filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
phó tổng thống hoa kỳ.txt | Phó Tổng thống Hoa Kỳ (Vice President of the United States) là người giữ một chức vụ công do Hiến pháp Hoa Kỳ tạo ra. Phó Tổng thống, cùng với Tổng thống Hoa Kỳ, được dân chúng Hoa Kỳ bầu lên một cách gián tiếp qua hệ thống đại cử tri đoàn với một nhiệm kỳ bốn năm. Phó Tổng thống là người đầu tiên trong thứ tự kế nhiệm lên làm tổng thống nếu như Tổng thống Hoa Kỳ qua đời, từ chức hay bị bãi nhiệm.
Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Phó Tổng thống là Chủ tịch Thượng viện Hoa Kỳ. Với tư cách là Chủ tịch Thượng viện Hoa Kỳ, Phó Tổng thống Hoa Kỳ là người lãnh đạo Thượng viện Hoa Kỳ. Trong vai trò này, Phó Tổng thống được phép bỏ phiếu tại Thượng viện nhưng chỉ khi nào cần thiết khi một cuộc đầu phiếu tại Thượng viện Hoa Kỳ không có kết quả chung cuộc. Theo Tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ số 12, Phó Tổng thống Hoa Kỳ là người chủ tọa cuộc họp chung của Quốc hội Hoa Kỳ (cuộc họp chung của cả hai ngành lập pháp) khi nó được triệu tập để đếm phiếu đại cử tri đoàn.
Trong khi chức năng của Phó Tổng thống Hoa Kỳ được diễn tả trong Hiến pháp Hoa Kỳ, ngoài việc kế nhiệm tổng thống, chỉ là vai trò làm Chủ tịch Thượng viện Hoa Kỳ nhưng ngày nay chức vụ này vẫn thường được xem là chức vụ của một thành viên ngành hành pháp của chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Hiến pháp Hoa Kỳ không đề cập rõ ràng là chức vụ này thuộc bất cứ một ngành nào, khiến cho các học giả phải tranh cãi liệu là nó có phải thuộc ngành hành pháp, lập pháp, hay cả hai. Cái nhìn hiện đại về Phó Tổng thống như một thành viên của ngành hành pháp một phần là vì Tổng thống Hoa Kỳ và Quốc hội Hoa Kỳ đã giao các nhiệm vụ hành pháp cho Phó Tổng thống đảm trách mặc dù các hoạt động như thế chỉ là do yếu tố nhu cầu phát triển mới đây của lịch sử.
Phó Tổng thống hiện tại là Mike Pence, trước đây là Thống đốc Indiana.
== Điều kiện ==
Tu chính án 12 nói rằng "người không hội đủ điều kiện giữ chức vụ Tổng thống sẽ không đủ điều kiện để giữ chức vụ Phó Tổng thống Hoa Kỳ." Vì thế, để phục vụ trong vai trò Phó Tổng thống, một cá nhân phải:
Là một công dân Hoa Kỳ được sinh ra tại Hoa Kỳ;
Ít nhất 35 tuổi; và
Phải sống tại Hoa Kỳ ít nhất là 14 năm.
Ngoài ra, theo đoạn 3 của Tu chính án Hoa Kỳ số 14, cấm bất cứ ai từng tuyên thệ ủng hộ Hiến pháp Hoa Kỳ và rồi sau đó nổi loại chống lại Hoa Kỳ được quyền phục vụ trong vai trò Phó Tổng thống Hoa Kỳ trừ khi cả hai viện lập pháp biểu quyết với hai phần ba phiếu thuận để rút bỏ điều kiện loại bỏ đó.
Theo Tu chính án 22, Tổng thống Hoa Kỳ có thể không được bầu hơn hai nhiệm kỳ. Tuy nhiên, không có sự giới hạn tương tự đối với một người được bầu làm Phó Tổng thống Hoa Kỳ. Các học giả tranh cãi về việc liệu một cựu Tổng thống Hoa Kỳ bị giới hạn số nhiệm kỳ được bầu làm tổng thống cũng không đủ điều kiện được bầu làm Phó Tổng thống Hoa Kỳ như Tu chính án 12 đã có nói "người không hội đủ điều kiện giữ chức vụ Tổng thống sẽ không đủ điều kiện để giữ chức vụ Phó Tổng thống Hoa Kỳ". Vấn đề này chưa từng bị thử thách trong thực tế vì chưa bao giờ có một cựu Tổng thống Hoa Kỳ ra ứng cử chức vị Phó Tổng thống Hoa Kỳ.
Điều khoản I, Phần III, Đoạn 7, Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép Thượng viện Hoa Kỳ, sau khi biểu quyết truất phế một viên chức liên bang, được quyền tước bỏ điều kiện tư cách của viên chức đó không được giữ bất cứ chức vu liên bang nào.
== Lời tuyên thệ nhậm chức ==
Không như Tổng thống Hoa Kỳ, Hiến pháp Hoa Kỳ không quy định rõ một lời tuyên thệ nhậm chức nào cho Phó Tổng thống Hoa Kỳ. Có nhiều phiên bản khác nhau của lời tuyên thệ nhậm chức đã được dùng từ năm 1789; phiên bản hiện nay là phiên bản được các thượng nghị sĩ và dân biểu cũng như các viên chức khác của chính phủ sử dụng từ năm 1884:
Tạm dịch: Tôi, <tên A họ B>, trịnh trọng tuyên thệ (hoặc xác nhận) rằng tôi sẽ ủng hộ và bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ chống lại tất cả mọi kẻ thù, bên ngoài và bên trong nước; rằng tôi sẽ tin tưởng và trung thành với Hiến pháp Hoa Kỳ, rằng tôi nhận bổn phận này một cách tự nguyện mà không có bất cứ biểu lộ ngầm nào về việc hạn chế tán thành hoặc có mục đích trốn tránh; và rằng tôi sẽ hoàn thành tốt và trung thành với các trách vụ văn phòng mà tôi sắp vào làm việc. Vì vậy xin Thượng đế giúp tôi.
== Bầu cử Phó Tổng thống ==
=== Hiến pháp gốc và cải cách ===
Theo từ ngữ gốc của Hiến pháp Hoa Kỳ, các đại cử tri trong đại cử tri đoàn chỉ bầu cho chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ hơn là cho cả hai, Tổng thống và Phó Tổng thống. Mỗi đại cử tri được phép chọn hai người trong nhiều người cho chức vị tổng thống. Người nào nhận được số phiếu bầu nhiều nhất (miễn sao con số đó là một đa số phiếu đại cử tri) sẽ trở thành tổng thống trong khi đó người nhận số phiếu nhiều thứ hai sẽ trở thành phó tổng thống. Nếu không có ai nhận được đa số phiếu nhiều thứ hai để trở thành Phó Tổng thống thì Hạ viện Hoa Kỳ sẽ chọn trong số năm người nhận phiếu bầu cao nhất, cùng với mỗi tiểu bang một phiếu bầu. Trong trường hợp này, người nào nhận được nhiều phiếu nhất nhưng không được bầu làm tổng thống thì sẽ trở thành Phó Tổng thống. Trong trường hợp vẫn không chọn được lần thứ hai thì Thượng viện Hoa Kỳ sẽ chọn Phó Tổng thống Hoa Kỳ.
Tuy nhiện, dự tính ban đầu đã không nghĩ đến sự phát triển của các đảng chính trị và vai trò đối lập chính trị của chúng trong chính phủ. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1796, chẳng hạn, người theo chủ nghĩa liên bang là John Adams về nhất nhưng vì các đại cử tri theo chủ nghĩa liên bang chia tách phiếu thứ hai của họ cho một số ứng cử viên phó tổng thống nên Thomas Jefferson thuộc Đảng Dân chủ-Cộng hòa Hoa Kỳ về nhì. Như thế tổng thống và phó tổng thống lại là hai người thuộc hai đảng đối lập nhau. Đúng như tiêu liệu, Adams và Jefferson chống đối nhau về các vấn đề như chủ quyền tiểu bang và chính sách ngoại giao.
Một vấn đề lớn hơn xảy ra trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 1800 mà khi đó hai đảng tham dự bầu cử đều có ứng cử viên thứ hai với ý định được đưa ra bầu làm Phó Tổng thống. Tuy nhiên Đảng Dân chủ-Cộng hòa được mến mộ nhiều hơn lại bị thất bại trong cách thức bầu cử đó vì các phiếu đại cử tri của chính mình. Dưới hệ thống vào lúc đó (Điều khoản 2, Phần 1, Đoạn 3 Hiến pháp Hoa Kỳ), các đại cử tri không thể phân biệt được giữa hai ứng cử viên của họ, vì vậy theo cách thức bầu cử đó thì một đại cử tri chỉ có thể bầu cho Thomas Jefferson mà không bầu cho Aaron Burr và vì vậy khiến Burr đứng hạng hai. Thể thức bầu cử này thất bại vì nhiều lý do gây ra tranh cãi cũng như cả hai ứng cử viên nhận cùng số phiếu. Sau 35 lần bầu không phân thắng bại tại Hạ viện Hoa Kỳ, Jefferson cuối cùng thắng cử ở lần bầu thứ 36 và Burr trở thành Phó Tổng thống.
Sự vụ náo động này dẫn đến việc thông qua Tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ số 12 năm 1804 mà trong đó tu chính án hướng dẫn các đại cử tri sử dụng các lá phiếu riêng để bầu cho tổng thống và phó tổng thống.
Các lá phiếu bầu riêng biệt cho tổng thống và phó tổng thống trở nên một vấn đề đáng bàn luận sau đó vào thế kỷ 19 khi chúng trở thành thông lệ cho các cuộc bầu cử phổ thông để chọn đại cử tri đoàn của một tiểu bang. Các đại cử tri được chọn bằng cách này đã phải tuyên thệ bầu cử cho một ứng cử viên tổng thống hay phó tổng thống nào đó rõ ràng (thường là theo cùng đảng chính trị của mình). Vì thế trong khi Hiến pháp Hoa Kỳ nói rằng tổng thống và phó tổng thống phải được bầu lên riêng biệt nhưng trong thực tế thì cả hai được bầu chung với nhau.
Nếu không có ứng cử viên phó tổng thống nào nhận được đa số phiếu đại cử tri thì Thượng viện Hoa Kỳ sẽ chọn Phó Tổng thống Hoa Kỳ theo như quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ. Theo lý thuyết này thì dẫn đến tình trạng mà trong đó phó tổng thống hiện tại - với vai trò là Chủ tịch Thượng viện Hoa Kỳ - sẽ được quyền bỏ lá phiếu quyết định trong trường hợp cả hai ứng viên đều có cùng số phiếu bầu của Thượng viện. Như vậy phó tổng thống có thể chính mình quyết định bầu cho chính mình hay cho người kế nhiệm mình. Cuộc bầu cử năm 1836 là cuộc bầu cử duy nhất cho đến nay khi mà chức vụ phó tổng thống được Thượng viện Hoa Kỳ quyết định. Trong thời gian tranh cử, người đứng chung liên danh bầu cử với Martin Van Buren là Richard Mentor Johnson bị tố cáo là đã sống chung với một phụ nữ da đen. 23 đại cử tri của tiểu bang Virginia, trước đó tuyên thệ là sẽ bầu cho Van Buren và Johnson, đã từ chối bỏ phiếu cho Johnson (nhưng vẫn bầu cho Van Buren). Kết quả bầu cử được đưa lên Thượng viện Hoa Kỳ và cuối cùng Johnson được bầu với số phiếu 33-17.
=== Giới hạn về nơi cư ngụ ===
Hiến pháp Hoa Kỳ cũng cấm các đại cử tri không cho họ bỏ phiếu cho cả hai ứng viên tổng thống và phó tổng thống từ cùng tiểu bang với mình. Theo lý thuyết, điều này có thể khiến cho một ứng cử viên phó tổng thống mất nhiều phiếu đại cử tri và mất đa số tuyệt đối cần thiết để được bầu cho dù ứng cử viên tổng thống cùng liên danh đã được bầu. Trong tình trạng đó, cuộc bầu cử chọn phó tổng thống phải qua tay của Thượng viện Hoa Kỳ quyết định. Trong thực tế, chuyện này hiếm khi xảy ra vì các đảng chính trị thường tránh đề cử các liên danh gồm hai ứng cử viên đến từ cùng một tiểu bang. Một trường hợp nổi bật như thế là cựu nghị sỉ Dick Cheney của tiểu bang Wyoming đã di chuyển đến Texas để làm viên chức hành chính trưởng cho Công ty Halliburton nhưng sau đó lại tái tuyên bố nơi cư ngụ của mình là ở Wyoming ngay trước khi nhận đề cử của Đảng Cộng hòa ra ứng cử phó tổng thống cùng liên danh với ứng cử viên tổng thống kiêm Thống đốc Texas là George W. Bush.
=== Tiến trình đề cử ===
Các ứng cử viên phó tổng thống của các đảng chính trị quốc gia được chính thức chọn lựa qua các đại hội đề cử của từng đảng, theo sau cuộc chọn lựa các ứng cử viên tổng thống trong đảng. Tiến trình chính thức cũng giống như tiến trình chọn ứng cử viên tổng thống. Trước tiên các đại biểu ghi tên ứng cử viên để đề cử rồi sau đó là một cuộc đầu phiếu để chọn ứng cử viên nào nhận được đa số phiếu sẽ trở thành người được đề cử. Trong thực tế, ứng cử viên tổng thống có ảnh hưởng khá lớn đối với quyết định chọn người làm ứng cử viên phó tổng thống. Trong thế kỷ 20, nó đã trở thành thông lệ khi ứng cử viên tổng thống tự chọn cho mình một người ra ứng cử chung trong liên danh của mình và rồi thì người được chọn sẽ được đại hội đảng chấp thuận và đề cử. Trong những năm vừa qua, vì việc đề cử ứng cử viên tổng thống thường có kết luận trước khi các cuộc bầu cử sơ bộ kết thúc nên việc chọn lựa ứng cử viên phó tổng thống thường được thông báo trước khi có một cuộc đầu phiếu thật sự để chọn lựa ứng cử viên tổng thống, và thậm chí trước khi đại hội đảng bắt đầu. Thường thường, ứng cử viên tổng thống sẽ chọn một ứng cử viên phó tổng thống nào mà sẽ mang đến sự cân bằng về ý tưởng cũng như về mặt địa lý cho liên danh của mình (nếu tổng thống là người miền bắc thì có thể sẽ chọn một ứng cử viên phó từ miền nam) hay lôi cuốn được một nhóm cử tri nào đó. Ứng cử viên phó tổng thống cũng có thể được chọn theo cơ bản khía cạnh mà ứng cử viên tổng thống được xem là yếu kém hoặc theo cơ bản một người nổi tiếng.
Mục đích tối thượng trong việc chọn lựa ứng cử viên phó tổng thống là giúp chớ không phải để gây khó khăn cho cơ hội của đảng để có người của mình được bầu làm tổng thống. Một sự chọn lựa năng động thái hóa có thể gây phản ứng ngược vì quá làm nổi bật ứng cử viên tổng thống. Các thí dụ điển hình là vào năm 1988 khi ứng cử viên tổng thống Michael Dukakis thuộc Đảng Dân chủ chọn Thượng nghị sĩ Lloyd Bentsen từ tiểu bang Texas và vào năm 2008 khi ứng cử viên Đảng Cộng hòa John McCain chọn Thống đốc Alaska Sarah Palin. Trong hai trường hợp khác, việc chọn lựa ứng cử viên phó tổng thống được xem là đã gây bất lợi cho ứng cử viên tổng thống. Năm 1984, Walter Mondale chọn Geraldine Ferraro và cuộc đề cử này trở thành một gánh nặng cho liên danh vì bà luôn bị chất vấn về vấn đề tài chính của chồng bà. Các câu hỏi được nêu ra về vấn đề kinh nghiệm và ý chí của Dan Quayle đã không giúp cuộc vận động tái tranh cử tổng thống năm 1988 của George H.W. Bush, nhưng cuối cùng ông cũng thắng cử.
Ứng cử viên tổng thống đầu tiên chọn phó tổng thống cho mình là Tổng thống Franklin Delano Roosevelt năm 1940. Người không chọn lựa ứng cử viên phó tổng thống cho mình gần nhất tính đến nay và để cho đại hội đảng quyết định thay là đảng viên Dân chủ Adlai Stevenson năm 1956. Đại hội đảng đã chọn Thượng nghị sĩ Estes Kefauver đến từ tiểu bang Tennessee thay gì chọn Thượng nghị sĩ John F. Kennedy (về sau đã trở thành tổng thống) đến từ tiểu bang Massachusetts. Vào lúc đại hội đảng sôi động của Đảng Dân chủ vào năm 1972, ứng cử viên tổng thống George McGovern chọn Thượng nghị sĩ Thomas Eagleton vào liên danh tranh cử của mình nhưng có rất nhiều ứng cử viên khác cũng được đề cử tại đại hội hay nhận được phiếu bầu trong cuộc đầu phiếu. Tuy nhiên, Eagleton nhận được đa số phiếu và được đề cử.
== Vai trò của Phó Tổng thống Hoa Kỳ ==
=== Các bổn phận ===
Hiến pháp Hoa Kỳ giới hạn quyền và vai trò chính thức của Phó Tổng thống trong việc trở thành Tổng thống chỉ khi nào Tổng thống không thể nào phục vụ (vì qua đời, từ chức, hay bị thương tật) và đôi khi giới hạn cả việc thực hiện vai trò làm Chủ tịch Thượng viện. Với vai trò là Chủ tịch Thượng viện Hoa Kỳ, Phó Tổng thống có hai bổn phận chính: bỏ lá phiếu quyết định trong trường hợp cuộc biểu quyết ở Thượng viện gặp bế tắc và làm chủ tọa để chứng thực kết quả chính thức việc đếm phiếu đại cử tri đoàn. Thí dụ, trong nữa năm đầu của năm 2001, số các thượng nghị sĩ bị phân đôi 50-50 giữa hai đảng Dân chủ và Cộng hòa. Lúc đó lá phiếu của Phó Tổng thống Dick Cheney (đảng viên Cộng hòa) có thể cho phe Cộng hòa một đa số phiếu tại Thượng viện Hoa Kỳ. (Xem Quốc hội Hoa Kỳ lần thứ 107.)
Trừ khi trong vai trò phá giải bế tắc biểu quyết, các quy định hay luật lệ hiện tại của Thượng viện Hoa Kỳ không có áp chế bất cứ trách nhiệm lớn nào vào Phó Tổng thống Hoa Kỳ. Quy định XIX, nói về tranh luận, không cho phép Phó Tổng thống Hoa Kỳ tham gia vào tranh luận, và chỉ cho phép các thành viên của Thượng viện Hoa Kỳ (và, khi có thông báo đúng lúc thì các cựu tổng thống cũng được phép) đặc quyền diễn thuyết trước Thượng viện nhưng không cho phép đặc quyền tương tự cho Phó Tổng thống đương nhiệm. Thế cho nên Tuần báo Time có viết trong nhiệm kỳ gây tranh cãi của Phó Tổng thống Charles G. Dawes như sau "cứ mỗi lần trong bốn năm, Phó Tổng thống có thể diễn thuyết một ít và rồi ông ta xong chuyện. Trong khoảng thời gian bốn năm, ông ta lúc đó phải ngồi trên cái ghế buồn tẻ, tham dự các buổi diễn thuyết chán ngắt hay ngược lại thì ung dung hoặc hài hước."
Các vai trò và phận sự không chính thức của Phó Tổng thống Hoa Kỳ còn tùy thuộc vào mối quan hệ đặc biệt giữa Tổng thống và Phó Tổng thống nhưng thường thì bao gồm thảo kế hoạch và phát ngôn về chính sách của chính phủ như là cố vấn của Tổng thống, như là Chủ tịch Ban điều hành cơ quan NASA, như một thành viên trong ban giám đốc Viện Smithsonian, và như biểu tượng của sự ủng hộ và mối quan tâm của người Mỹ. Tầm ảnh hưởng của Phó Tổng thống Hoa Kỳ trong vai trò này tùy thuộc hoàn toàn vào các đặc điểm của chính phủ đặc biệt nào đó. Dick Cheney, chẳng hạn, được nhiều người cho rằng là một trong các người thân cận nhất của Tổng thống George W. Bush. Al Gore là một cố vấn quan trọng của Tổng thống Bill Clinton trên các vấn đề chính sách đối ngoại và chính sách về môi trường. Thường thường, các phó tổng thống sẽ kiên quyết giữ lập trường về các vấn đề để cầm chắc sự ủng hộ của đảng mình trong lúc chuyển hướng sự chỉ trích từ đảng phái xa khỏi tổng thống. Dưới hệ thống chính trị của Hoa Kỳ, Tổng thống Hoa Kỳ vừa là nguyên thủ quốc gia (head of state) vừa là người đứng đầu chính phủ (head of government), và các nhiệm vụ nghi lễ thường thấy của các nguyên thủ quốc gia trên thế giới thường được giao phó cho Phó Tổng thống Hoa Kỳ. Phó Tổng thống có thể tiếp đón các nguyên thủ quốc gia khác hay tham dự các quốc tang tại các nước vào lúc mà chính phủ muốn chứng tỏ sự ủng hộ và mối quan tâm nhưng không thể đưa Tổng thống Hoa Kỳ đến dự. Không phải tất cả các phó tổng thống đều cảm thấy vui lòng với công việc của họ. John Nance Garner, phục vụ trong vai trò Phó Tổng thống từ năm 1933 đến 1941 dưới thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt, có nói rằng Phó Tổng thống không "đáng một bình nước tiểu nóng," mặc dù các thông tín viên được người ta cho rằng đã sửa đổi từ "nước tiểu" thành "nước bọt" để in ra báo.
Trong những năm vừa qua, Phó Tổng thống thường được sử dụng để tranh chức tổng thống. Trong số 13 lần bầu cử tổng thống từ năm 1956 đến năm 2004 có chín lần tổng thống đương nhiệm ra tranh cử trong khi có đến bốn lần khác (1960, 1968, 1988, 2000) là do các phó tổng thống đương nhiệm ra tranh cử. Các cựu phó tổng thống cũng ra tranh cử, vào năm 1984 (Walter Mondale), và vào năm 1968 (Richard Nixon tranh cử giành chức tổng thống với Phó Tổng thống Hubert Humphrey). Cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên không có tổng thống đương nhiệm cũng không phó tổng thống đương nhiệm ra tranh cử trong một liên danh đảng chính trị lớn kể từ năm 1952 xảy ra vào năm 2008 khi Tổng thống George W. Bush đã phục vụ hết hai nhiệm kỳ và Phó Tổng thống Cheney chọn không ra tranh cử.
Từ năm 1974, dinh cư chính thức của Phó Tổng thống và gia đình là Number One Observatory Circle, nằm trên phầnh đất của Đài quan sát Hải quân Hoa Kỳ ở Washington, D.C.
Phù hiệu phục vụ của Phó Tổng thống là một phù hiệu quân sự của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Phù hiệu này thường được trao tặng cho các thành viên trong Quân đội Hoa Kỳ, các nhân sự của quân đoàn hiện dịch thuộc Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia (National Oceanic and Atmospheric Administration) và các nhân sự của quân đoàn hiện dịch thuộc Dịch vụ Y tế Công cộng Hoa Kỳ là những người phục vụ có đồng phục toàn thời gian trong vai trò trợ lý cho Phó Tổng thống Hoa Kỳ.
=== Vai trò là Chủ tịch Thượng viện Hoa Kỳ ===
Với tư cách là Chủ tịch Thượng viện (Điều khoản I, Phần 3, Đoạn 4), Phó Tổng thống trông coi các vấn đề liên quan đến tiến trình và có thể bỏ phiếu của mình khi cần thiết để phá vở sự bế tắc trong các cuộc biểu quyết không phân thắng bại. Có một sự thỏa hiệp mạnh mẽ trong Thượng viện Hoa Kỳ là rằng Phó Tổng thống Hoa Kỳ không nên sử dụng chức vụ của mình trong vai trò Chủ tịch Thượng viện để gây ảnh hưởng đến việc thông qua các luật lệ hay hành động theo kiểu đảng phái, trừ trong trường hợp có sự ngang bằng số phiếu biểu quyết tại Thượng viện. Với tư cách Chủ tịch Thượng viện, John Adams đã bỏ lá phiếu của mình 29 lần để phá vở sự bế tắc ngang phiếu. Đây là một kỷ lục mà chưa có người kế nhiệm nào phá vở trừ John C. Calhoun. Lá phiếu của ông bảo vệ quyền lực độc nhất của tổng thống về quyền truất phế những viên chức được bổ nhiệm, gây ảnh hưởng đến việc chọn lựa vị trí cho thủ đô quốc gia, và ngăn ngừa chiến tranh với Vương quốc Anh. Trong ít nhất một dịp, ông thuyết phục được các thượng nghị sĩ bỏ phiếu chống các dự luật mà ông chống đối và thường xuyên diễn thuyết trước Thượng viện về các vấn đề chính sách cũng như tiến trình. Quan điểm và vai trò tích cực của Adams tại Thượng viện đã khiến cho ông trở thành mục tiêu tự nhiên cho những người chỉ trích chính phủ của Tổng thống George Washington.
Trong thời hiện đại, Phó Tổng thống hiếm khi chủ tọa các vấn đề hàng ngày tại Thượng viện; để thay thế, Thượng viện chọn ra Chủ tịch Thượng viện tạm quyền (President pro tempore) để chủ tọa mỗi khi Phó Tổng thống vắng mặt; Thượng viện thường hay chọn thượng nghị sĩ thâm niên nhất thuộc đảng đa số.
Khi Tổng thống bị luận tội, Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ chủ tọa Thượng viện trong suốt thời gian luận tội. Ngược lại, Phó Tổng thống với tư cách Chủ tịch Thượng viện hay Chủ tịch Thượng viện tạm quyền làm chủ tọa. Cách thức như vậy có thể được dùng trong việc luận tội Phó Tổng thống mặc dù các ý kiến pháp lý cho rằng luật pháp không cho phép một người vừa là thẩm phán trong một vụ xét xử lại vừa là bị cáo. Nếu Phó Tổng thống không chủ tọa một cuộc luận tội thì trách nhiệm đó sẽ được Chủ tịch Thượng viện tạm quyền đảm trách.
Chủ tịch Thượng viện cũng chủ tọa việc đếm và tuyên bố số phiếu đại cử tri đoàn. Tiến trình này xảy ra dưới sự hiện diện của cả hai viện lập pháp vào ngày 6 tháng 1 năm sau một cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Theo trách nhiệm này, chỉ có bốn Phó Tổng thống đã có thể thông báo chính việc đắc cử tổng thống của mình: John Adams, Thomas Jefferson, Martin Van Buren, và George H. W. Bush. Vào đầu năm 1961, Phó Tổng thống đương nhiệm Richard Nixon chủ tọa tiến trình này nhưng chỉ để chính thức thông báo về sự đắc cử tổng thống của đối thủ của mình là John F. Kennedy. Sau này vào năm 2001, Al Gore thông báo sự đắc cử tổng thống của đối thủ của mình là George W. Bush.
Phó Tổng thống John C. Calhoun trở thành Phó Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên từ chức. Trước đó ông đã bị Tổng thống Andrew Jackson bỏ ra ngoài liên danh tranh cử để chọn Martin Van Buren.
== Sự phát triển của chức vị Phó Tổng thống ==
Phần lớn sự tồn tại của chức vị Phó Tổng thống được người ta nhận thức không hơn vị trí một cái bóng. John Adams, Phó Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên, diễn tả nó như "chức vị vô nghĩa nhất mà sáng kiến của con người đã tạo ra được hay óc tưởng tượng của con người nhận thức được". Thomas R. Marshall, Phó Tổng thống Hoa Kỳ thứ 28 than thở rằng: "Xưa kia có hai anh em. Một chạy xa ra biển; còn người kia được bầu làm Phó Tổng thống Hoa Kỳ. Và rồi người ta không còn nghe thấy gì về hai anh em này nữa." Khi Đảng Whig tìm một ứng cử viên Phó Tổng thống cho liên danh của Zachary Taylor, họ tìm đến Daniel Webster thì ông nói về chuyện này như sau: "Tôi không đề nghị được chôn cho đến khi tôi thật sự chết và nằm trong quan tài." Đây là lần thứ hai Webster từ chối ra ứng cử vào chức vụ phó tổng thống; lần đầu tiên là lúc William Henry Harrison mời ông cùng ra tranh cử. Mỉa mai thay, cả hai vị Tổng thống Hoa Kỳ mời Webster ra làm ứng viên phó tổng thống đều chết khi đang tại chức, điều đó có nghĩa là Webster có thể đã trở thành Tổng thống Hoa Kỳ nếu ông chấp thuận hai lần đó. Nhưng vì Tổng thống hiếm khi chết lúc tại chức nên bậc thang đá tự nhiên để đi lên chức vị Tổng thống Hoa Kỳ được xem là chức vị Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ.
Đã từ lâu trước đây, Phó Tổng thống được giao rất ít trách nhiệm. Sau khi John Adams dự một cuộc họp nội các của Tổng thống vào năm 1791 thì không có một Phó Tổng thống nào làm như vậy cho đến khi Thomas Marshall tạm thay quyền Tổng thống Woodrow Wilson trong khi ông đến châu Âu vào năm 1918 và năm 1919. Người kế nhiệm Marshall là Calvin Coolidge được Tổng thống Warren G. Harding mời dự các phiên họp. Vị Phó Tổng thống kế tiếp là Charles G. Dawes đã không tìm cách dự các cuộc họp nội các dưới thời Tổng thống Coolidge và tuyên bố rằng "tiền lệ có lẽ chứng minh nó gây tai hại cho quốc gia." Phó Tổng thống Charles Curtis cũng bị Tổng thống Herbert Hoover ngăn cản không cho dự.
Garret Hobart, Phó Tổng thống đầu tiên dưới thời Tổng thống William McKinley, là một trong số rất hiếm Phó Tổng thống vào thời đó đóng một vai trò quan trọng trong bộ máy chính phủ. Là một cố vấn và thân cận của Tổng thống, Hobart được người ta gọi là Phụ tá Tổng thống.
Năm 1933, Franklin D. Roosevelt nâng vị thế chức vị phó tổng thống bằng cách phục hồi việc mời Phó Tổng thống đến dự các buổi họp nội các và từ đó các Tổng thống Hoa Kỳ đều vẫn giữ nguyên tắc này cho đến ngày nay. Phó Tổng thống đầu tiên của Roosevelt là John Nance Garner ly khai với ông vào đầu nhiệm kỳ hai về vấn đế thêm số thẩm phán tại Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ và trở thành kẻ thù chính trị hàng đầu chống Roosevelt. Người kế nhiệm Garner là Henry Wallace được giao nhiều trách nhiệm lớn trong suốt chiến tranh nhưng ông càng ngày càng thiên tả hơn Đảng Dân chủ và chính phủ của Roosevelt và vì vậy ông bị thu hồi quyền lực thật sự. Roosevelt không cho vị Phó Tổng thống cuối cùng của ông là Harry Truman biết gì về tất cả các vấn đề thời chiến và hậu chiến, thí dụ như Dự án Manhattan chế tạo bom nguyên tử, khiến cho Truman nhận xét một cách khó chịu rằng công việc của Phó Tổng thống là "đi dự tiệc cưới và đám tang". Sau khi Roosevelt qua đời và Truman chấp chánh chức tổng thống, nhu cầu giữ cho Phó Tổng thống biết tình hình về các vấn đề có liên quan đến an ninh quốc gia trở nên rõ ràng vì thế Quốc hội Hoa Kỳ biến Phó Tổng thống Hoa Kỳ thành một trong bốn thành viên theo luật định của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 1949.
Richard Nixon tái tạo mới chức vị Phó Tổng thống. Ông đã gây sự chú ý của giới truyền thông và Đảng Cộng hòa khi Tổng thống Dwight Eisenhower ra lệnh cho ông chủ tọa các cuộc họp nội các khi Eisenhower vắng mặt. Nixon cũng là Phó Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tiếp quản tạm thời ngành hành pháp sau khi Eisenhower bị lên cơn đau tim vào ngày 24 tháng 9 năm 1955, chứng đau ruột vào tháng 6 năm 1956, và một cơn tai biến mạch máu não vào tháng 11 năm 1957. Tổng thống Jimmy Carter là vị tổng thống đầu tiên chính thức giao cho Phó Tổng thống của mình là Walter Mondale một văn phòng nằm trong cánh tây Tòa Bạch Ốc.
== Kế vị và Tu chính án 25 Hiến pháp Hoa Kỳ ==
Hiến pháp Hoa Kỳ có nói rằng nếu tổng thống mất hoặc bị thương tật trong lúc tại chức thì "quyền lực và nhiệm vụ" của chức vị này phải được chuyển sang Phó Tổng thống. Lúc ban đầu, người ta không rõ là liệu Phó Tổng thống có thật sự trở thành tổng thống mới hay không hay chỉ là quyền tổng thống. Việc này đã được thử nghiệm vào năm 1841 khi Tổng thống William Henry Harrison qua đời. Phó Tổng thống của Harrison là John Tyler khẳng định rằng ông đã kế vị chức vụ tổng thống này hoàn toàn gồm cả quyền lực và chức vị, và ông ta không chịu thừa nhận các văn kiện gọi ông là "quyền tổng thống". Mặc dù có một số người lên tiếng phản đối mạnh mẽ nhưng Tyler vẫn tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 10. Lời tuyên bố của Tyler không bị đối đầu về mặt pháp lý, và vì vậy tiền lệ cho việc kế vị đầy đủ được thiết lập. Tiền lệ này sau đó được xác định rõ ràng qua Đoạn 1 của Tu chính án Hiến pháp 25 được thông qua năm 1967.
Tu chính án Hiến pháp 25 cũng đưa ra một số điều khoản về kế nhiệm trong trường hợp Phó Tổng thống qua đời khi đang tại chức, từ chức hay kế nhiệm chức tổng thống. Hiến pháp Hoa Kỳ gốc không có điều khoản nào nói đến việc kế vị chức Phó Tổng thống, vì vậy chức Phó Tổng thống sẽ bị bỏ trống cho đến khi bắt đầu nhiệm kỳ mới của tổng thống và phó tổng thống. Vấn đề này đã xảy ra gần đây nhất là khi Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát ngày 22 tháng 11 năm 1963, và đã được sửa sai bằng Tu chính án Hiến pháp 25.
Đoạn 2 Tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ số 25 nói rằng:
Bất cứ khi nào chức vị Phó Tổng thống bị để trống thì Tổng thống sẽ phải đề cử một Phó Tổng thống và người này sẽ nhận chức sau khi được đa số phiếu của cả hai viện Quốc hội chấp thuận.
Gerald Ford là Phó Tổng thống đầu tiên được chọn theo phương cách này sau khi Phó Tổng thống Spiro Agnew từ chức vào năm 1973; sau khi kế nhiệm chức Tổng thống, Ford đề cử Nelson Rockefeller làm Phó Tổng thống.
Vấn đề khác là ai có quyền lực để tuyên bố rằng một vị tổng thống bệnh tật không thể thực hiện được các nhiệm vụ của mình. Câu hỏi này phát sinh gần đây nhất là sự kiện Tổng thống Dwight D. Eisenhower bị bệnh. Đoạn 3 và Đoạn 4, Tu chính án Hiến pháp 25 có nói đến các phương thức để Phó Tổng thống trở thành quyền tổng thống khi tổng thống bị thương tật ngắn hạn. Đoạn 3 nó về việc Tổng thống tự tuyên bố không thể thực hiện nhiệm vụ của mình. Đoạn 4 nói về việc cả Phó Tổng thống và đa số trong Nội các cùng tuyên bố.
Trong khi Đoạn 4 chưa từng được dùng đến, Đoạn 3 đã được dùng đến ba lần: ngày 13 tháng 7 khi Ronald Reagan nằm viện để được lấy tế bào ung thư ruột, và hai lần nữa là vào ngày 29 tháng 6 năm 2002 và 21 tháng 7 năm 2007 khi George W. Bush đi kiểm tra ruột mà việc thực hiện phải cần dùng cách thức gây mê. Trước khi có tu chính án này, Phó Tổng thống Richard Nixon đã từng không chính thức thay thế Tổng thống Dwight Eisenhower trong vài tuần lễ mỗi khi Eisenhower bị bệnh.
== Lương bổng ==
Lương của Phó Tổng thống Hoa Kỳ bằng lương của Chánh án Hoa Kỳ và Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ, năm 2009 là 227.300 đô la. Mức lương này được ấn định bởi Đạo luật Cải cách Lương bổng Chính phủ năm 1989. Đạo luật này cũng tính đến sự điều chỉnh giá sinh hoạt tự động cho tất cả các viên chức liên bang.
Phó Tổng thống không tự động nhận được tiền hồi hưu dựa vào chức vị này mà thay vào đó nhận tiền hồi hưu như các thành viên khác của Quốc hội theo chức vị Chủ tịch Thượng viện. Phó Tổng thống phải phục vụ ít nhất 5 năm để hội đủ điều kiện để lãnh tiền hồi hưu.
== Các cựu Phó tổng thống hiện còn sống ==
Tính đến 1 tháng 5 năm 2017 có sáu cựu Phó tổng thống còn sống. Cựu Phó tổng thống còn sống già nhất là George H. W. Bush và trẻ nhất là Al Gore và cựu phó tổng thống qua đời gần đây nhất là Gerald Ford vào ngày 26 tháng 12 năm 2006, ở tuổi 93, được xếp theo thứ tự nhiệm kỳ:
Bush đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ trong khi Mondale và Gore là ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ nhưng không đắc cử tổng thống. Quayle tìm sự đề cử làm ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa trong thời gian ngắn ngủi. Cheney chưa từng ra tranh cử tổng thống.
Trong khi các cựu Phó Tổng thống đều đủ điều kiện để lãnh tiền hưu bổng nhưng họ không được hưởng quyền lợi được bảo vệ cá nhân từ Sở Mật vụ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các cựu phó tổng thống nhân được sự bảo vệ không chính thức từ Sở Mật vụ Hoa Kỳ lên đến sáu tháng từ khi rời nhiệm sở.
Cho đến tháng 6 năm 2008, một đạo luật có tên "Đạo luật Bảo vệ Cựu Phó Tổng thống 2008" đã được thông qua tại Hạ viện Hoa Kỳ. Đang cần Thượng viện Hoa Kỳ cứu xét, đạo luật sẽ cung ứng sáu tháng bảo vệ chính thức từ Sở Mật vụ Hoa Kỳ cho cựu Phó Tổng thống và gia đình.
Các cựu Phó Tổng thống thuộc Đảng Dân chủ là siêu đại biểu tại Đại hội Đảng Dân chủ.
== Các kỷ lục ==
Sống lâu nhất
John Nance Garner chết trước sinh nhật lần thứ 99 của ông chỉ 15 ngày.
Levi P. Morton chết vào sinh nhật lần thứ 96.
Gerald Ford chết ở tuổi 93.
John Adams chết ở tuổi 90.
Tuổi khi nhậm chức
John C. Breckinridge là người trẻ nhất nhậm chức khi mới 36 vào năm 1857.
Alben W. Barkley là người già nhất phục vụ, ông 75 tuổi khi rời chức Phó Tổng thống vào năm 1953.
Hai người phục vụ 2 vị Tổng thống khác nhau
George Clinton phục vụ dưới thời hai tổng thống Thomas Jefferson và James Madison
John C. Calhoun phục vụ dưới thời hai tổng thống John Quincy Adams và Andrew Jackson
Bảy người chết khi đang tại chức
George Clinton vào năm 1812
Elbridge Gerry năm 1814
William R. King năm 1853
Henry Wilson năm 1875
Thomas Hendricks năm 1885
Garret Hobart năm 1899
James Sherman năm 1912
Hai người từ chức
John C. Calhoun từ chức ngày 28 tháng 12 năm 1832 để ứng cử vào Thượng viện Hoa Kỳ.
Spiro Agnew từ chức ngày 10 tháng 10 năm 1973 sau khi tuyên bố tại tòa không chống lại việc bị truy tố tội trốn thuế vì đã không đóng thuế trên số tiền hối lộ trong khi làm Thống đốc Maryland
Hai người là mục tiêu xác định của cuộc mưu sát bất thành
Andrew Johnson là một mục tiêu trong cùng một âm mưu ám sát Tổng thống Abraham Lincoln và mưu toan ám sát Ngoại trưởng William H. Seward
Thomas R. Marshall là mục tiêu trong một vụ bom thư năm 1915
Một người có thể là mục tiêu của một vụ âm mưu ám sát
Dick Cheney ở trong khu vực của một quả bom mà người ta cho rằng có lẽ ông là mục tiêu. (Xem vụ đánh bom Căn cứ Không quân Bagram năm 2007.)
Hai người bắn người trong thời gian tại chức
Aaron Burr đã đấu súng với Alexander Hamilton vào ngày 11 tháng 7 năm 1804. Hamilton đã chết vào ngày hôm sau.
Dick Cheney bắn nhầm Harry Whittington trong chuyến đi săn ngày 11 tháng 2 năm 2006.
Hai người chưa từng được bầu
Gerald Ford được đề cử vào chức vụ này sau khi Spiro Agnew từ chức vào năm 1973. Sau khi Richard Nixon từ chức tổng thống, Ford trở thành người đầu tiên và cho đến bây giờ người duy nhất trở thành Tổng thống Hoa Kỳ mà chưa từng được bầu vào một chức vụ hành chính quốc gia nào (vì Ford được đề cử làm Phó Tổng thống nên chưa từng được toàn quốc bầu)
Nelson Rockefeller được đề cử sau khi Gerald Ford lên làm Tổng thống vào năm 1974.
Chín người kế nhiệm Tổng thống
John Tyler trở thành Tổng thống khi William Henry Harrison mất.
Millard Fillmore trở thành Tổng thống khi Zachary Taylor mất.
Andrew Johnson trở thành Tổng thống khi Abraham Lincoln bị ám sát.
Chester A. Arthur trở thành Tổng thống khi James Garfield bị ám sát.
Theodore Roosevelt trở thành Tổng thống khi William McKinley bị ám sát
Calvin Coolidge trở thành Tổng thống khi Warren Harding mất
Harry S. Truman trở thành Tổng thống khi Franklin D. Roosevelt mất
Lyndon B. Johnson trở thành Tổng thống khi John F. Kennedy bị ám sát.
Gerald Ford trở thành Tổng thống khi Richard Nixon từ chức.
4 Phó Tổng thống đương nhiệm được bầu làm Tổng thống
John Adams (1789–1797) được bầu làm Tổng thống năm 1796.
Thomas Jefferson (1797–1801) được bầu làm Tổng thống năm 1800.
Martin Van Buren (1833–1837) được bầu làm Tổng thống năm 1836.
George H. W. Bush (1981–1989) được bầu làm Tổng thống năm 1988.
4 Phó Tổng thống đương nhiệm giành được đề cử từ đảng của mình để tranh cử Tổng thống nhưng thất cử.
John C. Breckinridge tranh cử năm 1860 nhưng thua cho Abraham Lincoln.
Richard Nixon tranh cử năm 1960 nhưng thua cho John F Kennedy.
Hubert Humphrey tranh cử năm 1968 nhưng thua cho Richard Nixon.
Al Gore tranh cử năm 2000 nhưng thua cho George W. Bush.
Mười lăm Phó Tổng thống chưa từng tranh cử Tổng thống.
Elbridge Gerry
Daniel D. Tompkins
Richard Mentor Johnson
George M. Dallas
William R. King
Hannibal Hamlin
Schuyler Colfax
Henry Wilson
William A. Wheeler
Garret Hobart
James S. Sherman
Charles G. Dawes
Spiro Agnew
Dick Cheney
Joe Biden
1 cựu Phó Tổng thống đắc cử Tổng thống
Richard Nixon từng là Phó Tổng thống 2 nhiệm kỳ thời Dwight D. Eisenhower (1953-1961). Ông trúng cử Tổng thống 2 lần vào năm 1968 và 1972. Ông cũng là người duy nhất trúng cử 2 nhiệm kỳ ở cả chức vụ Tổng thống và Phó tổng thống. Ngoại trừ Franklin D. Roosevelt chết khi mới vào nhiệm kỳ thứ 4 một thời gian, thì Nixon là viên chức được bầu cử toàn quốc có tổng thời gian tại vị thời gian lâu nhất, hơn cả thời gian phục vụ của Franklin Roosevelt 1 năm 5 tháng, dù không liên tục.
Nixon là người duy nhất được bầu làm Phó Tổng thống hai nhiệm kỳ và Tổng thống hai nhiệm kỳ. Vì Franklin D. Roosevelt chết chẳng bao lâu khi ông nhận nhiệm kỳ thứ tư cho nên Nixon là người giữ chức dân cử toàn quốc dài nhất, hơn cả Roosevelt một năm và năm tháng mặc dù không liên tục.
2 cựu Phó tổng thống được đảng của mình đề cử tranh chức Tổng thống nhưng thất cử.
Henry Wallace được Đảng Cấp tiến Hoa Kỳ đề cử năm 1948. Ông từng là Phó Tổng thống của Franklin Roosevelt từ năm 1941 đến 1945.
Walter Mondale được Đảng Dân chủ đề cử năm 1984. Ông từng là Phó tổng thống của Jimmy Carter từ 1977 đến 1981.
Chỉ duy nhất Franklin D. Roosevelt có hơn 2 vị Phó tổng thống khác nhau
John Nance Garner
Henry A. Wallace
Harry S. Truman
Hai từng đảm nhiệm quyền Tổng thống
George H. W. Bush đảm nhận quyền Tổng thống cho Ronald Reagan vào ngày 13 tháng 7 năm 1985.
Dick Cheney làm quyền Tổng thống cho George W. Bush vào ngày 29 tháng 6 năm 2002 và 21 tháng 7 năm 2007.
Họ chính thức hành động trong vai trò của Tổng thống vì tổng thống không thể thực hiện nhiệm vụ của mình theo Tu chính án Hiến pháp 25.
Hai bị kết tội phản quốc sau khi mãn nhiệm
Aaron Burr được tha bổng
John C. Breckinridge, một tướng lãnh của Liên minh miền Nam lưu vong, thật sự chưa bao giờ bị xét xử
Ba phó tổng thống trở thành người thắng Giải Nobel Hòa bình
Theodore Roosevelt 1906 (khi làm tổng thống)
Charles Gates Dawes 1925
Al Gore 2007 (sau khi rời nhiệm sở)
Chín phó tổng thống phục vụ hai nhiệm kỳ
John Adams
Daniel Tompkins
Thomas R. Marshall
John Garner
Richard Nixon
George H. W. Bush
Al Gore
Dick Cheney
Joe Biden
Giữ các chức vụ trước
Tính đến năm 2009, tất cả các phó tổng thống trừ Chester A. Arthur, Henry A. Wallace, Charles Dawes và Garret Hobart đã từng phục vụ với vai trò một dân biểu, thượng nghị sĩ hay thống đốc.
Một phó tổng thống sáng tác một bài hát đứng hạng số #1
Charles Dawes đồng sáng tác bài "It's All in the Game" với Tommy Edwards năm 1957.
Hành khúc chính thức
Hail Columbia là bài hát chính thức của Phó Tổng thống Hoa Kỳ tương tự như "Hail to the Chief" là bài hát chính thức cho Tổng thống Hoa Kỳ.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Tally, Steve (1992). Bland Ambition: From Adams to Quayle—The Cranks, Criminals, Tax Cheats, and Golfers Who Made It to Vice President. Harcourt. ISBN 0-15-613140-4.
== Liên kết ngoài ==
White House website for the Vice President
Vice Presidents.com
A New Nation Votes: American Election Returns 1787-1825
Amendment25.com
AboutGovernmentStates.com
Phó tổng thống có vai trò như thế nào tại Mỹ |
máy in.txt | Máy in là một thiết bị dùng để thể hiện ra các chất liệu khác nhau các nội dung được soạn thảo hoặc thiết kế sẵn.
== Máy in văn phòng ==
Máy in dùng trong văn phòng bao gồm nhiều thể loại và công nghệ khác nhau. Thông dụng nhất và chiếm phần nhiều nhất hiện nay trên thế giới là máy in ra giấy và sử dụng công nghệ lade.
Đa phần các máy in được sử dụng cho văn phòng, chúng được nối với một máy tính hoặc một máy chủ dùng in chung. Một phần khác máy in được nối với các thiết bị công nghiệp dùng để trang trí hoa văn sản phẩm, in nhãn mác trên các chất liệu riêng.
=== Máy in laser ===
Máy in sử dụng công nghệ la de (Tiếng Anh: laser) là các máy in dùng in ra giấy, hoạt động dựa trên nguyên tắc dùng tia la de để chiếu lên một trống từ, trống từ quay qua ống mực (có tính chất từ) để mực hút vào trống, giấy chuyển động qua trống và mực được bám vào giấy, công đoạn cuối cùng là sấy khô mực để mực bám chặt vào giấy trước khi ra ngoài.
Máy in lade có tốc độ in thường cao hơn các loại máy in khác, chi phí cho mỗi bản in thường tương đối thấp.
Máy in lade có thể in đơn sắc (đen trắng) hoặc có màu sắc.
=== Máy in kim ===
Máy in kim sử dụng các kim để chấm qua một băng mực làm hiện mực lên trang giấy cần in.
Máy in kim đã trở thành lạc hậu do các nhược điểm: In rất chậm, độ phân giải của bản in rất thấp (chỉ in được thể loại chữ, không thể in được tranh ảnh) và khi làm việc chúng rất ồn.
Ngày nay máy in kim chỉ còn xuất hiện tại các cửa hàng, siêu thị để in các hoá đơn như một thiết bị nhỏ gọn cho các bản in chi phí thấp.
=== Máy in phun ===
Máy in phun hoạt động theo theo nguyên lý phun mực vào giấy in (theo đúng tên gọi của nó). Mực in được phun qua một lỗ nhỏ theo từng giọt với một tốc độ lớn (khoảng 5000 lần/giây) tạo ra các điểm mực đủ nhỏ để thể hiện bản in sắc nét.
Đa số các máy in phun thường là các máy in màu (có kết hợp in được các bản đen trắng). Để in ra màu sắc cần tối thiểu 3 loại mực. Các màu sắc được thể hiện bằng cách pha trộn ba màu cơ bản với nhau.
Trước đây các hộp mực màu của máy in phun thường được thiết kế cùng khối, tuy nhiên nếu in nhiều bản in thiên về một màu nào đó sẽ dẫn đến hiện tượng có một màu hết trước, để tiếp tục in cần thay hộp mực mới nên gây lãng phí đối với các màu còn lại chưa hết. Ngày nay các hộp màu được tách riêng biệt và tăng số lượng các loại màu để phối trộn (nhiều hơn 3 màu - không kể đến hộp màu đen) sẽ cho bản in đẹp hơn, giảm chi phí hơn trước.
So sánh trong các thể loại máy in thì máy in phun thường có chi phí trên mỗi bản in lớn nhất. Các máy in phun thường có giá thành thấp (hơn máy in la de) nhưng các hộp mực cho máy in phun lại có giá cao, số lượng bản in trên bộ hộp mực thấp.
=== Máy in hóa đơn ===
Máy in hoá đơn được chế tạo nhằm mục đích in hoá đơn bằng giấy cuộn in hóa đơn, có khổ nhỏ cỡ khoảng từ 76mm – 80mm vừa đủ để in ra danh sách các món hàng và giá cả. Có thể in được nhiều Ply và cắt giấy tự động sau khi in để giao cho khách hàng một cách mau lẹ.
== Kết nối với thiết bị khác ==
Để thực hiện việc in ra các chế bản, máy in cần được kết nối với máy tính hoặc qua mạng máy tính hoặc thông qua các kiểu truyền dữ liệu khác.
Kết nối với máy tính
Máy in có thể kết nối với máy tính qua cổng LPT truyền thống hoặc các cổng USB (đa số các máy in hiện nay đều có khả năng kết nối với cổng USB của máy tính).
Kết nối với mạng máy tính
Máy in có thể được kết nối với mạng máy tính thông qua cổng RJ45 để chia sẻ in chung trong một mạng LAN (hoặc có thể là mạng WAN rộng lớn hơn).
Các kiểu kết nối khác
Một số máy in hiện nay đã hỗ trợ truyền dữ liệu thông qua bluetooth hoặc Wi-fi, điều này tạo thuận lợi cho việc in ấn từ các thiết bị di động, máy ảnnh số vốn rất phổ biến hiện nay.
== Thiết bị đa năng ==
Ngày nay với xu hướng tích hợp nhiều công nghệ trong một (All-in-one) chức năng in ấn cùng các tính năng khác có thể tích hợp thành một thiết bị văn phòng hoàn chỉnh. Ví dụ kết hợp chức năng in ấn, chức năng photocopy, chức năng scan, chức năng gửi và nhận fax, điện thoại... Có thể cùng có mặt trên một thiết bị mà người ta khó có thể đặt tên chính cho nó hoàn toàn theo một chức năng nào.
== Máy in công nghiệp ==
Khác với các máy in văn phòng phục vụ cho nhu cầu in số lượng ít nên có chi phí đầu tư thấp, giá thành sản phẩm in cao, các máy in công nghiệp được chế tạo ra cho mục đích in phổ cập với số lượng lớn, giá thành sản phẩm in thấp nhưng đòi hỏi chi phí đầu tư cao hơn.
=== Máy in lụa ===
In lụa hay in lưới dựa trên nguyên lý chỉ một phần mực in được thấm qua lưới in, in lên vật liệu in bởi trước đó, một số mắt lưới khác đã được bịt kín bởi hóa chất chuyên dùng.
=== Máy in typo ===
Máy in typo sử dụng công nghệ in cao, trong đó các phần tử in nằm cao hơn các phần không in trên khuôn in typo sẽ nhận mực khi ta chà xát mực và được truyền lên vật liệu in (giấy) khi in.
Trong các máy in typo thế kỷ 20, phần tử in này thường được sử dụng bằng các khuôn chữ chì.
==== Máy in flexo ====
In flexo (bắt nguồn từ chữ flexible-mềm dẻo) là in typo sử dụng khuôn in là các chất dẻo tạo thành từ quá trình phơi quang hóa. In flexo thường được sử dụng để in nhãn mác đề can, thùng các tông.
Mực in được cấp cho khuôn in nhờ trục anilox, là một trục kim loại, bề mặt được khắc lõm nhiều ô nhỏ. Trục anilox được nhúng một phần trong máng mực, mực sẽ lọt vào các ô trên bề mặt trục, phần mực nằm trên bề mặt sẽ được dao gạt mực gạt đi. Khuôn in (thường làm bằng nhựa photopolymer, bản in được chế tạo bằng quang hóa, CTP-trực tiếp từ máy tính hoặc khắc laser) sẽ tiếp xúc với trục và nhận mực từ trong các ô trên bề mặt trục in. Hình ảnh trên khuôn in là ngược chiều.
=== Máy in offset ===
Máy in offset sử dụng kỹ thuật in ấn trong đó, các hình ảnh có dính mực in được ép lên các tấm cao su rồi sau đó mới ép từ miếng cao su này lên giấy.
=== Máy in ống đồng ===
Máy in ống đồng sử dụng kỹ thuật in lõm: các phần tử in được khắc lõm vào bề mặt kim loại. Mực được cấp lên bề mặt khuôn in tràn vào các chỗ lõm của phần tử in, dao gạt gạt mực thừa ra khỏi bề mặt khuôn in. Khi ép in, mực trong các chỗ lõm dưới áp lực in sẽ truyền sang bề mặt vật liệu in.
Khuôn in ống đồng là một trục kim loại bằng thép, bề mặt được mạ một lớp đồng mỏng. Phần tử in được khắc lên bề mặt lớp đồng này nhờ axít hoặc dùng máy khắc trục. Sau đó bề mặt lớp đồng được mạ một lớp crôm mỏng để bảo vệ.
== Xem thêm ==
Phối màu phát xạ
In offset
Máy in thẻ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
thái bình la mã.txt | Thái bình La Mã, còn gọi là Hòa bình La Mã (tiếng Latinh: Pax Romana) là một thời kỳ lâu dài khi Đế quốc La Mã tương đối hòa bình và quân đội ít bành trướng trong các thế kỷ 1 và 2. Do Hoàng đế Augustus đã mở nền thái bình, đôi khi đây được gọi là Thái bình Augustus (Pax Augusta). Nền thái bình kéo dài khoảng 207 năm (từ năm 27 trước Công nguyên cho đến năm 180). Dù Augustus là người mở nền thái bình, Quân đội La Mã liên tiếp phải chinh chiến với các bộ tộc ở biên cương dưới thời ông. Nhiều sử gia coi nền thái bình ấy và sự thịnh vượng mà nó đem lại là những lợi ích chủ yếu của chính quyền La Mã buổi ấy. Những lợi ích này đặc biệt đáng kể trong giai đoạn "Năm vị hoàng đế anh minh". Các hoàng đế này ưu đãi các tầng lớp thống trị, hợp lực với Viện Nguyên lão, giữ yên Đế quốc,…
== Khởi thủy của thuật ngữ ==
Nền Thái bình La Mã mở đầu với sự lên ngôi của Hoàng đế Augustus vào năm 27 trước Công nguyên đánh dấu sự kết thúc của nền Cộng hòa La Mã cùng với những cuộc nội chiến cuối cùng của nó và kéo dài đến năm 180 khi Hoàng đế Marcus Aurelius qua đời. Từ pax trong tiếng Latinh, thường được dịch là "hòa bình," cũng mang nghĩa là "Hiệp ước" hoặc "hòa thuận."
Khái niệm Thái bình La Mã được Edward Gibbon miêu tả lần đầu tiên trong Chương 2 của tác phẩm "Lịch sử suy tàn và sụp đổ của Đế quốc La Mã" (The Decline and Fall of the Roman Empire).
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
United Nations of Roma Victrix History: Pax Romana
Pax Romana Discussion group
Bản mẫu:Paxes |
giải césar cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất.txt | Giải César cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất là một giải César được trao hàng năm cho nam diễn viên đóng vai phụ trong một phim, được bầu chọn là xuất sắc nhất.
Dưới đây là danh sách các người đoạt giải và các người được đề cử theo từng năm:
== Thập niên 1970 ==
1976: Jean Rochefort, phim Que la fête commence
Victor Lanoux, - Adieu poulet
Patrick Dewaere, - Adieu poulet
Jean Bouise, - Le Vieux fusil
1977: Claude Brasseur, phim Un éléphant ça trompe énormément
Jean-Claude Brialy, - Le Juge et l'assassin
Jacques Dutronc, - Mado
Charles Denner, - Si c'était à refaire
1978: Jacques Dufilho, phim Le Crabe-tambour
Michel Aumont, - Des enfants gâtés
Jean-François Balmer, - La Menace
Jean Bouise, - Le Juge Fayard dit Le Shérif
Philippe Léotard, - Le Juge Fayard dit Le Shérif
1979: Jacques Villeret, phim Robert et Robert
Michel Serrault, - L'Argent des autres
Jean Carmet, - Le Sucre
Claude Brasseur, - Une histoire simple
== Thập niên 1980 ==
1980: Jean Bouise, phim Coup de tête
Michel Aumont, - Courage fuyons
Bernard Giraudeau, - Le Toubib
Bernard Blier, - Série noire
1981: Jacques Dufilho, phim Un mauvais fils
Alain Souchon, - Je vous aime
Heinz Bennent, - Le Dernier Métro
Guy Marchand, - Loulou
1982: Guy Marchand, phim Garde à vue
Jean-Pierre Marielle, - Coup de torchon
Eddy Mitchell, - Coup de torchon
Gérard Lanvin, - Une étrange affaire
1983: Jean Carmet, phim Les Misérables
Gérard Klein, - La Passante du Sans-Souci
Michel Jonasz, - Qu'est-ce qui fait courir David ?
Jean-François Stévenin, - Une chambre en ville
1984: Richard Anconina, phim Tchao Pantin
Guy Marchand, - Coup de foudre
Bernard Fresson, - Garçon !
Jacques Villeret, - Garçon !
François Cluzet, - L'Été meurtrier
1985: Richard Bohringer, phim L'Addition
Lambert Wilson, - La Femme publique
Fabrice Luchini, - Les Nuits de la pleine lune
Bernard-Pierre Donnadieu, - Rue barbare
Michel Aumont, - Un dimanche à la campagne
1986: Michel Boujenah, phim Trois Hommes et un couffin
Xavier Deluc, - On ne meurt que deux fois
Michel Galabru, - Subway
Jean-Hugues Anglade, - Subway
Jean-Pierre Bacri, - Subway
1987: Pierre Arditi, phim Mélo
Gérard Darmon, - 37°2 le matin
Jean-Louis Trintignant, - La Femme de ma vie
Claude Piéplu, - Le Paltoquet
Jean Carmet, - Les Fugitifs
1988: Jean-Claude Brialy, phim Les Innocents
Tom Novembre, - Agent trouble
Jean-Pierre Kalfon, - Le Cri du hibou
Jean-Pierre Léaud, - Les Keufs
Guy Marchand, - Noyade interdite
1989: Patrick Chesnais, phim La Lectrice
Alain Cuny, - Camille Claudel
Patrick Bouchitey, - La Vie est un long fleuve tranquille
Jean Reno, - Le Grand Bleu
Jean-Pierre Marielle, - Quelques jours avec moi
== Thập niên 1990 ==
1990: Robert Hirsch, phim Hiver 54, l'abbé Pierre
Jacques Bonnaffé, - Baptême
François Cluzet, - Force majeure
François Perrot, - La Vie et rien d'autre
Roland Blanche, - Trop belle pour toi
1991: Jacques Weber, phim Cyrano de Bergerac
Maurice Garrel, - La Discrète
Michel Duchaussoy, - Milou en mai
Michel Galabru, - Uranus
Daniel Prévost, - Uranus
1992: Jean Carmet, phim Merci la vie
Jean-Claude Dreyfus, - Delicatessen
Ticky Holgado, - Une époque formidable
Bernard Le Coq, - Van Gogh
Gérard Séty, - Van Gogh
1993: André Dussolier, phim Un cœur en hiver
Jean Yanne, - Indochine
Patrick Timsit, - La Crise
Fabrice Luchini, - Le Retour de Casanova
Jean-Pierre Marielle, - Max et Jérémie
1994: Fabrice Luchini, phim Tout ça pour ça
Jean-Pierre Darroussin, - Cuisine et dépendances
Jean-Roger Milo, - Germinal
Thomas Langmann, - Le Nombril du monde
Didier Bezace, - Profil bas
1995: Jean-Hugues Anglade, phim La Reine Margot
Claude Rich, - La Fille de d'Artagnan
Fabrice Luchini, - Le Colonel Chabert
Bernard Giraudeau, - Le Fils préféré
Daniel Russo, - Neuf mois
1996: Eddy Mitchell, phim Le bonheur est dans le pré
Ticky Holgado, - Gazon maudit
Jean-Pierre Cassel, - La Cérémonie
Jean-Hugues Anglade, - Nelly et Monsieur Arnaud
Michael Lonsdale, - Nelly et Monsieur Arnaud
1997: Jean-Pierre Darroussin, phim Un air de famille
Jacques Gamblin, - Pédale douce
Bernard Giraudeau, - Ridicule
Jean Rochefort, - Ridicule
Albert Dupontel, - Un héros très discret
1998: Jean-Pierre Bacri, phim On connaît la chanson
Vincent Perez, - Le Bossu
Jean-Pierre Darroussin, - Marius et Jeannette
Gérard Jugnot, - Marthe
Lambert Wilson, - On connaît la chanson
1999: Daniel Prévost, phim Le Dîner de cons
Jean-Louis Trintignant, - Ceux qui m'aiment prendront le train
Vincent Perez, - Ceux qui m'aiment prendront le train
Bernard Fresson, - Place Vendôme
Jacques Dutronc, - Place Vendôme
== Thập niên 2000 ==
2000: François Berleand, phim Ma petite entreprise
Jacques Dufilho, - C'est quoi la vie ?
Claude Rich, - La Bûche
André Dussollier, - Les Enfants du marais
Roschdy Zem, - Ma petite entreprise
2001: Gérard Lanvin, phim Le Goût des autres
Lambert Wilson, - Jet Set
Emir Kusturica, - La Veuve de Saint-Pierre
Alain Chabat, - Le Goût des autres
Jean-Pierre Kalfon, - Saint-Cyr
2002: André Dussolier, phim La Chambre des officiers
Edouard Baer, - Betty Fisher et autres histoires
Jamel Debbouze, - Le Fabuleux destin d'Amélie Poulain
Rufus, - Le Fabuleux destin d'Amélie Poulain
Jean-Paul Roussillon, - Une Hirondelle a fait le printemps
2003: Bernard Le Coq, phim Se souvenir des belles choses
Gérard Darmon, - Astérix & Obélix: Mission Cléopâtre
Jamel Debbouze, - Astérix & Obélix: Mission Cléopâtre
Denis Podalydès, - Embrassez qui vous voudrez
François Cluzet, - L'Adversaire
2004: Darry Cowl, phim Pas sur la bouche
Clovis Cornillac, - A la petite semaine
Yvan Attal, - Bon Voyage
Jean-Pierre Marielle, - La Petite Lili
Marc Lavoine, - Le Cœur des hommes
2005: Clovis Cornillac, phim Mensonges et trahisons et plus si affinités
André Dussollier, - 36 Quai des Orfèvres
François Berléand, - Les Choristes
Jean-Paul Rouve, - Podium
Maurice Garrel, - Rois et Reine
2006: Niels Arestrup, phim De battre mon cœur s'est arrêté
Maurice Bénichou, - Caché
Georges Wilson, - Je ne suis pas là pour être aimé
Dany Boon, - Joyeux Noël
Roschdy Zem, - Le Petit lieutenant
2007: Kad Merad, phim Je vais bien, ne t'en fais pas
Guy Marchand, - Dans Paris
Dany Boon, - La Doublure
André Dussollier, - Ne le dis à personne
François Cluzet, - Quatre étoiles
2008: Sami Bouajila, phim Les Témoins
Laurent Stocker, - Ensemble, c'est tout
Pascal Greggory, - La Môme
Michael Lonsdale, - La Question humaine
Fabrice Luchini, - Molière
2009: Jean-Paul Roussillon, phim Un conte de Noël
Benjamin Biolay, - Stella
Claude Rich, - Aide-toi, le ciel t'aidera
Pierre Vaneck, - Deux jours à tuer
Roschdy Zem, - La Fille de Monaco
=== Thập niên 2010 ===
2010: Niels Arestrup pour le rôle de César Luciani dans Un prophète
Jean-Hugues Anglade pour le rôle de le désaxé dans Persécution
JoeyStarr pour son propre rôle dans Le Bal des actrices
Benoît Poelvoorde pour le rôle de Étienne Balsan dans Coco avant Chanel
Michel Vuillermoz pour le rôle de Pierre dans Le Dernier pour la route
2011: Michael Lonsdale pour le rôle du frère Luc Dochier dans Des hommes et des dieux
Niels Arestrup pour le rôle de Bartholomé dans L'Homme qui voulait vivre sa vie
François Damiens pour le rôle de Marc dans L'Arnacœur
Gilles Lellouche pour le rôle de Eric dans Les Petits Mouchoirs
Olivier Rabourdin pour le rôle du frère Christophe dans Des hommes et des dieux
2012: Michel Blanc pour le rôle de Gilles dans L'Exercice de l'État
Nicolas Duvauchelle pour le rôle de Mathieu dans Polisse
JoeyStarr pour le rôle de Fred dans Polisse
Bernard Le Coq pour le rôle de Jacques Chirac dans La Conquête
Frédéric Pierrot pour le rôle de Balloo dans Polisse
2013: Guillaume de Tonquédec pour le rôle de Claude dans Le Prénom
Samir Guesmi pour le rôle d'Eric dans Camille redouble
Benoît Magimel pour le rôle de Paul Lederman dans Cloclo
Claude Rich pour le rôle de Sébastien Hauer dans Cherchez Hortense
Michel Vuillermoz pour le rôle du père de Camille dans Camille redouble
== Tham khảo == |
nụ hôn thần chết (phim).txt | Nụ hôn thần chết (tựa tiếng Anh: Kiss of the Death) là bộ phim truyện nhựa Việt Nam thuộc thể loại hài hước - kinh dị - lãng mạn ra mắt khán giả vào dịp Tết Nguyên Đán năm 2008. Bộ phim do Nguyễn Quang Dũng làm đạo diễn với các diễn viên Johnny Trí Nguyễn, Thanh Hằng, Hoài Linh, Thành Lộc, Phương Thanh,... Bộ phim còn có phần tiếp theo mang tên Giải cứu thần chết đã được phát hành vào dịp Tết 2009.
== Nội dung ==
Hài hước, kinh dị, và tuyệt vời lãng mạn, bộ phim kể về nhiệm vụ khó khăn của Hoàng Tử Thần Chết tên Du khi đi thực hiện Nụ Hôn rút hồn cô nàng tiếp thị rượu xinh đẹp tên An.
Trong 3 ngày, Du phải đặt được nụ hôn rút hồn An, nếu không sẽ phạm phải lời nguyền khủng khiếp nhất với Vua Thần Chết. Nhưng chàng Hoàng Tử Thần Chết ngây thơ đã bị cô An sexy dữ dằn đánh cho tơi bời, bắt giúp cô thoát chết hết lần này đến lần khác. Trong cuộc chạy trốn cái chết, An đã tìm thấy điều mà cô còn quý hơn mạng sống, đó là tình yêu.
Vua Thần Chết và toàn bộ thế lực bóng tối vào cuộc để giết An, cứu Du thoát khỏi lời nguyền. Một kết thúc bất ngờ và vô cùng lãng mạn đã khiến cả con người lẫn những thế lực của thần chết đều xúc động chứng kiến sức mạnh vĩnh cửu của tình yêu.
== Diễn viên ==
Johnny Trí Nguyễn vai Thần chết Du
Thanh Hằng vai An
Hoài Linh vai Vua Thần Chết
Thành Lộc vai Cha xứ
Phương Thanh vai Bà thầy bói
Hương Giang vai Hoàng Hậu Thần Chết
Tommy Quân Trần vai Thần chết Đan
Vĩnh Thụy vai Romeo
Thủy Tiên vai Juliet
Vũ Ngọc Đãng vai Ăn cướp
Hiếu Hiền vai Ăn cướp
Trinh Hoan vai Công an
Đoàn Minh Tuấn vai Công an
NSƯT Minh Đức vai Má Phương
Lê Bình vai Ông hốt rác
Lê Hóa vai Người đàn bà ở bến xe
Lê Quốc Nam vai Đạo diễn sân khấu
Nguyễn Quang Dũng vai Thần chết DJ
Hoàng Mập vai Hồn ma
Ngọc Lan vai Bà béo ngoài vũ trường
Hoàng Lan vai Bà béo trong vũ trường
== Các cuộc thi bên lề ==
Trước khi phim ra mắt, để thu hút khán giả, các nhà phát hành liên tục tổ chức những cuộc thi bên lề như Thử làm Thần chết, Cảm nhận nụ hôn đầu tiên của bạn và đặc biệt là cuộc thi Thiết kế Poster. Cùng với bộ phim Những cô gái chân dài, đây là bộ phim thứ 2 tại Việt Nam có cuộc thi này. Sau gần 1 tháng, kết quả đã có với những poster đẹp, giá trị. Tuy nhiên các poster không được làm poster chính thức mà poster trên mới chính thức với logo đẹp và hình ảnh tỉ mỉ, hẳn sẽ vượt qua về mặt này so với các phim Tết 2008.
== Sách kịch bản đầu tiên tại Việt Nam ==
Sách kịch bản Nụ hôn thần chết do Nguyễn Quang Dũng viết đã được xuất bản bởi Phương Nam, Galaxy Studio và HKFilm hôm 25/1/2008, ngày công chiếu đầu tiên của bộ phim. Cuốn sách là cái nhìn toàn cảnh của bộ phim, đầy đủ chi tiết nhất. Có thể sẽ không gặp trong phim. Đây cũng là cuốn sách kịch bản (được xuất bản) đầu tiên tại Việt Nam với giá khá mềm: 20.000 VND. Với sự thành công của bộ phim, cuốn sách sẽ hứa hẹn thành công vì lý do sách ra mắt vào dịp gần Valentine mà sách lại khá tình cảm.
== Giải thưởng ==
Bộ phim đoạt giải Cánh diều Bạc năm 2007
Biên kịch xuất sắc: Nguyễn Quang Dũng
Họa sĩ xuất sắc: Mã Phi Hải
Nữ diễn viên phụ xuất sắc: Phương Thanh
Giải Mai Vàng lĩnh vực điện ảnh - truyền hình cho nữ diễn viên chính: Thanh Hằng
== Doanh thu ==
Bộ phim đã thu về 1,5 tỷ sau 3 ngày công chiếu, trung bình 500 triệu cho mỗi ngày. 30.000 lượt khán giả đã đến xem bộ phim, tức khoảng 166 người cho mỗi rạp/ngày. Sau khoảng 1 tháng công chiếu (tính từ ngày 25/1 tới hết Mồng 10 Tết Âm Lịch) thì Nụ hôn thần chết đã thu về hơn 16 tỷ đồng, trở thành phim có doanh thu cao nhất Việt Nam tại thời điểm đó.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Nụ hôn thần chết tại Internet Movie Database
Trailer phim. |
tổ dân phố.txt | Tổ dân phố, hoặc khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu,... là một tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư tại Việt Nam.
== Tham khảo == |
đàn bầu.txt | Đàn bầu (chữ Nôm: 彈匏), còn gọi là độc huyền cầm (chữ Hán:獨絃琴), là loại đàn một dây của người Việt, thanh âm phát ra nhờ sử dụng que hay miếng gảy vào dây. Dựa theo cấu tạo của hộp cộng hưởng, đàn bầu chia hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ.
Đàn bầu có mặt phổ biến ở các dàn nhạc cổ truyền dân tộc Việt Nam. Các nhạc sĩ Việt Nam đã biên soạn và chuyển soạn một số tác phẩm dạng concerto để nghệ sĩ sử dụng đàn bầu trình tấu cùng với dàn nhạc giao hưởng thính phòng như Vì Miền Nam, Ru con, Tình ca... Đàn bầu không chỉ được người Việt Nam ưa thích mà còn được nhiều khán-thính giả trên thế giới hâm mộ.
== Lịch sử ==
Giới nghiên cứu âm nhạc hiện nay chưa tìm ra thời điểm xuất hiện đàn bầu. Theo Tân Đường thư quyển 222, Liệt truyện 147: Nam Man hạ thì trong số các nhạc cụ do nước Phiếu (Phiếu, cổ Chu Ba dã, tự hào Đột La Chu, Đồ Bà quốc nhân viết Đồ Lý Chuyết. Tại Vĩnh Xương nam 2.000 lý, khứ kinh sư 14.000 lý. Đông lục Chân Lạp, tây tiếp Đông Thiên Trúc, tây nam Đọa Hòa La, nam chúc hải, bắc Nam Chiếu. Địa trường 3000 lý, quảng 5000 lý...) dâng lên vua Đường (niên hiệu Trinh Nguyên (785-805) thời Đường Đức Tông) đã thấy xuất hiện độc huyền bào cầm (đàn bầu một dây).
Sách Nam Man hạ chép: "Dĩ bạch mộc vi chi, bất gia sức, tào hình trường như nhựt tự dạng, dụng trúc tác tào bính, xuyên dĩ không hồ, trương huyền vô chẩn, hửu thủ dĩ trúc, phiến bát huyền dĩ phát thanh, tả thủ nhấn trúc can nhi thành điệu." Nghĩa là: "Lấy gỗ nhẹ mà làm, không trau chuốt chi, thùng đàn dài hình chữ nhật, đầu chót cắm cán tre, xâu nửa quả bầu khô, giăng dây không phiếm, tay phải lấy que trúc nảy lên tiếng, tay trái nấng cần tre mà thành điệu."
== Phân loại và cấu tạo ==
=== Phân loại ===
Đàn thân tre thường dùng cho người hát xẩm hoặc những nơi khó khăn, không có điều kiện chế tác tỉ mỉ, chi tiết. Thân đàn làm bằng một đoạn tre hoặc bương dài khoảng 120 cm, đường kính 12 cm. Mặt đàn là chỗ đã được lóc đi một phần cật thích hợp trên đoạn tre hoặc bương. Loại này ít phổ biến.
Đàn hộp gỗ là loại đàn cải tiến, có tính năng ưu việt hơn, thường do các nghệ sĩ chuyên nghiệp sử dụng. Đàn hộp gỗ có nhiều hình dáng, kích thước khác nhau, thường làm bằng loại gỗ nhẹ, xốp như gỗ ngô đồng... Loại đàn bằng gỗ vông được dùng phổ biến nhất.
