh hưởng quá lớn trong xã hội hay quyền lực trong xã hội của họ. Thuật ngữ này thường bao gồm các nhà buôn, những người có tay nghề, quan chức, và một số nông dân cũng như thợ thủ công có trình độ cao . Trong khi đa số người Mỹ tự coi mình thuộc tầng lớp trung lưu, chỉ 20% trong số đó có phong cách sống của Tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ. Tuy nhiên, số 20% đó cũng được coi là Tầng lớp trung lưu chuyên nghiệp và là những thành viên có ảnh hưởng trong xã hội vì công việc của họ và tầng lớp này được coi là người tạo nên khuynh hướng chủ đạo của Mỹ.
Các thứ bậc xã hội, và những định nghĩa thứ bậc đó rất khác biệt. Có nhiều nhân tố có thể dùng để định nghĩa tầng lớp trung lưu của một xã hội, như tài chính, các ứng xử và đất đai thừa kế. Tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác, tài chính là nhân tố quan trọng nhất định nghĩa vị trí một người trong xã hội. Ở các nước khác, có thể là các nhân tố xã hội như giáo dục, nghề nghiệp (cổ cồn trắng hơn cổ cồn xanh), nhà cửa, hay văn hoá.
Nghĩa rộng của thuật ngữ này cũng khác biệt rất lớn tùy theo từng nước. Ở Hoa Kỳ, từ này được sử dụng với phạm vi ngày càng rộng nhưng hầu như luôn là nghĩa khẳng định, đề cập tới hình ảnh của một người khiêm tốn, không phô trương, làm việc chăm chỉ trái ngược với một người thuộc tầng lớp thượng lưu hay tầng lớp bóc lột. Tại Anh Quốc và nhiều nước thuộc Khối thịnh vượng chung, thuật ngữ này thỉnh thoảng mang ý nghĩa miệt thị, ngụ ý một kẻ trưởng giả học đòi dáng bộ cầu kỳ, trái ngược với một người lao động chăm chỉ thuộc tầng lớp lao động. (xem thêm chattering classes.)
== Lịch sử và sự phát triển thuật ngữ ==
Tầng lớp trung lưu trong bày này hàm ý chỉ những người không thuộc tầng lớp trên cùng cũng không thuộc tầng lớp dưới cùng của một hệ thống cấp bậc xã hội. Không phải tất cả mọi người đều chấp nhận ví dụ định nghĩa ở trên, bởi vì thuật ngữ "tầng lớp trung lưu" đã có lịch sử lâu dài, và thỉnh thoảng mang những nghĩa trái ngược. Nó từng được định nghĩa theo cách loại trừ là một tầng lớp xã hội trung gian giữa quý tộc và nông dân ở Châu Âu. Trong khi quý tộc sở hữu đất đai thôn quê, và người nông dân làm việc trên đồng ruộng, một tầng lớp trưởng giả mới (theo nghĩa đen "những người thành thị") bắt đầu xuất hiện và hoạt động trong lĩnh vực thương mại tại thành phố. Điều này dẫn tới kết quả là tầng lớp trung lưu thường là giai cấp giàu có nhất xã hội (trong khi ngày nay nhiều người dùng thuật ngữ này theo định nghĩa chỉ nói tới những người giàu có ở mức trung bình.)
Từ sự khác biệt đó, chữ "tầng lớp trung lưu" đã được sử dụng ở Anh Quốc trong thế kỷ 18 để miêu tả tầng lớp chuyên nghiệp và thương gia, như một tầng lớp khác biệt khỏi cả giới quý tộc tước hiệu và quý tộc chủ đất và cả những người lao động nông nghiệp và (ngày càng tăng) công nghiệp. Trong suốt thế kỷ 20, quý tộc tước hiệu của Anh trở nên ít thuần nhất hơn. Điều này bởi lai lịch ngày càng rộng của những người mới được phong tước, đa số họ về chính trị bị điều khiển bởi cái gọi là tầng lớp trung lưu, và sự giảm sút quyền lực của Thượng nghị viện so với Hạ nghị viện sau Luật nghị viện năm 1911. Khi mà yếu tố truyền tử của tầng lớp còn được quan tâm, danh hiệu tầng lớp trên trở nên ít hơn bởi sự hầu như ngừng lại của những tước phong sau Luật quý tộc trọn đời năm 1958. Điều này cộng với tỷ lệ suy vong tự nhiên của các danh hiệu cha truyền con nối và sự hầu như xoá bỏ yếu tố truyền tử trong Thượng nghị viện hồi cuối thế kỷ 20. Ở điểm này, các danh hiệu cha truyền con nối không thể là yếu tố để được là "tầng lớp trên," dù họ thực sự có kiểu cách bên trong tầng lớp trên. Tầng lớp trung lưu đã giúp cuộc Cách mạng Pháp diễn ra.
Đầu thời chủ nghĩa tư bản công nghiệp, tầng lớp trung lưu được định nghĩa chủ yếu là những công nhân cổ trắng—những người làm công ăn lương (như mọi người công nhân), nhưng làm công việc của mình trong những điều kiện dễ chịu và an toàn hơn so với điều kiện làm việc của những công nhân cổ xanh của "giai cấp công nhân." Sự mở rộng của thuật ngữ "tầng lớp trung lưu" tại Hoa Kỳ hầu như đã được khẳng định trong thập niên 1970 bởi sự suy tàn của các liên minh lao động ở Hoa Kỳ và sự tham gia của những phụ nữ trước kia chỉ làm việc nhà vào lực lượng lao động công. Một số lượng lớn công việc cổ cồn hồng xuất hiện, theo đó mọi người có thể tránh các điều kiện làm việc nguy hiểm của cổ cồn xanh và vì thế có thể tự tuyên bố là "tầng lớp trung lưu" thậm chí khi họ kiếm tiền ít hơn nhiều so với một công nhân cổ cồn xanh không thuộc tổ chức công đoàn.
Tại Hoa Kỳ, tới cuối thế kỷ 20, có nhiều người tự xác định họ thuộc tầng lớp trung lưu hơn là tầng lớp thấp hay giai cấp "lao động", với một số ít người tự coi mình là giới thượng lưu. Trái lại, tại Anh Quốc, nhiều người theo truyền thống sẽ được coi là thuộc tầng lớp trung lưu hiện tự coi mình thuộc giai cấp lao động. Những cuộc điều tra gần đây cho thấy hai phần ba người Anh muốn tự coi mình thuộc tầng lớp lao động. Điều này đã được miêu tả như một hình thức của sự "đảo ngược hành vi." Tuy nhiên Công đảng anh, phát triển từ phong trào lao động có tổ chức và ban đầu cho rằng hầu hết người ủng hộ họ thuộc tầng lớp lao động, đã tái định nghĩa mình dưới thời Tony Blair những năm 1990 là "Công đảng mới," một đảng cạnh tranh với Đảng bảo thủ về những lá phiếu của tầng lớp trung lưu cũng như tầng lớp lao động. Quy mô của tầng lớp trung lưu dựa trên việc họ tự định nghĩa như thế nào, hoặc theo giáo dục, tài sản, môi trường dạy dỗ, các mối quan hệ di truyền học, mạng lưới xã hội, cách cư xử hay các giá trị vân vân. Chúng đều liên quan lẫn nhau, dù không hoàn toàn phụ thuộc lẫn nhau. Các yếu tố sau thường được gán cho trong cách sử dụng thuật ngữ "tầng lớp trung lưu" hiện đại:
Hoàn thành giáo dục cấp ba, gồm mọi nhà tài chính, luật sư, bác sĩ và mục sư không cần biết tới nhiệm vụ hay tài sản của họ.
Niềm tin vào các giá trị tư sản, như tỷ lệ sở hữu nhà cao hay sở hữu nhà cho thuê và các công việc được chấp nhận là "bảo đảm." Tại Hoa Kỳ và Anh Quốc, các chính trị gia thường tập trung vào các phiếu bầu của tầng lớp trung lưu.
Phong cách sống. Tại Anh Quốc, vị thế xã hội đã không còn liên quan trực tiếp nhiều tới tài sản như tại Hoa Kỳ, và đã được xét theo các yếu tố như sự phân biệt, cách cư xử, nơi giáo dục và tầng lớp của những người bạn. Thông thường tại Hoa Kỳ, tầng lớp trung lưu là những người dễ tham gia nhất vào văn hoá pop. Thế hệ thứ hai của những người nhập cư mới thường từ bỏ văn hoá dân gian truyền thống của họ như một dấu hiệu đã bước vào tầng lớp trung lưu.
== Sự chỉ trích tầng lớp trung lưu Anh ==
Trái lại, tác gia Anh Alexander Deane nghĩ rằng tầng lớp trung lưu không gặp phải mối đe doạ, mà thực sự là nguyên nhân của các vấn đề. Theo cách tiếp cận của ông, các yếu tố kinh tế phải được đặt sau các yếu tố đạo đức, và tầng lớp trung lưu Anh Quốc không thực hiện các nghĩa vụ như họ phải làm.
Mọi người cũng tin rằng công đảng có mục tiêu cho tầng lớp trung lưu, khi được phỏng vấn một thành viên công đảng đã nói "Nó không khác biệt từ 90% số người không thể hay có thể thực hiện với một trợ cấp" khi trả lời một câu hỏi về việc người thuộc tầng lớp trung lưu mất trợ cấp.
== Chủ nghĩa Mác và Tầng lớp trung lưu ==
Chủ nghĩa Mác không cần thiết xem những nhóm người được miêu tả ở trên là tầng lớp trung lưu. Tầng lớp trung lưu không phải là một tiêu chí cố định trong Chủ nghĩa Mác, và tranh cãi tiếp tục diễn ra về nội dung của nhóm xã hội này.
Chủ nghĩa Mác định nghĩa các tầng lớp xã hội không phải theo tài sản hay danh tiếng của các thành viên của nó, mà theo quan hệ của họ với phương tiện sản xuất: một người quý tộc sở hữu đất đai; một nhà tư bản sở hữu tư bản; một công nhân có khả năng làm việc và phải tìm kiếm việc làm để mưu sinh. Tuy nhiên, giữa người cai trị và người bị trị thường có một nhóm người, thường được gọi là tầng lớp giữa, thiếu một mối quan hệ đặc trưng. Về mặt lịch sử, trong thời phong kiến, giai cấp tư sản là tầng lớp giữa. Mọi người thường miêu tả những người tư sản là "tầng lớp giữa theo quan điểm Mác", nhưng điều này không chính xác. Chủ nghĩa Mác nói rằng tầng lớp tư sản là tầng lớp cai trị (hay tầng lớp trên) trong một xã hội tư bản.
Những người theo chủ nghĩa Mác tranh luận mạnh mẽ về thành phần chính xác của tầng lớp trung lưu ở chủ nghĩa tư bản. Một số miêu tả một "tầng lớp ngang hàng" thực hiện chủ nghĩa tư bản thay cho những nhà tư bản, gồm cả tiểu tư sản, người chuyên môn và nhà quản lý. Những người khác không đồng ý với điều này, sử dụng tự do thuật ngữ "tầng lớp trung lưu" để chỉ những người công nhân cổ cồn trắng hữu sản như được miêu tả ở trên (thậm chí, trong các thuật ngữ của Chủ nghĩa Mác, họ là một phần của giai cấp lao động vô sản). Những người khác (ví dụ, Hội đồng cộng sản) cho rằng có một tầng lớp gồm trí thức, những nhà kỹ trị và những người quản lý đang tìm quyền lực của riêng họ. Nhóm những người cộng sản cuối cùng này cho rằng tầng lớp trung lưu gồm những nhà kỹ trị đó đã nắm quyền lực và chính phủ cho riêng họ trong các xã hội kiểu Xô viết (xem chủ nghĩa kết hợp).
== Tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ ==
Xem Tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ để có cái nhìn toàn diện về tầng lớp trung lưu ở Hoa Kỳ.
Tại Hoa Kỳ định nghĩa tầng lớp trung lưu rất mơ hồ bởi không một nhà kinh tế hay bất kỳ một nhà xã hội nào từng đặt ra hay phát triển chính xác những yếu tố để định nghĩa rõ tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ và các phụ nhóm. Dường như có nhiều cách tiếp cận tới cái là tầng lớp trung lưu. Bởi những khuynh hướng kinh tế gần đây đã cho thấy rằng thống kê tầng lớp trung lưu của xã hội Mỹ thực tế không thể đảm bảo phong cách sống đặc trưng của tầng lớp trung lưu, vốn chỉ 20% dân số đáp ứng được, thuật ngữ tầng lớp trung lưu cũng có thể được áp dụng trực tiếp choreltive elite của những người chuyên môn và quản lý. Nhóm này thỉnh thoảng được gọi là tầng lớp trên trung lưu, tầng lớp trung lưu thực sự hay thiểu số tầng lớp trung lưu chuyên nghiệp có giáo dục cao, được trả lương tốt, hầu như miễn nhiễm với các đợt suy giảm kinh tế có thể ảnh hưởng mạnh tới tầng lớp trung thực tế của xã hội. Hiện tại các định nghĩa khác chỉ đơn giản sử dụng thu nhập và nói tầng lớp trung lưu là tất cả những người có thu nhập từ 80% đến 120% của mức trung bình quốc gia hay những người kiếm từ $25.000 đến $100.000 mỗi năm. Vấn đề với hai lý thuyết này là lý thuyết thứ nhất thực tế không đáp ứng được phong cách sống của tầng lớp trung lưu và lý thuyết thứ hai quá phân mảnh về kinh tế, gồm cả những người trông nom nhà cửa và những người chuyên nghiệp trong cùng một tầng lớp.
== Tham khảo == |
lễ phật đản.txt | Phật Đản (chữ Nho 佛誕 -nghĩa là ngày sinh của đức Phật); hay là Vesak (Pali; tiếng Phạn: Vaiśākha, Devanagari: वैशाख, Sinhala: වෙසක් පෝය) là ngày kỷ niệm Phật Tất-đạt-đa Cồ-đàm sinh ra tại vườn Lâm-tì-ni, năm 624 TCN, diễn ra vào ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm.
Theo truyền thống Phật giáo Bắc tông và ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, ngày này chỉ là ngày kỷ niệm ngày sinh của đức Phật Thích Ca; tuy nhiên, theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này là ngày Tam hiệp (kỷ niệm Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết-bàn). Ngày Phật Đản hay là lễ Vesak, Tam Hiệp được kỷ niệm vào các ngày khác nhau, tùy theo quốc gia.
Một số quốc gia với đa số Phật tử chịu ảnh hưởng Bắc tông (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam) thường tổ chức ngày lễ Phật đản vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Các quốc gia theo Nam tông thường tổ chức vào ngày trăng tròn trong tháng 4 âm lịch hay là ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch. Có những năm có 2 ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch như năm 2007, có nơi tổ chức ngày Vesak vào ngày trăng tròn đầu tiên (ngày 1 tháng 5) trong khi tại nơi khác lại kỷ niệm vào ngày trăng tròn thứ 2 (ngày 31 tháng 5). Cách tính kỷ nguyên Phật lịch tại các quốc gia theo truyền thống Nam tông cũng khác nhau, nên năm Phật lịch có thể cách nhau một năm.
== Lịch sử ==
Phật Đản là ngày lễ trọng đại được tổ chức hằng năm bởi cả hai truyền thống Nam tông và Bắc tông. Ngày nay người ta thường biết đến Phật Đản qua tên gọi Vesak. Từ Vesak chính là từ ngữ thuộc ngôn ngữ Sinhalese cho các biến thể tiếng Pali, "Visakha". Visakha / Vaisakha là tên của tháng thứ hai của lịch Ấn Độ, ngày lễ vào tháng vesākha theo lịch Ấn Độ giáo, tương ứng vào khoảng tháng 4, tháng 5 dương lịch).
Tại Ấn Độ, Bangladesh, Nepal và các nước láng giềng Đông Nam Á theo Phật giáo Nguyên thủy, lễ Phật đản được tổ chức vào ngày trăng tròn của tháng Vaisakha của lịch Phật giáo và lịch Hindu, mà thường rơi vào tháng 4 hoặc tháng 5 của lịch Gregorian phương Tây. Lễ hội được gọi là Visakah Puja (lễ hội Visakah) hay là Buddha Purnima, Phật Purnima (बुद्ध पूर्णिमा), Purnima nghĩa là ngày trăng tròn trong tiếng Phạn hay là Buddha Jayanti, Phật Jayanti, với Jayanti có nghĩa là sinh nhật ở Nepal và Tiếng Hindi. Thái Lan gọi là Visakha Bucha; Indonesia gọi là Waisak; Tây Tạng gọi là Saga Daw; Lào gọi là Vixakha Bouxa và Myanmar (Miến Điện) gọi là Ka-sone-la-pyae (nghĩa là Ngày rằm tháng Kasone, cũng là tháng thứ hai trong lịch Myanmar).
Tại Đại hội Phật giáo thế giới lần đầu tiên, tại Colombo, Tích Lan, 25 tháng 5 đến 8 tháng 6 năm 1950, các phái đoàn đến từ 26 quốc gia là thành viên đã thống nhất ngày Phật đản quốc tế là ngày rằm tháng Tư âm lịch.
Ngày 15 tháng 12 năm 1999, theo đề nghị của 34 quốc gia, để tôn vinh giá trị đạo đức, văn hóa, tư tưởng hòa bình, đoàn kết hữu nghị của Đức Phật, Đại hội đồng Liên Hiệp quốc tại phiên họp thứ 54, mục 174 của chương trình nghị sự đã chính thức công nhận Đại lễ Vesak là một lễ hội văn hóa, tôn giáo quốc tế của Liên Hiệp Quốc, những hoạt động kỷ niệm sẽ được diễn ra hàng năm tại trụ sở và các trung tâm của Liên Hợp quốc trên thế giới từ năm 2000 trở đi, được tổ chức vào ngày trăng tròn đầu tiên của tháng 5 dương lịch. Thời gian tới, tương ứng với các ngày trong dương lịch:
25 Tháng 5 năm 2013
14 Tháng 5 năm 2014
4 Tháng 5 năm 2015
21 Tháng 5 năm 2016
== Ý nghĩa và tầm quan trọng ==
Phật Đản là ngày nghỉ lễ quốc gia tại nhiều quốc gia châu Á như Thái Lan, Nepal, Sri Lanka, Malaysia, Miến Điện, Singapore, Indonesia, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Campuchia,... Tại Việt Nam, ngày này không phải ngày nghỉ lễ được công nhận chính thức.
Vào ngày lễ, Phật tử thường vinh danh Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng (qua các hình thức như dâng cúng, tặng hoa, đến nghe thuyết giảng), và thực hành ăn chay và giữ Ngũ giới, Tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả), thực hành bố thí và làm việc từ thiện, tặng quà, tiền cho những người yếu kém trong cộng đồng. Kỷ niệm Vesākha cũng có nghĩa là làm những nỗ lực đặc biệt để mang lại hạnh phúc, niềm vui cho những người bất hạnh như người già cao niên, người khuyết tật và người bệnh, chia sẻ niềm vui và hòa bình với mọi người.
Ở một số quốc gia, đặc biệt là Sri Lanka, hai ngày được dành cho việc cử hành Vesākha, việc bán rượu và thịt thường bị cấm và tất cả các cửa hàng rượu, bia và lò giết mổ phải đóng cửa do nghị định của chính phủ. Chim, côn trùng và thú vật được phóng sinh như là một "hành động mang tính biểu tượng của sự giải thoát", của sự trả tự do cho những người bị giam cầm, bị bỏ tù, bị tra tấn trái với ý muốn của họ. Tại Ấn Độ, Nepal, người dân thường mặc áo trắng khi lên các tịnh xá và ăn chay. Tại hầu hết các quốc gia châu Á đều có diễn hành xe hoa và nghi lễ tụng niệm, tại Hàn Quốc có lễ hội đèn hoa sen (연등회, Yeon Deung Hoe) rất lớn.
== Cử hành ngày lễ ==
=== Tại Ấn Độ ===
Lễ Phật Đản được tổ chức ở Ấn Độ, đặc biệt là ở Sikkim, Ladakh, Arunachal Pradesh, Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng), các nơi khác nhau tại Bắc Bengal như Kalimpong, Darjeeling, và Kurseong, và Maharashtra (nơi có 73% của tổng số tín đồ Phật giáo Ấn Độ) và các nơi khác của Ấn Độ theo lịch Ấn Độ. Người Phật tử đi đến Tịnh Xá và ở lại lâu hơn các ngày thường, nghe toàn bộ kinh Phật giáo dài. Họ mặc trang phục thông thường là màu trắng tinh khiết và ăn chay. Kheer, một loại cháo ngọt thường được phục vụ để nhớ lại câu chuyện của Sujata, một cô gái trẻ đã dâng Ngài một bát cháo sữa. Mặc dù thường gọi là "Phật Đản", nhưng ngày này đã trở thành ngày Tam Hợp, kỷ niệm Đản sinh, giác ngộ (nirvāna), và ngày chết hay ngày nhập Niết bàn (Parinirvāna) của Đức Phật theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy (Theravada).
Tại Ấn Độ, Nepal và các nước láng giềng Đông Nam Á theo Phật giáo Nguyên thủy, lễ Vesak/Purnima nguyên thủy được tổ chức vào ngày trăng tròn của tháng Vaisakha của lịch Phật giáo và lịch Hindu, mà thường rơi vào tháng 4 hoặc tháng 5 của lịch Gregorian phương Tây. Lễ hội được gọi là Phật Purnima (बुद्ध पूर्णिमा), Purnima nghĩa là ngày trăng tròn trong tiếng Phạn. Ngày lễ cũng được gọi là Phật Jayanti, với Jayanti có nghĩa là sinh nhật ở Nepal và Tiếng Hindi. Gần đây, tại Nepal, Ấn Độ, Sri Lanka, ngày Vesak/Purnima chính được tổ chức vào ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch.
=== Tại Nepal ===
Đại lễ Phật đản, thường được biết đến ở Nepal là "Phật Jayanti" (sinh nhật Đức Phật) được tổ chức rộng rãi trên khắp cả nước, chủ yếu là tại Lumbini (Lâm-tì-ni) - nơi sinh của Đức Phật, và tại chùa Swayambhu - ngôi chùa linh thiêng của Phật giáo, còn được gọi là "Chùa Khỉ". Cánh cửa chính của Swayambhu chỉ được mở vào ngày này, do đó, mọi người từ khắp thung lũng Kathmandu và hàng ngàn khách hành hương từ nhiều nơi trên thế giới đến với nhau để mừng Phật đản tại nơi ông sinh ra, Lumbini. Tại Nepal, Đức Phật được tôn thờ bởi tất cả các nhóm tôn giáo, do đó "Phật Jayanti" được đánh dấu bằng một ngày nghỉ lễ quốc gia. Người ta tặng thực phẩm và quần áo cho những người nghèo và cũng cung cấp hỗ trợ tài chính cho các tu viện và trường học, nơi Phật giáo được dạy và thực hành.
=== Tại Myanmar ===
Tại Myanmar, ngày Vesak cũng gọi là ngày của Kason. Kason là tháng thứ 2 trong 12 tháng theo lịch Myanma. Đây là tháng nóng nhất trong năm. Nên trong khuôn khổ lễ hội Vesak, người dân nơi đây, với lòng thành kính, đặt những chậu nước tinh khiết trên đầu đội đến những tự viện tưới xuống cây Bồ-đề. Họ tưới cây Bồ-đề để cảm ơn giống cây này đã che chở đức Thế Tôn trong những ngày thiền định trước khi chứng đạo và ước nguyện năng lực giải thoát luôn trưởng dưỡng trong họ.
=== Tại Sri Lanka ===
Tại Sri Lanka, Phật giáo là quốc giáo. Thời gian lễ hội Vesak, người dân được nghỉ lễ. Gần đây, lễ Vesak được tổ chức vào ngày trăng tròn trong tháng 5 Dương lịch và kéo dài 1 tuần. Ngoài những buổi lễ tụng kinh và cầu nguyện mang tính tôn giáo, lễ hội Vesak còn có nhiều chương trình mang tính lễ hội dân gian. Trong những ngày lễ hội, việc bán rượu và thịt thường bị cấm, tất cả quán bia rượu và lò giết mổ phải đóng cửa. Người dân nước này phóng sanh một số lượng lớn thú vật, chim, cá… Việc bố thí ("Dana") cũng được xem rất trọng, họ thường đến thăm và phát quà cho trẻ mồ côi và người già neo đơn cũng như lập những quầy cung cấp miễn phí thức ăn uống cho khách qua đường. Người dân thường mặc áo trắng và đi đến đền thờ, tu viện và tham gia vào các nghi lễ truyền thống tại đó, nhiều người ở lại đền thờ cả ngày và thực hành Bát giới. Hầu hết tư gia Phật tử đều trang trí cờ Phật giáo, lồng đèn và đèn nến… Những nơi công cộng diễn ra nhiều chương trình lễ hội. Trong đó chương trình rước và diễn hành xá-lợi gây ấn tượng và tạo nên xúc cảm nhất đối với người tham dự. Xá-lợi Phật được tôn trí trên lưng những chú voi được trang điểm lộng lẫy với sắc màu mang phong cách Nam Á, theo sau là hàng ngàn Phật tử, diễn hành khắp những đường phố.
=== Tại Indonesia ===
Ngày lễ quan trọng và truyền thống này được tổ chức khắp Indonesia, được gọi là ngày Waisak và là ngày nghỉ lễ quốc gia mỗi năm, chính thức kể từ năm 1983, được tổ chức vào ngày rằm tháng 4 âm lịch. Tại đền Borobudur (Ba La Phù đồ), hàng ngàn nhà sư Phật giáo sẽ hội tụ với nhau để tụng các câu thần chú và câu kinh trong một nghi lễ gọi là "Pradaksina". Các nhà sư kỷ niệm ngày đặc biệt với việc hứng nước thánh (tượng trưng cho sự khiêm tốn) và vận chuyển ngọn lửa (tượng trưng cho ánh sáng và giác ngộ) từ vị trí này đến vị trí khác. Các nhà sư cũng tham gia vào nghi lễ "Pindapata", nơi họ nhận được từ thiện và cúng dường từ người dân Indonesia.
=== Tại Thái Lan, Lào, Campuchia ===
Thái Lan là quốc gia Phật giáo đã 5 lần tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc. Vesak Day cũng được gọi là Visaka Bochea Day tại Campuchia và Vixakha Bouxa Day tại Lào. Tại Lào, trong thời gian lễ hội Vesak, khí trời nóng bức và không mưa, người ta thường bắn pháo hoa với ước nguyện sẽ có mưa.
=== Tại Trung Hoa ===
Tại Trung Quốc, Phật giáo đã có mặt gần 2000 năm. Phật giáo từng là tư tưởng chủ đạo cho chính quyền và người dân trong một số triều đại. Lễ Phật đản được tổ chức từ thời Tam Quốc, đã ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội qua nhiều giai đoạn lịch sử. Nhưng ngày nay, Phật giáo không còn ảnh hưởng nhiều trong xã hội Trung Quốc, từ khi theo xã hội chủ nghĩa. Người dân chỉ còn biết đến Phật giáo như là một tôn giáo lo ma chay, cúng kiếng, võ thuật… Lễ Phật đản chỉ có thể được tổ chức trong khuôn viên tự viện và ít được xã hội quan tâm.
=== Tại Đài Loan ===
Phật giáo Đài Loan có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống thường nhật của người dân tại lãnh thổ Đài Loan. Từ năm 1999, ngày Phật Đản đã là một ngày nghỉ lễ quốc gia ở Đài Loan, được tổ chức hàng năm vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5 và trùng với ngày của Mẹ. Nghi lễ thường bắt đầu với điệu nhảy truyền thống và hát ca khúc Phật giáo. Một bức tượng của Đức Phật - kèm theo âm nhạc - được rước vào địa điểm và buổi lễ bắt đầu với phần dâng cúng năm vật là hoa, trái cây, hương, thực phẩm, và đèn cho Đức Phật.
=== Tại Nhật Bản ===
Tại Nhật Bản, Phật giáo truyền đến từ cuối thế kỷ thứ 6 và là tôn giáo chính trong giai đoạn trung và đầu cận đại. Ngày nay, vai trò của tôn giáo ít ảnh hưởng mạnh đến đời sống thường ngày ở Nhật Bản. Lễ Phật đản thường gắn liền với lễ hội hoa Anh đào, cũng chỉ giới hạn trong phạm vi tự viện và trong quần chúng Phật tử.
Như một kết quả của thời Minh Trị Duy Tân, Nhật Bản đã thông qua lịch Gregorian thay âm lịch của Trung Quốc từ năm 1873. Trong nhiều ngôi chùa Nhật Bản, ngày Đức Phật sinh được tổ chức vào ngày 8 tháng 4 dương lịch, và ít khi theo những ngày âm lịch của Trung Quốc.
=== Tại Hàn Quốc ===
Tại Hàn Quốc, Ngày Phật đản là ngày lễ quốc gia. Ngày này được gọi là 석가 탄신일 (Seokga tansinil), có nghĩa là "Phật đản" hoặc 부처님 오신 날 (Bucheonim osin nal) có nghĩa là "ngày Đức Phật đến", bây giờ đã phát triển thành một trong những lễ hội văn hóa lớn nhất của quốc gia. Lễ hội Phật đản diễn ra tại nhiều nơi công cộng, và trên những đường phố. Trưng bày và diễn hành lồng đèn là một trong những chương trình ấn tượng và gây nhiều xúc cảm nhất. Lễ hội lồng đèn (연등회, Yeon Deung Hoe) thường kéo dài 1 tuần cho đến ngày chính thức Phật đản. Riêng tại thủ đô Seoul, ước tính có khoảng trên 100.000 lồng đèn với nhiều hình dáng và màu sắc đã được trưng bày và biểu diễn trên những đường phố, và dự đoán sẽ có khoảng 300.000 lượt người trong và ngoài nước tham dự lễ hội này. Vào ngày Đức Phật ra đời, nhiều ngôi chùa cung cấp bữa ăn miễn phí và trà cho tất cả du khách.
=== Tại Việt Nam ===
Lễ Phật đản được công nhận là một ngày nghỉ lễ chính thức tại miền Nam Việt Nam bắt đầu từ năm 1958 do chính phủ Đệ nhất Cộng hòa của chính thể Việt Nam Cộng hòa thông qua, vào ngày này thường có diễn hành xe hoa trên đường phố. Khi Việt Nam thống nhất sau khi chấm dứt chiến tranh Việt Nam năm 1975, thì ngày này không còn là ngày lễ quốc gia.
Năm 2008, Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc được tổ chức ở Việt Nam, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội từ ngày 13 đến 17 tháng 5, tức ngày 9 đến 13 tháng 4 âm lịch.
Đề tài của đại lễ Phật Đản VESAK 2008: Tam Hợp trên cơ sở Tình Thương, Hòa Bình và Hòa Hợp
Sự cống hiến của Phật giáo trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Sự thay đổi khí hậu toàn cầu
Những mâu thuẫn trong gia đình
Chiến tranh và hàn gắn
Những thay đổi của xã hội
Giáo dục của Phật giáo
Phật giáo nhập thế
Phật giáo trong giai đoạn kỹ thuật số
Từ sau Đại lễ Phật Đản Vesak 2008, ngày lễ này ngày càng được Phật giáo Việt Nam tổ chức long trọng trên cả nước với nhiều hoạt động phong phú như diễn hành, rước xe hoa, văn nghệ mừng sự ra đời của Đức Phật và các hoạt động từ thiện khác.
Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc - Vesak 2014 lần thứ 11 và Hội thảo Phật giáo quốc tế do Việt Nam đăng cai sẽ diễn ra tại chùa Bái Đính, tỉnh Ninh Bình, từ ngày 7 – 11/5/2014. Chủ đề chính của Đại lễ Vesak LHQ 2014 là "Phật giáo góp phần thực hiện thành tựu các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc".
Theo đó, sẽ có 05 diễn đàn hội thảo khoa học của đại lễ Phật Đản thế giới 2014 bao gồm:
Hồi ứng của Phật giáo về phát triển bền vững và thay đổi xã hội;
Hồi ứng của Phật giáo đối với hâm nóng toàn cầu và bảo vệ môi trường;
Đóng góp của Phật giáo về lối sống lành mạnh;
Xây dựng hòa bình và sự bình phục hậu-mâu thuẫn;
Giáo dục Phật giáo và chương trình cấp đại học.
Những năm gần đây, ngày Phật Đản được coi là một ngày lễ hội quan trọng, thu hút sự tham gia không chỉ của Phật tử mà còn là của người dân trên mọi miền của Việt Nam. Ngày này cũng nhận nhiều sự quan tâm của chính quyền, thực tế mọi buổi lễ phật đản chung của các huyện đều có sự tham gia của chủ tịch huyện và các chuyến thăm của chủ tịch mặt trận, sự hỗ trợ kinh phí trong công tác tổ chức Phật đản.
== Lịch ==
Tại Indonesia, Thái Lan, ngày Vesak được tổ chức vào ngày 14 hoặc ngày 15 tháng 4 âm lịch; tại Sri Lanka, Nepal, Ấn Độ, ngày Phật Đản được tổ chức vào ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch; tại Trung Hoa, Hàn Quốc là ngày 8 tháng 4 âm lịch; tại Nhật Bản là ngày 8 tháng 4 dương lịch.
Tương ứng với dương lịch:
PL = Phật lịch, AL = Âm lịch, DL = Dương lịch.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Sự kiện Phật Đản, 1963
== Liên kết ngoài ==
The Significance of Vesak - Buddha Day
Đại lễ Phật Đản: Ngày lễ hội tôn giáo của thế giới
Đại lễ Phật Đản 2011 tại Thừa Thiên-Huế |
giáo hội trưởng nhiệm.txt | Các Giáo hội Trưởng Nhiệm, còn gọi là Giáo hội Trưởng Lão, là một nhánh thuộc cộng đồng Cơ Đốc giáo Kháng Cách theo thần học Calvin có gốc tích từ Quần đảo Anh. Từ Trưởng Lão cũng được dùng để chỉ một loại hình tổ chức của hội thánh, thể chế Trưởng Lão. Khuynh hướng thần học của Trưởng Lão bao gồm trong Năm Tín lý Duy nhất (Five Solas): Duy Kinh Thánh, Duy Đức tin, Duy Chúa Cơ Đốc, Duy Ân điển và Duy Thiên Chúa được tôn vinh. Nền thần học này được thực hành bởi các giáo hội Kháng Cách có quan hệ lịch sử với giáo huấn của John Calvin (còn được biết với tên giáo hội Cải cách). Trưởng Lão truy nguyên nguồn gốc thể chế của mình đến Cuộc Cải cách Scotland dưới sự lãnh đạo của John Knox. Có nhiều giáo hội ly khai trong cộng đồng Trưởng Lão tại nhiều quốc gia. Hơn nữa, cộng đồng này còn bị chia cắt vì những lý do thần học, nhất là khi bộc phát Phong trào Khai sáng (Enlightenment). Thần học Trưởng Lão đặc biệt nhấn mạnh đến quyền tể trị của Thiên Chúa, bao gồm sự cứu rỗi dành cho con người, xem trọng thẩm quyền của Kinh Thánh, và tính thiết yếu của trải nghiệm qui đạo bởi ân điển, qua đức tin vào Chúa Giê-xu.
== Lịch sử ==
Thuật ngữ Trưởng Lão đến từ Hi văn presbyteros (πρεσβύτερος), nghĩa là "bậc trưởng thượng", ngụ ý những người được tôn trọng trong cộng đồng và thường không tính đến tuổi tác. Thể chế Trưởng Lão phổ biến trong cộng đồng Kháng Cách, phỏng theo mô hình của cuộc cải cách tại Thuỵ Sĩ. Ở Anh quốc, Scotland và Ái Nhĩ Lan, do đó các giáo hội cải cách chấp nhận thể chế Trưởng Lão thay vì thể chế giám mục thường được gọi chung là Giáo hội Trưởng Lão.
John Knox (1505-1572), một người Scotland từng theo học Calvin ở Geneva, trở về Scotland và thuyết phục Quốc hội Scotland chấp nhận cuộc Cải cách Kháng Cách trong năm 1560. Giáo hội Scotland dần dần được cải cách theo khuynh hướng Trưởng Lão. Ở Ái Nhĩ Lan, Giáo hội Trưởng Lão được hình thành từ Giáo hội Scotland và về sau trở thành Giáo hội Trưởng Lão Ái Nhĩ Lan. Tại Anh, Trào lưu Trưởng Lão được hình thành trong bí mật từ năm 1572, cuối thời trị vì của Elizabeth I tại Anh. Năm 1647, theo một đạo luật được thông qua bởi Quốc hội Anh (Long Parliament) đang dưới quyền kiểm soát của những người Thanh giáo, Giáo hội Anh chấp nhận thể chế Trưởng Lão. Sau khi vương quyền được tái lập năm 1660, giáo hội trở lại thể chế giám mục ở Anh (và trong một thời gian ngắn ở Scotland); giáo hội Trưởng Lão ở Anh vẫn tiếp tục tồn tại như một thực thể bên ngoài quốc giáo. Năm 1719, một sự phân ly lớn, cuộc tranh luận Salter's Hall, xảy ra; với đa số nghiêng về quan điểm phi-Ba Ngôi. Cho tới thế kỷ 18, nhiều giáo đoàn trưởng Lão tại Anh đã theo giáo lý Nhất vị luận (Unitarianism).
Học thuyết Trưởng Lão được giới thiệu vào Ái Nhĩ Lan bởi các giáo sĩ và những di dân đến định cư tại Ulster. Năm 1642, Đoàn Trưởng Lão (Presbytery) Ulster được thành lập độc lập với quốc giáo (Anh giáo). Tín hữu Trưởng Lão, cùng tín hữu Công giáo, ở Ulster và Ái Nhĩ Lan trở nên nạn nhân của sự kỳ thị bởi Luật Penal cho đến khi luật này bị thu hồi vào đầu thế kỷ 19. Cả ba nhánh của Trưởng Lão, cũng như các tín hữu của các hội thánh độc lập, cùng các giáo phái Cải cách Hà Lan, Đức và Pháp tại Hoa Kỳ hiệp nhất với nhau để thành lập Giáo hội Trưởng Lão Hoa Kỳ (năm 1706).
Ở Anh, những người nhập cư đến từ Scotland trong thế kỷ 19 cùng nhau thành lập các nhà thờ Trưởng Lão, dần dần gia nhập Giáo hội Trưởng Lão Anh quốc. Năm 1972, Giáo hội Trưởng Lão Anh quốc hiệp nhất với Giáo hội Tự trị Giáo đoàn ở Anh và xứ Wales để trở thành Giáo hội Cải cách Hiệp nhất.
Tại Wales có Giáo hội Trưởng Lão xứ Wales.
Tại Canada, giáo hội Trưởng Lão lớn nhất – cũng là giáo phái Kháng Cách lớn nhất của quốc gia này – là Giáo hội Trưởng Lão Canada, thành lập năm 1875; đến năm 1925 có 70% số giáo đoàn hiệp nhất với Giáo hội Giám Lý Canada và Liên hiệp Tự trị Giáo đoàn Canada để thành lập Giáo hội Canada Hiệp nhất.
== Đặc điểm ==
=== Tổ chức ===
Tín hữu Trưởng Lão tự phân biệt mình với các giáo phái khác qua thần học và cấu trúc tổ chức, hoặc theo cách gọi của họ, "trật tự trong giáo hội". Khởi nguyên của các giáo hội Trưởng Lão là Thần học Calvin, cơ cấu tổ chức của giáo hội dựa trên các Trưởng Lão. Chức vụ trưởng lão được phân biệt theo chức năng do giáo hội uỷ nhiệm: trưởng lão chuyên trách giảng dạy và trưởng lão đảm nhiệm công việc quản trị. Cả hai đều được tấn phong và có quyền tham dự các hội đồng giáo đoàn (session), chịu trách nhiệm về kỷ luật, giáo huấn và truyền giáo của giáo đoàn. Thường khi, đặc biệt là ở các giáo đoàn lớn, nhiệm vụ quản lý việc xây dựng cơ sở vật chất, tài chính, giúp đỡ người thiếu thốn trong giáo đoàn được giao cho một nhóm viên chức được giáo đoàn bầu chọn gọi là chấp sự, trong khi các trưởng lão chuyên trách giảng dạy (mục sư) chịu trách nhiệm về giáo huấn, tổ chức thờ phượng và ban thánh lễ. Mỗi giáo đoàn có quyền chọn và mời mục sư đến quản nhiệm, nhưng quyết định này phải được phê chuẩn bởi Đoàn Trưởng Lão (Presbytery).
Cấp trên của hội đồng giáo đoàn (session) là Đoàn Trưởng Lão, gồm có các mục sư và các trưởng lão đến từ các giáo đoàn. Đoàn Trưởng Lão gởi đại biểu đến dự các hội đồng cấp vùng hoặc cấp quốc gia gọi là Đại hội đồng, mặc dù đôi khi hiện hữu một cấp trung gian gọi là giáo hạt (synod). Cấu trúc giáo đoàn/trưởng lão đoàn/giáo hạt/đại hội đồng/ được áp dụng tại các giáo hội Trưởng lão có quy mô lớn như Giáo hội Scotland hoặc Giáo hội Trưởng Lão Hoa Kỳ; trong các giáo hội nhỏ hơn, cấu trúc này thường được giản lược bằng cách loại bỏ cấp giáo hạt. Hiện nay, Giáo hội Scotland cũng không còn duy trì cấp giáo hạt.
Giáo hội Trưởng Lão đặc biệt quan tâm đến giáo dục, nghiên cứu Kinh Thánh, các tác phẩm thần học, sự thông hiểu và giải thích các học thuyết của giáo hội thể hiện qua các bản tín điều được chấp nhận bởi các giáo phái thuộc cộng đồng Trưởng Lão. Quan điểm phổ biến trong giáo hội là kiến thức giúp thực hành tốt đức tin; tín hữu Trưởng Lão chú trọng đến việc biểu thị đức tin không chỉ bằng lời nói mà còn bằng việc làm, qua sự thể hiện tính hào phóng, hiếu khách và lòng kiên trì theo đuổi những mục tiêu cải cách và công bằng xã hội, cũng như công bố phúc âm của Chúa Cơ Đốc.
=== Thần học ===
Theo truyền thống, thần học Trưởng Lão được biểu thị qua các bản tín điều, nghĩa là các giáo lý được phổ biến trong giáo hội phải xứng hiệp với các tiêu chuẩn thần học. Một số giáo hội Trưởng Lão chấp nhận Tín điều Westminster là chuẩn mực thần học và các mục sư được yêu cầu phải công khai chấp nhận trong khi hai sách giáo lý Westminster (lớn và nhỏ) chỉ được chuẩn thuận để sử dụng trong việc dạy đạo. Nhiều giáo phái Trưởng Lão, nhất là ở khu vực Bắc Mỹ, chấp nhận bản Tiêu chí Westminster (Westminster Standards – bao gồm Tín điều Westminster và hai sách giáo lý Westiminster) là chuẩn mực thần học của họ, chỉ dưới Kinh Thánh. Những văn kiện này thể hiện khuynh hướng thần học Calvin, dù có một số phiên bản có chủ trương dung hoà như các văn kiện phổ biến ở Hoa Kỳ.
== Xem thêm ==
John Calvin
John Knox
Cải cách Kháng Cách
Tin Lành
== Tham khảo ==
Stewart J Brown. The National Churches of England, Ireland, and Scotland, 1801-46 (2001)
Andrew Lang. John Knox and the Reformation (1905)
William Klempa, ed. The Burning Bush and a Few Acres of Snow: The Presbyterian Contribution to Canadian Life and Culture (1994)
Marsden, George M. The Evangelical Mind and the New School Presbyterian Experience (1970)
Mark A Noll. Princeton And The Republic, 1768-1822 (2004)
Frank Joseph Smith, The History of the Presbyterian Church in America, Reformation Education Foundation, Manassas, VA 1985
William Warren Sweet, Religion on the American Frontier, 1783—1840, vol. 2, The Presbyterians (1936), primary sources
Ernest Trice Thompson. Presbyterians in the South vol 1: to 1860; Vol 2: 1861-1890; Vol 3: 1890-1972. (1963-1973)
Leonard J. Trinterud, The Forming of an American Tradition: A Re-examination of Colonial Presbyterianism (1949)
Encyclopedia of the Presbyterian Church in the United States of America (1884) |
danh sách quốc gia theo gdp (ppp) bình quân đầu người.txt | Bài viết này gồm một Danh sách quốc gia trên thế giới được xếp hạng theo Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của họ quy đổi theo sức mua tương đương (PPP) bình quân đầu người (giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được tạo ra bên trong một quốc gia trong một năm cho trước được chia theo dân số trung bình của cùng năm đó).
GDP theo dollar được ước tính ở đây xuất phát từ các tính toán về sức mua tương đương (PPP). Những tính toán như vậy được nhiều tổ chức thực hiện, gồm cả Quỹ tiền tệ quốc tế, Đại học Pennsylvania và Ngân hàng thế giới. Kết quả do các tổ chức khác nhau đưa ra cho cùng một quốc gia có thể có khác biệt, thậm chí khác biệt lớn. Các con số về sức mua tương đương (PPP) bình quân đầu người chỉ là ước tính chứ không phải thực tế, và cần được chú ý khi sử dụng.
Việc so sánh sự giàu mạnh của quốc gia cũng thường được thực hiện dựa trên cơ sở GDP quốc gia, nó không phản ánh những sự khác biệt trong giá cả sinh hoạt ở các quốc gia khác nhau.Ưu thế của việc sử dụng các con số GDP danh nghĩa là nó ít yêu cầu tính toán hơn, và nó phản ánh chính xác hơn sự tham gia của người dân nước đó vào kinh tế toàn cầu. Thông thường các con số về sức mua tương đương trên đầu người ít phổ biến hơn các con số GDP bình quân đầu người.
Cần hết sức cẩn thận khi sử dụng bất kỳ con số nào để so sánh sự thịnh vượng giữa hai quốc gia. Thường thường khi muốn làm tăng hay giảm vị thế của một quốc gia người ta thường sử dụng con số phù hợp nhất cho mục tiêu của mình và quên đi con số kia, vì thế có thể gây ra sự khác biệt, một so sánh chính xác hơn giữa hai nền kinh tế buộc phải tham khảo cả hai con số xếp hạng, cũng như sử dụng các dữ liệu kinh tế khác để đặt nền kinh tế vào đúng hoàn cảnh của nó.
== Danh sách ==
== Xem thêm ==
Danh sách quốc gia theo GDP danh nghĩa
Danh sách các quốc gia theo GDP (danh nghĩa) bình quân đầu người
== Tham khảo == |
suffolk.txt | Suffolk là một hạt của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Hạt giáp giới với Norfolk ở phía bắc, phía tây Cambridgeshire và Essex ở phía nam.Biển Bắc nằm ở phía đông. Thủ phủ là Ipswich, các đô thị quan trọng khác bao gồm Lowestoft, Bury St Edmunds và Felixstowe, một trong những cảng container lớn nhất ở châu Âu. Đây là hạt nằm ở vùng đất thấp với ít đồi núi.
== Tham khảo == |
jimmy wales.txt | Jimmy Donal "Jimbo" Wales (IPA: ˈdoʊnəl ˈweɪlz; sinh 7 tháng 8 năm 1966) là nhà sáng lập và Chủ tịch Quỹ Hỗ trợ Wikimedia, một định chế phi lợi nhuận điều hành bách khoa toàn thư mở Wikipedia cùng các đề án wiki khác. Wales cũng là nhà sáng lập Công ty Wikia hoạt động có lợi nhuận (không liên quan đến Wikimedia).
== Thời niên thiếu ==
Jimmy Wales chào đời tại Huntsville, tiểu bang Alabama (Hoa Kỳ), vào tháng 8 năm 1966, nhưng không ai biết ngày nào (theo Wikipedia tiếng Anh là ngày 7). Cha của Wales, nay đã về hưu, là người quản lý một cửa hàng thực phẩm. Mẹ của Wales, Doris, và bà ngoại Erma điều hành một trường tư thục nhỏ, "theo truyền thống trường học một phòng", đó cũng là nơi Wales đến để học tập. Thường thì chỉ có bốn học sinh cho một cấp lớp nên trường dồn chung từ cấp lớp 1 đến cấp lớp 4, và từ cấp lớp 5 đến cấp lớp 8. Wales nhận xét rằng kinh nghiệm đến trường của mình không có gì khác biệt bởi vì hai giáo viên chính của cậu là mẹ và bà ngoại. Học sinh ở đây được hưởng một sự tự do đáng kể để có thể học bất cứ thứ gì họ thích; triết lý giáo dục của trường chịu ảnh hưởng phương pháp Montessori. Người ta kể rằng Wales tiêu tốn nhiều thì giờ để nghiền ngẫm bộ Bách khoa Toàn thư Thế giới (World Book Encyclopedia).
Sau lớp tám, Wales được gởi đến Trường Randolph, thuộc loại hình trường dự bị đại học (prep school - thường có học phí cao với chương trình học tập tốt), cho phép học sinh trực tiếp sử dụng phòng thực tập vi tính và các kỹ thuật khác. Wales kể lại rằng loại hình trường học này là quá mắc cho gia đình cậu, nhưng họ tin vào tầm quan trọng của giáo dục:
"Giáo dục luôn luôn là niềm đam mê trong gia đình tôi... bạn biết đó, chính sự tiếp cận theo cách truyền thống với kiến thức, tri thức và hệ thống là nền tảng cho một cuộc sống tốt đẹp."
Wales nhận văn bằng cử nhân tại Đại học Auburn và bằng thạc sĩ tại Đại học Alabama. Về sau, Wales tham dự các khoá học cho chương trình tiến sĩ chuyên ngành tài chính tại Đại học Alabama và Đại học Indiana.
== Sự nghiệp ==
=== Giảng dạy ===
Wales giảng dạy tại Đại học Alabama và Đại học Indiana khi đang theo đuổi chương trình cao học, nhưng không viết luận án tiến sĩ.
=== Tài chính ===
Wales hành nghề buôn bán chứng khoán tại Chicago, chỉ trong vòng vài năm ông kiếm đủ tiền để "sống cùng vợ con cho đến hết đời".
=== Doanh nghiệp ===
Năm 1996, Wales thành lập một cổng tìm kiếm gọi là Bomis, cho đến giữa năm 2005 vẫn còn bán ảnh khiêu dâm. Vì những hoạt động ở Bomis, tháng 9 năm 2005 trong một cuộc phỏng vấn trên chương trình truyền hình C-SPAN, Brian Lamb đã hỏi Wales về sự dính líu của ông đối với điều mà Lamb gọi là "những bức ảnh bẩn thỉu". Đáp lại, Wales miêu tả Bomis như là một "công cụ tìm kiếm dành cho nam giới".
Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Wired, Wales không cho là nội dung của Bomis thuộc loại "khiêu dâm nhẹ": "Nếu phim xếp loại R (cấm khán giả dưới 17 tuổi) là khiêu dâm, thì Bomis là khiêu dâm, nếu những phim ấy không khiêu dâm, Bomis cũng không". Nay Wales không còn dính líu đến công ty này.
Tháng 3 năm 2000, ông thành lập một bách khoa toàn thư nội dung mở, Nupedia.com ("bách khoa toàn thư miễn phí"), và thuê Larry Sanger đảm nhiệm vị trí tổng biên tập. Trong khi Wales còn là CEO, Bomis tặng hơn 100.000 USD (chủ yếu là qua lợi nhuận và cung cấp đường truyền miễn phí) cho Nupedia và Wikipedia, và tiếp tục hỗ trợ đến năm 2002.
== Wikipedia và Quỹ Hỗ trợ Wikimedia ==
Sử dụng một wiki để tạo lập nội dung bách khoa toàn thư đã được Larry Sanger đề ra từ ngày 10 tháng 1 năm 2001. Wales thiết lập và khởi động nó ngày 15 tháng 1 năm 2001. Vào lúc ấy Wikipedia chỉ là một trang điện tử thiết kế theo kỹ thuật wiki (cho phép độc giả dễ dàng tiếp cận để biên tập nội dung bài viết bằng cách thêm, bớt hoặc chỉnh sửa) như là một dụng cụ hợp soạn nội dung ban đầu của bách khoa toàn thư cho Nupedia. Nhưng chính sự phát triển vượt trội của Wikipedia mau chóng giúp nó trở thành đề án chính trong khi Nupedia bị loại bỏ.
Năm 2002, Sanger ra khỏi dự án, đưa lên mạng lời từ chức. Từ đó ông chỉ trích phương pháp của Wales là "chống lại giới tinh hoa". Đáp lại, Wales mô tả mình là "chống giới khoa bảng (anti-credentialist). "Đối với tôi, điều quan trọng là nhận định đúng sự việc. Nếu một người thực sự thông minh và tỏ ra tuyệt vời trong công việc, tôi không quan tâm về việc người ấy chỉ là một học sinh trung học hay là một giáo sư Harvard; hiệu quả công việc mới là quan trọng … Tại Wikipedia bạn không thể dựa trên học vị … Bạn phải tiến vào thị trường ý tưởng (nơi chân lý hoặc phương pháp tốt nhất đến từ quy trình chọn lọc dựa trên sự cạnh tranh của các ý tưởng khác nhau, được trình bày tự do và công khai) và phải cộng tác với người khác."
Vào giữa năm 2003, Wales thành lập Quỹ Hỗ trợ Wikimedia, một tổ chức phi lợi nhuận đặt trụ sở tại St. Petersburg, tiểu bang Florida, nhằm hỗ trợ Wikipedia và các đề án anh em còn non trẻ của nó. Wales tự bổ nhiệm mình và hai đồng sự, hoạt động tích cực cho Wikipedia, vào ban quản trị năm thành viên; hai người còn lại được bầu chọn bởi các đại diện của cộng đồng. Động thái này giải thoát Wales và Bomis khỏi gánh nặng tài chính hỗ trợ Wikipedia trong khi giúp ông duy trì vị trí lãnh đạo trọn đời.
Năm 2004, Wales nói rằng ông đã chi tiêu khoảng 500.000 USD để thành lập và điều hành các đề án Wiki. Đến cuối cuộc vận động vào tháng 1 năm 2005, Quỹ Hỗ trợ Wikimedia hoàn toàn được hỗ trợ tài chính bởi những khoản tặng lớn. Wales ngày càng tập trung hơn vào công tác quảng bá các đề án của tổ chức và thường xuyên đi diễn thuyết. Ngày 14 tháng 4 năm 2006, Wales nói chuyện tại Quỹ Long Now của Steward Brand với đề tài "Viễn kiến: Wikipedia và Tương lai của Văn hoá Tự do", thảo luận về những triết lý nền của Wikipedia, sự ủng hộ của ông dành cho phong trào Văn hoá Tự do, cùng những khó khăn Tổ chức Wikipedia có thể gặp khi phát triển quy mô của mình.
=== Tranh cãi về nguồn gốc của Wikipedia ===
Trong khi Larry Sanger tự nhận mình là người đồng sáng lập Wikipedia từ tháng 1 năm 2002, Wales luôn luôn gọi mình là nhà sáng lập duy nhất của Wikipedia. Báo chí trước đây thường gọi Sanger và Wales là người đồng sáng lập, nhưng điều này đã thay đổi sau khi Sanger ra đi. Một bài viết trên tạp chí Newsweek năm 2004 nói "(Wales) tạo lập Wikipedia" mà không nhắc đến Sanger. Năm 2006, Wales nói với báo Boston Globe rằng "thật ngớ ngẩn" nếu gọi Sanger là người đồng sáng lập. Sanger phản ứng quyết liệt, tuyên bố rằng không chỉ có công phát triển Wikipedia trong giai đoạn đầu, ông cũng là người đưa ra ý tưởng ứng dụng khái niệm wiki vào việc xây dựng một bộ bách khoa toàn thư mở. Rõ ràng là Sanger đã đặt tên cho đề án. Ông nói, "Tôi nhớ rất rõ buổi chiều tôi nghĩ ra ý tưởng này cho Wikipedia." Tuy nhiên, Sanger thừa nhận từ Wales nẩy sinh nhiều ý tưởng bao quát hơn: "Nói cho rõ, ý tưởng về một nguồn mở, một bách khoa toàn thư của sự hợp tác, mở ra cho độc giả bình thường cùng đóng góp, hoàn toàn là của Jimmy, không phải của tôi, và ngân quỹ là đến từ Bomis. (…) Wales giao cho tôi trách nhiệm phát triển bộ bách khoa toàn thư này." Wales cho rằng một nhân viên của Bomis tên Jeremy Rosenfeld là người "đã đến cùng với ý tưởng làm một bách khoa toàn thư dựa trên nguyên lý wiki", mặc dù ông cũng thừa nhận không có mối liên hệ nhân quả giữa lời đề nghị này và sự tạo lập Wikipedia.
== Những hoạt động khác ==
Có lẽ từ những thành công của Wikipedia mà Wales thành lập công ty lợi nhuận Wikia, Inc. (không liên quan đến Wikimedia), làm chủ các wiki khác nhau và quản lý đề án Wikia.
Năm 2005, Wales được bổ nhiệm làm thành viên của Trung tâm Berkman về Internet và Xã hội tại Trường Luật Harvard thuộc Đại học Harvard. Năm 2006, Đại học Knox trao tặng Wales học vị danh dự.
Năm 2006, Wales được Quỹ Lĩnh vực Điện tử (Electronic Frontier Foundation, EFF) trao tặng Giải thưởng Pioneer. [1]
Ngày 3 tháng 10 năm 2005, theo một thông cáo báo chí, Wales gia nhập Ban Giám đốc của Socialtext, một đơn vị cung ứng kỹ thuật wiki cho các doanh nghiệp. Năm 2006, Wales trở thành thành viên Ban Giám đốc tổ chức phi lợi nhuận Creative Commons.
Wales được TIME số ra ngày 8 tháng 5 năm 2006 chọn vào danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất mà tạp chí này gọi là Những người Định hình Thế giới của Chúng ta, với nhận xét: " (...) Ngày nay Wikipedia Anh ngữ có hơn một triệu mục từ, gần gấp đôi số mục từ của Bách khoa Toàn thư Britannica. Mỗi năm con số này được nhân đôi. (...) ngụ ý rằng những tay nghiệp dư cũng có thể đóng góp nhiều như giới chuyên môn, và tài năng có thể tìm thấy bất cứ nơi đâu."
Wales cưới vợ, Christine, vào tháng 3 năm 1997. Tuy nhiên hiện tại họ đã chia tay. Hai người có với nhau một con gái, Kira. Wales hiện sống ở St. Petersburg, Florida.
== Bê bối ==
Năm 2008 ông công khai chia tay với người tình của mình trên Wikipedia, đáp lại bà này đã công khai bán một số bộ quần áo của ông để lại. Ngay sau đó, tháng 3 năm 2008 Jimmy Wales còn bị tố cáo đã đòi 5 000 đô la Mỹ hỗ trợ từ Jeff V. Merkey, một chuyên gia máy tính, để biên tập lại mục từ viết về anh ta trên Wikipedia, vi phạm tính mở của Wikipedia , tuy nhiên Wales đã phản bác lại ý kiến đó bằng cách đưa ra nguyên văn lời tố cáo của Merkey và khẳng định rằng ông chỉ làm theo quy định "quan điểm trung lập là không thỏa hiệp". Mặc cho những thông tin đó, dường như cộng đồng Wikipedia luôn để dành một chỗ đứng cho ông.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Wikipedia
== Liên kết ngoài ==
Trang cá nhân của ông Wales tại Wikipedia tiếng Anh
Larry Sanger nói về nguồn gốc của Wikipedia (tiếng Anh)
=== Truyền thông ===
30 tháng 6 năm 2003-wiki_x.htm “It's a Wiki world out there for the Web's groupmind”. USA Today. 1 tháng 7 năm 2003.
Michael Hinman (23 tháng 9 năm 2005). “St. Petersburg tech brain creates 'wiki' world with online encyclopedia”. Tampa Bay Business Journal.
Andrew Orlowski (18 tháng 10 năm 2005). “Wikipedia founder admits serious quality problems”. The Register.
Nathan C. Kaiser (1 tháng 11 năm 2005). “Interview with Jimmy Wales, WikiPedia Founder”. nPost.com.
Brad Stone (1 tháng 11 năm 2005). “It's Like a Blog, But It's a Wiki”. Newsweek.
Joseph D. Bryant (31 tháng 12 năm 2005). “Alabamian is brain behind Wikipedia”. The Birmingham News.
Rhys Blakely (30 tháng 12 năm 2005). “Wikipedia Chief considers taking ads”. Times Online.
=== Âm thanh và video ===
Open Source - The Wikipedia May 19, 2005 - hosted by Christopher Lydon
"The Intelligence of Wikipedia" Talk Video of Jimmy Wales talk given at the Oxford Internet Institute - thu âm 11 tháng 7 năm 2005.
Video of Jimmy Wales discussing Wikipedia 40 phút from a talk Jimmy held at Stanford on 2 tháng 9 năm 2005 available as an avi in torrent form and licensed under the Creative Commons (Quicktime: 200 MB, 70 MB)
IT Conversations interview with Jimbo - thu âm 3 tháng 9 năm 2005
"Q and A" interview 25 tháng 9 năm 2005 by C-SPAN's Brian Lamb
Speech on Wednesday, 5 tháng 10 năm 2005
Video of Jimmy Wales interview by Irene McGee of NoOne's Listening 9 phút, from Media Alliance event held in San Francisco on 10 tháng 10 năm 2005
Talk of the Nation - Wikipedia, Open Source and the Future of the Web, 2 tháng 11 năm 2005
Audio of Jimmy Wales talk at the iSchool, UC Berkeley about Community & politics & future plans & other things, 3 tháng 11 năm 2005
Jimmy Wales Talks Wikipedia on The Writing Show thu âm 5 tháng 12 năm 2005, posted 1 tháng 1 năm 2006
8 tháng 2 năm 2006-22-40-29 Jimmy Wales Keynote Speech on Wikipedia, Mass Tech Leadership Council meeting, 8 tháng 2 năm 2006. Podcast by Dan Bricklin Podcast description.
"Vision: Wikipedia and the Future of Free Culture" for The Long Now Foundation in San Francisco, 14 tháng 4 năm 2006 |
omamori himari.txt | Omamori Himari (おまもりひまり) còn được biết với tên ngắn hơn là OmaHima (おまひま) là loạt manga do Matra Milan viết và minh họa. Tác phẩm đã đăng trên tạp chí Monthly Dragon Age từ ngày 09 tháng 6 năm 2006 trước khi chuyển sang tạp chí Age Premium từ tháng 8 năm 2011. Cốt truyện xoay quanh Amakawa Yuto một nam sinh trung học 16 tuổi bị dị ứng với mèo, vào đúng sinh nhật lần thứ 16 của mình thì một cô gái tên Himari là một bakeneko đến để bảo vệ cậu khỏi bị tấn công các yêu quái bắt đầu để ý đến mình khi bùa hộ mệnh bắt đầu mất tác dụng. Sau vài lần bị tấn công Yuto bắt đầu cố gắng tập luyện để có thể tự chống lại các cuộc tấn công của các yêu tinh mà không cần nhờ đến Himari để cô không bị nguy hiểm cũng như cố gắng quen với việc bị dị ứng thường xuyên do Himari vốn là một miêu nữ. Dù vậy Yuto lại muốn con người và yêu tinh sống hòa bình nên cậu đã nỗ lực để đạt được mục đích đó bằng việc thuyết phục những người chủ trương tiêu diệt yêu tinh cũng như nhận giúp các công việc mà các yêu tinh ít hung tợn nhờ. Qua thời gian và các sự kiện khác nhau có một số nữ yêu tinh và người săn yêu tinh đã đồng ý giúp đỡ và gia nhập nhóm của cậu để theo đuổi lý tưởng của mình.
Loạt manga cũng được chuyển thể thành các loại hình truyền thông khác như light novel, internet radio và anime. Chuyển thể anime do hãng Zexcs thực hiện và phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 06 tháng 1 đến ngày 24 tháng 3 năm 2010.
== Tổng quan ==
=== Sơ lược cốt truyện ===
=== Nhân vật ===
==== Chính ====
Amakawa Yūto (天河 優人, あまかわ ゆうと)
Lồng tiếng bởi: Hirakawa Daisuke, Mina (lúc nhỏ)
Noihara Himari (野井原 緋鞠, のいはら ひまり)
Lồng tiếng bởi: Koshimizu Ami
Kuzaki Rinko (九崎 凛子, くざき りんこ)
Lồng tiếng bởi: Nomizu Iori
Shizuku (静水久, しずく)
Lồng tiếng bởi: Shindō Kei
Lizlet L. Chelsie (リズリット・L・チェルシー) / Liz (リズ)
Lồng tiếng bởi: Ōgame Asuka
Jingūji Kuesu (神宮寺 くえす, じんぐうじ くえす)
Lồng tiếng bởi: Matsuoka Yuki
==== Onikiri-yaku ====
===== Chính =====
Tsuchimikado Aiji (土御門 愛路, つちみかど あいじ)
Kagamimori Kasuri (各務森 飛白, かがみもり かすり)
Yakōin Hitsugi (夜光院 柩, やこういん ひつぎ)
Amakawa Gennosuke (天河 源之介, あまかわ げんのすけ)
Amakawa Sawako (天河 佐和子, あまかわ さわこ)
Lồng tiếng bởi: Sadaoka Sayuri
===== Phụ =====
Kamisakura Gandou (上櫻 巌堂, かみさくら がんどう)
Kagamimori Hisuzu (各務森 飛鈴, かがみもり ひすず)
Mikari Ranka (三雁 蘭華, みかり らんか)
Tsuchimikado Maki (土御門 麻輝, つちみかど まき)
Tsuchimikado Shido (土御門 志土, つちみかど しど)
==== Con người ====
Masaki Taizō (柾木 泰三, まさき たいぞう)
Lồng tiếng bởi: Suzuki Tatsuhisa
Masaki Haru (柾木 ハル, まさき はる)
Shimamura Yū (嶋村 有, しまむら ゆう)
Lồng tiếng bởi: Shimamura Yū
Kisaragi Sae (如月 冴, きさらぎ さえ)
Lồng tiếng bởi: Neya Michiko
Master (マスター)
Kaburagi Hyōgo (鏑木 兵吾, かぶらぎ ひょうご)
Lồng tiếng bởi: Fujiwara Keiji
Akutsu Yūko (阿久津 悠子, あくつ ゆうこ)
Jingūji Meruhi (神宮寺 メルヒ, じんぐうじ めるひ)
==== Ayakashi ====
Tama (タマ) / Tamamo-no-Mae (玉藻前, たまものまえ)
Lồng tiếng bởi: Mizuhara Kaoru
Shuten-dōji (酒呑童子, しゅてんどうじ)
Lồng tiếng bởi: Kikuchi Masami
Kaya (加耶, かや)
Lồng tiếng bởi: Honda Mariko
Aya (文, あや)
Lồng tiếng bởi: Kosuge Mami
Kagetsuki (影月, かげつき)
Ageha (明夏羽, あげは)
Lồng tiếng bởi: Takahashi Chiaki
Sasa (沙砂, ささ)
Lồng tiếng bởi: Nigo Mayako
Daidarabotchi (大太法師, ダイダラボッチ)
Lồng tiếng bởi: Kiryu Tashiro
Zenjū (然樹, ゼンジュ)
Kofuyu (小冬, こふゆ)
Sentoro no Tesuma (閃蟷螂の薙蘇魔, セントウロウのテスマ)
Gara (雅羅, ガラ)
Hime (ヒメ, ひめ)
Ekō (恵香, エコー)
Kurozakura (黒桜, くろざくら)
Yama-hime (夜魔姫, やまひめ)
Ginko (銀子, ぎんこ)
Hana (華, はな)
Tsuchigumo (土蜘蛛, つちぐも)
== Truyền thông ==
=== Manga ===
Loạt manga do Milan Matra viết và minh họa. Tác phẩm đã đăng trên tạp chí Monthly Dragon Age từ ngày 09 tháng 6 năm 2006 trước khi chuyển sang tạp chí Age Premium từ tháng 8 năm 2011 và tiếp tục phát hành đến ngày 09 tháng 9 năm 2013 cả hai điều của Fujimi Shobo. Các chương sau đó được tập hợp lại và phát hành thành 12 tankōbon, trong đó Kadokawa Shoten xuất bản 5 tập đầu còn Fujimi Shobo thì bắt đầu tự xuất bản các tập từ tập 6. Yen Press đã đăng ký bản quyền phiên bản tiếng Anh của loạt manga này để phát hành tại thị trường Bắc Mỹ còn Kadokawa Media thì giữ bản quyền phát hành tại Đài Loan.
Milan Matra cũng thực hiện một tập ngoại truyện với việc minh họa được đảm nhiệm bởi Nikubanare có tựa Omamori Himari: Himaru no Opanchu (おまもりひまり: 緋鞠のおぱんちゅう) tập hợp các mẫu truyện theo phong cách 4 hình và cũng đăng trên tạp chí Monthly Dragon Age vào tháng 11 năm 2009 đến tháng 11 năm 2010. Các chương sau đó được tập hợp lại và phát hành thành 1 tankōbon.
Matora Miran thì thực hiện một tập ngoại truyện của loạt manga với việc minh họa cũng được đảm nhiệm bởi Nikubanare có tựa Omamori Himari: Gaiden no Sho (おまもりひまり 外伝の書) và Fujimi Shobo đã phát hành thẳng thành tankōbon ngày 09 tháng 9 năm 2011 chứ không đăng trên tạp chí.
=== Light novel ===
Mikazuki Kougetsu đã thực hiện chuyển thể light novel với việc minh họa được Matra đảm nhiệm. Tác phẩm bắt đầu đăng trên tạp chí Dragon Magazine của Fujimi Shobo từ ngày 19 tháng 7 năm 2008 đến ngày 20 tháng 1 năm 2010. Các chương sau đó được tập hợp lại và phát hành thành 4 bunkobon. Cốt truyện trong tiểu thuyết là ngoại truyện vì thế nó khác cốt truyện của manga cũng như có một số nhân vật mới chỉ xuất hiện trong chuyển thể này.
=== Internet radio ===
Một chương trình internet radio có tên OmaHima☆HR (おまひま☆HR) đã được Animate thực hiện và phát sóng từ ngày 12 tháng 11 năm 2009 đến ngày 30 tháng 4 năm 2010 với 13 tập. Người dẫn chương trình hai nhân vật Noihara Himari và Kuzaki Rinko còn các khách mời là các nhân vật khác trong bộ anime. Nippon Columbia đã phát hành bộ CD gồm 6 đĩa chứa 13 chương trình này từ ngày 26 tháng 3 đến ngày 27 tháng 8 năm 2010.
=== Anime ===
Hãng Zexcs đã thực hiện chuyển thể anime của loạt manga với sự đạo diễn của Ushiro Shinji và bắt đầu phát sóng trên các kênh Chiba TV và TV Saitama từ ngày 06 tháng 1 đến ngày 24 tháng 3 năm 2010, khi hai kênh chiếu tập đầu tiên thì sau đó một hay vài ngày thì các kênh khác tại Nhật Bản cũng phát sóng bộ anime này như Tokyo MX, BS Nippon, TV Aichi, TV Kanagawa, TVQ Kyushu và Sun TV. Kadokawa Pictures đã phát hành phiên bản DVD của bộ anime từ ngày 26 tháng 3 năm 2010, phiên bản blu-ray thì phát hành vào ngày 27 tháng 1 năm 2012. Muse Communication đã đăng ký bản quyền để phân phối bộ anime này tại Đài Loan.
=== Sách ===
Fujimi Shobo đã phát hành một cuốn sách hướng dẫn có tựa Omamori Himari 0 (おまもりひまり 0) vào ngày 24 tháng 10 năm 2009. Quyển sách có chứa các hình ảnh được tô màu dùng trong truyện và light novel, các thông tin về nhân vật kể cả nhân vật thêm trong chuyển thể tiểu thuyết. Ngoài ra cuốn sách còn chứa các thông tin về chuyển thể anime đang thực hiện khi đó.
Một cuốn sách hình dành cho người hâm mộ có tựa TV Animation Koushiki Fan Book (TVアニメーション おまもりひまり 公式ファンブック) đã được phát hành vào ngày 20 tháng 5 năm 2010. Cuốn sách có chứa các hình ảnh và thông tin của các nhân vật dùng trong chuyển thể anime.
Một cuốn sách hình khác có tựa Omamori Himari Shojo Gashū ~MATRA MILAN Art Works~ (おまもりひまり 処女画集 ~MATRA MILAN Art Works~) đã phát hành vào tháng 1 năm 2014.
=== Âm nhạc ===
Bộ anime có ba bài hát chủ đề, một mở đầu và hai kết thúc. Bài hát mở đầu có tựa Oshichau zo!! (押しちゃうぞっ!!) do AyaRuka trình bày, bài hát kết thúc đầu có tựa BEAM my BEAM do các nhân vật nữ chính trình bày, hai đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 24 tháng 2 năm 2010 với bài hát kết thúc trình bày bởi các nữ nhân vật chính hát chung. Bài hát kết thúc thứ hai có tựa Sakamichi no Hate trình bày bởi Hirakawa Daisuke. Album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime đã phát hành vào ngày 17 tháng 3 năm 2010. Album chứa các bản nhạc do các nhân vật trình bày phát hành vào ngày 31 tháng 3 năm 2010, album có chứa các bài BEAM my BEAM được các nhân vật nữ chính trình bày riêng lẻ và cả bài hát chủ đề kết thúc thứ hai cùng các đoạn drama.
Bài hát chủ đề mở đầu của chương trình internet radio có tựa love and peace do Koshimizu trình bày và cũng đã phát hành trong đĩa đơn chứa bài hát kết thúc thứ nhất của bộ anime.
=== Drama CD ===
Nippon Columbia cũng thực hiện chuyển thể drama CD của bộ truyện và phát hành chung trong album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày vào ngày 31 tháng 3 năm 2010.
== Đón nhận ==
Omamori Himari đã xuất hiện trên bảng xếp hạng Tohan với tập 4 có vị trí thứ 29 từ ngày 11 đến ngày 17 tháng 11 năm 2008 và tập 5 có vị trí thứ 15 từ ngày 7 đến ngày 13 tháng 4 năm 2009.
Truyện cũng xuất hiện hiện trên bảng xếp hạng Oricon với tập 6 đứng ở hạng 27 từ ngày 11 đến ngày 17 tháng 1 năm 2010, tập 7 đứng ở hạng 16 từ ngày 02 đến ngày 08 tháng 8 năm 2010, tập 8 đứng ở hạng 19 từ ngày 4 đến ngày 10 tháng 4 năm 2011, tập 10 đứng ở hạng 17 ngày 6 đến ngày 12 tháng 4 năm 2011.
== Liên kết ngoài ==
Official website (tiếng Nhật)
Omamori Himari (manga) tại từ điển bách khoa của Anime News Network
Omamori Himari (anime) tại từ điển bách khoa của Anime News Network
http://www.mangaupdates.com/series.html?id=7333 |
tên miền quốc gia cấp cao nhất.txt | Tên miền quốc gia cấp cao nhất (tiếng Anh: Country code top-level domain, viết tắt là ccTLD) hay gọi tắt là tên miền quốc gia là một tên miền cấp cao nhất Internet, được dùng hoặc dự trữ cho một quốc gia hoặc một lãnh thổ phụ thuộc. Tên xác định tên miền quốc gia dài 2 ký tự, và tất cả các tên miền cấp cao nhất có 2 ký tự đều là tên miền quốc gia. Việc tạo ra và ủy quyền cho các tên miền quốc gia được thực hiện bởi Tổ chức cấp phát số hiệu Internet (Internet Assigned Numbers Authority, IANA), với một số ngoại lệ nhất định được ghi ở dưới tương ứng với mã quốc gia ISO 3166-1 alpha-2 được duy trì bởi Liên Hiệp Quốc.
== Việc ủy quyền và quản lý ==
IANA (hiện kết giao ICANN) chịu trách nhiệm trong việc xác định một cơ quan được ủy thác thích hợp cho mỗi tên miền quốc gia. Quyền quản trị và quản lý sao đó được ủy quyền cho thực thể đó, nơi sẽ chịu trách nhiệm cho các chính sách và hoạt động của tên miền; các cơ quan được ủy quyền hiện nay có thể tham khảo tại danh sách các tên miền quốc gia của IANA. Mỗi một tên miền quốc gia do đó sẽ có những yêu cầu và mức phí đăng ký tên miền con khác nhau. Có thể là yêu cầu phải có mặt trong nước (như công dân hay có liên hệ đến tên miền quốc gia đó), ví dụ như tên miền của Canada (ca) và Đức (de), hoặc sự đăng ký có thể mở rộng cho mọi thực thể.
== ISO 3166-1 và Tên miền quốc gia ==
=== Mã ISO 3166-1 không được dùng làm tên miền quốc gia ===
Các mã EH và KP, mặc dù trên lý thuyết là có thể dùng làm tên miền quốc gia cho Tây Sahara và Bắc Triều Tiên, nhưng chưa từng được dùng và không tồn tại trong DNS. Cũng tương tự như vậy, mã CS (Serbia và Montenegro) không được gán cho nước nào cả (cs trước đây được dùng cho Tiệp Khắc). TL (Đông Timor), hiện nay được dùng thay cho TP.
Những mã hiện hành khác của ISO 3166-1 đã được gán và tồn tại trong DNS. Tuy nhiên, một số trong số này hiện chưa được dùng một cách hiệu quả. Cụ thể là, tên miền quốc gia của lãnh thổ thuộc Na Uy, Đảo Bouvet (bv) và tên miền cho Svalbard và Jan Mayen (sj) đang tồn tại trong DNS, nhưng chưa có tên miền con nào được gán, và hiện tại chính sách của Norid là sẽ không gán cho một ai. Chỉ có một tên miền con vẫn được đăng ký trong gb (ISO 3166-1 cho Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) và không chấp nhận sự đăng ký nào khác. Những trang ở Anh nói chung sử dụng uk (xem ở dưới).
=== Tên miền quốc gia không nằm trong ISO 3166-1 ===
Có sáu tên miền quốc gia hiện đang sử dụng mà không phải mã hai chữ ISO 3166-1. Một vài mã nằm trong các mã hai chữ ISO 3166-1 đã cũ (hiện giờ nằm trong ISO 3166-3).
uk (Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, United Kingdom): Mã ISO 3166-1 cho Anh là GB, tuy nhiên mạng JANET đã chọn uk làm định danh cấp cao nhất cho các Sơ đồ Đăng ký Tên đã tồn tại trước đó, và nó đã được xếp vào tên miền cấp cao nhất. gb được gán với dự định sẽ làm một cuộc chuyển giao, nhưng điều đó đã không bao giờ xảy ra và việc sử dụng uk đã bắt rễ sâu.
su (Mã ISO 3166-1 cũ cho Liên Xô): Những nhà quản lý su đã nói vào năm 2001 rằng họ sẽ bắt đầu chấp nhận việc đăng ký su mới, nhưng vẫn chưa rõ hành động này có phù hợp với chính sách của ICANN hay không.
ac (Đảo Ascension): Mã này là dấu tích còn sót lại từ quyết định của IANA vào năm 1996 cho phép việc sử dụng các mã đã được dự trữ trong danh sách dự trữ ISO 3166-1 alpha-2 bởi Liên minh Bưu chính Thế giới. Quyết định này sau đó đã được hoàn lại, với Đảo Ascension là ngoại lệ duy nhất. (Ba tên miền quốc gia khác, gg (Guernsey), im (Đảo Man) và je (Jersey) cũng nằm ở nhóm này cho đến khi họ nhận được mã ISO 3166 tương ứng vào tháng 3 năm 2006).
eu (Liên minh châu Âu): Vào ngày 25 tháng 9 năm 2000, ICANN đã quyết định cho phép sử dụng bất kỳ mã hai chữ nào trong danh sách dự trữ của ISO 3166-1. Hiện chỉ có EU thỏa mãn điều kiện này. Sau quyết định của Hội đồng các Bộ trưởng Viễn thông của EU vào tháng 3 năm 2002, tiến trình diễn ra chậm chạp, nhưng một cơ quan đăng ký (có tên là EURid) đã được chọn bởi Ủy ban châu Âu, và tiêu chuẩn cấp phát: ICANN đã chứng nhận eu là một tên miền quốc gia, và nó bắt đầu cho phép đăng ký vào ngày 7 tháng 12 năm 2005 cho những người giữ quyền lợi ưu tiên. Từ ngày 7 tháng 4 năm 2006, việc đăng ký mở rộng cho mọi thành phần.
tp (mã ISO 3166-1 cũ của Đông Timor): Bị xóa bỏ để thay thế bằng tl vào năm 2005.
yu (mã ISO 3166-1 cũ của Serbia và Montenegro, khi nó vẫn còn được biết đến dưới tên Nam Tư)
=== Những tên miền quốc gia đã thành quá khứ ===
Có hai tên miền quốc gia đã bị xóa sau khi mã 2 chữ tương ứng bị rút khỏi ISO 3166-1, đó là cs (cho Tiệp Khắc) và zr (cho Zaire). Cũng có một tên miền quốc gia cho Đông Đức, dd, nhưng chưa bao giờ được sử dụng. Có thể có một khoản chậm trễ giữa thời gian rút tên khỏi ISO 3166-1 với thời gian xóa khỏi DNS; ví dụ như, ZR đã rút khỏi ISO 3166-1 vào năm 1997, nhưng tên miền quốc gia zr vẫn không bị xóa cho đến năm 2001. Những tên miền quốc gia khác tương ứng với ISO 3166-1 cũ chưa được xóa; trong một vài trường hợp chúng sẽ chẳng bao giờ được xóa do sự khủng hoảng có thể xảy ra vì đã được sử dụng quá nhiều. Ví dụ như, tên miền quốc gia su của Liên Xô vẫn còn được sử dụng hơn một thập kỷ kể từ khi SU bị loại khỏi ISO 3166-1.
== Những cách dùng tên miền quốc gia không theo quy ước ==
Việc hạn chế đăng ký mềm mỏng với một vài tên miền quốc gia đã dẫn tới những tên miền như I.am, tip.it, start.at và go.to. Những biến thể khác của cách dùng tên miền quốc gia được gọi là lách tên miền, trong đó tên miền cấp 2 và tên miền quốc gia được dùng chung với nhau để tạo một từ hoặc một danh hiệu. Điều này đã dẫn tới có những tên miền như blo.gs của Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich (gs), del.icio.us của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (us), và cr.yp.to của Tonga (to). (Những tên miền không phải mã quốc gia cũng được sử dụng, như inter.net sử dụng tên miền quốc tế .net, có thể là vụ lách tên miền đầu tiên trên thế giới)
== Tên miền quốc gia hư danh ==
Những tên miền quốc gia hư danh là những tên miền được sử dụng phần lớn với mục địch kinh doanh, thường ở bên ngoài đất nước, vì cái tên của nó. Một số ví dụ,
ad là tên miền quốc gia của Andorra, nhưng ngày càng được dùng nhiều bởi các cơ quan quảng cáo. (advertisement)
am là tên miền quốc gia của Armenia, nhưng thường được dùng cho các đài radio AM. (AM)
cc là tên miền quốc gia của Đảo Cocos (Keeling) nhưng thường dùng rộng rãi cho nhiều loại trang web.
cd là tên miền quốc gia của Cộng hòa Dân chủ Congo nhưng thường được dùng cho những trang của nhà buôn CD hay chia sẻ tập tin.
fm là tên miền quốc gia của Liên bang Micronesia nhưng thường được dùng cho các đài radio FM.
la là tên miền quốc gia của Lào nhưng được quảng bá là tên miền cho Los Angeles.
nu là tên miền quốc gia của Niue nhưng được quảng bá tương tự với "mới" (new) trong tiếng Anh, "bây giờ" (nu) trong tiếng Na Uy và tiếng Hà Lan. Cũng còn có nghĩa "khỏa thân" (nu) trong tiếng Pháp.
sc là tên miền quốc gia của Seychelles nhưng thường được dùng như.Source (mã nguồn)
tv là tên miền quốc gia của Tuvalu nhưng thường được dùng cho các ngành công nghiệp truyền hình giải trí.
ws là tên miền quốc gia của Samoa (Tây Samoa trước đây) được quảng bá như.Website (trang web)
je là tên miền quốc gia của Jersey nhưng thường được dùng như từ giảm nhẹ trong tiếng Hà Lan (ví dụ như "huis.je"), như "bạn" ("zoek.je" = "tìm bạn"), hay như "tôi" trong tiếng Pháp (ví dụ, "moi.je")
gg là tên miền quốc gia của Guernsey nhưng thường được dùng trong ngành công nghiệp trò chơi và đánh bạc (gaming and gambling), đặc biệt liên quan tới đua ngựa gee-gee.
== Danh sách các tên miền quốc gia ==
*=Cho phép đăng ký ở nước ngoài
=== A ===
.ac – Đảo Ascension *
.ad – Andorra
.ae hay امارات. – Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất
.af – Afghanistan
.ag – Antigua và Barbuda *
.ai – Anguilla
.al – Albania
.am – Armenia *
.an – Antille thuộc Hà Lan
.ao – Angola
.aq – Nam Cực (Antarctica)
.ar – Argentina
.as – Samoa thuộc Mỹ *
.at – Áo *
.au – Úc
.aw – Aruba
.ax – Åland
.az – Azerbaijan
=== B ===
.ba – Bosna và Hercegovina
.bb – Barbados
.bd – Bangladesh
.be – Bỉ *
.bf – Burkina Faso
.bg hay .бг – Bulgaria
.bh – Bahrain
.bi – Burundi *
.bj – Bénin
.bm – Bermuda
.bn – Brunei
.bo – Bolivia *
.bq – Caribe thuộc Hà Lan
.br – Brasil *
.bs – Bahamas *
.bt – Bhutan
.bv – Đảo Bouvet (không sử dụng; không đăng ký)
.bw – Botswana
.by – Belarus
.bz – Belize *
=== C ===
.ca – Canada
.cc – Quần đảo Cocos (Keeling) *
.cd – Cộng hòa Dân chủ Congo (trước đây là.zr – Zaire) *
.cf – Cộng hòa Trung Phi
.cg – Cộng hòa Congo *
.ch – Thụy Sĩ *
.ci – Côte d'Ivoire (Bờ Biển Ngà)
.ck – Quần đảo Cook *
.cl – Chile
.cm – Cameroon
.cn hay.中国 và.中國 – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa *
.co – Colombia
.cr – Costa Rica
.cs – Serbia và Montenegro (trước đây là.yu – Yugoslavia - Nam Tư; Ghi chú: vào ngày 3 tháng 6 năm 2006, Montenegro đã tuyên bố độc lập, do đó tách ra khỏi liên bang) (mã.cs không được gán; không có DNS) (mã.cs code trước đây dùng cho Tiệp Khắc)
.cu – Cuba
.cv – Cabo Verde
.cx – Đảo Christmas *
.cy – Kypros
.cz – Cộng hòa Séc
=== D ===
.de – Đức
.dj – Djibouti *
.dk – Đan Mạch *
.dm – Dominica
.do – Cộng hòa Dominica
.dz – Algérie
=== E ===
.ec – Ecuador
.ee – Estonia
.eg hay مصر. – Ai Cập
.eh – Tây Sahara (không được gán; không có DNS)
.er – Eritrea
.es – Tây Ban Nha *
.et – Ethiopia
.eu – Liên minh châu Âu (mã "dự trữ ngoại lệ" theo ISO 3166-1)
=== F ===
.fi – Phần Lan
.fj – Fiji *
.fk – Quần đảo Falkland
.fm – Liên bang Micronesia *
.fo – Quần đảo Faroe
.fr – Pháp
=== G ===
.ga – Gabon
.gb – Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (Tên miền dự trữ theo IANA; không được tán thành – xem .uk)
.gd – Grenada
.ge – Gruzia
.gf – Guyane
.gg – Guernsey
.gh – Ghana
.gi – Gibraltar
.gl – Greenland *
.gm – Gambia
.gn – Guinée
.gp – Guadeloupe
.gq – Guinea Xích đạo
.gr – Hy Lạp *
.gs – Quần đảo Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich *
.gt – Guatemala
.gu – Guam
.gw – Guiné-Bissau
.gy – Guyana
=== H ===
.hk hay.香港 – Hồng Kông *
.hm – Đảo Heard và quần đảo McDonald *
.hn – Honduras *
.hr – Croatia
.ht – Haiti
.hu – Hungary *
=== I ===
.id – Indonesia
.ie – Ireland
.il – Israel *
.im – Đảo Man *
.in – Ấn Độ *
.io – Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh *
.iq – Iraq
.ir – Iran *
.is – Iceland
.it – Ý
=== J ===
.je – Jersey
.jm – Jamaica
.jo – Jordan
.jp – Nhật Bản
=== K ===
.ke – Kenya
.kg – Kyrgyzstan
.kh – Campuchia
.ki – Kiribati
.km – Comoros
.kn – Saint Kitts và Nevis
.kp – Bắc Triều Tiên (chưa được gán; chưa có DNS)
.kr – Hàn Quốc
.kw – Kuwait
.ky – Quần đảo Cayman
.kz – Kazakhstan *
=== L ===
.la – Lào *
.lb – Liban
.lc – Saint Lucia
.li – Liechtenstein *
.lk – Sri Lanka
.lr – Liberia
.ls – Lesotho
.lt – Litva
.lu – Luxembourg
.lv – Latvia *
.ly – Libya *
=== M ===
.ma – Maroc
.mc – Monaco
.md – Moldova *
.me – Montenegro
.mg – Madagascar
.mh – Quần đảo Marshall
.mk – Cộng hòa Macedonia
.ml – Mali
.mm – Myanma
.mn – Mông Cổ *
.mo – Ma Cao
.mp – Quần đảo Bắc Mariana *
.mq – Martinique
.mr – Mauritanie
.ms – Montserrat *
.mt – Malta
.mu – Mauritius *
.mv – Maldives
.mw – Malawi *
.mx – México *
.my – Malaysia
.mz – Mozambique
=== N ===
.na – Namibia *
.nc – Nouvelle-Calédonie
.ne – Niger
.nf – Đảo Norfolk *
.ng – Nigeria
.ni – Nicaragua
.nl – Hà Lan * (first ccTLD registered)
.no – Na Uy
.np – Nepal
.nr – Nauru *
.nu – Niue *
.nz – New Zealand *
=== O ===
.om – Oman
=== P ===
.pa – Panama
.pe – Peru
.pf – Polynésie thuộc Pháp
.pg – Papua New Guinea
.ph – Philippines *
.pk – Pakistan *
.pl – Ba Lan *
.pm – Saint Pierre và Miquelon
.pn – Đảo Pitcairn *
.pr – Puerto Rico *
.ps – Palestine *
.pt – Bồ Đào Nha *
.pw – Palau
.py – Paraguay
=== Q ===
.qa – Qatar
=== R ===
.re – Réunion
.ro – România *
.rs hay .срб – Serbia
.ru hay .рф – Nga *
.rw – Rwanda
=== S ===
.sa hay مصر. – Ả Rập Saudi
.sb – Quần đảo Solomon *
.sc – Seychelles *
.sd – Sudan
.se – Thụy Điển *
.sg – Singapore
.sh – Saint Helena *
.si – Slovenia
.sj – Svalbard và Jan Mayen quần đảo (không sử dụng; không đăng ký)
.sk – Slovakia
.sl – Sierra Leone
.sm – San Marino *
.sn – Sénégal
.so – Somalia *
.sr – Suriname *
.st – São Tomé và Príncipe *
.su – Liên Xô (bị phản đối; đã bị xóa; mã "dự trữ trong khi chuyển tiếp" theo ISO 3166-1)
.sv – El Salvador
.sx – Thụy Điển *
.sy – Syria *
.sz – Swaziland *
.ss – Nam Sudan (dùng tạm thời)
=== T ===
.tc – Quần đảo Turks và Caicos
.td – Tchad
.tf – Vùng đất phía Nam và châu Nam Cực thuộc Pháp
.tg – Togo *
.th – Thái Lan
.tj – Tajikistan *
.tk – Tokelau *
.tl – Đông Timor (trước đây là.tp) *
.tm – Turkmenistan *
.tn – Tunisia
.to – Tonga *
.tp – Đông Timor (bị phản đối – dùng.tl; mã "để danh để chuyển tiếp" theo ISO 3166-1)
.tr – Thổ Nhĩ Kỳ
.tt – Trinidad và Tobago *
.tv – Tuvalu *
.tw hay.台灣 và.台湾 – Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) *
.tz – Tanzania
=== U ===
.ua hay .укр – Ukraina
.ug – Uganda *
.uk – Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (mã "dự trữ ngoại lệ" theo ISO 3166-1) (xem thêm .gb)
.us – Hoa Kỳ *
.uy – Uruguay
.uz – Uzbekistan
=== V ===
.va – Vatican
.vc – Saint Vincent và Grenadines *
.ve – Venezuela
.vg – Quần đảo Virgin thuộc Anh *
.vi – Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
.vn – Việt Nam
.vu – Vanuatu *
=== W ===
.wf – Wallis và Futuna
.ws – Samoa (Tây Samoa cũ) *
=== Y ===
.ye – Yemen
.yt – Mayotte
.yu – Nam Tư (sau này đổi thành Serbia và Montenegro)
(mã chính thức đổi thành.cs (xem ở trên) những vẫn còn dùng; mã "dự trữ để chuyển tiếp" theo ISO 3166-1)
=== Z ===
.za – Nam Phi *
.zm – Zambia
.zw – Zimbabwe
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Danh sách các tên miền quốc gia của IANA – trang chính thức
World Intellectual Property Organization (WIPO) Domain name dispute resolution
World-Wide Alliance of Top Level Domain-names
Norid: Các cơ quan đăng ký tên miền trên thế giới
Nghiên cứu ccTLD năm 2005 |
phúc thọ.txt | Phúc Thọ là một huyện của Hà Nội.
== Địa lý ==
Phúc Thọ là huyện đồng bằng Bắc Bộ, nằm bên bờ hữu ngạn của cả hai con sông: sông Hồng và sông Đáy, của hệ thống sông Hồng. Phúc Thọ có ranh giới phía tây giáp thị xã Sơn Tây, phía nam giáp huyện Thạch Thất, phía đông nam (lần lượt từ Nam lên Đông) giáp các huyện Quốc Oai và Hoài Đức, phía đông giáp huyện Đan Phượng. Ranh giới phía đông của huyện với các huyện Đan Phượng và Hoài Đức, gần như chính là con sông Đáy, tên cổ là con sông Hát, là phân lưu của sông Hồng. Về phía bắc, sông Hồng là ranh giới của huyện, mà tính từ đông sang tây gồm có: Mê Linh (ở góc phía đông bắc), các huyện của tỉnh Vĩnh Phúc như Yên Lạc (ở phía bắc), Vĩnh Tường (ở góc phía tây bắc). Góc phía đông bắc huyện, trên ranh giới với các huyện Mê Linh và Đan Phượng, tại vị trí các xã Vân Hà, Vân Nam và Hát Môn, huyện có cửa Hát Môn, vốn là ngã ba sông phân lưu nước sông Hồng vào sông Đáy. Diện tích tự nhiên của huyện Phúc Thọ là 117,3 km².
Dân số 169.139(2011).
== Hành chính ==
Huyện Phúc Thọ có 1 thị trấn Phúc Thọ và 22 xã: Cẩm Đình, Hát Môn, Hiệp Thuận, Liên Hiệp, Long Xuyên, Ngọc Tảo, Phúc Hòa, Phụng Thượng, Phương Độ, Sen Chiểu, Tam Hiệp, Tam Thuấn, Thanh Đa, Thọ Lộc, Thượng Cốc, Tích Giang, Trạch Mỹ Lộc, Vân Hà, Vân Nam, Vân Phúc, Võng Xuyên, Xuân Phú.
== Đường phố ==
Gạch
Lạc Trị
Liên Hiệp
Phúc Hòa *Điếm Tổng}
== Kinh tế ==
Huyện Phúc Thọ là nơi có nhiều dự án công nghiệp. Khi quốc lộ 32 xây dựng xong, Phúc Thọ sẽ là một trong những điểm đến cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Thu nhập bình quân đầu người của huyện Phúc Thọ hiện nay trên 600 USD/năm.
Là một huyện thuần nông, có đập Đáy, có công trình Kênh Cẩm Đình - Hiệp Thuận dẫn nước từ sông Hồng vào sông Đáy. Sau này sẽ là 1 điểm du lịch nổi tiếng. Ngoài ra còn phải kể tới Làng Nghề tủ bếp Hát Môn, mang những sản phẩm tủ bếp gỗ tự nhiên chất lượng cao ra khắp miền bắc đến các gia đình. Bên cạnh đó còn rất nhiều làng nghề như may Thượng hiệp, Rau an toàn Phú an. Sản phẩm bưởi Phúc Thọ cũng có tiếng với vị ngọt.
== Lịch sử ==
Tên cũ xưa kia là Phúc Lộc. Tên huyện Phúc Thọ có từ năm 1822, thuộc trấn Sơn Tây.
Sau năm 1945, Phúc Thọ thuộc tỉnh Sơn Tây.
Ngày 21 tháng 4 năm 1975, Phúc Thọ thuộc tỉnh Hà Tây.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Phúc Thọ thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, gồm 17 xã: Cẩm Đình, Hát Môn, Long Xuyên, Ngọc Tảo, Phúc Hòa, Phụng Thượng, Phương Độ, Sen Chiểu, Tam Thuấn, Thanh Đa, Thọ Lộc, Thượng Cốc, Vân Hà, Vân Nam, Vân Phúc, Võng Xuyên, Xuân Phú.
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Phúc Thọ được nhập về Hà Nội.
Ngày 17 tháng 2 năm 1979, sáp nhập thêm 3 xã của huyện Quốc Oai là Tam Hiệp, Hiệp Thuận, Liên Hiệp.
Ngày 2 tháng 6 năm 1982, chuyển 2 xã Tích Giang, Trạch Mỹ Lộc của huyện Ba Vì về huyện Phúc Thọ quản lý.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, huyện lại trả về cho tỉnh Hà Tây vừa được tái lập.
Ngày 29 tháng 8 năm 1994, thành lập thị trấn Phúc Thọ trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của hai xã Phúc Hòa và Thọ Lộc.
Ngày 29 tháng 5 năm 2008, một lần nữa huyện lại được sáp nhập vào Hà Nội
(Phần thị trấn Phúc Thọ hiện nay là một phần xã Phúc Hòa và xã Thọ Lộc được tách ra để thành lập thị trấn mới. Xã Thọ Lộc và xã Phúc Hòa trước Cách mạng tháng Tám là tổng Lạc Trị thuộc huyện Thạch Thất, chỉ chuyển về Phúc Thọ sau năm 1954. Trước đây 2 xã Tích Giang và Trạch Mỹ Lộc thuộc huyện Tùng Thiện, được chuyển về Phúc Thọ sau năm 1982).
Huyện Phúc Thọ có tổng Lạc Trị (tên dưới thời Pháp thuộc) là quê hương cách mạng, có nhiều người theo Việt Minh chống Nhật và Pháp, có nhiều cán bộ cách mạng thời kỳ 1940-1954, làng Kiều Trung là địa phương kiên cường chống Nhật, hiện tại bảo tàng lịch sử Hà Nội có trưng bày kỷ vật là chiếc mõ tre kháng Nhật (1945). (Bảo tàng ghi nhầm là thôn Kiến Trung).
Cửa Hát Môn là một địa danh lịch sử nơi hai bà Trưng nhảy xuống tuẫn tiết khi thất thế trước quân nhà Hán do Mã Viện chỉ huy. Hiện nay ở đây còn có đền thờ Hai Bà Trưng.
Vào thời Pháp thuộc, người Pháp muốn cải tạo hệ phân lũ sông Hồng, họ đã xây dựng công trình đập Đáy, nhằm mục tăng lưu lượng dòng chảy của sông Hồng về mùa cạn và phân lũ vào bồn trũng hạ lưu sông Đáy (các tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) mỗi khi có lũ lụt lớn vào mùa mưa. Nhưng công trình này hiếm khi phát huy tác dụng vào mùa lũ, làm cho đoạn sông Đáy phía hạ lưu đập trở nên gần như là đoạn sông chết.
== Giao thông ==
Đường bộ có quốc lộ 32 chạy dọc phía nam huyện, theo hướng Đông Đông Nam - tây tây bắc, từ Hà Nội, qua thị trấn Phúc Thọ (Gạch), sang thị xã Sơn Tây, Hà Nội, (đoạn cắt qua sông Đáy nằm phía nam đập Đáy). Quốc lộ 32 trước đây là quốc lộ 11A, sau năm 1976 mới đổi thành 32.
Đường thủy có sông Hồng.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Huyện Phúc Thọ trên trang web tỉnh Hà Tây cũ |
8 tháng 2.txt | Ngày 8 tháng 2 là ngày thứ 39 trong lịch Gregory. Còn 326 ngày trong năm (327 ngày trong năm nhuận).
== Sự kiện ==
266 – Sau khi được Tào Ngụy Nguyên Đế thiện vị, Tấn vương Tư Mã Viêm lập đài ở Nam Giao, lên ngôi hoàng đế, khởi đầu triều Tây Tấn, tức ngày Bính Dần (17) tháng 12 năm Ất Dậu.
421 – Constantius III trở thành đồng hoàng đế của Đế quốc Tây La Mã.
1347 – Cuộc nội chiến kéo dài 6 năm tại Đế quốc Đông La Mã kết thúc bằng một thỏa thuận chia sẻ quyền lực giữa Ioannes VI Kantakouzenos và Ioannes V Palaiologos.
1575 – Đại học Leiden được thành lập với khẩu hiệu Pháo đài tự do, là trường đại học cổ xưa nhất của Hà Lan.
1587 – Nữ vương Scotland Mary Stuart bị hành quyết vì bị nghi tham gia vào âm mưu ám sát họ hàng là Nữ vương Elizabeth I của Anh.
1601 – Bá tước xứ Essex Robert Devereux nổi dậy chống lại Nữ vương Anh Elizabeth I song nhanh chóng bị dập tắt.
1644 – Thủ lĩnh nổi dậy Lý Tự Thành xưng vương tại Tây An, đặt quốc hiệu là Đại Thuận, tức ngày Canh Dần (1) tháng 1 năm Giáp Thân.
1807 – Chiến tranh Liên minh thứ tư: kết thúc Trận Eylau giữa quân Pháp với quân Nga-Phổ.
1880 – Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ được thành lập.
1902 – Lương Khải Siêu thành lập "Tân Dân tùng báo" tại Yokohama, Nhật Bản nhằm ủng hộ chế độ quân chủ lập hiến cho Đại Thanh.
1904 – Nhật Bản tuyên chiến và bất ngờ tiến công lực lượng Nga tại Lữ Thuận Khẩu bằng ngư lôi, mở đầu Chiến tranh Nga-Nhật.
1910 – William D. Boyce hợp nhất Hội Nam Hướng đạo Mỹ.
1942 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Nhật Bản đổ bộ vào Singapore, chiến đấu với lực lượng Anh Quốc.
1948 – Quân đội Nhân dân Triều Tiên được tuyên bố chính thức thành lập.
1950 – Cơ quan cảnh sát mật Stasi của Cộng hòa Dân chủ Đức được thành lập.
1971 – Chiến tranh Việt Nam: Lục quân Việt Nam Cộng hòa mở Chiến dịch Lam Sơn 719 nhằm cắt đứt tuyến đường Trường Sơn của quân miền Bắc.
1971 – Sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ bắt đầu mở cửa giao dịch.
1984 – Thế vận hội Mùa đông 1984 khai mạc tại Sarajevo, Nam Tư.
1992 – Thế vận hội Mùa đông 1992 khai mạc tại Albertville, Pháp.
2002 – Thế vận hội Mùa đông 2002 khai mạc tại Salt Lake City, Utah, Hoa Kỳ.
2010 – Một loạt vụ tuyết lở xảy ra tại phía bắc Kabul, Afghanistan, khiến hơn một trăm người thiệt mạng.
== Sinh ==
1405 – Konstantinos XI Palaiologos, hoàng đế của Đông La Mã (m. 1453)
1700 – Daniel Bernoulli, nhà toán học và vật lý học người Hà Lan-Thụy Sĩ (m. 1782)
1762 – Gia Long, Hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyễn (m. 1820)
1820 – William T. Sherman, tướng lĩnh người Mỹ (m. 1891)
1828 – Jules Verne, nhà văn người Pháp (m. 1905)
1830 – Abdul Aziz, sultan của Ottoman (m. 1876)
1834 – Dmitri Mendeleev, nhà hóa học người Nga, tức 27 tháng 1 theo lịch Julius (m. 1907)
1880 – Franz Marc, họa sĩ người Đức (m. 1916)
1900 – Ivan Petrovich Ivanov-Vano, họa sĩ và đạo diễn phim hoạt hình Liên Xô, tức 27 tháng 1 theo lịch Julius (m. 1987)
1921 – Lana Turner, diễn viên người Mỹ (m. 1995)
1922 – Yuri Averbakh, kỳ thủ cờ vua người Liên Xô và Nga
1924 – Khamtai Siphandon, Chủ tịch nước Lào
1925 – Ngọc Bảo, nhạc sĩ ca sĩ người Việt Nam (m. 2006)
1928 – Vyacheslav Vasilyevich Tikhonov, diễn viên người Liên Xô (m. 2009)
1931 – James Dean, diễn viên người Mỹ (m. 1955)
1932 – John Williams, nghệ sĩ piano, nhà soạn nhạc người Mỹ
1952 – Miêu Khả Tú, diễn viên người Hồng Kông
1954 – Ksor Phước, chính trị gia người Việt Nam
1960 – Benigno Aquino III, Tổng thống Philippines
1964 – Trinny Woodall, nhà thiết kế thời trang người Anh Quốc
1965 – Trương Vệ Kiện, diễn viên người Hồng Kông
1966 – Hristo Stoichkov, cầu thủ bóng đá Bulgaria
1972 – Paul Wight, đô vật người Mỹ
1977 – Dave Farrell, tay ghi-ta người Mỹ (Linkin Park)
1979 – Đặng Siêu, diễn viên người Trung Quốc
1982 – Erik Rhodes, diễn viên khiêu dâm người Mỹ
1985 – Phùng Ngọc Huy, diễn viên người Việt Nam
1990 – Trần Thị Thùy Dung, hoa hậu Việt Nam năm 2008
1992 – Carl Jenkinson, cầu thủ bóng đá người Anh Quốc-Phần Lan
1995 – Angela Phương Trinh, diễn viên, ca sĩ người Việt Nam
== Mất ==
1265 – Húc Liệt Ngột, quân chủ người Mông Cổ (s. 1217)
1587 - Mary của Scotland, nữ vương của Scotland, vương hậu của Pháp (s. 1542)
1725 – Pyotr I của Nga, sa hoàng của Nga, tức 28 tháng 1 theo lịch Julius (s. 1672)
1874 – David Friedrich Strauß, nhà thần học người Đức (s. 1808)
1912 – Wilhelm von Hahnke, thống chế của Phổ (s. 1833)
1918 – Louis Renault, luật gia và nhà giáo dục người Pháp, đoạt giải Nobel (s. 1843)
1921 – Pyotr Kropotkin, nhà động vật học, nhà địa lý, nhà ngữ văn học người Nga (s. 1842)
1946 – Felix Hoffmann, nhà hóa học người Đức (s. 1868)
1957 – John von Neumann, nhà toán học và vật lý học người Hungary-Mỹ (s. 1903)
1975 – Sir Robert Robinson, nhà hóa học người Anh Quốc, đoạt giải Nobel (s. 1886)
1979 – Dennis Gabor, nhà vật lý học người Hungary-Anh Quốc, đoạt giải Nobel (s. 1900)
1998 – Halldór Laxness, tác gia người Iceland, đoạt giải Nobel (s. 1902)
2002 – Vương Đỉnh Xương, Tổng thống Singapore (s. 1936)
2007 – Nguyễn Hữu Đang, nhà báo, chính khách người Việt Nam (s. 1913).
2007 – Anna Nicole Smith, người mẫu người Mỹ (s. 1968).
2017 – Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư toán học người Việt Nam (s. 1926).
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
cộng hòa miền nam việt nam.txt | Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là tên gọi của chính thể do Đại hội Quốc dân Miền Nam nòng cốt Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam thành lập ở miền Nam Việt Nam để tạo uy thế chính trị trên bình diện quốc tế, chống lại quân đội Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính thể Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chính thể quản lý các vùng đất do phía những người cộng sản kiểm soát, sau 30 tháng 4 năm 1975 quản lý toàn bộ Miền Nam Việt Nam cho đến khi thống nhất nhà nước. Tên đầy đủ chính phủ của chính thể này là: Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Tuy do Đảng Cách mạng Nhân dân chủ trương thành lập, nhưng "đường lối rộng rãi của mình có thể tranh thủ được rộng rãi nhiều lực lượng, những người không thuộc đảng phái nào nhưng ủng hộ độc lập hòa bình". Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời là cơ quan quyền lực cao nhất đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân miền Nam, có nhiệm vụ điều hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi cuối cùng.
== Thành lập ==
Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 6 năm 1969, Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam Việt Nam, mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, đã bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Ngay sau khi được thành lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được 23 nước công nhận, trong đó có 21 nước đặt quan hệ ngoại giao. Từ tháng 6-1969 đến cuối năm 1975, đã có hơn 50 nước trên thế giới (trong đó có nhiều nước tư bản chủ nghĩa) công nhận và lập quan hệ ngoại giao .
Các chính phủ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam trong nửa đầu tháng 5/1975: Thái Lan, Thụy Điển, Phần Lan, Ấn Độ, Đan Mạch, Pakistan, Jamaica, Cyprus, Chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời Lào, Nigieria, Kuwait, Nhật Bản, Úc, Nepal, New Zealand, Anh, Ý, Pháp, Bỉ, Canada; ngày 18 là Jordan và Ấn Độ lập quan hệ ngoại giao. Ngày 25-6-1975 lập quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ với Canada.
Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có cả quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp.
Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được tổ chức ở cấp Trung ương, cấp tỉnh và thành phố, cấp huyện và cấp xã. Các cấp địa phương đều có Hội đồng nhân dân cách mạng và Ủy ban nhân dân cách mạng.
Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã công bố chương trình hành động 12 điểm nhằm động viên toàn quân, toàn dân miền Nam đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã kêu gọi toàn quân, toàn dân, không phân biệt chính đảng tôn giáo, dân tộc, đoàn thể, công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, học sinh, sinh viên, các tổ chức công thương yêu nước, kiều bào ở nước ngoài và những cá nhân yêu nước trong guồng máy ngụy quân, ngụy quyền… tất cả cùng tăng cường đoàn kết, cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Ngày 7-11-1969, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra Tuyên bố về chính sách chiến tranh xâm lược ngoan cố của chính quyền Níchxơn đối với miền Nam Việt Nam. Bản Tuyên bố nêu rõ:
== Danh sách Chính phủ Cách mạng lâm thời ==
Chủ tịch Chính phủ Lâm thời: Huỳnh Tấn Phát
Các Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Đóa
Bộ trưởng Phủ Chủ tịch Chính phủ: Trần Bửu Kiếm
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: thượng tướng Trần Nam Trung
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Thị Bình
Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Phùng Văn Cung (Phó Chủ tịch kiêm chức)
Bộ trưởng Bộ Kinh tế Tài chính: Cao Văn Bổn
Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá: Lưu Hữu Phước
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Thanh niên: Nguyễn Văn Kiết (Phó Chủ tịch kiêm chức)
Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội: Dương Quỳnh Hoa
Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Trương Như Tảng
Các thứ trưởng:
Phủ Chủ tịch Chính phủ: Ung Ngọc Kỳ
Bộ quốc phòng: Đồng Văn Cống, Nguyễn Chánh
Bộ ngoại giao: Lê Quang Chánh, Hoàng Bích Sơn
Bộ nội vụ: Nguyễn Ngọc Thương
Bộ kinh tế tài chính: Nguyễn Văn Triệu
Bộ thông tin văn hóa: Hoàng Trọng Quỵ (Thanh Nghị), Lữ Phương
Bộ tư pháp: Lê Văn Thà
Bộ giáo dục và thanh niên: Lê Văn Chi, Hồ Hữu Nhật
Bộ kinh tế và tài chính: Nguyễn Văn Triệu
Bộ Thương binh và Xã hội: Hồ Văn Huê, Bùi Thị Mê
Đại diện đặc biệt tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Nguyễn Văn Tiến (trưởng đại diện), 1 phó và 6 ủy viên.
