filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
san francisco.txt | San Francisco ( /ˌsæn frənˈsɪskoʊ/), tên chính thức Thành phố và Quận San Francisco, là một trung tâm văn hóa và tài chính hàng đầu của Bắc California và vùng vịnh San Francisco.
Là quận-thành phố thống nhất duy nhất của tiểu bang California, San Francisco chiếm một diện tích khoảng 46,9 dặm vuông Anh (121 km2) trên đầu phía bắc của bán đảo San Francisco. Mật độ dân số của nó là khoảng 17.620 người trên một dặm vuông Anh (6.803 người trên một cây số vuông). Đây là thành phố lớn (dân số trên 200 ngàn người) có mật độ dân cư đông nhất trong tiểu bang California và là thành phố lớn có mật độ dân số đông thứ hai tại Hoa Kỳ, chỉ sau Thành phố New York. San Francisco là thành phố đông dân thứ tư tại California, sau Los Angeles, San Diego và San Jose, và đứng thứ 14 đông dân nhất tại Hoa Kỳ theo ước tính điều tra dân số năm 2012 là 825.863. Thành phố cũng là một trung tâm văn hóa và tài chính của vùng thống kê kết hợp San Jose-San Francisco-Oakland với tổng dân số 8,4 triệu dân.
San Francisco (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "Thánh Phanxicô") được thành lập ngày 29 tháng 6 năm 1776 khi những người thực dân từ Tây Ban Nha thiết lập một doanh trại quân sự tại Golden Gate và một hội truyền giáo được đặt tên là Thánh Phanxicô thành Assisi cách đó vài dặm Anh. Cơn sốt vàng California năm 1849 mang đến sự phát triển nhanh chóng cho thành phố và biến nó thành thành phố lớn nhất trên Tây Duyên hải Hoa Kỳ vào thời điểm đó. Vì sự phát triển dân số, San Francisco trở thành một quận-thành phố thống nhất vào năm 1856. Sau khi ba phần tư thành phố bị tàn phá bởi trận cháy và động đất năm 1906, San Francisco nhanh chóng được tái xây dựng và tổ chức Hội chợ Quốc Panama-Thái Bình Dương chín năm sau đó. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai, San Francisco là cảng đưa quân phục vụ Mặt trận Thái Bình Dương. Sau chiến tranh, binh sĩ phục vụ chiến tranh trở về, cuộc di dân khổng lồ, những tư tưởng và thái độ tự do cấp tiến cũng như nhiều nhân tố khác đã hội tựu tại đây và hình thành một hiện tượng xã hội "Summer of Love" và phong trào dân quyền của người đồng tính, biến thành phố San Francisco thành một trung tâm của chủ nghĩa vận động cho tự do cấp tiến tại Hoa Kỳ.
Ngày nay, San Francisco được xếp thứ 44 là điểm đến du lịch trên thế giới, và hạng sáu điểm đến du lịch tại Hoa Kỳ vào năm 2011. Thành phố nổi tiếng vì mùa hè mát mẻ, sương mù, đồi dốc trùng điệp, kiến trúc đa dạng, và những danh lam thắng cảnh trong đó có cầu Cổng Vàng, xe chạy bằng dây cáp, nhà tù xưa trên đảo Alcatraz, và khu Phố Tàu. Thành phố cũng là một trung tâm tài chính và ngân hàng chính yếu.
== Lịch sử ==
Bằng chứng khảo cổ xưa nhất về sự sinh sống của con người trong khu vực thành phố San Francisco là vào năm 3000 BC. Nhóm Yelamu thuộc tộc người Ohlone đã sống trong vài ngôi làng nhỏ khi một đoàn thám hiểm Tây Ban Nha của Don Gaspar de Portolà đến nơi vào ngày 2 tháng 11 năm 1769, đây là chuyến viếng thăm khu vực vịnh San Francisco đầu tiên của người châu Âu được ghi chép. Bảy năm sau đó, vào ngày 28 tháng 3 năm 1776, Tây Ban Nha thiết lập một trại binh và sau đó là một tòa nhà truyền giáo có tên là "Missión de San Francisco de Asís" (hay "Missión Dolores").
Ngay sau khi độc lập khỏi Tây Ban Nha năm 1821, khu vực này trở thành một phần đất của México. Dưới quyền của chính phủ Mexico, hội truyền giáo dần dần kết thúc và phần đất của hội được tư nhân hóa. Năm 1835, một người Anh có tên William Richardson lập ra khu đất nông trại độc lập đầu tiên, gần một bến tàu quanh khu vực ngày nay là Quảng trường Portsmouth. Cùng với Francisco de Haro, ông lập ra bản thiết kế đường phố để mở rộng khu định cư. Một thị trấn được đặt tên là Yerba Buena bắt đầu hấp dẫn người định cư Mỹ tìm đến đây. Chuẩn tướng John D. Sloat tuyên bố chủ quyền California nhân danh Hoa Kỳ vào ngày 7 tháng 7 năm 1846 trong cuộc Chiến tranh Mexico-Mỹ. Hai ngày sau đó, Đại tá John B. Montgomery đến và tuyên bố chủ quyền đối với Yerba Buena. Yerba Buena được đổi tên thành San Francisco ngày 30 tháng 1 vào năm sau đó, và Mexico chính thức nhượng lãnh thổ cho Hoa Kỳ vào cuối chiến tranh. Mặc dù vị trí hấp dẫn của nó trong vai trò của một hải cảng và căn cứ hải quân, San Francisco vẫn là một khu định cư nhỏ với địa hình khó có thể sinh sống được.
Cơn sốt vàng California mang đến làn sóng người đi tìm vàng. Với bánh mì bột chua mang theo, những người tìm thời vận tập trung tại San Francisco thay vì thành phố đối thủ Benicia, làm cho dân số của San Francisco tăng từ 1000 vào năm 1848 lên đến 25.000 vào tháng 12 năm 1849. Kỳ vọng vào sự giàu có nhanh chóng thì rất đổi mạnh mẽ đến nổi những thuyền viên của những con tàu cập bến đều bỏ tàu và nhanh chóng tìm đến các khu tìm vàng, bỏ lại một rừng cột buồm tại bến tàu San Francisco. California nhanh chóng được thu nhận thành một tiểu bang. Quân đội Hoa Kỳ xây dựng đồn Point tại Golden Gate và một đồn trên đảo Alcatraz để bảo vệ Vịnh San Francisco. Sự phát hiện ra các mỏ bạc, bao gồm mỏ bạc Comstock năm 1859, đã đẩy dân số lên nhanh hơn nữa. Với từng đoàn người đi tìm thời vận tỏa khắp thành phố, tình trạng vô luật pháp trở nên phổ biến. Khu duyên hải Barbary của thị trấn khét tiếng là nơi dung thân của tội phạm, cờ bạc và mại dâm.
Các doanh nghiệp tìm cách kiếm lợi trên sự thịnh vượng mà cơn sốt vàng tạo ra. Những người thắng lớn đầu tiên là ngành công nghiệp ngân hàng mà tiêu biểu là ngân hàng Wells Fargo được thành lập vào năm 1852 và Bank of California năm 1864. Sự phát triển cảng San Francisco và việc thành lập tuyến giao thông trên bộ năm 1869 vươn tới hệ thống đường sắt nằm ở phía đông Hoa Kỳ qua ngã tuyến đường sắt vừa mới được hoàn thành có tên là Đường sắt Thái Bình Dương đã giúp biến khu vực vịnh San Francisco thành một trung tâm giao thương. Để thỏa mãn nhu cầu và khẩu vị của dân số gia tăng, Levi Strauss mở một tiệm bán quần áo và Domingo Ghirardelli bắt đầu sản xuất Sô-cô-la. Các lao công di dân đã biến nơi đây thành một nơi văn hóa đa ngôn ngữ. Công nhân xây dựng đường sắt người Trung Hoa lập nên khu Phố Tàu của thành phố. Năm 1870, người châu Á chiếm đến 8% dân số. Xe cáp đầu tiên chuyên chở người San Francisco lên đến Phố Clay vào năm 1873. Biển nhà kiểu kiến trúc Victoria của thành phố bắt đầu hình thành và các nhà lãnh đạo dân sự đã vận động để thành phố xây dựng một công viên công cộng rộng rãi với kết quả là Công viên Cổng Vàng được quy hoạch. Những người San Francisco xây trường học, nhà thờ, nhà hát, và tất cả các nhu yếu cho cuộc sống dân sự. Đồn lũy San Francisco được phát triển thành cơ sở quân sự quan trọng nhất của Hoa Kỳ trên duyên hải Thái Bình Dương. Năm 1890, dân số San Francisco đạt đến con số 300 ngàn người và trở thành thành phố lớn thứ 8 của Hoa Kỳ vào thời gian đó. Khoảng năm 1901, San Francisco là một thành phố lớn được biết đến vì kiểu cách chói lọi, các khách sạn oai vệ, các biệt thự khang trang nằm trên Nob Hill và một phong cảnh nghệ thuật phong phú. Cơn dịch Bắc Mỹ đầu tiên là cơn dịch San Francisco 1900–1904.
Vào lúc 5:12 sáng ngày 18 tháng 4 năm 1906, một trận động đất lớn làm rung chuyển San Francisco và Bắc California. Khi các tòa nhà đổ sập vì run lắc, các đường ống dẫn khí đốt bị hư hại đã gây ra những đám cháy lan khắp thành phố. Trận cháy không thể dập tắc được đã kéo dài mấy ngày đêm. Vì hệ thống nước không hoạt động nên Quân đoàn Pháo binh của Đồn San Francisco tìm cách ngăn chặn đám cháy bằng cách đặt chất nổ phá hủy các dãy phố để tạo ra những điểm cách lửa. Hơn ba phần tư thành phố bị tàn phá trong đó có phần lớn toàn bộ khu trung tâm thành phố. Con số thương vong đương thời được báo cáo là khoảng 498 người thiệt mạng nhưng các con số ước đoán hiện đại cho rằng có thể là vài ngàn người. Hơn nữa dân số thành phố 400 ngàn người trở thành vô gia cư. Người tị nạn định cư tạm thời trong các khu lều tạm được dựng lên trong Công viên Cổng Vàng, đồn San Francisco, trên các bãi biển, và khắp các nơi khác. Nhiều người đã rời bỏ thành phố vĩnh viễn để tới East Bay (vịnh phía đông).
Cuộc tái thiết được tiến hành nhanh chóng trên mức độ lớn. Bỏ qua những lời kêu gọi tái điều chỉnh lại hoàn toàn các đường phố theo chiều ngang dọc thẳng hàng, người San Francisco đã chọn lựa tốc độ tái thiết nhanh chóng. Ngân hàng Ý của Amadeo Giannini sau đó trở thành Bank of America, cung cấp các khoản vay vốn cho nhiều người mà kế sinh nhai đã bị hủy hoại sau trận động đất. Hội Nghiên cứu Đô thị và Quy hoạch San Francisco đầy ảnh hưởng được thành lập vào năm 1910 nhằm chú tâm đến chất lượng nhà ở sau trận động đất. Trận động đất đã thúc đẩy việc phát triển các khu dân cư phía tây. Các khu dân cư này vẫn tồn tại sau trận hỏa hoạn trong đó có khu Pacific Heights là nơi nhiều người giàu có của thành phố đã tái xây dựng nhà của họ. Tiếp theo, các ngôi biệt thự bị tàn phá của khu Nob Hill trở thành các khách sạn lớn. Tòa thị chính San Francisco lại được xây dựng theo kiểu kiến trúc Beaux-Arts tráng lệ, và thành phố ăn mừng sinh nhật vào dịp Hội chợ Quốc tế Panama-Thái Bình Dương năm 1915.
Chính trong thời kỳ này San Francisco đã xây dựng một số dự án cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của thành phố. Kỹ sư công chính Michael O'Shaughnessy được thị trưởng James Rolph thuê mướn làm kỹ sư trưởng của thành phố vào tháng 9 năm 1912 để trông coi việc xây dựng hồ chứa nước Twin Peaks, đường hầm Phố Stockton, đường hầm Twin Peaks, đường sắt thành phố San Francisco, một hệ thống chữa cháy áp suất cao, và hệ thống cống nước thảy mới. Hệ thống chuyên chở thô sơ của San Francisco mà một số tuyến đường J, K, L, M, và N vẫn còn tồn tại ngày nay, được gấp rút hoàn thành dưới sự giám sát của O'Shaughnessy giữa năm 1915 và 1927. Chính Đập O'Shaughnessy, Hồ chứa nước Hetch Hetchy, và Cống nước Hetch Hetchy đã có ảnh hưởng lớn nhất đối với thành phố San Francisco. Sự cung cấp nước dồi dào cho phép San Francisco trở thành thành phố San Francisco như bây giờ.
Trong những năm tiếp theo, thành phố củng cố vị thế của mình như một thủ phủ tài chính. Kết quả là sau sự kiện thị trường chứng khoáng sụp đổ năm 1929, không có một ngân hàng đơn lẻ nào có trụ sở chính tại San Francisco bị sụp đổ. Thật ra, ngay ở lúc cao trào của đại khủng hoảng thì San Francisco đã tiến hành hai dự án kỹ thuật công chánh vĩ đại, đồng lúc xây dựng cầu Vịnh San Francisco – Oakland và cầu Cổng Vàng, hoàn thành chúng vào năm 1936 và 1937 theo thứ tự vừa kể. Chính trong thời kỳ này đảo Alcatraz, một trại giam quân sự xưa, bắt đầu phục vụ trong vai trò một nhà tù liên bang với mức độ an ninh tối đa, giam giữ những phạm nhân khét tiếng như Al Capone, và Robert Franklin Stroud (biệt danh Birdman of Alcatraz). San Francisco sau đó ăn mừng sự tái sinh vị thế quyền lực của mình bằng một hội chợ thế giới, đó là Hội chợ Quốc tế Golden Gate năm 1939–40. Thành phố xây dựng đảo Treasure nhân tạo giữa vịnh San Francisco để làm nơi tổ chức hội chợ này.
SuốtChiến tranh thế giới thứ hai, Xưởng sửa chữa tàu Hải quân Hunters Point trở thành một trung tâm hoạt động hải quân, và đồn Mason trở thành cảng chính yếu đưa quân phục vụ Mặt trận Thái Bình Dương. Sự bùng nổ việc làm đã kéo nhiều người, đặc biệt là người Mỹ gốc châu Phi từ miền Nam Hoa Kỳ, đến khu vực này. Sau chiến tranh, nhiều quân nhân trở về từ ngoại quốc và các thường dân trước kia đến đây tìm việc làm đã quyết định ở lại đây. Hiến chương tạo nên Liên Hiệp Quốc được thảo ra và ký tại thành phố San Francisco năm 1945 và vào năm 1951, Hiệp ước San Francisco chính thức kết thúc chiến tranh với Nhật Bản.
Các dự án quy hoạch đô thị trong thập niên 1950 và thập niên 1960 bao gồm việc phá hủy và tái phát triển rộng khắp các khu dân cư phía tây và xây dựng các xa lộ cao tốc mới. Tuy nhiên chỉ có một loạt các đoạn xa lộ cao tốc ngắn được xây dựng trước khi chúng bị đình chỉ xây dựng vì sự phản đối của người dân thành phố. Khi việc chuyên chở bằng côngtenơ được khởi sự thì các cầu tàu nhỏ của thành phố San Francisco trở nên lỗi thời vì thế các hoạt động chuyên chở hàng hóa được di chuyển đến cảng Oakland lớn hơn. Thành phố bắt đầu mất các việc làm công nghiệp và chuyển sang du lịch như ngành quan trọng nhất trong nền kinh tế của mình. Các khu ngoại ô trải qua sự phát triển nhanh chóng. San Francisco cũng trải qua sự thay đổi nhân khẩu đáng kể khi từng đợt lớn dân số người da trắng rời bỏ thành phố và được thay thế bởi một làn sóng di dân gia tăng từ châu Á và Mỹ Latinh đến. Từ năm 1950 đến năm 1980, thành phố mất trên 10 phần trăm dân số.
Trải qua thời kỳ này, San Francisco trở thành một nam châm cho phong trào phản-văn hóa của Mỹ. Các nhà văn thế hệ Beat tiếp lửa cho phong trào Phục hưng San Francisco và tập trung trên khu dân cư North Beach trong thập niên 1950. Những người theo phong trào Hippie đổ xô đến khu dân cư Haight-Ashbury vào thập niên 1960 với đỉnh điểm là hiện tượng xã hội Summer of Love năm 1967. Năm 1974, các vụ giết người trong vụ án Zebra đã khiến cho ít nhất 16 người chết. Hai mươi hai vụ gây án xảy ra trong khoảng thời gian dài 6 tháng mà đa số nạn nhân là người da trắng với ba nghi can bị bắt là người da đen. Trong thập niên 1970, thành phố trở thành một trung tâm của phong trào dân quyền của người đồng tính với sự lộ diện của khu dân cư The Castro trong vai trò một làng đô thị của người đồng tính, sự kiện Harvey Milk (người tự nhận là đồng tính) được bầu vào Hội đồng Giám sát San Francisco, và vụ ám sát ông cùng với thị trưởng George Moscone năm 1978.
Bank of America hoàn thành tòa nhà "555 California Street" năm 1969 và tòa nhà Transamerica Pyramid được hoàn thành năm 1972, làm dấy lên một làn sóng "Manhattan hóa" (Manhattan là trung tâm của Thành phố New York nơi có nhiều tòa nhà chọc trời) kéo dài cho đến cuối thập niên 1980, một thời kỳ phát triển kéo dài để xây các tòa nhà cao tầng trong khu vực trung tâm thành phố. Thập niên 1980 cũng chứng kiến một sự gia tăng lớn con số người vô gia cư trong thành phố, đây là một vấn đề vẫn còn tồn tại đến ngày nay cho dù nhiều cố gắng đã được thực hiện để đối phó tình trạng này. Trận động đất Loma Prieta 1989 gây tàn phá và thiệt hại nhân mạng khắp khu vực vịnh San Francisco. Tại thành phố San Francisco, trận động đất làm hự hại nặng các công trình trong khu Marina và South of Market. Xa lộ cao tốc Embarcadero bị hư hại và phần lớn Xa lộ cao tốc Central bị hư hại cần phải bị phá hủy để thành phố tu sửa lại mặt tiền bờ biển phố chính lịch sử của thành phố và làm tái sinh khu dân cư Hayes Valley.
Trong thời kỳ bùng nổ dot-com, các công ty mới mở đã tiếp thêm sinh lực cho nền kinh tế thành phố. Một số lớn các doanh nghiệp và nhà phát triển ứng dụng điện toán dời vào thành phố, theo sau là các chuyên gia bán hàng, thiết kế và tiếp thị, làm thay đổi bộ mặt xã hội thành phố khi các khu dân cư trước đây nghèo nàn hơn bổng trở nên ngày càng năng động. Nhu cầu đối với nhà ở mới và chỗ làm văn phòng đã khiến tạo nên một làm sóng phát triển nhà cao tầng lần thứ hai và lần này là khu South of Market. Vào năm 2000, dân số thành phố lên đến con số cao mới, vượt qua kỷ lục được ghi nhận của năm 1950. Khi bong bóng Dot-com xẹp vào năm 2001 nhiều trong số các công ty này gói gọn lại và sa thảy công nhân của mình. Tuy nhiên kỹ thuật cao và doanh nghiệp tự lập vẫn là dòng chính của nền kinh tế San Francisco. Sự bùng nổ mạng truyền thông xã hội châm ngòi cho sự phát triển kinh tế thành phố trong thập niên thứ hai của tân thế kỷ.
== Địa lý ==
San Francisco nằm trên Tây Duyên hải Hoa Kỳ ở đầu bắc của bán đảo San Francisco. Địa giới của thành phố bao gồm một số vùng nước đáng kể thuộc Thái Bình Dương và vịnh San Francisco. Một vài đảo—Alcatraz, đảo Treasure và đảo Yerba Buena lân cận, và một số phần nhỏ của đảo Alameda, đảo Red Rock, và đảo Angel—là một phần của thành phố. Ngoài ra còn có quần đảo Farallon không người, nằm xa khoảng 27 dặm (43 km) trong Thái Bình Dương. Phần đất chính bên trong địa giới của thành phố gần như hình thành nên một "hình vuông có mỗi cạnh dài 7 dặm," đây là lối nói thông tục địa phương phổ biến để chỉ hình thể của thành phố mặc dù tổng diện tích của nó bao gồm vùng nước là gần 232 dặm vuông Anh (600 km2).
San Francisco lừng danh vì những ngọn đồi của nó. Có hơn 50 ngọn đồi bên trong địa giới thành phố. Một số khu dân cư được đặt tên của ngọn đồi mà chúng nằm trên đó trong đó phải kể là Nob Hill, Potrero Hill, và Russian Hill (từ Hill có nghĩa là đồi). Gần trung tâm địa lý của thành phố, ở phía tây nam khu vực phố chính, là một loạt các ngọn đồi có ít dân cư sinh sống. Twin Peaks là một cặp đồi hình thành nên điểm cao nhất của thành phố. Đây là một điểm quan sát được ưa thích để nhìn xuống bên dưới. Ngọc đồi cao nhất của San Francisco có tên Núi Davidson cao 925 foot (282 m) và có một cây thánh giá cao 103 foot (31 m) được xây dựng năm 1934. Cao vượt hẳn khu vực này là tháp Sutro, một tháp truyền hình và radio lớn màu trắng đỏ.
Các đoạn đứt gãy địa chất San Andreas và Hayward là nguyên nhân của nhiều hoạt động địa chấn gây động đất tuy rằng cả hai vết đứt gãy này thật sự không đi qua thành phố. Vết đứt gãy San Andreas gây ra trận động đất năm 1906 và năm 1989. Các trận động đất nhỏ xảy ra đều đặn. Mối đe dọa của các trận động đất lớn đóng vai trò lớn trong việc phát triển cơ sở hạ tầng của thành phố. Thành phố xây dựng hệ thống cung cấp nước hỗ trợ và liên tục nâng cấp quy định tiêu chuẩn nhà cao tầng, bắt buộc gia cố thêm các tòa nhà cũ và tiêu chuẩn kỹ thuật cao đối với các công trình xây cất mới. Tuy nhiên, hàng ngàn tòa nhà nhỏ hơn vẫn có thể dễ dàng bị hư hại khi động đất.
Đường bờ biển của San Francisco đã và đang phát triển ra bên ngoài địa giới tự nhiên của nó. Toàn bộ các khu dân cư như Marina, Mission Bay, và Hunters Point cũng như các phần lớn của Embarcadero nằm bên trên các khu san lấp lấn biển. Đảo Treasure được xây dựng từ đất nạo vét trong vịnh cũng như đất đá lấy từ công trình xây dựng đường hầm đi qua đảo Yerba Buena trong lúc xây dựng cầu bắt qua vịnh. Phần đất như thế có chiều hướng không bền vững lúc động đất. Sự hóa lỏng đất sau động đất sẽ gây thiệt hại nặng nề cho nhà cửa bất động sản được xây dựng bên trên như đã được thấy tại khu Marina trong trận động đất Loma Prieta năm 1989. Phần lớn các dòng nước tự nhiện của thành phố như lạch Islais và lạch Mission bị nhà cửa và các công trình xây dựng bên trên mặc dù Ủy ban Công chánh San Francisco đang nghiên cứu các đề nghị khai thông lộ thiên hay khôi phục lại một số con lạch.
=== Khí hậu ===
Một câu trích dẫn phổ biến được hiểu lầm là của Mark Twain được đọc như sau "Mùa đông lạnh nhất mà tôi đã từng trải qua là một mùa hè tại San Francisco". Khí hậu San Francisco có đặc điểm khí hậu Địa Trung Hải của duyên hải California mát mẻ vào mùa hè, "thường thường có mùa đông ôn hòa ẩm ướt và mùa hè khô khan". Vì nó bị bao quanh ba phía là nước nên khí hậu San Francisco bị ảnh hưởng mạnh bởi những dòng nước lạnh của Thái Bình Dương, làm điều hòa sự thay đổi nhiệt độ và tạo ra khí hậu quanh năm tương đối ôn hòa với chút ít thay đổi nhiệt độ theo mùa.
Trong số các thành phố lớn của Hoa Kỳ, San Francisco có các nhiệt độ thấp nhất, cao nhất và trung bình hàng ngày lạnh nhất so với các nơi khác vào tháng 6, tháng 7 và tháng 8. Vào mùa hè, không khí nóng bốc lên cao tại các thung lũng nội địa của California tạo nên một khu vực áp thấp, kéo theo gió từ Bắc Thái Bình Dương thổi qua Golden Gate và tạo nên gió lạnh và sương mù đặc biệt của thành phố. Sương mù ít thấy hơn ở các khu dân cư phía đông cũng như ít thấy hơn trong suốt giai đoạn cuối hè và đầu thu, đây là giai đoạn ấm nhất trong năm.
Vì địa hình phức tạp và ảnh hưởng của biển, San Francisco có vô số vi khí hậu riêng biệt. Các ngọn đồi cao tại trung tâm địa lý của thành phố chịu trách nhiệm cho 20% phương sai về lượng mưa hàng năm giữa các phần khác nhau của thành phố. Chúng cũng trực tiếp bảo vệ các khu dân cư ở phía đông tránh khỏi sương mù và đôi khi điều kiện thời tiết rất lạnh và gió mà khu Sunset hứng chịu. Đối với những ai sống bên phía đông thành phố, San Francisco có nắng nhiều hơn với con số trung bình 260 ngày bầu trời sáng và chỉ có 105 ngày có mây trong một năm.
Trung bình nhiệt độ vượt 75 °F (24 °C) chỉ trong khoảng 29 ngày một năm. Vào mùa khô từ tháng năm đến tháng 10, nhiệt độ từ ôn hòa cho tới ấm với nhiệt độ cao trung bình là 64–71 °F (18–22 °C) và nhiệt độ thấp trung bình là 51–56 °F (11–13 °C). Vào mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 6, nhiệt độ hơi lạnh hơn với nhiệt độ cao trung bình là 58–64 °F (14–18 °C) và thấp trung bình là 46–51 °F (8–11 °C). Trung bình, có 73 ngày mưa một năm, và lượng mưa trung bình hàng năm là 23,6 inch (599,44 mm). Tuyết rơi trong thành phố thì rất hiếm với chỉ 10 lần tuyết rơi có độ dày đáng kể được ghi nhận từ năm 1852, gần đây nhất là vào năm 1976 khi có đến 5 inch (130 mm) tuyết rơi trên Twin Peaks.
Nhiệt độ cao kỷ lục nhất được văn phòng Cục Thời tiết Quốc gia Hoa Kỳ ghi nhận chính thức là 103 °F (39 °C) vào ngày 17 tháng 7 năm 1988, và ngày 14 tháng 6 năm 2000. Nhiệt độ thấp kỷ lục nhất là 27 °F (−3 °C) vào ngày 11 tháng 12 năm 1932. Cục Thời tiết Quốc gia Hoa Kỳ cung cấp trợ giúp về hình ảnh có ích cho việc vẽ họa đồ thông tin trong bảng dưới dây để biểu thị rõ từng tháng với nhiệt độ tiêu biểu hàng năm, nhiệt độ năm trước và nhiệt độ kỷ lục.
== Quang cảnh thành phố ==
=== Các khu dân cư ===
Trung tâm lịch sử của San Francisco là khu định hướng đông bắc có Phố Market và mặt tiền bờ biển. Chính nơi đây là khu trung tâm tài chính với Quảng trường Union gần đó là khu vực khách sạn và mua sắm. Xe cáp đưa hành khách theo con đường dốc lên đến đỉnh của đồi Nob, trước đây từng là nơi cư ngụ của những tài phiệt thương mại của thành phố, và đưa hành khách đi xuống các điểm hấp dẫn du lịch ở mặt tiền bờ biển là Bến Ngư Phủ và Cầu tàu 39 nơi có nhiều nhà hàng phục vụ cua Dungeness đặc sản. Cũng trong khu định hướng này là Russian Hill, một khu dân cư có đường phố Lombard nổi tiếng là quanh co uốn lượn; North Beach, Tiểu Ý Đại Lợi của thành phố và là trung tâm trước đây của hiện tượng xã hội "Thế hệ Beat"; và Telegraph Hill, là nơi có tháp Coit. Giữa Russian Hill và North Beach là phố tàu San Francisco, phố tàu xưa nhất tại Bắc Mỹ. South of Market, trước đây từng là trung tâm công nghiệp của San Francisco, đã được tái phát triển đáng kể sau khi sân vận động AT&T Park được xây dựng và sự ra đi của các công ty khởi nghiệp. Các nhà chọc trời mới, nhà phố mới, và chung cư mới mọc lên khắp nơi trong khu vực. Các phát triển mới vẫn đang tiếp tục ngay phía nam trong khu dân cư Mission Bay, từng là một khu vực xưởng đường sắt và hiện nay có cơ sở thứ hai của Đại học California, San Francisco.
Phía tây phố chính, bên kia đường Van Ness là khu dân cư lớn Western Addition, từng là nơi tập trung sinh sống đông đảo của người Mỹ gốc châu Phi sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Khu dân cư Western Addition thông thường được chia ra thành các khu dân cư nhỏ hơn trong đó có Hayes Valley, the Fillmore, và Phố Nhật, từng là phố Nhật lớn nhất Bắc Mỹ nhưng bị thiệt hại khi cư dân người Mỹ gốc Nhật bị cưỡng bách di chuyển và giam giữ trong các trại tập trung suốt Chiến tranh thế giới thứ hai. Western Addition thoát khỏi sự tàn phá của trận động đất San Francisco 1906. Các ngôi nhà kiểu kiến trúc Victoria phần lớn vẫn còn nguyên vẹn sau động đất trong đó phải kể đến là các ngôi nhà "Painted Ladies" nổi tiếng nằm dọc theo Quảng trường Alamo. Về phía nam, gần trung tâm địa lý của thành phố là khu Haight-Ashbury nổi tiếng có liên quan với văn hóa hippie vào thập niên 1960. Khu này hiện nay là nơi có một số cửa hàng nhỏ bán đồ xa xí phẩm. Phía bắc của Western Addition là Pacific Heights, một khu dân cư giàu có bao gồm những ngôi thự mà giới thương mại giàu có của San Francisco xây dựng sau trận động đất 1906. Ngay phía bắc khu Pacific Heights đối diện mặt tiền bờ biển là khu Marina, một khu dân cư tập trung các chuyên viên trẻ tuổi. Khu này được xây dựng phần lớn trên đất san lấp lấn biển.
Bên trong khu định hướng đông nam của thành phố là khu Mission - vào thế kỷ 19 đã có dân số người nói tiếng Tây Ban Nha và di dân thuộc tầng lớp lao động đến từ Đức, Ý, Ireland, và các nước Scandinavia. Trong thập niên 1910, một làn sóng di dân Trung Mỹ đã định cư tại khu Mission và vào thập niên 1950 di dân từ México bắt đầu chiếm đa số. Trong những năm gần đây, hóa trình phát triển đã làm thay đổi nhân khẩu của một số nơi trong khu Mission từ dân nói tiếng Tây Ban Nha sang các chuyên gia tuổi đôi mươi với lối sống kiểu hipster. Noe Valley nằm ở phía tây nam và Bernal Heights nằm ở phía nam ngày càng trở nên hấp dẫn những gia đình trẻ có con cái. Phía đông của khu Mission là khu dân cư Potrero Hill, một khu dân cư phần lớn gồm chỉ nhà ở mà từ đó có thể nhìn thấy rõ cảnh quanh của phố chính thành phố San Francisco. Ở phía tây của khu Mission, khu vực trong lịch sử được gọi là Eureka Valley mà hiện nay được gọi phổ biến là the Castro, từng là khu vực của người thuộc tầng lớp lao động Ireland và Scandinavia. Nó đã trở thành làng đồng tính đầu tiên và nổi tiếng của Bắc Mỹ và hiện nay là trung tâm của lối sống đồng tính trong thành phố. Khu Excelsior nằm gần ranh giới phía nam của thành phố là một trong số các khu dân cư đa sắc tộc nhất tại San Francisco. Khu Bayview-Hunters Point với đa số là người Mỹ gốc châu Phi nằm xa trong góc đông nam thành phố là một trong số các khu dân cư nghèo nhất và có tỉ lệ tội phạm cao mặc dù khu vực này đã và đang là tâm điểm của các dự án mở rộng nâng cấp đô thị gây tranh cãi.
Việc xây dựng đường hầm Twin Peaks năm 1918 đã nối liền các khu dân cư đến phố chính bằng xe điện thô sơ, đẫy nhanh tiến độ phát triển khu West Portal, và các khu ảnh hưởng là Forest Hill và St. Francis Wood nằm lân cận. Xa về phía tây, kéo dài cho đến Thái Bình Dương và về hướng bắc đến Công viên Cổng Vàng là khu Sunset rộng lớn. Đây là khu vực trung lưu lớn tập trung đa số là người gốc châu Á. Khu định hướng tây bắc thành phố gồm có khu Richmond, đây cũng là khu dân cư đa số thuộc giới trung lưu ở phía bắc Công viên Cổng Vàng và là nơi cư ngụ của các di dân từ các nước châu Á cũng như nhiều người di dân Nga và Ukraina.
=== Bãi biển và công viên ===
Một vài công viên của San Francisco và tất cả các bãi biển lân cận của nó hình thành nên một phần Khu Giải trí Quốc gia Golden Gate. Đây là một trong số các đơn vị công viên được viếng thăm nhiều nhất của hệ thống công viên quốc gia tại Hoa Kỳ với trên 13 triệu du khách mỗi năm. Trong số những điểm hấp dẫn của khu giải trí quốc gia bên trong thành phố là Bãi Đại Dương chạy dọc đường bờ biền Thái Bình Dương là nơi lui tới xôi động của cộng đồng lướt sóng và Bãi Baker nằm trong một nơi kép kín ở phía tây Golden Gate và là một phần của đồn San Francisco. Cũng nằm bên trong đồn là bãi đáp Crissy, một sân bay trước kia được khôi phục trở về với hệ sinh thái gồm đầm nước mặn tự nhiên. Khu giải trí cũng quản lý đồn Funston, Lands End, đồn Mason, và Alcatraz. Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ tự quản lý Công viên Lịch sử Quốc gia Biển San Francisco – một đoàn tàu lịch sử và bất động sản ở mặt tiền bờ biển nằm quanh Công viên Aquatic.
Có hơn 220 công viên được Sở Công viên và Giải trí San Francisco bảo trì. Công viên lớn nhất và nổi tiếng nhất của thành phố là Công viên Cổng Vàng, chạy dài từ trung tâm thành phố ở phía tây đến Thái Bình Dương. Từng được bao phủ bởi cỏ bản địa và đụm cát, công viên hình thành trong thập niên 1860 và được trồng đại trà với nhiều loại cây cỏ không bản địa. Công viên lớn gồm có nhiều điểm hấp dẫn thiên nhiên và văn hóa như vườn thực vật "Conservatory of Flowers", Vườn trà Nhật Bản, Vườn Thực vật San Francisco. Hồ Merced là một hồ nước ngọt bao quanh bởi đất công viên và nằm gần Vườn thú San Francisco, một công viên do thành phố làm chủ có trên 250 loài động vật, có cả nhiều loại động vật có nguy cơ tuyệt chủng. Công viên duy nhất thuộc hệ thống Công viên Tiểu bang California nằm chính yếu bên trong thành phố San Francisco là Candlestick Point. Đây là khu giải trí đô thị đầu tiên của tiểu bang California.
== Văn hóa và đời sống đương đại ==
Tuy khu tài chính, quảng trường Union, và Bến Ngư Phủ nổi tiếng khắp thế giới nhưng San Francisco cũng đặc biệt bởi vô số các đường phố giàu văn hóa cùng với các khu phức hợp vây quanh bởi các hành lang thương mại trung tâm mà dân cư ngụ tại đây cũng như du khách có thể đi bộ lui tới. Vì những đặt điểm này, San Francisco được xếp loại thành phố "dễ đi bộ nhất" bởi trang mạng Walkscore.com. Nhiều khu dân cư có đủ loại cơ sở thương mại, nhà hàng và nơi vui chơi giải trí, đáp ứng nhu cầu hàng ngày của cư dân địa phương cũng như phục vụ du khách. Một số khu dân cư có nhiều cửa hiệu nhỏ, tiệm cà phê và hộp đêm như phố Union trong khu Cow Hollow, phố số 24 trong khu Noe Valley, phố Valencia trong khu Mission, và phố Irving trong khu Nội Sunset. Chiều hướng này đặc biệt đã có ảnh hưởng đến sự tái phát triển hiện nay tại khu dân cư South of Market với các cơ sở thương mại và dịch vụ mọc lên dọc theo các tòa nhà chung cư cao tầng.
Từ thập niên 1990, nhu cầu về nhân công lành nghề trong lĩnh vực công nghệ thông tin từ các công ty khởi nghiệp và Thung lũng Điện tử lân cận đã hấp dẫn nhiều công nhân kỹ thuật đến đây từ khắp nơi trên thế giới, tạo nên tiêu chuẩn sinh hoạt cao tại San Francisco. Nhiều khu dân cư mà trước kia từng là nơi cư ngụ của người lao động chân tay, tầng lớp trung lưu và tầng lớp thấp hơn đã được tái quy hoạch và phát triển. Nhiều khu công nghiệp và thương mại của thành phố đã trải qua một cuộc phục hưng do bị cuốn hút bởi sự tái phát triển con đường mặt tiền bờ biển phía đông là Embarcadero trong đó phải kể đến là khu South Beach và Mission Bay. Giá trị bất động sản và lợi tức mỗi hộ gia đình của thành phố tăng vọt lên thành một trong những con số cao nhất tại Hoa Kỳ, tạo nên một khung cảnh nhà hàng lớn sang trọng, bán lẻ và giải trí. Theo một cuộc thăm dò chất lượng cuộc sống của các thành phố trên thế giới năm 2008, San Francisco được xếp thứ hai so với bất cứ thành phố nào tại Hoa Kỳ về chất lượng cuộc sống cao nhất. Tuy nhiên, vì giá sinh hoạt cao khác thường nên nhiều gia đình thuộc tầng lớp trung lưu và thấp hơn rời bỏ thành phố để đến các khu ngoại ô xa hơn của vùng vịnh San Francisco, hay đến vùng Thung lũng Trung tâm của California.
Đặc tính quốc tế mà thành phố San Francisco tự hào kể từ khi được thành lập và vẫn còn được tiếp tục cho đến ngày nay là số lượng lớn di dân đến từ châu Á và châu Mỹ Latin. Với 39% dân cư ngụ được sinh ra ở ngoại quốc, San Francisco có vô số khu dân cư đầy ấp các cơ sở thương mại và cơ sở công dân nhằm phục vụ người mới đến. Đặc biệt, nhiều người Trung Hoa mới đến đã bổ sung thêm cho cộng đồng người Trung Hoa vốn có mặt lâu đời trong Phố Tàu lịch sử, nay hiện diện khắp nơi trong thành phố và chuyển hóa cuộc diễn hành Tết Trung Hoa hàng năm thành sự kiện lớn nhất cùng loại ở bên ngoài Trung Quốc.
Với sự xuất hiện của các nhà văn và họa sĩ thế hệ Beat vào thập niên 1950 và những thay đổi xã hội lên đến cực độ thành Summer of Love tại khu Haight-Ashbury trong suốt thập niên 1960, San Francisco trở thành một trung tâm của phong trào vận động cho tự do cấp tiến. Đảng Dân chủ và đảng ít thế lực hơn là Đảng Xanh kiểm soát nền chính trị thành phố kể từ cuối thập niên 1970 sau khi ứng viên nặng ký cuối cùng của Đảng Cộng hòa thất cử trong cuộc bầu cử thị trưởng thành phố vào năm 1975 bởi một sai khác phiếu bầu khích khao. San Francisco đã không bầu quá 20% số phiếu cho một ứng cử viên tổng thống hay thượng viện kể từ năm 1988. Năm 2007, thành phố mở rộng chương trình trợ giúp y tế Medicaid và những chương trình y tế giúp đỡ người nghèo khác thành chương trình "San Francisco Lành mạnh". Chương trình này trợ giá một số dịch vụ y tế cho những cư dân hội đủ tiêu chuẩn.
San Francisco có một lịch sử thân thiện đối với người đồng tính. Đây là nơi thành lập tổ chức quyền của người đồng tính nữ đầu tiên tại Hoa Kỳ, Daughters of Bilitis; người tự nhận đồng tính nam đầu tiên ra ứng cử chức vụ công tại Hoa Kỳ là José Sarria; người tự nhận đồng tính nam đầu tiên được bầu vào chức vụ công tại Hoa Kỳ là Harvey Milk; người tự nhận đồng tính nữ đầu tiên được bổ nhiệm thẩm phán tại Hoa Kỳ là Mary C. Morgan; và ủy viên cảnh sát chuyển giới đầu tiên là Theresa Sparks. Dân số người đồng tính đông đảo của thành phố đã tạo ra và giữ vững một cộng đồng hoạt động văn hóa và chính trị trên nhiều thập niên, phát triển một sự hiện diện mạnh mẽ trong đời sống dân sự của San Francisco. Là một trong số các điểm đến hấp dẫn nhất cho du khách đồng tính quốc tế, thành phố là chủ nhà của cuộc diễu hành "Niềm tự hào San Francisco", một trong số các cuộc diễu hành đồng tính lớn nhất và xưa nhất.
San Francisco cũng có một cộng đồng rất năng nổ hoạt động vì môi trường. Bắt đầu với sự thành lập Câu lạc bộ Sierra năm 1892 đến thành lập "Friends of the Urban Forest" (những người bạn của rừng đô thị) năm 1981, San Francisco luôn ở phía trước trong nhiều cuộc thảo luận toàn cầu có liên quan đến môi trường thiên nhiên của chúng ta. Chương trình tái sinh vật liệu của San Francisco năm 1980 là một trong các chương trình tái sinh vật liệu rác sinh hoạt đầu tiên nhất. Đề xướng GoSolarSF (San Francisco, tiến tới với năng lượng mặt trời) của thành phố giúp thúc đẩy việc lắp đặt các hệ thống sử dụng năng lượng mặt trời. Ủy ban Công chánh San Francisco đang giới thiệu chương trình "CleanPowerSF" (năng lượng sạch San Francisco) để bán điện từ các nguồn năng lượng tái sinh địa phương. SF Greasecycle (tái sinh dầu ăn San Francisco) là chương trình tái chế dầu ăn đã sử dụng để biến thành dầu sinh học diesel.
Dự án năng lượng mặt trời "Hồ Sunset" vừa mới hoàn thành đã lắp đặt 25.000 tấm thu năng lượng mặt trời trên nóc hồ chứa nước rộng 480.000 ft vuông (45.000 m2). Nhà máy phát điện 5-megawatt này cung cấp hơn gấp ba lần khả năng phát điện năng lượng mặt trời của thành phố khi nó hoạt động vào tháng 12 năm 2010.
=== Giải trí và nghệ thuật biểu diễn ===
Trung tâm Nghệ thuật Biểu diễn và Tưởng niệm Chiến tranh của San Francisco là nơi biểu diễn của một số đoàn nghệ thuật lâu đời nhất tại Hoa Kỳ. Nhà hát Nhạc kịch Tưởng niệm Chiến tranh là nơi biểu diễn của Nhạc kịch San Francisco, đoàn nhạc kịch lớn thứ hai tại Bắc Mỹ cũng như Vũ đoàn Ba lê San Francisco trong khi đó Nhạc giao hưởng San Francisco trình diễn trong Thính phòng Nhạc giao hưởng Davies. Nhà hát Herbst là nơi biểu diễn nhiều loại nhạc cũng như là nơi tổ chức những buổi nói chuyện trên sân khấu về nghệ thuật được phát thanh trực tiếp trên chương trình radio công cộng.
The Fillmore là một sân khấu âm nhạc trong khu Western Addition. Đây là diện mạo thứ hai của sân khấu lịch sử từng nổi tiếng trong thập niên 1960 dưới thời Bill Graham làm người quảng bá ca nhạc. Đây là nơi những ca nhạc sĩ nay đã thành danh biểu diễn lần đầu tiên như Grateful Dead, Janis Joplin, Led Zeppelin và Jefferson Airplane. Beach Blanket Babylon là một chương trình ca vũ nhạc kịch thường biểu diễn với đông đảo khán giả đến xem tại khu North Beach từ năm 1974.
Đoàn kịch "American Conservatory Theater" (A.C.T.) là một lực lượng biểu diễn nghệ thuật tại Vùng Vịnh San Francisco từ khi nó di chuyển đến San Francisco năm 1967. San Francisco thường xuyên là nơi lưu diễn quốc gia của các vở nhạc kịch Broadway tại một số sân khấu thuộc thời đại thập niên 1920 nằm trong khu Theater trong đó có nhà hát Curran, Orpheum, và Golden Gate.
=== Bảo tàng ===
Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại San Francisco (SFMOMA) là nơi trưng bài các tác phẩm nghệ thuật thế kỷ 20 và đương đại. Nó được di dời đến tòa nhà hiện tại trong khu dân cư South of Market năm 1995 và hiện nay hấp dẫn hơn 600 ngày lượt người thăm viếng mỗi năm. California Palace of the Legion of Honor là nơi trưng bày các tác phẩm nghệ thuật và cổ vật châu Âu tại tòa nhà trong Công viên Lincoln. Nó được xây dựng theo mẫu của Palais de la Légion d'Honneur ở Paris. Nó được Bảo tàng Mỹ thuật San Francisco điều hành. Bảo tàng mỹ thuật này cũng điều hành Bảo tàng Tưởng niệm M. H. de Young nằm trong Công viên Cổng Vàng. Bộ sưu tập của Bảo tàng de Young gồm có các mẫu vật trang trí Mỹ và mẫu vật nhân loại học từ châu Phi, châu Đại Dương và châu Mỹ. Trước khi được xây dựng với bộ dạng mạ đồng hiện tại và hoàn thành vào năm 2005, Bảo tàng de Young cũng là cơ sở của Bảo tàng Nghệ thuật Á châu mà trong đó có các cổ vật từ trên 6 ngàn năm lịch sử của Á châu. Bảo tàng Nghệ thuật Á châu di chuyển vào trong thư viện cũ của San Francisco gần Trung tâm Civic vào năm 2003.
Đối diện quảng trường Music Concourse từ Bảo tàng de Young là Viện Khoa học California, một bảo tàng lịch sử tự nhiên. Cơ sở vật chất hiện tại của nó gồm có một mái xanh là một thí dụ về kiến trúc thân thiện môi trường. Nó được mở cửa vào năm 2008. Nằm trên Bến cảng số 15 trên khu bến tàu Embarcadero, Exploratorium là một bảo tàng khoa học tương tác do nhà vật lý Frank Oppenheimer thành lập vào năm 1969. Hai chiếc tàu của bảo tàng đậu gần Bến Ngư Phủ là tàu chở hàng thời Chiến tranh thế giới thứ hai SS Jeremiah O'Brien và tàu ngầm USS Pampanito. Trên Nob Hill, Bảo tàng Xe Cáp San Francisco là bảo tàng còn hoạt động gồm có động cơ để kéo các dây cáp và kho chứa xe cáp.
=== Truyền thông ===
Tờ nhật báo chính tại San Francisco là tờ San Francisco Chronicle, hiện nay là tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất tại vùng Bắc California. Tờ Chronicle nổi tiếng nhất với cựu bình luận gia quá cố Herb Caen mà sự suy tư trầm ngâm hàng ngày của ông đã thu hút nhiều sự tán dương của độc giả và đại diện cho "tiếng nói của San Francisco". Tờ San Francisco Examiner, từng là viên đá góc của đế quốc truyền thông của William Randolph Hearst,bị suy giảm số lượng độc giả trong những năm qua và hiện nay biến thành tờ báo lá cải miễn phí hàng ngày dưới quyền người chủ mới. Sing Tao Daily tự tuyên bố là tờ báo lớn nhất trong số các nhật báo tiếng Hoa phục vụ vùng vịnh. Các tờ báo phụ hàng tuần gồm San Francisco Bay Guardian và SF Weekly. San Francisco Magazine và 7x7 là các tạp chí mặt bóng lớn viết về San Francisco. Tạp chí quốc gia Mother Jones cũng được đặt tại San Francisco.
Vùng Vịnh San Francisco là thị trường truyền hình lớn thứ sáu và thị trường radio lớn thứ tư tại Hoa Kỳ. Đài phát thanh xưa nhất của thành phố, KCBS (AM), bắt đầu trong vai trò một đài phát thanh thử nghiệm tại San Jose năm 1909 trước khi bắt đầu truyền thanh thương mại. KALW là đài phát thanh sóng FM đầu tiên của thành phố khi nó bắt đầu phát sóng vào năm 1941. Tất cả các hệ thống truyền hình lớn của Hoa Kỳ đều có đài thành viên phục vụ tại vùng. Đa số các đài thành viên đều đặt tại thành phố San Francisco. Cũng có một số đài truyền hình độc lập tại đây. BBC, CNN và ESPN có văn phòng tin tức vùng tại San Francisco. Đài truyền hình đầu tiên của thành phố là KPIX, bắt đầu phát hình năm 1948.
Truyền thông công cộng gồm có cả phát hình và phát thanh đều phát sóng dưới tên gọi bằng chữ cái KQED từ một cơ sở nằm gần khu dân cư Potrero Hill. KQED-FM là trạm thành viên truyền thanh công cộng quốc gia có nhiều người nghe nhất tại Hoa Kỳ. CNET và Salon.com có trung tâm tại San Francisco là hai công ty tiên phong sử dụng internet như trạm truyền thông đến mọi người. Kênh truyền hình vệ tinh không thương mại Link TV ra mắt năm 1999 tại San Francisco.
Các nhà phát minh của San Francisco đã tạo ra những dấu ấn cho truyền thông hiện đại. Năm 1877, Eadweard Muybridge đi đầu với công trình nghiên cứu về hình ảnh chuyển động. Đây là những hình ảnh chuyển động đầu tiên (phim). Rồi đến năm 1927, ống máy ảnh của Philo Farnsworth truyền đi hình ảnh đầu tiên. Đây là truyền hình đầu tiên.
=== Thể thao và giải trí ===
Đội bóng bầu dục San Francisco 49ers thuộc Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia (NFL) là đội bóng nhà nghề lớn trụ giữ lâu nhất trong thành phố. Đội bóng bắt đầu chơi vào năm 1946 trong Hội Bóng bầu dục Toàn-Mỹ (All-America Football Conference hay viết tắc là AAFC), gia nhập vào NFL năm 1950 và đóng tại sân vận động Candlestick Park năm 1971. Năm 2006, những chủ nhân của đội thông báo các kế hoạch di chuyển đội đến thành phố Santa Clara, California vào khoảng năm 2015; tên đội vẫn giữ nguyên là "San Francisco 49ers" cho dù đội nằm gần thành phố San Jose hơn. Đội 49ers đã thắng giải Super Bowl năm lần vào thập niên 1980 và thập niên 1990 dưới sự dẫn dắt của huấn lệnh viên Bill Walsh và George Seifert, và các ngôi sao như Joe Montana, Steve Young, Ronnie Lott, và Jerry Rice.
Đội bóng chày San Francisco Giants rời Thành phố New York để đến California trước mùa giải năm 1958. Mặc dù kiêu hãnh với những ngôi sao như Willie Mays, Willie McCovey và Barry Bonds, đội trải qua 52 năm cho đến khi đoạt được danh hiệu World Series đầu tiên vào năm 2010, và đoạt thêm một danh hiệu vào năm 2012. Đội Giants chơi ở sân vận động AT&T Park. Sân này mở cửa năm 2000, đây là một dự án viên đá góc của việc tái phát triển khu South Beach và Mission Bay. Năm 2012, San Francisco đứng số #1 trong số các thành phố bóng chày tốt nhất của Mỹ. Cuộc nghiên cứu xem xét vùng đô thị Hoa Kỳ nào đã sinh ra những đội bóng chày chủ lực nhất từ năm 1920.
Ở cấp bậc đại học, các đội thể thao của Đại học San Francisco tranh tài trong nhóm I thuộc Hội Thể thao Đại học Quốc gia (NCAA). Bill Russell đã dẫn dắt chương trình này đến chức vô địch bóng rổ vào năm 1955 và 1956. Các đội thể thao của Đại học Tiểu bang San Francisco và Đại học Academy of Art tranh tài trong Nhóm II. Sân vận động AT&T Park đã tổ chức các trận bóng bầu dục đại học trước mùa giải hàng năm kể từ năm 2002. Năm 2011, San Francisco làm sân nhà cho đội bóng bầu dục California Golden Bears tại sân Candlestick Park và AT&T Park trong khi sân vận động nhà của đội tại thành phố Berkeley được chỉnh trang.
Liên đoàn Bóng rổ San Francisco Pro-Am là một liên đoàn hè quan trọng cho các cầu thủ quan tâm được phát hiện bởi các nhà săn tìm tài năng. Các trận được tổ chức tại nhà thi đấu Kezar Pavilion 4 ngàn chỗ ngồi. Các cầu thủ gồm mọi cấp bậc tham gia cùng với sự xuất hiện thường xuyên của những cầu thủ nhà nghề NBA lúc ngoài mùa thi đấu.
Cuộc chạy bộ "Bay to Breakers", được tổ chức hàng năm từ năm 1912, nổi tiếng nhất vì các trang phục màu sắc và một tinh thần cộng đồng ngày hội. Cuộc chạy đua San Francisco Marathon thu hút trên 21 ngàn người tham gia. Cuộc tranh tài ba môn hỗn hợp có tên "Thoát khỏi từ Alcatraz" từ năm 1980 thu hút 2 ngàn vận động viên nhà nghề và nghiệp dư hàng đầu tham dự cuộc tranh tài hàng năm. Câu lạc bộ Olympic, thành lập năm 1860, là câu lạc bộ thể thao xưa nhất tại Hoa Kỳ. Sân golf tư của nó nằm trên ranh giới với Thành phố Daly, là nơi tổ chức năm lần giải U.S. Open. Sân golf Harding Park công cộng đôi khi là điểm dừng chân của giải PGA Tour. San Francisco sẽ tổ chức giải đua thuyền buồm "2013 America's Cup".
Với khí hậu lý tưởng cho các hoạt động ngoài trời, San Francisco có cơ hội và nguồn lực phong phú cho giải trí và thể thao mở rộng cũng như nghiệp dư. Có trên 200 dặm (320 km) đường mòn dành cho xe đạp, làn xe đạp và đường xe đạp trong thành phố, Khu Embarcadero và Marina Green là nơi lý tưởng cho môn thể thao trượt ván. Các sân tennis công cộng rộng có ở trong Công viên Cổng Vàng và Công viên Dolores cũng như tại các sân nhỏ hơn trong các khu dân cư của thành phố. Người dân San Francisco thường được xếp trong số những người khỏe mạnh nhất tại Hoa Kỳ
Chạy tàu, đi thuyền buồm, lướt ván bằng buồm và bằng diều là trong số các hoạt động thể thao yêu chuộng trên Vịnh San Francisco. Thành phố bảo trì một bến thuyền buồm nằm trong Khu Marina. The St. Francis Yacht Club và Golden Gate Yacht Club are located in the Marina Harbor. Câu lac bộ Thuyền buồm South Beach nằm kế bên sân vân động AT&T Park và Cầu tàu số 39 có một bến đổ tàu thuyền rộng.
Công viên nước lịch sử nằm dọc bờ biển bắc San Francisco có hai câu lạc bộ chèo thuyền và bơi lội. Câu lạc bộ Chèo thuyền South End, thành lập năm 1873, và Câu lạc bộ Dolphin duy trì một sự ganh đua thân thiện giữa các thành viên. Các tay bơi có thể được nhìn thấy bơi lội gan lì hàng ngày trong vịnh với nhiệt độ nước thường là lạnh.
Bóng đá nam nghiệp dư được chơi trong thành phố San Francisco từ năm 1902 qua Liên đoàn Bóng đá San Francisco. Trên 40 đội trong 4 nhóm chơi khắp thành phố giữa tháng ba đến tháng mười một. Các trận dấu nhóm hàng đầu được chợi trong Sân vận động Boxer 3.500 chỗ ngồi. Bóng đá nữ nghiệp dư có trên 30 đội trong Liên đoàn Bóng đá Nữ Golden Gate.
Môn xe đạp đang phát triển tại San Francisco. Cơ quan Giao thông San Francisco tiến hành đếm số xe đạp hàng năm và vào năm 2010 cho thấy con số người đi xe đạp tại 33 địa điểm tăng 58%, dựa theo số điếm cơ sở của năm 2006. Cơ quan Gia thông San Francisco ước tính rằng có khoảng 128.000 lượt người đi xe đạp mỗi ngày trong thành phố hay 6% tổng số lượt người di chuyển bằng tất cả các phương tiện. Những cãi tiến trong cơ sở hạ tầng dành cho xe đạp trong những năm gần đây bao gồm thêm các làn xe đạp và giá đậu xe đạp đã giúp cho giao thông bằng xe đạp tại San Francisco tiện lợi và an toàn hơn. Từ năm 2006, San Francisco đã nhận được tư cách "vàng" là một cộng đồng thân thiện với xe đạp từ Liên đoàn Xe đạp Mỹ.
== Kinh tế ==
Du lịch, doanh nghiệp tư nhân thuê mướn nhiều lao động nhất thành phố, là xương sống của nền kinh tế San Francisco. Hình ảnh của thành phố thường xuyên được diễn tả trong âm nhạc, phim, và văn hóa đại chúng đã giúp cho thành phố và những danh lam thắng cảnh của nó được công nhận khắp thế giới. Chính tại thành phố này Tony Bennett "đã bỏ quên con tim của ông" với nhạc phẩm I Left My Heart in San Francisco, nơi tù nhân khét tiếng Birdman of Alcatraz trải qua nhiều năm cuối cùng của mình, nơi sản phẩm Rice-a-Roni được cho là sản phẩm khoái khẩu ưa chuộng, và nơi hài kịch tình huống ưa thích có tựa đề Full House được dàn dựng. San Francisco thu hút số lượng du khách ngoại quốc đứng thứ tư so với bất cứ thành phố nào tại Hoa Kỳ, đứng hạng 35 trong số 100 thành phố được viếng thăm nhiều nhất trên thế giới. Hơn 16,5 triệu du khách đến San Francisco năm 2012, bơm khoảng 8,9 tỷ đô la vào nền kinh tế thành phố. Với một cơ sở hạ tầng khách sạn lớn và một cơ sở tiện nghi dành cho hội nghị cấp bậc thế giới tại Trung tâm Moscone, San Francisco cũng nằm trong số 10 địa điểm đại hội hay hội nghị hàng đầu tại Bắc Mỹ. Theo một danh sách xếp hạng các thành phố du lịch hàng đầu của Euromonitor International, San Francisco được xếp thứ 33 trong số 100 thành phố được viếng thăm nhiều nhất trên thế giới.
Di sản của Cơn sốt vàng California đã biến San Francisco thành trung tâm tài chính và ngân hàng chính yếu tại Tây Duyên hải Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20. Phố Montgomery trong Khu Tài chính San Francisco trở nên được biết tiếng như là "Phố Wall của miền Tây Hoa Kỳ". Nơi đây có Ngân hàng Dự trữ Liên bang San Francisco, tổng hành dinh của ngân hàng Wells Fargo, và là nơi từng có Thị trường chứng khoán Duyên hải Thái Bình Dương (nay đã giải thể). Bank of America, một ngân hàng tiên phong trong việc tạo dịch vụ ngân hàng đến với tầng lớp trung lưu, được thành lập tại San Francisco và vào thập niên 1960, đã xây dựng tòa nhà chọc trời danh lam hiện đại tại số 555 Phố California làm tổng hành dinh cho tổng công ty ngân hàng của mình. Nhiều cơ sở tài chính lớn, các ngân hàng đa quốc gia và công ty tài chính có trụ sở chính hoặc tổng hành dinh vùng trong thành phố. Với trên 30 cơ sở tài chính quốc tế, bãy công ty thuộc nhóm Fortune 500, và một cơ sở hạ tầng hỗ trợ lớn gồm các dịch vụ nghiệp vụ trong đó có luật pháp, quan hệ công chúng, kiến trúc và thiết kế, San Francisco được liệt kê là một trong số 18 thành phố Alpha World. San Francisco đứng thứ 18 trong số các thành phố sản xuất hàng đầu trên thế giới, và hạng thứ 12 trong số 20 trung tâm tài chính hàng đầu trên thế giới.
Từ thập niên 1990, kinh tế San Francisco bắt đầu trở nên ngày càng gắn chặt với kinh tế của thành phố San Jose và vùng Thung lũng Điện tử, đây là khu vực lân cận nằm ở phía nam thành phố. Chúng cùng chia sẻ nhu cầu về công nhân có giáo dục cao có những kỷ năng đặc biệt. San Francisco từng trở thành một tâm chấn của bong bóng Dot-com vào thập niên 1990, và sự bùng nổ sau này của Web 2.0 vào cuối thập niên 2000. Nhiều công ty internet và công ty khởi nghiệp nổi tiếng như Craigslist, Twitter, Square, Zynga, Salesforce.com, Airbnb, và Wikimedia Foundation trong số các công ty khác nữa thiết lập văn phòng đầu não tại San Francisco.
San Francisco đã và đang đặt mình vào vị trí như là một trung tâm nghiên cứu công nghệ sinh học và y tế sinh học. Khu dân cư Mission Bay, nơi có một chi nhánh thứ hai của Đại học California-San Francisco, tạo điều kiện cho một nền công nghiệp cấy chiết và phục vụ như tổng hành dinh của Viện Y học Tái sinh California, một cơ quan công cộng tài trợ các chương trình nghiên cứu tế bào gốc trên toàn tiểu bang. Tính đến năm 2009, có 1.800 kỹ sư sinh hóa và kỹ sư vật lý sinh học làm việc tại San Francisco với mức lương trung bình hàng năm là 92.620 đô la.
Các doanh nghiệp nhỏ với ít hơn 10 nhân công và các cơ sở tự làm chủ chiếm đến 85% tổng số doanh nghiệp toàn thành phố, đặc biệt các doanh nhân tự đứng ra thiết lập các công ty khởi nghiệp thì rất phổ biến. Con số người San Francisco làm việc cho các công ty có trên 1000 công nhân đã giảm xuống phân nửa từ năm 1977. Sự xâm nhập thành công của các tập đoàn bán lẽ quốc gia và chuỗi tiệm bán lẽ quốc gia vào trong thành phố không phải là không gặp nhiều khó khăn vì sự bất đồng giữa chính quyền và người dân thành phố. Trong một cố gắng để tạo cầu nổi cho doanh nghiệp nhỏ tự làm chủ tại San Francisco và bảo tồn đặt tính bán lẽ độc đáo của thành phố, Hội đồng Doanh nghiệp nhỏ ủng hộ một chiến dịch vận động để giữ thị phần bán lẽ lớn hơn cho nền kinh tế địa phương. Hội đồng thành phố đã sử dụng luật kế hoạch để hạn chế các khu dân cư nơi mà các chuỗi tiệm bán lẽ quốc gia có thể thiết lập tiệm bán lẽ của mình. Nỗ lực như thế đã được cử tri thành phố xác nhận qua lá phiếu.
Chính quyền thành phố là nơi thuê mướn nhân công hàng đầu của thành phố với 6,25% (trên 26.000 người) dân số thành phố, theo sau là Đại học California, San Francisco. Đứng thứ ba với 2,04% dân số (trên 8.000 người) là ngân hàng Wells Fargo.
== Chính quyền và luật pháp ==
San Francisco, chính thức được biết với tên gọi Thành phố và Quận San Francisco, là một quận-thành phố thống nhất. Tính trạng quận-thành phố thống nhất được thiết lập kể từ khi đơn vị mà ngày nay là Quận San Mateo tách khỏi nó vào năm 1856. Đây là quận thành phố thống nhất duy nhất tại tiểu bang California. Thị trưởng thành phố cũng chính là viên chức hành chính quận và hội đồng quận hoạt động như một hội đồng thành phố. Dưới hiến chương thành phố, chính quyền San Francisco được thiết lập với hai ngành đồng quyền lực. Ngành hành pháp do thị trưởng lãnh đạo gồm có các viên chức được dân bầu và được bổ nhiệm trên toàn thành phố. Hội đồng quận gồm 11 thành viên do một chủ tịch lãnh đạo là ngành lập pháp có trách nhiệm thông qua luật lệ và ngân sách. Tuy nhiên cử tri San Francisco cũng có thể sử dụng các kiến nghị bầu cử trực tiếp để thông qua luật.
Thành viên hội đồng quận được bầu như người đại diện của khu vực riêng biệt nào đó trong thành phố. Nếu như thị trưởng qua đời hay từ chức thì chủ tịch hội đồng quận trở thành quyền thị trưởng cho đến khi toàn hội đồng quận chọn một người thay thế tạm thời cho hết nhiệm kỳ hiện tại của thị trưởng. Năm 1978, Dianne Feinstein nhận chức sau khi thị trưởng George Moscone bị ám sát. Bà sau đó được hội đồng quận chọn để chấm dứt hết nhiệm kỳ. Năm 2011, Edwin M. Lee được hội đồng quận chọn để chấm dứt nhiệm kỳ của Gavin Newsom, người vừa từ chức để nhận chức phó thống đốc California.
Vì địa vị quận-thành phố có một không hai tại California, chính quyền địa phương đảm trách quyền tài phán đối với bất động sản mà đáng ra nằm ngoài giới hạn quyền lực của một thành phố. Sân bay quốc tế San Francisco, tuy nằm trong Quận San Mateo, do Quận và Thành phố San Francisco làm chủ và điều hành. San Francisco cũng có một nhà tù phức hợp quận nằm trong một khu chưa hợp nhất thuộc Quận San Mateo, kế cận bên thành phố San Bruno. San Francisco cũng được phép thuê mướn vĩnh viễn Thung lũng Hetch Hetchy và vúng bồn trũng nước nằm trong Công viên Quốc gia Yosemite theo Đạo luật Raker năm 1913.
San Francisco phục vụ trong vai trò trung tâm vùng cho nhiều chi nhánh cơ quan liên bang trong đó có tòa án thượng thẩm Hoa Kỳ, Ngân hàng Dự trữ Liên bang, và cơ sở đúc tiền kim loại Hoa Kỳ. Cho đến khi bị loại khỏi biên chế vào đầu thập niên 1990, thành phố có các cơ sở quân sự lớn tại đồn San Francisco, đảo Treasure, và Hunters Point. Tiểu bang California dùng San Francisco làm nơi đặt trụ sở tòa án tối cao tiểu bang và các cơ quan khác của tiểu bang. Các chính phủ ngoại quốc duy trì trên 70 tổng lãnh sự quán tại San Francisco.
Ngân sách thành phố cho năm tài chính 2011–12 là $6,83 tỷ đô la. Thành phố thuê mướn khoảng 27.000 công nhân.
== Nhân khẩu ==
Cuộc điều tra dân số năm 2010 cho thấy San Francisco có dân số là 805.235. Mật độ dân số là 17.160 người trên mỗi dặm Anh vuông (6.632/km2). Dân số theo chủng tộc của San Francisco như sau: 390.387 da trắng (48,1%), 267.915 người gốc châu Á (33,3%), 48.870 người Mỹ gốc châu Phi (6,1%), 4.024 người Mỹ bản địa (0,5%), 3.359 người thuộc các đảo Thái Bình Dương (0,4%), 53.021 thuộc các dân tộc khác (6,6%), và 37.659 người thuộc từ hai chủng tộc trở lên (4,7%). Có 121.744 nói tiếng Tây Ban Nha (trong tiếng Anh được gọi là Hispanic hay Latino) thuộc mọi chủng tộc (15,1%). Người da trắng không phải gốc nói tiếng Tây Ban Nha chiếm 41,9% dân số, làm cho San Francisco trở thành một thành phố có người đa số (người da trắng) chiếm thiểu số mặc dù người da trắng nói tiếng Tây Ban Nha lập thành một số đông dân số.
Cuộc điều tra dân số này cho thấy 780.971 người (97,0% dân số) sống trong các hộ gia đình, 18.902 người (2,3%) sống riêng trong các khu nhóm tập thể và 5.362 (0,7%) sống trong các khu có người trợ giúp, thí dụ như viện dưỡng lão. Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ ước tính dân số San Francisco tăng đến 825.863 tính đến tháng 7 năm 2012.
Năm 2010, các cư dân gốc Hoa tiếp tục là nhóm dân tộc riêng biệt lớn nhất tại San Francisco với dân số là 21,4%; các nhóm dân châu Á khác là người Philippines (4,5%), người Việt Nam (1,6%), người Nhật (1.3%), người Ấn Độ (1,2%), người Triều Tiên (1,2%), người Thái Lan (0,3%), người Miến Điện (0,2%), người Campuchia (0,2%), cả người Indonesia và người Lào chiếm ít hơn 0,1% dân số thành phố.
Có 345.811 hộ gia đình trong số đó 63.577 hộ (18,4%) có con cái dưới tuổi 18 sống cùng cha mẹ, 109.437 hộ (31,6%) có cặp vợ chồng khác giới tính sống chung với nhau, 28.844 hộ (8,3%) có nữ chủ hộ sống không có chồng, 12.748 hộ (3,7%) có nam chủ hộ sống không có vợ. Có 21.677 hộ (6,3%) có cặp đôi khác giới tính chung sống nhưng không kết hôn, và 10.384 hộ (3,0%) có cặp đôi cùng giới tính kết hôn hoặc không kết hôn. 133.366 hộ gia đình (38,6%) gồm có các cá nhân chung sống với nhau và 34.234 hộ (9,9%) có người sống một mình và có tuổi từ 65 trở lên. Hộ gia đình trung bình có 2,26 người. Có 151.029 gia đình (43,7% tổng số hộ gia đình); gia đình trung có 3,11 người.
Phân bố tuổi của thành phố là như sau: 107.524 người (13,4%) dưới tuổi 18, 77.664 người (9,6%) tuổi từ 18 đến 24, 301.802 người (37,5%) tuổi từ 25 đến 44, 208.403 người (25,9%) tuổi từ 45 đến 64, và 109.842 người (13,6%) tuổi từ 65 trở lên. Tuổi trung vị là 38,5 tuổi. Cứ mỗi 100 nữ có 102,9 nam. Cứ mỗi 100 nữ tuổi 18 trở lên thì có 102,8 nam.
Có 376.942 đơn vị nhà ở với mật độ trung bình là 1.625,5 đơn vị mỗi dặm vuông (627,6/km2) trong đó có 123.646 đơn vị (35,8%) có chủ nhà sinh sống, và 222.165 đơn vị (64,2%) được cho thuê. Tỉ lệ đơn vị không có chủ nhà sống trong đó là 2,3%; tỉ lệ đơn vị không có người thuê là 5,4%. 327.985 người (40,7% dân số) sống trong các đơn vị nhà ở có chủ nhà sinh sống và 452.986 người (56,3%) sống trong các đơn vị nhà ở cho thuê.
Với trên 17.000 người sống trên mỗi dặm vuông, San Francisco là thành phố lớn (dân số trên 200.000 người) có mật độ dân số đông hạng nhì tại Hoa Kỳ. San Francisco là địa điểm tập trung truyền thống của Vùng Vịnh San Francisco và hình thành một phần của vùng thống kê kết hợp San Francisco-Oakland-Fremont và vùng đại thống kê kết hợp San Jose-San Francisco-Oakland mà tổng dân số lên đến trên bảy triệu dân, làm cho vùng đại thống kê kết hợp này trở thành vùng lớn thứ năm tại Hoa Kỳ tính đến lần điều tra dân số năm 2000.
Người California, sinh ra tại bản xứ, hình thành con số phần trăm tương đối nhỏ dân số của thành phố: chỉ 37,7% người cư ngụ được sinh ra tại tiểu bang California trong khi đó 25,2% được sinh ra trong các tiểu bang khác. Hơn một phần ba cư dân thành phố (35,6%) được sinh ra bên ngoài Hoa Kỳ.
Dân số người gốc Trung Hoa tập trung đông đảo nhất trong Phố Tàu, Khu Sunset, và Khu Richmond trong khi đó người Phiilipines tập trung nhiều nhất tại Crocker-Amazon (là khu liền nhau với cộng đồng người Philipines tại Thành phố Daly, thành phố có người Philippines tập trung đông đảo nhất tại Bắc Mỹ) cũng như tại Khu South of Market. Sau khi giảm sút vào thập niên 1970 và 1980, cộng đồng Philippines trong thành phố đã và đang trải nghiệm một sự tái xuất đáng kể. Vùng Vịnh San Francisco là nơi cư ngụ của trên 382.950 người Mỹ gốc Philippines, một trong số các cộng đồng lớn nhất của người Philippines bên ngoài Philippines. Khu Tenderloin là nơi cư ngụ của một phần lớn dân số người Việt Nam của thành phố cũng như các doanh nghiệp và tiệm ăn mà được biết với cái tên Tiểu Sài Gòn của thành phố. Người Nhật và người Triều Tiên có một sự hiện diện lớn tại Khu Western Addition, là nơi có Phố Nhật của thành phố nằm trong đó. Dân số người gốc đảo Thái Bình Dương là 0,4% (0,8% bao gồm những người có một phần gốc đảo Thái Bình Dương). Trên phân nửa dân số người gốc đảo Thái Bình Dương là thuộc người Samoa thuộc Mỹ, cư ngụ trong Khu Bayview-Hunters Point và Visitacion Valley; người gốc đảo Thái Bình Dương chiếm trên ba phần trăm dân số tại cả hai cộng đồng vừa kể.
San Francisco có thiểu số người đa số (người da trắng là đa số tại Hoa Kỳ) vì người da trắng không nói tiếng Tây Ban Nha chiếm ít hơn phân nửa dân số thành phố với 41,9%, giảm từ 92,5% vào năm 1940. Các nhóm dân nói tiếng Tây Ban Nha chính yếu trong thành phố là người gốc México (7,4%), Salvador (2,0%), Nicaragua (0,9%), Guatemala (0,8%), và Puerto Rico (0,5%). Dân số người nói tiếng Tây Ban Nha tập trung đông đảo nhất tại Khu Mission, Khu Tenderloin, và Khu Excelsior. Dân số người Mỹ gốc châu Phi của San Francisco giảm sút trong những thập niên vừa qua, từ 13,4% dân số năm 1970 xuống còn 6,1%. Phần trăm dân số hiện tại của người Mỹ gốc châu Phi tại San Francisco thì tương tự với phần trăm dân số của tiểu bang California; ngược lại, phần trăm dân số người nói tiếng Tây Ban Nha của thành phố thì ít hơn phân nửa phần trăm dân số tiểu bang. Đa số dân số người Mỹ gốc châu Phi cư ngụ trong các khu dân cư Bayview-Hunters Point, và Visitacion Valley ở đông nam San Francisco, và trong Khu Fillmore ở phần đông bắc thành phố.
Theo Thăm dò Cộng đồng Mỹ 2005, San Francisco có tỉ lệ phần trăm nhiều nhất các cá nhân đồng tính so với bất cứ 50 thành phố lớn nhất nào tại Hoa Kỳ với tỉ lệ là 15,4%. San Francisco cũng có tỉ lệ phần trăm cao nhất số hộ gia đình cùng giới tính so với bất cứ quận nào của Mỹ trong khi đó Vùng Vịnh San Francisco có sự tập trung cao hơn so với bất cứ vùng đô thị nào khác. Trong số các thành phố lớn của Hoa Kỳ, thành phố có tỉ lệ phần trăm lớn nhất về cư dân đồng tính, lưỡng tính với tỉ lệ là 15,4%.
Trong tất cả các thành phố lớn, San Francisco có tỉ lệ cư dân có bằng đại học hay cao đẳng đứng hạng nhì, chỉ sau thành phố Seattle. Trên 44% người lớn trong địa giới thành phố có bằng cử nhân hoặc cao hơn. Tờ USA Today tường trình rằng Rob Pitingolo, một nhà nghiên cứu chuyên theo dõi tỉ lệ tốt nghiệp đại học trên mỗi dặm vuông, tìm thấy rằng San Francisco có tỉ lệ cao nhất với 7.031 người trên mỗi dặm vuông, hay trên 344.000 người tổng cộng tốt nghiệp đại học trong thành phố rộng 46,7 dặm vuông Anh (121 km2).
San Francisco xếp thứ ba các thành phố Mỹ về thu nhập trung bình của mỗi hộ gia đình với mức thu nhập năm 2007 là $65.519. Thu nhập trung bình của mỗi gia đình là $81.136, và San Francisco xếp thứ 8 trong số các thành phố lớn trên thế giới về tổng số tỉ phú được biết sống bên trong địa giới thành phố. Theo sau một chiều hướng quốc gia, sự di cư của các gia đình thuộc giới trung lưu đang góp phần mở rộng thêm cách biệt về thu nhập và để lại cho thành phố một tỉ lệ trẻ em là 14,5% ít hơn so với các thành phố lớn khác của Hoa Kỳ.
Tỉ lệ nghèo của thành phố là 11,8% và số gia đình sống nghèo khổ đứng ở tỉ lệ 7,4%, cả hai tỉ lệ đều thấp hơn so với trung bình toàn quốc. Tỉ lệ thất nghiệp đứng ở tỉ lệ 6,5% tính đến tháng 1 năm 2013. Vô gia cư đã và đang là vấn nạn gây tranh cãi và thường kỳ đối với San Francisco từ đầu thập niên 1980. Dân số người vô gia cư được ước tính là khoảng 13.500 với 6.500 sống trên đường phố. Thành phố được tin là có số lượng cao nhất số người vô gia cư tính theo đầu người so với bất cứ thành phố lớn nào của Hoa Kỳ. Tỉ lệ tội phạm xâm phạm bất động sản và tội phạm bạo lực được ghi nhận cho năm 2009 (736 và 4.262 vụ mỗi 100.000 dân theo thứ tự vừa kể) thì thất hơn chút ít so với các thành phố Hoa Kỳ có diện tích tương đương.
=== Tội phạm ===
Mặc dù San Francisco có ít tội phạm đối với một thành phố mang tầm cỡ của nó nhưng đây không phải là một nơi không tội phạm. Năm 2011, 50 vụ giết người được ghi nhận với tỉ lệ 6,1 vụ trên 100.000 dân. Có khoảng 134 vụ hiếp dâm, 3.142 vụ cướp, và khoảng 2.139 vụ tấn công. Có khoảng 4.469 vụ đột nhập gia cư, 25.100 trộm cắp, và 4.210 vụ trộm xe hơi. Khu vực Tenderloin có tỉ lệ tội phạm cao nhất tại San Francisco: 70% các vụ tội phạm bạo lực của thành phố, và khoảng 1/4 vụ giết người của thành phố xảy ra tại khu dân cư này. Tenderloin cũng chứng kiến tỉ lệ cao người vô gia cư, lạm dụng ma túy, bạo lực băng đảng, và mại dâm. Một khu khác có tỉ lệ tội phạm cao và có tình trạng suy thoái đô thị là khu Bayview-Hunters Point. Vô gia cư cũng là một vấn nạn đang gia tăng trong thành phố.
Nhiều băng đảng đường phố hiện diện trong thành phố trong đó có băng đảng gốc Nam Mỹ là MS-13, cũng như băng đảng da đen Crips trong khu Bayview - Hunters-Point. Có sự hiện diện của băng đảng gốc châu Á tại Phố Tàu. Năm 1977, một sự kình địch diễn ra giữa hai băng đảng gốc Hoa dẫn đến vụ nổ súng tấn công tại một nhà hàng trong Phố Tàu khiến cho 5 người chết và 11 người bị thương. Không có nạn nhân nào trong vụ tấn công này là thành viên băng đảng. Năm thành viên của băng đảng Joe Boys bị bắt và bị kết án. Năm 1990, một vụ xả súng có liên quan đến băng đảng đã khiến cho một người bị thiệt mạng và sáu người khác bị thương bên ngoài một họp đêm gần Phố Tàu. Năm 1998, sáu thiếu niên bị bắn chết và bị thương tại khu sân chơi Trung Hoa; một thiếu niên 16 tuổi sau đó bị bắt.
Thành phố chủ yếu được Sở Cảnh sát Thành phố San Francisco đảm nhận việc tuần tra. Sở Cảnh sát Quận San Francisco, Cảnh sát BART (chỉ đảm trách an ninh giao thông công cộng), Cảnh sát Amtrak, Cảnh sát Tuần tra Xa lộ California và nhiều cơ quan liên bang, tiểu bang, địa phương khác tiến hành làm nhiệm vụ thi hành luật pháp trong thành phố.
== Giáo dục ==
=== Đại học và cao đẳng ===
Đại học California, San Francisco (UCSF) là chi nhánh duy nhất thuộc hệ thống Đại học California hoàn toàn chuyên biệt cho giáo dục hậu đại học về y khoa và sinh học. Trường được xếp trong số năm trường y khoa hàng đầu tại Hoa Kỳ, và điều hành Trung tâm Y tế Đại học California, San Francisco, một trung tâm y tế nằm trong số 15 bệnh viện hàng đầu toàn quốc. UCSF thuê mướn nhân công địa phương nhiều đứng thứ hai, chỉ sau chính quyền San Francisco. Một chi nhánh rộng 43 mẫu Anh (170.000 m2) tại Khu Mission Bay được mở cửa vào năm 2003, bổ sung thêm cho cơ sở gốc của trường tại Parnassus Heights. Nó gồm có chỗ nghiên cứu và các cơ sở vật chất cho khoa đời sống và công nghệ sinh học và sẽ tăng gấp đôi tầm mức họp tác nghiên cứu của UCSF. Tổng cộng, UCSF điều hành trên 20 cơ sở trên khắp San Francisco. Đại học California, Trường luật Hastings, thành lập trong khu Trung tâm Civic năm 1878, là trường luật xưa nhất tại tiểu bang California và là nơi đào tạo ra nhiều thẩm phán tiểu bang hơn bất cứ học viện nào khác. Hai viện đại học thuộc hệ thống Đại học California của San Francisco mới đây đã liên kết chính thức để hình thành Hiệp hội UCSF/UC Hastings về Luật, Khoa học và Chính sách Y tế.
Đại học Tiểu bang San Francisco là một phần của hệ thống Đại học Tiểu bang California và nó nằm gần hồ Merced. Trường có khoảng 30.000 sinh viên và cấp bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ cho trên 100 ngành học. Cao đẳng Thành phố San Francisco, với cơ sở chính tại khu Ingleside, là một cao đẳng cộng đồng lớn nhất trên toàn quốc. Nó có số lượng ghi danh theo học là khoảng 100.000 sinh viên. Trường có đa dạng chương trình giáo dục chuyển tiếp lên bậc đại học bốn năm.
Được thành lập năm 1855, Đại học San Francisco, một đại học tư của Hội thánh Jesus nằm trên Núi Lone, là học viện giáo dục cấp cao xưa nhất tại San Francisco và là một trong số các đại học xưa nhất được thành lập ở phía tây sông Mississippi. Đại học Golden Gate là một đại học tư đồng giáo dục không giáo phái được thành lập nằm 1901 và nằm trong khu tài chính San Francisco. Trường chính yếu là học viện hậu-đại học chuyên về đào tạo nghiệp vụ luật và thương nghiệp, với một ít chương trình đào tạo cử nhân có liên quan đến phân khoa nghiệp vụ và hậu đại học của trường.
Vớ số lượng 13.000 sinh viên ghi danh theo học, Đại học Academy of Art là học viện nghệ thuật và thiết kế lớn nhất trên toàn quốc. Thành lập năm 1871, Học viện Nghệ thuật San Francisco là trường nghệ thuật xưa nhất ở phía tây sông Mississippi. Cao đẳng Nghệ thuật California, nằm ở phía bắc Potrero Hill, có các chương trình về kiến trúc, mỹ thuật, thiết kế, và viết văn. Bảo tồn Âm nhạc San Francisco, trường nhạc độc lập duy nhất trên Tây Duyên hải Hoa Kỳ, cấp bằng về nhạc cụ hòa nhạc, nhạc thính phòng, sáng tác, và nhạc trưởng. Học viện Ẩm thực California, có liên quan với chương trình Le Cordon Bleu, có các chương trình về nghệ thuật nấu ăn, nghệ thuật nướng và làm bánh bột nhồi, và điều hành nhà hàng và phục vụ khách hàng.
=== Trường tiểu và trung học ===
Các trường công lập do Học khu Thống nhất San Francisco điều hành trong khi đó ban giáo dục tiểu bang đảm trách điều hành một số trường bán công. Trung học Lowell, trường trung học công lập xưa nhất ở phía tây sông Mississippi của Hoa Kỳ, cùng với Trường Trung học Nghệ thuật nhỏ hơn là hai trong số các trường thu hút của San Francisco ở cấp bậc trung học. Dưới 30% dân số độ tuổi đi học của thành phố học tại một trong số hơn 100 trường công lập hay trường do tôn giáo lập, so với tỉ lệ 10% trên toàn quốc. Gần 40 trong số các trường là trường công giáo do Giáo phận San Francisco điều hành.
== Giao thông ==
=== Xa lộ cao tốc và đường lộ ===
Vì vị trí địa lý độc đáo và sự phản đối xây xa lộ cao tốc vào cuối thập niên 1950, nên San Francisco là một trong số ít các thành phố Mỹ có những đường lộ đô thị lớn thay vì có vô số các xa lộ bên trong thành phố.
Xa lộ Liên tiểu bang 80 bắt đầu gần Cầu Vịnh San Francisco – Oakland và là đường nối trực tiếp duy nhất cho xe cộ sang Vịnh East. Quốc lộ Hoa Kỳ 101 nối đến điểm đầu phía tây của Xa lộ Liên tiểu bang 80 và tạo lối đi đến phía nam thành phố dọc theo Vịnh San Francisco về phía Thung lũng Điện tử. Đi hướng bắc, lộ trình của Quốc lộ Hoa Kỳ 101 sử dụng các đường phố: Phố Mission, Đường Van Ness, Phố Lombard, Đường Richardson, và Lộ Doyle để nối đến cầu Cổng Vàng, đây là lối trực tiếp duy nhất cho xe cộ đến Quận Marin và Vịnh North.
Xa lộ Tiểu bang California 1 cũng đi vào San Francisco từ phía bắc qua ngã cầu Cổng Vàng nhưng quay về hướng nam ra khỏi lộ trình của Quốc lộ Hoa Kỳ 101, đầu tiên đi vào Đại lộ Park Presidio qua Công viên Cổng Vàng và rồi cắt hai phần phía tây thành phố trong vai trò là đường lộ thông trên Đường 19, nhập với Xa lộ Liên tiểu bang 280 tại ranh giới phía nam thành phố. Xa lộ Liên tiểu bang 280 tiếp tục lộ trình hướng nam dọc theo phần giữa của bán đảo đến thành phố San Jose. Xa lộ Liên tiểu bang 280 cũng quay về hướng đông dọc theo rìa phía nam của thành phố, kết thúc ngay phía nam cầu vịnh San Francisco trong khu dân cư South of Market. Sau trận động đất Loma Prieta 1989, các lãnh đạo thành phố quyết định phá hủy Xa lộ Cao tốc Embarcadero và cử tri cũng chấp thuận san bằng một phần Xa lộ Cao tốc Central, biến chúng trở thành các đại lộ nằm trên mặt phố.
Xa lộ Tiểu bang California 35, chạy phần nhiều trên chiều dài bán đảo dọc theo sống lưng của Dãy núi Santa Cruz, đi vào thành phố từ phía nam với tên gọi Đại lộ Skyline, đi theo các đường phố thành phố cho đến khi nó chấm dứt tại giao lộ với Xa lộ Tiểu bang California 1. Xa lộ Tiểu bang California 82 đi vào San Francisco từ phía nam với tên gọi Phố Mission, theo con đường của Lộ Hoàng gia lịch sử (tiếng Tây Ban Nha là El Camino Real) và kết thúc ngay sau đó tại giao lộ của nó với Xa lộ Liên tiểu bang 280. Đầu phía tây của Xa lộ Lincoln xuyên lục địa lịch sử là tại Công viên Lincoln. Các đường lộ thông suốt chính chạy hướng đông-tây gồm có Đại lộ Geary, hàng lang Đường Lincoln/Phố Fell, và Phố Market/Đường Portola.
=== Giao thông công cộng ===
32% người dân San Francisco sử dụng giao thông công cộng để đi làm việc hàng ngày, xếp thứ nhất trên Tây Duyên hải Hoa Kỳ và thứ ba trên toàn Hoa Kỳ. "San Francisco Municipal Railway" (nghĩa là Đường sắt khu tự quản San Francisco), được biết như Muni, là hệ thống trung chuyển công cộng chính yếu của San Francisco. Muni là hệ thống trung chuyển lớn thứ bãy tại Hoa Kỳ với 210.848.310 lượt hành khách sử dụng trong năm 2006. Hệ thống này gồm có cả hệ thống xe điện đô thị và xe điện ngầm, gọi là "Muni Metro", và một hệ thống lớn toàn xe buýt. Ngoài ra, hệ thống này cũng điều hành tuyến xe điện thô sơ lịch sử chạy trên Phố Market từ Phố Castro đến Bến Ngư Phủ. Nó cũng điều hành các xe cáp nổi tiếng của San Francisco. Các xe cáp này được chính phủ Hoa Kỳ xếp hạng danh lam lịch sử quốc gia và là một điểm thu hút du khách chính.
"Bay Area Rapid Transit" (có nghĩa Trung chuyển nhanh vùng vịnh), một hệ thống đường ray cấp vùng, nối thành phố San Francisco với Vịnh East (vịnh phía đông) qua Transbay Tube (có nghĩa ống giao thông qua vịnh) nằm dưới nước. Tuyến ống này chạy dưới Phố Market đến Trung tâm Civic nơi nó quay về hướng nam đến Khu Mission ở phần phía nam thành phố và đi qua phía bắc Quận San Mateo đến Sân bay quốc tế San Francisco, và Millbrae. Một hệ thống đường sắt đô thị khác là "Caltrain" chạy từ San Francisco dọc theo bán đảo San Francisco đến San Jose.
"Transbay Terminal" (có nghĩa nhà ga giao thông vịnh) phục vụ trong vai trò một điểm khởi hành hay kết thúc cho các tuyến xe buýt đường dài (thí dụ như hệ thống xe buýt toàn quốc Greyhound) và như xa cảng cho các hệ thống xe buýt vùng như AC Transit (phục vụ các quận Alameda & Contra Costa), WestCAT, SamTrans (phục vụ Quận San Mateo), và Golden Gate Transit (phục vụ Quận Marin và Sonoma).
Amtrak California chạy tuyến xe buýt con thoi từ San Francisco đến ga xe lửa phía bên kia vịnh trong thành phố Emeryville. Các tuyến đường sắt từ trạm Emeryville gồm có Capitol Corridor, San Joaquin, California Zephyr, và Coast Starlight. Cũng có tuyến đường sắt liên thành phố đi miền nam đến San Luis Obispo, California với trạm ngừng và chuyển tiếp qua Pacific Surfliner.
Megabus hiện thời tái phục vụ xe buýt liên thành phố tại tiểu bang California và Nevada. Hành khách San Francisco có thể chọn ba tuyến đường (San Francisco-San Jose-Los Angeles, San Francisco-Oakland-Los Angeles, & San Francisco-Sacramento-Reno). Điểm dừng tại San Francisco nằm trước trạm Caltrain ở ngã tư đường số 4 và Phố King.
"San Francisco Bay Ferry" (có nghĩa Phà Vịnh San Francisco) hoạt động từ nhà ga bến phà và Cầu tàu 39 đến các điểm tại thành phố Oakland, Alameda, Đảo Bay Farm, South San Francisco, và lên phía bắc đến Vallejo trong Quận Solano. "Golden Gate Ferry" (có nghĩa Phà Cổng Vàng) là công ty phà khác, phục vụ giữa San Francisco và Quận Marin. "Soltrans" (có nghĩa là Trung chuyển Quận Solano) phục vụ xe buýt phụ giữa nhà ga phà và Vallejo.
Xe đạp là phương tiện giao thông phổ biến tại San Francisco. 75.000 người dùng xe đạp đi lại làm việc hàng ngày.
Bộ hành cũng là cách giao thông chính. Năm 2011, Công ty tư nhân Walk Score (có nghĩa Ghi điểm đi bộ) xếp thành phố San Francisco là thành phố đi bộ nhiều nhất đứng thứ hai tại Hoa Kỳ.
San Francisco là nơi đầu tiên áp dụng việc cho thuê xe ngắn hạn, tính theo giờ (tiếng Anh là carsharing hay car sharing) tại Hoa Kỳ. Tổ chức bất vụ lợi "City Carshare" mở cửa năm 2001. "Zipcar" không bao lâu sau đó mở cửa.
"Cùng chia sẻ xe đạp" là dự án sẽ được giới thiệu vào tháng 8 năm 2013 cho thành phố San Francisco. Cơ quan Giao thông Khu tự quản San Francisco và Khu Quản lý Chất lượng Không khí Vùng Vịnh có kế hoạch khởi động hệ thống xe đạp gồm 500 chiếc tại trung tâm phố chính San Francisco.
=== Các sân bay ===
Mặc dù nằm cách phía nam phố chính San Francisco khoảng 13 dặm (21 km) trong khu chưa hợp nhất thuộc Quận San Mateo, Sân bay quốc tế San Francisco (SFO) nằm dưới thẩm quyền của thành phố và quận San Francisco. SFO là trung tâm trung chuyển của các hãng hàng không United Airlines và Virgin America. SFO là cửa ngỏ quốc tế chính đến châu Á và châu Âu với nhà ga quốc tế lớn nhất tại Bắc Mỹ. Năm 2011, SFO là sân bay bận rộn thứ 8 tại Hoa Kỳ và thứ 22 trên thế giới, tiếp nhận trên 40,9 triệu hành khách.
Sân bay quốc tế Oakland nằm phía bên kia vịnh. Đây là một sân bay giá rẻ và đông đúc, cho hành khách sự chọn lựa với Sân bay quốc tế San Francisco. Về mặt địa lý, Sân bay quốc tế Oakland nằm cách phố chính San Francisco một khoảng tương tự như Sân bay quốc tế San Francisco nhưng vì vị trí của nó nằm ở phía bên kia Vịnh San Francisco nên khoảng cách lái xe xa hơn từ San Francisco.
=== Hải cảng ===
Cảng San Francisco trước đây từng là một hải cảng lớn nhất và bận rộn nhất trên Tây Duyên hải Hoa Kỳ. Nó gồm có nhiều cầu tàu nằm thẳng góc với bờ vịnh. Cảng tiếp nhận hàng đi và đến từ các nơi liên-Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Hải cảng này là trung tâm tây duyên hải của ngành giao thương gỗ. Cuộc đình công Tây Duyên hải với sự mở màn là cuộc tổng đình công tại San Francisco năm 1934, một hồi quan trọng trong lịch sử công đoàn Mỹ, đã làm cho phần lớn các hải cảng Tây Duyên hải Hoa Kỳ tê liệt. Việc sử dụng các thùng lớn vận chuyển hàng hóa đã khiến cho các hải cảng sử dụng cầu tàu trở nên lỗi thời. Kết cục là đa số bến đổ cho tàu chở hàng hóa thương mại được di chuyển đến Cảng Oakland và Cảng Richmond.
Nhiều cầu tàu vẫn bị bỏ rơi trong nhiều năm cho đến khi Xa lộ Cao tốc Embarcadero bị san bằng để tái mở mặt tiền bờ vịnh và cho phép tái phát triển. Điểm nổi bật của cảng là Tòa nhà bến phà San Francisco. Tuy vẫn còn phục vụ hành khách đi lại bằng phà nhưng tòa nhà đã được chỉnh trang và tái phát triển thành một trung tâm thương mại và dịch vụ ăn uống. Các hoạt động khác của cảng hiện nay tập trung vào việc phát triển bất động sản bên bờ vịnh để hỗ trợ cho ngành du lịch và giải trí.
Hiện nay cảng sử dụng Cầu tàu số 35 để tiếp nhận từ 60-80 lần ghé bến của tàu du lịch và 200.000 hành khách đến thăm San Francisco. Các cuộc hành trình từ San Francisco thường bao gồm các chuyến du lịch bằng tàu đi và về đến Alaska và México. Dự án ga tàu du lịch James R. Herman mới tại Cầu tàu 27 được dự tính mở cửa năm 2014 để thay thế Cầu tàu 35. Nhà ga chính hiện thời tại Cầu tàu 35 không có khả năng tiếp nhận các tàu du lịch mới vừa dài và vừa chở được nhiều hàng khách. Nó cũng không thể cung cấp đầy đủ các tiện nghi cần thiết trong vai trò một ga tàu du lịch quốc tế.
Ngày 16 tháng 3 năm 2013, tàu du lịch Grand Princess thuộc công ty tàu du lịch Princess Cruises trở thành tàu du lịch đầu tiên sử dụng San Francisco làm cảng nhà quanh năm. Chiếc tàu này đưa khách du lịch đến Alaska, bờ biển của California, Hawaii, và México. Chiếc Grand Princess sẽ ở San Francisco cho đến tháng 4 năm 2014.
== Đại sử quán, tổng lãnh sự quán và thành phố kết nghĩa ==
San Francisco tham gia chương trình thành phố kết nghĩa. Tổng số có 41 tổng lãnh sự quán và 23 lãnh sự quán vinh dự có văn phòng tại Vùng Vịnh San Francisco
=== Các cơ quan ngoại giao ngoại quốc ===
=== Thành phố kết nghĩa ===
== Xem thêm ==
Học khu Thống nhất San Francisco
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Thành phố và Hạt San Francisco |
khu vực quốc hội.txt | Một khu vực quốc hội (tiếng Anh: congressional district) là một khu vực bầu cử của quốc hội, được ấn định để bầu lên một thành viên quốc hội duy nhất đại diện cho khu vực đó trong quốc hội. Các quốc gia có các khu vực quốc hội là Hoa Kỳ, Philippines và Nhật Bản.
== Nhật Bản ==
== Philippines ==
== Hoa Kỳ ==
Hiện tại có tất cả 435 khu vực quốc hội trong Hạ viện Hoa Kỳ, mỗi khu vực này đại diện trung bình cho khoảng 600.000 người. Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ thuộc Bộ Thương mại Hoa Kỳ tiến hành điều tra dân số cứ mỗi mười năm 1 lần để lấy các số liệu về dân số giúp quyết định số khu vực quốc hội cho từng tiểu bang. Tiểu bang đông dân nhất Hoa Kỳ là California có nhiều khu vực quốc hội nhất với con số 53 khu vực. Các tiểu bang có duy nhất 1 khu vực quốc hội là: Alaska, Delaware, Montana, Bắc Dakota, Nam Dakota, Vermont, và Wyoming.
=== Phân chia các khu quốc hội ===
Các tiểu bang tại Hoa Kỳ có hơn một dân biểu thì phải được phân chia thành các khu quốc hội mà theo đó mỗi khu quốc hội chỉ bầu ra một dân biểu. Điều này là quy định chính thức của liên bang kể từ năm 1967. Trước khi có quy định này thì một số tiểu bang đã dùng hình thức bầu đại diện trên toàn tiểu bang. Theo hình thức, các tiểu bang sẽ vẽ lại ranh giới khu quốc hội sau mỗi lần điều tra dân số mặc dù họ có thể làm điều này vào dịp khác. Mỗi tiểu bang quyết định về ranh giới giữa các khu quốc hội của mình, bằng cách thông qua luật hoặc qua các ban đặc trách không đảng phái. "Phân chia khu quốc hội sai" là bất hợp hiến và các khu quốc hội phải gần bằng nhau theo dân số. Đạo luật về quyền bầu cử nghiêm cấm các tiểu bang cố biến đổi các khu quốc hội để giảm sức mạnh đầu phiếu của các nhóm dân thiểu số.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Hạ viện Nhật Bản
Hạ viện Philippines
Hạ viện Hoa Kỳ |
titan.txt | Bài này nói về một nguyên tố hóa học. Xem các nghĩa khác, ví dụ như vệ tinh Titan của Sao Thổ, từ Titan (định hướng)
Titan hay titani là một nguyên tố hóa học, một kim loại, có ký hiệu là Ti và số thứ tự trong bảng tuần hoàn là 22. Titan là một kim loại chuyển tiếp có màu trắng bạc, tỉ trọng thấp và độ bền cao. Titan không bị ăn mòn trong nước biển, nước cường toan và clo.
Titan được William Gregor phát hiện ở Cornwall, Anh năm 1791, và nó được Martin Heinrich Klaproth đặt tên theo tên Titan trong thần thoại Hy Lạp. Nguyên tố xuất hiện trong các tích tụ khoáng sản, chủ yếu ở dạng rutil và ilmenit, các khoáng này phân bố rộng khắp trong vỏ Trái đất và thạch quyển, và nó cũng được tìm thấy trong hầu hết các sinh vật sống. vực nước, đá, và đất. Kim loại được tách ra từ các quặng chính của titan bằng phương pháp Kroll và công nghệ Hunter. Hợp chất phổ biến nhất là titan điôxít là một chất quang xúc tác phổ biến và được sử dụng trong công nghiệp sản xuất chất tạo màu trắng. Các hợp chất khác gồm titan tetraclorua (TiCl4), thành phần của smoke screens and catalysts; và titan triclorua (TiCl3), được dùng làm chất xúc tác trong sản xuất polypropylen.
Titan được dùng trong các hợp kim cứng và nhẹ (đặc biệt là với sắt và nhôm) được ứng dụng trong các động cơ phản lực, tên lửa hành trình, và phi thuyền), quân đội, quy trình công nghiệp (hóa học và hóa dầu, nhà máy lọc nước biển, tủy răng, và giấy), hệ tự động, thực phẩm nông nghiệp, bộ phận giả trong y học, cấy chỉnh hình, nha khoa, thiết bị nội nha, đồ thể thao, cấy răng giả, trang sức, điện thoại di động, và các ứng dụng khác.
Hai tính chất được ứng dụng nhiều nhất ở dạng kim loại là chống ăn mòn và tỉ lệ độ bền-tỉ trọng cao nhất trong tất cả các nguyên tố kim loại. Ở dạng không tạo hợp kim, titan bền như thép, nhưng nhẹ hơn. Titan có dạng dạng thù hình và 5 đồng vị tự nhiên 46Ti đến 50Ti, với 48Ti là loại phổ biến nhất (73,8%). Mặc dù chúng có cùng số electron hóa trị và cùng nhóm trong bảng tuần hoàn, titan và zirconi khác nhau nhiều điểm về tính chất hóa học và vật lý
== Đặc điểm ==
=== Vật lý ===
Titan là kim loại nhẹ, cứng nhất trong hầu như các kim loại, bề mặt bóng láng, chống ăn mòn tốt (giống như platin). Nó có thể chống ăn mòn kể cả với axít, khí clo và với các dung dịch muối thông thường.
Ở trạng thái tinh khiết, titan có thể được kéo sợi dễ dàng (nhất là trong môi trường không có ôxy), dễ gia công. Nhiệt độ nóng chảy của titan tương đối cao nên nó được dùng làm kim loại chịu nhiệt. Titan cứng như thép nhưng nhẹ hơn 40%, và nó nặng gấp rưỡi nhôm nhưng cứng gấp sáu lần. Những đặc tính này của titan giúp nó chịu đựng được sự mỏi kim loại.
Là nguyên tố kim loại, titan được xem là có tỉ số tỷ trọng-độ bề cao. Nó là kim loại bền có tỉ trọng thấp, khá dẻo (đặc biệt trong môi trường không có ôxy), lustrous, and metallic-white in color. Điểm nóng chảy tương đối cao (trên 1.650 °C hay 3.000 °F) nên nó rất hữu ích trong vật liệu chịu lửa và độ dẫn điện và dẫn nhiệt tương đối thấp.
Titan thương mại (tinh khiết 99,2%) có độ bền kéo khoảng 434 MPa tương đương hợp kim thép cấp thấp, nhưng mật độ thấp hơn. Titan có mật độ lớn hơn nhôm 60%, nhưng bền gấp đôi so với loại hợp kim nhôm thường được sử dụng là hợp kim nhôm 6061. Các hơp kim titan (như Beta C) có độ bền kéo hơn 1400 MPa (200000 psi). Tuy nhiên, titan giảm độ bền khi nung trên 430 °C (806 °F).
Kim loại này tạo một lớp ôxít bảo vệ bên ngoài (nên nó có thể chống ăn mòn) trong không khí ở nhiệt độ cao nhưng ở nhiệt độ phòng nó chống lại sự xỉn màu. Kim loại này khi được đốt ở 610 °C hoặc cao hơn trong không khí sẽ tạo thành titan điôxít, và nó cũng là một trong những kim loại có thể cháy trong khí nitơ tinh khiết (nó cháy ở 800 °C và tạo thành titan nitrit). Titan cũng không bị tan trong axít sulfuric và dung dịch axít clohyđric, cũng như khí clo, nước clo và hầu hết axít hữu cơ. Nó cũng thuận từ (ít hấp dẫn bởi nam châm) và ít dẫn điện và dẫn nhiệt.
Thực nghiệm cho thấy titan tự nhiên trở nên có tính phóng xạ sau khi bắn đơteri, phát ra chủ yếu hạt positron và tia gamma. Khi nóng đỏ, nó có thể kết hợp với ôxy, và khi đạt tới 550 °C nó có thể kết hợp với clo. Nó có thể phản ứng với các halogen và hấp thụ hyđrô.
=== Xuất hiện trong tự nhiên ===
Titan kim loại không tìm thấy ở dạng tự do nhưng nó là nguyên tố phổ biến thứ 9 trên vỏ Trái Đất (chiếm 0,63% khối lượng), nó xuất hiện trong hầu hết đá lửa và đá trầm tích. Trong 801 loại đá mácma được phân tích thì có đến 784 loại là chứa titan. Tỷ lệ của nó trong đất khoảng 0,5 đến 1,5%. Nó cũng được phân bố rộng khắp và hiện diện chủ yếu trong khoáng vật anatas, brookit, ilmenit, perovskit, rutil, titanit (hay còn gọi là sphen), cũng như trong nhiều quặng sắt. Trong các loại khoáng vật này, chỉ có ilmenit và rutil có giá trị kinh tế quan trọng, nhưng rất khó tìm với mức độ tập trung cao, theo thứ tự là 6,0 và 0,7 triệu tấn được khai thác trong năm 2011. Các mỏ ilmenit chứa titan đáng kể phân bố ổ tây Úc, Trung Quốc, Ấn Độ, Mozambique, New Zealand, Na Uy, Ukraine và Nam Phi. Khoảng 186.000 tấn titan kim loại được sản xuất năm 2011, chủ yếu ở Trung Quốc (60.000 tấn), Nhật Bản (56.000 tấn), Nga (40,000 tấn), Hoa Kỳ (32.000 tấn) và Kazakhstan (20.700 tấn). Tổng trữ lượng titan ước tính hơn 600 triệu tấn.
Nồng độ Ti khoảng 4 picomolar trong đại dương. Ở 100 °C, nồng độ titan trong nước nước tính khoảng dưới 10−7 M với pH 7. Việc xác định loại titan trong dung dịch vẫn còn chưa sáng tỏ do tính tan của nó thấp và thiếu các phương pháp quang phổ hiển vi nhạy cảm để xác định, mặc dù chỉ trạng thái ôxy hóa 4+ là ổn định tỏng không khí. Không có bằng chứng về vai trò sinh học của titan, mặc hiếm sinh vật được biết là có tích tụ nồng độ cao.
Kim loại này được tìm thấy trong thiên thạch và cũng đã được tìm thấy trong Mặt Trời và trong các ngôi sao loại M, là các sao lạnh nhất với nhiệt độ bề mặt 3.200 °C (5.790 °F). Đá từ Mặt Trăng do tàu vũ trụ Apollo 17 mang về chứa 12,1% TiO2. Titan cũng được tìm thấy trong tro than, cây và cả trong cơ thể con người.
=== Đồng vị ===
Trong tự nhiên, titan có 5 đồng vị bền: Ti-46, Ti-47, Ti-48, Ti-49 và Ti-50 với Ti-48 là phổ biến nhất (chiếm 73,8%). 11 đồng vị phóng xạ được nhận biết với Ti-44 là bền nhất với chu kỳ bán rã là 63 năm, Ti-45 với chu kỳ bán rã là 184,8 phút, Ti-51 với chu kỳ bán rã 5,76 phút, và Ti-52 với chu kỳ bán rã 1,7 phút. Tất cả đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã dưới 33 giây và có loại ít hơn ½ giây.
Các đồng vị của titan có phân tử lượng 39,99 đơn vị (amu) (Ti-40) tới 57,966 amu (Ti-58). Cơ chế phân rã chủ yếu trước đổng vị bền phổ biến nhất 48Ti, là bắt electron và cơ chế phân rã chủ yếu sau là phát xạ beta. Sản phẩm phân rả chính trước 48Ti là các đồng vị 21 (scandi) và các sản phẩm phân rã sau là các đồng vị 23 (vanadi).
Titani có tính phóng xạ khi bị bắn phá bẳng deuteron, phát ra chủ yếu là positron và các tia gamma mạnh.
== Lịch sử ==
Titan được phát hiện ở dạng bao thể trong một khoáng vật ở Cornwall, Vương quốc Anh, năm 1791 bởi nhà địa chất học và linh mục William Gregor, sau này là Creed. Ông đã nhận ra sự có mặt của nguyên tố mới trong ilmenit (FeTiO3) và đặt tên nó là menachit khi ông thấy cát đen trong một dòng suối ở gẩn Manaccan và phát hiện rằng loại cát này có thể bị nam châm hút. Khi phân tích cát, ông xác định được sự hiện diện của 2 ôxit kim loại là sắt ôxít (giải thích cho việc hút nam châm) và 45,25t% một ôxit kim loại mà ông chưa thể xác định. Nhận thấy rằng ôxit chưa xác định được chứa một kim loại mà không thể khớp với bất kỳ nguyên tố nào đã biết, Gregor đã thông báo rằng các phát hiện của ông đến Hiệp hội địa chất hoàng gia Cornwall (Royal Geological Society of Cornwall) và tạp chí khoa học Đức Crell's Annalen.
Cùng khoảng thời gian đó, Franz Joseph Muller cũng tạo ra một chất tương tự, nhưng không thể xác định nó. Nguyên tố được phát hiện lại một cách độc lập nhiều năm sau bởi nhà hóa học người Đức Martin Heinrich Klaproth trong quặng rutil ở Boinik, thuộc Hungary (nay ở Slovakia). Klaproth xác nhận nó là nguyên tố mới vào năm 1795 và đặt tên cho nó là Titan. Sau khi nghe về phát hiện trước đó của Gregor, ông đã lấy mẫu manaccanit và xác nhận nó chứa titan.
Titan được lấy từ tên thần Titan, các con của Gaia và Uranus.
Kim loại này luôn khó tách ra được từ các quặng của nó. Titan kim loại tinh khiết (99,9%) được tách ra lần đầu vào năm 1910 bởi Matthew A. Hunter bằng cách nung TiCl4 với natri trong bom thép ở 700–800 °C bằng quy trình Hunter. Titan kim loại chưa được dùng bên ngoài phòng thí nghiệm cho đến năm 1946 khi William Justin Kroll chứng minh là titan có thể sản xuất thương mại bằng cách khử titan têtraclo với magiê bằng quy trình Kroll và phương pháp này vẫn còn dùng đến ngày nay.
Trong thập niên 1950–1960, Liên Xô mua hết titan trên thị trường thế giới như là một chiến thuật của Chiến tranh Lạnh nhằm ngăn cản quân đội Mỹ sử dụng nó. Mặc dầu vậy, Mỹ cũng có được một lượng lớn titan khi các công ty châu Âu mở mặt trận cho tình báo Mỹ mua nó.
== Sản xuất ==
Các quy trình sản xuất titan hiện hay được sử dụng:
Quy trình Kroll được phát triển vào năm 1946
Quy trình FFC Cambridge
Quy trình van Arkel deBoer sản xuất lượng nhỏ titan với độ tinh khiết rất cao
Titan điôxit được sản xuất thương mại bằng nghiền quặng và trộn với kali cacbonat và dung dịch axít flohyđric. Kết quả thu được kali florotitanat (K2TiF6). Nó được tách ra với nước nóng và thủy phân với axit photphoric
Hợp kim titan thông dụng thường được sản xuất bằng phương pháp khử. Thí dụ: cuprotitanium (rutil và đồng bị khử), ferrocacbon titanium (ilmenit khử với than cốc trong lò nung điện), và manganotitanium (rutil với mangan hoặc mangan ôxít bị khử).