=== Cấu tạo ===
Đàn bầu thường có hình dạng một ống tròn (bằng tre, bương, luồng) hoặc hình hộp chữ nhật (bằng gỗ); một đầu to, một đầu vuốt nhỏ hơn một chút; thường có chiều dài khoảng 110 cm, đường kính hoặc bề ngang ở đầu to khoảng 12,5 cm, đầu nhỏ khoảng 9,5 cm; cao khoảng 10,5 cm. Ở loại đàn gỗ Mặt đàn và đáy đàn bằng gỗ ngô đồng, hoặc gỗ thông hay gỗ tung. Mặt đàn hơi cong lên một chút, đáy đàn phẳng có một lỗ nhỏ để treo đàn, một hình chữ nhật ở giữa để thoát âm đồng thời cầm đàn khi di chuyển và một khoảng trống để cột dây đàn. Thành đàn bằng gỗ cứng như cẩm lai hoặc mun để cho chắc chắn và có thể bắt vít cho khóa dây đàn.
Trên mặt đầu to có một miếng xương hoặc kim loại nhỏ gọi là ngựa đàn. Qua ngựa đàn, dây đàn được luồn xuống và cột vào trục lên dây đàn xuyên qua thành đàn, trục này được làm đẹp và nó được giấu phía sau thành đàn. Ngày nay người ta dùng khóa dây đàn bằng kim loại cho chắc để chống tuột dây đàn. Trên mặt đầu nhỏ của đàn có một cần dây làm bằng gỗ hoặc sừng, được gọi là cần đàn hoặc vòi đàn. Cần đàn xuyên qua nửa đầu trái bầu khô hoặc tiện bằng gỗ theo hình dạng tương tự và cắm vào một lỗ trên mặt đầu nhỏ của vỏ đàn. Một đầu dây đàn buộc cố định vào cần đàn khoảng giữa bầu đàn.
Khi công nghệ điện tử ra đời, để tăng âm lượng tiếng đàn, người ta lắp một cuộn cảm ứng điện từ có lõi sắt non vào dưới mặt đàn giáp với dây ở phía đầu to để cảm ứng âm thanh truyền qua bộ dây đồng trục, đưa tín hiệu đến khuếch đại âm thanh qua máy tăng âm. Loại đàn này chỉ có thể dùng dây thép và có nhược điểm là độ méo âm thanh khá lớn so với âm thanh của loại đàn không dùng bộ khuếch đại điện từ (đàn mộc).
Que gảy đàn: thường được vót bằng tre, giang, thân dừa, gỗ mềm... Người ta hay làm bông hoặc tưa đầu nhọn một chút để làm mềm âm thanh khi gảy. Ngày xưa hay dùng que dài khoảng 10 cm, ngày nay với nhiều kỹ thuật diễn tấu nhanh nên người ta hay dùng que ngắn chừng 4-4,5 cm.
== Tính năng, tác dụng ==
Đàn bầu có âm vực rộng tới 3 quãng tám. Vì là âm bội nên âm sắc đẹp, sâu lắng, quyến rũ. Tiếng đàn có khi buồn bã, thiết tha, có khi ngọt ngào tình tự, diễn tốt tình cảm của con người. Âm thanh phát ra trong vòng 2 quãng tám nghe khá rõ ràng dù là âm bội. Nếu sử dụng âm thực với sự tác động kéo căng hay giảm dây của vòi đàn, âm vực của đàn bầu có thể vượt trên 3 quãng tám.
Đàn bầu phù hợp với những giai điệu trữ tình, êm dịu, tuy nhiên những nghệ nhân xẩm có thể sử dụng nó để diễn những bài hát vui như xẩm xoan hoặc những ca khúc mới, giàu chất tươi tắn và khỏe mạnh. Ca dao Việt Nam có câu "Đàn bầu ai gãy nấy nghe, làm thân con gái chớ nghe đàn bầu" ý nói tiếng đàn dễ dàng thu hút được tình cảm người nghe.
Trước đây đàn bầu giữ nhiệm vụ độc tấu hoặc đệm hát, tham gia những ban nhạc cổ truyền cùng với đàn nguyệt, đàn tam, nhị hay tỳ bà... ngày nay một số cây được gắn thiết bị điện, tăng âm nên có thể độc tấu ngoài trời hoặc hòa tấu với dàn nhạc lớn, nhiều nhạc cụ.
Nhiều nghệ nhân tài năng đã dùng tiếng đàn bầu mô phỏng giọng nói của cả ba miền Nam, miền Trung, miền Bắc và giọng nam, giọng nữ hoặc ngân nga như ngâm...
== Cách thức sử dụng cơ bản ==
=== Cách định âm chuẩn cho dây đànBản mẫu:Cldt ===
Người ta thường định âm cho đàn bầu theo dây buông có âm tự nhiên, nhưng có khi chỉnh theo từng bài bản. Nếu bài nhạc cung đô (do) là chủ âm thì định âm dây buông tự nhiên là đô. Ngoài ra còn vài cách định âm khác. Vì dây buông chỉ cho một nối nên phải chia dây từ cần đàn đến ngựa đàn để xác định các nốt khác: 1/2 dây có nốt do 1 cao hơn dây buông một quãng 8, 1/3 dây sẽ là nốt sol 1, 1/4 ta sẽ có nốt do 2, 1/5 dây sẽ có mi 2, 1/6 dây sẽ có nốt sol 2, 1/7 dây sẽ là nốt si giáng (nốt này ít được sử dụng), 1/8 sẽ có nốt do 3.
Ngoài 6 điểm định âm thông dụng là do 1, sol 1, do 2, mi 2, sol 2 và do 3 còn có thể tạo âm thực bằng cách gảy dây buông và thường gảy gần ngựa đàn chứ không gảy vào các điểm định âm bồi. Trên 7 âm thanh này, với kỹ thuật tay trái như căng dây hoặc chùng dây thích hợp, người chơi đàn có thể tạo được rất nhiều âm thanh khác nữa.
=== Cách sử dụng que gảy đàn ===
Cách sử dụng/gảy đàn đòi hỏi kỹ thuật đặc biệt. Người diễn cầm que bằng tay phải, đặt que trong lòng bàn tay phải, đặt que trong lòng bàn tay làm sao để que hơi chếch so với chiều ngang dây đàn. Que đàn được đặt trên 2 đốt ngón tay trỏ và giữa của bàn tay phải, còn đốt thứ nhất của ngón cái thì giữ que đàn, đầu nhỏ của que thường nhô ra khoảng 1,5 cm. Hai ngón còn lại thì hơi cong theo ngón trỏ và giữa. Khi gảy dây ta đặt cạnh bàn tay vào điểm phát ra bội âm, hất nhẹ que đàn cùng lúc nhấc bàn tay lên, ta sẽ có được âm bội. Những điểm cạnh bàn tay chạm vào gọi là điểm nút, những điểm trên dây đàn được que gảy vào gọi là điểm gảy. Do đàn bầu không có phím nên những điểm nút được coi là cung phím của đàn bầu.
=== Các tư thế diễn tấu ===
Thông thường nhất là đàn bầu đặt trên một cái bàn nhỏ (thường là hộp đàn có lắp 4 chân rời, trên mặt giá có 2 chỗ chặn để khi kéo đẩy cần đàn, đàn không bị di chuyển theo. Khi ngồi khoanh chân trên chiếu để đàn thì đầu gối chân mặt phải tì vào cạnh mặt đàn nhằm giữ cho cây đàn khỏi bị xê dịch. Ngày nay, các nghệ sĩ thường dùng tư thế đứng hoặc ngồi trên ghế để diễn tấu. Khi dó, đàn được đặt trên giá gỗ có các chốt định vị có độ cao tương ứng với vị trí ngồi của nghệ sĩ.
=== Sử dụng tay trái trên cần đàn và dây đàn ===
Ngón rung: Khi khảy dây, các ngón tay trái rung nhẹ cần đàn, âm thanh sẽ phát ra tự như làn sóng thì ta có ngón rung. Ngón rung rất quan trọng vì không những nó làm cho tiếng đàn mềm mại mà nó còn thể hiện phong cách của bản nhạc. Với các bài buồn, hoặc bài vui, ta phải rung theo những âm đã được quy định.
Ngón vỗ: Vỗ ngón cái, vỗ ngón trỏ tạo ra âm thanh hãm và thăng giáng liên tục, ngắt quãng do dao động âm tắt nhanh. Theo nghệ sĩ ưu tú Thanh Tâm thì ngón vỗ thường diễn tả tình cảm đau khổ, uất ức, nghẹn ngào.
Ngón vuốt: miết ngón tay vào cần đàn để tạo độ trượt qua các thang âm và dừng lại ở thang âm quy định trong bản nhạc.
Ngón luyến: kéo thẳng cần tăng hoặc giảm tới âm quy định
Ngón tạo tiếng chuông: Nhấn cườm tay vào dây đàn để hãm bớt âm chính và tạo ra âm bội trên âm chính có sẵn. v.v.
== Sự phát triển của đàn bầu trong đời sống âm nhạc dân tộc ==
Trong lịch sử nhạc cụ Việt Nam chưa có nhạc khí dân tộc nào của nước ta được thay đổi, cải biến nhiều như đàn bầu.
Cần đàn thay vì bằng tre thì nay bằng sừng để cho mềm dễ uốn hơn.
Bầu đàn trước đây làm bằng vỏ bầu khô hoặc ống tre, gáo dừa, nay dùng sừng hoặc thông dụng nhất là tiện bằng gỗ để có thể bắt vít được.
Que đàn từ chỗ dài khoảng 10 cm, nay thu ngắn ngắn khoảng 4 cm. Từ chỗ được vót bằng tre, giang; nay có thêm các chất liệu gỗ, dừa, sừng hoặc nhựa.
Theo nhạc sĩ Bùi Lẫm: vào thập kỷ 60, nghệ sĩ Mạnh Thắng là người sáng chế ra lối que gẩy ngắn, ông cũng là người đã cải tiến đưa phần khuếch đại âm thanh vào đàn bầu, và ông cũng là người đầu tiên đưa đàn bầu đi trình diễn quốc tế, mang giải thưởng cao quý cho Việt Nam. Sau đó, cũng với que gẩy ngắn này, nghệ sĩ ưu tú Đức Nhuận đã phát minh ra lối kỹ thuật vê (teremono) trên 1 dây và đánh sử dụng bồi âm trên bồi âm.
Thân đàn và các phụ kiện Loại đàn cũ cần có thân to, mặt mỏng để tăng độ âm vang. Khóa đàn bằng gỗ. Loại đàn hiệ đại sử dụng công nghệ khuếch đại âm thanh điên tử có kích thước nhỏ hơn, khóa đàn bằng kim loại. Điểm cái tiến táo bạo nhất mà không một nhạc khí nào dám làm là loại đàn bầu dùng công nghệ điện tử có thể tách đôi, gập lại, xếp gọn khi di chuyển. Khi trình tấu, người chơi đàn có thể lắp ráp lại nhanh chóng.
Hộp chứa đàn Ngoài chức năng để cất giữ, bảo vẹn đàn khi di chuyển đàn, hộp này vừa có hể dùng làm giá đỡ đàn với hai chốt chặn ở hai đầu, tiện lợi cho việc căng dây hoặc chùng dây khi chơi các bản nhạc có âm chủ khác nhau.
Điện tử hóa : Các loại đàn bầu hiện đại được điện tử hóa bằng cách lắp các mobil cảm ứng điện từ nối với máy tăng âm và loa để khuếch đại âm thanh, được sử dụng phổ biến trong các dàn nhạc dân tộc Việt Nam chuyên nghiệp. Tuy nhiên, nhiều khán thính giả nước ngoài sành nhạc vẫn thích nghe trình tấu trên đàn "mộc" (không có bộ khuếch âm điện tử). Họ cho rằng âm thanh mộc nghe trong trẻo và "thật" hơn âm thanh được khuếch đại bằng kỹ thuật điện tử.
== Đàn bầu trong nghệ thuật ==
Ca dao: Đàn bầu ai gẩy nấy nghe / Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu. Theo nghệ sĩ Hoàng Anh: "ông bà mình ngày xưa khuyên con gái chớ nên nghe đàn bầu vì sợ tiếng đàn réo rắt, buồn bã dễ vận vào đời người phụ nữ".
Thơ: Đất nước tôi, thon thả giọt đàn bầu / Nghe nặng nỗi đau của mẹ / Ba lần tiễn con đi / Hai lần khóc thầm lặng lẽ (thơ Tạ Hữu Yên, sau nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn phổ nhạc thành bài hát Đất nước).
Bài hát: Tiếng đàn bầu của ta / Cung thanh là tiếng mẹ / Cung trầm là giọng cha (bài hát Tiếng đàn bầu, nhạc Nguyễn Đình Phúc, lời thơ Lữ Giang)
== Liên kết ngoài ==
Giới thiệu vài nét về đàn bầu
Đàn bầu Việt Nam
Trang mạng Nhạc sĩ Phạm Đức Thành
== Tham khảo == |
đô thị hóa.txt | Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa.
Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống,...
Các nước phát triển (như tại châu Âu, Mĩ hay Úc) thường có mức độ đô thị hóa cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (như Việt Nam) (khoảng ~35%). Đô thị các nước phát triển phần lớn đã ổn định nên tốc độ đô thị hóa thấp hơn nhiều so với trường hợp các nước đang phát triển.
Sự tăng trưởng của đô thị được tính trên cơ sở sự gia tăng của đô thị so với kích thước (về dân số và diện tích) ban đầu của đô thị. Do đó, sự tăng trưởng của đô thị khác tốc độ đô thị hóa (vốn là chỉ số chỉ sự gia tăng theo các giai đoạn thời gian xác định như 1 năm hay 5 năm).
== Các quá trình ==
Theo khái niệm của ngành địa lý, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian hoặc mật độ dân cư hoặc thương mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực theo thời gian. Các quá trình đô thị hóa có thể bao gồm:
Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có. Thông thường quá trình này không phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thường thấp hơn nông thôn.
Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị hoặc như là sự nhập cư đến đô thị.
Sự kết hợp của các yếu tố trên.
ngoài ra còn có sự ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (Do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao dẫn tới sự mở rộng các khu công nghiệp mới, khu đô thị mới).
== Tác động ==
Đô thị hóa có các tác động không nhỏ đến sinh thái và kinh tế khu vực. Đô thị học sinh thái cũng quan sát thấy dưới tác động đô thị hóa, tâm lý và lối sống của người dân thay đổi. Sự gia tăng quá mức của không gian đô thị so với thông thường được gọi là "sự bành trướng đô thị" (urban sprawl), thông thường để chỉ những khu đô thị rộng lớn mật độ thấp phát triển xung quanh thậm chí vượt ngoài ranh giới đô thị. Những người chống đối xu thế đô thị hóa cho rằng nó làm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phí đầu tư các cơ sở hạ tầng kĩ thuật và có tác động xấu đến sự phân hóa xã hội do cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm đến các khó khăn của khu vực trong đô thị.
== Ảnh hưởng ==
Đô thị hóa làm ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến số lượng, chất lượng dân số đô thị. Quá trình này còn làm thay đổi nhu cầu sử dụng đất đô thị và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của vùng và quốc gia.
=== Tích cực ===
Đô thị hóa góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thay đổi sự phân bố dân cư. Các đô thị không chỉ là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động mà còn là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kĩ thuật hạ tầng cơ sở hiện đại có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài.
=== Tiêu cực ===
Đô thị hóa làm sản xuất ở nông thôn bị đình trệ do lao động chuyển đến thành phố. Thành thị phải chịu áp lực thất nghiệp, quá tải cho cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường sống, an ninh xã hội không đảm bảo, các tệ nạn xã hội ví dụ như thiếu việc làm sẽ nảy sinh ra nhiều vấn đè như nghèo đói lạc hậu,mù chữ,tệ nạn như trộm cắp
== Top 12 tỉnh thành có tốc độ đô thị hóa cao (tính đến 31/12/2016) ==
Tính đến ngày 31/12/2016 tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam đạt 33,08 %. Cả nước chỉ có 14 tỉnh thành có tỉ lệ đô thị hóa cao hơn cả nước. Nếu xét thêm top 14 tỉnh thành có dân số thành thị cao nhất nước thì sẽ xảy ra 2 điều kiện sau:
1. Tỉnh Đồng Nai có dân số thành thị đạt 905.666 người (xếp thứ 4) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 32,09 % (thấp hơn cả nước 0,99%)
2. Tỉnh An Giang có dân số thành thị đạt 650.214 người (xếp thứ 9) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 68,43% (xếp thứ 2 sau TP.HCM)
2 tỉnh có dân số thành thị thấp nhưng tốc độ đô thị hóa cao hơn cả nước:
1. Tỉnh Kon Tum có dân số thành thị 160.211 người (xếp thứ 48) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 33,27 % (cao hơn nước 0,19%)
2. Tỉnh Ninh Thuận có dân số thành thị 209.374 người (xếp thứ 35) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 35,54 % (cao hơn nước 2,46%)
Dưới đây là danh sách 12 tỉnh thành vừa có tốc độ đô thị hóa cao và vừa có dân số thành thị cao nhất nước
== Xem thêm ==
Các nhân tố đóng góp vào sự đô thị hóa:
Theo lịch sử:
== Tham khảo == |
tòa nhà new york times.txt | Tòa nhà New York Times là một nhà chọc trời ở phía tây của Midtown Manhattan, Thành phố New York, Mỹ. Tòa nhà này hoàn thành năm 2007. Đơn vị thuê chính là Công ty New York Times, chủ xuất bản The New York Times, The Boston Globe, International Herald Tribune và các báo khác. Công ty xây dựng là liên danh Times Company, Forest City Ratner. Tòa nhà này có chiều cao 319 m với 52 tầng. Đến đầu năm 2008, đây là tòa nhà cao thứ 26 thế giới.
== Tham khảo == |
11 tháng 3.txt | Ngày 11 tháng 3 là ngày thứ 70 (71 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 295 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
222 – Hoàng đế La Mã Elagabalus và mẹ bị Cấm vệ quân Praetoriani sát hại, sau đó thi thể của họ bị cắt xẻo và kéo lê.
1851 – Vở opera Rigoletto của nhà soạn nhạc người Ý Giuseppe Verdi có buổi trình diễn ra mắt thành công tại nhà hát La Fenice tại Venezia, Vương quốc Lombardia-Veneto.
1879 – Quốc vương Shō Tai của Lưu Cầu chính thức thoái vị theo lệnh từ chính quyền Tokyo, phiên Lưu Cầu chấm dứt tồn tại và nay là tỉnh Okinawa của Nhật Bản.
1916 – USS Nevada (BB-36) được ủy quyền là "Dreadnought" đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ.
1945 - vua Bảo Đại tuyên bố nước Việt Nam khôi phục nền độc lập và hủy bỏ Hiệp ước Bảo hộ, thành lập Đế quốc Việt Nam.
1945 - Khởi nghĩa Ba Tơ diễn ra tại Ba Tơ, Quảng Ngãi
1955 - Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho giải tán Hoàng triều Cương thổ
1975 – Chiến tranh Việt Nam: Lực lượng miền Bắc và du kích chiếm được thị xã Buôn Ma Thuột từ Lực lượng Việt Nam Cộng hòa trong Chiến dịch Tây Nguyên
2004 - Những vụ nổ bom hàng loạt trong hệ thống tàu điện ngầm tại Madrid, Tây Ban Nha khiến 192 người thiệt mạng.
2011 – Động đất và sóng thần Nhật Bản diễn ra làm thiệt mạng hơn 15.000 người, gây sự cố hạt nhân trầm trọng, thiệt hại hàng trăm tỷ đô la Mỹ.
== Sinh ==
1544 - Torquato Tasso, nhà thơ người Ý (m. 1595)
1787 - Ivan Nabokov, tướng người Nga (m. 1852)
1811 - Urbain Le Verrier, nhà toán học người Pháp (m. 1877)
1822 - Joseph Louis François Bertrand, nhà toán học người Pháp (m. 1900)
1863 - Andrew Stoddart, cầu thủ cricket người Anh (m. 1915)
1876 - Carl Ruggles, nhà soạn nhạc người Mỹ (m. 1971)
1870 - Louis Bachelier, nhà toán học người Pháp (m. 1946)
1884 - Lewi Pethrus, chính khách người Thụy Điển (m. 1974)
1885 - Malcolm Campbell, người lái xe đua người Anh (m. 1948)
1887 - Raoul Walsh, đạo diễn phim người Mỹ (m. 1980)
1890 - Vannevar Bush, kĩ sư, chính khách người Mỹ (m. 1974)
1898 - Dorothy Gish, nữ diễn viên người Mỹ (m. 1968)
1899 - Frederick IX of Denmark, vua người Đan Mạch (m. 1972)
1903 - Lawrence Welk, nhạc sĩ người Mỹ (m. 1992)
1907 - Jessie Matthews, nữ diễn viên người Anh (m. 1981)
1910 - Robert Havemann, nhà hóa học người Đức (m. 1982)
1915 - Vijay Hazare, cầu thủ cricket Ấn Độ (m. 2004)
1915 - Hans Peter Keller, nhà văn người Đức (m. 1988)
1916 - Harold Wilson, thủ tướng Anh (m. 1995)
1920 - Nicolaas Bloembergen, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Đức
1921 - Frank Harary, nhà toán học người Mỹ (m. 2005)
1921 - Ástor Piazzolla, nhà soạn nhạc người Argentina (m. 1992)
1922 - Cornelius Castoriadis, nhà triết học, nhà kinh tế học người Hy Lạp (m. 1997)
1922 - José Luis López Vázquez, diễn viên người Tây Ban Nha
1926 - İlhan Mimaroğlu, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc Thổ Nhĩ Kỳ
1928 - Albert Salmi, diễn viên người Mỹ (m. 1990)
1929 - Timothy Carey, diễn viên người Mỹ (m. 1994)
1930 - Claude Jutra, diễn viên, người đạo diễn Quebec (m. 1986)
1931 - Rupert Murdoch, chủ doanh nghiệp người Úc
1932 - Leroy Jenkins, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ vĩ cầm người Mỹ (m. 2007)
1934 - Sam Donaldson, phóng viên người Mỹ
1935 - Sandra Milo, nữ diễn viên người Ý
1937 - Carlos Larrañaga, diễn viên người Tây Ban Nha
1939 - Flaco Jiménez, nhạc sĩ người Mỹ
1940 - Alberto Cortez, ca sĩ người Argentina
1942 - Charles Swan, diễn viên người Mỹ
1945 - Dock Ellis, vận động viên bóng chày người Mỹ
1945 - Harvey Mandel, nhạc sĩ người Mỹ
1947 - Tristan Murail, nhà soạn nhạc người Pháp
1948 - Roy Barnes, thống đốc Gruzia thứ 80
1948 - César Gerónimo, vận động viên bóng chày người Dominica
1948 - Dominique Sanda, nữ diễn viên người Pháp
1950 - Bobby McFerrin, ca sĩ người Mỹ
1950 - Jerry Zucker, người đạo diễn người Mỹ
1952 - Douglas Adams, nhà văn người Anh (m. 2001)
1953 - Bernie LaBarge, nhạc sĩ người Canada
1955 - Nina Hagen, ca sĩ người Đức
1956 - Rob Paulsen, diễn viên lồng tiếng người Mỹ
1956 - Helen Rollason, nhà báo thể thao, người dẫn chương trình truyền hình người Anh (m. 1999)
1957 - Lady Chablis, người dẫn chuyện giải trí người Mỹ
1957 - Cheryl Lynn, ca sĩ người Mỹ
1958 - Anissa Jones, nữ diễn viên người Mỹ (m. 1976)
1958 - Flemming Rose, nhà báo người Đan Mạch
1960 - Christophe Gans, đạo diễn phim người Pháp
1961 - Elias Koteas, diễn viên người Canada
1962 - Jeffrey Nordling, diễn viên người Mỹ
1963 - Alex Kingston, nữ diễn viên người Anh
1964 - Peter Berg, diễn viên, người đạo diễn, nhà sản xuất người Mỹ
1964 - Shane Richie, diễn viên người Anh
1965 - Nigel Adkins, ông bầu bóng đá người Anh
1965 - Wallace Langham, diễn viên người Mỹ
1965 - Laurence Llewelyn-Bowen, người dẫn chương trình truyền hình người Anh
1967 - John Barrowman, diễn viên người Scotland
1967 - Brad Carson, chính khách người Mỹ
1969 - Terrence Howard, diễn viên người Mỹ
1969 - Soraya, ca sĩ người Colombia (m. 2006)
1970 - Delia Gallagher, nhà báo người Mỹ
1971 - Martin Ručinský, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Séc
1973 - Martin Hiden, cầu thủ bóng đá người Áo
1974 - Bobby Abreu, vận động viên bóng chày người Venezuela
1975 - Eric the Midget, nhân vật truyền thanh nổi tiếng người Mỹ
1976 - Thomas Gravesen, cầu thủ bóng đá người Đan Mạch
1978 - Albert Luque, cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha
1978 - Christopher Rice, tác gia người Mỹ
1979 - Nguyễn Thúy Hiền, vận động viên Wushu
1979 - Elton Brand, cầu thủ bóng rổ người Mỹ
1979 - Fred Jones, cầu thủ bóng rổ người Mỹ
1980 - Paul Scharner, cầu thủ bóng đá người Áo
1980 - Dan Uggla, vận động viên bóng chày người Mỹ
1981 - David Anders, diễn viên người Mỹ
1981 - Lee Evans, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1981 - Paul Wall, ca sĩ nhạc Rapp người Mỹ
1982 - Thora Birch, nữ diễn viên người Mỹ
1982 - Lindsey McKeon, nữ diễn viên người Mỹ
1984 - Marc-André Grondin, diễn viên người Canada
1984 - Anna Tsuchiya, người mẫu, nữ diễn viên, ca sĩ người Nhật Bản
1985 - Derek Schouman, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1985 - Nikolai Topor-Stanley, cầu thủ bóng đá người Úc
1987 - Marc-Andre Gragnani, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Canada
1989 - Anton Yelchin, diễn viên người Nga
1989 - Đặng Thị Ngọc Hân, Hoa hậu Việt Nam 2010
== Mất ==
222 - Elagabalus, hoàng đế người România
1514 - Donato Bramante, kiến trúc sư người Ý (s. 1444)
1602 - Emilio de' Cavalieri, nhà soạn nhạc người Ý
1607 - Giovanni Maria Nanino, nhà soạn nhạc người Ý
1722 - John Toland, nhà triết học người Ireland (s. 1670)
1759 - John Forbes, tướng người Anh (s. 1710)
1801 - Pavel I của Nga, Sa hoàng người Nga (s. 1754)
1820 - Benjamin West, họa sĩ người Anh (s. 1738)
1847 - Johnny Appleseed, người đi đầu trong lĩnh vực nhà nông học người Mỹ (s. 1774)
1854 - Willard Richards, lãnh đạo tôn giáo người Mỹ (s. 1804)
1863 - Sir James Outram, tòng nam tước, Anh tướng thứ 1 (s. 1803)
1869 - Vladimir Odoevsky, nhà triết học người Nga (s. 1803)
1874 - Charles Sumner, chính khách người Mỹ (s. 1811)
1907 - Jean Casimir-Perier, chính khách người Pháp (s. 1847)
1908 - Revd Benjamin Waugh, nhà hoạt động người Mỹ (s. 1839)
1908 - Edmondo De Amicis, nhà văn, nhà báo, nhà thơ ngươig Ý (s. 1846)
1920 - Julio Garavito Armero, nhà thiên văn người Colombia (s. 1865)
1931 - F.W. Murnau, đạo diễn phim người Đức (s. 1888)
1944 - Hendrik Willem van Loon, Mỹ sử gia người Đức (s. 1882)
1955 - Alexander Fleming, nhà khoa học, giải thưởng Nobel người Scotland (s. 1881)
1957 - Admiral Richard E. Byrd, nhà thám hiểm người Mỹ (s. 1888)
1960 - Roy Chapman Andrews, nhà thám hiểm, người phiêu lưu người Mỹ (s. 1884)
1967 - Geraldine Farrar, ca sĩ soprano người Mỹ (s. 1882)
1969 - John Wyndham, tác gia người Anh (s. 1903)
1970 - Erle Stanley Gardner, tiểu thuyết gia người Mỹ (s. 1889)
1977 - Ulysses S. Grant IV, nhà địa chất người Mỹ (s. 1893)
1977 - Alberto Rodriguez Larreta, người đua xe người Argentina (s. 1934)
1978 - Claude François, ca sĩ người Pháp (s. 1939)
1982 - Edmund Cooper, tác gia người Anh (s. 1926)
1982 - Horace Gregory, nhà thơ người Mỹ (s. 1898)
1986 - Sonny Terry, nhạc blues nhạc sĩ người Mỹ (s. 1911)
1987 - Joe Gladwin, diễn viên người Anh (s. 1906)
1989 - James Kee, chính khách người Mỹ (s. 1917)
1989 - John J. McCloy, thư ký, bí thư chiến tranh Mỹ (s. 1895)
1990 - Dean Horrix, cầu thủ bóng đá người Anh (s. 1961)
1992 - Richard Brooks, đạo diễn phim người Mỹ (s. 1912)
1993 - Dino Bravo, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Ý (s. 1949)
1996 - Vince Edwards, diễn viên, người đạo diễn người Mỹ (s. 1928)
1999 - Camille Laurin, nhà tâm thần học, chính khách Quebec (s. 1922)
2002 - James Tobin, nhà kinh tế học, giải thưởng Nobel người Mỹ (s. 1918)
2003 - Brian Cleeve, tác gia người Ireland (s. 1921)
2005 - Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân nhà sách Khai Trí và người bảo trợ Tập san Sử Địa (s. 1925)
2006 - Bernie "Boom Boom" Geoffrion, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Canada (s. 1931)
2006 - Cựu Tổng thống Nam Tư Slobodan Milošević
2007 - Betty Hutton, nữ diễn viên, ca sĩ người Mỹ (s. 1921)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
liên hiệp quốc.txt | Liên Hiệp Quốc hay Liên Hợp Quốc (thường được viết tắt là LHQ) là một tổ chức quốc tế có mục đích duy trì hòa bình và an ninh trên thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc.
Hiện nay, Liên Hiệp Quốc có 193 thành viên, bao gồm hầu hết các quốc gia có chủ quyền trên Trái Đất. Liên Hiệp Quốc sử dụng 6 ngôn ngữ chính thức: tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Trung.
Từ trụ sở trong lãnh phận quốc tế tại thành phố New York, Liên Hiệp Quốc và các cơ quan chuyên môn của nó quyết định các vấn đề về điều hành và luật lệ. Theo hiến chương LHQ thì tổ chức này gồm 6 cơ quan chính, gồm: Đại Hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Ban Thư ký, Tòa án Công lý Quốc tế, Hội đồng Ủy trị Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra, một số tổ chức tiến hành quản lý các cơ quan của Hệ thống Liên Hiệp Quốc, ví dụ như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF).
Nhân vật đại diện tiêu biểu nhất của Liên Hiệp Quốc là Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, đương nhiệm là António Guterres.
Kinh phí hoạt động của Liên Hiệp Quốc được hình thành bằng tài trợ đóng góp tự nguyện và nguồn niên liễm có kiểm soát từ các nước thành viên
== Các tổ chức trong Liên Hiệp Quốc ==
Ngân hàng Thế giới (World Bank Group - WBG)
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund - IMF)
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization - WIPO)
Lực lượng gìn giữ hoà bình Liên Hiệp Quốc (Department Of Peacekeeping Operations - DPKO)
== Lịch sử hình thành ==
Trụ sở Liên Hiệp Quốc được đặt trong lãnh phận quốc tế tại Manhattan, Thành phố New York, Hoa Kỳ.
Tiền thân của Liên Hiệp Quốc là Hội Quốc Liên (League of Nations), vốn là một sáng kiến của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Hoa Kỳ tuy sáng lập nhưng lại không chính thức làm hội viên, hơn thế quy chế hoạt động của hội lại lỏng lẻo, các cường quốc như Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Pháp, Nga, Đức, Ý, Nhật Bản tham gia vốn chỉ để tranh giành ảnh hưởng cho mình. Dù hội đạt được một số thành tựu đáng kể trong công cuộc giải phóng phụ nữ cũng như những hoạt động nhân đạo nhưng chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và buộc Hội quốc liên phải giải tán.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Khối Đồng Minh và nhân dân thế giới có nguyện vọng giữ gìn hòa bình và ngăn chặn các cuộc chiến tranh thế giới mới. Tại Hội nghị Yalta, nguyên thủ ba nước Liên Xô, Mỹ, Anh đã thống nhất thành lập tổ chức quốc tế để giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới. Trên cơ sở Hội nghị Durbarton Oaks ở Washington, D.C., từ 25 tháng 4 đến 26 tháng 6 năm 1945, đại diện của 50 quốc gia đã họp tại San Francisco, California, Hoa Kỳ để thông qua Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Ngày 24 tháng 10 năm 1945, Liên Hiệp Quốc chính thức được thành lập. Tuy vậy, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc (General Assembly) đầu tiên, tham dự bởi 51 nước, không được tổ chức cho mãi đến ngày 10 tháng 1 năm 1946 (tại Nhà họp chính Westminster ở Luân Đôn).
"Một sự nghiệp vĩ đại để tạ ơn Đức Chúa toàn năng..." Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đã nói như vậy về thành tựu của hội nghị tại San Francisco, một hội nghị đã góp phần vào việc soạn thảo bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945. Câu nói của tổng thống Truman đã đại diện cho hàng triệu người, những người tin rằng tổ chức mới này sẽ làm cho những cuộc chiến tranh thế giới lùi sâu vào dĩ vãng. Lời tựa của bản Hiến chương đã nêu rõ mục đích của tổ chức này: "Chúng tôi, những dân tộc của Liên Hiệp Quốc, quyết tâm cứu những thế hệ mai sau khỏi thảm họa chiến tranh...".
== Thành viên ==
Tới năm 2011 có 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, gồm tất cả các quốc gia độc lập được thế giới công nhận. Trong số những nước không phải thành viên, đáng chú ý nhất là Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), ghế của họ tại Liên Hiệp Quốc đã được chuyển giao cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1971; Tòa Thánh (thực thể quản lý Thành Vatican), vốn đã từ bỏ quy chế thành viên nhưng vẫn là một quốc gia quan sát viên; Nhà nước Palestine (là một quan sát viên cùng với Chính quyền Quốc gia Palestine). Hơn nữa, những dân tộc dưới chủ quyền nước ngoài và các quốc gia không được công nhận cũng không hiện diện tại Liên Hiệp Quốc, như Transnistria. Thành viên mới nhất của Liên Hiệp Quốc là Nam Sudan, chính thức gia nhập ngày 14 tháng 7 năm 2011.
Liên Hiệp Quốc đã vạch ra các nguyên tắc cơ bản cho tư cách thành viên:
Tư cách thành viên của Liên Hiệp Quốc mở rộng cho tất cả các quốc gia yêu chuộng hòa bình và chịu chấp nhận các nguyên tắc được đặt ra trong Hiến chương hiện thời và trong các phán quyết của Tổ chức, có thể và sẵn sàng thực thi những nguyên tắc đó.
Sự thu nhận một quốc gia như thế vào Liên Hiệp Quốc sẽ bị ảnh hưởng bởi quyết định của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc với sự giới thiệu của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
== Trụ sở ==
Toà nhà trụ sở Liên Hiệp Quốc hiện nay được xây dựng trên một khu đất rộng 16 acre tại Thành phố New York trong giai đoạn từ năm 1949 tới 1950, bên cạnh Khu phía Đông của thành phố. Khu đất này được John D. Rockefeller, Jr. mua với giá 8.5 triệu dollar, con trai ông Nelson là nhà thương thuyết chủ yếu với chuyên viên thiết kế William Zeckendorf, vào tháng 12 năm 1946. Sau đó John D. Rockefeller, Jr. tặng khu đất này cho Liên Hiệp Quốc.
Trụ sở được một đội các kiến trúc sư quốc tế gồm cả Le Corbusier (Thuỵ Sĩ), Oscar Niemeyer (Brasil) và đại diện từ nhiều nước khác thiết kế. Wallace K. Harrison, một cố vấn của Nelson Rockefeller, lãnh đạo đội. Đã xảy ra một vụ rắc rối giữa những người tham gia về thẩm quyền của từng người. Trụ sở Liên Hiệp Quốc chính thức mở cửa ngày 9 tháng 1 năm 1951. Trụ sở chính của Liên Hiệp Quốc nằm tại New York, trụ sở một số cơ quan khác của tổ chức này nằm tại Geneva, La Hay, Wien, Montréal, Copenhagen, Bonn và nhiều nơi khác.
Địa chỉ trụ sở Liên Hiệp Quốc là 760 United Nations Plaza, New York, NY 10017, USA. Vì những lý do an ninh, tất cả thư từ gửi tới địa chỉ trên đều được tiệt trùng.
Các tòa nhà Liên Hiệp Quốc đều không được coi là các khu vực tài phán chính trị riêng biệt, nhưng thực sự có một số quyền chủ quyền. Ví dụ, theo những thỏa thuận với các nước chủ nhà Cơ quan quản lý thư tín Liên Hiệp Quốc được phép in tem thư để gửi thư tín trong nước đó. Từ năm 1951 văn phòng tại New York, từ năm 1969 văn phòng tại Geneva, và từ năm 1979 văn phòng tại Wien đã in ấn tem riêng của mình. Các tổ chức của Liên Hiệp Quốc cũng sử dụng tiền tố viễn thông riêng, 4U, và về mặt không chính thức, các trụ sở tại New York, Geneva và Wien được coi là các thực thể riêng biệt đối với các mục đích radio không chuyên.
Bởi trụ sở chính của Liên Hiệp Quốc đã trải qua một quá trình sử dụng khá dài, Liên Hiệp Quốc hiện đang trong quá trình xây dựng một trụ sở tạm do Fumihiko Maki thiết kế trên Đại lộ thứ nhất giữa Phố 41 và Phố 42 để dùng tạm khi công trình hiện nay đang được tu sửa.
Trước năm 1949, Liên Hiệp Quốc sử dụng nhiều địa điểm tại Luân Đôn và tiểu bang New York.
== Tài chính ==
Liên Hiệp Quốc hoạt động nhờ tiền đóng góp và tiền quyên tự nguyện từ các quốc gia thành viên. Những ngân sách chính thức 2 năm của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức chuyên biệt của họ lấy từ những khoản đóng góp. Đại hội đồng thông qua ngân sách chính thức và quyết định khoản đóng góp của mỗi quốc gia thành viên. Điều này dựa chủ yếu trên năng lực chi trả của mỗi nước, tính theo những số liệu thống kê thu nhập cùng với những yếu tố khác.
Đại hội đồng đã đưa ra nguyên tắc rằng Liên Hiệp Quốc sẽ không quá phụ thuộc vào bất kỳ 1 quốc gia thành viên nào trong lĩnh vực tài chính cần thiết cho những hoạt động của mình. Vì thế, có một mức "trần", quy định khoản tiền tối đa một nước có thể đóng góp cho ngân sách. Tháng 12 năm 2000, Đại hội đồng đã sửa đổi tỷ lệ đóng góp để phản ánh chính xác hơn cục diện thế giới hiện tại. Như một phần của sự sửa đổi này, trần đóng góp được giảm từ 25% xuống 22%. Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất đóng góp ở mức trần, nhưng những khoản tiền họ còn thiếu lên tới hàng trăm triệu dollar (xem Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc). Theo mức đóng góp mới được thông qua năm 2000, các nước đóng góp lớn khác vào ngân sách Liên Hiệp Quốc năm 2001 là Nhật Bản (19.63%), Đức (9.82%), Pháp (6.50%), Anh (5.57%), Ý (5.09%), Canada (2.57%), Tây Ban Nha (2.53%) và Brasil (2.39%).
Các chương trình đặc biệt của Liên Hiệp Quốc không được tính vào ngân sách chính thức của tổ chức này (ví dụ như UNICEF và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc - UNDP), chúng hoạt động nhờ những khoản quyên góp tự nguyện từ các chính phủ thành viên. Một số các khoản đóng góp dưới hình thức các loại thực phẩm nông nghiệp viện trợ cho những người bị ảnh hưởng, nhưng chủ yếu vẫn là tiền mặt.
== Ngôn ngữ ==
Liên Hiệp Quốc sử dụng 6 ngôn ngữ chính thức: tiếng Ả Rập, tiếng Hoa, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha. Ban thư ký sử dụng 2 ngôn ngữ làm việc: (tiếng Anh và tiếng Pháp).
Khi Liên Hiệp Quốc được thành lập, năm ngôn ngữ chính thức được lựa chọn là: tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Nga. Tiếng Ả Rập được đưa vào thêm năm 1973. Hiện có những tranh cãi trái chiều về việc liệu có nên giảm bớt số lượng ngôn ngữ chính thức (ví dụ chỉ giữ lại tiếng Anh) hay nên tăng thêm con số này. Áp lực đòi đưa thêm tiếng Hindi thành ngôn ngữ chính thức đang ngày càng gia tăng. Năm 2001, các nước nói tiếng Tây Ban Nha phàn nàn rằng tiếng Tây Ban Nha không có tư cách ngang bằng so với tiếng Anh. Những nỗ lực chống lại sự tụt giảm vị thế của tiếng Pháp trong tổ chức này cũng rất to lớn; vì thế tất cả các Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đều phải biết dùng tiếng Pháp và rõ ràng việc Tổng thư ký mới Ban Ki-Moon gặp khó khăn để có thể nói trôi chảy ngôn ngữ này trong buổi họp báo đầu tiên của ông bị một số người coi là một sự mất điểm .
Tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc đối với các tài liệu bằng tiếng Anh (Hướng dẫn xuất bản Liên Hiệp Quốc) tuân theo quy tắc của tiếng Anh. Liên Hiệp Quốc và tất cả các tổ chức khác là một phần của hệ thống Liên Hiệp Quốc sử dụng phương pháp đánh vần Oxford. Tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc về tiếng Hoa (Quan thoại) đã thay đổi khi Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) phải nhường ghế cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1971. Từ năm 1945 đến 1971 kiểu chữ phồn thể được sử dụng, và từ năm 1971 kiểu chữ giản thể đã thay thế.
Trong số các ngôn ngữ chính thức của Liên Hiệp Quốc, tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của 52 quốc gia thành viên, tiếng Pháp của 29 thành viên, tiếng Ả Rập là 24, tiếng Tây Ban Nha là 20, tiếng Nga tại 4 và tiếng Trung Quốc tại 2 nước. Tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Đức là những ngôn ngữ được sử dụng ở khá nhiều nước thành viên Liên Hiệp Quốc (8 và 6) nhưng lại không phải là ngôn ngữ chính thức của tổ chức này.
== Các mục đích và hoạt động ==
=== Các mục đích của Liên Hiệp Quốc ===
Những mục đích được nêu ra của Liên Hiệp Quốc là ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ nhân quyền, cung cấp một cơ cấu cho luật pháp quốc tế, và để tăng cường tiến bộ kinh tế, xã hội, cải thiện các điều kiện sống và chống lại bệnh tật. Liên Hiệp Quốc tạo cơ hội cho các quốc gia nhằm đạt tới sự cân bằng trong sự phụ thuộc lẫn nhau trên bình diện thế giới và giải quyết các vấn đề quốc tế. Nhằm mục đích đó, Liên Hiệp Quốc đã phê chuẩn một Tuyên ngôn Chung về Nhân quyền năm 1948.
=== Các hội nghị quốc tế ===
Các quốc gia Liên Hiệp Quốc và các cơ quan đặc biệt của nó — "những stakeholder" của hệ thống — đưa ra hướng dẫn và quyết định về những vấn đề lớn và vấn đề hành chính trong những cuộc gặp thông lệ được tổ chức suốt năm. Các cơ cấu quản lý được hình thành từ các quốc gia thành viên, không chỉ gồm Đại hội đồng, Hội đồng Kinh tế Xã hội và Hội đồng Bảo an, mà còn cả các cơ cấu tương đương chịu trách nhiệm quản lý tất cả các cơ quan khác của Hệ thống Liên Hiệp Quốc. Ví dụ Đại hội đồng Y tế và Ban Chấp hành quản lý công việc của Tổ chức Y tế Thế giới.
Khi một vấn đề được coi là có tầm quan trọng đặc biệt, Đại hội đồng có thể triệu tập một phiên họp đặc biệt để tập trung sự chú ý toàn cầu và xây dựng một phương hướng hành động chung. Những ví dụ gần đây gồm:
Hội thảo Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển (Thượng đỉnh Trái Đất) tại Rio de Janeiro, Brasil, tháng 6 năm 1992, dẫn tới sự thành lập Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về sự Phát triển Bền vững nhằm thực hiện những điều đã được ký kết tại Chương trình nghị sự 21, văn bản cuối cùng về những thỏa thuận đã được các chính phủ thảo luận tại UNCED;
Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển, được tổ chức tại Cairo, Ai Cập, vào tháng 9 năm 1994, đã thông qua một chương trình hành động nhằm giải quyết các thách thức nguy ngập và mối quan hệ liên quan giữa dân số và sự phát triển bền vững trong vòng 20 năm tới;
Hội nghị Thế giới lần thứ tư về Phụ nữ, được tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc, vào tháng 9 năm 1995, tìm cách đẩy nhanh việc thực hiện những thỏa thuận lịch sử đã đạt được tại Hội nghị Thế giới lần thứ ba về Phụ nữ;
Hội nghị Liên Hiệp Quốc lần thứ hai về Sự định cư Loài người (Habitat II), được triệu tập tháng 6 năm 1996 tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, đánh giá những thách thức trước sự phát triển và quản lý định cư loài người trong thế kỷ 21.
ICARA 2 or ICARA II: Hội nghị Quốc tế về sự Hỗ trợ Người tị nạn tại châu Phi được thành lập năm 1984.
=== Những năm quốc tế và những vấn đề liên quan ===
Liên Hiệp Quốc tuyên bố và điều phối "Năm quốc tế..." nhằm tập trung sự chú ý của thế giới vào các vấn đề quan trọng. Sử dụng hình tượng Liên Hiệp Quốc, một logo được thiết kế đặc biệt cho năm đó, và cơ sở hạ tầng của Hệ thống Liên Hiệp Quốc nhằm phối hợp các sự kiện trên khắp thế giới, nhiều năm đã trở thành điểm xúc tác cho những vấn đề quan trọng trên phạm vi thế giới.
Đại sứ thiện chí UNESCO
Di sản văn hóa thế giới UNESCO
Đại sứ thiện chí của UNHCR
Thành phố Liên Hiệp Quốc vì hòa bình
=== Mục tiêu kiểm soát và giải giáp vũ khí ===
Hiến chương năm 1945 của Liên Hiệp Quốc dự định đưa ra một hệ thống quy định sẽ đảm bảo "sự chi tiêu nhỏ nhất các nguồn tài nguyên con người và kinh tế thế giới cho vũ khí". Phát minh ra các loại vũ khí hạt nhân xảy ra chỉ vài tuần sau khi Hiến chương được ký kết và ngay lập tức thúc đẩy ý tưởng hạn chế và giải giáp vũ khí. Trên thực tế, nghị quyết đầu tiên của phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng (ngày 24 tháng 1 năm 1946) có tiêu đề "Sự thành lập một Ủy ban giải quyết các Vấn đề Phát sinh do sự Phát minh ra Năng lượng Nguyên tử" và kêu gọi đưa ra những đề xuất khoa học cho "sự hạn chế trang bị các loại vũ khí nguyên tử và tất cả các loại vũ khí chính khác với mục đích hủy diệt hàng loạt".
Liên Hiệp Quốc đã lập ra nhiều diễn đàn nhằm giải quyết các vấn đề giải giáp vũ khí đa biên. Các diễn đàn chính là Ủy ban Thứ nhất của Đại hội đồng và Cao ủy về Giải giáp vũ khí Liên Hiệp Quốc. Những vấn đề được đưa vào chương trình nghị sự gồm việc ước tính những giá trị có được sau những hiệp ước cấm thử hạt nhân, kiểm soát vũ khí không gian, những nỗ lực nhằm ngăn chặn các loại vũ khí hóa học, giải giáp vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường, những khu vực không vũ khí hạt nhân, giảm bớt ngân sách quân sự, và các biện pháp nhằm tăng cường an ninh quốc tế.
Hội nghị Giải giáp là một diễn đàn được cộng đồng thế giới lập ra để đảm phán về các thỏa thuận kiểm soát vũ khí đa bên và giải giáp vũ khí. Diễn đàn có 66 thành viên đại diện cho mọi khu vực trên thế giới, gồm cả năm quốc gia hạt nhân chính (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Pháp, Nga, Anh Quốc và Hoa Kỳ). Tuy hội nghị không phải là một tổ chức chính thức của Liên Hiệp Quốc, nó kết nối với tổ chức này thông qua sự hiện diện cá nhân của Tổng thư ký; người đồng thời cũng là tổng thư ký của hội nghị. Những nghị quyết được Đại hội đồng thông qua thường yêu cầu hội nghị xem xét các vấn đề giải giáp riêng biệt. Đổi lại, hàng năm hội nghị thông báo các hoạt động của mình cho Đại hội đồng.
=== Giữ gìn hòa bình ===
Lính gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc được gửi tới nhiều vùng nơi các cuộc xung đột quân sự mới chấm dứt, nhằm buộc các bên tôn trọng các thỏa thuận hòa bình và ngăn chặn tình trạng thù địch tái diễn, ví dụ tại Đông Timor cho tới khi nước này giành độc lập năm 2001. Các lực lượng đó do các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc đóng góp, và việc tham dự vào các chiến dịch gìn giữ hòa bình là không bắt buộc; tới nay chỉ có hai quốc gia là Canada và Bồ Đào Nha, đã tham gia vào tất cả các chiến dịch gìn giữ hòa bình. Liên Hiệp Quốc không duy trì bất kỳ một lực lượng quân sự độc lập nào. Tất cả các chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc phải được Hội đồng bảo an thông qua.
Những người sáng lập Liên Hiệp Quốc đã thực sự hy vọng rằng tổ chức này sẽ hoạt động để ngăn chặn những cuộc xung đột giữa các quốc gia và các cuộc chiến tranh trong tương lai. Những hy vọng đó không hoàn toàn trở thành hiện thực. Trong thời Chiến tranh Lạnh (từ khoảng năm 1945 tới năm 1991), sự phân chia thế giới thành những phe thù địch khiến thỏa thuận gìn giữ hòa bình rất khó được thông qua. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, lại tái xuất hiện những lời kêu gọi biến Liên Hiệp Quốc trở thành một cơ quan đảm bảo hòa bình quốc tế, bởi hàng chục những cuộc xung đột quân sự vẫn tiếp tục diễn ra trên khắp thế giới. Nhưng sự tan vỡ của Liên bang Xô viết cũng khiến Hoa Kỳ có được vị thế thống trị toàn cầu duy nhất, tạo ra nhiều thách thức mới cho Liên Hiệp Quốc.
Các chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc sử dụng nguồn tài chính từ các khoản đóng góp, tính theo công thức đóng góp tỷ lệ thông thường, nhưng gồm cả những chi phí cộng thêm đối với năm thành viên thường trực của Hội đồng bảo an, những nước có quyền thông qua việc tiến hành những chiến dịch gìn giữ hòa bình đó. Khoản thu thêm này sẽ bù đắp cho những khoản phí gìn giữ hòa bình của các quốc gia kém phát triển. Tháng 12 năm 2000, Liên Hiệp Quốc đã sửa đổi tỷ lệ đóng góp vào ngân sách hoạt động và ngân sách gìn giữ hòa bình. Tỷ lệ đóng góp cho việc gìn giữ hòa bình sẽ được thay đổi sáu tháng một lần và dự kiến là gần 27% cho năm 2003. Hoa Kỳ dự định đóng góp chi phí gìn giữ hòa bình ở mức thấp này và đang tìm kiếm sự ủng hộ pháp lý từ phía Nghị viện nhằm cho phép giải ngân các khoản góp họ còn nợ Liên Hiệp Quốc.
Các lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc (được gọi là Quân mũ nồi xanh) đã nhân được Giải Nobel năm 1998 cho công lao giữ gìn Hòa bình của họ. Năm 2001, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan (nhiệm kỳ 1997 - 2006) đã đoạt giải Nobel Hòa bình "vì nỗ lực cho một thế giới hòa bình và được tổ chức tốt hơn".
Liên Hiệp Quốc có nhiều loại Huy chương Liên Hiệp Quốc để trao cho những thành viên quân sự tham gia vào việc gìn giữ các thỏa thuận hòa bình của tổ chức này. Huy chương đầu tiên ra đời là Huy chương Phục vụ Liên Hiệp Quốc, được trao cho các lực lượng Liên Hiệp Quốc tham gia vào cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Huy chương NATO cũng ra đời với mục tiêu như trên và cả hai loại này đều được coi là huy chương quốc tế chứ không phải huy chương quân sự.
=== Nhân quyền ===
Việc theo đuổi mục tiêu nhân quyền là một lý do chính của việc thành lập Liên Hiệp Quốc. Sự tàn bạo của Chiến tranh thế giới thứ hai và nạn diệt chủng dẫn tới một kết luận chung rằng tổ chức mới này phải hoạt động để ngăn chặn bất kỳ một thảm kịch nào như vậy trong tương lai. Một mục tiêu ban đầu là tạo ra một khung pháp lý để xem xét và hành động trước những vấn đề về vi phạm nhân quyền.
Hiến chương Liên Hiệp Quốc bắt buộc tất cả các quốc gia thành viên phải khuyến khích "sự tôn trọng toàn diện và sự tuân thủ nhân quyền" và tiến hành "các hành động chung hay riêng rẽ" cho mục tiêu đó. Tuyên bố Chung về Nhân quyền, dù không chính thức ràng buộc, đã được Đại hội đồng thông qua năm 1948 như là một tiêu chuẩn chung để hướng tới đối với mọi nước thành viên. Đại hội đồng thường đề cập tới các vấn đề nhân quyền.
Ngày 15 tháng 3 năm 2006 Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu với kết quả áp đảo để thay thế Uỷ ban nhân quyền (Human rights Commission) bằng Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (Human Rights Council). Mục tiêu của nó là giải quyết các vụ vi phạm nhân quyền. Uỷ ban nhân quyền đã nhiều lần bị chỉ trích vì thành phần thành viên của nó. Đặc biệt, chính nhiều nước thành viên của cơ quan này cũng có thành tích nhân quyền kém cỏi, gồm cả những nước có đại diện được bầu làm chủ tịch ủy ban.
Hiện có bảy Cơ cấu hiệp ước nhân quyền liên quan tới Liên Hiệp Quốc, gồm Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và Ủy ban về Sự hạn chế và Ngăn chặn bạo hành chống Phụ nữ. Ban thư ký của sáu (trừ Ủy ban Hạn chế và ngăn chặn bạo hành chống phụ nữ) đều do văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên Hiệp Quốc điều hành.
Liên Hiệp Quốc và các cơ quan của mình là nhân tố chủ chốt thúc đẩy và áp dụng các nguyên tắc thiêng liêng trong Tuyên bố Chung về Nhân quyền. Một trường hợp như thế là việc Liên Hiệp Quốc hỗ trợ các nước đang trong quá trình chuyển tiếp sang chế độ dân chủ. Hỗ trợ kỹ thuật trong việc tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng, cải thiện các cơ cấu pháp lý, khởi thảo hiến pháp, huấn luyện các nhân viên nhân quyền, và chuyển các phong trào vũ trang thành các đảng chính trị đã đóng góp rất lớn vào quá trình dân chủ hóa trên khắp thế giới. Liên Hiệp Quốc đã giúp tổ chức các cuộc bầu cử tại những quốc gia vốn có thành tích dân chủ yếu kém, gồm cả hai quốc gia gần đây là Afghanistan và Đông Timor.
Liên Hiệp Quốc cũng là một diễn đàn hỗ trợ quyền phụ nữ tham gia đầy đủ vào đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước họ. Liên Hiệp Quốc góp phần vào việc hướng sự chú ý của dư luận vào khái niệm nhân quyền thông qua các hiệp ước của nó và sự chú ý của tổ chức này vào những vụ lạm dụng đặc biệt thông qua các nghị quyết của Đại hội đồng hay Hội đồng bảo an hay thông qua những quyết định của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ).
Đầu năm 2006, một nhóm hội thảo chống tra tấn tại Liên Hiệp Quốc đã đề xuất việc đóng cửa Nhà tù Vịnh Guantanamo và chỉ trích cái gọi là sự sử dụng những nhà tù bí mật và sự nghi ngờ việc vận chuyển tù nhân tới nước ngoài cho mục đích hỏi cung của Hoa Kỳ. Một số thành viên Đảng Dân chủ Hoa Kỳ và các nhóm nhân quyền cho rằng hệ thống nhà tù bí mật của CIA không cho phép giám sát được các vụ vi phạm nhân quyền và hy vọng chúng sẽ sớm bị đóng cửa.
=== Hỗ trợ nhân đạo và Phát triển quốc tế ===
Phối hợp với các tổ chức khác như Chữ thập đỏ, Liên Hiệp Quốc cung cấp thực phẩm, nước uống, nơi cư ngụ và các dịch vụ nhân đạo khác cho những người dân đang phải chịu nạn đói, phải rời bỏ nhà cửa vì chiến tranh, hay bị ảnh hưởng bởi các thảm họa khác. Các cơ quan nhân đạo chính của Liên Hiệp Quốc là Chương trình Lương thực Thế giới (đã giúp cung cấp thực phẩm cho hơn 100 triệu người mỗi năm ở hơn 80 quốc gia), Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn hiện điều hành các dự án ở hơn 116 nước, cũng như các chiến dịch gìn giữ hòa bình tại hơn 24 quốc gia. Nhiều lần, các nhân viên cứu trợ của Liên Hiệp Quốc đã trở thành mục tiêu của các vụ tấn công (xem Các vụ tấn công vào nhân viên cứu trợ nhân đạo).
Liên Hiệp Quốc cũng tham gia vào việc hỗ trợ phát triển, ví dụ thông qua việc đưa ra Các mục tiêu Thiên niên kỷ. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) là tổ chức đa bên lớn nhất tiến hành hỗ trợ kỹ thuật trên thế giới. Các tổ chức khác như WHO, UNAIDS, và Quỹ thế giới Phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét — là các định chế hàng đầu trong cuộc chiến chống lại bệnh tật trên thế giới, đặc biệt tại các nước nghèo. Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc là nhà cung cấp chính các dịch vụ sinh sản. Quỹ này đã giúp giảm tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em tại 100 quốc gia.
Hàng năm Liên Hiệp Quốc đưa ra Chỉ số Phát triển Con người (HDI), một biện pháp so sánh xếp hạng quốc gia theo sự nghèo khổ, học vấn, giáo dục, tuổi thọ, và các yếu tố khác.
Liên Hiệp Quốc khuyến khích phát triển con người thông qua nhiều cơ quan và văn phòng của mình:
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) loại trừ bệnh đậu mùa năm 1977 và đang tiến gần tới mục tiêu loại trừ bệnh bại liệt.
Ngân hàng Thế giới / Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Ghi chú: Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế được thành lập với tư cách các thực thể riêng biệt khỏi Liên Hiệp Quốc thông qua Thỏa thuận Bretton Woods năm 1944. Sau đó, vào năm 1947, một thỏa thuận khác được ký kết biến các tổ chức hậu Bretton Woods trở thành các cơ quan độc lập, chuyên biệt và là những cơ quan giám sát bên trong cơ cấu Liên Hiệp Quốc. Đây là trang của Ngân hàng Thế giới làm sáng tỏ quan hệ giữa hai tổ chức.
Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP)
Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP)
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO)
Quỹ Trẻ em Liên Hiệp Quốc(UNICEF)
Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (UNHCR)
Ngày 9 tháng 3 năm 2006, Tổng thư ký Kofi Annan đã lập ra Quỹ Cứu trợ Khẩn cấp Trung ương (CERF) dành cho những người dân Châu Phi đang bị nạn đói đe doạ.
Liên Hiệp Quốc cũng có một cơ quan gọi là Hội đồng Lương thực Thế giới với mục đích phối hợp các bộ nông nghiệp các nước nhằm giảm nhẹ nạn đói và suy dinh dưỡng. Tổ chức này tạm ngừng hoạt động năm 1993.
=== Các hiệp ước và luật pháp quốc tế ===
Liên Hiệp Quốc đàm phán các hiệp ước như Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển nhằm tránh những nguy cơ xung đột quốc tế tiềm tàng. Những tranh cãi về việc sử dụng các đại dương có thể được phân xử tại một tòa án đặc biệt.
Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) là tòa án chính của Liên Hiệp Quốc. Mục tiêu của tòa án này là để phán xử những tranh cãi giữa các quốc gia thành viên. ICJ bắt đầu hoạt động năm 1946 và vẫn đang xem xét nhiều vụ việc. Các trường hợp đáng chú ý gồm:
Congo và Pháp, khi Cộng hòa Dân chủ Congo cáo buộc Pháp bắt giữ bất hợp pháp các cựu lãnh đạo bị cho là tội phạm chiến tranh; và Nicaragua với Hoa Kỳ, khi Nicaragua buộc tội Mỹ trang bị vũ khí bất hợp pháp cho Contras (vụ này dẫn tới Vụ Iran-Contra).
Năm 1993, đối phó với sự "thanh lọc sắc tộc" tại Nam Tư cũ, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã thành lập Tòa án tội phạm quốc tế cho Nam Tư cũ. Năm 1994, đối phó với nạn diệt chủng tại Rwanda, Hội đồng đã thành lập Tòa án tội phạm quốc tế cho Rwanda. Việc phán xử tại hai tòa án đó đã thiết lập nên cơ sở xác định hiện nay rằng hành vi tội phạm cưỡng bức trong những cuộc xung đột quân sự là tội ác chiến tranh.
Năm 1998 Đại hội đồng kêu gọi triệu tập một hội nghị tại Roma về việc thành lập một Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC), tại đây "Quy chế Roma" đã được thông qua. Tòa án Tội phạm quốc tế bắt đầu hoạt động năm 2002 và tiến hành phiên xử đầu tiên năm 2006. Đây là tòa án quốc tế thường trực đầu tiên chịu trách nhiệm xét xử những người bị cho là phạm các tội ác nghiêm trọng theo luật pháp quốc tế gồm cả tội ác chiến tranh và diệt chủng. Tuy nhiên, hoạt động của ICC độc lập với Liên Hiệp Quốc cả về nhân sự và tài chính, dù một số cuộc gặp gỡ của cơ quan điều hành ICC, Đại hội đồng các Quốc gia tham gia Quy chế Roma, được tổ chức tại Liên Hiệp Quốc. Có một "thỏa thuận quan hệ" giữa ICC và Liên Hiệp Quốc để quy định mối quan hệ giữa hai định chế này với nhau.
Năm 2002, Liên Hiệp Quốc đã thành lập Tòa án đặc biệt cho Sierra Leone để đối phó trước những hành động tàn bạo xảy ra trong thời gian nội chiến tại nước này.
Cũng có một SCIU (Đơn vị Điều tra những Tội ác Nghiêm trọng) cho Đông Timor.
=== Những gương mặt nổi tiếng của Liên Hiệp Quốc ===
Nhiều cá nhân theo chủ nghĩa nhân đạo và người nổi tiếng đã cùng hoạt động với Liên Hiệp Quốc, gồm Amitabh Bachchan, Audrey Hepburn, Eleanor Roosevelt, Danny Kaye, Roger Moore, Peter Ustinov, Bono, Jeffrey Sachs, Angelina Jolie, Mẹ Teresa, Shakira, Jay Z và Nicole Kidman.
== Cải cách ==
Những năm gần đây đã có nhiều lời kêu gọi cải cách Liên Hiệp Quốc. Nhưng vẫn chưa có nhiều triển vọng sáng sủa, chỉ riêng việc các nước chịu đồng thuận với nhau, về cách cải tổ như thế nào. Một số nước muốn Liên Hiệp Quốc đóng một vai trò lớn và hiệu quả hơn trong các công việc chung của thế giới, những nước khác muốn giảm xuống chỉ còn vai trò nhân đạo. Cũng có nhiều lời kêu gọi cải cách quy chế thành viên trong Hội đồng Bảo an nhằm phản ánh chính xác hơn tình thế địa chính trị quốc tế ngày nay (ví dụ tăng số thành viên châu Phi, Nam Mỹ và châu Á). Năm 2004 và 2005, những chứng cớ như quản lý kém và tham nhũng liên quan tới Chương trình đổi dầu lấy lương thực cho Iraq dưới thời Saddam Hussein khiến một lần nữa những lời kêu gọi cải cách lại dấy lên.
Một chương trình cải cách chính thức đã được Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan đưa ra một thời gian ngắn sau khi ông nhậm chức trong nhiệm kỳ đầu tiên ngày 1 tháng 1 năm 1997. Những hành động cải cách liên quan tới việc thay đổi số lượng thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (hiện chỉ phản ánh quan hệ quyền lực năm 1945); biến quá trình hoạt động của bộ máy trở nên công khai hơn, nhấn mạnh trên hiệu quả; biến Liên Hiệp Quốc trở nên dân chủ hơn; và áp đặt một biểu thuế quốc tế trên các công ty sản xuất vũ khí toàn cầu.
Tháng 9 năm 2005, Liên Hiệp Quốc đã triệu tập một Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới với sự tham gia của hầu hết nguyên thủ quốc gia các nước thành viên, trong một khóa họp toàn thể của phiên họp toàn thể Đại hội đồng lần thứ 60. Liên Hiệp Quốc gọi cuộc họp thượng đỉnh là "một cơ hội hàng thế hệ mới có một lần nhằm đưa ra những quyết định quan trọng về phát triển, an ninh, nhân quyền và cải cách liên hiệp quốc". Tổng thư ký Kofi Annan đã đề xuất hội nghị đồng ý về một "thỏa thuận cả gói" để cải cách Liên Hiệp Quốc sửa chữa lại các hệ thống quốc tế vì hòa bình và an ninh, nhân quyền và phát triển, để khiến chúng có khả năng giải quyết những thách thức rất lớn mà Liên Hiệp Quốc sẽ phải đối mặt trong thế kỷ 21. Các nhà lãnh đạo thế giới đã đồng thuận trên một văn bản về những vấn đề đáng chú ý đó như:
thành lập một Hội đồng xây dựng hòa bình để tạo lập một cơ cấu trung tâm nhằm giúp đỡ các quốc gia đang đứng trước nguy cơ xung đột;
thỏa thuận rằng cộng đồng quốc tế có quyền can thiệp khi các chính phủ quốc gia không thể hoàn thành trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ các công dân của mình khỏi những hành động tội ác;
một Ủy ban Nhân quyền (thành lập ngày 9 tháng 5 và sẽ bắt đầu hoạt động 19 tháng 6);
một thỏa thuận cung cấp thêm những nguồn tài nguyên cho Văn phòng các Dịch vụ Giám sát Nội bộ Liên Hiệp Quốc;
nhiều thỏa thuận chi thêm hàng tỷ dollar nhằm đạt các Mục tiêu Thiên niên kỷ;
một sự lên án rõ ràng và không tham vọng với chủ nghĩa khủng bố "ở mọi hình thức và mọi kiểu";
một quỹ dân chủ;
một thỏa thuận nhằm chấm dứt hoạt động của Hội đồng Ủy trị vì hội đồng này đã hoàn thành sứ mệnh của mình.
Dù các nước thành viên Liên Hiệp Quốc chưa đạt được nhiều thành quả trên con đường cải cách sự quan liêu của tổ chức này, Annan vẫn tiếp tục tiến hành những cải cách trong phạm vi quyền hạn của mình. Ông đã lập ra các văn phòng đạo đức, chịu trách nhiệm trừng phạt những hành vi gian lận tài chính mới bị phanh phui và đề xuất những chính sách ngăn ngừa mới. Tới cuối tháng 12 năm 2005, ban thư ký đã hoàn thành việc xem xét lại toàn bộ ủy nhiệm của Đại hội đồng từ hơn năm năm trước. Việc điều tra này là cơ sở căn bản để các quốc gia thành viên quyết định tăng hay giảm các chương trình hoạt động theo hiệu quả của chúng.
== Những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ ==
Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là tám mục tiêu mà toàn bộ 192 nước thành viên Liên Hiệp Quốc đã đồng ý sẽ hoàn thành vào năm 2015. Borgen Project ước tính rằng cần chi khoảng 40-60 tỷ dollar mỗi năm để đạt tám mục tiêu trên.
Tuyên bố thiên niên kỷ Liên Hiệp Quốc, được ký kết tháng 9 năm 2001, hứa hẹn:
Loại trừ nghèo đói;
Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học;
Khuyến khích bình đẳng giới và tăng quyền cho phụ nữ;
Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em;
Cải thiện sức khỏe bà mẹ;
Chiến đấu chống HIV/AIDS, sốt rét, và các bệnh tật khác;
Đảm bảo môi trường bền vững;
Khuyến khích một mối quan hệ đối tác phát triển quốc tế.
== Những thành công và thất bại trong các vấn đề an ninh ==
Một phần lớn trong chi tiêu của Liên Hiệp Quốc là để giải quyết các vấn đề cốt lõi về hòa bình và an ninh của Liên Hiệp Quốc. Ngân sách gìn giữ hòa bình năm tài chính 2005-2006 gần 5 tỷ dollar (so với mức gần 1.5 tỷ dollar ngân sách chính của Liên Hiệp Quốc trong cùng giai đoạn), với khoảng 70.000 quân được triển khai cho 17 chiến dịch khắp thế giới. Báo cáo An ninh Con người 2005 , do Trung tâm An ninh Con người thuộc Đại học British Columbia đưa ra với sự hộ trợ từ nhiều chính phủ và quỹ khác cho thấy một sự sụt giảm lớn, nhưng phần lớn không được công nhận, trong số lượng các cuộc chiến, những vụ diệt chủng và những vụ vi phạm nhân quyền từ cuối giai đoạn Chiến tranh Lạnh. Những con số thống kê gồm:
Giảm 40% những cuộc xung đột bạo lực.
Giảm 80% những cuộc xung đột gây đổ máu nhiều nhất.
Giảm 80% những cuộc diệt chủng và thanh lọc chính trị.
Báo cáo, do Oxford University Press, cho rằng sự tuyên truyền cho một học thuyết quốc tế - chủ yếu do Liên Hiệp Quốc đề xướng - là nguyên nhân chính mang lại sự sụt giảm những cuộc xung đột quân sự, dù bản báo cáo cho thấy bằng chứng về sự tranh cãi này đa phần chỉ mang tính hoàn cảnh.
Bản báo cáo chỉ ra nhiều khoản đầu tư riêng biệt đã chi:
Tăng sáu lần số lượng các chiến dịch của Liên Hiệp Quốc được tiến hành để ngăn chặn chiến tranh trong giai đoạn 1990 tới 2002.
Tăng bốn lần cho các nỗ lực nhằm chấm dứt những cuộc xung đột đang diễn ra, từ năm 1990 tới 2002.
Tăng bảy lần số lượng ‘Bạn bè của Tổng thư ký’, ‘Các nhóm tiếp xúc’ và các cơ cấu do chính phủ đề xuất nhằm hỗ trợ các chiến dịch kiến tạo hòa bình và xây dựng hòa bình trong giai đoạn từ 1990 đến 2003.
Tăng mười một lần số lượng các lệnh trừng phạt kinh tế chống lại các chế độ cầm quyền trên khắp thế giới từ 1989 tới 2001.
Tăng bốn lần số lượng các chiến dịch gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc, từ 1987 đến 1999.
Tính trung bình, những nỗ lực trên vừa nhiều vừa quá lớn lại phức tạp hơn những chiến dịch thời Chiến tranh Lạnh.
Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình, các thắng lợi gồm:
Văn phòng Giải trình Chính phủ Hoa Kỳ đã kết luận rằng việc gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc có chi phí ít hơn tám lần so với khoản chi cho lực lượng Hoa Kỳ.
Một nghiên cứu năm 2005 của RAND Corp cho thấy Liên Hiệp Quốc thành công ở hai trong số ba chiến dịch gìn giữ hòa bình của mình. Nghiên cứu này cũng so sánh những nỗ lực xây dựng nhà nước của Liên Hiệp Quốc với cũng nỗ lực của Hoa Kỳ, và thấy rằng trong tám trường hợp của Liên Hiệp Quốc, bảy trường hợp diễn ra trong hòa bình, trong khi trong tám trường hợp của Hoa Kỳ, bốn diễn ra trong hòa bình, và bốn không hề hay chưa hề có hòa bình.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc bất đắc dĩ phải thực hiện các nghị quyết của Hội đồng Bảo an. Iraq được cho là đã vi phạm 17 nghị quyết của Hội đồng bảo an từ ngày 28 tháng 6 năm 1991 cũng như đã tìm cách né tránh những lệnh trừng phạt kinh tế của Liên Hiệp Quốc. Trong gần một thập kỷ, Israel bất chấp các nghị quyết kêu gọi tháo dỡ các khu định cư của họ tại Bờ Tây và Dải Gaza. Những thất bại đó xuất phát từ tình trạng phụ thuộc đa chính phủ của Liên Hiệp Quốc - ở nhiều khía cạnh đây là một tổ chức gồm 192 quốc gia thành viên và luôn cần phải có sự nhất trí, chứ không phải là một tổ chức độc lập. Thậm chí khi các hành động được 15 nước thành viên Hội đồng bảo an thông qua, Ban thư ký hiếm khi cung cấp đủ các nguồn tài nguyên cần thiết để thực hiện các sứ mệnh đó.
Những thất bại khác trong vấn đề an ninh gồm:
Thất bại trong việc ngăn chặn vụ Diệt chủng tại Rwanda năm 1994, dẫn tới cái chết của gần một triệu người, vì các thành viên của hội đồng bảo an từ chối thông qua bất kỳ một hành động quân sự nào.
Thất bại của MONUC (Nghị quyết 1292 của UNSC) trong việc can thiệp một cách có hiệu quả vào cuộc Chiến tranh Congo lần thứ hai, liên quan tới gần năm triệu người tại Cộng hòa Dân chủ Congo, 1998-2002 (với những trận đánh vẫn đang tiếp diễn), và trong việc tiến hành cung cấp viện trợ nhân đạo.
Thất bại trong việc can thiệp vào Cuộc thảm sát Srebrenica năm 1995, dù sự thực là Liên hiệp quốc đã coi Srebrenica là một "thiên đường an toàn" cho những người tị nạn và phái 600 lính gìn giữ hòa bình Hà Lan tới bảo vệ nó.
Thất bại trong việc cung cấp thực phẩm tới những người dân đói khát tại Somalia; thực phẩm thường bị các lãnh chúa địa phương chiếm đoạt. Một nỗ lực của Hoa Kỳ/Liên Hiệp Quốc trong việc bắt giữ các vị lãnh chúa đó đã dẫn tới Trận Mogadishu năm 1993.
Thất bại trong việc thực hiện 1559 và Nghị quyết 1701 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc kêu gọi giải giáp các nhóm bán quân sự Liban như Fatah và Hezbollah.
Lạm dụng tình dục của binh lính gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc. Binh lính gìn giữ hòa bình từ nhiều quốc gia đã bị thải hồi khỏi các chiến dịch gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc vì hành động lạm dụng và bóc lột tình dục các cô gái, thậm chí mới chỉ 8 tuổi, trong một số chiến dịch gìn giữ hòa bình khác nhau. Sự lạm dụng tình dục này vẫn diễn ra dù đã có nhiều sự phát hiện và bằng chứng từ Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Dịch vụ Giám sát Nội bộ. Một cuộc điều tra nội bộ năm 2005 của Liên Hiệp Quốc cho thấy sự khai thác và lạm dụng tình dục đã được báo cáo tại ít nhất năm quốc gia nơi các binh lính gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc được triển khai, gồm Cộng hòa Dân chủ Congo, Haiti, Burundi, Côte d'Ivoire và Liberia. BBC đã tiến hành một cuộc điều tra tương tự, và cũng chỉ ra một số thành viên Chương trình Lương thực Thế giới cũng có những hành vi lạm dụng.
== Chỉ trích và mâu thuẫn ==
=== Hội đồng bảo an ===
Xem bài chính tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc
Liên Hiệp Quốc đã bị chỉ trích vì không thể hoạt động một cách rõ ràng và kiên quyết khi đối đầu trước một vụ khủng hoảng. Những ví dụ gần đây gồm chương trình hạt nhân của Iran và sự diệt chủng trong cuộc xung đột Darfur, Sudan. Vì mỗi nước trong số năm thành viên thường trực của Hội đồng bảo an đều có quyền phủ quyết, và bởi vì họ thường bất đồng với nhau, đã rất nhiều lần không có bất kỳ một hành động nào được thông qua. Thông thường, nhưng không phải là luôn luôn, sự chia rẽ này xuất hiện giữa Hoa Kỳ ở một phía và Trung Quốc, Nga hay cả hai ở phía kia. Một số lần Hội đồng bảo an đồng thuận với nhau nhưng lại thiếu sự quyết tâm hay phương tiện để thực thi các nghị quyết của họ. Một ví dụ gần đây là Cuộc khủng hoảng Israel-Liban 2006, không hành động nào được thực hiện theo Nghị quyết 1559 và Nghị quyết 1701 để giải giáp các lực lượng du kích phi chính phủ như Hezbollah. Những lời chỉ trích đặt nghi vấn về hiệu năng và sự thích hợp của Hội đồng bảo an bởi vì khi vi phạm vào một nghị quyết do Hội đồng này đưa ra, thường cũng không xảy ra hậu quả nào cả. (Xem Cải cách Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.)