== Danh sách Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời ==
Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ
Phó Chủ tịch: Trịnh Đình Thảo
Các Ủy viên: Y-bih Alê-ô, Thượng tọa Thích Đôn Hậu, Huỳnh Cương, Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí, Nguyễn Công Phương, Lâm Văn Tết, Võ Oanh, Giáo sư Lê Văn Giáp, Thiếu tá quân đội Cao Đài Huỳnh Thanh Mừng, Luy-xiêng Phạm Ngọc Hùng, nữ Giáo sư Nguyễn Đình Chi
== Hoạt động 1969-1975 ==
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tuyên bố là chủ thể có quyền hợp pháp tại miền Nam Việt Nam, khi thành lập không công nhận chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trong quan hệ với Việt Nam dân chủ cộng hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền ở miền nam Việt Nam, nhưng không từ chối các tuyên bố về chủ quyền cả nước của Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Hai miền lập đại diện. Về phía Việt Nam dân chủ cộng hòa, công nhận Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chính quyền hợp pháp ở Miền Nam Việt Nam, do đó các văn kiện của nhà nước này có lúc khẳng định có hai chính thể độc lập nhau, nhưng có lúc vẫn khẳng định Việt Nam Dân chủ cộng hòa là của cả nước, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam có chủ quyền tại Miền Nam. Vấn đề này chỉ được rõ ràng các văn kiện tại hội nghị hiệp thương năm 1975 khi khẳng định Cộng hoà Miền Nam Việt Nam thi hành quyền lực pháp lý ở miền Nam, còn Việt Nam dân chủ cộng hòa thi hành quyền lực ở Miền Bắc. Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã tổ chức các cuộc bầu cử ở cấp địa phương, và ra các văn bản pháp luật quản lý theo thẩm quyền.
Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 4 năm 1972, lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tấn công chiếm được thị trấn Lộc Ninh (tỉnh Bình Long) với 28.000 dân. Tại Lộc Ninh đã diễn ra các đợt trao trả tù binh của 2 bên miền Nam Việt Nam sau khi ký Hiệp định Paris.
Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam là một trong 4 bên tham gia hòa đàm tại Paris và ký Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973. Sau Hiệp định Paris, thị xã Đông Hà trở thành nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng Lâm thời giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ngày 19 tháng 10 năm 1973 Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam công bố chính sách dân tộc gồm 8 điểm:
Thực hiện bình đẳng dân tộc, đoàn kết các lực lượng dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Ra sức bảo tồn và phát triển các dân tộc anh em
Thực hiện đầy đủ quyền tự do dân chủ...
Tôn trọng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc...
Tôn trọng phong tục, tập quán tín ngưỡng, tôn giáo...
Chăm lo quyền lợi về ruộng đất, nương rẫy cho đồng bào...
Ra sức phát triển y tế, vệ sinh phòng bệnh, chữa bệnh bảo vệ bà mẹ trẻ em
Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đông đảo đội ngũ cán bộ của dân tộc anh em
== Tuyên bố kế thừa Việt Nam Cộng hòa ==
Ngày 30-4-1975, sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố: “Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam hiện nay thực hiện chủ quyền trên toàn vẹn lãnh thổ của mình trên toàn bộ miền Nam Việt Nam, là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam, có đầy đủ quyền hành giải quyết những vấn đề quốc tế của miền Nam Việt Nam”. Thông qua tuyên bố này và việc tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã khẳng định Cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức thực hiện quyền kế thừa quốc gia đối với Việt Nam Cộng hòa, đặc biệt là kế thừa chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế, sau năm 1975, Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã kế thừa lãnh thổ, các cơ quan đại diện ở nước ngoài, tư cách thành viên tại các tổ chức quốc tế. Tất cả những kế thừa này của Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều được thực hiện theo đúng thông lệ quốc tế và Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước quốc tế năm 1978.
Sau ngày 30-4-1975, Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã có một loạt Tuyên bố khẳng định quyền thừa kế đối với tài sản quốc gia của miền Nam Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ như: Tuyên bố ngày 1-5-1975 của Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định mọi tài sản, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ lưu trữ, tài khoản ngân hàng, trụ sở, phương tiện giao thông và tất cả những tài sản khác của các cơ quan đại diện của Việt Nam Cộng hòa ở nước ngoài (Đại sứ quán, Lãnh sự quán, Cơ quan đại diện bên cạnh các tổ chức quốc tế…) là tài sản của nhân dân miền Nam Việt Nam và phải do Cộng hòa miền Nam Việt Nam quản lý... Cũng với cách tiếp cận tương tự, Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đòi quyền đại diện tại hầu như tất cả các tổ chức quốc tế trong và ngoài hệ thống Liên hiệp quốc mà trước đó Việt Nam Cộng hòa đã tham gia (WHO, ILO, UNESCO, ICAO, IAEA, IMF, Ngân hàng Thế giới…). Việc Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp quản các cơ quan đại diện và tài sản của chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng như quy chế hội viên tại các tổ chức quốc tế diễn ra thuận lợi, không gặp một trở ngại nào về pháp lý vì các quốc gia và tổ chức quốc tế đều quan niệm rằng theo luật pháp quốc tế đây chỉ là sự thay đổi chính quyền trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, không làm phát sinh chủ thể mới. Theo họ đây là thừa kế chính phủ chứ không phải thừa kế quốc gia. Việc tuyệt đại đa số thành viên Hội đồng Bảo an và Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa XXX (1975) biểu quyết ủng hộ kết nạp Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm thành viên Liên Hiệp Quốc càng chứng minh rõ việc này (năm 1975 không được kết nạp là do phiếu phủ quyết của Mỹ vào ngày 30 Tháng Chín).
== Thống nhất đất nước ==
Sau 30 tháng 4 năm 1975, lãnh thổ toàn miền Nam thuộc kiểm soát của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam.
Vào ngày 25 tháng 04 năm 1976, Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành tổ chức cuộc Tổng tuyển cử năm 1976 để tái thống nhất Việt Nam theo đúng các điều khoản về tiến hành các biện pháp chính trị để tái thống nhất Việt Nam trong Hiệp định Paris.
Về mặt đối nội Ủy ban Quân quản ra mệnh lệnh số 1: yêu cầu quân cán chính Việt Nam Cộng hòa ra trình diện chính quyền mới, đăng ký và nộp võ khí bắt đầu từ ngày 8 Tháng 5 đến 31 Tháng 5. Quân nhân cấp tướng và tá phải trình diện ở địa chỉ 213 Đại lộ Hồng Bàng, Sài Gòn. Cấp úy thì trình diện ở quận. Cảnh sát, tình báo thì phải đến Ủy ban An ninh Nội chính ở Sài Gòn. Hạ sĩ và binh lính thì đến ủy ban phường. Sang tháng 6 thì mở đợt bắt giam các đối tượng trên trong các trại học tập cải tạo.
Trong khi đó đối với Hà Nội thì vào tháng 9 năm 1975, Hội nghị Trung ương lần thứ 24 của Đảng Lao động Việt Nam xác định mục tiêu thống nhất đất nước về mọi mặt. Từ ngày 15 đến 21 tháng 11 năm 1975, hội nghị hiệp thương chính trị được tổ chức tại Sài Gòn, giữa đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do ông Trường Chinh đứng đầu, và đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do ông Phạm Hùng đứng đầu, đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội thống nhất.
Hội đồng bầu cử theo hội nghị hiệp thương, và Bộ Chính trị chỉ đạo: 11 đại biểu miền Bắc (Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan, Xuân Thủy, Nguyễn Xiển, Trần Đăng Khóa, Chu Văn Tấn, Trần Đình Tri, Nguyễn Thị Minh Nhã, Linh mục Võ Thành Trinh, Hòa thượng Trần Quảng Dung, Trương Tấn Phát), 11 đại biểu miền Nam (Phạm Hùng, Trần Lương, Bùi San, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, và 6 đồng chí khác hoặc nhân sĩ do Ban đại diện chỉ định), chủ tịch: Trường Chinh, phó chủ tịch: Phạm Hùng.
Tháng 1 năm 1976, cuộc họp liên tịch của ủy ban thường vụ Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hội đồng cố vấn Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra quyết định: Cuộc Tổng tuyển cử sẽ tiến hành vào chủ nhật 25 tháng 4 năm 1976. Hội đồng bầu cử toàn quốc được thành lập, do ông Trường Chinh làm Chủ tịch và ông Phạm Hùng làm Phó chủ tịch.
Ngày 25 tháng 4 năm 1976 tổng tuyển cử trong cả nước được tổ chức, bầu ra 492 đại biểu của Quốc hội Việt Nam thống nhất. Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, thông qua các nội dung:
Xóa bỏ khu phi quân sự theo Vĩ tuyến 17.
Quốc kỳ, quốc huy là Cờ đỏ Sao Vàng.
Lấy tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc ca là bài Tiến quân ca.
Thủ đô là Hà Nội.
Đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh
Với sự kiện này, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chính thức hợp nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
== Nguồn tham khảo == |
đông hoản.txt | Đông Quản (giản thể: 东莞; bính âm: Dōngguǎn) là một thành phố trực thuộc tỉnh (địa cấp thị) ở miền trung tỉnh Quảng Đông Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cũng có sách dịch là Đông Hoản. Đây là một thành phố công nghiệp quan trọng tọa lạc tại Đồng bằng châu thổ Châu Giang. Đông Quản giáp Quảng Châu về phía nam, Huệ Châu về phía đông bắc, Thâm Quyến về phía nam, và Phật Sơn về phía tây. Thành phố này có khu mua sắm lớn nhất thế giới South China Mall.
== Các đơn vị hành chính ==
Địa cấp thị Đông Quản quản lý 3 đơn vị cấp huyện. Tất cả 3 đơn vị này đều là quận nội thành (thị hạt khu):
Đông Thành (东城区)
Vạn Giang (万江区)
Nam Thành (南城区)
Thành phố cũng trực tiếp quản lý 25 thị trấn.
Ma Dũng (麻涌镇)
Thạch Long (石龙镇)
Hổ Môn (虎门镇)
Đạo Khiếu (道滘镇)
Thạch Kiệt (石碣镇)
Hồng Mai (洪梅镇)
Liêu Bộ (寮步镇)
Đại Lĩnh Sơn (大岭山镇)
Đại Lãng (大朗镇)
Hoàng Giang (黄江镇)
Chương Mộc Đầu (樟木头镇)
Phượng Cương (凤岗镇)
Đường Hạ (塘厦镇)
Thanh Khê (清溪镇)
Thường Bình (常平镇)
Kiều Đầu (桥头镇)
Hoành Lịch (横沥镇)
Đông Khanh (东坑镇)
Xí Thạch (企石镇)
Thạch Bài (石排镇)
Trà Sơn (茶山镇)
Trường An (长安镇)
Cao Bộ (高埗镇)
Sa Điền (沙田镇)
Vọng Ngưu Đôn (望牛墩镇)
Tạ Cương (谢岗镇)
Trung Đường (中堂镇)
Hậu Nhai (厚街镇)
== Địa lý và khí hậu ==
Trung tâm đô thị của Đông Quản cách trung tâm đô thị của Quảng Châu 50 km về phía Bắc, cách Thâm Quyến 90 km về hướng Nam và cách Hồng Kông 47 hải lý và cách Macao 48 hải lý bằng đường thủy. Đông Quản là một địa điểm mà đi từ Quảng Đông đến Hồng Kông bằng đường bộ và đường thủy phải đi băng qua, do nó nằm giữa hai thành phố này.
== Dân số ==
Đông Quản có khoảng 7 triệu dân dù nhiều người về mặt chính thức không phải là người dân Đông Quản. Nhiều cơ sở chế tạo ở đây đã thu hút công nhân từ các tỉnh khác đến làm việc nhưng những công nhân này không được nhập hộ khẩu.
Đông Quản là quê hương của nhiều Hoa kiều, quê hương của hơn 700.000 dân Hồng Kông, Đài Loan và Ma Cao và hơn 200.000 kiều dân sống ở nước ngoài.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
trang web của chính quyền Đông Quản (tiếng Hoa và tiếng Trung)
Phòng Hợp tác quốc tế và Ngoại thương Đông Quản (tiếng Hoa và tiếng Anh)
IATT - Hiệp hội Mậu dịch công nghệ Quốc tế
Hình ảnh vệ tinh của Đông Quản |
cent (tiền tệ).txt | Trong nhiều loại tiền tệ quốc gia, cent là một đơn vị tiền tệ mà bằng 1/100 của các đơn vị tiền tệ cơ bản. Từ cent cũng đề cập đến tiền xu có giá trị như một xu.
Ở Hoa Kỳ và Canada, 1 ¢ thường được gọi là tiền xu của các biệt hiệu penny, alluding với người Anh và các đơn vị tiền xu của tên đó. Trong Ai-len các 1C đôi khi tiền xu được biết đến như một penny trong tài liệu tham khảo cho penny Tiếng Ai-len đã được thay thế bởi Euro (tiền tệ) trong năm 2002.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Verordnung (EG) Nr. 974/98 des Rates vom 3. Mai 1998 über die Einführung des Euro, Amtsblatt Nr. L 139 vom 11. Mai 1998 S. 1-5. |
samsung galaxy beam i8530.txt | Samsung Galaxy Beam i8530 (còn được gọi là Galaxy Beam) là điện thoại thông minh sản xuất bởi Samsung. Tính năng chính của nó là được tích hợp máy chiếu DLP nHD lên đến 50 inch (1.300 mm) với kích thước 15 lumens.
Vào tháng 2 năm 2012 i8530 Galaxy Beam được giới thiệu tại Mobile World Congress ở Barcelona. Bản cập nhật phiên bản mới của Android 4.1 Jelly Bean đã được lên kết hoạch.
== Ghi chú ==
== Liên kết ==
Thông số kỹ thuật đầy đủ: http://www.gsmarena.com/samsung_i8530_galaxy_beam-4566.php
Trang chủ chính thức (Galaxy Beam) http://www.samsung.com/global/microsite/galaxybeam |
phó thủ tướng.txt | Phó Thủ tướng là chức vụ mà ở một vài quốc gia có Thủ tướng là người cấp phó của Thủ tướng, sẽ thay ghế Thủ tướng điều khiển nội các nếu Thủ tướng không may gặp vấn đề gì làm ông không thể tiếp tục điều khiển nội các. Vị trí này cũng hay được xem giống như chức Phó Tổng thống, nhưng về cơ bản nó là khác nhau, mặc dù cả hai đều là chức vụ số hai của số một.
Phó Thủ tướng, theo truyền thống, là Quyền Thủ tướng khi Thủ tướng tạm thời/không thể tiếp tục công việc của mình. Vì lý do này, Phó Thủ tướng thường sẽ là người kế nhiệm Thủ tướng luôn nếu Thủ tướng từ chức bất ngờ hoặc là qua đời. Ông sẽ lên thay Thủ tướng mà không cần quốc hội thông qua trong trường hợp này.
Thường thì người giữ chức Phó Thủ tướng kiêm nhiệm thêm một chức Bộ trưởng khác, và chức vụ này thường được giao cho vị Bộ trưởng già dặn nhất, có kinh nghiệm nhất, hoặc được Thủ tướng tín nhiệm nhất trong nội các.
Riêng trong Tiếng Anh có hai cách gọi là Deputy Prime Minister hay Vice Prime Minister.
Vị trí này cũng hay được xem giống như chức Phó Tổng thống, nhưng về cơ bản nó là khác nhau, mặc dù cả hai đều là chức vụ số hai của số một. Không nên lẫn lộn Phó Thủ tướng với Phó Bộ trưởng của Thủ tướng Canada (dù nó cũng có tên gọi là Deputy Prime Minister of Canada - Phó Thủ tướng Canada ) vì đây là một vị trí phi chính trị. Mỗi bang của Úc và tỉnh của Canada đều có một chức vụ tương tự như Phó Thủ tướng (Deputy Prime Minister) là Deputy Premier (Phó Thủ hiến).
Phó Thủ tướng đồng thời cũng có thể là phó chủ tịch đảng cầm quyền.
== Xem thêm ==
Phó Thủ tướng Úc
Phó Thủ tướng Canada
Phó Thủ tướng Phần Lan
Phó Thủ tướng Đức
Phó Thủ tướng Hàn Quốc (ko:대한민국의 부총리)
Phó Thủ tướng Ấn Đô
Tánaiste na hÉireann (Phó Thủ tướng Ireland)
Phó Thủ tướng Israel
Phó Thủ tướng Malaysia
Phó Thủ tướng New Zealand
Phó Thủ tướng Ba Lan
Phó Thủ tướng Singapore
Phó Thủ tướng Thụy Điển
Phó Thủ tướng Thái Lan (th:รองนายกรัฐมนตรีไทย)
Phó Thủ tướng Liên Hiệp Anh
Chức vụ Phó Thủ tướng (Office of the Deputy Prime Minister)
Phó Thủ tướng thứ nhất Bắc Ireland
Phó Thủ tướng thứ nhất Scotland
Phó Thủ tướng thứ nhất xứ Wales
Phó Thủ tướng Việt Nam
== Chú thích == |
chiến tranh thống nhất trung hoa của tần.txt | Chiến tranh thống nhất Trung Hoa của Tần là một chuỗi những chiến dịch quân sự vào cuối thế kỷ thứ 3 TCN thực hiện bởi nước Tần nhắm vào 6 nước chư hầu hùng mạnh còn sót lại trong thời kỳ Chiến Quốc là Hàn, Triệu, Nguỵ, Yên, Sở và Tề. 6 nước này, cùng với Tần được gọi chung là Chiến Quốc Thất Hùng. Kết quả của cuộc chiến là việc 6 nước chư hầu lần lượt bị Tần thâu tóm, vào năm 221 TCN Tần đã hoàn toàn thống nhất các vùng đất bị phân chia từ hàng trăm năm về một thể thống nhất đặt dưới sự cai trị của nhà Tần và một vị Hoàng đế duy nhất thay vì rất nhiều các vị Vương gia quý tộc của từng nước chư hầu như trước. Trung Hoa lần đầu tiên trong lịch sử của nó hoàn toàn thống nhất dưới quyền cai trị của vị Hoàng đế đầu tiên là Tần Thuỷ Hoàng.
== Hoàn cảnh ==
Trong giai đoạn cuối thời Chiến Quốc, Tần nổi lên như một thế lực mạnh nhất trong số 7 nước chư hầu còn sót lại. Năm 238 TCN, sau 9 năm lên ngôi, Tần vương Doanh Chính chính thức nắm giữ thực quyền tối cao ở Tần sau khi loại bỏ các phe phái chính trị nắm giữ quyền hành lớn trong triều trước đó như thừa tướng Lã Bất Vi hay Lao Ái, cận thần của Thái hậu Triệu Cơ. Dưới sự giúp sức của các cận thần như Lý Tư, Triệu Cao và nhiều danh tướng tiêu biểu như Vương Tiễn, Doanh Chính là lên kế hoạch tấn công các nước chư hầu nhằm mục đích thống nhất toàn cõi Trung Hoa. Chiến lược đặt ra là tiêu diệt lần lượt từng nước chư hầu, với phương châm "viễn lao cận đông" (giao hảo với nước ở xa, tấn công những nước ở gần". Cụ thể, Tần đặt liên minh với Tề và Yên là hai nước ở phía đông không có chung biên giới với Tần; tạm thời hoà hoãn với Nguỵ, Sở và tấn công Hàn, Triệu.
== Chinh phục Hàn ==
Hàn là nước nhỏ nhất trong 7 nước thời Chiến quốc, trong lịch sử Hàn từng chịu đựng nhiều cuộc tấn công từ Tần khiến đất nước càng trở nên yếu ớt. Năm 230 TCN, 10 vạn quân Tần tấn công vào kinh đô Dương Địch của Hàn, vua Hàn là Hàn vương An đầu hàng và bị ngũ mã phanh thây. Tần vương Chính đặt đất đai còn lại của nước Hàn làm quận Dĩnh Xuyên.
== Chinh phục Triệu ==
Năm 236 TCN, lợi dụng thời cơ Triệu tấn công Yên, lấy cớ cứu Yên, Tần cử hai đạo quân, đạo thứ nhất do Vương Tiễn và đạo thứ hai do Hoàn Kỵ và Dương Đoan Hoà chỉ huy tấn công Triệu. Kết quả của cuộc tấn công là Tần chiếm được 9 thành của Triệu và khiến sức mạnh quân đội Triệu suy yếu trầm trọng.
2 năm sau, Tần lên kế hoạch tấn công Hàn, nhưng sau khi nhận thấy Triệu có ý hỗ trợ Hàn, Tần quyết định cử Hàn Kỳ dẫn quân đánh Bình Dương và Vụ Thành. Hơn 10 vạn quân Triệu bị diệt, tướng Triệu là Hỗ Triếp (扈輒) tử trận. Năm 232 TCN, quân Tần lại chia hai đường tấn công vào Triệu, nhưng lần này thất bại trước quân Triệu dưới sự chỉ huy của Lý Mục. Tần mất 10 vạn quân còn tướng Hàn Kỳ chạy trốn sang Yên để tránh bị Tần trừng phạt. Quân Triệu thắng nhưng cũng chịu tổn thất nặng nề và phải rút lui để bảo vệ kinh đô Hàm Đan.
Trong vài năm tiếp theo, Triệu hứng chịu liên tiếp 2 thiên tai là động đất và mất mùa làm tình hình trong nước càng thêm khó khăn. Năm 229 TCN, Tần lợi dụng tình hình này đem quân đánh Triệu. Ba cánh quân Tần do Vương Tiễn, Khương Hội và Dương Đoan Hoà tấn công áp sát kinh đô Hàm Đan. Lý Mục chỉ huy quân Triệu phòng ngự, đóng trại ở Phì lũy, giữ vững không đánh. Quân Tần không sao tấn công được. Tần mới tìm kế sai người đút lót cho thừa tướng Triệu là Quách Khai, khiến Quách Khai dèm pha với vua Triệu là Lý Mục có ý giảng hoà với Tần, hẹn ngày phá Triệu rồi sẽ làm vua riêng ở đất Đại. Vua Triệu tin lời bèn vời Lý Mục về kinh và cử Triệu Thông ra thay. Lý Mục từ chối, vua Triệu càng tin là ông có ý làm phản, cho người đem bắt về kinh. Lý Mục biết được tin tìm đường trốn sang Nguỵ nhưng chưa kịp thì bị bắt lại và giết . Triệu Thông lên thay Lý Mục, Nhan Tụ làm phó. Quân Tần biết Lý Mục đã bị thay liền phát động tấn công, quân Triệu không chống nổi, Triệu Thông tử trận còn Nhan Tụ đem tàn quân chạy về Hàm Đan. Quân Tần vây kín Hàm Đan, 7 tháng sau thì hạ được thành, bắt sống Triệu vương Thiên. Nước Triệu mất từ đó.
Lúc Hàm Đan thất thủ, Triệu Gia, anh cùng cha khác mẹ của Triệu vương Thiên, không chịu đầu hàng quân Tần mà cùng với vài trăm quý tộc nước Triệu bỏ chạy lên đất Đại ở phía bắc. Ông tự xưng là Đại vương, sai sứ sang nước Yên liên minh với Yên vương Hỉ và thái tử Đan, đóng quân ở Thượng Cốc, tiếp tục chống Tần. Năm 222 TCN, nước Đại bị quân Tần do Vương Bí chỉ huy diệt, Đại vương Gia bị quân Tần bắt. Không chịu nhục, ông bèn tự sát.
== Chinh phục Yên ==
Năm 228 TCN, sau khi chinh phục hoàn toàn Triệu, Quân Tần dưới sự chỉ huy của Vương Tiễn đóng tại Trung Sơn chuẩn bị cho việc tấn công vào Yên. Trước tình hình đó, quan thái phó nước Yên là Cúc Võ chủ trương lập liên minh với 3 nước Đại, Tề và Sở để chống Tần, lại cho người đi sứ sang thiết lập mối giao hảo với Hung Nô ở phía Bắc. Tuy vậy thái tử Đan, người từng có một thời gian làm con tin ở Tần, nóng lòng muốn báo mối thù khi xưa Tần vương Doanh Chính không đồng ý thả về nước khiến mình phải trốn về, cho rằng kế sách của Cúc Võ là kế lâu dài, và rằng một liên minh quân sự khó có khả năng thành công, đã cử Kinh Kha làm thích khách ám sát Tần vương. Vụ mưu sát thất bại, Tần vương càng có cớ để đẩy nhanh việc xâm lược Yên.
Năm 226 TCN, quân Tần do Vương Tiễn chỉ huy và Mông Vũ làm phó tướng tấn công Yên. Quân yên thua to, quân Tần áp sát kinh đô Kế thành của Yên (Bắc Kinh ngày nay), Yên vương Hỉ và Thái tử Đan bỏ chạy sang Liêu Đông. Vương Tiễn gặp bệnh xin từ chức, Tần vương sai Lý Tín lãnh binh truy đuổi. Vua Yên cầu cứu vua Đại là Gia, Đại vương trả lời khuyên Yên vương nên giết Thái tử Đan để tạ tội với Tần. Yên vương lúc đầu trù trừ không nỡ ra tay, sau Lý Tín đem quân đóng ở Thủ sơn sai người đưa thư kể tội thái tử Đan làm Yên vương kinh sợ đành xuống tay giết thái tử rồi chặt đầu đem đóng hòm nộp Lý Tín và viết thư tạ tội. Quân Tần cho rằng Yên chỉ còn tồn tại lay lắt, chấp nhận lời tạ lỗi và chuyển sang đánh Nguỵ.
Năm 222 TCN, Vương Bí chỉ huy quân Tần tấn công vào Liêu Đông tiêu diệt tàn dư quân Yên, bắt sống Yên vương Hỉ, đánh dấu chấm hết cho sự tồn tại của Yên.
== Chinh phục Nguỵ ==
Năm 225 TCN, 10 vạn quân Tần dưới sự chỉ huy của Vương Tiễn tấn công Nguỵ, Nguỵ vương Giả cầu cứu Tề, nhưng tướng quốc nước Tề là Hầu Thắng ăn hối lộ của Tần nên khuyên vua Tề đừng cứu Nguỵ. Quân Tần tấn công kinh đô Đại Lương của Nguỵ (ngày nay là Khai Phong, Hà Nam). Đại Lương là một toà thành nằm ở hợp lưu hai sông Hoàng Hà và Biện Hà, địa hình dễ thủ khó công. Toà thành được bao bọc hoàn toàn bởi các đoạn hào sâu, toàn bộ 5 cửa thành đều sử dụng cầu kéo nên việc tấn công thành trở nên càng khó khăn.
Vương Bí nghĩ ra kế dẫn nước hai sông Hoàng Hà và Biện Hà, đắp đê ngăn ở hạ lưu nhằm làm ngập thành. Quân Tần đào đường dẫn nước trong 3 tháng thì xong, lại được dịp trời mưa to trong mười ngày liên tiếp, thế nước ào ạt, thành Đại Lương ngập lụt hoàn toàn khiến hơn 10 vạn người chết. Nhiều đoạn thành bị lở, quân Tần theo đó mà xâm nhập. Nguỵ vương và quần thần đang viết biểu xin đầu hàng thì quân Tần tới nơi, đem bắt bỏ lên xe tù đưa về Hàm Dương. Nước Nguỵ mất từ đó, Nguỵ vương Giả trên đường về Hàm Dương gặp bệnh chết giữa đường.
== Chinh Phục Sở ==
Năm 224 TCN, Tần vương triệu tập cuộc họp bàn kế hoạch đánh Sở và hỏi các tướng cần bao nhiêu quân. Lý Tín xin 20 vạn trong khi Vương Tiễn nói cần phải có 60 vạn quân mới đủ. Doanh Chính cho rằng Vương Tiễn đã già nên quá cẩn trọng nên đặt niềm tin vào sức trẻ của Lý Tín, giao cho Tín 20 vạn quân, và cử Mông Điềm làm phó tướng. Vương Tiễn xin từ chức vì tuổi cao và bệnh tật.
Quân Tần khởi đầu thuận lợi với chiến thắng của Lý Tín ở Bình Dư (Hà Nam ngày nay) và Mông Điềm ở Lâm Tuyền (Phụ Dương, An Huy ngày nay). Quân Tần sau đó chạm trán quân Sở do Hạng Yên chỉ huy. Quân Sở chủ động tránh chạm trán với quân chủ lực của Tần và chờ đợi cơ hội phản công. Cùng thời gian này, Xương Bình quân, vốn là quý tộc nước Sở hiện đang làm thừa tướng nước Tần, đã phản bội Tần và chiếm một thành ở gần nơi đóng quân của Lý Tín. Hạng Yên cho quân bám sát quân của Lý Tín trong 3 ngày 3 đêm liên tục trước khi bắt đầu một trận tập kích. Cùng lúc đó, Xương Bình quân đánh úp từ phía sau khiến quân Lý Tín trở tay không kịp, thua to bỏ chạy. Quân Sở truy kích 3 ngày 3 đêm, giết 7 viên đô uý và hầu hết binh lính của Tần.
Tần vương cách chức Lý Tín và thân chinh đến yết kiến Vương Tiễn, xin lỗi vì đã không nghe lời khi trước và mời Vương Tiễn quay lại đánh Sở báo thù. Tần vương cấp đúng 60 vạn quân như Vương Tiễn yêu cầu, cử thêm Mông Vũ làm phó tướng. Vương Tiễn sợ rằng Tần vương thấy mình xin nhiều quân quá sẽ có ý nghi ngờ nên liên tục gửi thư cho vua Tần xin cấp bổng lộc và phong đất cho họ hàng gia đình, cốt để Tần vương yên rằng mình sẽ quay trở lại.
Năm 224 TCN, quân Vương Tiễn vào Sở, cắm trại ở núi Thiên Trung. Quân Sở do Hạng Yên chỉ huy dồn sức tấn công nhưng Vương Tiễn thủ chặt không ra đánh. Mặc cho quân Sở tìm mọi cách khiêu khích, quân Tần vẫn chỉ đóng chặt cổng nhất định không đánh. Cứ như vậy hơn một năm, Hạng Yên chán nản cho rằng Vương Tiễn già nhát sợ không dám đánh nên rút quân về. Vương Tiễn nhận thấy thời cơ cho một đợt phản công bất ngờ đã tới, tuyển chọn những binh sĩ khoẻ nhất tập kích quân Sở. Quân Tần được nuôi sức lâu ngày hăng máu đánh mạnh, quân Sở lại bị bất ngờ nên thua to, bị đánh đuổi tới tận Hồ Bắc, Hạng Yên tử trận.
Năm 223 TCN, quân Tần tấn công vào kinh đô Thọ Xuân của Sở, bắt sống Sở vương Phụ Sô. Năm sau đó, Vương Tiễn và Mông Vũ cho quân tấn công đất Ngô, Việt, bắt sống nốt những thành viên quý tộc Sở còn sót lại. Nước Sở mất từ đó.
== Chinh phục Tề ==
Năm 264 TCN, Tề vương Kiến lên ngôi khi còn ít tuổi, thái hậu đứng ra nhiếp chính. Sau khi Thái hậu mất, Hậu Thắng làm tướng quốc nước Tề, Hậu Thắng nhận nhiều của đút lót của Tần nên luôn chủ trương khuyên Tề vương hoà hiếu với Tần. Tề vương theo đuổi chính sách: "Sự Tần, cẩn" (kính cẩn phụng sự nước Tần), không chịu hưởng ứng những lần hợp tung do Tín Lăng quân, Bình Nguyên quân và Bàng Noãn phát động. Do đó, trong hơn 40 năm từ khi Tề vương Kiến lên ngôi, nước Tề được hưởng bình yên không hề có chiến tranh, dân nước Tề quen với cuộc sống yên ổn, không chú trọng rèn luyện võ nghệ.
Năm 221 TCN, sau khi Sở bị tiêu diệt, Tề là nước duy nhất còn lại chưa bị Tần chinh phục. Tề vương lúc này mới lo lắng, điều quân sang trấn giữ phía Tây. Tần vương lấy cớ một lần Tề vương cự tuyệt sứ thần không tới gặp mặt để làm lý do tấn công Tề, gửi thư cho Vương Bí vừa mới diệt xong Yên và Đại ở phía Bắc tấn công thẳng vào Tề. Quân Tề 40 năm không tham chiến nên yếu ớt, sĩ khí cực thấp, dân chúng thì đã quen cảnh thanh bình, vừa thấy mấy chục vạn quân của Tần kéo tới là bỏ chạy hết. Quân Tần cứ thế kéo thẳng tới kinh đô Lâm Tri của Tề (nay là Truy Bác, Sơn Đông) mà hầu như không gặp phải sự kháng cự đáng kể nào. Trong vòng 2 tháng Vương Bí không phải đánh một trận nào đã lấy được hết đất Sơn Đông. Tề vương Kiến không chống trả mà mang cả gia quyến ra hàng. Nước Tề mất, Trung Hoa hoàn toàn thống nhất dưới trướng Tần vương.
== Kết quả ==
Năm 221 TCN, sau khi tiêu diệt Tề, Tần vương Doanh Chính trở thành vị vua duy nhất của toàn cõi Trung Hoa. Doanh Chính sau đó xưng là Hoàng Đế, đặt hiệu là Thuỷ Hoàng đế (Hoàng đế khởi thuỷ của Trung Hoa) và thành lập nhà Tần. Hoàng đế chia đất nước thành 36 quận, đặt kinh đô ở Hàm Dương (tỉnh Thiểm Tây ngày nay). Nhằm tránh cục diện chư hầu cát cứ như thời nhà Chu, Tần Thuỷ hoàng đã thiết lập một chính quyền trung ương tập quyền, tập trung mọi sức mạnh vào tay một vị Hoàng đế duy nhất, làm nền tảng cho các triều đại sau này của Trung Quốc. Mặc dù nhà Tần chỉ tồn tại trong vòng 16 năm ngắn ngủi (thay vì ngàn vạn năm như mong muốn của Tần Thuỷ hoàng), nó đã để lại những ảnh hưởng và tác động sâu sắc tới lịch sử Trung Hoa trong hàng nhiều thế kỷ sau đó.
Năm 209 TCN, dưới sự trị vì của con trai Tần Thủy Hoàng là Tần Nhị Thế, cuộc khởi nghĩa nông dân dưới sự lãnh đạo của Trần Thắng và Ngô Quảng nổ ra do sự hà khắc trong chính sách cai trị của nhà Tần. Mặc dù cuộc khởi nghĩa bị dẹp yên sau đó nhưng những cuộc phiến loạn khác liên tiếp nổ ra trên toàn Trung Hoa trong 3 năm sau đó. Năm 206 TCN, sau khi quân đội của Lưu Bang tiến vào Hàm Dương, vị vua thứ ba của Tần là Tần Tử Anh bị Hạng Vũ giết, nhà Tần sụp đổ.
== Tham khảo ==
== Chú thích == |
dư địa chí.txt | Dư địa chí (chữ Hán: 輿地誌), còn gọi là Ức Trai di tập Nam Việt dư địa chí (抑齋遺集南越輿地誌), Đại Việt địa dư chí (大越地輿誌), An Nam vũ cống (安南禹貢), Nam Quốc vũ cống (南國禹貢) hoặc Lê triều cống pháp (黎朝貢法), là sách địa chí do Ức Trai Nguyễn Trãi, danh thần của nhà Hậu Lê, biên soạn vào năm 1435.
Cuốn sách viết bằng chữ Hán, ghi chép sơ lược về địa lý hành chính và tự nhiên của Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử
== Ra đời và thăng trầm ==
Chán cảnh quan trường, Nguyễn Trãi xin về hưu ở Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương ngày nay) vào khoảng cuối những năm 30 của thế kỷ 15 .
Đến năm Giáp Dần (1434), ông lại được vua Lê Thái Tông triệu ra làm quan. Sau đó, để giúp vua hiểu biết thêm về đất nước, ông được giao cho làm cuốn Dư địa chí, và làm trong vòng 10 ngày thì xong.
Căn cứ mục một trong Dư địa chí, thì tác phẩm được làm vào năm 1435 , đồng thời cũng đã xác định bờ cõi của nước Đại Việt lúc bấy giờ. Tác giả viết:
Năm thứ 2 hiệu Thiệu Bình (1435, đời vua Lê Thái Tông), đức giáo hóa của nhà vua đã lan xa đến bốn chung quanh, các nước chư hầu đều đến triều cống. Hành khiển là Lê Trãi (vốn họ Nguyễn, năm 1428, được ban quốc tính họ Lê) bèn làm sách Dư địa chí tiến lên vua, (và) nói rằng:
Nước ta mới mở, gồm có sông núi, phía đông giáp biển, phía tây đến nước Thục, phía đông đến Chiêm Thành, phía bắc đến hồ Động Đình...
Theo một số nhà nghiên cứu, thì cuốn này nằm trong một bộ sách lớn có tên là Quốc thư bảo huấn đại toàn, cũng do vua Lê Thái Tông sai ông soạn vào năm 1434. Bởi trên đầu sách có ghi 6 chữ Quốc thư bảo huấn đại toàn, rồi mới đến tên Dư địa chí .
Năm Nhâm Tuất (1442), xảy ra vụ án Lệ Chi Viên, triều đình xử tội chết Nguyễn Trãi cùng với ba họ của ông, đồng thời ban lệnh thiêu hủy tất cả các tác phẩm của Nguyễn Trãi. Đến năm Giáp Thân (1464), vua Lê Thánh Tông xuống chiếu xóa án cho Nguyễn Trãi, và sau đó (1467) còn "ra lệnh tìm kiếm những di cảo thơ văn" của ông .
Thi hành chỉ thị trên, khoảng 10 năm sau, Trần Khắc Kiệm mới sưu tầm được hơn trăm bài thơ. Phải hơn 100 năm sau nữa (khoảng đầu thế kỷ 19), các ông Nguyễn Năng Tĩnh, Ngô Thế Vinh và Dương Bá Cung mới sưu tầm được nhiều hơn, làm thành 7 quyển, gọi là Ức Trai di tập. Trong đó, quyển thứ 6 chính là Dư địa chí.
Nhờ tìm được Dư địa chí, mà biết được ngoài tác giả là Nguyễn Trãi, còn có thêm lời tập chú của Nguyễn Thiên Tích, lời cẩn án của Nguyễn Thiên Túng tập chú và lời thông luận của Lý Tử Tấn. Những người này đều sống cùng thời với Nguyễn Trãi. Ngoài ra, ở cuối sách còn có bài của Ngô Sĩ Liên trích dẫn sách Chí lược và các sách Trung Quốc nói về vị trí các vùng trời của Việt Nam. Sau nữa, còn có hai bài của Lý thị nói về việc tập sách đã được đem khắc in, rồi đã bị hủy bỏ ra sao.
Trích lời họ Lý (dịch từ chữ Hán):
...Khi Ức Trai (Nguyễn Trãi) đem dâng sách này (Dư địa chí), (Lê) Thái Tông khen ngợi, sai thợ khắc ván in để phổ biến. Đến khi (Thái Tông) tuần hành tỉnh Đông bị chết đột ngột, triều đình bàn tán cho là bà họ Nguyễn (Thị Lộ) vợ Nguyễn Trãi giết vua, kết tội cả ba họ nhà Nguyễn Trãi, (thì) quan Đại Tư đồ Lê Liệt (Đinh Liệt) sai thợ hủy bản sách ấy đi .
Sau (Lê) Nhân Tông lớn lên, đủ sức nắm chính quyền, Lê Liệt bị giam ở ngục "thổ lao". Vua Nhân Tông vào Bí thư các, xem các sách vở, thấy bản sách của Ức Trai còn sót lại, bảo quần thần rằng "Nguyễn Trãi trung thành, giúp đức (Lê) Thái Tổ vũ trang dẹp giặc, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng triều ta không ai bằng được. Không may chỉ vì một người đàn bà gây biến, mà người lương thiện bị tội oan, thật đáng thương! (Vua Nhân Tông) bèn đem (Dư địa chí) để trong phòng ngủ làm sách giúp cho việc hành chính"...
== Giới thiệu văn bản ==
Tập sách Dư địa chí hiện đang lưu truyền là bản được khắc in năm Mậu Thìn (1868), dưới triều vua Tự Đức. Nội dung sách gồm 54 mục (không xếp thành chương hay phần), trình bày về vị trí địa lý, hình thế sông núi, lịch sử, thổ nhưỡng, đặc sản, một số nghề thủ công truyền thống và tập quán của cư dân các đạo. Một số mục kèm theo tên gọi (địa danh) và một số đơn vị hành chính như: phủ, huyện, xã, thôn thuộc các đạo.
Về cách viết, tác giả theo đúng phép chính danh của Khổng Tử, tức là dùng thật ít chữ, mà từng chữ phải được lựa chọn, cân nhắc .
Tuy nhiên, bản sách ấy không còn đúng nguyên tác, vì đã được những người đời sau sửa chữa và thêm vào nhiều lần. Có thể thấy điều rõ đó ở trong sách, ví dụ như những địa danh Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc...không có ở thời Nguyễn Trãi; hay các việc như Trịnh Tráng sai sứ sang nhà Minh cầu phong, chúa Trịnh Sâm và chúa Nguyễn đi đánh dẹp, v.v...đều xảy ra sau thời Nguyễn Trãi...Ngoài ra, theo GS. Hà Văn Tấn, thì Dư địa chí có một sai lầm về việc định vị các vùng. Chẳng hạn đã chép rằng trấn Hưng Hóa, phía nam giáp Nghệ An; hay Nghệ An phía tây giáp Vân Nam; hoặc một vài chỗ lầm lẫn khác như cho rằng đất Hưng Hóa là đất Nam Trung, chỗ Mạch Hoạch đánh nhau với Khổng Minh; hay Tuyên Quang là đất Việt Tuấn (thật ra, Nam Trung và Việt Tuấn đều là đất của Trung Quốc). Và cũng theo ông, thì sách còn có một số sai lầm khác, như cho rằng Triệu Quang Phục đóng đô ở Chu Diên, Trưng Vương đặt quốc hiệu là "Hùng Lạc"...; và đã chép câu chuyện "Tô Huệ dệt gấm hồi văn" của Trung Quốc lẫn với chuyện "Tô Thị vọng phu" của Việt Nam, chép câu chuyện người đàn bà Sa Nhất của vùng Ai Lao thời Hán ở Vân Nam lẫn với nước Lào, v.v...Vì vậy, khi nghiên cứu và sử dụng cần phải thận trọng...
== Giá trị ==
Mặc dù có một vài hạn chế như đã kể trên, song Dư địa chí vẫn có giá trị về mặt địa lý học lịch sử, đã được nhiều nhà văn hóa, khoa học và sử học xưa nay khen ngợi, bởi tri thức và sự kiện ở đây có ý nghĩa lịch sử và độ tin cậy cao....
Khi nói đến tập sách này, GS. Nguyễn Huệ Chi viết:
Lần đầu tiên, Nguyễn Trãi đã đặt nền mống xây dựng khoa địa lý lịch sử của dân tộc Việt , chú ý không đến những diễn biến về duyên cách địa lý mà còn cả về đặc điểm phẩm chất đất đai, những đặc sản quý giá, cũng như phong tục tập quán của mỗi vùng. Những ghi chú của các nhà chú thích và thông luận càng làm rõ hơn tính chính xác và cụ thể của những tài liệu khoa học quý báu buổi đầu Lê này . Ngoài những giá trị đó, thông qua Dư địa chí, tác giả còn chỉ rõ về cương vực, xác định những địa danh, đồng thời giới thiệu một số nhân vật tài giỏi của nước Việt....
Năm 1960, Dư địa chí (Phan Duy Tiếp dịch, Hà Văn Tấn hiệu đính và chú thích, căn cứ vào bản 1868) được nhà xuất bản Sử học ấn hành. Gần đây, bản dịch này lại được hiệu đính một lần nữa, rồi đưa vào bộ Tổng tập dư địa chí Việt Nam (tập 1, nhà xuất bản Thanh Niên, năm 2012).
== Xem thêm ==
Nguyễn Trãi
Vụ án Lệ Chi Viên
== Sách tham khảo ==
Bùi Văn Vượng, "Nguyễn Trãi với Dư địa chí" in trong Tổng tập dư địa chí Việt Nam (tập 1). Nhà xuất bản Thanh Niên, 2012.
Nguyễn Huệ Chi, mục từ "Nguyễn Trãi" in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (trọn bộ 2 tập). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003.
Bùi Văn Nguyên, "Niên biểu Nguyễn Trãi" in trong Văn chương Nguyễn Trãi. Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1984.
Nhóm nhân văn Trẻ, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 3). Nhà xuất bản Trẻ, 2007.
== Chú thích == |
lạc.txt | Lạc (tên khác: Đậu phộng, đậu phụng; danh pháp khoa học: Arachis hypogaea), là một loài cây thực phẩm thuộc họ Đậu có nguồn gốc tại Trung và Nam Mỹ. Nó là loài cây thân thảo hàng năm tăng có thể cao từ 30–50 cm. Lá mọc đối, kép hình lông chim với bốn lá chét, kích thước lá chét dài 1–7 cm và rộng 1–3 cm. Hoa dạng hoa đậu điển hình màu vàng có điểm gân đỏ, cuống hoa dài 2–4 cm. Sau khi thụ phấn, quả phát triển thành một dạng quả đậu dài 3–7 cm, chứa 1-4 hạt (ánh), và quả (củ) thường giấu xuống đất để phát triển. Trong danh pháp khoa học của loài cây này thì phần tên chỉ tính chất loài có hypogaea nghĩa là "dưới đất" để chỉ đặc điểm quả được giấu dưới đất. Trong cách gọi tên tiếng Việt, từ "lạc" có nguồn từ chữ Hán "lạc hoa sinh" (落花生) mà có người cho rằng người Hán đã phiên âm từ "Arachis".
Hạt lạc (ánh lạc) là loại thực phẩm rất giàu năng lượng vì có chứa nhiều lipit.
== Lịch sử ==
Loài cây này được khai hoang đầu tiên bởi cư dân vùng sông Paraguay và Parama ở vùng Chaco của Paraguay và Bolivia.
== Sản xuất ==
== Hình ảnh ==
== Tham khảo == |
anderson oliveira.txt | Anderson Luís de Abreu Oliveira (sinh ngày 13 tháng 4 năm 1988), được biết đến nhiều hơn với tên như Anderson, là một cầu thủ bóng đá Brasil, hiện đang chơi cho Internacional. Vị trí thường xuyên của anh hay chơi là một tiền vệ tấn công, nhưng anh cũng có thể hoạt động trên cánh trái.
Sinh tại Porto Alegre, Anderson gia nhập Gremio khi là một cầu thủ trẻ và năm 2004 anh đã xuất hiện đầu tiên của mình cho đội này, chơi 5 trận Brazil Série B trong nửa cuối của năm, cũng như chơi trong năm 2005 2005 Gaúcho State Championship trong nửa đầu.
Ngày 30/5/2007, Anderson chuyển đến Manchester United từ Porto. Anh ghi được 5 bàn sau 104 trận.
Anh chuyển sang thi đấu cho Fiorentina từ tháng 1 năm 2014.
== Thống kê sự nghiệp ==
=== Câu lạc bộ ===
Số liệu thống kê tính đến ngày 21 tháng 4 năm 2015
=== Đội tuyển quốc gia ===
Số liệu thống kê tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008
== Danh hiệu ==
Grêmio
Campeonato Brasileiro Série B: 2005
Porto
Primeira Liga: 2005-06; 2006-07
Taça de Portugal: 2005–06
Supertaça Cândido de Oliveira: 2006
Manchester United
Premier League: 2007–08, 2008–09, 2010–11, 2012–13
Football League Cup: 2008–09, 2009–10
FA Community Shield: 2011, 2013
UEFA Champions League: 2007–08
FIFA Club World Cup: 2008
== Tham khảo == |
trái đất.txt | Trái Đất là hành tinh thứ ba tính từ Mặt Trời, đồng thời cũng là hành tinh lớn nhất trong các hành tinh đất đá của hệ Mặt Trời xét về bán kính, khối lượng và mật độ vật chất. Trái Đất còn được biết tên với các tên Thế giới (World), "hành tinh xanh" hay "Địa Cầu", là nhà của hàng triệu loài sinh vật, trong đó có con người và cho đến nay đây là nơi duy nhất trong vũ trụ được biết đến là có sự sống. Hành tinh này được hình thành cách đây 4,55 tỷ năm và sự sống xuất hiện trên bề mặt của nó khoảng 1 tỷ năm trước. Kể từ đó, sinh quyển, bầu khí quyển của Trái Đất và các điều kiện vô cơ khác đã thay đổi đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phổ biến của các vi sinh vật ưa khí cũng như sự hình thành của tầng ôzôn-lớp bảo vệ quan trọng, cùng với từ trường của Trái Đất, đã ngăn chặn các bức xạ có hại và chở che cho sự sống. Các đặc điểm vật lý của Trái Đất cũng như lịch sử địa lý hay quỹ đạo, cho phép sự sống tồn tại trong thời gian qua. Người ta hy vọng rằng Trái Đất còn có thể hỗ trợ sự sống thêm 1,5 tỷ năm nữa, trước khi kích thước của Mặt Trời tăng lên và tiêu diệt hết sự sống.
Bề mặt Trái Đất được chia thành các mảng kiến tạo, chúng di chuyển từ từ trên bề mặt Trái Đất trong hàng triệu năm. Khoảng 71% bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương nước mặn, phần còn lại là các lục địa và các đảo. Nước là thành phần rất cần thiết cho sự sống và cho đến nay con người vẫn chưa phát hiện thấy sự tồn tại của nó trên bề mặt của bất kì hành tinh nào khác. Tuy nhiên, người ta có chứng cứ xác định nguồn nước có ở Sao Hỏa trong quá khứ, và có thể tồn tại cho tới ngày nay. Lõi của Trái Đất vẫn hoạt động được bao bọc bởi lớp manti rắn dày, lớp lõi ngoài lỏng tạo ra từ trường và lõi sắt trong rắn. Trái Đất là hành tinh duy nhất có sự sống.
Trái Đất tương tác với các vật thể khác trong không gian bao gồm Mặt Trời và Mặt Trăng. Hiện quãng thời gian Trái Đất di chuyển hết một vòng quanh Mặt Trời bằng 365,26 lần quãng thời gian nó tự quay một vòng quanh trục của mình. Khoảng thời gian này bằng với một năm thiên văn tức 365,26 ngày trong dương lịch. Trục tự quay của Trái Đất nghiêng một góc bằng 23,4° so với trục vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo, tạo ra sự thay đổi mùa trên bề mặt của Trái Đất trong một năm chí tuyến. Mặt Trăng, vệ tinh tự nhiên duy nhất của Trái Đất, đồng thời cũng là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng thủy triều đại dương, bắt đầu quay quanh Trái Đất từ 4,53 tỷ năm trước, vẫn giữ nguyên góc quay ban đầu theo thời gian nhưng đang chuyển động chậm dần lại. Trong khoảng từ 4,1 đến 3,8 tỷ năm trước, sự va đập của các thiên thạch trong suốt thời kì "Công phá Mạnh muộn" đã tạo ra những sự thay đổi đáng kể trên bề mặt Mặt Trăng.
Cả tài nguyên khoáng sản lẫn các sản phẩm của sinh quyển được sử dụng để cung cấp cho cuộc sống của con người. Dân cư được chia thành hơn 200 quốc gia độc lập, có quan hệ với nhau thông qua các hoạt động ngoại giao, du lịch, thương mại, quân sự. Văn hóa loài người đã phát triển tạo nên nhiều cách nhìn về Trái Đất bao gồm việc nhân cách hóa Trái Đất như một vị thần, niềm tin vào một Trái Đất phẳng hoặc một Trái Đất là trung tâm của cả vũ trụ, và một quan điểm nhìn hiện đại hơn như Trái Đất là một môi trường thống nhất cần có sự định hướng.
== Niên biểu ==
=== Lịch sử ===
Các nhà khoa học đã có thể khôi phục lại các thông tin chi tiết về quá khứ của Trái Đất. Những ngày đầu tiên của hệ Mặt Trời là vào khoảng 4,5672 ± 0,0006 tỷ năm trước, và vào khoảng 4,54 tỷ năm trước (độ sai lệch nằm trong khoảng 1%) Trái Đất và các hành tinh khác trong hệ Mặt Trời đã hình thành từ tinh vân Mặt Trời - đám mây bụi và khí dạng đĩa do Mặt Trời tạo ra. Quá trình hình thành Trái Đất được hoàn thiện trong vòng 10 đến 20 triệu năm. Lúc đầu ở dạng nóng chảy, lớp vỏ ngoài của Trái Đất nguội lại thành chất rắn trong khi nước bắt đầu tích tụ trong khí quyển. Mặt Trăng hình thành ngay sau đó cách đây khoảng 4,53 tỷ năm, là kết quả của sự va chạm sượt qua giữa một vật thể có kích thước bằng Sao Hỏa (đôi khi được gọi là Theia) và có khối lượng bằng khoảng 10% khối lượng của Trái Đất, với Trái Đất. Một phần khối lượng của vật thể này đã sáp nhập vào Trái Đất, phần còn lại bắn vào không gian theo một quỹ đạo phù hợp tạo ra Mặt Trăng.
Khí thải và các hoạt động của núi lửa tạo ra các yếu tố sơ khai của bầu khí quyển. Quá trình ngưng tụ hơi nước gia tăng bởi băng và nước ở dạng lỏng được cung cấp bởi các thiên thạch và các tiền hành tinh lớn hơn, các sao chổi, và các vật thể ở xa hơn Sao Hải Vương tạo ra các đại dương. Hai giả thiết chính về sự phát triển của các lục địa được đề xuất là: phát triển từ từ cho đến ngày nay hoặc nhanh chóng phát triển trong quá khứ. Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng phương án thứ hai khả quan hơn, với tốc độ phát triển ban đầu nhanh của các lớp vỏ lục địa theo sau bởi một quá trình phát triển diện tích lục địa chậm và dài. Trong niên đại địa chất, khoảng thời gian hàng trăm triệu năm, bề mặt Trái Đất liên tục thay đổi hình dạng của chính nó dưới dạng các lục địa hình thành và phân rã. Các lục địa di chuyển trên bề mặt, đôi khi kết hợp với nhau để tạo thành một siêu lục địa. Khoảng 750 triệu năm trước, một trong những siêu lục địa được biết sớm nhất là Rodinia, đã bắt đầu chia tách. Các lục địa sau đó lại kết hợp với nhau để tạo ra Pannotia, 600-540 triệu năm trước, cuối cùng là Pangaea chia tách vào khoảng 180 triệu năm trước.
==== Quá trình tiến hóa của sự sống ====
Hiện nay, Trái Đất là ví dụ duy nhất về một môi trường cho phép duy trì sự tiến hóa. Người ta tin rằng các chất hóa học giàu năng lượng đã tạo ra các phân tử tự sao chép trong khoảng 4 tỷ năm trước đây, và trong nửa tỷ năm sau đó thì tổ tiên chung cuối cùng của các dạng sống trên Trái Đất bắt đầu xuất hiện. Sự phát triển của khả năng quang hợp cho phép năng lượng Mặt Trời được hấp thụ trực tiếp bởi các dạng sống; và sau đó ôxy sản phẩm tích tụ dần trong bầu khí quyển và hình thành tầng ôzôn (một hình thức phân tử khác của ôxy - O3) ở tầng cao của bầu khí quyển. Sự tập hợp các tế bào nhỏ trong một tế bào lớn hơn dẫn đến quá trình phát triển các tế bào phức tạp gọi là các sinh vật nhân chuẩn. Các sinh vật đa bào thực sự hình thành dưới dạng các tế bào trong một tập đoàn cá thể ngày càng trở nên chuyên môn hóa. Nhờ tầng ôzôn hấp thụ các bức xạ tia cực tím có hại, sự sống bắt đầu phát triển trên bề mặt Trái Đất.
Kể từ thập niên 1960, đã có một giả thiết rằng hoạt động của các sông băng trong khoảng từ 750 đến 580 triệu năm trước, trong đại Tân Nguyên sinh, đã phủ một lớp băng lên bề mặt Trái Đất. Giả thiết được gọi là "Địa Cầu tuyết", và được đặc biệt quan tâm vì nó tiếp nối giả thiết về sự bùng nổ sự sống trong kỷ Cambri, khi sự sống đa bào bắt đầu tăng trưởng mạnh. Sau sự bùng nổ ở kỷ Cambri, khoảng 535 triệu năm trước, đã xảy ra năm cuộc đại tuyệt chủng. Cuộc đại tuyệt chủng cuối cùng diễn ra cách đây 65 triệu năm, xảy ra có thể là do một thiên thạch đâm vào Trái Đất, đã gây ra cuộc đại tuyệt chủng của khủng long và các loài bò sát lớn, nhưng bỏ qua các loài động vật có kích thước nhỏ như các loài động vật có vú, mà khi đó trông giống như chuột. Trong 65 triệu năm qua, các dạng sống máu nóng ngày càng trở nên đa dạng, và một vài triệu năm trước đây thì một loài động vật dáng vượn ở châu Phi đã có khả năng đứng thẳng. Điều này cho phép chúng sử dụng công cụ và thúc đẩy giao tiếp cũng như cung cấp các chất dinh dưỡng và các yếu tố kích thích cần thiết cho một bộ não lớn hơn. Sự phát triển của nông nghiệp, và sau đó là sự văn minh, cho phép con người trong một khoảng thời gian ngắn gây ảnh hưởng đến Trái Đất nhiều hơn bất kì một dạng sống nào khác, thậm chí cả tính chất cũng như số lượng của các loài sinh vật khác. Các thời kỳ băng hà bắt đầu từ 40 triệu năm trước và phát triển trong suốt thế Pleistocen vào khoảng 3 triệu năm trước. Chu kì hình thành và tan băng lặp đi lặp lại trong các vùng cực theo chu kì 40-100 nghìn năm. Thời kỳ băng hà gần đây kết thúc vào khoảng 10.000 năm trước.
=== Tương lai ===
Tương lai của hành tinh này có quan hệ mật thiết với Mặt Trời. Là kết quả của sự tăng cường nguyên tử heli một cách từ từ trong lõi của Mặt Trời, độ sáng của ngôi sao này đang từ từ tăng lên. Độ sáng của Mặt Trời sẽ tăng 10% trong 1,1 tỷ năm tới, 40% trong 3,5 tỷ năm tới. Các mô hình khí hậu chỉ ra rằng việc các tia phóng xạ chạm đến Trái Đất nhiều hơn sẽ tạo nên các hậu quả khủng khiếp, bao gồm sự biến mất của các đại dương.
Sự tăng nhiệt độ trên bề mặt Trái Đất sẽ đẩy nhanh chu trình CO2 phi sinh học, giảm mật độ của khí này cho đến khi các loài thực vật chết (10 ppm đối với thực vật C4) trong vòng 900 triệu tới 1,2 tỷ năm. Sự thiếu hụt các loại cây xanh sẽ tạo ra hiện tượng thiếu ôxy trong bầu khí quyển, khiến cho các loại động vật trên Trái Đất sẽ bị tuyệt chủng hoàn toàn trong vài triệu năm sau đó, sự sống sẽ chỉ còn lại các dạng đơn giản sống trong các túi nước nằm sâu trong lòng đất hoặc ở 2 vùng cực. Tới 1,3 tỷ năm sau, các sinh vật nhân chuẩn sẽ tuyệt chủng, chỉ còn các sinh vật nhân sơ còn sống. Tới 2,8 tỷ năm sau, nhiệt độ Trái Đất sẽ lên tới 147 độ C ngay cả ở vùng cực, toàn bộ nước trên bề mặt sẽ biến mất và sự sống sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt và nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ đạt tới 70 °C. Trái Đất được mong đợi rằng có thể hỗ trợ sự sống thêm 500 triệu năm nữa, dù thời gian này có thể kéo 2,3 tỉ năm nếu nitơ được loại bỏ khỏi bầu khí quyển. Cho dù Mặt Trời có tồn tại vĩnh cửu và không thay đổi, quá trình lạnh đi của Trái Đất sẽ khiến cho lượng CO2 giảm dần do sự suy giảm của các hoạt động núi lửa và 35% nước của các đại dương lặn xuống lớp phủ do quá trình lưu thông hơi nước của sống núi giữa đại dương giảm.
Mặt Trời, trong quá trình tiến hóa của nó, sẽ trở thành một sao khổng lồ đỏ trong khoảng 5 tỷ năm nữa. Các mô hình cho thấy rằng Mặt Trời sẽ mở rộng, tăng bán kính lên gấp 250 lần hiện tại, xấp xỉ 1 AU (150.000.000 km). Tương lai của Trái Đất kém rõ ràng hơn. Dưới dạng một sao khổng lồ đỏ, Mặt Trời sẽ mất đi 30% khối lượng, khiến cho, không tính đến các ảnh hưởng về thủy triều, Trái Đất sẽ chuyển đến quỹ đạo 1,7 AU (250.000.000 km) so với Mặt Trời khi ngôi sao này đạt đến bán kính tối đa. Do đó người ta hy vọng rằng Trái Đất sẽ thoát khỏi được lớp không khí bao quanh Mặt Trời, dù rằng phần lớn, không phải tất cả, các loài sinh vật còn lại cũng sẽ nhanh chóng bị tuyệt chủng khi độ sáng của Mặt Trời tăng lên. Nhưng, các mô phỏng gần đây cho thấy quỹ đạo của Trái Đất sẽ biến mất do tác dụng của thủy triều và lực hút, làm cho nó bị hút vào bầu không khí bao quanh Mặt Trời và bị phá hủy.
== Tính chất vật lý ==
Trái Đất là một hành tinh đất đá, có nghĩa là nó có cấu tạo đất đá cứng, khác với những hành tinh khí khổng lồ như Sao Mộc. Trái Đất là hành tinh lớn nhất trong bốn hành tinh đất đá của hệ Mặt Trời, về cả kích thước và khối lượng. Trong bốn hành tinh này, Trái Đất có độ đặc lớn nhất, hấp dẫn bề mặt lớn nhất, từ trường mạnh nhất, tốc độ quay nhanh nhất. Và đồng thời nó cũng là hành tinh đất đá duy nhất mà các mảng kiến tạo còn hoạt động.
=== Hình dạng ===
Hình dạng của Trái Đất rất gần với hình phỏng cầu là hình cầu bị nén dọc theo hướng từ địa cực tới chỗ phình ra ở xích đạo. Phần phình ra này là kết quả của quá trình tự quay và khiến cho độ dài đường kính tại đường xích đạo dài hơn 43 km so với độ dài đường kính tính từ cực tới cực. Độ dài đường kính trung bình của hình phỏng cầu tham chiếu vào khoảng 12.745 km, xấp xỉ với 40.000 km/π, mét được định nghĩa bằng 1/10.000.000 khoảng cách từ xích đạo đến cực Bắc đo qua Paris, Pháp.
Địa hình các khu vực khác nhau đều có các sai lệch nhất định so với hình phỏng cầu đã được lý tưởng hóa này và nếu xét ở quy mô toàn cầu thì độ lệch này thường rất nhỏ, còn đối với một khu vực nhỏ thì Trái Đất có dung sai vào khoảng 1/584, tức 0,17% so với hình phỏng cầu tham chiếu và nhỏ hơn 0,22% dung sai cho phép đối với các quả bóng bi-da. Nơi có độ lệch (độ cao hoặc độ sâu) lớn nhất so với bề mặt Trái Đất là đỉnh Everest (8.848 m trên mực nước biển) và rãnh Mariana (10.911 dưới mực nước biển). Do sự phồng lên ở xích đạo, nơi xa tâm Trái Đất nhất là đỉnh Chimborazo ở Ecuador.
=== Thành phần hóa học ===
Khối lượng của Trái Đất vào khoảng 5,98×1024 kg, bao gồm sắt (32,1%), ôxy (30,1%), silic (15,1%), magiê (13,9%), lưu huỳnh (2,9%), niken (1,8%), canxi (1,5%), nhôm (1,4%); và các nguyên tố khác 1,2%. Dựa trên lý thuyết về phân tách khối lượng, người ta cho rằng vùng lõi được cấu tạo bởi sắt (88,8%) với một lượng nhỏ niken (5,8%), lưu huỳnh (4,5%), và các nguyên tố khác thì nhỏ hơn 1%. Nhà hóa học F. W. Clarke tính rằng dưới 47% lớp vỏ Trái Đất chứa ôxy và các mẫu đá cấu tạo nên vỏ Trái Đất hầu hết chứa các ôxít; clo, lưu huỳnh và flo là các ngoại lệ quan trọng duy nhất của điều này và tổng khối lượng của chúng trong đá nhỏ hơn 1% rất nhiều. Các ôxít chính là ôxít silic, nhôm, sắt; các cacbonat canxi, magiê, kali và natri. Điôxít silic đóng vai trò như một axít, tạo nên silicat và có mặt trong tất cả các loại khoáng vật phổ biến nhất. Từ một tính toán dựa trên 1.672 phân tích về tất các loại đá, Clarke suy luận rằng 99,22% là cấu tạo từ 11 ôxít (nhìn bảng bên phải) và tất cả các thành phần còn lại chỉ chiếm một lượng cực nhỏ.
=== Cấu trúc bên trong ===
Phần bên trong của Trái Đất giống như các hành tinh đất đá khác, chia thành nhiều lớp dựa trên các đặc tính hóa, lý.
Lớp ngoài của vỏ Trái Đất là một lớp silicat rắn bao gồm bảy mảng kiến tạo riêng biệt nằm trên một lớp chất rắn dẻo. Vỏ Trái Đất phân cách với lớp phủ bởi điểm gián đoạn Mohorovičić, và độ dày thay đổi trung bình 6 km đối với vỏ đại dương và 30–50 km đối với vỏ lục địa. Lớp vỏ và phần trên cùng của lớp phủ cứng, lạnh được gọi là thạch quyển, và các mảng lục địa được tạo trên thạch quyển.
Dưới thạch quyển là quyển mềm (quyển atheno) do nó được cấu tạo bởi lớp đá "mềm".
Dưới quyển mềm là lớp phủ có bề dày khoảng 2.900 km và là nơi có độ nhớt cao nhất. Những sự thay đổi quan trọng trong cấu trúc tinh thể bên trong lớp phủ xuất hiện tại độ sâu 410 và 660 km dưới mặt đất, trải qua một đới chuyển tiếp ngăn cách lớp phủ trên và dưới.
Ở dưới lớp phủ, lõi ngoài có dạng chất lỏng mềm nằm trên lõi trong rắn. Lõi trong có thể quay với vận tốc góc hơi cao hơn so với phần còn lại của hành tinh khoảng 0,1- 0,5° mỗi năm.
=== Nhiệt lượng ===
Nội nhiệt của Trái Đất được tạo ra bởi sự kết hợp của nhiệt dư được tạo ra trong các hoạt động của Trái Đất (khoảng 20%) và nhiệt được tạo ra do sự phân rã phóng xạ (khoảng 80%). Các đồng vị chính tham gia vào quá trình sinh nhiệt là kali-40, urani-238, urani 235, thori-232. Ở trung tâm của Trái Đất, nhiệt độ có thể đạt tới 7000K và áp suất có thể lên tới 360 Gpa. Do phần lớn nhiệt năng này sinh ra từ sự phân rã của các chất phóng xạ, các nhà khoa học tin rằng vào thời kì đầu của Trái Đất, trước khi số lượng của các đồng vị phóng xạ có chu kì bán rã ngắn bị giảm xuống, nhiệt năng sinh ra của Trái Đất còn cao hơn. Nhiệt năng thêm này gấp hai lần hiện tại vào thời điểm 3 tỉ năm trước đã làm tăng nhiệt độ mặt đất, tăng tốc độ của quá trình đối lưu manti và kiến tạo mảng, và cho phép tao ra đá macma giống như komatiite mà ngày nay không còn được tạo ra nữa.
Tổng nhiệt năng mà Trái Đất mất đi khoảng 4,2 ×1013 W. Một phần năng lượng nhiệt ở lõi được truyền qua lớp vỏ nhờ chùm manti; đó là một dạng đối lưu bao gồm các đợt dâng lên của các khối đá nóng và có thể tạo ra các điểm nóng và lũ bazan. Một phần nhiệt năng khác của Trái Đất mất đi thông qua hoạt động kiến tạo mảng khi mácma trong manti dâng lên ở các sống núi giữa đại dương. Hình thức mất nhiệt cuối cùng là con đường truyền nhiệt trực tiếp đi qua thạch quyển, phần lớn xuất hiện ở đại dương vì lớp vỏ ở đó mỏng hơn so với ở lục địa.
=== Các mảng kiến tạo ===
Lớp ngoài cứng về mặt cơ học của Trái Đất, tức thạch quyển, bị vỡ thành nhiều mảnh được gọi là các mảng kiến tạo. Các mảng này di chuyển tương đối với nhau theo một trong ba kiểu ranh giới mảng: hội tụ khi hai mảng va chạm; tách giãn khi hai mảng đẩy nhau ra xa, chuyển dạng khi các mảng trượt dọc theo các vết đứt gãy. Các trận động đất, hoạt động núi lửa, sự hình thành các dãy núi, và rãnh đại dương đều xuất hiện dọc theo các ranh giới này. Các mảng kiến tạo nằm trên quyển atheno (quyển mềm), phần rắn nhưng kém nhớt của lớp phủ trên có thể chảy và di chuyển cùng các mảng kiến tạo, và chuyển động của chúng gắn chặt với các kiểu đối lưu bên trong lớp phủ Trái Đất.
Khi các mảng kiến tạo di chuyển, đáy đại dương bị hút chìm ở rìa của lục địa hay tại ranh giới hội tụ. Trong khi đó, sự phun trào mácma ở ranh giới phân kỳ tạo ra các rặng núi giữa đại dương. Sự kết hợp của các quá trình này đẩy lớp vỏ ở đại dương trở lại lớp phủ. Bởi quá trình tái chế này, phần lớn đáy đại dương không quá 100 triệu tuổi. Lớp vỏ đại dương già nhất là ở tây Thái Bình Dương và ước chừng khoảng 200 triệu tuổi. Bên cạnh đó, lớp vỏ lục địa già nhất khoảng 4030 triệu tuổi.
Các mảng lục địa khác bao gồm mảng Ấn Độ, mảng Ả Rập, mảng Caribe, mảng Nazca ở bờ phía tây Nam Mỹ và mảng Scotia ở nam Đại Tây Dương. Mảng Úc thực chất đã hợp nhất với mảng Ấn Độ trong khoảng từ 50 đến 55 triệu năm trước để tạo thành mảng Ấn-Úc. Các mảng kiến tạo di chuyển nhanh nhất là các mảng đại dương, với mảng Cocos di chuyển với tốc độ 75 mm mỗi năm và mảng Thái Bình Dương di chuyển với tốc độ 52–69 mm mỗi năm. Ở một thái cực khác, mảng di chuyển chậm nhất là mảng Á-Âu, di chuyển với tốc độ bình thường 21 mm một năm.
=== Bề mặt ===
Địa hình của Trái Đất ở mỗi vùng mỗi khác. Nước bao phủ khoảng 70,8% bề mặt Trái Đất, với phần lớn thềm lục địa ở dưới mực nước biển. Bề mặt dưới mực nước biển hiểm trở bao gồm hệ thống các dãy núi giữa đại dương kéo dài khắp địa cầu, ví dụ như các núi lửa ngầm, các rãnh đại dương, các hẻm núi dưới mặt biển, các cao nguyên đại dương và đồng bằng đáy. Còn lại 29,2% không bị bao phủ bởi nước; bao gồm núi, sa mạc, cao nguyên, đồng bằng và các địa hình khác.
Bề mặt của hành tinh liên tục tự thay đổi theo thời gian dưới tác dụng của các quá trình kiến tạo và xói mòn. Các hình thái của bề mặt được tạo nên và biến dạng bởi các mảng kiến tạo liên tục bị phong hóa bởi giáng thủy, các chu trình nhiệt và các tác nhân hóa học. Sự đóng băng, sự xói mòn bờ biển, sự hình thành của các dải san hô ngầm, và sự va chạm với các mảnh thiên thạch lớn cũng làm thay đổi địa hình.
Lớp vỏ lục địa bao gồm các vật chất có độ đặc thấp hơn như đá macma granit và andesit. Ít phổ biến hơn là bazan, một loại đá núi lửa đặc là thành phần chính của đáy biển. Đá trầm tích được tạo ra do sự tăng số lượng trầm tích và chúng trở nên gắn kết với nhau. Đá trầm tích bao phủ gần 75% bề mặt lục địa, mặc dù chúng chỉ chiếm khoảng 5% lớp vỏ. Loại đá thứ ba được tìm thấy trên Trái Đất là đá biến chất, được tạo ra do sự biến đổi của các loại đá trước đó dưới tác dụng của áp suất cao, nhiệt độ cao, hoặc cả hai. Các khoáng vật silicat ở bề mặt Trái Đất bao gồm thạch anh, felspat, amphibol, mica, pyroxen, olivin. Các khoáng vật cacbonat bao gồm canxit (tìm thấy trong đá vôi), aragonit và dolomit.
Thổ quyển là lớp ngoài cùng nhất của Trái Đất, được cấu tạo bởi đất và chịu tác động của các quá trình hình thành đất. Nó tồn tại cùng thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển. Theo số liệu năm 2009, tổng diện tích đất trồng trọt được chiếm 10.57% tổng diện tích đất bề mặt, với chỉ 1.04% sử dụng được cho việc trồng trọt lâu dài. Gần 40% diện tích đất bề mặt đang được sử dụng để trồng trọt hoặc làm đồng cỏ chăn nuôi, ước tính 1.3 ×107 km² dùng làm đất trồng và 3,4 ×107km² dùng làm đồng cỏ. Độ cao so với mực nước biển của mặt đất thay đổi từ -418 m ở biển Chết tới 8.848 m trên đỉnh Everest và độ cao trung bình trên mặt nước biển là 840 m.
=== Thủy quyển ===
Nguồn nước dồi dào trên bề mặt đất là đặc điểm độc nhất, giúp phân biệt "Hành tinh xanh" với các hành tinh khác trong hệ Mặt Trời. Thủy quyển của Trái Đất chủ yếu bao gồm các đại dương, nhưng về lý thuyết nó bao gồm tất cả nước trên bề mặt đất, bao gồm biển nội địa, hồ, sông và mạch nước ngầm ở độ sâu tới 2.000 m. Khu vực sâu nhất dưới đáy biển là "Challenger Deep" thuộc rãnh Mariana ở Thái Bình Dương với độ sâu 10.911,4 m. Độ sâu trung bình của các đại dương là 3.800 m, lớn hơn 4 lần độ cao trung bình của các lục địa. Khối lượng nước trong các đại dương xấp xỉ 1,35 ×1018 tấn, hoặc khoảng 1/4400 khối lượng của Trái Đất, và chiếm thể tích 1,386 ×109 km³. Nếu tất cả đất trên Trái Đất được trải phẳng ra, mực nước biển sẽ dâng lên cao hơn 2,7 km. Khoảng 97,5% nước có chứa muối, còn lại 2,5% là nước ngọt và phần lớn nước ngọt, khoảng 68,7%, đang ở dạng băng.
Khoảng 3,5% tổng khối lượng của các đại dương là muối và phần lớn lượng muối này được đẩy ra từ các hoạt động núi lửa hay tách ra từ đá macma nguội. Các đại dương đều có chứa đầy khí hòa tan trong nước, yếu tố thiết yếu đối với sự sống của các sinh vật biển. Nước biển có ảnh hưởng lớn tới khí hậu của cả thế giới và các đại dương có vai trò như nguồn giữ nhiệt. Sự thay đổi trong phân bố nhiệt đại dương tạo ra sự thay đổi quan trọng về thời tiết, như El Nino.
=== Khí quyển ===
Áp suất khí quyển trung bình tác dụng lên bề mặt Trái Đất là 101,325 kPa ở độ cao 8,5 km. Không khí chứa 78% nitơ và 21% ôxy, còn lại là hơi nước, điôxít cacbon và các phân tử khí khác. Độ cao của tầng đối lưu thay đổi theo vĩ độ vào khoảng 8 km ở các vùng cực và 17 km ở xích đạo, với các sự thay đổi ảnh hưởng bởi các yếu tố mùa và thời tiết.
Sinh quyển của Trái Đất tạo ra các thay đổi khá lớn đối với bầu khí quyển. Sự quang hợp oxy tiến hóa từ 2,7 tỷ năm trước, tạo ra bầu không khí chứa nitơ-oxy tồn tại ngày nay. Sự thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phổ biến của các vi sinh vật ưa khí, cũng như việc tầng ôzôn - cùng với từ trường của Trái Đất- đã ngăn chặn các tia phóng xạ, cho phép sự sống tồn tại trên Trái Đất. Các chức năng khác của khí quyển đối với sự sống bao gồm vận chuyển, cung cấp các loại khí hữu dụng, đốt cháy các thiên thạch nhỏ trước khi chúng chạm đất và điều hòa nhiệt độ. Hiện tương cuối cùng được biết dưới cái tên hiệu ứng nhà kính: các phân tử khí thu nhiệt năng tỏa ra từ mặt đất, làm tăng nhiệt độ trung bình. Cacbon dioxit, hơi nước, metan và ozon là các khí nhà kính đầu tiên trong bầu khí quyển của Trái Đất. Nếu không có hiệu ứng duy trì nhiệt này, nhiệt độ trung bình bề mặt sẽ là -18 °C và sự sống sẽ không có khả năng tồn tại.
==== Thời tiết và khí hậu ====
Khí quyển của Trái Đất không có ranh giới xác định, ngày càng trở nên mỏng hơn và loãng vào không gian. Ba phần tư khối lượng của khí quyển tập trung trong khoảng 11 km từ bề mặt hành tinh. Tầng thấp nhất này được gọi là tầng đối lưu, ở đây năng lượng Mặt Trời sẽ đốt nóng nó và bề mặt đất làm không khí giãn nở. Lớp khí mật độ thấp này bay lên trên, và thay thế vào đó là lớp khí lạnh hơn, mật độ dày hơn. Kết quả tạo ra sự lưu thông không khí, cơ chế thay đổi thời tiết và khí hậu thông qua sự phân phối lại nhiệt năng.
Các vành đai lưu thông không khí bao gồm gió mậu dịch ở vùng xích đạo dưới vĩ độ 30° và gió tây hoạt động trong khu vực giữa vĩ độ 30° và 60°. Các hải lưu cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới khí hậu, đặc biệt là sự luân chuyển nhiệt muối, phân phối lại nhiệt năng từ các đại dương nằm trên xích đạo về vùng cực.
Hơi nước được sinh ra thông qua việc bốc hơi bề mặt, được vận chuyển bằng chu trình tuần hoàn trong khí quyển. Khi điều kiện không khí cho phép việc đẩy không khí nóng ẩm lên cao thì lượng nước này ngưng tụ và rơi xuống bề mặt gọi là giáng thủy. Phần lớn lượng nước này lại được vận chuyển trở về nơi bốc hơi, thường là các đại dương hoặc các hồ nước, nhờ hệ thống sông ngòi. Vòng tuần hoàn nước là một hiện tượng cần thiết cho sự sống và là yếu tố tham gia vào hiện tượng xói mòn địa hình trong suốt các thời kì địa chất. Các hiện tượng giáng thủy có khác biệt rất lớn, từ vài mét một năm tới chưa đầy một milimét. Sự lưu thông không khí, các đặc điểm địa hình và nhiệt độ khác nhau giúp xác định lượng giáng thủy trung bình ở mỗi vùng.
Trái Đất có thể chia thành các đới có khí hậu đồng nhất theo vĩ độ. Từ xích đạo đến các cực lần lượt có các kiểu khí hậu: nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới, hàn đới (khí hậu vùng cực). Khí hậu cũng có thể chia dựa trên nhiệt độ và lượng giáng thủy, với các vùng khí hậu đặc trưng có không khí đồng nhất. Hệ thống phân loại khí hậu Köppen (sau này được Rudolph Geiger, học trò của Wladimir Köppen, sửa đổi) chia Trái Đất thành 5 nhóm lớn (khí hậu kiểu nhiệt đới/đại nhiệt, khí hậu khô, khí hậu ôn đới/ trung nhiệt, khí hậu lục địa/ tiểu nhiệt, khí hậu vùng cực), sau đó lại được chia nhỏ hơn nữa.
==== Tầng khí quyển trên ====
Phía trên tầng đối lưu, bầu không khí được chia thành tầng bình lưu, tầng trung lưu và tầng nhiệt. Mỗi tầng có một tỉ lệ giảm nhiệt độ theo độ cao khác nhau. Phía trên các tầng này, có tầng ngoài mỏng dần đi vào từ quyển. Đây là nơi từ trường của Trái Đất tương tác với gió Mặt Trời. Một bộ phận của bầu khí quyển quan trọng cho sự sống là tầng ôzôn, một bộ phận của tầng bình lưu cản các tia cực tím. Đường Kármán nằm ở độ cao 100 km so với bề mặt Trái Đất là ranh giới giữa khí quyển và không gian.
Dựa trên nhiệt năng, một số phân tử ở rìa ngoài khí quyển của Trái Đất có thể tự tăng tốc độ đến mức chúng có thể thoát khỏi lực hút của Trái Đất. Quá trình này diễn ra chậm nhưng không khí vẫn dần dần thoát vào không gian. Bởi hiđrô có khối lượng phân tử thấp, nên chúng có thể dễ dàng đạt tới vận tốc vũ trụ cấp 2 và chúng có tỉ lệ thoát vào không gian cao hơn hẳn các loại khí khác. Quá trình rò rỉ hiđrô vào không gian là một yếu tố tham gia vào việc đẩy Trái Đất từ trạng thái khử lúc đầu sang trạng thái ôxi hóa hiện tại. Sự quang hợp là quá trình cung cấp ôxy tự do, nhưng người ta tin rằng sự biến mất của các chất khử như hiđrô là điều kiện cần thiết cho quá trình tăng lượng ôxy trong bầu khí quyển. Quá trình hiđrô thoát khỏi khí quyển Trái Đất có thể đã ảnh hưởng giúp cho sự sống phát triển trên hành tinh. Trong khí quyển giàu ôxy hiện tại, phần lớn hiđrô bị chuyển thành dạng nước trước khi chúng kịp thoát khỏi bầu khí quyển. Thay vào đó, phần lớn lượng hiđrô mất đi là từ sự phân hủy khí mêtan trong tầng thượng khí quyển.
=== Từ trường ===
Từ trường của Trái Đất có hình dạng gần giống như một lưỡng cực từ, với các cực từ gần trùng với các địa cực của Trái Đất. Theo thuyết dynamo, từ trường Trái Đất được tạo ra trong vùng lõi ngoài nóng chảy của Trái Đất, nơi mà nhiệt lượng tạo ra các chuyển động đối lưu của các vật chất dẫn điện, tạo ra dòng điện. Các dòng điện này đến lượt mình tạo ra từ trường. Các chuyển động đối lưu trong lõi rất lộn xộn, chuyển hướng theo chu kỳ. Hiện tượng này là nguyên nhân của hiện tương đảo cực địa từ diễn ra định kì một vài lần trong mỗi triệu năm. Sự đảo cực quan sát rõ trong địa tầng gần đây nhất, xảy ra vào giữa Kỷ Đệ tứ, 781000 năm trước, là Đảo ngược Brunhes-Matuyama. Sự đảo cực ngắn gần đây nhất là sự kiện Laschamp xảy ra 41.000 năm trước, trong thời kỳ băng hà cuối cùng, trong đó thời gian đảo cực dài cỡ 440 năm.
Từ trường tạo từ quyển làm lệch hướng các điện tử của gió Mặt Trời. "Sốc hình cung" hướng về phía Mặt Trời nằm ở khoảng cách gấp 13 lần bán kính Trái Đất. Sự va chạm giữa từ trường Trái Đất và gió Mặt Trời tạo ra vành đai bức xạ Van Allen, một cặp những vùng tích điện dạng vòng cung đồng tâm hình đế hoa. Khi thể plasma xâm nhập vào bầu khí quyển của Trái Đất ở các cực, chúng tạo ra cực quang.
== Quỹ đạo và chuyển động tự quay ==
=== Chuyển động tự quay ===
Đọc thêm: Tương tác hấp dẫn
Chu kỳ tự quay của Trái Đất tương đối với Mặt Trời – một ngày Mặt Trời trung bình - vào khoảng 86.400 giây Mặt Trời trung bình. Mỗi giây này dài hơn một giây thuộc hệ SI một chút bởi ngày Mặt Trời hiện nay của Trái Đất dài hơn so với thế kỉ 19 do gia tốc thủy triều.
Chu kỳ tự quay của Trái Đất xét từ các định tinh, được IERS gọi là ngày định tinh, dài 86.164,098903691 giây thời gian Mặt Trời trung bình (UT1) hay 23h 56m 4,098903691s. Chu kì Trái Đất tự quay xét theo tuế sai hay chuyển động của xuân phân trung bình, bị đặt tên sai là năm thiên văn, dài 86.164,09053083288 giây Mặt Trời trung bình (UT1) hay 23h 56m 4,09053083288s. Vì thế ngày thiên văn ngắn hơn ngày định tinh khoảng 8,4 ms. Độ dài của ngày Mặt Trời trung bình tính theo giây hệ SI có sẵn tại IERS cho các giai đoạn từ 1623-2005. và 1962-2005.
Ngoài các thiên thạch trong khí quyển và các vệ tinh quỹ đạo thấp thì chuyển động biểu kiến chính của các thiên thể trên bầu trời Trái Đất là sang phía Tây với tốc độ 15° một giờ hay 15’ một phút. Điều này tương đương với đường kính biểu kiến của Mặt Trời và Mặt Trăng sau mỗi hai phút; kích thước góc của Mặt Trời và Mặt Trăng nhìn từ Trái Đất là gần như bằng nhau.
=== Quỹ đạo ===
Trái Đất quay trên quỹ đạo quanh Mặt Trời với khoảng cách trung bình 150 triệu km hết 365,2564 ngày Mặt Trời trung bình (1 năm thiên văn, số liệu đo được đến năm 2006)[xem thảo luận]. Vì thế từ Trái Đất nó tạo ra chuyển động biểu kiến của Mặt Trời thể hiện bằng sự thay đổi vị trí tương đối so với các ngôi sao, với vận tốc góc khoảng 1°/ngày, hay một khoảng cách bằng đường kính góc của Mặt Trăng hay Mặt Trời cứ sau mỗi 12 giờ về phía đông. Vì chuyển động này, trung bình nó mất 24 giờ - một ngày Mặt Trời - để Trái Đất hoàn thành một vòng tự quay quanh trục sao cho Mặt Trời lại trở lại đường Tý Ngọ (kinh tuyến thiên cầu). Vận tốc quỹ đạo của Trái Đất khoảng 30 km/s, đủ để đi hết quãng đường bằng đường kính Trái Đất (~12.700 km) trong 7 phút, hay khoảng cách đến Mặt Trăng (384.000 km) trong 4 giờ.
Mặt Trăng quay cùng Trái Đất một vòng quanh tâm khối chung hết 27,32 ngày so với các ngôi sao trên nền. Khi kết hợp với chu kỳ quay quanh Mặt Trời của hệ Trái Đất-Mặt Trăng thì thời gian của một tháng giao hội từ sóc này tới sóc kế tiếp là 29,53 ngày. Quan sát từ cực Bắc thiên cầu, chuyển động của Trái Đất, Mặt Trăng và sự tự quay quanh trục của chúng là ngược chiều kim đồng hồ. Nhìn từ một điểm cao thuận lợi trên cực Bắc của cả Trái Đất và Mặt Trời, Trái Đất dường như quay quanh Mặt Trời theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Mặt phẳng quỹ đạo và mặt phẳng trục không vuông góc với nhau: trục Trái Đất nghiêng một góc khoảng 23,5° so với đường thẳng vuông góc với mặt phẳng Trái Đất-Mặt Trời và mặt phẳng Trái Đất-Mặt Trăng nghiêng khoảng 5 độ so với mặt phẳng Trái Đất-Mặt Trời. Nếu không có độ nghiêng như vậy thì cứ hai tuần lại có hiện tượng thực với nhật thực và nguyệt thực xen kẽ nhau.
Quyển Hill (đặt theo tên nhà thiên văn học người Mỹ George William Hill) là quyển (vùng không gian) tầm ảnh hưởng của lực hấp dẫn của Trái Đất, có bán kính khoảng 1,5 Gm (hay 1.500.000 km). Đây là khoảng cách lớn nhất mà lực hấp dẫn của Trái Đất có thể thắng được lực hấp dẫn của Mặt Trời và các hành tinh khác. Các vật thể phải quay quanh Trái Đất trong khu vực này, hoặc chúng không bị trói buộc bởi lực hấp dẫn của Mặt Trời.
Trái Đất, cũng như toàn bộ hệ Mặt Trời nằm trong dải Ngân Hà, quay quanh tâm của Ngân Hà với khoảng cách 25.000-28.000 năm ánh sáng, với vận tốc khoảng 220 km/s, với chu kỳ khoảng 225-250 triệu năm. Hiện nay nó nằm ở vị trí cách phía trên mặt phẳng xích đạo của Ngân Hà khoảng 20 năm ánh sáng, trong nhánh xoắn ốc Orion.
=== Độ nghiêng trục và các mùa ===
Do độ nghiêng trục quay của Trái Đất, lượng ánh sáng Mặt Trời chạm tới một điểm cho trước trên bề mặt thay đổi liên tục trong một năm. Kết quả là tạo ra hiện tượng mùa, với mùa hè xuất hiện ở Bắc bán cầu khi cực Bắc hướng về phía Mặt Trời trong khi mùa đông xuất hiện ở cực Nam. Trong suốt mùa hè, ngày dài hơn và Mặt Trời lên cao hơn. Vào mùa đông, khí hậu trở nên lạnh hơn và ngày ngắn hơn. Trên vòng Bắc cực, hiện tượng cực điểm xảy ra khi không có ánh sáng ban ngày trong suốt một khoảng thời gian trong năm - một ban đêm vùng cực. Ở Nam bán cầu hiện tượng xảy ra theo trật tự nghịch đảo chính xác, do cực Nam luôn luôn ngược hướng với cực Bắc.
Theo các quy ước thiên văn học, bốn mùa được xác định bởi các điểm chí- các điểm trên quỹ đạo mà trục tự quay của Trái Đất tạo thành góc có các giá trị cực trị (cực đại hay cực tiểu) khi so với đường thẳng về phía Mặt Trời - và các điểm phân, khi hướng của trục và hướng về phía Mặt Trời là vuông góc với nhau. Tại Bắc bán cầu, đông chí diễn ra vào khoảng ngày 21 tháng 12, hạ chí diễn ra vào khoảng ngày 21 tháng 6, xuân phân xảy ra vào khoảng ngày 20 tháng 3 và thu phân diễn ra vào khoảng ngày 23 tháng 9.
Góc nghiêng của trục Trái Đất (so với mặt phẳng hoàng đạo) là tương đối ổn định theo thời gian. Nhưng sự nghiêng của trục chịu sự tác động của chương động; một chuyển động không đều rất nhỏ với chu kỳ 18,6 năm. Hướng của trục Trái Đất (chứ không phải góc nghiêng) cũng thay đổi theo thời gian, tuế sai quay một vòng tròn kín với chu kỳ hơn 25.800 năm; tuế sai này là nguyên nhân cho sự khác biệt giữa năm thiên văn và năm chí tuyến. Tất cả các chuyển động này đều được tạo ra do lực hấp dẫn thay đổi của Mặt Trăng và Mặt Trời tác dụng lên phần lồi ra tại xích đạo của Trái Đất. Từ điểm nhìn của Trái Đất, các cực cũng di chuyển vài mét trên bề mặt. Chuyển động của các cực có nhiều thành phần có chu kỳ và phức tạp, được gọi chung là "chuyển động tựa chu kỳ". Ngoài thành phần hàng năm của chuyển động này, có một chu kỳ 14 tháng được gọi là dao động Chandler. Vận tốc tự quay của Trái Đất cũng thay đổi theo một hiện tượng được biết dưới tên gọi sự thay đổi độ dài của ngày.
Trong kỷ nguyên J2000, điểm cận nhật của Trái Đất diễn ra vào 3 tháng 1, và điểm viễn nhật diễn ra vào 4 tháng 7. Nhưng, những thời điểm này thay đổi theo thời gian do tuế sai và các yếu tố quỹ đạo quay khác thay đổi theo một chu kỳ gọi là chu kỳ Milankovitch. Sự thay đổi khoảng cách giữa Mặt Trời và Trái Đất tạo ra sự tăng thêm khoảng 6,9% năng lượng Mặt Trời chạm tới Trái Đất tại điểm cận nhật so với điểm viễn nhật. Do Nam bán cầu hướng vế phía Mặt Trời vào khoảng xung quanh thời điểm khi Trái Đất gần Mặt Trời nhất, nên bán cầu này nhận được nhiều năng lượng hơn so với lượng năng lượng mà Bắc bán cầu nhận được trong hành trình cả năm. Nhưng, hiệu ứng này là nhỏ hơn rất nhiều so với thay đổi năng lượng tổng cộng do độ nghiêng trục quay và phần lớn năng lượng dư này được hấp thụ bởi tỷ lệ nước cao hơn ở Nam bán cầu.
== Mặt Trăng ==
Mặt Trăng là một vệ tinh đất đá tương đối lớn, tương tự như các hành tinh, có đường kính bằng khoảng 1/4 đường kính Trái Đất. Mặt Trăng là vệ tinh có kích thước lớn nhất, khi tính tương đối so với kích thước hành tinh nó quay quanh.
Lực hấp dẫn giữa Trái Đất và Mặt Trăng sinh ra thủy triều trên Trái Đất. Hiệu ứng tương tự trên Mặt Trăng dẫn đến khóa thủy triều của nó: chu kỳ tự quay của Mặt Trăng bằng với chu kỳ quay quanh Trái Đất. Kết quả là nó luôn luôn hướng một mặt về hướng Trái Đất. Khi Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, các phần khác nhau trên bề mặt của nó được Mặt Trời chiếu sáng, nên có các pha của Mặt Trăng: phần sẫm trên bề mặt được phân cách với phần sáng bằng đường phân cách Mặt Trời.
Do sự tương tác thủy triều, Mặt Trăng ngày càng cách xa Trái Đất với tốc độ trung bình 38 mm mỗi năm. Trong suốt vài triệu năm, những sự thay đổi nhỏ này – và sự dài ra của ngày trên Trái Đất vào khoảng 23 µs một năm - đã tạo ra những sự thay đổi đáng kể. Chẳng hạn, trong suốt kỷ Devon (vào khoảng 410 triệu năm trước) có 400 ngày trong một năm, với mỗi ngày kéo dài trong 21,8 giờ.
Mặt Trăng tác động lên sự sống thông qua việc điều hòa khí hậu. Các chứng cứ hóa thạch và giả lập máy tính chỉ ra rằng độ nghiêng trục của Trái Đất được ổn định bởi tương tác thủy triều với Mặt Trăng. Một số người cho rằng nếu không có sự ổn định này để chống lại các mômen xoắn do tác động của Mặt Trời và các hành tinh khác tới Trái Đất thì trục tự quay của Trái Đất có thể đã không ổn định và hỗn loạn, giống như trên Sao Hỏa. Nếu trục tự quay của Trái Đất gần với mặt phẳng quỹ đạo, khí hậu Trái Đất có lẽ sẽ cực kỳ khắc nghiệt do tạo ra sự sai biệt theo mùa cực lớn. Một cực sẽ gần như hướng thẳng tới Mặt Trời và luôn trong mùa hè và cực kia luôn luôn trong mùa đông. Các nhà hành tinh học cho rằng khi đó phần lớn các loại hình sự sống cao cấp sẽ bị hủy diệt. Điều này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi và các nghiên cứu tiếp theo về Sao Hỏa - giống với Trái Đất về chu kỳ tự quay và độ nghiêng trục, nhưng không có vệ tinh đủ lớn hay lõi lỏng - có thể cung cấp các thông tin bổ sung.
Mặt Trăng là vừa đủ xa để khi nhìn từ Trái Đất, có kính thước góc biểu kiến giống như Mặt Trời (Mặt Trời lớn hơn 400 lần, nhưng Mặt Trăng thì lại gần hơn 400 lần). Điều này cho phép có hiện tượng nhật thực toàn phần cũng như nhật thực hình khuyên diễn ra trên Trái Đất.
Giả thuyết phổ biến nhất về nguồn gốc của Mặt Trăng cho rằng nó được tạo thành sau va đập của một tiền hành tinh, gọi là Theia có kích thước cỡ Sao Hỏa, với Trái Đất ở thời kỳ đầu. Giả thuyết này giải thích sự thiếu vắng sắt và các nguyên tố dễ bay hơi khác trên Mặt Trăng, và sự giống nhau giữa các thành phần đất của lớp vỏ Trái Đất cũng như Mặt Trăng.
Trái Đất có tối thiểu là 2 tiểu hành tinh đồng quỹ đạo là 3753 Cruithne và 2002 AA29.
== Sự sống ==
Hiện nay, Trái Đất là ví dụ duy nhất về một môi trường cho phép duy trì sự tiến hóa. Trái Đất cung cấp các điều kiện cần thiết như nước, một môi trường mà các phân tử hữu cơ phức tạp có thể tổng hợp được, năng lượng vừa đủ cho quá trình trao đổi chất. Khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trời, độ lêch tâm của quỹ đạo quay, tỉ số quay, độ nghiêng trục quay, lịch sử địa chất Trái Đất, bầu không khí ổn định và từ trường bảo vệ tất cả đều là những điều kiện cần thiết để hình thành và duy trì sự sống trên hành tinh này.
=== Sinh quyển ===
Các dạng sự sống trên hành tinh đôi khi được nói đến như là "sinh quyển". Người ta nói chung cho rằng sinh quyển Trái Đất bắt đầu tiến hóa cách đây khoảng 3,5 tỷ năm. Trái Đất là nơi duy nhất đã biết có sự sống tồn tại. Các nhà khoa học cho rằng một sinh quyển như ở Trái Đất là rất hiếm.
Sinh quyển được phân chia thành một số quần xã sinh vật, bao gồm các hệ thực vật và hệ động vật tương đối giống nhau sinh sống. Các quần xã sinh vật được phân chia chủ yếu theo vĩ độ và theo độ cao trên mực nước biển. Các quần xã sinh vật nằm trong phạm vi vòng Bắc cực và vòng Nam cực là tương đối hiếm về thực vật và động vật, trong khi phần lớn các quần xã sinh vật phong phú về chủng loại nhất nằm gần đường xích đạo.
Sinh quyển của Trái Đất tạo ra các thay đổi khá lớn đối với bầu khí quyển và, ngược lại, cũng nhờ có bầu khí quyển mà có những bước phát triển đáng kể. Sự quang hợp sinh ôxy tiến triển từ 2,7 tỷ năm trước đã tạo ra bầu không khí chứa nitơ-ôxy tồn tại như ngày nay. Sự thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phổ biến của các vi sinh vật hiếu khí, cũng như việc tầng ôzôn - cùng với từ trường của Trái Đất- đã ngăn chặn các tia phóng xạ, cho phép sự sống tồn tại trên Trái Đất. Các chức năng khác của khí quyển đối với sự sống bao gồm vận chuyển, cung cấp các loại khí hữu dụng, đốt cháy các thiên thạch nhỏ trước khi chúng va chạm với mặt đất và điều hòa nhiệt độ. Hiện tượng cuối cùng được biết dưới cái tên hiệu ứng nhà kính: các phân tử khí thu nhiệt năng tỏa ra từ mặt đất, làm tăng nhiệt độ trung bình. Điôxít cacbon, hơi nước, mêtan và ôzôn là các khí nhà kính đầu tiên trong bầu khí quyển của Trái Đất. Nếu không có hiệu ứng duy trì nhiệt này, nhiệt độ trung bình bề mặt sẽ là -18 °C và sự sống sẽ không có khả năng tồn tại.
=== Con người ===
==== Địa lý con người ====
Trái Đất là nơi sinh sống của hơn 6.740.000.000 người tính đến tháng 11 năm 2008, và các dự án nghiên cứu chỉ ra rằng dân số thế giới sẽ đạt tới 7 tỷ vào năm 2013 và 9,2 tỷ vào năm 2050. Phần lớn sự gia tăng này diễn ra ở các nước đang phát triển. Mật độ dân số rất đa dạng ở khắp nơi trên thế giới, nhưng phần lớn sống ở châu Á. Năm 2020, 60% dân số thế giới sẽ sống ở các thành thị thay vì nông thôn.
Ước tính rằng chỉ có một phần tám bề mặt Trái Đất thích hợp cho con người sinh sống - ba phần tư bề mặt bị bao phủ bởi nước, và một nửa diện tích đất hoặc là sa mạc (14 %), hoặc là núi cao (27%), hoặc các địa hình không phù hợp khác. Điểm tận cùng ở cực bắc có thể sống lâu dài là Alert, trên đảo Ellesmere ở Nunavut, Canada (82°28' vĩ bắc). Điểm tận cùng ở cực nam là trạm Nam Cực Amundsen-Scott, gần như trùng Nam cực(90° vĩ nam).
Các quốc gia độc lập đã tuyên bố chủ quyền với tất cả đất trên bề mặt, ngoại trừ một vài phần ở châu Nam Cực. Tính đến năm 2007 có 201 nhà nước có chủ quyền, bao gồm 192 thành viên của Liên Hợp Quốc. Thêm vào đó, có 59 lãnh thổ phụ thuộc và một số vùng tự trị, các lãnh thổ đang tranh chấp hoặc các chính thể khác. Trong lịch sử, Trái Đất chưa bao giờ là một chính thể có chủ quyền với quyền lực bao trùm cả thế giới, dù một số quốc gia đã chiếm được vị trí thống trị và rồi sụp đổ.
Liên Hợp Quốc là một tổ chức quốc tế với quy mô toàn thế giới, được thành lập nhằm can thiệp vào các cuộc tranh chấp giữa các quốc gia, ngăn chặn những cuộc xung đột vũ trang. Tuy nhiên, Liên Hợp Quốc chưa bao giờ là một chính thể toàn thế giới. Trong khi Liên Hợp Quốc tạo ra một cơ chế cho luật quốc tế và khi có sự đồng ý của các thành viên, tham gia can thiệp vũ trang, thì nó chủ yếu phục vụ như là một diễn đàn cho ngoại giao quốc tế.
Người đầu tiên bay vòng quanh Trái Đất là Yuri Alekseyevich Gagarin vào ngày 12 tháng 4 năm 1961. Tính đến năm 2004, tổng cộng đã có khoảng 400 người đã du hành vào không gian và tham gia bay vòng quanh Trái Đất, trong đó có 12 người đã đặt chân lên Mặt Trăng. Thông thường, chỉ có vài người sống trong không gian đó là những người làm việc tại Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS). Phi hành đoàn của trạm gồm 6 người được thay thế liên tục sau mỗi 6 tháng. Con người đi xa nhất khỏi Trái Đất vào năm 1970, khi phi hành đoàn của tàu Apollo 13 ở cách Trái Đất 400.171 km.
==== Con người với Trái Đất ====
Trái Đất cung cấp những tài nguyên có thể được con người sử dụng cho nhiều mục đích. Một vài trong số đó là những nguồn tài nguyên không tái tạo và rất khó tạo ra trong một thời gian ngắn như các loại nhiên liệu hóa thạch.
Các nguồn nhiên liệu hóa thạch lớn được lấy từ lớp vỏ Trái Đất, bao gồm than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên và metan hydrat. Các loại nhiên liệu này được sử dụng để tạo ra năng lượng và làm nguồn nguyên liệu sản xuất các chất hóa học. Quặng khoáng sản được hình thành trong lớp vỏ Trái Đất thông qua quá trình hình thành quặng, tạo ra từ các hoạt động xói mòn và kiến tạo mảng. Các dạng quặng này tập trung nhiều kim loại cũng như các nguyên tố hữu dụng khác.
Sinh quyển Trái Đất tạo ra các sản phẩm sinh học có ích cho con người bao gồm thức ăn, gỗ, dược phẩm, khí ôxy và tái chế nhiều chất thải hữu cơ. Hệ sinh thái lục địa phụ thuộc vào tầng đất mặt và nước sạch còn hệ sinh thái đại dương dựa vào các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước được rửa trôi từ đất liền ra. Con người cũng sống trên đất bằng cách sử dụng các vật liệu xây dựng để kiến thiết nhà cửa. Tổng diện tích đất được tưới tiêu vào năm 2005 là 2.770.980 km².
Cuộc sống của con người cũng chịu những tác động xấu từ các dạng thời tiết chu kì như bão, áp thấp nhiệt đới hay các biến động bất thường như động đất, lở đất, sóng thần, phun trào núi lửa, lốc xoáy, sụt đất, bão tuyết, lũ lụt, hạn hán và các thảm họa thiên tai khác.
Con người cũng là thủ phạm của nhiều xáo trộn tiêu cực cho Trái Đất, nhiều trong số đó ảnh hưởng lại chính con người: sự ô nhiễm không khí và nguồn nước, mưa axít và các chất độc hại khác, sự biến mất của thảm thực vật (chăn thả quá mức, nạn chặt phá rừng, sa mạc hóa) và của động vật hoang dã (tuyệt chủng loài), hiện tượng bạc màu đất, sự mất đất, sự xói mòn và sự xuất hiện của các sinh vật xâm hại.
Người ta đồng ý rằng có một mối liên hệ giữa các hoạt động của con người với hiện tượng nóng lên toàn cầu do sự phát thải khí điôxít cacbon trong các hoạt động công nghiệp. Hiện tượng này làm tan băng, gia tăng các dải nhiệt độ khắc nghiệt, biến đổi khí hậu lớn và mực nước biển dâng cao.
== Quan điểm văn hóa ==
Ký hiệu thiên văn tiêu chuẩn cho Trái Đất là một hình chữ thập có đường tròn bao quanh.
Trái Đất thường được nhân cách hóa như một vị thần, thường là một nữ thần. Trong nhiều nền văn hóa, nữ thần Mẹ hay Mẹ Trái Đất tượng trưng cho một vị thần sinh sôi nảy nở. Các thần thoại về sự sáng thế trong nhiều tôn giáo gợi nhớ về câu truyện tạo ra Trái Đất của một vị thần/các vị thần siêu nhiên. Các nhóm tôn giáo khác nhau, thường gắn với các nhánh chính thống của Tin Lành hay Hồi giáo, khẳng định rằng các giải thích của họ về thần thoại sáng thế trong các kinh sách là sự thật và nên được xem xét cùng với hay thay thế cho các miêu tả khoa học thông thường về sự hình thành Trái Đất cũng như nguồn gốc và phát triển của sự sống. Cộng đồng các nhà khoa học và một số nhóm tôn giáo khác đã bác bỏ khẳng định này. Ví dụ nổi bật nhất là tranh luận sáng thế-tiến hóa.
Trong quá khứ, có nhiều mức độ niềm tin khác nhau vào một Trái Đất phẳng, nhưng nó đã được thay thế bằng khái niệm Trái Đất cầu nhờ các quan sát và các chuyến đi vòng quanh Trái Đất. Hình ảnh của Trái Đất dưới cách nhìn của con người đã thay đổi với sự ra đời của các chuyến bay của tàu vũ trụ, và giờ đây con người xem xét sinh quyển dưới một góc nhìn tổng thể toàn cầu. Nó được phản ánh qua phong trào môi trường đang lên, quan tâm tới ảnh hưởng của nhân loại lên hành tinh xanh này.
== Xem thêm ==
Quả địa cầu
Giờ Trái Đất
Ngày Trái Đất
Mặt Trời
Hệ Mặt Trời
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Nguồn chú thích
Allen, Clabon Walter; Cox, Arthur N. (2000). Allen's Astrophysical Quantities. Springer. ISBN 0387987460.
== Tài liệu đọc thêm ==
(tiếng Anh)
Comins, Neil F. (2001). Discovering the Essential Universe . W. H. Freeman. ISBN 0-7167-5804-0. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007.
Kirk Munsell biên tập (ngày 19 tháng 10 năm 2006). “Solar System Exploration: Planets: Earth: Read More”. NASA. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007.
Ward, Peter D.; Donald Brownlee (2002). The Life and Death of Planet Earth: How the New Science of Astrobiology Charts the Ultimate Fate of Our World. Times Books, Henry Holt and Company. ISBN 0-8050-6781-7.
Williams, David R. (ngày 1 tháng 9 năm 2004). “Earth Fact Sheet”. NASA. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007.
Yoder, Charles F. (1995). T. J. Ahrens, biên tập. Global Earth Physics: A Handbook of Physical Constants. Washington: American Geophysical Union. ISBN 0875908519. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2013.
NASA's Earth fact sheet
Discovering the Essential Universe (Second Edition) by Neil F. Comins (2001)
== Liên kết ngoài ==
Trái Đất tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Trái Đất tại Từ điển bách khoa Việt Nam
USGS Geomagnetism Program
NASA Earth Observatory
Earth Profile by NASA's Solar System Exploration
Climate changes cause Earth's shape to change - NASA
The Gateway to Astronaut Photography of Earth |
đội tuyển bóng đá quốc gia kazakhstan.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Kazakhstan là đội tuyển cấp quốc gia của Kazakhstan do Liên đoàn bóng đá Kazakhstan quản lý.
== Thành tích tại giải vô địch thế giới ==
1930 đến 1994 - Không tham dự, là một phần của Liên Xô
1998 đến 2014 - Không vượt qua vòng loại
== Thành tích tại giải vô địch châu Âu ==
1960 đến 1992 - Không tham dự, là một phần của Liên Xô
1996 đến 2004 - Không tham dự, chưa là thành viên của UEFA cho tới năm 2002
2008 đến 2016 - Không vượt qua vòng loại
== Cúp bóng đá châu Á ==
1956 đến 1992 - Không tham dự, là một phần của Liên Xô
1996 đến 2000 - Không vượt qua vòng loại
2004 đến nay - Không tham dự, vì đã ra khỏi AFC
== Đội hình ==
Dưới đây là đội hình được triệu tập tham dự trận giao hữu gặp Síp và vòng loại World Cup 2018 gặp Armenia vào các ngày 22 và 26 tháng 3 năm 2017.Số liệu thống kê tính đến ngày 26 tháng 3 năm 2017, sau trận gặp Armenia.
=== Triệu tập gần đây ===
PRE Đội hình sơ bộ.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia Kazakhstan trên trang chủ của FIFA |
john wayne.txt | Marion Mitchell Morrison (tên khai sinh Marion Robert Morrison, thường gọi là John Wayne; sinh 26/05/1907- mất 11/06/1979), là một diễn viên, đạo diễn lừng danh người Mỹ với sở trường về loại phim cao bồi.