== Hợp chất ==
Số ôxi hóa +4 chiếm đa số trong các hợp chất của titan, nhưng số ôxi hóa +3 cũng khá phổ biến. Vì có số ôxi hóa cao, nhiều hợp chất của titan có mức độ cộng hóa trị cao.
Mặc dù titan là kim loại khá hiếm, vì giá thành sản xuất cao, nhưng titan điôxít (còn gọi là titan(IV), titan trắng, hay titania) lại rẻ, không độc, có sẵn nhiều, và được dùng rộng rãi làm thuốc nhuộm trắng trong sơn, men, sơn mài, nhựa và xi măng xây dựng. Bột TiO2 là chất trơ về mặt hóa học, chống mờ trước ánh sáng mặt trời, chắn sáng tốt: nó là thành phần chính của nhựa gia dụng có màu từ trắng tới nâu, xám. Trong tự nhiên hợp chất này được tìm thấy trong các khoáng chất anatas, brookit và rutil.
Sơn được sản xuất từ titan điôxit chịu đựng tốt trong nhiều nhiệt độ, và có khả năng tự làm sạch, và chịu được điều kiện môi trường biển. Titan điôxit có độ khúc xạ cao và độ tán sắc lớn hơn kim cương.
== Ứng dụng ==
Khoảng 95% lượng titan được dùng ở dạng titan điôxít (TiO2), một thuốc nhuộm trắng trong sơn, giấy, kem đánh răng và nhựa. Sơn được làm từ titan điôxít phản chiếu tốt bức xạ hồng ngoại nên được dùng rộng rãi trong ngành thiên văn học và các loại sơn bên ngoài. Nó cũng được dùng trong xi măng, đá quý và giấy.
Vì có khả năng kéo dãn tốt (kể cả khi nhiệt độ cao), nhẹ, chống ăn mòn tốt, và khả năng chịu đựng nhiệt độ rất cao, hợp kim titan được dùng chủ yếu trong hàng không, xe bọc thép, tàu hải quân, tàu vũ trụ và tên lửa,áo chống đạn loại mà lính Mỹ được trang bị ởIraq. Nó được dùng trong hợp kim thép để giảm kích thước và chống ôxi hóa; nhưng trong thép không gỉ nó dùng để giảm lượng cácbon. Titan thường được luyện với nhôm, vanađi, đồng (để cứng thêm), sắt, mangan, môlípđen và với nhiều kim loại khác.
Hợp kim với vanađi được dùng làm vỏ máy bay, vỏ chịu nhiệt, càng đáp, và ống dẫn hơi nước. Báo cáo của Titanium Metals Corporation năm 2004 ước đoán lượng titan trong hàng không hiện đại là 58, 43 và 18 tấn cho máy bay Boeing 777, 747 và 737; còn đối với máy bay Airbus là 24, 17 và 12 tấn cho các loại A340, A330 và A320. Nói chung, các loại càng mới thì dùng càng nhiều và các loại thân rộng dùng nhiều nhất. Với các loại máy bay hiện đại nhất, Boeing 787 có thể dùng 91 tấn, và Airbus A380 dùng 77 tấn. Động cơ dùng khoảng 10-11 tấn titan.
Nhiều sản phẩm khác cũng dùng titan để chế tạo như gậy đánh golf, xe đạp, dụng cụ thí nghiệm, nhẫn cưới và máy tính xách tay.
Các công dụng khác:
Do chống ăn mòn tốt với nước biển, titan được dùng làm chân vịt và nơi trao đổi nhiệt trong các máy lọc nước mặn.
Dùng để sản xuất các loại đá quý mềm nhân tạo.
Titan tetraclo (TiCl4), dung dịch không màu, được dùng làm kính ngũ sắc; nó cũng tạo khói khi gặp không khí ẩm nên được dùng làm chất tạo khói.
Titan điôxít (TiO2) cũng được dùng làm thuốc chống nắng.
Do được xem như trơ về mặt sinh học, nó được dùng làm các khớp giả, các dụng cụ y tế và các ống dẫn trong chế biến thực phẩm.
Hợp kim titan được dùng làm gọng kính. Loại gọng này khá đắt tiền, nhưng nó rất bền. Cả hai loại hợp kim bình thường và hợp kim nhớ vị trí (tiếng Anh shape memory alloy) đều được sử dụng để chế tạo.
Titan đôi khi cũng được dùng để xây dựng các công trình. Tượng đài cao 45 m của Yuri Gagarin ở Moskva được làm từ titan. Bảo tàng Guggenheim và thư viện Cerritos là những công trình đầu tiên ở châu Âu và Bắc Mỹ được bao bọc bởi các tấm titan.
== Xử lý sinh học ==
Loài nấm Marasmius oreades và Hypholoma capnoides có thể chuyển đổi sinh học titan trong đất bị nhiễm tian.
== Chống chỉ định ==
Titan không độc hại thậm chí khi ở liều lượng lớn và không có bất cứ vai trò tự nhiên nào trong cơ thể người. Nếu ăn một lượng khoảng 0,8 mg mỗi ngày, chúng hầu hết đi qua mà không hấp thụ trong các tế bào. Tuy nhiên, Titan cũng có khuynh hướng tích lũy sinh học trong các mô chứa silic điôxit. Một nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên hệ có thể giữa titan và hội chứng vàng móng tay. Cơ chế chưa rõ trong thực vật có thể sử dụng titan để kích thích việc sản xuất carbohydrat và giúp chúng phát triển. Điều này có thể giải thích tại sao hầu hết thực vật chứa khoảng 1 ppm titan, cây lương thực có khoảng 2 ppm, và đuôi ngựa và cây tầm ma chứa tới 80 ppm.
Khi ở dạng bột kim loại, titan có nguy cơ cháy cao, và khi nung nóng trong không khí thì có nguy cơ nổ. Phương pháp chữa cháy bằng nước và cacbon điôxit không hiệu quả đối với vụ cháy do titan. Cát, đất, hoặc bột đặc biệt mới có thể dập tắt. Khi sử dụng trong sản xuất hoặc vận chuyển clo, tránh sự tiếp xúc giữa titan với khí clo khô vì nó có thể gây cháy titan/clo. Muối của titan thường được xem như vô hại trừ các loại muối clorua, như TiCl3 và TiCl4, nó được xem như chất ăn mòn.
Titan có thể bắt lữa ở dạng tươi, tức bề mặt không bị ôxy hóa khi tiếp xúc với ôxy lỏng. Kim loại tương có thể lộ ra khi bề mặt ôxy hóa bị trầy xước với vật cứng, hoặc khi bị tác dụng lực gây trầy. Điều này thể hiện sự hạn chế trong việc sử dụng nó trong hệ thống ôxy lỏng như trong công nghiệp vũ trụ. Do tính không tinh khiết của các ống titan có thể gây ra các đám cháy khi tiếp xúc với ôxy, titan bị cấm sử dụng trong các hệ thống hỗ hô hấp cung cấp khí ôxy. Ống thép được sử dụng trong hệ thống áp lực cao (3.000 p.s.i.) và ống nhôm cho hệ thống áp lực thấp.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Los Alamos National Laboratory – Titanium
Guide to the Elements – Revised Edition, Albert Stwertka, (Oxford University Press; 1998) ISBN 0-19-508083-1
The History and Use of Our Earth's Chemical Elements: A Reference Guide, Robert E. Krebs (Greenwood Press: Westport, CT, 1998) ISBN 0-313-30123-9
"titanium" Encyclopædia Britannica from Encyclopædia Britannica Premium Service.[1] [Accessed ngày 23 tháng 1 năm 2005].
"titanium" The Columbia Electronic Encyclopedia, 6th ed [2] [Accessed ngày 23 tháng 1 năm 2005]
"titanium," Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2005 [3] [Accessed ngày 24 tháng 1 năm 2005]
USGS Titanium Statistics and Information
Nature, Vol 407, 21 Sept 2000
== Liên kết ngoài ==
(bằng tiếng Việt)
Sản xuất ôxít titan
(bằng tiếng Anh)
WebElements.com – Titanium (also used as a reference)
Metallurgy of Titanium and its Alloys, Cambridge University
World Production of Titanium Concentrates, by Country |
rupee nepal.txt | Rupee (tiếng Nepal: रूपैयाँ) là đơn vị tiền tệ chính thức của Nepal. Mã ISO 4217 của đồng tiền này hiện là NPR và thường được ký hiệu ₨. Một rupee Nepal được chia nhỏ thành 100 paisa. Ngân hàng Rastra Nepal là cơ quan kiểm soát phát hành tiền rupee Nepal. Ngoài Nepal, một số quốc gia khác cũng có đồng tiền tên là rupee.
== Lịch sử ==
Đồng rupee Nepal ra mắt năm 1932 thay thế cho đồng mohar Nepal bạc; tỉ lệ chuyển đổi là 2 mohar = 1 rupee. Ban đầu, đồng rupee được gọi là mohru trong tiếng Nepal Bhasa. Năm 1993, đồng tiền được neo tỷ giá với đồng rupee Ấn Độ ở mức 1,6 rupee Nepal = 1 rupee Ấn Độ.
== Tiền xu ==
Năm 1932, đồng xu bằng bạc mệnh giá 20 paisa, 50 paisa và 1 rupee được ra mắt. Tiếp sau đó là đồng xu bằng đồng mệnh giá 1, 2 và 5 paisa được ra mắt trong thời gian từ 1933 đến 1935. Thập niên 1940, người ta bổ sung thêm đồng xu bằng đồng mệnh giá ¼ và ½ paisa, đồng xu nickel-đồng thau mệnh giá 5 paisa. Năm 1953, bộ tiền xu mới ra đời, bao gồm các đồng 1, 2 và 4 paisa làm bằng đồng thau; 5 và 10 paisa làm bằng đồng; 20, 25, 50 paisa và 1 rupee làm bằng đồng-nickel. Sau 1954 không còn lưu hành đồng xu 20 paisa.
Năm 1966, ra mắt đồng xu 1, 2 và 5 paisa làm bằng nhôm và đồng xu 10 paisa làm bằng đồng thau. Năm 1982, ra mắt đồng xu 25 paisa làm bằng nhôm. Các năm 1987 và 1988, ra mắt đồng xu 50 paisa và 1 rupee làm bằng thép không gỉ. Năm 1994, phát hành thêm đồng xu mệnh giá 10 và 25 paisa, bên cạnh đó là 50 paisa bằng nhôm.
== Giấy bạc ==
Ngày 17 tháng 9 năm 1945, Chính phủ ra mắt giấy bạc mệnh giá 5, 10 và 100 rupe, trên đó không gọi là rupee mà gọi là mohru bằng tiếng Nepal. Ngân hàng Rastra Nepal nắm quyền phát hành tiền vào năm 1960. Năm 1969, phát hành tiền giấy mệnh giá 1000 rupee, kế tiếp là 500 rupee (1971), 50 rupee (1977) và 2 rupee (1981), sau khi ngừng in tiền giấy 1 rupee. Năm 1982, bổ sung giấy bạc mệnh giá 20 rupee. Nepal không in tiền giấy 1 và 2 rupee nữa, tuy nhiên các tiền cũ vẫn có giá trị trong lưu thông.
Năm 1997, nhân dịp kỉ niệm 25 năm lễ đăng quang của Birendra Bir Bikram Shah, ngân hàng quốc gia phát hành giấy bạc 25 và 250 rupee.
Kể từ năm 2007, việc in tiền giấy rupee Nepeal do công ty in tiền quốc gia Perum Peruri của Indonesia đảm nhận.
== Xem thêm ==
Kinh tế Nepal
== Tham khảo == |
danh sách các quốc gia châu á theo gdp trên người 2012.txt | Danh sách các quốc gia châu Á theo GDP trên người 2012 là bảng thống kê về GDP trên người 2012 của 52 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á. Ngoài 47 quốc gia độc lập, là thành viên của Liên Hiệp Quốc, còn có các vùng lãnh thổ khác như: Hong Kong, Macau, Đài Loan, Bắc Síp và Palestine. Trong danh sách này, Qatar là quốc gia có thu nhập bình quân trên người cao nhất châu Á, với 104.756 USD/người, tiếp sau là Macau với 78.275 USD/người, Hong Kong với 52.052 USD người. Quốc gia có thu nhập bình quân trên người thấp nhất châu Á năm 2012 là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên chỉ có 583 USD/người, xếp áp chót là Afghanistan với 633 USD/người. Trong các quốc gia châu Á, chỉ riêng Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Cộng hòa Síp là có GDP trên người xục giảm hơn so với đầu thời kỳ Đại suy thoái 2009-2012.
Bảng thống kê được trích số liệu từ nguồn GDP trên người 2012 của Quỹ tiền tệ Quốc tế-IMF, những lãnh thổ hay quốc gia không được IMF thống kê, được bổ sung từ các nguồn Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới-WB hay CIA Facebook.
== Đọc thêm ==
Danh sách các quốc gia châu Á theo GDP trên người 2009
== Tham khảo == |
hãy phá đổ bức tường này.txt | "Hãy phá đổ bức tường này" (Tear down this wall) là một phần của một bài diễn văn nổi tiếng của Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan mà trong đó ông thách thức nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Sergeyevich Gorbachyov hãy phá bỏ Bức tường Berlin.
Trong một bài diễn văn đọc tại Cổng Brandenburg cạnh Bức tường Berlin vào ngày 12 tháng 6 năm 1987, Reagan đã thách thức Gorbachyov (lúc đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô) hãy phá bỏ bức tường để biểu hiện sự ước muốn của Gorbachyov trong việc làm gia tăng sự tự do trong khối Xô Viết. Mặc dù bức tường là trách nhiệm của chính quyền Đông Đức, nhưng Hoa Kỳ coi Đông Đức là một chính phủ bù nhìn của Xô Viết.
Reagan đã đọc bài diễn văn "hãy phá đổ bức tường này", được Peter Robinson soạn, mặc dù gặp nhiều phản đối từ cả Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Hội đồng An ninh Quốc gia. Phó Cố vấn An ninh Quốc gia (và là Bộ trưởng Ngoại giao tương lai) Colin Powell là một trong những người trong chính phủ Hoa Kỳ chống đối mạnh mẽ nhất.
Những câu nổi tiếng nhất trong bài diễn văn như sau:
(Tổng Bí thư Gorbachev, nếu ông mưu tìm hòa bình, nếu ông mưu tìm thịnh vượng cho Liên Xô và Đông Âu, nếu ông mưu tìm giải phóng, hãy đến đây nơi cổng này. Ông Gorbachev, hãy mở cổng này. Ông Gorbachev, hãy phá đổ bức tường này!)
Vào ngày 18 tháng 10 năm 1989, nhà lãnh đạo Đông Đức Erich Honecker từ chức, và vào ngày 9 tháng 11, các người lãnh đạo mới của Đông Đức nới lỏng hạn chế cho dân Đông Đức rời khỏi quốc gia, ngay lập tức đánh dấu sự sụp đổ của Bức tường Berlin.
Có nhiều tranh cãi về mức độ ảnh hưởng, nếu có, mà sự thách thức đó mang đến. Có vài nguồn nói rằng sự sụp đổ của bức tường theo sau đó là bằng chứng rằng bài diễn văn là điểm bắt đầu cho sự thay đổi trong khi những nguồn khác thì cho rằng bài diễn văn của Reagan chỉ đơn giản đúng thời vận mà thôi. Tuy nhiên không ai nghi ngờ sự chống đối cương quyết của Reagan với giới lãnh đạo Xô Viết là một yếu tố chính trong việc lật đổ các chính thể cộng sản, xảy ra trong hai năm ngay sau khi ông rời nhiệm sở tổng thống.
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Peter Robinson, It's My Party: A Republican's Messy Love Affair with the GOP, 2000, hardcover, Warner Books, ISBN 0-446-52665-7
== Xem thêm ==
Bức tường Berlin
Ich bin ein Berliner
== Liên kết ngoài ==
Full text and audio MP3 of the speech
Media met its match - obituary crediting Reagan with getting rid of the Berlin Wall |
kỷ dậu.txt | Kỷ Dậu (chữ Hán: 己酉) là kết hợp thứ 46 trong hệ thống đánh số Can Chi của người Á Đông. Nó được kết hợp từ thiên can Kỷ (Thổ âm) và địa chi Dậu (gà). Trong chu kỳ của lịch Trung Quốc, nó xuất hiện trước Canh Tuất và sau Mậu Thân.
== Các năm Kỷ Dậu ==
Giữa năm 1700 và 2200, những năm sau đây là năm Kỷ Dậu (lưu ý ngày được đưa ra được tính theo lịch Việt Nam, chưa được sử dụng trước năm 1967):
1729
1789
1849
1909 (22 tháng 1, 1909 – 10 tháng 2, 1910)
1969 (16 tháng 2, 1969 – 6 tháng 2, 1970)
2029 (13 tháng 2, 2029 – 2 tháng 2, 2030)
2089 (10 tháng 2, 2089 – 30 tháng 1, 2090)
2149
== Sự kiện năm Kỷ Dậu ==
Kỷ Dậu 1789 - Vua Quang Trung chiến thắng quân Thanh.
Kỷ Dậu 1789 - Cách mạng Pháp thành công.
== Tham khảo == |
đánh máy.txt | Đánh máy là quá trình viết hoặc nhập văn bản bằng cách nhấn các phím trên một máy đánh chữ, bàn phím máy tính, điện thoại di động hoặc một máy tính. Việc đánh máy được phân biệt với các kiểu nhập văn bản khác, chẳng hạn như chữ viết tay hay nhận dạng bằng giọng nói.
Người đánh máy đầu tiên trên thế giới chính là Lillian Sholes từ Wisconsin Cô là con gái của Christopher Sholes người đã phát minh ra máy đánh chữ đầu tiên trên thế giới.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
DigitalLearn.org: Getting Started on the Computer - the Keyboard
GCFLearnFree.org - 5 free sites for learning how to type
FreeTypingGame.net - Free lessons, tests, and games
Typing Study - Free online touch typing lessons, speed tests, typing games
Sense Lang - Online touch typing lessons
klkt - A keyboard trainer
Klavaro - A free touch typing tutor for multiple platforms |
đá tây nam.txt | Đá Tây Nam hay còn gọi là bãi Tây Nam (tiếng Anh: chưa rõ; giản thể: 东坡礁; bính âm: Dōngpō jiāo, Hán-Việt: Đông Pha tiêu) là một rạn san hô thuộc cụm Bình Nguyên của quần đảo Trường Sa. Đá này nằm về phía đông nam của đá Khúc Giác và phía đông bắc của đá Phật Tự.
Đá Tây Nam là đối tượng tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, Philippines và Trung Quốc. Hiện chưa rõ nước nào thực sự kiểm soát rạn san hô này.
== Tham khảo == |
thanh giáo.txt | Các sử gia và những người chỉ trích xem các tín hữu Cơ Đốc theo khuynh hướng Thanh giáo ở Anh vào thế kỷ 16 và 17 là những người tìm kiếm "sự tinh tuyền" trong thần học và thờ phượng. Thuật từ này cũng được dùng để chỉ những người từ chối chấp nhận cuộc cải cách tôn giáo của Giáo hội Anh, và những người chủ trương tách rời khỏi quốc giáo được xác lập theo Định chế Tôn giáo thời Elizabeth. Theo một ý nghĩa đặc biệt, thuật từ này được áp dụng cho những người muốn nhổ bỏ khỏi Anh giáo mọi giáo thuyết và giáo nghi, theo quan điểm của họ, không xuất phát từ giáo huấn của Kinh Thánh. Chỉ có một số ít người Thanh giáo chủ trương tách rời khỏi giáo hội dưới thời Vua James I, phần lớn muốn ở lại và vận động thay đổi giáo hội.
== Từ nguyên ==
Dù đã được nhắc đến từ thế kỷ 3, thuật từ "Thanh giáo" chỉ được áp dụng cho một số giáo hội Kháng Cách kể từ thế kỷ 16 đến nay. Cũng nên biết rằng những người Thanh giáo không sử dụng thuật từ này cho chính họ. Từ những năm 1560, thuật từ này được xem như một cách gọi thể hiện sự chế giễu. "Thanh giáo" được dùng để chỉ một khuynh hướng tôn giáo hơn là một giáo phái riêng biệt.
Động năng thần học chủ đạo được xem là trọng tâm của Thanh giáo là Thần học Calvin, là nền thần học đã giúp hình thành các giáo hội Trưởng Lão, Baptist và Tự trị Giáo đoàn.
== Xác tín ==
Nguyên lý trọng tâm của Thanh giáo là quyền tể trị của Thiên Chúa trên mọi diễn biến xảy ra trong lịch sử loài người, nhất là trong hội thánh. Nguyên lý này được trình bày trong Kinh Thánh. Do đó, mỗi cá nhân và toàn thể hội thánh cần phải sống và hành xử theo giáo huấn của Kinh Thánh, tìm kiếm sự thánh khiết trong nếp sống đạo đức, cũng như sự tinh tuyền trong hội thánh đến mức độ cao nhất.
Các lý tưởng xã hội của người Thanh giáo bắt nguồn từ giáo huấn của Kinh Thánh, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến vai trò của phụ nữ và nam giới trong cộng đồng. Để trở nên thuộc viên của hội thánh, theo quan điểm Thanh giáo, không chỉ cần theo đuổi nếp sống tin kính và hiểu biết đầy đủ về các nguyên lý căn bản của đức tin Cơ Đốc mà còn cần có những trải nghiệm về dấu chứng của ân điển Thiên Chúa tác động đến linh hồn của tín hữu. Chỉ có những người có thể trình bày các chứng cứ hiển nhiên về trải nghiệm qui đạo của mình mới được chấp nhận là thuộc viên của hội thánh.
Về trải nghiệm cá nhân, Thanh giáo dạy rằng bởi ân điển của Chúa mỗi người cần được tiếp tục đổi mới luôn, hầu có thể tranh đấu với bản thân chống lại áp lực của tội lỗi mỗi ngày, để có thể theo đuổi nếp sống công chính đẹp lòng Chúa. Mỗi tín hữu Cơ Đốc cần phải sống kiêm nhường và tuân phục Chúa. Văn hóa Thanh giáo nhấn mạnh đến nhu cầu tự xét mình, nghiêm khắc tự tra xét mọi hành vi và cảm xúc trong đời sống hằng ngày. Đây cũng là nguyên lý trọng tâm của trải nghiệm Tin Lành. Một đặc điểm khác của văn hóa Thanh giáo là phụ nữ được xem là nhân tố chính trong nỗ lực bảo vệ và duy trì các giá trị gia đình.
Về giáo nghi, người Thanh giáo tin rằng sự thờ phượng trong nhà thờ cần được qui chuẩn nghiêm nhặt. Lễ thờ phượng trong các nhà thờ Thanh giáo thường chú trọng đến tính đơn giản, và hạn chế đến mức tối đa các nghi thức, với tâm điểm là phần luận giải Kinh Thánh. Giống thời kỳ các giáo phụ, người Thanh giáo hạn chế việc sử dụng các loại nhạc cụ trong lễ thờ phượng. Tuy nhiên, họ yêu thích và khuyến khích sự phát triển âm nhạc trong đời sống thường nhật.
Một đặc điểm quan trọng khác của Thanh giáo là quan điểm của họ về mối quan hệ giữa giáo hội và nhà nước. Họ chống đối tư tưởng Anh giáo về sự kiểm soát của vương quyền đối với giáo hội. Theo Calvin, chỉ có Chúa Cơ Đốc là Đầu của hội thánh, trên trời và dưới đất (không phải Giáo hoàng, cũng không phải vương quyền). Tuy nhiên, họ tin rằng các bậc cầm quyền phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa nhằm thực thi quyền lực để bảo vệ, khuyến khích, và ban thưởng những người theo đuổi nếp sống đức hạnh, trong đó có "đạo thật", và trừng phạt kẻ ác – lập trường này nên được miêu tả như là không can thiệp hơn là phân lập giữa giáo hội và nhà nước.
Các xác tín khác của Thanh giáo gồm có:
Quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng tập quán nghiên cứu Kinh Thánh hằng ngày của mỗi tín hữu.
Tập chú vào nỗ lực giáo dục và khai sáng mọi người (nhất là để mỗi người có thể tự đọc Kinh Thánh)
Quyền tư tế của mỗi tín hữu (mọi người đều bình đẳng trước Thiên Chúa, và tiếp nhận sự cứu rỗi mà không cần thông qua giai cấp trung gian).
Tính đơn giản trong thờ phượng, không sử dụng lễ phục, ảnh tượng, nến...
Không cử hành những ngày lễ truyền thống, vì họ tin rằng điều này vi phạm các nguyên tắc thờ phượng của Thanh giáo.
Giữ ngày Sabbath là bổn phận của mọi tín hữu. Người Thanh giáo tin rằng ngày Sabbath của hội thánh là Chúa nhật.
Một số người Thanh giáo ủng hộ hệ thống tăng lữ trong giáo hội, nhưng đa phần theo đuổi mục tiêu cải tổ các giáo hội theo thể chế Giám mục sang mô hình trưởng lão. Nhiều người Thanh giáo chấp nhận thể chế tự trị giáo đoàn.
Bên cạnh chủ trương khuyến khích nền giáo dục phổ thông dành cho tín hữu, người Thanh giáo đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo về học thuật cho các mục sư, để họ có thể đọc Kinh thánh trong nguyên văn tiếng Hi Lạp, tiếng Hebrew, hoặc tiếng Aram, am tường về truyền thống hội thánh cổ đại và đương đại, cũng như các môn học liên quan. Phần lớn các nhà thần học Thanh giáo đều trải qua giai đoạn nghiên cứu nghiêm túc ở các học viện nổi tiếng như Đại học Oxford và Đại học Cambridge trước khi nhận lãnh thánh chức.
== Đời sống gia đình ==
Theo niềm tin Thanh giáo, trật tự của công cuộc sáng tạo là: thế giới được tạo dựng cho con người, và con người được tạo dựng cho Thiên Chúa. Thế giới được tạo dựng theo tôn ti trật tự, tương tự như vậy là xã hội loài người. Người Thanh giáo xem trọng hệ thống tôn ti trật tự trong xã hội vì xem đó là "ý chỉ của Chúa muốn loài người sống trong xã hội, trước tiên là Gia đình, kế đó là Hội thánh, và thứ ba là Cộng đồng." Trật tự trong gia đình được xem là cấu trúc nền tảng. Không giống với các di dân vào thời ấy – thường là những người đàn ông độc thân tìm đến vùng đất mới – người Thanh giáo di cư đến vùng New England theo đơn vị gia đình. Thế hệ tiên phong trong đợt di dân đầu tiên (1630 – 1640) tin rằng người vợ Thanh giáo tốt không nên nấn ná ở nước Anh, mà cần phải sống bên cạnh chồng trong nỗ lực phụng sự Chúa. Họ cũng nhấn mạnh đến thẩm quyền của nam giới trong cương vị chủ gia đinh. Giống các phụ nữ thời ấy, người vợ Thanh giáo ở New England không có quyền sở hữu tài sản, nhưng được giao quyền cai quản gia đình. Luật pháp Massachusetts không cho phép người chồng đòi hỏi người vợ làm bất cứ điều gì trái với giáo huấn Kinh Thánh. Người Thanh giáo tin rằng người vợ bình đẳng với chồng trong lãnh vực thuộc linh. Một tác giả Thanh giáo, Thomas Gataker, trình bày ý nghĩa hôn nhân theo Thanh giáo như sau:
Dù phải phục tùng chồng theo quy ước xã hội, phụ nữ được xem là bình đẳng với nam giới trong lĩnh vực tâm linh và khi kết hợp với nhau trong hôn nhân. Do đó, người phụ nữ Thanh giáo được mặc nhận có thẩm quyền trong việc quản trị gia đình và giáo dưỡng con cái. Người Thanh giáo tin rằng tình mẫu tử là khía cạnh cao quý nhất của tính cách người phụ nữ. Người mẹ Thanh giáo nên nỗ lực giáo dưỡng con mình theo đuổi nếp sống công chính và trải nghiệm sự cứu rỗi.
Trong cộng đồng Thanh giáo ở New England, gia đình là đơn vị căn bản của xã hội. Trong gia đình, người Thanh giáo thực thi và hoàn chỉnh các giá trị tôn giáo, đạo đức, và xã hội; từ đó đáp ứng các kỳ vọng của cộng đồng. Mối quan hệ bên trong gia đình hạt nhân, cùng với sự tương tác giữa gia đình với cộng đồng, là đặc điểm để phân biệt một cộng đồng Thanh giáo với các cộng đồng định cư khác. Thẩm quyền và lòng tuân phục được xem trọng trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình Thanh giáo. Tình yêu chân chính đồng nghĩa với kỷ luật đúng mức. Trong một xã hội không hề có cảnh sát thì gia đình là đơn vị căn bản đảm nhiệm chức trách này. Bởi vì trọng trách giáo dưỡng trẻ con thuộc về phụ nữ, nên trải nghiệm về sự cứu rỗi được xem là chuẩn mực hàng đầu đối với người làm mẹ. Người Thanh giáo xem việc giáo huấn trẻ nhỏ là giai đoạn chuẩn bị cho trải nghiệm tiếp nhận đức tin Cơ Đốc của chúng sau này.
== Giáo dục ==
Năm 1630, khi John Winthrop giong buồm vượt Đại Tây Dương đến New England, ông khuyến khích các bạn đồng hành rằng xã hội mà họ kiến tạo tại vùng đất mới phải giống như "thành xây trên núi", vì vậy, họ phải là một cộng đồng Cơ Đốc tinh tuyền nhằm kiến tạo một hình mẫu cho thế giới. Để đạt được mục tiêu này, các nhà lãnh đạo Thanh giáo đặc biệt quan tâm đến công cuộc giáo dục. Trong số họ, những người học thức, thường là những người từng theo học ở Oxford và Cambridge, có đủ khả năng để giao lưu với giới trí thức ở khắp châu Âu. Chỉ mất sáu năm sau khi đặt chân lên vùng đất mới, người Thanh giáo đã thành lập Đại học Harvard.
Đến thập niên 1670, tất cả khu định cư vùng New England (ngoại trừ Rhode Island) đều thông qua luật xóa mù chữ bắt buộc đối với trẻ em. Từ năm 1647, Massachusetts đã phê chuẩn luật yêu cầu các thị trấn thuê giáo viên dạy viết chữ. Bắt đầu xuất hiện các loại hình trường học khác nhau, từ trường "dạy đọc", phụ nữ dạy trẻ nhỏ ở nhà, đến trường "tiếng Latin" dành cho trẻ em trai sau khi chúng biết đọc viết tiếng Anh, chuẩn bị cho chương trình học ngữ pháp tiếng Latin, Hebrew và Hi Lạp. Trường dạy đọc thường là nguồn giáo dục duy nhất dành cho các bé gái, trong khi các bé trai có thể rời khỏi các cô bảo mẫu để đến trường ngữ pháp trong thị trấn. Thời ấy, giới tính vẫn là yếu tố quyết định cho việc thụ hưởng giáo dục.
Tôn giáo là động cơ chính cho giáo dục. Muốn xây dựng con người thánh khiết thì họ cần phải biết đọc Kinh Thánh. Như được xác định rõ ràng trong các điều khoản đức tin năm 1549, "Kinh Thánh chứa đựng mọi điều cần thiết cho sự cứu rỗi." Đọc và hiểu biết Kinh Thánh giúp dẫn dắt người đọc đến sự cứu rỗi. Do đó, bổn phận của người Thanh giáo là thường xuyên tra cứu Kinh Thánh.
Yếu tố dân trí cũng là động lực thúc đẩy công cuộc giáo dục trong cộng đồng Thanh giáo tại New England. Trẻ con cần biết đọc để có thể "hiểu biết luật pháp căn bản của xứ sở," theo một đạo luật của Massachusetts.
Sự quan tâm đến giáo dục tạo nên sự khác biệt đáng kể giữa cộng đồng Thanh giáo ở New England với các vùng khác trong thời kỳ lập quốc Mỹ. Mô hình giáo dục ở New England cũng khác với nước Anh, ở Anh không có luật tuyển dụng giáo viên, cũng không bắt buộc xóa mù chữ cho trẻ em. Thật vậy, ngoại trừ tại Scotland, mô hình giáo dục Thanh giáo là duy nhất trên thế giới vào thời ấy.
== Tinh thần Thanh giáo tại Hoa Kỳ ==
Nhiều người cho rằng chính là do "Tinh thần Thanh giáo" mà nền văn hóa chính trị tại Hoa Kỳ có khuynh hướng chống lại việc buôn bán rượu và tình dục phóng khoáng. Tuy nhiên, người Thanh giáo không chống đối việc uống rượu cách tiết độ, và xem việc thụ hưởng niềm hạnh phúc chăn gối trong hôn nhân là món quà tặng quý báu đến từ Chúa. Từ những xác tín này, người Thanh giáo công khai quở trách tệ nghiện rượu, say sưa chè chén, và quan hệ tình dục ngoài hôn nhân.
Trong quyển Dân chủ ở Mỹ (Democracy in America), Alexis de Tocqueville đưa ra luận cứ cho rằng chính lập trường Thanh giáo của những người di cư đã thiết lập nền tảng vững chắc cho nền dân chủ ở Mỹ. Theo ông, người Thanh giáo có tính cần cù, năng nổ, và yêu chuộng sự công bằng. Luận đề về niềm tin tôn giáo lập nền cho kỷ luật lao động cũng được nhà xã hội học Max Weber triển khai trong các biên khảo của ông, mặc dù cả de Tocqueville và Weber đều tin rằng tính kỷ luật chỉ là một trong các nhân tố dẫn đến những thành tựu kinh tế của người Thanh giáo. Trong khi đó, James A. Monroe trong quyển Hellfire Nation, cho rằng đã có một số mâu thuẫn đối kháng trong quan điểm Thanh giáo, theo ông, chính ước muốn kiến tạo một xã hội công bằng, và lòng nhiệt thành cổ xúy các giá trị đạo đức nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp, đôi lúc đã tạo ra sự hoang tưởng và tính độc đoán đối với sự bất đồng quan điểm, chính là nguồn gốc hình thành nền chính trị đương đại của Hoa Kỳ.
== Lịch sử ==
=== Nền tảng, đến năm 1559 ===
Cuộc Cải cách tại Anh, khởi đầu dưới triều Henry VIII của Anh, bắt đầu chịu ảnh hưởng của phong trào cải cách tại lục địa như Lutheran và Cải cách, trong khi Giáo hội Anh vẫn tiếp tục duy trì thần học và giáo nghi Công giáo. Chỉ sau khi con trai của Henry, Edward VI, lên ngôi cuộc cải cách tại Anh mới đi theo khuynh hướng thần học Calvin.
Một trong những nguyên nhân giúp phát triển tư tưởng Calvin tại Anh là sự thất bại của Liên minh Schmalkalden, một liên minh quân sự được thành lập bởi các vương hầu Kháng Cách, trước lực lượng của Charles V, Hoàng đế Thánh chế La Mã, khiến một số các nhà cải cách hàng đầu tìm đến tị nạn tại Anh, trong đó có Peter Martyr Vermigli (được bổ nhiệm làm Giáo sư Thần học tại Đại học Oxford), Martin Bucer (Giáo sư Thần học tại Đại học Cambridge), và John a Lasco.
Ba người này có ảnh hưởng đáng kể trên Tổng Giám mục Canterbury Thomas Cranmer, nhà lãnh đạo Giáo hội Anh. Đây là yếu tố quan trọng vì Cranmer có thể đưa quan điểm thần học của mình vào Sách Cầu nguyện chung của Giáo hội Anh. Trong ấn bản năm 1552, cũng như trong bản Bốn mươi Hai Tín điều, có nhiều ý tưởng của Martin Bucer. Như thế, đến năm 1552, Giáo hội Anh ngả theo khynh hướng Cải cách dù vẫn giữ lại nhiều yếu tố cũ trong giáo nghi mà các giáo hội cải cách ở lục địa đã bác bỏ như Lễ Lá, lễ phục bắt buộc đối với chức sắc…
Dưới triều Edward VI, Giáo hội Anh tiến vững chắc theo lập trường cải cách. Nhưng tiến trình này bị chặn đứng trong năm 1553, khi Edward băng hà và người chị Công giáo của nhà vua, Mary I, lên ngôi. Với quyết tâm đem Giáo hội Anh trở lại với Công giáo Rôma, Mary cho tiến hành một loạt các cuộc bách hại nhắm vào người Kháng Cách, trong đó có Thomas Cranmer, Nicholas Ridley, John Hooper, và những nhà lãnh đạo Kháng Cách khác. Những người này đều bị xử thiêu.
Có khoảng 800 người Kháng Cách Anh, muốn tránh cuộc bách hại, đã chấp nhận cuộc sống lưu vong. Do không được đón tiếp tại các lãnh thổ Lutheran tại Đức, họ tìm đến Emden, Wesel, Frankfurt, Strasbourg, Zurich, Basel, Geneva, và Aarau và thành lập các giáo đoàn tại các thành phố này. Phần lớn đều chấp nhận Sách Cầu nguyện chung năm 1552, ngoại trừ giáo đoàn Frankfurt dưới quyền lãnh đạo của John Knox. Xem Sách Cầu nguyện chung năm 1552 là cải cách nửa vời, Knox soạn cho mình Sách Giáo nghi chung (Book of Common Order).
=== Năm 1559 – 1625 ===
Thanh giáo khởi phát từ những bất bình đối với Định chế Tôn giáo thời Elizabeth, khi những người Kháng Cách cấp tiến xem định chế này là một sự thỏa hiệp đối với cựu giáo. Trong khi các phong trào cải cách ở châu Âu đại lục cương quyết khước từ các mô thức và cấu trúc của Công giáo, cuộc cải cách tại Anh đặt giáo hội dưới quyền kiểm soát của vương quyền và duy trì nhiều tập tục tôn giáo cũ. Đối với nhiều người, điều này có nghĩa là xác tín tôn giáo phải nhượng bộ cho quyền lợi chính trị. Trong thời trị vì của Mary I, những nhân vật lãnh đạo Kháng Cách như Thomas Cartwright, Walter Travers, và Andrew Melville phải đến tị nạn ở Âu châu đại lục, nhờ đó họ có cơ hội tiếp xúc với những nhà cải cách ở Geneva (theo Thần học Calvin) và tại Đức (theo tư tưởng Luther). Các mối tiếp xúc này giúp định hình lập trường của họ đối với quan điểm trung dung của Elizabeth.
Người Thanh giáo cùng chia sẻ niềm xác tín rằng các giáo hội hiện hữu đã bị thoái hóa do tiếp xúc với các nền văn minh ngoại giáo, và bị khống chế bởi vua chúa và Giáo hoàng. Vì vậy, họ cố tái cấu trúc và "thanh tẩy" hội thánh qua niềm tin đặt vào thẩm quyền tuyệt đối của Kinh Thánh, và giáo lý quyền tư tế của mỗi tín hữu.
Bởi vì người Thanh giáo thường là tín hữu Kháng Cách trí thức, nhiệt huyết và tương đối cấp tiến, họ muốn Giáo hội Anh đến gần hơn với các giáo hội Kháng Cách ở châu Âu, nhất là hội thánh tại Geneva. Người Thanh giáo dị ứng với các vật dụng thờ cúng và nghi thức trong nhà thờ (áo lễ, đàn phong cầm, quỳ bái), xem chúng giống như tội thờ lạy hình tượng. Người Thanh giáo từ chối ủng hộ tất cả giáo nghi quy định trong Kinh Cầu nguyện chung và sự bắt buộc theo các nghi thức đã quy định. Do đó, họ bị xem là một lực lượng đối lập.
=== Dưới triều Elizabeth I và James I ===
Trong thập niên 1570, mặc dù có những tranh luận trong vòng người Thanh giáo liệu nên chọn thể chế Trưởng Lão hay Tự trị Giáo đoàn cho hội thánh, tất cả người Thanh giáo đều mạnh mẽ chỉ trích thể chế và giáo nghi mà vương quyền muốn áp dụng cho giáo hội, và than phiền về những nỗ lực của các Giám mục Giáo hội Anh ép buộc mọi người phải tuân giữ Kinh Cầu nguyện chung.
Vấn đề thẩm quyền của giới tăng lữ gây ra nhiều tranh cãi, Elizabeth đề nghị Richard Hooker viết quyển Of the Laws of Ecclesiastical Polity để phản bác quan điểm ủng hộ thể chế Trưởng Lão. Hooker phác thảo lập trường trung dung cho giáo hội Anh, và đề xuất một bộ quy luật đặc biệt. Ý tưởng của ông trở thành cột trụ cho Anh giáo, sau này được áp dụng bởi Tổng Giám mục William Laud, người mà phe Thanh giáo xem là kẻ đối đầu chính.
Những người có chủ trương cấp tiến này bị thành phần đa số trong giáo hội Anh xem thường và gán cho biệt danh "Thanh giáo", với ngụ ý chế giễu, xem họ là những kẻ bị ám ảnh với tham vọng "thanh tẩy" hội thánh.
Trong khi đó, dưới sự lãnh đạo của John Knox, Giáo hội Scotland đã tiến hành các bước cải cách theo mô hình Trưởng Lão mà người Thanh giáo mong ước được áp dụng tại Anh. Khi James VI của Scotland trở thành James I của Anh, nhà vua bổ nhiệm những người Thanh giáo vào một vài vị trí quyền lực trong giáo hội nhằm kiểm soát ảnh hưởng đang lên của William Laud. Tuy nhiên, James không phải là người Thanh giáo và luôn nghi ngờ họ, xem phong trào này như là một nguy cơ tiềm ẩn cho vương quyền trong chính sách kiểm soát giáo hội.
=== Từ năm 1625 – 1660 ===
Trong giai đoạn này, người Thanh giáo thường được xem là người biệt giáo (tách khỏi quốc giáo). Bởi vì người biệt giáo tại Anh bị cấm đoán trong các ngành nghề đòi hỏi sự trung thành với quốc giáo, người Thanh giáo hoạt động tích cực trong một số ngành công nghiệp mới. Nhờ đó, họ có ảnh hưởng khống chế trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và khao khát đến Tân Thế giới để mở rộng giao thương. Khi quan hệ mậu dịch giữa hai bờ Đại Tây Dương phát triển, người Thanh giáo ở Anh trở nên giàu có. Tương tự, những người làm việc trong các ngành nghề thủ công ngày càng chấp nhận lập trường Thanh giáo. Vì vậy, các vấn đề kinh tế, chính trị và sự căng thẳng về tôn giáo dẫn đến cuộc Nội chiến Anh đan xen với nhau để trở thành nguyên nhân chia rẽ Giáo hội Anh thành hai nhóm đối đầu, "Cavalier" (Bảo hoàng) và "Roundhead" (Cộng hòa).
Nhóm Thanh giáo thủ giữ vai trò then chốt trong những thắng lợi của phe nghị viện, và nắm thế đa số ở Quốc hội, sau khi phe bảo hoàng rút lui, và những người chủ trương đàm phán với nhà vua bị loại bỏ. Lãnh tụ quân sự Thanh giáo, Oliver Cromwell, trở thành nguyên thủ Cộng hòa Anh (Englisth Commonwealth). Trong thời kỳ này, Giáo hội không còn đặt dưới sự kiểm soát của vương quyền, nhưng có nhiều thẩm quyền hơn đối với các giáo sở, hầu hết các giáo sở đều phát triển theo khuynh hướng Thanh giáo và chấp nhận một phần Thần học Calvin. Tuy nhiên, chưa bao giờ có một giáo phái Thanh giáo được chính thức thành lập; chính phủ Cộng hòa tỏ ra khoan hòa hơn đối với các bất đồng thần học, do đó có nhiều tranh cãi về thần học và chính trị diễn ra trong giai đoạn này. Khi những người Thanh giáo cầm quyền, từ "Thanh giáo" không còn phổ biến, thay vào đó là "nonconformist" (biệt giáo), về sau thuật từ này được dùng để chỉ những giáo hội Kháng Cách không theo quốc giáo.
=== Di cư ===
Mặc dù vẫn trung thành với giáo hội, nhưng cho rằng Giáo hội Anh không thật sự cải cách, nhiều người Thanh giáo di cư đến Bắc Mỹ từ thập niên 1620 đến thập niên 1640.
Những người này tìm đến định cự tại vùng New England. Cuộc Di cư Vĩ đại của người Thanh giáo diễn ra trong quãng thời gian tương đối ngắn, khởi đầu năm 1629 với việc thành lập Khu Định cư Vịnh Massachusetts, và kết thúc năm 1642 khi Vua Charles I cắt đứt phong trào di cư, và khi người Thanh giáo cảm thấy an toàn hơn ở trong nước. Từ năm 1629 đến 1643, có khoảng 21.000 người Thanh giáo di cư đến vùng New England.
Khi di cư đến New England, người Thanh giáo thường đi cả gia đình. Từ năm 1630 đến 1640, hơn 13.000 đàn ông, phụ nữ và trẻ em đi tàu đến Massachusetts. Các yếu tố tôn giáo và chính trị ảnh hưởng đến thành phần dân số, giới trẻ thường tìm kiếm những cơ hội kinh tế (chủ yếu ở các khu định cư Virginia), còn các chiếc tàu Thanh giáo chất đầy những người "bình thường", cả già lẫn trẻ, các gia đình cũng như những người đơn lẻ. Về số tuổi, cư dân Thanh giáo ở Tân Thế giới tương đồng với ở Anh. Như vậy, Khu Định cư Vịnh Massachusetts có thành phần dân số tương đối "bình thường". Ngược lại, khu định cư Chesapeake ở Virginia có tỷ lệ nam nữ là 4:1 trong những thập niên đầu, về sau là tỷ lệ này còn 2:1, dẫn đến con số đáng kể các cuộc hôn nhân dị chủng giữa đàn ông da trắng và phụ nữ bản địa. Trong khi đó, một nửa số di dân Thanh giáo là phụ nữ, nên ít xảy ra hôn nhân dị chủng trong cộng đồng này. Sự thành công của các khu định cư phần lớn phụ thuộc vào sự chăm chỉ làm việc của thành viên các gia đình Thanh giáo. Nhờ lao động cần cù mà những người Thanh giáo đã tạo nên hình ảnh "thành xây trên núi", một mẫu mực về đạo đức và sản xuất, khác xa với hình ảnh thối nát của Giáo hội Anh thời ấy.
Cả về phương diện kinh tế và tôn giáo, cấu trúc xã hội vùng New England lập nền trên vầng đá tảng là các gia đình Thanh giáo. Phụ nữ được giao trọng trách nuôi dưỡng trẻ con trở thành các công dân tốt theo mẫu mực đức hạnh của Thanh giáo. Các chuẩn mực đạo đức và tôn giáo được ứng dụng trong cuộc sống thường nhật, hôn nhân, và nếp sống gia đình đã nâng cao vị trí của người phụ nữ trong cộng đồng. Dù người cha là người điều hành công việc và hướng dẫn thờ phượng trong gia đình, sự thành công trong xã hội Tân Thế giới phụ thuộc vào sự hòa hợp trong đời sống hôn nhân và sự nuôi dạy trẻ trong sự tin kính – cả hai phạm trù này đều là lĩnh vực riêng của phụ nữ Thanh giáo.
Trong thế kỷ 17, cuộc tranh chấp giữa Giáo hội Anh với các nhóm Trưởng Lão và Thanh giáo không chỉ giới hạn trong nội địa Anh – đẩy mạnh cuộc di cư lần thứ hai của các tín hữu Kháng Cách Anh rời Ái Nhĩ Lan đến Bắc Mỹ, - mà còn lan đến Bermuda, lãnh thổ hải ngoại lâu đời thứ nhì của Anh, là nguyên nhân của đợt di cư của gần 10.000 người Bermuda tìm đến Tân Thế giới. Hầu hết là người định cư Mỹ, họ có công thành lập các khu định cư khắp miền Nam. Nhiều người đến Bahamas, trong số đó có những gia đình Thanh giáo, dưới sự dẫn dắt của William Sayle, thành lập khu định cư Eleuthera trong năm 1648.
Trong thập niên 1660, một thách thức lớn đến với các khu định cư Thanh giáo ở Tân Thế giới là khi thế hệ đầu tiên trở nên già yếu. Thế hệ tiên phong từng tạo dựng các khu đinh cư này là những người nhiệt thành với niềm tin tôn giáo, và khi số người này giảm sút theo thời gian thì số thành viên trong các nhà thờ cũng sụt giảm. Số tín hữu nam giới giảm sút trở nên một vấn nạn nghiêm trọng cho các nhà thờ, bởi vì, vào thời ấy, nam giới là người nắm giữ quyền lực trong xã hội. Đến đầu thập niên 1660, phụ nữ trở nên thành phần đa số trong các nhà thờ. Nhưng sau khi Anne Hutchinson bị trục xuất, phụ nữ không còn được phép phát biểu trong nhà thờ. Trong khi đó, các mục sư Thanh giáo, những người quan tâm đến vị thế và quyền lực của giáo hội tại đây, cố đẩy mạnh giải pháp kìm hãm đà suy giảm số lượng tín hữu với phát kiến Giao ước Trung dung (giảm nhẹ các tiêu chuẩn đối với thuộc viên hội thánh, nhất là các chứng thực về trải nghiệm tâm linh), nhằm nâng cao số người gia nhập các nhà thờ.
Lại thêm những đợt di dân dưới thời cầm quyền của Cromwell, nhưng không phải là số lượng lớn, cũng không phải do "bách hại tôn giáo". Trong thực tế, nhiều người Thanh giáo quay trở lại Anh trong thời Nội chiến. "Năm 1641, khi bắt đầu cuộc Nội chiến Anh, các di dân trở lại để chiến đấu cho chính nghĩa Thanh giáo, và khi nhóm Thanh giáo chiến thắng, nhiều người cho rằng nước Anh dưới thời Oliver Cromwell còn chịu nhiều ảnh hưởng của Thanh giáo hơn ở vùng đất mới."
Cũng có một số người Thanh giáo di cư đến Trung Mỹ và Caribbean.
=== Từ năm 1660 đến nay ===
Ảnh hưởng của Thanh giáo kéo dài tại Anh dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhưng mọi sự kỳ thị chống lại người Thanh giáo trên đất nước này đều chấm dứt trong thập niên 1640, khi lực lượng Thanh giáo, dưới quyền lãnh đạo của Oliver Cromwell, lật đổ nền quân chủ Anh trong cuộc Nội chiến.
==== Thanh trừng ====
Sau khi vương quyền được phục hồi vào năm 1660, Giáo hội Anh nỗ lực khẳng định thẩm quyền của mình như là quốc giáo tại Anh. Năm 1662, diễn ra một cuộc "thanh trừng" khi Đạo luật Đồng nhất (Act of Uniformity) được thông qua. Có khoảng hai ngàn mục sư Thanh giáo bị buộc phải rời bỏ nhiệm sở trong giáo hội Anh sau khi Charles II phục hồi ngôi báu. Các cuộc bách hại xảy ra rải rác khắp nơi và giảm nhẹ khi James II lên trị vì, nhất là sau cuộc Cách mạng Vinh quang của William và Mary.
==== Ảnh hưởng ====
Thanh giáo tạo lập ảnh hưởng trên hai trào lưu Tự do (Latitudinarian) và Tin Lành (Evangelical) trong Giáo hội Anh. Trong khi đó, ở Âu châu trong thế kỷ 17 và 18, bùng phát một phong trào trong Giáo hội Luther lập nền trên hệ tư tưởng Thanh giáo, trở lên sức mạnh tôn giáo đáng kể là Phong trào Sùng tín (Pietism). Tại Hoa Kỳ, các khu định cư Thanh giáo trong vùng New England từng kiến tạo ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng Kháng Cách trên đất nước này.
Ngược lại, trong số các di dân đến vùng New England, có những người tìm kiếm một môi trường tự do hơn cho các hoạt động tôn giáo lại gặp phải sự đàn áp của những người Thanh giáo chủ trương thần quyền.
==== Suy thoái ====
Sự đàn áp của những người Thanh giáo chủ trương thần quyền là nguyên nhân của nhiều vụ "trục xuất" (tự nguyện hoặc bắt buộc) các nhà lãnh đạo các giáo phái không phải Thanh giáo khỏi lãnh thổ Khu Định cư Vịnh Massachusetts. Hành động tiêu cực này của người Thanh giáo lại tạo ra hiệu quả tích cực trong lịch sử nước Mỹ khi những người bị trục xuất đi ra thành lập các khu định cư mới như Rhode Island, Pennsylvania, New Jersey, Delaware, New Hampshire, trở thành những vùng đất có chủ trương bao dung tôn giáo và sản sinh nhiều tín hữu Cơ Đốc nhiệt thành chọn lựa nếp sống Cơ Đốc bên ngoài ảnh hưởng của Thanh giáo theo thần quyền.
Quyền lực và ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo Thanh giáo ở New England bị suy giảm đáng kể sau các vụ án phù thủy ở Salem, Massachusetts, diễn ra trong thập niên 1690. Khởi đầu với một vụ xét xử vài người tự nhận là phù thủy có sử dụng ma thuật, các vụ xét xử lan rộng ảnh hưởng đến những người vô tội. Vào thời đó nhiều người tin vào sự hiện hữu và hiệu quả của phép thuật, nên các vụ xét xử, dưới áp lực của quần chúng đang cuồng nộ, được tiến hành ngược với các nguyên tắc của công lý.
Ngoài ra, cung cách cai trị nghiêm khắc của giới cầm quyền Thanh giáo tạo ảnh hưởng tiêu cực trên người dân – như được miêu tả chi tiết trong một tiểu thuyết của Nathaniel Hawthorn, The Scarlet Letter – dẫn đến việc họ mất quyền kiểm soát chính trị tại Massachusetts năm 1700, và sự suy thoái của ảnh hưởng Thanh giáo, như là một trào lưu tôn giáo, trên nhiều vùng đất khác trong giữa thập niên 1700.
Một số giáo phái Trưởng Lão như Giáo hội Trưởng Lão (USA) được xem là "hậu duệ" của Thanh giáo.
Các hội thánh Tự trị Giáo đoàn cũng có nguồn gốc từ Thanh giáo như giáo phái Congregational Christian Churches (CCC) tại Hoa Kỳ. Các nhà thờ của CCC là "hậu duệ" trực tiếp của các giáo đoàn Thanh giáo New England.
Một số giáo đoàn theo Duy nhất Thần giáo (Unitarian) cũng có nguồn gốc từ các giáo đoàn Thanh giáo Anh và New England.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Thần học Calvin
Anh giáo
Cải cách Kháng Cách
== Đọc thêm ==
Addison, Albert Christopher The Romantic Story of the Puritan Fathers and their founding of new Boston 1912 published by L C Page Boston Mass USA
Anderson, Virginia Dejohn (1993). New England's Generation: The Great Migration and the Formation of Society and Culture in the 17th Century. Cambridge University Press. ISBN 0-521-44764-X.
Beeke, Joel R. Puritan Reformed Spirituality. Evangelical Press. ISBN 9780852346297.
Warren, John (1993). Elizabeth I: Religion and Foreign Affairs. Hodder and Stoughton. tr. p. 104. ISBN 0-340-55518-1. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
Beeke, Joel, and Pederson, Randall, Meet the Puritans: With a Guide to Modern Reprints (2006) ISBN 978-1-60178-000-3
Bennett, Arthur G., ed., The Valley of Vision: A Collection of Puritan Prayers and Devotions (While not directly about the puritans, this anthology gives a representative overview of the ways they viewed their relationship with God.)
Bozeman, Theodore Dwight, To Live Ancient Lives: The Primitivist Dimension in Puritanism
Bozeman, Theodore Dwight, The Precisionist Strain: Disciplinary Religion and the Antinomian Backlash in Puritanism to 1638
Brachlow, Stephen, The Communion of Saints: Radical Puritan and Separatist Ecclesiology, 1750–1625
Bremer, Francis J., John Winthrop: America's Forgotten Founding Father
Cohen, Charles Lloyd, God's Caress: The Psychology of Puritan Religious Experience (1986) ISBN 0-19-503973-4
Collinson, Patrick, The Elizabethan Puritan Movement
Collinson, Patrick, Godly People
Collinson, Patrick, Religion of Protestants
Foster, Stephen, The Long Argument
Gatiss, Lee, The Tragedy of 1662: The Ejection and Persecution of the Puritans, ISBN 978-0-946307-60-9
Graham, Judith, "Puritan Family Life: The Diary of Samuel Sewall"
Haigh, Christopher, English Reformations: Religion, Politics, and Society under the Tudors
Haigh, Christopher, "The Continuity of Catholicism in the English Reformation," in Past and Present, No. 93. (Nov., 1981), pp. 37–69.
Hall, David D., Puritans in the New World: A Critical Anthology
Hall, David D., Worlds of Wonder, Days of Judgment: Popular Religious Belief in Early New England
Hawthorne, Nathaniel., The Scarlet Letter (1850)
Kapic, Kelly M. and Randal Gleason, eds. The Devoted Life: An Invitation to the Puritan Classics
Kizer, Kay. "Puritans"
Lake, Peter, Moderate Puritans and the Elizabethan Church
Lake, Peter, "Defining Puritanism—again?" in Bremer, Francis J., ed., Puritanism: Transatlantic Perspectives
Leverenz, David, "The Language of Puritan Feeling: An Exploration in Literature, Psychology, and Social History"
Lewis, Peter, The Genius of Puritanism
Logan, Samuel T. Jr., Reformation for the Glory of God
Packer, J. I., A Quest for Godliness: The Puritan Vision of the Christian Life, Crossway Books: 1994 (reprint), ISBN 0-89107-819-3
Monaghan, Jennifer, "Learning to Read and Write in Colonial America"
Ryken, Leland, Worldly Saints: The Puritans As They Really Were, ISBN 0-310-32501-3
Tyacke, Nicholas, Anti-Calvinists: The Rise of English Arminianism
Underdown, David, Fire From Heaven
Morgan, Edmund S., The Puritan Family
Morgan, Edmund S., The Puritan Dilemma: The Story of John Winthrop, ISBN 0-321-04369-3
Miller, Perry, The American Puritans: Their Prose and Poetry
Packer, J.I., A Quest For Godliness: The Puritan Vision of the Christian Life
Porterfield, Ann, "Female Piety in Puritan New England: The Emergence of Religious Humanism"
Saxton, Martha, "Being Good: Women's Moral Values in Early America"
Spurr, John, English Puritanism, 1603-1689
Vaughn, Alden and Francis Bremer, "Puritan New England"
Larousse Dictionary of Beliefs and Religions
Oxford Dictionary of World Religions
== Liên kết ngoài ==
A Puritan's Mind, some writings of the Puritans and their admirers
Puritan sermons
Extensive Puritan resources on Monergism.com
Sermons by Puritans at Reformed Sermon Archives |
cờ anh.txt | Quốc kỳ Anh (tiếng Anh: Flag of England) là một trong những lá cờ có lịch sử rất lâu đời ở châu Âu và trên thế giới. Lá cờ có nền màu trắng và 2 dải đỏ sọc dọc và ngang cắt nhau ở trung tâm lá cờ tạo thành hình chữ thập.
Lá cờ này hiện nay chỉ được dùng chính thức để biểu trưng cho nước Anh- một phần nhỏ trong Đại Anh (Great Britain) và Vương Quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (United Kingdom).
== Quốc kỳ Vương Quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland ==
Quốc kỳ Vương Quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (Tiếng Anh là United Kingdom) là lá cờ để biểu trưng cho toàn bộ lãnh thổ của Anh (England), Scotland, xứ Wales và một phần lãnh thổ phía Bắc của Ireland. Lá cờ này có 3 màu (Xanh dương, Đỏ và Trắng) và dường như nó là sự kết hợp của lá cờ Anh với các quốc gia trong Liên Hiệp.
Do Luân Đôn vừa là thủ đô của Anh cũng vừa là thủ đô chính của Vương Quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nên cả 2 lá cờ đều được sử dụng để nói về nước Anh.
== Tham khảo == |
bảng chữ cái latinh.txt | Bảng chữ cái Latinh (tiếng Latinh: Abecedarium Latinum) là hệ thống chữ viết dùng bảng chữ cái được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay.
== Nguyên bản bảng chữ cái ==
== Mở rộng ==
Bảng chữ cái Latinh được điều chỉnh lại cho thích hợp để dùng trong các ngôn ngữ khác, thỉnh thoảng là nhằm thể hiện âm vị không có trong các ngôn ngữ được viết bằng bảng chữ cái Latinh. Vì lẽ đó mà người ta tạo ra các mở rộng để ghi các âm này, thông qua việc thêm dấu lên các chữ cái có sẵn, ghép nhiều chữ cái lại với nhau, sáng tạo ra chữ cái mới hoàn toàn hoặc gán một chức năng đặc biệt do một bộ đôi hoặc bộ ba chữ cái. Vị trí của các chữ cái mới này trong bảng chữ cái có thể khác nhau, tùy thuộc từng ngôn ngữ.
=== Multigraph ===
Một diagraph là một cặp chữ cái dùng để ký một âm hoặc một kết hợp các âm không tương ứng với từng chữ cái theo thứ tự trong cặp chữ đó. Chẳng hạn, tiếng Anh có ⟨ch⟩, ⟨ng⟩, ⟨rh⟩, ⟨sh⟩, tiếng Hà Lan có ⟨ij⟩ Tương tự, một trigraph là một bộ gồm ba chữ cái ghép lại, chẳng hạn tiếng Đức có ⟨sch⟩, tiếng Breton có ⟨c’h⟩ hay tiếng Milan có ⟨oeu⟩. Trong chính tả của một số ngôn ngữ, diagraph và trigraph được xem là những mẫu tự độc lập trong bảng chữ cái. Vấn đề viết hoa diagraph và trigraph tùy thuộc từng ngôn ngữ, có thể viết hoa chữ đầu tiên mà cũng có thể viết hoa tất cả.
=== Từ nối ===
Từ nối là một liên hiệp hai hay nhiều chữ cái thông thường tạo thành một glyph hoặc một chữ cái mới. Các ví dụ minh họa là ⟨Æ/æ⟩ (bắt nguồn từ ⟨AE⟩, gọi là "ash"), ⟨Œ/œ⟩ (bắt nguồn từ ⟨OE⟩, thỉnh thoảng gọi là "oethel"), ký hiệu viết tắt ⟨&⟩ (từ tiếng Latinh et, nghĩa là "và"), và ký hiệu ⟨ß⟩ ("eszet", bắt nguồn từ ⟨ſz⟩ hoặc ⟨ſs⟩ - dạng cổ xưa của chữ s dài ⟨s⟩).
=== Chữ cái mới hoàn toàn ===
Một số ví dụ về chữ cái mới hoàn toàn so với bảng chữ cái Latinh chuẩn là các chữ cái wynn ⟨Ƿ/ƿ⟩ và thorn ⟨Þ/þ⟩ của bảng chữ cái Runic, cũng như chữ cái eth ⟨Ð/ð⟩ được thêm vào bảng chữ cái tiếng Anh cổ.
Một số ngôn ngữ Tây, Trung và Nam Phi dùng một vài chữ cái bổ trợ có cách phát âm giống với ký tự tương đương trong IPA. Chẳng hạn, tiếng Adangme dùng các chữ cái ⟨Ɛ/ɛ⟩ và ⟨Ɔ/ɔ⟩; tiếng Ga dùng ⟨Ɛ/ɛ⟩, ⟨Ŋ/ŋ⟩ và ⟨Ɔ/ɔ⟩. Tiếng Hausa dùng ⟨Ɓ/ɓ⟩ và ⟨Ɗ/ɗ⟩ làm phụ âm khép và dùng ⟨Ƙ/ƙ⟩ là phụ âm tống ra.
=== Dấu ===
Dấu là một ký hiệu nhỏ có thể xuất hiện ở một vị trí nào đó ở trên, dưới hoặc ngoài chữ cái, chẳng hạn dấu ^ trong chữ cái "ô" của tiếng Việt hay dấu umlau trong các chữ cái ⟨ä⟩, ⟨ö⟩, ⟨ü⟩ của tiếng Đức. Chức năng chính của dấu là làm thay đổi cách đọc của chữ cái được gắn dấu nhưng nó cũng có thể làm thay đổi cách phát âm của cả âm tiết hay của từ, hoặc dấu cũng có thể phân biệt các từ cùng chữ (cách viết giống hệt nhau nhưng không đồng âm hoặc đồng nghĩa với nhau).
== Latinh hóa ==
Chữ viết của những ngôn ngữ như tiếng Ả Rập hay tiếng Trung Quốc thường được chuyển tự sang chữ cái Latinh khi được đặt trong văn bản dùng chữ Latinh hay để sử dụng trong môi trường giao tiếp quốc tế. Việc làm này gọi là Latinh hóa.
== Lịch sử ==
Cùng với sự bành trướng của Đế quốc La Mã, bảng chữ cái Latinh cùng tiếng Latinh cũng mở rộng từ bán đảo Ý sang các vùng lân cận bên bờ Địa Trung Hải. Cho đến cuối thế kỷ 15, bảng chữ cái Latinh đã phổ biến khắp Tây, Bắc và Trung Âu, chỉ có Đông và Nam Âu vẫn tiếp tục sử dụng bảng chữ cái Cyril. Ở giai đoạn sau, cùng với quá trình thực dân hóa của các quốc gia châu Âu, bảng chữ cái Latinh bắt đầu xuất hiện trên khắp thế giới, từ châu Mỹ, châu Đại Dương, châu Phi và một phần châu Á.
== Bảng chữ cái Latinh và tiêu chuẩn quốc tế ==
Vào khoảng thập niên 1960, các ngành công nghiệp máy vi tính và viễn thông ở các quốc gia phát triển đòi hỏi một phương pháp mã hóa ký tự được sử dụng tự do. Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) đã tóm lược bảng chữ cái Latinh vào tiêu chuẩn ISO/IEC 646 và dựa trên cách sử dụng phổ biến nhằm mục đích phổ biến rộng rãi tiêu chuẩn này. Do Hoa Kỳ chiếm vị trí thượng tôn trong cả hai ngành công nghiệp trên nên tiêu chuẩn ISO này được xây dựng dựa trên Chuẩn mã trao đổi thông tin Hoa Kỳ (tức ASCII, bộ ký tự dùng cho 26 × 2 chữ cái của bảng chữ cái tiếng Anh). Về sau, các tiêu chuẩn như ISO/IEC 10646 (Unicode Latinh) vẫn tiếp tục dùng bộ 26 × 2 chữ cái của bảng chữ cái tiếng Anh làm bảng chữ ký Latinh căn bản, đồng thời có mở rộng để xử lý được những chữ cái trong các ngôn ngữ khác.
== Tham khảo ==
Jensen, Hans (1970). Sign Symbol and Script. London: George Allen and Unwin Ltd. ISBN 0-04-400021-9. . Transl. of Jensen, Hans (1958). Die Schrift in Vergangenheit und Gegenwart. VEB Deutscher Verlag der Wissenschaften. , as revised by the author
Rix, Helmut (1993). “La scrittura e la lingua”. Trong Cristofani, Mauro (hrsg.). Gli etruschi - Una nuova immagine. Firenze: Giunti. tr. S.199–227.
Sampson, Geoffrey (1985). Writing systems. London (etc.): Hutchinson.
Wachter, Rudolf (1987). Altlateinische Inschriften: sprachliche und epigraphische Untersuchungen zu den Dokumenten bis etwa 150 v.Chr. Bern (etc.). : Peter Lang.
W. Sidney Allen (1978). “The names of the letters of the Latin alphabet (Appendix C)”. Vox Latina — a guide to the pronunciation of classical Latin. Cambridge University Press. ISBN 0-521-22049-1 (Second edition).
Biktaş, Şamil (2003). Tuğan Tel.
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh
Lewis and Short Latin Dictionary on the letter G
Latin-Alphabet
Latin alphabet at omniglot.com |
xin nhờ tủ lạnh (go fridfe).txt | Xin nhờ tủ lạnh (Go Fridge) là chương trình ẩm thực kết hợp talkshow được Tencent mua bản quyền từ chương trình "Please take care of my refrigerator" của đài JTBC (Hàn Quốc). 2 MC chính của chương trình là Hà Cảnh và Vương Gia Nhĩ (Jackson Wang).
== Nội dung chương trình ==
Mỗi kì sẽ có một khách mời là người nổi tiếng, mang tủ lạnh của mình đến và chia sẻ những câu chuyện xung quanh cuộc sống cá nhân. Khách mời sẽ chọn ra hai trong số sáu đầu bếp cố định của chương trình để tham gia quyết đấu với nhau. Hai đầu bếp dựa vào các nguyên liệu có sẵn trong tủ lạnh để chế biến món ăn trong vòng 15 phút
== Thành viên ==
=== MC ===
=== Đầu bếp ===
== Danh sách các tập ==
=== Mùa 1 ===
=== Mùa 2 ===
=== Mùa 3 ===
== Tham khảo ==
Thông tin chương trình (tiếng trung)
Trang weibo chính thức
Go fridge quay tập cuối |
joe satriani.txt | Joseph "Satch" Satriani (sinh ngày 15 tháng 7 năm 1956 tại Westbury, New York, Hoa Kỳ) là một nghệ sĩ ghi-ta rock người Hoa Kỳ. Thời đầu sự nghiệp ông là thầy dạy ghi ta có vài học trò sau này nổi danh với kĩ thuật ghi ta điêu luyện, chẳng hạn Steve Vai. Ông trở thành nghệ sĩ tiên phong có nhiều ảnh hưởng trong dòng nhạc rock hòa tấu, đã lập chương trình biểu diễn mang tên G3 quy tụ nhiều nghệ sĩ ghi ta tên tuổi, đồng thời từng trình diễn chung với nhiều nghệ sĩ khác.
Năm 1988 ông được ca sĩ Mick Jagger của ban nhạc huyền thoại The Rolling Stones chọn làm cầm thủ chính cho đợt lưu diễn solo lần thứ hai của mình. Năm 1994 ông là cầm thủ chính trong ban nhạc Deep Purple. Ông thường diễn chung với nhiều nghệ sĩ có phong cách âm nhạc đa dạng, như Steve Vai, John Petrucci, Eric Johnson, Larry LaLonde, Yngwie Malmsteen, Brian May, Patrick Rondat, Andy Timmons, Paul Gilbert, Robert Fripp qua chương trình G3 hàng năm.
Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những nghệ sĩ ghi ta huyền thoại như Jimi Hendrix, Jimmy Page, Jeff Beck. Từ năm 1988 ông sử dụng nhãn hiệu ghi ta của riêng mình là Ibanez JS Series mà hiện nay được bán rộng khắp. Ông cũng có một nhãn hiệu amplifier riêng tên Peavey JSX cùng loại pedal ghi ta điện nhãn Vox Satchurator. Ông hiện là người được đề cử giải Grammy nhiều lần nhất (15 lần) nhưng chưa bao giờ đạt giải.
== Nhạc sử ==
=== Album solo ===
1986 - Not of This Earth
1987 - Surfing with the Alien - Đĩa bạch kim (Hoa Kỳ)
1989 - Flying in a Blue Dream - Đĩa vàng (Hoa Kỳ)
1992 - The Extremist - Đĩa vàng (Hoa Kỳ)
1993 - Time Machine - Đĩa vàng (Hoa Kỳ)
1995 - Joe Satriani
1998 - Crystal Planet
2000 - Engines of Creation
2002 - Strange Beautiful Music
2004 - Is There Love in Space?
2006 - Super Colossal
2008 - Professor Satchafunkilus and the Musterion of Rock
=== EPs ===
1984 - The Joe Satriani EP
1988 - Dreaming #11 - Đĩa vàng (Hoa Kỳ)
2000 - Additional Creations
=== Biên soạn ===
1993 - The Beautiful Guitar
2003 - The Electric Joe Satriani: An Anthology
2005 - One Big Rush
2008 - Joe Satriani Original Album Classics
=== Album trình diễn ===
1993 - Time Machine
2001 - Live in San Francisco
2006 - Satriani Live!
=== Với các nghệ sĩ khác ===
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Official Website
Real "Guitar Hero™" Joe Satriani turns Teacher at WorkshopLive.com
Audio Interview with Joe Satriani on Guitar Jam Daily, tháng 6 năm 2007
Part 2 of Audio Interview with Joe Satriani on Guitar Jam Daily, tháng 7 năm 2007
Joe Satriani 2006 Modern Guitars Magazine Interview with Brian D. Holland
MusiciansFriend Interview with Joe Satriani
Joe Satriani live pictures
Myspace Page |
thiên hà xoáy nước.txt | Thiên hà Xoáy Nước (còn gọi là Messier 51a, M51a, hay NGC 5194) là thiên hà xoắn ốc tương tác thiết kế lớn nằm cách Ngân Hà xấp xỉ 31 triệu năm ánh sáng trong chòm sao Lạp Khuyển. Đây là một trong những thiên hà nổi tiếng trên bầu trời. Thiên hà này và thiên hà đồng hành (NGC 5195) có thể được các nhà thiên văn nghiệp dư quan sát dễ dàng, thậm chí có thể nhìn chúng qua ống nhòm. Thiên hà Xoáy Nước cũng là mục tiêu quan sát đối với các nhà thiên văn, khi họ nghiên cứu về cấu trúc của thiên hà (đặc biệt là các nhánh xoắn ốc và thiên hà tương tác).
== Phát hiện ==
Charles Messier phát hiện ra thiên hà Xoáy Nước vào năm 1774 và ông ký hiệu nó là M51 trong danh lục của minh. Thiên hà đồng hành với nó, NGC 5195, được Pierre Méchain phát hiện ra năm 1781. Tuy vậy cho đến tận năm 1845 người ta mới nhận ra là thiên hà này có cấu trúc xoắn ốc. Người phát hiện ra điều này là Lord Rosse bằng sử dụng kính thiên văn phản xạ 72-inch (~1,83 m) ở Lâu đài Birr, Ireland. Thỉnh thoảng, M51 được coi là cặp thiên hà, và trong một số trường hợp người ta gọi chúng lần lượt là M51A (NGC 5194) và M51B (NGC 5195).
Năm 2005, supernova (SN 2005cs) đã được quan sát thấy trong thiên hà Xoáy Nước với cấp sao biểu kiến cực đại của siêu tân tinh bằng 14.
== Đặc điểm ==
Nhờ quan sát được SN 2005cs mà người ta ước lượng khoảng cách đến thiên hà là 23 Mly (không có số liệu chính xác về khoảng cách do việc đo đạc đến các thiên hà ở xa là khó), và đường kính góc xấp xỉ 11,2′, và đường kính của đĩa thiên hà vào khoảng 76.000 năm ánh sáng. Khối lượng của nó vào khoảng 160 tỷ lần khối lượng Mặt Trời.
Người ta cho rằng tồn tại một lỗ đen được bao xung quanh bởi các vành bụi nằm ở tâm thiên hà. Vành bụi chính có hướng gần như vuông góc với nhánh xoắn ốc phẳng của thiên hà. Một vành bụi khác cắt chéo vành bụi chính và có một cặp nón chứa các nguyên tử bị ion hóa mở rộng từ trục của vành bụi chính.
=== Cấu trúc xoắn ốc ===
M51A có cấu trúc xoắn ốc điển hình với những vùng sản sinh sao trên những nhánh này. Người ta cho rằng cấu trúc xoắn ốc này cũng bị ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa nó và thiên hà M51B.
== Hình ảnh và quan sát ==
Nằm trong chòm sao Lạp Khuyển, M51 có thể tìm thấy với mốc là ngôi sao Alkaid (hay Eta Ursae Majoris, Dao Quang) trong mảng sao Bắc Đẩu, sau đó dịch về hướng đông nam 3,5°. Xích vĩ của thiên hà gần +47° nên đối với những người quan sát bên trên vĩ độ 43° Bắc thiên hà này không bao giờ lặn xuống dưới đường chân trời; nó nằm trên cao trên toàn bán cầu bắc do vậy có thể quan sát nó ở những giờ đầu tiên trong mùa đông cho đến những giờ cuối của mùa xuân. Ở các vĩ độ thấp hơn hay ở bán cầu nam sẽ rất khó quan sát nó.
M51 hiện lên qua kính nhòm trong điều kiện bầu trời tối tốt và có thể phân giải thành các chi tiết với một kính thiên văn nghiệp dư. Khi nhìn qua kính 100 mm những phác họa cơ bản và thiên hà đồng hành với nó sẽ hiện lên. Khi bầu trời tối đen, bằng một kính thiên văn có thị kính 150 mm thì cấu trúc nội tại xoắn ốc của M51 sẽ hiện lên. Với những kính lớn hơn (>300 mm) và quan sát trong điều kiện bầu trời tối, những dải xoắn ốc khác nhau hiện lên nổi bật với đặc điểm các vùng HII trong chúng, avà M51 hiện lên cùng với thiên hà đồng hành M51B.
Như thường lệ đối với các thiên hà, việc quan sát thấy sự mở rộng thật sự của cấu trúc thiên hà chỉ có thể thu được qua các ảnh khảo sát, với thời gian phơi sáng lâu sẽ lộ ra vùng tinh vân mở rộng vượt ra ngoài cấu trúc đĩa thiên hà.
Tháng 1 năm 2005 đội di sản Hubble (Hubble Heritage Team) dựng lên một bức ảnh độ phân giải 11477x7965 pixel (ảnh trong hộp thông tin ở trên) về M51 sử dụng thiết bị ACS trên kính Hubble.
== Sự hình thành sao ==
Induced spiral structure in the larger galaxy isn't the only effect of the interaction. Significant compression of hydrogen gas occurs that leads to the development of starbirth regions. In pictures of M51 these show up as the bright blue 'knots' throughout the spiral arms.
Generally speaking, hydrogen gas is the most common component of the interstellar medium (the vast space between stars and planetary systems in galaxies). It exists primarily in its atomic and molecular form, and forms huge clouds throughout the entire galaxy. When large sources of gravitational pull pass nearby, such as other galaxies, gravitational interactions produce compression (density) waves that sweep through these hydrogen clouds. This causes some regions of the previously diffuse gas to compress into tight pockets of opaque and dense gas, these are dust lanes one so often sees in the spiral arms. In regions where the concentration and density of gas reaches a critical value, further collapse under its own gravitational pull occurs, and stars are born at the center of the collapse, where the gas is compressed so strongly that fusion initiates.
When this happens, these new-born stars gobble up huge amounts of gas causing them to expand, shine even hotter, and finally sweep away the surrounding layers of dust and gas by increasing efflux of the stellar wind. The gigantic proportions of the clouds out of which they are born means stars seldom, if ever, are created in isolation. Thus regions of several hot young stars emit sufficient light energy that they can be seen in the high resolution pictures of M51 across millions of lightyears distance.
For an example of such a formation in our own galaxy, see M16, the Eagle Nebula.
== Thiên hà đồng hành ==
Decades ago, it was not known with certainty whether the companion galaxy NGC 5195 was a true companion, or another galaxy passing at a distance. The advent of radio astronomy and subsequent radio images of M51 unequivocally demonstrated the reality of the interaction.
Recent simulations bear out that M51's spiral structure was caused by NGC 5195 passing through the main disk of M51 about 500 to 600 million years ago. In this model, NGC 5195 came from behind M51 through the disk towards the observer and made another disk crossing as recently as 50 to 100 Myrs ago until it is where we observe it to be now, slightly behind M51.
== Nhóm thiên hà ==
The Whirlpool Galaxy is the brightest galaxy in the M51 Group, a small group of galaxies that also includes M63 (the Sunflower Galaxy), NGC 5023, and NGC 5229. This small group may actually be a subclump at the southeast end of a large, elongated group that includes the M101 Group and the NGC 5866 Group, although most group identification methods and catalogs identify the three groups as separate entities.
== Xem thêm ==
Thiên thể Messier
Đại Danh lục Mới
Danh sách thiên hà
NGC 5195 – thiên hà đồng hành với NGC 5194
NGC 5457 – một thiên hà xoắn ốc thiết kế lớn
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
M51: Calar Alto Observatory
SEDS: Spiral Galaxy M51
NASA's APOD: The Whirlpool Galaxy in Dust and Stars (4/10/01)
NightSkyInfo.com – The Whirlpool Galaxy
Whirlpool Galaxy at ESA/Hubble
The Whirlpool Galaxy (Messier 51(a)/NGC 5194)
M51 The Whirlpool Galaxy
Thiên hà Xoáy Nước trên WikiSky: DSS2, SDSS, IRAS, Hydrogen α, X-Ray, Astrophoto, Sky Map, Bài viết và hình ảnh |
peru.txt | Peru (tiếng Tây Ban Nha: Perú), tên chính thức là nước Cộng hòa Peru (tiếng Tây Ban Nha: República del Perú, phát âm [reˈpuβlika ðel peˈɾu] ( nghe)), là một quốc gia tại tây bộ Nam Mỹ. Về phía bắc, Peru có biên giới với Ecuador và Colombia, về phía đông là Brasil, về phía đông nam là Bolivia, ở phía nam là Chile, và phía tây Peru là Thái Bình Dương.
Lãnh thổ Peru là quê hương của nhiều nền văn hóa cổ đại, trải dài từ văn minh Norte Chico- một trong các nền văn minh cổ xưa nhất trên thế giới, đến Đế quốc Inca- quốc gia lớn nhất châu Mỹ thời kỳ tiền Colombo. Đế quốc Tây Ban Nha chinh phục khu vực vào thế kỷ 16 và thiết lập một phó vương quốc với thủ đô tại Lima. Sau khi giành được độc lập vào năm 1821, Peru trải qua các giai đoạn bất ổn định chính trị và khủng hoảng ngân sách, cũng như các giai đoạn ổn định và kinh tế tiến bộ.
Peru là một nước cộng hòa dân chủ đại nghị, được chia thành 25 vùng. Địa lý Peru biến đổi từ các đồng bằng khô hạn ở vùng duyên hải Thái Bình Dương đến các đỉnh của dãy Andes và các khu rừng nhiệt đới ở bồn địa Amazon. Peru là một quốc gia đang phát triển, có chỉ số phát triển con người ở mức cao và mức nghèo là khoảng 25,8%. Các hoạt động kinh tế chính của quốc gia gồm có khai mỏ, chế tạo, nông nghiệp và ngư nghiệp.
Peru là quốc gia đa dân tộc, với dân số ước tính là 30,4 triệu, thành phần dân tộc bao gồm người da đỏ, người gốc Âu, người gốc Phi và người gốc Á. Ngôn ngữ chính được nói là tiếng Tây Ban Nha, song một lượng đáng kể người Peru nói tiếng Quechua hay các ngôn ngữ bản địa khác. Sự kết hợp của các truyền thống văn hóa khiến cho Peru có sự đa dạng lớn trên các lĩnh vực như nghệ thuật, ẩm thực, văn chương, và âm nhạc.
== Từ nguyên ==
Từ Peru có khởi nguyên trong các ngôn ngữ khác nhau ở nam bộ Pháp và tây bắc bộ Tây Ban Nha và cũng tìm thấy tại xứ Corse, tuy nhiên đối với người châu Âu, từ Peru là phù hợp nhất để thay thế tên gọi nguyên bản Birú, là tên của một quân chủ bản địa sống vào đầu thế kỷ 16 gần vịnh San Miguel thuộc Panama ngày nay. Khi các nhà thám hiểm Tây Ban Nha đến thăm lãnh thổ của ông vào năm 1522, đó là phần cực nam của Tân Thế giới mà người châu Âu biết đến. Do đó, khi Francisco Pizarro khám phá khu vực ở xa hơn về phía nam, chúng được đặt tên là Birú hay Peru.
Vương quốc Tây Ban Nha trao cho tên gọi này địa vị pháp lý trong Capitulación de Toledo năm 1529, theo đó gọi tên Đế quốc Inca là tỉnh Peru. Dưới sự cai trị của Tây Ban Nha, quốc gia nhận tên gọi Phó vương quốc Peru, và trở thành nước Cộng hòa Peru sau chiến tranh giành độc lập.
== Lịch sử ==
Các bằng chứng sớm nhất về sự hiện diện của con người tại lãnh thổ Peru có niên đại khoảng 9.000 năm TCN. Xã hội phức tạp cổ nhất được biết đến tại Peru là văn minh Norte Chico, nền văn minh này hưng thịnh dọc theo bờ biển Thái Bình Dương trong khoảng từ 3.000 đến 1.800 TCN. Theo sau những phát triển ban đầu này là các nền văn hóa khảo cổ học như Cupisnique, Chavin, Paracas, Mochica, Nazca, Wari, và Chimú. Vào thế kỷ 15, người Inca nổi lên thành một quốc gia hùng mạnh, tạo thành đế quốc lớn nhất châu Mỹ thời kỳ tiền Colombo, Đế quốc Inca tồn tại gần một thế kỷ. Các xã hội Andes dựa vào nông nghiệp, sử dụng các kỹ thuật như thủy lợi và ruộng bậc thang; chăn nuôi lạc đà và ngư nghiệp cũng là hoạt động quan trọng. Tổ chức xã hội dựa trên sự hỗ thù và tái phân phối do các xã hội này không có khái niệm về thị trường hay tiền tệ.
Vào tháng 12 năm 1532, một toán conquistador dưới quyền chỉ huy của Francisco Pizarro đánh bại và bắt giữ Hoàng đế Inca Atahualpa. Mười năm sau, Vương quốc Tây Ban Nha thiết lập Phó vương quốc Peru để quản lý hầu hết các thuộc địa tại Nam Mỹ của họ. Phó vương Francisco de Toledo tái tổ chức quốc gia trong thập niên 1570, hoạt động kinh tế chính là khai mỏ bạc và nguồn lao động chính là những lao động cưỡng bức người da đỏ.
Các thoi bạc của Peru cung cấp thu nhập cho Vương quốc Tây Ban Nha và thúc đẩy một mạng lưới mậu dịch phức tạp trải rộng đến tận châu Âu và Philippines. Tuy nhiên, vào thế kỷ 18, sản lượng bạc suy giảm và kinh tế đa dạng hóa khiến cho thu nhập của vương thất Tây Ban Nha giảm mạnh. Nhằm phản ứng, triều đình ban hành các cải cách Bourbon, với một loạt các chiếu chỉ nhằm tăng thuế và phân chia Phó vương quốc. Các luật mới kích động các cuộc nổi dậy như của Túpac Amaru II, song tất cả đều bị đàn áp.
Vào đầu thế kỷ 19, trong khi hầu hết Nam Mỹ bị cuốn vào các cuộc chiến giành độc lập, thì Peru vẫn là một thành trì của những người bảo hoàng. Do giới tinh hoa dao động giữa giải phóng và trung thành với chế độ quân chủ Tây Ban Nha, Peru chỉ giành được độc lập sau khi bị chiếm đóng do chiến dịch quân sự của José de San Martín và Simón Bolívar. Trong những năm đầu cộng hòa, đấu tranh cục bộ nhằm giành quyền lực giữa các lãnh đạo quân sự khiến cho chính trị bất ổn định.
Đặc tính dân tộc Peru được rèn luyện trong giai đoạn này, khi mà các kế hoạch của Simón Bolívar nhằm thành lập một Liên minh Mỹ Latinh gặp khó khăn và một liên minh với Bolivia sớm tàn. Từ thập niên 1840 đến thập niên 1860, Peru trải qua một giai đoạn ổn định trong nhiệm kỳ tổng thống của Ramón Castilla nhờ thu nhập quốc gia tăng lên từ xuất khẩu phân chim. Tuy nhiên, đến thập niên 1870, tài nguyên này bị cạn kiệt, quốc gia lâm vào tình trạng nợ nần nghiêm trọng, và đấu tranh chính trị lại nổi lên.
Peru chiến bại trước Chile trong Chiến tranh Thái Bình Dương 1879–1883, phải nhượng hai tỉnh Arica và Tarapacá theo các hiệp ước Ancón và Lima. Tiếp sau đấu tranh nội bộ hậu chiến là một giai đoạn ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng Bình dân, giai đoạn này kéo dài đến khi bắt đầu chế độ độc tài của Augusto B. Leguía. Đại khủng hoảng khiến Leguía bị hạ bệ, hồi phục rối loạn chính trị, và Đảng Nhân dân Cách mạng châu Mỹ (APRA) nổi lên. Trong ba thập niên sau đó, chính trị Peru có đặc điểm là tình trạng kình địch giữa tổ chức này và một liên minh của giới tinh hoa và quân sự.
Năm 1968, Lực lượng vũ trang Peru dưới sự chỉ huy của Tướng General Juan Velasco Alvarado tiến hành đảo chính chống Tổng thống Fernando Belaunde. Chế độ mới cam kết cải cách triệt để nhằm thúc đẩy phát triển, song không nhận được ủng hộ rộng rãi. Năm 1975, Tướng Francisco Morales Bermúdez thay thế Velasco, làm tệ liệt các cải cách, và giám thị việc tái lập chế độ dân chủ. Trong thập niên 1980, Peru phải đối mặt với nợ nước ngoài lớn, lạm phát ngày càng tăng, buôn bán ma túy nổi lên, và bạo lực chính trị quy mô lớn. Trong nhiệm kỳ tổng thống của Alberto Fujimori (1990–2000), quốc gia bắt đầu phục hồi; tuy nhiên, các cáo buộc độc đoán, tham nhũng, và vi phạm nhân quyền buộc Fujimori phải từ nhiệm sau cuộc bầu cử năm 2000 gây tranh cãi. Từ khi chế độ của Fujimori kết thúc, Peru cố gắng chống tham nhũng trong khi duy trì tăng trưởng kinh tế.
== Chính quyền ==
Peru là một nước cộng hòa dân chủ đại nghị tổng thống với một hệ thống đa đảng. Theo hiến pháp hiện nay, Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và chính phủ; người này được bầu cho một nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống chỉ định Thủ tướng, và cố vấn trong việc bổ nhiệm các thành viên khác của Hội đồng Bộ trưởng. Nghị viện theo nhất viện chế với 130 thành viên được bầu cho một nhiệm kỳ 5 năm. Các dự luật có thể được nhánh hành pháp hoặc lập pháp đệ trình, chúng sẽ thành luật sau khi được Nghị viện thông qua và được Tổng thống ban hành. Bộ máy tư pháp độc lập trên danh nghĩa, song sự can thiệp của chính quyền đối với các vấn đề pháp luật đã phổ biến trong suốt lịch sử và được cho là vẫn tiếp tục đến nay.
Chính phủ Peru được bầu cử trực tiếp, và bầu cử là bắt buộc đối với tất cả công dân từ 18 đến 70 tuổi. Cuộc bầu cử tổ chức vào năm 2011 kết thúc với chiến thắng của ứng cử viên tổng thống Ollanta Humala thuộc liên minh Gana Perú trước Keiko Fujimori thuộc Fuerza 2011. Nghị viện hiện gồm có Gana Perú (47 ghế), Fuerza 2011 (37 ghế), Alianza Parlamentaria (20 ghế), Alianza por el Gran Cambio (12 ghế), Solidaridad Nacional (8 ghế) và Concertación Parlamentaria (6 ghế).
Các xung đột biên giới với các quốc gia láng giềng chi phối quan hệ đối ngoại của Peru, hầu hết chúng đều được giải quyết xong trong thế kỷ 20. Hiện nay, Peru có tranh chấp giới hạn hàng hải với Chile trên Thái Bình Dương. Peru là một thành viên tích cực của một số tổ chức khu vực và là một trong số các quốc gia sáng lập Cộng đồng các quốc gia Andes. Quốc gia này cũng tham gia các tổ chức quốc tế như Tổ chức các quốc gia châu Mỹ và Liên Hiệp Quốc. Quân đội Peru gồm có lực lượng lục quân, hải quân và không quân; nhiệm vụ chính của quân đội Peru là bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Các lực lượng vũ trang trực thuộc Bộ Quốc phòng và Tổng thống với vai trò là Tổng tư lệnh. Chế độ cưỡng bách tòng quân bị bãi bỏ vào năm 1999, thay thế là phục vụ quân sự tự nguyện.
== Khu vực ==
Peru được chia thành 25 vùng và tỉnh Lima. Mỗi vùng có một chính phủ được bầu gồm có Thống đốc và hội đồng, họ phục vụ theo các nhiệm kỳ 4 năm. Các chính phủ này đặt kế hoạch phát triển vùng, thực hiện các dự án đầu tư công, xúc tiến hoạt động kinh tế, và quản lý tài sản công. Tỉnh Lima được quản lý bởi một hội đồng thành phố. Mục tiêu của việc ủy thác quyền cho các chính phủ địa phương và thành phố, cùng với các hành động khác, là nhằm cải thiện sự tham gia của quần chúng. Các tổ chức phi chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phân tán quyền lực và vẫn có ảnh hưởng đến chính trị địa phương.
Vùng
Tỉnh
Lima
== Địa lý ==
Peru có diện tích 1.285.216 km2 (496.225 sq mi), nằm ở tây bộ Nam Mỹ. Quốc gia này có biên giới với Ecuador và Colombia ở phía bắc, Brasil ở phía đông, Bolivia ở phía đông nam, Chile ở phía nam, và phía tây là Thái Bính Dương. Dãy núi Andes chạy song song với Thái Bình Dương; dãy núi này phân quốc gia thành ba khu vực về mặt địa lý. costa (duyên hải) ở phía tây là một đồng bằng hẹp, phần lớn là khô hạn ngoại trừ các thung lũng hình thành từ các sông theo mùa. sierra (đất cao) là khu vực Andes; gồm có cao nguyên Altiplano và đỉnh cao nhất quốc gia là Huascarán với cao độ 6.768 m (22.205 ft). Vùng thứ ba là selva (rừng rậm) với địa hình bằng phẳng trải rộng với các rừng mưa Amazon mở rộng về phía đông. Khoảng 60% diện tích quốc gia thuộc vùng thứ ba này.
Hầu hết sông tại Peru bắt nguồn từ các đỉnh của dãy Andes và chảy vào một trong ba lưu vực. Những sông đổ về Thái Bình Dương có đặc điểm là dốc và ngắn, dòng chảy không liên tục. Các chi lưu của sông Amazon có chiều dài lớn hơn, có dòng chảy lớn hơn nhiều, và có độ dốc nhỏ hơn khi ra khỏi khu vực sierra. Các sông đổ vào hồ Titicaca thường có chiều dài ngắn và có dòng chảy lớn. Các sông dài nhất chảy qua lãnh thổ Peru là Ucayali, Marañón, Putumayo, Yavarí, Huallaga, Urubamba, Mantaro, và Amazon.
Ảnh hưởng của dãy Andes và hải lưu Humboldt khiến quốc gia này có sự đa dạng rất lớn về khí hậu. Khu vực costa có nhiệt độ ôn hòa, lượng mưa thấp, độ ẩm cao, trừ phần phía bắc ấm hơn và có lượng mưa lớn hơn. Khu vực sierra có mưa thường xuyên vào mùa hạ, nhiệt độ và ẩm độ giảm theo cao độ cho đến các đỉnh núi đóng băng của dãy Andes. Khu vực selva có đặc trưng là lượng mưa lớn và nhiệt độ cao, ngoại trừ phần cực nam- là nơi có mùa đông lạnh và có mưa theo mùa. Do địa hình và khí hậu đa dạng, Peru có đa dạng sinh học cao với 21.462 loài thực vật và động vật ghi nhận được tính đến năm 2003; 5.855 trong số đó là loài đặc hữu.
== Kinh tế ==
Kinh tế Peru được Ngân hàng Thế giới phân loại là thu nhập trung bình cao và lớn thứ 52 thế giới và lớn thứ 7 khu vực Mỹ Latin. Năm 2011, Peru là một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới nhờ bùng nổ kinh tế trong thập niên 2000. Peru có chỉ số phát triển con người 0,752 theo số liệu năm 2011. Về mặt lịch sử, kinh tế quốc gia gắn liền với xuất khẩu, thu về ngoại tệ mạnh để chi cho nhập khẩu và thanh toán nợ nước ngoài. Mặc dù chúng đem đến thu nhập đáng kể, song tăng trưởng độc lập và phân bổ thu nhập công bằng hơn tỏ ra khó đạt được. Theo dữ liệu năm 2010, 31,3% tổng dân số Peru là người nghèo.
Chính sách kinh tế của Peru thay đổi nhiều trong những thập niên qua. Chính phủ của Juan Velasco Alvarado (1968–1975) tiến hành các cải cách triệt để, trong đó có cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa các công ty ngoại quốc, mở đầu hệ thống kinh tế kế hoạch, và thiết lập một khu vực quốc doanh lớn. Mục tiêu của các chính sách này là tái phân phối thu nhập và chấm dứt sự phụ thuộc kinh tế vào các quốc gia phát triển song kết quả là thất bại.
Bất chấp kết quả này, hầu hết các cải cách vẫn được thực hiện cho đến thập niên 1990, khi chính phủ tự do hóa của Alberto Fujimori chấm dứt việc kiểm soát giá, bảo hộ mậu dịch, hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài, và hầu hết quyền sở hữu nhà nước trong các công ty. Các cải cách dẫn đến tăng trưởng kinh tế liên tục từ 1993, ngoại trừ một sự sụt giảm sau Khủng hoảng tài chính châu Á 1997.
Các ngành dịch vụ chiếm 53% tổng sản phẩm quốc nội của Peru, kế tiếp là ngành chế tạo (22,3%), công nghiệp khai khoáng (15%), và các loại thuế (9,7%). Tăng trưởng kinh tế gần đây được thúc đẩy thông qua ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện các điều kiện thương mại, tăng đầu tư và tiêu dùng. Mậu dịch dự kiến sẽ tăng hơn nữa sau khi thực hiện một thỏa thuận mậu dịch tự do với Hoa Kỳ được ký vào năm 2006. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Peru là đồng, vàng, thiếc, hàng dệt may, và bột cá; Các đối tác mậu dịch chính của Peru là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Brasil và Chile.
== Nhân khẩu ==
Peru là một quốc gia đa dân tộc, hình thành từ các nhóm dân tộc khác nhau trong năm thế kỷ. Người da đỏ sống ở lãnh thổ Peru ngày nay từ hàng thiên niên kỷ trước khi người Tây Ban Nha chinh phục khu vực vào thế kỷ 16; theo sử gia Noble David Cook thì dân số của họ giảm từ khoảng 5–9 triệu vào thập niên 1520 xuống khoảng 600.000 vào năm 1620 với nguyên nhân chủ yếu là các bệnh truyền nhiễm. Người Tây Ban Nha và người da đen châu Phi đến với số lượng lớn trong thời thuộc địa, họ hỗn chủng trên quy mô lớn với nhau và với người bản địa. Những người Âu đến từ Ý, Tây Ban Nha, Pháp, Anh Quốc, và Đức dần nhập cư đến Peru sau khi quốc gia này độc lập. Peru giải phóng nô lệ da đen vào năm 1854. Người Hoa đến vào thập niên 1850, họ thay thế các công nhân nô lệ, và từ đó có ảnh hưởng rất lớn đối với xã hội Peru.
Cuộc điều tra dân số năm 1940 là cuộc điều tra dân số cuối cùng tại Peru nỗ lực phân loại các cá nhân theo dân tộc, khi đó 53% dân số nhận là người da trắng hoặc mestizo (lai da trắng và da đỏ) và 46% nhận là người da đỏ. Theo CIA World Factbook, phần lớn dân cư Peru là người da đỏ, hầu hết là Quechua và Aymara, sau đó là người mestizo. Trong một cuộc nghiên cứu vào năm 2006 của Cơ quan quốc gia về Thống kê và Tin học (INEI), dân cư Peru phần lớn nhận là mestizo (59,5%), sau đó là Quechua (22,7%), Aymara (2,7%), Amazon (1,8%), đen/Mulatto (1,6%), trắng (4,9%), và "khác" (6,7%).
Với khoảng 29,5 triệu cư dân, Peru là quốc gia đông dân thứ 5 tại Nam Mỹ. Mức tăng trưởng dân số giảm từ 2,6% xuống 1,6% trong giai đoạn 1950 đến 2000; dân số Peru dự kiến đạt khoảng 42 triệu vào năm 2050. Năm 2007, 75,9% dân cư Peru sống tại các khu vực đô thị và 24,1% tại các khu vực nông thôn. Các thành phố chính là Lima, Arequipa, Trujillo, Chiclayo, Piura, Iquitos, Cusco, Chimbote, và Huancayo; các thành phố này đều có trên 250.000 cư dân theo điều tra dân số năm 2007. Có 15 bộ lạc da đỏ chưa tiếp xúc tại Peru.
Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ thứ nhất của 83,9% người Peru 5 tuổi hoặc lớn hơn theo số liệu năm 2007. Tiếng Tây Ban Nha cùng tồn tại với một số ngôn ngữ bản địa, thông dụng nhất là tiếng Quechua được 12% dân số nói. Các ngôn ngữ bản địa và ngoại quốc khác được nói nhiều vào thời điểm đó lần lượt chiếm 2,7% và 0,1% dân số Peru.
Theo điều tra dân số năm 2007, 81,3% dân số trên 12 tuổi mô tả bản thân là tín hữu Công giáo, 12,5% là tín hữu Tin Lành, 3,3% theo các giáo phái khác, và 2,9% không tôn giáo. Tỷ lệ biết chữ ước tính là 92,9% trong năm 2007; mức này tại các khu vực nông thôn (80,3%) thấp hơn các khu vực thành thị (96,3%). Giáo dục tiểu học và trung học là bắt buộc và các trường công miễn học phí.
== Văn hóa ==
Văn hóa Peru chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống của người da đỏ và người Tây Ban Nha, tuy nhiên nó cũng chịu ảnh hưởng từ các dân tộc Á, Phi, và Âu khác. Truyền thống nghệ thuật của Peru có truy nguyên từ những đồ gốm, đồ dệt may, trang sức, và công trình điêu khắc của văn hóa tiền Inca. Người Inca duy trì các nghề thủ công này và đạt được những thành tựu về kiến trúc như xây dựng Machu Picchu. Baroque chi phối nghệ thuật Peru thuộc địa, song cũng có cải biến theo truyền thống bản địa.
Trong giai đoạn thuộc địa, nghệ thuật hầu hết tập trung vào chủ đề tôn giáo; biểu hiện là số lượng nhà thờ đông đảo trong thời kỳ này và các bức họa của trường phái Cuzco. Nghệ thuật đình đốn sau khi độc lập, kéo dài cho đến khi ý thức hệ Indigenismo nổi lên vào đầu thế kỷ 20. Từ thập niên 1950, nghệ thuật Peru được chiết trung hóa và định hình bởi cả dòng chảy nghệ thuật ngoại quốc và địa phương.
Văn chương Peru bắt nguồn từ truyền thống truyền khẩu của các nền văn minh thời kỳ tiền Colombo. Người Tây Ban Nha đem đến chữ viết vào thế kỷ 16; văn chương thuộc địa bao gồm các biên niên sử và văn chương tôn giáo. Sau khi độc lập, chủ nghĩa phong tục và chủ nghĩa lãng mạn trở thành những thể loại văn học phổ biến nhất, minh chứng qua các tác phẩm của Ricardo Palma. Phong trào Indigenismo vào đầu thế kỷ 20 do các nhà văn như Ciro Alegría và José María Arguedas lãnh đạo. Văn chương Peru hiện đại được thừa nhận là nhờ vào các tác gia như Mario Vargas Llosa, ông là một thành viên quan trọng của phong trào Mỹ Latinh bùng nổ.
Ẩm thực Peru pha trộn giữa các món ăn da đỏ và Tây Ban Nha, với ảnh hưởng mạnh của cách nấu ăn kiểu Trung Hoa, châu Phi, Ả Rập, Ý, và Nhật Bản. Các món ăn phổ biến là anticuchos, ceviche, và pachamanca. Khí hậu đa dạng của Peru tạo diều kiện cho sự phát triển của các loại thực vật và động vật khác nhau, là một điều tốt cho ẩm thực.
Âm nhạc Peru có nguồn gốc Andes, Tây Ban Nha và châu Phi. Vào thời kỳ tiền Tây Ban Nha, biểu hiện âm nhạc có sự khác biệt lớn giữa các vùng; quena và tinya là hai nhạc cụ phổ biến. Người Tây Ban Nha đưa đến nhiều nhạc cụ mới, chẳng hạt như ghi-ta và hạc, kéo theo sự phát triển của các nhạc cụ tạp giao như charango. Đóng góp của người gốc Phi cho âm nhạc Peru gồm các nhịp điệu của họ và cajón, một nhạc cụ gõ. Vũ đạo dân gian Peru gồm có marinera, tondero, zamacueca, diablada và huayno.
== Tham khảo ==
== Thư mục ==
Bailey, Gauvin Alexander. Art of colonial Latin America. London: Phaidon, 2005, ISBN 0714841579.
Constitución Política del Perú. 29 tháng 12 năm 1993.
Custer, Tony. The Art of Peruvian Cuisine. Lima: Ediciones Ganesha, 2003, ISBN 9972920305.
Garland, Gonzalo. "Perú Siglo XXI", series of 11 working papers describing sectorial long-term forecasts, Grade, Lima, Peru, 1986-1987.
Garland, Gonzalo. Peru in the 21st Century: Challenges and Possibilities in Futures: the Journal of Forecasting, Planning and Policy, Volume 22, Nº 4, Butterworth-Heinemann, London, England, May 1990.
Gootenberg, Paul. (1991) Between silver and guano: commercial policy and the state in postindependence Peru. Princeton: Princeton University Press ISBN 0691023425.
Gootenberg, Paul. (1993) Imagining development: economic ideas in Peru's "fictitious prosperity" of Guano, 1840–1880. Berkeley: University of California Press, 1993, 0520082907.
Instituto de Estudios Histórico–Marítimos del Perú. El Perú y sus recursos: Atlas geográfico y económico. Lima: Auge, 1996.
Instituto Nacional de Estadística e Informática. Perú: Compendio Estadístico 2005PDF (8.31 MB). Lima: INEI, 2005.
Instituto Nacional de Estadística e Informática. Perfil sociodemográfico del Perú. Lima: INEI, 2008.
Instituto Nacional de Estadística e Informática. Perú: Estimaciones y Proyecciones de Población, 1950–2050. Lima: INEI, 2001.
Klarén, Peter. Peru: society and nationhood in the Andes. New York: Oxford University Press, 2000, ISBN 0195069285.
Bản mẫu:DOClink. ngày 28 tháng 9 năm 1999.
Ley N° 27867, Ley Ley Orgánica de Gobiernos Regionales. ngày 16 tháng 11 năm 2002.
Martin, Gerald. "Literature, music and the visual arts, c. 1820–1870". In: Leslie Bethell (ed.), A cultural history of Latin America. Cambridge: University of Cambridge, 1998, các trang 3–45.
Martin, Gerald. "Narrative since c. 1920". In: Leslie Bethell (ed.), A cultural history of Latin America. Cambridge: University of Cambridge, 1998, pp. 133–225.
Porras Barrenechea, Raúl. El nombre del Perú. Lima: Talleres Gráficos P.L. Villanueva, 1968.
Romero, Raúl. "La música tradicional y popular". In: Patronato Popular y Porvenir, La música en el Perú. Lima: Industrial Gráfica, 1985, pp. 215–283.
Romero, Raúl. "Andean Peru". In: John Schechter (ed.), Music in Latin American culture: regional tradition. New York: Schirmer Books, 1999, pp. 383–423.
Thorp, Rosemary and Geoffrey Bertram. Peru 1890–1977: growth and policy in an open economy. New York: Columbia University Press, 1978, ISBN 0231034334
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Hồ sơ quốc gia từ BBC News
Peru từ Encyclopædia Britannica
Mục “Peru” trên trang của CIA World Factbook.
Peru trên UCB Libraries GovPubs
Peru tại DMOZ
Wikimedia Atlas của Peru, có một số bản đồ liên quan đến Peru.
(tiếng Tây Ban Nha) Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Peru |
hua nhàn.txt | Hua Nhàn là một xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Việt Nam.
Xã Hua Nhàn có diện tích 58,57 km², dân số năm 2008 là 3057 người, mật độ dân số đạt 52 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
georges braque.txt | Georges Braque (sinh 13 tháng 5 1882 - mất 31 tháng 8 1963) là một danh họa và nhà điêu khắc lớn người Pháp, người cùng với Pablo Picasso, đã phát triển trường phái Lập thể trong hội họa.
== Thời trẻ ==
Georges Braque sinh tại Argenteuil-sur-Seine, Pháp. Ông trưởng thành ở Le Havre và được học để trở thành một thợ quét sơn nhà và thợ trang trí nội thất giống cha và ông mình, tuy nhiên Braque cũng học thêm vẽ tại trường École des Beaux-Arts ở Le Havre vào buổi chiều các ngày từ năm 1897 tới 1899. Ông tới Paris học nghề trang trí nội thất và được trao chứng chỉ năm 1902. Năm sau đó, Braque tới học tại trường Académie Humbert, cũng ở Paris và học tại đó tới năm 1904. Ngôi trường này chính là nơi mà Braque gặp Marie Laurencin và Francis Picabia.
== Tham khảo == |
thủ môn (bóng đá).txt | Trong bóng đá, thủ môn là cầu thủ đứng ở vị trí cuối cùng của hàng hậu vệ giữa hàng tấn công của đối phương và khung thành/hàng phòng ngự của đội mình. Vai trò chính của thủ môn là bảo vệ khung thành đội nhà và ngăn cản đối phương ghi bàn thắng. Thủ môn là cầu thủ duy nhất trong đội được phép chạm bóng bằng bàn tay và cánh tay trong trận đấu (chỉ giới hạn trong khu cấm địa của đội nhà). Mỗi đội phải có 1 thủ môn trong cả trận đấu. Nếu thủ môn bị buộc phải rời sân do chấn thương hoặc đuổi khỏi sân, 1 cầu thủ khác phải trấn giữ khung thành, ngay cả khi đội bóng không còn thủ môn nào khác để thay thế hoặc/và đã sử dụng hết lần thay người. Thủ môn phải mặc màu áo khác với các cầu thủ khác trong đội nhà, đội khách, trọng tài và thủ môn của đối phương.
Thủ môn thường được viết tắt là TM trong tiếng Việt hoặc GK trong các trận đấu quốc tế (do chữ Goalkeeper trong tiếng Anh) trong danh sách ra sân, tường thuật trận đấu, và ghi chú trên TV. Trong tiếng Việt còn được gọi là thủ thành, người trấn giữ khung thành, người gác đền.
Khi gắn số cho cầu thủ trong đội, nếu hệ thống số áo không được sử dụng, thì số 1 thường để dành cho thủ môn. Những ngoại lệ đặc biệt có Ubaldo Fillol, mặc số áo 5 và 7 tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1978 và 1982.
== Lịch sử ==
Bóng đá, cũng giống như nhiều môn thể thao khác, đã có rất nhiều thay đổi về chiến thuật, tạo ra một số vị trí và loại bỏ một số vị trí khác. Tuy nhiên, thủ môn là vị trí duy nhất không bao giờ thay đổi từ khi luật bóng đá ra đời. Mặc dù trong những ngày đầu tiên khi bóng đá còn chưa có tổ chức, tính hệ thống có giới hạn hoặc không tồn tại và ý tưởng chính là tất cả các cầu thủ trên sân cùng tấn công và cùng phòng thủ, thì nhiều đội cũng đã cắt cử một số thành viên chơi như 1 thủ môn.
Những miêu tả đầu tiên về các đội bóng đá với cầu thủ có vị trí được Richard Mulcaster kể lại từ năm 1581, tuy nhiên, ông không nhắc đến thủ môn. Mãi đến năm 1602 thì Cornish Hurling mới nhắc đến việc bảo vệ gôn. Theo Carew: "họ cắm hai bụi cây xuống đất, cách nhau khoảng tám hoặc mười foot; và đối diện nó, cách đó khoảng 200 hay 240 feet, và họ gọi là "gôn". Một trong hay cái này được chọn bằng rút thăm cho một bên, còn phía kia cho đối thủ. Tại đó họ phân cho người bảo vệ, hai người cản ném tốt nhất"
Những miêu tả về việc ghi bàn có trong văn học Anh từ thế kỷ thứ mười sáu, ví dụ trong vở kịch The Blind Beggar of Bethnal Green (Tên ăn xin mù của Bethnal Green) của John Day (diễn vào khoảng 1600; xuất bản vào 1659): "Tôi sẽ ghi bàn tại trò camp-ball" (một loại bóng đá cực kỳ bạo lực, phổ biến ở Đông Anglia). Cũng trong một bài thơ vào năm 1613, Michael Drayton đã nói rằng "when the Ball to throw, And drive it to the Gole, in squadrons forth they goe". Dường như chắc chắn rằng bất cứ trò chơi nào có khung thành, là ở đó một loại thủ môn cũng phải tồn tại. David Wedderburn đã nói đến từ "giữ gôn" vào năm 1633 (tuy nhiên, nó không đồng nghĩa với cách gọi ngày nay. Vì thủ môn là một vị trí cố định trên sân còn "giữ gôn" thì bất cứ ai đứng gần khung thành cũng có thể làm nhiệm vụ này; ông ta đã dùng từ Latinh "metum" có nghĩa là vật đánh dấu đoạn cuối của một cuộc đua ngựa).