=== Giám sát nhân quyền ===
Các quốc gia như Sudan và Libya, với những nhà lãnh đạo rõ ràng có bảng thành tích nhân quyền kém cỏi vẫn(theo quan điểm của Mỹ và một số nước được là thành viên của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền (HRC) cũ, và việc Libya được bầu làm chủ tịch của Ủy ban này, đã từng là một vấn đề bàn cãi. Những nước đó cho rằng, các quốc gia phương tây, mà họ cho là có thái độ thù địch thực dân và tàn bạo, không có quyền đặt vấn đề về tư cách thành viên của họ trong Ủy ban này.
Tuy nhiên vào ngày 15 tháng 3 năm 2006 Đại hội đồng đã thông qua nghị quyết thành lập một cơ chế mới - Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc – để thay thế Ủy ban trên. Cơ quan này có các quy định chặt chẽ hơn về quy chế thành viên gìn giữ hòa bình gồm cả một bản thành tích chung về nhân quyền và tăng số lượng phiếu cần bầu cần thiết để một quốc gia có đủ tư cách tham gia, từ hình mẫu bầu theo danh sách vùng với Hội đồng kinh tế xã hội 53 thành viên chuyển sang tất cả một nửa trong số 192 thành viên của Đại hội đồng.
Ngày 9 tháng 5 năm 2006 47 thành viên mới được bầu vào hội đồng. Trong khi một số nước như Cuba, Pakistan, Nga, Ả Rập Saudi và Azerbaijan được bầu, thì một số nước khác không có mặt trong Hội đồng mới như:
Các nước không được tham gia: Syria, Bắc Triều Tiên, Belarus và Myanma
Các quốc gia từng là thành viên của Ủy ban: Zimbabwe, Sudan, Nepal và Libya
Các quốc gia muốn tham gia nhưng không nhận đủ số phiếu: Iran, Venezuela, Thái Lan, Iraq và Kyrgyzstan
Vì những thay đổi trong cơ chế thành viên giữa Ủy ban và Hội đồng, số lượng quốc gia bị Hội đồng Tự do coi là "Không tự do" chiếm hơn một nửa.
=== Thiếu hiệu năng do tính quan liêu ===
Liên Hiệp Quốc đã bị cáo buộc thiếu tính hiệu năng và lãng phí vì cơ cấu cồng kềnh và quan liêu quá mức của nó. Trong thập niên 1990, Hoa Kỳ, nước hiện đóng góp nhiều nhất cho ngân sách tổ chức này, đã coi sự thiếu hiệu quả là một nguyên nhân khiến họ trì hoãn các khoản đóng góp. Việc chi trả những khoản thiếu này chỉ được thực hiện với điều kiện về sáng kiến cho một cuộc cải cách lớn. Năm 1994 Văn phòng Dịch vụ Giám sát Nội bộ (OIOS) được thành lập theo quyết định của Đại hội đồng nhằm đóng vai trò giám sát tính hiệu năng của tổ chức. Một chương trình cải cách đã được đề xuất, nhưng vẫn chưa được Đại hội đồng thông qua.
=== Sự phân biệt đối xử chống Israel ===
Liên Hiệp Quốc cũng đã bị cáo buộc thực hiện tiếp cận một chiều đối với các vấn đề Trung Đông và cuộc xung đột Israel-Palestine. Những lời cáo buộc cho rằng Israel đã bị phân biệt đối xử trong tổ chức quốc tế này với cách đối xử chỉ trích một chiều độc nhất từ trước tới nay. Không giống như tất cả các nhóm người tị nạn khác, người Palestine có cơ quan riêng của họ bên trong Liên Hiệp Quốc (Cơ quan Cứu trợ và Việc làm Liên Hiệp Quốc cho người tị nạn Palestine) tách biệt với Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn, vốn chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề người tị nạn trên thế giới.
Cho tới tận năm 2000, Israel không có tư cách thành viên bên trong bất kỳ một nhóm cấp vùng nào của Liên Hiệp Quốc. Trên thực tế, điều này có nghĩa là Israel bị cấm hoạt động trong các cơ quan Liên Hiệp Quốc như Hội đồng Bảo an. Việc cho phép Israel tham gia đầy đủ hơn bên trong Liên Hiệp Quốc với tư cách là một quốc gia thành viên Tây Âu và các nhóm cấp vùng khác gần đây chỉ mang tính tạm thời và bắt buộc phải được gia hạn định kỳ. Israel chỉ được phép tham gia vào các hoạt động tại Thành phố New York của Liên Hiệp Quốc và bị loại trừ khỏi các văn phòng Liên Hiệp Quốc tại Geneva, Nairobi, Roma và Wien là những văn phòng quản lý các vấn đề như nhân quyền và kiểm soát vũ khí. Việc chỉ trích Israel đã trở thành một công việc thường ngày đối với nhiều cơ quan Liên Hiệp Quốc như Hội đồng Nhân quyền.
=== Bất lực trước vấn đề diệt chủng và nhân quyền ===
Liên Hiệp Quốc cũng bị cáo buộc đã cố tình làm ngơ trước hoàn cảnh khó khăn của nhiều người trên khắp thế giới, đặc biệt tại nhiều vùng ở Châu Á, Trung Đông và Châu Phi. Những ví dụ hiện tại gồm việc Liên Hiệp Quốc không hành động gì trước chính phủ Sudan tại Darfur, việc thanh lọc sắc tộc của chính phủ Trung Quốc tại Tây Tạng và Israel tại các vùng lãnh thổ Palestine.
=== Bê bối trong chương trình đổi dầu lấy lương thực ===
Chương trình đổi dầu lấy lương thực được Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 1995. Mục tiêu của nó là cho phép Iraq bán dầu ra thị trường thế giới để đổi lấy lương thực, thuốc men, và các đồ nhu yếu phẩm khác cho người dân Iraq bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm vận kinh tế quốc tế, mà không cho phép Chính phủ Iraq tái xây dựng lại lực lượng quân đội của mình sau cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất. Chương trình đã bị ngắt quãng vào cuối năm 2003 trước những lời cáo buộc ngày càng lan rộng về sự lạm dụng và tham nhũng. Cựu giám đốc, Benon Sevan người Síp, là người đầu tiên bị đình chỉ chức vụ và sau đó phải từ chức khỏi Liên Hiệp Quốc, khi một bản báo cáo tạm thời của ban điều tra do Liên Hiệp Quốc hỗ trợ dưới sự lãnh đạo của Paul Volcker kết luận rằng Sevan đã nhận đút lót từ phía chính quyền Iraq và đề xuất việc bãi bỏ quyền bất khả xâm phạm thuộc Liên Hiệp Quốc của ông ta nhằm mở đường cho một cuộc điều tra tội phạm.
Dưới sự bảo hộ của Liên Hiệp Quốc, số lượng dầu mỏ trị giá hơn 65 tỷ đôla của Iraq đã được bán ra thị trường thế giới. Về mặt chính thức, khoảng 46 tỷ đã được chi cho các mục đích nhân đạo. Số còn lại được dành trả cho những khoản bồi thường cho cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh thông qua một Quỹ Chi trả, số tiền quản lý và hoạt động của Liên Hiệp Quốc cho chương trình này chiếm 2,2%, và chương trình thanh sát vũ khí chiếm 0,8%.
Con trai của Kofi Annan là Kojo Annan cũng dính líu tới vụ này, với lời buộc tội đã kiếm được một cách bất hợp pháp nhiều hợp đồng trong chương trình đổi dầu lấy lương thực của Liên Hiệp Quốc cho công ty Cotecna Thụy Sĩ. Ngoại trưởng Ấn Độ, Natwar Singh, đã phải từ chức vì vai trò của ông trong vụ này.
Chính phủ Úc đã lập ra Cole Inquiry vào tháng 11 năm 2005 nhằm điều tra xem liệu Ủy ban Bột mì Úc (Australian Wheat Board - AWB) có vi phạm điều luật nào khi thực hiện những hợp đồng của họ với Iraq trong Chương trình đổi dầu lấy lương thực. AWB đã trả chính quyền của Saddam Hussein khoảng 300 triệu đôla, thông qua một công ty bình phong là Alia, để có được những hợp đồng cung cấp bột mì cho Iraq. Thủ tướng Úc (John Howard), Phó thủ tướng (Mark Vaile) và Bộ trưởng ngoại giao (Alexander Downer) bác bỏ việc họ có biết về việc đó khi bị gọi ra điều trần trước ủy ban. Đã có thông tin cho rằng dù chính phủ Úc không điều hành AWB một cách đủ hiệu quả để ngăn chặn sự việc đó, Liên Hiệp Quốc đúng ra phải tích cực hơn trong việc yêu cầu chính phủ nước này tiến hành điều tra. Cole Inquiry dự định sẽ báo cáo vào ngày 24 tháng 11 năm 2006.
=== Những cáo buộc về lính gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc ===
Tháng 12 năm 2004, trong chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc tại Congo, ít nhất 68 vụ bị cho là cưỡng hiếp, mại dâm và hơn 150 cáo buộc khác đã bị các nhà điều tra Liên Hiệp Quốc phát giác, tất cả đều có liên quan tới binh lính gìn giữ hòa bình, đặc biệt là các binh lính từ Pakistan, Uruguay, Maroc, Tunisia, Nam Phi và Nepal. Những binh lính gìn giữ hòa bình từ 3 trong số các quốc gia này cũng bị cáo buộc cố tình cản trở quá trình điều tra. Tương tự, một chuyên gia hậu cần Liên Hiệp Quốc người Pháp tại Congo cũng bị cáo buộc hãm hiếp và khiêu dâm trẻ em trong cùng tháng.
BBC đã thông báo rằng các cô gái trẻ đã bị binh lính gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc lạm dụng và hãm hiếp tại Port-au-Prince. Những lời cáo buộc tương tự cũng đã được nêu ra tại Liberia và Sudan.
== Chính sách nhân sự ==
Liên Hiệp Quốc và các cơ quan của mình được hưởng quy chế miễn trừ đối với pháp luật tại các quốc gia nơi họ hoạt động, gìn giữ không thiên vị với sự tôn trọng nước chủ nhà, và quốc gia thành viên. Việc thuê mướn và sa thải, giờ làm việc và môi trường làm việc, thời gian nghỉ, hưu trí, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tuổi thọ, lương bổng, tiền trợ cấp xa gia đình và các điều kiện sử dụng lao động chung thực hiện theo các quy định của Liên Hiệp Quốc. Sự độc lập này cơ phép các cơ quan thực hiện các chính sách nguồn nhân lực thậm chí trái ngược với luật lệ của nước chủ nhà hay quốc gia thành viên. Ví dụ, một người không đủ tư cách làm việc tại Thụy Sĩ, nơi Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) đóng trụ sở, không thể được làm việc cho ILO trừ khi anh/cô ta là người của quốc gia thành viên ILO.
=== Người hút thuốc ===
Tổ chức Y tế Thế giới, một cơ quan của Liên Hiệp Quốc, đã cấm tuyển những người hút thuốc từ ngày 1 tháng 12 năm 2005, nhằm khuyến khích một môi trường làm việc không thuốc lá. Cũng có một lệnh cấm hút thuốc bên trong trụ sở Liên Hiệp Quốc, nhưng một số quốc gia thành viên cho phép hút thuốc bên trong đại sứ quán của mình tại Liên Hiệp Quốc. Hơn nữa, những người sử dụng ma tuý không được phép làm việc cho Liên Hiệp Quốc.
=== Hôn nhân đồng giới ===
Dù có sự độc lập trong những vấn đề chính sách nguồn nhân lực, các cơ quan Liên Hiệp Quốc tự nguyện áp dụng các điều luật của các quốc gia thành viên về vấn đề hôn nhân đồng giới, cho phép các quyết định về tình trạng sử dụng nhân công có hôn nhân đồng giới được đưa ra dựa theo từng quốc gia. Họ công nhân các cuộc hôn nhân đồng giới chỉ khi người đó là công dân của các quốc gia công nhận sự hôn nhân đó. Một số cơ quan cung cấp khoản trợ cấp hạn chế cho những vợ/chồng người địa phương của nhân viên của mình.
== Liên Hiệp Quốc trong văn hóa đại chúng ==
Một hoạt động giáo dục được gọi là Mô hình Liên Hiệp Quốc đã trở nên quen thuộc trong các trường học trên khắp thế giới. Mô hình Liên Hiệp Quốc có các sinh viên đóng vai (thông thường) một cơ cấu trong Hệ thống Liên Hiệp Quốc để giúp họ phát triển khả năng trong tranh luận và trong ngoại giao. Những cuộc hội thảo được cả các trường đại học và cao đẳng tổ chức. Các ủy ban thường được đưa ra làm mô hình gồm các Ủy ban Đại hội đồng, các ủy ban ECOFIN, Hội đồng bảo an và một số lớn các ủy ban chuyên trách như một Hội đồng Lịch sử An Ninh hay Nhóm Quản lý Cấp cao. Các sinh viên tranh luận về các chủ đề Liên Hiệp Quốc đang tham gia tháo gỡ và tìm cách thể hiện quan điểm của quốc gia mình nhằm tiến tới một giải pháp chung.
Nhận thức Liên Hiệp Quốc với tư cách một tổ chức lớn, bao hàm chính phủ các nước trên thế giới khiến nhiều ý tưởng về chính phủ thế giới và dân chủ toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều. Liên Hiệp Quốc cũng là mục tiêu của các học thuyết âm mưu.
== Xem thêm ==
Đảng Độc lập Puerto Rico
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới 2005 về Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và Cải cách Liên Hiệp Quốc
Dân chủ Toàn cầu
Ủy ban Điều tra Độc lập: đã điều tra sự tham nhũng và sai lầm của Chương trình Đổi dầu lấy lương thực của Liên Hiệp Quốc.
Quan hệ quốc tế
Mô hình Liên Hiệp Quốc
Chương trình Đổi dầu lấy lương thực
Hiệp hội Liên Hiệp Quốc
Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc
Trường Quốc tế Liên Hiệp Quốc
Đại hòa Hòa bình của Liên Hiệp Quốc
Danh sách các Đại diện thường trực tại Liên Hiệp Quốc
Các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc
Cơ quan quản lý thư tín Liên Hiệp Quốc
Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc
Hệ thống Liên Hiệp Quốc
Đại học Liên Hiệp Quốc
UNIS-UN
Những tổ chức hướng đạo sinh Liên Hiệp Quốc
Màu xanh da trời Liên Hiệp Quốc, màu cờ Liên Hiệp Quốc
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam
Liên hợp quốc tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Tuyên ngôn nhân quyền thế giới
Thông tin cơ bản về Liên Hiệp Quốc tại trang web Bộ Ngoại giao Việt Nam
United Nations - Official site
About the United Nations
United Nations Charter - Charter text
United Nations Webcasts
United Nations Volunteers
Universal Declaration of Human Rights
Member States of the United Nations
United Nations (UN) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Problems of The United Nations
United Nations eLearning Unit created by ISRG - University of Innsbruck
Permanent Missions To The United Nations
Task Force on United Nations - U.S. Institute of Peace
History of the United Nations - UK Government site
Website of the Committee for a Democratic UN (German and English versions)
Website of the Global Policy Forum, an independent think-tank on the UN
UN Reports by Inner City Press, accredited media at UN
Documents and Resources on U.N., War, War Crimes and Genocide
Economist.com background
United Nations Paper Money, 1946-56
Criticisms of the Secretary-General
- A conceptual response at the United Nations to the Srebrenica massacre in tháng 7 năm 1995
A list of the outcomes of the 2005 World Summit
Hans Köchler, The United Nations and International Democracy. The Quest for UN Reform (1997)
International Progress Organization: Web Site on United Nations reform
ReformtheUN.org - Tracking Developments on UN Reform
United Nations: Change at the Helm - Change for the Whole Ship? - Independent news reports by the news agency Inter Press Service
Lists of countries and territories
== Bản đồ == |
tổng thống hàn quốc.txt | Đại thống lĩnh Đại Hàn Dân quốc (Tiếng Triều Tiên: 대한민국의 대통령/ 大韓民國의 大統領/ Daehan Minguk Dae Tongnyeong), hay thông dụng hơn trong tiếng Việt là Tổng thống Hàn Quốc, theo hiến pháp của nước này, là người đứng đầu nhà nước, điều hành chính quyền, và là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang của đất nước. Hiến pháp và Luật Bầu cử Tổng thống sửa đổi năm 1987 cho phép lựa chọn tổng thống bằng phương pháp đầu phiếu kín, trực tiếp. Trước đó suốt 16 năm, tổng thống Hàn Quốc được bầu ra bằng hình thức gián tiếp. Nhiệm kỳ của tổng thống Hàn Quốc là 5 năm và chỉ được phép làm một nhiệm kỳ. Nếu xảy ra tình huống không có tổng thống, sẽ phải tổ chức bầu cử tổng thống ngay trong vòng 60 ngày và trong thời gian đó trách nhiệm của tổng thống sẽ do thủ tướng hoặc một thành viên cao cấp của nội các tạm gánh vác. Trong khi đương chức, tổng thống được miễn truy tố về các trách nhiệm hình sự ngoại trừ việc nổi dậy hoặc phản quốc.
Từ ngày 9 tháng 12 năm 2016, nữ tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc Park Geun-hye bị đình chỉ chức vụ sau cuộc hạch tội của Quốc hội Hàn Quốc. Bà chính thức bị phế truất vào ngày 10 tháng 3 năm 2017 và Thủ tướng Hwang Kyo-ahn tạm quyền cho đến Moon Jae-in được bầu làm tân tổng thống Hàn Quốc trong cuộc bầu cử ngày 9 tháng 5 năm 2017.
== Danh sách tổng thống Hàn Quốc ==
== Những thông tin khác ==
Cho đến thời điểm tháng 5 năm 2017, 4 cựu tổng thống Hàn Quốc vẫn còn sống là:
Người đầu tiên giữ chức vụ Tổng thống Hàn Quốc chính thức là Rhee Syng-man. Ông được Quốc hội đầu tiên của Hàn Quốc bầu vào chức vụ này ngày 24 tháng 7 năm 1948. Trước đó, ông cũng từng giữ chức vụ Tổng thống đầu tiên của Chính phủ lâm thời Đại Hàn Dân Quốc từ 1919 – 1925.
Người lớn tuổi nhất khi nắm giữ chức vụ Tổng thống Hàn Quốc cũng là Rhee Syng-man. Ông được bầu vào chức vụ này khi đã 73 tuổi.
Người trẻ tuổi nhất khi được bầu vào chức vụ Tổng thống Hàn Quốc là Park Chung-hee. Khi đó ông mới có 44 tuổi, 175 ngày.
Park Chung-hee cũng là người có thời gian tại vị lâu nhất: 15 năm, 313 ngày. Nếu tính cả thời gian ông giữ quyền Tổng thống là 17 năm, 217 ngày
Người có thời gian tại vị ngắn nhất là Choi Kyu-hah . Ông chỉ giữ chức vụ Tổng thống Hàn Quốc chỉ vỏn vẹn có 254 ngày. Nếu tính luôn thời gian ông tạm quyền Tổng thống cũng chỉ được 295 ngày.
Người sống thọ nhất là Yun Bo-seon. Ông qua đời ngày 18 tháng 7 năm 1990, thọ 92 tuổi, 326 ngày.
Người có tuổi thọ kém nhất là Park Chung-hee. Ông bị ám sát chết khi mới 61 tuổi, 346 ngày.
Người vừa qua đời gần đây nhất là Kim Young-sam. Ông qua đời ngày 22 tháng 11 năm 2015, thọ 87 tuổi, 337 ngày.
Người đầu tiên và duy nhất cho đến thời điểm này (2017) bị phế truất là Park Geun-hye. Bà bị phế truất sau khi bị Quốc hội Hàn Quốc hạch tội vì vụ bê bối liên quan đến mức độ tiếp cận với chức vụ tổng thống của một phụ tá.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Website chính thức |
sari.txt | Sari hoặc saree, là một loại trang phục được yêu thích của phụ nữ Ấn Độ, có kích thước dao động từ 4-9m(cũng có khi dài tới 12 mét) dùng quấn quanh cơ thể theo nhiều phong cách khác nhau. Nó có nguồn gốc từ tiểu lục địa Ấn Độ và hiện nay được coi là trang phục truyền thống của Ấn Độ.
Sari đã được nhắc đến trong sử thi của Ấn Độ. Nó cũng xuất hiện trên các tác phẩm điêu khắc Ấn Độ có niên đại khoảng 150TCN. Trang phục Sari hiện đại chỉ có một mảnh vải đơn dài khoảng từ 5 -9 mét và một mảnh rộng khoảng một mét. Hai mảnh Sari không còn đơn điệu mà được trang trí bởi những đường nét thêu thùa, viền ren, hoa văn thậm chí là đính đá quý.
Màu sắc của Sari cũng ngày càng trở nên đa dạng. Qua màu sắc Sari, người ta có thể nhận biết hoàn cảnh của người mặc nó. Một phụ nữ góa chồng thường mặc áo Sari đơn giản màu trắng, không có trang sức. Nếu phụ nữ có thai thì cô ấy sẽ mặc Sari màu vàng trong 7 ngày. Cô dâu trong ngày cưới thường mặc bộ sari màu đỏ. Áo sari màu xanh lá tượng trưng cho người đạo Hồi và áo màu xanh da trời thì dành cho phụ nữ có đẳng cấp thấp trong xã hội.
Tại Ấn Độ, người đàn ông thường đảm nhiệm công việc may áo sari, bởi vì họ cho rằng đàn ông là người biết cách làm như thế nào để đẹp cho phụ nữ. Hai người thợ dệt vải có thể mất tới 7 tháng để may một chiếc áo Sari chất lượng tốt. Sari ngày nay cũng được làm từ nhiều chất liệu khác nhau như lụa, cotton...
Ngày nay, do sự xuất hiện ngày càng nhiều của những mẫu quần áo đơn giản và tiện dụng nên phụ nữ ở các thành phố lớn của Ấn Độ không còn sử dụng sari thường xuyên mà chỉ mặc nó trong những dịp lễ nghi quan trọng. Trong khi đó, ở các vùng nông thôn thì sari vẫn là trang phục chủ yếu.
== Ghi chú ==
== Chú thích == |
mảng thái bình dương.txt | Mảng Thái Bình Dương là một mảng kiến tạo đại dương nằm dưới Thái Bình Dương.
Về phía bắc của mặt phía đông là ranh giới phân kỳ với mảng Explorer, mảng Juan de Fuca và mảng Gorda tạo ra các sống đại dương tương ứng là sống đại dương Explorer, sống đại dương Juan de Fuca và sống đại dương Gorda. Ở đoạn giữa của mặt đông là ranh giới biến dạng với mảng Bắc Mỹ dọc theo đứt gãy San Andreas và ranh giới với mảng Cocos. Ở phía nam của mặt đông là ranh giới phân kỳ với mảng Nazca tạo thành đới nâng đông Thái Bình Dương.
Mặt nam của nó là ranh giới phân kỳ với mảng Nam Cực tạo thành sống núi Thái Bình Dương - Nam Cực.
Mặt phía tây là ranh giới hội tụ đang chìm lún xuống phía dưới mảng Á-Âu ở phía bắc và mảng Philippin ở đoạn giữa tạo ra rãnh Mariana. Tại phía nam của mặt này, mảng Thái Bình Dương có ranh giới phức tạp nhưng nói chung là hội tụ với mảng Ấn-Úc, đang chìm lún xuống phía dưới nó tại phía bắc New Zealand tạo thành rãnh Tonga và rãnh Kermadec. Phay Alpine đánh dấu ranh giới biến dạng giữa hai mảng này và xa hơn về phía nam thì mảng Ấn-Úc lại chìm lún xuống phía dưới mảng Thái Bình Dương tạo ra rãnh Puysegur. Phần của Zealandia về phía đông ranh giới này là khối lớp vỏ lục địa lớn nhất của mảng Thái Bình Dương.
Mặt phía bắc là ranh giới hội tụ đang chìm lún xuống phía dưới mảng Bắc Mỹ tạo thành rãnh Aleut và tương ứng với nó là quần đảo Aleut.
Mảng Thái Bình Dương chứa một điểm nóng tạo thành quần đảo Hawaii.
== Tham khảo == |
samsung galaxy 5.txt | Samsung Galaxy 5, còn có tên là Samsung GT-I5500, Samsung GT-I5503, Samsung Galaxy Europa, Samsung Galaxy 550, Samsung Corby Smartphone và Samsung Corby Android tại một số quốc gia, là điện thoại thông minh. Nó sử dụng hệ điều hành mở Android. Được công bố vào 15 tháng 6 năm 2010.
== Thông số kỹ thuật ==
Kích thước điện thoại gồm 108 milimét (4,3 in) x 56 milimét (2,2 in) x 12,3 milimét (0,48 in). Chạy hệ điều hành mở Android 2.1 Eclair (hoặc 2.2 Froyo) và hỗ trợ HSDPA ("3.5G") 7.2 Mbit/s. Giao diện người dùng có màn hình cảm ứng diệndung không hỗ trợ cảm ứng đa điểm như các điện thoại thông minh cao cấp khác. Màn hình 2,8 inch (71 mm) hỗ trợ độ phân giải QVGA (240 x 320 pixel) với 16M màu. Các tính năng truyền thông bao gồm Bluetooth, 3G, Wi-Fi và A-GPS.
== Android ==
Khi được phát hành chính thức, điện thoại được cài sẵn hệ điều hành Android 2.1. Tính đến tháng 8 năm 2011, một số điện thoại cài sẵn Android 2.2 Froyo. Hầu hết các nhà mạng nâng cấp từ Android 2.1 lên 2.2 thông qua gói phần mềm Samsung Kies, đi kèm với điện thoại. Froyo mang đến nhiều tính năng mới cho điện thoại, bao gồm gọi thoại.
Không chính thức, điện thoại có thể chạy Android 2.3.7 Gingerbread, 4.0.4 ICS hoặc 4.3 Jelly Bean và 4.4.2 Kitkat thông qua CyanogenMod được làm bởi cùng một nhóm. Vào lúc đó, hơn 110,000 lượt cài đặt cho thiết bị Samsung i5500.
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy Mini
Samsung Galaxy S series
Samsung Galaxy Tab
== Tham khảo ==
== Liên kết == |
borno (bang).txt | Borno, còn được gọi là bang Borno, là một bang ở phía đông bắc Nigeria. Thủ phủ bang là Maiduguri. Bang được thành lập vào năm 1976 từ kết quả chia tách của bang Đông Bắc. Đến năm 1991 bang này bao gồm cả bang Yobe ngày nay.
== Tham khảo == |
cộng hòa weimar.txt | Cộng hòa Weimar (tiếng Đức: Weimarer Republik) là tên sử gia gọi chính phủ của nước Đức trong khoảng thời gian từ 1918 sau cuộc Cách mạng tháng 11, sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, đến khi Adolf Hitler được phong làm thủ tướng vào ngày 30 tháng giêng 1933 và đảng Quốc xã lên nắm quyền. Đây là lần đầu tiên nước Đức có một thể chế dân chủ lập hiến, bắt đầu từ ngày 9 tháng 11 năm 1918. Danh từ "Cộng hòa Weimar" không phải là tên gọi chính thức của chính quyền thời đó, vì lúc bấy giờ dân Đức vẫn gọi quốc gia mình là "Đế chế Đức" (tiếng Đức: Deutsches Reich). Sở dĩ có tên Cộng hòa Weimar là vì quốc hội của chính phủ này hội họp và viết bản hiến chương tại thành phố Weimar.
Tổng thống:
Friedrich Ebert: 1919 - 1925
Paul von Hindenburg: 1925 - 1933
Thủ tướng:
Friedrich Ebert: 1918 - 1919
Philipp Scheidemann: 2/1919 - 6/1919
Gustav Bauer: 1919 - 1920
Hermann Müller: 3/1920 - 6/1920
Constantin Fehrenbach: 1920 - 1921
Joseph Wirth: 1921 - 1922
Wilhelm Carl Josef Cuno: 1922 - 1923
Gustav Stresemann: 8/1923 - 10/1923
Wilhelm Marx: 1923 - 1924
Hans Luther: 1925 - 1926
Wilhelm Marx: 1926 - 1928
Hermann Müller: 1928 - 1930
Heinrich Brüning: 1930 - 1932
Franz von Papen: 6/1932 - 11/1932
Kurt von Schleicher: 1932 - 1933
Adolf Hitler: 1933
== Chú thích == |
uss philip (dd-498).txt | USS Philip (DD/DDE-498) là một tàu khu trục lớp Fletcher được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt theo tên Chuẩn đô đốc John W. Philip (1840-1900), người tham gia cuộc Nội chiến Hoa Kỳ và cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ. Nó hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, còn tiếp tục tham gia Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam, cho đến khi ngừng hoạt động năm 1968 và bị bán để tháo dỡ năm 1971. Nó được tặng thưởng chín Ngôi sao Chiến trận trong Thế Chiến II và thêm năm Ngôi sao Chiến trận khác tại Triều Tiên.
== Thiết kế và chế tạo ==
Philip được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Federal Shipbuilding and Dry Dock ở Kearny, New Jersey vào ngày 7 tháng 5 năm 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 13 tháng 10 năm 1942; được đỡ đầu bởi bà Barrett Philip; và nhập biên chế vào ngày 21 tháng 11 năm 1942 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Thomas C. Ragan.
== Lịch sử hoạt động ==
=== Chiến dịch quần đảo Solomon 1943-1944 ===
Nhiệm vụ đầu tiên của Philip là vào sáng sớm ngày 30 tháng 6 năm 1943, khi nó bắn phá các vị trí đối phương tại khu vực quần đảo Shortland ở vùng Tây Nam Thái Bình Dương. Khi nó hoạt động trong thành phần bảo vệ cho Đội vận chuyển thứ hai vào ngày 15 tháng 8, nhiều máy bay đối phương đã tấn công các tàu đổ bộ đang đổ quân gần bãi Barakoma, Vella Lavella. Vài phút sau, hai máy bay ném bom bổ nhào nhắm vào chiếc tàu khu trục, mỗi chiếc phóng ra một quả bom, nhưng đều trượt. Các khẩu đội phòng không trên tàu nhắm vào chiếc thứ nhất, tiếp tục đến gần cho đến khi một máy bay tiêm kích Corsair đồng đội can thiệp; họ chuyển hỏa lực sang chiếc thứ hai, bắn nó rơi trên biển.
Máy bay Nhật Bản quay trở lại cho một đợt tấn công khác khi trời tối. Soi rõ bóng trong một đêm trăng tròn, đối phương bị Philip nhắm bắn. Một quả ngư lôi sượt qua phía đuôi tàu và một quả khác chạy song song với con tàu sau khi nó được phát hiện và có đủ thời gian cơ động né tránh. Các khẩu pháo phòng không tiếp tục nả đạn vào đối thủ, cuối cùng bắn hạ được một chiếc. Máy bay đối phương tiếp tục xuất hiện vào chiều tối hôm sau, lần này mục tiêu của chúng là những chiếc LST cồng kềnh đang rút lui từ bãi Barakoma. Đang khi rải một màn khói ngụy trang và bắn vào các máy bay tấn công, nó va chạm với chiếc Waller cũng đang rải khói ngụy trang. Cả hai chiếc tàu khu trục đều bị hư hại, nhưng việc kiểm soát hư hỏng giúp chúng tiếp tục chiến đấu. Philip bắn rơi một máy bay đối phương và có thể đã tiêu diệt được một chiếc thứ hai.
Sang ngày hôm sau, sức ép của đối phương tiếp tục tăng lên nhằm đẩy lùi lực lượng Hoa Kỳ tại khu vực quần đảo Solomon. Một máy bay ném bom bổ nhào đã phóng quả bom sượt giữa hai ống khói của Philip, một quả bom khác rơi cách con tàu 30 yd (27 m) bên mạn trái. Một đợt tấn công thứ hai diễn ra với hai quả bom rơi cách đuôi tàu 15 yd (14 m). Các xạ thủ phòng không trên tàu đã bắn rơi một máy bay ném bom tấn công. Hai ngày sau, đang khi dẫn đầu một đoàn tàu vận tải rời khỏi Tulagi, nó tung ra hai lượt tấn công vào một mục tiêu nghi ngờ là một tàu ngầm Nhật Bản, nhưng không có kết quả.
Vào ngày 27 tháng 10, Philip bắn phá các khẩu đội súng cối đối phương trên đảo Mono rồi tiến vào cảng Blanche tại đảo Treasury thuộc quần đảo Solomon. Sáu máy bay ném bom bổ nhào Aichi D3A "Val" đã xâm nhập cảng với ý định tiêu diệt các tàu vận tải neo đậu tại đây. Cuộc tấn công bị đẩy lui, và chiếc tàu khu trục đã góp phần khi bắn rơi một máy bay đối phương. Một đợt càn quét tàu bè sà lan đối phương ngoài khơi Bougainville và bắn phá vịnh Choiseul được thực hiện vào ngày 8 tháng 1 năm 1944. Mười ngày sau, nó quay trở lại cho một đợt bắn phá khác xuống Bougainville. Đang khi dẫn đầu một đoàn tàu đổ bộ LCI đi về phía Bougainville vào ngày 15 tháng 2, nó lại chịu đựng một đợt không kích khác. Một lần nữa, chiếc tàu khu trục chống trả thành công, gây hư hại một máy bay đối phương.
Sau khi bắn phá một cách có hệ thống xuống vịnh Nữ hoàng Augusta vào ngày 14 tháng 3, Philip lên đường để tham gia Chiến dịch quần đảo Mariana và Palau. Từ ngày 17 tháng 6 cho đến cuối tháng 7, các khẩu pháo của nó hầu như phải bắn phá hàng ngày xuống các vị trí đối phương tại Saipan và Tinian, chủ yếu nhắm vào các vị trí pháo binh, điểm tập trung quân và các sân bay, và nhiều lần càn quét các tàu bè nhỏ tại Tinian và trong cảng Tanapag.
=== Chiến dịch Philippines 1944 - 1945 ===
Chiến dịch Philippines chờ đợi đã lâu được mở màn bằng cuộc tấn công lên Mindoro từ ngày đến ngày 12 15 tháng 12; một máy bay đối phương bị Philip bắn hỏng trong trận này. Nhiều cuộc không kích khác của đối phương xảy ra khi chiếc tàu khu trục tham gia hộ tống một đoàn tàu vận tải tiếp liệu đi từ Leyte đến Mindoro vào cuối tháng đó. Các cuộc không kích này phối hợp chiến thuật ném bom và tấn công cảm tử Kamikaze, kết hợp cho đến sáu máy bay cùng một lúc, để tấn công đoàn tàu chậm chạp. Hai máy bay tấn công đã bị bắn rơi và một chiếc thứ ba bị hư hại. Một quả đạn pháo phòng không 20-mm do một tàu đổ bộ LCT nhắm vào một máy bay Nhật đã xuyên trúng tấm nhôm che cầu tàu bên mạn phải, làm thủng một lổ và khiến hai người bị thương; một người trong đó tử thương năm giờ sau tai nạn bị bắn nhầm này.
Nhiều con tàu không được may mắn như Philip. Tàu khu trục Gansevoort (DD-608) bị một chiếc Kamikaze đánh trúng, và Philip đã tiếp cận để trợ giúp. Hai thành viên thủy thủ đoàn đã tình nguyện sang tàu bạn, vô hiệu hóa kíp nổ các quả mìn sâu và giúp phóng bỏ chúng.
Khởi hành từ Leyte vào ngày 5 tháng 1 năm 1945, Philip gia nhập một đội đặc nhiệm để tấn công vịnh Lingayen thuộc đảo Luzon, Philippines vào ngày 9 tháng 1, đối phó với nhiều cuộc tấn công tự sát bởi máy bay và xuồng máy chất đầy thuốc nổ. Nó tiếp tục ở lại khu vực cho đến ngày 12 tháng 1, bảo vệ cho các tàu vận tải chất dỡ. Nó tiếp tục ở lại khu vực cho đến ngày 12 tháng 1, bảo vệ cho các tàu vận tải chất dỡ. Vào sáng sớm trước bình minh ngày 10 tháng 1, nó theo dõi một tàu nhỏ được phát hiện trên màn hình radar, không trả lời tín hiệu nhận diện phát ra. Sau khi chiếu sáng con tàu đối phương chất đầy thuốc nổ, Philip khai hỏa các cỡ pháo 20-mm và súng máy; đối phương đổi hướng và đâm thẳng vào mạn trái phía giữa tàu, nhưng bị nổ tung khi còn cách đích 20 yd (18 m).
Philip còn thực hiện hai nhiệm vụ hỗ trợ hỏa lực khác, khi chiếm đóng bán đảo Zamboanga, Mindanao trong tháng 3, và tấn công lên các đảo Sanga-Sanga và Jolo thuộc quần đảo Sulu từ ngày 2 đến ngày 10 tháng 4.
=== Chiến dịch Borneo 1945 ===
Vào ngày 30 tháng 4, Philip tham gia một đơn vị đặc đặc nhiệm để vận chuyển, bảo vệ và hỗ trợ cho cuộc đổ bộ của Lữ đoàn 26 Australia lên Sauau, Borneo tại Đông Ấn thuộc Hà Lan. Cuộc đổ bộ lên đảo Tarakan được tiếp nối một ngày sau đó, hầu như không gặp sự kháng cự của đối phương. Được tách khỏi nhiệm vụ cột mốc radar canh phòng ngoài khơi vịnh Brunei vào ngày 12 tháng 6, nó gặp gỡ một đội tàu quét mìn và lên đường để hoạt động quét thủy lôi tại khu vực Miri-Luton, Sarawak, Borneo, chuẩn bị cho cuộc tấn công đổ bộ tiếp theo, diễn ra bảy ngày sau đó. Tổng cộng 246 quả thủy lôi đã được dọn sạch khỏi khu vực bị rải mìn dày đặc, và các khẩu pháo bờ biển đối phương tại khu vực Miri cũng bị chiếc tàu khu trục vô hiệu hóa.
Các đơn vị thuộc Quân đoàn 1 Australia đã xuống các tàu đổ bộ tại Morotai và đổ bộ tại Balikpapan, Borneo vào ngày 1 tháng 7, trong khi Philip tuần tra phòng ngừa mọi nỗ lực can thiệp của đối phương. Nó ở lại khu vực đổ bộ cho đến ngày 19 tháng 7, bắn phá các bãi biển chung quanh và chống trả các cuộc không kích vô vọng mà đối phương có thể tung ra. Chiến tranh đã kết thúc ngay sau chiến dịch Borneo thành công, nhưng chiếc tàu khu trục không thể trở về Hoa Kỳ ngay; nó được phái sang Trung Quốc tham gia các hoạt động phá mìn và ở lại khu vực Thái Bình Dương cho đến hết năm 1945.
Philip trở về vùng bờ Tây kịp lúc để đón năm mới 1946 tại quê nhà, rồi chuyển sang vùng bờ Đông và được cho xuất biên chế vào tháng 1 năm 1947. Con tàu được đưa về Hạm đội Dự bị Đại Tây Dương và neo đậu tại Charleston, South Carolina. Vẫn đang trong thành phần dự bị, nó được xếp lại lớp như một tàu khu trục hộ tống với ký hiệu lườn mới DDE-498 vào ngày 26 tháng 3 năm 1949.
=== Chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1954 ===
Philip được nhập xuất biên chế trở lại tại Charleston, South Carolina vào ngày 30 tháng 6 năm 1950, rồi đi ngang qua kênh đào Panama và San Diego để đến cảng nhà mới tại Trân Châu Cảng. Đến nơi vào ngày 10 tháng 9, nó tham gia các cuộc thực tập tìm-diệt tàu ngầm, và đến mùa Thu đã hoạt động như tàu canh phòng máy bay cho chuyến bay đưa Tổng thống Harry S. Truman tham dự hội nghị giữa đại dương cùng tướng Douglas MacArthur tại đảo Wake nhằm thảo luận về diễn biến của cuộc Chiến tranh Triều Tiên.
Philip rời Trân Châu Cảng vào ngày 1 tháng 6 để đi Midway và Yokosuka, Nhật Bản, và đến ngày 15 tháng 6 đã gia nhập thành phần hộ tống cho Lực lượng Đặc nhiệm 77 trong biển Nhật Bản, khi các tàu sân bay của lực lượng tiến hành không kích xuống lực lượng đối phương tại Bắc Triều Tiên. Nó quay trở lại Nhật Bản để thực tập chống tàu ngầm từ ngày 30 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7, rồi lên đường đi Đài Loan vào ngày hôm sau để tuần tra trong eo biển Đài Loan. Chuyến viếng thăm Hong Kong của nó bắt đầu từ ngày 29 tháng 7 bị ngắt quãng bởi cơn bão Louise, và trong suốt tháng 8, chiếc tàu khu trục tiếp tục nhiệm vụ tuần tra. Vào đầu tháng 9, nó thực tập chống tàu ngầm ngoài khơi Okinawa cho đến ngày 11 tháng 9, khi nó quay trở về Yokosuka để bảo trì.
Philip lên đường đi sang vùng bờ biển phía Đông bán đảo Triều Tiên vào ngày 24 tháng 9, nơi nó làm nhiệm vụ hộ tống cùng Lực lượng Đặc nhiệm 77 cho đến ngày 3 tháng 10, khi được điều động sang khu vực bờ biển phía Tây Triều Tiên cùng lực lượng hải quân Liên Hiệp Quốc, bao gồm các đơn vị Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoàng gia Australia. Tại đây nó hộ tống đội tàu sân bay và tiến hành phong tỏa dọc theo vĩ tuyến 38 Bắc. Chịu đựng cơn cuồng phong Ruth lớn nhất trong nhiều năm, chiếc tàu khu trục gia nhập trở lại Lực lượng Đặc nhiệm 77 vào ngày 15 tháng 10, và hoàn tất lượt bố trí vào ngày 31 tháng 10, khi nó lên đường đi rồi khởi hành vào ngày 2 tháng 11 để quay về Trân Châu Cảng.
Philip được bảo trì trong ụ tàu tại Trân Châu Cảng sau khi về đến nơi, rồi hoạt động huấn luyện ôn tập, bao gồm nhiệm vụ canh phòng máy bay, cho đến ngày 27 tháng 10, khi nó được đại tu nhằm chuẩn bị cho một lượt phục vụ tiếp theo trong Chiến tranh Triều Tiên. Nó rời Trân Châu Cảng vào ngày 10 tháng 11 để đi Yokosuka, Nhật Bản, đến nơi mười ngày sau đó. Xế trưa ngày 25 tháng 11, nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 78 và bắt đầu làm nhiệm vụ hộ tống cho đơn vị này. Các hoạt động của nó bao gồm việc tuần tra bắn phá bờ biển cùng tàu tuần dương hạng nặng Los Angeles (CA-135) về phía Bắc vĩ tuyến 38 dọc theo bờ biển phía Đông Triều Tiên. Vào ngày 5 tháng 12, nó cùng Los Angeles tiến vào cảng Wonsan để bắn phá các mục tiêu trên bờ, rồi quay trở lại vùng chiến tuyến để bắn hỏa lực theo yêu cầu. Nó lại hoạt động cùng Lực lượng Đặc nhiệm 78 từ ngày 8 đến ngày 27 tháng 12, ngắt quãng bởi một đợt lùng sục ban đêm dấu vết tín hiệu sonar thu được, và hai nhiệm vụ giải cứu phi công bị bắn rơi. Nó có một đợt bảo trì ngắn tại Yokosuka trước khi quay trở lại nhiệm vụ, vốn hoàn tất vào tháng 5 năm 1953.
Philip về đến Trân Châu Cảng vào ngày 29 tháng 5, tiến hành thực tập huấn luyện trong một tháng tiếp theo. Nó đi vào Xưởng hải quân Trân Châu Cảng vào cuối tháng 6 cho một đợt đại tu kéo dài đến ba tháng, rồi lại hoạt động huấn luyện tại khu vực Hawaii, bao gồm nhiệm vụ tìm kiếm và giải cứu, chống tàu ngầm, thực hành bắn phá bờ biển và canh phòng cho tàu sân bay.
Philip tham gia một cuộc tập trận hạm đội quy mô lớn vào những tháng đầu năm 1954, rồi lại chuẩn bị để được điều động sang Tây Thái Bình Dương. Nó khởi hành đi Yokosuka, Nhật Bản vào ngày 14 tháng 6, đến nơi vào ngày 23 tháng 6, và neo đậu dọc theo tàu tiếp liệu khu trục Hamul (AD-20) trong hai ngày để được bảo trì. Sau đó nó lên đường đi eo biển Shimonoseki và đến Chinhae, Triều Tiên, và trình diện để phục vụ cùng Lực lượng Đặc nhiệm 95. Nó lên đường đi Inchon để gia nhập cùng HMS Warrior (R31), và hoạt động như tàu canh phòng máy bay cho chiếc tàu sân bay Anh để tham gia cuộc phong tỏa của lực lượng Liên Hiệp Quốc. Nó hộ tống cho Warrior đi Kure, Nhật Bản vào ngày 4 tháng 7, rồi tiếp tục đi đến Sasebo để được bảo trì và tiếp liệu trong một tuần.
=== 1954 - 1957 ===
Sau những hoạt động khác tại vùng biển Triều Tiên, Philip rời Nhật Bản để quay trở về Trân Châu Cảng, về đến cảng nhà vào ngày 29 tháng 8 năm 1954, và được đại tu trong một tháng. Nó hoạt động tại chỗ tại vùng biển quần đảo Hawaii cho đến ngày 15 tháng 3 năm 1955, khi con tàu lại vào xưởng tàu cho một đợt đại tu toàn diện, tiếp nối bởi một đợt huấn luyện ôn tập nhằm chuẩn bị cho một lượt bố trí khác tại Viễn Đông. Nó lên đường đi Yokosuka, Nhật Bản vào ngày 8 tháng 8 năm 1955, đến nơi mười ngày sau đó. Trong lượt bố trí này, nó tham gia các cuộc tập trận chống tàu ngầm quy mô lớn ngoài khơi Okinawa, hoạt động cùng Lực lượng Đặc nhiệm 77, và phục vụ tuần tra eo biển Đài Loan trước khi lên đường quay trở về nhà vào ngày 6 tháng 1 năm 1956. Con tàu hoạt động tại vùng biển Hawaii từ ngày 15 tháng 1 đến ngày 30 tháng 10 năm 1956, khi nó lại lên đường đi sang Viễn Đông. Trong lượt phục vụ tương đối ngắn này, nó hoạt động chủ yếu tại Nhật Bản trước khi lên đường quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 22 tháng 1 năm 1957.
=== 1957 - 1968 ===
Phiip gia nhập Hải đội Khu trục 25 vào năm 1957, một đơn vị độc đáo vì có đến ba thay vì hai đội khu trục. Các tàu khu trục hộ tống thuộc Hải đội 25 được bố trí thường xuyên đến mức một trong ba đội khu trục luôn có mặt tại Viễn Đông bất kỳ lúc nào; vì vậy con tàu đã lên đường đi sang Viễn Đông vào ngày 27 tháng 12, và đi đến Yokosuka vào ngày 5 tháng 1 năm 1958. Nó tham gia tập trận ngoài khơi Nhật Bản và Okinawa, quần đảo Philippine và biển Đông cho đến ngày 23 tháng 4, khi đội của nó lên đường quay trở về nhà theo một lộ trình đặc biệt. Nó đi đến Brisbane, Australia vào ngày 2 tháng 5, tiếp tục viếng thăm Melbourne và Sydney, Australia; Wellington, New Zealand; và Pago Pago thuộc Samoa trước khi quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 29 tháng 5. Nó hoạt động tại khu vực Hawaii trong thời gian còn lại của năm 1958.
Từ tháng 6 năm 1958 đến tháng 1 năm 1959, Philip tham gia các cuộc thực tập tìm-diệt tàu ngầm, thực hành bắn phá bờ biển, thực tập tác xạ cũng như đảm nhiệm vai trò tàu canh phòng máy bay cho tàu sân bay Ranger (CVA-61). Vào ngày 18 tháng 2, nó cùng các tàu khu trục hộ tống thuộc Đội khu trục 252 lên đường đi sang Yokosuka, Nhật Bản; hoạt động tại vùng biển Nhật Bản và biển Đông trước khi đi đến Brisbane, Australia vào ngày 11 tháng 7, và hoàn tất lượt bố trí tại Trân Châu Cảng vào ngày 30 tháng 7.
Đội khu trục lại khởi hành từ Honolulu vào ngày 22 tháng 4 năm 1960 để đi Yokosuka, và sau khi hoạt động tại vùng biển Nhật Bản và Okinawa, Philip quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 29 tháng 10. Nó lại lên đường đi Yokosuka vào ngày 4 tháng 2 năm 1962, trải qua hoạt động tại vùng biển Nhật Bản, Philippines và Việt Nam. Ký hiệu lườn của con tàu được đổi trở lại DD-498 vào ngày 1 tháng 7, và nó quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 18 tháng 7. Vào ngày 3 tháng 10, con tàu hoạt động cùng chiếc tàu tấn công đổ bộ lớp Wasp Kearsarge (LHD-3), là tàu thu hồi chính cho hoạt động thu hồi tàu vũ trụ Mercury 8 cùng phi hành gia Wally Schirra đáp xuống Thái Bình Dương ở tọa độ 32°07′30″B 174°45′0″T.
Philip lại lên đường đi Yokosuka vào ngày 12 tháng 11 năm 1963, hoạt động tại vùng biển Nhật Bản, Philippines và Việt Nam trước khi quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 10 tháng 4 năm 1964. Sau một đợt hoạt động tại vùng biển Hawaii, nó lại lên đường đi Yokosuka vào ngày 19 tháng 4 năm 1965, được đánh dấu bởi hoạt động tại Trạm Yankee ngoài khơi Việt Nam và tuần tra eo biển Đài Loan. Nó quay trở về nhà vào ngày 1 tháng 10 năm 1965.
Philip được cho xuất biên chế vào ngày 30 tháng 9 năm 1968 và rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 10 năm 1968. Nó bị bán để tháo dỡ vào ngày 15 tháng 12 năm 1971, nhưng đang khi trên đường kéo đi để tháo dỡ vào ngày 2 tháng 2 năm 1972, nó bị đắm bởi một cơn bão.
== Phần thưởng ==
Philip được tặng thưởng chín Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm năm Ngôi sao Chiến trận khác trong Chiến tranh Triều Tiên.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
navsource.org: USS Philip
hazegray.org: USS Philip |
tổng sản phẩm nội địa.txt | Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Gần đây, trong các tài liệu thống kê mang tính nghiêm ngặt, thuật ngữ tiếng Anh national gross domestic product- NGDP hay được dùng để chỉ tổng sản phẩm quốc nội, regional (hoặc provincial) gross domestic product- RGDP hay dùng để chỉ tổng sản phẩm nội địa của địa phương. GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó.
Đối với các đơn vị hành chính khác của Việt Nam, thông thường ít khi dịch trực tiếp mà thường sử dụng từ viết tắt GDP hoặc tổng sản phẩm trong tỉnh, huyện, v.v
== Phương pháp tính GDP ==
=== Phương pháp chi tiêu ===
Theo phương pháp chi tiêu, tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia là tổng số tiền mà các hộ gia đình trong quốc gia đó chi mua các hàng hóa cuối cùng. Như vậy trong một nền kinh tế giản đơn ta có thể dễ dàng tính tổng sản phẩm quốc nội như là tổng chi tiêu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng hàng năm.
GDP (Y) là tổng của tiêu dùng (C), đầu tư (I), chi tiêu chính phủ (G) và cán cân thương mại (xuất khẩu ròng, X - M).
Y = C + I + G + (X - M)
Chú giải:
TIÊU DÙNG - consumption (C) bao gồm những khoản chi cho tiêu dùng cá nhân của các hộ gia đình về hàng hóa và dịch vụ. (xây nhà và mua nhà không được tính vào TIÊU DÙNG mà được tính vào ĐẦU TƯ TƯ NHÂN).
ĐẦU TƯ - investment (I) là tổng đầu tư ở trong nước của tư nhân. Nó bao gồm các khoản chi tiêu của doanh nghiệp về trang thiết bị và nhà xưởng hay sự xây dựng, mua nhà mới của hộ gia đình. (lưu ý hàng hóa tồn kho khi được đưa vào kho mà chưa đem đi bán thì vẫn được tính vào GDP)
CHI TIÊU CHÍNH PHỦ - government purchases (G) bao gồm các khoản chi tiêu của chính phủ cho các cấp chính quyền từ TW đến địa phương như chi cho quốc phòng, luật pháp, đường sá, cầu cống, giáo dục, y tế,... Chi tiêu chính phủ không bao gồm các khoản CHUYỂN GIAO THU NHẬP như các khoản trợ cấp cho người tàn tật, người nghèo,...
XUẤT KHẨU RÒNG - net exports (NX)= Giá trị xuất khẩu (X)- Giá trị nhập khẩu(M)
=== Phương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí ===
Theo phương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí, tổng sản phẩm quốc nội bằng tổng thu nhập từ các yếu tố tiền lương (wage), tiền lãi (interest), lợi nhuận (profit) và tiền thuê (rent); đó cũng chính là tổng chi phí sản xuất các sản phẩm cuối cùng của xã hội.
GDP=W+R+i+Pr+Ti+De
Trong đó
W là tiền lương
R là tiền cho thuê tài sản
i là tiền lãi
Pr là lợi nhuận
Ti là thuế gián thu ròng
De là phần hao mòn (khấu hao) tài sản cố định
=== Phương pháp giá trị gia tăng ===
Giá trị gia tăng của doanh nghiệp ký hiệu là (VA), giá trị tăng thêm của một ngành (GO), giá trị tăng thêm của nền kinh tế là GDP
VA = Giá trị thị trường sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp - Giá trị đầu vào được chuyển hết vào giá trị sản phẩm trong quá trình sản xuất
Giá trị gia tăng của một ngành (GO)
GO =∑ VAi (i=1,2,3,..,n)
Trong đó:
VAi là giá trị tăng thêm của doanh nghiệp i trong ngành
n là số lượng doanh nghiệp trong ngành
Giá trị gia tăng của nền kinh tế GDP
GDP =∑ GOj (j=1,2,3,..,m)
Trong đó:
GOj là giá trị gia tăng của ngành j
m là số ngành trong nền kinh tế
Lưu ý là kết quả tính GDP sẽ là như nhau với cả 3 cách trên. Ở Việt Nam GDP được tính toán bởi Tổng cục thống kê dựa trên cơ sở các báo cáo từ các đơn vị, tổ chức kinh tế cũng như báo cáo của các Cục thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Còn ở Mỹ GDP được tính toán bởi Cục phân tích kinh tế (vt: BEA).
== GDP danh nghĩa và GDP thực tế ==
GDP danh nghĩa là tổng sản phẩm nội địa theo giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành. Sản phẩm sản xuất ra trong thời kỳ nào thì lấy giá của thời kỳ đó. Do vậy còn gọi là GDP theo giá hiện hành
GDPin=∑QitPit
Sự gia tăng của GDP danh nghĩa hàng năm có thể do lạm phát.
Trong đó:
i: loại sản phẩm thứ i với i =1,2,3...,n
t: thời kỳ tính toán
Q (quantum): số lượng sản phẩm; Qi: số lượng sản phẩm loại i
P (price): giá của từng mặt hàng; Pi: giá của mặt hàng thứ i.
GDP thực tế là tổng sản phẩm nội địa tính theo sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tính theo năm gốc do đó còn gọi là GDP theo giá so sánh.
GDP thực tế được đưa ra nhằm điều chỉnh lại của những sai lệch như sự mất giá của đồng tiền trong việc tính toán GDP danh nghĩa để có thể ước lượng chuẩn hơn số lượng thực sự của hàng hóa và dịch vụ tạo thành GDP. GDP thứ nhất đôi khi được gọi là "GDP tiền tệ" trong khi GDP thứ hai được gọi là GDP "giá cố định" hay GDP "điều chỉnh lạm phát" hoặc "GDP theo giá năm gốc" (Năm gốc được chọn theo luật định).
Xem thực tế và danh nghĩa trong kinh tế học.
== GDP bình quân đầu người ==
GDP bình quân đầu người của một quốc gia hay lãnh thổ tại một thời điểm nhất định là giá trị nhận được khi lấy GDP của quốc gia hay lãnh thổ này tại thời điểm đó chia cho dân số của nó cũng tại thời điểm đó.
== Các thành phần của GDP ==
GDP có thể tính là tổng của các khoản tiêu dùng, hoặc tổng của các khoản chi tiêu, hoặc tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế. Về lý thuyết, dù theo cách tính nào cũng cho kết quả tính GDP như nhau. Nhưng trong nhiều báo cáo thống kê, lại có sự chênh lệch nhỏ giữa kết quả theo ba cách tính. Đó là vì có sai số trong thống kê.
Theo cách tính GDP là tổng tiêu dùng, các nhà kinh tế học đưa ra một công thức như sau:
GDP = C + I + G + NX
Trong đó các ký hiệu:
C là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nền kinh tế.
I là đầu tư của các nhà kinh doanh vào cơ sở kinh doanh. Đây được coi là tiêu dùng của các nhà đầu tư. Lưu ý, đừng lẫn lộn điều này với đầu tư mang tính đầu cơ tích trữ vào thị trường chứng khoán và trái phiếu.
G là tổng chi tiêu của chính quyền (tiêu dùng của chính quyền). Quan hệ của phần này đối với các phần còn lại của GDP được mô tả trong lý thuyết khả dụng (có thể đem đi tiêu).
NX là "xuất khẩu ròng" của nền kinh tế. Nó bằng xuất khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế khác đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế trong tính toán sản xuất) - nhập khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế trong tính toán đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế khác sản xuất).
Ba thành phần đầu đôi khi được gọi chung là "nội nhu", còn thành phần cuối cùng là "ngoại nhu".
GDP theo cách tính tổng chi phí (lúc này không gọi là GDP nữa, mà gọi là tổng chi tiêu nội địa hay GDE (viết tắt của Gross Domestic Expenditure) được tính toán tương tự, mặc dù trong công thức tính tổng chi phí không kê khai những khoản đầu tư ngoài kế hoạch (bỏ hàng tồn kho vào cuối chu kỳ báo cáo) và nó phần lớn được sử dụng bởi các nhà kinh tế lý thuyết.
== Phân biệt GDP với GNP ==
GDP khác với tổng sản phẩm quốc dân (GNP) ở chỗ loại bỏ việc chuyển đổi thu nhập giữa các quốc gia, nó được quy theo lãnh thổ mà sản phẩm được sản xuất ở đó hơn là thu nhập nhận được ở đó.
Để dễ hiểu hơn, ta có thể lấy ví dụ như sau: Một nhà máy sản xuất đồ ăn nhanh đặt tại Việt Nam do công dân Mỹ đầu tư để tiêu thụ nội địa. Khi đó mọi thu nhập từ nhà máy này sau khi bán hàng được tính vào GDP của Việt Nam, tuy nhiên lợi nhuận ròng thu được (sau khi khấu trừ thuế phải nộp và trích nộp các quỹ phúc lợi) cũng như lương của các công nhân Mỹ đang làm việc trong nhà máy được tính là một bộ phận trong GNP của Mỹ.
== So sánh xuyên quốc gia ==
GDP của các quốc gia khác nhau có thể so sánh bằng cách chuyển đổi giá trị của chúng (tính theo nội tệ) sang bằng một trong hai phương thức sau:
Tỷ giá hối đoái hiện tại: GDP được tính theo tỷ giá hối đoái thịnh hành trên các thị trường tiền tệ quốc tế.
Ngang giá sức mua hối đoái: GDP được tính theo sự ngang giá của sức mua (tiếng Anh: purchasing power parity hay viết tắt: PPP) của mỗi loại tiền tệ tương đối theo một chuẩn chọn lựa (thông thường là đồng đôla Mỹ).
Thứ bậc tương đối của các quốc gia có thể lệch nhau nhiều giữa hai xu hướng tiếp cận kể trên.
Phương pháp tính theo sự ngang giá của sức mua tính toán hiệu quả tương đối của sức mua nội địa đối với những nhà sản xuất hay tiêu thụ trung bình trong nền kinh tế. Nó có thể sử dụng để làm chỉ số của mức sống đối với những nước chậm phát triển là tốt nhất vì nó bù lại những điểm yếu của đồng nội tệ trên thị trường thế giới.
Phương pháp tính theo tỷ giá hối đoái hiện tại chuyển đổi giá trị của hàng hóa và dịch vụ theo các tỷ giá hối đoái quốc tế. Nó là chỉ thị tốt hơn của sức mua quốc tế của đất nước và sức mạnh kinh tế tương đối.
Cụ thể hơn, đề nghị xem Các chỉ số kinh tế.
== Các vấn đề ==
Mặc dù GDP được sử dụng rộng rãi trong kinh tế, giá trị của nó như là một chỉ số vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. Sự phê phán sử dụng GDP bao hàm các điểm sau:
Kết quả tính GDP theo các phương thức khác nhau làm người ta bối rối, nhất là khi so sánh xuyên quốc gia.
GDP, như một chỉ số về kích cỡ của nền kinh tế, nhưng lại không chuẩn xác trong đánh giá mức sống.
GDP không tính đến kinh tế ngầm, kinh tế phi tiền tệ như kinh tế trao đổi, các công việc tình nguyện, chăm sóc trẻ em miễn phí do các ông bố bà mẹ (không làm việc) đảm nhiệm hay sản xuất hàng hóa tại gia đình, giá trị của thời gian nghỉ ngơi và ô nhiễm môi trường. Vì vậy, tại các nước mà việc kinh doanh thực thi một cách không chính thức chiếm phần lớn thì số liệu của GDP sẽ kém chính xác.
GDP không tính đến tính hài hòa của sự phát triển. Ví dụ một nước có thể có tốc độ tăng trưởng GDP cao do khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên.
GDP tính cả những công việc không đem lại lợi ích ròng và không tính đến những hiệu ứng tiêu cực. Ví dụ, một xí nghiệp làm tăng GDP nhưng gây ô nhiễm một con sông và người ta phải đầu tư để cải tạo lại môi trường. Việc này cũng làm tăng GDP. Xem thêm Truyện ngụ ngôn về cửa sổ gãy.
GDP cũng không cho ta sự phản ánh trung thực của sự phân chia lợi ích trong phạm vi đất nước. Có thể có những nhóm người không thu được lợi ích gì từ lợi ích kinh tế chung. GDP cao có thể là kết quả của một số người giàu có đem lại cho nền kinh tế trong khi phần lớn dân chúng sống dưới mức nghèo khổ.
Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng việc tìm một chỉ số khác thay thế GDP cũng rất khó khăn. Một sự thay thế được biết đến là Chỉ số tiến bộ thực sự (GPI) được cổ động bởi Đảng Xanh của Canada. GPI đánh giá chính xác như thế nào thì chưa chắc chắn; một công thức được đưa ra để tính nó là của Redefining Progress, một nhóm nghiên cứu chính sách ở San Francisco.
== Danh sách quốc gia theo GDP ==
Danh sách quốc gia theo GDP danh nghĩa năm 2008
Danh sách các quốc gia theo GDP danh nghĩa 2009
Danh sách các quốc gia theo GDP danh nghĩa 2010
Danh sách các quốc gia theo GDP danh nghĩa 2011
Danh sách các quốc gia theo GDP danh nghĩa 2012
Danh sách quốc gia theo GDP (PPP) năm 2008
Danh sách quốc gia châu Phi theo GDP
Danh sách quốc gia châu Á theo GDP
Danh sách quốc gia châu Âu theo GDP
Danh sách các thành phố theo GDP
== Xem thêm ==
Chỉ số giảm phát GDP
Tổng giá trị gia tăng
Tổng sản lượng quốc gia
Các chỉ số kinh tế
GDP tự nhiên
Sự phát triển phi kinh tế
Giá trị gia tăng
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Lỗ hổng sản lượng
=== Tính toán ===
Phân loại sản phẩm theo hoạt động (CPA)
Tính toán gián tiếp các dịch vụ tài chính trung gian (FISIM)
== Liên kết ngoài ==
Rank Order - GDP - per capita
== Dữ liệu ==
Danh sách đầy đủ các quốc gia theo GDP: Purchasing Power Parity Method và Current Exchange Rate Method
=== Các ấn phẩm liên quan ===
Limitations of GDP Statistics by Schenk, Robert.
whether output and CPI inflation are mismeasured, by Nouriel Roubini and David Backus, in Lectures in Macroeconomics
Ch. 22. Measuring the National Economy, by Dr. Roger A. McCain
== Tham khảo == |
vườn thực vật hoàng gia kew.txt | Vườn thực vật hoàng gia Kew, thường gọi đơn giản là các vườn Kew, là các vườn và nhà kính thực vật nằm giữa Richmond và Kew ở tây nam London, Anh. Được thành lập năm 1840 từ một vườn cây ngoại lai tại Công viên Kew. Bộ sưu tập của vườn bao gồm 30.000 loài thực vật sống khác nhau, trên 7 triệu mẫu cây khô, đây cũng là bộ sưu tập mẫu cây khô lớn nhất thế giới. Thư viện chứa hơn 750.000 cuốn sách, 175.000 bản in và bản vẽ minh họa các loài thực vật. Đây là nơi hấp dẫn khách du lịch hàng đầu tại London. Năm 2003, Vườn được UNESCO công nhận là di sản thế giới và thu hút hai triệu du khách mỗi năm với bộ sưu tập thực vật ngoạn mục, mà được xếp hạng là lớn nhất trên thế giới.
Giám đốc từ năm 2012 là Richard Deverell, người đã kế vị giáo sư Stephen D. Hopper. Vườn thực vật hoàng gia Kew cũng là tên tổ chức quản lý các vườn Kew Gardens và các vườncung điện Wakehurst ở Sussex. Đây là một cơ sở nghiên cứu và giáo dục quan trọng quốc tế với 700 nhân viên và thu nhập 44 triệu bảng Anh cho năm tài khóa kết thúc ngày 31 tháng 3 năm 2006, cũng là một địa điểm thu hút du khách. Các vườn thực vật này là một Cơ quan công cộng không thuộc cục sở tài trợ bởi Cục Môi trường, Thực phẩm và Quản lý nông thôn. Vườn có một lực lượng cảnh sát riêng, Sở cảnh sát Kew, cơ quan được đưa vào hoạt động từ năm 1847.
Khuôn viên của vườn rộng 121 héc-ta (300 mẫu Anh) bao gồm khu vườn và các nhà kính thực vật, 4 tòa nhà được xếp hạng loại I, 36 cấu trúc được xếp hạng loại II.
== Những điểm hấp dẫn ==
=== Đường đi bộ trên cao ===
Một đường đi bộ trên cao được đưa vào phục vụ trong khu vườn năm 2008. Đường đi bộ này nẳm ở độ cao 18 mét (59 feet) và dài 200 mét (660 feet), đưa du khách tham quan vòm tán cây của khu vườn. Du khách có thể đi lên hay xuống bằng thang hoặc thang máy. Sàn của lối đi được làm từ những tấm kim loại có đục lỗ, toàn bộ cấu trúc sẽ đu đưa khi có gió.
=== Sackler crossing ===
Cây cầu Sackler Crossing được làm từ granit và đồng thanh, bắc qua hồ và mở cửa vào tháng 5 năm 2006. Được thiết kế bởi Buro Happold và John Pawson, tên của nó được đặt nhằm vinh danh 2 nhà từ thiện Tiến sĩ Mortimer Sackler và vợ là Theresa Sackler. Cây cầu mang phong cách đơn giản hóa, uốn cong theo hình chữ S. Hai thành cầu được tạo nên từ các thanh đồng thau tạo ra ấn tượng cho cây cầu, từ một góc nhìn nào đó, thành cầu trông như một khối đặc, nhưng đứng ở trên cầu lại thấy thành cầu hoàn toàn là các thanh đồng riêng rẽ, cho phép du khách quan sát phía xa của hồ nước.
Cây cầu là một phần của con đường giúp du khách tham quan nhiều khu vườn nhỏ và kết nối 2 phòng triển lãm nghệ thuật. Cây cầu đã thắng một giải thưởng đặc biệt của Học viện kiến trúc Hoang gia Anh quốc năm 2008.
== Các khu nhà thực vật ==
=== Khu nhà thực vật miền núi ===
Tháng 3 năm 2006, nhà thực vật vùng núi Davies mở cửa, đây là phiên bản thứ ba của một nhà thực vật vùng núi từ năm 1887. Mặc dù chỉ dài 16 mét, đỉnh của mái cong tòa nhà cao tới 10 mét, cho phép dòng khí tự nhiên của tòa nhà lưu thông theo đúng điều kiện sinh trưởng của thực vật bên trong.
Nét đặc biệt của tòa nhà mới này là tự động che nắng khi mặt trời quá gay gắt, phối hợp với một hệ thống phun sương bên trong tòa nhà, nhằm ngăn chặn nhiệt độ bên trong vượt ngưỡng cho phép. Thiết kế của tòa nhà cho phép tối đa hóa sự truyền ánh sáng, kính của tòa nhà là loại kinh đặc biệt hàm lượng sắt thấp, cho phép 90% tia cực tím có thể xuyên qua. Những tấm kính được gắn với nhau bởi cáp sắt có sức căng lớn, vì vậy không có hiện tượng tia sáng bị cản trở bởi các thanh chặn kính.
Để tiết kiệm năng lượng, không khí mát không được làm lạnh nhân tạo mà nó được làm mát bằng việc cho đi qua một hệ thống ống sâu dưới lòng đất bên dưới tòa nhà, nơi nhiệt độ luôn ổn định quanh năm. Tòa nhà được thiết kế để giữ cho nhiệt độ không vượt quá 20 °C (68 °F).
Bộ sưu tập thực vật vùng núi của vườn Kew (những loài thực vật mọc ở độ cao trên 2000 mét) gồm hơn 7000 loài, nhưng khu nhà chỉ trưng bày 200 loài trong một lần, và các loài được trồng luân phiên nhau.
=== Nhà kính Nash ===
Tòa nhà này ban đầu được thiết kế cho cung điện Buckingham, sau đó được di chuyển tới Kew năm 1836 bởi vua William IV. Với nhiều ánh sáng tự nhiên, tòa nhà được sử dụng với nhiều mục đích như triển lãm, tổ chức đám cưới hay các sự kiện. Giờ đây, nó được dùng để triển lãm những tác phẩm chiến thắng trong các cuộc thi ảnh.
=== Nhà Orangery ===
Tòa nhà Orangery được thiết kế bởi Sir William Chambers, được hoàn thành năm 1761. Kích thước của nó là 28m x 10m. Sau rất nhiều sự thay đổi trong mục đích sử dụng, giờ đây nó được dùng như một nhà hàng.
=== Nhà Cọ (Palm House) ===
Nhà Cọ (1844-1848) là kết quả của sự hợp tác giữa kiến trúc sư Decimus Burton và nhà luyện gang thép Richard Turner, tiếp nối trên cơ sở các nguyên tắc thiết kế nhà kính, phát triển bởi John Claudius Loudon và Joseph Paxton.
=== Nhà kính công nương xứ Wales ===
Một trong ba nhà kính chính của vườn Kew là nhà kính công nương xứ Wales, thiết kế bởi kiến trúc sư Gordon Wilson, mở cửa vào năm 1987 bởi công nương Diana, để tưởng niệm công nương Augusta. Năm 1989, khu nhà kính nhận được giải thưởng Europa Nostra vì sự bảo tồn thiên nhiên. Nhà kính này có 10 tiểu vùng khí hậu được kiểm soát bằng máy tính, phần lớn diện tích tòa nhà được trồng các loại thực vật của 2 vùng nhiệt đới khô và ẩm. Một số lượng lớn các loài lan, hoa súng, xương rồng, lithops (là chi thực vật có hoa trong họ Aizoaceae), các loài thực vật ăn thịt và các lài họ dứa, được trồng trong nhiều khu vực khác nhau. Một bộ sưu tập xương rồng còn được trồng bên ngoài nhà kính, nơi một số loài thực vật khác có khả năng chống chịu tốt cũng được tìm thấy.
Khu vực nhà kính công nương xứ Wales rộng 4499 mét vuông. Được thiết kế sao cho giảm sử dụng năng lượng đến mức tối thiểu, những khu vực yêu cầu nhiệt độ mát mẻ hơn được sắp đặt xung quanh tòa nhà, khu vực mang tính chất nhiệt đới hơn nằm tại trung tâm, nơi nhiệt độ luôn được duy trì ở mức cao. Mái nhà bằng kính hướng xuống dưới là một nét đặc trưng giúp phân biệt tòa nhà, đồng thời nó cũng làm tối đa hóa hiệu suất sử dụng năng lượng Mặt trời.
=== Rhizotron ===
Một rhizotron (một loại phòng thí nghiệm được xây dựng dưới lòng đất để nghiên cứu về đất cũng như sự tương tác giữa nó với động, thực vật) được mở cửa cùng thời điểm với Đường đi bộ trên cao. Tòa nhà này mang đến cho du khách cơ hội tìm hiểu những hoạt động của thực vật bên dưới lòng đất. Rhizotron này về cơ bản là một phòng triển lãm đơn, có một bộ các tác phẩm trừu tượng đúc bằng đồng, có gắn các màn hình LCD, trình chiếu những thông tin về đời sống thực vật.
=== Nhà Ôn Đới ===
Khu nhà Ôn đới (Temperate House) là một nhà kính có diện sàn tích gấp đôi Nhà Cọ, và là cấu trúc bằng kính lớn nhất thuộc thời đại Victoria còn tồn tại đến ngày nay. Nó chứa tất cả các loài thực nằm trong mọi vùng ôn đới trên Trái Đất. Được thiết kế bởi kiến trúc sư Decimus Burton và nhà luyện gang Richard Turner. Bao phủ trên một diện tích 4880 mét vuông, và cao tới 19 mét. Mục đích là để cung cấp không gian cho việc mở rộng bộ sưu tập các loài thực vật khu vực khí hậu ôn hòa của vườn Kew. Công việc xây dựng tòa nhà kéo dài trong 40 năm, trong suốt thời gian đó chi phí cho tòa nhà bị nâng lên rất nhiều.
=== Nhà thực vật Họ Súng (Waterlily House) ===
Nhà Họ Súng là nhà kính nóng nhất và ẩm ướt nhất trong tất cả các nhà kính ở vườn Kew, bên trong tòa nhà là một bể nước lớn với rất nhiều loại cây họ Súng, xung quanh là các loài thực vật ưa nhiệt khác. Tòa nhà này đóng cửa trong những tháng mùa đông.
Nó được xây dựng để trồng một loại thực vật của vùng Amazon, loài hoa Victoria Amazonia (Súng Nia), đây loài cây lớn nhất trong họ Nymphaeaceae. Loài thực vật này được chuyển tới Kew trong một ống nước sạch nhỏ vào tháng 2, năm 1849, sau một số nỗ lực trước đó nhằm chuyển hạt giống và rễ của loài cây này nhưng không thành công. Mặc dù rất nhiều thành viên trong họ Nymphaeaceae sinh trưởng tốt tại đây nhưng tòa nhà không phù hợp với loài cây này do hệ thống thong gió không tốt, và nó được chuyển tới một tòa nhà khác nhỏ hơn.
=== Các kiến trúc trang trí ===
Phía đông nam của vườn có đặt một tòa tháp lớn (xây dựng bởi Sir William Chambers, năm 1762), phỏng theo kiểu tháp chùa của Trung Quốc. Tầng dưới cùng của tòa tháp hình bát giác 10 tầng này có đường kính 49 feet (15m). Từ điểm thấp nhất đến điểm cao nhất của tháp là 163 feet (50m)
=== Cung điện Kew ===
Kew Palace là cung điện hoàng gia Anh nhỏ nhất. Nó được xây bởi Samuel Fortrey, một thương gia người Hà Lan vào khoảng 1631. Sau này nó được mua bởi George III. Phương pháp xây dựng cung điện là Flemish bond (một kiểu xây tường gạch có các viên gạch nằm ngang, dài ngắn khác nhau nằm xen kẽ).