== Danh mục phim chọn lọc ==
1926: Bardelys le magnifique (Bardelys the Magnificent), de King Vidor, cascadeur
1927: The drop Kick de William Webb
1928: L'Arche de Noé (Noah's Ark) de Michael Curtiz (non crédité)
1928: Maman de mon cœur (Mother Machree) de John Ford
1928: La Maison du bourreau (Hangman's house) de John Ford
1928: Les Quatre Fils (Four Sons) de John Ford
1929: Speakeasy de Benjamin Stoloff
1929: Words and music de James Tinling
1929: Salute de John Ford et David Butler
1930: Born Reckless de John Ford
1930: La Piste des géants (The Big Trail) de Raoul Walsh
1930: Cheer up and smile de Sidney Lanfield
1930: Hommes sans femmes (Men without women) de John Ford
1930: Rough romance d'A.F.Erickson
1931: Maker of men d'Edward Sedgwick
1931: Men are like that de George Brackett Seitz
1931: Girls demand excitement de Seymour Felix
1931: Three girls lost de Sidney Lanfield
1931: Range Freud de D. Ross Lederman
1932: The big stampede de Tenny Wright
1932: Haunted gold de Mack V. Wright
1932: Hurricane express d'Armand Schaefer, J. P. McGowan
1932: Lady and gent de Stephen Roberts
1932: Ride him,cowboy de Fred Allen
1932: Shadow of the eagle de Ford L. Beebe
1932: Texas cyclone de D. Ross Lederman
1932: Central Airport de William A. Wellman
1933: La Vie de Jimmy Dolan (The Life of Jimmy Dolan) d'Archie Mayo
1933: Liliane (Baby Face) d'Alfred E. Green
1933: L 'Homme de Monterey (The Man from Monterey) de Mack V. Wright
1933: Les Cavaliers du destin alias Le Chevalier du Destin (Riders of Destiny) de Robert N. Bradbury
1933: Justice pour un innocent alias Une sale amitié (Sagebrush Trail) de Armand Schaefer
1934: Le Texan chanceux alias La Mine du Texan (The Lucky Texan) de Robert N. Bradbury
1934: À l'ouest des montagnes (West of the Divide) de Robert N. Bradbury
1934: Panique à Yucca City (Blue Steel) de Robert N. Bradbury
1934: L'Homme de l'Utah (The Man From Utah) de Robert N. Bradbury
1934: Le Territoire sans loi (The Lawless Frontier) de Robert N. Bradbury
1934: Sous le soleil d'Arizona (Neath the Arizona Skies) de Harry L. Fraser
1934: Le Cavalier de l'aube (The Dawn Rider) de Robert N. Bradbury
1934: L'Héritage du chercheur d'or (The Trail Beyond) de Robert N. Bradbury
1935: L'Elixir du Docteur Carter (Paradise Canyon) de Carl Pierson
1936: Les Pirates de la mer (Sea Spoilers) de Frank R. Strayer
1936: Conflict de David Howard
1937: I Cover the War de Arthur Lubin
1937: Born to the West de Charles Barton
1938: L'Idole de la foule (Idol of the Crowds) d'Arthur Lubin
1938: Pals of the Saddle de George Sherman
1938: Santa Fe Stampede de George Sherman
1939: Le Premier Rebelle (Allegheny Uprising) de William A. Seiter
1939: La Chevauchée fantastique (Stagecoach) de John Ford
1939: Wyoming Outlaw de George Sherman
1939: New Frontier de George Sherman
1940: L'Escadron noir (Dark Command) de Raoul Walsh
1940: Les Déracinés (Three Faces West) de Bernard Vorhaus
1940: Les Hommes de la mer (The Long Voyage Home) de John Ford
1940: La Maison des sept péchés (Seven Sinners) de Tay Garnett
1941: La Fille du péché (Lady from Louisiana) de Bernard Vorhaus
1941: Le Retour du proscrit (The Shepherd of the Hills) de Henry Hathaway
1942: Lady for a Night de Leigh Jason
1942: Les Naufrageurs des mers du sud (Reap the Wild Wind) de Cecil B. DeMille
1942: Les Écumeurs (The Spoilers) de Ray Enright
1942: Les Tigres volants (Flying Tigers) de David Miller
1942: La Fièvre de l'or noir (Pittsburgh)de Lewis Seiler
1942: Sacramento (In Old California) de William C. McGann
1942: Quelque part en France (Reunion in France) de Jules Dassin
1943: La Fille et son cowboy (A Lady Takes A Chance) de William A. Seiter
1943: La Ruée sanglante (In Old Oklahoma) de Albert S. Rogell
1944: Alerte aux marines (The Fighting Seabees) d'Edward Ludwig
1944: L'Amazone aux yeux verts (Tall in the Saddle) d'Edwin L. Marin
1945: Retour aux Philippines (Back to Bataan) d'Edward Dmytryk
1945: La Belle de San Francisco (Flame of Barbary Coast) de Joseph Kane
1945: Les Sacrifiés (They Were Expendable) de John Ford
1945: La Femme du pionnier (Dakota) de Joseph Kane
1946: Sans réserve (Without Reservations) de Mervyn LeRoy
1946: Desert Command de Colbert Clark et Armand Schaefer
1947: L'Ange et le mauvais garçon alias L'Ange et le mal (Angel and the Badman) de James Edward Grant
1947: Taïkoun (Tycoon) de Richard Wallace
1948: Le Massacre de Fort Apache (Fort Apache) de John Ford
1948: La Rivière rouge (Red River) de Howard Hawks et Arthur Rosson
1948: Le Fils du désert (Three Godfathers) de John Ford
1948: Le Réveil de la sorcière rouge (Wake of the Red Witch) d'Edward Ludwig
1949: Le Bagarreur du Kentucky (The Fighting Kentuckian) de George Waggner
1949: La Charge héroïque (She Wore a Yellow Ribbon) de John Ford
1949: Iwo Jima (Sands of Iwo Jima) d'Allan Dwan
1950: Rio Grande (Sons of the pioneers) de John Ford
1951: Opération dans le Pacifique (Operation Pacific) de George Waggner
1951: Les Diables de Guadalcanal (Flying Leathernecks) de Nicholas Ray
1952: L'Homme tranquille (The Quiet Man) de John Ford
1953: Big Jim McLain d'Edward Ludwig
1953: L'Homme de bonne volonté (Trouble Along the Way) de Michael Curtiz
1953: Aventure dans le Grand Nord (Island in the Sky) de William A. Wellman
1953: Hondo, l'homme du désert (Hondo) de John Farrow
1954: Écrit dans le ciel (The High and the Mighty) de William A. Wellman
1955: Le Renard des océans (The Sea Chase) de John Farrow
1955: L'Allée sanglante (Blood Alley) de William A. Wellman
1956: Le Conquérant (The Conqueror) de Dick Powell
1956: La Prisonnière du désert (The Searchers) de John Ford
1957: L'aigle vole au soleil (The Wings of Eagles) de John Ford
1957: Les espions s'amusent (Jet Pilot) de Josef von Sternberg
1957: La Cité disparue (Legend of the Lost) de Henry Hathaway
1958: Le Barbare et la Geisha (The Barbarian and the Geisha) de John Huston
1959: Rio Bravo de Howard Hawks
1959: Les Cavaliers (The Horse Soldiers) de John Ford
1960: Alamo (The Alamo) de John Wayne
1960: Le Grand Sam (North to Alaska) de Henry Hathaway
1961: Les Comancheros (The Comancheros) de Michael Curtiz
1962: L'Homme qui tua Liberty Valance (The Man Who Shot Liberty Valance) de John Ford
1962: Hatari ! de Howard Hawks
1962: Le Jour le plus long (The Longest Day) de Ken Annakin et Andrew Marton
1962: La Conquête de l'Ouest (How The West Was Won) de John Ford et Henry Hathaway
1963: Le Grand McLintock (McLintock !) d'Andrew V. McLaglen
1963: La Taverne de l'Irlandais (Donovan's Reef) de John Ford
1964: Le Plus Grand Cirque du monde (Circus World) de Henry Hathaway
1965: La Plus Grande Histoire jamais contée (The Greatest Story Ever Told) de George Stevens
1965: Première Victoire (In Harm's Way) d'Otto Preminger
1965: Les Quatre Fils de Katie Elder (The Sons of Katie Elder) de Henry Hathaway
1966: L'Ombre d'un géant (Cast a Giant Shadow) de Melville Shavelson
1966: El Dorado (El Dorado) de Howard Hawks
1967: La Caravane de feu (The War Wagon) de Burt Kennedy
1968: Les Bérets verts (The Green Berets) de Ray Kellogg et John Wayne
1968: Les Feux de l'enfer (Hellfighters) d'Andrew V. McLaglen
1969: Cent dollars pour un shérif (True Grit) de Henry Hathaway
1969: Les Géants de l'Ouest (The Undefeated) d'Andrew V. McLaglen
1970: Chisum (Chisum) d'Andrew V. McLaglen
1970: Rio Lobo de Howard Hawks
1971: Big Jake de George Sherman et John Wayne
1972: Les Cowboys (The Cowboys) de Mark Rydell
1973: Les Voleurs de train (The Train Robbers) de Burt Kennedy
1973: Les Cordes de la potence (Cahill U.S. Marshal) d'Andrew V. McLaglen
1974: Un silencieux au bout du canon (McQ) de John Sturges
1975: Brannigan de Douglas Hickox
1975: Une bible et un fusil (Rooster Cogburn) de Stuart Millar
1976: Le Dernier des géants (The Shootist) de Don Siegel
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
John Wayne Cancer Foundation
John Wayne Cancer Institute
FBI file on John Wayne
Birthplace of John Wayne official website
John Wayne tại Internet Movie Database
John Wayne trên trang TCM Movie Database
John Wayne trên Allmovie
"On the Set of The Alamo": Behind-the-scenes footage from the production of the film, from the Texas Archive of the Moving Image.
Phim ngắn này STAFF FILM REPORT 66-28A (1966) có thể được tải về từ Internet Archive
Bản mẫu:John Wayne Bản mẫu:AcademyAwardBestActor 1961-1980 Bản mẫu:GoldenGlobeAwardBestActorMotionPictureDrama 1961-1980 Bản mẫu:Cecil B. DeMille Award 1952–1975 Bản mẫu:National Football Foundation Gold Medal Winners |
lịch sử hoa kỳ.txt | Lịch sử Hoa Kỳ, như được giảng dạy tại các trường học và các đại học Mỹ, thông thường được bắt đầu với chuyến đi thám hiểm đến châu Mỹ của Cristoforo Colombo năm 1492 hoặc thời tiền sử của người bản địa Mỹ. Tuy nhiên trong những thập niên gần đây, thời kỳ tiền sử của người bản địa Mỹ ngày càng trở nên phổ biến hơn khi được lấy làm mốc khởi đầu cho lịch sử của Hoa Kỳ.
Người bản địa sống tại nơi mà ngày nay là Hoa Kỳ trước khi những người thực dân châu Âu bắt đầu đi đến, phần lớn là từ Anh Quốc, sau năm 1600. Vào thập niên 1770, Mười ba thuộc địa Anh có đến 2 triệu rưỡi người sinh sống. Các thuộc địa này thịnh vượng và phát triển nhanh chóng, phát triển các hệ thống pháp lý và chính trị tự chủ của chính mình. Nghị viện Anh Quốc áp đặt quyền lực của mình đối với các thuộc địa này bằng cách đặt ra các thứ thuế mới mà người Mỹ cho rằng là vi hiến bởi vì họ không có đại diện của mình trong nghị viện. Các cuộc xung đột ngày càng nhiều đã biến thành cuộc chiến tranh toàn lực, bắt đầu vào tháng 4 năm 1775. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, các thuộc địa tuyên bố độc lập khỏi Vương quốc Anh bằng một văn kiện do Thomas Jefferson viết ra và trở thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
Lực lượng yêu nước nhận được sự ủng hộ về tài chính và quân sự trên mức độ lớn từ Pháp và dưới sự lãnh đạo quân sự của Tướng George Washington, đã giành được chiến thắng trong cuộc chiến tranh cách mạng và hòa bình đạt được vào năm 1783. Trong và sau chiến tranh, 13 tiểu quốc thống nhất thành một chính phủ liên bang yếu thông qua bản hiến pháp hợp bang. Khi bản hiến pháp hợp bang này chứng tỏ không phù hợp, một bản hiến pháp mới được thông qua vào năm 1789. Bản hiến pháp này vẫn là cơ sở của Chính phủ Liên bang Hoa Kỳ, và sau đó còn có thêm đạo luật nhân quyền. Một chính phủ quốc gia mạnh được thành lập với Washington là tổng thống đầu tiên và Alexander Hamilton là cố vấn trưởng tài chính. Trong thời kỳ hệ thống đảng phái lần thứ nhất, hai đảng chính trị quốc gia hình thành để ủng hộ hay chống đối các chính sách của Hamilton. Khi Thomas Jefferson trở thành thống thống, ông mua Lãnh thổ Louisiana từ Pháp, gia tăng diện tích của Hoa Kỳ lên gấp đôi. Một cuộc chiến tranh lần thứ hai cũng là lần cuối cùng với Anh Quốc xảy ra vào năm 1812. Kết quả chủ yếu của cuộc chiến tranh này là sự chấm dứt ủng hộ của châu Âu dành cho các cuộc tiến công của người bản địa Mỹ (người da đỏ) nhằm chống những người định cư ở miền Tây nước Mỹ.
Dưới sự bảo trợ của phong trào Dân chủ Jefferson, và Dân chủ Jackson, nước Mỹ mở rộng đến vùng đất mua Louisiana và thẳng đường đến California và xứ Oregon, tìm kiếm đất rẻ cho các nông gia Yeoman và chủ nô - những người cổ vũ cho nền dân chủ và mở rộng lãnh thổ bằng giá bạo lực và khinh miệt nền văn hóa châu Âu. Sự mở rộng lãnh thổ dưới chiêu bài vận mệnh hiển nhiên là một sự bác bỏ lời khuyên của đảng Whig muốn thúc đẩy chiều sâu và hiện đại hóa nền kinh tế-xã hội hơn là việc chỉ mở rộng lãnh thổ địa lý. Chủ nghĩa nô lệ bị bãi bỏ tại tất cả các tiểu bang miền Bắc (phía bắc đường Mason-Dixon phân chia Pennsylvania và Maryland) vào năm 1804, nhưng lại phát triển mạnh tại các tiểu bang miền Nam vì nhu cầu lớn về bông vải tại châu Âu.
Sau năm 1820, một loạt các thoả hiệp đã giúp xóa bỏ đối đầu giữa miền bắc và miền nam về vấn đề chủ nghĩa nô lệ. Vào giữa thập niên 1850, lực lượng Cộng hòa mới thành lập nắm kiểm soát nền chính trị miền Bắc và hứa ngăn chăn sự mở rộng của chủ nghĩa nô lệ với ám chỉ rằng chủ nghĩa nô lệ sẽ dần dần bị loại bỏ. Cuộc bầu cử tổng thống năm 1860 với kết quả chiến thắng của đảng viên Đảng Cộng hòa Abraham Lincoln đã châm ngòi cho cuộc ly khai của mười một tiểu bang theo chủ nghĩa nô lệ để lập ra Liên minh miền Nam Hoa Kỳ năm 1861. Nội chiến Hoa Kỳ (1861-1865) là hạch tâm của lịch sử Mỹ. Sau bốn năm chiến tranh đẫm máu, phe miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Lincoln và Tướng Ulysses S. Grant đánh bại phe miền Nam với sự chỉ huy của Tướng Robert E. Lee. Liên bang được bảo tồn và chủ nghĩa nô lệ bị bãi bỏ, và miền nam bị suy kiệt. Trong thời đại tái thiết (1863–77), Hoa Kỳ chấm dứt chủ nghĩa nô lệ và nới rộng quyền đầu phiếu và pháp lý cho những người "tự do" (người Mỹ gốc châu Phi trước đó từng là nô lệ). Chính phủ quốc gia ngày càng vững chắc hơn, và nhờ vào Tu chính án hiến pháp điều 14, giờ đây đã có nhiệm vụ rõ ràng là bảo vệ quyền của mỗi cá nhân. Thời đại tái thiết chấm dứt vào năm 1877 và từ thập niên 1890 đến thập niên 1960, hệ thống Jim Crow (tách ly chủng tộc) kìm hãm người da đen luôn ở vị trí thấp kém về kinh tế, xã hội và chính trị. Toàn miền nam vẫn bần cùng cho đến nửa sau của thế kỷ 20, trong khi đó miền Bắc và miền Tây phát triển nhanh chóng và thịnh vượng.
Hoa Kỳ trở thành cường quốc công nghiệp hàng đầu thế giới ngay ngưỡng cửa của thế kỷ 20 vì sự bùng nổ của giới doanh nghiệp tư nhân tại miền Bắc và làn sóng di dân mới đến của hàng triệu công nhân và nông dân từ châu Âu. Hệ thống đường sắt quốc gia được hoàn thành. Các nhà máy và các hoạt động khai thác quặng mỏ trên quy mô rộng đã công nghiệp hóa miền đông bắc và trung-tây. Sư bất mãn của giới trung lưu đối với các vấn đề như tham những, sự kém hiệu quả và nền chính trị truyền thống đã kích thích thành một phong trào cấp tiến từ thập niên 1890 đến thập niên 1920. Phong trào này gây áp lực đòi cải cách, cho phép phụ nữ đầu phiếu và cấm rượu cồn (về sau việc cấm rượu cồn bị bãi bỏ vào năm 1933). Hoa Kỳ ban đầu trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, song tuyên chiến với Đức năm 1917, và tài trợ cho đồng minh chiến thắng vào năm sau đó. Sau một thập niên thịnh vương trong thập niên 1920, sự kiện thị trường chứng khoán Wall Street sụp đổ năm 1929 đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc Đại khủng hoảng trên toàn thế giới kéo dài cả thập niên. Đảng viên Dân chủ Franklin D. Roosevelt trở thành thống thống và thực hiện các chương trình cứu tế, tái thiết, cải cách (gọi chung là New Deal), định hình nên chủ nghĩa tự do Mỹ hiện đại. Sau khi Nhật Bản tấn công vào Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941, Hoa Kỳ nhập cuộc vào Chiến tranh thế giới thứ hai bên cạnh phe Đồng Minh và giúp đánh bại Đức Quốc xã tại châu Âu và Đế quốc Nhật Bản tại Viễn Đông.
Hoa Kỳ và Liên Xô nổi lên thành hai siêu cường đối nghịch nhau sauChiến tranh thế giới thứ hai và khởi động một cuộc Chiến tranh Lạnh, đối đầu nhau gián tiếp trong cuộc chạy đua vũ trang và chạy đua vào không gian. Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Lạnh được xây dựng quanh việc bao vây chủ nghĩa cộng sản, và nước Mỹ tham dự vào các cuộc chiến tại Triều Tiên và Việt Nam để đạt được mục đích này. Chủ nghĩa tự do đạt được vô số chiến thắng trong những năm tháng của chương trình New Deal và sau đó vào giữa thập niên 1960, đặc biệt là sự thành công của phong trào dân quyền, nhưng chủ nghĩa bảo thủ quay ngược được thế cục vào thập niên 1980 dưới thời Tổng thống Ronald Reagan. Chiến tranh Lạnh kết thúc khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất còn lại. Khi thế kỷ 21 bắt đầu, xung đột quốc tế có tâm điểm quanh Trung Đông và lên đỉnh điểm theo sau các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 và Chiến tranh chống khủng bố được tuyên bố sau đó. Hoa Kỳ trải qua thời kỳ suy thoái kinh tế tệ hại nhất kể từChiến tranh thế giới thứ hai vào cuối thập niên 2000 mà theo sau là thời kỳ phát triển kinh tế chậm hơn mức bình thường trong suốt thập niên 2010.
== Tiền sử ==
== Thời tiền-Columbo ==
Người ta không biết đích xác rằng bằng cách nào hay khi nào người bản địa Mỹ đầu tiên đến định cư tại châu Mỹ và tại lãnh thổ ngày nay là Hoa Kỳ. Giả thiết phổ biến hơn hết cho rằng người bản địa di cư từ lục địa Á-Âu bằng cách đi qua Beringia, một cầu lục địa khi đó nối liền vùng Siberi đến khu vực ngày nay là Alaska, và rồi sau đó phân tán về phía nam ra khắp châu Mỹ. Cuộc di cư này có thể đã bắt đầu khoảng 30 ngàn năm về trước và tiếp tục cho đến 10 ngàn năm trước đây khi cầu lục địa ở dưới mực nước biển do kết thúc thời kỳ băng hà cuối cùng. Những cư dân đầu tiên này, được gọi là người "Paleoamericans", chẳng bao lâu sau đó đa dạng hóa thành hàng trăm dân tộc và bộ lạc có nền văn hóa riêng biệt.
Thời kỳ tiền-Columbo là sự tổng hợp lại tất cả các tiểu thời kỳ trong lịch sử và tiền sử của cả châu Mỹ trước khi có sự ảnh hưởng quan trọng của người châu Âu tác động vào lục địa châu Mỹ, trải dài từ lúc có người định cư ban đầu trong cuối thời đại đồ đá đến khi người châu Âu thuộc địa hóa châu Mỹ trong thời kỳ cận đại. Mặc dù thời kỳ này được ám chỉ đến thời đại trước khi có các cuộc thám hiểm châu Mỹ của Cristoforo Colombo từ năm 1492 đến 1504 nhưng trên thực tế thuật từ này thường bao gồm lịch sử của các nền văn hóa bản địa châu Mỹ cho đến khi họ bị chinh phục hay bị ảnh hưởng đáng kể bởi người châu Âu, thậm chí ngay cả khi điều này xảy ra hàng thập niên hay thậm chí hàng thế kỷ sau chuyến đổ bộ đầu tiên của Colombo.
== Thời kỳ thuộc địa ==
Sau một thời kỳ thám hiểm được các quốc gia lớn ở châu Âu bảo trợ, các khu định cư đầu tiên của người châu Âu được thiết lập vào năm 1607. Người châu Âu mang theo ngựa, bò và heo đến châu Mỹ, đổi lại, họ mang trở về châu Âu gồm có bắp, gà tây, khoai tây, đậu và bí. Môi trường bệnh tật gây tử vong đối với nhiều nhà thám hiểm và những người định cư đầu tiên bị tiếp xúc trực tiếp với các căn bệnh mới. Ảnh hưởng của căn bệnh mới thậm chí tồi tệ hơn đối với người bản địa châu Mỹ, đặc biệt là bệnh đậu mùa và bệnh sởi. Họ chết nhiều vô số kể, thường thường trước khi khu định cư quy mô lớn của người châu Âu hình thành.
=== Thuộc địa hóa của người Tây Ban Nha, Hà Lan, và Pháp ===
Các nhà thám hiểm Tây Ban Nha là những người châu Âu đầu tiên có mặt tại lãnh thổ nay thuộc Hoa Kỳ, đó là chuyến thám hiểm thứ hai của Cristoforo Colombo. Chuyến đi này đến được Puerto Rico ngày 19 tháng 11 năm 1493; chuyến khác đến được Florida năm 1513. Không lâu sau đó, các chuyến thám hiểm của Tây Ban Nha đã đến được dãy núi Appalachia, sông Mississippi, Grand Canyon và Đại Bình nguyên Bắc Mỹ. Năm 1540, Hernando de Soto thực hiện một cuộc thám hiểm trên quy mô lớn ở vùng đông nam. Cũng trong năm 1540, Francisco Vázquez de Coronado thám hiểm từ Arizona đến miền trung Kansas. Người Tây Ban Nha đưa một số người định cư đến, lập ra khu định cư thường trực đầu tiên của người châu Âu tại lục địa Hoa Kỳ ở khu vực ngày nay là St. Augustine, Florida năm 1565, nhưng khu định cư này hấp dẫn ít người định cư thường trực. Các khu định cư Tây Ban Nha phát triển và trở thành các thành phố quan trọng trong đó có Santa Fe, Albuquerque, San Antonio, Tucson, San Diego, Los Angeles, Santa Barbara và San Francisco.
Tân Hà Lan là thuộc địa Hà Lan vào thế kỷ 17 có trung tâm nằm trên khu vực ngày nay là Thành phố New York và thung lũng sông Hudson nơi họ mua bán da thú với người bản địa Mỹ ở phía bắc và làm nơi phòng vệ chống sự xâm lấn của người nói tiếng Anh từ Tân Anh. Người Hà Lan theo phái thần học Calvin, họ hình thành nên Giáo hội Cải cách tại châu Mỹ nhưng họ cũng hòa đồng với các nền văn hóa và tôn giáo khác. Thuộc địa này bị người Anh chiếm vào năm 1664. Nó để lại một di sản trường tồn đối với đời sống chính trị và văn hóa Mỹ trong đó gồm có một tư tưởng thế tục phóng khoáng và chủ nghĩa thực dụng vụ lợi tại thành phố, một chủ nghĩa truyền thống nông thôn tại vùng miền quê mà đặc trưng là truyện ngắn có tựa đề Rip Van Winkle và các chính trị gia như Martin Van Buren, Theodore Roosevelt, Franklin D. Roosevelt và Eleanor Roosevelt.
Tân Pháp là vùng bị Pháp thuộc địa hóa từ năm 1534 đến năm 1763. Có ít người định cư thường trực bên ngoài Québec và Acadia nhưng Liên minh Wabanaki trở thành đồng minh quân sự của Tân Pháp trong suốt bốn cuộc chiến tranh với các thuộc địa của Anh liên kết với Liên minh Iroquois. Trong suốt cuộc chiến tranh với người Pháp và người bản địa, Tân Anh thành công chống lại Acadia. Người Anh tống khứ người Acadia (gốc Pháp) ra khỏi Acadia (Nova Scotia) và thay thế bằng những người định cư từ Tân Anh. Dần dần, một số người Acadia tái định cư tại vùng Louisiana nơi họ phát triển nên một nền văn hóa Cajun nông thôn dặc trưng vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Họ trở thành công dân Mỹ vào năm 1803 khi Hoa Kỳ mua Louisiana từ Pháp. Các ngôi làng Pháp khác dọc theo sông Mississippi và sông Illinois biến mất khi người Mỹ bắt đầu đến sau năm 1770.
=== Thuộc địa hóa của người Anh ===
Dải đất nằm dọc theo bờ biển phía đông được định cư chủ yếu bởi những người thực dân Anh vào thế kỷ 17 cùng với con số nhỏ hơn nhiều là người Hà Lan và người Thụy Điển. Nước Mỹ thời thuộc địa mang đặc điểm là thiếu hụt lao động trầm trọng mà phải dựa vào những hình thức lao động không tự nguyện như nô lệ và lao công khế ước, và cũng đặc trưng với chính sách thờ ơ tử tế của người Anh, cho phép phát triển một tinh thần Mỹ khác biệt với tinh thần của mẫu quốc tại châu Âu. Trên phân nửa tổng số người di dân châu Âu đến nước Mỹ thời thuộc địa là những lao công khế ước.
Thuộc địa thành công đầu tiên của người Anh được thiết lập vào năm 1607 trên sông James tại Jamestown là nơi bắt đầu biên cương Mỹ. Nó suy giảm dần trong nhiều thập niên cho đến khi một làn sóng người định cư mới đến vào cuối thế kỷ 17 và lập nên một nền nông nghiệp thương mại dựa vào cây thuốc lá. Giữa cuối thập niên 1610 và cách mạng Mỹ, người Anh đã đưa đến các thuộc địa Mỹ khoảng 50 ngàn tù nhân. Một trường hợp xung đột tệ hại là vụ nổi loạn Powhatan năm 1622 tại Virginia trong đó người bản địa Mỹ giết chết hàng trăm người định cư Anh. Cuộc xung đột lớn nhất giữa người bản địa Mỹ và người định cư Anh trong thế kỷ 17 là Chiến tranh của Vua Philip tại Tân Anh,. Chiến tranh Yamasee tại Nam Carolina thì đẫm máu.
Người Thanh giáo là những người định cư chủ yếu vào thời kỳ ban đầu của Tân Anh, họ lập ra Thuộc địa Vịnh Massachusetts năm 1630 mặc dù có khu định cư nhỏ trước đó vào năm 1620 của một nhóm người tương tự, nhóm Pilgrim, ở Thuộc địa Plymouth. Các thuộc địa nằm giữa gồm các tiểu bang ngày nay là New York, New Jersey, Pennsylvania, và Delaware có nét đặc trưng là mức độ đa dạng lớn về tôn giáo. Khu định cư đầu tiên người Anh tìm cách thiết lập ở phía nam Virginia là tỉnh Carolina với Thuộc địa Georgia- là thuộc địa cuối cùng trong số 13 thuộc địa, được thành lập trong năm 1733.
Các thuộc địa có nét đặc trưng là đa dạng tôn giáo với nhiều người thuộc phái giáo đoàn (Congregationalists ) tại Tân Anh, người Đức và người Hà Lan theo phái thần học cải cách tại các thuộc địa nằm giữa, người công giáo tại Maryland, và người thuộc Ireland gốc Scotland theo phái Giáo hội Trưởng lảo tại vùng biên cương. Nhiều quan chức hoàng gia và giới thương buôn theo Anh giáo.
Niềm tin tôn giáo phát triển lớn mạnh sau cuộc Đại thức tỉnh lần thứ nhất (First Great Awakening), đây là phong trào khôi phục niềm tin tôn giáo vào thập niên 1740 do các nhà thuyết pháp như Jonathan Edwards khởi xướng. Bị ảnh hưởng bởi phong trào Đại thức tỉnh, người theo phái Phúc Âm (Evangelical)Mỹ đã thêm một điểm nhấn mới về sự dạt dào linh thiêng của Chúa Thánh Thần và những sự chuyển đổi mà khắc ghi bên trong các tín đồ mới một tình yêu mãnh liệt đối với Thiên Chúa. Người theo phái phục hưng lồng ghép các dấu ấn đó và chuyển tiếp giáo phái Phúc Âm mới được thành lập, tạo nền tảng cho cuộc đại thức tỉnh lần thứ hai khởi sự vào cuối thập niên 1790.
Mỗi trong số 13 thuộc địa Mỹ có một cơ cấu chính quyền hơi khác biệt. Thông thường một thuộc địa do một thống đốc cai trị, đó là người được Luân Đôn bổ nhiệm, có trách nhiệm quản lý ngành hành pháp và dựa vào một nghị viện do địa phương bầu lên để biểu quyết về thuế và làm luật. Vào thế kỷ 18, các thuộc địa Mỹ phát triển rất nhanh chóng vì đất đai và thực phẩm phong phú, và tỉ lệ tử thấp. Các thuộc địa giàu có hơn phần lớn các khu vực tại Anh Quốc. Điều này hấp dẫn dòng người di dân đều đặn, đặc biệt là giới thiếu niên đến Mỹ với địa vị lao công khế ước. Các đồn điền thuốc lá và lúa nhập cảng các nô lệ da đen từ các thuộc địa Anh ở vùng Tây Ấn. Đến khoảng thập niên 1770, họ chiếm một phần năm dân số Mỹ. Câu hỏi về sự độc lập khỏi Anh chưa nảy sinh chừng nào mà các thuộc địa vẫn còn cần đến quân đội Anh để chống lại cường quốc Pháp và Tây Ban Nha. Những mối đe dọa này biến mất vào năm 1765. Luân Đôn xem sự tồn tại của các thuộc địa Mỹ chỉ vì lợi ích của mẫu quốc, đây là một chính sách được biết đến với tên gọi Chủ nghĩa trọng thương.
=== Tự trị và hội nhập chính trị ===
Chiến tranh chống Pháp và người bản địa Mỹ (1754–1763) là một sự kiện bước ngoặt trong việc phát triển chính trị của các thuộc địa Mỹ. Tầm ảnh hưởng của hai đối thủ chính của vương quyền Anh tại các thuộc địa Mỹ và Canada là người Pháp và người bản địa Bắc Mỹ bị giảm sút đáng kể. Hơn nữa, nỗ lực chiến tranh đem đến kết quả là sự hội nhập chính trị lớn hơn giữa các thuộc địa như đã được phản ánh trong Hội nghị Albany và được biểu hiện qua lời kêu gọi các thuộc địa "nhập hay là chết" của Benjamin Franklin. Franklin là người có nhiều sáng kiến— và sáng kiến vĩ đại nhất của ông là khái niệm về một Hợp chúng quốc châu Mỹ- lộ diện sau năm 1765 và được thực hiện vào tháng 7 năm 1776.
Theo sau sự kiện người Anh thu phục lãnh thổ của Pháp tại Bắc Mỹ, Quốc vương George III ra Tuyên ngôn năm 1763 với mục đích tổ chức đế quốc mới Bắc Mỹ và bảo vệ người bản địa Mỹ khỏi sự bành trướng của người định cư vào các vùng đất phía tây. Trong những năm tiếp theo, căng thẳng càng phát triển trong các mối quan hệ giữa những thực dân và vương quyền. Nghị viện Anh thông qua Đạo luật tem 1765, áp đặt một thứ thuế mới vào các thuộc địa mà không thông qua các nghị viện thuộc địa. Vấn đề này được nêu lên: liệu Nghị viện Anh có quyền đánh thuế người Mỹ khi họ không có đại diện trong đó? Bằng cách hò hét "không đóng thuế khi không có đại diện", người định cư từ chối trả thuế khi căng thẳng leo thang vào cuối thập niên 1760 và đầu thập niên 1770.
Sự kiện đổ trà Boston năm 1773 là hành động trực tiếp của những nhà hoạt động tại thị trấn Boston nhằm phản đối thuế mới áp đặt vào trà. Nghị viện Anh Quốc nhanh chóng phản ứng vào năm sau bằng các đạo luật bất khoan dung, tước bỏ quyền tự trị lịch sử của Massachusetts và đặt nó dưới sự cai trị của quân đội. Việc này châm ngòi cho sự giận dữ và phản kháng tại tất cả 13 thuộc địa. Các nhà lãnh đạo nhóm yêu nước từ 13 thuộc địa nhóm họp Đệ nhất Quốc hội Lục địa để điều hợp sự phản kháng chống lại các đạo luật bất khoan dung của Nghị viện Anh Quốc. Quốc hội kêu gọi tẩy chay giao thương với Anh, công bố một danh sách gồm các quyền và các bất bình, và kiến nghị lên quốc vương để khắc phục những bất bình đó. Lời kiến nghị lên quốc vương không có kết quả, và vì vậy Đệ nhị Quốc hội Lục địa được triệu tập vào năm 1775 để tổ chức phòng vệ các thuộc địa chống lại Quân đội Anh.
Những người dân bình thường trở thành quân nổi dậy chống lại Anh Quốc, mặc dù họ còn xa lạ với những lý thuyết cơ bản về tư tưởng được truyền đạt đến cho họ. Họ giữ một xúc cảm rất mạnh mẽ về "quyền" mà họ cảm thấy bị người Anh cố tình vi phạm - đó là quyền tự trị địa phương, đối xử công bằng, và chính quyền phải hợp lòng dân. Họ rất nhạy cảm với vấn đề độc tài mà họ đã được nhìn thấy khi quân đội Anh đến Boston để trừng phạt người Boston. Điều này đã làm gia tăng cảm giác rằng quyền con người của họ bị vi phạm, dẫn đến bực tức và đòi hỏi trả thù. Họ có niềm tin rằng Thượng đế đang bên phía họ.
Chiến tranh Cách mạng Mỹ bắt đầu tại Concord và Lexington vào tháng 4 năm 1775 khi người Anh tìm cách chiếm kho đạn và bắt các nhà lãnh đạo phe yêu nước.
== Cách mạng Mỹ ==
Mười ba thuộc địa bắt đầu nổi loạn chống lại sự cai trị của người Anh vào năm 1775 và tuyên bố độc lập vào năm 1776 với tên gọi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ (1775–1783), việc người Mỹ bắt giữ đội quân xâm lược Anh tại Saratoga năm 1777 đã củng cố được vùng đông bắc và khuyến khích người Pháp liên minh quân sự với Hoa Kỳ. Pháp lôi kéo Tây Ban Nha và Hà Lan vào liên minh, do đó cân bằng các lực lượng lục quân và hải quân cho mỗi bên do Anh không có đồng minh.
Tướng George Washington (1732–1799) thể hiện là một nhà điều binh và tổ chức xuất sắc. Ông làm việc thành công với Quốc hội Lục địa và các thống đốc tiểu bang, lựa chọn và chỉ dẫn các sĩ quan cao cấp, hỗ trợ và huấn lệnh binh sĩ của mình, và duy trì một quân đội có ý tưởng về một nền cộng hòa. Thử thách to lớn nhất của ông là tiếp vận vì cả Quốc hội Lục địa và các tiểu bang đều không có quỹ để cung cấp đầy đủ trang thiết bị, đạn dược, quân y, tiền lương và thậm chỉ cả nguồn lương thực cho binh sĩ.
Với tư cách là nhà chiến thuật mặt trận, Washington thường bị các vị đồng nhiệm đối thủ người Anh qua mặt với quân số đông hơn. Với tư cách là nhà chiến lược, ông có ý tưởng tốt hơn để làm sao đánh thắng so với họ. Người Anh phái bốn đội quân xâm lược đến. Chiến lược của Washington đã buộc đội quân thứ nhất ra khỏi Boston năm 1776, và buộc đội quân thứ hai và thứ ba đầu hàng tại Saratoga (1777) và Yorktown (1781). Ông giới hạn sự kiểm soát của người Anh đối với Thành phố New York và một vài nơi trong khi đó phe yêu nước kiểm soát phần lớn cư dân.
Phe bảo hoàng mà người Anh trông cậy quá nhiều chiếm khoảng 20 phần trăm dân số nhưng chưa bao giờ được tổ chức tốt. Khi chiến tranh kết thúc, Washington tự hào nhìn thấy đội quân cuối cùng của Anh thầm lặng đi thuyền ra khỏi Thành phố New York vào tháng 11 năm 1783, mang theo giới lãnh đạo phe bảo hoàng cùng với họ. Washington gây sửng sốt cho thế giới khi thay vì chiếm lấy quyền lực cho chính mình, ông đã âm thầm về hưu ở nông trại của mình tại Virginia. Nhà khoa học chính trị Seymour Martin Lipset nhận định rằng "Hoa Kỳ là thuộc địa lớn đầu tiên thành công chống lại sự cai trị của chính quyền thuộc địa. Trong ý nghĩa này, đây là 'quốc gia mới' đầu tiên."
Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Đệ nhị Quốc hội Lục địa họp tại thành phố Philadelphia tuyên bố nền độc lập của "Hợp chúng quốc châu Mỹ" bằng bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 4 tháng 7 được chào mừng như là ngày quốc khánh. Quốc gia mới được thành lập trên cơ sở các ý tưởng khai sáng của chủ nghĩa tự do mà theo Thomas Jefferson được gọi là các quyền không thể chuyển nhượng được đó là "sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc" và quốc gia này cống hiến mạnh mẽ cho các nguyên lý cộng hòa. Chủ nghĩa cộng hòa nhấn mạnh rằng nhân dân có chủ quyền (chứ không phải là các quốc vương thế tập), đòi hỏi quyền công dân, lánh xa tham nhũng, và bác bỏ chế độ quý tộc.
=== Tôn giáo quốc dân ===
Cách mạng Mỹ là nguồn động lực chính của tôn giáo quốc dân Mỹ không chia giáo phái mà đã tạo hình cho chủ nghĩa yêu nước, ký ức và ý nghĩa ngày sinh của quốc gia kể từ đó. Các trận chiến không phải là trọng tâm nhưng đúng hơn là các sự kiện và con người đã được chào mừng như những biểu tượng của một số đức tin nào đó. Như các sử gia đã ghi nhận, cuộc cách mạng Mỹ đã sản sinh ra một lãnh tụ được ví như là Moses (George Washington), các nhà tiên tri (Thomas Jefferson, Tom Paine) và các thánh tử đạo (Boston Massacre, Nathan Hale) cũng như những ác quỷ (Benedict Arnold), những nơi thiêng liêng (Valley Forge, Bunker Hill), giáo lý (Tiệc trà Boston), biểu trưng (lá cờ mới), ngày lễ thiêng liêng (4 tháng 7) và một cuốn kinh thánh mà mỗi câu được nghiên cứu và áp dụng cẩn thận vào các trường hợp pháp lý hiện thời (bản Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp và Đạo luật Nhân quyền).
== Những năm cộng hòa đầu tiên ==
=== Các điều khoản Hợp bang và Hiến pháp ===
Trong thập niên 1780, chính phủ quốc gia có thể giàn xếp được vấn đề về các lãnh thổ phía tây, chúng được các tiểu bang nhượng lại cho Quốc hội Hoa Kỳ và trở thành các lãnh thổ. Với việc những người định cư di dân đến vùng Tây Bắc (hiện nay là vùng Trung Tây Hoa Kỳ), chẳng bao lâu thì các lãnh thổ này trở thành các tiểu bang. Những người theo chủ nghĩa quốc gia lo sợ rằng quốc gia mới quá yếu không thể chịu đựng được một cuộc chiến tranh quốc tế, hay thậm chí là các cuộc nổi loạn trong nước, thí dụ như cuộc nổi loạn Shays năm 1786 tại Massachusetts. Những người theo chủ nghĩa quốc gia mà đa số là các cựu chiến binh đã tổ chức tại mọi tiểu bang và thuyết phục Quốc hội cho mở Hội nghị Philadelphia năm 1787. Các đại biểu từ mỗi tiểu bang cùng viết ra một bản Hiến pháp mới nhằm thiết lập ra một chính phủ trung ương hữu hiệu và mạnh hơn nhiều. Chính phủ này có một tổng thống mạnh và quyền thu thuế. Chính phủ mới phản ánh những ý tưởng cộng hòa đang thắng thế, bảo đảm quyền tự do cá nhân và kiềm chế quyền lực chính phủ bằng một hệ thống tam quyền phân lập.
Quốc hội được trao quyền cấm chỉ buôn bán nô lệ quốc tế sau 20 năm (được thực hiện vào năm 1807). Phiếu cử tri đoàn của miền Nam được gia tăng nhờ tính 3 phần 5 con số người nô lệ trong dân số của mỗi tiểu bang. Khi chủ nghĩa nô lệ mở rộng tại miền Nam trong suốt những thập niên sau đó, điều này làm gia tăng thêm quyền lực chính trị của các đại diện miền Nam tại Quốc hội Hoa Kỳ.
Để giảm bớt mối lo sợ về một chính phủ liên bang quá mạnh từ phía những người chống chủ nghĩa liên bang, quốc gia thông qua Đạo luật Nhân quyền Hoa Kỳ năm 1791. Đạo luật này gồm có mười tu chính án hiến pháp đầu tiên, bảo đảm các quyền tự do cá nhân như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, xét xử có bồi thẩm đoàn, và nói rõ rằng các công dân và tiểu bang có quyền bảo lưu (nhưng quyền này không có nói rõ là gì).
=== Lãnh đạo ngành hành pháp mới ===
George Washington, một anh hùng nổi tiếng của Chiến tranh Cách mạng Mỹ, tổng tư lệnh Lục quân Lục địa, và chủ tịch Hội nghị Hiến pháp trở thành vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ dưới Hiến pháp mới năm 1789. Thủ đô quốc gia dời từ New York đến Philadelphia và cuối cùng đặt tại Washington D.C. năm 1800.
Những thành tựu to lớn của chính phủ George Washington là tạo ra một chính phủ quốc gia mạnh được toàn dân Mỹ công nhận mà không có nghi ngờ. Chính phủ của ông, theo sự lãnh đạo đầy nghị lực của Bộ trưởng Ngân khố Alexander Hamilton, đảm nhận hết số nợ của các tiểu bang (những người cho mượn nợ khi đó sẽ nhận lấy trái phiếu liên bang), thành lập Ngân hàng Hoa Kỳ để cân bằng hệ thống tài chính, và lập ra một hệ thống thu thuế đồng bộ (thuế nhập cảng) và các thứ thuế khác để trả hết nợ và cung cấp một cơ sở hạ tầng tài chính. Để hỗ trợ cho các chương trình của mình, Hamilton thành lập một đảng chính trị mới - đảng đầu tiên trên thế giới dựa vào cử tri - đó là Đảng Liên bang.
Thomas Jefferson và James Madison thành lập một đảng Cộng hòa đối lập (thường được các nhà khoa học chính trị gọi là Đảng Dân chủ-Cộng hòa). Hamilton và Washington đệ trình lên quốc dân Hiệp ước Jay năm 1794, tái thiết lập mối quan hệ hữu hảo với Anh Quốc. Những người theo chủ nghĩa Jefferson kịch liệt phản đối, và các cử trị bỏ phiếu theo ranh giới đảng này hay đảng kia, như thế hình thành nên Hệ thống đảng phái lần thứ nhất. Những người theo chủ nghĩa liên bang khuyến khích thương nghiệp, tài chính và lợi ích thương mại và mong muốn giao thương nhiều hơn với Anh Quốc. Các đảng viên Cộng hòa tố cáo những người theo chủ nghĩa liên bang là đang có kế hoạch thiết lập một chế độ quân chủ, biến người giàu có thành một tầng lớp cai trị, và biến Hoa Kỳ thành một con tốt của Anh Quốc. Hiệp ước được thông qua, song tình hình chính trị nóng lên dữ dội.
Vụ nổi loạn Whiskey xảy ra năm 1794, khi những người định cư ở miền Tây (hiện nay là vùng Trung Tây) phản đối chống lại thuế liên bang đánh vào chất rượu cồn, là thử thách trầm trọng đầu tiên của chính phủ liên bang. Washington cho gọi địa phương quân tiểu bang đi trấn áp và đích thân lãnh đạo quân đội khi cuộc nổi loạn dần dần tan rã và quyền lực của chính phủ quốc gia được thiết lập vững chắc.
Washington từ chối phục vụ hơn hai nhiệm kỳ - đặt ra tiền lệ cho các tổng thống sau này - và trong diễn thuyết cáo biệt nổi tiếng của mình, ông ca ngợi những lợi ích mà chính phủ liên bang làm được và tầm quan trọng của đạo lý trong khi đó cảnh cáo chống lại các liên minh ngoại quốc và sự thành lập các đảng phái chính trị.
John Adams, một người theo chủ nghĩa liên bang, đánh bại Jefferson trong kỳ bầu cử tổng thống năm 1796. Chiến tranh cận kề với Pháp và những người theo chủ nghĩa liên bang đã sử dụng cơ hội này để tìm cách bịt miệng những người theo chủ nghĩa cộng hòa bằng các đạo luật chống nổi loạn và chống người ngoại quốc (gọi chung là "Alien and Sedition Acts"), xây dựng một quân đội lớn mạnh với Hamilton là người đứng đầu, và chuẩn bị đối phó một cuộc xâm nhập của Pháp. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa liên bang trở nên chia rẽ sau khi Adams phái một phái đoàn hòa bình thành công đến Pháp nhằm kết thúc cuộc chiến nữa mùa năm 1798.
=== Chế độ nô lệ ===
Trong hai thập niên đầu sau Cách mạng Mỹ, có những thay đổi lớn lao về tình trạng chế độ nô lệ trong số các tiểu bang và có sự gia tăng con số người da đen tự do. Cảm hứng từ những ý tưởng cách mạng về quyền bình đẳng của con người và sự phụ thuộc kinh tế nhờ vào chế độ nô lệ ít hơn nên các tiểu bang miền Bắc bãi bỏ chế độ nô lệ mặc dù một số tiểu bang có các giai đoạn giải phóng nô lệ từ từ. Các tiểu bang Thượng Nam Hoa Kỳ tiến hành giải phóng nô lệ dễ dàng hơn, kết quả làm tăng tỉ lệ người da đen tự do tại Thượng Nam Hoa Kỳ từ ít hơn một phần trăm vào năm 1792 lên đến hơn 10 phần trăm vào năm 1810. Vào thời gian đó, có tổng số 13,5 phần trăm tổng số người da đen tại Hoa Kỳ được tự do. Sau thời gian đó, vì nhu cầu nô lệ gia tăng cùng với sự phát triển trồng bông vải tại Thâm Nam Hoa Kỳ, tốc độ giải phóng nô lệ giảm xuống nhanh chóng. Hoạt động giao thương nô lệ nội địa trở thành một nguồn của cải quan trọng đối với nhiều chủ đồn điền và giới thương buôn.
== Thế kỷ 19 ==
=== Thời đại Dân chủ-Cộng hòa ===
Thomas Jefferson đánh bại Adams trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1800. Thành tựu lớn của Jefferson trong vai trò tổng thống là vùng đất mua Louisiana năm 1803, cung cấp cho người định cư Hoa Kỳ một vùng tiềm năng rộng lớn để mở rộng về phía tây sông Mississippi.
Bản thân Jefferson là một nhà khoa học, ông ủng hộ các cuộc thám hiểm để khám phá và vẽ bản đồ lãnh thổ mới, nổi bật nhất là Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark. Jefferson tin tưởng sâu sắc vào chủ nghĩa cộng hòa và cho rằng nó nên dựa vào chủ đồn điền và nông dân độc lập yeoman. Ông ngờ vực thành thị, nhà máy và ngân hàng. Ông cũng không tin tưởng chính phủ liên bang và các thẩm phán, và tìm cách làm suy yếu ngành tư pháp. Tuy nhiên, ông gặp phải đối thủ tương xứng là John Marshall, một người theo chủ nghĩa liên bang từ Virginia. Mặc dù Hiến pháp Hoa Kỳ gồm có một tòa án tối cao nhưng chức năng của nó rất mơ hồ cho đến khi Marshall làm thẩm phán trưởng (1801–35). Ông đã định nghĩa các chức năng này, đặc biệt là quyền lực đảo ngược các đạo luật nào của Quốc hội bị cho là vi phạm Hiến pháp. Quyền lực này được tuyên bố vào năm 1803 trong vụ Marbury đối đầu Madison.
=== Chiến tranh 1812 ===
Người Mỹ ngày càng tức giận với Anh Quốc vì vi phạm quyền trung lập của các tàu Mỹ nhằm gây tổn thất cho nước Pháp. Anh Quốc đã chặn bắt 10 ngàn thủy thủ Mỹ để phục vụ Hải quân Hoàng gia Anh chống Napoléon và người Anh cũng ủng hộ sự thù địch của người bản địa Mỹ tấn công chống người định cư Mỹ tại vùng trung-tây. Người Mỹ cũng có thể mong sát nhập tất cả hay một phần Bắc Mỹ thuộc Anh.. Mặc dù có sự chống đối từ các tiểu bang Đông Bắc, đặc biệt là những người theo chủ nghĩa liên bang, những người không muốn làm đứt đoạn giao thương với Anh Quốc nhưng Quốc hội Hoa Kỳ vẫn tuyên chiến với Anh Quốc vào tháng 6 năm 1812.
Cuộc chiến gây thất vọng cho cả hai phía. Cả hai phía đều cố tìm cách xâm lấn bên kia nhưng rồi bị đánh bật trở lại. Bộ tư lệnh cao cấp của Mỹ vẫn bất lực cho đến năm cuối cùng. Địa phương quân Mỹ chứng tỏ kém hiệu quả vì binh sĩ còn do dự phải xa nhà và các cố gắng xâm nhập Canada liên tiếp bị thất bại. Cuộc phong tỏa của người Anh gây thiệt hại cho ngành thương mại Mỹ, phá sản ngân khố, và càng làm cho người Tân Anh buôn lậu đồ tiếp liệu đến Anh Quốc thêm tức giận. Người Mỹ dưới quyền của tướng William Henry Harrison cuối cùng giành được quyền kiểm soát đường thủy trên hồ Erie và đánh bại người bản địa Mỹ dưới quyền chỉ huy của Tecumseh tại Canada, trong khi đó Andrew Jackson chấm dứt mối đe dọa của người bản địa Mỹ tại đông nam. Mối đe dọa lấn chiếm vào vùng trung-tây của người bản địa Mỹ bị kết liễu vĩnh viễn. Người Anh xâm nhập và chiếm đóng phần lớn tiểu bang Maine.
Người Anh đột kích và đốt cháy thủ đô Washington nhưng bị đánh bật tại thành phố Baltimore vào năm 1814 là nơi bài thơ "Star Spangled Banner" được viết để chào mừng sự thành công của người Mỹ. Trên vùng thượng của tiểu bang New York, một cuộc xâm nhập lớn của Anh vào tiểu bang bị đánh bật. Cuối cùng vào đầu năm 1815 Andrew Jackson quyết tâm đánh bại một cuộc xâm nhập lớn của người Anh trong trận New Orleans và ông đã trở thành một anh hùng chiến tranh lừng danh nhất.
Với sự kiện Napoleon (hình như) đã hết hy vọng, nguyên nhân gây chiến tranh đã tan biến và cả hai phía đồng ý hòa bình với kết quả là các biên giới trước chiến tranh vẫn không thay đổi. Người Mỹ tuyên bố chiến thắng vào đầu năm 1815 khi tin tức truyền đến hầu như ngay lập tức về chiến thắng New Orleans của Jackson và hiệp ước hòa bình. Người Mỹ rất đỗi tự hào về thành công trong "cuộc chiến tranh giành độc lập lần thứ hai". Những người phản đối và chống chiến tranh thuộc Đảng Liên bang bị hổ thẹn và không bao giờ có cơ hội để phục hồi. Người bản địa Mỹ là những người thua thiệt lớn nhất vì họ không bao giờ giành được chủ quyền quốc gia độc lập mà người Anh đã hứa với họ. Họ cũng không còn là một mối đe dọa đáng sợ khi người định cư đổ xô vào vùng trung-tây.
=== Thời đại của cảm xúc tốt đẹp ===
Là phe chống đối mạnh mẽ cuộc chiến tranh 1812, những người theo chủ nghĩa liên bang mở Hội nghị Hartford năm 1814 với ý định ám chỉ là muốn ly khai khỏi liên bang. Tâm trạng phấn khởi vui mừng của quốc gia sau chiến thắng tại New Orleans đã làm tiêu tan uy thế của những người theo chủ nghĩa liên bang và họ không còn đóng vai trò nổi bật nào nữa. Tổng thống Madison và đa số đảng viên Cộng hòa nhận ra rằng họ ngu ngốc khi để Ngân hàng Hoa Kỳ đóng cửa vì sự thiếu vắng của nó đã gây trở ngại lớn cho việc tài trợ chiến tranh. Vì thế họ cho thành lập Đệ nhị Ngân hàng Hoa Kỳ năm 1816.
Các đảng viên Cộng hòa cũng áp đặt quan thuế nhằm bảo vệ các công nghiệp non trẻ, loại thuế được hình thành khi Anh Quốc phong tỏa Hoa Kỳ. Với sự sụp đổ của đảng Liên bang, việc Đảng Cộng hòa áp dụng nhiều nguyên tắc của chủ nghĩa liên bang, và chính sách có hệ thống của Tổng thống James Monroe trong hai nhiệm kỳ (1817–25) để giảm nhẹ tính đảng phái, quốc gia Hoa Kỳ bước vào một thời đại cảm xúc tốt đẹp với rất ít tính đảng phái hơn trước đây (hoặc sau này), và kết thúc hệ thống đảng phái lần thứ nhất.
Học thuyết Monroe, được phát biểu năm 1823, tuyên bố quan điểm của Hoa Kỳ rằng các cường quốc châu Âu không nên thuộc địa hóa hay can thiệp vào châu Mỹ nữa. Đây là yếu tố quan trọng có tính quyết định trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Học thuyết Monroe được áp dụng để đáp lại mối lo sợ của người Anh và người Mỹ về sự bành trướng của người Pháp và người Nga vào Tây Bán cầu.
=== Thiên di người bản địa Mỹ ===
Năm 1830, Quốc hội thông qua Đạo luật Thiên di người bản địa Mỹ qua đó cho phép tổng thống thương thuyết các hiệp định nhằm trao đổi đất đai ở phía tây sông Mississippi để lấy đất bộ lạc của người bản địa Mỹ tại các tiểu bang miền Đông Hoa Kỳ. Các đảng viên Dân chủ Jackson đòi hỏi cưỡng chế thiên di đối với sắc dân bản địa Mỹ nào từ chối chấp nhận luật của các tiểu bang để đến các khu dành riêng cho họ tại miền Tây. Những lãnh tụ tôn giáo và đảng Whigs chống đối hành động này vì vô nhân đạo như họ đã được thấy qua trong sự kiện đường mòn nước mắt. Nhiều người bản địa Seminole tại Florida từ chối di chuyển về phía tây. Họ đã chiến đấu chống lại quân đội nhiều năm trong các cuộc chiến tranh Seminole.
=== Đại thức tỉnh lần thứ hai ===
Đại thức tỉnh lần thứ hai là một phong trào phục hưng Tin Lành gây ảnh hưởng đến toàn quốc gia Hoa Kỳ trong đầu thế kỷ 19 và dẫn đến sự phát triển nhà thờ một cách nhanh chóng. Phong trào bắt đầu khoảng năm 1790, đạt được đà vào năm 1800, và sau năm 1820 con số thành viên tăng vọt trong số các giáo đoàn Báp-tít và Giám Lý vì các giáo đoàn này có nhiều nhà truyền giáo lãnh đạo phong trào. Phong trào lên đến điểm đỉnh vào thập niên 1840.
Phong trào này ghi danh thêm hàng triệu thành viên mới trong các giáo phái phúc âm hiện hữu và dẫn đến việc thành lập các giáo phái mới. Nhiều người cải đạo tin tưởng rằng Đại thức tỉnh báo hiệu một thời đại ngàn năm mới. Đại thức tỉnh lần thứ hai khơi động sự thành lập nhiều phong trào cải cách trong đó có chủ nghĩa bãi nô và phong trào vận động hạn chế rượu cồn nhằm loại bỏ tệ nạn xã hội trước sự trở lại lần thứ hai (theo dự đoán) của Giê-su.
=== Chủ nghĩa bãi nô ===
Sau năm 1840 phong trào bãi nô phát triển đã tự tái định nghĩa nó như một cuộc thánh chiến chống lại tội lỗi của chủ nô. Phong trào vận động sự ủng hộ (đặc biệt là các phụ nữ ngoan đạo tại miền Đông Bắc bị ảnh hưởng bởi phong trào đại thức tỉnh lần thứ hai). William Lloyd Garrison xuất bản nhật báo có ảnh hưởng nhất trong số nhiều nhật báo chống chủ nghĩa nô lệ, đó là tờ The Liberator trong khi đó Frederick Douglass, một cựu nô lệ, bắt đầu viết cho tờ báo này vào khoảng năm 1840 và khởi sự tờ báo chống chủ nghĩa nô lệ của chính mình, đó là tờ North Star năm 1847. Phần đông những nhà hoạt động chống chủ nghĩa nô lệ như Abraham Lincoln bác bỏ lý thuyết thần học của Garrison và giữ quan điểm rằng chủ nghĩa nô lệ là một tệ nạn xã hội chẳng may chứ không phải là tội lỗi.
=== Mở rộng về phía tây và Vận mệnh hiển nhiên (Manifest Destiny) ===
Các thuộc địa Mỹ và quốc gia mới phát triển nhanh chóng về dân số và diện tích khi những người tiên phong đổ xô đến biên cương khu định cư phía tây. Tiến trình này cuối cùng cũng chấm dứt vào khoảng năm 1890 đến năm 1910 khi các vùng đất nông nghiệp và đất nông trại chính yếu cuối cùng có người định cư. Các bộ lạc người bản địa Mỹ tại một số nơi chống đối bằng vũ lực nhưng họ bị người định cư và quân đội tràn ngập và sau năm 1830 họ bị di dời đến các khu dành riêng tại miền tây. "Thuyết đề Biên cương" có ảnh hưởng cao cho rằng biên cương đã tạo nên tính cách quốc gia cùng với sự táo bạo của nó là bạo lực, sáng kiến, chủ nghĩa cá nhân và dân chủ.
Các sử gia hiện nay đã và đang nhấn mạnh về bản tính đa văn hóa của biên cương Mỹ. Sự chú tâm rộng rãi và lớn lao của giới truyền thông tập trung vào "Miền Tây hoang dã" của nửa cuối thế kỷ 19. Như Hine và Faragher định nghĩa, "lịch sử biên cương kể câu chuyện về sự thành lập và bảo vệ các cộng đồng, sử dụng đất đai, phát triển thị trường, và thành lập các tiểu bang". Họ giải thích rằng "Đây là một câu chuyện về sự thu phục thôn tính, nhưng cũng là một câu chuyện về sự sống còn, sự bền bỉ, cũng như sự hội nhập các dân tộc và nền văn hóa mà đã xuất hiện và tiếp tục cuộc sống tại Mỹ."
Qua chiến tranh và hiệp ước, thiết lập luật và trật tự, xây dựng nông trại và thị trấn, làm đường mòn và đào quặng mỏ cũng như lôi cuốn vô số di dân ngoại quốc, Hoa Kỳ đã mở rộng lãnh thổ từ bờ biển phía đông sang bờ biển phía tây để hoàn thành giấc mơ về vận mệnh hiển nhiên. Khi biên cương Mỹ đi vào lịch sử, những huyền thoại về miền tây trong các tiểu thuyết và phim ảnh có chỗ đứng vững chắc trong trí tưởng tượng của người Mỹ cũng như người ngoại quốc. Nước Mỹ đặc biệt đã chọn cho mình một hình ảnh biểu tượng. "Không quốc gia nào khác" như David Murdoch đã nói "đã lấy một thời điểm và địa điểm từ quá khứ của mình để tạo lập ra một cấu trúc dành cho trí tưởng tượng mà tương xứng với sự tạo lập ra miền Tây của nước Mỹ."
Từ đầu thập niên 1830 đến năm 1869, đường mòn Oregon và nhiều con đường mòn con khác đã được trên 300 ngàn dân định cư sử dụng. Các nông gia, chủ nông trại và chủ doanh nghiệp tư nhân cùng gia đình của họ hướng về California, Oregon, và các điểm khác trong vùng viễn tây. Các cỗ xe ngựa phải đi đường bộ từ năm đến sáu tháng. Sau năm 1869, chuyến đi chỉ mất 6 ngày bằng đường xe lửa.
Vận mệnh hiển nhiên là niềm tin rằng người định cư Mỹ có vận mệnh mở rộng lãnh thổ ngang qua lục địa Bắc Mỹ. Khái niệm này được sinh ra từ "một ý thức trách nhiệm nhằm cứu rỗi Cựu thế giới bằng hình mẫu đỉnh cao... được tạo ra bởi những tiềm năng của một vùng đất mới để xây dựng một thiên đường mới." Bản thân cụm từ này có nhiều ý nghĩa khác nhau đối với nhiều nhóm dân khác nhau nhưng đã bị những người cổ vũ hiện đại hóa bác bỏ. Những người cổ vũ hiện đại hóa muốn xây dựng các thành phố và nhà máy chứ không phải là tạo ra thêm nhiều nông trại. Daniel Walker Howe cho rằng "Dẫu thế, chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã không đại diện sự đồng thuận của người Mỹ. Nó gây ra bất đồng cay đắng bên trong cộng đồng quốc gia." Thực tế là Đảng Dân chủ ủng hộ sự mở rộng lãnh thổ mà đa số đảng viên Whig thì chống đối. Tuy nhiên, vận mệnh hiển nhiên đã tạo ra luận điệu hùng biện cho việc mua hay chiếm được phần lãnh thổ lớn nhất mà Hoa Kỳ có được. Sau tranh cãi gay gắt tại Quốc hội, Cộng hòa Texas bị sát nhập vào Hoa Kỳ năm 1845 mặc cho Mexico cảnh cáo việc này đồng nghĩa với chiến tranh. Chiến tranh bùng nổ vào năm 1846 trong khi hậu phương chia rẽ với đảng Whig chống đối và đảng Dân chủ ủng hộ cuộc chiến. Lục quân Hoa Kỳ, sử dụng quân chính quy và số lượng lớn quân tình nguyện, đã dễ dàng chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Mỹ-Mexico (1846–48). Tình cảm của công chúng tại Hoa Kỳ bị chia rẽ khi đảng Whig và những thành phần chống chủ nghĩa nô lệ phản đối chiến tranh. Hiệp ước Guadalupe Hidalgo nhượng California, New Mexico, Arizona, Nevada, và những khu vực lân cận cho Hoa Kỳ trong khi đó những người sinh sống trong những vùng này được trao quyền công dân Mỹ đầy đủ. Ngay sau khi vàng được tìm thấy tại Bắc California, trên 100.000 người đã đổ xô đến đây chỉ trong vòng mấy tháng. Sự kiện này trong lịch sử được gọi là cơn sốt vàng California.
=== Chia rẽ giữa miền Bắc và miền Nam ===
Vấn đề trung tâm sau năm 1848 là sự mở rộng chủ nghĩa nô lệ. Sự việc này gây ra sự đối đầu giữa những thành phần chống chế độ nô lệ mà chiếm đa số tại miền Bắc với những thành phần ủng hộ chế độ nô lệ mà chiếm số đông tại miền Nam. Một con số nhỏ những người miền Bắc rất tích cực là những người theo chủ nghĩa bãi nô, tuyên bố rằng sở hữu nô lệ là một tội lỗi (nói theo thuyết thần học Kháng Cách) và đòi bãi bỏ chủ nghĩa nô lệ ngay lập tức. Con số đông hơn nhiều chống đối việc mở rộng chủ nghĩa nô lệ đã tìm cách xếp đặt thời gian cho nó biến mất để nước Mỹ thực hiện trở thành đất tự do, lao động tự do (không nô lệ), và tự do ngôn luận (đối ngược với sự kiểm duyệt gắt gao ở miền Nam). Người da trắng ở miền Nam khăng khăng rằng chủ nghĩa nô lệ là lợi ích văn hóa và xã hội kinh tế đối với tất cả người da trắng (và thậm chí đối với chính người nô lệ) và họ lên án tất cả những phát ngôn viên chống chủ nghĩa nô lệ là "abolitionists."
Các nhà hoạt động tôn giáo cũng chia rẽ về chủ nghĩa nô lệ với người theo giáo phái Giám Lý và Báp-tít phân chia thành các hệ phái miền Bắc và miền Nam. Tại miền Bắc, người theo giáo phái Giám Lý, giáo đoàn, và Quaker có đông người theo chủ nghĩa bãi nô, đặc biệt trong số các nhà hoạt động nữ. Các giáo phái công giáo, Episcopal và Luther phần nhiều làm ngơ với vấn đề chủ nghĩa nô lệ.
Vấn đề chủ nghĩa nô lệ tại các lãnh thổ mới gần như được giải quyết theo thỏa hiệp năm 1850 dưới sự điều đình của đảng viên Whig Henry Clay và đảng viên Dân chủ Stephen Douglas. Thỏa hiệp gồm có việc thu nhận California thành một tiểu bang tự do (không theo chế độ nô lệ). Điểm nhức nhối là đạo luật chống nô lệ bỏ trốn (Fugitive Slave Act) giúp cho chủ nô lệ dễ dàng nhận lại những nô lệ bỏ trốn của mình. Những người theo chủ nghĩa bãi nô bám sát vào đạo luật này để tấn công chủ nghĩa nô lệ như trong tác phẩm Uncle Tom's Cabin của Harriet Beecher Stowe.
Thỏa hiệp năm 1820 bị bãi bỏ năm 1854 bằng Đạo luật Kansas-Nebraska do thượng nghị sĩ Douglas bảo trợ dưới danh nghĩa "chủ quyền toàn dân" và dân chủ. Đạo luật này cho phép người định cư quyết định về chế độ nô lệ tại mỗi lãnh thổ, và cho phép Douglas nói rằng ông trung lập về vấn đề chủ nghĩa nô lệ. Các lực lượng chống chủ nghĩa nô lệ càng thêm giận dữ và báo động. Họ thành lập đảng Cộng hòa mới. Các lực lượng ủng hộ và chống đối đổ xô đến Kansas để biểu quyết về vấn đề bãi bỏ hay duy trì chủ nghĩa nô lệ, khiến xảy ra một cuộc nội chiến nhỏ, được gọi là "Bleeding Kansas" (đổ máu ở Kansas). Đến cuối thập niên 1850, đảng Cộng hòa non trẻ thống trị tất cả các tiểu bang miền bắc và vì thế cũng thống trị luôn cả đại cử tri đoàn và luôn nhấn mạnh rằng chủ nghĩa nô lệ sẽ không bao giờ dược cho phép mở rộng (và như thế là nó sẽ dần dần biến mất).
Các hội đoàn theo chủ nghĩa nô lệ miền Nam trở nên giàu có nhờ vào bông vải của họ và những sản phẩm tiêu dùng khác. Đặc biệt một số kiếm lợi từ việc buôn nô lệ trong nước. Họ có mối liên hệ với các thành phố ở miền bắc như Boston và Thành phố New York qua hệ thống ngân hàng, hàng hải, và sản xuất. Đến năm 1860, có bốn triệu nô lệ tại miền Nam, nhiều hơn gần như tám lần tổng số nô lệ toàn quốc của năm 1790. Các đồn điền có mức lợi tức cao nhờ vào nhu cầu lớn từ châu Âu về bông vải thô. Phần lớn lợi nhuận được đầu tư vào đất mới và nô lệ mới mua được từ những vùng trồng cây thuốc lá đang suy thoái. 50 năm trong số 72 năm đầu tiên khai sinh Hoa Kỳ, chức vụ tổng thống Hoa Kỳ thuộc về một chủ nô. Trong suốt thời kỳ này, chỉ những tổng thống có giữ nô lệ mới được tái đắc cử nhiệm kỳ hai. In addition, southern states benefited by their increased apportionment in Congress due to the partial counting of slaves in their populations.
Các vụ nổi loạn của người nô lệ, đã được dự định hay thực sự đã xảy ra đều bị thất bại trong số đó có vụ Gabriel Prosser (1800), Denmark Vesey (1822), Nat Turner (1831), và John Brown (1859). Các cuộc nổi loạn này dẫn đến việc các tiểu bang miền Nam thiết lập việc trông coi nô lệ chặt chẽ hơn cũng như giảm quyền của những người da đen tự do. Phán quyết của tối cao pháp viện vào năm 1857 trong vụ Dred Scott đối đầu Sandford chấp nhận lập trường của miền Nam rằng chủ nghĩa nô lệ là hợp pháp ở bất cứ nơi đâu trên toàn quốc, khiến cho người miền Bắc tức giận.
Sau khi Abraham Lincoln thắng bầu cử tổng thống năm 1860, bảy tiểu bang miền Nam ly khai khỏi liên bang giữa cuối năm 1860 và năm 1861, thành lập một chính phủ mới, Liên minh miền Nam Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 2 năm 1861. Khi Lincoln ra lệnh cho quân đội trấn áp Liên minh miền Nam vào tháng 4 năm 1861, thêm bốn tiểu bang nữa ly khai và gia nhập Liên minh miền Nam. Cùng với phần đất phía tây bắc của tiểu bang Virginia mà sau đó trở thành Tây Virginia, bốn trong số năm tiểu bang "nô lệ" (chủ nghĩa nô lệ được hợp pháp hóa) cận bắc nhất đã không ly khai và trở thành "các tiểu bang biên giới".
=== Nội chiến ===
Nội chiến Hoa Kỳ bắt đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 1861 khi quân đội Liên minh miền Nam tấn công căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở đồn Sumter tại Nam Carolina. Để đáp trả cuộc tấn công, ngày 15 tháng 4, Lincoln ra lệnh cho các tiểu bang phái lực lượng với tổng số 75 ngàn quân tái chiếm các đồn, bảo vệ thủ đô, và "giữ vững liên bang" mà theo quan điểm của ông vẫn còn tồn tại, không thay đổi cho dù các hành động của các tiểu bang ly khai. Hai quân đội có các vụ đụng độ lớn đầu tiên tại Trận Bull Run thứ nhất mà kết thúc bằng một sự thảm bại bất ngờ của phe Liên bang. Tuy nhiên điều quan trọng là trận đánh đã cho cả hai phía Liên bang và Liên minh thấy rằng cuộc chiến vẫn tiếp diễn dài hơn và đẫm máu hơn là ban đầu được dự liệu.
Chẳng bao lâu cuộc chiến được phân thành hai mặt trận: mặt trận miền Đông và mặt trận miền Tây. Tại mặt trận miền Tây, Liên bang khá thành công với các trận đánh lớn như trận Perryville và trận Shiloh, tạo ra các chiến thắng mang tính chiến lược của Liên bang và đập tan các chiến dịch lớn của Liên minh miền Nam.
Chiến sự tại mặt trận miền Đông khởi sự thật tệ đối với phe Liên bang miền Bắc khi quân Liên minh miền Nam chiến thắng tại Manassas Junction (Bull Run), nằm ngay bên ngoài Washington. Thiếu tướng George B. McClellan được giao chỉ huy toàn thể các đơn vị lục quân của Liên bang. Sau khi tái tổ chức Lục quân Potomac mới, McClellan thất bại trong việc chiếm thủ đô của phe miền Nam là Richmond, Virginia trong Chiến dịch Bán đảo và rút lui sau khi bị tấn công bởi tướng mới được bổ nhiệm của Liên minh miền Nam là Robert E. Lee.
Cảm thấy tự tin với lục quân của mình sau khi đánh bại phe Liên bang tại trận Bull Run thứ hai, Lee bắt tay vào một cuộc xâm chiếm miền Bắc nhưng bị chặn đứng bởi tướng McClellan tại trận Antietam đẫm máu. Dù vậy, McClellan bị tước quyền tư lệnh vì từ chối đuổi theo tàn quân của Lee. Tư lệnh kế tiếp, tướng Ambrose Burnside, bị thảm bại trước lục quân ít quân số hơn của Lee tại trận Fredericksburg vào cuối năm 1862, khiến phải thêm một lần thay đổi tư lệnh. Lee lại chiến thắng tại trận Chancellorsville vào tháng 5 năm 1863 nhưng mất đi vị phụ tá hàng đầu của mình là Stonewall Jackson. Nhưng Lee tấn công rất mạnh và coi thường mối đe dọa của phe Liên bang tại miền Tây. Lee xâm chiếm Pennsylvania để tìm nguồn tiếp tế và để gây tiêu hao tại miền Bắc. Có lẽ điểm quay của cuộc chiến là khi lục quân của Lee bị đánh bại thảm hại tại trận Gettysburg vào ngày 1 đến ngày 3 tháng 7 năm 1863.
Đồng thời vào ngày 4 tháng 7 năm 1863, các lực lượng Liên bang dưới quyền chỉ huy của tướng Ulysses S. Grant giành được kiểm soát sông Mississippi tại trận Vicksburg, vì thế xé đôi phe Liên minh miền Nam. Lincoln phong cho tướng Grant làm tư lệnh toàn thể các đơn vị lục quân Liên bang.
Hai năm cuối cùng của cuộc chiến diễn ra đẫm máu đối với cả hai phía với việc tướng Grant mở chiến tranh tiêu hao chống Lục quân Bắc Virginia của tướng Lee. Chiến tranh tiêu hao này được chia thành ba chiến dịch lớn. Đầu tiên là Chiến dịch Overland buộc tướng Lee rút lui vào thành phố Petersburg, nơi tướng Grant lại mở một cuộc công kích lớn thứ hai của mình trong Chiến dịch Richmond-Petersburg bao vây Petersburg. Sau khi bao vây gần mười tháng, Petersburg đầu hàng. Tuy nhiên, quân phòng vệ Đồn Gregg cho phép Lee đưa lục quân của mình ra khỏi Petersburg. Grant đuổi theo và mở chiến dịch cuối cùng, Chiến dịch Appomattox với kết quả là Lee ra lệnh cho Lục quân Bắc Virginia đầu hàng vào ngày 9 tháng 4 năm 1865 tại tòa án quận Appomattox. Các lục quân khác của Liên minh miền Nam theo bước đầu hàng và chiến tranh kết thúc mà không có quân nổi dậy sau chiến tranh.
Dựa theo dữ liệu điều tra dân số Hoa Kỳ năm 1860, khoảng 8% toàn thể nam giới da trắng tuổi 13 đến 43 chết trong cuộc chiến này trong số đó có 6% của miền Bắc và 18% của miền Nam khiến cho Nội chiến trở thành cuộc chiến chết chóc nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Di sản của nó bao gồm việc chấm dứt chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ, phục hồi Liên bang, và tăng cường vai trò của chính phủ trung ương.
=== Tái thiết và Thời đại mạ hóa ===
Thời đại tái thiết kéo dài từ khi Lincoln tuyên ngôn giải phóng nô lệ ngày 1 tháng 1 năm 1863 đến Thỏa hiệp 1877.
Các vấn đề chính mà Lincoln phải đối mặt là địa vị của những cựu nô lệ (được gọi là "Freedmen", tạm dịch là người được giải phóng), sự trung thành và dân quyền của các cựu binh phe phản loạn, địa vị của 11 cựu tiểu bang Liên minh miền Nam, quyền lực của chính phủ liên bang cần thiết để ngăn chặn một cuộc nội chiến trong tương lại, và câu hỏi liệu Quốc hội hay tổng thống sẽ ra các quyết định lớn.
Những mối đe dọa nghiêm trọng về nạn đói và mất nơi cư ngụ của những cựu nô lệ thất nghiệp được giải quyết qua cơ quan cứu trợ liên bang chính đầu tiên là "Freedman's Bureau" (văn phòng đặc trách người được giải phóng) do Lục quân Hoa Kỳ điều hành.
Ba "tu chính án tái thiết" được thông qua để nới rộng dân quyền cho người Mỹ da đen: Tu chính án 13 đặt chế độ nô lệ ra khỏi vòng pháp luật; Tu chính án 14 bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả và quyền công dân cho người da đen; Tu chính án 15 ngăn cấm dùng lý do chủng tộc để tước quyền công dân của một người.
Mặc dù những người cựu nổi loạn vẫn còn nắm giữ phần lớn các tiểu bang miền Nam khoảng trên hai năm, điều đó đã thay đổi khi các đảng viên Cộng hòa cấp tiến giành quyền kiểm soát hữu hiệu Quốc hội Hoa Kỳ trong các cuộc bầu cử năm 1866. Tổng thống Andrew Johnson, người tìm cách dễ dãi để tái thống nhất với những cựu nổi loạn, gần như không còn quyền lực. Bản thân ông thoát bị truất phế chỉ bởi một lá phiếu trong cuộc luận tội. Quốc hội ban quyền đầu phiếu cho người da đen và tước bỏ quyền nắm giữ chức vụ chính quyền của nhiều cựu quan chức Liên minh miền Nam. Các chính phủ Cộng hòa lên nắm quyền nhờ vào liên minh với nhóm "người được giải phóng" (Freedmen, tức cựu nô lệ da đen), Carpetbagger (người mới đến miền Nam từ miền Bắc), và Scalawag (người da trắng bản địa miền Nam ủng hộ tái thiết). Họ được Lục quân Hoa Kỳ hậu thuẫn. Những người chống đối nói rằng những nhóm người này là tham nhũng và vi phạm quyền của người da trắng. Về sau, Liên minh Cộng hòa mới bị mất quyền lực từng tiểu bang một về tay liên minh Dân chủ bảo thủ. Liên minh này cuối cùng giành được kiểm soát toàn bộ miền Nam vào năm 1877. Để đáp trả chống tiến trình tái thiết cấp tiến, Ku Klux Klan (KKK) ra đời vào năm 1867. Đây là một tổ chức theo thuyết da trắng siêu đẳng, chống đối sự cai trị của đảng Cộng hòa và chống dân quyền dành cho người da đen. Tổng thống Ulysses Grant thực thi mạnh mẽ Đạo luật Ku Klux Klan năm 1870 để dập tắt nhóm này. Kết quả là nhóm này phải giải tán. Tuy nhiên, những nhóm bán quân sự khác như Liên đoàn Da trắng (White League) và Áo đỏ cố gắng giành lại quyền lực chính trị cho người da trắng tại các tiểu bang khắp miền Nam trong thập niên 1870.
Tái thiết kết thúc sau cuộc bầu cử năm 1876 với kết quả bị tranh cãi giữa ứng cử viên Cộng hòa Rutherford B. Hayes và ứng cử viên Dân chủ Samuel J. Tilden. Sau khi thỏa hiệp, Hayes thắng cử tổng thống. Chính phủ liên bang rút quân khỏi miền Nam và đảng Dân chủ tại miền Nam tái tham gia vào vũ đài chính trị quốc gia. Sau năm 1890, các tiểu bang miền Nam hoàn toàn tước bỏ quyền đầu phiếu của cử tri da đen. Người da đen bị tách ly tại nơi công cộng và vẫn là công dân hạng hai trong một hệ thống được gọi là Jim Crow cho đến khi phong trào dân quyền đạt được những thắng lợi vào năm 1964-65.
Nửa cuối thế kỷ 19 được đánh dấu bởi sự phát triển và định cư miền Tây của Hoa Kỳ. Đầu tiên là các cỗ xe ngựa kéo và rồi sau đó được trợ lực với việc hoàn thành tuyến đường sắt xuyên lục địa và chiến tranh thường xuyên với người bản địa Mỹ khi người định cư lấn chiếm đất đai truyền thống của người bản địa. Dần dần Hoa Kỳ mua đất của họ và xóa bỏ tuyên bố chủ quyền của họ, cưỡng bách phần lớn bộ lạc vào các khu dành riêng có giới hạn. Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ (1894),
Các cuộc chiến tranh giữa người bản địa và chính phủ Hoa Kỳ có tổng số hơn 40 lần. Chúng gây thiệt hại nhân mạng của khoảng 19 ngàn người kể cả phụ nữ và trẻ em người da trắng và khoảng 30 ngàn người bản địa.
"Thời đại mạ hóa" là thuật ngữ được Mark Twain sử dụng để mô tả một thời kỳ cuối thế kỷ 19 khi sự giàu có và thịnh vượng của người Mỹ gia tăng đáng kể. Sự cãi cách của thời đại này gồm có Đạo luật Công chức (Civil Service Act) bắt buộc những người làm đơn xin việc làm với chính quyền phải cạnh tranh về năng lực với nhau. Các luật quan trọng khác gồm có Đạo luật Thương mại Liên tiểu bang nhằm kết thúc sự phân biệt đối xử của các công ty đường sắt đối với các công ty vận tải nhỏ, và Đạo luật Chống độc quyền Sherman cấm đoán độc quyền trong thương nghiệp. Mark Twain tin rằng thời đại này bị lũng đoạn bởi các thành phần như những người đầu cơ đất đai, nền chính trị xấu xa, và hoạt động thương nghiệp vô đạo đức.
Đến năm 1890, sản lượng công nghiệp Mỹ và thu nhập tính theo đầu người vượt xa tất cả các quốc gia khác trên thế giới. Để đối phó với nợ nần chồng chất và giảm giá thành nông nghiệp, các nông gia trồng bông vải và lúa mì gia nhập đảng Nhân dân. Làn sóng di dân đột ngột từ châu Âu đến đã giúp cả việc cung cấp lao động cho ngành công nghiệp Mỹ và tạo ra các cộng đồng đa chủng tộc tại các khu vực trước đây chưa phát triển. Từ năm 1880 đến 1914, những năm di dân đỉnh điểm, trên 22 triệu người đã di cư đến Hoa Kỳ. Sự đòi hỏi của công nhân muốn kiểm soát nơi làm việc của họ đã dẫn đến tình trạng thường hay bạo động tại các thành phố và trại khai thác mỏ. Các nhà lãnh đạo công nghiệp gồm có John D. Rockefeller về dầu hỏa và Andrew Carnegie về thép. Cả hai trở thành các nhà lãnh đạo từ thiện, trao tặng tài sản tiền bạc của họ để xây dựng hệ thống hiện đại gồm các bệnh viện, đại học, thư viện và quỹ hội.
Một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn quốc trầm trọng bùng phát vào năm 1893. Cuộc khủng hoảng này được gọi là "Panic of 1893"" làm ảnh hưởng đến các nông gia, công nhân, và giới thương mại với giá cả, tiền lương và lợi nhuận bị rớt. Nhiều công ty đường sắt bị phá sản. Phản ứng chính trị đối với cuộc khủng hoảng này rơi vào đảng Dân chủ và vị tổng thống thuộc đảng Dân chủ, Grover Cleveland, gánh vác phần lớn lời chỉ trích về trách nhiệm. Bất ổn lao động gồm có vô số các cuộc đình công. Nổi bật nhất là vụ đình công Pullman gây ra bạo động năm 1894, bị binh sĩ liên bang dập tắt theo lệnh của tổng thống Cleveland. Đảng Nhân dân được thêm sức mạnh trong số giới nông gia bông vải và lúa mì cũng như những công nhân mỏ than nhưng sau đó bị phong trào "free silver" (bạc tự do) đại chúng hơn qua mặt. Phong trào "free silver" đòi hỏi dùng bạc để tăng nguồn cung cấp tiền tệ, dẫn đến tình trạng lạm phát mà theo những người phát động trong trào tin rằng sẽ kết thúc khủng hoảng.
Cộng đồng tài chính, đường sắt và thương nghiệp phản bác mạnh khi cho rằng chỉ bản vị vàng mới cứu được nền kinh tế. Trong cuộc bầu cử căng thẳng nhất trong lịch sử quốc gia, đảng viên Cộng hòa bảo thủ William McKinley đánh bại người chủ trương "bạc tự do" William Jennings Bryan. Bryan thắng tại miền Nam và miền Tây nhưng McKinley giành thắng lợi lớn trong tầng lớp trung lưu, công nhân, thành phố và nông gia lớn tại vùng Trung-Tây.
Thịnh vượng trở lại dưới thời tổng thống McKinley. Bản vị vàng được chấp thuận và quan thuế được nâng lên. Đến năm 1900, Hoa Kỳ có nền kinh tế mạnh nhất trên địa cầu. Ngoài hai lần khủng hoảng kinh tế ngắn ngủi (vào năm 1907 và 1920) nền kinh tế tổng thể vẫn thịnh vượng và phát triển cho đến năm 1929. Đảng Cộng hòa qua các chính sách của McKinley ghi được công trạng.
== Thế kỷ 20 ==
=== Thời đại tiến bộ ===
Sự bất mãn của giới trung lưu đối với tham nhũng và bất hiệu quả trong nền chính trị cùng với sự thất bại trong việc đối phó với các vấn đến công nghiệp và đô thị quan trọng ngày càng gia tăng đã dẫn đến sự hình thành phong trào tiến bộ năng động, bắt đầu vào thập niên 1890. Tại mọi thành phố, tiểu bang, và cũng như ở cấp bậc quốc gia, giáo dục, y tế và công nghiệp, những người tiến bộ kêu gọi hiện đại hóa và cãi cách các cơ quan ban ngành yếu kém, loại bỏ tham nhũng trong nền chính trị, và giới thiệu tính năng hữu hiệu như một điều kiện ưu tiên cho sự thay đổi. Những chính trị gia hàng đầu của cả hai đảng, nổi bậc nhất là Theodore Roosevelt, Charles Evans Hughes, và Robert LaFollette bên phía đảng Cộng hòa, và William Jennings Bryan bên phía đảng Dân chủ chấp nhận con đường cải cách tiến bộ. Đặc biệt phụ nữ trở nên tích cực đòi hỏi quyền đầu phiếu, đòi cấm rượu, và đòi giáo dục tốt hơn. Người lãnh đạo nổi tiếng nhất của phụ nữ là Jane Addams của thành phố Chicago. Những người tiến bộ áp dụng các luật lệ chống độc quyền và đặt ra các quy định luật lệ cho các ngành như công cộng đóng gói thịt, thuốc men, và đường sắt. Bốn tu chính án hiến pháp mới - Tu chính án 16 đến Tu chính án 19 - là kết quả của các hoạt động của phong trào tiến bộ đưa đến sự ra đời của thuế thu nhập liên bang, bầu cử trực tiếp thượng nghị sĩ, cấm chất rượu cồn, và cho phép phụ nữ quyền đầu phiếu. The Progressive Movement lasted through the 1920s; the most active period was 1900–1918.
=== Chủ nghĩa đế quốc ===
Hoa Kỳ trở thành một cường quốc quân sự và kinh tế thế giới sau năm 1890. Tình tiết chính yếu là Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ bắt đầu khi Tây Ban Nha từ chối đòi hỏi của Mỹ về việc sửa đổi các chính sách đàn áp của họ tại Cuba. "Chiến tranh nhỏ hùng tráng" như một giới chức gọi nó gồm có một loạt các chiến thắng nhanh của Mỹ trên đất liền và ngoài biển. Tại hội nghị hòa bình Hiệp ước Paris, Hoa Kỳ lấy được Philippines, Puerto Rico, và Guam.
Cuba trở thành một quốc gia độc lập dưới sự giám hộ chặt chẽ của Mỹ. Mặc dù chiến tranh được ủng hộ phổ biến nhưng những điều khoản của hiệp ước hòa bình gây ra tranh cãi. William Jennings Bryan lãnh đạo đảng Dân chủ chống đối Hoa Kỳ kiểm soát Philippines. Ông lên án việc kiểm soát Philippines là hành động của chủ nghĩa đế quốc, không phù hợp với nền dân chủ Mỹ. Tổng thống William McKinley bênh vực hành động của Mỹ. Ông gặp thuận lợi cao khi nước Mỹ trở lại thời kỳ thịnh vượng và cảm giác đắc thắng trong chiến tranh. McKinley dễ dàng đánh bại Bryan trong cuộc tái đối đầu trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1900.
Sau khi đánh bại một cuộc nổi dậy của người theo chủ nghĩa dân tộc tại Philippines, Hoa Kỳ bắt tay vào một chương trình hiện đại hóa trên diện rộng nền kinh tế Philippines và nâng cấp đáng kể các cơ sở y tế công cộng. Tuy nhiên vào năm 1908, người Mỹ không còn hứng thú vào một nước Mỹ đế quốc nữa và chuyển quan tâm quốc tế của họ vào vùng Caribe, đặc biệt là xây dựng kênh đào Panama. Năm 1912 khi Arizona trở thành tiểu bang cuối cùng tại chính địa Mỹ thì Biên cương Mỹ chấm dứt. Kênh đào mở cửa năm 1914 và làm tăng hoạt động mậu dịch với Nhật Bản và phần còn lại của Viễn Đông. Một sáng kiến canh tân chủ lực là chính sách mở cửa mà qua đó các cường quốc đế quốc được phép trao đổi mậu dịch công bằng tại Trung Quốc nhưng không một nước nào được phép chiếm giữ Trung Quốc.
=== Chiến tranh thế giới thứ nhất ===
Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra tại châu Âu từ năm 1914, Tổng thống Woodrow Wilson nắm giữ hoàn toàn chính sách đối ngoại. Ông tuyên bố trung lập nhưng cảnh cáo Đức rằng nếu tiếp tục chiến tranh bằng tàu ngầm không giới hạn chống tàu thuyền Mỹ cung cấp đồ tiếp liệu cho các quốc gia đồng minh thì đồng nghĩa với chiến tranh. Đức quyết định đối mặt rủi ro và tìm cách chiến thắng bằng cách cắt nguồn tiếp liệu đến Anh Quốc. Hoa Kỳ tuyên chiến vào tháng 4 năm 1917. Tiền, thực phẩm và đạn dược Mỹ đến nhanh chóng nhưng binh sĩ phải được tuyển mộ và huấn luyện. Đến mùa hè 1918, binh sĩ Mỹ dưới quyền của tướng John J. Pershing đến với tốc độ 10 ngàn mỗi ngày trong khi Đức không thể thay thế số binh sĩ thiệt mạng.
Kết quả là phe đồng minh chiến thắng vào tháng 11 năm 1918. Tổng thống Wilson đòi hỏi Đức truất phế hoàng đế Đức và chấp thuận các điều khoản của ông, được biết là "mười bốn điểm". Wilson chi phối Hội nghị Hòa bình Paris năm 1919 nhưng Đức bị phe đồng minh đối xử nặng tay trong Hiệp ước Versailles (1919) khi Wilson đặt hết hy vọng của mình vào Hội Quốc Liên vừa thành lập. Wilson không chịu thỏa hiệp với các thượng nghị sĩ Cộng hòa về vấn đề quyền lực tuyên chiến của Quốc hội Hoa Kỳ. Kết quả là Thượng viện Hoa Kỳ bác bỏ hiệp ước và Hội Quốc Liên.
=== Quyền đầu phiếu của phụ nữ ===
Phong trào quyền đầu phiếu của phụ nữ bắt đầu bằng Hội nghị Seneca Falls năm 1848 do Elizabeth Cady Stanton và Lucretia Mott tổ chức. Trong hội nghị này, văn kiện tuyên ngôn cảm xúc (Declaration of Sentiments) ra đời và lên tiếng đòi hỏi quyền bình đẳng dành cho phụ nữ. Nhiều nhà hoạt động trở nên tích cự quan tâm về chính trị trong suốt phong trào bãi nô. Chiến dịch vận động quyền đầu phiếu cho phụ nữ trong thời "làn sóng nữ quyền đầu tiên" do Mott, Stanton, và Susan B. Anthony lãnh đạo trong số nhiều người khác nữa. Phong trào tái tổ chức sau nội chiến, có thêm nhiều nhà vận động kinh nghiệm. Nhiều người trong số này làm việc tích cực để vận động cấm chất rượu cồn. Vào cuối thế kỷ 19, chỉ có vài tiểu bang miền Tây cho phép phụ nữ quyền đầu phiếu toàn phần, mặc dù phụ nữ đạt được nhiều chiến thắng về mặt pháp lý đáng kể trong các lãnh vực như bất động sản và quyền nuôi dưỡng trẻ em.
Khoảng năm 1912, phong trào nữ quyền, trước đó phát triển thiếu sinh lực, bắt đầu tái thức tỉnh, nhấn mạnh đòi hỏi của họ về quyền bình đẳng và cho rằng nạn quan liêu chính trị Mỹ cần phải được phụ nữ thanh tẩy bởi vì đàn ông không thể làm được việc đó. Các cuộc phản đối bắt đầu gia tăng một cách phổ biến khi nhà vận động quyền đầu phiếu cho phụ nữ là Alice Paul dẫn dắt các cuộc tuần hành qua thủ đô và các thành phố lớn. Paul tách khỏi Hội Quyền đầu phiếu Phụ nữ Quốc gia Mỹ (NAWSA) vì hội này muốn một đường lối ôn hòa hơn, ủng hộ đảng Dân chủ và tổng thống Woodrow Wilson do Carrie Chapman Catt lãnh đạo. Paul thành lập Hội Phụ nữ Quốc gia có thiên hướng quân phiệt hơn. Những nhà tranh đấu cho quyền đầu phiếu của phụ nữ bị bắt trong các cuộc dựng biểu ngữ "Những người đứng gác âm thầm" tại Tòa Bạch Ốc. Đây là lần đầu tiên chiến thuật như thế này được sử dụng và những người bị bắt trở thành các tù nhân chính trị.
Lý lẽ của những người chống đối quyền đầu phiếu của phụ nữ rằng chỉ có đàn ông mới có thể chiến đấu trong một cuộc chiến tranh và vì thế chỉ có đàn ông mới có quyền bầu cử bị hàng chục ngàn phụ nữ Mỹ bác bỏ tại hậu phương trong thời Chiến tranh thế giới thứ nhất. Khắp thế giới, các quốc gia dễ dãi đã cho phép phụ nữ bầu cử. Hơn nữa, phần lớn các tiểu bang miền Tây Hoa Kỳ đã cho phép phụ nữ quyền bầu cử tại các cuộc bầu cử quốc gia và tiểu bang. Các dân biểu từ các tiểu bang này trong đó có người phụ nữ đầu tiên là Jeannette Rankin của Montana đã chứng tỏ rằng quyền đầu phiếu của phụ nữ là một sự thành công. Sự chống đối chủ yếu là từ miền Nam Hoa Kỳ nơi các nhà lãnh đạo da trắng lo ngại về mối đe dọa từ các cử tri phụ nữ da đen. Quốc hội thông qua Tu chính án 19 năm 1919, and women could vote in 1920.
NAWSA trở thành Liên đoàn Cử tri Phụ nữ, và Hội Phụ nữ Quốc gia bắt đầu vận động hành lang cho quyền bình đẳng và cho Tu chính án về quyền bình đẳng. Tu chính án này được thông qua tại Quốc hội khi có làn sóng thứ hai của phong trào phụ nữ vào năm 1972. Tuy nhiên nó hết thời hạn chờ đợi khi chưa được tất cả các tiểu bang thông qua. Các chính trị gia đáp ứng đòi hỏi của đại cử tri đoàn mới bằng cách tập trung vào các vấn đề về mà nữ đặc biệt quan tâm, nhất là việc cấm chất rượu cồn, y tế trẻ em, và hòa bình thế giới. Hoạt động đầu phiếu của phụ nữ dâng lên thành cao trào đã xảy ra vào năm 1928 khi các cổ máy chính trị tại các thành phố lớn nhận thấy rằng họ cần sự ủng hộ của phụ nữ để bầu Al Smith, một người Công giáo từ Thành phố New York. Trong khi đó giới Kháng Cách qui tựu phụ nữ để ủng hộ việc cấm rượu cồn và bầu cho đảng viên Cộng hòa Herbert Hoover.
=== Những năm 20 ồn ào và đại khủng hoảng ===
Vào thập niên 1920, Hoa Kỳ phát triển tầm vóc một cách đều đặn trong tư cách của một cường quốc quân sự và kinh tế của thế giới. Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Hiệp ước Versailles mà phe đồng minh đã áp đặt đối với phe bại trận là Liên minh Trung tâm. Thay vào đó, Hoa Kỳ chọn theo đuổi chính sách đơn phương. Dư chấn của cuộc Cách mạng Tháng Mười mang đến nổi lo sợ thật sự về chủ nghĩa cộng sản tại Hoa Kỳ, kéo theo hiện tượng "mối đe dọa đỏ" và việc trục xuất người ngoại quốc nào bị tình nghi là có ý đổ lật đổ.
Mặc dù các cơ sở y tế công cộng phát triển nhanh chóng trong thời đại tiến bộ, các bệnh viện và trường y khoa được hiện đại hóa, nhưng nước Mỹ mất đi khoảng 675.000 sinh mạng vào năm 1918 vì dịch cúm Tây Ban Nha.
Năm 1920, việc sản xuất, mua bán, xuất nhập khẩu chất rượu cồn bị nghiêm cấm bởi Tu chính án 18 và lệnh cấm rượu. Kết quả là tại các thành phố rượu lậu trở thành ngành thương mại lớn mà phần lớn do các tay buôn lậu kiểm soát. Làn sóng thứ hai của KKK phát triển nhanh chóng trong khoảng thời gian 1922-25, rồi sau đó sụp đổ. Luật di dân được thông qua nhằm áp đặt hạn chế số người mới đến. Thập niên 1920 được gọi là "những năm 20 ồn ào" vì có sự thịnh vượng kinh tế vĩ đại trong thời kỳ này. Nhạc Jazz trở nên phổ biến trong số thế hệ trẻ hơn, và vì thế thập niên cũng được gọi là "thời đại nhạc Jazz".
Đại khủng hoảng (1929–39) và chương trình New Deal (1933–36) là những khoảnh khắc có tính quyết định trong lịch sử xã hội, kinh tế và chính trị Mỹ mà tái định hình nên nước Mỹ.
Trong thập niên 1920, nước Mỹ hưởng sự thịnh vượng ở khắp nơi, dẫu có yếu kém về nông nghiệp. Bong bóng tài chính bị thổi phòng bởi thị trường chứng khoán lạm phát mà sau đó dẫn đến sự sụp đổ thị trường chứng khoán vào ngày 29 tháng 10 năm 1929. Sự kiện này cùng với nhiều nhân tố kinh tế khác đã châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, được biết là đại khủng hoảng. Trong thời kỳ này, Hoa Kỳ trải qua thời kỳ giảm phát khi giá cả rớt, thất nghiệp lên cao từ 3% năm 1929 đến 25% năm 1933, giá cả nông phẩm rớt một nửa, sản lượng sản xuất rớt một phần ba.
Năm 1932, ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Dân chủ Franklin D. Roosevelt hứa hẹn "một đối sách mới (hay tiếng Anh là "New Deal") cho nhân dân Mỹ". Đây là nhãn mác lâu dài để chỉ chung các chính sách đối nội của ông. Tình hình kinh tế tuyệt vọng cùng với các chiến thắng đáng kể của đảng Dân chủ trong các cuộc bầu cử năm 1932 đã cho phép Roosevelt có sức ảnh hưởng dị thường đối với Quốc hội Hoa Kỳ trong một trăm ngày đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống. Ông dùng ảnh hưởng của mình để thông qua nhanh chóng một loạt các đối sách để lập ra các chương trình phúc lợi và áp đặt các quy định vào hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán, công nghiệp và nông nghiệp cùng với nhiều nỗ lực khác của chính phủ để kết thúc đại khủng hoảng và cải cách nền kinh tế Mỹ. New Deal áp đặt nhiều luật lệ vào nền kinh tế, đặc biệt là ngành tài chính. Nó trợ giúp những người thất nghiệp qua vô số chương trình như Cơ quan Quản trị Tiến triển Công chánh (WPA) và Đoàn Bảo tồn Dân sự (Civilian Conservation Corps). Các dự án chi tiêu trên diện rộng, được trù tính nhằm cung cấp việc làm lương cao và xây dựng cơ sở hạ tầng, thì nằm dưới tầm phạm vi hoạt động của Cơ quan Quản trị Tiến triển Công chánh. Roosevelt ngả sang cánh tả vào năm 1935–36, hình thành các công đoàn bằng Đạo luật Wagner. Các công đoàn trở thành một nhân tố mạnh của liên minh New Deal mới hình thành. Liên minh này đã giúp tổng thống Roosevelt tái đắc cử vào năm 1936, 1940, và 1944 bằng cách vận động toàn thể thành viên của các công đoàn, giới công nhân lao động, những người nhận trợ cấp, các cỗ máy chính trị thành phố, các nhóm chủng tộc và tôn giáo (đặc biệt là người Công giáo và Do Thái), người da trắng miền Nam cùng với người da đen miền Bắc (nơi người da đen có quyền đầu phiếu). Một số chương trình bị loại bỏ trong thập niên 1940 khi nhóm bảo thủ giành được quyền lực tại Quốc hội bằng Liên minh Bảo thủ. Quan trọng đặc biệt là chương trình An sinh Xã hội, bắt đầu vào năm 1935.
=== Chiến tranh thế giới thứ hai ===
Trong những năm đại khủng hoảng, Hoa Kỳ vẫn tập trung vào các mối quan tâm quốc nội trong khi đó dân chủ xuống thấp tại khắp nơi trên thế giới. Nhiều quốc gia rơi vào tay của những kẻ độc tài. Đế quốc Nhật Bản khẳng định quyền thống trị tại Đông Á và Thái Bình Dương. Đức Quốc xã và Phát xít Ý quân phiệt hóa và đe dọa xâm lấn trong khi đó Anh Quốc và Pháp cố nhân nhượng để tránh một cuộc chiến tranh tại châu Âu. Luật Hoa Kỳ trong các đạo luật trung lập tìm cách tránh các cuộc xung đột ở ngoại quốc. Tuy nhiên, chính sách này mâu thuẫn với thái độ bài-Quốc xã sau khi Đức xâm chiếm Ba Lan vào tháng 9 năm 1939 khởi sự Chiến tranh thế giới thứ hai. Roosevelt định hướng Hoa Kỳ như là "Kho vũ khí Dân chủ", cam kết hỗ trợ đạn dược và tài chính một cách toàn diện cho phe đồng minh nhưng không cung cấp bất cứ binh sĩ nào. Nhật Bản tìm cách vô hiệu hóa lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương bằng cách tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941. Sự kiện này đẫy Hoa Kỳ tham chiến và tìm cách trả đũa.
Những đóng góp chính của Hoa Kỳ cho nỗ lực chiến tranh của phe phe đồng minh gồm có tiền bạc, sản lượng công nghiệp, thực phẩm, dầu hỏa, phát minh kỹ thuật, và (đặc biệt từ năm 1944-1945) binh sĩ. Phần lớn sự tập trung của Washington là tăng tối đa sản lượng kinh tế quốc gia. Kết quả tổng thể là sự gia tăng ngoạn mục trong tổng sản lượng quốc gia, số lượng xuất khẩu khổng lồ hàng tiếp tế đến phe đồng minh và đến các lực lượng Mỹ ở ngoại quốc, kết thúc tình trạng thất nghiệp, và sự gia tăng tiêu thụ trong nước mặc dù 40% tổng sản lượng quốc gia đã được sử dụng cho nỗ lực chiến tranh. Điều này đạt được nhờ vào hàng chục triệu công nhân chuyển dịch từ các nghề nghiệp có năng suất thấp đến các việc làm hiệu quả cao, nhờ các cải tiến trong sản xuất dưới hệ thống quản lý và kỹ thuật tốt hơn, nhờ sự tham gia vào trong lực lượng lao động của các học sinh, người hồi hưu, phụ nữ nội trợ, và người thất nghiệp, và nhờ sự gia tăng số lượng giờ làm việc. Tất cả dốc sức. Các hoạt động vui chơi giải trí giảm mạnh. Mọi người không ngại làm thêm việc thêm giờ vì lòng yêu nước, vì tiền lương, và lòng tự tin rằng đây chỉ "là một khoản thời gian" và rồi cuộc sống sẽ trở về bình thường ngay sau khi chiến thắng cuộc chiến. Đa số hàng hóa lâu bền (durable goods) trở nên khan hiếm. Thịt, quần áo, và xăng bị hạn chế gắt gao. Tại các khu công nghiệp, nhà ở không đủ cung cấp vì số lượng người gia tăng gấp đôi và sống trong các khu chật hẹp. Giá và tiền lương bị kiểm soát. Người Mỹ tiết kiệm phần lớn tiền thu nhập của họ nên kinh tế tiếp tục phát triển sau chiến tranh thay vì quay về khủng hoảng.
Phe đồng minh gồm Hoa Kỳ, Anh, và Liên Xô cũng như Trung Quốc, Canada và các quốc gia khác đánh nhau với Phe Trục gồm Đức, Ý và Nhật Bản. Đồng minh xem Đức là mối đe dọa chính nên tập trung ưu tiên cao nhất cho chiến trường tại châu Âu. Hoa Kỳ đảm nhận gần như toàn bộ cuộc chiến chống Nhật Bản và ngăn chặn sự bành trướng của Nhật Bản tại Thái Bình Dương năm 1942. Sau khi thua trận tại Trân Châu Cảng và tại Philippines cho Nhật Bản và bị lôi cuốn vào trận biển Coral (tháng 5 năm 1942), Hải quân Hoa Kỳ gây thiệt hại mang tính quyết định cho Nhật Bản tại Midway (tháng 6 năm 1942). Lực lượng bộ binh của Mỹ trợ giúp cho Chiến dịch Bắc Phi. Chiến dịch này cuối cùng kết thúc cùng với sự sụp đổ của chính phủ phát xít Ý năm 1943 khi Ý chuyển đổi về phe đồng minh. Một mặt trận nổi bật hơn tại châu Âu được mở ra vào Ngày-D ngày 6 tháng 6 năm 1944. Tại mặt trận này các lực lượng Mỹ và đồng minh từ Anh Quốc xâm nhập vào nước Pháp đang bị Đức chiếm đóng.
Trên mặt trận hậu phương, cuộc tổng động viên toàn lực nền kinh tế của Hoa Kỳ được Ban Sản xuất Thời chiến của tổng thống Roosevelt điều hành. Sự bùng nổ sản xuất thời chiến dẫn đến sự phục hồi hoàn toàn khỏi nạn thất nghiệp, xóa bỏ hẳn vết tích của đại khủng hoảng. Thực tế, sự thiếu hụt lao động đã khuyến khích ngành công nghiệp tìm kiếm nguồn công nhân mới và vì thế mang đến những vai trò mới cho phụ nữ và người da đen.
Tuy nhiên, sự nổi đóa cũng gây ra thái độ chống Nhật Bản mà theo đó tất cả người gốc Nhật Bản bị ép buộc rời bỏ chỗ ở của họ khỏi vùng chiến tranh tại Tây Duyên hải Hoa Kỳ. Nhiên cứu cứu và phát triển cũng lên cao, nổi bật nhất là dự án Manhattan, một nỗ lực bí mật nhằm sử dụng phản ứng phân hạch hạt nhân để chế tạo ra bom nguyên tử có sức tàn phá cao.
Đồng minh đẩy lui Đức ra khỏi nước Pháp nhưng đối mặt với một cuộc phản công bất ngờ tại trận Bulge vào tháng 12. Nỗ lực cuối cùng của Đức thất bại khi các lực lượng bộ binh của đồng minh tại mặt trận phía đông và mặt trận phía tây cùng tiến về Berlin. Đức Quốc xã vội vã tìm cách giết chết số người Do Thái còn lại. Mặt trận phía tây ngừng lại đột ngột, để Berlin lọt vào tay Liên Xô khi chế độ Quốc xã chính thức cáo chung vào tháng 5 năm 1945, kết thúc chiến tranh tại châu Âu. Trên Thái Bình Dương, Hoa Kỳ triển khai chiến thuật nhảy đảo (chiếm dần từng đảo) về hướng Tokyo, thiết lập các đường băng cho các cuộc không kích bằng phi cơ chống lại chính địa Nhật Bản từ Quần đảo Mariana và giành được nhiều chiến thắng vất vã tại Iwo Jima và Okinawa năm 1945. Sau trận đánh đẫm máu tại Okinawa, Hoa Kỳ chuẩn bị xâm nhập các đảo quốc nội của Nhật Bản trong khi đó phi cơ B-29 thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Nhật Bản, buộc đế quốc Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện và kết thúcChiến tranh thế giới thứ hai. Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản (và một phần nước Đức), phái Douglas MacArthur đến tái thiết hệ thống chính trị và nền kinh tế Nhật Bản theo đường hướng của Mỹ.
Mặc dù Hoa Kỳ mất 400.000 binh sĩ, nhưng chính địa Hoa Kỳ thịnh vượng vì không bị chiến tranh tàn phá như đã xảy ra tại châu Âu và châu Á.
Sự tham gia của Hoa Kỳ vào các vấn đề ngoại giao hậu chiến tranh đánh dấu sự kết thúc chủ nghĩa biệt lập Mỹ. Mối đe dọa khủng khiếp của vũ khí hạt nhân làm tăng thêm cả sự lạc quan và lo sợ. Vũ khí hạt nhân đã không còn được dùng tới kể từ năm 1945 khi cả hai phe của Chiến tranh Lạnh biết dừng lại để tránh khỏi bờ vực chiến tranh. Một thời kỳ "hòa bình lâu dài" là đặc điểm của những năm tháng Chiến tranh lạnh từ năm 1947–1991. Tuy nhiên có các cuộc chiến tranh vùng tại Triều Tiên và Việt Nam.
=== Chiến tranh lạnh, phản văn hóa, và dân quyền ===
SauChiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ trở thành một trong hai cường quốc vượt trội với quốc gia kia là Liên Xô. Lưỡng đảng trong Thượng viện Hoa Kỳ bỏ phiếu chấp thuận cho phép Hoa Kỳ tham gia vào Liên Hiệp Quốc. Đây là sự kiện đánh dấu sự quay lưng từ bỏ chủ nghĩa biệt lập truyền thống của Hoa Kỳ và hướng tới việc tham gia vào các vấn đề quốc tế ngày càng nhiều.
Mục đích chính yếu của Mỹ từ năm 1945–48 là cứu giúp châu Âu thoát khỏi tình trạng tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ hai và ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản mà Liên Xô là đại diện. Học thuyết Truman năm 1947 tạo điều kiện viện trợ kinh tế và quân sự cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ để phản ứng đối phó mối đe dọa bành trướng của cộng sản tại vùng Balkan. Năm 1948, Hoa Kỳ thay thế các chương trình viện trợ tài chính từng phần bằng kế hoạch Marshall toàn diện, bơm tiền vào nền kinh tế Tây Âu, và tháo vỡ các hàng rào mậu dịch trong khi đó hiện đại hóa các phương thức điều hành trong thương nghiệp và chính quyền.
Ngân sách của kế hoạch là 13 tỷ đô la trong lúc tổng sản lượng nội địa của Hoa Kỳ khi đó là 258 tỷ đô la vào năm 1948. Ngoài ra còn có 12 tỷ đô la viện trợ của Mỹ dành cho châu Âu giữa thời gian kết thúc chiến tranh và bắt đầu kế hoạch Marshall. Nhà lãnh đạo Liên Xô là Joseph Stalin ngăn chặn các quốc gia vệ tinh của mình tham dự vào kế hoạch này. Từ điểm đó, với các nền kinh tế tập quyền vô hiệu quả, Đông Âu rơi lại ngày càng xa Tây Âu về phương diện thịnh vượng và phát triển kinh tế. Năm 1949, Hoa Kỳ từ bỏ chính sách lâu đời không liên minh quân sự trong thời bình khi đứng ra thành lập liên minh Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (gọi tắt là NATO). Để đối phó, Liên Xô thành lập Khối Warszawa gồm các quốc gia cộng sản.