Ban đầu, thủ môn thường chơi giữa 2 cột gôn và có rất ít sự linh hoạt, trừ khi họ cản phá cú sút của đối phương. Sau nhiều năm, do sự thay đổi về cách thức và phương pháp thi đấu, thủ môn bắt đầu có vai trò tích cực hơn trong trận đấu. Luật chơi nguyên thủy cho phép thủ môn cầm bóng tại phần sân nhà của đội mình. Nó đã được xem lại vào năm 1912, hạn chế sử dụng tay chỉ tại vòng cấm địa và khung thành.
Vào năm 1992, Hội đồng Thế giới đã thay đổi luật bóng đá trong đó có cả sự thay đổi đối với vị trí thủ môn. Đáng chú ý là luật chuyền về, cấm thủ môn cầm bóng bằng tay khi nhận 1 đường chuyền về của đồng đội được thực hiện không phải bằng đầu, vai hoặc ngực. Do đó, tất cả các thủ môn cần phải luyện tập khả năng khống chế bóng bằng chân của mình.
== Vị trí chung và kỹ thuật chơi ==
Vị trí thủ môn là vị trí đặc biệt nhất trên sân. Không giống như các cầu thủ khác, thủ môn có quyền đụng bóng bằng bất cứ bộ phận nào của cơ thể miễn là họ đứng trong vòng cấm địa, ở ngoài vòng đó, thủ môn không được phép dùng bàn tay hoặc cánh tay để chơi bóng.
Mặc dù thủ môn có một số đặc quyền trong luật bóng đá, ngoài việc dùng tay trong vòng cấm địa, họ cũng vẫn phải tuân theo cùng luật lệ như tất cả các cầu thủ khác.
=== Thủ môn ảnh hưởng đến lối chơi và tấn công ===
Một số thủ môn đã bị nhận thẻ đỏ trực tiếp khi phạm lỗi với tiền đạo đối phương khiến họ bị chấn thương khi dâng cao tấn công trong vòng cấm địa. Một cầu thủ đã bị chấn thương vĩnh viễn phải từ bỏ sự nghiệp khi bị thủ môn đối phương xoạc bóng gãy xương chân trong một pha dâng cao tấn công.
Thủ môn không bị yêu cầu phải ở trong vòng cấm địa. Họ có thể chơi ở bất cứ đâu trên sân, và họ thường đóng vai trò là 1 hậu vệ tăng cường trong một số tình huống của trận đấu. Các thủ môn René Higuita của Colombia, Jorge Campos của México và Bruce Grobbelaar của Liverpool là những thủ môn có đôi chân khá điêu luyện và họ thường chơi ở phía ngoài khu cấm địa. Một số thủ môn thậm chí còn ghi bàn, một số thủ môn đã ghi bàn bằng cách lao lên cuối sân của đối phương để tạo ra lợi thế về số cầu thủ. Kiểu lao lên này rất mạo hiểm, và chỉ thường thực hiện vào cuối trận, để ghi bàn vào những phút cuối khi đội nhà của thủ môn đó bị thiếu người (và chỉ khi cách biệt về tỷ số là không quan trọng). Kiểu chơi này hiếm khi thành công, mặc dù đã có những thủ môn như Michelangelo Rampulla, Jens Lehmann, Peter Schmeichel, Mart Poom, Marco Amelia, Andrés Palop, Brad Friedel, Massimo Taibi và Mark Crossley đã ghi bàn từ những tình huống như thế.
Trong một số tình huống thậm chí còn hiếm hơn, thủ môn có thể ghi bàn từ pha phát bóng mà không hề lường trước, khi trái bóng bay đập đất khiến cho thủ môn đối phương không thể chụp được bóng. Paul Robinson và Pat Jennings đều đã ghi bàn trong những tình huống như vậy, và cũng thật trùng hợp là họ đều chơi cho Spurs. Một trường hợp khác xảy ra tại trận bán kết giải SEA Games 2003 giữa hai đội Việt Nam và Malaysia, thủ môn Syamsuri Mustafa của Malaysia cũng ghi 1 bàn thắng từ pha phát bóng ở vòng cấm sân nhà.
Những thủ môn khác cũng trở nên nổi tiếng với những quả đá phạt; ví dụ, thủ môn José Luis Chilavert là thủ môn duy nhất từ trước tới nay ghi được 1 cú hat trick (3 bàn trong 1 trận đấu), đều bằng các cú đá penalty. Anh cũng là 1 chuyên gia đá phạt. Fabio Dos Santos của đội Đồng Tâm Long An trở thành thủ môn đầu tiên ghi bàn ở AFC Champion league. Rogério Ceni đã ghi rất nhiều bàn thắng, tổng cộng 100 lần (tính đến ngày 27 tháng 3 năm 2011) bằng những quả đá phạt trực tiếp và đá penalty.
== Dụng cụ và quần áo ==
Thủ môn phải mặc áo phân biệt hoàn toàn so với các cầu thủ khác và trọng tài, vì đây là quy định của FIFA. Một số thủ môn rất dễ nhận ra vì cách ăn mặc của họ, như Lev Yashin, có tên thân mật là "Nhện Đen" vì bộ đồ toàn màu đen của anh, hoặc Jorge Campos, nổi tiếng vì bộ áo thi đấu màu mè sặc sỡ. Quần áo thủ môn thường màu xanh lá cây, vàng sáng, cam, ghi bạc hoặc những màu sắc khác.
Phần lớn thủ môn cũng đeo găng tay thủ môn để tăng độ dính với quả bóng, và để bảo vệ họ khỏi bị thương. Hiện nay có những loại găng tay được thiết kế để chống chấn thương như trật ngón tay. Việc đeo găng không bắt buộc, tuy nhiên do tính ma sát khi chụp nên hiếm khi thủ môn vào sân mà không có nó trong những trận đấu chuyên nghiệp. Tuy nhiên họ có thể bỏ nó trong loạt sút luân lưu.
Petr Cech mang 1 miếng bảo vệ đầu sau khi bị nứt sọ trong Giải Ngoại hạng Anh, sau khi va chạm với Steven Hunt trong trận đấu với Reading F.C.
== Kỷ lục ==
Thủ môn là nhân tố quan trọng trong loạt sút luân lưu. kỉ lục về số lần cản phá penalty thanh công được nắm giữ bới thủ môn Helmuth Duckadam của câu lạc bộ FC Steaua Bucureşti và Ciaran Kelly của Sligo Rovers F.C. Duckadam đã cản được 4 quả phạt đền trong trận chung kết cúp C1 châu Âu gặp FC Barcelona vào ngày 7 tháng 5 năm 1986. Kelly ngăn chặn liên tiếp 4 quả penalty trong trận chung kết cúp Ford FAI giữa Sligo Rovers và Shamrock Rovers vào ngày 14 tháng 11 năm 2010. kỉ lục này được thiết lập lại lần nữa bởi Jason Ravenhill vào ngày 27 tháng 3 năm 2011 khi thi đấu cho clb BAA Heathrow (Sunday) FC gặp clb Maidenhead Nomads. Ravenhill đã cản phá liên tiếp 4 quả penalty/5 quả sút hỏng trong tổng cộng 10 lượt sút nhưng đội bóng của anh vẫn thất bại với tỉ số 5-4. Ed Pearce,thủ môn của Maidenhead Nomads cũng chặn được 4 quả Penalty trong loạt luân lưu nhưng không phải liên tục.
=== Phí chuyển nhượng cao nhất ===
Gianluigi Buffon là thủ thành đắt giá nhất mọi thời đại (từ Parma tới Juventus với giá 52,29 triệu euro), tiếp theo là David de Gea (từ Atlético Madrid tới Manchester United năm 2011 với phí chuyển nhượng ước tính 21 triệu Euro).
== Những thủ môn nổi tiếng ==
=== Các cuộc bình chọn của IFFHS ===
Sau đây là 20 thủ môn xuất sắc nhất theo cuộc bình chọn của IFFHS (Hiệp hội Lịch sử và Thống kê bóng đá Thế giới) cho danh hiệu "Thủ môn Xuất sắc nhất thế kỉ 20"
Lev Yashin
Gordon Banks
Peter Schmeichel
Dino Zoff
Sepp Maier
Antonio Carbajal
Ricardo Zamora
José Luis Chilavert
Peter Shilton
František Plánička
Amadeo Carrizo
Gilmar dos Santos Neves
Ladislao Mazurkiewicz
Pat Jennings
Ubaldo Fillol
Jean-Marie Pfaff
Rinat Dasaev
Gyula Grosics
Ray Clemence
Walter Zenga
=== Thủ môn Xuất sắc nhất thế giới của IFFHS ===
Sau đây là danh sách thủ môn được IFFHS chọn mỗi năm từ năm 1987 để làm "Thủ môn xuất sắc nhất Thế giới".
2010 - Iker Casillas
2011 - Iker Casillas
== Văn hóa đại chúng ==
Trong bộ phim võ thuật/hài Đội bóng Thiếu Lâm của Hồng Kông, các cầu thủ của "Đội quỷ" đã tiêm thuốc của Mỹ để cho họ có sức mạnh siêu nhân và cả tốc độ. Thủ môn của họ rất nhanh và có bàn tay cực mạnh có thể đánh gãy cả thanh sắt của khung thành. Anh đã bảo vệ khung thành khỏi cú đá cực mạnh của "Kim cang cước" của "Đội Thiếu Lâm", người có thể đá bay cả cái tủ lạnh sắt lên trời.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hướng dẫn cho thủ môn trên Jbgoalkeeping
Thông tin về vị trí thủ môn trên BBC
The Glove Bag |
mortonhall.txt | Mortonhall là một vùng phía nam thuộc thành phố Edinburgh, Scotland. Nó nổi tiếng bởi khu mộ địa nổi bật cho một kiến trúc hiện đại.
Khu vực này nằm ở mặt phía tây cuối đường Frogston giữa Fairmilehead và Gilmerton; phía tây Liberton và đồi Braid Hills. Nơi đây có Mortonhall House, một kiến trúc lịch sử, giờ đã trở thành văn phòng và phòng cho thuê. Sân giữa toà nhà có chỗ để nhà lưu động và khu vường trung tâm. Phía Bắc được xây dựng thành sân golf Mortonhall. Phía Nam là toà nhà có từ các năm 1970. Khoảng đất phía Nam gần như toàn bộ là đất nông trại.
== Lịch sử ==
Vùng đất Mortonhall, một phần của cánh đồng Pentland, thuộc sở hữu của Sir Henry St Clair của Rosslyn năm 1317. Năm 1630, Morton thuộc về sở hữu của William Rigg, rồi con trai ông ta bán cho gia đình Porterfield vùng Comiston; sau đó được bán cho người khác, và năm 1789 vùng đất thuộc về gia đình Trotter, người đã sở hữu điền trang Mortonhall từ 1635. Họ xây một ngôi nhà hiện trại trên nền đất ấy, ngôi nhà năm 1769, sau đó nó được nâng cấp năm 1835.
== Chú thích == |
hiệp hội cầu thủ chuyên nghiệp thế giới.txt | Liên đoàn Cầu thủ Chuyên nghiệp Quốc tế, thường được viết tắt là FIFPro từ Fédération Internationale des Associations de Footballeurs Professionnels, là một tổ chức tập hợp toàn bộ các hiệp hội cầu thủ chuyên nghiệp trên khắp thế giới. Hiện tại, FIFPro đã có tất cả 42 liên đoàn bóng đá là thành viên.
FIFPro được thành lập ngày 15 tháng 11 năm 1965 tại thủ đô Paris, bởi các liên đoàn bóng đá của Pháp, Scotland, Anh, Ý và Hà Lan, mục đích là đại diện cho quyền lợi của các cầu thủ chuyên nghiệp tại các liên đoàn thành viên của Hiệp hội.
== Hội đồng quản trị ==
Chủ tịch: Philippe Piat (UNFP, Pháp)
Tổng thư ký: Theo van Seggelen (VVCS, Hà Lan)
Phó Chủ tịch: Rinaldo Martorelli (Fenapaf/Sapesp, Brazil), Brendan Schwab (PFA, Úc), Luis Rubiales (AFE, Tây Ban Nha)
Thư ký cho Ban FIFPro: Frederique Winia (Hà Lan)
== Thành viên ==
=== Toàn bộ thành viên ===
=== Các thành viên ứng cử ===
=== Các thành viên theo dõi ===
== Giải thưởng ==
Năm 2005, FIFPro đã cho ra 3 giải thưởng là "Cầu thủ xuất sắc nhất năm", "Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm" và "Đội hình xuất sắc nhất năm" (World XI).
=== World XI ===
World XI là tên gọi tắt của giải thưởng "Đội hình xuất sắc nhất trong năm", do Hiệp hội Cầu thủ Chuyên nghiệp Thế giới tổ chức lấy ý kiến từ hàng chục ngàn cầu thủ thuộc các hiệp hội thành viên khác.
=== Cầu thủ xuất sắc nhất năm ===
Cầu thủ với lượt bình chọn cao nhất trong đội hình World XI cũng sẽ được vinh danh là World Player of the Year (tạm dịch: Cầu thủ xuất sắc thế giới của nắm
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của FIFPro
Trang web của FIFPro World XI |
bradford.txt | Bradford, thành phố ở hạt đô thị của Tây Yorkshire, phía Bắc Anh. Thành phố được thành lập năm 1974 và hợp nhất các thị xã Keighley và Shipley, có sông Aire. Bradford là trung tâm sản xuất sợi len và mua bán len lông cừu. Ngoài ra thành phố Bradford cũng chế tạo máy móc và hàng lông. Ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa nằm ở khu vực Tây Bắc của thành phố. Bradford có Đại học Bradford và nhiều trường kỹ thuật. Thành phố có Nhà thờ lớn Saint Peter, một công trình thế kỷ 15. Trước thế kỷ 13, Bradford đã là một trung tâm chợ buôn bán lông cừu. Cuối thế kỷ 18, nhà máy len lông cừu đầu tiên chạy bằng hơi nước của cộng đồng đã được thiết lập ở đây. Ngành sản xuất sợi len bắt đầu thống trị công nghiệp của Bradford giữa thế kỷ 19 và khiến thành phố phát triển nhanh.
== Tham khảo == |
fujitsu.txt | Fujitsu (富士通株式会社, Fujitsū Kabushiki-kaisha) là một công ty Nhật Bản chuyên ngành trong lĩnh vực bán dẫn, máy tính, truyền thông và dịch vụ đặt trụ sở tại Tokyo.
Thành lập năm 1935, hiện tại Fujitsu có 170.000 công nhân và 500 nhánh công ty khắp thế giới. Tính tới năm 2016 chủ tịch tập đoàn của Fujitsu là ông Tatsuya Tanaka. Tại thị trường quốc tế, Fujitsu coi IBM là đối thủ chính trong khi tại thị trường nội địa, NEC được coi là đối thủ của Fujitsu. Đối với mảng dịch vụ, vị trí của Fujitsu thường nằm ở vị trí thứ 3 đến thứ 5 trên thế giới và số 1 tại thị trường Nhật Bản.
Chiến lược phát triển của Fujitsu luôn tuân thủ theo 1 định nghĩa gọi là "Đường lối Fujitsu" (Fujitsu Way).
Tiến xa ra thị trường toàn cầu, Fujitsu mang theo những sự đổi mới đột phá trong cách suy nghĩ của người Nhật và độ chính xác của người Đức, khi đa số các sản phẩm về công nghệ như Server, Storage đều được sản xuất ở Nhật Bản và Đức.
Theo con số thống kê gần đây thì Fujitsu đứng hạng 150 các công ty, tập đoàn toàn cầu theo số liệu của Fortune 500 ranking.
Khẩu hiệu của công ty là "Shaping tomorrow with you" (Cùng bạn định hình tương lai) và trước đó là "The possibilities are infinite" (Mọi khả năng là vô tận). Có thể nhìn thấy ở phía dưới logo chính của công ty và kết nối với logo nhỏ ở trên chữ J và I trong từ Fujitsu.
== Tham khảo == |
khu nghỉ dưỡng trượt tuyết squaw valley.txt | Khu nghỉ dưỡng Trượt tuyết Squaw Valley thuộc Thung lũng Olympic, California, là một trong những khu trượt tuyết lớn nhất Hoa Kỳ, và là một trong những địa điểm tổ chức Thế vận hội Mùa đông 1960 .
== Lake Tahoe ==
Khu vực Lake Tahoe nằm trong ranh giới giữa California và Nevada. Khu vực xung quanh trung tâm Lake Tahoe, hồ sâu thứ hai ở nước Mỹ U.S. được bầu chọn là “Hồ tốt nhất” nước Mỹ 2012 bởi The USA Today. Hồ Tahoe là nơi có 18 khu trượt tuyết, bao gồm cả Squaw Valley.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
SnowGuide.org—Squaw Valley
3dSkiMaps.com—Squaw Valley Ski Resort
Squaw Valley Snow Forecast—Squaw Valley Snow Forecast
Ski resorts Squaw Valley at Skiresorts-Test.com
Bản mẫu:Địa điểm thi đấu Thế vận hội Mùa đông 1960 Bản mẫu:Địa điểm thi đấu trượt tuyết đổ đèo Thế vận hội |
lãnh thổ oklahoma.txt | Lãnh thổ Oklahoma (tiếng Anh: Oklahoma Territory hay Territory of Oklahoma) từng là một lãnh thổ hợp nhất có tổ chức của Hoa Kỳ, tồn tại từ ngày 2 tháng 5 năm 1890 cho đến 16 tháng 11 năm 1907 khi lãnh thổ nhập với Lãnh thổ Bản địa Mỹ dưới một hiến pháp mới và được phép gia nhập liên bang để trở thành tiểu bang Oklahoma.
Đạo luật tổ chức Oklahoma 1890 được thông qua để tổ chức phần nữa phía tây Lãnh thổ Bản địa Mỹ cùng với một dải đất có tên gọi là Vùng đất vô chủ thành Lãnh thổ Oklahoma. Các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ trong lãnh thổ mới này được mở sau đó cho người định cư đến sinh sống lập nghiệp trong năm đó và trong các năm 1891 và 1893.
Bãy quận được xác định ngay khi thành lập lãnh thổ. Tuy chúng được đặt số nhưng dần dần có tên là Logan, Cleveland, Oklahoma, Canadian, Kingfisher, Payne và Beaver. Việc phân phát đất đai cho người định cư vào năm 1893 đã dẫn đến việc thành lập thêm các quận Kay, Grant, Woods, Garfield, Noble, và Pawnee. Ban đầu từng là một phần đất của tiểu bang Texas, lãnh thổ có thêm một quận sau vụ giải quyết tranh chấp ranh giới. Quận này ngày nay được tách thành các quận Greer, Jackson, Harmon, và một phần của Beckham.
=== Tổ chức ===
Lịch sử Lãnh thổ Oklahoma bắt đầu bằng Đạo luật Giao tiếp với người bản địa Mỹ" năm 1834 khi Quốc hội Hoa Kỳ dành riêng đất đai cho người bản địa Mỹ. Vào lúc đó, đất đai là lãnh thổ chưa tổ chức bao gồm đất đai của liên bang ở "phía tây sông Mississippi và không nằm bên trong các tiểu bang Missouri và Louisiana, hay Lãnh thổ Arkansas..." Vào năm 1856, lãnh thổ này bị mất bớt diện tích sắp xỉ với ranh giới ngày nay của tiểu bang Oklahoma, trừ Vùng cán chảo Oklahoma và Cựu Quận Greer. Các đất đai này nhanh chóng được người ta gọi là Lãnh thổ Bản địa Mỹ vì chúng đã được ban cho một số dân tộc người bản địa theo Đạo luật Di dời người Bản địa để đổi lấy các lãnh thổ lịch sử của người bản địa ở phía đông sông Mississippi.
Cho đến thời điểm này, người bản địa Mỹ có đặc quyền sử dụng đất đai tại vùng này. Năm 1866, sau Nội chiến Hoa Kỳ, chính phủ liên bang bắt ép các hiệp định mới với người bản địa Mỹ từng ủng hộ Liên minh miền Nam Hoa Kỳ, và buộc họ nhượng đất và những nhượng bộ khác. Theo như các hiệp định tái thiết được ký, năm bộ lạc văn minh bắt buộc phải giải phóng nô lệ của họ và cho người nô lệ quyền công dân trong các bộ lạc nếu người nô lệ muốn ở lại với các bộ lạc. Điều này bắt buộc nhiều bộ lạc trong Lãnh thổ Bản địa Mỹ phải nhân nhượng. Các viên chức Hoa Kỳ bắt họ nhượng lại khoảng 2.000.000 mẫu Anh (8.100 km2) đất đai nằm giữa Lãnh thổ Bản địa Mỹ. Elias C. Boudinot, một người vận động hành lang, viết một bài báo đăng trên tờ Chicago Times ngày 17 tháng 2 năm 1879 đã phổ thông hóa thuật ngữ "Unassigned Lands" (tạm dịch: các vùng đất chưa phân phát) để ám chỉ mảnh đất này. Chẳng bao lâu, truyền thông đại chúng bắt đầu gọi những người nóng lòng muốn định cư tại vùng này là "Boomers". Để ngăn ngừa người Mỹ gốc châu Âu định cư vùng đất này, tháng 4 năm 1879, tổng thống Rutherford B. Hayes, ra tuyên cáo cấm không cho vào Lãnh thổ Bản địa Mỹ một cách bất hợp pháp.
=== David Payne và nhóm Boomer ===
Mặc dù liên bang ngăn chặn nhưng nhu cầu về đất đai của người định cư không chấm dứt. Đại úy David L. Payne là một trong số những người ủng hộ chính cho việc mở rộng vùng đất Oklahoma cho người định cư da trắng. Payne đến Kansas nơi ông thành lập "Hội Thuộc địa Boomer". Tổ chức của Payne gồm 10.000 thành viên hy vọng thiết lập một thuộc địa cho người da trắng tại các vùng đất mà người bản địa Creek (Muskogee) và người bản địa Seminole nhượng lại cho Hoa Kỳ sau Nội chiến Hoa Kỳ. Các vùng đất này, được gọi là "Unassigned Lands" (các vùng đất chưa được cấp phát), trước đó cũng không có người bản địa Mỹ nào định cư. Việc thành lập nhóm Boomer của Payne đã khiến tổng thống Hayes đưa ra tuyên cáo vào ngày 12 tháng 2 năm 1880 ra lệnh cho Payne không được bước chân vào Lãnh thổ Bản địa Mỹ. Để phản ứng, Payne và nhóm ông đi đến Trại Alice nằm trong "Unassigned Lands" (các vùng đất chưa được cấp phát) ở phía đông Oklahoma City. Tại đó, họ lập kế hoạch cho một thành phố và đặt tên là "Ewing". Trung đoàn Kỵ binh số 4 bắt họ, đưa họ đến Ft. Reno và hộ tống họ trở lại Kansas. Payne giận dữ vì công luật cấm giới quân sự can thiệp vào các vấn đề dân sự. Payne và nhóm ông được thả nhưng bị từ chối khiếu nại lên tòa án.
Vì nóng lòng muốn đưa vấn đề của ông trước tòa, Payne và một nhóm đông hơn quay trở lại Ewing vào tháng 7. Lục quân lại bắt toàn bộ và hộ tống họ trở về Kansas. Họ lại được thả nhưng lần này chính phủ liên bang truy tố Payne vi phạm "Đạo luật giao dịch với người bản địa". Ông bị xử tại Ft. Smith, Arkansas. Quan toàn Isaac Parker phán quyết bất lợi cho Payne và phạt ông tối đa là 1.000 đô la. Vì Payne không có tiền cũng không có tài sản nên tiền phạt không thu được. Phán quyết đó không giải quyết được câu hỏi về đất đai thuộc phạm vi công cộng, và Payne tiếp tục hoạt động của mình.
Payne thực hiện lần thứ ba vào khu vực "Unassigned Lands". Tháng 12, Payne và nhóm ông di chuyển dọc theo ranh giới phía bắc của Lãnh thổ Bản địa Mỹ. Họ bị một đơn vị kỵ binh của đại tá J.J. Copinger theo dõi. Đại tá Copinger cảnh cáo Payne rằng nếu ông vượt ranh giới thì họ bắt buộc phải cùng vũ lực ngăn chặn. Khi số thành viên nhóm Boomers gia nhập Payne đông hơn, họ phái một người sứ giả đi gặp tổng thống Hayes xin phép vào Lãnh thổ Bản địa Mỹ. Sau mấy tuần không được trả lời, Payne dẫn các thành viên trong nhóm tiến vào khu vực "Unassigned Lands". Lại thêm một lần nữa, họ bị bắt và bị giải về Đồn Smith. Ông bị xét có tội và bị kêu án phạt là $1.000 đô la. Sau khi được thả, ông quay về Kansas nơi ông dành ra bốn năm để tìm cách mở vùng đất Oklahoma.
Trong cuộc phiêu lưu cuối cùng của Payne, lần này là vào Cherokee Outlet năm 1884, Lục quân lại bắt được ông. Họ dẫn ông đi vài trăm dặm Anh dưới điều kiện khắc nghiệt cho thân xác trên một con đường quanh co đến Đồn Smith. Công chúng rất tức giận về hành động của giới quân sự đối xử với ông. Chính phủ Hoa Kỳ quyết định xử ông. Payne bị đưa ra xét xử bởi một Tòa án Khu vực của Hoa Kỳ tại Topeka, Kansas. Ông bị kết tội đem rượu whiskey vào Lãnh thổ Bản địa Mỹ, đây là một tội hình liên bang. Cuối cùng, quan tòa Cassius G. Foster hủy bỏ các lời buộc tội và phán quyết rằng định cư trong khu vực "Unassigned Lands" thì không phải là một tội hình. Nhóm Boomer chúc mừng nhau nhưng chính phủ liên bang từ chối chấp nhận phán quyết này.
Payne ngay lập tức lập kế hoạch cho một cuộc hành trình khác, nhưng không ông trực tiếp lãnh đạo. Ngày 28 tháng 11 năm 1884, tại Wellington, Kansas, một buổi sáng sau một buổi thuyết trình đến khuya, ông ngã qụy và qua đời.
=== William Couch và việc mở lãnh thổ ===
Sau khi Payne qua đời, đồng sự của ông là William L. Couch nhận vai trò lãnh đạo. Couch đưa nhóm Boomer vào Lãnh thổ Bản địa Mỹ và thành lập Trại Stillwater vào ngày 12 tháng 12 năm 1884. Tổng thống Chester Arthur phái một nhóm binh sĩ nhỏ hộ tống Couch ra khỏi lãnh thổ này. Khi binh sĩ đến nơi, 200 người có vũ trang đối mặt các binh sĩ. Họ từ chối để các binh sĩ đuổi họ. Sau khi có thêm 600 binh sĩ tăng cường đến nơi thì các sĩ quan đưa ra sự chọn lựa cho nhóm Boomer là rời khỏi nơi này trong vòng 48 tiếng đồng hồ hay bị tóm cổ. Sau khi nhóm Boomer không chịu rời khỏi thì các vị chỉ huy đưa binh sĩ qua ranh giới Kansas và cắt đứt đường tiếp vận của Couch. Chẳng bao lâu nhóm người của Couch cạn lương thực, và họ được hộ tống trở về Kansas.
Để giải quyết những lời tố cáo của Couch là chính phủ liên bang kỳ thị chống lại nhóm của ông, ngày 3 tháng 3 năm 1885, Quốc hội chấp thuận Đạo luật Phân phối Đất đai Bản địa. Đạo luật này cho phép thương thuyết với người bản địa Creek, Seminole, và Cherokee để họ nhượng lại những phần đất bỏ hoang mà họ đang làm chủ. Couch chấm dứt hành động trong vai trò một người thực dân và trở thành một người vận động hành lang.
Couch dành ra bốn năm tại Washington, D.C. để cố thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ mở cửa các vùng đất của Oklahoma. Nhiều người bản địa của Năm bộ lạc văn minh vận động hành lang chống lại những hành động của Couch. Tháng 1 năm 1889, Pleasant Porter cầm đầu một nhóm người bản địa Muscogee (Creek) muốn bán các khu đất hoang của họ. Trong mấy tuần, họ bán hết các vùng đất "Unassigned Lands" (các vùng đất chưa phân phát) cho Hoa Kỳ. Các khu đất này có tổng diện tích ít hơn 3.000.000 mẫu Anh (12.000 km2) nằm trong khu trung tâm của Lãnh thổ Bản địa Mỹ.
Ngày 2 tháng 3 năm 1889, Quốc hội thông qua một tu chính án trong Đạo luật Phân phối Đất đai Bản địa của năm 1871. Tu chính án này cho phép thành lập các khu định cư trong vùng đất " Unassigned Lands", được biết với tên gọi Lãnh thổ Oklahoma. Tổng thống Grover Cleveland thông báo rằng đất đai Oklahoma sẽ được bao phát vào ngày 22 tháng 4 theo hình thức người nào đến trước thì được trước. Buổi cấp phát đất được tổ chức vào lúc giữa trưa và được mở cho mọi cá nhân có tuổi nhỏ nhất là 21.
=== Ban phát đất và những "người đến sớm" ===
Việc ban phát đất theo kiểu ai đến trước được cấp phát trước của năm 1889 là vụ ban phát đầu tiên kiểu này trong lịch sử lãnh thổ. Việc ban phát này đã mở cửa Lãnh thổ Oklahoma cho các khu định cư vào ngày 22 tháng 4 năm 1889. Trên 50.000 người đến vùng đất này vào ngày đầu tiên, trong số họ có hàng ngàn "người tự do" (cựu nô lệ da đen) và con cháu người nô lệ. Couch và nhóm Boomer, lúc này lên đến khoảng 14.000 người, cũng vào cuộc đua nhận cấp phát đất. Những ai vào Oklahoma trước khi chính thức khởi sự việc ban phát đất được gọi là "Sooner" (người đến sớm). Thuật từ này ám chỉ đến câu "sớm hơn" trong Đạo luật Phân phối Đất đai Bản địa mà theo đó có nói rằng bất cứ hai vi phạm ngày khởi sự chính thức sẽ bị từ chối quyền được ban phát đất.
Khi cuộc ban phát chính thức bắt đầu vào giữa trưa, hàng ngàn người trên lưng ngựa, xe ngựa kéo, xe đẩy, các phương tiện khác ùn ùn vượt vào Oklahoma. Có một vụ ẩu đả giữa những người tuân theo pháp luật và nhóm "người đến sớm". Một người tiên phong hợp pháp (đến nhận cấp phát đất đúng giờ quy định) bắn và làm bị thương William Couch, một "người đến sớm". Ông chết ngày 21 tháng 4 năm 1890 vì các vết thương.
Nhiều vụ thưa kiện xảy ra sau đó vì có hơn một người được ban phát cùng một mãnh đất. Các vụ kiện này thường là để quyết định xem ai là người nhận đất hợp pháp. Một số vụ kiện còn đi xa hơn lên đến Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ.
Khi cuộc đua ban phát đất chấm dứt nhiều người tiên phong thất vọng bị bắt buộc phải rời khỏi khu vực mà không có tí đất nào. Trong số 14.000 người nhóm Boomer, chỉ có 1.000 người nhận được đất. Các thành phố lều mọc lên qua đếm tại Oklahoma City, Kingfisher, El Reno, Norman, Guthrie, và Stillwater. Đây là các khu định cư lớn đầu tiên tại Oklahoma.
=== Thời kỳ đầu của lãnh thổ ===
Cuối ngày 22 tháng 4 năm 1889, có hơn đủ số người định cư tại vùng đất "Unassigned Lands" (Vùng đất chưa phân phát) để thành lập một chính phủ lãnh thổ. Tuy nhiên, pháp chế cho phép mở cửa vùng đất này không có nhắc đến thể chế chính quyền tại Oklahoma. Không cảnh sát hay toà án địa phương nào được thành lập. Lực lượng quân sự liên bang nhận trách nhiệm thi hành luật pháp và Tòa án Hoa Kỳ đặc tránh Khu Tây Arkansas dưới quyền của thẩm phán liên bang Isaac Parker là hình thức thẩm quyền đặc trách dân sự và tội phạm duy nhất. Tuy vậy, khu vực này luôn hoà bình. Đa số các vụ tranh chấp đất đại được giải quyết mà không có đổ máu tuy phải mất nhiều năm để giải quyết. Khoảng trên một năm, người dân Lãnh thổ Oklahoma là những người bán-tự trị.
Năm sau đó, vào ngày 2 tháng 5 năm 1890, Quốc hội thông qua Đạo luật Tổ chức Oklahoma theo đó phân nửa phía tây của Lãnh thổ Bản địa Mỹ được tổ chức thành Lãnh thổ Oklahoma. Phân nữa phía đông vẫn là Lãnh thổ Bản địa Mỹ, nằm dưới quyền kiểm soát của người bản địa, đa số là người thuộc Năm bộ lạc văn minh. Quốc hội Hoa Kỳ ấn định Lãnh thổ Oklahoma còn có thêm một dải đất có tên là Vùng đất vô chủ, bao trùm một diện tích 3.681.000 mẫu Anh (14.900 km2) mà sau này trở thành Quận Beaver. Tháng 9 năm 1890, 1.282.434 mẫu Anh (5.189,83 km2) đất đai thuộc các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ là "Sac và Fox", Iowa, và Pottawatomie nằm trong phần phía đông của Lãnh thổ Oklahoma được mở cho các khu định cư. Mùa xuân năm sau, 4.397.771 mẫu Anh (17.797,15 km2) đất đai của người Cheyenne và Arapaho nằm ở trung tâm lãnh thổ được mở cho các khu định cư. Ngày 16 tháng 9 năm 1893, Khu vực có tên Cherokee Outlet được mở cho định cư. Các quận Kay, Grant, Woods, Woodward, Garfield, Noble, và Pawnee được thành lập từ diện tích 6.014.239 mẫu Anh (24.338,76 km2) đất đai của Cherokee Outlet. Năm 1895 Khu dành riêng bản địa Kickapoo rộng 206.662 mẫu Anh (836,33 km2) được mở cho định cư. Năm sau, Quận Greer, từng được xem là một phần đất của Texas, được giao cho Lãnh thổ Oklahoma theo một phán quyết của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Các phát triển này cùng với các khu dành riêng bản địa của người Kiowa, Comanche, Apache và Wichita được mở cho định cư, đã mang lại cho Lãnh thổ Oklahoma một khu vực định cư có tổng diện tích khoảng 24.000.000 mẫu Anh (97.000 km2) trong số đó có 1.725.646 mẫu Anh (6.983,44 km2) vẫn còn nằm bên trong các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ.
=== Đường đến địa vị tiểu bang ===
Với việc thông qua đạo luật tổ chức năm 1890, Lãnh thổ Oklahoma tồn tại từ năm 1890 đến năm 1907. Suốt thời gian đó, có 7 thống đốc (và 2 quyền thống đốc) điều hành lãnh thổ. Một số thống đốc phục vụ chỉ có vài tháng. Các cơ sở giáo dục đại học được thành lập vào thời kỳ này là Đại học Oklahoma, Đại học Trung Oklahoma và Đại học Tiểu bang Oklahoma. Mục tiêu thật sự của lãnh thổ là phục vụ trong vai trò một chính quyền chuyển tiếp từ lãnh thổ chưa tổ chức sang tiểu bang.
Các đại diện của Năm bộ lạc văn minh họp năm 1902 để bàn về việc đưa Lãnh thổ Bản địa Mỹ lên địa vị tiểu bang. Họ tổ chức một hội nghị tại Eufaula. Các đại diện lại họp với nhau vào năm 1903 đẻ tổ chức một hội nghị hiến pháp.
Hội nghị Hiến pháp Sequoyah được tố chức tại Muskogee vào ngày 21 tháng 8 năm 1905. Pleasant Porter, đại tù trưởng của Xứ Creek, được bầu là chủ tịch hội nghị. Các đại biểu được bầu trong hội nghị quyết định rằng các viên chức hành chính của năm bộ lạc văn minh sẽ được bổ nhiệm thành các phó chủ tịch: William C. Rogers, đại tù trưởng của người Cherokee; William H. Murray của người Chickasaw; Green McCurtain của người Choctaw; John Brown của người Seminole; và Charles N. Haskell của người Creek.
Hội nghị thảo ra một bản hiến pháp, phát họa một kế hoạch tổ chức chính quyền, vẽ bản đồ biểu thị các quận được thành lập, và bầu các đại biểu với nhiệm vụ trình thỉnh cầu lên Quốc hội Hoa Kỳ xin cho Lãnh thổ Bản địa Mỹ trở thành một tiểu bang. Các đề nghị của hội nghị được trình công chúng bằng một cuộc trưng cầu dân ý tại Lãnh thổ Bản địa Mỹ. Cuộc trưng cầu dân ý được đa số ủng hộ.
Đoàn đại biểu được tiếp nhận lạnh nhạt tại Washington. Các chính trị gia miền Đông Hoa Kỳ gây áp lực với tổng thống Theodore Roosevelt vì họ lo sợ có thêm hai tiểu bang miền Tây nữa. Tổng thống Roosevelt phán quyết rằng Lãnh thổ Bản địa Mỹ và Lãnh thổ Oklahoma sẽ được phép gia nhập liên bang với điều kiện là cả hai phải trở thành một tiểu bang kết hợp duy nhất.
Tuy nhiên công trình của Hội nghị Hiến pháp Tiểu bang Sequoyah không hoàn toàn thất bại. Khi các đại biểu của Lãnh thổ Bản địa Mỹ tham dự Hội nghị Hiến pháp Tiểu bang Oklahoma tại Guthrie vào năm sau thì họ mang theo họ kinh nghiệm làm hiến pháp của mình. Hội nghị Sequoyah phục vụ một phần vai trò lớn về cơ bản cho hiến pháp của tiểu bang Oklahoma. Tiểu bang Oklahoma trở thành hiện thực khi hai lãnh thổ kết hợp với nhau vào năm 1907.
Thống đốc lãnh thổ Frank Frantz giám sát việc chuyển tiếp từ lãnh thổ sang tiểu bang. Ông được chọn là ứng cử viên của đảng Cộng hòa để phục vụ trong vai trò thống đốc đầu tiên của tiểu bang. Ông đối mặt với đảng viên Dân chủ Charles N. Haskell trong cuộc bầu cử ngày 17 tháng 9 năm 1907. Trong cùng cuộc bầu cử đó, Hiến pháp Oklahoma cũng được đưa ra trưng cầu dân ý. Hiến pháp được thông qua và Haskell được bầu là thống đốc. Khi nhân dân Oklahoma thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ vào ngày 16 tháng 11 năm 1907, Lãnh thổ Oklahoma và Lãnh thổ Bản địa Mỹ chính thức giải thể và tiểu bang Oklahoma được thu nhập vào liên bang để trở thành tiểu bang thứ 46 của Hoa Kỳ.
== Danh sách thống đốc ==
== Đại biểu liên bang ==
Lãnh thổ được phép bầu một đại biểu (đừng nhầm lẫn với dân biểu là người được bầu tại các tiểu bang) vào Hạ viện Hoa Kỳ để phục vụ một nhiệm kỳ hai năm. Trong khi đại biểu này không thể biểu quyết tại toàn hạ viện, đại biểu này được phép biểu quyết trong một ủy ban của hạ viện mà người này là thành viên. Đại biểu lãnh thổ đầu tiên là David A. Harvey.
Bốn người đại diện cho Lãnh thổ trong vai trò đại biểu trong Hạ viện Hoa Kỳ:
== Xem thêm ==
Nội chiến Hoa Kỳ, 1861–1865
Thỏa hiệp 1850
Các vùng lịch sử của Hoa Kỳ
Chiến tranh Mỹ-Mexico, 1846–1848
Hiệp ước Guadalupe Hidalgo, 1848
Sự tiến hóa lãnh thổ của Hoa Kỳ
Các lãnh thổ của Tây Ban Nha bao trùm đất đai mà sau đó trở thành một phần của Lãnh thổ Oklahoma:
Nueva Vizcaya, 1562–1821
Santa Fé de Nuevo Méjico, 1598–1821
Tejas, 1690–1821
Luisiana, 1764–1803
Lãnh thổ của Pháp bao trùm đất đai mà sau đó trở thành một phần của Lãnh thổ Oklahoma:
Louisiane, 1682–1764 and 1803
Lãnh thổ của México bao trùm đất đai mà sau đó trở thành một phần của Lãnh thổ Oklahoma:
Santa Fé de Nuevo México, 1824–1848
Khu vực bị Cộng hòa Texas tuyên bố chủ quyền, 1836–1845
Các lãnh thổ của Hoa Kỳ bao trùm đất đai mà sau đó trở thành một phần của Lãnh thổ Oklahoma:
Cấu địa Louisiana, 1803–1804
Địa khu Louisiana, 1804–1805
Lãnh thổ Louisiana, 1805–1812
Lãnh thổ Missouri, 1812–1821
Hiệp định Adams-Onís 1819
Lãnh thổ Bản địa Mỹ, 1834–1907
Vùng đất vô chủ, 1850–1890 (không chính quyền)
Quận Greer, Texas, 1860–1896 (lãnh thổ tranh chấp do Texas quản trị, nhưng sau đó được giao cho Lãnh thổ Oklahoma)
Lãnh thổ Cimarron, 1886–1891 (bất hợp lệ)
Tiểu bang Hoa Kỳ được thành lập từ Lãnh thổ Oklahoma:
Tiểu bang Oklahoma, 1907
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Oklahoma Digital Maps: Digital Collections of Oklahoma and Indian Territory |
cao bằng (thành phố).txt | Thành phố Cao Bằng là tỉnh lị của tỉnh Cao Bằng, Việt Nam. Tháng 10 năm 2010 thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III. Ngày 26 tháng 9 năm 2012, đô thị này được nâng cấp lên thành phố.
Thành phố Cao Bằng nằm gần như giữa trung tâm địa lý của tỉnh.
== Lịch sử ==
Sau năm 1975, thị xã Cao Bằng là thủ phủ của tỉnh Cao Lạng, gồm 4 tiểu khu: Nà Phía, Nội Thị, Sông Bằng, Sông Hiến.
Ngày 27 tháng 12 năm 1978, tỉnh Cao Lạng tách ra thành 2 tỉnh là Cao Bằng và Lạng Sơn, thị xã Cao Bằng trở lại là tỉnh lị tỉnh Cao Bằng.
Năm 1979, quân đội Trung Quốc tấn công ồ ạt trong chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979, thị xã Cao Bằng chịu thiệt hại nặng nề.
Ngày 10 tháng 9 năm 1981, giải thể 4 tiểu khu cũ (Sông Bằng, Sông Hiến, Nội Thị, Nà Phía) để thành lập 4 phường: Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang, Hợp Giang và 3 xã: Ngọc Xuân, Hòa Chung, Duyệt Chung.
Ngày 4 tháng 10 năm 2002, chuyển xã Đề Thám thuộc huyện Hòa An về thị xã Cao Bằng quản lý. Từ đó đến năm 2010, thị xã Cao Bằng có 4 phường: Hợp Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 4 xã: Đề Thám, Duyệt Trung, Hòa Chung, Ngọc Xuân.
Ngày 18 tháng 10 năm 2010, thị xã được công nhận là đô thị loại III.
Ngày 1 tháng 11 năm 2010, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính thị xã Cao Bằng; theo đó, chuyển 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang thuộc huyện Hòa An về thị xã Cao Bằng quản lý. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thị xã Cao Bằng có 10.760,93 ha diện tích tự nhiên và 67.415 nhân khẩu; bao gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 4 phường: Hợp Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 7 xã: Chu Trinh, Đề Thám, Duyệt Trung, Hòa Chung, Hưng Đạo, Ngọc Xuân, Vĩnh Quang. Trong đó, 2 phường Đề Thám và Ngọc Xuân được thành lập cùng thời gian này trên cơ sở 2 xã có tên tương ứng.
Ngày 9 tháng 7 năm 2012, chuyển 2 xã Hòa Chung và Duyệt Trung thành 2 phường có tên tương ứng.
Ngày 25 tháng 9 năm 2012, chuyển thị xã Cao Bằng thành thành phố Cao Bằng.
== Hành chính ==
Thành phố có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 8 phường: Đề Thám, Duyệt Trung, Hòa Chung, Hợp Giang, Ngọc Xuân, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang.
== Kinh tế - Xã hội ==
Tính đến hết nhiệm kỳ 2005-2010, Thị xã đã có 10/16 mục tiêu đạt và vượt kế hoạch. Trong đó, giá trị sản lượng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm 2006 đạt 33,049 tỷ đồng, năm 2007 đạt 36,03 tỷ đồng. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 560 tỷ đồng, năm 2010 ước đạt 1.200 tỷ đồng. Sản xuất nông, lâm nghiệp đạt 39,4 triệu đồng/ha/năm. Tổng mức đầu tư ước đạt trên 1.000 tỷ đồng; Thu ngân sách địa phương năm 2006, đạt 43,329 tỷ đồng, năm 2010 ước đạt 76,874 tỷ đồng, bình quân tăng 15,5%/năm. 9 trường đạt chuẩn Quốc gia, đạt 46% so với mục tiêu Đại hội XV đề ra; 8/8 trạm y tế xã, phường có bác sĩ; 89% hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa, 63% tổ, xóm và 92% cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hóa. Thị xã hoàn thành xóa nhà tranh tre, dột nát; Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 899 hộ năm 2006 xuống còn 290 hộ năm 2009, chiếm 1,74%, năm 2010, ước giảm còn 1,25%.
Trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ thị xã (nay là Thành phố) tập trung thực hiện 16 mục tiêu chủ yếu: Tiếp tục đẩy nhanh tỷ trọng CN - TTCN (chiếm trên 50% tỷ trọng CN - TTCN trên địa bàn); tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 17%/năm trở lên; giá tri sản xuất CN – TTCN tăng bình quân 20%/năm; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng từ 16% trở lên/năm; phấn đấu giảm nghèo bền vững, chống tái nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 1,2%, tăng hộ khá, giàu.
== Chú thích == |
badia.txt | Badia tiếng Đức: Abtei) là một đô thị ở tỉnh Bolzano-Bozen trong vùng Trentino-Alto Adige/Südtirol của Ý. Đây là một trong năm cộng đồng nói tiếng Ladin ở Thung lũng Badia.
== Địa lý ==
=== Các đô thị giáp ranh ===
Các đô thị giáp với Badia: Cortina d'Ampezzo, Corvara, Mareo, Livinallongo del Col di Lana, San Martin de Tor, La Val và Sëlva.
== Các đơn vị trực thuộc ==
Đô thị Badia có các frazioni (các đơn vị cấp dưới, chủ yếu là các làng) San Ciascian (San Cassiano, St. Kassian), La Ila (La Villa, Stern) và thị trấn Badia.
== Ngôn ngữ ==
== Transportation ==
Badia is accessible through the Badia Valley từ St. Lorenzen năm the Puster Valley, as well as through passes over the Dolomites such as the Passo di Valparola và the Passo Gardena, which are only drivable during the snow-free months.
== People ==
Micurà de Rü (1789–1847), born năm Rü, San Cascian, Ladin linguist.
Joseph Freinademetz (1852–1908) born năm Oies, Catholic saint and missionary to China.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Ý) (tiếng Đức) (Ladin) Trang mạng của đô thị này |
tên người nhật.txt | Tên người Nhật, (日本人の氏名 (Nhật Bản nhân nãi thị danh), Nihonjin no Shimei), hiện đại thường bao gồm họ người Nhật (Japanese given name) trước, tên sau. Thứ tự gọi tên này là chung cho các nước trong vùng ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa như Hàn Quốc và Việt Nam. Ở Nhật Bản tên lót rất ít được sử dụng. Tên Nhật thường được viết bằng kanji, loại chữ Hán sử dụng tại Nhật và được đọc ý theo thổ âm Nhật (cách đọc này là kun'yomi (訓読み (huấn độc mĩ), kun'yomi)). Chính vì tên viết bằng kanji đọc theo ý chứ không phải âm, một chữ kanji trong tên thường có nhiều cách phát âm khác nhau trong tiếng Nhật, tuy nhiên nhiều bố mẹ có thể đặt tên cho trẻ sơ sinh bằng hai bộ ký tự ký âm hiragana và katakana. Tên viết bằng hiragana và katakana chỉ mang ý nghĩa thông dịch về mặt ngữ âm, và vì vậy thiếu ý nghĩa trực quan của tên thể hiện trong chữ tượng hình kanji.
Hiện nay ở Nhật có khoảng 100000 họ đang được sử dụng. Những họ thông dụng ở Nhật hiện nay là Satō (佐藤 (Tá Đằng), Satō), Suzuki (鈴木 (Linh Mộc), Suzuki), Takahashi (高橋 (Cao Kiều), Takahashi), Katō (加藤 (Gia Đằng), Katō). Sự đa dạng này hoàn toàn trái ngược với các quốc gia khác trong cùng văn hoá Á Đông, phản ánh một lịch sử khác biệt của Nhật Bản: trong khi tên họ Trung Quốc đã được sử dụng từ hàng ngàn năm nay và thường phản ánh toàn bộ một gia tộc hoặc con nuôi của gia đình giàu có (có hoặc không có mối quan hệ di truyền) - và từ đó đã được lan truyền cho Hàn Quốc và Việt Nam thông qua tên của các quan lại hoặc nhà giàu; đại đa số các tên họ hiện đại của Nhật Bản chỉ bắt đầu có từ thế kỷ thứ 19, tiếp nối các cải cách thời kỳ Minh Trị trong những năm 1870, và được lựa chọn theo ý thích. Việc giới thiệu bằng tên họ của người Nhật gần đây có hai tác dụng bổ sung: tên tiếng Nhật trở nên phổ biến khi dân số nước này phát triển mạnh (hơn 30 triệu dân trong thời kì đầu của Minh Trị – xem Nhân khẩu học Đế quốc Nhật) so với số lượng trong quá khứ (ví dụ, dân số ước tính năm 1 sau Công nguyên là 300.000 - xem Nhân khẩu học Nhật Bản trước thời kì Minh Trị), và chỉ một thời gian ngắn trôi qua, các tên của người Nhật hầu như chưa gặp phải tình trạng tuyệt chủng về tên họ như đã xảy ra trong suốt quá trình lịch sử ở Trung Quốc.
Họ của người Nhật cũng xuất hiện nhiều hay ít tùy theo vùng, ví dụ như Chinen (知念 (Tri Niệm), Chinen), Higa (比嘉 (Bỉ Gia), Higa) và Shimabukuro (島袋 (Đảo Đại), Shimabukuro) xuất hiện nhiều tại Okinawa trong khi không mấy phổ biến ở các vùng khác; điều này chủ yếu là do sự khác biệt giữa ngôn ngữ và văn hóa của người Yamato và người Okinawa. Nhiều họ của người Nhật được đặt dựa trên các hình ảnh nông thôn do ảnh hưởng của Thần đạo như Ishikawa (石川 (Thạch Xuyên), Ishikawa) có nghĩa là sông đá, Yamamoto (山本 (Sơn Bản), Yamamoto) có nghĩa là chân núi, Inoue (井上 (Tỉnh Thượng), Inoue) có nghĩa là trên miệng giếng.
Trong khi phần tên họ tuân theo các quy tắc tương đối phù hợp, tên riêng tỏ ra đa dạng hơn nhiều lần trong cách phát âm và cách sử dụng kanji. Trong khi nhiều tên gọi thông thường có thể dễ dàng viết ra hoặc phát âm, nhiều bậc cha mẹ chọn tên với các mẫu tự kanji hay cách phát âm ít gặp, và những cái tên như vậy nói chung không thể viết hay phát âm được nếu không có cả phần mẫu tự và phát âm. Cách phát âm ít gặp này gần đây trở nên đặc biệt phổ biến, khi xu hướng đặt tên như vậy đã tăng lên đáng kể từ những năm 1990. Ví dụ, một cái tên bé trai phổ biến 大翔 theo truyền thống được phát âm là "Hiroto", nhưng trong những năm gần đây có các cách phát âm thay thế như "Haruto", "Yamato", "Taiga", "Sora", "Taito", "Daito", và "Masato" đều được sử dụng.
Có rất nhiều cách đọc một tên riêng cho một cách viết và cũng có rất nhiều cách viết cho một cách đọc. Tên của phái nam thường có âm tận cùng là -rō (郎 (Lang), -rō) (con trai), như Ichirō, ngoài ra còn có thể là -rō (朗 (Lãng), -rō) (sáng); -ta (太 (Thái), -ta) (rất lớn), như Kenta; -ichi (一 (Nhất), -ichi) (con trai cả) - như Ken'ichi, -kazu (一 (Nhất), -kazu) - như Kazuhiro, -ji (二 (Nhị), -ji) (con trai thứ hai) - như Jirō, -tsugi (次 (Thứ), -tsugi) (con trai thứ). Tên của phái nữ thường kết thúc bằng -ko (子 (Tử), -ko) (con) - như Keiko; -mi (美 (Mỹ), -mi) (đẹp) - như Yumi; -ka (香 (Hương), -ka) - như Reika; -hana (花 (Hoa), -hana).
== Cấu trúc ==
Trong thời phong kiến ở Nhật, thường chỉ có các danh gia vọng tộc được có nhiều hơn một tên. Đa số người Nhật có một tên họ và một tên riêng mà không có tên lót, ngoại trừ gia tộc hoàng gia Nhật Bản, các thành viên gia tộc đều không có tên họ. Tên họ - myōji (苗字 hoặc 名字), uji (氏) hoặc sei (姓) - được đặt ở trước tên riêng, được gọi là "tên" - (名 mei) hoặc "tên thấp hơn" (lower name) (下の名前 shita no namae). Tên riêng có thể được đề cập đến như là "tên thấp hơn", vì trong văn bản theo chiều dọc của Nhật Bản, tên riêng được xuất hiện bên dưới tên họ. Những người có huyết thống hỗn hợp giữa Nhật Bản và nước ngoài có thể có tên lót.
Trong lịch sử, myōji, uji và sei mang những ý nghĩa khác nhau. Sei ban đầu mang nghĩa là "họ nội", đây là lý do tại sao cho đến hiện tại, nó chỉ được cấp bởi Nhật hoàng, như một danh hiệu cấp bậc cho nam giới. Cấp bậc thấp hơn của 'Sei' là 'Tei', đó là một tên phổ biến của đàn ông Nhật Bản. Mặc dù vậy, họ cũng là gia tộc tổ tiên trong lịch sử Nhật mà cái tên 'Sei' bắt nguồn từ đó. Có rất ít các sei, và hầu hết những gia tộc cao quý thời trung cổ có gia tộc của mình bắt nguồn trực tiếp đến các sei, hoặc các cận thần của các sei này. Uji là một cái tên khác được dùng để chỉ gia tộc theo phụ hệ, nhưng sau này được gộp cùng myōji trong cùng khoảng thời gian. Myōji, mang một ý nghĩa đơn giản, là từ mà một gia tộc chọn để tự gọi chính họ, đối lập với sei được ban bởi nhà vua. Trong khi myōji được tiếp tục đặt theo chế độ phụ hệ trong tổ tiên của người nam đó, bao gồm trong tổ tiên các haku (chú bác) của người nam, một người nào đó có thể được tự do hơn trong việc thay đổi myōji của bản thân người đó. Xem thêm Kabane.
Nhiều ký tự tiếng Nhật có cùng cách phát âm, vì vậy một số tên tiếng Nhật có nhiều nghĩa. Bản thân một mẫu tự kanji đặc biệt có thể có nhiều ý nghĩa và cách phát âm khác nhau. Trong một số tên gọi, các ký tự tiếng Nhật - qua việc đọc nó lên - tự "viết ra" một cái tên và không có ý nghĩa ẩn dụ gì đằng sau. Nhiều tên cá nhân Nhật Bản sử dụng lối chơi chữ.
Rất ít tên có thể dùng cho cả tên họ và tên riêng (ví dụ như Mayumi 真弓, Kaneko 金子, Masuko 益子, hoặc Arata 新). Vì vậy, đối với những người quen thuộc với tên gọi trong tiếng Nhật, vấn đề về tên nào là tên họ và tên nào là tên riêng thường được phân định rõ ràng, bất kể tên gọi được sử dụng như thế nào. Điều này, do đó, khiến việc hai cái tên sẽ bị nhầm lẫn trở nên khó xảy ra hơn, ví dụ như khi viết (hoặc nói) tiếng Anh trong khi sử dụng thứ tự tên họ - tên riêng. Tuy nhiên, do sự đa dạng của âm và sự khác biệt về ngôn ngữ, một số tên họ phổ biến và tên nhất định có thể bị trùng hợp khi Latin hoá: ví dụ, Shoji (昌司, 昭次, hoặc 正二, Shoji) (tên riêng) và Shoji (庄司, 庄子, 東海林, hoặc 小路, Shoji) (tên họ).
Tên tiếng Nhật có sự khác biệt rõ rệt so với tên người Trung Quốc thông qua việc lựa chọn các mẫu tự trong một tên và cách phát âm. Một người Nhật Bản có thể phân biệt được một cái tên Nhật Bản so với một tên Trung Quốc bằng cách nhìn vào nó. Tomozawa Akie, tác giả cuốn sách "Japan's Hidden Bilinguals: The Languages of 'War Orphans' and Their Families After Repatriation From China," nói rằng điều này tương đương với cách mà "người châu Âu có thể nói một cách dễ dàng tên gọi 'Smith' là từ tiếng Anh và 'Schmidt' từ tiếng Đức hoặc 'Victor' từ tiếng Anh hoặc tiếng Pháp và 'Vittorio' là từ tiếng Ý".
== Ký tự ==
Tên tiếng Nhật thường được viết bằng kanji (chữ Hán), mặc dù một số tên sử dụng hiragana và thậm chí là katakana, hoặc hỗn hợp của kanji và kana. Trong khi hầu hết các tên "truyền thống" sử dụng cách đọc kanji kiểu kun'yomi (cách đọc kiểu Nhật), một số lượng lớn các tên riêng và tên họ cũng sử dụng cách đọc kanji kiểu on'yomi (cách đọc kiểu Hán). Nhiều tên khác sử dụng các cách đọc chỉ được sử dụng trong tên gọi (nanori), chẳng hạn như tên gọi người nữ Nozomi (希). Đa số các tên họ bao gồm một, hai hoặc ba ký tự kanji. Ngoài ra, còn có một số lượng nhỏ tên họ có bốn hoặc năm ký tự kanji, như Teshigawara (勅使河原) và Kutaragi (久多良木), Kadenokōji (勘解由小路), nhưng những trường hợp này rất hiếm gặp. Âm no, chỉ sự sở hữu (giống như dấu nháy đơn trong tiếng Anh), và tương ứng với ký tự の, thường có trong tên nhưng không được viết như một ký tự riêng biệt, như trong tên gọi thường gặp 井上 (i-no-ue, giếng-(sự sở hữu)-ở trên/ở bên trên = trên miệng giếng), hoặc các nhân vật lịch sử như Sen no Rikyū.
Hầu hết các tên cá nhân sử dụng một, hai, hoặc ba ký tự kanji. Tên riêng phổ biến thường có bốn âm tiết, đặc biệt là với con trai cả.
Như đã đề cập ở trên, tên riêng của nữ thường kết thúc với âm tiết ko, viết bằng ký tự kanji nghĩa là "đứa trẻ" (子), hoặc mi, được viết bằng ký tự kanji nghĩa là "đẹp" (美).
Việc sử dụng âm -ko (子) đã thay đổi đáng kể qua nhiều năm: trước Minh Trị Duy tân (1868), âm này được dành riêng cho các thành viên hoàng gia. Sau khi được phục hồi, âm này trở nên phổ biến và thường gặp một cách tràn ngập trong thời kỳ Đại Chính và đầu thời kỳ Chiêu Hòa. Hậu tố -ko càng trở nên phổ biến từ nửa sau thế kỷ 20. Khoảng năm 2006, do việc người dân bắt chước thói quen đặt tên của các nghệ sĩ nổi tiếng, hậu tố -ko trở nên ít phổ biến hơn. Đồng thời, tên gọi có xuất xứ phương Tây, viết bằng kana, đang trở nên ngày càng phổ biến trong việc đặt tên cho các bé gái. Đến năm 2004, đã có một xu hướng sử dụng hiragana thay vì ký tự kanji trong việc đặt tên cho các bé gái. Molly Hakes, tác giả cuốn sách The Everything Conversational Japanese Book: Basic Instruction For Speaking This Fascinating Language In Any Setting, nói rằng điều này có thể phải xảy ra với việc sử dụng hiragana không vì niềm tự hào về văn hoá, kể từ khi hiragana là hình thức văn bản bản địa của Nhật Bản, hoặc không vì việc gán một ý nghĩa vào tên gọi bé gái, do đó những người khác sẽ không đặt kỳ vọng riêng của bản thân vào bé gái đó.
Tên kết thúc với âm-ko giảm phổ biến một cách đáng kể vào giữa những năm 1980, nhưng vẫn được sử dụng, dù ít hơn so với trong quá khứ. Tên người nam đôi khi kết thúc với âm ko, nhưng rất hiếm khi sử dụng ký tự kanji 子 (thông thường nhất, nếu một tên nam giới kết thúc bằng âm ko, nó sẽ kết thúc bằng âm hiko, sử dụng ký tự kanji 彦 mang nghĩa "bé trai"). Hậu tố tên nam giới thường gặp là -shi và -o; tên kết thúc với âm -shi thường là các tính từ, ví dụ, Atsushi, có thể có nghĩa là "(có sự) trung thành." Trong quá khứ (trước Thế chiến II), tên viết bằng katakana phổ biến đối với nữ giới, nhưng xu hướng này dường như không còn được ưa chuộng. Tên phụ nữ bằng hiragana không phải quá bất thường. Tên bé trai bằng kana, đặc biệt là những tên viết bằng hiragana, rất hiếm trong lịch sử. Điều này có thể một phần bởi vì nét viết tay hiragana được coi là mang nhiều nữ tính; ở Nhật Bản thời trung cổ, phụ nữ thường không được dạy kanji và chỉ viết bằng hiragana.
Tên không thể bắt đầu với âm tiết n (ん, ン); đây là điểm chung với những từ tiếng Nhật thích hợp khác, mặc dù từ ngữ giao tiếp có thể bắt đầu với ん, như んまい (nmai, biến thể của うまい umai, ngon). Một số tên kết thúc bằng âm n: các tên nam giới, ví dụ như Ken, Shin, và Jun. Âm tiết n không nên nhầm lẫn với phụ âm "n," mà tên gọi có thể bắt đầu với nó; ví dụ, tên nữ giới Naoko (尚子) hay tên nam giới Naoya (直哉). (Phụ âm "n" cần phải được kết hợp với một nguyên âm để tạo thành một âm tiết.)
Một thể loại lớn của tên gia đình có thể được phân loại như là những tên kết thúc bằng âm "-tō". Ký tự kanji 藤, có nghĩa là đậu tía, có cách đọc on'yomi là tō (hoặc, với rendaku, dō). Nhiều người Nhật có tên họ bao gồm ký tự kanji này là ký tự thứ hai. Điều này có được bởi gia tộc Fujiwara (藤原家) đặt các tên họ của samurai (myōji) kết thúc với ký tự đầu tiên của tên của họ, để biểu thị tình trạng của họ trong một thời đại mà dân thường không được phép có tên họ. Các ví dụ là Atō, Andō, Itō (mặc dù ký tự kanji cuối cùng khác nhau cũng đều phổ biến), Udō, Etō, Endō, Gotō, Jitō, Katō, Kitō, Kudō, Kondō, Saitō, Satō, Shindō, Sudō, Naitō, Bitō, và Mutō. Như đã lưu ý, một số tên họ thường gặp nhất sẽ xuất hiện trong danh sách trên.
Tên họ của người Nhật thường bao gồm các ký tự đề cập đến những địa điểm và đặc điểm địa lý.
=== Những khó khăn trong việc đọc tên ===
Một tên viết bằng ký tụ kanji có thể có nhiều hơn một cách phát âm thông thường, chỉ một trong số đó là đúng cho một cá nhân nhất định. Ví dụ, tên họ được viết bằng kanji là 東海林 có thể được đọc là Tōkairin hoặc Shōji. Ngược lại, bất kì một cái tên nào cũng có thể có nhiều cách viết phù hợp, và một lần nữa, chỉ một trong số đó là đúng cho một cá nhân nhất định. Ký tự "一" khi được sử dụng như là một tên cho nam giới có thể được sử dụng như cách viết của "Hajime," "Hitoshi," "Ichi- / -ichi" "Kazu- / -kazu," và nhiều tên gọi khác. Tên gọi "Hajime" có thể được viết với bất kỳ cách viết nào sau đây: 始, 治, 初, 一, 元, 肇, 創, 甫, 基, 哉, 啓, 本, 源, 東, 大, 孟, hoặc 祝. Sự tương ứng của số lượng các cách đọc và cách viết của tên thường hay gặp với tên riêng của nam giới hơn so với tên họ hoặc với tên riêng của nữ giới, nhưng có thể tìm thấy được trong tất cả các loại này. Điều này có thể làm cho việc đối chiếu, phát âm, và latin hoá tên gọi tiếng Nhật trở thành một vấn đề vô cùng khó khăn. Vì lý do này, danh thiếp thường bao gồm cách phát âm của tên bằng furigana, và các hình thức và các văn bản thường bao gồm khoảng trống để viết cách đọc của tên bằng kana (thường là katakana).
Một vài tên tiếng Nhật, đặc biệt là tên họ, bao gồm các phiên bản cổ của các ký tự. Ví dụ, ký tự rất thường gặp shima, đảo, có thể được viết là 嶋 hoặc 嶌 thay cho ký tự thường gặp 島. Một số tên cũng có các ký tự kanji rất hiếm gặp, hoặc ký tự kanji không còn tồn tại trong tiếng Nhật hiện đại. Những người Nhật có tên gọi như vậy có thể thỏa hiệp bằng cách thay thế bởi các ký tự tương tự hoặc đơn giản hóa. Điều này có thể khó khăn cho việc nhập ký tự kanji trên máy tính, khi nhiều cơ sở dữ liệu về kanji trên máy tính chỉ bao gồm các ký tự kanji phổ biến và thường xuyên được sử dụng, và nhiều ký tự cổ hoặc không thường được sử dụng sẽ không có trong đó.
Một ví dụ về một tên như vậy là Saitō. Có hai ký tự kanji cho âm sai ở đây. Hai ký tự sai có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau: 斉 nghĩa là "đều, cùng nhau" hay "song song", nhưng 斎 mang nghĩa "làm cho thanh khiết". Những tên này cũng có thể tồn tại cách viết dưới dạng cổ, như 齊藤 và 齋藤 tương ứng.
Tên họ thỉnh thoảng được viết với các ký tự mang phong cách riêng, gọi là ateji, có liên quan gián tiếp đến tên được nói lên. Ví dụ, 四月一日 sẽ thường được đọc là shigatsu tsuitachi ("mùng 1 tháng 4"), nhưng khi là tên họ thì được đọc là watanuki ("quần áo không độn"), vì mùng 1 tháng 4 là ngày lễ truyền thống, chuyển từ mặc quần áo mùa đông sang quần áo mùa hè. Cũng với cách như vậy, 小鳥遊 sẽ thường được đọc là kotori asobi ("những chú chim nhỏ chơi đùa") hoặc shōchōyū, nhưng với tên thì đọc là Takanashi, vì con chim nhỏ (kotori) chơi đùa (asobi) ở nơi không có (nashi) diều hâu (taka).
Hầu hết mọi người và các cơ quan của Nhật Bản đã chấp nhận với những tục lệ để áp dụng trong cuộc sống. Sổ địa chỉ, ví dụ, thường chứa các ký tự furigana hay ký tự phiên âm để làm rõ cách phát âm của tên. Công dân Nhật Bản cũng được yêu cầu phải cung cấp một tên đã latin hoá cho thị thực của họ. Việc sử dụng gần đây trong các phương tiện truyền thông Nhật Bản dùng katakana khi đề cập đến những người trong ngành giải trí Nhật Bản nổi tiếng ở tầm quốc tế đã khởi nguồn cho mốt thời thượng trong những người giao thiệp rộng, những người cố gắng tạo ra một sự tinh tế thời thượng kiểu quốc tế bằng cách sử dụng tên katakana như một huy chương danh dự. Tất cả những biến thể này cũng được tìm thấy trong các tên địa danh Nhật Bản.
Không phải tất cả các tên đều phức tạp. Một số tên thường được tóm tắt bởi cụm từ tanakamura ("ngôi làng ở giữa những cánh đồng lúa"): ba ký tự kanji: 田 (ta, cánh đồng lúa), 中 (naka, ở trong, ở giữa) và 村 (mura, làng), đứng cùng nhau trong bất kì cặp nào, tạo nên một tên họ đơn giản, phổ biến một cách hợp lí: Tanaka, Nakamura, Murata, Nakata (Nakada), Muranaka, Tamura.
Mặc dù có những khó khăn kể trên, có đủ các mẫu và tên theo định kỳ mà hầu hết người Nhật bản địa có thể đọc hầu như tất cả các tên gia đình họ gặp phải và đa số các tên cá nhân.
=== Các quy tắc ===
Tên kanji ở Nhật Bản được điều chỉnh bởi các luật của Bộ Tư pháp Nhật Bản về các ký tự kanji sử dụng trong tên. Tính đến tháng 10 năm 2004 có 2,232 "ký tự kanji sử dụng trong tên" (jinmeiyō kanji) và "các ký tự thường được sử dụng" (jōyō kanji) được sử dụng trong các tên cá nhân, và chính phủ Nhật Bản có kế hoạch tăng danh sách này thêm 578 ký tự kanji trong tương lai gần. Đây sẽ là mức tăng lớn nhất kể từ Thế chiến II. Chỉ có ký tự kanji xuất hiện trên danh sách chính thức có thể được sử dụng trong tên riêng. Điều này nhằm đảm bảo rằng những cái tên có thể dễ dàng được viết và đọc với những người biết chữ ở Nhật Bản. Quy định cũng chi phối các tên bị coi là không phù hợp; ví dụ, năm 1993, một cặp vợ chồng định đặt tên cho con của họ là Akuma (悪魔, mà theo nghĩa đen có nghĩa là "ma quỷ") đã bị cấm làm như vậy sau khi xảy ra một sự phản đối công khai lớn.
Mặc dù có những quy định về việc đặt tên của trẻ em, nhiều ký tự cổ vẫn có thể được tìm thấy trong tên của người lớn, đặc biệt là những người sinh ra trước Thế chiến II. Do những hạn chế pháp lý về sử dụng ký tự kanji gây ra sự bất tiện cho những người có tên như vậy và nhằm thúc đẩy sự phổ biến của việc tương đồng giữa các tên, nhiều thay đổi gần đây đã được thực hiện để tăng chứ không phải giảm số lượng các ký tự kanji được phép sử dụng trong tên. Toà án tối cao Sapporo cho rằng sẽ là trái pháp luật đối với chính phủ nếu từ chối đăng ký tên của một đứa trẻ bởi vì nó chứa một ký tự kanji tương đối phổ biến nhưng không được đưa vào danh sách chính thức của các ký tự sử dụng trong tên được biên soạn bởi Bộ Tư pháp. Sau đó, chính phủ Nhật Bản đã ban hành kế hoạch tăng số lượng kanji "được phép" sử dụng trong tên.
Việc sử dụng khoảng trống trong tên riêng (để phân biệt phần tên đầu và tên lót) không được phép trong các tài liệu chính thức, bởi vì về mặt kỹ thuật, một khoảng trống không phải là một ký tự được cho phép. Tuy nhiên, các khoảng trống đôi khi được dùng trên danh thiếp và trong thư.
Kế hoạch tăng số lượng ký tự kanji sử dụng trong tên đã gây tranh cãi, chủ yếu là bởi vì các chữ Hán với ý nghĩa không phù hợp để sử dụng trong các tên cá nhân, như "ung thư" (癌, gan), "bệnh trĩ" (痔, ji), "tử thi" (骸, gai) và "phân" (糞, fun, cũng kuso), "nguyền rủa" (呪, ju, cũng noro[i]), "gái điếm" (娼, shō) và "gian dâm" (姦, kan), nằm trong số những bổ sung đề xuất vào danh sách. Ban đầu, các ký tự kanji được thêm vào đã được chọn lọc chủ yếu bằng cách tham chiếu đến tính thường gặp và dễ viết, mà không có tài liệu tham khảo để phù hợp trong các tên cá nhân. Một ví dụ là "kết thúc", "hông" hoặc "mông" (尻, shiri). Sự ngan cấm các ký tự kanji này có thể gây tranh cãi bởi vì chúng không phải là không phổ biến trong tên gia đình. Chính phủ sẽ tìm kiếm từ công chúng trước khi phê duyệt danh sách.
== Phong tục ==
Trong thời cổ xưa, người dân Nhật Bản được coi là tài sản của Nhật hoàng và tên của họ phản ánh vai trò trong chính quyền mà họ phục vụ. Một ví dụ là Ōtomo (大友 'kẻ hầu cận tuyệt vời, người đồng hành'). Tên cũng sẽ được ban cho trong việc công nhận các thành tựu và đóng góp to lớn.
Cho tới Minh Trị Duy tân, người dân Nhật thông thường (những người không phải kuge và samurai) không có tên họ, và khi cần thiết, họ dùng các cụm thay thế, chẳng hạn như tên của nơi sinh của họ. Ví dụ, Ichirō sinh ở Asahi-mura (làng Asahi) ở tỉnh Musashi sẽ được nói là "Ichirō từ Asahi-mura của Musashi". Thương nhân được đặt tên theo cửa hàng hoặc thương hiệu của họ (ví dụ, Denbei, chủ sở hữu của Sagamiya, sẽ gọi là Sagamiya Denbei), và nông dân được đặt tên theo người cha của họ (ví dụ, Isuke, có cha là Genbei, sẽ gọi là "Isuke, con của Genbei"). Sau Minh Trị Duy tân, chính phủ ra lệnh cho mọi dân thường bổ sung thêm tên họ vào sau tên riêng của họ, như một phần của công cuộc hiện đại hoá và Tây phương hoá; điều này đã được quy định trong Luật Đăng ký Gia đình năm 1898. Nhiều người chấp nhận tên gọi lịch sử, một vài người khác chỉ việc tạo ra tên mới, chọn tên qua bói toán, hoặc có một tu sĩ Thần đạo hoặc tăng ni Phật giáo chọn một tên họ cho họ. Điều này phần nào giải thích số lượng lớn các tên họ tại Nhật Bản, cũng như sự vô cùng đa dạng của họ về cách viết và phát âm, và làm cho việc tìm theo dấu vết hiện diện của tổ tiên qua một cột mốc nhất định là một việc vô cùng khó khăn tại Nhật Bản.
Trong giai đoạn khi một cặp cha mẹ điển hình có một vài đứa con, có một thực tế phổ biến là những người con trai sẽ được đặt tên theo số đếm với hậu tố rō (郎, "đứa con trai"). Người con trai đầu sẽ được gọi là "Ichirō", con trai thứ hai sẽ là "Jirō", và cứ thế tiếp tục. Các bé gái thường được đặt tên với hậu tố ko (子, "trẻ con") ở cuối tên riêng; điều này không nên nhầm lẫn với hậu tố hiko ít phổ biến hơn dành cho các bé trai (彦). Cả hai cách đặt tên trên hiện nay đều trở nên ít phổ biến hơn, mặc dù nhiều trẻ em vẫn còn có những cái tên tuân theo những cách này.
Trong khi một số người bây giờ có thể tin điều này, Lafcadio Hearn (xem bên dưới), trong cuốn sách Shadowings, làm nó rõ ràng, rằng ít nhất trong thời gian của tác giả (1880 tới 1905, năm xuất bản), phần kết thúc -ko (子) không chỉ là bất cứ phần nào của tên, mà còn là một hậu tố mang tính kính cẩn như さん -san. Đặc biệt, mặc dù ký tự mang ý nghĩa "đứa trẻ," nó cũng mang ý nghĩa "quý bà," chỉ được sử dụng với phụ nữ tầng lớp thượng lưu, và sẽ là lố bịch nếu sử dụng cho phụ nữ tầng lớp trung lưu hoặc tầng lớp thấp. Khá nhiều những cái tên tương tự đã được sử dụng bởi tất cả các tầng lớp, nhưng Hana-ko được dùng cho người thuộc tầng lớp thượng lưu, trong khi phụ nữ ở tầng lớp thấp hơn sẽ được gọi là O-Hana-san, với tiền tố cũng như hậu tố mang ý tôn kính.
=== Khi nói với người khác và nói về người khác ===
Cách thức mà một tên gọi được sử dụng trong cuộc trò chuyện phụ thuộc vào hoàn cảnh và mối quan hệ của người nói với người nghe và người có tên đó. Thông thường, tên họ được sử dụng, trong khi tên riêng bị giới hạn sử dụng ở mức độ cao trong những tình huống không thân mật và các trường hợp mà người nói lớn tuổi hơn, có chức vụ cao hơn, hoặc rất quen thuộc với cá nhân được có tên đó. Khi xưng hô với ai đó, hoặc đề cập đến một thành viên của một nhóm ngoài nhóm mình, một danh hiệu như さん -san thường được thêm vào.
Người Nhật thường tránh đề cập đến người bậc trên hay cấp trên của mình hoàn toàn bằng tên, chỉ cần sử dụng một danh hiệu: trong một gia đình có thể là một mối quan hệ thân tộc như お母さん okāsan ("mẹ"), trong trường học có thể là 先生 sensei ("giáo viên"), trong khi một chủ tịch công ty sẽ được xưng hô là 社長 shachō ("chủ tịch công ty").
Mặt khác, các cụm đại từ mang nghĩa "bạn" như (あなた anata, きみ kimi, お前 omae) được sử dụng khá ít trong tiếng Nhật. Sử dụng các từ như vậy đôi khi có vẻ thiếu tôn trọng, và mọi người sẽ thường gọi nhau bằng tên, chức danh và kính cẩn ngay cả trong cuộc hội thoại trực tiếp.
Việc gọi tên một người nào đó (tên họ) mà không có bất kỳ danh hiệu hoặc kính ngữ nào được gọi là yobisute (呼び捨て), và có thể bị coi là thô lỗ ngay cả trong những dịp chính thức và thân thiện nhất. Sự vi phạm quy ước xã hội trong giao tiếp này, tuy nhiên, có thể được bỏ qua dễ dàng đối với người nước ngoài.
=== Biệt danh ===
Tương ứng với bất kỳ tên riêng nào có một hoặc nhiều biệt danh rút gọn từ tên, biệt danh trìu mến. Chúng hình thành bằng cách thêm hậu tố -chan ちゃん với một thân từ. Có hai loại thân từ. Một bao gồm phần tên riêng đầy đủ. Các ví dụ của loại này là Tarō-chan từ Tarō, Kimiko-chan từ Kimiko, và Yasunari-chan từ Yasunari. Loại thân từ còn lại là một thân từ được biến đổi xuất phát từ phần tên riêng đầy đủ. Ví dụ về tên như vậy là: Taro-chan từ Tarō, Kii-chan từ Kimiko, và Yā-chan từ Yasunari. Biệt danh rút gọn với thân từ được biến đổi thân mật hơn so với những biệt danh từ tên riêng đầy đủ.
Các biệt danh rút gọn với thân từ được biến đổi có nguồn gốc bằng cách thêm -chan vào một thân từ gồm một số nguyên, thường là một nhưng thỉnh thoảng là hai, các âm tiết, nơi mà một âm tiết bao gồm hai mora. Một mora 音節 là đơn vị trong đó một âm tiết nhẹ có một mora, trong khi âm nặng có hai mora. Ví dụ, các thân từ mà có thể bắt nguồn từ Tarō là /taro/, cấu tạo từ hai âm tiết nhẹ, và /taa/, cấu tạo từ một âm tiết đơn với một trường nguyên âm, tạo ra kết quả là Taro-chan và Tā-chan. Các thân từ có thể bắt nguồn từ Hanako là /hana/, với hai âm tiết nhẹ, /han/, với một âm tiết đóng bằng phụ âm, và /haa/, với một âm tiết với một trường nguyên âm, tạo ra Hanachan, Hanchan và Hāchan. Cụm được lấy thành đoạn thường là cụm con bên trái của tên riêng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nó được đặt bằng một số ý nghĩa khác, bao gồm việc sử dụng cách đọc khác của mẫu tự kanji được sử dụng để viết tên. Ví dụ, một phụ nữ mang tên Megumi có thể được gọi là Keichan hoặc đơn giản chỉ Kei, vì ký tự Megumi được dùng để viết, 恵, cũng có thể đọc là Kei.
Thói quen sử dụng phổ biến để tạo nên từ viết tắt trong tiếng Nhật bằng cách ghép hai morae hoặc hai chữ đôi khi được áp dụng cho tên gọi (thường áp dụng đối với người nổi tiếng). Ví dụ, Kimura Takuya (木村 拓哉, Kimura Takuya), một nam diễn viên và ca sĩ Nhật nổi tiếng, được đặt biệt danh (キムタク, Kimutaku). Điều này đôi khi được áp dụng ngay cả với những người nổi tiếng không phải người Nhật: Brad Pitt, có tên tiếng Nhật đầy đủ là (ブラッド・ピット, Buraddo Pitto) thường được biết với tên (ブラピ, Burapi), và Jimi Hendrix được rút gọn thành (ジミヘン, Jimihen). Một vài người Nhật Bản nổi tiếng cũng đã kết hợp tên kanji và katakana, như Terry Ito (テリー伊藤, Terry Ito). Một phương pháp khác đôi chút ít phổ biến hơn là tăng gấp đôi một hoặc hai âm tiết của tên của người đó, chẳng hạn như việc sử dụng "MamiMami" cho Noto Mamiko.
== Tên gọi của những nhóm dân tộc thiểu số ở Nhật Bản ==
Nhiều dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Triều Tiên vầ người Hoa, sống ở Nhật Bản thông qua một cái tên Nhật Bản. Gốc rễ của thói quen này có thể lần trở lại chính sách trong thời kì thuộc địa về sōshi-kaimei, trong đó cho phép nhiều người Triều Tiên thay đổi tên của họ sang tên tiếng Nhật. Ngày nay, các dân tộc thiểu số, hầu hết là người Triều Tiên, những người nhập cư vào Nhật Bản sau Thế chiến II, tiếp nhận tên bằng tiếng Nhật Bản, đôi khi được gọi là tên thông hành (pass names), để dễ dàng giao tiếp và quan trọng hơn, để tránh phân biệt đối xử. Một vài người trong số họ (ví dụ như Han Chang-Woo, sáng lập viên và là chủ tịch của Maruhan Corp.) vẫn giữ tên gốc của họ.
Người có quyền công dân Nhật Bản thường được yêu cầu về việc nhận một tên gọi bằng tiếng Nhật. Trong những thập kỷ gần đây, Chính phủ đã cho phép các cá nhân đơn giản hoá bằng việc nhận phiên bản katakana của tên gốc khi xin thị thực công dân: đại biểu Quốc hội Tsurunen Marutei (ツルネン マルテイ), có tên gốc làMartti Turunen, một người Phần Lan, là một ví dụ nổi tiếng. Một vài người khác chuyển ngữ tên của họ hoàn toàn sang các ký tự kanji có cách phát âm tương tự, ví dụ như nhà hoạt động xã hội Arudou Debito (有道 出人), một người Mỹ trước đó được biết với tên David Aldwinckle. Vẫn có những người khác bỏ rơi không dùng đến tên gốc của họ và ủng hộ tên theo truyền thống của Nhật Bản, như Lafcadio Hearn (người có nửa dòng máu Anglo-Irish và một nửa là người Hy Lạp), sử dụng tên gọi "Koizumi Yakumo" (小泉 八雲). Vào thời điểm đó, để xin được quốc tịch Nhật Bản, việc được nhận nuôi bởi một gia đình Nhật Bản (trong trường hợp của Hearn, đó là gia đình của vợ ông) và lấy tên của họ là điều cần thiết.
Những người Hoa và người Triều Tiên thiểu số ở Nhật Bản đã chọn để từ bỏ tình trạng thường trú vĩnh viễn để được quyền công dân Nhật Bản đôi khi phải thay đổi các ký tự trong tên của họ để xin được thị thực công dân, bởi những hạn chế mà những ký tự đó có thể gặp phải.
Người sinh ở nước ngoài với tên riêng của phương Tây và tên họ của Nhật Bản thường được có một tên katakana theo thứ tự phương Tây khi nhắc đến ở Nhật Bản. Eric Shinseki, ví dụ, được gọi là エリック シンセキ (Erikku Shinseki). Tuy nhiên, các bậc cha mẹ đôi khi Nhật Bản quyết định sử dụng thứ tự trong tiếng Nhật khi nhắc đến tên của đứa trẻ trong tiếng Nhật. Ngoài ra, cha mẹ Nhật có xu hướng đặt cho con cái của họ tên bằng kanji, hiragana hoặc katakana, đặc biệt nếu đó là một tên bằng tiếng Nhật. Ngay cả các cá nhân sinh ra ở Nhật Bản, với một cái tên Nhật Bản, có thể được gọi bằng katakana, nếu họ đã định cư hay lập nghiệp ở nước ngoài. Yoko Ono, ví dụ, đã được sinh ra tại Nhật Bản, với tên 小野 洋子, và đã trải qua hai mươi năm đầu tiên của cuộc đời mình ở đó. Tuy nhiên, vì đã sống ở nước ngoài trong hơn năm mươi năm, và trên cơ sở sự nghiệp của mình tại Hoa Kỳ, Ono thường được nhắc đến trên báo chí như オノ・ヨーコ, giữ gìn trật tự tên bà theo tiếng Nhật (Ono Yōko), nhưng chuyển nó thành katakana.
Có một hạn chế tính đến năm 2001 về việc sử dụng ký tự "v" trong một tên em bé trừ khi ít nhất có cha hoặc mẹ có nguồn gốc nước ngoài. Ký tự katakana tương ứng gần nhất là ヴ (vu), có thể được latin hoá thành v hoặc b. Điều này ảnh hưởng đến việc cấp hộ chiếu hoặc các tài liệu tại Nhật Bản khác khi một phiên bản chữ Latin của tên gọi được đưa ra; chữ v bị thay thế bằng chữ b. Điều này ảnh hưởng đến những cái tên như Kevin (ケヴィン), mà sẽ được viết như Kebin.
== Tên gọi trong hoàng gia ==
Nhật hoàng và gia đình Hoàng gia của ông không có tên họ vì các lý do lịch sử, chỉ có một tên riêng, ví dụ như Hirohito (裕仁), tên gọi kiểu này gần như được tránh gọi một cách phổ thông ở Nhật: người Nhật Bản muốn nói "Thiên hoàng" hoặc "Thái tử", trong sự tôn trọng và như là một thước đo của sự lịch sự.
Khi trẻ em được sinh ra trong gia đình Hoàng gia, họ nhận được một tên riêng theo thông lệ, cũng như một danh hiệu đặc biệt. Ví dụ, Thiên hoàng hiện nay được sinh ra với tên gọi Tsugu-no-miya Akihito (継宮明仁), danh hiệu của ông là Tsugu-no-miya (継宮 "Hoàng tử Tsugu"), và được gọi là "Hoàng tử Tsugu" trong thời thơ ấu của mình. Danh hiệu này thường được sử dụng cho đến khi các cá nhân trở thành người thừa kế ngai vàng hoặc được thừa hưởng một trong những cái tên của gia đình Hoàng tộc theo lịch sử (常陸宮 Hitachi-no-miya, 三笠宮 Mikasa-no-miya, 秋篠宮 Akishino-no-miya,...).
Khi một thành viên của gia đình Hoàng gia trở thành một quý tộc hay một thường dân, Thiên hoàng ban cho anh ta hoặc cô ấy một tên họ. Trong thời trung cổ, một tên họ là "Minamoto" thường được sử dụng. Trong thời hiện đại, tên họ của gia đình hoàng tộc được sử dụng. Ví dụ, nhiều thành viên của gia đình Hoàng gia được mở rộng đã trở thành dân thường sau Chiến tranh thế giới thứ hai, và nhận tên của gia đình hoàng tộc của họ, trừ cụm kính ngữ "no-miya" (宮 "Hoàng tử"), là tên họ cơ bản. Ngược lại, tại thời điểm mà một quý tộc hay một người bình thường trở thành một thành viên của gia đình Hoàng gia, chẳng hạn như thông qua hôn nhân, tên gia đình của họ bị lược bỏ. Một ví dụ là Hoàng hậu Michiko, tên là Michiko Shōda trước khi cô kết hôn với hoàng tử Akihito.
== Tên trong lịch sử ==
Cấu trúc hiện tại (tên họ + tên riêng) đã không tồn tại cho đến những năm 1870, khi chính phủ thực hiện các hệ thống đăng ký gia đình mới.
Trong xã hội phong kiến Nhật Bản, tên phản ánh tình trạng xã hội của một người. Họ cũng phản ánh liên kết của một người tới Phật giáo, Thần đạo, quân đội các chư hầu phong kiến, sự uyên bác về Nho giáo, nhà buôn, nông dân, nô lệ và thứ tự trong Hoàng gia.
Trước thời phong kiến, tên gia tộc Nhật Bản được miêu tả nổi bật trong lịch sử: tên gọi với âm no rơi vào trong thể loại này. No nghĩa là của, và tương tự với cách sử dụng dòng dõi quý tộc von ở Đức mặc dù sự kết hợp là theo thứ tự ngược lại so với Nhật Bản, và thường không được viết một cách rõ ràng bằng phong cách tên này. Như vậy, Minamoto no Yoritomo (源 頼朝) là Yoritomo (頼朝) của gia tộc Minamoto (源). Fujiwara no Kamatari (藤原 鎌足), Ki no Tsurayuki (紀 貫之), và Taira no Kiyomori (平 清盛) là những ví dụ bổ sung. Những tên gia tộc này đã được ghi lại trong Shinsen Shōjiroku. Giai cấp cầm quyền người Lưu Cầu sử dụng tên bao gồm các ký tự Trung Quốc, thường có một hoặc hai âm tiết và đọc bằng ngôn ngữ của họ, giống như các tên của Triều Tiên và Trung Quốc.
Trước khi chính phủ chính thức hóa hệ thống đặt tên vào năm 1868, tên cá nhân của người Nhật Bản rất dễ thay đổi. Đàn ông thay đổi tên của họ vì một loạt các lý do: để biểu thị rằng họ đã đạt được một địa vị xã hội cao hơn, để chứng minh lòng trung thành của họ với một đoàn thể hoặc gia tộc, để cho thấy rằng họ đã thành công với vị trí đứng đầu của một gia tộc hoặc đội ngũ, để từ bỏ bất hạnh gắn liền với một tên gọi mang điểm gở, hoặc chỉ đơn giản là để tránh bị nhầm lẫn với một người hàng xóm có tên tương tự. Nam giới trong giới thượng lưu thường thay đổi tên của họ khi đến tuổi trưởng thành (genpuku), bỏ đi tên gọi thời thơ ấu của họ (mà thường được kết thúc với -maru) và lấy một cái tên của người trưởng thành. Khi quý tộc và các samurai nhận được thăng cấp, họ nhận được những tên gọi mới, mà có thể chứa một âm tiết hoặc ký tự từ tên chúa của họ như là một dấu hiệu của sự ủng hộ.
Những phụ nữ thay đổi tên cá nhân được ghi nhận ít hơn bình thường, do đó, họ có thể không thay đổi tên của họ thường xuyên như những người đàn ông đã làm, nhưng những người phụ nữ đã phục vụ như người giúp việc hay người pha trò giải trí thường xuyên thay đổi tên của họ trong suốt thời gian phục vụ. Trong thời gian làm việc của họ, tên tạm thời của họ được chấp nhận như những tên pháp lý của họ. Ví dụ, một người giúp việc đã tham gia vào các giao dịch hợp pháp tại Kyoto từ năm 1819-1831 đã ký văn bản pháp luật với tên Sayo trong một thời gian làm việc và như Mitsu trong một khoảng thời gian làm việc sau đó, nhưng cô đã ký tên Iwa, có lẽ là tên khai sinh của mình, khi cô không trong công việc.
Một người Nhật có thể sử dụng một trong nhiều tên, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh. Ví dụ, tác giả, nhà thơ, nghệ sĩ nổi tiếng thế kỷ 18 Samuru Iwase viết dưới tên Santō Kyōden và làm việc như một họa sĩ minh họa dưới cái tên Masanobu Kitao. Nghệ sĩ và tác giả áp dụng một tên mới cho mỗi phương tiện hay hình thức họ làm việc trong, dù có hoặc không làm việc một cách chuyên nghiệp. Một số loại tên nghệ thuật (gō [号]) đã được gọi bằng thuật ngữ đặc biệt—ví dụ, haigō hoặc haimei cho một nhà thơ haiku, và kagō cho một nhà thơ Waka. Các học giả cũng tự lấy cho mình một tên học thuật, thường là cách đọc kiểu Hán của các ký tự trong tên tiếng Nhật của họ. Những người gia nhập một trật tự tôn giáo cũng nhận một tên theo tôn giáo.
Cái chết thêm vào phần số đếm của tên của một người. Khi một người đã chết, tên cá nhân của họ được gọi là một (諱, imina) và không còn được sử dụng. Thay vào đó, người đó được gọi bằng tên thuỵ (諡, okurina) của họ.
Các tên riêng của Thiên hoàng Nhật Bản cũng được gọi là imina, thậm chí nếu Thiên hoàng còn sống. Trước Thiên hoàng Jomei, cụm imina của các Thiên hoàng thường rất dài và không được sử dụng. Số lượng ký tự trong mỗi tên đã giảm đi sau triều đại của Jomei.
Azana (字), được đưa ra tại genpuku (元服), được sử dụng bởi những người khác và một mình anh ta sử dụng tên thật của mình để tự gọi. Gō thường được đặt tên theo địa điểm hoặc nhà ở; ví dụ, Basho, như trong tên nhà thơ haiku Matsuo Bashō (松尾 芭蕉), được đặt theo tên nhà của ông, Bashō-an (芭蕉庵).
Trong thời kỳ Mạc mạt, nhiều nhà hoạt động chống chính phủ sử dụng nhiều tên giả để che giấu hoạt động của mình với Mạc phủ. Các ví dụ là Saidani Umetarō (才谷 梅太郎) cho Sakamoto Ryōma (坂本 龍馬), Niibori Matsusuke (新堀 松輔) cho Kido Takayoshi (木戸 孝允) và Tani Umenosuke (谷 梅之助) cho Takasugi Shinsaku (高杉 晋作). Nhà văn nổi tiếng Kyokutei Bakin (曲亭 馬琴) được biết là đã từng có nhiều hơn 33 tên gọi.
== Tên chuyên nghiệp ==
Các nam và nữ diễn viên kịch nghệ phương Tây và Nhật Bản, danh hài, đô vật sumo, đô vật phương Tây chuyên nghiệp, và các nghệ nhân thủ công truyền thống thường sử dụng tên chuyên nghiệp. Nhiều tên sân khấu của nam và nữ diễn viên của phim và truyền hình không hề nổi bật, giống như tên cá nhân bằng tiếng Nhật thông thường, nhưng một vài cái tên tỏ ra hài hước nhưng nghiêm túc. Ví dụ, Fujiwara Kamatari (藤原 釜足) đã chọn tên của người sáng lập nói trên của gia tộc Fujiwara, trong khi tên của Hino Yōjin (日野 陽仁) nghe như hãy cẩn thận với lửa (mặc dù viết khác nhau). Nhiều nghệ sĩ hài độc thoại như bộ đôi Beat Takeshi và Beat Kiyoshi chọn một tên phương Tây khi diễn, và sử dụng tên riêng của bản thân (hay tên riêng sân khấu) cho họ. Nhà văn cũng có xu hướng trở nên thông minh về tên họ, ví dụ như tên Edogawa Ranpo được tạo ra theo phát âm như "Edgar Allan Poe".
Các đô vật sumo thường lấy tên gọi đấu vật - gọi là shikona (醜名 hoặc 四股名). Trong khi một shikona có thể là tên họ của chính đô vật đó, hầu hết rikishi hạng cao có một shikona khác với tên họ của họ. Một shikona điển hình bao gồm hai hoặc ba ký tự kanji, hiếm khi chỉ có một hoặc nhiều hơn ba ký tự. Thông thường, phần của tên xuất phát từ chủ hoặc sư phụ của đô vật, một địa danh (ví dụ như tên một tỉnh, một dòng sông, hoặc một vùng biển), tên một vũ khí, một chi tiết đặc trưng với văn hoá Nhật Bản (ví dụ như koto hoặc vải nishiki), hoặc một thuật ngữ chỉ ra tính ưu việt. Thông thường, âm waka chỉ ra một đô vật có cha cũng là đô vật sumo; trong trường hợp này, phần này mang nghĩa cấp dưới (junior). Đô vật có thể thay đổi shikona của họ, như Takahanada đã làm khi ông trở thành Takanohana (貴ノ花) và sau đó là Takanohana (貴乃花). Một ví dụ đáng chú ý là đô vật Sentoryu, mang nghĩa là chiến đấu long - con rồng chiến trận, còn là đồng âm với St. Louis, nguyên quán của anh ta.
Các geisha và các nghệ nhân thủ công và nghệ thuật như làm gốm, trà đạo, thư pháp, irezumi (nghệ thuật xăm hình) và ikebana (nghệ thuật cắm hoa) thường lấy tên chuyên nghiệp. Trong nhiều trường hợp, những tên này tới từ thầy dạy của họ. Các diễn viên kịch kabuki lấy một trong những họ truyền thống như Nakamura (中村), Bandō hoặc Onoe. Một số tên tuổi được thừa hưởng từ những tiền bối, chẳng hạn như trường hợp của diễn viên kịch Kabuki nổi tiếng Bandō Tamasaburō V (五代目 坂東 玉三郎 Godaime Bandō Tamasaburō) thông qua một buổi lễ đặt tên.
== Tên người Nhật trong tiếng Anh và trong các ngôn ngữ phương Tây khác ==
Ở tiếng Anh, tên của một người Nhật còn sống hoặc vừa mới qua đời thường được trình bày với phần tên họ sau cùng và không có dấu trường âm gạch trên (macron). Các hình tượng lịch sử được trình bày với tên họ đầu tiên và với macron nếu có.
Tính đến năm 2008, khi sử dụng tiếng Anh và các ngôn ngữ phương Tây khác người Nhật thường cho tên của họ trong một tên có trật tự bị đảo ngược so với truyền thống của Nhật Bản, với tên họ đặt sau tên riêng thay vì ngược lại. Sau thời kì Minh Trị, trong nhiều ấn phẩm viết bằng tiếng Anh, thứ tự đặt tên hiện đại ngày nay của người dân Nhật Bản sẽ bị đảo ngược lại theo trật tự với tên họ ở cuối cùng. Người Nhật đã tiếp nhận cách sử dụng thứ tự đặt tên trong các ngôn ngữ châu Âu như một phần của việc áp dụng các khía cạnh của văn hoá phương Tây trong thời Minh Trị, như là một phần của việc chứng minh với thế giới rằng Nhật Bản là một nước phát triển chứ không phải là một nước kém phát triển. Khi người Nhật Bản tham dự các sự kiện với cộng đồng quốc tế, như chơi bóng, người dân Nhật Bản sử dụng cách xếp tên phương Tây. Người Nhật Bản thường có các biệt danh dưới dạng rút gọn của tên thật, và họ dùng những tên này trong xưng hô với người nước ngoài. Ví dụ như "Kazuyuki" có thể tự gọi anh ta là "Kaz." Một số người Nhật sống ở nước ngoài nhận một biệt danh mà họ sử dụng với bạn bè không phải người Nhật; những tên này không được coi là tên đệm.
Hầu hết các ấn phẩm nước ngoài đảo ngược tên của các cá nhân hiện đại, và hầu hết người Nhật đảo ngược tên của bản thân họ khi sử dụng trong các ấn phẩm nước ngoài. Một giám đốc hoặc viên chức người Nhật thường có hai loại thẻ kinh doanh (meishi): một loại dùng tiếng Nhật và dành cho người Nhật đồng hương, sử dụng thứ tự xếp tên của Nhật, và một dành cho người nước ngoài, với tên gọi theo thứ tự phương Tây. Trong các ấn phẩm báo chí phổ biến, trật tự phương Tây được sử dụng.
Trong tiếng Anh, nhiều nhân vật lịch sử vẫn được gọi với tên họ đầu tiên. Điều này đặc biệt đúng trong các tác phẩm học thuật về Nhật Bản. Nhiều công trình học sử dụng thứ tự trong tiếng Nhật với tên gọi tiếng Nhật nói chung, và một tác phẩm học thuật nhiều khả năng sẽ sử dụng thứ tự tiếng Nhật hơn nếu tác giả là một nhà Nhật Bản học. John Power, tác giả của cuốn "Japanese names," viết rằng "Những người có thể nói và đọc tiếng Nhật có một sức chống lại mạnh mẽ với việc chuyển đổi tên tiếng Nhật theo trình tự của phương Tây." Các cuốn sách được viết bởi những tác giả này thường có chú thích rằng tên tiếng Nhật đang được trình bày với thứ tự gốc. Một vài cuốn sách không có một cách sắp xếp tên nhất quán. Shizuka Saeki, tác giả cuốn Look Japan nói, "Đây không chỉ là một cơn đau đầu cho các nhà văn và dịch giả, nó cũng là một nguồn gây nhầm lẫn cho người đọc." Tác giả Lynne E. Riggs của Hiệp hội các Nhà văn, Biên tập viên và Biên dịch viên (Society of Writers, Editors and Translators - SWET), một tổ chức chuyên nghiệp về văn bản có trụ sở tại Tokyo, cho biết, "Khi bạn xuất bản một cuốn sách về Nhật Bản, bạn đưa nó cho những người muốn biết về Nhật Bản. Vì vậy, họ quan tâm đến việc học một cái gì đó mới hoặc một cái gì đó được cho là như vậy."
Edith Terry, tác giả của How Asia Got Rich, nói rằng điều này xảy ra bởi người Nhật đang "nắm thành thao" một người theo "lối chơi phương Tây" có một số niềm tự hào và cùng lúc đó họ cảm thấy bất an vì "trò chơi" ("game") là "các thuật ngữ phương Tây" hơn là "các thuật ngữ Nhật Bản." Cách trình bày tiêu chuẩn của tên tiếng Nhật trong tiếng Anh khác với tiêu chuẩn trong cách trình bày của các tên người Trung Quốc hiện đại, từ khi tên tiếng Trung Quốc hiện đại thường không đảo ngược để phù hợp với trình tự phương Tây trong tiếng Anh, ngoại trừ khi người Trung Quốc đang sống hoặc du lịch bên ngoài Trung Quốc. Các quy ước liên quan đến tên tiếng Nhật cũng khác với tiếng Triều Tiên, thường theo thứ tự trong tiếng Triều Tiên, trừ khi người Triều Tiên hoặc người Hàn Quốc đang ở nước ngoài. Power viết rằng sự khác biệt trong cách xử lý với tên tiếng Nhật và với tên tiếng Trung cũng như tiếng Hàn thường dẫn đến sự nhầm lẫn. Terry viết, "đó là một trong những trớ trêu của những năm cuối thế kỷ 20, rằng Nhật Bản vẫn bị mắc kẹt trong quy chuẩn văn phong nhấn mạnh nhiệm vụ lịch sử về sự bình đẳng với phương Tây, trong khi tiếng Trung thiết lập thuật ngữ của riêng nó, trong ngôn ngữ như trong nền chính trị đầy quyền lực."
Saeki cho biết trong năm 2001 rằng hầu hết người Nhật sử dụng thứ tự tên theo phương Tây khi viết bằng tiếng Anh, nhưng một số hình thái tu từ đã bắt đầu thúc đầy việc sử dụng thứ tự tên tiếng Nhật như một biểu hiện cho thấy Nhật Bản đã trở thành một cường quốc kinh tế lớn trong thế kỷ 20. Quyển Japan Style Sheet, một quyển hướng dẫn cho việc xuất bản các công trình bằng tiếng Anh về Nhật Bản được viết bởi SWET năm 1998, ủng hộ việc sử dụng các trình tự đặt tên tiếng Nhật càng nhiều càng tốt, bởi các dịch giả muốn quảng bá một sự nhất quán trong cách đặt tên theo thứ tự. Năm 1987, một nhà xuất bản sách giáo khoa tiếng Anh ở Nhật Bản đã sử dụng trình tự tên theo tiếng Nhật, trong khi vào năm 2001 sáu trong số tám nhà xuất bản sách giáo khoa tiếng Anh ở Nhật Bản cùng sử dụng trình tự đó. Trong tháng 12 năm 2000, Hội đồng về ngôn ngữ quốc gia của Bộ Giáo dục khuyến cáo các sản phẩm viết bằng tiếng Anh bắt đầu sử dụng thứ tự đặt tên theo tiếng Nhật bởi "điều này nói chung nhằm hướng tới mong muốn rằng tên cá nhân sẽ được trình bày và viết theo một cách đảm bảo hình thức duy nhất của chúng, ngoại trừ các tài liệu đăng ký và tài liệu khác có tiêu chuẩn cụ thể." Văn bản này khuyến nghị việc sử dung chữ viết hoa (Taro YAMADA) hoặc dấu phẩy (Taro, Yamada) để làm rõ phần nào của tên cá nhân là tên họ và phần nào là tên riêng. Trong một cuộc thăm dò ý kiến vào tháng 1 năm 2000 từ Vụ Văn hoá về trình tự được ưu tiên về tên tiếng Nhật trong tiếng Anh, 34.9% số người ưu tiên sử dụng trình tự theo tiếng Nhật, 30.6% ưu tiên sử dụng trình tự phương Tây, và 29.6% không ưu tiên bên nào hơn. Năm 1986, Japan Foundation đã quyết định sẽ sử dụng thứ tự đặt tên theo tiếng Nhật trong tất cả các ấn phẩm của họ. Một phát ngôn viên bộ phận xuất bản của Japan Foundation chia sẻ trong năm 2001 rằng một vài ấn phẩm của SWET, bao gồm các báo nói tiếng Anh phổ biến, tiếp tục sử dụng trình tự phương Tây. Cho đến năm 2001, tờ style sheet của cơ quan này khuyến cáo sử dụng một phong cách xếp đặt tên khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh. Ví dụ nó chủ trương sử dụng thứ tự Tây phương trong các ấn phẩm cho độc giả những người không quen thuộc với Nhật Bản, chẳng hạn như các giấy tờ cho hội nghị quốc tế.
Hướng dẫn tiêu chuẩn Chicago Manual of Style khuyến cáo chỉ mục tên tiếng Nhật theo cách thức văn bản ban đầu tương tác với tên. Nếu văn bản sử dụng thứ tự phương Tây, tên tiếng Nhật sẽ được đảo ngược lại và được chỉ mục bằng tên gia đình với một dấu phẩy. Nếu văn bản sử dụng thứ tự trong tiếng Nhật, tên gọi sẽ được liệt kê theo tên gia đình mà không có sự đảo ngược và không có dấu phẩy.
== Tên tiếng Nhật trong tiếng Trung Quốc ==
Trong các cộng đồng nói tiếng Trung Quốc, tên tiếng Nhật được phát âm theo cách phát âm tiếng Trung Quốc của các ký tự. Ví dụ, trong tiếng Hoa, Yamada Tarō (山田太郎 (Sơn Điền Thái Lang), Yamada Tarō) sẽ trở thành "Shāntián Tàiláng", trong khi Hatoyama Yukio (鳩山 由紀夫 (Cưu Sơn Do Kỉ Phu), Hatoyama Yukio) sẽ trở thành "Jiūshān Yóujìfū". Kết quả là, một người Nhật Bản nếu không có hiểu biết đầy đủ về tiếng Trung Quốc sẽ không hiểu tên của anh hoặc cô ta khi được nói trong tiếng Trung Quốc.
Đôi khi, một cái tên Nhật Bản bao gồm các kokuji. Những mẫu tự kanji này giống với chữ Hán, nhưng có nguồn gốc từ Nhật Bản và không có phát âm trong tiếng Trung Quốc. Ví dụ, từ komu (込) không hề có cách phát âm tiếng Trung Quốc. Khi gặp phải những chữ như vậy, thường thì quy tắc "有邊讀邊,沒邊讀中間" ("đọc phần ở bên nếu có, đọc phần ở giữa nếu không có phần ở bên") sẽ được áp dụng. Do đó, "込" được đọc là "rù" bắt nguồn từ cách đọc chữ 入.
Heng Ji, tác giả của "Improving Information Extraction and Translation Using Component Interactions," đã viết rằng vì tên của Nhật Bản có độ dài "linh hoạt", có thể sẽ khó khăn cho một người nào đó để xác định một tên người Nhật khi đọc một văn bản của Trung Quốc.
== Xem thêm ==
Ngành nghiên cứu về tên người
Tên người Amami
Tên hiệu
Tên bí danh Nhật
Danh sách tên họ người Nhật phổ biến nhất
Meishi
Tên họ của người Okinawa
ja:中国語における外国固有名詞の表記
zh:漢字使用國間專有名詞互譯
== Tham khảo ==
Power, John. "Japanese names." (Archive) The Indexer. June 2008. Volume 26, Issue 2, p. C4-2-C4-8 (7 pages). ISSN 00194131. Accession number 502948569. Có sẵn tại EBSCOHost.
Terry, Edith. How Asia Got Rich: Japan, China and the Asian Miracle. M.E. Sharpe, 2002. ISBN 0-7656-0356-X, 9780765603562.
Một vài tư liệu trích từ Kodansha Encyclopedia of Japan, bài viết về "tên gọi".
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Hoffman, Michael. "What's in a (Japanese) name?" Japan Times, chủ nhật ngày 11 tháng 10 năm 2009.
"Which names are to be found where?" Japan Times, chủ nhật ngày 11 tháng 10 năm 2009.
Koop, Albert J., Hogitaro Inada. Japanese Names and How to Read Them 2005 ISBN 0-7103-1102-8 Kegan Paul International Ltd.
Nichigai Associates, Inc. (日外アソシエーツ株式会社 Nichigai Asoshiētsu Kabushiki Kaisha) 1990. Nihon seimei yomifuri jiten (日本姓名よみふり辞典 "Từ điển cách đọc tên gọi người Nhật với ký tự chữ Hán"), tập Sei-no bu (tên họ) và Mei-no bu (tên riêng). Tokyo: Nichigai Associates.
O'Neill, P.G. Japanese Names 1972 ISBN 0-8348-0225-2 Weatherhill Inc.
Plutschow, Herbert. Japan's Name Culture 1995 ISBN 1-873410-42-5 Routledge/Curzon
Poser, William J. (1990) "Evidence for Foot Structure in Japanese," Language 66.1.78-105. (Describes hypochoristic formation and some other types of derived names.)
Throndardottir, Solveig. Name Construction in Medieval Japan 2004 ISBN 0-939329-02-6 Potboiler Press
Society of Writers, Editors and Translators. Japan Style Sheet 1998 ISBN 1-880656-30-2 Stone Bridge Press
== Liên kết ngoài ==
Phần tên tiếng Nhật của trang FAQ của sci.lang.japan
Japanorama: Japanese Names
(tiếng Nhật) 「日本人の名前」目次(Index page of "Names of Japanese")(Internet Archive) Tên tiếng Nhật bằng chữ Hán và Hiragana.
(tiếng Nhật) 全国の苗字(名字)10万種掲載("Publication of 100,000 surnames(names) in the country")
(tiếng Nhật) 静岡大学人文学部 城岡研究室(" Shirōka Lab of the Department of Humanities in the Shizuoka University") Tên họ ở Nhật, tỉnh Shizuoka, tỉnh Okinawa và ở Đưc.
(tiếng Nhật) 名字見聞録("Records of names") Tên tiếng Nhật bằng chữ Hán và Hiragana.
(tiếng Nhật) 苗字舘("Museum of surnames)" Số liệu thống kê tên họ của Nhật Bản.
Tên họ người Nhật
Tên trẻ em Nhật phổ biến từ năm 1994 tới 2003.