Đằng sau của tòa nhà này là " Vườn của Nữ hoàng" (Queen's Garden) bao gồm một sưu tập các loài thực vật có công dụng chữa bệnh. Chỉ các loài cây có ở Anh quốc trước thế kỷ 17 được trồng trong vườn này.
Tòa nhà này đã trải qua một cuộc đại trùng tu trước khi được mở trở lại cho công chúng viếng thăm vào năm 2006.
Nó được quản lý riêng biệt với Kew Garden, bởi Historic Royal Palaces.
Trước mặt cung điện là một đồng hồ mặt trời, được tặng cho vườn Kew vào năm 1959 để kỉ niệm một cuộc viếng thăm của hoàng gia. Nó được điêu khắc bởi Martin Holden và dựa trên nguyên mẫu là một bức điêu khắc của Thomas Tompion, một người làm đồng hồ lừng danh vào thế kỷ 17.
=== Tham khảo ===
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Kew Gardens tại Wikimedia Commons |
lịch.txt | Lịch là một hệ thống để đặt tên cho các chu kỳ thời gian, thông thường là theo các ngày. Các tên gọi này được biết đến như là tên của ngày tháng cụ thể nào đó trong từng loại lịch (ví dụ ngày 19 tháng 2 năm 2005). Các ngày tháng cụ thể có thể dựa trên sự chuyển động thấy được của các thiên thể. Lịch cũng là một thiết bị vật lý (thông thường là trên giấy) để minh họa cho hệ thống (ví dụ- lịch để bàn) – và đây cũng là cách hiểu thông dụng nhất của từ lịch.
Như là một tập hợp con, 'lịch' được sử dụng để biểu thị danh sách của một tập hợp cụ thể nào đó của các sự kiện đã được lập kế hoạch (ví dụ, lịch xét xử).
== Các hệ thống lịch ==
Các loại lịch được sử dụng hiện nay trên Trái Đất phần lớn là dương lịch, âm lịch, âm dương lịch hay lịch tùy ý.
Âm lịch được đồng bộ theo chuyển động của Mặt Trăng (các tuần trăng); một ví dụ là lịch Hồi giáo.
Dương lịch dựa trên thay đổi thấy được theo mùa, được đồng bộ theo chuyển động biểu kiến của Mặt Trời; một ví dụ là lịch Ba Tư.
Âm dương lịch là lịch được đồng bộ theo cả chuyển động của Mặt Trăng và chuyển động biểu kiến của Mặt Trời; một ví dụ là lịch Do Thái.
Lịch tùy ý không được đồng bộ theo Mặt Trăng hay Mặt Trời; ví dụ như tuần hay ngày Julius được sử dụng bởi các nhà thiên văn học.
Đã từng có một vài loại lịch có lẽ được đồng bộ theo chuyển động của Kim Tinh, chẳng hạn như các loại lịch Ai Cập cổ đại; việc đồng bộ theo chuyển động của Kim Tinh chủ yếu diễn ra ở các nền văn minh gần đường xích đạo.
=== Dương lịch ===
==== Các ngày sử dụng trong dương lịch ====
Dương lịch gắn mỗi ngày tháng cụ thể cho từng ngày mặt trời. Một ngày có thể là chu kỳ giữa bình minh và hoàng hôn, với chu kỳ kế tiếp là đêm, hoặc nó có thể là chu kỳ của hai sự kiện giống nhau và kế tiếp nhau, chẳng hạn hai hoàng hôn kế tiếp. Độ dài khoảng thời gian kế tiếp nhau của hai sự kiện như vậy có thể cho phép thay đổi chút ít trong suốt cả năm, hoặc nó có thể là trung bình của ngày mặt trời trung bình. Các dạng khác của lịch có thể sử dụng ngày mặt trời.
==== Các lịch Julius và Gregory ====
Dưới thời Cộng hòa La Mã, dương lịch Julius đã được chấp thuận. Số ngày trong tháng của nó là dài hơn so với chu kỳ của Mặt Trăng, vì thế nó không thuận tiện để theo dõi các pha của Mặt Trăng, nhưng nó là đủ tốt để theo dõi thay đổi của các mùa. Mỗi năm trong lịch có 365 ngày, ngoại trừ mỗi năm thứ tư là năm nhuận có 366 ngày. Vì thế năm trung bình của lịch này là 365,25 ngày.
Không may là năm chí tuyến Trái Đất là nhỏ hơn một chút so với 365,25 ngày (nó xấp xỉ 365,2422 ngày), vì thế lịch này mặc dù chậm nhưng cũng lệch dần với sự đồng bộ theo mùa. Vì lý do này, sau này lịch Gregory đã được chấp thuận bởi phần lớn các quốc gia ở phương Tây, bắt đầu từ năm 1582, và từ đó nó đã trở thành lịch phổ biến và thông dụng nhất trên thế giới. Đáng chú ý là đế chế Nga đã từ chối thay đổi từ lịch Julius sang lịch Gregory cho đến tận cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, khi những người bôn sê vích đã chuyển sang sử dụng lịch Gregory. Vì thế, ngày tháng trong lịch sử Nga hoặc được ghi cả hai số liệu của hai loại lịch này hoặc được ghi chú rõ là theo lịch nào để tránh nhầm lẫn.
==== Cải cách trong tương lai ====
Có nhiều đề nghị cải cách lịch, chẳng hạn như lịch thế giới hay lịch cố định quốc tế (lịch vĩnh viễn quốc tế). Liên hiệp quốc đã cân nhắc đến việc xem xét các loại lịch cải cách này trong những năm thập niên 1950, nhưng các đề nghị này đã đánh mất phần lớn sự phổ biến của chúng.
=== Âm lịch ===
Không phải tất cả các loại lịch đều sử dụng năm mặt trời như là đơn vị tính. Âm lịch là một trong số các loại lịch khác đó mà ngày trong tháng được tính theo các pha trong chu kỳ của Mặt Trăng. Vì độ dài của tháng Mặt Trăng không phải là một phần thập phân hữu tỷ của độ dài năm chí tuyến nên năm âm lịch thuần túy nhanh chóng sai lệch với sự thay đổi mùa. Tuy nhiên nó là bất biến khi xem xét trong tương quan với một số hiện tượng khác, chẳng hạn như thủy triều (con nước). Âm dương lịch là một biến thái của âm lịch nhưng có tính đến sự bù lại cho các sai lệch này bằng cách bổ sung thêm một tháng để có thể điều chỉnh các tháng tương đối phù hợp theo mùa.
Âm lịch được cho là lịch cổ nhất được phát minh bởi loài người. Những người Cro-Magnon được coi là đã phát minh ra âm lịch vào khoảng 32.000 năm TCN.
=== Lịch tài chính ===
Lịch tài chính (chẳng hạn như lịch 5/4/4) cố định mỗi tháng ở một con số cụ thể của tuần để thuận tiện trong so sánh từ tháng qua tháng, từ năm qua năm. Tháng Một luôn luôn có chính xác 5 tuần (từ Chủ Nhật đến thứ Bảy), tháng Hai có 4 tuần, tháng Ba có 4 tuần, v.v. Lưu ý rằng loại lịch này nói chung cần bổ sung tuần thứ 53 cứ sau mỗi 5 đến 6 năm, nó có thể được thêm vào tháng 12 hoặc không, phụ thuộc vào cách thức mà tổ chức sử dụng những ngày này. Có một tiêu chuẩn quốc tế để thực hiện điều này (tuần ISO). Tuần ISO chạy từ thứ Hai đến Chủ Nhật và tuần 1 luôn luôn là tuần chứa ngày 4 tháng 1 của lịch Gregory.
== Các phân chia trong lịch ==
Gần như mọi loại lịch đều nhóm một số các ngày kế tiếp nhau thành "tháng" và các tháng thành "năm". Trong dương lịch, năm xấp xỉ bằng năm chí tuyến Trái Đất (là khoảng thời gian Trái Đất cần để thực hiện đủ một chu kỳ các mùa), thông thường được sử dụng để làm thuận tiện cho việc lập kế hoạch của các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp. Trong âm lịch, tháng có độ dài xấp xỉ một chu kỳ của Mặt Trăng.
Các ngày kế tiếp nhau có thể được nhóm thành các chu kỳ khác, chẳng hạn như tuần.
Vì số lượng ngày trong năm chí tuyến không phải là một số nguyên, dương lịch phải có số lượng ngày khác nhau tùy theo từng năm. Điều này có thể thực hiện được với năm nhuận. Điều tương tự cũng diễn ra với tháng của âm lịch hay của âm dương lịch. Tất cả những cái này được gọi chung là nhuận.
Các nền văn hóa có thể định nghĩa các đơn vị thời gian khác, chẳng hạn như tuần hay quý, để phục vụ cho mục đích lập biểu thời gian để điều chỉnh các hoạt động cơ bản mà trong trường hợp đó tháng hay năm không phù hợp cho lắm.
== Các loại lịch khác ==
=== Lịch hoàn thiện và không hoàn thiện ===
Lịch có thể là hoàn thiện hay không hoàn thiện. Lịch hoàn thiện là lịch cung cấp cách để đặt tên cho từng ngày kế tiếp nhau, trong khi lịch không hoàn thiện thì không làm được như vậy. Lịch sớm nhất của người La Mã chẳng hạn đã không có cách để gọi ngày trong các tháng mùa đông, ngoài cách gọi cả mớ là "mùa đông", là một ví dụ của lịch không hoàn thiện, trong khi lịch Gregory là một ví dụ của lịch hoàn thiện.
=== Lịch thực dụng, lý thuyết và hỗn hợp ===
Lịch có thể là thực dụng, lý thuyết hay hỗn hợp.
Lịch thực dụng là lịch dựa trên các quan sát, một ví dụ là lịch tôn giáo của đạo Hồi và lịch tôn giáo của đạo Do Thái trong thời kỳ Thánh Đường. Những loại lịch như thế còn gọi là lịch quan sát hay lịch thiên văn. Ưu điểm: là nó có độ chính xác hoàn hảo và vĩnh cửu. Khuyết điểm: là một ngày tháng cụ thể nào đó diễn ra khi nào rất khó xác định trước.
Lịch lý thuyết là loại lịch dựa trên một tập hợp các quy tắc chặt chẽ; một ví dụ là lịch Do Thái. Những loại lịch như thế còn gọi là lịch quy tắc hay lịch số học. Ưu điểm: là dễ dàng tìm thấy khi nào diễn ra một ngày cụ thể nào đó. Khuyết điểm: là có độ chính xác không hoàn hảo. Ngoài ra, nếu cố gắng tạo ra lịch chính xác hơn, thì độ chính xác của nó cũng bị sai theo thời gian do sự thay đổi của sự tự quay của Trái Đất. Điều này giới hạn thời gian sống của lịch lý thuyết chỉ trong vài nghìn năm. Sau đó, các quy tắc cần phải được sửa đổi theo các quan sát có từ khi phát minh ra lịch, tạo ra một loại lịch hỗn hợp.
Lịch hỗn hợp tổ hợp các nét đặc trưng của lịch thực dụng và lịch lý thuyết. Nó thông thường có nguồn gốc là lịch lý thuyết nhưng được điều chỉnh một cách thực dụng khi một số các loại hình bất đồng bộ xuất hiện rõ nét; sự chuyển đổi từ lịch Julius sang lịch Gregory là một ví dụ.
Lịch Gregory, như là một ví dụ cuối cùng, là một loại dương lịch hoàn thiện và hỗn hợp.
== Sử dụng ==
Sử dụng cơ bản nhất của lịch là để xác định ngày: để có thể thông báo và/hoặc chấp thuận các sự kiện tương lai và ghi chép lại các sự kiện đã xảy ra. Các ngày có thể có ý nghĩa đối với các mùa thông thường, tôn giáo hay xã hội. Ví dụ, lịch cung cấp cách thức để xác định ngày nào là những ngày lễ tôn giáo hay ngày lễ công cộng, những ngày nào đánh dấu sự bắt đầu hay kết thúc của các chu kỳ hoạt động sản xuất-kinh doanh, cũng như ngày nào là có giá trị pháp lý như ngày hết hạn trong các hợp đồng hay ngày nộp thuế. Cũng có lịch còn cung cấp thêm thông tin khác có ích chẳng hạn như thông tin về ngày hay mùa của nó.
Lịch được sử dụng như là một phần của hệ thống duy trì thời gian hoàn hảo: ngày tháng và thời gian của một ngày cùng nhau chỉ ra các thời điểm theo thời gian. Trong thế giới hiện đại, các loại lịch đã không còn là một phần quan trộng trong hệ thống ấy, do sự ra đời của các loại đồng hồ có độ chính xác cao đã làm cho khả năng ghi chép thời gian là độc lập với các sự kiện thiên văn.
=== Sử dụng hiện tại ===
Lịch được sử dụng rộng rãi nhất ngày nay là lịch Gregory, trên thực tế nó là tiêu chuẩn quốc tế, và nó được sử dụng ở mọi nơi trên khắp thế giới cho các mục đích thông thường, bao gồm cả Trung Quốc và Ấn Độ là những quốc gia trước đây sử dụng lịch khác. Lịch Do Thái là lịch chính thức của chính quyền Israel, nhưng lịch Gregory được sử dụng rộng rãi hơn trong kinh doanh ở Israel và càng ngày càng được ưa chuộng hơn. Lịch Ba Tư được sử dụng ở Iran và Afghanistan. Lịch Hồi giáo được sử dụng bởi những người theo đạo Hồi trên toàn thế giới. Các loại lịch Trung Quốc, Hêbrơ, Hindu và lịch Julius cũng được sử dụng rộng rãi trong các mục đích tôn giáo và/hoặc xã hội.
Mặc dù nói chung lịch Gregory được sử dụng rộng rãi nhưng các loại lịch khác cũng được sử dụng, chẳng hạn như lịch tài chính.
== Xem thêm ==
Danh sách lịch
Năm phụng vụ
Lịch các thánh
Lịch Kitô giáo
Tính ngày trong tuần
Chu kỳ
Lịch Run
Lịch Cộng hòa Pháp
Lịch tường
Wikipedia:WikiProject Calendars
== Tham khảo ==
Calendrical Calculations; Nachum Dershowitz and Edward M. Reingold; Cambridge University Press, 1997; ISBN 0-521-56474-3; Book Info; Online Calculator
A comparative Calendar of the Iranian, Muslim Lunar, and Christian Eras for Three Thousand Years; Ahmad Birashk; Mazda Publishers, 1993; ISBN 0-939214-95-4
The Comprehensive Hebrew Calendar; Arthur Spier; Feldheim Publishers, 1986; ISBN 0-87306-398-8
High Days and Holidays in Iceland; Árni Björnsson; Mál og menning, 1995; ISBN 9979-3-0802-8
Explanatory Supplement to the Astronomical Almanac; P. Kenneth Seidelmann, ed.; University Science Books, 1992; ISBN 0-935702-68-7; Chapter 12: Calendars by L. E. Doggett
Sun, Moon, and Sothis; Lynn E. Rose; Kronos Press, 1999; ISBN 0-917994-15-9
Untersuchungen zur Geschichte der Tibetischen Kalenderrechnung; Dieter Schuh; Franz Steiner Verlag GMBH, 1973
Frequently Asked Questions about Calendars: [1]
DMOZ Calendars and Timekeeping category: [2]
DateDex: Calendar Directory
A calendar.
== Liên kết ngoài ==
Event Calendar based on Wikipedia Content |
chữ tượng hình.txt | Chữ tượng hình là hệ thống chữ viết đối lập với chữ tượng thanh. Nếu trong hệ thống chữ tượng thanh mỗi một ký hiệu (chữ cái) tương ứng với một âm hay một tổ hợp âm, thì trong hệ thống chữ tượng hình mỗi một ký hiệu tương ứng với một từ hay một hình vị (đơn vị nhỏ nhất mang ý nghĩa trong ngôn ngữ tương ứng). Nếu những đại diện của chữ tượng thanh là những hệ thống chữ cái như chữ cái Latin, chữ Ả Rập, chữ Hindu, cũng như hiragana và katakana của Nhật Bản, thì đại diện của chữ tượng hình gồm có chữ tượng hình Ai Cập, chữ Hán, chữ Maya.
== Những hệ thống chữ tượng hình ==
Chữ tượng hình là loại chữ được phát minh sớm nhất trong lịch sử loài người. Nhiều dân tộc đầu tiên của thế giới đã sử dụng những hệ thống chữ tượng hình làm hệ thống chữ viết đầu tiên cho mình. Sau đây là một vài ví dụ của các dân tộc nguyên thủy ở những vùng Trung Cận Đông, Trung Quốc và Trung Mỹ.
Chữ thuần tượng hình (tham khảo mục Khía cạnh ngữ âm và ngữ nghĩa về tính "thuần tượng hình")
Chữ Đông Ba - dân tộc Nạp Tây thuộc Trung Quốc
Chữ Sioux và chữ Ojibwa - các dân tộc tại Trung Mỹ
Chữ tượng hình dựa trên phụ âm
Chữ tượng hình Ai Cập - Ai Cập cổ đại
Chữ tượng hình dựa trên âm tiết
Chữ tượng hình Anatolia và chữ hình nêm - các dân tộc cổ đại ở Tây Á
Chữ Hán - các dân tộc ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên
Chữ Nôm - các dân tộc ở Việt Nam, phát triển dựa trên chữ Hán
Chữ Bu Ma (cổ) - dân tộc Di ở tây nam Trung Quốc
Chữ Maya - các dân tộc Maya ở Trung Mỹ
Trong đó, chữ Đông Ba là chữ thuần tượng hình duy nhất còn được dùng cho đến ngày nay, và chữ Hán là chữ tượng hình duy nhất còn được dùng phổ biến trong thời hiện đại. Trong họ chữ Hán, chữ Nhật Bản hiện nay cũng được dùng phổ biến, nhưng nó bao gồm cả chữ tượng hình (Hán tự hay kanji) và chữ tượng thanh (hiragana, katakana) dùng trộn lẫn với nhau.
== Ưu điểm và khuyết điểm ==
Những điều lợi và bất lợi liệt kê dưới đây tập trung chủ yếu vào tính "thuần tượng hình", tức khía cạnh ngữ nghĩa, chứ không phải khía cạnh ngữ âm của chữ tượng hình.
=== Ưu điểm ===
Không có quan hệ giữa chữ và tiếng: mỗi chữ có thể mang một nghĩa thống nhất cho mọi ngôn ngữ. Đây là cái lợi lớn nhất mà người Trung Quốc đã tận dụng được để thống nhất các ngôn ngữ khác nhau (được người Trung Quốc gọi là "tiếng địa phương") trong quốc gia rộng lớn của họ. Nhờ sức mạnh biểu ý đó mà chữ Hán đã lan rộng ra các nước lân cận như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Cũng nhờ tính biểu ý đó mà các dân tộc cổ đại lưu truyền kiến thức lại được một cách dễ dàng (các nhà khảo cổ học có thể hiểu được những ký hiệu khắc trên đá, dù không biết tiếng nói thời đó ra sao).
=== Khuyết điểm ===
Phức tạp: số chữ trong một hệ thống chữ tượng hình của một ngôn ngữ thường lớn hơn rất nhiều so với số chữ cái trong một hê thống chữ tượng âm tương ứng; hơn nữa, những chữ tượng hình diễn tả những khái niệm cao cấp thường có cấu tạo phức tạp. Đây là bất lợi lớn nhất của chữ tượng hình khiến cho người học tốn nhiều công sức để học và nhớ hết các chữ, khiến cho quá trình tự động hóa như in ấn, truyền điện tín, lưu trữ điện tử trở nên vô cùng khó khăn (thực tế là ngày xưa, ngay cả việc khắc bản in, người ta cũng phải làm thủ công).
Không có quan hệ giữa chữ và tiếng: một người không thể nào phát âm được một chữ mới, và ngược lại không thể viết lại khi nghe những từ lạ.
== Vấn đề về thuật ngữ ==
=== Khía cạnh ngữ âm và ngữ nghĩa ===
Tuy "tượng hình" là nói về ý nghĩa, nhưng thực ra rất hiếm những hệ thống chữ viết là "thuần tượng hình", đa số đều chứa cả khía cạnh ngữ âm lẫn khía cạnh ngữ nghĩa trong cùng một hệ thống chữ tượng hình.
==== Khía cạnh ngữ âm ====
Trong một hệ thống chữ tượng hình, thường có những chữ mang theo một thành phần định âm hoặc có âm được suy ra từ những chữ liên quan, và cả những chữ chỉ dành để định âm.
Có thành phần định âm: Trong chữ Hán, những chữ kiểu hình-thanh (xem Lục Thư) gồm một "phần hình" mang ý nghĩa và một "phần thanh" mang phát âm. Ví dụ: chữ 忠 (trung) gồm phần hình 心 (tâm, mang nghĩa "trái tim", "tấm lòng") và phần thanh 中 (trung, có nghĩa "ở trong", "ở giữa") hợp lại thành nghĩa "tấm lòng trung" (như trong "trung thành").
Có âm suy ra từ chữ liên quan: Trong chữ Nôm, những chữ Nôm "giả tá âm" mượn âm Hán-Việt của một chữ Hán, nhưng được hiểu theo nghĩa tương ứng với âm Nôm (âm thuần Việt). Ví dụ: chữ 終 (Hán-Việt "chung") có nghĩa là kết thúc (như trong "chung kết") được mượn làm chữ "chung" nghĩa là "cùng nhau" (như trong "chung một giàn").
Chữ định âm: Phần lớn chữ trong chữ hình nêm là những chữ chỉ dùng để chỉ một âm nào đó (giống như chữ cái trong chữ tượng thanh). Ví dụ: 𒀀="a", 𒐀="ba", 𒁕="da".
==== Khía cạnh ngữ nghĩa ====
Trong một hệ thống chữ tượng hình, một chữ thường được cấu tạo từ (hoặc mang theo) một vài thành phần mang ý nghĩa cơ bản, như những bộ thủ trong chữ Hán, hay những định tố trong chữ tượng hình Ai Cập.
=== "Tượng hình" trong chữ Hán ===
Trong các cách cấu tạo chữ Hán, hay còn gọi là Lục Thư, "tượng hình" còn là cách cấu tạo đơn giản nhất dùng để tạo nên các chữ Hán sơ khai nhất mang những ý nghĩa cơ bản nhất bằng cách "vẽ lại" hình dạng của những thứ thường gặp. Ví dụ: để chỉ Mặt Trăng người ta vẽ , sau thành chữ 月; để chỉ dòng nước, người ta vẽ , sau thành chữ 水, v.v. Và hiển nhiên, những chữ tượng hình kiểu này là những chữ "thuần tượng hình".
=== Thuật ngữ thay thế ===
Vì "tượng hình" là nói về ý nghĩa (như định nghĩa trên đầu bài), nhiều người chủ trương dùng "chữ biểu ý" thay cho "chữ tượng hình", và tương tự, "chữ biểu âm" thay cho "chữ tượng thanh". Cách dùng này còn tránh được nhầm lẫn với cách thứ nhất để cấu tạo chữ Hán như đã nêu trên. Tuy nhiên, "biểu ý" vẫn có thể được hiểu là cách thứ hai để cấu tạo chữ Hán, tương đương với "chỉ sự".
== Xem thêm ==
Chữ tượng thanh
Chữ tượng hình Ai Cập
Chữ Trung Quốc
== Tham khảo == |
giải quần vợt úc mở rộng.txt | Giải quần vợt Úc Mở rộng (tiếng Anh: Australian Open) là một trong 4 giải Grand Slam quần vợt trong năm. Đây là giải Grand Slam đầu tiên trong năm và diễn ra vào nửa cuối tháng 1 tại Melbourne. Giải được tổ chức bởi Tennis Australia, tổ chức thường được biết với cái tên Lawn Tennis Association of Australia (LTAA). Giống như tại Roland Garros hay Wimbledon, giải đấu này thi đấu theo thể thức 5 set thắng 3 (đối với nội dung đơn nam) và 3 set thắng 2 (đối với nội dung đơn nữ) và không có loạt tie-break (tie-breaker) ở set cuối cùng. Ngoài ra còn có các nội dung đánh đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ phối hợp và còn có nội dung cho các cựu danh thủ.
== Lịch sử ==
Giải đấu này được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1905 với cái tên là giải Vô địch Australasia (gồm Úc và New Zealand) tại Warehouseman's Cricket Ground ở St Kilda Road, Melbourne vào năm 1905., sau đó trở thành giải vô địch Úc vào năm 1927 và trở thành giải Úc Mở rộng vào năm 1969. Kể từ năm 1905, giải đấu này đã được tổ chức ở 6 địa điểm sau: Melbourne (46 lần), Sydney (17 lần), Adelaide (14 lần), Brisbane (8 lần), Perth (3 lần) và tại nước láng giềng New Zealand (2 lần vào các năm 1906 & 1912). Vào năm 1972, các nhà tổ chức quyết định giải đấu sẽ diễn ra chỉ ở một thành phố trong một năm và CLB Kooyong Lawn Tennis của thành phố Melbourne đã được lựa chọn để tổ chức giải đấu này.
Melbourne Park (có tên khác là Flinders Park) được xây dựng vào năm 1988, đúng thời điểm mà các nhà tổ chức đang muốn mở rộng phạm vi giải đấu và CLB Kooyong quá nhỏ để có thể đáp ứng được nhu cầu trên. Giải đấu được chuyển tới Melbourne Park và ngay lập tức đã mang lại thành công khi nó làm tăng thêm đến 90% lượng khán giả - lên đến 266.436 lượt người vào năm 1988 trong khi đó ở năm trước chỉ có 140.000 lượt người ghé thăm Kooyong.
Vì khoảng cách địa lý quá xa xôi của Australia, những giải đấu đầu tiên có rất ít các tay vợt nước ngoài tham dự. Trong thập niên 1920, để đi từ châu Âu tới Australia bằng tàu thủy phải mất 45 ngày. Những vận động viên quần vợt đầu tiên tới Úc bằng máy bay là đội tuyển Cúp Davis Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1946. Ngay cả đối với các tay vợt bản địa, đến tham dự giải cũng không phải là điều dễ dàng. Khi giải được tổ chức tại Perth, không có bất cứ tay vợt nào đến từ Victoria hay New South Wales đăng ký tham dự, vì nếu như vậy họ phải đi tàu hỏa hơn 3.000 km từ bờ Đông sang bờ Tây nước Úc. Hay giải tổ chức tại Christchurch, New Zealand năm 1906, chỉ có hai tay vợt Úc tham dự.
Từ năm 1969, giải Úc mở rộng cho phép tất cả các tay vợt đăng ký, kể cả các vận động viên chuyên nghiệp. Nhưng, chỉ trừ hai giải năm 1969 và 1971, còn đâu cho đến năm 1981, còn đâu hầu hết các tay vợt xuất sắc nhất thế giới đều không tham dự do tính bất hợp lý của lịch thi đấu (giải thường diễn ra đúng vào dịp Lễ Giáng sinh hay đầu năm mới), cùng với lượng tiền thưởng chưa hấp dẫn.
Giải được thi đấu trên mặt sân cỏ từ năm 1905 cho đến năm 1987. Từ năm 1988, giải chuyển sang thi đấu trên mặt sân cứng. Mats Wilander là tay vợt nam duy nhất giành được chức vô địch trên cả hai mặt sân.
Vào 2008, mặt sân Rebound Ace, sau hai mươi năm được sử dụng tại Melbourne Park, được thay thế bằng mặt sân acrylic tổng hợp Plexicushion.
== Danh sách các nhà vô địch ==
== Lượng khán giả các năm gần đây ==
2016 – 720.363
2015 – 703.899
2014 – 643.280
2013 – 684.457
2012 – 686.006
2011 – 651.127
2010 – 653.860
2009 – 603.160
2008 - 605.735
2007 - 554.858
2006 - 550.550
2005 - 543.873
2004 - 521.691
== Tiền thưởng ==
Năm 2009 tiền thưởng cho cả tay vợt nam và nữ là bằng nhau:
Vòng 1: 19.040 AU$
Vòng 2: 31.000 AU$
Vòng 3: 50.000 AU$
Vòng 4: 88.000 AU$
Tứ kết: 182.250 AU$
Bán kết: 365.000 AU$
Á quân: 1.000.000 AU$
Vô địch: 2.000.000 AU$
== Thống kê kỉ lục ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ giải quần vợt Úc Mở rộng
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài == |
nhà stuart.txt | Nhà Stuart, còn được gọi là Nhà Stewart, là một hoàng tộc châu Âu. Được thành lập bởi Robert II của Scotland, những người mang họ Stewart đầu tiên trở thành quốc vương của Vương quốc Scotland trong cuối thế kỷ 14. Tổ tiên trực tiếp của họ (từ Bretagne, Pháp) đã giữ tước vị Hight Steward of Scotland (Đại Quản quan của Scotland) từ thế kỷ thứ 12, sau khi đến băng qua lãnh thổ của Nước Anh thuộc Norman. Tới thế kỷ 17, hoàng tộc này kế thừa lãnh thổ rộng lớn của trong đó bao gồm toàn bộ quần đảo Anh, bao gồm các Vương quốc Anh và Vương quốc Ireland, và vẫn tiếp tục đòi hỏi ngai vàng Vương quốc Pháp. Hoàng tộc này hiện vẫn còn tồn tại như là một gia đình quý tộc của Đảo Anh với trưởng tộc hiện thời là Randolph Stewart, Bá tước thứ 13 xứ Galloway.
== Ghi chú ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Addington, Arthur C. The Royal House of Stuart: The Descendants of King James VI of Scotland (James I of England). 3v. Charles Skilton, 1969–76.
Cassavetti, Eileen. The Lion & the Lilies: The Stuarts and France. Macdonald & Jane’s, 1977. |
lục địa.txt | Lục địa là một mảng đất liền nằm trên bề mặt lớp vỏ Trái Đất, bị nước bao quanh. Lục địa chiếm tổng diện tích khoảng hơn 148,647 triệu km² hay khoảng 29% diện tích bề mặt Trái Đất (510.065.600 km²). Trong địa chính trị, lục địa nói chung hay được chia ra làm 6 châu lục, xếp theo thứ tự từ lớn tới nhỏ về diện tích như sau: châu Á, châu Mỹ, châu Phi, châu Nam Cực, châu Âu và châu Đại Dương.
== Từ nguyên ==
Lục địa là từ gốc Hán-Việt (tiếng Trung giản thể: 陆地, phồn thể: 陸地), trong đó lục (陆/陸) có nghĩa là vùng đồng bằng cao ráo, đất liền hay trên bộ (với ý nghĩa khi nói về phương thức đi lại) và địa (地) nghĩa là đất.
== Phân biệt ==
Tuy nhiên, hiện nay có một sự lộn xộn trong cách hiểu và dùng từ giữa lục địa và đại lục hay giữa lục địa với châu lục. Đại lục và lục địa đều là các khái niệm của địa lý tự nhiên, đại lục là mảng đất liền lớn trong khi lục địa là mảng đất liền nhưng không chỉ rõ là có quy mô về diện tích lớn hay nhỏ. Ví dụ, các đảo như Greenland với diện tích khoảng 2.166.086 km² hay Madagascar với diện tích khoảng 587.040 km² là các lục địa khi xét về mặt địa lý tự nhiên, nhưng không thể coi là đại lục. Châu lục là khái niệm của địa chính trị và nó mang ý nghĩa chính trị, lịch sử nhiều hơn. Một châu lục là tổ hợp lớn về đất đai, trên đó có nhiều quốc gia với các phần diện tích thuộc cả đại lục lẫn các đảo xung quanh (nếu có).
=== Các cách hiểu về lục địa ===
Nghĩa hẹp của từ lục địa' là một vùng đất liền liên tục, có các đường bờ biển và bất kỳ ranh giới nào tạo thành rìa của lục địa. Trong ngữ cảnh này, thuật ngữ lục địa châu Âu được dùng để ám chỉ phần đất liền của châu Âu, không bao gồm các đảo như Great Britain, Ireland, Malta và Iceland, và thuật ngữ lục địa châu Úc có thể đề cập đến phần đất liền của Úc, không bao gồm Tasmania và New Guinea. Tương tự, Hoa Kỳ lục địa bao gồm 48 tiểu bang liền kề ở trung Bắc Mỹ và có thể bao gồm Alaska ở tây bắc lục địa, không bao gồm Hawaii ở giữa Thái Bình Dương.
Về khía cạnh địa chất học hoặc địa lý tự nhiên, lục địa có thể kéo dài ra liên tục ra bên ngoài đường bờ biển đến khu vực nước nông gần kề (gọi là thềm lục địa) và các đảo trên thềm lục địa, vì chúng là một phần cấu trúc kéo dài của lục địa. Theo cách hiểu này, rìa của thềm lục địa là rìa thực sự của lục địa, do các đường bờ thay đổi khi mực nước biển dâng hay hạ. Trong ngữ cảnh này các đảo như Great Britain và Ireland là một phần của lục địa châu Âu, trong khi Úc và đảo New Guinea là cùng một lục địa.
Về khía cạnh văn hóa, khái niệm lục địa có thể vượt ra khỏi ranh giới thềm lục địa, bao gồm các đảo trong đại dương và các mảnh vỡ của luc địa. Theo cách hiểu này, Iceland được xem là một phần của lục địa châu Âu và Madagascar là một phần của lục địa châu Phi. Vượt ra ngoài khái niệm này, các nhà địa lý xếp mảng lục địa Á-Úc cùng với các quần đảo khác trong Thái Bình Dương thành một lục địa gọi là Oceania. Cách định nghĩa này chia toàn bộ phần đất trên bề mặt Trái Đất thành các lục địa hoặc bán lục địa.
=== Số lục địa ===
Có nhiều cách phân biệt các lục địa:
Mô hình 7 lục địa thường được giảng dạy ở Trung Quốc, Ấn Độ, một vài phần ở Tây Âu và hầu hết các nước nói tiếng Anh, bao gồm cả Australia và Anh
Mô hình sáu lục địa Á-Âu kết hợp được các cộng đồng địa lý học , Nga, Đông Âu, và Nhật Bản đề cập.
Mô hình sáu lục địa Bắc-Nam Mỹ kết hợp được dùng ở các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha và một vài phần của châu Âu bao gồm Hy Lạp.
Thuật ngữ Châu Đại Dương hoặc Australasia đôi khi được thay thế bằng Châu Úc để chỉ một vùng bao gồm lục địa Úc và các quần đảo trên Thái Bình Dương không bao gồm trong mô hình 7 lục địa. Ví dụ, Atlas of Canada đặt tên Oceania, cũng như mô hình được dạy ở Ý, Hy Lạp và Ibero-America (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Brasil và Hispanic America).
== Đặc trưng địa chất ==
Đặc trưng của lục địa là có cấu trúc vỏ lục địa (quyển sial) với bề dày 20 – 70 km và có giới hạn dưới là ranh giới Moho. Lớp vỏ lục địa chủ yếu chứa các loại đá nhẹ như granit với tỷ trọng trung bình khoảng 2,7-2,8 g/cm³. Kiến tạo mảng là tiến trình địa chất chính trong việc gây ra chuyển động, va chạm và phân chia của các khối lục địa.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
== Xem thêm ==
Đại lục
Châu lục
Đảo
Đại dương và biển |
hệ ngôn ngữ tupi.txt | Hệ ngôn ngữ Tupi hay hệ ngôn ngữ Tupí là một hệ ngôn ngữ gồm khoảng 70 ngôn ngữ hiện diện tại Nam Mỹ, trong đó nổi tiếng nhất là tiếng Tupi và Guarani.
== Nơi bắt nguồn (urheimat) ==
Rodrigues (2007) cho rằng urheimat của ngôn ngữ tiền-Tupi nằm ở đâu đó giữa sông Guaporé và sông Aripuanã, trong vùng lưu vực sông Madeira. Đa phần vùng này tương ứng với Rondônia, Brasil ngày nay. 5 trong số 10 nhánh ngôn ngữ Tupi, cũng như vài ngôn ngữ Tupi–Guarani (đặc biệt là tiếng Kawahíb), xuất hiện tại vùng này. Rodrigues tin rằng ngôn ngữ Tiền-Tupi hiện diện vào khoảng 5.000 BP
== Lịch sử và phân loại ==
Khi người Bồ Đào Nha đến Brasil, họ đã phát hiện, khi đi học dải bờ biển của vùng đất mới này, rằng đa số người bản địa đều nói những ngôn ngữ tương tự. Những nhà truyền giáo Dòng Tên đã sử dụng lợi thế này, hệ thống hóa những ngôn ngữ chuẩn chung, khi đó có tên línguas gerais, mà vẫn được sử dụng cho tới tận thế kỷ 19. Ngôn ngữ nổi tiếng nhất và từng được dùng rộng rãi nhất là tiếng Tupi Cổ, nay chỉ còn được nói bởi thổ dân Nam Mỹ tại vùng Rio Negro, nơi nó được gọi là Nheengatu ([ɲɛʔẽŋaˈtu]), nghĩa là "ngôn ngữ tốt".
Tại những thuộc địa Tây Ban Nha lân cận, tiếng Guaraní, một ngôn ngữ Tupi khác, có liên quan đến tiếng Tupi Cổ, cũng có lịch sử tương tự, nhưng đã thành công trong việc không bị tiếng Tây Ban Nha lấn át. Hiện nay, tiếng Guaraní có hơn 5 triệu người nói, và là một trong những ngôn ngữ chính thức của Paraguay. Hệ ngôn ngữ Tupi còn gồm nhiều ngôn ngữ khác với số người nói ít hơn.
Rodrigues & Cabral (2012) liệt kê 10 nhánh ngôn ngữ Tupi, chia thành hai nhóm Tupi Tây và Tupi Đông.
Tupi Tây
Arikém (2 ngôn ngữ)
Tuparí (6 ngôn ngữ)
Mondé (6 ngôn ngữ)
Puruborá–Ramaráma (Rôndonia) (3 ngôn ngữ)
Tupi Đông
Yurúna (Jurúna) (3 ngôn ngữ)
Mundurukú (2 ngôn ngữ)
Mawé
Awetï
Tupi–Guarani (50 ngôn ngữ)
== Chú thích ==
Rodrigues, Aryon Dall'Igna (2007). "As consoantes do Proto-Tupí". In Ana Suelly Arruda Câmara Cabral, Aryon Dall'Igna Rodrigues (eds). Linguas e culturas Tupi, p. 167-203. Campinas: Curt Nimuendaju; Brasília: LALI.
== Liên kết ngoài ==
Swadesh lists of Tupi–Guarani basic vocabulary words (from Wiktionary's Swadesh-list appendix) |
tuyên ngôn độc lập hoa kỳ.txt | Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ là văn bản chính trị tuyên bố ly khai khỏi Anh của 13 thuộc địa Bắc Mỹ. Được tuyên bố vào 4 tháng 7 năm 1776, Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ ghi dấu ảnh hưởng của triết học Khai sáng và cả kết quả của Cách mạng Anh năm 1688.
Nội dung chính của bản tuyên ngôn được dựa trên tư tưởng của một triết gia người Anh ở thế kỷ 16, John Locke. Theo lý thuyết của John Locke, ba quyền cơ bản không thể bị tước đoạt của con người là quyền được sống, được tự do và được sở hữu. Quyền sở hữu được Jefferson đề cập tới trong bản tuyên ngôn là "quyền được mưu cầu hạnh phúc". Những ý tưởng khác của John Locke cũng được Jefferson đưa vào bản tuyên ngôn như sự bình đẳng, Nhà nước hạn chế, quyền được lật đổ Chính quyền khi Chính quyền không còn phù hợp. Bản tuyên ngôn cũng vạch tội nhà cầm quyền Anh, đại diện là vua George III, bởi chính sách thuế khóa nặng nề và tàn bạo.
== Sức lan tỏa của Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ ==
Bản Tuyên ngôn đã truyền cảm hứng cho nhiều bài phát biểu nổi tiếng khác như của Martin Luther King Jr. và Abraham Lincoln. Bản Tuyên ngôn cũng ảnh hưởng đến nhiều tuyên ngôn độc lập của các nước khác như Việt Nam và Zimbabwe.
=== Tuyên ngôn độc lập (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Draft of the United States Declaration of Independence tại Wikimedia Commons
Tuyên ngôn Độc lập ở Cục Lưu trữ Quốc gia (tiếng Anh)
Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ trên trang của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội |
chương mỹ.txt | Chương Mỹ là một huyện đồng bằng của thành phố Hà Nội, phía tây nam thủ đô Hà nội, thị trấn Chúc Sơn của huyện nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 20 km, nơi cuối cùng của huyện cách trung tâm thủ đô không quá 40 km, huyện Chương Mỹ có diện tích rộng đứng thứ 3 toàn thành phố. Địa hình chia làm 3 vùng: vùng bãi ven sông Đáy, vùng đồng bằng và vùng bán sơn địa. Trên địa bàn có 02 quốc lộ chạy qua là quốc lộ 6A với chiều dài 18 km và đường Hồ Chí Minh với dài 16,5 km. Chương Mỹ cũng là huyện nằm trong quy hoạch vùng thủ đô, là vùng vành đai xanh có đô thị vệ tinh Xuân Mai và đô thị sinh thái Chúc Sơn. Tổng diện tích của toàn huyện là 23.240,92 ha, trong đó: Nhóm đất nông nghiệp là 14.032,65 ha; nhóm đất phi nông nghiệp là 8.081,23 ha; Nhóm đất chưa sử dụng là 8.081,23 ha với 32 đơn vị hành chính cấp xã (02 thị trấn và 30 xã), có nhiều cơ quan đơn vị từ trung ương đến địa phương đóng trên địa bàn.
== Lịch sử hình thành ==
Huyện Chương Mỹ nguyên xưa là phần đất của hai huyện Yên Sơn, Mỹ Lương thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây và huyện Chương Đức, thuộc phủ Ứng Thiên, trấn Nam Thượng. Đến năm Gia Long thứ 13 (1814), đổi sang phủ Ứng Hòa. Đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) chia huyện Chương Đức thành hai huyện Yên Đức, thuộc phủ Mỹ Đức và huyện Chương Mỹ thuộc phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông.
Sau năm 1945, huyện Chương Mỹ thuộc tỉnh Hà Đông.
Ngày 21 tháng 4 năm 1965, huyện Chương Mỹ thuộc tỉnh Hà Tây.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, huyện Chương Mỹ thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, gồm 2 thị trấn: Chúc Sơn, Xuân Mai và 31 xã: Đại Yên, Đồng Lạc, Đồng Phú, Đông Phương Yên, Đông Sơn, Hòa Chính, Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Hồng Phong, Hợp Đồng, Hữu Văn, Lam Điền, Mỹ Lương, Nam Phương Tiến, Ngọc Hòa, Ngọc Sơn, Phú Nam An, Phú Nghĩa, Phụng Châu, Quảng Bị, Tân Tiến, Thanh Bình, Thượng Vực, Thụy Hương, Thủy Xuân Tiên, Tiên Phương, Tốt Động, Trần Phú, Trung Hòa, Trường Yên, Văn Võ.
Ngày 17 tháng 2 năm 1979, chuyển 2 xã Tiên Phương và Phụng Châu về huyện Hoài Đức quản lý.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, huyện Chương Mỹ lại trở về với tỉnh Hà Tây.
Ngày 23 tháng 6 năm 1994, chuyển trở lại 2 xã Tiên Phương và Phụng Châu về huyện Chương Mỹ quản lý.
Ngày 2 tháng 3 năm 2005, sáp nhập toàn bộ 339,09 ha diện tích tự nhiên và 5.036 nhân khẩu của xã Ngọc Sơn vào thị trấn Chúc Sơn. Từ đó, huyện Chương Mỹ có 2 thị trấn và 30 xã.
Từ ngày 29 tháng 5 năm 2008, tỉnh Hà Tây bị giải thể để sáp nhập vào Hà Nội, huyện Chương Mỹ trực thuộc thành phố Hà Nội.
== Vị trí địa lý ==
Huyện nằm chính giữa rìa phía Tây Nam Hà Nội, phía Đông giáp huyện Thanh Oai, một góc phía Tây Bắc giáp quận Hà Đông, phía Bắc và phía Tây Bắc giáp huyện Quốc Oai, phía chính Nam giáp huyện Mỹ Đức, một góc phía Đông Nam giáp huyện Ứng Hòa, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình.
== Dân cư ==
Dân số là 261.000 người, theo thống kê năm 1999.
== Đơn vị hành chính ==
Huyện Chương Mỹ có 32 đơn vị hành chính cấp xã gồm 30 xã: Đại Yên, Đồng Lạc, Đồng Phú, Đông Phương Yên, Đông Sơn, Hòa Chính, Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Hồng Phong, Hợp Đồng, Hữu Văn, Lam Điền, Mỹ Lương, Nam Phương Tiến, Ngọc Hòa, Phú Nam An, Phú Nghĩa, Phụng Châu, Quảng Bị, Tân Tiến, Thanh Bình, Thượng Vực, Thụy Hương, Thủy Xuân Tiên, Tiên Phương, Tốt Động, Trần Phú, Trung Hòa, Trường Yên, Văn Võ và 2 thị trấn: Chúc Sơn, Xuân Mai.
== Văn hóa ==
Huyện có nhiều đình, chùa, đền, miếu... phong cảnh tuyệt đẹp như: chùa Trăm gian, chùa Trầm, chùa Hỏa Tinh, chùa Cao, chùa Thấp, chùa Sấu (Sùng Nghiêm Tự), đình Yên Khê, chùa Nghiêm kính tự, chùa Trấn Bắc Phương (Thuộc thôn Yên Khê, xã Đại Yên),Đình yên duyệt, Đình tốt động đình Nội, đình Xá, đình Ninh Sơn, Đình ba thôn Lễ Khê, Chùa Khâu Lăng (xã Hồng phong), Đình Trung Tiến, Đình Nghè, Đình Thướp, Đình Hồng Thái, Đình Kỳ Viên, Chùa Trung Tiến (Thuộc xã Trần Phú)... hầu hết đều tập trung quanh thị trấn Chúc Sơn. Các đình, chùa đều mở hội vào dịp đầu xuân (tháng 1, tháng 2 âm lịch).
== Kinh tế ==
Nền kinh tế của huyện đang từng bước chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và du lịch. Hiện nay trên địa bàn có rất nhiều khu, cụm, điểm công nghiệp đã, đang hình thành và đi vào hoạt động như: KCN Phú Nghĩa, Nam Tiến Xuân; Cụm CN Ngọc Sơn, Đồng Đế, Đồng Sen... thu hút hàng trăm doanh nghiệp trong và ngoài nước tới đầu tư mang lại nguồn thu lớn cho địa phương, giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động, cũng như một số khu đô thị sinh thái đang được đầu tư xây dựng như Lộc Ninh Singashine (Chúc Sơn), khu đô thị Làng Thời Đại (Xuân Mai)...
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Cổng thông tin điện tử huyện Chương Mỹ
Phòng giáo dục đào tạo Chương Mỹ
Phòng Nội vụ huyện Chương Mỹ |
toshiba.txt | Công ty Toshiba (株式会社東芝, Kabushiki-gaisha Tōshiba) là một công ty đa quốc gia công nghệ cao có trụ sở chính tại Tokyo, Nhật Bản. Sản phẩm và dịch vụ của công ty này bao gồm Công nghệ Thông tin, Thiết bị và hệ thống liên lạc, cơ sở hạ tầng cho công nghiệp và xã hội, dụng cụ điện dùng trong nhà, thiết bị y tế, thiết bị văn phòng.
Toshiba được thành lập vào năm 1939 dưới tên Tokyo Shibaura Electric K.K. qua sự hợp nhất của Shibaura Seisaku-sho (thành lập năm 1875) và Tokyo Denki (thành lập năm 1890). Tên công ty đã được chình thức thay đổi sang Toshiba Corporation vào năm 1978.
Toshiba dược tổ chức thành bốn nhóm thương mại chính: Nhóm Sản Phẩm Số, Nhóm Thiết Bị Điện Tử, Nhóm Đồ Dùng Gia Dụng và Nhóm Cơ Sở Hạ Tầng Xã hội. Vào năm 2010, Toshiba là công ty máy tính cá nhân lớn thứ năm thế giới về doanh thu (xếp phía sau Hewlett-Packard, Dell, Acer và Lenovo). Vào cùng năm, nó cũng là công ty sản xuất chất bán dẫn lớn thứ tư thế giới về doanh thu(xếp phía sau Intel Corporation, Samsung và Texas Instruments).
== Lịch sử ==
Tosbiba được thành lập vào năm 1939 bởi sự hợp Nhất của Shibaura Seisaku-sho và Tokyo Denki. Shibaura Seisakusho được thành lập dưới tên Tanaka Seisakusho bởi Hisashige Tanaka là công ty Nhật đầu tiên làm thiết bị điện báo, vào năm 1904, nó đã được đổi tên thành Shibaura Seisakusho, Suốt nửa đầu thế kỷ 20, Shibaura Seisakusho trở thành một công ty lớn sản xuất máy móc điện tử nặng trong khi Nhật Bản, được hiện đại hóa vào thời kỳ Minh Trị (Meiji Tennō), trở thành một cường quốc thế giới về công nghiệp. Tokyo Denki, mới đầu gọi Hakunetsusha, được thành lập vào năm 1890 và là công ty Nhật đầu tiên sản xuất bóng đèn nóng sáng. Công ty này đa dạng hóa và bắt đầu làm những sản xuất tiêu dùng, và năm 1899 nó đổi tên thành Tokyo Denki (東京電器, Đông Kinh Điện khí, "Điện tử Tokyo"). Shibaura Seisakusho và Tokyo Denki hợp nhất vào năm 1939, trở thành công ty mới dưới tên Tōkyō Shibaura Denki. Nó được tên hiệu Toshiba không lâu, nhưng công ty không đổi tên chính thức thành Công ty Toshiba đến khi năm 1978.
Toshiba đã chế tạo nhiều loại thiết bị đầu tiên của Nhật Bản, bao gồm radar (1942), máy tính số TAC (1954), máy thu hình bán dẫn và lò vi sóng (1959), điện thoại hình màu (1971), máy xử lý chữ Nhật (1978), hệ thống MRI (1982), Máy tính xách tay (1986), NAND EEPROM (1991), Đĩa DVD (1995) và đĩa HD DVD (2005)
== Hoạt động ==
Toshiba có trụ sở chính tại Minato-ku, Tokyo, Nhật Bản và có hoạt động trên toàn cầu. Nó có khoảng 210.000 nhân viên.
Toshiba dược tổ chức thành bốn nhóm thương mại chính: Nhóm Sản Phẩm Số, Nhóm Thiết Bị Điện Tử, Nhóm Đồ Dùng Gia Dụng và Nhóm Cơ Sở Hạ Tầng Xã hội. Trong năm tài chính tới ngày 31 tháng 3 năm 2012, Toshiba có tổng doanh thu lên đến 6.100,3 tỷ JP¥, trong đó 25,2% là từ Nhóm Sản Phẩm Số, 24,5% từ Nhóm Thiết Bị Điện Tử, 8,7% từ Nhóm Đồ Dùng Gia Dụng, 36,6% từ Nhóm Cơ Sở Hạ Tầng Xã hội và 5% từ các hoạt động khác.
Toshiba có 39 cơ sở nghiên cứu và phát triển trên khắp thế giới với khoảng 4.180 nhân viên. Toshiba đầu tư tổng cộng 319,9 tỷ JP¥ vào nghiên cứu và phát triển trong năm tài chính tới ngày 31 tháng 3 năm 2012. Toshiba đã đăng ký tổng cộng 2.483 bằng sáng chế ở Mỹ trong năm 2011, đứng thứ 5 trong số những công ty có nhiều bằng sáng chế nhất (xếp sau IBM, Samsung Electronics, Canon and Panasonic).
== Sản phẩm, dịch vụ và tiêu chuẩn ==
Toshiba có rất nhiều sản phẩm và dịch vụ, bao gồm máy điều hòa, đồ điện tử gia dụng, hệ thống kiểm soát, thang máy, dịch vụ IT, ánh sáng, chất liệu và thành phần điện tử, thiết bị y tế, thiết bị văn phòng, máy tính cá nhân, chất bán dẫn, hệ thống năng lượng.
=== Máy thu hình 3D ===
Vào tháng 10 năm 2010, Toshiba đã cho ra mắt máy thu hình LCD 3D không cần kính Toshiba Regza GL1 21" LED backlit tại CEATEC 2010. sản phẩm này bắt đầu được bán vào tháng 12 năm 2010.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Cổng thế giới của Toshiba (tiếng Anh)
Toshiba tại Việt Nam (tiếng Anh)
Tóm tắt vụ công nghệ tàu ngầm năm 1987 (tiếng Anh) |
đô thị việt nam.txt | Đô thị tại Việt Nam là những đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn; được các cơ quan nhà nước ở Việt Nam có thẩm quyền ra quyết định thành lập. Mặc dù huyện và xã ở Việt Nam là cấp hành chính tại khu vực Nông thôn Việt Nam, nhưng trong những trường hợp đặc biệt đủ điều kiện về quy mô và tính chất đô thị hóa huyện có thể được công nhận là đô thị (như Thủ tướng quyết định công nhận huyện đảo Phú Quốc là đô thị loại II), một số xã Việt Nam là các xã huyện lỵ chuẩn bị được nâng cấp lên thị trấn cũng có thể được công nhận là đô thị bởi chính quyền cấp tỉnh. Các đô thị Việt Nam được chia thành 6 loại gồm: loại đô thị đặc biệt và các đô thị từ loại I đến loại V. Các đô thị đặc biệt, loại I và loại II phải do Thủ tướng ra quyết định công nhận; các kiểu đô thị loại III và IV do Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh (hay thành phố trực thuộc trung ương) công nhận. Hiện tại Việt Nam có 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 17 đô thị loại I, 25 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 87 đô thị loại IV. Khoảng 38% dân số Việt Nam sống ở đô thị.
== Phân loại đô thị ==
Tại Việt Nam, trước đây việc phân loại đô thị thực hiện theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ. Từ ngày 2 tháng 7 năm 2009, việc phân loại đô thị thực hiện theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ. Gần đây nhất, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 có hiệu lực từ ngày 25 tháng 5 năm 2016 về phân loại đô thị.
Tại Việt Nam hiện có 6 loại hình đô thị: loại đặc biệt và từ loại I đến loại V. Nghị định số 42/2009/NĐ-CP sử dụng số La Mã để phân loại đô thị, nhưng nhiều tài liệu vẫn dùng số Ả Rập: loại 1 đến loại 5.
Một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau:
Có chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên.
Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật).
Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị.
Đối với các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì các tiêu chí đánh giá được nới lỏng hơn: quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương. Đối với một số đô thị có tính chất đặc thù, tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương đương và bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị.
== Đô thị loại đặc biệt ==
Đô thị loại đặc biệt là các đô thị:
Giữ vai trò "trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, có tầm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của Châu Á".
Quy mô dân số toàn đô thị từ 6 triệu người trở lên.
Mật độ dân số nội đô bình quân từ 20.000 người/km² trở lên.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 95% trở lên.
Tổng mật độ bao phủ cây xanh ở đô thị từ 70% trở lên.
Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh.
Hiện ở Việt Nam có hai thành phố được chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt là thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Hải Phòng cũng đang được xem xét là đô thị loại đặc biệt vào năm 2030, muộn nhất là năm 2050. Để hỗ trợ chính quyền hai thành phố này hoàn thành chức năng của đô thị loại đặc biệt, Chính phủ cho phép thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hưởng một số cơ chế tài chính-ngân sách đặc thù.
== Đô thị loại I ==
Đô thị loại I, trong cách phân loại đô thị ở Việt Nam, là những đô thị giữ vai trò trung tâm quốc gia hoặc trung tâm vùng lãnh thổ liên tỉnh. Tiêu chí xác định thành phố là đô thị loại I gồm:
Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước.
Quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 500 nghìn người trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
Mật độ dân số nội đô bình quân từ 12.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 10.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 85% trở lên.
Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh.
Hiện ở Việt Nam có 3 thành phố trực thuộc trung ương và là đô thị loại I, gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ. 14 thành phố trực thuộc tỉnh và là đô thị loại I, gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Nam Định, Việt Trì, Vũng Tàu, Hạ Long, Thanh Hóa, Biên Hòa, Mỹ Tho.
Hải Phòng là đô thị trung tâm của vùng duyên hải Bắc Bộ, Đà Nẵng là đô thị trung tâm của miền Trung, Cần Thơ là trung tâm của vùng Tây Nam Bộ. Thanh Hóa, Vinh và Huế là ba trung tâm của Bắc Trung Bộ. Đà Lạt và Buôn Ma Thuột là hai trung tâm của khu vực Tây Nguyên. Nha Trang và Quy Nhơn là hai trung tâm của Duyên hải Nam Trung Bộ. Biên Hòa và Vũng Tàu là hai trung tâm của vùng Đông Nam Bộ. Việt Trì là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam và là trung tâm của liên tỉnh phía Bắc. Hạ Long là thành phố dịch vụ, du lịch biển quốc tế, nơi có kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. Thái Nguyên là trung tâm vùng trung du và miền núi phía Bắc. Nam Định là trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng. Mỹ Tho là đô thị trung tâm của vùng bắc sông Tiền.
== Đô thị loại II ==
Đô thị loại II phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước.
Quy mô dân số toàn đô thị từ 300 nghìn người trở lên.
Mật độ dân số nội đô bình quân từ 8.000 người/km² trở lên.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở nội đô từ 80% trở lên.
Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh.
Hiện nay có 25 thành phố, huyện trực thuộc tỉnh là đô thị loại II gồm: Pleiku, Long Xuyên, Hải Dương, Phan Thiết, Cà Mau, Tuy Hoà, Uông Bí, Thái Bình, Rạch Giá, Bạc Liêu, Ninh Bình, Bắc Ninh, Thủ Dầu Một, Đồng Hới, Phú Quốc, Vĩnh Yên, Lào Cai, Bà Rịa, Bắc Giang, Phan Rang - Tháp Chàm, Châu Đốc, Cẩm Phả, Quảng Ngãi, Tam Kỳ và Trà Vinh
Quyền quyết định công nhận đô thị loại đặc biệt, loại I và loại II thuộc về Thủ tướng chính phủ Việt Nam.
== Đô thị loại III ==
Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh;
Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên.
Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km² trở lên.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động nội đô từ 75% trở lên;
Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;
Đô thị loại III có thể là một thị xã hoặc thành phố trực thuộc tỉnh. Đến tháng 4/2017 có 45 đô thị loại III (trong đó có 15 thị xã, 1 thị trấn).
== Đô thị loại IV ==
Đô thị loại IV phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:
Chức năng đô thị: là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh.
Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên.
Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km² trở lên.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động.
Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị đạt các tiêu chí quy định
Kiến trúc, cảnh quan đô thị từng bước được thực hiện theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
Các đô thị loại IV có thể là thị xã hoặc thị trấn. Đến tháng 4/2017 có 87 đô thị loại IV (trong đó có 50 thị trấn).
Quyền quyết định đô thị loại III và loại IV thuộc về Bộ Xây dựng Việt Nam xem xét, thẩm định và quyết định công nhận.
== Đô thị loại V ==
Đô thị loại V phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:
Chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã.
Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên.
Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km² trở lên.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động.
Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: từng mặt đã hoặc đang được xây dựng tiến tới đồng bộ.
Kiến trúc, cảnh quan đô thị từng bước được thực hiện theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
Các đô thị loại V là thị trấn.
Quyền quyết định công nhận đô thị loại V thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
== Xem thêm ==
Thành phố (Việt Nam)
Thị xã (Việt Nam)
Thị trấn (Việt Nam)
Danh sách thị trấn tại Việt Nam
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Thông tư 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP, ngày 7/5/2009 của Chính phủ về việc Phân loại đô thị |
làn sóng xanh.txt | Làn Sóng Xanh là một trong những giải thưởng âm nhạc thường niên và uy tín trong làng âm nhạc Việt Nam. Được bắt đầu từ năm 1997, với cơ quan chủ quản là đài FM 99.9MHz của Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ngay trong những ngày đầu, Làn Sóng Xanh đã tạo ra một làn sóng hâm mộ cuồng nhiệt khắp Việt Nam, mở đầu cho thể loại nhạc trẻ đang dần định hình tại Việt Nam từ các năm cuối thập niên 1990, Làn Sóng Xanh được phát sóng hàng tuần là top 10 các ca khúc Việt Nam được yêu thích nhất hàng tuần, và cuối năm sẽ có các đêm công diễn và trao giải rất hoành tráng, quy tụ hầu như các ngôi sao lớn nhất tại Việt Nam, Làn Sóng Xanh luôn được giới truyền thông coi là bảng đo nhiệt độ các ca khúc và các ca sĩ đang được yêu thích tại Việt Nam.
Chương trình phát thanh hiện tại đang được dẫn chương trình bởi MC Minh Tuấn và Diệu Minh.
== Lịch sử ==
== Giải thưởng ==
=== Chỉ trích ===
== Phát hành ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
danh sách các xếp hạng quốc tế.txt | Đây là danh sách các xếp hạng quốc tế.
== Theo thể loại ==
=== Tổng quát ===
Chỉ số quốc gia tốt
Chỉ số toàn cầu hóa
=== Nông nghiệp ===
Largest producing countries of agricultural commodities
=== Kinh tế ===
Diễn đàn Kinh tế thế giới: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu
The Heritage Foundation/The Wall Street Journal: current Chỉ số tự do kinh tế
Hệ số Gini: Danh sách các quốc gia theo chỉ số bình đẳng thu nhập
Chỉ số Sáng tạo Toàn cầu (Boston Consulting Group)
Chỉ số Sáng tạo Toàn cầu (Đại học Cornell, INSEAD and WIPO)
Global Innovation Quotient
List of countries by economic complexity
List of countries by net international investment position per capita
=== Giáo dục và Canh tân ===
Chỉ số giáo dục
Programme for International Student Assessment
Progress in International Reading Literacy Study
Danh sách quốc gia theo tỉ lệ biết chữ
Danh sách quốc gia theo bằng sáng chế
EF English Proficiency Index
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế: The OECD Programme for International Student Assessment (PISA)
International Association for the Evaluation of Educational Achievement: Trends in International Mathematics and Science Study
Educational Testing Service: 2003-2004 TOEFL Test Year Data Summary
Webometrics Ranking of World Universities
=== Môi trường ===
Climate Change Performance Index (CCPI)
Environmental Performance Index (EPI)
Environmental Sustainability Index (ESI)
Environmental Vulnerability Index (EVI)
Happy Planet Index (HPI)
List of countries by ecological footprint
Sustainable Society Index (SSI)
=== Địa lý ===
List of political and geographic subdivisions by total area (all)
=== Sức khỏe ===
Euro health consumer index (EHCI)
Global Hunger Index (GHI)
=== Chính trị ===
Tổ chức Minh bạch Quốc tế: Chỉ số nhận thức tham nhũng
Phóng viên không biên giới:Chỉ số tự do báo chí
Worldwide Governance Indicators
Chỉ số nhà nước thất bại
Composite Index of National Capability
Ngân sách quốc phòng các nước
List of countries by military expenditures per capita
=== Xã hội ===
Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc: Chỉ số phát triển con người
Economist Intelligence Unit: Quality-of-Life Index 2005
Save the Children: State of the World's Mothers report 2007
Legatum Prosperity Index
Dashboard of Sustainability (Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ)
Ethnic and cultural diversity level
Social Progress Index
=== Công nghệ ===
UN Liên minh Viễn thông Quốc tế: Chỉ số phát triển ICT
UN Chính phủ điện tử
OECD: List of countries by number of broadband Internet users
World Wide Web Foundation: Chỉ số Web
== Xem thêm ==
index number
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Because Every Country Is The Best At Something |
led zeppelin.txt | Led Zeppelin là ban nhạc rock nước Anh, được thành lập ở London vào năm 1968. Ban nhạc bao gồm guitar Jimmy Page, ca sĩ Robert Plant, guitar bass và keyboard John Paul Jones và tay trống John Bonham. Những âm thanh mạnh mẽ, gằn của guitar, bắt nguồn từ nhạc blues và cả tính phiêu diêu trong những album đầu tiên của họ, được coi là khởi nguồn cho âm nhạc heavy metal, cho dù âm nhạc của họ được xây dựng từ rất nhiều thể loại khác nhau, điển hình là giai điệu folk và blues.
Sau khi đổi tên nhóm thành New Yardbirds vào năm 1968, Led Zeppelin ký hợp đồng với hãng Atlantic Records với điều khoản hoạt động nghệ thuật tự do. Cho dù ban đầu chỉ nhận được những đánh giá khá dè dặt, họ vẫn có được thành công thương mại lớn từ các album Led Zeppelin (1969), Led Zeppelin II (1969), Led Zeppelin III (1970), album thứ 4 vô danh (1971), Houses of the Holy (1973) và Physical Graffiti (1975). Album thứ tư của họ với ca khúc "Stairway to Heaven" trở thành một trong những sản phẩm xuất sắc và có ảnh hưởng nhất lịch sử nhạc rock, góp phần giúp họ củng cố sự nổi tiếng của mình.
Jimmy Page là người sáng tác hầu hết các ca khúc cho Led Zeppelin, đặc biệt trong thời kỳ đầu của nhóm, trong khi Robert Plant chủ yếu phụ trách phần ca từ. Khả năng chơi keyboard trong các sáng tác của John Paul Jones sau này trở thành hạt nhân trong các hoạt động của ban nhạc khi nó ngày một mang tính trải nghiệm hơn. Nửa sau sự nghiệp của họ chứng kiến nhiều tour diễn phá kỷ lục liên tiếp, giúp họ có thêm những ghi nhận đáng kể về doanh thu cũng như bê bối. Cho dù ban nhạc vẫn có được doanh thu và thành công ổn định, sản phẩm cũng như lượng tour diễn của họ giảm dần về cuối thập niên 1970, và ban nhạc liền tuyên bố tan rã sau khi John Bonham qua đời vì ngộ độc rượu vào năm 1980. Trong những thập kỷ tiếp theo, các thành viên còn lại của Led Zeppelin theo đuổi những dự án riêng, đôi lúc tham gia vào các hoạt động tái hợp ban nhạc vào một vài thời điểm nhất định. Lần tái hợp thành công nhất của họ chính là buổi diễn tưởng niệm Ahmet Ertegun tại London vào năm 2007 với Jason Bonham thay thế cha trong vai trò tay trống của ban nhạc.
Led Zeppelin được coi là một trong những ban nhạc rock thành công nhất, cách tân nhất và ảnh hưởng nhất lịch sử. Họ cũng là một trong những nghệ sĩ có số lượng đĩa bán chạy nhất: nhiều nguồn thống kê đều cho rằng họ đã bán được ít nhất khoảng 200-300 triệu đĩa trên toàn thế giới. Chỉ riêng tại Mỹ, RIAA ghi nhận họ bán được ít nhất 111,5 triệu đĩa, trở thành một trong những nghệ sĩ thành công nhất tại quốc gia này. Cả 9 album phòng thu của họ đều có mặt trong top 10 của Billboard 200, và 6 trong số đó đạt vị trí quán quân. Tạp chí Rolling Stone miêu tả họ là "ban nhạc mạnh mẽ nhất lịch sử", "ban nhạc vĩ đại nhất thập niên 1970" và "hiển nhiên là ban nhạc trường tồn nhất lịch sử nhạc rock". Led Zeppelin được xướng danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll vào năm 1995 với lời tựa coi họ là nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn nhất thập niên 1970 như The Beatles với thập niên 1960.
== Lịch sử ==
=== Thành lập ===
Năm 1966, tay guitar tự do nổi tiếng ở London, Jimmy Page, chính thức gia nhập The Yardbirds, thay thế tay bass Paul Samwell-Smith. Page nhanh chóng chuyển từ chơi bass sang lead, tạo nên bộ đôi song tấu cùng Jeff Beck. Sau khi Beck chia tay nhóm vào tháng 10 cùng năm, ban nhạc vì quá mệt mỏi do thường xuyên đi tour và thu âm nên bắt đầu chùng xuống. Page muốn thành lập một siêu ban nhạc mới với Beck chơi guitar, Keith Moon chơi trống và John Entwistle chơi bass. 2 ca sĩ Steve Winwood và Steve Marriott đều được nhắm tới cho dự án. Ban nhạc này không bao giờ trở thành hiện thực, cho dù Page, Beck và Moon đã cùng nhau thu âm một ca khúc vào năm 1966 có tên "Beck's Bolero" với tay bass John Paul Jones.
The Yardbirds trình diễn lần cuối tại Trường đại học công nghệ Luton vào tháng 7 năm 1988 ở Bedfordshire. Họ vẫn còn lịch đi diễn tại vùng Scandinavia, vậy nên tay trống Jim McCarty và ca sĩ Keith Relf cho phép Page và cây bass Chris Dreja sử dụng tên "The Yardbirds" để hoàn tất tour diễn. Page và Dreja bắt đầu đi tìm đội hình mới. Lựa chọn đầu tiên của Page là ca sĩ Terry Reid, nhưng Reid từ chối và giới thiệu Robert Plant – ca sĩ của nhóm Band of Joy. Plant chấp nhận lời đề nghị, nhưng yêu cầu mang theo tay trống John Bonham. Jones theo lời gợi ý của vợ đã tới thế chỗ của Dreja sau khi anh này quyết định theo nghiệp nhiếp ảnh gia. Page vốn quen biết Jones từ những buổi thu khách mời trước đó nên ngay lập tức chấp nhận anh vào vị trí còn thiếu của ban nhạc.
Cả 4 thành viên cùng nhau chơi nhạc lần đầu tiên tại một căn phòng ở phố Gerrard, London. Page gợi ý họ chơi thử bài "Train Kept A-Rollin'" là bản jump blues được Johnny Burnette chơi theo kiểu rockabily và sau này cũng được The Yardbirds hát lại. "Ngay khi tôi nghe Bonham chơi", John nhớ lại, "tôi biết nó sẽ trở nên rất tuyệt... Chúng tôi quyết định sát cánh với nhau ngay lập tức." Trước khi đi Scandinavia, họ cùng nhau tham gia thu âm album Three Week Hero của P.J. Proby. Ca khúc "Jim's Blues" với Plant chơi harmonica chính là ca khúc đầu tiên được thu âm bởi 4 thành viên chính thức của Led Zeppelin.
Ban nhạc hoàn tất tour diễn Scandinavia dưới tên New Yardbirds, cùng nhau trình diễn lần đầu tại câu lạc bộ Gladsaxe, Đan Mạch ngày 7 tháng 9 năm 1968. Tới cuối tháng, họ bắt đầu thu âm album đầu tay, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thu âm trực tiếp. Album được thu và hoàn tất trong 9 ngày, và Page chịu toàn bộ kinh phí. Ngay sau khi album hoàn chỉnh, ban nhạc buộc phải đổi tên sau khi Dreja gửi bức thư nhấn mạnh rằng cái tên "New Yardbirds" chỉ được phép sử dụng cho chuyến lưu diễn vùng Scandinavia. Cái tên được lựa chọn là câu nói của Moon và Entwistle từ lúc ý tưởng thành lập siêu ban nhạc cùng Page và Beck khi họ không muốn trở thành một "khí cầu chì" – một cách ví von ẩn dụ khác về thất bại thảm hại. Họ quyết định bỏ chữ "a" trong từ "lead" ("chì") theo lời gợi ý của quản lý Peter Grant nhằm tránh mọi vấn đề liên quan tới cụm từ này. Từ "khí cầu" cũng được thay thế bằng từ "zeppelin" mà theo nhà báo Keith Shadwick, nó mang "sự kết hợp hoàn hảo giữa khái niệm nặng và nhẹ, giữa sự bùng cháy và uyển chuyển" trong tâm trí của Page.
Tháng 11 năm 1968, Grant giúp ban nhạc kiếm được bản hợp đồng trị giá 143.000 $ với Atlantic Records, một con số lớn chưa từng có đối với một ban nhạc mới thành lập. Atlantic vốn có nhiều thành công với những nghệ sĩ blues, soul và jazz song tới cuối thập niên 1960, họ bắt đầu quan tâm hơn tới làn sóng progressive rock. Thực tế hãng thu âm đã đồng ý ký hợp đồng với Led Zeppelin dù chưa từng gặp mặt họ. Theo hợp đồng, ban nhạc có toàn quyền trong việc quyết định thu âm hay đi tour, và họ có tiếng nói cuối cùng trong nội dung và thiết kế của mỗi album. Họ cũng có quyền quyết định hình thức quảng bá cũng như lựa chọn ca khúc nào làm đĩa đơn. Sau đó, họ thành lập nên công ty riêng có tên Superhype nhằm giữ toàn bộ bản quyền các sáng tác.
==== Những năm đầu: 1968-1970 ====
Ban nhạc bắt đầu tour diễn đầu tiên của mình vòng quanh nước Anh từ ngày 4 tháng 10 năm 1968 dưới tên New Yardbirds, và tên gọi Led Zeppelin chỉ được sử dụng tại buổi diễn ở Trường đại học Surrey ở Battersea ngày 25 tháng 10. Quản lý tour Richard Cole – người sau này đóng vai trò quan trọng trong việc lưu diễn của nhóm – đã thiết kế tour diễn tại Bắc Mỹ đầu tiên của ban nhạc vào cuối năm. Album đầu tay của họ, Led Zeppelin, được phát hành trong chuyến đi tour này vào ngày 12 tháng 1 năm 1969 và đạt vị trí số 10 tại Billboard; tại Anh, nó đạt vị trí số 6. Theo cây bút Steve Erlewine, những đoạn guitar riff khó quên, nhịp mạch lạc, psychedelic blues, tính blues và groove ngẫu hứng pha trộn với nhạc folk của Anh mà album đem tới đã tạo ra "bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển của hard rock và heavy metal."
Trong năm đầu tiên, Led Zeppelin hoàn tất 4 tour diễn tại Anh và Mỹ, rồi cho phát hành album phòng thu thứ 2 Led Zeppelin II. Hầu hết các ca khúc được thu âm tại các phòng thu dọc đường ở Bắc Mỹ, giúp họ có được thành công thương mại vượt trội hơn so với album trước khi giành vị trí quán quân ở cả Anh và Mỹ. Album tiếp tục phát triển phong cách blues rock như sản phẩm đầu tay, tạo nên thứ âm thanh "mạnh mẽ và dữ dội, cục cằn và trực diện" tạo nên ảnh hưởng vô cùng lớn và sau đó được thường xuyên mô phỏng lại. Steve Waksman cho rằng Led Zeppelin II chính là "điểm khởi đầu của heavy metal".
Ban nhạc muốn mỗi album là một khối thống nhất, với đầy đủ trải nghiệm về nghe nhạc chứ không phải một bản biên tập các ca khúc đi kèm với đĩa đơn. Grant vẫn giữ quan điểm sản xuất album cứng rắn, đặc biệt là ở Anh, khi chỉ dành cho một vài đài phát thanh và truyền hình chuyên về nhạc rock. Dù không có sự đồng ý của ban nhạc, một số ca khúc vẫn được phát hành dưới dạng đĩa đơn ở Mỹ. Năm 1969, ấn bản chỉnh sửa của "Whole Lotta Love" – ca khúc ở album thứ 2 – được chính thức trở thành đĩa đơn tại Mỹ. Ca khúc đạt vị trí số 4 tại Billboard vào tháng 1 năm 1970 với hơn 1 triệu bản và xây dựng nên nền móng vững chắc cho ban nhạc. Họ cũng ngày một lảng tránh việc xuất hiện trên truyền hình, cho rằng họ quan tâm hơn tới việc khán giả tới nghe họ như thế nào tại các buổi trình diễn trực tiếp.
Sau khi cho phát hành album thứ 2, Led Zeppelin liên tục đi tour tại Mỹ. Ban đầu họ chỉ diễn tại các hôp đêm và vũ trường, nhưng dần chuyển tới những tụ điểm đông khán giả hơn. Những buổi diễn đầu tiên của họ kéo dài tới hơn 4 giờ, với những phần mở rộng và ngẫu hứng hơn so với bản thu âm. Rất nhiều buổi diễn đó đã được ghi lại trong các tuyển tập bootleg. Cũng trong thời kỳ đi tour dày đặc này mà ban nhạc bắt đầu đón nhận nhiều lời đồn đại bên ngoài sân khấu.
Năm 1970, Page dọn tới Bron-Yr-Aur, một trang trại nhỏ ở xứ Wales để bắt đầu thu âm album Led Zeppelin III. Thành quả thu được là thứ âm nhạc mộc hơn với nhiều ảnh hưởng từ nhạc folk và âm nhạc Celtic, minh chứng cho tính đa dạng của ban nhạc. Tính acoustic của album nhận được nhiều phản ứng trái chiều, vì giới chuyên môn và khán giả đều cảm thấy bất ngờ khi ban nhạc bỗng quay lưng lại với những hòa âm điện trong 2 album trước, dẫn tới việc ban nhạc trở thành chủ đề chỉ trích của nhiều tờ báo âm nhạc. Cho dù cũng đạt vị trí quán quân ở Anh và Mỹ, song đây là album tại vị ngắn ngủi nhất trong số 5 album đầu tiên của họ. Ca khúc mở đầu "Immigrant Song" trở thành đĩa đơn tại Mỹ vào tháng 11 năm 1970 dù ban nhạc không hề mong muốn, sau đó lọt vào top 12 của bảng xếp hang Billboard.
