filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
hội chứng ruột kích thích.txt
Hội chứng ruột kích thích là một nhóm các triệu chứng-bao gồm đau bụng và các thay đổi về mô típ nhu động ruột mà không có bằng chứng là do bất kì thương tổn nào gây ra. Các triệu chứng này xảy ra trong thời gian dài, thời là nhiều năm. Hội chứng được phân loại vào bốn nhóm chính là IBS-D (hay tiêu chảy), IBS-C (hay táo bón), IBS-M (vừa hay tiêu chảy vừa hay táo bón), và IBS-U (không hay tiêu chảy cũng như táo bón). Hội chứng ruột kích thích ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống và có thể dẫn đến lỡ nhỡ việc đi học hay đi làm. Các rối loạn như lo âu, trầm cảm nặng, và hội chứng mệt mỏi mạn, là thường gặp trong số những người biểu hiện hội chứng ruột kích thích. Các nguyên nhân của hội chứng ruột kích thích chưa rõ ràng. Các giả thuyết bao gồm các vấn đề về trục ruột-não, các vấn đề về sự phát triển quá mức vi khuẩn ruột non, các yếu tố di truyền, sự nhạy cảm thức ăn, và nhu động ruột. Đợt bệnh có thể là do bị châm ngòi bởi một nhiễm trùng đường ruột, hay một sự kiện cuộc sống căng thẳng. Hội chứng ruột kích thích là một bệnh rối loạn ruột về chức năng. Chẩn đoán dựa trên các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh và không có các đặc tính nguy hiểm cần lưu ý. Các đặc điểm cần lưu ý gồm bệnh xảy ra ở bệnh nhân tuổi lớn hơn 50, sụt cân, máu trong phân, hay tiền sử gia đình có người mắc bệnh viêm ruột. Các tình hình sức khỏe khác có thể có bệnh trạng gần giống gồm có bệnh bụng, viêm ruột vi thể, bệnh viêm ruột, kém hấp thu axít mật, và ung thư đại trực tràng. Đó là loại bệnh kéo dài nhưng lành tính, không gây nguy hiểm cho người bệnh. Dù không có biện pháp chữa trị cho hội chứng ruột kích thích IBS (Irritable bowel syndrome), có một số cách điều trị để làm giảm triệu chứng, bao gồm điều chỉnh chế độ ăn uống, thuốc, dùng lợi khuẩn và can thiệp tâm lý. Việc giáo dục bệnh nhân và một mối quan hệ tốt giữa bệnh nhân-bác sĩ là một vấn đề quan trọng. Khoảng 10 đến 15% dân số ở các nước đã phát triển được cho là bị ảnh hưởng ít nhiều bởi IBS. Bệnh thường gặp hơn ở Nam Mỹ và hiếm gặp hơn ở Đông Nam Á. Bệnh nhân nữ đông gấp đôi bệnh nhân nam và thường xảy bệnh trước 45 tuổi. IBS có vẻ như tuổi càng cao càng hiếm gặp IBS không ảnh hưởng đến tuổi thọ dự đoán cũng như không dẫn đến các bệnh nghiêm trọng khác. Mô tả đầu tiên về bệnh là bào năm 1820, còn thuật ngữ "hội chứng ruột kích thích" được bắt đầu sử dụng vào năm 1944. == Triệu chứng == Đây là loại bệnh rất khó chẩn đoán vì có nhiều triệu chứng liên quan đến các bệnh đường ruột khác như bệnh do ký sinh trùng đường ruột, viêm ruột, ung thư ruột,... Hội chứng ruột kích thích IBS không dẫn đến những tình trạng nghiêm trọng trong hầu hết các bệnh nhân. Tuy nhiên, nó là một nguồn cơn đau kinh niên, mệt mỏi, và các triệu chứng khác và góp phần làm cho vắng mặt khỏi công sở các nhà nghiên cứu đã báo cáo rằng tỷ lệ cao của IBS, cùng với chi phí tăng, sản xuất một căn bệnh với chi phí xã hội cao. Tuy nhiên, cũng được coi là một bệnh mãn tính và có thể ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Triệu chứng: Tùy theo mỗi bệnh nhân mà có những triệu chứng khác nhau và nó có thể thay đổi theo thời gian. Các triệu chứng có thể gặp là Đau bụng hoặc bụng khó chịu, đầy bụng, sình hơi. Thay đổi số lần đi cầu, tính chất phân thay đổi. Tiêu chảy và táo bón thường xuyên. Buồn nôn, khó tiêu và có cảm giác có cục vướng ở họng. Đau lưng, mệt mỏi, khó ngủ và đau cơ. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng có đến 60% người có IBS cũng bị rối loạn tâm lý, thường lo lắng hoặc trầm cảm. == Chẩn đoán == Xét nghiệm máu Siêu âm X quang Nội soi (cho kết quả chính xác nhất) == Điều trị == Bệnh rất khó điều trị khỏi chủ yếu là sử dụng thuốc để làm giảm triệu chứng như thuốc chống tiêu chảy, táo bón hay co thắt gây đau bụng. Chế độ ăn uống hợp lý: ăn nhiều rau cải, tránh các loại thức ăn có nhiều dầu mỡ, cay chua và các loại thức ăn gây kích thích như rượu bia, cà phê, thuốc lá. Tăng cường hoạt động thể thao, tránh thức khuya và giảm tình trạng stress. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Hội chứng ruột kích thích
devon.txt
Devon (phát âm / dɛvən /) là một hạt lớn ở Tây Nam nước Anh. Hạt này cũng được gọi là Devonshire, mặc dù đó là một tên gọi không chính thức, hiếm khi được sử dụng ở bên trong hạt này và thường chỉ ra trong bối cảnh truyền thống hoặc lịch sử. Các quận giáp với Cornwall phía tây và Dorset và Somerset về phía đông. Bờ biển phía nam của nó tiếp giáp với các eo biển Anh và bờ biển phía Bắc của eo biển Bristol. Devon là hạt lớn thứ ba của các trong các hạt của Anh và có dân số là 1.109.900 người. Thủ phủ hạt là Exeter, hạt này có hai chính quyền đơn vị độc lập: thành phố cảng Plymouth và khu vực đô thị ven biển Torbay, ngoài Hội đồng hạt Devon ra. Plymouth cũng là thành phố lớn nhất ở Devon. Phần lớn hạt này là nông thôn (bao gồm cả đất thuộc vườn quốc gia), với mật độ dân số thấp theo các tiêu chuẩn của Anh. Nó có Dartmoor 954 km2 (368 dặm vuông), không gian mở lớn nhất ở miền nam nước Anh [1]. Hạt này là nơi có di sản thiên nhiên thế giới UNESCO duy nhất của nước Anh, bờ biển Đông Devon và Dorset, được gọi là Bờ biển kỷ Jura vì các đặc điểm địa chất và địa lý của nó. == Cờ == Devon có cờ riêng của nó. Nó có liên quan đến St Petroc, là một thánh địa phương có liên quan đến Devon và các hạt xung quanh. Cờ này được chọn sau khi chiến thắng cuộc thi ở BBC năm 2013. == Kinh tế == Devon kém giàu có hơn các hạt khác ở Anh, ví dụ như vùng đông nam. Bởi vì các ngành công nghiệp truyền thống của Devon, ví dụ như đánh cá, đào mỏ và làm đồng đang giảm đi. Liên Hợp Quốc đã hỗ trợ cho một số vùng ở Devon tiền để phát triển các ngành công nghiệp. Du lịch đang dần trở thành một ngành quan trọng với kinh tế của Devon. == Tham khảo ==
áo.txt
Áo (tiếng Đức: Österreich), tên chính thức là là Cộng hòa Áo (tiếng Đức: Republik Österreich) là một quốc gia liên bang ở Trung Âu với thể chế dân chủ nghị viện. Nước Áo là thành viên của Liên Hiệp Quốc từ 1955 và từ 1995 là thành viên của Liên minh châu Âu. Nước Áo giáp Đức và Cộng hoà Séc ở phía bắc, Slovakia và Hungaria về phía đông, Slovenia và Ý về phía nam, và Thụy Sĩ và Liechtenstein về phía tây. == Tên gọi == Tên gọi của nước Áo trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của nước Áo trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung nước Áo được gọi là “奧地利” (âm Hán Việt: Áo Địa Lợi). Tên gọi “Áo” trong tiếng Việt là gọi tắt của “Áo Địa Lợi”. Tên tiếng Anh của nước Áo (Austria) dễ gây nhầm lẫn với quốc hiệu của nước Úc (Australia). == Lịch sử == === Vương quốc Frank Đông (Ostfrankenreich) === Nhiều phần của nước Áo ngày nay thuộc về Vương quốc Frank của Karl Đại đế (Karl der Grosse). Sau Hiệp ước Verdun (843), Vương quốc Frank Đông được thành lập, trong đó từ năm 856 có Marchia Orientalis, một vùng trong Niederösterreich ngày nay, được đặt dưới quyền của dòng họ Karoling. Từ năm 955, sau khi hoàng đế Otto I của Đế quốc La Mã Thần thánh chiến thắng người Hung, vương quốc được mở rộng về phía đông nam. Nhiều lãnh địa mới của các công tước và hầu tước được thành lập bên cạnh Karantanien và Marchia Orientalis. === Đế quốc La Mã Thần thánh (962–1806) === Năm 976 Marchia Orientalis được đặt dưới quyền của hầu tước Liutpold (hay Leopold I) thuộc dòng họ Babenberger. Vào năm 996 tên Ostarrichi được nhắc đến lần đầu tiên trong một văn kiện, cách viết thành Österreich phát triển từ tên này mà ra. Năm 1156 Ostarrichi trở thành một công quốc. Nối tiếp theo dòng họ Bebenberger là dòng họ Habsburg, do vua La Mã-Đức là Rudolf I sáng lập năm 1273. Triều đại mới này đã mở rộng lãnh thổ của mình từ năm 1278 cho đến năm 1526. Các nỗ lực vươn lên về quyền lực của họ đã đem lại một đại công quốc (Erzherzogtum) là yếu tố quan trọng trong liên minh của Đế quốc La Mã Thần thánh. Bắt đầu từ 1273, hay 1438 hầu như lúc nào triều đại Habsburg nào cũng đạt được danh hiệu vua Đức hoặc danh hiệu gắn liền vào đấy là danh hiệu hoàng đế La Mã Thần thánh cho đến năm 1804 khi hoàng đế Franz II (đế quốc La Mã Thần thánh) tự nhận thêm danh hiệu Hoàng đế Áo quốc (không thỏa thuận với luật của đế quốc) và Đế quốc La Mã Thần thánh tan rã vào năm 1806. === Đế quốc Áo (1804–1867) và Áo (1867–1918) === Nước của Hoàng đế Áo là một quốc gia đa dân tộc. Lãnh địa của dòng họ Habsburg-Lothringer chạy dài từ Böhmen và Mähren qua nước Áo ngày nay xuyên qua Hungary sâu xuống đến tận bán đảo Balkan. Từ 1815 đến 1866 hoàng gia ở Viên cũng đứng đầu trong Liên minh Đức, tan rã sau Chiến tranh Áo–Phổ. Năm 1867 một nền quân chủ song đôi Áo–Hung được cấu thành nhưng chỉ lưu ý đến các quyền lợi của Áo và Hung; các yêu cầu chính trị của các nhóm dân tộc khác đòi độc lập nhiều hơn đã không được chú ý đến. Sau khi các vấn đế dân tộc bùng phát công khai qua Vụ ám sát thái tử Áo-Hung ở Sarajevo, Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ năm 1914 dẫn đến chấm dứt nền quân chủ song đôi vào năm 1918. === Đệ nhất cộng hòa (1918–1938) và Đế chế thứ ba (1938–1945) === Áo-Hung bị tan rã và trên lãnh thổ đó hình thành các quốc gia mới và nước Đức-Áo (Deutschösterreich). Trong Hiệp định Saint-German tên quốc gia này và nguyện vọng liên kết cùng với Cộng hòa Đức mới (Cộng hòa Weimar) bị cấm. Ngày 21 tháng 10 năm 1919 tên được đổi thành "Cộng hòa Áo" (Republik Österreich); năm 1920 hiến pháp mới được thông qua; năm 1931 nguyện vọng thành lập liên minh thuế quan với Đế chế Đức bị cấm. Khoảng thời gian sau đó (1933) đã đem lại cho người dân một chế độ độc tài và năm 1938 việc gia nhập vào Đế chế Đức xã hội quốc gia của Adolf Hitler. Người độc tài trong Đế chế thứ ba đã thay thế tên quê hương của ông bởi "Ostmark" và ngay sau đó bởi "Donau-und Alpengaue". Chiến tranh thế giới lần thứ hai do Hitler gây ra cuối cùng đã chấm dứt chế độ phát xít chuyên chế và Đế chế thứ ba. === Đệ nhị cộng hòa (từ 1945) === Sau 1945 Đế chế thứ ba bị quân đội Đồng Minh chiếm đóng và giải tán. Áo được tái thành lập và được chia làm bốn vùng chiếm đóng. Sau khi Cộng hòa trong Hiệp định quốc gia ngày 15 tháng 5 năm 1955 cam kết không gia nhập một "liên minh" nào nữa, quân đội Đồng Minh đã rời khỏi nước Áo. Ngày 26 tháng 10 năm 1955 Áo tuyên bố "trung lập vĩnh viễn". "Ngày quốc kỳ" (Tag der Fahne) này được kỷ niệm trong trường học cho đến 1965; từ 1967 ngày này trở thành ngày quốc khánh. Năm 1969 Áo là nước cùng thành lập EFTA hướng tới một liên minh kinh tế. Nhờ vào tính trung lập nước Áo đã có thể kết nối các quan hệ kinh tế và văn hóa với các nước phía Tây và với các nước thuộc khối Đông Âu thời đấy, việc này đã giúp đỡ nước Áo lâu dài trong thời gian xây dựng lại. Sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt năm 1991 chính sách trung lập dứt khoát được nới lỏng nhưng việc diễn giải một cách thỏa đáng tính trung lập trong trật tự thế giới mới đã thay đổi từ đấy là một đề tài chính trị đối nội đang được tranh cãi. Năm 1995 Áo gia nhập Liên minh châu Âu (EU); năm 1999 Áo bỏ đồng Schilling và cùng với các nước khác trong Liên minh đưa đồng Euro vào sử dụng. == Chính trị == === Hệ thống === Nước Áo, theo Hiến pháp liên bang năm 1920, tiếp tục có hiệu lực từ sau 1945, là một nước Cộng hòa liên bang dân chủ nghị viện bao gồm 9 tiểu bang. Nguyên thủ quốc gia là Tổng thống liên bang được bầu trực tiếp từ công dân 6 năm một lần. Người lãnh đạo chính phủ là Thủ tướng liên bang trên thực tế được tổng thống bổ nhiệm theo tỷ lệ đa số trong Hội đồng quốc gia (Nationalrat). Chính phủ có thể bị mãn nhiệm thông qua biểu quyết bất tín nhiệm của Hội đồng quốc gia. === Nghị viện === Nghị viện của Áo bao gồm hai viện. Thành phần của Hội đồng quốc gia với 183 thành viên được quyết định bởi các cuộc bầu cử tự do 4 năm một lần. Mức cản 4% được đưa ra nhằm ngăn cản một phân tán quá lớn của các đảng trong Hội đồng quốc gia. Hội đồng liên bang (Bundesrat) được cử ra từ các Hội đồng tiểu bang (Landtag). Hội đồng quốc gia là viện chiếm ưu thế trong lập pháp ở Áo. Hội đồng liên bang trong đa số các trường hợp chỉ có quyền phủ quyết có tính cách trì hoãn, có thể bị mất hiệu lực bởi Nghị định kiên quyết (Beharrungsbeschluss) của Hội đồng quốc gia. === Đảng phái chính trị === Từ khi Cộng hòa Áo được thành lập, nền chính trị ở Áo chịu ảnh hưởng của 2 đảng lớn là Đảng Nhân dân Áo (Österreichische Volkspartei – ÖVP) có đường hướng Thiên chúa giáo bảo thủ (trước Chiến tranh thế giới thứ hai có tên là Đảng Thiên chúa giáo-Xã hội) và Đảng Xã hội Dân chủ Áo (Sozialdemokratische Partei Österreichs – SPÖ) có tên trước đây là Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Áo - Sozialistische Arbeiterpartei Österreichs. Cả hai đảng đã có từ thời quân chủ và được tái thành lập sau khi thủ đô Viên được giải phóng vào thời gian cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai trong tháng 4 năm 1945. Trong hai giai đoạn 1945 – 1966 và 1986 – 1999 hai đảng này cùng cầm quyền ở Áo trong "liên minh lớn" mặc dù có thế giới quan trái ngược nhau. Xu hướng chính trị thứ ba, nhỏ hơn rất nhiều, thuộc đường hướng quốc gia dân tộc Đức, tập trung trong thời đệ nhất cộng hòa trong Đảng Nhân dân Đại Đức (Großdeutsche Volkspartei), trong đệ nhị cộng hòa là Liên minh Độc lập và sau đấy là trong Đảng Tự do Áo (Freiheitliche Partei Österreichs – FPÖ). Đảng Cộng sản Áo cũng đã có vai trò chính trị trong những năn đầu của đệ nhị cộng hòa, thế nhưng từ thập niên 1960 vì là đảng nhỏ nhất nên đã không còn có tầm quan trọng trên bình diện liên bang nữa. Tuy vậy Đảng Cộng sản Áo vẫn còn có số phiếu đáng kể trong nhiều cuộc bầu cử địa phương, ví dụ như tại thành phố Graz. Trong thập niên 1980 hệ thống đảng phái chính trị cứng nhắc này bắt đầu tan vỡ. Một mặt là do sự xuất hiện của Đảng Xanh (Áo) trên chính trường ở phía cánh tả và mặt khác là do Đảng Tự do Áo chuyển sang đường hướng dân túy khuynh hữu (right populism). Tách ra từ đảng này là Diễn đàn Tự do (Liberales Forum), lại biến mất trên trường chính trị ngay sau đó. Liên minh Tương lai Áo (Bündnis Zukunft Österreich – BZÖ) thành lập trong năm 2005 đánh dấu sự chia rẽ lần thứ hai của Đảng Tự do Áo. === Hệ thống pháp luật === Cơ sở của luật dân sự Áo là Bộ luật dân sự Áo (Allgemeines bürgerliches Gesetzbuch – AGB) từ 1 tháng 6 năm 1811, được tu chính sâu rộng trong giao đoạn 1914 – 1916 dưới ảnh hưởng của phong trào "Trường phái lịch sử Đức" (German Historical School of Law). Mãi đến năm 1970 mới có nhiều sửa đổi lớn tiếp theo, đặc biệt là trong luật gia đình. Nhiều phần lớn của luật dân sự được quy định ngoài Bộ luật dân sự, trong đó là nhiều luật đặc biệt được ban hành sau khi Áo "kết nối" với nước Đức Quốc xã năm 1938 và vẫn còn có hiệu lực sau năm 1945 với các phiên bản đã được tu chính tẩy trừ quốc xã, ví dụ như luật hôn nhân, bộ luật thương mại và luật cổ phiếu. Luật hình sự được quy định trong Bộ luật hình sự hiện đại từ ngày 23 tháng 1 năm 1974. Ngoài các hình phạt bộ luật còn quy định những biện pháp phòng chống (đưa những phạm nhân có tiềm năng tái phạm, cần phải cai trị hay không bình thường về tâm thần vào trong các trại tương ứng), cả hai chỉ được tuyên xử khi phạm tội từ thời gian có quy định trong luật (nguyên tắc không hồi tố). Tội tử hình đã được hủy bỏ. Luật về vốn tư bản, doanh nghiệp và kinh tế chịu ảnh hưởng của việc tiếp nhận các luật lệ của Liên minh châu Âu năm 1995 và của các chỉ thị (luật lệ khung), quy định (các luật có thể được áp dụng trực tiếp) của Liên minh châu Âu dưới sự cộng tác của Áo từ khi gia nhập và cũng như là các phán quyết của Tòa án châu Âu. Trong trường hợp hoài nghi thì luật của cộng đồng được ưu tiên. Tòa án dân sự và hình sự bao gồm tòa án tỉnh (Bezirksgericht), tòa án tiểu bang (Landesgericht), tòa án liên bang (Oberlandesgericht) và tòa án tối cao là cấp phán xử cao nhất. === Quân sự === Đọc bài chính về hệ thống quân sự Áo Việc bảo vệ đất nước bằng quân sự dựa trên nghĩa vụ quân sự phổ thông cho tất cả các công dân nam trong độ tuổi từ 17 đến 50. Phụ nữ có thể tình nguyện gia nhập quân đội. Quân đội bao gồm 35.000 người và khoảng 75.000 dân quân. Cho đến thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2006 nghĩa vụ quân sự kéo dài 8 tháng và từ thời điểm đó là 6 tháng. Ngân sách dành cho quân sự chiếm 0,71% của tổng sản phẩm nội địa – tròn 1,81 tỉ Euro – thuộc vào trong số những ngân sách thấp nhất trên thế giới. Những người trong độ tuổi nghĩa vụ nhưng lại từ chối không tham gia quân đội vì lý do lương tâm có thể phục vụ trong các ngành dân sự (Zivildienst) để thay thế. Thời gian phục vụ là 12 tháng và từ ngày 1 tháng 1 năm 2006 là 9 tháng. === Chính sách tài chính === Ngân sách quốc gia 2005 dự tính chi 64,001 tỉ Euro và thu 58,866 tỉ Euro, tức bội chi 5,135 tỉ Euro hay 2,1% của GDP. Nhờ vào bội thu thuế ngoài dự đoán nên thiếu hụt được dự tính là chỉ vào khoảng 1,6 đến 1,7% tổng sản phẩm nội địa. Nợ quốc gia năm 2005 đạt mức cao nhất từ trước đến nay với tổng cộng 154,86 tỉ Euro. Sau đấy, theo dự tính tổng số nợ sẽ giảm dần xuống còn 154,5 (2006) và 154,2 tỉ Euro (2007). Tỉ lệ nợ trong năm 2005 là 64,3% của GDP, đứng hàng thứ 18 trong Liên minh châu Âu. Vào thời điểm gia nhập Liên minh châu Âu, tỉ lệ nợ của nước Áo còn chiếm đến 69,2% của GDP. Nhờ vào tăng trưởng liên tục của GDP mà phần lớn là do xuất khẩu tăng nhanh sau khi gia nhập Liên minh châu Âu, đặc biệt là khi Liên minh châu Âu được mở rộng, nên tỉ lệ nợ đã giảm đi. Nước Áo chỉ đạt tiêu chuẩn Masstricht (nợ nhiều nhất là 60% của GDP) lần cuối cùng vào năm 1992 – trước khi gia nhập Liên minh châu Âu năm 1995. === Ngoại giao === Đọc bài chính về Đường lối ngoại giao Áo Với chính sách trung lập, từ giữa thế kỷ 20 nước Áo tự xem nơi phân giới giữa 2 thế lực lớn đối diện của Tây Âu và Đông Âu. Vì thế chính sách ngoại giao thường bao hàm các biện pháp góp phần tăng cường sự ổn định trong khu vực và hợp tác tạo các quan hệ Đông-Tây mới. Từ khi khối Đông Âu tan rã, phương án này không còn hiệu lực nữa. Năm 1995 Áo trở thành thành viên của Liên minh châu Âu và vì thế trên thực tế không còn trung lập nữa mà chỉ không có liên minh về quân sự. Viên, bên cạnh New York và Genève, là trụ sở thứ ba của văn phòng Liên Hiệp Quốc, vì thế mà nguyên tố ngoại giao này có giá trị cao trong truyền thống. Trên 50.000 người Áo phục vụ dưới Cờ của Liên Hiệp Quốc, là quân nhân, quan sát viên quân sự, cảnh sát dân sự và chuyên gia dân sự trên toàn thế giới. Ngoài các cơ quan của Liên Hiệp Quốc, trong Viên còn có trụ sở của nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (từ 1957 tại Viên), Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ cũng như là nhiều tổ chức phi chính phủ khác. == Địa lý == === Địa hình === Khoảng 60% nước Áo là đồi núi, gồm một phần của núi Alpen về phía đông. Ở Oberösterreich và Niederösterreich là vùng núi Böhmen chạy dài đến Cộng hoà Séc và Bayern (Đức), ở biên giới phía đông là núi Karpaten. Ngọn núi cao nhất ở Áo là Grossglockner (còn gọi là Großglockner, cao 3.797 m) ở Hohe Tauern. Các đồng bằng lớn nằm về phía đông dọc theo sông Donau, trước hết là vùng Aplenvorland và lưu vực Viên cũng như phía nam vùng Steiermark. Khí hậu khô dần đi từ tây sang đông và trở thành khí hậu lục địa ở các vùng phía đông và đông nam nước Áo. Mùa đông với nhiều tuyết đã đem lại cho ngành du lịch thêm một mùa thứ hai. Thời gian có ánh nắng mặt trời lâu hơn ở miền bắc nước Đức từ 10 đến 20 phần trăm. === Núi === Núi cao nhất của Áo là Großglockner (3.798 m) trong vùng núi Hohe Tauern thuộc dãy núi Alps, tiếp theo sau đấy là Wildspitze với 3.774 m và Weißkugel (3.738 m). Địa thế núi non có tầm quan trọng lớn trong du lịch. Áo có rất nhiều vùng du lịch cho các môn thể thao mùa đông và trong mùa hè là cho các môn thể thao như leo núi. === Hồ === Hồ lớn nhất Áo là hồ Neusiedler See trong Burgenland, 77% của diện tích tổng cộng là 315 km² thuộc nước Áo, tiếp theo đó là Attersee (46 km²) và Traunsee (24 km²) trong Oberösterreich (Thượng Áo). Nhiều hồ trong Áo là điểm du lịch mùa hè quan trọng, được biết đến nhiều nhất là các hồ như Wörthersee, Millstätter See, Ossiacher See và Weißensee. === Sông === Phần lớn nước Áo (80.566 km²) được thoát nước qua sông Donau vào Biển Đen, gần một phần ba ở đông nam qua sông Mur, Drau, và sau đó tiếp tục qua Donau vào Biển Đen, một số vùng nhỏ ở phía tây qua sông Rhein (2366 km²) vào Biển Đại Tây Dương và ở phía bắc qua sông Elbe (918 km²) vào Biển Bắc. Những nhánh lớn của sông Donau là (từ tây sang đông): Lech, Isar, và Inn. Những sông này đổ vào sông Donau ở Bayern, thoát nước cho vùng Tirol. Sông Salzach đổ vào sông Inn thoát nước cho vùng Salzburg (trừ vùng Lungau và một số khu vực vùng Pongau). Traun, Enns, Ybbs, Erlauf, Pielach, Traisen, Wienfluss và Fischa thoát nước cho các vùng phía nam của sông Donau gồm vùng Thượng Áo, Steiermmark, Hạ Áo và Wien. Mühl Lớn và Mühl Nhỏ, Rodl, Arst, Kamp, Göllersbach và Rußlau cũng như Thay ở biên giới phía bắc và Maren ở biên giới phía đông thoát nước cho các vùng phía bắc của sông Donau gồm Thượng Áo và Hạ Áo. Sông Mur thoát nước cho vùng Lungau ở Salzburg và vùng Steiermark. Sông này đổ vào sông Drau ở Kroatien, tiếp tục thoát nước cho vùng Kärnten và đông Tirol. Ở Kroatien, sông Drau đổ vào sông Donau tại biên giới với Serbien. Sông Rhein thoát nước cho phần lớn vùng Vorarlberg, sông này chảy qua hồ Bodensee và sau đó đổ vào Biển Bắc. Sông Lainsitz là sông nhỏ không có ý nghĩa, nhưng lại là sông duy nhất của Áo thoát nước từ Hạ Áo qua Tschechien đổ vào sông Elbe. == Hành chính == === Các đơn vị hành chính === Chín tiểu bang của Áo nhóm lại thành ba nhóm tiểu bang. Nhóm tiểu bang là vùng cấp một của Liên minh châu Âu. Đây không phải là một cấp hành chính. Việc phân nhóm chỉ nhằm mục đích thống kê. Nước Áo có 9 tiểu bang: Mỗi tiểu bang được chia thành nhiều tỉnh (Bezirk). Tiểu bang của Áo đồng thời là một đơn vị vùng cấp hai của Liên minh châu Âu. === Các thành phố lớn === Vùng dân cư lớn nhất Áo là vùng đô thị Viên với dân số hơn 2 triệu người (2.067.651 người vào thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2005). Như thế, 1/4 dân số của quốc gia tập trung trong vùng đô thị của thủ đô. Các vùng đô thị lớn khác bao quanh các thủ phủ tiểu bang Graz (bang Steiermark), Linz (Oberösterreich), Salzburg (bang Salzburg) và Innsbruck (Tirol). Tổng cộng có tròn 200 đơn vị hành chánh lớn nhỏ khác nhau được quyền tự xưng là thành phố (Stadtrecht). (Nguồn: Thống kê nước Áo - Điều tra dân số 2001) === Lãnh thổ bên ngoài === Kleinwalsertal là một trong các lãnh thổ bên ngoài của nước Áo. Tuy thuộc Áo (bang Vorarlberg) và về mặt địa lý giáp ranh với bang này nhưng chỉ có thể đến được Kleinwalsertal bằng đường bộ xuyên qua nước Đức. Một lãnh thổ bên ngoài khác là Jungholz trong vùng Tirol, tuy thuộc Áo nhưng cũng nằm trong nước Đức. Nằm trong nước Áo là làng Samnaun của Thụy Sĩ, cả một thời gian dài chỉ có thể đến được bằng đường bộ xuyên qua nước Áo. Hiện nay tuy đã có đường bộ đến Samnaum chỉ nằm trên lãnh thổ của Thụy Sĩ nhưng làng này vẫn là một vùng phi thuế quan. == Tự nhiên == Do có nhiều địa hình khác nhau nên hệ thực vật và động vật áo rất đa dạng. Trong những thập niên vừa qua 6 vườn quốc gia và nhiều công viên tự nhiên được thành lập để bảo vệ các chủng loại động thực vật. Theo Sở bảo vệ môi trường liên bang, hệ thực vật có tổng cộng khoảng 2.950 loài, kể cả những loài đã tuyệt chủng và biến mất, trong đó có 1.187 loài (40,2 %) nằm trong sách đỏ. Nước Áo có khoảng 45.870 loài động vật, trong đó 98,6% là động vật không xương sống. Vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên 10.882 loài đang bị đe dọa, trong đó 2.804 loài nằm trong sách đỏ. == Kinh tế == Trong năm 2001 có 3.420.788 người làm việc tại 396.288 cơ sở lao động. Sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất ở Áo là Sàn giao dịch chứng khoán Viên với ATX là chỉ số chứng khoán lớn nhất. === Số liệu cơ bản === Tổng sản phẩm quốc gia (2016): 43,724 USD (đứng thứ 14 thế giới) Tổng sản phẩm quốc gia trên đầu người (2016): 49,080 USD (đứng thứ 22 thế giới) Tổng sản phẩm quốc nội (2016): 387.299 USD (đứng thứ 29 thế giới và đứng thứ 13 châu Âu) 5% của tổng sản phẩm quốc nội liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các môn thể thao mùa đông. Thành phần: Công nghiệp: 33% Nông nghiệp: 2% Dịch vụ: 65% Thành phần lao động: Công nghiệp: 27% Nông nghiệp: 1% Dịch vụ: 68% Tỷ lệ thất nghiệp: 7,0% (4,5% theo cách tính của EU) === Nông nghiệp và lâm nghiệp === Khoảng 85% diện tích Áo được sử dụng trong nông nghiệp (45 %) và lâm nghiệp (40 %). Nông nghiệp Áo có cơ cấu rất nhỏ và đang cố gắng chuyên môn hóa vào các sản phẩm có chất lượng cao vì áp lực cạnh tranh đã tiếp tục tăng từ khi Liên minh châu Âu được mở rộng. Người nông dân Áo tăng cường sản xuất theo cách nông nghiệp sạch (nông nghiệp sinh học, không dùng hóa chất, phân bón hóa học...). Với tỷ lệ vào khoảng 10%, Áo có tỷ lệ các cơ sở sản xuất nông nghiệp sạch cao nhất trong Liên minh châu Âu. Rượu vang là một sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu quan trọng của Áo. Nước nhập khẩu chính, bên cạnh Thụy Sĩ và Hoa Kỳ, là nước Đức, chiếm 2/3 tổng lượng. Nhờ vào diện tích rừng lớn mà lâm nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ và công nghiệp giấy. Gỗ là nguyên liệu cũng được xuất khẩu, đặc biệt là đi đến vùng Nam Âu. Ngược lại, săn bắn và ngư nghiệp tương đối không quan trọng và thường chỉ hoạt động cho thị trường trong nước hay chỉ là thú tiêu khiển. === Du lịch === Đọc bài chính: Du lịch ở Áo Trong nước công nghiệp Áo, du lịch là ngành kinh tế quan trọng nhất. 1/3 việc làm trong Áo phụ thuộc trực tiếp haay gián tiếp vào du lịch. === Công nghiệp === Áo có một nền công nghiệp hiện đại và năng suất cao. Công nghiệp khu vực quốc gia phần lớn đã được tư nhân hóa (OMV AG, Voestalpine AG, VA Technologie AG, Steyr Daimler Puch AG, Austria Metall AG). Stey-Daimler-Puch được bán cho tập đoàn Magna, VA Tech cho Siemens AG và Jenbacher Werke cho General Electric. === Dịch vụ === Dịch vụ chiếm phần lớn nhất trong kinh tế Áo, đặc biệt là do ngàng du lịch, thương mại và ngân hàng đóng góp. Cho đến ngày nay ngân hàng Áo vẫn còn hưởng ưu thế từ luật bảo vệ bí mật ngân hàng rất nghiêm khắc của Áo. Sau khi gia nhập Liên minh châu Âu, tính vô danh của tài khoản tuy bị hủy bỏ nhưng các cơ quan nhà nước chỉ được phép kiểm tra tài khoản khi có lệnh của tòa. == Dân cư và xã hội == === Dân cư === Cuộc điều tra dân số lần đầu tiên tương ứng với các tiêu chuẩn ngày nay được tiến hành trong Áo trong thời gian 1869/1870. Từ thời điểm đó dân số trên lãnh thổ của nước Áo ngày nay đã tăng hằng năm cho đến lần điều tra dân số cuối cùng trước khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ trong năm 1913. Cho đến khi Đế quốc Áo-Hung tan rã vào năm 1918 khi Chiến tranh thế giới thứ nhất chấm dứt, việc dân số trên lãnh thổ của nước Áo hiện nay tăng trưởng nhanh chóng là do di dân từ những nước ngày nay không còn thuộc Áo. Cuộc điều tra dân số đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất cho thấy dân số đã giảm đi 347.000 người. Thế nhưng dân số lại tiếp tục tăng trưởng liên tục ngay sau đó cho đến 1935, rồi lại giảm đi cho đến 1939, năm thực hiện điều tra dân số cuối cùng trước Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ còn 6.653.000 người. Sau chiến tranh, vào năm 1946, dân số được điều tra dựa trên thẻ lương thực thực phẩm là tròn 7.000.000 người, là con số cao nhất cho đến thời điểm đấy. Dòng người tỵ nạn vào nước Áo đã bù vào cho con số tử vong vì chiến tranh. Cho đến năm 1953, do người tỵ nạn phần lớn đã trở về lại quê hương hay tiếp tục di dân qua các nước khác, dân số lại giảm xuống còn 6.928.000 người. Từ đấy, do tỷ lệ sinh đẻ cao, dân số lại tiếp tục tăng đến điểm cao mới vào năm 1974, năm có 7.599.000 người sinh sống tại Áo. Từ thập niên 1990, do tiếp tục có di dân vào nước, dân số nước Áo đã tăng lên đến 8.260.000 người vào cuối năm 2004, tương ứng với 1,8% dân số của Liên minh châu Âu. === Tuổi thọ === Tuổi thọ trung bình của Áo tại thời điểm 2005 là 82,1 tuổi (phụ nữ) và 76.4 tuổi (nam giới). Trong năm 1971 tuổi thọ trung bình là 75,7 (phụ nữ) và 73,3 (nam giới). Tỷ lệ trẻ sơ sinh chết là 0,45%. === Di dân === Ngày nay, nước Áo, một trong những nước giàu của thế giới, là một nước di dân đến. Thế nhưng trong lịch sử không phải lúc nào cũng có tình trạng này. Vào thời kỳ công nghiệp hóa, mặc dù có nhiều cuộc di dân nội địa lớn từ Böhmen và Mähren, nhưng từ sau 1918 cho đến Chiến tranh thế giới thứ hai đã có nhiều người Áo di dân ra nước ngoài hơn là người từ các nước khác di dân vào Áo. Từ khi có tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế và thịnh vượng bắt đầu từ thập niên 1950, việc đã làm cho nước Áo trở thành một nước giàu có và thịnh vượng, cán cân di dân lại bị đảo ngược. Nhiều lao động được tuyển lựa từ nước ngoài đã nhập cư vào nước Áo, dòng người tỵ nạn đến Áo, ví dụ như từ nước thuộc Nam Tư cũ, trong thời gian xảy ra chiến tranh tại bán đảo Balkan và ngày càng có nhiều người tỵ nạn từ Thổ Nhĩ Kỳ đến châu Âu nói chung và đến Áo nói riêng. ==== Di dân ==== Vào thời kỳ công nghiệp hóa từ khoảng năm 1850 bắt đầu có những ghi chép đầu tiên về việc di dân ra khỏi nước Áo. Thế nhưng vào thời điểm đó còn có nhiều vùng đất thuộc Áo mà ngày nay đã trở thành quốc gia độc lập hay thuộc các quốc gia khác. Giữa 1876 và 1910 tròn 3,5 triệu người (theo một số tài liệu khác là đến 4 triệu người) đã rời bỏ nước quân chủ Áo vì thất nghiệp và hy vọng sẽ tìm được những điều kiện sinh sống tốt hơn ở nơi khác. Gần 3 triệu người trong số đó đi đến Hoa Kỳ, 358.000 người chọn Argentina là quê hương thứ hai, 158.000 người đến Canada, 64.000 người đến Brasil và 4.000 người đến Australia. Chỉ riêng năm 1907 đã có nửa triệu người Áo rời bỏ quê hương. Phần đông những người di dân là từ vùng Galicja trong Ba Lan và Ukraina ngày nay. Một làn sóng di dân mới bắt đầu với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 1929 và tiếp tục tăng lên trong những năm 1930 bất ổn về chính trị khi mối đe dọa Quốc xã trở thành hiện thực và bắt buộc nhiều người phải di dân đi trong năm 1938, phần đông là người Do Thái và những người bị Quốc xã truy nã. Cũng nằm trong số đó là một phần lớn tinh hoa khoa học và văn hóa trong thời gian này của nước Áo. ==== Nhập cư và tỵ nạn ==== Trong các thập niên 1960 và 1970, do thiếu lao động nên nhiều doanh nghiệp đã trực tiếp tuyển chọn lao động từ nước ngoài. Rất nhiều gia đình của những người lao động này hiện nay đang sinh sống với thế hệ thứ hai hay thứ ba trong nước Áo. Một làn sóng lớn người tỵ nạn đã vào nước Áo trong những năm của thập niên 1990 vì chiến tranh ở bán đảo Balkan. Tỷ lệ người nước ngoài chiếm 9,8% hay 814.000 người của dân số Áo, trong đó tròn 227.400 người xuất xứ từ các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (trong đó khoảng 104.000 người từ nước Đức). Tròn nửa số người nhập cư và các thế hệ sau đó sinh sống trong vùng đô thị Viên, nơi tập trung khoảng 1/4 dân số nước Áo. Phần còn lại phân tán chủ yếu trong các vùng đông dân cư, chiếm tỷ lệ khoảng từ 10% đến 20%. Trong một số vùng nông thôn, tỷ lệ người nhập cư nằm trong khoảng từ 0 đến 5%. Trong thời gian vừa qua, hằng năm có khoảng 30.000 đến 40.000 người được nhận quốc tịch Áo (trong đó khoảng 28,5% sinh tại Áo), con số này đã giảm đi từ năm 2005. Người dân định cư lâu dài từ các quốc gia không thuộc Liên minh châu Âu đến chủ yếu từ các nước thuộc Nam Tư cũ (Serbia và Montenegro, Croatia, Bosna và Hercegovina và Cộng hòa Macedonia – tổng cộng chiếm tròn 70% những người có quyền định cư lâu dài tại Áo), từ Thổ Nhĩ Kỳ (khoảng 20%), România (khoảng 3,5%), Cộng hòa Nhân dân Trung hoa (khoảng 1,2%) cũng như là từ Bulgaria, Ai Cập, Ấn Độ, Liên bang Nga, Philippines, Hoa Kỳ, Ukraina, Thái Lan và Iran. Con số tổng cộng vào thời điểm ngày 31 tháng 7 năm 2006 là 477.185 người. Một hiện tượng mới xuất hiện trong những năm gần đây là người lao động từ Đức. Những người này thường là lao động theo thời vụ trong những vùng du lịch, đặc biệt là trong Tirol với các nghề nghiệp như đầu bếp, hầu bàn hay dọn dẹp. Nhiều người trong số đó đến Áo vì họ đã không thể tìm được việc làm trong nước Đức hay nhận thấy rằng cơ hội tìm việc làm ở Áo tốt hơn. Một dạng nhập cư khác của người Đức là con số ngày càng tăng của những người tốt nghiệp đại học ở Áo và không trở về quê hương nữa. Trong lĩnh vực những người tốt nghiệp đại học có thể nhận thấy một dòng người nhập cư nguyên là nhân viên của các trường đại học Đức (đặc biệt là trong lĩnh vực y học nhưng cũng có nhiều trong các bộ môn về xã hội). Luật lệ về thuế thu nhập cũng là một nguyên nhân cho việc di cư sang Áo, ví dụ như quan chức bóng đá Franz Beckenbauer hay người đua ô tô Ralf Schumacher. === Dự đoán === Theo dự đoán của Cục Thống kê Áo (Statistik Austria), cán cân của sinh đẻ và chết ở Áo sẽ còn cân bằng trong vòng 20 năm tới, sau đấy tỷ lệ sinh được dự đoán là sẽ thấp hơn tỷ lệ chết, việc sẽ làm tăng độ tuổi trung bình. Nhờ vào việc nhập cư mà dân số cho đến năm 2050 sẽ tăng lên đến khoảng 9 triệu người, bù đắp một phần vào cho việc thâm hụt sinh đẻ. Chỉ ở Viên, tiểu bang duy nhất trong số 9 bang của Áo, độ tuổi trung bình sẽ giảm đi và tăng trưởng dân số sẽ cao hơn trung bình của toàn liên bang. Theo đó cho đến năm 2050 Viên có thể lại trở thành thành phố có 2 triệu dân. Theo Cục Thống kê Áo nguyên nhân là do tỉ lệ sinh đẻ cao hơn và tròn 40% những người nhập cư vào Áo sinh sống tại thủ đô. === Ngôn ngữ === Tiếng Đức là ngôn ngữ chính thức và là tiếng mẹ đẻ của khoảng 95% dân cư. Bên cạnh đó còn tiếng Slav và các ngôn ngữ khác của các dân tộc thiểu số. Những dân cư người Hung, người Sloven và người Croat lâu đời ở Áo có quyền được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong trường học và giao thiệp với chính quyền. Tiếng Croat và tiếng Sloven là các tiếng chính thức bổ sung ở các tỉnh hành chánh và tòa án vùng Steiermark, Burgenland và Kärnten. === Tôn giáo === 73,6% dân số theo đạo Công giáo và 4,7% theo đạo Tin Lành (đa số là dòng tin Ausburg). Khoảng 12% dân số không theo cộng đồng tôn giáo nào. Cộng đồng Do Thái có vào khoảng 7.300 thành viên. Trên 10.000 người theo đạo Phật được công nhận là cộng đồng tôn giáo ở Áo từ năm 1983. Khoảng 20.000 là thành viên tích cực của cộng đồng tôn giáo Nhân chứng Jehova. Trong số những người di dân vào nước Áo có khoảng 180.000 là tín đồ Cơ đốc giáo và khoảng 300.000 người là tín đồ của các cộng đồng Hồi giáo. === Bình đẳng nam nữ === Quyền bình đẳng nam nữ được ghi trong Hiến pháp Áo. Những trường hợp ngoại lệ hình thành trong lịch sử là nghĩa vụ quân sự cho phái nam và quy định về nghỉ hưu. Hiện nay phụ nữ Áo còn được phép về hưu sớm hơn phái nam 5 năm (trường hợp ngoại lệ: nhân viên nhà nước). Vì việc này trái với quy định cơ bản của Liên minh châu Âu nên theo quy định được ghi trong hiến pháp, độ tuổi về hưu của phụ nữ sẽ được từng bước nâng lên ngang bằng với nam giới trong năm 2027. Trong gần như tất cả các lĩnh vực, tiền lương trung bình của người phụ nữ đều thấp hơn nam giới (ngoại lệ: nhân viên nhà nước). Điều này về một mặt là do quyền bình đẳng không được thực hiện một cách triệt để trong thực tế và mặt khác là do nhiều người phụ nữ làm việc ít giờ hơn và vì thế gần như không có khả năng vươn lên trong sự nghiệp. Các vị trí lãnh đạo phần lớn là do nam giới nắm giữ. Chính phủ Áo đã có rất nhiều biện pháp khuyến khích phụ nữ. Nếu như trình độ nghiệp vụ tương đương nhau người phụ nữ sẽ được ưu tiên lựa chọn cho các việc làm trong cơ quan nhà nước – mặc dù tỉ lệ thất nghiệp của nam giới cao hơn. Thế nhưng những biện pháp này không mang lại tác dụng cao trong thực tế. Con số chính thức của người thất nghiệp trong nước Áo năm 2004 bao gồm 2/3 nam giới và 1/3 phụ nữ. === Quyền con người === Trong những năm vừa qua đã có một vài vụ hành hung của cảnh sát đối với người có nguồn gốc từ châu Phi gây xôn xao trong dư luận. Hai trong số các vụ này, Marcus Omofuma và Seibane Wague, đã dẫn đến tử vong. Các tổ chức bảo vệ quyền con người như Amnesty International đã phản đối cách xử phạt nhẹ dành cho những người phạm tội vẫn được tiếp tục phục vụ trong ngành cảnh sát. Về quyền tự do ngôn luận, tòa án Áo trong những năm vừa qua đã có nhiều phán quyết dành cho nhà báo không đứng vững trước Tòa án châu Âu. Tòa án Áo đã bị chê trách rằng trong việc cân nhắc giữa quyền của một chính trị gia (bị xúc phạm) và quyền tự do ngôn luận trong truyền thông đại chúng tòa đã không chú ý đến quyền tự do ngôn luận một cách đầy đủ. == Hạ tầng cơ sở == === Giao thông === Hạ tầng cơ sở giao thông, kể cả giao thông đường bộ lẫn giao thông đường sắt, đều chịu nhiều ảnh hưởng của địa thế nằm trên dãy núi Apls và về mặt khác là vị trí trung tâm trong Trung Âu. Giao thông qua dãi núi Alps đòi hỏi phải có nhiều hầm xuyên núi và cầu chịu đựng được điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Vì có vị trí ngay trong trung tâm châu Âu nên Áo là một nước quá cảnh, đặc biệt là cho hướng bắc-nam và bắc-đông nam và từ khi bức màn sắt được mở cửa là cho hướng đông-tây. Điều này cũng có nghĩa là thường phải mở rộng đường giao thông, ngay trong các khu vực nhạy cảm về sinh thái, việc hay dẫn đến phản đối trong quần chúng. Để có thể giải quyết được sự cân bằng giữa kinh tế và sinh thái, nước Áo đã có nhiều biện pháp mà đã mang lại cho quốc gia này vai trò tiên phong trong lãnh vực bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong lãnh vực xe cơ giới. Các đạo luật quy định trong mỗi một xe cơ giới đều phải có bộ xúc tác giảm thiểu khí thải ra đời ở Áo tương đối sớm so với các quốc gia khác. Trên nhiều đoạn đường nhất định chỉ cho phép lưu hành xe tải gây ít tiếng ồn. Thế nhưng do nhiều quy định lại bị bãi bỏ nên người dân trong một số vùng nhất định như trong vùng đồng bằng sông Inn cảm nhận là bị các cơ quan điều hành giao thông trong nước và quốc tế bỏ mặc. ==== Giao thông đường bộ ==== Xem: hệ thống đường sá ở Áo. Mạng lưới giao thông Áo bao gồm 2.000 km đường cao tốc và đường nhanh 10.000 km đường ưu tiên (trước kia là đường liên bang) 24.000 km đường tiểu bang (Landstraße) 70.000 km đường làng (Gemeidestraßen). Mạng lưới đường sá phần lớn thuộc về nhà nước. Trên đường cao tốc và đường nhanh ô tô và xe tải phải trả tiền. ==== Đường sắt ==== Đọc bài chính về Lịch sử đường sắt Áo Phần lớn đường sắt là do Công ty Đường sắt liên bang Áo (Österreichische Bundesbahn – ÖBB) vận hành, là công ty đường sắt lớn nhất Áo. Một phần nhỏ đường sắt không thuộc liên bang, một phần do tư nhân và một phần khác do các tiểu bang sở hữu. S-Bahn (tàu nhanh) hiện nay chỉ có trong các vùng chung quanh Viên và Salzburg nhưng hiện đã có kế hoạch phát triển hệ thống S-Bahn cho các thành phố Graz, Linz và Insbruck. Viên là thành phố Áo duy nhất có một mạng lưới tàu điện ngầm. Một vài bến tàu điện trong thành phố Linz được xây ngầm. Tàu điện có trong các thành phố Viên, Graz, Linz, Innsbruck và Gmunden. Ngoài ra tại làng Serfaus trong Tirol còn có một tàu chạy trên đệm không khí, thỉnh thoảng cũng còn được gọi là tàu điện ngầm nhỏ nhất thế giới. ==== Đường thủy ==== Đường thủy quan trọng nhất không những trong chuyên chở hành khách mà còn cho giao thông hàng hóa là sông Donau (Đọc đường thủy Donau). Giao thông chuyên chở hành khách đã được thúc đẩy từ thời triều đại Habsburg với DDSG là công ty giao thông đường thủy nội địa lớn nhất thế giới thời bấy giờ. Thế nhưng hiện nay giao thông chuyên chở hành khách chỉ chủ yếu phục vụ cho ngành du lịch, trên sông Donau cũng như trên sông Inn và các hồ lớn. Twin-City-Liner liên kết Viên với Bratislava vừa được thành lập là một kết nối giao thông tiện lợi cho những người phải đi làm xa. Thường thì giao thông đường thủy chỉ hoạt động trong nửa năm mùa hè. Trong giao thông hàng hóa gần như chỉ có sông Donau là được sử dụng. Đường thủy Donau đã được tăng giá trị sử dụng lên nhiều nhờ vào việc xây dựng Kênh đào Rhein-Main-Donau cho giao thông quá cảnh từ Biển Bắc xuống Biển Đen. Các cảng hàng hóa duy nhất của Áo là Linz, Enns, Krems và Viên. ==== Giao thông đường không ==== Đọc bài chính về Giao thông đường không Áo Hãng hàng không quốc gia lớn nhất là Austrian Airlines Group (Austrian Airlines, Lauda Air, Austrian Arrows, Slova Airlines). Từ 2003, với Niki, nước Áo cũng đã có một hãng hàng không giá rẻ. Bên cạnh đó, InterSky cũng là một hãng hàng không giá rẻ trong vùng với sân bay chính là Friedrichshafen (Đức). Các hãng hàng không trong vùng khác là Welcome Air và Air Alps. Cảng hàng không quan trọng nhất là Cảng hàng không Wien-Schwechat, bên cạnh đó Graz (Cảng hàng không Graz-Thalerhof), Linz (Cảng hàng không Linz-Hörsching), Klagenfurt (Cảng hàng không Klagenfurt), Salzburg (Salzburg Airport W. A. Mozart) và Innsbruck (Cảng hàng không Innsbruck) đều có các đường bay quốc tế. Hai cảng hàng không quốc tế phục vụ cho vùng Vorarlberg là Altenrhein (Thụy Sĩ) và Friedrichshafen (Đức). Chỉ có tầm quan trọng địa phương là 49 sân bay, trong đó có 31 sân bay không có đường băng trải nhựa đường và trong số 18 sân bay còn lại có đường băng trải nhựa đường chỉ có 4 sân bay là có đường băng dài hơn 914 mét. Có tầm quan trọng về lịch sử trong số đó là sân bay Wiener Neustadt và sân bay Aspern. Đấy là các sân bay đầu tiên của Áo mà sân bay Aspern từ thời điểm khánh thành năm 1912 cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914 đã là sân bay lớn nhất và hiện đại nhất châu Âu. Thêm vào đó là nhiều sân bay của Không quân Áo ví dụ như tại Wiener Neustadt, Zeltweg, Aigen/Ennstal, Langenlebarn/Tulln. Nước Áo cũng đạt tầm quan trọng quốc tế trong ngành hàng không nhờ vào việc sáp nhập việc kiểm tra tầng không lưu cao (từ 28.500 feet hay 9.200 mét) của 8 quốc gia Trung Âu (Áo, Bosna và Hercegovina, Cộng hòa Séc, Croatia, Hungary, Ý, Slovenia và Slovakia). Chương trình được gọi là CEATS (Central European Air Traffic Services) dự định đặt một trung tâm kiểm tra cho toàn bộ vùng không lưu cao Trung Âu (CEATS Upper Area Control Centre – CEATS UAC) tại Fischamend,về phía đông của Schwechat. === Cung cấp năng lượng === Đọc bài chính về Kinh tế năng lượng Áo ==== Năng lượng điện ==== Năng lượng điện được sản xuất phần nhiều (gần 60%) từ sức nước, từ các nhà máy thủy điện cạnh sông Donau, Enns, Drau và nhiều nhà máy thủy điện nhỏ khác cũng như từ các nhà máy có hồ chứa nước như Karprun hay Malta. Để có thể cung cấp đủ năng lượng trong thời gian cao điểm nhiều nhà máy nhiệt điện (tuốc bin) sẽ được vận hành. Khoảng 2% năng lượng điện được sản xuất từ năng lượng gió, chủ yếu trong vùng phía đông nhiều gió của Áo. Điện từ nhà máy điện hạt nhân không được sản xuất do có luật cấm (Atomsperrgesetz). Trong những năm của thập niên 1970 nhà máy điện hạt nhân Zwentendorf mặc dù được xây dựng nhưng chưa từng đi vào hoạt động theo kết quả của cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1978. ==== Cung cấp khí đốt và dầu ==== Về cung cấp khí đốt, Áo phụ thuộc nhiều vào nước ngoài. Mặc dù trong Áo cũng có khí đốt, chủ yếu tại Marchfeld và Weinviertel, nhưng chỉ đủ cung cấp tròn 20% nhu cầu khí đốt hằng năm của Áo. Nước Nga là nguồn cung cấp khí đốt chính, là nơi mà Áo từ 1968 là nước châu Âu đầu tiên nằm về phía tây của Bức màn sắt mua khí đốt. Vào thời điểm năm 2003 Ả Rập Saudi là nước cung cấp dầu chính cho Áo. Nhà máy lọc dầu duy nhất nằm tại Schwechat và do OVM AG vận hành. === Giáo dục và đào tạo === Đọc bài chính: Hệ thống trường học tại Áo Hệ thống giáo dục tại Áo do cấp liên bang chịu trách nhiệm, vì thế là các loại trường cũng như chương trình đào tạo đều thống nhất trên toàn nước Áo. Tất cả trẻ em đang cư trú tại Áo đều phải đi học 9 năm, bắt đầu khi tròn 6 tuổi. Các thành phố Áo có trường đại học là thủ đô Viên (8), các thủ phủ tiểu bang Linz (4), Salzburg (3), Graz (4), Innsbruck (3) và Klagenfurt cũng như là Leoben và Kremas. Trường đại học thực hành (Fachhochschule) như là một chọn lựa khác của hình thức đào tạo đại học đã tồn tại ở Áo từ 1994. === Hệ thống cứu cấp === Mỗi một hình thức phục vụ cứu cấp ở Áo thường có trung tâm điều hành riêng. Tất cả các số điện thoại cứu cấp đều có thể được gọi không tốn tiền tại mỗi một điện thoại công cộng. Các số điện thoại cứu cấp đều thống nhất trên toàn nước Áo, "122" cho cứu hỏa, "133" cho cảnh sát và "144"cho cứu thương. Ngoài ra còn có thể gọi không tốn tiền các số điện thoại cứu cấp khác như số điện thoại cứu cấp toàn Liên minh châu Âu "112". ==== Cứu hỏa ==== Đọc bài chính về Hệ thống cứu hỏa tại Áo Hệ thống cứu hỏa Áo gần như hoàn toàn dựa trên lực lượng cứu hỏa tình nguyện. Chỉ trong 6 thành phố lớn nhất của Áo là có lực lượng cứu hỏa chuyên nghiệp. Phòng cháy và chữa cháy thuộc thẩm quyền của từng tiểu bang trong khi phòng chống tai họa thuộc thẩm quyền của liên bang, nhưng có trách nhiệm thực hiện bên cạnh quân đội thông qua lực lượng hỗ trợ phòng chống tai họa (Katastrophenhilfsdienst) cũng là lực lượng cứu hỏa. ==== Cứu thương ==== Đọc bài chính về Hệ thống cứu thương ở Áo Lực lượng cứu thương (Rettungsdienst) được thông báo khi xảy ra tai nạn có người bị thương. Hội Chữ thập đỏ Áo chịu trách nhiệm cứu thương đặc biệt là trong vùng nông thôn. Bên cạnh đó, các tổ chức khác như Liên hiệp Samarit Công nhân (Arbeiter-Samarit-Bund), Tổ chức giúp đỡ tai nạn Johannit (Johanniter-Unfall-Hilfe), Hệ thống bệnh viện Dòng tu Malta Áo (Malteser Hospitaldienst Austria) và Chữ thập Xanh đều có trực cứu cấp. Trong Viên, nhiệm vụ này được chia sẻ giữa lực lượng cứu thương thành phố và các tổ chức giúp đỡ. Trực thăng cứu thương đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống cứu thương Áo. Đất nước này có mật độ trực thăng cứu thương cao nhất thế giới. Hiệp hội cứu thương đường không Christophorus (Christophorus Flugrettungsverein) sở hữu 16 chiếc trực thăng cứu thương bao phủ toàn diện tích nước Áo, bên cạnh đó, đặc biệt là trong các vùng du lịch, là nhiều dịch vụ tư nhân. === Truyền thông đại chúng === Đọc bài chính về truyền thông đại chúng trong Áo Đài truyền hình nhà nước của Áo là ORF (Österreichischer Rundfunk) với các kênh ORF 1 và ORF 2 cũng như là hai kênh TW1 và ORF SPORT PLUS cùng chia sẻ một băng tần phát sóng. Các đài tư nhân quan trọng nhất là ATV, goTV, Puls TV. ORF có ba kênh phát thanh toàn Áo: kênh phát thanh tin tức và văn hóa Ö1, kênh âm nhạc Ö3 và đài phát thanh FM4. Các đài phát thanh tư nhân quan trọng nhất và được ưa thích nhất là KroneHit, Radio Energy trong Viên và Antenne trên toàn nước Áo. Nhà xuất bản Mediaprint phát hành tờ nhật báo được ưa thích nhất Áo, Kronen Zeitung, cũng như là các báo được ưa thích NEWS, Profil và Kurier và vì thế là nhà xuất bản có nhiều quyền lực nhất Áo. Các nhật báo khác là Der Standard, Die Presse và Salzburger Nachrichten. === Thông tin === Mặc dù có nhiều điều kiện khó khăn về địa hình nhưng Áo vẫn có một mạng lưới viễn thông tốt. Trên thực tế toàn bộ lãnh thổ liên bang đều được kết mạng cho điện thoại cố định và được phủ sóng cho điện thoại di động. Các dịch vụ như UMTS hiện chỉ hoạt động trong các vùngđông dân cư nhưng được mở rộng liên tục. Thuộc trongsố các nhà cung ứng dịch vụ truyền thông lớn nhất là Telekom Austria, Mobilkom Austria, Drei, T-Mobile và Tele2. Internet vận tốc cao thật ra đều có trong toàn nước Áo. Nhà vận hành mạng ớn nhất là Austria Telekom. Các nhà cung ứngdịch vụ khác hiện đang cố gắng xây dựng mạng lưới cao tốc riêng. Phần lớn các mạng này nằm trong các trung tâm đông dân cư. == Văn hóa nghệ thuật == Đọc bài chính về Văn hóa Áo Văn hóa là một đề tải rộng lớn ở Áo: Trong tất cả các thời kỳ đều hình thành nhiều công trình xây dựng quan trọng mà trong số đó nhiều công trình thuộc về di sản thế giới của UNESCO. Trong thế kỷ 18 và thế kỷ 19 Viên là một trung tâm hàng đầu của cuộc sống âm nhạc, không những chỉ được thể hiện trong con số rất nhiều tên tuổi các nhạc sĩ và nhà soạn nhạc gắn bó với đất nước mà còn trong con số lớn các nhà hát opera, nhà hát và nhà hòa nhạc vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, cũng như trong những thuyền thống âm nhạc đa dạng như buổi hòa nhạc năm mới hay rất nhiều lễ hội. Thêm vào đó là một truyền thống nhà hát lâu đời. Thế nhưng trong lãnh vực ẩm thực Áo cũng có một truyền thống rộng lớn, được thể hiện ví dụ như trong văn hóa của các quán cà phê ở Viên hay qua nhiều món ăn đặc trưng của đất nước. Năm 2003 thành phố Graz đã là thủ đô văn hóa của châu Âu. === Âm nhạc === Âm nhạc cổ điển vẫn có tầm quan trọng cho đến ngày nay trong văn hóa Áo. Nước Áo có nhiều nhà soạn nhạc được nhiều người biết đến. Thuộc vào trong số những nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất, ngoài những người khác, là người con của thành phố Salzburg Wolfgang Amadeus Mozart, Joseph Haydn, Franz Schubert, Anton Bruckner, Johann Strauß (cha), người được xem là một trong những người sáng lập nên waltz của Viên, và Johann Strauß (con), "vua waltz". Những người yêu âm nhạc của thế kỷ 20 cũng biết đến Gustav Mahler, Arnold Schönberg, Alban Berg và Anton von Webern. Tiếp nối truyền thống này từ âm nhạc cổ điển là nhiều nhà nhạc trưởng dành nhạc nổi tiếng như Erich Kleiber, Herbert von Karajan, Karl Böhm, Nikolaus Harnoncourt hay Franz Welser-Möst. Buổi hòa nhạc năm mới của Wiener Philharmoniker nổi tiếng được truyền đi đến 44 quốc gia trên thế giới và vì thế vào buổi sáng năm mới ngày 1 tháng 1 đến với gần một tỉ người. === Nhà hát === Đạt nhiều thành công trong lãnh vực nhà hát, ngoài những người khác là Max Reinhardt, Karl Farkas, Curd Jürgens, Maximilian Schell, Romy Schneider, Senta Berger, Oskar Werner, O. W. Fischer, Otto Schenk, Klaus Maria Brandauer, Martin Kusej. === Phim === Đọc bài chính: Điện ảnh Áo Những nhà đạo diễn phim nổi tiếng của Áo là Barbara Albert, Ruth Beckermann, Florian Flicker, Robert Dornhelm, Nikolaus Geyrhalter, Michael Glawogger, Wolfgang Glück, Michael Haneke, Jessica Hausner, Michael Kreihsl, Fritz Lang, Bady Minck, Franz Novotny, Peter Patzak, Otto Preminger, Stefan Ruzowitzky, Anja Salomonowitz, Hubert Sauper, Ulrich Seidl, Götz Spielmann, Josef von Sternberg, Erich von Stroheim, Hans Weingartner, Virgil Widrich, Billy Wilder. Đọc thêm: Liên hoan phim tại Áo, Lịch sử điện ảnh Áo === Văn học === Đọc bài chính về Văn học Áo Thuộc vào trong số những nhà văn nổi tiếng nhất của Áo là Franz Grillparzer, Joseph Roth, Johann Nestroy, Robert Musil, Karl Kraus, Friedrich Torberg, Felix Mitterer, Thomas Bernhard và Peter Handke, cũng như là nhà văn nữ đã nhận Giải Nobel về hòa bình Bertha von Suttner và nhà văn nữ nhận Giải Nobel về văn học năm 2004 Elfriede Jelinek. === Khoa học === Nước Áo, đặc biệt là trong những năm đầu của thế kỷ 20, đã là một quốc gia dẫn đầu về khoa học và đã mang lại nhiều thiên tài như những người sáng lập môn vật lý lượng tử Wolfgang Pauli và Erwin Schrödinger, người thành lập môn phân tích tâm lý Sigmund Freud, cha đẻ của ngành tâm lý thú vật Konrad Lorenz, nhà chế tạo ô tô Ferdinand Porsche, nhà phát minh Viktor Kaplan, người mở đường cho ngành nhiệt động lực học Ludwig Boltzmann, người khám phá ra cấu trúc của benzene Johann Josef Loschmidt, người phát hiện ra các nhóm máu Karl Landsteiner cũng như là các nhà kinh tế Carl Menger và Friedrich August von Hayek. == Thể thao == Môn thể thao được người Áo ưa chuộng nhất là chạy ski, tiếp theo sau đó là bóng đá và chạy xe đạp. Thế nhưng đi dạo hay leo núi ngày cũng được ưa thích hơn trong mọi lứa tuổi. === Thể thao mùa đông === Do địa thế địa lý nên trong nhiều bộ môn thể thao mùa đông nước Áo thuộc trong số những quốc gia dẫn đầu của thế giới. Thể thao mùa đông rất được ưa chuộng ở Áo và các chương trình truyền hình về thể thao mùa đông có rất nhiều khán giả, đặc biệt là các giải thi đấu về ski. Các vận động viên thể thao ski nổi tiếng trong những năm vừa qua là Hermann Maier, Renate Götschl, Michaela Dorfmeister, Alexandra Meissnitzer, Benjamin Raich, Michael Walchhofer và Rainer Schönfelder. Các nhà trượt ski đạt nhiều thành tích trong lịch sử là Toni Sailer, Karl Schranz, Franz Klammer, Stephan Eberharter hay Annemarie Moser-Pröll. === Thể thao mùa hè === Áo cũng thường đạt nhiều thành tích đáng kể trong các bộ môn thể thao mùa hè hay trong những bộ môn thể thao có thể được chơi trong suốt cả năm. Thế nhưng ngoại trừ bóng đá, các bộ môn thể thao này không được người dân ưa thích nhiều như thể thao mùa đông. Những vận động viên đoạt giải Thế vận hội mùa hè (2004): Roman Hagara, Hans-Peter Steinacher (thuyền buồm Tornado) Kate Allen (Ba môn phối hợp - Triathlon) Markus Rogan (Bơi) === Thể thao trong các hiệp hội === Thể thao trong các câu lạc bộ hay hiệp hội được đánh giá cao trong Áo. Trong một số làng hay thành phố hơn nửa người dân luyện tập thể thao tích cực trong các câu lạc bộ hay hiệp hội. Trước nhất là bóng đá, đặc biệt là ở tại Viên, bộ môn thể thao có truyền thống lâu đời, và sau đó là một vài bộ môn thể thao ít được biết đến hơn có nhiều người tham gia. Hypo Österreich thuộc hàng đầu của thế giới trong bóng ném nữ cũng như là Chrysler Vienna Vikings trong bóng bầu dục nghiệp dư. Các đội thể thao có nhiều thành tích: Austria Wien, Rapid Wien (Bóng đá) EC KAC, EC VSV (Khúc côn cầu trên băng) Danube Dragons, Chrysler Vikings, Tyrolean Raiders (Bóng bầu dục - American football) == Chú thích == </references> == Liên kết ngoài == Oostenrijkse Pagina van de minister-president officiele website van Oostenrijk foto's van Oostenrijk
thời kỳ kamakura.txt
Thời kỳ Kamakura (鎌倉時代 (Liêm Thương thời đại), Kamakura-jidai, 1192–1333) là một thời kỳ trong lịch sử Nhật Bản đánh dấu sự thống trị của Mạc phủ Kamakura, chính thức thiết lập năm vào 1192 bởi shogun Kamakura đầu tiên Minamoto no Yoritomo. Thời kỳ Kamakura chấm dứt vào năm 1333 với sự sụp đổ của Mạc phủ và việc tái lập ngắn ngủi đế quyền của Nhật hoàng Go-Daigo bởi Ashikaga Takauji, Nitta Yoshisada, và Kusunoki Masashige. == Mạc phủ và Nhiếp chính Hōjō == Thời kỳ Kamakura đánh dấu sự chuyển dịch sang nền kinh tế dựa trên đất đai và sự tập trung kỹ thuật quân sự hiện đại vào tay tầng lớp võ sĩ. Các lãnh chúa yêu cầu sự phục vụ trung thành của các chư hầu, đổi lại họ được ban thưởng thái ấp. Chủ thái ấp áp dụng các luật lệ quân sự địa phương. Khi Minamoto Yoritomo đã củng cố quyền lực của mình, ông thành lập một chính thể mới tại quê nhà Kamakura. Ông gọi chính thể này là bakufu (幕府, Mạc phủ), còn bản thân ông được Nhật hoàng phong chức Seii Tai-shōgun. Yoritomo đi theo chính thể gia đình trị của gia tộc Fujiwara và có một hội đồng hành chính, một ủy ban của các thuộc hạ và một ủy ban thẩm tra. Sau khi sung công đất đai ở miền Trung và miền Tây Nhật Bản, ông bổ nhiệm người quản lý các vùng đất này và đốc quân cho các tỉnh. Là Shogun, Yoritomo có cả người quản lý lẫn đốc quân. Tuy vậy, Mạc phủ Kamakura không phải là một triều đại quốc gia, và mặc dù nó kiểm soát những vùng đất rộng lớn, vẫn có sự chống đối mạnh mẽ với những người quản lý. Chế độ này tiếp tục chiến tranh chống lại nhà Bắc Fujiwara, nhưng không bao giờ có thể hoàn toàn kiểm soát về quân sự với cả phương Bắc lẫn phía Tây. Triều đình cũ đóng tại Kyoto, tiếp tục nắm giữ đất đai mà họ có quyền lực tại đó, trong khi các gia đình quân sự được tổ chức theo kiểu mới bị Kamakura lôi kéo. Bất chấp khởi đầu mạnh mẽ, Yoritomo không thể củng cố quyền lãnh đạo của gia đình mình trên nền tảng lâu dài. Sự bất đồng trong nội bộ gia đình đã từ lâu tồn tại trong nhà Minamoto, mặc dù Yoritomo đã tiêu diệt những kẻ thách thức chính với quyền lực của mình. Khi ông đột ngột qua đời năm 1199, con trai ông Minamoto no Yoriie trở thành Shogun và người đứng đầu trên danh nghĩa của nhà Minamoto, nhưng Yoriie không thể kiểm soát được các gia đình chiến binh ở phía Đông. Cho đến đầu thế kỷ 13, một Nhiếp chính được bổ nhiệm cho Shogun, đó là Hōjō Tokimasa—một thành viên của gia tộc Hōjō, một nhánh của nhà Taira đã tự mình liên minh với nhà Minamoto năm 1180. Người đứng đầu nhà Hōjō được lập làm nhiếp chính cho Shogun trong thời này được gọi là Shikken, mặc dù sau đó những vị trí được tạo ra với quyền lực tương tự như Tokuso và Rensho. Thường thì Shikken cũng là Tokuso và Rensho. Dưới thời Hōjō, Shogun trở thành một bù nhìn không còn quyền lực. Với người bảo vệ cho Thiên hoàng (Shogun) tự mình cũng chỉ là một con bù nhìn, căng thẳng giữa Kyoto và Kamakura nảy sinh, và năm 1221, chiến tranh Jōkyū nổ ra giữa vị Nhật hoàng ẩn dật Go-Toba và vị nhiếp chính thứ hai Hōjō Yoshitoki. Quân đội nhà Hōjō dễ dàng chiến thắng, và triều đình phải chịu sự kiểm soát trực tiếp của Mạc phủ. Các nguyên soái của Shogun giành được quyền lực dân sự lớn hơn, và triều đình bị ép buộc phải có được sự phê chuẩn của Kamakura trên mọi vấn đề. Mặc dù bị lấy mất quyền lực chính trị, triều đình vẫn giữ được số đất đai lớn. Vài thành tựu về hành chính quan trọng đạt được dưới thời nhiếp chính Hōjō. Năm 1225, nhiếp chính thứ 3 Hōjō Yasutoki thành lập Hội đồng Quốc gia, trao cơ hội cho các lãnh chúa quân sự khác thực hiện quyền tư pháp và lập pháp tại Kamakura. Nhiếp chính Hōjō chủ trì hội đồng, một hình thức cùng lãnh đạo thành công. Việc áp dụng bộ luật quân sự đầu tiên của Nhật Bản — Goseibai Shikimoku—năm 1232 phản ánh sự chuyển dịch về bản chất từ triều đình sang xã hội quân sự hóa. Trong khi việc thực thi pháp luật tại Kyoto vẫn dựa trên các nguyên tác Nho giáo 500 năm tuổi, bộ luật mới là các văn bản bắt buộc thi hành cao, nhấn mạnh vào nhiệm vụ của những người quản lý về dân sự và quân sự, đưa ra phương tiện để giải quyết các tranh chấp đất đai, và thành lập các quy tắc về quyền thừa kế. Nó súc tích và rõ ràng, quy định việc trừng phạt người vi phạm, và vẫn có hiệu lực trong vòng 635 năm sau. Văn chương thời kỳ này phản ánh tình hình bất ổn của thời đại. Hōjōki miêu tả sự loạn lạc của thời kỳ này dưới dạng các khái niệm Phật giáo về tính phù du và phù phiếm của loài người. Heike monogatari thuật lại sự hưng thịnh rồi sụp đổ của nhà Taira, cung cấp nhiều câu chuyện về chiến tranh và chiến công của các samurai. Dòng văn học thứ hai là sự tiếp diễn của hợp tuyển thơ Shin Kokin Wakashū, bao gồm 20 tập được làm từ năm 1201 đến năm 1205. == Phật giáo hưng thịnh == Trong thời đại chia rẽ và bạo lực, chủ nghĩa bi quan sâu sắc gia tăng sự hấp dẫn muốn tìm kiếm sự giải thoát. Kamakura là thời đại phổ cập Phật giáo trong dân chúng. Hai tông phái mới Jōdo shū và Zen, thống trị thời kỳ này. Các tu viện trên núi Hiei đã trở thành các quyền lực chính trị nhưng hấp dẫn chủ yếu những người có học vấn một cách hệ thống về các lời huấn thị của tông phái, trong khi phái Shingon và những lễ nghi bí truyền tiếp tục được các gia đình quý tộc ở Kyoto ủng hộ rộng rãi. Trong thời kỳ này, một số lớn các nhà sư rời bỏ phái Tendai để sáng lập một phái Phật giáo riêng của mình, bao gồm Hōnen, người sáng lập Phật giáo Jōdo shū. Shinran, học trò của Hōnen và là người sáng lập phái Jodo Shinshu. Ippen, người sáng lập phái Ji, nhấn mạnh vào sự tận tâm với A Di Đà qua những điệu nhảy cuồng nhiệt. Dōgen, người sáng lập phái Sōtō, hay phái "tiệm ngộ" của phái Zen. Eisai, người sáng lập phái Rinzai, hay phái "đốn ngộ" của phái Zen. Nichiren, người sáng lập phái phái Nichiren, nhấn mạnh về sự hiến dâng cho chính Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Các tông phải Phật giáo cũ như Shingon, Tendai và các trường phái đầu thời Nara tiếp tục hưng vượng trong suốt thời Kamakura, và thậm chí còn tiến hành những phương pháp để hồi sinh. Tuy vậy, với số lượng trường phái mới thời Kamakura ngày càng tăng, các trường phái cũ bị các trường phái mới hơn che lấp vì chúng có được những người tin theo từ chính quyền Kamakura, và các samurai của nó. == Mông Cổ xâm lược == Việc đánh lui hai cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ là những sự kiện quan trọng trong lịch sử Nhật Bản. Quan hệ Nhật Bản với Trung Quốc đã chấm dứt từ giữa thế kỷ 9 sau sự sụp đổ của nhà Hậu Đường Trung Quốc và sự hướng nội của triều đình Heian. Vài mối liên hệ thương mại vẫn được duy trì với nhà Nam Tống trong các thế kỷ sau, nhưng hải tặc Nhật Bản khiến cho đại dương trở nên nguy hiểm. Vào thời kỳ mà Mạc phủ không mấy quan tâm đến vấn đề đối ngoại và lờ đi các mối liên hệ từ Trung Quốc và Cao Ly, tin tức đến từ năm 1268 về việc nhà Nguyên đã lên ngôi ở Bắc Kinh. Lãnh tụ của nó, Kublai Khan, yêu cầu Nhật Bản nộp cống phẩm cho nhà Nguyên và đe dọa trả đũa nếu họ không thực hiện. Không quen với những mối đe dọa kiểu như vậy, Kyoto tuyên cáo về nguồn gốc thần thánh của Nhật Bản và từ chối yêu cầu của Mông Cổ, đuổi người đưa tin Triều Tiên, và bắt đầu chuẩn bị phòng thủ. Sau những lời khẩn nài hơn nữa vẫn không thành công, cuộc xâm lăng đầu tiên của người Mông Cổ diễn ra năm 1274. Hơn 600 tàu chở quân đội có cả người Mông Cổ, người Trung Quốc và người Triều Tiên với 23.000 quân được trang bị máy bắn đá, tên lửa và cung tên. Trong chiến đấu, các chiến binh hợp thành nhóm gần đội hình kỵ binh chống lại các samurai, những người vốn đã quen với những trận chiến một chọi một. Quân đội địa phương Nhật Bản Hakata, phía Bắc đảo Kyūshū, chống lại lực lượng đổ bổ vượt trội, tuy vậy, chỉ sau một ngày chiến đấu đã bị mất đến chín phần mười vì một cơn cuồng phong bất ngờ. Kublai nhận ra rằng tự nhiên, không phải trình độ quân sự, là lý do cho thất bại của quân đội ông, và năm 1281, ông tiến hành một cuộc xâm lược lần thứ hai. 7 tuần giao tranh diễn ra ở phía Tây Bắc đảo Kyūshū trước khi một cơn bão khác tấn công, một lần nữa hủy diệt hạm đội Mông Cổ. Mặc dù các tu sỹ Shinto gán hai lần đánh bại quân Mông Cổ là nhờ kamikaze (thần phong), dấu hiệu cho sự bảo trợ đặc biệt của trời với nước Nhật, cuộc xâm lăng cũng để lại một ấn tượng sâu sắc với các lãnh đạo Mạc phủ. Mối đe dọa lâu dài của Trung Quốc với Nhật Bản được củng cố. Tuy vậy, chiến thắng của người Nhật mang đến cho các chiến binh cảm giác chiến đấu mạnh hơn vẫn còn trong người lính Nhật cho đến năm 1945. Chiến thắng cũng thuyết phục các chiến binh về giá trị của thể chế Mạc phủ với chính quyền. Chiến tranh với Mông Cổ là sự tổn hại với nền kinh tế, các loại thuế mới được thu thêm để duy trì việc chuẩn bị phòng thủ cho tương lai. Hai cuộc xâm lăng cũng gây ra sự bất mãn trong những người hy vọng được ban thưởng vì trợ giúp của họ trong việc đánh bại quân Mông Cổ. Tuy vậy, không có đất đai hay tặng phẩm nào được ban thưởng, và sự bất mãn như thế, kết hợp với sự mở rộng quá mức và gia tăng chi phí phòng thủ, dẫn đến sự suy sụp của Mạc phủ Kamakura. Thêm vào đó, những người thừa kế đã chia nhỏ tài sản của gia đình, và các địa chủ ngày càng phải dựa vào những người cho vạy. Các nhóm ronin lưu động càng đe dọa hơn nữa sự ổn định của Mạc phủ. == Nội chiến == Nhà Hōjō tiến tới sự hỗn loạn sau đó bằng cách cố giành thêm nhiều quyền lực trong số rất nhiều các gia tộc lớn. Để làm suy yếu hơn nữa triều đình ở Kyoto, Mạc phủ quyết định cho phép hai nhánh vốn đang đấu tranh với nhau của Hoàng gia —gọi là Nam Triều hay chi thứ và Bắc Triều hay chi trưởng —thay thế nhau trên ngai vàng. Phương pháp này hiệu quả cho vài lần kế vị cho đến khi một thành viên của Nam Triều lên ngai vàng, Nhật hoàng Go-Daigo. Go-Daigo muốn lật đổ Mạc phủ, và ông công khai bất chấp Kamakura bằng cách chọn con trai ông làm người kế vị. Năm 1331, Mạc phủ lưu đày Go-Dagio, nhưng quân đội trung thành với ông, bao gồm Kusunoki Masashige nổi dậy. Họ được Ashikaga Takauji trợ giúp, một nguyên soái quay lưng lại Kamakura khi được gửi đi để dẹp cuộc nổi dậy của Go-Daigo. Cùng lúc đó, Nitta Yoshisada, một thủ lĩnh khác ở phía Đông, nổi dậy chống lại Mạc phủ, Mạc phủ tan rã nhanh chóng và nhà Hōjō bị đánh bại. Trên đà thắng lợi, Go-Daigo cố gắng phục hồi quyền lực của Hoàng gia và thực hiện theo Nho giáo thế kỷ 10. Thời kỳ cải cách, được gọi là Tân chính Kenmu, với mục dích củng cố vị thế của Thiên hoàng và tái xác nhận vị thế đứng đầu của quý tộc trong triều so với các chiến binh. Tuy vậy, sự thực là quân đội nổi lên chống lại Kamakura với mục đích tiêu diệt nhà Hōjō, chứ không phải ủng hộ Thiên hoàng. Ashikaga Takauji cuối cùng sát cánh cùng Bắc Triều trong một cuộc nội chiến chống lại Nam Triều mà đại diện là Go-Daigo. Cuộc chiến giữa hai triều đình kéo dài từ năm 1336 đến năm 1392. Ban đầu, Go-Daigo bị đánh bật khỏi Kyoto, và địch thủ của Bắc Triều được Ashikaga Takauji đưa lên ngôi, Takauji sau này cũng tự mình lập nên một dòng Shogun mới. == Các sự kiện == 1192: Thiên hoàng bổ nhiệm Yoritomo làm shogun (tướng quân) với dinh thự tại Kamakura, thiết lập hệ thống chính quyền Mạc phủ 1199: Minamoto Yoritomo qua đời 1207: Hōnen và các đồ đề của mình bị trục xuất khỏi Kyoto và bị xử tử. Điều này tình cờ lại làm truyền bá mạnh mẽ Tịnh Độ Tông. 1221: Quân đội Kamakura đánh bại quân đội triều đình trong chiến tranh Jōkyū, từ đó khẳng định quyền thống trị tối cao của Mạc phủ Kamakura (Nhiếp chính Hōjō) đối với Thiên hoàng 1227: Tào Động Tông của Thiền phái được truyền bá vào Nhật Bản với nhà sư Dōgen Zenji 1232: Bộ luật Jōei Shikimoku được ban hành để củng cố quyền thống trị của Nhiếp chính Hōjō 1274: Kublai Khan của Đế chế Mông Cổ cố xâm lược Nhật Bản nhưng bị một trận cuồng phong đánh bại. 1274: Nichiren bị trục xuất đến đảo Sado 1293: Ngày 27 tháng 5, một trận động đất và sóng thần lớn tấn công vịnh Sagami và Kamakura, giết chết 23.034 người. Trước đó có các trận động đất/sóng thần vào các năm 1241 và 1257 cũng ở khu vực này, đều có độ lớn 7 độ richter. == Tham khảo == Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies.
bahamas.txt
Bahamas ( /bəˈhɑːməz/) hay tên chính thức Thịnh vượng chung Bahamas (phiên âm Tiếng Việt: Ba-ha-mát), hay Quần đảo Bahamas là một quốc gia nói tiếng Anh tại Tây Ấn. Là một quần đảo với 700 hòn đảo, cồn và đảo nhỏ, Bahamas nằm trong Đại Tây Dương, ở phía đông Hoa Kỳ (điểm gần nhất là tiểu bang Florida), phía bắc Cuba và vùng Caribe, phía tây lãnh thổ phụ thuộc Anh Quần đảo Turks và Caicos. == Lịch sử == Dù người Paleo-Indians có thể đã sinh sống ở vùng này từ trước đó, người thổ dân da đỏ Taino từ Hispaniola và Cuba đã vào tới miền nam Bahamas từ khoảng thế kỷ thứ 7 Công Nguyên và trở thành người Lucayans. Ước tính vào khoảng thời giam Colombo tới đây, có khoảng 40.000 người Lucayans. Christopher Columbus lần đầu đặt chân lên Thế giới mới tại hòn đảo San Salvador, cũng được gọi là Đảo Watling, ở phần phía nam Bahamas. Tại đây, Columbus đã tiếp xúc với người Lucayans và trao đổi hàng hóa với họ. Người Lucayans Bahamas được mang tới Hispaniola làm nô lệ, và trong hai thập kỷ, nhiều xã hội Lucayan đã chấm dứt tồn tại, bởi dân số không còn nhiều sau khi bị bắt làm nô lệ, chiến tranh, dịch bệnh, di cư và hôn nhân với bên ngoài. Sau khi dân số Lucayan gần tuyệt diệt, các hòn đảo Bahamas đã bị chiếm đóng cho tới khi những người định cư Anh Quốc tới đây từ Bermuda năm 1650. Cái gọi là Những cuộc thám hiểm Eleutheria đã thiết lập nên các khu định cư trên đảo Eleuthera. Bahamas đã trở thành một thuộc địa của Anh Quốc năm 1718. Khoảng 8.000 người trung thành với hoàng gia và các nô lệ của họ đã tới Bahamas vào cuối những năm 1700 từ New York, Florida và Carolina. Người Anh biến hòn đảo thành một chính phủ tự trị đối với các vấn đề đối nội từ năm 1964. Năm 1973, Bahamas được hoàn toàn độc lập với tư cách là một thành viên của Khối thịnh vượng chung Anh. Từ những năm 1950, nền kinh tế Bahamas đã khởi sắc dựa trên hai lĩnh vực du lịch và dịch vụ tài chính. Dù vậy, đất nước này vẫn phải đối mặt với một số thách thức trong vùng như giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, cơ sở hạ tầng và bạo lực do nạn nhập cư bất hợp pháp. Dự án đổi mới đô thị đã được tung ra trong những năm gần đây để giúp cải thiện bộ mặt các đô thị vốn đã bị suy thoái nhiều trên các hòn đảo chính. Ngày nay, đất nước này có mức thu nhập trên đầu người đứng thứ ba ở Tây bán cầu. Một số người cho rằng cái tên 'Bahamas' xuất phát từ từ Tây Ban Nha để chỉ vùng "biển nông", baja mar. Những người khác cho rằng nó xuất phát từ từ tiếng Lucayan để gọi Đảo lớn Bahama, ba-ha-ma ("vùng đất lớn ở giữa"). Tháng 8 năm 1992, Habert A. Ingraham của đảng Phong trào Dân tộc Tự do trở thành Thủ tướng, chấm dứt 25 năm cầm quyền của đảng Tự do Tiến bộ. Trước đây, kinh tế chủ yếu tập trung vào nông nghiệp và đánh bắt cá biển, hiện nay Bahamas đa dạng hóa nền kinh tế với các ngành du lịch, du lịch tài chính và vận tải biển.. Thu nhập tính theo đầu người ở Bahamas xếp hàng thứ 30 trên thế giới. Tuy nhiên, có một sự cách biệt lớn giữa tầng lớp trung lưu thành thị và giới nông dân nghèo. Đất nước này thường bị các cơn bão gây thiệt hại nặng nề. Tháng 5 năm 2002, đảng Tự do Tiến bộ giành được 29 trong 49 ghế ở cuộc bầu cử Quốc hội. Perry Christie trở thành Thủ tướng. == Địa lý và khí hậu == Bahamas nằm giữa vĩ tuyến 20° và 28°B, kinh tuyến 72° và 80°T. Năm 1864, Toàn quyền Bahamas ghi nhận rằng có 29 đảo, 661 cồn, và 2.387 đảo đá. Đảo gần nhất với Hoa Kỳ là Bimini. Hòn đảo Abaco nằm ở phía đông Grand Bahama. Đảo cực đông nam là Inagua. Các hòn đảo nổi tiếng khác gồm Eleuthera, Đảo Cat, Đảo San Salvador, Acklins, Đảo Crooked, Exuma và Mayaguana. Nassau là thủ đô và thành phố lớn nhất nước, nằm tại New Providence. Quần đảo này có khí hậu cận nhiệt đới, được dòng Gulf Stream giữ ôn hoà. Ở phía đông nam, quần đảo Caicos và quần đảo Turks, và ba dãy ngầm khác là Dãy Mouchoir, Dãy Silver, và Dãy Navidad, về mặt địa lý là sự tiếp tục của Bahamas, nhưng không phải là một phần của nước này Bahamas. Khí hậu Bahamas từ cận nhiệt đới tới nhiệt đới, và được dòng nước Gulf Stream giữ ôn hoà, đặc biệt vào mùa đông. Trái lại, vào mùa hè và mùa thu nó thường gây ra những cơn bão lớn đi qua hay gần hòn đảo. Bão Andrew đã tàn phá vùng phía bắc quần đảo năm 1992, và cơn Bão Floyd đã tàn phá hầu như toàn bộ quần đảo năm 1999. Bão Frances năm 2004 được cho là gây thiệt hại to lớn nhất trong lịch sử cho quần đảo này. Cũng trong năm 2004, vùng phía bắc Bahamas bị Bão Jeanne tràn qua tuy mức thiệt hại có nhỏ hơn. Năm 2005 các vùng phía bắc một lần nữa lại bị Bão Wilma tràn qua. Thủy triều và gió mạnh phá hủy nhà cửa, trường học, ngập tràn đảo khiến khoảng 1.000 mất nhà cửa. Họ bị kẹt không có thức ăn, nước uống và nhu yếu phẩm trong nhiều ngày, phải nhận trợ cấp từ chính phủ. == Chính phủ và Chính trị == Bahamas là một quốc gia độc lập và là thành viên của Khối thịnh vượng chung. Chính trị và truyền thống pháp luật của nước này có sự tương đồng lớn với Vương quốc Anh. Nữ hoàng Anh là nguyên thủ quốc gia theo nghi thức, được đại diện bởi một Toàn quyền người Bahamas. Thủ tướng là lãnh đạo chính phủ và lãnh đạo đảng đa số trong Quốc hội. Thượng viện do chỉ định. Quyền hành pháp thuộc nội các. Quyền lập pháp vừa do chính phủ vừa do hai viện đảm nhiệm. Hệ thống đảng phái chủ yếu do Đảng Tự do Tiến bộ trung tả và Mặt trận Tự do Quốc gia trung hữu kiểm soát. Một nhóm các đảng nhỏ chưa từng có được ảnh hưởng để thắng cử vào nghị viện, dù những người dân Bahamas cho rằng cả Đảng Tự do Tiến bộ và Mặt trận Tự do Quốc gia đều có cách tiếp cận vấn đề giống nhau. Các đảng nhỏ gồm Mặt trận Dân chủ Bahamas, Liên minh Cải cách Dân chủ và Đảng Quốc gia Bahamas. Việc đảm bảo sự thực thi của hiến pháp gồm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tôn giáo, phong trào không liên kết. Bahamas là một thành viên của Cộng đồng Caribe. Tư pháp độc lập với lập pháp và hành pháp. Hệ thống luật pháp dựa theo luật pháp Anh. == Quốc phòng == Bahamas không có một quân đội hoặc lực lượng vũ trang chính quy nào. Các lực lượng quân sự của Bahamas bao gồm Lực lượng Quốc phòng Hoàng gia Bahamas (RBDF), Hải quân Hoàng gia Bahamas. Theo Đạo luật Quốc phòng, lực lượng Quốc phòng Hoàng gia Bahamas đã được uỷ quyền để bảo vệ Bahamas, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Bahamas, tuần tra vùng biển của Bahamas, cung cấp hỗ trợ và cứu trợ khi có thiên tai cho các ngư dân của Bahamas hoặc các nước khác trong vùng biển Caribe, kết hợp với các cơ quan thực thi pháp luật của Bahamas để duy trì trật tự và an ninh của quốc gia, thực hiện bất kỳ nhiệm vụ được ban hành bởi Hội đồng an ninh Quốc gia Bahamas. Lực lượng Quốc phòng của Bahamas cũng là một thành viên của Địa Phương Quân Bahamas (CARICOM) để duy trì an ninh các quận địa phương. Lực lượng Quốc phòng Hoàng gia Bahamas chính thức ra đời vào ngày 31 tháng 3 năm 1980. Nhiệm vụ của họ bao gồm bảo vệ Bahamas, ngăn chặn buôn lậu ma túy, nhập cư bất hợp pháp, săn bắn trộm, và cung cấp trợ giúp cho các thủy thủ bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào họ có thể. Lực lượng Quốc phòng có một hạm đội 26 tàu tuần tra ven biển và các tuyến đường hàng hải cùng với 2 máy bay và hơn 850 nhân viên trong đó bao gồm 65 sĩ quan và 74 phụ nữ làm việc trên các tàu tuần tra. == Kinh tế == Bahamas là một quốc gia ổn định, phát triển với nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào du lịch và dịch vụ ngân hàng nước ngoài. Bahamas nói chung được coi là một trong những trung tâm tài chính nước ngoài hàng đầu. Tính đến năm 2016, GDP của Bahamas đạt 9.047 USD, đứng thứ 138 thế giới và đứng thứ ba khu vực Caribe sau Trinidad và Tobago và Jamaica. Chỉ riêng du lịch chiếm hơn 60% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và trực tiếp hay gián tiếp sử dụng tới một nửa lượng lao động. Tăng trưởng du lịch vững chắc cộng với sự bùng nổ xây dựng các khách sạn, khu du lịch và dinh thự mới dẫn tới sự tăng trưởng GDP vững chắc trong những năm gần đây. Nhờ khí hậu nắng ấm, các bãi biển cát trắng rộng lớn và gần Hoa Kỳ, quần đảo đầy nét hấp dẫn này thu hút khoảng hai triệu khách du lịch mỗi năm và tạo điều kiện cho ngành công nghiệp du lịch phát triển. Chế độ thuế quan ưu đãi đã thu hút các công ty tài chính thăm dò dầu khí ngoài khơi và giới hưu trí giàu có. Các nguồn tài nguyên khác gồm: đánh bắt tôm, làm vườn, ruộng muối, hóa lọc dầu và công nghiệp nhẹ (dược phẩm). Các ngành sản xuất và nông nghiệp chỉ đóng góp khoảng 10% vào tổng sản lượng quốc dân. Mặc dầu được Chính phủ quan tâm nhiều, nhưng các khu vực kinh tế này cũng không mấy phát triển. Chế tạo và nông nghiệp chiếm khoảng mười phần trăm GDP và có mức độ tăng trưởng thấp, dù chính phủ đang có ý định khuyến khích phát triển các lĩnh vực này. Triển vọng phát triển tổng quan trong tương lai gần vẫn dựa nhiều vào nguồn thu từ du lịch, vốn phụ thuộc vào sự tăng trưởng tại Hoa Kỳ, nguồn khách chính của hòn đảo này. Tài chính là lĩnh vực quan trọng chiếm khoảng 15% GDP. Các ngành sản xuất và nông nghiệp ít phát triển, chiếm khoảng 10% GDP. Chính phủ Bahamas đang chú trọng phát triển thương mại điện tử. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống còn 7.6% năm 2006, từ mức 10.2% năm 2005, chủ yếu nhờ các dự án xây dựng và phát triển các khu du lịch trên khắp hòn đảo. Hại hai hòn đảo đông dân nhất tại Bahamas, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm từ 10.9% xuống 6.6% tại New Providence, và từ 11% xuống còn 8.4% tại Grand Bahama. Ước tính tỷ lệ nghèo khổ năm 2004 là 9.3%. Ngoài ra, thu nhập trung bình hộ đã tăng lên $43.420 từ mức $38.894 năm 2005. Đồng dollar Bahamas và dollar Mỹ được trao đổi ở mức 1:1. == Hành chính == Bahamas được chia thành các quận nằm dưới một hệ thống của chính quyền địa phương quận New Providence là quận nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của chính phủ trung ương. Năm 1996, quốc hội Bahamas đã thông qua "Đạo luật Chính quyền địa phương" để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập ban quản trị hành chính ở các đảo, chính quyền địa phương quận, Nghị Viên các quận ở địa phương, và các Ủy ban Thị trấn địa phương cho các cộng đồng dân cư ở các đảo khác nhau. Mục tiêu tổng thể của hành động này là để cho phép bầu các nhà lãnh đạo khác nhau để quản lý và giám sát công việc của địa bàn các quận đảo mà không có sự can thiệp của Chính phủ Trung ương. Tổng cộng, Bahamas có 32 quận, với các cuộc bầu cử chính quyền địa phương được tổ chức 3 năm một. Ngoài ra còn có 110 Nghị Viên và 200 thành viên các Ủy ban của 81 Thị trấn để tương ứng với các quận khác nhau. Các quận của Bahamas là: == Nhân khẩu Bahamas == Gần 85% dân số Bahamas có nguồn gốc châu Phi, tiếp theo là Cáp cát 12%. Các sắc tộc thiểu số khác gồm người châu Á và Hispanics với tỷ lệ 3%. Nhiều người Bahamas Cáp cát tập trung trên Abaco Island, Spanish Wells, Harbour Island, Long Island, và quận Montagu Bay district thuộc New Providence (phía đông Nassau). Cũng có một số lượng đáng kể người không phải quốc tịch Cáp cát từ Hoa Kỳ và châu Âu. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, được hầu như tất cả người dân trên đảo sử dụng, dù nhiều người nói một hình thức tiếng patois của Thổ ngữ Creole Bahamas không nên nhầm lẫn với Creole Haiti được sử dụng bởi một lượng lớn dân nhập cư. Tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha cũng được các nhóm nhập cư sử dụng. Là một đất nước tôn giáo mạnh, số lượng nơi thờ tự trên đầu người tại Bahamas cao nhất thế giới. Các hòn đảo đều có số lượng tín đồ Tin Lành Thiên chúa giáo áp đảo (hơn 80%). Baptists là giáo phái lớn nhất (khoảng một phần ba), tiếp theo là Anh giáo và nhà thờ Cơ đốc giáo La Mã. Một số người, đặc biệt tại các hòn đảo phía nam và phía đông theo Obeah, một tôn giáo thông linh tương tự như Voodoo. Tuy nổi tiếng trên toàn Bahamas, Obeah lại bị nhiều người xa lánh. Voodoo cũng có tín đồ, nhưng hầu như chỉ bên trong những cộng đồng nhập cư từ Haiti, Cuba, Cộng hòa Dominica và Jamaica. == Văn hoá và Thế thao == Văn hoá Bahamas là sự pha trộn giữa ảnh hưởng Châu Phi và Châu Âu. Có lẽ phong cách âm nhạc nổi tiếng nhất của nước này là junkanoo. Bên cạnh Junkanoo, cách hình thức âm nhạc bản địa khác gồm rake and scrape, calypso, và một hình thức thánh ca độc nhất, được biết đến trên trường quốc tế thông qua âm nhạc hậu Joseph Spence. Các ban nhạc hành khúc đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, chơi trong những đám ma, đám cưới và các sự kiện nghi lễ khác. Tại các hòn đảo kém phát triển - thường được gọi là "đảo gia đình" - các món đồ thủ công gồm cả các loại rổ rá làm từ lá cọ. Vật liệu này, thường được gọi là "rơm", cũng được dùng làm mũ và túi và trở thành đồ lưu niệm thông thường cho khách du lịch ngày nay. Đua thuyền buồm là những sự kiện xã hội quan trọng tại nhiều hòn đảo. Chúng thường được tổ chức trong nhiều ngày với những chiếc thuyền kiểu truyền thống, cùng lúc các lễ hội trên bờ cũng được tổ chức. Một số người định cư có những lễ hội gắn liền với truyền thống mùa vụ hay kỳ lũ trong vùng, như "Pineapple Fest" tại Gregory Town, Eleuthera hay "Crab Fest" tauh Andros. Các truyền thống đáng chú ý khác như kể chuyện hay thi Obeah. Bahamas không có môn thể thao quốc gia thực sự. Dù các môn thể thao Anh như cricket, bóng đá và rugby vẫn được nhiều người ưa thích, ngày nay các ảnh hưởng từ Mỹ cũng mạnh mẽ với những môn thể thao đang được ưa chuộng như bóng rổ, bóng chày, bóng đá kiểu Mỹ. Có nhiều vận động viên điền kinh Bahamas đạt trình độ quốc tế. Bahamas đã đoạt huy chương vàng Olympic môn đua thuyền (Durwood Knowles và Cecile Cooke - 1964), điền kinh (Tonique Williams-Darling - 2004, và chạy tiếp sức nữ - 2000). == Tham khảo == === Lịch sử chung === Cash Philip et al. (Don Maples, Alison Packer). The Making of the Bahamas: A History for Schools. London: Collins, 1978. Albury, Paul. The Story of The Bahamas. London: MacMillan Caribbean, 1975. Miller, Hubert W. The Colonization of the Bahamas, 1647–1670, The William and Mary Quarterly 2 no.1 (Jan 1945): 33–46. Craton, Michael. A History of the Bahamas. London: Collins, 1962. Craton, Michael and Saunders, Gail. Islanders in the Stream: A History of the Bahamian People. Athens: University of Georgia Press, 1992 === Lịch sử Kinh tế === Johnson, Howard. The Bahamas in Slavery and Freedom. Kingston: Ian Randle Publishing, 1991. Johnson, Howard. The Bahamas from Slavery to Servitude, 1783–1933. Gainesville: University of Florida Press, 1996. Storr, Virgil H. Enterprising Slaves and Master Pirates: Understanding Economic Life in the Bahamas. New York: Peter Lang, 2004. === Lịch sử xã hội === Johnson, Wittington B. Race Relations in the Bahamas, 1784–1834: The Nonviolent Transformation from a Slave to a Free Society. Fayetteville: University of Arkansas, 2000. Shirley, Paul. "Tek Force Wid Force", History Today 54, no. 41 (tháng 4 năm 2004): 30–35. Saunders, Gail. The Social Life in the Bahamas 1880s–1920s. Nassau: Media Publishing, 1996. Saunders, Gail. Bahamas Society After Emancipation. Kingston: Ian Randle Publishing, 1990. == Liên kết ngoài == Official website for Bahamas government Bahamas Financial Services Board The Association of International Banks & Trust Companies in The Bahamas The Bahamas Constitution Bahamian Studies Online Mục “Bahamas” trên trang của CIA World Factbook.