Xu hướng đặt tên trẻ em Nhật, Namiko Abe, 2005
WWWJDIC Từ điển trực tuyến với hơn 400.000 tên Nhật.
Làm thế nào để đọc tên Nhật Bản
Từ điển tên tiếng Nhật |
mã hóa.txt | Trong mật mã học, một ngành toán học ứng dụng cho công nghệ thông tin, mã hóa là phương pháp để biến thông tin (phim ảnh, văn bản, hình ảnh...) từ định dạng bình thường sang dạng thông tin không thể hiểu được nếu không có phương tiện giải mã.
Giải mã là phương pháp để đưa từ dạng thông tin đã được mã hóa về dạng thông tin ban đầu, quá trình ngược của mã hóa.
Một hệ thống mã hóa bao gồm các thành phần:
thông tin trước khi mã hóa, ký hiệu là P
thông tin sau khi mã hóa, ký hiệu là C
chìa khóa, ký hiệu là K
phương pháp mã hóa/giải mã, ký hiệu là E/D.
Quá trình mã hóa được tiến hành bằng cách áp dụng hàm toán học E lên thông tin P, vốn được biểu diễn dưới dạng số, để trở thành thông tin đã mã hóa C.
Quá trình giải mã được tiến hành ngược lại: áp dụng hàm D lên thông tin C để được thông tin đã giải mã P.
== Các hệ thống mã hóa ==
Có hệ thống mã hóa đối xứng và hệ thống mã hóa bất đối xứng. Hai loại mã khóa này khác nhau ở số lượng khóa. Mã hóa đối xứng sử dụng cùng một khóa để mã hóa/giải mã. Trong khi đó, mã hóa bất đối xứng sử dụng hai khóa khác nhau để mã hóa và giải mã thông tin. Mỗi hệ thống mã hóa có ưu nhược điểm riêng. Mã hóa đối xứng xử lý nhanh nhưng độ an toàn không cao. Mã hóa bất đối xứng xử lý chậm hơn, nhưng độ an toàn và tính thuân tiện trong quản lý khóa cao. Trong các ứng dụng mã hóa hiện tại, người ta thường kết hợp các ưu điểm của cả hai loại mã hóa này.
== Ứng dụng ==
Mã hóa có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là trong giao dịch điện tử. Nó giúp đảm bảo bí mật, toàn vẹn của thông tin, khi thông tin đó được truyền trên mạng. Mã hóa cũng là nền tảng của kĩ thuật chữ ký điện tử, hệ thống PKI...
== Tham khảo == |
bill clinton.txt | William Jefferson Clinton (tên khai sinh là William Jefferson Blythe III) sinh ngày 19 tháng 8 năm 1946, là tổng thống thứ 42 của Hoa Kỳ từ năm 1993 đến năm 2001. Trước khi vào Nhà Trắng, Clinton đã phục vụ hai nhiệm kỳ thống đốc tiểu bang Arkansas.
Clinton được xem là thuộc cánh Tân Dân chủ có khuynh hướng trung dung trong Đảng Dân chủ. Có nhiều nhãn hiệu được gán cho ông như "ôn hòa" hoặc "trung dung" nhưng, chính xác hơn, có lẽ ông nên được xem là người của quần chúng (populist). Suốt trong nhiệm kỳ của mình, ưu tiên hàng đầu của tổng thống trong các vấn đề trong nước là thúc đẩy thông qua các đạo luật nâng cấp giáo dục, hạn chế bán súng ngắn, củng cố các quy định về môi trường và bảo vệ việc làm cho các cá nhân cần nghỉ hộ sản hoặc nghỉ bệnh. Trên trường quốc tế, ông thiết lập ưu tiên cho nỗ lực giảm thiểu hàng rào mậu dịch giữa các quốc gia, và làm trung gian hòa giải cho các cuộc tranh chấp tại Bắc Ireland và Trung Đông (giữa Israel và Palestine). Nhằm tìm kiếm sự ủng hộ từ giới bảo thủ, Clinton đưa vào danh mục các ưu tiên cuộc chiến chống ma tuý và án tử hình. Năm 1996, chính phủ Clinton một mình phủ quyết việc tái bổ nhiệm tổng thư ký Liên hiệp quốc Boutros Boutros-Ghali.
Là tổng thống trẻ tuổi thứ ba trong lịch sử Hoa Kỳ và là người đầu tiên thuộc thế hệ Baby Boomer (sinh trong thời gian 1946-1964), nhiệm kỳ tổng thổng của Clinton đánh dấu sự chuyển giao quyền lực từ thế hệ các tổng thống tiền nhiệm là cựu binh Chiến tranh thế giới thứ hai, và là những người chứng kiến sự khởi đầu của cuộc Chiến tranh Lạnh trong thập niên 1950.
Nhiệm kỳ của Clinton cũng được đánh dấu bởi mối quan hệ thù địch với Đảng Cộng hòa đang kiểm soát Quốc hội. Ông cũng là mục tiêu của một loạt các cuộc điều tra tiến hành bởi công tố viên độc lập được bổ nhiệm bởi quốc hội, như vụ Whitewater, khi một vài phụ tá của ông bị truy tố về những tội danh mà gia đình Clinton không dính líu, Clinton cũng được tuyên bố vô tội trong vụ tai tiếng Whitewater. Ông là người thứ hai trong số các tổng thống Hoa kỳ bị đem ra luận tội về các tội danh man khai và ngăn cản công lý trước một đại bồi thẩm đoàn do cung cách hành xử của ông trong mối quan hệ tình cảm với Monica Lewinsky. Vụ bê bối về tình cảm này của ông đã bị Kenneth Starr- một công tố viên độc lập phanh phui, nhưng cuối cùng ông được tha bổng bởi thượng viện.
Một trong những đặc điểm nổi trội nhất trong giai đoạn cầm quyền của Clinton là thời kỳ bùng nổ kinh tế lâu dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, có lẽ được cấu thành bởi các nhân tố như cơn sốt tăng giá tại thị trường chứng khoán, chiến dịch gìn giữ hòa bình của NATO trong cuộc chiến Kosovo, và sự chuyển đổi ngoạn mục từ mức thâm thủng ngân sách khoảng 250 tỷ đô la vào lúc bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống, trở nên thặng dư ngân sách vào khoảng 523 tỷ vào cuối nhiệm kỳ của ông.
== Thời thơ ấu ==
Clinton chào đời với tên William Jefferson Blythe III tại Hope, tiểu bang Arkansas và lớn lên tại Hot Spring, Arkansas. Clinton được đặt tên theo tên cha, William Jefferson Blythe Jr., một người chào hàng lưu động, qua đời trong một tai nạn xe hơi tại hạt Scott, tiểu bang Missouri, ba tháng trước khi con trai của ông chào đời. Mẹ ông, Virginia Dell Cassidy, tái hôn vào năm 1950 với Roger Clinton. Billy được nuôi dưỡng bởi mẹ và cha kế, sử dụng họ Clinton cho mình suốt những năm tiểu học, nhưng không chịu chính thức đổi họ cho đến năm 14 tuổi. Cậu bé lớn lên trong một gia đình truyền thống, nhưng cha kế của cậu, nghiện cả rượu và cờ bạc, thường ngược đãi mẹ cậu, và đôi khi, cả người em cùng mẹ khác cha với cậu, Roger Clinton, Jr..
Năm 1963, xảy ra hai sự kiện khiến Clinton quyết định trở thành người của công chúng. Đó là khi cậu được chọn vào đoàn học sinh trung học đến thăm Nhà Trắng và gặp Tổng thống John F. Kennedy. Sự kiện thứ hai là khi cậu nghe bài diễn văn "Tôi có một giấc mơ" của Martin Luther King, Jr. đọc trong cuộc Tuần hành vì Tự do và Việc làm tại Washington, D.C..
== Arkansas ==
Clinton theo học tại trường ngoại giao Edmund A. Walsh thuộc Đại học Georgetown tại Washington, D.C., tại đây Clinton làm việc cho thượng nghị sĩ J. William Fulbright, rồi giành được học bổng Rhodes để theo học tại Đại học Oxford. Trở về từ Oxford, Clinton đến học tại trường luật thuộc Đại học Yale, nơi ông gặp người bạn cùng lớp và sau này là vợ của ông, Hillary Rodham.
Sau khi tốt nghiệp từ Yale, Clinton về dạy môn luật tại Đại học Arkansas. Trong thời gian này, ông ra tranh cử dân biểu năm 1974, đối đầu với John Paul Hammerschmidt, một dân biểu đương nhiệm, và thất cử. Năm 1976, ông được bầu làm bộ trưởng tư pháp tiểu bang Arkansas; hai năm sau, năm 1978, ông đắc cử thống đốc tiểu bang Arkansas, trở thành thống đốc tiểu bang trẻ tuổi nhất vào lúc ấy, và là người trẻ tuổi nhất từng được bầu vào chức vụ thống đốc kể từ năm 1938. Nhiệm kỳ đầu của ông sa lầy trong nhiều khó khăn như kế hoạch thuế đánh trên xe hơi rất mất lòng dân, và sự phẫn nộ của công luận về vụ đào thoát vào năm 1980 của các tù nhân Cuba (là các thuyền nhân đến nước Mỹ trong đợt Mariel boatlift) bị giam giữ tại nhà tù Fort Chafee. Thêm vào đó, quyết định của Hillary Rodham duy trì họ của bà khi đang là phu nhân thống đốc một bang có truyền thống bảo thủ như Arkansas đã gây ra nhiều bực tức ở đây. Cuối cùng, Hillary cũng chấp nhận họ của chồng và vai trò truyền thống làm vợ của một chính trị gia, trong khi lặng lẽ gây dựng cho mình sức mạnh chính trị qua kỹ năng của một luật sư.
Hết nhiệm kỳ đầu, Clinton bị đánh bại bởi một đối thủ thuộc Đảng Cộng hòa, Frank D. White, vào năm 1980; và theo cách nói đùa của ông, trở thành cựu thống đốc trẻ tuổi nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Trong kỳ tuyển cử kế tiếp vào năm 1982, ông đắc cử và đảm nhiệm chức vụ thống đốc trong bốn nhiệm kỳ liên tiếp cho đến năm 1992, khi ông trở thành ông chủ Nhà Trắng. Năm 1984, Clinton đã gặt hái thành công khi cố tu chính để thay đổi nhiệm kỳ thống đốc từ 2 năm trở thành 4 năm.
Thái độ thân thiện với giới doanh nghiệp làm giảm thiểu các chỉ trích từ phe bảo thủ trong suốt nhiệm kỳ này của Clinton, nhưng một vài giao dịch của ông trong giai đoạn này dẫn đến cuộc điều tra Whitewater, theo đuổi ông trong suốt nhiệm kỳ tổng thống sau này.
== Tổng thống Hoa Kỳ ==
Clinton xuất hiện lần đầu trên sân khấu chính trị quốc gia khi đăng đàn diễn thuyết tại đại hội Đảng Dân chủ năm 1988, giới thiệu ứng cử viên Michael Dukakis. Bài diễn văn là một thất bại thảm hại khi ông nói dông dài đến nửa giờ thay vì giới hạn trong 15 phút cho phép.
Bốn năm sau, Clinton chuẩn bị tranh cử chống lại tổng thống đương nhiệm George H. W. Bush. Sau cuộc Chiến tranh vùng Vịnh, Bush được xem như bất khả chiến bại. Đặt mình vào vị trí của một người đơn độc thích nói thẳng, Clinton khéo léo giành được sự đề cử của Đảng Dân chủ.
Ngày 9 tháng 7 năm 1992, Clinton chọn thượng nghị sĩ Albert A. Gore, Jr. (Dân chủ – Tennessee) là người đứng cùng liên danh với mình. Lúc đầu, sự chọn lựa này bị chỉ trích bởi nhiều nhà chiến lược với lý do Gore đến từ tiểu bang Tennessee kề cận với tiểu bang quê hương của Clinton. Nay nhìn lại, nhiều người nhận thấy Gore là nhân tố hữu dụng dẫn đến sự thành công của chiến dịch tranh cử năm 1992.
Trong suốt chiến dịch, các đối thủ của Clinton nêu lên nhiều điểm yếu của ông như việc trốn quân dịch trong Chiến tranh Việt Nam, cung cách ông giải thích về việc sử dụng cần sa trước đây, theo lời miêu tả của ông, "hút nhưng không hít", cùng với những cáo buộc về tính trăng hoa và một số giao dịch mờ ám. Dù những cáo buộc này không ngăn được Clinton bước chân vào Nhà Trắng, chúng đã khuấy động được sự chống đối mạnh mẽ từ những người bảo thủ ngay từ những ngày đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống.
Nhờ chọn lựa chiến lược thích hợp cho chiến dịch tranh cử, tập chú vào các vấn đề trong nước, đặc biệt là tình trạng suy thoái kinh tế trong giai đoạn ngay trước cuộc tuyển cử năm 1992, Clinton trở thành người chiến thắng với 42,9% số phiếu bầu; George H. W. Bush giành được 37,4%, và ứng cử viên độc lập H. Ross Perot được 18,9%.
Kể từ Franklin D. Roosevelt, Clinton là tổng thống đầu tiên thuộc Đảng Dân chủ phục vụ đủ hai nhiệm kỳ, mặc dù ông cũng là tổng thống đầu tiên kể từ John F. Kennedy không giành được đa số phiếu phổ thông, vì bị chia phiếu bởi ứng cử viên đảng thứ ba. Chiến thắng của Clinton chấm dứt thời kỳ thống trị của Đảng Cộng hòa nắm giữ chức vụ tổng thống trong 12 năm liên tiếp, và trong suốt 20 năm trong số 24 năm trước đó. Chiến thắng này cũng trao quyền kiểm soát cho Đảng Dân chủ tại các nhánh của Chính phủ liên bang, bao gồm hai viện quốc hội và chức vụ tổng thống, lần đầu tiên kể từ chính phủ của tổng thống Dân chủ sau cùng, Jimmy Carter.
Đề án quan trọng nhất trong nghị trình lập pháp của Clinton là kế hoạch cải cách hệ thống chăm sóc sức khỏe, thực hiện bởi Hillary Clinton, nhắm vào mục đích thiết lập một hệ thống chăm sóc sức khoẻ cho toàn dân. Dù được chào đón vào lúc đầu, cuối cùng kế hoạch này bị sụp đổ khi gặp sự chống đối có tổ chức từ những người bảo thủ và từ ngành công nghiệp bảo hiểm; họ thuyết phục người dân Mỹ hãy đọc kỹ từng chi tiết của kế hoạch. Đây là thất bại quan trọng đầu tiên của chính phủ Clinton.
Sau hai năm cầm quyền dưới sự lãnh đạo của Clinton, Đảng Dân chủ thất bại thảm hại trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1994. Họ mất quyền kiểm soát tại hai viện quốc hội lần đầu tiên trong suốt 40 năm, phần lớn là do những dự luật đang bị cầm giữ tại quốc hội như việc không thể xây dựng một hệ thống chăm sóc sức khỏe phổ thông trong khuôn khổ của kế hoạch được thiết lập bởi Đệ nhất Phu nhân Hillary Rodham Clinton.
Sau cuộc tuyển cử năm 1994, sự quan tâm của công luận chuyển sang sáng kiến Khế ước với nước Mỹ (Contract with America) đang được đẩy mạnh bởi Chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich. Với quốc hội đang ở trong tay của Đảng Cộng hòa, Clinton phải chống đỡ dữ dội để bảo vệ ngân sách, dẫn đến sự tê liệt của chính quyền, vì chính phủ Clinton và quốc hội không đồng ý được với nhau về một biện pháp thoả hiệp.
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996, Clinton tái đắc cử với 49,2% số phiếu phổ thông, ứng viên Đảng Cộng hòa Bob Dole nhận được 40,7% và ứng viên Đảng Cải cách Ross Perot 8,4%, trong khi Đảng Cộng hòa vẫn duy trì quyền kiểm soát quốc hội dù mất một ít ghế.
Clinton xây dựng mối quan hệ công việc thân thiết với Tony Blair, thủ tướng Anh, khi Blair đắc cử năm 1997.
Năm 1999, qua những nỗ lực của Clinton, Hoa Kỳ có được thặng dư ngân sách liên bang lần đầu tiên kể từ năm 1969.
Clinton quan tâm đến các cuộc bạo động xảy ra tại Bắc Ireland; ba lần trong nhiệm kỳ tổng thống, ông đến thăm Bắc Ireland nhằm cổ vũ cho hòa bình tại vùng đất này. Sự can thiệp của ông giúp thúc đẩy tiến trình giải giới PIRA bắt đầu từ ngày 23 tháng 10 năm 2001.
Năm 2002, một mẫu tin của UPI trình bày những tư liệu được tìm thấy tại Afghanistan cho thấy al-Qaeda đang âm mưu hạ sát Clinton vào lúc cuối nhiệm kỳ của ông.
== Bổ nhiệm ==
=== Nội các ===
=== Tối cao Pháp viện ===
Clinton bổ nhiệm hai thẩm phán cho Tối cao Pháp viện
Ruth Bader Ginsburg – 1993
Stephen Breyer – 1994
== Kinh tế ==
Trong hai nhiệm kỳ tổng thống của Clinton, người dân Mỹ hưởng một sự phát triển liên tục về kinh tế, số người thất nghiệp sút giảm, tài sản gia tăng qua sự tăng giá ào ạt tại thị trường chứng khoán. Mặc dù còn nhiều tranh cãi về nguyên nhân của sự phát triển kinh tế, Clinton có thể tự hào về một số thành tựu sau:
Hơn 22 triệu chỗ làm mới
Số người sở hữu nhà tăng từ 64,0% lên đến 67.5%
Mức thất nghiệp thấp nhất trong 30 năm
Lợi tức được nâng cao tại mọi mức độ
Mức thâm hụt ngân sách cao nhất trong lịch sử Mỹ được đảo ngược để trở nên mức thặng dư cao nhất vượt qua con số 200 tỷ đô la
Chi tiêu của chính quyền thấp nhất tính theo tỷ lệ với GDP kể từ năm 1974
Số gia đình sở hữu chứng khoán nhiều nhất
Nguyên nhân của sự tăng trưởng vẫn còn đang tranh cãi, nhưng nhiều người cho rằng nhờ kế hoạch tăng thuế vào năm 1993 kéo mức thâm thủng xuống thấp, dẫn đến việc hạ lãi suất, nhờ vậy mà kích cầu và làm gia tăng mức tiêu dùng. Cần biết rằng Chủ tịch Quỹ dự trữ liên bang Alan Greenspan ủng hộ kế hoạch này, trong khi những người chỉ trích Clinton cho rằng sự tăng trưởng là thành quả đến từ Alan Greenspan, chương trình cắt giảm chi tiêu của quốc hội năm 1995 (dưới quyền kiểm soát của Đảng Cộng hòa), những đề xuất của "Hợp đồng với nước Mỹ" và ngay cả kế hoạch giảm thuế của chính phủ Ronald Reagan năm 1980.
== Đối ngoại ==
Vài lần Clinton đã gởi quân đến những vùng đất thù nghịch. Năm 1993, quân đội Hoa Kỳ chiến đấu tại Mogadishu để cố bắt giữ lãnh chúa Mohamed Farah Aidid tại Somalia. Năm 1994, Clinton gởi quân đến Haiti để phục hồi chế độ Jean-Bertrand Aristide, chấm dứt một thời kỳ bạo loạn. Aristide đắc cử tổng thống, nhưng bảy tháng sau lại bị lật đổ trong một cuộc đảo chính vào năm 1997. Quân đội Hoa Kỳ cũng hai lần có mặt tại Kosovo để ngăn chặn những cuộc bạo động giữa các sắc tộc. Thêm vào đó, Clinton đã cho quân đội đột kích vào Iraq vài lần với mục đích trừng phạt chính quyền Saddam Hussein vì vi phạm lệnh cấm vận của Liên Hiệp Quốc và vì âm mưu ám sát cựu tổng thống George H. W. Bush. Tuy nhiên, vì bị ám ảnh bởi sự thất bại và sỉ nhục tại Somalia, Clinton từ chối can thiệp vào Rwanda, lúc đó đang đẫm máu vì những cuộc tàn sát diệt chủng.
Vào tháng 1 năm 1994, chính phủ Clinton gỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế và thương mại đối với Việt Nam; tháng 5 năm 1994, hai bên tuyên bố thiết lập văn phòng liên lạc tại Hà Nội và Washington, D.C.. Mười lăm tháng sau, ngày 15 tháng 7 năm 1995, Clinton tuyên bố thiết lập bang giao đầy đủ với Việt Nam.
Ngày 17 tháng 11 năm 2000, Bill Clinton, cùng với vợ và con gái, Hillary và Chelsea Clinton, bắt đầu chuyến viếng thăm Việt Nam kéo dài bốn ngày. Clinton là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm đất nước này kể từ lúc chấm dứt cuộc chiến Việt Nam 25 năm trước.
Sau khi rời Nhà Trắng, Clinton cho rằng thành quả ngoại giao lớn nhất của ông là dàn xếp những cuộc đàm phán hòa bình giữa Israel và Palestine, dẫn đến Thoả ước Oslo. Theo Clinton, thất bại lớn nhất trong chính sách đối ngoại của ông là không chịu làm gì khi cuộc bạo động diệt chủng xảy ra tại Rwanda năm 1994. Cùng với Liên hiệp quốc, chính phủ Clinton lúc ban đầu không chịu thừa nhận là cuộc diệt chủng đang xảy ra.
== Luận tội ==
Clinton, với tư cách là Tổng thống Hoa Kỳ, bị đem ra luận tội ngày 19 tháng 12 năm 1998 bởi Hạ viện. Các cáo buộc là man khai và ngăn cản công lý. Thượng viện tha bổng Clinton vào ngày 12 tháng 2 năm 1999. Một ngày trước khi rời chức vụ, Clinton đồng ý chịu đình chỉ 5 năm giấy phép hành nghề luật tiểu bang Arkansas, như là một phần trong một thoả thuận với công tố viên độc lập nhằm chấm dứt cuộc điều tra. Dựa vào sự đình chỉ này, Clinton đương nhiên bị đình chỉ tại luật sư đoàn toà án tối cao, lần này Clinton quyết định xin rút khỏi luật sư đoàn mặc dù trong thực tế ông chưa bao giờ hành nghề luật tại toà tối cao, cũng không dự tính làm công việc này trong tương lai.
Ngoài chuyện bị luận tội, Nhà Trắng dưới thời Clinton còn là mục tiêu trong nhiều vụ tai tiếng khác. "Travelgate" liên quan đến vụ sa thải các nhân viên văn phòng du lịch tại Nhà Trắng. "Tập tingate" liên quan đến cung cách Nhà Trắng xử lý hàng trăm hồ sơ nhân viên mà không xin phép họ. "Chinagate" dính líu đến các đảng viên Dân chủ nhận những khoản đóng góp bất hợp pháp cho chiến dịch tranh cử; người ta cho rằng số tiền này đến từ chính quyền Trung Quốc. "Pardongate" là chuyện ân xá cho các thành viên của FALN (một tổ chức khủng bố) vào năm 1999, lệnh ân xá cho Marc Rich và những người khác vào ngày cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống năm 2001. Tháng 3 năm 1998, Kathleen Willey, một nhân viên Nhà Trắng, cáo buộc Clinton về tội cưỡng bức tình dục. Cũng trong năm 1998, Juanita Broaddrick nói rằng đã bị Clinton cưỡng bức vào năm 1978.
== Uy tín ==
Là tổng thống đầu tiên thuộc thế hệ Baby Boomer, Clinton được xem là dấu mốc của sự chuyển đổi từ các tổng thống thuộc thế hệ Chiến tranh thế giới thứ hai. Với kỹ năng cao trong thuật dụng ngữ nhằm nhấn mạnh vào trọng tâm của chủ đề khi đối thoại, và đi tiên phong trong việc du nhập văn hoá bình dân vào các chiến dịch tranh cử của mình, Clinton thường được miêu tả, một cách tiêu cực, là "tổng thống MTV". Bất kể những chỉ trích cho rằng sức thu hút của ông đối với giới trẻ là thiếu nền tảng, Clinton giành được đa số phiếu của cử tri thuộc thế hệ trẻ trong cuộc tuyển cử năm 1992.
Clinton rất được yêu thích trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi, ông cũng xem việc cải thiện các quan hệ chủng tộc là chủ đề chính cho nhiệm kỳ tổng thống của mình. Nhà văn Toni Morrison gọi Clinton là "tổng thống da đen đầu tiên", giải thích rằng "xuất thân của Clinton phô bày mọi đặc điểm của một người da đen tiêu biểu: một cậu bé Arkansas sống trong một gia đình thiếu cha hoặc mẹ, luôn túng thiếu, lao động chân tay, chơi kèn saxophone, thích thức ăn McDonald".
Ảnh hưởng lớn của Hillary Clinton trong chính phủ dẫn đến nhiều chỉ trích nhất nhắm vào một đệ nhất phu nhân kể từ Eleanor Roosevelt. Nhiều người xem Bill và Hillary Clinton là cặp bài trùng chưa từng có trên chính trường nước Mỹ, trong khi nhiều người khác cho rằng chính Hillary, chứ không phải Clinton, là sức mạnh chủ đạo đằng sau bộ máy cầm quyền.
Sự kiện Clinton từng thử cần sa - được bào chữa cách vụng về là "hút chứ không hít" – làm hoen ố hình ảnh của ông đối với một số cử tri. Clinton ủng hộ án tử hình, giới nghiêm, đồng phục trong trường công, và một số biện pháp khác đi ngược lại quan điểm của những người ủng hộ quyền của giới trẻ, ông cũng đẩy mạnh cuộc chiến chống ma túy.
Từ khi bắt đầu chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1992, đã có nhiều lời đồn đại về vụ ngoại tình của Clinton. Tuy nhiên, điều này được công luận quan tâm khi Paula Jones cáo buộc ông về hành vi quấy rối tình dục. Tiếp bước Paula Jones là Gennifer Flower và Kathleen Willey với những cáo buộc tương tự. Cuộc sống tình dục của Clinton trở nên tâm điểm của công luận vào tháng 1 năm 1998 khi những lời tự sự của Monica Lewinsky, bị ghi âm bí mật bởi Linda Tripp, nói về những kinh nghiệm kích thích dương vật bằng miệng thực hành với Clinton được đưa ra công luận.
== Di sản ==
Những năm cầm quyền của Clinton là giai đoạn phát triển kinh tế lâu dài nhất trong lịch sử hiện đại của Mỹ.
Cùng với Hội đồng lãnh đạo Đảng Dân chủ, Clinton dẫn dắt Đảng Dân chủ tách rời khỏi khuynh hướng thiên tả, hướng về chủ trương trung dung ôn hòa. Suốt trong thập niên 1990, Đảng Dân chủ bị cáo buộc là bỏ rơi các thành trì truyền thống của họ (nghiệp đoàn, giới lao động, các nhóm thiểu số) để chấp nhận khuynh hướng trung hữu, hầu có thể có được những khoản đóng góp từ các tập đoàn và từ những bà mẹ mẫu mực (soccer mom).
Trong mắt của nhiều người Mỹ, những khuyết tật của Clinton về mặt đạo đức đã vấy bẩn lên di sản của ông bất kể những thành quả kinh tế đạt được vào cuối thập kỷ 1990. Cơn sốt giá tại thị trường chứng khoán cùng với tình trạng tham nhũng tại Enron đã làm suy yếu những thành quả kinh tế có được trước đó.
Thêm vào đó là những tranh cãi về các quyết định của Clinton trong chính sách đối ngoại; nhiều người cho rằng chính sách ngoại giao của ông đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép những tay khủng bố như Osama bin Laden và mạng lưới al-Qaeda chuẩn bị và tổ chức các cuộc tấn công như Sự kiện 11 tháng 9. Cũng vậy, trong mắt của những người chỉ trích ông, Clinton là một tổng thống dựa vào hình ảnh của mình được khuếch trương trên TV, cùng với khả năng dụng ngữ điêu luyện nhằm che giấu sự thiếu thực chất.
== Mãn nhiệm ==
Ngày 18 tháng 1 năm 2001, tại Phòng Bầu dục (Oval Office), Clinton đọc bài diễn văn trước toàn thể quốc dân lần cuối cùng, hai ngày trước khi bàn giao cho George W. Bush, con trai của người tiền nhiệm mà Clinton đã đánh bại trong cuộc tuyển cử năm 1992. Hiện nay, ông là hội viên của Câu lạc bộ Madrid.
=== Diễn thuyết ===
Giống các tổng thống tiền nhiệm, Clinton hoạt động tích cực trong cương vị một diễn giả về các đề tài khác nhau. Trong những chuyến du hành diễn thuyết trên khắp thế giới, Clinton tiếp tục nhận định về những khía cạnh của nền chính trị đương đại. Một trong những chủ đề ông thích đề cập là các giải pháp đa phương nhằm giải quyết các vấn nạn đang thách thức thế giới. Mối quan hệ mật thiết với cộng đồng người Mỹ gốc Phi là điểm nổi bật trong các hoạt động của vị tổng thống mãn nhiệm với chọn lựa đặt văn phòng của ông tại khu Harlem (một trung tâm văn hóa và doanh nghiệp của người da đen) thuộc Thành phố New York. Tại đây, với sự hỗ trợ từ chồng, Hillary Clinton đã giành được ghế tại Thượng viện Hoa Kỳ đại diện cho tiểu bang New York.
Ngày 26 tháng 7 năm 2004, Clinton đăng dàn diễn thuyết lần thứ năm liên tiếp tại Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ, sử dung cơ hội này để ủng hộ ứng cử viên John Kerry. Nhiều đảng viên Dân chủ tin rằng đây là một trong những bài diễn văn hay nhất trong lịch sử các kỳ đại hội.
Ngày 9 tháng 12 năm 2005, khi diễn thuyết trước Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thay đổi Khí hậu tổ chức tại Montréal, Clinton công khai phê phán chủ trương của chính phủ Bush về hạn chế khí thải. Trong năm 2006, hai lần Clinton đến thăm Đại học California tại Los Angeles, để cổ xúy cho những sáng kiến liên quan đến bảo vệ môi trường. Lần đầu vào ngày 1 tháng 8 năm 2006, Clinton hội kiến với Tony Blair, Ken Livingstone, Antonio Villaraigosa và Gavion Newsom để quảng bá Nhóm Lãnh đạo về Khí hậu tại các thành phố lớn. Lần sau, ông vận động cho Đề án California 87, về sau đề án này bị bác bỏ.
Ngày 22 tháng 6 năm 2004, Clinton cho phát hành cuốn hồi ký My Life (Đời tôi), lập kỷ lục ba lần có tên trong danh mục sách bán chạy nhất của Amazon.com. Trong một cuộc phỏng vấn phát trên sóng BBC ngày 23 tháng 6 năm 2004, khi được hỏi về những ảnh hưởng của vụ tai tiếng Monica Lewinsky đối với chức vụ tổng thống của ông, Clinton thừa nhận ông đã phạm nhiều sai lầm trong thời gian đương chức. Ông cũng nói về triển vọng cho nhiệm kỳ tổng thống của một Clinton khác khi vợ ông, Hillary Clinton, có thể quyết định ra tranh cử vào năm 2008.
Ngày 18 tháng 11 năm 2004, ông khánh thành thư viện tổng thống, Trung tâm William J. Clinton, tại Little Rock, tiểu bang Arkansas. Dưới trời mưa, Clinton nhận những lời khen ngợi từ các cựu Tổng thống Jimmy Carter và George H. W. Bush, cũng như tổng thống đương nhiệm George W. Bush.
=== Hoạt động từ thiện ===
Khi tham dự Diễn đàn Doanh nghiệp Toàn cầu ở Sydney, Clinton ký kết bản ghi nhớ với chính phủ Úc nhằm quảng bá các chương trình phòng chống HIV/AIDS trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.
Ngày 5 tháng 12 năm 2006, Việt Nam là điểm dừng chân sau cùng của Clinton trong hành trình châu Á thăm các nước bị ảnh hưởng bởi Thảm họa Sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004 và thăm các dự án sáng kiến phòng chống HIV/AIDS của Quỹ Clinton. Tại đây, ông ký một biên bản thỏa thuận với Bộ Y tế Việt Nam về việc cung cấp thuốc điều trị và thuốc thử nghiệm HIV cho 1.200 trẻ em nhiễm HIV ở Việt Nam đến cuối năm 2007.
Clinton cũng tham dự một buổi tọa đàm với sinh viên và học sinh Việt Nam về vai trò của thanh niên trong nỗ lực chống HIV/AIDS.
=== Tình bạn với George H. W. Bush ===
Có những dấu hiệu cho thấy mối thân tình đang phát triển giữa hai cựu tổng thống, Clinton và George H.W. Bush. Sau buổi lễ giới thiệu chân dung Clinton tại Nhà Trắng vào tháng 6 năm 2004, thảm họa sóng thần châu Á, Bão Katrina, và kỳ bầu cử năm 2004, Clinton và Bush đã gặp nhau.
Ngày 3 tháng 1 năm 2005, Tổng thống George W. Bush ủy nhiệm Clinton và George H.W. Bush lãnh đạo chiến dịch toàn quốc trợ giúp nạn nhân thảm họa động đất Ấn Độ Dương năm 2004. Ngày 1 tháng 2 năm 2005, Clinton được Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan mời cầm đầu những nỗ lực của LHQ về cứu trợ và tái thiết sau thảm họa. Năm ngày sau đó, Clinton cùng xuất hiện với Bush trong một chương trình của đài truyền hình Fox biểu thị sự ủng hộ dành cho nỗ lực của hai chính đảng nhằm quyên góp tiền cứu trợ, một hành động mà Bush mô tả là "vượt qua các lằn ranh chính trị". Mười ba ngày sau, cả hai cùng đến thăm những khu vực bị ảnh hưởng.
Ngày 31 tháng 8 năm 2005, sau những thiệt hại nặng nề bởi Cuồng phong Katrina, Clinton lại cộng tác với George H.W. Bush để điều phối các quỹ từ thiện trong khuôn khổ của một chiến dịch đáp ứng các nhu cầu cấp thiết cho nạn nhân.
Ngày 2 tháng 4 năm 2005, cùng với Tổng thống George W. Bush và cựu Tổng thống George H. W. Bush, Bill Clinton tham dự tang lễ của Giáo hoàng John Paul II tại Vatican.
=== Sang Bắc Triều Tiên năm 2009 ===
Clinton đã thực hiện một chuyến đi không được thông báo tới Bắc Triều Tiên, mà Hoa Kỳ không có quan hệ ngoại giao, ngày 4 tháng 8 năm 2009. Clinton tới Bình Nhưỡng để đàm phán giải thoát các công dân Mỹ Euna Lee và Laura Ling, đã bị các lực lượng Bắc Triều Tiên bỏ tù do xâm nhập bất hợp pháp nước này từ Trung Quốc khi đang quay một phim tài liệu và tuyên án 12 năm tù. Chuyến thăm Bắc Triều Tiên của ông là chuyến đi thứ hai như thế của một cựu tổng thống Mỹ, chuyến viếng thăm kia xảy ra khi Jimmy Carter tới nước này năm 1994. Sau khi gặp gỡ với lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong-il, Kim đã ra một lệnh ân xá đặc biệt cho hai nhà báo Mỹ. Buổi sáng ngày 5 tháng 8 hai nhà báo được thả và bay về Mỹ với Clinton.
== Chuyện bên lề ==
Bill Clinton vật lộn với thói quen phàm ăn của mình, thói quen này là một trong những nguyên nhân dẫn đến bệnh tim của ông.
Tiếng tăm của Clinton lớn đến nỗi đã có một vài cuốn phim và các bài hát "nhái" được sáng tác nói về kỹ năng sử dụng cần sa "hút mà không hít", tính trăng hoa, và bà vợ đầy uy quyền của ông.
Clinton cao 6 foot, 3 inch (191 cm).
Roger Clinton, Jr. là một trong số 140 người được ông anh ân xá trong ngày cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống của Clinton.
Sau khi mãn nhiệm tổng thống, ông Clinton đã bị tòa dân sự rút bằng luật sư hành nghề vì tội khai man trong các vụ việc lem nhem tình ái của mình lúc còn đương nhiệm.
Trong thời gian diễn ra World Cup 2010, ông tỏ ra là một tín đồ trung thành của đội tuyển bóng đá quốc gia Hoa Kỳ.
== Vợ của ông trong chiến dịch tranh cử 2016 ==
Chi tiết: Hillary Clinton
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Tổng thống Hoa Kỳ
Quốc hội Hoa Kỳ
Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ
Hillary Clinton
Monica Lewinsky
Nền Kinh tế Mới
== Liên kết ngoài ==
Extensive essay on Bill Clinton and shorter essays on each member of his cabinet and First Lady from the Miller Center of Public Affairs
Full audio of a number of Clinton speeches via the Miller Center of Public Affairs (UVa)
White House biography
William J. Clinton Foundation official website
Clinton Global Initiative official website
Clinton Presidential Library official website
Clinton Presidential Materials Project Archive of press releases and transcripts of speeches from the administration.
Clinton School of Public Service
President Bill Clinton Biography on the World Business Forum where President Bill Clinton is a featured speaker for the 2009 event
Các tác phẩm của Bill Clinton tại Dự án Gutenberg
Oral History Interview with Bill Clinton from Oral Histories of the American South
Bill Clinton tại Internet Movie Database
The Wanderer- A profile of Clinton in The New Yorker, 18 tháng 9 năm 2006. Clinton's most extensive interview in his post-presidency
[1] - "Armigerous American Presidents Series" article from the American Heraldry Society.
Encyclopedia of Arkansas History & Culture entry: Bill Clinton
TED Prize Wish: Bill Clinton on rebuilding Rwanda at TED in 2007 |
11 tháng 4.txt | Ngày 11 tháng 4 là ngày thứ 101 trong mỗi năm thường (ngày thứ 102 trong mỗi năm nhuận). Còn 264 ngày nữa trong năm.
== Sự kiện ==
618 – Vũ Văn Hóa Cập lãnh đạo binh sĩ Kiêu Quả quân tiến hành binh biến, sát hại Tùy Dạng Đế tại Giang Đô.
1803 – Ngoại trưởng Pháp Charles Talleyrand đề nghị bán toàn bộ lãnh thổ hạt Louisiana cho Hoa Kỳ.
1814 – Napoléon Bonaparte từ bỏ ngôi và bị đày ải qua đảo Elba.
1868 – Chế độ tướng quân bị thủ tiêu ở Nhật.
1898 – Hiệp định Paris giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ có hiệu lực, Hoa Kỳ giành lấy quyền kiểm soát Cuba, Puerto Rico, một phần Tây Ấn, Guam, Philippines.
1908 – Tàu tuần dương SMS Blücher được hạ thủy, đây là tàu tuần dương bọc thép cuối cùng được Hải quân Đế quốc Đức chế tạo.
1921 – Vương quốc Transjordan được thành lập.
1951 – Chiến tranh Triều Tiên: Tổng thống Harry S. Truman cách chức tướng Douglas MacArthur khỏi Hàn Quốc.
1970 – Tàu Apollo 13 được phóng lên.
1979 – Nhà độc tài Uganda Idi Amin bị lật đổ.
1980 – Công ước Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được ký kết tại Wien, Áo.
2001 – Phi hành đoàn bị cầm giữ thuộc máy bay EP-3E của Mỹ hạ cánh xuống đảo Hải Nam, Trung Quốc sau khi đụng độ với máy bay chiến đấu F-8 đã được thả ra.
== Sinh ==
1357 – Vua João I của Bồ Đào Nha (m. 1433)
== Mất ==
1887 - Phạm Bành, danh thần nhà Nguyễn, một trong những thủ lĩnh phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19 (s. 1827).
== Ngày lễ và ngày kỷ niệm ==
… 1993, 2004, 2015 … – Lễ Phục Sinh
== Tham khảo == |
chiến tranh vùng vịnh.txt | Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 (cũng gọi là Chiến tranh vịnh Ba Tư hay Chiến dịch Bão táp Sa mạc) là một cuộc xung đột giữa Iraq và liên minh gần 30 quốc gia[1] do Hoa Kỳ lãnh đạo và được Liên Hiệp Quốc phê chuẩn để giải phóng Kuwait.
Sự kiện dẫn tới chiến tranh là việc Iraq xâm chiếm Kuwait ngày 2 tháng 8 năm 1990, sau khi Iraq cho rằng (nhưng không chứng minh được) Kuwait đã "khoan nghiêng" giếng dầu của họ vào biên giới Iraq. Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq ngay lập tức bị Liên Hiệp Quốc áp đặt trừng phạt kinh tế. Những hành động quân sự bắt đầu từ tháng 1 năm 1991, dẫn tới 1 thắng lợi hoàn toàn của các lực lượng đồng minh, buộc quân đội Iraq phải rút khỏi Kuwait với tổn thất nhân mạng ở mức tối thiểu cho lực lượng đồng minh. Những trận đánh chính là những trận đánh trên không và trên bộ bên trong Iraq, Kuwait và những vùng giáp biên giới Ả Rập Saudi. Cuộc chiến không mở rộng ra ngoài vùng biên giới Iraq/Kuwait/Ả Rập Saudi, dù Iraq đã bắn tên lửa vào các thành phố của Israel.
== Tên gọi ==
"Chiến tranh vùng Vịnh" và "Chiến tranh vịnh Ba Tư" là những thuật ngữ thường được dùng nhất để chỉ cuộc xung đột này ở các nước phương Tây. Những cái tên đó đã được đa số các nhà sử học và nhà báo sử dụng tại Hoa Kỳ. Từ "Chiến dịch Iraq tự do" ngày 22 tháng 3 năm 2003 và tiếp theo là việc Hoa Kỳ chiếm đóng Iraq, cuộc xung đột năm 1991 hiện nay thường được gọi là "Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất". Tại Hoa Kỳ cuộc xung đột thường được gọi là Chiến dịch "Lá chắn sa mạc" (Desert Shield) và "Bão táp sa mạc" (Desert Storm) và ở Anh là Chiến dịch Granby. Tại Kuwait và đa số các nước Ả Rập cuộc xung đột thường được gọi là Harb Tahrir al-Kuwait hay "Chiến tranh giải phóng Kuwait". Tại Iraq, cuộc chiến thường được gọi là Um M'aārak - "Cuộc chiến của mọi cuộc chiến".
== Các nguyên nhân ==
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, theo Hiệp định Anh-Ottoman năm 1913, Kuwait bị coi là một "caza tự trị" bên trong Iraq của Đế chế Ottoman. Sau cuộc chiến, Kuwait thuộc quyền cai trị của Anh và nước này coi Kuwait và Iraq là hai quốc gia riêng biệt, được gọi là Các Tiểu Vương quốc Ả Rập. Tuy nhiên, những quan chức Iraq không chấp nhận tính hợp pháp của nền độc lập của Kuwait hay chính quyền Emir tại Kuwait. Iraq không bao giờ chấp nhận chủ quyền của Kuwait và vào thập niên 1960 Anh đã phải triển khai quân đội để bảo vệ Kuwait khỏi ý định sáp nhập của Iraq.
Trong Chiến tranh Iran-Iraq ở thập niên 1980, Kuwait là đồng minh của Iraq, phần lớn là để được Iraq bảo vệ khỏi những người Shi'ite ở Iran. Sau cuộc chiến, Iraq nợ các nước Ả Rập nhiều khoản tiền lớn, trong đó có 14 tỷ dollar nợ Kuwait. Iraq hy vọng sẽ trả được những khoản nợ đó khi làm tăng giá dầu mỏ thông qua việc cắt giảm sản lượng khai thác của OPEC, nhưng thay vào đó, Kuwait lại tăng lượng khai thác của mình khiến giá dầu giảm sút, trong một nỗ lực nhằm kích thích có được một giải pháp giải quyết tốt hơn cho việc tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước. Ngoài ra, Iraq bắt đầu buộc tội Kuwait đã khoan nghiêng vào các giếng dầu của họ ở vùng biên giới và cho rằng vì Iraq là nước đệm chống lại Iran bảo vệ cho toàn bộ các nước Ả Rập nên Kuwait và Ả Rập Saudi phải đàm phán hay hủy bỏ những khoản nợ cho chiến tranh của Iraq. Hai lý do ban đầu Tổng thống Iraq Saddam Hussein đưa ra để biện hộ cho cuộc chiến là để xác nhận việc Kuwait từng là một phần của lãnh thổ Iraq và đã bị chủ nghĩa thực dân tách ra một cách không công bằng, và Iraq sáp nhập Kuwait để bù "phí tổn kinh tế" khi họ phải bảo vệ Kuwait trước Iran cũng như việc Kuwait đã khoan nghiêng vào các giếng dầu của họ.
Cuộc chiến với Iran đã khiến hầu hết tất cả các cơ sở cảng biển của Iraq ở Vịnh Ba Tư bị hủy hoại, khiến cho con đường giao thương chính của nước này với bên ngoài bị cản trở. Nhiều người Iraq, cho rằng cuộc chiến với Iran sẽ lại tái diễn trong tương lai, cảm thấy rằng an ninh của Iraq chỉ được đảm bảo khi họ kiểm soát thêm được vùng vịnh Péc xích, gồm cả những cảng biển quan trọng. Chính vì thế Kuwait chính là một mục tiêu.
Về ý thức hệ, cuộc xâm chiếm Kuwait được biện hộ bởi những lời kêu gọi của chủ nghĩa quốc gia Ả Rập. Kuwait từng được coi là một phần lãnh thổ tự nhiên của Iraq và đã bị chủ nghĩa thực dân Anh tách ra. Việc sáp nhập Kuwait được miêu tả như là một bước trên con đường tiến tới một Liên hiệp Ả Rập rộng lớn hơn. Các lý do khác cũng được đưa ra. Hussein coi đó là một cách để khôi phục Đế chế Babylon theo cách khoa trương của những người Ả Rập theo chủ nghĩa quốc gia. Cuộc xâm chiếm cũng có quan hệ chặt chẽ với các sự kiện ở vùng Trung Đông. Phong trào Intifada lần thứ nhất của người Palestine đang ở cao trào, và hầu hết các nước Ả Rập, gồm cả Kuwait, Ả Rập Saudi và Ai Cập, đang phải phụ thuộc vào các nước đồng minh phương Tây. Vì thế Saddam xuất hiện với vai trò là một chính khách Ả Rập đứng lên chống lại Israel và Hoa Kỳ.
== Các quan hệ Iraq-Hoa Kỳ trước cuộc chiến ==
Đối với Hoa Kỳ, Iran-Iraq có các mối quan hệ ổn định và Iraq từng là nước đứng đầu một liên minh với Liên bang Xô viết. Hoa Kỳ lo ngại tình trạng thù địch của Iraq với Israel và sự không tán thành những hành động hướng tới một nền hòa bình với các nước Ả Rập khác. Họ cũng buộc tội Iraq hỗ trợ cho nhiều nhóm chiến binh Ả Rập và Palestine như Abu Nidal, dẫn tới việc họ đưa nước này vào danh sách các quốc gia ủng hộ khủng bố ngày 29 tháng 12 năm 1979. Hoa Kỳ vẫn chính thức giữ thái độ trung lập khi Chiến tranh Iran-Iraq xảy ra, và trước đó họ từng bị bẽ mặt bởi cuộc khủng hoảng con tin Iran dài 444 ngày và hy vọng rằng Iran sẽ không thể thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 1982, Iran bắt đầu một cuộc phản công thắng lợi ("Chiến dịch thắng lợi không thể phủ nhận"). Trong một nỗ lực nhằm mở ra khả năng về những quan hệ có thể có với Iraq, Hoa Kỳ đã đưa nước này ra khỏi danh sách ủng hộ khủng bố. Bề ngoài việc này nhờ ở sự cải thiện các chính sách của Iraq, mặc dù cựu Trợ lý bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Noel Koch sau này đã cho rằng "Không ai có nghi ngờ về việc [người Iraq] tiếp tục dính dáng tới chủ nghĩa khủng bố... Lý do thực sự là để giúp họ giành thắng lợi trong cuộc chiến với Iran."[2]
Với thắng lợi mới đạt được của Iran trong cuộc chiến và việc họ từ chối một đề xuất hòa bình vào tháng 7, việc mua bán vũ khí từ các nước khác (nhiều nhất là Liên Xô, Pháp, Ai Cập, và bắt đầu từ năm đó là Trung Quốc) đã đạt tới đỉnh điểm năm 1982, nhưng một trở ngại vẫn còn chưa được giải quyết để có được bất kỳ một mối quan hệ tiềm năng nào giữa Mỹ-Iraq - Abu Nidal tiếp tục hoạt động với sự hỗ trợ chính thức của Baghdad. Khi nhóm này bị trục xuất sang Syria vào tháng 11 năm 1983, chính quyền Reagan đã cử Donald Rumsfeld làm phái viên đặc biệt sang Iraq nhằm thiết lập các mối quan hệ.
Vì sợ rằng nước Iran cách mạng sẽ đánh bại Iraq và xuất khẩu Cách mạng Hồi giáo của mình sang các nước Trung Đông khác, Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ cho Iraq. Từ 1983 đến 1990, Chính phủ Hoa Kỳ đã phê chuẩn việc bán khoảng 200 triệu đô la Mỹ vũ khí cho Iraq, theo Viện hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI)[3]. Giá trị trên đạt chưa tới 1% tổng giá trị vũ khí được bán cho Iraq ở giai đoạn này, dù Hoa Kỳ cũng bán máy bay trực thăng, chỉ được thiết kế cho mục đích dân sự, và chúng nhanh chóng được quân đội Iraq đem ra sử dụng trong chiến tranh với Iran[4].
Một cuộc điều tra của Uỷ ban tài chính Thượng nghị viện năm 1994 xác định rằng Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã phê chuẩn, cho mục đích nghiên cứu, việc bán các tác nhân sinh học đa tác dụng cho Iraq hồi giữa thập niên 1980, gồm cả khuẩn bệnh than (anthrax), sau này bị Lầu Năm Góc coi là một nhân tố quan trọng trong chương trình vũ khí sinh học của Iraq, cũng như Clostridium botulinum, Histoplasma capsulatum, Brucella melitensis và Clostridium perfringens. Báo cáo của Uỷ ban cho rằng mỗi tác nhân trên đều đã bị "nhiều nước coi là có mục đích sử dụng trong chiến tranh"[5]. Các tài liệu được giải mật của chính phủ Mỹ cho thấy chính phủ đã xác nhận rằng Iraq đã sử dụng các vũ khí hoá học "hầu như hàng ngày" trong cuộc xung đột Iran-Iraq ngay từ năm 1983[6]. Chủ tịch Uỷ ban thượng nghị viện, Don Riegle, đã nói: "Nhánh hành pháp của chính phủ chúng ta đã phê chuẩn 771 giấy phép xuất khẩu khác nhau cho việc bán các kỹ thuật đa ứng dụng cho Iraq. Tôi cho rằng đó là một kỷ lục kinh khủng"[7]. Có rất ít bằng chứng cho thấy Iraq từng sử dụng các loại vũ khí sinh học trong chiến tranh và không một tác nhân sinh học nào trong bản báo cáo trên có liên quan tới các vũ khí hoá học.
Chủ yếu chính phủ Hoa Kỳ cung cấp viện trợ kinh tế cho Iraq. Cuộc chiến của Iraq với Iran và sự suy sụp trong sản xuất và buôn bán dầu mỏ của họ - hậu quả của cuộc chiến đó, đã khiến Iraq rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất. Viện trợ kinh tế của chính phủ Mỹ cho phép Hussein tiếp tục sử dụng các nguồn tài nguyên khác của đất nước cho chiến tranh. Từ giữa năm 1983 và 1990, Iraq đã nhận được 5 tỷ dollar tín dụng từ chương trình của Commodity Credit Corporation một tổ chức thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, bắt đầu ở mức 400 triệu đô la một năm năm 1983 và tăng tới hơn 1 tỷ một năm năm 1988 và 1989, cuối cùng kết thúc với khoản tiền 500 triệu năm 1990[8]. Bên cạnh các khoản tín dụng nông nghiệp, Hoa Kỳ cũng cung cấp cho Hussein các khoản vay khác. Năm 1985 Ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ cấp hơn 684 triệu dollar tín dụng cho Iraq để xây dựng đường ống dẫn dầu qua Jordan và việc xây dựng được thực hiện bởi Bechtel Corporation có trụ sở tại California[9] [10].
Tuy nhiên, sau chiến tranh đã có nhiều hành động bên trong Hạ nghị viện Hoa Kỳ nhằm cô lập Iraq về ngoại giao và kinh tế do những lo ngại về những sự vi phạm nhân quyền, sự tăng cường quân sự và sự thù địch của Iraq đối với Israel. Đặc biệt, năm 1988 Thượng nghị viện thống nhất thông qua "Điều luật ngăn chặn diệt chủng năm 1988", áp đặt trừng phạt lên Iraq[11].
Những hành động đó bị nhiều thành viên Hạ viện phản đối dù một số quan chức Hoa Kỳ như chủ tịch uỷ ban thành lập chính sách của Bộ ngoại giao và trợ lý bộ trưởng về các vấn đề Đông Á Paul Wolfowitz không nhất trí với việc ngừng cung cấp viện trợ cho chính quyền Iraq.
Quan hệ giữa Iraq và Hoa Kỳ tiếp tục không bị cản trở gì cho tới khi Iraq tấn công xâm chiến Kuwait. Ngày 2 tháng 10 năm 1989, Tổng thống George H. W. Bush ký một chỉ thị mật số 26 về an ninh quốc gia, bắt đầu bằng, "Việc tiếp cận tới nguồn dầu mỏ ở Vịnh Péc xích và an ninh của các quốc gia đồng minh chủ chốt trong vùng là vấn đề sống còn đối với an ninh Hoa Kỳ."[12] Đối với Iraq, chỉ thị này cho rằng "Những quan hệ bình thường giữa Hoa Kỳ và Iraq sẽ phục vụ cho những lợi ích lâu dài và thúc đẩy sự ổn định ở cả Vịnh Péc xích và Trung Đông."
Cuối tháng 7 năm 1990, khi những cuộc thương lượng giữa Iraq và Kuwait sa lầy, Quân đội Iraq tập trung tới vùng biên giới với Kuwait và triệu tập Đại sứ Hoa Kỳ April Glaspie tới một cuộc gặp bất ngờ với Tổng thống Iraq Saddam Hussein. Hai văn bản về cuộc gặp đó đã được thảo ra, cả hai rất trái ngược nhau. Theo những văn bản đó, Saddam phác ra những bất bình của mình đối với Kuwait, trong khi hứa hẹn rằng ông sẽ không xâm chiếm Kuwait trước khi tiếp diễn những cuộc đàm phán thẳng thắn khác. Ở văn bản do báo The New York Times đưa ra ngày 23 tháng 9 năm 1990, Glaspie bày tỏ lo ngại về việc tăng cường quân sự, nhưng nói:
Chúng tôi không có ý kiến về những cuộc xung đột Ả Rập-Ả Rập, như việc tranh chấp biên giới giữa Iraq và Kuwait. Tôi đã làm việc tại Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Kuwait vào cuối những năm 1960. Lúc ấy chúng tôi được chỉ thị rằng chúng tôi không được bày tỏ ý kiến về vấn đề đó và rằng vấn đề đó không liên quan tới nước Mỹ. James Baker đã chỉ thị cho người phát ngôn chính thức của chúng tôi phải nhấn mạnh điều đó. Chúng tôi hy vọng rằng Iraq có thể giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng mọi biện pháp thích hợp thông qua [Chadli] Klibi khi ấy là Tổng thư ký Liên đoàn Ả Rập hay qua Tổng thống Mubarak. Tất cả những điều chúng tôi hy vọng là những vấn đề này sẽ được giải quyết nhanh chóng.
Một số người đã cho rằng những lời bình luận trên theo ngôn ngữ ngoại giao thực tế là sự "bật đèn xanh" của Mỹ cho cuộc xâm chiếm. Dù bộ ngoại giao không xác nhận (hay phủ nhận) tích xác thực của những văn bản đó, những nguồn tin tại Hoa Kỳ cho rằng Glaspie đã giải quyết mọi vấn đề "theo chỉ đạo" (phù hợp với tính trung lập chính thức của Hoa Kỳ về vấn đề Iraq-Kuwait) và không bật đèn xanh cho Tổng thống Iraq Saddam Hussein về việc bất chấp thái độ của Liên đoàn Ả Rập, khi ấy đã tổ chức các cuộc thương lượng. Nhiều người tin rằng những trù tính của Saddam đã bị ảnh hưởng bởi việc nhận thức được rằng Hoa Kỳ không quan tâm tới vấn đề, vì thế bản ghi chép của Glaspie chỉ đơn giản là một thứ làm ví dụ và rằng có thể ông ta (Saddam) cũng cảm thấy thế một phần vì Hoa Kỳ ủng hộ sự thống nhất nước Đức, một hành động khác mà ông cho rằng chẳng mang ý nghĩa gì hơn sự hủy bỏ một biên giới nhân tạo ở bên trong. Những người khác, như Kenneth Pollack, tin rằng Sadddam không hề có ảo tưởng đó, hay rằng ông đơn giản đã đánh giá thấp khả năng sử dụng quân sự của Hoa Kỳ.
Tháng 11 năm 1989, giám đốc CIA William Webster gặp gỡ lãnh đạo cơ quan an ninh Kuwait, Thiếu tướng Fahd Ahmed Al-Fahd. Sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Iraq tuyên bố đã tìm thấy một bản ghi nhớ liên quan tới cuộc trao đổi giữa họ. Tờ The Washington Post đã thông báo rằng Bộ trưởng Ngoại giao Kuwait đã ngất xỉu khi trông thấy tài liệu này trong một cuộc họp thượng đỉnh Ả Rập vào tháng 8. Sau này, Iraq cho rằng bản ghi nhớ này là bằng chứng về một âm mưu của CIA và Kuwait nhằm làm mất ổn định kinh tế và chính trị Iraq. CIA và Kuwait đã miêu tả cuộc gặp gỡ này là một cuộc gặp thông thường và bản ghi nhớ chỉ là một sự giả mạo. Một phần của văn bản đó như sau:
Chúng tôi đồng ý với phía Mỹ rằng điều quan trọng là cần phải làm cho tình trạng kinh tế ở Iraq xấu đi nữa nhằm tạo áp lực lên chính phủ nước này để vạch ra biên giới chung của chúng tôi. CIA đã trao cho chúng tôi quan điểm của họ về các biện pháp gây áp lực, cho rằng cần phải có một sự hợp tác rộng rãi giữa chúng ta về điều kiện theo đó các hành động như vậy sẽ được phối hợp ở một mức cao hơn.
== Tóm tắt sự kiện ==
Ngày 2 tháng 8 năm 1990: Quân đội Iraq tiến vào Kuwait. Hội đồng Bảo an LHQ lên án cuộc xâm lược của Iraq và đòi rút ngay lập tức và không điều kiện các lực lượng của Iraq ra khỏi Kuwait.
Ngày 6 tháng 8 năm 1990: Hội đồng bảo an LHQ kêu gọi các nước thành viên LHQ ngừng buôn bán với Iraq để buộc Iraq phải rút quân khỏi Kuwait.
Ngày 8 tháng 8 năm 1990: Iraq tuyên bố sát nhập Kuwait vào Iraq. Tổng thống Mỹ Bush nói các lực lượng chiến đấu đang được triển khai như một bộ phận của các lực lượng đa quốc gia để bảo vệ Ả Rập Saudi.
Ngày 12 tháng 8 năm 1990: Tổng thống Iraq Saddam Hussein công bố đề nghị hòa bình gắn việc rút quân đội Iraq với việc rút các lực lượng Israel ra khỏi bờ tây sông Jordan và Dải Gaza và vấn đề Palestine.
Ngày 18 tháng 8 năm 1990: Iraq tuyên bố bắt giữ tất cả người nước ngoài. Hội đồng bảo an LHQ kêu gọi trả tự do không điều kiện cho những người nước ngoài.
Ngày 9 tháng 9 năm 1990: Tổng thống Mỹ Bush và tổng thống Liên Xô Gorbachyov kêu gọi rút hoàn toàn và không điều kiện các lực lượng của Iraq ra khỏi Kuwait.
Ngày 8 tháng 11 năm 1990: Mỹ quyết định gửi thêm 200.000 quân sang Ả Rập Saudi.
Ngày 29 tháng 11 năm 1990: Hội đồng bảo an LHQ cho phép sử dụng tất cả những biện pháp can thiệp nếu Iraq không chịu rút quân ra khỏi Kuwait vào ngày 15 tháng 1 năm 1991.
Ngày 6 tháng 12 năm 1990: Iraq tuyên bố trả lại tự do cho các con tin người nước ngoài.
Ngày 9 tháng 1 năm 1991: Ngoại trưởng Mỹ J Baker và ngoại trưởng Iraq Tareq Aziz gặp nhau tại Genève, Thụy Sĩ nhưng không phá vỡ được bế tắc.
Ngày 13 tháng 1 năm 1991: Tổng thư ký LHQ Javier Pérez de Cuéllar gặp Hussein ở Bagdad nhưng không đạt được tiến bộ cho một giải pháp hòa bình.
Ngày 15 tháng 1 năm 1991: Nghị quyết của hội đồng bảo an LHQ đề ra thời hạn cuối cùng cho việc Iraq rút khỏi Kuwait.
Ngày 17 tháng 1 năm 1991: Các lực lượng đa quốc gia bắt đầu mở các cuộc tiến công chống quân đội Iraq chiếm đóng Kuwait.
Ngày 18 tháng 1 năm 1991: Iraq bắt đầu các cuộc tiến công bằng tên lửa Scud vào Israel và Ả Rập Saudi.
Ngày 25 tháng 1 năm 1991: Hoa Kỳ nói Iraq đang xả dầu thô vào vùng Vịnh.
Ngày 30 tháng 1 năm 1991: Lực lượng Iraq và đa quốc gia tiến hành cuộc chiến đấu trên bộ ở thành phố Kháp-gi biên giới Ả Rập Saudi
Ngày 13 tháng 2 năm 1991: Nhiều dân thường chết trong cuộc oanh kích của không quân Hoa Kỳ vào một hầm trú ẩn ở BaSra.
Ngày 15 tháng 2 năm 1991: Iraq thông báo sẵn sàng rút khỏi Kuwait nhưng lại gắn với việc đòi Israel cũng phải rút khỏi những vùng lãnh thổ đã chiếm đóng của các nước Ả Rập.
Ngày 21 tháng 2 năm 1991: Tổng thống Saddam Hussein kêu gọi các lực lượng vũ trang và quân đội Iraq chiến đấu tới cùng chống các lực lượng liên minh.
Ngày 22 tháng 2 năm 1991: Liên Xô và Iraq thỏa thuận về đề nghị hòa bình do Liên Xô đưa ra nhưng Hoa Kỳ bác bỏ đề nghị đó và đòi Iraq phải rút quân vào trưa ngày 23 tháng 2 năm 1991.
Ngày 24 tháng 2 năm 1991: Liên minh do Hoa Kỳ đứng đầu mở cuộc tiến công trên bộ.
Ngày 25 tháng 2 năm 1991: Iraq bắn tên lửa vào các doanh trại Quân đội Hoa Kỳ làm chết 28 lính và bị thương nhiều binh sĩ khác.
Ngày 26 tháng 2 năm 1991: Iraq tuyên bố quân đội sẽ rút khỏi Kuwait vào cuối ngày 26 tháng 2 năm 1991.
Ngày 27 tháng 2 năm 1991: Hoa Kỳ tuyên bố Kuwait được giải phóng sau gần 7 tháng bị Iraq chiếm đóng và tuyên bố ngừng các cuộc tiến công của đồng minh, bắt đầu có hiệu lực từ 5 giờ GMT ngày 28 tháng 2 năm 1991. Iraq chấp nhận toàn bộ 12 nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ.
Ngày 28 tháng 2 năm 1991: Chiến tranh chấm dứt sau khi tổng thống Saddam Hussein ra lệnh ngừng chiến đấu.
== Xâm chiếm Kuwait ==
Rạng sáng ngày 2 tháng 8 năm 1990, quân đội Iraq vượt biên giới Kuwait với bộ binh và xe bọc thép, chiếm các vị trí chiến lược trên toàn bộ Kuwait, gồm cả cung điện Emir. Quân đội Kuwait nhanh chóng bị áp đảo, dù họ cũng kìm chân địch đủ thời gian cho Không quân Kuwait bay sang trốn ở Ả Rập Saudi. Trận đánh dữ dội nhất diễn ra tại Cung Emir, nơi các lực lượng bảo vệ hoàng gia chiến đấu bọc hậu cho gia đình hoàng gia tẩu thoát. Anh (Em) của Emir, là người chỉ huy đội quân đó, nằm trong số người thiệt mạng. Quân đội Iraq cướp bóc các kho thực phẩm và thuốc men dự trữ, giam giữ hàng nghìn dân thường và chiếm quyền kiểm soát đài phát thanh. Đã có nhiều báo cáo về các vụ sát hại, những hành động tàn bạo và những vụ hãm hiếp của quân đội Iraq với thường dân Kuwait. Tuy nhiên, Iraq đã giam giữ hàng nghìn người phương Tây làm con tin và sau đó tìm cách đem họ ra làm vật trao đổi. Sau một khi lập nên chính phủ bù nhìn do Alaa Hussein Ali lãnh đạo một thời gian ngắn, Iraq sáp nhập Kuwait. Sau đó Hussein lập ra một thống đốc tỉnh mới này của Iraq, gọi đó là "sự giải phóng" khỏi chế độ Emir của Kuwait, đây chỉ là một biện pháp tuyên truyền trong chiến tranh.
== Ngoại giao ==
Chỉ vài giờ sau cuộc tấn công đầu tiên, các phái đoàn Kuwait và Hoa Kỳ đã yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhóm họp, thông qua Nghị quyết 660, lên án cuộc xâm lược và yêu cầu Iraq rút quân. Ngày 3 tháng 8, Liên đoàn Ả Rập thông qua nghị quyết của riêng mình lên án cuộc xâm lược và đòi Iraq rút quân. Nghị quyết của Liên đoàn Ả Rập cũng kêu gọi tìm ra một giải pháp cho cuộc xung đột từ bên trong Liên đoàn Ả Rập, và cảnh báo chống lại sự can thiệp từ bên ngoài. Ngày 6 tháng 8, Hội đồng Bảo an thông qua Nghị quyết 661, áp đặt trừng phạt kinh tế lên Iraq.
Quyết định của phương Tây nhằm đẩy lùi cuộc xâm lược của Iraq thực chất có mục đích chính là để ngăn Iraq xâm lược Ả Rập Saudi, một nước có tầm quan trọng hơn rất nhiều so với Kuwait, như việc Iraq đã làm với Kuwait. Thắng lợi nhanh chóng của quân đội Iraq trước Kuwait khiến quân đội Iraq đã tiến đến rất gần các giếng dầu ở Hama, là nguồn tài nguyên giá trị nhất của Ả Rập Saudi. Việc Iraq kiểm soát được các giếng dầu đó cũng như những nguồn tài nguyên dầu lửa của Iraq và Kuwait sẽ làm cho họ nắm được một phần quan trọng tài nguyên dầu lửa thế giới, chỉ đứng sau chính Ả Rập Saudi. Đặc biệt, Hoa Kỳ, châu Âu và Nhật Bản coi một sự độc quyền tiềm tàng như vậy là rất nguy hiểm. Về mặt địa lý, Ả Rập Saudi là một nước lớn với các khu vực dân cư nằm phân tán và sẽ rất khó khăn để động viên binh lính nhằm chống lại các đội quân Iraq đang được triển khai ở phía nam Kuwait. Rất có khả năng là Iraq sẽ chiếm quyền kiểm soát các giếng dầu ở phía đông nhưng lại khó đoán được khi nào họ sẽ tấn công vào Riyadh, thủ đô của Ả Rập Saudi. Các sư đoàn thiết giáp Iraq cũng sẽ phải đối mặt với những khó khăn tương tự như khó khăn mà các lực lượng Ả Rập Saudi được triển khai tới bảo vệ các giếng dầu gặp phải, vì họ cùng phải vượt qua một sa mạc rộng lớn với điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Việc này, nếu đã xảy ra, sẽ phải xảy ra dưới bom của không lực Ả Rập Saudi, phần hiện đại hóa nhất của quân đội Ả Rập Saudi.
Iraq có một số bất mãn với Ả Rập Saudi. Mối lo về những khoản nợ nảy sinh từ thời Chiến tranh Iran - Iraq là rất lớn vì Iraq nợ Ả Rập Saudi tới khoảng 26 tỷ đô la Mỹ. Biên giới sa mạc dài giữa hai nước cũng chưa được phân chia rõ ràng. Ngay sau khi có được chiến thắng ở Kuwait, Xát-đam bắt đầu dùng những lời phát biểu để công kích vương triều Ả Rập Saudi. Ông cho rằng vương triều do Mỹ hậu thuẫn đó là kẻ trông coi bất hợp pháp của những thành phố linh thiêng như Mecca và Medina. Xát-đam gộp cả ngôn ngữ của những nhóm Hồi giáo đang chiến đấu ở Afghanistan thời đó với kiểu phát biểu khoa trương mà Iran từ lâu đã sử dụng để tấn công Ả Rập Saudi. Việc đưa thêm dòng chữ Allahu Akbar (Thánh Ala vĩ đại) vào lá cờ Iraq và những hình ảnh Xát-đam đang cầu nguyện ở Kuwait được coi là một phần của kế hoạch lôi kéo sự ủng hộ từ Nhóm huynh đệ Hồi giáo và chia rẽ nhóm Hồi giáo Mu-gia-hít-đin với Ả Rập Saudi. Khi quân đội phương tây bắt đầu kéo đến nước này, những cuộc tấn công tuyên truyền đó còn leo thang lên mức cao hơn nữa.
Tổng thống George H. W. Bush nhanh chóng thông báo rằng Hoa Kỳ sẽ tung ra một chiến dịch "bảo vệ toàn diện" nhằm ngăn chặn Iraq tấn công Ả Rập Saudi – "Chiến dịch Lá chắn sa mạc" – và quân đội Hoa Kỳ được chuyển tới Ả Rập Saudi ngày 7 tháng 8. Ngày 8 tháng 8, Iraq tuyên bố một số phần lãnh thổ Kuwait sẽ bị sáp nhập vào quận Basra và phần còn lại trở thành tỉnh thứ 19 của Iraq.
Hải quân Hoa Kỳ huy động hai nhóm tàu chiến, USS Dwight D. Eisenhower và USS Independence tới khu vực, và họ đã ở tình trạng sẵn sàng vào ngày 8 tháng 8. Cũng trong ngày hôm đó, 48 chiếc F-15 thuộc Không lực Hoa Kỳ từ 1st Fighter Wing tại Căn cứ không quân Langley, Virginia, đã hạ cánh xuống Ả Rập Saudi và ngay lập tức bắt đầu tiến hành tuần tra trên những vùng không phận biên giới Ả Rập Saudi và Iraq nhằm ngăn chặn đà tiến của quân đội Iraq. Hoa Kỳ cũng gửi những thiết giáp hạm USS Missouri và USS Wisconsin vào trong vùng, sau này chúng sẽ là những tàu chiến cuối cùng tham gia tích cực vào cuộc chiến. Việc huy động quân sự tiếp tục diễn ra, cuối cùng đã lên tới 500.000 quân. Những nhà phân tích quân sự nhất trí rằng tới tháng 10, quân đội Mỹ trong vùng chưa đủ sức để ngăn chặn cuộc tấn công (nếu có) của Iraq vào Ả Rập Saudi.
Cùng lúc ấy hàng loạt những nghị quyết của Hội đồng bảo an và Liên đoàn Ả Rập được đưa ra về cuộc xung đột. Một trong những nghị quyết quan trọng nhất là Nghị quyết 678 của Liên Hiệp Quốc, thông qua ngày 29 tháng 11, trao cho Iraq hạn chót để rút quân là ngày 15 tháng 1 năm 1991, và cho phép sử dụng "mọi biện pháp cần thiết để duy trì và thực hiện Nghị quyết 660", một công thức ngoại giao có nghĩa là cho phép sử dụng vũ lực.
Hoa Kỳ, đặc biệt là Ngoại trưởng James Baker, tập hợp các lực lượng đồng minh chống lại Iraq, gồm lực lượng từ 34 nước: Afghanistan, Argentina, Úc, Bahrain, Bangladesh, Canada, Tiệp Khắc, Đan Mạch, Ai Cập, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Honduras, Ý, Kuwait, Maroc, Hà Lan, New Zealand, Niger, Na Uy, Oman, Pakistan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Qatar, Ả Rập Saudi, Sénégal, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Anh và chính Hoa Kỳ. Quân đội Mỹ chiếm 74% trong số 660.000 lính trước chiến tranh. Nhiều lực lượng đồng minh bất đắc dĩ phải tham gia; một số cảm thấy rằng cuộc chiến là công việc nội bộ của Ả Rập, hay lo ngại sự tăng cường ảnh hưởng của Mỹ ở Kuwait. Cuối cùng, nhiều nước đã bị thuyết phục khi chứng khiến sự hiếu chiến của Iraq đối với các nước Ả Rập khác, và khi được hứa hẹn viện trợ kinh tế cũng như giảm nợ.
Hoa Kỳ đưa ra nhiều lý do biện minh cho việc dính líu vào cuộc xung đột. Lý lẽ đầu tiên là tầm quan trọng của mối quan hệ liên minh lâu dài với Ả Rập Saudi. Tuy nhiên, một số người Mỹ không bằng lòng với cách giải thích đó và khẩu hiệu "Không đổi máu lấy dầu" đã trở thành tiếng kêu thường thấy nhất trong các cuộc biểu tình phản đối từ bên trong nước Mỹ, dù chúng không bao giờ đạt tới tầm cao như phong trào phản chiến trong chiến tranh Việt Nam. Lý do tiếp sau cho cuộc chiến là lịch sử vi phạm nhân quyền của Iraq dưới chế độ Tổng thống Saddam Hussein, nguy cơ Iraq có thể phát triển vũ khí hạt nhân hay vũ khí hủy diệt hàng loạt và rằng "sự gây hấn lộ liễu sẽ không có chỗ đứng" (naked aggression will not stand).
Dù những vụ vi phạm nhân quyền của chính quyền Iraq trước và sau khi xâm chiếm Kuwait được ghi chép rất nhiều, chính phủ Kuwait đã bị ảnh hưởng từ quan điểm của Hoa Kỳ trong một số vấn đề. Ngay sau khi Iraq chiếm Kuwait, tổ chức các công dân cho một nước Kuwait tự do đã được thành lập ở Mỹ. Nó thuê công ty quan hệ công chúng Hill and Knowlton với giá 11 triệu dollar do chính phủ Kuwait cung cấp. Công ty này bắt đầu tạo ra một chiến dịch miêu tả các binh sĩ Iraq là đã lôi những đứa trẻ ra khỏi lồng ấp trong các bệnh viện Kuwait và để chúng chết dưới sàn. Tuy nhiên, một năm sau luận điệu này đã bị khám phá ra là giả dối. Người đã làm chứng cho việc đó hoá ra là một thành viên của Gia đình hoàng gia Kuwait sống tại Paris khi xảy ra chiến tranh, và vì thế không thể có mặt ở Iraq vào thời điểm xảy ra cái gọi là tội ác. (Xem Nurse Nayirah.)
Nhiều sáng kiến hòa bình đã được đưa ra nhưng không được chấp nhận. Hoa Kỳ nhấn mạnh rằng những giải pháp duy nhất có thể chấp nhận được để có hòa bình toàn diện với Iraq, là việc rút quân không điều kiện ra khỏi Kuwait. Iraq nhấn mạnh rằng việc rút quân khỏi Kuwait phải được "gắn liền với" sự rút quân đồng thời của quân đội Syria ra khỏi Liban và quân đội Israel ra khỏi Bờ Tây, Dải Gaza, Cao nguyên Golan, và Nam Liban. Maroc và Jordan đã bị thuyết phục bởi đề xuất này, nhưng Syria, Israel và liên minh chống Iraq phản đối rằng không hề có một mối liên hệ nào giữa những việc trên với vấn đề Kuwait. Syria đã tham gia vào liên quân chống lại Saddam nhưng Israel vẫn chính thức giữ thái độ trung lập dù đã có những cuộc tấn công tên lửa vào thường dân Israel. Chính quyền Bush đã thuyết phục Israel đứng ngoài cuộc chiến với những hứa hẹn về việc tăng cường viện trợ, trong khi Tổ chức Giải phóng Palestine dưới quyền lãnh đạo của Yasser Arafat hoàn toàn ủng hộ Saddam Hussein, sau này dẫn tới một sự tuyệt giao trong quan hệ giữa Palestine-Kuwait, dẫn tới sự trục xuất nhiều người Palestine ra khỏi Kuwait.
Ngày 12 tháng 1 năm 1991 Hạ viện Hoa Kỳ cho phép sử dụng sức mạnh quân sự để trục xuất quân Iraq ra khỏi Kuwait. Ngay sau đó, các nước đồng minh khác cũng làm điều tương tự.
== Chiến dịch không quân ==
Một ngày sau thời hạn chót do Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc đặt ra, liên minh tung ra một cuộc tấn công không quân ồ ạt với mật danh "Chiến dịch bão táp sa mạc" với hơn 1.000 lần xuất kích một ngày, bắt đầu từ sáng sớm ngày 17 tháng 1 năm 1991. Năm tiếng đồng hồ sau những cuộc tấn công đầu tiên, đài phát thanh quốc gia Bagdad phát đi một giọng nói được xác định là của Saddam Hussein tuyên bố rằng "Cuộc chiến vĩ đại, cuộc chiến của mọi cuộc chiến đã bắt đầu. Bình minh thắng lợi đã rất gần khi cuộc thử thách cuối cùng đã đến."
Những vũ khí được sử dụng trong chiến dịch này gồm các vũ khí dẫn đường chính xác (hay "bom thông minh"), bom bầy, BLU-82 "daisy cutters" và tên lửa hành trình. Iraq trả lời bằng cách phóng 8 tên lửa Scud vào Israel ngày hôm sau. Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của liên minh là phá hủy các cơ sở không quân và phòng không của Iraq. Nhiệm vụ này được nhanh chóng hoàn thành và trong suốt thời gian xảy ra cuộc chiến, không quân liên minh hầu như không gặp phải trở ngại nào khi hoạt động. Dù khả năng phòng không của Iraq tốt hơn so với dự đoán, liên minh chỉ thiệt hại một máy bay trong ngày mở màn chiến tranh. Máy bay tàng hình đã được sử dụng nhiều trong giai đoạn đầu tiên này nhằm tránh các hệ thống tên lửa đất đối không SAM dày đặc của Iraq; khi đã phá hủy xong những hệ thống đó, các kiểu máy bay khác có thể được đem ra sử dụng với độ an toàn cao hơn. Đa số các phi vụ tấn công xuất phát từ Ả Rập Saudi và sáu nhóm tàu sân bay của liên minh ở Vịnh Péc-xích.
Các mục tiêu tiếp theo của liên quân là các sở chỉ huy và thông tin. Những nhà lập kế hoạch bên phía liên quân hy vọng sự kháng cự của Iraq sẽ nhanh chóng sụp đổ nếu hệ thống chỉ huy và liên lạc của họ bị phá hủy. Trong tuần đầu tiên của chiến dịch không quân Iraq ít khi xuất kích và cũng không gây thiệt hại gì đáng kể, 38 máy bay MiG của Iraq đã bị không quân liên quân bắn hạ. Ngay sau đó, không quân Iraq bắt đầu chạy trốn sang Iran, với khoảng 115 tới 140 chiếc[13]. Cuộc bỏ chạy ồ ạt của không quân Iraq sang Iran khiến các lực lượng liên quân rất kinh ngạc và không kịp phản ứng gì trước khi các máy bay Iraq đã "an toàn" tại các sân bay Iran. Iran không bao giờ trả lại các máy bay đó cho Iraq và chỉ cho phép các phi công trở về nước vào năm sau. Ngày 23 tháng 1, Iraq bắt đầu đổ gần 1 triệu tấn dầu thô xuống vịnh, gây ra vụ tràn dầu lớn nhất trong lịch sử.
Giai đoạn thứ ba và là lớn nhất của chiến dịch không quân nhắm tới các mục tiêu quân sự trên khắp Iraq và Kuwait: các bệ phóng tên lửa Scud, các địa điểm vũ khí hủy diệt hàng loạt, những cơ sở nghiên cứu vũ khí và các lực lượng hải quân. Khoảng một phần ba không lực liên quân được dành riêng để tấn công các bệ phóng tên lửa Scud, nằm trên các xe tải và do đó rất khó tìm kiếm để tiêu diệt. Ngoài ra, họ cũng nhắm vào các mục tiêu có thể sử dụng được cho cả mục đích dân sự và quân sự: các nhà máy điện, các lò phản ứng hạt nhân, các thiết bị thông tin liên lạc, các cảng biển, các nhà máy lọc và phân phối xăng dầu, các đường sắt và các cây cầu. Các nhà máy điện trên toàn quốc bị phá hủy. Tới cuối cuộc chiến, việc sản xuất điện chỉ còn đạt mức 4% so với trước chiến tranh. Bom đã phá hủy tất cả các đập chính, đa số những trạm bơm chính và nhiều nhà máy xử lý nước thải. Một số đội thuộc các lực lượng đặc biệt của Mỹ và Anh được đưa thâm nhập vào phía tây Iraq để tìm kiếm và phá hủy các tên lửa Scud. Tuy nhiên, vì thiếu những điều kiện địa lý thích hợp để ẩn náu khiến các hoạt động của họ gặp nhiều khó khăn và nhiều người đã bị giết hoặc bị bắt giữ.
Trong đa số các trường hợp, liên quân tránh gây thiệt hại tới những cơ sở dân sự thuần tuý. Tuy nhiên, ngày 13 tháng 2 năm 1991, hai quả bom thông minh điều khiển bằng tia laser đã phá hủy lô cốt Amiriyah mà người Iraq cho là nơi tránh bom của thường dân. Các quan chức Mỹ cho rằng lô cốt đó là một trung tâm thông tin quân đội, nhưng các nhà báo phương tây đã không tìm được bằng chứng về việc đó. Trong một báo cáo với nhan đề "Bộ máy nói dối: Thảm kịch của sự lừa đảo", Nhà Trắng đã tuyên bố rằng các nguồn tin tình báo của họ cho thấy lô cốt này đang được sử dụng cho mục đích chỉ huy quân sự[14]. Trong cuốn sách của mình, Kẻ chế tạo bom của Saddam, cựu giám đốc chương trình vũ khí hạt nhân của Iraq, người đã đào thoát sang phương tây, ủng hộ giả thuyết rằng lô cốt này được sử dụng cho cả hai mục đích.
Chúng tôi đã tìm người trú ẩn nhiều lần tại lô cốt.... Nhưng nó luôn bị bịt kín.... Lô cốt có vô tuyến, vòi nước uống, máy phát điện riêng, và trông đủ vững chắc để chống lại các loại vũ khí thông thường. Nhưng tôi đã thôi tìm cách vào trong, bởi một đêm tôi đã nhận ra vài chiếc limousine đen chạy ra chạy vào qua cánh cổng ngầm ở phía sau. Tôi hỏi những người ở xung quanh và được trả lời rằng đó là một trung tâm chỉ huy. Sau khi xem xét nó kỹ càng hơn, tôi đã cho rằng có thể nó là căn cứ điều hành riêng của Xát-đam.
Iraq đã tung ra các cuộc tấn công tên lửa vào các căn cứ của liên quân tại Ả Rập Saudi và Israel, với hy vọng buộc Israel tham gia cuộc chiến và các nước Ả Rập khác rút lui khỏi nó. Chiến thuật này tỏ ra không hiệu quả. Israel không tham gia vào liên quân, và tất cả các nước Ả Rập ở lại với liên quân trừ Jordan, về mặt chính thức vẫn giữ thái độ trung lập. Các tên lửa Scud nói chung là gây ra rất ít thiệt hại, dù nó cũng đã một lần chứng minh được sức mạnh vào ngày 25 tháng 2 với 28 người Mỹ đã thiệt mạng khi một tên lửa Scud phá hủy doanh trại của họ tại Dhahran. Những tên lửa Scud nhắm vào Israel không có hiệu quả bởi vì khi tăng tầm bắn, tên lửa Scud bị giảm đi rất nhiều về độ chính xác và khả năng sát thương. Ngày 29 tháng 1, Iraq dùng xe tăng, bộ binh tấn công và chiếm thành phố Khafji của Ả Rập Saudi lúc ấy dang được bảo vệ bởi một số lính thủy đánh bộ trang bị vũ khí hạng nhẹ. Tuy nhiên, Trận Khafji đã kết thúc khi quân Iraq phải lùi bước trước các lực lượng Ả Rập Saudi được các lính thủy đánh bộ và không quân Mỹ yểm trợ hai ngày sau đó. Ngay sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Khafji đã trở thành một thành phố có vị trí chiến lược. Sự chậm chạp của Iraq khi đưa các sư đoàn thiết giáp vào Khafji và sau đó dùng nơi này làm bàn đạp để tiến vào phần phía đông được bảo vệ kém cỏi của Ả Rập Saudi là một sai lầm lớn về chiến lược. Nếu làm được như vậy, Iraq không chỉ kiểm soát được phần lớn những nguồn cung cấp dầu ở Trung Đông mà sau đó còn đe dọa được lực lượng quân Mỹ triển khai dọc theo các đường chiến tuyến.
Hiệu quả của chiến dịch không quân là đã làm thiệt hại mười phần trăm toàn bộ lực lượng quân sự Iraq được triển khai trên sa mạc. Chiến dịch này cũng ngăn chặn một cách có hiệu quả việc tiếp tế của Iraq cho những đơn vị đồn trú chiến đấu phía trước, và khiến số quân đông đảo (450.000) người không thể tập trung lại được và là nhân tố căn bản dẫn đến thắng lợi.
Chiến dịch không quân có một tác động rõ nét trên các mưu mẹo mà các bên xung đột về sau này sử dụng. Họ không tập trung quân đội để đối mặt với quân Mỹ mà phân tán các sư đoàn ra, ví dụ Các lực lượng Serbia tại Kosovo. Các bên tham chiến cũng giảm bớt khoảng cách tiếp tế hậu cần và diện tích vùng bảo vệ. Điều này đã được thấy trong Chiến tranh Afghanistan khi quân Taliban rút lui khỏi những vùng đất rộng lớn về giữ những cứ điểm mạnh của họ. Điều này giúp tăng cường tập trung quân đội và giảm bớt khoảng cách tiếp tế. Chiến thuật này cũng được sử dụng trong cuộc tấn công của Iraq khi các lực lượng Iraq rút lui khỏi miền bắc Kurdistan thuộc Iraq vào trong các thành phố.
== Chiến dịch trên bộ ==
Ngày 22 tháng 2 năm 1991, Iraq đồng ý với một thỏa thuận ngừng bắn do Liên Xô đề xuất. Thỏa thuận kêu gọi Iraq rút quân khỏi những vị trí mà họ đã chiếm trong ba tuần sau khi ngừng bắn hoàn toàn, và đề xuất việc theo dõi ngừng bắn và rút quân sẽ do Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc giám sát. Hoa Kỳ phản đối đề nghị này nhưng nói rằng việc rút quân của Iraq sẽ không bị tấn công, và trao cho Iraq hai mươi bốn giờ để rút các lực lượng quân đội.
Ngày 24 tháng 2, các lực lượng do Mỹ cầm đầu bắt đầu "Chiến dịch cát sa mạc" (Desert Sand), phần trên mặt đất của chiến dịch của họ. Ngay sau đó, lính thủy đánh bộ Mỹ và các đồng minh Ả Rập của họ thâm nhập sâu vào Kuwait, thu thập hàng nghìn quân Iraq đang tan rã, đã suy yếu và mất tinh thần sau chiến dịch ném bom ồ ạt của liên quân. Vài ngày sau chiến dịch, Thành phố Kuwait được giải phóng bởi các đơn vị thuộc quân đội Kuwait.
Cùng lúc ấy, Quân đoàn VII Hoa Kỳ tung ra cuộc tấn công ồ ạt bằng xe bọc thép vào Iraq, từ phía tây Kuwait, khiến quân Iraq hoàn toàn bất ngờ. Sườn trái của đội quân này được Sư đoàn bọc thép hạng nhẹ số 6 của Pháp bảo vệ (gồm cả các đơn vị của Tiểu đoàn Lê dương Pháp), và sườn phải bởi Sư đoàn thiết giáp số 1 Hoàng gia Anh. Khi liên quân đã thâm nhập sâu vào lãnh thổ Iraq, họ quay sang phía đông, tung ra những cuộc tấn công vào lực lượng Vệ binh cộng hoà Iraq. Những trận chiến xe tăng nổ ra khi Vệ binh cộng hòa tìm cách rút lui, khiến cho liên quân chiến thắng mà chỉ bị thương vong ở mức thấp nhất.
Khi Iraq đã quyết định rằng họ sẽ không tiến về phía các giếng dầu phía đông của Ả Rập Saudit, thì không có lý do gì để các lực lượng Iraq triển khai xa hơn nữa về phía nam Thành phố Kuwait với số lượng lớn. Quyết định triển khai một lực lượng khá đông đảo quân dọc theo biên giới Kuwait càng làm tăng khoảng cách tiếp tế của quân Iraq một cách không cần thiết. Thứ hai, khi đã quyết định triển khai quân dọc biên giới, việc mở rộng nó ra càng khiến nguy cơ bị tấn công ồ ạt vào sườn. Quả thực người Iraq không có đủ lực lượng để giữ một mặt trận đủ dài dọc theo biên giới Kuwait và tây nam Iraq. Vì thế việc cấp thiết là việc triển khai quân và thu hẹp mặt trận chỉ ở phía nam Thành phố Kuwait và mở rộng tới vùng ngoại ô Basra. Iraq chỉ có một lợi thế tuyệt đối trước lực lượng liên quân ở số lượng và chất lượng pháo binh. Đa số các đơn vị pháp binh Iraq được kéo bằng xe và vì thế không thích ứng tốt với việc phát triển mở rộng. Điều này cũng có nghĩa là Iraq muốn làm chậm sự di chuyển của quân địch và giao chiến dọc theo các giới tuyến không dễ dàng bị chọc thủng hay đánh ngang sườn.
Đà tiến của liên quân mau lẹ hơn những tướng lĩnh Hoa Kỳ trông đợi. Ngày 26 tháng 2, quân đội Iraq bắt đầu rút khỏi Kuwait, đốt cháy các giếng dầu mà họ bỏ lại. Một đoàn quân Iraq dài dằng dặc rút lui dọc theo đường cao tốc Iraq-Kuwait. Đoàn quân này bị liên quân tấn công liên tục tới mức nó được gọi là "Xa lộ chết". Một trăm giờ sau khi chiến dịch trên bộ bắt đầu diễn ra, Tổng thống Bush tuyên bố một sự ngừng bắn và ngày 27 tháng 2 tuyên bố rằng Kuwait đã được giải phóng.
Cả hai phía có số quân gần tương đương nhau - xấp xỉ 540.000 bên liên quân và xấp xỉ 545.000 bên Iraq. Một đội quân Thổ Nhĩ Kỳ gồm 100.000 người đang được triển khai dọc biên giới chung Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq. Điều này khiến quân đội Iraq bị phân tán thêm vì buộc phải triển khai quân dọc theo biên giới với tất cả các nước (trớ trêu thay, chỉ trừ phía biên giới với đối thủ cũ là Iran). Điều này cho phép cuộc tấn công mạnh mẽ của Hoa Kỳ không chỉ có được một sự vượt trội về kỹ thuật mà cả về số lượng.
Điều ngạc nhiên nhất của chiến dịch trên bộ là tỷ lệ thương vong thấp của liên quân. Điều này vì quân Iraq không thể tìm ra một biện pháp phản công thích hợp đối với những ống nhòm hồng ngoại và loại đạn năng lượng động lực từ các xe M1 Abrams. Phương tiện này cho phép những chiếc xe tăng liên quân chiến đấu và tiêu diệt một cách hiệu quả các xe tăng Iraq từ khoảng cách xa gấp ba lần khoảng cách có thể tác chiến của xe tăng Iraq. Các lực lượng Iraq cũng không thể lợi dụng ưu thế có thể có từ việc sử dụng chiến thuật chiến tranh đô thị - chiến đấu bên trong Thành phố Kuwait, có thể gây ra những thương vong đáng kể đối với các lực lượng tấn công. Chiến tranh trong thành phố làm giảm tầm chiến đấu và vì thế giảm bớt ưu thế công nghệ của liên quân. Điều này đã được chứng minh gần đây trong những trận đánh giữa các lực lượng Mỹ và những kẻ nổi dậy Iraq trong môi trường đô thị sau Cuộc xâm lược Iraq năm 2003. Các ranh giới của địa lý đô thị, và sự hiểu biết mà những kẻ tấn công không thể có được, sẽ làm giảm lợi thế của liên quân và khả năng tiêu diệt ở tầm xa của họ.
== Kết thúc các hoạt động chiến tranh ==
Một hội nghị hòa bình đã được Liên quân tổ chức trên vùng lãnh thổ Iraq bị chiếm đóng. Tại hội nghị, Iraq được phép sử dụng các máy bay trực thăng vũ trang trong phía biên giới lãnh thổ nước mình, bề ngoài là để vận chuyển các quan chức chính phủ do những thiệt hại đã phải hứng chịu của hệ thống vận chuyển công cộng. Một thời gian ngắn sau, những chiếc trực thăng đó - và đa số các lực lượng vũ trang Iraq - lại quay sang phục vụ mục tiêu chiến đấu chống lại cuộc nổi dậy của người Shiite ở phía nam. Tại phía bắc, các lãnh đạo người Kurd tin tưởng vào những lời tuyên bố của Hoa Kỳ rằng họ sẽ ủng hộ một cuộc nổi dậy và bắt đầu chiến đấu, với hy vọng thực hiện được một cuộc đảo chính. Tuy nhiên, khi những giúp đỡ của Mỹ còn chưa tới nơi, các tướng lĩnh Iraq còn trung thành đã đàn áp dã man quân đội người Kurd. Hàng triệu người Kurd đã phải chạy qua các vùng núi để đến những vùng người Kurd tại Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Những vụ xung đột đó sau này đã dẫn tới việc thành lập những vùng cấm bay ở cả phía bắc và phía nam Iraq. Tại Kuwait, gia đình Emir được tái lập và những kẻ bị cho là cộng tác với Iraq bị đàn áp. Cuối cùng, hơn 400.000 người đã bị trục xuất khỏi đất nước, gồm một số lượng lớn người Palestine (vì sự ủng hộ và hợp tác của họ với Saddam Hussein).
Có một số chỉ trích chính quyền Bush về quyết định của họ cho phép Saddam Hussein tiếp tục giữ quyền lực, chứ không tiếp tục tấn công chiếm Baghdad và sau đó lật đổ chính phủ của ông ta. Trong một cuốn sách viết chung năm 1998 tựa đề, "Một thế giới đã thay đổi" (A World Transformed), Bush và Brent Scowcroft đã đưa ra lý lẽ rằng một sự tấn công như vậy sẽ làm tan vỡ lực lượng Liên quân và sẽ gây ra nhiều tổn thất chính trị và nhân mạng không cần thiết đi cùng với nó.
Năm 1992, Ngoại trưởng Hoa Kỳ trong thời gian chiến tranh, Dick Cheney, cũng đưa ra quan điểm tương tự[15]:
Thay vì tiếp tục can thiệp sâu thêm với lực lượng quân sự của mình, Hoa Kỳ đã hy vọng rằng Saddam sẽ bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính từ bên trong. CIA đã sử dụng các mạng lưới của mình tại Iraq để tổ chức một cuộc nổi dậy, nhưng chính phủ Iraq đã đánh bại âm mưu đó.
Ngày 10 tháng 3 năm 1991, Chiến dịch bão táp sa mạc bắt đầu dời 540.000 quân Mỹ ra khỏi Vịnh Péc xích.
== 10 nguyên nhân thất bại của Iraq ==
Chiến tranh không có mục đích chính nghĩa.
Họ bị cô lập không chỉ bằng cuộc cấm vận triệt để. Họ đã hầu như không có đồng minh, ngay cả trong vùng xảy ra chiến sự.
Vẫn tồn tại những vấn đề dân tộc nghiêm trọng, thiếu cơ sở dân tộc và nhân dân khi phát động chiến tranh.
Tiến hành một loạt hình chiến tranh không phù hợp.
Không chú ý kết hợp chặt chẽ nguyên tắc với sách lược, quân sự và chính trị.
Lực lượng vệ binh cộng hoà trên thực tế, chưa bao giờ tỏ ra thiện chiến.
Nếu họ đã quyết tâm lựa chọn giải pháp quân sự và quyết tâm chiếm giữ Kuwait trong mục đích của mình thì họ đã không khôn ngoan khi để cho đối phương triển khai binh lực một cách dễ dàng.
Lực lượng không quân đã bị tổn thất nặng lại bỏ trốn sang Iran trong khi rất thiếu lực lượng phòng không đi cùng thì kết cục tất yếu (con chủ bài) xe tăng, thiết giáp chỉ còn là những miếng mồi ngon cho không quân đối phương.
Liên quân do Hoa Kỳ đứng đầu đã thành công lớn trong các hoạt động nghi binh quy mô, thì đây lại là một sự yếu kém không thể tha thứ của các cơ quan tình báo Iraq.
Iraq đã không biết rút ra các bài học từ cuộc chiến tranh trước với Iran. Điều này có thể thấy rõ qua việc Iraq đã tái phạm các sai lầm, được kể trong mục này ở các nguyên nhân thứ nhất thứ ba và thứ bảy.
== Thương vọng ==
=== Thương vọng của liên minh ===
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ báo cáo là các lực lượng Hoa Kỳ có 148 binh sĩ tử trận, cộng một phi công được ghi nhận là mất tích (hài cốt đại úy phi công Michael Scott Speicher người được coi là mất tích đã được tìm thấy vào tháng 7 năm 2009 tại vùng núi hẻo lánh ở miền tây Iraq) (145 người Mỹ chết vì tai nạn). Vương quốc Anh có 24 binh sĩ tử trận, Pháp 2, và các quốc gia Ả Rập có tổng cộng 39 thương vọng.
Thiệt hại nặng nhất trong một vụ đối với lực lượng liên quân xảy ra ngày 25 tháng 2 năm 1991 khi một hoả tiễn Al-Hussein của Iraq đánh trúng trại lính Mỹ tại Dhahran, Ả Rập Saudi giết chết 28 quân dự bị Hoa Kỳ đến từ tiểu bang Pennsylvania.
Con số bị thương trên chiến trường dường như là khoảng 776, gồm có 467 người Mỹ.
Khoảng 30% trong số 700.000 nam và nữ phục vụ trong lực lượng Hoa Kỳ tại Chiến tranh vùng Vịnh vẫn chịu nhiều hội chứng trầm trọng mà nguyên nhân vẫn chưa được hiểu rõ.
==== Phỏng đoán trước chiến tranh ====
Trước chiến tranh, các giới chức của Lầu Năm Góc đã phỏng đoán con số thương vong của liên quân sẽ là vào khoảng 30.000-40.000 người.
Viện Dupuy trước Quốc hội Hoa Kỳ đã tiên đoán rằng con số thương vong sẽ dưới 6.000. Họ đã dùng mô hình TNDM mà tận dụng các dữ liệu lịch sử từ các cuộc chiến trước để tiên đoán con số thương vong (mô hình đã tận dụng các yếu tố về con người thí dụ như tinh thần và họ tiên đoán rằng sẽ có rất ít các sư đoàn của Iraq chịu kháng cự).
=== Thương vọng của Iraq ===
Ước đoán ngay vào lúc đó cho rằng có đến 100.000 người Iraq bị thiệt mạng. Hiện tại ước đoán rằng Iraq bị thiệt hại nhân mạng là khoảng từ 20.000 đến 35.000. Tuy nhiên, các con số khác thì vẫn cứ cho rằng con số người thiệt mạng có thể cao đến 200.000.
Một báo cáo do Không quân Hoa Kỳ uỷ nhiệm đã ước tính là có khoảng từ 10.000-12.000 binh sĩ Iraq tử trận trong chiến dịch của không quân và khoảng 10.000 thương vong trong cuộc chiến trên bộ. Sự phân tích này dựa vào các báo cáo về tù binh chiến tranh Iraq.
Chính phủ Iraq tuyên bố có khoảng 2.300 thường dân thiệt mạng trong chiến dịch của không quân, đa số người chết là do một cuộc không kích bằng máy bay tàng hình F-117 vào một nơi mà được tin là trung tâm thông tin liên lạc của Iraq tại Baghdad nhưng cũng là nơi phục vụ như một nơi trú ẩn máy bay.
Theo Dự án nghiên cứu sự chọn lựa khác cho quốc phòng thì có đến 3.664 thường dân Iraq và khoảng 20.000 đến 26.000 binh sĩ bị giết chết trong cuộc xung đột này.
== Chi phí ==
Chi phí chiến tranh của Hoa Kỳ do Hạ viện tính toán là $61,1 tỷ. Các nguồn khác ước tính lên tới $71 tỷ. Khoảng $53 tỷ trong số đó do các nước khác chi trả: $36 tỷ do Kuwait, Ả Rập Saudi và các nước vùng Vịnh khác; $16 tỷ bởi Đức và Nhật Bản (hai nước này không gửi lực lượng chiến đấu vì các điều khoản trong các hiệp ước chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai). Khoảng 25% số đóng góp của Ả Rập Saudi được thanh toán dưới hình thức các dịch vụ cung cấp cho lực lượng liên quân như thực phẩm và vận chuyển. Nhiều lý lẽ cho rằng Ả Rập Saudi còn cung cấp cả gái mại dâm sau này đã được chứng minh là không chính xác.
Quân đội Mỹ chiếm 74% tổng lực lượng liên quân, và vì thế tổng chi phí của họ cũng cao hơn. Anh, ví dụ, chi $4,1 tỷ trong cuộc chiến này.
== Truyền thông ==
Chiến tranh vùng Vịnh là cuộc chiến được truyền hình ở mức độ rất cao. Lần đầu tiên tất cả mọi người trên thế giới đều có thể theo dõi trực tiếp hình ảnh các tên lửa lao vào các mục tiêu và các máy bay chiến đấu cất cánh từ các tàu sân bay. Các lực lượng liên quân rất nhiệt tình thể hiện mức độ chính xác các vũ khí của họ.
Tại Hoa Kỳ, nhóm "bộ ba lớn" điều hành mạng lưới tin tức đưa tin về cuộc chiến: Peter Jennings của ABC, Dan Rather của CBS và Tom Brokaw của NBC dẫn các chương trình thông tin buổi tối của họ khi các cuộc tấn công đã bắt đầu ngày 16 tháng 1 năm 1991. Phóng viên của ABC News Gary Shepard, bình luật trực tiếp từ Baghdad, nói với Jennings về sự tĩnh lặng của thành phố. Nhưng nhiều tháng sau, Shepard đã tái xuất hiện với những ánh chớp có thể được nhìn thấy ở chân trời và những vạch lửa đạn xung quanh trên mặt đất. Trên kênh CBS, khán giả có thể theo dõi bản tin của phóng viên Allen Pizzey, cũng đưa tin từ Baghdad, khi cuộc chiến bắt đầu. Sau khi bản tin kết thúc lại có tin rằng có những tin tức chưa được kiểm chứng về những vụ nổ tại Baghdad hoạt động không quân mạnh tại các căn cứ ở Ả Rập Saudi. Trong bản tin "NBC Nightly News", phóng viên Mike Boettcher thông báo về những hoạt động không quân không thường xuyên ở Dhahran. Vài phút sau, Brokaw nói với khán giả rằng cuộc tấn công không quân đã bắt đầu. Nhưng chính kênh CNN được nhiều người theo dõi nhất. Các phóng viên CNN, John Holliman và Peter Arnett cùng CNN phóng viên thường trú Bernard Shaw đã thông báo qua điện thoại từ Khách sạn Al-Rashid khi những cuộc không kích bắt đầu. Báo chí khắp thế giới đều đưa tin về cuộc chiến và Tạp chí TIME đã xuất bản một số đặc biệt ngày 28 tháng 1 năm 1991, dòng tít "CHIẾN TRANH VÙNG VỊNH" nổi bật ngoài trang bìa với bức ảnh chụp Baghdad khi cuộc chiến bắt đầu.
Chính sách của Hoa Kỳ về tự do báo chí có hạn chế hơn so với ở Chiến tranh Việt Nam. Chính sách này đã được giải thích rõ trong một tài liệu của Lầu Năm Góc tên là Annex Foxtrot. Đa số những thông tin báo chí có được đều từ những cuộc họp báo ngắn của quân đội. Chỉ những nhà báo được lựa chọn mới được phép tới mặt trận hay tiến hành các cuộc phỏng vấn binh sĩ. Những cuộc viếng thăm đó luôn được tiến hành với sự hiện diện của các sĩ quan, và sau đó đều phải được sự cho phép của quân đội và bộ phận kiểm duyệt. Điều này bề ngoài là để bảo vệ các thông tin nhạy cảm khỏi bị tiết lộ cho Iraq nhưng trên thực tế là để ngăn chặn tiết lộ các thông tin gây rắc rối về chính trị. Chính sách này bị ảnh hưởng nhiều từ những kinh nghiệm sau Chiến tranh Việt Nam, được cho rằng đã gây ra nhiều rò rỉ dẫn tới sự chống đối từ bên trong nước Mỹ.
Cùng lúc ấy, việc đưa tin nhanh nhạy về cuộc chiến là rất mới mẻ. Nhiều nhà báo Mỹ vẫn ở lại thủ đô Baghdad của Iraq trong suốt cuộc chiến, và cảnh tên lửa bay đến được chiếu ngay lập tức trên những bản tin vô tuyến buổi tối và trên các kênh tin tức qua truyền hình cáp như CNN. Một đoàn phóng viên của kênh CBS News (David Green và Andy Thompson), được trang bị thiết bị truyền thông tin vệ tinh đã tới mặt trận và truyền trực tiếp những hình ảnh cuộc chiến đang diễn ra. Họ tới Thành phố Kuwait một ngày trước khi các lực lượng liên quân tiến vào và truyền trực tiếp những hình ảnh các lực lượng Ả Rập (và các nhà báo khác!) tiến vào đó trong ngày hôm sau.
== Hậu quả ==
Theo sau những cuộc nổi dậy ở miền Nam và miền Bắc, các vùng cấm bay đã được thiết lập để bảo vệ người Shi'ite ở miền Nam và người Kurd ở miền Bắc. Những vùng cấm bay này (bắt đầu từ vĩ tuyến 36 Bắc và vĩ tuyến 32 Nam) chủ yếu do Mỹ và Anh kiểm soát, mặc dù Pháp cũng có tham gia ít nhiều. Cấu kết với nhau, họ đã thực hiện những chuyến bay thanh sát trong vòng 11 năm sau khi kết thúc chiến sự còn nhiều hơn cả trong thời kỳ chiến tranh. Những chuyến thanh sát này đã dội bom gần như mỗi ngày vào tên lửa đất đối không và súng cao xạ được dùng để bắn hạ máy bay. Tuy nhiên, lượng bom lớn nhất đã được sử dụng trong hai chiến dịch kéo dài: Chiến dịch Tấn công sa mạc, kéo dài trong nhiều tuần từ tháng 9 năm 1996, và Chiến dịch Con cáo sa mạc, tháng 12 năm 1998. Chiến dịch Kiểm soát miền Bắc, vùng cấm bay trong khu vực người Kurd, đã cho phép người dân tập trung vào tăng cường an ninh và phát triển cơ sở hạ tầng, điều này đã được phản ánh sau sự sụp đổ của chế độ Saddam Hussein năm 2003, khu vực này đã phát triển và ổn định hơn (khi so sánh với các vùng khác của Iraq trong Chiến dịch Giải phóng Iraq). Trái lại, Chiến dịch Kiểm soát miền Nam, đã không thành công trong việc tạo cho người Shi'ite cơ hội xây dựng và kiến thiết như vậy.
Cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề trên diện rộng trong suốt thời kỳ chiến sự đã gây mất mát cho người dân Iraq. Nhiều năm sau chiến tranh lượng điện sản xuất ra vẫn chỉ đạt một phần tư mức trước cuộc chiến. Việc phá hủy các nhà máy xử lý nước khiến nước thải bị đổ trực tiếp xuống sông Tigris, và dân cư lại lấy nước ở đây để sinh hoạt dẫn tới sự phát sinh dịch bệnh trên diện rộng. Những khoản vốn tài trợ từ phía các nước phương Tây nhằm giải quyết vấn đề này bị chính quyền Saddam sử dụng để duy trì quyền kiểm soát quân sự của mình.
Trừng phạt kinh tế vẫn được duy trì nhiều năm sau chiến tranh vì lý do từ những cuộc thanh sát vũ khí mà Iraq chưa bao giờ hợp tác đầy đủ. Sau này Iraq được Liên Hiệp Quốc cho phép nhập khẩu một số hàng hóa theo chương trình Đổi dầu lấy lương thực. A 1998 bản báo cáo của UNICEF cho thấy những biện pháp trừng phạt khiến con số tử vong ở nước này tăng thêm 90.000 người mỗi năm. Nhiều người cho rằng các biện pháp trừng phạt Iraq và sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Ả Rập Saudi góp phần làm xấu đi hình ảnh của Mỹ trong thế giới Ả Rập.
Một Cao ủy Đặc Biệt Liên Hiệp Quốc (UNSCOM) về vũ khí đã được lập ra để giám sát việc tuân thủ của Iraq với các quy định về vũ khí hủy diệt hàng loạt và tên lửa đạn đạo. Iraq chỉ chấp nhận một số yêu cầu và từ chối các cuộc thanh sát vũ khí khác. Đội thanh tra đã tìm ra một số bằng chứng về các chương trình vũ khí sinh học tại một địa điểm và một số vi phạm tại nhiều địa điểm khác.
Năm 1997, Iraq trục xuất toàn bộ các thành viên người Mỹ bên trong phái đoàn thanh sát vũ khí, cáo buộc rằng Hoa Kỳ đã lợi dụng họ làm gián điệp; các thành viên của UNSCOM thường có những cuộc tiếp xúc với các cơ quan tình báo để cung cấp các thông tin về các địa điểm tàng trữ vũ khí. Đội thanh sát vũ khí tiếp tục quay lại Iraq trong giai đoạn 1997 và 1999 và còn gặp nhiều rắc rối hơn nữa; một thành viên trong đội thanh sát, Scott Ritter thuộc Hải quân Hoa Kỳ đã từ chức năm 1998, cho rằng chính quyền Clinton đang cản trở các cuộc thanh sát vì họ không muốn đối đầu thực sự với Iraq. Năm 1999, đội thanh sát được thay thế bởi UNMOVIC, cơ quan này bắt đầu tiến hành công việc từ năm 2002. Năm 2002, Iraq - và đặc biệt là Saddam Hussein - trở thành mục tiêu trong Cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ, dẫn tới cuộc xâm lược Iraq năm 2003, do Hoa Kỳ và, ở tầm vóc thấp hơn, Anh lãnh đạo.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (quân đội nước này có nhiều mặt tương đồng với quân đội Iraq) rất ngạc nhiên trước khả năng kỹ thuật Hoa Kỳ trên trận địa. Thắng lợi mau chóng của liên quân khiến quân đội Trung Quốc phải thay đổi toàn diện tư tưởng quân sự của mình và bắt đầu một phong trào hiện đại hóa bên trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Một hậu quả chủ chốt của Chiến tranh vùng Vịnh, theo Gilles Kepel, là sự hồi sinh rõ rệt của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan. Việc chế độ Saddam bị lật đổ không khiến các nhóm Hồi giáo ủng hộ nhiều. Tuy nhiên, việc này, cùng với liên minh giữa Ả Rập Saudi và Hoa Kỳ, bị coi là cùng phía với Israel càng làm chính phủ Ả Rập Saudi mất uy tín trong nước. Hoạt động của các nhóm Hồi giáo chống lại chính quyền Ả Rập Saudi tăng lên dữ dội. Trong một nỗ lực nhằm lấy lại hình ảnh của mình, Ả Rập Saudi đã chi thêm tiền cho những nhóm ủng hộ chính phủ. Chính phủ Ả Rập Saudi đã chi tiền phát hàng triệu cuốn Qur'an cho dân các nước mới độc lập ở vùng Trung Á và xây dựng hàng trăm thánh đường Hồi giáo cho những nhóm cực đoan. Tại Afghanistan chính quyền Ả Rập Saudi trở thành người bảo trợ hàng đầu cho Taliban trong cuộc nội chiến ở nước này, và là một trong những quốc gia duy nhất chính thức công nhận chính phủ đó.