==== "Ban nhạc xuất sắc nhất thế giới": 1971-1975 ====
Tới thập niên 1970, Led Zeppelin đạt đến nấc thang mới trong thành công thương mại cũng như chuyên môn, đưa họ trở thành một trong những nghệ sĩ ảnh hưởng nhất thời điểm đó, bao trùm lên cả những thành tựu trước đó của họ. Hình ảnh của họ cũng có nhiều thay đổi lớn khi các thành viên sử dụng những trang phục cầu kỳ, màu sắc và tỉ mỉ hơn. Ban nhạc cũng sử dụng chiếc Boeing 720 làm chuyên cơ riêng (được đặt tên là The Starship), thường đặt trọn gói toàn bộ khách sạn (trong đó có khách sạn Continental Hyatt House, nay là Andaz West Hollywood ở Los Angeles, còn được đặt biệt danh "Riot House") và thường xuyên xuất hiện trong các câu chuyện về lối sống trụy lạc. Một trong số đó là chuyện Bonham lái xe máy dọc hành lang của Riot House, trong khi câu chuyện khác kể lại việc họ làm hỏng toàn bộ căn phòng tại Hilton Hotels & Resorts ở Tokyo, dẫn tới việc họ bị cấm cửa tới hệ thống khách sạn này mãi mãi. Cho dù Led Zeppelin bị lên án nhiều vì hành vi làm bẩn phòng khách sạn hoặc vứt tivi qua cửa sổ phòng, có nhiều ý kiến cho rằng tất cả đều là thêu dệt. Theo nhà báo Chris Welch, "những chuyến đi [của Led Zeppelin] luôn đem theo nhiều câu chuyện, nhưng có vẻ họ bị ám ảnh rằng ban nhạc chỉ biết nghịch ngợm phá phách và ham vui dâm dục."
Led Zeppelin cho phát hành album thứ 4 vào ngày 8 tháng 11 năm 1971. Sau những phản hồi tiêu cực của giới chuyên môn, đặc biệt đối với Led Zeppelin III, ban nhạc lần này quyết định không đặt nhan đề cho album mới, cho dù để phân biệt người hâm mộ vẫn đặt tên cho nó là Led Zeppelin IV, Vô danh, IV, hoặc là theo 4 ký tự có trên phần bìa, là Bộ tứ biểu tượng, Zoso hay Ký tự. Ngoài việc không có nhan đề, phần bìa gốc cũng không đề tên ban nhạc thỏa theo mong muốn ẩn danh của họ và để tránh việc tò mò từ báo giới. Với hơn 37 triệu đĩa bán được, Led Zeppelin IV là một trong những album bán chạy nhất lịch sử, và bồi đắp vững chắc tên tuổi của ban nhạc như một trong những ngôi sao lớn nhất thập niên 1970. Tính tới năm 2006, đã có tới 23 triệu đĩa bán chỉ riêng ở Mỹ. Ca khúc "Stairway to Heaven" cho dù chưa bao giờ được phát hành dưới dạng đĩa đơn trở thành một trong những ca khúc được yêu cầu nhiều nhất và được phát nhiều nhất trên đài phát thanh AOR FM radio. Cả nhóm sau đó liền đi tour tại Anh, châu Đại Dương, Bắc Mỹ, Nhật Bản và trở lại Anh một lần nữa trong giai đoạn từ cuối năm 1971 tới đầu năm 1973.
Album tiếp theo của họ, Houses of the Holy, được ra mắt vào tháng 3 năm 1973. Album bao gồm nhiều trải nghiệm mới của ban nhạc khi họ bắt đầu sử dụng synthesiser và mellotron. Phần bìa màu cam chủ đạo, thiết kế bởi Hipgnosis, mang hình ảnh những trẻ em không mặc quần áo bò theo Con đường của người khổng lồ ở Bắc Ireland. Cho dù hình ảnh những đứa trẻ không hiện lên rõ ràng ở phần bìa, nó vẫn gây ra những tranh cãi khi mới ra mắt. Cũng giống như album thứ tư, ban nhạc không để tên hay nhan đề lên bìa của Houses of the Holy.
Houses of the Holy giành vị trí quán quân trên toàn thế giới, và tour diễn Bắc Mỹ sau đó của họ vào năm 1973 phá vỡ liên tiếp nhiều kỷ lục về độ lớn của địa điểm tổ chức cũng như lượng khán giả tới xem. Tại sân vận động Tampa ở Florida, họ trình diễn trước 56.800 người hâm mộ, phá kỷ lục từ buổi trình diễn của The Beatles tại sân vận động Shea năm 1965 và thu về tới 309.000 $. 3 buổi diễn cháy vé tại Madison Square Garden ở New York được quay lại thành phim tài liệu, song dự án The Song Remains the Same lại trì hoãn ngày phát hành tới tận năm 1976. Ngay trước buổi diễn cuối cùng, 180.000 $ tiền mặt mà nhóm kiếm được đã bị ăn trộm từ két sắt của khách sạn Drake, New York.
Năm 1974, Led Zeppelin tạm ngừng việc đi tour để tập trung thành lập nhãn đĩa riêng của mình có tên Swan Song Records, đặt tên theo nhan đề một ca khúc sắp ra mắt. Logo của hãng được phỏng theo bức vẽ Evening: Fall of Day (1869) của họa sĩ William Rimmer trong hình hài của thần Apollo. Logo này có thể được thấy trên nhiều đồ lưu niệm của ban nhạc, đặc biệt trên áo phông. Ngoài việc chọn Swan Song là công ty phát hành các sản phẩm của mình, hãng đĩa cũng ký thêm hợp đồng với nhiều nghệ sĩ lớn nhỏ, có thể kể tới Bad Company, The Pretty Things và Maggie Bell. Nhãn đĩa tương đối thành công trong thời gian Led Zeppelin tồn tại, song nhanh chóng tuyên bố giải thể chỉ 3 năm sau khi ban nhạc tan rã.
Năm 1975, Led Zeppelin cho phát hành album-kép Physical Graffiti. Đây cũng là sản phẩm đầu tiên được phát hành dưới tên Swan Song. Album bao gồm 15 ca khúc mà 8 trong số đó được thu tại Headley Grange từ năm 1974, còn 7 ca khúc còn lại được thu âm thậm chí từ trước đó. Tạp chí Rolling Stone coi Physical Graffiti là "sự đánh cược cho niềm tôn trọng nghệ thuật" của Led Zeppelin, và cho rằng những nhóm nhạc duy nhất cạnh tranh với họ danh hiệu "Ban nhạc rock xuất sắc nhất" chỉ có thể là The Rolling Stones và The Who. Album có được thành công vang dội về thương mại cũng như chuyên môn. Không lâu sau khi Physical Graffiti ra mắt, toàn bộ các album trước đó của ban nhạc đồng loạt xuất hiện trong top 200 của các bảng xếp hạng, và ban nhạc liền tiến hành đi tour Bắc Mỹ một lần nữa với việc sử dụng nhiều hiệu ứng âm thanh và ánh sáng chưa từng có. Tháng 5 năm 1975, Led Zeppelin bán hết vé 5 buổi diễn tại Earls Court ở London – vào thời điểm đó là trung tâm trình diễn lớn nhất nước Anh.
==== Giai đoạn đi tour gián đoạn và trở lại: 1975-1977 ====
Sau thành công tại Earls Court, Led Zeppelin đi nghỉ và lên kế hoạch đi tour sau đó tại Mỹ, trong đó có 2 buổi diễn trong nhà tại San Francisco. Tháng 8 năm 1975, Plant cùng vợ Maureen gặp tai nạn xe hơi nghiêm trọng ở đảo Rhodes, Hi Lạp. Plant chỉ bị vỡ gót chân nhưng Maureen bị thương nặng, và may mắn có việc truyền máu kịp thời mới có thể cứu sống được cô. Không thể đi tour, anh tới đảo Channel ở Jersey suốt tháng 8 và 9 để hồi phục với Bonham và Page đi hỗ trợ. Ban nhạc sau đó tập hợp tại Malibu, California. Trong thời gian gián đoạn bắt buộc này, họ đã tìm được những chất liệu cho album mới, Presence.
Led Zeppelin tiếp tục là tâm điểm chú ý của làng nhạc rock đương thời, giữ vững thành tích ban nhạc thành công nhất thế giới vượt trên cả The Rolling Stones. Presence được ra mắt vào tháng 3 năm 1976, đánh dấu việc âm thanh của Led Zeppelin mang tính trực diện hơn, nhiều guitar ngẫu hứng, với nhiều phần chơi acoustic và hòa âm phức tạp hơn so với các album trước. Album chỉ có được chứng chỉ Bạch kim, song lại nhận được những đánh giá rất trái chiều từ người hâm mộ cũng như báo chí, với nhiều ý kiến cho rằng ban nhạc đã tới giới hạn của chính mình. Page bắt đầu dùng heroin trong quá trình thu âm album này – một thói quen xấu ảnh hưởng tới chất lượng trình diễn trực tiếp và thu âm, cho dù bản thân Page luôn phủ nhận.
Vì chấn thương của Plant, Led Zeppelin không thể đi tour vào năm 1976. Thay vào đó, họ hoàn chỉnh được bộ phim The Song Remains the Same và cả bản soundtrack theo kèm. Bộ phim được công chiếu lần đầu tại New York ngày 20 tháng 10 năm 1976, tuy nhiên chỉ nhận được sự thờ ơ từ giới phê bình và người hâm mộ. Trái lại, bộ phim đặc biệt thành công ở Anh, nơi mà ban nhạc không đi tour từ năm 1975 vì các vấn đề thuế vụ, buộc họ phải vô cùng vất vả để thu hút lại được công chúng.
Năm 1977, Led Zeppelin trở lại đi tour vòng quanh Bắc Mỹ. Họ tiếp tục phá vỡ kỷ lục với lượng khán giả lên tới 76.229 trong buổi diễn ở Silverdome ngày 30 tháng 4. Theo Sách Kỷ lục Guinness, đây chính là buổi diễn có lượng khán giả lớn nhất từ trước tới nay. Tour diễn vô cùng thành công về doanh thu, song lại mắc phải nhiều vấn đề phụ bên lề. Ngày 19 tháng 4, 70 người bị bắt giữ trong số 1000 người hâm mộ làm sập sân vận động Cincinnati Riverfront Coliseum tại 2 buổi cháy vé ở đây, trong khi còn rất nhiều người khác cố gắng vào xem bằng việc dùng đá và chai lọ ném vỡ cửa kính. Ngày 3 tháng 6, buổi diễn ở sân vận động Tampa buộc phải rút ngắn vì cơn bão bất chợt ập đến, cho dù trên vé có ghi "Dù mưa hay nắng". Đám đông trở nên hỗn loạn, dẫn tới thương vong và nhiều vụ bắt giữ.
Sau buổi diễn ngày 23 tháng 7 trong khuôn khổ Liên hoan Day on the Green tại sân vận động O.co Coliseum ở Oakland, California, Bonham và các thành viên hỗ trợ ban nhạc bị bắt giữ sau khi một nhân viên thuộc ban tổ chức của Bill Graham bị hành hung trong lúc ban nhạc trình diễn. Buổi diễn ngày hôm sau ở Oakland trở thành buổi diễn cuối cùng của Led Zeppelin tại quốc gia này. 2 ngày sau đó, khi nhận phòng tại khách sạn trong khu người Pháp ở New Orleans để chuẩn bị cho buổi diễn ngày 30 tháng 7 ở sân vận động Louisiana Superdome, Plant nhận được tin sốc khi con trai 5 tuổi của anh, Karac, qua đời vì bị sốt virus dạ dày. Phần còn lại của tour diễn lập tức bị hủy bỏ, dẫn tới nhiều nghi ngại cho tương lai của ban nhạc.
==== Cái chết của Bonham và tan rã: 1978-1980 ====
Tháng 11 năm 1978, cả nhóm tiến hành thu âm tại phòng thu Polar Studios ở Stockholm, Thụy Điển. Thành quả thu được là album In Through the Out Door với nhiều âm thanh thể nghiệm, và một lần nữa nhận được những đánh giá trái chiều từ giới chuyên môn và người hâm mộ. Tuy nhiên, album vẫn giành được vị trí quán quân tại Anh và Mỹ ngay trong tuần thứ 2 kể từ ngày phát hành. Không lâu sau đó, toàn bộ những album từng được phát hành của Led Zeppelin đồng loạt trở lại Billboard 200 trong khoảng thời gian từ 27 tháng 10 tới 3 tháng 11 năm 1979.
Tháng 8 năm 1979, sau 2 buổi diễn khởi động ở Copenhagen, Led Zeppelin liền chuẩn bị cho 2 buổi diễn tại Liên hoan âm nhạc Knebworth trước khoảng 104.000 khán giả trong đêm diễn đầu tiên. Ngay lập tức một tour diễn châu Âu ngắn ngày được ban nhạc lên kế hoạch cho tháng 6 và 7 năm 1980 với nội dung đơn giản không bao gồm bất cứ đoạn solo hay ngẫu hứng kéo dài nào, Ngày 27 tháng 6 trong buổi diễn tại Nuremberg, chương trình buộc phải kết thúc giữa chừng khi Bonham ngất xỉu ngay trên sân khấu và buộc phải cấp cứu tại bệnh viện. Báo chí sau đó cho rằng việc ngất xỉu này là hậu quả của thói nghiện rượu và sử dụng chất kích thích kéo dài của anh, nhưng ban nhạc chỉ bình luận rằng anh đơn giản bị quá tải.
Tour diễn vòng quanh Bắc Mỹ đầu tiên của họ kể từ năm 1977 được dự định bắt đầu từ ngày 17 tháng 10 năm 1980. Ngày 24 tháng 9, Bonham được trợ lý của Led Zeppelin, Rex King, chở tới tập luyện cùng ban nhạc tại phòng thu Bray Studios. Bonham được yêu cầu nghỉ để ăn sáng, song thay vào đó anh uống 4 cốc vodka (khoảng 16 tới 24 oz.) cùng một chiếc bánh mỳ. Ngay sau khi cắn miếng bánh mỳ, anh quay sang người trợ lý và nói "bữa sáng đây". Anh tiếp tục uống rất nhiều trên đoạn đường tới phòng thu. Buổi tập kéo dài tới tận tối, và tất cả cùng nghỉ ngơi tại nhà của Page – Old Mill House ở Clewer, Windsor. Khoảng nửa đêm, Bonham khi đó đã thui ngủ, được mọi người đưa về giường. Khoảng 1:45 sáng, Benji LeFevre (quản lý tour mới của Led Zeppelin) và John Paul Jones phát hiện ra Bonham đã qua đời. Nguyên nhân cái chết được kết luận là do ngạt chất nôn; khám nghiệm tử thi còn tìm thấy một lượng lớn ma túy trong người của anh. Bonham được hỏa táng ngày 10 tháng 10 năm 1980, và tro của anh được rải quanh nhà thờ St Michael ở Rushock, gần Droitwich, Worcestershire. Những kết luận cuối cùng về cái chết của anh được công bố qua một bản điều tra vào ngày 27 tháng 10.
Kế hoạch đi tour Bắc Mỹ của Led Zeppelin buộc phải hủy bỏ, cho dù nhiều tin đồn rằng Cozy Powell, Carmine Appice, Barriemore Barlow, Simon Kirke hay Bev Bevan sẽ được mời thay thế. Ban nhạc lập tức quyết định giải tán. Trong thông cáo báo chí chính thức ngày 4 tháng 12 năm 1980, ban nhạc viết: "Chúng tôi mong mọi người hiểu rằng sự ra đi của người bạn thân thiết, và cảm giác không thể bị chia cắt mà chúng tôi và quản lý có thể cảm nhận được, đã buộc chúng tôi phải quyết định rằng không thể tiếp tục trong tình trạng hiện nay." Dòng chữ được ký đơn giản "Led Zeppelin" khi kết thúc.
=== Hậu tan rã ===
==== Thập niên 1980 ====
Sau khi Led Zeppelin tan rã, dự án cá nhân đầu tiên của một cựu thành viên là ban nhạc The Honeydrippers do Plant thành lập vào năm 1981. Họ chỉ cho phát hành 1 album duy nhất vào năm 1984. Ban nhạc có Page chơi guitar lead, ngoài ra còn có rất nhiều nghệ sĩ là bạn thân thiết của họ như Jeff Beck, Paul Shaffer và Nile Rodgers. Plant muốn tập trung xây dựng một hình ảnh hoàn toàn khác với Led Zeppelin khi muốn họ chơi nhạc standard với R&B, điển hình là bản hát lại ca khúc "Sea of Love", giành được vị trí thứ 3 tại Billboard 200 vào đầu năm 1985.
Album Coda bao gồm những bản thu và giai điệu chưa từng được phát hành của Led Zeppelin được ra mắt vào tháng 11 năm 1982. Album bao gồm 2 ca khúc thu âm trực tiếp từ buổi diễn ở Royal Albert Hall từ năm 1970, 2 ca khúc thu âm từ thời kỳ Led Zeppelin III và Houses of the Holy và 3 ca khúc từ thời kỳ In Through the Out Door. Album cũng đưa vào đoạn chơi trống của Bonham với phần hiệu ứng của Page và được đặt tên là "Bonzo's Montreux".
Ngày 13 tháng 7 năm 1985, Page, Plant và Jones tái hợp trên sân khấu của chương trình Live Aid tại sân vận động John F. Kennedy, Philadelphia bên cạnh các tay trống Tony Thompson và Phil Collins và cây bass Paul Martinez. Collins từng cộng tác với Plant trong 2 album solo đầu tiên, còn Martinez từng là thành viên nhóm Band of Joy cùng Plant và Bonham. Phần trình diễn được đánh dấu bởi việc thiếu đồng nhất do thiếu tập luyện trước giữa 2 tay trống, Page thì gặp vấn đề với chiếc guitar chỉnh dây sai tông và monitor gặp trục trặc, trong khi giọng của Plant thì bị khàn đặc. Page miêu tả buổi diễn "quá xấu hổ", trong khi Plant thì gọi đó là "sự tàn nhẫn".
3 thành viên cùng nhau tái hợp 1 lần nữa vào ngày 14 tháng 5 năm 1988 trong lễ kỷ niệm 40 năm thành lập hãng Atlantic Records với Jason Bonham chơi trống. Kết quả thu được lại là một buổi trình diễn thất vọng khác khi Plant và Page tranh cãi dữ dội việc có nên thể hiện "Stairway to Heaven" hay không, và phần chơi keyboard của Jones thậm chí còn không nghe thấy được qua chất lượng vô tuyến truyền hình. Page gọi đây là "một sự thất vọng ghê gớm" còn Plant thì nói "buổi diễn là một sai lầm".
==== Thập niên 1990 ====
Led Zeppelin Boxed Set được chỉnh âm theo ý của Page ra mắt vào năm 1990, góp tăng thêm những ủng hộ đối với ban nhạc và giảm bớt những tranh cãi giữa các thành viên về việc tái hợp. Sản phẩm này bao gồm một số ca khúc chưa từng được phát hành, như bản hát lại ca khúc "Travelling Riverside Blues" của Robert Johnson. Ca khúc này đạt vị trí số 7 tại bảng xếp hạng Album Rock Tracks của Billboard. Năm 1992, "Immigrant Song"/"Hey, Hey, What Can I Do" được phát hành dưới dạng đĩa đơn tại Mỹ. Led Zeppelin Boxed Set 2 được ra mắt vào năm 1993. 2 bản box set trên tổng hợp tất cả các sản phẩm phòng thu của ban nhạc, theo kèm là một số bản thu trực tiếp quý giá.
Năm 1994, Page and Plant tái hợp trong chương trình "UnLedded" dài 90 phút của kênh MTV. Thành quả thu được là album No Quarter: Jimmy Page and Robert Plant Unledded với nhiều ca khúc của Led Zeppelin được biên tập lại, theo kèm là tour diễn vòng quanh thế giới ngay trong năm sau. Có lời đồn rằng đây là thời điểm có những rạn nứt trong lòng ban nhạc khi Jones không hề biết về kế hoạch tái hợp này.
Năm 1995, Led Zeppelin được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll bởi Steven Tyler và Joe Perry từ nhóm Aerosmith. Jason và Zoë Bonham cũng có mặt để thay mặt cho người cha đã khuất của mình. Trong buổi lễ trao giải, những rạn nứt trong lòng ban nhạc đã được khẳng định khi Jones nói: "Cám ơn những người bạn của tôi, vì cuối cùng các anh cũng nhớ tới số điện thoại của tôi!", dẫn tới những ánh mắt kinh ngạc và khó xử từ Page và Plant. Sau đó, họ cùng nhau chơi nhạc cùng Tyler và Perry, với Jason Bonham chơi trống, tiếp theo đó có sự tham gia của cả Neil Young, và lần này là Michael Lee chơi trống.
Năm 1997, Atlantic Records cho phát hành bản chỉnh sửa đĩa đơn "Whole Lotta Love" tại Anh và Mỹ. Đây cũng là đĩa đơn duy nhất mà Led Zeppelin cho phát hành tại quê hương của mình và đạt vị trí xếp hạng số 21. Tới tháng 11, họ cho ra mắt Led Zeppelin BBC Sessions với 2 đĩa được thu âm trong giai đoạn 1969 và 1971. Page and Plant tiếp tục cho phát hành sản phẩm mới có tên Walking into Clarksdale vào năm 1998 với nhiều chất liệu mới. Tuy nhiên vì doanh thu quá thất vọng, bộ đôi liền giải tán trước khi thực hiện tour diễn tại Úc.
==== Thập niên 2000 – nay ====
Năm 2003, 2 DVD thu âm trực tiếp được ra mắt đó là How the West Was Won và Led Zeppelin DVD, tổng hợp những buổi trình diễn kéo dài tận 6 giờ đồng hồ và trở thành DVD bán chạy nhất lịch sử. Tháng 7 năm 2007, Atlantic/Rhino và Warner Home Video giới thiệu 3 sản phẩm mới của Led Zeppelin sẽ được đồng loạt ra mắt vào tháng 11. Đầu tiên là album tuyển tập Mothership với 24 ca khúc tiêu biểu nhất sự nghiệp ban nhạc, tiếp theo là bản chỉnh sửa album soundtrack The Song Remains the Same với nhiều chất liệu mới, và một DVD trực tiếp mới nữa. Led Zeppelin cũng cho phép người nghe thưởng thức sản phẩm của mình qua hình thức tải kỹ thuật số và trở thành ban nhạc rock lớn đầu tiên thực hiện điều này.
Ngày 10 tháng 12 năm 2007, Led Zeppelin tái hợp trong buổi diễn tưởng niệm Ahmet Ertegun tại sân vận động O2 Arena ở London, với Jason Bonham là người chơi trống toàn bộ chương trình. Theo Sách Kỷ lục Guinness năm 2009, đây chính là "Buổi diễn có số lượng người yêu cầu vé lớn nhất" với hơn 20 triệu người đăng ký mua vé qua mạng internet. Giới chuyên môn đánh giá rất cao buổi diễn và khắp nơi đều có những lời suy đoán về khả năng tái hợp chính thức của ban nhạc. Nhiều tin đồn cho rằng Page, Jones và Jason Bonham đã lên kế hoạch đi tour và chuẩn bị cho dự án mới của Led Zeppelin. Plant tiếp tục lưu diễn cùng Alison Krauss vào tháng 9 năm 2008 nên không thể đi tour cùng nhóm. Page và Jones cũng nhắm tới một số ca sĩ tên tuổi để thay thế Plant, như Steven Tyler của Aerosmith, hay Myles Kennedy của Alter Bridge, song tới tháng 1 năm 2009, họ tuyên bố dự án chính thức bị hủy bỏ. Bộ phim biên tập lại buổi diễn Celebration Day được công chiếu vào ngày 17 tháng 10 năm 2012, và được bày bán chính thức vào ngày 19 tháng 11. Bộ phim đạt doanh thu 2 triệu $ ngay trong đêm chiếu đầu tiên, và album trực tiếp theo kèm đạt vị trí số 4 và 9 lần lượt tại Anh và Mỹ. Sau khi ra mắt bộ phim, Page tiết lộ rằng ông đang thực hiện chỉnh âm lại toàn bộ danh sách đĩa nhạc của Led Zeppelin. Sản phẩm hoàn tất và ra mắt vào tháng 6 năm 2014, theo kèm nhiều bonus track.
== Phong cách âm nhạc ==
Âm nhạc của Led Zeppelin có nguồn gốc từ nhạc blues. Những nghệ sĩ nhạc blues gạo cội người Mỹ như Muddy Waters và Skip James đều xuất hiện trong 2 album đầu tay của ban nhạc, bên cạnh phong cách country blues dễ thấy từ Howlin' Wolf. Các ca khúc được viết chủ yếu theo 12-hợp-âm-nhạc-blues trong hầu hết các album phòng thu, trong khi bản thân nhạc blues ảnh hưởng chính tới cả giai điệu lẫn ca từ của ban nhạc. Họ cũng chịu ảnh hưởng tới từ các nghệ sĩ folk kiểu mới từ Anh, Mỹ và cả âm nhạc Celtic. Nghệ sĩ guitar người Scotland Bert Jansch đã ảnh hưởng rất lớn tới Page, giúp Page chơi nhiều hơn "open tuning" cũng như tạo ra những đoạn gằn dữ dội. Ban nhạc cũng vay mượn nhiều thể loại âm nhạc khác như world music, rock 'n' roll, jazz, nhạc đồng quê, funk, soul và reggae, đặc biệt kể từ album Houses of the Holy.
Những chất liệu chính trong 2 album đầu tiên của Led Zeppelin được phát triển từ những giai điệu kinh điển của blues và folk. Phương pháp này giúp họ pha trộn giai điệu và ca từ giữa những ca khúc và ấn bản khác nhau, từ đó giúp họ định hình nên các đoạn chuyển, tạo nên những chất liệu mới song cũng khiến họ bị nhiều lời quy kết cho hành động đạo nhạc cũng như vi phạm bản quyền. Phần giai điệu thường được viết trước, đôi lúc với sự hỗ trợ của ca từ và từ đó giúp họ viết nên những ấn bản khác nhau của ca khúc. Kể từ khi chuyển tới Bron-Yr-Aur vào năm 1970, bộ đôi sáng tác Page và Plant đã chiếm vai trò chủ đạo khi Page sáng tác nên phần nhạc, chủ yếu qua chiếc đàn acoustic, trong khi Plant là người viết lời chính cho ban nhạc, Jones và Bonham bổ sung thêm các chất liệu khi chơi nháp hoặc trong phòng thu, góp phần giúp ca khúc phát triển. Vào giai đoạn sau của sự nghiệp, Page dần lùi về trong khả năng sáng tác, trong khi Jones trở nên ngày một quan trọng trong vai trò sản xuất âm nhạc khi chủ yếu sáng tác cùng keyboard. Plant đôi lúc còn viết nên phần lời trước khi Page và Bonham phát triển phần của mình.
Phần ca từ thời kỳ đầu của ban nhạc chủ yếu được xây dựng từ những chi tiết blues và folk, nhiều lúc được trộn giữa các ca khúc khác nhau. Nhiều ca khúc được viết theo những chủ đề lãng mạn, thất tình hay ham muốn tình dục vốn rất phổ thông trong nhạc pop, rock và blues. Nhiều phần ca từ, đặc biệt trong những ca khúc được xây dựng trên nhạc blues, được phỏng theo cảm hứng ghét việc kết đôi. Trong Led Zeppelin III, họ đưa thêm những yếu tố của thần bí học và thần học trong âm nhạc của mình, nhất là khi Page bắt đầu có thêm những mối quan tâm về thần thoại và lịch sử. Những yếu tố trên chủ yếu phản ánh mối quan tâm của Page tới những chuyện thần bí, dẫn tới việc quy kết các ca khúc của họ có nội dung là lời nhắn tới Satan, nhiều trong số đó bị đồn đại có chứa những thông tin ngầm, vốn luôn bị ban nhạc và giới chuyên môn bác bỏ. Susan Fast cho rằng khi Plant vẫn là người viết lời chính cho ban nhạc, nội dung của các ca khúc chủ yếu nói lên những suy nghĩ của ông về phong trào phản văn hóa thập niên 1960 ở bờ Tây nước Mỹ. Ở nửa sau sự nghiệp ban nhạc, ca từ của Plant mang nhiều nét tự sự, ít lạc quan hơn với nhiều trải nghiệm và câu chuyện cá nhân.
Theo nhà nghiên cứu âm nhạc Robert Walser, "Âm thanh của Led Zeppelin nổi bật bởi tốc độ và sức mạnh, thứ nhịp nền khác biệt, đối lập với thứ năng lượng dồn dập cùng với chất giọng rên rỉ của Robert Plant và tiếng đàn mạnh mẽ, rành rọt mà uyển chuyển của Jimmy Page". Những yếu tố trên sau này được coi là nguyên gốc của thể loại hard rock và heavy metal, và họ thường được miêu tả là "một ban nhạc heavy metal điển hình", cho dù từng thành viên luôn lảng tránh vấn đề này. Rất nhiều lời ngợi ca đã được dành cho những đoạn riff uyển chuyển kinh điển trong "Whole Lotta Love" và "The Wanton Song". Nhiều đoạn riff không được ghi đè y hệt bởi guitar, bass hay trống, thay vào đó là giai điệu và nhịp biến đổi, chẳng hạn như ca khúc "Black Dog" thậm chí đã thay hoàn toàn sang nhịp khác. Cách chơi guitar của Page pha trộn những yếu tố của nhạc blues cùng với các thể loại âm nhạc phương Đông. Cách Plant sử dụng nhịp nhàng các tiếng thét thường được so sánh với kỹ thuật của Janis Joplin. Kỹ năng chơi trống của Bonham được nhấn mạnh bởi sức mạnh, phách nhanh, đặc biệt là những nhịp cực nhanh với trống bass. Khả năng chơi bass của Jones gây chú ý qua tính giai điệu, trong khi cách chơi keyboard của ông đã bổ sung tính cổ điển cho âm nhạc của Led Zeppelin.
Page nhấn mạnh rằng ông từng muốn Led Zeppelin tạo nên thứ âm nhạc "sáng và tối". Quan điểm này trở nên rõ ràng hơn qua album Led Zeppelin III khi ban nhạc sử dụng thuần thục các nhạc cụ mộc. Nó được phát triển mạnh mẽ hơn trong album thứ tư, đặc biệt trong "Stairway to Heaven" khi ca khúc được mở đầu bằng giai điệu của guitar acoustic và kết thúc bởi tiếng trống mạnh và âm thanh các nhạc cụ điện. Càng về cuối sự nghiệp, họ càng hướng về thứ giai điệu dịu nhẹ hơn và progressive hơn qua tiếng keyboard của Jones. Họ cũng gia tăng việc xây dựng những phần nền nhạc khác nhau cùng cải tiến kỹ thuật, trong đó có thu âm đa-băng và ghi đè guitar. Sự phát triển của họ trong khai thác năng lượng cũng như tổng thể hòa âm cũng dễ thấy qua việc sản xuất từng phong cách cá nhân vượt trên bất cứ một thể loại nhạc cụ thể nào. Ian Peddie cho rằng họ "...ồn ào, mạnh mẽ và thường xuyên dữ dội, song âm nhạc của họ cũng có tính châm biếm, tự họa và tinh tế tột đỉnh."
== Tôn vinh ==
Led Zeppelin được coi là một trong những ban nhạc rock thành công nhất, cách tân nhất và ảnh hưởng nhất lịch sử nhạc rock. Nhà phê bình Mikal Gilmore nói: "Led Zeppelin – tài năng, phức tạp, day dứt, đẹp đẽ và nguy hiểm – tạo nên một trong những đội hình và những buổi trình diễn thành công nhất của thế kỷ 20, cho dù họ luôn muốn áp đảo mọi thứ, ngay cả với chính họ."
Led Zeppelin ảnh hưởng lớn tới những ban nhạc hard rock và heavy metal, bao gồm Deep Purple, Black Sabbath, Rush, Queen và Megadeth, ngoài ra còn cả các nhóm progressive metal như Tool và Dream Theater. Họ cũng gây ảnh hưởng tới các ban nhạc punk và post-punk như Ramones và The Cult. Họ cũng mang đến những đóng góp quan trọng cho làn sóng alternative rock, gọi là "âm thanh Zeppelin" chủ đạo từ giữa thập niên 1970, được nhắc gới qua các ban nhạc The Smashing Pumpkins, Nirvana, Pearl Jam và Soundgarden. Rất nhiều nghệ sĩ khác cũng thừa nhận ảnh hưởng từ Led Zeppelin, có thể kể tới Madonna, Shakira, Lady Gaga và Katie Melua.
Led Zeppelin cũng được tôn vinh trong việc làm thay đổi bản chất của ngành công nghiệp âm nhạc, đặc biệt trong việc khai thác những album mang phong cách phương Đông (AOR), ngoài ra là phong cách arena rock. Năm 1988, John Kalodner – A&R của hãng Geffen Records – nhận xét: "Với tôi, ngay sau The Beatles, họ là ban nhạc có ảnh hưởng nhất với lịch sử âm nhạc. Họ thay đổi cách ta ghi âm lại âm nhạc, những chương trình phát thanh và cả các buổi hòa nhạc AOR. Họ thậm chí tạo nên mặc định AOR trên sóng phát thanh với "Stairway to Heaven" và có những bản hit thậm chí còn không lọt vào Top 40. Họ là những người đầu tiên trình diễn thành công tại những sân vận động khổng lồ, hầu hết đều cháy vé và không sử dụng các thiết bị hỗ trợ nào. Người ta có thể làm được như họ, nhưng không ai có thể vượt qua họ." Andrew Loog Oldham – nhà sản xuất và quản lý tour của The Rolling Stones – cũng có những nhận xét tương tự về cách mà Led Zeppelin ảnh hưởng tới ngành công nghiệp âm nhạc, cũng như cách mà những buổi hòa nhạc rock lại có thể thành công trước một lượng khán giả khổng lồ.
Một số nguồn thống kê rằng ban nhạc bán được hơn 200 triệu đĩa trên toàn thế giới, số khác lại cho rằng con số trên vượt qua mức 300 triệu, trong đó có 111,5 triệu đĩa chỉ riêng tại Mỹ. Theo RIAA, Led Zeppelin là ban nhạc có số đĩa bán chạy thứ 2, và là nghệ sĩ có số đĩa bán chạy thứ 4 tại Mỹ, và là một trong số 3 nghệ sĩ duy nhất có ít nhất 4 album đạt chứng chỉ Kim cương. Led Zeppelin cũng là một trong những nghệ sĩ có nhiều bootleg nhất lịch sử nhạc rock.
Led Zeppelin cũng là nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn tới văn hóa quần chúng. Jim Miller, biên tập viên của ấn phẩm Rolling Stone Illustrated History of Rock & Roll, nhận xét: "Ở một mức độ nào đó, Led Zeppelin hiện thân tinh hoa của thời kỳ psychedelic thập niên 1960 khi gián tiếp đưa rock tới sự lôi cuốn nhạy cảm." Họ cũng được coi là những người đặt nền móng của phong cách cock rock nam tính và dữ dằn, cho dù vấn đề này còn gây nhiều tranh luận. Phong cách thời trang của họ cũng tạo nên nhiều cảm hứng; Simeon Lipman, quản lý phòng văn hóa quần chúng tại nhà đấu giá Christie's, bình luận: "Led Zeppelin có ảnh hưởng lớn tới ngành thời trang khi mọi thứ xung quanh họ đều trở nên cuốn hút, và công chúng đều muốn sở hữu chúng." Họ chính là những người đi đầu trào lưu tóc xù mà những nhóm glam metal thập niên 1980 như Mötley Crüe và Skid Row bắt chước. Nhiều nghệ sĩ khác phỏng theo những chi tiết trên trang phục, đồ trang sức hay kiểu tóc của Led Zeppelin, với ống xòe và áo phông chẽn điển hình như Kings of Leon, với tóc xù và áo phông bó sát điển hình như Jack White của The White Stripes, hay với chiếc khăn lụa, mũ mềm và quần bò thêu ren như Sergio Pizzorno của Kasabian.
== Giải thưởng và danh hiệu ==
Led Zeppelin giành được vô số giải thưởng và danh hiệu xuyên suốt sự nghiệp của mình. Họ có tên tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll vào năm 1995 và Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Anh quốc vào năm 2006. Họ được trao Giải thưởng Âm nhạc Mỹ vào năm 2005 và Giải Âm nhạc Bắc cực vào năm 2006. Ngoài ra họ có được Giải Grammy Thành tựu trọn đời vào năm 2005, trong đó 4 album của họ được đưa vào Grammy Hall of Fame. Ban nhạc có được 5 album đạt chứng chỉ Kim cương, 14 album đa Bạch kim, 4 album Bạch kim và 1 album Vàng tại Mỹ, 5 album đa Bạch kim, 6 album Bạch kim, 1 album Vàng và 4 album Bạc tại Anh. Ngoài 5 album được góp mặt trong danh sách "500 album vĩ đại nhất", tạp chí Rolling Stone còn xếp Led Zeppelin ở vị trí số 14 trong danh sách "100 nghệ sĩ vĩ đại nhất" của họ vào năm 2004.
Năm 2005, Page được vinh dự nhận danh hiệu OBE từ Hoàng gia Anh vì những hoạt động từ thiện, và tới năm 2009, Plant được trao danh hiệu CBE vì những cống hiến cho nền âm nhạc quần chúng. Ban nhạc được xếp ở vị trí cao nhất trong danh sách "100 nghệ sĩ hard rock" của kênh VH1 cũng như danh sách "50 nghệ sĩ trình diễn trực tiếp xuất sắc nhất" của tạp chí Classic Rock. Led Zeppelin cũng là ban nhạc rock vĩ đại nhất theo bình chọn của đài BBC Radio 2. Họ được trao giải Ivor Novello cho những cống hiến cho nền âm nhạc Anh ngay năm 1977, và sau đó giải Thành tựu trọn đời vào năm 1997. Họ cũng nhận giải thưởng "Ban nhạc trình diễn xuất sắc nhất" vào năm 2008 bởi tạp chí Mojo cho lần tái hợp vào năm 2007, với lời tựa "ban nhạc rock and roll vĩ đại nhất mọi thời đại". Cả 3 thành viên còn sống của Led Zeppelin (Page, Plant và Jones) đều được tôn vinh tại giải thưởng Kennedy Center Honours vào năm 2012.
== Danh sách đĩa nhạc ==
Led Zeppelin (1969)
Led Zeppelin II (1969)
Led Zeppelin III (1970)
Led Zeppelin IV (1971)
Houses of the Holy (1973)
Physical Graffiti (1975)
Presence (1976)
In Through the Out Door (1979)
Coda (1982)
== Thành viên ==
Thành viên chính thức
Jimmy Page – guitar (1968–80; 1985, 1988, 1995, 2007).
Robert Plant – hát chính (1968–80; 1985, 1988, 1995, 2007).
John Paul Jones – bass, keyboard (1968–80; 1985, 1988, 1995, 2007).
John Bonham – trống (1968–80).
Nghệ sĩ khách mời trình diễn trực tiếp
Tony Thompson – trống (1985).
Phil Collins – trống (1985).
Paul Martinez – bass (1985).
Jason Bonham – trống (1988, 1995, 2007).
Michael Lee – trống (1995).
== Tham khảo ==
Ghi chú
== Thư mục ==
Tài liệu khác
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Led Zeppelin tại MySpace
Led Zeppelin tại Atlantic Records
Kênh của Led Zeppelin trên YouTube (chính thức)
Led Zeppelin tại DMOZ |
kinh tế indonesia.txt | Kinh tế Indonesia là một nền kinh tế thị trường trong đó chính phủ đóng vai trò chủ đạo. Nó có hơn 164 công ty sở hữu quốc doanh, hoạt động kinh doanh các mặt hàng cơ bản như dầu mỏ, gạo, và điện lực. Trong cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á từ giữa năm 1997, chính phủ đã nắm lấy một tỉ lệ đáng kể các tài sản thuộc sở hữu tư nhân. đã tăng một cách đáng ngạc nhiên, đạt 3.700 USD vào năm 2005. Trong khoảng 30 năm cầm quyền của tổng thống Suharto, nền kinh tế Indonesia đã tăng nhanh, GDP bình quân đầu người từ 70 USD/năm đến trên 1.000 USD trong năm 1996. Nhờ chính sách tài chính và tiền tệ khôn ngoan, tỉ lệ lạm phát được giữ trong khoảng 5%–10%, đồng rupiah đã trở lên ổn định, chính phủ đã tránh được sự thâm hụt ngân sách.
== Xu hướng kinh tế vĩ mô ==
Đây là bảng thống kê tổng sản phẩm quốc nội của Indonesia theo giá cả thị trường bởi Quỹ Tiền tệ Quốc tế, đơn vị tính là triệu rupiah.
== Chú thích == |
redhat.txt | Red Hat, Inc. (NYSE: RHT) là một công ty phần mềm Mỹ cung cấp sản phẩm phần mềm mã nguồn mở cho cộng đồng doanh nghiệp. Thành lập năm 1993, Red Hat có trụ sở tại Raleigh, North Carolina với các chi nhánh trên toàn thế giới
Red Hat has đã gắn liền ở mức độ lớn với hệ điều hành doanh nghiệp Red Hat Enterprise Linux và vơi việc mua lại nhà cung cấp middleware mã nguồn mở cho doanh nghiệp JBoss. Red Hat cung cấp nền tảng hệ điều hành, middleware, các ứng dụng, sản phẩm quản lý và hỗ trợ, đào tạo, và dịch vụ tư vấn.
Red Hat tạo ra, duy trì, và đóng góp cho nhiều dự án phần mềm miễn phí và có cũng đã mua vài gói phần mềm độc quyềnvà phát hành mã nguồn của chúng theo chủ yếu là GNU GPL trong khi đang nắm giữ quyền tác giả theo thực thể thương mại duy nhất và bán các mục đăng ký người sử dụng. Tính đến tháng 4 năm 2012, Red Hat là công ty đóng góp lớn nhất cho Linux kernel.
== Lịch sử ==
Năm 1993 Bob Young đã thành lập ACC Corporation, một doanh nghiệp chuyên bán các phần mềm phụ kiện Linux và UNIX. Năm 1994 Marc Ewing tạo một bản phân phối Linux của riêng mình, mà ông đặt tên là Red Hat Linux (Ewing đã đội một chiếc mũ lacrosse màu đỏ của Cornell University, đã được ông của ông tặng cho, khi ông đang học tại Carnegie Mellon University). Ewing phát hành phần mềm trong tháng mười, và nó được biết đến như là bản phát hành Halloween. Young mua doanh nghiệp của Ewing trong năm 1995, và cả hai đã sáp nhập thành Red Hat Software, với Young phục vụ như giám đốc điều hành (CEO).
Red Hat phát hành lần đầu ra công chúng vào 11/8/1999, đạt được ngày tăng thứ tám lớn nhất đầu tiên trong lịch sử của Wall Street. Matthew Szulik thành công, Bob Young trở thành CEO trong tháng 10 cùng năm.
Ngày 15/11/1999, Red Hat mua lại Cygnus Solutions. Cygnus cung cấp hỗ trợ thương mại cho phần mềm miễn phí và lưu trữ bảo trì các sản phẩm phần mềm GNU ví dụ như GNU Debugger và GNU Binutils. Một trong những người sáng lập của Cygnus, Michael Tiemann, đã trở thành giám đốc kỹ thuật của Red Hat và by 2008 Phó Chủ tịch các vấn đề mã nguồn mở. Sau đó Red Hat mua lại WireSpeed, C2Net và Hell's Kitchen Systems.
Tháng 2/2000, InfoWorld trao cho Red Hat giải thưởng "Sản phẩm Hệ điều hành của năm" lần thứ 4 liên tiếp của họ cho Red Hat Linux 6.1. Red Hat mua lại Planning Technologies, Inc năm 2001 và năm 2004 là phần mềm quản lý chứng chỉ máy chủ và thư mục iPlanet của AOL.
Red Hat chuyển trụ sở của mình từ Durham, NC, đến khuôn viên của N.C. State University tại Raleigh, North Carolina vào tháng 2/2002. trong tháng tiếp theo Red Hat giới thiệu Red Hat Linux Advanced Server, sau đó đổi tên thành Red Hat Enterprise Linux (RHEL). Dell, IBM, HP và Oracle Corporation tuyên bố hỗ trợ cho nền tảng này.
Tháng 12/2005, tạp chí CIO Insight đã tiến hành "Khảo sát giá bán hàng" hàng năm, trong đó Red Hat xếp thứ một trong giá trị cho năm thứ hai liên tiếp. Chứng khoán Red Hat lọt vào danh sách NASDAQ-100 ngày 19/12/2005.
Red Hat mua lại nhà cung cấp middleware mã nguồn mở JBoss ngày 5/6/2006 và JBoss đã trở thành một bộ phận của Red Hat. Ngày 18/9/2006, Red Hat phát hành Red Hat Application Stack, Hệ thống ngăn xếp đầu tiên của họ có tích hợp công nghệ JBoss và đều được chứng nhận bởi nhà cung cấp phần mềm nổi tiếng khác. Ngày 12/12/2006, Red Hat chuyển từ NASDAQ (RHAT) sang New York Stock Exchange (RHT). Năm 2007 Red Hat mua lại MetaMatrix và thực hiện một thỏa thuận với Exadel để có thể phân phối phần mềm của họ.
15/3/2007, Red Hat phát hành Red Hat Enterprise Linux 5, và vào tháng 6 mua lại Mobicents. Ngày 13/3/2008, Red Hat mua lại Amentra, một nhà cung cấp dịch vụ tích hợp hệ thống cho kiến trúc hướng dịch vụ, quản lý quá trình kinh doanh, phát triển hệ thống và dịch vụ dữ liệu doanh nghiệp. Amentra hoạt động như là một công ty độc lập của Red Hat.
Ngày 27/7/2009, Red Hat thay thế CIT Group trong chỉ số 500 chứng khoán của Standard and Poor, chỉ số đa dạng của 500 công ty kinh tế hàng đầu Mỹ. Điều này đã được thông báo như là 1 cột mốc lớn cho Linux.
Ngày 15/12/ 2009, có thông báo rằng Red Hat sẽ phải trả 8.8 triệu USD để giải quyết một vụ kiện liên quan đến trình bày lại kết quả tài chính từ tháng 7/2004. Vụ kiện đã bị hoãn trong một tòa án quận ở North Carolina. Red Hat đã đạt thỏa thuận giải quyết đề xuất và ghi nhận một khoản phí một lần là 8.8 triệu cho quý kết thúc ngày 30/11. Các thỏa thuận đang chờ tòa án phê duyệt.
Ngày 10/1/2011, Red Hat thông báo họ sẽ mở rộng trụ sở chính trong hai giai đoạn, thêm 540 nhân viên cho chiến dịch Raleigh. Công ty sẽ đầu tư hơn 109 triệu USD. Bang North Carolina cung cấp một gói hỗ trợ lên đến 15 triệu USD. Giai đoạn thứ hai liên quan đến việc "mở rộng vào công nghệ mới như ảo hóa phần mềm và các dịch vụ đám mây công nghệ".
Ngày 25/8/2011, Red Hat tuyên bố sẽ di chuyển khoảng 600 nhân viên từ khuôn viên trường N.C. State đến Two Progress Plaza trung tâm thành phố. Progress Energy dự kiến sẽ xin thôi việc xây dựng vào năm 2012 nếu sáp nhập với Duke Energy được hoàn thành. Red Hat cũng có kế hoạch để đổi tên tòa nhà.
Đáng chú ý, Red Hat trở thành công ty mã nguồn mở đầu tiên có doanh thu hơn một tỷ đô-la trong năm 2012, đạt 1.13 tỷ đô-la trong doanh thu hàng năm.
== Dự án Fedora ==
Red Hat tài trợ dự án Fedora, một cộng đồng hỗ trợ dự án mã nguồn mở nhằm mục đích thúc đẩy sự tiến bộ nhanh chóng của phần mềm, nội dung miễn phí và mã nguồn mở. Fedora nhằm mục đích cho sự đổi mới nhanh chóng bằng cách sử dụng quy trình mở và diễn đàn công cộng.
Ban quản lý dự án Fedora, bao gồm lãnh đạo cộng đồng và đại diện của Red Hat, dẫn đầu dự án và định hướng dự án và của Fedora, bản phân phối Linux họ phát triển. Nhân viên của Red Hat làm việc cùng với các thành viên cộng đồng, và nhiều sáng kiến trong dự án Fedora thực hiện theo cách của họ vào các phiên bản mới của Red Hat Enterprise Linux.
== Mô hình kinh doanh ==
Red Hat một phần hoạt động trên mô hình kinh doanh mã nguồn mở chuyên nghiệp dựa trên mã mở, phát triển trong cộng đồng, quản lý chất lượng chuyên nghiệp, và hỗ trợ khách hàng dựa trên đăng ký. Họ sản xuất mã nguồn mở, do đó, các lập trình viên có thể làm cho thích nghi và cải tiến hơn nữa.
Red Hat bán các mục đăng ký để hỗ trợ, đào tạo và dịch vụ tích hợp giúp khách hàng trong việc sử dụng phần mềm mã nguồn mở. Khách hàng phải trả một đặt giá không giới hạn truy cập vào các dịch vụ như Red Hat Network và hỗ trợ lên đến 24/7.
== Chương trình và dự án ==
=== One Laptop per Child ===
Các kỹ sư của Red Hat chủ động làm việc với One Laptop per Child (một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập bởi các thành viên của phòng thí nghiệm phương tiện truyền thông MIT) để thiết kế và sản xuất một máy tính xách tay rẻ tiền và cung cấp cho mỗi trẻ em trên thế giới có thể truy cập để mở giao tiếp, kiến thức mở, và học tập mở. Laptop XO-1.5, latest, chạy một phiên bản rút gọn của Fedora là hệ điều hành của nó.
=== Mugshot ===
Red Hat tài trợ Mugshot, một dự án mở xây dựng "một kinh nghiệm sống xã hội" dựa trên giải trí. Nó tập trung tư duy công nghệ từ các đối tượng (file, folder, etc.) để hoạt động như duyệt web hay chia sẻ âm nhạc.. Các chủ đề này tạo thành tâm điểm của các tính năng hai lần đầu tiên trong Mugshot, Web Swarm và Music Radar. Đây đã bắt đầu trước khi thông báo của các dự án tại Red Hat Summit 2006. Trường hợp Mugshot ban đầu được tổ chức bởi Red Hat đã bị loại bỏ, và mugshot.org chuyển hướng đến Red Hat.
=== Dogtail ===
Dogtail, một nền tảng kiểm tra tự động mã nguồn mở có giao diện người dùng đồ họa (GUI) ban đầu được phát triển bởi Red Hat, bao gồm các phần mềm miễn phí phát hành theo Giấy phép công cộng tổng quát GNU (GPL) và được viết bằng Python. Nó cho phép các nhà phát triển để xây dựng và thử nghiệm các ứng dụng của họ. Red Hat đã công bố việc phát hành của Dogtail tại Hội nghị thượng đỉnh Red Hat 2006.
=== MRG ===
Red Hat Enterprise MRG (Messaging, Real-time, and Grid) thay thế nhân RHEL để cung cấp hỗ trợ thêm cho tính toán thời gian thực, cùng với middleware hỗ trợ tin nhắn môi giới và khối lượng công việc lập kế hoạch đến địa phương hoặc từ xa máy ảo, grid và cơ sở hạ tầng điện toán đám mây. Red Hat bây giờ đang làm viêc với Condor High-Throughput Computing System và cũng cung cấp hỗ trợ cho phần mềm.
=== opensource.com ===
Red Hat tạo ấn phẩm trực truyến opensource.com. Nó tập hợp các vấn đề quan tâm từ cộng đồng mã nguồn mở, nêu bật cách mở nguồn áp dụng ngoài nguyên tắc phần mềm và công nghệ. Nó bao gồm các chủ đề như vậy một doanh nghiệp, giáo dục, chính phủ, luật, y tế, và cuộc sống, cập nhật độc giả về cấp phép công cộng và Creative Commons, và các cuộc phỏng vấn với một số nhà lãnh đạo ngành công nghiệp và người dùng mã nguồn mở..
Công ty ban đầu sản xuất một bản tin gọi là Under the Brim. Tạp chí Wide Open xuất hiện lần đầu vào tháng 3/2004 như một phương tiện cho Red Hat chia sẻ nội dung kỹ thuật với khách hàng đăng ký một cách thường xuyên. Bản tinUnder the Brim cà tạp chí Wide Open sáp nhập vào tháng 11/2004 để trở thành Red Hat Magazine. Red Hat Magazine sau này trở thành opensource.com.
=== Red Hat Exchange ===
Năm 2007 Red Hat thông báo họ đã đạt được một thỏa thuận với một số công ty phần mềm miễn phí và mã nguồn mở (FOSS) cho phép nó để làm cho một cổng thông tin phân phối được gọi là Red Hat Exchange, bán lại phần mềm FOSS ới xây dựng thương hiệu ban đầu nguyên vẹn. Tuy nhiên, Red Hat đã từ bỏ chương trình Exchange vào năm 2010 để tập trung nỗ lực của họ trên Open Source Channel Alliance được bắt đầu vào tháng 4/2009.
=== OpenShift ===
Red Hat điều hành OpenShift, một nền tảng điện toán đám mây như một dịch vụ, hỗ trợ các ứng dụng viết bằng Node.js, PHP, Perl, Python, Ruby, và JavaEE. OpenShift hiện trong phiên bản beta của nhà phát triển, và là miễn phí.
=== Dự án khác ===
Red Hat có một số nhân viên làm việc toàn thời gian vào các dự án phần mềm miễn phí mã nguồn mở, chẳng hạn như hai nhân viên toàn thời gian làm việc trên phần mềm miễn phí radeon (David Airlie và Jerome Glisse) và một nhân viên toàn thời gian làm việc trên trình điều khiển đồ họa phần mềm miễn phí nouveau.
== Tiện ích và công cụ ==
Hơn và ở trên các sản phẩm chính và mua lại của, các lập trình viên Red Hat đã tạo ra các phần mềm lập trình công cụ và tiện ích để bổ sung tiêu chuẩn Unix và phần mềm Linux. Một số trong các "sản phẩm" Red Hat đã tìm thấy con đường riêng của chúng từ môi trường hệ điều hành Red Hat cụ thể thông qua các kênh mã nguồn mở để có một cộng đồng lớn hơn. Tiện ích như vậy bao gồm:
Disk Druid – for disk partitioning
rpm – cho quản lý gói
sosreport – tập hợp hệ thống phần cứng và cấu hình các chi tiết
systemtap – tracing công cụ cho hạt nhân Linux, phát triển với IBM, Hitachi, Oracle và Intel
NetworkManager
Các trang web của Red Hat danh sách tham gia trong việc chủ yếu của tổ chức trong các dự án phần mềm miễn phí và mã nguồn mở.
Dự án cộng đồng dưới sự bảo trợ của Red Hat bao gồm:
Ứng dụng Pulp cho quản lý kho phần mềm.
== Các công ty con ==
=== Red Hat India ===
Red Hat, Inc thành lập công ty con Red Hat India để cung cấp phần mềm Red Hat, hỗ trợ và dịch vụ cho khách hàng tại India. Colin Tenwick, phó chủ tịch và tổng giám đốc của Red Hat EMEA nói "sự thành lập [Red Hat India] là để đáp lại sự thông qua nhanh chóng của Red Hat Linux trong tiểu lục địa... Nhu cầu về các giải pháp mã nguồn mở từ các thị trường Ấn Độ ngày càng tăng và Red Hat muốn chơi một vai trò quan trọng trong khu vực này." Red Hat India đã làm việc với các công ty địa phương để cho phép việc áp dụng các công nghệ mã nguồn mở trong cả hai chính phủ và giáo dục.
==== Hệ thống phân phối ====
Red Hat India nói nó hiện đang có một mạng lưới phân phối trên hơn 70 kênh đối tác kéo dài 27 thành phố trên khắp Ấn Độ. Các kênh đối tác quan trọng củaRed Hat India bao gồm Efensys Technologies, Embee Software, Allied Digital Services, và Softcell Technologies. Các nhà phân phối quan trọng được liệt kê bởi nó bao gồm Integra Microsystems, Ingram Micro, GT Enterprises, và Sonata Software.
== Mua lại và sáp nhập ==
Vụ mua lại lớn đầu tiên của Red Hat là Delix Computer GmbH-Linux Div, phân hệ điều hành Linux của Delix Computer, một công ty máy tính Đức, ngày 30/7/1999. Red Hat mua Cygnus Solutions, một công ty cung cấp hỗ trợ thương mại cho phần mềm miễn phí, vào ngày 11/1/2000. Michael Tiemann, đồng sáng lập của Cygnus, phục vụ như giám đốc kỹ thuật của Red Hat sau khi mua lại. Ngày 5/6/2006, Red Hat mua lại nhà cung cấp middleware mã nguồn mở JBoss với 420 triệu đô-la tích hợp nó như là bộ phận của Red Hat.
Ngày 14/12/1998, Red Hat đã thực hiện cắt bỏ đầu tiên, khi Intel và Netscape mua lại cổ phần thiểu số không được tiết lộ trong công ty. Trong năm sau đó, 9/3/1999, Compaq, IBM, Dell và Novell mua lại cổ phần thiểu số không được tiết lộ trong Red Hat. Việc mua lại lớn nhất của công ty là Cygnus Solutions trong tháng 1/2000 với 674 triệu đô-la. Red Hat đã mua lại vào năm 2000 với 5: Cygnus Solutions, Bluecurve, Wirespeed Communications, Hell's Kitchen Systems, và C2Net.
=== Mua lại ===
=== Bán đi ===
== Đối thủ cạnh tranh ==
Đối thủ canh tranh chính của Red Hat bao gồm Canonical Ltd., IBM, Mandriva, Microsoft, SUSE, và Oracle Corporation, cùng với các cộng đồng Debian và FreeBSD.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Red Hat contributions to Free and Open Source software
opensource.com |
1944.txt | 1944 (số La Mã: MCMXLIV) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Bảy trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1944
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
3 tháng 1: Quân Trung Quốc tại Miến Điện phản công Nhật Bản
8 tháng 1: Benito Mussolini bị tử hình.
25 tháng 1: Quốc quân phát động phản công toàn diện Nhật Bản tại Miến Điện
=== Tháng 2 ===
8 tháng 2: Mao Trạch Đông hạ lệnh tránh giao chiến bảo toàn thực lực
25 tháng 2: Trung đội cứu quốc quân 3 được thành lập.
=== Tháng 3 ===
6 tháng 3: Tân Tứ quân tấn công Hoài An Đông Kiều trấn
8 tháng 3: Nhật Bản tấn công Ấn Độ
=== Tháng 4 ===
12 tháng 4: Nhật Bản giải phóng liên minh tại Trung Quốc thành lập
17 tháng 4: Nhật Bản mở chiến dịch Ichi-Go, phản công Đồng Minh tại Trung Quốc.
28 tháng 4: Phát xít Nhật tại Tượng Trung phát động phản công, Hứa Xương hội chiến bùng phát.
29 tháng 4: Phát xít Nhật thả ngư lôi tấn công hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ
=== Tháng 5 ===
7 tháng 5: Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị " Sửa sọan khởi nghĩa".
11 tháng 5: Trung ương Trung cộng tại Hoa Trung tổ chức lực lượng, thành lập căn cứ địa kháng Nhật
20 tháng 5: Tại Trùng Khánh, Quốc Dân đảng tổ chức đại hội
26 tháng 5: Phát xít Nhật đột nhập thành Lạc Dương
=== Tháng 6 ===
6 tháng 6- Quân Đồng minh đổ bộ lên Normandie, mở mặt trận thứ hai giải phóng Châu Âu khỏi Đức Quốc xã.
15 tháng 6: Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và Lục quân Hoa Kỳ mở cuộc đổ bộ lên Saipan.
16 tháng 6: Đảng Cộng sản Trung Quốc thương nghị Hoa Nam phát triển lực lượng
18 tháng 6: Quân Nhật Bản chiếm Trường Sa.
23 tháng 6: Khai chiến trận Bạch Nga
=== Tháng 7 ===
4 tháng 7: Trung cộng phát biểu Quốc Cộng hòa đàm không còn hy vọng
22 tháng 7: Hoa Kỳ công chiếm đảo Trại Ban
=== Tháng 8 ===
10 tháng 8: Trung ương Đảng kêu gọi " Sắm vũ khí đuổi thù chung".
15 tháng 8: Tân Tứ quân tấn công chiến lược quân Nhật tại Trung Nguyên
20 tháng 8: Phát xít Nhật tấn công Imphal thất bại
24 tháng 8: Rumani tuyên chiến với Đức
25 tháng 8: Đồng minh giải phóng Paris
29 tháng 8: Kết thúc trận Bạch Nga
=== Tháng 9 ===
19 tháng 9: Thành lập Trung Quốc Dân Chủ đồng minh tại Trùng Khánh
=== Tháng 10 ===
4 tháng 10: Nhật Bản đánh chiếm Phúc Châu.
17 tháng 10: Hoa Kỳ đổ bộ lên Philippines
20 tháng 10:
Liên Xô giải phóng Nam Tư
Mở đầu hải chiến Lai Đặc
26 tháng 10: Trận hải chiến Lai Đặc đảo kết thúc
28 tháng 10: Nhật Bản bao vây Quế Lâm, Liễu Châu
=== Tháng 11 ===
10 tháng 11: Quân Nhật Bản đánh chiếm Quế Lâm.
=== Tháng 12 ===
22 tháng 12: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập.
== Sinh ==
6 tháng 8 - Phạm Gia Khiêm, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Vojislav Koštunica, tổng thống Nam Tư
10 tháng 9 - Giuse Võ Đức Minh, Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang
14 tháng 9 - Antôn Vũ Huy Chương, Giám mục chính tòa Giáo phận Đà Lạt
11 tháng 11 - Phaolô Bùi Văn Đọc, Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh.
== Mất ==
8 tháng 8: Michael Wittmann
14 tháng 10: Erwin Johannes Eugen Rommel
10 tháng 11: Uông Tinh Vệ
== Giải Nobel ==
Vật lý - Isidor Isaac Rabi
Hóa học - Otto Hahn
Y học - Joseph Erlanger, Herbert Spencer Gasser
Văn học - Johannes Vilhelm Jensen
Hòa bình - Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
alexandre de rhodes.txt | Alexandre de Rhodes (phiên âm tiếng Việt là A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ hay Cha Đắc Lộ, A-lếc-xăng Đơ-rốt; 15 tháng 3 năm 1591 – 5 tháng 11 năm 1660) là một nhà truyền giáo dòng Tên người Avignon và một nhà ngôn ngữ học. Ông đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại bằng công trình Tự điển Việt-Bồ-La, hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh.
== Tiểu sử ==
=== Thời niên thiếu ===
Ông sinh tại Avignon, miền nam nước Pháp. Theo một số sử liệu, linh mục Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ), sinh năm 1591, nhưng nhiều nguồn khác ghi ông sinh năm 1593. Ông gia nhập dòng Tên tại Roma ngày 24 tháng 4 năm 1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển. Tuy nhiên, cùng với đà tiến này, Giáo hội Công giáo cũng gặp sức kháng cự vũ bão của chính quyền các dân tộc được rao giảng Tin Mừng. Vì thế, bên cạnh nhiệt tâm truyền giáo, còn phải kể ước muốn được đổ máu đào minh chứng cho Chúa Jesus của các vị thừa sai tiên khởi. Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tị nạn dưới bóng Giáo hoàng vì thời ấy Avignon là đất của Giáo hoàng, nên tên ông là Alexandre de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ). Người Việt gọi Alexandre de Rhodes là Giáo sĩ Đắc Lộ.
=== Truyền giáo ===
Trong bối cảnh đó, Alexandre de Rhodes đã xin và được Bề Trên chỉ định đi truyền giáo tại Nhật Bản. Ngày 4 tháng 4 năm 1619, ông lên đường vào tuổi 26, cùng với kiến thức sâu rộng về thiên văn học và toán học. Alexandre là một người cường tráng, vui vẻ và lạc quan, luôn nhìn khía cạnh tích cực của vấn đề. Ông thích nghi nhanh chóng với mọi môi trường sống và cư xử giản dị trong giao tế với người khác.
Đầu tiên, Alexandre de Rhodes cập bến tại Goa, đợi chờ cơ hội thuận tiện đặt chân lên đất Nhật Bản. Nhưng tình hình bách hại Kitô Giáo dữ dội tại đây đã khiến các Bề Trên buộc lòng chỉ định ông đi Trung Quốc. Ông lên tàu đi Ma Cao, nhập Đại học Thánh Phaolô. Tại Macao ông đã ghi lại nhận xét về người Trung Hoa:
"Người Trung Hoa rất ngạc nhiên khi nhìn thấy bản đồ chúng tôi vẽ. Trung Quốc vĩ đại của họ chỉ còn là chấm nhỏ trong vũ trụ Trái Đất bao la. Trái lại, nơi bản đồ trái đất hình vuông do họ vẽ, Trung Quốc nằm chính giữa, đúng như tên gọi (Trung Quốc-nước ở giữa). Sau đó, họ vẽ biển nằm bên dưới Trung Quốc, trong đó rải rác mấy đảo nhỏ, và họ đề tên: Châu Âu, Châu Phi và Nhật Bản..."
Ông còn viết:
"Chúng ta thường tỏ ra quý chuộng những người ngoại giáo. Nhưng khi họ trở thành Kitô hữu, chúng ta không đoái hoài đến họ nữa. Thậm chí còn bắt các người theo đạo phải từ bỏ y phục địa phương. Chúng ta đâu biết rằng, đây là một đòi buộc quá khắt khe, mà ngay cả Thiên Chúa, Ngài cũng không đòi hỏi như thế. Chúng ta ngăn cản người ngoại giáo, không cho họ cơ hội dễ dàng gia nhập Giáo hội Công giáo. Riêng tôi, tôi cực lực phản đối những ai muốn bắt buộc người đàn ông Trung Hoa, khi theo đạo, phải cắt bỏ mái tóc dài họ vẫn để, y như các phụ nữ trong xứ. Làm vậy, chúng ta gây thêm khó khăn cho các nam tín hữu Trung Hoa, một khi theo Công giáo, không còn tự do đi lại trong xứ, hoặc tìm được dễ dàng công ăn việc làm. Phần tôi, tôi xin giải thích rằng, điều kiện để trở thành Kitô hữu là phải từ bỏ lầm lạc, chứ không phải cắt bỏ tóc dài..."
=== Tại Việt Nam ===
Đầu năm 1625, Alexandre cùng với bốn cha dòng Tên khác và một tín hữu Nhật Bản, cập bến Hội An, gần Đà Nẵng. Ông bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Thầy dạy tiếng Việt cho ông là một cậu bé khoảng 10, 12 tuổi. Ông viết:
Chỉ trong vòng 3 tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có một kiến thức gì về ngôn ngữ châu Âu, thế mà, cũng trong vòng 3 tuần lễ này, cậu đã có thể hiểu được tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời, cậu học đọc, học viết tiếng Latin và đã có thể giúp lễ. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu bé. Sau đó, cậu trở thành thầy giảng giúp việc các cha truyền giáo và là một dụng cụ tông đồ hữu hiệu trong việc loan báo Tin Mừng nơi quê hương Việt Nam thân yêu của thầy và nơi Vương quốc Lào láng giềng.
Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của Alexandre de Rhodes, nhưng cuộc đời truyền giáo của ông ở đây rất bấp bênh và trôi nổi. Trong vòng 20 năm, ông bị trục xuất đến sáu lần. Nhưng sau cả sáu lần ấy, ông đều tìm cách trở lại Việt Nam khi cơ hội cho phép.
Ông đến truyền giáo ở Đàng Trong vào năm 1625 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên và ở Đàng Ngoài vào năm 1626 dưới thời chúa Trịnh Tráng. Thời gian Alexandre de Rhodes giảng đạo tại Việt Nam cũng là thời kỳ các cha thừa sai dòng Tên hoạt động rất hăng say và hữu hiệu. Riêng Alexandre de Rhodes, ông đã truyền đạo từ Nam ra Bắc.
Ông kể lại công cuộc truyền giáo tại Đàng Ngoài:
Khi chúng tôi vừa đến kinh đô Bắc Kỳ, tức khắc nhà vua truyền lệnh cho tôi phải xây một nhà ở và một nhà thờ thật đẹp. Dân chúng tuốn đến nghe tôi giảng đạo đông đến nỗi, tôi phải giảng đến 4 hoặc 6 lần trong một ngày. Chị vua và 17 người thân trong gia đình vua xin lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Nhiều tướng lãnh và binh sĩ cũng xin theo đạo. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là thấy các vị sư đã mau mắn từ bỏ bụt thần để theo đạo Công giáo. Tất cả đều dễ dàng chấp nhận khi tôi giải thích cho họ hiểu giáo lý đạo Công giáo rất phù hợp với lý trí và lương tâm con người. Các tín hữu Công giáo Việt Nam có Đức Tin vững chắc đến độ, không gì có thể rút Đức Tin ra khỏi lòng họ. Nhiều người phải đi bộ suốt 15 ngày đường để được xưng tội hoặc tham dự thánh lễ. Nhưng phải thành thật mà nói, tôi không thể chu toàn cách tốt đẹp mọi công tác truyền đạo này, nếu không có trợ giúp tuyệt vời của các thầy giảng. Vì nhận thấy mình là linh mục duy nhất giữa một cánh đồng truyền đạo bao la, nên tôi chọn trong số các tín hữu, những thanh niên không lập gia đình và có lòng đạo đức sâu xa cũng như có nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng, để giúp tôi. Những người này công khai thề hứa sẽ dâng hiến cuộc đời để phụng sự Chúa, phục vụ Giáo hội, sẽ không lập gia đình và sẽ vâng lời các cha thừa sai đến Việt Nam truyền đạo. Hiện tại có tất cả 100 thầy giảng đang được thụ huấn trong chủng viện và được các tín hữu trang trải mọi phí tổn.
Tác giả Bùi Kha cho rằng ông có vận động Pháp đánh chiếm Việt Nam dựa vào một đoạn trích:
Tôi tưởng nước Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để chinh phục toàn cõi Đông phương đưa về quy phục Chúa Ki Tô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời Roma ngày 11/9/1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo hoàng.
Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Hoa, ở Đàng Trong, ở Đàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanxicô Xavie tới 300 quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm ở những nơi cùng kiệt cõi đất.
Tuy nhiên, có ý kiến khác chỉ ra rằng cách dùng từ ngữ trong đoạn văn trên đề cập đến việc truyền giáo và nhận xét rằng việc diễn giải thành ý đồ xâm lược là một lập trường "hận thù tôn giáo".
Năm 1645, ông bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Khi trở lại châu Âu, Alexandre de Rhodes vận dụng mọi khả năng hiểu biết về công cuộc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu, đã xin Tòa Thánh gửi các Giám mục truyền giáo đến Á Châu, để các ngài có thể truyền chức linh mục cho các thầy giảng bản xứ.
Ông mất ngày 5 tháng 11 năm 1660 ở Isfahan, Ba Tư, 15 năm sau lần cuối cùng bị trục xuất khỏi Việt Nam.
Chính sử của triều đình Việt Nam (Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục) thì ghi từ năm 1533 đời vua Lê Trang Tông đã có chiếu chỉ cấm đạo Công giáo ở Việt Nam.
== Đóng góp vào chữ Quốc ngữ ==
Vào năm 1651, ông cho in cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) dựa trên các ký tự tiếng Việt của những giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ý trước đó. Có thể coi đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Ngoài ra một tác phẩm khác cùng tầm quan trọng do giáo sĩ Đắc Lộ soạn là cuốn Phép giảng tám ngày (tựa Latinh: Catechismus). Khác với phần tự điển ghi từ vựng, Phép giảng tám ngày là tác phẩm văn xuôi, phản ảnh văn ngữ và ghi lại cách phát âm của tiếng Việt vào thế kỷ 17.
Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày qua đời của Alexandre de Rhodes, nguyệt san MISSI, do các cha Dòng Tên người Pháp điều khiển, đã dành trọn số tháng 5 để tưởng niệm và ca tụng Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng. Nguyệt san MISSI nói về công trình khai sinh chữ Quốc ngữ với tựa đề: "Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ".
Tiếp đến, tờ MISSI viết:
Khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, cha Đắc Lộ đã giải phóng nước Việt Nam.
Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.
Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.
Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Đắc Lộ khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, cha Đắc Lộ là người đưa công trình chế biến chữ Quốc ngữ đến chỗ kết thúc vĩnh viễn và thành công, ngay từ năm 1651, là năm mà cuốn tự điển Việt-Bồ-La ra đời. Đây cũng là năm sinh chính thức của chữ Quốc ngữ. Và cuộc khai sinh diễn ra tại Roma, nơi nhà in Vatican. Chính nơi nhà in Vatican mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình.
Đã từ lâu đời, người Việt Nam viết bằng chữ Tàu, hoặc bằng chữ Nôm, do họ sáng chế ra. Nhưng đa số người Việt Nam không thể đọc và viết được chữ Tàu, vì theo lời cha Đắc Lộ, Tàu có đến 80 ngàn chữ viết khác nhau. Các nhà truyền giáo đầu tiên khi đến Việt Nam, đã bắt đầu dùng mẫu tự La Tinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Khi cha Đắc Lộ đến Việt Nam, đã có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ La Tinh rồi. Vì thế, có thể nói rằng, công trình sáng tạo ra chữ Quốc ngữ trước tiên là một công trình chung của các nhà thừa sai tại Việt Nam. Nhưng khi chính thức in ra công trình khảo cứu chữ viết tiếng Việt của mình, là cùng lúc, Alexandre de Rhodes đã khai sinh ra chữ viết này, ban đầu được các nhà truyền giáo sử dụng, sau đó, được toàn thể dân Việt Nam dùng và biến nó thành chữ quốc ngữ. Tất cả các nước thuộc miền Viễn Đông từ đó ước ao được có chữ viết cho quốc gia mình y như chữ Quốc ngữ này vậy.
Bản thân Alexandre de Rhodes đã viết như sau:
Khi tôi vừa đến Nam Kỳ và nghe người dân bản xứ nói, đặc biệt là phụ nữ, tôi có cảm tưởng mình đang nghe chim hót líu lo, và tôi đâm ra ngã lòng, vì nghĩ rằng, có lẽ không bao giờ mình học nói được một ngôn ngữ như thế. Thêm vào đó, tôi thấy hai cha Emmanuel Fernandez và Buzomi, khi giảng, phải có người thông dịch lại. Chỉ có cha Francois Pina là hiểu và nói được tiếng Việt, nên các bài giảng của cha Pina thường đem lại nhiều lợi ích hơn là của hai cha Fernandez và Buzomi. Do đó tôi tự ép buộc mình phải dồn mọi khả năng để học cho được tiếng Việt. Mỗi ngày tôi chăm chỉ học tiếng Việt y như ngày xưa tôi học môn thần học ở Roma. Và nhờ ơn Chúa giúp, chỉ trong vòng 4 tháng, tôi học biết đủ tiếng Việt để có thể giải tội và sau 6 tháng, tôi có thể giảng được bằng tiếng Việt. Kết quả các bài giảng bằng tiếng Việt lợi ích nhiều hơn các bài giảng phải có người thông dịch lại.
Nguyệt san MISSI đã ca ngợi vai trò của Alexandre de Rhodes hơi quá, vì chính họ cũng viết rõ là trước de Rhodes đã có một số nhà truyền giáo ghi lại tiếng Việt bằng chữ cái La tinh, nhưng tiếp theo đó lại tôn vinh de Rhodes là người khai sinh ra chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên, de Rhodes rõ ràng đã có công lớn trong việc hệ thống hóa việc ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái La tinh một cách đầy đủ. Nhờ cuốn từ điển Việt-Bồ-La của ông, chữ Quốc ngữ mới bắt đầu phổ biến trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đặt nền móng cho việc sử dụng rộng rãi sau này.