zürich.txt
Zürich ( [ˈtsyːʁɪç]; tiếng Đức tại Zürich: Züri [ˈtsyri]) là thành phố lớn nhất của Thụy Sĩ (dân số: 366.145 vào năm 2004; dân số vùng nội thành: 1.091.732) và là thủ đô của bang Zürich. Dân số của toàn khu đô thị là vào khoảng 1.3 triệu. Thành phố là trung tâm thương mại và văn hóa chính của Thụy Sĩ (thủ đô chính trị là Bern), và được xem như là một trong những thành phố toàn cầu trên thế giới. Theo một điều tra vào năm 2006, đây là thành phố với chất lượng cuộc sống tốt nhất trên thế giới. Nguồn gốc của tên gọi có lẽ là từ Turus trong tiếng Celt, một bằng chứng được tìm thấy trên một tấm bia mộ có niên đại từ thời bị chiếm đóng bởi Đế chế La Mã trong thế kỉ thứ 2; tên cổ của thành phố dưới dạng La Mã là Turicum. == Địa lý == Thành phố tọa lạc nơi mà sông Limmat rời hồ Zürich và được vây quanh bởi những đồi cây cối bao gồm Zürichberg và Uetliberg. Sông Sihl gặp Limmat tại điểm cuối của Platzspitz, biên giới với Bảo tàng Quốc gia Thụy Sĩ (Landesmuseum). === Khí hậu === == Lịch sử == Vào thời đại Roman, Turicum là điểm thu thuế tại biên giới với Gallia Belgica (từ năm 90 Germania superior) và Raetia buôn bán hàng hóa trên dòng sông Limmat. Một lâu đài kiểu Carolingian, được xây trên địa điểm lâu đài Roman bởi cháu nội của Charlemagne, Louis the German, được nhắc đến năm 835 ("trong castro Turicino iuxta fluvium Lindemaci"). Louis cũng thành lập tu viện Fraumünster vào năm 853 cho con gái ông ta là Hildegard. Ông hiến tặng tu viện theo dòng Benedictine nhiều đất đai của Zürich, Uri, và khu rừng Albis, và cho tu viện quyền bất khả xâm phạm, đặt nó trực tiếp dưới quyền cai quản của ông ta. Vào năm 1045, Vua Henry III cho phép tu viện quyền họp chợ, thu lộ phí, và đúc tiền xu, và do đó đã làm cho tu bà trưởng tu viện trở thành người cai quản thành phố. Zürich trở thành reichsunmittelbar vào năm 1218 với sự tuyệt tự của dòng chính trong gia đình Zähringer. Một tường thành được xây dựng vào những năm 1230, vây quanh 38 hecta. Hoàng đế Frederick II đã tấn phong tu viện trưởng của Fraumünster lên chức nữ công tước vào năm 1234. Nữ tu viện trưởng chỉ định thị trưởng, và bà thường xuyên giao việc đúc tiền cho công dân của thành phố. Tuy vậy, quyền lực chính trị của tu viện suy yếu dần đi trong thế kỉ 14, bắt đầu với sự thiết lập của Zunftordnung (luậtphường hội) vào năm 1336 bởi Rudolf Brun, cũng là người thị trưởng độc lập đầu tiên, nghĩa là không được chỉ định bởi bà tu viện trưởng. Zürich tham gia liên bang Thụy Sĩ (vào thời gian đó là một liên bang lỏng lẻo de facto của các nước độc lập) như là thành viên thứ năm vào năm 1351. Zürich bị khai trừ khỏi liên bang vào năm 1440 do một cuộc chiến tranh với các nước thành viên khác vì vụ tranh chấp lãnh thổ Toggenburg (Chiến tranh Zürich cổ). Zürich bị đánh bại vào năm 1446, và được chấp nhận lại vào liên bang vào năm 1450. Zwingli bắt đầu cải cách Thụy Sĩ vào thời gian ông là thầy tu chính ở Zürich. Ông sống nơi đó từ 1484 cho đến khi qua đời vào năm 1531. Vào năm 1839, thành phố phải nhường cho những yêu cầu từ các đối tượng miền quê của nó, theo sau Züriputsch vào 6 tháng 9. Đa số các thành lũy xây từ thế kỉ thứ 17 bị kéo đổ, mặc dù chưa từng bị bao vây, để làm giảm bớt mối lo ngại về quyền bá chủ của thành phố từ các miền đồng quê. Hiệp ước Zurich giữa Áo, Pháp, và Sardinia được ký kết vào năm 1859. Từ năm 1847, Spanisch-Brötli-Bahn, đường sắt đầu tiên trên đất Thụy Sĩ, nối liền Zürich với Baden, đặt nhà ga chính Zürich tại điểm gốc của mạng lưới đường sắt Thụy Sĩ. Tòa nhà hiện tai Hauptbahnhof (nhà ga đường sắt chính) xây từ 1871. == Huy hiệu của thành phố == Huy hiệu xanh và trắng của Zürich được thử nghiệm vào năm 1389, và được vẽ từ các lá cờ xanh sọc trắng từ năm 1315. Bằng chứng chắc chắn về lá cờ với cùng kiểu đó có từ 1434. Huy hiệu được hộ tống hai bên bởi hai con sư tử. Cái Schwenkel màu đỏ trên lá cờ có nhiều cảnh diễn giải khác nhau: Đối với dân thành Zürich, đó là dấu ấn danh dự, được ban cho bởi Rudolph I. Những cư dân lân cận Zürich lại trêu chọc rằng đó là dấu hiệu nhục nhã, kỉ niệm thất bại của lá cờ tại Winterthur vào năm 1292. Ngày nay, bang Zürich sử dụng huy hiệu giống như của thành phố. == Thắng cảnh == === Nhà thờ === === Bảo tàng === === Các thắng cảnh khác === == Công nghiệp và thương mại == == Kinh doanh, công nghiệp và thương mại == UBS, Credit Suisse, Swiss Re và nhiều tập đoàn tài chính khác đều đặt trụ sở tai Zurich, trung tâm thương mại của Thụy Sĩ. Zurich dẫn đầu thế giới về ngành ngân hàng, chủ yếu là nhờ vào Swiss bank secrecy. Hoạt động tài chính chiếm 1/4 hoạt động kinh tế của thành phố và Thị trường chứng khoán Thụy Sĩ cũng tọa lạc tại Zurich. Năm 2006, GDP của vùng Zurich là 160 tỉ USD, bình quân đầu người là 45.000 USD === Những lý do thành công về kinh tế === === Sở giao dịch chứng khoán Thụy Sĩ === == Truyền thông == === Nhật báo === Neue Zürcher Zeitung (NZZ) Tages-Anzeiger Blick 20 Minuten Limmattaler Tagblatt Tagblatt der Stadt Zürich Zürichsee-Zeitung Heute === Tuần báo === Die Weltwoche Facts Die Wochenzeitung WOZ Finanz und Wirtschaft Cash Tachles Sonntags-Zeitung Neue Zürcher Zeitung am Sonntag NZZaS Sonntags-Blick P.S. Zeitung === Nguyệt san === Bilanz Du Magazin === Hệ thống tin điện tử === Swissinfo (News in English) === Các phong trào nghệ thuật ra đời tại Zurich === === Opera, ba-lê và các nhà hát === === Cuộc sống về đêm. Câu lạc bộ === == Giáo dục và nghiên cứu == ETH Zürich University of Zürich IBM Zürich Research Laboratory Swiss Re's Centre for Global Dialogue SIK Swiss Institute for Art Research - Schweizerisches Institut für Kunstwissenschaften HGKZ - University of Applied Sciences and Designs Avenir Suisse - Liberal Think Tank Swiss Institute of International Studies HMT School of Music, Drama and Dance - Hochschule für Musik und Theater ZFH College of Applied Sciences and Technologies Zurich - Zürcher Fachhochschule Graduate School of Business Administration Zurich National Centre of Competence in Research - Financial Valuation and Risk Management Inter-Community School Zurich Zurich International School == Thể thao == Grasshopper-Club Zürich Football [1] (tiếng Đức) ZSC Lions Ice Hockey Club [2] (tiếng Đức) FC Zürich Football Club [3] (tiếng Đức) Challengers Baseball Club Zürich [4] Zürich Lions Baseball Club [5] Zürich Renegades American Football Club [6] (tiếng Đức) Federation Internationale de Football Association (FIFA) headquarters. Weltklasse Zürich International Ice Hockey Federation (IIHF) Swimming in the lake, in the river or in several outdoor swimming pools (June-September) == Sự kiện == == Giao thông == == Những người nổi tiếng == == Khách sạn == Savoy Baur en Ville ([7]) Baur au Lac ([8]) Dolder ([9]) Alden Splügenschloss ([10]) Eden au Lac ([11]) Park Hyatt Zürich ([12]) Widder ([13]) Marriott ([14]) Ascot ([15]) Swissotel ([16]) Map Overview: Hotels in ZurichSee also: Zürich Tourismus == Các thành phố kết nghĩa == San Francisco, United States (private initiative) Kunming, Peoples Republic of China == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bản mẫu:Wikisource1913CatholicEnc Zürich Tourismus, Official site in German and English Stadt Zürich (tiếng Đức) Official site Greater Zurich Area, Official Zurich Economic Promotion Site Zurich Comedy Club - English Language Theatre in Zurich Zurich International Club Non Profit International Club (ZHIC)
áo giao lãnh.txt
Áo giao lãnh hay áo giao lĩnh (chữ Hán: 交領衣 / Giao lãnh y) là cách gọi một trong những lối y phục lâu đời nhất trong tập quán Việt Nam. == Lịch sử == Kiểu áo này phổ biến vào thời Lý - Trần - Lê, nhưng sang đến thời chúa Nguyễn Phước Khoát năm 1744 thì có lệnh sửa đổi cách ăn mặc của người Đàng Trong, dùng áo cài khuy, bỏ váy mặc quần. Ở Đàng Ngoài áo cổ chéo tiếp tục có mặt cho đến khi nhà Nguyễn dẹp nhà Lê, thống nhất sơn hà. Vua Minh Mạng đầu thế kỷ 19 ra lệnh dân Bắc Hà cũng phải thay đổi trang phục theo giống trong Nam. Thói quen mặc áo cổ chéo trong dân gian từ đó mờ dần, chỉ còn dùng như loại áo thụng trong lúc tế lễ. Nam giới bắt đầu mặc áo dài nhưng nữ lưu phía bắc sông Gianh vẫn nhất nhất theo lối cũ. Áo tứ thân được xem là cách tân của áo cổ chéo, tiếp tục tồn tại đến đầu thế kỷ 20, chỉ khác ở chỗ tay áo tứ thân hẹp, không dài và rộng như áo cổ chéo cũ. Sau, áo tứ thân sau lại nhường chỗ cho lối y phục Âu hóa của người Việt. == Mô tả == Đây là một loại áo rộng, xẻ hai bên hông, dài tay, cổ tay cũng may rất rộng. Thân áo dài chấm gót chân và may bằng năm - sáu tấm vải, không phân biệt giới tính. Theo thư tịch cũ minh họa thì đàn bà mặc áo phủ ngoài. Bên trong là yếm trên ngực, phía dưới bụng quấn váy tơ đen, buộc bằng thắt lưng nhuộm màu, hai đầu buông thả. Hai vạt áo để mở. Đàn ông cũng mặc áo ra ngoài quần hay khố nhưng vạt bên trái được kéo chéo qua ngực và bụng rồi buộc vào bên phải. Đến thế kỷ 19 thì áo giao lãnh không phải là thường phục nữa mà là lễ phục. Trong dân gian thì là áo thụng. Trong triều thì gọi là "phổ phục" hay "bổ phục" để các quan mặc ra bên ngoài cùng khi có đại tế hay vào chầu vua. Khi mặc áo thì đính thêm bố tử ở ngực và lưng để rõ phẩm ngạch. == Xem thêm == Áo dài == Tham khảo == Áo dài - Trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam == Liên kết ngoài ==
bóng bầu dục bảy người tại thế vận hội mùa hè 2016.txt
Bản mẫu:Bóng bầu dục bảy người tại Thế vận hội Mùa hè 2016 Bóng bầu dục bảy người tại Thế vận hội Mùa hè 2016 được diễn ra trong tháng Tám tại Rio de Janeiro. Mỗi nội dung sẽ diễn ra trong ba ngày. Thế vận hội Mùa hè 2016 đánh dấu lần ra mắt của bóng bầu dục bảy người tại Thế vận hội Mùa hè, mặc dù rugby union đã từng được diễn ra tại Thế vận hội Mùa hè 1924. Luật thường dùng của môn bóng bầu dục bảy người được sử dụng. == Thay đổi == Mặc dù rugby không còn xuất hiện tại Thế vận hội kể từ Thế vận hội Mùa hè 1924, IOC chọn phiên bản bảy người của môn này vào chương trình thi đấu. Môn cũng sẽ góp mặt tại Thế vận hội Mùa hè 2020. == Địa điểm thi đấu == Địa điểm thi đấu diễn ra là một nơi thi đấu tạm thời Sân vận động Deodoro. Kế hoạch ban đầu là diễn ra tại Sân vận động São Januário. Tuy nhiên đã bị hủy bỏ vì câu lạc bộ phụ trách của địa điểm bỏ lỡ hạn chót để trình bày dự án của mình. Ban tổ chức cân nhắc chọn Estádio Olímpico João Havelange, chia sẻ sân thi đấu với môn điền kinh. Sau đó nội dung thi đấu môn bóng bầu dục được lựa chọn là một địa điểm thi đấu tạm thời ở Sân vận động Deodoro, chia sẻ địa điểm với năm môn phối hợp hiện đại. == Vòng loại == Đội tuyển nam và nữ Brasil được đặc cách vượt qua vòng loại. Vòng loại bắt đầu từ Sevens World Series 2014–15 (nam) và World Rugby Women's Sevens Series 2014–15 (nữ), nơi 4 đội đứng đầu sẽ vượt qua vòng loại Thế vận hội 2016. Từ tháng Sáu tới tháng 9 năm 2015, sáu liên đoàn khu vực tổ chức các vòng loại Olympic, mỗi đội của mỗi châu lục sẽ giành vé. Suất cuối cùng được quyết định bằng giải đấu vớt gồm 16 đội đến từ các khu vực: 4 từ châu Âu, 3 từ châu Phi, 3 từ châu Á, 2 từ châu Đại Dương, 2 từ Bắc Mỹ và 2 từ Nam Mỹ. Vì Anh Quốc là một đội thống nhất thi đấu tại Thế vận hội nhưng lại có một vài đội rugby quốc tế (Anh, Wales, Scotland và những cầu thủ Bắc Ireland chọn thi đấu cho Ireland), nên chỉ cần một trong các đội Anh, Wales hoặc Scotland vượt qua vòng loại thì Anh Quốc sẽ được trao một suất thi đấu tại Thế vận hội. Ba liên đoàn của Anh Quốc đưa đến quyết định rằng đội có thứ hạng cao nhất của Sevens World Series nam và nữ mùa 2013–14 sẽ đại diện cả ba liên đoàn tại vòng một của vòng loại 2014–15. Đội tuyển nam và nữ của Anh giành được quyền đại diện cho các liên đoàn thuộc Anh Quốc thi đấu tại nội dung của họ. Các liên đoàn cũng thống nhất việc thành lập đội tuyển Anh Quốc. Các cầu thủ Bắc Ireland sẽ thi đấu cho Ireland và IRFU yêu cầu các cầu thủ Bắc Ireland cam kết chỉ thi đấu Ireland mặc dù họ đủ tư cách theo luật IOC cho Anh Quốc. Cơ quan chủ quản của môn này được đổi từ Hội đồng Rugby quốc tế thành World Rugby (WR) từ 19 tháng 11 năm 2014. === Nam === === Nữ === ^ 1. Nam Phi giành chiến thắng vòng loại châu lục nhưng không tham dự Thế vận hội 2016. Trước đó giám đốc điều hành SASCOC Tubby Reddy tuyên bố rằng vượt qua vòng loại vẫn chưa đủ. Kenya, đội xếp thứ hai vòng loại châu Phi giành quyền tới Olympic. == Lịch thi đấu == Các nội dung sẽ diễn ra từ 6–11 tháng Tám. Tại nội dung dành cho nam, bảng A gồm Fiji, Argentina, Hoa Kỳ và Brazil. Bảng B gồm Nam Phi, Úc, Pháp và Tây Ban Nha trong khi đó bảng C có New Zealand, Anh Quốc, Kenya và Nhật Bản. Tại nội dung dành cho nữ bảng A gồm Úc, Hoa Kỳ, Fiji và Colombia. Bảng B gồm New Zealand, Pháp, Tây Ban Nha và Kenya trong khi đó bảng C có Canada, Anh Quốc, Brazil và Nhật Bản. == Nam == === Vòng bảng === ==== Bảng A ==== ==== Bảng B ==== ==== Bảng C ==== === Vòng loại trực tiếp === == Nữ == === Vòng bảng === ==== Bảng A ==== ==== Bảng B ==== ==== Bảng C ==== === Vòng loại trực tiếp === == Huy chương == === Bảng xếp hạng huy chương === === Danh sách huy chương === == Xem thêm == Bóng bầu dục liên minh tại Thế vận hội Mùa hè (Bóng bầu dục liên minh một đội 15 người, 1900–1924) Bóng bầu dục bảy người tại Thế vận hội Mùa hè == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Quá trình vòng loại
shah alam.txt
Shah Alam /ʃɑː ˈɑːləm/ là thủ phủ của bang Selangor, Malaysia, nằm trong huyện Petaling và một phần nhỏ của huyện Klang. Thành phố nằm cách 25 kilômét (16 mi) về phía tây của thủ đô Kuala Lumpur. Shah Alam thay thế Kuala Lumpur trong vai trò thủ phủ của bang Selangor vào năm 1978 do Kuala Lumpur được hợp thành lãnh thổ liên bang vào năm 1974. Shah Alam là thành phố kế hoạch đầu tiên tại Malaysia sau khi độc lập từ Anh Quốc vào năm 1957. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tourism Malaysia-Selangor Shah Alam KTM Komuter Station Shah Alam Online Guide Majlis Bandaraya Shah Alam
tuyên quang (thành phố).txt
Thành phố Tuyên Quang là tỉnh lỵ của tỉnh Tuyên Quang, trung tâm văn hóa - kinh tế - chính trị của tỉnh Tuyên Quang. == Địa lý == Vị trí địa lý: Thành phố nằm hai bên bờ sông Lô, được che chắn bởi các dãy núi cao và xen kẽ nhiều đồi núi thấp. Độ cao trung bình dưới 500m và hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, độ dốc thấp dần dưới 25°. Từ Hà Nội đi lên phía Bắc khoảng 165 km theo quốc lộ 2 có thể tới Thành phố Tuyên Quang (đi đường sơn nam thì chỉ mất 130 km). Địa giới hành chính: Thành phố được xác định: phía đông, phía bắc, phía tây giáp huyện Yên Sơn; phía nam giáp huyện Sơn Dương. Như vậy, đô thị trong tương lai sẽ có 3 khu chính: khu nội thị, 2 khu đô thị vệ tinh gồm khu du lịch sinh thái nằm ở phía Tây Nam và khu công nghiệp nằm ở phía Nam Thành phố. Diện tích: Thành phố Tuyên Quang có diện tích 11.917,45 ha đất tự nhiên. == Dân số == Thành phố có 110.119 người (năm 2010) == Khí hậu == Khí hậu của TP Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của lục địa Bắc Á Trung Hoa, có 4 mùa rõ rệt, mùa đông phi nhiệt đới lạnh - khô hạn, mùa hè nóng ẩm-mưa nhiều, mùa xuân và mùa thu ngắn, mang ý nghĩa chuyển tiếp giữa 2 mùa chính là đông và hè. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.295-2.266 mm. Nhiệt độ trung bình 22°-23 °C. Độ ẩm bình quân năm là 85%. == Hành chính == Thành phố có tổng số đơn vị hành chính trực thuộc là 13, trong đó có 7 phường: Hưng Thành, Minh Xuân, Nông Tiến, Phan Thiết, Tân Hà, Tân Quang, Ỷ La và 6 xã: An Khang, An Tường, Đội Cấn, Lưỡng Vượng, Thái Long, Tràng Đà. == Kinh tế == Thành phố là trung tâm văn hóa - kinh tế - chính trị của tỉnh Tuyên Quang. Tính đến đầu năm 2010, toàn Thành phố có 28 hợp tác xã thủ công nghiệp, 391 doanh nghiệp đóng trên địa bàn, trong đó 56 công ty cổ phần, 257 công ty TNHH, 78 doanh nghiệp tư nhân, tổng thu ngân sách nhà nước ước tính gần 160 tỷ đồng. Trên địa bàn Thành phố còn có khu công nghiệp Long Bình An với quy mô 109ha và 2 điểm công nghiệp tập trung tại phường Tân Hà và phường Nông Tiến. == Lịch sử == Trong quá trình lịch sử, TP Tuyên Quang luôn là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, là thủ phủ của một vùng "An biên" che chắn cho kinh đô Thăng Long về phía bắc. Sau năm 1954, thị xã Tuyên Quang có 3 phường: Minh Xuân, Phan Thiết, Tân Quang. Ngày 26 tháng 7 năm 1968, chuyển 4 xã: Ỷ La, Hưng Thành, Nông Tiến, Tràng Đà thuộc huyện Yên Sơn về thị xã Tuyên Quang quản lý. Sau năm 1975, thị xã Tuyên Quang có 3 phường: Minh Xuân, Phan Thiết, Tân Quang và 4 xã: Hưng Thành, Nông Tiến, Tràng Đà, Ỷ La. Những năm 1975-1991, thị xã Tuyên Quang giữ vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Hà Tuyên (do hợp nhất 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang). Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Tuyên Quang được tái lập, thị xã Tuyên Quang trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Quang. Ngày 3 tháng 9 năm 2008, chuyển 5 xã: An Tường, Lưỡng Vượng, An Khang, Thái Long, Đội Cấn thuộc huyện Yên Sơn về thị xã Tuyên Quang quản lý; chia xã Ỷ La thành 2 phường: Ỷ La và Tân Hà; chuyển 2 xã Hưng Thành và Nông Tiến thành 2 phường có tên tương ứng. Ngày 25 tháng 6 năm 2009, thị xã Tuyên Quang được công nhận là đô thị loại 3. Ngày 2 tháng 7 năm 2010, thị xã Tuyên Quang chính thức trở thành thành phố Tuyên Quang. == Địa danh - Văn hóa == === Di tích thành cổ Tuyên Quang === Được xây dựng vào cuối thế kỷ 16 (thời Nhà Mạc), Thành cổ Tuyên Quang có cấu trúc theo kiểu hình vuông, tường thành dài 275 m, cao 3,5m, dày 0,8m. Tổng diện tích thành cổ là 75.625 m². Ở giữa mỗi mặt thành có một vành bán nguyệt, giữa vành bán nguyệt đó trổ cửa ra vào; trên cửa xây tháp mái ngói dùng làm vọng lâu; bên trong tường có một đường nhỏ đi xung quanh dùng làm nơi tiếp đạn. Ngoài thành là hào nước; gạch xây thành làm bằng thứ đất có quặng sắt rất rắn. Với địa hình và cấu trúc đó khiến cho thành có một vị trí phòng thủ lợi hại và là vị trí quân sự trọng yếu. Nơi đây đã được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử hào hùng của nhân dân Tuyên Quang. Di tích còn lại gồm có hai cổng thành ở phía Tây và phía Bắc cùng một số đoạn tường thành. Thành Tuyên, xây dựng năm Nhâm Tý (1552), thời Nhà Mạc, vị trí: trung tâm thị xã Tuyên Quang, loại di tích kiến trúc: thành lũy kiên cố, chất liệu gạch. Thành xây hình vuông, mỗi bề 275m, cao 3m, dày 0,80m. Giữa mỗi mặt thành có vành bán nguyệt, giữa vành bán nguyệt là cửa, trên cửa xây tháp canh mái ngói. Gạch xây thành là thứ đất có quặng sắt, rất rắn, to và nặng. Đó là đặc trưng kích thước gạch thời Hậu Lê. Thời Nguyễn, năm 1844-1845, sửa thành Tuyên Quang. Trước kia, Lê Nguyên Giám và Vũ Doanh Từ, vì không tu sửa thành mà bị tội. Vua cho rằng, Nguyễn Đăng Giai có trách nhiệm kiêm hạt, làm hạ dụ, bắt phải trù tính để tu bổ. Phái 2000 biền binh ở tỉnh Sơn Tây đến ứng dịch. Lãnh binh Nguyễn Trọng Thao đôn đốc công việc. Giai cũng ở lại trông nom. Thành Tuyên Quang nuyên đặt dưới chân núi đất Thổ Sơn, dưới có đá chằng chịt, thợ làm rất khó, trải qua 3 tháng mới xong. Quan quân làm việc đều được thưởng hạng ưu. Đằng trước, đằng sau, bên tả, bên hữu đều dài 65 trượng, cao 7 thước 2 tấc xây bằng đá ong và 2 bên tả hữu đều xây 1 cửa nhỏ. Trong thành, chếch hướng bắc là đồi Thổ Sơn, cao 50m, dốc đứng. Từ chân đồi lên đỉnh có 195 bậc. Từ thời Hậu Lê về sau, các đơn vị quân đội đều đóng trong thành. Thời Lý, Tuyên Quang gọi là Tam Kỳ. (Lái buôn 3 kỳ lui tới). Ngày 31/5/1884, trung tá Duy Sơn (?), đem quân từ Việt Trì, theo sông Lô lên đánh Tuyên Quang. Tại thành Tuyên cũng diễn ra cuộc chiến của quân Lưu Vĩnh Phúc và nghĩa quân do đo đốc Đại chỉ huy chống Pháp. 20/12/1884, thành Tuyên bị vây hãm, cô lập, nhưng không bị chiếm; quanh thành, đào 10 đường hầm, dài 81m, nổ 7 quả mìn, diệt 200 tên địch. 24/8/1945, Việt Minh khởi nghĩa chiếm thành Tuyên. 22/12/1947, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tuyên dương công trạng chiến thắng Thu Đông 47, bên cạnh Thành Tuyên. (Hiện nay còn bia kỷ niệm). - Ngày 30/8/1991, Bộ Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch có quyết định số 1548: "Điều 1, nay công nhận Di tích lịch sử phế tích thành Tuyên Quang (phường Tân Quang, thị xã Tuyên Quang, tỉnh Hà Tuyên); điều 2, nghiêm cấm mọi hoạt động xây dựng, khai thác trong những khu vực bảo vệ của di tích đã khoanh vùng..." Thứ trưởng Vũ Khắc Liên. - Những năm cuối thế kỷ 20, Tuyên Quang làm cầu Nông Tiến có đường dẫn chạy qua thành Tuyên. Các đoạn đường 17 tháng Tám, Bình Thuận, Lương Sơn Tuyết làm trên những con hào bao quanh thành cổ. Nay chỉ còn lại 2 cổng là Tây Môn (nằm trên ngã tư đường Bình Thuận-Tân Trào) và cổng Nam Môn(nằm cạnh chợ Tam Cờ). Theo truyền thuyết, ngày xưa, thành xây xong, nhưng mỗi khi mở cổng Nam Môn là lại xảy ra bệnh dịch và hùm beo về quấy nhiễu, nên phải lấp lại, gọi là Cổng Lấp. Dân trong vùng vẫn gọi là Cổng Lấp, không mấy ai gọi Nam Môn. === Di tích Đền Hạ === Được xây dựng vào năm 1738, thời vua Lê Cảnh Hưng (Thời Hậu Lê), thờ Mẫu thần. Đền có mái đao cong duyên dáng với những biểu tượng rồng, phượng đắp nổi trên lớp mái ngói vẩy. Các ngày lễ lớn được diễn ra từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch. Khu đền in bóng bên dòng sông Lô, nơi có khúc sông uốn lượn hình rồng. Di tích mang đậm nghệ thuật kiến trúc tôn giáo. Hiện nay, trong đền còn có nhiều pho tượng cổ có giá trị về mặt nghệ thuật và lịch sử cùng nhiều bức tranh chạm khắc có giá trị nghệ thuật cao. === Hội đua thuyền trên Sông Lô === Tổ chức vào dịp tết Nguyên Đán; là hoạt động phản ánh đời sống sinh hoạt gắn với vùng sông nước của cư dân đôi bờ sông Lô; đồng thời thể hiện tinh thần thượng võ không chịu khuất phục của nhân dân Tuyên Quang trước những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, với ước muốn chinh phục cải tạo tự nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ giang sơn bờ cõi. Lễ hội được tổ chức vào mùng 4 tết hàng năm. === Lễ hội Đền Hạ === Là tấm lòng thành kính của nhân dân địa phương tưởng nhớ công đức đối với hai vị Ngọc Hân và Phương Hoa công chúa; Lễ hội phản ánh nét đẹp trong văn hoá ứng xử của người Việt, đó là đạo lý "Uống nước nhớ nguồn". Lễ hội được tổ chức vào tháng riêng hàng năm. === Lễ hội đường phố === Là hoạt động văn hoá đặc sắc của nhân dân các dân tộc Tuyên Quang với những làn điệu dân ca ngọt ngào, đằm thắm, các điệu múa dân gian nhịp nhàng uyển chuyển trong lung linh sắc màu của đêm rằm trung thu. Lễ hội đường phố của thành phố Tuyên Quang là một hoạt động văn hóa đặc sắc của nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, lễ hội mới được hình thành và phát triển, đây là hoạt động văn hóa hoàn toàn xuất phát từ đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Lễ hội diễn ra vào trung thu, với các hoạt động: làm đèn, hình thu các con vật, các địa danh như Thành nhà Mạc, núi Thổ sơn, Lán Nà Nưa...để rước trên các hè phố, bên cạnh đó là hoạt động múa dân gian như đám cưới chuột, múa Lân,... và cả nhảy, múa hiện đại. Hiện nay, đây là hoạt động văn hóa được nhân dân thành phố Tuyên Quang yêu thích và hưởng ứng nhiều nhất. == Chú thích ==
giải bóng đá quốc gia anh.txt
Giải bóng đá quốc gia Anh (Tên tiếng Anh: English Football League hay viết tắt EFL) là giải bóng đá chuyên nghiệp của các câu lạc bộ ở Anh và Xứ Wales. Được thành lập vào năm 1888, được xem là một trong những giải đấu lâu đời nhất trong thế giới bóng đá. Đó là giải đấu bóng đá hàng đầu tại nước Anh từ thế kỷ XIX cho đến năm 1992 trước khi 22 câu lạc bộ hàng đầu tách ra để gia nhập Premier League. English Football League được tài trợ vào năm 1983. Nhà tài trợ đã thay đổi trong những năm qua và giải đấu cũng được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau. Từ năm 1995, English Football League có 72 câu lạc bộ tham dự đều chia thành ba hạng đấu, được biết đến như là Football League Championship, Football League One và Football League Two, với 24 câu lạc bộ trong mỗi hạng đấu và có sự lên xuống hạng. Football League cũng tham dự đấu cúp đó là các giải Cúp FA, League Cup và Football League Trophy. Ngoài ra, Đội dự bị của các câu lạc bộ ở Football League thường chơi ở Giải Central League (Thuộc miền Trung và miền Bắc) hoặc Giải Football Combination (thuộc miền Nam). Trung tâm hoạt động của Hệ thống giải đấu này ở Preston trong khi đó Trung tâm hoạt động thương mại ở London. == Lịch sử == Sau 4 năm tranh luận, Hiệp hội bóng đá Anh cuối cùng được cấp phép tổ chức giải đấu vào ngày 20 tháng 7 năm 1885. Giám đốc Câu lạc bộ bóng đá Aston Villa, ông William McGregor là người đầu tiên đặt nền móng cho giải đấu. Vào ngày 2 tháng 3 năm 1888, ông đã viết cho các ủy ban của câu lạc bộ của mình đó là Aston Villa và một số câu lạc bộ thành viên khác như Blackburn Rovers, Bolton Wanderers, Preston North End, Stoke và West Bromwich Albion 1 bức thư muốn thành lập một giải đấu chung. Cuộc họp đầu tiên được tổ chức tại khách sạn Anderton tại London vào ngày 23 tháng 3 năm 1888 vào đêm trước của trận chung kết Cúp FA. Football League đã chính thức được tạo ra và đặt tên ở Manchester tại một cuộc họp nữa vào ngày 17 tháng 04 tại khách sạn Royal. Cái tên "Hiệp hội liên minh bóng đá" đã được đề xuất bởi ông McGregor nhưng điều này đã cảm thấy quá gần với " Rugby Football Union". Thay vào đó, "The Football League" đã được đề xuất chính William Sudell, đại diện cho Câu lạc bộ Preston và nhanh chóng được chấp nhận. Mùa giải đầu tiên của Football League bắt đầu một vài tháng sau đó vào ngày 08 tháng 09 với 12 câu lạc bộ thành viên thuộc Trung du và miền Bắc nước Anh: Accrington, Aston Villa, Blackburn Rovers, Bolton Wanderers, Burnley, Derby County, Everton, Notts County, Preston North End, Stoke (đổi tên Stoke City vào năm 1926), West Bromwich Albion và Wolverhampton Wanderers. Trong mùa giải 1991-92, các Câu lạc bộ Hạng nhất đã rời bỏ Football League để gia nhập Premier League được thành lập ngày 20 tháng 02 năm 1992, hoạt động như một công ty tư nhân có văn phòng tại Hiệp hội bóng đá Anh và có trụ sở chính tại Lancaster Gate. == Giải đấu Cúp == Liên đoàn bóng đá Anh tổ chức 2 cuộc thi đấu cúp knock-out: League Cup (gọi là Capital One Cup vì lý do tài trợ) và Football League Trophy (được gọi là Paint Trophy do ông Johnstone tài trợ). League Cup đã được thành lập vào năm 1960 và Các câu lạc bộ bóng đá Football League và Premier League được tham dự, đội vô địch đủ điều kiện để tham gia UEFA Europa League. Cúp Football League Trophy là giải đấu cúp dành cho các câu lạc bộ thuộc giải League One và League Two của Football League. Liên đoàn bóng đá Anh kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 vào năm 1988 với một giải đấu Football League Centenary Tournament tại sân Wembley gồm 16 câu lạc bộ thành viên. == Thể lệ giải đấu == Có 72 câu lạc bộ ở Hệ thống giải Football League. Chia làm 3 hạng đấu từ hạng 2 đến hạng 4 với mỗi hạng đấu gồm 24 đội bóng. Mỗi câu lạc bộ gặp câu lạc bộ khác hai lần (một lần tại sân nhà và một khác tại sân khách). Được 3 điểm cho một trận thắng, được 1 điểm cho một trận hòa và không có điểm nào khi thất bại. Vào cuối mùa giải một xếp hạng League One được xác định dựa trên các tiêu chí sau đây theo thứ tự: điểm thu được, hiệu số bàn thắng bại, số bàn thắng, số bàn thua, thành tích đối đầu, cuối cùng có một hay nhiều trận play-off để xác định xếp hạng. Đội vô địch và đội Á quân Football League Championship sẽ được lên Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Bốn đội đứng từ vị trí thứ 3 đến vị trí thứ 6 sẽ đá play-off để tranh 1 chiếc vé lên hạng như 2 đội vô địch và á quân. Ba đội cuối bảng ở giải ngoại hạng anh sẽ xuống chơi giải này, Ba đội cuối bảng ở Giải vô địch bóng đá Anh sẽ xuống chơi Giải bóng đá hạng nhất Anh. Vào cuối mỗi mùa giải, hai câu lạc bộ đứng đầu bảng xếp hạng và đội bóng giành chiến thắng trong trận play-off giữa các câu lạc bộ đã kết thúc ở vị trí thứ 3 đến vị trí thứ 6 được thăng lên Football League Championship. Có 3 câu lạc bộ xếp hạng cuối cùng ở Football League Championship xuống chơi tại Football League One. Tương tự như vậy, bốn câu lạc bộ kết thúc ở dưới cùng của League One được chuyển xuống Football League Two và được thay thế bằng ba câu lạc bộ xếp hạng đứng đầu tại Football League Two và đội bóng giành chiến thắng trong trận play-off giữa các câu lạc bộ đã kết thúc ở vị trí thứ 4 đến vị trí thứ 7 của Football League Two. Vào cuối mỗi mùa giải, ba câu lạc bộ đứng đầu bảng xếp hạng và đội bóng giành chiến thắng trong trận play-off giữa các câu lạc bộ đã kết thúc ở vị trí thứ 4 đến vị trí thứ 7 được thăng lên Football League One. Có 4 câu lạc bộ xếp hạng cuối cùng ở Football League One xuống chơi tại Football League Two. Hai đội kết thúc ở vị trí cuối cùng của Football League Two được chuyển xuống chơi tại Conference Premier và được thay thế bởi đội vô địch và đội ở vị trí thứ 2 đến vị trí thứ 5 giành chiến thắng play-off ở giải đấu Conference Premier. == Các Nhà tài trợ và truyền hình == Từ năm 1983, Giải đấu lần đầu tiên có nhà tài trợ: 1983–1986: Canon (Canon League) 1986–1987: Today newspaper (Today League) 1987–1993: Barclays (Barclays League)A 1993–1996: Endsleigh (Endsleigh League) 1996–2004: Nationwide (Nationwide Football League) 2004–2010: Coca-Cola (Coca-Cola Football League) 2010–2013: npower (npower Football League) 2016–2019: Sky Bet (Sky Bet EFL) A Upon the breakaway of the First Division in 1992 to form the Premier League, Barclays became a secondary sponsor in the newly formed top division, becoming the primary sponsor from 2001 until 2016. A Vào năm 1993 Giải hạng nhất của Football League đổi thành Premier League khi đó nhà tài trợ Barclays là nhà tài trợ giải đấu này. == Quản trị và quản lý == Hội đồng liên đoàn bóng đá Anh họp hàng tháng và bao gồm hai giám đốc độc lập, ba giám đốc đại diện cho Championship, hai giám đốc đại diện cho League One, và một đại diện cho League Two. Thành viên hiện tại (Tháng 8 năm 2014) bao gồm: === Ban quản trị === Greg Clarke - Chủ tịch Shaun Harvey - Tổng Giám đốc điều hành Paul Barber (Giám đốc điều hành) Brighton & Hove Albion Keith Lamb (Giám đốc điều hành) Middlesbrough Andy Ambler (Giám đốc điều hành) Millwall Debbie Jevans CBE, Richard Bowker - Giám đốc độc lập Jez Moxey (MD) Wolverhampton Wanderers James Rodwell (CEO) Scunthorpe United Ian Lenagan Oxford United === Trưởng ban quản lý === Andy Williamson OBE – Giám đốc điều hành === Những cựu chủ tịch === William McGregor 1892–94 John Bentley 1894–1910 John McKenna 1910–36 Charles Sutcliffe 1936–39 Will Cuff 1939–49 Arthur Drewry 1949-1953 Arthur Oakley 1955–57 Joseph Richards 1957–66 Terry Shipman 1966–74 William Westwood 1974–81 Jack Dunnett 1981–86 Philip Carter 1986–88 Bill Fox 1988-1991 == Các câu lạc bộ tham dự Football League 2015-16 == Bảng danh sách các câu lạc bộ bóng đá tham dự ở mùa giải 2015-2016: == Các nhà vô địch == Các Câu lạc bộ từng giành cú đúp chức vô địch Cúp Liên đoàn bóng đá Anh và Cúp FA được in đậm. === Giai đoạn 1888-1892 === Khi Football League lần đầu tiên được thành lập, có 12 câu lạc bộ tham dự trong một hạng đấu duy nhất. === Giai đoạn 1892-1920 === Năm 1892, Football League đã thu nhận 12 câu lạc bộ từ Football Alliance để thành lập một hạng mới, được gọi là hạng hai. === Giai đoạn 1920-1921 === Trong năm 1920, Football League đã thu nhận các câu lạc bộ hạng nhất của miền Nam nước Anh và Đội bóng Grimsby Town FC được thay thế bởi Đội bóng Cardiff City (của Southern League) ở giải hạng hai. Các câu lạc bộ đã tham dự trong giải hạng ba: === Giai đoạn 1921-1958 === Chỉ sau một mùa giải, Football League thay đổi hệ thống giải đấu lần nữa. Lần này, Giải hạng ba Anh được đổi thành Giải hạng ba miền Bắc và Giải hạng ba Miền Nam. Đội bóng Grimsby Town FC chuyển giao cho các Giải hạng ba Miền Bắc mới. Cả hai Giải đấu này được diễn ra cùng một thời điểm và được thăng hạng lên Giải hạng hai vào cuối mỗi mùa giải: === Giai đoạn 1958-1992 === Vào mùa giải 1958-59, Giải hạng ba Anh và Giải hạng tư Anh đã thay thế cho Giải hạng ba Miền Bắc và Giải hạng ba Miền Nam: === Giai đoạn 1992-2004 === Sau khi một số câu lạc bộ rời bỏ giải đấu cao nhất để tham gia vào Giải FA Premier League, Football League không còn bao gồm các câu lạc bộ hàng đầu ở Anh, và các nhà vô địch Football League đã không còn là nhà vô địch quốc gia của nước Anh. Vì vậy, giải hạng hai trở thành giải đấu cao nhất, Giải hạng ba đã trở thành Giải hạng Hai và Giải hạng tư trở thành Giải hạng ba. === Giai đoạn 2004-nay === Sau khi các câu lạc bộ ở giải đấu cao nhất rời bỏ Football League để gia nhập giải FA Premier League, Football League không còn bao gồm các câu lạc bộ hàng đầu ở Anh, và các nhà vô địch Football League đã không còn là nhà vô địch quốc gia của nước Anh. Vì vậy, giải hạng hai trở thành giải đấu cao nhất, Giải hạng ba đã trở thành giải hạng Hai và Giải hạng tư trở thành Giải hạng ba. Vào mùa giải 2005–06, Câu lạc bộ Reading kết thúc mùa giải với 106 điểm, vượt kỷ lục 105 điểm của Câu lạc bộ Sunderland. === Xếp hạng các nhà vô địch === Bảng xếp hạng theo thứ tự chức vô địch: == Danh hiệu Football League == Bao gồm cả danh hiệu Premier League: == Các trận Play-off == Mùa giải 1986-87 là mùa giải đầu tiên được tổ chức trận play-off nhằm thăng hạng. == Chú thích == == Xem thêm == National League Football League Two Football League One Giải bóng đá Ngoại hạng Anh == Liên kết khác == Website chính thức Giải bóng đá quốc gia Anh trên Twitter RSSSF Football League archive, 1888–
tháng 4 năm 2006.txt
Trang này liệt kê những sự kiện quan trọng vào tháng 4 năm 2006. == Chủ nhật, ngày 2 tháng 4 == Người dân Thái Lan bầu cử quốc hội trong không khí chính trị căng thẳng. == Thứ ba, ngày 4 tháng 4 == Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra tuyên bố sẽ từ chức sau nhiều cuộc biểu tình chống đối và đảng ông giành được 61% số phiếu trong cuộc bầu cử quốc hội. Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam Đào Đình Bình từ chức và Thứ trưởng thường trực Nguyễn Việt Tiến bị khởi tố trong vụ bê bối PMU 18. == Thứ sáu, ngày 7 tháng 4 == Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu cắt tất cả các viện trợ trực tiếp cho Palestine sau khi nhóm Hamas thắng cử. Hội địa lý Quốc gia Hoa Kỳ khánh thành Phúc âm Giu-đa, một văn kiện ngộ đạo tiếng Ai Cập cổ (Coptic) mới được tạo lại mà có thể được viết vào thế kỷ 2. == Chủ nhật, ngày 9 tháng 4 == Người dân Ý tham gia cuộc bầu cử Quốc hội. Cảnh sát dùng hơi cay đẩy lùi hàng trăm người tham gia biểu tình chống vua Gyanendra tại Nepal. == Thứ hai, ngày 10 tháng 4 == Hơn một triệu người biểu tình ở ít nhất 140 thành phố khắp nước Hoa Kỳ để chống H.R. 4437, một bán đạo luật để hạn chế nhập cư trái phép từ México vào Hoa Kỳ. Các biểu tình đã bắt đầu từ tháng 2. [1] Tại Ý, Romano Prodi và liên minh trung tả L′Unione tuyên bố chiến thắng cuộc bầu cử Quốc hội, nhưng liên minh trung hữu Nhà Tự do đứng đầu là Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi tranh cãi những kết quả. == Thứ ba, ngày 11 tháng 4 == Tại thành phố Mashhad, Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad tuyên bố rằng nước ông đã tinh luyện chất urani thành công. [2] Chính phủ Israel quyết định rằng từ nay Ariel Sharon được coi bị mất hết khả năng cầm quyền, sau khi ông bị cơn đột quỵ. == Thứ tư, ngày 12 tháng 4 == Các nhà cổ sinh vật học đào lên xương hóa thạch của loài Australopithecus anamensis tại Trung Awash (Ethiopia) để giúp chứng tỏ một số giai đoạn quan trọng trong con đường tiến hóa của loài người. == Thứ sáu, ngày 14 tháng 4 == Hai bom nổ trong nhà thờ Hồi giáo Jama Masjid được xây vào thế kỷ 17 tại Delhi (Ấn Độ), ít nhất 13 người bị thương. Ehud Olmert tiếp theo Ariel Sharon làm Thủ tướng Israel chính thức, sau khi chính phủ quyết định rằng ông Sharon được coi bị mất hết khả năng cầm quyền sau cơn đột quỵ. == Thứ bảy, ngày 15 tháng 4 == Quân đội Tchad đẩy lùi cuộc tấn công của Mặt trận Đoàn kết cho Thay đổi tại thủ đô N'Djamena. Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chỉ trích cuộc tấn công này. BBC VOA Tchad buộc tội Sudan ủng hộ âm mưu đảo chính của Mặt trận Đoàn kết cho Thay đổi đã làm 400 người trở lên bị thiệt mạng tại N'Djamena, và họ cắt quan hệ giữa hai nước này. == Thứ ba, ngày 18 tháng 4 == Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam khai mạc tại Hà Nội. == Thứ ba, ngày 19 tháng 4 == Han Myeong-sook trở thành nữ Thủ tướng đầu tiên của Hàn Quốc. Bầu cử Thượng viện Thái Lan Tòa án Tối cao Ý công nhận Romano Prodi thắng cử trong cuộc tổng tuyển cử nhưng đối thủ Silvio Berlusconi không chịu thua. == Thứ tư, ngày 20 tháng 4 == Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào công du đến Hoa Kỳ. == Thứ năm, ngày 21 tháng 4 == Nữ vương Elizabeth II của Vương quốc Anh và 16 quốc gia thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh tổ chức sinh nhật thứ 80 của bà, và công ty BBC tổ chức 80 năm sau được hiến chương hoàng gia đầu tiên. == Thứ sáu, ngày 22 tháng 4 == Tổng thống Iraq Jalal Talabani yêu cầu chính khách người Shia Jawad al-Maliki làm thủ tướng và lập chính phủ. Vua Gyanendra của Nepal kêu gọi đề cử Thủ tướng sau nhiều cuộc biểu tình. == Thứ ba, ngày 25 tháng 4 == Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam bế mạc tại Hà Nội, ông Nông Đức Mạnh tái đắc cử chức Tổng Bí thư. Sau nhiều cuộc biểu tình đòi dân chủ tại Nepal, vua Gyanendra bổ nhiệm Girija Prasad Koirala làm Thủ tướng của một chính phủ mới. == Thứ tư, ngày 26 tháng 4 == Thủ tướng Quần đảo Solomon Snyder Rini từ chức, tránh bị bất tín nhiệm ở Nghị viện. == Thứ năm, ngày 27 tháng 4 == Tháp Tự do bắt đầu được xây dựng tại Thành phố New York, ở cùng chỗ Trung tâm Thương mại Thế giới bị sụp đổ. == Thứ sáu, ngày 28 tháng 4 == Chung Mong-koo, chủ tịch Công ty Hyundai Motor, bị cảnh sát bắt ở Hàn Quốc trong cuộc điều tra về biển thủ. == Thứ bảy, ngày 29 tháng 4 == Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi tuyên bố sẽ từ chức để đối thủ Romano Prodi được lên chức. == Tham khảo ==
wyoming.txt
Wyoming (phát âm là Wai-âu-minh) là một tiểu bang miền Tây Hoa Kỳ. Đây là tiểu bang ít dân nhất Hoa Kỳ với vỏn vẹn 509.294 người. == Địa lý == Wyoming phía bắc giáp Montana; phía đông giáp Nam Dakota và Nebraska; phía nam giáp Colorado; và phía tây giáp Utah và Idaho. == Lịch sử == == Dân số == Phần lớn dân Wyoming sống tại Natrona County. [1]. Đến năm 2005, dân số Wyoming ước lượng khoảng 509.294 người, tăng 3.407 người, khoảng 0.7% so với năm trước. Nếu tính từ lần kiểm tra dân số Hoa Kỳ vào năm 2000, tiểu bang Wyoming tăng 15.512 người. Số tăng này gồm 12.165 người tăng tự nhiên (33.704 người mới sinh và 21.539 chết). Bên cạnh đó có 4.035 nhập cư từ những tiểu bang khác. Di dân ngoại quốc vào tiểu bang là 2.264 người. Tuy nhiên có một số người dọn đi nên tổng số ngoại kiều gia tăng là 1.771 người. Trong năm 2004, tổng số người ngoại quốc sống tại Wyoming ước lượng 11.000 người chiếm 2.2% dân số. Wyoming là tiểu bang có ít dân nhất và cũng là tiểu bang có mật độ dân số thấp nhất trong lục địa Hoa Kỳ. Tiểu bang Alaska có mật độ dân số thấp hơn đầu tổng dân số nhiều hơn. Nguồn gốc các sắc dân tại Wyoming như sau: Đức (25.9%), Anh (15.9%), Ái Nhĩ Lan (13.3%), Mỹ (6.5%), Na Uy (4.3%), Thụy Điển (3.5%) == Tôn Giáo == Tỷ lệ các tôn giáo tại Wyoming phân bố như sau: Cơ-đốc giáo – 78% Tin Lành – 53% Lutheran – 8% Báp-tít – 8% Giám Lý – 6% Trưởng Lão – 4% Giám Nhiệm – 4% Những giáo phái Tin Lành khác – 21% Công giáo – 16% Mormon – 11% Do Thái giáo –.1% Những tôn giáo khác – 1% Không tôn giáo – 20.9% == Kinh tế == == Giao thông == == Hệ thống chính trị và luật pháp == == Các thành phố lớn == Dưới đây là danh sách các thành phố trên 10.000 dân (xếp theo thứ tự dân số giảm dần): == Giáo dục == == Thể thao == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web của Chính quyển tiểu bang Wyoming Thông tin và biểu tượng của Tiểu bang Cổng giao tiếp về kiến thức và học tập của Wyoming Thư viện Luật tiểu bang Wyoming Cục Thống kê Hoa Kỳ Du lịch Wyoming qua hình ảnh Hình ảnh về Wyoming - Terra Galleria Báo Wyoming
danh sách đơn vị hành chính trung quốc theo gdp bình quân đầu người.txt
Bài này liệt kê các đơn vị hành chính cấp một của Trung Quốc theo tổng sản phẩm quốc nội bình quân của đơn vị đó trong một số năm nhất định. Tỷ giá hối đoái bình quân của Nhân dân tệ so với Đô la Mỹ được lấy từ Cục thống kê quốc gia Trung Quốc. còn tỷ giá hối đoái NDT PPP là ước tính của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF). == Bảng số liệu năm 2014 == == Dữ liệu 2012 == === GDP danh nghĩa bình quân so với các nền kinh tế khác === === So sánh GDP PPP bình quân ($qt) với các nền kinh tế khác === == Số liệu GDP bình quân đầu người trong lịch sử == === Xếp hạng === === Tỷ lệ === === GDP bình quân (CNY) === === GDP bình quân danh nghĩa lịch sử === === GDP bình quân (PPP) trong lịch sử === == GDP bình quân của Hong Kong và Macau == == Tham khảo ==
bentley.txt
Bentley Motors Limited là nhà sản xuất ô tô hạng sang của Anh. Bentley Motors được thành lập tại Anh vào ngày 18 tháng 1 1919 bởi Walter Owen Bentley, người được biết đến với dòng sản phẩm động cơ quay cho máy bay chiến đấu trong thế chiến thứ nhất, nổi tiếng nhất là động cơ Bentley BR1 được sử dụng trong những phiên bản sau của chiếc Sopwith Camel. Từ năm 1998, tập đoàn Volkswagen của Đức đã trở thành chủ sở hữu của Bentley. Bentley những năm đầu tiên đều trong tình trạng thiếu hụt ngân sách. Ước tính trong 20 năm, Bentley chỉ sản xuất được gầm và động cơ.
cắt lưng hung.txt
Cắt lưng hung (danh pháp khoa học: Falco tinnunculus) là một loài chim săn mồi thuộc chi Cắt trong họ Cắt (Falconidae).. Loài này hiện diện trên một phạm vi lớn. Nó là phổ biến rộng rãi trong châu Âu, châu Á, Châu Phi, cũng như thỉnh thoảng đến bờ biển phía đông của Bắc Mỹ . Nhưng mặc dù nó đã thuộc địa hóa vài đảo đại dương, cá thể lang thang nói chung là hiếm, ví dụ như trong toàn bộ Micronesia, loài cắt này đã được ghi lại hai lần ở Guam và Saipan ở Marianas.. == Chú thích == == Tham khảo == Rock Kestrel - Species text in The Atlas of Southern African Birds. ARKive - images and movies of the kestrel (Falco tinnunculus) Kestrels in Israel Royal Society for the Protection of Birds Text of the Hopkins poem Kestrel on-line 2012: Brest, Belarus Kestrel on-line 2012: Groningen, The Netherlands Live Streaming of Common Kestrel nest in Amadora, Portugal
làng.txt
Làng hay Ngôi làng là một khu định cư của một cộng đồng người, nó lớn hơn xóm, ấp nhưng nhỏ hơn một thị trấn, với dân số khác nhau, từ một vài trăm đến một vài ngàn. Những ngôi làng thường nằm ở nông thôn, song cũng có những có ngôi làng thành thị. Làng thường là một điểm tụ cư cố định, với những ngôi nhà cố định, tuy nhiên cũng có những ngôi làng xuất hiện tạm thời rồi nhanh chóng tan rã. Trong quá khứ, làng là một hình thức thông thường của cộng đồng xã hội sản xuất nông nghiệp, và cũng xuất hiện ít trong những xã hội phi nông nghiệp. Ở nước Anh, một xóm (hamlet) được gọi là một làng khi nó có một nhà thờ. Trong nhiều nền văn hóa, thị trấn và thành phố khá hiếm, với chỉ một phần nhỏ của người dân đang sống trong đó. Cuộc Cách mạng Công nghiệp đã thu hút một lượng lớn người tập chung lại để làm việc trong các công xưởng và nhà máy, sự tập trung con người này khiến nhiều ngôi làng phát triển thành những thị trấn và thành phố. Điều này cũng kích thích chuyên môn hóa thủ công mỹ nghệ, và phát triển giao dịch. Xu hướng đô thị hóa vẫn đang tiếp tục, mặc dù không phải luôn liên quan đến công nghiệp hóa. Mặc dù đã có nhiều mô hình làng xã, nhưng một ngôi làng điển hình thường khá nhỏ, có thể có từ 5 đến 30 gia đình. Các ngôi nhà được xây dựng gần nhau để hợp tác và bảo vệ, khu đất xung quanh khu nhà được sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi. Các làng chài truyền thống sinh sống dựa trên nghề đánh bắt thủ công và nằm gần các khu vực đánh cá. == Nam Á == === Ấn Độ === "Linh hồn của Ấn Độ sống trong những ngôi làng của nó", tuyên bố của M.K.Gandhi vào đầu của thế kỷ 20. Theo Cuộc điều tra dân số 2011 của Ấn Độ thì 68,84% dân số (khoảng 833,1 triệu người) sống trong 640.867 ngôi làng khác nhau. Quy mô của những ngôi làng này cũng khác nhau đáng kể. Theo đó 236.004 làng có dân số ít hơn 500 người trong khi có 3.976 làng có dân số lớn hơn 10.000 người. Trong hầu hết các ngôi làng đều có đền, nhà thờ Hồi giáo hay nhà thờ Thiên Chúa giáo của riêng họ tùy theo tôn giáo địa phương. == Trung Á == Auyl (tiếng Kazakh: Ауыл) là một từ Kazakh nghĩa là "ngôi làng" tại Kazakhstan. Theo điều tra dân số năm 2009 của Kazakhstan, 42.7% người Kazakhs (7.5 triệu người) sống trong 8172 ngôi làng khác nhau. Ngoài từ "auyl", miền bắc Kazakhstan thường sử dụng từ "selo" để chỉ một ngôi làng. == Đông Á == === Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa === Ở Trung Quốc đại lục, làng 村 là những đơn vị dưới thị trấn 乡 hoặc ngang thị trấn 镇. === Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) === Ở Đài Loan, làng là đơn vị dưới thị trấn, hoặc dưới huyện hạt thị. Làng gọi là tsuen hoặc cūn (村) dưới một thị trấn nông thôn (鄉) và làng gọi là li (里) dưới một thị trấn thành thị (鎮) hoặc một huyện hạt thị. === Nhật Bản === === Hàn Quốc === == Đông Nam Á == === Indonesia === Ở Indonesia, tùy thuộc vào những nguyên tắc họ quản lý, làng được gọi là Kampung hoặc Desa (chính thức là kelurahan). Một "Desa" (một thuật ngữ đó bắt nguồn từ một tiếng Phạn nghĩa là "đất nước" được tìm thấy trong cái tên "Bangladesh"=bangladesh và desh/desha) được thi hành theo truyền thống và luật tục (adat), trong khi một kelurahan có những nguyên tắc quản lý "hiện đại" hơn. Desa nói chung thường nằm ở nông thôn trong khi kelurahan thường nằm ở đô thị. Người đứng đầu ngôi làng tương ứng được gọi là kepala desa hoặc lurah. Cả hai được bầu cử bởi cộng đồng địa phương. Desa hay kelurahan là phân khu của một kecamatan (xã), lần lượt các phân khu của một kabupaten (quận) hoặc kota (thành phố). Cùng một khái niệm áp dụng chung cho cả Indonesia. Tuy nhiên, có một số sự khác biệt trong các dân tộc ở nhóm đảo phía Nam. Ví dụ, làng ở Bali đã được hình thành trên xóm hoặc banjar, đó là đơn vị dân cư cơ sở của Balinese. Tại khu vực Minangkabau ở tỉnh Tây Sumatra, những ngôi làng truyền thống được gọi là nagari (một tên gọi bắt nguồn từ tiếng Phạn có nghĩa là "thành phố", có thể tìm thấy trong những tên như "Srinagar"=sri và nagar/nagari). Tại một số khu vực chẳng hạn như Tanah Toraja, các già làng luân phiên quản lý ngôi làng với tư cách là người chỉ huy. Như một nguyên tắc chung, desa và kelurahan gồm những xóm (kampung trong tiếng Indonesia, dusun trong tiếng Java, s banjar trong tiếng Bali). Ngày nay, kampung được xác định rõ ràng như những ngôi làng ở Brunei và Indonesia. === Malaysia và Singapore === Kampung là một thuật ngữ ở Malaysia (đôi khi viết là kampong, hoặc kompong trong tiếng Anh) dùng để chỉ "một ngôi xóm hoặc một ngôi làng Malay trong một nươc nói tiếng Malay". Ở Malaysia, một kampung được xác định là một khu vực với 10,000 người hoặc ít hơn. Từ xa xưa, mỗi ngôi làng Malay đã được đặt dưới sự lãnh đạo của một penghulu (trưởng làng), người có quyền xử lý các vấn đề dân sự xảy ra trong làng (xem Tòa án của Malaysia để biết thêm chi tiết). === Myanmar === === Philippin === === Thái Lan === === Việt Nam === Làng là một đơn vị dân cư cơ sở của xã hội Việt Nam. Tại Việt Nam làng là một biểu tượng điển hình của nền sản xuất nông nghiệp, tại đây, một ngôi làng thường có: một cổng làng, lũy tre, đình làng để thờ Thành Hoàng làng - vị thần che chở cho ngôi làng ấy, một cái giếng chung, đồng lúa, chùa và nhà của những người dân trong làng. Những người sống trong một làng thường có quan hệ huyết thống với nhau. Họ là những nông dân trồng lúa nước và thường có chung một nghề thủ công. Tại Việt Nam, làng có một vai trò quan trọng trong xã hội (người Việt có câu: Phép vua thua lệ làng). Và người Việt Nam thường cũng mong được chôn cất trong ngôi làng của mình khi họ chết. == Chú thích ==
tranh.txt
Tranh là một dạng tác phẩm hội họa phản ánh hiện thực bằng đường nét và màu sắc. Tranh xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân loại, tồn tại dưới nhiều dạng và có nhiều ứng dụng. Bức tranh được xem là đầu tiên của loài người là những hình vẽ về thú vật có niên đại khoảng 30000 tới 10000 năm trước Công nguyên trên trong các hang động miền Nam nước Pháp và Tây Ban Nha. Theo các nhà khoa học, người hang động dùng mỡ động vật trộn với các loại bột màu làm màu nước và dùng lông thú hay cành cây để vẽ. Cách đây 30000 năm, con người đã phát minh ra các dụng cụ căn bản để vẽ tranh và không ngừng cải tiến trong các thế kỷ tiếp theo. Người Ai Cập khoảng 5000 năm trước, đã phát huy kỹ thuật vẽ tranh của riêng mình bằng cách sơn màu nước trên bùn thạch cao hay đá vôi. == Phân loại == Tranh được chia làm rất nhiều thể loại theo hai nhánh chủ yếu là: Phân loại theo chất liệu Phân loại theo nội dung == Phân loại theo chất liệu == Tranh được phân loại và gọi tên theo chất liệu làm tranh như: Tranh lụa Tranh sơn dầu/Tranh sơn mài Tranh ghép hình/Tranh xếp hình Tranh khảm màu/Tranh khảm đá quý Tranh khắc đồng/Tranh khắc lụa/... Tranh thủy mặc(vẽ bằng mực tàu) Tranh cát Tranh gốm Tranh khắc đồng Tranh giấy cuốn Tranh dầu Tranh phun sơn Tranh thêu,... == Phân loại theo nội dung == Tranh chân dung Tranh phong cảnh Tranh tĩnh vật Tranh dân gian Tranh sơn thủy Tranh thờ Tranh tôn giáo Tranh hoành tráng Tranh vui Tranh cổ động,... Ngoài ra tại Việt Nam người ta còn đặt tên tranh theo làng nghề tạo ra như:Tranh Đông Hồ,Tranh làng Sình,Tranh Hàng Trống,Tranh Kim Hoàng,... == Giá trị == Trên thế giới tranh được xem là tác phẩm nghệ thuật có giá trị. Về mặt đời sống, tranh sử dụng phổ biến trong nhiều lãnh vực, từ tranh cổ động sử dụng phổ biến trong thương mại đến tranh hoành tráng ứng dụng vào kiến trúc, tranh dân gian vừa có giá trị nghệ thuật vừa được xem là đồ lưu niệm. Về nghệ thuật, tranh được sử dụng rộng rãi trong trang trí nhà cửa (tranh treo tường), tranh trí các kiến trúc lớn (tranh hoành tráng) và là một loại hình nghệ thuật lâu đời. Các bức tranh có giá trị được phân thành nhiều cấp từ bình thường đến "kiệt tác". Các bức tranh có giá trị lớn thường trưng bày trong viện bảo tàng hoặc đấu giá với giá rất cao. == Một vài bức tranh == == Chú thích ==
việt trì.txt
Việt Trì là một thành phố đô thị loại I trực thuộc tỉnh Phú Thọ, là đô thị trung tâm các tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ và là một trong 19 đô thị trung tâm của Việt Nam. Việt Trì là trung tâm kinh tế chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật của tỉnh Phú Thọ, có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh và là đô thị động lực trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Phú Thọ và cả vùng Tây Đông Bắc. Được xem là đất phát tích, kinh đô đầu tiên của dân tộc Việt Nam, Việt Trì là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, nơi có kinh đô Văn Lang - Kinh đô đầu tiên của người Việt, quê hương đất tổ vua Hùng. Nơi đây còn là thành phố công nghiệp, công nghệ kỹ thuật cao. Đây cũng là cửa ngõ vùng Tây Bắc, đầu mối giao thông nối giữa các tỉnh trung du và miền núi phía bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, nằm trên hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh (Trung Quốc). Thành phố Việt Trì được biết đến là thành phố công nghiệp đầu tiên ở miền Bắc XHCN với các ngành dệt, giấy, hóa chất, sứ... và còn được gọi là thành phố ngã ba sông vì nằm gần nơi hợp lưu của sông Thao, sông Lô và sông Đà thành sông Hồng. Hiện nay, thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ và trung tâm của liên tỉnh phía bắc. Việt Trì được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư để trở thành một trong 19 đô thị lớn nhất Việt Nam. Tháng ba âm lịch hàng năm, vào dịp Giỗ tổ Hùng Vương, hàng triệu con cháu Lạc Hồng từ khắp cả nước lại nô nức về núi Nghĩa Lĩnh nằm tại địa phận thôn Cổ Tích - xã Hy Cương - Việt Trì để thăm viếng tổ tiên. == Địa lý == === Vị trí địa lý === Việt Trì là vùng đất nằm ở vị trí chuyển tiếp từ địa hình đồi núi sang đại hình đồng bằng, đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng. Từ trung tâm Thành phố nhìn về phía Tây là núi Ba Vì, phía Đông Bắc là dãy núi Tam Đảo. Ở phía Tây- Tây Bắc Thành phố là núi Nghĩa Lĩnh, nơi có đền thờ các vua Hùng. Thành phố Việt Trì nằm ở phía đông của tỉnh Phú Thọ, phía bờ tả ngạn sông Hồng, nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 70 km về phía Tây Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai 350 km về phía Đông, cách thành phố cảng Hải Phòng 140 km về phía Tây Bắc. Nằm ở Ngã ba Hạc, nơi có con sông Thao đỏ nước phù sa hợp lưu với dòng sông Lô và sông Đà xanh biếc thành dòng Sông Hồng huyền thoại; là đỉnh đầu của vùng Tam giác châu thổ Sông Hồng trù phú, lâu đời gắn liền với lịch sử phát triển dựng nước và giữa nước của dân tộc Việt Nam. Vì thế, Việt Trì còn được biết đến với cái tên thân thương: Thành phố ngã ba sông. Địa giới hành chính của Việt Trì như sau: phía bắc giáp các xã Phù Ninh, An Đạo, Vĩnh Phú huyện Phù Ninh; phía tây và tây nam giáp các xã Sơn Vi, Cao Xá, Thạch Sơn, Tiên Kiên, Xuân Lũng, thị trấn Hùng Sơn huyện Lâm Thao; phía nam giáp xã Cổ Đô, Tản Hồng, Châu Sơn huyện Ba Vì(Thành phố Hà Nội); phía đông giáp các xã Sơn Đông huyện Lập Thạch, xã Bồ Sao, xã Cao Đại, xã Vân Xuân huyện Vĩnh Tường, xã Cao Phong, xã Đức Bác, xã Tứ Yên, xã Yên Thạch huyện Sông Lô(tỉnh Vĩnh Phúc). Các điểm cực của thành phố này là: Cực Bắc: Xóm Dầm - xã Kim Đức. Cực Tây: Xóm Vàng - xã Chu Hóa. Cực Nam: Khu Mộ Chu Hạ - Phường Bạch Hạc. Cực Đông: Xóm Vinh Quang - xã Sông Lô. === Khí hậu === Thành phố Việt Trì nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có một mùa đông lạnh sâu sắc với trên ba tháng nhiệt độ xuống dưới 18 độ C, nét đặc trưng của Miền Bắc Việt Nam. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 độ C. Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.600 đến 1.800 mm. Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85 – 87%. == Lịch sử == Việt Trì là vùng đất nằm ở vị trí chuyển tiếp từ địa hình đồi núi sang địa hình đồng bằng, đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng. Từ trung tâm Thành phố nhìn về phía Tây Nam là núi Ba Vì, phía Đông Bắc là dãy núi Tam Đảo. Ở phía Tây- Tây Bắc Thành phố là núi Nghĩa Lĩnh, nơi có đền thờ các vua Hùng. Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, vùng đất Việt Trì đã nhiều lần thay đổi ranh giới hành chính và sự phân cấp quản lý hành chính. Thời đại Hùng Vương, vùng Việt Trì - Bạch Hạc là trung tâm chính trị- kinh tế, được coi là kinh đô của Nhà nước Văn Lang. Dưới thời thuộc Hán, vùng Việt Trì thuộc về huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ. Thời Tam Quốc - Lưỡng Tấn và thời Tuỳ (thế kỷ III đến thế kỷ VI) thuộc huyện Gia Ninh, quận Tân Xương. Đời Đường, vùng Việt Trì thuộc huyện Thừa Hóa, quận Phong Châu; Thời Thập Nhị sứ quân (944-967), Việt Trì nằm trong khu vực chiếm giữ của tướng Kiều Công Hãn. Thời Lý - Trần, Việt Trì thuộc về châu Thao Giang, lộ Tam Giang. Thời nhà Lê, Việt Trì là một thôn thuộc xã Bạch Hạc, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây. Đầu thời Nguyễn, địa giới Việt Trì cơ bản vẫn giữ như thời Hậu Lê. Năm 1832, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính, đổi tất cả các trấn trong cả nước thành tỉnh. Thôn Việt Trì thuộc về xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đái; sau đổi thành phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây. Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp xáo trộn lại các đơn vị hành chính cũ, lập ra những tỉnh mới nhỏ hơn trước để dễ quản lý và đàn áp. Việt Trì tách khỏi xã Bạch Hạc, trở thành một làng trong tổng Lâu Thượng, huyện Hạc Trì; còn xã Bạch Hạc vẫn nằm trong huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên. Nhận rõ Việt Trì là cửa ngõ án ngữ các tuyến đường giao thông thủy, bộ ở phía Bắc Việt Nam, không chỉ có vị trí quan trọng về mặt kinh tế mà còn là tiền đồn trọng điểm về quân sự. Ngày 22 tháng 10 năm 1907, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thị xã Việt Trì và đặt trung tâm huyện lỵ Hạc Trì tại đây. Cách mạng tháng 8-1945 thành công, Việt Trì thuộc liên xã Sông Lô bao gồm các xã: Lâu Hạ, Hạ Giáp, Thuần Lương, Việt Trì làng và Việt Trì phố. Tháng 2 năm 1945, thị trấn Việt Trì được tái lập gồm ba khu phố: Thuần Lương, Việt Hưng và Việt Lợi. Ngày 7 tháng 6 năm 1957, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định cho sáp nhập xã Phong Châu thuộc thị trấn Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phúc về thị trấn Việt Trì và chuyển thành thị xã Việt Trì. Ngày 1 tháng 9 năm 1960, Chính phủ quyết định sáp nhập 4 xã: Minh Khai, Minh Phương, Lâu Thượng, Tân Dân của huyện Hạc Trì vào thị xã Việt Trì. Ngày 4 tháng 6 năm 1962, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 65/CP thành lập thành phố Việt Trì trực thuộc tỉnh Phú Thọ trên cơ sở thị xã Việt Trì. Cũng trong năm này, Chính phủ ra quyết định giải thể huyện Hạc Trì, chuyển 2 xã: Hùng Thao (nay là xã Cao Xá) và xã Thống Nhất (nay là xã Thụy Vân) nhập vào huyện Lâm Thao, những xã còn lại nhập vào Thành phố Việt Trì; chia xã Chính Nghĩa thành 2 phường: Tiên Cát và Vân Cơ; xã Minh Khai đổi tên thành xã Sông Lô. Cũng trong ngày 26-1-1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị quyết số 504-NQ/TVQH tiến hành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú. Thành phố Việt Trì trở thành tỉnh lỵ của Vĩnh Phú. Sau năm 1975; thành phố Việt Trì có 4 phường: Tân Dân, Thanh Miếu, Tiên Cát, Vân Cơ; thị trấn Bạch Hạc và 6 xã: Quất Thượng, Sông Lô, Minh Phương, Dữu Lâu, Lâu Thượng, Minh Nông. Ngày 27 tháng 6 năm 1977, các xã: Quất Thượng, Lâu Thượng và Sông Lô hợp nhất thành xã Trưng Vương. Ngày 5 tháng 7 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định hợp nhất và điều chỉnh địa giới một số huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Các xã Vân Phú, Phượng Lâu của huyện Phù Ninh, xã Thụy Vân của huyện Lâm Thao, thôn Mộ Chu Hạ, thôn Lang Đài của xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường sáp nhập về thành phố Việt Trì. Ngày 13 tháng 1 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định phân vạch địa giới xã, phường của Thành phố Việt Trì. Theo đó, giải thể thị trấn Bạch Hạc để thành lập phường Bạch Hạc; đồng thời chia lại các phường cũ, lập các phường mới: chia phường Thanh Miếu thành 2 phường: Thanh Miếu và Thọ Sơn; chia phường Vân Cơ thành 3 phường: Gia Cẩm, Nông Trang, Vân Cơ. Ngày 11 tháng 10 năm 1986, chia xã Trưng Vương thành 2 xã: Sông Lô,Trưng Vương. Đến thời điểm này, thành phố Việt Trì gồm 8 phường: Bạch Hạc, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Gia Cẩm, Nông Trang, Vân Cơ, Tân Dân và 8 xã: Dữu Lâu, Minh Phương, Minh Nông, Vân Phú, Sông Lô,Trưng Vương, Phượng Lâu, Thụy Vân. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khoá IX ra Nghị quyết tách tỉnh Vĩnh Phú thành 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, thành phố Việt Trì tiếp tục là trung tâm chính trị- kinh tế- văn hoá của tỉnh Phú Thọ. Ngày 8 tháng 4 năm 2002, Chính phủ ra Nghị định số 39/2002/NĐ-CP, thành lập phường Dữu Lâu (trên cơ sở giải thể xã Dữu Lâu) và phường Bến Gót (tách ra từ phường Thanh Miếu) thuộc thành phố Việt Trì. Sau nhiều năm tập trung đầu tư xây dựng và phát triển, ngày 14 tháng 10 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 180/QĐ- TTg công nhận thành phố Việt Trì là đô thị loại 2. Ngày 10 tháng 11 năm 2006, 3 xã: Chu Hóa, Hy Cương, Thanh Đình của huyện Lâm Thao và 2 xã: Hùng Lô, Kim Đức của thuộc huyện Phù Ninh được sáp nhập về thành phố Việt Trì. Ngày 29 tháng 5 năm 2008, toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Tân Đức thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây(cũ) được sáp nhập về thành phố Việt Trì theo Nghị quyết của Quốc hội về việc điều chỉnh địa giới hành chính giũa tỉnh Hà Tây và tỉnh Phú Thọ. Ngày 5 tháng 5 năm 2010, thành lập 3 phường: Minh Nông, Minh Phương và Vân Phú trên cơ sở 3 xã có tên tương ứng. Ngày 4 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định công nhận thành phố Việt Trì là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Phú Thọ. Như vậy, đến thời điểm này, thành phố Việt Trì có 23 đơn vị hành chính gồm 13 phường là: Bạch Hạc, Bến Gót, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Gia Cẩm, Nông Trang, Vân Cơ và Dữu Lâu, Tân Dân, Minh Phương, Minh Nông, Vân Phú và 10 xã gồm: Sông Lô,Trưng Vương, Phượng Lâu, Thụy Vân, Tân Đức, Chu Hóa, Thanh Đình, Kim Đức, Hùng Lô, Hy Cương. == Dân số == Thành phố Việt Trì hiện nay có 11.175,11ha diện tích tự nhiên và 283.995 người(năm 2013). == Các đơn vị hành chính == Thành phố Việt Trì có 23 phường, xã trực thuộc, bao gồm: 13 phường: Bạch Hạc, Bến Gót, Dữu Lâu, Gia Cẩm, Minh Nông, Minh Phương, Nông Trang, Tân Dân, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Vân Cơ, Vân Phú. 10 xã: Chu Hóa, Hùng Lô, Hy Cương, Kim Đức, Phượng Lâu, Sông Lô, Tân Đức, Thanh Đình, Thụy Vân, Trưng Vương. Danh sách các đơn vị hành chính Ghi chú: đơn vị diện tích: km²; mật độ: người/km²; số liệu năm 1999. == Kinh tế == Việt Trì là thành phố công nghiệp đầu tiên của miền Bắc Việt Nam. Thành phố có nhiều tiềm năng phát triển công, nông, thương nghiệp và dịch vụ. Các ngành công nghiệp phát triển gồm có: hóa chất, giấy, may mặc,... Trên địa bàn thành phố tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty có quy mô sản xuất công nghiệp với tỷ trọng lớn, hằng năm đóng góp một lượng lớn nguồn ngân sách của tỉnh và giải quyết việc làm cho nhiều lao động cũng như một số khu đô thị mới như khu đô thị Minh Phương, khu đô thị Bắc Việt Trì, khu đô thị Nam Việt Trì, khu đô thị Tây Nam Việt Trì, khu đô thị Minh Phương - Thụy Vân, khu đô thị Nam Đồng Mạ, khu đô thị Vườn đồi Ong Vàng, khu đô thị Trầm Sào, khu đô thị Nam Đồng Lạc Ngàn... === Các khu, cụm công nghiệp tại Việt Trì === Khu công nghiệp Thụy Vân Cụm công nghiệp Bạch Hạc Cụm công nghiệp nam Việt Trì Cụm công nghiệp làng nghề Phượng Lâu I Cụm công nghiệp làng nghề Phượng Lâu II Cụm công nghiệp Đồng Lạng == Giáo dục == === Các trường trung học phổ thông tại Việt Trì === Trường Trung học phổ thông Chuyên Hùng Vương (Số 1, Ngách 2, Ngõ 70, Đ.Hàn Thuyên, P.Tân Dân). Trường Trung học phổ thông Việt Trì (Đ. Lê Quý Đôn - P. Gia Cẩm). Trường Trung học phổ thông Dân lập Nguyễn Tất Thành (Đ.Nguyễn Tất Thành - P. Gia Cẩm). Trường Trung học phổ thông Công nghiệp Việt Trì (Khu đô thị Nam Đồng Mạ - P. Thanh Miếu). Trường PT Herman Gmeiner (Đ. Châu Phong - P. Dữu Lâu). Trường Trung học phổ thông Kỹ thuật Việt Trì (Đ.Hùng Vương, P.Vân Phú). Trường Trung học phổ thông Dân Lập Vũ Thê Lang (Đ. Châu Phong - P.Tân Dân). Trường Trung học phổ thông Dân lập Lê Quý Đôn (KĐT Vườn đồi Ong Vang - P. Dữu Lâu). Trường Trung học phổ thông Dân Lập Trần Phú (Đ.Lý Tự Trọng - P.Thanh Miếu). === Các trường đại học === Trường Đại học Hùng Vương (Cơ sở 1, Đ. Nguyễn Tất Thành - P. Nông Trang) Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì (Cơ sở 2, Đ.Tiên Sơn - P.Tiên Cát) Trường Đại học Dự bị dân tộc Trung ương (Số 19 Đ.Trần Phú- P.Tân Dân) === Các trường cao đẳng === Cao đẳng Công nghiệp thực phẩm (Đ.Nguyễn Tất Thành - P.Tân Dân) Cao đẳng Dược Fushico (Đ.Hùng Vương - P.Gia Cẩm) Cao đẳng Nghề Phú Thọ (Đ.Hùng Vương - P.Vân Phú) Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Phú Thọ (Đ.Nguyễn Tất Thành - P.Thọ Sơn) === Các trường trung cấp === Trường Trung cấp nghề và công nghệ vận tải Phú Thọ (Đ.Trần Nguyên Hãn - P.Thanh Miếu) Trường Trung cấp Nghiệp vụ sông Hồng (Đ.Vũ Duệ - P.Nông Trang) Trường Trung cấp Nghề HẺMAN GMEINER (KĐT Vườn đồi Ong Vang - Phường Dữu Lâu) Các trường tiểu học - Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng (Khu 6B- P. Nông Trang-Việt Trì) - Trường Tiểu học Gia Cẩm (Gia Cẩm-Việt Trì-Phú Thọ) Trung tâm BTTEMCTT Việt Trì Trường TH Bạch Hạc Trường TH Chính Nghĩa Trường TH Chu Hóa Trường TH Dữu Lâu Trường TH Hòa Bình Trường TH Hy Cương Trường TH Kim Đức Trường TH Minh Nông Trường TH Minh Phương Trường TH Phượng Lâu Trường TH Sông Lô Trường TH Tân Dân Trường TH Tân Đức Trường TH Thanh Miếu Trường TH Thanh Đình Trường TH Thọ Sơn Trường TH Thống Nhất Trường TH Thụy Vân Trường TH Tiên Cát Trường TH Tiên Dung Trường TH Trưng Vương Trường TH Vân Cơ Trường TH Vân Phú Trường TH Hùng Lô === Y tế === Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ (Đ.Nguyễn Tất Thành - P.Tân Dân): Quy mô 1.300 giường bệnh Bệnh viện Xây dựng Việt Trì (Đ.Long Châu Sa - P.Thọ Sơn) Bệnh viện Y học cổ truyền (Đ.Trần Phú - P.Gia Cẩm) Bệnh viện Mắt (Đ Nguyễn Du - Phường Nông Trang) Bệnh viên Công An tỉnh Phú Thọ (Đ.Trần Phú - Phường Dữu Lâu) Bệnh viện Tâm thần (đang xây) (P.Vân Phú) Bệnh viện Nhi (đang xây) (X.Phượng Lâu) == Giao thông == Việt trì với vai trò là thành phố công nghiệp, vị trí là thành phố ngã 3 sông và đang phấn đấu trở thành thành phố lễ hội về với cội nguồn nên trong những năm gần đây cơ sở hạ tầng của thành phố được đầu tư xây dựng khá đồng bộ. Nhiều tuyến đường được đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây mới theo đúng tiêu chuẩn đường nội thị đảm bảo giao thông luôn được thông suốt. Việc vận chuyển hàng hoá thuận lợi trên cả đường ôtô, đường sắt, đường sông,... Thành phố Việt Trì có các hệ thống cảng sông: Cảng Bạch Hạc(Phường Bạch Hạc), Cảng Việt Trì(Phường Bến Gót), Cảng Dữu Lâu (Phường Dữu Lâu). Thành phố Việt Trì có quốc lộ 2 nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh thuộc tiểu vùng Tây Bắc, đồng thời còn có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua nơi này. === Các tuyến đường chính ở Việt Trì === Đường Hùng Vương: là con đường dài và đẹp nhất thành phố Việt Trì, đây là đường quốc lộ 2 bắt đầu từ cầu Việt Trì tới ngã ba Đền Hùng rẽ vào tới cổng chính Đền Hùng với tổng chiều dài là 19,7 km, ở giữa là dải phân cách có hệ thống đèn cao áp và đèn trang trí cùng với rất nhiều các biển quảng cáo, các pa-nô, áp phích tạo nên sự rực rỡ cho con đường về đêm. Đường Nguyễn Tất Thành: có điểm đầu giao với đường Hùng Vương tại ngã năm phường Bến Gót đến phường Vân Phú, chiều dài toàn tuyến là 11 km. Hầu hết các cơ quan của tỉnh Phú Thọ nằm trên con đường này. Đường Âu Cơ: đây nguyên là đường đê Sông Lô, phần lớn chạy qua xã Sông Lô, xã Trưng Vương, P. Dữu Lâu, xã Phượng Lâu, xã Hùng Lô. Điểm đầu nối với đường Hùng Vương ở địa phận xã Sông Lô - cách cầu Việt Trì 300m, điểm cuối là cổng chợ Xốm - xã Hùng Lô, tổng chiều dài 17,1 km. Đường Lạc Long Quân: dài 16,5 km, nguyên đây là 2/3 của đường Sông Thao cũ, bắt đầu từ cầu Việt Trì (xã Sông Lô) đến ngã ba chợ Nú (P. Minh Nông) rẽ lên đê sông Thao đến hết xã Thụy Vân, ranh giới thành phố Việt Trì với huyện Lâm Thao. Đường Nguyệt Cư : dài 2 km, đây là 1/3 của đường Sông Thao cũ, bắt đầu từ ngã ba chợ Nú (P. Minh Nông) từ đường Lạc Long Quân đến ngã ba Vân Cơ (P. Vân Cơ) nối với đường Hùng Vương. Đường Tiên Dung: là tuyến đường nối từ đường Trần Phú, trước cổng Bảo tàng Hùng Vương đến đường Hai Bà Trưng, đây là con đường chạy ven công viên Văn Lang - điểm nhấn của thành phố Việt Trì. Con đường này nằm trên địa bàn P.Tiên Cát. Đường Trần Nguyên Hãn: kéo dài từ đường Lạc Long Quân đến đường Vũ Thê Lang, nằm trên địa bàn hai phường là Thanh Miếu và Bến Gót. Đường Mai An Tiêm: kéo dài từ đường Nguyễn Tất Thành đến đường Thiều Hoa. Đường Hai Bà Trưng: nối từ đường Lạc Long Quân đến đường Nguyễn Tất Thành và sẽ nối với đường Vũ Thê Lang, đây là con đường nằm trên địa bàn P.Thọ Sơn và xã Trưng Vương. Đường Trần Phú: là con đường nối từ đường Lạc Long Quân đến đường Âu Cơ tại bến phà Đức Bác (P. Dữu Lâu) với tổng chiều dài là 6 km. Con đường này chạy qua các phường Tiên Cát, Gia Cẩm, Tân Dân và Dữu Lâu. Đường Châu Phong: nối từ đường Hùng Vương đến đường Trần Phú với tổng chiều dài khoảng 3,5 km, đi qua các phường Gia Cẩm, Tân Dân. Đường Quang Trung: nối từ đường Hùng Vương đến đường Trần Phú với tổng chiều dài 2 km. Điều đặc sắc của con đường này là ở giữa có dải phân cách rộng, có đường dạo, con đường này chạy qua các phường là Gia Cẩm, Nông Trang, Tân Dân và Dữu Lâu. Nhưng không hiểu thành phố thế nào mà lại đổi tên thành đường Quang Trung, khi mà tên con đường này đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt Trì, trong khi hàng quán ở đây vẫn lấy tên Hoà Phong. Đường Nguyễn Du: nối từ đường Hùng Vương đến đường Trần Phú, đi qua các phường là Nông Trang, Tân Dân và Dữu Lâu. Đường Đại Nải: là con đường ngắn nhất thành phố, bắt đầu từ đường Hùng Vương đến đường Nguyệt Cư, với chiều dài khoảng 300m với vài chục số nhà, trên con đường này có điểm nhấn là Nhà máy Dệt Vĩnh Phú rất nổi tiếng. Đường Vũ Thê Lang: bắt đầu từ đường Trần Phú đến đường Nguyến Tất Thành, con đường này có hình vòng cung dài 5 km đi qua các phường xã là Dữu Lâu, Trưng Vương, Thanh Miếu, Sông Lô, Bến Gót. Đường Tản Viên: nối từ đường Hùng Vương đến đường Âu Cơ đi qua các phường Vân Cơ, Dữu Lâu. Đường Trần Toại: nối tờ đường Hùng Vương đến đường Nguyễn Tất Thành đi trong phường Vân Phú. Đường Trường Chinh: nối từ đường Hùng Vương đến Khu công nghiệp Thuỵ Vân qua phường Vân Phú và xã Thuỵ Vân. Đường Từ Diên: nối từ đường Hùng Vương(Khách sạn Hoàng Long) đến đường Phù Đổng, qua phường Vân Phú và xã Phương Lâu. Đường Lạc Hồng: nối từ đường Hùng Vương đến hết xã Hy Cương, vốn là QL 32C, đây là con đường đặc biệt đi qua đền Quốc Tổ Lạc Long Quân. Đường Lữ Gia: nối từ đường Trường Chinh(trường CĐ.Nghề) đến đường Hùng Vương(cổng vào Đền Hùng), qua phường Vân Phú và xã Hy Cương. Đường Văn Lang: chính là đoạn quốc lộ 2 chạy qua xã Kim Đức và xã Hy Cương, khi mà đường Hùng Vương đến cổng biểu tượng đền Hùng rẽ quặt vào trong phía đền Hùng thì đoạn còn lại của quốc lộ 2 chạy qua thành phố Việt Trì lấy tên là Văn Lang, với chiều dài khoảng 700m đến hết địa phận thành phố. Đường Bạch Hạc, đường Nhị Hà và đường Trần Nhật Duật là ba con đường chính chạy trên địa bàn Phường Bạch Hạc. === Các con phố chính === P. Trần Nhật Duật, P. Phong Châu, P. Đoàn Kết, P. Kiến Thiết, P. Hoa Long, P. Thạch Khanh, P. Việt Hưng, P. Nguyễn Văn Dốc, P. Lý Tự Trọng, P. Đồi Cam, P. Thanh Hà, P. Long Châu Sa, P. Tam Long, P. Gát, P. Sông Thao P. Minh Lang, P. Tân Xương, P. Bảo Hoa, P. Tiên Sơn, P. Tiên Phú, P. Làng Cả, P. Hàm Nghi, P. Hà Chương, P. Lê Quý Đôn, P. Phan Chu Trinh, P. Hà Liễu, P. Kim Đồng, P. Võ Thị Sáu, P. Lê Văn Tám, P. Nguyễn Thái Học, P. Hoàng Hoa Thám, P. Nguyễn Quang Bích, P. Đinh Tiên Hoàng, P. Vũ Duệ, P. Xuân Nương, P. Tản Đà, P. Đặng Minh Khiêm, P. Đinh Công Tuấn, P. Đỗ Nhuận, P. Tân Việt, P. Nguyễn Thị Minh Khai, P. Thiều Hoa, P. Hàn Thuyên, P. Đồi Giàm, P. Ngô Tất Tố, P. Tô Vĩnh Diện,P. Hồ Xuân Hương,P. Lê Đồng, P. Đông Sơn, P. Gò Mun, P.Nguyễn Trãi, P.Đốc Ngữ, P.Lâm Thắng, P.Lăng Cẩm, P.Lê Đồng, P.Ngọc Hoa, P.Quế Hoa, P.Đồi Xuôi, P.Hoa Vương, P.Hùng Quốc Vương, P.Sau Da, P.Chu Văn An, P.Đào Duy Kỳ, P.Tân Thuận, P.Tân Bình, P.Tân Xuân, P.Tân Thành, P.Văn Cao, P.Nguyễn Đốc Bật, P.Tiền Phong, P.Anh Dũng, P.30/4, P.Hồng Hà,... == An ninh quốc Phòng == Bộ tư lệnh Quân khu 2 đóng tại thành phố Việt Trì có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy quân đội chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ vùng Tây Bắc Việt Nam và bảo vệ thủ đô Hà Nội từ phía tây và tây bắc. Quân khu bao gồm các tỉnh: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên và Lai Châulà một trong 7 quân khu trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam == Danh lam thắng cảnh - Văn hóa- Du lịch == Thành phố Việt Trì là trung tâm du lịch của tỉnh Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Bắc. Nơi đây có khu di tích lịch sử Đền Hùng nổi tiếng hàng năm đón trên 6 triệu lượt khách hành hương về đây vào mỗi dịp 10/3(ÂL) và nhiều danh lam thắng cảnh đẹp khác. 1.Khu di tích lịch sử Đền Hùng Quần thể di tích đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét (núi có những tên gọi như Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn), thuộc địa phận xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trong khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt giáp giới với những xã thuộc huyện Lâm Thao, Phù Ninh và vùng ngoại ô thành phố Việt Trì, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 10 km. Khu vực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu của quốc gia Văn Lang cổ xưa. Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương, đương thời các Vua Hùng đã cho xây dựng điện Kính Thiên tại khu vực núi Nghĩa Lĩnh này. Khu di tích lịch sử được coi là trung tâm lớn nhất của Tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vương. Tối ngày 6/12/2012, tại kỳ họp lần thứ 7 Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đang diễn ra ở Paris (Pháp), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã chính thức thông qua quyết định công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tính đến thời điểm này, "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương" là di sản duy nhất ở loại hình tín ngưỡng của Việt Nam được UNESCO vinh danh. Khu di tích gồm các khu vực chính: Đền Hạ, Đền Trung, Chùa Thiền Quang, Đền Thượng, Lăng Vua Hùng, Đền Giếng, Đền Mẫu Âu Cơ(xã Hy Cương), Đền Lạc Long Quân(xã Chu Hóa) và rất nhiều các di tích lịch sử gắn liền với thời kỳ Hùng Vương nằm rải rác trên địa bàn thành phố. (Xem chi tiết Khu di tích lịch sử Đền Hùng) 2.Hát xoan Hát xoan là loại hình dân ca lễ nghi phong tục hát thờ thần, thành hoàng với hình thức nghệ thuật đa yếu tố: có nhạc, hát, múa; thường được biểu diễn vào dịp đầu xuân, phổ biến ở vùng đất tổ Hùng Vương. Ngày 24/11/2011, tại Hội nghị lần thứ sáu của Ủy ban liên chính phủ về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO tổ chức tại Bali - Indonesia, Hồ sơ Hát Xoan - Phú Thọ của Việt Nam đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Trên địa bàn thành phố Việt Trì hiện có bốn phường xoan cổ là An Thái, Phù Đức, Kim Đới và Thét nằm ở hai xã Kim Đức và Phượng Lâu. Các di tích lịch sử gắn liền với loại hình nghệ thuật này nằm trên địa bàn Việt Trì như: Đình An Thái, Đình Thét, Đình làng Kim Đới, miếu Lãi Lèn... (Xem chi tiết Hát xoan) 3.Các di tích lịch sử-văn hóa: Phường Bạch Hạc: Đền Mộ Chu Thượng, Đền Mộ Chu Hạ, Đền Lang Đài, Đền Mẫu Tam Giang Thượng, Đền Quách A Nương, Đền Tam Giang, Chùa Đại Bi. Phường Bến Gót: Hoa Long Tự, Đình làng Việt Trì. Phường Thanh Miếu: Đình Tràng Đông, Đình Tràng Nam Phường Tiên Cát: Lầu Kén Rể, Đền Tiên, Đền Chi Cát, Chùa Phúc Long. Phường Nông Trang: Đình Nông Trang. Phường Dữu Lâu: Đình Dữu Lâu, Đình Bảo Đà, Đình Hương Trầm, Đình Miếu Quế Trạo. Phường Vân Cơ: Đình Nghè. Phường Vân Phú: Hương Long Tự, Đình Phú Nham, Văn Long Tự, Đền Văn Luông, Chùa Thông. Phường Minh Nông: Đàn Tịch Điền, Chùa Khánh Nguyên, Phường Minh Phương: Đền Chùa Phương Châu, Đình Phú Hữu, Miếu Bà Tốc, Tiên Phú Tự, Đình Phú Nông,Chùa Linh Quang, Chùa Thiên Phúc Phường Tân Dân: Chùa Mậu Xi. Xã Phượng Lâu: Mộ Trần Toại, Đình Vũ Thị Thục Nương,Đình Nghè, Đình Phượng Lâu, Đình Phượng An, Rừng Cấm, Đình An Thái. Xã Hùng Lô: Đình Hùng Lô. Xã Kim Đức: Đình Hội, Đình Cháy, Đình làng Kim Đới, Đình Thét, Miếu Lãi Lèn. Xã Chu Hóa: Đình Đông, Đền Lạc Long Quân. Xã Thanh Đình: Đình Thanh Đình, Gò Giữa, Gò Dạ, Gò De, Gò Ghệ, Gò Tế Thánh, Lảu Quân, Oa Nhà Nít, Oa Bàn Cờ, Rừng Quân, Đồi Nhà Sàn, Đồi Nhà Bò, Chùa Rối, Ao Rối. Xã Hy Cương: Đền Hạ, Đền Trung, Chùa Thiền Quang, Đền Thượng, Lăng Vua Hùng, Đền Giếng, Am Đường Tự, Đình Cổ Tích, Đền Mẫu Âu Cơ. Xã Thụy Vân: Đình chùa Nỗ Lực, Thượng Lâm Tự, Phúc Lâm Tự, Đền Thượng Thụy Vân, Đền Mẫu Thụy Vân, Đền Thượng Cẩm Đội. Xã Trưng Vương: A Ốc Tự, Đình đền Hương Lan, Thiên Cổ Miếu, Miếu Cây Da Bò, Miếu Xóm Uơm, Bối Linh Tự, Đình Nội Lâu Thượng, Đình Ngoại Lâu Thượng. Xã Sông Lô: Đình Hòa Phong, Đình chùa Chàng Vàng, Chùa Bảo Ngạn, Đình Trần Hưng Đạo, Đình Đoàn Kết, Đình Trung Hậu, Miếu Trần Hưng Đạo, Quế Lâm Tự. 4.Các di tích khảo cổ học Có 3 di tích khảo cổ học lớn nằm trên địa bàn thành phố là: Di chỉ khảo cổ học Làng Cả (phường Thọ Sơn), Khu khảo cổ học Gò Mã Lao (phường Minh Nông), Khu di chỉ khảo cổ Gò De (xã Thanh Đình) 5.Các bảo tàng Bảo tàng Hùng Vương (Đ. Trần Phú - P.Gia Cẩm - TP. Việt Trì) Bảo tàng Hùng Vương (KDTLS Đền Hùng - Xã Hy Cương - TP. Việt Trì) Bảo tàng Quân khu II (Đ. Hùng Vương - P.Vân Phú - TP. Việt Trì) == Đặc sản == Về ẩm thực, xưa Việt Trì nổi tiếng với cá Anh Vũ, một loại cá nước ngọt chỉ thấy xuất hiện tại ngã ba sông. Hiện nay, những quán cá lăng sông và thịt chó đang hấp dẫn du khách đến với thành phố ngã ba sông. == Đô thị loại 1 == Thành phố Việt Trì trở thành đô thị loại I vào năm 2012. Thành phố đã tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, mở rộng diện tích, tăng quy mô dân số, sáp nhập một số xã của huyện Lâm Thao, Phù Ninh về Việt Trì, nâng cấp một số xã lên phường; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án trọng điểm như: Quảng trường Hùng Vương và Trung tâm Dịch vụ thương mại tổng hợp; quy hoạch chi tiết khu du lịch - dịch vụ Nam Ðền Hùng; quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị và hạ tầng kinh tế - xã hội thành phố. Tập trung xây dựng nhiều tuyến đường quan trọng như đường Nguyễn Tất Thành kéo dài và hạ tầng kỹ thuật hai bên đường, đường Hai Bà Trưng kéo dài, đường Phù Ðổng nối TP Việt Trì với đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai; đường Trường Chinh, đường từ Khu công nghiệp Thụy Vân đi các xã Thanh Ðình, Chu Hóa, đường Vũ Thê Lang và dự án xây dựng hệ thống đường giao thông nông thôn, hệ thống thu gom, xử lý và thoát nước thải đô thị. Ðến nay, thành phố đang thực hiện đầu tư 207 công trình, trong đó có 144 công trình chuyển tiếp, 63 công trình triển khai mới, tổng giá trị xây lắp đạt hơn 500 tỷ đồng; triển khai bồi thường giải phóng mặt bằng 91 dự án, trong đó có 59 dự án chuyển tiếp, 32 dự án mới và đã hoàn thành giải phóng mặt bằng 18 dự án lớn với tổng số tiền bồi thường hơn 312 tỷ đồng. Kinh tế của thành ph ố tiếp tục phát triển toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, tốc độ tăng giá trị tăng thêm bình quân đạt 5,71%/năm, giá trị tăng thêm bình quân đầu người/năm đạt 62,75 triệu đồng (tương đương 2.924 USD), tăng 2,35 lần so với năm 2010. Ngày 04 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 528/QĐ-TTg công nhận thành phố Việt Trì là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Phú Thọ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Việt Trì trên trang tỉnh Phú Thọ
danh sách trạng nguyên việt nam.txt
Bài này chỉ nói về trạng nguyên ở Việt Nam. Xem các nghĩa khác, bao gồm nghĩa trạng nguyên ở các nước khác, tại trạng nguyên (định hướng) Trạng nguyên (chữ Hán: 狀元) là danh hiệu thuộc học vị Tiến sĩ của người đỗ cao nhất trong các khoa đình thời phong kiến ở Việt Nam của các triều nhà Lý, Trần, Lê, và Mạc, kể từ khi có danh hiệu Tam khôi dành cho 3 vị trí đầu tiên. Người đỗ Trạng nguyên nói riêng và đỗ tiến sĩ nói chung phải vượt qua 3 kỳ thi: thi hương, thi hội và thi đình. Khoa thi đầu tiên được mở ra dưới thời Lý năm 1075, lúc đó vua nhà Lý chưa đặt ra định chế tam khôi nên người đỗ đầu khoa thi này là Lê Văn Thịnh chưa được gọi là Trạng nguyên. Danh sách cụ thể những người đỗ đầu các kỳ thi này xem bài Thủ khoa Đại Việt. Phải đến khoa thi năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 đời vua Trần Thái Tông (1247) mới đặt ra định chế tam khôi (3 vị trí đỗ đầu có tên gọi thứ tự là: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) thì mới có danh hiệu Trạng nguyên. Đến thời nhà Nguyễn thì không lấy danh hiệu Trạng nguyên nữa (danh hiệu cao nhất dưới thời nhà Nguyễn là Đình nguyên). Do đó Trạng nguyên cuối cùng là Trịnh Tuệ đỗ khoa Bính Thìn (1736) thời Lê-Trịnh. == Danh sách == Dưới đây là danh sách các Trạng nguyên của Việt Nam. Danh sách này bao gồm những người được phong là Chính danh Trạng nguyên, tức là Trạng nguyên chính thức kể từ khi có danh vị này. Trường hợp phân chia 2 ngôi vị thời Trần: Kinh Trạng nguyên (đỗ đầu các Tiến sĩ quê từ Ninh Bình trở ra) và Trại Trạng nguyên (đỗ đầu các Tiến sĩ quê từ Thanh Hoá trở vào) cũng được ghi đủ cả 2 vị. Một số trong số này đã được ghi danh vào bia Tiến sĩ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Trong danh sách trên, riêng 2 tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương đã chiếm quá nửa số Trạng nguyên ở Việt Nam với 38/55 vị. Nếu dựa theo danh sách này thì có 49 Trạng nguyên chính thức và Trạng nguyên đầu tiên là Nguyễn Hiền. Những người đỗ đầu các khoa thi từ năm 1246 trở về trước chưa đặt danh hiệu trạng nguyên. Tuy nhiên, các tác giả Vũ Xuân Thảo trong bài Vài số liệu, tư liệu chưa chính xác trong cuốn "Những ông nghè ông cống triều Nguyễn" đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 67, tháng 9 năm 1999 và Lê Thái Dũng trong Giở trang sử Việt năm 2008 của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội thì Trạng nguyên đầu tiên là Nguyễn Quan Quang, đỗ khoa Bính Ngọ (1246). Có tài liệu như Các nhà khoa bảng Việt Nam (dẫn theo Hồng Đức ) lại tính Nguyễn Quan Quang là vị trạng nguyên đầu tiên: Phải tới khoa thi thứ 6 (khoa Đại tỉ thủ sĩ) vào năm Bính Ngọ (1246), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 15, đời vua Trần Thái Tông mới đặt danh hiệu Tam khôi (Trạng nguyên – Bảng nhãn – Thám hoa) và Nguyễn Quan Quang đã đậu Trạng nguyên, Phạm Văn Tuấn đậu Bảng nhãn, Vương Hữu Phùng đậu Thám hoa. Trong danh sách 47 vị trạng nguyên treo ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) thì Nguyễn Quan Quang được ghi đầu tiên rồi sau đó mới là Nguyễn Hiền! == Thống kê == Thống kê này được tính theo tỉnh ngày nay. Ví dụ Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh tại thôn Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương nay là thôn Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng được xem là người Hải Phòng. == Số Trạng nguyên == Theo một số tài liệu, trong đó có cuốn Những ông nghè ông cống triều Nguyễn của Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan và Lan Phương, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 1995, dựa vào các công trình Các nhà khoa bảng Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa, 1993; Quốc triều hương khoa lục, Nhà xuất bản TP HCM, 1993 thì từ khi bắt đầu mở khoa thi (1075) đến khi chấm dứt (khoa thi cuối cùng tổ chức năm 1919), tổng cộng có 184 khoa thi với 2785 vị đỗ đại khoa (đỗ tiến sĩ và tính cả phó bảng), trong đó có 56 Trạng nguyên (gồm 7 trong số 9 thủ khoa Đại Việt và 49 trạng nguyên trong danh sách này). Tuy nhiên, tác giả Vũ Xuân Thảo trong bài Vài số liệu, tư liệu chưa chính xác trong cuốn "Những ông nghè ông cống triều Nguyễn" đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 67, tháng 9 năm 1999 đã cho rằng con số trên không chính xác. Theo ông thì từ năm 1075 đến năm 1919 có tổng cộng có 185 khoa thi với 2898 vị đỗ đại khoa (tính từ phó bảng trở lên), trong đó chỉ có 47 Trạng nguyên. Cũng theo tác giả này và Lê Thái Dũng trong Giở trang sử Việt năm 2008 của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội thì Trạng nguyên đầu tiên là Nguyễn Quan Quang, đỗ khoa Bính Ngọ (1246). Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, tập 1 (2008), trong bài "Nghìn năm văn hiến" (trang 15) của tác giả Nguyễn Hoàng có ghi số liệu như sau: tổng số 185 khoa thi với 2896 người đỗ tiến sĩ, trong đó có 47 Trạng nguyên (thời Trần: 9; thời Lê: 27; thời Mạc: 11). == Tham khảo == Đại Việt sử ký toàn thư Lê Thái Dũng (2008), Giở trang sử Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội == Xem thêm == Văn Miếu-Quốc Tử Giám Thủ khoa Đại Việt Bảng nhãn Quốc triều khoa bảng lục Đình nguyên thời Nguyễn Khoa bảng Việt Nam == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Danh sách Trạng nguyên Việt Nam Các khoa thi thời Trần Các khoa thi Nho học ở Việt Nam thời xưa Lối xưa xe ngựa