=== Hội chứng vùng Vịnh ===
Nhiều binh sĩ liên quân quay trở về từ chiến trường thông báo về các loại bệnh gặp phải sau khi tham chiến, một hiện tượng được gọi là Hội chứng vùng Vịnh. Có nhiều nghiên cứu và bất đồng về các nguyên nhân gây ra hội chứng đó cũng như những ảnh hưởng của nó đối với trẻ sơ sinh (số lượng trẻ sinh ra trong các gia đình binh lính với các khiếm khuyết tương tự nhau hay những bệnh tật nghiêm trọng lên tới 67%, theo một cuộc nghiên cứu do Sở Cựu chiến binh Hoa Kỳ tiến hành[16]). Một báo cáo xuất bản năm 1994 của Văn phòng Giải trình Chính phủ cho rằng quân đội Mỹ đã đối diện với 21 loại "chất độc liên quan tới sinh sản" tiềm tàng. Một số nguyên nhân bị chỉ ra là tiếp xúc với các vật liệu phóng xạ, khói dầu, và các loại vắc xin bệnh than sản xuất quá nhanh dùng cho binh sĩ (các loại vắc xin thường cần phải trải qua quá trình sản xuất vài tháng).
=== Hậu quả của chất urani đối với sức khoẻ ===
Năm 1998, các bác sĩ của chính phủ Iraq đã báo cáo rằng việc liên quân sử dụng urani nghèo đã gây ra hàng loạt vụ khuyết tật ở trẻ sơ sinh và ung thư trong dân chúng Iraq, đặc biệt là bệnh bạch cầu. Các bác sĩ của chính phủ cho rằng họ không có đủ bằng chứng cho thấy có mối quan hệ giữa urani nghèo với những vụ khuyết tận trẻ sơ sinh bởi vì những biện pháp trừng phạt đã khiến họ không thể có được các thiết bị thử nghiệm cần thiết. Vì thế, một đội bác sĩ của Tổ chức sức khỏe thế giới đã tới Basra và đề xuất một cuộc nghiên cứu để điều tra lý do gây ra tỷ lệ ung thư cao ở miền nam Iraq, nhưng Saddam đã từ chối.
Tuy nhiên, Tổ chức sức khỏe thế giới đã có thể tiếp cận với những nguy cơ đối với sức khỏe của urani nghèo tại những địa điểm đã xảy ra chiến tranh nhờ một phái đoàn năm 2001 tới Kosovo. Một báo cáo năm 2001 của WHO về urani nghèo đã kết luận: "bởi vì urani nghèo chỉ là phóng xạ yếu, cần phải hít vào những khối lượng rất lớn bụi (ở mức độ gam) để có thể tăng nguy cơ ung thư phổi ở mức độ có thể nhận thấy trong một nhóm nguy cơ. Những nguy cơ về ung thư phóng xạ khác gồm bệnh bạch cầu, được coi là thấp hơn rất nhiều so với ung thư phổi." Hơn nữa, "không có những tác động liên tục hay tiến triển đã được báo cáo ở người" vì lý do chịu tác động của urani nghèo[17].
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng đã xuất bản một cuốn sách về urani nghèo. Nó tuyên bố: "Tổ chức sức khỏe thế giới và các nghiên cứu khoa học khác đã cho thấy urani nghèo không gây ra những nguy cơ nghiêm trọng đối với sức khoẻ" và "urani nghèo không gây ra khuyết tật ở trẻ sơ sinh. Quân đội Iraq sử dụng các vũ khí hóa học và thần kinh trong thập kỷ 1980 và 1990 có thể là nguyên nhân gây ra cái gọi là khuyết tật ở trẻ em Iraq." Về những buộc tội gây ra ung thư, cuốn sách của Hoa Kỳ cho rằng "theo những chuyên gia về sức khỏe môi trường, về mặt y tế không thể coi việc nhiễm bệnh bạch cầu như là kết quả của việc chịu tác động của urani hay urani nghèo", và "tỷ lệ ung thư trong số 19.000 công nhân công nghiệp tiếp xúc với urani nghèo ở mức độ cao tại các dự án ở Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge trong giai đoạn 1943 và 1947 đã được xem xét, và việc tăng tỷ lệ ung thư không hề được quan sát thấy cho tới tận năm 1974. Các nghiên cứu dịch tễ học khác về ung thư phổi tại các công nhân làm việc tại nhà máy urani và nhà máy gia công thép không cho thấy tỷ lệ tăng bất thường hay sự liên quan tới những chất sinh ung thư khác đã được biết ngoài urani, như radon."[18]
Tuy nhiên, một số lời buộc tội về tác động đó rất nghiêm trọng bởi vì vũ khí chứa urani nghèo có thể vỡ ra thành những hạt nhỏ khi nó chạm mục tiêu.[19] Trên thực tế, những nghiên cứu tổng quát nhất gần đây bởi The Royal Society, một nhóm ái hữu với hơn 1400 nhà khoa học, nhà nghiên cứu và giáo sư đã tìm thấy rằng urani nghèo đưa lại những nguy cơ cao về sức khỏe cho dân thường cũng như binh lính[20].
== Kỹ thuật ==
Các loại vũ khí dẫn đường chính xác (PGMs, cũng được gọi là "bom thông minh"), như tên lửa AGM-130 của Không lực Hoa Kỳ được dự đoán sẽ trở thành các vũ khí chính cho phép các cuộc tấn công quân sự diễn ra với những tổn thất dân sự nhỏ nhất so với các cuộc chiến trước đó. Những căn nhà cụ thể ở các khu đông dân tại Baghdad có thể bị tấn công trong khi các nhà báo quan sát các tên lửa hành trình lao tới mục tiêu đó từ khách sạn của họ. Các vũ khí dẫn đường chính xác chiếm gần 7.4% toàn thể số bom liên minh sử dụng. Các loại bom khác gồm bom chùm có thể vỡ ra thành nhiều quả bom nhỏ, và những quả bom BLU-82 nặng 15.000 pound có thể phá hủy mọi vật trong bán kính hàng trăm yard.
Tên lửa Scud là tên lửa đạn đạo chiến thuật do Liên bang xô viết phát triển và từng triển khai cho những sư đoàn Hồng Quân tại Đông Đức. Vai trò của các tên lửa Scud được trang bị đầu đạn hạt nhân và đầu đạn hoá học là tiêu diệt các cơ sở thông tin, trung tâm chỉ huy và làm trì hoãn quá trình động viên quân đội của Tây Đức cũng như các lực lượng Đồng Minh tại Đức. Nó cũng được sử dụng để tiêu diệt trực tiếp các lực lượng mặt đất. Các tên lửa Scud sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính, còn hoạt động khi động cơ còn hoạt động. Iraq đã sử dụng các tên lửa Scud, phóng chúng tới cả Ả rập Xê út và Israel. Một số quả gây ra nhiều thương vong, số còn lại không gây hậu quả nặng nề. Đã có lo ngại việc Iraq có thể lắp các đầu đạn hoá học hay sinh học lên các tên lửa đó, nhưng nếu các đầu đạn đó có tồn tại, chúng cũng chưa từng được sử dụng. Mọi người tin rằng các tên lửa Scud không hữu dụng khi mang các đầu đạn hoá học bởi nhiệt độ cao trong quá trình bay ở tốc độ gần Mach 5 làm biến tính đa số các chất hoá học mang theo. Các vũ khí hoá học vốn thích hợp hơn khi được vận chuyển bằng máy bay ném bom hoặc các tên lửa hành trình. Tên lửa Scud thích hợp để mang các đầu đạn hạt nhân, một vai trò nó vẫn còn đảm nhận tới tận ngày nay, như mục tiêu thiết kế ban đầu.
Hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot của Hoa Kỳ lần đầu tiên được sử dụng trong chiến đấu. Thời điểm ấy, quân đội Hoa Kỳ tuyên bố hệ thống phòng thủ tên lửa này có hiệu suất thành công rất cao chống lại tên lửa Scud, đảm bảo an toàn cho liên quân. Nhưng những ước tính sau này về tính hiệu quả của Patriot rất khác biệt, thấp nhất có thể ở mức 0%. Hơn nữa, ít nhất đã xảy ra một vụ lỗi phần mềm gây tổn thất nhân mạng. [21] Những bằng chứng giải mật về hiệu quả ngăn chặn tên lửa Scud còn thiếu nhiều. Các con số ước tính hiệu quả cao dựa trên phần trăm số đầu đạn tên lửa Scud được biết đã tới mục tiêu hoặc đã nổ so với số lượng tên lửa Scud được bắn đi, nhưng các yếu tố khác như đầu đạn không nổ, bắn trượt vân vân không được tính vào đó. Một số phiên bản tên lửa Scud được sửa đổi động cơ vượt trên mức chịu đựng thiết kế thường bị cho là trượt mục tiêu hoặc nổ tung khi đang bay. Những ước tính thấp nhất thường dựa trên số lượng những lần bắn chặn và có bằng chứng cho thấy đầu đạn đã bị ít nhất một tên lửa bắn trúng, nhưng vì cách thức các tên lửa Al-Hussein (gốc từ Scud) nổ khi đang bay đến mục tiêu rất khó giải thích vì khó có thể biết đâu là mảnh đầu đạn và có ít dữ liệu ghi lại những lần dò tìm radar còn được lưu trữ cho phép phân tích về sau này. Thực tế hiệu lực thật sự của hệ thống còn là một bí mật trong nhiều năm nữa. Quân đội Hoa Kỳ và các nhà sản xuất vẫn cho rằng hệ thống Patriot đã "hoạt động tuyệt diệu" trong Chiến tranh Vùng Vịnh. [22]
Các đơn vị Hệ thống định vị toàn cầu đóng vai trò chủ chốt trong việc hoa tiêu dẫn đường cho quân đội vượt sa mạc. Hệ thống cảnh báo và kiểm soát trên không (AWACS) cũng như các hệ thống thông tin vệ tinh cũng có vai trò quan trọng.
== Xem thêm ==
Các giải thưởng quân sự trong Chiến tranh Vùng Vịnh
Chiến tranh Iraq
Cuộc xâm lược Iraq năm 2003
Những vũ khí được bán cho Iraq giai đoạn 1973-1990
Trận 73 hướng đông
Trận Al Busayyah
Trận Medina Ridge
Trận Norfolk
Chiến tranh Vùng Vịnh đã không xảy ra
Hội chứng Chiến tranh Vùng Vịnh
Thời gian biểu khủng hoảng giải giáp Iraq 1990-1996, 1997-2000, 2001-2003
Xung đột Trung Đông
Lịch sử quân sự
Lịch sử quân sự Hoa Kỳ
Xa lộ chết
== Những bộ phim về Chiến tranh vùng Vịnh ==
Three Kings (Ba vua)
Live From Baghdad (Trực tiếp từ Baghdad)
Courage Under Fire
Bravo Two Zero
Jarhead
== Đọc thêm ==
Felicity Arbuthnot. Allies Deliberately Poisoned Iraq Public Water Supply In Gulf War[23] ngày 17 tháng 9 năm 2000. Sunday Herald (Scotland)
Rick Atkinson and Ann Devroy. U.S. Claims Iraqi Nuclear Reactors Hit Hard[24] ngày 12 tháng 1 năm 1991. Washington Post.
Mitchell Bard. The Gulf War.[25] Jewish virtual library.
BBC News. Timeline: War in the Gulf[26] tháng 8 năm 2000.
William Blum. Killing Hope: U.S. Military and CIA Interventions Since World War II[27] năm 1995. Common Courage Press. ISBN 1-56751-052-3
Christoper Bolkom and Jonathan Pike. Attack Aircraft Proliferation: Areas for Concern[28]
Miland Brown. First Persian Gulf War[29]
Daniel Forbes. Gulf War crimes?[30] ngày 15 tháng 5 năm 2000. Salon Magazine.
T. M. Hawley. Against the Fires of Hell: The Environmental Disaster of the Gulf War. Năm 1992. ISBN 0-15-103969-0.
Dilip Hiro. Desert Shield to Desert Storm: The Second Gulf War. Năm 1992. Routledge.
Ronald Andrew Hoskinson and Norman Jarvis. Gulf War Photo Gallery[31] năm 1994.
Gilles Kepel. "From the Gulf War to the Taliban Jihad." Jihad: The Trail of Political Islam. Năm 2002.
Allan Little. Iraq coming in from the cold?[32] ngày 1 tháng 12 năm 1997. BBC.
John MacArthur. Independent Policy Forum Luncheon Honoring[33]
Alan Munro. Arab Storm: Politics and Diplomacy Behind the Gulf War I.B. Tauris. năm 2006. ISBN 1-84511-128-1.
Naval Historical Center. The United States Navy in Desert Shield/Desert Storm[34] ngày 15 tháng 5 năm 1991.
Larry A. Niksch and Robert G. Sutter. Japan's Response to the Persian Gulf Crisis: Implications for U.S.-Japan Relations[35] ngày 23 tháng 5 năm 1991. Congressional Research Service, Library of Congress.
Paul William Roberts, The Demonic Comedy: In the Baghdad of Saddam Hussein [36]
Micah Sifry và Christopher Cerf. The Gulf War Reader. Năm 1991. ISBN 0-8129-1947-5.
Jean Edward Smith, George Bush's War, New York: Henry Holt & Company, năm 1992.
Peter Turnley. The Unseen Gulf War (photo essay)[37] tháng 12 năm 2002.
Paul Walker and Eric Stambler. ...and the dirty little weapons[38] năm 1991. Bulletin of the Atomic Scientists, Vol 47, Number 4.
Andre Gunder Frank. Third World War in the Gulf: A New World Order[39] ngày 20 tháng 5 năm 1991. Political Economy Notebooks for Study and Research, no. 14, tr. 5–34.
PBS Frontline. The Gulf War:an in-depth examination of the 1990-1991 Persian Gulf crisis[40]
Report to Congress on the Conduct of the Persian Gulf War, Chapter 6[41]
== Tham khảo ==
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Desert-Storm.com Online Community For Desert-Storm Veterans. Information resource about the war.
Congressional Research Service (CRS) Reports regarding the Gulf War |
john cage.txt | John Milton Cage Jr. (ngày 5 tháng 9 năm 1912 – ngày 12 tháng 8 năm 1992) là một nhà soạn nhạc, nhà nhạc lý học, nhà văn, và họa sĩ. Là người tiên phong của tính không xác định trong âm nhạc, nhạc điện âm, sử dụng những nhạc cụ một cách không căn bản, Cage là một trong những nhân vật dẫn đầu của avant-garde thời hậu chiến. Những nhà phê bình xem ông như một trong những nhà soạn nhạc nước Mỹ có nhiều ảnh hưởng nhất thế kỷ XX.
== Tham khảo == |
hệ số gini.txt | Hệ số Gini dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Nó có giá trị từ 0 đến 1 và bằng tỷ số giữa phần diện tích nằm giữa đường cong Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối với phần diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối. Hệ số này được phát triển bởi nhà thống kê học người Ý Corrado Gini và được chính thức công bố trong bài viết năm 1912 của ông mang tên "Variabilità e mutabilità". Chỉ số Gini (Gini Index) là hệ số Gini được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm, được tính bằng hệ số Gini nhân với 100.
Hệ số Gini (hay còn gọi là hệ số Loren) là hệ số dựa trên đường cong Loren (Lorenz) chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân và hệ kinh tế trong một nền kinh tế.
== Khái quát ==
Hệ số Gini thường được sử dụng để biểu thị mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các tầng lớp cư dân. Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập).
Hệ số Gini cũng được dùng để biểu thị mức độ chênh lệch về giàu nghèo. Khi sử dụng hệ số Gini trong trường hợp này, điều kiện yêu cầu phải thỏa mãn không tồn tại cá nhân nào có thu nhập ròng âm. Hệ số Gini còn được sử dụng để đo lường sự sai biệt của hệ thống xếp loại trong lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng.
Tuy hệ số Gini đã lượng hóa được mức độ bất bình đẳng về sự phân phối thu nhập, nhưng các nhà kinh tế nhận thấy, hệ số Gini mới chỉ phản ánh được mặt tổng quát nhất của sự phân phối thu nhập, trong một số trường hợp, chưa đánh giá được các vấn đề cụ thể.
== Cách tính ==
Gọi diện tích giữa đường bình đẳng tuyệt đối và đường Lorenz là A, phần diện tích bên dưới đường cong Lorenz là B, hệ số Gini là G. Ta có: G = A/(A+B).
Vì A+B = 0,5 (do đường bình đẳng tuyệt đối hợp với trục hoành một góc 45°), nên hệ số Gini: G = A/(0,5) = 2A = 1-2B.
Nếu đường cong Lorenz được biểu diễn bằng hàm số Y=L(X), khi đó giá trị của B là hàm tích phân:
G
=
1
−
2
∫
0
1
L
(
X
)
d
X
{\displaystyle G=1-2\int _{0}^{1}L(X)\,dX}
Trong một số trường hợp, đẳng thức này có thể dùng để tính toán hệ số Gini trực tiếp không cần đến đường cong Lorenz.
Vídụ:
- Gọi dân số là
y
i
{\displaystyle y_{i}}
, với
i
=
1
{\displaystyle i=1}
đến
n
{\displaystyle n}
và y thỏa thứ tự không giảm
(
y
i
≤
y
i
+
1
)
{\displaystyle (y_{i}\leq \ y_{i+1})}
G
=
1
n
(
n
+
1
−
2
∑
i
=
1
n
(
n
+
1
−
i
)
y
i
∑
i
=
1
n
y
i
)
{\displaystyle G={1 \over n}(n+1-2{\sum _{i=1}^{n}(n+1-i)y_{i} \over \sum _{i=1}^{n}y_{i}})}
- Với hàm xác suất rời rạc f(y), i = 1 đến n, là các điểm có xác suất khác 0 và được sắp theo thứ tự tăng dần
(
y
i
<
y
i
+
1
)
{\displaystyle (y_{i}<\ y_{i+1})}
, khi đó:
G
=
1
−
∑
i
=
1
n
f
(
y
i
)
(
S
i
−
1
+
S
i
)
∑
i
=
1
n
y
i
{\displaystyle G=1-{\sum _{i=1}^{n}f(y_{i})(S_{i-1}+S_{i}) \over \sum _{i=1}^{n}y_{i}}}
== Hệ số Gini trên thế giới hiện nay ==
== Ứng dụng ==
Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc gần đây trong năm 2009, công bố bản báo cáo về khoảng cách thu nhập của thế giới. Công cụ thông thường để tính toán về sự bất bình đẳng là hệ số Gini. Hệ số này càng cao, xã hội càng thiếu công bằng. Kết quả năm nay cho thấy, Đan Mạch là một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới và đồng thời cũng có khoảng cách thu nhập thấp nhất thế giới. Hệ số Gini của quốc gia Bắc Âu này chỉ là 24,7%. Tại châu Á, quốc gia có khoảng cách giàu - nghèo thấp nhất là Nhật Bản với hệ số Gini là 24,9%.
== Xem thêm ==
Danh sách các quốc gia theo chỉ số bình đẳng thu nhập
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Hệ số GINI theo thành thị nông thôn và vùng, 2002,2004
Một số vấn đề về toàn cầu hoá |
iwork.txt | iWork là một bộ ứng dụng văn phòng được phát triển bởi Apple Inc. cho hệ điều hành macOS và iOS của họ, và cũng có sẵn trên những nền tảng khác thông qua trang web iCloud.
Nó bao gồm Keynote, một ứng dụng trình chiếu; trình soạn thảo văn bản và xuất bản Pages; và ứng dụng bảng tính Numbers. Nó thường được xem như là một bộ phần mềm văn phòng prosumer hướng tới người dùng người dùng gia đình và kinh doanh nhỏ, với các tính năng ít hơn so với các đối thủ như Microsoft's Office for Mac và dự án mã nguồn mở LibreOffice (và thực tế các phiên bản trước đó của chính nó), nhưng có một giao diện người dùng đơn giản, hỗ trợ màn hình cảm ứng mạnh mẽ và được xây dựng trong các liên kết với các dịch vụ tài liệu lưu trữ iCloud của Apple và các ứng dụng quản lý hình ảnh Aperture và iPhoto của họ. mục tiêu thiết kế của Apple trong việc tạo ra iWork đã cho phép người dùng Mac cho dễ dàng tạo ra các tài liệu hấp dẫn và bảng tính, sử dụng các thư viện hệ điều hành MacOS của rộng phông chữ, kiểm tra chính tả tích hợp, các API đồ họa tinh vi và khung tự động hóa AppleScript của nó.
Các ứng dụng Microsoft Office tương đương với Pages, Numbers, và Keynote là Word, Excel,và PowerPoint. Mặc dù các ứng dụng Microsoft Office không thể mở tài liệu iWork, iWork các ứng dụng iWork có thể xuất tài liệu từ các định dạng gốc của chúng (.pages,.numbers,.key) sang định dạng Microsoft Office (.doc,.xls,.ppt, etc.) cũng như sang đinh dạng PDF.
Ứng dụng lâu đời nhất trong iWork là Keynote, flần đầu tiên được phát hành như một ứng dụng độc lập vào năm 2003. Pages đã được phát hành với việc phát hành iWork đầu tiên vào năm 2005; Numbedduwwocjw bổ sung năm 2007 cùng với iWork '08. bản phát hành tiếp theo, iWork '09, cũng bao gồm quyền truy cập vào iWork.com, dịch vụ beta cho phép người dùng tải lên và chia sẻ tài liệu, bây giờ đã tích hợp vào iCloud của Apple. Một port cho iOS được phát hành năm 2010 cho iPad đầu tiên và đã được cập nhật thường xuyên kể từ đó. Năm 2013, Apple đã phát hành một phiên bản OS X mới và iWork cho iCloud, một bộ các ứng dụng web đa nền tảng nhân bản các phiên bản phần mềm bản địa.
iWork ban đầu được bán như một bộ dành với $79, và sau đó là $19.99 cho mỗi ứng dụng trên OS X và $9.99 một ứng dụng cho iOS. Apple đã công bố trong tháng 10/2014 rằng các thiết bị iOS mua từ tháng 9/2014 trở đi và máy tính OS X mua từ tháng 10/2014 trở đi, dù mới hay tân trang lại, có đủ điều kiện để tải về miễn phí của tất cả ba ứng dụng iWork. iWork for iCloud, cũng kết hợp một dịch vụ lưu trữ tài liệu, là miễn phí cho tất cả các chủ sở hữu của một tài khoản iCloud.
Tháng 9/2016, Apple thông báo rằng các tính năng cộng tác thời gian thực sẽ có sẵn cho tất cả các ứng dụng iWork.[32]
== Xem thêm ==
Danh sách các bộ ứng dụng văn phòng
So sánh các bộ ứng dụng văn phòng
OpenOffice.org
LibreOffice
Microsoft Office
iCloud
== Chú thích == |
seaborgi.txt | Seaborgi (phát âm như "xi-bo-ghi") là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Sg và số nguyên tử 106. Seaborgi là nguyên tố tổng hợp với đồng vị ổn định nhất là 271Sg có chu kỳ bán rã 1,9 phút. Các thí nghiệm hóa học đã xác nhận rằng seaborgi thuộc nhóm 6 và là một đồng đẳng nặng hơn của wolfram.
== Phát hiện ==
Nguyên tố 106, hiện tại là Seaborgi, được tạo ra lần đầu tiên năm 1974 trong máy gia tốc siêu HILAC tại phòng thí nghiệm Lawrence Berkeley bởi sự hợp tác nghiên cứu của Lawrence Berkeley/Lawrence Livermore dẫn đầu là Albert Ghiorso và E. Kenneth Hulet. Họ đã tạo ra hạt nhân mới 263106 bằng cách bắn phá hạt nhân 249Cf bởi các ion 18O. Hạt nhân này phân rã α với chu kỳ bán rã 0,9 ± 0,2 giây.
== Đặt tên ==
Nhóm Berkeley/Livermore đề xuất tên gọi seaborgium (Sg) theo tên nhà hóa học Hoa Kỳ Glenn T. Seaborg, ông đã từng là thành viên của nhóm Mỹ trong việc phát hiện ra một số nguyên tố thuộc nhóm actini. Tên gọi do nhóm này chọn đã gây tranh cãi. IUPAC tạm thời thông qua tên gọi unnilhexium (ký hiệu Unh), theo hệ thống tên gọi của các nguyên tố. Năm 1994, hội đồng IUPAC đề nghị rằng nguyên tố 106 cần được đặt tên là rutherfordium và thông quan nguyên tắc rằng không có nguyên tố nào có thể được đặt theo tên người còn sống. Nguyên tắc này đã bị phản đối quyết liệt từ Hiệp hội hóa học Hoa Kỳ. Những người chỉ trích chỉ ra rằng đã có tiền lệ đặt tên nguyên tố einsteini trong khi Albert Einstein vẫn còn sống và một cuộc khảo sát chỉ ra rằng các nhà hóa học không quan tâm đến việc Seaborg vẫn còn sống. Năm 1997, theo một phần của thỏa hiệp liên quan đến các nguyên tố từ 104 đến 108, đặt tên seaborgium cho nguyên tố 106 được quốc tế chấp nhận.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com - Seaborgium
Chemistry in its element podcast (MP3) from the Royal Society of Chemistry's Chemistry World: Seaborgium |
koto.txt | KOTO là tên một nhà hàng và một chương trình đào tạo hướng nghiệp phi lợi nhuận có trụ sở tại Hà Nội, Việt Nam. Nhân viên của nó bao gồm những người từng là trẻ em đường phố được đào tạo nghề phục vụ tại chính KOTO hay tại các tổ chức từ thiện khác.
Tổ chức này được khởi động từ năm 1996 bởi một công dân Úc gốc Việt-Hàn tên là Jimmy Phạm. Anh đã hỏi những đứa trẻ đường phố cái chúng cần để khởi nghiệp và nhận được câu trả lời "chúng em cần những kĩ năng giúp chúng em tìm được công việc ổn định". KOTO bây giờ có một nhà hàng với 120 chỗ và một tổ chức dạy kỹ năng sống cùng với kỹ năng nấu ăn.
Tên của tổ chức này bắt nguồn từ thành ngữ "Know One, Teach One" (biết một, dạy một) được trích từ câu nói của người đã sáng lập:
"The greatest accomplishment for the person who has helped you, is to see you stand on your own two feet and then in turn help someone else that reminds you of yourself, because if you Know One, then you should Teach One.
Tạm dịch: Thành công lớn nhất của một cá nhân khi giúp bạn là thấy bạn đứng trên chính đôi chân của mình và sau đó lại giúp người khác giống mình, vì nếu
bạn biết một, hãy dạy người khác một
Vào năm 2008, KOTO đã trở thành một trong những nhà hàng lớn nhất và nổi tiếng nhất ở Hà Nội và trên thế giới. Quá trình hoạt động của nó đã được thuật lại trong một bộ phim tài liệu của BBC.
Những đứa trẻ đường phố và những người trẻ thiệt thòi thông qua chương trình của KOTO được học kỹ năng y tế, tiếng Anh và các kỹ năng sống cần thiết. những kỹ năng thực hành được hoàn thiện ở nhà hàng KOTO.
Sau những khoá học như thế, nhiều nhân viên trẻ đã được nhận vào làm tại các nhà hàng và khách sạn có tiếng ở Hà Nội.
== Tham khảo == |
bảng chữ cái tiếng anh.txt | Bảng chữ cái tiếng Anh (tiếng Anh: English alphabet) hiện đại là một bảng chữ cái Latinh gồm 26 mẫu tự.
Hình dạng chính xác của chữ cái trên ấn phẩm tùy thuộc vào bộ chữ in được thiết kế. Hình dạng của chữ cái khi viết tay hết sức đa dạng.
Tiếng Anh viết sử dụng nhiều diagraph như ch, sh, th, wh, qu,...mặc dù ngôn ngữ này không xem chúng là các mẫu tự riêng biệt trong bảng chữ cái. Người dùng tiếng Anh còn sử dụng dạng chữ ghép truyền thống là æ và œ.
== Lịch sử ==
=== Tiếng Anh cổ ===
Tiếng Anh được viết lần đầu bằng Bảng chữ cái rune Anglo-Saxon - được dùng từ thế kỷ 5. Bảng mẫu tự này do dân Anglo-Saxon mang theo đến nơi mà ngày nay là Anh Cách Lan. Hiện còn lưu giữ được rất ít ví dụ về cách viết tiếng Anh cổ này, chủ yếu số còn sót lại chỉ là những câu khắc hay những đoạn rời rạc.
Từ thế kỷ 7, Bảng chữ cái Latinh do các nhà truyền đạo Ki-tô mang đến đã bắt đầu thay thế Bảng chữ cái rune Anglo-Saxon. Tuy nhiên, bảng chữ rune cũng đã ảnh hưởng lên bảng chữ cái tiếng Anh đang thành hình, thể hiện qua các chữ cái mà bảng rune mang đến là thorn (Þ þ) và wynn (Ƿ ƿ). Về sau người ta đặt ra chữ eth (Ð ð) bằng cách thay đổi chữ dee (D d). Những người chép thuê Norman đã tạo ra chữ yogh (Ȝ ȝ) từ chữ g đảo trong tiếng Anh cổ và tiếng Ireland. Họ dùng chữ yogh này song song với chữ g Carolingia.
Chữ ghép a-e ash (Æ æ) được chấp nhận như một mẫu tự riêng biệt, đặc theo chữ æsc trong bộ chữ rune Bắc Âu. Ở thời kỳ rất sơ khai, tiếng Anh cổ còn có chữ ghép o-e ethel (Œ œ) với tư cách một mẫu tự riêng biệt, có nguồn gốc từ chữ œðel trong bộ chữ rune. Các chữ ghép v-v hoặc u-u W (W w) cũng được sử dụng.
Năm 1011, Byrhtferð liệt kê 24 chữ cái:
A B C D E F G H I K L M N O P Q R S T V X Y Z & ⁊ Ƿ Þ Ð Æ
=== Tiếng Anh hiện đại ===
Trong tiếng Anh hiện đại, Ƿ, Þ, Ð, Æ và œ bị xem là những chữ cái đã lỗi thời. þ và ð cùng bị thay bằng th, mặc dù þ tiếp tục tồn tại một thời gian nữa; dạng viết thường của þ cũng dần trở nên hòa lẫn vào cách viết chữ Y thường (y). þ và ð hiện vẫn còn hiện diện trong tiếng Iceland và tiếng Faroe. ƿ biến mất khỏi tiếng Anh khoảng từ thế kỷ 14 khi nó bị uu (tức w ngày nay) thay thế. ȝ biến mất từ khoảng thế kỷ 15 và bị gh thay thế. Các mẫu tự U và J - khác biệt với V và I - được bổ sung vào thế kỷ 16.
Dạng viết thường của chữ s dài (ſ) tồn tại đến giai đoạn đầu của tiếng Anh hiện đại. æ và œ tồn tại đến thế kỷ 19 và được trong văn viết chính thức để ghi một số từ có gốc từ tiếng Hy Lạp hoặc tiếng Latinh, chẳng hạn từ encyclopædia ("bách khoa toàn thư") và từ cœlom ("thể khoang") mặc dù æ và œ không có trong tiếng Latinh cổ điển hoặc tiếng Hy Lạp cổ. Ngày nay hai chữ này được viết thành "ae" và "oe", mặc dù trong tiếng Anh Mỹ thì chữ e dài hầu như bị bỏ đi (chẳng hạn, tiếng Anh Mỹ viết encyclopedia thay cho encyclopaedia, fetus thay cho foetus).
== Tên chữ cái ==
Ít khi người ta đọc tên của chữ cái trừ khi phải phát âm các từ dẫn xuất hoặc từ ghép (chẳng hạn tee-shirt, deejay, emcee, okay,...), các dạng dẫn xuất (chẳng hạn exed out, effing,,...) hoặc tên các đối tượng được đặt tên theo tên chữ cái (chẳng hạn wye trong Y junction, nghĩa là khớp nối hình chữ Y). Danh sách dưới dây trích từ Từ điển tiếng Anh Oxford. Tên của phụ âm thường có dạng phụ âm + ee hoặc e + phụ âm (chẳng hạn bee và ef). Ngoại lệ là aitch, jay, kay, cue, ar, ess (trong từ ghép đọc là es-), wye và zed.
Một số nhóm chữ cái như pee và bee hoặc em và en thường dễ bị nhầm lẫn khi trong giao tiếp, đặc biệt là khi liên lạc qua điện thoại hay vô tuyến. Để giải quyết vấn đề này, người ta tạo ra các bảng chữ cái đánh vần - chẳng hạn Bảng chữ cái đánh vần ICAO - trong đó mỗi chữ cái được gán cho một cái tên dễ phân biệt lẫn nhau.
=== Nguồn gốc Tiếng Anh ===
Tên gọi của các chữ cái trong tiếng Anh chủ yếu là kế thừa trực tiếp từ tên gọi trong tiếng Latinh (và tiếng Etrusca) thông qua trung gian là tiếng Pháp.
== Tần suất sử dụng ==
Chữ cái thường dùng nhất trong tiếng Anh là chữ E. Chữ cái ít dùng nhất là chữ Z. Danh sách dưới đây cho thấy tần suất tương đối của các chữ cái trong một văn bản tiếng Anh nhìn chung do tác giả Robert Edward Lewand dẫn ra:
== Chú thích == |
quận của nhật bản.txt | Quận (区 (Khu), ku) của Nhật Bản có hai loại: quận đặc biệt của Tokyo và khu hành chính ở một số thành phố khác.
== Khu đặc biệt ==
Quận đặc biệt (特別区) hay quận khu của thủ đô Tokyo là những đơn vị hành chính đầy đủ, có bộ máy chính quyền và hội đồng địa phương được bầu ra thông qua hình thức phổ thông đầu phiếu. Ở Tokyo có 23 quận như vậy, tập trung ở phía Đông.
== Quận hành chính ==
Quận hành chính (行政区) không phải là đơn vị hành chính mà chỉ là sự phân chia địa bàn nhằm thuận tiện cho quản lý hành chính ở các thành phố lớn ở Nhật Bản. Các đô thị cấp quốc gia của Nhật Bản đều có các quận hành chính như vậy. Quận hành chính không có chính quyền, không có hội đồng địa phương, nhưng có tòa thị chính với tư cách là một văn phòng đại diện của chính quyền thành phố và thực hiện các chức năng thiết yếu nhất như đăng ký, thuế vụ, bảo hiểm, phúc lợi.
Ở các thành phố nhỏ cũng có các quận, nhưng chỉ để thuận tiện cho việc gọi tên địa bàn (do đó tên thường gọi là quận Đông, quận Tây, quận Bắc, quận Nam, hay quận Trung tâm) chứ không hề đặt tòa thị chính.
== Tham khảo == |
đường sắt khổ hẹp.txt | Một đường sắt khổ hẹp là một tuyến đường sắt có khổ đường hẹp hơn khổ của các tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn. Đa số các tuyến đường sắt khổ hẹp hiện tại có các khổ đường trong khoảng 3 ft 6 in (1.067 mm) và 3 ft (914 mm).
== Tổng quan ==
Bởi các tuyến đường sắt khổ hẹp thường được xây dựng với bán kính cong nhỏ và các khổ kết cấu nhỏ, chúng có thể rẻ hơn để xây dựng, trang bị và hoạt động so với các tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn hay khổ rộng, đặc biệt với địa hình vùng núi. Chi phí thấp hơn của đường sắt khổ hẹp đồng nghĩa với việc chúng thường được xây dựng để phục vụ các cộng đồng công nghiệp nơi tiềm năng vận tải không thích ứng với các chi phí cho việc xây dựng một tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn hay khổ lớn. Các tuyến đường sắt khổ hoẹp cũng luôn được sử dụng trong công nghiệp khai mỏ và các môi trường khác nơi một cấu trúc khổ rất hẹp khiến cần phải có một khổ chất tải hẹp. Mặt khác, các tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn hay khổ rộng nói chung có khả năng chuyên chở lớn hơn và cho phép tốc độ hoạt động cao hơn các hệ thống khổ hẹp.
Về mặt lịch sử, nhiều tuyến đường sắt khổ hẹp đã được xây dựng như một phần riêng biệt của các công ty công nghiệp và chủ yếu là những tuyến đường sắt công nghiệp chứ không phải là tuyến đường vận tải chung. Một số ngành thường dùng đường sắt công nghiệp khổ hẹp là khai mỏ, đốn gỗ, xây dựng, đào hầm, khai thác đá, và vận chuyển các sản phẩm nông nghiệp. Các mạng lưới đường sắt khổ hẹp dày đặc đã được xây dựng ở nhiều vùng trên thế giới cho các mục đích này. Nhiều tuyến đường sắt phục vụ ngành mía đường vẫn hoạt động ở Cuba, Fiji, Java, Philippines và tại Queensland ở Australia. Trang bị đường sắt khổ hẹp vẫn thường được sử dụng trong việc xây dựng các đường hầm.
Một lý do đáng chú ý khác khiến các tuyến đường sắt khổ hẹp được xây dựng là lợi dụng ưu thế giảm chi phí xây dựng tại những vùng núi và có địa hình hiểm trở. Các hoạt động đốn gỗ ở vùng núi trong những năm 1800 thường sử dụng các tuyến đường khổ hẹp để vận chuyển gỗ từ các địa điểm chế biến tới nơi bán. Các hệ thống đường sắt quốc gia của các nước như Indonesia, Nhật Bản và New Zealand chủ yếu hay đều là đường khổ hẹp. Trench railways tại Mặt trận phía Tây trong Thế chiến I đã được sử dụng trong một thời gian ngắn với ưu thế này. Các tuyến đường sắt khổ hẹp vùng núi phi công nghiệp thường được thấy tại Rocky Mountains ở Hoa KỲ và Pacific Cordillera ở Canada, tại Mexico, Thuỵ Sĩ, Nam Tư cũ, Hy Lạp, Ấn Độ, và Costa Rica. Một nước khác với hệ thống đường sắt quốc gia khổ hẹp đáng chú ý là Nam Phi nơi "khổ Cape" 3 ft 6 in (1.067 mm) là khổ thường thấy nhất. Tại Ấn Độ, hệ thống khổ hẹp đang được chậm chạp chuyển sang khổ lớn, dù một số tuyến đường sắt nổi tiếng nhất của Ấn Độ, Darjeeling Himalayan Railway và Kalka-Shimla Railway đều là khổ hẹp. Tất cả tuyến đường 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) (khổ mét) đang được chuyển thành 5 ft 6 in (1.676 mm) (khổ rộng) trong dự án Unigauge.
== Lịch sử các tuyến đường sắt khổ hẹp ==
Tuyến đường sắt đầu tiên được ghi nhận là ở De re metallica năm 1556, một mỏ ở Bohemia với một đoạn đường sắt có khổ xấp xỉ 2 ft (610 mm). Trong thế kỷ 16 các tuyến đường sắt hạn chế chủ yếu là những tuyến khổ hẹp do người đẩy trong các mỏ trên khắp châu Âu. Trong thế kỷ 17 các tuyến đường sắt mỏ được mở rộng để cho phép việc vận chuyển trên mặt đất. Những tuyến này là đường sắt công nghiệp, nối các mỏ với các điểm vận tải ở gần đó, thường là các con kênh hay các tuyến đường thuỷ. Chúng thường được xây dựng với cùng khổ như đường sắt mỏ là xuất phát điểm của mình.
Các hệ thống đường sắt khổ hẹp dày đặc phục vụ cho cả hai bên mặt trận trong Thế chiến I. Sau khi cuộc chiến kết thúc những thiết bị thừa từ những tuyến này đã tạo ra một sự bùng nổ nhỏ trong việc xây dựng đường sắt khổ hẹp ở châu Âu.
== Ưu thế của khổ hẹp ==
Các tuyến đường sắt khổ hẹp thường tốn ít chi phí hơn để xây dựng bởi chúng thường nhẹ hơn trong xây dựng, sử dụng các toa xe và đầu máy nhỏ hơn (khổ xếp hàng ít hơn) cũng như cần các cây cầu, đường hầm nhỏ hơn (khổ kết cấu nhỏ hơn) và các đường cong hẹp hơn. Khổ hẹp vì thế đường được áp dụng ở những địa hình núi, nơi những tiết kiệm chi phí trong kỹ thuật xây dựng có thể là yếu tố then chốt. Nó cũng được dùng tại các khu vực thưa dân cư nơi tiềm năng nhu cầu quá thấp cho các tuyến đường khổ lớn hơn. Đây là trường hợp của hầu hết Australia và Miền Nam châu Phi, nơi nền đất rất cổ chỉ có thể duy trì được cho các mật độ dân cư rất thấp.
Có nhiều tuyến xe điện đường phố khổ hẹp, đặc biệt tại châu Âu nơi các tuyến đường xe điện khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) rất phổ biến. Khổ hẹp cho phép bán kính cua nhỏ hơn khổ 1.435 mm (4 ft 8 1⁄2 in) hay 1.495 mm (4 ft 10 7⁄8 in) khổ trên các con đường thành phố. Bán kính quay nhỏ khiến vòng quay đầu ở cuối tuyến đường dễ dàng hơn, và tới lượt nó lại cho phép sử dụng các xe điện đơn hướng với chỉ một khoang cho người lái ở một đầu, và các cửa ở một bên, cho phép có nhiều không gian hơn cho hành khách.
Với các tuyến đường tạm sẽ bị tháo bỏ sau khi sử dụng ngắn hạn, như để phục vụ cho việc xây dựng, công nghiệp khai thác gỗ, công nghiệp khai mỏ hay các dự án xây dựng lớn, đặc biệt tại các khu vực giới hạn, như Đường hầm eo biển Anh một tuyến đường sắt khổ hẹp sẽ rẻ hơn rất nhiều cho việc lắp đặt và tháo bỏ. Việc sử dụng những tuyến đường sắt như vậy hầu như đã biến mất vì những khả năng của xe tải hiện đại.
Tại nhiều quốc gia các tuyến đường sắt khổ hẹp được xây xây dựng như các nhánh "cung cấp" hay "nhánh" để dồn khách cho các tuyến đường khổ tiêu chuẩn quan trọng hơn, vì giá thành xây dựng thấp hơn của chúng. Sự lựa chọn thường không phải là giữa một tuyến đường sắt khổ hẹp và một tuyến khổ tiêu chuẩn, mà là giữa một tuyến đường sắt khổ hẹp hoặc không gì cả.
== Bất lợi của khổ hẹp ==
Các tuyến đường sắt khổ hẹp không thể hoán đổi thiết bị một cách tự do như các toa xe hàng hoá và hành khách với các tuyến khổ tiêu chuẩn hay khổ rộng và chúng kết nối, trừ khi chúng được đổi đổi bánh. Điều này có nghĩa rằng những tuyến khổ hẹp có một chi phí đã được tính trước cho việc chuyển hành khách và hàng hoá tới hệ thống đường sắt chính. Chi phí chuyển có thể đòi hỏi một nguồn tài chính lớn của một tuyến đường bởi nó đắt đỏ và cần nhiều thời gian nhân công hay chi phí tư bản. Một số loại hàng rời như than, quặng và sỏi, có thể được chuyển bằng cơ khí, nhưng nó vẫn đòi hỏi thời gian và các thiết bị cơ khí thường khá phức tạp để duy trì.
Một giải pháp cho vấn đề chuyển hàng là đổi bánh của các toa xe. Một giải pháp khác với vấn đề này là hệ thống roll-block. Dù đã được phát triển thành công tại một số quốc gia như Đức và Áo, kỹ thuật này xuất hiện quá muộn cho đa số các tuyến đường khổ hẹp. Việc chuyển bằng container cũng là một lựa chọn.
Vấn đề trao đổi hàng và hành khách không nghiêm trọng với những vùng có một hệ thống các tuyến đường sắt khổ hẹp lớn, như bắc Tây Ban Nha, và không tồn tại tại các quốc gia mà ở đó đường sắt khổ hẹp là tiêu chuẩn, ví dụ khổ Cape ở New Zealand, Nam Phi và bang đảo Tasmania của Australia hay khổ mét ở Malaysia và Thái Lan. Tất nhiên, nó vẫn tồn tại với những tuyến đường có khổ khác với khổ ưu thế tại các quốc gia đó.
Vấn đề trao đổi hàng hoá và hành khách nghiêm trọng hơn ở Bắc Mỹ bởi một hệ thống trao đổi hàng trên khắp lục địa đã được phát triển. Tất cả các tuyến đường sắt khỏo tiêu chuẩn ở Bắc Mỹ sử dụng cùng bộ nối tiêu chuẩn và phanh hơi, có nghĩa các toa xe chở hàng có thể được chuyển đổi tự do giữa các tuyến đường từ Bắc Canada tới Nam Mexico. Các tuyến đường sắt cần nhiều toa chở hàng hơn có thể đơn giản mượn nó từ các tuyến khác trong những giai đoạn cao điểm, trong khi các công ty đường sắt sở hữu toa xe nhận được các khoản tiền chi trả cho chúng với giá được đặt ra theo thoả thuận chung. Thời kỳ đỉnh cao nhu cầu, đặc biệt cho việc chuyên chở ngũ cốc, diễn ra ở những vùng khác nhau ở Bắc Mỹ vào những thời điểm khác nhau, vì thế các toa chở hàng có thể được đưa đi lại trên khắp lục địa tới bất kỳ nơi nào cần chúng. Đầu máy cũng có thể được trao đổi, thỉnh thoảng dẫn tới việc các đầu máy của Mexico kéo các toa hàng của Canada và ngược lại.
Các tuyến đường sắt khổ hẹp không thể tham gia vào hệ thống này, có nghĩa chúng thường phải sở hữu gấp nhiều lần số toa xe hơn các tuyến đường khổ tiêu chuẩn, và chúng không nhận được bất kỳ đồng tiền nào cho số thiết bị dư thừa trong những giai đoạn có nhu cầu thấp. Những vấn đề này cũng xuất hiện với những tuyến đường sắt với một khổ lớn hơn khổ tiêu chuẩn của vùng, nhưng tất cả các tuyến đường sắt khổ lớn ở Bắc Mỹ đã được chuyển lại theo khổ tiêu chuẩn năm 1910, (xem Khổ đường sắt ở Bắc Mỹ). Bởi hầu hết các tuyến đường sắt khổ hẹp không có tính kinh tế để phát triển, làm gia tăng chi phí và giảm lợi nhuận cuối cùng đã khiến hầu như toàn bộ các tuyến đường khổ hẹp ở Bắc Mỹ hoặc bị phá sản hoặc bị chuyển theo khổ tiêu chuẩn. Trong nhiều trường hợp, các tuyến đường sắt lớn hơn trợ cấp cho việc chuyển đổi theo khổ tiêu chuẩn.
Một vấn đề khác với đường sắt khổ hẹp là chúng thiếu không gian để phát triển - chi phí xây dựng thấp đồng nghĩa với việc giá thành xây dựng chỉ đáp ứng cho nhu cầu vận tải ban đầu. Trong khi một tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn hay khổ lớn có thể dễ dàng được nâng cấp và thực hiện việc chở hàng nặng hơn, với tốc độ nhanh hơn, nhiều tuyến đường khổ hẹp không thể được cải tiến. Tốc độ và tải trọng không thể được gia tăng, vì thế mật độ giao thông bị giới hạn rất nhiều.
Các tuyến đường sắt khổ hẹp có thể được xây dựng để giải quyết sự gia tăng tốc độ và chất tải, nhưng với giá thành khiến hầu hết những ưu thế của nó với đường sắt khổ hẹp hay khổ lớn không còn nữa.
== Những ngoại trừ với quy định ==
Các tuyến đường sắt khổ hẹp 3 ft 6 in (1.067 mm) tải nặng ở Australia (ví dụ Queensland), Nam Phi và New Zealand, cho thấy nếu đường sắt được xây dựng theo tiêu chuẩn tải nặng, nó hoạt động hầu như tốt tương đương với đường khổ tiêu chuẩn. Những đoàn tàu 200 toa hoạt động trên tuyến đường sắt Sishen-Saldanha ở Nam Phi, và những đoàn tàu nghiêng tốc độ cao ở Queensland (xem bên dưới). Một ví dụ khác về tuyến đường sắt khổ hẹp tải nặng là EFVM ở Brazil. Khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in), nó có thanh ray hơn 100 pound và một khổ tải trọng hầu như lớn bằng các tuyến non-excess-height của Mỹ. Nó đã từng phục vụ những đầu máy công suất 4.000 hp (3.000 kW) và các đoản tàu hơn 200 toa. Tại Nam Phi và New Zealand, khổ tải trọng tương đương với khổ tải trọng giới hạn của Anh, và tại New Zealand một số toa British Rail Mark 2 đã được chế tạo lại với hệ khung bánh mới để được sử dụng với Tranz Scenic (Wellington-Palmerston North service), Tranz Metro (Wellington-Masterton service) và Veolia (Auckland suburban services).
Có thể xây dựng các tuyến đường sắt tiêu chuẩn và cả khổ rộng rẻ với các tiêu chuẩn đường sắt nhẹ với bán kính nhỏ (đường cong ngắn) và độ dốc lớn, thay cho việc xây dựng các tuyến khổ hẹp. Các con tàu hoạt động với tốc độ thấp hơn và tải trọng nhỏ hơn. Điều này cho phép các toa tàu hoạt động thông suốt, và đơn giản hoá việc nâng cấp sau này.
=== Các đoàn tàu khổ hẹp chạy nhanh nhất ===
Độ ổn định thấp hơn và khổ tải trọng nhỏ hơn đồng nghĩa với việc các đoàn tàu không thể chạy với tốc độ cao như trên các tuyến đường khổ lớn hơn, trừ khi đường ray được lắp đặt với độ chính xác cao . Tại Nhật Bản và Queensland, Australia, những cải tiến gần đây cho phép các đoàn tàu hoạt động trên khổ 1.067 mm (3 ft 6 in) chạy với tốc độ 160 km/h (99 mph) và cao hơn nữa. Tàu nghiêng của Queensland Rail hiện là đoàn tàu nhanh nhất ở Australia và là đoàn tàu chạy trên đường sắt khổ 1.067 mm (3 ft 6 in) nhanh nhất thế giới, với kỷ lục 210 km/h. Một toa xe 2 ft (610 mm) đặc biệt được chế tạo cho Otavi Mining and Railway Company với tốc độ thiết kế lên tới 137 km/h.
So sánh các tốc độ đó với các đoàn tàu khổ tiêu chuẩn hay khổ lớn có thể chạy với tốc độ lên tới 320 km/h (199 mph). Sự tương phản nổi bật nhất ở Nhật, nơi khai sinh ra Shinkansen, một mạng lưới đường sắt tiêu chuẩn được xây dựng dành riêng cho đường sắt cao tốc ở một quốc gia nơi đường sắt khổ hẹp 1.067 mm (3 ft 6 in) là tiêu chuẩn ưu thế.
== Các khổ đường được sử dụng ==
Có nhiều khổ hẹp được sử dụng hay đã từng được sử dụng trong khoảng từ 1 ft 3 in (381 mm) và 4 ft 8 1⁄2 in (1.435 mm). Chúng được xếp vào ba tiêu chí rộng:
=== Đường sắt khổ trung bình ===
Các đường sắt được xây dựng với khổ trong khoảng 3 ft 6 in (1.067 mm) và 4 ft 8 1⁄2 in (1.435 mm) thỉnh thoảng được gọi là đường sắt "khổ trung bình".
Tại những vùng của thế giới nơi đường sắt được xây dựng theo tiêu chuẩn Anh, điều này có nghĩa thông thường nhất là một khổ 3 ft 6 in (1.067 mm) hay "khổ Cape", trong khi các tuyến đường được xây theo tiêu chuẩn Mỹ thông thường là 3 ft (914 mm). Đường sắt được xây dựng theo tiêu chuẩn hệ mét của châu Âu chủ yếu nhất là khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) hay "khổ mét" và 900 mm (2 ft 11 1⁄2 in).
Những khổ hẹp loại lớn này có thể phục vụ hầu hết loại hình vận tải với ít khó khăn và vì thế thích hợp với việc áp dụng "chuyên chở thông thường" ở tầm mức lớn, dù tốc độ tối đa và giới hạn chất tải của chúng thấp hơn của khổ đường tiêu chuẩn. Ở nhiều quốc gia, các khổ loại này thuộc tiêu chuẩn địa phương.
=== Đường sắt khổ hai foot ===
"Nhóm" đường sắt khổ hẹp tự nhiên tiếp sau trong khoảng chỉ từ hơn 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) tới dưới 3 ft (914 mm), dù đa số trong khoảng 2 ft (610 mm) và 760 mm (2 ft 5 7⁄8 in). Những tuyến đường nhẹ này có thể được xây dựng với chi phí rất rẻ so với các tuyến đường cỡ trung hay tiêu chuẩn, nhưng nói chung có khả năng chuyên chở hạn chế. Đa số chúng được xây dựng ở những vùng núi non và hầu hết chỉ để vận chuyển khoáng sản từ các mỏ tới các cảng hay các tuyến đường khổ tiêu chuẩn.
Nhiều tuyến là đường sắt công nghiệp chứ không phải vận chuyển thông thường, dù có những ngoại lệ như mạng lười đường khổ 760 mm (2 ft 5 7⁄8 in) dày đặc ở Đế chế Áo-Hung cũ, các tuyến "Maine two footer" ở New England, mạng lưới 97 km (60 dặm) của Chicago Tunnel Company dưới Chicago Loop, Otavi Mining and Railway Company của Nam Phi, Chemins de Fer du Calvados của Normandy, và Darjeeling Himalayan Railway. Trench railways trong Thế chiến I đã tạo ra sự tập trung lớn nhất các tuyến 2 foot cho tới ngày nay. Các khổ hệ mét tiêu chuẩn thường thấy nhất trong nhóm này là 760 mm (2 ft 5 7⁄8 in) và 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in). Tuyến đường khổ 750 mm dài nhất là Old Patagonian Express hay "La Trochita" với 402 km đường sắt từ Jacobacci tới Esquel.
=== Đường sắt khổ tối thiểu ===
Các khổ dưới 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) hiếm thấy, nhưng vẫn có tồn tại. Tại Anh, Sir Arthur Heywood đã phát triển khổ 1 ft 3 in (381 mm) estate railway, trong khi tại Pháp Decauville đã tạo ra một khổ cho các tuyến đường sắt công nghiệp với chiều rộng 400 mm (1 ft 3 3⁄4 in) và 500 mm (1 ft 7 3⁄4 in), chúng thường có mặt tại các môi trường giới hạn như các tuyến đường sắt mỏ ngầm. Một số tuyến đường sắt khổ 1 ft 6 in (457 mm) đã được xây dựng tại Anh để phục vụ các kho vũ khí và các cơ sở quân sự khác, đặc biệt trong Thế chiến thứ nhất.
Các tuyến đường sắt khổ hẹp chưa tới 1 ft 10 3⁄4 in (578 mm) được gọi là đường sắt khổ tối thiểu.
== Đường khổ hẹp trên thế giới ==
=== châu Âu ===
==== Áo ====
Tuyến đường sắt đầu tiên tại Áo là tuyến khổ hẹp từ Gmunden ở Salzkammergut tới Budweis, hiện ở Cộng hoà Séc, nó có khổ 1.106 mm (3 ft 7 1⁄2 in). Khoảng hai chục tuyến đã được xây dựng theo khổ 760 mm (2 ft 5 7⁄8 in), vài tuyến theo khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in). Tuyến đầu tiên là Steyrtalbahn. Các tuyến khác được xây dựng bởi các chính phủ địa phương, một số tuyến vẫn còn được sử dụng hàng ngày và một số tuyến khác đang thuộc trong các dự án bảo tồn. Mạng lưới tàu điện ở Innsbruck cũng theo khổ mét; tại Linz khổ 900 mm (2 ft 11 1⁄2 in) ít phổ biến lại được dùng.
==== Bulgaria ====
Từ thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20 có nhiều tuyến đường sắt khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) và 760 mm (2 ft 5 7⁄8 in) ở Bulgaria, nhưng hiện nay, chỉ còn lại 245 km. Đây là tuyến Septemvri - Dobrinishte, nơi có ga đường sắt cao nhất vùng Balkan. Dù tuyến đang ở trong tình trạng cũ nát, nó vẫn được sử dụng – các đoàn tàu được kéo bởi các đầu máy Henschel. Một trong những đầu máy hơi nước cổ đã được bảo tồn gần đây và thỉnh thoảng được dùng để kéo những đoàn tàu chở khách du lịch. PHần lớn mạng lưới tàu điện dày đặc ở Sofia dùng khổ mét 1.009 mm (3 ft 3 11⁄32 in).
==== Belarus ====
Belarus có một đường sắt trẻ em khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in) đang hoạt động, nằm ở Minsk. Locos - TU2.
Một số tuyến đường sắt công nghiệp khổ hẹp vẫn còn được thấy ở Belarus đặc biệt trong công nghiệp khai thác than bùn.
==== Bỉ ====
Vicinal hay Buurtspoor là một hệ thống đường sắt khổ hẹp địa phương hay tàu diện bao phủ khắp quốc gia và có số hành khách lớn hơn hệ thống đường ray chính. Chúng được xây dựng theo khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) và hệ thống gồm cả các đường tàu điện trong thành phố cũng như ở vùng thôn quê với các đầu máy hơi nước và toa xe; một nửa hệ thống đã được điện khí hoá. Nhiều tuyến chở hàng. Chỉ đường bờ biển và hai tuyến đường gần Charleroi vẫn được sử dụng thương mại, bốn bảo tàng có nhiều bộ sưu tập đáng chú ý về các toa xe của SNCV/NMBS cũ, một trong số đó là bảo tàng ASVi tại Thuin. Các mạng lưới tàu điện tại Antwerp và Ghent cũng theo khổ mét.
Stoomcentrum Maldegem có một tuyến khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) nằm trên tuyến khổ tiêu chuẩn cũ tới Donk.
==== Croatia ====
Tại bán đảo Istria, tuyến đường sắt khổ hẹp được gọi là Parenzana, còn gọi là Trieste - Buje - Parenzo, từ Trieste Italia - trough Capodistria - Koper Slovenia - tới Parenzo - Poreč Croatia (đã bị tháo dỡ) ở lãnh thổ Italia cũ.
==== Cộng hoà Séc ====
Nhiều tuyến đường đã được xây dựng ở thế kỷ 19. Các tuyến đáng chú ý nhất là Obrataň-Jindřichův Hradec-Nová Bystřice và Třemešná ve Slezsku-Osoblaha, chúng vẫn đang hoạt động.
==== Estonia ====
Các tuyến bảo tồn và một số đường ray công nghiệp than bùn vẫn còn tại Estonia. Bảo tàng đường sắt Lavassaare có một bộ sưu tập lớn các đầu máy hơi nước và diesel với một tuyến đường sắt dài 2 km khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in). Có một bảo tàng với một tuyến khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in), dài 500 m tại Avinurme với một đầu máy xe lửa và một bộ sưu tập các toa xe. Một bảo tàng ngầm dưới đất với một tuyến tàu điện ngắn nằm ở Kiviõli tại vùng công nghiệp Đông bắc Estonia. Một tuyến đường quân sự cũ khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in) nằm trên Đảo Naissaar ở phía bắc Estonia.
==== Phần Lan ====
Đại đa số các tuyến đường sắt khổ hẹp ở Phần Lan thuộc sở hữu và do các công ty tư nhân điều hành. Chỉ có một số ít tuyến đường sắt khổ hẹp kết nối trực tiếp với nhau, và những điểm trung chuyển cũng không tồn tại lâu. Các tuyến đường sắt chưa bao giờ hình hành nên một mạng lưới giao thông cấp vùng, mà chỉ tập trung vào việc duy trì các kết nối giữa mạng lưới đường sắt khổ rộng quốc gia và các ngành công nghiệp. Một trong những công ty vận tải đường sắt lâu đời nhất là Lovisa-Wesijärvi railway (1900–1960) điều hành một tuyến dài 80 km (50 mi) giữa Lahti và Loviisa. Các công ty đáng chú ý khác là Hyvinkää–Karkkila railway điều hành một tuyến dài 46 km (29 mi), và Jokioinen railway điều hành một tuyến dài 23 km (14,3 mi) cho tới năm 1974, là hãng vận tải đường sắt khổ hẹp cuối cùng.
Các tuyến khác rất ngắn. Các khổ phổ thông là 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) và 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in), với một ít tuyến đường khổ 785 mm (2 ft 6 9⁄10 in) và 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in).
Các tuyến đường sắt khổ hẹp dành cho du lịch và di sản với khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) và 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in) vẫn đang hoạt động.
==== Pháp ====
Công ty Đường sắt Quốc gia Pháp từng sử dụng rất nhiều tuyến khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in), một số trong số đó hoạt động chủ yếu tại các vùng du lịch, như St Gervais-Vallorcine (Alps) và "Train jaune" (tàu vàng) tại Pyrenees. Định hướng ban đầu của Pháp là mọi đơn vị hành chính dưới cấp quận đều phải được kết nối đường sắt. Các tuyến đường khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) dày đặc cũng đã được xây dựng cho ngành công nghiệp củ cải đường ở phía bắc thường sử dụng thiết bị quân sự cũ sau Thế chiến I. Decauville là một nhà sản xuất thiết bị đường sắt công nghiệp khổ hẹp nổi tiếng của Pháp và đã trang bị một trong những tuyến đường sắt khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) cấp vùng lớn nhất, Chemins de Fer du Calvados. Corsica có một mạng lưới đường sắt khổ hẹp gồm hai đường chạy dọc theo bờ biển, chúng được kết nối bởi một tuyến vượt đảo qua các vùng đất nhiều đồi núi. Petit train d'Artouste, một tuyến phục vụ du lịch tại Pyrenees, dùng khổ 500 mm (1 ft 7 3⁄4 in).
==== Đức ====
Một số tuyến đường khổ hẹp vẫn còn tồn tại, chủ yếu như hậu quả của việc thống nhất nước Đức, ở Đông Đức cũ nơi một số trong số chúng hình là một phần của hệ thống vận chuyển công cộng. Tuyến lớn nhất và vẫn sử dụng đầu kéo hơi nước là nhóm núi Harz với các tuyến theo khổ mét, Harzer Schmalspurbahnen. Các tuyến đáng chú ý khác là tuyến Zittau-Oybin-Jonsdorf ở Saxony, Mollibahn và Rügensche Kleinbahn trên Đảo Rügen trên bờ biển Baltic và tuyến Radebeul-Radeburg, Weisseritztalbahn ở ngoại ô Dresden. Dù hầu hết dựa vào công nghiệp du lịch, tại một số vùng chúng cũng cung cấp lượng công việc đáng kể bởi đầu máy hơi nước cần rất nhiều lao động.
Ở phần phía tây của Đức, Selfkantbahn (cạnh Heinsberg gần Aachen) và Brohltalbahn (Linz/Rhine) là những tuyến nổi tiếng nhất, cung cấp dịch vụ vào những ngày cuối tuần mùa hè.
==== Hy Lạp ====
Chiều dài mạng lưới đường sắt khổ hẹp của Hy Lạp khoảng 914 km. Trong số đó, khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) chiếm 892 km. Đây là mạng lưới nối các thành phố lớn của nước này. 22 km còn lại hình thành nên Diakofton-Kalavryta Rack Railway, với khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in). Mạng lưới đường sắt Hy Lạp đã gặp nhiều vấn đề thoái trào, từ việc từ bỏ toàn bộ tuyến (như Pyrgos Katakolon Railway) tới quản lý kém hiệu quả của công ty điều hành đường sắt công cộng Hy Lạp, OSE, dẫn tới chất lượng dịch vụ và toa xe kém). Hiện tại các công việc khôi phục lớn đang được tiến hành, dẫn tới một số phần của tuyến bị đóng cửa. Ngoài ra, việc tái khởi động một số tuyến đã bị đóng cửa ở nửa sau thế kỷ 20 cũng đã được lên kế hoạch, chủ yếu là tuyến Pyrgos-Katakolon và nhiều phần của tuyến miền tây Hy Lạp (quanh Agrinion và Messologgi). Một tuyến nhỏ khác sử dụng khổ hẹp 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) là tuyến Mt. Pelion, ban đầu từ Volos tới Milies. Hiện nhiều phần của tuyến hoạt động vào mùa hè, chủ yếu phục vụ các chuyến du ngoạn.
Cũng có một mạng lưới đường sắt theo khổ mét tại Thessaly. Nó hiện đã được thay thế bằng các đường đơn khổ tiêu chuẩn từ Volos tới Larissa và Palaiofarsalos tới Kalampaka. Tuy nhiên, những đường ray khổ hẹp cũ vẫn còn trong đoạn giữa Velestino và Palaiofarsalos qua Aerino, nhỏ thế các đoàn tàu phục vụ du ngoạn vẫn thỉnh thoảng dùng chúng.
Một mạng lưới đường theo khổ mét có tồn tại ở Attica, được điều hành bởi Attica Railways và sau này là SPAP. Tuyến chạy từ trung tâm Athens tới Kifissia với một nhánh từ Heraklion tới Lavrion, phục vụ cho các vùng ngoại ô và thị trấn trong vùng cũng như các mỏ đá mable Dionysos và khu mỏ Lavrion. Tuyến tới Kifissia đóng cửa năm 1938 và đã được mở cửa trở lại với khổ đường tiêu chuẩn trong những năm 1950s, do ISAP điều hành. Tuyến tới Lavrion đóng cửa năm 1957 vì các áp lực chính trị từ hành động vận động hành lang cho đường bộ. Các đoạn của tuyến Lavrion vẫn còn lại và có những kế hoạch mở cửa trở lại phần phía nam (Koropi-Lavrion) như một tuyến tàu điện ngoại ô với khổ đường tiêu chuẩn.
Việc phát triển các mỏ than non lộ thiên cho việc sản xuất điện đã dẫn tới việc xây dựng các mạng lưới đường sắt công nghiệp tại Ptolemais, Tây Macedonia khổ đường công nghiệp (900 mm/2 ft 11 1⁄2 in, được điện khí hoá) và Aliveri, Đảo Evoia (1.000 mm/3 ft 3 3⁄8 in). Những mạng lưới này không còn hoạt động nữa, bởi các mỏ than non mà chúng phục vụ đã cạn kiệt.
Đường sắt khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in) tại Diakofto-Kalavryta và khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) tại Volos-Milies (tuyến hiện hoạt động là Lechonia-Milies, bởi phần Volos-Lechonia đã bị bỏ) là tuyến đường sắt di sản. Tuy nhiên, mạng lưới đường khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) của Peloponnese, là một tuyến chở khách đông đúc, dù hiện không còn những đoàn tàu chở hàng nữa. Một dự án lớn đã khởi động xây dựng các tuyến 1.435 mm (4 ft 8 1⁄2 in) mới ở những phần đông đúc nhất của Peloponnese và để xây dựng lại những tuyến đường đã có tuổi thọ hàng thế kỷ ở những nơi khác. Các tuyến nhánh từ Asprohoma tới Messini và từ Pyrgos tới Katakolo đã được mở cửa trở lại cho dịch vụ hành khách vào tháng 9 và tháng 4 năm 2007 và tuyến từ Corinth tới Argos, Nafplio và Tripolis đã được mở cửa trở lại vào tháng 8 năm 2009.
I. Zartaloudis, D. Karatolos, D. Koutelidis, G. Nathenas, S. Fasoulas, A. Filippoupolitis, A. (1997). Οι Ελληνικοί Σιδηρόδρομοι (Đường sắt Hy Lạp) (bằng tiếng Greek). Μίλητος (Militos). ISBN 960-8460-07-7. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Đây là nguồn có nhiều thông tin và được phép duy nhất về lịch sử đường sắt Hy Lạp.
Simms, W.F. (1997). The railways of Greece. Wilfried F. Sims. ISBN 0-9528881-1-4. Có lịch sử tóm tắt, bản đồ đơn giản về các tuyến đường và danh sách đầy đủ về toa xe cho tới năm 1997.
Organ, J. (2006). Greece Narrow Gauge. Middleton Press. ISBN 1-904474-72-1.
==== Hungary ====
Vương quốc cũ có một mạng lưới đường sắt khổ hẹp dài hàng nghìn kilômét, đa phần trong số đó sử dụng khổ 760 mm (2 ft 5 7⁄8 in) hay 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in), được xây dựng trong khoảng từ năm 1870 tới năm 1920. Các chủ đất, khu mỏ, doanh nghiệp nông nghiệp và lâm nghiệp lập ra các đường nhánh riêng của mình mà, khi họ thống nhất vào các mạng đường sắt vùng, dần đóng một vai trò quan trọng trong việc vận tải hành khách vùng. Sau Hiệp ước Trianon một số tuyến đường sắt đã bị cắt ngang bởi các đường biên giới mới, nhiều tuyến ở lại bên trong lãnh thổ Romania, Tiệp Khắc và Nam Tư. Vì thiếu các tuyến đường bộ nguyên vẹn, sau Thế chiến II nhiều tuyến đường sắt khổ hẹp là phương tiện duy nhất thích hợp để đi lại. Năm 1968 chính phủ Cộng sản bắt đầu áp dụng một chính sách loại bỏ đường sắt khổ hẹp để nhường cho giao thông đường bộ. Các tuyến đường sắt chở hàng còn lại tiếp tục suy giảm cho tới năm 1990 khi một mạng lưới chắp vá các tuyến đường sắt dần bị kiểm soát bởi các công ty và các cơ sở quản lý lâm nghiệp cho mục đích du lịch. Công ty Đường sắt Nhà nước điều hành các tuyến đường khổ hẹp tại Nyíregyháza và Kecskemét đóng một vai trò trong việc vận tải cấp vùng cho tới tận tháng 12 năm 2009. Trẻ em trong độ tuổi từ 10 tới 14 được cung cấp các dịch vụ tại Children's Railway ở Budapest.
==== Ireland ====
Nhiều hệ thống đường khổ hẹp 3 ft (914 mm) đã từng tồn tại ở Ireland. TẠi County Donegal có một mạng lưới rộng, với hai công ty điều hành từ Derry – the Londonderry & Lough Swilly Railway (L&LSR) và County Donegal Railways (CDRJC). Nổi tiếng là West Clare Railway – tại County Clare, với đầu máy diesel trước khi đóng cửa. Cavan & Leitrim Railway (C&LR) hoạt động ở nơi hiện là khu vực biên giới của County Cavan và County Leitrim. Một số đường khổ hẹp nhỏ hơn cũng tồn tại ở County Antrim và cả ở County Cork – đáng chú ý là Cork Blackrock & Passage Railway.
Ngoài các địa điểm di sản, đường sắt khổ hẹp Ireland hiện tại chỉ tồn tại ở những khu vực đầm lầy của Midlands như một phần của mạng lưới đường sắt công nghiệp lớn Bord na Móna để vận chuyển than bùn được khai thác tới các trung tâm phân phối hay các nhà máy điện.
Xem thêm: Lịch sử vận tải đường sắt tại Ireland
==== Italia ====
Các tuyến đường sắt khổ hẹp tại Italia (hay đã từng có) chủ yếu được xây dựng theo khổ 950 mm (3 ft 1 3⁄8 in), với một số tuyến khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) và một số tuyến theo các khổ khác.
Tại Istria, tuyến đường sắt khổ hẹp được gọi là Parenzana được xây dựng từ Trieste - Capodistria hiện là Koper Slovenia - tới Parenzo hiện là Poreč Croatia (đã bị tháo dỡ). Tuyến Trieste-Opicina là một tuyến xe điện khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) với dây cáp kéo.
Tại Sardinia, một mạng lưới các tuyến đường khổ hẹp (950 mm/3 ft 1 3⁄8 in) đã được xây dựng, để bổ sung cho mạng lưới đường khổ tiêu chuẩn chính đã bao phủ các thành phố và bến cảng lớn. Các tuyến gồm:
Trong các tuyến vẫn còn lại, chỉ
vẫn hoạt động chở khách thường xuyên, được điều hành bởi Ferrovie della Sardegna (Railways of Sardinia). Các tuyến khác chỉ phục vụ du lịch ngắm cảnh được gọi là Trenino verde (tàu xanh nhỏ)
Tại Sicilia, Ferrovia Circumetnea (khổ 950 mm/3 ft 1 3⁄8 in) chạy quanh Núi Etna. Các tuyến khổ hẹp 950 mm (3 ft 1 3⁄8 in) khác thuộc sự điều hành của Ferrovie dello Stato nhưng hiện đã đóng cửa. Tuyến cuối cùng trong số đó Castelvetrano-Porto Empedocle, đóng cửa năm 1985.
Tại Trento chỉ các tuyến khổ hẹp 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) từ Trento tới Malè và Marilleva vẫn hoạt động dưới sự điều hành của Trentino Trasporti. Gần đây tuyến đã được nâng cấp và mở rộng tới Fucine.
Tại Bolzano-Bozen (Alto Adige/Nam Tyrol) có hai tuyến khổ hẹp 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in): tuyến Rittnerbahn, hay Ferrovia del Renon, một đường xe điện nông thôn rất đẹp và tuyến chở hàng tư nhân Laas-Lasa dẫn tới một hang đá mable, cũng dùng dây cáp kéo. Có hai mỏ du lịch sử dụng tàu khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in).
Giữa Napoli và Sorrento, quanh chân núi Vesuvius, công ty đường sắt Circumvesuviana điều hành dịch vụ trên các tuyến đường khổ 950 mm (3 ft 1 3⁄8 in).
Tại các vùng Puglia và Basilicata hiện có một số tuyến khổ 950 mm (3 ft 1 3⁄8 in) nối Bari, Potenza, Matera và Avigliano. Chúng thuộc sở hữu của Ferrovie Apulo Lucane.
Tại Calabria có tuyến Catanzaro Lido-Catanzaro-Cosenza 950 mm (3 ft 1 3⁄8 in), với một nhánh tới Camigliatello Silano, và hai tuyến từ Gioia Tauro. Tất cả đều thuộc sở hữu của Ferrovie della Calabria.
Tuyến Genova-Casella có khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in).
==== Đảo Man ====
Cả hai tuyến đường sắt chính tại Đảo Man đều có khổ 3 ft (914 mm). Đường sắt Hơi nước Đảo Man dẫn tới phía tây nam chủ yếu được điều hành như một tuyến du lịch nhưng Manx Electric Railway dẫn tới phía đông bắc là một tuyến hoạt động thương mại dù hoạt động của nó giống với một tuyến đường xe điện hơn là đường sắt. Snaefell Mountain Railway, đi lên đỉnh núi chính của hòn đảo có khổ 3 ft 6 in (1.067 mm); nó là Fell Incline Railway System đang hoạt động duy nhất trên thế giới.
==== Latvia ====
Có một tuyến đường công cộng, một tuyến bảo tàng và một số tuyến đường sắt công nghiệp than bùn.
Một tuyến đường sắt công cộng khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in) khoảng 30 km nối hai thị trấn Gulbene và Aluksne (hai chuyến mỗi ngày). Để biết thêm: http://www.banitis.lv.
Có một tuyến đường sắt bảo tàng tại Ventspils. Khổ là 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) và chiều dài cả tuyến theo hình tròn là 2 km. Các đầu máy là đầu máy hơi nước "Brigadelok" cũ. Từ năm 1918 tới tận đầu những năm 1960 chúng hoạt động thường xuyên từ Ventspils dọc bờ biển tới Mazirbe và tiếp tục đi tới Talsi và Stende.
Các công ty than bùn chủ yếu sử dụng khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in), nhưng cũng có các tuyến khổ 700 mm (2 ft 3 9⁄16 in) và 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in).
==== Litva ====
Vẫn còn 158.8 km đường hẹp khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in), dù chỉ 68.4 km trong số đó (với năm ga) được sử dụng thường xuyên, với 12 đầu máy. Chúng thuộc trong Registry of Immovable Cultural Heritage Sites của Litva. Cũng còn nhiều nhà máy than bùn, với các tuyến đường khổ hẹp tư nhân để vận chuyển than bùn từ mỏ về nhà máy.
==== Na Uy ====
Tại Na Uy, một số tuyến đường chính ở thế kỷ 19 được xây dựng theo khổ hẹp, 3 ft 6 in (1.067 mm), để tiết kiệm chi phí tại các khu vực núi non thưa dân cư. Nó gồm cả tuyến đường dài đầu tiên của Na Uy, Rørosbanen, nối Oslo với Trondheim, 1877. Một số tuyến cấp hai cũng dùng khổ này. Các tuyến đường này đã được xây dựng lại theo khổ tiêu chuẩn hay bị đóng cửa. Một số tuyến đường sắt tư nhân có khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in) và một tuyến khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in). Một số tuyến vẫn đường sử dụng một phần như các tuyến bảo tàng, đặc biệt là Thamshavnbanen, Urskog-Hølandsbanen và Setesdalsbanen. Tàu điện tại Trondheim, Gråkallbanen cũng dùng khổ hẹp.
==== Ba Lan ====
Có khàng trăm kilômét đường sắt khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in), 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in), 785 mm (2 ft 6 9⁄10 in), và 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) tại Ba Lan. Các tuyến đường theo khổ mét chủ yếu có ở vùng tây bắc đất nước tại Pomerania, trong khi các tuyến 785 mm (2 ft 6 9⁄10 in) chủ yếu ở vùng Thượng Silesia. Khổ 750 mm (2 ft 5 1⁄2 in) là khổ đường sắt hẹp đường dùng nhiều nhất; ví dụ, nó được dùng tại tuyến Rogów Narrow Gauge Railway (Rogowska Kolej Wąskotorowa). Một số tuyến khổ hẹp vẫn hoạt động vận tải thường xuyên (ví dụ các tuyến do SKPL, the Association of Local Railway Haulage điều hành) , trong khi các tuyến khác hoạt động như những điểm thu hút khách du lịch. Một trong những tuyến đẹp nhất trong số đó là tuyến khổ600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) (Żnińska Kolej Powiatowa) chạy từ Żnin qua Wenecja (tiếng Ba Lan Venice) và địa danh Biskupin nổi tiếng tới Gąsawa ở vùng Pałuki. Các truyền thống đường sắt của Pałuki có từ tháng 7 năm 1894 khi hai tuyến đầu tiên được khai trương.
Trong quá khức từng có các tuyến đường khổ 760 mm (2 ft 5 7⁄8 in), 800 mm (2 ft 7 1⁄2 in) và 900 mm (2 ft 11 1⁄2 in). Một tuyến giải trí khổ 900 mm (2 ft 11 1⁄2 in) dài 4.2 km vẫn hoạt động trong Amusement-Recreation Park ở Chorzów, Thượng Silesia. Một tuyến tương tự khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in), Kolejka Parkowa Maltanka, hoạt động tại Poznań. Một số tuyến đường sắt khổ hẹp của Ba Lan đã được những người tình nguyện duy trì; một tổ chức chuyên bảo tồn các tuyến đường sắt khổ hẹp là FPKW, Quỹ Đường sắt Khổ hẹp Ba Lan .
==== Bồ Đào Nha ====
Bồ Đào Nha có hàng trăm kilômét đường sắt khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in), gồm cả: Linha do Porto à Póvoa e Famalicão - Đã đóng cửa. Một số nền đường cũ hiện được sử dụng cho các toa xe của Oporto's Metropolitan. Linha de Guimarães - Đã đóng cửa đoạn giữa Guimarães và Fafe, đã được chuyển đổi thành một đường xe đạp. Phần còn lại hiện là đường khổ rộng. Linha do Tâmega. Linha do Corgo. Linha do Tua. Linha do Sabor. Linha do Vouga (đóng cửa tại Sernada do Vouga - Viseu, hoạt động tại Aveiro - Sernada do Vouga - Albergaria-a-Velha - Oliveira de Azeméis - Espinho). Linha do Dão.
Bốn tuyến phục vụ hành khách vẫn đang hoạt động.
Tuyến Tamega Line chạy giữa Livração và Amarante trong Quận Oporto và chạy gần sông Tâmega.
Tuyến Corgo chạy từ Regua, trên sông Douro tới Vila Real. Tuyến này trước kia chạy tới Chaves và đường vẫn được để nguyên năm 2008. có một Bảo tàng Đường sắt nhỏ tại Chaves.
Tuyến Tua Line chạy về phía bắc từ Tua tới Bragança và trước kia chạy tới Mirandela. Tuyến này ít được sử dụng nhất và có thể sẽ sớm bị đóng cửa nhưng ở thời điểm mùa xuân năm 2008 nó vẫn đang hoạt động. Tuyến bị đóng cửa tạm thời ngày 10 tháng 4 năm 2008 sau một vụ lở đất khiến một xe kiểm tra hạng nhẹ bị trật bánh gần ga Santa Luzia, và không biết khi nào nó sẽ được mở cửa trở lại.
Cuối cùng là một tuyến chạy từ Oporto tới tuyến chính Lisbon tại Espinho tới Sernada do Vouga và quay trở lại tuyến đó ở Aveiro, Linha do Vouga. Tuyến này có một bảo tàng tại Macinhata do Vouga trong khi các xưởng chính nằm tại Sernada do Vouga. Tuyến này có thể bị đóng cửa vào bất kỳ lúc nào.
===== Xem thêm =====
Vận tải Panama
=== châu Á ===
Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan và Sri Lanka được thừa hưởng rất nhiều khổ đường sắt, một số trong đó là khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in). Indian Railways đã thông qua Dự án đơn khổ, tìm cách chuyển đổi một cách có hệ thống hầu hết các tuyến đường khổ hẹp của họ về khổ 5 ft 6 in (1.676 mm).
==== Nam Á ====
Các tuyến đường sắt ở Đông Nam Á, gồm cả Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanma và Malaysia chủ yếu theo khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in). Dự án ASEAN Railway được đề xuất sẽ theo khổ tiêu chuẩn hay khổ đôi, sử dụng cả các mạng lưới đường sắt khổ mét và khổ tiêu chuẩn cấp vùng, nối Singapore ở mũi cực nam với Bán đảo Malay, qua vùng Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á Malaysia, Thái Lan, Lào và Việt Nam với mạng lưới đường sắt khổ tiêu chuẩn của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Các tuyến đường sắt của Indonesia chủ yếu theo khổ 1.067 mm (3 ft 6 in).
==== Trung Quốc ====
Một số mạng lưới đường sắt của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa theo khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in).
Nhiều tuyến đường sắt khổ hẹp có mặt tại Trung Quốc. Các tuyến đường sắt khổ mét tại Trung Quốc cũng phổ thông tại nhiều vùng trước năm 1949. Đường sắt Côn Minh-Hà Khẩu khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) (trước kia được gọi là Đường sắt Trung Quốc-Việt Nam) được Pháp xây dựng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tại Mãn Châu, ngành công nghiệp gỗ xẻ đã xây dựng các tuyến đường sắt khổ hẹp vào các khu rừng, chủ yếu theo khổ 2 ft 6 in (762 mm).
==== Hồng Kông ====
Tại Hồng Kông Kowloon-Canton Railway một phần sử dụng khổ 2 ft (610 mm) và một phần theo khổ 3 ft (914 mm) trong thời gian xây dựng năm 1910 nhưng đã rất nhanh chóng đổi theo khổ tiêu chuẩn. Sha Tau Kok Railway dùng khổ 2 ft (610 mm) trong hầu hết thời gian tồn tại của nó. Hong Kong Tramways nổi tiếng theo khổ 3 ft 6 in (1.067 mm), và mạng lưới metro của lãnh thổ này, MTR, chạy trên khổ 1432 mm ngoại trừ mạng lưới KCR khổ tiêu chuẩn hoạt động theo một hợp đồng.
==== Ấn Độ ====
Ấn Độ có một mạng lưới đáng kể các tuyến đường sắt khổ hẹp. Đa số chúng theo khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) hay khổ mét, tổng cộng có xấp xỉ 10,000 km đường. Có một số tuyến khổ 2 ft 6 in (762 mm), và một số dùng khổ 2 ft (610 mm); chúng được gọi là các tuyến "khổ hẹp" (trái ngược với "khổ mét") ở Ấn Độ.
Ở thời điểm 31 tháng 3 năm 2008, trong số 63,273 km đường sắt ở Ấn Độ, 9,442 km theo khổ mét, và 2,749 km theo khổ hẹp; số còn lại 51,082 km là các tuyến khổ rộng.
Năm 1999 Darjeeling Himalayan Railway khổ 2 ft (610 mm) đã được chính thức công nhận là một Địa điểm Di sản Thế giới của UNESCO. Nó chạy từ Siliguri tới Darjeeling thuộc bang Tây Bengal.
==== Indonesia ====
Indonesia có một số lượng lớn các tuyến đường khổ hẹp phục vụ công nghiệp, chủ yếu là mía đường ở Java. In recent years, sản xuất mía tại Java đã sụt giảm và các tuyến đường sắt hầu hết đã bị đóng cửa hay sử dụng cho du lịch.
Hầu hết các tuyến đường sắt đang hoạt động hiện nay ở Indonesia sử dụng khổ Cape 1.067 mm (3 ft 6 in).
==== Nhật Bản ====
Ngoại trừ các tuyến Shinkansen tốc độ cao và hiện đại cùng JR East Ou Main Line và [[Tazawako Line]], toàn bộ mạng lưới đường sắt của Japan Railways Group đều là khổ hẹp, được xây dựng theo kích thước 3 ft 6 in (1.067 mm). Một số công ty, như Kintetsu, Keisei Electric Railway, Keihin Electric Express Railway, Hankyu Railway, Toei Asakusa Line, Ginza Line của Tokyo Metro và Marunouchi line, sử dụng khổ tiêu chuẩn.
Mạng lưới Keio Electric Railway của Tokyo và tuyến metro Toei Shinjuku sử dụng khổ ngoại lệ 4 ft 6 in (1.372 mm). Khổ này cũng được dùng cho các tuyến xe điện Tokyo và Hakodate.
Có một số tuyến khổ kép cho phép các đoàn tàu Shinkansen chạy trên các nhánh khổ hẹp. Nhật Bản đã chấp nhận 2 ft 6 in (762 mm) là khổ tiêu chuẩn cho các tuyến đường công nghiệp, nhỏ và lâm nghiệp. Tuy nhiên, hầu hết các tuyến khổ hẹp đó đã bị bỏ và hiện chỉ còn bốn tuyến đang hoạt động.
==== Malaysia ====
Những hệ thống đường sắt cổ nhất của Malaysia hoàn toàn theo khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in), một tiêu chuẩn đã được chấp nhận từ thời chính phủ thuộc địa Anh xây dựng những tuyến đường sắt đầu tiên năm 1885.
Keretapi Tanah Melayu, công ty đường sắt chính trên Bán đảo Malaysia, sử dụng khổ mét cho các tuyến liên thành phố chính trên bờ biển phía đông và phía tây, cũng như các tuyến đường sắt nối với Singapore, từ Johor-Singapore Causeway tới ga đường sắt Tanjong Pagar. Các tuyến khổ mét hiện có cũng được dùng cho KTM Komuter, dịch vụ đường sắt đô thị của nước này, nối Kuala Lumpur với các khu ngoại ô xung quanh. Tuy nhiên, khổ tiêu chuẩn được sử dụng bởi các công ty đường sắt nhẹ mới tại thành phố Kuala Lumpur (Putra LRT, Star LRT) cũng như Express Rail Link do tư nhân điều hành nối với sân bay.
Tại Sabah, North Borneo Railway ("Keretapi Negeri Sabah") điều hành một tuyến khổ mét từ Kota Kinabalu tới Tenom trong Crocker Ranges, qua Beaufort. Tàu hơi nước cũng được dùng trên tuyến đường này.
==== Philippines ====
Ngoại trừ các hệ thống Quá cảnh Đường sắt Nhẹ (LRT) và Quá cảnh Metro Đường sắt (MRT) tại Metro Manila, vốn đều được xây dựng theo khổ tiêu chuẩn quốc tế, Philippine National Railways ("PNR") sử dụng "Khổ Cape" với kích thước 3 ft 6 in (1.067 mm). PNR hiện điều hành chỉ một tuyến: từ Manila tới thành phố Legaspi phía nam Luzon. Cho tới những năm 1980 một mạng lưới lớn hơn đã tồn tại và đi xa tới tận San Fernando ở tỉnh La Union. Có những kế hoạch để khôi phục tuyến La Union và xây dựng các tuyến mới nối Manila với Batangas và sân bay quốc tế.
Cũng có một số tuyến đường sắt khổ hẹp công nghiệp sử dụng đầu máy hơi nước trong ngành công nghiệp mía đường. Chúng tập trung trên các hòn đảo Negros và Panay. Vùng Visayas là trung tâm chính của những tuyến đường sắt mía đường; như La Carlotta Milling tại Negros, chạy các đoàn tàu thuê bao phục vụ du lịch. Các tuyến đã bị bỏ có trên các hòn đảo Cebu, đã bị bỏ những năm 1950 hay 1960, Mindanao, và Panay, đóng cửa trong thập niên 1990. Có các kế hoạch để khôi phục tuyến Panay Rail nối thành phố Roxas với Iloilo.
==== Đài Loan ====
Đài Loan đã bắt đầu xây dựng đường sắt từ thời Nhà Thanh với khổ 3 ft 6 in (1.067 mm). Chính phủ thuộc địa Nhật Bản, cai trị từ năm 1895 tới năm 1945, tiếp tục sử dụng khổ 3 ft 6 in (1.067 mm). Hệ thống hiện thuộc quyền quản lý của Cơ quan Đường sắt Đài Loan. Hệ thống Quá cảnh Nhanh Đài Bắc mới và hệ thống metro đang được xây dựng ở Cao Hùng sử dụng khổ tiêu chuẩn. Taiwan High Speed Rail (HSR) bắt đầu hoạt động tháng 1 năm 2007 cũng sử dụng khổ tiêu chuẩn. Một tuyến khổ 2 ft 6 in (762 mm) tách biệt trên bờ biển phía đông đã được chuyển đổi khổ thành 3 ft 6 in (1.067 mm) khi tuyến này được nối với các tuyến khác. Alishan Forest Railway theo khổ hẹp 2 ft 6 in (762 mm).
Một tuyến khổ hẹp 2 ft 6 in (762 mm) Alishan Forest Railway dài 72 km và nối thành phố Chiayi với khu nghỉ dưỡng vùng núi Alishan. Tuyến này chủ yếu hoạt động như một điểm thu hút du khách và mang lại cho du khách những quang cảnh tuyệt đẹp.
Ngày 7 tháng 9 năm 2006, chính phủ Đài Loan tuyên bố một kế hoạch nâng cấp lên hệ thống đường sắt khổ tiêu chuẩn. Đây không phải lần đầu tiên kế hoạch này được đưa ra. Trên thực tế, một số cơ sở đã được phép chuyển đổi theo khổ tiêu chuẩn như các đường hầm ngầm được xây dựng từ cuối những năm 1980. Nhiều chuyên gia chỉ trích đề xuất như một sự lãng phí nếu không phải là không thể thực hiện bởi mọi đầu máy, toa hành khách và chở hàng đều phải được quy về theo khổ tiêu chuẩn.
==== Việt Nam ====
==== Trung Đông ====
Cho tới năm 1932 có một đoàn tàu khổ hẹp chạy từ Cairo tới Palestine, Liban, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, BA Tư (sau này là Iran) và Iraq. Tuyến đường và các ga chủ yếu là các địa điểm du lịch, với một số đoạn đã được sửa chữa và hoạt động như những điểm thu hút du khách. Đoàn tàu nổi tiếng vì tốc độ chậm, và không thể chạy lên đồi.
=== châu Phi ===
Các tuyến đường sắt khổ hẹp rất phổ biến ở châu Phi, nơi những khoảng cách xa xôi, những địa thế khó khăn và nguồn vốn thấp khiến các tuyến khổ hẹp trở nên hấp dẫn hơn. Nhiều quốc gia, đặc biệt ở miền nam châu Phi, gồm cả mạng lưới South African Railway rộng lớn (Spoornet), sử dụng khổ 3 ft 6 in (1.067 mm). Khổ mét cũng phổ thông, như trong trường hợp của Uganda Railway. Có những mạng lưới đường sắt khổ 2 ft (610 mm) và 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) rộng lớn tại các quốc gia như Maroc, Congo, Angola, Namibia và Nam Phi, nhưng chúng hầu hết đã bị dỡ bỏ. Một số tuyến vẫn còn lại ở Ai Cập.
Bởi châu Phi được phân chia thành nhiều quốc gia, việc xây dựng đường sắt bởi các chính phủ khác nhau thường không kết nối với nhau, mỗi tuyến của mỗi nước nối vùng đất riêng của họ với các cảng riêng của họ. Vì thế có nhiều các khổ đường không tương thích với nhau. Ví dụ một tuyến đường nối từ Nigeria tới Cameroon đòi hỏi việc kết nối khổ 3 ft 6 in (1.067 mm) với khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in).
Các tuyến đường sắt của Nam Phi và nhiều quốc gia châu Phi, gồm cả Angola, Botswana, Congo, Ghana, Mozambique, Namibia, Nigeria, Sudan, Zambia và Zimbabwe, sử dụng khổ 1.067 mm (3 ft 6 in), thỉnh thoảng được gọi là khổ Cape. Kenya, Uganda và các nước khác sử dụng khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in). Tại Tanzania các tuyến của East African Railways trước kia theo khổ mét trong khi tuyến TAZARA dùng khổ 3 ft 6 in (1.067 mm)
Trong thời Anh thực dân hoá châu Phi, Cecil Rhodes ủng hộ việc xây dựng một tuyến đường sắt Cape tới Cairo, nối toàn bộ khu vực của Anh dọc theo rìa phía đông châu Phi giữa Nam Phi và Ai Cập. Trong khi hầu hết các quốc gia mà tuyến đường sắt đó sẽ chạy qua sử dụng các tuyến khổ cape, Tanzania và Kenya có các tuyến khổ mét, dù tuyến TAZARA tại Tanzania theo khổ cape.
==== Eritrea ====
Xa hơn về phía bắc, Eritrean Railway đang trong quá trình khôi phục lại tuyến đường khổ hẹp 950 mm (3 ft 1 3⁄8 in) của họ, một tàn tích từ những ngày thuộc địa Italia cũ đã bị bỏ hoang và bị hư hại nặng nề trong cuộc chiến tranh giành độc lập của Eritrea. Các tuyến đường sắt lân cận là tuyến khổ 3 ft 6 in (1.067 mm) tại Sudan và tuyến khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) tại Ethiopia.
==== Cameroon ====
Trong Thế chiến I khi Cameroon là một thuộc địa của Đức, một mạng lưới đường sắt Feldbahn khổ 2 ft (610 mm) đã được xây dựng. Chúng cuối cùng được mở rộng lên khoảng 150 km đường phục vụ cho ngành cao su và dầu cọ.
Khổ 1.000 mm (3 ft 3 3⁄8 in) hiện được sử dụng.
==== Maroc ====
Maroc từ năm 1912 tới năm 1935 có một trong những mạng lưới đường sắt khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) lớn nhất châu Phi với tổng chiều dài hơn 1700 kilômét. Sau hiệp ước Algeciras theo đó các đại diện của các Cường quốc đồng ý không xây dựng bất kỳ tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn nào tại Maroc cho tới khi tuyến đường khổ tiêu chuẩn Tangier - Fez được hoàn thành, người Pháp đã bắt đầu xây dựng các tuyến đường sắt quân sự khổ 600 mm (1 ft 11 5⁄8 in) trong phần Maroc của họ Maroc thuộc Pháp.
==== Nam Phi ====
Khổ tiêu chuẩn ban đầu, các tuyến đường của Cape Colony khi ấy đã chuyển theo khổ hẹp 3 ft 6 in (1.067 mm), thỉnh thoảng được gọi là khổ Cape, vì các lý do chi phí. Tuy nhiên, với sự phát triển một nền kinh tế mạnh, với nhu cầu vận tải than và quặng sắt xuất khẩu lớn, và việc điện khí hoá hầu hết các tuyến đường sắt, Nam Phi, như Queensland, sử dụng nhiều đoàn tàu khổ hẹp với khả năng vượtg hơn hẳn mọi đoàn tàu khổ tiêu chuẩn (ngoại trừ Trung Quốc) và khổ lớn. Trên thực tế, trong năm 1989 tuyến Sishen-Saldanha đã lập một kỷ lục thế giới khi mang đoàn tàu lớn nhất trong lịch sử, dài 7.2 km với 660 toa được kéo bởi 15 đầu máy với trọng lượng 71,232 tấn. Tuy nhiên, tuyến đường Gautrain được đề xuất giữa Johannesburg và Pretoria sẽ sử dụng khổ tiêu chuẩn, và vì thế sẽ không thể sử dụng bất kỳ mạng lưới đường sắt hiện có nào của quốc gia.
Avontuur Railway hoạt động giữa Port Elizabeth và Avontuur ở Nam Phi. Đây là tuyến đường khổ 610 mm (2 ft) dài nhất thế giới với chiều dài 285 km. Nó được điều hành bởi công ty đường sắt Nam Phi Spoornet. Tuyến này hiện được gọi là Apple Express.
=== Châu Đại Dương ===
==== Australia ====
Queensland, Tasmania, Tây Australia và nhiều phần của Nam Australia đã chấp nhận khổ 1.067 mm (3 ft 6 in) để bao phủ những khoảng cách lớn với chi phí thấp. Hầu hết các tuyến đường sắt công nghiệp được xây dựng theo khổ 610 mm (2 ft) . Ba khổ đường sắt khác nhau hiện được sử dụng rộng rãi tại Australia, và ít có tương lai về một sự tiêu chuẩn hoá toàn bộ.
Trước năm 1901, mỗi trong sáu thuộc địa của Anh chịu trách nhiệm về cơ sở hạ tầng vận tải đường sắt. Queensland, Tây Australia, và Tasmania xây dựng các tuyến đường khổ hẹp. Các thuộc địa khác xây dựng theo hoặc khổ tiêu chuẩn hoặc khổ rộng, chỉ duy trì các tuyến khổ hẹp hạn chế, ngoại trừ Nam Australia, xây dựng đường khổ hẹp và khổ rộng. Vì việc này, các tuyến đường sắt Australia là một sự pha trộn giữa ba khổ.
Năm 1865, Queensland Railways là tuyến khổ hẹp chính đầu tiên của thế giới . Tuyến đường ray của nó cuối cùng mở rộng tới khoảng 9000 km. Queensland Rail điều hành QR Tilt Train, với tốc độ tối thiểu 165 km/h. Đoàn tàu này hiện giữ kỷ lục tốc độ đường sắt của Australia với tốc độ 210.7 km/h. Queensland cũng có một mạng lưới rộng các tuyến xe điện cẩu mía khổ 2 ft (610 mm).
Sau thành công của tuyến đường khổ hẹp tại Queensland, nhiều đường khổ hẹp đã được xây dựng ở Đông Nam Australia. Từ thập niên 1920 trở về sau nhiều tuyến trong số đó đã được chuyển đổi thành khổ rộng.
Có cảm hứng từ thành công của đường sắt khổ hẹp tại Queensland, Tây Australia cũng dùng khổ đó. Cho tới khi đóng cửa vào năm 1958 Perth có mạng lưới tàu điện khổ hẹp duy nhất ở bất kỳ mức độ đáng kể nào tại lục địa Australia.
Lãnh thổ phía Bắc chấp nhận khổ hẹp khi nó vẫn là một phần của Nam Australia, và một tuyến xuyên lục địa Bắc-Nam đã được đặt kế hoạch từ Adelaide tới Darwin trong những năm 1870. Bởi tuyến đường này không bao giờ được hoàn thành, và bởi sự hư hại do lũ gây ra cũng như việc thiếu cầu, tuyến khổ hẹp đã bị đóng cửa.
Bốn tuyến chở hàng thông thường tại Victoria đã được xây dựng theo khổ hẹp tiêu chuẩn 2 ft 6 in (762 mm), để phục vụ các cộng đồng nông nghiệp và lâm nghiệp địa phương. Các đoạn của hai tuyến (Belgrave tới Gembrook và Thomson tới Walhalla) đã được khôi phục thành các tuyến du lịch.
==== New Zealand ====
New Zealand đã chấp nhận khổ hẹp 1.067 mm (3 ft 6 in) (khổ cape) bởi nhu cầu vượt những vùng đất có địa hình đồi núi trong nội địa đất nước. Địa hình này đòi hỏi một số kỳ công kỹ thuật phức tạp, đáng chú ý là Raurimu Spiral. Có 1787 cây cầu và 150 đường hầm với chưa tới 4,000 km đường. Khoảng 500 km của tuyến này được điện khí hoá, trên North Island Main Trunk, giữa Palmerston North và Hamilton.
Giống như Australia, ban đầu không có sự thống nhất khổ đường sắt ở New Zealand. Điều này bởi việc xây dựng các tuyến đường sắt được thực hiện bởi nhiều tỉnh của New Zealand chứ không phải chính phủ trung ương. Canterbury Provincial Railways khai trương tuyến đường sắt đầu tiên của New Zealand năm 1863 và đã sử dụng khổ lớn 1.600 mm (5 ft 3 in), trong khi Southland xây dựng tuyến Bluff và Kingston Branch theo 1.435 mm (4 ft 8 1⁄2 in), và các đoạn ngắn theo 1.435 mm (4 ft 8 1⁄2 in) cũng đã được xây dựng tại Auckland và các Vùng Bắc. Cuối cùng, theo các mô hình công trình công cộng của Thủ tướng Julius Vogel, các tuyến đường sắt của New Zealand đã được thống nhất theo khổ 1.067 mm (3 ft 6 in). Tuyến đường sắt khổ 1.067 mm (3 ft 6 in) đầu tiên tại New Zealand là Dunedin and Port Chalmers Railway, mở cửa ngày 1 tháng 1 năm 1873. Ngày nay mạng lưới nối hầu hết các thành phố lớn của New Zealand cities, và có chiều dài khoảng 4,000 km.
== Xem thêm ==
Đường sắt khổ tiêu chuẩn
== Tham khảo ==
Bản mẫu:Rail gauges |
giải bóng đá vô địch quốc gia 2011.txt | Giải bóng đá vô địch quốc gia 2011, có tên chính thức là Giải bóng đá vô địch quốc gia - Eximbank 2011 hay Eximbank V-League 2011, diễn ra từ 22 tháng 1 đến 21 tháng 8 năm 2011. Giải đấu bóng đá chuyên nghiệp thứ 11 và được coi là bước ngoặt khi các câu lạc bộ tham dự phải đạt các tiêu chuẩn chuyên nghiệp về các vấn đề tài chính, cơ sở vật chất sân bãi, chiếu sáng... Đây cũng là giải đấu đầu tiên trong hợp đồng tài trợ 3 mùa giải của Eximbank. Giải đấu gồm 14 câu lạc bộ tham gia, gồm hai lượt trận đi và về.
Đến ngày 31 tháng 7 năm 2011, khi Kienlongbank Kiên Giang chuyển thành câu lạc bộ chuyên nghiệp, Giải hạng Nhất có 10 câu lạc bộ chuyên nghiệp, quyết định số đội hạng chuyên nghiệp xuống hạng là hai và không có trận đấu play-off giành quyền chơi ở hạng chuyên nghiệp năm sau nữa .
== Thay đổi trước mùa giải ==
Danh sách các đội bóng có sự thay đổi so với mùa giải 2010:
Từ đầu giải, Câu lạc bộ Lam Sơn Thanh Hoá đổi tên thành Câu lạc bộ Thanh Hoá .
Do yêu cầu về sân có chiếu sáng, Câu lạc bộ Đồng Tháp phải chọn sân Long Xuyên (An Giang) làm sân nhà trong những vòng đấu đầu tiên cho đến khi sân Cao Lãnh (Đồng Tháp) hoàn thiện dàn đèn chiếu sáng .
== Các đội bóng ==
=== Thành tích ===
=== Thay đổi huấn luyện viên ===
== Bảng xếp hạng ==
=== Vị trí các đội sau mỗi vòng đấu ===
Cập nhật lần cuối: ngày 21 tháng 8 năm 2011
Nguồn: vff.org.vn VFF
== Lịch thi đấu và kết quả ==
Nguồn: Eximbank V-League
1 ^ Đội chủ nhà được liệt kê ở cột bên tay trái.Màu sắc: Xanh = Chủ nhà thắng; Vàng = Hòa; Đỏ = Đội khách thắng.
== Các giải thưởng ==
=== Giải thưởng tháng ===
== Thống kê ==
=== Kỉ lục ===
Sau khi Nam Định xuống hạng, Sông Lam Nghệ An là câu lạc bộ duy nhất tham dự đủ cả 11 Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (từ thời kì chuyên nghiệp)
Trận thắng đậm nhất: cách biệt 6 bàn
Hà Nội T&T thắng TĐCS Đồng Tháp 7–1, vòng 22, ngày 16 tháng 7 năm 2011
Trận đấu nhiều bàn thắng nhất: 8 bàn
Hà Nội T&T thắng Hoàng Anh Gia Lai 6–2, vòng 19, ngày 11 tháng 6 năm 2011
Sông Lam Nghệ An thắng TĐCS Đồng Tháp 6–2, vòng 19, ngày 12 tháng 6 năm 2011
Hà Nội T&T thắng TĐCS Đồng Tháp 7–1, vòng 22, ngày 16 tháng 7 năm 2011
=== Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng ===
=== Cầu thủ đá phản lưới nhà ===
Hà Nội ACB: Hassan Sesay (14- đá phản lưới nhà trong trận HN ACB-Hà Nội T&T, vòng 2); Lê Hoàng Phát Thierry (71-đá phản lưới nhà trong trận gặp Hà Nội T&T vòng 16)
Sông Lam Nghệ An: Nguyễn Thanh Hải (18- đá phản lưới nhà trong trận SLNA- Vicem Hải Phòng, vòng 2); Nguyễn Huy Hoàng (3-đá phản lưới nhà trong trận SLNA – Navibank SG, vòng 23)
Hoàng Anh Gia lai: Benjamin M.Dzigba (6-đá phản lưới nhà trong trận HN.ACB- HAGL, vòng 3)
SHB Đà Nẵng: Egware E.Eloh (38- đá phản lưới nhà trong trận SHB Đà Nẵng – Hà Nội ACB, vòng 5)
Hòa Phát HN: Phạm Minh Đức (6- đá phản lưới nhà trong trận Hòa Phát HN- Vicem Hải Phòng, vòng 9)
Khatoco Khánh Hòa: Trần Duy Quang (68-đá phản lưới nhà trong trận Khatoco K.Hòa – Vicem H.Phòng, vòng 15).
== Sự kiện xảy ra sau giải đấu ==
Sau giải đấu, do quá thất vọng về công tác trọng tài nói riêng, đỉnh điểm là trận đấu bị trọng tài Trần Công Trọng xử ép thua Hải Phòng 1-2 ở vòng 23, cũng như công tác tổ chức nói chung của giải đấu, tập đoàn Hòa Phát tuyên bố không tài trợ cho đội bóng Hòa Phát Hà Nội nữa. Điều này đồng nghĩa với việc Hoà Phát Hà Nội bị xoá tên. Câu lạc bộ sẽ bị sáp nhập với Hà Nội ACB. Do Hà Nội ACB đã bị xuống hạng, họ sẽ lấy lại suất của Hoà Phát Hà Nội để tham dự V-League mùa giải 2012.
Tại buổi lễ tổng kết giải được tổ chức vào ngày 8 tháng 9, sau những bản báo cáo, bản tổng kết của ban tổ chức được coi là "vô thưởng vô phạt", "năm nào cũng như năm nào", chủ tịch câu lạc bộ Hà Nội ACB Nguyễn Đức Kiên đã lên phát biểu, nêu ra những thực trạng của bóng đá Việt Nam nói chung và giải đấu nói riêng, bày tỏ những bức xúc của mình. Ông tuyên bố: ""Các anh (Ban tổ chức) nghĩ chúng tôi là trẻ con lớp 1, lớp 2 hay sao mà đưa ra một bản tổng kết như vậy". Ông cho rằng Báo cáo của Ban tổ chức 10 năm không có thay đổi gì. Bản quyền truyền hình Liên đoàn bóng đá ký với thời hạn lên tới 20 năm mà không thông qua trước các câu lạc bộ. Về vấn đề trọng tài, ông Kiên nhận xét: "Trọng tài giờ tiêu cực hơn, tinh vi hơn, thủ đoạn hơn mùa giải 2005 rất nhiều". Liên đoàn bóng đá thì bao che, "VFF hiện nay bao cấp hơn mọi thời kỳ bao cấp khác. bộ máy phình to, chức năng, nhiệm vụ nói là rõ ràng lắm nhưng chẳng ai làm đúng và đủ chức năng của mình". Ông cho rằng cần có sự thay đổi tận gốc "từ quy chế, đến tổ chức vận hành CLB và cả những điều nhỏ nhất"..
Tiếp lời "bầu" Kiên, Phó chủ tịch Liên đoàn bóng đá (VFF) Lê Hùng Dũng thừa nhận công tác chỉ đạo kém. Ông cũng rất bức xúc về trọng tài. Ông đề nghị phải cải tổ mạnh mẽ Hội đồng trọng tài quốc gia. Ông cho rằng nếu ban tổ chức không cải tổ, thay đổi các vấn đề tồn tại thì Ngân hàng Eximbank sẽ rút lui, không tài trợ cho V-League mùa giải 2012 nữa. Vấn đề cần cải tổ trước tiên chính là công tác trọng tài . Cá nhân ông cho rằng cần phải thay trưởng ban tổ chức giải Dương Nghiệp Khôi và Chủ tịch hội đồng trọng tài Nguyễn Văn Mùi, hai ông này nên nghỉ.
Để đáp lời "bầu" Kiên, sau cuộc họp ban chấp hành VFF vào hôm sau, Phó chủ tịch VFF Nguyễn Lân Trung khẳng định VFF sẽ làm rõ biểu hiện tiêu cực được nhắc đến. Trong số những tuyên bố gây "sốc" mà ông Kiên đưa ra, thông tin Hòa Phát Hà Nội từng được đặt vấn đề chi 500 triệu cho trọng tài ngay trước trận đấu vòng 25, ông Trung khẳng định đã đề nghị cơ quan chức năng làm rõ. Liên quan đến những phát biểu về việc có 6-7 câu lạc bộ muốn rút lui khỏi giải V-League, ông Trung cho rằng đó chỉ là ý kiến của cá nhân ông Kiên, không đại diện cho các đội bóng. Ngoài ra, Ban chấp hành chưa bàn đến vấn đề nhân sự . Dưới tác động những phát biểu của ông Kiên, hai trọng tài Trần Công Trọng và Nguyễn Văn Quyết, thay vì bị treo còi một mùa giải, đã bị lãnh đạo VFF treo còi vĩnh viễn.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Cúp bóng đá Việt Nam 2011
Giải bóng đá hạng nhất quốc gia 2011
Siêu cúp bóng đá Việt Nam 2010
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Công ty Cổ phần Bóng đá Chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) (tiếng Việt)
Trang chủ Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) (tiếng Việt)
Trang chủ flashscore.pl (tiếng Ba Lan) |
cornwall.txt | Cornwall ( /ˈkɔrnwɔːl/ hay /ˈkɔrnwəl/; tiếng Cornwall: Kernow, [ˈkɛɹnɔʊ]) là một hạt nghi lễ của Anh, thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Cornwall giáp biển Celtic về phía tây và bắc, giáp eo biển Manche về phía nam, và giáp hạt Devon về phía đông, với biên giới là sông Tamar. Cornwall có dân số 534.300 và diện tích 3.563 km2 (1.376 sq mi). Trung tâm hành chính, và "City" duy nhất tại Cornwall, là Truro, cho dù thị trấn Falmouth là xã (civil parish) có dân số lớn nhất và chùm đô thị Camborne, Pool và Redruth có tổng dân số lớn nhất.
Cornwall là phần cực tây của bán đảo Tây Nam tại đảo Anh. Hạt này có dân định cư từ thời kỳ đồ đá cũ và thời kỳ đồ đá giữa, tiếp diễn đến thời kỳ đồ đồng. Người Briton đến Cornwall vào thời kỳ đồ sắt.
Cornwall là quê hương của người Cornwall và cũng được coi là một trong sáu quốc gia Celt. Tình trạng của Cornwall trong tương lai đang bị tranh cãi và cư dân ở đây đòi hỏi một chính phủ có nhiều quyền tự trị hơn cho Cornwall.