== Tác phẩm ==
Ngoài cuốn Tự Điển Việt-Bồ-La Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum đã được Kho Tàng trữ của Thư viện Quốc gia Bồ Đào Nha scan và đưa lên mạng Internet (xem tại đây), còn có nguyên bộ các tác phẩm khác trong ấn bản đầu tiên ở thập niên 1650 mà Giáo sĩ Đắc-Lộ viết bằng tiếng Latin và tiếng Pháp có thể tìm thấy tại Thư viện Maurits Sabbe của Đại học Công giáo tại Louvain (Université catholique de Louvain) tại Bỉ. Ngoài ra, có thêm một số ấn bản hoặc tái ấn bản cũng được tìm ra trong cơ sở dữ liệu PORBASE của Liên hiệp các thư viện ở Bồ Đào Nha.
== Tưởng niệm ==
Năm 1941 Hội Trí Tri cùng với Hội Truyền bá Quốc ngữ đã quyên góp để dựng một tấm bia kỷ niệm ngày sinh nhật thứ 350 của giáo sĩ Đắc Lộ ở gần bên bờ hồ Gươm trước cửa Đền Bà Kiệu. Bia này đến năm 1957 thì bị gỡ bỏ và mất tích đến năm 1995 thì mới tìm lại được.
Hai năm sau, năm 1943 chính quyền thuộc địa Đông Dương phát hành con tem 30 xu để tôn vinh những đóng góp của ông trong quá trình phát triển tiếng Việt.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng phát hành một bộ 4 con tem kỷ niệm 300 năm ngày mất của ông, nhưng ra trễ 1 năm (phát hành ngày 5 tháng 11 năm 1961). Tên ông được đặt cho một trường trung học và một con đường ở Sài Gòn gần Dinh Độc Lập.
== Xem thêm ==
Từ điển Việt-Bồ-La
Pigneau de Behaine
Francois Pina
Gaspar do Amaral
Antonio Barbosa
Anrê Phú Yên
Girolamo Maiorica
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Giáo sĩ Đắc-Lộ
Giáo sĩ Bồ Đào Nha và chữ Quốc Ngữ BBC Việt ngữ
Từ điển Việt-Bồ-La
Trang sưu tầm tem A. de Rhodes có nhiều mẫu tem, của thời Pháp và Việt-Nam sau 1945.
Tình Trạng Chữ Quốc Ngữ của Giáo Sĩ Đắc Lộ từ năm 1625 đến 1644 Đỗ Quang Chính, sj.
Trang chuyên về Alexandre de Rhodes của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên. Trang này rất phong phú, tóm gồm những vấn đề tranh luận, cùng lúc giới thiệu nhiều tác phẩm của Alexandre de Rhodes đã được ông dịch qua tiếng Việt và được ấn bản. |
đài bắc 101.txt | Đài Bắc 101 (phồn thể: 臺北101 / 台北101) – hay Taipei 101, từng được gọi là Trung tâm Tài chính Thế giới Đài Bắc – là một tòa nhà cao tầng có tính dấu mốc tại quận Tín Nghĩa, Đài Bắc, Đài Loan. Tòa nhà được chính thức xác định là cao nhất thế giới trong năm 2004, và duy trì vị thế này cho đến khi tòa nhà Burj Khalifa tại Dubai khánh thành vào năm 2010. Năm 2011, tòa nhà được trao tặng giấy chứng nhận bạch kim LEED, giải thưởng cao nhất theo hệ thống xếp hạng LEED, và trở thành tòa nhà xanh cao nhất và lớn nhất trên thế giới.
Đài Bắc 101 do Lý Tổ Nguyên và các đối tác thiết kế là Samsung C&T và KTRT Joint Venture xây dựng. Quá trình xây dựng tòa tháp cao 101 tầng khởi công vào năm 1999 và hoàn thành vào năm 2004. Tháp đóng vai trò là một biểu tượng cho Đài Loan hiện đại từ khi nó khánh thành. Tòa nhà trên phương diện kiến trúc tạo thành một biểu trưng cho sự tiến triển kỹ thuật và truyền thống châu Á. Phong cách hậu hiện đại của tòa nhà tiếp cận với phong cách kết hợp các yếu tố thiết kế truyền thống và có cách thức xử lý hiện đại với chúng. Tháp được thiết kế để chịu được các cơn bão nhiệt đới và động đất. Một khu mua sắm nhiều đẳng cấp nằm kế bên tháp, với hàng trăm cửa hiệu, nhà hàng và câu lạc bộ. Pháo hoa được bắn từ Đài Bắc 101 là một đặc điểm nổi bật trên truyền thông quốc tế trong dịp đón Tết Dương lịch.
Đài Bắc 101 chủ yếu thuộc quyền sở hữu của Tập đoàn Quốc tế Đính Tân, trách nhiệm quản lý tài sản và cho thuê là của hãng Urban Retail Properties. Tên dự tính ban đầu của tòa nhà là Trung tâm Tài chính Quốc tế Đài Bắc.
== Đặc điểm ==
=== Chiều cao ===
Đài Bắc 101 có 101 tầng trên nền, cùng 5 tầng hầm. Đây không những là tòa nhà đầu tiên trên thế giới vượt trên độ cao nửa km, mà còn là tòa nhà cao nhất thế giới từ tháng 3 năm 2004 đến ngày 10 tháng 3 năm 2010 Tính đến ngày 28 tháng 7 năm 2011, đây vẫn là tòa nhà xanh lớn nhất và cao nhất được sử dụng.
Khi hoàn thành, Đài Bắc 101 là tòa nhà có người ở cao nhất trên thế giới, với 509,2 m (1.671 ft) nếu đo đến đỉnh kiến trúc thì vượt qua Tháp đôi Petronas có độ cao 451,9 m (1.483 ft). Chiều cao nếu tính từ nóc nhà là 449,2 m (1.474 ft), và tính đến tầng khả dụng cao nhất là 439,2 m (1.441 ft), vượt qua các kỷ lục trước đó là 442 m (1.450 ft) và 412,4 m (1.353 ft) của Tháp Willis. Nó cũng vượt qua Tòa nhà Tuntex Sky cao 347,5 m (1.140 ft)tại Cao Hùng để trở thành tòa nhà cao nhất tại Đài Loan, và vượt qua Tòa nhà Bảo hiểm Nhân thọ Tân Quang cao 244,15 m (801 ft) để trở thành tòa nhà cao nhất tại Đài Bắc. Đài Bắc 101 yêu cầu ghi nhận chính thức cho kỷ lục đồng hồ mặt trời lớn nhất thế giới và đồng hồ đếm ngược đón Tết Dương lịch lớn nhất thế giới.
Một số nguồn, trong đó có nguồn của chủ sở hữu tòa nhà, đưa ra số liệu chiều cao của Đài Bắc 101 là 508 m (1.667 ft), chiều cao mái và chiều cao tầng đỉnh là 448 m (1.470 ft) và 438 m (1.437 ft). Số liệu thấp hơn do chưa tính chiều cao của thềm 1,2 m (4 ft) tại chân tháp. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn CTBUH tính cả chiều cao của thềm trong chiều cao tổng thể, do nó đại diện cho bộ phận của cấu trúc nhân tạo và nằm phía trên của mặt lát xung quanh. Đài Bắc 101 thay thế Tháp đôi Petronas làm tòa nhà cao nhất thế giới với chênh lệch 57,3 m (188 ft). Kỷ lục cao nhất thế giới từ mặt đất đến đỉnh tháp của Đài Bắc 101 bị Burj Khalifa cao 829,8 m (2.722 ft) tại Dubai vượt qua vào năm 2010. Kỷ lục cao nhất về mái và tầng khả dụng bị Trung tâm Tài chính Thế giới Thượng Hải vượt qua vào năm 2008, kỷ lục này sau đó cũng rơi vào tay Burj Khalifa.
=== Thiết kế ===
Đài Bắc 101 được thiết kế để chịu được gió bão và rung động động đất, là những hiện tượng phổ biến tại khu vực phía đông của Đài Loan. Những người lập kế hoạch thiết kế Đài Bắc 101 chịu được gió có tốc độ 60 mét một giây (197 ft/s), (216 km/h hoặc 134 mph), cũng như các trận động đất lớn nhất trong một chu kỳ 2.500 năm.
Đài Bắc 101 được thiết kế để linh hoạt, cũng như khả năng kháng cự trên phương diện cấu trúc, vì dù tính linh hoạt ngăn chặn kiến trúc bị tổn hại, song kháng cự đảm bảo an toàn cho những người trong tòa nhà và bảo vệ kính, mặt dựng và các đặc điểm khác. Hầu hết thiết kế đạt được độ vững chắc cần thiết bằng cách khuếch trương các thành phần cấu trúc then chốt như giằng. Do chiều cao của Đài Bắc 101, kết hợp với địa chất khu vực xung quanh — tòa nhà nằm ngay sát một đường đứt gãy lớn — Đài Bắc 101 sử dụng cách xây dựng thép hiệu năng cao và 36 cột, trong đó có tám cột rất lớn được đổ 10.000 psi (69 MPa) bê tông. Các giàn rầm chìa (Outrigger trusses), nằm trong quãng tám tầng, liên kết các cột trong lõi tòa nhà đến các cột bên ngoài.
Các đặc điểm này kết hợp vơí độ vững chắc của móng khiến Đài Bắc 101 nằm trong số các tòa nhà ổn định nhất từng được xây dựng. Móng được gia cố bằng 380 cọc được đóng sâu 80 m (262 ft) xuống đất, cắm sâu đến 30 m (98 ft) vào móng địa chất. Mỗi cọc có đường kính 1,5 m (5 ft) và có thể chịu tải 1.000–1.320 tấn (1.100–1.460 tấn thiếu). Trong quá trình xây dựng, vào ngày 31 tháng 3 năm 2002, một trận động đất mạnh 6,8 độ làm rung chuyển Đài Bắc; hai cần trục từ tầng thứ 56, tức tầng cao nhất của tòa nhà lúc đó, bị đổ khiến năm người thiệt mạng, song một cuộc kiểm tra cho thấy tòa nhà không có thiệt hại về mặt cấu trúc.
RWDI thiết kế một con lắc thép nặng 660 tấn (728 tấn thiếu) đóng vai trò làm một thiết bị giảm chấn khối lượng điều chỉnh, có chi phí là 132 triệu Đài tệ (4 triệu USD). Được treo lơ lửng từ tầng 92 xuống tầng 87, con lắc đu đưa để bù chuyển động trong tòa nhà do các cơn gió mạnh gây ra. Khối cầu của thiết bị này là khối cầu giảm chấn lớn nhất trên thế giới, gồm có 41 tấm thép tròn có đường kính khác nhau, mỗi tấm dày 125 mm (4,92 in), được hàn vào nhau để hình thành một khối cầu có đường kính 5,5 m (18 ft). Hai thiết bị giảm chấn khối lượng điều chỉnh khác, mỗi cái nặng 6 tấn (7 tấn thiếu), được đặt tại đỉnh của chóp để giúp tránh tổn thất cho cấu trúc do gió mạnh. Ngày 8 tháng 8 năm 2015, gió mạnh từ Bão Soudelor làm đu đưa thiết bị giảm chấn chính 100 xentimét (39 in) – chuyển động lớn nhất từng ghi nhận được.
Thiết bị giảm chấn trở thành một điểm thu hút du khách, thành phố tạo ra một linh vật là the Damper Baby. Bốn phiên bản của Damper Baby: "Rich Gold", ""Cool Black", "Smart Silver" và "Lucky Red" được thiết kế và được làm thành các tượng nhỏ và vật kỷ niệm bán trong các cửa hàng quà tặng của Đài Bắc 101. Damper Baby có vẻ dễ thương thu hút mọi lứa tuổi, trở thành một biểu tượng địa phương phổ biến.
=== Bề ngoài ===
Vách kính dựng màu lam-lục đặc trưng của Đài Bắc 101 là kính nổi kép và được tráng men, tạo bảo vệ nhiệt và tia cực tím đủ để ngăn 50% nhiệt bên ngoài, và có thể chịu được va đập 7 tấn (8 tấn thiếu). Hệ thống lập diện gồm các tấm thép và nhôm được đặt vào một lưới chịu mô men nằm nghiêng, có thể chịu được chuyển dịch nằm ngang trong địa chấn lên đến 95 mm mà không chịu tổn thất.
Các góc nguyên bản của hệ thống lập diện được thử nghiệm tại RWDI tại Ontario, Canada. Mô phỏng một cơn bão trăm năm tại RWDI tạo ra một xoáy tạo thành gió 105 dặm Anh một giờ (169 km/h) trong ba giây trên độ cao 10 mét, hay tương đương với mức dao động ngang của tháp gây ra dao động gió bên lớn. Một thiết kế gối trục vạt cạnh đôi được tạo ra để giảm đáng kể dao động gió bên này, kết quả là hệ thống lập diện có góc "bậc thang đôi" trong thiết kế chung cuộc. Kiến trúc sư Lý Tổ Nguyên cũng sử dụng các yếu tố lập diện trên quy mô rộng để biểu thị cho đặc tính tượng trưng mà ông theo đuổi. Các yếu tố lập diện này gồm có kính nhuộm màu lục để trông giống loài tre mảnh bản địa, tám bậc nghiêng hướng ra ngoài và lên trên giống với các tầng của chùa và mỗi bậc có tám tầng, một gậy như ý và một biểu tượng hộp tiền nằm giữa hai đoạn lập diện.
Hệ thống nước tái chế từ mái và lập diện của Đài Bắc 101 đáp ứng 20-30% nhu cầu nước của tòa nhà. Trong tháng 7 năm 2011, Đài Bắc 101 được chứng nhận là "tòa nhà xanh cao nhất thế giới" theo tiêu chuẩn LEED.
=== Biểu trưng ===
Chiều cao các tầng của 101 tượng trưng sự tái sinh của thời gian: thế kỷ mới đến khi tòa nhà đang được xây (100+1) và toàn bộ năm mới sau đó (1 tháng 1 = 1-01). Nó tượng trưng cho tư tưởng trọng cao khi lấy một số tốt hơn 100, vốn là số hoàn hảo theo truyền thống. Số này cũng gợi lên hệ nhị phân dùng trong kỹ thuật số.
Tháp chính có đặc điểm là một chuỗi gồm tám đoạn, mỗi đoạn có tám tầng. Trong văn hóa Trung Hoa, số 8 (bát) có liên hệ với sự giàu có, thịnh vượng và may mắn. Trong các nền văn hóa quy định một tuần có bảy ngày thì số tám tượng trưng cho tái sinh thời gian (7+1). Trong kỹ thuật số, số tám có liên quan đến byte, là 8 bit. Một bit là đơn vị (tối thiểu) cơ bản của thông tin.
Các đoạn đồng thời gợi lại sự nhịp nhàng của một chùa châu Á (một tháp liên kết đất và trời, cũng được gợi lên tại Tháp đôi Petronas), một thân tre (tượng trưng cho học tập và phát triển), và một sấp hộp thỏi hay tiền Trung Quốc cổ đại (tượng trưng cho giàu có). Dân chúng đôi khi ví hình dáng của tòa nhà như một sấp hộp đồ ăn Trung Quốc kiểu Tây; tất nhiên, hình dạng có thể xếp chồng của các hộp này bắt nguồn từ các hộp tiền cổ. Bốn đĩa gắn trên mỗi mặt của tòa nhà nơi bệ gặp tháp tượng trưng cho tiền xu cổ. Huy hiệu được đặt trên lối vào thể hiện ba đồng xu vàng với thiết kế cô đại với lỗ ở giữa với ngụ ý về số 1-0-1.
Các hình tượng 'như ý' xoắn xuất hiện khắp cấu trúc với tư cách một mô típ thiết kế. Mặc dù hình dạng của mỗi gậy như ý tại Đài Bắc 101 theo truyền thống, song dựng hình nó trên kim loại công nghiệp rõ ràng mang tính hiện đại. Gậy như ý là một bùa có nguồn gốc cổ đại, nó được cho là giúp chữa bệnh, bảo vệ và ứng nghiệm. Nó xuất hiện trong các lễ kỷ niệm đạt được điểm cao sự nghiệp mới. Mái cong sâu rộng của phố mua sắm kế bên còn có một gậy như ý khổng lồ che mưa nắng cho khách bộ hành. Mỗi trang trí gậy như ý tại ngoại thất của Đài Bắc 101 cao ít nhất 8 m (26 ft).
Vào ban đêm, tia sáng màu vàng tươi từ tháp nhọn khiến Đài Bắc 101 đóng vai trò của một ngọn nến hay đuốc duy trì các ý tưởng về tự do và hoan nghênh. Từ 6 giờ tối đến 10 giờ tối mỗi ngày các đèn của tháp chiếu một trong bảy màu quang phổ. Các màu tương ứng với các ngày trong tuần:
Giống như nhiều tòa nhà lân cận, Đài Bắc 101 cho thấy ảnh hưởng của triết lý phong thủy. Một ví dụ thể hiện trong hình dạng một đài phun nước granit lớn nằm tại giao lộ của đường Tùng Liêm và đường Tín Nghĩa gần lối vào phía đông của tháp. Một quả cầu ở trên cùng của đài phun nước quay tròn về phía tháp. Với tư cách là một công trình nghệ thuật công cộng, đài phun nước thể hiện tương phản với tháp trong cấu tạo còn thiết kế của nó phản chiếu nhịp của tháp. Đài phun nước cũng có một chức năng thực tiễn trong "phong thủy". Một giao lộ hình chữ T gần lối vào tòa nhà đại diện cho dòng chảy tiềm tàng của năng lượng dương, hay Khí, từ cấu trúc và người trong đó. Đặt nước chảy như vậy được cho là giúp chuyển hướng dòng khí.
=== Nội thất ===
Đài Bắc 101 là tòa nhà chọc trời đầu tiên lập kỷ lục trong thế kỷ 21. Nó thể hiện một số đặc điểm tiến bộ trên phương diện kỹ thuật trong khi tạo nên một trung tâm kinh doanh và giải trí. Cáp quang và Internet vệ tinh của tòa nhà vào năm 2004 cho phép truyền dữ liệu lên tới một gigabyte mỗi giây.
Các thang máy hai tầng được Công ty Toshiba Elevator and Building Systems Corporation (TELC) của Nhật Bản xây dựng, lập kỷ lục mới trong năm 2004 với hạng mục tốc độ tăng tốc nhanh nhất thế giới, với 60,6 kilômét (37,7 mi) trên giờ, hay 16,83 m (55,22 ft) trên giây, tốc độ các thang máy của Đài Bắc 101 nhanh hơn 34,7% so với tòa nhà nắm giữ kỷ lục trước đó là thang máy Yokohama Landmark Tower tại Nhật Bản, với tốc độ 12,5 m (41 ft) mỗi giây (45,0 km/h, 28,0 mi/h). Các thang máy của Đài Bắc 101 đưa du khách từ tầng thứ năm lên đài quan sát trên tầng 89 chỉ mất 37 giây. Mỗi thang máy mang đặc điểm của một vật thể khí động lực, điều áp đầy đủ, hệ thống hãm phanh khẩn cấp tân tiến, và hệ thống chống quá xung ba tầng đầu tiên của thế giới. Chi phí cho mỗi thang máy là 80 triệu Đài tệ (2,4 triệu USD).
Một Bộ hấp thụ dao động thụ động dạng khối lượng (TMD) 660 tấn (728 tấn thiếu) nằm giữa các tầng 87 và 91, giữ thăng bằng cho tháp chống lại sự dịch chuyển do gió trên cao gây ra. Bộ hấp thụ có thể giảm thiểu còn 40% sự dịch chuyển của tháp. Toàn bộ du khách có thể trông thấy TMD từ tầng 87 đến tầng 91.
Hai nhà hàng được mở trên tầng 85: Diamond Tony's/隨意鳥地方 có hải sản và thịt nướng kiểu Âu, và Shin Yeh 101 (欣葉) phục vụ ẩm thực Đài Loan. Toàn bộ tầng 86 là nhà hàng Đài Loan Ding Xian 101/頂鮮101. Din Tai Fung, một số cơ sở ăn uống quốc tế và cửa hàng bán lẻ cũng hoạt động tại phố mua sắm liền kề. Phố mua sắm bán lẻ nhiều tầng liền kề tháp là nơi có hàng trăm cửa hàng thời trang, nhà hàng, câu lạc bộ và các điểm tham quan khác. Nội thất khu mua sắm được thiết kế hiện đại dù có sử dụng các yếu tố truyền thống. Nhiều đặc điểm nội thất cũng tuân theo truyền thống phong thủy.
==== Danh mục tầng ====
Tầng thứ 101 có một câu lạc bộ VIP riêng tư mang tên Summit 101, theo tài liệu đài quan sát. Trước năm 2014, không có thông tin công khai về câu lạc bộ này. Năm 2014, các bức ảnh về câu lạc bộ độc nhất này được trình chiếu trên TV lần đầu tiên. Một người phát ngôn của Công ty Trung tâm Tài chính Đài Bắc nói rằng chỉ các chức sắc ngoại quốc, diễn viên điện ảnh Hollywood, và người chi tiêu cao tại khu mua sắm Đài Bắc 101 (trên 1 triệu Đài tệ) mới được mời vào câu lạc bộ VIP.
Muốn tiếp cận tầng 101 cần phải qua hai lần chuyển thang máy tại tầng 89 và tầng 93. Chỉ có một thang máy để lên chín tầng trên cùng (93-101). Tầng 101 được chia thành ba mức: 101F (thấp), 101MF (lửng) và 101RF (mái). Câu lạc bộ VIP hiện diện tại mức thấp, còn 101RF là sàn máy móc có thể tiếp cận đến tháp chóp cao 60 mét có 24 mức và chỉ có thể tiếp cận bằng thang.
Từ tầng 92 đến tầng 100 chính thức được xác định là các tầng truyền thông, song không rõ có đài phát thanh và truyền hình nào hiện phát sóng từ đỉnh của Đài Bắc 101. Đài quan sát tầng thứ 91 là tầng cao nhất mở cửa cho công chúng, song không giống như các tầng cho thuê/kín từ tầng 7 đến tầng 90, không có dấu hiệu có thể tiếp cận các tầng cao nhất tại đó.
4 là con số không may mắn trong văn hóa Trung Hoa, do đó tầng thứ 44 được ghi là tầng 43, còn tầng thứ 43 được ghi là tầng 42A để bù cho con số bị bỏ qua.
Có một thang máy chở hàng để tiếp cận các tầng từ hầm 5 đến 91, với một nút bấm mỗi tầng.
=== Sàn quan sát ===
Đài Bắc 101 có một sàn quan sát trong nhà (tầng 88 và 89) và một sàn quan sát ngoài trời (tầng 91). Chúng đều có góc nhìn 360 độ và thu hút du khách khắp thế giới. Đài quan sát trong nhà nằm trên độ cao 383,4 m (1.258 ft) từ mặt đất, tạo môi trường thoải mái, các cửa sổ lớn bảo vệ khỏi tia UV, hướng dẫn du lịch ghi âm sẵn bằng tám ngôn ngữ, và màn hình hiển thị thông tin cùng vật trưng bày đặc biệt. Tại đây mọi người có thể ngắm nhìn bộ hấp thụ dao động chính của tòa nhà, mua thực phẩm, đồ uống và quà tặng. Đài quan sát ngoài trời nằm trên độ cao 391,8 m (1.285 ft) so với mặt đất, là sàn quan sát cao thứ hai trên thế giới trong một tòa nhà cao tầng và là sàn cao nhất tại Đài Loan.
Đài quan sát trong nhà mở cửa mười ba tiếng một ngày (9–22 giờ) suốt tuần cũng như trong các dịp đặc biệt; Đài quan sát ngoài trời cũng mở cửa cùng thời điểm khi thời tiết cho phép. Vé có thể mua tại khu mua sắm (tầng 5) hoặc trả trước tại trang tin điện tử. Giá vé là NT$500 (US$17, tính đến 9 tháng 9 năm 2013) và cho phép tiếp cận từ tầng 88 đến 91 thông qua thang máy tốc độ cao.
=== Nghệ thuật ===
Nhiều công trình nghệ thuật xuất hiện trong hoặc xung quanh Đài Bắc 101. Chúng gồm Dialogue between Yin and Yangcủa nghệ sĩ người Đức Rebecca Hornin vào năm 2002 (gang, thép), 1-0 vào năm 2002 và Love vào năm 2003 của nghệ sĩ người Mỹ Robert Indiana (nhôm), Between Earth and Sky của nghệ sĩ người Pháp Ariel Moscovici vào năm 2002 (rose de la claret granite), Global Circle của nghệ sĩ người Đài Loan Chung Pu vào năm 2002 (granite đen, cẩm thạch trắng), City Composition của nghệ sĩ người Anh Jill Watson vào năm 2002 (đồng), và Infinite Life của nghệ sĩ người Đài Loan Kang Mu Hsiang vào năm 2013 (nhôm). Hơn nữa, Đài quan sát trong nhà có một loạt cuộc triển lãm thường lệ. Các nghệ sĩ biểu diễn gồm Wu Ching (điêu khắc vàng), Ping-huang Chang (hội họa truyền thống) và Po-lin Chi (nhiếp ảnh không trung).
== Lịch sử ==
=== Xây dựng ===
Kế hoạch xây dựng Đài Bắc 101 bắt đầu vào tháng 7 năm 1997 thời Trần Thủy Biển làm thị trưởng Đài Bắc. Thảo luận giữa các thương gia và quan chức chính quyền thành phố ban đầu tập trung vào một đề xuất một tòa tháp 66 tầng làm điểm nhấn cho sự phát triển mới của khu kinh doanh. Những người lập kế hoạch xem xét đưa ra một cấu trúc mới tham vọng hơn về chiều cao chỉ sau khi một người nước ngoài đề xuất, cùng với nhiều đặc điểm khác được sử dụng trong thiết kế của tòa nhà. Phải đến mùa hè năm 2001, thành phố mới cấp phép để xây dựng một tòa tháp 101 tầng lầu tại địa điểm trên. Trong khi đó, việc xây dựng đã được tiến hành và cột tháp đầu tiên được dựng vào mùa hè năm 2000.
Một trận động đất lớn diễn ra tại Đài Loan vào ngày 31 tháng 3 năm 2002 đã phá hủy một cần trục xây dựng trên nóc, khi đó là tầng số 47. Cần trục rơi xuống đường Tín Nghĩa bên dưới tháp, nghiền nát một số xe và khiến năm người thiệt mạng, gồm hai thợ máy cần trục và ba công nhân không được trang bị lao động phù hợp. Tuy nhiên, một cuộc thanh tra cho thấy không có thiệt hại về cấu trúc cho tòa nhà, và công tác xây dựng có thể tái khởi động trong một tuần.
Mái của Đài Bắc 101 hoàn thành sau ba năm vào ngày 1 tháng 7 năm 2003. Thị trưởng Đài Bắc đương thời là Mã Anh Cửu cài chặt một mũi tên vàng nhằm biểu thị thành tích. Lễ khánh thành chính thức được tiến hành vào tối đón năm mới 2004. Tổng thống Trần Thủy Biển, Thị trưởng Mã Anh Cửu và Viện trưởng Tư pháp viện Vương Kim Bình cắt băng khánh thành. Hòa nhạc ngoài trời có sự tham gia của một số người nổi tiếng như Trương Huệ Muội và Tôn Yến Tư. Du khách đi thang máy đến đài quan sát lần đầu tiên. Một vài giờ sau đó pháo hoa lần đầu được bắn ra từ Đài Bắc 101 để chào năm mới.
=== Niên biểu ===
Các thời điểm quan trọng trong quá trình lập kế hoạch và xây dựng Đài Bắc 101 bao gồm:
=== Sự kiện ===
Đài Bắc 101 là địa điểm diễn ra nhiều sự kiện đặc biệt. Các triển lãm nghệ thuật được diễn ra thường lệ tại đài quan sát.
Ngày 28 tháng 2 năm 2005, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đến thăm và ký vào các cuốn tự truyện của ông. Ngày 19 tháng 4 năm 2005, tháp hiển thị công thức "E=mc2" bằng đèn nhằm kỷ niệm 100 năm công bố thuyết tương đối của Einstein. Quy mô hiển thị tại tháp là lớn nhất trong 65.000 chỗ trong 47 quốc gia, nằm trong lễ kỷ niệm quốc tế Vật lý học khai sáng thế giới. Ngày 20 tháng 10 năm 2006, tháp hiển thị một dải băng màu hồng bằng đèn để nâng cao nhận thức ung thư vú. Chiến dịch mười ngày được đơn vị sở hữu Đài Bắc 101 và Estée Lauder bảo trợ.
Ngày 25 tháng 12 năm 2004, nhà leo trèo người Pháp Alain Robert tiến hành leo hợp pháp lên đỉnh của tháp nhọn trong bốn giờ. Ngày 12 tháng 12 năm 2007, một người chơi base jumper từ Áo là Felix Baumgartner tiến hành nhảy dù trái phép từ tầng 91 của Đài Bắc 101. Ngày 20 tháng 11 năm 2005, giải Taipei 101 Run Up thường niên đầu tiên được tổ chức khi các vận động viên bước qua 2.046 bậc từ tầng 1 lên tầng 91. Tiền thu được sẽ cấp cho đội tuyển Olympic Đài Loan. Người thắng giải của nam là Paul Crake đến từ Úc (10 phút 29 giây) và chiến thắng cuộc đua của nữ là Andrea Mayr đến từ Áo (12 phút, 38 giây). Ngày 15 tháng 6 năm 2008, Taipei 101 Run Up thu hút 2.500 người tham gia. Người chiến thắng giải của nam là Thomas Dold đến từ Đức (10 phút 53 giây).
=== Phát triển ===
Công ty Trung tâm Tài chính Đài Bắc (TFCC) vào ngày 2 tháng 11 năm 2009 công bố kế hoạch nhằm biến Đài Bắc 101 thành "kiến trúc xanh cao nhất thế giới" vào mùa hè năm 2011 theo tiêu chuẩn LEED. Cấu trúc đã được thiết kế để tiết kiệm năng lượng, với các cửa kính hai lớp ngăn đến 50% nhiệt từ bên ngoài và nước tái chế đáp ứng 20-30 phần trăm nhu cầu của tòa nhà. Chứng chỉ LEED đòi hỏi kiểm tra và nâng cấp trong hệ thống dây điện, nước và thiết bị chiếu sáng với chi phí 60 triệu Đài tệ (1,8 triệu USD). Ước tính khoản tiết kiệm từ việc sửa đổi sẽ bù đắp đủ kinh phí bỏ ra trong ba năm. Dự án được tiến hành dưới sự chỉ đạo của một đội quốc tế gồm Siemens Building Technologies, nhà thiết kế kiến trúc và nội thất Steven Leach Group và hãng tư vấn LEED EcoTech International. Công ty thỉnh cầu được trao chứng nhận hạng bạch kim từ LEED vào đầu năm 2011. Ngày 28 tháng 7 năm 2011, Đài Bắc 101 nhận chứng chỉ bạch kim LEED với tên "Kiến trúc hiện hữu: Vận hành và Bảo trì". Nó thay thế Bank of America Tower tại Manhattan là kiến trúc xanh cao nhất thế giới và được sử dụng cao nhất, trong khi tòa nhà Environmental Protection Agency tại Florida là kiến trúc xanh cao nhất thế giới. Mặc dù dự án có chi phí 60 triệu Đài tệ (U2,08 triệu USD), nó dự kiến sẽ tiết kiệm 14,4 triệu KWh điện năng, hay là tiết kiệm 18% điện năng, tương đương 36 triệu Đài tệ (1,2 triệu USD) mỗi năm.
== Tham khảo == |
bộ giáo dục hoa kỳ.txt | Bộ Giáo dục Hoa Kỳ là một bộ cấp nội các của Chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Bộ được thành lập theo Đạo luật Tổ chức Bộ Giáo dục (Cộng luật 96-88) và được Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter ký thành luật ngày 17 tháng 10 năm 1979 và bắt đầu hoạt động vào ngày 4 tháng 5 năm 1980.
Đạo luật Tổ chức Bộ Giáo dục chia Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi Hoa Kỳ thành Bộ Giáo dục Hoa Kỳ và Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ.
Bộ Giáo dục Hoa Kỳ cho đến nay là bộ cấp nội các nhỏ nhất trong tất cả các bộ khác với khoảng 5.000 nhân viên. Tên viết tắt của bộ là ED, không phải là DOE là từ viết tắt cho Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (United States Department of Energy).
== Thành phần ==
Bộ Giáo dục có mục tiêu là tạo các chương trình sinh quỹ cho giáo dục và thực thi các luật về nhân quyền và riêng tư.
Ngày 23 tháng 3 năm 2007, lúc 11:51 sáng, Tổng thống George W. Bush ký thành luật H.R. 584 nhằm ấn định tòa nhà tổng hành dinh của Bộ Giáo dục là Tòa nhà Bộ Giáo dục Lyndon Baines Johnson.[1]
Văn phòng Liên lạc và Ngoại giao (Office of Communications and Outreach)
Văn phòng Tổng Tư vấn (Office of the General Counsel)
Văn phòng Tổng thanh tra (Office of Inspector General)
Văn phòng Lập pháp và Quốc hội vụ (Office of Legislation and Congressional Affairs)
Văn phòng đặc trách Nhân quyền (Office for Civil Rights)
Viện Khoa học Giáo dục (Institute of Education Sciences)
Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia (National Center for Education Statistics)
Khảo sát Tiến bộ Giáo dục Quốc gia (National Assessment of Educational Progress)
Trung tâm Thông tin Nguồn lực Giáo dục (Education Resources Information Center)
Văn phòng Cải cách và Sáng tạo (Office of Innovation and Improvement)
Văn phòng Tài chính trưởng (Office of the Chief Financial Officer)
Văn phòng Quản lý (Office of Management)
Văn phòng Trưởng thông tin (Office of the Chief Information Officer)
Văn phòng Kế hoạch, Định lượng và Phát triển Chính sách (Office of Planning, Evaluation and Policy Development)
Sở Ngân sách (Budget Service)
Sở Quản lý Rủi ro (Risk Management Service)
Viên chức trưởng điều hành (Chief Operating Officer)
Văn phòng Thứ trưởng
Văn phòng Giáo dục hậu Trung học (Office of Postsecondary Education)
Văn phòng Giáo dục người lớn và Huấn nghệ (Office of Vocational and Adult Education)
Văn phòng Trợ giúp Sinh viên Liên bang (Office of Federal Student Aid)
Ban Cố vấn Tổng thống về Đại học và Cao đẳng Bộ lạc (President's Advisory Board on Tribal Colleges and Universities)
Ban Cố vấn Tổng thống về Đại học và Cao đẳng Lịch sử của người Mỹ gốc châu Phi (President's Advisory Board on Historically Black Colleges and Universities)
Văn phòng Phó Bộ trưởng
Văn phòng Giáo dục Trung và Tiểu học (Office of Elementary and Secondary Education)
Văn phòng Giáo dục Di dân (Office of Migrant Education)
Ủy ban Cố vấn Tổng thống đặc trách cải thiện giáo dục dành cho người Mỹ gốc Hispanic.
Văn phòng đặc trách ngôn ngữ tiếng Anh, nâng cao ngôn ngữ và thành tựu học vấn cho những học sinh có trình độ tiếng Anh hạn chế
Văn phòng đặc trách dịch vụ phục hồi chức năng và giáo dục đặc biệt (Office of Special Education and Rehabilitative Services)
Viện Nghiên cứu Phục hồi chức năng và Khuyết tật Quốc gia (National Institute on Disability and Rehabilitation Research)
Văn phòng đặc trách các chương trình giáo dục đặc biệt (Office of Special Education Programs)
Cơ quan quản lý dịch vụ Phục hồi chức năng (Rehabilitation Services Administration)
Văn phòng đặc trách an toàn và bảo đảm trường học miễn nhiễm chất ngây nghiện (Office of Safe and Drug Free Schools)
Văn phòng Cải tiến và Sáng tạo (Office of Innovation and Improvement)
Các tổ chức liên bang có liên quan
Hội đồng và Ủy ban Cố vấn
Ban Quản trị Kiểm tra Quốc gia
Viện xóa mù chữ Quốc gia
Ủy ban Liên cơ quan Giáo dục Liên bang (Federal Interagency Committee on Education)
Các tổ chức được liên bang hỗ trợ
Đại học Gallaudet
Đại học Howard
Viện Kỹ thuật Quốc gia dành cho người câm điếc (National Technical Institute for the Deaf)
== Chống đối ==
Tổng thống Ronald Reagan hứa hẹn trong suốt kỳ bầu cử tổng thống năm 1980 rằng ông sẽ loại bỏ Bộ Giáo dục khỏi Nội các Hoa Kỳ, nhưng ông không thể làm gì được trước một hạ viện có đa số đảng viên Dân chủ. Năm 1982, trong một bài diễn văn về tình trạng liên bang, ông hứa rằng:
Trong suốt thập niên 1980, việc bãi bỏ Bộ Giáo dục là một phần trong chương trình nghị sự của Đảng Cộng hòa nhưng chính phủ của Tổng thống George H. W. Bush từ chối thực hiện ý tưởng này.
Năm 1996, Đảng Cộng hòa đã đưa ra việc bãi bỏ Bộ Giáo dục như là một phần quan trọng trong những lời hứa hẹn vận động của họ. Họ gọi nó là một sự can thiệp không đúng cách của liên bang vào công việc nội bộ thuộc về gia đình, tiểu bang và địa phương. Phe Cộng hòa nói rằng:
Trong suốt cuộc vận động bầu cử tổng thống năm 1996, Thượng nghị sĩ Bob Dole hứa rằng: "Chúng ta sẽ cắt bỏ Bộ Giáo dục."
Năm 2000, một tổ chức vận động cho ý tưởng về quyền riêng tư và hạn chế ảnh hưởng của chính phủ thuộc Đảng Cộng hòa có tên gọi là Republican Liberty Caucus đã thông qua một nghị quyết loại bỏ Bộ Giáo dục.
Năm 2008, ứng cử viên tổng thống Ron Paul vận động tranh cử tổng thống trong đó ông tỏ ra chống đối Bộ Giáo dục.
== Tham khảo ==
Cabinetmakers: Story of the Three-Year Battle to Establish the U.S. Department of Education. Author: Robert V. Heffernan. 2001. ISBN 978-0-595-15870-6
== Liên kết ngoài ==
United States Department of Education Official Website
How is the Department of Education Organized
ERIC Digests - Informational digests on educational topics produced by the U.S. Department of Education before 1983. |
pete sampras.txt | Petros "Pete" Sampras (sinh 12 tháng 8 năm 1971) là cựu tay vợt số 1 thế giới người Mỹ. Trong suốt 15 năm sự nghiệp, anh lập kỉ lục 14 vô địch đơn nam Grand Slam trong 52 lần góp mặt. Tuy nhiên, kỉ lục này đã bị Roger Federer, người đã sở hữu 18 danh hiệu đơn nam Grand Slam, vượt qua tại giải Wimbledon 2009. Sampras kết thúc ở vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng ATP trong sáu năm liên tiếp, một kỉ lục cho thời kì mở và thứ ba nếu tính mọi thời đại. Sampras bảy lần vô địch giải Wimbledon, chia sẻ kỉ lục với William Renshaw. Anh cũng là người năm lần vô địch giải Mỹ Mở rộng, một kỉ lục ở thời kì mở chia sẻ với Jimmy Connors và Roger Federer. Bud Collins bầu Sampras là một trong năm vận động viên quần vợt xuất sắc nhất mọi thời đại và Tạp chí TENNIS bầu anh là tay vợt xuất sắc nhất từ 1965 đến 2005. Vào ngày 17 tháng 7 năm 2007, Sampras được ghi danh tại Đại sảnh danh vọng quần vợt quốc tế. Anh cũng là tay vợt nam có số tiền thưởng giành được đứng thứ 2 trong lịch sử chỉ sau Roger Federer với tổng số tiền thưởng lên tới 43,280,489 USD.
== Thành tích ==
=== Grand Slam (18) ===
==== Vô địch (14) ====
==== Á quân (4) ====
=== Cúp Masters (6) ===
==== Vô địch (5) ====
==== Á quân (1) ====
=== Masters Series(19) ===
==== Vô địch (11) ====
==== Á quân (8) ====
=== Toàn bộ: 88 (64 - 24) ===
==== Vô địch(64) ====
==== Á quân (24) ====
== Tiền thưởng giành được trong sự nghiệp ==
== Xem thêm ==
Danh sách vô địch đơn nam Mỹ Mở rộng
== Tham khảo == |
alexander graham bell.txt | Alexander Graham Bell (3 tháng 3 năm 1847 – 2 tháng 8 năm 1922) là nhà phát minh, nhà khoa học, nhà cải cách người Scotland. Sinh ra và trưởng thành ở Edinburgh, Scotland, ông đã di cư đến Québec, Canada năm 1870 và sau đó đến Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ năm 1871, trở thành công dân Hoa Kỳ năm 1882.
Bell đã được nhận giải thưởng bằng sáng chế cho phát minh ra điện thoại vào năm 1876. Mặc dù các phát minh khác đã được công nhận nhưng bằng sáng chế của Bell đến nay vẫn còn hiệu lực.
== Tiểu sử ==
Alexander Graham Bell sinh ra ở Scotland vào ngày 3 tháng 3 năm 1847. Ông là người con thứ hai trong gia đình có ba anh em trai: Melville James Bell (1845-1870) và Edward Charles Bell (1848-1867) đều chết vì bệnh viêm phổi. Cha của ông là giáo sư Alexander Melville Bell và mẹ của ông là Eliza Grace Symonds Bell.
Cả gia đình ông đều dạy về diễn thuyết: từ người ông Alexander Bell, ở Luân Đôn, người chú ở Dublin và người cha của ông ở Edinburgh đều là những nhà diễn thuyết chuyên nghiệp. Cha của ông đã xuất bản nhiều cuốn sách về chủ đề này, một vài cuốn vẫn còn có giá trị.
Ông được giáo dục ở trường Trung học Hoàng gia Scotland ở Edinburgh. Sau đó ông vào học ở trường Đại học Edinburgh, nhưng tốt nghiệp từ trường Đại học Toronto.
Lần đầu tiên ông chú ý đến lĩnh vực âm học do có ý định cải thiện bệnh điếc cho mẹ của ông.
Năm 1870, ở độ tuổi 23, ông đã theo cha mẹ nhập cư vào Canada. Họ định cư ở Brantford, Ontario. Ở Canada, Alexander Bell tiếp tục nghiên cứu về giọng nói của con người và tai. Ông đã khám khá ra phương pháp truyền tin bằng điện.
Ông đã phát minh điện thoại vì sơ hở khi làm đổ axit... lên đường dây điện thoại. Ông đã gọi phụ tá của mình và hô to trên điện thoại là Ngài Watson, đến đây tôi cần ông. Ông Watson nghe được trên diện thoại và Watson ta hối hả chạy về nói:"có chuyện gì vậy thưa ngài" Alexander Gramham Bell nhận biết là thí nghiệm của ông đã thành công
== Các phát minh sau đó ==
=== Máy dò kim loại ===
Bell cũng được công nhận đã phát minh ra máy dò kim loại vào năm 1881. Thiết bị đã ngay lập tức được sử dụng cùng với các thiết bị khác vào việc cố gắng tìm viên đạn trên người của Tổng thống Hoa Kỳ James Garfield. Máy phát hiện kim loại đã hoạt động nhưng không tìm ra viên đạn do chiếc giường của tổng thống nằm có kim loại đã làm nhiễu thiết bị.
=== Thiết bị nâng tàu ===
=== Hàng không ===
== Xem thêm ==
Phát minh ra điện thoại
Phát minh
== Tham khảo ==
Bruce, Robert V. Bell: Alexander Bell and the Conquest of Solitude. Ithaca, New York: Cornell University Press, 1990. ISBN 0-8014-9691-8.
Coe, Lewis. The Telephone and Its Several Inventors: A History. Jefferson, North Carolina: McFarland Publishing, 1995. ISBN 0-7864-0138-9
Evenson, A. Edward. The Telephone Patent Conspiracy of 1876: The Elisha Gray - Alexander Bell Controversy. Jefferson, North Carolina: McFarland Publishing, 2000. ISBN 0-7864-0883-9.
Gray, Charlotte. Reluctant Genius: Alexander Graham Bell and the Passion for Invention. New York: Arcade Publishing, 2006. ISBN 1-55970-809-3.
== Liên kết ngoài ==
Biography at the Dictionary of Canadian Biography Online
Alexander Graham Bell Institute
(Italian) Timeline for Antonio Meucci
Bell Homestead, National Historic Site
Appleton's Biography edited by Stanley L. Klos
Alexander Graham Bell National Historic Site Museum located in Baddeck, Nova Scotia containing many of Bell's experiments and models
Alexander Graham Bell family papers Online version at the Library of Congress comprises a selection of 4.695 items (totaling about 51.500 images) containing correspondence, scientific notebooks, journals, blueprints, articles, and photographs documenting Bell invention of the telephone and his involvement in the first telephone company, his family life, his interest in the education of the deaf, and his aeronautical and other scientific work
Bell's path to the invention of the telephone
Bell's speech before the American Association for the Advancement of Science in Boston on 27 August 1880, presenting the photophone, very clear description; published as "On the Production and Reproduction of Sound by Light" in the American Journal of Sciences, Third Series, vol. XX, #118, tháng 10 năm 1880, p. 305 - 324 and as "Selenium and the Photophone" in Nature, tháng 9 năm 1880
AlexanderBell.com - Telecom pioneer
Alexander Graham Bell Biographical information, science resources and information on 1912 Franklin Award for 'electrical transmission of articulate speech' at The Franklin Institute's Case Files online exhibit
Alexander Graham Bell gravesite
Alexander Graham Bell: Biography and Much More from Answers.com Excellent summary of Alexander Graham Bell's life, has many useful dates for important parts of his life
Federazione Italiana di Elettrotecnica, museum on Antonio Meucci (in Italian) Original material about Antonio Meucci's work and the trial against Alexander Graham Bell
Basilio Catania's publishing about the Meucci/Bell case
Basilio Catania "Antonio Meucci una vita per la scienza e per l'Italia, vol.1 (in Italian), summary of Meucci's life and work and his trial against Alexander Graham Bell
Basilio Catania "Antonio Meucci una vita per la scienza e per l'Italia, vol.2(in Italian), summary of Meucci's life and work and his trial against Alexander Graham Bell]
Basilio Catania, 2003 The United States Government vs. Alexander Graham Bell. An important acknowledgment for Antonio Meucci
Bell family tree
American Treasures of the Library of Congress, Alexander Graham Bell - Lab notebook I, p. 40-41 (image 22)
[1]
=== Các phát minh ===
Complete list of Bell patents
US patent images in TIFF format
Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 161.739 Improvement in Transmitters and Receivers for Electric Telegraphs, filed tháng 3 năm 1875, issued tháng 4 năm 1875 (multiplexing signals on a single wire)
Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 174.465 Improvement in Telegraphy, filed 14 tháng 2 1876, issued 7 tháng 3 năm 1876 (Bell's first telephone patent)
Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 178.399 Improvement in Telephonic Telegraph Receivers, filed tháng 4 năm 1876, issued tháng 6 năm 1876
Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 181.553 Improvement in Generating Electric Currents (using rotating permanent magnets), filed tháng 8 năm 1876, issued tháng 8 năm 1876
Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 186.787 Electric Telegraphy (permanent magnet receiver), filed 15 tháng 1 1877, issued 30 tháng 1 1877
Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 235.199 Apparatus for Signalling and Communicating, called Photophone, filed tháng 8 năm 1880, issued tháng 12 năm 1880
Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 757.012 Aerial Vehicle, filed tháng 6 năm 1903, issued tháng 4 năm 1904
=== Tiểu sử bằng phim ===
Animated Hero Classics: Alexander Graham Bell (1995) tại Internet Movie Database
The Story of Alexander Graham Bell, phim 1939 reformatted for VCR tape, Don Ameche playing Bell, (1966) ISBN 0-7939-1251-2
Biography - Alexander Graham Bell, A&E DVD biography based on historical footage and still pictures of Bell, (2005) ASIN B0009K7RUW
D.C.
D.C. |
rōmaji.txt | Rōmaji (ローマ字, ローマじ) là hệ thống chữ cái Latinh dùng để ký âm tiếng Nhật. Rōmaji được sử dụng nhằm tạo thuận lợi cho người nước ngoài khi bắt đầu học tiếng Nhật, khi cần nắm tên người và vật ở Nhật Bản mà không biết tiếng Nhật.
Có ba hệ Rōmaji, đó là hệ Hepburn, hệ Kunrei-shiki, và hệ Nihon-shiki. Hiện nay, hệ Hepburn cải tiến được sử dụng rộng rãi hơn hẳn các hệ khác.
== Lịch sử việc Latinh hóa tiếng Nhật ==
Việc Latinh hóa tiếng Nhật bắt đầu từ thế kỷ 16 bởi các nhà truyền đạo Kito người Bồ Đào Nha. Hồi đó, người ta sử dụng hệ thống chữ cái Latinh của tiếng Bồ Đào Nha hoặc tiếng Hà Lan để biểu ký tiếng Nhật. Không phải là chuyển tự từng âm Kana sang chữ cái Latinh và cũng chỉ sử dụng hạn chế trong phạm vi những người truyền giáo và các học giả.
Năm 1867, nhà truyền giáo người Mỹ James Curtis Hepburn (1815 - 1911) sáng tạo ra hệ thống chuyển tự một đối một từ Kana sang Rōmaji. Đó chính là chữ Rōmaji hệ Hepburn nguyên thủy.
== Bảng chuyển tự giả danh sang Rōmaji hệ Hepburn cải tiến ==
Trong trường hợp nguyên âm kéo dài thường được tạo bởi gắn thêm âm う (u) vào sau các nguyên âm khác, khi chuyển sang Rōmaji, âm う (u) sẽ được chuyển thành một dấu gạch ngang phía trên nguyên âm chính.
== Ví dụ ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
RōmajiDesu Từ điển Anh Nhật và công cụ chuyển đổi từ Rōmaji sang Hiragana hoặc Katakana. |
tim berners-lee.txt | Sir Timothy John "Tim" Berners-Lee (sinh ngày 8 tháng 6 năm 1955), cũng được biết đến với tên gọi TimBL, là một nhà khoa học máy tính người Anh, được biết đến nhiều nhất với vai trò là người phát minh ra World Wide Web. Ông là người đã đưa ra đề nghị về một hệ thống quản lý thông tin vào tháng 3 năm 1989, và ông đã thực hiện việc giao tiếp thông tin thành công đầu tiên thông qua một giao thức truyền tải siêu văn bản (HTTP) giữa máy khách và máy chủ qua Internet vào khoảng giữa tháng 11 cùng năm.
Berners-Lee là chủ tịch của World Wide Web Consortium (W3C), chuyên trách việc tiếp tục phát triển nền tảng Web. Ông cũng là sáng lập viên của Quỹ World Wide Web và là nhà nghiên cứu cấp cao và người giữ ghế sáng lập viên tại Phòng thí nghiệm Khoa học Máy tính và Trí tuệ Nhân tạo MIT (CSAIL). Ông là giám đốc của chương trình Sáng kiến Nghiên cứu Khoa học Web (WSRI), và là thành viên ban cố vấn của Trung tâm Tri thức Tập thể MIT. Năm 2011, ông được bổ nhiệm làm thành viên hội đồng quản trị Quỹ Ford.
Năm 2004, Berners-Lee được phong tước bởi Nữ hoàng Elizabeth II cho công lao mang tính tiên phong của mình. Tháng 4 năm 2009, ông được bầu làm Cộng tác viên nước ngoài của Học viện Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ. Được vinh danh trong danh sách 100 người quan trong nhất thế kỷ 20 của tạp chí Time, Berners-Lee đã nhận được một số lượng các giải thưởng khác cho phát minh của mình. Ông được vinh danh là "Nhà phát minh của World Wide Web" trong lễ khai mạc Thế vận hội mùa hè 2012, với việc đích thân xuất hiện trong trạng thái đang làm việc với một chiếc máy tính NeXT Computer cũ kỹ tại London Olympic Stadium. Ông đã tweet với ghi chú "This is for everyone" ("Điều này dành cho tất cả mọi người"), thông điệp này ngay lập tức được hiển thị lên qua số đèn LCD gắn trên ghế của 80.000 khán giả. Berners-Lee đã nhận được giải thưởng Turing năm 2016 "vì đã phát minh ra World Wide Web, trình duyệt web đầu tiên, và các giao thức và thuật toán cơ bản cho phép Web có thể mở rộng quy mô".
== Niên thiếu và quá trình học tập ==
Berners-Lee sinh ra tại Luân Đôn (Anh), là con của Conway Berners-Lee và Mary Lee Woods. Cha mẹ ông là nhà toán học và cùng làm việc cho nhóm phát triển Ferranti Mark 1, một trong những máy tính được xây dựng cho mục đích thương mại đầu tiên. Họ dạy Berners-Lee sử dụng toán suốt ngày, ngay cả khi ăn bữa tối với gia đình. Berners-Lee học tại Trường tiểu học Sheen Mount trước khi học O-Levels và A-Levels từ 1969 tới 1973 tại Trường Emanuel ở Wandsworth, phía Tây London, ở thời điểm này là một trường dạy văn phạm bao cấp trực tiếp (direct grant grammar school), sau đó chuyển thành trường tư thục vào năm 1975. Là một người có niềm yêu thích nhiệt tình với xe lửa (en:trainspotter) từ khi còn nhỏ, ông đã học về các thiết bị điện tử từ việc chỉnh sửa một mô hình đường sắt. Ông đã học tại The Queen's College, Oxford, từ năm 1973 tới 1976, nơi ông nhận được bằng tú tài văn chương (bachelor of arts) hạng nhất về vật lý.
== Sự nghiệp ==
Năm 1976, ông làm lập trình viên cho hãng Plessey Controls Limited tại Poole (hồi đó sản xuất đèn giao thông). Ông gặp vợ thứ nhất, Jane, khi đang đi học Oxford, và ông cưới Jane sau khi họ bắt đầu làm việc cùng hãng. Năm 1978, ông làm cho D.G. Nash Limited (cũng ở Poole), ở đấy ông phát triển phần mềm sắp chữ và hệ điều hành.
Vào lúc làm nhân viên hợp đồng độc lập ở CERN, từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1980, Berners-Lee đề nghị một dự án dựa trên khái niệm siêu văn bản (hypertext), để các nhà nghiên cứu chia sẻ và cập nhật thông tin dễ hơn. Ở đấy, ông xây dựng hệ thống mẫu có tên ENQUIRE.
Sau khi ông rời CERN năm 1980 để làm việc cho Image Computer Systems Ltd. của John Poole, ông trở lại năm 1984 như hội viên. Năm 1989, CERN còn là nút Internet lớn nhất ở châu Âu, và Berners-Lee thấy cơ hội nối siêu văn bản với Internet: "Tôi chỉ cần lấy khái niệm siêu văn bản và nối nó với các khái niệm TCP và DNS và — đấy! — có World Wide Web." Ông viết bài đề nghị đầu tiên vào tháng 3 năm 1989, và vào năm 1990, do Robert Cailliau giúp đỡ, ông viết phiên bản mới được quản đốc Mike Sendall tán thành. Ông sử dụng những khái niệm giống của hệ thống ENQUIRE để tạo ra World Wide Web; để hỗ trợ nó, ông phát triển trình duyệt / trình soạn Web chạy trên NEXTSTEP (có tên WorldWideWeb) và trình phục vụ Web đầu tiên có tên httpd (viết tắt của HyperText Transfer Protocol daemon).
Website đầu tiên được xây tại địa chỉ http://info.cern.ch/ và được phát hành ngày 6 tháng 8 năm 1991. Nó giải thích World Wide Web là cái gì, cách tìm trình duyệt, và cách thiết lập trình phục vụ Web. Nó cũng là danh bạ Web đầu tiên, vì Berners-Lee duy trì một danh sách về những website khác.
Năm 1994, Berners-Lee thành lập World Wide Web Consortium (W3C) tại Học viện Kỹ thuật Massachusetts (MIT). Nó bao gồm nhiều công ty muốn đặt tiêu chuẩn để cải tiến chất lượng của Web. Tháng 12 năm 2004, ông nhận ghế Chủ tịch khóa Khoa học máy tính của Trường Điện tử học và Khoa học máy tính ở Đại học Southampton (Anh), ở đấy ông sẽ làm dự án mới – Semantic Web (Web ngữ nghĩa).
Berners-Lee phát hành những khái niệm ông cởi mở, không bắt phải mua giấy phép để sử dụng. W3C quyết định rằng các tiêu chuẩn của nó phải dựa trên công nghệ miễn phí, để cho mọi người có thể tiến hành các khái niệm đó.
== Công việc hiện tại ==
Tháng 6, 2009 Thủ tướng Anh Gordon Brown thông báo Berners-Lee có thể làm cho chính phủ Anh để giúp họ thành lập dữ liệu mở hơn và dễ truy cậo qua Web, xây dựng trên tác vụ Power of Information Task Force. Berners-Lee và giáo sư Nigel Shadbolt là 2 thành viên chính đứng sau trang web data.gov.uk, một dự án của chính phủ Anh để mở hầu hết dữ liệu thu được phục vụ cho các mục đích chính thức sử dụng lại miễn phí. Bình luận về việc mở cửa các dữ liệu Ordnance Survey trong tháng 4 năm 2010, Berners-Lee cho biết: "Những thay đổi báo hiệu một sự thay đổi văn hóa rộng lớn hơn trong chính phủ dựa trên một giả định rằng thông tin phải ở trong một tên miền công cộng trừ khi có một lý do chính đáng là nó không nên như thế." Ông nói thêm rằng "Tính cởi mở, trách nhiệm giải trình và tính minh bạch lớn hơn trong chính phủ sẽ cung cấp cho người dân được lựa chọn hơn và làm cho nó dễ dàng hơn cho các cá nhân được trực tiếp tham gia nhiều hơn trong các vấn đề quan trọng đối với họ."
Đến tháng 5 năm 2012, Berners-Lee là chủ tịch Viện dữ liệu mở.
Liên minh Affordable Internet (A4AI) được thành lập tháng 10 năm 2013 và Berners-Lee đang dẫn đầu liên minh của các tổ chứa công và tư như Google, Facebook, Intel và Microsoft. A4AI tìm cách làm cho chi phí truy cập internet ở mức chấp nhận được để việc truy cập internet ở các nước đang phát triển mở rộng hơn, ở các nước này mức độ truy cập chỉ 31%. Berners-Lee sẽ giúp giảm giá truy cập internet vì vậy họ giảm xuống dưới mục tiêu toàn cầu của Ủy ban băng thông rộng của Liên Hợp Quốc là 5% thu nhập hàng tháng.
== Giải thưởng và danh hiệu ==
Berners-Lee đã nhận được nhiều giải thưởng và danh hiệu. Ông được phong tước hiệp sĩ vào năm 2004 khi được thăng cấp từ bậc Sĩ quan của Tước vị Hiệp sĩ Đế quốc Anh (Officer of the Order of the British Empire - OBE) lên Chỉ huy Hiệp sĩ (Knight Commander) của Tước vị Hiệp sĩ Đế quốc Anh (KBE) trong dịp Vinh danh mừng Năm mới "cho những phụng sự cho quá trình phát triển toàn cầu của Internet", và được bổ nhiệm chính thức vào ngày 16 tháng 7 năm 2004..
Ngày 13 tháng 6 năm 2007, ông được bổ nhiệm vào Huân chương Công lao (Order of Merit - OM), một tước vị giới hạn trong 24 thành viên (còn sống). Việc ban cho tư cách thành viên của Huân chương Công lao nằm trong quyền hạn cá nhân của Nữ hoàng, và không cần sự đề nghị của các Bộ trưởng hoặc Thủ tướng. Ông được bầu làm Uỷ viên Hội hoàng gia (Fellow of the Royal Society - FRS) năm 2001. Ông đã được trao bằng danh dự từ một số trường đại học trên thế giới, trong đó có Manchester (cha mẹ ông từng làm việc trong dự án tạo ra máy tính Manchester Mark 1 trong thập niên 1940), Harvard và Yale.
Năm 2012, Berners-Lee là một trong những biểu tượng văn hoá Anh được lựa chọn bởi nghệ sĩ Sir Peter Blake để xuất hiện trong một phiên bản mới của tác phẩm nổi tiếng nhất của ông – bìa album Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band của The Beatles – nhằm tán dương các nhân vật văn hoá Anh trong cuộc đời của ông mà ông ngưỡng mộ nhất, để đánh dấu sinh nhật lần thứ 80 của ông. Ngày 4 tháng 4 năm 2017, the Hiệp hội Máy tính đã xướng tên Berners-Lee là chủ nhân của Giải thưởng Turing năm 2016 "vì đã phát minh ra World Wide Web, trình duyệt web đầu tiên, và các giao thức và thuật toán cơ bản cho phép Web có thể mở rộng quy mô".
== Đời tư ==
Berners-Lee đã kết hôn với Nancy Carlson năm 1990; họ đã có hai con và ly hôn vào năm 2011. Năm 2014, Berners-Lee kết hôn với Rosemary Leith tại Cung điện Thánh James ở London. Leith là giám đốc của Quỹ World Wide Web và là thành viên của Trung tâm Berkman ở Đại học Harvard. Trước đó, bà là Chủ tịch Hội đồng Công trình Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới về Tương lai An ninh Internet và bây giờ là thành viên hội đồng quản trị của YouGov.
Berners-Lee được nuôi dạy như là một người Anh giáo, nhưng khi còn trẻ, ông đã từ bỏ đức tin này. Sau khi làm cha, ông trở thành một người theo Chủ nghĩa Phổ độ Nhất thể (Unitarian Universalism - UU). Ông chia sẻ: "Giống như nhiều người, tôi đã nhận được sự dạy dỗ về một tôn giáo mà tôi đã từ chối khi còn là thiếu niên... Giống như nhiều người, tôi đã trở lại với tôn giáo khi chúng tôi có con". Ông và vợ mình muốn dạy về đời sống tinh thần cho con cái của mình, và sau khi nghe lời khuyên từ một mục sư và viếng thăm một nhà thờ theo Chủ nghĩa Phổ độ Nhất thể, họ đã lựa chọn nó. Ông là một thành viên tích cực của nhà thờ đó, mà ông tôn trọng vì ông coi đó là một niềm tin khoan dung và tự do. Ông đã bày tỏ sự tôn trọng đối với các tôn giáo khác, nói rằng: "Tôi tin rằng phần lớn triết lý sống liên kết với nhiều tôn giáo thì đúng đắn hơn nhiều so với giáo điều mà nó mang lại cùng với nó. Vì điều này nên tôi tôn trọng chúng."
== Tác phẩm công bố ==
Berners-Lee, Tim; Mark Fischetti (1999). Weaving the Web: The Original Design and Ultimate Destiny of the World Wide Web by its inventor. Britain: Orion Business. ISBN 0-7528-2090-7.
PMID 21141362 (PubMed)Citation will be completed automatically in a few minutes.
Jump the queue or expand by hand
PMID 18847088 (PubMed)Citation will be completed automatically in a few minutes.
Jump the queue or expand by hand
PMID 16902115 (PubMed)Citation will be completed automatically in a few minutes.
Jump the queue or expand by hand
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Berners-Lee
Blog của Berners-Lee
Tim Berners-Lee trong Dimiþox
Sách Weaving The Web của Berners-Lee miêu tả các ý kiến ông về lịch sử và tương lai Web.
World Wide Web Consortium
Lịch sử W3C
Bài đề nghị đầu tiên của Berners-Lee tại CERN
Tin nhắn đầu tiên trên alt.hypertalk miêu tả Dự án WorldWideWeb của ông |
antigua guatemala.txt | Antigua Guatemala, thường gọi tắt là Antigua hay La Antigua là một thị xã ở cao nguyên miền trung nước Guatemala. Thị trấn này được biết đến vì nơi đây tập trung nhiều kiến trúc cổ thuộc thời kỳ thuộc địa khi Tây Ban Nha cai trị xứ Guatemala. Antigua được ấn định là một địa điểm trong danh sách Di sản Thế giới của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO).
Antigua cũng là lỵ sở tỉnh Sacatepéquez.
== Lịch sử ==
Thị trấn này được thành lập ngày 10 Tháng Ba năm 1543 để thay thế thủ phủ cũ bị đất truồi lấp mất vào năm 1541. Danh hiệu được chọn là Santiago de los Caballeros vốn là tên của thủ phủ cũ nay đem đặt cho thị trấn mới.
Trong suốt hơn 200 năm chính quyền thuộc địa Tây Ban Nha cai trị một dải Trung Mỹ dưới tên Trấn Guatemala (Audiencia de Guatemala hay Capiténcia Géneral de Guatemala) chạy dài từ México đến Panama từ thủ phủ Santiago này. Thời kỳ vàng son của Santiago là vào thế kỷ 18 khi dân số lên khoảng 60.000 người cư ngụ ở đây. Vào ngày 29 Tháng Chín năm 1717 một trận động đất ước đoán là 7,4 độ Richter làm chuyển động Santiago, phá sập 3000 nóc nhà. Năm 1773 một chuỗi địa chấn nữa gần như triệt hạ toàn phần thành phố khiến chính quyền thuộc địa quyết định thiên đô về địa điểm mới ở thung lũng Ermita năm 1776. Santiago từ đó bị bỏ rơi. Địa danh Antigua Guatemala, nghĩa là "Guatemala cũ" từ đó phổ biến để gọi Santiago, vì đây trở thành cố đô của Guatemala.
Cũng vì biến cố lịch sử trên mà Antigua tích lưu được nhiều tòa nhà cổ, có phần hoang phế nhưng cũng có điểm được trùng tu lại. Di sản văn hóa đó nay là thắng tích thu hút nhiều du khách.
== Tham khảo == |
nhật bản.txt | Nhật Bản (tiếng Nhật: 日本 Nippon [nip̚põ̞ɴ] hoặc Nihon [nihõ̞ɴ]; tên chính thức 日本国 hoặc Nihon-koku, "Nhật Bản Quốc") là một quốc gia hải đảo ở vùng Đông Á. Tọa lạc trên Thái Bình Dương, nước này nằm bên rìa phía đông của Biển Nhật Bản, Biển Hoa Đông, Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và vùng Viễn Đông Nga, trải dài từ Biển Okhotsk ở phía bắc xuống Biển Hoa Đông và đảo Đài Loan ở phía nam. Chữ kanji trong quốc hiệu Nhật Bản nghĩa là "gốc của Mặt Trời", và người ta thường gọi Nhật Bản bằng biệt danh "Đất nước Mặt Trời mọc".
Nhật Bản là một quần đảo núi lửa với khoảng 6.852 đảo, chủ yếu nằm trong khu vực ôn đới với bốn mùa rõ rệt, nhưng có khí hậu khác biệt dọc theo chiều dài đất nước. Bốn hòn đảo lớn nhất là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku chiếm khoảng 97% diện tích đất liền của nước này, nhưng phần nhiều chỉ là rừng và núi với nguồn tài nguyên khoáng sản rất hạn chế. Quần đảo được chia thành 47 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý. Dân số Nhật Bản vào khoảng 126 triệu người, đứng thứ mười thế giới, tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển. Người Nhật chiếm khoảng 98,5% tổng dân số đất nước. Gần 9,1 triệu cư dân sống tại trung tâm Tokyo,, thủ đô của đất nước, cũng là thành phố đông dân thứ tám trong khối OECD và là thành phố toàn cầu đứng hàng thứ tư thế giới. Vùng thủ đô Tokyo, bao gồm thủ đô và một vài tỉnh xung quanh nó, là đại đô thị lớn nhất thế giới với hơn 35 triệu dân và có nền kinh tế đô thị phát triển nhất hành tinh.
Các nghiên cứu khảo cổ chỉ ra rằng đã có người định cư tại Nhật Bản từ thời Thượng kỳ đồ đá cũ. Những ghi chép đầu tiên đề cập đến quốc gia này nằm trong các thư liệu lịch sử Trung Hoa có từ thế kỷ thứ nhất Công Nguyên. Thoạt đầu chịu ảnh hưởng từ các vùng đất khác, chủ yếu là Đế quốc Trung Quốc, tiếp đến là giai đoạn tự cách ly, về sau thoát khỏi sự chi phối của thế giới phương Tây, đã hình thành những nét đặc trưng trong lịch sử và văn hóa Nhật Bản. Từ thế kỷ 12 đến năm 1868, Nhật Bản liên tục thuộc quyền cai trị của các quân nhân phong kiến shogun nhân danh Thiên hoàng. Quốc gia này bước vào quá trình cô lập kéo dài suốt nửa đầu thế kỷ 17, và chỉ kết thúc vào năm 1853 khi một hạm đội của Hoa Kỳ gây áp lực buộc Nhật Bản phải mở cửa với phương Tây. Gần hai thập kỷ nội chiến và bạo loạn đã xảy ra trước khi Thiên hoàng Minh Trị tái thiết lại đất nước trong vai trò nguyên thủ vào năm 1868 và khai sinh Đế quốc Nhật Bản, với Thiên hoàng trở thành biểu tượng thiêng liêng của dân tộc. Trong những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, những thắng lợi sau chiến tranh Thanh-Nhật, chiến tranh Nga-Nhật và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã cho phép Nhật Bản mở rộng đế chế của mình và củng cố quyền lực của chủ nghĩa quân phiệt. Cuộc chiến tranh Trung-Nhật năm 1937 đã nhanh chóng lan rộng thành một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai từ năm 1941, mà cuối cùng kết thúc vào năm 1945 sau vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Từ thời điểm bản Hiến pháp mới được ban hành năm 1947, Nhật Bản duy trì chế độ quân chủ lập hiến kết hợp dân chủ đại nghị, trong đó cơ quan lập pháp dân cử là Quốc hội Nhật Bản.
Nhật Bản là nước thành viên của Liên Hợp Quốc, khối APEC, các nhóm G7, G8 và G20, đồng thời được xem như một cường quốc. Quốc gia này có nền kinh tế đứng hạng ba thế giới theo GDP danh nghĩa và hạng tư thế giới theo sức mua tương đương. Nó cũng đứng hạng tư hành tinh cả về kim ngạch nhập khẩu lẫn xuất khẩu. Mặc dù Nhật Bản đã chính thức từ bỏ quyền tuyên chiến, nước này vẫn sở hữu một lực lượng quân đội hiện đại có ngân sách cao thứ tám thế giới, được huy động với mục đích tự vệ và gìn giữ hòa bình. Nhật Bản là một nước phát triển với mức sống và Chỉ số phát triển con người rất cao, trong đó người dân được hưởng tuổi thọ cao nhất thế giới, đứng hạng ba trong số những quốc gia có tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp nhất thế giới, và vinh dự có số người đoạt giải Nobel nhiều nhất châu Á. Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu về Chỉ số thương hiệu quốc gia, hạng sáu trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2015–2016 và giữ vị trí cao nhất ở châu Á về Chỉ số hòa bình toàn cầu. Nhật Bản cũng là quốc gia châu Á đầu tiên đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè và Mùa Đông. Tuy nhiên, kể từ cuối thế kỷ 20 tới nay, Nhật Bản đang phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội, tiêu biểu là áp lực cuộc sống cao, nạn tự sát và tình trạng già hóa dân số đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng.
== Tên gọi ==
Tên gọi Nhật Bản bắt nguồn từ cách phiên âm Hán-Việt quốc hiệu viết bằng kanji của nước này là 日本 (phát âm bằng tiếng Nhật là Nippon hoặc Nihon ), với nichi (日, nichi) đọc là Nhật ("Mặt Trời" hoặc "ngày") và hon (本, hon) đọc là Bản ("nguồn gốc"). Hai chữ này khi kết hợp lại mang nghĩa "gốc của Mặt Trời" hay "Mặt Trời mọc" (do vị trí địa lý của nước này có thể nhìn thấy Mặt Trời mọc đầu tiên ở Đông Á, và cũng bởi tổ tiên trong tín ngưỡng theo truyền thuyết của họ là Nữ thần Mặt Trời Amaterasu). Nhiều quốc gia khác cũng vì nguyên do đó mà thường miêu tả Nhật Bản là "Đất nước Mặt Trời mọc". Một cách phiên âm Hán-Việt cũ của Nhật Bản là Nhựt Bổn, ngày nay hiếm khi được sử dụng. Người dùng tiếng Việt thường xuyên gọi tắt tên của quốc gia này là Nhật. Người Nhật Bản gọi chính bản thân họ là Nihonjin (日本人 (Nhật Bản Nhân), Nihonjin) và ngôn ngữ tiếng Nhật của họ là Nihongo (日本語 (Nhật Bản Ngữ), Nihongo).
Nhật Bản còn có một mỹ danh trong cộng đồng người dùng tiếng Việt là "Xứ sở hoa anh đào", vì cây hoa anh đào (さくら, sakura) mọc trên khắp nước Nhật từ bắc xuống nam. Loài hoa "thoắt nở thoắt tàn" này được người Nhật đặc biệt yêu thích, phản ánh tính nhạy cảm, yêu cái đẹp, sống và chết đều quyết liệt của dân tộc họ. Một mỹ danh khác là "Đất nước hoa cúc" vì đóa hoa cúc 16 cánh giống như Mặt Trời đang tỏa chiếu là biểu tượng của Hoàng gia và là quốc huy Nhật Bản ngày nay. Nhật Bản còn được gọi là Phù Tang (扶桑, Phù Tang), đề cập đến cây phù tang. Theo truyền thuyết cổ phương Đông, có một loài cây rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần Mặt Trời nghỉ ngơi trước khi du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt Trời mọc.
Vào thế kỷ 4, Nhật Bản đã lấy tên nước là Yamato, còn người Hán từ trước Công Nguyên đã gọi nước Nhật là Oa quốc (倭国, Oa quốc nước lùn), người Nhật là Oa nhân (倭人, người lùn), gọi cướp biển người Nhật trên Biển Hoa Đông thời nhà Minh là Oa khấu (倭寇, giặc lùn). Trong Hán-Việt, chữ "oa" (倭, "oa") vẫn thường bị đọc nhầm là "nụy". Trước thời kỳ Heian, người Nhật vẫn chưa có chữ viết riêng và vẫn phải vay mượn chữ Hán nên Yamato được viết là wa (倭 (oa), wa). Về sau khi đã phát triển nên hệ thống ngôn ngữ cho riêng mình, người Nhật dùng hai chữ kanji 大和 (Đại Hòa) để ký âm chữ Yamato, thể hiện lòng tự tôn dân tộc. Năm 670, Yamato gửi một đoàn sứ bộ đến chúc mừng triều đình nhà Đường dưới thời vua Đường Cao Tông nhân dịp vừa bình định Triều Tiên, và từ đó đổi tên thành Nhật Bản (日本/ にっぽん, Nhật Bản). Kể từ sau cuộc Duy tân Minh Trị cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, quốc hiệu đầy đủ của Nhật Bản là Dai Nippon Teikoku (大日本帝國 (Đại Nhật Bản Đế quốc), Dai Nippon Teikoku), nghĩa là "Đế quốc Đại Nhật Bản". Ngày nay quốc hiệu Nippon-koku hay Nihon-koku (日本国 (Nhật Bản Quốc), Nippon-koku hay Nihon-koku) có ý nghĩa tương đương về mặt nghi thức, với chữ koku (国, koku) nghĩa là "quốc gia", "nước" hay "nhà nước" thay thế cho một miêu tả dài về ý thức hệ của chính phủ đất nước.
Trong tiếng Anh, Nhật Bản được gọi là Japan ( /dʒəˈpæn/), từ này xuất hiện ở phương Tây vào đầu giai đoạn mậu dịch Nanban. Phát âm tên quốc gia này bằng Tiếng Quan Thoại cổ hoặc có thể là tiếng Ngô cổ đã được Marco Polo ghi lại là Cipangu. Trong tiếng Thượng Hải mới, một dạng phương ngữ tiếng Ngô, cách phát âm các ký tự 日本 'Nhật Bản' là Zeppen [zəʔpən]. Nhật Bản trong Tiếng Mã Lai cổ được gọi là Jepang, vay mượn từ tiếng địa phương ven biển miền nam Trung Quốc, có thể là tiếng Phúc Kiến hoặc Ninh Ba, và từ Mã Lai này đã được các thương nhân Bồ Đào Nha sử dụng vào thời Malacca ở thế kỷ 16. Đó là những người Bồ Đào Nha đầu tiên mang tên gọi này đến châu Âu.
== Xuất xứ Nhật Bản ==
Cho đến nay người ta vẫn chưa chắc chắn về xuất xứ và thời gian xuất hiện của những cư dân đầu tiên trên quần đảo Nhật Bản. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều cho rằng người Nhật đã có mặt tại quần đảo từ xa xưa và định cư liên tục từ đó cho đến thời nay. Những phát hiện trong nghiên cứu cổ vật, xương đã củng cố thêm sự nghi ngờ đối với thuyết trước kia cho rằng người Nhật là con cháu của những người xâm chiếm đến sau "thổ dân" Ainu và đã đẩy bộ tộc này ra khỏi quần đảo. Ngày nay, người ta tin rằng tổ tiên của người Nhật là những người đã làm nên đồ gốm mang tên Jomon. Những người này được biết là đã có mặt trên quần đảo ít nhất từ năm 5000 TCN, sau đó theo thời gian, pha trộn với các giống người khác, phát triển qua lịch sử thành dân tộc Nhật Bản ngày nay.