Tháng 8 năm 1949, Liên Xô thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên của mình, vì thế leo thang mối nguy cơ chiến tranh. Thực tế, mối đe dọa hủy diệt cả hai phía đã ngăn ngừa hai cường quốc tránh xa đối đầu trực tiếp. Kết quả là xảy ra những cuộc chiến tranh thay thế (proxy war), đặc biệt là Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam mà theo đó hai cường quốc không trực diện đối đầu nhau. Bên trong quốc nội Hoa Kỳ, Chiến tranh lạnh gây ra những quan ngại về ảnh hưởng của cộng sản. Liên Xô bất ngờ qua mặt Hoa Kỳ về mặt kỹ thuật với Sputnik, một vệ tinh nhân tạo đầu tiên của thế giới vào năm 1957. Sự kiện này khởi sự cuộc chạy đua vào không gian mà sau cùng Hoa Kỳ giành thắng lợi khi phi thuyền Apollo 11 đưa các phi hành gia đặt chân lên Mặt Trăng vào năm 1969. Lo ngại về sự yếu kém của nền giáo dục Hoa Kỳ dẫn đến việc chính phủ liên bang hỗ trợ nền giáo dục Mỹ trên diện rộng về giáo dục và nghiên cứu khoa học.
Trong những thập niên sauChiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ trở nên có ảnh hưởng toàn cầu về các vấn đề kỹ thuật, quân sự, chính trị và kinh tế. Người Mỹ da trắng chiếm gần 90% dân số vào năm 1950.
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1960, chính trị gia đầy lôi cuốn là John F. Kennedy đắc cử tổng thống và trở thành vị tổng thống người Công giáo đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của Hoa Kỳ. Thời gian tại chức của ông được đánh dấu bằng những sự kiện nổi bật như việc tăng tốc vai trò của Hoa Kỳ trong cuộc chạy đua vào không gian, leo thang vai trò của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, khủng hoảng tên lửa Cuba, Sự kiện Vịnh Con Lợn, Martin Luther King, Jr. bị gian giữ trong cuộc vận động chống tách ly chủng tộc tại Birmingham, và việc bổ nhiệm em trai ông Robert F. Kennedy vào nội các trong chức vụ Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ. Kennedy bị ám sát tại Dallas, Texas vào ngày 22 tháng 11 năm 1963, khiến cho quốc gia bị một cú sốc lớn.
==== Cao trào của chủ nghĩa tự do ====
Cao trào của chủ nghĩa tự do xảy ra vào giữa thập niên 1960 bởi sự thành công của tổng thống Lyndon B. Johnson (1963–69) nhận được sự ủng hộ của Quốc hội để thông qua các chương trình xã hội vĩ đại của ông. Chúng gồm có dân quyền, kết thúc tách ly chủng tộc, Chương trình bảo hiểm y tế, mở rộng phúc lợi, hỗ trợ liên bang dành cho giáo dục ở mọi cấp bậc, trợ giúp phát triển các chương trình về nghệ thuật và nhân văn, hoạt động vì môi trường, và một loạt các chương trình xóa đói giảm nghèo. Như các sử gia hiện thời đã giải thích như sau:
Dần dần, giới trí thức theo chủ nghĩa tự do đã phát họa ra một tầm nhìn mới với mục tiêu đạt được sự công bằng xã hội và kinh tế. Chủ nghĩa tự do vào đầu thập niên 1960 không biểu lộ tính chủ nghĩa cấp tiến, có chút ít thiên hướng làm sống lại "các cuộc thập tự chinh" thời New Deal để chống thế lực kinh tế tập trung, và không có ý định gây cảm xúc mạnh mẽ về giai cấp hay tái phân phối sự thịnh vượng hay tái tổ chức lại các cơ cấu chính quyền hiện hửu. Về mặt quốc tế, nó chống chủ nghĩa cộng sản một cách mạnh mẽ. Nó nhắm mục tiêu bảo vệ thế giới tự do, khuyến khích phát triển kinh tế trong nước, và muốn chắc rằng sự phong phú đạt được sẽ được phân phối một cách công bằng. Chương trình nghị sự của họ bị ảnh hưởng nhiều bởi thuyết kinh tế Keynes-hình dung rằng sự chi tiêu công cộng khổng lồ sẽ làm gia tăng sự phát triển kinh tế, như thế tạo ra nguồn vốn công để tài trợ các chương trình phúc lợi, nhà ở, y tế và giáo dục lớn hơn.
Johnson được tưởng thưởng bằng chiến thắng vẻ vang trong cuộc tái đắc cử tổng thống vào năm 1964 trước đối thủ bảo thủ Barry Goldwater, phá vỡ sự kiểm soát Quốc hội của liên minh Bảo thủ kéo dài trong nhiều thập niên. Tuy nhiên, đảng Cộng hòa lấy lại thế cờ vào năm 1966 và đưa Richard Nixon đắc cử tổng thống vào năm 1968. Nixon phần nhiều tiếp tục các chương trình New Deal và xã hội vĩ đại mà ông kế thừa. Chủ nghĩa bảo thủ lại thắng thế với sự kiện Ronald Reagan được bầu làm tổng thống vào năm 1980. Trong khi đó, nhân dân Mỹ đã hoàn thành một cuộc di cư vĩ đại từ các nông trại vào trong các thành phố và trải qua một thời kỳ kinh tế phát triển kéo dài.
==== Phong trào dân quyền ====
Bắt đầu vào cuối thập niên 1950, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong chính quyền khắp nơi tại Hoa Kỳ, đặc biệt là tại miền Nam, ngày càng bị thách thức bởi phong trào dân quyền đang lên cao. Các nhà lãnh đạo người Mỹ gốc châu Phi như Rosa Parks và Martin Luther King, Jr. lãnh đạo cuộc tẩy chay xe buýt tại thành phố Montgomery, mở màn cho phong trào. Trong nhiều năm, người Mỹ gốc châu Phi phải đối mặt với bạo động chống lại họ nhưng họ đạt được những bước vĩ đại về công bằng xã hội qua các phán quyết của tối cao pháp viện trong đó có các vụ án như Brown đối đầu Ban Giáo dục và Loving đối đầu Virginia, Đạo luật Dân quyền 1964, Đạo luật Quyền đầu phiếu 1965, và Đạo luật Nhà ở Công bằng 1968 mà qua đó kết thúc luật Jim Crow từng hợp thức hóa tách ly chủng tộc giữa người da trắng và người da đen.
Martin Luther King, Jr., người từng giành giải Nobel Hòa bình vì những đóng góp của ông cho sự công bằng chủng tộc, bị ám sát vào năm 1968. Sau khi ông mất, những người khác tiếp tục lãnh đạo phong trào, nổi bật nhất là quả phụ của ông là Coretta Scott King. Bà cũng hoạt động chống Chiến tranh Việt Nam như chồng bà và có mặt trong phong trào giải phóng phụ nữ. Trong thời gian 9 tháng đầu của năm 1967, 128 thành phố Mỹ chịu đựng 164 vụ bạo loạn. Phong trào "Black Power" (sức mạnh người da đen) xuất hiện vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970. Thập niên này sau cùng mang lại kết quả tích cực về hướng hòa đồng chủng tộc, đặc biệt là trong các dịch vụ thuộc chính quyền, thể thao và giải trí. Người bản địa Mỹ quay sang tòa án để đòi quyền về đất đai của họ. Họ tổ chức các cuộc phản đối nhằm vạch rõ sự thất bại của chính phủ liên bang trong việc thi hành các hiệp ước. Một trong số các nhóm người bản địa Mỹ tích cực nhất là Phong trào Người bản địa Mỹ (AIM). Trong thập niên 1960, Cesar Chavez bắt đầu tổ chức các nhân công nông trại người Mỹ gốc Mexico có mức lương thấp tại California. Ông lãnh đạo một cuộc đình công của người hái nho kéo dài 5 năm. Sau đó, Chávez thành lập công đoàn nhân công nông trại thành công đầu tiên của quốc gia. Sau này nó trở thành liên đoàn Nhân công Nông trại Mỹ Thống nhất (UFW).
==== Phong trào phụ nữ ====
Một ý thức mới về sự bất bình đẳng của phụ nữ Mỹ bắt đầu lướt qua quốc gia với khởi đầu là sự kiện cuốn sách bán chạy nhất của Betty Friedan được xuất bản vào năm 1963. Cuốn sách có tựa đề The Feminine Mystique (huyền bí nữ giới) giải thích vì sao nhiều phụ nữ nội trợ cảm thấy bị cô lập và không toại nguyện, đã công kích nền văn hóa Mỹ vì nó đã tạo ra cái khái niệm rằng phụ nữ chỉ có thể tìm thấy sự toại nguyện qua vai trò làm vợ, làm mẹ và người gánh vác việc nhà, và cho rằng phụ nữ cũng có thể như nam giới làm được mọi thứ công việc. Năm 1966 Friedan và những người khác thành lập Tổ chức Phụ nữ Quốc gia (NOW) để hành động vì phụ nữ như NAACP đã làm cho người Mỹ gốc châu Phi.
Các cuộc phản đối bắt đầu. Phong trào Giải phóng Phụ nữ phát triển nhanh về số lượng và sức mạnh, giành được nhiều chú ý của giới truyền thông. Đến năm 1968, phong trào đã thay thế Phong trào Dân quyền trong vai trò là cuộc cách mạng xã hội chính của Hoa Kỳ. Các cuộc tuần hành, diễu hành, tựu tập phản đối, tẩy chay, và cắm biểu ngữ đã qui tựu hàng ngàn, đôi khi hàng triệu người tham gia. Phụ nữ đạt được số lượng đáng khích lệ trong các ngành nghề y tế, luật pháp, và thương nghiệp nhưng chỉ có một ít người được bầu vào các chức vụ dân cử. Tuy nhiên, phong trào bị tách thành các nhóm theo tư tưởng chính trị từ sớm (Tổ chức Phụ nữ Quốc gia theo tả phái, Liên đoàn Hành động vì Công bằng Phụ nữ theo hữu phái, Đảng Chính trị Phụ nữ Quốc gia trung phái, và các nhóm cấp tiến hơn được thành lập bởi những phụ nữ trẻ theo cực tả). Tu chính án Quyền công bằng được đề nghị vào Hiến pháp Hoa Kỳ được Quốc hội thông qua năm 1972 nhưng liên minh bảo thủ do Phyllis Schlafly lãnh đạo đã vận động toàn lực để đánh bại nó tại cấp bậc tiểu bang (một tu chính án phải được 2/3 số tiểu bang phê chuẩn trước khi có hiệu lực). Những người bảo thủ cho rằng tu chính án này làm xuống cấp địa vị nội trợ và làm cho phụ nữ trẻ dễ bị tuyển mộ thi hành quân dịch.
Tuy nhiên, nhiều luật liên bang, luật tiểu bang, các phán quyết của Tối cao Pháp viện đã tạo ra địa vị bình đẳng cho phụ nữ dưới luật pháp. Thói quen và ý thức xã hội bắt đầu thay đổi để chấp nhận quyền bình đẳng của phụ nữ. Vấn đề phá thai gây tranh cãi mà theo Tối cao Pháp viện là quyền cơ bản trong vụ án Roe đối đầu Wade (1973) vẫn còn là một điểm tranh luận cho đến nay.
==== Cách mạng phản văn hóa và Chính sách giảm căng thẳng thời Chiến tranh lạnh ====
Vào lúc Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ bước vào Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến ngày càng bị người Mỹ phản đối. Cuộc chiến này châm thêm lửa vào các phong trào xã hội đang tồn tại: phong trào phụ nữ, người thiểu số và giới trẻ. Các chương trình xã hội vĩ đại của Lyndon B. Johnson cùng với vô số các phán quyết của tối cao pháp viện đã giúp gia tăng tầm mức lớn rộng các cãi cách xã hội trong suốt thập niên 1960 và thập niên 1970. Chủ nghĩa nữ quyền và phong trào môi trường trở thành các lực lượng chính trị. Tiến triển vẫn tiếp tục về hướng dân quyến cho tất cả mọi người Mỹ. Cuộc cách mạng phản-văn hóa quét qua đất nước và phần lớn các quốc gia phương Tây trong cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, càng chia rẽ người Mỹ hơn trong một cuộc "chiến tranh văn hóa" nhưng cũng mang lại những quan điểm xã hội cởi mở và tự do hơn.
Đảng viên Cộng hòa Richard Nixon kế nhiệm Lyndon B. Johnson vào năm 1960. Nixon trao trách nhiệm chiến tranh cho các lực lượng Nam Việt Nam và kết thúc vai trò tác chiến của Mỹ. Ông thương thuyết Hiệp định Paris 1973, đạt được sự đồng ý về việc trao trả tù binh, và kết thúc cưỡng bách quân dịch. Chiến tranh làm thiệt mạng 58 ngàn binh sĩ Mỹ. Nixon tạo sự nghi kỵ ác liệt giữa Liên Xô và Trung Quốc để giành lợi thế cho Hoa Kỳ, đạt được sự giảm căng thẳng (được gọi là chiến lược "détente") với cả hai nước.
Vụ tai tiếng Watergate có dính líu đến việc Nixon che giấu vụ đột nhập của nhân viên dưới quyền vào tổng hành dinh của Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ nằm bên trong tòa nhà phức hợp Watergate, đã hủy hoại căn cứ địa chính trị của ông, khiến một số trợ tá vào tù, và buộc ông từ chức tổng thống vào ngày 9 tháng 8 năm 1974. Phó tổng thống Gerald Ford lên thay nhưng cuối cùng trở nên bất lực không ngăn chặn được sự sụp đổ của chính phủ Sài Gòn khi Bắc Việt xâm chiếm vào năm 1975 cũng như các chiến thắng của cộng sản tại các quốc gia lân bang là Campuchia và Lào trong cùng năm đó.
Sự kiên cấm vận dầu của OPEC đánh dấu một thời kỳ chuyển tiếp kéo dài vì, đây là lần đầu tiên, giá dầu mỏ đột ngột tăng cao. Các nhà máy sản xuất của Mỹ đối mặt với sự cạnh tranh khắc nghiệt từ hàng hóa tiêu thụ, điện tử, và xe hơi ngoại quốc. Đến cuối thập niên 1970 nền kinh tế trải qua một cuộc khủng hoảng năng lượng, tăng trưởng kinh tế chậm, thất nghiệp cao, và lạm phát rất cao đi kèm với tỉ lệ tính lời cao. Vì các kinh tế gia đồng ý về sự khôn ngoan của việc xóa bỏ luật lệ ràng buộc kinh tế nên nhiều luật lệ ràng buộc của thời New Deal bị chấm dứt, thí dụ như trong giao thông, ngân hàng và viễn thông.
Jimmy Carter, một người không thuộc một thành phần nào trong giới chính trị tại Washington, được bầu làm tổng thống vào năm 1976. Trên sân khấu thế giới, Carter làm trung gian cho Hòa ước Trại David giữa Israel và Ai Cập. Năm 1979, nhóm sinh viên Iran xông vào tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Tehran và bắt 66 người Mỹ làm con tin, gây ra khủng hoảng con tin Iran. Vì cuộc khủng hoảng con tin và sự trì trệ kinh tế kéo dài đi đôi với lạm phát khiến cho Carter thua bầu cử tổng thống năm 1980 về tay đảng viên Cộng hòa là Ronald Reagan. Ngày 20 tháng 1 năm 1981, vài phút sau khi nhiệm kỳ của Carter chấm dứt, những con tin Mỹ còn bị giam giữ trong tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Iran được phóng thích, kết thúc 444 ngày khủng hoảng con tin.
=== Khép lại thế kỷ 20 ===
Ronald Reagan đã tạo ra một sự thay đổi chính trị lớn lao qua hai lần thắng cử tổng thống vang dội vào năm 1980 và năm 1984. Các chính sách kinh tế của Reagan (được gọi là "Reaganomics") cùng với việc thi hành Đạo luật Cải cách Thuế và Phục hồi Kinh tế 1981 đã hạ thấp thuế thu nhập từ 70% xuống 28% trong khoảng thời gian 7 năm. Reagan tiếp tục giảm thiểu các luật lệ kiểm soát và thu thuế của chính phủ. Hoa Kỳ trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế ngắn hạn vào năm 1982 nhưng các chỉ số âm bị đảo ngược khi tỉ lệ lạm phát giảm từ 11% xuống còn 2%, tỉ lệ thất nghiệp giảm từ 10,8% vào tháng 12 năm 1982 xuống còn 7,5% vào tháng 11 năm 1984, và tỉ lệ phát triển kinh tế tăng từ 4,5% lên đến 7,2%.
Reagan ra lệnh tăng cường xây dựng lực lượng quân sự Hoa Kỳ, khiến tăng thêm sự thâm hụt ngân sách. Reagan giới thiệu một hệ thống phòng thủ tên lửa phức tạp, được biết với cái tên Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược (những người phản đối gán cho nó biệt danh là "Chiến tranh giữa các vì sao") mà theo lý thuyết Hoa Kỳ có thể bắn hạ các tên lửa bằng hệ thống tia laser đặt trong không gian. Mặc dù hệ thống này chưa bao giờ được phát triển toàn diện hay được triển khai nhưng Liên Xô đặc biệt quan tâm về sự hiệu quả có thể có của chương trình này và trở nên sẵn sàng hơn để thương thuyết.
Chính sách "quay ngược dần" của Reagan nhằm làm suy yếu các quốc gia cộng sản tại các vùng trọng yếu gồm có việc hỗ trợ và tài trợ bí mật cho các phong trào kháng chiến chống cộng sản trên toàn thế giới. Sự can thiệp của Reagan chống Grenada và Libya được sự ủng hộ tại Hoa Kỳ mặc dù sự hậu thuẫn của ông dành cho phiến quân Contra b5i sa vào vụ tai tiếng Iran–Contra mà qua dó biểu lộ kiểu cách quản lý kém cỏi của Reagan.
Reagan gặp nhà lãnh đạo Liên Xô là Mikhail Gorbachev bốn lần. Các hội nghị thượng đỉnh của họ dẫn đến việc ký kết Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân Tầm trung. Gorbachev cố tìm cách cứu chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô trước tiên bằng cách chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang quá tốn kém với Mỹ, sau đó là thu nhỏ đế quốc Đông Âu vào năm 1989. Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, kết thúc Chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.
Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất còn lại của thế giới và tiếp tục can thiệp vào các sự việc quốc tế trong thập niên 1990 trong đó có Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 chống Iraq. Sau khi được bầu làm tổng thống năm 1992, Bill Clinton tiếp quản một trong những thời kỳ kinh tế phát triển dài nhất và giá trị chứng khoán tăng vọt chưa từng có trước đây. Đây là phản ứng phụ của cuộc cách mạng số và các cơ hội làm ăn mới được tạo ra nhờ Internet. Ông cũng làm việc với Quốc hội Hoa Kỳ do đảng Cộng hòa kiểm soát để thông qua ngân sách liên bang quân bình (thu và chi ngang bằng nhau) lần đầu tiên trong vòng 30 năm.
Năm 1998, Clinton bị Hạ viện Hoa Kỳ luận tội với các cáo buộc nói dối về quan hệ tình dục với thực tập sinh tại Tòa Bạch Ốc là Monica Lewinsky nhưng sau đó được Thượng viện Hoa Kỳ tha bổng. Thất bại trong việc luận tội Clinton và đảng Dân chủ đạt thêm nhiều ghế tại Quốc hội trong cuộc bầu cử năm 1998 buộc chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich, một đảng viên Cộng hòa, từ chức khỏi Quốc hội.
Cuộc bầu cử tổng thống năm 2000 giữa George W. Bush và Al Gore là một trong số các cuộc bầu cử tổng thống khít khao nhất trong lịch sử Hoa Kỳ và giúp gieo mầm cho sự phân cực chính trị sắp tới. Cuộc bầu cử tại tiểu bang Florida có tính quyết định thì cực kỳ khít khao và gây ra một cuộc tranh chấp ngoạn mục về việc kiểm phiếu. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ phải can thiệp cuộc tranh chấp qua vụ Bush đối đầu Gore để kết thúc việc tái kiểm phiếu với kết quả 5–4. Điều đó có nghĩa Bush, lúc đó đang dẫn đầu, thắng cử Florida và cuộc bầu cử tổng thống.
== Thế kỷ 21 ==
=== Sự kiện 11 tháng 9 và chiến tranh chống khủng bố ===
Ngày 11 tháng 9 năm 2001, Hoa Kỳ bị một cuộc tấn công khủng bố khi 19 tên cướp máy bay thuộc nhóm chiến binh hồi giáo al-Qaeda cầm lái bốn máy bay hành khách và cố tình đâm vào hai tòa tháp của Trung tâm Thương mại Thế giới và vào Ngũ Giác Đài, giết chết gần 3.000 người, đa số là dân sự. Để trả đũa, ngày 20 tháng 9, tổng thống George W. Bush tuyên bố một cuộc "Chiến tranh chống khủng bố". Ngày 7 tháng 10 năm 2001, Hoa Kỳ và NATO xâm chiếm Afghanistan để lật đổ chế độ Taliban vì đã cung cấp nơi ẩn nấp cho nhóm chiến binh hồi giáo al-Qaeda và lãnh tụ của chúng là Osama bin Laden.
Chính phủ liên bang thiết lập mọi nỗ lực mới trong nước để ngăn chặn các vụ tấn công tương lai. Đạo luật Yêu nước Mỹ gây nhiều tranh cãi tạo điều kiện gia tăng quyền hạn của chính phủ để theo dõi thông tin liên lạc và tháo vỡ các hạn chế pháp lý về chia sẻ thông tin giữa các cơ quan tình báo và thi hành luật pháp liên bang. Một cơ quan cấp nội các, được gọi là bộ nội an được thành lập để lãnh đạo và điều hợp các hoạt động chống khủng bố của chính phủ liên bang. Một trong số các nỗ lực chống khủng bố này, đặc biệt là việc chính phủ liên quan cầm giữ các phạm nhân tại nhà tù tại vịnh Guantanamo, dẫn đến các cáo buộc rằng chính phủ liên bang vị phạm nhân quyền.
Năm 2003, Hoa Kỳ mở một cuộc tấn công xâm chiếm Iraq, dẫn đến sự sụp đổ của chính phủ Iraqi và sau cùng là việc bắt giữ nhà độc tài Saddam Hussein. Các lý do viện giải của chính phủ Bush về việc xâm chiếm Iraq gồm có truyền bá dân chủ, loại bỏ vũ khí hủy diệt hàng loạt (cũng là một đòi hỏi chính yếu của Liên Hiệp quốc mặc dù sau này các cuộc điều tra không tìm thấy dấu hiệu rằng các báo cáo tình báo là chính xác), và giải phóng nhân dân Iraq. Tuy có một số thành công ban đầu ngay đầu cuộc xâm chiếm nhưng cuộc chiến tranh Iraq kéo dài đã châm ngòi cho các cuộc phản đối quốc tế và dần dần sự ủng hộ cuộc chiến tranh này trong nước cũng xuống thấp khi nhiều người Mỹ bắt đầu đặt câu hỏi rằng liệu cuộc xâm chiếm này có đáng giá hay là không. Năm 2007, sau nhiều năm bạo động gây ra bởi phiến quân Iraq, tổng thống Bush triển khai thêm binh sĩ trong một chiến lược được mệnh danh là "tăng cường lực lượng]]." Mặc dù con số người thiệt mạng có giảm nhưng sự bình ổn chính trị của Iraq vẫn còn trong tình trạng đáng ngờ vực.
Năm 2008, sự mất ủng hộ của tổng thống Bush và chiến tranh Iraq cùng với cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đã dẫn đến sự kiện đắc cử tổng thống của Barack Obama, tổng thống người Mỹ gốc châu Phi đầu tiên của Hoa Kỳ.
Sau bầu cử, Obama miễn cưỡng tiếp tục tăng cường lực lượng khi đưa thêm 20.000 quân đến Irag cho đến khi Iraq được bình ổn. Sau đó ông chính thức kết thúc các cuộc hành quân tác chiến tại Iraq vào ngày 31 tháng 8 năm 2010 nhưng vẫn giữ 50.000 tại Iraq để hỗ trợ cho các lực lượng Iraq, giúp bảo vệ các lực lượng Mỹ đang rút quân, và tiến hành chống khủng bố. Ngày 15 tháng 12 năm 2011, cuộc chiến được chính thức tuyên bố kết thúc và các binh sĩ cuối cùng rời Iraq. Cùng lúc đó, Obama gia tăng sự dính líu của người Mỹ tại Afghanistan, bắt đầu một chiến lược tăng cường lực lượng với thêm 30.000 quân trong lúc đó đề nghị bắt đầu rút quân vào một thời điểm sau đó. Vì vấn đề vịnh Guantanamo, tổng thống Obama cấm tra tấn nhưng về tổng thể vẫn tiếp tục chính sách của Bush về tù nhân tại nhà tù vịnh Guantanamo trong khi đó cũng đề nghị rằng nhà tù sẽ từ từ bị đóng cửa.
Tháng 5 năm 2011, sau gần một thập niên lẩn trốn, người thành lập đồng thời là lãnh tụ Al Qaeda, Osama bin Laden, bị giết chết tại Pakistan trong một vụ đột kích do lực lượng đặc biệt Hải quân Hoa Kỳ tiến hành theo lệnh trực tiếp từ tổng thống Obama. Trong khi Al Qaeda gần như sụp đổ tại Afghanistan, các tổ chức có liên quan đến nó vẫn tiếp tục hoạt động tại Yemen và các khu vực hẻo lánh khác. Để đối phó với các hoạt động này, CIA sử dụng các phi cơ không người lái để tìm và diệt giới lãnh đạo các nhóm này.
=== Đại suy thoái và các sự kiện vừa qua ===
Tháng 12 năm 2007, Hoa Kỳ và phần lớn châu Âu bước vào một cuộc khủng hoảng kinh tế dài nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thường được gọi là "Đại suy thoái." Nhiều cuộc khủng hoảng chồng lấn nhau xảy ra, đặc biệt là cuộc khủng hoảng thị trường nhà ở gây ra bởi cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp, giá dầu lửa lên cao tạo ra cuộc khủng hoảng công nghiệp xe hơi, thất nghiệp lên cao, và cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ đại khủng hoảng. Khủng hoảng tài chính đe dọa sự ổn định của toàn nền kinh tế vào tháng 9 năm 2008 khi Lehman Brothers sụp đổ và các ngân hàng khổng lồ khác lâm vào tình trạng nguy kịch. Bắt đầu vào tháng 10, chính phủ liên bang cho các cơ sở tài chính vai mượn 245 tỉ đô la qua Chương trình Cứu trợ Tài sản Nguy kịch which was passed by bipartisan majorities and signed by Bush.
Khi cuộc suy thoái càng tồi tệ, Barack Obama - tranh cử với lập trường mang đến sự thay đổi và chống lại các chính sách không thuận lòng dân của đương kim tổng thống Bush - được bầu làm tổng thống nhờ sự giúp đỡ của liên minh gồm các cử tri gồm tỉ lệ đông đảo người Mỹ gốc Phi, nhóm người nói tiếng Tây Ban Nha, người Mỹ gốc châu Á, phụ nữ và cử tri thuộc giới trẻ cũng như các cử tri truyền thống của đảng Dân chủ. Ông tái đắc cử tổng thống năm 2012 với sự ủng hộ một liên minh cử tri tương tự khi đồ thị nhân khẩu học cũng cho thấy rằng nền tảng ủng hộ của đảng Cộng hòa đang già nua và thu hẹp lại. Số cử tri người nói tiếng Tây Ban Nha và người Mỹ gốc châu Á đang phát triển nhanh chóng và ngày càng dịch chuyển sự ủng hộ của họ cho liên minh đảng Dân chủ.
Ngay sau khi nhậm chức tổng thống vào tháng 1 năm 2009, Obama ký thành luật Đạo luật Tái đầu tư và Phục hồi Kinh tế Mỹ 2009. Đây là gói kích thích kinh tế $787 tỷ đô la nhằm giúp nền kinh tế phục hồi khỏi cuộc suy thoái sâu. Obama, như Bush, từng bước cứu nguy ngành công nghiệp xe hơi và ngăn chặn sự suy thoái kinh tế trong tương lai. Các bước này gồm có việc giải cứu tài chính cho General Motors và Chrysler: đặt các công ty này dưới quyền sở hữu tạm thời của chính phủ liên bang, tiến hành chương trình "đổi xe tồi tàn lấy tiền mặt" để tạm thời giúp tăng số lượng bán xe mới. The recession officially ended in June 2009, and the economy slowly began to expand once again since then.
Ngoài việc đối phó với khủng hoảng kinh tế, Quốc hội Hoa Kỳ lần thứ 111 thông qua các đạo luật lớn như Đạo luật Bảo hiểm Y tế Đại chúng và Bảo vệ Bệnh nhân, Đạo luật Bảo vệ Giới tiêu dùng và Cãi cách Phố Wall Dodd-Frank và Đạo luật Bãi bỏ Chính sách Đứng hỏi, Đừng kể (ghi chú dịch thuật: người đồng tính giờ đây có thể công khai giới tính khi phục vụ quân đội mà không phải giấu giếm dưới chính sách "đừng hỏi" và "đừng kể" của quân đội trước đó). Tất cả các đạo luật này được tổng thống Obama ký thành luật. Sau bầu cử giữa kỳ vào năm 2010 mà trong đó đảng Cộng hòa kiểm soát được Hạ viện và đảng Dân chủ kiểm soát được Thượng viện, Quốc hội Hoa Kỳ trải qua một thời kỳ bế tắc cao độ và tranh cãi sôi động về vấn đề có nên hay không tăng trần nợ công, nới rộng thêm thời gia giảm thuế cho công dân có thu nhập trên 250.000 Đô la Mỹ một năm và nhiều vấn đề then chốt khác nữa. Các cuộc tranh cãi đang tiếp tục này dẫn đến việc tổng thống Obama ký Đạo luật Kiểm soát Ngân sách 2011 và Đạo luật Cứu trợ Người đóng thuế Mỹ 2012 - kết quả là việc cắt giảm tạm thời ngân sách có hiệu lực vào tháng 3 năm 2013 - cũng như tăng thuế, chủ yếu đánh vào người giàu. Hậu quả từ sự bất mãn của công chúng gia tăng đối với cả hai đảng tại Quốc hội trong thời kỳ này là tỉ lệ chấp thuận dành cho quốc hội rơi xuống mức trung bình 15% ủng hộ trong các cuộc thăm dò công chúng của viện Gallup từ năm 2012-13, đây là tỉ lệ thấp nhất được ghi nhận và dưới cả mức trung bình 33% tính từ năm 1974 đến 2013.
Các sự kiện khác xảy ra trong thập niên 2010 gồm có sự trỗi dậy của các phong trào chính trị mới khắp thế giới như phong trào Tiệc trà bảo thủ tại Hoa Kỳ và phong trào chiếm giữ quốc tế rất phổ biến. Cũng có thời tiết khắt nghiệt bất thường trong mùa hè năm 2012 khiến cho trên phân nửa nước Mỹ chịu đựng khô hạn kỷ lục. Bão Sandy gây thiệt hại khủng khiếp cho các khu vực duyên hải của New York và New Jersey vào cuối tháng 10. Cuộc tranh cãi về vấn đề quyền của người đồng tính, nổi bật nhất là vấn đề hôn nhân đồng tính, bắt đầu chuyển dịch theo hướng có lợi cho các cặp đôi đồng tính. Điều này đã được phản ánh trong hàng tá các cuộc thăm dò công luận được công bố vào giai đoạn đầu của thập niên,
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Khái quát về lịch sử nước Mỹ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ |
từ thiện.txt | Từ thiện là một hành động trợ giúp người yếu kém. Hoạt động từ thiện có thể thông qua hình thức quyên góp, hiến tặng bằng tiền, vật phẩm, thời gian hay là cứu trợ nhân đạo, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe hay là những hành động trợ giúp tinh thần như an ủi. Từ thiện có thể là hành động của cá nhân hay là một tập thể, cộng đồng, thông qua các Tổ chức từ thiện.
Từ thiện là một từ Hán Việt. Theo từ điển Hán Việt Thiều Chửu, từ thiện (慈善) là kết hợp giữa hai từ Từ (thương yêu, như là nhân từ (thương người), từ tâm (lòng thương)) và Thiện (tốt lành). Vậy từ thiện có nghĩa là làm việc tốt từ lòng yêu thương (người). Những hành vi, việc làm tốt mà không xuất phát từ lòng thương thì không được gọi là 'Từ Thiện'.
Từ xưa, từ thiện được xem là căn bản của đạo đức và tình nhân đạo cũng như là một đức tính hay là đức hạnh cần thiết trong nhiều tôn giáo. Trong Kitô giáo, Do Thái giáo, Phật giáo và Hồi giáo, các giáo dân được khuyến khích thực hiện việc này.
== Đặc điểm ==
Vì việc từ thiện thường là một việc tự nguyện, nên không có những nguyên tắc bắt buộc nào. Tuy nhiên, theo quan điểm chung là từ thiện là hành vi giúp người nhưng không phải tất cả hành động giúp người nào cũng được gọi là từ thiện. Từ thiện thường phải đi chung với bất vụ lợi (làm không vì lợi ích riêng) và thiện nguyện (tự nguyện làm vì điều tốt).
Các tôn giáo có những luật hay là hướng dẫn cụ thể cho giáo dân về hình thức hiến tặng, để đạt kết quả tốt nhất cho người cho và người nhận (đọc ở dưới).
Tại Hoa Kỳ có một hệ thống phát triển cao của các tổ chức từ thiện.
Quyên góp từ thiện đóng một vai trò quan trọng để trợ giúp người yếu kém và có nhu cầu, bên cạnh hệ thống phúc lợi công cộng do nhà nước tổ chức. Trong nhiều xã hội, các tổ chức từ thiện đã và đang là hình thức duy nhất giúp xóa đói giảm nghèo.
== Trong tôn giáo ==
=== Kitô giáo ===
Trong Kitô giáo, bác ái là một nguyên tắc quan trọng (bác ái 博愛 = lòng yêu thương rộng khắp mọi người). Một trong những giới răn quan trọng nhất mà Chúa Giê Su dạy là: "Ngươi hãy yêu người gần gũi như chính mình". Thánh vịnh có câu "Phước cho người nào quan tâm đến kẻ yếu đau khốn khổ. Chúa sẽ giải cứu người ấy trong ngày hoạn nạn." Trong bài giảng trên núi, Giê-Su cũng nhắc nhở "Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!" (Ma-thi-ơ 5:7). Dụ ngôn người Samari nhân lành cũng là lời Chúa thí dụ cho việc cần thiết phải cứu trợ người khác.
Kinh Thánh có rất nhiều đoạn nhấn mạnh đến nghĩa vụ cần thiết của việc san sẻ và đóng góp vì phúc lợi của người nghèo, bị khó khăn. Tân Ước có chép những tông đồ đầu tiên của Chúa Giê-Su đã san sẻ tài sản của mình cho nhau, và quyên góp giúp đỡ người bị thiên tai.
Theo quan điểm Công giáo, ngoài đặc điểm căn bản cần thiết, việc hiến tặng nên được trao với sự quan tâm chất lượng để thu được kết quả tốt cho người cho và người nhận. Do đó, hiến tặng nên thận trọng, trực tiếp để xứng đáng đến tay cá nhân hoặc gia đình (Thessalonians 3:10; Huấn Ca 00:04) xứng đáng; nhanh chóng, để đảm bảo thuận lợi nhất (Châm ngôn 03:28); bí mật và khiêm nhường (Mt 06:02); vui vẻ (2 Cor 9:7); phong phú (Tobit 4:9).
=== Phật giáo ===
Theo Ba-la-mật-đa, trong quá trình tu tập để trở thành bồ tát thì hạnh bố thí đứng đầu. Bố (布) = Phân tán, ban phát cho khắp nơi, cho hết; thí (施) = giúp, cho, nghĩa là đem tiền của và các thứ mình có mà cấp cho người khác. Trong Phật giáo Nguyên thủy, bố thí được xem là phương tiện để đối trị tính tham ái, ích kỷ và được thực hành để tránh khổ đau của đời sau. Theo Đại thừa, bố thí là biểu hiện của lòng Từ bi và là phương tiện để dẫn dắt chúng sinh đến giác ngộ.
Hành động bố thí thức ăn cho các vị Khất sĩ hiện nay vẫn còn phổ biến tại các nước theo Phật pháp Nam truyền. Phật tử tại các nước này cúng tặng tiền bạc và phẩm vật cho chùa chiền và tăng sĩ, ngược lại các vị tỉ-khâu "bố thí" Phật pháp, hướng dẫn tu học. Hành động này cũng được xem là để nuôi dưỡng phúc đức.
=== Do Thái giáo ===
Trong Do Thái giáo, việc từ thiện được xem là việc đúng, phải làm. tzedakah - một thuật ngữ tiếng Do Thái, thường được sử dụng để biểu lộ sự từ thiện, nhưng nguyên gốc có nghĩa là sự công bình - đề cập đến nghĩa vụ tôn giáo để làm những gì là đúng và hợp lý. Người Do Thái không thực hành từ thiện, nhân đạo và khái niệm này là hầu như không tồn tại trong truyền thống Do Thái. Thay vào đó, người Do Thái thực hành tzedakah, có nghĩa là "sự công chính" và "công lý". Người Do Thái khi đóng góp tiền bạc, thời gian và nguồn lực của mình để giúp cho những người nghèo, thì người đó không phải là nhân từ, hào phóng hay "làm từ thiện" mà người đó đang làm "việc đáng làm, phải làm" (công chính) đúng theo như đã chỉ dạy trong Torah (là phần luật của Kinh thánh Hebrew). Luật Torah yêu cầu 10% thu nhập của một người Do Thái phải được phân bổ cho "việc công bình", bất kể người nhận là giàu hay nghèo.
Nhà thần học Maimonides (thế kỷ 12), liệt kê Tám cấp độ của "sự công bình", như được viết trong Mishneh Torah, Hilkhot matanot aniyim ("Luật về Ban cho người nghèo"), Chương 10:7-14:
Cấp cao nhất: Cung cấp cho những người nghèo đủ khả năng để họ có thể tự sống độc lập (giúp để họ tự giúp mình). Thí dụ như cho vay không lãi suất cho một người có nhu cầu; hình thành một quan hệ đối tác lâu dài với một người có nhu cầu; cho một khoản trợ cấp cho người có nhu cầu; tìm kiếm một công việc cho một người có nhu cầu,...
Từ thiện trong một cách mà các nhà tài trợ, người cho và người nhận không biết nhau (nặc danh), thông qua một người (hoặc quỹ đại chúng) nào là đáng tin cậy, uy tín, và có thể thực hiện hành vi tzedakah với tiền của họ một cách hoàn hảo nhất.
Các ân nhân biết mình tặng ai, nhưng người nhận không biết danh tính của nhà tài trợ.
Người cho không biết danh tính của người nhận, nhưng người được nhận lại biết người nào cho (Cho tzedakah công khai đối với một người không rõ).
Tặng, trước khi được yêu cầu
Tặng, sau khi được yêu cầu.
Tuy rằng cho không đủ, nhưng tặng với sự vui vẻ, thân thiện.
Tặng cho, với sự không vui vẻ (cho miễn cưỡng)
=== Hồi giáo ===
Trong Hồi giáo việc này được gọi là Zakat, và là một trong năm trụ cột chính của Hồi giáo, theo đó, giáo dân được khuyến khích tặng ít nhất 2,5% phần thu nhập mỗi năm của mình cho người khác.
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Tổ chức từ thiện
Nhân đạo
Ngày Quốc tế Từ thiện
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Những vấn đề cần lưu ý khi bạn làm từ thiện
Bobby Smile: từ thiện chính là một nghĩa cử đẹp
Catholic Encyclopedia "Charity and Charities"
Concept of Charity in Islam
Jewish Encyclopedia "Alms"
Roberts, Russell (2008). “Charity”. Trong David R. Henderson (ed.). Concise Encyclopedia of Economics (ấn bản 2). Indianapolis: Library of Economics and Liberty. ISBN 978-0865976658. OCLC 237794267. |
iphone 4s.txt | iPhone 4S là một điện thoại thông minh màn hình cảm ứng được phát triển bởi Apple Inc là thế hệ thứ năm của iPhone. Nó giữ lại thiết kế bên ngoài của iPhone 4, nhưng là chủ một loạt các chi tiết kỹ thuật phần cứng được cải thiện và cập nhật phần mềm so với mô hình trước đó. Thay đổi tích hợp phần mềm và phần cứng hỗ trợ việc giới thiệu giao diện người dùng mới và các chức năng của Apple. Điểm nổi bật bao gồm một trợ lý nhận dạng giọng nói được gọi là Siri, máy tính cá nhân độc lập, nguồn dữ liệu điện toán đám mây, và một hệ thống camera được cải thiện.
IPhone 4S chủ yếu là một sự kết hợp của một máy tính cầm tay, điện thoại di động, GPS, camera video kỹ thuật số và máy nghe nhạc vào một thiết bị, được hỗ trợ bởi một pin lithium-ion có thể sạc lại. Nó được hỗ trợ bởi một cơ sở hạ tầng trực tuyến, nơi mà phương tiện truyền thông và các ứng dụng thứ cấp có thể được mua để chạy trên thiết bị, do đó mở rộng khả năng của mình.
Sau khi được công bố vào ngày 4 tháng 10 năm 2011 trong sự kiện của Apple "Hãy của Talk iPhone" sự kiện ở Cupertino, California, Apple có tung ra thị trường iPhone 4S vào ngày 14 tháng 10 năm 2011, tại Hoa Kỳ, Canada, Úc, Vương quốc Anh, Pháp, Đức, và Nhật Bản. Lần đầu tiên, nó cũng sẽ có sẵn cho khách hàng của Sprint.
Đây là thiết bị của Apple cuối cùng được nâng cấp / giới thiệu trước cái chết của cựu CEO của Apple Steve Jobs.
== Điện thoại đắt nhất thế giới ==
Điện thoại iPhone 4S đã được độ bởi nghệ nhân người Liverpool Stuart Hughes sử dụng vàng hoa hồng và kim cương với số lượng hạn chế (2 chiếc), giá thành 6 triệu bảng Anh.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Apple - Introducing Siri Youtube Video
iPhone 4S review at Techcrunch |
cnn.txt | Cable News Network (tiếng Anh, viết tắt CNN; dịch là "Mạng Tin tức Truyền hình cáp") là một mạng truyền hình cáp tại Hoa Kỳ được thành lập năm 1980 bởi Ted Turner và là một nhánh của Turner Broadcasting System, sở hữu bởi Time Warner. CNN phát sóng các chương trình tin tức 24 giờ một ngày và 7 ngày trong tuần. Vì có nhiều đài truyền hình dịch vụ nên tin tức của CNN được cập nhật liên tục về các lĩnh vực nóng hổi trên toàn thế giới. Trụ sở chính của CNN đặt tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, Time Warner Center ở New York và phòng thâu ở Washington, DC. Ngày 1 tháng 6 năm 2005, CNN kỷ niệm 25 năm ngày thành lập. Tháng 12 năm 2004, CNN đã có 88,2 triệu gia đình người Mỹ sử dụng và 890 nghìn thuê bao văn phòng khách sạn; CNN đã có mặt trên 212 nước và có 1,5 tỷ người sử dụng. Mạng lưới tin tức của CNN rộng khắp trên thế giới và hoạt động 24/7 với tất cả thiết bị và kỹ thuật hiện đại nhất.
== Quản lý ==
Tổng giám đốc đài CNN hiện nay là ông Jonathan Klein mới được bổ nhiệm tháng 11 năm 2004.
== Lịch sử ==
Từ khi CNN khai trương 1 tháng 6 năm 1980, hệ thống mạng lưới được mở rộng và đạt được một số lượng truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh (như bản tin chính CNN), 12 trang web, 2 hệ thống mạng lưới riêng (hệ thống mạng lưới sân bay CNN), 2 hệ thống mạng radio. Mạng lưới có 42 văn phòng giao dịch khắp thế giới và hơn 900 chi nhánh hội viên toàn cầu. CNN mở rộng ảnh hưởng tới nhiều vùng và nhiều ngôn ngữ khắp thế giới, trang web tin tức là CNN.com, sau đó được quy tụ vào là CNN ngày 30 tháng 8 năm 1995.
CNN trở nên nổi tiếng và được cho là kênh tin tức hàng đầu thế giới khi xảy ra Sự kiện 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, bởi CNN đã ghi được những hình ảnh máy bay bị khủng bố lái đâm vào tòa tháp đôi (Trung tâm Thương mại Thế giới) và hơn nữa là trong chiến tranh Iraq. Những thông tin, video được truyền về liên tục và đều cung cấp cho cả thế giới. CNN đã từng nhiều lần truyền hình trực tiếp trận đánh giữa quân đội Mỹ và quân đội Iraq.
== Có chiến lược toàn diện về việc truyền phát tin tức ==
Với đặc điểm là một kênh truyền hình chuyên về tin tức, CNN luôn có những bản tin kịp thời nhất với những tin tức thời sự nóng bỏng nhất. Không những thế, với những vấn đề thời sự nóng bỏng, CNN luôn có những chương trình bình luận, trao đổi sâu hơn về vấn đề đó. Hiện nay, CNN có khoảng 24 trạm phóng viên thường trú ở nước ngoài và 9 trạm phóng viên thường trú ở trong nước luôn sẵn sàng đi về những "điểm nóng" của tin tức để kịp thời đưa tin. Việc sắp xếp các chương trình trên kênh CNN luôn tuân theo một nguyên tắc: lấy tin tức làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt và bình luận tin tức là điểm nhấn. Chính vì vậy mà khán giả của CNN không những được nghe, xem tin tức mà còn được tìm hiểu về tin tức bằng những bình luận khác nhau của các chuyên gia có uy tín trong làng truyền thông thế giới.
== Tận dụng tin tức để kiếm tiền ==
CNN đã tự đặt cho mình một danh xưng rất độc đáo, đó là "một trong những công ty kinh doanh tin tức lớn nhất và có hiệu quả nhất trên toàn thế giới". Và trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, CNN đã làm được điều đó. Hiện nay, CNN đã trở thành nhà cung cấp tin tức cho hơn 200 đài phát thanh và truyền hình trên thế giới, dưới trướng của CNN cũng có tới hơn 600 đài truyền hình trực thuộc khác nhau. CNN đã khéo léo biến tin tức thành những sản phẩm khác nhau rồi kinh doanh nguồn tin tức đó trên toàn thế giới, cung cấp tới cả những ngành nghề và mọi lĩnh vực khác nhau. Chỉ riêng năm 2000, CNN đã thu về 1,4 tỉ USD từ tin tức. Con số đó đã cho thấy CNN thịnh vượng lên nhờ ngành kinh doanh này.
== Phân bố chương trình thể hiện cá tính riêng ==
Xét một cách tổng quan, việc phân bố chương trình của CNN đã thể hiện được vị trí và cá tính đặc biệt của kênh truyền hình tin tức này. Dường như với bất cứ một thể loại chương trình nào, CNN cũng luôn cố gắng biên tập sao cho chương trình trở nên hoàn hảo nhất. Phạm vi đề cập của mỗi bản tin thời sự ở đây thường rất rộng lớn, nó không chỉ bó hẹp ở tình hình nước Mỹ mà còn phản ánh tình hình thế giới một cách rất kịp thời. Tất cả những lĩnh vực như tài chính, thể thao, thời tiết, pháp luật, khoa học giáo dục, sức khoẻ… đều được CNN đề cập tới. Xen kẽ những chương trình đó luôn là một thời lượng thích hợp cho quảng cáo - một trong những nguồn thu lớn nữa của CNN. Người Trung Quốc xưa đã có bí quyết dưỡng sinh thế này: "Một ngày nên ăn làm nhiều bữa, mỗi bữa chỉ nên ăn một ít". CNN đã rất thành công khi áp dụng bí quyết này trong việc đưa tin. Mỗi bản tin của CNN thường không quá nhiều về nội dung nhưng tần suất phát sóng lại rất cao, điều này luôn mang lại cho khán giả một cảm giác tiết tấu mạnh và họ thực sự cảm thấy rằng "tin tức luôn bên cạnh bạn" đúng như phương châm của CNN.
Một đặc điểm rất thú vị nữa của CNN đó là bản tin dự báo thời tiết được chia làm nhiều phần nhỏ, đan xen giữa các bản tin thời sự, người dẫn chương trình thời sự thậm chí còn có thể trò chuyện với MC của bản tin thời tiết. Điều này rất hiếm gặp ở các đài truyền hình khác, đặc biệt là các đài truyền hình của châu Á. Trên màn hình của CNN, khán giả rất khó để bắt gặp một người dẫn chương trình thời sự quá nghiêm túc, máy móc mà thay vào đó là hình ảnh những người dẫn chương trình tự nhiên, thoải mái, hài hước và rất thông minh. Đó cũng chính là một trong những bí quyết dẫn tới thành công của "anh chàng khổng lồ" trong giới truyền thông thế giới này.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của CNN
CNN Thế giới |
búa.txt | Búa là dụng cụ để tạo sức va chạm cho vật khác. Búa thường được xài nhiều nhất về vấn đề đóng Đinh, rèn vũ khí và đập gãy vật dụng. Búa thường được thiết kế với những mục đích riêng biệt và kích thước, công năng. Búa thường cầm vừa khít với tay, đầu búa là phần nặng nhất. Búa cơ bản được thiết kế để dùng linh hoạt với tay, nhưng cũng có những máy móc hiện đại có chức năng dùng cho vật nặng hơn.
Búa có thế là dụng cụ lâu tuổi nhất được phát hiện. Búa đá được biết xuất hiện đầu tiên vào năm 2.600.000 trước công nguyên.
Búa là dụng cụ căn bản của nhiều nghề nghiệp khác nhau. Búa còn được sử dụng thiết kế để nén một lực từ caplock mechanism của Súng ngắn.
== Lịch sử ==
Sự sử dụng các vật dụng thô sơ được biết vào khoảng năm 2.400.000 trước công nguyên với nhiều hình dạng khác nhau được sử dụng để đập, chặt gỗ, xương, hoặc làm bẻ các loại đá khác và tạo thành vật dụng. Cục đá được dính với cây gỗ được bao bọc bằng da hoặc lông thú được sử dụng để làm thành cây búa vào năm 30.000 trước công nguyên là thời kỳ chính giữa của Thời đại đồ đá cũ. Nó được các nhà Khảo cổ học tra cứu và phát hiện búa có lẽ là vật dụng được sử dụng sớm nhất của loài người.
== Chú thích == |
người mẫu quảng cáo.txt | Người mẫu quảng cáo hay còn gọi là promotion Model, promotion girl (PG)/nhân sự nữ hay PB (promotion boy - nhân sự nam) hay show girl là những người mẫu, nhân viên quảng cáo, tiếp thị, lễ tân thực hiện các dịch vụ quảng cáo trực tiếp cho một sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu, bằng cách trực tiếp tương tác với người tiêu dùng tiềm năng.
Một phần lớn những người mẫu làm quảng cáo là phụ nữ và thường được thiết kế, ăn bận hấp dẫn về ngoại hình ở mặt áo quần, son phấn.... Họ cung cấp thông tin về sản phẩm hoặc dịch vụ với nhiệm vụ là đại diện hình ảnh cho các sản phẩm.
== Công việc ==
Người mẫu quảng cáo làm việc theo hai cách thức là cố định (những người đứng tại quầy bán hàng để giới thiệu sản phẩm cho khách) và lưu động (nhận sự kiện theo ca, làm việc tại các lễ khai trương, khánh thành hoặc phát tờ rơi, diễu hành quảng bá sản phẩm). Họ có thể xuất hiện mọi nơi khi có yêu cầu về nhân viên hỗ trợ tại lễ khánh thành, khai trương, ngày kỷ niệm, hội thảo, cuộc họp... cho đến chương trình ra mắt sản phẩm mới, tất niên, tiệc sinh nhật, chụp hình, buổi diễn thời trang, nhân viên trực điện thoại... Các vị trí mà một người mẫu quảng cáo có thể làm là chụp hình, quảng bá sản phẩm, hội thảo, diễu hành trên đường phố (roadshow), mời quảng cáo, tài trợ, ký kết hợp đồng,...
Người mẫu quảng cáo cần có lợi thế về chiều cao, đôi chân dài, số đo ba vòng cơ thể cân đối cùng với một khuôn mặt đẹp, cách ăn mặc thời trang để đi lại trong sự kiện. Người mẫu quảng cáo thường mặc đồng phục hấp dẫn, đôi chân cứng cáp để đứng liên tục trong nhiều giờ đồng hồ mà miệng vẫn nói chào, tươi cười, nhắc tên sản phẩm liên tục khi có người lắng nghe.
Một số PG là sinh viên muốn có việc làm thêm, sinh viên mới ra trường hoặc đang hoạt động trong các ngành nghề liên quan tới nghệ thuật. Mục đích chung là muốn có thêm thu nhập và được cọ xát với thực tế. Khi làm việc, họ phải có ý thức làm việc tập thể, rèn một tinh thần vững vàng và trau dồi kiến thức không ngừng.
Ngoài ra, để thực hiện thành công các thương vụ, một số người mẫu quảng cáo phải liên tục đi giao tế và dự tiệc. Họ có thể phải đối mặt với các cám dỗ như trở thành nhân tình của những người giàu có để được tặng tiền và những món quà đắt tiền.
== Ở Việt Nam ==
Ở Việt Nam, PG là một trong những công việc bán thời gian của nhiều người trẻ tuổi. Thu nhập cao, dễ tìm kiếm được những mối quan hệ, không bị bó hẹp về thời gian, luôn được thay đổi môi trường làm việc, luôn xuất hiện trước đám đông với vẻ ngoài xinh đẹp,... là những yếu tố thu hút họ đến với nghề. Họ kiếm được khá nhiều tiền và được thoải mái mua sắm trang phục, điện thoại, dù vẫn có dư luận đàm tiếu. Có những trường hợp sa vào tệ nạn xã hội như trở thành gái mại dâm.
Ngoài ra, làm nghề PG ở Việt Nam cũng đối mặt với nhiều nguy cơ như thường xuyên bị nợ tiền, ăn chặn thù lao, đặc biệt là bị quấy rối tình dục ở những mức độ khác nhau như: kẻ quấy rối bằng ánh mắt, lời nói, có người lại quấy rối bằng cách sàm sỡ, đụng chạm cơ thể. Nhiều khách say rượu không làm chủ được mình trước các người mẫu nhưng cũng có người không say mà cố tình mượn rượu để quấy rối tình dục các người mẫu quảng cáo.
== Người mẫu nổi tiếng ==
Bà Silvia Sommerlath, bây giờ là nữ hoàng của Thụy Điển, làm việc vào thế vận hội mùa hè năm 1972 tại München như là một người mẫu tiếp tân và nhờ đó làm quen được chồng của bà sau này, tức vua Carl XVI Gustaf của Thụy Điển.
== Công ty PG ==
Công ty PG là một dạng công ty chuyên cung cấp về nhân sự hay môi giới nhân sự. Những công ty PG có nhiệm vụ tìm kiếm những gương mặt xinh đẹp, ngoại hình ưa nhìn và tìm kiếm khách hàng có nhu cầu thuê PG.
== Tham khảo ==
Nhục nhằn phận PG bị quấy rối tình dục |
phát triển.txt | Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự sự vật. Quá trình trình vận động đó đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn.
== Chú thích == |
hàn thuyên.txt | Hàn Thuyên (1229-?)(chữ Hán: 韓詮), tên thật là Nguyễn Thuyên (阮詮), làm tới chức Thượng thư Bộ Hình dưới thời Trần Nhân Tông.
Ông là người làng Lai Hạ, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, nay là xã Lai Hạ, huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1247.
Đại Việt sử ký toàn thư chép:
Mùa thu năm Nhâm Ngọ 1282, khi quân Nguyên đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ 2; bấy giờ có cá sấu đến sông Hồng. Vua sai Thuyên làm văn ném xuống sông, con cá sấu tự nhiên đi mất. Vua xem việc này giống như việc Hàn Dũ (đời nhà Đường - Trung Quốc), cho đổi họ là Hàn Thuyên.
Hàn Thuyên giỏi thơ Nôm. Ông được xem là người phát triển, phổ biến chữ Nôm của Việt Nam. Ông là người đầu tiên dùng luật thơ Đường vào thơ Nôm, nên đời sau gọi thơ Nôm theo Đường luật là Hàn luật.
== Vinh danh ==
Tên của ông được đặt cho nhiều trường học; đường phố ở thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Hới cùng nhiều thành phố khác ở Việt Nam.
== Tham khảo == |
17 tháng 8.txt | Ngày 17 tháng 8 là ngày thứ 229 (230 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 136 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1798 – Đức Mẹ Maria được các tín hữu Công giáo Việt Nam tin rằng hiện ra tại Quảng Trị, sự kiện được gọi là Đức Mẹ La Vang.
1870 – Trong Chiến tranh Pháp-Phổ, quân đội Phổ cùng đồng minh bắt đầu cuộc vây hãm pháo đài Toul của Pháp.
1914 – Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, quân Nga bị quân Đức đẩy lui trong Trận Stallupönen.
1945 – Tiểu thuyết Trại súc vật của George Orwell được xuất bản lần đầu tiên, tác phẩm có nội dung chỉ trích Liên Xô dưới thời Stalin.
1998 – Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton thú nhận rằng ông có một "quan hệ thân thể không phù hợp" với thực tập sinh Nhà Trắng Monica Lewinsky, và "lừa dối nhân dân" về mối quan hệ.
2001 - Giám mục Giuse Vũ Duy Thống được tấn phong tại Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn.
2007 – Chính phủ Việt Nam cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho giáo hội Minh Sư Đạo.
2015 – Một quả bom phát nổ trong Đền Erawan tại Bangkok, Thái Lan, giết chết 20 người và làm bị thương 125 người.
== Sinh ==
1441 - Lương Thế Vinh, Trạng nguyên, nhà toán học, Phật học, nhà thơ người Việt (m. 1496).
== Mất ==
1848: Jöns Jacob Berzelius, nhà bác học người Thụy Điển (s. 1779).
1786: Friedrich II Đại Đế, Vua nước Phổ (s. năm 1712)
2010: Cư Hòa Vần (s. 1935) là một trí thức người đồng bào dân tộc H'Mông; nguyên là Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Việt Nam.
2013: Tôma Nguyễn Văn Tân, giám mục Giáo phận Vĩnh Long và Giuse Hoàng Văn Tiệm, giám mục Giáo phận Bùi Chu cùng qua đời vì nhồi máu cơ tim
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
nouakchott.txt | Nouakchott (tiếng Ả Rập: نواكشوط Nuwākshūṭ, xuất phát từ ngôn ngữ Berber Nawākšūṭ, "nơi của những cơn gió") là thủ đô và thành phố lớn nhất của Mauritanie. Đây là một trong những thành phố lớn nhất tại Sahara, và là trung tâm hành chính và kinh tế của Mauritanie.
Nouakchott từng là một làng nhỏ ít quan trọng cho tới năm 1958, khi nó được chọn làm thủ đô của đất nước mới độc lập Mauritanie. Nó được thiết kế và xây dựng để làm nơi cư ngụ của 15.000 người. Hạn hán và sự gia tăng sa mạc hóa từ thập niên 1970 khiến nhiều người Mauritanie đến tái định cư tại Nouakchott. Điều này đã dẫn đến sự tăng tưởng đô thị ồ ạt và quá đông đúc dân cư, với dân số thành phố là gần một triệu người năm 2013. Đa số dân cư sống tại những khu ổ chuột với điều kiện sống thiếu thốn, dù đã được cải thiện một phần.
Thành phố là trung dân kinh tế của Mauritanie, với một cảng và một trong hai sân bay quốc tế của đất nước. Đại học Nouakchott và nhiều học viện khác cũng hiện diện tại đây.
== Tham khảo == |
duy tân.txt | Duy Tân (chữ Hán: 維新; 19 tháng 9 năm 1900 – 26 tháng 12 năm 1945), tên khai sinh là Nguyễn Phúc Vĩnh San (阮福永珊), là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Nguyễn, ở ngôi từ năm 1907 đến năm 1916), sau vua Thành Thái.
Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông dần dần khẳng định thái độ bất hợp tác với Pháp. Năm 1916, lúc ở Âu châu có cuộc Đại chiến, ông bí mật liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam Quang Phục Hội như Thái Phiên, Trần Cao Vân, ông dự định khởi nghĩa. Dự định thất bại và Duy Tân bị bắt ngày 6 tháng 5 và đến ngày 3 tháng 11 năm 1916 ông bị đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.
Trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945) ông gia nhập quân Đồng Minh chống phát xít Đức. Ngày 26 tháng 12 năm 1945, ông mất vì tai nạn máy bay ở Cộng hoà Trung Phi, hưởng dương 45 tuổi.
Ngày 24 tháng 4 năm 1987, thi hài ông được đưa từ đảo Réunion về Việt Nam, rồi đưa về an táng tại Lăng Dục Đức, Huế cạnh lăng mộ vua cha Thành Thái. Ông không có miếu hiệu.
== Xuất thân ==
Vua Duy Tân tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San (阮福永珊), còn có tên là Nguyễn Phúc Hoàng (阮福晃) sinh ngày 26 tháng 8 năm Canh Tý, tức 19 tháng 9 năm 1900[2] tại Huế. Ông là con thứ 8 của vua Thành Thái và bà hoàng phi Nguyễn Thị Định.
Vua Thành Thái có nhiều con trai, đáng lẽ phải chọn người con trưởng kế vị, nhưng người Pháp sợ một vị vua trưởng thành khó sai khiến nên họ muốn tìm chọn một người nhỏ tuổi. Khi Khâm sứ Fernand Ernest Lévecque cầm danh sách các hoàng tử con vua Thành Thái vào hoàng cung chọn vua, lúc điểm danh thì thiếu mất Vĩnh San. Triều đình cho người đi tìm thì thấy Vĩnh San đang chơi đùa, mặt mày lem luốc. Không kịp đưa về nhà tắm rửa, Vĩnh San ra trình diện quan Pháp. Người Pháp trông thấy đồng ý ngay vì họ thấy Vĩnh San có vẻ nhút nhát và đần độn. Triều đình thấy vua quá nhỏ nên xin tăng thêm một tuổi thành 8. Họ cũng đặt niên hiệu cho Vĩnh San là Duy Tân, như muốn hướng tới sự nghiệp không thành của vua Thành Thái.
== Trị vì ==
=== Lên ngôi ===
Ngày 5 tháng 9 năm 1907, Vĩnh San lên ngôi lấy niên hiệu là Duy Tân. Và chỉ một ngày sau lễ đăng cơ, Duy Tân đã đổi khác. Một nhà báo Pháp đã thuật lại:
"...Un jour de trône a complètement changé la figure d'un enfant de 8 ans" (Một ngày lên ngai vàng đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của cậu bé lên tám)
Để kiểm soát vua Duy Tân, người Pháp cho lập một phụ chính gồm sáu đại thần là Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, Miên Lịch, Lê Trinh và Cao Xuân Dục để cai trị Việt Nam dưới sự điều khiển của Khâm sứ Pháp. Một tiến sĩ sinh học là Ebérhard được đưa đến để dạy học cho vua Duy Tân, theo nhiều người thì đó chỉ là hành động kiểm soát.
Khoảng năm 1912, Khâm sứ Georges Marie Joseph Mahé mở một chiến dịch tìm vàng ráo riết. Mahé lấy tượng vàng đúc từ thời chúa Minh Nguyễn Phúc Chu trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, đào lăng Vua Tự Đức và đào xới lung tung trong Đại Nội để tìm vàng. Vua Duy Tân phản đối quyết liệt những hành động thô bạo đó, nhưng Mahé vẫn làm ngơ. Duy Tân ra lệnh đóng cửa cung không tiếp ai. Toà Khâm sứ Pháp làm áp lực với nhà vua thì Duy Tân đe đọa sẽ tuyệt giao với các nhà đương cục ở Huế lúc bấy giờ. Cuối cùng Toàn quyền Albert Pierre Sarraut từ Hà Nội phải vào giải quyết vua Duy Tân mới cho mở Hoàng thành.
Năm vua Duy Tân 13 tuổi, ông xem lại những hiệp ước mà hai nước Việt-Pháp đã ký. Nhà vua cảm thấy việc thi hành của hiệp ước ấy không đúng với những điều kiện mà hai bên đã ký kết với nhau nên một hôm giữa triều đình, nhà vua tỏ ý muốn cử ông Nguyễn Hữu Bài là người giỏi tiếng Pháp sang Pháp để yêu cầu duyệt lại hiệp ước ký năm 1884 (Patenôtre). Nhưng cả triều đình không ai dám nhận chuyến đi đó.
Năm 15 tuổi, vua Duy Tân đã triệu tập cả sáu ông đại thần trong Phụ chính, bắt buộc các vị phải ký vào biên bản để đích thân vua sẽ cầm qua trình với toà Khâm Sứ nhưng các đại thần sợ người Pháp giận sẽ kiếm chuyện nên từ chối không ký và phải xin yết kiến bà Thái hậu để nhờ bà can gián nhà vua. Từ đó không những nhà vua có ác cảm với thực dân Pháp mà còn ác cảm với Triều đình.
=== Dự định khởi nghĩa với Việt Nam Quang Phục Hội ===
Việt Nam Quang Phục Hội được Phan Bội Châu thành lập từ 1912. Biết được vua Duy Tân là người yêu nước chống Pháp nên Việt Nam Quang Phục Hội quyết định móc nối. Hai lãnh đạo của hội là Trần Cao Vân và Thái Phiên bỏ tiền vận động người tài xế riêng của vua Duy Tân xin thôi việc. Thay vào đó là Phạm Hữu Khánh, một thành viên của hội.
Tháng 4 năm 1916, khi vua Duy Tân ra bãi tắm Cửa Tùng nghỉ mát, Phạm Hữu Khánh có đưa cho vua một bức thư của hai lãnh tụ Trần Cao Vân và Thái Phiên. Duy Tân đọc thư và muốn gặp hai người này. Ngày hôm sau, ba người cùng đến câu cá ở Hậu hồ, vua Duy Tân đồng ý cùng tham gia khởi nghĩa. Khởi nghĩa dự định được tổ chức vào 1 giờ sáng ngày 3 tháng 5.
Nhưng cuối tháng 4, một thành viên của Việt Nam Quang Phục Hội ở Quảng Ngãi là Võ An đã làm lộ tin. Chiều ngày 2 tháng 5, công sứ Pháp ở Quảng Ngãi là de Taste mật điện với Khâm sứ Trung Kỳ biết tin. Nghe tin, khâm sứ Charles ra lệnh thu súng ở các trại lính người Việt cất vào kho và cấm trại không cho một người lính Việt nào ra ngoài.
Đêm 2 tháng 5, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa thuyền đến bến Thương Bạc đón vua Duy Tân. Nhà vua cải trang theo lối thường dân đi cùng hai người hộ vệ là Tôn Thái Đề và Nguyễn Quang Siêu. Họ tới làng Hà Trung, lên nhà một hội viên Việt Nam Quang Phục hội để chờ giờ phát lệnh bằng súng thần công ở Huế. Nhưng chờ đến ba giờ sáng vẫn không nghe hiệu lệnh, biết đã thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên định đưa vua Duy Tân tới vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi. Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1916, họ bị bắt
Khâm sứ tại Huế Charles và Toàn quyền thuyết phục vua Duy Tân trở lại ngai vàng nhưng ông không đồng ý:
Pháp bắt Triều đình Huế phải xử, Thượng thư bộ Học Hồ Đắc Trung được ủy nhiệm thảo bản án. Trần Cao Vân khi đó bị giam trong ngục, nhờ được người đưa tin cho Hồ Đắc Trung xin được lãnh hết tội và xin tha cho vua. Hồ Đắc Trung làm án đổ hết tội cho 4 người Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu. Bốn người bị xử chém ở An Hòa. Vua Duy Tân bị đày đi đảo La Réunion ở Ấn Độ Dương cùng với vua cha Thành Thái vào năm 1916.
== Lưu đày ==
=== Sang đảo La Réunion ===
Ngày 3 tháng 11 năm 1916, gia đình vua Thành Thái và Duy Tân lên tàu Guadiana ở Cap Saint-Jacques. Đến ngày 20 tháng 11 họ tới bến Pointe de Galets đảo La Réunion lúc 7 giờ rưỡi sáng. Tại đây, từ chối một biệt thự sang trọng người Pháp dành cho, gia đình cựu hoàng sống trong một căn nhà thuê lại một người dân ở thành phố Saint-Denis. Ông sống giản dị trong căn nhà nhỏ, ăn mặc và sinh hoạt cũng giản dị như bao người dân bình thường khác ở đảo.
Duy Tân bất bình với cha Thành Thái vì không hợp tính tình, ông cắt đứt liên lạc với gia đình. Duy Tân ghi tên học về vô tuyến điện và mở tiệm Radio - Laboratoire bán hàng sửa chữa máy. Đồng thời, ông thi tú tài ở trường trung học Leconte de Lisle và học thêm ngoại ngữ, luật học. Duy Tân ít quan hệ với người Pháp, chỉ giao du với một nhóm bạn bè. Ông tham gia hội yêu nhạc, học cưỡi ngựa và thắng nhiều cuộc đua. Cựu hoàng Duy Tân còn viết nhiều bài và thơ đăng trong những tờ báo Le Peuple (Dân chúng), Le Progrès (Tiến bộ) dưới biệt hiệu Georges Dry. Bài Variations sur une lyre briée (Những biến tấu của một cây đàn lia gãy vỡ) được giải nhất văn chương của Viện Hàn lâm Khoa học và Văn chương La Réunion năm 1924. Duy Tân còn là hội viên của Hội Tam Điểm, Franc-Macon và Hội địa phương bảo vệ Nhân quyền và quyền Công dân.
Trong bài Destin tragique d'un Empereur d'Annam: Vĩnh San - Duy Tân đăng trong Revue France-Asie, năm 1970, tác giả E.P Thébault, một bạn thân của Duy Tân, ghi rằng: chỉ một lần – một lần mà thôi – trong bức thơ ngày 5 tháng 6 năm 1936 gởi cho Marius Moutet, Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Duy Tân gợi lại cuộc biến động 1916 và nói về vai trò của ông trong vụ ấy để xin phép qua trú ngụ bên Pháp". Trong nhiều bức thư khác gởi cho Chính phủ Pháp từ 1936 cho đến 1940, để xin phục vụ trong Quân đội Pháp, ông không đả động đến vụ mưu loạn tại Việt Nam. Tất cả đơn đều bị bác vì Bộ Thuộc địa phê trong tờ lý lịch cá nhân của Duy Tân (được giải mật sau này): "...parait difficile à acheter, extrêmement indépendant...intrigue pour quitter la Réunion et rétablissement trône d'Annam..." (Có vẻ khó mua chuộc, rất độc lập, mưu đồ rời khỏi đảo La Réunion để tái lập ngôi báu ở An Nam...).
=== Tham gia Quân đội Pháp ===
Ngày 18 tháng 6 năm 1940, Charles de Gaulle kêu gọi chống Đức quốc xã. Sự việc nước Pháp bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đầu hàng phát xít Đức và sau đó lực lượng kháng chiến Pháp ở hải ngoại do De Gaulle đứng đầu được thành lập ở Anh trở về tái chiếm đất Pháp đã có tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của Cựu hoàng. Ông xem De Gaulle là thần tượng, là hình mẫu cho hoạt động cứu nước của mình. Tuy "nước Pháp tự do" và nước Pháp thực dân mà ông chống đối đều là một nước Pháp, Duy Tân hưởng ứng và bằng đài vô tuyến điện, ông đã thu thập tin tức bên ngoài để chuyển cho Lực lượng kháng chiến tự do Pháp. Vụ việc đổ bể, ông bị nhà cầm quyền La Réunion (lúc đó theo Chính phủ Vichy) câu lưu sáu tuần. Sau đó, ông phục vụ ba tháng với cấp bậc hạ sĩ vô tuyến trong phe kháng chiến của tướng Legentilhomme và đại tá Alain de Boissieu. Bị giải ngũ vì lý do sức khoẻ, Duy Tân nhờ thống đốc La Réunion là A. Capagory (1942 - 1947) can thiệp cho ông đăng vào bộ binh Pháp dưới quyền của tướng Catroux với cấp bậc binh nhì. Một thời gian sau ông được thăng lên chuẩn úy rồi sang châu Âu.
Ngày 5 tháng 5 năm 1945, có lệnh đưa chuẩn úy Duy Tân về phòng Quân sự của tướng Charles de Gaulle ở Paris. Duy Tân đến Pháp vào tháng 6 năm 1945 thì Đức đã đầu hàng ngày 8 tháng 5. Ngày 20 tháng 7 năm 1945, ông được đưa qua phục vụ tại Bộ tham mưu của Sư đoàn 9 Bộ binh Thuộc địa (9ème DIC) đóng ở Forêt Noire, Đức.
Ngày 29 tháng 10 năm 1945, Charles de Gaulle ký một sắc lệnh hợp thức hoá những sự thăng cấp liên tiếp của Duy Tân trong Quân đội Pháp: thiếu uý từ 5 tháng 12 năm 1942, trung uý từ 5 tháng 12 năm 1943, đại uý tháng 12 năm 1944 và thiếu tá ngày 25 tháng 9 năm 1945. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng cựu hoàng Duy Tân đã bị dùng như một con bài chính trị trong kế hoạch mật tái chiếm Đông Dương của Pháp.
== Gặp Charles de Gaulle và chuẩn bị về Việt Nam ==
Ngày 14 tháng 12 năm 1945, Charles de Gaulle tiếp cựu hoàng Duy Tân. Trong tập Hồi ký chiến tranh, tướng de Gaulle ghi:
Trong tác phẩm Histoire du Việt Nam de 1940 à 1952 sử gia Philippe de Villers nhận xét:
Một bạn thân của Duy Tân là E.P Thébault kể lại trong bài Destin tragique d'un Empereur d'Annam: Vĩnh San - Duy Tân:
Trong hồi ký Bên giòng lịch sử 1940-1965, linh mục Cao Văn Luận ghi lại rằng mùa đông 1944 và đầu năm 1945, cùng với một số du học sinh Việt và Việt kiều, ông có tiếp xúc ba lần với Duy Tân ở Paris. Lần đầu, cựu hoàng giải thích:
Duy Tân đã từng tâm sự:
Riêng về phần tôi, lòng yêu quê hương Việt Nam không cho phép tôi để ngỏ cửa cho một cuộc tranh chấp nội bộ nào. Điều mà tôi mong muốn là tất cả các con dân Việt Nam ý thức được rằng họ là một quốc gia và ý thức ấy sẽ thức đẩy họ dựng lên một nước Việt Nam xứng đáng là quốc gia. Tôi tưởng rằng tôi sẽ làm tròn bổn phận của một công dân Việt Nam khi nào mà tôi làm cho những người nông dân Lạng Sơn, Huế, Cà Mau ý thức được tình huynh đệ của họ. Nghĩa hợp quần ấy được thực hiện dưới bất cứ chế độ nào: cộng sản, xã hội chủ nghĩa, bảo hoàng hay quân chủ, điều đó không quan trọng, điều quan trọng là phải cứu dân tộc Việt Nam khỏi cái họa phân chia.[3]
== Tử nạn ==
Ngày 24 tháng 12 năm 1945, Duy Tân lấy phi cơ Lockheed C-60 của Pháp cất cánh từ Bourget, Paris để trở về La Réunion thăm gia đình trước khi thi hành sứ mạng mới. Lúc 13 giờ 50, phi cơ rời Fort Lami để bay đến Bangui, trạm kế tiếp. Ngày 26 tháng 12 năm 1945, khoảng 18 giờ 30 GMT, máy bay rớt gần làng Bassako, thuộc phân khu M'Baiki, Cộng hoà Trung Phi. Tất cả phi hành đoàn đều thiệt mạng, gồm có một thiếu tá hoa tiêu, hai trung uý phụ tá, hai quân nhân trong đó có cựu hoàng Vĩnh San và bốn thường dân.
Theo nhiều người đây có thể là một vụ mưu sát. Việc vua Duy Tân trở lại Việt Nam sẽ gây khó khăn cho Anh trong việc trao trả các thuộc địa. Cũng trong Destin tragique d’un Empereur d’Annam, E.P Thébault viết:
Ngày 17 tháng 12 năm 1945 – mười hôm trước khi tử nạn – Duy Tân có linh cảm tính mạng ông bị đe doạ. Khi cả hai đi ngang – lần chót – vườn Tuileries, cựu hoàng nắm tay Thébault nói: "Anh bạn già Thébault của tôi ơi! Có cái gì báo với tôi rằng tôi sẽ không trị vì. Anh biết không, nước Anh chống lại việc tôi trở về Việt Nam. Họ đề nghị tặng tôi 30 triệu quan nếu tôi bỏ ý định ấy.
Ngày 28 tháng 3 năm 1987, hài cốt của vua Duy Tân được gia đình đưa từ M'Baiki, Trung Phi về Paris làm lễ cầu siêu tại Viện Quốc tế Phật học Vincennes và sau đó đưa về an táng tại An Lăng, Huế, cạnh nơi an nghỉ của vua cha Thành Thái, vào ngày 6 tháng 4 năm 1987.
Sau Cách mạng tháng Tám, có phố Duy Tân ở Hà Nội, nhưng sau đổi lại. Một nhóm chính trị ít nhiều có khuynh hướng dân chủ xã hội theo Duy Tân. Bên cách mạng lúc đó xem ông là người từng có lập trường yêu nước nhưng rồi làm việc cho Pháp.
== Vinh danh ==
Ở Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa, đường Garcerie cũ thời Pháp thuộc được đổi tên là đường Duy Tân. Đây là con đường với hai hàng cây lớn, chạy ngang Trường Đại học Kiến trúc và Đại học Luật khoa có tiếng là thơ mộng nên được nhắc trong bản nhạc "Trả lại em yêu" của Phạm Duy. Tuy nhiên sau năm 1975 Duy Tân bị xóa và đường đổi tên thành Phạm Ngọc Thạch.
Ngày 5 tháng 12 năm 1992, thành phố Saint-Denis đảo La Réunion khánh thành một đại lộ mang tên ông: Đại lộ Vĩnh San..
Ở Việt Nam, năm 2010 phố Duy Tân được đặt tên tại phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Năm 2013 tại thành phố Móng Cái, tên ông được đặt cho phố kéo dài từ phố Hàm Nghi đến đường Đoan Ti tại thành phố Móng Cái, tên ông được đặt cho phố kéo dài từ phố Hàm Nghi đến đường Đoan Tĩnh. Tại thành phố Đồng Hới, Quảng Bình tên ông được đặt cho con đường kéo dài từ đường Trần Hưng Đạo đến đường Phạm Văn Đồng ở phường Nam Lý.
== Giai thoại ==
1 lần nhà vua thiếu niên từ bãi tắm Cửa Tùng lên (hàng năm ông hay ra đây nghỉ mát), tay chân dính cát. Thị vệ bưng chậu nước cho vua rửa. Duy Tân vừa rửa vừa hỏi:
"Khi tay dơ thì lấy nước mà rửa, khi nước bẩn thì lấy chi mà rửa ?"
Người thị vệ chưa biết trả lời ra sao thì vua Duy Tân nói tiếp:
""Nước dơ thì phải lấy máu mà rửa, hiểu không ?"
1 lần khác vua Duy Tân ra ngồi câu cá trước bến Phu Văn Lâu. Thượng thư Nguyễn Hữu Bài cùng đi. Mãi không thấy con cá nào cắn câu, vị hoàng đế trẻ bèn ra câu đối:
Ngồi trên nước không ngăn được nước, trót buông câu nên lỡ phải lần.
Sau khi nghĩ ngợi một lúc, Thượng thư Nguyễn Hữu Bài nghĩ ngợi rồi đối lại:
Nghĩ việc đời mà ngán cho đời, đành nhắm mắt đến đâu hay đó.
Nghe đồn Duy Tân phê Nguyễn Hữu Bài là người cam chịu trước số mạng. Nhà vua còn bảo:
"Theo ý trẫm, sống như thế buồn lắm. Phải có ý chí vượt gian khó thì cuộc sống mới có ý nghĩa."
== Gia quyến ==
Khi sang đảo La Réunion, Duy Tân có đem theo Hoàng phi Mai Thị Vàng, nhưng được 2 năm bà xin về Việt Nam vì không chịu được khí hậu ở đó. Thời gian ở La Réunion, ông có chung sống với 3 người vợ ngoài giá thú, vì Hoàng phi Mai Thị Vàng từ chối ly hôn.
Những người con của ông với các người vợ gốc châu Âu đều mang họ mẹ và được rửa tội theo lễ nghi Công giáo. Một tài liệu viết các con ông đều không nói được tiếng Việt và có ít quan hệ với cựu hoàng Thành Thái. Duy Tân cũng không khuyến khích các con học tiếng Việt và tìm hiểu về Việt Nam. Đến năm 1946, toà án thành phố Saint-Denis đồng ý cho các con của Duy Tân mang họ ông. Andrée Maillot và Armand Viale vẫn giữ họ cũ của mình. 5 người Suzy, Georges, Claude, Roger và Andrée đổi thành Georges Vĩnh San, Claude Vĩnh San v.v...
Các bà vợ và con cái:
Diệu phi Mai Thị Vàng (妙妃枚氏鐄), kết hôn ngày 16 tháng 1, năm 1916. Khi đi lưu đày theo chồng bà có mang 3 tháng và bị sẩy thai. Năm 1925, cựu hoàng có gửi cho Hội đồng hoàng tộc một bức thư kèm đơn ly dị và xin Hội đồng hoàng tộc chứng nhận để bà Vàng đi lấy chồng khác, lúc này bà 27 tuổi. Nhưng bà Vàng một lòng thủ tiết cho đến cuối đời và thường ngâm:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.
hay
Đá dù nát, "Vàng" chẳng phai
Tử sinh vẫn giữ lấy lời tử sinh.
Bà Marie Anne Viale, sinh năm 1890. Có một con trai:
Armand Viale sinh 1919.
Bà Fermande Antier, sinh năm 1913, cưới năm 1928. Có tám người con, 4 trai 4 gái đều mang họ Vĩnh San :
Thérèse Vinh-San sinh 1928 (mất sớm)
Rita Suzy Georgette Vinh-San sinh ngày 6 tháng 9 năm 1929
Solange sinh 1930 (mất sớm)
Guy Georges Vĩnh San (Nguyễn Phúc Bảo Ngọc) sinh ngày 31 tháng 1 năm 1933
Yves Claude Vĩnh San (Nguyễn Phúc Bảo Vàng) sinh ngày 8 tháng 4 năm 1934
Joseph Roger Vĩnh San (Nguyễn Phúc Bảo Quý) sinh ngày 17 tháng 4 năm 1938
Ginette sinh 1940 (mất sớm)
...
Bà Ernestine Yvette Maillot, sinh năm 1924. Có một con gái:
Andrée Maillot Vinh-San sinh 1945 mất 2011.
Trong các hoàng tử của vua Duy Tân có hoàng tử Bảo Ngọc (Guy Georges Vĩnh San), sinh ngày 31 tháng 1 năm 1933 có bốn con Patrick Vĩnh San, Chantal Vĩnh San, Annick Vĩnh San và Pascale Vĩnh San, thường xuyên tham gia các hoạt động và nghi lễ của nhà Nguyễn cùng với vợ là bà Monique. Một người con khác là Hoàng tử Bảo Vàng (tên đầy đủ là Yves Claude Vĩnh San, sinh ra tại Saint-Denis, đảo Réunion ngày 8 tháng 4 năm 1934). Hoàng tử Bảo Vàng cưới Jessy Tarby và họ có mười con (7 trai và 3 gái): Yves Vĩnh San, Patrick Vĩnh San, Johnny Vĩnh San, Jerry Vĩnh San, Thierry Vĩnh San, Stéphanie Vĩnh San, Cyril Vĩnh San, Didier Vĩnh San, Marie-Claude Vĩnh San, Marilyn Vĩnh San và Doris Vĩnh San . Vào năm 1987, ông đưa di hài vua cha về Việt Nam để an táng tại lăng Dục Đức (ông nội của Duy Tân). Cùng với Hoàng tử Bảo Thắng, ông là lãnh đạo của Đại Nam Long tinh Viện. Mục đích của hội này không liên quan đến chính trị Việt Nam và vai trò của hoàng tộc dưới sự lãnh đạo của thái tử Nguyễn Phúc Bảo Long là các hoạt động nhân đạo, giáo dục, và văn hóa cho người Việt Nam. Một người con khác là Hoàng tử Bảo Quý (Joseph Roger Vĩnh San), đang sống cùng vợ là bà Lebreton Marguerite tại Nha Trang, Khánh Hòa
== Chú thích ==
^ Có tài liệu ghi ông sinh 14 tháng 8 năm 1899.
^ Hoàng Trọng Thược. Hồ sơ vua Duy Tân, nhà xuất bản Thanh Hương, California, Mỹ. 1994.
== Tham khảo ==
Vĩnh San
Duy Tân (1900 - 1945) trên trang VietSciences
Rời bỏ ngai vàng, cùng dân đánh Pháp - Bài viết trên Quân đội nhân dân
Vua Duy Tân ở đảo La Réunion trên trang Bưu điện Thừa Thiên Huế
Duy Tân trên trang VietSciences
Duy Tân và mối tình tan vỡ
Hai tác phẩm của vua Duy Tân trên báo Tuổi trẻ.
Hoàng Văn Hiển. Vua Duy Tân trong phong trào đấu tranh yêu nước đầu thê kỷ XX. Khoa Sử Trường Đại học Khoa học Huế. Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 2(12), 1996.
== Liên kết ngoài ==
Chuyện đào cát tìm vợ và mối tình thuỷ chung của vua Duy Tân |
biểu tượng quốc gia.txt | Một biểu tượng quốc gia là hình ảnh tượng trưng và đại diện cho một quốc gia. Ngoài ra nó còn được thể hiện với các hình thức phong phú và đa dạng. Những loại hình cơ bản của biểu tượng quốc gia gồm: Quốc hiệu (thường kèm theo khẩu hiệu hoặc tiêu ngữ), Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Quốc thiều, Quốc phục, Quốc hoa, Quốc thú hoặc Quốc điểu... và những biểu tượng không chính thức khác.
Hầu hết các biểu tượng quốc gia có nguồn gốc trong thế giới tự nhiên, như động vật hoặc chim chóc (linh vật), hoa lá (quốc hoa) hoặc vật tổ những cũng có thể là biểu tượng khác. Biểu tượng quốc gia có thể xuất hiện nhiều chỗ như quốc kỳ, quốc hiệu, hoặc khác. Cần phân giữa một biểu tượng chính thức quốc gia với các biểu tượng không chính thức và thường liên quan đến đến hình ảnh du lịch hoặc linh vật, biểu tượng cho các sự kiện quan trọng có tầm quốc gia, quốc tế, như cối xay gió ở Hà Lan, chú báo Zakuni của Nam Phi, chú chó USA của Mỹ.... Nhiều biểu tượng không chính thức nhưng quan trọng và thậm chí được biết đến nhiều hơn chính thức. Tuy nhiên biểu tượng chính thức được xác định bởi quy định của nhà nước bằng pháp luật hoặc tuyên bố chính thức của nhà nước. Việt Nam thì thực sự chưa có biểu tượng quốc gia.
== Biểu tượng quốc gia chính thức phổ biến ==
Quốc kỳ của một quốc gia dân tộc.
Quốc huy của một vùng dất chủ quyền và/hoặc triều đại cầm quyền.
Quốc ấn hoặc con dấu của một vùng dất chủ quyền và/hoặc triều đại cầm quyền.
Hình tượng tượng liên kết và/hoặc khẩu hiệu cũng có thể được sử dụng riêng rẽ.
Màu sắc quốc gia, thường xuất phát từ bên trên.
Biểu tượng biểu trưng, đặc biệt thánh giá.
Quốc ca, thánh ca hoàng gia và triều đình; cùng với các phong tục thánh ca chính thức như vậy cũng có thể nhận ra những giá trị biểu tượng quốc gia của ca khúc rất nổi tiếng.
== Biểu tượng quốc gia không chính thức ==
Theo nhiều cách thức, điểm tham quan nổi tiếng tại một quốc gia cũng có thể được xem như biểu tượng quốc gia, cũng như các mặt hàng truyền thống thuộc tiểu thủ công nghiệp, trang phục truyền thống, sử thi quốc gia và huyền thoại quốc gia, cũng như những biểu tượng được sử dụng tại đội thể thao quốc gia và cổ động viên ủng hộ của họ.
== Động vật ==
Loài động vật được chọn là biểu tượng quốc gia thường gắn liền với văn hóa truyền thống hoặc đó là loài đặc hữu tại quốc gia đó. Mỗi nước đều có quy định riêng về động vật biểu tượng, có thể chính thức hoặc không chính thức.
== Quốc điểu ==
Đây là danh sách quốc điểu, gồm các loài chim biểu tượng của các nước, trong đó hầu hết là chính thức, riêng một số là không chính thức.
== Quốc thụ ==
Quốc thụ là những loài cây thân gỗ được chọn là biểu tượng đại diện một quốc gia.
== Quốc hoa ==
Quốc hoa là loài hoa biểu trưng cho một nước, được mọi người dân yêu thích. Ngoài các loài hoa ra còn có các loài thực vật thân thảo, cỏ. Được cho là bắt nguồn từ biểu tượng của nhà vua thời Trung cổ ở châu Âu. Mỗi nước có những quy định về quốc hoa khác nhau.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Ý nghĩa biểu tượng con vật trên Quốc kỳ các nước |
quốc sử quán (triều nguyễn).txt | Nguyễn triều Quốc sử quán (chữ Hán: 國史館) là cơ quan biên soạn lịch sử chính thức duy nhất tại Việt Nam từ năm 1821 tới năm 1945. Cơ quan này đồng thời cũng tham gia cả chủ đề về văn hóa, địa lý, con người của Việt Nam.
== Lịch sử ==
Tháng 7 năm 1820, Quốc Sử quán bắt đầu được xây dựng và hoàn tất sau đó 1 tháng, tọa lạc tại phường Phú Văn trong Kinh thành Huế (nay thuộc phường Thuận Thành, thành phố Huế). Sau đó nửa năm, vua Minh Mạng cho xây dựng và cải tạo lại hai dãy nhà bên tòa nhà chính thành nơi làm việc của quan lại, đồng thời ở cổng chính cho dựng hai tấm bia "Khuynh cái hạ mã" ở hai bên. Tới ngày 5 tháng 6 năm 1821, vua Minh Mạng cho làm lễ khai mạc Quốc sử quán tại điện Cần Chánh và chính thức đưa nó vào hoạt động.
Đến tháng 11 năm 1841, Quốc Sử Quán có thêm hai tòa nhà phụ nữa nằm ở hai bên do vua Thiệu Trị xây: tòa nằm bên trái dành cho các toản tu tên là Công thự, bên phải dành cho các biên tu tên là Giải vũ đài. Tháng 10 năm 1857, vua Tự Đức cho xây thêm Tàng bản đường nằm ở phía sau tòa nhà chính để đáp ứng nhu cầu chứa các tài liệu biên soạn và in ấn. Đến tháng 2 năm 1884, một dãy nhà ngói 7 gian 2 chái được xây thêm để dùng cho việc viên soạn Đại Nam thực lục chính biên kỷ thứ tư.
Năm 1890, một số nhà quan tản cư được sửa chữa, đồng thời cho đóng thêm một số tủ gỗ sơn son để lưu trữ tư liệu và sách vở. Đến thời vua Thành Thái, một số tòa nhà phụ được tu bổ lại. Năm 1902, hầu hết Quốc sử quán được trùng tu lại. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Quốc sử quán ngưng hoạt động hoàn toàn.
== Tổ chức ==
Ban biên soạn của Quốc sử quán được chia thành các chức vụ và quyền hạn như sau:
Công trình đầu tiên Quốc sử quán biên soạn là Liệt thánh thực lục viết về các chúa Nguyễn. Tiếp đó là các cuốn Đại Nam Thực lục tiền biên và chính biên, Minh Mệnh chính yếu, Liệt truyện tiền biên ở thời Thiệu Trị, vì nhiều công việc như vậy nên thời gian này nhân sự làm việc trong Quốc sử quán được chấn chỉnh, nhân lực được tăng cường, vật tư dùng để làm việc cung ứng đủ và được sử dụng một cách tiết kiệm nhất.
== Hoạt động ==
Quốc sử quán trong suốt 125 năm hoạt động đã để lại rất nhiều công trình lịch sử địa lý quy mô, được biên soạn một cách chặt chẽ nhất theo phong cách viết sử Việt Nam kết hợp Trung Quốc. Số công trình có thể được chia thành các nhóm:
=== Địa chí ===
Quốc chí:
Hoàng Việt nhất thống địa dư chí của Lê Quang Định soạn năm 1806 nhưng chưa được in: nội dung chủ yếu về các trấn sở và hệ thống giao thông Việt Nam thời bấy giờ
Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú in lần đầu năm 1833 thời Minh Mạng, viết về thay đổi về địa lý hành chính, người nổi tiếng, sản vật, nghề thủ công các địa phương Việt Nam.
Đại Việt địa dư toàn biên (hay Phương Đình dư địa chí) do Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quỹ soạn thời Tự Đức, in năm 1900 với phần lời tựa do Nguyễn Trọng Hợp đề. Tóm tắt danh sách chính sử Trung Quốc, lịch sử thay đổi địa lý lãnh thổ Việt Nam.
Đại Nam nhất thống chí do Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Thường soạn thời Tự Đức. Viết về từng tỉnh trong cả Việt Nam và một số lãnh thổ kề cận bấy giờ.
Đồng Khánh địa dư chí lược soạn từ 1886 đến 1886, nội dung lấy từ Đại Nam nhất thống chí và sắp xếp lại.
Địa phương chí
Bắc thành địa dư chí của Lê Chất và Nguyễn Văn Lý
Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức
Hải Dương địa dư và Hải Đông chí lược của Ngô Thời Nhậm
Bắc Ninh tỉnh chí
Hưng Yên nhất thống chí
Hưng Hóa chí lược
Sơn Tây tỉnh chí
Nam Định tỉnh địa dư chí
Hoan Châu phong thổ chí
Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch
Thanh Hóa tỉnh chí
Quảng Nam tỉnh chí lược
Cam Lộ phủ chí
=== Lịch sử, văn học, pháp luật ===
Đại Nam thực lục (hai quyển là tiền biên và chính biên)
Đại Nam liệt truyện
Minh Mệnh chính yếu
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Đồng Khánh Khải Định chính yếu
Quốc triều sử toát yếu
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ
Khâm định tiễu bình lưỡng kỳ nghịch phỉ chính biên
Minh Mệnh ngự chế văn
Minh Mệnh ngự chế thi tập
Ngự đề đồ hội thi tập
Triệu Trị ngự chế thi
Tự Đức ngự chế thi
Tự Đức ngự chế văn
Ngọc điệp Tôn phổ
== Di sản và đánh giá ==
Các tư liệu lịch sử của Quốc sử quán được xem là một nguồn tư liệu đồ sộ. Đã được dịch và xuất bản ở nhiều nước bằng nhiều thứ tiếng. Là cơ sở quan trọng để nghiên cứu khoa học, xã hội và lịch sử Việt Nam dù có nhiều hạn chế về quan điểm. Hiện ở Việt Nam, nó vẫn được tiếp tục nghiên cứu và tái bản, và khai thác.
== Chú giải ==
== Xem thêm ==
Viện Sử học (Việt Nam) |
giải bóng đá hạng nhất quốc gia.txt | Giải bóng đá hạng nhất quốc gia thường gọi tắt là hạng nhất (Tên tiếng Anh: Vietnamese National Football First League gọi tắt là V.League 2) là giải thi đấu bóng đá bán chuyên nghiệp cấp câu lạc bộ cao thứ 2 trong hệ thống các giải bóng đá Việt Nam (sau giải V.League 1). Theo thể thức thi đấu hiện tại, đội có thứ hạng cao nhất được thăng hạng, chuyển lên thi đấu tại V-League 2018; đội có thứ hạng cuối cùng trong bảng xếp hạng sẽ phải thi đấu trận đấu loại trực tiếp với đội xếp thứ tư tại giải hạng Nhì năm 2018. Nhà tài trợ chính cho giải đấu hiện nay là Công ty cổ phần Sứ Thiên Thanh.
== Mùa giải đang thi đấu ==
== Danh sách các đội đoạt huy chương ==
== Vua phá lưới ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Giải bóng đá vô địch quốc gia
Giải bóng đá Cúp Quốc gia
Siêu cúp bóng đá Việt Nam
Giải bóng đá hạng Nhì Quốc gia
Giải bóng đá hạng Ba Quốc gia
== Liên kết ngoài ==
Giải Hạng nhất Quốc gia - Liên đoàn bóng đá Việt Nam
Giải bóng đá Hạng nhất Quốc gia - Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam |
bình phước.txt | Bình Phước là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Đây cũng là tỉnh có diện tích lớn nhất miền nam. Tỉnh lỵ của Bình Phước hiện nay là thị xã Đồng Xoài, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 121 km theo đường Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14 và 102 km theo đường Tỉnh lộ 741. Bình Phước là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 240 km đường biên giới với Vương quốc Campuchia trong đó 3 tỉnh biên giới gồm Tbong Khmum, Kratie, Mundulkiri, tỉnh là cửa ngõ đồng thời là cầu nối của vùng với Tây Nguyên và Campuchia.
Bình Phước là nơi định cư và sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau, trong đó dân tộc ít người chiếm 17,9%, đa số là người Xtiêng, một số ít người Hoa, Khmer, Nùng, Tày,... vì vậy Bình Phước có nhiều nét văn hóa của người Xtiêng. Ngoài ra tỉnh còn có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như Liên hoan văn hóa các dân tộc thiểu số vào tháng 12 hàng năm, lễ hội cầu mưa của người Xtiêng, lễ bỏ mả, lễ hội đánh bạc bầu cua, đánh liêng tố xả láng ở điểm 2, lễ mừng lúa mới của người Khmer.
Bình Phước là vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung bộ xuống đồng bằng Tây Nam bộ, nhìn chung địa hình Bình Phước tương đối bằng phẳng nhưng độ cao và độ dốc biến động lớn, phân bố không đều, phong phú về địa mạo, một số nơi địa hình bị chia cắt, gồm dạng địa hình đồng bằng và bán đồng bằng, trung du, đồi bát úp, núi thấp, cao nguyên thấp. Bình Phước là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình không phức tạp, phần lớn diện tích tỉnh Bình Phước là đồi đất đỏ bazan nối tiếp nhau, có địa hình tương đối thoải lượng sóng nhẹ với đỉnh bằng. Độ cao trung bình chung của tỉnh không vượt quá 200 m.
Nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa với 2 mùa là mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ bình quân trong năm cao đều và ổn định từ 25,8 ⁰C - 26,2 °C.
== Vị trí địa lý ==
Bình Phước là một tỉnh ở phía Tây của vùng Đông Nam Bộ. Phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai. Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia. Phía Nam giáp tỉnh Bình Dương. Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông và Campuchia.
== Tài nguyên thiên nhiên ==
Tỉnh Bình Phước có 7 nhóm đất chính với 13 loại đất. Trong đó đất chất lượng cao trở lên chiếm 61,17% tổng diện tích đất tự nhiên, đất có chất lượng trung bình chiếm 36,78% diện tích đất tự nhiên và đất có chất lượng kém, hoặc cần đầu tư chiếm 1,15% tổng diện tích đất lâm nghiệp. Rừng của tỉnh Bình Phước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái của vùng Đông Nam Bộ, có tác dụng tham gia điều hoà dòng chảy của các con sông.
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Bình Phước chiếm 51,3% tổng diện tích đất toàn tỉnh. Toàn tỉnh hiện có khoảng 91 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng với 20 loại khoáng sản có tiềm năng triển vọng khác nhau thuộc 4 nhóm gồm nguyên liệu phân bón, kim loại, phi kim loại, đá quý và bán quý. Trong đó nguyên vật liệu xây dựng, cao lanh, đá vôi… là loại khoáng sản có triển vọng và quan trọng nhất của tỉnh.
== Dân số ==
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Bình Phước đạt gần 905.300 người, mật độ dân số đạt 132 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 152.100 người, dân số sống tại nông thôn đạt 753.200 người. Dân số nam đạt 456.900 người, trong khi đó nữ đạt 448.400 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 13,7 ‰
== Kinh tế ==
=== Nông nghiệp ===
Năm 2012 toàn tỉnh gieo trồng được 48,22 nghìn ha, đạt 99,9% kế hoạch năm, giảm 2,42% so cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2012 ước đạt 65,47 nghìn tấn, đạt 105,4% kế hoạch năm, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm 2011.
Ước tính đến ngày 1 tháng 10 năm 2012, toàn tỉnh có 15.934 con trâu, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm 2011. Bò có 40.348 con, giảm 9,3%. heo 224.006 con, tăng 11,5%. gia cầm 3.368 ngàn con, tăng 1,3%. Sản lượng thịt trâu xuất chuồng năm 2012 ước 1.260 tấn, giảm 19,6%, bò 4.852 tấn, tăng 19,8%, heo 33.225 tấn, tăng 9,9%; gia cầm 13.404 tấn, tăng 3,3%; so cùng kỳ năm 2011.
=== Lâm nghiệp ===
Ước tính năm 2012, diện tích rừng được chăm sóc bảo vệ 26,95 km2, giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 115 ha, đạt kế hoạch, bằng năm 2011, diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 32.183 ha, đạt kế hoạch, giảm 1,9% so với năm 2011. Tính đến 31 tháng 10 năm 2012, các ngành chức năng đã phát hiện 65 vụ khai thác rừng trái phép, 213 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 178 vụ mua, bán, cất giữ, chế biến kinh doanh lâm sản trái pháp luật, 79 vụ phá rừng làm thiệt hại 35,42 ha rừng.
=== Công nghiệp ===
Tháng 11 năm 2012, Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 19,3% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó ngành công nghiệp khai thác mỏ tăng 8,4% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, công nghiệp chế biến tăng 4,8% và tăng 19,5%, sản xuất và phân phối điện, nước tăng 2,4% và tăng 17,6%.
Tính đến ngày 20 tháng 11 năm 2012, có 19 doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh với tổng vốn đăng ký là 116,2 tỷ đồng, bằng 100% về số doanh nghiệp và 118,8% về số vốn đăng ký so với tháng trước. Lũy kế 11 tháng năm 2012, thu hút được 430 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký 1.618,8 tỷ đồng, giảm 29,2% về số doanh nghiệp và 56,2% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2011.
Tháng 11 năm 2012, Giá trị thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước gần 175,9 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng năm 2012, tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 1.160,7 tỷ đồng, đạt 59,7% kế hoạch năm, trong đó cấp tỉnh 719,5 tỷ đồng, đạt 57,9% kế hoạch năm và cấp huyện 441,2 tỷ đồng, đạt 62,9% kế hoạch năm. Tháng 10 tháng 2012, tình hình giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt 52% (820,2 tỷ đồng) kế hoạch năm.
=== Nội thương ===
Tháng 11 năm 2012, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước thực hiện 1.618,7 tỷ đồng, tăng 0,3% so với tháng 10 và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, kinh tế nhà nước ước 59,1 tỷ đồng, bằng 100% so với tháng 10 và tăng 34% so cùng kỳ năm trước, kinh tế cá thể ước 1.052,7 tỷ đồng, tăng 0,5% và tăng 15,5%, kinh tế tư nhân 504,4 tỷ đồng, tăng 0,1% và tăng 13,8%, kinh tế tập thể ước 2,5 tỷ đồng, bằng 100% và tăng 39,7%. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 12,29% so cùng kỳ năm 2011 và tăng 11,51% so với tháng 12 năm 2011, chỉ số giá bình quân 11 tháng năm 2012 tăng 9,38% so với bình quân cùng kỳ năm 2011.
=== Ngoại thương ===
Trong 11 tháng đầu năm 2012, kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện được 550.696 ngàn USD, giảm 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 11 năm 2012, ước thực hiện 56.776 ngàn USD, tăng 1,5% so tháng trước và giảm 14,1% so cùng kỳ năm 2011. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, kinh tế nhà nước ước thực hiện 16.490 ngàn USD, chiếm 29%, tăng 12,8% so tháng trước và giảm 12,9% so với cùng kỳ, kinh tế tư nhân 29.536 ngàn USD, chiếm 52%, giảm 5,9% so tháng trước và giảm 25,9% so với cùng kỳ, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 10.750 ngàn USD, chiếm 18,9%, tăng 8,5% so tháng trước và tăng 47,4% so với cùng kỳ. Trong đó, Hạt điều nhân ước thực hiện 1.417 tấn (trị giá 9.280 ngàn USD), Mủ cao su thành phẩm ước thực hiện 11.050 tấn (trị giá 32.618 ngàn USD), Hàng nông sản khác ước thực hiện 2.370 ngàn USD, Hàng dệt may ước thực hiện 1.359 ngàn USD, Hàng điện tử ước thực hiện 3.000 ngàn USD, sản phẩm bằng gỗ ước thực hiện 2.066 ngàn USD, Hàng hóa khác ước thực hiện 4.440 ngàn USD.
Cũng trong 11 tháng năm 2012, kim ngạch nhập khẩu ước thực hiện được 103.939 ngàn USD, giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 11 năm 2012 ước thực hiện 14.810 ngàn USD, tăng 11,8% so tháng trước và tăng 43,7% so cùng kỳ năm trước. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, kinh tế nhà nước ước không thực hiện, kinh tế tư nhân 5.098 ngàn USD chiếm 34,4%, giảm 16,3% so tháng trước và giảm 15,4% so với cùng kỳ, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 9.712 ngàn USD chiếm 65,6%, tăng 35,7% so tháng trước và tăng 126,8% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, vải may mặc ước thực hiện 4.900 ngàn USD, hàng điện tử ước thực hiện 2.600 ngàn USD, hàng hóa khác ước thực hiện 7.212 ngàn USD.
== Lịch sử hình thành ==
Nhà Nguyễn, Bình Phước thuộc trấn Biên Hòa. Đến giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực là Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bắt Xắc lúc này Bình Phước thuộc khu vực Sài Gòn. Năm 1889, thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành các tỉnh, Bình Phước thuộc địa phận tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một.
Từ năm 1956, Việt Nam Cộng hòa thiết lập một số tỉnh mới ở miền Nam. Hai tỉnh Bình Long và Phước Long là tiền thân của tỉnh Bình Phước. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, Trung ương Cục miền Nam thành lập phân khu Bình Phước. Cuối năm 1972, phân khu Bình Phước giải thể, tỉnh Bình Phước chính thức được thành lập.
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, tại kỳ họp thứ nhất quốc hội khóa VI, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành lập tỉnh Sông Bé bao gồm Thủ Dầu Một, Bình Phước và 3 xã thuộc huyện Thủ Đức, chia thành 7 huyện, thị và 1 thị xã. Ngày 9 tháng 2 năm 1978, huyện Bình Long được chia thành 2 huyện là Bình Long và Lộc Ninh. Ngày 4 tháng 7 năm 1988, huyện Phước Long chia thành 2 huyện là Phước Long và Bù Đăng. Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Sông Bé tách thành hai tỉnh là Bình Dương và Bình Phước, lúc này tỉnh Bình Phước được tái lập gồm 5 huyện phía Bắc của tỉnh Sông Bé: Bình Long, Bù Đăng, Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long.
Ngày 26 tháng 12 năm 1997, Chính phủ Ban hành Nghị định 119/1997/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính và thành lập một số xã thuộc các huyện Bình Long, Lộc Ninh, Phước Long và Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Ngày 18 tháng 3 năm 1998, Chính phủ Ban hành Nghị định 16/1998/NĐ-CP thành lập xã thuộc các huyện Lộc Ninh, Bình Long và Phước Long, tỉnh Bình Phước.
Ngày 1 tháng 9 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định 90/1999/NĐ-CP thành lập thị xã Đồng Xoài trên cơ sở tách ra từ huyện Đồng Phú.
Ngày 5 tháng 4 năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định 36/2002/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập xã, thị trấn thuộc huyện Phước Long, Bù Đăng, Bình Long, Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Ngày 20 tháng 2 năm 2003, Chính phủ Ban hành nghị định số 17/2003 NĐ-CP thành lập huyện Chơn Thành và Bù Đốp được tách ra từ huyện Bình Long và Lộc Ninh. Ngày 1 tháng 5 năm 2003, hai huyện Chơn Thành và Bù Đốp chính thức đi vào hoạt động. Tỉnh Bình Phước có 8 huyện, thị, 94 xã phường và thị trấn.
Ngày 16 tháng 5 năm 2005, Chính phủ ban hành nghị định 60/2005/NĐ-CP thành lập xã, thị trấn thuộc huyện Chơn Thành, Bình Long, Lộc Ninh, Bù Đăng Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.
Ngày 28 tháng 3 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định 49/2007/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính xã phường để thành lập xã, phường thuộc các huyện Bình Long, Phước Long, Bù Đăng và thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Ngày 1 tháng 3 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 22/2008/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập xã thuộc các huyện Lộc Ninh, Phước Long Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
Ngày 10 tháng 4 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định 14/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập xã thuộc các huyện Bù Đăng và Chơn Thành.
Ngày 11 tháng 8 năm 2009, theo Nghị quyết số 35/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ, chia huyện Bình Long thành thị xã Bình Long và huyện Hớn Quản; chia huyện Phước Long thành thị xã Phước Long và huyện Bù Gia Mập.
Ngày 11 tháng 5 năm 2015, theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập huyện Phú Riềng tách ra từ huyện Bù Gia Mập.
Hiện nay tỉnh Bình Phước có 11 đơn vị hành chính, bao gồm 3 thị xã: Đồng Xoài, Phước Long, Bình Long và 8 huyện: Đồng Phú, Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Bù Đăng, Phú Riềng.
== Hành chính ==
Bình Phước có 11 đơn vị hành chính gồm 3 thị xã và 8 huyện, trong đó có 111 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 5 thị trấn, 14 phường và 92 xã:
== Du lịch ==
Nằm trong khu vực chuyển tiếp từ vùng Nam Trung Bộ sang vùng hạ Tây Nam Bộ do đó cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái của Bình Phước tương đối đa dạng với những khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, hệ sinh thái còn được bảo tồn nguyên vẹn.... tạo thành các khu vực có khả năng phát triển du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái.
== Giao thông ==
Trên địa bàn tỉnh giao thông được thông suốt nối trong và ngoài tỉnh, hầu hết được nhựa hóa. Với các tuyến đường chính như Quốc lộ 13 từ cầu Tham Rớt đi theo hướng Nam – Bắc qua trung tâm huyện Chơn Thành, Bình Long đến cửa khẩu Hoa Lư với tổng chiều dài là 79,90 km, Quốc lộ 14 nối các tỉnh Tây Nguyên qua Bình Phước về Thành phố Hồ Chí Minh với 112,70 km.
Ngoài ra, các tuyến đường khác như tỉnh lộ 741 kết nối trung tâm tỉnh với các huyện Đồng Phú, Phước Long, các tuyến đường liên huyện đã được láng nhựa, gần 90% đường đến trung tâm các xã đã được láng nhựa, các tuyến đường nối với tỉnh Tây Ninh, tỉnh Lâm Đồng đã được láng nhựa rất thuận tiện cho giao thông. Đường nối với tỉnh Đồng Nai cũng được nâng cấp mở rộng.
Tháng 11 năm 2012, Về doanh thu vận tải hành khách tháng này ước thực hiện 48,94 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng 10, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải hàng hoá tháng này ước thực hiện 30,38 tỷ đồng, tăng 3,3% so tháng trước và tăng 15,5% so cùng kỳ năm 2011.
Dự kiến đến năm 2020-2025 sẽ có tuyến đường sắt xuyên Á đi qua Cửa khẩu Hoa Lư với tuyến đường sắt đi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Tây Nam Bộ. Tuyến đường xuyên Á sẽ nối với các nước Campuchia, Lào, Myanma, Malaysia, Thái Lan thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và người qua lại giữa các nước trong khu vực.
== Giáo dục ==
Năm học 2011 đến 2012 toàn tỉnh có 429 trường học và 6.558 lớp. Toàn tỉnh có 26/111 xã, phường, thị trấn được huyện, thị xã công nhận phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi, 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn xóa nạn mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, học sinh tốt nghiệp THCS đạt 99,7%. Đặc biệt năm học vừa qua tỷ lệ học sinh bỏ học các cấp giảm chỉ còn 0,5% (giảm so với các năm trước từ 2-3%).