hiệp hội bóng đá wales.txt
Hiệp hội bóng đá Wales là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Wales. Hiệp hội quản lý đội tuyển bóng đá quốc gia nam và nữ, tổ chức các giải bóng đá như vô địch quốc gia và cúp quốc gia. Hiệp hội bóng đá Wales gia nhập FIFA năm 1910 và UEFA năm 1954. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ
đội tuyển bóng đá quốc gia syria.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Syria là đội tuyển cấp quốc gia của Syria do Liên đoàn bóng đá Syria quản lý. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Syria là trận gặp đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1949. == Lịch sử == Tuy chưa có thành tích nào thật sự ấn tượng, nhưng tuyển Syria là một trong đội bóng có lịch sử thi đấu quốc tế lâu đời nhất của châu Á. Tham dự vòng loại World Cup ngay từ giải năm 1950, trận đấu chính thức đầu tiên của đội chính là trận thuộc khuôn khổ vòng loại năm đó khi Syria thất thủ trước Thổ Nhĩ Kỳ với tỉ số 0-7 vào ngày 20 tháng 11 năm 1949. Đội vẫn chưa một lần tham dự vòng chung kết một Giải vô địch bóng đá thế giới, lần đội tiến tới gần đích nhất là tại vòng loại World Cup 1986 khi Syria thua Iraq ở vòng đấu loại trực tiếp cuối cùng. Tại các kỳ Cúp bóng đá châu Á, tuyển Syria đã sáu lần được tham dự vòng chung kết. Lần cuối cùng là tại Cúp bóng đá châu Á 2019. Thành tích nổi bật khác của bóng đá Syria còn phải kể đến chức vô địch giải trẻ châu Á mà các cầu thủ trẻ nước này giành được vào năm 1994. Đội tuyển trẻ Syria cũng đã hai lần góp mặt tại vòng chung kết Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới vào các năm 1995 và 2005. == Danh hiệu == Vô địch Tây Á: 1 Vô địch: 2012 Á quân: 2000; 2004 Hạng ba: 2008 Hạng tư: 2002; 2007 Vô địch cúp Ả Rập: 0 Á quân: 1963; 1966; 1988 Hạng tư: 1992 == Thành tích == === Cấp thế giới === ==== World Cup ==== === Cấp châu lục ===
trường đại học ngoại ngữ, đại học quốc gia hà nội.txt
Trường Đại học Ngoại ngữ (tên giao dịch tiếng Anh: University of Languages và International Studies hay ULIS) là một trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trường là một trong những trung tâm đào tạo giáo viên và cán bộ ngoại ngữ lớn của Việt Nam. Trụ sở chính của trường đặt tại đường Phạm Văn Đồng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. == Lịch sử == Năm 1955, Trường được thành lập với cái tên Trường Ngoại ngữ do Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn trực tiếp làm Hiệu trưởng. Trường khai giảng khoá học đầu tiên ngày 05.9.1955 tại Khu Việt Nam học xá – Bạch Mai – Hà Nội. Năm 1958, Trường được sáp nhập vào Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trở thành Khoa Ngoại ngữ, sau đó phát triển thành 4 khoa ngoại ngữ (Nga văn, Trung văn, Anh văn và Pháp văn). Ngày 14.8.1967, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 128/CP thành lập Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội trên cơ sở 4 khoa ngoại ngữ này. Ngày 10.12.1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/CP thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở sáp nhập ba trường đại học: Trường ĐHTH Hà Nội, Trường ĐHSP Hà Nội và Trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội. Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội có tên “Trường Đại học Ngoại ngữ – ĐHQGHN” bắt đầu từ đây. == Cơ sở vật chất - Điều kiện sống và học tập == Giảng đường A2: Gồm 8 tầng. Từ tầng 1 đến tầng 4 là phòng học tiếng cơ bản. Từ tầng 5 đến tầng 8 là các phòng học nghe – nói – multimedia với máy chiếu, máy tính, tivi,… Giảng đường B2: Gồm 5 tầng. 13 hội trường với sức chứa 150 sinh viên nằm chủ yếu ở tầng 1 và tầng 4. Và các phòng học tiếng cơ bản ở tầng 2 và tầng 3. Giảng đường C1 – khoa Pháp với 4 tầng được dành riêng cho sinh viên học tiếng pháp và sinh viên quốc tế. Giảng đường B3: Gồm 4 tầng. Với phòng máy vi tính, phòng học nghe nói do chính phủ Nhật Bản hỗ trợ. Ngoài ra tầng 1 nhà B3 là Trung tâm học liệu với 3 phòng tự học. Ngoài ra, nhà C2 với khu phòng học với điều kiện tốt nhất dành cho sinh viên hệ Chất lượng cao của trường. Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia mang đến cho sinh viên một hệ thống thư viện lớn với nhiều đầu sách và tra cứu: Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Thư viện tầng 2 nhà C3 - Khu công trình khoa Pháp Thư viện tầng 1 nhà B3 Ngoài ra sinh viên cũng có thể sử dụng thư viện của các trường trong khối Đại học Quốc gia như Thư viện Nhân văn, Thư viện Tự nhiên, Thư viện Khoa Hoá, Thư viện Ký túc xá Mễ Trì,… == Ban Giám hiệu == Hiệu Trưởng: TS. Đỗ Tuấn Minh Các Phó Hiệu Trưởng: TS. Phạm Văn Ngọc PGS. TS. Ngô Minh Thủy TS. Nguyễn Xuân Long == Các Hiệu Trưởng qua các nhiệm kỳ == GS.TSKH. Trương Đông San (1982-1990) NGƯT-ThS. Nguyễn Văn Lợi (1997-5/2008) NGƯT, NGND-GS-TS. Nguyễn Hòa (5/2008-5/2015) TS. Đỗ Tuấn Minh (5/2015-2020) == Các khoa và bộ môn đào tạo == Trường Đại học Ngoại ngữ gồm có 8 khoa đào tạo, 2 khoa trực thuộc, 2 bộ môn, 3 trung tâm nghiên cứu và 1 trường trung học phổ thông trực thuộc. === Các Khoa và Bộ môn trực thuộc === Trưởng Khoa Sư phạm Tiếng Anh: TS. Vũ Hải Hà Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa các nước nói tiếng Anh: TS. Đỗ Thị Thanh Hà Trưởng Khoa Tiếng Anh: TS. Vũ Thị Thanh Nhã Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nga: TS. Đinh Thị Thu Huyền Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc: TS. Phạm Minh Tiến Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp: TS. Đinh Hồng Vân Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản: TS. Đào Thị Nga My Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc: ThS. Trần Thị Hường Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức: TS. Lê Hoài Ân Trưởng Khoa Sau đại học: TS. Huỳnh Anh Tuấn Trưởng Khoa Đào tạo và Bồi dưỡng Ngoại ngữ: TS. Hoa Ngọc Sơn Trưởng Bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam: TS. Chử Thị Bích Trưởng Bộ môn Tâm lý - Giáo dục: TS. Nguyễn Thị Thắng Bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa Ả Rập === Các Trung tâm và Cơ sở trực thuộc === Trung tâm Công nghệ thông tin - Truyền thông và Học liệu Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Ngoại ngữ và kiểm định chất lượng Trung tâm Khảo thí Trung tâm Trung tâm Ngôn ngữ & Quốc tế học Trung tâm Bồi dưỡng giáo viên Trung tâm tiếng Anh Trung tâm Sejong Trung tâm nghiên cứu Pháp ngữ Trung tâm nghiên cứu và dạy học tiếng Hán Trung tâm hợp tác và phát triển Việt – Nhật Trung tâm Phát triển Nguồn lực Trung tâm Hỗ trợ sinh viên Trường Trung học phổ thông Chuyên Ngoại ngữ == Các ngành đào tạo, các hệ đào tạo == Trường Đại học Ngoại ngữ đào tạo cử nhân 14 ngành về Ngoại ngữ trong đó có 5 ngành học Chất lượng cao và 12 ngành học ngành kép Liên kết với Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, Khoa Luật - ĐHQGHN, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, đào tạo thạc sĩ với 6 ngành (10 chuyên ngành), đào tạo tiến sĩ với 4 ngành (8 chuyên ngành) . === Đào tạo Cử nhân === Chương trình đào tạo chuẩn: Ngôn ngữ Anh (có hệ chất lượng cao) Sư phạm tiếng Anh (có hệ chất lượng cao) Ngôn ngữ Trung Quốc Sư phạm tiếng Trung Quốc (có hệ chất lượng cao) Ngôn ngữ Pháp (có hệ chất lượng cao) Sư phạm tiếng Pháp Ngôn ngữ Nga Sư phạm tiếng Nga Ngôn ngữ Đức Ngôn ngữ Nhật Bản (có hệ chất lượng cao) Sư phạm tiếng Nhật Ngôn ngữ Hàn Quốc Sư phạm tiếng Hàn Quốc Ngôn ngữ Ả-rập Trường tổ chức tuyển sinh các chương trình chất lượng cao sau khi sinh viên nhập học. Sinh viên hệ chất lượng cao được học đội ngũ giảng viên hàng đầu với nhiều đổi mới trong phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá, được hỗ trợ kinh phí đào tạo và nghiên cứu khoa học, được hỗ trợ kinh phí học tiếng Anh để tối thiểu đạt trình độ Bậc 4 (B2) theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam và được nhận bằng cử nhân chất lượng cao khi tốt nghiệp. Chương trình đào tạo thứ hai: Sinh viên học hết năm học thứ nhất nếu có nguyện vọng và đủ điều kiện về học lực được đăng ký học thêm một CTĐT thứ hai trong 12 ngành đào tạo tại 4 đơn vị sau: Thời gian đào tạo chương trình thứ hai nằm trong tổng thời gian đào tạo chương trình thứ nhất (6 năm học). Sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo của cả hai ngành sẽ được nhận hai bằng cử nhân chính quy. Chương trình đào tạo chính quy - liên kết quốc tế: Trường Đại học Ngoại ngữ tổ chức các chương trình liên kết đào tạo quốc tế hợp tác với các trường đại học uy tín trên thế giới, do trường đối tác nước ngoài cấp bằng. Hệ Cử tuyển: Cử tuyển tiếng Anh Cử tuyển tiếng Trung === Đào tạo Thạc sĩ === Tiếng Anh Chuyên ngành: Ngôn ngữ Anh Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh Tiếng Nga Chuyên ngành: Ngôn ngữ Nga Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Nga Tiếng Pháp Chuyên ngành: Ngôn ngữ Pháp Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Pháp Tiếng Trung Chuyên ngành: Ngôn ngữ Trung Quốc Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Trung Quốc Tiếng Nhật: Chuyên ngành: Ngôn ngữ Nhật Bản Tiếng Đức: Chuyên ngành: Ngôn ngữ Đức === Đào tạo Tiến sĩ === Tiếng Anh Chuyên ngành: Ngôn ngữ Anh Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh. Tiếng Nga Chuyên ngành: Ngôn ngữ Nga Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Nga Tiếng Pháp Chuyên ngành: Ngôn ngữ Pháp Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Pháp Tiếng Trung Chuyên ngành: Ngôn ngữ Trung Quốc Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Trung Quốc == Cơ hội học bổng - học chuyển tiếp == === Các học bổng do Trường khai thác và quản lý === Học bổng Shinwon (Hàn Quốc) Học bổng Parwon-Hong (Nhật Bản) Học bổng ĐH Nữ sinh Nara (Nhật Bản) Học bổng phụ nữ Seoul (Hàn Quốc) Học bổng O. Kong (Hàn Quốc) Học bổng Ngân hàng Công Thương (Trung Quốc) Ngoài học bổng cho sinh viên khá giỏi theo quy định của nhà nước, trường còn có học bổng "Ước mơ xanh" dành cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, học bổng "Vừ A Dính" cho sinh viên dân tộc ít người. Bên cạnh đó sinh viên còn có thể nhận học bổng từ các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước như: Học bổng KT, Học bổng của Quỹ ngân hàng tài chính Nhật Bản, Học bổng Lotte – Sochun Hàn Quốc... === Cơ hội học chuyển tiếp tại các ĐH Quốc tế === Ngành tiếng Pháp Sinh viên hoàn thành chương trình năm thứ 2 khoa tiếng Pháp ở các trường đại học hoặc người có bằng tiếng Pháp đạt trình độ B2 trở lên được xét để học lấy bằng Cử nhân Quản trị doanh nghiệp do Trường đại học Picardie Jules Verne cấp. Sinh viên sau khi có bằng Cử nhân Kinh tế - Quản l. và Quản trị doanh nghiệp được xét tuyển chuyển tiếp học 1 năm tại Đại học Picardie Jules Verne để lấy bằng Thạc sĩ do Pháp cấp. Ngành tiếng Hàn Quốc Sinh viên học hết năm thứ 2 có thể đăng ký học chuyển tiếp tại một số trường đại học của Trung Quốc có quan hệ hợp tác với Nhà trường. Các môn học tại Trung Quốc được chuyển điểm vào khóa học của sinh viên. Ngành tiếng Nhật Bản Khóa học nghiên cứu văn hóa tại Nhật Bản Hàng năm, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam kết hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam tổ chức kì thi chọn những sinh viên ưu tú nhất (từ 16 đến 20 sinh viên) đi học tại Nhật Bản theo học bổng của chính phủ Nhật Bản. Các ứng viên tham gia kì thi này được chọn từ những sinh viên có kết quả học tập xuất sắc nhất trong khối tiếng Nhật của tất cả các trường đại học trên cả nước, trong đó số ứng viên của trường ĐH Ngoại ngữ là khoảng 6 đến 8 sinh viên. Tỷ lệ đỗ của sinh viên trường tương đối cao (từ 60~80%). Sinh viên trúng tuyển sẽ được hưởng 100% học bổng của chính phủ Nhật và sẽ học tại một trường ĐH Nhật Bản (đăng ký nguyện vọng trong hồ sơ) trong một năm, nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản. Sinh viên theo học tại Nhật Bản ngoài các môn học về tiếng Nhật (tiếng Nhật tổng hợp, kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng viết luận văn…) còn được tham gia các lớp về văn hóa (trà đạo, thư pháp, nấu ăn, kimono, làm giấy truyền thống Washi, cắm hoa Ikebana, làm đồ gốm, đồ sơn mài, mạ vàng…) và được đi rất nhiều nơi để giao lưu và trải nghiệm văn hóa. Khóa học trao đổi với Trường ĐH Kumamoto Gakuen Hàng năm sinh viên được xét đi học tại Nhật Bản theo chương trình trao đổi với trường ĐH Kumamoto Gakuen. Kumamoto Gakuen là trường kết nghĩa với ĐHNN nên sinh viên theo học tại đây có nhiều thuận lợi để học tập và nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản. Học bổng 100%, cơ sở vật chất tiên tiến, con người thân thiện, khí hậu có nhiều nét tương đồng với Việt Nam tạo ra môi trường học tập lý tưởng đối với sinh viên theo học. Ngoài các môn học tiếng Nhật bắt buộc, sinh viên có thể đăng ký các ngành học mình thích như kinh tế, văn học… Trường cũng có chương trÌnh homestay cho sinh viên chia làm 2 đợt (tháng 4 và tháng 8) giúp sinh viên trải nghiệm cuộc sống trong một gia đình Nhật Bản. Ngoài ra sinh viên có thể tham gia các chuyến đi chơi do trường tổ chức, tham gia cuộc thi hùng biện tiếng Nhật cho người nước ngoài. Ngành tiếng Hàn Quốc Sinh viên tiếng Hàn ngoài cơ hội được nhận học bổng trong ngân sách nhà nước, còn có nhiều cơ hội nhận học bổng từ các tổ chức, doanh nghiệp Hàn Quốc. Hàng năm có rất nhiều học bổng bằng tiền mặt hoặc học bổng đi thực tế tại Hàn Quốc (từ 5~10 ngày). Đây có thể coi là sự động viên quý báu cũng như sự hỗ trợ hiệu quả từ phía Hàn Quốc đến sinh viên chuyên ngành tiếng Hàn. Nganh tiếng Nga Olympic tiếng Nga Vào tháng 3 và tháng 4 hàng năm Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga tại Hà Nội tổ chức các cuộc thi Olympic tiếng Nga toàn quốc dành cho sinh viên năm thứ nhất các trường đại học chuyên ngữ. Phần thưởng cao nhất dành cho các sinh viên đoạt giải là các suất học bổng toàn phần du học tại LB Nga. Tất cả sinh viên năm thứ nhất đều có quyền tham dự cuộc thi này. Kể từ khi cuộc thi bắt đầu được tổ chức, khoa NN&VH Nga năm nào cũng là một trong các trường có số lượng cao nhất sinh viên đoạt giải và được đi học dài hạn tại Nga. Học chuyển tiếp 10 tháng ở Viện Pushkin Hàng năm có khoảng 4-5 sinh viên năm thứ hai của Khoa được xét tuyển đi học chuyển tiếp tại Viện tiếng Nga mang tên A.X.Pushkin ở thành phố Moscow, LB Nga. Để xét tuyển sinh viên đi học chuyển tiếp, Nhà trường căn cứ vào điểm trung bình chung học kỳ I năm thứ hai của sinh viên để xếp hạng thứ tự cho đến hết chỉ tiêu. Ngành tiếng Đức Học bổng hàng năm của WUS (Tổ chức hỗ trợ đại học thế giới) CHLB Đức Học bổng của DAAD (Cơ quan trao đổi hàn lâm Đức) tham gia một khoá học hè tại một trường đại học ở Đức vào cuối năm thứ 4. Học bổng bồi dưỡng tại Đức dành cho các nhà sư phạm. Sử dụng hệ thống phòng học liệu đa dạng và cập nhật do các tổ chức của Đức và Áo tặng. Ngành tiếng Ả-Rập Sau khi hoàn thành chương trình năm nhất, sinh viên ngành tiếng Ả-rập có cơ hội nhận học bổng và học chuyển tiếp tại đại học Cairo (Cairo University – Ai Cập), Qatar, Kuwait. == Sinh viên Nhiệm vụ Chiến lược == Năm 2010 Đại học Quốc gia Hà Nội đã thực hiện chương trình nhiệm vụ chiến lược. Theo đó sinh viên học các ngành theo chuẩn quốc tế ở các trường trong khối Đại học Quốc gia sẽ được chuyển đến Đại học Ngoại ngữ để học tiếng Anh trong năm học đầu tiên. Các ngành chuẩn quốc tế gồm có: Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN: Toán học Vật lý Hoá học Sinh học Địa chất Khoa học Môi trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN: Khoa học máy tính Công nghệ Điện tử - Viễn thông Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN: Ngôn ngữ học Đại học Kinh tế - ĐHQGHN: Quản trị Kinh doanh Các lớp Nhiệm vụ Chiến lược tại Đại học Ngoại ngữ có tên gọi là QT (hoặc ISP). == Trích dẫn về trường == "Trải qua dòng chảy hơn sáu mươi năm lịch sử hình thành và phát triển, Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu có uy tín về ngôn ngữ, quốc tế học và các ngành liên quan. Trường đã có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng yêu cầu của xã hội theo chuẩn quốc tế. Trường coi trọng tính năng động, sáng tạo, trung thực, tinh thần trách nhiệm, khả năng sống và làm việc trong môi trường cạnh tranh đa văn hóa... Sự phát triển của Trường được tạo lập trên ba trụ cột chính là Tính trách nhiệm cao, Khả năng tạo dựng cơ hội và Tính cộng đồng. Triết lý phát triển của Trường được thể hiện qua ba từ tiếng Anh là “Creating Opportunities Together” – Cùng nhau kiến tạo cơ hội.", Hiệu trưởng Đỗ Tuấn Minh. "Học tập ở ULIS sẽ mang lại cho các bạn nhiều triển vọng, cơ hội nghề nghiệp, học tập, học bổng, thăng tiến v.v. trong tương lai. Đó là bởi triết lý đào tạo của chúng tôi không phải là đào tạo cho một con người rập khuôn theo kiểu sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà là con người có kĩ năng phẩm chất đủ để họ có thể tồn tại, có thể vươn lên, khẳng định mình trong cuộc sống. Điều đó có nghĩa là bạn hoàn toàn có thể tự tin rằng: bạn sẽ ra trường không chỉ với một tấm bằng mà còn với một thương hiệu, một văn hóa, trình độ có tên ULIS nữa." Tiến sĩ Vũ Hải Hà. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
tứ bất tử.txt
Tứ bất tử (chữ Hán: 四不死) là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh Công chúa. Tản Viên Sơn Thánh, hay Sơn Tinh, là vị thần núi Tản Viên (Ba Vì), núi tổ của các núi nước Việt Nam. Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai. Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng, tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ. Chử Đồng Tử, còn được gọi là Chử Đạo Tổ, tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân, và sự sung túc giàu có. Liễu Hạnh công chúa, hay Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Liễu Hạnh, tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, sự thịnh vượng, văn thơ. Trong 4 vị trên thì 3 vị nam thần đầu tiên theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương, và đã được thờ ở rất nhiều nơi từ rất lâu. Riêng Mẫu Liễu Hạnh là phụ nữ duy nhất, mới được đưa vào hệ thống thần thánh từ đời Hậu Lê. Do Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện khá muộn so với 3 vị kia nên có ý kiến cho rằng bên cạnh 4 vị thánh kia, Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việt còn có 2 vị thánh khác là Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không. == Ghi chép == Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập. Nguyễn Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Lời chú ấy như sau: "... Người đời Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy" Kiều Oánh Mậu người làng Đường Lâm là nhà học giả cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục có viết: "Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đúng là như vậy. Vì bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào." Những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn và thường khẳng định tứ bất tử gồm: Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh Công chúa. Ví dụ như Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện Trên đỉnh non Tản in trong tập Vang bóng một thời, có viết: "... Bốn vị Tứ bất tử nơi thế giới u linh: thánh Tản Viên, chúa Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, và Phù Đổng thiên vương". == Xem thêm == Tín ngưỡng Việt Nam == Chú thích == == Liên kết ngoài == Tứ bất tử tại Từ điển bách khoa Việt Nam Tản Viên, Đức Thánh Tản tại Từ điển bách khoa Việt Nam Phù Đổng Thiên Vương tại Từ điển bách khoa Việt Nam Chử Đồng Tử tại Từ điển bách khoa Việt Nam Liễu Hạnh tại Từ điển bách khoa Việt Nam Tâm thức dân gian về Tứ bất tử Sự tích Tứ bất tử
thuli.txt
Thuli là nguyên tố hóa học có ký hiệu Tm và số nguyên tử 69. Thuli là nguyên tố ít phổ biến nhất của nhóm Lantan nhưng nó ít được tìm thấy ở dạng tự nhiên trên Trái Đất. Nó là một kim loại dễ gia công với một tập hợp xám bạc sáng. Do giá cao và hiếm, thuli được dùng làm nguồn bức xạ trong các thiết bị tia X cầm tay và trong laser rắn. == Tính chất == === Tính chất vật lý === Kim loại thuli nguyên chất có màu bạc, sáng. Nó ổn định trong không khí, nhưng cần được bảo quản tránh ẩm. Kim loại mềm, dễ uốn. Thuli có tính sắt từ ở dưới 32 K, phản sắt từ giữa 32 và 56 K và thuận từ trên 56 K. === Tính chất hóa học === Thuli kim loại xỉn chậm trong không khí và dễ cháy ở 150 °C tạo ra thuli(III) ôxit: 4 Tm + 3 O2 → 2 Tm2O3 Thuli có khả năng nhường điện tử và phản ứng với chậm với nước lạnh, và nhanh với nước nóng tạo thành thuli hydroxit: 2 Tm (r) + 6 H2O (l) → 2 Tm(OH)3 (dd) + 3 H2 (k) Thuli phản ứng với tất cả halogen. Các phả ứng diễn ra chậm ở nhiệt độ phòng, nhưng mạnh mẽ ở nhiệt độ trên 200 °C: 2 Tm (r) + 3 F2 (k) → 2 TmF3 (r) [trắng] 2 Tm (r) + 3 Cl2 (k) → 2 TmCl3 (r) [vàng] 2 Tm (r) + 3 Br2 (k) → 2 TmBr3 (r) [trắng] 2 Tm (r) + 3 I2 (k) → 2 TmI3 (r) [vàng] Thuli dễ hòa tan trong axit slfuric loãng tạo thành dung dịch chứa các ion Tm(III) lục nhạt, ở dạng phức [Tm(OH2)9]3+: 2 Tm (r) + 3 H2SO4 (dd) → 2 Tm3+ (dd) + 3 SO42 (dd) + 3 H2 (k) Thuli phản ứng với các nguyên tố kim loại và không kim loại khác nhau tạo thành các hợp chất hai thành phần, như TmN, TmS, TmC2, Tm2C3, TmH2, TmH3, TmSi2, TmGe3, TmB4, TmB6 và TmB12. Trong các hợp chất này, thuli thể hiện số ôxy hóa +2, +3 và +4, tuy nhiên trạng thái +3 là phổ biến nhất và chỉ có trạng thái này đã được quan sát trong các dung dịch Tm. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == WebElements.com – Thulium (also used as a reference) It's Elemental – Thulium
bảng chữ cái kirin.txt
Bảng chữ cái Kirin là một hệ thống chữ viết chữ cái sử dụng tại Đông Âu, Bắc Á và Trung Á. Nó được dựa trên bảng chữ cái Kirin cổ (early Cyrillic), vốn đã được Thánh Kyrillo phát triển ở Đế quốc Bulgari đệ nhất trong thế kỷ thứ 9 tại trường Preslav. Thánh Kyrillo được tuyển chọn từ Constantinople chỉ cho mục đích phát triển chữ viết nói trên. Nó là cơ sở của bảng chữ cái được sử dụng trong các ngôn ngữ khác nhau, quá khứ và hiện tại, trong các bộ phận của Đông Nam Âu và Bắc lục địa Âu Á, đặc biệt trong các nhóm người gốc Slav, và trong các ngôn ngữ không Slav nhưng chịu ảnh hưởng của Nga. Tính đến năm 2011, khoảng 252 triệu người ở lục địa Âu Á sử dụng nó như là bảng chữ cái chính thức cho các ngôn ngữ quốc gia của họ. Khoảng một nửa trong số người đó là ở Nga. Chữ viết Cyrillic là một trong những hệ thống chữ viết sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Bảng chữ cái Kirin có nguồn gốc từ các chữ viết hoa của Hy Lạp, được bổ sung các chữ cái từ bảng chữ cái Glagolitic cũ, trong đó có một số chữ ghép. Những chữ cái bổ sung này đã được Giáo hội Slav cũ sử dụng cho các vần không có trong chữ cái Hy Lạp. Tên bảng chữ cái được đặt theo tên của hai anh em người Byzantine, Saint Cyril và Methodius, người đã tạo ra bảng chữ cái Glagolitic trước đó. Các học giả hiện đại cho rằng bảng chữ cái Kirin đã được các môn đệ đầu tiên của Cyril và Methodius phát triển và chính thức hóa. Với sự gia nhập của Bulgaria vào Liên minh châu Âu ngày 1 tháng 1 năm 2007, bảng chữ cái Kirin trở thành bảng chữ cái chính thức thứ ba của Liên minh châu Âu, sau các bảng chữ cái Latin và Hy Lạp. Bảng chữ cái Kirin còn được biết đến với tên azbuka. == Bảng chữ cái == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Các âm của bảng chữ cái tiếng Nga
chiến tranh thế giới thứ hai.txt
Chiến tranh thế giới thứ hai (cũng được nhắc đến với tên gọi Đệ nhị thế chiến, Thế chiến II hay Đại chiến thế giới lần thứ hai,...) là cuộc chiến tranh thế giới thảm khốc bắt đầu từ năm 1939 và chấm dứt vào năm 1945 giữa các lực lượng Đồng Minh và phe Trục theo chủ nghĩa phát xít. Hầu hết mọi lục địa trên thế giới đều bị ảnh hưởng của cuộc chiến này, ngoại trừ châu Nam Cực và Nam Mỹ. Cho đến hiện nay, nó là cuộc chiến rộng lớn và tai hại nhất trong lịch sử nhân loại. Các nguyên nhân cuộc chiến được nêu ra thì có nhiều và là một đề tài đang được tranh cãi, trong đó có Hòa ước Versailles, đại khủng hoảng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân phiệt. Cũng chưa có sự thống nhất trong việc tính ngày bắt đầu cuộc chiến: một số người cho rằng đó là khi Đức xâm lược Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, một số người khác tính ngày Nhật Bản xâm lược Trung Quốc vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, còn một số khác thì tính vào một ngày còn sớm hơn nữa: ngày Nhật xâm lăng Mãn Châu vào năm 1931. Cũng một số người khác cho rằng hai cuộc thế chiến thực ra chỉ là một và được chia ra bởi một cuộc ngừng bắn. Các chiến sự đã xảy ra tại Đại Tây Dương, châu Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Địa Trung Hải, Thái Bình Dương và phần lớn của Đông Á và Đông Nam Á. Cuộc chiến kết thúc tại châu Âu khi Đức đầu hàng vào ngày 8 tháng 5 năm 1945 (theo giờ Berlin, còn theo giờ Moskva là ngày 9 tháng 5) nhưng vẫn còn tiếp diễn tại châu Á cho đến khi Nhật đầu hàng vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Chiến tranh thế giới thứ hai là một cuộc chiến tranh toàn diện, kể cả dân thường không ở mặt trận cũng bị đánh bom hàng loạt. Khoảng 70 triệu người đã bị chết do cuộc chiến này (thống kê vẫn tiếp tục nghiên cứu), kể cả các hành động tàn sát diệt chủng của Đức Quốc xã (Holocaust). 60% người chết là thường dân, chết vì bệnh dịch, nạn đói, nạn diệt chủng và bom đạn. Thiệt hại nặng nhất là Liên Xô từ 23 tới 27 triệu người chết, trong khi theo phần trăm dân số thì là Ba Lan với 16% (5,6 triệu người chết so với 34,8 triệu người trước chiến tranh). Vũ khí nguyên tử, máy bay phản lực, ra-đa v...v... là một số phát minh trong cuộc chiến. Sau cuộc chiến, châu Âu bị chia ra làm hai phái: một phía chịu ảnh hưởng của phương Tây do Hoa Kỳ đứng đầu, còn phía kia chịu ảnh hưởng của Liên Xô. Các nước phụ thuộc Hoa Kỳ nằm trong kế hoạch khống chế chính trị thông qua các viện trợ kinh tế mang tên Kế hoạch Marshall trong khi các nước kia trở thành các nước chủ nghĩa cộng sản phụ thuộc Liên Xô. Tây Âu liên kết đồng minh trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, trong khi các nước Đông Âu liên kết đồng minh theo Hiệp ước Warszawa. Các liên minh này đóng vai trò quan trọng trong Chiến tranh Lạnh sau này. Tại châu Á, sự chiếm đóng Nhật Bản của quân đội Hoa Kỳ đã Tây hóa nước này, trong khi Trung Quốc bị chia ra thành hai nước: nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và nước Trung Hoa Dân quốc tại Đài Loan. == Hoàn cảnh và nguyên nhân == Lý do dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai khác nhau trong mỗi nơi giao chiến. Tại châu Âu, lý do nằm xung quanh hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất: Đức muốn tránh phải tuân theo các điều kiện trong Hòa ước Versailles, chủ nghĩa phát xít ngày càng phổ biến và các lãnh tụ chủ nghĩa này có tham vọng cao, trong khi tình hình không ổn định tại Trung Âu và Đông Âu sau khi Đế quốc Áo-Hung tan rã làm chiến tranh dễ xảy ra. Tại Thái Bình Dương, ý định biến thành cường quốc số một của Nhật Bản và sự thắng thế của một số tướng lãnh quân phiệt đã khiến nước này có ý đồ chiếm Trung Quốc và các thuộc địa lân cận (của Anh, Pháp) để thoả mãn nhu cầu tài nguyên mà đảo quốc nhỏ bé này không thể tự đáp ứng được, cuối cùng đã cuốn Nhật Bản vào chiến tranh. === Tình hình châu Âu === ==== Sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít ==== Vào thập niên 1920 và 1930, chế độ phát xít giành được quyền lực tại Ý và Đức trong khi các đảng phát xít khác cũng có nhiều thế lực trong chính trường Trung Âu. Riêng tại Đức, đảng Đức quốc xã và thủ lĩnh Adolf Hitler đang có hoài bão tạo ra một chính quyền kiểu mẫu. Họ đã khơi dậy và khai thác niềm tự hào dân tộc của người Đức, cũng như các nền tảng trụ cột của chủ nghĩa phát xít như sự tôn trọng quân đội và tuân thủ chính quyền. Các sự kiện này khiến Đức trở thành một nước hùng mạnh với quân đội mạnh được xây dựng trên nền tảng tư tưởng chiến lược, một nền công nghiệp phát triển nhanh trong môi trường khuyến khích thương mại và sự ủng hộ của dân chúng trong việc giành lại đất đai đã bị mất sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và danh dự quốc gia. Tại Ý, Benito Mussolini cũng dùng thuật hùng biện như Hitler, nhưng ít thành công hơn. Thủ lĩnh Đức quốc xã, Adolf Hitler, đã trình bày tham vọng của mình ngay từ năm 1924, trong cuốn tự truyện Mein Kampf, cụ thể như sau: Nước Đức sẽ trở thành "bá chủ của thế giới". Trước hết, phải tính sổ với nước Pháp, "kẻ thù truyền kiếp của dân Đức". Sau khi đã tiêu diệt được Pháp, Đức phải bành trướng về hướng Đông – chủ yếu là chiếm đất của nước Nga để giành lấy "không gian sinh tồn" (tức là mở rộng lãnh thổ và tài nguyên), nếu chiếm được nước Nga, nước Đức sẽ không còn bị bó hẹp trong lãnh thổ bé nhỏ hiện tại mà sẽ trở thành một đại quốc có lãnh thổ rộng bao la. Về tính chất của nhà nước Quốc xã tương lai, Hitler nói rõ rằng sẽ không có cái trò "dân chủ ngu xuẩn" và rằng Đế quốc thứ Ba sẽ được đặt được một thể chế độc tài. Hitler xem mọi đời sống như là sự tranh đấu trường kỳ và thế giới như là khu rừng, trong đó chủng tộc nào mạnh hơn sẽ sống sót và thống trị. Đây là điều cốt lõi của tư tưởng Quốc xã về tính ưu việt của chủng tộc Aryan (người Đức). Và nếu chủng tộc Aryan muốn vượt lên trên thì phải chà đạp những chủng tộc khác, đặc biệt là những chủng tộc mà Hiler xem là cỏ rác – đó là Do Thái và Slav (người Nga). Sau khi Hitler lên nắm chính quyền, ông ta đặt ưu tiên vào việc tái tạo lại quân đội. Đức bỏ tiền ra để nghiên cứu các vũ khí nguy hiểm hơn và xây dựng các công nghiệp quân sự. Trong khi đó, các nhà tài phiệt Anh, Mỹ và phương Tây đã cung cấp tài chính cho Hitler vào những năm 1930 để ông ta có thể chi trả cho các hoạt động chính trị cũng như giúp Đức gây dựng nền công nghiệp quân sự (vấn đề mối quan hệ tài chính của Đức Quốc xã với các tập đoàn tư bản Mỹ được che giấu triệt để đã được nhà kinh tế học người Anh nổi tiếng Anthony Sutton làm rõ trong cuốn sách "Phố Wall và sự nổi lên của Hitler"). Các tài liệu mới giải mật từ kho lưu trữ Hoa Kỳ cho thấy Thượng nghị sĩ Prescott Bush (cha của Tổng thống Mỹ thứ 41 và ông nội của Tổng thống Mỹ thứ 43) là một trong những nhà tài phiệt Mỹ đã tham gia giao dịch với các kiến ​​trúc sư tài chính của chủ nghĩa phát xít. Vào năm 1936, Hitler tái chiếm đóng Rhineland, Anh-Pháp bỏ qua vấn đề này. Giới chức Anh, Pháp, Mỹ không chỉ bỏ qua sự trỗi dậy của Đức Quốc xã, mà còn tích cực đổ tiền vào nền kinh tế Đức, tạo điều kiện cho bộ máy chiến tranh của phát xít Đức phát triển. Hãng sản xuất vũ khí danh tiếng của Anh Vickers-Armstrong đã cung cấp vũ khí hạng nặng cho Đức, trong khi các công ty Mỹ như Pratt & Whitney, Douglas, Bendix Aviation... cung cấp cho Đức các bằng sáng chế, bí mật quân sự và các động cơ máy bay tối tân. Thủ tướng Anh Stanley Baldwin tóm tắt vấn đề vào tháng 7/1936 như sau: “Nếu chiến sự có diễn ra ở châu Âu, thì tôi mong được chứng kiến cảnh tụi Bolshevik (Liên Xô) và Đức Quốc xã nện nhau”. ==== Quan hệ giữa các nước châu Âu ==== Trong các nước châu Âu, Ba Lan là nước đầu tiên thỏa thuận với Đức Quốc xã. Hiệp ước giữa Ba lan và Hitler, ký vào ngày 26 tháng 1 năm 1934 có hiệu lực 10 năm. Đức đòi hỏi khu vực Danzig, Ba lan đòi hỏi Korridor và đòi sửa lại biên giới vùng Oberschlesien. Căn cứ theo Hiệp ước này, khi Đức chiếm Tiệp Khắc (năm 1938), hùa theo Đức, Ba Lan cũng đã đem quân xâm chiếm vùng Tesschen của Tiệp Khắc. Trong các năm 1936-1937, Liên Xô đã giúp đỡ những người Cộng hòa Tây Ban Nha chống lại chế độ phát xít Tây Ban Nha của Franco được Adolf Hitler bảo trợ, nhưng Liên Xô lại không được Anh, Pháp ủng hộ tích cực. Ngược lại, từ tháng 11 năm 1937, Anh-Pháp đã mở nhiều cuộc hội đàm với các thủ lĩnh Đức Quốc xã tại Obersanzberg. Họ cho rằng chế độ của Hitler đã trở thành thành trì chống chủ nghĩa Bolshevik và đã đến lúc có thể tiến hành cuộc "thập tự chinh" mới về phương Đông (tức Liên Xô). Ngày 1 tháng 3 năm 1938, nước Đức quốc xã thôn tính nước Áo mà không cần nổ một phát súng. Trong khi Bộ trưởng dân ủy ngoại giao Liên Xô tuyên bố lên án cuộc xâm lược này thì thủ tướng Anh Neville Chamberlain lại nói: "Chúng ta phải tránh bị mắc lừa. Và chúng ta cũng không để cho các nước nhỏ có ảo tưởng về sự giúp đỡ của Hội Quốc Liên có thể dành cho họ để chống lại sự xâm lược". Sau khi Áo bị sát nhập với Đức, Hitler đòi hỏi vùng Sudentenland từ Tiệp Khắc. Tháng 8 năm 1938, quân đội Đức tập trung 30 sư đoàn quanh biên giới Tiệp Khắc, sẵn sàng tấn công nước này. Đến lúc này, tham vọng của Hitler đã lộ rõ, Liên Xô đề nghị với Anh - Pháp việc gạt bỏ những mâu thuẫn giữa hai phía và thành lập một liên minh nhằm ngăn chặn Hitler nhưng bị 2 nước này từ chối. Ngược lại, Anh - Pháp lại nhận lời mời của Ngoại trưởng Đức Ribbentrop và tham gia ký Hiệp ước Munich trong ngày 29, 30 tháng 9 năm 1938 giữa tứ cường Anh, Đức, Pháp, Ý. Kết quả của hội nghị này là một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau được ký giữa bốn nước này (Hiệp ước Munich) ngày 30 tháng 9 mà không hề đếm xỉa đến Hiệp ước tương trợ giữa Anh và Pháp với chính phủ Tiệp Khắc. Chính phủ Pháp cũng hùa với Đức và Anh để loại Liên Xô (nước ủng hộ Tiệp Khắc) ra khỏi hội nghị Munich. Bằng Hiệp định Munich, Anh và Pháp đã thừa nhận việc Đức Quốc xã thôn tính nước Áo là việc đã rồi. Anh-Pháp cũng sẽ làm ngơ cho Hitler đánh chiếm xứ Bohemia và Moravia, chiếm phía tây Tiệp Khắc; đặt Ba Lan và cả Liên Xô trước nguy cơ xâm lược của nước Đức Quốc xã Sau khi ký Hiệp định Munich, Thủ tướng Anh là Chamberlain trước khi bay về Anh đã tuyên bố với Hitler rằng "Bây giờ thì ông có đủ máy bay để tấn công Liên Xô. Điều đó sẽ khiến cho Liên Xô không thể đưa máy bay sang Tiệp Khắc được." Liền sau Hiệp ước Munich, 2 hiệp ước khác được Anh-Pháp ký với Đức: Ngày 6 tháng 12 năm 1938 Pháp tuyên bố xóa bỏ Hiệp ước tương trợ Pháp-Liên Xô để ký với Đức bản tuyên bố thừa nhận hiệu lực hoàn toàn của Hiệp định Munich 1938. Bộ trưởng ngoại giao Pháp là Georges Bonnet khi tới thăm Ribbentrop vào năm 1938 đã nói "Nước Pháp rất quan tâm cho các giải pháp về người Do thái", nước Pháp chỉ mong làm sao trục xuất hàng chục ngàn người Do Thái đã tới Pháp. Ngày 15 tháng 3 năm 1939, hiệp ước Düsseldorf được ký kết giữa Anh và Đức Quốc xã về việc phân chia quyền lực kinh tế trong khu vực châu Âu cho hai cường quốc Anh và Đức, trong đó Anh công nhận Đức có quyền khống chế kinh tế khu vực Đông Âu. Như vậy, hai nước Anh và Pháp không muốn tham chiến, cũng không muốn lập liên minh với Liên Xô cho nên đã vứt bỏ liên minh quân sự với Cộng hoà Tiệp Khắc và ký Hiệp ước München vào ngày 29 tháng 9, buộc Tiệp Khắc phải cắt cho Đức một phần lãnh thổ để thỏa mãn yêu cầu của Đức. Nhưng không dừng lại ở đó, đến ngày 16 tháng 3 năm 1939, Đức đã chiếm đóng toàn bộ Tiệp Khắc. Liên Xô ra tuyên bố phản đối Đức, nhưng Anh-Pháp vẫn bỏ qua việc này. Thấy tình hình thuận lợi, cả Ba Lan và Hungari cũng hùa theo Đức, đưa quân chiếm một phần lãnh thổ Tiệp Khắc. Ý theo gương Đức, đã tiến hành xâm lược Ethiopia năm 1935 và sát nhập Albania vào ngày 12 tháng 4 năm 1939. Các tài liệu lưu trữ của Anh được công bố vào năm 2013 cho thấy nước Anh không chỉ bỏ mặc Tiệp Khắc cho Hitler xâm chiếm mà còn tình nguyện trao gần 9 triệu USD tiền vàng vốn thuộc về Tiệp Khắc cho Đức Quốc xã. Các thỏi vàng của Tiệp Khắc đã được gửi ngay cho Hitler vào tháng 3/1939 khi quân Đức chiếm Praha. Điều khó tin hơn nữa là chính phủ Anh thực sự đã ngăn chặn và làm phá sản một âm mưu đảo chính của một nhóm sĩ quan cao cấp của quân đội Đức nhằm vào Adolf Hitler vào năm 1938, khi Hitler ra lệnh tấn công Tiệp Khắc. Tác giả Anh Michael McMenamin cho biết: “Về mặt lịch sử, không có nghi ngờ gì về việc phong trào kháng chiến Đức đã liên tục cảnh báo cho người Anh về ý đồ của Hitler là muốn xâm lược Tiệp Khắc vào tháng 9/1938... Tuy nhiên, để đáp lại, chính phủ Anh khi đó đã thực hiện mọi bước đi ngoại giao có thể để... phá hoại phe đối lập với Hitler.” Tháng 4 năm 1939, trong một nỗ lực cuối cùng để cứu vãn nền an ninh tập thể của châu Âu, Liên Xô mở lại các cuộc thương lượng với Anh và Pháp nhằm tìm kiếm một hiệp định tương trợ thật sự với các nước Tây Âu và Đông Âu. Mặc dù người Nga thực lòng muốn ký một hiệp ước phòng thủ chung càng sớm càng tốt với Anh và Pháp nhưng họ đã vấp phải sự lạnh nhạt của các chính phủ này, hiệp định tương trợ mà Liên Xô muốn xây dựng với các nước Tây Âu đã không thể được thực hiện. Sau Hiệp ước Munich, những nước còn lại ở Tây Âu và Trung Âu quay sang tìm cách thỏa hiệp với Đức Quốc xã. Ngày 7 tháng 6 năm 1939, hiệp ước không xâm lược lẫn nhau cũng được Đức Quốc xã tiếp tục ký với ba nước Baltic (Estonia, Latvia, Litva) và Đan Mạch, những nước có biên giới nằm khá gần Liên Xô. Hiệp ước này quy định rằng các nước Baltic sẽ trợ giúp Đức để chống Liên Xô. Điều này càng khiến Liên Xô trở nên lo ngại hơn. Việc Anh, Pháp từ chối lập liên minh với Liên Xô và ký với Đức hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau, đồng thời bỏ mặc đồng minh Tiệp Khắc cho Đức tiêu diệt, tất cả khiến Liên Xô thấy rằng phương Tây không hề thực tâm trong việc ngăn chặn Hitler, mà thực ra họ đang tìm cách hướng cỗ máy chiến tranh Đức nhắm vào Liên Xô. Vào ngày 22 tháng 5, Ý và Đức ký Hiệp ước Thép, chính thức hoá liên minh quân sự giữa hai nước. Về sau, hiệp ước được mở rộng thêm Đế quốc Nhật Bản, làm thành bộ ba Đức-Ý-Nhật, 3 cường quốc lớn nhất của phe Trục trong thế chiến thứ 2. Lập trường của các cường quốc phương Tây đưa Liên Xô đứng trước 2 sự lựa chọn: hoặc sẽ bị cô lập và phải một mình chống đỡ với các cuộc tấn công của phát xít Đức; hoặc phải đàm phán với Đức để ký một hiệp ước không xâm lược nhằm tranh thủ thời gian củng cố quân đội. Tình hình cho thấy sự lựa chọn thứ hai là không thể tránh khỏi. Vào ngày 23 tháng 8, Đức và Liên Xô ký Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, một thoả thuận không xâm lược trong đó có một điều khoản bí mật chia sẻ vùng ảnh hưởng tại Đông Âu giữa hai nước này. Thoả thuận này làm các nước Tây phương ngạc nhiên, nếu nhớ rằng hai nước này đã ủng hộ hai phía khác nhau trong Nội chiến Tây Ban Nha vừa mới kết thúc. Tuy nhiên với Liên Xô, hành động này không có gì khó hiểu vì Anh-Pháp đã từ chối lập liên minh chống Đức, mà họ thì không muốn một mình đối đầu với Đức tại thời điểm đó. Ngày nay, truyền thông phương Tây tập trung khai thác Hiệp ước Xô-Đức để kết tội Liên Xô đã bắt tay với Hitler, tạo nguyên nhân gây ra Thế chiến thứ 2. Nhưng thực tế lịch sử cho thấy hầu hết các cường quốc lớn của châu Âu đều đã ký các hiệp ước tương tự với Đức Quốc xã trước khi Liên Xô làm vậy. Giáo sư Carley nhận xét rằng đây là nỗ lực tuyên truyền của phương Tây nhằm biện minh cho các lỗi lầm nghiêm trọng vào những năm 1930, khi họ không chặn đứng sự trỗi dậy của nước Đức Quốc xã và thiết lập một liên minh chống Hitler vào thập niên 1930 theo đề nghị của Liên Xô. === Tình hình châu Á === Tại châu Á, Nhật Bản đã có mặt tại Trung Quốc khi chiến tranh bắt đầu. Các khu vực bị Nhật chiếm đóng trong quốc gia suy yếu này ngày càng nhiều trong những năm cuối thập niên 1930. Chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945) đã bùng nổ sau khi Nhật lấy cớ sự kiện Lư Câu Kiều để đưa quân tấn công Trung Quốc. Với ưu thế vượt trội về không quân và hải quân cũng như tinh thần kỷ luật cao của binh sĩ, Nhật Bản nhanh chóng chiếm đóng hầu hết miền đông bắc Trung Quốc. Lúc này, hai phía Quốc dân đảng và Cộng sản đảng chấp nhận ngừng chiến để tập trung vào việc đánh đuổi Nhật Bản ra khỏi Trung Quốc. Cuộc chiến còn có sự tham gia của Không quân Liên Xô để hỗ trợ cho quân Trung Quốc lúc này còn rất yếu về không quân so với Nhật. Lúc đầu, Trung Quốc giành được một số thắng lợi, nhưng sau này đà thắng quay sang phía Nhật và họ đã chiếm luôn cả miền Đông Nam Trung Quốc. Trong cuộc tấn công của Nhật có nhiều sự kiện khi dân thường bị tàn sát tàn nhẫn, trong đó có sự kiện Thảm sát Nam Kinh, đã khiến dư luận quốc tế ra áp lực đòi hỏi Nhật rời khỏi Trung Quốc, tuy nhiên Nhật Bản phớt lờ những sức ép này. Hoa Kỳ, nước đang nắm giữ nhiều đảo ở Thái Bình Dương và Phillipine, đã bày tỏ sự lo ngại đối với các hoạt động của Nhật, và bắt đầu dùng các biện pháp trừng phạt như không cho hàng hóa được tàu chở đến Nhật, nhất là dầu mỏ. Nhật đã chiếm đóng hầu hết các khu vực thành thị và công nghiệp tại Trung Quốc trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu (sau sự kiện cầu Lư Câu 1937). Tuy thế, Trung Quốc không có hai tài nguyên quan trọng trong việc phát triển và bảo đảm an ninh của Nhật: đó là dầu mỏ và cao su. Có hai quan điểm trong các tướng lãnh Nhật về cách đạt được các tài nguyên này: một là đánh vào phía bắc, tức là vào lãnh thổ Liên Xô và chiếm lấy một phần lớn của Siberi và hai là đánh xuống phía nam vào các thuộc địa của Âu Châu tại Đông Nam Á. Sau Chiến tranh biên giới Xô-Nhật với việc Nhật Bản bị Liên Xô đánh bại 2 lần liên tiếp, Nhật đã cho rằng cách đánh vào phía bắc không thể giành được chiến thắng. Sau thất bại trong trận Khalkhin Gol, Nhật Bản và Liên Xô đã ký một hiệp ước trung lập vào ngày 13 tháng 4 năm 1939. Nhiều sử gia Liên Xô cho rằng việc thất bại trong chiến dịch Khalkhin Gol đã khiến Nhật từ bỏ kế hoạch xâm lược Liên Xô, dù sau này Đức Quốc xã đã đề nghị Nhật cùng hợp sức tấn công Liên Xô vào năm 1941. Không thể tiến lên phía bắc, giờ đây tham vọng của Nhật được hướng xuống phía nam, vào các thuộc địa của Anh, Pháp, Hà Lan tại khu vực Đông Nam Á. Chiếm được vùng này, Nhật Bản sẽ có được hai tài nguyên quan trọng là dầu mỏ và cao su, cho phép họ đủ sức tranh đoạt vị trí bá chủ ở Thái Bình Dương với Anh và Hoa Kỳ. == Diễn biến == === Chiến trường châu Âu === ==== Chiến trường châu Âu 1939-1940 ==== Vào ngày 1 tháng 9, chỉ một tuần sau khi Hiệp ước Molotov-Ribbentrop được ký kết, Đức xâm lược Ba Lan, khiến Anh và Pháp phải tuyên chiến với Đức để làm tròn bổn phận theo hiệp ước với Ba Lan, tuy nhiên thực tế 2 nước này đã không có hành động gì trợ giúp cho Ba Lan (Anh, Pháp hy vọng sau khi Đức chiếm xong Ba Lan thì sẽ ngừng lại hoặc quay sang tấn công Liên Xô). Vào ngày 17 tháng 9, lực lượng Liên Xô tiến vào Ba Lan từ miền đông khi biên giới đã bỏ trống do Ba Lan chuyển quân sang phía tây chống Đức, với mục đích bảo vệ kiều dân gốc Nga và thu hồi lại những vùng đất đã bị Ba Lan chiếm của họ trong Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921). Sự xâm nhập từ 2 nước mạnh khiến chính phủ Ba Lan phải chạy khỏi đất nước, một phần quân đội Ba Lan rút theo và tổ chức lại ở Pháp. Đến ngày 6 tháng 10, lực lượng quân đội Ba Lan còn lại hoàn toàn đầu hàng. Lãnh thổ Ba Lan do Đức kiểm soát nằm dưới quản lý của 1 viên Toàn quyền Đức trong khi các vùng phía đông (từng thuộc Nga nhưng bị Ba Lan chiếm trong Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921)) được hoàn trả cho Liên Xô (những vùng này ngày nay thuộc về Ucraina và Belarus). Sự sụp đổ nhanh chóng của Ba Lan có lý do khách quan là sự vượt trội về công nghệ quân sự của Đức, còn lý do chủ quan là vì họ quá tin vào lời hứa của Anh-Pháp sẽ nhanh chóng tiếp viện cho Ba Lan, nhưng thực tế viện trợ đã không đến. Thực tế Ba Lan đã bị đồng minh của họ bỏ rơi, vì khi Đức tấn công Ba Lan, quân Anh-Pháp có tới 110 sư đoàn đang áp sát biên giới Đức so với chỉ 23 sư đoàn của Đức, nếu Anh-Pháp tấn công thì sẽ nhanh chóng buộc Đức phải rút quân về nước. Tư lệnh kỵ binh Đức Quốc xã Siegfried Westphal từng nói, nếu quân Pháp tấn công trong tháng 9 năm 1939 vào chiến tuyến Đức thì họ "chỉ có thể cầm cự được một hoặc hai tuần". Riêng ở đồng bằng Saar tháng 9 năm 1939, binh lực Pháp có 40 sư đoàn so với 22 của Đức, phía Đức không có xe tăng và chỉ có chưa đầy 100 khẩu pháo các cỡ, quá yếu ớt khi so sánh với trang bị của Pháp (1 sư đoàn thiết giáp, ba sư đoàn cơ giới, 78 trung đoàn pháo binh và 40 tiểu đoàn xe tăng). Tướng Đức Alfred Jodl từng nói: "Chúng tôi (Đức) đã không sụp đổ trong năm 1939 chỉ do một thực tế là trong chiến dịch Ba Lan, khoảng 110 sư đoàn của Anh và Pháp ở phương Tây đã hoàn toàn không có bất cứ hoạt động gì khi đối mặt với 23 sư đoàn Đức" Nhưng rốt cục Anh và Pháp đã không có bất kỳ hành động quân sự lớn nào mà chỉ muốn ngồi chờ Đức tấn công Liên Xô như họ đã dự tính (xem Cuộc chiến cuội). Ngay sau đó, để củng cố biên giới phía Tây chuẩn bị cho chiến tranh với Đức, Liên Xô bắt đầu tiến quân vào các nước cộng hòa gần biển Baltic. Tại 3 nước Baltic, quân đội Liên Xô được chào đón và không gặp kháng cự đáng kể (do tại các nước này, tộc người Nga chiếm một số lượng đáng kể so với các dân tộc khác), nhưng Phần Lan thì phản kháng quyết liệt, dẫn đến Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan vào ngày 30 tháng 11 cho đến tháng 3 năm 1940. Cũng vào lúc này, Đức và các nước Đồng Minh Tây phương đang trải qua một sự yên tĩnh buồn cười, với việc hai phía tuyên chiến với nhau nhưng không bên nào chịu ra tay trước. Sự yên tĩnh này kết thúc khi cả hai bên đều tính giành các nước Scandinavia còn lại và các khu mỏ quặng sắt quý giá ở Thụy Điển. Vào tháng 4, hai phía ngẫu nhiên bắt đầu tiến quân cùng lúc vào các nước Bắc Âu. Kết quả là Đức chiếm đóng được Đan Mạch trong khi một cuộc xung đột xảy ra tại Na Uy (xung đột đầu tiên giữa Đồng Minh và Trục) kết thúc với việc Anh chiếm được Na Uy. Cuộc xung đột tại Na Uy cho thấy lực lượng hai phía là cân bằng, diễn biến nghiêng về phía Đức khi nước này khởi sự một cuộc tấn công vào Pháp vào ngày 10 tháng 5, bắt buộc các lực lượng Anh và Pháp đang ở Na Uy phải rút lui. Cuộc tấn công vào Pháp và các nước Hà Lan, Bỉ và Luxembourg diễn ra rất nhanh chóng và Đức giành thắng lợi vang dội. Người Đức đã huy động vào mặt trận này 3.350.000 quân, nhiều hơn bất kỳ mặt trận nào khác cho tới thời điểm đó. Phía Anh-Pháp có 3,3 triệu quân, lực lượng 2 bên khá tương đương. Tuy nhiên, các chỉ huy Anh-Pháp vẫn duy trì lối tư duy về chiến tranh chiến hào của thế chiến thứ nhất, do vậy họ tập trung lực lượng về phòng tuyến Maginot với dự định dựa vào hệ thống công sự để chặn đứng quân Đức tại đây. Thực tế cho thấy đây là một sai lầm chiến lược rất tai hại của Anh-Pháp. Quân Đức với học thuyết chiến tranh chớp nhoáng đã sử dụng lực lượng thiết giáp đi vòng qua phòng tuyến Maginot, thọc sâu vào hậu phương của Pháp và bao vây luôn khối quân Anh-Pháp đang tập trung ở phòng tuyến này. Với chiến lược khôn khéo cộng với những sai lầm của Anh-Pháp, quân Đức nhanh chóng đánh bại đối phương. Trong vòng một tháng, chính phủ Pháp tuyên bố đầu hàng, trong khi lực lượng Anh phải lên tàu chạy khỏi nước Pháp. Ý, với ý định thâu chiếm lãnh thổ, tuyên chiến với Pháp (nay đã tê liệt). Chỉ trong hơn 1 tháng, quân Đức đã tiêu diệt hoặc bắt làm tù binh 2,2 triệu quân Anh và Pháp, 34 vạn quân khác phải lên tàu bỏ chạy khỏi Pháp về Anh, trong khi Đức chỉ thiệt hại 156,000 người. Đến cuối tháng 6, Pháp đã đầu hàng theo Hiệp định Compiègne lần thứ hai, bị lực lượng Đức chiếm đóng hầu hết phần lớn các lãnh thổ, phần còn lại do chính quyền bù nhìn Vichy điều hành. Sau khi chiến thắng, Đức cũng chiếm được rất nhiều nhà máy và đội ngũ công nhân lành nghề của Pháp, tiềm lực chiến tranh của Đức tăng rất nhiều, Hitler cảm thấy đủ tự tin là sẽ buộc Anh phải ký hòa ước, sau đó Đức sẽ quay sang thanh toán đối thủ lớn nhất là Liên Xô. ==== Chiến tranh giữa Đức và Anh ==== Sau khi Pháp sụp đổ, chỉ còn Anh chống lại Đức. Lục quân Đức rất mạnh nhưng bị ngăn cách với nước Anh bởi eo biển nên không thể tấn công được. Để đảm bảo Đức không thể vượt biển tấn công, Anh thi hành mọi chính sách có thể, thậm chí cả việc xâm chiếm những nước trung lập hoặc tấn công cựu đồng minh. Ngày 10/5/1940, Anh xâm chiếm Iceland và chiếm nước này để tránh việc Đức được đặt căn cứ quân sự tại đây. Để tránh việc hạm đội mạnh của Pháp được Hitler trưng dụng để tấn công Anh, ngày 3 tháng 7 năm 1940, Không quân và hải Quân Anh đã dội bom vào hạm đội Pháp (vốn là đồng minh của họ chỉ 2 tháng trước đó) neo đậu tại cảng Mers-el-Kebir ở Algérie, đánh chìm nhiều tàu và khiến hàng ngàn thủy thủ Pháp thương vong. Đức khởi đầu một cuộc tấn công hai nhánh vào Anh. Nhánh thứ nhất là những cuộc hải chiến trên Đại Tây Dương giữa các tàu ngầm, nay có thể sử dụng các cảng tại Pháp, và Hải quân Hoàng gia Anh. Các tàu ngầm được Đức dùng để tiêu diệt các đoàn tàu vận tải đưa hàng hóa theo đường biển. Nhánh thứ hai là một cuộc không chiến trên bầu trời Anh khi Đức dùng Không quân của họ để tiêu diệt Không quân Hoàng gia Anh, với ý định sử dụng ưu thế không gian để đổ bộ. Đến năm 1941, khi Anh vẫn còn đứng vững, và vì một số nỗi lo âu khác nổi lên, Đức bỏ dở chiến dịch và rút lực lượng Không quân ra khỏi nước Anh. Cho đến lúc này, thái độ của Mỹ vẫn là đứng ngoài cuộc và không muốn can dự vào chiến tranh. Nước Anh viết thư cầu viện tổng thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt xin 50 chiếc khu trục hạm phế thải của Mỹ. Hoa Kỳ cho cho Anh mượn (trên thực tế là bán) 50 chiếc chiến tàu cũ kỹ này với điều kiện Anh phải cho Hoa Kỳ thuê trong 99 năm các căn cứ tại Newfoundland, Bermuda và West Indies. Giao kèo bán tàu này rất có lợi cho Mỹ. Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố sẽ giúp Anh và Liên Xô về trang bị nhưng nước Mỹ sẽ không tham chiến, ngay cả các cố vấn chính phủ còn cho rằng Anh sẽ thua Đức và tốt nhất là chỉ nên bán vũ khí cho Anh chứ không nên tham chiến. Đạo luật lend-lease (cho vay - cho thuê) thông qua tháng 11/1941 cho phép Tổng thống Roosevelt "chuyển giao, cho mượn, cho thuê" mọi tài sản cần thiết cho chiến tranh, từ thực phẩm, vũ khí tới các dịch vụ khác cho các nước đang tham chiến nếu thấy có lợi cho an ninh của Hoa Kỳ, tất nhiên là đi kèm với những đòi hỏi của Mỹ về những khoản lợi kinh tế - chính trị. Tháng 6/1941, khi Đức tấn công Liên Xô, Phó Tổng thống Mỹ Harry S. Truman còn tuyên bố rằng: Nếu chúng ta thấy Đức chiến thắng thì chúng ta phải giúp người Nga, và nếu Nga chiến thắng thì chúng ta phải giúp người Đức, và theo cách đó cứ để họ giết nhau càng nhiều càng tốt, mặc dù tôi không muốn nhìn thấy Hitler chiến thắng trong bất kỳ hoàn cảnh nào. ==== Chiến trường Địa Trung Hải ==== Ngày 27/9/1940, Đức, Italia và Nhật đã ký hiệp ước đồng minh quân sự và chính trị ở Berlin. Hiệp ước này trước hết nhằm chống Liên Xô, nhưng còn chống cả Anh, Mĩ. Hiệp ước đề ra không úp mở việc phân chia thế giới: Đức, Italia ở châu Âu; Nhật ở Viễn Đông. Đức cũng đã lợi dụng những mâu thuẫn giữa các nước Balkan để lôi kéo các nước này làm chư hầu của mình. Ở Hội nghị Viên tháng 8/1940, Đức và Italia đã yêu cầu Romania là cắt vùng Transivalnia giao cho Hungaria và hứa với Rumani sẽ đền bù bằng đất đai chiếm của Liên Xô. Đức lại giúp lực lượng thân Đức ở Rumani làm chính biến, đưa những phần tử chống Liên Xô lên nắm chính quyền, do tướng Antonesscu cầm đầu. Với sự thỏa thuận của Antonesscu, ngày 7/10/1940, quân đội Đức kéo vào Rumani. Sau đó, lần lượt Hunggari, Rumani và Slovakia đều tuyên bố tham gia Hiệp ước Béclin (11/1940). Tháng 3/1941, chính phủ Bulgaria cũng tham gia hiệp ước Béclin và để cho quân đội Đức kéo vào nước mình. Trong khi Đức đang tập trung lực lượng đánh Anh, Ý mở cuộc tấn công Hy Lạp vào ngày 28 tháng 10 năm 1940. Cuộc tấn công này hoàn toàn thất bại: Hy Lạp chẳng những đánh lui Ý trở lại Albania, mà còn tham chiến theo phía Đồng Minh (trước đó Hy Lạp trung lập), cho phép Anh đổ bộ tại nước này để viện trợ và phòng thủ. Trong khi Ý đang đương đầu với Hy Lạp, nước Nam Tư láng giềng bị một cuộc đảo chính vào ngày 27 tháng 3 năm 1941. Người Nam Tư trục xuất chính quyền thân Đức đã ký Hiệp ước Ba Bên chỉ ba ngày trước, đồng thời ký hiệp ước thân thiện và không xâm phạm với Liên Xô ngày 5/4/1941. Trước tình hình đó. Hítle phải ra lệnh hoãn việc thực hiện kế hoạch Barbarossa xâm chiếm Liên Xô và quyết định đè bẹp Nam Tư và Hy Lạp trước. Kế hoạch được đặt ra và Đức mở cuộc tấn công cả hai nước Nam Tư và Hy Lạp vào ngày 6 tháng 4. Không quân Đức dội bom xuống thủ đô Nam Tư và 56 sư đoàn Đức cùng chư hầu tràn vào Nam Tư. Chính phủ Nam Tư bỏ chạy sang Ai Cập. Cùng ngày đó, quân Đức cũng mở cuộc tấn công vào Hy Lạp. Quân đội Hy Lạp phải đầu hàng, quân đội Anh cũng bị đánh bật và phải chạy ra biển sau trận đánh tại Crete. Như vậy, sau 1 năm, Đức có thêm 5 nước chư hầu ở khu vực Balkan và Địa Trung Hải mà gần như không cần phải nổ súng, lực lượng phe Đức được tăng cường thêm gần 1 triệu quân từ các nước này. Không chỉ vậy, Đức còn có thêm nhiều mỏ tài nguyên tại các nước này (đặc biệt là những mỏ dầu ở Romania). Hitler cho rằng các điều kiện để tấn công Liên Xô đã chín muồi. ==== Chiến dịch Bắc Phi ==== Vào tháng 8 năm 1940, với lực lượng lớn của Pháp tại Bắc Phi chính thức trung lập trong cuộc chiến, Ý mở một cuộc tấn công vào thuộc địa Somalia của Anh tại Đông Phi. Đến tháng 9 quân Ý vào đến Ai Cập (cũng đang dưới sự kiểm soát của Anh). Cả hai cuộc xâm lược này đều thất bại sau khi lực lượng Anh đẩy Ý ra khỏi cả hai khu vực và chiếm được nhiều thuộc địa Ý, trong đó có Đông Phi thuộc Ý và Libya. Với sự thất bại của Ý, và thấy phe Trục có nguy cơ bị đẩy khỏi toàn bộ Phi Châu, Đức gửi Quân đoàn Phi châu dưới sự chỉ huy của Erwin Rommel đến Libya để tăng viện cho đồng minh của mình vào tháng 2 năm 1941. Đơn vị này, cùng với quân Ý, đã đánh các trận ác liệt ven bờ biển Cyrenaica với lực lượng Anh vào năm 1941 và 1942. Cùng với trận chiến này, Hải quân Hoàng gia Anh và Regia Maria của Ý cũng đánh nhau để giành tuyến đường tiếp tế trên Địa Trung Hải, điển hình là trận đấu tại căn cứ quan trọng tại Malta. Lúc đầu Đức chú trọng đến mặt trận Bắc Phi vì muốn chiếm kênh đào Suez và cắt đứt những đường giao thông chính của Anh với các thuộc địa. Với một sư đoàn thiết giáp Đức, một sư đoàn thiết giáp Ý và một sư đoàn bộ binh Ý, vào cuối tháng 3 năm 1941, quân Đức tiến công. Trong vòng 12 ngày, Đức chiếm được tỉnh Cyrenaica và tiến đến Bardia, đuổi quân Anh chỉ còn cách biên giới Ai Cập vài km. Quân Anh bị thua liên tiếp, oàn vị thế của Anh ở Ai Cập và Kênh đào Suez bị đe dọa, và vị thế ở Địa Trung Hải cũng bị nguy hiểm vì sự hiện diện của quân Đức tại Hy Lạp. Quân Đức ở Bắc Phi thúc giục Hitler nên khai thác tình hình, cho tăng viện thêm để tổng tấn công ở Ai Cập và vùng Kênh đào Suez. Nhưng Hitler đã quyết định mọi nguồn lực phải dồn cho chiến dịch tiêu diệt Liên Xô. Hitler chỉ gửi đến Bắc Phi một phái bộ quân sự và chút ít vũ khí, ngoài ra không làm gì thêm. Hitler trả lời là chỉ xét đến mặt trận Bắc Phi sau khi đã đánh bại Liên Xô. Đấy là một sai lầm lớn, bởi vào thời điểm này, cuối tháng 4 năm 1941, chỉ cần thêm một vài sư đoàn là quân Đức hẳn đã giáng cho quân Anh ở Bắc Phi một đòn chí tử. Đến tháng 12/1941, quân Đức thất bại trong trận đánh trước cửa ngõ Mátxcơva. Mặt trận Xô - Đức thu hút tất cả lực lượng của Đức và buộc Đức cắt giảm lực lượng cho các mặt trận khác. Quân Đức ở Bắc Phi bị thiếu đạn dược, nhiên liệu nên không thể tấn công tiếp được nữa. Vào đầu năm 1942, việc Anh thắng lợi trong cuộc đánh bại lực lượng hải quân Ý ở Regia Maria khiến phía Đồng Minh có thêm quân nhu và vật chất. Việc này cho phép các lực lượng Anh đẩy mạnh sau trận El Alamein thứ hai, quân đoàn thứ 8 của Anh ở Bắc Phi gồm 7 sư đoàn bộ binh, 3 sư đoàn thiết giáp và 7 lữ đoàn chiến xa đã mở cuộc tiến công. Quân Đức chỉ có 4 sư đoàn bộ binh và 11 sư đoàn Ý nên không thể chống đỡ nổi, quân Anh chiếm gần hết toàn bộ Libya và đuổi quân Trục vào Tunisia. Vào tháng 11 năm 1942, tình trạng càng tệ hơn cho quân Trục khi Hoa Kỳ thực hiện Chiến dịch Bó Đuốc, đổ bộ vào Maroc, bao vây các lực lượng phe Trục. Ngày 8/11/1942, Franco (đứng đầu chính phủ phát xít Tây Ban Nha) đã báo trước cho Đức biết về cuộc đổ bộ này, nhưng Đức không làm gì được bởi vì lúc ấy tất cả dự trữ của Đức đã được ném vào trận Stalingrad với Liên Xô. Cho đến tháng 5 năm 1943, toàn bộ các lực lượng phe Trục tại Bắc Phi đã bị đánh bại sau Chiến dịch Tunisia. Trong lúc đó, tại Trung Đông, lực lượng Đồng Minh tấn công vào Syria và Liban, hai khu vực đang dưới sự kiểm soát của Pháp, cũng như Iraq, nơi chính quyền có thiện cảm với Đức. Việc này giúp lực lượng Đồng Minh củng cố quyền lực trong khu vực này. ==== Mặt trận phía đông ==== ===== Đức tấn công Liên Xô ===== Sau 5 năm, Đức đã thôn tính xong 11 nước châu Âu với diện tích gần 2 triệu km2, dân số 142 triệu người, phát xít Đức đã chiếm được những vị trí có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng về kinh tế, quân sự và lực lượng trở nên rất hùng mạnh. Hầu như toàn bộ Tây Âu và Trung Âu (trừ Thụy Sĩ, Thụy Điển, Bồ Đào Nha và Anh) đã thuộc về Đức mà không vấp phải trở ngại hoặc tổn thất gì đáng kể. Tiếm lực công nghiệp quân sự của Đức cũng tăng thêm nhiều lần nhờ trưng dụng các mỏ tài nguyên, nhà máy công nghiệp, hàng chục triệu nhân công... tại các nước bị Đức chiếm đóng. Trong bối cảnh thuận lợi này, Đức Quốc xã quyết định tiến đánh Liên Xô với mục tiêu nhằm tiêu diệt Nhà nước Xô Viết, kẻ thù số l của phe Trục, đồng thời giành lấy những lãnh thổ và tài nguyên bao la của Liên Xô. Cuộc tấn công kịch liệt nhất trong cuộc chiến tranh này xảy ra vào tháng 6 năm 1941, khi Đức bất ngờ cắt đứt thỏa thuận không xâm lược với Liên Xô và tiến hành chiến dịch Barbarossa, một kế hoạch tấn công khổng lồ nhất trong lịch sử. Quân đội phát xít Đức và chư hầu huy động 190 sư đoàn (trong đó gồm 152 sư đoàn Đức, 38 sư đoàn các nước chư hầu (gồm Ý, Romania, Bulgaria, Hungary, Phần Lan, Slovakia, Croatia, Vichy Pháp) với tổng quân số trên 4 triệu người (3.300.000 quân Đức và 750.000 quân các nước chư hầu), tập trung dọc theo hơn 2.900 km biên giới (1800 dặm) từ bờ biển Baltic phía Bắc đến bờ biển Đen phía nam. Một số lượng khổng lồ phương tiện chiến tranh được triển khai gồm khoảng 5.000 xe tăng và pháo tự hành, 3.400 xe thiết giáp, 600.000 xe cơ giới các loại, 47.000 pháo và súng cối, 4.940 máy bay các loại và khoảng 300 tàu chiến (trong đó có 105 tàu khu trục, 86 tàu ngầm các loại), với mục tiêu chiếm Moskva trước cuối năm. Chiến tranh Xô-Đức bắt đầu. Để thực hiện kế hoạch Barbarossa, nước Đức đã huy động 3/4 quân đội Đức cùng với quân đội nhiều nước đồng minh với Đức tại châu Âu, chỉ để lại 1/4 quân số và phương tiện tại Tây Âu và Bắc Phi. Trong khi đó, Hồng quân Liên Xô có 141 sư đoàn với 3,2 triệu quân đóng ở các khu vực phía Tây chống lại quân Đức. So với Hồng quân, quân Đức chiếm ưu thế cả về quân số lẫn kinh nghiệm tác chiến. Khác với những cuộc chiến trước, kế hoạch xâm lược của Đức bao gồm cả việc tiêu diệt thường dân Nga tại các địa phương chiếm đóng. Chỉ thị ngày 12/5/1941 của Bộ chỉ huy tối cao Đức yêu cầu sĩ quan, binh lính Đức “Hãy nhớ và thực hiện: - Không có thần kinh, trái tim và sự thương xót - anh được chế tạo từ sắt, thép Đức… Hãy tiêu diệt trong mình mọi sự thương xót và đau khổ hãy giết bất kì người Nga nào và không được dừng lại, dù trước mặt anh là ông già hay phụ nữ, con gái hay con trai. Chúng ta phải bắt thế giới đầu hàng… anh là người Đức, và là người Đức phải tiêu diệt mọi sự sống cản trở con đường của anh". Chiến dịch Barbarossa được dự định sẽ đánh bại triệt để Liên Xô chỉ trong 2-3 tháng. Trong những ngày đầu của cuộc xâm lược, với ưu thế áp đảo của quân Đức, nhiều người cho rằng Liên Xô sẽ thất bại còn sớm hơn thế. Khi xe tăng và quân Đức tiến sâu lãnh thổ của Liên Xô trong một cuộc tấn công gồm ba mũi đột kích, hầu hết các nhà phân tích nước ngoài bắt đầu dự đoán rằng Liên Xô sẽ thất bại chỉ sau vài tuần hoặc thậm chí vài ngày Vào ngày 03/07/1941, 11 ngày sau khi Đức xâm lược Liên Xô, Ivan M. Maisky, Đại sứ Liên Xô tại Anh, đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Anh Anthony Eden để thảo luận tình hình quân sự và hai nước chính thức hợp tác chống lại kẻ thù chung. Maisky khẳng định rằng tấn công Liên Xô là sai lầm lớn nhất của Hitler, và rằng “Nước Nga vĩ đại sẽ không thể bị đánh bại” Trong giai đoạn đầu, các lực lượng Đức tiến lên nhanh chóng do lợi thế từ yếu tố bất ngờ, ưu thế về quân số và trang bị, kinh nghiệm dày dạn của binh sĩ Đức, cộng với những yếu kém và sai lầm trong điều binh của các chỉ huy Liên Xô, quân Đức đã bắt giữ được hoặc tiêu diệt khoảng 3 triệu binh sĩ Xô Viết. Quân Đức tiến được một khoảng cách khá xa, nhưng cuối cùng vẫn không hoàn thành được mục tiêu. Không giống như ở Pháp, Hồng quân dù bị bao vây nhưng vẫn chiến đấu, tử thủ với quyết tâm rất cao để kìm chân đối phương khiến lực lượng Đức bị tổn thất hơn 1 triệu quân sau 5 tháng chiến đấu. Đối với Đức, thắng lợi đã không còn dễ dàng như dự đoán ban đầu của họ. Một sĩ quan Đức viết trong nhật ký: "Chúng tôi không còn cảm giác phiêu lưu khi tiến vào một quốc gia bại trận như hồi ở Pháp, thay vào đó chúng tôi gặp phải sự kháng cự, kháng cự không ngừng nghỉ bất kể chuyện ấy có vô vọng đến đâu chăng nữa". ===== Bước ngoặt tại Moscow và Stalingrad ===== Tháng 10/1941, Bộ chỉ huy Đức tập trung mọi sức lực để mở cuộc tấn công vào hướng Mátxcơva với hi vọng chiếm được thủ đô Mátxcơva để kết liễu Liên Xô. Với mật danh là "Bão táp", Hítle đã huy động 80 sư đoàn, trong đó có 23 sư đoàn xe tăng và cơ giới (khoảng hơn 1,8 triệu quân) và gần 1000 máy bay vào trận đánh Mátxcơva. Trong nhật lệnh ngày 2/10/1941, ngày mở đầu cuộc tấn công Mátxcơva, Hitler quyết định ngày 7/11/1941 sẽ chiếm xong Mátxcơva và duyệt binh chiến thắng tại Hồng trường, ông ta tin rằng ban lãnh đạo Liên Xô sẽ phải bỏ chạy khỏi Thủ đô như chính phủ Ba Lan, Pháp, Nam Tư... đã làm. Tuy nhiên, Hội đồng quốc phòng Liên Xô do Đại Nguyên soái Iosif Stalin đứng đầu vẫn ở lại Mátxcơva, trực tiếp lãnh đạo việc bảo vệ thủ đô. Trong đợt tấn công ác liệt và đẫm máu tháng 10, quân Đức tiến được từ 230 km, nhưng lực lượng bị tổn thất nghiêm trọng, kế hoạch thôn tính Mátxcơva trong giữa tháng 10 bị đổ vỡ. Ngày 15/11/1941, bộ chỉ huy quân Đức lại mở đợt tấn công thứ hai vào Mátxcơva, nhưng tất cả các mũi đột phá đều lần lượt bị bẻ gẫy. Đến tháng 12, quân Đức đã bị tiêu hao quá nhiều trong chiến đấu. Khi mùa đông đến, ưu thế về kinh nghiệm tác chiến của Đức đã mất và chuyển sang phía Hồng Quân: binh lính Liên Xô được huấn luyện kỹ năng tác chiến mùa đông (trượt tuyết, ngụy trang, giữ ấm cơ thể...) tốt hơn hẳn so với lính Đức. Khi thời cơ thích hợp đã đến, tướng Georgi Konstantinovich Zhukov phát động cuộc phản công. Dọc phòng tuyến dài 360 km trước Moskva, Liên Xô tung ra 7 tập đoàn quân và 2 quân đoàn kỵ binh – tổng cộng 100 sư đoàn với khoảng 80 vạn quân – gồm những binh sĩ còn sung sức và đã dày dạn trận mạc. Cuộc phản công của Liên Xô với những lực lượng dự bị tinh nhuệ đã đánh bật Đức ngay tại ngoại ô Moskva. Hơn nửa triệu quân Đức đã bị tổn thất trong chiến dịch tấn công thất bại vào Moscow. Lần đầu tiên sau 6 năm chiến tranh, các đơn vị chủ lực của Đức Quốc xã phải chịu thất bại nặng. Hitler cách chức Tổng tư lệnh lục quân, tư lệnh Tập đoàn quân trung tâm, Tư lệnh tập đoàn quân xe tăng 2 và hàng chục tướng lĩnh khác. Chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của Đức đã thất bại. Tuy bị nhiều thất bại vào cuối năm 1941, nhưng Đức tái tấn công vào năm 1942. Lần này Đức tấn công vào phía Nam nhằm chiếm vùng sản xuất dầu mỏ chiến lược của Liên Xô, bởi nếu không có dầu thì nền công nghiệp quân sự của Liên Xô sẽ bị tê liệt. Chiến dịch Blau được Đức phát động với 102 sư đoàn gồm hơn 2 triệu quân, gần 2.600 xe tăng và pháo tự hành, được biên chế vào 6 tập đoàn quân Đức, 2 tập đoàn quân Romania, 1 tập đoàn quân Ý và 1 tập đoàn quân Hungary. Sau 3 tháng tiến công liên tục, quân Đức tiến đến sát dãy núi Kavkaz, nhưng cũng như năm 1941, quân đội Liên Xô tử thủ tại Stalingrad khiến quân Đức thiệt hại nặng nề và không thể tiến tiếp được nữa. Khi quân Đức đã kiệt sức, Liên Xô lại tung ra đòn phản công với những đơn vị dự bị mạnh. Chiến dịch Sao Thiên Vương của Liên Xô đã huy động 3 phương diện quân với tổng binh lực lên tới 1,1 triệu quân, 1.463 xe tăng và pháo tự hành và 1.350 máy bay; đối diện là lực lượng Đức và chư hầu với hơn 1 triệu quân, 675 xe tăng và pháo tự hành, 1.216 máy bay. Chỉ sau 3 đến 4 ngày tiến công, các lực lượng Xô viết đã chọc thủng chiến tuyến Đức, hợp vây hoàn toàn 22 sư đoàn đối phương, một bộ phận của tập đoàn quân xe tăng số 4 và toàn bộ tập đoàn quân số 6 Đức. Tổng cộng khoảng 33 vạn quân Đức đã rơi vào vòng vây siết chặt và bị tiêu diệt tại Stalingrad. Các bộ phận còn lại của quân Đức vội vã tháo lui khỏi miền nam Liên Xô để tránh bị bao vây, mục tiêu của Đức là đánh chiếm vùng sản xuất dầu mỏ chiến lược của Liên Xô đã phá sản. Trận Stalingrad được coi là bước ngoặt trong thế chiến thứ 2. Binh lực phe Đức bị tiêu diệt trong trận này tới hơn 1 triệu lính, nhiều hơn bất cứ chiến dịch nào khác trong thế chiến 2. Sau trận Stalingrad, binh lực của Đức trở nên suy yếu nghiêm trọng và buộc phải chuyển từ thế tấn công sang thế phòng ngự, còn Liên Xô chuyển sang thế chủ động phản công. Trong 4 tháng 20 ngày, dù gặp những điều kiện khó khăn của mùa đông, quân đội Xô viết đã tiến sâu về phía tây khoảng 600 km trên một chiến tuyến dài gần 2.000 km, đánh đuổi quân Đức ra khỏi những vùng có tầm quan trọng lớn về kinh tế và chiến lược. ===== Liên Xô phản công ===== Trong mùa hè năm 1943, tại trận Vòng cung Kursk, Đức đã tung ra những đơn vị thiết giáp lớn hòng xoay chuyển tình thế, Kursk trở thành "trận đấu xe tăng lớn nhất" trong lịch sử thế giới, giữa gần 3.000 xe tăng - pháo tự hành của Đức và khoảng 5.000 xe về phía Liên Xô. Tại đây, Liên Xô tiếp tục tiêu diệt nhiều đơn vị tinh nhuệ của Đức, nhất là các đơn vị thiết giáp, khiến mục tiêu xoay chuyển tình thế của Đức bị tiêu tan. Từ đó cho đến khi hết chiến tranh, quân Liên Xô giữ thế chủ động và phát động tấn công liên tục trên khắp các mặt trận, trong khi Đức bị đẩy vào thế bị động đối phó. Cuối tháng 8 năm 1943, ngay sau trận Kursk, Hồng quân triển khai chiến dịch tấn công chiến lược tại cánh nam chiến trường Xô – Đức nhằm giải phóng Ukraina, đó là trận đánh sông Dnepr. Quân Đức phòng thủ tại khu vực này có 62 sư đoàn, trong đó 14 sư đoàn xe tăng và cơ giới, gồm khoảng hơn 1,2 triệu quân, 13.000 pháo và súng cối, 2.100 xe tăng và pháo tự hành, 2.100 máy bay. Để chọc thủng tuyến phòng thủ sông Dnepr của Đức, Liên Xô huy động lực lượng tới 2,6 triệu quân, hơn 51.200 pháo và súng cối, 2.500 xe tăng và gần 3.000 máy bay của 5 phương diện quân. Sau 4 tháng tiến công, đến cuối tháng 12 năm 1943, Hồng quân đã giành thắng lợi, giải phóng hoàn toàn nửa phía đông lãnh thổ Ukraina. Đây là lần đầu tiên một chiến dịch tổng tấn công chiến lược rất lớn vào mùa hè của Hồng quân Xô Viết đã thắng lợi, nó cho thấy trình độ tác chiến mùa hè của Liên Xô đã đạt mức tương đương so với quân Đức. Đầu năm 1944, các lực lượng vũ trang Xô viết đã vượt quân Đức 1,3 lần về quân số, 1,7 lần về máy bay (quân Đức và quân các nước chư hầu có ở mặt trận Xô - Đức gần 5 triệu quân, 54.500 pháo và cối, 5.400 xe tăng và hơn 3.000 máy bay). Chất lượng vũ khí, đặc biệt quan trọng là tinh thần chiến đấu của quân đội, nghệ thuật chỉ huy chiến dịch, chiến thuật và chiến lược của các cấp chỉ huy Liên Xô ngày càng cao. Tỉnh hình này cho phép Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô có thể triển khai cuộc tổng tấn công đồng loạt trên khắp các mặt trận từ Leningrad đến tận Crimea, mở đầu từ ngày 24/12/1943. Ở mặt trận phía bắc, tháng 1 và 2/1944, Hồng quân phản công ở Leningrad và tiến tới sát biên giới Estonia. Tiếp theo, mùa hè năm 1944, Hồng quân tiến vào giải phóng các nước vùng Ban Tích, đánh đuổi quân Phần Lan ra khỏi biên giới và buộc Phần Lan phải ký hiệp định đình chiến với Liên Xô ngày 19/9/1944. Ở mặt trận Ucraina, trong năm 1944, Hồng quân đã mở 10 chiến dịch tấn công có tính chất tiêu diệt. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra hết sức ác liệt vì phần lớn lực lượng quân Đức tập trung ở vùng này (96 sư đoàn với 70% tổng số các sư đoàn xe tăng và các sư đoàn cơ giới của Đức ở mặt trận Liên Xô). Kết quả, Hồng quân đã đánh tan 66 sư đoàn Đức và giải phóng hoàn toàn Ucraina. Ở mặt trận Crimea, từ tháng 3 đến tháng 5/1944, quân đội Xô viết giải phóng Odessa và Crimea. Ở mặt trận trung tâm, chiến dịch Bagration mở ngày 23/6/1944. Liên Xô huy động 4 phương diện quân với tổng binh lực 2,4 triệu quân, 36.000 pháo và súng cối, 5.000 xe tăng và pháo tự hành, 5.000 máy bay. Lực lượng phòng thủ của Đức tại đây là Cụm Tập đoàn quân Trung tâm với 34 sư đoàn với 1 triệu quân, 1.330 xe tăng và pháo tự hành, 10.090 pháo và súng cối, hơn 1.000 máy bay. Sau 2 tháng tiến công, Hồng quân Liên Xô đã đánh tan Cụm Tập đoàn quân Trung tâm của Đức, tiêu diệt hơn 30 sư đoàn Đức với hơn 500.000 quân, Belarus được hoàn toàn giải phóng. Cụm Tập đoàn quân Bắc của Đức với gần 300.000 quân cũng bị dồn vào mũi đất Courland và bị cô lập hoàn toàn. Chiến dịch Bagration đã "đập nát mặt trận trung tâm" của quân Đức, kết cục của chiến tranh gần như đã được định đoạt sau chiến dịch này. Đến cuối năm 1944, Liên Xô đã giành lại được hầu hết số lãnh thổ bị Đức chiếm đóng và liên tục đẩy lùi lực lượng ngày càng suy yếu của Đức về phía tây. Sau chiến dịch Bagration, Quân đội Xô Viết phát động liên tiếp các đòn tấn công chiến lược để giải phóng những phần đất còn lại đang bị Đức chiếm đóng: Chiến dịch Lvov–Sandomierz từ 13 tháng 7 đến 29 tháng 8 năm 1944, phương diện quân Ukraina 1 với lực lượng 2 tập đoàn quân xe tăng, 7 tập đoàn quân bộ binh (tổng cộng 1.200.000 lính, 1.979 xe tăng, 11.265 khẩu pháo) đã đánh tan cụm tập đoàn quân Bắc Ukraina của Đức (có 900.000 quân, 800 xe tăng, 6.300 đại bác và súng cối). Chiến dịch Iaşi-Chişinău từ 20 đến 29 tháng 8 năm 1944: Chỉ trong 9 ngày, hai phương diện quân Xô Viết (có tổng cộng 1.341.000 lính, 1.874 xe tăng và pháo tự hành) đã tiêu diệt cụm tập đoàn quân Nam Ukraina của liên quân Đức – Romania (có 47 sư đoàn, 5 lữ đoàn với tổng cộng 500.000 lính Đức, 405.000 quân Romania, 400 xe tăng và pháo tự hành). Trong 9 ngày, Hồng quân đã tiêu diệt 25 vạn quân địch và bắt gần 30 vạn tù binh, giải phóng hoàn toàn Moldavia, quân đội Xô Viết ào ạt kéo vào Romania làm tan rã 350.000 quân còn lại của nước này, đã loại bỏ Romania ra khỏi khối Trục. Chiến dịch Baltic từ 14 tháng 9 đến 24 tháng 11, 1944: Là chiến dịch giải phóng phần đất cuối cùng của Liên Xô. Trong chiến dịch này, các bộ phận của 4 phương diện quân Xô viết (gồm 900.000 quân, 17.500 khẩu pháo, 3.080 xe tăng, 2.640 máy bay) đã tổng tấn công cụm tập đoàn quân Bắc của Đức (gồm 730.000 quân, 7.000 đại bác và súng cối, 1.200 xe tăng và pháo tự hành). Cụm tập đoàn quân Bắc đã bị đánh bại và bị dồn về phía biển. Đến cuối năm 1944, Liên Xô đã giải phóng hoàn toàn lãnh thổ Xô Viết. Hồng quân đã mở đường vào bắc Na Uy, Hungary, Áo, khu vực Balkan và Tiệp Khắc, loại khỏi vòng chiến các đồng minh của Đức Quốc xã là Phần Lan, Hungary, România và Bulgaria. Khối đồng minh phát xít của Đức sụp đổ, Liên Xô mở rộng đường tiến vào Đông Âu. Từ ngày 12 tháng 1 đến 3 tháng 2 năm 1945, Hồng quân tổ chức chiến dịch Wisla-Oder. Hai phương diện quân Xô viết (có 2,2 triệu quân, 33.500 nghìn đại bác và súng cối; 7.000 xe tăng và pháo tự hành; 5.000 máy bay) đã tiêu diệt hầu hết các lực lượng Đức trên hướng phòng thủ Warszawa – Berlin (có 450.000 quân, 5.000 đại bác và súng cối, 1.220 xe tăng và pháo tự hành, 630 máy bay), giải phóng gần hết Ba Lan và đặt sự tồn tại của Đức Quốc xã chỉ còn tính từng tuần. Để phòng thủ Berlin, Đức bố trí 48 sư đoàn bộ binh, 6 sư đoàn xe tăng và 9 sư đoàn cơ giới cùng rất nhiều các đơn vị độc lập khác tổng cộng 1 triệu quân; 10.400 đại bác và súng cối; 1.500 xe tăng và pháo tự hành; 3.300 máy bay chiến đấu. Ngày 16/4/1945, 3 phương diện quân Xô viết (gồm huy động 2,5 triệu quân, 41.600 súng cối và đại bác, 3.255 dàn pháo phản lực Kachiusa, 6.250 xe tăng và pháo tự hành, 7.500 máy bay) đã phát động chiến dịch Berlin tấn công và trung tâm của Đức Quốc xã. Sau 2 tuần chiến đấu, Liên Xô đã chiếm được trụ sở quốc hội Đức vào ngày 30/4/1945, Hiler tự sát trong hầm ngầm. Đến ngày 9/5/1945, các lực lượng Đức Quốc xã còn lại chính thức đầu hàng. Mặt trận Xô-Đức là mặt trận có quy mô lớn nhất trong thế chiến thứ 2. Đức đã tung ra 70% binh lực với các sư đoàn mạnh và tinh nhuệ nhất, cùng với khoảng 81% số đại bác, súng cối; 67% xe tăng; 60% máy bay chiến đấu, chưa kể binh lực góp thêm của các nước đồng minh của Đức (Ý, Rumani, Bulgari, Phần Lan...) Có những thời điểm hai bên chiến tuyến đồng thời hiện diện đến 12,8 triệu quân, 163.000 khẩu pháo và súng cối, 20.000 xe tăng và pháo tự hành, 18.800 máy bay. Ngay cả sau khi Mỹ, Anh mở mặt trận phía Tây, Đức vẫn sử dụng gần 2/3 binh lực để chiến đấu với Liên Xô. Các trận đánh như Trận Moscow, Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagration là những chiến dịch có quy mô, sức tàn phá và số thương vong ghê gớm nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nền kinh tế Liên Xô đã có những nỗ lực sản xuất phi thường để bù đắp tổn thất và làm nên chiến thắng chung cuộc. Chỉ trong 1 năm rưỡi (từ tháng 6/1941 đến hết 1942), Liên Xô đã sơ tán hơn 2.000 xí nghiệp và 25 triệu dân và sâu trong hậu phương. Các nhà máy tăng nhanh tốc độ sản xuất, năm 1942, sản lượng vũ khí đã tăng gấp 5 lần so với 1940 và đã bắt kịp Đức, tới năm 1943 thì đã cao gấp đôi Đức. Giai đoạn 1941-1945, trung bình mỗi năm Liên Xô sản xuất được 27.000 máy bay chiến đấu, 23.774 xe tăng và pháo tự hành, 24.442 khẩu pháo (từ 76mm trở lên); con số này ở phía Đức là 19.700 máy bay chiến đấu, 13.400 xe tăng và pháo tự hành, 11.200 khẩu pháo. Nhờ sản lượng vũ khí khổng lồ, đến cuối chiến tranh, Liên Xô đã có trong tay một lực lượng lục quân mạnh nhất thế giới với 13 triệu người, trang bị 40.000 xe tăng và pháo tự hành và hơn 100.000 khẩu pháo các loại. Kết quả tại mặt trận Xô-Đức, quân Đức và chư hầu đã bị tổn thất 607 sư đoàn, trong đó có 507 sư đoàn Đức tinh nhuệ, tương đương với 75% tổng số tổn thất của quân Đức trong chiến tranh. Về trang bị, Đức bị mất 75% số xe tăng, 70% số máy bay, 74% số pháo binh và 30% số tàu hải quân tại mặt trận Xô-Đức. Trong khi đó, các nước đồng minh khác (Anh, Mỹ, Úc...) trong suốt thời gian chiến tranh, trên tất cả các chiến trường đã đánh tan được 176 sư đoàn Khoảng 5,3 triệu lính Đức và chư hầu đã tử trận tại mặt trận Liên Xô, cùng với khoảng 6 triệu khác bị tan rã hoặc bị bắt làm tù binh, chiếm 75% tổng thương vong của phe phát xít trong toàn bộ Chiến tranh thế giới thứ hai. Về phía Liên Xô, Quân đội Xô Viết tổn thất 8,67 triệu binh lính trong suốt 4 năm chiến tranh (bao gồm khoảng 6,87 triệu tử trận trong chiến đấu và 1,8 triệu tù binh chết trên tổng số 3,6 triệu lính bị quân Đức bắt làm tù binh). Khoảng 400.000 quân nhảy dù và du kích cũng thiệt mạng phía sau vùng tạm chiếm của Đức. Tổn thất về dân thường của Liên Xô là rất lớn do chính sách tiêu diệt người Slav của Đức, ước tính khoảng 12-18 triệu dân thường Liên Xô đã chết. Trong quá trình chiến tranh, Liên Xô đã nhận được khoảng 17,9 triệu tấn hàng hóa viện trợ của Mỹ-Anh theo chương trình lend-lease (cho vay - cho thuê), tương đương 9,8 tỷ USD (thời giá 1945). Một số nhà nghiên cứu phương Tây sau này đã thổi phồng vai trò của khoản viện trợ, họ khẳng định nếu không có sự giúp đỡ này của Mỹ, thì Liên Xô có thể đã bại trận. Thực tế, khoản viện trợ này chỉ bằng 4% tổng lượng sản xuất của Liên Xô trong những năm chiến tranh, do đó viện trợ lend-lease đóng góp không đáng kể vào chiến thắng các lực lượng vũ trang Xô viết. Mặt khác, viện trợ trong năm 1941 (khi Liên Xô đang cần nhất) lại khá nhỏ giọt, trong khi tới 55% giá trị viện trợ của Mỹ chỉ đến Liên Xô vào năm cuối cùng của cuộc chiến tranh (từ tháng 6/1944 tới tháng 5/1945), khi đó mức sản xuất của Liên Xô đã vượt xa Đức nhiều lần và Liên Xô vẫn sẽ chiến thắng mà không cần tới viện trợ. Chưa kể chất lượng vũ khí mà Mỹ viện trợ cho Liên Xô cũng bị binh sĩ Hồng quân chê bai khá nhiều và ít khi sử dụng (ví dụ như xe tăng M3 Stuart hay tiểu liên Thompson bị đánh giá là thiếu sức mạnh và dễ hỏng hóc so với vũ khí tương ứng do Liên Xô chế tạo như T-34 và PPSh-41) Harry Lloyd Hopkins, cố vấn của Tổng thống Roosevelt, nhận định: “Chúng tôi chưa bao giờ cho rằng sự giúp đỡ của chúng ta dưới hình thức lend-lease là yếu tố chính trong thắng lợi của Liên Xô trước Hitler ở mặt trận phía đông. Chiến thắng đó đạt được bằng sự dũng cảm và máu của quân đội Nga”. Nhà sử học Mỹ George C. Herring thẳng thắn hơn: “Lend-lease không phải là hành động vô tư. Đây là một hành động có tính toán, vị kỷ và người Mỹ luôn hình dung rõ ràng những món lợi mà họ có thể thu được từ hành động đó”. Thực tế viện trợ của Mỹ không phải là sự ban tặng, bản thân tên gọi của nó ("Lend-lease", nghĩa là "cho vay - cho thuê") đã cho thấy nó vẫn là một dạng hợp đồng "bán vũ khí - trả tiền sau" chứ không phải là cho không. Trong và sau chiến tranh, Liên Xô đã phải trả nợ (tính kèm lãi suất) cho những hàng hóa, vũ khí mà Mỹ đã viện trợ cho họ, hình thức trả nợ gồm nhiều tàu chở kim loại quý như bạch kim trị giá hàng tỷ USD Mỹ là nước duy nhất trong khối Đồng minh hầu như không bị tàn phá mà còn thu được những nguồn lợi kinh tế khổng lồ từ cuộc chiến tranh. ==== Chiến dịch Ý ==== Với khu Bắc Phi được củng cố, các lực lượng Anh-Mỹ đổ bộ vào đảo Sicilia trong năm 1943, bắt đầu một cuộc tấn công vào phần "bụng mềm phía dưới của châu Âu". Cuộc tấn công vào Sicilia thành công, khiến chính quyền của Benito Mussolini sụp đổ và chính phủ mới của Ý ký hiệp định đình chiến với quân Đồng Minh. Các lực lượng Đức can thiệp để quân Đồng Minh không giành được toàn bộ Ý. Ngày 12/9/1943, Mussolini được quân Đức cứu thoát để tổ chức lại lực lượng, và lập lại chính phủ phát xít ở miền Bắc Italia, gọi là nền "cộng hòa Salo". Hơn 30 sư đoàn Đức được điều sang phòng ngự tại Ý. Sau cuộc đổ bộ tại Salerno, tiến trình hành quân của Đồng Minh bị chậm lại bởi địa thế khó khăn, lại bị quân Đức có kinh nghiệm hơn chống giữ. Quân Đồng Minh ở hướng này không đạt được thành công đáng kể nào, họ bị quân Đức chặn đứng ở vùng núi nằm giữa nước Ý cho đến hết chiến tranh. ==== Mặt trận phía Tây ==== ===== Những kế hoạch ban đầu ===== Năm 1941, Liên Xô đang phải một mình đối đầu với lực lượng Đức Quốc xã đang rất mạnh. Sau khi kết làm đồng minh, trong số nhiều yêu cầu, yêu cầu đầu tiên của Liên Xô là Anh mở một mặt trận thứ hai, nhằm giảm bớt sức ép của Đức đối với Hồng Quân. Nhưng vào mùa hè năm 1941, nước Anh chưa sẵn sàng tiến hành đổ bộ lên bờ biển Pháp. Lục quân Anh chưa thắng được quân Đức một trận nào dù đã tham chiến 2 năm, và thảm bại ở Pháp năm 1940 cho Anh thấy lục quân Đức mạnh hơn họ rất nhiều. Do vậy, Anh từ chối đổ quân lên Pháp và nói rằng họ đang làm hết sức mình để giúp Hồng Quân, nhưng nhiều người Anh không tin vào lời nói đó. Đại sứ Anh ở Liên Xô, Stafford Cripps đã tố cáo Chính phủ Anh đang lẩn tránh cuộc chiến tranh, đẩy Hồng Quân Liên Xô vào chổ phải hứng chịu nhiều thương vong. Ông ta nói: công luận Liên Xô tin rằng Anh sẵn sàng “chiến đấu đến giọt máu cuối cùng của Liên Xô”. Tháng 12 năm 1941, cục diện chiến tranh thay đổi. Hồng Quân đã thắng trận đánh chiến lược ở Moscow. Ở Anh, các quan chức giờ đã tin rằng lục quân Đức vẫn có thể bị đánh bại, và họ lo rằng Hồng Quân Liên Xô đang thắng trận mà không cần đến sự giúp đỡ của Anh, vì vậy cuối cùng các quan chức này phải thảo luận hướng tới việc mở mặt trận thứ hai ở Pháp. Tuy nhiên, đầu năm 1942, quân Anh đang bị phe Trục đánh bại liên tiếp tại Mặt trận Bắc Phi, dù phe Trục mới chỉ tung vào mặt trận này 4 sư đoàn Đức và 5 sư đoàn Ý, tổng cộng là khoảng 160.000 quân. Dù đang huy động 80% binh lực (gồm 217 sư đoàn và 20 lữ đoàn, khoảng 6 triệu quân) để tấn công Liên Xô, nhưng Đức vẫn còn khoảng 40 sư đoàn (khoảng 1 triệu quân) đóng ở Tây Âu. Từ thực tế này, các tướng lĩnh Anh tính toán rằng: chỉ chống lại 160.000 quân Đức-Ý mà quân Anh đã liên tiếp thất bại, thì họ cũng sẽ không thể nào chống cự lại nổi 1 triệu quân Đức nếu đổ bộ lên Tây Âu. Trận Dieppe vào ngày 19/8/1942 đã củng cố nhận định của các tướng lĩnh Anh rằng quân của họ sẽ không thể bám trụ nổi sau khi đổ bộ lên đất đối phương. Trong trận này, 10.000 quân Anh và Canada đã chủ động mở một chiến dịch đổ bộ lên nước Pháp tại một dải bờ biển chỉ có 1.500 quân Đức trấn giữ. Cuộc tấn công bắt đầu vào lúc 5 giờ sáng, nhưng chỉ đến 9 giờ sáng cùng ngày thì quân Anh đã phải rút lui vì thiệt hại quá nặng nề mà không đạt được kết quả nào. Không quân Anh cũng thua to, mất 106 máy bay trong khi Đức chỉ mất 48 chiếc. Hải quân Anh cũng bị mất 1 khu trục hạm, 33 tàu đổ bộ. Sau trận Dieppe, không có hành động quân sự lớn nào được Anh thực hiện tiếp. Anh chỉ tung những nhóm nhỏ quân biệt kích vào đất Pháp để đánh du kích, đồng thời khích động tinh thần của nhân dân kháng chiến tại Pháp. Phải tới năm 1944, khi Anh đã nhận được sự hỗ trợ lớn của Mỹ thì kế hoạch đổ quân lên Tây Âu mới được bàn thảo tiếp. ===== Các trận ném bom nước Đức ===== Từ năm 1942, không quân Anh bắt đầu mở cuộc oanh tạc dai dẳng, ngày càng tăng thêm vào các mục tiêu quân sự và dân sự của Đức và các vùng châu Âu lân cận. Không quân Hoa Kỳ tham gia cuộc ném bom châu Âu từ đầu năm 1943. Tuy vậy, kỹ thuật ném bom thời đó không đạt độ chính xác cao nên phần lớn các trận bom của Anh-Mỹ không đánh trúng mục tiêu (ước tính rằng chỉ có 7% số bom rơi trúng một khu vực bán kính 300 mét quanh mục tiêu), do đó thiệt hại gây ra cho nền công nghiệp Đức là khá nhỏ và có thể được sửa chữa một cách nhanh chóng. Trong khi đó, không quân và phòng không Đức kháng cự quyết liệt gây tổn thất nặng cho lực lượng máy bay ném bom Anh-Mỹ. Ví dụ như trận không kích Schweinfurt thứ hai vào ngày 14 tháng 10 năm 1943 được gọi là "ngày thứ ba đen tối". Trong số 291 chiếc B-17 Flying Fortress tham gia tấn công, đã có 77 chiếc bị Đức bắn hạ, 122 chiếc khác bị hư hại. Thiệt hại trong trận này nặng tới mức không quân Anh-Mỹ phải ngừng ném bom ban ngày vào lãnh thổ Đức trong suốt hàng tháng. Chiến dịch ném bom của Anh-Mỹ đã không đạt được kết quả chiến lược: sản lượng vũ khí của Đức vẫn tiếp tục tăng nhanh, năm 1943 đã cao gấp đôi năm 1942 và vẫn tiếp tục tăng cho đến cuối năm 1944 (chỉ sau khi Đức bị mất mỏ dầu ở Romania vào tay Hồng quân Liên Xô thì sản lượng vũ khí của Đức mới sụt giảm). Tinh thần chiến đấu của quân đội Đức cũng không bị các trận bom làm suy giảm. Tổn thất mà các trận ném bom của Anh - Mỹ gây ra cho sản xuất công nghiệp Đức được ước tính chỉ dao động trong khoảng 0,6 - 4,4% (tùy thành phố). Các chỉ huy Anh-Mỹ nhận ra nếu muốn đánh bại Đức, họ bắt buộc phải dùng lực lượng bộ binh để đổ bộ vào châu Âu. ===== Đồng Minh đổ bộ lên Tây Âu ===== Vào tháng 02 năm 1943, chiến thắng của Hồng Quân ở trận Stalingrad đã gần như kết thúc số phận của Đức Quốc xã. Anh và Mỹ thì chỉ phải chiến đấu chống lại 4 sư đoàn Đức ở Bắc Phi. Tổng thống Mỹ Roosevelt ở hội nghị Tehran vào tháng 11 năm 1943 đã cam kết với Nguyên soái Stalin (Liên Xô) rằng một mặt trận thứ hai sẽ được mở. Thủ tướng Churchill (Anh) đã phản đối nhưng không có kết quả. Hoạch định cho việc đổ bộ lên Normandy trở thành ưu tiên. Vào lúc các Đồng Minh Phương Tây đổ bộ lên Pháp vào tháng 06 năm 1944 thì quân Đức đã chắn chắn sẽ bị Liên Xô đánh bại. Nếu Anh và Mỹ không đổ quân vào Pháp, thì Hồng Quân Liên Xô sẽ quét sạch quân Đức trên khắp châu Âu và tiến tới tận Paris, đây là điều Anh-Pháp không hề muốn xảy ra Vào ngày 6 tháng 6 năm 1944, các lực lượng Đồng Minh Tây phương đổ bộ vào bờ biển Normandie, một vùng của Pháp đang bị Đức chiếm đóng. Chiến dịch được soạn ra từ nhiều năm trước, lực lượng nòng cốt là các đơn vị Mỹ, Anh cùng một số đơn vị khác như Canada, v.v. Chiến dịch bắt đầu bằng việc ném bom hàng loạt từ các căn cứ không quân bên kia eo biển nước Anh cùng với sự yểm trợ của khoảng 6.500 khu trục hạm và tàu đổ bộ, cùng một lực lượng không quân rất lớn gồm 13.068 máy bay các loại. Ở Tây Âu, Đức chỉ bố trí 60 sư đoàn (trong khi Đức huy động 180 sư đoàn cho chiến trường Liên Xô). Ở Normandie, Đức chỉ có 9 sư đoàn bộ binh và một sư đoàn thiết giáp do thống chế Erwil Rommen chỉ huy. Ở khu vực đổ bộ, lúc đầu Đức chỉ có 300 máy bay, sau tăng lên 600, tuy nhiên quân Đức vẫn kháng cự rất mãnh liệt. Chiến dịch diễn ra rất khốc liệt, ngay những giờ phút đầu tiên đã có 3.000 quân Đồng Minh tử trận. Mặc dù áp đảo về quân số và trang bị, quân Mĩ và Anh vẫn tiến rất chậm, trung bình mỗi ngày chỉ được 4 km. Cuộc chiến cù cưa giữa đôi bên diễn ra khá lâu, quân Đức cuối cùng cũng cạn kiệt lực lượng dự bị và bị đánh bại, nhưng quân Đồng Minh cũng thiệt hại nặng. Khi chiến dịch này thành công, quân Đồng Minh tiến sâu vào Pháp, đuổi quân Đức ra khỏi Pháp, nhưng thường bị thiếu tiếp tế cũng như bị quân Đức đang rút lui cản trở. Các cuộc đổ bộ khác tại miền Nam Pháp cuối cùng đã giải phóng nước này. Khi tiến đến ranh giới Đức, lực lượng Đồng Minh phải dừng lại để chờ tiếp tế. Việc này tạo một cơ hội cho lực lượng Đức củng cố phòng thủ chống lại cuộc tấn công kế tiếp. Việc này dẫn đến sự ra đời của chiến dịch Market Garden, mục tiêu là sử dụng không quân thả lính dù vào sâu lãnh thổ nước Đức nhằm đánh chiếm trước các vị trí chiến lược như cầu, kho bãi, v.v. kết hợp với lực lượng xe tăng thọc sâu để tạo nên đòn quyết định kết thúc chiến tranh. Market Garden trở thành chiến dịch đổ bộ bằng không quân lớn nhất lịch sử với hơn hàng ngàn máy bay tham gia. Quân Đồng Minh cố gắng xuyên thủng Hà Lan và qua sông Rhine để kết thúc chiến tranh vào năm 1944. Nhưng chiến dịch này đã bị thất bại và lực lượng Đồng Minh đã tiến vào Đức chậm hơn so với Liên Xô. Ước tính có khoảng 780.000 quân Đồng Minh bị thương vong trong những chiến dịch tiếp theo trận Normandie cho tới khi nước Đức đầu hàng. Tổn thất của phía Đức ở mặt trận này là khoảng 750.000 lính, cộng thêm khoảng 200.000 lính khác bị bắt. ==== Phe Trục thua cuộc tại châu Âu ==== Tình hình Đức cuối năm 1944 là vô vọng. Các Đồng Minh Tây phương đang tiến vào biên giới Đức từ phía tây, chỉ tấn công thêm một lần nữa là chiếm được khu vực công nghiệp Rhineland. Liên Xô cũng đang ở một vị trí tương tự ở phía đông, không lâu sẽ vào đến tận Berlin. Các trận đánh bom hàng loạt từ Anh và Mỹ đã biến nhiều khu vực Đức thành gạch vụn, khiến ngành công nghiệp quân sự sụt giảm nghiêm trọng. Đang bị bao vây từ các phía đông, tây và trên cao, Hitler đánh canh bạc cuối cùng để hy vọng không thua cuộc. Để tái tạo lại chiến thuật thành công vào năm 1940 đối với các nước Hà Lan, Bỉ và Luxembourg, các lực lượng Đức tấn công vào giữa mùa đông để chia rẽ các lực lượng Đồng Minh ở Bỉ. Phòng tuyến Đồng Minh bị uốn cong, nhưng không bị phá vỡ và cuối cùng phe Đồng Minh đẩy lùi quân Đức trong cuộc tấn công tại Ardennes. Sau thất bại ở Ardennes, quân Đức không còn hy vọng lật ngược tình thế. Mục tiêu của Đức hiện giờ là cố gắng phòng thủ càng lâu càng tốt ở mặt trận phía Đông, trong khi thả lỏng mặt trận phía Tây cho quân Anh-Mỹ tiến càng nhanh càng tốt. Do học thuyết Quốc xã mang tư tưởng "không đội trời chung" với chủ nghĩa cộng sản, nên các lãnh đạo Đức Quốc xã thà đầu hàng trong tay Anh-Mỹ còn hơn là phải đầu hàng trong tay Liên Xô. Tại miền đông, Đức dành hết mọi nỗ lực cuối cùng để phòng thủ thủ đô. Ngày 16/4/1945, Liên Xô mở chiến dịch Berlin, tấn công vào trung tâm của Đức Quốc xã. Trên đường vào Berlin, Đức đã bố trí hơn 90 sư đoàn (trong đó có 14 sư đoàn xe tăng và cơ giới) với quân số gần 1 triệu người, 10.000 đại bác và súng cối, 1.520 xe tăng và pháo tự hành, 2.300 máy bay chiến đấu. Để tiến hành chiến dịch đánh chiếm Berlin, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đã huy động lực lượng của 2 phương diện quân với tổng cộng 2,5 triệu quân, 6.250 xe tăng và pháo tự hành, khoảng 41.600 đại bác và súng cối, 7.500 máy bay chiến đấu. 5 giờ sáng 16/4/1945, sau 30 phút cho pháo bắn cực mạnh và máy bay oanh tạc dữ dội vào trận địa phòng ngự của quân Đức, Hồng quân Liên Xô mở màn chiến dịch công phá Berlin. Sau 1 tuần, Hồng quân đánh tan các tuyến phòng thủ ngoại vi và bắt đầu tấn công vào nội đô Berlin. Chiều 30/4/1945, quân đội Liên Xô đã chiếm được bộ phận chủ yếu của tòa nhà Quốc hội Đức, còn Hitler đã tự sát trong hầm trú ẩn. 15 giờ ngày 30/4, cờ đỏ Liên Xô đã được cắm trên nóc tòa nhà Quốc hội Đức. Ngày 2/5, Hồng quân chiếm toàn thành phố Béclin. Khoảng 400.000 lính Đức đã chết hoặc bị thương trong trận đánh cuối cùng, 480.000 quân khác bị bắt làm tù binh, trong khi Liên Xô tổn thất 81.000 người chết và hơn 200.000 bị thương. Sau khi Berlin thất thủ và Hitler tự tử, Đức chỉ còn lại là một mảnh đất nhỏ tại châu Âu từ mũi bắc Na Uy cho đến phần trên của Ý. Vào ngày 9 tháng 5 năm 1945, số quân Đức còn lại ở Berlin là hơn 7 vạn người (không kể số bị thương) đã đầu hàng vô điều kiện. Đây được coi là ngày chiến thắng của Liên Xô trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, cũng là ngày chiến thắng chung của khối Đồng Minh tại châu Âu. === Chiến trường châu Á-Thái Bình Dương === Chiến trường châu Á-Thái Bình Dương khác với chiến trường châu Âu rất nhiều. Chiến trường này hầu hết được đánh tại các đảo Nhật Bản đã chiếm đóng trong khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Á cho nên hải chiến và các trận đánh gần biển xảy ra nhiều hơn các trận đánh trên đất liền như ở châu Âu. ==== Sự bành trướng của Nhật Bản ==== Chiến tranh Trung-Nhật đang tiếp diễn tại Đông Á khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu tại châu Âu, cho nên một vài sử gia cho rằng ngày Nhật xâm lăng Trung Quốc (ngày 7 tháng 7 năm 1937) là ngày bắt đầu chiến tranh tại chiến trường Thái Bình Dương. Tuy nhiên, nếu tính là một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai, thì ngày 7 tháng 12 năm 1941 thường được nhắc đến như là ngày bắt đầu, khi Nhật tuyên chiến với Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh bằng việc lực lượng của Hạm đội Liên Hợp Nhật Bản dưới sự chỉ huy của Đô đốc Yamamoto Isoroku tấn công bất ngờ vào Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), Philippines và một số thuộc địa của các cường quốc châu Âu tại Đông Á và Tây Thái Bình Dương. Nhật hành động nhanh chóng để chiếm các đảo ở Thái Bình Dương có giá trị phòng thủ nhằm làm cạn ý chí chiến đấu của Mỹ. Tại Trung Quốc và Đông Nam Á, Nhật tiếp tục bành trướng các khu vực được nó kiểm soát nhằm kịp thời khai thác tài nguyên để sử dụng. Sáu tháng sau khi tuyên chiến, tháng 6/1942, các hạm đội Nhật và Mỹ đánh nhau một trận lớn giữa Thái Bình Dương. Tại Trận chiến Midway, nòng cốt hạm đội tàu sân bay của Nhật đã bị tàn phá, và quân Nhật không tiến được nữa trên Thái Bình Dương. Nhật tiếp tục tìm cách trả đũa, nhưng quân Mỹ dùng biện pháp đánh theo vòng ngoài của Nhật, cùng lúc nhảy từ đảo này qua đảo nọ để đẩy Nhật phải lui lại. ==== Nhật Bản thua cuộc ==== Khi Nhật bành trướng, họ để lại nhiều tiền đồn phòng thủ tại mỗi hòn đảo họ kiểm soát trên Thái Bình Dương. Kế hoạch của Mỹ để đối phó với các đảo này là chiếm những đảo cốt yếu cho việc tiến đến Nhật, trong khi làm giữ vững các đảo khác không bị chiếm. Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ phải đánh nhiều trận đấu đẫm máu trên những hòn đảo này để chiếm giữ những đảo và sân bay để quân đội có thể tiến tới. Tại phía nam của cuộc bành trướng của quân đội Nhận Bản, trên đảo New Guinea, Nhật đã bị quân lực Úc chặn lại, không chiếm giữ nổi toàn bộ đảo. Hai lực lượng này đánh nhau trong các khu rừng trong những hoàn cảnh khốc liệt để giành giật đảo này. Trong khi Tân Guinea không quan trọng lắm, nhưng quân Úc sợ sau khi Nhật chiếm giữ đảo này, Úc sẽ bị đe dọa. Tại Đông Nam Á, Nhật đã tiến nhanh trong các thuộc địa của Anh cho đến khi bị kháng cự mãnh liệt tại Miến Điện. Quân lực Anh, trong đó có rất nhiều đơn vị người Ấn Độ, đã đuổi lùi quân Nhật tại trận đánh Kohima-Imphal và vì thế Nhật không đe dọa được Ấn Độ và các đường tiếp tế cần thiết cho quân Trung Quốc đang đánh các lực lượng Nhật tại đó. Tại mặt trận Trung Quốc, các phe Quốc-Cộng đồng loạt mở các chiến dịch tiến công quân Nhật từ đông sang tây. Các tướng Lâm Bưu, La Vinh Hoàn, Diệp Kiếm Anh, Trần Nghị,... và đặc biệt là Nguyên soái Chu Đức ở bên Cộng sản đảng, và Tưởng Giới Thạch, Trương Tự Trung và Tưởng Trung Chính ở bên Quốc dân đảng đã cùng chiến đấu, ép cho quân Nhật dần bị tiêu hao trên lãnh thổ Trung Quốc, đẩy Nhật vào thế lúng túng, tứ phương gặp địch (1942-1944). Đến gần cuối chiến tranh, Mỹ chiếm được các căn cứ gần Nhật và bắt đầu ném bom vào các đảo nước này. Tuy không mạnh mẽ như tại Đức, việc ném bom rất có hiệu quả vì nhà cửa ở Nhật dễ sập hơn và người Nhật ít chuẩn bị trước hơn với mối đe dọa này. Thêm vào đó, việc mất các thuộc địa và quan trọng hơn là việc mất các tuyến hàng hải đã làm tê liệt khả năng thu thập tài nguyên cần thiết. Vì thế, ngành công nghiệp Nhật không thể sản xuất vũ khí bằng mức có thể duy trì được thế cầm cự vào lúc chiến tranh sắp chấm dứt. Quân Đồng Minh có kế hoạch đổ bộ vào Nhật, nhưng sự phát triển bom nguyên tử làm thay đổi tình hình. Ngày 6 và 9 tháng 8, hai quả bom đã được Hoa Kỳ thả xuống Hiroshima và Nagasaki, chỉ trong chớp mắt 2 trái bom này đã giết chết hơn 200.000 thường dân. Theo cam kết với các nước Đồng Minh, Quân đội Liên Xô sau khi kết thúc chiến tranh ở Đức đã tuyên bố chiến tranh với Nhật. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Sáng ngày 9/8/1945, Hồng quân Liên Xô huy động 1,5 triệu quân (3 phương diện quân), 5.500 xe tăng, 3.900 máy bay, 2.600 pháo và súng cối, cùng các tàu của hạm đội Thái Bình Dương, đã mở cuộc tấn công vào đạo quân Quan Đông của Nhật Bản (gồm 70 vạn quân chủ lực Nhật và hơn 20 vạn quân Mãn Châu Quốc) đóng trải ra trên một trận tuyến kéo dài hơn 4.500 km từ Bắc Triều Tiên, Đông – Bắc Trung Quốc tới Nam đảo Sakhalin và quần đảo Curin. Trong vòng 1 tuần, Hồng quân đã gần như đánh tan đội quân này và chiếm gần hết Mãn Châu, kho quân giới và tài nguyên lớn nhất còn lại của Nhật đã bị chiếm. Thấy rõ không thể cứu vãn được, ngày 15 tháng 8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng Minh. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng không điều kiện, sáu năm và một ngày sau khi cuộc thế chiến bắt đầu (kể từ ngày Đức xâm lược Ba Lan). Tuy nhiên hậu quả của hai vụ ném bom nguyên tử thì cho đến gần đây, những người dân Nhật vẫn phải gánh chịu. == Ảnh hưởng đến dân thường == Xem thêm Công ước Genève về đối xử nhân đạo với tù binh, hàng binh chiến tranh Chiến tranh thế giới thứ hai đem đến cho dân thường nhiều nỗi đau thương chưa từng thấy. Trong hơn 50 triệu người chết vì chiến tranh trên một nửa là thường dân, bị giết bằng nhiều cách khác nhau. Nhiều người bị chết bởi bom đạn và nhiều hơn nữa vì việc thiếu lương thực và không có dịch vụ cần thiết cộng thêm việc phá hoại nhà cửa và các phương tiện cho dân trong chiến tranh. Nhiều hơn nữa bị chết vì các chiến dịch có mục tiêu là dân thường để giảm sự ủng hộ của quần chúng đối với chính quyền và tàn phá khả năng sản xuất vào việc chiến tranh. Thêm vào đó, nhiều người đã bị hành hình vì lý do quốc tịch, dân tộc và tín ngưỡng. === Trại tập trung Đức quốc xã (Holocaust) === Chiến dịch tàn sát tù binh chiến tranh và thường dân điển hình nhất và có tổ chức nhất là các chương trình được vạch ra và thực hiện bởi Đức quốc xã. Ban đầu chỉ nhắm mục tiêu vào người Do Thái tại nước này, cộng thêm một số nhóm người ít người không ưa thích. Chế độ Đức quốc xã bắt đầu thành lập trại để cách ly các nhóm người này, sau đó dùng lao động cưỡng bách và cuối cùng tiêu diệt hàng loạt. Các nhóm người Do Thái, người đồng tính luyến ái và người có khuyết tật là các mục tiêu đầu tiên, nhưng những người đối lập chính trị như những người theo chủ nghĩa xã hội và các nhân vật tôn giáo (kể cả tín đồ Cơ đốc giáo) lên tiếng cũng bị bắt giữ. Một khi chiến tranh bùng nổ và phần đất Đức xâm chiếm tăng lên, các lãnh thổ mới chiếm này cũng bị tính trong nỗ lực đó. Riêng Ba Lan đã bị ảnh hưởng rất nhiều, với gần toàn bộ dân số Do Thái tại nước này và một số đông người Cơ đốc giáo đã bị tiêu diệt. Hàng chục triệu Người Nga và các người Slav bị chinh phục khác cũng bị giam cầm tại hơn 100 trại tập trung của Đức trên khắp các vùnh lãnh thổ châu Âu bị nước Đức Quốc xã chiếm đóng. Các trại lớn nhất là Dachau, Buchenwald, Ravensbrück, Ausschwitz, Majdanek, Bergen Belsen, Gusen... Số người được giải phóng khỏi các trại này sau chiến tranh chỉ còn vài trăm nghìn. Tổng số người đã bị giết trong các trại tập trung, trong các chương trình tiêu diệt và trong khi bị chính quyền Đức ngược đãi có lẽ không bao giờ có thể biết chính xác được. Có một số ước đoán cao hơn 10 triệu người, trong đó 5 tới 6 triệu là người Do Thái bị giết trong các chương trình tiêu diệt có mục đích. === Xô Viết === Theo một số tài liệu phương Tây, kể từ khi tiến vào nước Đức (1944-1945), một bộ phận binh sĩ Hồng quân đã có những hành động trả thù nhằm vào tù binh hoặc dân thường Đức để trả đũa những tàn phá mà quân Đức gây ra cho đất nước mình. Ngoài việc cướp nhà dân và cửa hiệu, phương Tây cho rằng Hồng quân Liên Xô đã hãm hiếp hàng chục ngàn phụ nữ và trẻ em người Đức, từ 8 đến 80 tuổi. Theo Franz Wilhelm Seidler, riêng ở Berlin là 20 ngàn tới 100 ngàn, các tỉnh còn lại từ 100 ngàn tới nửa triệu. Rất nhiều nạn nhân trong số này bị từ 10 đến 12 lính hãm hiếp tập thể, và đa số bị hãm hiếp nhiều lần. Tuy nhiên, giới sử học vẫn tranh cãi về tính xác thực và quy mô của những vụ hiếp dâm. Các nhà sử học Nga đã phủ nhận những cáo buộc về hiếp dâm hàng loạt, họ đưa ra bằng chứng là một lệnh từ Bộ chỉ huy tối cao ban hành ngày 19 tháng 1 năm 1945, trong đó ra lệnh cấm binh sĩ ngược đãi thường dân Đức. Một lệnh của Hội đồng quân sự của Phương diện quân Byelorussia số một, có chữ ký của Nguyên soái Rokossovsky, đã ra lệnh xử bắn những binh lính phạm tội trộm cướp và hiếp dâm ngay tại hiện trường của vụ án. Một lệnh ban hành bởi Stavka (Bộ Tổng tư lệnh Tối cao Hồng quân) vào ngày 20 tháng 4 năm 1945 phổ biến tới binh sĩ rằng cần phải duy trì quan hệ tốt với người dân Đức để giảm kháng cự và để chiến sự kết thúc nhanh hơn. Trong khu vực chiếm đóng của Liên Xô, các thành viên của SED đã báo cáo cho Stalin cướp bóc và hãm hiếp bởi binh lính Liên Xô có thể dẫn đến một phản ứng tiêu cực của dân Đức đối với Liên Xô và hướng tới tương lai của chủ nghĩa xã hội ở Đông Đức. Stalin đã phản ứng một cách giận dữ: "Tôi sẽ không tha thứ bất cứ ai kéo danh dự của Hồng quân qua vũng bùn." Các nhà lãnh đạo Liên Xô rất bất bình với truyền thông của các nước phương Tây, khi họ vừa mới là đồng minh của họ trên mặt trận chống phát xít thì nay lại quay sang công kích Liên Xô. Bộ trưởng dân ủy ngoại giao Liên Xô V. M. Molotov chỉ ra rằng "chiến dịch hèn hạ" này nhằm phá hoại uy tín của Hồng quân và trút lên đầu những người lính Hồng quân tất cả những gì xảy ra do sự hỗn loạn trước đó tại những vùng do Liên Xô chiếm đóng. Ông nói: "Liên Xô và những bạn bè của chúng tôi trên thế giới đã có những thông tin cần thiết để chống lại chiến dịch tuyên truyền này". Tướng Gareyev, chủ tịch của Học viện Khoa học Quân sự Nga, nhận xét: Tư lệnh tối cao Stalin đã ký một quyết định ngày 19 tháng 1 năm 1945, theo đó binh sĩ bị cấm tất cả các hành vi bạo lực chống lại dân thường Đức. Tất nhiên, sự trả thù, bao gồm cả bạo lực tình dục, đã xảy ra. Một số binh sĩ chỉ đơn giản là không thể kiềm chế tức giận sau những gì Đức quốc xã đã làm trên đất nước chúng tôi. Nhưng các trường hợp này đã bị trừng phạt nghiêm khắc. Và việc trả thù đã không trở nên phổ biến. Bởi vì ngay khi chúng tôi chiếm đóng các thành phố, kỷ luật đã được thắt chặt. Chúng tôi cung cấp cho người dân Đức thực phẩm, chăm sóc y tế, tuần tra an ninh. Cá nhân tôi đã tham gia giải phóng Đông Đức. Tôi cam đoan, việc lạm dụng tình dục thậm chí không hề được nghe thấy. Một phụ nữ Berlin, Elizabeth Shmeer, cho biết: Đức quốc xã nói rằng nếu người Nga đến đây, họ sẽ tàn phá và hãm hiếp khủng khiếp. Nhưng thực tế sau đó rất khác: dù là những người bại trận, quân đội Đức đã gây ra rất nhiều đau khổ cho nước Nga, nhưng những người chiến thắng đã cho chúng tôi thực phẩm còn nhiều hơn những gì chính quyền cũ phân phát. Đối với chúng tôi điều đó rất khó hiểu. Một cách cư xử nhân đạo như vậy dường như chỉ người Nga làm được. === Mỹ === Trong trận Okinawa, các nhà sử học Nhật Bản ước tính có trên 10 ngàn phụ nữ Nhật (khoảng 1/3 trong tổng số ngàn phụ nữ của đảo) bị lính Mĩ hãm hiếp trong chiến dịch kéo dài 3 tháng này. Tờ New York Time thông báo khoảng 2000 dân thường trong 1 làng ở Katsuyama bị lính Mỹ giết và cưỡng hiếp Nhiều trận ném bom rải thảm của không quân Mỹ đánh thẳng vào các thành phố đông dân cư đã khiến cho hàng trăm nghìn thường dân Đức và Nhật bị thiệt mạng. Riêng trong một trận oanh tạc thành phố Dresden, có tới vài chục ngàn dân thường Đức thiệt mạng. Các vụ ném bom Tokyo cũng khiến ít nhất 100.000 thường dân Nhật Bản thiệt mạng. Đặc biệt, Mỹ đã để lại một dấu ấn kinh hoàng cho cả thế giới cho tới ngày hôm nay. Đó là vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki lúc chiến tranh gần kết thúc. Theo lệnh của Tổng thống Harry S Truman, Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên "Little Boy" đã được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản. Sau đó 3 hôm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên "Fat Man" đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki. Có nhiều nguyên nhân khiến con số chính xác người thiệt mạng không thống nhất. Các số liệu khác nhau bởi được thống kê vào các thời điểm khác nhau. Rất nhiều nạn nhân chết sau nhiều tháng, thậm chí nhiều năm bởi hậu quả của phóng xạ. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng như bởi hậu quả của nó. Số người thiệt mạng ở Nagasaki là 74.000. Ở cả hai thành phố, phần lớn người chết là thường dân. Các công dân của các nước Đồng Minh cũng phải chịu đau khổ trong các trường hợp họ là con cháu của những người đến từ các nước phe Trục. Điển hình là việc 120.000 người Mỹ gốc Nhật đã bị chính phủ Mỹ ra lệnh niêm phong tài sản và bị giam giữ ở các trại tập trung giữa sa mạc trong thời kỳ chiến tranh (từ 1942 tới 1945), với lý do để đề phòng nguy cơ gián điệp. === Anh === Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đã bị thất bại nặng nề trong cuộc chiến với quân đội Nhật Bản tại Singapore năm 1942, quân Nhật lúc đó đang tiến hành xâm lược Miến Điện thuộc Anh trong năm đó. Giới chức Anh sợ rằng một cuộc xâm lược Ấn Độ thuộc Anh tiếp theo của Nhật Bản có thể thực hiện bằng cách thích hợp thông qua lối Bengal (xem British Raj), và các biện pháp khẩn cấp đã được áp dụng để tích trữ lương thực cho lính Anh, bao gồm cả việc giành lấy lương thực của nhân dân Ấn Độ. Hậu quả là nạn đói thảm khốc năm 1943 khiến 5 triệu người Ấn Độ thiệt mạng. Dấu ấn kinh hoàng về nạn đói này cũng khiến tinh thần phản kháng của người dân Ấn Độ chống sự cai trị của thực dân Anh ngày càng dâng cao, góp phần buộc Anh phải trao trả độc lập cho Ấn Độ vào năm 1947. === Nhật === Trong khi Holocaust do Đức gây ra rất có tổ chức và được nhiều người biết đến, số người bị giết có thể sánh được với số thường dân bị lực lượng Nhật tàn sát tại Trung Quốc. Tương tự như cách nhìn của Đức đối với các dân tộc phía đông nước Đức, người Nhật xem người Trung Quốc là mọi rợ và giới lãnh đạo chẳng những xem các tội ác chiến tranh là lẽ thường mà còn khuyến khích việc đó. Các ước tính số người bị chết do các hành vi này còn rất thiếu chính xác, nhưng có thể cao hơn 10 triệu, một số lượng lớn phụ nữ bị hãm hiếp có thể nhiều hơn các thống kê hiện tại. Một số khu vực dưới sự kiểm soát của Nhật bị nạn đói thảm khốc, như Nạn đói Ất Dậu tại miền Bắc Việt Nam. === Chiến tranh tổng lực === Được bắt đầu bởi Đức để khủng bố và giảm tinh thần quần chúng trong các vùng thành thị để Đức có thể tiến tới nhanh hơn, chiến tranh chiến lược dùng sức mạnh trên không gian để đánh vào các thành phố địch. Các chiến dịch của Đức có hiệu quả hữu hạn vì mẫu các máy bay ném bom không phù hợp vào việc này và lực lượng không quân còn nhỏ. Gần giữa chiến tranh (1943), quân Đồng Minh bắt đầu dùng chiến thuật ném bom hàng loạt vào tận nước Đức. Để tránh sự chồng chéo nguy hiểm, có sự phân công: máy bay Anh thả bom ban đêm còn máy bay Mỹ đánh phá ban ngày. Với nhiều máy bay oanh tạc có tải trọng lớn và đủ khả năng bay đường dài, các trận ném bom này đủ để phá hủy nhiều thành phố Đức. Trong thời gian đầu, khi không quân và phòng không Đức còn mạnh, các cuộc ném bom chỉ thu được ít kết quả. Tuy nhiên tới đầu năm 1945, khi quân đội Đức đã kiệt sức, không quân Anh-Mỹ mặc sức ném bom, họ có thể biến các khu vực đô thị thành một quầng lửa, làm tan tành thành phố. Số thường dân bị chết khá cao, tại Đức có khoảng 300.000 người. Riêng trong một trận oanh tạc thành phố Dresden, có vài chục ngàn dân thường Đức thiệt mạng. Việc các chiến dịch này có giúp đem đến chiến thắng mau hơn vẫn còn chưa rõ. Dân thường tại Nhật Bản còn bị tấn công hơn nữa. Đức có các cơ sở công nghiệp xa nơi dân ở cho nên khu công nghiệp bị tấn công trước khu người ở. Trái lại, người dân Nhật ở đông đúc vào các khu vực thành phố trong các ngôi nhà được xây dựng bằng gỗ (tại Đức nhà cửa phần lớn được xây bằng gạch), dễ bị đốt cháy và lan tràn khắp thành phố khi các quả bom được ném xuống. Thêm vào đó, Mỹ cũng sử dụng các máy bay thả bom mới hơn và lớn hơn tại Đức. Cú đánh mạnh nhất là hai cuộc tấn công bằng bom nguyên tử vào hai thành phố Hiroshima và Nagasaki. Tổng số người Nhật bị thiệt mạng lên đến 300.000 người lúc ban đầu, và thêm nhiều người chết vì di chứng nhiễm phóng xạ trong nhiều năm kế tiếp. Có sự tranh cãi về việc có cần thiết phải thả bom nguyên tử trên đất Nhật hay không. Phía Mỹ vẫn cho rằng việc này đã dẫn đến việc Nhật đầu hàng một cách mau chóng, tránh thương vong cao cho quân Mỹ nếu đánh vào Nhật bằng chiến tranh quy ước (như kinh nghiệm đánh lên hai đảo Iwo Jima và Okinawa đã cho thấy). Ngược lại, những người phản đối hành động này cho rằng hành động ném bom của Mỹ đã vi phạm nguyên tắc tối thiểu là tránh đánh vào thường dân, bởi ở Hiroshima và Nagasaki hầu hết chỉ là dân thường và chỉ có ít cơ sở quân sự tại đây. Những người này đặt ra câu hỏi: Nếu việc sử dụng bom nguyên tử là cần thiết, tại sao Mỹ lại ném vào thành phố đông dân cư mà không ném vào các căn cứ quân sự lớn của Nhật như quân cảng Yokosuka hay Sasebo? Những người phản đối vụ ném bom tin rằng Mỹ đã hành động theo lối thực dụng: họ muốn các cơ sở quân sự của Nhật còn nguyên vẹn để có thể thu được chiến lợi phẩm là các tài liệu nghiên cứu, vũ khí kiểu mới hoặc các nhà khoa học giỏi của Nhật; việc ném bom thành phố thường cũng đủ gây chấn động mà lại đảm bảo không làm Mỹ mất đi chiến lợi phẩm của mình. == Kết quả == Hậu quả trực tiếp của chiến tranh này là sự chiến thắng của phía Đồng Minh. Mỗi nước trong phe Trục đều phải đầu hàng vô điều kiện. Đức bị các lực lượng từ Mỹ, Anh, Liên Xô và Pháp chiếm đóng, trong khi Áo bị chia cắt từ Đức và cũng bị chiếm đóng một cách tương tự. Nhật bị quân Mỹ chiếm đóng trong khi Liên Xô chiếm đóng các nước Đông Âu. Trái với Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi các giới hạn làm suy yếu các nước và các nước thua cuộc bị ngăn chặn việc tái hội nhập cộng đồng quốc tế, các nước thua cuộc đã được cung cấp viện trợ để phục hồi và hội nhập cộng đồng thế giới như các quốc gia hoà bình khác. Vì lẽ đó, Đức và Nhật đã trở thành hai nước quan trọng và có nhiều ảnh hưởng mà không cần phải khiêu chiến. Sự thất bại của Hội Quốc Liên trong việc ngăn chặn chiến tranh đã dẫn đến việc thành lập Liên Hiệp Quốc, một tổ chức quốc tế mới và có nhiều sửa đổi, cho đến nay vẫn là tổ chức quan trọng nhất trong việc thúc đẩy hoà bình và hợp tác. === Tổn thất nhân mạng === ==== Tại châu Âu ==== Thống kê năm 1965 của Liên Hợp Quốc cho biết chỉ riêng số người thiệt mạng do chiến tranh ở châu Âu đã lên đến 49.257.000 người. Những nước chịu thiệt hại lớn nhất gồm: Liên Xô: 20.000.000 người (theo tài liệu nghiên cứu của Krivosheev năm 2005, con số này có thể lên tới 26.600.000 người, bao gồm 8,7 triệu quân nhân và hơn 18 triệu thường dân) Đức: 9.700.000 người (theo tài liệu nghiên cứu năm 2000 của tiến sĩ Rüdiger Overmans, con số này bao gồm 5.300.000 quân nhân, 3.170.000 thường dân và 1.400.000 người Đức ở các quốc gia khác) Ba Lan: 6.028.000 người (theo tài liệu của Viện IPN - Ba Lan năm 2000, con số này là 5.600.000 đến 5.800.000 người, trong đó có khoảng 3.000.000 người Do Thái) Nam Tư: 1.600.000 người Pháp: 520.000 người Italia: 500.000 người Tiệp Khắc: 364.000 người Hoa Kỳ: 325.000 người Anh: 320.000 người. ==== Tại châu Á - Thái Bình Dương ==== Hoa Kỳ: khoảng 300.000 người Nhật Bản: khoảng 2.200.000 người Trung Quốc: ước tính 15-20.000.000 người Hai miền Triều Tiên: khoảng 1.000.000 người Ấn Độ: 2.587.000 người, chưa kể 5 triệu người chết do Nạn đói Bengal năm 1943 Việt Nam: gần 2.000.000 người (chủ yếu do Nạn đói năm Ất Dậu, năm 1944-1945) Indonesia: khoảng 3.000.000 đến 4.000.000 người === Hậu quả lâu dài === Ngay sau chiến tranh, liên minh Đồng Minh đã bị rạn nứt khi có xung đột về hệ tư tưởng. Mỗi phía đã giành một khu vực khác nhau trong các lãnh thổ phe Trục. Tại châu Âu, mỗi phía liên minh với nhau trong khu vực ảnh hưởng. Về phía tây, các nước Mỹ, Anh và Pháp đã lập ra Liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO). Về phía đông, Liên Xô lập ra liên minh với các nước Đông Âu khác trong Hiệp ước Warszawa. Xung đột giữa hai phái sau này là một trong những hậu quả của cuộc chiến tranh này. Khắp mọi nơi, các phong trào chống thực dân phát triển mạnh hơn khi chiến tranh kết thúc. Điều này xuất phát từ hệ quả của Chiến tranh thế giới thứ hai: Những thiệt hại của các cường quốc châu Âu trong cuộc chiến này khiến họ mất đi rất nhiều năng lực quân sự và kinh tế khả dĩ có thể duy trì hệ thống thuộc địa. Trong khi đó các dân tộc thuộc địa đã chống lại một cách sống còn, quyết không nhân nhượng (như trường hợp Algérie). Thời kỳ bị Đức chiếm đóng đã gây nên tác động sâu sắc đến tâm lý các dân tộc châu Âu. Họ biết đến mất mát của chiến tranh và nỗi khổ đau khi phải chịu ách thống trị. Điều này ít nhiều đã ảnh hưởng đến quyết tâm muốn trở lại cai trị các dân tộc thuộc địa của họ. Các cuộc chiếm đóng của Đức Quốc xã ở Bắc Phi và Nhật Bản ở châu Á đã tàn phá uy tín của Anh, Pháp, Hà Lan đối với hệ thống thuộc địa của họ. Các dân tộc thuộc địa đã nhận thức được rằng những cường quốc cai trị mình vẫn có thể bị đánh bại. Sự trỗi dậy của bá quyền Mỹ và việc mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô cũng tạo nguồn ủng hộ cho phong trào giải phóng thực dân, vì họ muốn hất cẳng tất cả các đế quốc châu Âu để thiết lập các lợi ích của họ trên thế giới, và điều này cũng không khó khăn mấy khi Tây Âu phải phụ thuộc vào viện trợ Mỹ để tái thiết. Phong trào giải phóng dân tộc xảy đến là sự tất yếu. Những điều kiện vào cuối cuộc Thế chiến thật sự là cơ hội lớn cho các nước thuộc địa. Một vài cuộc xung đột đã trở thành chiến trường cho các cường quốc trong Chiến tranh Lạnh, thậm chí có nhiều cuộc đã xảy ra trước khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu. Hai nước Anh và Pháp đã phải từ bỏ phần lớn các thuộc địa sau chiến tranh. Ấn Độ giành được độc lập từ Anh và Philippines giành độc lập từ Mỹ. Tại Đông Dương và nhiều thuộc địa tại châu Phi, các lực lượng kháng chiến phải chiến đấu mới giành được độc lập. Một quốc gia quan trọng đã xuất hiện là Israel. Sau cuộc thảm sát Holocaust, dân Do Thái trên thế giới rất khao khát có được một quốc gia riêng. Nhiều người Do Thái đã có kinh nghiệm chiến đấu trong chiến tranh là việc quan trọng mà quốc gia này luôn phải đương đầu để được độc lập và tồn tại. == Các nước tham chiến và hậu quả == Tất cả mọi quốc gia trên thế giới đều bị Chiến tranh thế giới thứ hai ảnh hưởng ít nhiều. Phần lớn đã tham chiến theo phía Đồng Minh hay phe Trục, và một số đã theo cả hai. Một số nước được thành lập vì chiến tranh, và một số không tồn tại được. 8 Cường Quốc tham chiến quan trọng nhất được liệt kê sau đây: Đức: Cường quốc chính của phe Trục tại châu Âu, chiến tranh bắt đầu khi Đức xâm lược Ba Lan, và chiến tranh chấm dứt tại chiến trường châu Âu sau khi Đức đầu hàng. Pháp: Lực lượng chính của Đồng Minh tại lục địa châu Âu, Pháp đã tuyên chiến với Đức sau việc xâm lược Ba Lan. Pháp không hăng hái trong việc tham chiến và không chống cự nổi lực lượng Đức sau khi bị xâm lược vào năm 1940. Khi chính quyền Pháp đầu hàng nhục nhã, đất nước bị mất vào tay Phát Xít, một chính quyền bù nhìn thân Đức được thành lập ở miền nam với danh nghĩa cai quản phần còn lại của nước Pháp không bị Đức chiếm đóng, nhưng một số thuộc địa của Pháp vẫn trung thành với lực lượng Pháp Tự do vốn đứng về phía Đồng minh. Anh: Trong khi Anh không có khả năng sản xuất và nhân lực to lớn như Mỹ hay Liên Xô, họ vẫn là một Cường Quốc quan trọng, có nhiều đóng góp xuất sắc trong việc chiến thắng của lực lượng Đồng Minh trên cả hai chiến trường. Ý: Một đồng minh của Đức vào ban đầu, Ý có rất nhiều tham vọng lãnh thổ. Họ chỉ tham chiến sau khi số phận của Pháp đã an bài. Nỗ lực chiếm Hy Lạp và Ai Cập thất bại, thêm vào đó nhiều thất bại hải quân tại vùng Địa Trung Hải đã cho thấy Ý không đủ chuẩn bị cho cuộc chiến tranh này. Sức chiến đấu kém, tinh thần bạc nhược ngay cả khi chiến đấu trên lãnh thổ của mình cũng như sự lãnh đạo yếu kém đã khiến Ý thất bại.Sau khi bị quân Đồng Minh xâm chiếm, nước Ý phát xít bị sụp đổ, một chính quyền mới thành lập theo phía Đồng Minh và đánh lại đồng minh Đức của họ. Liên Xô: Ban đầu họ muốn lập liên minh với Anh, Pháp nhưng không thành, nên sau đó chuyển sang ký hòa ước với Đức. Tuy nhiên, sau khi Đức thình lình tấn công vào năm 1941, Liên Xô theo phía Đồng Minh. Liên Xô bị nhiều tổn thất trước quân đội Đức, nhưng cuối cùng cũng thay đổi chiều hướng và chiếm đóng Berlin để chiến thắng tại châu Âu. Chính tại mặt trận Xô - Đức, quân đội phe Trục đã phải gánh chịu những tổn thất to lớn nhất: theo số liệu gần đây thì tổng số quân Đức bị chết, bị thương hoặc bị bắt làm tù binh trong chiến tranh thế giới lần thứ hai là gần 14 triệu người, trong đó riêng ở mặt trận Xô - Đức là 11,3 triệu người, chưa kể hơn 1,2 triệu quân Nhật và đồng minh châu Á của Nhật bị Liên Xô tiêu diệt hoặc bắt giữ trong Chiến dịch Mãn Châu. Nhật Bản: Một trong những cường quốc phe Trục, Nhật Bản có lý do tham chiến riêng. Do không đủ tài nguyên để phục vụ cho nền công nghiệp ngày càng phát triển, Nhật đã nỗ lực giành tài nguyên từ khu vực tây Thái Bình Dương và Đông Á. Nhưng họ không đủ tiềm lực để đánh bại quân Đồng Minh, và đã bị đẩy lùi và cuối cùng bị thả bom nguyên tử, cuối cùng Nhật Bản phải đầu hàng không điều kiện. Trung Quốc: Quốc gia này đã nhận lãnh đòn chủ nghĩa quân phiệt của Nhật trên một thập kỷ. Sau một thời kỳ dài phát triển và củng cố đất nước (Nam Kinh Thập Kỷ) cũng như có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, Trung Quốc đã đủ sức chống lại sự xâm lăng của Nhật Bản. Năm 1941, Trung Quốc vào khối Đồng Minh và trở thành một trong 5 Cường Quốc chủ chốt lãnh đạo khối, bên cạnh Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh và Pháp. Nhờ cách đánh du kích hiệu quả, họ đã khống chế thành công hơn 1 triệu quân Nhật ở vùng Đông Bắc cũng như làm tốt việc cầm chân Quân Nhật ở các nẻo đường chiến đấu. Tuy vậy, do nội loạn trong nước nên sự hợp tác giữa hai phe Quốc - Cộng không triệt để nên chiến đấu vẫn kém hiệu quả. Hoa Kỳ: Ban đầu duy trì chính sách trung lập, Hoa Kỳ bán hàng hóa và vũ khí cho cả hai phe và không tỏ thái độ chống lại bên nào. Tuy nhiên vào cuối năm 1941, Hoa Kỳ bị cuốn vào chiến tranh khi Nhật tấn công bất ngờ và Đức tuyên chiến. Hoa Kỳ dùng khả năng kinh tế và công nghiệp an toàn để tiếp tế cho tất cả các nước Đồng Minh và đã tạo lực lượng và duy trì nỗ lực tại châu Âu và Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng là nước tham gia trên nhiều mặt trận nhất và viện trợ nhiều cho các nước Đồng Minh. Hoa Kỳ cũng là nước duy nhất tham chiến mà lãnh thổ và nền kinh tế hầu như không bị chiến tranh tàn phá, đã vậy họ còn thu được lợi từ các hợp đồng bán vũ khí, nguyên liệu, lương thực... == Tóm tắt == Chiến tranh thế giới thứ hai là một cuộc xung đột vũ trang lớn nhất lịch sử. Không cuộc xung đột nào trước đó hay sau đó bao gồm số nước tham gia nhiều hơn, ảnh hưởng diện tích đất lớn hơn, hay giết nhiều mạng người và phá hoại nhiều hơn. Tuy nhiên, sự lớn lao của cuộc chiến này chỉ là một trong nhiều khía cạnh nổi bật nhất của nó. Một số khía cạnh khác đáng được chú ý là: Ảnh hưởng thế giới lâu dài: Hầu hết các quốc gia đã theo phía này hay phía kia trong chiến tranh. Một số quốc gia theo cả hai phía vào các thời điểm khác nhau. Mọi lục địa có người ở, trừ Nam Mỹ, đều có trận chiến. Ngay cả các nước trung lập cũng bị ảnh hưởng sâu sắc trong chiến tranh và sau chiến tranh. Phát triển kỹ thuật: Trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật, sự tiến triển rất nhanh chóng vì chiến trường có nhu cầu cải tiến kỹ thuật. Diễn tiến này có rất rõ trong các lĩnh vực kỹ thuật quân sự, từ máy bay đến xe cộ và máy tính. Bom nguyên tử: Chiến tranh thế giới thứ hai đã dẫn đến một cuộc cạnh tranh giữa một số nước để khai thác năng lượng nguyên tử và phát triển vũ khí hạt nhân. Lần đầu tiên, con người nắm được trong tay mình một thứ vũ khí có thể hủy diệt cả nhân loại và thế giới. Nước Mỹ thắng cuộc trong cạnh tranh này và đã sử dụng vũ khí nguyên tử lần đầu tiên trên thế giới để tạo ra ưu thế trong việc phân chia thế giới sau chiến tranh. Nhưng sau khi Liên Xô cũng sở hữu vũ khí hạt nhân, loài người lại đứng trước một nguy cơ tiềm ẩn cực kỳ đáng sợ bởi hai siêu cường này luôn nằm trong sự đối đầu với nhau. Chiến tranh tổng lực: Chiến tranh này đã diễn ra theo cách thức chiến tranh tổng lực như Thế chiến I (strategic warfare) . Chiến tranh này không những chỉ là để đánh bại quân địch và chia cắt vật chất, mà còn phải tấn công thẳng vào các khu vực người ở và công nghiệp để phá hủy khả năng sản xuất và ý chí của địch. Kháng cự của người dân: Chiến tranh du kích không phải mới, nhưng trong hầu hết những nước bị quân địch (đặc biệt là Đức và Nhật) chiếm giữ, nhiều cuộc nổi dậy kháng chiến đã nổ ra. Mặc dù các phong trào này thường không tự giải phóng được đất nước, họ cũng đã làm quân chiếm đóng phải hao tổn công sức, và lãnh thổ không bao giờ bị chiếm giữ toàn bộ. Việc này đã chứng minh rằng, việc chinh phục và lôi kéo một dân tộc đối nghịch bằng vũ lực là một chuyện không dễ dàng. == Chú thích == === Tham khảo === Churchill, Winston (1948-53), The Second World War, 6 vols. Gilbert, Martin (1995) Second World War, Phoenix, ISBN 1-85799-346-2 Keegan, John (1989) The Second World War Liddel Hart, Sir Basil (1970), History of the Second World War Cassel & Co; Pan Books,1973, London Murray, Williamson và Millett, Allan R. (2000) A War to Be Won: Fighting the Second World War ISBN 0-674-00163-X Overy, Richard, Why the Allies Won, Pimlico, 1995. ISBN 0-7126-7453-5 Weinberg, Gerhard L., A World at Arms: A Global History of World War II (1994) ISBN 0-521-44317-2 == Liên kết ngoài == WW2 People's War - Dự án của BBC: Thu thập các câu chuyện của những người bình thường trong Chiến tranh thế giới thứ hai Lịch sử BBC: Thế chiến thứ hai
đội tuyển bóng đá u-23 quốc gia việt nam.txt
Đội tuyển bóng đá U-23 quốc gia Việt Nam là đội tuyển bóng đá trẻ ở các độ tuổi 23, 22 hoặc nhỏ hơn của Việt Nam được thành lập vào năm 1999 do Liên đoàn bóng đá Việt Nam quản lý, đại diện cho Việt Nam tham dự các giải đấu Thế vận hội, Á Vận Hội, và SEA Games. Giải trẻ đầu tiên mà đội này tham gia thi đấu là Vòng loại Olympic Sydney 2000 dưới sự dẫn dắt của Huấn luyện viên trưởng Quản Trọng Hùng và trợ lý Đoàn Phùng. == Thành tích == === Thế vận hội === Từ năm 1992, môn bóng đá tại Thế vận hội mùa hè dành cho các đội tuyển U-23. === Á vận hội === Từ năm 2002, bóng đá tại Á vận hội trở thành giải đấu của các đội U-23.
tai nạn giao thông.txt
Tai nạn giao thông là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản. == Tổng quan == Tai nạn giao thông (TNGT) đã có từ rất lâu trong lịch sử dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa thật chính xác có thể lột tả hết những đặc tính của nó. Về cơ bản tai nạn giao thông có những đặc tính như: Được thực hiện bằng những hành vi cụ thể. Gây ra những thiệt hại nhất định về tính mạng, sức khỏe con người, vật, tài sản... Chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi cuối cùng trong vụ tai nạn giao thông cụ thể phải là đối tượng đang tham gia vào hoạt động giao thông. Xét về lỗi, chỉ có thể là lỗi vô ý hoặc là không có lỗi, không thể là lỗi cố ý. Năm 1896, tại Anh chiếc ô tô chạy thử sau khi xuất xưởng đã cán chết 2 người. Và 3 năm sau, ở Mỹ mới lại có một người chết do ô tô gây nên, từ đó những cái chết do phương tiện giao thông gây nên ngày một nhiều. Và ngày nay, TNGT đã trở nên phức tạp, đa dạng hơn rất nhiều, có thể là tai nạn ô tô, xe 2 bánh, tàu hỏa hay máy bay... Nó đang là một hiểm họa không chỉ cho riêng một quốc gia nào mà là của cả thế giới, tuy nhiên TNGT vẫn tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển và các nước kém phát triển, đặc biệt là các quốc gia ở châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan... Trên phạm vi toàn cầu, TNGT là một trong những nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất cho người trưởng thành (trung bình làm chết trên dưới 1 triệu và bị thương hàng chục triệu người mỗi năm) chỉ tính riêng trong năm 2002, tai nạn giao thông trên thế giới đã làm cho 1,2 triệu người thiệt mạng và 50 triệu người bị thương. Hàng năm, số vụ tai nạn giao thông lại tăng thêm 10% (con số này ở các nước nghèo và đang phát triển cao hơn tỉ lệ ở các nước công nghiệp phát triển). Phổ biến nhất hiện nay ở phần lớn các quốc gia là tai nạn giao thông đường bộ, loại tai nạn này thường xảy ra đối với ô tô và xe gắn máy 17 bánh. Ngoài ra còn có các loại TNGT khác như TNGT đường sắt, TNGT đường thuỷ, TNGT đường hàng không. == Tai nạn giao thông đường bộ == === Hiện trạng và thiệt hại === Tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) là TNGT xảy ra đối với những phương tiện giao thông đang tham gia giao thông trên các tuyến đường bộ hay trên đường chuyên dùng và đối với người đi bộ. Đây là loại TNGT phổ biến và làm nhiều người thiệt mạng, bị thương nhất ở các quốc gia đang phát triển, khi mà cơ sở hạ tầng cũng như ý thức tuân thủ pháp luật về giao thông của người dân còn kém. Theo Bộ Công an Trung Quốc trong năm 2006, đã có 89.455 người chết vì tai nạn giao thông đường bộ, con số này tại Việt Nam là 18,000 người. TNGTĐB là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho người, trung bình mỗi năm có trên dưới 10 triệu người tử vong vì TNGTĐB và hàng chục triệu người khác bị thương tích. Cùng với đó là những thiệt hại khổng lồ về kinh tế, bao gồm: chi phí mai táng người chết, chi phí y tế cho người bị thương, thiệt hại về phương tiện giao thông, về hạ tầng, chi phí khắc phục, điều tra vụ TNGT đó cùng với thiệt hại do hao phí thời gian lao động của chính người bị tai nạn và cả của những người chăm sóc người đó. Mặt khác TNGT gây nên những tác động tâm lý cả trước mắt cũng như về lâu dài đối với mọi người, nó để lại những di chứng về tâm lý hết sức nặng nề cho người bị tai nạn, người thân của người đó và nếu như trong một địa phương, một quốc gia xảy ra TNGT quá nhiều sẽ gây nên hiện tượng bất an cho cư dân ở đó. === Nguyên nhân và điều kiện === TNGTĐB phát sinh chủ yếu là do ý thức của người tham gia giao thông từ một số nguyên nhân như: cơ sở hạ tầng (đường, cầu), phương tiện giao thông không đảm bảo điều kiện an toàn (quá hạn, quá cũ, xe tự tạo...) Cùng với đó là ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông còn kém, thời tiết xấu… ==== Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông ==== Những yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động giao thông như: đường, cầu...đều có những ảnh hưởng nhất định tới việc có xảy ra TNGT ĐB hay không. Những điều kiện của đường như các yếu tố hình học của đường, lưu lượng, độ bằng phẳng và độ nhám của mặt đường, tầm nhìn và độ chiếu sáng trên đường, sự bố trí của các biển báo hiệu. Để đánh giá mức độ nguy hiểm của các đoạn đường, người ta sử dụng hệ số an toàn: K=V2/V1. Trong đó V2 là tốc độ tối thiểu của xe phương tiện chạy trên đoạn đường đang xem xét. V1 là tốc độ tối đa của xe chạy trên đoạn đường liền kề trước đó. Trị số K có giá trị càng nhỏ thì càng có khả năng xảy ra TNGT trên đoạn đường đó, tức là những đoạn đường nguy hiểm dễ xảy ra TNGT chính là những đoạn đường mà phương tiện phải giảm tốc độ nhiều trong thời gian ngắn. Mức an toàn chạy xe của các đoạn đường được đánh giá theo trị số của hệ số an toàn như ở bảng dưới đây: Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông còn nhiều yếu kém, chưa đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, không đồng bộ chính là một trong những nguyên nhân làm xảy ra nhiều vụ TNGT. Điều này được thể hiện rõ nét ở các quốc gia kém phát triển và đang phát triển. ==== Phương tiện giao thông ==== Thế kỷ 20 đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của các loại phương tiện giao thông. Từ những chiếc ô tô, xe gắn máy đầu tiên được xuất xưởng, ngày nay có hàng tỷ phương tiện giao thông các loại, từ những chiếc xe đạp, xe gắn máy, hay ô tô cho tới những chiếc máy bay tối tân... Tăng trưởng mạnh nhất chính là các loại phương tiện giao thông đường bộ, mỗi năm thế giới lại xuất xưởng thêm hàng triệu xe gắn máy, ô tô đủ mọi chủng loại. Đi kèm sự gia tăng quá nhanh đó là những bất cập, những hạn chế của các loại xe. Bên cạnh những chiếc xe hiện đại, đảm bảo được những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn an toàn (nhưng được bán với giá cao)...là những chiếc xe không đảm bảo (nhưng lại có giá rẻ hơn rất nhiều) đó là những chiếc xe tự tạo, xe cũ tái chế... Ví dụ tại Việt Nam ==== Người tham gia giao thông ==== Chủ yếu vẫn là sự thiếu ý thức của người tham gia giao thông như chạy quá tốc độ, tránh vượt ẩu, sai quy định, khi chuyển hướng không quan sát, đi không đúng làn đường, điều khiển phương tiện trong tình trạng say bia rượu và sử dụng các chất kích thích, dàn hàng ngang, đi hàng hai hàng ba, không đội nón bảo hiểm, không đi đúng phần đường của mình, khôn tuân thủ luật giao thông, ==== Do thời tiết diễn biến xấu ==== Mưa bão, động đất, sóng thần, lở đất,… ==== Quản lý Nhà nước về giao thông ==== === Một số giải pháp === Tập trung xây dựng những công trình hạ tầng giao thông thiết yếu để cải thiện tình hình quá tải phương tiện giao thông. Bên cạnh đó cần phải kiểm tra phương tiện giao thông, bao gồm như: không đưa vào lưu thông các phương tiện đã sử dụng lâu năm và không đảm bảo hệ số an toàn, tránh những trường hợp chuyển hướng đột ngột, không vượt đèn đỏ, không lạng lách đánh võng, tôn trọng các đối tượng tham gia giao thông và không uống rượu bia, các chất kích thích khi điều khiển phương tiện giao thông.Đồng thời kết hợp giáo dục có hiệu quả cho người tham gia giao thông về những hậu quả không lường mà TNGT có thể gây ra,giúp người điều khiển phương tiện giao thông nhận thức được trách nhiệm của mình.Thắt chặt quản lý,phạt nặng câc trường hợp cố ý cản trở giao thông hay gây nguy hiểm cho người khác == Tai nạn giao thông đường sắt == Do không chắp hành luật đường sắt nên nhiều hộ dân thường có tai nạn do không có biển báo và ý thức trẻ em kém nên chơi bên đường sắt không lo chú ý xe,việc ngồi ngay cạnh đường sắt hay thậm chí đi trên những đoạn đường ấy là thói quen của nhiều những người bán rong hiện nay == Tai nạn giao thông đường thuỷ == == Tai nạn giao thông đường hàng không == == Những vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng == Tóm lại tai nạn giao thông là một trong những nguyên nhân gây nguy hại cho con người ở mức rất lớn vì vậy chúng ta nên chấp hành tốt những luật lệ giao thông trên đường bộ để quốc gia tiến bộ hơn trong tương lai. == Xem thêm == Cứu hộ giao thông == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cảnh sát giao thông
đội tuyển bóng đá quốc gia bahrain.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Bahrain là đội tuyển cấp quốc gia của Bahrain do Hiệp hội bóng đá Bahrain quản lý. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Bahrain là trận gặp đội tuyển Kuwait vào năm 1966. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là vị trí thứ tư của cúp bóng đá châu Á 2004 và vị trí thứ ba của giải vô địch bóng đá Tây Á 2014. == Danh hiệu == Vô địch châu Á: 0 Hạng tư: 2004 Vô địch Tây Á: 0 Hạng ba: 2014 Hạng tư: 2012 Vô địch cúp vùng Vịnh: 0 Á quân: 1970; 1982; 1992; 2003 Hạng ba: 1990; 1994; 2004 Hạng tư: 1976; 1979; 1988; 2002; 2013 Vô địch cúp Ả Rập: 0 Á quân: 1985; 2002 == Thành tích quốc tế == === Giải vô địch thế giới === Đội tuyển Bahrain chưa lần nào lọt vào vòng chung kết một giải vô địch thế giới. Lần tiến đến gần sát vòng chung kết nhất là năm 2010. Họ đứng thứ 5 châu Á và giành quyền tranh vé vớt với đại diện của châu Đại Dương là New Zealand. Tuy được đánh giá cao hơn nhưng sau hai lượt trận, Bahrain thua với tổng tỉ số 0–1, nhường tấm vé dự vòng chung kết cho đối thủ. === Cúp bóng đá châu Á === Thứ hạng ngoài bốn thứ hạng đầu là không chính thức, so sánh với thành tích của những đội lọt vào đến cùng một vòng đấu. === Giải vô địch bóng đá Tây Á === 2000 đến 2007 - Không tham dự 2008 - Bỏ cuộc 2010 - Vòng bảng 2012 - Hạng tư 2014 - Hạng ba === Cúp bóng đá vùng Vịnh === 1970 - Á quân 1972 - Không tham dư 1974 - Vòng bảng 1976 - Hạng tư 1979 - Hạng tư 1982 - Á quân 1984 - Hạng 5 1986 - Hạng 5 1988 - Hạng tư 1990 - Hạng ba 1992 - Á quân 1994 - Hạng ba 1996 - Hạng 5 1998 - Hạng 5 2002 - Hạng tư 2003 - Á quân 2004 - Hạng ba 2007 - Bán kết 2009 - Vòng bảng 2010 - Vòng bảng 2013 - Hạng tư 2014 - Vòng bảng === Cúp bóng đá Ả Rập === 1963 đến 1964 - Không tham dự 1966 - Vòng bảng 1985 - Á quân 1988 - Vòng bảng 1992 - Không tham dự 1998 - Không vượt qua vòng loại 2002 - Á quân 2012 - Vòng bảng == Đội hình == Đây là đội hình tham dự cúp bóng đá châu Á 2015.Số liệu thống kê tính đến ngày 19 tháng 1 năm 2015. === Triệu tập gần đây === == Chú thích == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá quốc gia Bahrain trên trang chủ của FIFA
piemonte.txt
Piemonte (tiếng Piemonte và tiếng Occitan: Piemont; tiếng Pháp: Piémont) là một trong 20 vùng của Ý. Diện tích vùng này là 25.399 km² với dân số khoảng 4,4 triệu người. Thủ phủ là thành phố Torino, phương ngữ là tiếng Piemonte và tiếng Occitan cũng được nói ở thung lũng Occitan. == Địa lý == Piemonte được Alps bao bọc 3 phía, bao gồm Monviso (Mont Vis), nơi bắt nguồn của sông Po và Monte Rosa. Vùng này giáp với Pháp, Thụy Sĩ và các vùng khác của Ý như Lombardia, Liguria, Emilia-Romagna và thung lũng Aosta. Tỷ lệ lãnh thổ nằm trong khu bảo vệ là 7,6%. Có 56 vườn quốc gia và khu vực khác nhau, trong đó có Vườn quốc gia Gran Paradiso. Về mặt hành chính, vùng Piemonte dược chia thành 8 tỉnh: Alessandria Asti Biella Cuneo Novara Torino Verbano-Cusio-Ossola Vercelli == Lịch sử == Loài người sinh sống ở Piemonte từ thời kỳ đầu lịch sử, đó là các bộ lạc Celtic-người Liguria như Taurini và Salassi. Sau này họ đã quy phục người Roma (khoảng năm 220 trước Công nguyên), và những người La Mã này đã thiết lập nhiều thuộc địa bao gồm Augusta Taurinorum (Torino) và Eporedia (Ivrea). Sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã, vùng này đã liên tục bị các nước và dân tộc khác xâm lược, đó là người Burgundia, Goths (thế kỷ 5), người Byzantin, người Lombardia (thế kỷ 6), Franks (773). Đến thế kỷ 9-10, vùng này lại bị người Magyar và người Saracen xâm chiếm. Lúc Piemonte thuộc Vương quốc Ý bên trong Đế quốc La Mã Thần thánh, vùng này đã được chia thành nhiều địa hạt. Năm 1046, Oddo của Savoy đã đưa Piemonte vào lãnh thổ chính của họ Savoy, với thủ phủ tại Chambéry (ngày nay thuộc nước Pháp). Một số khu vực khác vẫn độc lập, như các công xã hùng mạnh Asti và Alessandria và các thái ấp hầu tước Saluzzo và Montferrat. Hạt Savoy đã được nâng thành một thái ấp công tước năm 1416, công tước Emanuele Filiberto đã dời thủ phủ đến Torino năm 1563. Năm 1720, công tước của Savoy trở thành vua của Sardegna, một vương quốc được thành lập và chuyển thành Vương quốc Piemonte-Sardinia và đã đưa tầm quan trọng của thành phố Torino thành một kinh đô châu Âu. Cộng hòa Alba đã được lập năm 1796 làm một Cộng hòa khách hàng Pháp ở Piemonte trước khu khu vực này đã bị Pháp thôn tín năm 1801. Tháng 6 năm 1802, một nước cộng hòa khách hàng mới, Cộng hòa Subalpine, đã được thành lập ở Piemonte và tháng 12 thì cũng bị thôn tín. Tại đại hội Wien, Vương quốc Piemonte-Sardinia đã được phục hồi và nhận thêm Cộng hòa Genova để tăng cường sức cản chống lại Pháp. Piemonte đã là một bàn đạp cho thống nhất nước Ý giai đoạn 1859-1861, tiếp theo các cuộc chiến tranh không thành công trước đó chống lại Đế quốc Áo vào năm 1820-1821 và 1848-1849. Quá trình này đôi khi được gọi là Piemonte hóa. Tuy nhiên, các nỗ lực này sau đó đã bị những nông dân phủ nhận. Dòng họ Savoy đã trở thành các vua của Ý, Torino trong một thời gian ngắn đã trở thành thủ đô của Ý. Tuy nhiên việc bổ sung các lãnh thổ đã giảm tầm quan trọng của Piemonte đối với vương quốc này và thủ đô đã được dời đến Florence, sau đó đến Roma. == Kinh tế == Vùng đất thấp Piemonte màu mỡ, là một vùng nông nghiệp trồng lúa mỳ, ngô, nho. Piemonte là một trong những vùng trồng nho lớn của Ý. Các khu vực trồng nho nổi tiếng gồm Barolo, Barbaresco và Moscato d'Asti. Các loại nho bản địa bao gồm tại Nebbiolo, Barbera, Dolcetto, Freisa, Grignolino và Brachetto. Vùng này có nhiều trung tâm công nghiệp lớn, nổi bật là Torino, nơi có nhà máy ô tô FIAT. Biella sản xuất lụa và giấy lụa. Cuneo sản xuất sô cô la Ferrero và các ngành cơ khí quan trọng khác. == Nhân khẩu == Vùng đô thị Torino tăng trưởng mạnh mẽ vào thập niên 1950 và 1960 do sự gia tăng dân nhập cư từ phía nam Italia. Ngày nay vùng đô thị này có dân số khoảng 2 triệu người. Theo thống kê của Viện thống kê quốc gia Ý, đến thời điểm năm 2006, ước tính có 231.611 người nhập cư sinh ra ở nước ngoài đang sống ở Piemonte, tương được 5,3% tổng dân số của vùng. Các thành phố tại Piemonte có dân số từ 50.000 người trở lên gồm: == Tham khảo == == Hình ảnh == == Liên kết ngoài == Giornale del Piemonte Piemonte Magazine
quảng bình.txt
Quảng Bình (các tên gọi cũ khu vực này gồm: Bố Chính, Tân Bình, Lâm Bình, Tiên Bình, Tây Bình) là một tỉnh duyên hải thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Quảng Bình nằm ở nơi hẹp nhất theo chiều Đông-Tây của dải đất hình chữ S của Việt Nam (50 km theo đường ngắn nhất tính từ biên giới Lào ra biển Đông). Tỉnh này giáp Hà Tĩnh về phía bắc với dãy Hoành Sơn là ranh giới tự nhiên; giáp Quảng Trị về phía nam; giáp Biển Đông về phía đông; phía tây là tỉnh Khăm Muộn và tây nam là tỉnh Savannakhet của Lào với dãy Trường Sơn là biên giới tự nhiên. Trong thời kỳ Bắc thuộc, khu vực ngày nay là Quảng Bình có giai đoạn thuộc quận Tượng Lâm, có giai đoạn thuộc quận Nhật Nam. Năm 192, Quảng Bình nằm trong lãnh thổ Lâm Ấp. Đến năm 758 Lâm Ấp đổi tên là Chiêm Thành, Quảng Bình nằm trong 2 châu: Châu Bố Chính và Châu Địa Lý. Khu vực này đã thuộc về Đại Việt sau cuộc chiến tranh Việt Chiêm 1069. Lý Thường Kiệt là người đã xác định và đặt nền móng đầu tiên của vùng đất Quảng Bình trọn vẹn trong cương vực lãnh thổ Đại Việt. Trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, đất nước bị chia cắt tại sông Gianh thuộc tỉnh Quảng Bình. Đồng Hới đã trở thành tiền đồn quan trọng của chúa Nguyễn với thành Đồng Hới. Từ ngày 20 tháng 9 năm 1975 đến ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Bình được sáp nhập vào tỉnh Bình Trị Thiên.Ngày 30 tháng 6 năm 1989, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Bình Trị Thiên để tái lập tỉnh Quảng Bình, tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên - Huế.Tỉnh Quảng Bình mang tên từ đó đến nay. Quảng Bình có các tuyến giao thông huyết mạch quan trọng Bắc – Nam Việt Nam chạy qua: Quốc lộ 1A, Đường Hồ Chí Minh, Đường sắt Bắc - Nam. Ngoài ra, tỉnh này còn có giao thông hàng hải (cảng Hòn La, cảng Gianh) và hàng không (sân bay Đồng Hới). == Lịch sử == Các khai quật khảo cổ ở khu vực đã chứng tỏ rằng đã có loài người sinh sống ở khu vực này từ thời kỳ đồ đá. Nhiều hiện vật như bình sử, sành, công cụ lao động đã được phát hiện ở đây. Năm 1926, một vị nữ khảo cổ người Pháp Madeleine Colani đã phát hiện nhiều di vật ở các hang động phía tây Quảng Bình. Bà đã kết luận rằng đã có sự hiện diện của văn hóa Hòa Bình ở khu vực này. Thời Hán, Quảng Bình thuộc quận Nhật Nam. Sau khi Champa giành được độc lập và lập nước Lâm Ấp (thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), các triều vua Champa thường vượt đèo Hải Vân tiến ra cướp phá đất Nhật Nam và Cửu Chân và họ đã làm chủ vùng đất từ đèo Ngang trở vào khi nhà Tấn (Trung Quốc) suy yếu. Từ đó Quảng Bình là vùng đất địa đầu của Champa đối với các triều đại Trung Hoa cũng như các triều đại Việt khi người Việt đã giành được độc lập. Năm 1069, Lý Thánh Tông - vua của Đại Việt đánh Champa bắt được vua Champa đưa về Thăng Long, để được tha vua Champa đã dâng đất (Địa Ly, Bố Chính, Ma Linh) tương ứng với tỉnh Quảng Bình và các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, bắc Hướng Hóa của Quảng Trị ngày nay cho Đại Việt và Quảng Bình chính thức thuộc về Đại Việt từ năm 1069. Đời Lê Trung Hưng có tên là Tiên Bình. Năm 1604, đổi tên là Quảng Bình. Chúa Nguyễn Phúc Khoát chia Quảng Bình thành 3 dinh: dinh Bố Chính (trước là dinh Ngói), dinh Mười (hay dinh Lưu Đồn), dinh Quảng Bình (hay dinh Trạm). Tỉnh được thành lập năm 1831, đặt phủ Quảng Ninh, sau đặt thêm phủ Quảng Trạch. Năm 1976 ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên hợp nhất thành tỉnh Bình Trị Thiên, đến năm 1989 lại tách ra như cũ. Khi tách ra, tỉnh Quảng Bình có 5 đơn vị hành chính gồm thị xã Đồng Hới và 4 huyện Bố Trạch, Lệ Ninh, Quảng Trạch, Tuyên Hóa. Ngày 1 tháng 6 năm 1990, chia huyện Lệ Ninh thành 2 huyện: Lệ Thủy và Quảng Ninh; tái lập huyện Minh Hóa từ huyện Tuyên Hóa. Ngày 16 tháng 8 năm 2004, chuyển thị xã Đồng Hới thành thành phố Đồng Hới. Ngày 20 tháng 12 năm 2013, thành lập thị xã Ba Đồn trên cơ sở tách ra từ huyện Quảng Trạch. == Địa lý == === Diện tích === Diện tích tự nhiên của Quảng Bình là 8.065,27 km² (tổng diện tích: 806.527 ha), chia ra như sau: Đất ở: 4.946 ha Đất nông nghiệp: 71.381 ha Đất lâm nghiệp: 601.388 ha Đất chuyên dùng: 23.936 ha Đất phi nông nghiệp khác: 20.670 ha Đất chưa sử dụng: 72.619 ha (Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2007) === Vị trí === Phần đất liền của Quảng Bình nằm trải dài từ 16°55’ đến 18°05’ vĩ Bắc và từ 105°37’ đến 107°00’ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Tỉnh có chung biên giới với Lào 201,87 km ở phía Tây, phía Đông giáp biển Đông. Tỉnh lỵ của Quảng Bình là thành phố Đồng Hới, cách thủ đô Hà Nội 500 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.220 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A. === Sông ngòi === Trên địa bàn tỉnh có 5 sông lớn là sông Gianh, sông Ròn, sông Nhật Lệ (là hợp lưu của sông Kiến Giang và sông Long Đại), sông Lý Hòa và sông Dinh với tổng lưu lượng 4 tỷ m³/năm. Các sông này do nhiều lưu vực hợp thành và đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đổ ra biển. === Địa hình === Địa hình Quảng Bình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông. 85% Tổng diện tích tự nhiên là đồi núi. Toàn bộ diện tích được chia thành vùng sinh thái cơ bản: Vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng cát ven biển. Địa hình có đặc trưng chủ yếu là hẹp và dốc, nghiêng từ tây sang đông, đồi núi chiếm 85% diện tích toàn tỉnh và bị chia cắt mạnh. Hầu như toàn bộ vùng phía tây tỉnh là núi cao 1.000-1.500 m, trong đó cao nhất là đỉnh Phi Co Pi 2017 m, kế tiếp là vùng đồi thấp, phân bố theo kiểu bát úp. Gần bờ biển có dải đồng bằng nhỏ và hẹp. Sau cùng là những tràng cát ven biển có dạng lưỡi liềm hoặc dẻ quạt. === Khí hậu === Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động bởi khí hậu của phía Bắc và phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm 2.000 - 2.300mm/năm. Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11. Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24oC - 25oC. Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8. Nhiệt độ bình quân các tháng trong năm của thành phố Đồng Hới, tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình. === Đất đai === Tài nguyên đất được chia thành hai hệ chính: Đất phù sa ở vùng đồng bằng và hệ pheralit ở vùng đồi và núi với 15 loại và các nhóm chính như sau: nhóm đất cát, đất phù sa và nhóm đất đỏ vàng. Trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên, chủ yếu ở địa hình đồi núi phía Tây, đất cát chiếm 5,9% và đất phù sa chiếm 2,8% diện tích. === Hệ động, thực vật === Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn - nơi có khu hệ thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm. Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha - Kẻ Bàng. Về động vật có: 493 loài, 67 loài thú, 48 loài bò sát, 297 loài chim, 61 loài cá... có nhiều loài quý hiếm như Voọc Hà Tĩnh, Gấu, Hổ, Sao La, Mang Lớn, Gà Lôi lam đuôi trắng, Gà Lôi lam mào đen, Trĩ... Về đa dạng thực vật: Với diện tích rừng 486.688 ha, trong đó rừng tự nhiên 447.837 ha, rừng trồng 38.851ha, trong đó có 17.397 ha rừng thông, diện tích không có rừng 146.386 ha. Thực vật ở Quảng Bình đa dạng về giống loài: có 138 họ, 401 chi, 640 loài khác nhau. Rừng Quảng Bình có nhiều loại gỗ quý như lim, gụ, mun, huỵnh, thông và nhiều loại mây tre, lâm sản quý khác. Quảng Bình là một trong những tỉnh có trữ lượng gỗ cao trong toàn quốc. Hiện nay trữ lượng gỗ là 31triệu m3. === Biển, đảo === Tỉnh có bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông với 5 cửa sông, trong đó có hai cửa sông lớn, có cảng Nhật Lệ, cảng Gianh, cảng Hòn La, Vịnh Hòn La có diện tích mặt nước 4 km2, có độ sâu trên 15 mét và xung quanh có các đảo che chắn: Hòn La, Hòn Cọ, Hòn Chùa có thể cho phép tàu 3-5 vạn tấn vào cảng mà không cần nạo vét. Trên đất liền có diện tích khá rộng (trên 400 ha) thuận lợi cho việc xây dựng khu công nghiệp gắn với cảng biển nước sâu Quảng Bình có vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 2 vạn km². Ngoài khơi lại có các đảo Hòn La, Hòn Gió, Hòn Nồm, Hòn Cỏ, Hòn Chùa nên đã hình thành các ngư trường với trữ lượng 10 vạn tấn hải sản các loại. Bờ biển có nhiều thắng cảnh đẹp, cùng với thềm lục địa rộng gấp 2,6 lần diện tích đất liền tạo cho Quảng Bình có một ngư trường rộng lớn với trữ lượng khoảng 10 vạn tấn và phong phú về loài (1650 loài), trong đó có những loại quý hiếm như tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực nang, san hô. Phía Bắc Quảng Bình có bãi san hô trắng với diện tích hàng chục ha, đó là nguồn nguyên liệu quý cho sản xuất hàng mỹ nghệ và tạo ra vùng sinh thái của hệ san hô. Điều đó cho phép phát triển nền kinh tế tổng hợp vùng ven biển. Mặt nước nuôi trồng thủy sản: Với 5 cửa sông, Quảng Bình có vùng mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản khá lớn. Tổng diện tích 15.000 ha. Độ mặn ở vùng mặt nước từ cửa sông vào sâu khoảng 10–15 km dao động từ 8-30%o và độ pH từ 6,5- 8 rất thuận lợi cho nuôi tôm cua xuất khẩu. Chế độ bán nhật triều vùng ven biển thuận lợi cho việc cấp thoát nước cho các ao nuôi tôm cua. === Thủy văn === Quảng Bình có hệ thống sông suối khá lớn với mật độ 0,8 - 1,1 km/km2. Có năm sông chính là sông Roòn, sông Gianh, sông Lý Hòa, sông Dinh và sông Nhật Lệ. Có khoảng 160 hồ tự nhiên và nhân tạo với dung tích ước tính 243,3 triệu m3. === Khoáng sản === Quảng Bình có nhiều loại khoáng sản như vàng, sắt, titan, pyrit, chì, kẽm... và một số khoáng sản phi kim loại như cao lanh, cát thạch anh, đá vôi, đá mable, đá granit... Trong đó, đá vôi và cao lanh có trữ lượng lớn, đủ điều kiện để phát triển công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng với quy mô lớn. Có suối nước khoáng nóng 105oC. Trữ lượng vàng tại Quảng Bình có khả năng để phát triển công nghiệp khai thác và chế tác vàng. == Dân số và lao động == Theo số liệu từ Niên giám thống kê năm 2015 dân số Quảng Bình đạt 872.925 người tăng so với 854.918 người năm 2013 và 846.924 người năm 2009. Trên địa bàn tỉnh có 24 dân tộc anh em cùng sinh sống, nhưng chủ yếu là người Kinh. Dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, v.v... sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hóa và Minh Hóa và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy. Dân cư phân bố không đều, 80,61% sống ở vùng nông thôn và 19,39% sống ở thành thị. Quảng Bình có nguồn lao động dồi dào với 530.064 người, chiếm khoảng 60,72% dân số. Trong đó tỷ lệ lao động nam/ nữ lần lượt là 265.206/ 264.858 người. Về chất lượng lao động cho đến năm 2013: hơn 25.000 người có trình độ đại hoc, cao đẳng, hơn 600 thạc sĩ, gần 50 phó giáo sư và tiến sĩ. Lực lượng lao động đã qua đào tạo gần 105.000 người,chiếm 25% số lao động. == Văn hóa == Dãi đất Quảng Bình như một bức tranh hoành tráng, có rừng, có biển với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, thắng cảnh nổi tiếng: đèo Ngang, đèo Lý Hoà, cửa biển Nhật Lệ, phá Hạc Hải, Cổng Trời… và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới, Hang Sơn Đoòng được công nhận là hang động lớn nhất thế giợí. Với hệ thống hang động phong phú tìm thấy cho đến nay, Quảng Bình đã được mọi người gọi là Vương quốc hang động. Ngày 13/5/2015, Hang Sơn Đoòng của Quảng Bình xuất hiện trên chương trình Good Morning American trên kênh ABC của nước Mỹ đã đưa Quảng Bình và du lịch Quảng Bình đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Gần đây đoàn làm phim bom tấn nổi tiếng thế giới Kong; Skull Island đến từ Hollywood Mỹ đã thực hiện nhiều cảnh quay tại hệ thống hang động Quảng Bình hứa hẹn sẽ ra mắt những thước phim mãn nhãn vào ngày 10/3/2017 tới đây. Quảng Bình là vùng đất văn vật, nổi tiếng với di chỉ văn hóa Bàu Tró, các di chỉ thuộc nền văn hóa Hòa Bình,Đông Sơn và Sa Huỳnh, nhiều di tích lịch sử như: Quảng Bình Quan, Luỹ Thầy, Rào Sen, Thành Nhà Ngo, Thành Khu Túc-Chămpa, thành quách của thời Trịnh - Nguyễn, nhiều địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh v.v... Trong quá trình lịch sử, đã hình thành nhiều làng văn hóa nổi tiếng và được truyền tụng từ đời này sang đời khác như "Bát danh hương": "Sơn- Hà- Cảnh - Thổ- Văn- Võ- Cổ - Kim". Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hoă - xã hội như Dương Văn An, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Tuy Lộc hầu Đặng Đại Lược, lãnh Đức hầu Đặng Đại Độ, Sư bảo Nguyễn Đăng Tuân, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Thanh Đạt, Lê Vũ Hoàng... Quảng Bình là vùng giao thoa của hai nền văn hóa cổ Việt - Chămpa, thể hiện ở những di chỉ có niên đại 5 nghìn năm đã khai quật được ở Bàu Tró, phía bắc Đồng Hới. === Danh lam thắng cảnh === Quảng Bình nổi tiếng với di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Hang Sơn Đoòng - Hang động tự nhiên lớn nhất thế giới Động Sơn Đoòng cách Đồng Hới 50 km và là một dải kỳ quan nằm sâu trong lòng núi, cách đỉnh núi 800 – 900 m. Dài 7729 m, động có 14 hang do dòng sông ngầm dài 13.969 m hòa tan đá vôi tạo thành. Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng đã UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới năm 2003. Động Phong Nha là một động đẹp có sông ngầm và có 7 cái nhất: (1) Hang nước dài nhất; (2) Cửa hang cao và rộng nhất; (3) Bãi cát, đá rộng và đẹp nhất; (4) Hồ ngầm đẹp nhất; (5) Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất; (6) Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam; (7) Hang khô rộng và đẹp nhất. === Di tích lịch sử === Hiện vật Bàu Tró Thành Đồng Hới Lũy Thầy Thành Nhà Ngô Thành Khu Túc Các di tích lịch sử - văn hóa và thắng cảnh nổi tiếng: Quảng Bình có nhiều di tích danh thắng cấp Quốc gia được Nhà nước công nhận, nhiều di tích được UBND tỉnh ra quyết định bảo vệ, và nhiều di tích ở địa phương cơ sở chưa được xếp hạng. Có thể phân theo các loại hình sau đây: Di tích khảo cổ học gồm có: - Di tích cấp Quốc gia: Di chỉ Bàu Tró (Đồng Hới), - Di tích UBND tỉnh ra QD bảo vệ: Hang Minh Cầm - Các di tích đưa vào danh mục kiểm kê: - Di chỉ Thóc Lóc (Bố Trạch), Di chỉ Hang Trăn (Minh Hóa), Di chỉ Tiến Hóa- Hợp Hóa (Minh Hóa), Di chỉ Minh Cầm (Tuyên Hóa), Di chỉ Ba Đồn I, II (Quảng Trạch), Di chỉ Bàu Khê (Bố Trạch), Di chỉ Cồn Nền (Quảng Trạch), Di chỉ Gốm sành Mỹ Cương (Đồng Hới)... Di tích kiến trúc (Thành lũy đền, chùa, đình, miếu) gồm có: - Di tích cấp Quốc gia: Thành Đồng Hới, Lũy Thầy (Lũy Đào Duy Từ- Quảng Ninh, Đồng Hới), Đình Hòa Ninh (Quảng Trạch), Đình Minh Lệ (Quảng Trạch), Đình Đồng Dương (Quảng Trạch), Đình Lý Hòa (Bố Trạch), Chùa An Xá (Lệ Thủy), Quảng Bình quan (Đồng Hới), Đình Lũ Phong (Quảng Trạch), Đình Phù Trịch, Điện Thành Hoàng Vĩnh Lộc (Quảng Trạch). Đình Tượng Sơn và lăng mộ danh tướng Nguyễn Dụng (Quảng Trạch)... - Di tích UBND ra QĐ bảo vệ: Hoành Sơn Quan (Quảng Trạch), Đền Công chúa Liễu Hạnh (Quảng Trạch), Đình Thọ Linh (Quảng Trạch), Đình La Hà (Quảng Trạch), Đình Lộc Điền (Quảng Trạch), Chùa Quan Âm tự (Bố Trạch), Đền Truy Viễn Đường (Quảng Trạch), Đình Thuận Bài (Quảng Trạch)... - Di tích ở các địa phương chưa xếp hạnh được đưa vào danh mục kiểm kê: Thành Nhà Ngo (Lệ Thủy), Thành Kẻ Hạ (Bố Trạch), Lũy Hoàn Vương (Quảng Trạch). Di tích lưu niệm danh nhân gồm có: - Các di tích cấp Quốc gia: - Lăng mộ và miếu thờ Hoàng Hối Khanh (Lệ Thủy), Lăng mộ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (Lệ Thủy), Lăng mộ Hồ Hồng (Hồ Cưỡng - Bố Trạch), Nhà thờ và mộ Đề đốc Lê Trực (Tuyên Hóa), Lăng mộ và nhà bia tưởng niệm Mai Lượng (Quảng Trạch). - Các di tích UBND tỉnh ra QĐ bảo vệ và di tích đưa vào danh mục kiểm kê: Lăng mộ Hoàng Kế Viêm (Quảng Ninh), Song Trung miếu bia (Quảng Trạch), Lăng mộ Nguyễn Hàm Ninh (Quảng Trạch), Lăng mộ danh tướng Lê Sỹ (Quảng Ninh), Lăng mộ Võ Xuân Cẩn (Lệ Thủy), Đền thờ và lăng mộ Lê Mộ Khởi (Bố Trạch), Nhà thờ Vĩnh An hầu Nguyễn Hữu Cảnh (Quảng Ninh). - Các di tích lịch sử gồm có: - Các di tích cấp Quốc gia: Các điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Quảng Bình (Đồng Hới), Di tích làng chiến đấu Cảnh Dương (Quảng Trạch), Di tích Chiến khu Trung Thuần (Quảng Trạch), Di tích làng chiến đấu Cự Nẫm (Bố Trạch), Di tích chiến thắng Xuân Bồ (Lệ Thủy), Di tích Bến đò Mẹ Suốt (Đồng Hới), Di tích Trận địa đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy (Lệ Thủy), Di tích miếu Mỹ Thổ -Trung Lực (Lệ Thủy), Di tích Bến phà Gianh (Quảng Trạch- Bố Trạch), Di tích Nhà nhóm thôn Trung (Quảng Ninh), Di tích Bến phà Long Đại (Quảng Ninh), Di tích Ga Kẻ Rấy (Bố Trạch), Di tích Khu Giao tế (Đồng Hới), Di tích Trận địa pháo lão dân quân Đức Ninh (Đồng Hới), Hang Lèn Hà (Thanh Hóa-Tuyên Hóa). - Các di tích Đường Hồ Chí Minh cấp Quốc gia: Di tích A 72 (Lệ Thủy), Các hang động Hóa Thanh, Hóa Tiến (Minh Hóa), Di tích cụm chỉ huy Đoàn 559 ở Hiền Ninh (Quảng Ninh), Các di tích trọng điểm trên đường 12 A (Minh Hóa): La Trọng, Bãi Dinh, Khe Tang, Đồi 37, Cha Lo, Cổng Trời, Hang Dơi, Hang Tiên; Các trọng điểm trên Đường 20 Quyết Thắng, Khu di tích Xuân Sơn Phong Nha Các di tích Đường Hồ Chí Minh UBND tỉnh ra QĐ bảo vệ: Ngã tư Thạch Bàn, Bang- Ho (Lệ Thủy), Bến phà Quán Hàu, Km0 Đường 10 Quảng Ninh), Cảng cá Thanh Khê, Sân bay Khe Gát (Bố Trạch) - Các di tích UBND tỉnh ra QĐ bảo vệ và di tích đưa vào danh sách kiểm kê: Di tích nhà lao Đồng Hới (Đồng Hới), Di tích Trụ sở Tỉnh ủy (Đồng Hới), Di tích Xưởng chế tạo vũ khí Quy Hậu (Lệ Thủy), Di tích Ngôi nhà ông Lê Bá Tiệp (Đồng Hới), Di tích Bãi Đức (UBND- Tuyên Hóa), Di tích Điểm chiến thắng Giếng Hóc (Bố Trạch), Địa điểm Đại hội Đảng bộ Đồng Hới- Lầu Thuận Long (Đồng Hới), Di tích Địa điểm Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II Đình Kim Bảng và Lèn Cây Quýt (Minh Hóa), Di tích Trung tâm xã chiến đấu Hưng Đạo (Lệ Thủy), Di tích Tiếng bom Lộc Long (Quảng Ninh), Di tích làng chiến đấu Quảng Xá (Quảng Ninh), Di tích Ga Thuận Lý (Đồng Hới), Di tích Sở Chỉ huy BCH Quân sự tỉnh 1965-1973 (Đồng Hới), Di tích Hang lèn Đại Hòa (Tuyên Hóa), Di tích làng chiến đấu Hiển Lộc (Quảng Ninh), Di tích địa điểm thành lập Trung đoàn 18 (Tuyên Hóa), Di tích chi bộ Ngọa Cương- Thanh Thủy (Quảng Trạch), Di tích Trận chiến thắng Phù Trịch (Quảng Trạch), Di tích trận địa pháo Quang Phú (Đồng Hới), Di tích Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Lệ Thủy), Di tích Địa đạo Văn La (Quảng Ninh), Di tích Chiến khu Thuận Đức (Đồng Hới), Chứng tích tội ác địch trong chiến tranh: Đồn Hòa Luật Nam (Lệ Thủy), Tháp nước, Cây đa Chùa Ông, Tháp chuông nhà thờ Tam Tòa (Đồng Hới) - Các di tích gắn với thắng cảnh nổi tiếng: - Cấp quốc gia: Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Khu Danh thắng Lý Hòa (Bố Trạch), Khu thắng cảnh Cửa biển Nhật Lệ (Đồng Hới) - Khu danh thắng UBND tỉnh ra Quyết định: Chùa Non núi Thần Đinh (Quảng Ninh) - Các khu danh thắng khác: Vịnh Hòn La Quảng Trạch, Khu nước khoáng nóng Bang Lệ Thủy. == Hành chính == Ngoài trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Đồng Hới, Quảng Bình có 7 huyện và thị xã với tổng cộng có 159 xã, phường và thị trấn, gồm có 7 thị trấn, 16 phường và 136 xã (tính cả các xã phường thuộc thành phố Đồng Hới). Khi tái lập tỉnh Quảng Bình theo Nghị quyết ngày 30 tháng 6 năm 1989 của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 5, tỉnh có 1 thị xã và 4 huyện: Bố Trạch, Lệ Ninh, Quảng Trạch, Tuyên Hóa. Theo Quyết định số 190-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Việt Nam ngày 1 tháng 6 năm 1990, huyện Lệ Ninh chia thành 2 huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh, huyện Tuyên Hóa chia thành 2 huyện Tuyên Hóa (mới) và Minh Hóa. Ngày 16 tháng 8 năm 2004, chuyển thị xã Đồng Hới thành thành phố Đồng Hới. Ngày 20 tháng 12 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ra nghị quyết số 125/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Quảng Trạch và thành lập thị xã Ba Đồn. == Kinh tế == Năm 2016, Quảng Bình đóng góp vào ngân sách nhà nước 3.067 tỷ đồng, so với 1.840 tỷ đồng năm 2012 và 810 tỷ đồng năm 2008 . GDP đầu người năm 2016 đạt 1.260 USD so với 1000 USD của năm 2012. Giai đoạn năm 2006-2010, tỉnh Quảng Bình đạt tốc độ tăng trưởng GDP từ 11-12% mỗi năm, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp đạt 9.791 tỷ đồng năm 2016, tăng 9,5% so với năm 2015, cùng kỳ tăng 10,1%; giá trị khu vực dịch vụ tăng trung bình 11 – 12%/năm, Năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 18.324 tỷ đồng, tăng 9,5% so cùng kỳ năm 2014.Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4 – 4,5%/năm và đặt ra mục tiêu cơ cấu kinh tế vào năm 2010: ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 20%, ngành công nghiệp – xây dựng là 40%, ngành dịch vụ 40%. Kim ngạch xuất khẩu trong thời kỳ này tăng trung bình 14 – 15%/năm đạt 104,2 triệu USD năm 2015. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 115,4 triệu USD năm 2015. Cơ cấu kinh tế: năm 2016: nông, lâm nghiệp và thủy sản: 22,9%, công nghiệp - xây dựng: 25,7%, dịch vụ: 51,4%. Tổng mức đầu tư toàn tỉnh năm 2016 là 10.824 tỷ đồng. Tỉnh Quảng Bình có dự án cảng Hòn La và khu công nghiệp Hòn La đang xây dựng, khi hoàn thành sẽ là động lực phát triển kinh tế cho tỉnh này. Cảng Hòn Là được xây dựng trên diện tích 32,3 ha với công suất thiết kế 10-12 triệu tấn/năm. Ngoài ra, ở đây còn có khu công nghiệp Hòn La, Nhà máy đóng tàu với tổng mức đầu tư 4.500 tỷ đồng; Nhà máy Nhiệt điện có tổng mức đầu tư hơn 1 tỷ USD có công suất 1.200 MW. Tỉnh Quảng Bình có hai khu kinh tế đặc biệt, Khu kinh tế Hòn La và Khu Kinh tế cửa khẩu Cha Lo và 6 khu công nghiệp khác. === Du lịch === Dải đất Quảng Bình như một bức tranh tuyệt đẹp, có rừng, có biển với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, thắng cảnh nổi tiếng: đèo Ngang, đèo Lý Hòa, cửa bãi biển Nhật Lệ, Bãi biển Đá nhảy, phá Hạc Hải, Cổng Trời… và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới đây cũng được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam. Quảng Bình có một dải dài bãi biển tuyệt đẹp với cát trắng, nước biển xanh, song do quy hoạch chưa rõ ràng và giao thông chưa tốt nên chưa phát huy được tiềm năng. Tháng 1 năm 2009, báo Los Angeles Times của Mỹ đã chọn Đồng Hới và vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng vào danh sách 29 điểm đến trong năm 2009 Năm 2014 cùng với Động Sơn Đoòng, Quảng Bình đã được The New York Times bầu chọn là điểm đến hấp dẫn nhất châu Á . Quảng Bình cũng được nhiều tờ báo nổi tiếng bầu chọn là một trong những điểm đến hấp dẫn và giá rẻ. Năm 2015, Quảng Bình đón trên 3 triệu tăng 8,9% và doanh thu đạt 3.300 tỷ đồng tăng 8% so với cùng kỳ 2014. Với những lợi thế có được, Quảng Bình được hứa hẹn sẽ là một trong những trọng điểm du lịch của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á trong tương lai. Nhằm thúc đẩy tiềm năng du lịch với đối tượng khách nước ngoài, tháng 2 năm 2017, Quảng Bình cho ra mắt website du lịch bằng tiếng Anh tại địa chỉ quangbinhtourism.com với các nội dung hấp dẫn và cập nhật về các địa điểm du lịch trong tỉnh. == Giao thông == Quảng Bình là đầu mối giao thông, nằm ở trung điểm và nơi hẹp nhất của Việt Nam với khoảng cách chưa đến 50 km từ mép biển Đông đến biên giới Việt - Lào. Giao thông đường thủy có Cảng Hòn La (12 triệu tấn/năm) do Tổng công ty Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí (PTSC) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam quản lý vận hành và phát triển. Ngoài ra còn có cảng Nhật Lệ, cảng Gianh.. Giao thông đường bộ có Quốc lộ 1A dài 122 km, Đường Hồ Chí Minh nhánh Đông dài 200 km và nhánh Tây dài 197 km, Quốc lộ 12A, Quốc lộ 12C, Quốc lộ 9B, Quốc lộ 15A. Giao thông đường sắt có tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua tỉnh tổng cộng 174,5 km (dài nhất nước) với 19 ga trong đó có ga Đồng Hới là một trong 8 ga chính của cả nước và ga Đồng Lê có tàu Thống Nhất dừng đổ đón trả khách.Giao thông đường hàng không có Sân bay Đồng Hới, cùng với Sân bay quốc tế Phú Bài và Sân bay Vinh là một trong bốn sân bay chính của Vùng Bắc Trung Bộ, với tuyến bay nối Sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội), và Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh, sân bay Cát Bi (Hải Phòng), sân bay quốc tế Chiang Mai (Chiang Mai) của các hãng hàng không: Vietnam Airlines, VietJet Air, Jetstar Pacific Airlines. Năm 2016, Sân bay Đồng Hới đón 365.820 lượt khách (tăng 39,96% so với 261.372 lượt khách năm 2015). Quốc lộ 12A, Quốc lộ 12C, Quốc lộ 9B là những tuyến đường chính nối với Lào - Thái Lan qua cửa khẩu quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu phụ khác đến các cảng biển Vũng Áng, Gianh, Hòn La... == Giáo dục == Quảng Bình là một trong những tỉnh nghèo, đất không rộng, dân số không đông, nhưng lại là nơi mà con người luôn chịu khó, cần cù học tập từ đời này sang đời khác, từ thế hệ trước truyền cho thế hệ sau để tạo nên truyền thống hiếu học, học có hiệu quả để mong thoát nghèo, phục vụ quê hương, phụng sự quốc gia. Năm học 1999-2000, toàn tỉnh có 249 trường tiểu học và phổ thông cơ sở (cấp 1-2), so với năm học 1995-1996 tăng 28 trường. Trong đó số lượng trường Tiểu học và Trung học cơ sở lần lượt là là 130 và 119 trường.Tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 98,1%; học sinh học đúng độ tuổi đạt 98%; tỷ lệ bỏ học chỉ còn 2,1% (chưa đạt chỉ tiêu đề ra); tỷ lệ lưu ban chỉ còn 1,1%; tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học đạt 99,4%; tỷ lệ trẻ 11 tuổi tốt nghiệp tiểu học đạt 64,9%. Đối với bậc Trung học phổ thông, toàn tỉnh có 24 trường THPT và phổ thông cấp 2-3 (trong đó có 1 trường THPT chuyên, 1 trường phổ thông dân tộc nội trú, 4 trường THPT bán công), so với năm 1995-1996 tăng 9 trường. Quảng Bình có 2 trung tâm GDTX (Đồng Hới và Bố Trạch),1 trung tâm GDTX tỉnh và 5 trung tâm GDTX huyện (Lệ Thủy, Quảng Ninh, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa) và 7 trung tâm KTTHHN - DN huyện, thị xã (Đồng Hới, Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa). Trường Đại học Quảng Bình là trường đại học duy nhất có trụ sở ở tỉnh này. Trường chuyên Võ Nguyên Giáp Nơi ươm mầm những tài năng Trường trung cấp y tế == Những người Quảng Bình nổi tiếng == Một số người Quảng Bình nổi tiếng: Dương Văn An, lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, tổng thống Ngô Đình Diệm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh, Trung tướng Phạm Hồng Thanh, Trung tướng Nguyễn Hoa Thịnh, Trung tướng Võ Minh Lương, Trung tướng Cao Ngọc Oánh, giáo sư Trần Thanh Vân, giáo sư Hoàng Tuệ, nhà thơ Hàn Mặc Tử, nhà văn Nguyễn Quang Lập, ca sĩ Hồ Ngọc Hà, kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa,... Bài chi tiết về các chính trị gia, tướng lĩnh, nhà khoa học, tác gia, nghệ sĩ,...sinh ra ở Quảng Bình xin xem ở Danh nhân Quảng Bình. == Hình ảnh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Cổng thông tin điện tử Quảng Bình Quảng Bình trên trang Trung tâm thông tin của Bộ Tài nguyên và Môi trường
đế quốc tây la mã.txt