Ngôn ngữ và phong tục của người Nhật gồm những thành tố văn hóa của cả phương Bắc lẫn phương Nam. Dưới góc độ sử dụng và cú pháp, rõ ràng tiếng Nhật thuộc hệ ngôn ngữ Altai của các dân tộc phía bắc lục địa châu Á, song trong từ vựng lại có nhiều từ gốc từ phía nam. Trong các tập quán và tín ngưỡng, ta thấy các lễ nghi gắn với văn hóa lúa nước vốn có nguồn gốc ở phía nam; còn huyền thoại lập nước bởi vị thần - ông tổ của nòi giống - từ thiên đường xuống hạ giới thì có nguồn gốc ở phía bắc. Vì vậy, người ta cho rằng dân cư ở đây có xuất xứ từ cả phương Bắc lẫn phương Nam, đến quần đảo Nhật Bản từ thời tiền sử và qua một quá trình hoà trộn các chủng tộc dần dần tạo ra dân tộc Nhật Bản.
== Lịch sử ==
Từ 15.000 năm trước Công Nguyên, ở Nhật Bản đã có con người sinh sống.
Từ 13.000 năm trước Công Nguyên, người Nhật đã biết trồng lúa, làm đồ gốm, sống định cư.
Từ 300 năm trước Công Nguyên đã sử dụng đồ kim khí.
Từ thế kỷ thứ 3 đến giữa thế kỷ thứ 6, những nhà nước đầu tiên xuất hiện. Thần đạo phát triển khắp cả nước. Nước Nhật bắt đầu có tên gọi là Yamato.
Từ thế kỷ thứ 6 đến đầu thế kỷ thứ 8, một nhà nước tập quyền được thành lập và đóng đô ở Asuka (gần thành phố Nara ngày nay). Tên nước từ Yamato đổi thành Nhật Bản. Cũng trong khoảng thời gian này, thành lập nhà nước phong kiến Nhật, với cuộc cải cách Đại Hóa do Thiên hoàng Hiếu Đức đề xướng.
Giữa thế kỷ thứ 8, Phật giáo đã thiết lập cơ sở vững chắc ở Nhật Bản.
Từ thế kỷ thứ 9 đến cuối thế kỷ 12, các dòng họ quý tộc hùng mạnh ở Heian thay nhau nắm sức mạnh chính trị của đất nước, lấn át quyền lực của Thiên hoàng. Cuối thời này, tầng lớp võ sĩ bắt đầu hình thành và tranh giành quyền lực với các dòng tộc quý tộc.
Cuối thế kỷ 12 đến đầu thế kỷ 14, quyền lực thực sự nằm trong tay tầng lớp võ sĩ ở Kamakura. Vào các năm 1271 và 1281, các võ sĩ Nhật Bản với sự trợ giúp của bão và sóng thần đã đánh bại hải quân Nguyên - Mông định xâm lược nước mình.
Từ thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 16, nước Nhật trong tình trạng mất ổn định do nội chiến và chia rẽ, gọi là Thời kỳ Chiến quốc. Nhật Bản cũng từng tấn công bán đảo Triều Tiên và nhà Minh (Trung Quốc) trong thời kỳ này, nhưng thất bại.
Sau đó, nước Nhật có một thời kỳ thực hiện chính sách đóng cửa ổn định kéo dài ba thế kỷ dưới sự cai trị của Mạc phủ Tokugawa. Kinh tế, văn hóa và kỹ thuật có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Người phương Tây, khởi đầu là người Hà Lan, được phép giao thương với Nhật Bản thông qua một thương cảng nhỏ.
Giữa thế kỷ 19, với cuộc Minh Trị Duy Tân do Thiên hoàng Minh Trị đề xướng, Nhật mở cửa triệt để với phương Tây. Chế độ Mạc phủ và các phiên do đại danh đứng đầu bị bãi bỏ, quyền lực được tập trung tối cao trong tay Thiên hoàng. Năm 1868, Thiên hoàng Minh Trị dời đô từ Kyōto về Tōkyō. Công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ, đất nước phát triển, xâm chiếm Đài Loan, Lưu Cầu, đánh bại nhà Thanh, đế quốc Nga trong Chiến tranh Thanh-Nhật và Chiến tranh Nga-Nhật, xâm lược Triều Tiên. Theo Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản được ban hành năm 1889, Nhật là nước theo chính thể quân chủ lập hiến với quyền uy tuyệt đối của Thiên hoàng, nắm toàn bộ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhưng Hiến pháp cũng đã hạn chế ảnh hưởng quyền lực của Thiên hoàng.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật đứng về phe Hiệp ước. Sang Chiến tranh thế giới thứ hai, quân phiệt Nhật đứng về phe Trục với Ý và Đức Quốc xã . Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1945, Nhật thất bại và phải chịu sự chiếm đóng của nước ngoài. Hoa Kỳ phụ trách việc chiếm đóng Nhật Bản, và cho tới nay Hạm đội 7 Hoa Kỳ vẫn đang đóng ở đảo Okinawa của Nhật.
Sau chiến tranh, Nhật tập trung phát triển kinh tế. Từ năm 1955 tới 1970 kinh tế tăng trưởng rất nhanh chóng. Cuối thập niên 1960, Nhật hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa, trở thành một nước tư bản phát triển. Manh nha những dấu hiệu đình trệ kinh tế đầu tiên sau khủng hoảng dầu lửa đầu thập niên 1970. Bong bóng bất động sản vỡ khiến kinh tế lâm vào trì trệ từ 1990 tới nay.
Bước vào thế kỷ 21, Nhật Bản ưu tiên hơn đến những chính sách quốc gia để gia tăng vị thế về chính trị và quân sự trên trường quốc tế. Nâng cấp Cục phòng vệ quốc gia thành Bộ quốc phòng vào tháng 1 năm 2007.
== Ngôn ngữ ==
Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba kiểu chữ: chữ Hán hay Kanji và hai kiểu chữ đơn âm mềm Hiragana (Bình Giá Danh) và đơn âm cứng Katakana (Phiến Giá Danh). Kanji dùng để viết các từ Hán (mượn của Trung Quốc) hoặc các từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện rõ nghĩa. Hiragana dùng để ghi các từ gốc Nhật và các thành tố ngữ pháp như trợ từ, trợ động từ, đuôi động từ, tính từ,… Katakana dùng để phiên âm từ vựng nước ngoài, trừ tiếng Trung và từ vựng của một số nước dùng chữ Hán khác. Bảng ký tự Latinh Rōmaji cũng được dùng trong tiếng Nhật hiện đại, đặc biệt là ở tên và biểu trưng của các công ty, quảng cáo, nhãn hiệu hàng hóa, khi nhập tiếng Nhật vào máy tính và được dạy ở cấp tiểu học nhưng chỉ có tính thí điểm. Số Ả Rập theo kiểu phương Tây được dùng để ghi số, nhưng cách viết số theo ngữ hệ Hán-Nhật cũng rất phổ biến.
== Phân cấp hành chính ==
Đơn vị phân vùng hành chính cấp 1 của Nhật Bản là đô đạo phủ huyện, cả nước được chia thành 1 đô, 1 đạo, 2 phủ, 43 huyện. Các đô thị lớn tùy theo số dân và ảnh hưởng mà được chỉ định làm thành phố chính lệnh chỉ định, thành phố trung tâm, thành phố đặc biệt. Phân vùng hành chính dưới đô đạo phủ huyện là thị định thôn, ngoài ra còn có các đơn vị như quận, chi sảnh, khu, đặc biệt khu,… Căn cứ vào địa lý và nhân văn, đặc trưng kinh tế, Nhật Bản thường được chia thành 8 khu vực lớn, bao gồm: vùng Hokkaidō, vùng Đông Bắc, vùng Kantō, vùng Trung Bộ, vùng Kinki (còn gọi là vùng Kansai), vùng Chūgoku, vùng Shikoku và vùng Kyushu-Okinawa.
Mấy năm gần đây Nhật Bản thi hành chính sách sáp nhập thị đinh thôn, số lượng đinh thôn đã giảm nhiều. Hiện nay để giảm bớt sự tập trung một cực của Tōkyō và tăng cường phân quyền địa phương, Nhật Bản đang nghiên cứu bỏ đô đạo phủ huyện, chuyển sang chế độ đạo châu (thảo luận chế độ đạo châu Nhật Bản). Năm 1968, Nhật Bản ban hành chế độ mã số bưu chính đoàn thể công khai địa phương. Hiện thời đô đạo phủ huyện và các thị đinh thôn đều có mã số bưu chính của mình. Mã số bưu chính của đô đạo phủ huyện ăn khớp với tiêu chuẩn quốc tế ISO 31166-2:JP.
== Địa lý ==
=== Sự hình thành của Nhật Bản ===
Nhật Bản nằm trên đường ranh giới giữa bốn mảng kiến tạo địa chất của Trái Đất. Nhưng quan trọng là mảng Thái Bình Dương đang tiến về phía mảng Âu-Á và chúi xuống dưới mảng này. Chuyển động này diễn ra không mấy êm ả và có thể dẫn tới những xung động đột ngột mà kết quả là động đất. Khi mảng Thái Bình Dương chìm xuống, các lớp trầm tích bề mặt vỡ ra và bị biến dạng. Thậm chí lớp vỏ đại dương cũng sẽ bị tan chảy thành dung nham dâng lên bề mặt, phun trào vô số các ngọn núi lửa. Sự phun trào núi lửa cùng với quá trình trầm tích tạo thành một chuỗi các hòn đảo nhiều núi – một dải đảo hình cung.
=== Núi lửa ===
Ngọn núi lửa nổi tiếng nhất ở Nhật Bản là núi Núi Phú Sĩ, mà người Nhật gọi là Fuji-san, cao 3776 m. Sự dốc đứng và dạng hình nón gần như hoàn hảo của ngọn núi biến nó thành một cảnh tượng kỳ thú có thể nhìn thấy từ Tokyo. Núi Phú Sĩ là một điểm du lịch được ưa thích và hàng năm có nhiều người leo lên ngọn núi này. Ngọn núi lửa này phun trào lần cuối vào năm 1707 và ngủ yên từ đó đến nay. Tuy nhiên, tháng 8 năm 2000, các nhà khoa học đã phát hiện có những chấn động nhẹ bên dưới núi Phú Sĩ. Các chấn động này đang được nghiên cứu kỹ lưỡng, nhưng cũng đủ để đưa ra lời cảnh báo.
Tất cả những ngọn núi lửa đang hoạt động ở Nhật Bản đều được giám sát nghiêm ngặt để có thể đưa ra lời cảnh báo sơ tán kịp thời như núi Aso, đảo Kyushu. Tại đây đã xảy ra nhiều đợt phun trào và một trong những đỉnh núi lửa chính, đỉnh Nakadake, vẫn tiếp tục phun khí sulfua và đôi lúc có những vụ nổ miệng núi lửa. Những màn khí lưu huỳnh bốc lên từ đá dung nham cổ đầy màu sắc và nước hồ trên miệng núi lửa ánh lên kỳ quái một màu xanh luôn sôi sục ở nhiệt độ 900°C.
=== Động đất và sóng thần ===
Vị trị địa lý của Nhật Bản khiến nước này là một trong những quốc gia xảy ra nhiều thiên tai nhất thế giới. Hai mối đe dọa nghiêm trọng nhất là động đất và sóng thần. Mỗi năm Nhật Bản phải chịu 7500 trận động đất nhẹ, riêng Tokyo có đến 150 trận. Hầu hết các trận động đất này quá nhẹ, không thể nhận ra, nhưng cũng có những trận động đất rất mạnh. Từ trận động đất Kanto chết chóc năm 1923, tới nay Nhật Bản đã phải trải qua 16 vụ động đất và sóng thần. Vụ sóng thần khủng khiếp gần đây nhất xảy ra ngày 11 / 03 / 2011 là hậu quả của trận động đất ngầm ngoài khơi Tohoku của Nhật Bản mạnh 9 độ richte, sóng thần cao nhất là 39m, đánh vào ven bờ Sendai làm cho cả thành phố và các khu vực xung quanh bị thiệt hại nặng nề, làm gần 16.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương và hơn 2.600 người mất tích.
=== Phong cảnh thiên nhiên ===
Nhật Bản là một xứ sở có phong cảnh được coi là một trong những nơi đẹp nhất thế giới, được đánh giá là một trong 10 đất nước tuyệt vời nhất trên thế giới (năm 2010) và cũng là đại diện châu Á duy nhất có mặt trong danh sách này với bốn mùa thay đổi rõ rệt: mùa xuân với hoa anh đào nở dần từ nam lên bắc, mùa hè cây cối xanh mướt, mùa thu lá phong (momiji) đỏ thắm từ bắc xuống nam, mùa đông tuyết trắng tinh khôi. Núi Phú Sĩ (Fujisan) là ngọn núi cao nhất Nhật Bản, nằm giữa đồng bằng, lại có tuyết bao phủ nơi phần đỉnh núi, là nguồn cảm hứng của rất nhiều văn sĩ và thi sĩ cũng như của các văn nghệ sĩ, trong đó có các nhiếp ảnh gia và họa sĩ khắp bốn phương.
== Khí hậu ==
Nhật Bản là quốc gia với hơn ba nghìn đảo trải dài dọc biển Thái Bình Dương của Châu Á. Các đảo chính chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokkaidō, Honshū (đảo chính), Shikoku và Kyūshū. Quần đảo Ryukyu, bao gồm Okinawa, là một chuỗi các hòn đảo phía nam Kyūshū. Cùng với nhau, nó thường được biết đến với tên gọi "Quần đảo Nhật Bản".
Khoảng 70%-80% diện tích Nhật Bản là núi, loại hình địa lý không hợp cho nông nghiệp, công nghiệp và cư trú. Có điều này là do độ cao dốc so với mặt nước biển, khí hậu và hiểm họa lở đất gây ra bởi những cơn động đất, đất mềm và mưa nặng. Điều này đã dẫn đến một nền mật độ dân số rất cao tại các vùng có thể sinh sống được, chủ yếu nằm ở các vùng eo biển. Nhật Bản là quốc gia có mật độ dân số lớn thứ 30 trên thế giới.
Vị trí nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương, nằm ở điểm nối của ba vùng kiến tạo địa chất đã khiến Nhật Bản thường xuyên phải chịu các dư trấn động đất nhẹ cũng như các hoạt động của núi lửa. Các cơn động đất có sức tàn phá, thường dẫn đến sóng thần, diễn ra vài lần trong một thế kỷ. Những cơn động đất lớn gần đây nhất là động đất Chūetsu năm 2004 và đại động đất Hanshin năm 1995. Vì các hoạt động núi lửa diễn ra thường xuyên nên quốc gia này có vô số suối nước nóng và các suối này đã và đang được phát triển thành các khu nghỉ dưỡng.
Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa, nhưng biến đổi từ Bắc vào Nam. Đặc điểm địa lý Nhật Bản có thể phân chia thành 6 vùng khí hậu chủ yếu:
Hokkaidō: vùng cực bắc có khí hậu ôn hòa với mùa đông dài và lạnh, mùa hè mát mẻ. Lượng mưa không dày đặc, nhưng các đảo thường xuyên bị ngập bởi những đống tuyết lớn vào mùa đông.
Biển Nhật Bản: trên bờ biển phía tây đảo Honshū', gió Tây Bắc vào thời điểm mùa đông mang theo tuyết nặng. Vào mùa hè, vùng này mát mẻ hơn vùng Thái Bình Dương dù đôi khi cũng trải qua những đợt thời tiết rất nóng bức do hiện tượng gió Phơn.
Cao nguyên trung tâm: Một kiểu khí hậu đất liền điển hình, với sự khác biệt lớn về khí hậu giữa mùa hè và mùa đông, giữa ngày và đêm. Lượng mưa nhẹ.
Biển nội địa Seto: Các ngọn núi của vùng Chūgoku và Shikoku chắn cho vùng khỏi các cơn gió mùa, mang đến khí hậu dịu mát cả năm.
Biển Thái Bình Dương: Bờ biển phía đông có mùa đông lạnh với ít tuyết, mùa hè thì nóng và ẩm ướt do gió mùa Tây Nam.
Quần đảo Tây Nam: Quần đảo Ryukyu có khí hậu cận nhiệt đới, với mùa đông ấm và mùa hè nóng. Lượng mưa nặng, đặc biệt là vào mùa mưa. Bão ở mức bình thường.
Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40,9 °C - đo được vào 16 tháng 8 năm 2007.
Mùa mưa chính bắt đầu từ đầu tháng 5 tại Okinawa; trên phần lớn đảo Honshū, mùa mưa bắt đầu từ trước giữa tháng 6 và kéo dài 6 tuần. Vào cuối hè và đầu thu, các cơn bão thường mang theo mưa nặng.
Nhật Bản là quê hương của chín loại sinh thái rừng, phản ánh khí hậu và địa lý của các hòn đảo. Nó trải dài từ những rừng mưa nhiệt đới trên quần đảo Ryukyu và Bonin tới các rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rụng trên các vùng khí hậu ôn hòa của các đảo chính, tới rừng ôn đới lá kim vào mùa đông lạnh trên các phần phía bắc các đảo.
== Tài nguyên thiên nhiên ==
Nhật Bản có rất ít tài nguyên thiên nhiên. Các khoáng sản như quặng sắt, đồng đỏ, kẽm, chì và bạc, và các tài nguyên năng lượng quan trọng như dầu mỏ và than đều phải nhập khẩu. Địa hình và khí hậu Nhật Bản khiến người nông dân gặp rất nhiều khó khăn, và vì quốc gia này chỉ trồng cấy được một số cây trồng như lúa gạo, nên khoảng một nửa số lương thực phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Nhật Bản có chín vùng sinh thái rừng để phản ánh rõ khí hậu và địa lý của cả đảo.Chúng bao gồm từ rừng ẩm lá rộng cận nhiệt ở Ryūkyū và quần đảo Ogasawara đến các khu rừng hỗn hợp lá rộng ôn đới trong nền khí hậu nhẹ của các đảo chính, và đến với các rừng lá kim ôn đới ở những phần lãnh thổ lạnh lẽo thuộc những hòn đảo miền bắc. Nhật Bản có hơn 90.000 loài động vật hoang dã, trong đó có gấu nâu, khỉ Nhật Bản, lửng chó Nhật Bản và kỳ giông khổng lồ Nhật Bản. Nước này đã thành lập một mạng lưới lớn các vườn quốc gia nhằm bảo vệ các quần động vật và thực vật quan trọng cũng như 37 vùng đất ngập nước ngập Ramsar. Bốn địa điểm đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới vì có giá trị nổi bật về mặt thiên nhiên.
== Chính trị Nhật Bản ==
Nhật Bản là một nước theo hệ thống quân chủ lập hiến, quyền lực của Hoàng đế (天皇 (Thiên hoàng), Tennō) vì vậy rất hạn chế. Theo hiến pháp, Thiên hoàng được quy định là một "biểu tượng của Quốc gia và của sự hòa hợp dân tộc." mang tính hình thức lễ nghi. Quyền điều hành đất nước chủ yếu được trao cho Thủ tướng và những nghị sĩ do dân bầu ra. Đương kim Thiên hoàng Akihito đứng đầu Hoàng gia Nhật Bản; con trai ông, Hoàng thái tử Naruhito, là người tiếp theo kế vị triều đại Ngai vàng Hoa cúc.
Cơ quan lập pháp dân cử của Nhật Bản là Quốc hội (国会, Kokkai), đặt trụ sở tại Chiyoda, Tokyo. Quốc hội hoạt động theo cơ chế lưỡng viện, trong đó Hạ viện (衆議院 (Chúng Nghị viện), Shūgiin) có 480 ghế, được cử tri bầu chọn sau mỗi bốn năm hoặc sau khi giải tán, và Thượng viện (参议院 (Tham Nghị viện), Sangiin) có 242 ghế, được cử tri bầu chọn cho nhiệm kỳ sáu năm và cứ mỗi ba năm được bầu lại một nửa số thành viên. Quyền bầu cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu thuộc về mọi công dân Nhật Bản trên 18 tuổi không phân biệt nam-nữ, trong đó áp dụng phương thức bỏ phiếu kín tại tất cả đơn vị bầu cử. Các nghị sĩ quốc hội chủ yếu là người của Đảng Dân tiến có khuynh hướng tự do xã hội và Đảng Dân chủ Tự do có khuynh hướng bảo thủ. Đảng Dân chủ Tự do đã liên tiếp giành thắng lợi trong các cuộc tổng tuyển cử kể từ năm 1955, ngoại trừ hai giai đoạn từ năm 1993 đến 1994 và từ năm 2009 đến 2012. Đảng này chiếm 294 ghế trong Chúng Nghị viện và 83 ghế trong Tham Nghị viện.
Thủ tướng Nhật Bản (内閣総理大臣 (Nội các Tổng lý Đại thần), Naikaku sōri daijin) là người đứng đầu chính phủ do Quốc hội chọn ra từ các nghị sĩ thành viên và được Thiên hoàng sắc phong. Thông thường người đứng đầu một đảng chính trị chiếm đa số ghế trong Quốc hội sẽ được giới thiệu giữ chức Thủ tướng. Thủ tướng lãnh đạo nội các và có thể chỉ định hay bãi nhiệm Bộ trưởng Quốc vụ. Sau chiến thắng áp đảo của Đảng Dân chủ Tự do trong cuộc tổng tuyển cử năm 2012, Abe Shinzō thay thế Noda Yoshihiko giữ chức Thủ tướng từ ngày 26 tháng 12 năm 2012 và trở thành Thủ tướng Nhật Bản thứ sáu tuyên thệ nhậm chức trong vòng sáu năm của đất nước này. Mặc dù việc bổ nhiệm Thủ tướng được tiến hành một cách chính thức bởi Thiên hoàng, Hiến pháp Nhật Bản quy định những người được Thiên hoàng bổ nhiệm vào vị trí này đều phải theo sự chỉ định của Quốc hội.
Mặc dù trong lịch sử đã từng chịu ảnh hưởng bởi luật pháp Trung Quốc, luật pháp Nhật Bản đã phát triển một cách độc lập trong thời Edo qua các thư liệu như Kujikata Osadamegaki. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ 19, hệ thống tư pháp đã dựa sâu rộng vào luật châu Âu lục địa, nổi bật là Đức. Ví dụ: vào năm 1896, chính phủ Nhật Bản đã ban hành một bộ luật dân sự dựa theo bản thảo Bürgerliches Gesetzbuch Đức; bộ luật này vẫn còn hiệu lực đến ngày nay qua những sửa đổi thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai. Luật thành văn do Quốc hội soạn và được sự phê chuẩn của Thiên hoàng. Hiến pháp quy định Thiên hoàng ban hành những điều luật đã được Quốc hội thông qua, mà không trao cho vị vua quyền hạn cụ thể nào để bác bỏ dự luật. Hệ thống cơ quan tư pháp Nhật Bản chia thành bốn cấp bậc: Tòa án Tối cao (最高裁判所 (Tối cao Tài phán Sở), Saikō-Saibansho) và ba cấp tòa án thấp hơn. Chánh Thẩm phán Tòa án Tối cao do Thiên hoàng sắc phong theo chỉ định của Quốc hội, trong khi các Thẩm phán Tòa án Tối cao do nội các bổ nhiệm. Trụ cột của pháp luật Nhật Bản gọi là Lục pháp (六法, Roppō, Sáu bộ luật).
== Kinh tế ==
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) phát triển cao độ (1955-1973) làm thế giới phải kinh ngạc. Người ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản". Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ ba trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc). Trong 20 năm (từ 1990 tới 2010), Nhật Bản luôn giành vị trí thứ hai về kinh tế nhưng đã bị Trung Quốc vượt qua từ đầu năm 2010. Tổng sản phẩm nội địa tính đến năm 2016 là 4.730.300 USD, GDP trên đầu người là 40,090 USD (2017), đứng thứ 3 thế giới và đứng thứ hai châu Á (sau Trung Quốc). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật.
Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ,... Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001. Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và tăng trưởng trở lại, tuy nhiên trong giai đoạn 2005-2015, kinh tế Nhật vẫn chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng rất chậm, trung bình 1% mỗi năm.
Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cả đều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản, Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp, và đây là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt may, thức ăn chế biến. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều mặt hàng thương mại trong lĩnh vực công nghệ và máy móc. Xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những nền công nghiệp lớn nhất của Nhật Bản.
Nhật Bản là trụ sở của một trong những ngân hàng lớn nhất thế giới, tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ (Mitsubishi UFJ Financial Group) với số vốn ước tính lên đến 3.500 tỉ Yên (2013). Nhật Bản cũng là nơi có thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới - thị trường chứng khoán Tokyo với khoảng 549.7 nghìn tỉ yên vào tháng 12/2006. Đây cũng là trụ sở của một số công ty dịch vụ tài chính, những tập đoàn kinh doanh và những ngân hàng lớn nhất thế giới. Ví dụ như những tập đoàn kinh doanh và công ty đa quốc gia như Sony, Sumitomo, Mitsubishi và Toyota sở hữu hàng tỉ và hàng nghìn tỷ đô la đang hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, nhóm các nhà đầu tư hoặc dịch vụ tài chính như ngân hàng Sumitomo, ngân hàng Fuji, ngân hàng Mitsubishi, các định chế tài chính của Toyota và Sony.
Những đối tác xuất khẩu chính của Nhật là Hoa Kỳ 22.9%, Trung Quốc 13.4%, Hàn Quốc 7.8%, Đài Loan 7.3% và Hồng Kông 6.1% (2005). Những mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật là thiết bị giao thông vận tải, xe cơ giới, hàng điện tử, máy móc điện tử và hóa chất. Do hạn chế về tài nguyên thiên nhiên để duy trì sự phát triển của nền kinh tế, Nhật Bản phải phụ thuộc vào các quốc gia khác về phần nguyên liệu vì vậy đất nước này nhập khẩu rất nhiều loại hàng hóa đa dạng. Đối tác nhập khẩu chính của Nhật là Trung Quốc 21%, Hoa Kỳ 12.7%, A Rập Xê Út 5.5%, UAE 4.9%, Australia 4.7%, Hàn Quốc 4.7% và Indonesia 4% (số liệu 2005). Những mặt hàng nhập khẩu chính của Nhật Bản là máy móc, thiết bị, chất đốt, thực phẩm (đặc biệt là thịt bò), hóa chất, nguyên liệu dệt may và những nguyên liệu cho các ngành công nghiệp của đất nước. Nhìn chung, Đối tác buôn bán tổng thể lớn nhất của Nhật Bản là Trung Quốc.
Từ giai đoạn 1960 đến 1980, tốc độ phát triển kinh tế Nhật Bản được gọi là "sự thần kì": tốc độ phát triển kinh tế trung bình 10% giai đoạn 1960, trung bình 5% giai đoạn 1970 và 4% giai đoạn 1980. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 4,1 tỷ USD năm 1950 lên 56,4 tỷ USD năm 1969. So với năm 1950, năm 1973 giá trị tổng sản phẩm GDP của Nhật tăng hơn 20 lần, từ 20 tỷ USD lên 402 tỷ USD, vượt Anh, Pháp, CHLB Đức, chỉ kém hơn Hoa Kỳ và Liên Xô.
Sự phát triển rất nhanh của nền kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn 1952-1973 bắt nguồn từ một số nguyên nhân cơ bản sau:
Nhân tố lịch sử: Kể từ Minh Trị duy tân đến trước thế chiến thứ 2, Nhật Bản đã có 70 năm phát triển đất nước theo mô hình hiện đại và đã trở thành cường quốc số 1 châu Á trong thập niên 1930. Dù bị tàn phá nặng nề trong thế chiến, nhưng những nhân tố và kinh nghiệm quý báu của Nhật Bản vẫn còn nguyên vẹn, họ có thể tận dụng kinh nghiệm này để nhanh chóng xây dựng lại nền kinh tế.
Nhân tố con người: trước thế chiến thứ 2, Nhật Bản đã có đội ngũ chuyên gia khoa học và quản lý khá đông đảo, có chất lượng cao. Dù bại trận trong thế chiến 2 nhưng lực lượng nhân sự chất lượng cao của Nhật vẫn còn khá nguyên vẹn, họ đã góp phần đắc lực vào bước phát triển nhảy vọt về kỹ thuật và công nghệ của đất nước. Người Nhật được giáo dục theo những luân lý của Nho giáo với những đức tính cần kiệm, kiên trì, lòng trung thành, tính phục tùng… vẫn được đề cao. Nhờ đó, giới quản lý Nhật Bản đã đặc biệt thành công trong việc củng cố kỷ luật lao động, khai thác sự tận tụy và trung thành của người lao động.
Mức tích lũy cao thường xuyên, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả cao: những năm 1950, 1960, tiền lương nhân công ở Nhật rất thấp so với các nước phát triển khác (chỉ bằng 1/3 tiền lương của công nhân Anh và 1/7 tiền lương công nhân Mỹ), đó là nhân tố quan trọng nhất để đạt mức tích lũy vốn cao và hạ giá thành sản phẩm. Ngoài ra, Nhật Bản đã chú ý khai thác và sử dụng tốt nguồn tiết kiệm cá nhân. Từ 1961-1967, tỷ lệ gửi tiết kiệm trong thu nhập quốc dân là 18,6% cao gấp hơn hai lần của Mỹ (6,2%) và Anh (7,7%)
Nhật Bản không có quân đội nên có thể giảm chi phí quân sự xuống mức dưới 1% tổng sản phẩm quốc dân, nguồn lực đó có thể chuyển sang phát triển kinh tế.
Tiếp cận và ứng dụng nhanh chóng những tiến bộ khoa học-kỹ thuật: trước thế chiến thứ 2, Nhật Bản đã là một cường quốc về khoa học, công nghệ. Sau chiến tranh, nhân tố này tiếp tục được phát huy.
Tình hình quốc tế có nhiều thuận lợi: Trong các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và Việt Nam, Chính phủ Mỹ đã có hàng loạt đơn đặt hàng với các công ty của Nhật Bản về trang bị, khí tài và các đồ quân dụng khác. Từ năm 1950 đến 1969, Nhật Bản đã thu được 10,2 tỷ USD các đơn đặt hàng của Mỹ (tương đương 70 tỷ USD theo thời giá 2015). Trong giai đoạn này, 34% tổng giá trị hàng xuất khẩu sang Mỹ và 30% giá trị hàng nhập của Nhật là từ thị trường Mỹ. Có thể nói nhu cầu về hàng hóa của Mỹ cho các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và Việt Nam là hai “ngọn gió thần” đối với nền kinh tế Nhật Bản.
Tuy nhiên, nền kinh tế Nhật Bản cũng đã phải đối mặt với những mâu thuẫn gay gắt:
Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các vùng kinh tế: Phần lớn công nghiệp tập trung ở các đô thị phía Đông nước Nhật, trong khi đó các vùng phía Tây và các vùng nông nghiệp vẫn còn trong tình trạng lạc hậu. Nhiều nhà kinh tế phương Tây nhận xét rằng có hai nước Nhật: một nước Nhật rất hiện đại ở các đô thị và một nước Nhật cũ kỹ ở các vùng nông thôn.
Sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào bên ngoài cả về thị trường tiêu thụ hàng hóa và nguồn cung cấp nguyên liệu. Khi giá nguyên liệu tăng, kinh tế bị tác động mạnh.
Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt do các công ty vì chạy theo lợi nhuận nên đã hạn chế những chi phí cho phúc lợi xã hội, duy trì lề lối làm việc khắc nghiệt khiến người làm công bị áp lực nặng nề, dẫn tới nạn tự sát và thanh niên ngại kết hôn và sinh con. Về lâu dài, mâu thuẫn này sẽ phát tác làm kinh tế dần trì trệ đi (tới cuối thế kỷ 20, tình trạng già hóa dân số đã thực sự trở thành vấn đề nghiêm trọng tại Nhật Bản)
Dấu hiệu tăng trưởng có phần chững lại vào thập niên 1980, và đến những năm 1990 thì lâm vào trì trệ, tăng trưởng trung bình chỉ đạt 1.7%, chủ yếu do những tác động của việc đầu tư không hiệu quả và do dư chấn của bong bóng bất động sản vào những năm 1980 đã làm cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh mất một thời gian dài tái cơ cấu về nợ quá hạn, vốn tư bản và lực lượng lao động. Tháng 11/2007, nền kinh tế Nhật đã chấm dứt đà tăng trưởng kéo dài liên tục 69 tháng kể từ năm 2001 và chính thức suy thoái vào năm 2008 khi GDP giảm 3%, mức lãi suất ngân hàng trung ương hạ đến mức 0% vào đầu năm 2009. Chương trình tư nhân hóa 10 năm ngành bưu điện Nhật vốn không chỉ nhắm đến các hoạt động của hệ thống bưu chính quốc gia mà còn với các cơ sở ngân hàng và bảo hiểm trực thuộc đã hoàn tất vào tháng 10/2007, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tái cấu trúc ngành này của chính phủ.
Không giống như tình hình ở các nước phương Tây, khu vực tài chính Nhật không chịu ảnh hưởng mạnh từ cuộc Khủng hoảng cho vay thế chấp nhưng do đối mặt với sự sụt giảm mạnh về khối lượng đầu tư cũng như nhu cầu trước các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Nhật ở nước ngoài vào cuối năm 2008, đã đẩy nước này vào vòng suy thoái nhanh hơn. Tình trạng nợ công quá lớn (chiếm 229% GDP theo số liệu của năm 2015) và tỉ lệ dân số có tuổi quá cao là hai vấn đề đầy thách thức với Nhật Bản về dài hạn. Hiện tại những tranh cãi xung quanh vai trò và hiệu quả của các chính sách vực dậy nền kinh tế là mối quan tâm lớn của người dân lẫn chính phủ nước này. Nhìn chung, trong giai đoạn 2005-2015, kinh tế Nhật chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng rất chậm, trung bình 1% mỗi năm. Kinh tế Nhật đã bị Trung Quốc vượt qua trong giai đoạn này, và nếu tiếp tục tăng trưởng chậm như vậy thì trong 10 năm tới, Indonesia và Nga sẽ vượt qua Nhật về tổng GDP theo sức mua tương đương, còn Hàn Quốc và Đài Loan cũng sẽ sớm vượt qua Nhật về thu nhập bình quân đầu người.
=== Giao thông ===
Giao thông ở Nhật Bản rất phát triển, vào năm 2004 ở Nhật Bản có khoảng 1.177.278 km (731.683 miles) đường bộ, 173 sân bay, 23.577 km (14.653 miles) đường sắt. Phương tiện đường không được hoạt động chủ yếu bởi All Nippon Airways (ANA) và Japan Airlines (JAL). Đường sắt được điều khiển bởi Japan Railways. Có rất nhiều các chuyến bay quốc tế lớn từ nhiều thành phố và đất nước trên thế giới đến và rời Nhật Bản.
=== Năng lượng ===
== Khoa học và công nghệ ==
Nhật Bản thuộc nhóm các quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực về nghiên cứu khoa học, công nghệ máy móc, nghiên cứu y học. Năm 2006, gần 700.000 nhà nghiên cứu chia sẻ 130 tỉ USD của ngân sách nghiên cứu và phát triển, đứng hàng thứ 3 trên thế giới.
Một vài đóng góp công nghệ quan trọng của Nhật Bản là những phát minh trong các lĩnh vực điện tử, ô tô, máy móc, robot công nghiệp, quang học, hóa chất, chất bán dẫn và kim loại. Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong ngành khoa học robot, đây là quốc gia sở hữu hơn nửa (402.200 trong tổng 742.500) số robot cho công nghiệp sản xuất (năm 2000). Nhật Bản đã phát minh ra QRIO, ASIMO và Aibo. Nhật Bản cũng là nước sản xuất ô tô lớn thứ hai trên thế giới (sau Trung Quốc, năm 2012) và là quê hương của 6 trong tổng số 15 nhà sản xuất ô tô lớn nhất toàn cầu cũng như 7 trong số 20 nhà sản xuất chất bán dẫn lớn nhất thế giới.
Nhật Bản đang có những kế hoạch rất sáng sủa trong ngành thám hiểm không gian, trong đó có kế hoạch xây dựng một trạm Mặt Trăng vào năm 2030. Cơ quan thám hiểm không gian Nhật Bản (JAXA) là một trong những thành viên chủ chốt của trạm vũ trụ quốc tế, đây là cơ quan chuyên nghiên cứu về không gian vũ trụ, các hành tinh, các nghiên cứu hàng không, phát triển tên lửa và vệ tinh.
Vào ngày 1 tháng 6 năm 2008 lúc 6:02am giờ Nhật Bản, tàu con thoi Discovery đã rời bệ phóng Trung tâm vũ trụ Kennedy, Florida mang theo Module Kibo cùng nhà du hành Akihiko Hoshide và sáu đồng nghiệp khác, mục đích chính của chuyến đi là lắp đặt phần quan trọng của phòng thí nghiệm Nhật Bản có tên Japanese Pressurised Module (JPM) cùng cánh tay máy dài khoảng 10m phục vụ cho công tác lắp đặt về sau cho Kibo.
Các nhà nghiên cứu Nhật cũng đã phần nào khẳng định được mình qua các lần đoạt giải Nobel. Hideki Yukawa một trong những nhà khoa học ưu tú xuất thân từ Đại học Kyoto giành giải Nobel về vật lý năm 1949. Sin-Itiro Tomonaga cũng nhận vinh dự tương tự năm 1965. Nhà vật lý chất rắn Leo Esaki sau này xuất thân từ Đại học Tokyo cũng đạt được vinh quang đó năm 1973. Kenichi Fukui của Đại học Kyoto là một trong các nhà khoa học cùng chia giải Nobel hóa học năm 1981. Susumu Tonegawa, cũng trưởng thành từ Đại học Kyoto trở thành người Nhật đầu tiên từ 2007 nhận giải này với các thành tựu về sinh hóa kể từ khi lãnh vực này được phát triển năm 1987. Các nhà khoa học nghiên cứu về hóa học cũng không chịu kém khi lần lượt nhận giải vào năm 2000, 2001: Hideki Shirakawa (Viện khoa học công nghệ Tokyo) và Ryoji Noyori (Đại học Kyoto). Năm 2002 là nhà vật lý Masatoshi Koshiba (Đại học Tokyo) và hóa học gia Koichi Tanaka (Đại học Tohoku). Năm 2008, Nhật Bản có bốn nhà khoa học nhận giải Nobel gồm có Yoichiro Nambu, Makoto Kobayashi, Toshihide Maskawa và Osamu Shimomura. Nhật Bản là đất nước sở hữu nhiều khoa học gia đoạt giải Nobel nhất ở châu Á hiện nay. Không những thế, Nhật Bản cũng là quốc gia giành được nhiều giải thưởng Fields nhất châu Á, giải thưởng được xem là Nobel Toán học với 3 lần đăng quang: Kunihiko Kodaira (1954), Hironaka Heisuke (1970), Mori Shigefumi (1990).
== Giáo dục ==
Hệ thống tiểu học, trung và đại học được áp dụng ở Nhật như một trong các cải cách thời Minh Trị. Từ năm 1947, Nhật Bản áp dụng hệ thống giáo dục bắt buộc gồm tiểu học và trung học trong chín năm cho học sinh từ sáu đến mười lăm tuổi. Hầu hết sau đó đều tiếp tục chương trình trung học và theo MEXT, khoảng 75,9% học sinh tốt nghiệp phổ thông tiếp tục học lên bậc đại học, cao đẳng hay các chương trình trao đổi giáo dục khác.
Giáo dục ở Nhật có tính cạnh tranh rất cao. Học sinh phải cố gắng thi đỗ vào các trường danh tiếng để đảm bảo có được việc làm tốt sau khi ra trường. Đặc biệt ở các kì thi tuyển sinh đại học có sự cạnh tranh rất quyết liệt giữa các thí sinh, điển hình là các kì thi tuyển của hai trường đại học cao cấp Tokyo và Kyoto. Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế hợp tác OECD hiện xếp Nhật Bản ở vị trí thứ sáu thế giới về kĩ năng và kiến thức của học sinh mười sáu tuổi.
Bên cạnh đó việc chăm sóc cho học sinh tàn tật cũng được Chính phủ quan tâm, Nhật Bản có riêng Cục phụ trách các vấn đề Tiểu học và Trung học chịu trách nhiệm chính về công tác chăm sóc giúp đỡ các học sinh tàn tật, ngoài ra Cục này còn phụ trách cả vấn đề giáo dục cho trẻ em Nhật Bản sống ở nước ngoài cũng như góp phần giám sát một hệ thống kiểm định và phân phối miễn phí sách giáo khoa cho các đối tượng trên. Gần đây cơ quan này còn kiêm nhiệm thêm một số chương trình thuộc mạng lưới giáo dục địa phương như các chính sách về việc quyết định đội ngũ công tác giáo dục, các tiêu chuẩn về diện tích trường lớp, số lượng giáo viên cho mỗi trường, và các vấn đề tài chánh liên quan.
Vào năm 1991 có hơn 2,1 triệu học sinh được nhận vào 507 trường đại học. Tại đây các sinh viên sẽ được đào tạo bốn năm cho cấp bậc cử nhân và sáu năm cho bậc chuyên gia (Tiến sĩ). Có hai loại đại học công lập chính là đại học quốc gia (96 trường) và đại học vùng (39 trường) – do tỉnh hay thành phố lập ra. Cũng theo ghi nhận vào 1991, đã có khoảng 372 trường cao đẳng công được thành lập và đưa vào hoạt động.
Chi phí trung bình gồm học phí, phụ phí và sinh hoạt phí ở Nhật vào 1986 khoảng 1,4 triệu yên/năm (11.000 đô-la). Để hỗ trợ cho chi phí này, sinh viên được phép làm việc bán thời gian và vay từ Tổ chức học bổng của chính phủ, ngoài ra còn có nhiều tổ chức khác từ chính quyền địa phương, cơ quan phi lợi nhuận cũng góp phần không nhỏ về mặt tài chính hỗ trợ cho sinh viên.
Theo Phụ san Giáo dục đại học của tạp chí Times, hai trường đại học được cho là danh giá nhất ở Nhật hiện nay là Đại học Tokyo và Đại học Kyoto.
Ngân sách dành riêng cho công tác giáo dục năm 2005 là 5.733,3 tỉ yên (59 tỷ đô-la), chiếm 7% ngân sách quốc gia (82.182,9 tỉ yên) và chiếm 11.8% ngân sách cho các mục đích công. Hệ thống chiếu sáng cũng chiếm một phần đáng kể trong công tác phát triển cơ sở vật chất (161.3 tỉ yên). Ngân sách dành cho MEXT chủ yếu được chi dùng cho đổi mới công tác giáo dục, trợ giúp kinh phí cho các trường tư, cho vay học bổng và mở rộng các khóa giảng dạy về khoa học-công nghệ, các môn học về thể thao và văn hóa-mỹ thuật cũng được chú ý phát triển. Ngoài ra còn có các kế hoạch tăng lương cho giáo viên tiểu học công.
== Y tế ==
Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Nhật chủ yếu được cung cấp bởi chính quyền trung ương và địa phương. Chi phí cho các dịch vụ cá nhân này, vốn do một hội đồng chuyên trách của chính phủ thông qua, được cung cấp bởi hệ thống bảo hiểm sức khỏe áp dụng rộng rãi và công bằng trên cả nước. Những công dân không muốn sử dụng dịch vụ bảo hiểm của các công ty nơi họ làm việc có thể tham gia vào các loại hình bảo hiểm sức khỏe quốc gia do chính quyền địa phương theo dõi và điều hành. Từ năm 1973, tất cả người già đều được cung cấp miễn phí các loại hình bảo hiểm sức khỏe do chính phủ đài thọ, trong đó bệnh nhân được tùy chọn cơ sở họ muốn dùng các hình thức chăm sóc sức khỏe phù hợp nhất.
== Quốc phòng ==
Hiện nay Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản của Nhật có 225.000 người, trong đó mạnh nhất là lực lượng hải quân. Với ngân sách 50 tỉ USD/năm (kể cả chi phí cho quân đội Mỹ ở Nhật Bản), chi tiêu quân sự của Nhật Bản đứng hàng thứ ba sau Mỹ-400 tỷ, trên cả Nga-15 tỷ. Từ năm tài khoá 2002, ngân sách quốc phòng Nhật đã vượt con số 1% GDP, vươn lên hàng thứ hai trên thế giới.
Hướng phát triển quân đội Nhật Bản chủ yếu tập trung vào giảm số lượng nhưng tăng chất lượng, trang thiết bị, tăng khả năng cơ động, mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng phòng vệ Nhật Bản, tăng cường hợp tác với Mỹ, đồng thời đẩy nhanh các biện pháp củng cố an ninh, phòng ngừa, công khai về quốc phòng qua các hoạt động, diễn đàn chung về an ninh, giải trừ quân bị; trao đổi quân sự với các nước trong và ngoài khu vực.
Nhân sự kiện khủng bố 11/9, Chính phủ và Quốc hội Nhật đã thông qua ba dự luật chống khủng bố gồm: Luật đặc biệt chống khủng bố, Luật sửa đổi Lực lượng phòng vệ và Luật sửa đổi Cục bảo an trên biển, cho phép Nhật lần đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ hai được phép cử quân đội ra nước ngoài, hợp tác với Mỹ chống khủng bố. Nhật Bản đã đưa 600 binh sĩ sang Iraq thực hiện các hoạt động nhân đạo. Đây là bước chuyển mới trong chính sách quốc phòng của Nhật, từng bước tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động của Lực lượng phòng vệ.
Tháng 1 năm 2007, Quốc hội Nhật Bản thông qua quyết định thành lập Bộ quốc phòng trên cơ sở Cục Phòng vệ trước đây, là bước tiến mới theo hướng giải thích lại hiến pháp và cho phép Nhật phòng thủ tập thể, đưa quân ra nước ngoài trong các chiến dịch giữ gìn hoà bình, giải quyết các xung đột khu vực.
== Dân số ==
Đến tháng 7 năm 2010, dân số Nhật Bản hiện nay lên tới gần 127 triệu người, xếp hàng thứ 10 trên thế giới, phần lớn là đồng nhất về ngôn ngữ và văn hóa ngoại trừ thiểu số những công nhân nước ngoài, Zainichi Hàn Quốc, Zainichi Trung Quốc, người Philippines, người Nhật gốc Brasil. Tộc người chủ yếu là người Yamato cùng với các nhóm dân tộc thiểu số như người Ainu hay Ryūkyū.
Dân cư Nhật Bản phân bố không đồng đều trong cả nước. Dân cư tập trung đông nhất ở Vành đai Thái Bình Dương. Có một số lý do giải thích tại sao mật độ dân cư ở Nhật Bản lại quá chênh lệch như vậy. Chỉ có 15% đất đai phù hợp cho việc xây dựng, vì vậy các khu dân cư chỉ giới hạn trong những khu vực tương đối nhỏ hẹp. Đất nông nghiệp cũng thiếu, do đó việc canh tác tập trung ở một vài đồng bằng ven biển. Ngoài ra, khí hậu là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phân bố dân cư, vì miền Đông và miền Nam ấm áp và thích hợp cho việc định cư. Các miền này còn tiện lợi cho quan hệ thương mại với các nước khác trong vùng Thái Bình Dương và vì vậy cũng là các vùng công nghiệp nổi tiếng.
Nhật Bản là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới, trung bình là 81,25 tuổi cho năm 2006. Tuy nhiên, dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của sự bùng nổ dân số sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 2004, 19,5% dân số Nhật trên 65 tuổi.
Nguồn:Thống kê dân số theo độ tuổi (2004)
(Bộ nội vụ và Thống kê Nhật Bản)
Thay đổi dân số đã tạo ra các vấn đề xã hội, đặc biệt là sự suy giảm lực lượng lao động đồng thời gia tăng chi phí cho phúc lợi xã hội như vấn đề lương hưu. Do các vấn đề kinh tế và xã hội, nhiều người trẻ Nhật Bản hiện có xu hướng không kết hôn hoặc sinh con khi trưởng thành, khiến tỉ suất sinh đẻ đang giảm mạnh. Dân số nước Nhật Bản dự tính sẽ giảm xuống còn 100 triệu người vào năm 2050 và 64 triệu người vào năm 2100. Chính quyền và các nhà hoạch định dân số đang đau đầu để giải quyết vấn đề này.
Nhập cư và gia tăng khuyến khích sinh đẻ đang được xem là giải pháp để cung cấp lực lượng lao động cho sự lão hóa của dân số nhằm duy trì sự phát triển của nền kinh tế khổng lồ lớn thứ hai trên thế giới.
Khoảng 84% đến 96% dân số Nhật theo cả đạo Thần đạo và Phật giáo Đại thừa. Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo từ Trung Quốc cũng có ảnh hưởng đến niềm tin và tín ngưỡng của người Nhật. Có 1 triệu người Nhật theo Đạo Cơ Đốc. Thêm vào đó, từ giữa thế kỷ 19, rất nhiều đạo giáo đã xuất hiện ở Nhật Bản như Shinshūkyō và Tenrikyo; các tôn giáo này chiếm khoảng 3% dân số Nhật Bản.
99% dân số nói tiếng Nhật. Đây là loại ngôn ngữ kết dính được phân biệt bởi một hệ thống các từ ngữ lễ giáo phản ánh xã hội tôn ti và trọng đạo đức của Nhật Bản, với các dạng động từ và từ vựng biểu hiện tính cách của người nói và người nghe. Tiếng Nhật đã vay mượn một lượng lớn từ vựng trong tiếng Hán và cả tiếng Anh (từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai). Hệ thống chữ viết sử dụng chữ Hán và hai loại chữ kana (bảng âm tiết dựa trên chữ tiếng Hán, giống như ký tự Latinh) và chữ số Ả Rập. Tiếng Ryūkyūan, một phần của hệ ngôn ngữ Nhật, được nói phần lớn ở Okinawa, chỉ có số ít người học ngôn ngữ này. Tiếng Ainu chỉ được sử dụng bởi một số ít người già bản địa còn sống tại Hokkaidō. Phần lớn các trường công và tư ở Nhật đều buộc học sinh phải học cả tiếng Nhật và tiếng Anh.
=== Áp lực cuộc sống và nạn tự sát ===
Xét về mặt xã hội, có xu hướng cha mẹ già ở lại nông thôn, còn con cái sau khi tốt nghiệp trung học, liền bỏ ra thành thị làm công nhân. Sự kiện này chia rẽ nơi cư trú của cha mẹ và con cái, và làm tan rã hạt nhân gia đình truyền thống. Dân cư ở nông thôn của Nhật ngày càng trở thành già nua, đồng thời kiêm thêm nghề khác. Trong khi đó ở thành thị, do nếp sống công nghiệp hóa cao độ, kết cấu gia đình ngày càng trở nên lỏng lẻo, quan hệ giữa các thành viên gia đình trở nên nhạt nhòa. Dân cư thành thị Nhật bị ví là "động vật kinh tế", chỉ những con người hy sinh mọi niềm vui thú để chạy đua kiếm tiền đến mức gần như điên cuồng. Xã hội Nhật ngày càng có sự phân hóa sâu sắc về tuổi tác, văn hóa giữa thành thị và nông thôn.
Do các áp lực cuộc sống ngày càng lớn, tỷ lệ tự sát tại Nhật Bản thuộc mức rất cao trên thế giới. Theo số liệu của cảnh sát quốc gia, ba phần tư số vụ tự tử trong năm 2007 là nam giới, và 60% là thất nghiệp, trong khi tỷ lệ tự tử ở cấp cao tăng lên. Chính phủ cho biết chỉ có 81 vụ tự tử trong năm 2007 là do làm việc quá sức hoặc căng thẳng, gây ra hiện tượng tử vong do làm việc quá sức, thông thường là do tình trạng thừa lao động. Tuy nhiên, cảnh sát quốc gia công nhận trong năm 2007 đã có 2.200 vụ tự sát xảy ra do vấn đề việc làm. Trong năm 2009, 6.949 người tự tử vì trầm cảm (21%), 1.731 người do những khó khăn của cuộc sống hàng ngày (5%) và 1.071 người do mất việc làm (3%).
Năm 2012 đã có 29.442 người Nhật tự sát (tỷ lệ 18,5 vụ/100.000 dân), cao hơn nhiều so với mức 12,1 vụ của Mỹ, 7,8 vụ của Trung quốc và chỉ kém mức 28,9 vụ của Hàn Quốc. Tỷ lệ này cao hơn 60% so với trung bình thế giới
Trong năm 2008, một nghiên cứu chính phủ Nhật Bản cho thấy gần 1/5 người Nhật Bản từng nghiêm túc nghĩ về việc tự sát vào một số thời điểm trong cuộc sống của họ. Trong năm 2010, một nghiên cứu mới cho thấy rằng nạn tự sát ở Nhật Bản làm nền kinh tế tổn thất khoảng 2,7 tỉ yên mỗi năm.
=== Tình trạng già hóa dân số ===
Với tỷ lệ sinh thấp và tuổi thọ cao, tình trạng già hóa dân số một cách nhanh chóng thời gian gần đây trở thành vấn đề nghiêm trọng với Nhật. Dân số giảm liên tiếp kể từ năm 2007, trong khi số người cao tuổi lần đầu tiên chiếm 1/4 tổng dân số. Tới ngày 1-10-2013, dân số Nhật Bản đã giảm 0,17% (khoảng 217.000 người) xuống còn 127.298.000 người, trong đó tính cả người nước ngoài cư trú lâu dài tại Nhật Bản. Nhóm người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) tăng thêm 1,1 triệu người lên 31,9 triệu người, chiếm 25,1% dân số Nhật Bản. Trong khi đó, năm 2013, số ca sinh mới ở nước này giảm khoảng 6.000 ca so với 1 năm trước đó. Năm 2014, số lượng người già trên 65 tuổi đã cao gấp đôi so với số lượng trẻ em dưới 14 tuổi.
Trước thực trạng già hóa dân số đáng báo động, Chính phủ Nhật Bản đưa ra cảnh báo, vào năm 2060 gần 40% dân số nước này là người cao tuổi. Tình trạng dân số già hóa không chỉ kéo theo gánh nặng về trợ cấp an sinh xã hội khi số người nhận lương hưu ngày một tăng, mà còn là trở ngại lớn với đà phục hồi tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản khi mà lực lượng lao động trẻ ngày càng ít đi.
=== Tôn giáo ===
== Văn hóa ==
Văn hóa Nhật Bản là một trong những nền văn hóa đặc sắc nhất thế giới, văn hóa Nhật đã phát triển mạnh mẽ qua thời gian từ thời kỳ Jōmon cho tới thời kỳ đương thời, mà trong đó chịu ảnh hưởng cả từ văn hóa châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. Nghệ thuật truyền thống Nhật Bản bao gồm các ngành nghề thủ công như ikebana, origami, ukiyo-e, đồ chơi, đồ gỗ sơn mài và gốm sứ; các môn nghệ thuật biểu diễn như bunraku, nhảy, kabuki, nō, rakugo, ngoài ra còn phải kể đến những nét đặc sắc truyền thống khác như trà đạo, Budō, kiến trúc, vườn Nhật và cả gươm Nhật. Ẩm thực Nhật Bản hiện nay là một trong những nền ẩm thực nổi tiếng nhất trên thế giới.
Sự kết hợp của nghệ thuật in khắc gỗ truyền thống với văn hóa phương Tây đã dẫn đến sự ra đời của Manga, một thể loại truyện tranh nổi tiếng cả trong và ngoài nước Nhật. Sự ảnh hưởng của Manga đến thể loại hoạt hình đã dẫn đến sự phát triển thể loại hoạt hình đặc trưng của Nhật có tên gọi là Anime, nhờ sự phát triển vũ bão của Manga và Anime mà các trò chơi game video của Nhật cũng phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1980 .
Âm nhạc của Nhật Bản đã mượn nhiều nhạc cụ và phong cách từ các quốc gia láng giềng và phát triển thêm các nét đặc trưng của Nhật, điển hình như đàn Koto được giới thiệu vào Nhật từ thế kỷ thứ 9 và 10, hay như thể loại kịch Nō từ thế kỷ 14 và âm nhạc dân gian đại chúng, với những cây đàn như shamisen, được truyền bá tới Nhật từ thế kỷ 16. Âm nhạc phương Tây, được giới thiệu vào Nhật cuối thế kỷ 19, giờ đã trở thành một phần nội tại quan trọng trong văn hóa Nhật Bản. Nước Nhật thời hậu chiến tranh thế giới thứ hai bị ảnh hưởng nặng nề bởi âm nhạc Mỹ và âm nhạc hiện đại châu Âu, điều này đã dẫn đến sự phát triển của dòng âm nhạc gọi là J-pop.
Karaoke là hoạt động văn hóa phổ biến nhất ở Nhật. Từ tháng 11 năm 1993, cơ quan các hoạt động văn hóa đã tiến hành một cuộc thăm dò, kết luận rằng có nhiều người Nhật hát Karaoke hơn là tham gia vào các hoạt động văn hóa truyền thống như triết hoa hay trà đạo.
Các tác phẩm đầu tiên của văn học Nhật Bản bao gồm hai cuốn sách lịch sử Kojiki và Nihon Shoki cũng như tập thơ từ thế kỷ thứ 8 Man'yōshū, tất cả đều được viết bằng Hán tự. Vào giai đoạn đầu của thời kỳ Heian, hệ thống ký tự kana (Hiragana và Katakana) ra đời. Cuốn tiểu thuyết The Tale of the Bamboo Cutter được coi là tác phẩm ký sự lâu đời nhất của Nhật. Một hồi ký về cuộc đời trong cung cấm được ghi trong cuốn The Pillow Book, viết bởi Sei Shōnagon, trong khi Truyện kể Genji của Murasaki Shikibu thường được coi là tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới. Trong thời kỳ Edo, văn học không thực sự phát triển trong giới Samurai như trong tầng lớp người chōnin. Yomihon, là một ví dụ, đã trở nên nổi tiếng và tiết lộ sự thay đổi sâu kín này trong giới độc giả cũng như tác giả thời kỳ này. Thời kỳ Minh Trị chứng kiến một giai đoạn đi xuống trong các thể loại văn học truyền thống của Nhật, trong thời kỳ này thì văn học Nhật chịu nhiều ảnh hưởng từ văn học phương Tây. Natsume Sōseki và Mori Ōgai được coi là những văn hào tiểu thuyết "hiện đại" đầu tiên của Nhật, tiếp đó có thể kể đến Akutagawa Ryūnosuke, Tanizaki Jun'ichirō, Yasunari Kawabata, Yukio Mishima và gần đây hơn là Haruki Murakami. Nhật Bản có hai nhà văn từng đoạt giải Nobel là Yasunari Kawabata(1968) và Kenzaburo Oe (1994).
== Văn học ==
Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học dân tộc lâu đời nhất và giàu có nhất thế giới nảy sinh trong môi trường nhân dân rộng lớn từ thuở bình minh của các bộ tộc Nhật Bản, rất lâu trước khi quốc gia Nhật Bản được thành lập. Chúng ta không biết ngọn nguồn của văn học thành văn Nhật Bản khởi điểm chính xác từ khi nào, chỉ có thể ước định qua những tác phẩm khởi nguyên của văn học Nhật Bản vẫn được đánh giá là kiệt tác cổ điển như Vạn diệp tập thế kỷ thứ 8, thi tuyển tập hợp 3 thế kỷ thi ca trước đó của Nhật Bản và các cuốn sử Cổ sự ký và Nhật Bản thư kỷ văn bản hóa các truyền thuyết, huyền thoại lập quốc Nhật Bản.
Theo một số học giả có lẽ do ảnh hưởng của Âu châu luận, lịch sử văn học Nhật Bản có thể được chia ra 3 thời kỳ chính: Cổ đại, Trung cổ và Hiện đại, tương đương với cách phân kỳ lịch sử kinh điển thường gặp trong văn học phương Tây. Tuy nhiên, trong cuốn Nhật Bản văn học toàn sử do Tokyo Kodanshā xuất bản, văn học Nhật Bản được chia làm 6 thời kỳ ứng với 6 tập của cuốn sách: Thượng đại, Trung cổ, Trung thế, Cận thế, Cận đại và Hiện đại.
=== Di sản văn hóa UNESCO ===
Chùa Hōryū (法隆寺 Hōryū-ji, Pháp Long tự) là một ngôi chùa ở Ikaruga, huyện Nara. Tên đầy đủ là Pháp Long Học Vấn Tự (法隆学問寺 Hōryū Gakumonj), được biết đến với tên như vậy do đây là nơi vừa như một trường dòng, vừa là một tu viện. Ngôi chùa được biết đến như một trong các kiến trúc bằng gỗ có tuổi thọ cao nhất thế giới và là một nơi linh thiêng nổi tiếng ở Nhật Bản. Vào năm 1993, được ghi tên vào "Các thắng cảnh di sản thế giới được UNESCO công nhận" và được chính phủ xếp loại di sản quốc gia.
Gusuku là từ của người Okinawa nghĩa là "lâu đài" hay "pháo đài". Viết bằng Kanji theo nghĩa "lâu đài", 城, phát âm là shiro. Có nhiều Gusuku và các di sản văn hóa ở Ryukyu đã được UNESCO tặng danh hiệu Di sản văn hóa thế giới.
Thành Himeji (姫路城 Himeji-jō?) là một khu phức hợp gồm 83 tòa nhà bằng gỗ tọa lạc trên một khu vực đồi núi bằng phẳng ở huyện Hyogo. Thường được biết đến với tên Hakurojo hay Shirasagijo (Lâu đài hạc trắng) do được sơn phủ một lớp màu trắng tinh xảo bên ngoài. Được vinh dự là kì quan đầu tiên được UNESCO công nhận và là Di sản văn hóa Nhật Bản đầu tiên (tháng 12/1993). Một trong ba lâu đài đón khách viếng đông nhất ở Nhật cùng với tòa lâu đài Matsumoto và Kumamoto.
Khu tưởng niệm Hòa bình Hiroshima thường được gọi là Mái vòm nguyên từ (原爆ドーム Genbaku Dome), ở Hiroshima, là một phần của Công viên tưởng niệm hòa bình Hiroshima. Vào năm 1996 được UNESCO công nhận di sản thế giới.
Các công trình kiến trúc lịch sử cố đô Kyoto nằm rải rác 17 địa điểm trong đó ba công trình ở Kyoto, Ujin thuộc phủ Kyoto và Otsu ở huyện Shiga. Gồm có 3 chùa phật giáo, 3 đền Thần đạo và một lâu đài. Riêng 38 cơ sở kiến trúc được chính phủ liệt vào danh sách Di sản quốc gia, 160 kiến trúc khác vào danh sách Các công trình văn hóa quan trọng. Tám khu vườn thắng cảnh đặc biệt và bốn với Thắng cảnh đẹp. Công nhận năm 1994.
Các công trình lịch sử Nara cổ.
Làng lịch sử Shirakawa-go và Gokayama trên thung lũng sông Shogawa trải dài từ ranh giới huyện Gifu và Toyama phía bắc Nhật Bản. Shirakawa-go (白川郷, "Sông ánh bạc") tọa lạc ở khu làng Shirakawa huyện Gifu. Năm ngọn núi Gokayama (五箇山) bị chia cắt giữa khu làng cũ Kamitaira và Taira ở Nanto, tỉnh Toyama.
Thần xã Itsukushima (厳島神社, Itsukushima Jinja) là một ngôi đền Shinto trên đảo Itsukushima (tên cũ là Miyajima) ở thành phố Hatsukaichi, huyện Hiroshima. Một vài công trình tại đây cũng được chính phủ cho vào danh sách "Di sản quốc gia".
Mỏ bạc Iwami Ginzan (石見銀山 Iwami Ginzan?) là một khu vực khoáng sản tại thành phố Oda, huyện Shimane, thuộc đảo Honshu. Được UNESCO ghi tên năm 2007.
Dãy núi Kii hay bán đảo Kii (紀伊半島 Kii Hantō?) - một trong các bán đảo lớn nhất ở Honshu.
Vùng núi Shirakami (白神山地 Shirakami-Sanchi?) (Địa hạt của thần) nằm ở bắc Honshu. Các ngọn núi này trải dài vững chắc theo các khu rừng nguyên thủy từ huyện Akita đến Aomori. Tổng cộng 1. 300 km² trong đó 169,7 km² được vào danh sách UNESCO.
Vườn quốc gia Shiretoko (知床国立公園 Shiretoko Kokuritsu Kōen?) chiếm phần lớn bán đảo Shiretoko ở tận cùng đông bắc đảo Hokkaido, theo người Ainu nghĩa là "Nơi tận cùng Trái Đất". Một trong các cơ sở tôn giáo hẻo lánh nhất của Nhật. Công viên cũng là nơi cư ngụ của loài gấu lớn nhất Nhật Bản, có thể trông thấy khu đảo tranh chấp Kunashiri từ đây. Ngoài ra công viên còn có thác nước nóng Kamuiwakka-no-taki. Theo người Ainu đây là dòng nước của các vị thần. Được công nhận vào năm 2005 cùng với một phần đảo Kuril do Nga kiểm soát.
Nikko (日光市 Nikkō-shi?, "ánh nắng") là một thành phố nằm trên vùng đồi núi thuộc huyện Tochigi. Cách Tokyo 140 km về phía bắc và gần 35 km về phía tây của Utsunomiya, thủ phủ của Tochigi, nơi quàng lăng tẩm của Tướng quân Tokugawa Ieyasu (Nikko Tosho-gu) và người cháu trai Iemitsu (Iemitsu-byo Taiyu-in) cùng khu đền Futarasan. Shodo Shonin lập đền Rinno vào 782, theo sau không lâu là Đền Chuzen-ji năm 784, bao quanh là làng Đền chùa Nikkō. Đền của Nikko Tosho-gu được hoàn tất vào 1617 là một trong các nơi đón khách hành lễ đông nhất thời Edo. Nikko Tosho-gu, Đền Futarasan và Rinno-ji hiện cũng là Di sản được UNESCO công nhận.
Yakushima (屋久島 Yakushima?) là một đảo diện tích 500 km² và gần 15.000 cư dân, nằm về phía nam của Kyushu ở huyện Kagoshima, bị chia cắt khỏi Tanegashima bởi eo biển Vincennes với ngọn núi cao nhất của đảo Myanoura 1.935 m. Được vây quanh bởi rừng rậm dày đặc, đặc trưng với cây thông liễu (ở Nhật gọi là Sugi) và nhiều họ cây đỗ quyên.
=== Tôn giáo ===
Nhật Bản là nước có nhiều tôn giáo. Thần đạo, tôn giáo lâu đời nhất ở Nhật Bản, là sự phức hợp của những tín ngưỡng sơ khai ở Đông Á. Thần đạo có các vị thần được gọi là "kami" có thể ban phúc lành, chẳng hạn như một cuộc hôn nhân. Vào thế kỉ thứ 6, Phật giáo hệ phái Bắc Tông du nhập vào Nhật Bản qua Triều Tiên. Nghệ thuật và kiến trúc tinh tế của đạo Phật khiến cho tôn giáo này thu hút được sự quan tâm của triều đình lúc đó và Phật giáo trở thành quốc giáo của Nhật Bản. Đạo Phật nhanh chóng được truyền bá khắp Nhật Bản và nhiều tông phái Phật giáo đã ra đời và phát triển, trong đó nổi tiếng nhất ở phương Tây là Thiền tông (Zen). Thiên chúa giáo do người Bồ Đào Nha du nhập vào Nhật Bản năm 1549 và được khá nhiều người Nhật tin theo. Ngày nay ở Nhật không có một tôn giáo nào nổi trội và trên thực tế, có nhiều người Nhật cùng lúc tin theo nhiều tôn giáo khác nhau. Nhưng Phật giáo vẫn được xem là quốc giáo của Nhật Bản với khoảng 90 triệu tín đồ và ảnh hưởng của nó vô cùng to lớn, sâu sắc vào mọi mặt trong văn hóa, xã hội và lối sống của người Nhật.
=== Ẩm thực ===
Ẩm thực Nhật Bản rất phong phú và đặc biệt. Bao gồm sushi, trà đạo và các món khác như các loại bánh làm từ bột gạo.
Tuy nhiên, ẩm thực Nhật Bản cũng khá nguy hiểm với những món ăn như gỏi cá nóc và fugu, được chế biến từ cá xem sao của Nhật Bản. Phần bắp và bụng được coi là khá an toàn, nhưng phải có một con mắt thật tinh tường để loại đi những chất độc. Đã bao người phải bỏ mạng vì ăn phải chất độc của món fugu này. Thế nhưng đây được coi là đặc sản của Nhật Bản. Ở trung tâm Tokyo có rất nhiều nhà hàng chế biến món này. Thực khách sẽ tấm tắc khen ngon nếu họ còn sống sau khi ăn món này.
=== Hình ảnh ===
== Thể thao ==
Về truyền thống, Sumo được coi là môn thể thao quốc gia của Nhật Bản và là một trong những môn thể thao có lượng người xem lớn nhất tại Nhật. Các môn võ như judo, karate & kendō cũng phổ biến và được tập luyện rộng rãi khắp đất nước. Sau thời kỳ Minh Trị, rất nhiều môn thể thao phương Tây đã du nhập vào Nhật và lan truyền nhanh chóng trong hệ thống giáo dục.
Giải Bóng chày Nhật Bản được thành lập năm 1936. Ngày nay, bóng chày là môn thể thao có lượng người xem lớn nhất tại quốc gia này. Một trong những cầu thủ bóng chày nổi tiếng nhất của Nhật là Ichiro Suzuki, người đã từng dành danh hiệu cầu thủ đáng giá nhất Nhật Bản các năm 1994, 1995, 1996 và hiện đang chơi cho giải bóng chày Bắc Mỹ (tên tiếng Anh: Major League Baseball).
Từ khi có sự thành lập Giải bóng đá chuyên nghiệp Nhật Bản năm 1992, môn thể thao này cũng đã nhanh chóng phát triển mạnh mẽ. Nhật Bản là nước tổ chức Cúp bóng đá liên lục địa từ năm 1981 tới 2004 và là nước đồng chủ nhà World Cup 2002 cùng Hàn Quốc. Đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản là một trong những đội bóng thành công nhất ở châu Á với bốn lần dành chức vô địch cúp bóng đá châu Á. Nhật Bản là đất nước đầu tiên ở châu Á tổ chức 1 kỳ Thế vận hội, không kỳ Thế vận hội gì khác đó là Thế vận hội Mùa hè 1964 tổ chức tại Tokyo.
Golf, đua ô tô, giải đua ô tô Super GT và Formula Nippon cũng là những môn thể thao nổi tiếng ở Nhật. Đường đua Twin Ring Motegi được Honda hoàn thành xây dựng năm 1997 để đưa môn đua công thức 1 tới Nhật.
Trượt băng nghệ thuật cũng là một trong các môn thể thao phổ biến tại Nhật Bản; đặc biệt với sự cạnh tranh giữa Mao Asada và Kim Yuna gần đây đã nổi lên như một hiện tượng và thu hút được rất nhiều sự quan tâm của công chúng Nhật Bản.
== Đối ngoại và quốc phòng ==
Nhật Bản là thành viên của nhóm G8, khối APEC và ASEAN+3, đồng thời tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á. Nhật Bản đã ký một hiệp ước an ninh với Úc vào tháng 3 năm 2007 và với Ấn Độ vào tháng 10 năm 2008. Nhật Bản là nhà tài trợ lớn thứ năm thế giới qua hình thức hỗ trợ phát triển chính thức; nước này đã đóng góp 9,2 tỷ US$ trong năm 2014.
Nhật Bản xây dựng quan hệ chặt chẽ về kinh tế và quân sự với Hoa Kỳ; liên minh an ninh Mỹ-Nhật đóng vai trò nền tảng trong chính sách đối ngoại của quốc gia này. Gia nhập Liên Hiệp Quốc từ năm 1956, Nhật Bản đã phục vụ trong Hội đồng Bảo an với tư cách là nước thành viên không thường trực tổng cộng 21 năm, lần gần đây nhất là nhiệm kỳ từ năm 2016 đến 2017. Nhật Bản là một trong những nước G4 đang theo đuổi mục tiêu trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an.
Nhật Bản cũng vướng vào những vụ tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng: với Nga về chủ quyền trên quần đảo Nam Kuril, với Hàn Quốc về chủ quyền trên đảo Liancourt, với Trung Quốc và Đài Loan về chủ quyền trên quần đảo Senkaku, và với riêng Trung Quốc về phạm vi EEZ quanh Okino Tori-shima. Quốc gia này cũng đang phải đối mặt với mâu thuẫn từ vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên bắt cóc công dân Nhật Bản trong quá khứ, cũng như các căng thẳng xung quanh chương trình phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa trên bán đảo Triều Tiên (xem thêm: Đàm phán Sáu bên).
Quân đội Nhật Bản (Lực lượng Phòng vệ) bị giới hạn bởi Điều 9 Hiến pháp Nhật Bản, trong đó quy định nước này từ bỏ quyền tuyên chiến hoặc sử dụng vũ lực quân sự trong các cuộc xung đột quốc tế. Như vậy, Lực lượng Phòng vệ (JSDF) là binh lực quốc phòng thuần túy và không bao giờ được phép nổ súng bên ngoài lãnh thổ Nhật Bản. Lực lượng này do Bộ Phòng vệ quản lý, và gồm ba binh chủng chính yếu là Lực lượng Phòng vệ Mặt đất (JGSDF), Lực lượng Phòng vệ Biển (JMSDF) và Lực lượng Phòng vệ Trên không (JASDF). Lực lượng này gần đây đã mở rộng dần phạm vi hoạt động của mình, chẳng hạn như hỗ trợ công cuộc gìn giữ hòa bình; việc đưa binh sĩ sang Iraq đánh dấu sự xuất hiện lần đầu tiên của quân đội Nhật Bản bên ngoài lãnh thổ nước này kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Hiện nay Nhật Bản là một trong những nước duy trì ngân sách quốc phòng lớn nhất thế giới.
== Xem thêm ==
Du lịch Nhật Bản
Người Việt tại Nhật Bản
== Đọc thêm ==
Phạm Thu Giang Phúc Ông tự truyện - Fukuzawa Yukichi, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị và Sách Alpha, 2005.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Văn phòng Thủ tướng Nhật Bản
Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á |
vĩnh phú.txt | Vĩnh Phú là một tỉnh của Việt Nam từ năm 1968 đến năm 1996. Tỉnh này bao gồm hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ hiện nay.
== Vị trí địa lý ==
Phía Bắc giáp 3 tỉnh Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Bắc Thái, phía Nam giáp thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Sơn Bình, phía Đông giáp thành phố Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Sơn La.
== Lịch sử hình thành ==
Ngày 26-1-1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị quyết số 504-NQ/TVQH tiến hành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú. Thành phố Việt Trì trở thành tỉnh lỵ của Vĩnh Phú.
Năm 1976, tỉnh Vĩnh Phú có diện tích 5.187 km², 1.591.000 người; năm 1979: 4.630 km², dân số 1.429.900 người; năm 1991 4.823 km², 2.081.043 người.
Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết (ngày 26/11/1996) về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó có việc tái lập 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ từ tỉnh Vĩnh Phú.
== Thay đổi các đơn vị hành chính ==
Khi hợp nhất, tỉnh Vĩnh Phú ban đầu có tỉnh lị là thành phố Việt Trì, 3 thị xã: thị xã Phú Thọ, Phúc Yên, Vĩnh Yên và 18 huyện: Bình Xuyên, Cẩm Khê, Đa Phúc, Đoan Hùng, Hạ Hòa, Kim Anh, Lâm Thao, Lập Thạch, Phù Ninh, Tam Dương, Tam Nông, Thanh Ba, Thanh Sơn, Thanh Thủy, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Yên Lãng, Yên Lập.
Ngày 26/6/1976, thị xã Phúc Yên chuyển thành thị trấn thuộc huyện Yên Lãng.
Theo Quyết định số 178-CP ngày 5-7-1977 của Hội đồng Chính phủ, hợp nhất các huyện sau đây:
Huyện Tam Nông với huyện Thanh Thủy thành huyện Tam Thanh.
Huyện Vĩnh Tường với huyện Yên Lạc thành huyện Vĩnh Lạc.
Huyện Lập Thạch với huyện Tam Dương thành huyện Tam Đảo.
Huyện Yên Lập với huyện Cẩm Khê thành huyện Sông Thao (cộng thêm 10 xã: Hiền Lương, Quân Khê, Lâm Lợi, Xuân Áng, Chuế Lưu, Vô Tranh, Bằng Giã, Động Lâm, Văn Lang, Minh Côi của huyện Hạ Hòa).