Năm học 2012 đến 2013 toàn tỉnh có 447 trường và 7.823 lớp, 217.476 học sinh. Cán bộ, giáo viên, nhân viên công tác tại các trường trên toàn tỉnh đạt 15.304 cán bộ. Về cơ sở vật chất không xảy ra tình trạng thiếu trường, lớp, không có lớp học ca 3. Tuy nhiên, ở một số địa phương vẫn còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất trường, lớp học.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
SỐ LIỆU TÌNH HÌNH KT - XH GIAI ĐOẠN 1996 - 2011
Cổng thông tin điện tử Bình Phước
Trường Chính trị tỉnh Bình Phước
Sở Thông tin và Truyền thông |
hoàng trung hải.txt | Hoàng Trung Hải (27 tháng 9 năm 1959) quê tại xã Quỳnh Giao, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) là một chính khách Việt Nam. Ông hiện là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa VIII, XI, XIII.
== Tiểu sử ==
Ông sinh ngày 27 tháng 9 năm 1959 tại xã Quỳnh Giao, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Ông theo học và tốt nghiệp bậc Trung học tại Trường Trung học Phổ thông Trần Phú - Hoàn Kiếm.
7/1976 – 10/1981: Sinh viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
11/1981- 7/1991: Kỹ sư, Trưởng kíp, Trưởng ca, Phó quản đốc phân xưởng rồi Trưởng phòng Kỹ thuật, Phó Kỹ sư chính vận hành Nhà máy Điện Phả Lại; sau đó theo học và tốt nghiệp khóa đào tạo sau đại học Khoa Hệ thống điện, Đại học Bách khoa Hà Nội. Đại biểu Quốc hội khóa VIII.
8/1991 – 8/1993: Trưởng phòng Thư ký tổng hợp, sau là Trưởng phòng Kinh tế đối ngoại, Công ty Điện lực I Hà Nội.
9/1993-9/1995: Phó Văn phòng kiêm Trưởng phòng Tổng hợp, Bộ Năng lượng; sau học thạc sĩ quản trị kinh doanh tại Trường Đại học Dublin, Cộng hòa Ailen.
9/1995-6/1997: Ủy viên Hội đồng quản trị kiêm Trưởng ban Kiểm soát Tổng Công ty Điện lực Việt Nam.
7/1997-3/1998: Ủy viên Ban cán sự Đảng, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp.
4/1998-8/2000: Ủy viên Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam.
8/2000-4/2001: Ủy viên Ban Cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp; Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ khối cơ quan Kinh tế Trung ương.
4/2001-7/2002: Phó Bí thư Ban Cán sự Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Công nghiệp. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đại biểu Quốc hội khóa XI.
8/2002-7/2007: Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Ban Cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ 8/2007 đến 4/2016: Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Ban Cán sự đảng Chính phủ Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phụ trách về lĩnh vực kinh tế ngành của Chính phủ.
4/4/2008, ông được Thủ tướng bổ nhiệm làm trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở, sau đổi tên thành Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI; đại biểu Quốc hội khóa XIII.
Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa XIII ngày 3/8/2011 được Quốc hội phê chuẩn tiếp tục làm Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam.
27/12/2011 đến 2/2016: Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
5 tháng 2 năm 2016, được Bộ Chính trị phân công giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội, Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Thủ đô.
2/2016: Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải thôi phụ trách khối kinh tế ngành và phát triển sản xuất theo Quyết định số 1476/QĐ-TTg ngày 25 tháng 08 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ để nhận nhiệm vụ Bí thư Thành ủy Hà Nội.
== Phát Biểu ==
"Không một thủy điện nào được xây dựng mà không có quy hoạch. Không một quy hoạch nào được phê duyệt mà không có ý kiến của địa phương. Cũng không có quy hoạch nào được duyệt mà không đáp ứng tính hợp lý, cần thiết, an toàn. Quy hoạch đó không hợp lý chỗ nào thì các nhà khoa học có thể có ý kiến và cần chỉ rõ".
"Về vấn đề thiếu điện, tôi với tư cách là thành viên Chính phủ và Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về quy hoạch Tổng sơ đồ điện 6, xin nhận trách nhiệm về tình hình thiếu điện với QH, với cử tri".
"Chúng ta đã mạnh dạn thực hiện cơ chế thị trường về giá xăng, dầu và đã bước đầu thành công. Nếu chúng ta không thực hiện thị trường hóa về giá năng lượng thì không cách gì chúng ta có thể đủ năng lượng cho quốc gia, đặc biệt trong thời gian 50 năm, 100 năm nữa".
"Riêng giai đoạn 2011-2015, Việt Nam cần khoảng 300 tỷ USD cho đầu tư phát triển. Do đó, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tạo lập đồng bộ và phát triển các loại thị trường (chứng khoán, hàng hóa dịch vụ, thị trường lao động, khoa học, công nghệ...) theo hướng tự do hóa thương mại và đầu tư; giải phóng và phát huy tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam".
“Thà là sống nghèo nhưng công bằng và yên bình còn hơn là cuộc sống giàu mà bon chen, không an toàn”.
== Gia đình ==
Phu nhân của ông là bà Phan Thị Hương, quê quán huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, là Chuyên viên Vụ KHCN các ngành Kinh tế - Kỹ thuật, Bộ Khoa học và Công nghệ. Có hai con trai đều đang ở tuổi học phổ thông: Con trai cả tên là Hoàng Phan Tùng đang học bên Pháp; Con trai thứ hai là Hoàng Phan Bách đang học chuyên Anh tại trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội - Amsterdam.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử Hoàng Trung Hải tại trang web của Chính phủ Việt Nam
Trang chính thức hoangtrunghai.chinhphu.vn |
belippo ibadan.txt | Belippo ibadan là một loài nhện trong họ Salticidae.
Loài này thuộc chi Belippo. Belippo ibadan được Fred R. Wanless miêu tả năm 1978.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Belippo ibadan tại Wikispecies |
chợ.txt | Chợ là nơi mà diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ bằng tiền tệ hoặc hiện vật (hàng đổi hàng).
== Lịch sử ==
Chợ ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người, khi mà con người đã sản xuất được hàng hóa nhiều hơn nhu cầu của họ, nên phải mang nó đi trao đổi với người khác để lấy một loại hàng hóa nào đó.
Thuở ban đầu, chợ chủ yếu là nơi để mọi người trao đổi sản phẩm dư thừa với nhau, dựa trên một thước đo là sự thỏa thuận của hai bên. Về sau cùng với sự ra đời của tiền tệ thì chợ không chỉ là nơi trao đổi mà diễn ra việc mua và bán hàng hóa - một bên là những người có sản phẩm sẽ đem ra để bán, còn một bên là khách hàng dùng tiền để mua các sản phẩm cần thiết cho mình hoặc các sản phẩm để đem bán lại.
== Cấu trúc ==
Với các chợ nhỏ thì cấu trúc rất đơn giản, có thể là một bãi trống mà những người bán hàng ngồi thành từng dãy với những sản phẩm đặc thù.
Với các chợ lớn, hiện đại thì cấu trúc khá phức tạp. Mỗi chợ có thể gồm nhiều khu vực riêng biệt, mỗi khu vực lại có những dãy gồm nhiều gian hàng khác nhau.
Ngày nay chợ còn được hiểu rộng hơn đó là thị trường.
== Chức năng ==
Chức năng chính của chợ là nơi diễn ra hoạt động mua bán hay trao đổi các sản phẩm, hàng hóa khác nhau. Hàng hóa trong chợ rất đa dạng, từ những loại sản phẩm dùng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người đến các chủng loại sản phẩm khác.
Chợ kinh doanh theo kiểu vừa bán sỉ, vừa bán lẻ nên lượng khách thường đông vào các ngày cuối tuần. Những năm gần đây do đầu tư hàng loạt các cửa hàng, siêu thị xung quanh chợ và đặc biệt là khu vực chợ tự phát trên các tuyến đường. Mặc dù các cấp chính quyền nơi đây đã tích cực giải toả song các tuyến đường này vẫn tụ tập hoạt động vào buổi chiều tối, đã ảnh hưởng đến sức mua của các hàng trong chợ. Bên cạnh đó, thói quen của tiểu thương thường nói thách quá cao, lôi kéo khách hàng, lấn chiếm diện tích lối đi đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh, kể cả an ninh trật tự tại khu vực chợ.
== Vị trí ==
Do chức năng của nó,cho nên chợ thường được hình thành và xây dựng tại những nơi đông dân cư, thường là những nơi là trung tâm, đầu mối giao thông.
Mỗi chợ thường bao gồm nhiều dãy gian hàng khác nhau. Mỗi gian hàng có thể bày bán một loại hàng khác nhau hoặc tất cả các gian hàng trong chợ cùng bán một thể loại hàng giống nhau (điện tử, gốm sứ, đồ dân dụng, rau củ quả...). Ngoài ra, chợ còn có chức năng trung chuyển các loại hàng hóa khác nhau.
== Xem thêm ==
Chợ Việt Nam
Chợ điện tử
Siêu thị
Chợ nổi
Chợ tình Sa Pa
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Chợ Bắc Giang
"Chợ người" ở Bát Tràng, Theo Tuổi Trẻ
Thống kê về chợ Việt Nam đến 2009, Theo Website Bộ Công Thương |
vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 2014.txt | Vòng loại Giải bóng đá vô địch thế giới 2014 là một loạt các giải đấu được 6 liên đoàn châu lục trưc thuộc FIFA tổ chức để chọn ra 31 đội vào vòng chung kết tới với đội chủ nhà Brasil được vào thẳng. Cũng giống như hai mùa giải trước (2006 và 2010), đội đương kim vô địch Tây Ban Nha không còn được đặc cách vào thẳng vòng chung kết nữa mà vẫn phải tham dự vòng loại cùng với những đội bóng khác. 31 đội bóng còn lại được vào vòng chung kết sẽ được xác định sau khi 207 đội bóng đến từ sáu liên đoàn châu lục thành viên FIFA đá xong vòng loại.
Trong các thành viên của FIFA, Brunei, Bhutan, Guam và Mauritanie không tham dự vòng loại,, và Nam Sudan gia nhập FIFA sau khi quá trình thẩm định bắt đầu và do đó không thể tham gia. Trận đấu đầu tiên của vòng loại, giữa Montserrat và Belize, diễn ra vào ngày 15 tháng 6 năm 2011 và tiền đạo Deon McCaulay của đội tuyển Belize ghi bàn thắng đầu tiên của vòng loại. Tổng cộng ban đầu có tất cả 824 trận đấu loại, nhưng do Bahamas và Mauritius bỏ cuộc nên chỉ còn 816 trận đấu loại.
Vòng loại kết thúc vào ngày 20 tháng 11 năm 2013 sau khi Uruguay vượt qua Jordan để giành vé cuối cùng đến Brasil. Trong tổng cộng 24 đội bóng đứng đầu trên bảng xếp hạng FIFA, có tất cả 23 đội đã vượt qua vòng loại.
== Các đội giành quyền vào vòng chung kết ==
== Phân bổ suất dự vòng chung kết ==
Châu Âu (UEFA): tranh 13 suất
Châu Phi (CAF): tranh 5 suất
Châu Á (AFC): tranh 4,5 suất (đấu play-off với CONMEBOL)
Châu Đại Dương (OFC): tranh 0,5 suất (đấu play-off với CONCACAF)
Bắc, Trung Mỹ và vùng Caribe (CONCACAF): tranh 3,5 suất (đấu play-off với OFC)
Nam Mỹ (CONMEBOL): tranh 4,5 suất (đấu play-off với AFC)
Tính đến ngày đăng ký cuối cùng (15 tháng 6 năm 2011), 203 trên 207 quốc gia và vùng lãnh thổ thành viên của FIFA đã đăng ký tham dự vòng loại. Bốn quốc gia không tham dự gồm Bhutan, Brunei, Guam và Mauritanie. Nam Sudan, dù mới gia nhập FIFA từ ngày 25 tháng 5 năm 2012 chưa được tham gia vòng loại.
Trận đấu đầu tiên diễn ra vào ngày 15 tháng 6 năm 2011 và trận đấu cuối cùng diễn ra vào ngày 20 tháng 11 năm 2013. Kết thúc vòng loại, có tổng cộng 2334 bàn thắng được ghi sau 816 trận đấu, do hai đội tuyển Bahamas và Mauritius bỏ cuộc .
== Các khu vực ==
=== châu Á ===
Vòng loại bắt đầu với hai vòng sơ loại (diễn ra vào tháng 6 và tháng 7 năm 2011) cho phép chọn từ 43 đội xuống 20 đội vào thi đấu vòng bảng.
Tại vòng bảng, 20 đội bóng được chia thành 5 bảng mỗi bảng 4 đội, thi đấu từ tháng 9 năm 2011 cho đến tháng 2 năm 2012. Hai đội đứng đầu mỗi bảng lọt vào vòng sau. Tại vòng loại cuối cùng, 10 đội mạnh nhất được chia thành 2 bảng đấu mỗi bảng 5 đội (thi đấu từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013) giành vé trực tiếp tham dự vòng chung kết. Còn hai đội hạng ba sẽ gặp nhau đấu play-off chọn đội đứng thứ 5 châu Á thi đấu với đội hạng 5 khu vực Nam Mỹ.
Lễ bốc thăm cho hai vòng sơ loại diễn ra tại Kuala Lumpur vào ngày 30 tháng 3 năm 2011.
Vòng loại khu vực châu Á có 43 đội tham dự (trừ các đội Bhutan, Brunei và Guam không tham dự). Tính đến ngày 10 tháng 9 năm 2013, 38 đội đã không vượt qua vòng loại. 4 đội giành quyền tham dự World Cup là: Nhật Bản, Úc, Iran và Hàn Quốc. Jordan đánh bại Uzbekistan ở vòng 5 (trên chấm 11m) và thi đấu với Uruguay, đội xếp thứ năm của khu vực Nam Mỹ.
==== Kết quả xếp hạng vòng 4 ====
==== Trận Play-off tranh hạng 5 (vòng 5) ====
=== châu Phi ===
52 trong số 53 thanh viên CAF bước vào giải đấu vòng loại để tranh 5 suất vào vòng chung kết (chỉ có Mauritanie không tham dự, trong khi Nam Sudan mới gia nhập FIFA chưa được tham dự vòng loại).
Vòng loại bắt đầu với vòng 1 gồm 12 cặp đấu theo thể thức sân nhà-sân khách, diễn ra vào hai ngày 11 và 16 tháng 11 năm 2011. Đây là 24 đội có thứ hạng thấp nhất trên bảng xếp hạng FIFA. 12 đội thắng cuộc ở vòng 1 sẽ cùng với 28 đội còn lại của CAF lọt vào vòng 2 được chia thành 10 bảng, mỗi bảng 4 đội. 10 đội đứng đầu mỗi bảng - diễn ra từ tháng 6 năm 2012 và tháng 9 năm 2013 - lọt vào vòng 3. Tại vòng loại cuối cùng, 10 đội thắng cuộc từ vòng 2 được phân thành 5 cặp đấu theo thể thức sân nhà-sân khách. 5 đội xuất sắc nhất - diễn ra từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2013 - giành vé trực tiếp tham dự vòng chung kết.
Vòng loại khu vực châu Phi có 52 đội tham dự.
==== Vòng 3 ====
=== Bắc, Trung Mỹ và Caribe ===
Tháng 5 năm 2010, Ban chấp hành CONCACAF công bố một sự thay đổi có thể tại vòng loại World Cup 2014, mà sẽ bắt đầu với một giai đoạn đấu loại trực tiếp sơ bộ tiếp theo ba giai đoạn. Tuy nhiên, những đề xuất này đã bị bãi bỏ. CONCACAF lại một lần nữa sử dụng ở vòng đấu cuối cùng có 6 đội tham dự (được gọi một cách hài hước là "sáu phương"). 10 đội có thứ hạng thấp nhất được phân thành 5 cặp đấu theo thể thức sân nhà-sân khách, để chọn ra 5 đội xuất sắc nhất cùng với các đội xếp từ 7 đến 25 lọt vào vòng 2. Vòng 2 được chia làm 6 bảng 4 đội, chọn ra 6 đội đứng đầu mỗi bảng cùng với các đội xếp từ thứ nhất đến 6 lọt vào vòng 3. Vòng 3 được chia làm 3 bảng 4 đội, chọn ra 6 đội đứng đầu mỗi bảng lọt vào vòng 4. Vòng 4 thi đấu theo thể thức vòng tròn tính điểm, theo thể thức sân nhà-sân khách, lấy ba đội đứng đầu giành vé vào thắng vòng chung kết. Đội hạng 4 là México đấu trận play-off với đội hạng 5 của khu vực OFC, New Zealand để giành vé tới Brasil.
Tổng cộng có tất cả 35 đội tuyển đăng ký tham dự. 31 đội đã không vượt qua vòng loại và Bahamas bỏ cuộc (vì sân nhà của họ đã không kịp hoàn thành trong thời gian diễn ra vòng loại).
==== Xếp hạng chung cuộc (Vòng 4) ====
=== Nam Mỹ ===
9 đội bóng thành viên của Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL) sẽ thi đấu vòng tròn 2 lượt nhằm tranh 4.5 suất tham dự vòng chung kết Giải bóng đá vô địch thế giới 2014. 4 đội dẫn đầu sẽ giành vé vào thẳng vòng chung kết. Đội xếp thứ 5 vòng loại là Uruguay sẽ đấu 2 trận với đội xếp thứ 5 khu vực châu Á (AFC) là Jordan. Vòng loại diễn ra từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 10 năm 2013. Riêng Brasil miễn thi đấu vòng loại do là nước chủ nhà.
==== Bảng xếp hạng chung cuộc ====
Bản mẫu:Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 2014 khu vực Nam Mỹ
=== Châu Đại Dương ===
4 đội tuyển (Samoa thuộc Mỹ, Quần đảo Cook, Samoa và Tonga) tham dự vòng 1 theo thể thức vòng tròn tính điểm diễn ra tại Apia, Samoa, từ ngày 22 đến ngày 26 tháng 11 năm 2011. Đội thắng cuộc, Samoa, cùng với 7 đội của OFC tham dự Cúp bóng đá châu Đại Dương 2012, mà cũng tăng gấp đôi như vòng loại thứ hai. 4 đội lọt vào bán kết cúp bóng đá châu Đại Dương đặc cách vào thắng vòng 3, thi đấu vòng tròn tính điểm theo thể thức sân nhà-sân khách, diễn ra từ ngày 7 tháng 9 năm 2012 đến ngày 26 tháng 3 năm 2013.
New Zealand, đội duy nhất của OFC thắng cuộc ở vòng 3, thi đấu ở vòng play-off với México, đội xếp thứ tư của khu vực CONCACAF.
==== Xếp hạng chung cuộc (Vòng 3) ====
Bản mẫu:Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 2014 khu vực châu Đại Dương (vòng 3)
=== Châu Âu ===
Vòng loại ở châu Âu bắt đầu từ tháng 9 năm 2012, sau khi Euro 2012 kết thúc. 53 đội bóng tham dự chia thành 8 bảng đấu 6 đội và 1 bảng đấu 5 đội. 9 đội bóng dẫn đầu 9 bảng vào thẳng vòng chung kết. 8 đội nhì thành tích tốt nhất chia 4 cặp thi đấu loại trực tiếp sân nhà - sân khách để giành 4 suất còn lại. Thành tích tốt nhất không tính trên kết quả thi đấu với đội thứ 6, do có 1 bảng đấu 5 đội.
==== Bảng xếp hạng chung cuộc (Vòng 1) ====
==== Vòng 2 ====
8 đội đứng nhì bảng sẽ tranh tài tại vòng 2 (vòng play-off). Lễ bốc thăm phân cặp đấu được diễn ra tại trụ sở FIFA ở Zürich, Thụy Sĩ, vào ngày 21 tháng 10. Buổi lễ phân cặp diễn ra cùng thời điểm với bảng xếp hạng FIFA được công bố vào tháng 10 năm 2013. Các trận đấu diễn ra vào hai ngày 15 và 19 tháng 11 năm 2013.
== Play-off liên lục địa ==
Có hai trận play-off liên lục địa ở giải lần này để xác định hai đội giành quyền đoạt vé tới Brasil:
Đội hạng 5 AFC v Đội hạng 5 CONMEBOL
Đội hạng 4 CONCACAF v Đội vô địch OFC
Trận lượt đi diễn ra vào ngày 13 tháng 11 năm 2013 và trận lượt về diễn ra vào ngày 20 tháng 11 năm 2013.
=== Đội hạng 5 AFC v Đội hạng 5 CONMEBOL ===
=== Đội hạng 4 CONCACAF v Đội vô địch OFC ===
== Danh sách cầu thủ ghi bàn ==
11 bàn
10 bàn
9 bàn
8 bàn
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
họa sĩ.txt | Họa sĩ là người có khả năng và thực hiện sáng tác ra các tác phẩm hội họa, thể hiện tư tưởng nghệ thuật, tình cảm, tâm huyết qua các tác phẩm có thể cảm nhận được bằng thị giác.
Các tác phẩm nghệ thuật tạo hình này chủ yếu do các họa sĩ sử dụng màu phủ lên một bề mặt tương đối phẳng để thể hiện hình ảnh. Ngày nay, khái niệm họa sĩ được mở rộng ra cả những người tạo hình trên máy tính.
== Lịch sử ==
Những họa sĩ đầu tiên có tác phẩm để đời còn được biết đến là những người nguyên thủy tại Pháp cách đây 32000 năm .
Tại Việt Nam, các hình ảnh được khắc trên trống đồng Đông Sơn là bằng chứng chắc chắn nhất về nghệ thuật tạo hình của người Việt cổ.
== Xem thêm ==
Giuseppe Castiglione
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
máy hút bụi.txt | Máy hút bụi là thiết bị sử dụng một máy bơm không khí để tạo ra một phần chân không để hút bụi bẩn, thường là từ sàn nhà và các bề mặt khác. Các chất bẩn được thu thập bằng cách thu vào một túi đựng hoặc trộn vào luồng khí để xử lý sau. Máy hút bụi được sử dụng trong nhà cũng như trong công nghiệp, khác nhau ở kích cỡ và models- từ một thiết bị nhỏ hoạt động bằng pin cầm tay, máy hút bụi gia dụng, cho tới các máy hút bụi công nghiệp lớn có thể xử lý hàng trăm lít bụi, và xe tải chân không tự hành dùng để phục hồi sự cố tràn chất lỏng hoặc loại bỏ đất bị ô nhiễm.
== Lịch sử ==
Máy hút bụi có động cơ được phát minh bởi Hubert Cecil Booth của nước Anh vào năm 1901. Booth tạo ra một thiết bị lớn, chạy bằng động cơ đốt trong, có biệt danh Puffing Billy. Mặc dù máy là quá cồng kềnh để được đưa vào xây dựng, nguyên tắc hoạt động của nó là cơ bản giống như các máy hút bụi của ngày hôm nay. Sau này động cơ máy được thay bằng động cơ điện, nhưng cả hai thiết kế vô cùng cồng kềnh, và phải được vận chuyển bằng ngựa và xe ngựa. Thuật ngữ "máy hút bụi" lần đầu tiên được sử dụng bởi công ty sử dụng phát minh của Booth, trong Bản cáo bạch phát hành đầu tiên của năm 1901.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Máy hút bụi tại DMOZ
How Stuff Works – Vacuum Cleaner
HEPA & ULPA vacuum cleaners – what they can and can’t do for IAQ
Invention of the vacuum cleaner, by H Cecil Booth (excerpt) tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2008) |
các quận đặc biệt của tokyo.txt | Các quận đặc biệt của Tokyo (tiếng Nhật: 東京都区部; âm Hán Việt: Đông Kinh đô khu bộ) là tên gọi chung của 23 quận đặc biệt nằm ở trung tâm đô Tokyo. Căn cứ theo pháp luật, quận đặc biệt thuộc đơn vị hành chính cấp 3 của Nhật Bản, nhưng giữa quận đặc biệt và đơn vị hành chính cấp một "đô" không có cơ quan trung gian như huyện hoặc thành phố.
== Khái quát ==
Các quận đặc biệt của Tokyo là những đơn vị hành chính thực quyền, có cơ cấu hoạt động giám sát và chấp chính. Chúng được gọi là các quận đặc biệt hay quận khu để phân biệt với các quận nhưng lại không phải là đơn vị hành chính thực sự thường thấy ở các thành phố cấp quốc gia ở Nhật. Trong Luật Tự trị Địa phương của Nhật Bản, các quận này được gọi là "quận của thủ đô". Cư dân Tokyo coi mỗi quận này như là một thành phố riêng. Người nước ngoài dùng từ tiếng Anh ward để chỉ các quận này, song trụ sở chính quyền khu vẫn được gọi là city hall, tức tòa thị sảnh.
Các quận đặc biệt tập trung ở phía Đông của Tokyo. Tính đến ngày 1 tháng 12 năm 2006, tổng dân số của cả 23 quận lên tới trên 8,5 triệu người, với diện tích bao gồm 621,49 km².
== Hành chính ==
Tuy cùng cấp hạt, nhưng chính quyền của các quận đặc biệt được trao nhiều chức năng hành chính hơn so với các thị trấn và xã, nhưng kém hơn so với các thành phố. Vài điểm tiêu biểu là quận đặc biệt không đảm nhiệm dịch vụ cung ứng nước sạch, điều hành cống rãnh hay cứu hỏa.
Từ năm 1947 đến 1952, quận trưởng - người đứng đầu chính quyền các quận đặc biệt - là do chính quyền đô Tokyo bổ nhiệm. Tuy nhiên, từ năm 1952 trở đi, quận trưởng là do cư dân trong quận bầu lên.
== Danh sách các quận đặc biệt của Tokyo ==
== Tham khảo == |
quảng ngãi (thành phố).txt | Thành phố Quảng Ngãi là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Ngãi ở vùng Nam Trung Bộ Việt Nam.
Ngày 26 tháng 8 năm 2005, thị xã Quảng Ngãi được nâng cấp lên thành phố trực thuộc tỉnh bằng quyết định số 112/2005/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam.
Ngày 12 tháng 12 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành nghị quyết định số 123/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Sơn Tịnh, huyện Tư Nghĩa để mở rộng địa giới hành chính thành phố Quảng Ngãi và thành lập phường Trương Quang Trọng thuộc thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 24 tháng 9 năm 2015, thành phố Quảng Ngãi được công nhận là đô thị loại II.
== Địa lý ==
Thành phố Quảng Ngãi nằm ở trung lộ Việt Nam, cách Thủ đô Hà Nội 898 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 819 km. Cách các thành phố khác: Đà Nẵng 132 km, Quy Nhơn 176 km, thành phố Kon Tum 198 km.
Thành phố Quảng Ngãi được bao quanh bao quanh bởi huyện Tư Nghĩa ở phía Nam, huyện Sơn Tịnh và một phần nhỏ huyện Bình Sơn ở phía Bắc, biển Đông ở phía Đông, có dòng sông Trà Khúc đi qua giữa lòng Thành phố chia thành phố thành bờ Bắc và bờ Nam.
== Khí hậu ==
Khí hậu nhiệt đới gió mùa(Am)
== Hành chính ==
Thành phố Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 160,1534 km2, chia thành 23 đơn vị hành chính gồm 9 phường và 14 xã.
Các xã (*) đang được đầu tư, nâng cấp để trở thành phường vào năm 2020.
== Lịch sử ==
Năm 1807 nhà Nguyễn xây dựng trấn Quảng Ngãi trên diện tích khoảng 26 ha tại xã Chánh Mông, thuộc huyện Chương Nghĩa. Đến năm 1896, đường xuyên Việt chạy ngang qua xã, nên đổi tên là xã Chánh Lộ. Người Pháp đặt tên là Chánh Lộ phố, được gọi là vùng trung tâm trấn. Chánh Lộ phố có hai phường: Bắc Lộ phường và Nam Lộ phường. Đến năm 1929 mở rộng lên ngã ba Thu Lộ, thành lập thêm Thu Lộ phường.
Cách mạng Tháng Tám 1945, trên cơ sở ba phường của Chánh Lộ phố, chính quyền cách mạng tỉnh quyết định thành lập thị xã Quảng Nghĩa. Đến ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, các cơ quan tỉnh và đồng bào nội thị chuyển ra nông thôn, thị xã Quảng Nghĩa sáp nhập với làng Ngọc Án, gọi là xã Nghĩa Lộ, trực thuộc huyện Tư Nghĩa.
Thời Việt Nam Cộng hòa, chính quyền Sài Gòn tách Bắc Lộ phường thành hai, đặt ra bốn ấp: Bắc Môn, Bắc Lộ, Nam Lộ, Thu Lộ, lập nên xã Cẩm Thành. Để tiện cho việc chỉ đạo cuộc kháng chiến, tháng 6 năm 1965, Tỉnh uỷ Quảng Ngãi quyết định tái lập đơn vị thị xã Quảng Nghĩa trực thuộc tỉnh, gồm 4 ấp nói trên và các thôn của hai xã Nghĩa Lộ, Nghĩa Dõng, cùng một số thôn của các xã Nghĩa Điền, Tịnh Ấn.
Ngày 24 tháng 3 năm 1975, thị xã Quảng Nghĩa được hoàn toàn giải phóng.
Sau năm 1975, hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình, thị xã Quảng Nghĩa gồm 4 phường: Lê Hồng Phong, Nguyễn Nghiêm, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 13 xã: Nghĩa An, Nghĩa Điền, Nghĩa Dõng, Nghĩa Hà, Nghĩa Hiệp, Nghĩa Hòa, Nghĩa Kỳ, Nghĩa Lâm, Nghĩa Lộ, Nghĩa Phương, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thương, Nghĩa Trung. Thị xã Quảng Nghĩa thuộc tỉnh Nghĩa Bình, tỉnh lỵ đóng tại Quy Nhơn. Do bị mất vai trò là tỉnh lỵ trong thời gian dài (1975-1989), thị xã mất đi nhiều cơ hội phát triển nên dần thua kém các đô thị khu vực miền Trung-Tây Nguyên.
Ngày 24 tháng 3 năm 1979, chia xã Nghĩa Lộ thành 2 xã: Nghĩa Phú và Nghĩa Chánh.
Ngày 23 tháng 4 năm 1979, đổi tên xã Nghĩa Phú thành xã Nghĩa Lộ.
Ngày 24 tháng 8 năm 1981, tách 11 xã: Nghĩa Lâm, Nghĩa Thắng, Nghĩa Kỳ, Nghĩa Trung, Nghĩa Hiệp, Nghĩa Phương, Nghĩa Hòa, Nghĩa An, Nghĩa Hà, Nghĩa Thương, Nghĩa Điền để tái lập huyện Tư Nghĩa; đổi tên thị xã Quảng Nghĩa thành thị xã Quảng Ngãi; thành lập xã Quảng Phú trên cơ sở tách 2 thôn 2 và 3 của xã Nghĩa Điền thuộc huyện Tư Nghĩa đưa sang; chia xã Nghĩa Dõng thành 2 xã: Nghĩa Dõng và Nghĩa Dũng. Kể từ đó, thị xã Quảng Ngãi có 4 phường: Lê Hồng Phong, Nguyễn Nghiêm, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 5 xã: Nghĩa Chánh, Nghĩa Dõng, Nghĩa Dũng, Nghĩa Lộ, Quảng Phú.
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tái lập tỉnh Quảng Ngãi từ tỉnh Nghĩa Bình, thị xã Quảng Ngãi thực sự trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 22 tháng 2 năm 1991, chia xã Nghĩa Lộ thành xã Nghĩa Lộ và phường Chánh Lộ.
Ngày 29 tháng 8 năm 1994, chuyển xã Nghĩa Lộ thành phường Nghĩa Lộ.
Ngày 17 tháng 12 năm 2001, chuyển xã Nghĩa Chánh và Quảng Phú thành 2 phường có tên tương ứng.
Đến ngày 23 tháng 12 năm 2002, thị xã Quảng Ngãi được Chính phủ công nhận xếp vào hạng đô thị loại 3 với 8 phường: Chánh Lộ, Lê Hồng Phong, Nghĩa Chánh, Nghĩa Lộ, Nguyễn Nghiêm, Quảng Phú, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 2 xã: Nghĩa Dõng, Nghĩa Dũng, gần 12 vạn dân. Hạ tầng cơ sở được xây dựng ngày càng khang trang.
Ngày 26 tháng 8 năm 2005, thị xã Quảng Ngãi được nâng lên thành phố Quảng Ngãi theo Nghị định 112/2005/NĐ-CP của Chính phủ. Thành phố Quảng Ngãi có 3.712 ha diện tích tự nhiên và 133.843 nhân khẩu, có 10 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Lê Hồng Phong, Nguyễn Nghiêm, Trần Hưng Đạo, Nghĩa Chánh, Chánh Lộ, Nghĩa Lộ, Trần Phú, Quảng Phú và các xã: Nghĩa Dũng, Nghĩa Dõng.
Ngày 12 tháng 12 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành nghị quyết định số 123/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Sơn Tịnh, huyện Tư Nghĩa để mở rộng địa giới hành chính thành phố Quảng Ngãi và thành lập phường Trương Quang Trọng thuộc thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Theo đó, chuyển toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Sơn Tịnh (huyện Sơn Tịnh) và 9 xã: Tịnh Ấn Tây, Tịnh Ấn Đông, Tịnh An, Tịnh Long, Tịnh Châu, Tịnh Thiện, Tịnh Khê, Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ thuộc huyện Sơn Tịnh và 3 xã: Nghĩa Hà, Nghĩa Phú, Nghĩa An thuộc huyện Tư Nghĩa về thành phố Quảng Ngãi quản lý; chuyển thị trấn Sơn Tịnh thành phường Trương Quang Trọng.
Ngày 24 tháng 9 năm 2015, thành phố Quảng Ngãi được công nhận là đô thị loại II.
Tên đường của Quảng Ngãi trước năm 1975
Đường Võ Tánh nay là đường Phan Đình Phùng
Đường Phan Bội Châu nay là đường Trần Bình TrọngTrọng
== Kinh tế ==
=== Công nghiệp ===
Khu công nghiệp Quảng Phú (nơi ra đời các sản phẩm như bia Dung Quất, nước khoáng Thạch Bích, sữa đậu nành Fami Vinasoy, bánh kẹo Quảng Ngãi Biscafun
=== Nông lâm ngư nghiệp ===
Dân cư sống ở các xã phía đông thành phố vẫn sống chủ yếu vào nông nghiệp và ngư nghiệp. Thành phố có đến 3 xã giáp biển (Tịnh Kỳ, Tịnh Khê, Nghĩa An), đây là nơi tập trung đội tàu đánh bắt của thành phố.
=== Dịch vụ ===
Việc kinh doanh, buôn bán và các dịch vụ khác tập trung ở khu vực nội thành. Sầm uất nhất là khu vực phía Đông nội thành gồm các phường Lê Hồng Phong, Nguyễn Nghiêm, Trần Hưng Đạo, Chánh Lộ, Nghĩa Chánh.
=== Kinh tế 2015 ===
Năm 2015, kinh tế của TP. Quảng Ngãi tiếp tục có bước phát triển khá, tổng giá trị sản xuất ước đạt 44.560 tỷ đồng, tăng 13,16% so với năm 2014; tổng giá trị gia tăng 13.197 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 11,79%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: Dịch vụ 48,32%; công nghiệp - xây dựng 38,12% và nông lâm ngư nghiệp 13,56%.Trong năm, có 927 hộ thoát nghèo; giải quyết việc làm cho trên 5.000 lao động...
=== Mục tiêu kinh tế ===
Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố đề ra mục tiêu trong 5 năm đến là xây dựng và phát triển thành phố trở thành đô thị “năng động và thân thiện”, với tỷ lệ đô thị hóa đạt 60%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 5 năm đạt 30.000 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch: Dịch vụ 53,29%; công nghiệp - xây dựng 36,6% và nông nghiệp 10,11%. Đồng thời, sẽ tạo việc làm mới và tăng thêm việc làm hằng năm 7.000 - 8.000 lao động; thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 3.000 USD/người/năm...
== Cơ sở hạ tầng ==
=== Giao thông ===
==== Đường bộ ====
Quốc lộ 1A chạy qua thành phố Quảng Ngãi gọi là Đường tránh Đông (đường Bà Triệu - Đinh Tiên Hoàng - Lý Thường Kiệt)
Đường Mỹ Trà - Mỹ Khê (đường Hoàng Sa)
Đường bờ nam sông Trà (đường Trường Sa)
Bến xe mới Quảng Ngãi (02 -Trần Khánh Dư, phường Nghĩa Chánh, TP. Quảng Ngãi). Bến xe Chín Nghĩa (đường Trần Thủ Độ).
Cầu Trà Khúc 1, cầu Trà Khúc 2, cầu đường sắt Trường Xuân
==== Đường sắt ====
Ga Quảng Ngãi là một trong những ga chính trên trục Bắc - Nam của đường sắt thống nhất nằm ở phía Tây trung tâm thành phố trên đường Trần Quốc Toản, phường Trần Phú.
==== Đường thủy ====
Cảng Sa Kỳ (xã Tịnh Kỳ) nằm cách trung tâm thành phố Quảng Ngãi 12 km về phía Đông Bắc. Đây là tuyến đường thủy nội địa nối với Lý Sơn.
==== Đường hàng không ====
Sân bay Chu Lai (tỉnh Quảng Nam) cách thành phố Quảng Ngãi 35 km về phía Bắc. Trong thành phố có sân bay cũ đã ngừng hoạt động
==== Các dự án đang thực hiện ====
Tuyến đường Dung Quất - Sa Huỳnh và Cầu Cửa Đại bắt qua sông Trà Khúc phía đông thành phố
Cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi ở phía Tây thành phố và cầu bắt qua sông Trà Khúc thuộc dự án này
Cầu Thạch Bích nối phường Trần Phú với bờ Bắc dự kiến sẽ khánh thành năm 2018
Cầu Cửa Đại nối xã Nghĩa Phú với xã Tịnh Khê bắt qua sông Trà Khúc khởi công năm 2017 dự kiến sẽ khánh thành năm 2020
=== Thủy lợi, cấp nước ===
Thủy lợi Thạch Nham cung cấp nước tưới tiêu cho thành phố
Nhà máy nước Quảng Phú cung cấp nước cho thành phố công suất 20.000 m³/ngày đêm.
=== Bưu chính viễn thông ===
Bưu điện tỉnh Quảng Ngãi (Số 70 Quang Trung, Phường Lê Hồng Phong)
Giao dịch cấp 1 (Số 80 Phan Đình Phùng).
=== Bệnh viện ===
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi (đường Lê Hữu Trác);
Bệnh viện Đa khoa thành phố Quảng Ngãi (đường Nguyễn Du);
Bệnh viện Y học Cổ Truyền (đường Hùng Vương);
Bệnh viện Sản - Nhi (đường Hùng Vương);
Bệnh viện Nhân Tâm (đường Đinh Tiên Hoàng);
Bệnh viện Phúc Hưng (đường Cao Bá Quát);
Bệnh viện Mắt (đường Nguyễn Tự Tân).
=== Khách sạn ===
Central Hotel
Thiên Ấn Riverside - số 01 đường An Dương Vương
Imperial Premier Palace - đường Trường Chinh
Mỹ Trà Hotel
Petro Sông Trà Hotel - số 02 đường Quang Trung
Hùng Vương hotel
Hơn 20 khách sạn khác đạt chuẩn khác.
=== Chợ, siêu thị ===
Siêu thị Thành Nghĩa, Quảng Ngãi (số 70,đại lộ Hùng Vương);
Siêu thị Co.Opmart (đường Lê Khiết);
Siêu thi Điện máy Hòa Bình (376 Quang Trung)
Siêu thị Nội Thất Thanh Thủy (596-598-608-610-533 Quang Trung);
Trung tâm Mua Sắm Điện Máy Việt Cường (415 - 419 - 421 Quang Trung và 210 - 212 Phan Bội Châu),
Trung tâm điện máy Minh Quang (436 Quang Trung)
Siêu thị Nội thất Dafuco (39 Cách mạng tháng Tám),
Trung tâm Thương mại chợ Quảng Ngãi (đường Nguyễn Nghiêm): ngôi chợ này bị cháy ngày 09 tháng 02 năm 2012 và đang được xây mới)
Đại lý Honda Sông Trà (270 Hai Bà Trưng, 55 Quang Trung và Tổ dân phố Trường Thọ Đông phường Trương Quang Trọng)
Đại lý Yamaha Sáng Thu (368 Quang Trung)
Chợ đầu mối nông sản thành phố Quảng Ngãi (đường Nguyễn Hữu Cảnh).
=== Báo ===
Báo điện tử Quảng Ngãi (02 Cao Bá Quát)
=== Truyền hình ===
Đài Phát thanh Truyền hình Quảng Ngãi (PTQ) - 165 Hùng Vương.
== Du lịch ==
=== Công viên Ba Tơ ===
Nằm ở giữa hai đầu cầu Trà Khúc 1 và Trà Khúc 2, được giới hạn bởi 2 tuyến đường Bà Triệu và Tôn Đức Thắng. Đây là nơi thường xuyên tổ chức các hoạt động du xuân, thưởng hoa mỗi khi tết đến xuân về.
=== Bảo tàng tổng hợp tỉnh ===
Địa chỉ: 99 Lê Trung Đình.
Đây là nơi trưng bày các di vật tìm thấy của văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chămpa, văn hóa các dân tộc tỉnh.
=== Quảng trường tỉnh ===
Nằm ở đường Thành Cổ Núi Bút hay đường Phạm Văn Đồng. Đây là quảng trường lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi. Nới đây là nơi người dân thường tập thể dục thể thao, và tổ chức các hoạt động, sự kiện lớn của tỉnh.
=== Thành cổ Châu Sa ===
Thành cổ Châu Sa nằm ở xã Tịnh Châu. Đây là một trong các di tích của người Chăm.
=== Thắng cảnh Thiên Ấn ===
Thiên Ấn niêm hà được mệnh danh là đệ nhất thắng cảnh tỉnh Quảng Ngãi. Nhìn từ xa, núi Thiên Ấn như một chiếc ấn trời niêm xuống dòng sông Trà Khúc. Trên núi Thiên Ấn có chùa Thiên Ấn và di tích mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng.
=== Khu chứng tích Sơn Mỹ ===
Khu chứng tích Sơn Mỹ (Khu chứng tích Mỹ Lai) nằm ở xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi. Đây là nơi ghi lại tội ác của Đế quốc Mỹ thảm sát 504 người ngày 16/03/1968.
=== Núi Thiên Bút ===
Núi Thiên Bút nằm ở phường Nghĩa Chánh. Núi Bút đang được triển khai xây dựng thành công viên thứ hai của Thành phố.
=== Bến Tam Thương, núi Phú Thọ ===
Là danh thắng nằm ở cửa Đại
=== Biển Mỹ Khê ===
Nằm ở xã Tịnh Khê, nơi đây được xem là bãi biển đẹp hàng đầu Quảng Ngãi, cùng với biển Khe hai và biển Sa Huỳnh.
== Định hướng phát triển đô thị ==
Phạm vi nghiên cứu lập Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Quảng Ngãi được xác định: Phía Bắc giáp ranh giới quy hoạch mở rộng của Khu kinh tế Dung Quất. Phía Nam giáp các xã Nghĩa Điền, Nghĩa Hòa và thị trấn La Hà - huyện Tư Nghĩa. Phía Đông giáp biển Đông. Phía Tây giáp tuyến cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi. Tổng diện tích đất tự nhiên khu vực nghiên cứu lập quy hoạch là 14.199,54ha.
TP Quảng Ngãi được xác định là thành phố đô thị tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Ngãi. Là một trong những trung tâm kinh tế khu vực miền Trung về công nghiệp chế biến, gia công, thương mại, dịch vụ, du lịch và đặc biệt là hậu phương quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển Khu kinh tế Dung Quất. Là đầu mối giao thông quan trọng của khu vực. Dự kiến đến năm 2030, thành phố sẽ đạt chuẩn đô thị loại I với dân số toàn thành phố là 357.100 người, trong đó dân số đô thị là 299.400 người. Năm 2015 dự kiến diện tích đất xây dựng đô thị sẽ đạt khoảng 4.238ha, trong đó đất dân dụng khoảng 1.831ha. Thực hiện Nghị quyết 02 của Thành ủy phấn đấu đưa 5 xã thành 5 phường : Nghĩa Dũng , Nghĩa Dõng , Nghĩa Phú, Tịnh Ấn Tây , Tịnh Khê vào năm 2020 . Thành phố đang được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đạt chuẩn đô thị loại I vào năm 2030. Đến năm 2030 dự kiến diện tích đất xây dựng sẽ đạt khoảng 5.160ha, trong đó đất dân dụng khoảng 2.365ha.
Thành phố Quảng Ngãi sẽ được phân vùng theo 4 khu chức năng cơ bản bao gồm: vùng đô thị trung tâm, vùng mặt tiền bờ sông, vùng công viên sinh thái, vùng bờ biển.
Thứ nhất - Vùng đô thị trung tâm: diện tích tự nhiên khoảng 4.096ha, dân cư dự kiến khoảng 202.100 người. Tại đây bố trí các trung tâm chính trị và hành chính của tỉnh và thành phố, các trung tâm dịch vụ thương mại, y tế, các công trình đầu mối giao thông khu vực. Đây là khu vực đô thị hiện hữu sẽ không có các thay đổi lớn, trừ việc mở rộng lộ giới một số tuyến đường để xây dựng tuyến đường sắt nhẹ. Hoàn thiện nâng cấp các trung tâm hành chính, thương mại dịch vụ, công viên cây xanh, các khu ở đô thị phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đô thị mới. Tại khu vực này dự kiến sẽ xây dựng tổ hợp nhà ga đường sắt cao tốc Bắc Nam.
Thứ hai - Vùng mặt tiền bờ sông: diện tích tự nhiên khoảng 4.836ha, dân số dự kiến khoảng 75.533 người. Đây là khu vực phát triển mới của thành phố theo quan điểm khai thác giá trị cảnh quan sông nước. Tại khu vực này sẽ xây dựng đập dâng giữ nước sông Trà Khúc cùng hệ thống đê kè linh hoạt theo địa hình. Cải tạo sông Trà Khúc và hệ thống các đảo ven sông tạo thành không gian mở, xanh sinh thái phục vụ các khu du lịch và thương mại ven sông, đô thị hóa các điểm dân cư dọc hai bờ sông. Bảo tồn phát triển các vùng dân cư nông thôn, nông nghiệp theo hướng sinh thái, chất lượng cao.
Thứ ba - Vùng công viên sinh thái: diện tích tự nhiên khoảng 3.114ha dân số hiện dự kiến khoảng 46.575 người. Đây là khu vực chuyển tiếp giữa khu vực xây dựng tập trung tới khu vực ven biển. Dự kiến xây dựng đập dâng giữ nước thứ hai cùng hệ thống đê kè để khai thác không gian mở ven sông Trà Khúc phục vụ phát triển du lịch và đô thị ven sông. Bảo tồn phát triển các vùng dân cư nông thôn, nông nghiệp theo hướng sinh thái, chất lượng cao.
Thứ tư - Vùng bờ biển: diện tích tự nhiên khoảng 2.153ha, dân số dự kiến khoảng 32.892 người. Dự kiến xây dựng thành một khu đô thị với những dịch vụ nghỉ dưỡng ven biển chất lượng cao.
Về định hướng quy hoạch giao thông:
Sân bay Chu Lai là sân bay quốc tế cấp hạng 4F theo quy hoạch hàng không sẽ đóng vai trò sân bay đối ngoại quốc tế chính cho thành phố Quảng Ngãi. Dự kiến bố trí một sân bay trực thăng trong thành phố Quảng Ngãi tại khu vực nền sân bay cũ trong thành phố.
Đường sắt cao tốc chạy ven phía Tây thành phố, song song với trục đường bộ cao tốc. Dự kiến sẽ có một ga hành khách bố trí tại cửa ngõ vào thành phố. Đường sắt nhẹ kết nối thành phố với Khu kinh tế Dung Quất và sân bay Chu Lai. Đường sắt Bắc Nam sẽ giữ nguyên tuyến hiện nay, nâng cấp ga hiện có, hoàn chỉnh hệ thống giao thông đô thị kết nối với ga. Xây dựng mới một ga hàng hóa tại phía Bắc thành phố với quy mô khoảng 15ha, đất kho tàng khoảng 20ha.
Trục đường bộ cao tốc có hai điểm đấu nối với hệ thống giao thông đô thị tại phía Bắc và phía Nam, trung tâm thành phố. Quốc lộ 1A được quản lý triệt để giảm các điểm giao cắt, bố trí hệ thống đường gom theo quy định.
Đối với những khu vực nội thị hiện hữu: Bổ sung hệ thống bãi đỗ xe, công trình quảng trường và đầu mối kết nối với hệ thống giao thông đối ngoại. Những khu vực mới xây dựng dọc sông Trà Khúc sẽ xây dựng hệ thống giao thông theo tiêu chuẩn đô thị loại II, tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ cảnh quan dọc hai bờ sông.
Tại các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng: Xây dựng mạng lưới đường ngoài mục tiêu phục vụ phương tiện giao thông công cộng, đáp ứng các yêu cầu về khai thác cảnh quan, thân thiện với môi trường.
Về định hướng cấp nước:
Nguồn cấp nước cho thành phố là nguồn nước mặt từ sông Trà Khúc và nước ngầm khai thác tại khu vực hạ lưu sông. Dự kiến đến 2030 sẽ nâng công suất các trạm cấp nước từ nguồn nước ngầm lên 25.000m3/ngđ, xây dựng và nâng công suất nhà máy nước Quảng Phú lên 60.000m3/ngđ, xây dựng nhà máy nước Tịnh An có công suất 25.000m3/ngđ. Hệ thống đường ống phân phối cấp nước sạch được chia làm 3 cấp phân bố đều tại các khu chức năng với đường kính tối đa là 200mm, tối thiểu là 100mm. Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ nguồn nước và công trình đầu mối cấp nước.
Về định hướng cấp điện:
Nguồn điện cho thành phố Quảng Ngãi được cấp từ trạm điện 110kV Quảng Ngãi công suất 50MVA, dài hạn sẽ nâng lên 2x40MVA, xây dựng mới hai trạm điện Quảng Phú (công suất 2x40MVA) và Sơn Tịnh (công suất 2x25MVA). Lưới điện: sử dụng lưới điện phân phối trung áp (22kV) để cấp điện cho các khu chức năng trong thành phố. Hạn chế sử dụng đường dây trên không để đảm bảo mỹ quan đô thị. Lưới điện hạ áp thiết kế dạng mạch vòng có liên kết dự phòng. Lưới điện chiếu sáng đảm bảo chiếu sáng cho các tuyến đường có chiều rộng từ 3m trở lên.
Các giải pháp về bảo vệ môi trường:
Trong giai đoạn đến 2015 phải có giải pháp xử lý ô nhiễm đối với các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ còn tồn tại trong các khu dân cư và trong dài hạn phải thực hiện di dời về các khu công nghiệp tập trung. Ưu tiên tăng cường mật độ cây xanh trong các khu chức năng đô thị. Tổ chức các không gian cây xanh mặt nước tạo cảnh quan và cải thiện môi trường sống. Có giải pháp phân loại bố trí các xí nghiệp sản xuất theo các ngành nghề với mức độ ô nhiễm khác nhau để có giải pháp kiểm soát môi trường thích hợp.
== Cơ sở giáo dục ==
Thành phố Quảng Ngãi là trung tâm giáo dục- đào tạo của tỉnh Quảng Ngãi. Trên địa bàn thành phố tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng và phân hiệu các đại học lớn của Việt Nam.
=== Đại học - Cao đẳng ===
Trường Đại học tài chính kế toán Quảng Ngãi.
Trường Đại học Phạm Văn Đồng.
Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.Cơ sở Miền Trung tại Quảng Ngãi.
Trường Cao đẳng Y tế Đặng Thùy Trâm.
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Quảng Ngãi.
Trường Cao đẳng Công Thương TP.Hồ Chí Minh - chi nhánh Quảng Ngãi.
Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Hàn Quốc.
=== Trung cấp ===
Trường Trung cấp nghề tỉnh Quảng Ngãi
=== Trung học phổ thông ===
Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Khiết.
Trường Trung học phổ thông Trần Quốc Tuấn.
Trường Trung học phổ thông Lê Trung Đình.
Trường Trung học phổ thông Võ Nguyên Giáp.
Trường Trung học phổ thông Sơn Mỹ.
Trường Trung học phổ thông Huỳnh Thúc Kháng.
Trường Trung học phổ thông Dân lập Hoàng Văn Thụ.
Trường Trung học phổ thông Tư thục Nguyễn Bỉnh Khiêm.
== Thành phố kết nghĩa ==
Quy Nhơn, Việt Nam
== Hình ảnh ==
== Đọc thêm ==
Chánh Lộ
Nghĩa Lộ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chuyên ngành Thành phố Quảng Ngãi
Trang chủ ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi |
bức xạ mặt trời.txt | Bức xạ mặt trời là dòng vật chất và năng lượng của Mặt Trời phát ra. Đây chính là nguồn năng lượng chính cho các quá trình phong hóa, bóc mòn, vận chuyển, bồi tụ trên Trái Đất, cũng như chiếu sáng và sưởi ấm cho các hành tinh trong hệ Mặt Trời.
== Bức xạ hạt ==
Bức xạ hạt hay còn gọi là gió Mặt Trời chủ yếu gồm các proton và electron. Đa phần thì chúng có hại cho các sinh vật, nhưng Trái Đất đã có tầng ozone bao phủ ngăn được phần nào ảnh hưởng có hại.
Năng lượng bức xạ hạt của Mặt Trời thường thấp hơn năng lượng bức xạ nhiệt 107 lần, và thâm nhập vào tầng khí quyển không quá 90 km. Khi đến gần Trái Đất, nó có vận tốc tới 300-1.525 km/s và mật độ 5-80 ion/cm³
== Bức xạ điện từ ==
Bức xạ điện từ có hai dạng: bức xạ trực tiếp và bức xạ khuếch tán. Có bước sóng khá rộng từ bức xạ gamma đến sóng vô tuyến với năng lượng cực đại ở vùng quang phổ khả kiến. Đây chính là nguồn năng lượng chủ yêu để chiếu sáng và duy trì các hoạt động sinh hóa trên Trái Đất. Khi qua khí quyển Trái Đất, các bức xạ sóng ngắn có hại cho sự sống gần như bị tầng ozone hấp thụ hoàn toàn. Ngày nay do công nghiệp phát triển, các chất CFC thải vào khí quyển đang huỷ hoại dần dần tầng ozone, tạo ra nguy cơ bức xạ sóng ngắn sẽ tiêu diệt sự sống trên Trái Đất.
== Năng lượng bức xạ Mặt trời ==
Năng lượng bức xạ Mặt trời thường biểu diễn bằng cal/cm².phút
Năng lượng bức xạ Mặt trời ở gần Trái Đất ở vào khoảng 2 cal/cm².phút (hằng số mặt trời), có phổ nằm trong dải bước sóng 0,17-4 μm với cực đại ở khoảng 0,475 μm.
Toàn bộ Trái Đất nhận được từ Mặt Trời 2,4.1018 cal/phút, gồm 48% năng lượng thuộc dải phổ ánh sáng khả kiến (λ = 0,4-0,76 μm), 7% tia cực tím (λ < 0,4 μm) và 45% thuộc dải phổ hồng ngoại và sóng vô tuyến (λ > 0,76 μm).
== Tham khảo == |
estrogen.txt | Estrogen là một nhóm các hợp chất steroid đóng vai trò là hormon sinh dục nữ chính. Estrogen hoặc estrogen (thấy sự khác biệt chính tả) là nội tiết tố (hormon) tình dục nữ và chịu trách nhiệm phát triển và các quy định của hệ thống sinh sản nữ và đặc điểm giới tính thứ cấp. Estrogen cũng có thể chất bất kỳ, tổng hợp tự nhiên hoặc bắt chước tác dụng của nội tiết tố tự nhiên. Các steroid 17β-estradiol là estrogen nội sinh mạnh nhất và phổ biến, nhưng một số chất chuyển hóa của estradiol cũng có hoạt động nội tiết tố estrogen. Estrogen tổng hợp được sử dụng như là một phần của một số thuốc uống tránh thai, trong liệu pháp thay thế estrogen cho phụ nữ sau mãn kinh, và trong liệu pháp thay thế hormone cho phụ nữ chuyển giới.
Tên estrogen đến từ οἶστρος Hy Lạp (oistros), theo nghĩa đen có nghĩa là "cảm hứng hoặc cảm hứng", niềm đam mê tình dục hay mong muốn theo nghĩa bóng, và hậu tố -gen, có nghĩa là "nhà sản xuất".
== Nguồn gốc và bản chất hóa học ==
Estrogen là một loại hormon do một số cơ quan sinh dục nữ tiết ra. Đó là từ tế bào vỏ trong và tế bào hạt của nang noãn (hay nang trứng), thể vàng (hay còn gọi là hoàng thể) và nhau thai. Các thành phần này đều nằm ở buồng trứng, riêng nhau thai có ở tử cung trong thời kỳ có thai.
Estrogen tồn tại tự nhiên trong cơ thể ở 3 dạng: 17β-estradiol, estron và estriol. Trong đó 17β-estradiol là estrogen được bài tiết nhiều nhất và có tác dụng sinh học mạnh nhất. Còn estriol là estrogen yếu nhất, nó là dạng chuyển hóa của 17β-estradiol và estrone.
Cả ba loại đều có bản chất hóa học là steroid được tổng hợp từ cholesterol.
== Dược động học ==
Estrogen trong máu lưu hành dưới 3 dạng: dạng tự do (là dạng hoạt động), dạng gắn với một protein (để lưu hành trong máu), và cuối cùng là dạng liên hợp (để thải ra ngoài).
Estrogen tự do khi đến tế bào đích (tiếng Anh: target cell) sẽ khuếch tán qua màng tế bào để đến kết hợp với một thụ thể (tiếng Anh: receptor) trong bào tương (hay còn gọi là tế bào chất) thành một phức hợp. Phức hợp này sẽ đi vào nhân tế bào, gây ra 2 hiệu quả: sao chép DNA để nhân đôi tế bào và tăng tổng hợp RNA.
Sau đó estrogen rời khỏi thụ thể và ra khỏi tế bào. Thời gian lưu lại trong nhân tế bào tùy thuộc vào loại estrogen - đó là hoạt tính mạnh hay yếu của mỗi loại estrogen.
== Tác dụng ==
=== Tác dụng lên cơ quan sinh dục nữ ===
Estrogen giúp các thành phần của cơ quan sinh dục nữ phát triển:
Estrogen làm tăng lượng máu đến tử cung, làm tăng số lượng cơ tử cung, giúp tử cung lớn và hoạt động tốt. Ở người phụ nữ bị cắt 2 buồng trứng thì tử cung bị teo, cơ tử cung nhỏ xuống và không hoạt động.
Estrogen làm nội mạc tử cung dày lên, tăng trưởng, phát triển các tuyến trong nội mạc. Ở người phụ nữ đang điều trị thường xuyên bằng estrogen sẽ làm nội mạc tử cung phì đại, và nếu ngưng điều trị thì sẽ làm tróc lớp nội mạc, gây chảy máu do ngưng thuốc.
Estrogen gây ra những biến đổi có chu kì của cổ tử cung, của âm đạo theo chu kì kinh nguyệt ở người phụ nữ. Nó tạo môi trường thuận lợi cho tinh trùng dễ dàng xâm nhập vào tử cung, tồn tại và di chuyển được, và vì vậy, nó tạo điều kiện cho sự thụ tinh.
Estrogen hỗ trợ sự phát triển của nang trứng, và khi trứng rụng, estrogen sẽ làm tăng nhu động của vòi trứng để đón lấy trứng dễ dàng và đưa nang trứng vào trong tử cung thuận lợi.
=== Tác dụng lên tuyến vú ===
Estrogen làm phát triển các ống dẫn ở tuyến vú và đây chính là tác nhân làm tuyến vú người phụ nữ nở to lúc dậy thì. Chúng được gọi là hormon tăng trưởng của tuyến vú.
Estrogen cũng làm quầng vú sậm màu lúc dậy thì.
=== Tác dụng lên phái tính thứ phát của người phụ nữ ===
Phát triển kích thước của tuyến vú.
Tạo hình dáng người phụ nữ: vai nhỏ, hông to, mỡ đóng ở vú và mông.
Thanh quản người phụ nữ vẫn theo tỷ lệ lúc chưa dậy thì và vì vậy giọng nói vẫn giữ tần số cao.
Cơ thể người phụ nữ có ít lông, nhưng nhiều tóc.
=== Các tác dụng khác ===
Gần ngày hành kinh cơ thể người phụ nữ tích tụ nước và muối khoáng và có hiện tượng tăng cân.
Estrogen làm các tuyến nhờn ở da tiết nhiều dịch vì vậy chất nhờn ở da loãng hơn và có tác dụng chống lại mụn trứng cá.
Estrogen còn có tác dụng làm giảm cholesterol trong huyết tương, giảm nguy cơ bị xơ vữa động mạch ở người phụ nữ. Và người phụ nữ ở lứa tuổi mãn kinh, thì nguy cơ bị bệnh lý này tăng lên vì buồng trứng không còn tiết estrogen nữa.
Tuy nhiên, khi dùng liều lớn estrogen sẽ tăng nguy cơ tạo cục máu đông trong lòng mạch máu và gây hiện tượng tắc mạch.
=== Ung thư vú ===
Người ta nhận thấy estrogen đẩy mạnh ung thư vú ở chuột trong thí nghiệm, và trên mẫu nuôi cấy các tế bào ung thư vú thì estrogen kích thích các tế bào này tăng trưởng.
Ngày nay, người ta biết tác dụng của nội tiết tố sinh dục lên mô vú một phần là qua trung gian các yếu tố tăng trưởng. Một số yếu tố tăng trưởng đã được xác định có thể là nguyên nhân gây ra những biến đổi mô vú bình thường thành ác tính và kéo dài quá trình ung thư hóa. Thụ thể của mô tuyến vú với estrogen và progesteron và một số yếu tố tăng trưởng cũng đã được nhận dạng. Trong đó thụ thể với estrogen và progesteron rất có giá trị trong việc đánh giá tiên lượng bệnh nhân, chọn lựa phương pháp điều trị. Người ta nhận thấy có khoảng 2/3 các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính, và ½ số đó có đáp ứng khi điều trị bằng nội tiết tố ở chỗ kích thước khối bướu thu nhỏ.
== Điều trị hóc môn ==
Estrogen và hormone khác được chỉ định cho phụ nữ sau mãn kinh để ngăn ngừa loãng xương cũng như điều trị các triệu chứng của mãn kinh như bốc hoả, khô âm đạo, nước tiểu không kiểm soát căng thẳng, cảm giác lạnh lẽo, chóng mặt, mệt mỏi, khó chịu, và đổ mồ hôi. Gãy xương của cột sống, cổ tay, hông và giảm 50-70% và mật độ xương cột sống tăng ~ 5% ở những phụ nữ được điều trị bằng estrogen trong vòng 3 năm kể từ khi khởi đầu của thời kỳ mãn kinh và trong vòng 5-10 năm sau đó.
Trước khi những nguy hiểm cụ thể của conjugated equine estrogens đã được hiểu rõ, điều trị tiêu chuẩn là 0.625 mg / ngày của conjugated equine estrogens (như Premarin). Tuy nhiên, có rủi ro liên quan với liệu pháp conjugated equine estrogens. Trong số những phụ nữ sau mãn kinh lớn tuổi nghiên cứu như là một phần của Tổ chức Sáng kiến sức khỏe phụ nữ (WHI), một đường uống conjugated equine estrogens bổ sung đã phát hiện thấy có liên quan với tăng nguy cơ đông máu. Các nghiên cứu WHI sử dụng một loại estrogen bổ sung, uống một liều cao conjugated equine estrogens (Premarin một mình và với medroxyprogesterone acetate như Prempro).
Trong một nghiên cứu của NIH, estrogens este hóa đã được chứng minh là không gây ra nguy cơ cho sức khỏe như conjugated equine estrogens. Liệu pháp thay thế hormone có tác dụng thuận lợi về mức độ cholesterol trong huyết thanh, và khi bắt đầu ngay sau khi mãn kinh có thể làm giảm tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch, mặc dù giả thuyết này vẫn chưa được thử nghiệm trong các thử nghiệm ngẫu nhiên. Estrogen dường như có tác dụng bảo vệ trên xơ vữa động mạch: nó làm giảm LDL và triglycerides, nó làm tăng mức độ HDL và có đặc tính giãn mạch nội mô cộng với một thành phần chống viêm.
Nghiên cứu đang được tiến hành để xác định rủi ro của estrogen bổ sung sử dụng là như nhau cho tất cả các phương pháp sử dụng. Cụ thể, estrogen bôi tại chỗ có thể có một quang phổ khác nhau của các tác dụng phụ hơn so với khi dùng đường uống, và estrogen thẩm thấu qua da không ảnh hưởng đến đông máu như chúng được hấp thu trực tiếp vào hệ tuần hoàn, tránh chuyển hóa lần đầu ở gan. Tuyến đường này của chính quyền là như vậy ưa thích ở phụ nữ có tiền sử bệnh thrombo-tắc mạch.
Estrogen cũng được sử dụng trong điều trị teo âm đạo, hypoestrogenism (như là kết quả của suy sinh dục, thiến, hoặc suy buồng trứng tiên phát), vô kinh, đau bụng kinh, và oligomenorrhea. Estrogen cũng có thể được sử dụng để đàn áp cho con bú sau khi sinh con.
== Mỹ phẩm ==
Một số loại dầu gội tóc trên thị trường có chứa estrogen và chất chiết xuất từ nhau thai; những người khác có chứa phytoestrogens. Năm 1998, đã có báo cáo về trường hợp của bốn bé gái người Mỹ gốc Phi phát triển ngực sau khi tiếp xúc với các loại dầu gội đầu. Năm 1993, FDA đã xác định rằng không phải tất cả sản phẩm thuốc thoa bán over-the-counter có chứa hormon cho con người sử dụng là an toàn và có hiệu quả và được ghi nhãn sai. Một quy tắc kèm theo chương trình khuyến mại các loại mỹ phẩm, rằng bất kỳ sử dụng của estrogen tự nhiên trong sản phẩm mỹ phẩm sẽ làm cho sản phẩm trở thành thuốc và rằng bất kỳ mỹ phẩm sử dụng thuật ngữ "hormon" trong các văn bản của dán nhãn hay trong tuyên bố thành phần của nó khiến nó có thể bị kiện bồi thường, phải chịu như các sản phẩm vậy thuốc.
Ngoài việc được coi là loại thuốc có ghi nhãn sai, các sản phẩm tự xưng chứa chiết xuất từ nhau thai cũng có thể được coi là mỹ phẩm có ghi nhãn sai nếu chiết xuất đã được chuẩn bị từ nhau thai từ đó kích thích tố và các chất hoạt tính sinh học khác đã được loại bỏ và các chất chiết xuất gồm chủ yếu của protein. FDA khuyến cáo rằng chất này được xác định bởi một tên khác hơn là "nhau thai chiết xuất" và mô tả thành phần của nó chính xác hơn bởi vì người tiêu dùng kết hợp tên "nhau thai chiết xuất" với một sử dụng trị liệu của một số hoạt động sinh học.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Estrogen |
stan wawrinka.txt | Stanislas "Stan" Wawrinka (sinh ngày 28 tháng 3 năm 1985 tại Lausanne, Thụy Sĩ) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Thụy Sĩ. Hiện anh là tay vợt số 2 Thuỵ Sĩ và số 4 thế giới (ngày 8 tháng 6 năm 2015). Thứ hạng cao nhất cho đến nay của anh là số 3 thế giới, được thiết lập vào ngày 27 tháng 1 năm 2014, anh đã giữ vị trí này trong vài tháng.
Wawrinka đã giành được ba danh hiệu Grand Slam cá nhân: Úc Mở rộng 2014, giải Pháp mở rộng 2015 và Mỹ mở rộng 2016.Trong khuôn khổ các giải ATP Masters 1000, anh đã giành danh hiệu tại Monte Carlo Masters 2014 và vào tới chung kết các giải Rome Masters (2008) và Madrid Masters (2013).
Anh cùng với Roger Federer đã đại diện cho Thuỵ Sĩ giành được huy chương vàng đôi nam tại kỳ Thế vận hội mùa hè năm 2008. Hai người cũng vinh dự giành giải thưởng Swiss Team of the Year cùng năm. Ngoài ra, anh còn thi đấu trong màu áo Thuỵ Sĩ tại Davis Cup từ năm 2004, thành tích cho tới nay của anh tại đấu trường này là 22 trận thắng và thua 24 trận. Anh cùng với Marco Chiudinelli đã chơi trong trận đánh đôi dài nhất lịch sử Davis Cup trước đội tuyển Cộng hoà Séc.
Anh là một trong số ít những tay vợt còn đang thi đấu vào tới vòng tứ kết của cả bốn giải Grand Slam. Anh cũng là một trong ba tay vợt (cùng với Tomáš Berdych và Jo-Wilfried Tsonga) giành chiến thắng trước tất cả các tay vợt trong nhóm Big Four (bao gồm Roger Federer, Rafael Nadal, Novak Djokovic và Andy Murray) tại đấu trường Grand Slam.
Wawrinka cho rằng đất nện là mặt sân mà anh ưa thích nhất, nơi anh có thể phát huy hết những cú giao bóng và trái tay sở trường. John McEnroe đã từng nói Wawrinka là một trong những tay vợt sở hữu cú trái uy lực nhất, và đến năm 2009 ông một lần nữa khẳng định anh sở hữu cú trái một tay tuyệt vời nhất lịch sử tennis.
== Thời niên thiếu ==
Stan Wawrinka là con trai của ông Wolfram và bà Isabelle Wawrinka. Ông nội của anh đã định cư ở Thụy Sĩ sau khi rời khỏi Tiệp Khắc vào năm 1946. Cha anh, ông Wolfram Wawrinka sau khi kết hôn với bà Isabelle, một nhà giáo dục, đã tiếp quản trang trại cha mẹ để lại, "Ferme du Chateau", gần Lausanne, cạnh lâu đài Saint-Barthélemy. Trang trại giúp đỡ những người thiểu năng trí tuệ, những người bị trầm cảm và nghiện ma tuý, rượu. Đây là nơi Stanislas lớn lên cùng anh trai Jonathan và hai em gái, Djanaée và Naélla. Stanislas học trường Steiner School Rudolf tại Crissier.
== Sự nghiệp quần vợt ==
=== 2003–2007: Thăng tiến và danh hiệu ATP đầu tiên ===
Wawrinka thi đấu chuyên nghiệp vào năm 2002 ở tuổi 17. Đến cuối năm 2005, anh lơ lửng ngoài top 50. Dimitri Zavialoff là huấn luyện viên của anh từ năm 8 tuổi cho đến tháng 6 năm 2010. Stanislas Wawrinka giành danh hiệu ATP đầu tiên trong sự nghiệp vào tháng 7 năm 2006 tại Croatia Open Umag, sau khi đánh bại Novak Djokovic trong trận chung kết.
Vào tháng 10 năm 2006, Wawrinka đã đạt được thứ hạng 29 thế giới.
Tại Australian Open 2007, Wawrinka vào tới vòng 3 trước khi để thua hạt giống số 2 Rafael Nadal hai set trắng. Anh đã phô diễn những cú trái khá ấn tượng, nhưng chừng đó là không đủ để đối phó với lối chơi mạnh mẽ của Nadal.
Sau đó anh đã phải đối mặt với ba tháng khó khăn khi bị rách dây chằng đầu gối phải trong lúc tập luyện cùng với đội tuyển Thuỵ Sĩ để chuẩn bị cho trận đấu với đội tuyển Tây Ban Nha tại Davis Cup vào tháng 2.
Tại French Open 2007, Wawrinka đánh bại hạt giống số 7 Ivan Ljubičić trong 4 set tại vòng 2. Anh cũng khẳng định mình qua những chiến thắng trước Guillermo Cañas và Juan Ignacio Chela để tiến tới trận chung kết Mercedes Cup tại Stuttgart, nơi anh để thua Nadal trong hai set trắng.
Tại US Open 2007, Wawrinka vào tới vòng 4, vòng đấu mà anh chưa từng đặt chân tới trước đây tại một giải Grand Slam, điều đáng chú ý là anh đã đánh bại hạt giống số 25, Marat Safin ba set trắng ngay tại vòng 2. Đến vòng 4, anh để thua trước Juan Ignacio Chela trong 5 set.
=== 2008: Huy chương vàng Olympic và top 10 Thế giới ===
Wawrinka đã lần đầu tiên đặt chân vào top 10 thế giới sau khi vào đến trận chung kết Master's Series 2008 tổ chức tại Rome. Dù đã thắng trong set đầu, chung cuộc anh lại để thua Djokovic trong 3 set.
Tại Thế vận hội Bắc Kinh năm 2008, Wawrinka đánh cặp với Roger Federer ở nội dung đôi nam. Ở bán kết, họ đánh bại cặp song sinh người Mĩ, Bob và Mike Bryan trong hai set trắng, sau đó đánh bại Simon Aspelin và Thomas Johansson của Thụy Điển trong trận chung kết để giành huy chương vàng.
Wawrinka vào tới vòng 4 US Open 2008, nơi anh thất bại trước tay vợt người Anh Andy Murray trong 3 set trắng.
=== 2009 ===
Wawrinka thua Rafael Nadal tại vòng 4 giải Sony Ericsson Open 2009 tổ chức tại Key Biscayne. Khởi đầu chậm trong cả hai set nhưng chung cuộc Nadal đã đánh bại Wawrinka trong cả hai loạt tie-break. Trận đấu kéo dài 2 giờ 42 phút.
Tại Monte Carlo Masters 2009, Wawrinka đánh bại số 2 Thế giới Roger Federer trong 2 set trắng, chiến thắng bất ngờ này khiến Nadal và Federer không thể gặp nhau trong trận chung kết thứ 4 liên tiếp tại giải đấu này.
Tại French Open 2009 Wawrinka lần lượt đánh bại Nicolas Devilder trong 5 set và Nicolás Massú trong 3 set trắng. Anh dừng bước ở vòng 3 sau khi thua Nikolay Davydenko trong 4 set.
Tại Wimbledon, anh đánh bại tay vợt 21 tuổi Jesse Levine ở vòng 3, người đã bất ngờ thắng Marat Safin ở vòng 1. Tờ The Sunday Times mô tả màn trình diễn của Wawrinka trong trận đấu này rằng anh "là một tay vợt lạ thường, tài năng bộc lộ rõ nhưng thiếu đi sự mạnh mẽ tương xứng, lại còn khá lóng ngóng trên sân giống như Federer vậy, nhưng với Federer người ta coi đó là lịch thiệp." Sau đó Wawrinka bị Andy Murray khuất phục sau 5 set tại vòng 4. Đây là trận đấu mà mái che mới lần đầu tiên được sử dụng trên sân chính và đây cũng là trận đấu muộn nhất lịch sử Wimbledon, kéo dài đến 22:37 tối.
=== 2010: Danh hiệu thứ 2 trong sự nghiệp ===
Wawrinka khởi đầu mùa giải 2010 bằng việc đặt chân tới trận chung kết Chennai Open, nơi anh để thua Marin Čilić trong cả hai loạt tie-break. Đây là thất bại thứ 5 liên tiếp trong trận chung kết của anh trong hệ thống ATP. Anh vào tới vòng 3 Australian Open 2010, một lần nữa người chiến thắng anh là Čilić. Wawrinka trở lại thi đấu tại Sony Ericsson Open sau khi vợ anh sinh con gái. Anh đánh bại Kevin Anderson, trước khi thua Mikhail Youzhny tại vòng 3. Anh mở màn mùa giải đất nện bằng việc tham gia giải Grand Prix Hassan II tổ chức tại Casablanca. Sau khi được miễn thi đấu vòng 1, tại vòng 2 anh đã đánh bại tay vợt Slovakia Martin Kližan, người đã phải vượt qua vòng loại. Trong trận tứ kết, anh đánh bại Reda El Amrani trong 2 set trắng. Trong trận bán kết, anh đánh bại tay vợt người Italia Potito Starace trong 3 set để tiến tới trận chung kết thứ 2 trong năm. Trong trận chung kết, anh đánh bại tay vợt người Rumania Victor Hănescu trong 2 set trắng để giành danh hiệu ATP thứ hai trong sự nghiệp. Với chiến thắng này, anh đã chấm dứt chuỗi năm thất bại liên tiếp trong trận chung kết các giải ATP cùng cơn khát danh hiệu trong suốt ba năm rưỡi.
=== 2011: Danh hiệu thứ 3 trong sự nghiệp ===
Wawrinka bắt đầu năm 2011 bằng những chiến thắng ấn tượng, đánh bại số 6 Thế giới Tomáš Berdych trên đường bảo vệ ngôi vương tại Chennai Open. Trong trận chung kết, Wawrinka đánh bại Xavier Malisse trong 3 set. Anh đặt chân tới tứ kết Australian Open 2011, sau khi đánh bại Andy Roddick trong 3 set để tiến tới trận chung kết toàn Thuỵ Sĩ với đối thủ là Roger Federer, chung cuộc anh thua Federer sau 3 set trắng. Anh trở lại sau thất bại trong hai set đầu tiên để đánh bại Jo-Wilfried Tsonga tại vòng 3 French Open, trước khi một lần nữa bại trận trước Federer. Wawrinka bị Simone Bolelli đánh bại tại vòng 2 Wimbledon và bị Donald Young đánh bại tại US Open cũng tại vòng 2.
Tháng 9 năm 2011, Wawrinka thông báo việc không hợp tác cùng Lundgren nữa. Anh thi đấu mà không có HLV cho đến hết mùa.
Tại giải đấu Swiss Indoors 2011, Wawrinka vào tới vòng bán kết sau khi đánh bại Florian Mayer tại tứ kết. Trong trận bán kết toàn Thuỵ Sĩ, anh để thua trước Roger Federer trong 2 set trắng.
=== 2012 ===
Wawrinka bắt đầu mùa giải tại Chennai, nơi anh tiến tới vòng tứ kết trước khi để thua Go Soeda.
Tại Australian Open 2012, anh đặt chân tới vòng 3 sau khi đánh bại Benoît Paire và Marcos Baghdatis, trước khi bị loại bởi Nicolás Almagro.
Tại trận đấu với Mardy Fish trong khuôn khổ Davis Cup diễn ra vào tháng 2, anh thua sau 5 set. Đến cuối tháng 2, anh tham dự giải Buenos Aires và Acapulco, nơi anh vào tới bán kết trước khi để thua lần lượt trước Almagro và Fernando Verdasco.
Tại Monte Carlo, anh đánh bại ba tay vợt Tây Ban Nha, Feliciano López, Pablo Andújar, và Almagro, tiến tới vòng tứ kết trước khi bại trận trước số 2 Thế giới thời điểm đó, Rafael Nadal, người sau cùng trở thành nhà vô địch giải đấu này. Tại nội dung đôi nam, anh đánh cặp với Victor Troicki, họ vào tới tứ kết của giải.
Tại Estoril, anh đặt chân tới bán kết, nhưng sau đó bị Juan Martín del Potro đánh bại.
Wawrinka vào tới vòng 4 French Open sau khi đánh bại Flavio Cipolla, Andújar, và Gilles Simon. Anh bị Jo-Wilfried Tsonga đánh bại ở vòng 4, một lần nữa trở lại sau 2 set thua để đưa trận đấu đến set thứ năm, anh dẫn tới 4–1 trong set quyết định trước khi bị Tsonga đánh bại chung cuộc.
Sau đó Wawrinka có một chuỗi các giải đấu mà anh bị loại ngay từ vòng 1: Wimbledon, Gstaad, và trong kỳ Thế vận hội mùa hè, nơi anh thua trước Andy Murray, người sau đó giành huy chương vàng. Anh là người cầm cờ Thuỵ Sĩ trong suốt buổi diễu hành khai mạc Thế vận hội. Anh lại đánh cặp với Roger Federer tại nội dung đôi nam, nhưng hai người bị loại ngay từ vòng 2.
Anh vào tới vòng bán kết giải đấu thuộc hệ thống Masters 1000 tổ chức tại Cincinnati, trước khi bị đánh bại bởi Federer, người sau đó lên ngôi vô địch. Một lần nữa Wawrinka lại đánh đôi với Jarkko Nieminen, và họ bị loại tại vòng 2 của giải.
Tại US Open, Wawrinka vào tới vòng 4, nhưng buộc phải rút lui trong trận đấu với hạt giống số 2 Novak Djokovic vì lý do sức khoẻ.
=== 2013: Bước đột phá ===
Wawrinka đánh cặp với tay vợt người Pháp Benoît Paire giành danh hiệu đôi nam tại Chennai Open, đối thủ của họ trong trận chung kết là cặp đôi người Đức Andre Begemann và Martin Emmrich.
Tại Australian Open 2013, anh vào tới vòng 4. Anh thua trong trận đấu vất vả mà kịch tính trước Novak Djokovic, kéo dài hơn năm tiếng đồng hồ, cuối cùng thua ở game thứ 22 của set thứ năm. "Chắc chắn trận đấu này sẽ đi vào lịch sử," Djokovic nói, sau chiến thắng trước tay vợt Thuỵ Sĩ. "Một trong những trận đấu dài nhất, thú vị nhất mà tôi từng chơi trong sự nghiệp."
Tại vòng 1 Davis Cup vào ngày 2 tháng 2 năm 2013, anh đã chơi trận đánh đôi kéo dài nhất trong lịch sử. Anh và Marco Chiudinelli bị đánh bại bởi Lukáš Rosol và Tomáš Berdych, đại diện cho đội tuyển Cộng hoà Séc sau 7 tiếng 2 phút, bao gồm 46 game trong set cuối. Đây là trận đấu kéo dài thứ 2 trong khuôn khổ ATP (tính cả nội dung đơn và đô).
Wawrinka vào tới trận chung kết Copa Claro 2013 tổ chức tại Buenos Aires, để thua David Ferrer trong trận chung kết.
Wawrinka tham gia US Open 2013.
Wawrinka giành danh hiệu thứ 4 trong sự nghiệp tại giải Portugal Open, nơi anh đánh bại số 4 Thế giới David Ferrer. Đây là danh hiệu cá nhân đầu tiên của anh kể từ tháng 1 năm 2011.
Tại Madrid, chuỗi thành công của Wawrinka lại tiếp diễn, khi anh đánh bại Jo-Wilfried Tsonga trong 3 set ở tứ kết. Sang đến ngày thi đấu tiếp theo, anh đánh bại Tomáš Berdych, cũng trong 3 set để tiến tới trận chung kết Masters 1000 thứ hai, đối thủ của anh trong trận chung kết là Rafael Nadal. Với thắng lợi này, anh lọt vào top 10 với vị trí thứ 10. Anh để thua 2 set trắng trong trận chung kết.
Lần đầu tiên anh đặt chân tới tứ kết French Open sau khi trở lại sau hai set thua để đánh bại Richard Gasquet tại vòng 4, nhưng sau đó thua trước nhà vô địch 7 lần, Rafael Nadal trong 2 set trắng.
Anh khởi động mùa sân cỏ bằng việc tham gia giải Topshelf Open tại 's-Hertogenbosch và vào tới trận chung kết, nơi anh để thua trước Nicolas Mahut. Tại Wimbledon, anh thua ngay tại vòng 1 trước Lleyton Hewitt.
Tại US Open 2013, Wawrinka lần đầu tiên góp mặt trong một trận bán kết Grand Slam, để thua Novak Djokovic lần nữa trong 5 set. Trước đó anh đã đánh bại tay vợt số 5 Thế giới Tomáš Berdych trong 4 set ở vòng 4, và đánh bại tay vợt số 3 thế giới và cũng là nhà vô địch giải đấu năm ngoái, Andy Murray trong 3 set trắng tại trận tứ kết.
Sau bước đột phá tại Grand Slam, Wawrinka tiếp tục thể hiện sự ổn định của mình bằng việc lọt tới bán kết tại Kuala Lumpur, nơi anh để thua trước Julien Benneteau, và tứ kết ở cả hai giải Masters 1000 sân cứng cuối cùng trong năm, Shanghai và Paris, thua trước Rafael Nadal và Novak Djokovic.
Wawrinka lần đầu trong sự nghiệp tham dự ATP World Tour Finals. Anh gây ảnh hưởng lớn tại giải đấu khi đánh bại Tomas Berdych và David Ferrer ở các trận vòng bảng. Khi anh lần thứ 12 trong sự nghiệp để thua Rafael Nadal trong 2 set trắng, cả hai set đều kết thúc bằng loạt tie-break cân não và thực tế tay vợt Thuỵ Sĩ lẽ ra đã thắng nhiều điểm hơn trong trận đấu này. Wawrinka vào bán kết với tư cách nhì bảng, anh thua Novak Djokovic lần thứ tư trong năm đó.
=== 2014: Danh hiệu Australian Open, Masters 1000 và Davis Cup ===
Wawrinka bắt đầu mùa giải thứ 9 trong khuôn khổ ATP với chiến thắng tại giải Chennai Open tổ chức ở Ấn Độ, lần thứ hai trong sự nghiệp anh vô địch giải này sau khi đánh bại Edouard Roger-Vasselin trong hai set trắng trong trận chung kết.
Tại Australian Open 2014, Wawrinka đánh bại Andrey Golubev and Alejandro Falla trong hai vòng đấu đầu tiên, sau đó giành quyền đi tiếp khi Vasek Pospisil buộc phải rút lui khỏi trận vòng 3, tiếp đó anh thắng 3 set trước Tommy Robredo. Đối thủ của Wawrinka trong trận tứ kết là Novak Djokovic, lần này Wawrinka trong 5 set, tỷ số trong set thứ 5 là 9–7. Thắng lợi này đã chấm dứt chuỗi 14 trận thua liên tiếp trước người đã 3 lần lên ngôi vô địch tại giải Grand Slam này. Sau đó anh chạm trán người lần đầu tiên giành quyền chơi trong trận bán kết Australian Open, Tomas Berdych, thắng chung cuộc sau 4 set đấu nghẹt thở (3 set phải phân định bằng loạt tie-break). Trong trận chung kết sau đó, anh đánh bại tay vợt số 1 Thế giới Rafael Nadal trong 4 set, theo đó khiến Nadal không thể trở thành tay vợt duy nhất còn đang thi đấu giành ít nhất 2 danh hiệu tại mỗi giải Grand Slam. Đây cũng là chiến thắng đầu tiên của anh trước Nadal sau 13 lần chạm trán (anh chưa từng thắng Nadal set nào trong cả 12 lần gặp nhau trước đây), và anh cũng trở thành người đầu tiên kể từ Sergi Bruguera năm 1993 đánh bại cả hai hạt giống hàng đầu trên con đường giành danh hiệu Grand Slam. Đây cũng chỉ mới là lần thứ 2 kể từ năm 2005 một tay vợt ngoài nhóm 'Big Four' (Roger Federer, Rafael Nadal, Novak Djokovic và Andy Murray) giành được một danh hiệu Grand Slam, và là lần đầu tiên kể từ Juan Martin del Potro giành US Open năm 2009. Ngoài ra, Wawrinka còn trở thành tay vợt đầu tiên đánh bại cả Nadal lẫn Djokovic trong khuôn khổ một giải Grand Slam. Anh cũng trở thành tay vợt Thụy Sĩ thứ hai có được danh hiệu Grand Slam sau Roger Federer.
Nhờ việc vô địch Australian Open 2014, lần đầu tiên trong sự nghiệp Wawrinka có mặt trong Top 5, trở thành tay vợt số 3 Thế giới, và trở thành tay vợt Thụy Sĩ đầu tiên trong lịch sử xếp trên Federer.
Thi đấu cho Thụy Sĩ tại vòng 1 giải Davis Cup 2014 đối đầu với đội tuyển Serbia, anh đã đánh bại Dusan Lajovic trong 4 set tại trận thứ hai vòng bảng. Thụy Sĩ giành quyền đi tiếp với tỷ số chung cuộc 3–2 (sau khi dẫn trước 3–0) để đặt chân vào vòng tứ kết Davis Cup lần đầu tiên kể từ 2004.
Sau một tháng nghỉ ngơi, anh tiếp tục thi đấu tại BNP Paribas Open tổ chức tại Indian Wells với tư cách hạt giống số 3. Trong trận mở màn (sau khi được miễn vòng 1), anh vượt qua Ivo Karlovic sau 2 set trắng. Ở vòng 3, anh thắng Andreas Seppi khi đối thủ xin rút lui chỉ sau 2 game đấu. Ở vòng 4, mạch 13 trận thắng liên tiếp từ đầu mùa của anh chấm dứt sau khi anh để thua trước Kevin Anderson.
Tại giải Sony Open tổ chức ở Miami, anh vào tới vòng 4 sau khi đánh bại Daniel Gimeno-Traver và Edouard Roger-Vasselin trước khi để thua trước đối thủ đang vào phom Alexandr Dolgopolov.
Wawrinka trở lại thi đấu cho đội tuyển Thuỵ Sĩ tại Davis Cup trong trận tứ kết đối đầu với Kazakhstan. Ngay trận đầu Wawrinka đã bị đánh bại bởi Andrey Golubev, sau đó (sau khi Federer đánh bại Mikhail Kukushkin cân bằng tỷ số) anh và Federer thua trận đánh đôi trước Golubev và Aleksandr Nedovesov. Tuy nhiên sau đó Wawrinka đã đánh bại Kukushkin và cân bằng tỷ số. Federer thắng trận quyết định đưa Thuỵ Sĩ vào chơi trận bán kết gặp Italy.
Tại giải Monte Carlo Masters, Wawrinka đè bẹp Marin Čilić ngay tại vòng 2, chỉ để thua hai game trong trận. Sau đó anh giành quyền đi tiếp khi đối thủ của anh tại vòng 3, Nicolás Almagro, phải bỏ cuộc sau khi dính chấn thương chân trái. Tại tứ kết, Wawrinka đánh bại Milos Raonic trong 2 set trắng để bảo đảm một vé trong trận bán kết thứ hai tại đây. Wawrinka đánh bại David Ferrer trong trận bán kết để tiến tới trận chung kết Masters đất nện thứ ba. Đây là trận chung kết toàn Thuỵ Sĩ đầu tiên sau 14 năm khi anh chạm trán với người bạn thân Roger Federer. Trong set đầu tiên, Federer bảo toàn break giành được từ sớm và ngăn chặn mọi nỗ lực giành break của Wawrinka. Tuy nhiên Wawrinka lật ngược thế cờ bằng việc đưa set 2 đến loạt tiebreak, sau đó Wawrinka tiếp đà chiến thắng, giành danh hiệu Masters 1000 đầu tiên sau hai lần lỡ hẹn. Nhờ chiến thắng này, Wawrinka dẫn đầu trong cuộc đua tới London. Cho đến thời điểm đó, Wawrinka đã đánh bại cả Djokovic, Nadal lẫn Federer trong mùa, với tỷ số đối đầu lần lượt là 2-15, 0-12 và 1-13. Tuy nhiên, Wawrinka đã không thể giữ vững phong độ trong hai giải đấu tiếp theo, khi để thua Dominic Thiem tại vòng 2 giải Madrid và Tommy Haas tại vòng 3 giải Rome. Wawinka sau đó còn nhận thất bại ngay từ vòng 1 French Open 2014 trước Guillermo García-López.
Cuối tháng đó, Wawrinka tham dự giải AEGON Championships, vượt qua Marcos Baghdatis, Sam Querrey và Marinko Matosevic mà không thua set nào, trước khi để thua tại bán kết trước Grigor Dimitrov, người sau đó lên ngôi vô địch.
Wawrinka được xếp hạt giống số 4 tại Wimbledon nhờ việc kết hợp vị trí trên bảng xếp hạng với phong độ gần đây trên mặt sân cỏ, điều này có nghĩa là Wawrinka - kẻ bại trận tại vòng một cách đây hai năm, được xếp làm hạt giống cao hơn tay vợt số 5 Thế giới Andy Murray và tay vợt số 4 Thế giới Roger Federer khi họ giành danh hiệu trong hai mùa trước. Wawrinka có được thành tích tốt chưa từng có tại giải đấu này khi lần đầu tiên vào tới tứ kết mà chỉ thua 1 set trước đó. Anh chạm trán Roger Federer trong trận tứ kết đầu tiên toàn Thuỵ Sĩ trong lịch sử Wimbledon, thua chung cuộc sau 4 set.
Wawrinka được xếp làm hạt giống số 3 tại US Open sau khi Nadal xin rút lui khỏi giải. Anh đặt chân vào trận tứ kết Grand Slam thứ 5 trong tổng cộng 7 giải, đánh bại Tommy Robredo trong 4 set ở vòng 4 sau khi cứu thành công các set point trong loạt tie-break ở set thứ 3. Cuối cùng anh bị Kei Nishikori đánh bại sau 5 set, người sau đó giành quyền vào chơi trận chung kết.
Wawrinka bị loại từ rất sớm ở ba giải đấu liên tiếp trong tháng 10 năm 2014. Tại Rakuten Japan Open Tennis Championships 2014, anh được xếp làm hạt giống số 1, nhưng ngay vòng đầu đã bị Tatsuma Ito của Japan dễ dàng đánh bại trong 2 set trắng, tay vợt xếp hạng 103 trong hệ thống ATP. Tuần tiếp theo tại Shanghai Rolex Masters 2014, anh được xếp làm hạt giống số 4 nhưng bị tay vợt không được xếp hạng hạt giống Gilles Simon loại sau 3 set tại vòng 2, sau khi được miễn thi đấu vòng 1. Anh đã sớm có được break trong set 3, nhưng chỉ thắng một trong 5 game đấu còn lại rồi thua chung cuộc. Ở thời điểm đó, Wawrinka xếp thứ 4 còn Simon xếp thứ 29 trên bảng xếp hạng. Tại Basel anh lại thất bại ngay từ vòng 1 trước Mikhail Kukushkin sau 3 set. Tại Paris Masters, Wawrinka thắng trận đầu tiên kể từ US Open trước Dominic Thiem. Tuy nhiên đến vòng tiếp theo anh gục ngã trước Anderson sau 3 set căng thẳng.
Wawrinka khá thành công tại giải ATP World Tour Finals khi đánh bại Thomas Berdych và Marin Cilic. Anh thua Djokovic trong trận vòng bảng nhưng vẫn giành tấm vé vào chơi trận bán kết. Ở bán kết, anh chạm trán đối thủ đồng hương, tay vợt số 2 Thế giới Roger Federer và sau hai tiếng thi đấu, anh có được 4 match point nhưng không tận dụng được lần nào và chung cuộc chịu thua sau 3 set. Sau trận đấu này, có tin cho rằng Federer và Wawrinka đã tranh cãi gay gắt trong 10 phút ở phòng thay đồ sân O2, sau đó ban tổ chức giải phải sắp xếp một phòng riêng để hai người giải quyết mâu thuẫn. Nguồn cơn của vụ lùm xùm này xuất phát từ việc có thông tin cho rằng vợ Federer gọi Wawrinka là 'cậu bé hay khóc nhè'.
Hai người xuất hiện thân thiết như thường sau đó khi đánh cặp trong trận chung kết Davis Cup. Trong trận chung kết đối đầu với đội tuyển Pháp, Wawrinka đã có khởi đầu tốt khi đánh bại Tsonga sau 4 set. Wawrinka sau đó đánh cặp cùng Federer và chiến thắng trận đánh đôi, đưa Thuỵ Sĩ dẫn trước 2–1 trong trận chung kết. Chiến thắng này đã kết thúc chuỗi 5 thất bại liên tiếp của cặp đôi tại nội dung đôi nam và cũng là chiến thắng đầu tiên của họ trên mặt sân đất nện. Wawrinka không thi đấu trận cuối cùng, để Federer ấn định trận đấu khi đánh bại Gasquet trong 3 set trắng để giành danh hiệu Davis Cup đầu tiên cho đội tuyển Thuỵ Sĩ. Với chiến thắng này, Wawrinka trở thành tay vợt đầu tiên kể từ Andre Agassi năm 1992 cùng giành được Grand Slam và Davis Cup trong cùng một mùa.
=== 2015: Nhà vô địch French Open ===
Vào tháng 1 năm 2015, Wawrinka đã lên ngôi vương tại Chennai Open lần thứ ba liên tiếp, đánh bại tay vợt người Slovenia Aljaž Bedene trong trận chung kết sau chiến thắng trước tay vợt số 22 Thế giới David Goffin. Tại Australian Open lại giành quyền chơi trận bán kết sau khi đánh bại Kei Nishikori trong 3 set trắng. Ở bán kết, Wawrinka thua Novak Djokovic sau 5 set, điều này khiến anh không thể bảo vệ được danh hiệu Grand Slam của mình. Sau trận thua này, Wawrinka từ vị trí thứ 4 tụt xuống vị trí thứ 9 Thế giới. Ngày 15 tháng 2 năm 2015, anh đánh bại Tomáš Berdych sau 3 set để giành danh hiệu ABN AMRO World Tennis 2015. Sau đó anh thi tài tại giải Open 13 tổ chức tại Marseille, nơi anh vào tới tứ kết và để thua trước Sergiy Stakhovsky. Tiếp đó anh tham dự BNP Paribas Open 2015 tổ chức tại Indian Wells, nơi anh bại trận trước Robin Haase ngay ở trận mở màn sau khi được miễn thi đấu vòng 1. Sau đó anh thi đấu tại giải Miami Open ở Miami và để thua 2 set trắng trước Adrian Mannarino ở vòng 3. Mặc dù rất cố gắng để bảo vệ ngôi vương tại Monte-Carlo Masters, Wawrinka lại để thua trước Grigor Dimitrov ngay ở vòng 3. Anh tiếp tục bại trận ngay tại vòng 3 Mutua Madrid Open trước Grigor Dimitrov. Tại Rome Masters, Wawrinka giành quyền vào chơi trận bán kết trước khi bị đối thủ đồng hương Federer dễ dàng đánh bại sau 2 set.
Wawrinka tiếp tục tham dự French Open 2015 với tư cách hạt giống số 8. Anh đánh bại Marsel Ilhan và Dusan Lajovic trong lần lượt 3 và 4 set, trước khi đánh bại Steve Johnson và Gilles Simon để tiến đến trận tứ kết, nơi anh đánh bại đối thủ đồng hương Roger Federer sau 2 set trắng để lần đầu tiên giành vé vào chơi trận bán kết Roland Garros. Đây cũng là chiến thắng đầu tiên của Wawrinka trước Federer tại một giải Grand Slam. Với việc thắng Jo-Wilfried Tsonga 3–1 trong trận bán kết, lần thứ hai anh có mặt trong trận chung kết Grand Slam, lần này đối thủ của anh là hạt giống số 1 Novak Djokovic. Anh đánh bại Djokovic trong 4 set sau khi mất 1 break ở set 4 và bị dẫn 0–40 ở game tiếp theo. Với chiến thắng này, Wawrinka khẳng định bản thân với danh hiệu Grand Slam thứ hai trong sự nghiệp và cũng khiến Djokovic không thể giành Grand Slam sự nghiệp. Cũng giống như lần vô địch tại Australian Open 2014, Wawrinka được xếp làm hạt giống số 8, lần lượt đánh bại hạt giống số 1 và số 2 tại tứ kết và chung kết, giải quyết trận chung kết trong 4 set và tăng 5 bậc trên bảng xếp hạng ATP, trở lại vị trí thứ 4, vị trí đầu năm anh có được đầu năm. Wawrinka là người đầu tiên giành Roland Garros sau khi thua từ vòng 1 năm trước và cũng là người đầu tiên vô địch cả giải trẻ Grand Slam lẫn giải Grand Slam kể từ thời Wilander năm 1982.Danh hiệu cuối cùng anh giành được trong năm 2015 là tại giải Japan Open khi đánh bại Benoît Paire tại trận chung kết
=== 2016: Nhà vô địch US Open ===
Ở mùa giải 2016,Wawrinka bắt đầu mùa giải với danh hiệu tại giải Aircel Chennai Open ở Ấn Độ sau khi đánh bại Borna Ćorić tại trận chung kết.Sau đó anh còn dành thêm các danh hiệu tại các giải Dubai Tennis Championships khi đánh bại Marcos Baghdatis tại chung kết với tỷ số sau các séc là 6-4,7-6,giải Geneva Open sau khi đánh bại Marin Cilic tại chung kết và đặc biệt là danh hiệu tại Mỹ mở rộng sau khi đánh bại tay vợt số 1 thế giới Novak Djokovic sau 4 séc với các tỷ số 6–7, 6–4, 7–5, 6–3
== Phong cách thi đấu ==
Sở hữu cú trái một tay uy lực nhất trong giới tennis, Wawrinka được mô tả là người có những cú đánh tấn công sát vạch baseline đáng sợ nhất, có khả năng chơi tốt trên mọi mặt sân, đặc biệt là sân cứng và đất nện. Anh cũng được biết đến là người sở hữu những cú giao bóng rất mạnh, đạt mức 232 km/h. Cú thuận tay của anh, được coi là điểm yếu trong quãng đầu sự nghiệp, đã tiến bộ đáng kể và giờ đây trở thành vũ khí hạng nặng trong lối chơi của anh.
Năm 2013, anh bắt đầu làm việc với HLV mới, ông Magnus Norman. Lần hợp tác này đã đánh dấu sự tiến bộ đáng kinh ngạc của Wawrinka trong những trận đấu lớn, bằng chứng là những chiến thắng của anh trước Andy Murray tại US Open 2013 và Novak Djokovic tại Australian Open 2014 (cả hai đều đang là đương kim vô địch) cũng như sự kiên định được cải thiện đáng kể. Lối chơi lý trí của Wawrinka ngày càng tiến bộ thấy rõ, mà đỉnh cao là chiến thắng trước Rafael Nadal tại Australian Open 2014, trận đấu mà anh đã ngăn chặn những nỗ lực phản công của Nadal để giành lấy danh hiệu Grand Slam danh giá.
== Cuộc sống cá nhân ==
Cha Wawrinka, Wolfram, là người Đức gốc Séc, dù vậy họ của anh có nguồn gốc từ Ba Lan. Ông nội Wawrinka có gốc gác ở vùng biên giới giữa Ba Lan và Tiệp Khắc cũ. Mẹ Wawrinka, Isabelle, là người Thuỵ Sĩ. Mẹ anh là nông dân, luôn giúp đỡ những người khuyết tật. Anh có một anh trai, Jonathan, là HLV tennis, và hai em gái, Djanaée và Naëlla, là học sinh đồng thời là những tay vợt tennis. Wawrinka là công dân của cả Thuỵ Sĩ và Đức.
Wawrinka sống tại Saint-Barthélemy, nơi cách Lausanne 20 km về phía Bắc với vợ mình, Ilham Vuilloud, MC kiêm cựu người mẫu Thuỵ Sĩ. Họ kết hôn vào ngày 15 tháng 12 năm 2009. Vuilloud sinh hạ con gái đầu lòng Alexia vào ngày 12 tháng 2 năm 2010. Vào ngày 4 tháng 1 năm 2011, báo chí Thuỵ Sĩ đưa tin, theo lời Vuilloud, Wawrinka quyết định ly thân để tập trung vào sự nghiệp cầm vợt, khi mà anh chỉ còn khoảng 5 năm thi đấu đỉnh cao. Không lâu sau đó hai người tái hợp, nhưng đến ngày 19 tháng 4 năm 2015, Wawrinka đăng trên trang Facebook cá nhân thông báo anh đã ly thân vợ.
Wawrinka có hình xăm trên cẳng tay trái, trên đó là dòng chữ in nghiêng câu nói của nhà văn Ireland Samuel Beckett bằng tiếng Anh: "Ever tried. Ever failed. No matter. Try Again. Fail again. Fail better." Anh còn xăm tên con gái trên tay phải.
Anh là fan hâm mộ cuồng nhiệt của Lausanne HC, đội bóng ice hockey quê nhà.
== Quảng cáo thương mại ==
Các nhà tài trợ cho Wawrinka bao gồm: Visilab, Fromm, Yonex, Subaru, Audi và Audemars Piguet.
Kể từ tháng 1 năm 2012, nhà tài trợ giầy, trang phục thi đấu của Wawrinka là hãng Yonex, ngoài ra anh đang dùng vợt Yonex VCORE Tour G, còn trước đó anh dùng vợt Yonex VCORE Tour 97. Trước đây anh dùng vợt của hãng Head, đầu tiên là Flexpoint Prestige MidPlus và Microgel Prestige pro, sau đó là YOUTEK Prestige Pro MidPlus.
Vào tháng 6 năm 2015 Wawrinka ký hợp đồng với hãng quần lót Italia, D.HEDRAL. Anh sẽ bắt đầu chiến dịch quảng cáo cho hãng vào tháng 9 năm 2015. "Tôi rất hào hứng với lần hợp tác này. D.HEDRAL là nhãn hàng mới mẻ và năng động mà từ lâu tôi đã mong muốn có dịp hợp tác. Tôi mong chờ có thể làm điều gì đó khác biệt cho nhãn hàng đầy sáng tạo như D.HEDRAL." – Stan Wawrinka.
== Thống kê sự nghiệp ==
=== Grand Slam ===
==== Chung kết: 3 (3 danh hiệu) ====
=== ATP Masters 1000 ===
Đánh đơn: 3 (1 vô địch, 2 về nhì)
=== Olympics ===
==== Đánh đôi: 1 (1 huy chương vàng) ====
== Các danh hiệu trong ATP ==
=== Đơn: 24 (15 danh hiệu, 9 á quân) ===
=== Doubles: 6 (2–4) ===
=== Đội tuyển Davis Cup: 1 (1–0) ===
== Chú thích == |
phương trình vi phân riêng phần.txt | Trong toán học, một phương trình vi phân riêng phần (còn gọi là phương trình vi phân đạo hàm riêng, phương trình đạo hàm riêng, phương trình vi phân từng phần, hay phương trình vi phân riêng) là một phương trình liên hệ giữa một hàm chưa biết với các biến độc lập của nó và các đạo hàm riêng của hàm theo các biến này. Để tìm được hàm chưa biết, thường cần giải các hệ phương trình vi phân riêng phần, tức là các hệ phương trình chứa các phương trình vi phân riêng phần.
Hệ phương trình vi phân riêng phần thường hay xuất hiện trong nhiều bài toán trong kỹ thuật hay vật lý liên quan đến chuyển động sóng của âm thanh, bức xạ điện từ, hoặc các dòng chảy, và nói chung là các hiện tượng biến đổi trong không gian và thời gian. Nhiều hiện tượng vật lý khác nhau thường có thể quy về việc giải các hệ phương trình vi phân riêng phần giống nhau, khiến cho công cụ toán học là cầu nối liên hệ và tổng quát hoá nhiều hiện tượng tự nhiên.
== Giới thiệu ==
Phương trình vi phân riêng phần đơn giản hay gặp trong giáo trình toán là:
∂
u
∂
x
=
0
{\displaystyle {\frac {\partial u}{\partial x}}=0\,}
với u là hàm chưa biết của x và y. Phương trình này thực tế cho biết u(x,y) không phụ thuộc vào x; và lời giải tổng quát là:
u
(
x
,
y
)
=
f
(
y
)
{\displaystyle u(x,y)=f(y)\,}
với f là hàm bất kỳ của y. Phương trình này tương tự như phương trình vi phân thường
d
u
d
x
=
0
{\displaystyle {\frac {du}{dx}}=0\,}
có lời giải
u
(
x
)
=
c
{\displaystyle u(x)=c\,}
với c là hằng số bất kỳ không phụ thuộc vào x.
Thí dụ này cho thấy các lời giải tổng quát của phương trình vi phân riêng phần thường chứa các hàm bất kỳ, tương tự như lời giải tổng quát của phương trình vi phân thường chứa các hằng số bất kỳ.
Để xác định cụ thể lời giải trong dải rộng của lời giải tổng quát cho từng bài toán riêng lẻ, cần có thêm các điều kiện biên.
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
burundi.txt | Burundi ( /bəˈɹʊndɪ/ or /bəˈrʌndi/), tên chính thức Cộng hòa Burundi (tiếng Kirundi: Republika y'Uburundi, [buˈɾundi]; tiếng Pháp: République du Burundi, [buʁundi] hoặc [byʁyndi]) là một quốc gia ở đông châu Phi.
== Lịch sử ==
Vào thế kỉ 15, những người du mục Tutsi (còn gọi là người Watutsi), được xem là một dân tộc từ Ethiopia đến, bắt đầu cuộc chinh phục người Hutu. Họ thành lập vương quốc Mwami và thống trị theo thể chế quân chủ chuyên chế. Những người châu Âu đầu tiên đến thám hiểm vùng hồ Tanganyika từ năm 1858.
Vùng lãnh thổ này bị sáp nhập vào Đông Phi thuộc Đức (1891) và cùng nước láng giềng tạo thành lãnh thổ Rwanda-Urundi đặt dưới sự ủy trị của Bỉ từ sau Chiến tranh thế giới thứ I.
Năm 1962, Burundi giành được độc lập và trở thành vương quốc dưới sự cai trị của Quốc vương Mwami Mwambutsa IV thuộc sắc tộc Tutsi. Cuộc nổi loạn của người Hutu diễn ra vào năm 1965 dẫn đến sự trả đũa man rợ của người Tutsi. Năm 1966, Mwambutsa bị con trai là Ntaré truất phế. Đến lượt người này, Quốc vương Ntaré, lại bị một sĩ quan người Tutsi là Michel Micombero lật đổ trong cùng năm ấy. Cuộc xung đột sắc tộc giữa người Hutu và nhóm thiểu số người Tutsi dẫn đến tàn sát lẫn nhau (1972-1973). Năm 1976, trung tá J. B. Bagaza chỉ huy nhóm sĩ quan người Tutsi lật đổ Tổng thống M. Micombero. Năm 1987, Tổng thống J. B. Bagaza bị một sĩ quan người Tutsi là P. Buyoya lật đổ trong cuộc đảo chính quân sự. Cuộc xung đột sắc tộc lại xảy ra năm 1988.
Tiến trình dân chủ hóa được xúc tiến từ năm 1988, cán cân quyền lực giữa người Hutu và người Tutsi được quân bình.
Hiến pháp năm 1992 thông qua thể chế đa đảng. Năm 1993, Melchi N'Dadaye, đại diện đầu tiên của người Hutu đắc cử Tổng thống, nhưng N'Dadaye bị quân đội thuộc nhóm người Tutsi ám sát. Người kế nhiệm là Tổng thống C. Ntaryamira cùng Tổng thống Juvénal Habyarimana của Rwanda bị chết trong vụ nổ máy bay tại thủ đô Kigali (Rwanda) năm 1994. Bạo lực lại bùng nổ giữa quân đội người Tutsi và người Hutu.
Năm 1996, quân đội tiến hành cuộc đảo chính và đưa Tổng thống P. Buyoya trở lại cầm quyền. Hơn 200.000 người bị giết kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu, cả quân đội người Tutsi và lực lượng nổi loạn người Hutu phải chịu trách nhiệm cuộc tàn sát này. Ông Nelson Mandela được chỉ định làm người trung gian hòa giải cho cuộc chiến này vào đầu năm 2000. Tháng 7 năm 2001, một Hiệp định hòa bình mong manh và thỏa thuận chia sẻ quyền lực được ký kết giữa Chính phủ và 18 phe nhóm chính trị, nhưng phe nổi loạn Hutu đấu tranh chống Chính phủ không đồng ý tham dự. Nội chiến lại tiếp tục trong năm 2002, những cố gắng nhằm ký một hiệp định ngừng bắn không đạt được thành công nào.
Tháng 7 năm 2005, Burundi đã bầu Hạ viện và Thượng viện theo chế độ đa đảng. Ngày 19 tháng 8 năm 2005, Hạ viện đã bầu ông Pierre Nkurunziza làm Tổng thống.
== Chính trị ==
Chính trị của Burundi diễn ra trong khuôn khổ của một nước cộng hòa tổng thống, theo đó Tổng thống Burundi là nguyên thủ quốc gia và đứng đầu chính phủ, với một hệ thống chính trị đa đảng. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp trao cho cả chính phủ và lưỡng viện Quốc hội. Tổng thống được bầu trực tiếp bởi người dân. Tổng thống bổ nhiệm hai Phó tổng thống, hai Phó tổng thống sẽ thành lập nội các.