Đế quốc Tây La Mã là phần đất phía tây của Đế quốc La Mã cổ đại, từ khi Hoàng đế Diocletianus phân chia Đế chế trong năm 285; nửa còn lại của Đế quốc La Mã là Đế quốc Đông La Mã, ngày nay còn được biết đến rộng rãi với tên gọi Đế chế Byzantine. Đế quốc Tây La Mã đã tồn tại gián đoạn trong nhiều giai đoạn giữa thế kỷ thứ 3 và thế kỷ thứ 5 sau chế độ "Tứ đầu chế" của Diocletianus và liên quan đến các cuộc thống nhất của các Hoàng đế Constantinus I và Julianus (324 - 363). Đời Hoàng đế Valentinianus I, người Tây La Mã có vua sáng tôi hiền nên vinh hiển đánh thắng người German. Theodosius I (379 - 395) là vị Hoàng đế La Mã cuối cùng cai trị một Đế chế La Mã thống nhất. Sau khi ông mất năm 395, Đế chế La Mã bị chia rẽ mãi mãi, trong đó Đế quốc Tây La Mã do người con yếu kém của ông là Hoàng đế Honorius. Triều đình Tây La Mã suy sụp, nhà vua chỉ còn nắm quyền trên danh nghĩa, trong khi quyền lực thực sự rơi vào tay của một loạt các quyền thần, mà mở đầu với đại tướng Flavius Stilicho. Ông là người lập công hiển hách đánh tan người German và người Gaul. Thành La Mã bị người Đông Goth cướp phá vào năm 410. Ngoài ra, đời Hoàng đế Valentinianus III, Đế quốc Tây La Mã cũng hứng chịu cuộc xâm lược của người Hun do vua Attila lãnh đạo, song đại tướng Flavius Aetius đánh tan tác quân Hun trong trận Chalons vào năm 451. Nhưng rồi, đất nước ngày càng suy sụp khi Valentinianus III do tư thù đã ám sát Aetius. Đế quốc Tây La Mã chính thức cáo chung với sự kiện Hoàng đế Romulus Augustus thoái vị dưới sức ép của Odoacer vào ngày 4 tháng 9 năm 476, và không chính thức cáo chung với cái chết của cựu hoàng Julius Nepos trong năm 480. Mặc dù Đế quốc Đông La Mã đã tiến hành tái chinh phạt trong một thời gian ngắn ngủi, Đế quốc Tây La Mã vẫn không thể được khôi phục lại. Sau khi Đế quốc Tây La Mã sụp đổ, một kỷ nguyên mới bắt đầu trong lịch sử Tây Âu: đó chính là thời kỳ Trung Cổ. Vào năm 800, vị vua - chiến binh nước Frank là Karl I Đại Đế được Giáo hoàng Lêô III tấn phong làm Hoàng đế - được coi là sự kiện khôi phục Đế quốc Tây La Mã. == Bối cảnh == Khi Cộng hòa La Mã mở rộng, nó đã đạt đến một điểm mà chính quyền trung ương ở Rome đã không thể cai trị hiệu quả các tỉnh ở xa. Thông tin liên lạc và giao thông vận tải thực sự là một vấn đề khó trong phạm vi rộng lớn của đế chế. Tin tức về các cuộc xâm lược, những cuộc nổi dậy, thảm họa tự nhiên, hoặc bùng phát dịch bệnh được vận chuyển bằng tàu hoặc thư tín, thường đòi hỏi nhiều thời gian để có thể đến Rome và cho việc thực hiện mệnh lệnh của Rome tới địa bàn tỉnh xuất xứ. Vì lý do này, thống đốc tỉnh đã trên thực tế đã có toàn quyền cai trị trên danh nghĩa của Cộng hòa La Mã. Trước khi thành lập chính thể đế quốc, các vùng lãnh thổ của nước Cộng hòa La Mã đã được phân chia giữa các thành viên của chế độ tam hùng lần thứ hai: Mark Antony, Octavian và Marcus Aemilius Lepidus. Antonius đã nhận được các tỉnh ở phía đông: Achaea, Macedonia và Epirus (Hy Lạp, Albania và bờ biển của Croatia ngày nay), Bithynia, Pontus và châu Á (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), Syria, Síp, và Cyrenaica. Những vùng đất này trước đó đã được chinh phục bởi Alexander Đại đế, do đó, phần nhiều tầng lớp quý tộc có gốc gác Hy Lạp. Toàn khu vực này, đặc biệt là các thành phố lớn, phần lớn đã được đồng hóa vào nền văn hóa Hy Lạp, tiếng Hy Lạp thường được sử dụng như là Franca lingua. Octavian nhận được các tỉnh La Mã ở phía tây: Italia, Gaul (nước Pháp hiện nay), Belgica (vùng đất ngày nay là Bỉ, Hà Lan và Luxembourg) Gallia, và Hispania (hiện nay là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha). Những vùng đất này cũng bao gồm các thuộc địa của người Hy Lạp và Carthaginia nằm ở các khu vực ven biển, mặc dù các bộ tộc Celt như người Gauls và Celtiberia nắm sự chi phối về văn hóa. Lepidus nhận được các tỉnh nhỏ của châu Phi (Tunisia ngày nay). Octavian sớm chiếm lấy châu Phi từ tay Lepidus, trong khi thêm Sicilia (Sicilia hiện nay) vào lãnh địa của mình. Sau khi đánh bại Marcus Antonius, Octavian đã kiểm soát một Đế chế La Mã hoàn toàn thống nhất. === Khởi nghĩa, nổi loạn và tranh giành quyền lực chính trị === Những cuộc khởi nghĩa nhỏ và các cuộc nổi dậy là những sự kiện khá phổ biến trên toàn đế quốc. Các Bộ tộc và thành phố bị chinh phục sẽ nổi dậy, và các quân đoàn sẽ được tách ra để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Trong khi quá trình này rất đơn giản trong thời bình, nó có thể sẽ phức tạp hơn trong thời chiến, như ví dụ trong cuộc đại khởi nghĩa của người Do Thái. Trong một chiến dịch quân sự toàn diện, các quân đoàn, dưới sự chỉ huy của các vị tướng như Vespasianus, trở nên nhiều hơn rất nhiều. Để đảm bảo sự trung thành của một chỉ huy, một hoàng đế thực dụng có thể giữ một số thành viên của gia đình họ làm con tin. Hoàng đế Nero đã giữ lại Domitian và Quintus Petillius Cerialis, thống đốc của Ostia, tương ứng là người con trai thứ và người em rể của Vespasian. Sự cai trị của Nero chỉ kết thúc khi lực lượng vệ binh hoàng gia làm phản, những người đã bị mua chuộc bởi Galba. Kẻ thù chính ở phía tây của đế chế được cho là các bộ lạc Đức nằm ở bên kia bờ các con sông Rhine và sông Danube. Augustus đã cố gắng để chinh phục họ, nhưng cuối cùng đã bị đẩy lùi sau thất bại ở trận rừng Teutoburg. Đế chế Parthia, ở phía đông, mặt khác, lại quá xa và hùng mạnh để có thể chinh phục. Bất kỳ cuộc xâm lược nào của người Parthia đều bị ngăn chặn và thường đánh bại, tương tự như vậy, người Parthia cũng đã đẩy lùi một số nỗ lực xâm lược của người La Mã, tuy nhiên, ngay cả sau những cuộc chiến tranh chinh phục thành công - chẳng hạn như được thực hiện bởi Trajan và Septimius Severus - những vùng lãnh thổ xa xôi đã được từ bỏ để ngăn chặn tình trạng bất ổn và cũng để đảm bảo một nền hòa bình lâu dài và bền vững hơn với người Ba Tư. Kiểm soát biên giới phía tây của Rome tỏ ra là dễ dàng hơn bởi vì nó là tương đối gần và còn vì sự chia rẽ giữa các kẻ thù người Đức, tuy nhiên, kiểm soát toàn bộ cả hai đường biên giới trong chiến tranh thực sự khó khăn. Nếu hoàng đế gần biên giới ở phía đông, cơ hội sẽ là lớn cho bất kì một vị tướng đầy tham vọng nào đó nổi loạn ở phía tây và ngược lại. === Khủng hoảng của thế kỉ thứ ba === Mọi thứ bắt đầu vào ngày 18 tháng 3, năm 235, với vụ ám sát Hoàng đế Alexander Severus, Đế chế La Mã chìm vào một cuộc nội chiến kéo dài 50 năm, mà ngày nay gọi là thời kì khủng hoảng của thế kỷ thứ ba. Sự nổi lên của triều đại Sassanid hiếu chiến ở Parthia tạo ra một mối đe dọa lớn đối với Rome ở phía đông. Minh chứng rõ nhất cho mối đe dọa ngày càng tăng lên đó là việc hoàng đế Valerian đã bị bắt bởi Shapur I vào năm 259. Con trưởng và người thừa kế chính thức của ông,Gallienus, đã lên kế vị và tiếp tục tiến hành cuộc chiến ở biên giới phía đông. Người con trai của Gallienus, Saloninus, và pháp quan thái thú Silvanus thì lại có mặt ở Colonia Agrippina (hiện nay là Köln) để củng cố lòng trung thành của các quân đoàn địa phương. Tuy nhiên, Marcus Cassianius Latinius Postumus, tổng đốc chính quyền địa phương các tỉnh Đức - nổi loạn, và cuộc tấn công của ông ta vào Colonia Agrippina dẫn đến cái chết của Saloninus và vị thái thú. Trong sự nhầm lẫn sau đó, một nhà nước độc lập được biết đến như là Đế chế Gallic xuất hiện. Kinh đô của nó là Augusta Treverorum (Trier hiện nay), và nó nhanh chóng mở rộng sự kiểm soát đối với các tỉnh Germania và Gaul và trên toàn bộ Hispania và Britannia. Nó có viện nguyên lão riêng của mình, và một phần danh sách các chấp chính quan của nó vẫn còn tồn tại. Nó duy trì tôn giáo, ngôn ngữ và văn hóa La Mã, và quan tâm nhiều hơn đến việc chiến đấu các bộ lạc người Đức hơn là đối với người La Mã. Tuy nhiên, trong triều đại của Claudius Gothicus (268-270), một phần rộng lớn của đế chế Gallic đã được khôi phục lại dưới sự cai trị của La Mã. Vào cùng một khoảng thời gian, một số tỉnh phía đông ly khai theo Đế chế Palmyra, dưới sự cai trị của Nữ hoàng Zenobia. Năm 272, Hoàng đế Aurelian cuối cùng đã cố gắng để giành lại Palmyra và lãnh thổ của nó quay về với đế quốc. Với việc phía đông đã an toàn, mọi sự chú ý của ông lúc này đã được chuyển sang phía tây, tiêu diệt đế chế Gallic một năm sau đó. Bởi vì có một thỏa thuận bí mật giữa Aurelian và Hoàng đế Gallic Tetricus I và con trai của ông Tetricus II, quân đội Gallic đã nhanh chóng bị đánh bại. Đổi lại, Aurelian tha mạng cho họ và ban cho hai kẻ phản loạn những vị trí quan trọng ở Ý. === Tứ đầu chế === Các đường biên giới bên ngoài khác chủ yếu ổn định trong phần còn lại của thời kì khủng hoảng của thế kỷ thứ ba, mặc dù, vào giai đoạn giữa cái chết của Aurelian trong năm 275 và sự lên ngôi của Diocletianus mười năm sau đó, ít nhất tám hoàng đế hoặc nhiều hơn bị giết hại, phần nhiều bị ám sát bởi quân đội riêng của họ. Dưới thời Diocletianus, sự phân chia chính trị của Đế chế La Mã đã bắt đầu. Năm 285, ông thăng cho Maximianus lên hàng ngũ Augustus (Hoàng đế) và giao cho ông ta quyền kiểm soát của khu vực phía tây của đế chế. Năm 293, Galerius và Constantius Chlorus lần lượt được bổ nhiệm là cấp dưới của họ (Caesars), tạo ra chế độ tứ đầu chế đầu tiên. Hệ thống hiệu quả này phân chia đế chế thành bốn khu vực chính và tạo ra các kinh đô riêng biệt bên cạnh Rome như một cách để tránh tình trạng nội chiến bất ổn đã đánh xảy ra vào thế kỷ thứ 3. Ở phía tây, kinh đô của Maximianus nằm tại Mediolanum (tại Milan) và của Constantius là Trier. Ở phía đông, kinh đô là Sirmium và Nicomedia. Ngày 01 tháng 5 năm 305, cả hai vị Augusti đều thoái vị, và hai Caesar tương ứng của họ đã được thăng lên hàng ngũ Augusti và bổ nhiệm hai Caesars khác, tạo ra chế độ tứ đầu chế thứ hai. === Constantinus Đại đế === Tuy nhiên, Hệ thống tứ đầu chế nhanh chóng bị sụp đổ khi mà hoàng đế Tây La Mã Constantius qua đời đột ngột trong năm 306, và con trai của ông Constantinus Đại Đế đã được tuyên bố là Augustus của phía tây bởi các quân đoàn ở Anh. Một cuộc khủng hoảng tiếp theo sau đó xảy ra khi một số kẻ cố gắng để tranh đoạt quyền cai trị một nửa phía tây. Năm 308, Augustus phía đông, Galerius, đã sắp xếp một cuộc họp tại Carnuntum mà làm sống lại chế độ Tứ đầu chế bằng cách phân chia phía tây giữa Constantine và một người khác tên là Licinius. Mặc dù vậy, Constantinus quan tâm nhiều hơn đến việc chinh phuc lại toàn bộ đế chế. Thông qua một loạt các trận đánh ở phía đông và phía tây, Licinius và Constantine đã ổn định các phần tương ứng của Đế chế La Mã vào năm 314, và bắt đầu cạnh tranh để trở thành người duy nhất kiểm soát một nhà nước thống nhất. Cuối cùng Constantine đã giành được chiến thắng vào năm 324 sau khi đánh bại Licinius trong trận Chrysopolis. === Lần phân chia thứ hai === Constantius đã được sinh ra vào năm 317 tại Sirmium, Pannonia. Ông ta là con trai thứ ba của Constantine Đại đế, và là người con thứ hai với Fausta, người vợ thứ hai của ông, con gái của Maximian. Constantius đã được phong làm Caesar bởi cha mình vào ngày 13 tháng 11 năm 324. Lúc này Đế chế La Mã đang nằm dưới sự cai trị của một Hoàng đế duy nhất, nhưng, với cái chết của Constantine vào năm 337, cuộc nội chiến đã nổ ra giữa ba người con trai của ông, phân chia đế chế thành ba phần khác nhau. phía tây đã được thống nhất trong năm 340 dưới sự cai trị của Constans, người sau đó bị ám sát vào năm 350 theo lệnh của Magnentius, kẻ cướp ngôi, sau khi Magnentius thua trận Mursa Major và buộc phải tự tử, đế quốc đã được thống nhất hoàn toàn một lần nữa vào năm 353, dưới sự cai trị của Constantius II. Constantius II tập trung hầu hết quyền lực của mình ở phía đông và được coi là hoàng đế đầu tiên của Đế quốc Byzantine. Dưới sự cai trị của ông, thành phố Byzantium - chỉ mới được tái lập lại với tên Constantinopolis- đã thự sự được xây dựng như một kinh đô. Năm 361, Constantius II bị bệnh và mất, và người cháu nội của Constantius Chlorus, Julianus, người đã từng là của Caesar của Constantius II, đã lên nắm quyền. Julianus sau đó đã bị giết chết trong trận Samarra vào năm 363 khi chống lại Đế chế Ba Tư và đã được kế vị bởi Jovianus, người đã cai trị một thời gian ngắn cho đến năm 364. === Lần phân chia cuối cùng === Sau cái chết của Jovianus, Valentinianus I đã trở thành Hoàng đế vào năm 364. Ông ngay lập tức chia đế quốc một lần nữa, nửa phía đông giao cho Valens, em trai của ông. Sự ổn định đã có được ở cả hai nửa, hoặc, vì các cuộc xung đột với các lực lượng bên ngoài ngày càng gia tăng. Trong năm 376, người Visigoth, khi đang chạy trốn người Hun, đã được phép vượt qua sông Danube, và định cư ở khu vực Balkan bởi chính quyền phía đông. Sự ngược đãi họ đã gây ra một cuộc nổi dậy quy mô lớn, và năm 378, họ gây ra một thất bại làm què quặt quân đội chính quy của Đông La Mã trong trận Adrianople, trong đó Valens cũng chết trận. Sau khi cướp bóc các vùng nông thôn, họ chính thức trở thành foederati. Trong năm 379, con trai và người kế vị Valentinian I, Gratianus đã từ chối mặc áo choàng của quan tư tế tối cao (Pontifex Maximus), và trong năm 382 ông ta đã bãi bỏ quyền của các thầy tế đa thần giáo và loại bỏ bàn thờ đa thần giáo khỏi nghị viện, một quyết định mà gây ra sự bất mãn giữa các tầng lớp quý tộc theo truyền thống đa thần giáo La Mã. Theodosius I sau đó ra lệnh cấm trên các tôn giáo đa thần bản địa, tiếp tục coi Kitô giáo là tôn giáo chính thức của đế quốc. Tình hình chính trị cũng không ổn định. Năm 383, một vị tướng quyền lực và nhiều tiếng tăm tên là Magnus Maximus chiếm đoạt quyền lực ở phía tây và buộc người em cùng cha của Gratian, Valentinian II chạy trốn về phía đông xin sự trợ giúp, sau đó Hoàng đế phía đông, Theodosius I đã nhanh chóng khôi phục lại quyền lực cho ông. Năm 392, viên pháp quan thái thú đa thần giáo và gốc Frank, Arbogast đã ám sát Valentinian II và tuyên bốị ủng hộ một nguyên lão vô danh tên là Eugenius lên làm Hoàng đế. Cuộc nổi loạn này đã bị dập tắt trong năm 394 bởi Theodosius I, người mà sau đó một thời gian ngắn đã cai trị một đế chế thống nhất cho đến khi ông qua đời năm 395. Ông là vị Hoàng đế cuối cùng đã cai trị cả hai phần của Đế chế La Mã cũ. Arcadius, người con trai cả của ông được thừa kế nửa phía đông trong khi Honorius nhỏ tuổi hơn có được một nửa phía tây. Cả hai đều đang còn ít tuổi, do đó Honorius đã được đặt dưới sự giám hộ của viên Magister militum có một nửa dòng máu La Mã một nửa là người rợ, Flavius ​​Stilicho, trong khi Rufinus nắm quyền hành phía sau ngai vàng ở phía đông. Rufinus và Stilicho là đối thủ của nhau, và sự bất đồng giữa triều đình phía đông và phía tây liên quan đến quyền sở hữu vùng Illyricum đã được khéo léo khai thác bởi vua Goth, Alaric I, người mà đã một lần nữa nổi loạn sau cái chết của Theodosius I. Stilicho đã có thể bảo vệ Ý chống lại người Goth xâm lược, nhưng ông đã không thể ngăn được người Vandal, Alan, Suevi xâm lược Gaul với số lượng lớn. Stilicho sau đó đã trở thành nạn nhân của những âm mưu triều chính ở Ravenna - nơi mà triều đình Hoàng gia phía tây cư trú từ năm 402 - và ông ta đã bị hành quyết vì tội phản quốc năm 408. Trong khi nửa phía đông bắt đầu phục hồi chậm chạp và dần được củng cố, nửa phía tây bắt đầu sụp đổ hoàn toàn. == Tình hình kinh tế == Nửa phía tây, với mức độ đô thị hóa ít hơn cũng như sự phân tán dân cư, có thể đã trải qua một sự suy giảm kinh tế suốt giai đoạn cuối của đế quốc ở một số tỉnh phía đông, vốn luôn luôn giàu có, thì lại không thiếu thốn như vậy, đặc biệt là khi các vị hoàng đế như Constantinus Đại đế và Constantius II đã đầu tư rất nhiều cho nền kinh tế phía đông. Kết quả là, Đế quốc Đông La Mã có thể có đủ khả năng duy trì được một số lượng lớn những quân lính chuyên nghiệp và thêm vào đó là lính đánh thuê, trong khi Đế quốc Tây La Mã không thể đủ khả năng này với cùng mức độ. Ngay cả khi gặp thất bại, phía đông có thể, chắc chắn không phải không có khó khăn, mua chuộc kẻ thù của mình với những khoản tiền chuộc. Việc kiểm soát chính trị, các nguồn lực kinh tế và quân sự của Đông La Mã vẫn an toàn ở Constantinopolis, nơi mà đã được củng cố vững chắc và nằm tại ngã tư của một số tuyến đường giao thương lớn và các tuyến đường quân sự. Ngược lại, đế quốc phía tây đã bị chia cắt nhiều hơn. Kinh đô đã được chuyển về Ravenna trong năm 402 chủ yếu vì lý do phòng thủ: các hạm đội của hoàng đế Đông La Mã có thể dễ tiếp cận nó nhưng nó lại bị cô lập bởi các mặt của nó đã bị bao quanh bởi các đầm lầy. Sức mạnh kinh tế vẫn tập trung vào Roma và tầng lớp quý tộc nguyên lão giàu có thống trị Ý và đặc biệt ở châu Phi. Sau khi Gallienus cấm các nguyên lão nắm quyền chỉ huy quân đội vào giữa thế kỷ 3, tầng lớp nguyên lão đã mất tất cả kinh nghiệm và sự quan tâm đến đời binh nghiệp. Trong những năm đầu thế kỷ thứ 5,tầng lớp địa chủ giàu có của viện nguyên lão La Mã chủ yếu cấm những người tá điền của mình đi lính, nhưng họ cũng từ chối ủng hộ đầy đủ kinh phí cho việc duy trì một đội quân lính đánh thuê đủ mạnh để bảo vệ toàn bộ đế quốc phía tây. Khu vực quân sự quan trọng nhất của phía tây trong thế kỉ thứ 4 là biên giới phía bắc Gaul và phòng tuyến sông Rhine, khi mà Trier thường xuyên được dùng như là kinh đô của đế quốc và nhiều tướng lĩnh quan trọng phía tây là người Frank. Sau cuộc nội chiến vào năm 394 giữa Theodosius I và Eugenius, chính quyền phía tây mới được đưa lên bởi Theodosius I ngày càng phải chuyển các nguồn lực quân sự của Anh và Rhine sang bảo vệ Ý. Đế quốc Tây La Mã có nguồn nguyên liệu rất nghèo nàn, và sự thiếu thốn nhân lực có sẵn buộc chính quyền phải phụ thuộc nhiều vào các liên quân man tộc chiến đấu dưới quyền của các thủ lĩnh của họ, và theo đó Đế quốc thường gặp khó khăn trong việc trả thù lao cho họ. Trong một số trường hợp nhất định, chính quyền phải ban tặng đất đai cho các chỉ huy đánh thuê để tưởng thưởng cho họ, điều này khiến cho lãnh thổ của Đế quốc bị thu hẹp - đồng nghĩa với việc chính quyền sẽ thu được ít thuế hơn để chi phí cho quân sự. Với sự suy yếu của quyền lực trung ương, Nhà nước mất dần quyền kiểm soát các tỉnh và biên ải, cũng như quyền thống trị vùng Địa Trung Hải. Các Hoàng đế Tây La Mã chủ trương bảo vệ quyền làm chủ trên biển, nhưng sau khi người Vandal xâm chiến Bắc Phi, Triều đình La Mã phải trị vì quá nhiều đất liền với nguồn lực ít ỏi. Sự mất mát các tỉnh châu Phi có lẽ là một chuyển biến tệ hại của vận mệnh Đế quốc Tây La Mã, do chúng nằm trong số những lãnh thổ giàu có nhất và cung cấp nguồn nhập khẩu gạo cần thiết cho Ý. Ở nhiều nơi, các chính quyền địa phương La Mã đã sụp đổ cùng với sự ổn định kinh tế. Ở một số vùng miền, sự định cư của các man tộc trên các lãnh thổ cũ của La Mã xem ra chỉ gây tương đối ít rối ren, nhưng những nơi khác, nhất là tại những phần đất nhất định ở Bắc Phi, các địa chủ La Mã bị truc xuất và ruộng đất của họ bị tịch thu. == Cuộc cướp phá thành Roma và sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã == Vẫn còn là hoàng đế sau cái chết của Stilicho vào năm 408, Honorius tiếp tục trị vì cho đến khi ông ta qua đời vào năm 423. Triều đại của ông ta đã được lấp đầy với những kẻ tiếm vị và những cuộc xâm lược. Năm 410, Rome đã bị cướp phá bởi quân đội của Alaric. Sự kiện này đã gây chấn động đối với những người đương thời, vì đây là lần đầu tiên kể từ cuộc xâm lược của người Gaul ở thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, thành phố đã bị rơi vào tay của một kẻ thù ngoại quốc. Dưới thời những người kế tục Alaric, người Goth sau đó định cư ở Gaul (412-418), từ đó họ đóng vai trò là đồng minh của người La Mã chống lại người Vandal, Alan, và người Suevi ở Tây Ban Nha, và chống lại kẻ tiếm vị Jovinus (413). Trong khi đó, một kẻ tiếm vị khác, Constantinus (406-411), đã rút hết quân đội La Mã ở Anh vốn dành để phòng thủ nó khi ông ta vượt qua eo biển để về Gaul vào năm 407, bỏ mặc những cư dân La Mã ở đây cho những kẻ xâm lược, đầu tiên là từ người Pict và sau đó là bởi người Sachsen và Angli, những người bắt đầu định cư vĩnh viễn từ khoảng năm 440 trở đi. Cái chết của Honorius vào năm 423 kéo theo sau đó là sự khủng hoảng cho đến khi chính quyền Đông La Mã với các lực lượng quân đội tôn Valentinian III lên làm hoàng đế phía tây ở Ravenna, với Galla Placidia đóng vai trò là nhiếp chính trong thời gian đầu cho người con trai còn nhỏ của bà. Sau một cuộc xung đột bạo lực với nhiều đối thủ, và chống lại mong muốn của Placidia, Aetius đã vươn tới chức vụ Magister militum. Aetius lúc này đã có thể ổn định tình hình quân sự của nửa phía tây đế quốc một chút, và phải dựa rất nhiều vào các đồng minh Hun của ông ta. Với sự giúp đỡ của họ, ông đã đánh bại người Burgundy, những người đã chiếm đóng một phần miền Nam Gaul sau năm 407 và họ định cư ở vùng Savoy với vai trò là đồng minh của La Mã (năm 433). Trong khi đó, do áp lực từ người Visigoth và một cuộc nổi loạn của Bonifacius, tổng đốc của châu Phi,đã khiến cho người Vandal theo Gaiseric vua của họ vượt biển từ Tây Ban Nha đến châu Phi trong năm 429. Họ tạm thời dừng lại ở Numidia năm 435 trước khi di chuyển về phía đông và chiếm Carthage, từ đó họ thành lập một nhà nước độc lập với lực lượng hải quân hùng mạnh (năm 439). Hạm đội Vandal đã trở thành một mối nguy hiểm thường trực cho thương mại đường biển của La Mã và vùng bờ biển và hải đảo của miền tây và trung tâm Địa Trung Hải. Năm 444, người Hun, những người vốn được sử dụng như những đồng minh La Mã bởi Aetius, đã được thống nhất dưới quyền vị vua Attila đầy tham vọng của họ. Quay giáo chống lại đồng minh cũ của mình, người Hun đã trở thành một mối đe dọa lớn đối với đế quốc. Attila sau đó đã nhận được một lời cầu xin giúp đỡ và nhẫn từ Honoria, em gái của Hoàng đế. Đe dọa chiến tranh, ông yêu cầu nhận được một nửa lãnh thổ của đế quốc Tây La Mã như là của hồi môn cho mình. Bị từ chối, ông ta xâm lược Gaul và chỉ dừng lại trong trận đồng bằng Catalaunian bởi liên quân La Mã-Đức được chỉ huy bởi Aetius. Năm tiếp theo, Attila xâm lược Ý và tiến quân theo hướng đến Roma, nhưng một đợt bùng phát dịch bệnh trong quân đội của ông, lời cầu xin hòa bình của Đức Giáo hoàng Leo, và tin báo về một chiến dịch của Marcianus trực tiếp hướng đến căn cứ của ông ta ở Pannonia đã buộc ông ta dừng chiến dịch này. Attila bất ngờ qua đời một năm sau đó (năm 453). Aetius đã bị giết trong năm 454 bởi tay Valentinian, người mà sau đó chính bản thân ông ta cũng bị sát hại bởi những người ủng hộ vị tướng một năm sau. Với sự kết thúc của triều đại Theodosian, một giai đoạn mới của những cuộc tranh giành quyền lực lại xảy ra sau đó. Người Vandal đã lợi dụng tình trạng bất ổn và để vượt biển đến Roma, nơi mà họ tiến hành cướp phá vào năm 455. Trong suốt hai mươi năm sau, có vài vị hoàng đế phía tây đã được đặt lên ngôi bởi Constantinopolis, nhưng quyền lực của họ lại phải dựa vào những vị tướng man rợ như Ricimer (456-472), Gundobad (473-475). Năm 475, Orestes, một cựu thư ký của Attila, đánh đuổi Hoàng đế Julius Nepos ra khỏi Ravenna và tuyên bố rằng của con trai ông ta Romulus Augustus là vị hoàng đế mới. Nhưng sau đó, Orestes lại bội ước với Odoacer, không ban cấp đất đai cho những người rợ như đã hứa trước đó. Odoacer lền dẫn quân đánh bại và giết chết Orestes rồi lật đổ Romulus Augustus, tự mình lên làm vua cai trị khắp nước Ý. Ông ta sau đó gửi biểu tượng Hoàng đế (Imperial insignia) cho Hoàng đế Đông La Mã Zeno. Ba tàn dư cuối cùng của đế quốc Tây La Mã tiếp tục tồn tại dưới một số hình thức này hay khác sau năm 476: Julius Nepos kiểm soát Dalmatia cho đến khi ông ta bị ám sát vào năm 480. Syagrius cai trị lãnh địa Soissons cho đến khi ông ta bị giết vào năm 487. Cuối cùng, một vương quốc La Mã-Moor còn tồn tại ở Bắc Phi, đã chống lại những kẻ xâm lược người Vandal, và trở thành một phần của Đế quốc Đông La Mã vào năm 533 khi Belisarius đánh bại người Vandal. === Vị hoàng đế cuối cùng === Theo quy ước, Đế quốc Tây La Mã được coi là đã kết thúc vào ngày 04 tháng 9 năm 476, khi Odoacer lật đổ Romulus Augustulus. Tuy vậy, Julius Nepos vẫn còn tuyên bố mình là Hoàng đế của đế quốc Tây La Mã, và cai trị một quốc gia tàn dư ở Dalmatia. Ông được công nhận bởi Hoàng đế Đông La Mã Zeno và Syagrius, người đã cố gắng để bảo vệ chủ quyền của La Mã ở một vùng đất biệt lập nằm ở miền bắc xứ Gaul, được biết đến ngày hôm nay là lãnh địa Soissons. Odoacer tuyên bố mình là vua của Ý và bắt đầu đàm phán với Zeno. Zeno cuối cùng đã ban tước hiệu quý tộc cho Odoacer như là dấu hiệu công nhận quyền lực của ông ta và chấp nhận ông ta là phó vương của Ý. Zeno, tuy nhiên, khẳng định rằng Odoacer phải tỏ sự thần phục với Julius Nepos, người mới là Hoàng đế của đế quốc Tây La Mã. Odoacer chấp nhận điều kiện này và ban hành tiền xu với tên của Julius Nepos trên khắp Italia. Tuy nhiên, điều này chủ yếu là một thủ đoạn chính trị vô nghĩa, vì Odoacer không bao giờ trao lại bất kỳ quyền lực thực sự hoặc vùng lãnh thổ nào cho Julius Nepos. Sau vụ ám sát Julius Nepos trong năm 480, Odoacer đã xâm chiếm Dalmatia, sáp nhập nó vào Vương quốc Ý. === Ảnh hưởng của thời tiết === Viện Nghiên cứu rừng, tuyết và phong cảnh của Thụy Sĩ đã nghiên cứu lịch sử khí hậu châu Âu bằng cách phân tích vòng tròn bên trong gần 9.000 thân cây sồi và thông. Chúng là những thân cây mà các nhà khảo cổ đào được tại châu Âu. Những thân cây già nhất có niên đại lên tới 2.500 năm. Trong giai đoạn mà khí hậu thuận lợi, cây có thể lấy nhiều nước và dưỡng chất từ đất nên tăng trưởng nhanh. Vì thế mà chúng tạo ra những vòng tròn khá rộng va khoảng cách giữa các vòng cũng lớn hơn. Nhưng khi khí hậu trở nên khắc nghiệt, như hạn hán, những vòng tròn trong thân cây nhỏ hơn và khoảng cách giữa chúng cũng gần hơn. Dựa vào kích thước của những vòng tròn trong thân cây, nhóm nghiên cứu dựng lên biểu đồ về nhiệt độ và lượng mưa tại châu Âu trong 25 thế kỷ qua. Biểu đồ cho thấy, từ năm 250, cứ sau mỗi thập kỷ khí hậu lại chuyển từ trạng thái khô, lạnh sang trạng thái ấm áp và ẩm ướt. Sự thay đổi luân phiên giữa hai kiểu khí hậu này diễn ra liên tục tới tận năm 550. Sức mạnh của đế chế La Mã suy giảm mạnh trong khoảng thời gian này, để rồi tới năm 395 nó bị phân chia thành đế quốc Đông La Mã và đế quốc Tây La Mã. Tới năm 476, đế quốc Tây La Mã sụp đổ. Những thăng trầm chính trị, chiến tranh, nạn đói và làn sóng di cư ồ ạt của con người luôn xuất hiện trong giai đoạn mà thời tiết thay đổi liên tục. Ulf Buntgen, một thành viên của nhóm nghiên cứu, nhận xét: Khí hậu không trực tiếp gây nên chiến tranh hay khủng hoảng kinh tế, song nó vẫn là một trong những nhân tố khiến các xã hội cổ đại sụp đổ. Trong những xã hội đang ngập chìm trong nạn đói hay khủng hoảng chính trị, những mùa đông khắc nghiệt sẽ khiến người dân càng cảm thấy khốn quẫn hơn và họ sẵn sàng vùng lên để tìm đường sống == Danh sách Hoàng đế Tây La Mã == === Hoàng đế Gallic (259 tới 273) === Postumus: 259 tới 268 Laelianus: 268 Tiếm vị Marcus Aurelius Marius: 268 Victorinus: 268 tới 271 Domitianus: 271 Tiếm vị Tetricus I: 271 tới 273 Tetricus II: 271 tới 273 Con trai và là đồng hoàng đế của Tetricus I === Tetrarchy (293 to 313) === Augusti are shown with their Caesares and regents further indented Maximian: 293 tới 305 Constantius Chlorus: 293 tới 305 Constantius Chlorus: 305 tới 306 Flavius Valerius Severus: 305 tới 306 Flavius Valerius Severus: 306 tới 307 Constantine I: 306 tới 313 Maxentius/Maximian: 307 tới 308 Licinius: 308 tới 313 Maxentius: 308 tới 312 Tiếm vị Domitius Alexander: 308 tới 309 Tiếm vị ở Africa === Nhà Constantinius (313 tới 363) === Constantinus Đại đế: 306 to 337 Hoàng đế của toàn đế quốc từ 324 tới 337 Constantinus II: 337 to 340 Hoàng đế của Gaul, Britannia, và Hispania Constantius II: 337 to 361 Hoàng đế phương đông từ 337 tới 353, Sole emperor of the empire from 353 to 360 Constans I: 337 to 350 Hoàng đế của Ý và Africa 337-340, Hoàng đế của toàn đế quốc từ 340 tới 350 Magnentius: 350 to 353 Tiếm vị Julianus: 355 to 363 Hoàng đế phương tây từ 355 tới 361, Hoàng đế của toàn đế quốc từ 361 tới 363 === Không thuộc triều đại nào (363 tới 364) === Jovianus: 363 tới 364 === Nhà Valentinianus (364 tới 392) === Valentinianus I: 364 tới 375 Gratianus: 367 tới 375 Gratianus: 375 tới 383 Valentinianus II: 375 tới 383 Magnus Maximus: 383 tới 388 tiếm vị Valentinianus II: 383 tới 392 === Không thuộc triều đại nào (392 tới 394) === Eugenius: 392 tới 394 === Nhà Theodosius (394 tới 455) === Theodosius I: 394 tới 395 Hoàng đế duy nhất Honorius: 395 tới 423 Flavius Stilicho: 395 tới 408 quyền thần Constantius III: 421 Constantinus III: 407 tới 411 tiếm vị Priscus Attalus: 409 tới 410/414 tới 415 tiếm vị Jovinus: 411 tới 412 tiếm vị Valentinianus III: 423 tới 455 Galla Placidia: 423 tới 433 nhiếp chính Aëtius: 433 tới 454 nhiếp chính Joannes: 423 to 425 tiếm vị === Không thuộc triều đại nào (455 tới 480) === Petronius Maximus: 455 không được Constantinopolis công nhận Avitus: 455 tới 456 không được Constantinopolis công nhận Ricimer: 456 tới 472 quyền thần Majorian: 457 tới 461 Libius Severus: 461 tới 465 không được Constantinopolis công nhận Anthemius: 467 tới 472 Olybrius: 472 không được Constantinopolis công nhận Glycerius: 473 tới 474 không được Constantinopolis công nhận Julius Nepos: 474 tới 480 lưu vong từ 475 tới 480 Romulus Augustus: 475 tới 476 không được Constantinopolis công nhận Flavius Orestes: 475 tới 476 quyền thần Flavius Orestes was killed by revolting Germanic mercenaries. Their chieftain, Odoacer, assumed control of Italy as a de jure representative of Julius Nepos and Eastern Roman Emperor Zeno. --> == Thay đổi chính trị sau khi đế chế sụp đổ == === Theodoric === Hy vọng cuối cùng cho việc thống nhất lại đế quốc đến vào năm 493, khi mà Odoacer bị thay thế bởi Theodoric Đại Đế, vua của người Ostrogoth. Theodoric đã bị buộc phải xưng thần với Zeno để đối phó với một Odoacer nguy hiểm. Trên nguyên tắc Theodoric là một cấp dưới, một phó vương của Hoàng đế phía đông, nhưng trong thực tế ông ngang hàng với ông ta. Sau cái chết của Theodoric vào năm 526, nửa phía tây của đế chế bây giờ hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát bởi các bộ lạc Đức (mặc dù nhiều người trong số họ tiếp tục công nhận pháp luật La Mã và tuyên bố tiếp tục sử dụng), trong khi một nửa phía đông thì nằm dưới sự cai trị của triều đại Justinian. Mặc dù nửa phía đông sẽ tiến hành một số nỗ lực để khôi phục lại phần phía tây, nhưng đế chế La Mã sẽ không bao giờ thống nhất lại được. === Cuộc tái chinh phục của người Đông La Mã === Trong thế kỷ thứ 6, Đế chế Đông La Mã đã cố gắng để chiếm lại những vùng đất rộng lớn của Đế quốc Tây La Mã trước đây. Thành công nhất là các chiến dịch của các vị tướng Belisarius và Narses thay mặt cho hoàng đế Đông La Mã Justinian I (533-554). Vùng lãnh thổ La Mã bị người Vandal chiếm đóng trước đây ở Bắc Phi đã được giành lại, đặc biệt là vùng lãnh thổ tập trung xung quanh thành phố Carthage. Chiến dịch này sau đó sẽ chuyển sang Ý và người Đông La Mã đã tái chinh phục lại nó hoàn toàn. Một vùng lãnh thổ nhỏ khác đã được đánh chiếm xa về phía tây là bờ biển phía nam của bán đảo Iberia. Nhưng ngay trong năm 568, ba năm sau khi Justinian chết, người Lombard đã xâm chiếm Ý. Mặc dù một số hoàng đế phía đông đôi khi cố gắng để chiếm lại lãnh một số bộ vùng đất ở phía tây, nhưng không ai có được thành công như Justinian. Sự chia rẽ giữa hai khu vực ngày một lớn dần, đã dẫn đến một sự cạnh kình địch càng tăng. Trong khi Đế quốc Đông La Mã vẫn tiếp tục tồn tại sau triều đại Justinian, các vị hoàng đế phía đông sau đó tập trung chủ yếu vào bảo vệ lãnh thổ truyền thống của nó. Từ thế kỷ thứ 7 trở đi, phía đông không còn đủ sức mạnh quân sự cần thiết để làm bất cứ điều gì khác, đánh dấu sự kết thúc của bất kỳ hy vọng cho việc tái thống nhất đế quốc. == Di sản == Khi Đế chế Tây La Mã sụp đổ, các vị vua mới người Đức, những người chinh phục các tỉnh đã duy trì pháp luật và truyền thống La Mã. Phần nhiều trong số các bộ lạc Đức xâm lược đã được cải theo Đạo Cơ Đốc, mặc dù hầu hết là theo giáo phái Arian. Họ nhanh chóng chuyển đổi sang Công giáo, giành được thêm lòng trung thành từ dân cư La Mã ở địa phương, cũng như sự công nhận và ủng hộ từ giáo hội Giáo hội Công giáo Rôma đầy quyền lực. Mặc dù ban đầu họ tiếp tục công nhận những luật lệ truyền thống của các bộ lạc, họ cũng đã chịu nhiều ảnh hưởng của Luật La Mã và dần dần kết hợp chúng với nhau. Luật pháp La Mã, điển hình như bộ "Dân luật đại toàn" (Corpus Juris Civilis) được tổng hợp theo lệnh của Justinianus I, là nền tảng cổ đại cho sự hình thành của Dân luật hiện nay. Ngược lại, Thông luật được dựa trên luật lệ Anglo-Saxon của người German. Ý tưởng về Đế quốc La Mã như một Đế quốc Ki-tô giáo hùng mạnh với một ông vua duy nhất hãy còn mê hoặc nhiều vị đế vương hùng mạnh. Trên nguyên tắc chuyển giao Đế chế (translatio imperii), Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức thẳng thừng tuyên bố mình là sự tiếp nối của Đế quốc La Mã. Danh hiệu Hoàng đế Tây La Mã được hồi phục khi vua người Frank và Lombard là Charlemagne được Giáo hoàng Lêô III tấn phong làm Hoàng đế của người La Mã phía tây vào năm 800. Vai vế của Hoàng đế La Mã Thần thánh như là vị Hoàng đế Tây La Mã chính đáng trong thời kỳ Trung Cổ lại càng được hợp pháp hóa khi các Hoàng đế Đông La Mã - những người kế tục trực tiếp từ các Hoàng đế La Mã cổ đại - công nhận họ là "đồng Hoàng đế". Đế quốc La Mã Thần thánh vẫn tiếp tục coi mình là Nhà nước kế tục của Đế quốc Tây La Mã cho đến khi cáo chung vào năm 1806. Vua Pháp Louis XIV, cũng như Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte, cũng mong muốn tái sinh Đế quốc, nhưng đều thất bại. Một di sản rất dễ nhận thấy của Đế quốc Tây La Mã là Giáo hội Công giáo Rôma. == Xem thêm == Đế quốc Đông La Mã Đế quốc La Mã Thần thánh Di sản của Đế quốc La Mã == Chú thích == == Tham khảo == Henning Börm: Das weströmische Kaisertum nach 476. In: Josef Wiesehöfer et al. (eds.), Monumentum et instrumentum inscriptum. Stuttgart 2008, pp. 47–69. Sinnigen, W.G. and Boak, A.E.R., A history of Rome to A.D. 565. Sixth edition. New York/London: Macmillan Publishing, 1977 El Housin Helal Ouriachen, 2009, La ciudad bética durante la Antigüedad Tardía. Persistencias y mutaciones locales en relación con la realidad urbana del Mediterraneo y del Atlántico, Tesis doctoral, Universidad de Granada, Granada. Stephen Mitchell, A history of the later Roman Empire, AD 284-641: the transformation of the ancient world, Wiley-Blackwell, 2007. ISBN 1405108568.</ref> James William Ermatinger, The decline and fall of the Roman Empire, Greenwood Publishing Group, 2004. ISBN 0313326924. Robert Cowley, Geoffrey Parker, The Reader's Companion to Military History, Houghton Mifflin Harcourt, 2001. ISBN 0618127429. == Liên kết ngoài == Roman-Empire.net De Imperatoribus Romanis Maps of the Roman state according to the Compilation 'notitia dignitatum'
thuốc súng.txt
Thuốc súng (cả ở loại thuốc nổ đen hoặc loại thuốc phóng không khói), là những chất có thể cháy rất nhanh, giải phóng ra khí, gây tác dụng tương tự như một loại thuốc phóng sử dụng trong các súng bộ binh như các loại súng lục hay súng trường. Thuốc súng là một loại thuốc nổ yếu. Khi đốt, sóng nổ của nó thường dưới âm, thấp hơn so với thuốc nổ mạnh, loại có tốc độ nổ rất lớn. Áp suất được tạo ra từ vụ nổ trong nòng súng đủ để đẩy viên đạn ra xa nhưng không đủ để phá hủy nòng súng. == Lịch sử == Thuốc súng là một trong 4 phát minh vĩ đại của nước Trung Hoa cổ. Thuốc súng chữ Hán có nghĩa là "hoả dược". Thuốc súng đen gồm ba thành phần cơ bản: lưu huỳnh, phốt pho và than củi. Hỗn hợp ba loại này cháy rất mạnh. Chính vì vậy người ta mới gọi hỗn hợp trên là "hoả dược" (thuốc bốc lửa). Trong cuốn "Vị nam tử" thời Tây Hán có ghi: các thuật sĩ sau rất nhiều lần thử nghiệm luyện đan đã phát hiện lưu huỳnh (sulphua) không những có thể hoá hợp các vật lạ như: vàng, bạc, đồng, sắt mà còn chế ngự được thuỷ ngân một cách thần kỳ. Ngoài ra, hỗn hợp lưu huỳnh, phốt pho và mật ong cháy rất mạnh và bắt lửa nhanh tới mức có thể gây bỏng tay người châm lửa. Thậm chí có thể bùng lên thiêu trụi nhà cửa. Sau nhiều lần thử nghiệm, cuối cùng người ta đã tìm ra công thức pha chế thuốc súng theo tỷ lệ: phốt pho 75%, lưu huỳnh 10% và than củi 15%. Khi phát minh ra thuốc súng đen, người ta đã đem áp dụng vào chiến tranh để gây khói lửa, làm hỏa tiễn (tên có lửa) và súng. Thời Ðường (năm 900) đã xuất hiện hai loại đồ chơi hỏa tiễn và tên mang thuốc nổ. Sách cổ có ghi chép lại "cung xạ hỏa thạch lựu tiễn" (cung bắn ra mũi tên mang quả thạch lựu có lửa). Ðó chính là "hoả tiễn" (tên có mang thuốc nổ). Khi thuốc nổ được dùng trong quân sự, người ta lại chế tiếp một loại "hoả pháo". Ðó là một gói thuốc nổ được đặt vào máy bắn đá, châm ngòi, rồi "quăng" (bắn) sang trận địa đối phương. Vào thời Tống (khoảng năm 1000 sau công nguyên), một người tên là Ðường Phúc chế tạo chiếc hoả tiễn dùng thuốc nổ đầu tiên. Hoả tiễn được dùng trong quân sự. Về sau, ông chế tạo thêm "hỏa cầu", "hỏa tật lê", hai loại này có cả thuốc nổ bên trong và thuốc nổ bên ngoài. Sau này, quân đội còn trang bị "thiết tật lê" (quả lê sắt), khi bắn đi, ngoài việc đốt cháy còn sát thương kẻ địch. Thời nhà Tống, quân Liêu và Tây Hạ ở phương Bắc không ngừng xâm lược xuống phía Nam. Sau này lại bị quân Kim và Mông Cổ (Nguyên) xâm lược. Do vậy, việc chế tạo vũ khí có thuốc nổ phát triển một cách nhanh chóng. Ðến 1132, một người tên là Trần Quy đã phát minh ra loại súng hình ống. Năm 1259 lại có người phát minh ra loại súng đột hoả. Loại súng hỏa ma trước đây chỉ có giá trị đốt cháy còn loại đột hỏa mai sau này có thể bắn ra "tử khoa" (tổ chết) để sát hại người. Ðây là phát minh quan trọng trên con đường chế tạo vũ khí thuốc nổ. Người Kim diệt Bắc Tống. Người Nguyên lại diệt Kim và Nam Tống. Cuối cùng họ cũng học được kỹ thuật chế tạo vũ khí nổ. Tất nhiên, cả người Kim và người Nguyên đều chú trọng đến chế tạo vũ khí nổ. Trong đợt tiến công Kỳ Châu (nay là Kỳ Xuân, Hồ Bắc, Trung Quốc) của quân Kim năm 1221 súng bắn đá và bắn "thiết hỏa pháo" được sử dụng khá nhiều. Năm 1232, quân Kim bao vây Khai Phong Phủ. Quân Tống bắn ra những bình sắt chứa đầy thuốc nổ (thiết quan trang hoả dược) gọi là " chân thiên lôi " (sấm đông) phá vây, đẩy lùi quân Kim. Vào thời Nguyên, súng hỏa mai đã thay thế súng ống trúc. Loại lớn nhất là súng thần công, ban đầu loại súng hình ống được đúc bằng đồng. Ít lâu sau người ta dùng gang để đúc súng thần công. Loại vũ khí này bắn được xa và có sức mạnh hơn hẳn. Và kỹ thuật đúc vũ khí lại tiến thêm một bước dài. Trong viện bảo tàng lịch sử Trung Quốc hiện còn lưu trữ khẩu thần công bằng đồng, đúc năm 1332 và khẩu thần công này được coi là lớn nhất thế giới. Một loại vũ khí mới mang tên "chấn thiên lôi pháo" đã xuất hiện vào thời Minh. Loại vũ khí này có cánh. Khi tấn công thành trì địch, chỉ cần châm ngòi "chấn thiên lôi" thuận theo chiều gió bay thẳng vào thành và bùng nổ. Năm 1377 đã xuất hiện loại hoả tiễn liên thức (kiểu liên hoàn) nguyên thủy mang tên "thần hỏa phi nha" (thần lửa quạ bay). Ðây là những giỏ tre hình con quạ, bên trong chứa đầy thuốc nổ. Dưới cánh quạ được gắn "hỏa tiễn" (tên lửa đẩy). Sau khi phát xạ "thần lửa quạ" bay xa khoảng 300 mét mới "hạ cánh". Trong cuốn binh thư "Võ bị chí" (1621) có ghi chép: loại hỏa tiễn liên khúc nhiều cấp có tên gọi là "hoả long xuất thủy" là tên lửa đẩy hai cấp sớm nhất. Ðể làm nó, người ta dùng một đoạn ống tre lớn dài khoảng 5 thước ta (khoảng 2,5 m) để chế tạo "rồng". Trên thân rồng phía trước và phía sau đều có gắn mấy chiếc tên lửa đẩy - tên lửa cấp 1 làm nhiện vụ đẩy rồng bay đi. Bên trong bụng rồng, người ta đặt mấy quả tên lửa nhỏ - tên lửa cấp hai. Khi phóng, người ta châm lửa tên lửa cấp 1 trên thân rồng, đẩy thân rồng bay lên cách mặt nước chừng 3 đến 4 thước (khoảng 1,5 - 2m). Rồng có thể bay xa tới 243m. Lúc này tên lửa cấp 2 trong bụng rồng được phát hoả. Chúng bay thẳng ra khỏi miệng rồng, tiêu diệt kẻ thù. Trung Quốc cũng đã sớm phát minh loại tên lửa đồng thời bốc hoả nhiều chiếc cùng một lúc. Loại "tổ ong" đồng thời phát hoả 32 chiếc hỏa tiễn. Người ta nhét mấy chục chiếc hỏa tiễn nhỏ vào trong ống bương lớn. Ngòi nổ dùng dây cháy chậm nối liền nhau. Khi châm ngòi dây dẫn chính, mấy chục chiếc hoả tiễn cùng phát hoả. Loại vũ khí này thanh thế rất mạnh. Vào năm 1500 một nhà khoa học tên là Vạn Hô của Trung Quốc nuôi một giấc mộng có thể bay được. Ông liều mạng gắn 47 quả "tên lửa" vào sau chiếc ghế của mình, hai tay giữ hai cánh diều lớn rồi nhờ người châm lửa phát hỏa để "hoả tiễn" đẩy ông bay lên không. Tuy nhiên, cuộc "phi hành" này thất bại nhưng ý tưởng và nguyên lý thiết kế của ông rất giống loại tên lửa đẩy của người hiện đại. Để kỷ niệm và tưởng nhớ nhà du hành đầu tiên, hội thiên văn quốc tế đã lấy tên ông đặt tên cho dãy núi hình vòng cung trên mặt trăng: Vạn Hô. == Thành phần cấu tạo của thuốc nổ đen == Thuốc nổ đen là một hỗn hợp của kali nitrat, than gỗ, lưu huỳnh với tỷ lệ theo khối lượng (75% kali nitrat, 15% than gỗ, 10% lưu huỳnh). Tỷ lệ trộn đã thay đổi sau nhiều thế kỷ sử dụng, và cũng có thể thay đổi lại tùy vào mục đích sử dụng. == Đặc điểm và việc sử dụng == Thuốc súng được phân loại là thuốc nổ yếu. Do đặc tính của nó, thuốc súng được dùng một cách hữu hiệu như là một loại thuốc phóng có tác dụng tạo ra lực đẩy trong nòng súng để đẩy viên đạn (loại đạn bộ binh cỡ nhỏ) đến mục tiêu. Nhược điểm chính của thuốc đen là mật độ năng lượng (hay khả năng sinh công) của nó thấp (so sánh với các loại thuốc phóng không khói hiện đại) và tạo thành rất nhiều muội khói. Trong quá trình cháy, không đầy một nửa lượng thuốc đen được chuyển thành khí. Kết quả của việc bắn súng là sự tạo thành lớp muội bên trong nòng súng và một đám khói đậm đặc. Do đó nòng súng dễ bị ôxi hóa gây gỉ và hỏng. == Tham khảo == Ebrey, Patricia Buckley (1999). The Cambridge Illustrated History of China. Cambridge University Press. ISBN 0-521-66991-X. Partington, James Riddick (1998). A History of Greek Fire and Gunpowder. The Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-5954-9. Liang, Jieming (2006). Chinese Siege Warfare: Mechanical Artillery & Siege Weapons of Antiquity. ISBN 981-05-5380-3. == Xem thêm == Thuốc nổ Chất nổ Súng bộ binh Thuốc phóng Pháo Pháo cối == Liên kết ngoài == Gun and Gunpowder The Origins of Gunpowder Cannons and Gunpowder History of Science and Technology in Islam Ulrich Bretschler's Gunpowder Chemistry page Oare Gunpowder Works, Kent, UK Royal Gunpowder Mills Chinese Siege Warfare: Mechanical Artillery and Siege Weapons of Antiquity - An Illustrated History
nguyễn anh đức.txt
Nguyễn Anh Đức (sinh ngày 24 tháng 10 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá người Việt Nam. Anh hiện đang thi đấu cho Câu lạc bộ bóng đá Bình Dương. Vị trí sở trường của anh là tiền đạo. Năm 2015 anh được trao giải Quả bóng vàng Việt Nam 2015 sau khi giúp Becamex Bình Dương đoạt cú đúp V-League và Cúp Quốc gia. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Nguyễn Anh Đức: Lên tiếng đúng lúc Nguyễn Anh Đức (Olympic VN & B.Bình Dương): Lùi một để tiến hai Nguyễn Anh Đức: Đời bây giờ mới đẹp
nepal.txt
Nepal (phiên âm tiếng Việt: Nê-pan), tên chính thức theo Hiến pháp là Cộng hòa dân chủ liên bang Nepal (trước kia gọi là Vương quốc Nepal) (tiếng Nepal: नेपाल [neˈpaːl] ) là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại vùng Himalaya ở Nam Á có phần chồng gối với Đông Á, giáp biên giới với Tây Tạng của Trung Quốc ở phía bắc và Ấn Độ ở phía nam, đông và tây. Chỉ trong một diện tích lãnh thổ nhỏ, Nepal lại sở một sự đa dạng địa hình đáng kinh ngạc, từ Terai ẩm ở phía nam tới Himalaya cao ngất ở phía bắc. Nepal có tám trong số mười đỉnh núi cao nhất thế giới, gồm Đỉnh Everest, nằm gần biên giới Trung Quốc. Đất nước duy nhất trên thế giới có quốc kỳ không thuộc hình chữ nhật. Nước này nổi tiếng về du lịch, dã ngoại, đi bộ đường dài, cắm trại, xe đạp đổ đèo, các vườn quốc gia, những khu rừng, đồng cỏ, đi bè trên sông, câu cá thể thao và nhiều chùa chiền cũng như những địa điểm thờ cúng đẹp đẽ. Kathmandu là thủ đô và thành phố lớn nhất nước. Các thành phố lớn khác gồm Pokhara, Biratnagar, Lalitpur (Patan), Bhaktapur, Birendranagar, Bharatpur, Nepal, Siddhartanagar (Bhairahawa), Birganj (Birgunj), Butwal, Janakpur, Nepalganj (Nepalgunj), Hetauda, Dharan, Damak, Dhangadhi và Mahendranagar. Nguồn gốc cái tên Nepal xuất xứ từ Nepal Bhasa, là ngôn ngữ Newars và xuất hiện bởi thực tế Thung lũng Kathmandu từng thường được gọi là Napa, thuật ngữ hiện vẫn được sử dụng bởi người Newars. Một số người cho rằng cái tên cũng có nguồn gốc từ một vị hiền triết thời cổ sống trong vùng. Sau một lịch sử lâu dài và đa dạng, trong đó vùng này đã tan rã và liên kết lại dưới nhiều vị vua chuyên chế, Nepal trở thành một nền quân chủ lập hiến năm 1990. Tuy nhiên, hoàng gia vẫn giữ lại nhiều quyền lực quan trọng. Điều này dẫn tới tình trạng bất ổn ngày càng tăng, cả tại nghị viện và, từ năm 1996, ở nhiều vùng rộng lớn trong nước, nơi chính phủ phải chiến đấu với lực lượng nổi dậy Maoist. Những người Maoists, ly khai với các đảng chính trị lớn, đã tiến hành một cuộc chiến tranh du kích chống lại cả chế độ quân chủ và những đảng chính trị lớn. Họ đã tìm cách lật đổ những định chế phong kiến, gồm cả chế độ quân chủ, và thiết lập một nhà nước Maoist. Việc này đã dẫn tới một cuộc Nội chiến Nepal làm thiệt mạng hơn 15.000 người. Trong nỗ lực dẹp yên cuộc nổi dậy, nhà vua đã đóng cửa nghị viện và sa thải vị thủ tướng được bầu Sher Bahadur Deuba bởi Nghị viện Nepal (Dân chủ) năm 2002 và bắt đầu cai trị qua các thủ tướng do ông trực tiếp chỉ định. Sau đó ông đơn phương tuyên bố tình trạng khẩn cấp đầu năm 2005, và nắm tất cả quyền hành pháp. Sau phong trào dân chủ năm 2006, nhà vua đã đồng ý trao lại quyền lực cho nhân dân và tái lập Hạ viện đã bị giải tán ngày 24 tháng 4 năm 2006. Sử dụng quyền lực mới đạt được, ngày 18 tháng 5 năm 2006, Hạ viện mới tái lập đơn phương thông qua một đề nghị cắt giảm quyền lực của nhà vua và tuyên bố Nepal là một quốc gia thế tục. Tới tháng 9 năm 2006, một hiến pháp quốc gia được sửa đổi toàn bộ đang được dự kiến xuất hiện trong tương lai gần. Tổng thống Nepal đầu tiên, Ram Baran Yadav, đã tuyên thệ vào ngày 23 tháng 7 năm 2008. == Lịch sử == === Thời tiền sử và cổ đại === Các công cụ thời Đồ đá mới được tìm thấy tại Thung lũng Kathmandu cho thấy con người đã sống ở vùng Himalaya trong ít nhất chín nghìn năm. Cõ lẽ họ là những người thuộc sắc tộc Tạng-Miến sống đã sống tại Nepal hai nghìn năm trăm năm trước. Các bộ tộc Ấn-Aryan đã tiến vào thung lũng khoảng năm 1500 TCN. Khoảng năm 1000 TCN, các vương quốc nhỏ và các liên minh dòng họ xuất hiện. MỘt trong các hoàng tử của liên minh Shakya (Sakas) là Siddhartha Gautama (563–483 TCN), người đã từ bỏ đặc quyền của mình để sống một cuộc đời khổ hạnh và trở thành Phật ("người đã thức tỉnh"). Tới năm 250 TCN, vùng này rơi vào ảnh hưởng của Đế chế Mauryan phía bắc Ấn Độ, và sau này trở thành một quốc gia phụ thuộc Triều đại Gupta ở thế kỷ thứ 4 . Từ cuối thế kỷ thứ 5, những kẻ thống trị được gọi là Licchavi cai trị vùng này. Triều đại Licchavi rơi vào tình trạng suy tàn cuối thế kỷ thứ 8 và từ năm 879 thời kỳ Newar bắt đầu tiếp nối, dù phạm vi quản lý toàn bộ quốc gia của họ ở mức độ nào vẫn chưa được biết chắc chắn. Tới cuối thế kỷ 11, miền nam Nepal rơi vào tầm ảnh hưởng của Đế chế Chalukya phía Nam Ấn Độ. Ở thời Chalukyas, tôn giáo tại Nepal thay đổi khi các vị vua đỡ đầu Hindu giáo thay vì Phật giáo đang thắng thế thời ấy. === Thời kì trung đại === Tới đầu thế kỷ 13, các lãnh đạo xuất hiện với cái tên kết thúc bằng hậu tố tiếng Phạn malla ("đô vật"). Ban đầu thời kỳ cầm quyền của họ được đánh dấu bởi sự biến động, nhưng các vị vua đã củng cố quyền lực của họ trong hai trăm năm. Tới cuối thế kỷ 14, đa phần đất nước đã ở tình trạng quản lý thống nhất. Sự thống nhất này không tồn tại lâu; năm 1482 vương quốc tan rã thành ba vùng, Kathmandu, Patan, và Bhadgaon, và lao vào các cuộc chinh phạt lẫn nhau trong nhiều thế kỷ. === Vương quốc Nepal (1708 - 2008) === Năm 1765, Prithvi Narayan Shah vị vua cai trị Gorkha đặt kế hoạch thống nhất các vương quốc, sau khi tìm kiếm viện trợ vũ khí từ phía các vương quốc Ấn Độ. Sau nhiều trận đánh và phong tỏa đẫm máu, ông đã thống nhất được Nepal sau ba năm. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh thực tế không hề xảy ra khi ông chinh phục Thung lũng Kathmandu. Thực tế, trong dịp Indra Jaatra, khi tất cả các công dân tại thung lũng đang ăn mừng lễ hội, Prithvi Narayan Shah cùng đội quân của mình đã chiếm được nó mà không tốn công sức. Sự kiện này đánh dấu sự ra đời của nước Nepal hiện đại. Một cuộc tranh cãi và sau đó là một cuộc chiến tranh với Tây Tạng về quyền kiểm soát những con đường núi buộc Nepal phải rút lui và chi trả bồi thường chiến phí nặng nề cho Trung Quốc, bên tới giải cứu Tây Tạng. Sự đối đầu với Công ty Đông Ấn Anh về sự sáp nhập các tiểu quốc giáp biên giới với Nepal cuối cùng đã dẫn tới một cuộc chiến ngắn nhưng đẫm máu, Chiến tranh Anh-Nepal (1815–16), trong đó Nepal đã bảo vệ được các biên giới hiện nay của họ nhưng mất phần lãnh thổ phía tây Sông Kali, gồm cả bang Uttarakhand ngày nay và nhiều Bang Punjab Hill thuộc Himachal Pradesh hiện nay. Hiệp ước Sugauli cũng nhường nhiều phần thuộc Terai và Sikkim cho Công ty đổi lại quyền tự trị cho người Nepal. Chủ nghĩa bè phái trong gia đình hoàng gia dẫn tới tình trạng bất ổn sau chiến tranh. Năm 1846, một âm mưu lật đổ Jang Bahadur, nhà lãnh đạo quân sự cấp tiến, của hoàng hậu nhiếp chính, bị khám phá, dẫn tới vụ Thảm sát Kot. Những cuộc xung đột quân sự giữa các thành viên quân sự và những người trung thành với hoàng hậu dẫn tới sự hành quyết hàng trăm vị hoàng tử và những vị tù trưởng khắp nước. Bahadur giành thắng lợi và thành lập triều đại Rana, dẫn tới chế độ chuyên chế Rana. Nhà vua chỉ còn mang ý nghĩa hình thức, và vị trí Thủ tướng được trao nhiều quyền lực cùng quyền cha truyền con nối. Những người Rana kiên quyết chống Anh, và đã ám sát người Anh trong cuộc Nổi loạn Sepoy năm 1857, và sau này trong cả hai cuộc Thế chiến. Năm 1923 Anh Quốc và Nepal chính thức ký kết một hiệp ước hữu nghị, tin cậy và luật pháp, theo đó Anh Quốc công nhận nền độc lập của Nepal. Cuối thập niên 1940, những phong trào ủng hộ dân chủ và các đảng chính trị xuất hiện tại Nepal đe dọa chế độ chuyên chế Rana. Trong lúc ấy, Trung Quốc chiếm Tây Tạng năm 1950, khiến Ấn Độ kiên quyết ủng hộ sự ổn định tại Nepal, để tránh sự mở rộng của chiến dịch quân sự. Vì thế Ấn Độ đã vận động để Tribhuvan trở thành nhà vua mới của Nepal năm 1951, và một chính phủ mới, chủ yếu gồm các thành viên Đảng Tiến bộ Nepal. Sau nhiều năm tranh cãi quyền lực giữa nhà vua và chính phủ, thử nghiệm dân chủ bị bãi bỏ năm 1959, và một hệ thống panchayat "không đảng phái" được thành lập để quản lý Nepal. Năm 1989, "Jan Andolan" Phong trào (của Nhân dân) buộc chế độ quân chủ phải chấp nhận những cải cách hiến pháp và thành lập nghị viện đa đảng vào tháng 5 năm 1991. Krishna Prasad Bhattarai trở thành Thủ tướng của Nội các Lâm thời, soạn thảo một Hiến pháp mới và tiến hành cuộc bầu cử nghị viện dân chủ. Đảng Tiến bộ Nepal chiến thắng trong cuộc bầu cử đầu tiên, và Girija Prasad Koirala trở thành thủ tướng. == Những phát triển gần đây và nội chiến Nepal == Theo các quan chức, ngày 1 tháng 6 năm 2001, Hoàng thái tử Dipendra đã thực hiện một cuộc thảm sát trong hoàng cung, để trả thù việc cha mẹ từ chối người phụ nữ ông muốn kết hôn. Vua và hoàng hậu bị giết và chính ông cũng qua đời ba ngày sau đó. Sau vụ tàn sát, ngôi báu được em của Birendra là Gyanendra thừa kế. Trước thực tế các chính phủ bất ổn và cuộc bao vây Thung lũng Kathmandu của những người Maoist tháng 8 năm 2004, sự ủng hộ của dân chúng dành cho hoàng gia đã giảm sút. Ngày 1 tháng 2 năm 2005 Gyanendra giải tán toàn bộ chính phủ và nắm tất cả quyền hành pháp dưới danh nghĩa chiến đấu với phong trào Maoist. Tháng 9 năm 2005, những người Maoists tuyên bố đơn phương ngừng bắn kéo dài ba tháng nhưng không được chính phủ hoàng gia đáp trả; họ muốn tiêu diệt phe phiến loạn bằng vũ lực. Vài tuần sau, chính phủ nói rằng cuộc bầu cử nghị viện sẽ được tổ chức năm 2007 thậm chí sau khi cuộc bầu cử thành phố đã thất bại. Ngày 14 tháng 1 năm 2006, những người Maoist đã tấn công năm địa điểm đồn trú quân sự và bán quân sự trên toàn Thung lũng Kathmandu. Bom nổ tại hai địa điểm. Mười hai người chết, mười một người tại chốt kiểm soát Thankot nơi nhiều vụ nổ làm rung chuyển những ngôi nhà tận Matatheirtha. Công chúng sửng sốt trước sự kiện bởi đây là bằng chứng cho thấy những người Maoist đã có thể tổ chức và lên kế hoạch một cuộc tấn công đồng thời vào nhiều địa điểm trong Thung lũng, từ lâu đã được coi là khá an toàn khỏi tình trạng bạo lực. Trong cuộc tấn công vào chốt kiểm soát Thankot, một trạm thu phí tại địa phương bị cướp bóc, cách chưa tới 100 mét từ một cô nhi viện với sáu tư trẻ em. Những người Maoist, nhờ sự hỗ trợ của bảy đảng trong nghị viện (SPA), đã tìm cách tổ chức một cuộc nổi dậy quy mô lớn phản đối sự cầm quyền của Vua Gyanendra. Chính phủ hoàng gia đã sử dụng nhiều phương tiện để đối phó với cuộc nổi dậy. Chán nản vì tình trạng thiếu an ninh, không việc làm và sự quản lý tốt, hàng ngàn người đã đổ xuống phố yêu cầu nhà vua từ bỏ quyền lực, nhưng chính phủ hoàng gia thậm chí còn tỏ ra tàn bạo hơn và tiếp tục cuộc đàn áp của mình, gồm cả lệnh giới nghiêm vào ban ngày. Tình trạng thiếu thực phẩm đã diễn ra. Ngay lập tức có một kế hoạch tổ chức cuộc tuần hành với hơn một triệu người đổ về trung tâm thành phố và bao vây cung điện hoàng gia. Các lực lượng an ninh đàn áp tàn bạo. Hàng nghìn người bị thương và hai mốt người đã chết. Sức ép nước ngoài buộc Vua Gyanendra từ bỏ quyền lực tiếp tục gia tăng. Ngày 21 tháng 4 năm 2006, Gyanendra thông báo ông đang từ bỏ quyền lực tuyệt đối và rằng "Quyền lực đang được trao lại cho Nhân dân". Ông kêu gọi liên minh bảy đảng đề xuất một Thủ tướng và rằng cuộc bầu cử sẽ được tổ chức càng sớm càng tốt. Cả Hoa Kỳ và Ấn Độ ngay lập tức kêu gọi Liên minh bảy đảng chấp nhận đề xuất này. Tuy nhiên, nhiều người Nepal phản kháng vẫn tiến hành các cuộc tuần hành ở nhiều thành phố và thề sẽ tiếp tục xuống đường cho tới khi đạt được mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn chế độ quân chủ. Liên minh bảy đảng đã cảm thấy sức ép từ những cuộc tuần hành đó bởi nhiều cuộc trong số đó xảy ra trực tiếp bên ngoài những sự cân nhắc đề xuất của Gyanendra. Cuối cùng, nửa đêm ngày 24 tháng 4, sau mười chín ngày 'phản kháng ầm ĩ', nhà vua kêu gọi nghị viện quốc gia tái nhóm họp ngày 28 tháng 4. Từ đó nghị viện đã hoạt động trở lại và tước đoạt quyền lực của nhà vua đối với quân đội, xóa bỏ danh hiệu dòng dõi một vị Thánh Hindu của nhà vua và yêu cầu hoàng gia phải trả các khoản thuế. Thêm nữa, nhiều quan chức hoàng gia đã bị truy tố, và chính phủ Nepal không còn được gọi là "Chính phủ của Hoàng đế", mà là "Chính phủ Nepal". Một cuộc bầu cử quốc hội nhằm viết lại hiến pháp đã được tuyên bố trong tương lai gần, với khả năng xóa bỏ chế độ quân chủ. Sau khi Gyanendra từ bỏ quyền lực tuyệt đối, chính phủ Nepal và những người nổi dậy Maoist đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn. Tháng 8 năm 2006, cả hai bên đồng ý về vấn đề giải trình vũ khí, đồng ý yêu cầu Liên hiệp quốc giám sát quá trình kiểm kê vũ khí ở cả hai bên. Chính phủ và những người Maoist đang tìm cách đạt một thỏa thuận về tương lai của nền quân chủ. Tới ngày 15 tháng 1 năm 2007, Liên minh bảy đảng và những người Maoist đã cùng hoạt động trong một Cơ quan lập pháp lâm thời theo Hiến pháp lâm thời Nepal chờ đợi một cuộc bầu cử sẽ diễn ra tháng 6 năm 2007 để có được một Nghị viện lập pháp, khi tất cả các quyền lực của nhà vua Nepal đang bị đình chỉ. Ngày 1 tháng 4 năm 2007, Liên minh bảy đảng và những người Maoist cùng thành lập một chính phủ lâm thời. Chính phủ lâm thời được ủy quyền tổ chức cuộc bầu cử nghị viện tháng 6 năm 2007. Chính phủ Madhesay tại vùng Terai gần đây đã yêu cầu chấm dứt sự phân biệt chống lại người Madhesay. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều sự xung đột giữa những đại biểu đại diện cho người Madhesay và chính phủ cần được đề cập để giải quyết triệt để vấn đề người Terai. == Địa lý == Nepal gần giống hình thang, 800 kilômét (500 mi) chiều dài và 200 kilômét (125 dặm) chiều rộng, với diện tích 147.181 kilômét vuông (56.827 sq mi). Nepal thường được chia thành ba vùng địa văn học: vùng Núi (Parbat), Đồi (Pahad), và vùng Đồng bằng (Terai). Những dải sinh thái học này chạy theo chiều đông tây và bị cắt đôi bởi những hệ thống sông chính của Nepal. Nepal có diện tích tương đương với bang Arkansas Hoa Kỳ. === Vùng đồng bằng (Terai) === Đồng bằng Madhesi giáp biên giới với Ấn Độ là một phần của mép bắc của Những đồng bằng Indo-Hằng. Chúng đã hình thành và được nuôi dưỡng bởi ba dòng sông lớn: sông Kosi, Narayani (Sông Gandak của Ấn Độ), và Karnali. Vùng này có khí hậu nóng và ẩm. === Vùng đồi (Pahad) === Vùng Đồi (Pahad) tiếp giáp với các dãy núi và có độ cao từ 1.000 tới 4.000 mét (3.300–13.125 ft). Hai dải núi thấp, Mahabharat Lekh và Shiwalik Range (cũng được gọi là Dải Churia) chiếm ưu thế tại vùng này. Dải đồi gồm Thung lũng Kathmandu, vùng màu mỡ và đô thị hóa nhất nước. Không giống như cá thung lũng, ở độ cao trên 2.500 mét thì dân cư rất thưa thớt. === Vùng núi (Parbat) === Vùng núi là nơi có nhiều điểm cao nhất thế giới. Nơi cao nhất, Đỉnh Everest (Sagarmatha trong tiếng Nepal) ở 8.850 mét nằm ở biên giới với Trung Quốc. Bảy trong số mười bốn đỉnh núi cao nhất nằm tại Nepal: Lhotse, Makalu, Cho Oyu, Kanchanjanga (Kanchenjunga), Dhaulagiri, Annapurna, Manaslu. Tình trạng mất rừng là vấn đề chính tại tất cả các vùng, gây xói mòn và xuống cấp hệ sinh thái. Nepal có năm vùng khí hậu, chủ yếu tùy theo độ cao. Các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới ở dưới độ cao 1.200 mét, vùng ôn hòa 1.200 tới 2.400 mét, vùng lạnh 2.400 tới 3.600 mét, vùng cận cực 3.600 tới 4.400 mét, và vùng cực trên 4.400 mét. Nepal có năm mùa: mùa hè, gió mùa, mùa thu, mùa đông và mùa xuân. Dãy Himalaya ngă gió lạnh từ Trung Á trong mùa đông và hình thành nên biên giới phía bắc của vùng gió mùa. Dù Nepal không có biên giới chung với Bangladesh, hai nước này chỉ bị ngăn cách bởi một dải đất hẹp khoảng 21 kilômét, được gọi là "Cổ gà". Nhiều nỗ lực đang được tiến hành nhằm biến nơi đây thành một vùng thương mại tự do. Nằm ở dãy Himalaya Vĩ đại ở phần phía bắc Nepal, núi Everest là đỉnh núi cao nhất thế giới. Về kỹ thuật, chỏm đông nam phía Nepal dễ trèo hơn, vì thế đa số người trèo núi tìm cách chinh phục đỉnh Everest từ phía Nepal. Rặng núi Annapurna cũng nằm tại Nepal. == Kinh tế == Nông nghiệp là phương tiện mưu sinh của 76% dân số và chiếm khoảng 39% Tổng sản phẩm quốc nội; dịch vụ chiếm 41%, và công nghiệp 22%. Hai phần ba địa hình nhiều đồi núi ở phía bắc đất nước khiến việc xây dựng đường sá và các cơ sở hạ tầng khác gặp nhiều khó khăn và đắt đỏ. Tới năm 2003, chỉ có khoảng 8.500 km đường trải nhựa và một tuyến đường sắt dài 59 km ở phía nam. Hàng không ở tình trạng phát triển cao hơn, với 48 sân bay, mười trong số chúng có đường băng trải nhựa. Có chưa tới một máy điện thoại trên 19 dân; các đường dây viễn thông phát triển không đều chủ yếu tập trung tại các thành phố và thủ phủ quận; điện thoại di động ở tình trạng chấp nhận được tại hầu hết đất nước với số lượng người dùng đang gia tăng và giá cả hợp lý. Có khoảng thuê bao 175.000 Internet năm 2005, nhưng sau khi "tình trạng khẩn cấp" được áp dụng, tình trạng ngưng dịch vụ đã xảy ra thường xuyên. Tình trạng này đã được khắc phục sau một giai đoạn lộn xộn ngắn khi những cuộc xuống đường lần hai của nhân dân tước đoạt quyền lực tuyệt đối của quốc vương diễn ra. Tính đến năm 2015, GDP của Nepal đạt 21.154 USD, đứng thứ 107 thế giới, đứng thứ 34 châu Á và đứng thứ 5 Nam Á. Vị trí nằm kín trong lục địa và tình trạng lạc hậu về kỹ thuật cùng cuộc nội chiến kéo dài cũng đã ngăn cản khả năng phát triển toàn bộ nền kinh tế Nepal. Đất nước này nhận được viện trợ nước ngoài từ Ấn Độ, Nhật Bản, Anh Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Thụy Sĩ, và các nước vùng Scandinavian. Ngân sách chính phủ khoảng 1,153 tỷ đô la Mỹ, với mức chi tiêu 1,789 tỷ đô la Mỹ (năm tài khóa 05/06). Tỷ lệ lạm phát đã giảm xuống còn 2,9% sau một giai đoạn lạm phát cao trong thập niên 1990. Đồng Rupee Nepal đã được gắn chặt tỷ giá với đồng Rupee Ấn Độ ở mức 1,6 trong nhiều năm. Vì các biện pháp nới lỏng kiểm soát tỷ giá đầu thập niên 1990, thị trường trao đổi ngoại tệ đen đã hoàn toàn biến mất. Một thỏa thuận kinh tế từ lâu đã trở thành xương sống cho mối quan hệ thân thiện với Ấn Độ. Bình đẳng thu nhập trong nhân dân Nepal ở mức trung bình tương đương nhiều nước phát triển và đang phát triển khác: 10% số hộ giàu nhất chiếm 39,1% tài sản quốc gia và 10% số hộ nghèo nhất chỉ chiếm 2,6%. Nguồn nhân lực Nepal khoảng 10 triệu người và đang gặp phải vấn đề thiếu lao động có tay nghề. Nông nghiệp sử dụng 81% nguồn nhân lực, dịch vụ 16% và chế tạo/công nghiệp thủ công 3%. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu tập trung tại vùng Terrai giáp biên giới với Ấn Độ— gồm gạo, ngô, bột mì, mía, cây lấy rễ, sữa và thịt trâu nước. Các ngành công nghiệp chủ yếu là chế biến sản phẩm nông nghiệp, gồm đay, mía, thuốc lá, và ngũ cốc. Phong cảnh hùng vĩ và bí ẩn, nền văn hóa đẹp đẽ của Nepal chính là tiềm năng du lịch to lớn, nhưng tăng trưởng trong lĩnh vực này đã gặp trở ngại bởi tình trạng chính trị bất ổn gần đây. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm chiếm gần một nửa số dân cư ở tuổi lao động. Vì thế nhiều người Nepal đã phải tới Ấn Độ tìm việc làm, các quốc gia Vùng Vịnh và Malaysia hiện cũng là những thị trường mới. Tình trạng nghèo đói gay gắt. Nepal nhận mỗi năm 50 triệu dollar từ các binh lính người Gurkha phục vụ trong Quân đội Ấn Độ và Quân đội Anh, họ được đánh giá cao về khả năng và lòng dũng cảm. Tổng số tiền gửi về nước đạt khoảng 1 tỷ đô la Mỹ, gồm cả từ các quốc gia Vùng Vịnh và Malaysia, tổng số người Nepal làm việc ở nước ngoài khoảng 700.000. GDP năm 2005 của Nepal được ước tính chỉ khoảng hơn 39 tỷ đô la Mỹ (đã tính theo Sức mua tương đương), là nền kinh tế đứng hàng thứ 83 trên thế giới. Thu nhập trên đầu người khoảng 1.402 dollar, xếp hạng 163. Các mặt hàng xuất khẩu của Nepal chủ yếu là thảm, quần áo, đồ da, sản phẩm đay và ngũ cốc, tổng trị giá 822 triệu dollar. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm vàng, máy móc và thiết bị, các sản phẩm dầu mỏ và phân bón, giá trị tổng cộng 2 tỷ đô la Mỹ. Ấn Độ (53,7%), Hoa Kỳ (17,4%), và Đức (7,1%) là những đối tác xuất khẩu chủ yếu. Các đối tác nhập khẩu của Nepal gồm Ấn Độ (47,5%), Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (11,2%), Trung Quốc (10,7%), Ả Rập Saudi (4,9%), và Singapore (4%). == Chính phủ và chính trị == Cho tới năm 1990, Nepal là một quốc gia quân chủ chuyên chế dưới quyền lực hành pháp của nhà vua. Đối mặt với phong trào nhân dân chống chế độ quân chủ chuyên chế, Vua Birendra, năm 1990, đã đồng ý nhiều biện pháp cải cách chính trị rộng lớn bằng cách tạo lập một chế độ quân chủ nghị viện với nhà vua là nguyên thủ quốc gia và một thủ tướng là lãnh đạo chính phủ. Hệ thống lập pháp Nepal theo kiểu lưỡng viện gồm một Hạ viện và một Hội đồng Quốc gia. Hạ viện gồm 205 thành viên được nhân dân bầu cử trực tiếp. Hội đồng Quốc gia có 60 thành viên, mười người do nhà vua chỉ định, ba nhăm người do Hạ viện bầu và mười lăm người còn lại do một hội đồng bầu cử gồm lãnh đạo các làng và thị trấn bầu. Cơ quan lập pháp có nhiệm kỳ năm năm, nhưng có thể bị nhà vua giải tán trước nhiệm kỳ. Tất cả các công dân Nepal từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử. Nhánh lập pháp gồm nhà Vua và Hội đồng Bộ trưởng (Nội các). Lãnh đạo của liên minh hay đảng chiếm đa số ghế trong cuộc bầu cử được chỉ định làm Thủ tướng. Nội các được nhà vua chỉ định theo sự đề xuất của Thủ tướng. Các chính phủ tại thường không ổn định; không chính phủ nào tồn tại quá hai năm kể từ năm 1991, hoặc tan rã do bất ổn nội bộ hoặc bị hoàng gia giải tán. Phong trào tháng 4 năm 2006 dường như đã mang lại sự thay đổi cho quốc gia. Nhà Vua chuyên chế bị buộc phải từ bỏ quyền lực. Hạ viện đã bị giải tán trước kia hoạt động trở lại. Hạ viện đã thành lập một chính phủ và thành công trong việc đối thoại với phe phiến loạn Maoist. Một hiến pháp lâm thời được tuyên bố và một Hạ viện lâm thời được thành lập với cả các thành viên Maoist. Số lượng ghế trong hạ viện cũng được tăng lên thành 330. Quá trình hòa bình tại Nepal đã có bước tiến đáng kinh ngạc tháng 4 năm 2007, khi Đảng Cộng sản Nepal (Maoist) gia nhập chính phủ lâm thời Nepal. == Quân đội và ngoại giao == Quân đội Nepal gồm Không quân Nepal và Lực lượng Cảnh sát Nepal. Ngày 19 tháng 5 năm 2006 Hạ viện đơn phương thông qua một đề xuất đổi tên Quân đội Hoàng gia Nepal (RNA) thành "Quân đội Nepal". Việc tham gia quân đội là tự nguyện và tuổi tối thiểu để được chấp nhận là 18. Năm Nepal chi tiêu 99.2 triệu dollar (2004) cho quân đội— 1.5% GDP. Quân đội Nepal có 90.000 binh sĩ, họ tham gia vào cuộc nội chiến chống lại những người nổi dậy Maoist. Nepal có quan hệ thân thiết với cả hai nước láng giềng là Ấn Độ và Trung Quốc. Theo một hiệp ước được ký kết từ lâu, các công dân Ấn Độ và Nepal có thể đi lại từ nước này sang nước kia không cần hộ chiếu hay visa. Công dân Nepal có thể làm việc tại Ấn Độ mà không gặp hạn chế pháp luật nào. Dù Nepal và Ấn Độ có quan hệ thân thiết, đôi lúc Nepal không hoàn toàn ủng hộ nước này trong những vấn đề Quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ. Ấn Độ coi Nepal là một phần trong vùng ảnh hưởng của họ, và lo ngại với viện trợ từ phía Trung Quốc. Năm 2005, sau khi Vua Gyanendra lên nối ngôi, quan hệ của Nepal với Ấn Độ, Hoa Kỳ và Anh Quốc đã xấu đi. Ba nước này đều đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ sự đàn áp phong trào tự do nhân dân tại Nepal. Trung Quốc chủ yếu tìm cách hợp tác với Nepal về vấn đề độc lập của Tây Tạng, gồm cả một điều luật của Nepal cho phép hàng nghìn người tị nạn Tây Tạng sống tự do trong lãnh thổ của họ và có khaỏng 2.000 tới 3.000 người Tây Tạng tìm cách bỏ trốn qua Nepal mỗi năm. Bên ngoài châu Á, Nepal có quan hệ đặc biệt thân thiết với Đức, và có mối quan hệ quân sự lịch sử với Anh Quốc qua Lữ đoàn Gurkhas, một đơn vị thiện chiến trong quân đội Anh gồm toàn binh sĩ Nepal. == Khu vực, quận và vùng == Trước 2015, Nepal được chia thành 14 khu vực (tiếng Nepal: अञ्चल; anchal) và 75 quận (tiếng Nepal: जिल्ला; jillā), được gộp vào 5 vùng phát triển (tiếng Nepal: विकास क्षेत्र; vikās kṣetra). Mỗi quận do một vị quận trưởng quản lý chịu trách nhiệm duy trì luật pháp và điều phối các hoạt động của quận với các cơ quan và bộ của chính phủ. Các khu của Nepal liệt kê từ Đông sang Tây: Đông bộ Mechi Koshi Sagarmatha Trung bộ Janakpur Bagmati Narayani Tây bộ Gandaki Lumbini Dhawalagiri Trung Tây bộ Rapti Karnali Bheri Viễn Tây bộ Seti Mahakali Phụ lục 4 của Hiến pháp mới của Nepal, thông qua ngày 20 tháng 9 năm 2015, đã phân chia hành chính Nepal thành 7 tỉnh liên bang. Các tỉnh này sẽ được hình thành bằng cách nhóm lại với nhau các quận hiện có. Có 2 quận được chia ra vào 2 tỉnh khác nhau. Theo Điều 295 (2), các tỉnh sẽ được đặt tên theo quyết định của 2/3 tổng số phiếu các nghị viên trong cơ quan lập pháp tỉnh tương ứng. Phân chia hành chính tạm thời của Nepal theo hiến pháp 2015: Tỉnh số 1 Quận Taplejung Quận Panchthar Quận Ilam Quận Sankhuwasabha Quận Terhathum Quận Dhankuta Quận Bhojpur Quận Khotang Quận Solukhumbu Quận Okhaldhunga Quận Udayapur Quận Jhapa Quận Morang Quận Sunsari Dân số 4,534,943Diện tích 25,905 km.². Tỉnh số 2 Quận Saptari Quận Siraha Quận Dhanusha Quận Mahottari Quận Sarlahi Quận Rautahat Quận Bara Quận Parsa Dân số 5,404,145Diện tích 9,661 km.² Tỉnh số 3 Quận Dolakha Quận Ramechhap Quận Sindhuli Quận Kavrepalanchok Quận Sindhupalchok Quận Rasuwa Quận Nuwakot Quận Dhading Quận Chitwan Quận Makwanpur Quận Bhaktapur Quận Lalitpur Quận Kathmandu Dân số 5,529,452Diện tích 20,300 km.² Tỉnh số 4 Quận Gorkha Quận Lamjung Quận Tanahun Quận Kaski Quận Manang Quận Mustang Quận Parbat Quận Syangja Quận Myagdi Quận Baglung Quận Nawalparasi (Đông Bardaghat Susta) Dân số 2,413,907Diện tích 21,504 km.² Tỉnh số 5 Quận Nawalparasi (Tây Bardaghat Susta) Quận Rupandehi Quận Kapilvastu Quận Palpa Quận Arghakhanchi Quận Gulmi Quận Rukum (Đông) Quận Rolpa Quận Pyuthan Quận Dang Deukhuri Quận Banke Quận Bardiya Dân số 4,891,025Diện tích 22,288 km.² Tỉnh số 6 Quận Rukum (Tây) Quận Salyan Quận Dolpa Quận Jumla Quận Mugu Quận Humla Quận Kalikot Quận Jajarkot Quận Dailekh Quận Surkhet Dân số 1,168,515Diện tích 27,984 km.² Tỉnh số 7 Quận Bajura Quận Bajhang Quận Doti Quận Achham Quận Darchula Quận Baitadi Quận Dadeldhura Quận Kanchanpur Quận Kailali Dân số 2,552,517Diện tích 19,539 km.² == Nhân khẩu == Nepal có tổng dân số 27.676.547 vào thời điểm tháng 7 năm 2005, với tỷ lệ tăng trưởng 2,2%. 39% dân số từ dưới tới 14 tuổi, 57,3% trong độ tuổi từ 15 tới 64, và 3,7% trên 65. Độ tuổi trung bình là 20,07 (19,91 với nam giới và 20,24 với nữ). Có 1.060 nam trên 1.000 nữ. Tuổi thọ trung bình là 59,8 năm (60,9 cho nam và 59,5 cho nữ). Nepal là quốc gia duy nhất nơi nam giới có tuổi thọ trung bình cao hơn nữ giới. Tổng tỷ lệ biết chữ là 53,74% (68,51% cho nam và 42,49% cho nữ). Theo cuộc điều tra dân số năm 2001, tín đồ Hindu giáo chiếm 75,6% dân số. Tín đồ Phật giáo chiếm 20%, Hồi giáo 4,2%, Kirant 3,6%, các tôn giáo khác 0,9%. Nhóm sắc tộc lớn nhất là người Chhettri (15,5%). Các nhóm khác gồm Brahman-Hill 12,5%, Magar 7%, Tharu 6,6%, Tamang 5,5%, Newar 5,4%, Kami 3,9%, Yadav 3,9%, khác 32,7%, không xác định 2,8%. Tiếng Nepal là ngôn ngữ chính thức với 47.8% dân số sử dụng như tiếng mẹ đẻ. Các ngôn ngữ khác gồm Maithili 12.1%, Bhojpuri 7,4%, Tharu (Dagaura/Rana) 5,8%, Tamang 5,1%, Nepal Bhasa 3,6%, Magar 3,3%, Awadhi 2,4%, khác 10%, không xác định 2,5%. Những khác biệt giữa các tín đồ Hindu giáo và Phật giáo nói chung rất tế nhị và trừu tượng bởi sự hòa trộn giữa những đức tin Hindu và Phật giáo. Cả hai đều có những đền chung và thờ cúng những vị thần chung và nhiều tín đồ Hindu tại Nepal cũng có thể được coi là tín đồ Phật giáo và ngược lại. Tín đồ Phật giáo chủ yếu tập trung tại các vùng phía đông và trung tâm Terrai. Gurkhas xuất xứ từ Nepal. Phật giáo nói chung phổ biến hơn trong các cộng đồng người Newar và Tây Tạng-Nepal. Trong cộng đồng Tây Tạng-Nepal, những tộc người chịu ảnh hưởng mạnh nhất của Hindu giáo là Magar, Sunwar, Limbu và Rai. Ảnh hưởng của Hindu giáo ít hơn trong những cộng đồng Gurung, Bhutia, và Thakali, họ thường mời các nhà sư Phật giáo tới tham gia các lễ hội tôn giáo của mình. Vùng núi phía bắc có dân cư thưa thớt. Đa số dân sống tập trung tại vùng cao nguyên trung tâm dù có một quá trình di cư dân khá mạnh tới vùng vành đai Terrai màu mỡ trong những năm gần đây. Kathmandu, với dân số 2.000.000 người, là thành phố lớn nhất nước. == Văn hóa == Văn hóa Nepal tương đồng với những nền văn hóa lân cận là Tây Tạng và Ấn Độ, về trang phục, ngôn ngữ, và thực phẩm. Một bữa ăn điển hình Nepal là dal-bhat - dal hấp với gạo, rau và các gia vị. Món này được dùng hai lần mỗi ngày, một vào buổi sáng và một vào buổi tối. Giữa hai bữa chính đó là các món ăn nhanh như chiura (gạo giã) và chè. Thịt, trứng và cá được coi là bữa tiệc. Tại vùng núi món ăn chủ lực gồm bột mì, ngô, kê và khoai tây. Các loại đồ uống chế tạo từ kê được gọi là Tongba và các loại rượu chế biến từ ngũ cốc khác rất phổ biến, gồm chhaang và rakshi chưng cất. Văn học dân gian truyền thống Nepal còn có ảnh hưởng mạnh trong xã hội và các câu chuyện của nó được thể hiện nhiều trong nhảy múa và âm nhạc. Văn hóa của các nhóm sắc tộc khác nhau phong phú theo cách riêng biệt. Văn hóa Newari là văn hóa truyền thống và có bản sắc riêng nhất của Kathmandu. Đa số các lễ hội trong nước xuất phát từ văn hóa Newari. Cộng đồng Newar có những món ẩm thực của riêng mình và người Newar nỏi tiếng về các buổi nhảy múa mặt nạ tái hiện câu chuyện về các vị thần và những anh hùng. Âm nhạc chủ yếu dựa trên bộ gõ, thỉnh thoảng có sử dụng sáo hay kèn cổ. Sarangi, một loại nhạc cụ bốn dây cũng thường được sử dụng bởi những người hát rong. Các phong cách âm nhạc dân gian gồm nhiều loại nhạc pop, tôn giáo và dân gian, cùng nhiều kiểu khác. Một nhạc sĩ nhạc pop Nepal gần đây là Pradip Neupane, hiện sống gần London. Từ thập niên sáu mươi, nhạc rock Nepal hay nhạc rock, được hát theo kiểu Nepal đã trở nên phổ biến trong giới trẻ. Một thể loại nhạc khác cũng đang nhanh chóng phổ biến là nhạc rap Nepal và reggae Nepal đang phát triển mạnh với ngành công nghiệp âm nhạc. Tại Nepal cũng có nhiều ban nhạc heavy metal. Các thể loại âm nhạc từ Tây Tạng và Ấn Độ có ảnh hưởng mạnh trên âm nhạc truyền thống Nepal. Phụ nữ, thậm chí với cả với nhạc sĩ, dường như ít tham gia trình diễn âm nhạc hơn nam giới, ngoại trừ trong những dịp đặc biệt như các buổi lễ toàn phụ nữ truyền thống. Bóng đá là môn thể thao được nhiều người ưa chuộng nhất, tiếp theo là cricket và kabaddi. Liên đoàn Bóng đá Tưởng niệm các Liệt sĩ là giải bóng đá quốc gia. Vô tuyến truyền hình chỉ bắt đầu xuất hiện tại Nepal trong thập niên 1980. Hiện tại có sáu kênh truyền hình: Nepal Television - kênh truyền hình quốc gia; NTV 2 Metro - một kênh thành phố do chính phủ sở hữu; và bốn kênh tư nhân - Kantipur Television, Hình Channel, Channel Nepal và Nepal 1. Cũng có nhiều kênh truyền hình khác, chủ yếu là những kênh từ Ấn Độ, có thể được thu qua chảo vệ tinh, dù tình trạng thiếu điện khiến việc này khá khó khăn. Đài phát thanh được phủ sóng toàn vương quốc, tới năm 2002, có mười hai trạm phát sóng, và vào năm 2006-07 số lượng này tăng lên tới trên 56 trạm. Đa số chúng là những đài phát trên sóng FM, vì thế có tầm hoạt động khá hạn chế tại đất nước nhiều đồi núi này. Tuy vậy, một số ít đài FM như Kantipur FM, Image FM có tầm phủ sóng rộng nhờ những trạm tiếp sóng. Năm Nepal Bikram Samwat bắt đầu vào giữa tháng 4 và được chia thành mười hai tháng. Thứ bay là ngày nghỉ chính thức trong tuần. Các ngày lễ chính gồm Quốc Khánh (ngày sinh của đức vua quá cố Tribhuvan) 28 tháng 12, Prithvi Jayanti, (11 tháng 1), và Ngày Liệt sĩ (18 tháng 2) và nhiều lễ hội Hindu và Phật giáo như Teej, Dashai vào mùa thu, và Tihar cuối thu. Đa số các cuộc hôn nhân là do sắp đặt, ly dị khá hiếm thấy. Đa thê bị pháp luật ngăn cấp; các bộ tộc khá biệt lập ở phía bắc, như Dolpo có tục đa phu. Nepal có rất nhiều lễ hội truyền thống, như nwaran (lễ rửa tội cho trẻ em), và Pasni, ngày đứa trẻ lần đầu ăn cơm, và bratabandha (lễ ăn năn) và gupha đánh dấu tuổi trưởng thành cho trẻ em. Trong văn hóa Newari, bel bibaha, các bé gái sắp trưởng thành được "gả" cho cho cây bel, để đảm bảo rằng cô bé sẽ trở nên mắn đẻ. Đa số các ngôi nhà ở vùng nông thôn Nepal được làm bằng khung tre với vách bằng bùn trộn phân bò. Những ngôi nhà đó mát vào mùa hè và ấm vào mùa đông. Những ngôi nhà ở trên cao thường được làm bằng gỗ cây. == Tôn giáo == Đại đa số người dân Nepal theo Ấn Độ giáo. Thần Shiva được coi là thần bảo hộ của đất nước. Nepal là quê hương của Thần Shiva, với ngôi đền nổi tiếng Pashupatinath, nơi mà người Hindu từ khắp nơi trên thế giới đến hành hương. Nepal còn là thánh địa của Phật giáo với Lâm Tỳ Ni là một địa điểm hành hương Phật giáo nổi tiếng và đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Theo truyền thuyết được cho là nơi sinh của Siddhartha Gautama, sau này là Đức Phật Thích Ca, người sáng lập Phật giáo. Địa điểm linh thiêng Lâm Tỳ Ni được bao bọc bởi một khu tu viện lớn, trong khuôn viên đó chỉ có tu viện mới được xây dựng. Có tất cả ba hệ phái lớn của Phật giáo tồn tại ở Nepal đó là Đại Thừa, Tiểu Thừa và Kim Cương Thừa. Phật giáo cũng là tôn giáo hàng đầu ở khu vực phía Bắc thưa dân, trong đó chủ yếu là nơi sinh sống của các tộc người Tây Tạng, người Sherpa. Hồi giáo là một tôn giáo thiểu số ở Nepal, với 4,2% dân số là người Hồi giáo theo điều tra dân số năm 2006., ngoài ra còn có Kitô giáo và Kỳ Na giáo. == Xem thêm == == Tham khảo == == Tài liệu == “Nepal”. MSN Encarta. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2017. Độ_open_border.htm “Ấn Độ Nepal Open Border”. Nepal Democracy. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2017. “Football at the heart of the Himalaya”. FIFA. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2017. “The Best Memoir You Never Heard Of: "Shadow Over Shangri-La" Offers Compelling and Timely Story of Nepal (San Francisco Chronicle)”. “Etymology of the word "Nepal"”. Infoclub.com.np. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2017. “Nepal: A state under siege”. The South Asian: Featured Articles. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2017. “Nepal: Basic Fact Sheet”. Nepal homepage. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2017. “Jailed ex-PM in Nepal court plea”. BBC News. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2017. “Nepal's new emblem”. Citizen Journalism Nepal. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2017. Gotz Hagmuller (2003). Patan Museum: The Transformation of a Royal Palace in Nepal. London: SerẤn Độ. ISBN 0-9-6-26-58-X. Kunda Dixit (2006). [A people war: Images of the Nepal conflict 1996-2006]. Kathmandu: nepa-laya. ISBN. Barbara Crossette (1995). So Close to Heaven: The Vanishing Buddhist Kingdoms of the Himalayas. New York: Vintage. ISBN 0-679-74363-4. Bista, Dor Bahadur (1967). People of Nepal. Dept. of Publicity, Ministry of Information and Broadcasting, Govt. of Nepal. ISBN 99933-0-418-2. Michael Hutt, ed., Himalayan 'people's war': Nepal's Maoist rebellion, London: C. Hurst, 2004 Peter Matthiessen (1993). The Snow Leopard. Penguin. ISBN 0-00-272025-6. Joe Simpson (1997). Storms of Silence. Mountaineers Books. ISBN 0-89886-512-3. Samrat Upadhyay (2001). Arresting God in Kathmandu. Mariner Books. ISBN 0-618-04371-3. Joseph R. Pietri (2001). The King of Nepal. Joseph R. Pietri. ISBN 0-615-11928-X. Maurice Herzog (1951). Annapurna. The Lyons Press. ISBN 1-55821-549-2. Dervla Murphy (1968). The Waiting Land: A Spell in Nepal. Transatlantic Arts. ISBN 0-7195-1745-1. Rishikesh Shaha (2001). Modern Nepal: A Political History. Manohar Publishers and Distributors. ISBN 81-7304-403-1. == Liên kết ngoài == Government of Nepal Open Directory Project — Nepal Planet Nepal Encyclopedia Project Library of Congress — Nepal United States Department of State Profile of Nepal Bản mẫu:Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực
sonata.txt
Sonata ( /səˈnɑːtə/, Tiếng Ý: [soˈnaːta]; sonate, sonare) là một thuật ngữ chỉ định một loạt các hình thức sáng tác, đến thời kỳ cổ điển có tầm quan trọng ngày một tăng và đầu thế kỷ 19 đại diện cho một nguyên tắc sáng tác các tác phẩm quy mô lớn. Sau thời kỳ Baroque hầu hết các tác phẩm được thực hiện bởi một nhạc cụ độc tấu, thường là một nhạc cụ chính (solo), hoặc bởi một nhạc cụ độc tấu (solo) đi kèm với một nhạc cụ phụ họa. Về hình thức soạn một sonata cũng giống như Concerto là từ 2 đến 4 phần, thường thường là 3 (movement). Một nhạc cụ solo chính và có khi cùng một nhạc cụ phụ. Bài Moonlight sonata nỗi tiếng chính là phần thứ hai của bài Piano sonata thứ 15 của Beethoven. == Các nhà soạn nhạc nổi bật == Arcangelo Corelli Domenico Scarlatti Antonio Vivaldi Joseph Haydn Luigi Boccherini Wolfgang Amadeus Mozart Ludwig van Beethoven Frédéric Chopin Felix Mendelssohn Robert Schumann Franz Liszt Johannes Brahms Sergei Rachmaninoff == Tham khảo == Mangsen, Sandra, John Irving, John Rink, and Paul Griffiths. 2001. "Sonata". The New Grove Dictionary of Music and Musicians, second edition, edited by Stanley Sadie và John Tyrrell. London: Macmillan Publishers. Newman, Ernest. 1958. More Essays from the World of Music: Essays from the London Sunday Times, selected by Felix Aprahamian. London: John Calder; New York: Coward-McCann, Inc. Newman, William S. 1966. The Sonata in the Baroque Era, revised ed. Chapel Hill: The University of North Carolina Press. LCCN 66-19475. Newman, William S. 1972a. The Sonata in the Baroque Era, third edition. A History of the Sonata Idea 1. New York: W. W. Norton. ISBN 0-393-00622-0. Newman, William S. 1972b. The Sonata in the Classic Era: The Second Volume of a History of the Sonata Idea, second edition. A History of the Sonata Idea 2; The Norton Library N623. New York: W. W. Norton. ISBN 0-393-00623-9. Newman, William S. 1983a. The Sonata in the Baroque Era, fourth edition. A History of the Sonata Idea 1. New York: W. W. Norton. ISBN 0-393-95275-4. Newman, William S. 1983b. The Sonata in the Classic Era, third edition. A History of the Sonata Idea 2. New York: W. W. Norton. ISBN 0-393-95286-X. Newman, William S. 1983c. The Sonata since Beethoven, third edition. A History of the Sonata Idea 3. New York: W. W. Norton. ISBN 0-393-95290-8. Newman, William S. 1988. Beethoven on Beethoven: Playing His Piano Music His Way. New York: W. W. Norton. ISBN 0-393-02538-1 (cloth) ISBN 0-393-30719-0 (pbk). Rosen, Charles. 1988. Sonata Forms, revised edition. New York: W. W. Norton. ISBN 0-393-02658-2. Rosen, Charles. 1995. The Romantic Generation. Cambridge: Harvard University Press. ISBN 0-674-77933-9 ISBN 0-674-77934-7 (pbk). Rosen, Charles. 1997. The Classical Style: Haydn, Mozart, Beethoven, expanded edition, with CD recording. New York: W. W. Norton. ISBN 0-393-31712-9. Sadie, Stanley (ed). 1988. The Grove Concise Dictionary of Music. London: Macmillan Publishers. ISBN 0-333-43236-3 (cloth); ISBN 0-393-02620-5 (pbk). Salzer, Felix Structural Hearing: Tonal Coherence in Music. 2 vols. New York: Dover Publications. Schenker, Heinrich. 1979. Free Composition (Der freie Satz): Volume III of New Musical Theories and Fantasies, edited by Oswald Jonas, translated by Ernst Oster. 2 vols. New York: Longman. ISBN 0-582-28073-7. Schoenberg, Arnold. 1966. Harmonielehre, 7th edition. Vienna: Universal-Edition. ISBN 3-7024-0029-X.