== Địa lý ==
Cornwall nằm trên một bán đảo tại miền tây nam đảo Anh, và do đó hứng toàn bộ gió thổi từ Đại Tây Dương. Vùng duyên hải chủng yếu là những bải đá, và nhiều nơi có những vách đá rất ấn tượng. Cornwall chỉ giáp với một hạt khác, Devon, với biên giới được tạo nên bởi sông Tamar và (về phía bắc) thung lũng Marsland.
=== Vùng duyên hải ===
Bờ biển bắc và nam có những đặc điểm khác nhau. Bờ bắc hướng ra biển Celtic, với thiên nhiên hoang dã hơn. High Cliff, nằm giữa Boscastle và St Gennys, là vách đá dốc đứng cao nhất tại Cornwall, cao 223 mét (732 ft). Tuy nhiên, cũng có nhiều bãi biển cát vàng quan trọng cho nền công nghiệp du lịch, như tại Bude, Polzeath, Watergate Bay, Perranporth, Porthtowan, Fistral Beach, Newquay, St Agnes, và St Ives. Trị trấn Newlyn là một điểm du lịch nổi tiếng, và là một trong những cảng cá truyền thống cuối cùng tại Cornwall.
Bờ nam, biệt danh "Riviera của Cornwall", có nhiều cửa sông lớn cho phép việc neo đậu tàu thuyền an toàn, như tại Falmouth và Fowey. Bờ biển tại đây thường là bờ cát hoặc đá cuội, rãi rác là những nơi nhiều đá.
== Kinh tế ==
Cornwall là một trong những khu vực nghèo nhất nước Anh tính theo GDP trên đầu người và thu nhập trung bình mỗi hộ. Cùng lúc đó, nhiều vùng của hạt này, nhất là dọc theo bờ biển, giá nhà rất cao, bởi vì những người về hưu giàu có hoặc những người có nhà thứ hai.
=== Du lịch ===
Du lịch ước tính đóng góp tới 24% tổng sản phẩm của Cornwall. Năm 2011 du lịch mang lại £ 1,85 tỷ cho nền kinh tế Cornwall. Văn hóa độc đáo, cảnh quan ngoạn mục và khí hậu ôn hòa của Cornwall làm cho nó thành một điểm đến du lịch nổi tiếng, mặc dù là hơi xa những trung tâm chính đông dân số của Vương quốc Anh. Được bao quanh ba mặt bởi Eo biển Manche và Biển Celtic, Cornwall có nhiều dặm bãi biển và những vách đá; đường mòn Bờ Tây Nam (South West Coast Path) theo sau một đường vòng hoàn chỉnh của cả hai bờ biển. Những nơi du lịch hấp dẫn khác bao gồm moorland, các vườn ở thôn quê, bảo tàng, di tích lịch sử và tiền sử, và thung lũng với cây cối rậm rạp. Năm triệu khách du lịch đến thăm Cornwall mỗi năm, chủ yếu từ trong Vương quốc Anh. Khách tới có thể dùng các sân bay tại Newquay và Exeter, trong khi máy bay phản lực tư nhân, hoặc chở khách du lịch và trực thăng cũng có thể dùng sân bay Perranporth; các tuyến đường sắt hàng ngày và có chỗ ngủ đêm chạy giữa Cornwall, London và các vùng khác của Vương quốc Anh. Cornwall có một nền kinh tế theo mùa dựa vào khách du lịch.
Newquay và Porthtowan là điểm đến phổ biến cho những người lướt sóng biển. Trong những năm gần đây, dự án Eden gần St Austell là một thành công tài chính lớn, lôi cuốn một phần tám khách du lịch Cornwall.
== Văn hóa ==
== Tham khảo == |
ophiuche conscitalis.txt | Hypena conscitalis là một loài bướm đêm trong họ Erebidae.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Dữ liệu liên quan tới Ophiuche conscitalis tại Wikispecies
Phương tiện liên quan tới Ophiuche conscitalis tại Wikimedia Commons |
bán đảo kii.txt | Bán đảo Kii 紀伊半島 (Kii Hantō, 紀伊半島) là bán đảo lớn nhất của đảo Honshū, Nhật Bản. Địa danh Kii xuất phát từ tỉnh Kii thời cổ đại.
Bán đảo Kii, nhất là khu vực Nanki (南紀, âm Hán Việt: "Nam Ký"), chịu ảnh hường của dòng hải lưu Kuroshio đưa nước ấm từ nhiệt đới lên nên nhiều mưa, có thể lên tới 5 mét (200 in) hằng năm. Trung bình ở Owase thì đo được 3,85 mét (150 in). Nước biển ấm cũng tạo môi trường cho san hô ở ven biển Kii. Ngược lại, vì có nguồn nước âm, bán đảo Kii khi có bão thì thường bị thiệt hại nhiều nhất.
Địa hình bán đảo Kii núi non, rừng ôn đới phủ kín. Vì vũ lượng cao nên đây cũng có nhiều thác nước. Sông ngòi thì chảy xiết nên không hợp cho việc trồng cấy. Kinh tế chủ yếu trông vào lâm nghiệp và ngư nghiệp.
== Tham khảo == |
cách mạng công nghiệp.txt | Cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất; là sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế-xã hội, văn hóa và kỹ thuật, xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới. Trong thời kỳ này, nền kinh tế giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng công nghiệp và chế tạo máy móc quy mô lớn. Tên gọi "Cách mạng công nghiệp" thường dùng để chỉ giai đoạn thứ nhất của nó diễn ra ở cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Giai đoạn hai hay còn gọi là Cách mạng công nghiệp lần thứ hai tiếp tục ngay sau đó từ nửa sau thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20.
Cuộc cách mạng bắt đầu với sự phát triển sản xuất hàng hóa của ngành công nghiệp dệt. Sau đó, với nhu cầu cung cấp máy móc và năng lượng cho công nghiệp dệt, các kỹ thuật gia công sắt thép được cải thiện và than đá sử dụng với khối lượng lớn. Thương mại mở rộng tạo điều kiện cho sự ra đời của kênh đào giao thông và đường sắt. Bên cạnh đó, đường giao thông được nâng cấp lớn cho hoạt động giao thương nhộn nhịp. Động cơ hơi nước sử dụng nhiên liệu than và máy móc dẫn động bằng cơ khí đã đưa đến gia tăng năng suất lao động đột biến. Sự phát triển các máy công cụ trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 19 tạo thuận lợi cho lĩnh vực chế tạo máy, phục vụ những ngành sản xuất khác.
Ý kiến về thời gian diễn ra cách mạng công nghiệp lần thứ nhất không thống nhất, nhưng nói chung là ở nửa cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19. Ảnh hưởng của nó diễn ra ở Tây Âu và Bắc Mỹ trong suốt thế kỷ 19 và sau đó là toàn thế giới. Tác động của cách mạng công nghiệp là vô cùng sâu rộng.
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai bắt đầu vào khoảng thập kỉ 1850, khi các tiến bộ kinh tế và kỹ thuật có được nhờ phát triển tàu hơi nước, đường sắt. Đến cuối thế kỷ 19, động lực của Cách mạng công nghiệp là động cơ đốt trong và máy móc sử dụng điện. Năm 1914 (năm bắt đầu Thế chiến thứ nhất), giai đoạn thứ hai này kết thúc.
Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba bắt đầu khoảng 1969, khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và số hoá vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990). Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao. Năm 1997, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nổ ra là bước đánh dấu giai đoạn thứ ba kết thúc.
Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư bắt đầu vào đầu thế kỉ 21, tiếp sau những thành tựu lớn từ lần thứ 3 để lại, được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số, với những công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo, IoT, S.M.A.C, công nghệ nano, sinh học, vật liệu mới... Hiện tại cả thế giới đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng này và là chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng thế giới và mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người.
== Điều kiện ra đời ==
=== Nguyên nhân ===
Vào thế kỉ 15, kinh tế hàng hóa ở Tây Âu đã khá phát triển, nhu cầu về thị trường tăng cao. Giai cấp tư sản Tây Âu muốn mở rộng thị trường sang phương Đông, mơ ước tới những nguồn vàng bạc từ phương Đông.
Tại Tây Âu, tầng lớp quý tộc cũng tăng lên, do đó nhu cầu về các mặt hàng đặc sản, cao cấp có nguồn gốc từ phương Đông như tiêu, quế, trầm hương, lụa tơ tằm (dâu tằm tơ), ngà voi... đã tăng vọt.
Trong khi đó, Con đường tơ lụa mà người phương Tây đã biết từ thời cổ đại lúc đó lại đang bị đế quốc Ottoman theo đạo Hồi chiếm giữ, đi qua chỉ có mất mạng, vì vậy chỉ có cách tìm một con đường đi mới trên biển.
Lúc đó người Tây Âu đã có nhiều người tin vào giả thuyết Trái Đất hình cầu. Họ cũng đã đóng được những con tàu buồm đáy nhọn, thành cao, có khả năng vượt đại dương, mỗi tàu lại đều có la bàn và thước phương vị, điều đó đã tăng thêm sự quyết tâm cho những thủy thủ dũng cảm.
=== Những cuộc phát kiến địa lý lớn thế kỉ 15-16 ===
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai nước đi đầu trong phong trào phát kiến địa lý. Năm 1415 một trường hàng hải do Hoàng tử Henrique sáng lập và bảo trợ. Từ đó, hàng năm người Bồ Đào Nha tổ chức những cuộc thám hiểm men theo bờ biển phía tây châu Phi,
Năm 1486, đoàn thám hiểm Bồ Đào Nha do Bartolomeu Dias chỉ huy đã tới được cực nam châu Phi, họ đặt tên mũi đất này là mũi Hy Vọng.
Năm 1497, Vasco da Gama đã dẫn đầu đoàn thám hiểm Bồ Đào Nha tới được Ấn Độ.
Người Tây Ban Nha lại đi tìm Ấn Độ theo hướng Mặt Trời lặn. Năm 1492, một đoàn thám hiểm do Cristoforo Colombo chỉ huy đã tới được quần đảo miền trung châu Mĩ, nhưng ông lại tưởng là đã tới được Ấn Độ. Ông gọi những người thổ dân ở đây là Indians. Sau này, một nhà hàng hải người Ý là Amerigo Vespucci mới phát hiện ra Ấn Độ của Colombo không phải là Ấn Độ mà là một vùng đất hoàn toàn mới đối với người châu Âu. Amerigo đã viết một cuốn sách để chứng minh điều đó. Vùng đất mới đó sau này mang tên America. Thật đáng tiếc cho Colombo.
Năm 1519-1522, Ferdinand Magellan đã dẫn đầu đoàn thám hiểm Tây Ban Nha lần đầu tiên đi vòng quanh thế giới. Một hạm đội gồm 5 tàu với 265 người đã vượt Đại Tây Dương tới bờ biển phía đông của Nam Mĩ. Họ đã đi theo một eo biển hẹp gần cực nam châu Mĩ và sang được một đại dương mênh mông ở phía bên kia. Suốt quá trình vượt đại dương mênh mông đó, đoàn tàu buồm của Magellan hầu như không gặp một cơn bão đáng kể nào. Ông đặt tên cho đại dương mới đó là Thái Bình Dương. Magellan đã thiệt mạng ở Philippines do trúng tên độc của thổ dân. Đoàn thám hiểm của ông cũng chỉ có 18 người sống sót trở về được tới quê hương. 247 người thiệt mạng trên tất cả các vùng biển và các hòn đảo trên thế giới vì những nguyên nhân khác nhau. Những thành công lớn nhất mà chuyến đi đạt được là lần đầu tiên con người đã đi vòng quanh thế giới.
=== Tác dụng của những cuộc phát kiến địa lý ===
Các nhà thám hiểm bằng những chuyến đi thực tế đầy dũng cảm của mình đã chứng minh cho giả thuyết Trái Đất hình cầu. Họ còn cung cấp cho các nhà khoa học rất nhiều hiểu biết mới về địa lý, thiên văn, hàng hải, sinh vật học...
Sau những cuộc phát kiến này, một sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa trên thế giới diễn ra do các cá nhân có nguồn gốc văn hóa khác nhau như các giáo sĩ, nhà buôn, những người khai phá vùng đất mới, những quân nhân...
Một làn sóng di cư lớn trên thế giới trong thế kỉ 16-18 với những dòng người châu Âu di chuyển sang châu Mĩ, châu Úc. Nhiều nô lệ da đen cũng bị cưỡng bức rời khỏi quê hương xứ sở sang châu Mĩ.
Hoạt động buôn bán trên thế giới trở nên sôi nổi, nhiều công ty buôn bán tầm cỡ quốc tế được thành lập.
Những cuộc phát kiến địa lý này cũng gây ra không ít hậu quả tiêu cực như nạn cướp bóc thuộc địa, buôn bán nô lệ da đen và sau này là chế độ thực dân.
=== Thắng lợi của phong trào cách mạng tư sản (thế kỉ 16-18) ===
Sự phát triển của thị trường trên quy mô toàn thế giới đã tác động tới sự phát triển của nhiều quốc gia, trước hết là các nước bên bờ Đại Tây Dương, sự thay đổi về mặt chế độ xã hội sẽ diễn ra là điều tất yếu. Giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh về mặt kinh tế nhưng họ chưa có địa vị chính trị tương xứng, chế độ chính trị đương thời ngày càng cản trở cách làm ăn của họ. Thế kỉ 16-18 đã diễn ra nhiều cuộc cách mạng tư sản ở Tây Âu và Bắc Mỹ.
Bước chuyển đó đã được thực hiện qua hàng loạt những cuộc cách mạng tư sản như: Cách mạng tư sản Hà Lan (1566-1572), Cách mạng tư sản Anh (1640-1689), Chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ (1775-1783), Cách mạng tư sản Pháp (1789-1799)...
Các cuộc biến động xã hội đó tuy cách xa nhau về không gian, thời gian cũng cách xa nhau hàng thế kỉ nhưng đều có những nét giống nhau là nhằm lật đổ chế độ lạc hậu đương thời, tạo điều kiện cho kinh tế tư bản phát triển. Với sự thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản và sự ra đời của các quốc gia tư bản, công nghiệp thương nghiệp đã có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Lịch sử nhân loại đang bước sang một giai đoạn văn minh mới.
== Cuộc Cách mạng công nghiệp ==
Tiêu biểu là cuộc cách mạng công nghiệp Anh.
=== Điều kiện ra đời Cách mạng công nghiệp ở Anh ===
Về tự nhiên, Anh có nhiều mỏ than, sắt và các mỏ này lại nằm gần nhau, điều đó rất thuận lợi về mặt kinh tế khi khởi đầu cuộc cách mạng công nghiệp.
Về nguyên liệu, Anh có thuận lợi là nguồn lông cừu trong nước và bông nhập từ Mĩ, đó là những nguyên liệu cần thiết cho ngành dệt.
Các dòng sông ở Anh tuy không dài nhưng sức chảy khá mạnh, đủ để chạy các máy vận hành bằng sức nước. Hải cảng Anh thuận lợi để đưa hàng hóa đi khắp thế giới.
Về mặt xã hội, giai cấp quý tộc Anh sớm tham gia vào việc kinh doanh và họ trở thành tầng lớp quý tộc mới, có quyền lợi gắn liền với tư sản, có cách nhìn của tư sản.
Nhu cầu về lông cừu đã dẫn tới phong trào đuổi những người nông dân ra khỏi ruộng đất để các nhà quý tộc biến đất đai đó thành đồng cỏ nuôi cừu. Lực lượng nông dân bị dồn đuổi ra khỏi ruộng đất đã cung cấp một lượng lớn lao động cho các công trường thủ công ở các thành thị.
=== Thành tựu của Cách mạng công nghiệp ===
Năm 1733 John Kay đã phát minh ra "thoi bay". Phát minh này đã làm người thợ dệt không phải lao thoi bằng tay và năng suất lao động lại tăng gấp đôi.
Năm 1764 James Hagreaves đã chế được chiếc xe kéo sợi kéo được 16 - 18 cọc sợi một lúc, giúp tăng năng suất gấp 8 lần. Ông lấy tên con gái mình là Jenny để đặt cho máy đó.
Năm 1769, Richard Arkwright đã cải tiến việc kéo sợi không phải bằng tay mà bằng súc vật, sau này còn được kéo bằng sức nước.
Năm 1779, Cromton đã cải tiến máy với kĩ thuật cao hơn, kéo được sợi nhỏ lại chắc, vải dệt ra vừa đẹp vừa bền
Năm 1785, phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy dệt vải của linh mục Edmund Cartwright. phát minh này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần.
Phát minh trong ngành dệt cũng tác động sang các ngành khác. Lúc bấy giờ, các nhà máy dệt đều phải đặt gần sông để lợi dụng sức nước chảy, điều đó bất tiện rất nhiều mặt. Năm 1784, James Watt phụ tá thí nghiệm của trường Đại học Glasgow (Scotland) đã phát minh ra máy hơi nước. Nhờ phát minh này, nhà máy dệt có thể đặt bất cứ nơi nào. Không những thế phát minh này còn có thể coi là mốc mở đầu quá trình cơ giới hóa.
Ngành luyện kim cũng có những bước tiến lớn. Năm 1784 Henry Cort đã tìm ra cách luyện sắt "puddling". Mặc dù phương pháp của Henry Cort đã luyện được sắt có chất lượng hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bền của máy móc. Năm 1885, Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao có khả năng luyện gang lỏng thành thép. Phát minh này đã đáp ứng được về yêu cầu cao về số lượng và chất lượng thép hồi đó.
Cách mạng cũng diễn ra trong ngành giao thông vận tải. Năm 1814, chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước đã ra đời. Đến năm 1829, vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ. Thành công này đã làm bùng nổ hệ thống đường sắt ở châu Âu và châu Mĩ.
Năm 1807, Robert Fulton đã chế ra tàu thủy chạy bằng hơi nước thay thế cho những mái chèo hay những cánh buồm.
=== Những hệ quả của Cách mạng công nghiệp ===
Nhiều khu công nghiệp xuất hiện, dân tập trung ra các thành thị ngày một nhiều dẫn tới quá trình đô thị hóa thời cận đại. Nhiều đô thị với dân số trên 1 triệu người dần hình thành.
Giai cấp vô sản cũng ngày càng phát triển về số lượng. Với điều kiện sống cực khổ lúc đó, mỗi ngày lại phải làm việc từ 12 đến 15 giờ nên những cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đã sớm nổ ra.
Năm 1811 - 1812, ở Anh đã nổ ra phong trào đập phá máy móc. Đó là một biểu hiện đấu tranh bộc phát.
Bãi công là một hình thức đấu tranh phổ biến của giai cấp vô sản. Nhiều cuộc bãi công cũng đã nổ ra. Ở Anh, 1836 - 1848 còn nổ ra phong trào Hiến chương.
Quyết liệt hơn, ở Pháp, Đức còn nổ ra những cuộc khởi nghĩa. Năm 1831 - 1834 tại Lyon (Pháp) và Sơlêdin (Đức) đã nổ ra những cuộc khởi nghĩa. Những cuộc đấu tranh này chứng tỏ giai cấp vô sản đang trở thành lực lượng chính trị độc lập, đòi hỏi thay đổi sự thống trị của giai cấp tư sản.
== Phát minh khoa học kỹ thuật ==
Vào thế kỉ 17 và 18, khoa học đã đạt được những thành tựu lớn đặc biệt trong các ngành thiên văn, vật lý, hóa học, y học.
Người phát triển và ủng hộ tính đúng đắn của học thuyết Copernicus là nhà bác học Đức, Johannes Kepler. Kepler đã đưa ra 3 định luật về sự chuyển động của các thiên thể. Định luật thứ nhất, ông khẳng định Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời, không những thế ông còn xác định được quỹ đạo chuyển động của nó không phải là đường tròn mà là hình elíp. Định luật thứ hai, Kepler chứng minh vận tốc chuyển động của hành tinh tăng lên khi đang tới gần Mặt Trời và giảm dần khi nó chuyển động xa Mặt Trời. Định luật thứ ba, ông đã xác lập được công thức toán học giữa thời gian cần để hành tinh chuyển động hết một vòng quanh Mặt Trời và khoảng cách giữa nó với Mặt Trời.
Galileo Galilei, một nhà thiên văn học người Ý đã chế tạo ra kính thiên văn để quan sát bầu trời. Galilei cũng là người ủng hộ nhiệt tình học thuyết Copernicus. Ông còn là người trực tiếp làm thực nghiệm về sự rơi tự do trên tháp nghiêng Piza. Có thể nói Galilei là người tiến hành hàng loạt thí nghiệm một cách có hệ thống. Vì vậy, sau này người ta coi Galilei là cha đẻ của phương pháp thực nghiệm khoa học.
Một nhà vật lý người Anh, William Gilbert trong một quyển sách xuất bản năm 1600 đã giải thích Trái Đất như một cục nam châm khổng lồ tạo ra một từ trường (nhưng không mạnh), điều đó làm kim la bàn chỉ xoay về hướng Bắc. Ông còn nghiên cứu về hiện tượng tĩnh điện. Ông thấy rằng không chỉ có hổ phách khi bị chà xát mới hút các vật nhẹ mà có những thứ khác như thủy tinh... cũng có tính chất như vậy. Ông gọi đó là "hiện tượng hổ phách" - electric (từ electron theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là "hổ phách").
Isaac Newton là một nhà bác học người Anh, ông được coi là nhà vật lý vĩ đại nhất của thế kỉ 18. Đóng góp vĩ đại nhất của Newton nằm trong 3 định luật mang tên ông mà nổi bật là định luật Vạn vật hấp dẫn. Có thể coi Newton là hòn đá tảng của nền vật lý cổ điển. Tác phẩm vĩ đại của Newton là Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên.
Về hóa học, Joseph Priestley là một luật sư người Anh đã khám phá ra ôxy.
Y học cũng có nhiều tiến bộ. Andreas Vesalius, một nhà khoa học người Bỉ đã cho in cuốn sách về cấu trúc cơ thể người. Để viết được cuốn sách này, ông đã phải nghiên cứu rất nhiều tử thi. Ông phê phán những người chỉ biết vùi đầu vào những cuốn sách của các nhà y học thời cổ đại.
William Harvey, một nhà sinh lý người Anh đã nghiên cứu rất nhiều về hệ tuần hoàn của chim, cá, ếch. Ông đã mô tả về hệ tuần hoàn máu trong cơ thể người qua quyển sách Tiến hành giải phẫu đối với sự chuyển động của tim và máu trong cơ thể loài vật.
Vào thế kỉ 19, cuộc cách mạng tri thức trong thế kỉ 18 đã tạo điều kiện cho những tiến bộ ở những thế kỉ sau đó.
John Dalton, một giáo viên người Anh cho rằng mọi vật chất đều cấu tạo bởi các nguyên tử. Nguyên tử của các chất khác nhau thì có khối lượng khác nhau. Các nguyên tử hợp thành từng đơn vị (bây giờ ta gọi là phân tử). Ông còn miêu tả chúng bằng những công thức hóa học.
Một phát minh vĩ đại về mặt hóa học là Bảng hệ thống tuần hoàn năm 1869 của Dmitri Mendeleev, một nhà hóa học Nga. Ông đã sắp xếp các chất hóa học thành từng nhóm theo khối lượng riêng, tính chất riêng của chúng. Ông còn dự đoán một số chất mà loài người sẽ phát hiện ra để lấp vào chỗ trống trong bảng tuần hoàn của ông với một sự chính xác đáng kinh ngạc.
Năm 1800, Alessandro Volta (Ý) đã chế tạo ra pin do tác động của hoạt động hóa học. Năm 1831, Michael Faraday đã chứng minh dòng điện sẽ xuất hiện khi ta di chuyển ống dây qua một từ trường. Phát minh của Faraday đã tạo cơ sở cho việc chế tạo ra máy phát điện sau này.
Năm 1860 James Clerk Maxwell, một nhà khoa học người Scotland, đã đưa ra lý thuyết giải thích ánh sáng bản chất cũng là một dạng của sóng điện từ mà trong khoảng mắt người nhìn thấy được. Tới năm 1885, Heinrich Hertz đã chứng minh được tốc độ khác nhau của các loại sóng điện từ khác nhau. Sau này người ta lấy tên Hertz để đặt cho đơn vị đo chu kì.
Năm 1895, một nhà khoa học người Đức khác là Wilhelm Röntgen đã tạo ra một loại tia có thể đâm xuyên qua các vật thể rắn, ánh sáng không thể xuyên qua được. Ông gọi đó là tia X.
Năm 1898, hai ông bà Pierre Curie và Marie Curie đã tinh chế được chất radium và phát hiện ra tính phóng xạ của nó.
Về mặt thông tin, phát minh quan trọng phải kể tới là năm 1876 Alexander Graham Bell đã phát minh ra máy điện thoại đầu tiên. 1879 Thomas A. Edison đã làm cho điện phát sáng để phục vụ cuộc sống.
Về mặt kĩ thuật, đầu thế kỉ 19 khí đốt và gas đã được người Anh và Pháp đưa vào phục vụ cuộc sống. 1897 một kĩ sư người Đức là Rudolf Diesel đã chế ra một loại động cơ đốt trong không cần bugi, sử dụng dầu cặn nhẹ. Động cơ Diesel chính là mang tên ông.
Về y học, phát minh quan trọng của thế kỉ 19 phải kể tới Louis Pasteur, ông đã đế ra cách ngừa bệnh mới là sử dụng vaccin.
Về sinh học, phát minh quan trọng của thế kỉ 19 phải kể tới Charles Darwin. Năm 1859 Darwin đã cho ra đời tác phẩm Nguồn gốc các loài qua con đường chọn lọc tự nhiên. Trong tác phẩm đó ông trình bày 3 ý tưởng chủ yếu: đấu tranh sinh tồn, chọn lọc tự nhiên, sự tồn tại của giống thích ứng với môi trường tốt nhất đã trở thành cơ sở của học thuyết tiến hóa cổ điển.
Về di truyền học, Gregor Mendel (Áo) đã đưa ra học thuyết chứng minh sự di truyền những phẩm chất của thế hệ trước cho thế hệ sau qua những phân tử cực nhỏ, mà sau này được gọi là gen.
Về tâm lý học, cuối thế kỉ 19 có hai phát minh quan trọng là của Ivan Pavlov và Sigmund Freud. Pavlov đã phát hiện ra phản xạ có điều kiện. Thử nghiệm của Pavlov đã giải thích nhiều hành vi của con người không giải thích được bằng lý trí, thực tế chỉ là sự phản ứng máy móc trước các kích thích đã trở thành tập tính. Còn học thuyết của Freud thì giải thích nhiều hành động của con người xuất phát từ những nhu cầu, ước muốn tiềm ẩn. Freud đã tạo ra ngành phân tâm học.
== Phát minh học thuyết chính trị ==
Vào thế kỉ 19 ra đời học thuyết về quyền tự do cá nhân và quốc gia dân tộc.
Những cuộc cách mạng tư sản đã tạo điều kiện giải phóng con người khỏi những sự kiềm chế độc đoán của chế độ phong kiến. Con người ngày càng có ý thức về quyền tự do của các cá nhân và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Trong điều kiện như vậy, những học thuyết về quyền tự do cá nhân và quyền của các dân tộc đã được hình thành.
Về quyền tự do cá nhân phải kể tới những tư tưởng của John Stuart Mill qua tác phẩm Luận về tự do. Mill đã nêu lên nguyên tắc là cá nhân có thể làm bất cứ điều gì miễn là không hại tới người khác, không ảnh hưởng tới quyền tự do của người khác. Trong thực tế cuộc sống, việc thực hiện nguyên tắc này còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí và sự nghiêm minh của pháp luật.
Alexis de Tocqueville thì viết tác phẩm Nền dân chủ Hoa Kỳ. Qua tác phẩm này, ông cho rằng trào lưu dân chủ đang lên là không thể nào ngăn cản được. Ông ca ngợi tinh thần dân chủ, sự thành công và sức mạnh vật chất của nước Mĩ, nhưng ông cũng đồng thời phê phán tính cách thiếu tế nhị, ngạo mạn, thực dụng của nền văn hóa Mỹ theo cách nhìn của người Pháp.
Về quyền của các dân tộc thì lại có hai xu hướng trái ngược nhau. Xu hướng thứ nhất cho rằng mỗi dân tộc đều có quyền chọn cách sống riêng cho dân tộc mình, không dân tộc nào khác có quyền xâm phạm. Nhà ái quốc người Ý Giuseppe Mazzini đã để cả cuộc đời mình kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm này. Các cuộc đấu tranh của những nhà yêu nước ở vùng Balkan chống lại sự thống trị của ngoại bang cũng là một cách bảo vệ quan điểm đó.
Xu hướng thứ hai thì ngược lại, một số nhà lý luận của các dân tộc lớn thì cho là dân tộc mình siêu đẳng hơn, có sứ mệnh phải giúp các dân tộc khác khai hóa văn minh, chỉ bảo cho các dân tộc kém hơn cách sống hợp lý. Họ còn lợi dụng học thuyết của Darwin về cạnh tranh sinh tồn để áp dụng vào xã hội. Lý luận này được giới thực dân rất ủng hộ vì nó chứng minh cho sự "cần thiết" của các cuộc chiến tranh xâm lược các vùng đất chưa phát triển.
Tư tưởng về chủ nghĩa xã hội đã xuất hiện từ thế kỉ 16 với tác phẩm về Utopia của Sir Thomas More, tư tưởng này phản ánh ước mơ một xã hội công xã nông thôn thanh bình dựa trên nền sản xuất nông nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp. Các nhà tư tưởng chủ nghĩa xã hội của thế kỉ 19 đã thấy sự tất yếu của một xã hội công nghiệp. Từ đó họ nảy sinh tư tưởng xây dựng một hạn chế bóc lột, hạn chế sự cách biệt giàu nghèo, khắc phục những mặt tiêu cực của xã hội tư bản. Tiêu biểu cho các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng của thế kỉ 19 là Saint Simon, Charles Fourier và Robert Owen.
Saint Simon nhận thấy mâu thuẫn giữa các nhà một bên là các nhà tư sản giàu có và một bên là những người làm thuê rất nghèo khổ. Ông chủ trương xây dựng một xã hội mới do "những nhà công nghiệp sáng suốt" điều hành, trong đó mọi người đều lao động theo kế hoạch và được hưởng thụ bình đẳng. Để xây dựng một xã hội như vậy, ông chủ trương thuyết phục các nhà tư bản chứ không theo con đường bạo lực cách mạng.
Charles Fourier cũng phê phán sự bất công của xã hội tư bản, ông vạch rõ "sự nghèo khổ sinh ra từ bản thân sự thừa thãi". Ông vạch ra dự án xây dựng các công xã Falange trong đó mọi người đều lao động, coi lao động là nguồn vui. Trong các công xã có sự kết hợp giữa công nghiệp với nông nghiệp. Sự hưởng thụ sản phẩm được chia theo tỉ lệ: 5/12 cho lao động, 4/12 cho tài năng, 3/12 cho những người góp vốn xây dựng Falange. Ông kêu gọi những người giàu có góp vốn xây dựng Falange, nhưng lời kêu gọi của ông chẳng được ai đáp lại.
Robert Owen vốn xuất thân từ một người làm thuê, biết làm ăn và trở thành ông chủ. Ông đã bỏ vốn của mình ra làm gương, xây dựng một cơ sở làm ăn. Trong cơ sở của Owen tài sản được coi là của chung, mọi người đều cùng làm việc mỗi ngày là 10 giờ, có nhà trẻ cho công nhân nữ gửi con nhỏ, lợi nhuận làm ra được thì chia công bằng... Việc làm đó của ông sau này đã bị thất bại vì sản phẩm của xưởng ông làm ra không đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Ông bỏ sang Mỹ thí nghiệm ý tưởng của mình lần nữa nhưng cũng thất bại và cuối cùng phải bỏ về Anh trong cảnh nghèo khó.
Học thuyết của các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng đầy tính nhân đạo nhưng đều thất bại khi đem ra thi hành. Nói như chúng ta ngày nay là thiếu tính khả thi. Tuy vậy, những tư tưởng của họ đã ảnh hưởng quan trọng tới sự ra đời học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học sau này do Karl Marx xây dựng.
Kark Marx và Friedrich Engels đã xây dựng về học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học qua tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản xuất bản tháng 2 năm 1848.
Trong Tuyên ngôn Marx và Engels đã chứng minh lịch sử loài người là lịch sử của sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội nối tiếp thay thế nhau, xã hội sau sẽ tạo ra năng suất lao động cao hơn xã hội trước. Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển trong xã hội có giai cấp. Đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản sẽ dẫn tới sự xuất hiện một xã hội mới công bằng hơn, tiến bộ hơn. Giai cấp công nhân, tổ chức ra chính đảng của mình lãnh đạo một cuộc cách mạng vô sản, tiến lên xây dựng chính quyền của mình và thiết lập mối quan hệ giữa công nhân các nước theo tinh thần quốc tế vô sản.
Đầu thế kỉ 20, Vladimir Ilyich Lenin đã phát triển thêm lý luận của Marx và Engels và vận dụng lý luận đó vào hoàn cảnh nước Nga, chỉ đạo phong trào đấu tranh ở Nga đi tới thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917.
== Thành tựu văn học nghệ thuật ==
=== Văn học ===
Lịch sử thời cận đại đã được văn học châu Âu phản ánh một cách sinh động, đặc biệt là văn học Pháp.
Sau thất bại của Napoléon Bonaparte và sự phục hồi tạm thời của các thế lực bảo hoàng, ở Pháp đã xuất hiện một dòng văn học lãng mạn thể hiện sự nuối tiếc một thời vàng son đã qua của giới quý tộc. Đại biểu cho trào lưu này là François-René de Chateaubriand.
Victor Hugo là một nhà văn tiêu biểu cho trào lưu lãng mạn tiến bộ. Ông thể hiện sự thông cảm với những người nghèo khổ qua các tác phẩm Những người khốn khổ, Nhà thờ Đức bà Paris. Qua các tác phẩm, Hugo thể hiện lòng khát khao muốn vươn tới một xã hội tốt đẹp, công bằng và chan chứa tình nhân đạo.
Xã hội tư bản khắc nghiệt, tàn bạo cũng đã được phản ánh qua dòng văn học hiện thực mà tiêu biểu là Honoré de Balzac. Những tác phẩm tiêu biểu của ông như Eugénie Grandet, Miếng da lừa... và nhiều tác phẩm khác. Những tác phẩm đó của Balzac đã được tập hợp trong bộ Tấn trò đời. Những tác phẩm như Đỏ và Đen của Stendhal, Viên mỡ bò của Guy de Maupassant cũng phản ánh xã hội tư bản đầy bất công, tàn bạo.
Văn học Nga của thế kỉ 19 cũng có những đóng góp quan trọng với các tác phẩm như Chiến tranh và hoà bình của Lev Nikolayevich Tolstoy. Những nhà văn tên tuổi khác của nền văn học Nga thế kỉ 19 phải kể tới là Ivan Sergeyevich Turgenev, Nikolai Vasilevich Gogol, Fyodor Mikhailovich Dostoevsky, Bielixki...
=== Nghệ thuật ===
Âm nhạc thời cận đại thế kỉ 18 với sự đóng góp của những nhạc sĩ lớn như Johann Sebastian Bach, Wolfgang Amadeus Mozart, thì đế thế kỉ 19 có sự đóng góp vĩ đại của Ludwig van Beethoven, Frédéric Chopin...
Hội họa theo xu hướng lãng mạn thường đi tìm những phương trời xa lạ. Danh họa Eugène Delacroix) thường vẽ những kị sĩ Ả Rập, những cuộc đi săn. Đến cuối thế kỉ 19, danh họa người Tây Ban Nha Francisco Goya đã vẽ những cảnh tàn khốc trong cuộc chiến tranh chống Napoléon.
Điêu khắc thế kỉ 19 không để lại nhiều tác phẩm như thời Phục Hưng. Nhà điêu khắc Frédéric Bartholdi đã hoàn thành bức tượng Nữ thần Tự do để chính phủ Pháp gửi tặng nước Mỹ. Một phiên bản nhỏ, cao gấp 1,5 lần người thật của bức tượng này cũng được đặt tại Hà Nội ở một công viên Vườn hoa Bà Đầm, tiếc rằng phiên bản này ngày nay không còn nữa. Chúng ta chỉ còn thấy dấu vết qua đồng 50 xu tiền Đông Dương xưa kia.
Khải Hoàn Môn ở Paris và nhiều dinh thự ở Paris cũng còn giữ lại được một số tác phẩm điêu khắc giá trị của thế kỉ 19.
Kiến trúc Âu-Mỹ của thế kỉ 19 rất đa dạng, thể hiện một sự giao lưu văn hóa rộng mở. Nét mới về kiến trúc giai đoạn này là quan điểm hiện thực xâm nhập vào kiến trúc qua các vật liệu mới như thép, bê tông, kính dày. Một nhà kiến trúc Louis Sulivan đã đưa vào các công trình kiến trúc tư tưởng công năng. Theo ông, các công trình kiến trúc phải được thiết kế phù hợp với chức năng của chúng. Chẳng hạn một ngân hàng hiện đại không thể giống một đền đài tôn giáo, một thương xá không thể giống một lâu đài trung cổ. Đặc biệt là kiến trúc hành chính thời kì này thể hiện một phong cách rõ rệt mà tiêu biểu là tòa nhà Quốc hội Mỹ (1793-1851) và tòa nhà Quốc hội Anh (1840-1865).
Thế kỉ 19 đã đánh dấu bước ngoặt căn bản chuyển từ lao động bằng tay sang lao động bằng máy. Loài người đã chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp. Nền văn minh công nghiệp đã tạo ra cách nhìn mới, kéo theo những biến đổi lớn về chính trị, văn hóa, xã hội. Loài người bước vào một giai đoạn mới của văn minh nhân loại.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Cách mạng công nghiệp tại DMOZ
Internet Modern History Sourcebook: Industrial Revolution
"The Day the World Took Off" Six part video series from the University of Cambridge tracing the question "Why did the Industrial Revolution begin when and where it did."
BBC History Home Page: Industrial Revolution
National Museum of Science and Industry website: machines and personalities
Industrial Revolution and the Standard of Living by Clark Nardinelli - the debate over whether standards of living rose or fell
Factory Workers in the Industrial Revolution
Revolutionary Players website
First and second industrial revolution |
topaz.txt | Topaz hay hoàng ngọc là một khoáng vật silicat của nhôm và flo có công thức hóa học là Al2[SiO4](F,OH)2. Lần đầu tiên topaz được sử dụng làm đá quý trong đồ trang sức năm 1737 do Henekel (khi ông mô tả mỏ Saxon) bởi lẽ topaz có độ cứng tương đối cao, ánh thuỷ tinh tương đối mạnh và đặc biệt là có màu sắc đa dạng. Tên gọi của Topaz bắt nguồn từ chữ Hy Lạp là topazos có nghĩa là tìm kiếm, theo ngôn ngữ Phạn cổ topaz có nghĩa là lửa. Trước đây, một số loại đá quý có màu vàng, thậm chí cả những loại màu lục cũng được gọi là topaz.
== Cấu trúc tinh thể ==
Các thành phần nguyên tố trong topaz gồm: Al2O3 chiếm 62-48%; SiO2: 39,0 - 28,2%; F: 13 - 20,4%; H2O: 2,45%. F & OH có thể thay thế cho nhau vì vậy topaz không có OH sẽ có công thức là Al2F2SiO4 và không có F là topaz hydroxyl Al2(OH)2SiO4.
Đối với topaz không màu, màu lam, màu nâu loại giàu F thường có các bao thể hang hốc chứa 2 hoặc 3 pha. Các hang hốc thường có dạng giọt nước và dạng bóng, một trong chúng có thể là khí CO2. Ngoài ra còn có các bao thể rắn như: anbit dạng tấm, apatit, brucit, muscovit, fluorit, gơtit, granat, hematit...
Topaz kết tinh theo hệ trực thoi với các yếu tố đối xứng: 3L23PC. Các dạng tập hợp thường gặp là lăng trụ có các khía sâu chạy song song với chiều dài tinh thể. Dạng tinh thể hoàn chỉnh 2 tháp hiếm gặp mà thường có một tháp dạng vòm còn đầu kia là mặt cát khai cơ sở do nó bị vỡ tách ra từ đá gốc. Các tinh thể đẹp chỉ thấy trong các hốc, chúng có nhiều mặt hoàn hảo, kích thước lớn (có khi nặng tới 25 – 32 kg). Dạng phổ biến nhất là lăng trụ với các hình đơn [110]; [120]; [041] song diện [001], lưỡng tháp [111], [223]...
Do tính cát khai hoàn toàn theo mặt cơ sở nên topaz thường được mài cắt có chiều dài của hình oval hoặc hình giọt nước chạy theo chiều dài tinh thể sẽ có khuynh hướng nứt đôi viên đá thậm chí bị vỡ làm 2 phần. Những viên có màu đậm trung bình được mài cắt kiểu emơrôt (cắt bậc).
Độ cứng tuyệt đối: 1427 kg/mm².
== Các tính chất quang học ==
Topaz thường không màu, màu lam, lam-lục giống màu aquamarin, màu vàng, còn hồng và đỏ thì hiếm.
Lưỡng chiết: 0,008 - 0,01
Ánh: topaz có ánh thuỷ tinh và có đặc tính trơn, nhưng có một chút ánh lửa.
Topaz luôn luôn trong suốt, trừ những trường hợp có nhiều bao thể tạo hiện tượng đám mây.
Tính đa sắc: Rõ nhưng không mạnh, trừ tường hợp màu hồng có ánh lửa: màu hồng và không màu.
Những viên màu đỏ vàng (màu Sherry) cho 3 màu: vàng mật ong, vàng đỏ, vàng hồng nhạt. Màu lam: màu lam, hồng nhạt, xanh lam.
Dưới kính lọc Chelsea những viên màu lam cho màu lam phớt lục.
Phổ hấp thụ: Phổ hấp thụ của topaz không thể quan sát để giám định trừ màu Sherry; màu này do nguyên tố Cr, nhưng nó không cho phổ hấp thụ. Tuy nhiên khi chúng được xử lý nhiệt sẽ có vạch kép tại 6828, và có thể nhìn thấy tốt hơn nếu ánh sáng đi vào viên đá được lọc bằng CuSO4.
Tính phát quang: Thay đổi tuỳ theo 2 loại giàu hydroxyl (OH) và loại giàu F: Topaz màu xanh lam và không màu phát quang màu vàng nhạt, lục nhạt yếu dưới sóng dài, còn dưới sóng ngắn thì cường độ yếu hơn nhiều.
== Các phương pháp xử lý và tổng hợp ==
Topaz thường bị nhạt màu đi khi nung ở nhiệt độ cao. Topaz màu đỏ nâu của Brasil chuyển sang không màu ở nhiệt độ 450 °C, nhưng khi nguội nó chuyển sang màu hồng cá hồi đến màu đỏ tím tuỳ theo màu sắc ban đầu và độ mạnh của nhiệt độ. Topaz không được tổng hợp cho mục đích công nghiệp.
== Nguồn gốc và phân bố ==
Topaz phổ biến trong các thành tạo pegmatit, cộng sinh với tuamalin, fluorit, thạch anh, berin, felspat. Đôi khi cũng gặp topaz trong các mạch nhiệt dịch.
Các mỏ nổi tiếng ở Brazil (bang Minas, Gerais); Mỏ Lapaz của Mehico có nguồn topaz màu vàng; ở Mỹ có mỏ topaz màu hồng, vàng và xanh lam rất đẹp. Một số nước khác cũng khai thác nhiều topaz như Úc, Myanma và đặc biệt là ở Nga khai thác nhiều topaz màu lam, màu lục ở vùng núi Ural.
Ở Việt Nam, topaz được tìm thấy trong pegmatit ở Thạch Khoán, Vĩnh Phú , đi cùng với thạch anh, berin và một số khoáng vật khác. Topaz vùng Xuân Lệ, Thường Xuân, Thanh Hoá cũng có nguồn gốc pegmatit, cộng sinh với aquamarin và thạch anh. Topaz Lâm Đồng trong pegmatit cộng sinh với felspat, thạch anh.
== Phân biệt topaz với các đá tự nhiên và đá tổng hợp ==
=== Phân biệt với đá tự nhiên ===
Thạch anh: Dùng chất lỏng bromoform: topaz chìm xuống còn thạch anh sẽ nổi lên.
Berin , orthoclas và brazilianit cũng dùng phương pháp tỷ trọng và đo chiết suất (berin - 1,57; octolaz 1,53; brarilianit - 1,602-1,623).
Danburit, tuamalin và apatit: dùng khúc xạ kế hoặc chất lỏng Di-iodmetan (tỷ trọng 3,33). Mặt khác apatit cho phổ hấp thụ mạnh ở vùng lục tại 511, 490 và vùng da cam 631, 622; còn 5 hay có các bao thể và vết nứt trong khi topaz thường sạch hơn.
Corindon,cryzoberin và zircon: dùng khúc xạ kế là phân biệt được rõ ràng.
=== Phân biệt với đá tổng hợp ===
Topaz tổng hợp đã được làm để cho mục đích nghiên cứu lý thuyết chứ không phải để thăm dò thị trường. Quá trình đã được thực hiện do tác dụng của axit hydrofluosilic trên Si và Al với sự có mặt của H2O ở nhiệt độ 500 °C.
Loại đá được gọi là topaz tổng hợp chính là saphia tổng hợp có màu thích hợp với màu sắc của topaz.
== Xem thêm ==
Đá quý Việt Nam
Thạch anh
Danh sách khoáng vật
== Tham khảo == |
samsung gear fit.txt | Samsung Gear Fit là đồng hồ thông minh được sản xuất bởi Samsung Electronics. Được giới thiệu tại Mobile World Congress thường niên tại Barcelona, Tây Ban Nha, vào 24 tháng 2 cùng với Galaxy S5, Gear 2, Gear Neo. Là thiết bị sử dụng màn hình Super AMOLED cong đầu tiên, nó dùng để cập nhật cuộc gọi, emails, SMS, báo thức, đồng hồ bấm giờ, S-planner và một số phần mềm thứ ba. Tính năng đặc biệt của nó dùng để tập thể dục và đo nhịp tim. Ngoài ra nó còn có tính năng chống nước và chống bụi IP67.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Trang chủ Samsung |
new orleans.txt | New Orleans (viết tắt NOLA; người Mỹ gốc Việt phiên âm là Ngọc Lân hay Tân Linh) là thành phố lớn nhất thuộc tiểu bang Louisiana, Hoa Kỳ. Thành phố ở vị trí 30,07° vĩ độ bắc, 89,93° kinh độ tây, nằm ở phía đông nam tiểu bang, giữa sông Mississippi và hồ Pontchartrain, cách nơi cửa sông đổ ra vịnh Mexico khoảng 100 dặm. Về mặt luật pháp và hành chính thì thành phố New Orleans với Quận Orleans là một. Thành phố này được đặt tên theo Philippe II, Công tước Orléans, công tước nhiếp chính Pháp, và là một trong những thành phố cổ nhất ở nước Mỹ.
Đây là trung tâm công nghiệp và phân phối và là cảng biển lớn của Mỹ. Thành phố này nổi tiếng với những di sản văn hoá đa sắc tộc, không khí lễ hội với nhạc và nghệ thuật ẩm thực địa phương. Nó được coi là nơi sinh của nhạc jazz. Nó là nơi du lịch nổi tiếng khắp thế giới do kiến trúc, nhạc, và thực phẩm đặc biệt, cũng như là Mardi Gras và những tổ chức khác.
Theo Thống kê Dân số năm 2000, dân số thành phố là 484.674 người. Cộng thêm những ngoại ô trong Quận Jefferson, Quận St. Bernard bên cạnh, và những khu gần khác, con số đó tới khoản 1,4 triệu người. Tuy nhiên, New Orleans bị cơn bão Katrina tàn phá vào ngày 29 tháng 8 năm 2005, làm khắp thành phố bị lụt lội thê thảm, bắt mọi người dân phải sơ tán và làm nhiều người thiệt mạng. Vào những năm sau, dân số lên lại khoảng 1,2 triệu người.
New Orleans có một khu Việt Nam lớn trong phía Đông New Orleans gọi là Versailles ("Vẹc Sai") nhưng có nhiều người gốc Việt ở khắp New Orleans, ví dụ ở Harvey và Westwego.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Thành phố New Orleans
Trang chủ du lịch chính thức của New Orleans
New Orleans Vietnamese Online (nolaviet.com)
Đề luật Phục hồi sau Thiên tai (PDF) – Bộ Gia cư và Phát triển Đô thị Hoa Kỳ (HUD) |
thí nghiệm urey-miller.txt | Thí nghiệm Urey–Miller hoặc thí nghiệm Miller–Urey là cuộc thí nghiệm bắt chước giả thuyết về hoàn cảnh như núi lửa ở Trái Đất mới và kiểm tra tạo sinh phi sinh học (abiogenesis) xảy ra hay không. Nó được thực hiện bởi Stanley Miller và người thầy của ông, Harold Urey, vào năm 1953.
Trong thí nghiệm kinh điển này, các nhà nghiên cứu đã cố gắng mô phỏng lại quá trình hình thành vật chất tạo ra sự sống. Miller và Urey đã đổ nước đầy nửa một bình thót cổ 5 lít và dùng một ống thủy tinh để nối nó với một bình thót cổ khác đặt phía trên có chứa những điện cực làm bằng wolfram. Sau đó, họ trộn hỗn hợp khí mêtan, hiđrô, amoniac vào trong nước của bình thót cổ phía dưới. Đun nóng bình này đến khi xảy ra hiện tượng hóa hơi và bắt nó liên tục nạp điện được phóng ra từ các điện cực của bình thót cổ đặt phía trên. Hỗn hợp khí được làm nguội, ngưng tụ và dẫn ngược trở lại vào bình thót cổ đầu tiên để tiếp tục chu trình trên. Bằng cách này, họ đã tái tạo lại được những điều kiện khí quyển ban đầu của trái đất mà họ cho rằng từ đó bão điện từ được sinh ra. Trong vòng một giờ, nước trong bình chuyển sang màu cam. Sau một tuần, họ quan sát thấy 15% cacbon đã chuyển thành hợp chất hữu cơ. Sau vài tuần, chất lỏng trong bình thót cổ trở nên sẩm màu và dần dần chuyển thành màu nâu thẫm. Khi phân tích chất này, Miller và Urey phát hiện một lượng lớn axít amin (amino acid) chứa trong nó, một thành phần trong cấu trúc cơ bản của khối vật chất sống. Sau đó, họ đưa ra một giả thuyết cho rằng axít amin được tạo ra trong phòng thí nghiệm tiểu biểu cho hỗn hợp hóa chất có trong đại dương vào thửa ban đầu của Trái Đất. Hơn nữa, từ các thiên thach giàu cacbon một lượng axít amin đã được thêm vào trong hỗn hợp của đại dương lúc sơ khai.
Thí nghiệm đã thiết lập được quy trình tự nhiên tạo ra khối vật chất sống mà không đòi hỏi sự sống và nó đã khởi nguồn cho nhiều nghiên cứu sâu hơn về nguồn gốc sự sống.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
A Production of Amino Acids Under Possible Primitive Earth Conditions bởi Stanley L. Miller
Thí nghiệm bắt chước có video phỏng vấn Stanley Miller bởi Scott Ellis (UCSD) |
tây âu.txt | Tây Âu là một khái niệm chính trị – xã hội xuất hiện trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh để chỉ khu vực của châu Âu, nằm kề các nước thuộc khối Warszawa và Nam Tư về phía tây. Đây là hệ thống chính trị và kinh tế đối lập với Đông Âu, vốn là khu vực chịu ảnh hưởng của Liên Xô từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Thuật ngữ này được dùng khi đề cập đến yếu tố kinh tế, chính trị, lịch sử hơn là nói về sự phân cách đất đai cụ thể. Các quốc gia trung lập được xác định theo bản chất bộ máy chính trị.
Ranh giới văn hóa và tôn giáo giữa Tây Âu và Đông Âu xen phủ lẫn nhau, không đơn giản phân định một cách chính xác bởi những biến động lịch sử.
== Các quốc gia Tây Âu ==
Tên gọi Tây Âu thường gắn liền với chế độ dân chủ tự do, chủ nghĩa tư bản và cũng đi đôi với khái niệm Liên minh châu Âu. Phần lớn các quốc gia trong vùng này có cùng văn hóa phương Tây, và nhiều ràng buộc, gắn bó chính trị, kinh tế và lịch sử với các nước Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Đại Dương (xem thêm thế giới phương Tây). Nói tổng quát, khu vực này gồm các nước châu Âu có thu nhập đầu người cao, đó cũng là các nước thuộc Thế giới thứ nhất ở châu Âu:
Andorra
Áo
Đan Mạch
Bỉ
Hà Lan
Pháp
Đức
Hy Lạp
Ireland
Ý
Liechtenstein
Monaco
Bồ Đào Nha
Na Uy
Phần Lan
Thụy Điển
Iceland
Tây Ban Nha
Thụy Sĩ
Anh Quốc
Nói theo cách khác, Tây Âu là một khu vực của châu Âu với định nghĩa cụ thể về địa lý không chặt chẽ, tuy vậy yếu tố khác biệt với Đông Âu về chính trị và văn hóa là rõ ràng hơn. Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc xác định Tây Âu gồm 9 quốc gia:
Áo
Bỉ
Pháp
Đức
Liechtenstein
Luxembourg
Monaco
Hà Lan
Thụy Sĩ
== Những sự khác biệt từ thời Trung cổ ==
Sự chia cắt đông-tây ở châu Âu bắt nguồn từ lịch sử Đế chế La Mã. Bởi phạm vi Đế chế trải rộng, sự khác biệt về văn hoá và ngôn ngữ xuất hiện chủ yếu giữa các tỉnh phía đông nói tiếng Hy Lạp, những tỉnh này đã đạt đến sự đô thị hoá khá cao của nền văn minh Hy Lạp. Ngược lại các lãnh địa phía tây sử dụng ngôn ngữ La-tinh. Sự cách biệt về văn hoá và ngôn ngữ này lại càng được đào sâu bởi chế độ chính trị đông-tây của Đế chế La Mã về sau này.
Sự dị biệt giữa hai nửa đông-tây được củng cố trong thời Trung Cổ bởi một số sự kiện. Đế chế Tây La Mã sụp đổ đã khởi đầu cho thời Trung Cổ. Trái lại, Đế chế Đông La Mã, được biết đến với cái tên Đế chế Byzantine, đã tồn tại và phát triển thêm 1.000 năm. Đế chế Frankish trỗi dậy ở phía tây và đặc biệt là Schism Vĩ đại đã chính thức chia rẽ nhánh Thiên chúa phía đông với phía tây, làm trầm trọng thêm dự cách biệt về văn hoá và tôn giáo giữa Đông Âu và Tây Âu.
Sự chinh phục Đế chế Byzantine – trung tâm của nhà thờ Cơ đốc Chính thống bởi Đế quốc Hồi giáo Ottoman ở thế kỷ 15 và sự phân mảnh dần dần của Đế quốc La Mã thần thánh (trước đó là Đế chế Frankish) đã dẫn đến sự thay đổi tầm quan trọng trong khái niệm xung khắc Công giáo La Mã hoặc Tin lành với Nhà thờ Cơ đốc chính thống ở Châu Âu.
Các sự kiện Phục Hưng, Cải cách Kháng Cách của Martin Luther và chống Kháng cách của Giáo hội Công giáo, thế kỷ ánh sáng, Cách mạng Pháp và Cách mạng Công nghiệp được coi là những trải nghiệm hình thành nền văn hoá và đặc trưng của Tây Âu. Tất cả những sự kiện lịch sử và phát triển văn hoá này đều mang đến ảnh hưởng tới khái niệm Tây Âu.
== Chiến tranh lạnh ==
Trong giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai, tương lai của châu Âu được định đoạt tại Hội nghị Yalta năm 1945 bởi các nguyên thủ quốc gia khối Đồng Minh gồm Thủ tướng nước Anh Winston Churchill, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin Delano Roosevelt và thủ tướng Liên Xô Joseph Stalin.
Châu Âu thời hậu chiến sẽ bị chia cắt thành hai nửa: phía tây chủ yểu bị chi phối bởi Hoa Kỳ và phía đông với sự kiểm soát của Liên Xô. Cùng với sự khởi đầu của Chiến tranh lạnh, châu Âu bị ngăn đôi bởi Bức màn sắt.
Thuật ngữ Bức màn sắt đã được sử dụng trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai bởi Bộ trưởng tuyên truyền Đức Joseph Goebbels và sau đó là Bá tước Lutz Schewerin von Krosik trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, nhưng người sử dụng nó nhiều nhất là Winston Churchill, ông viết trong bài diễn văn nổi tiếng "Những rường cột của Hoà bình" (Sinews of Peace) ngày 5 tháng 3 năm 1946 tại trường Westminston, Fulton, bang Missouri:
Mặc dầu một số quốc gia là trung lập, nhưng họ được xếp loại ở Đông hay Tây Âu dựa vào bản chất hệ thống kinh tế và chính trị. Sự chia cắt này quy định nhận thức và hiểu biết của Tây Âu và những biên giới của nó với Đông Âu cho đến ngày nay.
== Những thay đổi về mặt chính trị gần đây ==
Thế giới đã thay đổi sâu sắc kể từ khi Bức màn sắt (một khái niệm chỉ sự phân cách khu vực ảnh hưởng bởi Liên Xô và khu vực chịu ảnh hưởng bởi Hoa Kỳ) sụp đổ năm 1989. Cộng hòa Dân chủ Đức sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức trong hòa bình. Khối Warszawa và Hội đồng Tương trợ Kinh tế giải thể và Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết chấm dứt sự tồn tại sau 74 năm, các quốc gia thành viên dần tách ra trở thành độc lập.
Mặc dù thuật ngữ Tây Âu được định nghĩa từ trong Chiến tranh Lạnh, nó vẫn được sử dụng cho dù sự đối đầu này đã chấm dứt hơn 15 năm. Từ ngữ này được sử dụng phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng và đời sống hàng ngày ở châu Âu và mọi nơi khác.
Cùng với quá trình đông tiến mạnh mẽ và nhanh chóng của Liên minh châu Âu, Tây Âu ngày càng trở nên ít tính tượng trưng cho liên minh kinh tế – chính trị – tiền tệ này.
== Cơ quan lập pháp ==
Cơ quan lập pháp của các quốc gia Tây Âu hầu hết được tổ chức theo kiểu lưỡng viện, ngoại trừ Luxembourg, Liechtenstein và Monaco được tổ chức theo hệ thống đơn viện. Trong đó Quốc hội Pháp là cơ quan lập pháp có nhiều đại biểu nhất, với 925 nghị sĩ (348 ở thượng viện và 577 ở hạ viện), trong đó quốc hội của Monaco có ít thành viên nhất, chỉ với 24 đại diện.
== Cách hiểu ngày nay ==
Hiện nay, Tây Âu được hiểu là bao gồm
Anh quốc và Cộng hòa Ireland
Các nước khối Benelux gồm Bỉ, Luxembourg và Hà Lan
Pháp và Monaco
Đức
Các nước nằm dọc theo dãy núi Alps: Áo, Liechtenstein và Thụy Sĩ
Bán đảo Italia: Ý, San Marino và Tòa thánh
Bán đảo Iberia: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Andorra và Gibraltar
Các nước Bắc Âu: Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển và Iceland.
Hy Lạp
Malta
== Xem thêm ==
Thế giới phương Tây
Kế hoạch Marshall
Thế giới thứ nhất
== Ghi chú == |
lancelot.txt | Lancelot (tiếng Anh: Sir Lancelot of Camelot), là một nhân vật trong truyện Hội Bàn Tròn. Ông là hiệp sĩ tài ba và thân tín nhất của Vua Arthur . Nhưng ông đem lòng yêu mến hoàng hậu xinh đẹp Guinevere. Có thuyết cho rằng hai người yêu nhau khi ông phò Guinevere về triều để thành hôn với vua Arthur. Có thuyết khác cho rằng hai người gặp nhau lần đầu khi Guinevere đã là hoàng hậu.. Mối quan hệ tình cảm giữa Lancelot và Guinevere bị Arthur khám phá và nhà vua tuyên án xử Guinevere trên giàn hỏa về tội ngoại tình . Lancelot phá nhà tù để cứu Guinevere và do đó trở thành xung khắc với nhà vua. Tuy vậy khi nhà vua đi dẹp loạn phản thần Mordred thì Lancelot quay lại để hỗ trợ nhà vua, nhưng quá muộn vì vua đã bị Mordred sát hai. Nàng Guinevere trở thành một nữ tu và Lancelot từ bỏ tước vị hiệp sĩ, trở thành một giáo mục. Khi Guinevere chết, Lancelot cũng chết theo sáu tuần sau đó. Xác hai người được chôn cạnh mộ vua Athur.
== Tham khảo == |
tòa án hình sự quốc tế về nam tư cũ.txt | Tòa án quốc tế phục vụ cho các truy tố những người chịu trách nhiệm đối với các vi phạm nghiêm trọng Luật nhân đạo quốc tế trong vùng lãnh thổ của Nam Tư cũ từ năm 1991, thường được gọi là Tòa án tội phạm quốc tế Nam Tư cũ, là một cơ quan của Liên Hợp Quốc được thành lập để truy tố các tội phạm nghiêm trọng vi phạm trong các cuộc chiến tranh ở Nam Tư cũ, và xét xử các thủ phạm tội ác này. Đây là một tòa đặc biệt được đặt tại Den Haag, Hà Lan.
Tòa án được thành lập theo Nghị quyết 827 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, đã được thông qua ngày 25 tháng 5 năm 1993. Tòa có thẩm quyền đối với bốn nhóm tội phạm thực hiện trên lãnh thổ của Nam Tư cũ từ năm 1991: nghiêm trọng vi phạm Công ước Geneva, các hành vi vi phạm pháp luật hay thông lệ chiến tranh, diệt chủng, và tội ác chống lại loài người. Các bản án tối đa có thể áp đặt là tù chung thân. Các quốc gia khác nhau đã ký thỏa thuận với Liên Hợp Quốc để thực hiện bản án giam giữ. Bản cáo trạng cuối cùng đã được ban hành ngày 15 tháng 3 năm 2004. Toà án này nhằm mục đích để hoàn thành tất cả các xét xử vào giữa năm 2011 và tất cả các kháng cáo vào năm 2013, với ngoại lệ của Radovan Karadzic có xét xử dự kiến sẽ kết thúc vào năm 2012 và kháng cáo được xét xử bởi tháng 2 năm 2014. Ratko Mladic, bị bắt có thể 2011 và Goran Hadžić, bị bắt vào tháng 7 năm 2011, đã không nằm trong kế hoạch hoàn thành của Toà án. Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc kêu gọi hoàn thành xét xử vào 31 tháng 12 năm 2014 chuẩn bị đóng cửa và chuyển giao của nó trách nhiệm của mình Cơ quan quốc tế còn lại cho Toà án hình sự sẽ bắt đầu hoạt động cho chi nhánh ICTY ngày 1 Tháng Bảy năm 2013.
Hadžić trở thành bị can cuối cùng của 161 phạm nhân đào tẩu bị buộc tội bị bắt giữ sau khi Tổng thống Serbia Boris Tadic đã tuyên bố ông bị bắt ngày 20 tháng 7 năm 2011.
== Tham khảo == |
họ (sinh học).txt | Trong phân loại sinh học, họ hay họ nhà hay gia đình nhà (tiếng Latinh: familia, số nhiều familiae) là một cấp, hay một đơn vị phân loại ở cấp này. Các chi tiết chính xác về danh pháp chính thức phụ thuộc vào quy tắc danh pháp nào được áp dụng.
Ví dụ: "Các loài óc chó và mạy châu thuộc về họ Óc chó" là cách thức ngắn gọn để miêu tả: các loài óc chó (chi Juglans) và mạy châu (chi Carya) thuộc về họ Óc chó (họ Juglandaceae). Hay voi châu Á và voi châu Phi là các loài thuộc về họ nhà voi.
== Lịch sử ==
Họ, như là một cấp trung gian giữa bộ và chi, là phát kiến tương đối gần đây.
Thuật ngữ familia do nhà thực vật học người Pháp là Pierre Magnol đề ra trong cuốn sách Prodromus historiae generalis plantarum, in quo familiae plantarum per tabulas disponuntur của ông viết năm 1689, trong đó ông gọi 74 nhóm thực vật mà ông công nhận trong các bảng biểu của mình là các họ (familiae). Khái niệm về cấp bậc vào thời gian này vẫn còn là trong trạng thái mới ra đời (in statu nascendi), và trong lời giới thiệu cho cuốn Prodromus này thì Magnol đã nói về việc hợp nhất các họ của ông vào trong các genera (chủng, giống, chi) lớn hơn, một khái niệm hoàn toàn trái ngược với việc sử dụng của nó ngày nay trong phân loại sinh vật.
Carolus Linnaeus đã sử dụng từ familia trong cuốn Philosophia botanica viết năm 1751 của ông để chỉ rõ các nhóm lớn của thực vật; cây thân gỗ, cây thân thảo, dương xỉ, Prodromus của de Candolle và Genera Plantarum của Bentham & Hooker cũng đã sử dụng cho những cái mà hiện nay được phong là cấp họ (xem Ordo naturalis).
Trong động vật học, họ cũng là cấp bậc trung gian giữa bộ và chi và do Pierre André Latreille đưa ra trong cuốn sách Précis des caractères génériques des insectes, disposés dans un ordre naturel viết năm 1796 của ông. Ông đã sử dụng các họ (một phần trong đó không được đặt tên) trong một số, nhưng không phải tất cả các bộ của ông khi nói về "côn trùng" (khi đó bao gồm tất cả nhóm động vật chân đốt).
Tuy nhiên, kể từ đầu thế kỷ 20 thì thuật ngữ này đã bắt đầu được sử dụng một cách ổn định theo ngữ nghĩa của nó hiện nay. Việc sử dụng nó cũng như phần hậu tố đặc trưng cho tên gọi của thể loại này được định nghĩa trong các quy tắc của danh pháp thực vật và động vật.
Gần như tất cả các họ đều được đặt tên theo tên chi điển hình, được bổ sung thêm hậu tố idae (động vật) hay aceae (thực vật) đối với phần gốc lõi của tên chi. Các ngoại lệ có thể kể đến là:
Caprifoliaceae, Aquifoliaceae và Fabaceae, lần lượt được đặt tên theo loài điển hình là Lonicera caprifolium, Ilex aquifolia và Vicia faba.
Theaceae, được đặt tên theo tên chi Thea, một từ đồng nghĩa của chi Camellia.
Tám họ thực vật với các tên gọi khác. Ví dụ Fabaceae còn dược gọi là Leguminosae, Poaceae còn gọi là Gramineae v.v.
Elapidae. Chi điển hình có danh pháp là Homoroselaps, nguyên thủy được đặt tên là Elaps nhưng chi này đã được chuyển sang họ khác và tên gọi cũng bị thay đổi một cách tương ứng.
== Xem thêm ==
Hệ thống học (đôi khi được gọi là phân loại học) – là khoa học nghiên cứu về sự đa dạng của sự sống
Miêu tả theo nhánh học – phân loại các sinh vật theo trật tự phân nhánh trong cây tiến hóa sự sống của chúng.
Danh sách các họ sinh vật – danh sách liệt kê các họ trong phép phân loại của sinh học
Phát sinh loài học – khoa học nghiên cứu về mối quan hệ tiiến hóa giữa các nhóm khác nhau của sinh vật
Phép phân loại
So sánh với họ (gia phả) và họ (người)
Phân loại khoa học
Cấp bậc (thực vật học)
Cấp bậc (động vật học)
Phân loại virus
== Tham khảo == |
làng cà phê trung nguyên.txt | Làng cà phê Trung Nguyên hay còn được gọi là Làng Cà phê là một cụm công trình kiến trúc có diện tích khoảng 20.000m2. Làng Cà phê Trung Nguyên nằm ở phía Tây Bắc Thành phố Buôn Ma Thuột, tọa lạc tại ngã ba Lý Thái Tổ - Nguyễn Hữu Thọ,Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Dak Lak. Đây là một địa điểm du lịch nổi tiếng ở Tây Nguyên với không gian kiến trúc độc đáo đậm đà bản sắc dân tộc và không gian cà phê đặc sắc.
== Ý tưởng ==
Xuất phát từ ý tưởng tạo lập tại Việt Nam một "thủ phủ cà phê toàn cầu" của Chủ tịch Tập đoàn Trung Nguyên - Đặng Lê Nguyên Vũ, công trình "Làng cà phê Trung Nguyên" là nơi hội tụ của những người đam mê cà phê trong và ngoài nước. Sau nhiều năm xây dựng, làng cà phê đã hoàn thành và ra mắt công chúng vào tháng 12 năm 2008.
== Tổng quan về Làng cà phê ==
Làng cà phê Trung Nguyên gồm 5 khu chức năng: quầy cung cấp thông tin, thưởng thức, ẩm thực, siêu thị, bảo tàng.
Quầy thông tin
Nơi cung cấp thông tin liên quan đến Làng cà phê.
Khu thưởng thức
Gồm 3 gian nhà cổ Cherry, Arabica và Robusta xây dựng theo phong cách Huế. Đây là nơi thưởng thức cà phê Trung Nguyên, bao gồm các loại cà phê: "Weasel" - Cà phê chồn, "Legendee" - Huyền thoại, "Sáng tạo", "Cà phê G7", "Passiona" - Cà phê tươi.
Khu ẩm thực
Phục vụ trên 50 món ăn đặc sắc từ 3 miền đất nước Việt Nam và những món ăn đặc sắc tại địa phương như: ếch om cà đắng, cánh gà sốt cà phê, cơm chiên cà phê… Tiệc buffet hương vị đồng quê diễn ra vào tối thứ 7 và chủ nhật hàng tuần cùng chương trình nhạc sống, với các ca khúc theo chủ đề vào mỗi tối thứ 7.
Khu siêu thị
Còn được gọi là "Trung tâm quà lưu niệm" là nơi trưng bày và bán những món quà mang bản sắc văn hóa miền cao nguyên, những đặc sản địa phương và các sản phẩm đặc biệt của Trung Nguyên.
Bảo tàng dân tộc Tây Nguyên
Đây là nơi trưng bày những hiện vật cổ có giá trị lớn và lâu đời nhất của Tây Nguyên như bộ sưu tập cồng chiêng và các công cụ, nông cụ, vũ khí… cần thiết trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và trong văn hóa, tín ngưỡng của người dân Tây Nguyên. Những dụng cụ dùng trong quá trình trồng trọt, vận chuyển và chế biến cà phê của người dân Tây Nguyên được trưng bày trên chiếc k'pan. Làm bằng tấm ván gỗ dày và rất dài xẻ từ một thân cây cổ thụ, k'pan là biểu tượng cho sự sung túc của những gia đình Ê Đê giàu có.
Bảo tàng cà phê thế giới
Bảo tàng Cà phê thế giới là một dự án nằm trong tổng thể của dự án lớn hơn là thiết lập Buôn Ma Thuột trở thành "Thủ phủ cà phê toàn cầu" của Tập đoàn Trung Nguyên. Với mô hình Bảo tàng Cà phê thế giới tại Buôn Ma Thuột, Trung Nguyên sẽ giới thiệu chi tiết đến du khách tham quan về lịch sử và văn hóa cà phê của Việt Nam và thế giới, với 10.000 hiện vật được mang về từ Bảo tàng Cà phê Burg, bộ sưu tập đá cây độc đáo, bộ sưu tập các cổ vật, hiện vật văn hóa của Tây Nguyên… Không gian này cũng là nơi để du khách khám phá về hành trình của cà phê và các nền văn hóa cà phê khác nhau. Để xây dựng bảo tàng, ông Vũ đã cất công sưu tầm hàng loạt các loại máy móc, phương tiện khai thác và chế biến cà phê trên toàn thế giới từ cổ chí kim. Trong đó, có những bộ sưu tập đến từ địa danh nổi tiếng là vùng nguyên liệu cà phê ngon nhất trên thế giới, như: Ethiopia, Brazil, Jamaica... Chính vì vậy đây cũng là địa điểm thu hút khách tham quan hàng đầu khi đến với Làng cà phê Trung Nguyên.
Ngoài ra, trong khuôn viên công trình còn có
Vườn cà phê
Bao bọc xung quanh Làng cà phê là khu vườn cà phê xanh mướt, với các loại cây cà phê: Robusta, Arabica, Excelsa… và đặc biệt là những gốc cà phê cổ trên 30 năm đang được chăm sóc bảo tồn.
Khu biểu diễn
Tại khu hầm thác thường xuyên diễn ra các chương trình biểu diễn nghệ thuật pha chế cà phê theo hương vị cà phê của nhiều Quốc gia trên thế giới như Ethiopia, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Cà phê Syphon, cà phê Ê Đê…
Khu vui chơi
Nhằm gia tăng các dịch vụ khi đến với Làng cà phê, dự án khu vui chơi cho các em từ 2 – 12 tuổi các em sẽ đưa các em đến với một thế giới trẻ thơ thú vị đầy màu sắc, khơi dậy trí sáng tạo với các trò chơi: như bập bênh, thú nhún, xếp hình, ngựa gỗ,... hay những trò chơi thể chất như: nhà banh, cầu tuột, đường ống…
== Xem thêm ==
Cà phê Buôn Ma Thuột
Trung Nguyên
Barista
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ |
đại bàng đầu trắng.txt | Đại bàng đầu trắng (danh pháp hai phần: Haliaeetus leucocephalus) là một loài chim săn mồi hàng đầu tại Bắc Mỹ. Đây là loài chim quốc gia và biểu tượng của Hoa Kỳ. Loài đại bàng biển này có hai phân loài được biết đến và hình thành một cặp loài với đại bàng đuôi trắng. Phạm vi phân bố của nó bao gồm phần lớn Canada và Alaska, tất cả phần Hoa Kỳ lục địa và miền bắc México. Nó được tìm thấy gần các vùng nước thoáng đãng rộng lớn với một nguồn thức ăn dồi dào và cây lâu năm để chúng làm tổ.
Vào cuối thế kỷ 20, đại bàng đầu trắng đã ở bên bờ vực của sự tiêu vong tại Hoa Kỳ lục địa, trong khi lại phát triển mạnh ở Alaska và Canada. Các quần thể loài này đã phục hồi và ổn định, do đó, chúng đã được loại khỏi danh sách các loài nguy cấp của chính quyền Hoa Kỳ và chuyển vào danh sách các loài bị đe dọa vào ngày 12 tháng 7 năm 1995, và sau đó đã được loại khỏi danh sách động vật hoang dã nguy cấp và bị đe dọa ở 48 bang tại Hoa Kỳ lục địa vào ngày 28 tháng 6 năm 2007.
Tên gọi trong tiếng Anh của nó là Bald Eagles với nghĩa hiểu như hiện nay là đại bàng hói. Tuy nhiên nó không thực sự hói, mà tên gọi xuất phát từ ý nghĩa cũ hơn của từ là "đầu trắng".
== Đặc điểm sinh học ==
Đại bàng hói là một loài chim lớn săn mồi, chim mái lớn hơn chim trống với sải cánh có thể dài tới 8 ft (2,5 m). Chúng có đầu và cổ là màu trắng, thân màu nâu, và lông đuôi màu trắng, nhưng bộ lông của chúng sẽ không phát triển cho đến khi chúng được khoảng 5 tuổi. Tên tiếng Latin của nó có nghĩa là "đại bàng biển".
Thức ăn của đại bàng hói là cá. Thị lực cực tốt cho phép nó có thể phát hiện cá, kể cả vào những ngày nắng bởi thực tế rằng đôi mắt của nó có một sườn núi xương ngay phía trên để che bớt ánh nắng mặt trời. Một khi đã bị nó quắp, con cá không có cơ hội trốn thoát, một móng vuốt chân sau trên mỗi bàn chân xuyên qua cơ thể cá, một con đại bàng hói có thể nâng con cá với trọng lượng bằng khoảng một nửa trọng lượng của nó. Nếu con cá quá nặng, nó sẽ bơi vào bờ, sử dụng đôi cánh lớn của nó như là mái chèo vì nó là không thể thả cá. Tuy nhiên, đôi khi con cá quá lớn, sẽ có thể kéo con đại bàng xuống dưới và con chim đã bị chết đuối trong khi nó được an toàn bằng móng vuốt phía trước. Đại bàng đầu trắng sẽ chiến đấu những con khác vì thức ăn, đó là đôi khi dễ dàng hơn để ăn cắp những con chim khác mồi hơn là săn cho riêng mình. Điều này xảy ra nhiều hơn vào mùa đông, khi thực phẩm có thể làm khan hiếm.
Đại bàng hói bắt cặp cho cuộc sống, xây dựng một tổ lớn trong một cây hoặc trên mặt đất, mà nó quay trở lại năm này qua năm khác, bổ sung thêm các thực vật mỗi lần. Chúng sẽ đẻ từ một đến ba quả trứng trong một năm, cả đực và cái sẽ chăm sóc con của nó, nhưng không phải tất cả các con của chúng sẽ sống sót/
Chiều dài: 71 đến 96 cm. Trọng lượng: 3 đến 6,5 kg. Chế độ ăn uống: Cá, động vật nhỏ và các loài chim (carrion). Vị trí: Bắc Mỹ (USA, Canda).
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Haliaeetus leucocephalus tại Wikispecies |
hành hoa.txt | Hành hoa, hay hành hương, hành lá, đôi khi được gọi là hành ta, có danh pháp khoa học là Allium fistulosum thuộc họ Hành (Alliaceae).
Trong tiếng Anh nó có tên là Welsh onion-bunching onion (hành bụi).
Hành hoa không bao giờ có củ to và chắc như hành tây (onion), hẹ tây (shallot) và có cán hoa (tức lá hành) rỗng và mềm. Ngoài công dụng là một loại rau và gia vị trong việc nấu ăn thì chúng còn được dùng như là cây cảnh khi trồng thành bụi, thành khóm. Hành hoa tiếng Nhật gọi là negi và là một thành phần quan trọng trong nghệ thuật ẩm thực truyền thống Nhật Bản.
== Một vài hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
windows installer.txt | Windows Installer (tên cũ Microsoft Installer, tên mã là Darwin) là một thành phần phần mềm và giao diện lập trình ứng dụng (API) của Windows được sử dụng cho các quá trình cài đặt, bảo trì và gỡ bỏ của các phần mềm. Thông tin cài đặt và các tập tin cài đặt được đóng gói trong các gói cài đặt, các cơ sở dữ liệu có được cấu trúc trong các Kho Cấu trúc COM (các tệp MSI). Windows Installer đã thay đổi rất nhiều thứ từ người tiền nhiệm của nó - Setup API. Các tính năng mới bao gồm khung GIAO DIỆN và chế độ tự động tạo ra trình tự gỡ bỏ. Windows Installer đóng vai trò là một khung cài đặt tự động (giống như InstalleShield và NSIS).
Trước khi ra mắt Windows Store, Microsoft khuyến khích bên thứ ba sử dụng cửa Windows Installer làm khung cài đặt cơ sở cho mọi phần mềm, để chúng đồng bộ hóa chuẩn hơn với các bộ cài đặt khác cũng như giữ cho cơ sở dữ liệu an toàn bên trong. Tính năng quan trọng như quay ngược lại, và quản lý phiên bản phụ thuộc vào một sở dữ liệu nội bộ phù hợp để hoạt động hiệu quả. Hơn nữa, Windows Installer tạo điều kiện vận hành những nguyên tắc đặc quyền tối thiểu bằng cách thực hiện phần mềm cài đặt qua proxy những người dùng không có đặc quyền.
== Cấu trúc logic của các gói ==
Một gói mô tả cách cài đặt của một hay nhiều sản phẩm đầy đủ và được xác định một cách phổ quát bởi một mã số GUID Nhiều thành phần được nhóm lại thành thành tính năng, và một sản phẩm được cấu thành từ các tính năng đó. Windows Installer không xử lý về sự phụ thuộc giữa các sản phẩm.
=== Sản phẩm ===
Một chương trình đã được cài đặt và có thể chạy (hoặc tập hợp chương trình) được gọi là một sản phẩm. Một sản phẩm là được xác định một cách độc nhất bởi một mã số GUID (thuộc tính ProductCode) cho phép nó có thẩm quyền được định danh trên toàn thế giới. Số GUID kết hợp với số phiên bản (thuộc tính ProductVersion) cho phép quản lý việc phát hành các tệp và khóa đăng ký của sản phẩm.
Một gói bao gồm những gói logic và các siêu dữ liệu có liên quan đến cách gói thực thi khi chạy. Ví dụ, việc thay đổi một tập tin thực thi EXE trong sản phẩm có thể yêu cầu thay đổi ProductCode hoặc ProductVersion để quản lý việc phát hành. Trong trường hợp chỉ đơn thuần thay đổi hoặc thêm một điều kiện khởi động (nhưng phần còn lại giống chính xác như ở phiên bản cũ) thì vẫn bị yêu cầu các thay đổi PackageCode để phát hành tập MSI.
=== Tính năng ===
Một tính năng là một sự phân cấp của nhóm các thành phần. Một tính năng có thể có một số lượng bất kỳ thành phần khác cũng như các thành phần con. Các gói nhỏ hơn có thể bao gồm một tính năng duy nhất. Các bộ cài đặt phức tạp hơn thường cho người dùng lựa chọn "cài đặt tùy chỉnh" để chọn tính năng được cài đặt hoặc gỡ bỏ.
Tác giả của gói định nghĩa các tính năng của sản phẩm. Ví dụ đối với việc cài đặt một bộ xử lý văn bản, có thể đặt các tập tin cốt lõi của chương trình vào một tính năng và các tệp trợ giúp, kiểm tra chính tả và mô-đun văn phòng khác vàocác tính năng bổ sung.
=== Thành phần ===
Một thành phần là đơn vị cơ bản của một sản phẩm. Mỗi thành phần được Windows Installer xử lý như một đơn vị. Trình cài đặt không thể chỉ cài đặt chỉ một phần của một thành phần. Các thành phần có thể chứa tệp chương trình, thư mục, thành phần COM, khóa registry và các shortcut. Người dùng không trực tiếp tương tác với các thành phần.
Các thành phần được xác định trên toàn cầu bởi GUIDs; Do đó cùng một thành phần có thể được chia sẻ giữa một số tính năng của cùng một gói hoặc nhiều gói, lý tưởng thông qua việc sử dụng các mô-đun hợp nhất.
=== Đường dẫn chính ===
Một đường dẫn chính là một tệp cụ thể, khoá registry hoặc nguồn dữ liệu ODBC mà tác giả của gói đã chỉ định là quan trọng cho một thành phần nhất định. Bởi vì một tập tin là loại phổ biến nhất của đường dẫn quan trọng, thuật ngữ tập tin khóa thường được sử dụng. Một thành phần chỉ có thể chứa nhiều nhất một đường dẫn chính; Nếu một thành phần không có đường dẫn chính rõ ràng, thư mục đích của thành phần được coi là đường dẫn chính. Khi một chương trình MSI được khởi chạy, Windows Installer kiểm tra sự tồn tại của các đường dẫn chính. Nếu có sự không khớp giữa trạng thái hệ thống hiện tại và giá trị được chỉ định trong gói MSI (ví dụ: thiếu tệp khóa), tính năng liên quan được cài đặt lại. Quá trình này được gọi là tự chữa bệnh hoặc tự sửa chữa. Hai thành phần khác nhau không nên sử dụng chung một đường dẫn chính.
== Các giai đoạn thiết lập ==
=== Giao diện người dùng ===
Giai đoạn giao diện người dùng thường truy vấn hệ thống mục tiêu, hiển thị thuật sĩ cài đặt và cho phép người dùng thay đổi các tùy chọn khác nhau ảnh hưởng đến việc cài đặt.
Tuy nhiên, trình tự giao diện người dùng không nên thực hiện bất kỳ thay đổi nào đối với hệ thống, vì những lý do sau:
Một người dùng có thể cài đặt hoặc gỡ cài đặt gói MSI ở chế độ thụ động hoặc chế độ im lặng, bỏ qua giai đoạn này hoàn toàn. (Chế độ thụ động bỏ qua giai đoạn giao diện người dùng nhưng hiển thị thanh tiến trình đồ hoạ Chế độ im lặng không hiển thị gì) Trong quá trình cài đặt, thông tin thu thập được trong giai đoạn này có thể được cung cấp trước bằng giao diện dòng lệnh.
Chuỗi giao diện người dùng chạy với đặc quyền của người dùng, và không phải với các đặc quyền nâng cao được yêu cầu trong quá trình cài đặt.
=== Thực hiện ===
Khi người dùng nhấp vào nút "Cài đặt" trong một trình cài đặt MSI điển hình, quá trình cài đặt sẽ tiến hành đến giai đoạn Thực hiện, trong đó các thành phần phần mềm sẽ được cài đặt thực sự. Giai đoạn Thực hiện làm thay đổi hệ thống, nhưng nó không hiển thị bất kỳ phần tử giao diện người dùng nào.
Giai đoạn Thực hiện diễn ra trong hai bước:
Chế độ tức thì. Trong giai đoạn này, Windows Installer nhận các hướng dẫn từ người dùng hoặc ứng dụng để cài đặt hoặc gỡ bỏ các tính năng của sản phẩm. Các yêu cầu gây ra việc thực hiện các trình tự các hành động truy vấn cơ sở dữ liệu cài đặt để xây dựng một script nội bộ mô tả giai đoạn thực hiện chi tiết.
Chế độ hoãn lại. Trong giai đoạn này, kịch bản được xây dựng trong chế độ ngay lập tức được thực hiện trong ngữ cảnh của dịch vụ Windows Installer đặc quyền. Kịch bản phải được thực hiện bởi một tài khoản đặc quyền vì sự không đồng nhất của các kịch bản trong đó một hoạt động thiết lập được bắt đầu. Ví dụ: đặc quyền nâng cao là cần thiết cho việc phục vụ yêu cầu cài đặt theo yêu cầu từ những người dùng không có đặc quyền. Tuy nhiên, để chạy với các đặc quyền cao cấp, gói này phải được triển khai bởi một quản trị viên cục bộ hoặc do một quản trị viên hệ thống quảng cáo sử dụng Group Policy.
=== Quay ngược lại ===
Tất cả các hoạt động cài đặt diễn ra theo kiểu giao dịch. Nói cách khác, đối với mỗi thao tác mà Windows Installer thực hiện, nó sẽ tạo ra một thao tác hoàn tác tương tự có thể phục hồi thay đổi được thực hiện cho hệ thống. Trong trường hợp có bất kỳ hành động kịch bản nào không thành công trong quá trình hoãn thực hiện hoặc hoạt động bị huỷ bỏ bởi người sử dụng, tất cả các hành động được thực hiện cho đến khi điểm đó được cuộn lại, phục hồi hệ thống về trạng thái ban đầu. Các hành vi Windows Installer chuẩn sẽ tự động ghi thông tin vào một kịch bản rollback; Các tác giả gói tạo các hành động tuỳ chỉnh để thay đổi hệ thống mục tiêu cũng nên tạo các hành động trả về tương ứng (cũng như các hành động gỡ bỏ và gỡ bỏ cài đặt-rollback). Là một tính năng thiết kế, nếu được áp dụng chính xác cơ chế này cũng sẽ lật lại việc gỡ bỏ không thành công một ứng dụng sang trạng thái làm việc tốt.
== Các tính năng khác ==
=== Quảng cáo ===
Windows Installer có thể chỉ quảng cáo một sản phẩm chứ không thực sự cài đặt nó. Sản phẩm sẽ xuất hiện cài đặt cho người dùng, nhưng nó sẽ không được cài đặt cho đến khi nó được chạy lần đầu tiên bằng cách kích hoạt một điểm nhập cảnh (bằng phím tắt của trình đơn Start, bằng cách mở một tài liệu mà sản phẩm được cấu hình để xử lý, Hoặc bằng cách gọi một lớp COM được quảng cáo). Một gói có thể được quảng cáo bởi một quản trị viên sử dụng Group Policy hoặc cơ chế triển khai khác hoặc bằng cách chạy msiexec executable với / jm (cho mỗi máy quảng cáo) hoặc / ju (cho mỗi người dùng quảng cáo) chuyển đổi. Một số gói MSI có trong InstallShield có thể ngăn cản việc sử dụng các tính năng này và các tính năng MSI gốc khác.
Người dùng phải có quyền quản trị viên để hoàn tất việc cài đặt quảng cáo.
=== Cài đặt theo yêu cầu ===
Tương tự như quảng cáo, nó cài đặt một tính năng ngay sau khi dùng sử dụng nó lần đầu tiên.
=== Cài đặt quản trị ===
Cài đặt quản trị tạo ra một hình ảnh nguồn không nén cho một sản phẩm, thường được sử dụng để cài đặt hoặc chạy một ứng dụng từ một vị trí mạng. Một cài đặt quản trị không phải là một cài đặt điển hình, vì nó không tạo ra bất kỳ phím tắt nào, đăng ký các máy chủ COM, tạo một mục trong Add or Remove Programs, và tương tự. Thông thường một cài đặt quản trị viên cho phép người dùng cài đặt sản phẩm theo cách mà các tính năng của nó chạy từ nguồn cài đặt không nén.
Các cài đặt quản trị cũng hữu ích khi tạo một bản vá Windows Installer vì điều này đòi hỏi các hình ảnh không nén của các phiên bản trước đó và hiện tại của một sản phẩm để tính các sự khác biệt tập tin nhị phân. Một cài đặt hành chính được thực hiện bằng cách chạy tập tin thực thi msiexec với công tắc / a.
=== Hành động tùy chỉnh ===
Nhà phát triển gói cài đặt có thể viết mã để phục vụ cho mục đích của chúng, được phân phối dưới dạng DLL, EXE, VBScript hoặc JavaScript. Điều này có thể được thực hiện trong quá trình cài đặt trình tự, bao gồm cả khi người dùng nhấp vào một nút trong giao diện người dùng, hoặc trong InstallExecuteSequence. Tác vụ tùy chỉnh thường xác thực các khóa cấp phép sản phẩm hoặc khởi tạo các dịch vụ phức tạp hơn. Nhà phát triển thường cung cấp các hành động tùy chỉnh nghịch đảo để sử dụng trong quá trình gỡ cài đặt.
Msiexec cung cấp một cách để phá vỡ sau khi tải một thư viện DLL hành động tùy chỉnh cụ thể nhưng trước khi gọi hành động.
=== Hợp nhất mô-đun và thực thi lồng nhau ===
Gói Windows Installer có thể chứa một gói khác sẽ được cài đặt vào cùng một thời điểm. Đây là những lý tưởng cung cấp như là một thành phần tập tin.msm, nhưng cũng có thể là một chương trình thực thi riêng biệt sẽ được giải nén từ gói cài đặt trong InstallExecuteSequence và có thể chạy ngay lập tức. Tệp này sau đó có thể được xóa trước khi kết thúc InstallExecuteSequence, và vì vậy là lý tưởng để sử dụng với các trình cài đặt cũ hơn.
=== Tính tương thích với các tính năng của Windows ===
Windows Installer 4.0, được bán kèm theo Windows Vista, kết hợp các khả năng để tận dụng tính năng Kiểm soát Tài khoản Người dùng (UAC). Nếu một ứng dụng có thể được cài đặt mà không cần tới đặc quyền nâng cao, gói MSI của nó có thể được đánh dấu như vậy, do đó cho phép cài đặt mà không nhắc người dùng cho các thông tin đăng nhập của Quản trị viên. Windows Installer cũng hoạt động kết hợp với Restart Manager; Khi cài đặt hoặc cập nhật một ứng dụng hoặc thành phần hệ thống với chế độ giao diện người dùng "đầy đủ", người dùng sẽ được hiển thị một danh sách các ứng dụng bị ảnh hưởng có thể được tắt, và sau đó khởi động lại sau khi các tập tin đã được cập nhật. Hành động của trình cài đặt chạy ở chế độ im lặng thực hiện các ứng dụng này khởi động lại tự động. Dịch vụ hệ thống và các ứng dụng khay có thể được khởi động lại theo cách này.
== Phát triển gói cài đặt ==
Tạo một gói cài đặt cho một ứng dụng mới không phải là một việc dễ dàng. Cần phải xác định tệp nào phải được cài đặt, ở đâu và với những khoá đăng ký nào. Bất kỳ hoạt động không-theo-chuẩn nào cũng có thể được thực hiện bằng cách sử dụng Tác vụ tùy chỉnh, thường được phát triển trong DLL. Có một số sản phẩm thương mại và phần mềm miễn phí để hỗ trợ tạo các gói MSI, bao gồm cả Visual Studio (lên đến VS 2010), InstallShield và WiX. Ở mức độ khác nhau, giao diện người dùng và hành vi có thể được cấu hình để sử dụng trong các tình huống ít phổ biến hơn như cài đặt không giám sát. Sau khi chuẩn bị, gói cài đặt được "biên dịch" bằng cách đọc hướng dẫn và tệp từ máy địa phương của nhà phát triển và tạo tệp.msi.
Giao diện người dùng (hộp thoại) được trình bày khi bắt đầu cài đặt có thể được thay đổi hoặc được cấu hình bởi kỹ sư thiết lập phát triển trình cài đặt mới. Có một ngôn ngữ giới hạn các nút, trường văn bản và nhãn có thể được sắp xếp theo một chuỗi các hộp thoại. Gói trình cài đặt phải có khả năng chạy mà không có giao diện người dùng, cho cái gọi là "cài đặt không giám sát".
=== Xác nhận ICE ===
Microsoft cung cấp một bộ Đánh giá sự nhất quán nội bộ (ICE) có thể được sử dụng để phát hiện các vấn đề tiềm ẩn với cơ sở dữ liệu MSI. Các quy tắc ICE được kết hợp thành các tệp CUB, là các tệp MSI bị xoá đi chứa các hành động tuỳ chỉnh để kiểm tra nội dung của cơ sở dữ liệu MSI mục tiêu cho các cảnh báo và lỗi xác thực. Xác nhận ICE có thể được thực hiện với các công cụ Platform SDK Orca và msival2, hoặc với các công cụ xác nhận vận chuyển với các môi trường tác giả khác nhau.
Ví dụ, một vài quy tắc ICE là:
ICE09: Xác nhận rằng bất kỳ thành phần nào dành cho thư mục System được đánh dấu là vĩnh viễn.
ICE24: Xác nhận rằng mã sản phẩm, phiên bản sản phẩm và ngôn ngữ sản phẩm có các định dạng thích hợp.
ICE33: Xác nhận rằng bảng Registry không được sử dụng cho dữ liệu phù hợp hơn cho một bảng khác (Class, Extension, Verb, v.v.).
Giải quyết các cảnh báo và lỗi của ICE là một bước quan trọng trong quá trình phát hành.
== Các phiên bản ==
== Các công cụ ==
== Đọc thêm ==
Cài đặt
Danh sách phần mềm tạo bộ cài đặt
Hệ thống quản lý gói
Windows Installer CleanUp Utility
Tệp ZAP - một cách để thực hiện một cài đặt ứng dụng khi không tồn tại tệp MSI.
== Tham khảo == |
phạm vi công cộng.txt | Phạm vi công cộng bao gồm các kiến thức hay sự sáng tạo (đặc biệt là các công trình sáng tạo như văn học, nghệ thuật, âm nhạc, và phát minh) mà không một cá nhân hay một chủ thể luật pháp nào có thể thiết lập hay giữ quyền sở hữu. Các thông tin hay sự sáng tạo này được coi như là một phần của văn hóa và di sản tri thức chung của nhân loại, mà bất cứ ai cũng có thể sử dụng và thu lợi.
Nếu một công trình không thuộc phạm vi công cộng, nó có thể là sở hữu của các cá nhân thể hiện qua quyền tác giả hay bằng sáng chế. Thành viên của cộng đồng nói chung có thể bị hạn chế sử dụng những công trình này. Tuy nhiên, khi bản quyền hay sở hữu trí tuệ hết hạn, công trình sẽ thuộc phạm vi công cộng và có thể được sử dụng không bị hạn chế bởi tất cả mọi người.
== Xem thêm ==
Phi quyền tác giả
Copyleft
== Tham khảo ==
Fishman, Stephen, The Public Domain: How to Find & Use Copyright-Free Writings, Music, Art & More. ISBN 0-87337-433-9
== Liên kết ngoài ==
Flowchart to determine Public Domain status of a work in the U.S.
Copyright Research and Information center - about the copyright law in Japan
Short list of uncopyrightable things in the U.S.
Public Domain Law Center (Russian)
Summary list of copyright terms in other countries
Union for the Public Domain |
aston martin.txt | Aston Martin Lagonda Limited là một nhà sản xuất xe hơi thể thao hạng sang của Anh, có trụ sở đặt tại Gaydon, Warwickshire. Tên của công ty bắt nguồn từ tên của một trong những người sáng lập công ty, Lionel Martin, và từ tên ngọn đồi đua Aston gần Aston Clinton tại Buckinghamshire.
Từ 1994 tới 2007, Aston Martin là một công ty con của hãng Ford Motor Company, trở thành một phần của công ty Premier Automotive Group vào năm 2000. Vào ngày 12 tháng 3 năm 2007, Aston Martin được mua lại bởi một công ty liên doanh với số tiền 848 triệu đô, trở thành đồng sở hữu bởi công ty Investment Dar và công ty Adeem Investment của Kuwait và doanh nhân người Anh John Sinders. Ford vẫn có 77 triệu đô la cổ phần trong công ty,ước tính giá trị hiện nay của Aston Martin vào khoảng 925 triệu đô la Mỹ,khoảng 1 tỷ đô la Mỹ.Aston Martin là 1 trong những công ty về ô tô hàng đầu thế giới.
== Tham khảo == |
oxfordshire.txt | Oxfordshire ( /ˈɒksfərdʃər/ hoặc /ˈɒksfərdʃɪər/ là một hạt ở đông nam của Anh. Thủ phủ hạt đóng ở Oxford. Oxfordshire giáp giới Warwickshire và Northamptonshire (ở phía bắc /phía đông bắc), Buckinghamshire (phía đông), Berkshire (phía nam), Wiltshire (phía Tây Nam) và Gloucestershire (phía tây).
Nó được chia thành năm khu chính quyền địa phương: Oxford, Cherwell, Vale of White Horse (Ngựa trắng Uffington), Tây Oxfordshire và Nam Oxfordshire. Hạt có công nghiệp du lịch và giáo dục lớn. Khu vực này được ghi nhận mật độ của các công ty và cơ sở xe thể thao. Oxford University Press là công ty lớn nhất trong số các công ty in ấn và xuất bản; Đại học Oxford cũng liên quan đến nồng độ của các công ty công nghệ sinh học địa phương.
Trung tâm chính của dân cư là thành phố của Oxford. Các khu định cư quan trọng khác là Banbury, Bicester, Kidlington, và Chipping Norton ở phía bắc của Oxford; Witney về phía tây, Thame và Chinnor về phía đông và Abingdon-on-Thames, Didcot, Wallingford và Henley-on-Thames ở phía nam. Tương lai tăng trưởng dân số trong quận hạt được mong đợi là sẽ tập trung xung quanh Oxford, Banbury, Bicester, Didcot và Witney, gần khu vực phát triển Nam Midlands.
Điểm cao nhất của quận hạt hành chính là đồi White Horse ở Vale of White Horse, độ cao 261 mét (856 ft). Điểm cao nhất trong quận lịch sử là gần trang trại Portobello ở đồi Chiltern là 255 mét.
== Tham khảo == |
hoàng gia anh.txt | Gia đình Hoàng gia Anh là nhóm của họ hàng gần gũi của các vị vua của Vương quốc Anh. Thuật ngữ này cũng thường được áp dụng cho cùng một nhóm người như các mối quan hệ của quốc vương trong vai trò của mình như là chủ quyền của bất kỳ của các cõi Liên bang khác, do đó đôi khi không đúng với các điều khoản chính thức của quốc gia cho gia đình. Các thành viên của gia đình hoàng gia thuộc, bằng cách sinh hay hôn nhân, Nhà Windsor, kể từ năm 1917, khi George V đổi tên của nhà vua từ Saxe-Coburg và Gotha.
Mặc dù ở Vương quốc Anh không có định nghĩa đúng pháp luật hoặc chính thức của những người đã là hoặc không là thành viên của gia đình Hoàng gia, [2] và các danh sách khác nhau sẽ bao gồm những người khác nhau, những người mang phong cách hoặc ông bà hoàng (HM), hoặc ông bà Royal Hoàng thân (Hoàng) luôn được xem là thành viên, mà thường kết quả trong việc áp dụng thời hạn với vương triều, vợ của vương triều, sự ngẫu góa bụa của vua trước đó, các con của vương triều, các cháu nam-line của quốc vương, và hai vợ chồng và người vợ goá của một người con trai của quốc vương và nam-line cháu trai.
Thành viên và người thân của gia đình Hoàng gia Anh trong lịch sử đại diện cho quốc vương tại nhiều nơi trong Đế quốc Anh, đôi khi trong thời gian dài như viceroys, hoặc cho các nghi lễ cụ thể hoặc sự kiện. Hôm nay, họ thường thực hiện nhiệm vụ nghi lễ và xã hội trong cả Vương quốc Anh và ở nước ngoài thay mặt Anh, nhưng, ngoài vương triều, không có vai trò hiến trong công việc của chính phủ. Đây là giống nhau cho các lĩnh vực khác của Khối thịnh vượng chung mặc dù gia đình có hành vi thay mặt, được tài trợ bởi, và đại diện cho chủ quyền của tiểu bang đó, và không phải là Vương quốc Anh
== Thành viên chính thức ==
Dưới đây là danh sách thành viên chính thức của Hoàng gia Anh (có tước hiệu)
Nữ hoàng Elizabeth II và Ông hoàng Philip, Công tước xứ Edinburgh
Charles, Hoàng thân xứ Wales và Camilla, Nữ công tước xứ Cornwall
Hoàng tử William, Công tước xứ Cambridge và Catherine, Công nương Cambridge
Hoàng tử George xứ Cambridge
Công chúa Charlotte xứ Cambridge
Hoàng tử Harry xứ Wales
Công chúa Anne, Công chúa Hoàng gia
Hoàng tử Andrew, Công tước xứ York
Công chúa Beatrice xứ York
Công chúa Eugenie xứ York
Hoàng tử Edward, Bá tước xứ Wessex và Sophie, Bá tước xứ Wessex
Lady Louise Windsor
James, Tử tước Severn
Hoàng tử Richard, Công tước xứ Gloucester và Birgitte, Nữ Công tước xứ Gloucester
Hoàng tử Edward, Công tước xứ Kent và Katharine, Nữ Công tước xứ Kent
Hoàng tử Michael xứ Kent và Công nương Michael xứ Kent
Công chúa Alexandra, The Honourable Lady Ogilvy
== Các thành viên của Hoàng gia Anh kể từ năm 1714 ==
Vua George I (1660 - 1727)
Vua George II (1683 - 1760)
Hoàng tử Frederick xứ Wales (1707 - 1751)
Vua George III (1738 - 1820)
Vua George IV (1762 - 1817)
Công chúa Charlotte xứ Wales, Công chúa Leopold xứ Saxe-Coburg-Saalfeld, Công tước của Saxony (1796 - 1817)
Hoàng tử Frederick, Công tước xứ York và Albany (1763 - 1827)
Vua William IV (1765 - 1837)
Công chúa Charlotte xứ Clarence (1819)
Công chúa Elizabeth xứ Clarence (1820 - 1821)
Hoàng tử Edward, Công tước xứ Kent và Strathearn (1767 - 1820)
Nữ hoàng Victoria (1819 - 1901)
Vua Edward VII (1841 - 1910)
Hoàng tử Albert Victor xứ Wales, Công tước xứ Clarence và Avondale (1864 - 1892)
Vua George V (1865 - 1936)
Vua Edward VIII (1894 - 1972)
Vua George VI (1895 - 1952)
Nữ hoàng Elizabeth II
(Còn nữa)
== Tham khảo == |
moscovi.txt | Moscovi là tên gọi của nguyên tố tổng hợp siêu nặng trong bảng tuần hoàn, với ký hiệu Mc và số nguyên tử 115.
Nó nằm ở vị trí nguyên tố nặng nhất của nhóm 15 (VA), mặc dù đồng vị bền đầy đủ chưa được biết đến thời điểm này để cho phép tiến hành các thí nghiệm hóa nhằm xác định vị trí của nó. Nó được quan sát đầu tiên vào năm 2003 và chỉ có 30 nguyên tử moscovi được tổng hợp cho đến ngày nay, với chỉ 4 nguyên tử từ phân rã từ tiếp của hạt nhân mẹ được phát hiện. Bốn đồng vị liên tiếp hiện đã được phát hiện, 287–290Uup, với 289Uup có chu kỳ bán rã lâu nhất là ~220 mili giây, dù vậy đồng vị 290Uup có thể có chu kỳ bán rã lâu hơn (chỉ có một phân tử được đo đạc nên độ chính xác chưa cao).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Uut and Uup Add Their Atomic Mass to Periodic Table
Superheavy elements
History and etymology |
ronald fisher.txt | Sir Ronald Aylmer Fisher, Thành viên Hội khoa học Hoàng gia (17 tháng 2 năm 1890 – 29 tháng 7 năm 1962) là một nhà thống kê, sinh học tiến hóa, thuyết ưu sinh và di truyền học người Anh. Theo lời Anders Hald mô tả, ông là "một thiên tài gần như tự mình tạo ra nền tảng cho ngành khoa học thống kê hiện đại," và Richard Dawkins mô tả ông là "nhà sinh vật học vĩ đại nhất kể từ sau thời của Darwin".
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
O'Connor, John J.; Robertson, Edmund F., “Ronald Fisher”, Bộ lưu trữ lịch sử toán học MacTutor
A Guide to R. A. Fisher by John Aldrich
Earliest Known Uses of Some of the Words of Mathematics for Fisher’s contribution to the language of statistics
University of Adelaide Library for bibliography, biography, 2 volumes of correspondence and many articles
Classics in the History of Psychology for the first edition of Statistical Methods for Research Workers
A collection of Fisher quotations compiled by A. W. F. Edwards
Ronald Fisher tại Mathematics Genealogy Project
Sawilowsky, Shlomo S. (2002). Fermat, Schubert, Einstein, and Behrens-Fisher: The Probable Difference Between Two Means When σ1 ≠ σ2 Journal of Modern Applied Statistical Methods, 1(2).
Bản mẫu:Copley Medallists 1951-2000 Bản mẫu:Guy Medal Bản mẫu:Popgen Bản mẫu:Statistics Bản mẫu:Thiết kế thí nghiệm |
roaming shores, ohio.txt | Roaming Shores là một làng thuộc quận Ashtabula, tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của làng này là 1508 người.
== Dân số ==
Dân số năm 2000: 1239 người.
Dân số năm 2010: 1508 người.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
American Finder |
trường đại học thương mại (việt nam).txt | Trường Đại học Thương mại (tên tiếng Anh: Thuong Mai University, tên giao dịch quốc tế viết tắt: TMU) là trường đại học công lập trực thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trường Đại học Thương mại là trường đại học chất lượng cao đa ngành, đa lĩnh vực và hoạt động tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, trách nhiệm bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học của các đối tượng chính sách, đối tượng thuộc hộ nghèo.
Trong khuôn khổ chương trình đánh giá các trường đại học đợt 1 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Thương mại được xếp trong nhóm 5 trường đại học tốt nhất Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế, quản lý và kinh doanh.
== Lịch sử ==
Trường được thành lập năm 1960 với tên gọi là Trường Thương nghiệp Trung ương.
Năm 1979, Trường đổi tên thành Trường Đại học Thương nghiệp.
Năm 1994, Trường đổi tên thành Trường Đại học Thương mại.
Năm 2015, Trường thành lập cơ sở Hà Nam.
Năm 2016, Trường được Thủ tướng Chính phủ cho phép tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
== Cơ sở đào tạo ==
Cơ sở Hà Nội: Số 79 đường Hồ Tùng Mậu, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Cơ sở Hà Nam: Đường Lý Thường Kiệt, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
== Đội ngũ cán bộ, giảng viên ==
Tổng số cán bộ viên chức của nhà trường hiện nay trên 600 người. Trong đội ngũ cán bộ, giảng viên cơ hữu có 2 giáo sư, 40 phó giáo sư, 100 tiến sĩ và 400 thạc sĩ. Phần lớn cán bộ, giảng viên nhà trường đã và đang học tập, nghiên cứu tại các nước và vùng lãnh thổ: Nga, Anh, Ấn Độ, Nhật Bản, Pháp, Hoa Kỳ, Đức, Thuỵ Điển, Úc, Thái Lan, Indonesia, Đài Loan.
Hiệu trưởng nhà trường qua các giai đoạn:
GS.TS. Nguyễn Thị Doan: 1993, nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
GS.TS. Phạm Vũ Luận: 2000, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
GS.TS. Nguyễn Bách Khoa: 2004. Chức vụ hiện nay: Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học Thương mại.
GS.TS. Đinh Văn Sơn: 2011 (đương nhiệm). Chức vụ hiện nay: Chủ tịch Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Kinh tế học.
== Cơ sở vật chất ==
Trường Đại học Thương mại có cơ sở chính đóng tại số 79 đường Hồ Tùng Mậu, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội với tổng diện tích 380.000 m2. Trường là một trong những đại học có cảnh quan và khuôn viên đẹp nhất trong các trường đóng tại Hà Nội.
Các giảng đường phục vụ đào tạo: Tòa nhà C (3 tầng, các giảng đường 60 chỗ ngồi, phục vụ học các môn ngoại ngữ, các môn chuyên ngành), Tòa nhà D (3 tầng, các giảng đường 60 chỗ ngồi, phục vụ học các môn ngoại ngữ và các phòng máy phục vụ môn tin học), Tòa nhà H (2 giảng đường 150 chỗ phục vụ học tập và hội thảo, 1 giảng đường hai tầng với 1.000 chỗ ngồi, phục vụ học tập và các chương trình, sự kiện), Tòa nhà G (5 tầng, các giảng đường từ 120-150 chỗ ngồi, tầng 5 là các phòng máy tính), Tòa nhà V (7 tầng, từ 60-120 chỗ ngồi). Ngoài các giảng đường, sinh viên có thể tự học, học nhóm tại các phòng thảo luận (nhà C, nhà D và nhà V), mỗi phòng có 15-20 chỗ ngồi. Tất cả giảng đường đều được trang bị hệ thống máy chiếu, quạt điện, quạt trần và điều hoà nhiệt độ. Tổng diện tích phục vụ đào tạo: 46.000m2.
Thư viện: 2 tầng, tầng 1 có phòng đọc với 150 chỗ ngồi, các phòng mượn giáo trình, photocopy tài liệu, tầng 2 có các phòng đọc sách báo, phòng đọc sách nước ngoài, phòng hội thảo. Tổng diện tích thư viện: 2.500m2.
Phòng thí nghiệm: có tổng diện tích 450m2.
Nhà xưởng thực hành: có tổng tổng diện tích 960m2.
Ký túc xá: Tòa nhà B (3 tầng, phục vụ sinh viên trong nước), Tòa nhà A (3 tầng, chủ yếu phục vụ sinh viên quốc tế). Tổng diện tích ký túc xá: 5.600m2.
Sân bóng đá: Sân nhà V, sân nhà G.
Sân bóng chuyền: Sân nhà E.
Sân tenis: Sân Bộ môn Thể dục - Quân sự.
Sân cầu lông: Sân nhà I, Sân ký túc xá.
Cơ sở Hà Nam của Trường Đại học Thương mại có tổng diện tích 500.000m2, đóng tại đường Lý Thường Kiệt, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý.
== Các ngành/chuyên ngành đào tạo ==
Trường Đại học Thương mại là trường đại học đa ngành, hàng đầu trong các lĩnh vực kinh tế thương mại tại Việt Nam. Hiện nay, nhà trường đang đào tạo 13 ngành với 16 chuyên ngành trình độ đại học, 3 chuyên ngành trình độ thạc sĩ và 3 chuyên ngành trình độ tiến sĩ.
Trình độ đại học:
Ngành Kinh tế: Chuyên ngành Quản lý kinh tế (F).
Ngành Kế toán: Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp (D).
Ngành Quản trị kinh doanh: Chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp thương mại (A), Chuyên ngành Quản trị kinh doanh tổng hợp (K), Chuyên ngành Tiếng Pháp thương mại (Q).
Ngành Thương mại điện tử: Chuyên ngành Quản trị Thương mại điện tử (I).
Ngành Quản trị khách sạn: Chuyên ngành Quản trị khách sạn (B-KS).
Ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành: Chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành (B-DL).
Ngành Kinh doanh quốc tế: Chuyên ngành Thương mại quốc tế (E).
Ngành Marketing: Chuyên ngành Marketing thương mại (C), Chuyên ngành Quản trị thương hiệu (T).
Ngành Quản trị nhân lực: Chuyên ngành Quản trị nhân lực thương mại (U).
Ngành Luật kinh tế: Chuyên ngành Luật Kinh tế (P).
Ngành Tài chính - Ngân hàng: Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng thương mại (H).
Ngành Hệ thống thông tin quản lý: Chuyên ngành Quản trị hệ thống thông tin (S).
Ngành Ngôn ngữ Anh: Chuyên ngành Tiếng Anh thương mại (N).
Trình độ thạc sĩ, tiến sĩ
Chuyên ngành Quản lý kinh tế.
Chuyên ngành Thương mại.
Chuyên ngành Kế toán.
Quy mô đào tạo
Quy mô đào tạo của nhà trường hiện nay trên 20.000 sinh viên và học viên, trong đó:
Trình độ đại học: khoảng 4000 sinh viên chính quy/năm.
Trình độ thạc sĩ: khoảng 400 học viên cao học/năm.
Trình độ tiến sĩ: khoảng 50 nghiên cứu sinh tiến sĩ/năm.
Tuyển sinh
Đối với trình độ đại học hệ chính quy, nhà trường tổ chức xét tuyển dựa trên kết quả của Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia theo các tổ hợp môn thi A00 (Toán, Vật lý, Hóa học), A01 (Toán, Vật lý, Tiếng Anh), D01 (Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh) và D03 (Toán, Ngữ văn, Tiếng Pháp).
Đối với trình độ sau đại học, nhà trường tổ chức thi tuyển sinh (đối với trình độ thạc sĩ) và xét tuyển (đối với trình độ tiến sĩ) theo 2 đợt trong năm (vào tháng 3 và tháng 9 hàng năm).
== Các khoa trực thuộc ==
Trường Đại học Thương mại hiện nay bao gồm 14 khoa:
Khoa Quản trị kinh doanh (AK).
Khoa Khách sạn - Du lịch (BV).
Khoa Marketing (C).
Khoa Kế toán - Kiểm toán (D).
Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế (E).
Khoa Kinh tế - Luật (FP).
Khoa Tài chính - Ngân hàng (H).
Khoa Hệ thống thông tin kinh tế và Thương mại điện tử (SI).
Khoa Kinh doanh thương mại (T).
Khoa Tiếng Anh (N).
Khoa Quản trị nhân lực (U).
Khoa Đào tạo quốc tế (Q).
Khoa Lý luận chính trị (M).
Khoa Sau đại học.
Khoa Tại chức.
== Trung tâm và tạp chí trực thuộc ==
Trung tâm Thông tin - Thư viện.
Trung tâm Quản trị mạng.
Trung tâm Dịch vụ.
Trung tâm Thương hiệu.
Trung tâm Hướng nghiệp sinh viên và Quan hệ doanh nghiệp.
Trung tâm Thương mại điện tử (thuộc Khoa Thương mại điện tử).
Trung tâm Ngoại ngữ Smartlearn (thuộc Khoa Tiếng Anh, bồi dưỡng tiếng Anh).
Trung tâm Ngoại ngữ quốc tế CILA (thuộc Khoa Đào tạo quốc tế, bồi dưỡng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc).
Trung tâm Bồi dưỡng và Tư vấn Kế toán - Kiểm toán (thuộc Khoa Kế toán - Kiểm toán).
Trung tâm Nghiên cứu, Triển khai Luật Kinh tế và Thương mại (thuộc Khoa Kinh tế - Luật).
Tạp chí Khoa học Thương mại: 2 tháng/số, xuất bản tiếng Việt và tiếng Anh.
== Thành tích ==
Từ khi thành lập đến nay, nhà trường đã đào tạo cung cấp cho xã hội hàng chục nghìn cử nhân kinh tế, hàng nghìn thạc sĩ, tiến sĩ kinh tế; bồi dưỡng nhiều cán bộ quản lý kinh tế cho ngành thương mại và các ngành khác, đã trực tiếp thực hiện và tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, hàng trăm đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và hàng chục hợp đồng nghiên cứu với các cơ quan, doanh nghiệp được Nhà nước, xã hội và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá ngày càng cao.
Hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, Trường Đại học Thương mại đã đạt được nhiều danh hiệu cao quý như:
Đơn vị Anh hùng Lao động (2010).
Huân chương Độc lập hạng Nhì (2008).
Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2008).
Huân chương Độc lập hạng Ba (2000).
Huân chương Lao động hạng Nhất (1995).
Huân chương Lao động hạng Nhất (1984).
Huận chương Lao động hạng Ba (1980).
Huân chương Chiến công hạng Ba (1972).
== Cựu sinh viên nổi tiếng ==
Nhiều sinh viên của Trường Đại học Thương mại sau khi tốt nghiệp đã giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, trong các cơ quan, doanh nghiệp lớn:
GS.TS. Nguyễn Thị Doan: nguyên Phó Chủ tịch nước, cựu sinh viên, giảng viên, nguyên hiệu trưởng nhà trường.
GS.TS. Phạm Vũ Luận: nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, cựu sinh viên, giảng viên Khoa Kinh tế - Luật (chuyên ngành Kinh tế thương mại), nguyên hiệu trưởng nhà trường.
GS.TS. Phan Văn Tiệm: nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước.
PGS.TS. Nguyễn Bích Đạt: nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
TS. Nguyễn Quanh Quýnh: nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại.
PGS.TS. Đinh Văn Thành: Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, cựu sinh viên.
GS.TS. Lê Năm: Viện trưởng Viện Bỏng Quốc gia, cựu sinh viên.
TS. Vũ Thành Tự Anh: Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright - Chương trình liên kết giữa Harvard University và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, cựu sinh viên.
PGS.TS. Lê Quân: Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, cựu sinh viên, giảng viên.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website của Trường Đại học Thương mại |
thời tiền sử.txt | Thời đại tiền sử là thuật ngữ thường được dùng để mô tả thời đại trước khi lịch sử được viết. Paul Tournal lúc đầu tạo ra thuật ngữ trước-lịch sử (Pré-historique) để mô tả những vật ông tìm thấy trong các hang động của miền Nam nước Pháp. Nó đã được sử dụng trong ngôn ngữ tiếng Pháp vào những năm 1830 để miêu tả thời gian trước khi có chữ viết, và nó được đưa vào trong ngôn ngữ tiếng Anh bởi Daniel Wilson vào năm 1851.
Thời đại tiền sử có thể được hiểu là thời đại được bắt đầu của vạn vật, vũ trụ, tuy nhiên thuật ngữ này hầu hết được sử dụng để mô tả các thời kỳ có sự sống trên trái đất; những con khủng long có thể được mô tả là các động vật thời kỳ tiền sử và người thượng cổ (ở trong hang) được mô tả là người tiền sử.
Bởi vì không có chữ viết từ thời tiền sử, nên những thông tin mà chúng ta biết về thời kỳ này là được biết ở ngoài thực địa của các khoa học như cổ sinh học, sinh học, linh trưởng học, địa chất học, khảo cổ học, thiên văn học và các khoa học tự nhiên cũng như các khoa học xã hội khác.
== Thời đại đồ đá ==
Thời tiền sử bắt đầu từ 2,5 triệu BP (before present, năm trước đây)
=== Đồ đá cũ ===
"Thời đại đồ đá cũ" bắt đầu bằng việc con người sử dụng đồ đá, đây là giai đoạn đầu tiên của thời đại đồ đá.
Thời đại đồ đá cũ được chi thành 3 phần, đồ đá cũ sớm, giữa và muộn. Thời kỳ đồ đá cũ sớm trước khi xuất hiện Homo sapiens, bắt đầu bằng Homo habilis (và các loài liên quan) và sử dụng đồ đá sớm nhất là khoảng 2,5 triệu BP. Các loài trước homo sapiens có nguồn gốc khoảng 200.000 BP, mở ra trong thời đại đồ đá cũ giữa. Những thay đổi về mặt giải phẫu cho thấy khả năng ngôn ngữ hiện đại cũng được dùng trong thời đại đồ đá cũ giữa. Cách thức chôn người chết, âm nhạc, nghệ thuật thuở ban đầu, và việc sử dụng các công cụ có nhiều bộ phận ngày càng tinh vi trong thời đại đồ đá cũ giữa.
Trong suốt thời đại đồ đá cũ, con người chủ yếu sống bằng săn bắt hái lượm. Săn bắt hái lượm có xu hướng rất nhỏ và bình đẳng, mặc dù các xã hội săn bắt hái lượm có nguồn tài nguyên phong phú hoặc các kỹ thuật lưu trữ thực phẩm tiến bộ đôi khi phát triển lối sống ít vận động với cấu trúc xã hội phức tạp như chiefdoms, và phân tầng xã hội.
=== Thời đại đồ đá giữa ===
"Thời đại đồ đá giữa" là giai đoạn phát triển công nghệ của con người giữa thời đại đồ đá cũ và thời đại đồ đá mới của thời đại đồ đá.
Thời đại đồ đá giữa bắt đầu khi kết thúc thế Pleistocene, khoảng 10.000 BP, và kết thúc khi bắt đầu phát triển nông nghiệp, mốc thời gian có thể thay đổi theo vùng địa lý. Ở một số vùng, như Cận Đông, nông nghiệp đã trải qua vào cuối Pleistocen, và ở đây thời kỳ đồ đá giữa diễn ra ngắn và không được hiểu rõ. Ở những khu vực chịu tác động của băng hà, thì người ta gọi là "Epipaleolithic".
Những khu vực từng trải qua những tác động môi trường lớn hơn như kết thúc thời kỳ băng hà cuối cùng có nhiều bằng chứng về thời kỳ đồ đá giữa, tồn tại hàng thiên niên kỷ. Ở Bắc Âu, các xã hội đã có thể sống tốt dự trên nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào từ các vùng đầm lầu được rừng bao phủ bởi khí hậu ấm hơn. Những điều kiện như thế đã tạo ra những tập tính riêng biệt của con người được bảo tồn trong các tài liệu của họ, như các nền văn hóa Maglemosian và Azilian. Các điều kiện như thế này cũng trì hoãn sự thay thế của thời kỳ đồ đá mới cho đến tậo 6.000 BP (4000 TCN) ở Bắc Âu.
Thời đại đồ đá giữa đặc trưng ở hầu hết các khu vực bởi các dụng cụ bằng các loại đá lửa nhỏ — microlith và microburin. Vật câu cá, dao đá dùng để đẻo, và các vật dụng bằng gỗ như canoe và cung tên đã được phát hiện ở nhiều nơi. Các công nghệ này xuất hiện đầu tiên ở châu Phi liên quan đến văn hóa Azilia, trước khi phát triển đến châu Âu qua nền văn hóa Ibero-Maurusian của Bắc Phi và văn hóa Kebaran của Levant.
=== Đồ đá mới ===
"Thời kỳ đồ đá mới" là giai đoạn của sự phát triển về công nghệ và xã hội nguyên thủy dẫn đến sự kết thúc của thời đại đồ đá. Thời kỳ đồ đá mới chứng kiến sự phát triển của các ngôi làng sơ khai, nông nghiệp, thuần hóa động vật, các dụng cụ và khởi đầu cho các biến cố về chiến tranh.
=== Thời đại đồ đồng đá ===
Trong khảo cổ học cựu thế giới, "thời đại đồ đồng đá", hoặc "thời đại đồ đồng" đề cập đến giai đoạn chuyển tiếp khi bắt đầu xuất hiện luyện kim đồng song song với việc sử dụng phổ biến các công cụ bằng đá.
== Niên biểu ==
Tất cả các tuổi đều là tương đối được đưa ra từ các nghiên cứu trong các lĩnh vực nhân chủng học, khảo cổ học, di truyền học, địa chất học, hoặc ngôn ngữ học. Tất cả chúng đều phải xem xét cải tiến nếu có phát hiện mới hoặc tính toán mới. BP viết tắt của thời gian tính theo mốc trước hiện tại (1950).
Thời đại đồ đá cũ sớm
c. 2,5 triệu BP - Bằng chứng xuất hiện các công cụ của con người ban đầu
c. 2,4 triệu BP - Chi Homo xuất hiện là động vật ăn xác thối
c. 600.000 BP - Săn bắt-hái lượm
c. 400.000 BP - Kiểm soát lửa của người tiền sử
Thời đại đồ đá cũ giữa
c. 200.000 BP - Homo sapiens hiện đại xuất hiện ở châu Phi, bao gồm các đặc điểm tiến hóa mất đi nhiều lông so với các loài linh trưởng khác
c. 300.000 BP đến 30.000 BP. Văn hóa Mousterian (Neanderthal) ở châu Âu.
c. 75.000 BP - Núi lửa Toba phun mạnh mẽ.
c. 70.000 - 50.000 BP - Homo sapiens di chuyển từ châu Phi sang châu Á. Trong thiên niên kỷ tiếp theo, hậu duệ của các nhóm người này di chuyển đến nam Ấn Độ, các đảo Malay, Úc, Nhật Bản, Trung Quốc, Siberia, Alaska, và các bờ biển tây bắc Bắc Mỹ.
c. 50.000? BP - hành vi hiện đại, gồm ngôn ngữ và sự nhận thức tinh vi
c. 42.000 - 650.000? BP - phát minh ra quần áo
Thời đại đồ đá cũ muộn
c. 32.000 BP - Văn hóa Aurignacian bắt đầu ở châu Âu.
c. 30.000 BP (28.000 TCN) - Một đàn tuần lộc bị giết mổ và xẻ thịt bởi con người trong thung lũng Vezere, ngày nay là Pháp.
c. 30.500 BP - New Guinea bắt đầu có người sinh sống đến từ châu Á và Úc.
c. 28.000 BP - 20.000 BP - Thời kỳ Gravettian ở châu Âu. Lao móc, kim tiêm và cưa được phát minh.
c. 26.000 BP (24.000 TCN) - Phụ nữ khắp thế giới dùng sợi để làm địu trẻ, áo quần, túi, lưới.
c. 25.000 BP (23.000 TCN) - Làng gồm các túp liều bằng đá và xương khổng lồ được thành lập ở nơi mà ngày nay là Dolni Vestonice ở Moravia thuộc Cộng hòa Séc. Đây là nơi định cư lâu dài lâu đời nhất được các nhà khảo cổ phát hiện.
c. 20.000 BP - Văn hóa Chatelperronian ở Pháp.
c. 16.000 BP (14.000 TCN) - Wisent khắc trong sét bên trong hang động tên là Le Tuc d'Audoubert ở French Pyrenees gần nơi hiện là ranh giới với Tây Ban Nha.
c. 14.800 BP (12.800 TCN) - Thời kỳ ẩm ướt bắt đầu ở Bắc Phi. Khu vực có thể sau này là Sahara ẩm ướt và màu mỡ, và các tầng chứa nước đầy ắp.
Thời đại đồ đá giữa
Có khung thời gian khác nhau ở nhiều nơi thuộc Á-Âu.
c. 12.000 đến 7000 BP (10.000 đến 5000 TCN) - Giai đoạn sau Holocene nhưng trước các dụng cụ thời kỳ nông nghiệp ở Tây Bắc châu Âu/
c. 22.000 đến 11.500 BP (20.000 đến 9500 TCN) - các dụng cụ ở Levant.
c. 16.000 đến 2.400 BP (14.000 đến 400 TCN) - thời kỳ Jōmon ở Nhật Bản.
Thời đại đồ đá mới
c. 10.000 - 9.000 BP - Ở bắc Mesopotamia, hiện là miền bắc Iraq, bắt đầu trồng lúa mạch và lúa mì. Đầu tiên họ dùng để làm bia, cháo và canh, thậm chí làm bánh mì. Thời kỳ nông nghiệp đầu tiên lúc này, dụng cụ cấy được sử dụng nhưng nó được thay thế bằng cày nguyên thủy trong nhiều thế kỷ tiếp theo. Trong khoảng thời gian này, các tháp bằng đá tròn hiện cao khoảng 8,5 mm và có đường kính 8,5 m được xây dựng ở Jericho.
Thời đại đồ đồng đá
c. 5700 BP - chữ viết Cuneiform xuất hiện ở Sumer, và các dữ liệu bắt đầu được lưu lại. Theo đa số các chuyên gia, chữ viết Mesopotamian đầu tiên là một công cụ có gắn kết ít với ngôn ngữ nói.
c. 5000 BP - Stonehenge bắt đầu được xây dựng. Phiên bản đầu tiên của nó gồm một rãnh tròn và các vách với 56 cột gỗ.
== Xem thêm ==
Khảo cổ học
Tiến trình tiến hóa loài người
Nghệ thuật tiền sử
Đời sống tiền sử
Chiến tranh tiền sử
Việt Nam thời tiền sử
== Tham khảo ==
== Các liên kết ngoài ==
Submerged Landscapes Archaeological Network
The Neanderthal site at Veldwezelt-Hezerwater, Belgium.
North Pacific Prehistory is an academic journal specialising in Northeast Asian and North American archaeology. |
sở giao dịch chứng khoán new york.txt | Sở giao dịch chứng khoán New York (tiếng Anh: New York Stock Exchange - NYSE), biệt danh là "Big Board", là một sở giao dịch chứng khoán đóng tại Thành phố New York thuộc sở hữu của công ty tư nhân NYSE Group (NYX). Đây là sở giao dịch chứng khoán lớn nhất thế giới nếu tính về giá trị vốn hóa thị trường bằng dollar Mỹ và là sở giao dịch chứng khoán lớn thứ nhì thế giới nếu tính theo số lượng công ty niêm yết. Số lượng cổ phiếu của sở này vượt quá số lượng cổ phiếu tại sàn NASDAQ trong thập niên 1990. Sở giao dịch chứng khoán New York có một giá trị vốn hóa thị trường toàn cầu lên đến 23.000 tỷ dollar Mỹ ngày 30 tháng 9 năm 2006.
NYSE được quản lý bởi tập đoàn NYSE Group, được thành lập từ sự sáp nhập với sàn giao dịch chứng khoán điện tử Archipelago Holdings. Phòng giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán New York nằm ở số 11, Phố Wall, và bao gồm 5 phòng được sử dụng cho các hoạt động giao dịch. Tòa nhà chính được liệt kê trong danh sách National Register of Historic Places và tọa lạc tại số 18 Broad Street, giữa góc đường của Phố Wall và Exchange Place.
NYSE Group đang thâu tóm Euronext, and many of its operations (particularly IT and the trading platform) will be combined with that of the New York Stock Exchange and NYSE Arca.
== Giao dịch ==
NYSE là nơi cung cấp cơ sở, vật chất kỹ thuật nhằm tạo điều kiện cho người mua và người bán giao dịch cổ phiếu của các công ty đã có đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán. NYSE mở cửa giao dịch thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần, từ 9:30 đến 16 giờ 00, ngoại trừ các ngày nghỉ lễ theo thông báo của NYSE.
== Điều kiện niêm yết trên thị trường NYSE ==
Số cổ đông: 2000
Tổng thu nhập trong năm gần nhất: $US 75 Triệu
Tổng cộng lợi tức trước thuế trong 3 năm gần nhất: $US 10 Triệu
Income before tax for last 2 years - Lợi tức trước thuế hàng năm trong 2 năm cuối:
$US 2 Triệu, năm gần nhất phải có lời
Market Cap - Giá thị trường công cộng: $US 100 Triệu
== Tham khảo == |
hải nam.txt | Hải Nam (chữ Hán: 海南, bính âm: Hǎinán) là tỉnh cực nam của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tỉnh gồm nhiều đảo, trong đó đảo lớn nhất được gọi là đảo Hải Nam. Tỉnh lỵ là thành phố Hải Khẩu.
Đảo Hải Nam là đảo lớn nhất dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc (đảo Đài Loan lớn hơn nhưng nằm dưới quyền kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc). Hải Nam có vị trí nằm ở biển Đông, ngoài hải khơi và ngăn cách với bán đảo Lôi Châu của tỉnh Quảng Đông tại phía bắc bởi eo biển Quỳnh Châu. Về phía tây của đảo Hải Nam là vịnh Bắc Bộ. Ngũ Chỉ Sơn (1.876 m) là ngọn núi cao nhất đảo.
Từ năm 1988, Hải Nam tách khỏi tỉnh Quảng Đông, trở thành tỉnh riêng, đồng thời là một đặc khu kinh tế của Trung Quốc.
== Từ nguyên ==
Tên gọi "Hải Nam" (海南) thể hiện vị trí của tỉnh đảo nằm ở phía nam eo biển Quỳnh Châu, trong khi bán đảo Lôi Châu cũng được gọi là Hải Bắc (海北) do nó nằm ở phía bắc của eo biển.
Đảo Hải Nam từng được gọi là Châu Nhai (珠崖), Quỳnh Nhai (琼崖), và Quỳnh Châu (瓊州). Hai tên gọi sau là nguồn gốc của tên tắt của tỉnh, Quỳnh (琼/瓊), ám chỉ đến việc bờ biển phía bắc của đảo từng có nhiều ngọc trai.
== Lịch sử ==
Đảo Hải Nam đi vào trong lịch sử Trung Quốc từ năm Nguyên Phong thứ nhất (110 TCN), khi Tây Hán lập nên Châu Nhai quận (nay là Quỳnh Sơn) và Đam Nhĩ quận trên đảo Hải Nam sau khi Tướng Lộ Bác Đức (路博德) đến đảo. Năm Thủy Nguyên thứ 5 thời Hán Chiêu Đế (82 TCN), Đam Nhĩ quận được sáp nhập vào Châu Nhai quận. Những năm cuối thời Tây Hán, triều đình đã bỏ Châu Nhai quận, thực thi thống trị từ xa đối với Hải Nam.
Thời Đông Hán, vào năm Kiến Vũ thứ 15 (43 TCN), Hán Quang Vũ Đế đã phái Mật Ba tướng quân Mã Viện đi bình định Giao Chỉ, đặt Châu Nhai huyện. Thời Tam Quốc, trong khoảng những năm Xích Ô (238-251), Đông Ngô đã thiết lập Châu Nhai quận (trị sở nay ở Từ Văn, Trạm Giang). Năm Thái Khang thứ nhất (280) thời Tấn Vũ Đế, sau khi xem xét, đã hợp nhất Châu Nhai quận vào Hợp Phố quận.
Đến thời Nam-Bắc triều, năm Nguyên Gia thứ 8 (431) thời Lưu Tống Văn Đế, lại phục lập Châu Nhai quận, trị sở đặt ở Từ Văn song không lâu sau lại phế bỏ. Đến những năm Đại Đồng (535-546) thời Lương Vũ Đế, phế Đam Nhĩ quận để thiết lập Nhai châu, thống trị từ Quảng châu. Thời nhà Tùy, triều đình thiết lập hai quận Lâm Chấn và Châu Nhai trên đảo Hải Nam.
Năm Trinh Quán thứ 5 (631) thời Đường Thái Tông, triều đình thêm "Quỳnh Châu" vào hệ thống hành chính. Thời nhà Minh, Quỳnh Châu phủ lệ thuộc vào tỉnh Quảng Đông, trị sở đặt tại huyện Quỳnh Sơn (nay là khu vực đô thị của Quỳnh Sơn), quản lý toàn bộ hòn đảo.
Thời nhà Thanh, về cơ bản theo chế độ hành chính của nhà Minh, đến cuối thời Thanh, đảo Hải Nam có 1 phủ, 2 châu và 11 huyện. Năm Quang Tự thứ 11 (1905), Nhai Châu được thăng thành một châu trực thuộc, quản lý 4 huyện.
Thời kỳ đầu Trung Hoa Dân Quốc, Hải Nam đã từng có cơ hội trở thành một tỉnh riêng biệt. Đầu tiên, Hồ Hán Dân và Tôn Khoa đề nghị thiết lập khu đặc biệt Quỳnh Nhai. Đến ngày 7 tháng 12 năm 1931, nghị quyết hội nghị Quốc vụ của chính phủ Dân Quốc đã quyết định toàn đảo là một đặc khu hành chính, trực thuộc chính phủ quốc dân. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tháng 8 năm 1947, hội nghị Hành chính viện đã thông qua việc nâng Hải Nam thành một tỉnh, lệ thuộc Hành chính viện. Đến tháng 4 năm 1949, Trung Hoa Dân Quốc chính thức thành lập chính quyền tỉnh Hải Nam, phái Trần Tế Đường (陳濟棠) đi làm tỉnh trưởng.
Trong các thập niên 1920 và 1930, Hải Nam là một điểm nóng của hoạt động cộng sản, đặc biệt là sau cuộc đàn áp của chính phủ tại Thượng Hải, Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1927 đã tấn công và khiến lực lượng cộng sản phải lui vào hoạt động bí mật. Dưới sự lãnh đạo của Phùng Bạch Câu (馮白駒), lực lượng cộng sản và người Lê bản địa đã thực hiện một cuộc chiến đấu mãnh liệt theo kiểu du kích chống lại cuộc xâm lược của Nhật Bản (1939–45).
Sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, Trung Hoa Dân Quốc tiếp quản đảo Hải Nam. Vào thời điểm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập, đảo Hải Nam vẫn nằm nằm trong tay quân đội Trung Hoa Dân Quốc. Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1950, xảy ra chiến dịch đảo Hải Nam khi quân cộng sản tiến hành đánh chiếm hòn đảo. Ngày 23 tháng 4, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã chiếm được Hải Khẩu. Sau đó, quân Giải phóng tiếp tục vượt biển cùng quân của Phùng Bạch Câu tiến đánh tàn dư của Quốc quân, chiếm được các khu vực trọng yếu như Du Lâm, Tam Á. Ngày 1 tháng 5 năm 1950, Hải Nam hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của lực lượng cộng sản Trung Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau đó lại hạ cấp Hải Nam thành công thự khu hành chính (海南行政区公署), sáp nhập vào tỉnh Quảng Đông.
Ngày 1 tháng 10 năm 1984, hòn đảo trở thành Đặc khu Hải Nam (海南行政区) và hoàn toàn tách khỏi tỉnh Quảng Đông 4 năm sau đó. Hải Nam được chính phủ Trung Quốc quy định là một "đặc khu kinh tế" nhằm tăng cường đầu tư vào đảo. Ngày 21 tháng 6 năm 2012, Quốc vụ viện Trung Quốc đã chính thức phê chuẩn thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý các hòn đảo tranh chấp trên biển Đông.
== Địa lý ==
Đảo Hải Nam dài 155 kilômét (96 mi) và rộng 169 km (105 mi). Hải Nam tách biệt với bán đảo Lôi Châu tại đại lục Trung Quốc qua eo biển Quỳnh Châu, đảo Hải Nam là hòn đảo lớn nhất nằm dưới quyền kiểm soát của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Diện tích của đảo Hải Nam là 32.900 km2 (12.700 sq mi), chiếm 99,7% diện tích toàn tỉnh) và gần tương đương với Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Ở phía tây đảo Hải Nam là vịnh Bắc Bộ. Hải Nam là tỉnh cực nam của Trung Quốc, nằm ở phía nam của chí tuyến bắc, lượng nhiệt và lượng mưa phong phú.
Ngũ Chỉ Sơn (1.840 m) là núi cao nhất Hải Nam. Các đỉnh núi cao trên 1.500 mét khác tại Hải Nam là Anh Ca lĩnh (鹦哥岭), Nga Tông lĩnh (俄鬃岭), Hầu Mi lĩnh (猴猕岭), Nhã Gia đại lĩnh (雅加大岭), Điếu La sơn (吊罗山). Có thể phân các đồi núi tại Hải Nam thành ba dãy núi lớn:
Dãy núi Ngũ Chỉ Sơn, ở trung bộ của đảo, đỉnh chính là Ngũ Chỉ Sơn cao 1840 mét.
Dãy núi Anh Ca Lĩnh, ở tây bắc của Ngũ Chỉ Sơn, đỉnh chính là Anh Chủy phong (鸚嘴峰) cao 1811,6 mét.
Dãy núi Nhã Gia Đại Lĩnh, ở tây bộ của đảo, đỉnh chính cao 1519,1 mét.
Hải Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm. Biến đổi nhiệt độ trong năm dưới 15 °C (27 °F). Các tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2, khi nhiệt độ không khí giảm xuống 16 đến 21 °C (61 đến 70 °F); các tháng nóng nhất là tháng 7 và 8, nhiệt độ trung bình khi đó là 25 đến 29 °C (77 đến 84 °F). Ngoại trừ các khu vực đồi núi ở trung tâm hòn đảo, nhiệt độ trung bình ngày ở Hải Nam đều trên 10 °C (50 °F). Mùa hè ở phía bắc hòn đảo có thời tiết nóng, với nhiệt độ có thể cao hơn 35 °C (95 °F) vào 20 ngày trong năm. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.500 đến 2.000 milimét (59 đến 79 in) và có thể còn lên đến 2.400 milimét (94 in) ở các khu vực trung tâm và phía đông, và chỉ đạt 900 milimét (35 in) tại các khu vực ven biển tây nam. Phần phía đông của đảo Hải Nam nằm trên đường đi của các cơn bão nhiệt đới, và 70% lượng mưa hàng năm có bắt nguồn từ các cơn bão hay mưa trong mùa hè. Các trận lũ lớn xảy ra là do ảnh hưởng của bão nhiệt đới và chúng có thể gây ra nhiều khó khăn cho cư dân địa phương.
Khoảng tháng 1 và tháng 2, tại các vùng ven biển trên đảo Hải Nam, đặc biệt là ở phần phía bắc, xảy ra hiện tượng sương mù dày đặc. Điều này là do không khí lạnh mùa đông tiếp xúc với nước biển ấm. Sương mù diễn ra cả ngày lẫn đêm, và được phân bổ đều. Tầm nhìn có thể giảm xuống 50 mét trong nhiều ngày tại một thời điểm. Trong giai đoạn này, cư dân địa phương thường đóng cửa sổ để chống hiện tượng nồm.
Hầu hết sông tại Hải Nam bắt nguồn từ khu vực trung tâm đảo và chảy theo các hướng khác nhau. Việc bốc hơi vào mùa khô ở khu vực gần biển khiến mực nước các sông giảm đáng kể. Có rất ít hồ tự nhiên tại Hải Nam. Hồ chứa nhân tạo được biết đến nhiều nhất tại Hải Nam là hồ chứa Tùng Đào (松涛水库) ở trung-bắc của đảo.
Có một số hòn đảo nhỏ nằm gần bờ của đảo lớn Hải Nam như:
Đảo Đại Châu (大洲岛), nằm cách bờ biển Vạn Ninh 5 km.
Đảo Hải Điện (海甸岛), nằm ở cửa sông Nam Độ, phía bắc của Hải Khẩu.
Đảo Tân Phụ (新埠岛), nằm ở cửa sông Nam Độ, phía bắc của Hải Khẩu, ở phía đông đảo Hải Điện.
Đảo Phượng Hoàng (凤凰岛), một đảo nghỉ dưỡng nhân tạo được xây dựng trên vịnh Tam Á.
Đảo Ngô Chi Châu (蜈支洲岛), nằm tại vịnh Hải Đường (海棠湾).
Quần đảo Thất Châu (七洲列岛), nằm ở đông bộ Văn Xương.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng tuyên bố chủ quyền với một số hòn đảo nhỏ trên biển Đông, quy thuộc chúng vào thành phố cấp địa khu Tam Sa của tỉnh Hải Nam. Chúng phủ Trung Quốc quy định địa giới thành phố Tam Sa trải dài 900 km theo chiều đông-tây, 1800 km theo chiều bắc-nam, diện tích vùng biển khoảng 2 triệu km². Tam Sa là thành phố có diện tích đất liền nhỏ nhất, tổng diện tích lớn nhất và có dân số ít nhất tại Trung Quốc. Các đảo này nằm cách xa hàng trăm km về phía nam của đảo Hải Nam, do vậy có điều kiện khí hậu cũng như hệ động, thực vật khác nhau. Trong đó, quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) do Trung Quốc kiểm soát với đảo Phú Lâm (Vĩnh Hưng) là lớn nhất, đảo này cũng là trung tâm hành chính của thành phố Tam Sa. Ở quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa), Trung Quốc cũng kiểm soát một vài thực thể địa lý. Ngoài ra, Trung Quốc cũng quy bãi Macclesfield và bãi cạn Scarborough thuộc phạm vi quản lý của thành phố Tam Sa. Trung Quốc cũng xem bãi ngầm James (Tăng Mẫu) ở gần bờ biển đảo Borneo của Malaysia là cực nam của lãnh thổ nước mình.
== Nhân khẩu ==
=== Dân tộc ===
Người Lê là các cư dân ban đầu tại Hải Nam. Họ được cho là hậu duệ của các bộ lạc Bách Việt tại Trung Quốc, họ đã định cư trên đảo từ 7 đến 27 nghìn năm trước. Người Lê hiện nay sinh sống chủ yếu tại 9 huyện thị ở khu vực giữa và phía nam của Hải Nam – đó là các thành phố Tam Á, Ngũ Chỉ Sơn và Đông Phương, các huyện tự trị là Bạch Sa, Lăng Thủy, Lạc Đông, Xương Giang, Quỳnh Trung và Bảo Đình. Khu vực người Lê định cư chiếm diện tích 18.700 kilômét vuông (7.200 sq mi), tức khoảng 55% diện tích toàn tỉnh.
Năm 46 TCN, triều đình nhà Hán thấy cuộc chinh phục tốn quá nhiều chi phí và từ bỏ hòn đảo. Khoảng thời gian đó, người Hán cùng với các binh sĩ và tướng lĩnh bắt đầu nhập cư đến đảo Hải Nam từ lục địa. Trong số đó, có một số là con cháu của những người đã bị trục xuất đến Hải Nam vì lý do chính trị. Hầu hết trong số họ đến đảo Hải Nam từ các khu vực thuộc Quảng Đông, Phúc Kiến và Quảng Tây hiện nay. Thời nhà Tống, lần đầu tiên có một lượng lớn người Hán di cư đến Hải Nam, họ chủ yếu định cư ở phía bắc của hòn đảo. Trong thế kỷ 16 và 17, tiếp tục có một lượng lớn người Hán từ Phúc Kiến và Quảng Đông nhập cư đến Hải Nam, đẩy người Lê đến các vùng cao nguyên ở nửa phía nam của hòn đảo, Trong thế kỷ 18, người Lê đã nổi dậy chống lại triều đình nhà Thanh, triều đình phản ứng bằng cách đưa lính người Miêu từ Quý Châu đến đàn áp. Nhiều người Miêu sau đó đã định cư tại đảo và hậu duệ của họ tiếp tục sống ở vùng cao nguyên phía tây Hải Nam cho đến nay.
=== Ngôn ngữ ===
Cư dân tại Hải Nam sử dụng nhiều phương ngôn hay ngôn ngữ khác nhau. Trong đó, chủ yếu là 11 phương ngôn:
Tiếng Hải Nam (海南话, Hải Nam thoại), một nhánh của phương ngôn Mân Nam của tiếng Hán. Tiếng Hải Nam được sử dụng rất rộng rãi, số người sử dụng là nhiều nhất trong số các phương ngôn trên đảo với khoảng 5 triệu cư dân thông dụng "phương ngôn" này. Những người nói tiếng Hải Nam phân bổ chủ yếu tại đại bộ phận các huyện thị Hải Khẩu, Quỳnh Sơn, Văn Xương, Quỳnh Hải, Vạn Ninh, Định An, Đồn Xương, Trừng Mại và khu vực ven biển của các huyện thị Lăng Thủy, Lạc Đông, Đông Phương, Xương Giang và Tam Á. Tại các địa phương khác nhau, ngữ âm và thanh điệu tiếng Hải Nam cũng có sự khác biệt.
Tiếng Lê (黎语, Lê ngữ), thuộc Ngữ chi Lê của Ngữ hệ Thái Kadai (cũng có học giả cho là thuộc Ngữ hệ Nam Đảo). Tiếng Lê được người Lê sử dụng, chủ yếu phân bổ tại Quỳnh Trung, Bảo Đình, Lăng Thủy, Bạch Sa, Đông Phương, Lạc Đông, Xương Giang và Tam Á, Ngũ Chỉ Sơn.
Tiếng Lâm Cao (临高话, Lâm Cao thoại), thuộc Ngữ chi Tráng-Thái của Ngữ tộc Tráng-Đồng. Ước tính có khoảng 500.000 người sử dụng tiếng Lâm Cao, chủ yếu tại huyện Lâm Cao.
Thôn thoại khu vực Dương Sơn, trước đây gọi là thổ ngữ Quỳnh Sơn, thuộc Ngữ hệ Thái-Kadai. Ước tính có 110.000 người sử dụng, chủ yếu phân bổ tại khu vực Dương Sơn của thành phố Quỳnh Sơn và ở các vùng ngoại ô phía tây Hải Khẩu như Trường Lưu (长流), Vinh Sơn (荣山), Tân Hải (新海) hay Tú Anh (秀英).
Tiếng Đam Châu (儋州话, Đam Châu thoại), một nhánh của phương ngôn Quảng Đông của tiếng Hán. Có hơn 700.000 người sử dụng, chú yếu phân bổ tại các khu vực duyên hải của Đam Châu, Xương Giang, Đông Phương.
Tiếng Quân (军话, Quân thoại), thuộc hệ thống phương ngôn tây nam của Quan thoại. Có nguồn gốc từ các binh sĩ và quan chức thời xưa đến Hải Nam từ đại lục. Có trên 100.000 người sử dụng, chủ yếu phân bổ tại một bộ phận của Xương Giang, Đông Phương, Đam Châu và Tam Á.
Tiếng Miễn (勉語, Miễn ngữ), thuộc Ngữ tộc Miêu-Dao. Người Miêu tại Hải Nam thông dụng tiếng Miễn, ước tính có khoảng 50.000 người tại các khu vực thiểu số của các huyện thị trung bộ và nam bộ hòn đảo.
Thôn thoại khu vực Đông Phương và Xương Giang, trước đây gọi là Ca Long thoại (哥隆话) hay Ngật Long thoại (仡隆话), thuộc Ngữ tộc Kra của Ngữ hệ Thái-Kadai. Ước tính có 80.000 người sử dụng, chủ yếu phân bổ tại đôi bờ hạ du sông Xương Hóa của Đông Phương và Xương Giang.
Tiếng Hồi Huy (回辉话, Hồi Huy thoại), hiện nay giới học thuật nhận định là ngôn ngữ duy nhất trong một nhóm ngôn ngữ thuộc Ngữ hệ Nam Đảo. Căn cứ theo "Quỳnh Châu phủ chí" (琼州府志), tiếng Hồi Huy là của những cư dân nhập cư ngoại quốc đến vào thời nhà Tống và nhà Nguyên truyền cho đời sau của họ, người Hán đương thời gọi là "Phiên ngữ" (番语, tức tiếng nước ngoài). Tiếng Hồi Huy được khoảng 6.000 cư dân người Hồi (Utsul) tại hai khu vực Hồi Huy và Hồi Tân tại Tam Á và một số cư dân tại Bạch Sa và Vạn Ninh sử dụng.
Tiếng Mại (迈话, Mại thoại), thuộc hệ thống phương ngôn Quảng Đông, gần với tiếng Quảng Châu. Tuy nhiên, tiếng Mại có số người sử dụng không nhiều, phân bổ không rộng rãi, chỉ hạn chế tại khu vực ngoại ô Nhai Thành và Thủy Nam của Tam Á.
Tiếng Đản Gia (疍家话, Đản Gia thoại), thuộc hệ thống phương ngôn Quảng Đông, được cư dân người Hán phụ cận cảng Tam Á sử dụng.
=== Tôn giáo ===
Trước khi văn hóa Hán từ nội địa xâm nhập đến, cư dân người Lê đảo Hải Nam chủ yếu sùng bái tín ngưỡng nguyên thủy (thuyết vật linh), họ thờ cúng tổ tiên, thờ cúng thiên nhiên và thờ cúng nhiều đối tượng, đây là giai đoạn tín ngưỡng tôn giáo nguyên thủy. Năm 748, Phật giáo Hán truyền được truyền đến đến Hải Nam, tiếp theo là Đạo giáo. Nhà sư Giám Chân đã dạt vào Hải Nam khi nỗ lực đi thuyền đến Nhật Bản lần thứ năm, góp phần vào sự hưng vượng của Phật giáo tại Hải Nam thời Đường Tống., hiện tại có 10.000 Phật tử đăng ký tại Hải Nam, còn Đạo giáo thì đã được bản địa hóa, dân gian hóa. Vào thời Tống và Nguyên, cùng với làn sóng di dân của người Hán tại đại lục, tín ngưỡng thờ Mụ tổ cũng được truyền đến đảo, với các di tích còn lại cho đến ngày nay
Hải Nam là một trạm trung chuyển của con đường tơ lụa trên biển, vì tại Hải Nam phong phú về các loại hương liệu, các thương nhân đến từ Gujarat thuộc Ấn Độ là những người đầu tiên giới thiệu Hồi giáo đến Hải Nam, những người Hồi giáo từ Trung Á và Đông Dương cũng góp phần truyền bá Hồi giáo đến Hải Nam. Hiện nay, tại hương Hồi Tân (回新乡) và hương Hồi Huy (回辉乡) ở Tam Á có khoảng 6.500 người Hồi giáo, thuộc hệ phái Sunni.
Năm 1630, Giáo hội Ki-tô Bồ Đào Nha đã phái linh mục đến Hải Nam truyền giáo, từ đó Công giáo truyền đến Hải Nam. Từ lúc bắt đầu, khi bốn nước Pháp-Ý-Tây-Bồ gửi không quá 20 linh mục đến truyền giáo, cho đến thời nhà Thanh, tín hữu Công giáo trên toàn đảo đã phát triển lên hơn 5.000 người. Thời cuối Thanh đầu Dân Quốc, Giáo hội Công giáo tại Hải Nam đã mua đất, xây dựng các nhà thờ. Sau năm 1950, các linh mục nước ngoài bị trục xuất bởi một loạt lý do, các linh mục người Hán dẫn thay thế vị trí của họ, số tín hữu Công giáo giám xuống chỉ còn 4.100 người. Đạo Tin Lành truyền đến Hải Nam vào năm 1881, một mục sư quốc tịch Mỹ đã thiết lập khu hội Quỳnh Hải, do Giáo hội Trưởng Lão Mỹ lãnh đạo. Giáo đường Tin Lành đầu tiên tại Hải Nam được dựng tại Đam Châu. Từ đó, Tin Lành dần phát triển và hiện có 35.000 tín hữu tại tỉnh đảo.
Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, dưới ảnh hưởng của cải cách ruộng đất và Đại Cách mạng Văn hóa, tình hình của các tôn giáo không được lạc quan. Trong cao trào của Cách mạng Văn hóa, tất cả các hoạt động tôn giáo phải ngưng lại và gần như toàn bộ các chùa miếu, đền thờ Hồi giáo và nhà thờ đã bị hư hỏng, chỉ một số lượng nhỏ tín đồ Hồi giáo và Tin Lành vẫn duy trì các hoạt động tôn giáo. Sau Cách mạng Văn hóa, hoạt động tôn giáo tại Hải Nam bắt đầu được khôi phục, hiện có cả trăm địa điểm tôn giáo với trên 30 đoàn thể tôn giáo hoạt động.
== Hành chính ==
Với việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố chủ quyền với các quần đảo trên biển Đông, tỉnh Hải Nam về lý thuyết phải quản lý cả trăm hòn đảo, đá ngầm xa bờ. Tỉnh Hải Nam có hệ thống hành chính hơi khác so với các tỉnh khác của Trung Quốc. Trong khi phần lớn các tỉnh khác được chia hoàn toàn thành các đơn vị cấp địa khu, và được chia tiếp thành các đơn vị cấp huyện; thì tại Hải Nam, gần như toàn bộ các đơn vị cấp huyện (trừ bốn quận của Hải Khẩu) đều trực thuộc tỉnh một cách trực tiếp. Điều này là do Hải Nam là một tỉnh nhỏ về diện tích và dân số so với các tỉnh khác tại Trung Quốc.
== Quân sự ==
Hải nam có vị trí chiến lược đối với biển Đông, khoảng cách từ Hải nam đến các tỉnh miền trung Việt Nam chỉ hơn 300 km. Đảo Hải Nam có Căn cứ hải quân Du Lâm của Hạm đội Nam Hải thuộc Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và có quân cảng tàu ngầm hạt nhân chiến lược 18.221°B 109.686°Đ / 18.221; 109.686. Quân cảng được ước tính cao 60 foot (18 m), được xây dựng vào trong một sườn đồi gần một căn cứ quân sự. Các động có khả năng cất giấu 20 tàu ngầm hạt nhân theo quan sát từ các vệ tinh gián điệp. Các tàu ngầm đặt ở quân cảng có các lên lửa đạn đạo hạt nhân và đủ lớn để chứa các tàu sân bay.
== Kinh tế ==
Kinh tế Hải Nam chủ yếu dựa vào nông nghiệp, và có trên một nửa hàng xuất khẩu của tỉnh đảo là nông sản. Tuy nhiên, kể từ khi được nâng lên thành một tỉnh, Hải Nam đã trở thành "đặc khu kinh tế" lớn nhất của Trung Quốc, mục tiêu là để thúc đẩy sự phát triển dựa trên các nguồn tài nguyên phong phú của hòn đảo. Trước đó, tỉnh đảo bị nhiều người xem là một khu vực "hoang dã", phần lớn không bị ảnh hưởng bởi công nghiệp hóa; thậm chí đến nay vẫn có tương đối ít các nhà máy tại tỉnh. Du lịch đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hải Nam, tận dụng lợi thế các bãi biển nhiệt đới và các cánh rừng tươi tốt. Chính quyền trung ương đã khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Hải Nam và cho phép tỉnh đảo phát triển một nền kinh tế dựa phần lớn vào các nguồn lực của thị trường.
Việc phát triển công nghiệp tại Hải Nam vẫn còn hạn chế, chủ yếu vẫn chỉ là khai thác khoáng sản như quặng sắt và trồng các cây công nghiệp như cao su. Từ thập niên 1950, tại Hải Khẩu đã có một số nhà máy sản xuất máy móc, thiết bị nông nghiệp và dệt may để tiêu thụ trên đảo. Một khó khăn lớn đối với việc mở rộng lĩnh vực công nghiệp là nguồn cung điện không đầy đủ. Phần lớn lượng điện tại đảo có nguồn gốc từ thủy điện, mà nó lại phụ thuộc vào biến động dòng chảy theo mùa của các con sông.
Tháng 12 năm 2009, chính phủ Trung Quốc đã công bố kế hoạch của mình nhằm biến Hải Nam thành một "điểm đến du lịch quốc tế" vào năm 2020. Thông báo này đã khiến kinh tế của tỉnh đảo có sự đột biến, với mức tăng đầu tư năm trên năm là 136,9% trong ba tháng đầu năm 2010. Lĩnh vực bất động sản chiếm trên một phần ba tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Trước đó, năm 1990, tỉnh Hải Nam là nơi diễn ra vỡ bong bóng bất động sản lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc hiện đại
Hải Nam có dự trữ khai thác thương mại trên 30 loại khoáng vật. Người Nhật Bản đã khai thác quặng sắt tại Hải Nam trong thời gian họ chiếm giữ hòn đảo trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và đây cũng là loại khoáng sản quan trọng nhất của Hải Nam. Các loại khoáng vật quan trong khác tại tỉnh đảo là titan, mangan, wolfram, bô xít, molypden, coban, đồng, vàng và bạc. Hải Nam có trữ lượng lớn về than non và đá phiến dầu, người ta cũng đã tìm thấy dầu mỏ và khí thiên nhiên ngoài khơi vùng biển Hải Nam. Trên các hòn đảo tranh chấp ở biển Đông mà chính phủ Trung Quốc quy thuộc tỉnh Hải Nam chỉ có rất ít tài nguyên như phân chim song vùng biển xung quanh chúng có nhiều loại khoáng sản, Bộ Địa chất và Tài nguyên Khoáng sản Trung Quốc ước tính vùng quần đảo Trường Sa có trữ lượng dầu và khí đốt tự nhiên rất lớn, lên đến 17,7 tỉ tấn so với con số 13 tỉ tấn của Kuwait, và họ xếp nó vào danh sách một trong bốn vùng có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới. Trung Quốc cũng từng tiến hành mời thầu dầu khí tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Ngoài ra tại biển Đông cũng có tài nguyên băng cháy, Trung Quốc tuyên bố đã tìm thấy băng cháy ở phía bắc biển Đông từ năm 2007, với trữ lượng ước tính khoảng 19,4 tỉ m³. Các khu rừng nguyên sinh trên đảo Hải Nam có 20 loài cây có giá trị thương mại, trong đó có tếch và đàn hương.
Do Hải Nam có khí hậu nhiệt đới, các ruộng lúa xuất hiện phổ biến ở các vùng đất thấp phía đông bắc và các thung lũng núi phía nam. Bên cạnh lúa, các cây trồng quan trọng khác có thể kể đến là dừa, cọ, sisal, hoa quả nhiệt đới (như dứa, nông sản mà Hải Nam dẫn đầu cả nước), hồ tiêu, cà phê, trà, đào lộn hột, và mía. Đầu thế kỷ 20, những Hoa kiều hồi hương từ Mã Lai thuộc Anh đã đưa cây cao su đến đảo; sau năm 1950, các nông trường quốc doanh trồng cao su được phát triển và Hải Nam nay sản xuất ra một lượng mủ cao su đáng kể cung cấp cho thị trường Trung Quốc. Ớt Hoàng Đăng Hải Nam, một loại ớt đặc hữu tại Hải Nam, được trồng ở phía đông nam và tây nam của đảo.
Cá mú, cá thu và cá ngừ là chiếm phần lớn sản lượng đánh bắt xa bờ của ngư dân Hải Nam. Người dân Hải Nam cũng nuôi sò điệp và ngọc trai trong các vịnh hay vũng nông để phục vụ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu. Sản lượng tôm được ước tính đạt 120.000 đến 150.000 tấn (130.000 đến 170.000 tấn thiếu) trong năm 2007, trên 50% trong số đó được xuất khẩu. Hải Nam có trên 400 trại giống tôm, hầu hết nằm giữa Văn Xương và Quỳnh Hải. Sản lượng cá rô phi năm 2008 tại Hải Nam là 300.000 tấn (330.000 tấn thiếu). Hòn đảo có khoảng 100.000 hộ trang trại nuôi cá thương mại hoặc mang tính địa phương.
Năm 2011, có trên 30 triệu du khách đã đến thăm Hải Nam, hầu hết trong số họ đến từ đại lục Trung Quốc. Trong số 814.600 du khách hải ngoại, 227.600 người đến từ Nga, tăng trưởng 53,3 so với năm trước đó. Tổng doanh thu từ du lịch vào năm 2011 là 32 tỉ NDT (4,3 tỉ USD), tăng 25% so với năm 2010. Người ta thường chia đảo Hải Nam thành 8 vùng du lịch: Hải Khẩu và vùng lân cận (Hải Khẩu, Quỳnh Sơn, Định An); đông bắc (Văn Xương); Bờ biển Trung Đông bộ (Quỳnh Hải, Định An); bờ biển Nam Đông bộ; Nam bộ (Tam Á); bờ biển Tây Bộ (Lạc Đông, Đông Phương, Lăng Thùy, Xương Giang); tây bắc (Đam Châu, Lâm Cao, Trừng Mại); và Cao nguyên Trung tâm (Bạch Sa, Quỳnh Trung, và Ngũ Chỉ Sơn/Đồn Xương).
Để khuyến khích cộng đồng du thuyền quốc tế, các quy định mới của Hải Nam nay cho phép du thuyền ngoại quốc ở lại tổng cộng 183 ngày mỗi năm, tối đa 30 ngày mỗi lần. 13 cảng sẽ được xây dựng quanh đảo để đáp ứng thị trường du lịch mới.
== Giao thông ==
Những con đường đầu tiên trên đảo đã được xây dựng từ đầu thế kỷ 20, song cho đến thập niên 1950 thì vẫn chưa có con đường lớn nào được xây dựng ở các vùng đồi núi trong nội địa. Hiện nay, đường bộ là loại hình vận tải chính trong nội bộ Hải Nam. Toàn bộ chiều dài các tuyến đường thông xe trên đảo là 17.600 km, về cơ bản hình thành hệ thống chủ đạo gồm ba tuyến dọc và bốn tuyến ngang. Ba tuyến dọc đều kết nối giữa thủ phủ Hải Khẩu và thành phố Tam Á ở cực nam, tuyến quốc lộ 223 (323 km) chạy dọc theo bờ biển phía đông, tuyến quốc lộ 224 (309 km) thì chạy xuyên qua vùng nội địa của đảo, còn tuyến quốc lộ 225 (429 km) thì chạy dọc theo bờ biển phía tây. Các tuyến đường chủ đạo kết nối tất cả các cảng biển và huyện thị, các tuyến nhánh mở rộng đến toàn bộ 219 hương trấn trên đảo cũng như các thắng cảnh du lịch.
Đảo Hải Nam có hai sân bay quốc tế là: Sân bay quốc tế Mỹ Lan Hải Khẩu và Sân bay quốc tế Phượng Hoàng Tam Á. Tại quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc cũng cho xây dựng Sân bay đảo Vĩnh Hưng để phục vụ cho cả mục đích quân sự lẫn dân sự. Ngoài ra, chính quyền Trung Quốc cũng có kế hoạch xây dựng Sân bay Quốc tế Quỳnh Hải Bác Ngao với tổng vốn đầu tư 945 triệu NDT, sân bay này cách thủ phủ của thành phố Quỳnh Hải 12 km và cách địa điểm cố định diễn ra Diễn đàn châu Á Bác Ngao 15 km.
Một tuyến phà đường sắt đã đi vào hoạt động vào đầu thập niên 2000, giúp kết nối hệ thống đường sắt trên đảo Hải Nam với mạng lưới đường sắt tại đại lục Trung Quốc. Năm 2005, Bộ Giao thông Trung Quốc đã phân bổ 20 triệu NDT (2,4 triệu USD) để lập một ủy ban nhằm nghiên cứu về khả năng xây dựng một cây cầu hoặc đường hầm kết nối đảo Hải Nam với lục địa.
Tuyến Đường sắt Đông Hoàn Hải Nam nối giữa Hải Khẩu và Tam Á đã đi vào hoạt động năm 2010. Tuyến đường sắt được thiết kế có thể chạy với tốc độ 250 km/giờ. Thời gian để đi từ Hải Khẩu tới Tam Á trên tuyến đường sắt này chỉ mất xấp xỉ 1 tiếng 22 phút. Tổng chiều dài của tuyến Đường sắt Đông Hoàn Hải Nam là 308,11 km, vốn đầu tư dự tính là 20,224 tỉ NDT. Các ga dự tính trên tuyến đường sắt này là Hải Khẩu, Trường Lưu, Tú Anh, Thành Tây, Hải Khẩu Đông, Mỹ Lan, Đông Trại loan, Văn Xương, Phùng Gia loan, Quỳnh Hải, Bác Ngao, Hòa Lạc, Sơn Căn, Vạn Ninh, Thần Châu, Nhật Nguyệt loan, Lăng Thủy, Cao Phong, Hải Đường loan, Á Long loan, Tam Á.. Dự kiến một tuyến đường sắt Tây Hoàn Hải Nam sẽ được xây dựng ở bờ biển phía tây của Hải Nam. Tuyến này sẽ có chiều dài 345 km và sẽ kết nối với tuyến phía đông hiện hữu.
Hải Nam đã tiếp nhận 11.000 tấn hàng hóa thông qua các cảng vào tháng 11 năm 2010, tăng 90,1% so với tháng cùng kỳ năng trước. Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2010, đã có 102.000 tấn hàng hóa được xuất khẩu thông qua các cảng của Hải Nam, trong đó 34.000 tấn hàng xuất khẩu đến Hoa Kỳvà 14.000 tấn hàng xuất khẩu đến EU. Hải Nam có một số cảng biển:
Cảng Tú Anh Hải Khẩu (海口秀英港) là trung tâm vận tải và chuyên chở hành khách chính.
Tân cảng Hải Khẩu (海口新港) mở cửa ngày 1 tháng 6 năm 2005
Cảng Mã Thôn (马村港) nằm ở Trừng Mại, mở cửa vào ngày 1 tháng 6 năm 2005
Cảng eo biển Hải Nam
== Giáo dục ==
Đại học Hải Nam (海南大学)
Đại học Sư phạm Hải Nam (海南师范大学)
Học viện Y Hải Nam (海南医学院)
Học viện Quỳnh Châu (琼州学院)
Học viện Tam Á (三亚学院)
Học viện Kinh tế Hải Khẩu (海口经济学院)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hải Nam tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Hainan (Province and island, China) trên Encyclopædia Britannica
People’s Government of HaiNan Province Bản mẫu:Xh tiếng Anh |
hafni.txt | Hafni (tiếng La tinh: Hafnium) là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Hf và số nguyên tử 72. Là một kim loại chuyển tiếp hóa trị 4 màu xám bạc ánh, hafni tương tự như zirconi về mặt hóa học và nó được tìm thấy trong các khoáng vật zirconi. Hafni được sử dụng trong các hợp kim vonfram để làm các sợi dây tóc điện và các điện cực, trong các mạch tích hợp (IC) như là chất cách điện cho cổng của các tranzisto, và như là chất hấp thụ nơtron trong các thanh kiểm soát của các nhà máy điện hạt nhân.
Hafni có nguồn gốc từ chữ "Hafnia" - tên gọi của thủ đô Đan Mạch theo tiếng La tinh.
== Đặc trưng ==
Hafni là một kim loại màu xám bạc, bóng, dễ uốn, kháng ăn mòn và về mặt hóa học thì tương tự như zirconi. Các tính chất vật lý của hafni bị ảnh hưởng đáng kể bởi các tạp chất zirconi, và hai nguyên tố này thuộc số những nguyên tố rất khó tách khỏi nhau. Khác biệt vật lý đáng chú ý giữa chúng là tỷ trọng riêng (zirconi có tỷ trọng riêng chỉ khoảng một nửa của hafni), nhưng tính chất hóa học thì cực kỳ giống nhau.
Tính chất vật lý đáng chú nhất của hafni là nó có tiết diện bắt nơtron rất cao, và hạt nhân của một vài đồng vị của hafni có thể hấp thụ nhiều nơtron. Điều này làm cho hafni là một vật liệu tốt cho các thanh kiểm soát trong các lò phản ứng hạt nhân. Tiết diện bắt nơtron nhiệt của nó cao hơn của zirconi khoảng 600 lần (Các nguyên tố khác có tiết diện bắt nơtron cao để làm các thanh kiểm soát là cadmi và bo).
Việc tách hafni và zirconi là rất quan trọng trong công nghiệp năng lượng hạt nhân, do zirconi là kim loại phủ thanh nhiên liệu rất tốt, với tính chất mong muốn là tiết diện bắt nơtron rất thấp và có độ ổn định hóa học tốt ở các nhiệt độ cao. Tuy nhiên, do các tính chất hấp thụ nơtron của hafni, các tạp chất zirconi trong hafni lại làm cho nó ít hữu ích hơn trong các ứng dụng lò phản ứng hạt nhân. Vì thế việc tách gần như hoàn toàn của zirconi và hafni là cần thiết để sử dụng trong công nghiệp năng lượng hạt nhân.
Cacbua hafni là hợp chất nhị nguyên chịu lửa tốt nhất đã biết, với điểm nóng chảy trên 3.890°C, và nitrua hafni là nitrua khó nóng chảy nhất đã biết trong số tất cả các nitrua kim loại, với điểm nóng chảy là 3.310°C. Điều này đã dẫn tới các đề xuất rằng hafni hay các cacbua của nó có thể là hữu ích như là vật liệu kết cấu và xây dựng phải hoạt động trong môi trường nhiệt độ cao.
Kim loại này không bị các chất kiềm đậm đặc ăn mòn, nhưng các halogen phản ứng với nó để tạo ra tetrahalua hafni. Ở nhiệt độ cao, hafni phản ứng với ôxy, nitơ, cacbon, bo, lưu huỳnh và silic.
Đồng phân hạt nhân Hf-178-m2 là nguồn của các tầng tia gama với năng lượng tổng cộng là 2,45 MeV trên mỗi phân rã. Nó đáng chú ý do nó có năng lượng kích thích cao nhất trong số các đồng phân hạt nhân tồn tại tương đối lâu của bất kỳ nguyên tố nào. Một gam Hf-178-m2 tinh khiết chứa khoảng 1.330 MJ năng lượng, tương đương với năng lượng giải phóng ra từ khoảng 317 kilôgam (700 pao) TNT khi nổ. Các ứng dụng (có thể) cần có sự tập trung năng lượng cao như vậy là đáng quan tâm. Ví dụ, nó đã được nghiên cứu như là nguồn năng lượng có thể cho các laser tia gama.
== Ứng dụng ==
Hafni được dùng làm các thanh kiểm soát cho các lò phản ứng hạt nhân do khả năng hấp thụ nơtron cao của nó, cũng như do các tính chất cơ lý tuyệt vời và khả năng chống ăn mòn tốt. Các ứng dụng khác có:
Trong môi trường đầy khí và các đèn nóng sáng, để hấp thụ ôxy và nitơ sót lại,
Như là điện cực trong cắt plasma do khả năng phóngelectron vào trong không khí của nó,
Trong các hợp kim với sắt, titan, niobi, tantali và các kim loại khác.
Các hợp chất gốc hafni được dùng làm các chất cách điện cổng tranzito trong thế hệ 45 nm của các mạch IC từ Intel, IBM và một số hãng khác. Các hợp chất gốc ôxít hafni là các chất với hằng số điện môi cao, cho phép giảm dòng điện rò rỉ và cải thiện hiệu năng ở quy mô nano như thế.
DARPA của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ đã từng cấp vốn không liên tục cho các chương trình tại Hoa Kỳ để xác định khả năng sử dụng đồng phân hạt nhân của hafni (Hf-178-m2) để chế tạo các vũ khí nhỏ nhưng hiệu suất cao với cơ chế kích thích tia X đơn giản—một ứng dụng của bức xạ gama cảm ứng. Công việc này tiếp theo sau trên 20 năm nghiên cứu nền tảng của cộng đồng quốc tế trong việc tìm cách thức giải phóng năng lượng đã lưu trữ theo nhu cầu. Có sự phản đối đáng kể đối với chương trình này, vì ý tưởng này có thể không hoạt động cũng như do các quốc gia không tham dự có thể cảm thấy "lỗ hổng vũ khí đồng phân" (được tưởng tượng ra) có thể biện hộ cho sự phát triển trong tương lai của họ và cho việc dự trữ các vũ khí hạt nhân thông thường. Một đề xuất liên quan là sử dụng cùng một đồng phân này để cấp năng lượng cho các tàu bay không người lái để chúng có thể bay trong không trung trong vài tháng.
Bổ sung một lượng nhỏ hafni sẽ làm tăng sự bám dính chặt của các vảy ôxít bảo vệ trên các hợp kim niken. Bằng cách đó, nó cải thiện khả năng chống ăn mòn, đặc biệt là trong các điều kiện nhiệt độ biến đổi theo chu kỳ, do xu hướng phá vỡ các lớp vảy ôxít bởi gây ra ứng suất nhiệt giữa khối kim loại và lớp ôxít khi nhiệt độ biến đổi.
== Lịch sử ==
Bảng tuần hoàn năm 1869 của Mendeleev đã dự báo khả năng tồn tại của nguyên tố nặng với tính chất tương tự titan và zirconi, nhưng năm 1871 Mendeleev đã đặt lantan (nguyên tố số 57) vào vị trí này.
Sự tồn tại của lỗ hổng trong bảng tuần hoàn cho nguyên tố vẫn chưa được phát hiện số 72 đã được Henry Moseley dự đoán năm 1914. Hafni được đặt tên theo tên gọi trong tiếng La tinh để chỉ Copenhagen là Hafnia, quê hương của Niels Bohr. Nó được Dirk Coster và Georg von Hevesy phát hiện năm 1923 tại Copenhagen, Đan Mạch, hợp lệ hóa dự báo gốc năm 1869 của Mendeleev. Rất nhanh sau đó, nguyên tố mới được dự báo là gắn với zirconi bằng cách sử dụng các thuyết của Bohr về nguyên tử, và cuối cùng nó đã được tìm thấy trong ziricon thông qua phân tích phổ học tia X tại Na Uy.
Hafni được Jantzen và von Hevesey tách ra từ zirconi thông qua tái kết tinh nhắc lại của các florua kép amoni hay kali. Hafni kim loại lần đầu tiên được Anton Eduard van Arkel và Jan Hendrik de Boer điều chế bằng cho hơi tetraiodua hafni chạy qua sợi vonfram nóng. Quy trình này để tinh lọc phân dị Zr và Hf vẫn còn được sử dụng cho tới nay.
Khoa Khoa học của Đại học Copenhagen sử dụng hình ảnh cách điệu hóa của nguyên tử hafni trong con dấu của mình.
== Phổ biến ==
Người ta ước tính hafni chiếm khoảng 0,00058% khối lượng lớp vỏ trên của Trái Đất. Nó được tìm thấy trong các hợp chất của zirconi tự nhiên nhưng không tồn tại ở dạng tự do. Các khoáng vật chứa zirconi, như alvit [(Hf, Th, Zr)SiO4 H2O], thortveitit và ziricon (ZrSiO4), thông thường cũng chứa khoảng 1 tới 5% hafni. Hafni và zirconi gần như đồng nhất về mặt hóa học, điều đó làm chúng rất khó tách khỏi nhau. Khoảng một nửa toàn bộ hafni kim loại được sản xuất ra như là phụ phẩm của việc tinh chế zirconi. Nó được thực hiện thông qua khử clorua hafni (IV) bằng magiê hay natri trong quy trình Kroll.
Các loại quặng chính của ziricon (và vì thế là của hafni) là các loại quặng trầm tích cát khoáng vật nặng, pegmatit có ở Brasil và Malawi, và cacbonatit xâm nhập có ở mỏ đa kim Crown tại núi Weld, Tây Australia. Nguồn tiềm năng của hafni là đá tuff trachyt chứa các silicat hiếm của zircon-hafni là eudialyt hay armostrongit, tại Dubbo ở New South Wales, Australia.
== Phòng ngừa ==
Càn cẩn thận khi gia công hafni bằng máy, do giống như zirconi, khi bị phân chia thành các hạt mịn, nó có thể bắt cháy ngay trong không khí. Các hợp chất chứa hafni rất ít người có cơ hội tiếp xúc. Dạng kim loại tinh khiết được coi là không độc hại, nhưng các hợp chất của hafni thì cần cẩn thận khi tiếp xúc do dạng ion cả nó có xác suất độc hại rất cao, thử nghiệm một số hợp chất của hafni một cách hạn chế trên động vật đã được tiến hành.
== Đồng vị ==
Hafni có 5 đồng vị ổn định cùng một loạt các đồng vị không ổn định với nguyên tử lượng từ 153 tới 188. Theo tỷ lệ phổ biến thì Hf180 (35,1 %), Hf178 (27,297 %), Hf177 (18,606 %) và Hf179 (13,629 %) và Hf176 (5,206 %) là phổ biến nhất, chiếm tổng cộng 99,84% toàn bộ các đồng vị tự nhiên của hafni. Chúng cũng là các đồng vị ổn định. Đồng vị phóng xạ có trong tự nhiên là Hf174 với chu kỳ bán rã 2×1015 năm, chiếm 0,162%. Đồng vị phóng xạ tổng hợp ổn định nhất là Hf182 có chu kỳ bán rã 9×106 năm. Đa phần các đồng vị khác và đồng phân hạt nhân có chu kỳ bán rã rất nhỏ.
== Hợp chất ==
Xem Hợp chất hafni
== Xem thêm ==
Đồng phân hạt nhân
Bức xạ gama cảm ứng
Ziricon
== Tham khảo ==
van Arkel A.E., de Boer J.H. (1925). “Preparation of pure titanium, zirconium, hafnium, and thorium metal”. Zeitschrift für Anorganische und Allgemeine Chemie 148: 345–350.
Scerri E.R., Prediction of the Nature of Hafnium from Chemistry, Bohr’s Theory and Quantum Theory, Annals of Science, 51, 137-150, (1994)
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Hafnium
Dữ liệu kỹ thuật và an toàn cho hafni
Ngân hàng dữ liệu các chất nguy hiểm của NLM; Hafni, nguyên tố
Intel Shifts from Silicon to Lift Chip Performance
Công nghệ cổng silic 45 nm trên cơ sở hafni của Intel |
bảng chữ cái armenia.txt | Bảng chữ cái Armenia (tiếng Armenia: Հայոց գրեր Hayots grer hay Հայոց այբուբեն Hayots aybuben) là một bảng chữ cái được sử dụng để viết tiếng Armenia. Nó được phát triển vào khoảng năm 405 bởi Mesrop Mashtots, một nhà ngôn ngữ học, chính khách, và nhà thần học. Bảng chữ cái này ban đầu bao gồm 36 ký tự và giờ có 39.
"Bảng chữ cái" trong tiếng Armenia là այբուբեն aybuben (phát âm tiếng Armenia: [ɑjbubɛn]), đặt theo tên hai ký tự đầu tiên: ⟨Ա⟩ tiếng Armenia: այբ ayb và ⟨Բ⟩ tiếng Armenia: բեն ben. Tiếng Armenia được viết từ trái sang phải.
== Ký tự ==
Chú ý:
^ Chỉ dùng trong cách viết cổ điển, đầu từ và một số trường hợp khác.
^ Ngoại trừ ով /ov/ "ai" và ովքեր /ovkʰer/ "(những người) đó".
^ Người Armenia Iran phát âm ký tự này là [ɹ], như trong tiếng Armenia cổ điển.
^ Trong cách viết cổ điển, ու và և được xem là âm kép. Trong lối viết đổi mới, chúng là những ký tự.
^ Trong lối viết đổi mới, ւ chỉ xuất hiện như một phần của ու. Trong lối viết cổ điển, nó thường thể hiện /v/, trừ trường hợp âm kép իւ /ju/. իւ được thay thế bởi յու.
^ Trừ trong dạng hiện tại của động từ "to be": եմ /em/ "I am", ես /es/ "you are (số ít)", ենք /enkh/ "we are", եք /ekh/ "you are (pl.)", են /en/ "they are".
^ ը thường chỉ được dùng ở đầu hoặc cuối từ, nên âm /ə/ không được viết khi nằm giữa các phụ âm.
== Chú thích == |
thành phố (việt nam).txt | Ở Việt Nam, thể chế thành phố được xác định theo quyết định của Chính phủ dựa trên một số tiêu chí nhất định như diện tích, dân số, tình trạng công trình hạ tầng xã hội hay mức độ quan trọng về kinh tế, chính trị.
Về cơ bản, các đô thị từ loại 3 trở lên là những thành phố. Một số thành phố ở Việt Nam là đơn vị hành chính cấp tỉnh, gọi là các thành phố trực thuộc trung ương. Các thành phố còn lại là đơn vị hành chính cấp huyện, gọi là thành phố trực thuộc tỉnh.
== Thành phố trực thuộc Trung ương ==
Thành phố trực thuộc Trung ương được xếp vào hạng các đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại 1. Đây là các thành phố lớn, có nền kinh tế phát triển, là khu vực quan trọng về quân sự, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội là động lực phát triển cho cả quốc gia/vùng lãnh thổ chứ không còn nằm bó hẹp trong phạm vi một tỉnh. Các thành phố này có cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ phát triển, có nhiều cơ sở giáo dục bậc cao, dân cư đông, thuận lợi về vận tải. Hà Nội, TP.HCM và Hải Phòng trực thuộc trung ương ngay sau khi đất nước thống nhất.Năm 1997 Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc trung ương và được công nhận là đô thị loại 1 vào năm 2003.Năm 2004 Cần Thơ trở thành thành phố trực thuộc trung ương và được công nhận là đô thị loại 1 vào năm 2009.
== Thành phố trực thuộc tỉnh ==
Thành phố trực thuộc tỉnh là một đơn vị hành chính tương đương với cấp quận, huyện, thị xã; chịu sự quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh đó. Thường đó cũng là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục,... của một tỉnh (tỉnh lỵ). Một số thành phố lớn trực thuộc tỉnh còn được giữ vai trò làm trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị,... của cả một vùng (liên tỉnh). Có 2 tỉnh (Bình Phước và Đăk Nông) không có thành phố nào, thay vào đó thị xã giữ vai trò là tỉnh lỵ. Song có 10 tỉnh có tới hơn một thành phố trực thuộc là Quảng Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên, Đồng Tháp, An Giang, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Quảng Nam, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thanh Hóa. Một số thành phố không đóng vai trò là tỉnh lỵ như Sông Công, Tam Điệp, Sầm Sơn, Bảo Lộc, Hội An, Cam Ranh, Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí, Vũng Tàu, Châu Đốc, Sa Đéc nhưng giữ vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa của 1 khu vực trong tỉnh hoặc là các trung tâm du lịch, công nghiệp, cửa khẩu quốc tế...
Thành phố trực thuộc tỉnh có dân số lớn nhất là Biên Hòa với gần 1.100.000 nhân khẩu . Đây cũng là đơn vị hành chính cấp huyện có dân số lớn nhất nước, tương đương với dân số 2 đô thị loại I trực thuộc trung ương là Đà Nẵng, Cần Thơ và cao gấp hơn 3 lần tỉnh có dân số thấp nhất là Bắc Kạn với 301.000 nhân khẩu. Thành phố trực thuộc tỉnh có dân số ít nhất là Lai Châu với 52.557 nhân khẩu, ít hơn rất nhiều khi so với thị xã có số dân cao nhất là Thuận An với 438.922 nhân khẩu, chỉ tương đương với thị trấn có số dân cao nhất là Liên Nghĩa với 57.184 nhân khẩu.
Thành phố trực thuộc tỉnh có diện tích lớn nhất là Móng Cái với 516,6 km² còn thành phố trực thuộc tỉnh có diện tích nhỏ nhất là Nam Định với 46,4 km².
== Lịch sử Phát triển ==
=== Thành phố thời thuộc Pháp ===
Thời thuộc Pháp, có 3 loại thành phố:
1. Thành phố cấp 1 (municipalité de première classe) hay thành phố lớn (grande municipalité), thành lập theo Sắc lệnh của Tổng thống Pháp, gồm 3 thành phố:
Sài Gòn (thành lập theo Sắc lệnh 08/01/1877, ban hành ngày 16/5/1877. Một số tài liệu cho rằng thành phố Sài Gòn được thành lập theo sắc lệnh của tổng thống Cộng hoà Pháp ngày 15/3/1874).
Hà Nội (thành lập ngày 18 tháng 7 năm 1888).
Hải Phòng (thành lập ngày 19 tháng 7 năm 1888.
Tuy nhiên có ý kiến cho rằng Sắc lệnh ngày 19-7-1888 là Sắc lệnh thành lập các Hội đồng thành phố Hà Nội và Hải Phòng, chứ không phải là thành lập các thành phố ấy).
2. Thành phố cấp 2 (municipalité de deuxième classe) ngang cấp tỉnh, thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương (thời kỳ đầu thì của Thống đốc Nam Kỳ), gồm 3 thành phố:
Chợ Lớn (Municipalité de Chợ Lớn), thành lập theo Nghị định của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers ngày 20/10/1879
Đà Nẵng (thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 20 tháng 5 năm 1889).
Nam Định (thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 17/10/1921)
3. Thành phố cấp 3 (commune), thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương và trực thuộc tỉnh, do viên công sứ đầu tỉnh kiêm nhiệm chức đốc lý (tức thị trưởng), gồm:
Đà Lạt (thành lập ngày 31/10/1920)
Thái Nguyên (Dưới thời Pháp thuộc, từ năm 1884 đến đầu Thế kỷ XX, cùng với việc tăng cường bộ máy đàn áp, mở rộng các cơ sở dịch vụ, thành phố Thái Nguyên được thực dân Pháp mở rộng và phát triển dân về phía tây nam, bao gồm phần đất có diện tích tương ứng với phường Trưng Vương, một phần các phường Túc Duyên, Hoàng Văn Thụ và Phan Đình Phùng ngày nay)
Hải Dương (thành lập ngày 23/12/1923)
Vinh - Bến Thủy (thành lập ngày 10/12/1927 trên cơ sở sáp nhập 3 đơn vị hành chính: thị xã Vinh, thị xã Bến Thuỷ và thị xã Trường Thi).
Bạc Liêu (thành lập ngày 18/12/1928). Một tài liệu cho biết thị xã Bạc Liêu được thành lập ngày 18-12-1929 do Quyết định của Toàn quyền Đông Dương, là thị xã hỗn hợp của tỉnh Bạc Liêu).
Cần Thơ (thành lập ngày 18/12/1928)
Mỹ Tho (thành lập ngày 18/12/1928 và 16/12/1938)
Rạch Giá (thành lập ngày 30/4/1934)
Thái Bình (Ngày 4 - 2 - 1895 Kinh lược sứ Bắc Kỳ ra quyết định sáp nhập các làng Kỳ Bá, Bồ Xuyên vào phủ lỵ Kiến Xương để lập Thị xã Thái Bình)
Thanh Hóa (thành lập ngày 31/5/1929)
Huế (thành lập ngày 12/12/1929)
Quy Nhơn (thành lập ngày 30/4/1930)
Phan Thiết (thành lập ngày 28/11/1933)
Cap Xanh Giắc (Cap Saint Jacques, nay là Vũng Tàu) (thành lập ngày 28/12/1934). Trước đó từ 11/11/1899 đến 1/4/1905 Cap Xanh Giắc là thành phố tự trị (commune autonome). Có tài liệu cho biết ngày 1/5/1895, chính quyền thuộc địa ban hành nghị định chính thức thành lập thành phố Vũng Tàu.
Long Xuyên (thành lập ngày 31/1/1935 và 16/12/1938)
Bắc Ninh (thành lập ngày 19/10/1938.
Đồng Hới thành lập năm 1939
=== Sau Cách mạng Tháng Tám ===
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 quy định có các thành phố sau đây: Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn - Chợ Lớn, Nam Định, Vinh - Bến Thủy, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt. Hà Nội được đặt trực tiếp dưới quyền Chính phủ Trung ương, còn các thành phố khác thuộc quyền cấp kỳ (bộ).
Ngày 24/1/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời lại quy định tạm coi các thành phố Nam Định, Vinh - Bến Thủy, Huế, Đà Nẵng như thị xã, tức là tỉnh sẽ thay kỳ trong việc quản lý.
=== Giai đoạn 1954 - 1975 ===
Sau Hiệp định Genève, 1954 Việt Nam bị chia làm hai miền. Mỗi miền lại có quy chế đô thị riêng
==== Miền Bắc ====
Từ 1945 đến 1957 toàn miền Bắc có 3 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. Một thành phố thuộc tỉnh là Vinh - Bến Thủy. Ngày 3.9.1957 thành phố Nam Định sáp nhập vào tỉnh Nam Định thành tỉnh Nam Định. Thành phố Nam Định thành tỉnh lị tỉnh Nam Định.Trước đó tỉnh lị tỉnh Nam Định đặt ở Hành Thiện, Xuân Trường.(Trước đó một thời gian Nam Định còn là 3 đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm tỉnh Nam Định, tỉnh Bùi Chu và thành phố Nam Định trực thuộc Trung ương).
Tính đến trước năm 1975 toàn miền Bắc có 2 thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội và Hải Phòng cùng với 4 thành phố trực thuộc tỉnh là Nam Định, Thái Nguyên, Việt Trì và Vinh.
==== Miền Nam ====
Tại Miền Nam đến trước 1975 chính quyền Việt Nam Cộng hòa không xây dựng quy chế thành phố mà thành lập hai cấp tương đương là Đô thành Sài Gòn và 10 thị xã tự trị trong đó có Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Cam Ranh, Đà Lạt, Vũng Tàu, Mỹ Tho, Cần Thơ và Rạch Giá
Về phân cấp hành chính các thị xã tự trị được tổ chức không giống nhau tùy theo ý nghĩa về quân sự và văn hóa.
Các thị xã là những đô thị trực thuộc trung ương gồm Đà Nẵng, Cam Ranh và Vũng Tàu
Các thị xã vừa là đô thị trực thuộc trung ương đồng thời là tỉnh lỵ một tỉnh gồm Huế (tỉnh lỵ tỉnh Thừa Thiên) và Đà Lạt (tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Đức đến 7/9/1967)
Các thị xã là đô thị trực thuộc tỉnh nhưng hưởng quy chế tự trị cao tương đương các đô thị trực thuộc trung ương gồm Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa), Quy Nhơn (tỉnh Bình Định), Mỹ Tho (tỉnh Định Tường), Cần Thơ (tỉnh Phong Dinh) và Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang)
Về phân chia hành chính trong các thị xã: Các thị xã được chia thành các quận, có thị xã được chia thành vài quận trong một đơn vị hành chính độc lập trực thuộc trung ương, cũng có thị xã bao gồm vài quận trực thuộc một tỉnh nhưng các quận này ngoài trực thuộc tỉnh đó còn trực thuộc Thị xã tự trị quản lý nó. Cũng có thị xã không chia quận (Chỉ có 1 quận là chính thị xã đó). Các quận lại được chia thành các phường như ngày nay.
=== Giai đoạn 1975-1986 ===
Sau khi thống nhất đất nước hệ thống quản lý các thành phố ở miền Bắc được giữ nguyên. tại miền Nam, Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn hợp nhất với tỉnh Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc trung ương. Tất cả các thị xã tự trị bị giải thể.
6 thị xã tự trị được chuyển thành thành phố trực thuộc tỉnh: Huế (tỉnh Bình Trị Thiên), Đà Nẵng (tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng), Nha Trang (tỉnh Phú Khánh), Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), Cần Thơ (tỉnh Hậu Giang) và Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang)
Quy Nhơn và Rạch Giá trở thành các thị xã trực thuộc tỉnh Nghĩa Bình và Kiên Giang
Vũng Tàu hợp nhất với Côn Đảo trở thành đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo ngang cấp tỉnh nhưng không có đơn vị hành chính cấp huyện
Cam Ranh hợp nhất với huyện Cam Lâm tỉnh Khánh Hòa trở thành huyện Cam Ranh trực thuộc tỉnh Phú Khánh
Thành lập thành phố Biên Hòa năm 1976 trực thuộc tỉnh Đồng Nai.
Như vậy đến trước năm 1986, Việt Nam có 3 thành phố trực thuộc trung ương: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh và 11 thành phố trực thuộc tỉnh: Thái Nguyên, Việt Trì, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Biên Hòa, Cần Thơ và Mỹ Tho.
=== Giai đoạn 1986 đến nay ===
Sau khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới kinh tế phát triển nhanh chóng. Tốc độ đô thị hóa cũng tăng nhanh dẫn đến sự ra đời và phát triển của rất nhiều thành phố trực thuộc tỉnh mới. Bắt đầu từ việc thành lập các thành phố Quy Nhơn (1986), Vũng Tàu (1991), Hạ Long (1993), Thanh Hóa (1994), Buôn Ma Thuột (1995), Hải Dương (1997), Long Xuyên, Phan Thiết, Cà Mau, Pleiku, (1999), Lạng Sơn, Yên Bái (2002), Điện Biên Phủ (2003), Lào Cai, Đồng Hới, Thái Bình (2004), Bắc Giang, Rạch Giá, Tuy Hòa, Quảng Ngãi (2005), Bắc Ninh, Hòa Bình, Tam Kỳ, Vĩnh Yên (2006), Cao Lãnh, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Phan Rang - Tháp Chàm, Sóc Trăng (2007), Phủ Lý, Hội An, Móng Cái, Sơn La (2008), Bến Tre, Hưng Yên, Kon Tum, Tân An, Đông Hà, Vĩnh Long (2009), Bạc Liêu, Hà Giang, Vị Thanh, Cam Ranh, Bảo Lộc, Trà Vinh, Tuyên Quang (2010), Uông Bí (2011), Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Cao Bằng, Cẩm Phả (2012), Châu Đốc, Sa Đéc, Lai Châu, Tây Ninh (2013), Bắc Kạn, Tam Điệp, Sông Công (2015), Sầm Sơn (2017). Đến tháng 4 năm 2017, Việt Nam có 68 thành phố trực thuộc tỉnh. Cùng với sự gia tăng về số lượng thành phố trực thuộc tỉnh, một số thành phố trực thuộc tỉnh khác phát triển nhanh chóng trở thành các trung tâm kinh tế lớn và được nâng cấp thành thành phố trực thuộc trung ương như Đà Nẵng (1997) và Cần Thơ (2004). Việt Nam có 5 thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ và 68 thành phố trực thuộc tỉnh.
== Tham khảo ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Phân cấp hành chính Việt Nam
Tỉnh (Việt Nam)
Thành phố trực thuộc trung ương (Việt Nam)
Danh sách đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam
Quận (Việt Nam)
Thành phố trực thuộc tỉnh (Việt Nam)
Thị xã (Việt Nam)
Huyện (Việt Nam)
Phường (Việt Nam)
Danh sách thị trấn tại Việt Nam
Thị trấn (Việt Nam)
Thị trấn nông trường
Xã (Việt Nam) |
hat-trick.txt | Trong thể thao, một hat-trick (hoặc hat trick) có nghĩa là đạt được một thành tích tốt tới ba lần trong một trận đấu, hoặc thành tích khác trên cơ sở chia thành ba. Ví dụ trong bóng đá hoặc khúc côn cầu trên băng, một cầu thủ (bóng đá) có thể ghi ba bàn thắng vào lưới đối thủ (theo truyền thống thì một cầu thủ phải ghi 3 bàn liên tiếp thì mới gọi là hattrick nhưng ngày nay chỉ cần ghi 3 bàn là có thể gọi), trong khi ở một pha cricket (khúc côn cầu trên băng) người ném bóng có thể đem lại ba wicket trong ba pha giao bóng.
Hat-trick còn được dùng để miêu tả nhiều thứ khác, ví dụ đội bóng Inter Milan giành được ba danh hiệu trong mùa giải 2009-10 thì họ thường được gọi là đã có được một hat-trick danh hiệu. Hay cầu thủ bóng đá Wayne Rooney được trao tặng ba giải thưởng cá nhân cũng được gọi như vậy.
Thuật ngữ hat-trick lần đầu tiên được sử dụng trong cricket, để mô tả chiến công của H.H Stephenson năm 1858 và được sử dụng trong in ấn lần đầu tiên vào năm 1878.
== Chú thích == |
thành phố panama.txt | Thành phố Panama (tiếng Tây Ban Nha: Panamá) là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Cộng hòa Panama. Thành phố này có dân số 708.738 người, với dân số vùng đô thị là 1.063.000, và nằm bên cửa vào ở Thái Bình Dương của kênh đào Panama, tại tọa độ 8°58′B 79°32′T. Thành phố Panama là trung tâm hành chính và chính trị của quốc gia này. Thị trưởng hiện nay là Juan Carlos Navarro.
Thành phố Panama đã được bầu chọn trong 7 năm vào nhóm 5 thành phố hàng đầu cho nghỉ ngơi trên thế giới, theo Tạp chí International Living
Thành phố Panama có trung tâm ken đặc nhà cao tầng căn hộ, văn phòng, khách sạn. Thành phố này là một trung tâm quan trọng của ngân hàng và thương mại, các dịch vụ viễn thông. Sân bay quốc tế Tocumen có nhiều điểm đến quốc tế.
Thành phố Panama đã được chọn làm thủ đô văn hóa châu Mỹ năm 2003 (cùng với Curitiba, Brasil).
== Khí hậu ==
== Chú thích == |
cấu trúc tinh thể.txt | Trong khoáng vật học và tinh thể học, một cấu trúc tinh thể là một sự sắp xếp đặc biệt của các nguyên tử trong tinh thể. Một cấu trúc tinh thể gồm có một ô cơ sở và rất nhiều các nguyên tử sắp xếp theo một cách đặc biệt; vị trí của chúng được lặp lại một cách tuần hoàn trong không gian ba chiều theo một mạng Bravais. Kích thước của ô đơn vị theo các chiều khác nhau được gọi là các thông số mạng hay hằng số mạng. Tùy thuộc vào tính chất đối xứng của ô đơn vị mà tinh thể đó thuộc vào một trong các nhóm không gian khác nhau.
Cấu trúc và đối xứng của tinh thể có vai trò rất quan trọng với các tính chất liên kết, tính chất điện, tính chất quang,... của tinh thể.
== Ô cơ sở ==
Ô đơn vị là một cách sắp xếp của các nguyên tử trong không gian ba chiều, nếu ta lặp lại nó thì nó sẽ chiếm đầy không gian và sẽ tạo nên tinh thể. Vị trí của các nguyên tử trong ô đơn vị được mô tả bằng một hệ đơn vị hay còn gọi là một hệ cơ sở bao gồm ba thông số tương ứng với ba chiều của không gian
(
x
i
,
y
i
,
z
i
)
{\displaystyle (x_{i},y_{i},z_{i})}
.
Đối với mỗi cấu trúc tinh thể, tồn tại một ô đơn vị quy ước, thường được chọn để mạng tinh thể có tính đối xứng cao nhất. Tuy vậy, ô đơn vị quy ước không phải luôn luôn là lựa chọn nhỏ nhất. Ô mạng cơ sở mới là một lựa chọn nhỏ nhất mà từ đó ta có thể tạo nên tinh thể bằng cách lặp lại ô nguyên tố. Ô Wigner-Seitz là một loại ô nguyên tố mà có tính đối xứng giống như của mạng tinh thể.
== Hệ tinh thể ==
Hệ tinh thể là một nhóm điểm của các mạng tinh thể (tập hợp các phép đối xứng quay và đối xứng phản xạ mà một điểm của mạng tinh thể không biến đối). Hệ tinh thể không có các nguyên tử trong các ô đơn vị. Nó chỉ là những biểu diễn hình học mà thôi. Có tất cả bảy hệ tinh thể. Hệ tinh thể đơn giản nhất và đối xứng cao nhất là hệ lập phương, các hệ tinh thể khác có tính đối xứng thấp hơn là: hệ sáu phương, hệ bốn phương, hệ ba phương (còn gọi là hình mặt thoi), hệ thoi, hệ một nghiêng, hệ ba nghiêng. Một số nhà tinh thể học coi hệ tinh thể ba phương là một phần của hệ tinh thể sáu phương.
== Phân loại các loại mạng tinh thể ==
Mạng Bravais là một tập hợp các điểm tạo thành từ một điểm duy nhất theo các bước rời rác xác định bởi các véc tơ cơ sở. Trong không gian ba chiều có tồn tại 14 mạng Bravais (phân biệt với nhau bởi các nhóm không gian). Tất các vật liệu có cấu trúc tinh thể đều thuộc vào một trong các mạng Bravais này (không tính đến các giả tinh thể). 14 mạng tinh thể được phân theo các hệ tinh thể khác nhau được trình bày ở phía bên phải của bảng.
Cấu trúc tinh thể là một trong các mạng tinh thể với một ô đơn vị và các nguyên tử có mặt tại các nút mạng của các ô đơn vị nói trên.
== Nhóm điểm và nhóm không gian ==
Nhóm điểm tinh thể học hoặc lớp tinh thể là một tập hợp các phép đối xứng không tịnh tiến mà dưới tác dụng của các phép đối xứng đó, tinh thể trở lại vị trí như cũ. Có tất cả 32 lớp tinh thể.
Nhóm không gian của một cấu trúc tinh thể được tạo thành từ các phép đối xứng tịnh tiến bổ sung vào các phép đối xứng của các nhóm điểm. Có tất cả 230 nhóm không gian như vậy.
== Sai hỏng mạng ==
Các tinh thể thực thường có các sai hỏng mạng hoặc là các điểm bất thường có mặt trong cấu trúc tinh thể lý tưởng nói ở trên. Các sai hỏng này có vai trò quyết định đến tính chất cơ và điện của các tinh thể thực. Đặc biệt là bất định xứ trong tinh thể cho phép tinh thể biến dạng dễ dàng hơn nhiều so với tinh thể hoàn hảo.
== Xem thêm ==
Mạng tinh thể
Tinh thể học
Sai hỏng mạng tinh thể
Nuôi tinh thể
Tinh thể lỏng
Liên kết tinh thể
Tinh thể mầm
Khoa học vật liệu
Công nghệ vật liệu
Gốm
Kim loại học
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(bằng tiếng Anh)
Appendix A from the manual for Atoms, software for XAFS
Intro to Minerals: Crystal Class and System |
lantan.txt | Lantan (tiếng Latinh: Lanthanum) là một nguyên tố hóa học với ký hiệu La và số nguyên tử 57.
== Đặc trưng ==
Lantan là kim loại màu trắng bạc, thuộc về nhóm 3 trong bảng tuần hoàn và là nguyên tố thuộc nhóm Lantan. Nó được tìm thấy trong một số khoáng vật đất hiếm, thường trong tổ hợp với xeri và các nguyên tố đất hiếm khác. Lantan dẻo, dễ uốn và mềm đủ để cắt bằng dao. Nó là một trong những kim loại đất hiếm hoạt động hóa học mạnh nhất. Nó phản ứng trực tiếp với cacbon, nitơ, bo, selen, silic, phốtpho, lưu huỳnh, các halogen. Nó bị ôxi hóa nhanh khi lộ ra ngoài không khí. Nước lạnh tấn công lantan chậm nhưng nước nóng thì phân hủy nó nhanh hơn nhiều.
== Lịch sử ==
Lantan được nhà hóa học người Thụy Điển là Carl Gustav Mosander phát hiện năm 1839, khi ông phân hủy một phần mẫu nitrat xeri bằng nhiệt và xử lý muối thu được bằng axít nitric loãng. Từ dung dịch nhận được, ông cô lập ra một nguyên tố đất hiếm mới mà ông gọi là lantana. Lantan được cô lập ở dạng tương đối tinh khiết vào năm 1923.
Từ lantan có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp λανθανω [lanthanō] = nằm ẩn nấp.
Lantan có tính bazơ mạnh nhất trong số các nguyên tố nhóm lantan hóa trị 3, và tính chất này là cái cho phép Mosander cô lập và tinh chế các muối của nó. Việc chia tách theo tính bazơ thực hiện trong công nghiệp là kết tủa phân đoạn của các bazơ yếu (chẳng hạn didymi) từ dung dịch nitrat bằng cách bổ sung ôxít magiê hay khí ammoniac. Lantan đã tinh chế còn tồn lại trong dung dịch. (Các phương pháp dựa trên độ bazơ chỉ thích hợp cho việc tinh chế lantan; didymi không thể chia tách tiếp có hiệu quả theo kiểu như thế này.) Kỹ thuật thay thế là kết tinh phân đoạn do Dimitry Ivanovich Mendeleev phát hiện ra, trong dạng nitrat amoni tetrahydrat kép, được ông sử dụng để tách lantan hòa tan ít hơn từ didymi hòa tan nhiều hơn trong thập niên 1870. Hệ thống này được sử dụng ở quy mô thương mại trong tinh chế lantan cho đến khi có sự phát triển phương pháp chiết tách bằng dung môi trên thực tế vào cuối thập niên 1950. (Quy trình chi tiết sử dụng các nitrat amoni kép để cung cấp 4N chi lantan tinh khiết, cô đặc neodymi và praseodymi được trình bày trong Callow 1967, vào thời gian khi quy trình này đã là lỗi thời.) Khi vận hành để tinh chế lantan, các nitrat amoni kép được tái kết tinh từ nước. Khi sau này được Carl Auer von Welsbach làm thích ứng để chia tách didymi, axít nitric được sử dụng làm dung môi để hạ thấp độ hòa tan của hệ thống. Lantan là tương đối dễ tinh chế, do nó chỉ có một nguyên tố nhóm Lantan nằm cận kề là xeri, mà bản thân nguyên tố này cũng tương đối dễ loại bỏ do hóa trị 4 tiềm năng của nó.
== Ứng dụng ==
Các ứng dụng của lantan có:
Các ứng dụng chiếu sáng cacbon, đặc biệt trong ngành sản xuất phim để chiếu sáng xưởng phim.
Ôxít lantan (La2O3) cải thiện độ kháng kiềm của thủy tinh và được dùng chế tạo các loại kính quang học đặc biệt, như:
Kính hấp thụ tia hồng ngoại.
Các thấu kính cho camera và kính thiên văn, do có chiết suất cao và độ tán sắc thấp.
Một lượng nhỏ lantan thêm vào thép sẽ cải thiện độ dát mỏng, khả năng chịu va chạm và độ dẻo của nó.
Một lượng nhỏ lantan thêm vào sắt hỗ trợ cho việc sản xuất gang cầu.
Một lượng nhỏ lantan thêm vào molypden làm giảm độ cứng của kim loại này và giảm độ nhạy cảm của nó đối với các thay đổi về nhiệt độ.
Một lượng nhỏ lantan có trong nhiều sản phẩm dùng cho bể bơi để loại bỏ các muối phốtphat nhằm loại bỏ tảo.
Mischmetal, một hợp kim tự cháy được sử dụng làm đá lửa trong các bật lửa, chứa 25-45% lantan.
Ôxít lantan và hexaborua lantan được sử dụng trong các ống chân không như là các vật liệu cho catôt nóng với độ bức xạ điện tử mạnh. Các tinh thể hexaborua lantan (LaB6) được sử dụng trong các nguồn bức xạ nhiệt điện tử có độ sáng cao, tuổi thọ dài cho các kính hiển vi điện tử quét (SEM).
Trong các điện cực hàn hồ quang vonfram khí (GTAW), để thay thế cho thori có tính phóng xạ.
Các hợp kim xốp hiđrô có thể chứa lantan. Chúng có khả năng lưu giữ hiđrô tới 400 lần thể tích của chính chúng theo một quy trình hút bám thuận nghịch.
Làm chất xúc tác cho cracking dầu mỏ.
Sợi măng sông cho các loại đèn măng sông.
Vật liệu đánh bóng đá và thủy tinh.
Xác định niên đại phóng xạ La-Ba các loại đá và quặng.
Cacbonat lantan được sử dụng trong y học như là tác nhân liên kết phốtphat để điều trị bệnh thừa phốtphat. Xem chi tiết tại phần Vai trò sinh học.
Nitrat lantan được dùng chủ yếu trong các loại thủy tinh đặc biệt, xử lý nước và chất xúc tác.
Xeri hoạt hóa bằng bromua lantan là chất phát sáng nhấp nháy vô cơ gần đây có sự kết hợp của năng suất phát sáng cao và độ phân giải năng lượng tốt nhất.
Tương tự như enzym peroxidaza cải ngựa (HRP), lantan được dùng như là chất dò vết dày dặc điện tử trong sinh học phân tử.
== Vai trò sinh học ==
Lantan không có vai trò sinh học nào đã biết. Nguyên tố này không được hấp thụ bằng đường miệng và khi được tiêm vào thì việc loại bỏ nó diễn ra rất chậm. Cacbonat lantan đã được chấp thuận như là dược phẩm (Fosrenol®, Shire Pharmaceuticals) để hấp thụ phốtphat dư thừa trong các trường hợp suy thận giai đoạn cuối. Một vài clorua đất hiếm, như clorua lantan (LaCl3), được biết là có khả năng chống đông máu.
Trong khi lantan có một số hiệu ứng dược học đối với một vài kênh ion và thụ thể, đặc trưng của nó đối với thụ thể GABA là duy nhất trong số các ion hóa trị hai. Lantan tác động vào cùng một khu vực điều chỉnh trên GABAR, giống như kẽm - một tác nhân điều chỉnh không gian và độ hoạt động âm tính. Nhưng các cation lantan La3+ là tác nhân điều chỉnh không gian và độ hoạt động dương tính tại các thụ thể GABA bẩm sinh và tái tổ hợp, làm tăng thời gian mở kênh và giảm sự nhạy cảm ở phụ nhóm cấu hình phụ thuộc kiểu.
== Phổ biến ==
Mặc dù lantan thuộc về nhóm các nguyên tố hóa học gọi là các kim loại đất hiếm, nhưng nó lại không hiếm. Lantan có sẵn với lượng tương đối lớn (32 ppm trong lớp vỏ Trái Đất). Các loại "đất hiếm" có tên gọi như vậy là do chúng là hiếm so với các loại đất "thông thường" như đá vôi hay magnesia, và do trước đây người ta chỉ biết đến một ít trầm tích.
Monazit (Ce, La, Th, Nd, Y)PO4 và bastnasit (Ce, La, Y)CO3F là các loại quặng chủ yếu trong đó chứa lantan, tính theo tỷ lệ phần trăm thì tới 25-38% trong hàm lượng các nguyên tố nhóm Lantan. Lantan nói chung được làm giàu từ bastnasit chứ không phải monazit, trong các bể tinh lọc quặng quy mô thương mại. Cho tới năm 1949, bastnasit vẫn còn là khoáng vật hiếm và vô danh, thậm chí người ta còn không dự tính xa về nó như là nguồn thương mại tiềm năng để sản xuất các nguyên tố nhóm lantan. Trong năm đó, lượng trầm tích lớn tại núi Pass, California (cạnh khu bảo tồn quốc gia Mojave) đã được phát hiện. Phát hiện này báo cho các nhà địa chất về sự tồn tại của một lớp mới các trầm tích đất hiếm, các đất hiếm chứa florocacbonat, mà sau này người ta tìm thấy ở nhiều nơi, như ở châu Phi và Trung Quốc.
Xem thêm Thể loại:Khoáng vật lantanua
== Đồng vị ==
Lantan nguồn gốc tự nhiên là hỗn hợp của một đồng vị ổn định (La139) và một đồng vị phóng xạ (La138), với đồng vị ổn định chiếm nhiều nhất (99,91%). Ngoài ra, 38 đồng vị phóng xạ khác cũng được nêu đặc trưng với ổn định nhất là La138 có chu kỳ bán rã 105×109 năm, và La137 (60.000 năm). Các đồng vị còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 24 giờ, trong đó đa phần có chu kỳ bán rã dưới 1 phút. Nguyên tố này có 3 đồng phân hạt nhân.
Các đồng vị của lantan có nguyên tử lượng nằm trong khoảng từ 117 (La117) tới 155 (La155).
== Phòng ngừa ==
Lantan có độc tính từ thấp tới vừa phải và phải cẩn thận khi tiếp xúc với nó. Ở động vật, việc tiêm dung dịch chứa lantan sẽ sinh ra bệnh tích lũy đường trong máu, huyết áp thấp, thoái hóa lá lách và biến đổi bất thường ở gan.
== Tham khảo ==
"The Industrial Chemistry of the Lanthanons, Yttrium, Thorium and Uranium" của R.J. Callow, Nhà in Pergamon, 1967
"Chemistry of the Lanthanons" của R.C. Vickery, Butterworths, 1953
"Nouveau Traite de Chimie Minerale, Quyển VII. Scandium, Yttrium, Elements des Terres Rares, Actinium", P. Pascal, Editor, Masson & Cie, 1959
"Extractive Metallurgy of Rare Earths" của C.K. Gupta và N. Krishnamurthy, Nhà xuất bản CRC, 2005
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Hợp chất lantan
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Lantan
Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Lantan |
cúp fa.txt | Cúp FA (tiếng Anh: The Football Association Challenge Cup hay The FA Cup) là cúp bóng đá lâu đời nhất (từ năm 1871) và có nhiều đội tham dự nhất của nước Anh cũng như của thế giới (mùa giải 1998-1999 có 558 đội ở 10 hạng đấu).
Đương kim vô địch là câu lạc bộ Manchester United.
Tính đến năm 2016, câu lạc bộ Manchester United.và Arsenal là 2 đội đoạt nhiều cúp FA nhất (12 lần):
Số đội vô địch 3 lần liên tiếp là: Wanderers F.C, Blackburn Rovers F.C.
Cụ thể như sau:
== Các trận chung kết ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
người mảng.txt | Người Mảng (tên gọi khác: Mảng Ư, Xá lá vàng) là một dân tộc thiểu số cư trú ở bắc Việt Nam và nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam).
Tại Việt Nam họ là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.
Tiếng Mảng thuộc nhánh Bắc Môn-Khmer của ngữ tộc Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
=== Tại Việt Nam ===
Người Mảng cư trú chủ yếu ở Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ, Mường Lay, tỉnh Lai Châu. Dân số theo kết quả điều tra dân số năm 1999 là khoảng 2.663 người.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mảng ở Việt Nam có dân số 3.700 người, cư trú tại 14 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Mảng cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (3.631 người, chiếm 98,1% tổng số người Mảng tại Việt Nam), ngoài ra còn có ở Đồng Nai (17 người), Đắk Lắk (15 người), các tỉnh khác không quá 10 người.
=== Tại Trung Quốc ===
Có khoảng 500 người Mảng sinh sống tại huyện Kim Bình, Châu tự trị dân tộc Cáp Nê-Di Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Tại đây, họ được gộp nhóm chung trong nhóm không phân loại.
== Phong tục tập quán ==
Thờ vị thần cao nhất là trời. Hôn nhân tự do; lúc đưa dâu có tục đánh nhau giả giữa họ nhà trai và nhà gái để giành cô dâu. Cư trú theo dòng họ, riêng biệt, ở nhà sàn. Có trưởng bản cai quản cùng hội đồng già làng.
== Văn hoá ==
Đặc trưng văn hoá lâu đời: tục xăm cằm, lễ thành đinh và các làn điệu dân ca.
== Trang phục ==
Nữ mặc váy dài, áo ngắn xẻ ngực, choàng tấm vải trắng có trang trí hoa văn. Nam mặc quần, áo xẻ ngực.
== Kinh tế ==
Làm nương rẫy, công cụ sản xuất thô sơ. Một số nơi làm ruộng bậc thang. Nghề thủ công đan lát.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
== Liên kết ngoài == |
advanced packaging tool.txt | Advanced Packaging Tool, hay APT, là phần mềm miễn phí dùng để quản lý việc cài đặt phần mềm trên Linux. APT làm đơn giản các thủ tục quản lý phần mềm trên các máy tính tựa Unix bằng cách tự động hóa việc tải về, cấu hình và cài đặt các gói phần mềm, cả ở dạng biên dịch sẵn (dạng binary) hoặc biên dịch mã nguồn.
APT ban đầu được thiết kế như là một giao diện cho dpkg để làm việc với các gói .deb của Debian, nhưng nó cũng đã được thay đổi để có thể làm việc với hệ thống RPM thông qua apt-rpm. Dự án Fink đã chuyển APT lên hệ điều hành Mac OS X với một số chức năng quản lý gói, và APT cũng đã có trên OpenSolaris (bao gồm bản phân phố Nexenta OS).
== Cách sử dụng ==
"apt" không phải là một chương trình, nó chỉ là tên của một gói chứa tập hợp các công cụ (và các thư viện cần thiết) để thực hiện chức năng của nó. Phần quan trọng nhất của APT là các hàm thư viện C++ (nằm trong một gói khác có tên là libapt) dùng bởi các phần mềm giao diện người dùng cuối có liên quan để xử lý các gói, thí dụ như apt-get và apt-cache. Nó được dùng phổ biến như là một thí dụ về sự đơn giản và thống nhất; apt-get và apt-cache là phần "quan trọng" trong tất cả các phiên bản Debian, do đó nó được cài đặt mặc định trong Debian. APT về mặt chức năng có thể xem như là một giao diện đầu cuối của dpkg, và thân thiện hơn so với dselect. Trong khi dpkg chỉ thực hiện trên từng gói, APT quản lý các mối quan hệ (đặc biệt là sự phụ thuộc) giữa các gói, cũng như là quản lý nguồn phần mềm và quản lý phiên bản (theo dõi các bản phát hành và version pinning).
APT thường được ca ngợi như là một chức năng tốt nhất của Debian.
Một chức năng chính của APT là các nó gọi dpkg - nó thực hiện sắp xếp phân cấp danh sách các gói để có thể cài đặt hoặc gỡ và gọi dpkg theo một trình tự tốt nhất. Một số trường hợp nó sử dụng tham số --force của dpkg. Tuy nhiên, nó chỉ làm vậy khi không thể tìm được cách buộc dpkg phải thực thi.
Lệnh apt-get được sử dụng nhiều nhất là apt-get install tên gói (thông thường tên gói chỉ đơn giản là tên của một ứng dụng có thể chạy được, apt-get update, apt-get upgrade và apt-get dist-upgrade.
=== Cài đặt phần mềm ===
=== Update, upgrade và dist-upgrade ===
== Cấu hình và các tập tin ==
== Các nguồn phần mềm ==
== Giao diện người dùng cuối ==
Có nhiều giao diện người dùng cuối cho APT. Các giao diện này cung cấp các tính năng cài đặt cao cấp và giao diện trực quan. Có nhiều chương trình:
Synaptic Package Manager, giao diện đồ họa trên GTK+ / KDE
aptitude
KPackage, một phần của KDE
Adept Package Manager, giao diện đồ họa cho KDE (deb, rpm, bsd)
PackageKit, một giao diện người dùng cuối freedesktop.org.
gdebi, công cụ dựa trên GTK, hỗ trợ cho Ubuntu.
apt-cdrom, để thêm CDROM mới vào danh sách sources.lists (danh sách các kho phần mềm). Cần phải sử dụng apt-cdrom để thêm CD vào hệ thống APT, nó không thể làm bằng tay.
apt-zip, dùng apt với thiết bị lưu trữ ngoài, đặc biệt là đĩa USB.
apt:foo tải và cài đặt phần mềm bằng cách click chuột vào địa chỉ web (thử nghiệm).
Các giao diện người dùng cuối APT có thể:
tìm các gói phần mềm mới;
nâng cấp gói phần mềm;
cài đặt và gỡ các gói;
nâng cấp toàn bộ hệ thống lên phiên bản mới.
Các giao diện người dùng cuối của APT có thể liệt kê các gói phụ cần phải cài đặt hoặc nâng cấp, gợi ý cho người quản trị các gói mới cần phải cài, tự động cài đặt các gói phụ thuộc và gỡ các file, gói không còn sử dụng.
== Lịch sử ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
apt-get Manual page
APT HOWTO
apt-cache
apt.conf
apt_preferences
Python-apt
Using apt offline
apt-zip:
Offline functionality.
Web user interface for offline Debian.
pypt-offline
Adding source lists using apt-setup
apt-cdrom |
quận của hoa kỳ.txt | Ở Hoa Kỳ, quận hay hạt (tiếng Anh: county) là một cấp chính quyền địa phương nhỏ hơn một tiểu bang Hoa Kỳ và thông thường lớn hơn một thành phố hoặc thị trấn tại Hoa Kỳ hay vùng lãnh thổ của Hoa Kỳ. Từ county, ngày xưa có nghĩa "đất của bá tước" ở châu Âu, được dùng tại 48 trong 50 tiểu bang để chỉ quận trong khi Louisiana dùng từ parish ("giáo xứ") và Alaska dùng từ borough. Cộng chung tất cả, có 3.077 quận tại Hoa Kỳ, trung bình là 62 quận mỗi tiểu bang. Tiểu bang có ít quận nhất là Delaware (3 quận), và tiểu bang có nhiều quận nhất là Texas (254 quận). Tại nhiều tiểu bang, các quận được chia thành những thị trấn (townships hoặc towns) và có thể gồm có những đô thị tự quản, độc lập khác. Nơi làm trung tâm hành chánh và có tòa án của một quận được gọi là county seat hay tiếng Việt gọi là quận lỵ.
Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ liệt kê 3.141 quận hay đơn vị hành chánh tương đương quận. Quyền hành của chính quyền quận mỗi nơi thì khác nhau từ tiểu bang này sang tiểu bang khác, cũng như mối quan hệ giữa các chính quyền quận và chính quyền các khu đô thị tự quản cũng có nhiều khác nhau.
== Tương đương quận ==
Thuật từ tương đương quận để chỉ hai loại phân cấp hành chánh mà khác biệt với loại quận được thấy ở đa số các tiểu bang:
Những Khu điều tra dân số Alaska: Đa số phần đất của Alaska mà không thuộc bất cứ 16 quận nào của Alaska. Khu vực bao la này không có chính quyền địa phương. Nó lớn hơn Pháp và Đức cộng lại, được chính quyền tiểu bang Alaska gọi là "Quận chưa tổ chức" (Unorganized Borough) và nằm bên ngoài các khu đô thị tự quản. Cục điều tra dân số Hoa Kỳ cùng hợp tác với chính quyền tiểu bang Alaska đã chia quận chưa được tổ chức này thành 11 khu điều tra dân số dành cho mục đích thống kê.