Quốc hội (Assemblée nationale) có 118 thành viên, được bầu cho một nhiệm kỳ năm năm. Thượng viện (Senat) có 49 thành viên, được bầu cho một nhiệm kỳ năm năm trong bầu cử của hội đồng xã.
Tình hình chính trị xã hội của Burundi nhiều năm không ổn định do tranh giành quyền lực giữa hai bộ tộc chính người Hutu và Tutsi. Sau cuộc bầu cử năm 2005 đến nay, tình hình Burundi được cải thiện nhưng vẫn còn tồn tại những thách thức về an ninh và phát triển.
== Hành chính ==
Burundi được chia thành 17 tỉnh, 117 xã và 2.638 làng. Chính quyền cấp tỉnh được cấu trúc theo những ranh giới. Năm 2000, tỉnh Bujumbura được tách thành hai tỉnh, Bujumbura và Bunjumbura Mairie.
Các tỉnh là:
== Địa lý ==
Quốc gia ở Trung Phi, Bắc giáp Rwanda, Đông và Nam giáp Tanzania, Tây giáp Cộng hòa Dân chủ Congo và hồ Tanganyika. Đất nước nằm trong đất liền, phần lớn lãnh thổ là đồi núi và cao nguyên.
=== Khí hậu ===
Burundi nằm trong vùng khí hậu xích đạo. Các vùng thấp ở rìa phía Bắc và phía Đông nóng ẩm, vùng cao nguyên và núi có khí hậu ôn hòa hơn. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 17OC dến 23OC. Lượng mưa trung bình khoảng 1.500 mm/năm, mùa mưa từ tháng 2 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 6 đến tháng 8 và từ tháng 12 đến tháng 1.
=== Môi trường ===
Đất bị xói mòn do chăn thả quá mức và mở rộng nông nghiệp; nạn phá rừng (diện tích rừng bị thu hẹp do không kiểm soát được tình trạng khai thác gỗ bừa bãi); nguy cơ thú rừng bị tuyệt chủng do mất nơi cư trú.
== Kinh tế ==
Trong giai đoạn năm 1993 – 1999, do các cuộc nội chiến liên miên và lệnh cấm vận của nước ngoài (1996), GDP của Burundi giảm đi 20%, tỷ lệ vốn đầu tư giảm từ 18% xuống còn 6% và lạm phát năm 1999 lên tới 21%. Cuộc nội chiến kết thúc cùng với tình hình chính trị ổn định đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và sự giúp đỡ từ bên ngoài. Tuy nhiên, nước này vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do tình trạng nghèo đói, thất học, sự yếu kém trong quản lý hành chính và hệ thống luật pháp còn lỏng lẻo.
Burundi là một nước nông nghiệp lạc hậu. Ngành kinh tế lớn nhất là nông nghiệp với trên 90% dân số sống bằng nghề nông. Burundi có các loại khoáng sản quý như kim cương, vàng, niken, cô ban, platinum, uranium, wolfram... thu nhập kim cương chiếm 10% tổng giá trị hàng xuất khẩu.
Burundi là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Công nghiệp kém phát triển chủ yếu là chế biến các sản phẩm nông nghiệp. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp chiếm khoảng 35% GDP và sử dụng hơn 90% dân số. Burundi xuất khẩu chính là cà phê và chè, chiếm 90% thu nhập ngoại tệ. Mặc dù GDP Burundi tăng khoảng 4% hàng năm từ 2006 đến nay, nhưng hiện tại, đang tiềm ẩn những yếu kém (tỷ lệ đói nghèo cao, hệ thống pháp luật yếu, mạng lưới giao thông kém, các tiện ích quá tải, và năng lực hành chính thấp…) mang đến nguy cơ phá hoại kế hoạch cải cách kinh tế của Chính phủ Burundi. Burundi đang phụ thuộc nhiều vào viện trợ từ các nhà tài trợ song phương và đa phương.
Burundi là nước nghèo tài nguyên, công nghiệp kém phát triển. Kinh tế chủ yếu dựa vào trồng trọt (cà phê, ngô, đậu, lúa miến, chè, bông vải, dầu cọ) và chăn nuôi (dê, cừu, bò). Khoảng 90% dân số sống nhờ vào nông nghiệp. Các mặt hàng xuất khẩu gồm cà phê, chè và chuối. Kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu cà phê (chiếm đến 80% ngoại tệ thu được) Vì vậy khả năng thanh toán hàng hóa nhập khẩu không ổn định, tùy vào thị trường cà phê thế giới. Từ tháng 10 năm 1993, đất nước này trải qua những cuộc bạo động, xung đột lớn về sắc tộc làm khoảng 250.000 người chết và 800.000 người mất nhà cửa. Thực phẩm, thuốc men, điện nước không đủ đáp ứng.
- Tài nguyên thiên nhiên có kim cương, vàng, nikel, uranium, platinum, wolfram...
- Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 33,3%, Công nghiệp 21%, Dịch vụ 45,8%
- Mặt hàng xuất khẩu: chủ yếu là cà phê, chè, bông và đường.
- Mặt hàng nhập khẩu: gạo, vải vóc, xăng dầu, thực phẩm.
- Bạn hàng nhập khẩu: Ả Rập Xê Út, Kenya, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga.
- Bạn hàng xuất khẩu: Thụy Sĩ, EU, Pakistan, Rwanda, Ai Cập.
- Burundi hiện là thành viên các tổ chức kinh tế IMF, WTO, COMESA.
GDP: 1,469 tỉ USD (2010)
GDP bình quân đầu người: 131 USD (2010)
Tỷ lệ tăng trưởng GDP: 3,9% (2010)
== Dân số ==
Dân số Burundi hiện nay khoảng 10.216.190 (2010). Dân số Burundi chủ yếu sống ở nông thôn, trong khi 11% dân số sống ở khu vực đô thị vào năm 2010. Mật độ dân số khoảng 315 người trên mỗi km vuông, là nước có mật độ dân số cao thứ hai trong tiểu vùng Sahara. Khoảng 85% dân số là người Hutu, 15% là người Tutsi, và ít hơn 1% là người Pygmy. Burundi có mức sinh cao thứ năm trên thế giới, tại 6,08 con sinh ra / người phụ nữ (2012 ước tính).
== Tôn giáo ==
Ước tính Kitô giáo chiếm 75% dân sô trong đó Công giáo La Mã là nhóm lớn nhất chiếm 60%. Tin Lành và Anh giáo chiếm 15% còn lại. Ước tính có khoảng 20% dân số tuân thủ các niềm tin tôn giáo bản địa truyền thống. Dân số Hồi giáo được ước tính ở mức 5%, đa số sống ở các vùng đô thị. Người Sunni chiếm đa số dân số Hồi giáo, còn lại là Shi'a.
== Văn hóa ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
=== Những ghi chú ===
== Liên kết ngoài == |
đầm lầy.txt | Đầm lầy là một vùng đất ngập nước với hoặc một khu vực được hình thành do lũ lụt mà nước đọng lại chưa thể thoát được, đây là một kiểu hệ sinh thái và có cấu trúc đất mềm, địa hình lõm hoặc những chỗ lồi lõm, đất khô xen lẫn đất ướt. Đầm lầy thường được bao phủ bởi thảm thực vật thủy sinh, hoặc thảm thực vật có khả năng chịu đựng ngập lụt, ngâm nước. Nguồn nước và độ sâu của đầm lầy hơn các vùng đồng lầy hay bãi lầy trong các vùng đất ngập nước.
yio
== Đặc điểm ==
Nước ở đầm lầy có thể là nước ngọt (nếu những đầm lầy được hình thành tại gần các lưu vực sông), nước lợ hoặc nước biển (nếu đầm lầy hình thành gần các cửa sông, cửa biển). Đặc trưng phổ biến của đầm lầy là ao tù nước đọng, úng ngập vì đây là những vùng nước thoát chậm. Chúng thường được hình thành liền kế với những con sông hoặc hồ.
Đôi khi dưới những lớp đất ở đầm lầy có những mạch nước nầy giữ cát, bùn và các tạp chất lơ lửng một lớp (có khi) rất mỏng, thường gặp những nơi như thế nầy ở vùng đầm lầy nhiệt đới. Đất ở đầm lầy xốp, mềm, đi đứng khó khăn, ở đó còn có những chỗ có sức lún, nếu người hay động vật lọt vào mà không biết cách tự cứu, có thể bịt dìm chết. Ở một số vùng đầm lầy lớn có hệ sinh thái phong phú thường có nhiều loại động vật hoang dã có thể gây hại cho con người như trăn, rắn, cá sấu....
Tại Bắc Mỹ, đầm lầy thường bao gồm một số lượng lớn thảm thực vật cây thân gỗ, nhưng ở nơi khác chẳng hạn như trong đầm lầy châu Phi chiếm ưu thế bởi giấy cói.
== Một số đầm lầy trên thế giới ==
Trên thế giới có một số đầm lầy có diện tích lớn như đầm lầy Vasyugan là một đầm lầy lớn ở khu vực phía tây Siberia của Liên bang Nga, đây là một trong những đầm lầy lớn nhất thế giới, nó bao phủ một diện tích lớn hơn so với Thụy Sĩ. Đầm lầy Sudd ở đồng bằng sông Okavango của châu Phi. Đầm lầy Atchafalaya là đầm lầy lớn nhất tại Hoa Kỳ, ngoài ra còn các đầm lày khác như đầm lầy Everglades, đầm lầy Okefenokee, đầm lầy Barley Barber.
== Tham khảo ==
SUMPF, m. In: Jacob Grimm, Wilhelm Grimm: Deutsches Wörterbuch. Leipzig 1854ff (dbw.uni-trier.de)
BRUCH, m. n. palus, mit langem vocal. In: Grimm: Deutsches Wörterbuch.
== Xem thêm ==
Đồng lầy
Bãi lầy
Đất ngập nước
Đầm lầy cây bụi
== Tham khảo == |
wolverhampton.txt | Wolverhampton là một thành phố và đô thị tự quản ở West Midlands, Anh. Năm 2004, chính quyền địa phương ước tính dân số thành phố là 239.100 người và dân số thành phố rộng hơn là 251.462 người, khiến nó là thành phố đông dân thứ 13 ở 13 thành phố đông dân nhất ở nước Anh.
Trong lịch sử nó là một phần của Staffordshire, và hình thành một phần của hạt đô thị tự quản của West Midlands từ năm 1974, thành phố thường được công nhận là được đặt theo tên bà Wulfrun, người sáng lập ra thị trấn vào năm 985: tên của nó đến từ Anglo-Saxon Wulfrūnehēantūn = vòng rào hoặc trang trại cao và chính yếu của "Wulfrūn của cao hoặc chủ yếu ". Ngoài ra, tên gọi của thành phố có thể bắt nguồn từ tên gốc Wulfereēantūn =" vòng rào hoặc trang trại cao và chính yếu Wulfhere theo vua Mercia. Tuy nhiên, tên các Wulfrun thường được sử dụng trong thành phố - ví dụ, cho Trung tâm Wulfrun hoặc cho Tòa nhà Wulfrun.
Tên của thành phố thường được viết tắt là Wolvo "W'ton" hay "Wolves". Khẩu hiệu của Hội đồng thành phố là "Ra khỏi bóng tối là tới ánh". Người Wolverhampton được gọi là Wulfrunians.
Thành phố lớn ban đầu là một thị trấn chuyên vệ buôn bán len. Trong và sau cuộc Cách mạng công nghiệp, thành phố đã trở thành một trung tâm công nghiệp lớn, với khai thác khoáng sản (chủ yếu là than đá, đá vôi và quặng sắt) cũng như sản xuất thép, ổ khóa, xe máy và xe - bao gồm cả những chiếc xe đầu tiên tổ chức tốc độ đất ghi lại tại hơn 200 dặm / giờ. Ngày nay, các ngành công nghiệp lớn trong thành phố đều dựa trên kỹ thuật (bao gồm cả một ngành công nghiệp hàng không vũ trụ lớn) và trong các lĩnh vực dịch vụ. Thành phố có câu lạc bộ bóng đá Wolverhampton Wanderers F.C..
== Tham khảo == |
nuôi lợn.txt | Nuôi lợn hay nuôi heo là việc thực hành chăn nuôi các giống lợn nhà để lấy thịt lợn và các sản phẩm từ lợn. Chăn nuôi lợn là một ngành hết sức quan trọng, nó cung cấp một số lượng rất lớn thịt cho bữa ăn của hàng tỷ người trên trái đất và là một loại thực phẩm thiết yếu. Lợn nuôi chủ yếu dùng để lấy thịt. Các sản phẩm khác từ thịt lợn như xúc xích, lạp xưởng, jambon. Đầu lợn có thể được dùng làm dưa da đầu lợn. Gan, huyết và các nội tạng khác cũng được dùng làm thực phẩm (lòng lợn). Một số tôn giáo như Do Thái giáo và Hồi giáo, thịt lợn là thực phẩm cấm kỵ.
== Tổng quan ==
Ở một số nước phát triển và đang phát triển, lợn thuần hóa là loài bản địa thường được nuôi thả ngoài trời hoặc trong chuồng. Ở một số vùng lợn được thả tìm thức ăn trong rừng có thể có người trông coi. Ở các quốc gia công nghiệp nuôi lợn thuần hóa được chuyển từ việc nuôi chuồng trại truyền thống sang hình thức chăn nuôi công nghiệp. Nhờ đó mà có chi phí sản xuất thấp nhưng sản lượng lại cao. Những trang trại nuôi lợn lớn hơn nhiều so với trong quá khứ, với hầu hết các trang trại quy mô lớn chứa 5.000 con hoặc nhiều hơn trong các tòa nhà khí hậu kiểm soát. 100 triệu con lợn bị giết mổ mỗi năm.
Lợn được nuôi ở nhiều nước, mặc dù các nước tiêu thụ chính là ở châu Á. Mặc dù có đàn lớn nhất thế giới nhưng Trung Quốc là nước nhập siêu lợn và đã tăng nhập khẩu trong thời gian phát triển kinh tế của mình do dân số quá đông và nhu cầu tiêu thụ lớn. Các nhà xuất khẩu lợn lớn nhất là Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Canada. Canada đã xuất khẩu 22,8 triệu con lợn trong năm 2008 đi 143 quốc gia.
== Chăn nuôi ==
Trên thế giới, việc nâng cao năng suất - chất lượng con giống trong quá trình sản xuất lợn thịt luôn là yếu tố hàng đầu, then chốt được các nhà nghiên cứu, các tập đoàn chăn nuôi của mọi quốc gia trên thế giới quan tâm. Việc nghiên cứu chọn lọc dòng cao su sản huyết thống và lai tạo tìm ra các tổ hợp lai đạt số con sơ sinh sống/ổ cao, tỷ lệ nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp và độ dày mỡ lưng mỏng đã thành công ở hầu hết các nước có nền chăn nuôi tiên tiến như: Mỹ, Đức, Canada, Anh, Hà Lan, Đan Mạch và Úc.
Người ta đã cho rằng tuổi thành thục của lợn giống bắt đầu vào khoảng 5-8 tháng tuổi và lượng tinh dịch sản xuất ra tăng dần đến ổn định khi lợn đạt 18 tháng tuổi. Tại thời điểm này, mỗi lần xuất tinh thể tích tinh dịch đạt 200 - 400 ml/lần, tổng số tinh trùng tiến thẳng từ 20 - 80 tỷ/lần. Mức này duy trì đến 60 tháng tuổi sau đó giảm dần. Khả năng sinh sản của lợn lai (Danube White x Landrace) phối với đực giống thuần và đực giống lai đã kết luận tỉ lệ thụ thai ở nhóm lợn nái lai được phối giống với đực lai (Hampshire x Pietrain) cao hơn so với nhóm đực thuần Hampshire và Pietrain.
== Chọn giống ==
Để có được lợn con tốt nuôi thịt cần lưu ý đến nguồn gốc sản xuất ra heo con (có phẩm chất giống tốt, được xuất xứ từ những trang trại có đảm bảo quy trình tiêm chủng). Người mua heo con nuôi thịt cần chú ý những điểm sau như thường có thân dài, bụng thon, mông nở, vai nở, lanh lợi, đuôi luôn ve vẩy, mắt sáng không đổ ghén hay chảy nước mắt, da lông bóng mượt. Tránh chọn những con có khuyết tật như tai vẹo, đuôi vẹo, hernia rốn hay hernia dịch hoàn. Nên quan sát nhịp thở, thở phải đều đặn, không thở dốc (có thể bị viêm phổi), lông mịn không thô dày, da mỏng không nhăn nheo không có mẫn đỏ, bầm tím hay đóng vẩy. Chúng cần tiêm chủng các bệnh thông thường, khi vẫn chuyển về cần tái chủng lại, sau khi kiểm tra heo phát triển tốt không có dấu hiệu bệnh (nên tái chủng bệnh dịch tả, Tụ huyết trùng, Thương hàn).
Nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng thịt xẻ cho chế biến và tiêu dùng, đực lai cuối cùng đã được sử dụng rất phổ biến trong hệ thống lai thương phẩm. Nhờ các dòng đực lai tổng hợp có ưu thế lai cao, giá thành sản xuất con giống hạ và sử dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, số lượng lợn đực giống cần nuôi giữ và sử dụng ngày càng giảm. Đồng nghĩa với việc giảm chi phí và tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Trên thế giới, việc sử dụng đực lai cuối cùng là rất phổ biến, các tổ hợp đực lai tổng hợp cuối cùng có ưu thế lai cao và hạ giá thành sản xuất con giống.
Trên thế giới, người ta không chỉ quan tâm đến các chỉ tiêu về số lượng như: khả năng tăng trọng, mức độ tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ thịt nạc...mà còn đặc biệt quan tâm đến các chỉ tiêu về chất lượng thịt như: Màu sắc thịt, tỷ lệ mỡ giắt, độ giữa nước của thịt, cấu trúc thịt cũng như hương vị thịt...Để giải quyết vấn đề này, lai tạo các dòng đực lai để có thể kết hợp được nhiều ưu điểm về chất lượng thịt của các giống là hướng chủ đạo, đặc biệt là trong những công thức lai cuối để tạo ra lợn thương phẩm.
Hầu hết những công ty lớn trên thế giới như PIC (Pig Improvement Company) của Anh, Danbred của Đan Mạch, Flanders Pigbreeders Association của Bỉ đều nghiên cứu và đưa ra thị trường nhiều loại đực lai riêng biệt cho các công thức lai giống khác nhau. Các nước chăn nuôi tiên tiến đã xác định rõ dòng đực cuối cùng trong các chương trình lai và họ đã thu được kết quả cao trong chăn nuôi lợn. Tùy theo nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau, việc sử dụng hệ thống lai thương phẩm cũng có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực hay giữa các quốc gia, các dòng đực lai cuối cùng được nghiên cứu lai tạo và sử dụng chủ yếu từ hai dòng thuần.
== Ở Việt Nam ==
Tổng đàn lợn của Việt Nam hiện nay là 28 triệu con. Trước đây, nông dân Việt Nam ở các vùng đồng bằng chủ yếu nuôi lợn để tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp (cám gạo, cám ngô, khoai, sắn, rau, bèo...). Ngoài mục đích tăng thu nhập (từ bán lợn thịt, lợn giống), các chất thải từ chăn nuôi lợn (phân, chất độn chuồng) còn là nguồn phân hữu cơ chính cho nhiều loại cây trồng...Lợi nhuận từ chăn nuôi lợn không đáng là bao chủ yếu là lấy công làm lãi, tránh bỏ phí phụ phẩm nông nghiệp và nhiều người coi nuôi lợn như cách bỏ tiền tiết kiệm. Ở trung du và miền núi còn có hình thức nuôi lợn thả rông.
Việt Nam cũng đã phát triển mô hình trại chăn nuôi hợp tác xã, thành lập các nông trường trong đó có các trại chăn nuôi cùng với một số trung tâm giống ở các địa phương cung cấp giống cho nông dân. Một số trung tâm mổ và chế biến thịt lợn đã hoạt động và đã xuất khẩu thịt lợn sang các nước thuộc Liên Xô cũ và một số nước Đông Âu. Sau đó những chính sách kinh tế mới nói chung và những chính sách trong nông nghiệp nói riêng của thời kỳ đổi mới trong đó có ngành chăn nuôi đã có những thay đổi rất lớn trong tất cả các khâu từ nghiên cứu lai tạo giống, quy trình chăn nuôi đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Hình thức chăn nuôi tuyền thống vẫn còn nhưng cũng xuất hiện không ít các mô hình chăn nuôi hiện đại từ quy mô hộ gia đình đến các trung tâm, công ty v.v. Trước sự cạnh tranh về chất lượng và giá sản phẩm ở cả thị trường trong và ngoài nước, chăn nuôi lợn đứng trước các vấn đề cần giải quyết như nâng cao chất lượng giống, nhập và lai tạo giống bên cạnh bảo tồn và phát huy ưu điểm của các giống bản địa, hiện đại hóa quy trình chăn nuôi, quy trình chế biến, đảm bảo tiêu chuẩn trong nước và quốc tế về vệ sinh thực phẩm...
Hiện nay, các giống heo nội đang dần được thay thế bởi các heo ngoại cao sản, đặc biệt ở nhiều trại quy mô lớn có trình độ chăn nuôi thâm canh và đầu tư cao. Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất nông hộ ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, đại đa số nông dân nuôi con lai giữa nái địa phương và đực ngoại. Các giống heo nái nội có tầm vóc nhỏ bé, nhiều mỡ, ít nạc, nhưng có nhiều đặc tính ưu việt: Chịu kham khổ, dễ nuôi dưỡng, tận dụng tốt nguồn thức ăn địa phương, mắn đẻ, nuôi con khéo, đề kháng cao với bệnh tật và đặc biệt thích nghi với môi trường khí hậu. Trong khi đó các giống ngoại lớn nhanh cho nhiều nạc.
Việc lai tạo giữa các giống heo nội với các giống heo ngoại sẽ kết hợp bổ sung những đặc tính tốt của cả 2 giống. Con lai có tầm vóc cải thiện, tăng trọng cao và giữ được năng suất sinh sản tốt. Cần phải bảo tồn nguồn gen heo nội để nhân thuần cung cấp nái nền lai tạo với các giống ngoại nhập trong các hệ thống sản xuất nhỏ, đặc biệt chăn nuôi nông hộ thường thiếu vốn đầu tư và kỹ thuật, với phương thức chăn nuôi tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp vẫn còn phổ biến.
== Tham khảo == |
sự kiện thiên an môn.txt | Những cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn năm 1989, được biết đến nhiều hơn với các tên gọi Sự kiện 4 tháng 6 (六四事件), Phong trào Dân chủ '89' (八九民运) trong tiếng Trung, là một loạt những vụ biểu tình lãnh đạo bởi tầng lớp sinh viên ở thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc trong mùa xuân năm 1989.
Các cuộc biểu tình dấy lên sau cái chết của Hồ Diệu Bang, cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, một nhà cải cách theo đường lối tự do bị phế truất vì đi ngược lại những đường lối bảo thủ của cuộc cải cách kinh tế và chính trị bấy giờ. Dân chúng xuống đường nhân tang lễ ông để tụ tập diễu hành và biểu tình chống lại tham nhũng, đòi hỏi tự do báo chí, tự do ngôn luận và tái lập quyền kiểm soát của công nhân đối với ngành kinh doanh.
Theo số liệu của Trung Quốc, cuộc đụng độ đã khiến 241 người thiệt mạng, trong đó có 23 binh lính Trung Quốc bị những người biểu tình quá kích giết hại bằng gậy gộc hoặc bom xăng, khoảng 2.000 người khác bị thương. Nhưng bệnh viện địa phương đưa ra con số khoảng 2.000. Tại đỉnh cao của những cuộc biểu tình, có khoảng một triệu người đã tụ tập tại quảng trường này.
Trong và sau sự kiện, truyền thông phương Tây cáo buộc chính phủ Trung Quốc đã sử dụng xe tăng và súng đạn để giết hại hàng loạt những người biểu tình. Ngược lại, chính phủ Trung Quốc phủ nhận những cáo buộc từ phương Tây, đồng thời cáo buộc phương Tây cố tình tung tin giả nhằm kích động người dân Trung Quốc lật đổ chính phủ và đẩy Trung Quốc vào nội chiến. Phải tới 25 năm sau mới dần xuất hiện những nghiên cứu và tài liệu mới để làm sáng tỏ sự kiện này. Năm 2012, Wikileaks đã tiết lộ một điện tín gửi về Mỹ của tòa đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh vào thời điểm vụ Thiên An Môn xảy ra, cho thấy quân lính Trung Quốc thực sự đã không nổ súng bắn người biểu tình. Đụng độ bạo lực thực sự đã xảy ra giữa người biểu tình và quân đội, nhưng chủ yếu bằng gậy gộc, dùi cui chứ không có vụ thảm sát nào diễn ra như truyền thống phương Tây mô tả.
== Tên gọi ==
Sự kiện được đặt tên theo vị trí diễn ra sự đàn áp phong trào ở Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Những người biểu tình thuộc nhiều nhóm khác nhau, từ các trí thức tin tưởng rằng chính phủ do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo quá tham nhũng và hà khắc, tới những công nhân thành thị tin rằng cải cách kinh tế Trung Quốc đã đi quá xa dẫn tới lạm phát tăng cao và tình trạng thất nghiệp lan tràn đe dọa cuộc sống của họ.
Sau khi những người biểu tình bất chấp kêu gọi giải tán của chính phủ, một sự chia rẽ xảy ra bên trong Đảng cộng sản về việc giải quyết vấn đề với những người biểu tình theo cách nào. Trong những nhóm đang tranh cãi nhau, một phe cứng rắn nổi lên và quyết định đàn áp cuộc biểu tình mà không cần để ý tới những yêu cầu của họ.
Ngày 20 tháng 5, chính phủ tuyên bố thiết quân luật và vào đêm ngày 3 tháng 6, sáng ngày 4 tháng 6, xe tăng và bộ binh quân đội được gửi tới quảng trường Thiên An Môn để đàn áp phong trào và giải tán những người biểu tình.
Tại Trung Quốc, vụ này thường được gọi là Sự kiện mùng 4 tháng 6 (六四事件) hay Phong trào mùng 4 tháng 6 (六四运动). Tên sau được đặt theo tên của hai hành động phản kháng khác cũng xảy ra ở quảng trường Thiên An Môn: Phong trào mùng 4 tháng 5 năm 1919 và Phong trào mùng 5 tháng 4 năm 1976.
== Bối cảnh ==
Tháng 4 năm 1989, khi Hồ Diệu Bang qua đời, dân chúng Trung Quốc đã nhân tang lễ ông, tổ chức nhiều vụ xuống đường biểu tình. Chính thức là để tỏ lòng thương tiếc một người thuộc xu hướng cải cách, song các cuộc biểu tình này thực ra là để phản đối lạm phát và nạn tham nhũng. Vào thời điểm ấy, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô là Mikhail Gorbachyov đến thăm Bắc Kinh sau nhiều năm gián đoạn quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc.
Đây là biến cố quốc tế nên đông đảo truyền thông thế giới có mặt để tường thuật. Các cuộc biểu tình kéo dài khiến lãnh đạo Bắc Kinh lúng túng. Vì muốn thách thức Gorbachyov tiến hành cải cách nên họ không dám ngăn chặn biểu tình, trong khi nhiều đảng viên cao cấp lại tỏ vẻ ủng hộ, thậm chí yểm trợ dân biểu tình.
Đến khi sự việc xảy ra quá tầm kiểm soát của chính quyền thì họ chỉ còn giải pháp là "tắt đèn nổ súng". Triệu Tử Dương muốn can cả hai, chính quyền và dân biểu tình, mà không nổi. Ông xuất hiện lần cuối, giữa đám biểu tình vào ngày 19 tháng 5 năm 1989, với nước mắt lưng tròng và tay cầm loa để nói là mình đến quá trễ.
Hơn 10 ngày sau, quân đội tiến vào thủ đô Bắc Kinh, yêu cầu báo chí rút lui và rạng ngày 4 tháng 6, đám biểu tình bị giải tán.
== Những cuộc biểu tình bắt đầu ==
Những cuộc biểu tình ban đầu chỉ diễn ra trên quy mô nhỏ, ngày 16 và 17 tháng 4, dưới hình thức lễ tang dành cho Hồ Diệu Bang và những yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc phải sửa đổi các quan điểm chính thức của họ về ông. Ngày 18 tháng 4, 10.000 sinh viên tiến hành một cuộc biểu tình ngồi tại Quảng trường Thiên An Môn, phía trước Đại lễ đường Nhân dân. Cùng trong buổi chiều ngày hôm đó, vài ngàn sinh viên tụ tập trước Trung Nam Hải, trụ sở chính phủ, yêu cầu gặp mặt các lãnh đạo chính phủ. Họ đã bị lực lượng an ninh giải tán.
Những cuộc biểu tình đã có xung lượng sau khi có tin tức về những cuộc xô xát giữa sinh viên và cảnh sát; sinh viên tin rằng truyền thông Trung Quốc đã bóp méo tính chất hành động của họ và nó càng khiến sự kiện được nhiều người ủng hộ hơn dù một tờ báo quốc gia, tờ Khoa học và Kỹ thuật (科技日报) xuất bản ngày 19 tháng 4, có một bài viết về cuộc biểu tình ngồi ngày 18 tháng 4.
Trong đêm ngày 21 tháng 4, ngày trước lễ tang Hồ Diệu Bang, khoảng 100.000 sinh viên đã tuần hành trên Quảng trường Thiên An Môn và tụ tập ở đó trước khi nơi này bị đóng cửa chuẩn bị cho lễ tang. Ngày 22 tháng 4, họ đã yêu cầu gặp mặt thủ tướng Lý Bằng nhưng không được đáp ứng (Lý Bằng là người được đa số cho là đối thủ chính trị của Hồ Diệu Bang). Cùng ngày hôm ấy, những cuộc phản kháng diễn ra tại Tây An (Thiểm Tây) và Trường Sa (Hồ Nam).
Từ 21 tháng 4 tới 23 tháng 4, sinh viên tại Bắc Kinh kêu gọi một cuộc bãi khoá. Những hồi chuông báo động đã gióng lên bên trong chính phủ, họ nhận thức rõ cơn bão chính trị do Sự kiện Thiên An Môn ngày 5 tháng Tư (四五天安门事件 Tứ ngũ Thiên An Môn sự kiện) năm 1976 khi ấy đã được hợp pháp hóa gây ra. Ngày 26 tháng 4, sau một bài diễn văn nội bộ của Đặng Tiểu Bình, tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nhân dân Nhật báo, ra một bài xã luận trang nhất với tiêu đề "Dương cao ngọn cờ phản đối bất kỳ sự xáo động nào" để tìm cách tập hợp công luận sau lưng chính phủ và buộc tội "một số kẻ cơ hội lạc lõng" đang âm mưu gây bất ổn dân sự. Bài báo làm sinh viên nổi giận và vào ngày 27 tháng 4 khoảng 50.000 sinh viên tụ tập trên các đường phố Bắc Kinh, bất chấp lời cảnh báo đàn áp của chính phủ, yêu cầu chính phủ rút lại bài báo.
Tại Bắc Kinh, đa số sinh viên từ nhiều trường cao đẳng và đại học đã tham gia với sự ủng hộ của các giáo sư và giới trí thức khác. Sinh viên khước từ các thành viên chính thức từ các hiệp hội sinh viên do Đảng Cộng sản kiểm soát và lập lên những hiệp hội tự quản của riêng mình. Sinh viên tự coi mình là những người Trung Quốc yêu nước, bởi họ được thừa hưởng giá trị "khoa học và dân chủ" của Phong trào Ngũ Tứ năm 1919. Những cuộc biểu tình cũng khiến mọi người nhớ lại Phong trào Tứ Ngũ (四五运动 Tứ ngũ vận động) cuối cùng đã dẫn tới sự ra đi của bè lũ bốn tên. Ban đầu chỉ có mục đích tưởng niệm Hồ Diệu Bang, người được sinh viên coi là một nhân vật ủng hộ dân chủ, hành động của sinh viên dần phát triển thành phong trào phản đối tham nhũng và yêu cầu tự do báo chí và sự chấm dứt, hay cải cách, sự cầm quyền tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Đảng Cộng sản và Đặng Tiểu Bình, người lãnh đạo tối cao trên thực tế của Trung Quốc. Những nỗ lực liên lạc và liên kết với sinh viên và công nhân ở các thành phố khác cũng mang lại một số thành công.
Dù những cuộc biểu tình ban đầu là của sinh viên và giới trí thức, những người cho rằng các cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình vẫn chưa đủ tầm và Trung Quốc cần phải cải cách cả hệ thống chính trị, họ nhanh chóng có được sự ủng hộ của giới công nhân thành thị, những người cho rằng các cuộc cải cách đã đi quá xa. Điều này xảy ra bởi những người lãnh đạo cuộc phản kháng chú trọng vào vấn đề tham nhũng, vấn đề thống nhất cả hai nhóm và bởi sinh viên có thể viện dẫn các nguyên mẫu Trung Quốc của những người trí thức vị tha những người nói ra sự thực với giới cầm quyền.
Không giống những cuộc biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn năm 1987, gồm chủ yếu sinh viên và giới trí thức, các cuộc phản kháng năm 1989 có được sự hỗ trợ to lớn từ giới công nhân thành thị, những người đang lo lắng trước tình trạng lạm phát và tham nhũng ngày càng gia tăng. Tại Bắc Kinh, họ được rất nhiều người ủng hộ. Họ cũng được ủng hộ tại các thành phố lớn ở khắp Trung Quốc Đại lục như Urumqi, Thượng Hải và Trùng Khánh; và sau này là ở Hồng Kông, Đài Loan và các cộng đồng Hoa kiều ở Bắc Mỹ và châu Âu.
== Biểu tình leo thang ==
Ngày 4 tháng 5, xấp xỉ 100.000 sinh viên và công nhân tuần hành ở Bắc Kinh yêu cầu cải cách tự do báo chí và một cuộc đối thoại chính thức giữa chính quyền và các đại biểu do sinh viên bầu ra. Chính phủ khước từ đối thoại, chỉ đồng ý đàm phán với các thành viên được chỉ định từ các tổ chức sinh viên. Ngày 13 tháng 5, hai ngày trước chuyến thăm cấp nhà nước được quảng cáo rầm rộ của vị lãnh đạo Liên Xô có đầu óc cải cách Mikhail Sergeyevich Gorbachyov, những đám đông sinh viên chiếm giữ quảng trường Thiên An Môn và bắt đầu một cuộc tuyệt thực, nhấn mạnh yêu cầu chính phủ rút lui lời cáo buộc đưa ra trong bài xã luận của Nhân dân Nhật báo và tiến hành các cuộc đàm phán với các đại diện sinh viên. Hàng trăm sinh viên tham gia cuộc tuyệt thực và được ủng hộ bởi hàng ngàn sinh viên khác như một phần của nhân dân Bắc Kinh, trong một tuần lễ.
Những cuộc biểu tình và bãi khoá bắt đầu xuất hiện tại nhiều trường đại học ở các thành phố khác, nhiều sinh viên đi tới Bắc Kinh tham gia vào cuộc biểu tình. Nói chung các cuộc biểu tình tại Quảng trường Thiên An Môn được tổ chức khá tốt cộng với những cuộc tuần hành hàng ngày của sinh viên từ nhiều trường đại học Bắc Kinh đã thể hiện sự đoàn kết, tẩy chay các lớp học và với những yêu cầu ngày càng gia tăng. Các sinh viên hát "Quốc tế ca", bài thánh ca xã hội chủ nghĩa trên thế giới, trên đường đi tới và tại quảng trường. Sinh viên thậm chí còn thể hiện hành động tôn trọng đáng ngạc nhiên với chính phủ khi cảnh sát đã bắt giữ ba người từ tỉnh Hồ Nam, gồm cả Dụ Đông Nhạc, những người đã ném mực vào bức chân dung lớn của Mao treo tại phía bắc quảng trường.
Cuối cùng sinh viên quyết định rằng để duy trì phong trào của họ cần thiết phải tiến hành một cuộc tuyệt thực. Quyết định này của sinh viên là một thời điểm quyết định trong phong trào. Cuộc tuyệt thực bắt đầu tháng 5 năm 1989 và phát triển lên tới "hơn một nghìn người" (Lưu, 1994, 315). Cuộc tuyệt thực khiến sinh viên nhận được sự ủng hộ từ khắp đất nước và "người dân bình thường tại Bắc Kinh cũng tuần hành để bảo vệ những người tham gia tuyệt thực... bởi hành động tuyệt thực và đương đầu với những sự trả đũa của chính phủ đã thuyết phục được những người quan sát rằng sinh viên không chỉ đòi hòi những quyền lợi cá nhân mà còn cho cả nhân dân Trung Quốc" (Calhoun 1994, 113).
Ngày 19 tháng 5 lúc 4 giờ 50 phút sáng, Tổng bí thư Triệu Tử Dương tới quảng trường và đọc một bài diễn văn hối thúc sinh viên chấm dứt cuộc tuyệt thực. Một phần bài diễn văn của ông đã trở thành câu trích dẫn nổi tiếng, khi ông nói, ám chỉ tới thế hệ người lớn tuổi Trung Quốc, "Chúng tôi đã già, nó không còn là vấn đề với chúng tôi nữa." Trái lại, sinh viên còn trẻ và ông hối thúc họ giữ sức khoẻ và không tự hy sinh mình quá dễ dàng như vậy. Chuyến thăm của Triệu Tử Dương tới quảng trường là lần xuất hiện cuối cùng trước công chúng của ông.
Những nỗ lực đàm phán với chính phủ Trung Quốc, ở khu vực văn phòng lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Nam Hải ngay cạnh đó, đã thành công một phần. Nhờ chuyến thăm của Gorbachyov, báo chí quốc tế có mặt với số lượng lớn trên Lục địa Trung Quốc. Các bài báo phản ánh sự kiện của họ xuất hiện thường xuyên và nói chung ủng hộ những người phản kháng, nhưng tỏ vẻ bi quan rằng họ sẽ khó đạt mục đích. Tới cuối cuộc biểu tình, ngày 30 tháng 5, một bức tượng Nữ thần Dân chủ được dựng lên trên quảng trường và trở thành biểu tượng cho cuộc biểu tình với toàn thể khán giả truyền hình trên thế giới.
Uỷ ban Thường trực Bộ chính trị, cùng các cựu lãnh đạo đảng (đã nghỉ hưu nhưng vẫn có ảnh hưởng trong chính phủ và trong Đảng), ban đầu, hy vọng rằng các cuộc biểu tình sẽ không kéo dài, hay những biện pháp cải cách trong nước và những cuộc điều tra sẽ làm hài lòng những người phản kháng. Họ hy vọng tránh được bạo lực nếu có thể, và ban đầu dựa vào các cơ quan Đảng để thuyết phục sinh viên từ bỏ cuộc biểu tình và quay lại với việc học tập. Một vật cản lớn với hành động ngăn chặn là chính giới lãnh đạo lại ủng hộ nhiều yêu cầu của sinh viên, đặc biệt với những lo ngại trước tình trạng tham nhũng. Tuy nhiên, một vấn đề lớn là các cuộc phản kháng liên quan tới nhiều giới với nhiều mục tiêu khác nhau và vì thế chính phủ không biết phải đàm phán với ai, và những yêu cầu của những người biểu tình là gì. Sự lẫn lộn và thiếu quả quyết trong số những người phản kháng cũng phản ánh sự lẫn lộn và thiếu quả quyết bên trong chính phủ. Tờ Nhân dân Nhật Báo đã đề cập tới tình trạng thiếu quả quyết này và thường thay đổi quan điểm giữa ủng hộ và lên án những người biểu tình.
Trong giới lãnh đạo hàng đầu, Tổng bí thư Triệu Tử Dương ủng hộ mạnh mẽ một cách tiếp cận mềm dẻo với những người biểu tình trong khi Lý Bằng được coi là người muốn đàn áp. Cuối cùng, quyết định đàn áp được một nhóm lãnh đạo lớn tuổi trong đảng, những người coi sự từ bỏ quản lý độc đảng là sự quay trở lại với tình trạng hỗn loạn thời Cách mạng Văn hóa. Dù đa số những thành viên đó không có vị trí chính thức, họ vẫn kiểm soát được quân đội. Đặng Tiểu Bình là chủ tịch Uỷ ban Quân sự Trung ương và có thể tuyên bố thiết quân luật; Dương Thượng Côn là chủ tịch nước, tuy chỉ là một chức vụ mang tính biểu tượng theo Hiến pháp năm 1982, nhưng về pháp lý là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Những lãnh đạo lớn tuổi tin rằng những cuộc biểu tình kéo dài là một mối đe doạ tới sự ổn định của đất nước. Những người biểu tình bị coi là công cụ ủng hộ cho "chủ nghĩa tự do tư sản" đang đứng núp phía sau, cũng như là công cụ của các phe phái trong đảng muốn thực thi hơn nữa các tham vọng cá nhân của họ.
=== Trên toàn quốc và ở bên ngoài Trung Quốc đại lục ===
Buổi đầu phong trào, truyền thông Trung Quốc có cơ hội hiếm hoi để thông tin một cách tự do và chính xác. Đa số họ được tự do viết và thông báo sự kiện đang diễn ra vì không bị các cơ quan địa phương và chính phủ quản lý. Tin tức nhanh chóng lan rộng trên khắp lục địa. Theo báo cáo của truyền thông Trung Quốc, sinh viên và công nhân tại hơn 400 thành phố, gồm cả các thành phố tại Nội Mông, cũng tổ chức lại và bắt đầu phản kháng. Mọi người cũng kéo tới thủ đô để gia nhập cuộc phản kháng tại Quảng trường Thiên An Môn.
Sinh viên đại học tại Thượng Hải cũng xuống đường để kỷ niệm cái chết của Hồ Diệu Bang và phản đối một số chính sách của chính phủ. Trong nhiều trường hợp, họ được sự ủng hộ của các uỷ ban đảng của trường. Giang Trạch Dân, khi ấy là bí thư đảng uỷ thành phố, diễn thuyết trước các sinh viên, bày tỏ sự cảm thông bởi ông cũng từng là một sinh viên hoạt động tích cực trước năm 1949. Cùng lúc ấy, ông nhanh chóng hành động điều các lực lượng cảnh sát tới kiểm soát đường phố và thanh trừng các lãnh đạo Đảng Cộng sản ủng hộ sinh viên.
Ngày 19 tháng 4, các biên tập viên tờ Thế giới kinh tế đạo báo, một tạp chí có khuynh hướng cải cách, quyết định xuất bản, trong số 439 ngày 24 tháng 4, một mục bình luận về Hồ Diệu Bang. Bên trong là một bài viết của Nghiêm Gia Kỳ, với lời lẽ ủng hộ những sinh viên phản kháng tại Bắc Kinh ngày 18 tháng 4, và kêu gọi đánh giá lại việc thanh trừng ông năm 1987. Ngày 21 tháng 4, một quan chức Đảng tại Thượng Hải đã yêu cầu tổng biên tập, Khâm Bản Lập, thay đổi một số đoạn. Khâm Bản Lập từ chối và Trần phải quay sang Giang Trạch Dân, người yêu cầu kiểm duyệt bài báo. Tới thời điểm ấy, đợt báo in đầu tiên đã được phát hành. Số còn lại được xuất bản với một trang trống. Ngày 26 tháng 4, Nhân dân Nhật báo xuất bản bài xã luận lên án cuộc phản kháng của sinh viên. Giang hành động theo hướng này và đình chỉ chức vụ của Khâm Bản Lập. Ông nhanh chóng nổi lên nắm quyền lực sau khi quả quyết dẹp yên những cuộc biểu tình năm 1989.
Tại Hương Cảng, ngày 27 tháng 5 năm 1989, hơn 300.000 người đã tụ họp tại trường đua ngựa Bào Mã Địa trong một sự kiện được gọi là "Những bài hát dân chủ dành cho Trung Quốc". Nhiều nhân vật nổi tiếng người Hồng Kông và Đài Loan đã cùng hát và thể hiện sự ủng hộ của họ với các sinh viên tại Bắc Kinh. Hôm sau, ngày 28 tháng 5, một đám diễu hành do Martin Lee, Szeto Wah và nhiều người khác dẫn đầu đã đi suốt hòn đảo Hồng Kông; 1.5 triệu người đã tham gia.
Cũng có những cuộc biểu tình tại Đài Loan. Chính phủ đã thông qua một điều luật cho rằng họ sẽ cung cấp một hộ chiếu Trung Hoa Dân quốc và hỗ trợ tài chính cho bất kỳ người Trung Quốc nào từ bỏ hộ chiếu Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Trên khắp thế giới, ở những nơi có nhiều người Trung Quốc sinh sống, những cuộc tụ tập và tuần hành diễn ra. Nhiều chính phủ, như Hoa Kỳ, Nhật Bản... cũng đưa ra những cảnh báo, khuyến cáo công dân nước mình không tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
== Chính phủ giải tán cuộc biểu tình ==
Dù chính phủ đã tuyên bố thiết quân luật ngày 20 tháng 5, việc quân đội tiến vào Bắc Kinh vẫn không thể diễn ra bởi những đám đông người phản kháng, và quân đội cuối cùng nhận được lệnh rút lui. Trong lúc ấy, những cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn. Cuộc tuyệt thực đang tiến dần tới tuần thứ ba và chính phủ đã giải quyết được nó trước khi có những người phải chết vì đói. Sau các cuộc bàn cãi trong giới lãnh đạo cộng sản, việc sử dụng lực lượng quân đội giải quyết khủng hoảng được đưa ra và dẫn tới một sự chia rẽ sâu sắc trong Bộ chính trị. Tổng thư ký Triệu Tử Dương bị gạt khỏi ban lãnh đạo chính trị vì ông ủng hộ hành động phản kháng của sinh viên. Quân đội cũng không thống nhất trong việc giải quyết vấn đề và thừa nhận không ủng hộ trực tiếp việc sử dụng vũ lực, khiến giới lãnh đạo phải tìm kiếm các cá nhân muốn thực hiện mệnh lệnh của họ.
Binh sĩ và xe tăng thuộc Quân đoàn 27 và 28 Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc được gửi tới kiểm soát thành phố. Quân đoàn 27 nằm dưới quyền chỉ huy của một sĩ quan có quan hệ với Dương Thượng Côn. Trong một cuộc họp báo, Tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush đã thông báo những lệnh trừng phạt với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sau những lời kêu gọi hành động từ phía các thành viên Nghị viện như Thượng nghị sĩ Jesse Helms. Tổng thống Bush cho rằng thông tin tình báo ông nhận được cho thấy một số chia rẽ trong giới chỉ huy quân sự Trung Quốc, và thậm chí cả khả năng những vụ xung đột bên trong quân đội trong những ngày đó. Các báo cáo tình báo cũng cho thấy các đơn vị thuộc Quân đoàn 27 và 28 đã được đưa tới từ các tỉnh bên ngoài bởi các đơn vị địa phương của Quân đội Giải phóng Nhân dân được cho là có cảm tình với những người phản kháng và nhân dân trong thành phố. Các phóng viên miêu tả các binh sĩ thuộc Quân đoàn 27 là nhân tố chủ chốt gây thương vong cho dân thường. Sau cuộc tấn công vào quảng trường, Quân đoàn 27 được cho là đã thiết lập các địa điểm phòng thủ tại Bắc Kinh - không phải là kiểu bố trí phòng ngự trước các cuộc tấn công của nhân dân, mà trước những cuộc tấn công của các đơn vị quân đội khác. Mặt khác, Quân đoàn 38 sở tại, được cho là có cảm tình với lực lượng phản kháng. Họ không được cung cấp đạn dược và được cho là đã tự đốt các xe cộ của mình khi từ bỏ chúng để tham gia cuộc phản kháng.
Hành động xâm nhập thành phố của quân đội bị nhiều công dân Bắc Kinh phản đối kịch liệt. Những người biểu tình đốt cháy các xe buýt và sử dụng chúng làm phương tiện cản bước quân đội. Cuộc chiến tiếp tục diễn ra trên các đường phố bao quanh quảng trường, nhiều người phản kháng được cho là đã tiến về phía Quân đội Giải phóng Nhân dân và xây dựng các luỹ bằng xe cộ, trong khi quân đội tìm cách giải toả vật cản bằng hơi cay, súng và xe tăng. Nhiều người bị thương đã được các lái xe đang ở trong vùng trống giữa binh sĩ và các đám đông cứu thoát, đưa tới bệnh viện. Sau cuộc tấn công vào quảng trường, chương trình truyền hình trực tiếp về sự kiện cho thấy nhiều người mang băng đen trên tay phản đối hành động của chính phủ, tụ tập ở nhiều đại lộ đốt cháy các chiến luỹ. Trong lúc ấy, Quân đội Giải phóng Nhân dân thiết lập một cách có hệ thống các điểm kiểm soát bên ngoài thành phố, lùng bắt những người phản kháng và phong toả các khu vực trường đại học.
Ngay bên trong quảng trường, đã có một cuộc tranh luận giữa những người muốn rút lui hòa bình, gồm Hàn Đông Phương, và những người muốn tiếp tục ở lại, như Sài Linh. Cuộc tấn công vào quảng trường bắt đầu lúc 10 giờ 30 phút tối ngày 3 tháng 6, khi xe bọc thép và quân đội vũ trang với lưỡi lê tiến vào từ nhiều hướng đi theo sau là máy ủi và xe bọc thép.
Hầu Đức Kiện và một vài người lao trên một chiếc xe đến chỗ những người lính trước Viện bảo tàng Lịch sử Trung Quốc. “Đừng bắn!”, họ gọi to – và xin một sĩ quan được phép dẫn các sinh viên còn lại đi ra: vì vẫn còn khoảng 3.000 người nam nữ trẻ tuổi ở lại tại đài kỷ niệm các anh hùng. Bất thình lình tối sầm. Đèn trên Thiên An Môn bị tắt. Nhóm của Hầu Đức Kiện, vẫn còn đứng trước Viện bảo tàng, bắt đầu hoảng hốt. Rồi một sĩ quan mang lại lời hứa: "có thể giải tỏa trong hòa bình!"
Từ phía Bắc và phía Nam, quân lính tiến đến đài tưởng niệm với súng đã lên đạn. Những người biểu tình không nhìn thấy gì nhiều trong bóng tối. Lộn xộn, rồi biểu quyết bằng tiếng gọi: nhóm người đồng tình “Rút đi!” rõ ràng là tạo tiếng ồn nhiều hơn những người muốn ở lại.
4 giờ 30. Đèn đường lại sáng lên: bây giờ, các sinh viên nhìn thấy mình bị quân lính bao vây chặt, xe tăng ở phía sau. Quân lính dỡ bỏ những cái lều của nhóm biểu tình
5 giờ. Phần lớn các sinh viên vừa hát, vừa mắng chửi những người lính, thỉnh thoảng nhổ nước bọt vào người họ, vừa đi xuyên qua những chiếc xe tăng đến góc Đông Nam của quảng trường và rồi đi khỏi, bị những người mặc quân phục cầm gậy theo sát. 5 giờ 20, khoảng 200 người biểu tình cuối cùng ở đài tưởng niệm bây giờ lui bước trước một hàng xe tăng và quân lính khác, cho tới khi họ bị đẩy ra khỏi quảng trường.
5 giờ 40, Quân lính tụ họp trước Nhà tưởng niệm Mao Trạch Đông, bắn chỉ thiên và hét to: “Nếu không ai tấn công tôi, tôi không tấn công ai.”
Sau cuộc đàn áp tại Bắc Kinh ngày 4 tháng 6, những cuộc phản kháng tiếp tục diễn ra ở Trung Quốc lục địa trong nhiều ngày nữa. Có những cuộc biểu tình lớn tại Hồng Kông, nơi người dân mặc đồ đen tham gia biểu tình. Có những cuộc biểu tình tại Quảng Châu, và có những cuộc biểu tình lớn tại Thượng Hải và một cuộc tổng đình công. Cũng có những cuộc biểu tình tại các nước khác với nhiều người đeo băng tang đen. Tuy nhiên, chính phủ nhanh chóng giành lại quyền kiểm soát. Dù không có thông báo về những vụ giết hại với số lượng lớn khi các cuộc biểu tình chấm dứt ở những thành phố khác, một cuộc thanh trừng chính trị đã diễn ra trong đó các quan chức chịu trách nhiệm về việc tổ chức hay tha thứ cho những cuộc biểu tình đều bị mất chức, và các lãnh đạo cuộc biểu tình bị tống giam.
Cuộc đàn áp biểu tình đã được truyền thông phương Tây lan truyền với đoạn video và những bức ảnh nổi tiếng về một người đàn ông đơn độc mặc áo sơ mi trắng đứng trước một đoàn xe tăng đang tiến vào Quảng trường Thiên An Môn. Được chụp ngày 5 tháng 6 khi đoàn xe đang đi trên giao lộ thuộc Đại lộ Trường An, với hình ảnh một người không vũ khí đứng ở giữa đường, cản bước đoàn xe tăng. Anh ta được cho là đã nói: "Tại sao các anh lại ở đây? Các anh không mang lại gì ngoài sự nghèo khổ." Khi người lính lái tăng tìm cách đi vòng tránh, "Người biểu tình vô danh" tiếp tục cản đường. Anh ta tiếp tục đứng trước đoàn tăng trong một khoảng thời gian, sau đó leo lên tháp pháo chiếc xe dẫn đầu và nói chuyện với những người lính bên trong. Sau khi quay về vị trí chặn đường, anh ta bị những người xung quanh kéo ra, có lẽ họ sợ anh ta sẽ bị bắn hay bị đè nát. Time Magazine đã đặt cho anh cái tên "Người biểu tình vô danh" và sau này coi anh là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20. Bản tin ngắn trên tờ Sunday Express của Anh đã cho rằng đây là sinh viên Vương Duy Lâm, 19 tuổi, tuy nhiên, sự chân thực của tin này còn đang bị nghi ngờ. Điều gì đã xảy ra với "Người biểu tình vô danh" sau cuộc phản kháng vẫn chưa được biết. Trong một bài phát biểu trước President's Club năm 1999, Bruce Herschensohn — cựu phó trợ lý đặc biệt của Tổng thống Richard Nixon — đã thông báo rằng anh ta đã bị hành quyết 14 ngày sau đó. Trong cuốn Red China Blues: My Long March from Mao to Now (Những nỗi buồn Trung Quốc Cộng sản: Cuộc Trường chinh của tôi từ Mao tới Hiện tại), Jan Wong đã viết rằng người này vẫn đang sống và giấu mặt tại Trung Quốc đại lục. Trong Tử Cấm Thành, tác gia viết cho trẻ em người Canada William Bell tuyên bố rằng người đàn ông đó tên là Vương Ái Dân và đã bị giết hại ngày 9 tháng 6 sau khi bị bắt giam. Tuyên bố chính thức cuối cùng từ phía chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về "Người biểu tình vô danh" là của Giang Trạch Dân trong một cuộc phỏng vấn năm 1990 với Barbara Walters; khi được hỏi về "Người biểu tình vô danh", Giang đã trả lời "chàng thanh niên đó không bao giờ, không bao giờ bị giết."
== Số người chết ==
Số người chết và bị thương trong vụ này vẫn chưa rõ ràng vì những sự khác biệt lớn giữa những ước tính khác nhau. Chính phủ Trung Quốc không bao giờ đưa ra dữ liệu chính thức chính xác hay danh sách những người chết.
Chính phủ Trung Quốc vẫn cho rằng không có người chết bên trong quảng trường, dù những đoạn video được quay ở thời điểm đó cho thấy có những tiếng đạn bắn. Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện tuyên bố rằng "hàng trăm binh sĩ Quân đội Giải phóng Nhân dân đã chết và số người bị thương còn nhiều hơn thế". Yuan Mu, phát ngôn viên Quốc vụ viện, đã nói tổng cộng khoảng 300 người chết, đa số họ là các binh sĩ, cùng với một số người được ông miêu tả là "những tên lưu manh". Theo Trần Hy Đồng, thị trưởng Bắc Kinh, 200 dân thường và vài chục binh sĩ thiệt mạng. Các nguồn khác cho rằng 3.000 thường dân và 6.000 binh sĩ bị thương. Tháng 5 năm 2007, thành viên Chính hiệp Toàn quốc Trung Quốc tại Hương Cảng, Chang Ka-mun, nói 300 tới 600 người bị giết tại quảng trường Thiên An Môn. Ông cho rằng "có những kẻ sát nhân vũ trang trà trộn trong các nhóm sinh viên".
Các nhà báo nước ngoài, những người chứng kiến vụ việc thì lại tuyên bố có ít nhất 3.000 người chết. Một số bảng liệt kê con số thương vong còn cho rằng con số lên tới 5.000. Thống kê và ước tính từ nhiều nguồn và nhóm khác nhau cho thấy:
4.000 tới 6.000 thường dân chết - Edward Timperlake
2.600 đã chết chính thức vào buổi sáng ngày 4 tháng 6 (sau này bị bác bỏ) - Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc. Một "nhân viên Chữ thập Đỏ Trung Quốc giấu tên" ước tính rằng tổng cộng 5.000 người chết và 30.000 bị thương
1.000 người chết - Ân xá Quốc tế
7.000 người chết (6.000 thường dân 1.000 binh sĩ) - tình báo NATO
Tổng cộng 10.000 người chết - các ước tính của Khối Xô viết
Hơn 3.700 người chết, gồm cả những người mất tích hoặc chết một cách bí mật hoặc những người từ chối được điều trị y tế - "một người đào tẩu giấu tên" từ Quân đội Giải phóng Nhân dân nêu ra một tài liệu mật trong giới sĩ quan
186 thường dân có tên tuổi được xác nhận đã chết vào cuối tháng 6 năm 2006 - Giáo sư Đinh Tử Lâm
=== Những nghi vấn về "vụ thảm sát Thiên An Môn" ===
Do hiệu ứng của các bức ảnh cũng như những tường thuật mù mờ từ cả những nguồn "giấu tên", truyền thông phương Tây tạo ra một ấn tượng phổ biến về vụ Thiên An Môn: "Những chiếc xe tăng đã nghiền nát những người đang ngủ, những người lính đã đốt xác chết bằng súng phun lửa, tất cả xác chết được chất đống lại và xúc đi..." Thiếu vắng nhân chứng, các tường thuật mâu thuẫn nhau là một lý do cho việc hình thành những ấn tượng về “Cuộc thảm sát trên Quảng trường Thiên An Môn, binh sĩ Trung Quốc mặc sức xả súng tàn sát người biểu tình", dù những bằng chứng thu được (các bức ảnh, video) chưa từng thể hiện cảnh tượng thảm sát nào như vậy. Các phóng viên đã phỏng vấn nhiều nhân chứng song không ai cho biết đã nhìn thấy các ụ súng máy. Nicholas Kristof, phát ngôn viên của những người biểu tình, cho biết đã có đụng độ trên nhiều đường phố, nhưng bác bỏ những thông tin về "một vụ thảm sát sinh viên" tại quảng trường Thiên An Môn. Lợi dụng sự hỗn loạn quanh sự kiện, chính phủ Mỹ đã cố kích động một cuộc lật đổ chính phủ hoặc nội chiến tại Trung Quốc, The Voice of America và cơ quan truyền thông Hoa Kỳ đã cố gắng để tạo ra sự nhầm lẫn và hoảng loạn. Ngay trước ngày 04 tháng 6, họ còn loan tin rằng Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đã bị bắn và Đặng Tiểu Bình đã sắp bị giết (những tin này về sau được xác minh là sai sự thật).
Phía Trung Quốc khẳng định không có vụ thảm sát sinh viên tại quảng trường Thiên An Môn và trên thực tế quân lính đã giải tán người biểu tình mà không nổ súng. Đúng là đã nổ ra bạo lực, nhưng chủ yếu là bằng cãc vũ khí thô sơ như gậy gộc, dùi cui giữa binh sĩ với những nhóm biểu tình quá khích. Khoảng 300 người đã chết trong các cuộc đụng độ vào ngày 4/6 và nhiều người trong số đó là binh lính Trung Quốc, họ chết do bị những người biểu tình quá kích tấn công bằng gậy gộc hoặc bom xăng. Tờ Washington Post mô tả những người biểu tình quá khích đã tổ chức thành các đội hình từ 100-150 người, họ được trang bị bom xăng và gậy sắt. Washington Post đã chụp nhiều bức ảnh về việc phe biểu tình đã có những hành vi bạo lực nghiêm trọng gây nhiều thương vong cho binh lính, bao gồm việc bắt trói và thiêu sống một số binh sĩ quân đội:
"Người biểu tình đã đốt toàn bộ một đoàn xe quân sự hơn 100 xe tải và xe bọc thép. Hình ảnh trên không của đám cháy và cột khói đã ủng hộ mạnh mẽ cho lập luận của chính phủ Trung Quốc rằng quân đội của họ là nạn nhân, không phải đao phủ. Cảnh khác cho thấy xác chết binh lính và người biểu tình tước súng trường tự động của những binh lính không chống cự."
Ông Helmut Schmidt (Thủ tướng Tây Đức từ 1974 tới 1982) là một quan chức cấp cao phương Tây phủ nhận sự mô tả về "vụ thảm sát" của truyền thông phương Tây. Theo ông tường thuật, đoàn biểu tình ban đầu ôn hòa, quân đội Trung Quốc cũng chỉ trang bị thô sơ và không có kế hoạch dùng bạo lực để đàn áp. Tuy nhiên những người biểu tình về sau đã ném bom xăng, gạch đá tấn công quân đội và từ đó bạo lực mới xảy ra. Ông Helmut Schmidt nói thêm: Trong vụ Thiên An Môn, quân đội Trung Quốc chỉ tự vệ và con số 2.600 người chết là "cực kỳ phóng đại" Thời điểm đó, đại sứ Đức tại Bắc Kinh báo cáo rất chi tiết sự kiện với con số người chết nhỏ hơn nhiều.
Mãi tới gần đây, năm 2012, Wikileaks đã tiết lộ về vụ Thiên An Môn từ điện tín gửi về Mỹ của tòa đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh vào thời điểm vụ Thiên An Môn xảy ra, cho thấy quân lính Trung Quốc thực sự đã không nổ súng bắn người biểu tình: "Từ 10.000 đến 15.000 quân nhân mũ sắt vũ trang di chuyển về phía Bắc Kinh vào buổi chiều muộn của ngày 03 tháng 6... Lính dù tinh nhuệ đang di chuyển từ các đơn vị phía nam và xe tăng đã được cảnh báo di chuyển... Số lượng lớn, thực tế là họ trang bị mũ sắt, và các loại vũ khí tự động cho thấy rằng họ đang thực hiện tùy chọn dùng lực lượng vũ trang là có thật". Bức điện kết luận: "...không có bất cứ vụ xả súng nào vào sinh viên trên quảng trường cũng như ở tượng đài... thỉnh thoảng có nghe tiếng súng nhưng những người lính vào quảng trường thì trang bị rất thô sơ, chỉ có dùi cui và gậy...". Gregory Clark đã đăng một nghiên cứu năm 2008 trên tờ Japan Times, kết luận "vụ thảm sát là một huyền thoại", ông giải thích cách mà New York Times và các phương tiện truyền thông phương Tây đã mô tả sự kiện như là "thảm sát", trong khi tất cả các bằng chứng đều đưa ra kết luận rằng không có vụ thảm sát nào đã diễn ra.
== Hậu quả ==
=== Những vụ bắt giữ sau đó ===
Trong và sau cuộc biểu tình, chính quyền đã tìm cách bắt giữ và truy tố một số sinh viên lãnh đạo Phong trào Dân chủ Trung Quốc, đáng chú ý nhất là Vương Đan, Sài Linh, Triệu Thường Thanh và Örkesh Dölet (ئۆركەش دۆلەت). Vương Đan đã bị bắt, kết án và tống giam, sau đó đã được phép di cư tới Hoa Kỳ vì lý do y tế. Vì là gương mặt kém nổi bật hơn của phong trào, Triệu Thường Thanh đã được thả chỉ sau sáu tháng ngồi tù. Tuy nhiên, anh ta một lần nữa bị tống giam vì tiếp tục yêu cầu cải cách chính trị tại Trung Quốc. Örkesh Dölet bỏ trốn sang Đài Loan. Anh ta đã lập gia đình và làm việc như một nhà bình luận chính trị trên kênh truyền hình quốc gia Đài Loan. Sài Linh bỏ trốn sang Pháp, và sau đó tới Hoa Kỳ.
Các hoạt động biểu tình nhỏ hơn tiếp tục diễn ra ở các thành phố khác trong vài ngày. Một số cán bộ các trường đại học và sinh viên, những người đã chứng kiến các vụ giết hại tại Bắc Kinh đã tổ chức lại hay khuyến khích khác sự kiện tưởng nhớ khi họ quay về. Tuy nhiên, những hành động đó nhanh chóng bị dập tắt, và những người tổ chức bị thanh trừng.
Giới chức Trung Quốc nhanh chóng xét xử và hành quyết nhiều công nhân bị bắt giữ tại Bắc Kinh. Trái lại, các sinh viên - nhiều người trong số họ xuất thân từ các gia đình có ảnh hưởng và có quan hệ tốt với chính quyền - bị kết án nhẹ hơn. Thậm chí Vương Đan, lãnh đạo sinh viên và là người đứng đầu trong danh sách truy nã, cũng chỉ bị kết án bảy năm tù. Tuy thế, nhiều sinh viên và cán bộ các trường đại học bị ghi vào sổ đen chính trị, một số người không bao giờ được bổ dụng lần nữa.
Giới lãnh đạo Đảng trục xuất Triệu Tử Dương khỏi Ủy ban Thường trực Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, vì ông phản đối thiết quân luật, Triệu Tử Dương bị quản thúc tại gia cho tới khi chết. Hồ Khởi Lập, một thành viên khác của Uỷ ban thường trực Bộ chính trị phản đối thiết quân luật bị tước quyền bỏ phiếu, và cũng bị trục xuất khỏi uỷ ban. Tuy nhiên, ông vẫn giữ được đảng tịch, và sau khi "thay đổi quan điểm", được tái bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Máy xây dựng và Điện tử. Những lãnh đạo Trung Quốc có đầu óc cải cách khác như Vạn Lý bị quản thúc tại gia ngay lập tức khi ra khỏi máy bay sau một chuyến công du nước ngoài bị cắt ngắn tại Sân bay Quốc tế Thủ đô Bắc Kinh, với lời giải thích chính thức vì "các lý do sức khoẻ". Khi Vạn Lý được bãi bỏ quản thúc tại gia sau khi "đã thay đổi ý kiến" ông ta, giống như Kiều Thạch, được chuyển tới một ví trí khác tương đương nhưng chỉ có thực quyền nghi lễ.
Sự kiện này giúp Giang Trạch Dân - khi ấy là thị trưởng Thượng Hải và không liên quan tới sự kiện này - trở thành Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Các thành viên chính phủ đã chuẩn bị một sách trắng giải thích quan điểm của chính phủ về những cuộc biểu tình. Một nguồn không được tiết lộ bên trong chính phủ Trung Quốc đã đưa lậu văn bản ra khỏi Trung Quốc và Public Affairs đã xuất bản nó vào tháng 1 năm 2001 với tên gọi Tiananmen Papers (Hồ sơ Thiên An Môn). Hồ sơ này bao gồm một đoạn trích từ câu nói của cựu lãnh đạo Đảng Vương Chấn ám chỉ sự đối phó với cuộc biểu tình của chính phủ.
Hai phóng viên đưa tin về sự kiện này ngày 4 tháng 6 trong bản tin hàng ngày lúc 19 giờ (7 giờ tối) trên Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc đã bị sa thải bởi họ thể hiện tình cảm đau xót. Ngô Tiểu Dũng, con trai một thành viên Uỷ ban Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, và cựu bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc và phó thủ tướng Ngô Học Khiêm bị đuổi khỏi Ban tiếng Anh Đài Phát thanh Quốc tế Trung Quốc. Tiền Lý Nhân, giám đốc Nhân dân Nhật báo (tờ báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc), cũng bị huyền chức vì các bài viết bày tỏ cảm tình với các sinh viên trên tờ báo này.
=== Phản ánh của truyền thông ===
Những vụ biểu tình tại Quảng trường Thiên An Môn gây ảnh hưởng rất nhiều tới danh tiếng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại phương Tây. Truyền thông phương Tây đã được mời tới để đưa tin cuộc viếng thăm của Mikhail Sergeyevich Gorbachyov trong tháng 5, và vì thế họ có cơ hội tuyệt vời để đưa tin trực tiếp về cuộc đàn áp của chính phủ thông qua các mạng lưới như BBC và CNN. Những người phản kháng cũng nắm lấy cơ hội này, tạo ra các biểu ngữ và biểu tượng được thiết kế đặc biệt cho khán giả truyền hình quốc tế. Việc đưa tin càng dễ dàng hơn nhờ những cuộc xung đột gay gắt trong chính phủ Trung Quốc về cách giải quyết vấn đề. Vì thế báo chí không bị ngăn cản ngay lập tức.
Sau này tất cả các mạng truyền thông quốc tế đều bị ra lệnh ngừng đưa tin từ thành phố trong cuộc đàn áp khi chính phủ ngăn cấm tất cả các cuộc truyền tin qua vệ tinh. Các phóng viên đã tìm cách lách luật, đưa tin qua điện thoại. Những đoạn phim nhanh chóng được đưa lậu ra khỏi Trung Quốc, gồm cả hình ảnh "Người biểu tình vô danh". Mạng truyền thông duy nhất ghi được một số hình ảnh trong đêm là TVE.
Phóng viên CBS Richard Roth và người quay phim của mình đã bị tống giam trong cuộc đàn áp. Roth bị bắt khi đang đưa tin từ quảng trường qua điện thoại di động. Với giọng nói như đang phát điên, mọi người nghe được anh ta kêu những tiếng giống như "Ôi, không! Ôi, không!" trước khi điện thoại bị tắt. Sau này anh ta đã được thả ra, chỉ bị thương nhẹ trên mặt sau một cuộc ẩu đả với các nhân viên an ninh Trung Quốc đang tìm cách tịch thu chiếc điện thoại. Roth sau này đã giải thích thực tế anh ta nói, "Đi thôi!"
Những hình ảnh về vụ biểu tình - cùng với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản xảy ra cùng thời gian ấy tại Liên bang Xô viết và Đông Âu - đã góp phần mạnh mẽ hình thành nên các quan điểm và chính sách của phương Tây với Trung Quốc trong thập niên 1990 và trong cả thế kỷ 21. Các sinh viên biểu tình nhận được nhiều cảm tình từ phương Tây. Hầu như ngay lập tức, cả Hoa Kỳ và Cộng đồng Kinh tế châu Âu thông báo một lệnh cấm vận vũ khí, và hình ảnh một quốc gia đang cải cách cũng như một đồng minh giá trị chống lại Liên bang Xô viết của Trung Quốc đã bị thay thế bằng một chế độ độc tài. Các cuộc phản kháng tại Thiên An Môn thường dẫn tới các cuộc tranh luận về tự do hóa thương mại với Trung Quốc lục địa và bởi Blue Team của Hoa Kỳ như một bằng chứng rằng chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một mối đe doạ với hòa bình thế giới và các lợi ích của Hoa Kỳ.
Trong giới sinh viên Hoa kiều, các cuộc phản kháng tại Thiên An Môn đã dẫn tới việc thành lập các mạng lưới tin tức Internet như China News Digest và Tổ chức phi chính phủ China Support Network. Như một hậu quả từ sự kiện Thiên An Môn, các tổ chức như China Alliance for Democracy (Liên minh Trung Quốc vì Dân chủ) và Hiệp hội Tự trị Sinh viên và Học giả Trung Quốc đã được thành lập, dù các tổ chức này có ít ảnh hưởng chính trị từ sau thời gian giữa thập niên 1990.
=== Nhận thức của phương Tây ===
Các học giả đã chỉ ra rằng tuy nhiều người ở châu Âu và châu Mỹ đánh giá các sự kiện đó theo các quan điểm văn hóa của riêng họ, phong trào này không tách biệt khỏi văn hóa Trung Quốc là khởi nguồn của nó. Đây không phải là một cuộc thể hiện của chủ nghĩa tự do tư sản mang hơi hướng dân chủ kiểu phương Tây. Như một nhà sử học đã lưu ý "Các sinh viên đưa nguyên tắc thống nhất lên trên tất cả các quy luật chính khác, trong khi nhận thức về dân chủ của họ không cho phép một sự cạnh tranh tự do giữa các ý tưởng khác nhau và chính nó mang khuynh hướng chủ nghĩa ưu thế. Theo nhiều cách các sinh viên trong sự kiện năm 1989, như các học giả Khổng giáo truyền thống, tiếp tục chấp nhập rằng quyền chỉ huy xã hội thuộc về một nhóm ưu thế có đạo đức và có giáo dục". Một poster được treo lên trong những cuộc biểu tình tháng 4 thể hiện tình cảm chung của những người biểu tình rằng người dân nông thôn không phải là lực lượng nắm quyền lực hàng đầu mà "ít nhất các công dân đô thị, các trí thức và các thành viên Đảng Cộng sản đã sẵn sàng cho dân chủ như bất kỳ một công dân nào sẵn sàng sống trong các xã hội dân chủ. Vì thế chúng ta phải tiến hành dân chủ toàn diện bên trong Đảng Cộng sản và bên trong các vùng đô thị". Chủ nghĩa ưu thế thành thị này đã làm ảnh hưởng tới việc khuấy động phong trào tại các vùng nông thôn.
=== Ảnh hưởng trên các khuynh hướng chính trị trong nước ===
Các cuộc biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn đã làm mất đi quan niệm tự do hóa chính trị đang phát triển trong dân chúng hồi cuối thập niên 1980; vì thế, nhiều cải cách dân chủ được đề xuất trong thập niên 1980 đã bị bãi bỏ. Dù có đã có một số quyền tự do cá nhân được ban hành từ thời điểm đó, những cuộc tranh luận về những sự thay đổi cơ cấu trong chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và vai trò của Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn là một chủ đề cấm kỵ.
Tại Hồng Kông, các cuộc biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn đã dẫn tới những lo ngại rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ không thực hiện các cam kết một quốc gia, hai chế độ khi nhận lại hòn đảo này năm 1997. Một hậu quả của nó là việc vị toàn quyền mới, Chris Patten, đã tìm cách mở rộng quyền cho Hội đồng Lập pháp Hồng Kông dẫn tới sự xích mích với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đã có những cuộc thắp nến tưởng niệm thu hút hàng chục nghìn người ở Hồng Kông hàng năm từ năm 1989 và những cuộc tưởng niệm đó vẫn tiếp tục diễn ra sau khi quyền lực đã được chuyển giao cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997.
Những cuộc phản kháng cũng đánh dấu một sự thay đổi trong các quy ước chính trị, là đầu mối của các chính sách tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trước cuộc phản kháng, theo hiến pháp năm 1982, Chủ tịch nước chủ yếu chỉ là một chức vụ mang tính biểu tượng. Theo quy ước, quyền lực được phân chia giữa ba chức vụ Chủ tịch, Thủ tướng và Tổng thư ký Đảng Cộng sản Trung Quốc, mỗi người trong số họ đều đại diện cho một nhóm khác nhau, nhằm ngăn chặn sự độc quyền thái quá kiểu Mao Trạch Đông. Tuy nhiên, sau khi Dương Thượng Côn sử dụng quyền lực người đứng đầu nhà nước của mình để huy động quân đội, chức Chủ tịch một lần nữa lại là chức vụ nắm quyền lực thực sự. Vì thế, Chủ tịch nước đồng thời là Tổng thư ký Đảng cộng sản Trung Quốc, và được coi là người nắm quyền thực sự.
Năm 1989, cả quân đội Trung Quốc và cảnh sát Bắc Kinh đều không có phương tiện chống bạo động thích hợp, như đạn cao su, hơi cay vẫn thường được sử dụng ở phương Tây đối phó với các cuộc bạo loạn. Sau các cuộc biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn, cảnh sát chống bạo động tại các thành phố Trung Quốc đã được trang bị các vũ khí không gây chết người để kiểm soát bạo loạn.
=== Ảnh hưởng kinh tế ===
Các cuộc biểu tình Thiên An Môn không đánh dấu sự chấm dứt của cải cách kinh tế. Như một hậu quả trực tiếp sau những cuộc phản kháng, phe bảo thủ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc tìm cách xoá bỏ một số cải cách thị trường tự do đang được tiến hành như một phần của cải cách kinh tế Trung Quốc, và tái lập quyền kiểm soát hành chính với nền kinh tế. Tuy nhiên, những nỗ lực này đã gặp phải sự phản đối kiên quyết của các quan chức địa phương và đã hoàn toàn mất tác dụng hồi đầu thập niên 1990 sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và chuyến đi về phương nam của Đặng Tiểu Bình. Sự tiếp tục của cải cách kinh tế dẫn tới tăng trưởng kinh tế trong thập niên 1990, cho phép chính phủ giành lại hầu hết sự ủng hộ của dân chúng mà họ đã mất năm 1989. Ngoài ra, không một lãnh đạo nào hiện nay của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đóng vai trò chủ chốt trong quyết định đàn áp biểu tình, và một gương mặt chính trị quan trọng là Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã từng là trợ thủ của Triệu Tử Dương tháp tùng ông tới gặp các sinh viên biểu tình.
Các lãnh đạo cuộc biểu tình tại Thiên An Môn không thể lập ra một phong trào hay một ý thức hệ chặt chẽ có khả năng tồn tại sau khoảng giữa thập niên 1990. Đa số lãnh đạo sinh viên đều xuất thân từ tầng lớp khá cao trong xã hội và được coi là ngoài tầm với của người dân thường. Một số trong số họ là những người theo chủ nghĩa xã hội và muốn đưa Trung Quốc trở về với con đường của chủ nghĩa xã hội. Nhiều tổ chức bắt đầu xuất hiện sau sự kiện Thiên An Môn nhanh chóng tan rã vì những cuộc đấu đá lẫn nhau. Nhiều nhà hoạt động dân chủ ở nước ngoài ủng hộ việc hạn chế thương mại với Trung Quốc đại lục dần mất tần ảnh hưởng cả trong và ngoài Trung Quốc. Một số tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Hoa Kỳ, với mục tiêu đưa cải cách dân chủ vào Trung Quốc không ngừng đưa ra các cáo buộc vi phạm nhân quyền tại Trung Quốc vẫn còn đó. Một trong những tổ chức lâu đời và có ảh hưởng nhất là China Support Network (CSN), được thành lập năm 1989 bởi một nhóm nhà hoạt động người Mỹ và Trung Quốc sau sự kiện Quảng trường Thiên An Môn.
=== Một hố sâu ngăn cách thế hệ ===
Lớn lên với ít kỷ niệm về sự kiện Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 và không biết gì về cuộc Cách mạng Văn hóa, nhưng lại được tận hưởng sự thịnh vượng và tầm ảnh hưởng ngày càng tăng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang có trên trường quốc tế cũng như trước những khó khăn nước Nga đang gặp phải từ cuối cuộc Chiến tranh Lạnh, nhiều người Trung Quốc không còn coi việc tự do hóa chính trị là một vấn đề bức thiết nữa, thay vào đó là những chuyển đổi từ từ sang sự dân chủ hóa. Nhiều thanh niên Trung Quốc, trước sự trỗi dậy của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, hiện quan tâm nhiều hơn tới phát triển kinh tế, chủ nghĩa quốc gia, bảo vệ môi trường, việc duy trì tầm ảnh hưởng trên các sự kiện quốc tế và nhận thức những sự yếu kém của chính phủ như trong vấn đề Vị thế chính trị Đài Loan hay quần đảo Điếu Ngư (Nhật Bản gọi là quần đảo Senkaku) đang tranh chấp với Nhật Bản.
Trong giới trí thức ở Trung Hoa lục địa, dấu ấn của các cuộc biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn dường như đã tạo nên một kiểu chia tách thế hệ. Giới trí thức, những người ở tuổi 20 khi các cuộc biểu tình diễn ra thường ít có cảm tình với chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hơn những sinh viên trẻ sinh ra sau những cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình.
Trong giới công nhân thành thị, việc tiếp tục các cuộc cải cách thị trường trong thập niên 1990 đã mang lại cho họ tiêu chuẩn sống cao hơn cũng như một sự đảm bảo tốt hơn về mặt kinh tế.
Năm 2006, chương trình "Frontline" trên kênh PBS của Mỹ phát sóng một đoạn phim được quay tại Đại học Bắc Kinh, nhiều sinh viên ở trường này từng tham gia vào cuộc biểu tình năm 1989. Bốn sinh viên được hỏi về bức ảnh "Người biểu tình vô danh" nhưng không ai trong số họ biết sự kiện đó là gì. Một số trả lời đó là một cuộc duyệt binh hay một bức hình minh hoạ.
== Các vấn đề liên quan tới Sự kiện Thiên An Môn ngày nay ==
=== Chủ đề cấm tại Lục địa Trung Quốc ===
Những vấn đề quanh sự kiện vẫn là một chủ đề cấm bởi chính phủ Trung Quốc, tuy một nhà chức trách Trung Quốc nói rằng "đây không phải một chủ đề nhạy cảm" và không nhạy cảm bằng cuộc Cách mạng Văn hóa. Trong khi thông tin về Cách mạng Văn hóa có thể thấy trên sách báo, trang web của chính phủ Trung Quốc thì sự kiện này hoàn toàn bị biến mất trên các phương tiện truyền thông của chính phủ Trung Quốc.
Tuy nhiên, các chương trình đưa tin tại Trung Quốc chỉ coi việc đàn áp là một hành động cần thiết để đảm bảo sự ổn định. Với giới trẻ Trung Quốc, thông thường họ không biết gì về những người biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn. Hàng năm, có một cuộc tuần hành lớn tại Hồng Kông, nơi mọi người tưởng niệm các nạn nhân và yêu cầu Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thay đổi quan điểm chính thức của mình.
Những bức thư thỉnh cầu về vụ việc vẫn thỉnh thoảng xuất hiện, đáng chú ý nhất là của Tiến sĩ Tưởng Ngạn Vĩnh và Những bà mẹ Thiên An Môn, một tổ chức được bà mẹ của một trong những nạn nhân bị giết hại năm 1989 lập ra để các gia đình tìm kiếm sự thực, sự bồi thường cho những đứa con đã mất, và quyền nhận quà tặng, đặc biệt là từ nước ngoài. Quảng trường Thiên An Môn được tuần tra chặt chẽ trong ngày kỷ niệm mùng 4 tháng 6 hàng năm để ngăn chặn bất kỳ hành động tưởng niệm nào có thể diễn ra tại đây.
Sau khi chính phủ trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cải tổ nhân sự năm 2004, nhiều thành viên nội các đã đề cập tới sự kiện Thiên An Môn. Tháng 10 năm 2004, trong chuyến thăm của Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào tới Pháp, ông đã lặp lại rằng "chính phủ tiến hành biện pháp kiên quyết để dẹp yên cơn bão chính trị năm 1989, và cho phép Trung Quốc có một chính phủ ổn định". Ông nhấn mạnh rằng quan điểm của chính phủ về sự kiện này sẽ không thay đổi.
Tháng 3 năm 2004, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nói trong một cuộc họp báo rằng trong thập niên 1990 đã có một cơn bão chính trị tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong bối cảnh tan rã của Liên Xô và những thay đổi tận gốc rễ ở Đông Âu. Ông nói rằng Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản đã thành công trong việc đưa ra chính sách mở cửa ổn định và bảo vệ "Sự nghiệp Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc".
Năm 2005, Lý Ngao, một nhà hoạt động chính trị Đài Loan và một nhân vật truyền hình nổi tiếng, đã có một bài nói chuyện tại Đại học Bắc Kinh. Ông đã ám chỉ đến cuộc biểu tình năm 1989 khi nhắc tới sự kiện Bonus March tại Hoa Kỳ gần 50 năm trước, trong cuộc Đại Khủng hoảng. Trong bài nói này, ông thêm rằng bất kỳ một chính phủ quốc gia nào trên thế giới đều phải dùng tới sức mạnh quân sự khi quyền lực của họ bị đe doạ.
Hiện tại, vì chính sách kiểm duyệt của chính phủ Trung Quốc gồm cả việc kiểm duyệt Internet, truyền thông bị cấm đưa bất kỳ tin nào liên quan tới chủ đề này. Phần lịch sử này đã biến mất trên hầu hết các phương tiện truyền thông Trung Quốc, gồm cả internet. Không ai được phép tạo bất kỳ một website nào liên quan tới sự kiện. Mọi lệnh tìm kiếm trên Internet tại Trung Quốc đại lục đa phần sẽ chỉ là con số không, ngoài một phiên bản chính thức của chính phủ với quan điểm của họ, chủ yếu thuộc website của Nhân dân Nhật báo và các phương tiện truyền thông bị kiểm soát chặt chẽ khác .
Tháng 1 năm 2006, Google đã đồng ý kiểm duyệt site của họ tại Trung Quốc đại lục (http://www.google.cn/) để loại bỏ các thông tin về vụ thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn năm 1989, cũng như các chủ đề khác như Độc lập Tây Tạng, phong trào tinh thần đã bị cấm Pháp Luân Công và Vị thế chính trị Đài Loan. Khi mọi người tìm kiếm các thông tin bị kiểm duyệt đó, sẽ có thông báo sau xuất hiện ở cuối mỗi trang liệt kê kết quả tìm kiếm: "Theo pháp luật pháp quy và chính sách nơi này, một bộ phận kết quả tìm kiếm chưa thể hiển thị". Các bài viết của Wikipedia về cuộc biểu tình năm 1989 cả bằng tiếng Anh và trên Wikipedia Trung văn, là một nguyên nhân dẫn tới sự phong tỏa Wikipedia của chính quyền đại lục.
Ngày 15 tháng 5 năm 2007, lãnh đạo Liên minh Dân chủ về sự Cải tiến ở Hương Cảng ủng hộ Bắc Kinh đã bị nhiều người chỉ trích khi tuyên bố "đó không phải là một vụ thảm sát", bởi không có "phát bắn có chủ đích và bừa bãi nào". Ông nói điều này cho thấy Hương Cảng "chưa đủ chín chắn" khi tin vào những tuyên bố bừa bãi của nước ngoài rằng đã xảy ra một vụ thảm sát. Ông nói vì Hương Cảng thiếu chủ nghĩa yêu nước và tính đồng nhất quốc gia, nên "chưa sẵn sàng cho dân chủ cho tới năm 2022". Những lời tuyên bố của ông đã bị lên án mạnh mẽ.
Ngày 4 tháng 6 năm 2007, ngày kỷ niệm vụ thảm sát một đoạn quảng cáo với dòng chữ "Để tỏ lòng kính trọng tới những bà mẹ kiên cường của những nạn nhân ngày 4 tháng 6" đã xuất hiện trên Thành Đô vãn báo. Sự việc đang được chính phủ Trung Quốc điều tra, và ban biên tập viên đã bị sa thải. Người thư ký thông qua đoạn quảng cáo này được cho là chưa từng nghe về vụ đàn áp ngày 4 tháng 6 và đã được nói rằng nó chỉ đề cập tới ngày kỷ niệm một thảm hoạ hầm mỏ.
=== Cấm vận vũ khí Hoa Kỳ-Liên minh châu Âu ===
Lệnh cấm bán vũ khí cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đã được đưa ra sau sự đàn áp bằng bạo lực những cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ trên Quảng trường Thiên An Môn, hiện vẫn có hiệu lực. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã kêu gọi dỡ bỏ lệnh cấm từ nhiều năm nay và đang được một số ủng hộ từ phía các thành viên Hội đồng Liên minh châu Âu. Đầu năm 2004, Pháp đã dẫn đầu một phong trào vận động dỡ bỏ lệnh cấm bên trong EU. Cựu Thủ tướng Đức Gerhard Schröder đã công khai ủng hộ lập trường của cựu Tổng thống Pháp Jacques Chirac về việc xóa bỏ cấm vận.
Lệnh cấm vận vũ khí đã được thảo luận tại một cuộc họp thượng đỉnh Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa-EU tại Hà Lan từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 12 năm 2004. Trong khi cuộc họp thượng đỉnh diễn ra, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tìm cách gia tăng sức ép lên Hội đồng EU để dỡ bỏ lệnh cấm vận khi cảnh báo rằng lệnh này sẽ làm tổn hại tới những mối quan hệ Trung Hoa-EU. Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Zhang Yesui gọi lệnh này là "lỗi thời", và ông nói với các nhà báo "nếu lệnh cấm được duy trì, quan hệ song phương chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng". Cuối cùng, Hội đồng châu Âu vẫn không dỡ bỏ lệnh cấm vận. Người phát ngôn EU Françoise le Bail nói vẫn còn có những lo ngại về cam kết của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về nhân quyền. Nhưng ở thời điểm đó, EU thực sự có cam kết đàn phán để dỡ bỏ lệnh cấm vận.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tiếp tục gây áp lực đòi dỡ bỏ lệnh này, và một số quốc gia thành viên đã bắt đầu từ bỏ quan điểm của mình. Jacques Chirac đã yêu cầu hủy bỏ lệnh này từ giữa năm 2005. Tuy nhiên, "Luật Chống chia cắt đất nước" của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thông qua tháng 3 năm 2005 đã làm gia tăng căng thẳng giữa hai bờ eo biển Đài Loan, đe dọa những nỗ lực dỡ bỏ cấm vận, và nhiều thành viên Hội đồng châu Âu đã thay đổi ý định. Các thành viên Hạ viện Hoa Kỳ cũng đã đề xuất những hạn chế trong việc chuyển giao các kỹ thuật quân sự cho EU nếu họ dỡ bỏ lệnh cấm vận. Vì thế Hội đồng châu Âu không đạt được sự đồng nhất, dù Pháp và Đức vận động cho việc này, lệnh cấm vận vẫn được duy trì.
Anh Quốc nắm chức Chủ tịch EU tháng 7 năm 2005, khiến việc dỡ bỏ lệnh này trong thời gian giữ chức vụ của họ không thể diễn ra. Anh Quốc luôn giữ một số quan điểm trong việc dỡ bỏ cấm vận và muốn để nó sang một bên, hơn là làm xấu đi quan hệ EU-Hoa Kỳ. Các vấn đề khác như sự thất bại của Hiến pháp châu Âu và sự bất đồng tiếp diễn về Ngân sách châu Âu cũng như Chính sách Nông nghiệp chung khiến lệnh cấm vận càng ít được chú ý. Anh Quốc muốn dùng chức chủ tịch của mình để tăng cường cải cách bán xỉ trong EU, vì thế việc dỡ bỏ cấm vận càng không có cơ hội xảy ra. Việc José Manuel Barroso trúng cử chức Chủ tịch Ủy ban châu Âu càng gây khó khăn cho việc dỡ bỏ cấm vận. Tại một cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo Trung Quốc hồi giữa tháng 7 năm 2005, ông nói thành tích nhân quyền kém cỏi của Trung Quốc sẽ cản trở bất kỳ thay đổi nào trong lệnh cấm bán vũ khí cho Trung Quốc của EU.
Chính trị cũng đã thay đổi tại các quốc gia từng ủng hộ việc dỡ bỏ cấm vận. Schröder thất bại trong cuộc bầu cử liên bang Đức năm 2005 trước Angela Merkel, bà trở thành Thủ tướng ngày 22 tháng 11 năm 2005 - Merkel tỏ rõ quan điểm phản đối việc dỡ bỏ lệnh cấm. Jacques Chirac đã tuyên bố ông không ra tranh cử chức Tổng thống Pháp một lần nữa năm 2007. Người kế nhiệm ông, Nicolas Sarkozy, có khuynh hướng thân Mỹ hơn và cũng không ủng hộ việc dỡ bỏ lệnh cấm.
Ngoài ra, Nghị viện châu Âu luôn phản đối việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Trung Quốc. Dù việc không cần có sự đồng ý của cơ quan này trong việc hủy bỏ lệnh cấm, nhiều người cho rằng điều này phản ánh đúng lòng mong muốn của nhân dân châu Âu hơn vì đây là cơ quan đại biểu do người dân châu Âu trực tiếp bầu ra— Hội đồng châu Âu được chỉ định bởi các quốc gia thành viên. Nghị viện châu Âu đã nhiều lần phản đối bất kỳ một sự dỡ bỏ lệnh cấm buôn bán vũ khí nào với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa:
Nghị quyết ngày 28 tháng 4 năm 2005, về Báo cáo hàng Năm về Nhân quyền trên Thế giới năm 2004 và chính sách của EU về vấn đề này,
Nghị quyết ngày 23 tháng 10 năm 2003, về báo cáo hàng năm từ Ủy ban thuộc Nghị viện châu Âu về các khía cạnh chính và các lựa chọn cơ bản của CFSP, nhấn mạnh trên một giải pháp hòa bình cho vấn đề Đài Loan thông qua thương lượng giữa hai bờ Eo biển Đài Loan và kêu gọi Trung Quốc rút tên lửa khỏi các tỉnh ven eo biển Đài Loan, và
Nghị quyết về quan hệ giữa EU, Trung Quốc và Đài Loan và an ninh vùng Viễn Đông ngày 7 tháng 7 năm 2005. EP đã nhiều lần lưu ý rằng tình trạng nhân quyền hiện tại ở Trung Quốc, với những quyền dân sự căn bản, quyền tự do văn hóa và chính trị không đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế được Trung Quốc công nhận.
Lệnh cấm vẫn vũ khí ngăn cản việc lựa chọn mua trang bị vũ khí của Trung Quốc. Trong số các nguồn được tìm kiếm gồm Khối Liên Xô cũ mà mối quan hệ đã bị tổn hại sau Sự chia rẽ Trung-Xô. Các nhà cung cấp khác trước kia gồm Israel và Nam Phi, nhưng áp lực từ phía Hoa Kỳ đã hạn chế những sự hợp tác tương lai.
=== Bồi thường ===
Dù chính phủ Trung Quốc chưa bao giờ chấp nhập đã hành động sai, trong tháng 4 năm 2006 đã có một khoản chi cho gia đình của một trong những nạn nhân, trường hợp bồi thường công khai đầu tiên của chính phủ với gia đình nạn nhân liên quan tới sự kiện Thiên An Môn. Khoản chi được gọi là "hỗ trợ khó khăn" cho Đường Đức Anh, con trai của bà Chu Quốc Thông, chết khi 15 tuổi trong khi bị cảnh sát giam giữ tại Thành Đô ngày 6 tháng 6 năm 1989, hai ngày sau khi Quân đội Trung Quốc giải tán những người phản kháng trên quảng trường Thiên An Môn. Người phụ nữ này được thông báo đã nhận được 70.000 tệ (xấp xỉ $8.700 USD). Hành động này đã được nhiều nhà hoạt động người Trung Quốc đón nhận, nhưng bị một số người coi là hành động giữ ổn định xã hội và không tin có sự thay đổi trong quan điểm chính thức của Đảng Cộng sản.
== Dấu ấn trong văn hóa ==
=== Các cuốn sách, phim và chương trình TV bị kiểm duyệt tại Lục địa Trung Quốc ===
Năm Dương khi bị quản thúc tại gia cũng bị cấm tại Trung Quốc.
=== Bài hát ===
Ban nhạc The Hooters đã ghi âm bài hát "500 Miles" (500 dặm) thời Nội chiến Mỹ năm 1989 trong album Zig Zag của họ, với bộ ba nhạc dân gian Peter, Paul and Mary, và thêm vào những lời mới đề cập tới cuộc biểu tình (A hundred tanks along the square, One man stands and stops them there - Một trăm chiếc xe tăng dọc theo quảng trường, Một người đứng chặn chúng ở đó).
Bài hát với chủ đề lịch sử "We Didn't Start the Fire" (Chúng ta không khởi động trận bắn giết) ("Trung Quốc dưới thiết quân luật") của Billy Joel
"Democracy" của Leonard Cohen ("...from those nights in Tiananmen Square" -...từ những đêm đó trên Quảng trường Thiên An Môn)
Bài hát "Trung Quốc" của Joan Baez năm 1989
"The Tiananmen Man" của Nevermore
"Watching TV" trong album solo Amused to Death của Roger Waters năm 1992
"Karate" của Tenacious D
"Hypnotize" của System of a Down
"Faith" của The Cure cùng ngày với vụ thảm sát, dành tặng những người đã mất
Cùng khoảng thời gian diễn ra sự kiện, nhiều ca sĩ nhạc pop Đài Loan đã tụ họp hát một bài ca đặc biệt với tên gọi "Vết thương của lịch sử". Bài hát này đã trở thành một trong những bài hát cho tới ngày nay vẫn làm dâng tràn cảm xúc trong lòng những người Hoa ở nước ngoài, đặc biệt là những người ủng hộ dân chủ, vì ảnh hưởng sâu sắc của cuộc phản kháng tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa|Trung Quốc.
"Arrested in Shanghai" của Rancid trong album Indestructible có một dòng: So I protest the massacres at the Tiannamen Square (Vì thế tôi phản đối các vụ thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn)
"Roll Right" của Rage Against the Machine gồm đoạn: Lick off the shot my stories shock you like Ellison, main line adrenalin, Gaza to Tiananme
"Tin Omen" của nhóm nhạc Canada Skinny Puppy có những lời nói tới những cuộc phản kháng cũng như cuộc phản kháng tại Đại học Kent State
Trong video ca nhạc "They Don't Care About Us" của ca sĩ Michael Jackson cũng có một số hình ảnh của sự kiện Thiên An Môn.
=== Truyền hình ===
Trong The Simpsons, phần "Goo Goo Gai Pan", có một cảnh với một tấm bảng viết "On this spot in 1989, nothing happened" (Ở nơi này năm 1989, không có điều gì xảy ra). Ngoài ra, Selma còn xuất hiện phía trước một chiếc xe tăng do một sĩ quan Trung Quốc điều khiển. Cảnh quay từ cùng góc như bức ảnh "Người biểu tình vô danh" nổi tiếng.
Phóng viên tin tức kỳ cựu của CNN Kyra Phillips đã đưa ra những lời chỉ trích vào tháng 3 năm 2006 khi bà so sánh Các cuộc phản kháng lao động tại Pháp năm 2006, trong đó không một người nào thiệt mạng, với những cuộc phản kháng trên Quảng trường Thiên An Môn, nói "Phần nào thấy lại những kỷ niệm về Quảng trường Thiên An Môn, khi bạn thấy những nhà hoạt động đó phía trước những chiếc xe tăng". Chris Burns của CNN đã nói với Bộ trưởng ngoại giao Pháp Philippe Douste-Blazy rằng những lời so sánh của bà là "đáng tiếc".
== Xem thêm ==
Danh sách phim tài liệu về Sự kiện Thiên An Môn năm 1989
Viện bảo tàng Ngày 4 Tháng 6
Lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Phong trào Chỉnh phong
Liên minh Hương Cảng hỗ trợ các Phong trào Yêu nước Dân chủ tại Trung Quốc
Đài Hổ thẹn
Trương Chí Tân
Lệnh hành pháp 12711
Thảm sát Canidrome
Vụ tự sát tại Quảng trường Thiên An Môn
Người biểu tình vô danh
== Đọc thêm ==
The New Emperors: China in the Era of Mao and Deng, Harrison E. Salisbury, New York, 1992, Avon Books, ISBN 0-380-72025-6.
The Tiananmen Papers, The Chinese Leadership's Decision to Use Force Against their Own People—In their Own Words, Compiled by Zhang Liang, Edited by Andrew J. Nathan và Perry Link, with an afterword by Orville Schell, PublicAffairs, New York, 2001, hardback, 514 pages, ISBN 1-58648-012-X An extensive review and synopis of The Tiananmen papers in the journal Foreign Affairs may be found at Review and synopsis in the journal Foreign Affairs.
June Fourth: The True Story, Tian'anmen Papers/Zhongguo Liusi Zhenxiang Volumes 1–2 (Chinese edition), Zhang Liang, ISBN 962-8744-36-4
Red China Blues: My Long March from Mao to Now, Jan Wong, Doubleday, 1997, trade paperback, 416 pages, ISBN 0-385-48232-9 (Contains, besides extensive autobiographical material, an eyewitness account of the Tiananmen crackdown and the basis for an estimate of the number of casualties.)
Spence, Jonathan D. The Search for Modern China. New York: Norton, 1999.
Craig C. Calhoun. "Science, Democracy, and the Politics of Identity." In Popular Protest and Political Culture in Modern China. Edited by Jeffrey N. Wasserstrom and Elizabeth J. Perry, 140-7. Boulder, Col.: Westview Press, 1994.
Liu Xiaobo. "That Holy Word, "Revolution." In Popular Protest and Political Culture in Modern China. Edited by Jeffrey N. Wasserstrom and Elizabeth J. Perry, 140-7. Boulder, Col.: Westview Press, 1994.
Spence, Jonathan D. "Testing the Limits." In "The Search for Modern China". 701. New York, NY: W.W. Norton & Company, 1999
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
"The Tank Man", phim tài liệu trên PBS 2006 và "Tank man" trên BBC (video)
Lát cắt về nhân quyền tại Trung Quốc từ phong trào dân chủ 1989.
BBC Creative archive footage Clip 1, Clip 2 (đường dẫn chỉ xem được từ Liên bang Anh)
Bài báo "Ngày này năm xưa" của đài BBC tường thuật về cuộc biểu tình Thiên An Môn
BBC's "Witnessing Tiananmen: Clearing the square" with eyewitness accounts of Tiananmen
The U.S. "Tiananmen Papers" - US Perceptions of the crisis
Nhân chứng Graham Earnshaw nói về sự kiện đêm 4 tháng 6
Eyewitness account of the massacre from a Marxist's Perspective
Bí ẩn Thiên An Môn và cái giá của sự đàn áp của Jay Mathews, nhà báo Columbia
The Tiananmen Square Confrontation, Alternative Insight
Bảo tàng Thị giác Trung Quốc năm 89
Tuyển tập hình ảnh thảm sát quảng trường Thiên An Môn
Tienanmen Square, 1989 The Declassified History
Hình ảnh các nạn nhân của cuộc thảm sát ngày 4 tháng 6
The Gate of Heavenly Peace - Feature-length Documentary
Hình ảnh video về sự kiện này tại New Tang Dynasty Television |
bafra.txt | Bafra là một huyện thuộc tỉnh Samsun, Thổ Nhĩ Kỳ. Huyện có diện tích 1509 km² và dân số thời điểm năm 2007 là 143084 người, mật độ 95 người/km².
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
“Geonames Database”. Cơ quan Tình báo Địa không gian Quốc gia. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. |
thế vận hội.txt | Thế vận hội (hay Đại hội Thể thao Olympic) là cuộc tranh tài trong nhiều môn thể thao giữa các quốc gia trên toàn thế giới. Thế vận hội gồm Thế vận hội Mùa hè và Thế vận hội Mùa đông được tổ chức xen kẽ nhau hai năm một lần (vào các năm chẵn). Đây là một đại hội thể thao không chỉ là đua sức thể lực mà còn mang ý nghĩa biểu trưng cho tinh thần đoàn kết, hòa bình của toàn nhân loại.
Thế vận hội bắt nguồn từ các cuộc thi đấu thể thao thời Hy Lạp cổ đại từ năm 776 trước Công Nguyên cho đến khi Hoàng đế La Mã là Theodosius I cấm đoán vào năm 394. Và Thế vận hội hiện đại được Nam tước người Pháp Pierre Frèdy de Coubertin tổ chức lần đầu tiên vào cuối thế kỷ 19. Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) đã trở thành cơ quan chủ quản của Phong trào Olympic, với Hiến chương Olympic xác định cấu trúc và cơ quan có thẩm quyền của nó.
Thế vận hội Mùa hè được diễn ra cứ bốn năm một lần từ năm 1896, trừ những năm diễn ra chiến tranh thế giới (như chiến tranh thế giới lần thứ hai)
Thế vận hội Mùa đông được thành lập vào năm 1924 cho những môn thể thao mùa đông. Mới đầu nó được tổ chức cùng năm với Thế vận hội mùa hè, nhưng từ năm 1994, Thế vận hội mùa đông và Thế vận hội mùa hè diễn ra xen kẽ nhau hai năm một lần.
Thế vận hội được quản lý bởi Liên đoàn thể thao quốc tế (IFS), Uỷ ban Olympic Quốc gia (NOC), và các ủy ban tổ chức cho mỗi thế vận hội Olympic cụ thể. Là cơ quan ra quyết định, IOC chịu trách nhiệm về việc lựa chọn các thành phố chủ nhà cho mỗi Thế vận hội. Các thành phố chủ nhà chịu trách nhiệm về tổ chức và tài trợ và kỷ niệm thế vận hội sao cho phù hợp với Hiến chương Olympic. Trong thời gian diễn ra thế vận hội, các nghi thức được tiến hành bao gồm nhiều nghi lễ trong đó có lễ khai mạc và bế mạc, trong mỗi buổi lễ đều sử dụng biểu tượng là lá cờ và ngọn đuốc Olympic. Hơn 13,000 vận động viên cạnh tranh tại Thế vận hội Mùa hè và Thế vận hội Mùa đông ở 33 môn thể thao khác nhau và gần 400 cuộc thi. Các vận động viên đạt thành tích cao trong mỗi cuộc thi nhận được huy chương Olympic: vàng, bạc, đồng, tương ứng.
Thế vận hội đã ảnh hưởng rộng lớn trên toàn thế giới. Thế nhưng, thế vận hội vẫn còn nhiều thách thức lớn như: Sử dụng chất doping trong thi đấu, khủng bố. Tuy nhiên, đây là cơ hội tốt để nước chủ nhà quảng bá hình ảnh quốc gia của mình trên thế giới.
== Lịch sử và những biến động trong thế vận hội ==
Cách đây hơn 2700 năm, người Hy Lạp cổ đã tổ chức Đại hội Thể thao Olympic tại bán đảo Peloponnesus, cứ 4 năm một lần. Trong thời gian thi đấu, các thành bang không được mang vũ khí vào đấu trường hay đánh nhau.
Năm 1896, Thế vận hội hiện đại lần đầu tiên được tổ chức.
Năm 1904, Thế vận hội Mùa hè lần thứ 3 tổ chức tại St. Louis, Hoa Kỳ và là lần đầu tiên được tổ chức tại Bắc Mỹ.
Năm 1913, lá cờ năm vòng tròn được thiết kế.
Năm 1914, lá cờ năm vòng tròn lần đầu tiên được sử dụng tại Paris.
Năm 1924, Thế vận hội Mùa đông lần đầu tiên được tổ chức.
Năm 1932, Thế vận hội Mùa đông lần thứ 3 tổ chức tại Lake Placid, New York, Hoa Kỳ và là lần đầu tiên được tổ chức tại Bắc Mỹ.
Năm 1956, Thế vận hội Mùa hè lần thứ 21 tổ chức tại Úc và Thụy Điển và là lần đầu tiên được tổ chức đồng thời ở hai quốc gia.
Năm 1964, Thế vận hội Mùa hè lần thứ 18 tổ chức tại Tokyo, Nhật Bản và là lần đầu tiên được tổ chức tại châu Á.
Năm 1972, Thế vận hội Mùa đông lần thứ 11 tổ chức tại Sapporo, Nhật Bản và là lần đầu tiên được tổ chức tại châu Á.
Năm 1976, Tại Thế vận hội Mùa hè thứ 21, thủ tướng Konstantinos Karamanlis đã viết thư chủ tịch nhiệm kỳ thứ sáu của Olympic là Killanin, yêu cầu vĩnh viễn đặt địa điểm tổ chức Olympic tại Hy Lạp.
Năm 1982, Karamanlis được bầu làm tổng thống, tiếp tục đưa ra yêu cầu tương tự nhưng Thế vận hội vẫn phải được các thành phố lớn trên thế giới chia nhau tổ chức.
Năm 1994, Thế vận hội Mùa đông lần thứ 17 tổ chức tại Lillehammer, Na Uy và từ đây, Thế vận hội Mùa đông và Thế vận hội Mùa hè không được tổ chức cùng một năm.
Năm 1998, Thế vận hội Mùa đông lần thứ 18 tổ chức tại Nagano, Nhật Bản, đồng thời Nhật Bản trở thành quốc gia đầu tiên của châu Á hai lần đăng cai Thế vận hội Mùa đông.
Năm 2002, lần thứ 4, Hoa Kỳ được đăng cai tổ chức Olympic mùa đông.
Năm 2008, Thế vận hội Mùa hè lần thứ 29 tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc và là đầu tiên được tổ chức tại một quốc gia và vùng lãnh thổ (môn đua ngựa diễn ra ở Hồng Kông).
Năm 2012, lần thứ 3, nước Anh được đăng cai tổ chức Olympic.
Năm 2014, Thế vận hội Mùa đông lần thứ 22 tổ chức tại Sochi, Nga và là lần đầu tiên được tổ chức tại một quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới.
Năm 2016, Thế vận hội Mùa hè lần thứ 31 tổ chức tại Rio de Janeiro, Brasil và là lần đầu tiên được tổ chức tại Nam Mỹ.
Năm 2018, Thế vận hội Mùa đông lần thứ 23 tổ chức tại Pyeongchang, Hàn Quốc và là lần đầu tiên được tổ chức tại một vùng ngoại ô.
Năm 2020, Thế vận hội Mùa hè lần thứ 32 tổ chức tại Tokyo, Nhật Bản và trở thành thành phố đầu tiên của châu Á hai lần đăng cai Thế vận hội Mùa hè.
Năm 2022, Thế vận hội Mùa đông lần thứ 24 tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc và trở thành thành phố đầu tiên trên thế giới đăng cai cả Thế vận hội Mùa hè cũng như Thế vận hội Mùa đông.
== Đại hội Olympic cổ đại ==
Đại hội Olympic (cổ đại) là lễ hội nổi tiếng nhất trong bốn lễ hội quốc gia của Hy Lạp cổ đại (ba lễ hội kia là lễ Isthmian, Pythian và Nemean). Đại hội Olympic cổ đại được tổ chức vào mùa hè cứ bốn năm một lần tại đền thờ thần Dớt (Zeus) ở thành phố Olympía. Đại hội này có từ năm 776 trước Công Nguyên. Người chiến thắng đầu tiên trong Đại hội Olympic là Coroebus.
Năm đầu tiên của Đại hội Olympic, các sứ thần được gửi đi khắp nơi trong thế giới Hy Lạp để yêu cầu các thành bang nộp triều cống cho thần Dớt. Sau đó các thành bang đã gửi đi các nhóm của mình để thi với nhóm khác để thể hiện sự tài giỏi của những tài năng thể thao. Người Hy Lạp thời đó tin rằng chư thần bảo hộ cho các kỳ Thế vận hội Olympic, do đó những cuộc thi đấu này thể hiện tính thống nhất về văn hóa của các thành bang bị chia rẽ về chính trị. Các cuộc thi chỉ dành cho những người đàn ông danh giá của dòng dõi người Hy Lạp. Kể từ khi một lực sĩ không may bị tuột quần vào thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, các lực sĩ đều phải trần truồng khi thi đấu. Họ đều là những người chuyên nghiệp, được tập luyện tốt.
Các sự kiện khác thì không được biết rõ, nhưng ngày đầu tiên của Đại hội được dùng cho việc tế lễ. Rất có thể bắt đầu ngày thứ hai là môn đi bộ, khán giả tụ họp lại trong "Stadion", một khu vực hình chữ nhật được làm dốc nghiêng trên mặt đất.
Vào những ngày khác là môn "đô vật tự do Hy Lạp" (môn này là sự kết hợp giữa đấu vật và đấu quyền-giống quyền Anh). Luật chơi của môn thể thao đầu tiên này là quăng đối thủ xuống đất 3 lần.
Quyền thuật (giống quyền Anh) càng ngày càng tàn bạo; đầu tiên những đấu thủ phải quấn dây da mềm quanh các ngón tay của họ như một cách làm yếu những cú đấm, nhưng những lần sau đó là da cứng, đôi khi họ còn làm nặng thêm bằng kim loại. Môn đô vật tự do là môn thể thao rất khắt khe, cuộc thi tiếp diễn cho đến khi một trong các đấu thủ được xem như thất bại.