columbia (tên).txt
Columbia là tên thi ca và tên phổ thông đầu tiên dùng để chỉ Hoa Kỳ. Nó cũng là nguồn gốc tên của Đặc khu Columbia là đặc khu liên bang và thủ đô liên bang của Hoa Kỳ. Columbia có hình dạng của một người phụ nữ và cái tên này được lấy ra từ tên của Christopher Columbus là một trong những người châu Âu thám hiểm châu Mỹ sau người Vikings. Biệt danh này có từ trước Cách mạng Mỹ năm 1776 nhưng bị bỏ dần vào đầu thế kỷ 20. == Lịch sử == Christopher Columbus không được xem là một vị anh hùng của Mười ba Thuộc địa cho đến giữa thế kỷ 18 khi mà lòng tự ái quốc gia đang phát triển trong số các thuộc địa. Người Anh luôn nói đến đến John Cabot và Sebastian Cabot và không có nhắc đến Columbus vì lý do chính trị. Nhưng đối với quốc gia Hoa Kỳ phôi thai, anh em Cabot không phải là những anh hùng quốc gia mà là "tay chân là cái bóng của vua Anh" trong lúc đó Tây Ban Nha không còn là một mối đe dọa lớn. Quốc gia non trẻ này bắt đầu nhìn về Columbus như một vị anh hùng khai phá và với sự thay đổi thái độ đó, cái tên Columbia bắt đầu càng trở nên phổ thông. Những người cổ võ đặt tên của Hoa Kỳ là "Columbia" tiếp tục hối thúc cho cái tên này thậm chí sau khi Hiến pháp Hoa Kỳ đã được thông qua. Theo George R. Stewart, cái tên "United States" bị chỉ trích là quá dài, không chính xác và không nên thơ và rằng Đại hội Hiến pháp năm 1787 sẽ là thời gian lý tưởng để đổi tên. Theo Stewart, hai người có lẽ sẽ tranh cãi nhiều nhất cho việc đổi tên hay này là Thomas Jefferson và Benjamin Franklin. Nhưng lúc đó Jefferson đang ở Pháp còn Franklin thì đã già và "không còn hào khí". Vì thế quốc gia vẫn giữ nguyên tên gọi là "United States" nhưng sự ủng hộ cho tên gọi "Columbia" vẫn còn tồn tại. Cái tên này đã được chọn để đặt tên cho nhiều quận và thị trấn ở Hoa Kỳ. Năm 1791, năm trước lễ kỷ niệm 300 chuyến du hành đầu tiên của Columbus đến châu Mỹ năm 1492 và là lần đầu tiên Hoa Kỳ mừng Lễ Columbus, ba ủy viên mà Tổng thống George Washington bổ nhiệm đã đặt tên đặc khu liên bang tương lai mà sau này trở thành thủ đô của chính phủ Hoa Kỳ là "Lãnh thổ Columbia". Năm 1792, Sông Columbia nhận được cái tên của nó như vậy. Ngay trước Đại hội Hiến pháp năm 1786, Nam Carolina đã đặt tên "Columbia" cho thủ phủ mới của họ. Danh từ riêng "Columbia" là một cái tên được dùng rộng rãi trong tiếng Anh, được rút ra từ tên gọi Christopher Columbus. Vì vậy, nó được dùng trong một ý nghĩa rộng để chỉ châu Mỹ. Thuật từ "Tiền-Columbia" có ý ám chỉ thời gian trước khi Columbus và các nhà thám hiểm châu Âu đến châu Mỹ. Columbia cũng là hình tượng nữ quốc gia của Hoa Kỳ tương tự như hình tượng nam Chú Sam, hình tượng nữ Britannia và hình tượng nam John Bull của Vương quốc Anh, hình tượng Italia Turrita của Ý và hình tượng Marianne của Pháp thường được thấy trong các bức hí họa chính trị trong đầu thế kỷ 20. Thuật từ Columbian trong tiếng Anh được dùng có ý nói đến "thuộc Mỹ" và có nhiều lời đề nghị rằng nó nên được sử dụng lại như là từ thay thế cho thuật từ "American" nhưng nó không được dùng trở lại một cách rộng rãi. Việc thành lập "Cộng hòa Colombia" năm 1819 (theo sau là Hợp chúng quốc Colombia năm 1863 và cuối cùng là cộng hòa hiện đại Colombia năm 1886) có thể đã khiến cho cái tên Columbia "không còn trống để đặt tên quốc gia" cho Hoa Kỳ. Người nói tiếng Anh thông thường đánh vần sai cái tên Colombia thành "Columbia" và thường phát âm cả hai tên này như nhau. == Tên Columbia xuất hiện thời nay == Mặc dù cái tên này đã không còn được ưu ái nữa nhưng nó vẫn có thể được tìm thấy tại nhiều nơi tại Hoa Kỳ. Thí dụ, bài hát "Hail, Columbia" là quốc ca xưa của Hoa Kỳ và bây giờ được sử dụng như quốc ca của Phó Tổng thống Hoa Kỳ. Ngoài ra, bài hát "Columbia, Gem of the Ocean" vẫn còn được hát thỉnh thoảng. Cái tên Columbia vẫn còn nằm trong tên chính thức trước đây của CBS là Columbia Broadcasting System, Đại học Columbia ở New York, Hãng phim Columbia Pictures, và Phi thuyền con thoi Columbia. == Xem thêm == Britannia Brother Jonathan Finnish Maiden Deutscher Michel Germania Goddess of Democracy Helvetia Johnny Canuck Johnny Reb Kathleen Ni Houlihan Tự do (nữ thần) Marianne Mother Svea National personification Tượng Nữ thần Tự do Chú Sam Yankee Doodle == Tham khảo == George R. Stewart. Names on the Land. Houghton Mifflin Company: Boston (1967). == Ghi chú ==
liverpool.txt
. Liverpool được một trong 5 hội đồng trong hạt đô thị Merseyside quản lý, và là một trong những các thành phố chủ chốt của Anh và có dân số đông thứ 5 — 447.500 năm 2006, với 816.000 sống ở trong Vùng đô thị Liverpool, một khu vực đô thị bao quanh thành phố Liverpool bao gồm các thị xã khác (như St. Helens và Haydock) nằm bên bờ sông Mersey cùng phía Liverpool nhưng không bao gồm các đô thị nằm bên bán đảo Wirral. Thuật ngữ Đại Merseyside đôi khi được sử dụng để mô tả một khu vực rộng hơn bao gồm cả khu tự quản Halton. Được xây dọc theo một dãy đồi vươn lên độ cao khoảng 230 m trên mực nước biển tại Đồi Everton, khu vực thành thị của thành phố này chạy trực tiếp đến Bootle và Crosby ở Sefton về phía bắc, và Huyton và Prescot ở Knowsley về phía đông. Nó nhìn qua Wallasey và Birkenhead qua sông Mersey về phía tây. Dân của Liverpool được gọi là Liverpudlian nhưng cũng được gọi là "Scouser", liên hệ đến thức ăn của địa phương có tên scouse, một dạng món thịt hầm. Từ scouse cũng đã trở thành từ đồng nghĩa với phương ngữ và giọng nói Liverpool. Năm 2007, thành phố kỷ niệm 800 năm thành lập và năm 2008 thành phố sẽ giữ danh hiệu Thủ đô văn hóa châu Âu (cùng với Stavanger, Na Uy). Trung tâm lịch sử của thành phố được UNESCO ghi vào danh sách di sản thế giới vào năm 2004, bởi giá trị của một thành phố hải cảng lâu đời thế kỷ 18, 19 với những tòa nhà thương mại, tòa nhà hành chính (bao gồm cả Hội trường St George), hệ thống kênh rạch, hải cảng, các khu phố lịch sử và các tượng đài văn hóa. == Lịch sử == Giấy chứng nhận đặc quyền của vua John năm 1207 đã thông báo việc thành lập đô thị Liverpool và đến giữa thế kỷ 16 dân số của nó vẫn dao động xung quanh con số 500, Vào thế kỷ 17 đã có tiến triển hơn trong việc tăng trưởng dân số và mậu dịch. Các cuộc chiến bảo vệ thành phố đã xảy ra trong thời kỳ Nội chiến Anh, bao gồm một cuộc bao vây 18 ngày năm 1644. Năm 1699, Liverpool đã được chuyển thành một giáo khu theo Sắc luật Quốc hội, cùng năm đó chuyến tàu chuyên chở nô lệ đầu tiên của Liverpool có tên Liverpool Merchant đã rời bên đi châu Phi. Khi mậu dịch từ Tây Ấn vượt qua Ireland và châu Âu, Liverpool bắt đầu phát triển. Ụ tàu ướt đầu tiên ở Anh Quốc đã được xây ở Liverpool vào năm 1715. Đến đầu thế kỷ 19, 40% mậu dịch thế giới là thông qua Liverpool và việc xây dựng các tòa nhà lớn đã phản ánh sự thịnh vượng này. Năm 1830, Liverpool và Manchester đã trở thành các thành phố đầu tiên có đường sắt liên thành phố, thông qua Đường sắt Liverpool và Manchester. Dân số tiếp tục tăng nhanh, đặc biệt thập niên 1840 khi hàng trăm ngàn người di cư Ireland đã bắt đầu đến do kết quả của nạn đói lớn. Đến năm 1851, khoảng 25% dân số thành phố là người sinh ra tại Ireland. Trong thời kỳ đầu của thế kỷ 20, Liverpool đã thu hút dân di cư khắp châu Âu. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai có 80 cuộc không kích vào Merseyside, giết chết 2500 người và gây hại cho hầu như một nửa nhà của ở vùng đô thị. Kể từ năm 1952, Liverpool đã kết nghĩa với Köln, Đức, một thành phố cùng chung cảnh ngộ bị bom oanh tạc. Sau chiến tranh thành phố đã được tái thiết lớn, bao gồm nhiều dự án nhà cửa và vũng tàu Seaforth, dự án vũng tàu lớn nhất ở Anh Quốc.. Thập niên 1960, Liverpool đã trở thành trung tâm của văn hóa tuổi trẻ. Âm nhạc của "Merseybeat" đã trở thành đồng nghĩa với The Beatles và các ban nhạc pop trong thời kỳ này đã đưa thành phố tham gia vào cuộc sống âm nhạc phổ thông. == Chú thích ==
shirakawa hideki.txt
Shirakawa Hideki (白川 英樹, Shirakawa Hideki, Bạch Xuyên Anh Thụ) (sinh 20 tháng 8 1936 tại Tokyo) là một nhà hóa học người Nhật Bản và là người giành được giải Nobel hóa học năm 2000 nhờ phát hiện ra polyme dẫn điện cùng với giáo sư vật lý Alan J. Heeger và giáo sư hóa học Alan G MacDiarmid tại Đại học Pennsylvania. == Tham khảo ==
khu vực tài chính.txt
Khu vực tài chính là một khu vực của nền kinh tế quốc dân chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính gồm: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ môi giới chứng khoán. Một khu vực tài chính vững vàng và hoạt động tốt sẽ là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế bởi nó chuyển các khoản tiết kiệm của cá nhân thành các khoản đầu tư. Phát triển khu vực tài chính bao gồm các chính sách về tự do hóa và thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực này cũng như các chính sách giám sát thận trọng đối với các tổ chức tài chính. Cần phân biệt khu vực tài chính với khu vực tài chính công. Cái thứ hai chỉ bao gồm các hoạt động của nhà nước (trung ương và địa phương) liên quan đến thuế và hàng hóa công cộng. == Tham khảo == Mishkin, Frederic S. (2004), Economics of Money, Banking, and Financial Markets, Seventh Edition, Addison Wesley. == Xem thêm == Tự do hóa tài chính Giám sát tài chính Khủng hoảng tài chính Ngân hàng Bảo hiểm Công ty chứng khoán
liên đoàn bóng đá việt nam.txt
Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Việt Nam. Liên đoàn bóng đá Việt Nam thành lập năm 1960 và hiện là thành viên của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) và Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF). Trụ sở của VFF ở đường Lê Quang Đạo – phường Mỹ Đình 1 – quận Nam Từ Liêm – Hà Nội. Chủ tịch của Liên đoàn bóng đá Việt Nam hiện nay là ông Lê Hùng Dũng. == Lịch sử == Tổ chức tiền thân của Liên đoàn bóng đá Việt Nam là Hội bóng đá Việt Nam (Vietnam Football Association). Hội bóng đá Việt Nam thành lập năm 1960, Chủ tịch Hội là ông Hà Đăng Ấn (cựu danh thủ bóng đá và là nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt Việt Nam). Phó Chủ tịch là ông Trương Tấn Bửu. Tháng 8 năm 1989, trong Đại hội Liên đoàn bóng đá Việt Nam lần thứ nhất, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam được thành lập thay thế Hội bóng đá Việt Nam, Chủ tịch Liên đoàn là ông Trịnh Ngọc Chữ, Phó chủ tịch là các ông Ngô Xuân Quýnh, Trần Vĩnh Lộc và Lê Bửu. Tổng thư ký là ông Lê Thế Thọ. Từ đó đến năm 2012, Liên đoàn bóng đá Việt Nam đã tổ chức thêm 5 lần đại hội vào các năm 1993, 1997, 2001, 2005 và 2009. === Chủ tịch === Trịnh Ngọc Chữ (tháng 8 năm 1989–1991) Dương Nghiệp Chí (quyền chủ tịch, năm 1991–tháng 10 năm 1993) Đoàn Văn Xê (tháng 10 năm 1993–tháng 10 năm 1997) Mai Văn Muôn (tháng 10 năm 1997–tháng 8 năm 2001) Hồ Đức Việt (tháng 8 năm 2001–2003) Trần Duy Ly (quyền chủ tịch, tháng 1 đến tháng 8 năm 2003) Mai Liêm Trực (năm 2003–tháng 6 năm 2005) Nguyễn Trọng Hỷ (tháng 6 năm 2005–2013) Lê Hùng Dũng (tháng 12 năm 2013–nay) === Tổng thư ký === Lê Thế Thọ (tháng 8 năm 1989–tháng 10 năm 1993) Trần Bẩy (tháng 10 năm 1993–tháng 10 năm 1997) Phạm Ngọc Viễn (tháng 10 năm 1997–21 tháng 1 năm 2005, từ chức) Phan Anh Tú (quyền tổng thư ký, 21 tháng 1 năm 2005–tháng 6 năm 2005) Trần Quốc Tuấn (ngày 2 tháng 6 năm 2005–26 tháng 12 năm 2011) Ngô Lê Bằng (ngày 28 tháng 2 năm 2012–2014) Lê Hoài Anh (ngày 31 tháng 3 năm 2014 đến nay) == Liên đoàn thành viên == Có 24 tổ chức liên đoàn bóng đá khu vực là thành viên của VFF: === Miền bắc === Liên đoàn bóng đá Hà Nội Liên đoàn bóng đá Hải Phòng Liên đoàn bóng đá Thanh Hóa Liên đoàn bóng đá Quảng Ninh Liên đoàn bóng đá Nam Định Liên đoàn bóng đá Yên Bái Liên đoàn bóng đá Lạng Sơn Liên đoàn bóng đá Thái Nguyên === Miền trung và Tây Nguyên === Liên đoàn bóng đá Thừa Thiên – Huế Liên đoàn bóng đá Đà Nẵng Liên đoàn bóng đá Quảng Nam Liên đoàn bóng đá Quảng Ngãi Liên đoàn bóng đá Bình Định Liên đoàn bóng đá Phú Yên Liên đoàn bóng đá Kon Tum Liên đoàn bóng đá Đắk Lắk Liên đoàn bóng đá Lâm Đồng === Miền nam === Liên đoàn bóng đá Bình Dương Liên đoàn bóng đá thành phố Hồ Chí Minh Liên đoàn bóng đá Tây Ninh Liên đoàn bóng đá Long An Liên đoàn bóng đá Tiền Giang Liên đoàn bóng đá Vĩnh Long Liên đoàn bóng đá Cần Thơ Liên đoàn bóng đá An Giang == Quản lý == === Đội tuyển === ==== Nam ==== Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá U-23 quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá U-21 quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá U-19 quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá U-16 quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá U-14 quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá trong nhà quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá bãi biển quốc gia Việt Nam ==== Nữ ==== Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá U-19 nữ quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá U-16 nữ quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá U-14 nữ quốc gia Việt Nam Đội tuyển bóng đá trong nhà nữ quốc gia Việt Nam === Các giải đấu quốc gia === ==== Nam ==== Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (V.League 1) Giải bóng đá hạng nhất quốc gia Việt Nam (V.League 2) Giải bóng đá hạng nhì quốc gia Việt Nam Giải bóng đá hạng ba quốc gia Việt Nam Giải vô địch bóng đá U21 Việt Nam Giải vô địch bóng đá U19 Việt Nam Giải vô địch bóng đá U17 Việt Nam Giải vô địch bóng đá U15 Việt Nam Giải vô địch bóng đá thiếu niên Việt Nam Giải vô địch bóng đá nhi đồng Việt Nam Giải vô địch bóng đá trong nhà quốc gia Việt Nam Giải vô địch bóng đá bãi biển Việt Nam ==== Nữ ==== Giải vô địch bóng đá nữ Việt Nam Giải vô địch bóng đá U19 nữ Việt Nam === Các cúp quốc gia === Cúp bóng đá Việt Nam Siêu cúp bóng đá Việt Nam Giải bóng đá trong nhà cúp quốc gia Việt Nam == Biểu trưng của liên đoàn == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Liên đoàn Bóng đá Việt Nam Báo Bóng đá do Liên đoàn Bóng đá Việt Nam làm chủ quản Liên đoàn bóng đá Việt Nam trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) Liên đoàn bóng đá Việt Nam trên trang chủ của AFC
giấy phép công cộng mozilla.txt
Giấy phép Công cộng Mozilla (Mozilla Public License - MPL) là một giấy phép phần mềm tự do và mã nguồn mở. Phiên bản 1.0 do Mitchell Baker phát triển khi bà là luật sư tại Tập đoàn Thông tin liên lạc Netscape và phiên bản 1.1 tại Quỹ Mozilla. Đặc điểm của MPL là lai giữa giấy phép BSD có chỉnh sửa và Giấy phép Công cộng GNU. MPL là giấy phép dùng cho Mozilla Application Suite, Mozilla Firefox, Mozilla Thunderbird và các phần mềm khác của Mozilla. MPL đã được nhiều người sử dụng lại làm giấy phép cho phần mềm của họ, đáng chú ý nhất có Sun Microsystems, với Giấy phép Phát triển và Phân phối Chung dành cho OpenSolaris, phiên bản mã nguồn mở của hệ điều hành Solaris 10, và hãng Adobe, với giấy phép cho dòng sản phẩm Flex của hãng. == Điều khoản == Giấy phép được xem là một copyleft yếu. Cụ thể hơn, mã nguồn nếu được sao chép hoặc thay đổi theo giấy phép MPL phải giữ nguyên giấy phép MPL. MPL vừa được Sáng kiến Mã nguồn mở chứng nhận vừa là giấy phép phần mềm mã nguồn mở vừa được Quỹ Phần mềm Tự do chứng nhận là một giấy phép phần mềm tự do. == Tương thích với các giấy phép khác == Không giống như những giấy phép copyleft mạnh, mã nguồn được cấp phép theo MPL có thể được kết hợp với các tập tin thương mại trong một chương trình ("Tác phẩm Lớn hơn"). Ví dụ, Netscape 6 trở về sau là các phiên bản thương mại của Mozilla Application Suite, bằng cách thêm chương trình AIM thương mại và các phần khác. Giấy phép MPL xem tập tin mã nguồn là biên giới giữa mã theo MPL và các phần thương mại, có nghĩa là một tập tin mã nguồn nào đó (như tập tin C++, JavaScript hay XUL) hoặc là hoàn toàn MPL hoặc là hoàn toàn thương mại. Giấy phép GPL, ngược lại, sử dụng ranh giới tiến trình của tập tin thi hành làm ranh giới giấy phép (để biết thêm chi tiết, xem bài GPL). == Tương thích với GPL == Quỹ Phần mềm Tự do (FSF) xem giấy phép này là một giấy phépp phần mềm tự do, nhưng "không phải copyleft mạnh". Tuy nhiên, "không giống như giấy phép X11" giấy phép này có "một số hạn chế phức tạp" khiến cho nó không tương thích với GNU GPL. Tổ chức này khuyên mọi người không sử dụng giấy phép vì sự không tương thích này trừ phi điều khoản trong tiết đoạn 13 của MPL bị loại bỏ để giúp cho tác phẩm có thể phát hành theo GPL hoặc một giấy phép tương thích GPL. Vì những lý do này, Mozilla Suite và Firefox đã được cấp phép lại theo nhiều giấy phép, gồm có MPL, GPL và LGPL. == Các giấy phép dựa trên MPL == Giấy phép Phát triển và Phân phối Chung Giấy phép Công cộng Sun Giấy phép Công cộng gSOAP Giấy phép Công cộng AROS Giấy phép Công cộng SugarCRM Giấy phép Ghi công Công cộng Giấy phép Công cộng Erlang == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Mozilla Public License, version 1.1, plain text (mozilla.org) Annotated Mozilla Public License, version 1.1 (mozilla.org) MPL FAQ (mozilla.org) Mozilla Relicensing FAQ (mozilla.org) List of OSI approved licenses
cúp nhà vua (thái lan).txt
Cúp Nhà vua (tiếng Thái: คิงส์คัพ; tiếng Anh: King's Cup) là một cuộc tranh tài nhiều bộ môn được tổ chức hàng năm tại Thái Lan. Những đội tham dự thường là khách mời. Những bộ môn thường được tranh tài tại Cúp Nhà vua là bóng đá, boxing, cầu mây... Trong đó, bóng đá nhiều lúc có đến 7 đội tham dự, được xem như Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á (AFF Cup) thu nhỏ. Việt Nam đã được mời tham dự bóng đá Cúp Nhà vua năm 2006 và đoạt hạng 2. Và cũng từng đoạt 1 huy chương vàng Cầu mây tại giải Cúp Nhà vua thứ 23 năm 2008 (Lê Tiến Dũng [1]), nhiều lần được huy chương bạc. == Xem thêm: == Cúp Nhà vua (Thái Lan) Bóng đá == Tham khảo == == Liên kết ngoài == ประวัติความเป็นมาของฟุตบอลชิงถ้วยพระราชทานคิงส์คัพ (tiếng Thái) Thailand King's Cup Super 8 Tournament (tiếng Anh) มวยสากลสมัครเล่นชิงถ้วยพระราชทานคิงส์คัพ (tiếng Thái) การแข่งขันตะกร้อชิงถ้วยพระราชทานคิงส์คัพ (tiếng Thái)
hội hoàng gia luân đôn.txt
Hội Hoàng gia, trụ sở đặt tại 6-9 Carlton House Terrace, Luân Đôn, Vương quốc Anh từ 1967, là tên gọi phổ thông của Chủ tịch, Hội đồng, và Thân hữu Hội Hoàng gia Luân Đôn Mở mang Kiến thức Tự nhiên. Một số văn bản tiếng Việt còn gọi hội này là Hội Hoàng gia Luân Đôn hoặc Hội Khoa học Hoàng gia Anh. Nó được thành lập vào tháng 11 năm 1660, là một hội khoa học thuộc loại lâu đời nhất trên thế giới và có uy tín rất lớn trong giới nghiên cứu khoa học kể từ thời kỳ Phục Hưng đến nay. Hội Hoàng gia Luân Đôn được ủng hộ bởi Hiến chương Hoàng gia Anh do vua Charles đệ nhị đề xuất. Xuất phát điểm của hội là từ một học viện ẩn danh, mà ở đó các nhà khoa học muốn tổ chức nghiên cứu và thảo luận các vấn đề khoa học. Hội Hoàng gia Luân Đôn do một hội đồng các nhà khoa học dưới sự lãnh đạo của chủ tịch hội, được bầu bởi các thành viên của hội đồng. Các thành viên mới mới được tham gia hội dựa trên sự đề bạt của các thành viên trong hội. Tính đến nay số thành viên của Hội Hoàng gia Luân Đôn là 1,314 người. Mỗi năm hội kết nạp khoảng 44 người. Hội này có các thành viên nổi tiếng như Issac Newton, Henri Poincaré. === Lịch sử === Tiền thân của Hội hoàng gia Luân Đôn là một nhóm rất nhỏ các nhà khoa học chỉ có 12 người, nhóm này họp mặt không cố định ở một địa điểm. Nhóm thảo luận về các vấn đề khoa học mới theo khuyến khích của Francis Bacon. Họ chia sẻ các thành tựu mà mình đạt được giữa các thành viên thuộc nhóm. Nhưng vào thời điểm này việc đi lại cũng gặp nhiều khó khăn nên các thành viên tham gia thảo luận thường không đầy đủ giữa các thành viên Hiệp hội Luân Đôn và thành viên Hiệp hội Oxford, nơi hoạt động sôi nổi nhất. Vào năm 1658, Hội bị giải tán dưới chế độ bảo hộ Anh, khi các binh lính chiếm lấy phòng họp tại học viện Gresham. Sau đó Hội hoạt động trở lại vào thời kỳ "Phục hồi của Anh". Vì số thành viên lúc này rất đông nên nhu cầu lập một hội chính thức trở nên cấp thiết. Thế là vào ngày 2 tháng 11 năm 1660, một nhóm các nhà khoa học của Học viện ẩn danh công bố thành lập "Học viện khuyến khích học tập vật lý và toán học thực nghiệm". Nhà vua Charles II khi đó cho phép và Hiến chương Hoàng gia Anh ký quyết định cho lập Hội ngày 15 tháng 7 năm 1662, với chủ tịch đầu tiên là ngài Brouncker. == Xem thêm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website Hội Hoàng gia Luân Đôn Danh sách viện sĩ Hội Hoàng gia Luân Đôn Kỷ niệm lần thứ 350 tồn tại của Hội Website xuất bản Hội Hoàng gia Luân Đôn Lược sử Hội Hoàng gia Luân Đôn Các bản công bố khoa học của Hội từ 1665 tới 2005
nguyên thủ quốc gia.txt
Nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu một quốc gia. Trong một số quốc gia, nguyên thủ kiêm trách nhiệm đứng đầu cơ quan hành pháp. Tuy nhiên, hiện nay ngoài một vài nguyên thủ quốc gia như Tổng thống Hoa Kỳ, Tổng thống Hàn Quốc, Tổng thống Indonesia, Chủ tịch Cuba,… cũng là người đứng đầu chính phủ, hầu hết các nguyên thủ quốc gia khác chỉ giữ một chức vụ danh dự với những quyền lực hạn chế như đại diện quốc gia trong các nghi lễ quan trọng, phong thưởng các tước hàm cao cấp, ký các sắc lệnh và tuyên bố tình trạng chiến tranh. == Một số danh xưng Việt dùng để chỉ vị trí Nguyên thủ quốc gia == Ngoài ra còn một số danh xưng nguyên thủ được xem là tương đương với danh hiệu Hoàng đế, như: Sultan = Vua Thổ Nhĩ Kỳ, vua ở một số nước Hồi giáo; Êmia = Tiểu vương (Hồi giáo); Shah = Vua Ba Tư; Padishah = Vua Ba Tư, vua Thổ Nhĩ Kỳ; Kaiser = Danh hiệu của các Hoàng đế La Mã Thần thánh, cũng như các Hoàng đế Áo và Hoàng đế Đức sau này; Và 2 danh hiệu danh cho 2 nhà độc tài ở châu Âu: Führer = (chỉ dùng cho Hitler); Duce (chỉ dùng cho Mussolini); == Các vị nguyên thủ trên thế giới == Để tra cứu nhanh các vị nguyên thủ đương nhiệm, xin xem Danh sách lãnh tụ quốc gia. Để tra cứu về các vị cựu nguyên thủ, xin xem danh sách theo từng nước, thí dụ: Anh: Nữ hoàng Anh Campuchia: Danh sách nguyên thủ quốc gia Campuchia Canada: Toàn quyền Canada Đức: Tổng thống Đức Hoa Kỳ: Tổng thống Hoa Kỳ Lào: Chủ tịch nước Lào Liên Xô: Danh sách lãnh tụ Liên Xô Nga: Tổng thống Nga Pháp: Tổng thống Pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Úc: Toàn quyền Úc Việt Nam: Vua Việt Nam Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Chủ tịch nước Việt Nam == Chú thích ==
marcel de graaff.txt
M.J.R.L. "Marcel" de Graaff (sinh ngày 7 tháng 4 năm 1962) là một chính trị gia người Hà Lan. Ông là thành viên của Nghị viện châu Âu (MEP) cho Hà Lan từ năm 2014. Ông đại diện cho Đảng vì Tự do và ông là đồng chủ tịch của châu Âu của các quốc gia và tự do. Ông học thần học và làm việc như một chuyên gia tư vấn về CNTT, giáo viên trung học tôn giáo và quản lý tại KPN. Ông là thành viên của Thượng viện Hà Lan cho Đảng vì Tự do từ năm 2011 đến năm 2014. Marcel de Graaff sinh ngày 7 tháng 4 năm 1962 tại Rotterdam, Hà Lan. De Graaff đã học thần học tại Đại học Radboud Nijmegen giữa năm 1981 và năm 1988. == Nghề nghiệp == De Graaff đã làm chuyên gia tư vấn về CNTT & Vận hành từ ngày 1 tháng 8 năm 1989. Ông là giáo viên tôn giáo tại một trường trung học ở Rotterdam từ ngày 1 tháng 1 năm 2010 đến ngày 1 tháng 7 năm 2010. Ông cũng là giám đốc của KPN. De Graaff là thành viên của Thượng viện Hà Lan đại diện cho Đảng vì Tự do từ ngày 7 tháng 6 năm 2011 đến ngày 1 tháng 7 năm 2014. Ông là lãnh đạo nhóm nghị sĩ của Đảng Tự do trong Thượng viện từ ngày 25 tháng 9 năm 2012 đến ngày 10 tháng 6 năm 2014. == Tham khảo ==
lâu đài durham.txt
Lâu đài Durham là một lâu đài Norman ở thành phố Durham, Anh, mà đã hoàn toàn thuộc khuôn viên University College, Durham kể từ năm 1840 bởi. Nó được mở cửa cho công chúng tham quan, nhưng chỉ thông qua hướng dẫn du lịch, kể từ khi nó được sử dụng như một tòa nhà làm việc và là nhà của hơn 100 sinh viên. Tòa lâu đài đứng trên đỉnh một ngọn đồi phía trên sông Mang trên bán đảo Durham, đối diện Nhà thờ Durham (Lưới tọa độ NZ274423). == Tham khảo ==
mishima yukio.txt
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Mishima. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau). Mishima Yukio (三島 由紀夫; phiên âm: Tam Đảo Do Kỷ Phu), tên thật Hiraoka Kimitake (平岡 公威; phiên âm: Bình Cương Công Uy) (14 tháng 1 năm 1925 - 25 tháng 11 năm 1970) là một nhà văn và nhà biên kịch Nhật Bản, nổi tiếng với các tác phẩm như Kim Các Tự (Kinkakuji 1956), bộ bốn tác phẩm "豐饒の海" (Hōjō no Umi, "Bể phong nhiêu", 1965-70). == Thời niên thiếu == Mishima sinh ra tại quận Yotsuya ở Tokyo (ngày nay là một phần của Shinjuku). Cha ông, Azusa Hiraoka, làm công chức còn mẹ ông Shizue, là con một hiệu trưởng tại Tokyo. Ông bà nội của Mishima là Jotarō và Natsuko Hiraoka. Ông có một người em trai tên là Chiyuki và một em gái Mitsuko, qua đời sớm do sốt ban. Chính Natsuko Hiraoka đóng vai trò then chốt trong thời niên thiếu của Mishima vì bà là người nuôi dạy Mishima một thời gian. Thuộc dòng dõi quý tộc, Natsuko là cháu nuôi của Matsudaira Yoritaka, một daimyo của Shishido tại tỉnh Hitachi và lớn lên trong gia đình công chúa Arisugawa Taruhito; bà vẫn duy trì lễ giáo quý tộc ngay cả sau khi kết hôn với ông của Mishima. Natsuko là một người cục cằn và dễ nổi nóng, điều này thường xuyên được ám chỉ trong các tác phẩm của Mishima. Chính qua tìm hiểu Natsuko mà một số người đã phát hiện nỗi ám ảnh với cái chết của Mishima. Natsuko thường không cho Mishima ra ngoài ánh nắng hay tham gia vào bất hoạt động thể thao nào với các cậu bé khác; điều này khiến ông phải dành phần lớn thời gian một mình hoặc chơi đồ chơi con gái. Mishima trở về sống với cha mẹ năm 12 tuổi. Cha ông, một con người của kỉ luật quân đội, đã áp dụng kỉ luật sắt với cậu bé Mishima bằng cách bồng cậu bé lên thành của một con tàu cao tốc; cha của Mishima cũng thường xuyên lùng sục phòng của ông và phát hiện những sở thích "ẻo lả" về văn chương của Mishima và xé các bản thảo đó của ông. == Sự nghiệp học hành và các tác phẩm đầu tiên == Ở tuổi 12, Mishima viết những câu chuyện đầu tiên của ông. Ông đọc rất nhiều các tác phẩm của Oscar Wilde, Rainer Maria Rilke và vô số những tác gia kinh điển Nhật Bản khác. Ông nhập học một trường dành cho tầng lớp quý tộc ở Nhật. Sau sáu năm học, Mishima trở thành thành viên trẻ nhất trong ban biên tập văn học của trường, ông bị cuốn hút bởi các tác phẩm của Tachihara Michizō. Những tác phẩm xuất bản đầu tiên của ông bao gồm thơ Waka, trước khi chuyển hướng sang thể loại văn xuôi. Mishima được mời viết truyện ngắn văn xuôi cho tạp chí văn học của trường và gửi bản Hanazakari no Mori (花ざかりの森 Khu rừng kết hoa), một câu chuyện trong đó người kể mô tả cảm xúc về những người tổ tiên còn sống trong nội tâm nhân vật. Giáo viên của Mishima rất ấn tượng với câu chuyện và họ giới thiệu nó cho tạp chí văn học uy tín, Bungei-Bunka (文芸文化 Văn nghệ Văn hóa). Câu chuyện với ngôn ngữ ẩn dụ và cách ngôn, đã được xuất bản năm 1944, giới hạn trong 4000 bản do việc thiếu nguyên liệu giấy thời chiến tranh. Để bảo vệ ông khỏi phản ừng từ các bạn đồng môn, các giáo viên của Mishima đã đặt cho ông bút danh "Mishima Yukio". Chuyện Tabako (煙草, Thuốc lá), xuất bản năm 1946, mô tả sự khinh miệt và đối xử mà Mishima gặp phải ở trường khi ông thổ lộ với những thành viên của CLB Rugby trường rằng ông gắn bó với nghề văn chương. Những ký ức này cũng là nguồn tư liệu cho tác phẩm Shi o Kaku Shōnen (詩を書く少年, tạm dịch: Cậu bé làm thơ) sau này, xuất bản năm 1954. Mishima bị gọi kiểm tra sức khỏe quân ngũ trong thế chiến II. Nhưng khi kiểm tra sức khỏe, ông bị cảm lạnh và đã nói dối với bác sĩ quân đội rằng mình bị lao, vì vậy Mishima đã được tuyên bố là không đủ tiêu chuẩn sức khỏe nhập ngũ. Dù cho người cha cấm ông không được viết truyện nữa, nhưng Mishima vẫn tiếp tục bí mật viết vào buổi đêm, dưới sự ủng hộ và bảo vệ của mẹ ông, bà luôn là người đầu tiên đọc một chuyện mới của Mishima. Tham dự các buổi thuyết giảng ban ngày và viết truyện ban đêm, Mishima tốt nghiệp trường Đại học Tokyo năm 1947. Sau đó ông giành được một vị trí nhân viên bộ tài chính trong chính phủ, một tương lai xán lạn đang chờ đón. Tuy nhiên, Mishima lại cảm thấy kiệt sức và cha ông đồng ý cho ông từ chức trong năm đầu tiên để tập trung thời gian cho viết lách. == Các tác phẩm thời hậu chiến == Mishima bắt đầu viết truyện ngắn Misaki nite no Monogatari (岬にての物語 Chuyện chiếc áo choàng) năm 1945 và tiếp tục viết cho đến cuối thế chiến thứ 2. Vào tháng 1 năm 1946, ông tới thăm nhà văn Yasunari Kawabata tại Kamakura và mang theo bản thảo chuyện Trung thế (中世 The Middle Ages) và Tabako, nhằm xin lời khuyên và sự giúp đỡ của Kawabata. Tháng 6 năm 1946, nhờ lời khuyên của Kawabata, Tabako được tạp chí văn chương mới Ningen (人間 Nhân gian) xuất bản. Cũng trong năm 1946, Mishima bắt đầu viết tiểu thuyết đầu tay, Tōzoku (盗賊 Kẻ đạo chích), trong đó câu chuyện kể về hai thành viên trẻ trong gia đình quý tộc luôn muốn được tự vẫn. Tiểu thuyết này xuất bản năm 1948, nhờ nó mà Mishima đã được xếp vào hàng ngũ thế hệ thứ hai của những nhà văn thời hậu chiến. Sau đó, ông cho ra đời Kamen no kokuhaku (Lời tự thú của chiếc mặt nạ), một tác phẩm bán tự truyện kể về người đồng tình luôn phải lấp sau mặt nạ để hòa nhập vào xã hội. Cuốn tiểu thuyết đã rất thành công và biến Mishima trở thành một nhân vật nổi tiếng ở tuổi 24. Vào khoảng năm 1949, Mishima cho xuất bạn một serie tiểu luận trong tạp chí Kindai bungaku (Cận đại văn học) về Kawabata Yasunari, người mà ông dành cho một sự ngưỡng mộ sâu sắc. Mishima là một nhà văn đa tài, ông không chỉ viết tiểu thuyết, tiểu thuyết ngắn, truyện ngắn, tiểu luận mà còn là một nhà biên kịch có tiếng cho sân khấu kịch Kabuki và những phiên bản hiện đại của thể loại kịch Nō. Các tác phẩm của ông đã giành được tiếng vang quốc tế và rất nhiều trong số đó đã được dịch sang tiếng Anh. Mishima đã đi tới rất nhiều nơi; năm 1952, ông tới thăm Hy Lạp, đất nước đã từng làm say đắm ông từ thời thơ ấu. Những kinh nghiệm thu được từ chuyến thăm đã xuất hiện trong Shiosai (Tiếng sóng), xuất bản năm 1954, câu chuyện lấy cảm hứng từ thần thoại Daphnis và Chloe của Hy Lạp. Mishima cũng khắc họa những sự kiện đương thời trong các tác phẩm của mình. Kim Các Tự(The Temple of the Golden Pavilion) xuất bản năm 1956, là một câu chuyện tiểu thuyết hóa về vụ cháy ngôi chùa nổi tiếng ở Kyoto. Utage no Ato (Sau bữa tiệc), xuất bản năm 1960, bám sát những sự kiện xung quanh chiến dịch tranh cử thị trưởng Tokyo của chính trị gia Hachirō Arita, vì tác phẩm này mà Mishima đã bị kiện vị tội xâm phạm cá nhân. Năm 1962, tác phẩm Utsukushii Hoshi (Những ngôi sao đẹp), một tác phẩm gần với thể loại khoa học viễn tưởng thời đó, được xuất bản và nhận được những phản ứng trái ngược. Mishima từng ba lần được đề cử giải Nobel và là một nhà văn yêu thích của rất nhiều nhà xuất bản quốc tế. Tuy nhiên, năm 1968, người thầy đầu tiên của ông Kawabata giành được giải Nobel và Mishima hiểu rằng cơ hội nhận được giải thưởng cho người Nhật Bản trong tương lai gần là rất nhỏ. Cũng có tin đồn rằng Mishima muốn chuyển giải thưởng cho bậc lão thành Kawabata, người đã giới thiệu ông tới văn đàn Tokyo trong thập niên 1940. == Cuộc sống cá nhân == Năm 1955, Mishima tham gia lớp tập thể thao và chế độ dinh dưỡng cho tập luyện ba buổi một tuần được ông tuân thủ trong suốt 15 năm cuối đời. Trong bài tiểu luận xuất bản năm 1968, Mặt trời và Ánh thép, Mishima phàn nàn về việc những nhà trí thức coi trọng đầu óc hơn thân thể. Mishima sau đó đã trở nên rất điêu luyện với môn kendō. Dù cho đã từng thăm các quan bar dành cho gay ở Nhật Bản, vấn đề định hướng giới tính của Mishima hiện vẫn là một chủ đề bàn thảo ở Nhật. Mishima kết hôn với Yoko Sugiyama ngày 11 tháng 6 năm 1958 và có hai con là Noriko (1959) và Lichiro (1962). Năm 1967, Mishima gia nhập Lực lượng phòng vệ đất liền Nhật Bản và trải qua việc tập luyện cơ bản. Một năm sau đó, ông thành lập Tatenokai (Hội lá chắn) nhằm tập hợp các thanh niên trai tráng có võ và thề sẽ bảo vệ Nhật Hoàng. Trong 10 năm cuối cuộc đời, Mishima viết một vài vở kịch và tham gia đóng trong vài bộ phim cũng như đồng chỉ đạo một bộ phim chuyển thể từ một trong những chuyện của ông, Patriotism, the Rite of Love and Death. Ông cũng tiếp tục viết bộ bốn tác phẩm, Hōjō no Umi (Bể phong nhiêu), những tác phẩm xuất bản theo khổ định kỳ từ tháng 9 năm 1965. == Tự vẫn == Ngày 25 tháng 11 năm 1970, Mishima và bốn thành viên của Hội lá chắn, tới thăm sĩ quan chỉ huy doanh trại Ichigaya, một trụ sở ở Tokyo của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản. Bên trong trụ sở, họ dựng chướng ngại vật và trói vị chỉ huy trên ghế. Với một bản tuyên ngôn và khẩu hiệu chuẩn bị sẵn nêu rõ các yêu cầu, Mishima bước ra ban công để hô hào các binh sĩ tụ tập phía dưới và xúi giục họ đảo chính để thiết lập lại sức mạnh của hoàng đế. Tuy nhiên, những lời nói của Mishima chỉ chọc giận các binh sĩ và bản thân ông thì bị chế giễu. Ông hoàn thành bài diễn văn đã chuẩn bị sẵn, trở lại phòng chỉ huy và tự sát theo nghi thức seppuku, nhiệm vụ sau cùng truyền thống của nghi thức này được giao cho thành viên Masakatsu Morita của Hội lá chắn thực hiện, tuy nhiên Morita không đủ khả năng thực hiện điều này và cuối cùng Mishima cho phép một thành viên khác của Hội lá chắn, là Hiroyasu Koga,chặt đầu ông. == Sau đó == Những nghi vấn được đặt ra xung quanh sự tự vẫn của Mishima. Vào thời điểm Mishima qua đời, ông đã hoàn thành tác phẩm cuối cùng Bể phong nhiêu. Ông được công nhận là một trong những nhà văn hậu chiến phong cách nhất trong văn học ngôn ngữ Nhật. Mishima viết 40 tiểu thuyết, 18 vở kịch, 20 sách về truyện ngắn, khoảng 20 sách về tiểu luận cũng như một kịch bản. Phần lớn các tác phẩm này bao gồm những cuốn sách được viết nhanh nhằm thu lợi nhuận, dù chúng bị coi nhẹ nhưng những phần quan trọng của các cuốn sách này vẫn được lưu giữ. == Chính trị == Vào cuối đời, Mishima là một người tán dương chủ nghĩa dân tộc. Các nhân vật cánh tả không ưa gì ông, đặc biệt là vì ý tưởng chấn hưng tinh thần võ sĩ đạo (bushidō) của Mishima, ông cũng bị rất nhiều những người theo chủ nghĩa dân tộc chỉ trích vì luận điểm nêu ra trong Bunka Bōeiron (文化防衛論 A Defense of Culture), cho rằng Hirohito nên thoái vị và phải nhận trách nhiệm cho sự chết chóc trong chiến tranh. == Giải thưởng == Giải Shincho của Nhà xuất bản Shinchosha, 1954, cho Tiếng sóng. Giải Kishida của Nhà xuất bản Shinchosha cho các tác phẩm kịch, 1955. Giải Yomiuri của Báo Yomiuri Newspaper Co., cho tiểu thuyết xuất sắc nhất, 1957, Kim Các tự. Giải Yomiuri của Báo Yomiuri Newspaper Co., cho vở kịch xuất sắc nhất, 1961, Hoa cúc 10 ngày. == Các tác phẩm chính == *Với ngôi đền mang tên Kinkaku-ji, xem Kinkaku-ji. == Các vở kịch == Ngoài các vở kịch cho thể loại kịch đương thời như Madame de Sade, Mishima viết lời cho hai thể loại kịch truyền thống của Nhật khác là Nō và Kabuki. Donald Keene dịch tác phẩm Five Modern Noh Plays (Tuttle, 1981; ISBN 0-8048-1380-9). Phần lớn còn lại chưa được dịch, do vậy tên các tác phẩm chỉ để tựa đề tiếng Nhật phiên âm. == Phim == == Các cuốn sách về Mishima == Ba-ra-kei: Ordeal by Roses by Eikō Hosoe and Mishima (photoerotic collection of images of Mishima, with his own commentary) (Aperture 2002 ISBN 0-89381-169-6) Deadly Dialectics: Sex, Violence, and Nihilism in the World of Yukio Mishima by Roy Starrs (University of Hawaii Press, 1994, ISBN 0-8248-1630-7 and ISBN 0-8248-1630-7) Escape from the Wasteland: Romanticism and Realism in the Fiction of Mishima Yukio and Oe Kenzaburo (Harvard-Yenching Institute Monograph Series, No 33) by Susan J. Napier (Harvard University Press, 1995 ISBN 0-674-26181-X) Mishima: A Biography by John Nathan (Boston, Little, Brown and Company 1974, ISBN 0-316-59844-5) Mishima ou la vision du vide (Mishima: A Vision of the Void), essay by Marguerite Yourcenar trans. by Alberto Manguel 2001 ISBN 0-226-96532-5) Rogue Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors by Colin Wilson (Mishima profiled in context of phenomenon of various "outsider" Messiah types), (Hampton Roads Publishing Company 2000 ISBN 1-57174-175-5) The Life and Death of Yukio Mishima, by Henry Scott Stokes London: Owen, 1975 ISBN 0-7206-0123-1) The Madness and Perversion of Yukio Mishima by Jerry S. Piven. (Westport, Connecticut, Praeger Publishers, 2004 ISBN 0-275-97985-7) Yukio Mishima by Peter Wolfe ("reviews Mishima's life and times, discusses, his major works, and looks at important themes in his novels," 1989, ISBN 0-8264-0443-X) Yukio Mishima, Terror and Postmodern Japan by Richard Appignanesi (2002, ISBN 1-84046-371-6) Mishima's Sword–Travels in Search of a Samurai Legend by Christopher Ross (2006, ISBN 0-00-713508-4) Mishima: A Life in Four Chapters (1985), a film directed by Paul Schrader [1] Yukio Mishima: Samurai Writer, a BBC documentary on Yukio Mishima, directed by Michael Macintyre, (1985, VHS ISBN 978-1-4213-6981-5, DVD ISBN 978-1-4213-6982-2) == Tham khảo ==
máy in phun.txt
Máy in phun hay máy in phun kỹ thuật số (tiếng Anh: Inkjet printer) là một dạng máy in tạo ra hình ảnh kỹ thuật số bằng cách phun mực lên bề mặt giấy, nhựa hay các bề mặt khác. Máy in phun là loại phổ biến nhất được sử dụng trong các loại máy in với nhiều chủng loại giá cả từ loại rẻ tiền cho đến loại có giá trị hàng chục nghìn đô la Mỹ dùng trong công nghiệp in ấn. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Máy in phun, thông tin video từ Đại học Sheffield
hạm đội thái bình dương hoa kỳ.txt
Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ là một bộ tư lệnh Hải quân cấp chiến trường của các lực lượng vũ trang Quân đội Hoa Kỳ dưới quyền kiểm soát hoạt động của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ. Cảng nhà của hạm đội là Căn cứ Hải quân Trân Châu Cảng, Hawaii và dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, một đô đốc bốn sao. Trước ngày 24 tháng 10 năm 2002, tư lệnh có chức vụ là Tổng tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương. Một Hạm đội Thái Bình Dương được thành lập vào năm 1907 khi Hải đoàn Á châu (Asiatic Squadron) và Hải đoàn Thái Bình Dương sát nhập lại với nhau. Năm 1910, các chiến hạm của Đệ nhất Hải đoàn được tái tổ chức thành một Hạm đội Á châu riêng biệt. Tổng Chỉ thị ngày 6 tháng 12 năm 1922 tổ chức thành Hạm đội Hoa Kỳ với Hạm đội Chiến đấu như là hạm đội có mặt tại Thái Bình Dương. Hiện thân thời nay của hạm đội là từ lúc phân chia Hạm đội Hoa Kỳ ra thành Hạm đội Đại Tây Dương và Hạm đội Thái Bình Dương trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Cho đến tháng 5 năm 1940, đơn vị này đóng căn cứ bên duyên hải phía tây của Hoa Kỳ. Trong mùa hè năm đó, để đối phó với Chủ nghĩa Bành trướng Nhật Bản, hạm đội được lệnh tìm một vị trí tiền phương tại Trân Châu Cảng, Hawaii. Việc hạm đội đóng căn cứ lâu dài tại Trân Châu Cảng bị Đô đốc James O. Richardson phản đối kịch liệt và chính ông đã phản đối chuyện này với Washington. Ông bị tước quyền tư lệnh vì các lý do chính trị và được Đô đốc Husband E. Kimmel, người giữ chức tư lệnh lúc có cuộc tấn công Trân Châu Cảng, thay thế. Đô đốc Claude C. Bloch chỉ huy khu hải quân địa phương tại Trân Châu Cảng (khu hải quân này biệt lập với hạm đội) trong lúc có cuộc tấn công. == Cơ cấu hiện tại == Hiện tại, Hạm đội Thái Bình Dương gồm có hai hạm đội mang số là Đệ tam Hạm đội và Đệ thất Hạm đội cũng như Không lực Hải quân Thái Bình Dương, Lực lượng nổi Hải quân Thái Bình Dương, Lực lượng Tiềm thủy đỉnh Hải quân Thái Bình Dương và các bộ tư lệnh khác. == Các tư lệnh == === Những năm đầu === Roger N. Stembel 1872 theo sau bởi nhiều tư lệnh William H. H. Southerland (1912–1913) Cameron McRae Winslow (13 tháng 9 năm 1915 – 29 tháng 7 năm 1916) William B. Caperton (28 tháng 7 năm 1916 – 30 tháng 4 năm 1919) Hugh Rodman (tháng 7 năm 1919 – 1921) === 1941 – hiện nay === Đô đốc James O. Richardson (tháng 1 năm 1940 - 1 tháng 2 năm 1941) Chuẩn Đô đốc Husband E. Kimmel (1 tháng 2 năm 1941 - 17 tháng 12 năm 1941) (trong cuộc tấn công Trân Châu Cảng) Thủy sư Đô đốc Chester W. Nimitz (31 tháng 12 năm 1941 - 24 tháng 11 năm 1945) (khởi đầu Chiến tranh Thái Bình Dương) Đô đốc Raymond A. Spruance (24 tháng 11 năm 1945 - 1 tháng 2 năm 1946) Đô đốc John H. Towers (1 tháng 2 năm 1946 - 28 tháng 2 năm 1947) Đô đốc Louis E. Denfeld (28 tháng 2 năm 1947 - 3 tháng 12 năm 1947) Đô đốc DeWitt C. Ramsey (12 tháng 1 năm 1948 - 30 tháng 4 năm 1949) Đô đốc Arthur W. Radford (30 tháng 4 năm 1949 - 10 tháng 7 năm 1953) Đô đốc Felix B. Stump (10 tháng 7 năm 1953 - 14 tháng 1 năm 1958) Đô đốc Maurice E. Curts (14 tháng 1 năm 1958 - 1 tháng 2 năm 1958) Đô đốc Herbert G. Hopwood (1 tháng 2 năm 1958 - 30 tháng 8 năm 1960) Đô đốc John H. Sides (30 tháng 8 năm 1960 - 30 tháng 9 năm 1963) Đô đốc U.S. Grant Sharp, Jr. (30 tháng 9 năm 1963 - 26 tháng 7 năm 1964) Đô đốc Thomas H. Moorer (26 tháng 6 năm 1964 - 30 tháng 3 năm 1965) Đô đốc Roy L. Johnson (30 tháng 3 năm 1965 - 30 tháng 11 năm 1967) Đô đốc John J. Hyland (30 tháng 11 năm 1967 - 5 tháng 12 năm 1970) Đô đốc Bernard A. Clarey (5 tháng 12 năm 1970 - 30 tháng 9 năm 1973) Đô đốc Maurice F. Weisner (30 tháng 9 năm 1973 - 12 tháng 8 năm 1976) Đô đốc Thomas B. Hayward (12 tháng 8 năm 1976 - 9 tháng 5 năm 1978) Đô đốc Donald C. Davis (9 tháng 5 năm 1978 - 31 tháng 7 năm 1981) Đô đốc James D. Watkins (31 tháng 7 năm 1981 - 28 tháng 5 năm 1982) Đô đốc Sylvester R. Foley (28 tháng 5 năm 1982 - 16 tháng 9 năm 1985) Đô đốc James A. Lyons Jr. (16 tháng 9 năm 1985 - 30 tháng 9 năm 1987) Đô đốc David E. Jeremiah (30 tháng 9 năm 1987 - 15 tháng 2 năm 1990) Đô đốc Charles R. Larson (15 tháng 2 năm 1990 - 15 tháng 2 năm 1991) Đô đốc Robert J. Kelly (15 tháng 2 năm 1991 - 6 tháng 8 năm 1994) Đô đốc Ronald J. Zlatoper (6 tháng 8 năm 1994 - 7 tháng 11 năm 1996) Đô đốc Archie R. Clemins (7 tháng 11 năm 1996 - 8 tháng 10 năm 1999) Đô đốc Thomas B. Fargo (8 tháng 10 năm 1999 - 4 tháng 5 năm 2002) Đô đốc Walter F. Doran (4 tháng 5 năm 2002 - 8 tháng 7 năm 2005) Đô đốc Gary Roughead (8 tháng 7 năm 2005 - 8 tháng 5 năm 2007) Đô đốc Robert F. Willard (8 tháng 5 năm 2007 -) == Xem thêm == Lịch sử Quân đội Hoa Kỳ Hạm đội Á châu == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Official site
liên bang bosna và hercegovina.txt
Liên bang Bosna và Hercegovina (tiếng Bosna/tiếng Croatia/tiếng Serbia: Federacija Bosne i Hercegovine, tiếng Serbia chữ Kirin: Федерација Босне и Херцеговине) là một trong hai thực thể chính trị cấu thành quốc gia có chủ quyền Bosna và Hercegovina (thực thể còn lại là Cộng hòa Srpska). Liên bang Bosna và Hercegovina có phần lớn dân cư là người Bosna và người Bosnia gốc Croatia, do vậy Liên bang này cũng có khi được gọi là Liên bang của người Bosna-Croatia. Tuy nhiên, với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tiếng Anh hiện nay, tên gọi chủ yếu của liên bang này trên các phương tiện truyền thông tại Việt Nam là Liên bang Bosnia và Herzegovina. Liên bang được thành lập cùng với việc ký Hiệp định Washington vào ngày 18 tháng 3 năm 1994, Hiệp định này thành lập các thực thể chính trị hợp thành và hoạt động cho đến tháng 10 năm 1996. Liên bang ngày nay có thủ đô, chính phủ, tổng thống, nghị viện, cơ quan thuế và cơ quan cánh sát riêng. Ngoài ra còn có hệ thống bưu điện riêng và hãng hàng không quốc gia riêng (BH Airlines). Liên bang có quân đội của mình, Quân đội Liên bang Bosna và Hercegovina, mặc dù cùng với Quân đội Cộng hòa Srpska, lực lượng này đã là thành phần hợp nhất đầy đủ của Lực lượng vũ trang Bosna và Hercegovina, được quản lý bởi Bộ Quốc phòng Bosna và Hercegovina vào ngày 6 tháng 6 năm 2006. == Lịch sử == Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Bosna và Hercegovina nguyên là một trong 6 nước cộng hòa của Liên bang Nam Tư. Năm 1991, 43% dân số toàn cộng hòa là người Hồi giáo (đổi tên thành người Bosna/Bosniak) năm 1993, 31% là người Serb và 17% là người Croatia, phần còn lại tự coi mình là người Nam Tư hay dân tộc khác. Cuộc bầu cử dân chủ đa đảng đầu tiên trong nước cộng hòa được tổ chức vào ngày 18 tháng 11 năm 1990. Hầu hết ghế trong Nghị viện đều rơi vào các đảng chính trị đại diện cho 3 cộng đồng dân cư: Đảng Dân chủ Hành động, Đảng Dân chủ người Serb và Liên hiệp Dân chủ người Croatia. Ba đảng đạt được một thỏa thuận chia sẻ quyền lực trong tất cả các thành phần của chính phủ và các thể chế công. Trong một buổi họp vào các ngày 14 và 15 tháng 10 năm 1991, Nghị viện phê chuẩn "Bản ghi nhớ về Chủ quyền" và sẵn sàng tiến hành giống như Slovenia và Croatia. Bản ghi nhớ được thông qua mặc dù có sự chống đối của 73 nghị sĩ người Serb thuộc các Đảng Dân chủ người Serb (đảng chính của người Serb trong nghị viện), cũng như của Phong trào Đổi mới người Serb và Liên hiệp các Lực lượng Cải cách, các đảng này coi việc thông qua này là bất hợp pháp. Vào ngày 24 tháng 10 năm 1991, các Nghị sĩ người Serb thành lập Hội đồng của người Serb tại Bosna và Hercegovina (Skupština srpskog naroda u Bosni i Hercegovini) và coi đây là đại diện tối cao và là cơ quan lập pháp của người Serb và chấm dứt liên minh ba đảng. Vào ngày 9 tháng 1 năm 1992, Hội đồng tuyên bố Cộng hòa người Serb tại Bosna và Hercegovina (Republika srpskog naroda Bosne i Hercegovine) và coi đây là một phần của Nam Tư Vào ngày 28 tháng 2 năm 1992, Hội đồng thông qua Cộng hòa người Serb tại Bosna và Hercegovina (thay thế cho tên cũ Republika srpskog naroda Bosne i Hercegovine). Lãnh thổ của quốc gia này bao gồm các địa hạt, đô thị tự trị và các vùng nơi người Serb chiếm đa số và cũng ở những nơi mà họ là thiểu số bởi sự ngược đãi trong chiến tranh thế giới thứ hai. Cộng hòa là một phần của Nam Tư và gia nhập liên bang với tuyên bố là thực thể chính trị đại diện cho các dân tộc khác nhau của Bosna và Hercegovina. Nghị viện Bosna và Hercegovina, không có sự tham gia của các nghị sĩ người Serb đã tổ chức trưng cầu dân ý về độc lập cho Bosna và Hercegovina vào ngày 29 tháng 2 và ngày 1 tháng 3 năm 1992, nhưng đã bị hầu hết người Serb tẩy chay. Trước đó (9-10/11/1991), Hội đồng đã tổ chức một cuộc trưng cầu khác tại các vùng của người Serb, với kết quả là 96% lựa chọn trở thành một thành viên của Liên bang Nam Tư. Cuộc trưng cầu sau có 64% cử tri đi bỏ phiếu và 92,7% hay 99% (theo nhiều nguồn) ủng hộ độc lập. Vào ngày 6 tháng 3, Nghị viện Bosna và Hercegovina công bố kết quả của cuộc trưng cầu dân ý, tuyên bố thành lập một nước cộng hòa độc lập tách khỏi Nam Tư. Các chuyên gia luật pháp người Serb phủ nhận tính hợp pháp của cả hai viêc trưng cầu dân ý và tuyên bố độc lập. Cộng hòa độc lập này sau đó đã được Cộng đồng châu Âu công nhận ngày 6 tháng 4 năm 1992 và sau đó là Hoa Kỳ vào ngày 7 tháng 4 cùng năm. Cùng ngày đó Hội đồng của người Serb trong buổi họp tại Banja Luka tuyên bố cắt đứt quan hệ chính thức với Bosna và Hercegovina. Các tên Cộng hòa Srpska được Hội đồng thông qua vào ngày 12 tháng 8 năm 1992. Liên bang Bosna và Hercegovina được hình thành theo sau Hiệp định Washington vào tháng 3 năm 1994. Theo Hiệp định, kết hợp lãnh thổ do Quân đội Cộng hòa Bosna và Hercegovina cùng lãnh thổ do lực lượng Hội đồng Quốc phòng Croatia kiểm soát và chia lãnh thổ kết hợp này thành 10 tổng tự trị. Hệ thống tổng được lựa chọn để ngăn ngừa ưu thế của một nhóm dân tộc nào đó đông hơn các dân tộc khác trong khu vực. Năm 1995, các lực lượng chính phủ của người Bosna và của người Bosna gốc Croatia thuộc Liên bang Bosna và Hercegovina đã đánh bại các lực lượng của Tỉnh tự trị Tây Bosna và lãnh thổ này được sáp nhập và liên bang. Cùng với thỏa thuận Dayton năm 1995, Liên bang Bosna và Hercegovina được định nghĩa là một trong hai thực thể của Bosna và Hercegovina trong đó chiếm 51% lãnh thổ của đất nước có chủ quyền này, trong khi cộng hòa Srpska chiếm 49%. Vào ngày 8 tháng 3 năm 2000, quận Brčko trở thành một thực thể tự trị của Bosna và Hercegovina và quận này được thành lập trên cơ sở lãnh thổ của cả hai thực thể. Quận Brčko hiện tại là một lãnh thổ chung của cả hai thực thể. == Địa lý == === Biên giới === Đường biên giới giữa hai thực thể về cơ bản đi dọc theo các tuyến mặt trận quân sự đã từng tồng tại trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Bosnia, với những điều chính (có tính quan trọng nhất là ở phần phía tây của quốc gia và bao quanh Sarajevo), được định rõ trong Thỏa thuận Dayton. Tổng chiều dài của đường biên giới giữa hai thực thể là khoảng 1080 km. Hiện đây đã là ường biên giới hành chính và không có sự kiểm soát của quân đội hay cảnh sát và việc đi lại là tự do. === Tổng === Liên bang Bosna và Hercegovina được chia thành 10 tổng (tiếng Bosna: Kantoni, tiếng Croatia: županije), 10 tổng này được chia tiếp thành 79 đô thị tự trị. Quận Brčko là lãnh thổ cùng chia sẻ với Cộng hòa Srpska, quận này không nằm đưới sự kiểm soát của bất kể một trong hai thực thể và do đó nằm dưới quyền của chính phủ Bosna và Hercegovina Năm tổng (Una-Sana, Tuzla, Zenica-Doboj, Bosnian Podrinje và Sarajevo) là các tổng do người Bosna chiếm đa số, ba tổng (Posavina, Tây Hercegovina và Tổng 10) là các tổng do người Croatia chiếm đa số và hai tổng (Trung Bosna và Hercegovina-Neretva) là những tổng không dân tộc nào chiếm ưu thế. === Thành phố === == Nhân khẩu == Liên bang Bosna và Hercegovina là nơi cư trú của 62,1% dân số cả nước . Tất cả dữ liệu liên quan đến dân cư như phân bổ sắc tộc là các chủ đều được coi là không đủ chính xác vì thiếu những thống kê chính thức. == Chính trị == Nền chính trị của Liên bang chủ yếu là cuộc cạnh tranh giữa hai đảng lớn mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa là Đảng Người Bosna ủng hộ Hoạt động Dân chủ (Stranka demokratske akcije, SDA) và Liên hiệp Dân chủ Người Croatia cho Bosna và Hercegovina (Hrvatska demokratska zajednica, HDZ). == Thư viện ảnh == == Xem thêm == Bosna và Hercegovina Cộng hòa Srpska Chiến tranh Bosnia == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website of the Federation Government Parliament of the Federation Website for persons unaccounted for in connection with the conflict on the territory of Bosnia and Herzegovina, International Committee of the Red Cross.
samsung galaxy tab s 10.5.txt
Samsung Galaxy Tab S 10.5 là máy tính bảng 10.5-inch chạy hệ điều hành Android sản xuất và phân phối bởi Samsung Electronics. Nó thuộc dòng "S" siêu cao cấp mới vượt qua giữa dòng Samsung Galaxy Tab và Samsung Galaxy S, nó còn bao gồm bản 8.4-inch, Samsung Galaxy Tab S 8.4. Nó được công bố vào 12 tháng 6 năm 2014, và sẽ được phát hành vào tháng 7 năm 2014. Đây là máy tính bảng 10.5-inch đầu tiên của Samsung với mục đích cạnh tranh trực tiếp với iPad Air. == Lịch sử == Galaxy Tab S 10.5 được công bố vào 12 tháng 6 năm 2014. Nó được ra mắt cùng với Galaxy Tab S 8.4 tại Samsung Galaxy Premier 2014 ở New York. == Tính năng == Galaxy Tab S 10.5 được phát hành cùng với Android 4.4.2 Kitkat. Samsung tùy biến giao diện với TouchWiz UX. Cũng như bộ ứng dụng chuẩn của Google, nó có ứng dụng Samsung như ChatON, S Suggest, S Voice, S Translator, S Planner, WatchON, Smart Stay, Multi-Window, Group Play, All Share Play, Samsung Magazine, gói chuyên nghiệp, chế độ đa người dùng, SideSync 3.0, và quản lý Gear/Fit. Galaxy Tab S 10.5 có bản WiFi và biến thể 4G/LTE & WiFi. Bộ nhớ trong từ 16 GB đến 32 GB tùy theo sản phẩm, với khe thẻ nhớ mở rộng microSDXC lên đến 128 GB. Nó có màn hình Full HD Super AMOLED 10.5 inch Full HD Super AMOLED với độ phân giải 2.560x1.600 pixel và mật độ điểm ảnh là 359 ppi. Nó có máy ảnh trước 2.1 MP không flash và máy ảnh sau 8.0 MP AF với LED flash. Nó có thể quay HD video. == Xem thêm == Samsung Galaxy Tab series Samsung Galaxy S series Samsung Electronics Samsung Galaxy Tab S 8.4 == Tham khảo == == Liên kết == Website chính thức
los angeles.txt
Los Angeles (viết tắt LA; phát âm tiếng Anh: /lɔːs ˈændʒələs/ ; phiên âm Lốt An-giơ-lét) là thành phố lớn nhất tiểu bang California và lớn thứ nhì tại Hoa Kỳ, thuộc về Quận Los Angeles. Thành phố còn được gọi tắt là Los (Lốt) bởi những người Việt ở những vùng lân cận. Theo Thống kê dân số năm 2000, thành phố này có 3.694.820 người. Những vùng lân cận thành phố này, còn được gọi là Nam California, gồm có Quận Los Angeles, Quận San Bernardino, Quận Cam, Quận Riverside và Quận Ventura, là một trong những nơi đông dân nhất Hoa Kỳ với 16 triệu người. Thành phố được thành lập vào năm 1781 do những người Tây Ban Nha tại México với tên là El Pueblo de Nuestra Señora Reina de los Ángeles de la Porciúncula ("Thị trấn của Đức Mẹ Nữ Vương của các Thiên thần của sông Porciúncula" trong tiếng Tây Ban Nha, porciúncula nghĩa là "phần nhỏ" và los Ángeles nghĩa là "những thiên thần"). Vào năm 1821 khi Mexico giành độc lập từ Tây Ban Nha, thành phố này thành một phần của nước đó. Sau chiến tranh Hoa Kỳ-México, Los Angeles lại rơi vào tay Hoa Kỳ. Thành phố này được nổi danh là một trung tâm điện ảnh. Rất nhiều minh tinh sống ở thành phố Beverly Hills lân cận và nhiều phim và chương trình truyền hình được thâu tại Hollywood, một phần thành phố này. Theo Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 2000, số người Mỹ gốc Việt ở Los Angeles là 19.747 người, chiếm 0.5% dân số toàn thành phố. == Lịch sử == Bài chính: Lịch sử Los Angeles, California Khu vự bờ biển Los Angeles đã được cư dân Tongva (hay Gabrieleños), Chumash, và các bộ tộc của những người Thổ dân châu Mỹ sinh sống từ hàng ngàn năm. Những người châu Âu đâu tiên đến đây năm 1592, dẫn đầu là Juan Cabrillo - một người thám hiểm Bồ Đào Nha đã tuyên bố vùng đất này cho Đế quốc Tây Ban Nha nhưng không ở lại đó. Lần có người châu Âu tiếp xúc khu vực này là 227 năm sau khi Gaspar de Portolà cùng với Franciscan padre Juan Crespi, đã đến khu vực ngày nay là Los Angeles ngày 2 tháng 8 năm 1769. Năm 1771, Cha Junípero Serra đã cho xây Mission San Gabriel Arcágel gần Whittier Narrows ở gần Thung lũng San Gabriel ngày nay. Ngày 4 tháng 9 năm 1781, một nhóm 52 người định cư từ Tân Tây Ban Nha là hậu duệ người châu Phi đã thiết lập phái đoàn San Gabriel để lập nên khu định cư dọc theo bờ của sông Porciúncula (ngày nay là sông Los Angeles). Những người định cư này có tổ tiên là người Philippines, Ấn Độ và Tây Ban Nha, 2/3 là người lai. Năm 1777, thống đốc mới của tiểu bang California, Felipe de Neve, recommended to the viceroy of New Spain that the site be developed into a pueblo (town). Khu vực này được đặt tên là El Pueblo de Nuestra Señora la Reina de los Ángeles del Río de Porciúncula ("Thị trấn của Đức bà Nữ hoàng của các thiên thần của sông Porciúncula"). Nó vẫn là một thị trấn nhỏ trong nhiều thập kỷ, nhưng năm 1829 dân số đã tăng lên khoảng 650, khiến nó là cộng đồng dân sự lớn nhất ở California thuộc Tây Ban Nha. Ngày nay, outline của Pueblo vẫn được gìn giữ ở một tượng đài lịch sử quen được gọi là đường Olvera, trước đây là đường Rượu, được đặt tên theo Augustin Olvera. Tân Tây Ban Nha đã giành được độc lập khỏi Đế quốc Tây Ban Nha năm 1821 và tỉnh vẫn tiếp tục là một phần của Mexico. Sự cai trị của Mexico đã chấm dứt trong Chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ, khi người Mỹ giành được quyền kiểm soát từ người Californio sau một loạt các cuộc chiến. Trận chiến San Pascual, Trận chiến Dominguez và sau cùng là Trận chiến Rio San Gabriel năm 1847. Hiệp ước Cahuenga được ký ngày 13 tháng 1 năm 1847, chấm dứt thu địch ở California và sau đó Hiệp ước Guadalupe Hidalgo (1848), chính phủ Mexico đã chính thức nhượng Alta California và các lãnh thổ khác cho Hoa Kỳ. Những người châu Âu và Mỹ đã củng cố sự kiểm soát thành phố sau khi họ di cư đến California trong làn sóng Đổ xô đi tìm vàng California và đảm bảo sự gia nhập sau đó của California vào Hoa Kỳ năm 1850. Đường sắt đã đến khi Công ty đường sắt Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific Railroad) đã hoàn thành tuyến đường sắt đến Los Angeles năm 1876. Dầu mỏ được phát hiện năm 1892 và đến năm 1923, Los Angeles đã cấp ¼ lượng dầu mỏ thế giới. Một nhân tố góp phần phát triển thành phố là nước. Năm 1913, William Mulholland hoàn thành đường ống dẫn nước đảm bảo cho sự tăng trưởng của thành phố. Năm 1915, Thành phố Los Angeles bắt đầu sáp nhập thêm hàng chục cộng đồng dân cư xung quanh không tự cấp nước cho chính mình được. A largely fictionalized account of the Owens Valley Water War can be found in the 1974 motion picture Chinatown. Trong thập niên 1920, phim hoạt hình và ngành hàng không đã đổ xô đến Los Angeles đã giúp thành phố phát triển. Thành phố này là nơi đăng cai Thế vận hội mùa Hè năm 1932 chứng kiến sự phát triển của Đồi Baldwin as the original Olympic Village. Thời kỳ này cũng chứng kiến sự di dân đến của những người lưu vong từ các căng thẳng hậu chiến ở châu Âu, bao gồm những nhà quý tộc như Thomas Mann, Fritz Lang, Bertolt Brecht, Arnold Schoenberg và Lion Feuchtwanger. Thế chiến thứ hai mang đến phát triển và thịnh vượng mới cho thành phố này, dù nhiều người Mỹ gốc Nhật bị chở đến các trại tập trung trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến. Thời kỳ hậu chiến chứng kiến một sự bùng nổ lớn hơn khi sự lan ra của đô thị đã mở rộng đến Thung lũng San Fernando. Những cuộc bạo loạn Watts năm 1965 và "cơn giận" của Trường trung học Chicano cùng với sự tạm đình chỉ Chicano đã cho thấy sự chia rẽ chủng tộc sâu sắc hiện hữu trong thành phố này. Năm 1969, Los Angeles đã là một trong hai "nơi sinh" ra Internet khi sự truyền ARPANET được gửi từ UCLA đến SRI ở Menlo Park. XXIII Olympad đã được Los Angeles đăng cai năm 1984. Thành phố lại được thử thách qua Bạo loạn Los Angeles 1992 và Trận động đất Northridge 1994 và năm 2002 sự cố gắng ly khai của Thung lũng Fernando và Hollywood đã bị thất bại trong cuộc bỏ phiếu. Sự tái phát triển và sự sang trọng hóa đô thị đã diễn ra ở nhiều nơi trong thành phố, đặc biệt là trung tâm. == Địa lý == Theo Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ, thành phố có tổng diện tích 498,3 dặm vuông (1.290,6 km²), 469,1 dặm vuông (1.214.9 km²) là diện tích đất và 29,2 dặm vuông (75,7 km²) là diện tích mặt nước, diện tích mặt nước chiếm 5,86%. Khoảng các cực bắc và cực nam là 44 dặm (71 km), khoảng các giữa cực đông-tây là 29 dặm (47 km), và chiều dài của biên giới thành phố là 342 dặm (550 km). Diện tích đất lớn thứ 9 trong các thành phố của Hoa Kỳ lục địa. Điểm cao nhất của Los Angeles là Sister Elsie Peak (5.080 feet) at the far reaches of the northeastern San Fernando Valley, part of Mt. Lukens. Sông Los Angeles là một con sông phần lớn là theo mùa chảy xuyên qua thành phố có thượng nguồn ở Thung lũng San Fernando Valley. Suốt chiều dài của nó hoàn toàn bị kè bằng bê tông. Vùng Los Angeles khá phong phú về các loài thực vật bản địa. Với những bãi biển, đụn cát, vùng đất ngập nước, đồi, núi và sông, khu vực này chứa đựng một số quần cư sinh vật quan trọng. Khu vực rộng nhất là thảm thực vật bụi cây xô thơm ven biển bao bọc các sườn đồi ở chaparral dễ bắt lửa. Các loại cây bản địa bao gồm: California poppy, matilija poppy, toyon, coast live oak, giant wild rye grass, và hàng trăm loại khác. Thật không may, nhiều loài cây bản địa quá hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng như hoa hướng dương Los Angeles,... Có nhiều loài hoa lạ và những cây có hoa nở hoa quanh năm với màu sắc huyền ảo,đa dạng, bao gồm... === Địa chất === Los Angeles chịu động đất do gần Phay San Andreas, cũng như các phay đứt nhỏ hơn San Jacinto và Banning. Trận động đất lớn gần đây nhất là Trận động đất Northridge 1994, có tâm chấn ở phía Bắc Thung lũng San Fernando. Chưa đến hai năm sau sau khi các bạo loạn 1992, Trận động đất Northridge đã là một cú sóc cảm xúc cho dân Nam California và gây thiệt hại vật chất lên đến hàng tỷ dollar Mỹ. Các trận động đất khác ở khu vực Los Angeles bao gồm Trận động đất Whittier Narrows 1987, Trận động đất Sylmar 1971, và Trận động đất Long Beach 1993. Tuy nhiên, phần lớn các trận động đất là khá nhỏ. Nhiều khu vực ở Los Angeles chứng kiến một đến hai trận động đất nhỏ mỗi năm mà không có thiệt hại. Các chấn động nhỏ không cảm thấy được bình thường mà chỉ thông qua máy đo địa chấn thì xảy ra hàng ngày. Nhiều phần của thành phố cũng dễ bị thương tổn bởi sóng thần Thái Bình Dương; các khu vực bến cảng đã bị gây hại bởi các đợt sóng từ Trận động đất Đại Chile năm 1960. === Cảnh quan thành phố === Thành phố được chia ra nhiều khu dân cư, nhiều trong số đó đã bị sáp nhập vì thành phố càng ngày càng mở rộng ra. Cũng có nhiều thành phố độc lập bên trong và xung quanh Los Angeles, nhưng các thành phố này thường được xếp nhóm vào thành phố Los Angeles, do Los Angeles nuốt chửng hoặc nằm bên trong vùng lân cận của nó. Nói chung, thành phố được chia ra các khu vực sau: Trung tâm L.A., Đông L.A., Nam Los Angeles, Khu vực Cảng, Hollywood, Wilshire, Westside, và San Fernando và các thung lũng Crescenta. Một vài cộng đồng của Los Angeles bao gồm Bãi biển Venice... === Khí hậu === === Các vấn đề môi trường === Do địa lý của thành phố khiến cho nó nhạy cảm với đảo ngược khí quyển, quá phụ thuộc vào đi lại bằng ô tô là phương tiện chính và phức hợp cảng L.A./Long Beach, thành phố chịu ô nhiễm không khí dưới dạng khói mù. Lòng chảo Los Angeles và Thung lũng San Fernando giữ lại khói của xe ô tô, xe tải chạy diesel, tàu thủy, và các động cơ đầu máy xe lửa cũng như công nghiệp chế tạo và các nguồn khác. Ngoài ra, nước ngầm đang bị đe dọa gia tăng bởi MTBE từ các trạm xăng và perchlorate từ nhiên liệu rocket. Khác các thành phố khác nhờ mưa để rửa sạch khói mù, Los Angeles chỉ nhận được 15 inches (380 mm) mưa mỗi năm, do đó khói mù có thể tích tụ tăng lên liên tục mỗi ngày. Điều này đã khiến cho bang California tìm kiếm các loại xe cộ có chất thải ít. Nhờ đó, mức ô nhiễm đã giảm trong những thập kỷ gần đây.. == Dân cư == Theo thống kê của 2006–2008 American Community Survey, top 10 nhóm dân có nguồn gốc châu Âu là: Đức: 4.5% (170,483) Ireland: 3.9% (146,658) Anh: 3.5% (129,684) Ý: 2.8% (100,145) Nga: 2.6% (98,737) Ba Lan: 1.6% (59,774) Pháp: 1.2% (45,127) Scotland: 0.8% (28,931) Thuỵ Điển: 0.6% (23,227) Scotland-Ireland: 0.6% (22,651) Nguồn: Số liệu thống kê từ U.S. Census Bureau cho biết số dân của thành phố là 3,833,995. California Department of Finance thống kê dân số là 4,094,764 vào ngày 1, tháng 1 năm 2009. == Kinh tế == Nền kinh tế của Los Angeles được thúc đẩy bởi thương mại quốc tế, truyền hình giải trí, điện ảnh, công nghệ âm nhạc, không gian, công nghệ, dầu khí, thời trang, trang sức, du lịch. Los Angeles cũng là trung tâm chế tạo lớn nhất Hoa Kỳ. Các Cảng Los Angeles và cảng Long Beach cùng nhau tạo thành cảng quan trọng ở Bắc Mỹ và là một trong những cảng quan trọng của thế giới và có vai trò quan trọng đối với thương mại trong Vành đai Thái Bình Dương. Các ngành quan trọng khác bao gồm truyền thông, tài chính, viễn thông, luật, y tế, vận tải. Trong nhiều năm, cho đến giữa thập niên 1990, Los Angeles là nơi đóng trụ sở của nhiều định chế tài chính ở miền Tây nước Mỹ, bao gồm First Interstate Bank, đã được sáp nhập với Wells-Fargo năm 1996, Great Western Bank, đã sáp nhập với Washington Mutual năm 1998, và Security Pacific National Bank, đã sáp nhập với Bank of America năm 1992. Los Angeles cũng là nơi đóng trụ sở của Sở giao dịch chứng khoán Pacific cho đến khi ngưng hoạt động năm 2001. Thành phố này là nơi đóng trụ sở của 3 công ty nằm trong Fortune 500 bao gồm nhà thầu không gian Northrop Grumman, công ty năng lượng Occidental Petroleum Corporation, và công ty xây nhà ở KB Home. Đại học Nam California (USC) là đại học the city's largest private sector employer. Các công ty đóng trụ sở ở Los Angeles bao gồm Twentieth Century Fox, Latham & Watkins, Univision, Metro Interactive, LLC, Premier America, CB Richard Ellis, Gibson, Dunn & Crutcher LLP, Guess?, O'Melveny & Myers LLP, Paul, Hastings, Janofsky & Walker LLP, Tokyopop, The Jim Henson Company, Paramount Pictures, Robinsons-May, Sunkist, Fox Sports Net, Health Net, Inc., 21st Century Insurance, L.E.K. Consulting, và The Coffee Bean & Tea Leaf. Vùng đô thị có trụ sở của nhiều công ty khác, nhiều trong số đó muốn rời khỏi thành phố để tránh thuế má cao. Ví dụ, Los Angeles đánh thuế tổng cộng trên phần trăm doanh thu kinh doanh, trong khi các thành phố xung quanh chỉ đánh một mức tỷ lệ cố định nhỏ. Do đó các công ty gần thành phố này tránh được thuế cao. Một vào công ty đóng ở Hạt Los Angeles là Shakey's Pizza (Alhambra), Academy of Motion Picture Arts and Sciences (Beverly Hills), City National Bank (Beverly Hills), Hilton Hotels (Beverly Hills), DiC Entertainment (Burbank), The Walt Disney Company (Fortune 500 – Burbank), Warner Bros. (Burbank), Countrywide Financial Corporation (Fortune 500 – Calabasas), THQ (Calabasas), Belkin (Compton), Sony Pictures Entertainment (parent of Columbia Pictures, located in Culver City), Computer Sciences Corporation (Fortune 500 – El Segundo), DirecTV (El Segundo), Mattel (Fortune 500 – El Segundo), Unocal (Fortune 500 – El Segundo), DreamWorks SKG (Glendale), Sea Launch (Long Beach), ICANN (Marina Del Rey), Cunard Line (Santa Clarita), Princess Cruises (Santa Clarita), Activision (Santa Monica), và RAND (Santa Monica). == Các trường đại học và cao đẳng == Có nhiều trường đại học và cao đẳng công ở thành phố này, bao gồm Đại học California, Los Angeles, Đại học Tiểu bang California, Los Angeles, và Đại học Tiểu bang California, Northridge. Các trường đại học công gần Los Angeles bao gồm: Đại học Tiểu bang California, Long Beach, Đại học Tiểu bang California, Dominguez Hills và Bách khoa Cali Pomona. == Các thành phố kết nghĩa == Los Angeles có 25 thành phố kết nghĩa: == Xem thêm == Khu học chánh Los Angeles == Chú thích == == Tham khảo == Carey McWilliams (2009). Southern California: An Island on the Land (ấn bản 9). Peregrine Smith. ISBN 9780879050078. Richard White (1991). It's Your Misfortune and None of My Own: A New History of the American West. University of Oklahoma Press. ISBN 9780806125671. David Rieff (1992). Los Angeles: Capital of the Third World. Touchstone. ISBN 9780671792107. Peter Theroux (1994). Translating LA: A Tour of the Rainbow City. Norton. ISBN 9780393313949. Paul Glover (1995). Los Angeles: A History of the Future. Greenplanners. ISBN 9780962291104. Leonard Pitt & Dale Pitt (2000). Los Angeles A to Z: An Encyclopedia of the City and County. Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520205307. Kevin Starr and David Ulin (2009). Jim Heimann, biên tập. Los Angeles: Portrait of a City. Taschen America. ISBN 9783836502917. Reyner Banham (2009). Los Angeles: The Architecture of Four Ecologies (ấn bản 2). Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520260153. Mike Davis (2006). City of Quartz: Excavating the Future in Los Angeles. Verso. ISBN 9781844675685. Robert M. Fogelson (1993). The Fragmented Metropolis: Los Angeles 1850–1930. Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520082304. Norman M. Klein (1997). The History of Forgetting: Los Angeles and the Erasure of Memory. Verso. ISBN 9781844672424. Sam Hall Kaplan (2000). L.A. Lost & Found: An Architectural History of Los Angeles. Hennessey and Ingalls. ISBN 9780940512238. Torin Monahan (2002). “Los Angeles Studies: The Emergence of a Specialty Field”. City & Society XIV (2): 155–184. (available online) Acuña, Rodolfo (1996). Anything but Mexican: Chicanos in contemporary Los Angeles. Verso. ISBN 978-1-85984-031-3. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011. Lynell George (1992). No Crystal Stair: African Americans in the City of Angels. Verso. ISBN 9780860913894. Josh Sides (2006). L.A. City Limits: African American Los Angeles from the Great Depression to the Present. Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520248304. Eduardo Obregón Pagán (2006). Murder at the Sleepy Lagoon: Zoot Suits, Race, and Riot in Wartime L.A. The University of North Carolina Press. ISBN 9780807854945. R. J. Smith (2007). The Great Black Way: L.A. in the 1940s and the Last African American Renaissance. PublicAffairs. ISBN 9781586485214. Lillian Faderman and Stuart Timmons (2006). Gay L. A.: A History of Sexual Outlaws, Power Politics, And Lipstick Lesbians. Basic Books. ISBN 046502288X. Daniel Hurewitz (2007). Bohemian Los Angeles: and the Making of Modern Politics. Berkeley: University of California Press. ISBN 0520249259. Marc Reisner (1986). Cadillac Desert: The American West and its Disappearing Water. Penguin Books. ISBN 9780140178241. Chip Jacobs and William Kelly (2008). Smogtown: The Lung-Burning History of Pollution in Los Angeles. Outlook Hardcover. ISBN 1585678600. David L. Ulin biên tập (2002). Writing Los Angeles: A Literary Anthology. Library of America. ISBN 9781931082273. Cécile Whiting (2008). Pop L.A.: Art and the City in the 1960s. Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520256347. == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Los Angeles, California tại Wikimedia Commons City of Los Angeles Official Website ExperienceLA.com Los Angeles Chamber of Commerce Los Angeles Convention & Visitors Bureau Los Angeles magazine Los Angeles Neighborhood Councils Los Angeles Online Magazine LA2day Historic Bridges of Los Angeles County
dragon ball gt
dinar kuwait.txt
Đồng tiền của Kuwait có ký hiệu Dinar, được phát hành vào năm 1961. Từ 18 tháng 3 năm 1975 đến ngày 4 tháng 1 năm 2003, đồng dinar được neo chặt vào một rổ tiền tệ có điều chỉnh. Từ ngày 5 tháng 1 năm 2003 đến 20 tháng 5 năm 2007, việc neo chặt được chuyển sang 1 đồng đô la Mỹ = 0,29963 dinar với biên độ ±3,5%. Tỷ giá ngân hàng trung ương tính khoảng 1 dinar = $3,53 (USD) Từ 16 tháng 6 năm 2007, đồng dinar Kuwait được neo chặt lại với một rổ các tiền tệ, và nay có giá trị khoảng 3,55 USD. Nó là đồng tiền có giá trị cao nhất thế giới. == Chú thích ==
nhân hệ điều hành.txt
Nhân hệ điều hành (tiếng Anh: Kernel) là thành phần trung tâm của hầu hết các hệ điều hành máy tính. Nó có nhiệm vụ quản lý các tài nguyên hệ thống (liên lạc giữa các thành phần phần cứng và phần mềm). Thông thường, với vai trò một thành phần cơ bản của một hệ điều hành, nhân có thể cung cấp các tầng trừu tượng mức thấp nhất cho các tài nguyên máy tính (đặc biệt là bộ nhớ, CPU, và các thiết bị vào ra mà phần mềm ứng dụng cần điều khiển để thực hiện các chức năng của mình. Nhân hệ điều hành thường cung cấp các tiện ích xử lý này cho các tiến trình của các phần mềm ứng dụng qua các cơ chế liên lạc giữa các tiến trình (inter-process communication) và các hàm hệ thống (system call). Các nhân khác nhau thực hiện các tác vụ của hệ điều hành theo các cách khác nhau, tùy theo thiết kế và cài đặt. Các nhân kiểu nguyên khối (Monolithic kernel) thực hiện các nhiệm vụ của mình bằng cách thực thi toàn bộ mã hệ điều hành trong cùng một địa chỉ bộ nhớ để tăng hiệu năng hệ thống. Trong khi đó các nhân loại nhỏ (Microkernel) chạy hầu hết các dịch vụ tại không gian người dùng (user space) với mục đích tăng khả năng bảo trì và tính mô đun của hệ điều hành. Có nhiều thiết kế nằm ở giữa hai thái cực này ví dụ như (Hybrid kernel) là nhân tự động phân luồng. == Khái quát chung == Trong một định nghĩa về 'nhân hệ điều hành' Jochen Liedtke đã tuyên bố rằng "sử dụng thường xuyên để biểu thị cho một phần của hệ điều hành có tính bắt buộc và chia sẻ với tất cả các phần mềm khác." Hầu hết các hệ điều hành đều dựa trên cơ sở là nhân. Sự tồn tại của nhân hệ điều hành là hệ quả tất yếu của việc thiết kế hệ thống máy tính thành một chuỗi các tầng trừu tượng để phù hợp trong các tiến trình xử lý công việc trên máy tính được đơn giản hóa (đối với con người) nhưng dần phức tạp hóa (đối với máy tính). Ở mỗi tầng trừu tượng ở cấp phức tạp thấp hơn (đối với máy tính) lại dựa vào các chức năng của chính các tầng ngay trên chúng (các tầng phức tạp lớn hơn đối với máy tính) để xử lý. Nhân hệ điều hành dưới một khía cạnh nào đó là một cái tên đơn giản biếu thị cho tầng trừu tượng ở mức thấp nhất được xử lý trong các phần mềm trước khi đi qua trình biên dịch ngôn ngữ assembly sang ngôn ngữ máy và đưa đến phần cứng của máy tính để thi hành. Trong một số loại phần mềm nhằm tránh sự sử dụng nhân hệ điều hành hoặc bỏ qua nhân hệ điều hành để đưa trực tiếp đến thi hành phần cứng, người ta sẽ thiết kế toàn bộ phần mềm trong một hệ thống mà không sử dụng đến các tầng trừu tượng (có thể hiểu là tầng trừu tượng ở mức thấp tương đương với nhân nên bỏ qua nhân); điều này sẽ làm gia tăng sự phức tạp của việc thiết kế, lập trình ra phần mềm. Việc thiết kế phần mềm bỏ qua nhân này được ví như tạo ra một hệ thống đơn giản nhất (đối với máy tính) có tính khả thi cao và có thể thực thi các phần mềm. Trong khi được biết đến với cái tên phổ biến nhân hệ điều hành, những cách gọi mới mẻ cho bộ phần tương tự của hệ thống máy tính được biết đến như hạt nhân - nucleus hay là lõi - core, (Chú ý rằng, bất cứ khi nào từ core cũng được sử dụng có liên quan tới bộ nhớ chính của hệ thống máy tính, bởi vì các máy tính ra đời trước sử dụng một dạng của bộ nhớ được gọi là core memory), và được hình thành một cách sáng tạo như những vùng chỉ chứa những yếu tố cần thiết, cốt lõi của một hệ điều hành. Trong hầu hết các trường hợp, boot loader bắt đầu thực thi nhân hệ điều hành trong supervisor mode, Nhân hệ điều hành sau đó được nạp phần đầu của nó và thi hành tiến trình đầu tiên. Sau khi khởi động hoàn tất, nhân hệ điều hành không được thực thi ngay lập tức, nó chỉ nằm trong lời trả lời cho sự kiện bên ngoài(Ví dụ:, thông qua hàm hệ thống,các ứng dụng sẽ yêu cầu dịch vụ từ nhân hệ điều hành, hoặc thông qua ngắt được sử dụng bởi phần cứng để thông báo cho nhân hệ điều hành về các sự kiện xảy ra). Ngoài ra, nhân hệ điều hành còn đặc biệt cung cấp một vòng lặp được thực thi bất cứ lúc nào mà không có tiến trình nào được thực thi; nó thường được gọi là tiến trình nhàn rỗi. == Chú thích == Về các chú thích dẫn đến nguồn, xem danh sách tham khảo tại mục dưới. == Tham khảo == == Đọc thêm == Andrew Tanenbaum, Operating Systems - Design and Implementation (Third edition); Andrew Tanenbaum, Modern Operating Systems (Second edition); Daniel P. Bovet, Marco Cesati, The Linux Kernel; David A. Peterson, Nitin Indurkhya, Patterson, Computer Organization and Design, Morgan Koffman (ISBN 1-55860-428-6); B.S. Chalk, Computer Organisation and Architecture, Macmillan P.(ISBN 0-333-64551-0).