Các thành phố độc lập: Đây là các thành phố theo pháp lý không thuộc một quận nào trong một tiểu bang. Cho đến năm 2004, có tất cả là 42 thành phố như vậy tại Hoa Kỳ: Baltimore, Maryland, Carson City, Nevada, St. Louis, Missouri và tất cả 39 thành phố tại Virginia nơi mà bất cứ một khu đô thị tự quản nào tổ chức thành một thành phố (trừ thị trấn) thì theo luật sẽ được tách rời khỏi bất cứ quận nào mà nó nằm trong đó.
== Thành phố và quận ==
Nói chung thì các thành phố chiếm một khu vực nhỏ hơn quận mà bao gồm chúng. Tuy nhiên, cũng có một số ngoại lệ với luật này:
Một thành phố có thể có phần lãnh thổ bằng với một quận mà chứa nó, mặc dù cả hai đều có chính quyền riêng biệt. Đây là trường hợp gần đúng của thành phố Jacksonville, Florida. Thành phố đã hợp nhất tất cả Quận Duval trừ bốn thành phố ngoại ô nhỏ hơn.
Một thành phố và quận chứa nó có thể nhập lại để hình thành một quận-thành phố thống nhất (consolidated city-county) mà được xem như một thành phố và một quận dưới luật tiểu bang. Các ví dụ gồm có Denver, Colorado và San Francisco, California. Tương tự, một số quận của Alaska đã nhập với các thành phố chính của nó để tạo ra các quận-thành phố thống nhất (unified city-boroughs). Điều này đưa đến kết quả là một số thành phố của Alaska được xếp vào trong các thành phố có diện tích địa lý lớn nhất trên thế giới.
Một thành phố có thể kéo dài địa giới của nó qua một quận khác. Ví dụ như Atlanta, Georgia, Columbus, Ohio, Kansas City, Missouri, Houston, Texas, và Oklahoma City, Oklahoma. Thành phố Dallas, Texas nằm trong 5 quận (một phần của thành phố nằm trong mỗi quận. Giống như vậy, Thành phố New York nằm trong năm quận nhưng đặc biệt hơn vì năm quận này chứa chỉ một mình Thành phố New York.
== Thống kê ==
Theo Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 2000, lãnh thổ trung bình của 3.077 quận Hoa Kỳ là 1.611 km² (622 dặm vuông), chỉ bằng 2 phần 3 quận nghi lễ của Anh, và chỉ hơn 1/4 một ít lãnh thổ trung bình của một tỉnh (Département) của Pháp. Tuy nhiên, con số này có sự khác biệt giữa miền đông và miền tây Hoa Kỳ. Vùng đất của các quận ở miền tây Hoa Kỳ thì lớn hơn nhiều so với vùng đất các quận ở miền đông Hoa Kỳ. Ví dụ, vùng đất trung bình của các quận tại Georgia là 888 km² (343 dặm vuông) trong khi ở Utah là 6.286 km² (2.427 dặm vuông)
Khu tương đương quận có tổng diện tích lớn nhất là Khu Điều tra Dân số Yukon-Koyukuk, Alaska với 147.843 dặm vuông (382.912 km²) trong khi quận lớn nhất là Quận North Slope, Alaska với 94.763 mi² (245.435 km²). Khu tương đương quận nhỏ nhất là Thành phố Độc lập Falls Church, Virginia với 2,0 dặm vuông (5 km²) trong khi quận nhỏ nhất là Quận Kalawao, Hawaii với 13 mi² (34 km²). Quận nhỏ nhất tự quản là Arlington, Virginia với 26 mi² (72 km²).
Theo Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 2000, có 16,7% các quận của Hoa Kỳ có hơn 100.000 cư dân. Điều này phản ảnh vẽ tự nhiên của các quận Hoa Kỳ chủ yếu là nông thôn. Phần đông dân chúng Hoa Kỳ sống tập trung trong một số ít quận. Quận đông dân số nhất là Quận Los Angeles, California với 10.226.506 cư dân tính đến năm 2005, và quận ít dân nhất là Quận Loving, Texas với chỉ 60 cư dân tính đến năm 2005.
Quận có mật độ dân số đông nhất là Quận New York, New York với 66.940 dân trên một dặm vuông tính đến năm 2000, và quận có mật độ dân số ít nhất là Quận Lake và Peninsula, Alaska với 0,0767 người trên một dặm vuông tính đến năm 2000. Vùng tương đương quận có mật độ dân số ít nhất là Khu Điều tra Dân số Yukon-Koyukuk, Alaska với 0,0449 người trên một dặm vuông tính đến năm 2000.
=== Số quận mỗi tiểu bang ===
Danh sách dưới đây cũng bao gồm các khu tương đương quận. Các tiểu bang miền Nam và Trung Tây Hoa Kỳ thường có nhiều quận hơn các tiểu bang miền Tây và Đông Bắc Hoa Kỳ.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Geographic Areas Reference Manual by the United States Census Bureau
National Association of Counties
HomeInfoMax- Cross-referencing and locating all U.S. Counties, Cities and ZIP Codes
U.S. County Formation Maps 1643-Present - Cumulative animated graphics. |
liên đoàn bóng ném châu âu.txt | Liên đoàn bóng ném châu Âu (tiếng Anh: European Handball Federation, viết tắt là EHF) là một tổ chức quốc tế gồm các Liên đoàn bóng ném quốc gia châu Âu. Liên đoàn được thành lập vào tháng 11 năm 1991, gồm 49 thành viên và một thành viên hợp tác (Kosovo). Liên đoàn có trụ sở chính tại Viên, Áo. Tổng thư ký hiện nay của Liên đoàn là Michael Wiederer.
== Lịch sử ==
Liên đoàn bóng ném châu Âu được thành lập ngày17.11.1991 tại Berlin, Đức, nhưng cuộc họp đầu tiên của Liên đoàn được triệu tập ngày 5.6.1992 và trụ sở được ấn định tại Viên, Áo từ ngày 1.11 cùng năm. Trong các năm sau, số các nước thành viên gia tăng từ 29 nước ban đầu lên 49 nước.
Hàng năm, Liên đoàn tổ chức nhiều giải cho các đội tuyển các nước thành viên cũng như các câu lạc bộ của họ.
== Các giải của Liên đoàn ==
Giải vô địch bóng ném nam châu Âu
Giải vô địch bóng ném nữ châu Âu
Giải vô địch châu Âu các đội nam trẻ
Giải vô địch châu Âu các đội dưới 20 tuổi
Hạng vô địch nam Liên đoàn bóng ném châu Âu
Hạng vô địch nữ Liên đoàn bóng ném châu Âu
Cúp Liên đoàn bóng ném châu Âu cho đội nam
Cúp Liên đoàn bóng ném châu Âu cho đội nữ
Cúp thách thức đội nam châu Âu
Cúp thách thức đội nữ châu Âu
Cúp vô địch nam Liên đoàn bóng ném châu Âu (Siêu cúp EHF cũ)
Cúp vô địch nữ Liên đoàn bóng ném châu Âu (Siêu cúp EHF cũ)
Cúp thách thức đội nữ Liên đoàn bóng ném châu Âu (City Cup EHF cũ)
== Các nước thành viên ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official site
Handball Blog |
william byrd.txt | William Byrd (1540/1543-1623) là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ đàn organ người Anh. Ông cùng với Thomas Tallis trở thành hai nhà soạn nhạc quan trọng nhất của thời kỳ Phục hưng Anh. Có thể nói, William Byrd là một trong những nhà soạn nhạc xuất sắc nhất của nước Anh trong mọi thời đại. Đồng thời ông còn có chỗ đứng trong hàng những nhà soạn nhạc châu Âu xuất sắc của một trong những thời đại đáng nhớ nhất của châu Âu và thế giới.
== My Ladye Nevells Booke ==
My Ladye Nevells Booke là một bản thảo âm nhạc gồm 42 mảnh dành cho nhạc cụ phím của William Byrd, bản thảo này cũng là một trong những bản thảo quan trọng nhất thời kỳ phục hưng. Ladye Nevells có khả năng là Elizabeth Bacon, con gái của nữ hoàng Elizabeth I. Cuốn sách có thể là món quà mà William Byrd gửi tặng.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
The Byrd Edition (gen. ed. P. Brett), Vols 1–17 (London, 1977–2004)
A. Brown (ed.) William Byrd, Keyboard Music (Musica Britannica 27–28, London, 1971)
Chisholm, Hugh biên tập (1911). “Byrd, William”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge.
Brett, Philip (2007). William Byrd and his Contemporaries. Berkeley.
Brown, , A. and R. Turbet (1992). Byrd Studies. Cambridge.
Fellowes, Edmund H. (1948). William Byrd (ấn bản 2). London: Oxford University Press. ISBN 0193152045.
Harley, John (1997). William Byrd: Gentleman of the Chapel Royal. Aldershot.
Harley, John (2010). The World of William Byrd: Musicians, Merchants and Magnates. Farnham, Surrey: Ashgate. ISBN 9781409400882.
Kerman, J. (1981). The Masses and Motets of William Byrd. London.
Kerman, Joseph. (2001). "Byrd, William". The New Grove Dictionary of Music and Musicians, second edition, edited by Stanley Sadie và John Tyrrell. London: Macmillan Publishers.
Bản mẫu:Cite ODNB
McCarthy, Kerry (2013). Byrd. Oxford University Press. ISBN 9780195388756.
Neighbour, Oliver (1978). The Consort and Keyboard Music of William Byrd. Berkeley: University of California Press. ISBN 978-0-520-03486-0.
Turbet, Richard (1987). William Byrd, A Guide to Research. New York: Garland. ISBN 9780824083885.
Turbet, Richard (2012). William Byrd: A Research and Information Guide . New York: Routledge. ISBN 9780415875592. ISBN 9780203112342 (ebook)
“Byrd”. Stainer & Bell. 13 tháng 9 năm 2006. – Contains bio and list of works
== Liên kết ngoài ==
Bản mẫu:1913CE
Complete list of Byrd's works from stainer.co.uk (PDF)
William Byrd at Find-A-Grave
The keyboard music of William Byrd including recordings
Free access to high-resolution images of manuscripts containing works by Byrd from Digital Image Archive of Medieval Music
"Ave Verum Corpus" by Ars Excelsa Ensemble, Chile
=== Scores and recordings ===
Nhạc score miễn phí của William Byrd tại International Music Score Library Project
Free scores by William Byrd trong Choral Public Domain Library (ChoralWiki)
William Byrd – Fantasia #2 – Viol Consort on YouTube
Free recordings of Madrigals, Latin Church Music
Free recordings of Byrd's Ave verum corpus
Free recordings of Mass for four voices and some Christmas motets
Motet Ave Verum Corpus as interactive hypermedia at the BinAural Collaborative Hypertext
Kunst der Fuge: William Byrd – Free MIDI files
William Byrd and Thomas Tallis, In Chains of Gold. Dunedin Consort, DCD34008
Ceremony & Devotion – Music for the Tudors Harry Christophers, The Sixteen (CORO)
Complete Byrd Edition Andrew Carwood, The Cardinall's Musick (ASV / Hyperion)
Bản mẫu:William Byrd |
làng của nhật bản.txt | Làng (村 (thôn), mura, đôi khi gọi là son) là đơn vị hành chính địa phương của Nhật Bản.
Nó là một đơn vị hành chính công cùng với các cấp khác như tỉnh (県 (huyện), tỉnh ken), thành phố (市 (thị), shi), và thị trấn (町 (đinh), chō, hay machi). Về mặt địa lý, làng nằm trong tỉnh.
Việc sáp nhập các đơn vị hành chính này làm cho số lượng các làng ở Nhật Bản giảm đi.
== Các tỉnh không có làng ==
(1 tháng 4 năm 2008)
Ehime (lần sáp nhập gần cuối cùng ngày 16 tháng 1 năm 2005)
Fukui
Hyōgo
Hiroshima
Ishikawa
Kagawa
Mie
Nagasaki
Saga
Shiga (làng Kutsuki sáp nhập với các thị trấn khác để lập nên thành phố Takashima ngày 1 tháng 1 năm 2005)
Shizuoka
Tochigi
Yamaguchi
Chỉ có tỉnh Hyōgo và Kagawa là không có đơn vị hành chính làng kể từ trước các đợt sáo nhập thời kỳ Heisei.
== Tỉnh chỉ có một làng ==
(1 tháng 4 năm 2008)
Kanagawa (Kiyokawa, Huyện Aikō)
Kyōto (Minamiyamashiro, Huyện Soraku)
Miyagi (Ōhira, Huyện Kurokawa)
Ōita (Himeshima, Huyện Higashikunisaki)
Ōsaka (Chihayaakasaka, Huyện Minamikawachi)
Saitama (Higashichichibu, Huyện Chichibu)
Shimane (Chibu, Huyện Oki)
Tokushima (Sanagōchi, Huyện Myōdō)
Tottori (Hiezu, Huyện Saihaku)
Toyama (Funahashi, Huyện Nakaniikawa)
Wakayama (Kitayama, Huyện Higashimuro)
== Xem thêm ==
Municipalities of Japan
Địa chỉ Nhật Bản
Làng thời kỳ Edo
== Tham khảo == |
thư pháp chữ việt.txt | Thư pháp chữ Việt, hay thư pháp Việt ngữ là chữ quốc ngữ Việt viết lối thư pháp, là một phân môn nghệ thuật xuất hiện ở Việt Nam từ thập niên 1950 - 1960. Những người đam mê và theo đuổi học tập, nghiên cứu phân môn nghệ thuật này tôn ông Đông Hồ Lâm Tấn Phát làm "Ông tổ" của Thư pháp chữ Việt. Ông sinh ngày 15 tháng 2 năm Bính Ngọ 1906, tại làng Mỹ Đức tỉnh Hà Tiên. Đông Hồ là một người có bàn tay tài hoa, vốn yêu thích viết chữ đẹp và nghệ thuật thư pháp, và lại yêu tiếng Việt nên ông là người đầu tiên có ý tưởng dùng cọ lông và mực Tàu viết chữ quốc ngữ. Vì thế ông được tôn là tổ sư của bộ môn Việt thư (thư pháp chữ Việt). Ông mất ngay khi đang đọc thơ trên bục giảng vào ngày 25/03/1969 nhằm năm Kỷ Dậu.
Bắt đầu là nhà thơ Đông Hồ viết thư pháp với bút sắt, sau này có nhà thư pháp Nhất Linh viết một số bức in trên tạp chí nhưng chưa thành phong trào. Mãi đến sau này, nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh khơi mào cho phong trào viết thư pháp Quốc ngữ bằng bút lông. Câu lạc bộ Thư pháp ban đầu chỉ có nhà thư pháp Nguyễn Đình và nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh viết thư pháp Quốc ngữ.
Vào những năm cuối của thế kỷ 20, phong trào thư pháp chữ Việt bùng nổ, điển hình là các câu lạc bộ thư pháp được thành lập rộng khắp các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, như Câu lạc bộ yêu thích chữ Việt (Q.1), Câu lạc bộ Thư họa Giác Ngộ (Báo Giác Ngộ - Q.3), v.v. Từ năm 2004 lan rộng ra Bắc và sang đến đầu thế kỷ 21, thư pháp chữ Việt phát triển mạnh mẽ khắp ba miền Trung - Nam - Bắc.
Có nhiều tác phẩm lớn, gây được tiếng vang như cuốn thư pháp kỷ lục Truyện Kiều dài 300, được thực hiện nhân dịp Festival Huế 2002 và cuốn thư pháp gỗ về Tuyên ngôn Độc lập nặng 400 kg của Trịnh Tuấn, cuốn thư pháp thơ Lục Vân Tiên dài 120 m của ông Vĩnh Thọ... đánh dấu được tiếng nói nhất định của thư pháp chữ Việt.
== Hình thức ==
Trong thư pháp Việt ngữ hiện nay có 5 kiểu chữ chính:
Chữ Chân Phương (còn gọi là Chân Tự): là cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống chữ thường.
Chữ Cách Điệu (còn gọi là Biến Tự): là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương, nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo lối viết riêng của từng người.
Chữ Cá Biệt (còn gọi là Cuồng Thảo): là lối viết mà người phóng bút "nhiếp tâm" giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết này thể hiện cá tính của người viết. Nhìn vào kiểu chữ này, người xem dễ nhận ra tác giả mà không cần phải xem chữ ký. Kiểu chữ này thường được viết liền mạch trong một nét nên khó đọc.
Chữ Mô Phỏng là lối viết dựa theo kiểu chữ của nước ngoài. Chẳng hạn có người viết chữ Việt nhưng nhìn qua trông ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên.
Chữ Mộc Bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Khi nhìn qua, chữ kiểu này trông giống dạng Hán-Nôm, nhưng thực ra lại là chữ Việt viết ngược.
Ngoài ra thư pháp còn có thể trở thành thư họa. Đó là khi trong một số tranh thư pháp còn có hình ảnh minh họa, trong đó phần tranh có thể chiếm khoảng không gian lớn hơn phần chữ. Hoặc khi nhà thư pháp biến chữ thành tranh, tranh là hình ảnh của chữ.
== Thư pháp chữ Việt trên máy tính ==
Công ty VNI là công ty điện toán đầu tiên thực hiện những bộ font chữ thư pháp tiếng Việt để dùng soạn văn bản trên máy tình và đồ họa.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
1889.txt | 1889 (số La Mã: MDCCCLXXXIX) là một năm thường bắt đầu vào thứ Ba trong lịch Gregory hay một năm thường bắt đầu vào ngày Chủ nhật theo lịch Julius, chậm hơn 12 ngày.
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
13 tháng 1: Vua Hàm Nghi đến thủ đô Alger đi đày
Thành lập Quốc hội Nhật Bản
== Sinh ==
20 tháng 4 Adolf Hitler Thủ tướng Đức mất 1945
== Mất ==
== Tham khảo == |
debian.txt | Debian (phát âm /ˈdɛbiən/) là một hệ điều hành máy tính do phổ biến Dự án Debian xây dựng, là bản phân phối phần mềm tự do được phát triển từ sự cộng tác của các tình nguyện viên trên khắp thế giới. Kể từ lúc bắt đầu đến nay, hệ thống chính thức phát hành dưới tên gọi Debian GNU/Linux, được xây dựng dựa trên nhân Linux với nhiều công cụ cơ bản của hệ điều hành, lấy từ dự án GNU. Hiện tại có các phiên bản Debian dựa trên các hạt nhân khác, gồm có nhân của GNU Hurd, NetBSD và FreeBSD.
Debian có tiếng về mối liên kết chặt chẽ với triết lý Unix và phần mềm tự do. Nó cũng có tiếng về sự phong phú cho các chọn lựa: phiên bản phát hành hiện tại có hơn 29000 gói phần mềm cho 11 kiến trúc máy tính, từ kiến trúc ARM thường gặp ở các hệ thống nhúng và kiến trúc máy tính lớn s390 của IBM cho đến các kiến trúc thường gặp trên máy tính cá nhân hiện đại như x86 và PowerPC.
Debian được hỗ trợ nhờ các khoản quyên góp thông qua tổ chức Software in the Public Interest, một tổ chức bảo trợ phi lợi nhuận cho các dự án phần mềm tự do.
== Lịch sử ==
Debian được thành lập vào năm 1993 bởi Ian Murdock khi còn là sinh viên tại Đại học Purdue. Ian Murdock viết Tuyên ngôn Debian kêu gọi xây dựng một bản phân phối Linux được quản lý theo phong cách mở, trong tinh thần của Linux và GNU. Tên "Debian" được Ian Murdock đặt ra bằng cách kết hợp tên của bạn gái lúc bấy giờ (bây giờ là vợ) của anh là Debra với tên của chính anh Ian.
== Đặc điểm ==
Hiện tại có rất nhiều hệ điều hành Linux được xây dựng dựa trên Debian GNU/Linux, trong đó có Ubuntu, Linux Mint, Knoppix, MEPIS, DreamLinux, Damn Small Linux và các hệ điều hành khác.
Debian nổi tiếng với hệ thống quản lý gói của nó, mà cụ thể APT (công cụ quản lý gói cao cấp, Advanced Packaging Tool), chính sách nghiêm ngặt đối với chất lượng các gói và bản phát hành, cũng như tiến trình phát triển và kiểm tra mở. Cách thức làm việc này đã giúp cho việc nâng cấp giữa các bản phát hành và việc cài đặt hay gỡ bỏ các gói phần mềm được dễ dàng hơn.
== Phát hành ==
Các phiên bản của Debian vẫn được lấy tên mã (code name) theo các nhân vật phim hoạt hình Toy Story. Hiện nay phiên bản stable (ổn định) là Lenny, và phiên bản testing (thử nghiệm) là Squeeze. Phiên bản unstable (không ổn định) luôn luôn mang tên là sid (tên cậu bé hàng xóm phá phách trong phim Toy Story).
Phiên bản stable là phiên bản phát hành chính thức. Phiên bản testing là phiên bản sẽ trở thành phiên bản chính thức sau khi Debian xác nhận là đã chạy ổn định. Phiên bản sid là phiên bản rolling (quay), tức là luôn luôn ở trạng thái phát triển liên tục.
=== Các bản trong chế độ bảo trì ===
Debian luôn luôn có ít nhất 3 bản trong chế độ bảo trì tích cực, gọi là "stable", "testing" và "unstable".
stable (ổn định)
Đây là bản được phát hành chính thức mới nhất của Debian, được xem là bản ổn định và dùng cho môi trường sản xuất.
testing (thử nghiệm)
Bản này chứa các gói chưa được chấp nhận vào "stable" nhưng đang được xếp hàng để vào đó. Ưu điểm của bản này là nó có các phiên bản phần mềm gần đây, khuyết điểm chính là nó chưa được kiểm tra hoàn toàn và không được nhóm an ninh của Debian hỗ trợ.
unstable (không ổn định)
Đây là nơi việc phát triển Debian tích cực diễn ra. Thông thường bản này được các nhà phát triển hoặc những người muốn dùng phần mềm mới nhất sử dụng.
=== Lịch sử phát hành ===
=== Các kho gói phần mềm ===
Bản hướng dẫn phần mềm tự do Debian (DFSG) tuân thủ nghiêm ngặt định nghĩa của phần mềm tự do (FOSS), mặc dù hệ điều hành này chưa nhận được sự công nhận của Free Software Foundation vì sự tích chứa các phần mềm độc quyền trong các kho gói phần mềm. Những gói phần mềm không tự do này được tách rà thành kho phần mềm riêng có tên gọi là non-free. Danh sách các kho phần mềm khác của Debian:
contrib chứa các phần mềm đã đạt được tiêu chuẩn DFSG, nhưng không đáp ứng với các tiêu chuẩn phần mềm tự do khác.Ví dụ, phần mềm bị phụ thuộc vào phần mềm độc quyền nào đó.
experimental chứa các gói phần mềm thử nghiệm. Đây không phải là một kho gói phần mềm hoàn thiện: các phần mềm trong kho này có thể phụ thuộc vào các goi trong kho unstable.
backports chứa các phần mềm mới,chủ yếu dàng những hệ điều hành Debian ổn định.
oldstable (còn gọi là lenny) chứa các phần mềm cho hệ điều hanh Debian cũ.
== Cài đặt phần mềm ==
=== dpkg, cài đặt các gói phần mềm.deb ===
dpkg - là một chương trình dòng lệnh quản lý các gói phần mềm trên Debian. Chương trình này giúp người dùng cài đặt và xoá bỏ các gói phần mềm dạng.deb.Hiện nay có phiên bản đồ họa của phần mềm này mang tên GDebi.
=== APT, cài đặt phần mềm từ các kho trên mạng ===
APT - là một chương trình có chức năng tương tự với dpkg. Nhưng khác với dpkg, APT biết cài đặt và cập nhật các gói phần mềm từ các kho trên mang.
== Tổ chức ==
=== Trưởng dự án ===
Ian Murdock (tháng 8 năm 1993 – tháng 3 năm 1996), nhà thành lập Debian Project
Bruce Perens (tháng 4 năm 1996 – tháng 12 năm 1997)
Ian Jackson (tháng 1 năm 1998 – tháng 12 năm 1998)
Wichert Akkerman (tháng 1 năm 1999 – tháng 3 năm 2001)
Ben Collins (lập trình viên) (tháng 4 năm 2001 – tháng 4 năm 2002)
Bdale Garbee (tháng 3 năm 2002 – tháng 3 năm 2003)
Martin Michlmayr (tháng 3 năm 2003 – tháng 3 năm 2005)
Branden Robinson (tháng 4 năm 2005 – tháng 4 năm 2006)
Anthony Towns (tháng 4 năm 2006 – tháng 4 năm 2007)
Sam Hocevar (tháng 4 năm 2007 – tháng 4 năm 2008)
Steve McIntyre (tháng 4 năm 2008 – tháng 4 năm 2010)
Stefano Zacchiroli (tháng 4 năm 2010 – Hiện tại)
=== Quản lý phát hành ===
Brian C. White (1997 – 1999)
Richard Braakman (1999 – 2000)
Anthony Towns (2000 – 2004)
Steve Langasek, Andreas Barth and Colin Watson (2004 – 2007)
Andreas Barth and Luk Claes (2007 – 2008)
Luk Claes and Marc Brockschmidt (2008 – 2009)
Luk Claes and Adeodato Simó (2009 – 2010)
Adam D. Barratt and Neil McGovern (2010 – Hiện tại)
== Chú thích ==
== Liên kết bên ngoài ==
Trang web chính thức của dự án Debian
Debian GNU/Linux trên DistroWatch |
sông đáy.txt | Sông Đáy là một trong những con sông dài ở miền Bắc Việt Nam, nó là con sông chính của lưu vực sông Nhuệ - Đáy ở phía tây nam vùng châu thổ sông Hồng. Sông Đáy chảy qua các tỉnh thành Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Định với dòng sông chảy gần song song bên hữu ngạn hạ lưu sông Hồng. Trong lưu vực sông Đáy có nhiều sông khác như sông Tích, sông Nhuệ, sông Bùi, sông Bôi, sông Lạng, sông Hoàng Long, sông Sắt, sông Vạc, sông Nam Định, liên quan đến nhau nên đã được quy hoạch thủy lợi chung vào hệ thống sông Đáy.
== Đặc điểm dòng chảy ==
Sông Đáy có chiều dài khoảng 240 km và là một trong 5 con sông dài nhất ở miền Bắc Việt Nam (Hồng, Đà, Lô, Cầu, Đáy). Lưu vực sông Đáy (cùng với phụ lưu sông Nhuệ) hơn 7.500 km² trên địa bàn các tỉnh thành Hà Nội, Hòa Bình, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Định.
Sông Đáy ngoài vai trò là sông chính của các sông Bùi, sông Nhuệ, sông Bôi, sông Hoàng Long, sông Vạc nó còn là một phân lưu của sông Hồng khi nhận nước từ sông Nam Định nối tới từ hạ lưu sông Hồng. Trước đây sông Đáy còn nhận nước của sông Hồng ở địa phận Hà Nội giữa huyện Phúc Thọ và huyện Đan Phượng. Quãng sông này còn có tên là sông Hát hay Hát giang. Chỗ sông Hồng tiếp nước là Hát môn. Song hiện nay khu vực này đã bị bồi lấp, nguồn cung cấp nước cho sông chủ yếu ở các nhánh bên hữu ngạn chảy từ vùng núi Hòa Bình.
Ở thượng nguồn, lưu lượng của sông bất thường nên mùa mưa thì lũ quét lại thêm dòng sông quanh co uốn khúc nên dễ tạo ra những ghềnh nước lớn. Đến mùa khô thì lòng sông có chỗ cạn lội qua được nên thượng lưu sông Đáy thuyền bè không dùng được. Đoạn hạ nguồn từ thị trấn Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội đến cửa Đáy được công nhận là tuyến đường sông cấp quốc gia.
Sông Đáy khi xuôi đến Vân Đình thì lòng sông rộng ra, lưu lượng chậm lại nên có thể đi thuyền được. Khúc sông đây men đến vùng chân núi nên phong cảnh hữu tình. Đến địa phận huyện Mỹ Đức, sông Đáy tiếp nhận dòng suối Yến (thủy lộ vào chùa Hương). Vượt đến tỉnh Hà Nam khi sông chảy vào thành phố Phủ Lý thì dòng sông Nhuệ góp nước từ phía tả ngạn. Sông Đáy tiếp tục hành trình xuôi nam đón sông Bôi (sông Hoàng Long) bên hữu ngạn từ miền núi tỉnh Hòa Bình và Ninh Bình dồn về tại ngã ba Gián Khẩu, cách thành phố Ninh Bình khoảng 10 km về phía Bắc. Đoạn này sông được gọi sông Gián Khẩu. Qua khỏi Ninh Bình khoảng 20 km thì bên tả ngạn có phụ lưu là sông Đào (sông Nam Định) thêm nước rồi tiếp tục nhận nước sông Vạc bên hữu ngạn. Gần đến biển, sông Đáy chuyển hướng từ Tây Bắc-Đông Nam sang Đông Bắc-Tây Nam rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ ở Cửa Đáy, xưa gọi là cửa Đại An hay Đại Ác thuộc huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình và huyện Nghĩa Hưng, tình Nam Định.
Khác với các cửa sông khác ở miền Bắc như: cửa Ba Lạt, cửa Thái Bình, cửa Văn Úc,... vùng biển cửa sông Đáy phát triển thiên về xu hướng bồi tụ mạnh nhờ có nguồn bồi tích rất dồi dào từ hệ thống sông Hồng và cửa sông nằm ở vùng bờ biển lõm, tránh được các hướng sóng chính có tác động mạnh ở ven biển đồng bằng sông Hồng.
== Các phụ lưu ==
Sông Đáy có các phụ lưu cấp 1, 2, 3 sau đây:
Sông Tích (Tây Hà Nội)
Suối Hai (Ba Vì, Hà Nội)
Sông Con (Hà Nội)
Sông Bùi (Hòa Bình, Hà Nội)
Sông Thanh Hà
Suối Yến (Mỹ Đức, Hà Nội)
Sông Nhuệ (Hà Nội, Hà Nam)
Sông Tô Lịch (Hà Nội)
Sông Hòa Bình (Hà Nội)
Sông Giẽ (Hà Nội)
Sông Hoàng Long (Ninh Bình)
Sông Chanh (Hoa Lư, thành phố Ninh Bình)
Sông Sào Khê (Hoa Lư, Ninh Bình)
Sông Bôi (Hòa Bình - Ninh Bình)
Sông Đập - Sông Canh Bầu (Nho Quan)
Suối Chiềng (Hòa Bình)
Sông Bãi Ma (Hòa Bình)
Sông Rịa - Sông Chim (Nho Quan, Ninh Bình)
Sông Rộc (Hòa Bình) - sông Lạng (Ninh Bình)
Sông Vân (thành phố Ninh Bình)
Sông Sắt (Nam Định)
Sông Nam Định hay sông Đào, rút nước từ hạ lưu sông Hồng đổ ra sông Đáy
Sông Vạc (Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn.
Sông Hệ Dưỡng (Hoa Lư, Ninh Bình)
Sông Bến Đang (Nho Quan, Tam Điệp, Yên Mô tỉnh Ninh Bình)
Sông Ngô Đồng
Sông Mới (Yên Khánh, Ninh Bình)
Sông Bút (Yên Mô, Ninh Bình)
Sông Ân Giang (Kim Sơn, Ninh Bình)
== Các đô thị bên sông Đáy ==
Sông Đáy chảy qua nhiều đô thị của Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình như:
Hà Nội
Quận Hà Đông (xuyên qua)
Thị trấn Kim Bài, Thanh Oai nằm bên tả ngạn
Thị trấn Vân Đình, Ứng Hòa nằm bên tả ngạn
Thị trấn Đại Nghĩa, Mỹ Đức nằm bên hữu ngạn
Hà Nam
Thị trấn Quế, Kim Bảng nằm bên tả ngạn
Thành phố Phủ Lý, nội thành nằm bên tả ngạn, ngoại thành nằm bên hữu ngạn
Thị trấn Kiện Khê, Thanh Liêm nằm bên hữu ngạn.
Nam Định
Thị trấn Quỹ Nhất, Nghĩa Hưng nằm bên tả ngạn
Thị trấn Rạng Đông nằm bên tả ngạn
Ninh Bình
Thành phố Ninh Bình nằm bên hữu ngạn
Thị trấn Bình Minh nằm bên hữu ngạn
== Di tích lịch sử ==
Xuôi dòng sông Đáy sẽ gặp nhiều di tích lịch sử lần lượt như:
Miếu Hát ở Hát Môn thờ Hai Bà Trưng. Tương truyền hai bà gieo mình xuống dòng sông Hát tự vẫn sau khi thua giặc Đông Hán ở Lãng Bạc nên dân chúng dựng đền thờ ở Hát Môn.
Đình Yên Sở ở xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là nơi thờ Lý Phục Man, một tướng tài có công giúp Lý Bí đãnh đuổi quân Lương.
Vân Đình là quê hương cụ nghè Dương Khuê, tiến sĩ năm 1868 triều Tự Đức. Cụ là bạn cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến nên khi cụ Dương Khuê mất, cụ Nguyễn Khuyến có viết bài điếu văn "Khóc bạn" rất nổi tiếng
Chùa Hương trong khu vực Suối Yến, huyện Mỹ Đức.
Kẽm Trống, một thắng cảnh độc đáo tạo ra bởi một đoạn sông và 2 bên bờ thuộc ranh giới 2 tỉnh Hà Nam và Ninh Bình.
Dục Thúy Sơn là danh thắng từ thời Trần gắn với Trương Hán Siêu nằm ở ngã ba sông Vân đổ vào sông Đáy.
Cửa sông Đáy nằm chính giữa khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng.
Kim Sơn, vùng đất ven biển nơi doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ năm 1828 cho đắp đê ngăn sóng biển để lập ra thôn, ấp mới.
== Sông Đáy trong văn học ==
Nguyễn Du có bài thơ chữ Nho, "Thanh Quyết giang vãn thiếu", tả cảnh chiều trên sông Thanh Quyết, tức là sông Gián Khẩu, đoạn hạ lưu sông Đáy.
Kẽm Trống là một danh thắng nổi tiếng, thực chất là khoảng trống được tạo ra bởi hai bên là núi giữa là sông Đáy như lời của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã vịnh cảnh trong bài thơ Kẽm Trống:
Hai bên thì núi, giữa thì sông
Có phải đây là Kẽm Trống không
Nhà thơ Lai Vu (1942-1990) trong bài "Dòng sông quê anh, dòng sông quê em" có câu:
Dòng sông Đáy quê em
Sông trăng hay sông lụa
...
Sóng xanh như mắt trẻ
Mùa hoa cải bên sông là tên một câu chuyện, một bộ phim, một bài hát nổi tiếng về dòng sông Đáy.
== Vấn đề môi sinh ==
Kể từ năm 2003, sông Đáy cùng phụ lưu sông Nhuệ bị ô nhiễm nhiều vì nước thải không được khử biến khiến hai dòng sông này bị coi là "sông chết". Năm 2007 chính phủ Việt Nam cho xây công trình đầu mối sông Đáy đưa nước từ sông Hồng ở cống Hiệp Thuận qua hệ thống kênh dài 12 km vào sông Đáy ở cống Cẩm Đinh với kỳ vọng làm sống lại dòng sông Đáy và sẽ tạo thành một điểm du lịch trên sông trong tương lai.
== Các cây cầu bắc qua sông Đáy ==
Cầu Phùng(nối 2 huyện Đan Phượng và Phúc Thọ của thành phố Hà Nội)
Cầu Yên Sở (huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội)
Cầu Sông Đáy trên Đại lộ Thăng Long
Cầu 72 trên đường tỉnh 423 (đường 72 cũ), giữa Vân Côn (Hoài Đức) và Cộng Hòa (Quốc Oai)
Cầu Mai Lĩnh (Hà Đông)
Cầu Văn Phương nối làng Chuông với làng Vân La, Chương Mỹ
Cụm cầu Hòa Viên, cầu Ba Thá sắt, cầu Ba Thá
Cầu Tế Tiêu (nối 2 huyện Ứng Hòa và Mỹ Đức của thành phố Hà Nội).
Cầu Đục Khê trên đường ĐT.425, địa phận thôn Đục Khê - xã Hương Sơn - Mỹ Đức - Hà Nội
Cầu Khả Phong ở Kim Bảng, Hà Nam
Cầu Cấm Sơn ở Kim Bảng, Hà Nam
Cầu Quế (huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).
Cầu Hồng Phú (thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam).
Cầu Châu Sơn (thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam).
Cầu Đọ Xá (thành phố Phủ Lý,tỉnh Hà Nam).
Cầu Kiện Khê (thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, Hà Nam)
Cầu Treo Nam Công nối làng Nam Công và làng Tân Hưng - Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Cầu Khuất (nối huyện Thanh Liêm của tỉnh Hà Nam và huyện Gia Viễn của tỉnh Ninh Bình).
Cầu Non Nước trên tuyến quốc lộ 10 (nối huyện Ý Yên của tỉnh Nam Định và thành phố Ninh Bình của tỉnh Ninh Bình).
Cầu Ninh Bình trên tuyến đường sắt Bắc Nam (nối huyện Ý Yên của tỉnh Nam Định và thành phố Ninh Bình của tỉnh Ninh Bình).
Cầu Nam Bình trên tuyến cao tốc Bắc Nam (nối huyện Ý Yên của tỉnh Nam Định và thành phố Ninh Bình của tỉnh Ninh Bình).
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dự án làm "sống" lại dòng sông Đáy |
rhythm and blues.txt | Rhythm and Blues (thường được viết tắt là R&B hay RnB), là một dòng nhạc của người da đen và rất được ưa chuộng trong cộng đồng Da đen tại Mỹ trong thập niên 1940.
Rymthm and Blues là sự kết hợp của 3 dòng nhạc chính là Jazz, Nhạc phúc âm (nhạc tôn giáo của đạo Cơ đốc bắt nguồn từ Thánh ca) và Blues. Nó được biểu diễn lần đầu bởi những người Mỹ gốc Phi. Dòng nhạc được các ca sĩ rất yêu chuộng như Whitney Houston, Beyonce, Amy Winehouse tin tưởng bởi những giai điệu làm cuốn hút người nghe.
== Lịch sử ==
=== Những năm cuối 1940 ===
Năm 1947, thuật ngữ Rymthm and Blues được tạo ra như là một thuật ngữ để quảng bá âm nhạc của Jerry Wexler, tạp chí Billboard tại Hoa Kỳ. Nó thay thế cho thuật ngữ nhạc Mỹ da đen trước đó.
Trong năm này, Louis Jordan thống trị bảng xếp hạng R&B với 3/5 ca khúc đứng đầu. Ban nhạc của Jordan, The Tympany Five chơi nhạc với kèn trompet, kèn sắc xô tê nô (kèn có âm vực cao), piano và trống.
=== Đầu những năm 50 ===
Làm việc với những người Mỹ - Phi, chàng trai gốc Hy Lạp Johny Otis tạo ra rất nhiều ca khúc nổi tiếng vào năm 1951 bao gồm: "Double Crossing Blues", "Mistrustin' Blues" and "Cupid's Boogie", tất cả đều xếp số 1 vào năm này. Otis có được 10 bài đứng trong các bảng xếp hạng top ten năm đó.
Tiếp theo là Clovers xếp thứ 5 trong bảng xếp hạng của năm với ca khúc: "Don't You Know I Love You"
== Nhạc cụ ==
Nhạc cụ chính: Ghi-ta, Bass, Drum kit, kèn Acmonica, kèn trumpet, bộ gõ key board.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
www.BlogNhac.vn - Cộng đồng âm nhạc BlogNhac - Upload và chia sẻ những bài hát hay |
danh sách các thành phố theo gdp năm 2005.txt | Sau đây là danh sách các thành phố trên thế giới theo chỉ số GDP năm 2005, trong đó có tổng GDP và chỉ số GDP bình quân đầu người. Thành phố Tokyo đứng đầu trong danh sách các thành phố giàu nhất này. Số liệu của bài viết được lấy từ danh sách tình hình kinh tế của những khu đô thị lớn trên thế giới năm 2005 ngày 11 tháng 3 năm 2007 của hãng PricewaterhouseCoopers. Ở đây, chỉ số GDP được tính toán theo sức mua tương đương để có thể thích hợp với các thành phố có mức độ sinh hoạt phí khác nhau.
== Danh sách 100 thành phố giàu nhất thế giới năm 2005 ==
== Bắc Mỹ ==
== Bắc Mỹ không gồm các thành phố của Mỹ ==
== Tây Âu ==
== Đông và Bắc Âu ==
== Đông Á ==
== Trung Á và Đông Nam Á ==
== Trung Đông ==
== Nam Mỹ ==
== Châu Phi ==
== Châu Đại Dương ==
== Xem thêm ==
Danh sách quốc gia theo GDP (danh nghĩa)
Danh sách quốc gia theo GDP (PPP)
Danh sách quốc gia châu Á theo GDP
150 thành phố giàu nhất thế giới (ngày 11 tháng 3 năm 2007)
== Tham khảo == |
sân bay port lincoln.txt | Sân bay Port Lincoln (IATA: PLO, ICAO: YPLC) là một sân bay phục vụ Port Lincoln, một thành phố ở tiểu bang của Nam Úc của Úc. Sân bay có cự ly 10 km (6 dặm) phía bắc của Port Lincoln, gần thị trấn North Shields.. Sân bay này thuộc sở hữu và điều hành bởi Hội đồng quận bán đảo Lower Eyre bán đảo. Đây là sân bay bận thứ nhì ở Nam Úc trong thời gian 2009/10, với 168.147 lượt hành khách được phục vụ.
== Hãng hàng không và tuyến bay ==
== Tham khảo == |
đảo quốc.txt | Đảo quốc là quốc gia nằm trọn trên một hay nhiều hòn đảo, hoặc phần nào đó của các hòn đảo. Điều này có nghĩa là các quốc gia này không có một phần lãnh thổ nào trên lục địa. Có tất cả 47 đảo quốc, chiếm 24% trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, khá nhiều trong số đó là các quốc gia nhỏ nhất trên thế giới.
== Đặc điểm ==
Các đảo quốc có thể chia ra làm 2 nhóm. Một nhóm gồm các quốc gia lớn, khá đông dân và nằm gần một lục địa. Các quốc gia này bao gồm Nhật, Sri Lanka, Philippines, Cuba, Anh, Madagascar... Đảo quốc lớn nhất trên thế giới là Indonesia. Các nước này thường chia sẻ các đặc điểm văn hóa, chính trị tương đồng với các nước lục địa gần đó. Tình trạng đảo của các nước này đôi khi là một ưu thế bởi nó tạo cho họ vị trí khó bị xâm lược và có vai trò quan trọng về thương mại trong khu vực nhờ yếu tố địa lý và khả năng đi biển của dân cư. Australia có thể được coi là thuộc nhóm quốc đảo dẫu rằng đảo chính của nước này lớn như một lục địa.
Nhóm quốc đảo thứ hai là những nước nhỏ hơn như Malta, Síp, Comoros, Bahamas, Tonga, v.v.. Những quốc gia này rất nhỏ so với các nước trên lục địa. Quy mô nhỏ thường đồng nghĩa với việc đất đai nông nghiệp hạn hẹp và khan hiếm nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tuy vậy, ngày nay, các quốc đảo nhỏ bé đang trở thành những điểm du lịch thu hút và du lịch trở thành ngành kinh tế chủ chốt trong nền kinh tế của họ.
Một số đảo quốc có một hay hai đảo trung tâm ví dụ Anh. Các đảo quốc khác trải rộng trên hàng trăm, ngàn hòn đảo nhỏ như Indonesia hay Maldives. Một số nước cùng chia sẻ đảo chính với các nước khác như Ireland, Haiti và Dominica, Saint Martin và Papua New Guinea.
== Danh sách ==
==== Theo mật độ dân số ====
== Tham khảo == |
giải vô địch cricket thế giới.txt | Giải vô địch cricket thế giới là một giải đấu cricket quốc tế thường được tổ chức mỗi bốn năm. Giải tổ chức theo hệ thống cricket quốc tế một ngày (One Day International).
== Giải đấu đã qua ==
Giải vô địch cricket thế giới 1975 tại Anh Quốc
Giải vô địch cricket thế giới 1979 tại Anh Quốc
Giải vô địch cricket thế giới 1983 tại Anh Quốc
Giải vô địch cricket thế giới 1987 tại Ấn Độ và Pakistan
Giải vô địch cricket thế giới 1992 tại Úc và New Zealand
Giải vô địch cricket thế giới 1996 tại Ấn Độ, Pakistan và Sri Lanka
Giải vô địch cricket thế giới 1999 tại Anh Quốc
Giải vô địch cricket thế giới 2003 tại Nam Phi và Zimbabwe
Giải vô địch cricket thế giới 2007 tại Tây Ấn
Giải vô địch cricket thế giới 2011 tại Ấn Độ, Bangladesh và Sri Lanka
Giải vô địch cricket thế giới 2015 tại Úc và New Zealand
== Tham khảo == |
tomáš berdych.txt | Tomáš Berdych (Phát âm tiếng Séc: [ˈtomaːʃ ˈbɛrdɪx]; sinh 17-9, 1985) là một tay vợt quần vợt người Cộng hòa Séc. Anh từng lọt đến Chung kết Wimbledon 2010 và để thua Rafael Nadal trong trận chung kết sau 3 sec với tỷ số là 3-6, 5-7, 4-6.
== Cuộc đời ==
Berdych sinh ra ở Valasske Mezirici, Moravia, Cộng hòa Séc.Mẹ của anh là bà Hana Berdychová và cha của anh là ông Martin Berdych.Berdych làm quen với quần vợt ở tuổi lên 5 và ở tuổi lên 8 anh đã trở thành người chiến thắng dành cho các vận động viên nhí ở Cộng hòa Séc.
== Thành tích ==
=== Đơn: 28 (11 titles, 17 runners-up) ===
=== Đôi: 3 (2 titles, 1 runner-up) ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tomáš Berdych Official Website
Website about Tomáš Berdych
Tomáš Berdych trên trang chủ ATP (tiếng Anh)
Tomáš Berdych trên ITF
Tomáš Berdych tại Davis Cup
Berdych Recent Match Results
Berdych World Ranking History |
soul.txt | Nhạc soul (tiếng Anh: Soul music, có nghĩa là "âm nhạc của tâm hồn") hoặc âm nhạc linh hồn là thể loại nhạc của người Mỹ gốc Phi nổi tiếng sinh ra trong cuối thập niên 1950 tại Hoa Kỳ và có nguồn gốc từ nhạc phúc âm và R&B. Ray Charles thường được coi là người làm cho thể loại nhạc soul được yêu chuộng với chuỗi các hit của 1954 bắt đầu với "I Got a Woman".
== Xem thêm ==
Blue-eyed soul
== Tham khảo == |
cục đúc tiền kim loại hoa kỳ.txt | Cục đúc tiền kim loại Hoa Kỳ (United States Mint) là một cơ quan thuộc Bộ Ngân khố Hoa Kỳ. Cơ quan này chủ yếu sản xuất tiền đúc lưu hành đối với Hoa Kỳ để tiến hành mậu dịch và thương mại. Cục này đã được Quốc hội Hoa Kỳ thành lập bằng Đạo luật tiền đúc năm 1792, và ban đầu được đặt trong Bộ Ngoại giao. Theo điều khoản của Đạo luật tiền đúc, tòa nhà của Cục đầu tiên là ở Philadelphia, thủ đô của Hoa Kỳ; nó là tòa nhà đầu tiên của nước Cộng hòa nuôi theo Hiến pháp. Ngày nay, trụ sở chính của Cục là ở Washington DC mà không phải là một cơ sở sản xuất tiền xu. Cục vận hành các cơ sở đúc tiền ở Philadelphia, Denver, San Francisco, West Point, New York và một lưu ký vàng ở Fort Knox, Kentucky. Các phân cục chính thức (Chi nhánh) đã từng nằm ở Carson City, Nevada, Charlotte, North Carolina, Dahlonega, Gruzia, New Orleans, Louisiana, Washington, DC; và thậm chí cả ở Manila, Philippines.
== Chú thích == |
antigua và barbuda.txt | Antigua và Barbuda ( /ænˈtiːɡə ən(d) bɑrˈbjuːdə/; an-TEE-gǝ ǝnd bar-BYOO-dǝ; phiên âm Tiếng Việt: "An-ti-goa và Bác-bu-đa") là một quốc đảo ở phía đông biển Caribe, gồm 2 đảo chính là Antigua và Barbuda. Quốc đảo nằm giữa quần đảo Leeward, gần với Trinidad và Tobago, Montserrat và Anguilla.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Antigua và Barbuda nằm ở phần nam quần đảo Windward trong quần đảo Lesser Antilles.
Antigua là đảo đá vôi. Năm 1493, Columbus trong chuyến đi lần thứ hai của mình đến châu Mỹ đã đến đây và lấy tên giáo đường nổi tiếng "Santa Maria la Antigua de Serille" ở Sevilla trong nước đặt tên cho đảo, mang nghĩa "thánh Maria đức cao vọng trọng ở Sevilla". Do tên gọi dài, trong khi sử dụng thường gọi tắt là "Antigua", có nghĩa là "lâu đời" hoặc "tuổi cao", mang ý biểu thị thánh đường Maria ở Sevilla có từ rất lâu.
Năm 1632, Antigua bị Anh chiếm. Năm 1667, trở thành thuộc địa của Anh. Tháng 2 năm 1967, thực hiện tự trị nội bộ, là thành viên trong Khối Liên hiệp Anh.
Barbuda là một đảo san hô. Trên đảo có nhiều heo rừng, gà rừng, nai…, được coi là thiên đường săn bắn. Do vị thế của hai đảo nằm gần xích đạo, cách nhau chỉ 40 km, còn được gọi là "đảo chị em" trong biển Caribbean.
"Antigua và Barbuda" là quốc gia độc lập thứ 32 của châu Mỹ La tinh từ ngày 1 tháng 11 năm 1981.
== Lịch sử ==
Các đảo này do Cristoforo Colombo khám phá năm 1492. Thực dân Tây Ban Nha không quan tâm đến các đảo này vì không có nguồn tài nguyên và bắt dân cư ở các đảo này sang quần đảo Đại Antilles để tìm và khai thác vàng.
Năm 1632, thực dân Anh chiếm các đảo này để làm thuộc địa, đưa nô lệ Da đen từ châu Phi sang để phát triển các đồn điền mía. Từ năm 1674, thực dân Anh muốn thực hiện liên kết các đảo này thuộc quyền sở hữu của Anh, nhưng tính đặc thù của mỗi đảo đã cản trở tiến trình sáp nhập này. Liên bang Leeward Islands ra đời năm 1871 nhưng không được chấp nhận.
Năm 1956, Liên bang Antilles thuộc Anh được thành lập nhưng cũng thất bại. Năm 1967, các đảo trong quần đảo Tiểu Antilles thuộc quyền sở hữu của Anh trở thành một nước liên kết với Anh. Năm 1981, các đảo này giành được độc lập và thuộc Khối Liên hiệp Anh. Từ năm 1999, Toàn quyền Beethoven Carlisle đại diện cho Nữ hoàng Anh ở Antigua, đồng thời là phụ tá cho Lester Bryant Bird, người đứng đầu chính phủ.
Quyền hành tập trung ở Antigua, tuy nhiên người dân ở đảo Barbuda phản đối và thường đe dọa đòi li khai.
== Chính trị ==
Antigua và Barbuda theo chính thể Dân chủ nghị viện.
Đứng đầu nhà nước là Nữ hoàng Anh, được đại diện bởi Toàn quyền. Đứng đầu chính phủ là Thủ tướng với nhiệm kỳ 5 năm.
Quyền hành pháp thuộc chính phủ trong khi quyền lập pháp được trao cho cả hai chính phủ và Quốc hội. Quốc hội gồm Thượng viện (có 17 ghế gồm các thành viên của chính phủ và các đảng đối lập, và phải được sự chấp thuận của Toàn quyền), và Hạ viện (17 ghế được bầu bằng cách bỏ phiếu) phục vụ năm năm.
== Địa lý ==
Antigua và Barbuda là quốc gia nằm ở khu vực Trung Mỹ, thuộc quần đảo Tiểu Antilles; nằm về phía Đông và Đông Nam đảo Puerto Rico; gồm ba đảo: Antigua (280 km2), Barbuda (160,5 km2) và Redonda (1,5 km2). Các đảo đá vôi này không có nguồn tài nguyên khoáng sản và năng lượng, đất đai ít màu mỡ và cũng không có dòng sông nào. Các bãi biển đẹp nằm trong miền khí hậu nhiệt đới trở thành địa điểm thu hút khách du lịch. Dân cư phân bố không đồng đều: đảo Redonda không có người ở, đảo Barbuda chỉ có khoảng 2.000 người, phần dân cư còn lại tập trung phần lớn ở thủ đô Saint John's thuộc đảo Antigua.
Lượng mưa trung bình 990 mm (39 in) mỗi năm, nhưng khác nhau giữa các mùa. Nói chung, thời gian ẩm ướt nhất là giữa tháng chín và tháng mười một. Các hòn đảo thường gặp độ ẩm thấp và hạn hán thường xuyên. Các cơn bão tấn công vào trung bình mỗi năm một lần. Nhiệt độ trung bình là 27 °C (80,6 °F), với khoảng từ 23 °C (73,4 °F) vào mùa đông và 30 °C (86 °F) vào mùa hè và mùa thu. Độ ẩm thấp đã làm cho quốc đảo này là một trong những vùng có khí hậu ôn đới nhất trên thế giới.
== Khí hậu ==
Khí hậu nhiệt đới, ôn hòa nhờ gió biển. Nhiệt độ giữa các mùa ít thay đổi.
== Kinh tế ==
Từ trước năm 1960, nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc trồng mía, nhưng do giá thành cao và đất đai bị xói mòn khiến cho ngành này không thể tồn tại. Hiện nay, du lịch giữ vai trò đáng kể trong kinh tế của đảo quốc này. Ngành dệt và các nhà máy lắp ráp dây chuyền các thiết bị điện tử cũng bị hạn chế. Ngành đánh bắt cá thủ công và nông nghiệp không đáp ứng đủ nhu cầu trong nước.
Du lịch thống trị nền kinh tế, chiếm hơn một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Quốc đảo này nổi tiếng với nhiều khu nghỉ dưỡng sang trọng. Hoạt động du lịch yếu từ đầu năm 2000 đã chậm lại nền kinh tế, tuy nhiên, và ép chính phủ vào một góc tài khóa thắt chặt.. Sản xuất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu nội địa. Công nghiệp chủ yếu là tái xuất khẩu dầu mỏ và sản xuất các linh kiện điện tử.
Tính đến năm 2016, GDP của Antigua và Barbuda đạt 1.303 USD, đứng thứ 174 thế giới và đứng thứ 7 khu vực Caribe.
== Giáo dục - Y tế ==
Hệ thống giáo dục được tổ chức dựa theo mô hình của Anh. Giáo dục bắt buộc đến năm 16 tuổi. Hầu hết dân cư đều học lên trung học. Các trường công của nhà nước dạy miễn phí, các trường tư thục trực thuộc Giáo hội Thiên chúa giáo. Đảo quốc Antigua và Barbuda có một trường cao đẳng Quốc gia (ở Antigua) đào tạo nghề và các khóa học dự bị cao đẳng. Muốn học đại học phải ra nước ngoài.
Chăm sóc y tế miễn phí. Bệnh viện duy nhất, có đầy đủ trang thiết bị y tế để tiến hành điều trị và phẫu thuật các ca bệnh thông thường, đã bị cơn bão Luis phá hoại vào tháng 9 năm 1995. Những ca đặc biệt thường được chuyển đến đảo Puerto Rico bằng máy bay. Hầu hết người dân Antigua và Barbuda đều có bảo hiểm y tế, ngoài ra chính phủ còn cung cấp chương trình phúc lợi y tế.
== Hành chính ==
Antigua và Barbuda được chia 6 giáo xứ và 2 khu phụ thuộc:
Barbuda
Redonda
Saint George
Sait John's
Saint Mary
Saint Paul
Saint Peter
Saint Philip
== Nhân khẩu và tôn giáo ==
Antigua và Barbuda có dân số 86.754, chủ yếu là người dân Tây Phi, người Anh, và gốc Bồ Đào Nha. Sự phân bố dân tộc bao gồm đen hoặc nước da ngâm ngâm chiếm 91%, 4,4% chủng tộc hỗn hợp, người da trắng 1,7%, và 2,9% chủ yếu là người gốc Trung Đông và người châu Á. Hầu hết các người da trắng gốc Ireland hoặc Anh, Kitô giáo là tôn giáo chính của nhóm sắc tộc này. Người gốc Trung Đông đa số là người Ả Rập, và một số lượng nhỏ người châu Á và người Do Thái Sephardic tạo nên phần còn lại của dân số.
Đằng sau sự phục hồi dân số cuối thế kỷ 20 và xác định lại vai trò của người Phi-Antigua và Barbuda trong đời sống văn hoá của xã hội là một lịch sử dài của sự của căng thẳng chủng tộc, dân tộc có truyền thống thù ghét va muốn loại trừ người da trắng. Trong khuôn khổ thành lập chế độ thuộc địa bởi người Anh ngay sau khi chiếm Antigua và Barbuda năm 1623, là phân chia sự khác biệt và cẩn thận xếp hạng các nhóm chủng tộc/dân tộc có khả năng nổi lên chống lại sự cai trị của Anh.
Người Bồ Đào Nha ở Antigua và Barbuda có nguồn gốc từ sự di cư của 2.500 người người lao động từ Madeira (một quần đảo của Bồ Đào Nha ở phí Bắc Đại Tây Dương, phía Tây Nam của bán đảo Iberia) giữa 1847 và 1852 vì một nạn đói nghiêm trọng ở đó. Nhiều người gốc Bồ Đào Nha này thành lập các doanh nghiệp nhỏ và gia nhập hàng ngũ của lớp nước da ngâm ngâm. Người Anh cai trị không bao giờ thực sự coi là người Bồ Đào Nha là người da trắng và đã không cho phép họ vào hàng ngũ của người Anh.
Người gốc Trung Đông đã bắt đầu di cư đến Antigua và Barbuda từ đầu thế kỷ 20. Bắt đầu là thương nhân và dân lao động, họ nhanh chóng hòa nhập vào xã hội Antigua và Barbuda. Mặc dù người gốc Trung Đông đến từ nhiều quốc gia khác nhau, lớn nhất là nhóm người Syria.
Người gốc châu Phi tới Antigua và Barbuda do sự cưỡng bức làm nô lệ, người gốc châu Phi bắt đầu đến Antigua và Barbuda với số lượng lớn trong năm 1670. Rất nhanh chóng, họ đã phát triển thành các nhóm chủng tộc/dân tộc lớn nhất Antigua và Barbuda.
Trong thế kỷ 20, cơ cấu xã hội thuộc địa dần dần bắt đầu được loại bỏ với sự giới thiệu của giáo dục phổ cập và cơ hội kinh tế tốt hơn. Quá trình này cho phép người da đen tăng lên các cấp cao nhất của xã hội và thành lập chính phủ.
Trong thập kỷ 90 vừa qua, người nhập cư từ Cộng hòa Dominica, người nhập cư từ Guyana và Dominica nói tiếng Tây Ban Nha đã được thêm vào sự đa dạng dân tộc ở Antigua và Barbuda. Ngày nay, một tỷ lệ ngày càng lớn dân số Antigua và Barbuda định cư sống ở nước ngoài, đáng chú ý nhất là ở Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Canada. Một số ít cư dân Antigua và Barbuda là những người nhập cư từ các nước khác, đặc biệt là từ Dominica, Guyana, Jamaica, và, ngày càng tăng, từ Cộng hòa Dominica, Saint Vincent và Grenadines và Nigeria. Một ước tính khoảng 4.500 công dân Mỹ cũng làm nhà của mình ở Antigua và Barbuda.
Bảy mươi bốn phần trăm (74%) dân số Antigua và Barbuda là Kitô hữu, trong đó Anh giáo chiếm khoảng 44% là nhóm Kitô lớn nhất lớn nhất. Giáo phái Kitô giáo khác hiện nay là Baptist, Giáo hội Trưởng Lão (Cơ Đốc) và Công giáo Rôma.
Các tôn giáo ngoài Kitô giáo bao gồm phong trào Rastafari, Hồi giáo, Do Thái giáo và đạo Baha'i.
== Chú thích ==
Phương tiện liên quan tới Antigua and Barbuda tại Wikimedia Commons |
opentype.txt | OpenType là một định dạng phông chữ cho máy tính có thể mở rộng. Nó được xây dựng dựa trên TrueType, giữ lại cấu trúc cơ bản TrueType và thêm nhiều cấu trúc dữ liệu phức tạp trong việc quy định hành vi typographic. OpenType là thương hiệu đã đăng ký của Microsoft Corporation.
Các đặc điểm kỹ thuật nảy mầm tại Microsoft, Adobe Systems cũng đóng góp đến thời điểm công bố vào năm 1996.
Bởi vì hỗ trợ nhiều và linh hoạt các typographic, trong đó có quy định để xử lý các hành vi đa dạng của hệ thống văn bản tất cả thế giới, phông chữ OpenType được sử dụng phổ biến hiện nay trên các nền tảng máy tính lớn.
== Lịch sử ==
Nguồn gốc của OpenType đến từ nỗ lực của Microsoft trong việc cấp phép kiểu chữ GX Typography công nghệ nâng cao của Apple trong năm 1990. Cuộc đàm phán thất bại, thúc đẩy Microsoft mô phỏng lại với công nghệ riêng của mình, được gọi là "TrueType Open" năm 1994. Adobe gia nhập cùng Microsoft với các cố gắng trong năm 1996, bổ sung các hỗ trợ cho công nghệ phác thảo hình tượng được sử dụng trong font Type 1 của họ.
Những nỗ lực này đã của cả Microsoft và Adobe nhằm thay thế cả các định dạng font TrueType của Apple và Type 1 ("PostScript") của Adobe. Cần một định dạng phông chữ biểu cảm hơn để xử lý các kiểu chữ tốt và tính chất phức tạp của nhiều hệ thống chữ viết của thế giới, hai công ty kết hợp các công nghệ cơ bản của cả hai định dạng và thêm phần mở rộng mới nhằm giải quyết những hạn chế với những định dạng. Tên OpenType đã được lựa chọn cho các công nghệ kết hợp, và công nghệ này đã được công bố vào cuối năm đó.
=== Open Font Format ===
Adobe và Microsoft tiếp tục phát triển và hoàn thiện OpenType trong thập kỷ tới. Sau đó, vào cuối năm 2005, OpenType bắt đầu chuyến sang một tiêu chuẩn mở theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) cùng với nhóm MPEG, vốn trước đó (năm 2003) đã thông qua OpenType 1.4 bởi các tham chiếu cho MPEG-4. Việc áp dụng các tiêu chuẩn mới đã được thông qua tháng 3/2007 như là ISO Standard ISO/IEC 14496-22 (MPEG-4 Part 22) và được gọi là Open Font Format (OFF, không nên nhầm lẫn với Web Open Font Format). Đôi khi còn được gọi là "Open Font Format Specification" (OFFS). Các tiêu chuẩn ban đầu về kỹ thuật tương đương với các đặc tả của OpenType 1.4, với những thay đổi ngôn ngữ phù hợp tiêu chuẩn ISO. Ấn bản thứ hai của Open Font Format đã được xuất bản trong năm 2009 (ISO / IEC 14496-22: 2009) và đã được tuyên bố là "về kỹ thuật tương đương" với "đặc tả định dạng font OpenType". Từ đó, Open Font Format và đặc tả OpenType tiếp tục được duy trì đồng bộ. OFF là tiêu chuẩn công bố công khai, tự do.
Đến năm 2001, hàng trăm phông chữ OpenType có trên thị trường. Adobe đã hoàn tất chuyển đổi toàn bộ thư viện chữ của họ sang OpenType vào cuối năm 2002. As of early 2005, đã có khoảng 10,000 fonts OpenType, với các thư viện Adobe bao gồm khoảng một phần ba tổng số. Đến năm 2006, tất cả các phông chữ đúc chủ yếu và nhiều font khác đã phát triển các font trong định dạng OpenType.
=== OpenType Collections ===
Trong năm 2014, Adobe tuyên bố thành lập OpenType Collections (OTCs). Một file OTC (phần mở rộng.otc) bao gồm nhiều file OpenType(phần mở rộng.otf) được đóng gói lại. Điều này cho phép lưu trữ hiệu quả hơn. Ví dụ, file OTC của Noto fonts CJK OTC là ~10MB nhỏ hơn tổng của bốn file OTF riêng biệt mà nó gồm. Ngoài ra, file OTF có thể chứa tối đa 65.535 hình tượng; việc sử dụng một OTC khắc phục hạn chế này.
== Miêu tả ==
OpenType sử dụng cấu trúc sfnt của một font TrueType, nhưng nó bổ sung thêm một số tùy chọn smartfont đó tăng cường khả năng hỗ trợ typographic và ngôn ngữ của font.
Các dữ liệu phác thảo hình tượng trong một phông chữ OpenType fcó thể là một trong hai định dạng: hoặc định dạng TrueType phác thảo trong một bảng 'glyf', hoặc phác thảo Compact Font Format (CFF) otrong một bảng 'CFF '. (Tên bảng 'CFF' là bốn ký tự, kết thúc bằng một ký tự trắng) Dữ liệu phác thảo CFF được dựa trên ngôn ngữ định dạng font PostScript Type 2. Tuy nhiên, các đặc tả OpenType không hỗ trợ việc sử dụng PostScript phác thảo trong một file font TrueType Collection.
Đối với nhiều mục đích, chẳng hạn như bố trí, nó không có vấn đề gì với các định dạng dữ liệu phác thảo, nhưng đối với một số mục đích khác, chẳng hạn như rasterisation, nó là đáng kể. Các tiêu chuẩn OpenType không xác định các định dạng dữ liệu phác thảo: đúng hơn, nó thể chứa bất kỳ của một số tiêu chuẩn hiện hành. Đôi khi thuật ngữ như "OpenType (PostScript flavor)", "Type 1 OpenType", "OpenType CFF", hay "OpenType (TrueType flavor)" được sử dụng để chỉ ra các phác thảo định dạng một file font OpenType đặc biệt.
Chứa các bảng mã ký tự Unicode vì vậy nó có thể hỗ trợ bất kỳ kịch bản viết (hoặc nhiều kịch bản cùng một lúc).
Chưa lên đến 65,536 glyphs.
Nâng cao chữ in "bố trí" các tính năng quy định vị trí và thay thế các rendered glyphs. Tính năng thay thế bao gồm các chữ ghép; tính năng định vị bao gồm kerning, vị trí đánh dấu, và đặc điểm kỹ thuật cơ bản.
Đa nền tảng, có thể được sử dụng mà không cần chỉnh sửa cho Mac OS, Windows và các hệ thống Unix.
Nếu không có glyphs bổ sung hoặc tính năng typographic mở rộng được thêm vào, font OpenType CFF có thể nhỏ hơn đáng kể hơn so với Type 1 của chúng.
== So sánh với các định dạng khác ==
So với "GX Typography" của Apple—bây giờ được gọi là Apple Advanced Typography (AAT)—và với công nghê Graphite của SIL, OpenType là ít linh hoạt trong lựa chọn typographic, nhưng tốt hơn trong tùy chọn ngôn ngữ liên quan và hỗ trợ. Tuy nhiên, OpenType đã được áp dụng rộng rãi hơn AAT và Graphite, mặc dù AAT là công nghệ cũ.
Các công nghệ phần mềm tự do Graphite được đóng gói với các máy tính để bàn xuất bản và biên tập tài liệu phần mềm, LibreOffice (nó được bao gồm trong cả các bản phân phối Windows và Linux, nhưng không phải với Mac, đã có sẵn AAT).
Từ góc nhìn của một nhà phát triển font, OpenType trong nhiều tình huống thông thường là dễ phát triển hơn AAT và Graphite. Đầu tiên, sự thay thế khai bao và định vị đơn giản của OpenType dễ hiểu hơn so với bảng trạng thái phức tạp hơn của AAT hay các mô tả ngôn ngữ tương tự cú pháp của C trong Graphite. Thứ hai, Thứ hai, chiến lược của Adobe cấp phép miễn phí mã nguồn phát triển cho phát triển font chữ riêng của mình, AFDKO (Adobe Font Development Kit for OpenType), cho phép các ứng dụng chỉnh sửa font bên thứ ba như FontLab và FontMaster hỗ trợ dễ dàng. Mặc dù hỗ trợ mã hóa ký tự theo định hướng của Adobe không phải là hình ảnh như một công cụ riêng của Microsoft, VOLT (Visual OpenType Layout Tool), tích hợp với các công cụ được sử dụng để làm các phông chữ đã được đón nhận.
khác biệt nữa là một framework hỗ trợ OpenType (giống như Microsoft’s Uniscribe) yêu cầu kiến thức tốt về về các vấn đề xử lý ngôn ngữ đặc biệt để xử lý (ví dụ: tiếng Ả Rập). Với AAT hay Graphite, các nhà phát triển font có để đóng gói tất cả những chuyên môn trong các phông chữ. Điều này có nghĩa rằng AAT và Graphite có thể xử lý bất kỳ ngôn ngữ tùy ý, nhưng nó đòi hỏi phải làm việc nhiều hơn và chuyên môn từ các nhà phát triển font. Mặt khác, phông chữ OpenType là dễ dàng hơn để thực hiện, nhưng chỉ có thể hỗ trợ bố trí văn bản phức tạp nếu các ứng dụng hoặc hệ điều hành biết cách xử lý chúng.
Trước khi hỗ trợ OpenType, Adobe Adobe thúc đẩy nhiều phông chữ chính và phông chữ chuyên môn cho các kiểu chữ cao cấp. Nhiều font chính thiếu các điều khiển cho glyphs thay thế và các ngôn ngữ được cung cấp bởi OpenType, nhưng cung cấp quá trình chuyển đổi trơn tru giữa các kiểu trong một font family. Font chuyên môn được dự định như font bổ sung, bao gồm tất cả các ký tự đặc biệt không có trong Adobe Standard Encoding – gạch nối, phân số, ký tự nhỏ... – đã được đặt trong các font chuyên môn thay thế. Sử dụng trong các ứng dụng đã khó, với, ví dụ, gõ một Z khiến các chữ ghép tạo thành ffl. In modern OpenType fonts all these glyphs are encoded with their Unicode indices and selection method (i.e. under what circumstances that glyph should be used).
== OpenType Feature File (.fea) ==
OpenType features are tedious to define using a GUI. Consequently, Adobe standardized a text specification format for feature files, which typically have a name ending in a .fea extension. These files can be compiled into the binary font container (.ttf or .otf) using Adobe FDK (AFDKO), FontLab or FontForge. The latter program implements a few features that are documented in the Adobe standard but are not implemented by AFDKO.
== Xem thêm ==
Uniscribe (Engine rendering văn bản đa ngôn ngữ cho Windows)
Windows Presentation Foundation (Windows API đầu tiên hỗ trợ OpenType gần hàn thiện)
Apple Type Services for Unicode Imaging (Engine rendering văn bản đa ngôn ngữ cho Macintosh)
WorldScript (Old Macintosh multilingual text rendering engine)
Pango (Engine rendering văn bản đa ngôn ngữ mãn nguồn mở)
XeTeX Một hệ thống sắp chữ miễn phí dựa trên sự hợp nhất TeX with Unicode và công nghệ font Mac OS X.
International Components for Unicode (Kiến trúc đa ngôn ngữ mã nguồn mở với một thư viện bố trí font)
Embedded OpenType
Typography
Bitstream Panorama
FreeType
WOFF (Web Open Font Format), một định dạng font web có chứa một font OpenType với siêu dữ liệu
Noto fonts
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
The OpenType Specification (Microsoft)
Adobe – Fonts: OpenType
Typo.cz Information on Central European typography and fonts
Diacritics Project — All you need to design a font with correct accents
Bitstream Panorama: Line layout engine for worldwide text layout, multilanguage, multilingual fonts, and international complex scripts
D-Type Font Engine and Text Layout Module — Portable software components for OpenType font rasterization and text layout
Adobe Font Development Kit for OpenType (AFDKO)
Microsoft TrueType and OpenType Font Development Tools |
woody guthrie.txt | Woodrow Wilson "Woody" Guthrie (14 tháng 7 năm 1912 – 3 tháng 10 năm 1967) là ca sĩ, nhạc sĩ người Mỹ, nổi tiếng với hàng trăm ca khúc chính trị, mang âm hưởng truyền thống cũng như những sáng tác dành cho trẻ em. Ông thường xuyên trình diễn cùng với khẩu hiệu "This machine kills fascists" được ghi trên chiếc guitar mộc của mình. Ca khúc nổi tiếng nhất của anh chính là "This Land Is Your Land", ngoài ra còn rất nhiều giai điệu khác được đưa vào Thư viện Quốc hội Mỹ. Rất nhiều nghệ sĩ hậu bối sau này như Bob Dylan, Phil Ochs, Bruce Springsteen, Robert Hunter, Harry Chapin, John Mellencamp, Pete Seeger, Andy Irvine, Joe Strummer, Billy Bragg, Jerry Garcia, Jay Farrar, Bob Weir, Jeff Tweedy, Bob Childers và Tom Paxton đều coi Guthrie là người ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp của mình.
Rất nhiều ca khúc của Guthrie là những trải nghiệm cá nhân từ thời kỳ Dust Bowl cũng như Đại khủng hoảng khi anh phải rong ruổi qua nhiều trang trại từ Oklahoma tới California và được học hỏi nhiều ca khúc folk cũng như âm nhạc truyền thống, từ đó giúp anh có được biệt danh "Dust Bowl Troubadour". Cuộc đời của ông gắn liền với Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, cho dù thực tế ông không theo bất kỳ đảng phái chính trị nào.
Guthrie kết hôn 3 lần và có 8 người con, trong đó có nghệ sĩ nhạc folk Arlo Guthrie. Ông qua đời vì Hội chứng Huntington, một biến thể di truyền từ suy giảm thần kinh. Vào những năm cuối đời, dù gặp nhiều vấn đề sức khỏe, ông vẫn là người đi đầu cho phong trào nhạc folk, tạo niềm cảm hứng lớn cho vô vàn những nghệ sĩ, trong đó có cả vai trò hướng dẫn tới những tượng đài là Ramblin' Jack Elliott và Bob Dylan.
== Tham khảo ==
== Thư mục ==
Cray, Ed (2004). Ramblin Man: The Life and Times of Woody Guthrie. W. W. Norton & Company. ISBN 0-393-32736-1.
Kaufman, Will (2011). Woody, Guthrie: American Radical. University of Illinois Press. ISBN 0-252-03602-6.
Longhi, Jim (1997). Woody, Cisco and Me. Random House. ISBN 0-252-02276-9.
Klein, Joe (1980). Woody Guthrie: A Life. Random House. ISBN 0-385-33385-4.
Santelli, Robert (1999). Hard Travelin: The Life and Legacy of Woody Guthrie. Wesleyan University Press. ISBN 0-8195-6391-9.
== Tài liệu khác ==
Hogeland, William (ngày 14 tháng 3 năm 2004), "Emulating the Real and Vital Guthrie, Not St. Woody", New York Times.
Down Home Radio Show. LeadBelly & Woody Guthrie live on WNYC Radio, Dec. 1940. Audio re-broadcast of a 1940 radio show. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
Earle, Steve. Woody Guthrie. The Nation, ngày 21 tháng 7 năm 2003. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
Electronic Frontier Foundation. Scanned images of some of Woody Guthrie's original works. Retrieved on ngày 29 tháng 1 năm 2008.
Guthrie, Mary Jo. Woody's Road: Woody Guthrie's Letters Home, Drawings, Photos, and Other Unburied Treasures Paradigm Publishers, 2012. ISBN 978-1-61205-219-9
Jackson, Mark Allen. Prophet Singer: The Voice and Vision of Woody Guthrie. University Press of Mississippi, January, 2007. ISBN 978-1-60473-102-6
La Chapelle, Peter. Is Country Music Inherently Conservative? History News Network. Nov. 12, 2007. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
Kaufman, Will (2011). Woody Guthrie, American Radical University of Illinois Press. ISBN 978-0-252-03602-6
La Chapelle, Peter. Proud to Be an Okie: Cultural Politics, Country Music, and Migration to Southern California. University of California Press, 2007. ISBN 978-0-520-24888-5 (hb); ISBN 978-0-520-24889-2 (pb)
Library of Congress. Timeline of Woody Guthrie (1912–1967). Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
Library of Congress. Woody Guthrie and the Archive of American Folk Song: Correspondence, 1940–1950. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
Marroquin, Danny. Walking the Long Road. PopMatters.com. Aug. 4, 2006. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
Pascal, Rich. "Celebrating the Real America," http://www.canberratimes.com.au/entertainment/music/celebrating-a-real-voice-of-america-20120713-21zdt.html.
Public Broadcasting Service. Woody Guthrie: Ain't Got No Home. Documentary from PBS' American Masters series, July 2006. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
University of Oregon. Roll On Columbia: Woody Guthrie and the Bonneville Power Administration. Video documentary. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
University of Virginia. Guthrie singing "This Land Is Your Land". MP3 recording. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
Symphony Silicon Valley Concert Recordings. David Amram's Symphonic Variations on a Song by Woody Guthrie Recorded ngày 30 tháng 9 năm 2007. Audio recording. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2008.
WoodyGuthrie.de. Woody Guthrie Related Audio. Miscellaneous Real Audio files featuring Pete Seeger, Arlo Guthrie, Alan Lomax and others. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
== Liên kết ngoài ==
Woody Guthrie tại DMOZ
The Woody Guthrie Center
The Woody Guthrie Foundation and Archives
Woody Guthrie and the Archive of American Folk Song: Correspondence, 1940–1950, Library of Congress, American Folklife Center. American Memory presentation of archival correspondence written by Woody Guthrie to the staff of the Archive of American Folk Song. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2009
Woody Guthrie in NYC, 1943 – slideshow by Life magazine
Woody Guthrie's Discography on Smithsonian Folkways
Songfacts interview with Anna Canoni (Guthrie's granddaughter)
Các công trình liên quan hoặc của Woody Guthrie trên các thư viện của thư mục (WorldCat)
Encyclopedia of Oklahoma History and Culture – Guthrie, Woody
Woody Guthrie tại Find a Grave
Danh sách đĩa nhạc của Woody Guthrie trên Discogs
Voices of Oklahoma interview with Nora Guthrie. First person interview conducted with Nora Guthrie speaking about her father, Woody Guthrie, on ngày 7 tháng 10 năm 2010. Original audio and transcript archived with Voices of Oklahoma oral history project.
Phim ngắn này "The Fight for Life (1940)" có thể được tải về từ Internet Archive
Phim ngắn này "The Columbia (1949)" có thể được tải về từ Internet Archive
Woody at 100: The Woody Guthrie Centennial Collection by Smithsonian Folkways Recordings
Voices of Oklahoma interview with Mary Jo Guthrie. First person interview conducted on ngày 9 tháng 5 năm 2013 with Mary Jo Guthrie talking about her brother Woody Guthrie. Original audio and transcript archived with Voices of Oklahoma oral history project.
Bản mẫu:Woody Guthrie |
ipad mini.txt | iPad Mini (hay iPad mini) là một loại máy tính bảng cỡ nhỏ được Apple Inc. thiết kế, phát triển và phân phối. Được công bố ngày 23 tháng 10 năm 2012, nó biết đến như là thế hệ thứ năm của chuỗi sản phẩm iPad, và là thiết bị đầu tiên xuất hiện với kích thước 7,9 inch, nhỏ hơn so với cỡ 9,7 inch tiền nhiệm. iPad Mini sở hữu cấu hình tương tự iPad 2, kể cả độ phân giải màn hình.
iPad Mini được tung ra tại hầu hết các cửa hàng Apple ngày 2 tháng 11 năm 2012 ở gần như tất cả các thị trường của Apple.
== Lịch sử ==
Tin đồn về iPad Mini bắt đầu từ tháng 4 năm 2012 rằng Apple đang có kế hoạch sản xuất một chiếc máy tính bảng có kích thước nhỏ hơn do cạnh tranh gia tăng từ các [[máy tính bảng 7" Kindle Fire và Nexus 7. Sản phẩm máy tính bảng mini này không được thiết kế nhằm thay thế new iPad mà Apple muốn bổ sung thêm một dòng tablet cho các kệ hàng của mình. Tin đồn cho rằng máy tính bảng mini này có màn hình 7,85" hiển thị 1024×768 pixel. Người ta cho rằng sản phẩm này sẽ được công bố vào Sự kiện đặc biệt Apple tháng 9 năm 2012. Ngày 16 tháng 10 năm 2012, Apple thông báo với giới truyền thông rằng hãng sẽ tổ chức một sự kiện truyền thông vào ngày 23 tháng 10 năm 2012 tại Nhà hát California ở San Jose, California. Công ty đã không thông báo trước chủ đề của sự kiện, nhưng người ta mong đợi là iPad Mini. Vào ngày của sự kiện, CEO của Apple Tim Cook giới thiệu một phiên bản mới của MacBook family và thế hệ mới của MacBook Pro, Mac Mini, và iMac trước khi iPad iPad thế hệ thứ tư và iPad Mini.
== Tính năng ==
iPad mini dựa vào cổng kết nối Lightning của Apple. iPad mini trang bị 2 loa ở 2 bên viền dưới. iPad Mini được trang bị camera trước 1,2 mega pixel có khả năng quay video 720p cùng camera sau 5 megapixel có chức năng lấy nét tự động. Màn hình iPad Mini có độ phân giải 1024x768 pixel(162 ppi). Máy chạy trên hệ điều hành iOS 6.0. iPad Mini sử dụng bộ vi xử lý 2 nhân Apple A5 1 GHz với 512MB RAM. Máy có bộ nhớ trong 16GB, ngoài ra, iPad Mini còn có phiên bản 32GB và 64GB. Máy có kết nối wifi được hỗ trợ mạng 4G LTE. Ở mức độ sử dụng trung bình, liên tục kết nối Wi-Fi cùng với độ sáng ở cấu hình tự động, iPad Mini có thời lượng sử dụng 1,5 ngày sau một lần sạc đầy.
== Các phụ kiện cho iPad Mini ==
Các phụ kiện cho iPad Mini được Apple chính thức thiết kế bao gồm Smart Cover, công cụ để kết nối máy ảnh, dock cho iPad, bàn phím không dây và tai nghe.
== Tham khảo == |
al gore.txt | Albert Arnold Gore, Jr. (tên thường được gọi Al Gore; sinh ngày 31 tháng 3 năm 1948) là Phó Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ, ông giữ chức vụ này từ năm 1993 đến 2001 dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Trước khi nhậm chức Phó Tổng thống, Gore là dân biểu đại diện tiểu bang Tennessee trong Hạ viện (1977–85), và là Thượng nghị sĩ tại Thượng viện Hoa Kỳ (1985–93). Gore đóng một vai trong bộ phim tài liệu đoạt giải Oscar An Inconvenient Truth (tượng vàng Oscar được trao cho đạo diễn Davis Guggenheim, và ông tặng nó cho Gore trong chương trình).
Gore từng là ứng cử viên Đảng Dân chủ cho chức Tổng thống trong kỳ tổng tuyển cử năm 2000, đó là một trong những cuộc bầu cử gây tranh cãi nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Sau khi xảy ra nhiều vấn đề về kiểm phiếu, và kết quả bầu cử bị bác tại tòa của tiểu bang Florida, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ mở vụ kiện Bush v. Gore, quyết định ngừng quá trình đếm phiếu, để cho George W. Bush nắm được đa số trong đại cử tri (electoral college) và do vậy Bush trở thành Tổng thống Hoa Kỳ.
Hiện nay, Gore làm chủ một đài truyền hình cáp ở Mỹ, Current TV, đài này đã giành giải Primetime Emmy năm 2007 về Thành tích Sáng tạo Nổi bật về Truyền hình Tương tác (Outstanding Creative Achievement in Interactive Television). Ông cũng là chủ tịch công ty Generation Investment Management, giám đốc của Apple Inc., cố vấn không chính thức của ban quản lý Google, và là chủ tịch Alliance for Climate Protection (Liên minh Bảo vệ Khí hậu).
Gore đi nhiều nơi để diễn thuyết về tình trạng nóng ấm toàn cầu mà ông gọi là "cuộc khủng hoảng khí hậu". Năm 2006, ông tham gia diễn xuất trong phim tài liệu An Inconvenient Truth (Sự thật mất lòng) tập trung vào chủ đề môi trường và tình trạng nóng ấm toàn cầu. Phim này đoạt giải Oscar. Dưới sự lãnh đạo của Gore, một trong những tổ chức của ông, Save Our Selves, thực hiện một chuỗi các buổi hoà nhạc từ thiện mang tên Live Earth tại 12 địa điểm trên 7 đại lục, trong ngày 7 tháng 7 năm 2007 (07.07.07), như là một phần trong nỗ lực thu hút sự chú ý của công luận vào tình trạng biến đổi khí hậu. Cùng với Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), Gore được trao tặng giải Nobel Hòa bình năm 2007 "vì những nỗ lực xây dựng và giúp mọi người nhận thức về sự thay đổi khí hậu mà tác nhân chính là con người, cũng như thiết lập nền tảng cho các biện pháp cần thiết để xử lý vấn nạn này".
Mặc dù Gore vẫn thường tuyên bố "Tôi không có ý định ra tranh cử lần nữa", vẫn tiếp tục có những đồn đoán ông sẽ tham gia cuộc đua giành sự tranh cử của Đảng Dân chủ cho kỳ bầu cử tổng thống năm 2008.
== Thiếu thời ==
Albert A. Gore, Jr. sinh ra tại Washington, D.C., là con trai của Albert Arnold Gore, Sr.. Al Gore, Sr. là Dân biểu Hoa Kỳ (1939-1944, 1945-1953), Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ (1953-1971) đại diện tiểu bang Tennessee. Mẹ của Gore là Pauline LaFon Gore, một trong những phụ nữ đầu tiên tốt nghiệp Trường Luật Đại học Vanderbilt. Tuổi thơ của Gore được chia đều cho Washington và Carthage, Tennessee. Trong năm học, gia đình của cậu ngụ trong một khách sạn tại thủ đô, và suốt mùa hè, cậu phải làm việc trong nông trang của gia đình ở Carthage, ở đây người ta trồng cỏ và chăn nuôi súc vật.
Gore đến học Trường St. Albans dành cho giới giàu có, xếp thứ 25 trong số 51 học sinh trong năm cuối cấp. Để chuẩn bị vào đại học, Gore phải qua kỳ thi SAT với điểm số 1355. Chỉ số IQ của Gore trong khi theo học tại Trường St. Albans trong năm đầu (1961) và năm cuối (1964) là 133 và 134.
Năm 1965, Gore vào Đại học Harvard, đây là viện đại học duy nhất mà Gore nộp đơn. Tại đây, Gore bị xếp vào trong số các sinh viên học dở nhất lớp. Sau khi nhận ra mình không thích thú gì với chuyên ngành ngữ văn Anh, Gore quyết định đổi ngành học và tìm thấy niềm đam mê với môn chính quyền học, sau đó tốt nghiệp hạng danh dự vào tháng 6 năm 1969 với văn bằng Cử nhân chuyên ngành Chính quyền học.
Gore chống Chiến tranh Việt Nam, và lẽ ra có thể tránh đi phục vụ ở hải ngoại bằng cách chấp nhận một vị trí trong Lực lượng Vệ binh Quốc gia mà một người bạn của gia đình đã dành sẵn cho ông. Nhưng Gore nói rằng nghĩa vụ công dân đã thúc đẩy ông phục vụ đất nước trong khả năng của mình. Gore gia nhập Lục quân Hoa Kỳ vào ngày 7 tháng 8 năm 1969. Sau khi qua khóa huấn luyện cơ bản tại Fort Dix, Gore nhận nhiệm vụ phóng viên cho nhật báo The Army Flier. Bảy tháng trước khi giải ngũ, Gore được cử đến Việt Nam vào ngày 2 tháng 2 năm 1971. Ông phục vụ bốn tháng trong Trung đoàn Công binh 20 ở Biên Hòa, và thêm một tháng ở Bộ Chỉ huy Công binh Lục quân ở Long Bình.
Gore được giải ngũ hai tháng trước thời hạn để kịp vào Trường Thần học, Đại học Vanderbilt. Năm 1970, Gore kết hôn với Mary Elizabeth Aitchenson (còn gọi là Tipper), người mà Gore đã gặp gỡ trước đó tại một buổi tiệc khiêu vũ ở trường trung học tại Washington, D.C.
Trong thời gian 5 năm, Gore là phóng viên cho nhật báo The Tennessean tại Nashville, Tennessee. Những phóng sự điều tra của Gore về những vụ tham nhũng của các thành viên Hội đồng Thành phố Nashville dẫn đến việc bắt giữ và truy tố hai nghị viên hội đồng thành phố về hai tội danh khác nhau. Nhưng vụ này cũng đem đến cho Gore cảm giác hoang mang vì nhận thức rằng một nhà báo có thể vạch trần các hành vi sai trái nhưng lại không thể sửa chữa chúng. Từ nhận thức này, Gore quyết định bỏ nghề báo và đi học luật. Nhưng trước khi tốt nghiệp, Gore biết được vị dân biểu đại diện khu vực bầu cử của mình đang tính đến việc về hưu, thế là Gore bỏ học để bắt đầu sự nghiệp chính trị của mình.
== Sự nghiệp Chính trị (1976 – 2000) ==
=== Viện Dân biểu ===
Khi Dân biểu Joe L. Evins tuyên bố nghỉ hưu sau 30 năm tại chức, Gore quyết định bỏ học trong tháng 3 năm 1976 để ra tranh cử ghế dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, đại diện cho hạt bầu cử số bốn của tiểu bang Tennessee. Gore đánh bại Stanley Rogers trong cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ, rồi tiến vào cuộc tổng tuyển cử mà không có đối thủ để lần đầu tiên nhận lấy một vị trí trong Viện Dân biểu Hoa Kỳ, khi ấy ông 28 tuổi. Ông tái đắc cử ba lần trong năm 1978, 1980, và 1982. Năm 1984, Gore đắc cử vào Thượng viện Hoa Kỳ, chiếm ghế đang bỏ trống của Lãnh tụ phe đa số Cộng hòa Howard Baker. Gore đại diện cho tiểu bang Tennessee tại Thượng viện cho đến năm 1993, khi ông trở thành Phó Tổng thống Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Trong thời gian phục vụ tại Quốc hội, Gore có chân trong Ủy ban Quân bị và Ủy ban Thương mại, Khoa học và Giao thông. Cuối thập niên 1980, ông đệ trình dự luật Gore, được thông qua để trở thành Luật Vi tính và Truyền thông năm 1991, đạo luật này đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của Internet.
Thượng nghị sĩ Al Gore đã hai lần yêu cầu chính phủ Mỹ rút lại sự ủng hộ dành cho Saddam Hussein, nêu lý do Hussein sử dụng khí độc, ủng hộ khủng bố, và phát triển chương trình hạt nhân, nhưng bị chống đối bởi chính phủ Reagan và chính phủ Bush. Khi phát động Chiến dịch Al-Anfal, Hussein đã sử dụng khí độc tấn công người Kurd ở Iraq, Gore đứng ra đồng bảo trợ Đạo luật Ngăn chặn Diệt chủng năm 1988 nhằm chấm dứt mọi trợ giúp dành cho Iraq. Dự luật bị đánh bại, một phần do sự tích cực vận động hành lang từ Nhà Trắng, phần khác là do Tổng thống Reagan đe dọa dùng quyền phủ quyết.
=== Bầu cử Tổng thống năm 1988 ===
Gore ra tranh cử tổng thống trong kỳ tuyển cử năm 1988, nhưng không thành công khi Michael Dukakis giành được sự đề cử của Đảng Dân chủ. Chiến lược tranh cử của Gore là bỏ qua cuộc bầu cử sơ bộ ở Iowa, và ít quan tâm đến kết quả sơ bộ ở New Hampshire, nhưng tập trung vận động ở các tiểu bang miền Nam. Ông chiến thắng trong các cuộc bầu cử sơ bộ ở Arkansas, Kentucky, Bắc Carolina, Oklahoma, và Tennessee, nhưng lại bị đánh bật khỏi cuộc đua khi thất bại trong cuộc bầu cử sơ bộ ở New York.
Ngày 3 tháng 4 năm 1989, cậu con trai sáu tuổi của Gore, Albert, suýt bị giết chết trong một tai nạn giao thông đã khiến cha cậu phải quyết định dành thời gian bên cạnh con trai trên giường bệnh, thay vì chuẩn bị cho kỳ bầu cử tổng thống năm 1992. Trong thời gian này, Gore bắt tay viết cuốn Earth in the Balance về chủ đề bảo vệ môi trường. Đây là tác phẩm đầu tiên của một thượng nghị sĩ đương nhiệm có tên trong bảng liệt kê sách bán chạy nhất của tờ The New York Times, kể từ quyển Gương Can đảm nơi Nghị trường của John F. Kennedy.
=== Phó Tổng thống ===
Ngày 9 tháng 7 năm 1992, Bill Clinton chọn Gore đứng chung liên danh cho cuộc bầu cử tổng thống năm 1992. Ngày 20 tháng 1 năm 1993, Gore nhậm chức Phó Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ. Clinton và Gore tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai năm 1996.
Theo tường trình của chính phủ, nền kinh tế Hoa Kỳ phát triển trong suốt tám năm cầm quyền của chính phủ Clinton-Gore. Một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế là Đạo luật Omnibus Budget Reconciliation năm 1993 mà Gore, trong cương vị Chủ tịch Thượng viện, đã bỏ lá phiếu quyết định nhằm phá vỡ thế cân bằng trong kết quả kiểm phiếu. Chính phủ đã hợp tác tốt với Viện Dân biểu trong nỗ lực cắt giảm chi tiêu liên bang, rồi dần dần cân bằng ngân sách liên bang. Một trong những chức trách của Phó Tổng thống Gore là lãnh đạo đề án Kiểm tra Hoạt động Quốc gia với mục tiêu vạch ra sự lãng phí, gian trá, và những lạm dụng khác đang diễn ra trong chính phủ liên bang, cũng như tập trung vào nhu cầu tinh giản bộ máy hành chánh và cắt giảm số lượng các luật lệ và quy định. Gore cho rằng những nỗ lực này đã cung cấp những định hướng cần thiết cho Tổng thống Clinton khi ông tiến hành chương trình thu gọn bộ máy hành chánh của chính phủ liên bang.
Năm 1993, trong một cuộc tranh luận với Ross Perot trong chương trình Larry King Live của đài CNN về chủ đề tự do thương mại, Gore đưa ra luận cứ ủng hộ tự do thương mại và nỗ lực thông qua hiệp ước NAFTA, trong khi Perot chống lại những điều này. Những cuộc thăm dò dư luận cho thấy đa số người Mỹ tin rằng Gore đã thắng trong cuộc tranh luận, và tỏ ý ủng hộ NAFTA. Dự luật được thông qua tại Hạ viện với kết quả kiểm phiếu 234 – 200.
Năm 1997, Gore là viên chức chính phủ cao cấp nhất tham gia một cuộc đua marathon khi đương chức. Gore hoàn tất cuộc đua Marathon Thủy quân Lục chiến trong 4 giờ 54 phút 25 giây.
Năm 1998, Gore khởi sự vận động cho chương trình phóng một vệ tinh NASA có thể liên tục quan sát Trái Đất, đánh dấu một bước tiến lớn trong lãnh vực này kể từ lúc phi hành đoàn phi thuyền Apollo 17 thực hiện bức ảnh trứ danh Viên bi xanh chụp Trái Đất từ khoảng cách 29 000 km trong năm 1972. Vệ tinh "Triana" được đặt ở vị trí L1 (Lagrangian Point), cách Trái Đất 1,5 triệu km.
Cũng trong năm 1998, Gore bắt đầu cộng tác với đề án Digital Earth nhằm xây dựng một hệ thống trình bày những ảnh ảo về Trái Đất trên Internet, nối kết và tương tác với các nguồn dữ liệu trên khắp thế giới.
=== Bầu cử Tổng thống năm 2000 ===
Sau khi hoàn tất hai nhiệm kỳ Phó Tổng thống, Gore quyết định ra tranh cử trong cuộc chay đua vào Nhà Trắng năm 2000, và chọn Thượng nghị sĩ Joe Lieberman đứng chung liên danh. Đây là một trong những kỳ bầu cử tổng thống có kết quả sít sao nhất, cũng như gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.
Con gái của Gore, Karenna Gore Schiff, hoạt động tích cực cho chiến dịch vận động trong cương vị Chủ tịch Youth Outreach. Cùng với diễn viên điện ảnh nổi tiếng Tommy Lee Jones, Jones từng là bạn cùng phòng với Al Gore khi hai người theo học tại Đại học Harvard, Schiff chính thức đề cử Gore làm ứng cử viên tổng thống tại Đại hội Đảng Dân chủ năm 2000 ở Los Angeles. Cô cũng là người giới thiệu Al Gore khi ông tuyên bố bắt đầu chiến dịch tranh cử.
Suốt trong thời gian vận động, Gore và đối thủ thuộc Đảng Cộng hòa, Thống đốc Tiểu bang Texas George W. Bush, ngang điểm nhau. Đến ngày bầu cử, kết quả sít sao đến độ phải mất hơn một tháng chờ đợi kết quả sau cùng ở tiểu bang Florida. Ngay trong đêm bầu cử, các mạng lưới tin tức đưa tin thắng lợi của Gore tại Florida, rồi cải chính, rồi gọi Bush là người chiến thắng, rồi lại cải chính.
Cuối cùng, cuộc đua được quyết định bởi 537 phiếu cách biệt tại Florida để toàn bộ 25 phiếu cử tri đoàn của tiểu bang dành cho Bush. Gore thừa nhận thất bại sau khi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ phán quyết trong vụ Bush verus Gore việc tái kiểm phiếu tại Florida là vi hiến. Dù bất đồng với phán quyết của Tòa Tối cao, Gore tuyên bố, "vì sự đoàn kết dân tộc và sức mạnh của nền dân chủ, tôi quyết định nhượng bộ".
Như vậy, Gore là ứng cử viên thứ ba trong lịch sử Hoa Kỳ giành được đa số phiếu phổ thông (khoảng nửa triệu phiếu nhiều hơn đối thủ) nhưng lại thua số phiếu của cử tri đoàn. Gore có 266 phiếu cử tri đoàn so với 271 phiếu dành cho Bush.
Sau này, trong một lần diễn thuyết về tình trạng nóng ấm toàn cầu, Gore đã nói đùa khi tự giới thiệu là "người lẽ ra là Tổng thống Hoa Kỳ".
Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2000, Gore thường giới thiệu các thành tựu kinh tế là kết quả của những chính sách được thiết kế bởi chính phủ dưới quyền lãnh đạo của ông và Clinton – 22 triệu việc làm mới, con số kỷ lục những người sở hữu ngôi nhà của mình, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trong 30 năm, trả 360 tỉ USD nợ quốc gia, tỷ lệ nghèo thấp nhất trong 20 năm, chuyển đổi mức thâm hụt ngân sách lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ trở thành mức thặng dư ngân sách cao nhất, chi tiêu liên bang thấp nhất trong ba thập niên, gánh nặng thuế lợi tức đóng cho liên bang thấp nhất trong 35 năm, và con số gia đình có sở hữu chứng khoán cao nhất.
== Sau nhiệm kỳ Phó Tổng thống ==
=== Giáo dục ===
Năm 2001, Gore nhận lời giảng dạy cho bốn viện đại học trong cương vị giáo sư thỉnh giảng (Trường Cao học Báo chí Đại học Columbia, Đại học Fisk, Đại học Tiểu bang Tennessee, và UCLA). Tháng 4 năm 2007, ông được bầu làm thành viên danh dự của Hàn lâm viện Nghệ thuật và Khoa học Hoa Kỳ (hầu hết những người đoạt giải Nobel đều được bầu vào vị trí danh dự này trước khi họ được trao tặng giải Nobel).
=== Hoạt động Công dân ===
Ngày 23 tháng 9 năm 2002, trong một diễn văn đọc trước Câu lạc bộ Commonwealth, Gore đã trình bày quan điểm được nhiều người xem là mạnh mẽ nhất chỉ trích Tổng thống George W. Bush và Quốc hội về sự vội vã của họ khi tiến hành cuộc chiến, ngay cả khi chưa có dấu hiệu rõ ràng về thái độ thù địch của Iraq. Lúc ấy Gore đã cảnh báo về gánh nặng chi tiêu dành cho cuộc chiến, nguy cơ uy tín của nước Mỹ sút giảm trên trường quốc tế, và những tra vấn về tính hợp pháp của Chủ thuyết Bush về chiến tranh ngăn chặn.
Tháng 9 năm 2005, Gore thuê hai máy bay để di tản 270 người khỏi New Orleans sau trận bão Katrina. Ông cũng lớn tiếng chỉ trích chính phủ liên bang và địa phương về cung cách giải quyết hậu quả cơn bão.
== Kêu gọi Quan tâm đến Môi trường ==
Theo một bài đăng trên tờ The Concord Monitor ngày 27 tháng 2 năm 2007, "Gore là một trong những chính trị gia đầu tiên thấu hiểu mức độ nghiêm trọng của tình trạng thay đổi khí hậu, đã kêu gọi cắt giảm lượng khí thải carbon dioxide cũng như các loại khí đốt gây hiệu ứng nhà kính. Từ thập niên 1970, ông đã tổ chức cuộc điều trần đầu tiên của Quốc hội về chủ đề này ". Suốt trong thời gian làm việc tại Quốc hội, Gore đã đứng ra đồng tổ chức các phiên điều trần về chất thải độc hại trong năm 1978-1979, cũng như về tình trạng nóng ấm toàn cầu trong thập niên 1980. Ngày 14 tháng 5 năm 1989, khi đang là Thượng nghị sĩ, Gore cho đăng một bài xã luận trên tờ Washington Post, ông viết "Nhân loại đột nhiên bước vào một mối tương quan mới với tinh cầu Trái Đất. Những khu rừng trên khắp thế giới đang bị tàn phá; lỗ hổng khổng lồ trên tầng ozone đang ngày càng lan rộng. Các loài sinh vật đang chết dần mòn ở mức độ cao chưa từng thấy."
Vào Ngày Trái Đất năm 1994, Gore khai trương Chương trình GLOBE, một đề án giáo dục và khoa học, theo tạp chí Forbes, "sử dụng những tiện ích Internet vào mục tiêu gia tăng sự quan tâm của sinh viên về môi trường sống của họ".
Cuối thập niên 1990, Gore đẩy mạnh cuộc vận động phê chuẩn Hiệp ước Kyoto nhằm cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, nhưng nỗ lực của ông bị vô hiệu hóa bởi Nghị quyết Byrd-Hagel, được thông qua tại Thượng viện với số phiếu đồng thuận 95-0, thể hiện lập trường của Thượng viện là Hoa Kỳ không nên ký bất cứ hiệp ước nào mà không có sự ràng buộc về mục tiêu và lịch trình (cắt giảm lượng khí thải) đối với các quốc gia tiên tiến cũng như các nước đang phát triển, hoặc nếu hiệp ước "gây ra sự thiệt hại nghiêm trọng đối với nền kinh tế nước Mỹ". Ngày 12 tháng 11 năm 1998, Gore ký tượng trưng bản hiệp ước, nhưng chính phủ Clinton không bao giờ đệ trình Thượng viện để thông qua.
Trong những năm gần đây, Gore bận rộn du hành khắp thế giới để tham dự và nói chuyện tại các sự kiện tập chú vào chủ đề tình trạng nóng ấm toàn cầu và biện pháp ngăn chặn. Khán giả thường đứng lên hoan hô sau khi nghe Gore diễn thuyết. Trong phần độc thoại trong phim An Inconvenient Truth (Một sự thật mất lòng), Gore cho biết ông đã trình bày bài nầy ít nhất là một ngàn lần. Ông được trả 120 000 USD khi đến diễn thuyết tại Regina, Saskatchewan, Canada.
Ngày 7 tháng 7 năm 2007, một chuỗi những buổi hòa nhạc từ thiện được tổ chức tại các địa điểm khác nhau trên khắp thế giới, trong nỗ lực đánh thức sự quan tâm của công chúng đối với sự biến đổi khí hậu. Đây là sáng kiến tâm huyết của Gore và Kevin thuộc tổ chức Save Our Selves.
Ngày 21 tháng 7 năm 2007, Gore tuyên bố cộng tác với minh tinh điện ảnh Cameron Diaz tổ chức cuộc thi về khí hậu trên truyền hình Sáu mươi giây để cứu Trái Đất, nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của công chúng trong nỗ lực giải quyết cuộc khủng hoảng khí hậu. Bạn có thể xem đoạn phim đoạt giải ở đây.
Gore tham gia diễn xuất trong phim An Inconvenient Truth (Sự thật mất lòng), cuốn phim đoạt giải Oscar năm 2007 cho thể loại phim tài liệu. Khi được trao giải Oscar, đạo diễn Davis Guggenheim yêu cầu Gore bước lên bục nhận giải cùng với đoàn làm phim. Gore phát biểu ngắn gọn, "Chúng ta cần phải giải quyết cuộc khủng hoảng khí hậu. Đây không phải là vấn đề chính trị mà là vấn đề đạo đức. Mọi thứ đã sẵn sàng để bắt đầu, miễn là chúng ta có đủ quyết tâm".
Phát hành ngày 24 tháng 5 năm 2006, cuốn phim thu thập chứng cứ về tình trạng nóng ấm toàn cầu mà con người là tác nhân, cũng như đưa ra lời cảnh báo về hậu quả của nó, nếu con người không chịu hành động kịp thời để thay đổi các thói quen tác hại đến môi trường sống. Cuối tháng 7, An Inconvenient Truth vượt qua phim Bowling for Columbine của đạo diễn Michael Moore (xoay quanh chủ đề về vụ Thảm sát Trường Trung học Columbine và tình trạng bạo hành có vũ khí) để chiếm vị trí thứ ba trong số những phim tài liệu được xem nhiều nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Gore cũng cho xuất bản một cuốn sách cùng tên, tác phẩm này trở nên sách bán chạy nhất.
=== Giải Nobel Hòa bình năm 2007 ===
Ngày 12 tháng 10 năm 2007, cùng với Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (Chủ tịch ủy ban là Rajendra K. Pachauri ở Dehli, Ấn Độ), Gore được trao tặng Giải Nobel Hòa bình năm 2007 "vì những nỗ lực xây dựng và giúp mọi người nhận thức về tình trạng thay đổi khí hậu mà con người là tác nhân chính, cũng như thiết lập nền tảng cho các biện pháp cần thiết để xử lý vấn nạn này".
Gore đưa ra lời đáp từ sau khi giải Nobel được công bố:
Thật là một vinh dự to lớn khi nhận Giải Nobel Hòa bình. Ý nghĩa của nó còn lớn lao hơn nữa khi tôi được hân hạnh chia sẻ giải thưởng này với Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu – một tổ chức khoa học danh giá của thế giới được cống hiến cho mục tiêu nâng cao sự hiểu biết của công chúng về cuộc khủng hoảng khí hậu – với các thành viên đã tận tụy làm việc không mệt mỏi trong nhiều năm qua. Chúng ta đang đối diện với nguy cơ có thật về tình trạng nguy cấp của tinh cầu này. Cuộc khủng hoảng khí hậu không phải là một vấn đề chính trị, mà là một thách thức đối với đạo đức và lương tri của toàn thể nhân loại. Nó cũng là cơ hội lớn nhất dành cho chúng ta để có thể nâng cao tầm nhận thức của mọi người trên thế giới. Vợ tôi, Tipper, và tôi quyết định dành toàn bộ số tiền thưởng cho Liên minh Bảo vệ Khí hậu (Alliance for Climate Protection), một tổ chức lưỡng đảng và phi lợi nhuận, có mục tiêu thay đổi nhận thức của công chúng tại Hoa Kỳ và trên thế giới về tính cấp bách của các biện pháp giải quyết cuộc khủng hoảng khí hậu.
Ngày 10 tháng 12 năm 2007, Al Gore và Pachauri nhận Giải Nobel Hòa bình năm 2007 tại Oslo, Na Uy.
== Internet và Kỹ thuật ==
Với chức trách của Thượng nghị sĩ và Phó Tổng thống, Gore hoạt động tích cực trong nỗ lực phát triển và phổ cập Internet. Theo Campell-Kelly và Aspray, đồng tác giả của Computer: A History of the Information Machine, mãi cho đến đầu thập niên 1990, việc sử dụng Internet trong quảng đại quần chúng vẫn còn hạn chế, và nhận xét "mục tiêu đem đến cho người dân Mỹ bình thường cơ hội tiếp cận với mạng toàn cầu đã thúc đẩy Thượng Nghị sĩ Al Gore từ cuối thập niên 1970" đã giúp ông phát triển các thể chế pháp lý nhằm giải quyết các trở ngại để đạt đến mục tiêu này. Gore bắt tay soạn thảo đạo luật High Performance Computing and Communication năm 1991, (thường gọi là Dự luật Gore) được thông qua ngày 9 tháng 12 năm 1991, dọn đường cho việc thành lập Cơ sở Hạ tầng Thông tin Quốc gia (National Information Infrastructure, viết tắt NII) - một mạng lưới kết nối các phương tiện truyền thông, dịch vụ tương tác, phần cứng và phần mềm có thể điều phối được, máy vi tính, kho dữ liệu và các thiết bị điện tử hầu có thể cung cấp cho người dùng một khối lượng khổng lồ các loại thông tin. Al Gore thích gọi mạng thông tin khổng lồ này là "siêu xa lộ thông tin" (information superhighway).
Từ năm 2003, Gore có chân trong ban giám đốc của Apple Inc., và là cố vấn trưởng cho Google Inc.
Ngày 6 tháng 6 năm 2005, Gore được trao Giải Thành tựu Trọn đời của The Webby Awards vì "ba thập niên đóng góp cho Internet". Gore, trong phần đáp từ (giới hạn trong năm từ theo quy định của Webby Awards), đã nói đùa: "Please don't recount this vote" (Xin đừng tái kiểm phiếu).
== Gia đình ==
Gore có một người chị, Nancy Gore Hunger, qua đời năm 1984 vì ung thư phổi.
Gore kết hôn với Mary Elizabeth Aitcheson (Tipper Gore). Hai người có bốn con: Karenna (sinh ngày 6 tháng 8 năm 1973), kết hôn với Andrew "Drew" Schiff; Kristin (sinh ngày 5 tháng 6 năm 1977), kết hôn với Paul Cusack; Sarah (ngày 7 tháng 1 năm 1979), kết hôn với doanh nhân người Mỹ gốc Đài Loan Bill Lee (李君偉); và Albert III (ngày 19 tháng 10 năm 1982). Sarah hiện là sinh viên trường Y của Đại học California tại San Francisco. Albert làm việc cho nhà xuất bản tạp chí từ thiện Good. Gore có hai cháu ngoại: Wyatt Gore Schiff (ngày 4 tháng 7 năm 1999) và Anna Hunger Schiff (ngày 23 tháng 8 năm 2001).
Gia đình Gore đang sống tại Nashiville, Tennessee, và sở hữu một nông trang gần Carthage. Họ là thành viên Nhà thờ Baptist Missionary New Salem ở Carthage.
== Xem thêm ==
Tipper Gore
== Tác phẩm ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ (tiếng Anh)
Dự án Nhiệt Huyết về bảo vệ môi trường được gây cảm hứng bởi Al Gore.
Các đạo luật mà Thượng nghị sĩ Gore ủng hộ – Thư viện Quốc hội
Al Gore tại Internet Movie Database
Bài báo và bài bình luận về Al Gore – The New York Times
Các phỏng vấn với Gore trên chương trình Charlie Rose
Cuộc phỏng vấn Gore (phần 2) trên chương trình The Hour với George Stroumboulopoulos |
hypena scabra.txt | Hypena scabra là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở Canada phía nam đến Florida và Texas. It has also been reported từ Đảo Anh.
Sải cánh dài 25–35 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 3 đến tháng 11 hoặc all quanh năm in warmer regions. Có nhiều lứa trong năm.
Ấu trùng ăn rau mọc thấp.
== Hình ảnh ==
== Liên kết ngoài ==
Owlet Caterpillars of Eastern North America (Lepidoptera: Noctuidae)
Bug Guide
Images
Bugwood
Phương tiện liên quan tới Hypena scabra tại Wikimedia Commons
== Chú thích == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.