Môn đua ngựa thì mỗi người điều khiển một con, tuy giới hạn ở những người giàu có nhưng lại thu hút nhiều người đủ mọi tầng lớp. Sau môn đua ngựa là đến điền kinh năm môn phối hợp bao gồm: vật, ném dĩa, phóng lao, nhảy xa và chạy nước rút.
Con số chính xác của những môn thể thao và phương pháp dùng để xác định người thắng cuộc thì vẫn chưa biết. Cái dĩa trong môn ném dĩa làm bằng đồng, có lẽ có hình thấu kính. Còn cây lao thì có một cuộn dây cột ở đầu cán nhằm tạo ra lực quay để có tầm xa và chính xác hơn. Còn môn nhảy thì chỉ có nhảy xa, không có nhảy cao. Môn cuối cùng là môn chạy có mặc áo giáp. Những người thắng cuộc được đội trên đầu một vòng hoa Ôliu dại. Được các nhà thơ ca tụng, họ sống quãng đời còn lại bằng kinh phí của nhà nước.
Đại hội Olympic cổ đại đã lên đến đỉnh cao của tính đại chúng vào thế kỷ thứ 5 và 4 trước Công nguyên. Xứ Sparta đã nhiều lần thắng cuộc. Xứ Athena trong thời đại hoàng kim đã bốn lần thắng giải, nhưng thành công vang dội nhất vẫn là thành phố Elis, quê hương của Coroebus. Vận động viên kiệt xuất nhất Hy Lạp cổ đại là Milo người xứ Croton, đã liên tiếp thắng giải năm kỳ Thế vận hội từ năm 536 cho đến năm 520 trước Công nguyên. Trong lần cuối cùng, ông ta vác trên vai một con vật tế thần bước vào sân vân động, trước khi ngồi xuống ăn thịt nó. Người ta kể rằng vào năm 496 trước Công nguyên, vua Alexandros I xứ Macedonia tham gia Đại hội Olympic. Người ta từ chối vì cho ông là vua man rợ, chứ không hoàn toàn là người Hy Lạp. Nhưng nhà vua xưng ông là con cháu của thần Heracles, ông đã đạt nhiều chiến thắng trong Đại hội Olympic và được nhà thi hào Pindar tán dương. Tuy phụ nữ không được tham gia các kỳ Đại hội, trong lịch sử Hy Lạp xưa vẫn có vài vận động viên nữ thắng giải Olympic. Nổi tiếng nhất là Kyniska - con gái của vua Archidamus II xứ Sparta, chiến thắng môn đua ngựa. Nàng cho người xây cất hai tượng đài của mình tại Olympía, một trong hai tượng đài đó có một bài thơ do nàng viết nên để ca ngợi chiến thắng của mình.
Đội tuyển của vua Philippos II xứ Macedonia cũng thắng giải đua ngựa vào năm 356 trước Công nguyên, đúng vào ngày Alexandros ra đời, góp phần tạo nên lời tiên tri đúng đắn rằng Alexandros sau này sẽ là một ông vua bách chiến bách thắng. Đến cả khi Ki-tô giáo được truyền vào Hy Lạp, các kỳ Đại hội thể thao Olympic vẫn luôn được tổ chức. Sứ đồ Phaolô hẳn là một người hâm mộ, dù ông không phải là một vận động viên của Đại hội Olympic. Ông viết: "Tôi đã tham gia một cuộc thi đấu thật hay. Tôi đã chạy trên sân vận động. Tôi đã giữ niềm tin". Câu nói này đã lưu danh vào lịch sử Đại hội Olympic ở Hy Lạp xưa. Những kỳ Đại hội Olympic được tổ chức vào năm 388 hoặc là 393. Người chiến thắng cuối cùng được ghi nhận là một vận động viên người xứ Armenia. Khoảng năm 394, khi Hoàng đế La Mã là Theodosius I Đại Đế ban Thánh chỉ cấm đoán Đa thần giáo và công nhận Ki-tô giaó là quốc giáo của Đế quốc La Mã, ông ta đã hủy bỏ Đại hội Olympic cổ đại. Vào năm 426, có lẽ là do Hoàng đế Theodosius II xuống Thánh chỉ đốt sạch các miếu thờ Đa Thần giáo trên vùng Địa Trung Hải, đền thờ thần Thần Dớt bị đốt rụi. Không những thế, do thời đó liên tục có những trận động đất và lũ lụt, người ta không thể tổ chức Đại hội được nữa. Ý tưởng về Đại hội thể thao Olympic được hồi sinh vào đầu thế kỷ thứ 19.
== Thế vận hội Olympic hiện đại ==
=== Giới thiệu ===
Đại hội thể thao Olympic hiện đại (Thế vận hội), cuộc thi thể thao quốc tế để các vận động viên thể thao từ các nước khác nhau tranh tài, tổ chức 4 năm một lần tại những nơi khác nhau. Có hai loại Đại hội Olympic là Olympic mùa Hè và Olympic mùa Đông. Qua năm 1992 cả hai Thế vận hội được tổ chức cùng năm, nhưng từ năm 1994 thì được đổi lại sao cho cả hai sự kiện thể thao này diễn ra trong các năm xen kẽ nhau. Ví dụ như Olympic mùa Đông tổ chức năm 1994 thì Olympic mùa Hè tổ chức năm 1996, kế đến Olympic mùa Đông diễn ra năm 1998 và Olympic mùa Hè thì diễn ra vào năm 2000.
Đại hội thể thao Olympic hiện đại bắt đầu vào năm 1896 tại Aten(Athens), Hy Lạp, hai năm sau khi nhà sư phạm và tư tưởng người Pháp - Pierre de Coubertin đề xuất rằng thế vận hội Olympic của người Hy Lạp cổ đại cần được hồi sinh để tôn vinh nền hòa bình thế giới.
Chương trình Thế vận hội năm 1896 chỉ có các môn thể thao mùa hè (vì Thế vận hội mùa đông đến năm 1924 mới tổ chức)có 300 vận động viên đến từ 15 nước thi 43 môn thi đấu trong 9 môn thể thao khác nhau. Và đến thế vận hội mùa hè 100 năm sau đó tại Atlanta (Mỹ) 1996, có hơn 10.000 vận động viên đến từ hơn 190 nước thi 271 môn thi đấu trong 29 môn thể thao khác nhau.
=== Ủy ban Olympic quốc tế ===
Thế vận hội được quản lý bởi Ủy ban Olympic quốc tế (viết tắt là IOC), tổng hành dinh đặt tại Lausanne, Thụy Sĩ. IOC ra đời tại Paris năm 1894 như một ủy ban độc lập và tự lựa chọn các thành viên cho mình (tuy nhiên để bắt đầu tiến hành, Coubertin đã tự chọn cho mình 15 thành viên). Hầu hết các thành viên được bầu chọn vào IOC là những cá nhân, đơn vị đã phục vụ trong NOCs (National Olympic Committees – Các ủy ban Olympic quốc gia) tại chính quốc gia của thành viên đó.
Những thành viên đầu tiên của IOC là tất cả các thành viên châu Âu và châu Mỹ với một nước ngoại lệ là New Zealand (châu Úc). Thành viên châu Á đầu tiên gia nhập ủy ban là vào năm 1908 và châu Phi là 1910. Các thành viên của IOC phải nghỉ hưu vào tuổi 80 trừ phi họ được bầu chọn trước năm 1966.
IOC có chức năng giám sát, quyết định nơi sẽ tổ chức thế vận hội, lập các quy định về Olympic trên toàn thế giới và thương lượng về bản quyền truyền hình các chương trình trong thời gian diễn ra thế vận hội. IOC làm việc chặt chẽ với NOCs, Liên đoàn thể thao không chuyên quốc tế (the International Amateur Athletic Federation - IAAF) và các liên đoàn thể thao quốc tế khác (international sports federations - ISFs) để tổ chức các kỳ thế vận hội. ISFs chịu trách nhiệm về những điều luật quốc tế và các quy tắc của các môn thể thao mà họ có ảnh hưởng.
Chủ tịch IOC (được chọn từ các thành viên của IOC) được cộng tác bởi một ban lãnh đạo, nhiều phó chủ tịch và một số người của hội đồng IOC. Chủ tịch đầu tiên của IOC là ông Demetrius Vikélas, người Hy Lạp (làm việc 1894 -1896). Các chủ tịch tiếp theo là Count Henri de Baillet-Latour của Bỉ (1925-1942), J. Sigfrid Edström của Thụy Điển (1946-1952), Avery Brundage của Mỹ (1952-1972), Michael Morris, Lord Killanin của Ireland (1972-1980) và Juan Antonio Samaranch của Tây Ban Nha (1980-).
=== Quyết định các môn thi đấu ===
Để đăng cai thế vận hội, một thành phố phải đệ trình bản kế hoạch lên IOC. Sau khi tất cả các bản kế hoạch được đưa lên, IOC tiến hành bỏ phiếu. Nếu không có thành phố nào giành được nhiều phiếu trong lần bỏ phiếu đầu tiên thì thành phố ít phiếu nhất sẽ bị loại và tiếp tục bỏ phiếu cho đến khi chọn được mới thôi. Thế vận hội được quyết định trước đó vài năm, nhờ vậy thành phố giành được quyền đăng cai có đủ thời gian để chuẩn bị. Trong việc lựa chọn nơi tổ chức Olympic, IOC quyết định dựa trên một số nhân tố chủ yếu mà thành phố đó có hoặc hứa sẽ tạo những tiện nghi tốt nhất và hiệu quả.
IOC cũng quyết định những phần nào trên thế giới chưa được quyền đăng cai thế vận hội. Thí dụ như, thành phố Tokyo, Nhật Bản (thuộc châu Á) đăng cai Olympic mùa hè năm 1964 thì sang năm 1968 tổ chức ở Mê hi cô (thuộc Mĩ Latinh). Vì sự phát triển quan trọng của truyền hình trên toàn thế giới, trong những năm gần đây IOC cũng đưa vào việc chọn thành phố chủ nhà theo múi giờ. Ví dụ như mỗi khi thế vận hội diễn ra tại Mỹ hoặc Canada thì mạng truyền hình American sẵn sàng chịu nhiều chi phí bản quyền để phát hình trực tiếp rộng rãi vào những giờ chiếu phim.
Một khi thế vận hội diễn ra ở đâu thì sẽ được ủy ban tổ chức địa phương ở đó tài trợ (những tổ chức này không phải là IOC hay NOC của nước chủ nhà). Điều này thường kết thúc với phần chia lợi nhuận từ bản quyền truyền hình thế vận hội, tiền từ các tập đoàn tài trợ, tiền bán vé, tiền quảng cáo và những nguồn tài trợ nhỏ khác chẳng hạn như những con tem bưu điện làm kỉ niệm hoặc tiền thu từ vé số quốc gia. Trong nhiều trường hợp cũng có sự giúp đỡ của chính quyền nước sở tại.
Mặc dù nhiều thành phố giành được lợi nhuận từ thế vận hội, nhưng các kỳ Olympic cũng có thể khiến nhiều thành phố lâm vào tình trạng thiếu hụt tài chính. Ví dụ như Montréal, Canada đã chi ra một lượng lớn tiền bạc để chuẩn bị cho thế vận hội mùa hè năm 1976, nhưng số tiền thu được lại thấp hơn dự kiến khiến thành phố phải chịu nhiều khoản nợ lớn.
=== Các vận động viên và tư cách tham dự ===
Mặc dù Hiến chương Olympic, luật chính thức của Ủy ban Olympic, tuyên bố rằng Olympic là cuộc thi giữa các cá nhân và không phải là giữa các quốc gia nhưng IOC lại phân công các NOC có nhiệm vụ tuyển chọn riêng các đội tuyển Olympic quốc gia. Trong hầu hết các trường hợp, NOC làm điều này để nắm được các vận động viên đã trải qua kiểm tra để được thi đấu tại thế vận hội hoặc để chọn những vận động viên dựa trên những thành tích mà họ đã đạt được trước đó.
Từ khi bắt đầu thế vận hội đến nay, các vận động viên nữ không chuyên của mọi tôn giáo, dân tộc đều có đủ tư cách tham dự. Mặc dù Coubertin phản đối sự tham gia thế vận hội của phụ nữ và không một phụ nữ nào thi đấu trong năm 1896, nhưng một số nhỏ vận động viên môn đánh gôn và quần vợt đã được thi đấu tại thế vận hội năm 1900.
Các vận động viên nữ trong môn bơi lội và lặn được phép thi đấu tại thế vận hội năm 1912, còn những môn như thể dục và điền kinh thì mãi đến năm 1928 họ mới được tham gia. Kể từ đó các môn thể thao Olympic của nữ phát triển đáng kể và hiện nay số lượng nữ vận động viên trong một đội đã chiếm đến khoảng phân nửa trừ một số đội đến từ các nước Ả-Rập hồi giáo.
Coubertin và tổ chức IOC dự tính từ ban đầu là thế vận hội chỉ dành cho những vận động viên nghiệp dư. Tính chất không chuyên được xác định bởi sự tôn trọng triệt để với luật không chuyên, một luật lệ có từ thế kỷ 19 làm nền tảng để ngăn không cho các vận động viên chuyên nghiệp tham gia trong các môn thể thao như bơi thuyền và quần vợt.
Bởi vì luật không chuyên ngăn cản các vận động viên kiếm được bất kỳ chi phí nào từ các hoạt động có liên quan đến thể thao nên các vận động viên thuộc tầng lớp bình dân khó mà đủ khả năng vừa kiếm sống vừa tập luyện để thi đấu. Tuy nhiên các luật lệ của thế vận hội về tính không chuyên vẫn là nguyên nhân của nhiều tranh cãi trong nhiều năm.
Những câu hỏi đã được đưa ra như một vận động viên không chuyên có thể được đài thọ chi phí cho chuyến đi thi đấu, được đền bù chi phí thời gian mất việc, được thuê để dạy các môn thể thao hay không. Và chúng luôn được IOC (tổ chức đứng đầu trong việc xác định tính chuyên nghiệp trong các một thể thao khác) giải quyết một cách thỏa đáng.
Năm 1983, đa số các thành viên của IOC đều chấp nhận hầu hết các vận động viên Olympic thi đấu một cách chuyên nghiệp với ý muốn rằng các môn thể thao là hoạt động chính của họ. Sau đó IOC đã hỏi lại mỗi ISF để xác định tính tư cách của chính môn thể thao và qua thập niên sau thì gần như tất cả các ISF đã bãi bỏ sự khác biệt giữa các vân động viên nghiệp dư và các vận động chuyên nghiệp, còn gọi là thế vận hội mở. Một trong những ví dụ điển hình của sự thay đổi là vào năm 1992 khi các vận động viên chuyên nghiệp đến từ Liên đoàn bóng rổ quốc gia (NBA – National Basketball Association) đã được phép thi đấu tại thế vận hội mùa hè Barcelona, Tây Ban Nha.
=== Những nghi thức ===
Thế vận hội luôn có những nghi thức, phần nhiều trong số đó thể hiện chủ đề tình hữu nghị và hợp tác hòa bình giữa các quốc gia.
Lễ khai mạc thế vận hội luôn luôn có cuộc diễu hành của các đội tuyển đến từ mỗi quốc gia tham dự tại sân vận động chính. Đội Hy Lạp luôn là đội đi đầu để kỉ niệm nguồn gốc xa xưa của thế vận hội và đội nước chủ nhà luôn là đội đi sau chót.
Nghi lễ mở đầu là màn trình diễn tái hiện, hư cấu về thế vận hội qua thời gian trong một khung cảnh phức tạp và hoành tráng với âm nhạc và lời nói. Một trong những nghi lễ quan trọng là cuộc chạy rước đuốc và lễ rước đuốc Olyimpic. Ngọn lửa Olympic tượng trưng cho sự chuyển giao những ý nghĩa cao đẹp từ thế vận hội Hy Lạp cổ đại đến thế giới hiện đại. Ngọn đuốc Olympic được thắp sáng lần đầu tại thế vận hội mùa hè năm 1936. Trong cuộc chạy rước đuốc, ngọn lửa được thắp sáng tại thành phố Olympia, Hy Lạp và từ đó nó được nhiều người chạy bộ (trừ đường sông, biển) mang đi trải qua nhiều tuần lễ hoặc nhiều tháng trời để đến thành phố nước chủ nhà.
Sau khi người rước đuốc cuối cùng đã thắp ngọn lửa Olympic lên ngọn đuốc chính tại sân vận động, người đứng đầu của nước chủ nhà tuyên bố thế vận hội bắt đầu và những con chim bồ câu được thả ra để tượng trưng cho niềm hi vọng thế giới hòa bình.
Hai nghi thức đổi mới quan trọng khác đã xuất hiện sớm tại thế vận hội Antwerp, Bỉ năm 1920 đó là một lá cờ thế vận hội với năm vòng tròn có năm màu khác nhau trên nền trắng. Năm chiếc vòng tròn tượng trưng cho sự đoàn kết giữa các quốc gia năm châu: châu Phi, châu Mỹ, châu Á, châu Úc và châu Âu. Và kế đến là sự ra đời của nghi thức đọc lời thề Olympic, được đọc bởi một thành viên của đội chủ nhà. Lời thề xác nhận cam kết của các vận động viên về tinh thần thể thao cao thượng trong thi đấu.
Nghi lễ trao huy chương cũng là một phần quan trọng của thế vận hội. Sau mỗi môn thi đấu cá nhân tại thế vận hội, các huy chương được tặng thưởng có 3 giải: nhất, nhì và ba cho 3 người có thành tích cao nhất. Lễ trao huy chương diễn ra sau mỗi trận đấu chung kết của từng môn, các vận động viên thắng cuộc bước lên bục để nhận huy chương vàng (thực ra là huy chương mạ vàng), huy chương bạc (mạ bạc), và huy chương đồng, kế đến quốc kỳ các nước của họ được kéo lên trong tiếng nhạc quốc ca nghiêm trang. Một vài nhà phê bình đề nghị rằng vì những kỉ niệm chương dường như trái với tinh thần quốc tế mà IOC đã công bố. Những biểu tượng quốc gia nên thay bằng lá cờ Olyimpic và nhạc là bài hát chính thức của Olympic.
Ban đầu có một cuộc diễu hành khác của các quốc gia vào buổi lễ cuối cùng của thế vận hội.Tuy nhiên tại thế vận hội mùa hè vào năm 1956 tại Melbourne, Úc, các vận động viên đã tách khỏi hàng ngũ và đi lẫn vào nhau để kỉ niệm thế vận hội. Truyền thống này đã được tiếp tục tại các kỳ thế vận hội sau. Sau khi các vận động viên đã vào hết trong sân vận động Olympic tại buổi lễ, chủ tịch của IOC hẹn gặp lại các vận động viên và khán giả tại thế vận hội lần sau. Sau đó, chủ tịch IOC tuyên bố kết thúc thế vận hội và ngọn đuốc Olympic được tạm tắt.
=== Những buổi đầu ===
Sau khi thắng lợi trong cuộc Chiến tranh Giải phóng Dân tộc (1821 - 1829) phá tan xiềng xích nô dịch của Đế quốc Ottoman, Hy Lạp đã tìm cách "hồi sinh" Đại hội Olympic thời xa xưa nhằm làm quảng bá các di sản cổ đại của họ.
Đại hội Olympic của họ – bị giới hạn ở phạm vi dân tộc Hy Lạp – đã không thành công, diễn ra không thường xuyên và thu hút rất ít sự chú ý của quốc tế. Thế vận hội bị đình chỉ hoàn toàn vào năm 1889. Nhưng sau đó Coubertin đã thành công trong nỗ lực tổ chức thế vận hội một cách đàng hoàng vì quan niệm của ông về Đại hội thể thao mang tính quốc tế hơn là mang tính dân tộc.
Mặc dù lúc bắt đầu công việc, ông quan tâm đến thể thao như một cách để nâng cao tính sẵn sàng chiến đấu của quân đội Pháp, nhưng cuối cùng ông đã hình dung chúng như một công cụ để chiến thắng các cuộc xung đột giữa các quốc gia.
Coubertin bắt đầu phát triển những ý tưởng của mình cho một cuộc thi đấu thể thao quốc tế trong những năm 1880. Năm 1894 ông mời đại diện thể thao các nước đến Paris để thảo luận về thể thao không chuyên tại một đại hội thể thao quốc tế. Hội nghị có 78 đại biểu đến từ 9 quốc gia. Tại hội nghị, Coubertin đã dùng nghệ thuật và âm nhạc cổ điển để tạo ảnh hưởng với các đại biểu. Ông làm họ ngạc nhiên với đề xuất làm sống lại thế vận hội Olympic của thời xưa và họ đã đồng ý ủng hộ. Coubertin muốn Đại hội Olympic hiện đại làm nổi bật các môn thể thao của thời xưa và hiện đại. Chẳng hạn như môn ném dĩa là biểu tượng cho sự tiếp nối của quá khứ vì người Hy Lạp cổ đại đã từng luyện tập thể thao.
Ngược lại, môn đua xe đạp là môn thể thao xuất hiện gần hơn nên đại diện cho thời hiện đại. Môn chạy marathon là để tưởng niệm một người lính Hy Lạp đã chạy bộ một mạch từ một thị trấn của Marathon đến Athens để báo tin quân Hy Lạp đã chiến thắng quân xâm lược Ba Tư, môn chạy này có khoảng cách ngắn hơn khoảng cách marathon thực sự là 42.2 km (khoảng 26.2 dặm). (đường đua dài nhất của Olympic cổ đại là khoảng 1000 m).
Sự bất ổn trong chính phủ Hy Lạp đe dọa sự chuẩn bị cho thế vận hội năm 1896, nhưng Coubertin đã đến Athens và tranh thủ được sự ủng hộ giúp đỡ của hoàng gia Hy Lạp trong việc tổ chức thế vận hội.
Mặc dù sau đó không có NOC để tuyển chọn các vận động viên và gửi họ đến thế vận hội, nhưng nhờ Coubertin quen biết với nhiều nhà thể thao người châu Âu và châu Mỹ nên đã vận động họ thành lập các đội tuyển quốc gia tại nước mình. Lúc ấy ước chừng một nửa số đội của châu Mỹ đến từ đại học Princeton vì ở đó có người bạn của Coubertin đang dạy môn lịch sử. Khoảng dưới 300 vận động viên đã thi đấu tại thế vận hội năm 1896 và không nhận được nhiều quan tâm của báo chí quốc tế, nhưng lại đủ sức thuyết phục để IOC tiếp tục các thế vận hội sau mỗi bốn năm.
=== Olympic Mùa Hè ===
Thế vận hội năm 1896 bao gồm các môn: đua xe đạp, đấu kiếm, thể dục, bắn bia, bơi lội, quần vợt, điền kinh, cử tạ và đấu vật. Các vận động viên người Mỹ chiếm ưu thế hơn hẳn tại thế vận hội nhưng những thành tích của những người thắng cuộc không cao bởi những tiêu chuẩn đánh giá đương thời. Thomas Burke, người Mỹ là người chiến thắng trong cuộc chạy đua nước rút cự ly 100m trong 12 giây, tức là thấp hơn 1 giây so với kỷ lục thế giới. Bất chấp những thành tích này,thế vận hội đã thành công khi làm hài lòng khán giả và những người tham gia.
Sự ủng hộ cộng đồng quốc tế cho thế vận hội 1900 tại Paris và thế vận hội 1904 tại St.Louis, Missouri Mỹ đã làm Coubertin thất vọng, bởi vì cả hai kỳ thế vận hội này bị coi như là những "hội chợ quốc tế" hơn Olympic. Năm 1906 một thế vận hội đã được tổ chức tại Athens, Hy Lạp, vượt qua mọi phản đối của Coubertin. Mặc dù thế vận hội đã thành công nhưng những kết quả không bao giờ được xem như là phần chính trong lịch sử Olympic.
Tại thế vận hội Luân Đôn 1908, Anh đã chứng kiến cuộc đua tài quyết liệt giữa người Anh và người Mỹ, lên đến đỉnh điểm là khi những viên chức người Anh đã khiêng vận động viên chạy marathon người Ý Dorando Pietri qua vạch khi anh này đã bị té gần đích đến. Điều này có nghĩa là vận động viên người Mỹ Johnny Hayes không thắng được cuộc đua. Tuy nhiên sau khi các viên chức Mỹ lớn tiếng phản đối, Hayes đã được tuyên bố là người thắng cuộc.
Bốn năm sau tại thế vận hội 1912 ở Stockholm, Thụy Điển, Vận động viên người Mỹ Jim Thorpe thắng cả hai môn điền kinh năm môn phối hợp và điền kinh mười môn để rồi chỉ nhận được những quyết định thu hồi huy chương vào năm 1913 chỉ vì anh ta đã từng chơi bóng chày bán chuyên nghiệp (nhưng sau này vào năm 1982 IOC đã hoàn trả lại huy chương và chiến thắng chính thức cho Thorpe).
Môn bơi lội dành cho nữ cũng đã lần đầu tiên được đưa vào tổ chức tại thế vận hội năm 1912 và hai vận động viên người Úc là Fanny Durack và Wilhelmina Wylie đã chiếm ưu thế. Lãnh đạo ủy ban Olympic Hoa Kỳ James Sullivan đã không tán thành các môn thể thao nữ và không cho phép nữ công dân Mỹ thi đấu môn bơi lội tại thế vận hội 1912 (họ được phép thi bơi bắt đầu từ 1920).
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) đã buộc thế vận hội 1916 tổ chức tại Berlin, Đức phải hủy bỏ. Bốn năm sau, thông cảm với Bỉ, đất nước đã bị tàn phá nặng bởi sự xâm lăng của Đức trong thời gian chiến tranh, IOC quyết định tổ chức thế vận hội tại Antwerp.
Năm 1920, vận động viên môn chạy người Phần Lan là Paavo Nurmi, biệt danh "người Phần Lan bay", đã giành được 3 trong tổng số 9 huy chương vàng Olympic ở môn thi đấu của anh ta là chạy cự ly 1000 mét, chạy việt dã cá nhân và đồng đội.
Tại thế vận hội Paris 1924, Nurmi và vận động viên bơi lội người Mỹ Johnny Weissmuller là những vận động viên nổi bật. Thành tích chính của Nurmi là thắng trong môn chạy cự ly 1500 mét và 5000 mét. Còn Weissmuller đã thắng ở môn bơi tự do 100 mét, 400 mét và cũng là người thắng trong môn bơi đồng đội 4 x 200 mét bơi tự do.
Thế vận hội Amsterdam, Hà Lan 1928 thì đáng chú ý nhất là sự có mặt của các môn điền kinh nữ. Mặc dù có một vài lời phàn nàn về môn chạy điền kinh cự ly 800 năm 1928 vì môn này hơi quá sức đối với nữ và bị hủy bỏ mãi cho tới năm 1960 mới tiếp tục.
Năm 1930 IOC quyết định tiếp tục thử nghiệm các môn thể thao nữ tại thế vận hội Olympic. Nhờ quyết định này mà Babe Didrikson đã trở thành vận động viên nổi tiếng nhất tại thế vận hội Los Angeles 1932. Chị đã thắng trong môn chạy vượt rào cự ly 80 mét và môn ném lao, lập kỷ lục thế giới mới ở hai môn này và đứng hạng hai trong môn nhảy cao. Còn các vận động viên môn bơi lội người Nhật thì giành được những thành công lớn tại thế vận hội năm 1932 với thành tích tối thiểu một vận động viên Nhật Bản là vào đến các trận chung kết ở mỗi môn thi đấu trong môn bơi lội. Đội Nhật Bản được tập luyện lâu hơn và khắt khe hơn đối phương. Những thành công của họ đã chứng minh những lợi ích của việc thực hiện luyện tập thể thao toàn thời gian tốt hơn là tập bán thời gian kiểu nghiệp dư.
Dấu hiệu khác của sự thay đổi là thế vận hội Los Angeles đã thành công với rất nhiều vận động viên có tuổi đời còn rất trẻ như: vận động viên bơi lội người Nhật Kusuo Kitamura đã thắng trong môn bơi tự do cự ly 1500 mét khi chỉ mới có 14 tuổi.
Tại thế vận hội Berlin năm 1936 đã xảy ra sự kiện đặc biệt đó là việc chính phủ Quốc xã của nước chủ nhà đã tuyên truyền học thuyết cho rằng người da trắng là mạnh nhất và câu chuyện hay nhất của thế vận hội Berlin là vận động viên da đen người Mỹ là Jesse Owens, anh đã làm sụp đổ những tư tưởng của Đức Quốc xã khi chiến thắng ở môn đua cự ly ngắn 100 mét, 200 mét và môn nhảy cao. Owens cũng đoạt luôn huy chương thứ tư là chạy tiếp sức cự ly 4 x 100 mét.
Cả hai kỳ thế vận hội theo dự tính sẽ diễn ra tại Tokyo, Nhật Bản và Luân Đôn, nước Anh vào các năm 1940 và 1944 nhưng đều bị hủy bỏ vì Chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn ra (1939-1945). Tuy nhiên thế vận hội năm 1948 được tổ chức bất chấp sự thật là nhiều thành viên của IOC nghĩ rằng những nỗi khủng khiếp của Chiến tranh thế giới thứ hai tạo ra trò cười cho thiên hạ về ước mơ thế giới hòa bình của Coubertin. Tuy nhiên những người chủ trương tiếp tục duy trì thế vận hội Olympic đã chiếm ưu thế và Luân Đôn trở thành chủ nhà.
Mặc dù Liên bang Xô Viết luôn cho rằng các thế vận hội là một âm mưu chính trị của chủ nghĩa tư bản, nhưng các nhà lãnh đạo của họ cũng quyết định gửi một đội đến thế vận hội Hensinki 1952, Phần Lan. Đội Xô Viết đã giành được thành công vang dội và người Mỹ bị "sốc" cho tới ngày cuối cùng của thế vận hội. Các vận động viên Xô Viết đoạt được nhiều huy chương hơn các vận động viên của Mỹ. Bốn năm sau, tại thế vận hội Melbourne, đội Xô Viết và Mỹ tiếp tục với những thành công của họ, được xếp thứ nhất và thứ hai trong bảng tổng sắp không chính thức về số huy chương quốc gia (những thành tích không chính thức được giữ kín số huy chương mà mỗi nước có được tại mỗi kỳ thế vận hội).
Đội Australia, dẫn đầu là hai vận động viên bơi lội Murray Rose, Dawn Fraser và hai vận động viên môn chạy là Betty Cuthbert và Shirley Strickland, họ giành được tổng cộng 13 huy chương vàng để giúp nước chủ nhà vươn lên đứng hàng thứ ba sau Liên bang Xô Viết và Mỹ.
Thế vận hội năm 1960, các vận động viên môn chạy người châu Phi như: Wilson Kipriguit của Kenya và Abebe Bikila của Ethiopia đã giành được thành tích nổi trội tại thế vận hội, trong khi đó các vận động viên đến từ châu Âu lại chiếm ưu thế ở các môn như thể dục dụng cụ và cử tạ. Theo thứ tự mỗi kỳ thế vận hội kế tiếp nhau trong những năm 1960 là các năm 1960 (Rome-Ý), 1964 (Tokyo-Nhật Bản) và 1968 (Mexico City- Mêhicô) đã tạo ra các vận động viên "vàng" trong môn quyền Anh của Mỹ mà đã tiếp tục trở thành những võ sĩ quyền Anh chuyên nghiệp hạng nặng như: Cassius Clay (sau này đổi tên là Muhammad Ali), Joe Frazier và George Foreman.
Tại thế vận hội Munich - Đức năm 1972, hai đội Đông Đức và Tây Đức trước đây vốn chung một đội (năm 1949) nay lại là hai đội riêng biệt đã giành được hạng ba và hạng tư trong bảng tổng sắp huy chương không chính thức. Mặc dù tại thế vận hội năm 1972 vận động viên Xô Viết là Ludmilla Tourischeva đã thắng toàn diện môn thể dục dụng cụ nhưng một vận động viên Xô Viết khác là Olga Korbut lại thu hút nhiều chú ý nhất, chị đoạt ba huy chương vàng, điều này đã giúp khởi đầu một thời kỳ mới của sự phát triển quốc tế của môn thể dục dụng cụ. Bốn năm sau, tại thế vận hội Montréal, vận động viên Nadia Comaneci của Rumani đã giành giải toàn diện trong môn thể dục dụng cụ và trong môn xà gồ, chị đã xuất sắc giành được điểm số tối đa là 10 điểm.
Thành tích nổi bật nhất tại thế vận hội năm 1976 đến từ đội bơi lội nữ của Đông Đức, họ giành thắng lợi 11 trong 13 làn bơi, vượt qua cả người Mỹ vốn được cho là chiếm ưu thế. Trong tổng số huy chương tại thế vận hội 1976 thì Đông Đức (tức CHDC Đức với dân số khoảng 16 triệu người giành được 40 huy chương vàng. Ngược lại,nước Mỹ với dân số hơn 200 triệu người chỉ giành được có 34 huy chương vàng.
Thế vận hội 1980 tổ chức tại Matxcơva và năm 1984 tổ chức tại Los Angeles đã bị những cuộc tẩy chay lớn (vì lý do chính trị), nên đội chủ nhà của mỗi nước đã quyết tâm tạo một chiến thắng lớn trong mỗi năm. Tại thế vận hội 1980 với 62 quốc gia tuyên bố tẩy chay, đội Xô Viết đã giành được 80 huy chương vàng, 69 huy chương bạc và 46 huy chương đồng. Cũng tại thế vận hội này vận động viên quyền Anh người Cuba là Téofilo Stevenson đã giành liên tiếp ba huy chương vàng ở hạng võ sĩ hạng nặng. Tại thế vận hội 1984 khi Liên Xô và 16 nước khác tẩy chay thế vận hội, thì đội Mỹ tuyên bố giành được 83 huy chương vàng, 61 huy chương bạc và 30 huy chương đồng. Tại đây vận động viên người Mỹ Carl Lewis đã nổi lên như một vận động viên điền kinh vĩ đại nhất trong thời đại của anh ta với chiến thắng ở các môn chạy cự ly 100 mét, 200 mét, 4 x 100 mét tiếp sức và nhảy xa. Nữ vận động viên người Mỹ là Lou Retton đoạt giải toàn diện trong môn thể dục dụng cụ. Tại thế vận hội Seoul, Hàn Quốc, Carl Lewis lặp lại chiến thắng của mình trong môn nhảy xa và bị nhận huy chương vàng muộn ở môn chạy cự ly 100 mét sau khi vận động viên người Canada là Ben Johnson được coi là chiến thắng lại bị phát hiện có sử dụng chất ma túy.
Tại thế vận hội 1988, các vận động viên bơi lội Đông Đức, dẫn đầu là Kristin Otto đã giành chiến thắng 10 trong 15 môn dành cho nữ. Điều gây ấn tượng sâu sắc tương tự là vận động viên môn điền kinh người Mỹ Florence Griffith Joyner đã giành huy chương vàng ở môn chạy cự ly 100 mét, 200 mét,chạy tiếp sức 4 x 100 mét và Jackie Joyner Kersee đoạt huy chương vàng trong môn nhảy cao và điền kinh bảy môn phối hợp.
Thế vận hội Barcelona 1992 Tây Nan Nha không có riêng quốc gia nào thi đấu nổi trội nhất. Những vận động viên được biết nhiều nhất trước và sau thế vận hội là Hoa Kỳ với đội bóng rổ có tên là Dream Team với các vận động viên của NBA như Michael Jordan, Larry Bird và Magic Johnson. Đội này đã thi đấu nổi bật và đạt thành tích là huy chương vàng.
Năm 1996 lễ kỉ niệm 100 năm sự ra đời của thế vận hội hiện đại đã được tổ chức tại Atlanta, bang Georgia Hoa Kỳ. Có nhiều thành tích nổi bật tại thế vận hội này. Ở môn bơi lặn, Fu Mingxia của Trung Quốc đã đoạt huy chương vàng ở thể loại ván nhúng 3 mét và bục nhảy 10 mét. Còn trong môn điền kinh, vận động viên người Mỹ Michael Johnson đã giành huy chương vàng ở môn chạy nước rút cự ly 200 mét và 400 mét. Trong khi đó vận động viên người Canada Donnovan Bailey chiến thắng ở môn chạy nước rút cự ly 100 mét. Thế nhưng thế vận hội đã thất bại bởi một nhóm khủng bố đã tấn công khu kỉ niệm thế vận hội của Atlanta. Một quả bom đã phát nổ vào buổi sáng ngày 27 tháng 8 làm một người chết và hơn 100 người bị thương nhưng thế vận hội vẫn tiếp tục diễn ra.
=== Olympic Mùa Đông ===
Mặc dù môn trượt băng nghệ thuật là một môn tại thế vận hội mùa hè từ năm 1908 đến 1920 và môn khúc côn cầu trên băng (ice-hockey) được chơi trong năm 1920, nhưng IOC lại do dự trong việc mở đầu thế vận hội mùa đông bởi vì những điều kiện khí hậu khiến cho thế vận hội mùa đông chỉ giới hạn ở những nước có đủ điều kiện về tuyết trong mùa đông. Khi Thụy Điển và Na Uy lần đầu tiên tổ chức thế vận hội 1911, Mỹ đã phản đối vì điều kiện sân bãi. Trớ trêu thay, những người Scandinavi đã thay đổi suy nghĩ của họ tại cuộc họp của IOC năm 1921 tranh cãi rằng thế vận hội mùa đông không giống như thế vận hội mùa hè, không thể quy tụ các vận động viên đến từ mọi quốc gia. Tuy nhiên IOC cũng thắng phiếu và thành lập Thế vận hội mùa Đông.
Thế vận hội mùa đông lần đầu được tổ chức như một cuộc thi riêng biệt vào năm 1924 tại Chanix-Mont-Blanc, Pháp.Từ thời điểm đó đến năm 1992, thế vận hội mùa đông được tổ chức trong cùng năm với thế vận hội mùa hè nhưng bắt đầu từ thế vận hội mùa đông Lillehammer, Na Uy năm 1994, thế vận hội mùa đông được thay đổi lịch tổ chức sao cho cả hai thế vận hội mùa đông và mùa hè diễn ra xen kẽ nhau, nghĩa là nếu thế vận hội mùa hè tổ chức vào năm 1992 thì thế vận hội mùa đông sẽ tổ chức vào năm 1994 và lần kế tiếp của thế vận hội mùa đông là 1998 trong khi thế vận hội mùa hè là năm 1996. Thế vận hội mùa đông năm 1924 có 14 môn thi đấu trong 5 môn thể thao khác nhau. Chương trình cho thế vận hội mùa đông năm 1998 tại Nagano của Nhật Bản là 60 môn thi đấu trong 9 môn thể thao khác nhau.
Trong thế vận hội mùa đông đầu tiên, những nước thuộc vùng Scandinavi đã phản đối cuộc thi. Các vận động viên người Na Uy thắng cả 4 môn thi đấu trượt tuyết, trong khi các đấu thủ người Phần Lan giành được phần thắng ở 4 trong 5 môn thi đấu trượt tuyết tốc độ. Bốn năm sau, thế vận hội mùa đông đầu tiên đã thu hút nhiều chú ý của quốc tế khi tại Saint Moritz, Thuỵ Sĩ, vận động viên trượt tuyết người Na Uy, chị Sonja Henie đã giành thắng lợi liên tiếp trong 3 thể loại trượt tuyết của thế vận hội. Với tài năng thiên phú của mình, chiến thắng của chị tại thế vận hội 1932 và 1936 đã góp phần đưa chị lên đỉnh cao thành công chói lọi như một minh tinh màn bạc.
Thế vận hội mùa đông trong các năm 1940 và 1944 đã bị hủy bỏ vì Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra (đáng lẽ đã được tổ chức tại Sapporo, Nhật Bản và Cortina d’Ampezzo, Ý). Tại thế vận hội mùa đông đầu tiên sau chiến tranh ở Sain Moritz, vận động viên người Canada, Barbara Ann Scott đã giành huy chương vàng ở môn trượt tuyết nữ, trong khi vận động viên người Mỹ là Dick Button cũng chiến thắng ở môn này dành cho nam. Đội khúc côn cầu trên băng của Canada đã giành huy chương vàng trong khi đó vận động viên người Mỹ Gretchen Fraser giành huy chương vàng trong môn trượt tuyết "slalom" dành cho nữ (thể loại "Slalom" nghĩa là trượt tuyết xuống dốc chữ chi có các chướng ngại vật).
Tại thế vận hội mùa đông Oslo Na Uy năm 1952, đội khúc côn cầu trên băng của Canada lại một lần nữa giành được huy chương vàng. Còn các vận động viên trượt tuyết người Mỹ tiếp tục thành công của họ ở các môn trượt tuyết tại thế vận hội mùa đông Cortina d’Ampezzo năm 1956 với chiến thắng của Hayes Jenkins ở thể loại dành cho nam và Tenley Albright trở thành vận động viên nữ đầu tiên của Mỹ giành huy chương vàng ở môn này. Vận động viên môn trượt tuyết xuống dốc người Ý là Toni Sailer đã xuất sắc giành được cả 3 huy chương vàng ở môn thể loại trượt tuyết là: xuống dốc, "slalom", và "salom" rộng. Vận động viên David Jenkins, em trai của Hayes Jenkins thì lặp lại thành tích chiến thắng ở môn trượt băng nghệ thuật nam tại thế vận hội mùa đông Squaw Valley, California, trong khi đó một vận động viên người Mỹ khác Carol Heiss đã giành được huy chương vàng ở môn này dành cho nữ.
Tại thế vận hội mùa đông năm 1964 được tổ chức tại Innsbruck Áo vận động viên môn trượt tuyết băng đồng người Thụy Điển là Sixten Jernberg đã giành được huy chương thứ 9 cuối cùng của mình với một huy chương vàng ở thể loại 50 mét cá nhân, một ở thể loại 4 x 10 km đồng đội và một huy chương đồng ở thể loại 15 km. Còn hai vận động viên của Liên Xô là Liudmila Belousova và Oleg Protopopov thì giành được huy chương vàng ở thể loại trượt băng nghệ thuật đôi nam nữ. Cặp vận động viên này đã lặp lại thành tích của họ ở thế vận hội mùa đông Grenoble, Pháp năm 1968. Còn vận động viên người Mỹ là Peggy Fleming đã giành được huy chương vàng ở thể loại trượt băng nghệ thuật đơn nữ.
Thế vận hội mùa đông 1968 cũng đã nổi tiếng với sự thành công xuất sắc của Jean Claude Killy, vận động viên người Pháp, anh đã lặp lại kỳ công của Sailer khi đoạt cả 3 huy chương vàng ở môn trượt tuyết băng đồng nam. Tại thế vận hội mùa đông năm 1972 tổ chức ở Sapporo, Nhật Bản, vận động viên trượt tuyết tốc độ người Hà Lan là Ard Schenk đã thắng lớn với 3 huy chương vàng ở 3 cự ly là 1500 mét, 5000 mét và 10.000 mét.
Tại thế vận hội mùa đông 1976, Innsbruck lần nữa lại là nhà tổ chức. Vận động viên trượt tuyết tốc độ người Mỹ là Eric Heiden đã nổi tiếng tại thế vận hội mùa đông Lake Placid, New York, Mỹ năm 1980 khi anh "lãnh trọn" cả 5 huy chương vàng ở thể loại trượt tuyết tốc độ cự ly 500 mét, 1000 mét, 1500 mét và 10000 mét.
Thế vận hội mùa đông Sarajevo, Nam Tư năm 1984 thì nam vận động viên người Mỹ là Scott Hamilton đã giành được huy chương vàng ở môn trượt băng nghệ thuật và nữ vận động viên người Đông Đức là Katarina Witt cũng đoạt huy chương vàng ở môn này.
Bốn năm sau, tại thế vận hội mùa đông Calgary,Alberta, Canada, Katarina Witt lại một lần nữa giành chiến thắng, còn phía nam thì người chiến thắng là vận động viên người Mỹ Brian Boitano. Cặp vận động viên trượt băng nghệ thuật của Liên Xô là Ekaterina Gordeeva và Sergei Grinkov đoạt huy chương vàng trong khi đó vận động viên môn trượt tuyết tốc độ người Mỹ Bonnie Blair cũng đã giành được huy chương vàng (cự ly 500 mét), đây là chiếc huy chương vàng đầu tiên trong 5 chiếc huy chương vàng ở 3 kỳ Olympic của cô. Còn ở môn trượt tuyết dốc thì vận động viên người Ý là Alberto Tomba đoạt huy chương vàng.
Thế vận hội mùa đông Albertville, Pháp năm 1992 thì huy chương vàng môn trượt băng nghệ thuật nữ thuộc về vận động viên người Mỹ gốc Nhật Kristi Yamaguchi và hai huy chương vàng ở môn trượt tuyết tốc độ cự ly 500 mét và 1000 mét thuộc về vận động viên Bonnie Blair. Tomba lặp lại thành tích của mình với chiến thắng ở môn trượt tuyết "slalom" vùng rộng. Cặp vận động viên trượt băng nghệ thuật của Liên Xô là Ekaterina Gordeeva và Sergei Grinkov tiếp tục chiến thắng ở môn này tại thế vận hội mùa đông Lillehammer năm 1994 và ở môn đơn nữ thì người chiến thắng là vận động viên người Ukraina Oksana Baiul. Một lần nữa vận động viên Bonnie Blair lại chiến thắng ở môn trượt tuyết tốc độ cự ly 500 mét và 1000 mét.
Tại thế vận hội mùa đông Nagano, Nhật Bản năm 1998, vận động viên trượt tuyết Bắc Âu người Na Uy là Biorn Daehlie đã giành được 3 huy chương vàng ở các cự ly 1000 mét, 5000 mét, 2 x 10 km tiếp sức và một huy chương bạc (15 km "rượt đuổi"). Sau một lần té ngã nghiêm trọng ở thể loại trượt tuyết băng đồng, vận động viên người Áo Hermann Maier đã nhanh chóng hồi phục và đoạt luôn hai huy chương vàng ở thể loại "slalom" lớn và "slalom" siêu lớn. Đội nhảy xki (tức là thực hiện một cú nhảy cao và xa sau khi đã trượt tuyết một đoạn dài) của Nhật tính chung được 4 huy chương, gồm cả một huy chương vàng đồng đội. Các nữ vận động viên của Mỹ đã nổi bật với thành tích tại một số môn như: cặp Tara Lipinski và Michelle Kwan giành được huy chương vàng và bạc ở môn trượt băng nghệ thuật;Picapo Street chiến thắng trong môn "slalom" siêu lớn; Nikki Stone thắng ở môn trượt ván trên không tự do và đội khúc côn cầu trên băng nữ cũng đã đoạt chức vô địch.
=== Những xáo động về chính trị ===
Mặc dù thế vận hội được thành lập với ước mơ tốt đẹp cho nền hòa bình thế giới, nhưng đã có một thời thế vận hội Olympic hiện đại đã thực sự trở thành một sự kiện quốc tế quan trọng, nó cũng trở thành một "sàn đấu" cho những tranh cãi chính trị. Những thế vận hội được nhiều người nói đến nhất là thế vận hội Berlin năm 1936. IOC đã bỏ phiếu cho Berlin vào năm 1931 trước khi các thành viên của Ủy ban này biết rằng đảng Quốc xã sẽ nhanh chóng nắm quyền điều hành nước Đức. Trong những năm đầu của những năm 1930, dưới luật lệ của Đức quốc xã, những vận động viên Đức - Do Thái đã bị loại ra khỏi đội tuyển Đức. Điều này đã vi phạm hiến chương Olympic khiến cho người Mỹ đòi tẩy chay thế vận hội 1936. Hoạt động tẩy chay đã thất bại bởi vì nhà lãnh đạo của Ủy ban Olympic Hoa Kỳ thời đó là Avery Brundage tin rằng các viên chức của Đức sẽ cho phép các vận động viên người Đức-Do Thái thi đấu.Thật vậy, nhưng chỉ có 2 vận động viên người Do Thái có mặt trong đội tuyển Đức tại thế vận hội Olympic 1936.
Có nhiều cuộc tẩy chay thế vận hội đã xảy ra của nhiều quốc gia khác nhau. Năm 1956, các đội Ai Cập, Liban và Iraq đã tẩy chay thế vận hội Melbourne để phản đối sự xâm lăng của Anh, Pháp lên đất nước họ và sự "có mặt" của Israel tại Trung Đông. Những cuộc tẩy chay lớn đã xảy ra vào các năm 1976, 1980 và 1984. Năm 1976, nhiều quốc gia châu Phi yêu cầu New Zealand phải bị đuổi khỏi thế vận hội Montréal vì "cái tội" đội bóng bầu dục của họ đã "chơi xấu" đội Nam Phi (thời đó vẫn còn luật lệ của những người ủng hộ chủ nghĩa Apacthai). Khi IOC không đồng ý với những yêu cầu của các nước châu Phi với lý do rằng bóng bầu dục không phải là môn thể thao Olympic (???), các vận động viên của 28 quốc gia châu Phi đã được chính phủ của họ gọi về nước. Còn vấn đề về cuộc tẩy chay thế vận hội Matxcơva năm 1980 là sự xâm chiếm Afghanistan năm 1979 của Liên Xô. Mặc dù tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã buộc USOC (Ủy ban Olympic Hoa Kỳ) phải từ chối lời mời tham dự thế vận hội Matxcơva, nhiều NOC (Ủy ban Olympic quốc gia) khác đã bất chấp những đề nghị của chính phủ để tẩy chay thế vận hội. Lúc đó tổng thống Carter đã hành động để làm thất bại thế vận hội Matxcơva (có tới 62 quốc gia tẩy chay thế vận hội), và rõ ràng hành động này sẽ dẫn tới sự "trả đũa" của Liên Xô và đồng minh của họ. Và sự ‘trả đũa" này đã xảy ra tại thế vận hội Los Angeles. Mặc dù Rumani đã gửi một đội tới tham dự nhưng 16 nước đồng minh của Liên Xô đã tẩy chay thế vận hội này.
Từ những năm 1940 đến những năm 1980, IOC cũng đã đụng phải những vấn đề chính trị bởi những mâu thuẫn của các quốc gia.Một vấn đề khó xử có liên quan tới đội Olympic Trung Quốc và Đài Loan là vì mâu thuẫn chính trị giữa một bên là nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ở Đại Lục và một quốc gia gọi là Cộng hòa Trung Hoa ở đảo Đài Loan. Năm 1952, IOC quyết định mời cả hai đội Trung Quốc và Đài Loan, nhưng mâu thuẫn chính trị đã dẫn tới việc tẩy chay thế vận hội hàng thập niên của Trung Quốc. Họ đã không gửi đội tuyển tham dự thế vận hội mãi cho đến thế vận hội Lake Placid năm 1980.
Một rắc rối chính trị khác là vào năm 1949, vì nước Đức bị phân chia thành hai thể chế chính trị khác nhau là Đông Đức và Tây Đức nên đã nảy sinh vấn đề là nên có một hay hai đội tuyển Đức. IOC cố gắng giải quyết vấn đề này bằng cách "năn nỉ" kết hợp đội tuyển Đông và Tây Đức làm một. Các cuộc đàm phán kéo dài trong nhiều năm và giải pháp này được thử nghiệm lần đầu tiên tại thế vận hội Melbourne 1956, nhưng sau đó đã tách ra. Mãi cho tới năm 1992, khi nước Đức thống nhất, cả hai đội này mới nhập lại làm một. IOC cũng đã từng phải đương đầu với sự phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. IOC đã bỏ phiếu năm 1968 loại trừ đội Nam Phi ra khỏi thế vận hội nhằm làm áp lực buộc chính phủ nước này từ bỏ luật Apacthai. Mãi cho tới thế vận hội Barcelona 1992, khi đó chủ nghĩa Apacthai không còn tồn tại nữa, Nam Phi mới được tham dự.
Bạo lực cũng xảy ra tại các kỳ thế vận hội. Vào giữa kỳ thế vận hội Munich 1972, hoạt động của thế vận hội đã trải qua những giờ phút bi thảm nhất. Một nhóm khủng bố vũ trang người Palestin đã xâm nhập vào làng Olympic (nơi ở của các vận động viên của các nước trong thời gian diễn ra thế vận hội), giết chết hai thành viên của đội Israel và bắt đi 9 con tin. Trong khi IOC họp hội nghị khẩn cấp thì được tin một cuộc đấu súng đã nổ ra và tất cả 9 con tin cùng với 5 tên khủng bố bị giết chết, thế vận hội ngưng hoạt động một ngày. IOC quyết định thế vận hội vẫn diễn ra và đã được Israel tán thành.
=== Những tiến bộ gần đây ===
Trải qua nhiều thế kỷ với chiến tranh và xáo động chính trị, thế vận hội đã đạt được nhiều thành công trong những năm gần đây, thu hút nhiều công chúng hơn và thu được nhiều tiền hơn. Phần nhiều của sự thu hút công chúng và giàu có là nhờ sự phát triển của những phương tiện liên lạc vệ tinh và các chương trình truyền hình toàn cầu. Chẳng những càng ngày càng có nhiều người theo dõi thế vận hội mà còn có nhiều cơ hội phát triển việc bán bản quyền truyền hình thế vận hội với số tiền lên đến hàng trăm triệu đôla. Với các phần của thu nhập này, giờ đây các ủy ban tổ chức có thể tổ chức những thế vận hội hoành tráng mà không sợ phải gánh chịu những khoảng nợ khổng lồ giống như ủy ban tổ chức thế vận hội Montréal Canada năm 1976. Có nhiều tiền hơn, IOC cũng có thể trợ cấp để phát triển các môn thể thao ở các quốc gia kém phát triển. Thế vận hội cũng trở nên lệ thuộc vào các công ty đa quốc gia vì các công ty này luôn sẵn sàng chi ra hàng triệu đôla để trở thành nhà tài trợ chính thức của thế vận hội và dùng biểu tượng của thế vận hội để quảng cáo sản phẩm của họ. Điều này đã khiến cho hoạt động thế vận hội bị thương mại hóa.
Một vấn đề nghiêm trọng khác là việc dùng thuốc để nâng cao thành tích trong thế vận hội (còn gọi là doping), đặc biệt là đồng hóa xteroit và hoóc-môn tăng trưởng của người. Các loại thuốc này bị cấm nhưng các vận động viên vẫn nghĩ rằng họ cần phải dùng chúng nếu phải thi đấu với trình độ Olympic. Sau khi nước Đức thống nhất vào năm 1990, bằng chứng về những gì mà những người quan sát nghi ngờ được đưa ra là: hơn 20 năm qua, NOC của Đông Đức đã cung cấp thuốc nâng cao thành tích một cách có hệ thống cho các vận động viên chuyên nghiệp của họ. Từ 1968, IOC đã giải quyết vấn đề này bằng việc lập một Ủy ban chịu trách nhiệm trong việc phát hiện và phạt những người nào sử dụng các loại thuốc cấm đó. Nhờ những nỗ lực này mà nhiều vận động viên Olympic đã bị bắt và hủy bỏ tư cách tham dự Olympic, thế nhưng việc dùng các loại thuốc cấm vẫn không chấm dứt.
Năm 1999 ban lãnh đạo của IOC bắt đầu cải cách phương pháp lựa chọn các thành phố đăng cai thế vận hội. Các thay đổi xảy ra sau khi có phát hiện nhiều quan chức của IOC đã vi phạm lời thề trong hiến chương Olympic bởi họ bị cho là đã nhận những khoản chi trả bằng tiền mặt và những món quà "bồi dưỡng" bất chính từ các thành phố tranh cử quyền đăng cai thế vận hội.Các vi phạm đã xảy ra khi thành phố Salt Lake, Utah thắng lợi tại thế vận hội mùa đông 2002. Và thành phố này vẫn được quyền đăng cai nhưng nhiều quan chức của Ủy ban tổ chức địa phương đã từ chức và nhiều người của IOC đã bị đuổi trong vụ bê bối.
== Những hạn chế về các hạng mục tổ chức tại Olympic ==
Không phải môn nào cũng được tổ chức tại Olympic, ví dụ môn bóng bầu dục được toàn nước Mỹ ưa chuộng không có trong Olympic. Tất cả do Hiến chương Olympic quy đinh về các hạng mục được đưa vào Olympic là:
Các hạng mục thi đấu chính thức trong Olympic phải được Ủy ban Olympic quốc tế thừa nhận, do Ủy ban Liên hợp thể thao từng hạng mục quản lý.
Các nội dung thi đấu nam tại Olympic mùa hè cần được triển khai rộng rãi bởi 75 quốc gia và 4 châu lục. Còn các nội dung nữ cần được triển khai tại 45 quốc gia và 3 châu lục. Các nội dung tại Thế vận hội mùa đông cần phải được triển khai rộng tại ít nhất 25 quốc gia và 3 châu lục.
Các hạng mục này cần được xác định 7 năm trước khi thế vận hội tổ chức. Xác định một ngày rồi thì không thay đổi nữa.
== Ý nghĩa lá cờ năm vòng tròn ==
Lá cờ năm vòng tròn là một biểu trưng tiêu biểu của Olympic. Lá cờ tung bay mỗi khi Olympic đến. Lá cờ biểu trưng cho năm châu lục: màu vàng châu Á, màu xanh lục châu Âu, màu đen châu Phi, màu xanh lam châu Đại Dương, màu đỏ châu Mỹ. Năm vòng tròn đan vào nhau trên nền màu trắng như sự bình đẳng, tinh thần đoàn kết giữa các quốc gia, các châu lục hay chính ý nghĩa của Olympic.
== Danh sách các kỳ thế vận hội ==
== Xem thêm ==
Bài hát Thế vận hội
Thế vận hội Mùa hè 1896
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Olympics | Olympic Games, Medals, Results, News
Thế vận hội mùa đông thứ 20 năm 2006 tại Torino
Thế vận hội mùa hè thứ 29 năm 2008 tại Bắc Kinh
Hiệp định Nairobi về Bảo hộ Biểu tượng Olympic |
huyện (trung quốc).txt | Huyện (tiếng Trung: 县, bính âm: xiàn) là một cấp thứ ba trong phân cấp hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một cấp được gọi là "cấp huyện" và cũng có các huyện tự trị, thành phố cấp huyện, kỳ, kỳ tự trị, và khu. Cấp này tương đương cấp huyện ở Việt Nam. Có 1467 huyện ở Trung Hoa Đại lục trong tổng số 2861 đơn vị cấp huyện. Ở Trung Hoa Dân Quốc, huyện (縣) là cấp thứ hai, dù việc sắp xếp hợp lý Tỉnh Đài Loan trên thực tế đã xếp huyện vào cấp chính quyền thứ nhất dưới chính phủ trung ương Trung Hoa Dân quốc. Có 18 huyện được Trung Hoa Dân quốc quản lý.
Huyện đã tồn tại từ thời Chiến Quốc, và đã được thành lập trên khắp quốc gia trong thời nhà Tần.
== Huyện tự trị ==
Bài chính: Huyện tự trị Trung Quốc
Huyện tự trị (自治县 Pinyin: zìzhìxiàn) là một hạng đặc biệt của huyện ở Trung Hoa Đại lục dành cho những khu vực dân tộc không phải người Hán sinh sống và các huyện này có thẩm quyền lớn hơn các huyện thông thường theo quy định của pháp luật. Có 117 huyện tự trị ở Trung Hoa Đại lục.
== Chính quyền ==
Do Đảng Cộng sản Trung Quốc là chính đảng duy nhất lãnh đạo đất nước, mỗi cấp hành chính đều do Đảng ủy cấp đó lãnh đạo. Cấp huyện thì có Huyện ủy (中共县委) (Trung ương Huyện ủy) lãnh đạo, mà đứng đầu Huyện ủy là Bí thư Huyện ủy (中共县委书记) (Trung ương Huyện ủy Bí thư). Mỗi huyện còn có Chính quyền huyện do Huyện trưởng (县长) đứng đầu. Các Huyện trưởng này đôi khi cũng là Phó Bí thư Huyện ủy.
== Tham khảo == |
kinh tế ý.txt | Kinh tế Ý lớn thứ 8 trên thế giới về GDP theo tỷ giá hối đoái đối với đồng Đô la Mỹ và đứng thứ 7 trên thế giới về GDP theo sức mua tương đương, sau Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Trung Quốc, Anh Quốc, Pháp và đứng thứ tư châu Âu. Theo OECD, trong năm 2004 Ý là nhà xuất khẩu lớn thứ sáu thế giới về các sản phẩm chế tạo. Gần đây, Ý phải đối mặt với sự tăng trưởng chập chạm của nền kinh tế và suy yếu trên bình diện quốc tế. Tuy nhiên, các số liệu thống kê năm 2007 đã cho thấy các dấu hiệu tăng trưởng GDP, ước tính đạt 2% trong năm 2006, cao nhất kể từ năm 2000.
Ý thuộc vào nhóm các nước công nghiệp phát triển G8, là thành viên của EU và OECD.
Sức mạnh kinh tế của Ý là việc sở hữu ngành công nghiệp sản xuất hàng hoá, chủ yếu là các hãng, các công ty tư nhân cỡ vừa và cỡ nhỏ. Nước này có ít tập đoàn đa quốc gia tầm cỡ thế giới so với các nền kinh tế cùng mức độ khác. Những công ty của Italia hiện nay đang đối phó với sự cạnh tranh từ các đối thủ châu Á bằng cách tập trung vào các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao hơn, trong khi di chuyển các cơ sở chế tạo kỹ thuật thấp tới các nhà máy tại các quốc gia có giá thành nhân công rẻ.
Du lịch là lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Ý: với hơn 37 triệu khách du lịch mỗi năm, Ý được xếp hạng là điểm đến hấp dẫn thứ năm của du khách trên thế giới.
== Chú thích == |
ôn đới.txt | Ôn đới là một khu vực khí hậu nằm tại các vĩ độ từ cận kề cận nhiệt đới tới các vòng cực của Trái Đất. Miền ôn đới thể hiện các mùa một cách rõ rệt và tồn tại ở cả Bắc bán cầu lẫn Nam bán cầu. Khí hậu trong miền này biến đổi từ khí hậu hải dương với sự biến thiên nhiệt độ tương đối nhỏ và lượng giáng thủy lớn cho tới khí hậu lục địa với sự thay đổi về nhiệt độ lớn hơn và tương đối khô hơn. Về mặt khí tượng học thì phần lớn miền ôn đới có gió thịnh hành là hướng tây-đông.
== Khí hậu ==
Khí hậu ôn đới mang tính chất trung gian giữa khí hậu đới nóng & khí hậu đới lạnh.
Do vị trí trung gian nên thời tiết ôn đới thay đổi thất thường. Các đợt khí nóng ở chí tuyến và các đợt khí lạnh ở vùng cực có thể tràn tới bất thường gây ra những đợt nóng hay lạnh, có tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp & sinh hoạt của con người, dặc biệt là những vùng sâu ở trong nội địa. Ở phía đông của Hoa Kỳ, mỗi khi có đợt khí nóng hay đợt khí lạnh tràn đến, nhiệt độ có thể tăng hay giảm 10 °C - 15 °C trong vài giờ. Gió Tây ôn đới và các khối khí từ đại dương mang theo không khí ẩm & ấm vào đất liền cũng làm cho thời tiết ôn đới luôn biến động, rất khó dự báo trước.
== Sự phân hóa của môi trường ==
Thiên nhiên ôn đới thay đổi theo bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Môi trường ôn đới cũng thay đổi từ vùng này sang vùng khác tùy thuộc vào vĩ độ, vào ảnh hưởng của dòng biển và gió Tây ôn đới.
Bờ Tây lục địa chịu ảnh hưởng của dòng biển nóng & gió Tây ôn đới nên có môi trường ôn đới hải dương: ẩm ướt quanh năm, mùa hạ mát mẻ, mùa đông không lạnh lắm. Càng vào sâu trong đất liền, tính chất lục địa càng rõ nét: lượng mưa giảm dần, mùa dông lạnh & tuyết rơi nhiều, mùa hạ nóng. Thảm thực vật thay đổi dần từ tây sang đông: rừng lá rộng chuyển sang rừng hỗn giao và cuối cùng là rừng lá kim.
Ở vĩ độ cao, mùa đông rất lạnh và kéo dài, mùa hạ ngắn. Gần chí tuyến có môi trường địa trung hải: mùa hạ nóng & khô, mùa đông ấm áp, mưa vào mùa thu - đông. Thảm thực vật cũng thay đổi từ bắc xuống nam: rừng lá kim chuyển sang rừng hỗn giao rồi tới thảo nguyên và rừng cây bụi gai.
== Xem thêm ==
Khí hậu ôn đới lạnh
Khí hậu hải dương
Khí hậu lục địa
Hàn đới
Nhiệt đới
Cận nhiệt đới
Các đới khí hậu
== Tham khảo ==
== Sách tham khảo ==
SGK Địa lý 7 (tái bản lần 12), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam |
bảo đại.txt | Bảo Đại (保大; tên khai sinh: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, 22 tháng 10 năm 1913 – 31 tháng 7 năm 1997) là vị Hoàng đế thứ 13 và cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn, cũng là vị Hoàng đế cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam.
Từ Bảo Đại chỉ là niên hiệu của ông, tục lệ nhà Nguyễn các vị Hoàng đế đời trước chỉ giữ một niên hiệu nên dân gian hay dùng niên hiệu để chỉ vị Hoàng đế đó. Ông đồng thời cũng là Hoàng đế của Đế quốc Việt Nam (1925-1945) và là Quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam (1949-1955).
== Tiểu sử và sự nghiệp ==
=== Thuở nhỏ ===
Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913 tại kinh thành Huế, là con trai duy nhất của vua Khải Định, mẹ là Hoàng Thị Cúc. Về thân thế của Bảo Đại cho đến nay vẫn còn nhiều nghi ngờ, vì Khải Định bị mang tiếng là bất lực và không thích gần đàn bà.
Ngày 28 tháng 4 năm 1922, khi được 9 tuổi, ông được xác lập làm Đông cung Hoàng Thái tử. Ngày 15 tháng 6 năm 1922, ông cùng Khải Định lần đầu sang Pháp để thưởng ngoạn cuộc triển lãm hàng hóa tại Marseille, Pháp.
Tháng 6 năm 1922, Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung kỳ là Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và học ở trường Lycée Condorcet rồi sau ở trường Sciences Po (École libre des sciences politiques), Paris. Tháng 2 năm 1924, ông về nước để dự Lễ tứ tuần đại khánh của Khải Định, đến Tháng 11 trở lại nước Pháp để tiếp tục học.
Ngày 6 tháng 11 năm 1925, Khải Định mất, Vĩnh Thụy về nước thọ tang. Ngày 8 tháng 1, khi mới 12 tuổi, Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị làm hoàng đế kế nhiệm, ông lấy niên hiệu Bảo Đại. Tháng 3 cùng năm, Bảo Đại trở lại Pháp để tiếp tục học tập. Từ niên khóa 1930, Bảo Đại theo học trường Khoa học Chính trị (Sciences Po).
Sau 10 năm đào tạo ở Pháp, ngày 16 tháng 8 năm 1932, Bảo Đại xuống tàu D Artagnan về nước. Ngày 19 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại ra đạo dụ số một tuyên cáo chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ Đại Nam hoàng triều. Văn bản này hủy bỏ "Quy ước" ngày 16 tháng 11 năm 1925 lập ra sau khi Khải Định mất không lâu.
=== Hoàng đế Đại Nam (1925 – 1945) ===
Bảo Đại đã cải cách công việc trong triều như sắp xếp lại việc nội chính, hành chính. Ông đã cho bỏ một số tập tục mà các vua nhà Nguyễn trước đã bày ra như thần dân không phải quỳ lạy mà có thể ngước nhìn vua khi lễ giá tới, mỗi khi vào chầu các quan Tây không phải chắp tay xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy.
Ngày 8 tháng 4, năm 1933, Bảo Đại đã ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết định tự mình chấp chính và sắc phong thêm 5 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm và Bùi Bằng Đoàn nhằm thay thế các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm, Vương Tứ Đại.
Ông thành lập Viện Dân biểu để trình bày nguyện vọng lên nhà vua và quan chức bảo hộ Pháp và cho phép Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính quyền bảo hộ, tháng 12 năm 1933, Bảo Đại ra Bắc kỳ thăm dân chúng.
Ngày 20 tháng 3 năm 1934, Bảo Đại làm đám cưới với Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong bà làm Nam Phương hoàng hậu. Đây là một việc làm phá lệ bởi vì kể từ khi vua Gia Long khai sáng triều Nguyễn cho đến vua Khải Định, các vợ vua chỉ được phong tước Hoàng phi, sau khi mất mới được truy phong Hoàng hậu. Ông là nhà vua đầu tiên thực hiện bỏ chế độ cung tần, thứ phi. Cuộc hôn nhân này cũng gặp phải rất nhiều phản đối vì Nguyễn Hữu Thị Lan là người Công giáo và mang quốc tịch Pháp.
=== Hoàng đế Đế quốc Việt Nam (1945) ===
Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, Bảo Đại ra đạo dụ "Tuyên cáo Việt Nam độc lập", tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Trong tuyên bố của Bảo Đại, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và mất độc lập với Pháp trước đây, độc lập theo tuyên ngôn Đại đông Á, và "ông cũng như Chính phủ Việt Nam tin tưởng lòng trung thực của Nhật Bản và nó được xác định làm việc với các nước để đạt được mục đích" (theo Par Francis AGOSTINI).
Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại đã ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Trần Trọng Kim tuyên bố bảo vệ "độc lập" giành được 9 tháng 3, và ngày 18 tháng 8 tạo ra một Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Theo lời khuyên của ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bảo Đại gửi thông điệp cho Tổng thống Truman, vua nước Anh, Thống chế Tưởng Giới Thạch, Tướng de Gaulle đề nghị công nhận độc lập của Việt Nam. Tuy nhiên đến 24 tháng 8 ông đã thực hiện câu trả lời Hội đồng Cơ mật quyết định thoái vị "để không phải là một trở ngại cho sự giải phóng của đất nước".
Ngày 18 tháng 8, Bảo Đại đã xác nhận độc lập của Việt Nam sau khi Nhật đầu hàng, được công bố vào tháng 3 và đồng thời gửi một thông điệp đến De Gaulle yêu cầu công nhận nền độc lập của Việt Nam. Thông điệp này cho rằng sự độc lập của Việt Nam "chỉ có nghĩa là bảo vệ lợi ích của Pháp và ảnh hưởng tinh thần Pháp ở Đông Dương". Tuy nhiên De Gaulle dự kiến sẽ hậu thuẫn cho một chế độ quân chủ mà người đứng đầu không phải là Bảo Đại, người đã thỏa hiệp với Nhật Bản để được "độc lập", mà là Vĩnh San, được xem như là một người "Gaullist".
=== Thoái vị ===
Từ tháng 3 năm 1945, Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn do khoảng trống về quyền lực chính trị quá lớn. Người Nhật đang lo chống đỡ các đòn tấn công của quân đội đồng minh Anh-Mỹ. Cả chính phủ của Trần Trọng Kim lẫn triều đình của Bảo Đại đều không đủ lực lượng quân sự và uy tín chính trị để kiểm soát tình hình. Theo Peter A. Pull, chỉ có Việt Minh là lực lượng có tổ chức duy nhất ở nước này có khả năng nắm được quyền chính trị. Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, nước Nhật cạn kiệt nguyên liệu nên quân Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói (Nạn đói Ất Dậu) đã xảy ra tại Bắc kỳ và Trung kỳ. Người ta ước tính rằng đã có khoảng hai triệu người chết vì nạn đói này.
Ngày 17.8, quần chúng Hà Nội hạ cờ quẻ ly, dựng cờ đỏ sao vàng, biến cuộc mít tinh của Tổng hội công chức Đông Dương ủng hộ nhà vua thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh. Hai ngày sau, quần chúng Hà Nội chiếm dinh Khâm sai Bắc bộ, thành lập chính quyền cách mạng. Cuộc tổng khởi nghĩa do Việt Minh lãnh đạo nhanh chóng lan ra khắp các tỉnh, thành trong cả nước.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Tại các địa phương trên cả nước, Việt Minh buộc chính quyền Đế quốc Việt Nam giao quyền lực cho họ. Trước tình thế đó, Bảo Đại quyết định thoái vị. Bảo Đại không rõ phải liên lạc với ai ở Hà Nội, nên gửi một điện tín tới "Ủy ban Nhân dân Cứu quốc" ở Hà Nội:
"Đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử quốc gia, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của Ủy ban sớm tới Huế, để nhận bàn giao."
Sáng ngày 23 tháng 8, hai phái viên của Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện Huế. Theo lời yêu cầu của hai ông này, chiều ngày 25 tháng 8 năm 1945, Bảo Đại đã đọc Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ Môn và sau đó trao ấn tín và bảo kiếm, quốc bảo của hoàng triều cho ông Trần Huy Liệu. Ông trở thành "công dân Vĩnh Thụy". Trong bản Tuyên ngôn Thoái vị, ông có câu nói "Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước nô lệ".
=== Tham gia Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ===
Tháng 9 năm 1945, Vĩnh Thụy được Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mời ra Hà Nội nhận chức "Cố vấn tối cao Chính phủ Lâm thời Việt Nam", ông là một trong 7 thành viên của Ủy ban Dự thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh đứng đầu.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Vĩnh Thụy được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
=== Lưu vong sang Trung Quốc ===
Ngày 16 tháng 3 năm 1946, Vĩnh Thụy tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Trùng Khánh thăm viếng Trung Hoa, nhưng ông không trở về nước, mà về Côn Minh rồi Hương Cảng. Tại Côn Minh, ông đã tiếp xúc với nhiều giới chính trị, trong đó có người Mỹ. Đại tướng George Marshall, đại diện Hoa Kỳ, đã đem bản giao ước với Bảo Đại về trình Tổng thống Harry S. Truman. Bảo Đại bèn viết thư về nước xin từ chức "Cố vấn tối cao" trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng "Bác Hồ rất tin tưởng cố vấn Vĩnh Thụy, nhưng cố vấn Vĩnh Thụy vốn rất nhu nhược, không vượt qua được sự túng thiếu về tài chính và các cạm bẫy của mật thám Pháp và các thành phần thân Pháp nên ông đã bị đẩy vào cái thế phải trở lại làm bù nhìn cho thực dân Pháp, phản bội lại chính nghĩa của quốc gia, chống lại kháng chiến giải phóng dân tộc, đối đầu với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã cưu mang và tin tưởng ông.".
=== Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam ===
==== Đàm phán với chính phủ Pháp ====
Đầu năm 1947, D'Argenlieu bị triệu hồi về nước do bị người Việt Nam và các đảng phái cánh tả Pháp căm ghét. Trước áp lực của các đảng phái cánh tả Pháp như Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Ramadier - một đại biểu xã hội chủ nghĩa, thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam: "Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó" và Pháp sẵn sàng đàm phán hòa giải với những đại diện chân chính của Việt Nam.
Để hậu thuẫn cho Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam, các lực lượng chính trị bao gồm Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng liên kết thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp. Ngay sau đó, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp quyết định sẽ ủng hộ Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Tháng 5/1947, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp cử phái đoàn đến Hồng Kông gặp Bảo Đại để thuyết phục ông này thành lập một Chính phủ Trung ương và đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Bảo Đại được Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp bao gồm các lực lượng chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng hậu thuẫn. Đây là những tổ chức chính trị hoặc tôn giáo từng tham gia chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay hợp tác với Việt Minh chống Pháp nhưng do xung đột với Việt Minh nên chuyển sang ủng hộ Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam.
Năm 1947, cựu trùm mật thám Pháp ở Đông Dương là Cousseau đã tiếp xúc với Bảo Đại tại Hồng Kông, ngỏ ý mời ông về nước nắm quyền, hình thành nên "giải pháp Bảo Đại". Có ý kiến cho rằng việc này nhằm chống lại cuộc chiến giành độc lập của phong trào Việt Minh, cũng có ý kiến cho rằng giải pháp Bảo Đại được đưa ra nhằm phản ứng với xu hướng quốc tế trao trả độc lập cho các thuộc địa đồng thời nhằm chống lại sự mở rộng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương. Còn bản thân Bảo Đại nhận xét rằng "Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp."
Mỹ ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện lãnh đạo của những nhà nước mới "không phải là người cộng sản", Mỹ ủng hộ việc thành lập các "nhà nước phi cộng sản" ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ những quốc gia đồng minh tại Đông Nam Á vì không hài lòng với điều mà họ cho là "lực lượng cộng sản muốn thống trị châu Á dưới chiêu bài dân tộc". Bằng viện trợ, Mỹ ép Pháp phải nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam. Chính sách của Mỹ là hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau đó sẽ ép người Pháp rút lui khỏi Đông Dương. Đáp lại, phía Pháp nhận định là Mỹ quá "ngây thơ", và một người Pháp đã nói thẳng là "những người Mỹ ưa lo chuyện người khác, ngây thơ vô phương cứu chữa, tin tưởng rằng khi quân đội Pháp rút lui, mọi người sẽ thấy nền độc lập của người Việt xuất hiện."
Ngày 7/12/1947, tại cuộc họp trên tàu chiến Pháp ở Vịnh Hạ Long, Bảo Đại và Pháp đàm phán rồi ký kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long. Hiệp ước thể hiện sự đồng thuận của hai bên về việc thành lập Quốc gia Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc độc lập và thống nhất của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, mặc dù nghĩa chính xác của từ "độc lập" và các quyền hạn cụ thể của chính phủ mới vẫn chưa được xác định. Chính phủ hoạt động dưới một hiến chương lâm thời, chọn cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳ và bản "Thanh niên Hành Khúc" với lời nhạc mới làm quốc ca. Quốc gia Việt Nam sẽ có một quân đội riêng tuy nhiên phải "sẵn sàng bảo vệ bất cứ phần nào của Liên Hiệp Pháp". Sự độc lập chính trị của nhà nước Quốc gia Việt Nam được quy định trong Hiệp ước Vịnh Hạ Long quá nhỏ nên hiệp ước này bị Ngô Đình Diệm và cả những chính trị gia trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp chỉ trích.
Do bị các chính trị gia trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp chỉ trích, Bảo Đại chấm dứt đàm phán với Pháp và đi du lịch châu Âu trong 4 tháng. Người Pháp cử các nhà ngoại giao theo Bảo Đại để thuyết phục ông tiếp tục đàm phán và thành lập Chính phủ. Tháng 1/1948, Cao ủy Pháp tại Đông Dương E. Bollaert tìm gặp Bảo Đại ở Genève, Thụy Sĩ để thuyết phục ông quay về Việt Nam để tiếp tục đàm phán và thành lập Chính phủ. Bảo Đại tuyên bố nếu Hiệp ước Vịnh Hạ Long không được bổ sung ông sẽ không quay về Việt Nam. Sau đó ông đi Cannes, Paris rồi quay về Hồng Kông.
==== Thành lập Quốc gia Việt Nam ====
Ngày 24 tháng 4 năm 1948, thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Hữu cũng bay tới Hồng Kông để gặp Bảo Đại xin thành lập Chính phủ Lâm thời cho Việt Nam, ngày 15 tháng 5, Bảo Đại gửi thông điệp cho tướng Xuân, tán thành sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam do tướng Xuân điều khiển "để giải quyết vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận Quốc tế".
Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại đã gặp gỡ Cao ủy Pháp Bollaert ở vịnh Hạ Long, trên chiến hạm Duguay Trouin, để đàm phán về nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Tháng 1 năm 1949, Bản tuyên ngôn Việt - Pháp được công bố, theo đó nước Pháp công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam trong khuôn khổ của khối Liên hiệp Pháp.
Việt Minh chỉ trích Bảo Đại là xấu xa, tội lỗi vì đã lấy lại từ người Pháp chữ "độc lập" thần kỳ mà Hồ Chí Minh đã cố gắng giành giật ở Fontainebleu không được. Những người Pháp có tư tưởng thực dân phản đối điều mà họ cho là sự đầu hàng của Bollaert, đồng thời yêu cầu cắt Nam Kỳ ra khỏi phần còn lại của Việt Nam, đòi đưa Việt Nam quay trở lại chế độ Bảo hộ. Các chính trị gia ở Paris ra sức trấn an những người Pháp ủng hộ chủ nghĩa thực dân và đảm bảo với họ rằng sẽ không có gì thay đổi - cuộc chiến tranh sẽ không chấm dứt. Các lãnh tụ Cộng hoà Bình dân và nhiều người thân cận với Cộng hoà Bình dân lại cho rằng kéo dài chiến tranh sẽ hết sức có lợi và đã đi đến quyết định không để cho cuộc chiến tranh kết thúc sớm.
Sau đó Bảo Đại rút lui khỏi các hoạt động chính trị và đi châu Âu một lần nữa. Ngày 25/8/1948, từ Saint Germain Bảo Đại báo cho E. Bollaert biết ông sẽ không quay về Việt Nam nếu Pháp không hủy bỏ chế độ thuộc địa tại Nam Kỳ và trao trả Nam Kỳ lại cho Quốc gia Việt Nam cũng như nếu ông không nhận được sự đảm bảo của Pháp cho Việt Nam độc lập.
Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp phải trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này.
Ngày 24 tháng 4 năm 1949, Bảo Đại về nước. Hai tháng sau, vào ngày 14 tháng 6, Bảo Đại tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được tổng tuyển cử và tạm giữ danh hiệu Hoàng đế để có một địa vị quốc tế hợp pháp. Ngày 20 tháng 6 năm 1949, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn từ chức, Chính phủ Lâm thời Nam phần tuyên bố giải tán. Ngày 21 tháng 6, thỏa ước Elyseé được công bố.
Cuối tháng 6 năm 1949, Việt Nam chính thức thống nhất dưới sự quản lý của Quốc gia Việt Nam. Pháp chuyển giao những chức năng hành chính cho Quốc gia Việt Nam một cách chậm chạp, hai chức năng quan trọng nhất và tài chính và quân đội thì vẫn phụ thuộc vào Pháp.
==== Thành lập Chính phủ ====
Ngày 1 tháng 7 năm 1949, Chính phủ Lâm thời của Quốc gia Việt Nam được thành lập theo sắc lệnh số 1-CP của thủ tướng, tấn phong Bảo Đại là Quốc trưởng, trung tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng (Có tài liệu ghi Bảo Đại là Quốc trưởng kiêm Thủ tướng, Nguyễn Văn Xuân là phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng). Theo đánh giá của người Mỹ, Bảo Đại ít tham gia vào công việc của chính phủ, giành nhiều thời gian cho nghỉ mát.
Tháng 1 năm 1950, Bảo Đại chỉ định Nguyễn Phan Long làm Thủ tướng. Ngày 27 tháng 4 năm 1950, giải tán chính phủ Nguyễn Phan Long và ủy nhiệm Thủ hiến Trần Văn Hữu thành lập chính phủ mới. Tính đến đầu năm 1950, có 35 quốc gia công nhận Quốc gia Việt Nam.
Từ tháng 6 cho đến tháng 10 năm 1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp họp tại Pau (Pháp) để bàn về việc chuyển giao các chức năng quản lý xuất nhập cảnh, quan hệ ngoại giao, ngoại thương, hải quan và tài chính cho Quốc gia Việt Nam. Tài chính là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất bao gồm việc kiểm soát lợi nhuận từ hoạt động ngoại hối. Kết quả tất cả các chức năng trên đã được Pháp chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu sau khi ký thỏa thuận với Pháp đã tuyên bố: "Nền độc lập của chúng tôi hiện nay thật tuyệt vời". Các quan chức Pháp phàn nàn về Bảo Đại: "Ông ấy tập trung quá mức vào việc lấy lại từ chúng tôi những gì có thể thay vì tìm kiếm sự ủng hộ từ nhân dân... Lịch sử sẽ phán xét ông ấy vì quá chú tâm vào chuyện này". Tuy nhiên người Pháp vẫn dành cho mình quyền quan sát và can thiệp đối với những vấn đề liên quan đến toàn bộ Liên Hiệp Pháp. Người Pháp còn có quyền tiếp cận mọi thông tin nhà nước, tham dự vào tất cả các quyết định của chính phủ và nhận một khoản nhỏ từ lợi tức quốc gia của Việt Nam.
Ngày 8/12/1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan. Tất cả sĩ quan đều phải là người Việt. Pháp có trách nhiệm hỗ trợ Quốc gia Việt Nam thành lập những đơn vị mới do sĩ quan Việt Nam chỉ huy và đào tạo sĩ quan người Việt thay thế dần những sĩ quan Pháp đang hiện diện trong Quân đội Quốc gia Việt Nam. Nhà sử học Spencer C. Tucker cho rằng Quân đội Quốc gia Việt Nam được huấn luyện kém và không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt, Pháp chỉ đơn giản là đưa những người lính mới tuyển mộ được vào các quân đoàn Viễn chinh của chính Pháp, tại đó, người chỉ huy là các sĩ quan Pháp.
Archimedes L.A Patti nhận xét: "Tất nhiên họ (Quốc gia Việt Nam) đã lầm, không bao giờ Pháp cho Việt Nam độc lập để mất Đông Dương. Bảo Đại trở về Việt Nam và cho rằng ông ta đã làm hết sức mình để người Pháp phải giữ lời cam kết. Ông sẽ chờ và xem. Có thể người Mỹ sẽ khích lệ giúp đỡ. Nhưng sau một ngày ở Sài Gòn, thấy Pháp từ chối không cho ông sử dụng dinh Norodom, trụ sở chính quyền thuộc địa Pháp, Bảo Đại liền rút lui về nhà ở Đà Lạt. Sự việc này cho thấy rõ tình hình chẳng có gì thay đổi cả".
Tướng Georges Revers, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, được phái sang Việt Nam để nghiên cứu tình hình (tháng 5, 6 năm 1949) và sau đó đã viết: "Hồ Chí Minh đã có khả năng chống cự lại với sự can thiệp của Pháp lâu đến như thế, chính là vì nhà lãnh đạo Việt Minh đã biết tập hợp chung quanh mình một nhóm những người thực sự có năng lực… Ngược lại, Bảo Đại đã có một chính phủ gồm độ 20 đại biểu của toàn các đảng phái ma, trong số đó đảng mạnh nhất cũng khó mà đếm được 25 đảng viên".
Người Pháp trì hoãn một cách có tính toán việc thi hành thoả hiệp Élysée với Quốc gia Việt Nam. Quân đội của họ tiếp tục tham chiến tại Việt Nam, nhân viên hành chính tiếp tục làm việc ở các cấp chính quyền; Quốc gia Việt Nam chẳng được trao cho một chút quyền hành thực sự nào, như bấy giờ người ta nói, Quốc gia Việt Nam chỉ là một sự nguỵ trang cho nền cai trị của Pháp..
==== Thay đổi Thủ tướng ====
Chính phủ do Trần Văn Hữu làm Thủ tướng tồn tại đến ngày 6 tháng 6 năm 1952 thì phải cáo lui, nhường chỗ cho Nguyễn Văn Tâm lên làm thủ tướng cùng thành phần tổng, bộ trưởng đa số là người do Pháp đào tạo.
Ngày 20 tháng 11 năm 1953, hoàng thân Bửu Lộc từ Pháp về Sài Gòn lập chính phủ thay thế chính phủ Nguyễn Văn Tâm. Thời gian này, Quốc trưởng Bảo Đại sống và làm việc tại biệt điện ở Đà Lạt. Xung quanh nơi ở của Bảo Đại có cả một trung đoàn Ngự lâm quân bảo vệ và có cả một đoàn xe riêng gọi là "công xa biệt điện", lại có cả một đội máy bay riêng do các phi công người Pháp lái phục vụ.
Ngày 11 tháng 1 năm 1954, Chính phủ mới do Bửu Lộc thành lập trình diện Bảo Đại nhưng đến ngày 16 tháng 6 năm 1954, Bửu Lộc từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại mời Ngô Đình Diệm về nước, ngày 6 tháng 7, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới.
Sau Hiệp định Genève 1954, Pháp phải rút khỏi Đông Dương, chính quyền và quân đội Quốc gia Việt Nam tập kết ở miền Nam Việt Nam chờ tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam.
Ngô Đình Diệm tiến hành cải tổ chính phủ lần thứ nhất vào ngày 24 tháng 9 năm 1954 và lần thứ hai vào ngày 10 tháng 5 năm 1955.
==== Bị phế truất ====
Tháng 9 năm 1954, tướng Nguyễn Văn Hinh không chịu dưới quyền chỉ huy của Ngô Đình Diệm nên đánh điện sang Pháp nhờ Bảo Đại can thiệp. Bảo Đại điện về Sài Gòn triệu tập Diệm sang Cannes gặp Bảo Đại để bàn lại việc sắp xếp nhân sự nhưng Diệm không đi. Bảo Đại quyết định điện về Sài Gòn cách chức thủ tướng của Ngô Đình Diệm.
Tuy nhiên, ngày 4 tháng 10 năm 1955, Ủy ban trưng cầu dân ý thành lập đưa ý kiến đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và đưa Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm Quốc trưởng. Khi cử tri đi đến nơi bỏ phiếu, họ thấy rằng nơi đây đã bị những người ủng hộ Ngô Đình Diệm kiểm soát. Một cử tri sau khi bỏ phiếu đã nói rằng "Người chỉ đạo nói cho chúng tôi hiểu rằng ở đây chỉ có hai sự lựa chọn, hoặc là phiếu đỏ (Ngô Đình Diệm) sẽ được bỏ vào hòm phiếu hoặc phiếu xanh sẽ bị loại đi". Về phía Bảo Đại, ngày 18/10/1955, ông đưa ra tuyên bố cắt chức Thủ tướng cũng như xóa bỏ mọi quyền lực của Ngô Đình Diệm từ văn phòng của mình tại Paris để phản đối một chính phủ công an trị và chế độ độc tài cá nhân do Ngô Đình Diệm đứng đầu.
=== Cuộc sống lưu vong ===
Ông sống tại Cannes, sau đó chuyển đến vùng Alsace. Bảo Đại giao du với Jean de Beaumont, cựu nghị sĩ Nam Kỳ, một tay săn bắn có hạng. Bị cơ quan thuế để mắt tới, không còn tiền tài trợ của chính phủ Pháp, ông phải bán dần tài sản của mình. Năm 1963, Nam Phương hoàng hậu qua đời ở Chabrignac. Năm 1972, khi đã tiêu pha hết cả tài sản, Bảo Đại sống với Monique Baudot, một phụ nữ Pháp kém Bảo Đại hơn 30 tuổi (Monique Baudot sinh năm 1946), đến năm 1982 thì kết hôn. Bảo Đại nhập đạo Công giáo lấy tên thánh là Jean-Robert.
Trong thời gian này, ảnh hưởng của Bảo Đại tại các khu vực như Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế vẫn còn rất lớn. Chính vì vậy phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phái các đại diện sang Pháp nhằm thuyết phục Bảo Đại tham gia một chính phủ liên hiệp nhằm thống nhất Việt Nam, nhờ đó thông qua Bảo Đại thì miền Bắc có thể thu hút thêm những người ủng hộ tại các địa phương mà Bảo Đại có ảnh hưởng. Dưới ảnh hưởng của các cuộc gặp mặt này, trong những buổi phát biểu công khai Bảo Đại đã thể hiện lập trường chống lại sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, chỉ trích chính phủ Nguyễn Văn Thiệu và kêu gọi thành lập một chính phủ liên hiệp tự do, trung lập và hòa bình tại Việt Nam .
Năm 1982, nhân khai trương Hội Hoàng tộc ở hải ngoại, Bảo Đại lần đầu tiên sang thăm Mỹ với tư cách cá nhân. Trong chuyến đi này ông đã nhận tên cha để làm lại giấy khai sinh cho những người con ngoại hôn trước đây không ghi tên ông trong phần tên cha. Tại thị trấn Sacramento, ông được tặng chiếc chìa khóa vàng tượng trưng cho thị trấn này. Ông cũng được bà thị trưởng thành phố Westminster, California tặng danh hiệu "công dân danh dự" của thành phố. Ông cũng thăm viếng và chúc mừng các buổi lễ của cộng đồng Phật giáo và Cao Đài người Việt ở California cùng các cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở Texas. Bảo Đại cũng nhân dịp này thăm dò ý kiến của các cộng đồng người Việt sống ở Hoa Kỳ về giải pháp cho việc hòa giải dân tộc.
=== Tang lễ ===
Cựu hoàng Bảo Đại là vị vua thọ nhất nhà Nguyễn. Ông qua đời vào 5 giờ sáng ngày 31 tháng 7 năm 1997 tại Quân y viện Val-de-Grâce, hưởng thọ 85 tuổi. Ông cũng là một phế đế sống thọ nhất trên thế giới thời hiện đại. Trước đó ông có nhận lời về tham dự Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie) được tổ chức tại Hà Nội vào 1997.
Đám tang Bảo Đại được tổ chức vào lúc 11 giờ ngày 6 tháng 8 năm 1997 tại nhà thờ Saint-Pierre de chaillot số 35 đại lộ Marceau, quận 16 Paris và linh cữu được mai táng tại nghĩa địa Passy trên đồi Trocadero.
Trả lời BBC về sự kiện này, bà Monique nói: "Ngày hôm nay tôi rất đau buồn. Dĩ nhiên rồi, trước hết và trên hết là vì chồng tôi vừa qua đời. Nhưng hôm nay trang sử của triều Nguyễn Việt Nam cũng được chấm dứt. Tôi cầu nguyện cho chồng tôi".
== Đánh giá ==
Trong cuốn "Bảo Đại - hay những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam", Daniel Grandclément viết:
Bảo Đại đúng như những gì mọi người Việt đã biết về ông: hào hoa, lịch lãm và sành điệu, săn bắn giỏi, lái xe hơi, máy bay giỏi, khiêu vũ, đánh golf, chơi quần vợt giỏi... Ông chỉ không biết làm vua. Ông vua nước Nam cứ quẩn quanh, thậm chí mưu mẹo chỉ để có được từ chiếc xe hơi, máy bay cho đến khẩu súng săn, cuốn album bìa da, thỏa mãn những thú vui vật chất.
Như lời Bảo Đại thú nhận: “Người Pháp lúc nào cũng muốn tôi ngồi yên một chỗ, không cho thân mật với dân nên trong hai mươi năm trời làm vua tôi ra Bắc một lần, vào Nam kỳ một lần, cũng là đi lướt qua, không thấy rõ ràng một điều gì. Xung quanh tôi họ đặt toàn những người mật thám. Tôi rất buồn biết mình không thể làm chi có ích cho đất nước...”.
Ông mơ hồ tin tưởng vào “nền độc lập trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp” đạt được dễ dàng cùng với các điều kiện vật chất. Quen sung sướng, quen được cung phụng, Bảo Đại dường như chưa bao giờ nghĩ đến việc đi tìm độc lập bằng con đường nếm mật nằm gai như các vua Hàm Nghi, Duy Tân trước ông.
Ông đã khước từ những cơ hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra, mang đến cho ông... Khước từ cơ hội đi chung đường với cả dân tộc, dù ông đã cùng chính phủ cộng hòa non trẻ ngồi họp bàn từ việc lớn đến việc nhỏ trong những ngày khai sinh nhà nước. Con đường mà Bảo Đại chọn cuối cùng đã dẫn đến kết cục “ông hoàng bị quét đi như quét một hạt bụi vô giá trị...”.
Hành động lớn nhất trong đời ông là thoái vị, và ông đi vào lịch sử chỉ bằng một câu nói: “Tôi muốn làm dân một nước tự do hơn là làm vua một nước nô lệ”.
== Gia quyến ==
Ông: Nguyễn Cảnh Tông Đồng Khánh hoàng đế.
Bà: Hựu Thiên Thuần hoàng hậu Dương thị (佑天純皇后楊氏; 18 tháng 4 năm 1868 - 17 tháng 9 năm 1944), được tôn phong Khôn Nghi Xương Đức Thái hoàng thái hậu (坤儀昌德太皇太后), còn gọi là Đức Tiên Cung (德仙宮). Khi Bảo Đại còn bé đều do bà nuôi dưỡng.
Cha: Nguyễn Hoằng Tông Khải Định hoàng đế.
Mẹ: Đoan Huy Hoàng thái hậu Hoàng thị (端徽皇太后黃氏; 28 tháng 1 năm 1890 - 9 tháng 11 năm 1980), còn gọi là Đức Từ Cung (德慈宮). Bà vốn là Cung nhân, xuất thân thấp kém, sau mang thai Bảo Đại mà được tấn phong Huệ phi (惠妃).
Hậu phi:
Nam Phương hoàng hậu Nguyễn Hữu Thị Lan (南芳皇后阮有氏蘭; 14 tháng 12 năm 1914 - 16 tháng 9 năm 1963), con gái của Nguyễn Hữu Hào và phu nhân Lê Thị Bính, con gái của Lê Phát Đạt. Quê Gò Công, Tiền Giang, Việt Nam, có hôn thú, có 5 người con
Bùi Mộng Điệp (裴夢蝶; 22 tháng 6 năm 1924 - 26 tháng 6 năm 2011), quê Bắc Ninh, không hôn thú, có 3 người con.
Ánh phi Lê thị (暎妃黎氏) ở Huế, (24 tháng 06, 1925 - 15 tháng 12 năm 1986: 61 tuổi) không hôn thú, có 2 người con, được phong làm Ánh phi (暎妃) vào năm 1935. Về sau đều gọi bà là Lê Phi Ánh (黎妃暎).
Lý Lệ Hà, quê Thái Bình, vũ nữ, không hôn thú, không có con
Hoàng Tiểu Lan (黃小蘭), còn tên khác là Jenny Woong, vũ nữ Trung Hoa lai Pháp, không hôn thú, có 1 con gái, sau này cũng có đưa về Đà Lạt, cũng có một biệt thự như các bà thứ phi người Việt.
Bà Vicky (Pháp), không hôn thú, có 1 con gái.
Clément(?), vũ nữ và buôn lậu ở xóm Cigalle (Pháp), không hôn thú
Monique Marie Eugene Baudot (莫尼克·博多), người Pháp, sinh tại Lorraine vào ngày 30 tháng 4, năm 1946. Năm 1972 vào tháng 2, bà kết hôn với Bảo Đại Đế, được xưng danh Hoàng phi (皇妃; Imperial Princess). Sau khi Bảo Đại Đế băng hà, bà tự xưng làm Thái Phương hoàng hậu (泰芳皇后).
Hậu duệ: Bảo Đại có 5 hoàng tử và 7 hoàng nữ, tổng cộng 12 người con.
Hoàng tử:
Nguyễn Phúc Bảo Long, sinh ngày 4 tháng 1 năm 1936, mất ngày 28 tháng 7 năm 2007. Mẹ là Nam Phương hoàng hậu.
Nguyễn Phúc Bảo Thắng, sinh ngày 9 tháng 12 năm 1943. Mẹ là Nam Phương hoàng hậu.
Nguyễn Phúc Bảo Ân, sinh năm 1951 đang sống tại Westminster, là người con nối dõi nhà Nguyễn. Ông Bảo Ân có hai con, gái là Nguyễn Phúc Thụy Sĩ, sinh năm 1976 và trai là Nguyễn Phúc Quý Khang sinh năm 1977. Như vậy, Nguyễn Phúc Quý Khang là cháu đức tôn của Cựu Hoàng Bảo Ðại.. Mẹ là Lê Phi Ánh.
Nguyễn Phúc Bảo Hoàng, sinh năm (1954 - 1955), chết khi một tuổi. Mẹ là Bùi Mộng Điệp.
Nguyễn Phúc Bảo Sơn, sinh năm (1957 - 1987), chết khi 30 tuổi vì tử nạn tại Nhật. Mẹ là Bùi Mộng Điệp.
Hoàng nữ:
Nguyễn Phúc Phương Mai, sinh ngày 1 tháng 8 năm 1937 tại Đà Lạt.
Nguyễn Phúc Phương Liên, sinh ngày 3 tháng 11 năm 1938. Mẹ là Nam Phương hoàng hậu.
Nguyễn Phúc Phương Dung, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1942. Mẹ là Nam Phương hoàng hậu.
Nguyễn Phúc Phương Thảo, sinh ngày 4 tháng 6 năm 1946 hiện nay đang sống ở Pháp. Mẹ là Bùi Mộng Điệp.
Nguyễn Phúc Phương Minh, sinh ngày 15 tháng 1 năm 1949, bà lấy chồng và lập nghiệp ở Pháp, rồi ly dị, trước Tháng 4 năm 1975 về Sài Gòn thăm mẹ và bị kẹt lại đây, sau đó được bảo lãnh sang Hoa Kỳ lập nghiệp và qua đời tại Hoa Kỳ vào năm 2012. Mẹ là Lê Phi Ánh.
Nguyễn Phúc Phương An, sinh năm 1955, hiện nay đang sống ở Hawaii, Hoa Kỳ. Mẹ là Hoàng Tiểu Lan.
Nguyễn Phúc Phương Từ, sinh năm 1955, hiện đang sống ở Pháp. Mẹ là Quý bà Vicky.
Bảo Đại còn có một người con do bà Từ Cung Hoàng thái hậu nuôi từ nhỏ, nhưng không rõ là con bà nào do ông không tiết lộ.
== Câu nói ==
Ta không muốn một quân đội nước ngoài làm đổ máu thần dân ta. Phát biểu khi từ chối sự bảo vệ của quân Nhật chống lại nguy cơ đảo chính của Việt Minh.
Làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.
Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp.
Đã đến lúc kết thúc cuộc chiến huynh đệ tương tàn và ít nhất là phục hồi hòa bình cùng sự hòa hợp. Phát biểu năm 1972 nhằm kêu gọi hòa bình và hòa hợp dân tộc ở Việt Nam.
Xin cho tôi được sống và chết trong bình yên.
== Trong thơ ca ==
Khi Bảo Đại sang Trung Quốc, nhà thơ Việt Nam đương thời Tú Mỡ có bài thơ châm biếm về việc này.
== Trong điện ảnh ==
Hình tượng Bảo Đại được dựng thành bộ phim "Ngọn nến Hoàng cung" năm 2004 do diễn viên Huỳnh Anh Tuấn đóng.
== Tiền đồng "Bảo Đại thông bảo" ==
Tiền đồng Bảo Đại thông bảo (保大通寶) là loại tiền đồng Việt Nam kiểu cổ sau cùng được chế tạo. Có ba loại tiền Bảo Đại Thông bảo: loại tiền đúc cỡ nhỏ, loại tiền đúc cỡ lớn mặt sau có nổi chữ "mười văn" và loại tiền đúc lớn có mặt sau "trơn". Tất cả được phát hành vào năm 1933.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Bảo Đại tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Bao Dai (Vietnamese emperor) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Sa Majesté BAO-DAI (Tiếng Pháp).
10 ngày cuối cùng của triều Nguyễn
Vua Bảo Đại thích chơi thể thao ngày Tết, Nguyễn Đông, VnExpress, 25/1/2012 |
danh sách quốc gia theo dự trữ ngoại tệ.txt | Đây là danh sách thống kê các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới theo mức dự trữ bằng ngoại tệ và vàng thống kê năm 2014, nhưng một số số liệu lấy từ các năm trước đó.
== Danh sách mức dự trữ ngoại tệ các nước ==
Số liệu chính được lấy từ nguồn CIA The World Factbook, 2015. Số liệu được tính ở đơn vị triệu dollar (1000 000$).
== Xem thêm ==
Danh sách các quốc gia theo dự trữ ngoại tệ 2012 - 2013
Danh sách quốc gia theo tính tự do kinh tế
Danh sách quốc gia theo chỉ số bình đẳng thu nhập
Danh sách các nước theo giá trị xuất khẩu
Danh sách quốc gia theo giá trị nhập khẩu
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tin mới nhất xem tại The World Factbook, CIA
IMF's data on current foreign exchange reserves of reporting countries
Central bank websites from Bank for International Settlements |
ubuntu mobile.txt | Ubuntu Mobile Internet Device Edition là một bản phân phối Ubuntu với ý định hoạt động trên các thiết bị dựa trên nền tảng Intel Mobile Internet Device,máy tính di động x86 dựa trên chíp Intel Atom. Nó đã được lên kế hoạch để sử dụng khuôn khổ GNOME Hildon làm cơ sở cho giao diện của nó.
Các nhà sản xuất thiết bị đã có thể tùy chỉnh phân phối của họ, bao gồm các tùy chọn Flash, Java, hoặc tùy chỉnh giao diện.
Ubuntu Mobile bị dừng phát triển vào năm 2009 và bị thay thế bởi Ubuntu Touch được công bố vào ngày 2/1/2013.
== Tính năng ==
Theo Canonical, Ubuntu Mobile sẽ cung cấp một " trải nghiệm Web 2.0 vựot trội". nó có một số tính năng bao gồm trình duyệt Web, email, trình đa phương tiện, camera, VoIP, Chat, GPS, blog, Truyền hình số, games, danh bạ, và lịch, với các cập nhật phần mềm thường xuyên. Nó được thiết kế để tương thích với màn hình cảm ứng.
== Lịch sử phát hành ==
Tháng 6/2008, Ubuntu Mobile 8.04 được phát hành. Ubuntu Mobile đã ngừng phát triển vào năm 2009 sau bản 9.10 Alpha 6.
Ngày 31/10/2011 Mark Shuttleworth tuyên bố từ Ubuntu 14.04, Ubuntu sẽ hỗ trợ smartphone, máy tính bảng, smart TV và các màn hình thông minh khác (như car head units và smartwatches). Dự án sau đó được kế thừa bởi dự án Ubuntu Touch được công bố vào 2/1/2013.
== Xem thêm ==
Ubuntu Touch
Ubuntu Netbook Edition
Ubuntu for Android
Plasma Mobile
MeeGo
Mer
Tizen
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Ubuntu MobileAndEmbedded wiki
Ubuntu Mobile Guide 7.10
Mobile & Internet Linux Project by Intel
Kubuntu-Mobile 11.04 (Natty Narwhal) preview mobile image |
charles dickens.txt | Charles John Huffam Dickens (7 tháng 2 năm 1812 – 9 tháng 6 năm 1870), bút danh "Boz", là tiểu thuyết gia và người chỉ trích xã hội người Anh. Ông đã tạo ra một số nhân vật hư cấu được biết đến nhiều nhất trên toàn cầu và được coi là người viết văn nổi tiếng nhất thời đại Nữ hoàng Victoria. Charles Dickens được xem là một trong những nhà văn vĩ đại viết bằng ngôn ngữ tiếng Anh, ông được ca ngợi về khả năng kể chuyện và trí nhớ, được nhiều người ở khắp nơi yêu mến trong suốt quãng đời của ông. Ông là tác giả hiện thực lớn nhất của nước Anh thế kỷ 19. Các tác phẩm của ông chủ yếu dành cho thiếu nhi và mang tính chất hiện thực. Sang thế kỷ 20, thiên tài văn học của ông đã được các nhà phê bình và các học giả thừa nhận rộng rãi. Tiểu thuyết và những chuyện ngắn của ông tiếp tục được phổ biến rộng rãi.
== Những năm đầu đời ==
Ông sinh ngày 7 tháng 2 năm 1812 tại 1 Mile End Terrace (hiện tại là 393 Commercial Road), Landport, ngoại ô thành phố Postmouth, thuộc vùng Hampshire, Tây Nam nước Anh trong một gia đình công chức bình dân. Ông là người con thứ 2 trong 8 người con của John Dickens (1786–1851), mẹ ông là Elizabeth Dickens (nhũ danh Barrow, 1789–1863). Cha ông là một nhân viên bán hàng trong Văn phòng Thanh toán của Hải quân và tạm thời đóng quân trên địa bàn huyện. Ông đã nhờ Christopher Huffam, người quan hệ với Hải quân, một người đàn ông đáng kính, và là người đứng đầu một công ty danh tiếng, làm cha đỡ đầu cho cậu bé Charles. Huffam được cho là nguồn cảm hứng cho Paul Dombey, chủ sở hữu của một công ty vận tải biển trong tác phẩm cùng tên Dombey và các con (1848) của Dickens.
Năm ông 5 tuổi, gia đình chuyển đến một thành phố nhỏ, cách London không xa. Nhưng 5 năm sau đó, vì gánh nặng nợ nần chồng chất không có khả năng thanh toán, cha ông đã tù giam. Vì vậy, ông đã phải vào làm thợ phụ tại xưởng chế tạo xi đánh giày.
Thời gian sau, ông may mắn vì được kế thừa gia tài của một người họ hàng, vì thế cha ông cũng thoát được cảnh tù đày. Ông tiếp tục con đường học hành.
16 tuổi, ông học tốc ký rồi làm thư ký cho tòa án và nghị viện rồi làm phóng viên cho tờ Thời sự buổi sáng. Đây chính là dịp ông nâng cao hiểu biết, tích lũy vốn sống mà nhất là thấy được bộ mặt xấu xa của chính quyền tư sản nước Anh bấy giờ.
Ông bắt đầu sáng tác văn học từ năm 1833 và mau chóng gặt hái được những thành công vang dội. Tên tuổi ông nhanh chóng được biết đến khắp nước Anh và châu Âu.
Ông qua đời vào ngày 9 tháng 6 năm 1870 tại Gad's Hill Place, Higham, Kent. Sau khi ông qua đời, thi hài của ông được chính phủ Anh đưa về an táng và chôn cất tại Tu viện Westminster, nơi chôn cất của các vĩ nhân nước Anh.
== Sự nghiệp ==
=== Viết báo ===
Năm 1842, ông đã dành nửa năm trời để du lịch bên Mỹ, và trở về với tập Ghi chép về nước Mỹ (1842) để vạch trần chính sách phân biệt chủng tộc, thủ đoạn đê hèn của chính quyền và báo chí Mỹ bấy giờ.
Ông đã từng giữ chức Tổng biên tập tờ tin Tin hàng ngày vào năm 1846 với hi vọng đem lại hạnh phúc và phồn vinh cho mọi người qua các bài viết.
== Tiếp nhận ==
Dickens là một tiểu thuyết gia nổi tiếng nhất thời ông, và là một trong những tác giả người Anh nổi tiếng nhất và có nhiều độc giả. Các tác phẩm của ông không bao giờ in ra, và liên tục được điều chỉnh cho màn ảnh kể từ khi chuyển thể thành phim, với ít nhất 200 tác phẩm điện ảnh và chương trình TV dựa trên các tư liệu của ông.
=== Tiểu thuyết ===
Các tác phẩm tiêu biểu:
The Posthumous Papers of the Pickwick Club (Cuộc phiêu lưu của ông Pickwick, 1837)
The Adventures of Oliver Twist (Oliver Twist, 1839)
The Life and Adventures of Nicholas Nickleby (Nicholas Nickleby, 1839)
The Old Curiosity Shop (Cửa hàng bán đồ cổ, 1840)
Barnaby Rudge (1841)
A Christmas Carol (Bài hát Giáng sinh, 1843)
The Life and Adventures of Martin Chuzzlewit (Những cuộc phiêu lưu của Martin Chuzzlewit, 1844)
David Copperfield (1850) (cái tên đó sau này được David Seth Kotkin lấy làm tên khi đi lưu diễn ảo thuật của mình)
Bleak House (Ngôi nhà lạnh lẽo, 1853)
Hard Times: For These Times (Thời gian khổ, 1854)
Little Dorrit (Cô bé Dorrit, 1857)
A Tale of Two Cities (Chuyện hai thành phố, 1859)
Great Expectations (Ước vọng lớn lao, 1861)
Our Mutual Friend (Những người bạn chung, 1865)
The Mystery of Edwin Drood (Những điều bí mật của Edwin Drood, tác phẩm ông đang viết dở thì qua đời)
=== Truyện ngắn ===
Không chỉ thành công ở mảng tiểu thuyết và viết báo, ông còn rất thành công khi viết các tác phẩm truyện ngắn. Rất nhiều các tác phẩm truyện ngắn của ông đã giành được những thành công và sự ủng hộ từ đông đảo bạn đọc như:
Sketches by Boz (Phác thảo của Boz, 1836)
The Mudfog Papers (Thư từ Mudfog 1837)
Reprinted pieces (Tái bản 1861)
The Uncommercial traveller(Người du hành vô sản 1860 - 1869)
Captain Murderer(Đại úy sát nhân 1860)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Charles Dickens tại Wikimedia Commons
Charles Dickens tại Internet Movie Database
Nguồn trực tuyến
Charles Dickens Biography
Các tác phẩm của Charles Dickens tại Dự án Gutenberg
Dickens Literature — Chapter-indexed, searchable versions of Dickens’ works
Charles Dickens HTML format of Dickens books
PSU's Electronic Classics Series Charles Dickens novels and stories in Free PDF
Charles Dickens' Quotes
The Dickens Search Engine Search Dickens's books
A Charles Dickens Journal Timeline of Dickens's Life
Appreciations and Criticisms of the Works of Charles Dickens by G. K. Chesterton
Charles Dickens's Themes An analysis of The Mystery of Edwin Drood, Nicholas Nickleby and A Trial For Murder
Life of Charles Dickens, by Frank Marzials, at Project Gutenberg. 1887 publication with lengthy bibliography.