samsung galaxy a5.txt
Galaxy A5 tên của một điện thoại thông minh bằng nhôm của Samsung. Nó được giới thiệu vào 30 tháng 10 năm 2014. == Thiết kế == Điện thoại này cũng tương tự như những chiếc điện thoại trước của Samsung nhưng được thiết kế với khung nhôm, tạo nên sự khác biệt. Điện thoại chạy 4.4.4 Android, nó mỏng 6.7 mm và nặng 123g. == Phần cứng == Chi[ Qualcomm snapdragon 410 sử dụng trên điện thoại này là lõi tứ 1.2 GHz và vi xử lý 64 bit và ARM Cortex-A53. Đồ họa trên thiết bị này là Adreno 306. Nó có 2GB RAM và bộ nhớ trong 16GB. Thiết bị này hỗ trợ MicroSD. == Tham khảo == == Liên kết == Samsung galaxy A5 Samsung galaxy A5
trà đạo.txt
Trà đạo, tiếng Nhật: chanoyu (茶の湯) hoặc chadō (茶道), được biết đến như một loại nghệ thuật thưởng thức trà trong văn hóa Nhật Bản, Trà đạo được phát triển từ khoảng cuối thế kỷ 12. Theo truyền thuyết của Nhật Bản, vào khoảng thời gian đó, có vị cao tăng người Nhật là sư Eisai (1141-1215), sang Trung Hoa để tham vấn học đạo. Khi trở về nước, ngài mang theo một số hạt trà về trồng trong sân chùa. Sau này chính Eisai này đã sáng tác ra cuốn "Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký" (Kissa Yojoki), nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan tới thú uống trà. Từ đó, dần dần công dụng giúp thư giãn lẫn tính hấp dẫn đặc biệt của hương vị trà đã thu hút rất nhiều người dân Nhật đến với thú uống trà. Họ đã kết hợp thú uống trà với tinh thần Thiền của Phật giáo để nâng cao nghệ thuật thưởng thức trà, phát triển nghệ thuật này trở thành trà đạo (chado, 茶道), một sản phẩm đặc sắc thuần Nhật. Từ việc đơn giản uống trà, chuyển sang cách pha và uống trà, rồi nghi thức thưởng thức trà cho đến khi đúc kết thành trà đạo, đây là một tiến trình không ngừng nghỉ mà cái đích cuối cùng người Nhật muốn hướng tới đó là cải biến tục uống trà du nhập từ ngoại quốc trở thành một tôn giáo trong nghệ thuật sống của chính dân tộc mình, một đạo lý với ý nghĩa đích thực của từ này. Hiển nhiên ở đây trà đạo không đơn thuần là con đường, là phép tắc uống trà mà trên hết là một phương tiện hữu hiệu nhằm làm trong sạch tâm hồn bằng cách: trước tiên, hòa mình với thiên nhiên, để từ đây tu sửa tâm, nuôi dưỡng tính và đạt tới giác ngộ. == Khái quát: Hòa - Kính - Thanh - Tịch == Hòa, Kính, Thanh, Tịch (和 - 敬 - 清 - 寂) là bốn nguyên tắc cơ bản của Trà đạo. Phật giáo thường dùng thuật ngữ "ngón tay chỉ mặt trăng". Suy rộng ra, Trà đạo là con đường mà đi hết con đường đó sẽ đến nơi có "trà vừa ngon vừa không ngon". Cũng như nhiều thứ cần phải rèn luyện, học tập, Trà đạo luôn gắn liền với thực hành. Khác với trông chờ vào đâu đó, Trà đạo thuộc về bên lối sống "tự làm chủ bản thân". == Lịch sử == === Giai đoạn 1 === Vào thế kỷ thứ 8 - 14 trà bắt đầu được sử dụng phổ biến trong tầng lớp quý tộc. Lúc đó có các cuộc thi đấu đoán tên trà. Văn hóa uống trà giai đoạn đó được coi là những trò chơi xa xỉ và tầng lớp quý tộc rất thích dụng cụ uống trà Trung Quốc. Giữa cái bối cảnh xô bồ này, một nhà sư tên là Murata Juko đã tìm thấy vẻ đẹp giản dị tồn tại trong văn hóa uống trà. Đến với trà bằng tinh thần của nhà sư, nên Murata Juko rất coi trọng cuộc sống tinh thần. Trà đạo ra đời như thế. Juko yêu cái đẹp "wabi" và "sabi". Tuy nhiên, trà đạo vẫn còn chưa được nhiều người biết đến. Sau Murata Juko, người kế nghiệp tiếp theo là Takeno Jyoo. Jyoo quan niệm: "Mặc dù xung quanh chúng ta chẳng có gì cả: không hoa, không lá; nhưng có cảnh hoàng hôn chiều tà với một mái nhà tranh." === Giai đoạn 2 === Sau thời Jyoo, đến thế kỷ 16 là thời của Senno Rikyu - Rikiu mới là người đã đưa ra bước ngoặt quan trọng, tạo nên một văn hóa trà đạo trong giới võ sĩ (samurai). Senno Rikyu đã là thầy dạy trà đạo cho Oda Nobunaga (Shogun - người đứng đầu giới võ sĩ) của thời Azuchi. Sau khi Oda Nobunaga chết, Toyotomi Hideyoshi lên (thời Momoyama) thì Senno Rikyu tiếp tục dạy cho ông này. Như vậy, hoạt động của Senno Rikyu có tầm ảnh hưởng khá sâu rộng trong tầng lớp võ sĩ, và ảnh hưởng mạnh đến chính trị thời đó. Trong thế kỷ 16, cùng thời với Senno Rikyu, còn có Yabunnouchi Jyochi, cũng là học trò của Takeno Jyoo. Yabunouchi Jyochi là trà sư tại chùa Honganji, ngôi chùa lớn nhất đất nước Nhật Bản. Yabunouchi chú trọng việc thực hành Trà đạo ở chính nơi bản thân, nơi lối sống, nơi cái tâm trong trẻo của mỗi người. Ngoài ra còn có nhiều trà nhân khác nữa. Mỗi trà nhân đều pha trà theo phong cách riêng của mình. Nếu các phái (trà) có sự khác nhau thì chỉ khác một chút ở phần thực hiện những động tác của nghi thức pha trà, tức là khác phần bên ngoài, còn đạo tinh thần bên trong là duy nhất. === Giai đoạn 3 === Trà đạo trong thời hội nhập Trà đạo hiện nay cũng dần được biến đổi, trong mỗi phòng trà đều có một số bàn ghế gỗ cho khách ngồi. Nếu như khách không thể quen với kiểu ngồi truyền thống của Nhật thì sự biến đổi nói trên cho phép người phương Tây với thói quen hiện đại cũng có thể tham gia được những buổi trà đạo mà không hề làm mất đi không khí tôn nghiêm trong phòng uống trà. Dần dần, trà đạo được đưa vào phòng khách theo phong cách phương Tây. Người đến không cần phải gò bó theo kiểu ngồi hay cách uống trà của người Nhật vẫn có thể mặc áo theo kiểu Tây phương. == Trà thất == Trà thất là một căn phòng nhỏ dành riêng cho việc uống trà, nó còn được gọi là "nhà không". Đó là một căn nhà mỏng manh với một mái tranh đơn sơ ẩn sau một khu vườn. Cảnh sắc trong vườn không loè loẹt mà chỉ có màu nhạt, gợi lên sự tĩnh lặng. Trong khu vườn nhỏ có thể bố trí một vài nét chấm phá để tạo nên một ấn tượng về một miền thung lũng hay cảnh núi non cô tịch, thanh bình. Nó như một bức tranh thủy mặc gợi lên bầu không khí mà Kobiri Emshiu đã tả: Một chòm cây mùa hạ, một nét biển xa, một vừng trăng chiếu mờ nhạt. Trên con đường dẫn đến trà thất, có một tảng đá lớn, mặt tảng đá được khoét thành một cái chén đựng đầy nước từ một cành tre rót xuống. Ở đây người ta "rửa tay" trước khi vào ngôi nhà nằm ở cuối con đường, chỗ tịch liêu nhất: Tôi nhìn ra, không có hoa, cũng không có lá. Trên bờ biển, một chòi tranh đứng trơ trọi, trong ánh nắng nhạt chiều thu. Ngôi nhà uống trà làm bằng những nguyên liệu mong manh làm cho ta nghĩ đến cái vô thường và trống rỗng của mọi sự. Không có một vẻ gì là chắc chắn hay cân đối trong lối kiến trúc, vì đối với thiền, sự cân đối là chết, là thiếu tự nhiên, nó quá toàn bích không còn chỗ nào cho sự phát triển và đổi thay. Điều thiết yếu là ngôi trà thất phải hòa nhịp với cảnh vật chung quanh, tự nhiên như cây cối và những tảng đá. Lối vào nhà nhỏ và thấp đến nỗi người nào bước vào nhà cần phải cúi đầu xuống trong vẻ khiêm cung, trong khi người võ sĩ đạo thì phải để lại bên ngoài cây kiếm dài. Ngay trong phòng trà cũng ngự trị một bầu không khí lặng lẽ cô tịch, không có màu sắc rực rỡ, chỉ có màu vàng nhạt của tấm thảm rơm và màu tro nhạt của những bức vách bằng giấy. == Tokonoma == Tokonoma là một góc phòng được trang trí và hơi thụt vào trong so với vách tường. Tokonoma là một trong bốn nhân tố thiết yếu tạo nên phòng khách chính của một căn nhà. Bản thân từ "tokonoma" ám chỉ góc phòng thụt vào hoặc căn phòng có góc như nó. Có một vài dấu hiệu để biết đâu là tokonoma. Thông thường, có một khu vực để treo tranh hoặc một bức thư pháp. Hay có một cái giá nhỏ để đặt hoa, có thể là một chiếc bình, có thể nhìn thấy một hộp hương trầm. Một gia đình truyền thống Nhật có nhiều cuộn giấy và các vật dụng khác mà họ trưng bày ở tokonoma tuỳ từng mùa hoặc ngày lễ gần nhất. Khi bước vào một trà thất, người ta thường quỳ và ngắm tokonoma một lát. Cũng có thể xem các vật được trưng bày. Thiền gây ảnh hưởng đến tokonoma lẫn chabana... chỉ khi chúng ta chú tâm đến những chi tiết nhỏ bé trong cuộc sống thì mới thấy vẻ đẹp trong những điều giản dị. == Chabana == Chabana (茶花) là phong cách cắm hoa đơn giản mà thanh lịch của Trà đạo, có nguồn gốc sâu xa từ việc nghi thức hóa Ikebana. Cha, theo nghĩa đen, là "trà" và ban, biến âm của từ hana, có nghĩa là "hoa". Phong cách của chabana là không có bất kỳ quy tắc chính thức nào để trở thành chuẩn mực cho nghệ thuật cắm hoa trong trà thất. Hoa thể hiện tình cảm của chủ nhà trong một buổi tiệc trà. Hoa được cắm trong một chiếc bình hoặc một cái lọ mộc mạc với phong cách thay đổi theo mùa. Lọ hoa có thể được làm từ bất kỳ chất liệu nào, từ đồng, gốm tráng men hoặc không tráng men, cho đến tre, thuỷ tinh và các vật liệu khác. Khi cắm hoa cho một bữa tiệc trà, đầu tiên chủ nhà phải chọn hoa và lọ tương ứng. Hoa trong phòng trà gợi được cho người ngắm cảm giác như đang đứng giữa khu vườn tự nhiên. == Kakejiku == Kakejiku tạm hiểu chỉ là một tấm vải trống trơn, nó có thể cuộn vào đi theo bia rượu, hoặc mở ra treo trên vách tường tokonoma. Lúc thì gắn vào Kakejiku một bức tranh nhỏ, lúc khác một bức thư pháp hoặc là sự kết hợp cả tranh và chữ (thư họa). Những nội dung khi xuất hiện trên Kakejiku thường mang ý nghĩa sâu xa, có thể là một công án Thiền tông,... Chẳng hạn, một câu nói đã được nhắc đến nhiều trong Thiền: "Bình thường tâm thị đạo", hoặc một câu văn dường như là riêng biệt của Trà đạo: " Nhất kỳ Nhất hội", hay đơn giản chỉ là một chữ "Vô".[*] [*]Vô, là từ Hán Việt. Từ Việt có nghĩa tương đương là Không. Kakejiku luôn gắn liền với dáng vẻ, với niềm tin không chia ly, không so bì, không say rượu, không si mê, không mù quáng, không sùng bái. Trong thời hội nhập, có những lúc Kakejiku gắn theo một nội dung mới. Khi này, một câu văn thơ Việt: "Nghìn trái tim mang trong một trái tim", hoặc khi khác, một câu như: " Yêu là chết ở trong lòng một ít", hay một chữ vài chữ tiếng Anh như: "Just do it!". == Các đạo cụ được sử dụng trong Trà Đạo == Để có thể thực hiện được một nghi thức Trà Đạo, người hành lễ cần phải có đầy đủ các yếu tố sau: === Trà Thất === Trà Thất: Là một căn phòng có kích thước nhỏ nhất khoảng 3x3m. Trong phòng có trải những tấm tatami hay chiếu tre được sắp xếp thành hình vuông bởi 8 mảnh 0.75x1.5m, trông rất đẹp và trang nhã. ==== Cách bày trí các đạo cụ trong Trà Thất ==== Tranh, thơ, câu liễn: Là những bức tranh về phong cảnh thiên nhiên hay những bài thơ, câu liễn được treo, dán trong Trà Thất. Nó sẽ làm tăng thêm phần trang trọng cho Trà Thất. Hoa: Thường được cắm trong bình, lọ hay dĩa nhỏ, được đặt ở giữa phòng hay đặt dưới bức tranh trong phòng. Nó có tác dụng làm cho căn phòng thêm sinh động, tạo cảm giác thoải mái, gần gũi với thiên nhiên cho người tham gia. Lư trầm: Được đặt ở góc phòng hay dưới bức tranh hoặc giữa phòng. Nhưng thường lư trầm được đặt ở góc phòng. Trầm hương có tác dụng làm cho căn phòng có được mùi hương thoang thoảng phảng phất nhẹ nhàng, khiến cho mọi người được thư giãn tinh thần, thoải mái dễ chịu. Các đạo cụ trên được xếp rất gọn gàng, không chiếm diện tích của phòng trà, tạo sự cân bằng, hòa hợp theo phong thủy. === Trà Viên === Trà Viên: Là một khu vườn được thiết kế phù hợp với việc ngắm hoa, và thưởng thức trà. Nhưng loại hình này ít được thông dụng như Trà Thất bởi tính cầu kỳ của nó đòi hỏi cách bày trí khu vườn thật khéo, làm sao cho khu vườn vẫn còn được nét tự nhiên để người tham gia Trà Đạo không có cảm giác bị rơi vào một cảnh giả do bàn tay con người tạo ra. Trong Trà Viên thì ít khi có các tấm chiếu hay thảm vì mọi người thường ngồi trên thảm cỏ trong vườn. ==== Cách bày trí đạo cụ trong Trà Viên ==== Hoa, Lư Trầm: Thường được đặt ở giữa chỗ ngồi họp nhóm của những người tham gia. Trong vườn thì có các loài cây như: Hoa anh đào, hoa mai, hoa mơ, tùng, liễu. Những loài cây này dễ tạo cảm hứng thi phú cho người xem trong quá trình đàm Đạo, đối ẩm. Bên cạnh đó là các hòn non bộ, những tảng đá lớn, chậu nước cũng được sắp xếp theo bố cục chặt chẽ, thể hiện sự cân đối Âm – Dương trong phong thủy. == Những đạo cụ dùng trong việc pha chế và thưởng thức trà == Trà: tùy theo hệ phái nào mà trà được sử dụng có sự khác biệt. Maccha (まっちゃ): trà bột. Người ta hái những lá trà non đem đi rửa sạch, phơi ráo nước và xay nhuyễn thành bột. Vì thế trà có màu xanh tươi và độ ẩm nhất định chứ không khô như các loại trà lá. Khi uống, bột trà được đánh tan với nưới sôi. Trà nguyên lá: chỉ lấy nước tinh chất từ lá trà. Lá trà được phơi khô, pha chế trong bình trà, lấy tinh chất, bỏ xác. Thường sử dụng loại trà cho nước màu vàng tươi hay màu xanh nhẹ. Phụ liệu: ngoài nguyên liệu chính là trà bột hay trà lá, người pha chế còn cho thêm một số thảo dược, các loại củ quả phơi khô, đậu để làm tăng thêm hương vị cho chén trà, hay quan trọng hơn là mang tính trị liệu, rất có lợi cho sức khỏe, giúp người bệnh mau hồi phục thể chất lẫn tinh thần. Nước pha trà: thường là nước suối, nước giếng, nước mưa, hay nước đã qua khâu tinh lọc. Ấm nước (お釜): dùng đun nước sôi để pha trà, thường được làm bằng đồng để giữ độ nóng cao. Lò nấu nước (焜炉): bếp lò bằng đồng thường dùng than để nấu. Nhưng ngày nay người Nhật đã thay than bằng một bếp điện để bên trong lò đồng Hũ đựng nước (水差し): dùng để đựng nước lạnh khi pha trà. Chén trà (茶碗): chén dùng để dựng trà cho khách thưởng thức. Chén được làm bằng men, công phu, tỉ mỉ và mỗi chén có những họa tiết độc đáo riêng. Vì thế mà trong khi làm một buổi tiệc trà, không có hai chén trà giống nhau. Các nghệ nhân làm chén cũng đưa chủ đề thiên nhiên, thời tiết vào trong tác phẩm của mình, vậy nên có thể dùng chén phù hợp cho 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân: chén có những hoa văn mùa xuân như hoa anh đào. Mùa hạ: là mùa nóng nên chén trà có độ cao thấp hơn, miệng rộng hơn chén trà mùa xuân để dễ thoát hơi nóng. Mùa thu: chén có hình dạng giống chén mùa xuân, có hoa văn đặc trưng cho mùa thu như lá phong, lá momizi. Mùa đông: là mùa lạnh nên chén có độ dày và cao hơn các chén mùa khác để giữ nóng lâu hơn. Màu sắc của men cũng mang gam màu lạnh. Kensui (建水): chậu đựng nước rửa chén khi pha trà, được làm bằng men và to hơn chén trà một chút. Hũ, lọ đựng trà (なつめ): hủ,lọ dùng để đựng trà bột, được trang trí họa tiết rất đẹp, gần gũi với cuộc sống sinh hoạt nhưng cũng mang tính thẫm mĩ cao. Trên nắp hũ, đôi khi bắt gặp hình quạt giấy, hình hoa lá, tre, trúc,... Khăn fukusa (ふくさ): khăn lau hủ,lọ trà và muỗng trà khi pha trà. Khăn chakin (茶巾): khăn lau chén trà khi pha trà, được làm bằng vải mùng màu trắng. Khăn kobukusa (こぶくさ): khăn dùng để kê chén trà. Khi đem trà cho khách thưởng thức, dùng khăn để lên tay, sau đó đặt chén trà lên để giảm bớt độ nóng từ chén trà xuống tay, sau đó mang chén trà cho khách. Muỗng múc trà (茶杓): chiếc muỗng bằng tre, dài, một đầu uốn cong để múc trà. Gáo múc nước: chiếc gáo bằng tre, nhỏ, dài để múc nước từ trong ấm nước, hủ đựng nước ra chén trà. Cây đánh trà (茶筅): dùng để đánh tan trà với nước sôi. Được làm từ tre, ống tre được chẻ nhỏ một đầu thành nhiều cọng tre có kích thước nhỏ khoảng 1mm. Bình trà: để pha trà lá Tách trà nhỏ: để thưởng thức loại trà lá. Bánh ngọt: (như là Wagashi) dùng bánh trước khi uống trà sẽ làm cho khách cảm nhận hương vị đậm đà đặc sắc của trà. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Chado The Japanese Way of Tea
william i của anh.txt
William I của Anh (khoảng 1028 – 9 tháng 9, 1087) là Công tước của Normandy từ năm 1035 đến 1087 và là Vua Anh từ năm 1066 đến 1087. Với tư cách là Công tước của Normandy, William được biết đến là William II, và với tư cách là vua Anh, ông là William I. Ông thường được gọi là William Nhà chinh phạt (William the Conqueror trong tiếng Anh và Guillaume le Conquérant trong tiếng Pháp) vì thành tích chinh phạt nước Anh của ông. Trước khi chinh phạt Anh, ông có biệt hiệu William con hoang (William the Bastard trong tiếng Anh và Guillaume le Bâtard trong tiếng Pháp). Với lời xác nhận sẽ lên nắm ngôi vua nước Anh, William xâm chiếm đất nước này năm 1066, dẫn dắt một đội quân của người Norman giành chiến thắng trước đạo quân Anglo-Saxon của Harold Godwinson trong trận Hastings, và đàn áp các cuộc nổi loạn của người Anh sau đó, mà sau này được biết đến như là cuộc chinh phục của người Norman. Triều đại của William đã đưa văn hóa Norman đến Anh Quốc, sau này đã có ảnh hưởng to lớn đến giai đoạn tiếp theo của nước Anh thời Trung Cổ. Bổ sung cho những thay đổi về chính trị, triều đại của William cũng chứng kiến những thay đổi trong bộ luật Anh, một chương trình của xây dựng, củng cố cũng như những thay đổi trong tiếng Anh đồng thời truyền bá chế độ phong kiến lục địa châu Âu vào nước Anh. == Thời thơ ấu của William I == Vị vua Anh tương lai William sinh vào khoảng năm 1027 đến 1028 tại Công quốc Normandie miền bắc nước Pháp ngày nay. Cha ông là Robert Vĩ đại (Robert le Magnifique), Công tước thứ bảy của Normandy. Mẹ ông là Herleva, hay còn gọi là Herlette xứ Falaise, con gái của một người nông dân giàu có. Có một điều khá chua xót với William là giữa cha mẹ ông không có cưới hỏi chính thức, nên các sử gia cùng thời gọi ông bằng một cái tên rất khó nghe là "William con hoang" (William the Bastard). Nhưng William lại là con trai duy nhất của Robert, nên vào năm 1034, trước khi hành hương đến Jerusalem, Công tước Robert đã thuyết phục mọi người thừa nhận "người con hoang" William là kẻ thừa kế Công quốc Normandy. Sau đó không lâu, năm 1035 Robert qua đời tại Tiểu Á trên đường trở về nước. Thế là, William lúc bấy giờ mới lên 8, đã trở thành Công tước của Normandy. Có điều, chung quanh vị Công tước 8 tuổi này là những kẻ luôn luôn dòm ngó đến quyền lực và luôn âm mưu cướp đoạt địa vị của ông, nhất là những người anh em họ ngoại luôn muốn dồn William vào chỗ chết. Thật vậy, ngay từ thời thơ ấu, cậu bé William đã phải đối mặt với những âm mưu lật đổ và luôn sống trong cảnh hiểm nguy. Tuy nhiên may mắn cho William là vua Pháp Henri I (1031-1060) luôn luôn che chở ông, nên William vẫn bình an. Cuối cùng, vào năm 1047, những kẻ mưu phản lại bí mật tổ chức một cuộc ám sát William, ngay vào lúc ông đang đi săn trong rừng và không hay biết chi cả. Nhưng, may mắn cho ông, một thủ hạ đã kịp thời báo tin và William đã phải phi ngựa chạy suốt đêm mới thoát được tới nơi an toàn. Lúc này, vua Henri I lại giúp William tập hợp những lực lượng trung thành với mình và đã đánh bại những kẻ phản loạn trong chiến dịch Valès Dunes. Đến chừng đó, quyền lực của William mới được củng cố. Có lẽ, do phải sống trong một môi trường hiểm nguy như vậy, về sau William trở thành một con người vô cùng ác độc và đa nghi, ông không tin bất cứ ai trừ một số bạn bè và người thân của mình, và luôn sống trong sự khép kín và cô độc. Đồng thời, bất cứ ai xúc phạm đến thân thế của ông đều bị trả thù tàn nhẫn. Ví dụ như lúc ông đang bao vây thành Halencon, binh sĩ trong thành đã treo một tấm da lên vách thành và hét lớn: "Đây là tấm da thuộc dành cho người thợ da!" ý ám chỉ ông ngoại của William chỉ là một người thợ da hèn kém. Vì vậy, sau khi chiếm được Halencon, William hạ lệnh bắt các chức sắc trong thành đem lột da sống hoặc chặt bỏ tay chân trước mặt mọi người. Từ đó, tiếng ác của ông lan ra khắp nơi. == Công tước William của xứ Normandy == Năm 1053, William cưới Maltida, con gái của Bá tước Baldwin xứ Flanders. Giáo hoàng đã từng ra mặt ngăn cản cuộc hôn nhân này, vì William và Maltida có họ hàng quá gần. Nhưng William vẫn cứ làm theo ý riêng của mình, vì ông biết rằng liên minh được với Flander, một thế lực mạnh vùng Đông Bắc sẽ khiến vị thế và uy tín của mình cao hơn. Nói chung, theo đánh giá của người đương thời, đây là một cuộc hôn nhân thành công. Bản thân William là một người chồng trung thực, còn Maltida hoàn toàn có thể thay thế William quản lý sự vụ ở Normandy khi ông bận việc đi xa. Bản thân họ có với nhau đến 9 người con, trong đó có 2 người làm vua là William II (1087-1100) và Henry I (1100-1135). William cũng là một nhà cai trị thành công. Tại Normandy, ông đã dùng uy quyền của mình khống chế chặt chẽ các thuộc hạ, hạn chế nạn quyền thần và cấm các lãnh chúa tự ý đánh nhau trong lãnh thổ của ông, nhờ đó mà tình hình an ninh tại Normandy khá ổn định. Đồng thời do William giành được quyền đúc tiền trong lãnh địa mà kinh tế của Normandy nhanh chóng hưng thịnh, tài chính trở nên rất hùng hậu, có thể nói là đứng hàng đầu châu Âu thời đó. Lo sợ trước sự lớn mạnh của William, vua Pháp Henri I, người từng bảo trợ William trước đây, nay chuyển sang tấn công lãnh thổ của ông vào năm 1054 và 1057, nhưng thất bại. Sau đó, khi Henri I và bá tước Maine (một tiểu quốc nằm phía Nam Normandy) Geoffrey II of Anjou qua đời, thế lực của William càng mạnh lên. Ông đã nhân cơ hội Maine có nội loạn sau cái chết của Geoffrey (1063), cất binh thôn tính toàn bộ lãnh địa này. Sang năm sau, Wiliiam lại thành công trong việc bắt Bá tước Britanny cúi đầu xưng thần. Normandy trở thành một thế lực lớn tại miền Bắc nước Pháp. Tiếp đó, William bắt đầu hướng sự chú ý của mình qua Eo biển Manche. == Vua William I của nước Anh == === Xâm lược nước Anh === Khi vua Edward Sám Hối của nước Anh qua đời vào năm 1066, William lấy tư cách là anh em họ, đã tự nhận là người được trao lại ngai vàng nước Anh. Ông đã cùng đội quân đánh thuê là các kị sĩ người Pháp kéo sang Anh và đã đánh bại vua mới là Harold trong một trận đánh gần Hasting rồi lên làm vua, mang theo cả chế độ phong kiến, các hiệp sĩ, các chòi tháp sang Anh === Sự cai trị của William I tại nước Anh (1066-1087) === ==== Đàn áp bạo loạn, củng cố vương quyền ==== Sau khi làm lễ gia miện, vua William trở về Normandy (tháng 2/1067) và giao nước Anh lại cho Odo, Công tước xứ Kent và cũng là người em trai cùng cha khác mẹ với William. Tuy nhiên, rõ ràng, dân chúng và giới quý tộc Anh khó lòng chấp nhận một vị vua ngoại tộc vừa mới áp đặt nền thống trị lên đất nước họ bằng một cuộc chiến tranh xâm lược. Vì vậy những cuộc bạo động liên tiếp bùng nổ ở trên toàn khắp Anh quốc. Nhất là thế lực mạnh mẽ của các chúa phong kiến miền Bắc lại càng khó trị: với sự trợ giúp của người Đan Mạch, họ liên tiếp mở những đợt Nam tiến, tấn công vào những vùng đất do người Norman cai trị. Vì vậy, William lại phải thân chinh sang nước Anh để đánh dẹp và cuối cùng, vào năm 1069 ông đã ổn định được tình hình miền Nam. Tiếp đó, vào các năm 1069-1071, William xua quân lên phía Bắc, quyết tâm tiêu diệt các thế lực phong kiến Anh còn ngoan cố chống cự. Để triệt để tiêu diệt kẻ thù, quân Norman sử dụng chính sách tiêu thổ một cách tàn bạo, đi tới đâu đốt phá chém giết tới đó. Hệ quả là miền Bắc nước Anh bị tàn phá hết sức ghê gớm, nhiều làng mạc sau mười năm vẫn không có một bóng người. Những người may mắn sống sót không thể nào quên được cảnh đổ nát, giết chóc, cũng như cảnh người chết đói la liệt trên đường phố. Sau khi tiêu diệt các lực lượng nổi dậy, cơ bản hoàn tất việc xâm chiếm nước Anh, năm 1072 William lại xua quân tấn công Scotland và năm 1081 xâm chiếm xứ Wales, xây dựng một cứ điểm cư dân đặc biệt tại biên cảnh hai địa phương nói trên để củng cố biên phòng và đảm bảo sự ổn định, an ninh. Đồng thời, William còn hạ lệnh xây dựng hàng trăm thành lũy trên khắp vương quốc Anh. Lúc ban đầu, các thành lũy này chỉ được xây dựng bằng gỗ và đất, về sau chúng được mở rộng và củng cố, trở thành những pháo đài bằng đá mà vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Bên cạnh việc dùng vũ lực đàn áp, William còn thi hành nhiều chính sách nhằm bài xích giới quý tộc người bản xứ Anglo-Saxon, ví dụ như cách chức họ, hay tước đoạt thực quyền, và thay vào đó là những quan chức người Norman (chủ yếu là bà con và những quý tộc trung thành với William). Ở những khu vực quan trọng, quan viên cai trị đều do chính tay William bổ nhiệm. Đối với Giáo hội, ông cũng thực hiện chính sách bài xích tương tự: năm 1070, dưới áp lực của William, Giáo hội La Mã đã cách chức 5 vị Tổng giám mục Anh, trong đó có tổng giám mục nổi tiếng Canterbury. Những người thay thế họ cũng đều là người đến từ lục địa châu Âu. Kể từ sau đó các giáo phẩm của Giáo hội Anh, từ một cha xứ ở nhà thờ cho đến một Tổng giám mục đều do William trực tiếp bổ nhiệm, với mục đích thay thế các tăng lữ người Anh bản xứ bằng tăng lữ người nước ngoài. Kết quả là đến năm 1096, tất cả các hàng giáo phẩm đều không còn do người Anglo-Saxon nắm giữ nữa. Ông cũng tiến hành nhiều cải cách đối với giáo hội Anh, ví dụ như cấm các giáo sĩ tự ý lập gia đình, buộc các giáo mục rút lui khỏi tòa án dân sự để thành lập riêng tòa án tôn giáo, quy định các nghị quyết của hội nghị Giám mục hay các mạng lệnh của Giáo hoàng đều không có hiệu lực tại Anh trừ phi được vua Anh đồng ý,... Qua đó, giáo hội Anh đã trở thành một công cụ thống trị trong tay nhà vua với lý do là họ đã từng giúp đỡ Halord hay từng chống William. Như vậy là hầu như toàn bộ tầng lớp quý tộc Anglo-Saxon đã bị tước mất cơ sở vật chất để tồn tại. Nhiều nhà quý tộc Anglo-Saxon đã bị bán ra nước ngoài làm nô lệ, nhiều người khác bỏ trốn sang Flanders, một số gia nhập lực lượng Varangian Guard của người Byzantine và chiến đấu chống lại các cựu thù Norman của họ, lúc này đang tiếp tục xâm chiếm những vùng đất của Byzantine ở Ý và đảo Sicilia. Cho đến năm 1070, các quý tộc Anglo-Saxon không còn sở hữu phần lớn ruộng đất tại Anh nữa, vả đến năm 1086 thì họ chỉ còn nắm giữ 8%. Theo các tài liệu hiện có thì chỉ có hai người thoát khỏi tai họa nói trên. Riêng các kỵ sĩ Anh vẫn được phép thừa kế lãnh địa của gia đình mình nhưng họ phải thi hành nghĩa vụ quân dịch với nhà vua và phải lệ thuộc vào các quý tộc Norman. Đối với những quý tộc mới người Norman, William cũng không tiến hành phân phong đất đai và chức vụ một cách tùy tiện, mà ông phân phát theo lối nhỏ giọt một cách khôn ngoan để đảm bảo những nhà quý tộc Norman khó lòng mà nổi loạn chống lại nhà vua. Tất cả những chính sách này đã góp phần đáng kể trong việc củng cố vương quyền của William. ==== Xây dựng luật pháp và bộ máy hành chính ==== ==== Đại hội minh thệ Salisbury ==== ==== Biên soạn "Sách ghi chép về việc điều tra ruộng đất" ==== == William I và mối quan hệ với nước Pháp == == Qua đời == Có thể nói, sự tàn bạo của William được thể hiện rõ nét nhất trong việc đánh chiếm Mantes. Ông đã hạ lệnh cho đám bộ hạ của mình thẳng tay chém giết, tàn phá, cướp bóc ngôi thành này một cách tàn bạo. Nhiều khu vực bị quân Norman san thành bình địa. Nhưng giữa lúc William đang đi qua một khu đất bị san bằng hãy còn bốc khói, con ngựa chiến của ông đột ngột khuỵu xuống khiến William bị ngã ngựa. Cú ngã đó khiến ông bị thương nặng, đau không chịu nổi và dĩ nhiên là khó lòng chỉ huy trận chiến này được nữa, buộc phải hạ lệnh lui quân. William được đưa về thủ phủ của Normandy là Rouen để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, hy vọng là sau một thời gian thì sức khỏe của ông sẽ hồi phục. Nhưng trái với dự đoán của mọi người, bệnh tình của William càng lúc càng trầm trọng và cái chết là điều cầm chắc. Trước lúc vua cha lâm chung, người con trai thứ ba và thứ tư của William là William Rufus và Henry vội vàng đến Rouen để gặp phụ vương. William chỉ định Rufus sẽ là người kế ngôi vua nước Anh (chứ không phải là Robert Couthose, kẻ sẽ thừa kế Normandy). Còn Henry thì không được thừa kế lãnh địa, nhưng bù lại ông sẽ nhận được 5000 pound bạc trắng - một khoàn tiền rất lớn thời bấy giờ. Vừa nghe xong, Henry lập tức chạy đến quốc khố để nhận bạc, bỏ mặc cha mình nằm chờ chết trên giường bệnh. Còn Robert, công tước tương lai của Normandy vẫn đang ở trong cung của vua Pháp Phillip I - kẻ thù của phụ vương - hoàn toàn không có ý nghĩ trở về thăm hay chỉ là tham dự lễ tang của William. Cuối cùng thì thần chết cũng đã đến rước vị vua lừng lẫy tiếng tăm vào một đêm mùa thu mưa rơi tầm tã. Ngày 9 tháng 9 năm 1087, tiếng chuông nhà thờ Rouen ngân vang báo tin William từ trần. Có một điều khá chua xót đối với nhà vua quá cố, đó là ngay sau cái chết của mình thì bao danh dự và tiếng tăm ông gầy dựng được đều theo ông xuống dưới ba tấc đất. Bọn thủ hạ của William, ngày thường vẫn tỏ ra trung thành với chủ mình, nay liền lộ rõ bộ mặt tráo trở: họ nhanh chóng lột bỏ những phục sức đắt tiền trên di thể William, đồng thời còn cướp đoạt tất cả những đồ vật quý giá trong phòng để xác ông. Chưa hết, sau đó mọi người phát hiện ra cỗ quan tài đá chuẩn bị sẵn cho nhà vua quá cố trở nên quá chật chội: nguyên nhân chủ yếu là William trong những năm cuối đời lại trở nên phát phì (đến mức ông bị Phillip I chế riễu là "mụ đàn bà chửa"). Chính vì vậy mà bọn bộ hạ của William phải dùng hết sức nhét ông vào cỗ quan tài chật hẹp, và điều đó khiến thi thể vị vua bị vỡ ra, mùi hôi thối xông ra nồng nặc cả khu giáo đường. Nhưng số phận vẫn chưa buông tha cho William. Trong lúc quan tài đang hạ huyệt thì một người đàn ông bỗng xông ra la to: "Đây là sinh phần của cha tôi đã bị William cướp đoạt!". Anh ta tố cáo rằng triều đình đã mua phần đất này của mình nhưng vẫn chưa trả đủ tiền và yêu cầu các giáo sĩ tại lễ tang chủ trì công đạo cho anh. Mọi người lúc đó hết sức lúng túng, không biết giải quyết ra sao, cuối cùng họ cũng đồng ý trả 60 Sterling cho người chủ đất. Đến chừng này thì vị vua một thời lừng lẫy tiếng tăm mới được chôn cất yên lành. == Chú thích == == Tham khảo == Thẩm Kiên (chủ biên), Thập Đại tùng thư - 10 đại hoàng đế thế giới, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh 2003, phần IV Vua William I của Vương quốc Anh == Liên kết ngoài == == Xem thêm ==
chính phủ việt nam.txt
Bài này nói về chính phủ CHXHCN Việt Nam hiện tại, về những chính phủ Việt Nam trong quá khứ lịch sử, xem ở phần Lịch sử phía dưới bài viết Chính phủ Việt Nam là cơ quan chấp hành của Quốc hội Việt Nam, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của Việt Nam. Theo Hiến pháp 1946 gọi là Chính phủ. Theo Hiến pháp 1959 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1960, gọi là Hội đồng Chính phủ. Theo Hiến pháp 1980, có hiệu lực từ ngày 19 tháng 12 năm 1980, gọi là Hội đồng Bộ trưởng. Theo Hiến pháp 1992 có hiệu lực từ ngày 15 tháng 4 năm 1992 lại được đổi, gọi là Chính phủ. Chính phủ Việt Nam được thành lập trong kỳ họp thứ nhất của Quốc hội mỗi khóa và có nhiệm kỳ là 5 năm. Chính phủ bao gồm Thủ tướng Chính phủ, 5 Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang Bộ - đều do Quốc hội bầu ra và Chủ tịch nước bổ nhiệm. Số lượng thành viên của Chính phủ không cố định. Chính phủ chịu sự giám sát của Chủ tịch nước và Quốc hội. Chính phủ phải chấp hành: Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Chính phủ phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chủ tịch nước, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của Chính phủ được quy định tại chương VIII Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức Chính phủ (năm 2001), và Quy chế làm việc của Chính phủ (ban hành kèm theo Nghị định 23/2003/NĐ-CP). Nghị định của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ là văn bản quy phạm pháp luật dưới luật ở Việt Nam. == Cơ cấu tổ chức == Cơ cấu tổ chức của Chính phủ bao gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan của Chính phủ do Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, sáp nhập theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. === Thành phần === Thành phần của Chính phủ bao gồm Chủ tịch nước (quyền tham dự), Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. Chiều 27/7/2016, Quốc hội thông qua nghị quyết cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021, gồm Thủ tướng, 5 Phó thủ tướng trong đó có một Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao và 17 bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Tiếp đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày Tờ trình đề nghị Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm các Phó thủ tướng, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ. Ngày 28/7/2016, Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021 chính thức ra mắt sau khi được Quốc hội phê chuẩn. === Danh sách thành viên Chính phủ nhiệm kì 2016 - 2021 === Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIV họp từ ngày 20/7 đến 29/7/2016. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã bầu ban lãnh đạo và thành viên của Chính phủ. === Danh sách các cơ quan thuộc Chính phủ === Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Thông tấn xã Việt Nam Đài Tiếng nói Việt Nam Đài Truyền hình Việt Nam Bảo hiểm Xã hội Việt Nam Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh == Hình thức hoạt động == Hình thức hoạt động tập thể của Chính phủ là các phiên họp Chính phủ. Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số (trong trường hợp biểu quyết có tỷ lệ là 50-50 thì kết quả theo bên có Thủ tướng Chính phủ). == Nhiệm vụ, quyền hạn == Những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của Chính phủ được quy định tại Điều 112 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi và bổ sung năm 2001), bao gồm 6 nhóm: Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật. Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Lãnh đạo công tác của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, kiện toàn hệ thống bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương tới cơ sở. Kiểm tra việc Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện cho Hội đồng nhân dân làm việc. Thống nhất việc quản lý và phát triển nền kinh tế quốc dân. Củng cố và tăng cường quốc phòng. == Ban cán sự đảng Chính phủ == Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban cán sự đảng Chính phủ Lãnh đạo Chính phủ thực hiện đúng đắn đường lối, chủ trương, nghị quyết của Ðảng. Thực hiện các nghị quyết của Đảng về tổ chức, cán bộ; quyết định những vấn đề về tổ chức, cán bộ theo sự phân công, phân cấp của Bộ Chính trị. Kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng trong hoạt động của Chính phủ. Chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư về những đề xuất và quyết định của Ban cán sự đảng. Phối hợp với Đảng ủy khối và Đảng ủy cơ quan xây dựng Đảng bộ cơ quan Văn phòng Chính phủ trong sạch, vững mạnh. Tổ chức của Ban cán sự đảng Chính phủ Ban cán sự đảng có từ 7 đến 9 ủy viên, gồm các đồng chí đảng viên là Thủ tướng, Phó Thủ tướng và một số đồng chí Bộ trưởng. Bí thư, Phó Bí thư và các ủy viên Ban cán sự đảng do Bộ Chính trị chỉ định. Ban cán sự đảng chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Ban cán sự đảng có con dấu. Thành viên Ban cán sự đảng Chính phủ hiện gồm: Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an; thành viên khác (nếu có) do Ban cán sự đảng đề nghị, Bộ Chính trị quyết định. Thủ tướng Chính phủ làm Bí thư Ban cán sự đảng, 1 Phó Thủ tướng làm Phó Bí thư Ban cán sự đảng. Những vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị, Ban cán sự đảng Chính phủ để xuất hoặc trình Tình hình đặc biệt về kinh tế - xã hội nổi lên trong năm và các giải pháp cần tập trung chỉ đạo khắc phục theo yêu cầu của Bộ Chính trị hoặc khi thấy cần thiết. Về việc xét tặng thưởng Huân chương Sao vàng cho cá nhân. Kiến nghị xử lý trách nhiệm cá nhân cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị quản lý khi có vi phạm trong hoạt động của Chính phủ. Những vấn đề khác Ban cán sự đảng Chính phủ thấy cần xin ý kiến Bộ Chính trị. Những vấn đề thuộc thẩm quyền của Ban Bí thư, Ban cán sự đảng Chính phủ đề xuất hoặc trình Về việc xét tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cho cá nhân. Kiến nghị xử lý trách nhiệm cá nhân cán bộ thuộc diện Ban Bí thư quản lý khi có vi phạm trong hoạt động của Chính phủ. (trích Quy định (Bổ sung) số 216-QĐ/TW ngày 01 tháng 4 năm 2009) Bí thư Ban cán sự đảng Chính phủ: Nguyễn Xuân Phúc, phó bí thư: Trương Hòa Bình. == Lịch sử == Chính phủ Việt Nam lâm thời (tháng 8 năm 1945) Chính phủ liên hiệp Việt Nam lâm thời (1946) (1/1/1946) Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam (2/3/1946) Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Chính phủ mở rộng (22/09/1955-27/05/1959) Chính phủ Việt Nam 1960-1964 Chính phủ Việt Nam 1964-1971 Chính phủ Việt Nam 1971-1975 Chính phủ Việt Nam 1975-1976 Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (1969-1976) Chính phủ Việt Nam 1976-1981 Chính phủ Việt Nam 1981-1987 Chính phủ Việt Nam 1987-1992 Chính phủ Việt Nam 1992-1997 Chính phủ Việt Nam 1997-2002 Chính phủ Việt Nam 2002-2007 Chính phủ Việt Nam 2007-2011 Chính phủ Việt Nam 2011-2016 Chính phủ Việt Nam 2016-2021 == Tham khảo == Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam qua các thời kỳ == Liên kết ngoài == Trang chủ của Chính phủ Việt Nam Chính phủ nhiệm kỳ quốc hội khóa xiii (2011-2016)
hypena lividalis.txt
Hypena lividalis là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở phần phía tây của miền Cổ bắc và the Neotropics. Một lượng hiếm hoi migrant miền tây, miền trung và miền bắc châu Âu. Con trưởng thành bay quanh năm. Có nhiều lứa trong năm. Ấu trùng ăn các loài Parietaria và Urtica. == Liên kết ngoài == The Acronictinae, Bryophilinae, Hypenodinae và Hypeninae of Israel == Tham khảo == Phương tiện liên quan tới Hypena lividalis tại Wikimedia Commons
samsung galaxy win.txt
Samsung Galaxy Win hoặc được biết đến như Galaxy Grand Quattro ở một số thị trường là điện thoại thông minh phát triển bởi Samsung Electronics. Nó được công bố bởi Samsung vào 20 tháng 5 năm 2013. Samsung Galaxy Win có vi xử lý lõi-tứ Cortex-A5 1.2 GHz và RAM 1 GB, với bộ nhớ trong 8 GB có thể mở rộng lên đến 64 GB bằng cách sử dụng thẻ nhớ microSD. Thiết bị còn hỗ trợ kết nối mạng thông qua 2G và 3G, Wi-Fi. Hệ thống định vị bao gồm A-GPS với Google Maps. Galaxy Grand chạy Android 4.1.2. Jellybean OS. Samsung Galaxy Win là điện thoại thông minh có máy ảnh chính 5 MP hỗ trợ chụp ảnh và quay video chất lượng cao. Máy ảnh trước 0.3 MP. Máy ảnh chính có thể quay video 720*480 với 30 khung trên giây. Máy ảnh có hỗ trợ LED flash có thể nhìn thấy đối tượng trong điều kiện thiếu sáng. Tự động lấy nét, thẻ địa lý, chạm lấy nét và nhận diện khuôn mặt là một số tính năng được hỗ trợ trên Samsung Galaxy Win I8552. Thậm chí còn có tính năng ổn định hình ảnh và nhận diện nụ cười, trình sửa ảnh cơ bản trên Galaxy Win mà bạn có thể sử dụng trên hình ảnh của bạn với mỗi lần chạm. Samsung Galaxy Win có pin là 2000 mAh Li-ion có thể giúp Galaxy Win sử dụng trên 10 giờ. 4.7 inches TFT WVGA, màn hình đa chạm 16 M màu. == Biến thể == === Hàn Quốc === ==== SHV-E500S/L ==== === Trung Quốc === ==== Galaxy Win Pro(SM-G3812) ==== ==== Galaxy Win Pro(SM-G3818) ==== ==== Galaxy Win Pro(SM-G3819) ==== ==== Galaxy Win Pro(SM-G3819) ==== ==== GT-I8558 ==== ==== SCH-I869 ==== == Tham khảo == == Liên kết == Trang chủ chính thức Hàn Quốc Trang chủ chính thức Trung Quốc (CMCC) Trang chủ chính thức Trung Quốc (China Telecom)
fpt.txt
FPT, tên viết tắt của Công ty cổ phần FPT (tên cũ là Công ty Phát triển và Đầu tư Công nghệ), là một tập đoàn kinh tế tại Việt Nam với lĩnh vực kinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ liên quan công nghệ thông tin. Theo thống kê của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, đây là doanh nghiệp lớn thứ 14 của Việt Nam vào năm 2007. Theo VNReport thì đây là doanh nghiệp tư nhân lớn thứ ba của Việt Nam trong năm 2012 Tiêu chí để Vietnam Report lựa chọn các doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp có vốn sở hữu tư nhân lớn hơn hoặc bằng 51%. == Lịch sử == Ban đầu, FPT là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu các lương thực thực phẩm, chế biến lương thực thực phẩm (chữ gốc FPT ban đầu có nghĩa là The Food Processing Technology Company - Công ty Cổ phần Chế biến Thực phẩm, sau này (ngày 27/10/1990) được đổi thành The Corporation for Financing Promoting Technology - Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghệ). Công ty có quan hệ xuất nhập khẩu chuối khô, khoai, sắn,... cho khối Đông Âu - Liên Xô. Ngày 8 tháng 9 năm 2006, Chính phủ Việt Nam ký quyết định thành lập trường Đại học FPT trực thuộc Tập đoàn FPT. Hiệu trưởng của trường là Tiến sĩ Lê Trường Tùng, còn Chủ tịch Hội đồng Quản trị là Phó giáo sư, Tiến sĩ Trương Gia Bình. Ngày 24 tháng 10 năm 2006, FPT đã công bố quyết định phát hành thêm cổ phiếu cho hai nhà đầu tư chiến lược là Quỹ đầu tư Texas Pacific Group (TPG) và Intel Capital. FPT nhận được một khoản đầu tư là 36,5 triệu USD thông qua quỹ đầu tư TPG Ventures và Intel Capital. Ngày 18 tháng 11 năm 2006, Tập đoàn Microsoft và tập đoàn FPT ký thoả thuận liên minh chiến lược. Ngày 19 tháng 12 năm 2008, Tập đoàn FPT công bố được chấp thuận đổi tên từ "Công ty Cổ phần Phát triển và Đầu tư Công nghệ" thành "Công ty Cổ phần FPT" viết tắt là "FPT Corporation". Ngày 24 tháng 12 năm 2008, Tập đoàn FPT công bố quyết định bổ nhiệm Tổng Giám đốc mới là ông Nguyễn Thành Nam thay ông Trương Gia Bình. Ông Nam là thành viên sáng lập Tập đoàn FPT, Chủ tịch HĐQT của Công ty Phần mềm FPT (FSOFT). Trong 2 năm giữ chức vụ Tổng giám đốc, sau khi hoàn tất nhiệm vụ lập kế hoạch cho sự phát triển của FPT trong giai đoạn mới, bổ sung nhân sự cấp cao và xây dựng chiến lược thương hiệu mới của Tập đoàn, tháng 2 năm 2011, Hội đồng quản trị Tập đoàn FPT có nghị quyết bổ nhiệm ông Trương Đình Anh làm Tổng giám đốc thay thế cho ông Nguyễn Thành Nam. Ngày 31 tháng 7 năm 2013, Hội đồng Quản trị Tập đoàn FPT đã thông qua nghị quyết bổ nhiệm ông Bùi Quang Ngọc, Tiến sĩ về cơ sở dữ liệu, làm Tổng Giám đốc FPT thay thế ông Trương Gia Bình. Ông Ngọc là một trong các thành viên sáng lập và hiện là Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị FPT. Trước đó, ông Nguyễn Thành Nam và Trương Đình Anh từng đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám đốc FPT. == Cơ cấu tổ chức == Công ty đặt trụ sở chính tại Tòa nhà FPT, lô B2 Phố Duy Tân,Đường Phạm Hùng, quận Cầu Giấy, Hà Nội có 8 công ty thành viên và 2 công ty liên kết 8 Công ty thành viên: 1. Công ty TNHH Phần mềm FPT (FPT Software) 2. Công ty TNHH Hệ thống Thông tin FPT (FPT Information System) 3. Công ty Cổ phần Viễn thông FPT (FPT Telecom) 4. Công ty Cổ phần Dịch vụ Trực tuyến FPT (FPT Online) 5. Công ty TNHH Giáo dục FPT (FPT Education) 6. Công ty Cổ phần Thương mại FPT(FPT Trading) 7. Công ty Cổ phần Bán lẻ FPT (FPT Retail) 8. Công ty Đầu tư FPT (FPT Investment) 2 Công ty liên kết: 1. Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT (FPT Securities) 2. Công ty Cổ phần Quản lý quỹ Đầu tư FPT (FPT Capital) == FPT Software tại nước ngoài == Công ty TNHH Phần mềm FPT Malaysia tại Kuala Lumpur, Malaysia Công ty Phần mềm FPT Software Europe tại Paris, Pháp. Công ty TNHH Phần mềm FPT Australasia (FPT Australasia Pty Ltd) đặt tại New South Wales.. Công ty TNHH Phần mềm FPT USA (FPT USA Corp Ltd) đặt tại San Mateo, California.. Công ty Phần mềm FPT Software Japan tại Tokyo, Osaka, Nagoya. == Trung tâm FPT == Phòng nghiên cứu không gian FSpace thuộc Viện Nghiên cứu Công nghệ FPT == Lĩnh vực hoạt động chính của FPT == Công nghệ: bao gồm Phát triển phần mềm; Tích hợp hệ thống; và Dịch vụ CNTT Viễn thông: bao gồm Dịch vụ viễn thông và Nội dung số Phân phối - bán lẻ các sản phẩm công nghệ: bao gồm Phân phối các sản phẩm công nghệ và Bán lẻ các sản phẩm công nghệ. Giáo dục: bao gồm trường THPT FPT và Đại học FPT == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức
dược sĩ.txt
Dược sĩ là những người thực hành nghề dược (làm công tác chuyên môn về dược hoặc hành nghề dược) trong ngành y tế. Họ cũng tham gia vào quá trình quản lý bệnh tật qua việc tối ưu hóa và theo dõi việc điều trị dùng thuốc hoặc giải thích các kết quả xét nghiệm lâm sàng, thông qua kết hợp với thầy thuốc hoặc các nhân viên y tế khác. == Tổng quan == Tại các cơ sở khám chữa bệnh các dược sĩ (dược sĩ lâm sàng) giới thiệu các thuốc mới (đặc biệt là thuốc kê đơn) cho các cho các thầy thuốc, hoặc tư vấn về sử dụng thuốc và sức khỏe cho người dân và cộng đồng nơi nhà thuốc hoạt động (dược sĩ làm việc tại các nhà thuốc cộng đồng-nhà thuốc cộng đồng là những nơi chúng ta vẫn thấy bán lẻ thuốc thành phẩm). Các dược sĩ cũng là một chuyên gia về thuốc, chuyên gia về các xét nghiệm sinh hóa cận lâm sàng khi tham gia vào quyết định dùng thuốc ở các trường hợp đặc biệt trong các cơ sở trên (dược sĩ tham gia hội đồng tư vấn thuốc và điều trị). Ngoài ra dược sĩ còn làm việc trong ngành sản xuất dược phẩm (công nghiệp bào chế), ngành kinh doanh (phân phối và cung ứng thuốc), các cơ sở kiểm tra chất lượng thuốc (kiểm nghiệm thuốc Quality Control QC) hoặc công tác đảm bảo chất lượng thuốc (Quality Assurance QA) tại các cơ sở sản xuất kinh doanh dược phẩm, dược sĩ cũng làm việc tại các cơ sở bảo quản thuốc, nghiên cứu thuốc mới (Research and Development), quản lý nhà nước, giảng dạy tại các cơ sơ đào tạo Y Dược và trong quân đội. == Bằng cấp == Ở Mỹ từ năm 1992, bằng dược sĩ được chuyển đổi lên thành bằng tiến sĩ dược. Sinh viên có thể theo học trong 6 năm nhưng phần lớn trường dược ở Mỹ nhận đào tạo sinh viên trong 4 năm sau khi ứng cử viên đã có bằng tốt nghiệp đại học. Hiện có hai chuyên ngành hoạt động phổ biến: thứ nhất là tiến sĩ dược cộng đồng làm việc tại nhà thuốc cộng đồng và thứ hai là tiến sĩ dược lâm sàng làm việc tại các bệnh viện, các trung tâm chăm sóc sức khỏe. Cả hai đều là thành phần chính thực hiện chăm sóc bằng thuốc hoặc còn gọi là chăm sóc dược phẩm (Pharmaceutical Care) một khái mới trong hướng dẫn sử dụng thuốc. Ở Việt Nam hiện nay để trở thành dược sĩ sinh viên phải vào học tại các trường đại học đào tạo về dược thuộc hệ thống đào tạo nhân lực ngành Y tế. Họ có thể học 5 năm đối với sinh viên đào tạo chính quy dài hạn, 4 năm với sinh viên đã có bằng trung cấp Dược, 2 năm 6 tháng đối với người có bằng cao đẳng (hai hệ này gọi là dược sĩ chuyên tu), 2 năm đối với người có bằng đại học chính quy dài hạn các ngành bác sĩ y khoa, sinh học, hóa học (của các trường Đại học Khoa học tự nhiên, Bách khoa, Đại học Y - các trường có cùng đầu vào tương đương-hệ này gọi là văn bằng 2). Tốt nghiệp các khóa đào tạo này sinh viên được cấp bằng dược sĩ đại học. Những hệ đào tạo này không có hệ vừa học vừa làm mà phải là hệ chính quy tập trung. Dược sĩ đại học (Bachelor of Science in Pharmacy - BS in Pharmacy hoặc Bpharm). Các hệ sau đại học và trên đại học hiện nay ở Việt Nam có thạc sĩ (MS-Master), tiến sĩ (Doctor of Philosophy - PhD), dược sĩ chuyên khoa I (Postgraduate education junior - PGJ) được học để chuyển đổi sang thạc sĩ theo các điều kiện của Bộ Giáo dục đào tạo và của Bộ Y tế: thi đầu vào tích lũy đủ các tín chỉ, dược sĩ chuyên khoa II (Postgraduate education senior - PGS được học để chuyển đổi sang tiến sĩ theo các điều kiện vừa nêu. Hệ dược sĩ chuyên khoa nên dịch sang tiếng Anh là Postgraduate education - PG. Một số dược sĩ dịch dược sĩ chuyên khoa là Specialist đây là hệ đào tạo tại Liên Xô (специалист) cũ không không tương ứng với hệ đào tạo ở các nước nói tiếng Anh. Hiện nay Việt Nam chưa thực hiện được đào tạo Tiến sĩ Khoa học Dược (Doctor of Science in Pharmacy hay Doctor of Pharmacy-PharmD). Sau Cách mạng Tháng Tám đến nay Đại học Dược Hà Nội Trung tâm đào tạo lớn nhất và cũng là trung tâm học thuật lớn nhất nước về dược chỉ có bốn tiến sĩ khoa học. Hai đào tạo ở Liên Xô cũ, hai đào tạo ở Đông Đức. == Chứng chỉ == Để đăng ký hành nghề ở các nước người tốt nghiệp đại học dược phải có thời gian thực hành thường là một năm, sau đó phải nộp đơn cho Hội Dược sĩ và phải thi lấy chứng chỉ để hành nghề. Kỳ thi khá khó vì phải gắn kiến thức hàn lâm đã học với thực tế thực hành nghề. Ở Việt Nam muốn có chứng chỉ hành nghề sau khi tốt nghiệp đại học các dược sĩ phải có 5 năm kinh nghiệm nghề nghiệp tại các cơ sở dược hợp pháp (hoặc hai năm với vùng khó khăn-vùng sâu vùng xa). Sau đó tới Sở Y tế nơi mình đăng ký hành nghề làm thủ tục đăng ký để được cấp chứng chỉ hành nghề (không phải thi). Trước khi có nghị định Nghị định số 89/2012/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2006/NĐ-CP các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế chứng chỉ hành nghề chỉ có giá trị năm năm (hết hạn phải gia hạn và nộp một khoản lệ phí gia hạn), tỉnh nào cấp thì chỉ có giá trị ở tỉnh đó. Sau khi sửa đổi chứng chỉ hành nghề cấp một lần và có giá trị toàn quốc. == Tổ chức nghề nghiệp == Ở các nước các dược sĩ bắt buộc phải tham gia các tổ chức xã hội nghề nghiệp mới được hành nghề. Một trong các hiệp hội nghề nghiệp ở Mỹ là American Pharmacists Association, ở Anh là Royal Pharmaceutical Society of Great Britain (RPSGB. Các tổ chức đó được nhà nước chỉ định cấp phép chứng chỉ hành nghề và giám sát hoạt động của dược sĩ như: thanh kiểm tra hành nghề, đào tạo liên tục, đạo đức hành nghề, (như y đức với bác sĩ y khoa). Trên bình diện quốc tế một trong các cơ quan đại diện cho quyền lợi của các dược sĩ như Liên Đoàn Dược Phẩm Quốc tế International Pharmaceutical Federation (FIP). Trụ sở chính tại The Hague Hà Lan các khu vực đều có chi nhánh gọi là diễn đàn. Hội Dược học Việt Nam Vietnamese Pharmaceutical Association là thành viên của tổ chức này sinh hoạt tại Diễn đàn Dược Phẩm Khu vực Tây Thái Bình Dương the Western Pacific Pharmaceutical Forum:-WPPharm Forum. Ở Việt Nam Hội Dược học được thành lập ở trung ương, các tỉnh đều có hội dược học các tỉnh. Nhưng vai trò của Hội Dược học mờ nhạt không có tiếng nói đáng kể đối với cơ quan quản lý và trong việc giám sát hội viên hành nghề cũng như bênh vực quyền lợi chính đáng cho hội viên. Ngoài ra có Cộng đồng Dược Việt Nam, Hiệp hội Sản xuất Kinh doanh dược phẩm, Hiệp hội Dược liệu nói chung tổ chức và vai trò cũng như Hội Dược học. == Xem thêm == Thầy thuốc == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Liên Đoàn Dược Phẩm Quốc tế International Pharmaceutical Federation (FIP) Diễn đàn Dược Phẩm Khu vực Tây Thái Bình Dương the Western Pacific Pharmaceutical Forum:-WPPharm Forum Luật Dược số 34/2005/QH11 hay chính xác hơn gọi là Luật hành nghề Dược- Luật Kinh doanh thuốc Nghị định 79/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Dược Thông tư 02/2007/TT-BYT của Bộ Y tế về việc hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều về điều kiện kinh doanh thuốc theo quy định của Luật Dược và Nghị định 79/2006/NĐ-CP Nghị định số 89/2012/NĐ-CP của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật dược Thông tư 10/2013/TT-BYT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2007/TT-BYT ngày 24/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều kiện kinh doanh thuốc theo quy định của Luật Dược và Nghị định 79/2006/NĐ-CP Các văn bản liên quan đến kinh doanh thuốc và quản lý nhà nước về lĩnh vực Dược trên website Sở Y tế tp Hồ Chí Minh Vietnamese Pharmaceutical Association
tương tác hấp dẫn.txt
Bài này nói về ý nghĩa của lực hấp dẫn trong vật lý học. Xem ý nghĩa trong kinh tế học tại bài mô hình lực hấp dẫn Trong vật lý học, lực hấp dẫn là lực hút giữa mọi vật chất và có độ lớn tỷ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách của hai vật. Lực hấp dẫn là một trong bốn lực cơ bản của tự nhiên theo mô hình chuẩn được chấp nhận rộng rãi trong vật lý hiện đại, ba lực cơ bản khác là lực điện từ, lực hạt nhân yếu, và lực hạt nhân mạnh. Lực hấp dẫn là lực yếu nhất trong số các lực đó, nhưng lại có thể hoạt động ở khoảng cách xa và luôn thu hút. Trong cơ học cổ điển, lực hấp dẫn xuất hiện như một ngoại lực tác động lên vật thể. Trong thuyết tương đối rộng, lực hấp dẫn là bản chất của không thời gian bị uốn cong bởi sự hiện diện của khối lượng, và không phải là một ngoại lực. Trong thuyết hấp dẫn lượng tử, hạt graviton được cho là hạt mang lực hấp dẫn. Lực hấp dẫn của Trái Đất tác động lên các vật thể có khối lượng và làm chúng rơi xuống đất. Lực hấp dẫn cũng giúp gắn kết các vật chất để hình thành Trái Đất, Mặt Trời và các thiên thể khác; nếu không có nó các vật thể sẽ không thể liên kết với nhau và cuộc sống như chúng ta biết hiện nay sẽ không thể tồn tại. Lực hấp dẫn cũng là lực giữ Trái Đất và các hành tinh khác ở trên quỹ đạo của chúng quanh Mặt Trời, Mặt Trăng trên quỹ đạo quanh Trái Đất, sự hình thành thủy triều, và nhiều hiện tượng thiên nhiên khác mà chúng ta quan sát được. == Trường hấp dẫn == Việc một vật chịu lực hút từ vật khác có thể được xem rằng vật này nằm trong một môi trường đặc biệt tạo ra bởi vật kia, gọi là trường hấp dẫn. Như vậy, trường hấp dẫn có thể được định nghĩa như là một trường lực truyền tương tác giữa các vật thể có khối lượng. Trường hấp dẫn của Trái Đất do khối lượng của Trái Đất tác động lên các vật thể ở gần bề mặt của nó được gọi là trọng trường. Mọi vật có khối lượng sinh ra quanh chúng trường hấp dẫn và trường này gây ra lực hấp dẫn tác động lên các vật có khối lượng khác đặt trong nó. Cường độ trường hấp dẫn của Trái Đất tại một điểm chính là gia tốc rơi tự do tại điểm đó. == Lý thuyết hấp dẫn của Newton == Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton là định luật do Isaac Newton - một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất khám phá ra. Theo định luật này, vật có khối lượng m sẽ bị kéo về gần vật có khối lượng M với gia tốc: g = G M r 2 {\displaystyle g={\frac {GM}{r^{2}}}} Với G là hằng số hấp dẫn r là khoảng cách giữa hai vật. Theo định luật 2 Newton, vật có khối lượng m chịu lực hấp dẫn có độ lớn: F = m g F = G M m r 2 {\displaystyle F={\frac {GMm}{r^{2}}}} Công thức trên được gọi là định luật vạn vật hấp dẫn Newton, trong đó lực hấp dẫn tỷ lệ thuận với tích của hai khối lượng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách hai vật. Trong công thức này, kích thước các vật được coi là rất nhỏ so với khoảng cách giữa chúng. === Hằng số hấp dẫn === Hằng số hấp dẫn G phụ thuộc vào hệ đơn vị đo lường, được xác định lần đầu tiên bởi thí nghiệm Cavendish năm 1797. Trong hệ đơn vị SI: G = 6.67 x 10−11 N.m²/kg² == Trọng lực == Trọng lực Lực trái đất tác động trên một vật để hút vật về hướng Trái đất tính bằng công thức F = G M m r 2 {\displaystyle F={\frac {GMm}{r^{2}}}} Với G là hằng số hấp dẫn và r là khoảng cách giữa hai vật. === Trọng lực tiêu chuẩn === Trọng lực tiêu chuẩn ký hiệu g0 or gn là gia tốc danh định gây ra bởi trọng lực Trái Đất ở độ cao tương đương mặt biển. Theo định nghĩa, nó tương đương 9.80665 m/s2. == Thế năng hấp dẫn == Như mọi trường véctơ có dạng tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách (ví dụ cường độ điện trường), trường véctơ lực hấp dẫn là một trường véctơ bảo toàn. Điều này nghĩa là mọi tích phân đường của véctơ lực hấp dẫn F từ vị trí r0 đến r: ∫ r 0 r F ⋅ d r ′ {\displaystyle \int _{\mathbf {r} _{0}}^{\mathbf {r} }\mathbf {F} \cdot d\mathbf {r} '} đều có giá trị không phụ thuộc vào đường đi cụ thể từ r0 đến r. Như vậy tại mỗi điểm r đều có thể đặt giá trị gọi là thế năng hấp dẫn: ϕ ( r ) = ϕ ( r 0 ) + ∫ r 0 r F ⋅ d r ′ {\displaystyle \phi (\mathbf {r} )=\phi (\mathbf {r} _{0})+\int _{\mathbf {r} _{0}}^{\mathbf {r} }\mathbf {F} \cdot d\mathbf {r} '} với φ(r0) là giá trị thế năng quy ước ở mốc r0. Lực nhân quãng đường là công cơ học, tức năng lượng, do đó thế năng hấp dẫn, hay thế năng nói chung, là một dạng năng lượng. Các điểm trong trường hấp dẫn có cùng một giá trị thế năng tạo thành một mặt gọi là mặt đẳng thế. Một chất điểm nếu dịch chuyển trên một mặt đẳng thế thì không sinh công bởi vì thế năng điểm đầu và thế năng điểm cuối là như nhau. Như vậy, lực tác dụng phải có phương vuông góc với phương dịch chuyển. == Định luật vạn vật hấp dẫn theo Einstein == Theo Albert Einstein, bản chất của lực hấp dẫn là do sự uốn cong của không - thời gian bởi vật chất và năng lượng. == Công thức trọng lực == F = G M m r 2 {\displaystyle F={\frac {GMm}{r^{2}}}} == Xem thêm == Lực Trọng trường nhân tạo Lý thuyết tương đối rộng Sóng hấp dẫn Trọng lượng biểu kiến và phi trọng lượng == Chú thích == == Liên kết ngoài == Gravity Probe B Experiment The Official Einstein website from Stanford University Các lực trong tự nhiên, V. Grigôriev và G. Miakisev: Phần 1, Phần 2, Phần 3, Phần 4, Phần 5, Phần 6, Phần 7
ngân hàng bangladesh.txt
Ngân hàng Bangladesh (Bengali: বাংলাদেশ ব্যাংক, Bāṃlādeś Byāṃk), được thành lập vào ngày 16 tháng 12 năm 1971, là Ngân hàng Trung ương của Bangladesh. Nó hoạt động dưới quyền của chính quyền nước này và đóng vai trò như một ngân hàng trung ương cổ điển cho sự ổn định của đồng tiền Taka (đơn vị tiền tệ Bangladesh). Ngân hàng có trụ sở tại tòa nhà ngân hàng Bangladesh, một tòa nhà chọc trời cao 115 mét trong khu kinh doanh của Dhaka. Cho tới ngày 31 tháng 3 năm 2015, ngân hàng có chi nhánh tại Motijheel, Sadarghat, Chittagong, Khulna, Bogra, Rajshahi, Sylhet, Barisal, Rangpur và Mymensingh, với số nhân viên là 5807. == Nghi ngờ tấn công mạng trong tháng 2 năm 2016 == Vào ngày 07 tháng 3 năm 2016, giới lãnh đạo của Ngân hàng Bangladesh đã cho biết, trong một hành động của tội phạm vi tính một khoản tiền lớn, được cho là 100 triệu USD, từ tài khoản của họ ở Cục Dự trữ Liên bang (Hoa Kỳ) (Fed) ở thành phố New York đã bị đánh cắp vào ngày 05 tháng 2 năm 2016. Số tiền đã được chuyển vào nhiều tài khoản khác nhau ở Philippines, chuyển tiền đến ba sòng bạc lớn, để rửa tiền ở đó và cuối cùng chuyển một phần ra nước ngoài. Một phần của số tiền này đã bị tịch thu ở Philippines. Bộ trưởng Bộ Tài chính Bangladesh Abul Maal Abdul Muhith thông báo rằng, chính phủ của ông sẽ kiện Ngân hàng Dự trữ Liên bang ra Tòa án Công lý Quốc tế. Từ nhiều báo khác nhau, tin tặc Trung Quốc bị nghi ngờ là có nhúng tay vào vụ này. Một phát ngôn viên của Fed tuyên bố rằng, theo những phát hiện của Fed không có bằng chứng của tội phạm mạng trong việc chuyển giao số tiền trên. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ
ebay.txt
Tập đoàn eBay là một công ty của Hoa Kỳ, quản lý trang Web eBay.com, một website đấu giá trực tuyến, nơi mà mọi người khắp nơi trên thế giới có thể mua hoặc bán hàng hóa và dịch vụ. Ngoài trụ sở tại Mỹ, eBay còn có chi nhánh tại một số quốc gia khác. Tập đoàn eBay cũng sở hữu thương hiệu nổi tiếng khác là Paypal. == Lịch sử == eBay được thành lập vào ngày 3 tháng 12 năm 1995 bởi Pierre Omidyar, một chuyên gia lập trình máy tính. Ban đầu, eBay chỉ là một mục trong một trang web cá nhân của Omidyar. Tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn, anh nhìn ra tiềm năng lớn lao của eBay nên đã cùng Chis Agarpao và Jeff Skoll xây dựng nó thành một thương vụ nghiêm túc. Vào năm 1996, eBay chính thức ký hợp đồng đầu tiên với một công ty chuyên bán vé máy bay và các sản phẩm du lịch tên là Electronic Travel Auction. Đến tháng 9 năm 1997, cái tên eBay chính thức ra đời. Thực ra dự định ban đầu của Omidyar là lấy tên miền EchoBay.com, nhưng tên này đã được một công ty khai thác mỏ vàng đăng ký mất nên anh quay sang lựa chọn thứ 2 là eBay.com. Ngày nay trụ sở chính của eBay đặt ở San Jose, California. Meg Whitman hiện là chủ tịch eBay và CEO từ năm 1998. eBay là một trong những công ty phát triển nhanh nhất trong mọi thời đại. == Các mặt hàng và dịch vụ == Hàng triệu các dụng cụ, thiết bị, máy tính, đồ gỗ, và hàng triệu mặt hàng khác được đưa lên, mua và bán mỗi ngày. Một số mặt hàng rất hiếm và có giá trị, tuy nhiên cũng có rất nhiều mặt hàng mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi, một cái răng giả chẳng hạn, cũng được hàng ngàn dân cư trên mạng trả giá rất sôi nổi. Điều đó chứng tỏ eBay là một cái chợ rất lớn, nơi mà ta thấy mọi người cố gắng bán bất cứ thứ gì. Công bằng mà nói, eBay đã làm một cuộc cách mạng về chợ mua bán, tập trung người mua và người bán trên toàn cầu lại với nhau, thành một cái chợ khổng lồ, nơi buôn bán và đấu giá không bao giờ kết thúc. Các công ty lớn tầm cỡ thế giới, chẳng hạn như IBM, bán những dịch vụ và sản phẩm mới nhất của họ trên eBay bằng cách đấu giá với giá cố định ban đầu. Việc tìm kiếm các vùng trên thế giới bằng phần mềm giúp cho việc vận chuyển nhanh chóng với giá rẻ hơn. Các chuyên gia phát triển phần mềm có thể tạo các ứng dụng tương tác với eBay thông qua thư viện lập trình eBay API bằng cách gia nhập vào eBay Developers Program. Đến tháng 6 năm 2005, eBay Developers Program đã có 15,000 thành viên, tạo ra các phần mềm hỗ trợ người mua và bán trên eBay và cho các chi nhánh của eBay. Tháng 6 năm 2004, eBay cấm bán và đấu giá các mặt hàng rượu và thuốc lá trên site eBay của Anh ebay.co.uk. Nhưng một ít loại rượu được liệt vào loại hiếm (có nhiều năm tuổi) thì có thể bán với số lượng ít, và giá của nó rất đắt đỏ. Các vấn đề gây tranh cãi bắt đầu xuất hiện và lan rộng trên eBay khi số mặt hàng được rao bán ngày càng nhiều. Vào cuối năm 1999, một người đàn ông đăng tin bán đấu giá 1 quả thận của mình trên eBay mong tìm được một khách hàng từ thị trường nước ngoài do hành vi này là bất hợp pháp tại Mỹ. Trong một số đấu giá khác, thậm chí người và cả thành phố được đem rao bán. Tất nhiên đa số tin đấu giá này chỉ là trò đùa vui, tuy nhiên, vào năm 2004, eBay phát hiện có những mẫu tin nghiêm túc rao báo các cô gái Việt đến Đài Loan. Điều này làm bùng lên tranh cãi về tính hợp pháp của các thương vụ đấu giá trên eBay. Thông thường, eBay chỉ bỏ đi các đấu giá vi phạm các điều khoản sử dụng sau khi nghe được tố cáo hay phàn nàn từ một phía thứ 3, còn bản thân công ty không có nhiều biện pháp cụ thể để kiểm soát tất cả thương vụ trên hệ thống của mình. Lợi dụng sơ hở này, rất nhiều bọn xấu đã sử dụng eBay để kinh doanh hàng nhái, hàng giả, hoặc lừa đảo người mua lẫn người bán. Rất khó khăn để phát hiện và ngăn chặn bọn chúng vì đa số đều xuất phát từ những nước có hệ thống an ninh thương mại điện tử kém phát triển như Trung Quốc, Nigeria, Maroc,... Đối thủ chính của eBay là hệ thống đấu giá Marketplace của Amazon.com và Yahoo! Auctions. == Lợi nhuận và các giao dịch == Nguồn thu của eBay đến từ nhiều phía. Đầu tiên là phí đăng tải đấu giá thu của người bán dù sản phẩm có bán được hay không. Sau đó, eBay thu phí khi sản phẩm được giao dịch thành công, cộng thêm một số loại phí phụ khác. Thêm vào đó, eBay thu lợi từ hệ thống trả tiền Paypal mỗi khi có một thanh toán được thông qua bởi dịch vụ này. Chiến lược thương mại của eBay là mở rộng giao dịch quốc tế trong hệ thống của mình. Hiện nay eBay đã mở rộng đến hầu hết các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, Úc và một số nước châu Á như Trung Quốc và Ấn Độ. Những nơi eBay không xâm nhập thành công là Đài Loan, Nhật và Hồng Kông, do đối thủ Yahoo! đã cắm rễ từ rất lâu trước khi eBay tìm đến. == Chi nhánh quốc tế == Ngoài trang chủ là trang dành cho Hoa Kỳ, eBay còn thành lập một số trang web chi nhánh ở một số nước: == Đầu tư và thâu tóm == Tháng 5 năm 1999, eBay thâu tóm dịch vụ chi trả trực tuyến Billpoint, nhưng đã ngưng sử dụng sau khi có được Paypal. Năm 1999, eBay có được tòa nhà Butterfield and Butterfield, và đã bán nó vào năm 2002. Tháng sáu năm 2000, eBay thâu tóm Half.com. Tháng 8 năm 2001, eBay thâu tóm Mercado Libre, Lokau và iBazar, các site đấu giá ở châu Mỹ Latinh. Tháng 7 năm 2002, eBay thâu tóm PayPal Vào ngày 11 tháng 7 năm 2003, eBay thâu tóm EachNet, công ty thương mại hàng đầu ở Trung Quốc, trả bằng tiền mặt xấp xỉ 150 triệu USD. Vào ngày 22 tháng 6 năm 2004, eBay thâu tóm Baazee.com, site đấu giá Ấn Độ với giá xấp xỉ 50 triệu USD bằng tiền mặt. Vào ngày 16 tháng 12 năm 2004, eBay mua rent.com với 30 triệu USD tiền mặt và 385 triệu USD bằng cổ phiếu eBay. Tháng 5 năm 2005, eBay thâu tóm Gumtree. Tháng 6 năm 2005, eBay mua Shopping.com với giá 635 triệu USD. Tháng 8 năm 2005, eBay mua Skype, một công ty VoIP, với giá 2.6 tỉ USD bằng tiền mặt và cổ phiếu. Tháng 4 năm 2006, eBay đầu tư 2 triệu USD vào mạng xã hội Meetup.com Tháng 4 năm 2006, eBay đầu tư 48 triệu USD mua lại Tradera.com, chợ đấu giá số 1 của Thụy Điển. Tháng 8 năm 2006, eBay tuyên bố cùng Google hợp tác quốc tế. Chi tiết của bản hợp tác không được tiết lộ. Tháng 2 năm 2007, eBay mua lại trang mua bán vé trực tuyến Subhub với giá 307 triệu USD. Tháng 5 năm 2007, eBay mua trang StumbleUpon với mức giá &75 triệu USD. == Các mặt hàng cấm giao dịch == Vào những ngày mới thành lập, eBay hầu như không được kiểm soát. Sau này khi càng lớn mạnh, eBay đã đưa vào những quy định cụ thể về nhiều loại sản phẩm khác nhau. Dưới đây là một số chủng loại hàng bị cấm hoặc bị hạn chế giao dịch: Thuốc lá (những mặt hàng liên quan đến thuốc lá hay hàng sưu tập thì được phép) [1] Rượu (trừ hàng sưu tập và rượu vang bán bởi các nhà phân phối có giấy phép)[2] Các sản phẩm cổ vũ Phát xít Đức (Nazi) [3] Băng đĩa lậu [4] Súng và đạn dược [5] Quần áo lót đã qua sử dụng [6] Các bộ phận của người [7] Động vật sống [8] Một số sản phẩm có bản quyền [9] Vé số cùng các món hàng liên quan cờ bạc == Một số mặt hàng lạ == Tháng 6 năm 2005, vợ của Tim Shaw, một DJ radio người Anh bán một xe hơi thể thao của mình sử dụng cách bán "Buy It Now", với giá là 50 xu. Chiếc xe được rao sau khi vợ của Tim nghe được Tim ve vãn với người mẫu Jodie Marsh trên chương trình của mình. Chỉ sau 5 phút chiếc xe đã tìm được chủ mới. Tháng 5 năm 2005, một chiếc Volkswagen Golf đã được đăng ký cho Joseph Cardinal Ratzinger (giáo hoàng Pope Benedict XVI) được rao bán trên eBay Đức với giá €188,938.88. Người thắng cuộc là sòng bạc online GoldenPalace.com, nổi tiếng bởi những vụ mua giật mình trên eBay. Tháng 9 năm 2004, chủ nhân trang web MagicGoat.com bán rác trong thùng rác của mình cho một giáo sư nghệ thuật để ông này dùng cho sinh viên viết luận về cái thùng rác. Nước uống còn sót lại trong 1 cái cốc từng được Elvis Presley uống cũng đã bán trên eBay với giá $455. [10] Một sinh viên Đại học Coventry bán một mẫu bắp rang được £1.20 [11] Một người đàn ông ở Brisbane, Úc đã rao bán New Zealand với giá khởi điểm là 0.01 đô la Úc. Giá đã tăng đến 3000 đô la ngay trước khi eBay dẹp nó xuống. [12] Một nhóm 4 thanh niên Úc tự bán họ trong vòng 1 cuối tuần với lời hứa "đầy bia rượu, chuyện trò vui vẻ và ắp tiếng cười" với giá $1300. [13] == Chú thích == == Xem thêm == Thương mại điện tử Mô hình bán đấu giá trực tuyến GAMEY == Liên kết ngoài == Website của eBay eBay Việt Nam Biểu phí của eBay (tiếng Anh)
vùng quốc hải hoa kỳ.txt
Một vùng quốc hải (tiếng Anh: insular area) là một lãnh thổ của Hoa Kỳ nhưng không thuộc bất cứ tiểu bang nào trong 50 tiểu bang Hoa Kỳ và cũng không thuộc Đặc khu Columbia (Thủ đô Washington). Vùng quốc hải là thuật ngữ được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ dùng để chỉ tất cả các thịnh vượng chung, quốc gia liên kết tự do, vùng sở hữu hay lãnh thổ mà Hoa Kỳ kiểm soát. Trong các văn bản khác, các vùng quốc hải có thể được diễn tả như là các đất phụ thuộc, đất bảo hộ hoặc vùng phụ thuộc. (Các khu phụ thuộc không nhất thiết là dưới quyền pháp lý chính thức của Hoa Kỳ.) Vì các vùng quốc hải là những lãnh thổ chưa được hợp nhất (Ghi chú: "hợp nhất" có nghĩa là vĩnh viễn không thể tách rời khỏi Hoa Kỳ) vào Hoa Kỳ nên theo Hiến pháp Hoa Kỳ, cư dân được sinh ra tại các vùng quốc hải không phải là công dân Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Quốc hội Hoa Kỳ đã mở rộng quyền công dân cho tất cả các vùng quốc hải có người sinh sống, trừ Samoa thuộc Mỹ. Các công dân này có thể bầu cử và tranh cử tại bất cứ nơi nào dưới quyền pháp lý chính thức của Hoa Kỳ mà họ là cư dân. Cư dân Samoa thuộc Mỹ là "kiều dân" của Hoa Kỳ, không phải là công dân Hoa Kỳ; họ có quyền di chuyển khắp nơi hay làm việc trên toàn Hoa Kỳ mà không bị hạn chế về vấn đề di cư nhưng không thể bầu cử hay tranh cử bên ngoài Samoa thuộc Mỹ. Cư dân các vùng quốc hải không đóng thuế liên bang Hoa Kỳ, không tham dự bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ và không bỏ phiếu chọn đại biểu Quốc hội Hoa Kỳ. Hàng hóa sản xuất tại các vùng quốc hải được dán nhãn hiệu "Sản xuất tại Hoa Kỳ." == Danh sách và tình trạng pháp lý các vùng quốc hải == Vài đảo ở trong khu vực Thái Bình Dương và Biển Caribbean được xem là những vùng quốc hải Hoa Kỳ. === Vùng hợp nhất (bộ phận không tách rời Hoa Kỳ) === ==== Có cư dân ==== Không vùng nào ==== Không có cư dân ==== Đảo san hô Palmyra do Tổ chức Bảo vệ Thiên nhiên làm chủ và được quản lý bởi Phòng Quốc hải vụ Hoa Kỳ === Vùng chưa hợp nhất (thuộc địa của Hoa Kỳ) === ==== Có cư dân ==== Samoa thuộc Mỹ (chưa chính thức tổ chức, mặc dù tự trị dưới thẩm quyền của Bộ Nội vụ Hoa Kỳ). Guam (có tổ chức theo "Đạo luật Tổ chức" năm 1950). Quần đảo Bắc Mariana (lãnh thổ thịnh vượng chung, có tổ chức theo thỏa ước năm 1977). Puerto Rico (lãnh thổ thịnh vượng chung, có tổ chức theo Đạo luật Quan hệ Liên bang và Puerto Rico) Ban đầu được trao cho Hoa Kỳ theo Hiệp ước Paris năm 1898. Quần đảo Virgin thuộc Mỹ (có tổ chức theo "Đạo luật Tổ chức" được sửa lại năm 1954). ==== Không có cư dân ==== Đảo Baker Đảo Howland Đảo Jarvis Đảo san hô Johnston Đá Kingman Đảo san hô Midway (được quản lý như Đài Kỷ niệm Quốc gia Đảo san hô Midway) Đảo Navassa Đảo Wake Từ 18 tháng 7 năm 1947 đến 1 tháng 10 năm 1994, Hoa Kỳ quản lý các đảo trong nhóm "Lãnh thổ Ủy thác các Hải đảo Thái Bình Dương]] nhưng mới đây nhất đã đặt quan hệ chính trị mới với tất cả bốn đơn vị chính trị (một trong số đó được liệt kê ở trên là Quần đảo Bắc Mariana, ba đơn vị còn lại là các "tiểu quốc có quan hệ tự do" được ghi dưới đây). === Tiểu quốc có quan hệ tự do === Các tiểu quốc có quan hệ tự do là ba tiểu quốc có chủ quyền do Hoa Kỳ ký Thỏa thuận Quan hệ Tự do. Các đảo này không nằm trong quyền hành pháp lý của Hoa Kỳ bởi vì chúng có chủ quyền; tuy nhiên nhiều quốc gia coi chúng là trong danh sách các lãnh thổ phụ thuộc Hoa Kỳ cho đến khi từng tiểu quốc này được nhận vào Liên Hiệp Quốc những năm 1990. Quần đảo Marshall Liên bang Micronesia Palau === Tranh chấp === Đảo Navassa (tranh chấp với Haiti). Đảo Wake (tranh chấp với quần đảo Marshall). Bãi Serranilla (tranh chấp với Colombia). Bãi Bajo Nuevo (tranh chấp với Jamaica). === Các cựu vùng quốc hải === Philippines được Tây Ban Nha trao cho Hoa Kỳ thông qua Hiệp ước Paris năm 1898 sau Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ. Cuba được Tây Ban Nha trao cho Hoa Kỳ thông qua Hiệp ước Paris năm 1898 sau Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phòng quốc hải vụ Hoa Kỳ Các định nghĩa của Bộ Nội vụ Hoa Kỳ về các loại vùng chính trị quốc hải Đài Loan có hội đủ điều kiện để trở thành một vùng quốc hải của Hoa Kỳ? Rubin, Richard, "Các quần đảo biến mất", Nguyệt san Atlantic, Tháng 2, 2001 Chương 7: Puerto Rico và các vùng nằm xa, Cục thống kê Hoa Kỳ, Cẩm nang hướng dẫn tham khảo các vùng địa lýPDF)
albuquerque, new mexico.txt
Albuquerque (phỏng âm "Au-bơ-cơ-ky") là một thành phố ở trung tâm tiểu bang New Mexico, Hoa Kỳ. Albuquerque là quận lỵ của Quận Bernalillo và nằm hai bên bờ sông Rio Grande. Thời tiết nắng nhiều và độ ẩm thấp khiến cho thành phố là một nơi nghỉ dưỡng và các di sản của thổ dân châu Mỹ và thời thuộc địa Tây Ban Nha đã khiến thành phố có vẻ riêng độc đáo. Là thành phố lớn nhất tiểu bang New Mexico, Albuquerque là một trung tâm chế tạo công nghệ cao, thương mại và vận tải. Phòng thí nghiệm quốc gia Sandia là trung tâm năng lượng hạt nhân của chính phủ Hoa Kỳ và trung tâm nghiên cứu và phát triển môi trường là những nơi thu hút lao động chính của thành phố. Căn cứ không quân Kirtland, Bảo tàng Hạt nhân quốc gia gần đấy cũng đóng vai trò quan trọng cho kinh tế của Albuquerque. Nhiều cơ quan của liên bang cũng có văn phòng ở thành phố. Đây cũng là trụ sở của Rừng quốc gia Cibola. Thành phố có Sân bay quốc tế Albuquerque. Khu phố cổ của Albuquerque có các quảng trường rộng, các toà nhà gạch sống có mái bằng và các toà nhà thời thuộc địa Tây Ban Nha. Thành phố có Đại học New Mexico (1889), Viện Bách khoa Indian (1970), Cao đẳng Santa Fe tại Albuquerque (1985), và một trường cao đẳng kỹ thuật. Thành phố có các viện bảo tàng: Bảo tàng Khoa học và Lịch sử tự nhiên New Mexico, Bảo tàng Albuquerque. Ngoài ra có Trung tâm văn hoá Pueblo Indian trưng bày lịch sử Pueblo và nghệ thuật đương đại. Khu phố Cổ lịch sử có Nhà thờ San Felipe de Neri (1793). Các sự kiện hàng năm có Lễ hội Khí cầu quốc tế và hội chợ bang. Các khu vực thu hút gần Albuquerque có Tượng đài Quốc gia Petroglyph có hàng trăm bản chạm khắc đá vẽ trước năm 1600 CN và Dãy núi Sandia và một đường tàu điện có phong cảnh xung quanh đẹp. == Diện tích và dân số == Albuquerque có diện tích 468 km² với độ cao trung bình 1.507 m. Dân số năm 1980 là 331.767, năm 1990 là 384.736, năm 2003 là 471.856. Theo điều tra dân số năm 2000, người da trắng chiếm 71,6% dân số, thổ dân châu Mỹ chiếm 3,9%, da đen chiếm 3,1%, châu Á chiếm 2,2%, thổ dân Hawaii và đảo Thái Bình Dương 0,1%. Phần còn lại là dân pha trộn. Người Mỹ Latinh (Tây Ban Nha–Bồ Đào Nha) thuộc bất cứ dân tộc nào chiếm 39,9% dân số. == Lịch sử == Khu vực xung quanh Albuquerque đã được thổ dân châu Mỹ định cư từ lâu. Họ đã xay các thành phố nhiều tầng, rộng lớn gọi là các pueblo, một số vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Khu định cư của người Tây Ban Nhà bắt đầu từ đầu những năm 1600 dù người Tây Ban Nha đã bỏ khu vực này sau Cuộc nổi dậy Pueblo năm 1680 khi thổ dân châu Mỹ đứng lên chóng lại ách thống trị của Tây Ban Nha. Albuquerque ngày nay được thành lập năm 1706 và thành phố đã được đặt tên theo công tước Alburquerque (chữ r đầu tiên sau này bị bỏ đi), lúc đó đang là phó vương của Tân Tây Ban Nha. Thành phố phát triển nhanh chóng như là một trạm trên đường từ Santa Fe đến Thành phố Mexico. Sau cuộc Chiến tranh Mexico (1846–1848), Albuquerque chính thức trở thành một bộ phận của Hoa Kỳ và là một cơ sở quân sự quan trọng của Mỹ từ 1846 đến 1870. Quân Liên minh (Confederate) đã chiếm giữ Albuquerque chớp nhoáng trong năm 1862, trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Năm 1880, một khu định cư đã phát triển xung quanh khu vực ngày nay là đường sắt vừa mới xây dựng. Khi khu định cư phát triển nhanh chóng, khu định cư ban đầu trở thành Phố Cổ. Được thành lập với tư cách là một thành phố trong năm 1891, Albuquerque phát triển thành một trung tâm nông trang và trung tâm y tế, dần dần bao quanh và năm 1949 sáp nhập khu Phố Cổ. Thập niên 1950 là thời kỳ thành phố tăng trưởng nhanh nhờ chi tiêu nghiên cứu hạt nhân tại đây của chính quyền liên bang. Thập niên 1970 Albuquerque trải qua một chương trình đổi mới quy hoạch đô thị và cuối thập niên 1980 thành phố hoàn thành mở rộng trung tâm hội nghị và sân bay. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ thành phố
ü.txt
Ü là một chữ cái thuộc hệ Latin mở rộng. Chữ này được sử dụng trong tiếng Đức với vai trò là một âm riêng biệt, tiếng Tây Ban Nha với vai trò là âm câm. Với việc chuyển tự, chữ này là nguyên âm thứ 6 trong bộ Pinyin, và có nghĩa tương đương với ӱ trong hệ chữ Kirin. Gõ chữ ü: Trong bàn phím tiếng Đức, chữ này ở vị trí tương đương dấu [. Trong bàn phím Pháp và Tây Ban Nha, chữ này gõ bằng cách gõ dấu hai chấm trên đầu và chữ u. Mã Unicode của chữ là 220 cho chữ hoa và 222 cho chữ thường == Tham khảo ==
contralto.txt
Contralto (giọng nữ trầm) là giọng được tạo bởi contre (trầm) và alto (cao) do trước đây alto là thiếu niên nam hoặc castrato. Đây là giọng nữ trầm nhất, hát chủ yếu bằng giọng ngực. Giọng dày, trầm ấm. Chủ yếu đóng các vai phụ (vú già, người hầu) trong opera, vì vậy các Contralto thường chuyển sang hát các vai Dramatic mezzo. Quãng giọng cơ bản từ G3 đến G5. == Tham khảo ==
moby dick.txt
Moby-Dick; hay, con cá voi là một tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm của tác giả người Mỹ Herman Melville và được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1851, được coi là một tiểu thuyết Mỹ vĩ đại và một kho tàng văn học thế giới. Câu chuyện kể về cuộc phiêu lưu của thủy thủ lang thang Ishmael, và chuyến đi của mình trên một con tàu săn cá voi được chỉ huy bởi thuyền trưởng tên Ahab. Ishmael sớm nhận rằng trong chuyến đi này, Ahab có một mục đích, để tìm ra một con cá voi trắng tên là Moby Dick, nó rất hung dữ và bí ẩn. Trong một cuộc gặp gỡ trước đó, con cá voi đã phá hủy thuyền Ahab và cắn cụt chân Ahab, bây giờ ông ta quyết tâm phải trả thù. Trong tác phẩm Moby-Dick, Melville sử dụng biểu tượng cách điệu, ngôn ngữ, và ẩn dụ để khai mở các chủ đề phức tạp. Thông qua cuộc hành trình của nhân vật chính, các khái niệm của lớp và địa vị xã hội, thiện và ác, và sự tồn tại của Thiên Chúa là tất cả sự trải nghiệm như Ishmael phỏng đoán dựa trên niềm tin cá nhân của mình và vị trí của mình trong vũ trụ, cùng với các mô tả của ông về cuộc sống của một thủy thủ trên một tàu săn cá voi. Moby-Dick đã được phân loại là chủ nghĩa lãng mạn Mỹ. Lần đầu tiên được xuất bản bởi Richard Bentley tại London vào ngày 18 tháng 10 năm 1851, trong một phiên bản ba tập expurgated có tiêu đề The Whale, và tiếp theo bởi nhà xuất bản Harper và Brothers ở thành phố New York. == Nhân vật == === Ishmael === Cái tên đã trở thành biểu tượng trẻ em mồ côi, những người lưu vong, và ruồng bỏ xã hội - trong đoạn mở đầu của Moby-Dick, Ishmael nói với người đọc rằng ông đã ra biển ra khỏi một cảm giác của sự tha hóa của xã hội con người. Trong dòng cuối cùng của cuốn sách, Ishmael cũng đề cập đến bản thân như một đứa trẻ mồ côi. Trong sách Sáng Thế, Ishmael là con trai của Abraham và nữ tỳ của vợ. Anh này có khả năng văn chương phong phú. === Ahab === Ahab là một thuyền trưởng độc tài của tàu Pequod. Ông ta ra khơi chỉ để muốn tìm và giết Moby-Dick, con cá voi đã táp gãy chân ông trong hành trình săn cá voi trước. Ít thông tin được biết về cuộc sống của Ahab trước khi cuộc săn Moby-Dick, chỉ biết rằng ông đã mồ côi ở độ tuổi trẻ và ông lần đầu tiên bắt đầu đánh bắt cá voi lúc mười tám và đã tiếp tục trong bốn mươi năm, ông ta cũng có nói sơ về gia đình của ông với cô vợ và cậu con gái === Moby-Dick === Moby Dick là tên của một con cá voi trắng khổng lồ được hư cấu trong tiểu thuyết cùng tên Moby-Dick (hay còn được biết với tên gọi Cá voi) của nhà văn người Mỹ Herman Melville sáng tác vào năm 1851. Truyện này kể về cuộc hành trình săn cá voi của một nhóm người do thuyền trưởng Ahab dẫn đầu. Trong chuyến đi này đoàn đã săn được rất nhiều cá voi và đem về nhiều lợi nhuận nhưng thuyền trưởng Ahab không vui và ông vẫn mong bắt được một con cá voi trắng khổng lồ mà ông gọi là Moby Dick. Moby Dick là cá voi tự do trên biển cả, đây là một con cá voi rất thông minh và luôn tránh né được hết các cuộc săn bắt. Thậm chí trong Moby Dick còn tấn công dữ dội vào đoàn người đi săn và nó đã cắn gãy một chân của thuyền trưởng Ahab và làm ông này luôn phải đi nạng và luôn luôn ám ảnh sự trả thù chưa kể nó còn tấn công vào cả thuyền trưởng Rachel và giết luôn con của ông này. Moby Dick luôn bị tàu của thuyền trưởng Ahab theo sát và trong chuyến săn bắt cuối cùng, một cuộc quyết đấu giữa đoàn người đi săn cho Ahad dẫn đầu với Moby Dick, con cá voi này đã tấn công quyết liệt đoàn đi săn, làm lật tung chiếc tàu săn cá voi và kéo thuyền trưởng Ahab xuống biển xanh sâu thẳm. Kết cục trận chiến chỉ còn một mình Ishmael sống sót còn Moby Dick tiếp tục tự do giữa đại dương. == Tham khảo == Cá voi sát thủ lớn nhất hành tinh sẽ được tái hiện Melville, H. The Whale. London: Richard Bentley, 1851 3 vols. (viii, 312; iv, 303; iv, 328 pp.) Published ngày 18 tháng 10 năm 1851. Melville, H., Moby-Dick; or, The Whale. New York: Harper and Brothers, 1851. xxiii, 635 pages. Published probably on ngày 14 tháng 11 năm 1851. Melville, H., Moby-Dick; or, The Whale. Chicago: The Lakeside Press, 1930. In three large volumes, encased in a metal slipcase and distinguished by the original, now iconographic woodblock print illustrations of Rockwell Kent. (read about and view them here.) Melville, H., Moby-Dick; or, The White Whale. Garden City, New York: The Literary Guild of America, 1949. 416 pages. Illustrated by Anton Otto Fischer. Melville, H. Moby-Dick, or The Whale. Northwestern-Newberry Edition of the Writings of Herman Melville 6. Evanston, Ill.: Northwestern U. Press, 1988. A scholarly edition with full textual apparatus. This text has been reprinted in other editions. Melville, H. Moby-Dick, or The Whale Arion Press, San Francisco, 1979, illustrated with 100 wood engravings by Barry Moser. Edition of 265, of which 250 were for sale. One of the most noted fine book editions of 20th century America, recognized by the Grolier Club as one of the 100 most beautiful books of the century. Melville, H., Moby Dick; or The Whale. Berkeley, Los Angeles, and London, 1981. A reduced version of the Arion Press Edition with 100 illustrations by Barry Moser. Melville, H., Moby-Dick The Folio Society 2009. A Limited Edition with 281 illustrations by Rockwell Kent.