Charles Dickens: The Life of the Author a seminar by Kenneth Benson from the New York Public Library |
chế định trách nhiệm dân sự (luật hồng đức).txt | Chế định trách nhiệm dân sự trong Luật Hồng Đức là tổng thể các quy định của Luật Hồng Đức (Hay còn được gọi là Quốc Triều Hình Luật) quy định các vấn đề liên quan đến trách nhiệm dân sự của cá nhân trong thời đại phong kiến nhà Lê.
== Khái yếu ==
Luật Hồng Đức là một trong những bộ luật phong kiến tiến bộ nhất và đặc sắc nhất trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Bộ luật đánh dấu thời kỳ hoàng kim nhất, rực rỡ nhất của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều đại Lê sơ, đặc biệt là dưới thời vua Lê Thánh Tông. Luật Hồng Đức được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá rất cao về tư tưởng và trình độ lập pháp, vượt xa so với khuôn mẫu tư duy của thời đại phong kiến và để lại những dấu ấn sâu đậm cho đến tận ngày nay, và một trong những nội dung đó là trách nhiệm dân sự.
Chế định trách nhiệm dân sự là nét đặc sắc, độc đáo đáng quan tâm trong Luật Hồng Đức. Mặc dù về tính chất, đây là bộ luật hình sự (Quốc triều hình luật), nhưng Luật Hồng Đức chứa đựng trong đó những yếu tố khá tiến bộ trong việc điều chỉnh quan hệ dân sự, quy định, dự liệu phong phú các trường hợp về tổn thất, thiệt hại trong thực tế cả về vật chất lẫn tinh thần từ đó xác định trách nhiệm hình sự và dân sự.
Chế định trách nhiệm dân sự trong Luật Hồng Đức đưa tầm vóc của bộ luật lên tầm cao hơn so với tư duy lập pháp phong kiến. Sự dự liệu sinh động, đầy tính thực tiễn của nó vẫn còn dư âm mạnh mẽ cho đến ngày nay, có ý nghĩa lớn trong công tác xây dựng và áp dụng pháp luật dân sự hiện đại.
Trong Luật Hồng Đức không có quy định riêng hoặc gọi đích danh về chế định này, tuy nhiên qua đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành, qua phân tích dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể phân chia những nội dung về trách nhiệm dân sự như sau: Tổn thất trên thực tế; Lỗi; Trường hợp đặc biệt phát sinh trách nhiệm; Nguyên tắc bồi thường; Phương thức bồi thường thiệt hại; Các trường hợp giảm nhẹ và miễn trách nhiệm.
== Tổn thất thực tế ==
Trong quy định của pháp luật hiện hành cũng như về mặt khoa học pháp lý, tổn thất thực tế (bao gồm tổn thất vật chất và tổn thất về tinh thần) là một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm dân sự. Luật Hồng Đức cũng quy định rõ về tổn thất vật chất và tổn thất về tinh thần
=== Tổn thất vật chất ===
Theo các nhà lập pháp thời Lê, tổn thất vật chất ở đây là sự xâm phạm đến tính mạng con người, tài sản và theo đó vừa phải chịu chế tài hình sự là hình phạt tương ứng đồng thời còn phải bồi thường thiệt hại cho người bị xâm hại các giá trị nói trên về thể chất và quyền sở hữu.
Yếu tố tổn thất này được xem xét trong việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trong hợp đồng.
Quy định trên được cụ thể hóa tại Điều 435: "Những kẻ thừa cơ lúc có trộm, cướp, cháy, lụt mà lấy trộm của cải của người ta hay giữa ban ngày mà đoạt lấy tiền tài của người, cũng là lấy của đánh rơi, mà lại đánh lại người mất của thì cũng đều phải tội như ăn trộm thường, mà giảm một bậc, lột lấy quần áo và đồ vật của trẻ con, người điên, người say thì phải tội đồ và phải bồi thường gấp đôi".
Với nội dung nhân lúc có lụt cháy trộm cướp mà trộm cướp tài sản hoặc ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác gây ra tổn thất cho họ đã khẳng định có sự tổn thất vật chất nhưng đây là quy định xen lẫn tổn thất vật chất với chế tài hình sự và bồi thường dân sự.
Các quy định khác cũng thể hiện rõ như Điều 436 quy định về sự dọa nạt người để lấy của, Điều 438 quy định trường hợp lấy trộm đồ của sứ thần người nước ngoài, Điều 444 là chế tài nghiêm khắc nhất trước hành vi lấy trộm trâu, ngựa, thuyền bè; Điều 445 lại có dự liệu phong phú về việc đánh trộm cá ở ao nhà người khác.
Đây là những tổn thất phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, xuất phát từ các hành vi trái pháp luật.
Những tổn thất phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng (trong hợp đồng) cũng được Luật Hồng Đức quy định rất rõ ràng và cụ thể:
Điều 579 quy định về bồi thường trong trường hợp các bên đã xác lập một khế ước nhận giữ súc vật và của cải của nhau mà bên nhận giữ lại tự tiện mang đi tiêu dùng. "Những người nhận giữ của ai gửi súc vật của cải mà đem dùng hay tiêu đi thì xử phạt 80 trượng và đền tiền theo tổn thất, nói dối là chết hay mất thì phải biếm một tư và đền tiền gấp đôi, nếu mà đánh mất thì bị xử phạt 40 trượng và đền tiền theo giá trị súc vật bị mất".
Điều 356, Điều 361, Điều 383, Điều 384, Điều 587, Điều 888, Điều 589; Điều 603 quy định về nhiều loại khế uớc rất quan trọng và thông dụng trong dân chúng như khế ước mua bán, cho vay, cho thuê và Điều 383 quy định rằng một người đã cầm ruộng đất cho người khác chưa đem tiền chuộc trả cho chủ cầm mà lại đem bán đứt ruộng đất cho người khác thì phải chịu phạt 50 roi và chịu biếm một tư, truy hồi tiền trả người chủ cầm; người bán ruộng đất mà lấn ruộng đất của người khác cho rộng them ruộng của mình thì cũng phải xử tội như vậy và phải trả gấp đôi chỗ ruộng đất lấn cho người chủ có ruộng bị lấn.
Điều 588 quy định trường hợp một người mắc nợ quá hạn không trả thì tùy theo nặng nhẹ mà phải xử tội trượng, nếu cự tuyệt không chịu trả thì phải xử biếm hai tư, bồi thường gấp đôi; nhưng nếu người chủ nợ quá niên hạn mà không đòi nợ thì mất.
Đối với vấn đề này, pháp luật dân sự hiện đại phân định rất rõ ràng về tổn thất vật chất. Cụ thể Luật dân sự hiện đại quy định rõ về việc gây thiệt hại giữa các củ thể trong quan hệ hợp đồng và quan hệ ngoài hợp đồng. Điều này giúp cho việc áp dụng pháp luật dễ dàng hơn. Có thể thấy Luật Hồng Đức thể hiện khá chung về thiệt hại hại vật chất, không phân biệt rõ mối quan hệ giữa các chủ thể mà chỉ chú trọng đến tổn thất trên thực tế.
=== Tổn thất tinh thần ===
Đây là loại thiệt hại vô hình mà trong một số trường hợp gắn liền với quan niệm lập pháp. Vào thời Lê, danh giá, danh dự, nhân phẩm hoặc xứng đáng được bồi thường của cả hai bên hoặc chỉ một trong hai bên. Quy định cụ thể tại Điều 472, Điều 473, và Điều 474.
Điều 472 quy định về trường hợp kẻ dưới đánh quan lại, quan lại đánh lẫn nhau thì khi một người đánh quan chức bị thương, ngoài việc phải chịu hình phạt, đền bù thương tổn còn phải đền tiền tạ. Trái lại, nếu đánh người không phải quan chức, theo quy định tại các điều luật khác thì không phải chịu khoản tiền tạ.
Điều 473 quy định khả năng kẻ dưới mắng nhiếc quan lại, quan lại mắng nhiếc nhau. Quy định này đã không những chỉ đưa ra hình phạt mà còn quy định phạt tiền tạ nếu phạm tội lăng mạ quan chức, các trường hợp khác không phải chịu tiền tạ.
Điều 474 cũng dự liệu trường hợp đánh người thân thuộc trong hoàng tộc cũng quy định trách nhiệm tiền tạ, nếu đánh hoặc lăng mạ người trong hoàng tộc từ hàng cháu năm đời của vua trở lên.
Những quy định này phần nào thể hiện đặc điểm pháp luật phong kiến trong việc bảo vệ quyền lợi cho một bộ phận có địa vị trong xã hội bấy giờ. Nhưng đây cũng là một quy định rõ nét về việc bồi thường thiệt hại gây ra đối với tinh thần (danh dự, nhân phẩm, tình cảm…)
Tổn thất tinh thần cũng được quy định trong Luật dân sự hiện đại cùng với chế tài bồi thường một khoản tiền nhất định tượng trưng đối với hành vi xâm hại. Điều này cho thấy pháp luật hiện hành đã có sự kế thừa nhất định những quy định của Luật Hồng Đức và điều đó còn thể hiện những giá trị của bộ luật này.
== Lỗi ==
Yếu tố lỗi cũng là một yếu tố không thể thiếu trong việc thành lập trách nhiệm. Pháp luật nhà Lê không chỉ xem xét đến thiệt hại mà còn quan tâm đến việc hành vi đó gây ra trong hoàn cảnh như thế nào, nhận thức chủ quan của đương sự khi thực hiện hành vi gây tổn thất cho người khác như thế nào. Luật Hồng Đức quy định về điều này khá chặt chẽ, phần nào cho thấy sự đánh giá nghiêm khắc của các nhà làm luật ngay cả trong lĩnh vực dân sự.
Khác với tư duy lập pháp trên, pháp luật dân sự hiện đại chỉ chú trọng đến yếu tố thiệt hại mà không quan tâm đến thái độ tâm lý của người gây thiệt hại. Xuất phát từ việc không tách bạch rõ ranh giới giữa ngành luật hình sự và ngành luật dân sự nên các nhà làm luật thời Lê đương thời quan tâm đến yếu tố lỗi ngay cả trong quan hệ bồi thường thiệt hại dân sự.
Điều đó là có thể hiểu được bởi trong xã hội phong kiến thì thiết lập sự phục tùng cả về tư tưởng lẫn hành vi là rất quan trọng. Luật Hồng Đức xem xét đến hành vi của người gây thiệt hại với những dự liệu hết sức phong phú, hết sức sâu sắc đáng quan tâm.
=== Lỗi cố ý ===
Luật Hồng Đức đánh giá nghiêm trọng lỗi cố ý của đương sự đối với hành vi gây thiệt hại, theo các nhà làm luật thời Lê,với lỗi cố ý, tính chất nghiêm trọng của nó tăng lên nhiều lần so với các trường hợp khác. Và tương ứng với nó, chế tài hình sự và cả tiền bồi thường thiệt hại cũng tăng lên gấp bội.
Một loạt các quy định về những lỗi cố ý của người gây thiệt hại như: Điều 435 quy định việc nhân lúc có lụt, cháy, trộm cướp mà lại trộm tài sản của người khác, Điều 437 dự liệu việc quan lại tự tiện lấy của trong kho, Điều 438 quy định việc tự tiện lấy trộm đồ vật của sứ thần nước ngoài, Điều 445 quy định về việc đánh trộm cá ở ao nhà người khác, Điều 448 liên quan đến việc ăn trộm văn tự cầm cố, Điều 462 đề cập đến việc bắt được trộm cướp nhưng tự tiện lấy đồ vật đem đi mà không trả lại cho người mất của, Điều 579 quy định về việc nhận giữ của cải súc vật của người khác mà lại tự tiện tiêu dùng, Điều 581 dự liệu việc cố ý thả trâu ngựa phá hoại hoa màu của người khác, Điều 588 quy định nợ quá hạn mà chây ì không chịu trả, Điều 589 quy định về việc con nợ đã trả xong nợ mà chủ nợ lại cố ý không trả lại văn tự, Điều 601 quy định chặt phá cây cối, lúa má của người khác.
Điều 581 quy định trường hợp xử phạt nặng hơn khi một người cố ý thả trâu ngựa phá hoại hoa màu của nhà người khác so với thiệt hại không phải lỗi cố ý. Nếu như trong trường của một người thả trâu ngựa cho giày xéo, ăn lúa dâu của người khác thì chỉ bị xử phạt 80 trượng và đền bù sự thiệt hại thì khi sự gây thiệt hại do lỗi cố ý sẽ bị xử biếm một tư hoặc đền gấp đôi.
Về hình phạt cho những hành vi có lỗi cố ý này: Điều 589 đưa ra hình phạt và sự bồi thường giữa các bên theo quan điểm áp dụng chế tài nghiêm khắc hơn cho người không trung thực, gian dối khi tham gia quan hệ khế ước vay mượn. Theo đó, nếu như mắc nợ đã trả nợ rồi mà chủ nợ còn cố ý không trả văn tự hoặc lại nói dối là văn tự bị đánh mất đồng thời cũng không cấp giấy làm bằng cho người trả nợ thì chủ bị xử phạt 50 roi, biếm một tư. Nhưng nếu chủ nợ đã giao giấy làm bằng cho người trả nợ rồi sau đó lại đem văn tự đòi nợ lần hai thì chủ nợ không chỉ bị xử phạt 50 roi, biếm một tư mà còn phải bồi thường gấp đôi số tiền nợ cho người trả nợ.
=== Lỗi vô ý ===
Nếu các nhà làm luật thời Lê nghiêm trọng hóa hành vi gây thiệt hại với lỗi cố ý thì đối với lỗi vô ý, sự khoan dung độ lượng được thể hiện khá rõ. Những hành vi phạm pháp với lỗi vô ý, sơ ý thì hình phạt và bồi thường thiệt hại được giảm bớt. Những quy định đầy chất nhân văn này gồm:
Điều 494 dự liệu trường hợp người trông nom công dịch mà đánh người phục dịch đến chết thì bị xử tội đồ và bị phạt một nửa số tiền đền mạng nhưng nếu đó chỉ là sự không may ngộ sát thì người trông nom công dịch chỉ phải đền tiền mai táng 20 quan, còn nếu mượn cớ việc công để đánh chết ngườivì oán thù riêng thì xử phạt theo tội đánh chết người.
Điều 498 là trường hợp một người do chơi đùa mà làm người bị thương hay lỡ làm chết người khác cũng được xử nhẹ hơn so với tội đánh người bị thương hay chết người thông thường, sau đó hình phạt và sự bồi thường tăng dần phụ thuộc vào sự đánh giá lỗi của kẻ vi phạm là nhẹ hay nặng.
Điều 498 quy định: "Vì chơi đùa mà làm người khác bị thương hay chết thì xử nhẹ hơn tội đánh bị thương hay chết người hai bậc, bắt trả tiền mai táng 20 quan. Tuy đôi bên cùng thuận ý cầm đồ nhọn trèo lên cao, lội nước sâu vì thế mà đến nỗi làm bị thương hay giết nhau, thì cỉ bị xử tội giảm một bậc và phải trả một nửa tiền đền mạng. Nếu không hẹn trứơc, hay là làm bị thương hay chết bậc tôn trưởng vào hàng cơ thân, cùng ông bà ngoại,ông bà nhà ben nội và chồng thì không gọi là đấu sức chơi, mà phải khép như tội đánh nhau bị thương và chết".
=== Cơ sở phân định ===
Về vấn đề nguyên tắc xem xét trong việc coi là có lỗi hay không, có thể xem Điều 499 là nguyên tắc chung cho việc xét giảm tội trong các trường hợp vô ý làm hại đến sức khỏe hoặc tính mạng của người khác:
Điều 499 quy định: "Những việc lầm lỡ làm người bị thương hay chết, đều xét theo tình trạng sự việc mà giảm tội, nghĩa là việc xảy ra ngoài sức khỏe, tai mắt không kịp nhận thấy, không kịp nghe thấy, hay vì vật nặng, sức người không chống nổi, hoặc trèo lên cao, tới chỗ nguy hiểm, săn bắt cầm thú, để đến nỗi thành ra sát thương đều là việc lầm lỡ".
Điều luật này đã định rõ về cơ sở để phân định các lỗi, đối với các lỗi "phàm đã biết mà vẫn làm" thì lỗi cố ý rất rõ ràng. Tuy nhiên những lỗi mang tính chất vô ý (lầm lỡ) thì Luật Hồng Đức đã soi xét thấu đến hoàn cảnh, điều kiện chủ quan, khách quan của người vi phạm để làm cơ sở phân định.
Có thể thấy quan điểm của các nhà lập pháp về hình phạt và trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự. Yếu tố lỗi có ý nghĩa trong việc xác định tiền bồi thường thiệt hại và các chế tài hình sự kèm theo.
== Trường hợp đặc biệt ==
Các trường hợp này đặc biệt bởi vì nó gắn liền với các giá trị, đạo đức phong kiến, đặc biệt là dưới triều đại nhà Lê sử dụng Nho giáo như là công cụ tư tưởng quan trọng để điều chỉnh xã hội. Đó là trường hợp chịu trách nhiệm không phải do hành vi của mình gây ra mà về hành vi của người khác và chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do gia súc, súc vật của mình gây ra. Những quy định này đặc thù cho chế độ phong kiến nên nó không tồn tại trong pháp luật dân sự hiện đại.
=== Do người khác gây ra ===
Trường hợp này bao gồm trường hợp thiệt hại người cha chịu thay người con và thiệt hại người chủ phải chịu thay đầy tớ của mình. Xuất phát từ quan điểm đạo đức phong kiến về mối quan hệ phụ - tử trong Tam cương của Nho giáo, người cha có vai trọng quan trọng, là trụ cột trong gia đinh, có nhiệm vụ dạy dỗ con cái, vì vậy hành vi gây thiệt hại của con cái có phần lỗi lớn trong việc giáo dục không nghiêm khắc của người cha, nên người cha phải chịu thay con đối với thiệt hại gây ra cho người khác.
Điều 457 quy định: "Các con còn ở với cha mẹ mà đi ăn trộm, thì cha bị xử tội biếm, ăn cắp thì cha bị xử tội đồ, nặng thì xử tăng thêm tội, và đều phải bồi thường thay cho con những tang vật ăn trộm hay ăn cướp. Nếu con đã ở riêng, thì cha bị xử tội phạt hay biếm; cha đã báo quan thì không phải tội,nhưng báo quan rồi mà để con ở nhà thì cũng bị xử như là chưa báo".
Tương tự như trên, vai trò của người chủ đối với đầy tớ của mình cũng được xác định rất rõ. Nếu người chủ không trông coi, dạy dỗ đầy tớ cẩn thận để đầy tớ gây tổn thất cho người khác thì người chủ phải chịu trách nhiệm với hành vi đó.
Điều 456 quy định: "Đầy tớ đi ăn trộm, mà chủ không báo quan, thì xử biếm năm tư, ăn cướp thì biếm năm tư và bãi chức;chủ không có quan chức thì thay xử đồ làm chủng điền binh và đều phải bồi thường thay những tang vật ăn trộm hay ăn cướp thì phải đồng tội. Đã báo quan mà sau lại bao dung những đầy tớ ăn cướp ăn trộm thì xử như tội biết việc mà không trình".
Quy định trên một mặt đề cao mối quan hệ về trật tự phong kiến trong xã hội đồng thời nêu cao trách nhiệm của người chủ trong gia đình, trách nhiệm của người trông coi đầy tớ. Tính chất chịu trách nhiệm thay thể hiện quan điểm cứng rắn của các nhà lập pháp nhằm thiết lập sự ổn định trong xã hội.
=== Do gia súc, súc vật ===
Có thể khẳng định đây là trường hợp mà pháp luật được nâng lên từ thực tiễn cuộc sống của một xã hội có nền kinh tế nông nghiệp lâu đời và nền văn hóa tiểu nông trọng tình nghĩa với ý nghĩa giữ gìn tình đoàn kết cộng đồng, xóm giềng, có thể minh họa bằng quy định tại Điều 585: "Trâu của hai nhà đánh nhau, con nào chết thì hai nhà cùng ăn thịt, con nào sống thì hai nhà cùng cày, trái luật thì xử phạt 80 trượng". Quy định trên cho thấy sự dự liệu của Quốc triều hình luật bám rất sát đời sống người dân, bảo đảm tính bền vững cộng đồng truyền thống.
Tuy vậy Luật Hồng Đức cũng đặt nặng về vấn đề bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra. Cụ thể là, Điều 581 Luật Hồng Đức quy định: "Người thả trâu ngựa cho dày xéo, ăn lúa, dâu của người ta thì xử phạt 80 trượng và đền sự thiệt hại. Nếu cố ý thả cho dày xéo thì biếm một tư và đền gấp đôi sự thiệt hại. Nếu trâu ngựa lồng lên không kìm hãm được thì được miễn tội trượng".
Theo quy định trên, người trực tiếp quản lý trâu, ngựa mà vô ý như chăn dắt trâu ngựa trông coi không cẩn thận để trâu, ngựa phá hoại hoa màu, mùa màng thì bị phạt 80 trượng và phải đền bù toàn bộ thiệt hại. Trường hợp cố ý cho trâu, ngựa phá hoại mùa màng, hoa màu thường là những hành vi mang tính trả thù. Trường hợp này, việc phá hoại mùa màng không những vi phạm trật tự an ninh xã hội mà còn làm ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực của chủ sở hữu, cho nên pháp luật áp dụng các chế tài nghiêm khắc đối với người vi phạm.
Nhưng do bản tính hung dữ, trâu, ngựa lồng lên mà người chăn dắt không kìm hãm được việc phá hoại của trâu, ngựa thì chủ sở hữu không có lỗi trong việc trông coi, cho nên không phải chịu trách nhiêm hình sự, tuy nhiên về trách nhiệm dân sự vẫn phải bồi thường thiệt hại.
Cần nói thêm là trâu, ngựa là loại súc vật to lớn giúp con người trong sản xuất kinh doanh, vì vậy người nông dân thường phải lựa chọn những con súc vật này có tính hiến lành, không hung dữ, như thế mới có thể điều khiển được chúng. Tuy nhiên, có những trường hợp trâu, ngựa phá hoại mùa màng là do hành vi bất cẩn của con người hoặc do hành vi cố ý sử dụng trâu, ngựa làm phương tiện, công cụ để phá hoại mùa màng của người khác, cho nên chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự.
Trong thực tiễn phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, có trường hợp những con sức vật có tính hung dữ luôn đe doạ gây thiệt hại, vì vậy, chủ sở hữu phải có các biện pháp ngăn chặn không cho súc vật gây thiệt hại tới tài sản, tính mạng, sức khoẻ của người khác. Điều 582 Luật Hông Đức quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật hung dữ gây ra như sau: "Súc vật và chó có tính hay húc, đã và cắn người mà làm hiệu buộc ròng không đúng phép (đúng phép là con vật hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì buộc hai chân, cắn người thì phải cắt hai tai) hay chó dại mà không giết thì đều xử phạt 60 trượng".
Đối với súc vật có tính hung dữ, chủ sở hữu phải có các biện pháp trông giữ theo quy định của pháp luật như trâu, bò hay húc thì phải cắt hai sừng, vì sừng là "vũ khí" nguy hiểm để tấn công con người hay súc vật khác, nếu cắt bỏ thì khả năng gây thiệt hại không còn. Nếu ngựa hay đá người thì phải buộc rằng hai chân trước và sau sao cho có thể đi lại được bình thường nhưng không thể co chân đá người khác và có nghĩa là nếu co hai chân sau lên cùng đá thì con ngựa sẽ bị ngã, cho nên không thể gây ra thiệt hại.
Đối với chó hay cắn người thì cắt hai tai, đây là biện pháp trừng phạt theo cách thức dân gian có hiệu quả. Chó phát hiện ra con người từ hướng nào và chuẩn bị tấn công người hướng đó là do thính giác, vì thế chó bị cắt hai tai sẽ không phát hiện ra tiếng động từ phía nào, cho nên nó không chủ động tấn công con người. Đối với chó dại là nguồn nguy hiểm cho bất cứ ai, nếu không giết ngay sẽ gây nguy hiểm về tính mạng cho người khác, vì thế chủ sở hữu phải giết chó dại ngăn ngừa chó căn người, nhưng chủ sở hữu không thực hiện việc phòng ngừa đó, cho nên phải chịu hình phạt là 60 trượng.
Súc vật không những gây thiệt hại về tài sản, tính mạng sức khoẻ cho con người, mà còn gây thiệt hại cho những con sức vật cùng loại khác như trâu bò đánh nhau. Đặc biệt trâu mộng là con vật luôn thể hiện mình có sức mạnh nhất mà con khác phải coi chừng và phải nhường lãnh địa kiếm ăn, vì thế, do bản tính kình địch thủ, chúng hay đánh nhau đến chết. Do vậy, nếu xảy ra hai trâu đánh nhau dẫn đến hậu quả một con chết thì được xử lý theo quy định tại Điều 586 Luật Hồng Đức: "Trâu của hai nhà đánh nhau, con nào chết thì hai nhà cùng ăn thịt, con sống hai nhà cùng cầy. Trái luật xử phát 80 trượng".
Con trâu là đầu cơ nghiệp của một gia đình nông dân, điều này vẫn còn phù hợp đến ngày nay ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Nếu không có trâu cày, kéo thì kinh tế của gia đình người nông dân bị ảnh hưởng, vì vậy, Luật Hồng Đức quy định là nếu hai con trâu đánh nhau mà một con chết thì con chết chia đôi cho mỗi chủ sở hữu một nửa và con còn sống thuộc sở hữu chung của hai nhà. Quy định này nhằm đảm bảo cho hai gia đình đều có trâu để cầy, kéo phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Điều 581 tuy xử phạt khá nặng kẻ cố ý thả trâu ngựa phá hoại mùa màng của kẻ khác nhưng vẫn lưu ý giảm nhẹ trong trường hợp thiệt hại là khó tránh hoặc không thể kháng cự. Nội dung cụ thể như sau: "Người thả trâu ngựa cho dày xéo, ăn lúa dâu của người ta thì xử phạt 80 trượng,đền sự thiệt hại; Nếu cố ý thả cho giày xéo, phá hoại người ta thì xử biếm một tư và đền gấp đôi sự thiệt hại. Nếu vì trâu ngựa chạy lồng lên không kìm hãm được, thì miễn tội trượng".
Điều 582 quy định về việc súc vật hay chó gây tổn hại cho người khác trên cơ sở buộc người nuôi súc vật hay chó có tính hay húc, đá và cắn phải làm hiệu buộc tròng đúng phép, nếu làm hiệu buộc tròng không đúng phép hay có chó hóa dại mà không giết thì bị xử phạt 60 trượng cho dù chưa có tổn thất gì xảy ra. Nếu buộc tròng không đúng phép mà để súc vật làm người chết hay bị thương thì được coi là sự vô ý phạm tội nên được xử theo tội lầm lỡ.
Trường hợp cố ý thả súc vật làm người chết hay bị thương thì chủ nuôi thì chủ nuôi đã có lỗi cố ý để cho súc vật gây tổn thất cho người khác, do đó sẽ bị xử tội như tội làm bị thương hay đánh chết người nhưng được giảm nhẹ hơn một bậc. Nhưng nếu người bị tổn thất là người được thuê đến để chữa bệnh cho súc vật hoặc nhười vô cớ trêu ghẹo súc vật để dẫn đến bị thương hay chết thì chủ không bị xử.
Như vậy cũng có hai trường hợp chủ súc vật được loại trừ hình phạt khi tổn thất được coi như rủi ro nghề nghiệp của những người hành nghề thú y hoặc những người tự mình có lỗi trong việc để súc vật gây ra tổn thiệt cho mình. Quy định này đã được pháp luật dân sự hiện đại kế thừa bằng việc khẳng định nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây ra thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường.
=== Do đồ vật ===
Trường hợp bồi thường tổn thất do các vật khác bị phá hủy gây ra quy định tại Điều 685: "Khi có sự việc xây dựng phá hủy gì mà phòng bị không cẩn thận để đến nỗi xảy ra chết người thì xử biếm một tư, và chịu tiền mai táng năm quan,còn thợ thuyền và người chủ ty thì hình quan xem xét đến lỗi vì ai xảy ra mà định tội".
Đây là trường hợp xử khá nhẹ, ta thấy chỉ áp dụng trong trường hợp chết người mà không dự liệu các trường hợp bị thương khác. Điều này có thể được hiểu bởi trên thực tế các tình huống như trên không thường xuyên xảy ra nên nhà làm luật không dự liệu đến, thực tiễn với một nước nông nghiệp thì việc xây dựng là không phổ biến nhiều và nếu có thì thiệt hại cũng không đáng kể.
Khi xây dựng nhà ở, công trình xây dựng, chủ sở hữu phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết đảm bảo an toàn trong xây dựng và có biện pháp đề phòng các trường hợp có thể gây thiệt hại cho tài sản, tính mạng sức khoẻ của người khác. Tuy nhiên, nếu xây dựng hoặc phá huỷ công trình xây dựng mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường.
Trường hợp này có hai khả năng xảy ra: Thứ nhất là khi xây dựng hoặc phá huỷ công trình mà người trực tiếp làm công việc đó có lỗi để gây ra thiệt hại. Thứ hai, do người chủ không cẩn thận trong việc ngăn ngừa thiệt hại để cho công trình xây dựng gây thiệt hại đẫn đến chết người, trường hợp này lỗi của chủ sở hữu là gián tiếp cho nên chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại, đây là trách nhiệm do tài sản gây ra.
Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp trên là lỗi vô ý của chủ sở hữu hoặc lỗi của người trực tiếp xây dựng, của người nhận thầu công trình và hậu quả là chết người. Mặc dù lỗi của ai nữa thì suy đoán cũng là lỗi của chủ sở hữu vì người xây dựng là người làm thuê hoặc làm giúp cho chủ sở hữu, cho nên công việc xây dựng hoặc phá dỡ là của chủ sở hữu. Vì vậy, chủ sở hữu công trình và phải bồi thường. Nếu chủ sở hữu có lỗi vô ý vì cẩu thả "không cẩn thận" sẽ bị xử tội biếm và phải bồi thường tiền mai táng cho nạn nhân là 5 quan tiền.
Khi xây dựng, phá dỡ cồng trình, việc gây thiệt hại có thể do thợ xây hoặc người tháo dỡ công trình xây dựng bất cẩn để xảy ra thiệt hại, trước hết chủ sở hữu phải bồi thường. Nếu những người trực tiếp thực hiện việc xây dựng, phá dỡ có lỗi, thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị hình phạt tương xứng.
== Nguyên tắc bồi thường ==
Trong thời kỳ cổ xưa khi xã hội chưa có nhiều định chế để giải quyết các vụ tranh chấp giữa các cá nhân với nhau nên mỗi khi quyền lợi của cá nhân bị xâm phạm, các cá nhân được tự ý trừng phạt lẫn nhau hoặc bắt đối phương làm nô lệ, hay tước đoạt tài sản của họ. Đây là chế độ "tư nhân phục cừu". Dấu ấn của chế độ này còn lưu lại trong một số điều của Bộ Luật Hồng Đức.
Theo Điều 591 Bộ Luật Hồng Đức thì: "Người đòi nợ không trình quan mà tự ý bắt đồ đạc, của cải của người mắc nợ, nếu quá số tiền trong văn tự thì xử phạt 80 trượng, tính những của cải ấy trả cho người có nợ, còn thừa thì trả cho người mắc nợ".
Như vậy Bộ Luật Hồng Đức cho phép bắt đồ đạc để trừ nợ nếu việc trừ nợ không quá số tiền cho vay. Hạn chế này của Bộ Luật Hồng Đức nhằm loại trừ sự tự tiện của chủ nợ trong việc chiếm đoạt tài sản của con nợ để bù vào số tiền cho vay.
Từ các quy định viện dẫn trên chứng tỏ chế độ "tư nhân phục cừu" đã xuất hiện ở Việt Nam. Có thể nói rằng đây là manh nha của chế độ trách nhiệm dân sự cho dù không có điều khoản nào của hai Bộ luật trên nói đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cả. Đến khi bộ máy Nhà nước được tổ chức ổn định trong xã hội thì hai bên không được tự tiện trả thù hay tự tiện thỏa thuận số tiền chuộc mà việc giải quyết tranh chấp phải bằng cách bồi thường một khoản tiền mà pháp luật quy định.
Khoản tiền bồi thường này vừa có tính chất là hình phạt vừa có tính chất là bồi thường. Theo Điều 29 Bộ Luật Hồng Đức thì tiền đền mạng được ấn định tùy theo phẩm trật của kẻ bị chết như sau:
1. Nhất phẩm, tòng nhất phẩm được đền 15.000 quan
2. Nhị phẩm, tòng nhị phẩm 9.000 quan
3. Tam phẩm, tòng tam phẩm 7.000 quan
4. Tứ phẩm, tòng tứ phẩm 5.000 quan
5. Ngũ phẩm, tòng ngũ phẩm 2.000 quan
6. Lục phẩm, tòng lục phẩm 1.000 quan
7. Thất phẩm, tòng thất phẩm 500 quan,
8. Bát phẩm đến cửu phẩm 300 quan
9. Thứ dân trở xuống 150 quan
Trong trường hợp đánh người gây thương tích thì người phạm tội ngoài hình phạt bị đánh roi còn phải bồi thường cho nạn nhân theo mức đã được quy định trong Điều 466 Bộ Luật Hồng Đức như sau: "Sưng phù thì phải đền tiền tổn thương 3 tiền, chảy máu thì phải 1 quan, gãy một ngón tay, một răng thì đền 10 quan, đâm chém bị thương thì 15 quan. Đọa thai chưa thành hình thì 30 quan, đã thành hình thì 50 quan, đứt lưỡi, hỏng âm vật, dương vật thì đền 100 quan. Về người quyền quý thì xử khác".
Ở đây có thể thấy Luật Hồng Đức chưa có sự phân biệt rõ rệt giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Tuy chỉ được coi là một yếu tố cấu thành trong trách nhiệm hình sự và chưa được coi là một chế định riêng biệt về trách nhiệm dân sự (tức là chỉ bắt người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại mà không trừng phạt về hình sự) song Bộ Luật Hồng Đức cũng đã ý thức được vai trò của bồi thường thiệt hại cũng vì thế mà trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã dần dần có xu hướng tách rời khỏi các trách nhiệm hình sự.
Cũng theo Điều 581 Bộ Luật Hồng Đức thì: "Người thả trâu, ngựa cho dày xéo, ăn lúa, dâu của người khác thì phải xử phạt 80 trượng và đền bù thiệt hại. Nếu cố ý thả cho dày xéo, phá hoại thì xử biếm một tư và đền gấp đôi sự thiệt hại. Nếu vì trâu, ngựa chạy lồng lên không kìm hãm được thì miễn tội trượng".
Như vậy, trong trường hợp này chỉ là vấn đề bồi thường thiệt hại là một trách nhiệm thuần túy dân sự hoặc Điều 585 Bộ Luật Hồng Đức quy định rằng: "Trâu của hai nhà đánh nhau, con nào chết thì cả hai cùng thịt, con nào sống thì hai nhà cùng cày, trái luật thì xử phạt 80 trượng". Như vậy, hình phạt chỉ phải dùng đến khi các đương sự không tuân theo giải pháp dân sự đã được ấn định.
Mặc dù các quy định nêu trên chỉ áp dụng trong một phạm vi có giới hạn song điều này chứng tỏ khái niệm trách nhiệm dân sự dân sự không phải là khái niệm xa lạ trong Cổ Luật Việt Nam. Có thể nói rắng ý niệm này đã manh nha và cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật dần dần được định hình với tư cách là một chế định trách nhiệm.
== Phương thức bồi thường ==
Bồi thường thiệt hại dựa trên thiệt hại thực tế gây ra về vật chất và tinh thần. Xác định thiệt hại đồng thời xác định phương thức bồi thường khá quan trọng bởi thực tế không phải bao giờ bồi thường cũng được ấn định bằng một cách thức nhất định nào đó, mà phải căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện có liên quan. Các phương thức bồi thường rất đa dạng, phong phú và nhiều cung bậc.
=== Hiện vật, khôi phục ===
Khôi phục lại tình trạng bang đầu là trường hợp bù đắp triệt để nhất, thuyết phục nhất bởi lẻ gây thiệt hại là sự làm biến đổi đi tình trạng ban đầu của đối tượng tác động của hành vi gây thiệt hại. Điều 30 khái quát đối với hình thức bồi thường thiệt hại, hoàn trả vật từ khế ước "về việc hoàn lại các vật mua bán, tiền làm văn tự tính một phần mười giá của vật lấy lại được".
Điều 382 xử phạt người bán trộm ruộng đất của người khác, phải trả lại tình trạng ban đầu "Bán ruộng đất của người khác thì trả tiền mua cho người mua và phải trả thêm một lần tiền mua nữa, để trả cho người chủ có ruộng đất và người mua một người một phần nữa, ruộng đất thì phải trả cho người chủ có…".
Điều luật trên cho thấy không chỉ người gây thiệt hại phải hoàn trả lại, khôi phục lại tình trạng như ban đầu mà thậm chí còn phải chịu bồi thường nặng gấp đôi thiệt hại gây ra. Tính trừng phạt của nhà nước trong trường hợp này là rất nghiêm khắc và cần thiết.
Điều 386 dự liệu trường hợp nô tỳ bán trộm ruộng đất của chủ bên cạnh trách nhiệm hình sự còn buộc nô tỳ phải trả lại ruộng đất cho chủ và tiền mua cho người mua. Cụ thể: "Nô tỳ mà bán trộm ruộng đất của chủ, thì xử phạt 90 trượng và thích vào mặt sáu chữ, lưu đi châu gần, ruộng đất phải trả lại cho chủ và tiền mua trả lại cho người mua".
Bộ luật dân sự hiện đại quy định về bồi thường thiệt hại khá cụ thể và rõ ràng:
1.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.
=== Tiền ===
Điều 353 quy định trường hợp khai man ruộng đất công hoặc của người khác thành của riêng mình thì xử biếm và trả lại ruộng đất cho chủ cũ "nếu những ruộng đất không vào sổ công, dân chiếm ở đã lâu, mà khai gian là của riêng mình, hay là đem nhũng văn khế và dấu vết đã lâu đời ra mà cố tranh thì phải biếm hai tư. Đem ruộng đất của người khác mà khai vào sổ là cửa mình, thì phải biếm ba tư và trả lại ruộng đất cho chủ cũ".
Điều 355 quy định trường hợp hà hiếp, ức hại để mua ruộng của người khác thì cũng phải chịu biếm và cho phép lấy lại tiền mua: "Người nào ức hiếp để mua ruộng đất của người khác thì phải biếm hai tư và cho lây lại tiền mua".
Chịu hình phạt nặng hơn là trường hợp là trường hợp tá điền cấy nhờ ruộng đất của người khác nhưng sau đó lại tranh là ruộng của mình "những tá điền cấy nhờ ruộng của nhà người khác mà giở mặt tranh làm của mình thì phải phạt sáu mươi trượng, biếm hai tư nếu ngươi chủ ruộng đất có văn tự xuất trình thì người tá điền phải bồi thườg gấp đôi số tiền ruộng dất, không có văn tự thì trả nguyên tiền thôi".
Như vậy, trường hợp này người nào có lỗi lớn thì ngoài khoản bồi thường tương ứng còn phải chịu phạt bồi thường nhiều hơn so với thiệt hại.
=== Phạt nghiêm ===
Điều 328 quy định cụ thể về trường hợp này: "Tiền bồi thường chia làm hai bậc: bồi thường hai lần (về tang vật của công) bồi thường một lần (về các tang vật của các tội vặt), tội nặng thì bồi thường thêm năm lần, chin lần (nếu cố ý tái phạm) cộng với nguyen trạng vật tịch thu vào nhau mà cùng phải tội, hay không có chủ, thì tịch thu vào nhà nước, còn thì trả lại co người chủ. Phần bồi thường trả lại cho người chủ chia làm mười phần, trả chủ tám phần, quan ty hai phần, hai phần này lại chia làm mười phần, hình quan được sáu phần, ngục quan được ba phần, nha lại binh được một phần".
Các quy định về bồi thường nhiều lần so với thiệt hại được các nhà làm luật dự liệu và dành những chế tài nghiêm khắc nhằm mục đích trừng phạt, nghiêm trị những kẻ xâm phạm đến các quan hệ xã hội được coi trọng đặc biệt là về vấn đề ruộng đất.
Điều 344 quy định về việc nhận bừa ruộng của người khác, theo đó hình phạt dân sự khi lấn giới hạn ruộng đất của người khác là "biếm một tư và phải bồi thường gấp đôi tiền hoa màu".
Điều 345 dự liệu trường hợp dấu số ruộng đất đầm ao của công (khi nộp thuế) từ một mấu trở lên thì xử tội biếm, từ mười mẫu trở lên thì xử tội đồ, năm mươi mẫu trở lên thì xử lưu và phải "bồi thường gấp ba lần tiền thuế nộp kho".
Ngoài ra các quy định khác được cho là có liên quan như: Điều 347 việc chia ruộng công cho dân địa phương và thu lại khi cần thiết theo quy định của triều đình, Điều 360 trường hợp ruộng đất đang có tranh chấp mà đánh người để gặt lúa má thì cũng bị xử phạt, Điều 365 tự tiện thích chữ vào mặt con cái người khác và bán dân đinh làm nô tỳ thì bị xử lý, Điều 445 về việc đánh trộm cá ở ao nhà người khác, Điều 448 ăn trộm văn tự cầm cố, Điều 453 bắt người bán làm nô tỳ và giết người cướp của Điều 463 về bọn gian phi xảo trá ở hương thôn
=== Hiện vật ===
Điều 360 quy định về "đương tranh kiện nhau về ruộng đất mà lại đánh người để gặt cướp lúa, thì phải phạt…bắt trả gấp đôi phần lúa cho người kia".
Điều 361 về "Cấy rẽ ruộng công hay tư, không báo cho chủ mà tự tiện đến gặt trước thì phạt 80 trượng và trả lại số lúa đã gặt".
Điều 362 quy định về khả năng các bên kiện nhau về ruộng đất mà chưa xử xong, đến khi lúa được gặt thì quan cho cắm nêu và cho người vẫn cày ruộng được tạm gặt, nếu người vẫn cày không đến hầu kiện thì phải bắt đến, nếu hai bên đều tự xưng là người cấy ruộng thì bắt gặt lúa đem chia một nửa đến khi xử xong nếu người gặt lúa là trái thì trả lúa cho người được kiện, nếu người tạm gặt lại được kiện thì cũng xử như vậy.
Đây là những quy định có kế thừa những tập quán xã hội cũ khi phương thức trao đổi hàng đổi hàng vẫn tồn tại phổ biến bên cạnh phương thức hàng – tiền hoặc tiền – hàng.
== Giảm nhẹ và miễn trách nhiệm ==
Mục đích của pháp luật bao giờ cũng là thiết lập sự ổn định xã hội, đảm bảo bằng ý thức chấp hành nghiêm minh từ phía người dân. Vì lẽ đó, việc thuyết phục giáo dục luôn được đặt lên hàng đầu thể hiện thông qua chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật nhà Lê.
Nhờ đó, Nhà nước một mặt tạo điều kiện cho thần dân tự ý thức mặt khác khuyến khích xã hội tuân theo những chuẩn mực đã đặt ra. Pháp luật dân sự hiện đại cũng quy định các trường hợp miễn giảm trách nhiệm dân sự căn cứ vào thiệt hại, lỗi của các bên, sự kiện khách quan, khả năng kinh tế của các bên…
Luật Hồng Đức thể hiện sự tiến bộ rất rõ khi đề cập đến yếu tố miễn giảm trách nhiệm dân sự.
=== Giảm nhẹ ===
Luật Hồng Đức dự liệu một vài sự kiện tự nhiên, khách quan ngoài sức quan sát và khả năng chống đỡ của con người và nếu như trường hợp đó xảy ra thì trách nhiệm dân sự được giảm nhẹ.
Trường hợp này được Quốc triều hình luật xem như: "lầm lở". Điều 499 xác định nguyên tắc chung cho việc xét giảm tội trong các trường hợp vô ý làm hại đến sức khỏe hoặc tính mạng của người khác: "những việc lầm lỡ làm người bị thương hay chết, đều xét theo tình trạng sự việc mà giảm tội(nghĩa là việc xảy ra ngoài sức khỏe, tai mắt không kịp nhận thấy, không kịp nghe thấy, hay vì vật nặng, sức người không chống nổi, hoặc trèo lên cao, tới chỗ nguy hiểm, săn bắt cầm thú, để đến nỗi thành ra sát thương đều là việc lầm lỡ".
Có thấy quan điểm nhân đạo và rất hợp lý của các nhà lập pháp về hình phạt và trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự. Yếu tố lỗi có ý nghĩa trong việc xác định tiền bồi thường thiệt hại và các chế tài hình sự kèm theo. Khái niệm "lầm lỡ" được đưa ra như một minh chứng cho sự khoan hồng, giảm nhẹ nếu trên thực tế thiệt hại gây ra không hoàn toàn nằm trong ý thức chủ quan của đương sự.
Nguyên tắc xét xử lầm lỡ để giảm tội cũng được thể hiện rõ tại điều 553 với việc quy định xử phạt nghiêm khắc tới 60 trượng với người vô cớ mà phóng ngựa chạy trong phố phường, đường ngõ trong kinh thành, hay trong đám đông người, nếu vì thế mà làm bị thương hay chết người thì bị xử tội nhẹ hơn tội đánh bị thương hay chết người một bậc, làm bị thương hay chết các súc vật thì phải đền số tiền theo sự mất giá, nhưng vẫn đưa người gây ra tình huống để xét nhẹ tội.
Điều 553 quy định: "Nếu vì việc công hay tư cần phải di gấp mà phóng ngựa chạy,thì không phải tội, vì thế mà làm bị thương hay chết người thì xử theo tội vì làm lỡ mà xảy ra. Nếu vì ngựa sợ hãi mà lồng lên, không thể gìm được để xảy ra việc làm bị thương, chết người, thì được xử giảm nhẹ hơn tội lầm lỡ hai bậc".
Quan điểm xem xét về sự lầm lỡ để giảm tội cũng được thể hiện tại điều 555 về việc thi đấu võ nghệ lại bắn vào người. Ở dây người gây ra thiệt hại vẫn phải chịu chế tài nghiêm khắc nhưng được chiếu cố.
Điều 555 quy định: "Trong khi thi đấu võ nghệ lại nhằm vào người mà bắn, làm cho bị thương hay chết, thì xử nhẹ hơn tội đánh bị thương, chết người một bậc, nếu vì sai lầm xảy ra thì chỉ phải khép vào tội lầm lỡ"
Và điều 557 cũng dự liệu trường hợp "Ở trong chợ và chỗ đông người, mà cố ý làm cho người ta sợ hãi đến nỗi rối loạn cả lên thì xử phạt 80 trượng. Nếu vì thế mà làm người khác bị thương hay chết thì xử tội nhẹ hơn tội cố ý giết người hay làm bị thương một bậc, nếu vì thế mà làm người mất của thì xử tội đồ, còn vì sự lầm lỡ làm kinh động đến người khác bị thương hay chết thì xử theo tội theo tội lầm lỡ".
Như vậy, có thể thấy yếu tố lầm lỡ được nhắc đến nhiều trong Bộ luật như là sự dự liệu hợp lý của Nhà nước đối với hành vi gây thiệt hại. Nguyên tắc này cho thấy sự tiến bộ của luật trong việc quy kết trách nhiệm hình sự và dân sự cho người mà hành vi gây ra là do một sự kiện nằm ngoài ý muốn của họ. Sự miễn giảm hợp lý tạo nên tính chất thực tiễn cho các điều luật.
Luật dân sự hiện đại cũng quy định về vấn đề giảm mức bồi thường thiệt hại nếu thiệt hại trên thực tế gây ra là do lỗi của cả hai bên gồm lỗi của người có quyền và lỗi của người có nghĩa vụ. Căn cứ vào mức độ lỗi của các bên để phân chia mức độ bồi thường thiệt hại hợp lý cho các bên.
=== Xá miễn ===
Quốc triều hình luật cũng dự liệu trường hợp được miễn nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự.
Điều 582 quy định: "Người thuê đến để chữa bệnh cho gia súc, hay là vô cơ trêu ghẹo những súc vật kia, mà bị thương hay chết thì người chủ không bị xử tội. Đồng thời, trường hợp một người vô cớ trêu ghẹo dẫn đến sự tổn thiệt hì cũng phải tự mình chịu sự tổn thiệt, người chủ súc vật không chịu trách nhiệm bồi thường".
Quy định trên nhấn mạnh đến yếu tố lỗi của người chữa bệnh cho gia súc mà bị gia súc làm cho bị thương hay trêu ghẹo dẫn đến việc bị thươg thì hoàn toàn là do họ.
Luật dân sự hiện đại quy định trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trog trường hợp có sự kiện bất khả kháng và trường hợp thiệt hại hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Điều này cho thấy sự tương đồng giữa hai bộ luật cách nhau hơn 500 năm.
== Nhận xét chung ==
Luật Hồng Đức được xem là bộ luật tiến bộ nhất, đặc sắc nhất trong hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam, biểu tượng của triều đại hoàng kim nhất trong lịch sử Việt Nam. là sự kết hợp hài hòa, sáng tạo giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh, là sự học hỏi thành tựu, tinh hoa của pháp luật hướng Nho của Trung Quốc và vận dụng sáng tạo vào điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
Bộ luật còn là sự thể chế hóa những luật tục, truyền thống đầy tính nhân văn trên cơ sở bám sát thực tiễn đất nước, đảm bảo ổn định đời sống nhân dân và các quyền lợi ich cơ bản thiết thân của người dân hướng đến mục tiêu bảo vệ sự bền vững của vương triều, xây dựng đất nước giàu mạnh.
Với tư tưởng tiến bộ đó cùng với sự tiếp thu kĩ thuật lập pháp của Trung Quốc và các trải nghiệm của triều đại trước, Bộ luật được đánh giá cao cả về nội dung và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một nhà nước phong kiến giàu mạnh, thịnh vượng. Bộ luật để lại dấu ấn mạnh mẽ trong lịch sử nước ta, gây được sự ảnh hưởng đối với các triều đại sau đó và thậm chí cho đến ngày nay các chuyên gia trong và ngoài nước nghiên cứu, học tập và ứng dụng trong công tác lập pháp hiện đại.
== Tham khảo ==
Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) do Viện Sử học Việt Nam biên dịch, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998
Bộ Luật dân sự Việt Nam năm 2005
Lê triều quan chế, Viện sử học, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.
Giáo trình lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2002.
Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2003
Chế độ sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiêp thời Lê sơ - Thế kỷ XV, Phan Huy Lê, Nhà xuất bản Văn Sử Địa, năm 1959.
Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về sở hữu ở Việt Nam, Nguyễn Huy Anh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 1999.
== Chú thích == |
tiếng mã lai.txt | tiếng Mã Lai ( /məˈleɪ/; Bahasa Melayu; chữ cái Jawi: بهاس ملايو) là một ngôn ngữ chính của ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian). Tiếng Mã Lai là ngôn ngữ quốc gia của Indonesia (với tên tiếng Indonesia), Malaysia (với tên tiếng Malaysia), và Brunei, và là một trong bốn ngôn ngữ chính thức của Singapore. Tiếng Mã Lai là tiếng mẹ đẻ của 40 triệu người hai bên eo biển Malacca, bao gồm các vùng ven biển của bán đảo Mã Lai của Malaysia và vùng ven biển phía đông đảo Sumatra của Indonesia, và cũng trở thành ngôn ngữ bản địa tại một phần vùng bờ biển phía tây của Sarawak và Tây Kalimantan trên đảo Borneo. Tổng số người nói tiếng Mã Lai là trên 215 triệu người.
Do là ngôn ngữ quốc gia của một vài nước, tiếng Mã Lai tiêu chuẩn cũng có vài tên chính thức. Tại Singapore và Brunei, nó được gọi là Bahasa Melayu (tiếng Mã Lai); tại Malaysia, Bahasa Malaysia (tiếng Malaysia); và tại Indonesia, Bahasa Indonesia (tiếng Indonesia). Tuy nhiên, ở các khu vực trung bộ và nam bộ của đảo Sumatra, tức những nơi mà tiếng Mã Lai là ngôn ngữ bản địa, người dân Indonesia tại đó gọi ngôn ngữ của họ là Bahasa Melayu và xem nó là một ngôn ngữ khu vực.
Tiếng Mã Lai tiêu chuẩn dựa theo tiêu chuẩn văn chương của các vương quốc Hồi giáo Malacca và Johor và thời kỳ tiền thuộc địa, và ngôn ngữ này đôi khi cũng được gọi là tiếng Mã Lai Malacca, Johor, hay Riau (hay kết hợp các tên này) để phân biệt với các biến thể khác của nhóm ngôn ngữ Mã Lai. Theo Ethnologue 16, một vài biến thể của tiếng Mã Lai nay được liệt vào danh sách các ngôn ngữ riêng biệt, bao gồm các biến thể Orang Asli của tiếng Mã Lai Bán đảo. Cũng có một vài ngôn ngữ bồi hay ngôn ngữ pha trộn dựa trên cơ sở tiếng Mã Lai.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Malay language tại Wikimedia Commons |
thành phố hồ chí minh.txt | Thành phố Hồ Chí Minh (vẫn còn phổ biến với tên gọi cũ là Sài Gòn) là thành phố lớn nhất Việt Nam đồng thời cũng là đầu tàu kinh tế và là một trong những trung tâm văn hóa, giáo dục quan trọng nhất của nước này. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc Trung ương cùng với thủ đô Hà Nội là đô thị loại đặc biệt của Việt Nam.
Vùng đất này ban đầu được gọi là Prey Nokor, thành phố sau đó hình thành nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà Nguyễn. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố. Khi người Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam. Cùng với Phnom Penh của Campuchia, Sài Gòn được người Pháp mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" trong số những thuộc địa của họ. Sài Gòn cũng là thủ đô của Liên bang Đông Dương giai đoạn 1887-1901 (về sau Pháp chuyển thủ đô Liên bang Đông Dương ra Hà Nội). Năm 1949, Sài Gòn trở thành thủ đô của Quốc gia Việt Nam - một chính thể thuộc Liên bang Đông Dương và sau này là thủ đô của Việt Nam Cộng hòa. Kể từ đó, thành phố này trở thành một trong những đô thị quan trọng của miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, lãnh thổ Việt Nam được hoàn toàn thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành "Thành phố Hồ Chí Minh", theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km². Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ trung bình 3.419 người/km². Đến năm 2011 dân số thành phố tăng lên 7.521.138 người. Theo thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2014 thì dân số thành phố Hồ Chí Minh là 7.981.900 người. Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 10 triệu người. Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách của cả nước. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không. Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt Nam. Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất.
Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số tăng quá nhanh. Trong nội ô thành phố, đường sá trở nên quá tải, thường xuyên ùn tắc. Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả. Môi trường thành phố cũng đang bị ô nhiễm do phương tiện giao thông, các công trường xây dựng và công nghiệp sản xuất.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ hoang sơ ===
Con người xuất hiện ở khu vực Sài Gòn từ khá sớm. Các cuộc khai quật khảo cổ trên địa phận Sài Gòn và khu vực lân cận cho thấy ở đây đã tồn tại nhiều nền văn hóa từ thời kỳ đồ đá cho tới thời kim khí. Những cư dân cổ từ nhiều thiên niên kỷ về trước đã biết đến kỹ thuật canh tác nông nghiệp.
Văn hóa Sa Huỳnh từng tồn tại trên khu vực này với những nét rất riêng. Thời kỳ văn hóa Óc Eo, từ đầu Công Nguyên cho tới thế kỷ 7, khu vực miền Nam Đông Dương có nhiều tiểu quốc và Sài Gòn khi đó là miền đất có quan hệ với những vương quốc này.
Sau khi Đế quốc Khmer hình thành, lãnh thổ miền Nam Đông Dương thuộc quyền kiểm soát của đế chế này. Tuy nhiên, dân cư của Đế quốc Khmer sống ở vùng này rất thưa thớt, không có khu dân cư lớn nào hình thành tại đây. Sau khi Đế quốc Khmer sụp đổ, vùng đất này cũng trở thành vô chủ (không thuộc một nhà nước nào).
Cho đến trước thế kỷ 16, vị trí tiếp giáp với các quốc gia cổ cũng khiến Sài Gòn trở thành nơi gặp gỡ của nhiều cộng đồng dân cư. Sài Gòn - Gia Định vẫn là địa bàn của một vài nhóm dân cư cổ cho tới khi người Việt xuất hiện.
=== Khai phá ===
Những người Việt đầu tiên tự động vượt biển tới khai vùng đất này hoàn toàn không có sự tổ chức của nhà Nguyễn. Nhờ cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II từ năm 1620, mối quan hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống. Khu vực Sài Gòn, Đồng Nai bắt đầu xuất hiện những người Việt định cư. Trước đó, người Khmer, người Chăm, người Man cũng sinh sống rải rác ở đây từ xa xưa.
Giai đoạn từ 1623 tới 1698 được xem như thời kỳ hình thành của Sài Gòn sau này. Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu con rể là vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Tuy đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng lại nằm trên đường giao thông của các thương nhân Việt Nam, Trung Quốc,... qua Campuchia và Xiêm. Hai sự kiện quan trọng tiếp theo của thời kỳ này là lập doanh trại và dinh thự của Phó vương Nặc Nộn và lập đồn dinh ở Tân Mỹ (gần ngã tư Cống Quỳnh - Nguyễn Trãi ngày nay). Có thể nói Sài Gòn hình thành từ ba cơ quan chính quyền này.
Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần cho một số nhóm người Hoa tị nạn triều Mãn Thanh tới Mỹ Tho, Biên Hòa và Sài Gòn để lánh nạn. Đến năm 1698, chúa Nguyễn sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền Nam. Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tự phát tới khu vực này trước đó, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định và hai huyện Phước Long, Tân Bình. Vùng Đông Nam Bộ được sát nhập vào cương vực Việt Nam.
Thời điểm ban đầu này, khu vực Biên Hòa, Gia Định có khoảng 10.000 hộ với 200.000 khẩu. Công cuộc khai hoang được tiến hành theo những phương thức mới, mang lại hiệu quả hơn.
Cuối thế kỉ 17 và đầu thế kỉ 18, Mỹ Tho và Cù lao Phố là hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ. Tuy nhiên, cuối thế kỉ 18, sau các biến loạn và chiến tranh, thương nhân dần chuyển về vùng Chợ Lớn. Khu vực Sài Gòn dần trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất Nam Bộ.
Năm 1788, Nguyễn Ánh tái chiếm Sài Gòn, lấy nơi đây làm cơ sở để chống lại Tây Sơn. Năm 1790, với sự giúp đỡ của hai sĩ quan công binh người Pháp là kỹ sư Theodore Lebrun và Victor Olivier de Puymanel (1768 - 1799), Nguyễn Ánh cho xây dựng Thành Bát Quái làm trụ sở của chính quyền mới. "Gia Định thành" khi đó được đổi thành "Gia Định kinh". Năm 1802, sau khi chiến thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi và đẩy mạnh công cuộc khai khẩn miền Nam. Miền Nam được chia thành 5 trấn, gọi là "Gia Định ngũ trấn". Các công trình kênh đào Rạch Giá - Hà Tiên, Vĩnh Tế... được thực hiện. Qua 300 năm, các trung tâm nông nghiệp phát triển bao quanh những đô thị sầm uất được hình thành. Sáu năm sau, 1808, "Gia Định trấn" lại được đổi thành "Gia Định thành". Trong khoảng thời gian 1833 đến 1835, Lê Văn Khôi khởi binh chống lại nhà Nguyễn, Thành Bát Quái trở thành địa điểm căn cứ. Sau khi trấn áp cuộc nổi dậy, năm 1835, vua Minh Mạng cho phá Thành Bát Quái, xây dựng Phụng Thành thay thế.
=== Thời kỳ thuộc Pháp ===
Ngay sau khi chiếm được thành Gia Định vào năm 1859, người Pháp gấp rút quy hoạch lại Sài Gòn thành một đô thị lớn phục vụ mục đích khai thác thuộc địa. Đồ án thiết kế được Phó Đô đốc Pháp là Page (về sau là Charner) cử trung tá công binh Pháp là Paul Florent Lucien Coffyn (20/5/1810 - 5/8/1871) - ông này nguyên là Lãnh sự Pháp ở Hoa Kỳ, thiết kế. Theo bản đồ của Coffyn được công bố vào ngày 13/5/1862, quy hoạch ban đầu của Sài Gòn bao gồm cả tỉnh Chợ Lớn với khoảng 500.000 dân (Saigon ville de 500.000 âmes), tức khoảng 20.000 dân/km2. Quy hoạch này tương ứng với quy hoạch khu vực phòng thủ của tướng Nguyễn Cửu Đàm năm 1772, khi dân số Sài Gòn chỉ khoảng 20.000-30.000 người. Nhưng đến 1864, nhận thấy diện tích dự kiến của thành phố quá rộng, khó bảo đảm về an ninh, Soái phủ Pháp ở Nam Kỳ (Gouverneur Amiral de la Cochinchine) lúc đó là Chuẩn đô đốc Pierre Rose quyết định tách Chợ Lớn khỏi Sài Gòn. Ngày 3/10/1865, Pierre Rose ra lệnh quy hoạch lại Sài Gòn chỉ còn là khu vực nằm giữa rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé và đường mới khu cầu Ông Lãnh hiện nay. Toàn bộ quy hoạch chỉ còn rộng khoảng 3 km2.
Rất nhanh chóng, các công trình quan trọng của thành phố, như Dinh Thống đốc Nam Kỳ, Dinh Toàn quyền, được Pháp thiết kế và huy động nhân công xây dựng. Sau hai năm người Pháp xây dựng và cải tạo, khu quy hoạch rộng khoảng 3 km2 nói trên đã hoàn toàn thay đổi.
Thành phố Sài Gòn khi đó được thiết kế theo mô hình châu Âu, nơi đặt văn phòng nhiều cơ quan công vụ như: dinh thống đốc, nha giám đốc nội vụ, tòa án, tòa thượng thẩm, tòa sơ thẩm, tòa án thương mại, tòa giám mục... Nam Kỳ Lục tỉnh là thuộc địa của Pháp và Sài Gòn nằm trong tỉnh Gia Định. Vào năm 1861, địa phận Sài Gòn được giới hạn bởi một bên là rạch Thị Nghè và rạch Bến Nghé với một bên là sông Sài Gòn cùng con đường nối liền chùa Cây Mai với những phòng tuyến cũ của đồn Kỳ Hòa.
Đến năm 1867, việc quản lý Sài Gòn được giao cho Ủy ban thành phố gồm 1 ủy viên và 12 hội viên; đừng đầu là viên Thị trưởng người Pháp tên là Charles Marie Louis Turc (1867 - 1871). Cho tới nửa đầu thập niên 1870, thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định. Ngày 15 tháng 3 năm 1874, Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn. Đứng đầu là viên Thị trưởng người Pháp, đầu tiên là G. Vinson (1874 - 1876). Đến năm 1879 thì Pháp cho lập thêm Hội đồng thành phố Sài Gòn (hay đúng ra là Ủy hội thành phố - Commission municipale).
Tính đến năm 1945 thì khu vực đô thị Sài Gòn và tỉnh Chợ Lớn có tổng cộng gần 500.000 dân. Sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 23 tháng 9 năm 1945 Pháp tái chiếm thành phố. Tháng 8 năm 1946, phòng Nam Bộ Trung ương đã tổ chức họp, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã đề nghị đổi tên Sài Gòn thành thành phố Hồ Chí Minh, và 57 người phòng Nam Bộ Trung ương (đứng đầu danh sách là Trần Hữu Nghiệp, Trần Công Tường, Nguyễn Tấn Gi Trọng,...) đã ra quyết nghị, gửi lên Quốc hội và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đề xuất này, tuy nhiên do nhiều việc cấp bách phải giải quyết nên chưa quyết nghị chính thức, nhưng từ ngữ này vẫn được một số người theo kháng chiến chống Pháp sử dụng.
==== Về danh hiệu Hòn Ngọc Viễn Đông ====
Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Sài Gòn trở thành trung tâm quan trọng, cả về hành chính lẫn kinh tế, văn hóa, giáo dục của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, được Pháp mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" ("la perle de l'Extrême-Orient") hoặc một "Paris nhỏ ở Viễn Đông" ("le petit Paris de l'Extrême-Orient").
Tuy được Pháp gọi là "hòn ngọc Viễn Đông" nhưng thực ra thời ấy Sài Gòn rất nhỏ, chỉ cần đi xa 20 km là có thể săn thú rừng. Theo quy hoạch của Pháp, Sài Gòn khi đó chỉ rộng khoảng 3 km2; gần bằng một nửa Quận 1 hiện nay (rộng khoảng 8 km2), bao bọc bởi sông Sài Gòn - Nguyễn Thái Học - Nguyễn Thị Minh Khai - rạch Bến Nghé. Chính quyền thuộc địa Pháp tập trung tất cả những gì sang trọng, giàu có nhất mà họ có được ở diện tích 3km2 này, phần còn lại của Sài Gòn thì vẫn còn rất hoang sơ, đầm lầy ngổn ngang. Theo Sơn Nam trong “Bến Nghé xưa” thì khi Chợ Bến Thành hoàn thành năm 1914, “trước mặt còn là ao vũng sình lầy. Giữa Sài Gòn và Chợ Lớn phía đất thấp (…), còn ruộng lúa với người cày, ao nuôi vịt, ngọn rạch cạn. Giữa Sài Gòn và ở phần đất cao còn nhiều chòm tre, cây da, mồ mả to xen vào những đám rẫy trồng rau cải và bông hoa, những xóm nhà ổ chuột; bầy bò dê đi lang thang ăn cỏ”. Khu Hòa Hưng (Quận 10 hiện nay) cho đến ngã tư Bảy Hiền hiện nay có vô số nghĩa trang, mồ mả. Khu Nguyễn Thiện Thuật, Lý Thái Tổ, Nguyễn Đình Chiểu (Quận 3 hiện nay) toàn nhà lá nền đất xây dựng tạm bợ không theo quy hoạch nào. Khu quận 4, quận 7, khu Cầu Ông Lãnh, Cầu Kho… sát cạnh chợ Bến Thành đa số là nhà tranh vách lá tạm bợ
Người Pháp từ lúc đánh chiếm Gia Định năm 1859 cho đến khi rời Sài Gòn 1954 chỉ tập trung “trau chuốt” khu vực 3 km2 đầu tiên này (Quận 1 hiện nay) dù nhiều lần điều chỉnh địa giới mở rộng. Đến năm 1954, những phần Sài Gòn mở rộng này (rộng khoảng 50 km2) vẫn hoang sơ, thậm chí đầm lầy ngổn ngang.
=== Đô Thành Sài Gòn ===
Từ năm 1949, Sài Gòn đã là thủ đô của Quốc gia Việt Nam. Đến năm 1955, Việt Nam Cộng hòa được thành lập, Sài Gòn khi đó là thành phố lớn nhất tại miền Nam Việt Nam đã được chọn làm thủ đô với tên gọi chính thức "Đô thành Sài Gòn" (lưu ý, cách viết thông dụng là "Saigon"). Chiến tranh Đông Dương tác động khiến việc di dân từ nông thôn lên thành thị tăng nhanh, năm 1949 thì dân số khu vực đã tăng lên 1.200.000, và sang năm 1954 với hàng trăm nghìn người di cư mới (phần đông là người Công giáo, còn gọi là dân Bắc Kỳ Công giáo) từ phía bắc vĩ tuyến 17 thì dân số Sài Gòn leo cao, đạt 2.000.000. Dân di cư tập trung tại các khu vực như Xóm Mới - Gò Vấp, Bình An - Quận 8, và rải rác tại các quận khác. Với nghị định số 110-NV ngày 27 tháng 3 năm 1959 của Tổng thống Ngô Đình Diệm, từ 6 quận, Sài Gòn được chia lại thành 8 quận với tổng cộng 41 phường.
Vào nửa cuối thập niên 1950, nhờ viện trợ của Chính phủ Hoa Kỳ, Sài Gòn trở thành một trung tâm về chính trị, kinh tế, văn hóa, giải trí tại miền Nam Việt Nam, là thành phố lớn nhất của kinh tế Việt Nam Cộng hòa Từ giữa thập niên 1960 đến những năm đầu thập niên 1970, việc Quân đội Hoa Kỳ vào tham chiến tại miền Nam Việt Nam cũng gây nên những xáo trộn đối với thành phố. Nhiều cao ốc, công trình quân sự mọc lên. Lối sống của giới trẻ Sài Gòn cũng chịu ảnh hưởng bởi văn hóa phương Tây được du nhập từ binh lính và sách báo Mỹ.
Trung tâm thành phố có một số công trình, khu phố được xây dựng to đẹp và sang trọng, tuy nhiên, các công trình này chủ yếu do Pháp xây dựng từ thập niên 1940, các khu nhà mới rất ít được xây dựng kể từ sau năm 1950, trong khi đó dân cư nông thôn đổ về thành thị tìm việc và tránh chiến sự khiến Sài Gòn dần trở thành một khu ổ chuột khổng lồ. Khảo sát cho thấy khoảng 40% dân số khu vực Sài Gòn khi đó (tức khoảng 1,2 triệu người) phải sống tại khu ổ chuột với những điều kiện về y tế, vệ sinh rất kém
Tới những năm cuối của cuộc Chiến tranh Việt Nam, nền kinh tế miền Nam (trong đó có Sài Gòn) lâm vào khủng hoảng do Mỹ giảm viện trợ kinh tế. Nạn lạm phát trở nên nghiêm trọng, đạt tới mức trên 200% mỗi năm. Hệ lụy và hậu quả trực tiếp của cuộc khủng hoảng kinh tế gây ảnh hưởng xấu tới Sài Gòn. Với việc Mỹ giảm viện trợ trong khi nền sản xuất nội tại thì yếu kém, nền kinh tế tiêu dùng dựa vào viện trợ của Việt Nam Cộng hòa đã không thể phát triển ổn định, bền vững
Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, nhiều thường dân ở thành phố hoặc binh lính, sĩ quan, viên chức Việt Nam Cộng hòa và những người cộng tác với Mỹ đã ra nước ngoài định cư. Cũng trong thời gian này, ước tính 700.000 người khác được vận động đi kinh tế mới; nền văn hóa có ảnh hưởng phương Tây bị lu mờ rồi tàn lụi.
20 năm chiến tranh đã để lại cho Sài Gòn nhiều di sản nặng nề về xã hội. Theo một thống kê, dân số Sài Gòn năm 1975 có khoảng 4 triệu, thì trong số đó đã có tới 150.000 người nghiện heroin, 500.000 gái mại dâm và gái quán bar, và khoảng 800.000 trẻ mồ côi lang thang trên các đường phố
=== Thành phố Hồ Chí Minh ===
Từ 30 tháng 4, 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bị xóa bỏ và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam quản lý miền Nam. Đô Thành Sài Gòn, tỉnh Gia Định và 2 quận Củ Chi và Phú Hòa kế cận dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa được hợp nhất thành 1 đơn vị hành chính gọi là thành phố Sài Gòn - Gia Định. Đầu năm 1976, Đảng bộ và Ủy ban Nhân dân thành phố bắt đầu hoạt động. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành "Thành phố Hồ Chí Minh", theo tên của chủ tịch nước đầu tiên, Hồ Chí Minh.
Sau năm 1975, vấn đề người Hoa tại Sài Gòn trở nên phần trầm trọng. Người Hoa treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong vùng Chợ Lớn, đồng thời từ chối đăng ký quốc tịch Việt Nam Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng ở miền Nam, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện...và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường.
Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc lúc này đang xấu đi nhanh chóng, người Hoa ở Chợ Lớn thì tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo lắng về nguy cơ đất nước bị rối loạn từ bên trong bởi việc Hoa kiều tiếp tay cho Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam e ngại rằng Trung Quốc sẽ sử dụng sức mạnh kinh tế của Hoa kiều để ép Việt Nam phải tuân theo các chính sách của họ, sự giàu có của tư bản Hoa kiều đã trở thành mối đe dọa lớn với chính quyền Việt Nam.. Vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản. Chính sách của Việt Nam năm 1976 (tịch thu tài sản của tư bản người Hoa) được tiến hành trong bối cảnh này Các chiến dịch Cải tạo tư sản miền Nam nhằm xoá bỏ giai cấp tư sản và thực hiện công hữu hoá theo nguyên lý của chủ nghĩa xã hội được tiến hành. Nhà nước đã quốc hữu hoá các cơ sản sản xuất, xí nghiệp công quản của tầng lớp tư sản lớn bỏ lại. Các doanh nghiệp vừa như nhà in, xưởng thủ công, cửa hàng, cửa hiệu quy mô nhỏ bị buộc kê khai tài sản, vốn liếng trưng thu, trưng mua, tịch thu chuyển thành hợp tác xã. Nhiều chủ doanh nghiệp bị buộc tịch biên không được làm kinh doanh phải chuyển qua sản xuất nông nghiệp hoặc đi kinh tế mới.
Năm 1978, nhà nước hoàn thành căn bản cải tạo tư sản công nghiệp loại vừa và nhỏ ở miền Nam, xoá bỏ việc người Hoa kiểm soát nhiều ngành công nghiệp. Đến tháng 5 năm 1979, tất cả các xí nghiệp công quản lúc đầu ở miền Nam đều đã được chuyển thành xí nghiệp quốc doanh. Khó khăn về kinh tế, sự lo sợ về chiến tranh biên giới Tây Nam khiến cho nhiều người rời thành phố vượt biên bằng đường biển; trong đó, khoảng 3/4 người rời Thành phố Hồ Chí Minh là người Hoa.
Chính sách quản lý kinh tế quan liêu và cơ chế bao cấp của Nhà nước lên nền kinh tế (cải cách giá-lương-tiền) khiến cho kinh tế lâm vào trì trệ, lạm phát phi mã mà đỉnh điểm của nó là vào năm 1985. Khi công cuộc Đổi mới toàn diện 1986 bắt đầu, Thành phố Hồ Chí Minh đứng ở vị trí tiên phong và trở thành đầu tàu thu hút vốn, công nghệ và đầu tư nước ngoài. Sau khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987, trong vòng 3 năm 1988 đến 1990, Thành phố đã cấp 88 giấy phép với tổng số vốn đầu tư là 976 triệu USD. Cơ cấu ngành công nghiệp bắt đầu chuyển dịch từ sản xuất công nghiệp nặng sang các ngành công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng định hướng xuất khẩu. Với sự phát triển mạnh mẽ về hạ tầng và cởi trói về cơ chế thương mại, mậu dịch, Thành phố ngày càng khẳng định là đầu tàu kinh tế của Việt Nam và đạt nhiều chỉ số và thành tựu phát triển kinh tế khá ấn tượng. Nếu như năm 2000, Thành phố đóng góp khoảng 19% GDP cả nước thì đến năm 2014, chiếm tới 30% GDP của cả nước. Đến cuối năm 2015, GDP bình quân đầu người của Thành phố ước đạt 5.538 USD/người.
Đến cuối những năm 2000, thành phố bước vào công cuộc đổi mới cơ bản về hạ tầng giao thông vận tải, tiến hành xây dựng và khai trương nhiều công trình trọng điểm như Đại lộ Nguyễn Văn Linh, Đại lộ Đông Tây, cầu Phú Mỹ. Nhiều cảng biển quốc tế được khánh thành và nhiều đường cao tốc được xây dựng nối Thành phố với các tỉnh thành lân cận tạo thuận lợi cho thông thương hàng hóa và phát triển giao thương ngày càng lớn cho thành phố.
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có diện tích rộng 2.095 km², lớn hơn gấp 30 lần so với đô thị Sài Gòn trước năm 1975 (67,5 km²). Trong đó, tính riêng diện tích khu đô thị là 820 km² (năm 2010), lớn gấp 33 lần so với trước năm 1975 (rộng 25 km²). Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm toàn bộ đô thành Sài Gòn cũ, cộng thêm toàn bộ tỉnh Gia Định, quận Phú Hòa của tỉnh Bình Dương và quận Củ Chi của tỉnh Hậu Nghĩa cũ.
Về dân số, tháng 4/2014, toàn thành phố Hồ Chí Minh có 7,95 triệu dân, trong đó khoảng 6,7 triệu dân sống ở khu đô thi, tăng 3,3 lần so với mức 2 triệu dân của đô thị Sài Gòn ở thời điểm tháng 5/1975. Lượng người nhập cư đổ vào thành phố ngày càng tăng tạo nên sức ép rất lớn lên cơ sở hạ tầng giao thông đường sá, dịch vụ công cộng và môi trường thành phố. Có ý kiến cho là sau 1975, Sài Gòn từ một cô tiên bỗng hóa “lọ lem” và rồi giờ đây trở lại lộng lẫy.
Với tổng diện tích 2.096 km² và hơn 8 triệu dân (số liệu 2014), Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn thứ 2 Việt Nam về diện tích (sau Hà Nội) và lớn nhất về dân số. 11 quận nội thành của Sài Gòn trước đây được chia lại thành 8 quận. Bốn quận Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Tân Bình được thành lập. Khu vực ngoại thành gồm 5 huyện: Thủ Đức, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè. Năm 1978, thành phố nhận thêm huyện Duyên Hải của tỉnh Đồng Nai. Năm 1979, các đơn vị hành chính cơ sở được phân chia lại, toàn thành phố có 261 phường, 86 xã. Sau đợt điều chỉnh tiếp theo vào năm 1989, thành phố còn 182 phường và 100 xã, thị trấn. Đến năm 1997, phân chia hành chính của thành phố lại thay đổi, gồm 17 quận, 5 huyện với 303 phường xã, thị trấn. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành với 322 phường, xã và thị trấn.
== Địa lý ==
=== Vị trí, địa hình ===
Thành phố Hồ Chí Minh có toạ độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế.
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Vùng cao nằm ở phía bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét.
Thành phố Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực:
Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi.
Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi.
Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ.
Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ.
=== Địa chất, thủy văn ===
Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám. Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley. Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi... hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha. Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.
Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng. Sông Ðồng Nai Bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km². Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng. Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi...Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.
Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú. Nhưng về phía nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng trầm tích Miocen). Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng.
=== Khí hậu, thời tiết ===
Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, cũng như một số tỉnh Nam bộ khác Thành phố Hồ Chí Minh không có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông, nhiệt độ cao đều và mưa quanh năm (mùa khô ít mưa). Trong năm Thành phố Hồ Chí Minh có 2 mùa là biến thể của mùa hè: mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11 (khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao mưa nhiều), còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau (khí hậu khô, nhiệt độ cao và mưa ít). Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958. Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc. Các quận nội thành và các huyện phía bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại.
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa. Gió Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô. Ngoài ra còn có gió mậu dịch theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s. Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão. Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa (80%), và xuống thấp vào mùa khô (74,5%). Bình quân độ ẩm không khí đạt 79,5%/năm.
Với những biến đổi khí hậu Sài Gòn thuộc danh sách 10 thành phố trên thế giới bị đe dọa vì nguy cơ mực nước biển dâng cao. Theo dự tính của Liên hiệp quốc thì đến năm 2050 nước biển sẽ dâng 26 cm và 70% khu đô thị Sài Gòn sẽ bị ngập lụt. Ngân hàng Phát triển Á châu ước lượng hậu quả là thiệt hại kinh tế lên đến hàng tỷ USD.
=== Môi trường ===
Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức một số người dân lại quá kém trong nhận thức và bảo vệ môi trường chung... Vì vậy, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường rất lớn. Hiện trạng nước thải không được xử lý đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi còn rất phổ biến. Nhiều cơ sở sản xuất, bệnh viện và cơ sở y tế chưa có hệ thống xử lý nước thải là một thực trạng đáng báo động. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi chất thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m³/ngày. Sông Sài Gòn, mức độ ô nhiễm vi sinh chủ yếu do hoạt động nuôi trồng thuỷ sản gây ra vượt tiêu chuẩn cho phép đến 220 lần. Cho tới 2008, vẫn chưa có giải pháp cụ thể nào để chấm dứt tình trạng ô nhiễm này.
Lượng rác thải ở Thành phố Hồ Chí Minh lên tới 6.000 tấn/ngày, trong đó một phần lượng rác thải rắn không được thu gom hết. Kết quả quan trắc năm 2007 cho thấy, so với năm 2006, sự ô nhiễm hữu cơ tăng 2 đến 4 lần. Các phương tiện giao thông, hoạt động xây dựng, sản xuất... còn góp phần gây ô nhiễm không khí. Khu vực ngoại thành, đất cũng bị ô nhiễm do tồn đọng thuốc bảo vệ thực vật từ sản xuất nông nghiệp gây nên.
Tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang ở mức báo động cao, xảy ra cả trong mùa khô. Diện tích khu vực ngập lụt khoảng 140 km2 với 85% điểm ngập nước nằm ở khu vực trung tâm thành phố. Thiệt hại do ngập nước gây ra ước tính 8 tỷ đồng mỗi năm. Nguyên nhân là do hệ thống cống thoát nước được xây cách đây 50 năm đã xuống cấp. Ngoài ra, việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phía nam – khu vực thoát nước của thành phố này đã làm cho tình hình ngập càng nghiêm trọng hơn. Việc thoát nước ở Sài Gòn vốn dựa vào hệ thống sông và kênh, rạch tự nhiên nhưng khoảng 30% diện tích kênh rạch đã bị chính quyền thành phố ra lệnh lấp. Theo một nghiên cứu của Viện Khoa Học Thủy Lợi miền Nam thì chỉ trong 12 năm từ 1996 đến 2008, tại Sài Gòn đã có hơn 100 kênh, rạch với tổng diện tích khoảng 4000 hecta bị lấp và bị lấn chiếm.
Trước những bức xúc về thực trạng môi trường, Thành phố Hồ Chí Minh đang khẩn trương tìm mọi cách nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn. Việc trích ra một nguồn vốn lớn nhiều tỷ đồng đầu tư xây dựng hồ sinh học cải tạo nước kênh Ba Bò là một ví dụ.
Mật độ cây xanh của thành phố chỉ khoảng 1–2 m²/người, thuộc hàng rất thấp so với các thành phố trên thế giới (Stockholm trên 70 m²/người). Việc thiếu cây xanh đã gây ảnh hưởng đến chất lượng không khí của thành phố.
== Tổ chức hành chính và chính quyền ==
=== Tổ chức hành chính ===
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam. Về mặt hành chính, thành phố được chia thành 19 quận và 5 huyện. Trong đó có 322 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 259 phường, 58 xã và 5 thị trấn.
=== Chính quyền ===
Chính quyền thành phố bao gồm hai cơ quan chính là Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân.
Hội đồng Nhân dân thành phố, với các đại biểu được bầu cử trực tiếp nhiệm kỳ 5 năm, có quyền quyết định các kế hoạch phát triển dài hạn về kinh tế, văn hóa, giáo dục... của thành phố. Đứng đầu Hội đồng Nhân dân gồm một Chủ tịch, một Phó chủ tịch và một Uỷ viên thường trực. Hội đồng Nhân dân chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Hội đồng Nhân dân thành phố bầu nên Ủy ban Nhân dân, cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý về mọi hoạt động chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa trên địa bàn thành phố. Đứng đầu Ủy ban Nhân dân gồm một Chủ tịch và các Phó chủ tịch. Các sở, ngành của Ủy ban Nhân dân sẽ quản lý về các lĩnh vực cụ thể, như y tế, giáo dục, đầu tư, tư pháp, tài chính. Tương tự, cấp quận, huyện cũng có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân chịu sự chỉ đạo chung của cấp thành phố. Ngoài ra, Ủy ban Nhân dân còn quản lý một số tổng công ty trên địa bàn thành phố.
Bên cạnh Chủ tịch Hội đồng Nhân dân và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tại thành phố còn bầu ra Bí thư Thành ủy. Quyền hạn và trách nhiệm của Bí thư Thành ủy được quy định theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Do tầm quan trọng của thành phố, Bí thư Thành ủy của thành phố thường cũng là thành viên của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vào năm 1995, hệ thống quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 976 địa chỉ, trong đó 47 thuộc trung ương, 73 thuộc thành phố, 549 thuộc các quận, huyện và 307 thuộc cấp phường xã. Các tổ chức đoàn thể, chính trị bao gồm cấp trung ương và thành phố có 291 địa chỉ, các đơn vị sự nghiệp có 2.719 địa chỉ.
== Kinh tế ==
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,5% tổng sản phẩm GDP, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 37,9% dự án nước ngoài. Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 2.966.400 lao động có độ tuổi từ 15 trở lên, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc. Năm 2008, lực tượng lao động có độ tuổi từ 15 trở lên trên địa bàn thành phố gồm có 3.856.500 người, năm 2009 là 3.868.500 người, năm 2010 đạt 3.909.100 người, nhưng đến 2011 còn số này đạt 4.000.900 người. Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2012, GDP đạt 404.720 tỷ đồng, tăng khoảng 8,7%. Năm 2012, GDP đạt khoảng 9,2%, trong đó khu vực dịch vụ đạt khoảng 10,8%, công nghiệp và xây dựng đạt khoảng 9,2%, nông lâm và thủy sản đạt 5%. GDP bình quân đầu người đạt 3.700 USD. Thu ngân sách năm 2012 ước đạt 215.975 tỷ đồng, nếu không tính ghi thu chi là 207.000 tỷ đồng, đạt 92,42% dự toán, bằng 105,40% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 109.500 tỷ đồng, bằng 88,81% dự toán, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 70.000 tỷ đồng, bằng 88,72% dự toán…
Bên cạnh đó Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã trình Hội đồng nhân dân Thành phố 29 chỉ tiêu về kinh tế và xã hội trong năm 2013, đặt mục tiêu thu nhập bình quân đầu người năm 2013. Trong đó có một số chỉ tiêu kinh tế gồm có GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.000 USD/người/năm, tổng sản phẩm trong nước (GDP) dự kiến tăng 9,5-10%, tốc độ kim ngạch xuất khẩu là 13%, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội dự kiến khoảng 248.500-255.000 tỷ đồng, bằng 36-37% GDP, chỉ số giá tiêu dùng thấp hơn tốc độ tăng của cả nước.
Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính... Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1%. Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%.
Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND. Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007. Riêng trong năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, thành phố Hồ Chí Minh xếp ở vị trí thứ 20/63 tỉnh thành.
Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ đa dạng. Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng. Những thập niên gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza... Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội. Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là VN-Index, được thành lập vào tháng 7 năm 1998. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ đồng.
Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại. Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy... có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp... cũng gây khó khăn cho nền kinh tế. Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn.
== Xã hội ==
=== Dân cư ===
Dân số năm 1929 là 123.890 người trong số đó có 12.100 người Pháp. Gần 40 năm sau, năm 1967 thành phố đã tăng gấp 10 lần với dân số là 1.485.295.
Kể từ sau 1975, dân số Sài Gòn gia tăng nhanh, nhất là dân nhập cư không kiểm soát được, nên nhà cửa xây cất bừa bãi. Theo thống kê chính thức, dân số Sài Gòn năm 1975 là 3.498.120 người. Tính đến năm 2012, dân số toàn thành phố Hồ Chí Minh đạt gần 7.750.900 người, với diện tích 2095,6 km2, mật độ dân số đạt 3699 người/km². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 6.433.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.317.700 người. Dân số nam đạt 3.585.000 người, trong khi đó nữ đạt 3.936.100 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 7,4 ‰ Trong các thập niên gần đây, Thành phố Hồ Chí Minh luôn có tỷ số giới tính thấp nhất Việt Nam, luồng nhập cư từ các tỉnh khác vào Thành phố Hồ Chí Minh luôn có số nữ nhiều hơn số nam.. Năm 2015, Thành phố có 8.224.000 triệu người
Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều. Trong khi một số quận như 4, 5,10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành Cần Giờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km². Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5%. Những năm gần đây dân số các quận trung tâm có xu hướng giảm, trong khi dân số các quận mới lập vùng ven tăng nhanh, do đón nhận dân từ trung tâm chuyển ra và người nhập cư từ các tỉnh đến sinh sống. Theo ước tính năm 2005, trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu khách vãng lai tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2010, con số này còn có thể tăng lên tới 2 triệu.
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn thành phố có 13 Tôn giáo khác nhau đạt 1.983.048 người, nhiều nhất là Phật giáo có 1.164.930 người, tiếp theo là Công giáo đạt 745.283 người, đạo Cao Đài chiếm 31.633 người, Đạo Tin lành có 27.016 người, Hồi giáo chiếm 6.580 người, Phật giáo Hòa Hảo đạt 4.894 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1.387 người. Còn lại các tôn giáo khác như Ấn giáo có 395 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 298 người, Minh Sư Đạo có 283 người, đạo Bahá'í có 192 người, Bửu Sơn Kỳ Hương 89 người và 67 người theo Minh Lý Đạo.
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn Thành phố Hồ Chí Minh có đủ 54 thành phần dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó, nhiều nhất là người Kinh có 6.699.124 người, các dân tộc khác như người Hoa có 414.045 người, người Khmer có 24.268 người, người Chăm 7.819 người, người Tày có 4.514 người, người Mường 3.462 người, ít nhất là người La Hủ chỉ có 1 người.
=== Y tế ===
Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số đông, mật độ cao trong nội thành, cộng thêm một lượng lớn dân vãng lai, đã phát sinh nhu cầu lớn về y tế và chăm sóc sức khỏe. Các tệ nạn xã hội, như mại dâm, ma túy, tình trạng ô nhiễm môi trường... gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe dân cư thành phố. Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở các nước đang phát triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương hàn... hay các bệnh của những quốc gia công nghiệp phát triển, như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp... đều xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi thọ trung bình của nam giới ở thành phố là 73,19, con số ở nữ giới là 77,00.
Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 21.780 nhân viên y tế, trong đó có 3.399 bác sĩ. Tỷ lệ bác sĩ đạt 5.45 trên 10 nghìn dân, giảm so với con số 7.31 của năm 2002. Toàn thành phố có 19.442 giường bệnh, 56 bệnh viện, 317 trạm y tế và 5 nhà hộ sinh. Thế nhưng mạng lưới bệnh viện chưa được phân bổ hợp lý, tập trung chủ yếu trong nội ô. Theo con số năm 1994, chỉ riêng Quận 5 có tới 13 bệnh viện với 5.290 giường, chiếm 37% số giường bệnh toàn thành phố. Bù lại, hệ thống y tế cộng đồng tương đối hoàn chỉnh, tất cả các xã, phường đều có trạm y tế. Bên cạnh hệ thống nhà nước, thành phố cũng có 2.303 cơ sở y tế tư nhân và 1.472 cơ sở dược tư nhân, góp phần giảm áp lực cho các bệnh viện lớn. Cũng tương tự hệ thống y tế nhà nước, các cơ sở này tập trung chủ yếu trong nội ô và việc đảm bảo các nguyên tắc chuyên môn chưa được chặt chẽ.
Sở Y tế thành phố hiện nay quản lý 8 bệnh viện đa khoa và 20 bệnh viện chuyên khoa. Nhiều bệnh viện của thành phố đã liên doanh với nước ngoài để tăng chất lượng phục vụ.
=== Giáo dục ===
Về mặt hành chính, Sở Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh chỉ quản lý các cơ sở giáo dục từ bậc mầm non tới phổ thông. Các trường đại học, cao đẳng phần lớn thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Trong năm học 2008–2009, toàn thành phố có 638 cơ sở giáo dục mầm non, 467 trường cấp I, 239 trường cấp II, 81 trường cấp III và 55 trường cấp II, III. Ngoài ra, theo con số từ 1994, Thành phố Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ, 139 trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt. Tổng cộng 1.308 cơ sở giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân lập, tư thục.
Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố. Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Các trường ngoại ngữ ở Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ giảng dạy những ngôn ngữ phổ biến mà còn một trường dạy quốc tế ngữ, một trường dạy Hán Nôm, bốn trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán, công ty giáo dục đầu tư.
Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường đại học công lập (Trường Đại học Sài Gòn và Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý. Là thành phố lớn nhất Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà Nội. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với 6 trường đại học thành viên thuộc Chính phủ. Nhiều đại học lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược, Đại học Ngân hàng, Đại học Luật, Đại học Kinh tế, Đại học Sư phạm, Đại học Mở, Đại học Tài chính - Marketing đều là các đại học quan trọng của Việt Nam. Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia.
Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng trong thời gian gần đây nhưng giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Trình độ dân trí chưa cao và chênh lệch giữa các thành phần dân cư, đặc biệt là ngoại ô so với nội ô. Tỷ lệ trẻ em người Hoa không biết chữ vẫn còn nhiều, gấp 13 lần trẻ em người Kinh. Giáo dục đào tạo vẫn chưa tương xứng với nhu cầu của xã hội. Hệ thống cơ sở vật chất ngành giáo dục thành phố còn kém. Nhiều trường học sinh phải học ba ca. Thu nhập của giáo viên chưa cao, đặc biệt ở các huyện ngoại thành.
== Giao thông vận tải ==
Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Khác với Hà Nội, vận tải thủy ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ lệ quan trọng. Tính riêng vận tải hàng hóa, đường biển chiếm khoảng 29% và đường sông khoảng chiếm 20% tổng khối lượng thông qua đầu mối thành phố. Đường bộ chỉ chiếm 44% vận tại hàng hóa nhưng chiếm tới 85,6% vận tải hành khách. Về giao thông đường không, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là phi trường lớn nhất Việt Nam về cả diện tích và công suất nhà ga. Năm 2006, vận tải thành phố đã vận chuyển tổng cộng 73.743 tấn hàng hóa, 239 triệu lượt người và bốc xếp 44.341 tấn hàng. Đến tháng 9 năm 2011 toàn thành phố có 480.473 xe ôtô và 4.883.753 xe môtô.
=== Đường bộ ===
Những năm gần đây hạ tầng đường bộ của thành phố đã có nhiều đổi thay ngoạn mục. Hiện nay, Thành phố được kết nối với các vùng qua hai đường cao tốc chính–Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây và Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương. Ngoài ra, các tuyến Quốc lộ và Xa lộ cửa ngõ cũng đã được đầu tư mở rộng đáng kể, như tuyến Đại lộ Nguyễn Văn Linh (Nam Sài Gòn), Xa lộ Hà Nội (đi Biên Hoà) và Đại lộ Đông - Tây cùng Hầm Thủ Thiêm vượt sông Sài Gòn. Thành phố cũng đầu tư nhiều cầu lớn để tăng cường giảm tải lưu lượng xe cộ ra ngoại thành, tiêu biểu là Cầu Phú Mỹ, Cầu Sài Gòn 2 và Cầu Thủ Thiêm.
Giao thông trong nội ô, do tốc độ tăng dân số nhanh, quy hoạch yếu, hệ thống đường sá nhỏ... khiến thành phố luôn phải đối mặt với vấn đề ùn tắc. Thành phố có 239 cây cầu nhưng phần lớn chiều rộng nhỏ hơn chiều rộng của đường nên gây khó khăn cho các phương tiện giao thông. Không những thế, một phần các cây cầu có trọng tải thấp hay đang trong tình trạng xuống cấp. Tại các huyện ngoại thành, hệ thống đường vẫn phần nhiều là đường đất đá. Trong khi đó, hệ thống đường trải nhựa còn lại cũng trở nên quá tải, cần sửa chữa.
Thành phố có 2 bến xe khách liên tỉnh được phân bố ở các cửa ngõ ra vào: Miền Đông, Miền Tây cùng vài bến xe phụ trợ ở Quận 8, An Sương và Ngã Tư Ga. Mạng lưới khả năng tiếp nhận trên 1.200 xe/ngày, vận chuyển gần 41.000 khách/ngày đi các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều hãng xe tư nhân cũng tham gia vận chuyển hành khách vào các bến bãi không chính thức ở nhiều khu vực nội đô, gần khu dân cư và trung tâm du lịch. Cũng theo số liệu từ 1994, tổng lượng hành khách liên tỉnh qua thành phố khoảng 106,4 triệu lượt người/năm, nhiều nhất qua quốc lộ 1A.
=== Đường sắt ===
Giao thông đường sắt của thành phố gồm tuyến nội ô và khu vực phụ cận do Xí nghiệp Liên hiệp đường sắt 3 quản lý, tuyến Bắc - Nam và một vài đoạn đường chuyên dụng, hiện hầu như đã ngưng khai thác. Trong thành phố có hai nhà ga chính: Sóng Thần và Sài Gòn. Bên cạnh đó còn có một số nhà ga nhỏ như Dĩ An, Thủ Đức, Bình Triệu, Gò Vấp. Do mạng lưới đường sắt không được nối trực tiếp với các cảng, cơ sở đã cũ kỹ nên giao thông đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh không phát triển, chỉ chiếm khoảng 6% khối lượng hàng hóa và 0,6% khối lượng hành khách.
=== Đường thuỷ ===
Thành phố hiện có tuyến đường thuỷ chở hành khách liên tỉnh là tuyến tàu cánh ngầm nối Cảng Nhà Rồng với Cảng Cầu Đá, Thành phố Vũng Tàu. Ngoài ra còn có khoảng 50 bến đò, phà phục vụ giao thông hành khách, trong đó lớn nhất là Phà Cát Lái nối Quận 9 với huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có bốn cảng biển chính: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà Bè, Tân Cảng cùng các cảng sông Bình Đông, Tân Thuận, Tôn Thất Thuyết, Bình Lợi, Bình Phước... Cảng Sài Gòn là một trong những cảng lớn nhất Việt Nam, chiếm 25% trong tổng khối lượng hàng hóa thông qua các cảng biển cả nước. Cảng Bến Nghé nằm phía hạ lưu sông Sài Gòn, rộng 32 ha, tổng chiều dài cầu cảng 528 m, có thể cho tàu có tải trọng từ 15.000 - 20.000 tấn cập bến. Tuy năng lực của các cảng của Thành phố Hồ Chí Minh lớn nhưng việc chuyển tiếp giữa giao thông đường bộ, đường biển và đường sông gặp khó khăn. Tại hầu hết các cảng đường sông, do thiết bị thiếu, vẫn phải bốc dỡ thủ công.
=== Đường hàng không ===
Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất nằm trên địa bàn Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố chỉ 5 km. Đây là sân bay lớn nhất Việt Nam và là cửa ngõ hàng không quốc tế lớn của khu vực Đông Nam Á, với hơn 25 triệu lượt khách đi và đến. Hiện có 43 hãng hàng không quốc tế mở đường bay đến sân bay này. Trong tương lai, khi Sân bay quốc tế Long Thành được hoàn tất xây dựng và mở cửa, sân bay này sẽ gánh một lượng hành khách đáng kể từ Tân Sơn Nhất, giúp giảm tình trạng quá tải hiện tại.
=== Giao thông công cộng ===
Để giải quyết vấn đề giao thông đô thị, Thành phố Hồ Chí Minh đang đầu tư cho hệ thống giao thông công cộng. Hiện nay Thành phố có 3.250 xe buýt và 8.000 xe taxi, mỗi năm chỉ đáp ứng khoảng 6,2% nhu cầu đi lại. Trong đó, hệ thống xe buýt được phục hồi từ năm 2002 đóng vai trò chủ đạo của Thành phố. Mặc dù được đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trợ giá trên hầu hết các tuyến, mạng lưới này chưa đem lại hiệu quả cao, 65% tuyến trùng lặp. Cùng mạng lưới xe buýt, dự án tàu điện ngầm Thành phố Hồ Chí Minh cũng được đang tiến hành. Theo dự kiến, thành phố sẽ có bốn tuyến, tổng chiều dài 54 km, 6 đường rày và 22 nhà ga. Dự kiến đến năm 2018, tuyến metro đầu tiên sẽ đi vào hoạt động.
== Quy hoạch và kết cấu đô thị ==
Theo thiết kế đô thị ban đầu của người Pháp vào năm 1860, thành phố Sài Gòn sẽ là nơi sinh sống cho 500.000 dân. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tăng quy mô của thành phố lên đến 3 triệu dân. Tuy nhiên hiện nay thành phố này có dân số kể cả số lượng khách vãng lai là 10 triệu người, kết cấu đô thị đã quá tải. Sài Gòn từng là thành phố của cây xanh với không gian kiến trúc theo quy hoạch của Pháp trước đây. Sau này thành phố đã thay đổi với việc thu hẹp không gian xanh để xây dựng nhà cửa, không gian kiến trúc thành phố trở nên chật chội bởi nhiều công trình xây dựng hỗn độn thiếu tính thống nhất.
Công tác quy hoạch có nhiều bất cập và yếu kém. Đến thời điểm đầu năm 2008 mới chỉ có 23% khối lượng công tác quy hoạch 1/2000 được thực hiện. Quy hoạch cho hệ thống công trình ngầm vẫn chưa được thực hiện xong. Công tác xây quy hoạch và xây dựng đô thị mới vẫn mang nặng tư duy thời kỳ bao cấp. Trong 10 năm gần đây, khu vực đô thị mới để lại dấu ấn lớn trong quá trình phát triển thành phố này là khu đô thị Phú Mỹ Hưng do nước ngoài đầu tư xây dựng, không phải là những quận, huyện được chính quyền địa phương thành lập.
Quy hoạch Thành phố Hồ Chí Minh tính tới thời điểm 2010 có khoảng trên dưới 600 dự án quy hoạch tại 13 quận huyện.
Chiến lược quy hoạch của Thành phố hiện nay là tránh dồn ứ dân cư về nội thành, đồng thời phát triển một số khu đô thị mới góp phần làm giảm mật độ dân số vốn đã quá cao như hiện nay.
== Du lịch ==
Trong khoảng 4,3 triệu khách quốc tế đến Việt Nam vào năm 2007, 3 triệu khách đã tới thăm Thành phố Hồ Chí Minh, tức khoảng 70%. Năm 2007 cũng là năm thành phố có được bước tiến mạnh mẽ, lượng khách tăng khoảng 12% so với 2006, doanh thu ngành du lịch đạt 19.500 tỷ VND, tăng 20%. Là một thành phố trẻ chỉ với 300 năm lịch sử, nhưng Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng được không ít công trình kiến trúc và sở hữu một nền văn hóa đa dạng.
Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh có 641 khách sạn với 17.646 phòng. Phục vụ những khách cao cấp, thành phố có 11 khách sạn 5 sao, gồm: Caravelle, Sheraton, Moevenpick (Omni cũ), New World, Equatorial, Legend, Renaissance Riverside, Windsor Plaza, Sofitel Plaza, Park Hyatt, Majestic với tổng cộng 3.592 phòng. Hầu hết các khách sạn này đều do những tập đoàn quốc tế như Accor, Furama, Mariot hay Sheraton quản lý và tập trung nhiều nhất tại Quận 1. Bên cạnh đó thành phố còn 8 khách sạn 4 sao với 1.281 phòng, 20 khách sạn 3 sao với 1.621 phòng. Do sự phát triển của du lịch, số phòng cao cấp tại thành phố hiện đang thiếu trầm trọng. Mặc dù nhiều nhà đầu tư có ý định xây dựng tiếp các khách sạn sạng trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng họ lại gặp khó khăn trong việc tìm địa điểm. Theo dự kiến, đến năm 2020, thành phố sẽ có thêm 10 nghìn phòng 4 hoặc 5 sao.
Các địa điểm du lịch của thành phố tương đối đa dạng. Với hệ thống 11 viện bảo tàng, chủ yếu về đề tài lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu Việt Nam về số lượng bảo tàng. Bảo tàng lớn nhất và cổ nhất thành phố là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam với 30 nghìn hiện vật. Trong khi phần lớn khách thăm Bảo tàng Chứng tích chiến tranh là người nước ngoài thì bảo tàng thu hút nhiều khách nội địa nhất là Bảo tàng Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là một đô thị đa dạng về tôn giáo. Trên địa phận thành phố hiện nay có hơn một nghìn ngôi chùa, đình, miếu được xây dựng qua nhiều thời kỳ. Còn các nhà thờ xuất hiện chủ yếu trong thế kỷ 19 theo các phong cách Roman, Gothic. Nhà thờ lớn và nổi tiếng nhất của thành phố là nhà thờ Đức Bà, nằm ở Quận 1, hoàn thành năm 1880. Thời kỳ thuộc địa đã để lại cho thành phố nhiều công trình kiến trúc quan trọng, như Trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố, Nhà hát lớn, Bưu điện trung tâm, Bến Nhà Rồng... Dinh Độc Lập và Thư viện Khoa học Tổng hợp được xây dựng dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Kiến trúc hiện đại ghi dấu ấn ở thành phố bằng các cao ốc, khách sạn, trung tâm thương mại như Diamond Plaza, Saigon Trade Centre... Khu vực ngoài trung tâm, Địa đạo Củ Chi, Rừng ngập mặn Cần Giờ, Vườn cò Thủ Đức cũng là những địa điểm du lịch quan trọng.
Thành phố Hồ Chí Minh còn là một trung tâm mua sắm và giải trí. Bên cạnh các phòng trà ca nhạc, quán bar, vũ trường, sân khấu, thành phố có khá nhiều khu vui chơi như Công viên Đầm Sen, Suối Tiên, Thảo Cầm Viên. Các khu mua sắm, như Chợ Bến Thành, Diamond Plaza... hệ thống các nhà hàng, quán ăn cũng là một thế mạnh của du lịch thành phố.
== Văn hóa ==
=== Truyền thông ===
Là một trong hai trung tâm truyền thông của Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có 38 đơn vị báo chí thành phố và 113 văn phòng đại diện báo chí trung ương và các tỉnh, 3 nhà xuất bản của thành phố và 21 chi nhánh nhà xuất bản trung ương cùng mạng lưới thông tấn xã, các đài phát thanh, truyền hình địa phương và trung ương. Tổng cộng, trên địa bàn thành phố hiện nay có trên một nghìn người hoạt động trong lĩnh vực báo chí.
Trong lĩnh vực xuất bản, từ năm 1995 tới nay, ba nhà xuất bản của thành phố chiếm 1/7 số đầu sách xuất bản của cả Việt Nam. Ước tính khoảng 60 đến 70% số lượng sách của cả nước được phát hành tại Thành phố Hồ Chí Minh. Những năm gần đây, nhiều trung tâm sách, cửa hàng sách hiện đại xuất hiện. Sài Gòn cũng là nơi ra đời tờ Gia Định báo, tờ báo quốc ngữ đầu tiên. Sài Gòn giải phóng, Thanh Niên, Tuổi Trẻ nằm trong số những tờ báo lớn nhất Việt Nam hiện nay. Ngoài ra còn có thể kể đến những báo và tạp chí lớn khác như Công an thành phố, Người lao động, Thời báo kinh tế Sài Gòn, Thời trang, Thế giới mới, Kiến thức ngày nay... Ngoài báo chí tiếng Việt, Thành phố Hồ Chí Minh còn có Saigon Times daily, Thanhniennews bằng tiếng Anh, một ấn bản Sài Gòn giải phóng bằng tiếng Hoa.
Truyền hình đã xuất hiện tại Sài Gòn từ trước năm 1975, khi miền Bắc còn đang trong giai đoạn thử nghiệm. Ngay sau ngày chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, Đài truyền hình Giải phóng đã bắt đầu phát sóng. Đến nay, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh – HTV trở thành đài truyền hình địa phương quan trọng bậc nhất Việt Nam. Ngoài sáu kênh phát trên sóng analogue, HTV còn một số kênh truyền hình kỹ thuật số và truyền hình cáp. Đối tượng chính của HTV là dân cư thành phố và một số tỉnh lân cận.
=== Thể dục, thể thao ===
Theo số liệu thống kê vào năm 1994, toàn Thành phố Hồ Chí Minh có 492,7 hecta dành cho hoạt động thể thao, tức trung bình 1,02 m²/người, trong đó nội thành là 0,26 m²/người. Với sự gia tăng dân số, con số thực tế hiện nay thấp hơn. Vào năm 2005, toàn thành phố có 91 sân bóng đá, 86 bể bơi, 256 phòng tập thể thao. Sân vận động lớn nhất thành phố hiện nay là sân Thống Nhất, với 25 nghìn chỗ ngồi. Sân vận động lớn thứ hai là sân Quân khu 7, nằm ở quận Tân Bình. Không chỉ dành cho thi đấu thể thao, đây còn là địa điểm tổ chức nhiều chương trình ca nhạc quy mô lớn. Một địa điểm thể thao quan trọng khác của thành phố là Trường đua Phú Thọ. Xuất hiện từ thời thuộc địa, Trường đua Phú Thọ hiện nay là trường đua ngựa duy nhất của Việt Nam. Sở Thể dục - Thể thao thành phố cũng quản lý một số câu lạc bộ như Phan Đình Phùng, Thanh Đa, Yết Kiêu.
Thành phố Hồ Chí Minh cũng có những câu lạc bộ thể thao giàu thành tích. Môn bóng đá, Câu lạc Thép Miền Nam - Cảng Sài Gòn, có sân nhà là sân Thống Nhất, từng 4 lần vô định V League. Đội Công an Thành phố cũng từng một lần vô địch vào năm 1995. Các bộ môn thể thao khác có thể kể đến Câu lạc bộ Bưu điện Thành phố Hồ Chí Minh môn bóng chuyền, các câu lạc bộ bóng rổ, cờ, điền kinh, bóng bàn... của thành phố.
=== Trung tâm văn hóa, giải trí ===
Những lý do lịch sử và địa lý đã khiến Sài Gòn luôn là một thành phố đa dạng về văn hóa. Ngay từ giai đoạn thành lập, dân cư của Sài Gòn đã thuộc nhiều dân tộc khác nhau: Kinh, Hoa, Chăm... Thời kỳ thuộc địa rồi chiến tranh Việt Nam, Sài Gòn hấp thụ thêm nền văn hóa Âu Mỹ. Cho tới những thập niên gần đây, những hoạt động kinh tế, du lịch tiếp tục giúp thành phố có một nền văn hóa đa dạng hơn.
Với vai trò một trung tâm văn hóa của Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có 22 đơn vị nghệ thuật, 9 rạp hát, 11 bảo tàng, 22 rạp chiếu phim, 25 thư viện. Hoạt động của ngành giải trí ở Thành phố Hồ Chí Minh nhộn nhịp hơn bất cứ thành phố nào ở Việt Nam. Hầu hết các hãng phim tư nhân lớn của Việt Nam hiện nay, như Phước Sang, Thiên Ngân, HKFilm, Việt Phim... đều có trụ sở chính ở Thành phố Hồ Chí Minh. Doanh thu các rạp của thành phố chiếm khoảng 60-70% doanh thu chiếu phim của cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh cũng sở hữu những sân khấu đa dạng. Nhà hát kịch Sân khấu nhỏ tại Quận 3 với những vở kịch thử nghiệm, những vở thư giãn ở Sân khấu Hài 135 Quận 1, Sân khấu kịch IDECAF với những vở lấy từ tuồng tích cổ hoặc tái hiện các danh tác trên thế giới. Lĩnh vực ca nhạc, Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường sôi động nhất, điểm đến của phần lớn các ca sĩ nổi tiếng. Ngoài những sân khấu lớn như Nhà hát Thành phố, Nhà hát Bến Thành, Nhà hát Hòa Bình, Sân khấu Trống Đồng... hoạt động âm nhạc hoạt động âm nhạc ở thành phố ở những phòng trà, quán cà phê đa dạng: Tiếng Tơ Đồng, M&T, Catinat, ATB, Bodega, Carmen...
== Thành phố kết nghĩa ==
Đến thời điểm năm 2008, Thành phố Hồ Chí Minh kết nghĩa với các thành phố sau:
== Xem thêm ==
Danh sách vùng đô thị châu Á
== Ghi chú ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chính thức của Thành phố Hồ Chí Minh |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.