brighton và hove.txt
Brighton và Hove là một là một khu vực thẩm quyền đơn nhất và thành phố trên bờ biển phía nam nước Anh. Đây là thành phố nghỉ dưỡng ven biển đông dân nhất của nước Anh. Cơ quan thẩm quyền đơn nhất được hình thành từ sự hợp nhất của Brighton, phần chính của thành phố với khoảng 155.000 dân trong tổng dân số 273.400, với thị trấn gần đó Hove vào năm 1997, chính thức được Nữ hoàng Elizabeth II cấp tư cách thành phố trong một phần của các lễ kỷ niệm thiên niên kỷ vào năm 2000. "Brighton" thường gọi đồng nghĩa với tên gọi chính thức "Brighton và Hove" tên mặc dù nhiều người dân địa phương vẫn còn xem hai thành thị này là các đô thị riêng biệt. Khu vực đô thị Brighton và Hove có dân số hơn 460.000 người. Thành phố này gần đây nổi tiếng với một cộng đồng người đồng tính lớn và với cuộc sống về đêm và văn hóa nghệ thuật. Thành phố này còn nổi tiếng với đội bóng đá Brighton & Hove Albion FC (thường được gọi là "Brighton" hoặc "Albion"). Họ hiện đang chơi trong giải vô địch Football League tại sân vận động Amex, mở cửa vào năm 2011. Brighton và Hove là một phần của khu vực đô thị Brighton / Worthing / Littlehampton, khu vực đô lớn thứ 12 tại Vương quốc Anh. Dọc theo khu vực bờ biển phía nam, có ít hoặc không có khoảng cách nông thôn giữa các thị trấn và thành phố lớn. Trực tiếp về phía tây là Southwick và sau đó Shoreham-by-Sea, và một khoảng cách ngắn đến phía đông Peacehaven và Newhaven. == Tham khảo ==
iphone (thế hệ thứ nhất).txt
iPhone (còn gọi là phiên bản iPhone đời đầu, hay thế hệ iPhone 2G để phân biệt với các sản phẩm ra đời sau nó) là một điện thoại thông minh được thiết kế và tiếp thị bởi công ty Apple Inc. Đây là thế hệ đầu tiên của iPhone và đã được công bố vào ngày 9 tháng 1 năm 2007 sau nhiều tháng tin đồn và đầu cơ . Nó đã được giới thiệu tại Mỹ vào ngày 29 tháng 6 năm 2007. Nó có đặc tính hỗ trợ kết nối 4 băng tần GSM cho thiết bị di động và hỗ trợ truyền dữ liệu chuẩn GPRS và EDGE. Vào ngày 09 tháng 6 năm 2008, Apple công bố tiếp theo là iPhone 3G. IPhone đời đầu (phiên bản gốc) không còn nhận được bản cập nhật phần mềm của Apple, phiên bản phần mềm chính thức cuối cùng của nó là hệ điều hành iPhone 3.1.3. Nó đã được báo cáo rằng trong năm 2013, iPhone bản gốc sẽ được coi là "lỗi thời" trong các cửa hàng bán lẻ của Apple, thành "cổ điển" với các nhà cung cấp dịch vụ khác ở Mỹ, và "lỗi thời" trong tất cả các khu vực khác. Apple không phục vụ các sản phẩm quá cũ hay đã lỗi thời, và các linh kiện thay thế cho các sản phẩm lỗi thời sẽ không có sẵn cho các nhà cung cấp dịch vụ. == Lịch sử == === Giai đoạn đầu phát triển === Steve Jobs, giám đốc điều hành tại Apple Inc, hình thành một ý tưởng sử dụng một cảm ứng đa chạm màn hình cảm ứng tương tác với một máy tính theo một cách thức mà ông có thể gõ trực tiếp lên màn hình, về cơ bản loại bỏ sự hiện diện vật lý của bàn phím và chuột, giống như một máy tính bảng. Việc tuyển dụng một nhóm các kỹ sư của Apple để nghiên cứu những ý tưởng như một dự án phụ. Khi thực hiện xem xét lại các nguyên mẫu của nó và GUI -giao diện người dùng, ông hình thành một ý tưởng thứ hai triển khai thực hiện công nghệ này trên một điện thoại di động. Những cố gắng quy tụ trong cái gọi là Dự án màu tím 2 và bắt đầu vào năm 2005. Apple đã tạo ra các thiết bị trong một sự hợp tác bí mật và chưa từng có với AT&T, trước đó là Cingular Wireless. Chi phí phát triển của sự hợp tác đã được ước tính cỡ $150,000,000 trong khoảng thời gian ba mươi tháng. Apple từ chối các cách tiếp cận "thiết kế của Uỷ ban" - cách đã tạo ra Motorola ROKR E1, một sự hợp tác phần lớn không thành công với Motorola. Thay vào đó, Cingular Wireless cho Apple tự do để phát triển phần cứng của iPhone và phần mềm trong nhà. IPhone phiên bản gốc được Steve Jobs giới thiệu vào ngày 09 tháng 1 năm 2007 trong một bài phát biểu tại Hội nghị & hội chợ triển lãm Macworld tổ chức tại Moscone West ở San Francisco, California. Trong bài phát biểu của mình, Jobs nói: "Tôi đã mong chờ giây phút này trong hai năm rưỡi", và rằng "hôm nay, Apple sẽ lại phát minh điện thoại" Jobs giới thiệu iPhone như là một sự kết hợp của ba thiết bị: một "màn hình rộng iPod với điều khiển cảm ứng", "cuộc cách mạng điện thoại di động điện thoại", và một "bước đột phá Internet truyền thông". === Phát hành === IPhone được phát hành vào ngày 29 tháng 6 năm 2007 tại Hoa Kỳ, nơi hàng ngàn người đã được báo cáo đã chờ đợi bên ngoài của Apple và AT & T bán lẻ cửa hàng ngày trước khi ra mắt của thiết bị, với nhiều cửa hàng báo cáo tình trạng thiếu chứng khoán trong vòng một giờ. Để tránh lặp lại những vấn đề của 3 ra mắt PlayStation, đã gây ra vụ trộm cắp và thậm chí một vụ nổ súng, cảnh sát ra khỏi nhiệm vụ được thuê để bảo vệ các cửa hàng qua đêm. Sau đó nó được làm sẵn có trong Vương quốc Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, các Cộng hòa Ireland và Áo trong tháng 11 năm 2007. Sáu trong mười người Mỹ được khảo sát nói rằng họ biết iPhone đang đến trước khi phát hành. === Sau khi phát hành === Các iPod Touch, một thiết bị màn hình cảm ứng với các phương tiện truyền thông và khả năng internet và giao diện của iPhone, nhưng không có khả năng kết nối với một mạng di động cho các chức năng điện thoại hoặc truy cập internet, được phát hành vào ngày 05 tháng 9 năm 2007. Đồng thời, Apple đã giảm đáng kể giá của GB mô hình 8 trong khi ngừng các mô hình 4 GB. Apple đã bán được một phần triệu của iPhone năm ngày sau đó, hoặc 74 ngày sau khi phát hành. Sau khi nhận được "hàng trăm email... thất vọng "về sự sụt giảm giá cả, Apple đã cho tín dụng lưu trữ để sớm chấp nhận. Một mô hình 16 GB được phát hành vào ngày 05 tháng 2 năm 2008. Apple phát hành một SDK trên 06 tháng 3 năm 2008, cho phép các nhà phát triển để tạo ra các ứng dụng sẽ được cung cấp bắt đầu trong hệ điều hành iPhone phiên bản 2.0, nâng cấp miễn phí cho người dùng iPhone. Vào ngày 9, Apple công bố iPhone 3G, bắt đầu vận chuyển 11 tháng 7. Các bản iPhone gốc đã bị dừng tại thời điểm đó, tổng khối lượng bán hàng đến 6.124.000 đơn vị. Trong khi hầu hết các tài liệu của Apple chỉ đơn giản được gọi là thiết bị "iPhone", thuật ngữ "iPhone nguyên bản" xuất hiện trong một thông cáo báo chí từ tháng 7 năm 2010. == Phần mềm == Trong thời gian phát hành, iPhone được bán trên thị trường như chạy "OS X". Tên của hệ điều hành đã được tiết lộ như hệ điều hành iPhone với việc phát hành của iPhone SDK. Cho đến nay, Apple đã phát hành 6 phiên bản chính phần mềm cho iPhone, bao gồm cả một đơn vị đi kèm với iPhone bản gốc và ba phiên bản chính (hệ điều hành iPhone 1, 2, và 3) cho iPhone, nhưng bản cập nhật phần mềm cho iPhone bản gốc và 3G đã được ngưng. === Lịch sử phần mềm === Việc phát hành ban đầu của hệ điều hành bao gồm Visual Voicemail, cử chỉ đa cảm ứng, HTML email, trình duyệt web Safari, nhắn tin văn bản ren, và YouTube. Tuy nhiên, nhiều tính năng như tin nhắn MMS, các ứng dụng, và sao chép và dán không được hỗ trợ trong phiên bản. Những tính năng còn thiếu dẫn đến hacker jailbreak điện thoại của họ có thêm những tính năng còn thiếu. Cập nhật phần mềm chính thức từ từ bổ sung các tính năng này. hệ điều hành iPhone 2.0, phát hành 11 tháng 7 năm 2008, giới thiệu các ứng dụng của bên thứ ba, hỗ trợ trao đổi, push e-mail, và cải tiến khác. hệ điều hành iPhone 3.0, phát hành 17 tháng 6 năm 2009, sao chép và dán giới thiệu, tìm kiếm Spotlight cho màn hình chủ, và các tính năng mới của YouTube. Không phải tất cả các tính năng của hệ điều hành iPhone 3.0 được hỗ trợ trên iPhone phiên bản gốc. Không giống như iPhone 3G, iPhone ban đầu đã không nhận được iOS 4 bản cập nhật. iPhone OS 3.1.3 là phiên bản mới nhất của hệ điều hành iPhone (nay là iOS) sẽ được phát hành cho iPhone gốc. == Thông cáo báo chí == Tờ The New York Times và The Wall Street Journal công bố đánh giá tích cực, nhưng thận trọng, của iPhone, những lời chỉ trích chính của họ là tốc độ tương đối chậm của AT & T 's 2.5G EDGE mạng và của điện thoại không có khả năng kết nối sử dụng 3G dịch vụ. The Wall Street Journal bình luận của công nghệ, Walt Mossberg, kết luận rằng "mặc dù một số sai sót và thiếu sót tính năng, iPhone là, trên sự cân bằng, một máy tính cầm tay đẹp và mang tính đột phá". Hiện tạp chí đặt tên nó là phát minh của năm trong năm 2007. == Các mốc phát triển sản phẩm == == Xem thêm == Danh sách các thiết bị iOS So sánh các điện thoại thông minh == Tham khảo == Phương tiện liên quan tới IPhone tại Wikimedia Commons
bầu cử sơ bộ.txt
Bầu cử sơ bộ (hay bầu cử chỉ định ứng viên, Tiếng Anh: primary election) là cuộc bầu cử mà ở đó cử tri trong một khu vực nhất định chọn các ứng viên cho một cuộc bầu cử tiếp theo đó. Hay nói cách khác, bầu cử sơ bộ là cuộc bầu cử để một đảng chỉ định các ứng viên cho cuộc tổng tuyển cử sau đó. Đây là loại hình bầu cử mà chúng ta thường thấy trước khi diễn ra bầu cử tổng thống Mỹ. Các ứng viên tổng thống của một đảng ở Mỹ thông qua cuộc bầu cử sơ bộ tổng thống Mỹ để tìm ra một ứng viên duy nhất của đảng mình để tranh cử tổng thống trong cuộc bầu cử tổng thống. Ngoài việc dùng các cuộc bầu cử sơ bộ, còn có các cách thức bầu cử khác mà các đảng dùng để chọn ứng viên như họp kín, đại hội đảng,... == Phân loại == Một số loại hình bầu cử sơ bộ thường được dùng: Kín. Các cử tri có thể đi bầu trong một cuộc bầu cử sơ bộ của một đảng chỉ khi họ có tên thành viên của đảng đó. Nửa kín. Tương tự như bầu cử sơ bộ kín nhưng cho phép các cử tri độc lập tham gia.. Mở. Một cử tri ký danh có thể đi bầu ở bất kỳ cuộc bầu cử sơ bộ của đảng nào bất kể người đó thuộc đảng nào. Nửa mở. Mỗi cử tri có thể bầu cho từng cuộc bầu cử sơ bộ nào nhưng người ấy phải tuyên bố công khai rằng họ sẽ bầu trước khi vào phòng bỏ phiếu. Bao quát (blanket primary) - cho phép cử tri bầu cho một ứng viên cho mỗi một chức vụ bất kể người đó thuộc đảng nào. Bầu cử 2 vòng (một dạng dồn phiếu) là cuộc bầu cử sơ bộ ở đó việc bỏ phiếu kín không giới hạn trong một đảng và hai ứng viên dẫn đầu đều tiến đến cuộc tổng tuyển cử bất kể họ thuộc đảng nào. Đôi lúc, cũng có các hình thức hỗn hợp được dùng. == Bầu cử sơ bộ trên thế giới == Bầu cử sơ bộ tổng thống Mỹ. Ý. Chile. Uruguay, từ 1999 Nam Hàn, 2007 Armenia == Ghi chú == == Tham khảo == Bibby, John, and Holbrook, Thomas. 2004. Politics in the American States: A Comparative Analysis, 8th Edition. Ed. Virginia Gray and Russell L. Hanson. Washington D.C.: CQ Press, p. 62-100. Brereton Charles. First in the Nation: New Hampshire and the Premier Presidential Primary. Portsmouth, NH: Peter E. Randall Publishers, 1987. Hershey, Majorie. Political Parties in America, 12th Edition. New York: Pearson Longman, 2007. p. 157-73. Kendall, Kathleen E. Communication in the Presidential Primaries: Candidates and the Media, 1912-2000 (2000) Primaries: Open and Closed Palmer, Niall A. The New Hampshire Primary and the American Electoral Process (1997) Scala, Dante J. Stormy Weather: The New Hampshire Primary and Presidential Politics (2003) Ware, Alan. The American Direct Primary: Party Institutionalization and Transformation in the North (2002), the invention of primaries around 1900
linh mục.txt
Linh mục là một chức phẩm của Giáo hội Công giáo Rôma, là giáo sĩ có quyền thực hiện các lễ nghi tôn giáo trực tiếp cho giáo dân. Chức linh mục là chức phẩm cơ bản để được tấn phong lên chức cao hơn là Giám mục. Chức linh mục gồm hai loại: linh mục triều là các linh mục có giáo tịch tại một giáo phận nào đó dưới quyền một Giám mục (hoặc giám chức), linh mục dòng là các linh mục thành viên của một dòng tu Công giáo, dưới quyền một vị bề trên. Tùy theo sử bổ nhiệm của Giám mục hoặc bề trên mà các linh mục có thể đảm nhận các nhiệm vụ như: quản trị một giáo xứ, làm việc cho các cơ quan của giáo hội hoặc đi truyền giáo. Giáo Luật Giáo hội Công giáo quy định linh mục phải sống độc thân và không truyền chức linh mục cho nữ giới. == Linh mục chui == Linh mục chui là tên gọi linh mục Việt Nam được thụ phong mà không được chấp nhận bởi chính phủ cầm quyền. Đa số họ không được làm mục vụ công khai, có những trường hợp bất khả kháng (ví dụ linh mục chánh xứ bị đau nặng bất ngờ không thể dâng lễ) thì vị linh mục chui có thể được nhà nước “cho phép” dâng lễ nhưng không được giảng giải gì cả…! Linh mục chui cũng rất gần gũi với thân phận các linh mục đi học tập cải tạo về, dù đã được “khoan hồng” nhưng có khi 15, 20 năm sau vẫn chưa được thi hành mục vụ công khai (thường được gọi bằng cái tên rất nghịch lý với niềm tin Công giáo: “chưa được phục hồi quyền linh mục”!). == Chú thích ==
mai phi.txt
Mai phi (chữ Hán: 梅妃; 710 - 755), là một phi tần của Đường Huyền Tông Lý Long Cơ, vị Hoàng đế nổi tiếng triều đại nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc. Tương truyền bà sở hữu thân hình mảnh khảnh, yêu thích hoa mai nên đặt tên là Mai phi. Nổi tiếng là một tài nữ và nhạc công xuất sắc, bà đã sáng tác Lâu Đông phú (樓東賦) và điệu múa Kinh Hồng vũ (惊鸿舞) có thể là một bài múa miêu tả chim hồng nhạn bay lượn để biểu diễn trước mặt Đường Huyền Tông. Mai phi mảnh mai, vũ đạo uyển chuyển khiến Huyền Tông rất thích. == Sủng phi == Mai phi tên thật là Giang Thái Tần (江采蘋). Bà sinh ra ở Mai Hoa thôn, thông minh hơn người, 9 tuổi đã đọc thông các phần Chu Nam, Thiệu Nam trong Kinh thi, được Cao Lực Sĩ tuyển vào hậu cung phục vụ hoàng đế. Giang Thái Tần có sắc dáng mảnh dẻ xinh đẹp, thanh lệ thoát tục, lại thông thạo văn thơ, cầm kỳ thi hoạ, Huyền Tông vừa trông thấy lập tức mê mẩn, ngày đêm triệu hạnh. Nàng đặc biệt yêu thích hoa mai nên Huyền Tông phong là Mai phi (梅妃). Để thể hiện sủng ái đối với Mai phi, Huyền Tông lệnh trồng thật nhiều mai vàng xung quanh tẩm cung bà. Huyền Tông còn âu yếm khen ngợi vẻ đẹp của Mai phi hơn hẳn hoàng hậu Triệu Phi Yến thời Hán. Sử sách không ghi rõ năm sinh lẫn năm nhập cung của nàng, chỉ biết Mai phi nhập cung sớm hơn Dương Quý phi. == Thất sủng == Năm 737, Võ Huệ phi, một ái phi khác của Đường Huyền Tông qua đời vì bệnh, Đường Huyền Tông ngày đêm tiếc thương, chẳng buồn đi lại chốn hậu cung, chỉ lo lập đài Tập Linh cầu siêu, cúng vái cho vong hồn Huệ phi được sớm siêu thăng. Một ngày nọ, Cao Lực Sĩ phát hiện vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Thọ vương phi Dương Ngọc Hoàn, vợ Thọ Vương Lý Mạo, con trai Huyền Tông với Huệ phi, bèn lén mật tấu với Huyền Tông. Nhìn thấy dung nhan của con dâu, Huyền Tông liền quên ngay Huệ phi mà lập Ngọc Hoàn làm Quý phi, sủng ái không ai bằng. Dương quý phi đắc sủng, Huyền Tông không màng đến hậu cung có hơn ba ngàn giai lệ. Trong hậu cung của Huyền Tông, từ khi Dương Quý phi xuất hiện thì các phi tần khác đều rất khó được ân hạnh, trong đó có Mai phi. Một lần, có sứ thần dâng lên đôi trân châu, Huyền Tông chợt nhớ đến Mai phi, lén gọi người hầu đem đến tặng bà. Mai phi buồn rầu không nhận, gửi trả lại cùng với 1 bài thơ như sau: Liễu diệp song mi cửu bất miêu Tàn trang hoà lệ ố hồng tiêu Trường môn tự thị vô sơ tẩy Hà tất trân châu uỷ tịch liêu. Dịch là: Lâu rồi không vẽ chân mày lá liễu Quần áo xưa đã hoen ố lệ buồn Cửa ngõ căn phòng không còn lau rửa Thì cần gì châu ngọc để vỗ về nỗi cô đơn. Về sau, năm 755, An Lộc Sơn khởi loạn mang quân tiến vào Trường An, Đường Huyền Tông mang theo Dương quý phi cùng một số quần thần phải bỏ kinh thành chạy vào đất Thục mà bỏ quên Mai phi. Mai phi bị tàn sát trong cơn binh lửa. == Xem thêm == Đường Huyền Tông Võ Huệ phi Dương Quý Phi == Tham khảo ==
taco.txt
Taco ( /ˈtɑːkoʊ/ hoặc Anh /ˈtækoʊ/) là món ăn truyền thống của người Mexico được làm từ bột ngô hoặc bột mỳ cho lớp vỏ giòn rụm bên ngoài, trong khi nhân bên trong với nhiều lựa chọn khác nhau. Với người Mexico, bánh Tacos được coi là món ăn truyền thống dân dã và nhanh chóng. == Giới thiệu == Taco còn mang giá trị lịch sử. Món ăn này khiến người ta gợi nhớ về cuộc di cư của người châu Âu vào Mexico. Tacos được những người châu Âu đầu tiên trong những cuộc viễn chinh đã khám phá và du nhập khắp Nam Mỹ, châu Âu, Trung Đông và châu Á. Giống với sandwich, tacos được tạo nên bằng nhiều loại thức ăn đã được chuẩn bị theo những cách khác nhau và có thể ăn tacos như một món khai vị hoặc bữa ăn nhẹ. Một số tài liệu còn cho thấy, người dân Mexico sống ở các vùng hồ còn chế biến taco nhân cá. Những quầy hàng rong bán taco có mặt trên hầu hết các ngõ ngách phố phường. Người Mexico thường dùng taco như một món ăn nhẹ sau bữa tối. Sau bữa chính, nhiều người lựa chọn taco như một cena (bữa tối nhẹ) được bán trong những quầy bán hàng di động cho đến nửa đêm tại các thành phố lớn. Vào cuối tuần các vũ trường và câu lạc bộ mở cửa đến tận gần sáng và taco là món ăn nhanh cho những người vui chơi thâu đêm. Từ những năm đầu của thế kỷ 20, đã có rất nhiều loại tacos được phổ biến tại Mỹ -Canada và xuất hiện trong những cuốn sách nấu ăn vào năm 1949. Ngoài ra tacos còn được bày bán trong những hệ thống bán đồ thức ăn nhanh như Taco Bell,Taco Del Mar,Mighty Taco…và các nhà hàng fastfood như Burger King và Jack in the Box của người Mexico tại đây. Thậm chí, ở đất nước này, người ta còn phát triển nhiều hệ thống nhà hàng chuyên về taco như Taco Del Mar, Taco Bell và Mighty Taco. == Đặc điểm == Trong một chiếc Tacos, bánh tráng sẽ được rán qua để mềm và gấp cùng với nhân. Nhân bánh được làm từ thịt bò, thịt heo, cá, thịt gà, nước sốt cà chua, nấm, ớt …tất cả sẽ được nướng (hoặc hấp) cùng. Người thưởng thức có thể thay đổi thành phần của nhân để phù hợp với khẩu vị và cách chế biến. Món ăn này đậm chất Mexico không chỉ ở vỏ bánh tráng bằng bột ngô mà còn vì vị ớt được ăn kèm với bánh và nước sốt. Màu sắc của nhân chính là từ những loại thức ăn trong đó, có thể thưởng thức một chiếc tacos thịt và nước sốt thơm ngon ngầy ngậy hoặc một chiếc tacos với thành phần chính là rau xanh kèm theo một chút thịt nướng == Các loại == Nhờ vào danh sách dài lựa chọn và phương pháp chế biến nhân bên trong, taco càng thuyết phục được nhiều người đam mê món ăn truyền thống này và trở nên phổ biến khắp Mexico. Nhìn chung, taco gồm hai loại, taco vỏ cứng và taco vỏ mềm. Theo truyền thống của người Mexico, taco vỏ mềm đại diện cho nguyên liệu bột ngô, thường theo phương pháp hấp hoặc nướng. Tuy nhiên, loại taco phổ biến nhất vẫn là vỏ ngô kẹp thịt xay nhỏ, hành, rau diếp, lê tàu và nước tương cà chua cay của Mexico. Taco nướng với lớp vỏ được nướng trên vỉ than hồng cho đến khi đạt độ giòn nhất định, ăn kèm với nước tương chorizo asado. Ở miền Bắc Mexico, người ta gọi taco nướng ăn kèm với pho mát Oaxaca và thịt là mulita. Taco đầu bò lại là một phiên bản taco độc đáo với nhân từ não, lưỡi, má, môi và mắt bò. Vỏ taco đầu bò được hấp để luôn giữ độ mềm, trong khi người ta bổ sung thêm hành, rau mùi cho lớp nhân bên trong. Taco de cazo lại được phục vụ trên một bát bằng kim loại, sánh lớp dầu ăn phía dưới nhằm ngụ í về cách chế biến vỏ chiên ngập dầu và giòn tan. Loại taco này chủ yếu sử dụng thịt heo, thay vì bò. Taco sudados tạo nên sự khác biệt với hỗn hợp nhân gồm bánh mỳ mềm, thịt cay. Vỏ bên ngoài bao bọc lấy toàn bộ nhân, giúp cho món taco này luôn nóng và tỏa hơi nước để làm mềm vỏ. Cũng theo cách chế biến tương tự, có taco tôm, taco cá và taco thịt cừu. Một số loại tacos được ưa chuộng tại Mỹ như: Taco al Pastor (đây là loại tacos phổ biến nhất tại Mexico) nguyên liệu chính của là thịt lợn được ướp gia vị đã được cắt xén nhỏ và được xiên qua và nướng trên lửa. Đây được coi là món ăn phỏng theo món thịt nướng từ những người nhập cư Li Băng, hay như món Breakfast Tacos luôn có sẵn trong các quán ăn nhà hàng dọc theo Southwest- đặc biệt là ở New Mexico và Texas- nhân của breakfast tacos là từ thịt được tẩm gia vị, trứng hay pho mát và những thành phần khác như củ hành… == Tham khảo == Thòm thèm món Taco thịt bò kiểu Mexico Tacos - sandwich lâu đời của người Mexico Mê mẩn món taco giòn rụm của Mexico
thông tấn xã việt nam.txt
Thông tấn xã Việt Nam là hãng thông tấn Quốc gia, trực thuộc Chính phủ Việt Nam và là cơ quan thông tin chính thức của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. TTXVN liên tục cung cấp những thông tin đề cập đến các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học và công nghệ của Việt Nam và thế giới. Mục đích của TTXVN là phản ánh quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam về những vấn đề thời sự lớn trong nước, khu vực và trên thế giới. == Giới thiệu == TTXVN có trụ sở chính ở số 1-3-5 và 75-79 Lý Thường Kiệt, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngoài ra, TTXVN còn có Cơ quan đại diện tại TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng, cùng mạng lưới các phân xã ở 63/63 tỉnh thành trong nước và 30 phân xã ở nước ngoài được bố trí khắp 5 châu lục. Tin của TTXVN bao gồm nhiều thể loại, và có một số bài được dùng đồng loạt trên các báo in của Việt Nam vì được coi là thông tin chính thức. Ngày 15 tháng 9 năm 1945 được coi là Ngày truyền thống của TTXVN (lúc đó mang tên Việt Nam Thông tấn xã). Đây là ngày VNTTX chính thức phát đi bản Tuyên ngôn độc lập và danh sách thành viên Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh và Pháp. Bản tin này được phát từ Đài phát sóng vô tuyến Bạch Mai (Hà Nội) ra toàn quốc và toàn thế giới. TTXVN đã được Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh (2 lần), Huân chương Độc lập Hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Thành đồng Tổ quốc hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và nước ngoài. TTXVN là cơ quan báo chí duy nhất ở Việt Nam được phong tặng hai danh hiệu Anh hùng: Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới và Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến cứu quốc. TTXVN là thành viên Tổ chức Thông tấn xã các nước Không liên kết (NANAP), thành viên Tổ chức các thông tấn xã châu Á, Thái Bình Dương (OANA) và là Ủy viên Ban Chấp hành OANA, thành viên Tổ chức các hãng thông tấn thế giới. TTXVN hiện có quan hệ hợp tác song phương và đa phương với gần 40 hãng thông tấn và tổ chức báo chí lớn trên thế giới như AFP, Reuters, AP, ITAR-TASS, RIA Novosti, Tân Hoa xã, Yonhap, Kyodo News, Prensa Latina, Antara, Notimex, TNA, Bernama, KPL, APS, MAP, AKP, OANA, AsiaNet... Trải qua hơn sáu thập kỷ hành trình cùng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày nay TTXVN đã trở thành một trung tâm thông tin quốc gia tin cậy của Đảng và Nhà nước, một hãng thông tấn có uy tín trong khu vực, hướng tới xây dựng thành tập đoàn truyền thông. TTXVN không ngừng phát triển các hình thức truyền tin đa dạng: trang thông tin, tin truyền thanh, tin truyền hình, báo giấy, báo mạng… == Lịch sử hình thành và phát triển == Tiền thân của Thông tấn xã Việt Nam là Nha Thông tin (Bộ Thông tin, Tuyên truyền). 23 tháng 8 năm 1945, ngày làm việc đầu tiên. 15 tháng 9 năm 1945, phát sóng bản Tuyên ngôn Độc lập và danh sách thành viên Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. 1946, đặt văn phòng đại diện tại Bangkok (Thái Lan). 6 tháng 1 năm 1946, ra bản tin tiếng Pháp. Tháng 8 năm 1946, ra bản tin tiếng Anh. 20 giờ, 19 tháng 12 năm 1946, phát "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lên chiến khu Việt Bắc, thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Tháng 3 năm 1947, ra bản tin tiếng Hoa "Việt Nam Tân Văn" tại Cao Bằng. Bản tin này chấm dứt sau khoảng 1 năm hoạt động. 1948, đặt văn phòng đại diện tại Rangoon (Miến Điện). 1949, nhận tin của các hãng thông tấn như TASS (Liên Xô) và Tân Hoa xã (Trung Quốc). 1952, đặt các phân xã nước ngoài lần lượt ở Bắc Kinh (Trung Quốc), Moskva (Liên Xô) và Paris (Pháp). Tháng 10 năm 1954, Hà Nội được giải phóng, VNTTX đặt trụ sở tại số 5 phố Lý Thường Kiệt. 1955, trở thành cơ quan trực thuộc Chính phủ. 12 tháng 10 năm 1960, Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) được thành lập tại chiến khu Dương Minh Châu, miền Đông Nam Bộ. 1975, kết thúc 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, gần 260 phóng viên, nhân viên của VNTTX và TTXGP đã tử nạn trong lúc làm nhiệm vụ. 1976 và 1977, hợp nhất VNTTX và TTXGP Tháng 5 năm 1976, đổi tên thành Thông tấn xã Việt Nam Ngày 25 tháng 8 năm 2010: Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ấn nút kích hoạt, đánh dấu sự ra đời chính thức của Truyền hình Thông tấn - kênh truyền hình thông tin thời sự chính luận đầu tiên tại Việt Nam (đã phát sóng thử nghiệm từ ngày 21/6/2010). == Các ấn phẩm == Thông tấn xã Việt Nam thường được viết tắt trên các bản tin, ấn phẩm là TTXVN (tiếng Anh: VNA; tiếng Tây Ban Nha: AVN; tiếng Pháp: AVI; tiếng Trung: 越通社). Các bản tin thời sự phát trực tuyến trên trang web news.vnanet.vn và hàng chục ấn phẩm khác như: === Các bản tin hàng ngày === Tin thời sự trong nước Tin thế giới Tin nhanh Tài liệu Tham khảo Đặc biệt Tin Tham khảo Thế giới Tin kinh tế Tham khảo Tin Kinh tế Việt Nam và Thế giới Tin tiếng Anh Tin tiếng Pháp Tin tiếng Tây Ban Nha === Các bản tin chuyên đề tuần, tháng và quý === Tin Kinh tế Việt Nam và Thế giới chủ nhật Thông tin tư liệu (3 số/tuần) Tin Kinh tế quốc tế Tin Tham khảo Thế giới Chủ Nhật Dư luận thế giới Tài liệu tham khảo chuyên đề (tháng) Các vấn đề quốc tế Bản tin Khoa học & Công nghệ Bản tin, ảnh Dân tộc và Miền núi (tiếng Việt, Bana, Êđê, Gia Rai, Khmer và chuyên đề). === Các báo và tạp chí === Tin tức hàng ngày Tin tức cuối tuần Thể thao & Văn hóa hàng ngày Thể thao & Văn hóa cuối tuần Thể thao Văn hóa & Đàn ông Việt Nam News (en) Viet Nam News Sunday Tạp chí tháng Outlook Le Courrier du Vietnam (Quotidien) Le Courrier du Vietnam (Dimanche) Báo Ảnh Việt Nam (với 7 ngôn ngữ: Việt, Trung, Nga, Anh, Pháp, Nhật, Tây Ban Nha) Vietnam Law & Legal Forum Công báo tiếng Anh Báo điện tử Vietnamplus (Vietnam+) === Ảnh thông tấn === Hàng trăm bức ảnh thời sự trong nước và quốc tế - thông tin bằng hình của TTXVN được phát hàng ngày trên website của TTXVN. === Kênh Truyền hình Thông tấn === Phát sóng 24/24h, Kênh truyền hình Thông tấn (VNews) là kênh chuyên biệt tin tức của TTXVN, thực hiện nhiệm vụ chính trị tuyên truyền thiết yếu của quốc gia (Thông tư 09/2012/BTTTT), với hệ thống các bản tin thời sự đầu giờ và nhiều chuyên mục về các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, đối ngoại, kinh tế, xã hội, văn hóa, thể thao và phổ biến kiến thức trong nước và quốc tế. Kênh Truyền hình Thông tấn phát trên hệ thống truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh, truyền hình trực tuyến (IPTV) và truyền hình Internet (MobiTV). === Sản phẩm của Nhà xuất bản thông tấn === Sách chuyên khảo liên quan đến thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước == Các Cơ quan trực thuộc TTXVN == === Đơn vị giúp việc cho Tổng Giám đốc === Ban Thư ký Biên tập Trung tâm Truyền hình Thông tấn Hội đồng nghiên cứu và phát triển ttxvn Ban Tổ chức Cán bộ Ban Kế hoạch - Tài chính Ban Kiểm tra Văn phòng - Địa chỉ: 5 Lý Thường Kiệt, Hà Nội === Đơn vị biên tập === Ban biên tập tin trong nước Ban biên tập tin thế giới Ban biên tập tin đối ngoại Ban biên tập tin kinh tế Ban Biên tập ảnh Trung tâm Truyền hình Thông tấn (VNews) Trung tâm Thông tin Tư liệu == Tổng Giám đốc các thời kỳ == Trần Kim Xuyến: TGĐ TTXVN từ 1945 - 1947 Hoàng Tuấn: TGĐ TTXVN từ 1962 - 1965 Đào Tùng: TGĐ TTXVN từ 1977 - 1990 Đỗ Phượng: TGĐ TTXVN từ 1990 - 1996 Hồ Tiến Nghị: TGĐ TTXVN từ 1996 - 2001 Lê Quốc Trung: TGĐ TTXVN từ 2001 - 2006 Nguyễn Quốc Uy: TGĐ TTXVN từ 2006 - 2008 Trần Mai Hưởng: TGĐ TTXVN từ 2009 - 2011 Nguyễn Đức Lợi: TGD TTXVN từ 2011 - nay Ban Tổng Giám đốc đương nhiệm Nguyễn Đức Lợi: Tổng Giám đốc Ngô Hà Thái: Phó Tổng Giám đốc Nguyễn Hoài Dương: Phó Tổng Giám đốc Lê Duy Truyền: Phó Tổng Giám đốc Đinh Đăng Quang: Phó Tổng Giám đốc == Liên kết ngoài == Báo Tin tức TTXVN Báo Thể thao & Văn hóa Báo Việt Nam News Báo điện tử VietnamPlus Trang thông tin dịch vụ TTXVN Truyền hình thông tấn
windows server 2016.txt
Windows Server 2016 là một hệ thống điều hành máy chủ được Microsoft phát triển như là một phần của gia đình hệ điều hành Windows NT, phát triển đồng thời với Windows 10. Phiên bản preview đầu tiên (kỹ thuật trước) đã được đưa ra ngày 01 tháng 10 năm 2014 cùng với các phiên bản preview đầu tiên của System Center. Không giống như các phiên bản Windows Server trước, được phát hành đồng thời với hệ thống điều hành máy khách, Windows Server 2016 đã được phát hành vào ngày 26 tháng 9 năm 2016 tại hội nghị Ignite của Microsoft và được đưa ra thị trường vào ngày 12 tháng 10 năm 2016. == Tính năng, đặc điểm == Windows Server 2016 có một loạt các tính năng mới, bao gồm Active Directory Federation Services: Có thể cấu hình AD FS để xác thực người dùng được lưu trữ trong các thư mục không AD, như X.500 phù Lightweight Directory Access Protocol (LDAP) thư mục và cơ sở dữ liệu SQL [7]. Windows Defender: Windows Server Antimalware được cài đặt và kích hoạt theo mặc định mà không có giao diện đồ họa, đó là một tính năng của Windows cài đặt [8]. Remote Desktop Services: Hỗ trợ OpenGL 4.4 và OpenCL 1.1, hiệu suất và sự ổn định cải tiến; Dịch vụ MultiPoint vai trò (xem Windows MultiPoint Server) [9] Dịch vụ lưu trữ: Chính sách Trung ương lưu trữ QoS; Lưu trữ các bản sao (lưu trữ-agnostic, cấp khối, khối lượng dựa trên, nhân rộng đồng bộ và không đồng bộ sử dụng SMB3 giữa các máy chủ để phục hồi thảm họa). [10] Lưu trữ Replica sao chép khối thay vì tập tin; tập tin có thể được sử dụng. Nó không phải multi-master, không phải là một-nhiều và không bắc cầu. Nó định kỳ sao chép bức ảnh chụp, và sự chỉ đạo nhân rộng có thể được thay đổi. Failover Clustering: Cụm nâng cấp hệ điều hành cán, lưu trữ các bản sao [11] Ứng dụng Web Proxy: Preauthentication cho HTTP xuất bản ứng dụng cơ bản, ký tự đại diện xuất bản miền của các ứng dụng, HTTP HTTPS chuyển hướng, lan truyền của các khách hàng địa chỉ IP cho các ứng dụng phụ trợ [12] IIS 10: Hỗ trợ cho HTTP / 2 Windows PowerShell 5.1 [13] [14] Windows Server Container [15] mạng tính năng DHCP: Khi Network Access Protection được tán thành trong Windows Server 2012 R2, Windows Server 2016 DHCP vai trò không còn hỗ trợ NAP [16] DNS: DNS khách hàng: Dịch vụ ràng buộc - tăng cường hỗ trợ cho các máy tính với nhiều hơn một giao diện mạng [17] Máy chủ DNS: chính sách DNS, mới các loại hồ sơ DDS (TLSA, SPF, và hồ sơ không rõ), lệnh PowerShell mới và các thông số [18] Windows Server Gateway đã hỗ trợ Generic Routing Encapsulation (GRE) đường hầm [19] quản lý địa chỉ IP (IPAM): Hỗ trợ / 31/32, và / 128 mạng con; phát hiện, các máy chủ DNS trong miền dựa trên tập tin; chức năng DNS mới; tích hợp tốt hơn các DNS, DHCP, và địa chỉ IP (DDI) Quản lý [20] Bộ điều khiển mạng: Một vai trò máy chủ mới để cấu hình, quản lý, giám sát và khắc phục sự cố các thiết bị và các dịch vụ mạng ảo và vật lý trong các trung tâm dữ liệu [21] Hyper-V ảo hóa mạng: lập trình Hyper-V chuyển đổi (một khối xây dựng mới các giải pháp phần mềm định nghĩa của Microsoft mạng); hỗ trợ đóng gói VXLAN; Phần mềm Microsoft cân bằng tải khả năng tương tác; tốt hơn IEEE Ethernet tuân thủ tiêu chuẩn. [22] Hyper-V Cán cụm Hyper-V cập nhật: Không giống như nâng cấp cụm từ Windows 2008 R2 đến năm 2012 mức, Windows Server 2016 các nút cluster có thể được thêm vào một máy chủ Hyper-V cụm với các nút chạy Windows Server 2012 R2. Cụm tiếp tục hoạt động tại một Windows Server 2012 R2 mức tính năng cho đến khi tất cả các nút trong cluster đã được nâng cấp và cụm mức chức năng đã được nâng cấp. [23] chất lượng lưu trữ của dịch vụ (QoS) để giám sát trực thuộc Trung ương thực hiện lưu trữ end-to-end và tạo ra các chính sách sử dụng Hyper-V và Scale-Out máy chủ tập tin , Hiệu quả hơn nhị phân định dạng cấu hình máy ảo (.VMCX mở rộng cho dữ liệu cấu hình máy ảo và phần mở rộng.VMRS cho dữ liệu trạng thái thời gian chạy) mới trạm kiểm soát sản xuất Hyper-V Manager: thông tin hỗ trợ thay thế, xuống cấp quản lý, giao thức WS-Management dịch vụ tích hợp cho Windows khách phân phối thông qua Windows Update Hot thêm và loại bỏ cho các adapter mạng (đối với thế hệ 2 máy ảo) và bộ nhớ (đối với thế hệ 1 và thế hệ 2 máy ảo) Linux khởi động an toàn khả năng tương thích chờ kết nối Lưu trữ Resiliency tính năng của Hyper-V được thành lập để phát hiện lỗ tạm các kết nối để lưu trữ máy ảo. Máy ảo sẽ được tạm dừng cho đến khi kết nối được thiết lập lại. [24] RDMA tương thích Virtual Switch Nano Máy chủ Microsoft công bố một tùy chọn cài đặt mới, Nano Server, trong đó cung cấp một phiên bản không đầu tối thiểu dấu chân của Windows Server. Nó không bao gồm giao diện người dùng đồ họa, WOW64 (hỗ trợ cho phần mềm 32-bit) và Windows Installer. Nó không hỗ trợ giao diện điều khiển đăng nhập, hoặc ở địa phương hoặc thông qua Remote Desktop Connection. Việc quản lý được thực hiện từ xa qua Windows Management Instrumentation (WMI), Windows PowerShell và công cụ quản lý máy chủ từ xa (một tập hợp các giao diện dựa trên web và các công cụ dòng lệnh). [26] Tuy nhiên, trong kỹ thuật trước 5, Microsoft đã lại thêm khả năng để quản lý Nano Máy chủ tại địa phương thông qua PowerShell. Theo kỹ sư của Microsoft Jeffrey Snover, Nano Server có kích thước thấp hơn 93% VHD, ít hơn 92% khuyến cáo an ninh quan trọng, và khởi động lại ít hơn 80% so với Windows Server. [27] [28] Nano Server là chỉ có sẵn cho khách hàng của Microsoft Software Assurance. [2] == Phát triển == Microsoft đã được tổ chức lại bởi Satya Nadella, đặt máy chủ và các đội System Center với nhau. Trước đây, nhóm nghiên cứu Server đã được liên kết chặt chẽ hơn với các nhóm khách hàng Windows. Đội Azure cũng đang làm việc chặt chẽ với nhóm Server. [29] == Phát hành == === Phiên bản Preview === Một phiên bản beta công khai của Windows Server 2016 (sau đó vẫn gọi là vNext) mang nhãn hiệu là "Windows Server kỹ thuật trước" được phát hành vào ngày 01 tháng 10 năm 2014; xem trước kỹ thuật xây dựng được nhằm hướng tới người dùng doanh nghiệp. Xem trước kỹ thuật đầu tiên lần đầu tiên được thiết lập để hết hạn vào ngày 15 tháng 4 năm 2015 nhưng [30] Microsoft sau đó phát hành một công cụ để mở rộng thời hạn sử dụng, kéo dài cho đến khi ảnh nghệ thứ hai của hệ điều hành tháng năm 2015. [31] Phiên bản beta thứ hai, "kỹ thuật trước 2", được phát hành vào tháng 4 năm 2015. Phiên bản preview thứ ba, "kỹ thuật trước 3" đã được phát hành vào ngày 19, 2015. "kỹ thuật trước 4" đã được phát hành vào ngày 19 tháng 11 năm 2015. " kỹ thuật trước 5 "được phát hành vào ngày 27 Tháng Tư 2016. === Phát hành chính thức === Windows Server 2016 đã được chính thức phát hành tại Hội nghị Ignite của Microsoft vào ngày 26 tháng 9, năm 2016. Không giống như người tiền nhiệm của nó, Windows Server 2016 được cấp phép bởi số lượng các lõi CPU chứ không phải là số lượng các CPU socket-một sự thay đổi đó đã tương tự được thông qua bởi BizTalk Server 2013 và SQL server 2014. [32] == Tham khảo ==
samsung galaxy alpha.txt
Samsung Galaxy Alpha là một điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android giới thiệu bởi Samsung Electronics. Ra mắt vào 13 tháng 8 năm 2014, thiết bị sẽ phát hành vào tháng 9 năm 2014. Một thiết bị tầm trung, Galaxy Alpha là điện thoại thông minh đầu tiên của Samsung có khung kim loại, mặt dù các thể trạng vật lý khác của nó vẫn giống như các sản phẩm trước đây như Galaxy S5. Nó còn tích hợp hệ thống vi mạch mới của Samsung Exynos 5430, trở thành chiếc điện thoại đầu tiên có hệ thống vi mạch sử dụng quy trình sản xuất 20 nm. == Phát triển == Samsung đã bị chỉ trích trong quá khứ khi sử dụng nhựa polycarbonate chất lượng thấp trên smartphone hàng đầu của mình, ngay cả khi đối thủ của họ đã sản xuất chiếc điện thoại sử dụng nhựa chất lượng cao hơn hoặc nhôm nguyên khối. Mặc dù gặp nhiều vấn đề với chất lượng nguyên liệu, Samsung vẫn được coi là Android OEM ưu thế nhất. Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 2014, công ty báo cáo lợi nhuận thấp nhất trong vòng hai năm trở lại đây, sụt giảm từ 32.3% xuống 25.2% so với năm ngoái. Sự sụt giảm thị trường do sự cạnh tranh ngày càng tăng từ các nhà cung cấp điện thoại như HTC và LG, và sự cạnh tranh trong thị trường phân khúc tầm trung và thấp từ các nhà cung cấp điện thoại như Huawei và Motorola (hiện trong quá trình bán bởi Google cho Lenovo). Vào đầu tháng 6 năm 2014, hình ảnh rò rỉ chiếc điện thoại sắp ra mắt của Samsung dự kiến được gọi là "Galaxy F", đặt bên cạnh Galaxy S5: nó tích hợp một khung kim loại, viền bezel mỏng hơn S5, và nó được cho là sử dụng màn hình quad HD, vi xử lý Snapdragon 805, cùng với cảm biến đo nhịp tim và khả năng chống bụi/nước từ S5. Tuy nhiên, vào 18 tháng 6 năm 2014, Samsung ra mắt một phiên bản LTE-Advanced của S5 với màn hình quad HD, phát hành độc quyền tại Hàn Quốc. Một đại diện của Samsung nói rằng "không có kế hoạch" phát hành thiết bị này ra toàn cầu. Vào cuối tháng 7 năm 2014, rò rỉ hình ảnh thiết bị đồn đại, xác định là "Galaxy Alpha"; thiết bị được mô tả là nhỏ hơn S5 (nhưng có khung bằng kim loại), và báo cáo cho thấy thông số kỹ thuật thấp hơn S5, như màn hình 720p 4,7 in (120 mm) tương tự như Galaxy S III, và không có bộ nhớ mở rộng. Vào 31 tháng 7 năm 2014, Kim Hyun-joon, phó chủ tịch cấp cao của doanh nghiệp điện thoại Samsung, nói với các nhà đầu tư rằng công ty đang có kế hoạch phát hành một thiết bị mới kết hợp "chất liệu mới" vào cuối năm 2014. Các nhà phê bình phân tích tuyên bố của ông cho thấy rằng như một dấu hiệu công ty đang lên kế hoạch sản xuất điện thoại thông minh bằng kim loại, nhưng nó cũng có thể là một Galaxy Note series mới. Vào 13 tháng 8 năm 2014, Samsung chính thức trình làng Galaxy Alpha. Samsung Electronics CEO JK Shin giải thích rằng Alpha được "xây dựng và thiết kế dựa trên mong muốn theo yêu cầu của người tiêu dùng." Công ty chào mời rằng Galaxy Alpha sẽ đánh dấu "phương pháp thiết kế mới" cho sản phẩm của Samsung, và các yếu tố từ Alpha sẽ xuất hiện trên các sản phẩm của Samsung trong tương lai. Thiết bị sẽ phát hành vào tháng 9 năm 2014, mặc dù giá và thông tin kỹ thuật vẫn chưa được công bố. == Thông số kỹ thuật == Thiết kế tổng thể của Galaxy Alpha là sự tiến hoá của Galaxy S5, kết hợp khung kim loại và dát cạnh kim cương. Với độ dày 6,7 mm (0,26 in), Samsung cho rằng Galaxy Alpha là smartphone mỏng nhất của công ty. Bản quốc tế của Alpha sử dụng octa-core, vi xử lý Exynos 5430; bao gồm bốn lõi 1.8 GHz Cortex-A57, và bốn lõi 1.3 GHz Cortex-A53. Exynos 5430 là vi xử lý điện thoại đầu tiên sử dụng quy trình sản xuất 20 nm HKMG. Bản quốc tế sẽ còn là thiết bị đầu tiên kết hợp XMM7260 modem của Intel cat 6 hỗ trợ LTE Advanced. Bản Mỹ sẽ bao gồm vi xử lý 2.5 GHz Snapdragon 805; cả hai phiên bản sẽ bao gồm 2 GB RAM. Galaxy Alpha có màn hình 720p 4,7 in (120 mm) Super AMOLED, và có máy ảnh chính 12 megapixel, cảm biến vân tay và nhịp tim, và pin rời 1860 mAh. Thiết bị bao gồm 32 GB không bao gồm bộ nhớ mở rộng, chạy Android 4.4.4 "KitKat" với giao diện tuỳ biến TouchWiz của Samsung. == Tham khảo ==
daihatsu hijet.txt
Daihatsu Hijet là một xe van siêu nhỏ và xe tải nhỏ được sản xuất bởi hãng xe Nhật Bản Daihatsu. Mặc dù có những điểm tương đồng giữa cái tên Hijet và đề án đặt tên của Toyota cho các xe tải và xe van của họ (Hiace và Hilux), "Hijet" đã được sử dụng cho các xe tải Kei và xe van của Daihatsu từ năm 1960, hơn hai thập kỷ trước khi được Toyota nắm quyền kiểm soát. "Hijet", khi được phiên âm tiếng Nhật, rất gần với "Midget", một trong những dòng xe tải nhỏ khác của Daihatsu. Đối thủ cạnh tranh của Hijet tại Nhật Bản là Honda Acty, Subaru Sambar, Mitsubishi Minicab và Suzuki Carry. Năm 2002, Daihatsu ra mắt khái niệm Hijet Cargo Hybrid, một xe van lai, tại Nhật Bản dùng động cơ 660 cc. == Xem thêm == Daihatsu Xe tải Kei == Tham khảo == Kobori, Kazunori (2007). ダイハツ 日本最古の発動機メーカーの変遷 [Daihatsu: The History of Japan's Oldest Engine Company] (bằng tiếng Nhật). Tokyo: Miki Press. ISBN 978-4-89522-505-2. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) == Liên kế ngoài == Website chính thức của Daihatsu Thông số chiếc xe Trang thông tin Daihatsu Hijet bằng tiếng Anh Bản mẫu:Daihatsu
alternative rock.txt
Alternative rock (còn gọi là nhạc alternative, alt-rock) là một thể loại nhạc rock xuất phát từ giới nhạc ngầm độc lập vào thập niên 1980 và trở nên phổ biến vào thập niên 1990. Ban đầu, từ "alternative" được dùng để thể hiện sự tách biệt của thể loại này với nhạc rock đại chúng. Ý nghĩa ban đầu của thuật ngữ này dùng để chỉ một thế hệ những nhạc sĩ được thống nhất bởi có cùng sự ảnh hưởng về phong cách âm nhạc, hay đơn giản là có tính tự lập, tinh thần D.I.Y của punk rock mà vào cuối những năm 1970 đã đặt nên móng cho nhạc alternative. Khi đó, "alternative" được dùng như một thể loại tổng hợp; từ các nghệ sĩ rock ngầm nhận được sự quan tâm đại chúng, và cho tới bất kỳ dạng nhạc nào, dù có phải rock hay không, mà xuất phát từ punk rock, cũng đều có thể được gọi là alternative. Alternative rock là một thuật ngữ ô dù (umbrella term) gồm những kiểu nhạc khác nhau từ âm thanh, nội dung xã hội, tới vùng xuất phát. Vào cuối thập niên 1980, những tạp chí, zine, radio, và truyền miệng đã làm tăng sự nổi tiếng và bật lên tính đa dạng của alternative rock, giúp định nghĩa những phong cách (và giới nhạc) tách biệt gồm gothic rock, jangle pop, noise pop, indie rock, indie pop, grunge, Madchester, industrial rock, shoegazing, alternative hip hop, và rap rock. Hầu hết những tiểu thể loại này đều có sự chú ý đại chúng nhỏ và có một số ban nhạc đại diện cho, như Hüsker Dü và R.E.M. thậm chí còn ký hợp đồng với hãng đĩa lớn. Nhưng tính đại chúng của các nhóm alternative bị hạn chế so với các thể loại rock và pop khác đương thời, và hầu hết nghệ sĩ tiếp tục hợp đồng với các hãng đĩa độc lập. Nhờ sự thành công của Nirvana và phong trào grunge và Britpop những năm 1990, alternative rock đi vào thị trường âm nhạc đại chúng và nhiều ban nhạc alternative tìm được thành công thương mại. Cuối thập niên 1990, tính đại chúng của alternative rock suy giảm bởi một số sự kiện khiến grunge và Britpop tàn lụi. Tuy vậy, post-grunge (Creed, Matchbox Twenty) và post-Britpop (Coldplay) tiếp tục phổ biến vào đầu thế kỷ XXI; Radiohead vẫn nhận sự ca ngợi từ các nhà phê bình. Đồng thời, nhiều sự chú ý hơn đổ dồn về emo. Từ cuối thập niên 1990-đầu thập niên 2000, nhiều nhóm alternative rock lấy cảm hứng từ post-punk và new wave, gồm The White Stripes, The Strokes, Franz Ferdinand, và Interpol, và các nghệ sĩ post-punk revival như Modest Mouse và The Killers đạt thành công thương mại. == Đặc điểm == Tên "alternative rock" về cốt lỏi là một thuật ngữ ô dù cho loại nhạc ngầm đã nổi lên trong sự trổi dậy của punk rock từ giữa những năm 1980. Trong hầu hết chiều dài lịch sử, alternative rock được định nghĩa chủ yếu bởi sự tương phản với tính thương mại của văn hóa đại chúng, dù điều này không hoàn toàn đúng nữa khi mà đã có hàng loạt nghệ sĩ alternative đạt thành công thương mại hoặc được chiêu mộ bởi những hãng đĩa lớn (đặc biệt từ đầu thiên niên kỷ mới). Những nhóm nhạc thập niên 1980 chủ yếu chơi trong các câu lạc bộ nhỏ, thu âm cho những hãng đĩa indie, và lan rộng độ phổ biến qua truyền miệng. Do đó, không có cơ sở định nghĩa toàn bộ alternative rock. Phong cách âm nhạc đa dạng từ sự sầu thảm của gothic rock, tiếng guitar "jangle" của indie pop, tiếng guitar bụi bặm của grunge tới tính quật khởi '60/'70 của Britpop. == Xem thêm == Âm nhạc độc lập Danh sách các nghệ sĩ alternative rock Modern rock (định dạng radio) Spin Alternative Record Guide Dòng thời gian của alternative rock == Tham khảo == === Thư mục === Azerrad, Michael. Come As You Are: The Story of Nirvana. Doubleday, 1994. ISBN 0-385-47199-8. Azerrad, Michael. Our Band Could Be Your Life: Scenes from the American Indie Underground, 1981–1991. Little Brown and Company, 2001. ISBN 0-316-78753-1. Erlewine, Stephen Thomas. "American Alternative Rock/Post-Punk". AllMusic. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2006. Erlewine, Stephen Thomas. "British Alternative Rock". AllMusic. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2006. Harris, John. Britpop!: Cool Britannia and the Spectacular Demise of English Rock. Da Capo Press, 2004. ISBN 0-306-81367-X. Lyons, James. Selling Seattle: Representing Contemporary Urban America. Wallflower, 2004. ISBN 1-903364-96-5. Reynolds, Simon. Rip It Up and Start Again: Postpunk 1978–1984. Penguin, 2006. ISBN 0-14-303672-6. Fonarow, Wendy. Empire of Dirt: The Aesthetics and Rituals of British Indie Music. Wesleyan, 2006. ISBN 0-8195-6811-2. Noise From The Underground: A History of Alternative Rock, by Michael Lavine and Pat Blashill. Simon and Schuster Publishing, 1996. ISBN 0-684-81513-3. == Liên kết ngoài == AllMusic article for alternative rock
edubuntu.txt
Edubuntu là một phiên bản linux dựa trên Ubuntu. Edubuntu được thiết kế để sử dụng trong các lớp học. == Xem thêm == EduLinux Linux Danh sách các phiên bản linux == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chính của Edubuntu
doping.txt
Doping là tên gọi chung của các chất kích thích bị cấm trong thi đấu thể thao. Các loại chất này nhìn chung đều có tác dụng đẩy nhanh tốc độ tuần hoàn máu, tăng cường khối lượng máu chảy về tim, làm tăng thể lực cùng sự tập trung cho các vận động viên. Điều này làm mất đi tính công bằng trong thi đấu thể thao, nhưng quan trọng hơn nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, thậm chí tính mạng của vận động viên bởi các tác dụng phụ. Doping có 3 dạng thông dụng là: Doping máu (tăng cường vận chuyển oxy qua hồng cầu) như ESP (Erythropoetin), NESP (Darbapoetin)... NESP mạnh gấp 10 lần ESP và có tác dụng trong 10 ngày. Doping cơ (tăng cường sức mạnh của cơ do tăng cường sản sinh hormon), thường dùng cho các vận động viên điền kinh, xe đạp, cử tạ, vật, đẩy tạ, bóng đá... Doping thần kinh (ngăn chặn điều khiển và phản hồi cơ bắp tới hệ thần kinh), làm cho cơ thể không bắt buộc phải nghỉ khi mệt. == Tham khảo ==
thách thức danh hài.txt
Thách Thức Danh Hài (Crack them up Vietnam) là gameshow tương tác giữa thí sinh và ban giám khảo của chương trình. Trong đó, mỗi thí sinh sẽ có 60s để chọc cười 2 vị giám khảo của chương trình và giành giải thưởng là tiền mặt tương ứng với mỗi vòng thi. Số lượng vòng thi: 5 vòng. Giải thưởng các vòng thi: + Vòng 1: 2.000.000 + Vòng 2: 10.000.000 + Vòng 3: 20.000.000 + Vòng 4: 40.000.000 + Vòng 5: 100.000.000 Từ năm 2015 Thách Thức Danh Hài có thêm tập gala cho các thí sinh ấn tượng của mùa, các thí sinh sẽ trình diễn liên tục 5 vòng mà không được dừng lại. Giải thưởng: Thí sinh làm cho ban giám khảo cười cả 5 vòng sẽ nhận được giải thưởng 150.000.000. == Giám khảo == - Mùa 1: Giám khảo Việt Hương và Trấn Thành, dẫn chương trình Đại Nghĩa. - Mùa 2: Giám khảo Việt Hương và Trấn Thành, dẫn chương trình Ngô Kiến Huy. - Mùa 3: Giám khảo Trấn Thành và Trường Giang, dẫn chương trình Ngô Kiến Huy. == Mùa phát sóng == - Mùa 1: 13 tập, bắt đầu từ 15/4/2015 kết thúc ngày 08/7/2015 trên kênh HTV7. - Mùa 2: 17 tập, bắt đầu từ 15/12/2015 kết thúc ngày 7/02/2016 trên kênh HTV7. - Mùa 3: 18 tập, bắt đầu từ 02/11/2016 kết thúc ngày 01/03/2017 . trên kênh HTV7. - Mùa 4: Dự kiến quý IV – 2017 trên kênh HTV7. == Liên kết ngoài == Trang chủ Những tiết mục hot nhất 3 mùa của ‘Thách Thức Danh Hài’ Giành 150 triệu nhờ từ "nhạy cảm", các danh hài nói gì? 'Cô giáo' trượt 150 triệu đêm Gala khiến Ngô Kiến Huy điêu đứng Bị chồng thách thức, cụ bà 73 tuổi thi Thách Thức Danh Hài Cô gái ăn may giành 100 triệu đồng Thách Thức Danh Hài
đô la barbados.txt
Đô la Barbados là một loại tiền tệ của Barbados kể từ năm 1882. Hiện mỗi đồng đô la có ISO 4217 mã BBD và thường được viết tắt với ký hiệu đô la "$" hoặc, lựachọn, "Bds$" để phân biệt nó khác với dollar-chỉ tên một loại tiền tệ. Nó có giá trị bằng 100 cent. Vào 09 tháng 3 năm 2009 nó đã được có tên trong báo cáo đánh giá của các cơ quan quốc tế Standard & Poor's (S&P) và được đánh giá cao loại tiền tệ của Barbados như "A-/A-2". Các loại tiền tệ cũng được biết không chính thức trong tiếng lóng như là "baller". == Khác == == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng BBD == == Xem thêm == Ngân hàng trung ương và các loại ngoại tệ của Caribê Kinh tế Barbados == Liên kết ==
giải quả cầu vàng.txt
Giải Quả cầu vàng (tiếng Anh: Golden Globe Awards) là một giải thưởng của Hiệp hội báo chí nước ngoài ở Hollywood trao hàng năm cho các cống hiến xuất sắc trong ngành kỹ nghệ giải trí, cả ở Hoa Kỳ lẫn nước ngoài, và nhằm hướng sự chú ý của công chúng vào phim và chương trình truyền hình hay nhất. Bữa tiệc chiêu đãi và buổi lễ trao giải Quả cầu vàng là một phần chủ yếu của mùa trao giải phim hàng năm tại Hoa Kỳ, mà đỉnh cao là giải Oscar. Giải Quả cầu vàng đầu tiên được trao vào tháng 1/1944 tại phim trường của hãng 20th Century Fox ở Los Angeles. Giải Quả cầu vàng cho phim và truyền hình hay nhất lần thứ 66 năm 2008 được trao ngày 11.1.2009 tại khách sạn Beverly Hilton ở Beverly Hills, California, nơi giải được tổ chức hàng năm, kể từ năm 1961. == Lễ trao giải == Lễ trao giải Quả cầu vàng hàng năm được trực tiếp truyền hình tới trên 150 nước khắp thế giới, thường được coi là show được nhiều người xem thứ ba, chỉ sau lễ trao giải Oscar và giải Grammy. == Các thể loại giải == === Các giải điện ảnh === ==== Giải cho phim chính kịch ==== Giải Quả cầu vàng cho phim chính kịch hay nhất Giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất ==== Giải cho phim ca nhạc hoặc phim hài ==== Giải Quả cầu vàng cho phim ca nhạc hoặc phim hài hay nhất Giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất ==== Giải chung ==== Giải Quả cầu vàng cho đạo diễn xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho kịch bản hay nhất Giải Quả cầu vàng cho nhạc phim gốc hay nhất Giải Quả cầu vàng cho ca khúc trong phim hay nhất Giải Quả cầu vàng cho phim ngoại ngữ hay nhất Giải Quả cầu vàng cho phim hoạt hình hay nhất (từ năm 2006 tới nay) Giải Quả cầu vàng Cecil B. DeMille === Các giải truyền hình === Từ năm 1956: Giải Quả cầu vàng cho Kịch truyền hình hay nhất Giải Quả cầu vàng cho ca nhạc hoặc hài kịch hay nhất Giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên kịch truyền hình xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên ca nhạc hoặc hài kịch truyền hình xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên kịch truyền hình xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên ca nhạc hoặc hài kịch truyền hình xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho loạt truyện ngắn hoặc phim truyền hình hay nhất Giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên trong loạt truyện ngắn hoặc phim truyền hình xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên trong loạt truyện ngắn hoặc phim truyền hình xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên phụ trong loạt truyện ngắn hoặc phim truyền hình xuất sắc nhất Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phụ trong loạt truyện ngắn hoặc phim truyền hình xuất sắc nhất === Các giải ngừng trao === Giải Quả cầu vàng cho phim tài liệu hay nhất. Giải trao lần chót tại kỳ giải thứ 34, năm 1977. Giải Quả cầu vàng cho phim nước ngoài nói tiếng Anh hay nhất. Giải này cho phép các phim của vương quốc Anh như phim Hamlet của Laurence Olivier làm tại Anh được lãnh giải. Giải Quả cầu vàng cho ngôi sao nam mới trong năm. Giải trao lần chót tại kỳ giải thứ 40, năm 1983. Giải Quả cầu vàng cho ngôi sao nữ mới trong năm • Giải trao lần chót tại kỳ giải thứ 40 năm 1983. Giải Henrietta (World Film Favorite - Nữ) • Từ năm 1950 tới 1979 Giải Henrietta (World Film Favorite - Nam) • Từ năm 1950 tới 1979 == Các người đoạt giải Quả cầu vàng nhiều nhất == Meryl Streep giữ kỷ lục về số lần đoạt giải, với 7 lần. Bà cũng giữ kỷ lục về số lần được đề cử với 25 lần và Jack Lemmon là người thứ nhì với 22 lần. Tuy nhiên - kể cả các giải đặc biệt - như giải Henrietta (World Film Favorite Actor/Actress) hoặc giải Quả cầu vàng Cecil B. DeMille, thì Barbra Streisand là người đoạt 11 giải, sau đó là Jack Nicholson với 7 giải. Chỉ có 1 nữ diễn viên đoạt được 4 giải có số giải nhiều thứ 2 trên thế giới: Cameron Diaz đã giành được 4 giải Giải nữ diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất (1999) - trong bộ phim Being John Malkovich Giải nữ diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất (2002) -trong bộ phim Gangs of New York Giải nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất (1998) - trong bộ phim There Something About Mary Giải nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất (2006) -trong bộ phim The Holiday Chỉ có 4 nữ diễn viên đoạt 2 giải cho 2 phim trong cùng một năm: Sigourney Weaver (1989) Giải nữ diễn viên xuất sắc nhất - phim chính kịch Gorillas in the Mist: The Story of Dian Fossey Giải nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất - phim Working Girl Joan Plowright (1993) Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất - phim Enchanted April Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất - loại truyện ngắn hoặc phim truyền hình Stalin Helen Mirren (2007) Nữ diễn viên xuất sắc nhất - phim chính kịch The Queen Nữ diễn viên xuất sắc nhất - loạt truyện ngắn hoặc phim truyền hình Elizabeth I Kate Winslet (2009) Nữ diễn viên xuất sắc nhất - Phim chính kịch Revolutionary Road Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất - phim The Reader == Các đề cử và đoạt giải sau khi qua đời == 1976: Peter Finch đoạt giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất cho vai diễn trong phim chính kịch Network. 2009: Heath Ledger đoạt giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất cho vai diễn trong phim The Dark Knight. == Việc gây tranh cãi == Pia Zadora đoạt giải Quả cầu vàng năm 1981 trong thể loại "Newcomer-of-the-Year" (nữ ngôi sao điện ảnh mới trong năm) trong phim Butterfly. Có các sự cáo buộc là các thành viên của Hiệp hội báo chí nước ngoài ở Hollywood đã bị mua chuộc. Chồng của Pia, nhà triệu phú Meshulam Riklis đã đưa máy bay chở các thành viên trong ban giám khảo tới casino của ông ta, khách sạn Riviera ở Las Vegas, như vậy sẽ họ bỏ phiếu cho Pia để đền đáp lại. Riklis cũng mời các thành viên trong ban giám khảo tới nhà mình dự bữa tiệc xa hoa. Ông ta cũng tiêu xài hoang phí cho việc quảng cáo. Hơn nữa, phim này cũng chưa từng công chiếu trong thời gian phát giải. như vậy Pia không đủ tư cách để tranh giải. == Xem thêm == Hiệp hội báo chí nước ngoài ở Hollywood == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Hollywood Foreign Press Association Awards listing at the Internet Movie Database Bản mẫu:CinemaoftheUS
c. s. lewis.txt
Clive Staples Lewis (29 tháng 11 năm 1898 – 22 tháng 11 năm 1963), được biết đến chủ yếu với tên C. S. Lewis, gia đình và bạn bè thường gọi là "Jack", là một tiểu thuyết gia, thi sĩ, nhà hàn lâm, nhà Trung Cổ học, nhà phê bình văn học, nhà luận văn, nhà thần học giáo dân và nhà biện hộ học Kitô giáo sinh ở Belfast, Ireland. Ông nắm giữ các vị trí viện sĩ ở Đại học Oxford (Magdalen College), 1925–1954, và Đại học Cambridge (Magdalene College), 1954–1963. Ông nổi tiếng với các tác phẩm hư cấu, đặc biệt là The Screwtape Letters, Biên niên sử Narnia và The Space Trilogy, và các tác phẩm hộ giáo phi hư cấu như Mere Christianity, Miracles và The Problem of Pain. Lewis và nhà văn J. R. R. Tolkien là bạn thân của nhau. Hai tác gia đều từng làm giảng viên Anh văn ở Đại học Oxford và là thành viên tích cực của nhóm văn sĩ nổi tiếng "Inklings". Theo cuốn hồi ký của mình, Surprised by Joy, Lewis đã được báp-têm trong Giáo hội Ái Nhĩ Lan (một phần của khối Hiệp thông Anh giáo) lúc sơ sinh, nhưng cảm thấy xa rời đức tin trong suốt quãng đời vị thành niên của mình. Nhờ ảnh hưởng của Tolkiens và một số người bạn khác, ở tuổi 32 Lewis đã trở về Cộng đồng Anh giáo, trở thành "một giáo dân bình thường trong Giáo hội Anh". Đức tin có ảnh hưởng sâu sắc trong sự nghiệp của ông và chương trình phát thanh trong thời chiến của ông về chủ đề Kitô giáo khiến ông được hoan nghênh rộng rãi. Năm 1956, ông kết hôn với nữ văn sĩ Mỹ Joy Davidman, trẻ hơn ông 17 tuổi, bà mất sau đó 4 năm vì bệnh ung thư ở tuổi 45. Lewis qua đời sau vợ 3 năm do suy thận, chỉ một tuần trước sinh nhật 65 tuổi của mình. Truyền thông ít chú ý đến cái chết của ông; ông mất vào ngày 22 tháng 11 năm 1963 — cùng ngày Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy bị ám sát, và cũng là ngày mất của một nhà văn nổi tiếng khác, Aldous Huxley. Năm 2013, nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất, Lewis đã được tưởng nhớ ở Góc thi sĩ, Tu viện Westminster. Các tác phẩm của Lewis đã được dịch sang hơn 30 ngôn ngữ và hàng triệu ấn bản đã được bán. Trong đó, bộ truyện dành cho thiếu nhi Biên niên sử Narnia (The Chronicles of Narnia) được bán nhiều nhất và phổ biến rộng rãi trên sân khấu, TV, truyền thanh và màn ảnh, đã được dịch sang tiếng Việt. == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == === Chung === Journal of Inklings Studies – British academic journal on C. S. Lewis and his circle Oxford C.S. Lewis Society C. S. Lewis Society of California C. S. Lewis Review Chronologically Lewis; by Joel D. Heck Open Directory entry for C. S. Lewis === Sách chuyên khảo và Tác phẩm === Các công trình liên quan hoặc của C. S. Lewis trên các thư viện của thư mục (WorldCat) C. S. Lewis tại Danh sách tài liệu trên Internet C. S. Lewis ở Internet Speculative Fiction Database The Center for the Study of C.S. Lewis & Friends at Taylor University, Upland, Indiana, Lewis archive. Các tác phẩm của C. S. Lewis tại Dự án Gutenberg C.S. Lewis Reading Room, with extensive links to online primary and secondary literature (Tyndale Seminary) De Descriptione Temporum – Lewis's inaugural Lecture as Chair of Mediaeval and Renaissance Literature at Cambridge University Audio Lewis on The George MacDonald Informational Web —with audio recording of Lewis talking about friend and fellow author Charles Williams (bottom of page) Lewis at BBC —with the surviving "Broadcast Talks" audio recordings Text and audio recording of the BBC Radio talk "Beyond Personality – Mere Men"
minebea pm-9.txt
Minebea PM-9 (9mm機関拳銃, 9ミリきかんけんじゅう, Kyumiri Kikan Kenjū) đôi khi gọi tắt thành M9 là loại súng tiểu liên do công ty Minebea chế tạo cho lực lượng Phòng vệ Nhật Bản để thay thế súng tiểu liên M3 của Hoa Kỳ từ đầu những năm 1990. Ngoài ra những khẩu súng này còn được trang bị cho các tổ lái xe cơ giới hay pháo binh. Loại súng này được phát triển từ khẩu Mini-Uzi với thoi nạp đạn có thể thay đổi độ dài nhưng lại có hình dáng khác để thích hợp với binh lính Nhật Bản và sử dụng trong các tình huống khác. Hiện tại các lực lượng đặc nhiệm của Nhật Bản thường được trang bị loại súng này, nó cũng được trang bị cho các lữ đoàn khác nhau. Nhưng hiện tại cũng có nguồn nói rằng lực lượng phòng vệ Nhật Bản đang lên kế hoạch thay thế loại súng này. == Thiết kế == PM-9 sử dụng cơ chế nạp đạn blowback với bolt bọc nòng. Nó có một tay cầm ở phía trước, nòng súng tích hợp bộ phận chống chớp sáng. Tầm bắn hiệu quả của loại súng này khá thấp do không có báng súng cũng như tốc độ bắn cao. Dù vậy loại súng này cũng có thể được nâng cấp để tăng độ chính xác bằng cách gắn thêm báng súng gấp và ống hãm thanh cũng như thêm hệ thống nhắm phản xạ nhưng những thay đổi này ít khi được áp dụng vì đây là loại súng dùng để tự vệ là chính chứ không phải để mang đi chiến đấu trong các nhiệm vụ. == Liên kết ngoài == Official JGSDF Page Modern Firearms Page
.vn.txt
.vn là tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD) và là tên miền cấp 2 của Việt Nam. Trước năm 2007, tên miền.vn được cung cấp chủ yếu bởi VNNIC (VNNIC). Từ đầu năm 2007, VNNIC đã chuyển giao việc đăng ký tên miền.vn cho một số nhà cung cấp dịch vụ khác để tập trung vào công tác quản lý. Từ ngày 30 tháng 9 năm 2007 trở đi các tên miền.vn sẽ được duy trì qua các nhà cung cấp này. Danh sách các nhà đăng ký được đăng trên trang chủ của VNNIC. Các tên miền dùng chung dưới tên miền cấp 2 được gọi là tên miền cấp 3 và được phân loại như dưới đây: == Các tên miền cấp 3 phổ biến == Tên miền cấp 3 là tên miền dưới ".vn" bao gồm tên miền cấp 3 không phân theo lĩnh vực và tên miền cấp 3 dùng chung (gSLD) phân theo lĩnh vực, những tên miền khác do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định: com.vn Dành cho tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại. biz.vn Dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh, tương đương với tên miền COM.VN. edu.vn Dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. gov.vn Dành cho các cơ quan, tổ chức nhà nước ở trung ương và địa phương. net.vn Dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thiết lập và cung cấp các dịch vụ trên mạng. org.vn Dành cho các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội. int.vn Dành cho các tổ chức quốc tế tại Việt Nam. ac.vn Dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu. pro.vn Dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực có tính chuyên ngành cao. info.vn Dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, phân phối, cung cấp thông tin. health.vn Dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực dược, y tế. name.vn Dành cho tên riêng của cá nhân tham gia hoạt động Internet. mil.vn Dành cho các tổ chức quân đội và quốc phòng. == Các tên miền cấp 3 dưới tên miền cấp 2 dùng riêng == Là các tên miền cấp 3 do Nhà đăng ký quản lý và cung cấp ra cộng đồng hoặc sử dụng cho các mục đích riêng. VD: idn.vn Internationalized domain name. Theo quy định tại điểm 2.2,e) Khoản 2, Mục II Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông, chỉ có Nhà đăng ký tên miền ".vn" mới được cấp tên miền cấp 3 dưới tên miền cấp 2 ".vn" dùng riêng của mình cho các tổ chức, cá nhân khác. 1/ Nhà đăng ký tên miền ".vn" muốn cung cấp tên miền cấp 3 dưới tên miền cấp 2 dùng riêng của mình ra cộng đồng phải đăng ký danh sách tên miền cấp 2 cụ thể với VNNIC và chuẩn bị sẵn sàng cơ sở hạ tầng DNS, hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý thông tin chủ thể đăng ký tên miền theo quy định tại Điểm 4.2, Khoản 4, Mục II của Thông tư. Việc cấp phát tên miền cấp 3 dưới tên cấp 2 ".vn" dùng riêng chỉ được phép triển khai sau khi VNNIC đã thẩm định, phê duyệt. 2/ Các Tổ chức muốn cung cấp tên miền cấp 3 dưới tên miền cấp 2 ".vn" dùng riêng của mình ra cộng đồng, phải đăng ký với VNNIC để trở thành Nhà đăng ký tên miền ".vn". == Tên miền tiếng Việt == Tên miền tiếng Việt là tên miền.vn có sử dụng ký tự tiếng Việt Unicode. Cho đến trước thời điểm được cấp tự do miễn phí, Tên miền tiếng Việt không có chức năng đầy đủ của tên miền, chỉ có chức năng duy nhất là redirect đến tên miền Việt Nam chính thức. Tên miền tiếng Việt được cấp lần đầu tiên vào tháng 3 năm 2007, cho đến hết năm 2010 mới có 3534 tên miền được cấp phát. Kể từ ngày 01/01/2011 Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) ngừng tiếp nhận các yêu cầu đăng ký tên miền tiếng Việt kèm theo tên miền truyền thống ".vn" để chuẩn bị triển khai cấp tự do, miễn phí tên miền tiếng Việt theo quy định về phí, lệ phí tên miền tại Thông tư số 189/2010/TT-BTC ngày 24/11/2010 của Bộ Tài chính: Lộ trình cấp miễn phí tên miền tiếng Việt được thực hiện qua 02 giai đoạn: Giai đoạn ưu tiên (sunrise period): Triển khai từ ngày 10 tháng 1 năm 2011 đến hết ngày 27 tháng 4 năm 2011. Giai đoạn tự do: Triển khai từ ngày 28 tháng 4 năm 2011. Thông tin chi tiết được cung cấp tại Website http://tenmientiengviet.vn, hoặc http://tênmiềntiếngviệt.vn Kể từ khi được tách khỏi tên miền truyền thống, tên miền tiếng Việt đã được chú ý và có chỗ đứng riêng, chỉ trong 3 ngày 10, 11, 12 tháng 1 năm 2011, đã có hơn 1000 đơn đăng ký tên miền tiếng Việt được nộp lên VNNIC == Ưu điểm == Theo quy định của Luật Công nghệ thông tin Việt Nam: Tên miền là tài sản quốc gia. Sử dụng tên miền được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Chỉ cần cung cấp đầy đủ giấy tờ đăng ký là chủ thể có thể toàn quyền quản lý, hoàn toàn không có chuyện bị đánh cắp tên miền. == Giới hạn == Việc đăng ký tên miền sử dụng mẫu khai, bắt buộc phải có chứng minh thư hoặc hộ chiếu. Việc thay đổi thông tin tên miền phải khai báo qua biểu mẫu hoặc thực hiện online. == Xử lý tranh chấp == Luật Công nghệ Thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội đã quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp về đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam ".vn" như sau: Thông qua thương lượng, hòa giải Thông qua Trọng tài thương mại Khởi kiện tại Tòa án == Tham khảo thêm == Trung tâm Internet Việt Nam Internet tại Việt Nam Tên miền tiếng Việt == Chú thích == == Liên kết ngoài == whois của IANA về.vn Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC)
thập niên 1940.txt
Thập niên 1940 hay thập kỷ 1940 chỉ đến những năm từ 1940 đến 1949, kể cả hai năm đó. Không chính thức, nó cũng có thể bao gồm vài năm vào cuối thập niên trước hay vào đầu thập niên sau. == Tham khảo ==
gạch nung.txt
Gạch nung, gạch đỏ hay thường gọi đơn giản là gạch là một loại vật liệu xây dựng được làm từ đất sét nung. Lịch sử sản xuất và sử dụng gạch vẫn là một điều gây tranh cãi, nhưng đã được loài người sử dụng hàng ngàn năm trước Công nguyên. Hiện vật gạch được tìm thấy ở Çayönü, một khu vực gần Tigris có niên đại 7500 trước Công nguyên . Do đặc tính bền bỉ theo thời gian, gạch đã được sử dụng cho các công trình xây dựng có tuổi thọ hàng ngàn năm. == Sản xuất == Đất sét được đào lên và trộn với nước và nhồi kỳ cho nhuyễn và được đưa vào khuôn (bằng máy hoặc thủ công) để in ra viên. Viên đất sét được phơi hoặc sấy cho khô và chất vào lò. Nhiên liệu để đốt lò là củi, than đá trộn bùn làm thành viên hoặc khí thiên nhiên được đặt bên dưới lò. Lò được đốt trong nhiều tiếng đồng hồ cho đến khi gạch "chín", chuyển sang màu đỏ hoặc nâu sẫm. Lò được tắt và đợi đến khi nguội thì dỡ gạch ra. Nguyên liệu để nặn gạch thường là đất sét, đá phiến sét, đá phiến sét mềm, canxi silicat, bê tông, thậm chí có những loại "gạch" được làm từ cách đẽo gọt đá khai thác ở mỏ. Tuy nhiên, gạch thật sự được làm từ gốm như đã nói ở trên. Thành phần một viên gạch (theo khối lượng) thường là như sau: Silica (cát): 50% - 60% Alumina (sét): 20% - 30% Vôi: 2 - 5% Ôxít sắt: 5 - 6%, không được vượt quá 7% Magiê: dưới 1% == Chú thích == == Tham khảo == Brook, Timothy. (1998). The Confusions of Pleasure: Commerce and Culture in Ming China. Berkeley: University of California Press. ISBN 0-520-22154-0 Campbell, James W. P., and Will Pryce. 2003. Brick: a world history. London; New York: Thames & Hudson. M.Kornmann and CTTB, Clay bricks and roof tiles, manufacturing and properties, Lasim (Paris) 2007 ISBN 2-9517765-6-X == Xem thêm == Gạch chịu lửa Gạch thẻ Gạch Chăm Pa Gạch không nung
tiếng aram.txt
Tiếng Aram thuộc nhóm ngôn ngữ Semit, nằm trong hệ ngôn ngữ Phi-Á (Afroasiatic). Tiếng Aram là một phần của nhánh ngôn ngữ tây bắc Semit, trong nhánh này còn có các ngôn ngữ Canaan như tiếng Hebrew và tiếng Phoenicia. Tiếng Aram có lịch sử khoảng 3000 năm. Nó xuất hiện khoảng giữa thế kỷ 11 và thế kỷ 9 TCN. == Tham khảo == Beyer, Klaus (1986). The Aramaic language: its distribution and subdivisions. Vandenhoeck und Ruprecht. ISBN 3525535732. Casey, Maurice (1998). Aramaic sources of Mark's Gospel. Cambridge University Press. ISBN 0521633141. “Aramaic”. The Eerdmans Bible Dictionary. Grand Rapids, Michigan, USA: William B Eerdmans. 1975. ISBN 0802824021. Frank, Yitzchak (2003). Grammar for Gemara & Targum Onkelos . Feldheim Publishers / Ariel Institute. ISBN 1583306064. Heinrichs, Wolfhart (ed.) (1990). Studies in Neo-Aramaic. Atlanta, Georgia: Scholars Press. ISBN 1555404308. Nöldeke, Theodor (2001). Compendious Syriac Grammar. Winona Lake: Eisenbrauns. ISBN 1575060507. Richard, Suzanne (2003). Near Eastern Archaeology: A Reader . EISENBRAUNS. ISBN 1575060833, 9781575060835 . Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Rosenthal, Franz (1995). A Grammar of Biblical Aramaic (ấn bản 6). Otto Harrassowitz, Wiesbaden. ISBN 3447035900. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Sokoloff, Michael (2002). A Dictionary of Jewish Babylonian Aramaic. Ramat Gan: Bar-Ilan UP; Johns Hopkins UP. ISBN 9652262609. Sokoloff, Michael (2002). A Dictionary of Jewish Palestinian Aramaic (ấn bản 2). Bar-Ilan UP; Johns Hopkins UP. ISBN 9652261017. Stevenson, William B. (1962). Grammar of Palestinian Jewish Aramaic (ấn bản 2). Clarendon Press. ISBN 0198154194. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Tiếng Aram tại Wikimedia Commons Ethnologue report for Aramaic Omniglot written Aramaic/Proto-Hebrew outline Jewish Language Research Website: Jewish Aramaic Dictionary of Judeo-Aramaic Comprehensive Aramaic Lexicon (including editions of Targums) – at the Hebrew Union College, Cincinnati Aramaic Designs – website offering various designs based on historical Aramaic scripts. The Aramaic Language and Its Classification - Efrem Yildiz, Journal of Assyrian Academic Studies Aramaic Peshitta Bible Repository – Many free Syriac Aramaic language research tools and the Syriac Peshitta Bible Aramaic Dictionary - search the online dictionary using English or Aramaic words, including many other options. (tiếng Bồ Đào Nha) Aramaico Brasil (tiếng Đức) Semitisches Tonarchiv: Dokumentgruppe "Aramäisch" – recordings of modern Aramaic (tiếng Tây Ban Nha) cursodearameo.com.ar Free course of Assyrian Neo-Aramaic in Spanish
bạc clorua.txt
Bạc clorua hay Clorua bạc là hợp chất hóa học màu trắng, dẻo, nóng chảy (có thể màu nâu - vàng) và sôi không phân hủy. AgCl rất ít tan trong nước, không tạo nên tinh thể ngậm nước (hidrat hóa). Nó không bị axít mạnh phân hủy. Phản ứng với kiềm đặc, hidrat amoni. Tan được nhờ sự tạo phức chất. AgCl có mặt tự nhiên trong khoáng vật clorargyrit == Điều chế == 2Ag + Cl2 → 2AgCl (150 ÷ 200°C) == Sử dụng == Clorua bạc được dùng để làm giấy ảnh do nó phản ứng với các photon để tạo ra ảnh ẩn và thông qua khử bằng ánh sáng. Điện cực clorua bạc là điện cực tham chiếu phổ biến trong điện hóa học. Độ hòa tan rất kém của clorua bạc làm cho nó trở thành phụ gia hữu ích cho các men sứ để tạo ra "ánh Inglaze". Clorua bạc từng được dùng làm thuốc giải ngộ độc thủy ngân, có tác dụng hỗ trợ trong việc loại bỏ nguyên tố này. Clorua bạc thường được dùng trong mắt kính của kính đổi màu, do nó có thể chuyển hóa thuận nghịch thành bạc kim loại và ngược lại dưới tác động của ánh sáng. Clorua bạc thường được dùng để tạo ra các sắc thái màu vàng, hổ phách và nâu trong sản xuất kính màu. Clorua bạc được dùng trong băng gạc và các sản phẩm làm lành vết thương. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Silver Chloride Data Sheet Science Lab.com MSDS for silver chloride Salt Lake Metals.com MSDS for Silver Chloride Solubility of Silver Chloride in various solutions - plus Lab Notes
john dramani mahama.txt
John Dramani Mahama /məˈhɑːmə/ (sinh ngày 29 tháng 11 năm 1958) là một chính trị gia Ghana, là Tổng thống Ghana từ năm 2012. Ông là Phó Tổng thống Ghana giai đoạn 2009-2012, và ông nhậm chức vào ngày 24 tháng 7 năm 2012 sau cái chết của người tiền nhiệm, Tổng thống John Atta Mills. Là một chuyên gia truyền thông, nhà sử học, nhà văn, ông là một thành viên của Quốc hội 1997-2009, ông là Bộ trưởng Bộ truyền thông giai đoạn 1998-2001. == Tiểu sử == Mahama sinh ra ở Damongo, ở đơn vị bầu cử Damango Daboya của Ghana. Cha Emmanuel Mahama Adama của ông là đại biểu đầu tiên của đơn vị bầu cử Quốc hội cho Tây Gonja Bầu cử và Ủy viên đầu tiên trong khu vực Khu vực phía Bắc trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa Ghana. Ông đã theo học Trường tiểu học Achimota và Đại học Ghana, nhận bằng cử nhân ngành lịch sử vào năm 1981 và bằng sau đại học trong các nghiên cứu truyền thông vào năm 1986. Sau này, Mahama nghiên cứu thêm ở Viện Khoa học Xã hội ở Moskva, Liên Xô. Sau khi học xong, Mahama trở về Ghana và 1991-1996, ông làm cán bộ văn hóa thông tin, và nghiên cứu tại Đại sứ quán Nhật Bản tại Accra. Từ đó, ông chuyển đến cơ quan phi chính phủ (NGO) PLAN Quốc tế Văn phòng Quốc gia của Ghana, nơi ông làm công việc quan hệ quốc tế, 他ruyền thông tài trợ và quản lý tài trợ. == Tham khảo ==
từ kế.txt
Từ kế hay máy đo từ là thiết bị dùng để đo đạc cường độ và có thể cả hướng của từ trường trong vùng đặt cảm biến từ trường. Cảm biến từ trường hoạt động dựa trên nhiều hiệu ứng khác nhau của từ trường tác động lên vật chất, để cho ra biểu hiện có thể định lượng được, và ở các từ kế hiện đại thì biểu hiện này là tín hiệu điện. Từ kế được ứng dụng trong nghiên cứu địa vật lý để đo từ trường của Trái Đất, Mặt Trời, hành tinh, vệ tinh. Trong phòng thí nghiệm vật lý thì từ kế được dùng trong xác định tính chất từ của mẫu vật, và trong khảo sát các quá trình hoặc hiện tượng vật lý, hóa học, sinh học,... trong quan hệ với từ trường. == Lịch sử == Carl Friedrich Gauß là người chế ra từ kế đầu tiên năm 1832 khi ông là Giám đốc Đài quan sát địa từ ở Göttingen. Từ kế này có một thanh nam châm treo trên sợi dây bằng vàng nằm ngang. Sự khác biệt về dao động khi thanh được từ hóa và khi nó được khử từ cho phép tính ra giá trị tuyệt đối của cường độ từ trường Trái Đất. Đơn vị CGS của mật độ từ thông được đặt tên là gauss để vinh danh ông, định nghĩa là 1 maxwell mỗi cm vuông, và bằng 1 × 10−4 Tesla trong hê đơn vị SI. == Đặc trưng kỹ thuật == Các máy đo hiện đại biến đổi trường thành tín hiệu điện. Sự biến thiên của từ trường và sự di chuyển của phương tiện đo dẫn đến tín hiệu thu được ở máy đo biến đổi theo thời gian. Vì thế nó có đặc trưng chung của thiết bị đo đạc thực hiện rời rạc hóa một quá trình thời gian. Nhịp lấy mẫu (Sample rate): Quãng thời gian giữa hai lần cho ra số liệu. Nó xác định khoảng cách điểm đo khi phương tiện đo di chuyển. Băng thông (Bandwidth): Thể hiện đáp ứng khi trường thay đổi, ví dụ khi tàu đo di chuyển hoặc khi bão từ. Băng thông hẹp sẽ vướng vào giới hạn Nyquist (Nyquist limit) khi trường biến đổi nhanh. Độ phân giải (Resolution): Sự thay đổi nhỏ nhất của trường có thể đo. Sai số tuyệt đối (Absolute error): Sự khác biệt giữa trung bình số đo với trường thật sự. Độ trôi (Drift): Sự thay đổi tham số theo thời gian. Ổn định nhiệt (Thermal stability): Sự phụ thuộc kết quả đo với nhiệt độ. Tiếng ồn (Noise): Nhiễu trong so sánh với tín hiệu trường. Độ nhạy (Sensitivity): Đại lượng lớn hơn tiếng ồn và độ phân giải. Lỗi định hướng (Heading error): Sự thay đổi số đo khi thay đổi định hướng cảm biến máy đo. Vùng chết (Dead zone): Vùng góc định hướng không đo được, thường có ở các từ kế proton và lượng tử. Dung sai gradient (Gradient tolerance): Khả năng đo tin cậy khi có gradient trường. Ngoài ra còn có dải nhiệt độ và áp suất làm việc như mọi máy móc khác. == Phân loại Từ kế == Có sự khác nhau về tiêu chí phân loại. Phân loại theo công dụng: Từ kế trong phòng thí nghiệm có độ nhạy, độ chính xác cao, đo được trường lớn hay cực nhỏ và tất nhiên có thể rất cồng kềnh. Chúng phục vụ đo mẫu vật hay khảo sát các quá trình vật lý, hóa học, sinh học,... trong quan hệ với từ trường. Từ kế di động có kích thước, độ nhạy, dải đo thích hợp để đo từ trường Trái Đất hay trong vũ trụ. Phân loại theo đo thành phần trường: Từ kế vô hướng đo giá trị trường toàn phần T. Từ kế vector đo giá trị thành phần trường dọc theo phương nào đó, chẳng hạn phương thẳng đứng Z, phương nằm ngang H, hay nằm ngang theo kinh vĩ tuyến X, Y. Phân loại theo cách thức đo trường: Từ kế đo tuyệt đối (Absolute) cho ra giá trị thật. Từ kế đo tương đối (Relative) cho ra số đọc biểu kiến và phải tính toán theo các tham số kiểm chuẩn để thu được giá trị trường. == Các kiểu Từ kế == === Máy đo từ fluxgate === Máy đo từ fluxgate hay từ kế kiểu sắt từ, được phát triển trong Thế chiến II để phát hiện tàu ngầm. Nó là từ kế vector tương đối, đo thành phần trường dọc theo trục vật lý của đầu thu, do đó đầu thu cần phải được định hướng. Trên mặt đất, đầu thu được định hướng theo phương thẳng đứng để đo thành phần Z (của vector trường từ), hay nằm ngang để đo thành phần H. Khi bố trí nhiều đầu dò ở các vị trí khác nhau như dàn đo trên máy bay hay tàu biển, thì sự chênh lệch giá trị (tức gradient) trường là chỉ báo rằng bên dưới đang có vật thể nhiễm từ. Nhờ đó phát hiện được các tàu ngầm không được khử từ tốt. Đầu thu fluxgate 3 thành phần, có 3 cảm biến vuông góc lẫn nhau, là kết cấu chủ yếu để lập ra la bàn từ, cũng như để đo từ trường trong vũ trụ trên các phi thuyền không gian. === Máy đo từ proton === Máy đo từ proton (Proton Magnetometer), còn gọi là Từ kế Tuế sai Proton (Proton Precession Magnetometer) hay Từ kế Cộng hưởng từ hạt nhân, là từ kế vô hướng tuyệt đối, đo trường toàn phần T. Nó hoạt động dựa trên đo tần số tín hiệu tuế sai của proton (tức hạt nhân Hydro 1H1) khi trục quay của proton định hướng lại theo trường từ. Các máy kiểu cũ dùng dòng một chiều DC để từ hóa proton. Các máy kiểu mới thì dùng dòng xoay chiều để định hường proton theo hiệu ứng Overhauser (Nuclear Overhauser effect) và do đó được gọi là từ kế hiệu ứng Overhauser. Máy được dùng trong đo từ trường Trái Đất. === Máy đo từ lượng tử === Máy đo từ lượng tử hay Từ kế kiểu bơm quang học (Optically Pumped Magnetometer), là từ kế vô hướng tuyệt đối, đo trường toàn phần T. Máy hoạt động dựa trên quan sát hiện tượng phân tách mức năng lượng lượng tử của điện tử trong trường hạt nhân khi có trường từ ngoài T. Các nguyên tố nhạy thường dùng là Cesi, Rubidi, Kali, Heli nên thường gọi theo tên nguyên tố, ví dụ Từ kế Cesium. Máy có độ nhạy dưới 0,001 nT, một kỳ đo dài cỡ 0,3 sec. Nguyên lý hoạt động của máy còn được giải thích theo lý thuyết Cộng hưởng từ điện tử (Electron magnetic resonance, EMR), tức là thay cho proton thì trong máy này dùng hạt điện tử, và có hệ số tỷ lệ tần số với từ trường cao hơn. Tuy nhiên cách thức "từ hóa" các điện tử là bơm quang học lại có dáng dấp của cơ học lượng tử. Lý thuyết Cộng hưởng từ cũng được vận dụng để chế tạo các máy đo từ trường cực lớn hay nhỏ, trong đó dùng hạt cơ bản khác làm phần tử nhạy, dùng trong phòng thí nghiệm hay tại các Trung tâm nghiên cứu hạt cơ bản. === Từ kế vector Heli === Từ kế vector Heli (Helium Vector Magnetometer, HVM) là một loại từ kế lượng tử dùng nguyên tố quan sát là heli. Kích thích heli thực hiện bằng ion hóa. Nó có thể đo từ trường nhỏ, và được dùng trên phi thuyền để đo từ trường và đảm nhận vai trò phân cỡ cho từ kế fluxgate 3 thành phần. === Từ kế hiệu ứng Hall === Từ kế hiệu ứng Hall hoạt động dựa theo hiệu ứng Hall trong chất bán dẫn. Nó là từ kế vector tương đối, dùng cho đo từ trường mạnh. === Linh kiện điện trở từ tính === Sự phụ thuộc điện trở của dải màng permalloy (NiFe) vào từ trường được sử dụng để chế ra điện trở từ tính làm cảm biến từ. Nó được đặt vào mạch tích hợp, kể cả dạng 3 trục để xác định từ trường trong các ứng dụng đơn giản. Nó có đáp ứng nhanh, có thể cấp số liệu ở nhịp 1 ms. === Từ kế mẫu rung === Từ kế mẫu rung (Vibrating Sample Magnetometer, VSM) hoạt động theo nguyên tắc cảm ứng điện từ. Nó đo mômen từ của mẫu vật cần đo trong từ trường ngoài. Máy được sử dụng trong phòng thí nghiệm. == Ứng dụng == === Quân sự === Máy dò dị thường từ (Magnetic anomaly detection, MAD) để nhận dạng các tàu ngầm dùng trong hoạt động quân sự. Các la bàn fluxgate thì được gắn cùng các sonar trong dãy thiết bị do thám hỗn hợp thả xuống biển, để cung cấp vị trí đặt đầu thu. Một số mìn, thủy lôi khởi động nổ bằng từ trường khi tàu vỏ sắt lại gần, tức là chúng có lắp từ kế đơn giản. Trong khi đó, các tàu ngầm phải định kỳ thực hiện khử từ (Degaussing), nhằm lẩn tránh bị phát hiện cũng như để tránh kích nổ loại thủy lôi từ trường nói trên. === Nghiên cứu không gian === Các từ kế được chế thích hợp cho nghiên cứu không gian gọi là Spacecraft magnetometer đặt trên các phi thuyền để đo từ trường quanh các hành tinh, vệ tinh. Thường dùng từ kế fluxgate ba thành phần kết hợp với từ kế vector Heli. Mỹ và Nga thực hiện đo từ trường quanh Trái Đất từ năm 1960. Năm 1979 NASA và USGS thực hiện Magsat Vệ tinh của Đức CHAMP đo từ trường và trọng trường từ 2001 đến 2010. Vệ tinh của Danish Ørsted hoạt động từ 1999 đến nay. Phi vụ Swarm của European Space Agency với 3 vệ tinh, thực hiện 2013. Vệ tinh địa tĩnh nghiên cứu môi trường GOES Các phi vụ không gian Mariner 2, Mariner 10, Cassini–Huygens nghiên cứu sao Thổ (Saturn), Mercury MESSENGER. Nhờ đó từ trường quanh Trái Đất, mặt trăng, mặt trời, sao Hỏa (Mars), sao Kim (Venus) đã được nghiên cứu. === Khảo sát địa vật lý === Từ kế được ứng dụng rộng rãi trong khảo sát địa vật lý. Chúng thường được lắp đặt trên máy bay, tàu thuyền, ô tô, hay đi bộ, để đo đạc và phát hiện dị thường từ. Trong Vật lý Địa cầu, việc nghiên cứu dị thường khu vực, ví dụ các dị thường dạng dải song song với các sống núi giữa đại dương là dấu hiệu quan trọng trong xác minh sự tách giãn đáy đại dương, phần trọng tâm của thuyết kiến tạo mảng. Thăm dò từ trên mặt đất hoặc ở vùng biển thì phục vụ nghiên cứu địa chất, tìm kiếm khoáng sản đặc biệt là quặng sắt.[1]. Từ kế cũng được sử dụng trong quá trình khoan định hướng để nhận dạng góc phương vị của cần khoan gần choòng khoan. Đó là từ kế fluxgate ba thành phần, lắp đặt đồng thời với gia tốc kế trong cần khoan vì thế có thể nhận biết được độ nghiêng và góc phương vị của choòng khoan. Từ kế cũng được sử dụng để khảo sát ở các di chỉ khảo cổ, tìm tàu chìm hay các vật bị chôn vùi, tìm vật chưa nổ (UXO),... === Dân sự === Trong những năm gần đây từ kế đã được thu nhỏ đến mức mà có thể được kết hợp trong mạch tích hợp với chi phí rất thấp, và đang gia tăng sử dụng như la bàn trong các thiết bị tiêu dùng như điện thoại di động và máy tính bảng. == Tham khảo == == Xem thêm == Từ trường Trái Đất Dị thường từ Thăm dò từ Từ hóa dư Cổ địa từ == Liên kết ngoài == Earthquake forecasting techniques and more research on the study of electromagnetic fields Dan's Homegrown Proton Precession Magnetometer Page USGS Geomagnetism Program A home built PPM that actually works Earth's Field NMR (EFNMR) Magnetic archaeological prospection (Swedish National Heritage Board) Magnetometer - Measuring the magnetic field of Earth Space-based magnetometers
chất khí.txt
Các chất khí là tập hợp các nguyên tử hay phân tử hay các hạt nói chung trong đó các hạt có thể tự do chuyển động trong không gian. Lực tương tác giữa các hạt rất yếu, và các hạt chủ yếu tương tác với nhau qua va chạm ngẫu nhiên, hoặc với thành chứa. Các hạt chuyển động với tốc độ và hướng ngẫu nhiên, và các vận tốc của các hạt chỉ thay đổi đáng kể thông qua các va chạm ngẫu nhiên với nhau hoặc với thành vật chứa. Các chất khí trong cuộc sống thường được coi là một trong bốn trạng thái vật chất quan trọng nhất. Các trạng thái kia là chất rắn, chất lỏng và plasma. Các chất thông thường thường tồn tại ở trạng thái rắn ở nhiệt độ thấp, chuyển sang trạng thái lỏng ở nhiệt độ cao hơn (thông qua hiện tượng nóng chảy), rồi sang trạng thái khí khi nhiệt độ được tiếp tục nâng lên (hiện tượng bay hơi), và cuối cùng là sang trạng thái plasma ở nhiệt độ đủ cao. Cũng có những chất có thể Bản mẫu:Chất khí và chất lỏng và chất rắnchuyển ngay từ trạng thái rắn sang trạng thái khí ở điều kiện thích hợp (hiện tượng thăng hoa). Mặc dù chuyển động của các hạt trong chất khí là ngẫu nhiên, vận tốc của chúng có thể được mô tả theo thống kê bằng các phân bố như phân bố Maxwell-Boltzmann, phân bố Fermi hay phân bố Bose. Các phân bố này cho thấy sự phụ thuộc của dải biến đổi của vận tốc, cũng như vận tốc trung bình, vào nhiệt độ. Nhiệt độ càng cao thì vận tốc trung bình của các hạt == Xem thêm == Trạng thái vật chất Khí lý tưởng Thuyết động học phân tử == Tham khảo == John D. Anderson. Modern Compressible Flow: Third Edition New York, NY: McGraw-Hill, 2004. ISBN 0-07-124136-1 Philip Hill and Carl Peterson. Mechanics and Thermodynamics of Propulsion: Second Edition Addison-Wesley, 1992. ISBN 0-201-14659-2 John D. Anderson. Fundamentals of Aerodynamics: Fourth Edition New York, NY: McGraw-Hill, 2007. ISBN 978-0-07-295046-5 ISBN 0-07-295046-3 National Aeronautics and Space Administration (NASA). Animated Gas Lab. Truy cập February, 2008. Georgia State University. HyperPhysics. Truy cập February, 2008. Antony Lewis WordWeb. Truy cập February, 2008. Northwestern Michigan College The Gaseous State. Truy cập February, 2008.
chủ nghĩa hậu hiện đại.txt
Chủ nghĩa hậu hiện đại là một xu hướng trong nền văn hóa đương đại được đặc trưng bởi sự chối bỏ sự thật khách quan và siêu tự sự. Chủ nghĩa hậu hiện đại nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ, những quan hệ quyền lực, động cơ thúc đẩy; đặc biệt nó tấn công việc sử dụng những sự phân loại rõ ràng như nam với nữ, bình thường với đồng tính, trắng với đen, đế quốc với thực dân. Chủ nghĩa hậu hiện đại đã ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực văn hóa, bao gồm cả phê bình văn học, xã hội học, ngôn ngữ học, kiến trúc, nghệ thuật thị giác, và âm nhạc. Tư tưởng hậu hiện đại là sự giải thoát có chủ ý từ những cách tiếp cận của chủ nghĩa hiện đại đã thống trị trước đó. Thuật ngữ "hậu hiện đại" bắt nguồn từ sự phê phán tư tưởng khoa học về tính khách quan và tiến bộ gắn liền với sự khai sáng của chủ nghĩa hiện đại. == Tương phản tư duy hiện đại và hậu hiện đại == == Dị biệt hệ thống giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại == == Tham khảo == == Liên kết == "Love and Hatred of ‘French Theory’ in America." Borderlands e journal. / Rolando Pérez. 4.1. 2005. http://www.borderlandsejournal.adelaide.edu.au/ [http://www.scribd.com/doc/22163586/Postmodernism-Pulp-Fiction A simpler description of Postmodernism] [http://wsws.org/category/feature/philos.shtml WSWS philosophy archives - incl. critiques of postmodernist thought] [http://plato.stanford.edu/entries/postmodernism/ Stanford Encyclopedia of Philosophy's entry on postmodernism] [http://christiancadre.org/topics/postmodern.html The Christian Cadre's Postmodernism Page] [http://www.umass.edu/complit/aclanet/SyllPDF/JanuList.pdf Discourses of Postmodernism. Multilingual Bibliography by Janusz Przychodzen (PDF file)] [http://www.tasc.ac.uk/depart/media/staff/ls/Modules/Theory/PoMoDis.htm Modernity, postmodernism and the tradition of dissent, by Lloyd Spencer (1998)] Dueling Paradigms: Modernist v. Postmodernist Thought] * Characterizing a Fogbank: What Is Postmodernism, and Why Do I Take Such a Dim View of it? to Deconstruct Almost Anything--My Postmodern Adventure Postmodernism and truth by philosopher Daniel Dennett Postmodernism is the new black: How the shape of modern retailing was both predicted and influenced by some unlikely seers (The Economist ngày 19 tháng 12 năm 2006) Modernism vs. Postmodernism Gaining clarity: after postmodernism, Eretz Acheret Magazine