Huyện Lâm Thao với huyện Phù Ninh (trừ 7 xã: Liên Hoa, Phú Mỹ, Trạm Thản, Tiên Phú, Minh Phú, Chân Mộng, Vụ Quang nhập vào huyện Sông Lô) thành huyện Phong Châu.
Huyện Bình Xuyên với huyện Yên Lãng thành huyện Mê Linh (cộng thêm 4 xã: Văn Tiến, Nguyệt Đức, Minh Tân, Bình Định của huyện Yên Lạc, 2 xã Kim Hoa và Quang Minh của huyện Kim Anh).
Hai huyện Đa Phúc và Kim Anh (trừ 2 xã Kim Hoa và Quang Minh nhập vào huyện Mê Linh), thị trấn Xuân Hòa (trực thuộc tỉnh) thành huyện Sóc Sơn.
Ba huyện Đoan Hùng, Thanh Ba, Hạ Hòa thành huyện Sông Lô (cộng thêm 7 xã: Liên Hoa, Phú Mỹ, Trạm Thản, Tiên Phú, Minh Phú, Chân Mộng, Vụ Quang của huyện Phù Ninh).
Ngày 29-12-1978, huyện Mê Linh gồm thị trấn Phúc Yên và 18 xã được sáp nhập vào Hà Nội, cho đến tháng 7 năm 1991 thì tách khỏi Hà Nội và trở về tỉnh Vĩnh Phú. Huyện Sóc Sơn cũng nhập vào Hà Nội ngày 29-12-1978.
Còn các xã: Minh Quang, Gia Khánh, Trung Mỹ, Thiện Kế, Sơn Lôi, Tam Hợp, Bá Hiến, Tam Canh, Quất Lưu, Thanh Lãng, Tân Phong, Phú Xuân, Đạo Đức, Hương Sơn và thị trấn Nông Trường Tam Đảo thuộc huyện Bình Xuyên cũ cắt sang huyện Tam Đảo; 4 xã Văn Tiến, Nguyệt Đức, Minh Tân và Bình Định nhập vào huyện Vĩnh Lạc.
Ngày 26-2-1979, chia huyện Tam Đảo thành 2 huyện Tam Đảo và Lập Thạch.
Năm 1980, tỉnh Vĩnh Phú có 1 thành phố Việt Trì (tỉnh lỵ), 2 thị xã Phú Thọ, Vĩnh Yên và 8 huyện Tam Đảo, Tam Thanh, Lập Thạch, Vĩnh Lạc, Sông Thao, Sông Lô, Phong Châu và Thanh Sơn.
Ngày 22-12-1980, huyện Sông Thao tách thành 2 huyện Yên Lập và Sông Thao, tách huyện Sông Lô thành 2 huyện Đoan Hùng và Thanh Hòa.
Ngày 12-8-1991, chuyển huyện Mê Linh thuộc thành phố Hà Nội về tỉnh Vĩnh Phú.
Ngày 7-10-1995, huyện Thanh Hòa tách ra thành 2 huyện Thanh Ba và Hạ Hòa; huyện Vĩnh Lạc tách ra thành 2 huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc.
Đến cuối năm 1995, tỉnh Vĩnh Phú có 16 đơn vị hành chính gồm: thành phố Việt Trì (tỉnh lị), 2 thị xã Phú Thọ, Vĩnh Yên và 13 huyện: Đoan Hùng, Hạ Hòa, Lập Thạch, Mê Linh, Phong Châu, Sông Thao, Tam Đảo, Tam Thanh, Thanh Ba, Thanh Sơn, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Yên Lập.
Ngày 6 tháng 11 năm 1996, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX ra nghị quyết chia tỉnh Vĩnh Phú để tái lập tỉnh Phú Thọ và tỉnh Vĩnh Phúc. Tỉnh Phú Thọ gồm thành phố Việt Trì (tỉnh lị), thị xã Phú Thọ và 8 huyện: Đoan Hùng, Hạ Hòa, Phong Châu, Sông Thao, Tam Thanh, Thanh Ba, Thanh Sơn, Yên Lập. Tỉnh Vĩnh Phúc gồm thị xã Vĩnh Yên và 5 huyện: Lập Thạch, Mê Linh, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc.
== Chú thích == |
tranh hàng trống.txt | Tranh Hàng Trống một trong những dòng tranh dân gian Việt Nam được làm chủ yếu tại phố Hàng Nón, Hàng Trống của Hà Nội xưa. Hàng Trống xưa kia thuộc đất cũ của thôn Tự Tháp, tổng Tiền Túc (sau đổi thành Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Phố Hàng Trống nằm kề các phố Hàng Nón, Hàng Hòm, Hàng Quạt... là nơi chuyên sản xuất cả đồ thủ công mỹ nghệ nhất là đồ thờ như: tranh thờ, trống, quạt, lọng, cờ... Dòng tranh này hiện nay gần như đã bị mai một hết, chỉ còn lưu giữ trong các viện bảo tàng. Chính vì vậy, những nghệ nhân vẽ tranh Hàng Trống giảm hẳn. Hiện, chỉ còn duy nhất nghệ nhân Lê Đình Nghiên còn gắn bó với nghệ thuật tranh Hàng Trống và những nét tinh hoa của dòng tranh
== Sơ lược ==
Dòng tranh này cũng như các dòng tranh phổ biến khác đều có hai dòng tranh chính là tranh thờ và tranh Tết. Nhưng chủ yếu là tranh thờ dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng phục vụ đền phủ của Đạo giáo nhất là tranh thờ của Đạo Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh ở phủ giầy, Nam Đình), như tranh Tứ Phủ cộng đồng, Bà chúa thượng ngàn, Mẫu Thoải, Ngũ Hổ, Ông Hoàng cưỡi cá, cưỡi ngựa, cưỡi rắn, Ông Hoàng Mười, Bà Chúa Ba, Đức Thánh Trần... rất đẹp. Loại tranh này thường được các cụ chạm bằng vàng hay bạc thật dát mỏng. Tranh Tết thì Chúc phúc, Tứ quý,...
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có lẽ dòng tranh Hàng Trống xuất hiện từ khoảng 400 năm trước đây. Và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các luồng tư tưởng, văn hoá, tôn giáo, của vùng miền, các dân. Là kết quả của sự giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo, Nho giáo; giữa loại hình tượng thờ, điêu khắc ở đình chùa với những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá hằng ngày.
Dòng tranh Hàng Trống thực sự phát triển cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhưng tới thế kỷ 20 dòng tranh này bắt đầu suy tàn, nhất là kể từ sau kết thúc chiến tranh Việt Nam hầu như các nhà làm tranh đều giải nghệ. Nhiều nhà làm tranh còn đốt bỏ hết những dụng cụ làm tranh như ván, bản khắc, một phần do thú chơi tranh của người Hà Nội đã đổi khác, một phần do việc làm tranh không có thu nhập cao nên nhiều người đã chuyển nghề.
== Đặc điểm ==
=== Cách in ấn và vẽ ===
Tranh Hàng Trống sử dụng kỹ thuật nửa in nửa vẽ, tranh chỉ in ván nét lấy hình, còn màu là thuốc nước, tô bằng bút lông mềm rộng bản, một nửa ngọn bút chấm màu, còn nửa ngọn bút kia chấm nước lã, tô tranh theo kỹ thuật vờn màu.
Tranh chỉ có một bản đen đầu tiên, sau khi in thì tranh được tô màu lại bằng tay. Từ các bản khắc gốc, những bức tranh đã được in ra, bằng mực Tàu mài nguyên chất. Sau đó là công đoạn bồi giấy. Tùy thuộc từng tranh cụ thể mà có tranh chỉ bồi một lớp, có tranh lại phải bồi đến 2 hay 3 lớp giấy. Khi hồ đã khô thì mới có thể vẽ màu lại. Có khi phải mất đến 3, 4 ngày mới hoàn thành một bức tranh.
Tranh được in trên giấy dó bồi dày hay giấy báo khổ rộng. Có những tranh bộ khổ to và dài, thường bồi dày, hai đầu trên dưới lồng suốt trục để tiện treo, phù hợp với kiểu kiến trúc nhà cao, cửa rộng nơi thành thị.
Ván khắc được làm bằng gỗ lồng mực hoặc gỗ thị. Mực in truyền thống dùng bằng những chất liệu dân dã nhưng cầu kỳ và tinh xảo trong chế tác.
=== Màu sắc và cách tạo màu ===
Tranh dùng các gam màu chủ yếu là lam, hồng đôi khi có thêm lục, đỏ, da cam, vàng... Tỷ lệ được tạo không hề đúng với công thức chuẩn mà chỉ để cho thật thuận mắt và ưa nhìn.
Tranh Hàng Trống được tô màu bằng bút lông và phẩm nhuộm nên màu sắc đậm đà hơn tranh Đông Hồ.
=== Đề tài nội dung và thể thức tranh ===
Đề tài của tranh rất phong phú nhưng chủ yếu là tranh thờ như: Hương chủ, Ngũ hổ, Độc hổ, Sơn trang, Ông Hoàng Ba, Ông Hoàng Bảy... Ngoài ra cũng có những bức tranh chơi như các bộ Tứ Bình (4 bức) hoặc Nhị bình (2 bức). Tứ bình thì có thể là tranh Tố nữ, Tứ dân (ngư, tiều, canh, mục) hoặc Tứ quý (Bốn mùa). Tứ bình còn có thể trình bày theo thể liên hoàn rút từ các truyện tích như Nhị độ mai, Thạch Sanh, Truyện Kiều. Nhị bình thì vẽ những đề tài như "Lý ngư vọng nguyệt" (Cá chép trông trăng) hoặc "Chim công múa" có tính cách cầu phúc, thái bình. Những bức về đề tài dân dã như cảnh "Chợ quê" hay "Canh nông chi đồ" cũng thuộc loại tranh Hàng Trống.
== Xem thêm ==
Tranh Đông Hồ
Tranh Kim Hoàng
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bao giờ Tranh Hàng Trống mới về với phố Hàng Trống |
nội chiến anh.txt | Nội chiến Anh (1642-1651) là một các cuộc chiến giữa Quốc hội và phe Bảo hoàng Anh. Các cuộc chiến này thường được các sử gia chia làm ba giai đoạn:
Nội chiến Anh lần thứ nhất (1642-1646), giữa phe Bảo hoàng Anh của vua Charles I với quốc hội dài hạn.
Nội chiến Anh lần thứ nhì (1648-1649), giữa phe Bảo hoàng Anh của vua Charles I với quốc hội dài hạn.
Nội chiến Anh lần thứ ba (1649-1651), giữa phe Bảo hoàng của vua charles II và nhóm dân biểu còn lại.
== Bối cảnh ==
Sau khi vua James I (1603-1625) qua đời năm 1625, Thái tử Charles lên nối ngôi, tức là vua Charles I.
Năm 1625, vua Charles cưới Henrietta Maria, con gái vua Henri IV của Pháp. Cuộc hôn nhân này không được quần thần và thần dân Anh tán tưởng vì hoàng hậu Maria là một tín đồ Công giáo La Mã ngoan đạo, lại được nuôi dưỡng trong một chế độ quân chủ tuyệt đối. Về sau, sự ảnh hưởng của Maria đối với các chính sách của Charles khiến cho giữa ông và Quốc hội xảy ra tranh chấp.
Cũng như đối với vua James, vấn đề trọng đại được đặt ra là quốc vương Anh có thể là vị vua có quyền lực tuyệt đối như các vương triều châu Âu khác, hay các quyền làm luật và đánh thuế của nhà vua đều bị giới hạn bởi Quốc hội. Ngoài ra, còn có vấn đề tôn giáo nữa. Nhiều cận thần của vua Charles I theo Thanh giáo (Puritans) muốn huỷ bỏ một số lễ nghi của nhà thờ Công giáo La Mã và e ngại nhà vua sẽ phục hồi Công giáo (Catholic). Như vậy, giữa nhà vua và quốc hội có sự bất tín nhiệm lẫn nhau. Do cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha và Pháp, vua Charles rất cần tiền chi phí chiến tranh nhưng quốc hội lại không chịu bỏ phiếu phê chuẩn số tiền mà ông cần đến. Vua Charles đành phải tiết kiệm tiền bằng cách cho quân sĩ sống nhờ nhà dân và buộc các nhà giàu phải cho triều đình vay tiền, những người từ chối sẽ bị tống giam vào ngục. Hành động này của vua Charles I và các quyết định bất thường khác đã khiến cho các vị lãnh đạo quốc hội Anh phản đối, vị họ cho rằng các chính sách này vi phạm đến các tự do hiến định của nhân dân. Sự tranh chấp lên tới mức độ căng thẳng khiến cho nhà vua phải giải tán quốc hội hai lần.
Năm 1628, vua Charles triệu tập quốc hội thứ ba và sự thù nghịch giữa nhà vua với quốc hội càng tăng thêm rõ ràng. Quốc hội thứ ba đã xác nhận lời trách cứ của họ đối với các yêu sách bất hợp pháp của nhà vua, buộc ông phải nhận đơn thỉnh nguyện trong đó liệt kê "các quyền lợi khác nhau và các tự do của thần dân". Đơn thỉnh nguyện về quyền lợi này đề nghị huỷ bỏ việc bắt buộc vay tiền và đóng quân tại nhà dân, đồng thời cũng xác nhận rằng quốc hội có quyền giới hạn các quyền lực của nhà vua. Để có tiền, vua Charles I đã ký nhận đơn thỉnh nguyện rồi về sau, do cảm thấy bị mất thể diện, ông đã giải tán quốc hội thứ ba năm 1629 và trong vòng 11 năm tiếp theo, ông trị vì mà không triệu tập quốc hội nữa. Cũng trong thời gian này, ông không thèm đếm xỉa tới các lời thỉnh cầu và với một số cận thần. Ông còn nghĩ đền nhiều cách gây quỹ làm mất lòng dân, chẳng hạn như để trang bị một hạm đội, nhà vua đòi thần dân nộp "tiền đóng tàu" (ship money) và coi đây không phải là một thứ thuế. Thần dân Anh đã phản kháng việc này và trong số đó có ông John Hampden đã từ chối nộp 20 bảng Anh và đã táo bạo đưa vấn đề ra toà án để tranh cãi.
Năm 1633, ông William Laud, Tổng Giám mục Canterbury, là người muốn áp dụng chính sách của nhà thờ nước Anh vào toàn thể nước Anh và Scotland. Việc bắt buộc dùng kinh cầu nguyện Anh (the English Prayer Book) tại các nhà thờ Scotland của tổng Giám mục Laud đã khiến cho dân Scotland nổi lên chống đối. Do không thể dẹp loạn, vua Charles I phải triệu tập một quốc hội vào năm 1640 nhưng lại hạ lệnh giải tán chỉ 5 ngày sau đó. Đây là quốc hội Ngắn hạn (the Short Parliament). Nhưng sự bất lực của nhà vua đã khiến cho một quốc hội thành lập cùng năm ấy quốc hội mới thông qua một nghị quyết kể từ này, quốc hội sẽ không bị giải tán nếu không có sự đồng ý của chính họ. Người đương thời đã gọi đây là quốc hội Dài hạn (The Long Parliament).
Ngay sau đó quốc hội Dài hạn đã tống giam Thomas Wentworth, Bá tước Strafford thứ nhất cùng với Tổng Giám mục Laud vào Tháp Luân Đôn (The Tower of London). Năm 1641, Bá tước Strafford bị hành quyết và Tổng Giám mục Laud phải chịu chung số phận vào 4 năm sau. Đồng thời, quốc hội Anh phổ biến tới toàn dân "Bài khiển trách lớn lao" (the Grand Remonstrace), trong đó liệt kê lỗi lầm của nhà vua và đòi hỏi các bộ trưởng phải chịu trách nhiệm trước quốc hội, đòi hỏi nhà vua không được đánh thuế dân chúng nếu không có sự đồng ý của quốc hội. Vua Charles I lúc đấy đã không muốn từ bỏ một uy quyền nào. Năm 1642, ông đã nổi giận, dẫn một toán binh sĩ trang bị đầy đủ khí giới, xông vào Toà Nhà Quốc hội để bắt 5 dân biểu hàng đầu, thường tỏ ra chống đối Charles I. Nhưng 5 người này đã được báo trước và trốn chạy. Hành động của Charles đã nhanh chóng gây ra cuộc nội chiến, và ông đã bỏ chạy lên mạn bắc nước Anh chuẩn bị lực lượng chống lại Quốc hội và nhân dân.
== Diễn biến ==
Sau đó, cả hoàng gia và quốc hội đều lo tập trung quân đội. Có một nửa nhân viên quốc hội ủng hộ hoàng gia, được gọi là các "kị binh" (cavaliers), gồm các nhà quý tộc và phần lớn các, trong khi những người theo quốc hội, chống lại vua thì được gọi là các "kẻ đầu tròn" (roundheads) vì họ cắt tóc thật sát. Các "kẻ đầu tròn" khi đó đã kiểm soát được thành phố Luân Đôn, điều khiển được hải quân và có quyền đánh thuế để tăng ngân quỹ. Tháng 8 năm 1642, cuộc nội chiến bùng nổ, phe quốc hội hay các "kẻ đầu tròn" đã sớm tìm ra một vị chỉ huy quân sự có tài, đó là ông Oliver Cromwell - một người Thanh giáo.
Tháng 7 năm 1644, trong trận chiến Marston Moor gần xứ York, Hoàng thân Ruper đã đưa một đạo quân bảo hoàng đánh vào cánh phải của quân quốc hội thì bất ngờ, quân kị binh của Cromwell từ bên trái đánh sang và giành chiến thắng, khiến cho hoàng thân Ruper phải gọi đội kị binh của Cromwell là đạo quân "sườn sắt" (the Ironsides).
Cuộc nội chiến ngày càng tiếp diễn, vai trò của Cromwell ngày càng trở nên quan trọng. Cromwell đã tổ chức lại quân đội theo kiểu mẫu đạo quân "sườn sắt" và đại phá quân hoàng gia trong trận chiến cuối cùng Naseby vào tháng 6 năm 1645. Đầu năm sau (1646), vua Charles phải chạy sang Scotland nhưng bị dân xứ này bắt được và giao cho nhân dân Anh.
Nước Anh thời kỳ này được trị vì bởi các lãnh đạo quân đội và nhóm dân biểu "còn lại" (the Rump) của quốc hội năm 1640, là những người rất trung thành với lý tưởng Thanh giáo. Các nhà lãnh đạo này đều cho rằng Charles không đáng tin cậy và độc đoán, cần phải trừ khử. Ngày 20 tháng 1 năm 1649, trước sức ép của nhân dân và quân đội,Charles bị đưa ra xét xử vì tội "phản bội". Ngày 30 tháng 1 cùng năm nhà vua bị kết án là "bạo chúa, phản bội, sát nhân và là kẻ thù của nhân dân" và bị xử tử trước sự chứng kiến của đông đảo quần chúng.
Oliver Cromwell sau đó lên nắm quyền, thiết lập chế độ độc tài khiến người dân oán hận. Tới khi Oliver Cromwell qua đời, nước Anh đã chán ngán với sự cai trị của Thanh giáo, nhiều người muốn dàn xếp những mối bất hoà cũ và khôi phục lại chế độ quân chủ, vua Charles II được mời quay trở lại triều đình năm 1660 nhưng vẫn muốn giữ những thành quả của cách mạng. Khi ấy Hiến pháp được đưa ra với quy định rằng Nhà vua và Nghị viện sẽ cùng cai trị, dù trên thực tế mãi tới thế kỷ sau quy định này mới được thực sự áp dụng trong thực tế. Với việc thành lập Hội Hoàng gia, khoa học và nghệ thuật được khuyến khích phát triển. Năm 1688, chế độ quân chủ lập hiến chính thức được xác lập, với Vương công xứ Orange là William III nắm quyền, nhưng quyền lợi lại nằm trong tay tư sản và quý tộc mới.
== Ý nghĩa ==
Cách mạng tư sản Anh thành công chủ yếu là nhờ được quần chúng ủng hộ và tham gia đấu tranh. Cách mạng dọn đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ hơn, thể hiện sự thắng thế của giai cấp tư sản đối với giai cấp phong kiến, báo hiệu sự suy vong của giai cấp phong kiến. Thế nhưng quyền lợi của nhân dân lao động lại không được đáp ứng và cách mạng tư sản là cách mạng không triệt để
== Tham khảo ==
^Sách giáo khoa lịch sử 8
== Xem thêm ==
Cách mạng Hà Lan
Cách mạng Pháp
Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ. |
taekwondo.txt | Taekwondo, Tae Kwon Do, Taekwon-Do (태권도, 跆拳道, âm Hán Việt: thai quyền đạo), là môn thể thao quốc gia của Hàn Quốc và là loại hình võ đạo (mudo) thường được tập luyện nhất của nước này. Nó cũng là một trong các môn thể thao phổ biến nhất trên thế giới . Trong tiếng Triều Tiên, Tae (태, hanja 跆) có nghĩa là "thủ pháp"; Kwon (권, hanja 拳) nghĩa là "cước pháp"; và Do (도, hanja 道) có nghĩa là "Đạo, con đường" hay "nghệ thuật." Vì vậy, Taekwondo có nghĩa là "Nghệ thuật đấu võ bằng tay và chân."
== Lịch sử ==
=== Sơ khai ===
Võ thuật ở Hàn Quốc có lịch sử lâu đời bắt đầu từ thời cổ đại. Các nghệ thuật chiến đấu truyền thống của Hàn Quốc, có thể bắt nguồn từ thời kì Cao Ly năm 37 trước Công nguyên. Người ta đã phát hiện ra tại di tích của mồ mả hoàng gia Muyongchong và Kakchu-chong xây cất trong khoảng từ năm thứ 3 đến năm 427 nhiều bức tranh vẽ trên tường có cảnh những người đàn ông đang tập luyện. Đây có thể là những tài liệu ban đầu mô tả về các kỹ thuật đối kháng ban đầu có tên là Subakhi.
Các kỹ thuật chiến đấu truyền thống Triều Tiên cũng được tập luyện tại Sil La, một vương quốc được thành lập ở đông nam Triều Tiên vào khoảng 20 năm trước triều đại Cao Câu Ly ở phía bắc. Tại Kyongju, kinh đô trước đây của Tân La, hình hai vị Kim Cang trừ ma diệt quỷ bảo vệ Phật giáo trong tư thế trụ tấn được khắc trên bức tường trong hang động Sokkuram ở đền Pulkuk-sa. Thời gian này, một tổ chức Hwarangdo gây ảnh hưởng rất lớn và làm phong phú thêm cho nền văn hoá và võ thuật Triều Tiên, được thành lập. Con cháu của giới quý tộc ở Tân La đã được tuyển chọn để học tập huấn luyện trong Hwarangdo như là một tổ chức quân đội, giáo dục và xã hội. Các kỹ thuật chiến đấu của Trung Quốc cũng được du nhập và được đưa vào huấn luyện truyền bá trong Hwarangdo với tên gọi Dang Soo (Đường thủ), Gong Soo (Tống thủ).
Nhiều tài liệu cho thấy tổ chức này không chỉ xem việc tập luyện võ thuật như là phần thiết yếu trong huấn luyện quân đội và tăng cường thể chất mà còn phát triển chúng như là một hoạt động giải trí. Các khám phá nghệ thuật cổ như các bức tranh trên tường ở những ngôi mộ của triều đại Cao Câu Ly, các hình ảnh khắc trên đá ở những đền, chùa được xây dựng trong khoảng thời gian của triều đại Silla và nhiều tài liệu cho thấy các thế tấn, kỹ thuật và hình dáng rất giống với các thế tấn và hình dáng của Taekwondo ngày nay.
Trong thời kì Cao Ly (918-1392), võ thuật Triều Tiên, lúc bấy giờ được biết nhiều với tên gọi là Subakhi, được tập luyện không chỉ được xem như là một kỹ năng để tăng cường sức khoẻ mà nó còn được khuyến khích tập luyện như một võ thuật có giá trị cao. Có ít nhất là hai tài liệu được ghi chép trong thời gian đó cho thấy rằng Subakhi đã trở nên rất phổ biến đến nỗi nó được đem biểu diễn cho vua xem. Điều này có nghĩa là Subakhi đã được tập luyện như một môn thể thao có tổ chức cho khán giả xem và các chuyên gia cho rằng vào thời gian đó người Hàn Quốc rất thích khía cạnh thi đấu của võ thuật.
Dưới thời nhà Triều Tiên có một quyển sách phát hành về dạy hệ thống các kỹ năng chiến đấu tương tự cách huấn luyện võ thuật ngày nay. Nó đã trở thành phổ biến hơn với công chúng, ngược lại với triều đại Koryo trước đây, võ thuật chỉ độc quyền cho quân đội. Một tài liệu lịch sử viết người dân của tỉnh Chungchong và Cholla đã tụ tập ở một làng tổ chức thi đấu Subakhi. Tài liệu này cho thấy Subakhi đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động thể thao quần chúng. Hơn thế nữa, dân chúng muốn tham gia vào quân đội của hoàng gia rất háo hức tập luyện Subakhi bởi vì nó là môn kiểm tra chính trong chương trình tuyển chọn.
Đặc biệt, vua Triều Tiên Chính Tổ (1777-1800) phát hành một bộ sách giáo khoa về phong tục và tập quán Hàn Quốc có tựa đề là Chaemulbo, trong đó nói rằng Subakhi được gọi là Taekkyon, một tên gọi rất tương đồng với tên gọi Taekwondo ngày nay.
Các chuyên gia cho rằng vấn đề quan trọng ở đây không chỉ là tên được thay đổi mà cả kỹ thuật cũng thay đổi một cách đột ngột. Trong giai đoạn lịch sử Subakhi trước đó, kỹ thuật tay được nhấn mạnh. Các tài liệu lịch sử có liên quan đến Taekkyon được xuất bản vào khoảng cuối thế kỷ 19 ghi lại rằng nó là một nghệ thuật được đặt phần lớn trên các kỹ thuật chân. Lúc bấy giờ, Taekkyon thật sự là một môn thi đấu có hệ thống tập trung vào kỹ thuật chân và chiến thuật. Vì vậy thật là rõ ràng trong suốt thời nhà Triều Tiên, Subakhi đã trở thành một môn thể thao quốc gia quan trọng và thu hút sự chú ý của cả hoàng gia lẫn công chúng.
Vào cuối triều đại Chonsun, Subakhi bắt đầu suy tàn vì sự bỏ mặc của hoàng gia cũng như sự ăn sâu của đạo Khổng đề cao giá trị văn chương. Subakhi chỉ tồn tại như một hoạt động giải trí của người dân thường.
Vào cuối thế kỷ 19, quân đội Triều Tiên suy yếu, người Nhật đô hộ đất nước. Sự áp bức của đế quốc Nhật Bản đối với nhân dân Triều Tiên rất hà khắc và việc tập luyện võ thuật được xem nguồn gốc của sự nổi loạn bị cấm đoán. Tuy nhiên, các tổ chức kháng Nhật sử dụng Taekkyon như một phương pháp huấn luyện tinh thần và thể chất. Ngoài ra, các du học sinh Triều Tiên tại Nhật Bản cũng hấp thu được các môn võ mới của Nhật Bản như Karate và Jujitsu. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành môn võ Taekwondo hiện đại sau này.
=== Hiện đại ===
Sau giải phóng vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, những người có nguyện vọng khôi phục lại môn võ thuật cổ truyền Triều Tiên bắt đầu dạy trở lại. Bên cạnh đó, các du học sinh Triều Tiên tại Nhật Bản cũng trở về Triều Tiên và mở các võ đường dạy các kỹ thuật họ tổng hợp từ môn võ truyền thống Triều Tiên với các kỹ thuật tân tiến của Nhật Bản. Các võ đường lớn được thành lập như Chung Do Kwan (청도관) do Lee Won Kuk thành lập tháng 9 năm 1944; Moo Duk kwan (무덕관) do Hwang Kee thành lập tháng 11 năm 1945, Kwon Bop dojang (권법도장) do Yun Byung-in thành lập và Song Moo kwan (송무관) do Byung Jik Ro thành lập). Hầu hết đều dùng tên gọi Kong So do hay Tae Soo Do cho môn võ tổng hợp của mình.
Tháng 1 năm 1946, Choi Hong Hi, một sĩ quan trẻ, đã xây dựng phong trào tập luyện võ thuật trong đơn vị của mình. Tám năm sau, trên cương vị Thiếu tướng Tư lệnh Sư đoàn 29 Bộ binh, ông đã thành lập võ đường Oh Do Kwan (오도관 - Ngã Đạo Quán) tại Yong Dae Ri. Tháng 9 năm 1954, Choi cùng các môn đệ của mình đã biểu diễn các kỹ thuật mới do chính ông tổng hợp trước sự chứng kiến của Tổng thống Rhee Syngman vào tháng 9 năm 1954. Buổi biểu diễn đã gây được ấn tượng lớn đối với Rhee và Choi được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của Chung Do Kwan, bấy giờ là võ đường lớn nhất Hàn Quốc. Đầu năm 1955, một ủy ban đặc biệt được thành lập theo chỉ thị của tổng thống bao gồm các nhân sĩ trí thức, giáo sư, sử gia và các chính khách uy tín để đặt tên cho môn võ mới nhằm quảng bá trong đại chúng. Ngày 11 tháng 4 năm 1955, ủy ban công bố tên gọi TaeKwonDo cho môn võ thuật dựa trên nền tảng của môn Taekkyon đã được hiện đại hóa. Tên gọi này chính thức được dùng để thay thế cho những tên gọi cũ như Dang Soo, Gong Soo, Taek Kyon, Kwon Bup,... vốn vẫn được lưu hành trong dân gian.
Cuối cùng vào tháng 9 năm 1959, Hội Taekwondo Hàn Quốc được thành lập (trước đó vốn mang tên là Hiệp hội Tae Soo Do Triều Tiên). Vào thập niên 1960, huấn luyện viên Hàn Quốc bắt đầu ra nước ngoài phổ biến Taekwondo. Tháng 10 năm 1963, Taekwondo đã trở thành môn thi đấu chính thức lần đầu tiên tại Đại hội Thể thao Quốc gia. Đây là bước ngoặt trong lịch sử phát triển của môn võ này.
Ngày 22 tháng 3 năm 1966, Liên đoàn Taekwondo quốc tế (International Taekwon-Do Federation - ITF) được thành lập với 9 thành viên sáng lập gồm Việt Nam Cộng hòa, Malaysia, Singapore, Tây Đức, Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Ai Cập và Hàn Quốc.
Năm 1972, Taekwondo chứng kiến cuộc phân ly lớn sau khi Chủ tịch ITF lưu vong sang Canada và dời trụ sở của ITF về đây sau đó chia làm 3 chi phái: Choi Hong Hwa [con trai của Choi Hong Hi], Chang Ung thành viên IOC tại Bắc Hàn,. Tại Hàn Quốc, Hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc thành lập Kukkiwon (국기원) để tiêu chuẩn hóa kỹ thuật và tổ chức. Giải Vô địch Thế giới lần 1 tại Seoul từ ngày 25 đến 27 tháng 5 năm 1973 với 19 quốc gia tham dự. Tại cuộc họp được tổ chức bên lề của giải, một tổ chức mới được thành lập với tên gọi là Liên đoàn Taekwondo Thế giới (World TaeKwonDo Federation - WTF), do Tiến sĩ Un Yong Kim làm chủ tịch. Từ đó, giải Vô địch Taekwondo Thế giới được tổ chức 2 năm một lần.
Hiện nay Liên đoàn Taekwondo Thế giới (WTF) có 193 quốc gia thành viên toàn thế giới, với khoảng 50.000.000 người tập luyện. IOC đã công nhận Taekwondo là môn thể thao quốc tế tại đại hội lần thứ 83 năm 1980, Taekwondo được công nhận là môn thi đấu tại Thế vận hội 2000 và 2004.
Về tên gọi của Taekwondo ở Việt Nam, do được truyền bá bởi quân đội Nam Hàn trong chiến tranh Việt Nam nên thời gian đầu môn võ này được gọi là Võ Đại Hàn, sau đó được gọi là Túc Quyền đạo, Thái Cực Đạo (tên gọi này được cho là xuất phát từ lá cờ mang hình âm dương thái cực của Hàn Quốc). Taekwondo cũng phổ biến ở miền Nam Việt Nam trước khi được truyền bá ra miền Bắc.
== Đặc điểm ==
Do võ phục, phân cấp màu đai cũng như đòn thế của Taekwondo có nét tương đồng với Karatedo, và việc Nhật Bản truyền bá môn võ Karatedo vào Hàn Quốc trong thời thế chiến đệ nhị nên trong những năm thập niên 50-60, nhiều người trên thế giới lầm tưởng rằng Taekwondo là từ một hệ phái của Karatedo tách ra và phát triển thành một môn võ. Trong nỗ lực thoát khỏi ảnh hưởng từ Karatedo của các bậc thầy sáng lập môn phái Taekwondo hiện đại, và để phù hợp hơn với đặc tính của môn thể thao Taekyon truyền thống, Taekwondo chú trọng đặc biệt vào những đòn chân (chokki, cước pháp) và nhấn mạnh tính chất thể thao của bộ môn. Trong khi có một số nét tương tự Kungfu của Trung Quốc và các môn võ Triều Tiên khác như Hapkido, Tangsudo, Taekwondo có chiều hướng sử dụng bàn chân và cẳng chân qua những cú đá đầy uy lực. Các võ sư Taekwondo chuyên nghiệp đã làm cả thế giới ngạc nhiên với những kỹ năng nhào lộn phá tan những tấm gỗ đặt cách mặt đất 10 feet hay tấn công liên hoàn nhiều mục tiêu trên không.
Tuy nhiên, thực tế Taekwondo có một số lượng đòn tay (sugi) khá lớn, nếu xem xét các bài quyền và chương trình luyện tập, người tập dễ nhận thấy số lượng đòn tay của Taekwondo nhiều gấp ba lần các đòn tấn công hoặc phòng ngự bằng chân. Với số lượng đòn tay phong phú như vậy, không hề thua sút môn Quyền Anh nếu môn sinh không sao nhãng luyện tập. Dầu vậy, trong huấn luyện và thi đấu với tư cách một môn thể thao hơn là một môn võ có giá trị tự vệ, Taekwondo đặt nặng vào vai trò của các đòn chân, nên đòn tay của môn phái không tránh khỏi sự mai một và ít được trau truốt, tinh lọc để đạt được tính hiệu quả.
== Các hệ phái chính ==
Taekwondo hiện đại thoát thai từ các hệ phái võ thuật truyền thống của Triều Tiên, vì vậy cũng có rất nhiều hệ phái khác nhau với những hệ thống quyền pháp khác nhau. Tuy nhiên, có 2 hệ phái chính lớn nhất và ở quy mô thế giới:
=== Hệ phái Chang Hon ===
Đây là hệ phái lớn đầu tiên của Taekwondo, dựa trên hệ thống kỹ thuật và quyền pháp do Đại võ sư Choi Hong Hi xây dựng từ năm 1954. Hệ phái lấy tên theo tên hiệu của đại sư Choi Hong Hi, người sáng lập hệ phái: Chang Hon (창헌, Thương Hiên). Đây cũng là hệ phái nền tảng của Liên đoàn Taekwondo quốc tế, thành lập năm 1966.
Đặc điểm của hệ phái là có nhiều nét tương đồng với quyền pháp Karate, mang nặng tính chiến đấu. Hệ thống quyền pháp có 24 bài quyền (형, hyeong) và hệ thống đẳng cấp phân thành 10 cấp (급, Kup) và 9 đẳng (단, dan). Võ phục và thể lệ thi đấu gần như tương tự với Karate. Vì vậy, khi thi đấu, các võ sĩ không mang giáp và khi ra đòn phải dừng đòn ở cự ly tối thiểu hoặc chỉ được khẽ chạm vào đối thủ.
Xem thêm: Liên đoàn Taekwondo quốc tế
=== Hệ phái Kukkiwon ===
Đây là hệ phái lớn nhất thế giới, dựa trên hệ thống kỹ thuật và quyền pháp quy định tổ chức kỹ thuật Kukkiwon (국기원) của Hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc, thành lập năm 1973. Đây cũng là hệ phái nền tảng của Liên đoàn Taekwondo thế giới, thành lập cùng năm đó.
Đặc điểm của hệ phái mang tính hiện đại và thể thao nhiều hơn. Các đòn thế nguy hiểm bị cấm dùng trong thi đấu. Hệ thống quyền pháp có 25 bài quyền (품새, Poomsae) và hệ thống đẳng cấp: 8 cấp (급, Kup) và 10 đẳng (단, Dan). Võ phục dùng loại áo cổ chữ V và thể lệ thi đấu mang nặng tính thể thao. Vì vậy khi thi đấu, các vận động viên bắt buộc mặc giáp và chỉ được phép tấn công vào phần mặc giáp của đối thủ.
Xem thêm: Liên đoàn Taekwondo Thế giới
== Thập vị đại sư ==
Dưới đây là 10 vị đại sư được công nhận là co công lao to lớn trong việc xây dựng và truyền bá Taekwondo hiện đại:
Lee Won Kuk, người sáng lập võ đường Chung Do Kwan, về sau từng là võ đường Taekwondo lớn nhất Hàn Quốc. Ông cũng từng là một môn sinh của Gichin Funakoshi, người sáng lập hệ phái Shotokan Karate.
Chun Sang Sup, người sáng lập hệ phái Choson Yunmookwan Kwon Bop Bu, về sau trở thành các võ đường Jido Kwan và Han Moo Kwan. Ông cũng từng là một môn sinh của Gichin Funakoshi, người sáng lập hệ phái Shotokan Karate.
Yun Byung In, người sáng lập hệ phái YMCA Kwon Bop Bu, về sau trở thành võ đường Chang Moo Kwan.
Hwang Kee, người sáng lập võ đường Moo Duk Kwan.
Roh Byong Jick, người sáng lập võ đường Song Moo Kwan. Ông cũng từng là một môn sinh của Gichin Funakoshi, người sáng lập hệ phái Shotokan Karate.
Choi Hong Hi, người sáng lập võ đường Oh Do Kwan, tổ sư hệ phái Chang Hon, sáng lập viên Liên đoàn Taekwondo quốc tế (ITF). Ông cũng từng là một môn sinh của Gichin Funakoshi, người sáng lập hệ phái Shotokan Karate.
Nam Tae Hee, đồng sáng lập và huấn luyện viên trưởng đầu tiên của võ đường Oh Do Kwan.
Jong Pyo Hong, người sáng lập võ đường Kang Duk Won, Kwon Bop Bu
Park Chul Hee, đồng sáng lập võ đường Kang Duk Won, Kwon Bop Bu.
Lee Yong Woo, người sáng lập võ đường Jung Do Kwan.
Ngoài ra, hệ phái Kukkiwon còn công nhận 6 võ sư đạt đẳng cấp cao nhất: Thập đẳng huyền đai.
Yong Ki Pae (Jidokwan)
Chong Soo Hong (Moo Duk Kwan)
Il Sup Chun (Jidokwan)
Nam Suk Lee (Chang Moo Kwan)
Tiến sĩ Sang Kee Paik (Sa Sang Kwan)
Tiến sĩ Un Yong Kim, cựu chủ tịch Kukkiwon và WTF.
== Tham khảo ==
Taekwondo, đòn tay của bạn ở đâu?, in trên Sổ tay Võ thuật, số tháng 7 năm 2005.
Hồ Hoàng Khánh và Trần Khoan Lộc, 25 bài quyền W.T.F Taekwondo, 2 tập: Tập 1: kỹ thuật căn bản và 8 bài Taegeuk (thái cực); Tập 2: các bài quyền huyền đai, Nhà xuất bản trẻ, 1992.
Nhập môn Thái cực đạo, hệ phái I.T.F, gồm ba phần: Phần 1. lịch sử, chương trình tập luyện, tập điều hòa cơ thể; Phần 2. Các thế tấn chính và các đòn căn bản; Phần 3: 20 bài quyền trường phái Chang Hong. Nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Liên đoàn Taekwondo Thế giới (World Taekwondo Federation)
Liên đoàn Taekwondo Quốc tế (International Taekwondo Federation) tại [1] và [2]
Taekwondo Canada Team
Kukkiwon. World Taekwondo Headquarters
Tài nguyên không chính thức về Taekwondo
MartialArts 101.com, có bài viết và video về Taekwondo
Trường Taekwondo, Singapore, có liên kết đến bách khoa toàn thư về Taekwondo của tướng Choi
Câu lạc bộ Taekwondo WTF Đại học Pennsylvania, có tài liệu về Taekwondo
Blue Wave Association, có tài liệu về Taekwondo
European Taekwondo Union
Taekwondo-vn club, có tài liệu về Taekwondo
Korea Nationale Taekwondo Team • Performance in Oslo Norway • 23.05.06 |
china mobile.txt | China Mobile Limited (Trung văn giản thể: 中国移动通信; Trung văn phồn thể: 中國移動通信; pinyin: Zhōngguó Yídòng Tōngxìn) là một công ty viễn thông quốc doanh Trung Quốc. Năm 2013, đây là công ty viễn thông có lợi nhuận cao nhất thế giới với lãi gộp đạt 10,12 tỷ đô la Mỹ. Đây là một trong những công ty viễn thông có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất thế giới. Công ty đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán New York và Sở giao dịch chứng khoán Hồng Kông. Tại thời điểm tháng 6/2013, đây là công ty viễn thông có số thuê bao lớn nhất thế giới với 740 triệu thuê bao.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
China Mobile (tiếng Anh) |
phương pháp chuyển tự tiếng đức.txt | Một phương pháp chuyển tự tiếng Đức sang ký tự Latinh thông thường không cần thiết vì tiếng Đức cũng dùng bảng ký tự Latinh. Tuy nhiên, ngoài 26 ký tự Latinh căn bản, tiếng Đức còn dùng thêm các ký tự sau: ä, ö, ü (và các dạng viết hoa Ä, Ö, Ü) và ß. Với mã Unicode dùng bởi hầu hết máy tính hiện nay, các ký tự đặc biệt của tiếng Đức đều được gán một giá trị độc nhất và chính xác; tuy nhiên một phương pháp chuyển tự cho các ký tự đó vẫn cần thiết khi người viết không có một bàn phím đặc biệt.
== Ä, Ö và Ü ==
Các ký tự ä, ö, ü, Ä, Ö và Ü thường được biết chung dưới tên Umlaut. Trong tiếng Đức, um- có nghĩa là "thay đổi" và Laut có nghĩa là "âm thanh".
Khi không thể viết các Umlaut như dạng nguyên thủy của chúng, các ký tự ä, ö, ü, Ä, Ö và Ü thường được viết thành ae, oe, ue, Ae, Oe và Ue.
Tuy nhiên, quy tắc trên cần được áp dụng với nhiều thận trọng, nhất là với các tên họ, ví dụ có những người có họ Müller và cũng có những người có họ Mueller.
== ß ==
Ký ß có tên là Eszett hay scharfes s. Ký tự này không có dạng viết hoa vì trong tiếng Đức nó chỉ có thể xuất hiện tại cuối một từ. Khi chuyển tự, ß được viết thành ss.
== ſ ==
Ký tự này thường được dùng trong cổ văn tiếng Đức, nhưng đã không còn được dùng kể từ thập niên 1940.
== Tham khảo == |
liberia.txt | Cộng hòa Liberia là một quốc gia nằm ở Tây Phi, giáp giới với các nước Sierra Leone, Guinée, và Côte d'Ivoire.
== Từ nguyên ==
Từ nguyên của địa danh "Liberia" là "xứ tự do".
== Lịch sử ==
Liberia được thành lập năm 1822 làm nơi định cư cho dân nô lệ được giải phóng từ Mỹ rồi được hồi hương về châu Phi. Năm 1847 Liberia trở thành quốc gia độc lập. Thủ đô Monrovia vinh danh Tổng thống Hoa Kỳ James Monroe (1758-1831). Tuy xứ sở này hình thành do dân nô lệ da đen từ Bắc Mỹ trở về lập nghiệp, đại đa sô dân Liberia là thổ dân thuộc 16 bộ tộc bản xứ. Tình hình chính trị Liberia tương đối ổn định trong một thời gian dài tuy có ít nhiều tranh chấp giữa người Mỹ gốc Phi châu và thổ dân bản xứ. Từ năm 1885 đến năm 1910, địa giới Liberia được phân định qua các thỏa thuận với hai đế quốc Anh và Pháp.
Từ sau 1920, đất nước đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc tiến sâu vào nội địa. Tiến trình này được xúc tiến mạnh nhờ việc xây dựng 69 km đường xe lửa từ Monrovia đến Bomi Hills. Tháng 7 năm 1971, Tổng thống William V. Tubman qua đời sau ca mổ. Phó Tổng thống William R. Tolbert tiếp tục lãnh đạo đất nước.
Tháng 4 năm 1980, cuộc đảo chính quân sự lật đổ chế độ của William Tolbert, Samuel K. Doe lên cầm quyền, nhưng chính Doe cũng bị lật đổ và bị ám sát trong cuộc nội chiến bùng nổ năm 1990. Xung đột kết thúc năm 1996 và cuộc tuyển cử đa đảng đã diễn ra năm 1997. Lãnh đạo đảng Mặt trận Dân tộc Yêu nước, Charles Taylor, trở thành Tổng thống. Năm 2000, Liên hiệp châu Âu đình chỉ tài trợ cho Charles Taylor vì cho rằng Taylor ủng hộ quân nổi dậy ở Sierra Leone.
Vào tháng 8 năm 2003, một hiệp định hoà bình toàn diện đã kết thúc 14 năm nội chiến và thúc đẩy việc từ chức của tổng thống tiền nhiệm Charles Taylor người phải sống lưu vong ở Nigeria. Sau 2 năm cầm quyền của chính phủ quá độ, các cuộc bầu cử dân chủ đã đưa tổng thống Ellen Johnson-Sirleaf lên cầm quyền vào cuối năm 2005. Bầu cử tổng thống và hiến pháp diễn ra tự do và công bằng khắp nơi bất chấp luận điệu không trung thực từ George Weah - đối thủ của Johnson-Sirleaf. Uỷ ban Liên Hiệp quốc ở Liberia (UNMIL) có mặt ở mọi nơi tại nước này đã hoàn thành xong chương trình giải giáp vũ khí đối với những binh lính trước đây vào cuối năm 2004, tuy nhiên tình hình an ninh vẫn bất ổn và quá trình tái thiết cơ cấu kinh tế xã hội quốc gia bị chiến tranh tàn phá này vẫn rất chậm chạp.
=== Người bản xứ tây Phi ===
=== Công dân từ Mỹ ===
=== Sự kiện giữa thế kỷ hai mươi quan trọng ===
=== Nội chiến 1989 và 1999 ===
=== Chính phủ chuyển tiếp và cuộc bầu cử ===
=== Tổng thống Ellen Johnson-Sirleaf ===
=== Tình trạng nhân quyền ===
== Chính trị và chính phủ ==
Theo thể chế Cộng hoà tổng thống, chế độ lưỡng viện (từ năm 1847).
Hiến pháp hiện hành được ban hành ngày 6 tháng 1 năm 1986.
Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 4 năm; 26 thành viên của Thượng nghị viện được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 9 năm và 64 thành viên của Hạ nghị viện được bầu bằng tuyển cử phổ thông phêíu đầu, nhiệm kỳ 6 năm. Tổng thống bổ nhiệm của thành viên của Nội các.
== Hành chính ==
Liberia được chia thành 15 tỉnh, sau đó lần lượt được chia thành các hạt. Các quận lâu đời nhất là Grand Bassa và Montserrado, cả hai được thành lập vào năm 1839 trước khi Liberia độc lập. Gbarpolu là hạt mới nhất, được thành lập vào năm 2001. Nimba là hạt lớn nhất với diện tích 4.460 dặm vuông (11.551 km2), trong khi Montserrado là nhỏ nhất với 737 dặm vuông (1.909 km2). Montserrado cũng là quận đông dân nhất với 1.144.806 người dân.
Mười lăm tỉnh được quản lý bởi các Thống đốc do Tổng thống bổ nhiệm. Hiến pháp kêu gọi cuộc bầu cử các lãnh đạo khác nhau ở cấp tỉnh và hạt, nhưng các cuộc bầu cử đã không xảy ra từ năm 1985 do chiến tranh và những khó khăn tài chính.
== Địa lý ==
Quốc gia ở Tây Phi, bên bờ Đại Tây Dương, Tây Bắc giáp Sierra Leone, Đông Bắc giáp Guinea, Đông giáp Côte d'Ivoire. Lãnh thổ Liberia có rất nhiều sông, vùng cao nguyên lượn sóng ở phía Đông Bắc được bao quanh bởi dãy Guinea thoải dần về phía vùng đồng bằng ven biển và bãi biển thấp ở vùng Tây Nam. Các khu rừng rậm ở Liberia tương ứng với các vùng nằm trong miền khí hậu cận xích đạo, rất ẩm ướt.
== Kinh tế ==
Nguồn tài nguyên ở Liberia tương đối đa dạng nông sản nhiệt đới gồm có dầu cọ, cà phê, ca cao, cao su; khoáng sản gồm có kim cương, vàng và nhất là quặng sắt, khai thác gỗ ở các khu rừng rậm. Vận tải tàu biển cửa Liberia là một ngành quan trọng, đứng hàng thứ hai trên thế giới. Cuộc nội chiến từ năm 1990 đã tàn phá nền kinh tế đất nước.
Công nghiệp chiếm 15%, nông nghiệp 50% và dịch vụ 35% GDP.
Có 3/4 lực lượng lao động làm nông nghiệp, sản xuất sắn và lúa gạo. Cao su, cà phê và ca cao được trồng để xuất khẩu. Liberia xuất khẩu một khối lượng quan trọng quặng sắt. Cuộc nội chiến, năm 1990, đã làm đảo lộn nền kinh tế của Liberia, từ đó thương mại của Liberia bị giảm sút. Xuất khẩu đạt 39 triệu USD, nhập khẩu: 142 triệu USD; nợ nước ngoài: 3 tỷ USD.
Nội chiến và sự quản lý yếu kém của chính phủ đã tàn phá nền kinh tế Liberia, đặc biệt là cơ sở hạ tầng trong và xung quanh thủ đô Monrovia, trong khi lệnh trừng phạt quốc tế vẫn còn hiệu lực đối với xuất khẩu gỗ và kim cương sẽ tiếp tục hạn chế triển vọng tăng trưởng trong tương lai. Nhiều doanh nhân đã bỏ chạy khỏi đất nước mang theo tiền bạc và chất xám. Một số quay trở lại nhưng nhiều người sẽ không quay về. Được ban tặng nguồn nước, khoáng sản, rừng và khí hậu thì rất phù hợp với nông nghiệp, Liberia đã trở thành một nước sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm cơ bản - chủ yếu là gỗ chưa chế biến và cao su. Chế tạo trong nước, chủ yếu là do nước ngoài đầu tư chỉ chiếm quy mô nhỏ. Sự ra đi của tổng thống tiền nhiệm Charles Taylor sang Nigeria vào tháng 8 năm 2003, việc thành lập chính phủ quá độ và sự có mặt của Uỷ ban Liên Hiệp Quốc đã giúp giảm bớt cuộc khủng hoảng chính trị, nhưng không giúp nhiều cho việc khuyến khích phát triển kinh tế. Các nhà tài trợ quốc tế giàu có luôn sẵn sàng trợ giúp cho những nỗ lực tái thiết giờ rút lại ý định tài trợ trừ khi Quốc hội Liberia thực sự cai quản và thực hiện kế hoạch hành động quản lý kinh tế. Kế hoạch này được Nhóm Liên hệ quốc tế vì Liberia lập ra tháng 10 năm 2005 nhằm giúp đảm bảo việc thu và phân bổ một cách trong sạch - một điều không có được dưới chế độ của chính phủ quá độ và điều đó đã ngăn cản sự hồi phục của nền kinh tế Liberia. Công cuộc tái thiết cơ sở hạ tầng và việc tăng thu nhập của nền kinh tế bị tàn phá này sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự trợ giúp tài chính và sự trợ giúp kỹ thuật hảo tâm từ các nước viện trợ.
Tăng trưởng GDP của Liberia trong giai đoạn 5 năm gần đây đạt mức tăng trưởng ổn định khá cao. Năm 2010, GDP của Liberia đạt 977 triệu USD (theo tỷ giá quy đổi), đạt mức tăng trưởng 6% và GDP bình quân đầu người là 500 USD, khá cao trong khu vực.
Hoạt động ngoại thương của Liberia khá phát triển, năm 2006, Liberia xuất khẩu được 1,19 tỷ USD đến các nước Malaysia 22,1%, Nam Phi 18,1%, Ba Lan 14,9%, Đức 9,2%, Mỹ 8,4%, Tây Ban Nha 6,6%, Hàn Quốc 4,8%, Na Uy 4,4% với các mặt hàng chính là cao su, gỗ, thép, kim cương, ca cao, cà phê... Tuy nhiên nhập khẩu của Liberia có kim ngạch khá lớn so với xuất khẩu, hơn 7,143 tỷ USD gồm các mặt hàng xăng dầu, hoá chất, máy móc thiết bị, lương thực thực phẩm, các bạn hàng nhập khẩu chính của Liberia là Hàn Quốc 38,2%, Singapore 19,4%, Nhật 13,1%, Trung Quốc 10,2%.
== Nhân khẩu ==
Tính đến năm 2008, Liberia là quê hương của 3.476.608 người. Trong đó, 1.118.241 sống ở tỉnh Montserrado, là tỉnh đông dân nhất cả nước và cũng là nơi có thủ đô Monrovia với dân số 970.824 người. Nimba là tỉnh đông dân nhất tiếp theo với 462.026 cư dân. Đến năm 2006, Liberia là nước có tốc độ tăng trưởng dân số cao nhất trên thế giới (4,50% mỗi năm). Tương tự như các nước láng giềng, nước này có một lượng dân số trẻ lớn, với một nửa dân số ở độ tuổi dưới 18.
Dân số bao gồm 16 nhóm dân tộc thiểu số bản địa và nước ngoài khác nhau. Người dân bản địa chiếm khoảng 95% dân số, lớn nhất trong số đó là các sắc tộc Kpelle sống ở miền trung và miền tây Liberia. Người Americo-Liberia, là con cháu của những người định cư ở Mỹ gốc Phi, chiếm 2,5%, và người Congo, con cháu của những người hồi hương từ Congo và da đen nô lệ ở Caribe trở về năm 1825, chiếm khoảng 2,5%. Cũng có một số lượng khá lớn người Liban, Ấn Độ, và các nước Tây Phi khác, những người tạo nên một phần quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp Liberia. Một số ít nữa là người gốc châu Âu cư trú ở trong nước. Hiến pháp Liberia hạn chế quyền công dân của người nước ngoài là những người không có nguồn gốc châu Phi da đen.
Có 31 ngôn ngữ bản địa được nói tại Liberia. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức và là ngôn ngữ chung của đất nước.
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Tỉ lệ biết chữ ở Liberia ngày càng tăng do hệ thống trường học được tăng cường. Theo quy định của luật giáo dục cưỡng chế năm 1912, giáo dục bắt buộc và miễn phí đối với trẻ em (từ 6-16 tuổi). Tuy nhiên, tỉ lệ trẻ em đến trường vẫn còn rất thấp. Liberia có một trường đại học ở thủ đô Monrovia và một số trường cao đẳng khác.
== Những người Liberia nổi tiếng ==
Nữ Tổng thống Liberia Ellen Johnson Sirleaf, người đã đạt giải Nobel Hòa bình năm 2011. Bà là nữ Tổng thống dân cử đầu tiên ở châu Phi và hiện nay (2011), là nhà nữ lãnh đạo duy nhất tại châu lục này. Người phụ nữ 72 tuổi này gắn với nhiều danh hiệu như: Người đàn bà thép châu Phi, Linh hồn của cách mạng Liberia, nhà cải cách và kiến tạo hòa bình Liberia…
== Xem khác ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
người hrê.txt | Người H'rê, còn có tên gọi khác là Chăm Rê, Chom Krẹ, Lùy, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.
== Tôn Giáo ==
Dân tộc H'rê hầu hết không theo một tôn giáo nào cả, hay còn gọi là "Tôn giáo: Không". Tuy nhiên tín ngưỡng của người H'rê rất gần với thuyết "Animist" - thuyết linh vật. Người H'rê cho rằng mọi vật, hòn đá, cây cỏ, dòng suối, núi rừng... đều có linh hồn như con người. Nên người H'rê đối xử với mọi tạo vật một cách hiền hòa và tôn trọng như thể tôn trọng chính bản thân mình. Một số đạo khác: Đạo Báp tít Liên Hiệp, Ngũ Tuần, Tin Lành, Trưởng Lão,..
== Nhóm ngôn ngữ ==
Tiếng Hrê là một ngôn ngữ trong ngữ tộc Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Người Hrê sống chủ yếu ở tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hrê ở Việt Nam có dân số 127.420 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Hrê cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Ngãi (115.268 người, chiếm 90,5% tổng số người Hrê tại Việt Nam), Bình Định (9.201 người), Kon Tum (1.547 người), Đắk Lắk (341 người), Gia Lai (128 người).
== Đặc điểm kinh tế ==
Người Hrê làm lúa nước từ lâu đời, kỹ thuật canh tác lúa nước của người Hrê tương tự như vùng đồng bằng Nam Trung bộ. Người Hrê chăn nuôi trước hết nhằm phục vụ các lễ cúng bái (như giống lợn Kiềng Sắt), riêng trâu còn được dùng để kéo cày, bừa. Nghề đan lát, dệt khá phát triển, nhưng nghề dệt đã bị mai một qua mấy chục năm gần đây.
== Tổ chức cộng đồng ==
Trong làng người H'rê, "già làng" có uy tín cao và đóng vai trò quan trọng. Dưới thời phong kiến người H'rê nhất loạt đặt họ Đinh, gần đây một số người lấy họ Nguyễn, Hà, Phạm... Hình thức gia đình nhỏ rất phổ biến ở dân tộc Hrê.
Người H'rê vô cùng coi trọng cộng đồng mình đang sống và mối liên kết với từng thành viên trong cộng đồng. Trong những lễ hội như đâm trâu hoặc cúng bái ở làng, tất cả các gia đình đều phải cử người tham gia, đóng góp công sức.
== Văn hóa ==
Người Hrê cũng có lễ đâm trâu như phong tục chung ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Người Hrê thích sáng tác thơ ca, ham mê ca hát và chơi các loại nhạc cụ. Ka-choi và Ka-lêu là làn điệu dân ca quen thuộc của người Hrê. Truyện cổ đề cập đến tình yêu chung thủy, cuộc đọ tài trí giữa thiện và ác, giàu và nghèo, rất hấp dẫn các thế hệ từ bao đời nay. Nhạc cụ của người Hrê gồm nhiều loại: đàn Brook, Ching Ka-la, sáo ling la, ống tiêu ta-lía, đàn ống bút của nữ giới, khèn ra-vai, ra-ngói, pơ-pen, trống... Những nhạc cụ được người Hrê quý nhất là chiêng, cồng, thường dùng bộ 3 chiếc, hoặc 5 chiếc, với các nhịp điệu tấu khác nhau.
== Nhà cửa ==
Hrê xưa ở nhà sàn dài. Nay hầu như nhà dài không còn nữa. Nóc nhà có hai mái chính lợp cỏ tranh, hai mái phụ ở hai đầu hồi thụt sâu vào trong hai mái chính. Mái này có lớp ngoài còn thêm một lớp nạp giống như ở vách nhà. Chỏm đầu đốc có "bộ sừng" trang trí với các kiểu khác nhau. Vách, lớp trong bằng cỏ tranh, bên ngoài có một lớp nẹp rất chắc chắn. Hai gian đầu hồi để trống.
Bộ khung nhà kết cấu đơn giản giống như nhà của nhiều cư dân khác ở Tây Nguyên.
Trong nhà (trừ hai gian đầu hồi) không có vách ngăn. Với nhà người Hrê còn có đặc điểm ít thấy ở nhà các dân tộc khác: thường thì nhà ở cửa mặt trước hoặc hai đầu hồi. Mặt trước nhà nhìn xuống phía đất thấp, lưng nhà dựa vào thế đất cao. Người nằm trong nhà đầu quay về phía đất cao. Nhưng với người Hrê thì hoàn toàn ngược lại.
Gian hồi bên phải (nhìn vào mặt nhà) (A) dành cho sinh hoạt của nam và khách. Gian hồi bên trái (C) dành cho sinh hoạt của nữ. Giáp vách gian hồi bên phải đặt bếp chính. Gian chính giữa đặt bếp phụ. Gian giáp vách với gian hồi bên trái đặt cối giã gạo.
== Trang phục ==
Có biểu hiện giống người Kinh. Có cá tính tộc người song không rõ nét. Trước kia đàn ông Hrê đóng khố, mặc áo cánh ngắn đến thắt lưng hoặc ở trần, quấn khăn; đàn bà mặc váy hai tầng, áo 5 thân, trùm khăn. Nam, nữ đều búi tóc cài trâm hoặc lông chim. Ngày nay, người Hrê mặc quần áo như người Kinh, riêng cách quấn khăn, trùm khăn vẫn như xưa. Phần lớn nữ giới vẫn mặc váy, nhưng may bằng vải dệt công nghiệp. Người Hrê thích đeo trang sức bằng đồng, bạc, hạt cườm; nam nữ đều đeo vòng cổ, vòng tay, nữ có thêm vòng chân và hoa tai. Tục cà răng đã dần dần được xóa bỏ.
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
== Liên kết ngoài == |
bộ an ninh nội địa hoa kỳ.txt | Bộ An Ninh Nội Địa Hoa Kỳ (Department of Homeland Security) hay DHS là một Bộ thuộc Nội các thuộc Chính phủ Liên bang Hoa Kỳ, được thành lập nhằm đáp trả Sự kiện 11 tháng 9 và với trách nhiệm chính là bảo vệ Hoa Kỳ và thuộc địa của nó (bao gồm cả nước được bảo hộ) khỏi và phản ứng trước khủng bố, tai nạn nhân tạo và thảm họa tự nhiên. Bộ An ninh Nội địa, mà không phải Bộ Nội vụ, tương đương với các Bộ Nội vụ của các nước khác. Trong năm tài chính 2011, Bộ An ninh Nội địa được cấp ngân sách là 98.8 tỷ Đô la Mỹ và đã chi tiêu 66.4 tỷ Đô la Mỹ.
Khi Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ có trách nhiệm với hoạt động quân sự khắp nơi, Bộ An ninh Nội địa hoạt động trong phạm vi dân thường để bảo vệ nước Mỹ bên trong, tại và ở ngoài biên giới. Mục đích của nó là để chuẩn bị, ngăn cản hay phản ứng trước tình trạng khẩn cấp trong nước, đặc biệt là khủng bố. Vào ngày 1 tháng 3 năm 2003, Bộ Di trú và Nhập tịch (Immigration and Naturalization Service) sáp nhập vào Bộ An ninh Nội địa và đảm nhận nhiệm vụ của nó. Khi làm thế, Bộ An ninh Nội địa đã chia thành hai Cơ quan mới và hoàn toàn tách biệt: Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan (Immigration and Customs Enforcement) hay ICE và Sở Công dân và Di trú (Citizenship and Immigration Service) hay CIS. Đơn vị điều tra và thu thập tin tức tình báo của INS và Hải quan được trộn lại và tạo thành Cơ quan Tình báo An ninh Quốc gia (Homeland Security Investigations). Ngoài ra, chức năng biên giới của INS, bao gồm Tuần tra Biên giới Hoa Kỳ (U.S Border Patrol), Cục Hải Quan Hoa Kỳ (US Customs Service), và Cục Thanh tra Sức khỏe Động Thực vật (Animal and Plant Health Inspection Service) được thống nhất thành một cơ quan dưới quyền Bộ An ninh Nội địa là: Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới (US Customs and Border Protection).
Với hơn 200.000 nhân viên, Bộ An ninh Quốc gia là Bộ lớn thứ ba trong Nội các, sau Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và Bộ Cựu chiến binh. Chính sách An ninh Nội địa được phối hợp tại Nhà Trắng bởi Hội đồng An ninh Nội địa. Các cơ quan khác với trách nhiệm về An ninh Nội địa đáng chú ý khác bao gồm Sở Y tế và Dịch vụ Nhân sinh (Department of Health and Human Services), Sở Tư Pháp (Departments of Justice) và Bộ Năng lượng (Departments of Energy).
Vào ngày 16 tháng 12 năm 2013, Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ xác nhận Jed Johnson là Bộ trưởng Bộ An ninh Nội địa tiếp theo.
Theo Peter Andreas, một nhà lý luận biên giới, sự thành lập của Bộ An ninh Nội địa là sự tái tổ chức đáng chú ý nhất kể từ thời Chiến tranh Lạnh, và là sự tái tổ chức thiết thực nhất giữa các Cơ quan Liên bang kể từ Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947, đạo luật này đã đặt một Bộ Quân sự riêng biệt dưới quyền một Bộ trưởng Bộ Quốc phòng duy nhất và tạo ra Hội đồng An ninh Quốc gia và Cục Tình báo Trung ương. Bộ An ninh Nội địa được cho là một cấu tạo hỗn hợp giữa nhiều chức năng Liên bang và trách nhiệm, hợp nhất 22 Bộ và Cơ quan vào một tổ chức duy nhất.
== Nỗ lực ban đầu sau Sự kiện 11 tháng 9 ==
Ngày 20 tháng 9 năm 2001, để đối phó với những vụ tấn công như Sự kiện 11 tháng 9, Tổng thống George W. Bush thông báo thành lập một Phòng An ninh nội địa để điều hợp các nỗ lực an ninh trong nước và ủy nhiệm Thống đốc Tom Ridge lãnh đạo văn phòng này với chức danh là Phụ tá tổng thống đặc trách an ninh nội địa.
Cựu thống đốc bang Pennsylvania Tom Ridge nhận lấy trách nhiệm làm giám đốc điều hành Phòng an ninh nội địa ngày 8 tháng 10, 2001.
Ngày 12 tháng 3, 2002 hệ thống cảnh báo an ninh nội địa (một bảng chia mức độ có ký hiệu màu dùng để cảnh báo mức độ đe dọa khủng bố) được tạo ra theo chỉ thị của Tổng thống để "cung cấp phương tiện hữu hiệu và dễ hiểu trong việc phổ biến thông tin có liên quan đến mối đe doạ của hoạt động khủng bố đến các thẩm quyền liên bang, tiểu bang, địa phương và nhân dân Hoa Kỳ." Nhiều bước hành động ở các cơ sở phương tiện của chính phủ được tiến hành thận trọng theo mức độ cảnh báo; thí dụ một cơ sở phương tiện có thể phải lục soát tất cả các xe cộ đi vào khi cảnh báo lên đến một mức độ nào đó.
Tháng giêng năm 2003, Văn phòng được nhập lại thành Bộ Nội An và Hội đồng An ninh Nội địa Nhà Trắng, cả hai được thành lập bởi Đạo luật An ninh Nội địa năm 2002. Hội đồng An ninh Nội địa, giống như Hội đồng An ninh Quốc gia, nắm giữ điều hợp chính sách và vai trò cố vấn, được lãnh đạo bởi Phụ tá tổng thống đặc trách an ninh nội địa.
== Thành lập Bộ Nội An ==
Bộ Nội An được thành lập vào ngày 25 tháng 11 năm 2002 bởi Đạo luật An ninh Nội địa năm 2002. Sau nhiều tháng thảo luận về quyền lợi và phúc lợi nhân viên và các vấn đề khác, Tổng thống George W. Bush ký nó thành luật. Ý định là tập trung tất cả các tổ chức thuộc hành pháp Hoa Kỳ có liên quan đến an ninh nội địa vào một cơ quan nội các duy nhất. Ridge được vào chức vụ bộ trưởng ngày 24 tháng 1 năm 2003 và bắt đầu chọn các phụ tá chính cho mình. Bộ Nội An chính thức bắt đầu hoạt động ngày 24 tháng 1 năm 2003 nhưng đa số các cơ quan khác của bộ chưa hoàn tất chuyển qua bộ mới thành lập này cho đến 1 tháng 3.
Đây là lần tổ chức lại chính phủ lớn nhất trong vòng 50 năm kể từ khi Bộ Quốc phòng được thành lập.
Sau khi thiết lập nền tản căn bản của Bộ Nội An và tiến hành sáp nhập các phần tử của bộ và đưa bộ vào hoạt động, Ridge thông báo từ chức vào ngày 30 tháng 11, 2004 theo sau cuộc tái đắc cử của Tổng thống Bush. Tổng thống ban đầu tiến cử cựu ủy viên hội đồng cảnh sát New York là Bernard Kerik vào thay, nhưng ngày 10 tháng 12 Kerik rút khỏi sự tiến cử với lý do cá nhân và nói rằng "đấy không phải là ích lợi tốt nhứt" cho đất nước để ông theo đuổi chức vụ này. Ngày 11 tháng 1, 2005, Tổng thống Bush tiến cử thẩm phán liên bang Michael Chertoff thay cho Ridge. Chertoff được chấp thuận với tỉ lệ phiếu 98-0 tại Thượng viện Hoa Kỳ ngày 15 tháng 2 năm 2005. Ông tuyên thệ nhậm chức cùng ngày.
== Tổng hành dinh ==
Từ khi khởi sự, Bộ có tổng hành dinh tạm thời trong Tòa nhà đường Nebraska, trước kia là cơ sở phương tiện của hải quân tại Washington, D.C.. Đầu năm 2007, Bộ đệ trình một kế hoạch giá 4,1 tỉ lên Quốc hội Hoa Kỳ xem xét để đưa hết trên 60 văn phòng của bộ ở vùng Washington vào một khu tổng hành dinh duy nhất ở khung viên Bệnh viện St. Elizabeths trong vùng Đông nam Washington. Sớm nhất mà Bộ Nội An có thể di chuyển đến tổng hành dinh mới này là vào năm 2012.. Việc di chuyển này được các viên chức Đặc khu Columbia hoan nghênh vì sự tác động kinh tế tích cực mà nó mang đến cho vùng Đông nam Washington vốn từ trước đến giờ rất yếu kém. Vùng này cũng là nhà cho một vận động trường mới của đội bóng rổ Washington, dự kiến sẽ mở cửa vào năm 2008.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
United States Department of Homeland Security
Federal Emergency Management Agency
U.S. House Committee on Homeland Security homepage
The White House - Homeland Security
US-VISIT (United States Visitor and Immigrant Status Indicator Technology)
ANSI Homeland Security Standards Panel (ANSI-HSSP)
DHS website to promote readiness to defend against attack
HSToday
'DHS plots maritime awareness roadmap', tháng 4 năm 2006 |
indonesia.txt | Indonesia (tên chính thức: Cộng hòa Indonesia, tiếng Indonesia: Republik Indonesia) trước đó trong tài liệu tiếng Việt quốc gia này từng được gọi là Nam Dương, là một quốc gia nằm giữa Đông Nam Á và Châu Đại Dương. Indonesia gồm 13.487 hòn đảo và với dân số khoảng 237 triệu người, đứng thứ tư thế giới về dân số. Đất nước này được mệnh danh là "Xứ sở vạn đảo".
Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới; tuy nhiên trong Hiến pháp Indonesia không hề đề cập tới tôn giáo này (do vậy không thể coi Indonesia là một quốc gia Hồi giáo giống như các nước Tây Á và Bắc Phi). Indonesia theo thể chế cộng hòa với một bộ máy lập pháp và tổng thống do dân bầu. Indonesia có biên giới trên đất liền với Papua New Guinea, Đông Timor và Malaysia, ngoài ra giáp các nước Singapore, Philippines, Úc, và lãnh thổ Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ. Thủ đô là Jakarta và đây cũng đồng thời là thành phố lớn nhất. Indonesia là một thành viên sáng lập của ASEAN và là thành viên của G-20 nền kinh tế lớn. Nền kinh tế Indonesia là nền kinh tế thứ 16 toàn cầu theo GDP danh nghĩa và thứ 15 theo sức mua tương đương.
Quần đảo Indonesia đã từng là một vùng thương mại quan trọng ít nhất từ thế kỷ 7, khi Vương quốc Srivijaya có hoạt động thương mại với Trung Quốc và Ấn Độ. Những vị vua cai trị địa phương dần tiếp thu văn hóa, tôn giáo và các mô hình chính trị Ấn Độ từ những thế kỷ đầu tiên sau Công Nguyên, và các vương quốc Ấn Độ giáo cũng như Phật giáo đã bắt đầu phát triển. Lịch sử Indonesia bị ảnh hưởng bởi các cường quốc nước ngoài muốn nhòm ngó các nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ. Các nhà buôn Hồi giáo đã đưa tới Đạo Hồi, và các cường quốc Châu Âu đã tranh giành để độc chiếm lĩnh vực thương mại trên các hòn đảo Hương liệu Maluku trong Thời đại Khám phá. Sau ba thế kỷ rưỡi dưới ách thực dân Hà Lan, Indonesia đã giành được độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Từ đó lịch sử Indonesia rơi vào cảnh biến động với các nguy cơ từ các thảm hoạ thiên nhiên, nạn tham nhũng và chia rẽ cũng như một quá trình dân chủ hoá, và các giai đoạn thay đổi kinh tế nhanh chóng.
Tuy gồm rất nhiều hòn đảo, Indonesia vẫn gồm các nhóm sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo riêng biệt. Người Java là nhóm sắc tộc đông đúc và có vị thế chính trị lớn nhất. Với tư cách là một nhà nước duy nhất và một quốc gia, Indonesia đã phát triển một tính đồng nhất được định nghĩa bởi một ngôn ngữ quốc gia, sự đa dạng chủng tộc, sự đa dạng tôn giáo bên trong một dân số đa số Hồi giáo, và một lịch sử thực dân cùng những cuộc nổi dậy chống lại nó.
Khẩu hiệu quốc gia của Indonesia, "Bhinneka tunggal ika" ("Thống nhất trong đa dạng", theo nghĩa đen "nhiều, nhưng là một"), đã thể hiện rõ sự đa dạng hình thành nên quốc gia này. Tuy nhiên, những căng thẳng tôn giáo và chủ nghĩa ly khai đã dẫn tới những xung đột bạo lực đe doạ sự ổn định kinh tế và chính trị. Dù có dân số lớn và nhiều vùng đông đúc, Indonesia vẫn có nhiều khu vực hoang vu và là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học đứng hàng thứ hai thế giới. Nước này rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuy vậy sự nghèo khó vẫn là một đặc điểm của Indonesia hiện đại.
== Từ nguyên ==
Chữ Indonesia xuất phát từ từ Indus trong tiếng Latinh, có nghĩa "Ấn Độ", và từ nesos trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa "hòn đảo". Tên gọi này đã có từ thế kỷ 18, rất lâu trước khi nhà nước Indonesia độc lập hình thành. Năm 1850, George Earl, một nhà phong tục học người Anh, đã đề xuất thuật ngữ Indunesians — và, từ được ông thích hơn, Malayunesians — để chỉ những người dân sống trên "Quần đảo Ấn Độ hay Quần đảo Malaya". Cũng trong bài viết đó, một sinh viên của Earl là James Richardson Logan, đã sử dụng Indonesia như một từ đồng nghĩa với Quần đảo Ấn Độ. Tuy nhiên, các tài liệu của viện hàn lâm Hà Lan viết về Đông Ấn đã lưỡng lự trong việc sử dụng Indonesia. Thay vào đó, họ dùng thuật ngữ Quần đảo Malay (Maleische Archipel); Đông Ấn Hà Lan (Nederlandsch Oost Indië), khái quát chung Indië; phương Đông (de Oost); và thậm chí Insulinde.
Từ năm 1900, tên gọi Indonesia trở nên phổ thông hơn trong các cộng đồng hàn lâm bên ngoài Hà Lan, và các nhóm quốc gia Indonesia đã chấp nhận từ này trong cách thể hiện chính trị. Adolf Bastian, thuộc Đại học Berlin, đã giúp từ này được biết đến rộng rãi hơn qua cuốn sách Indonesien oder die Inseln des Malayischen Archipels, 1884–1894 của ông. Học giả Indonesia đầu tiên sử dụng thuật ngữ này là Suwardi Suryaningrat (Ki Hajar Dewantara), khi ông thiết lập một văn phòng báo chí tại Hà Lan với tên gọi Indonesisch Pers-bureau in 1913.
== Lịch sử ==
Các di tích hoá thạch của người Homo erectus, thường được gọi là "Người Java", cho thấy quần đảo Indonesia đã có người ở từ hai triệu năm tới 500.000 năm trước. Người Nam Đảo, là cộng đồng dân cư đa số hiện tại, đã di cư tới Đông Nam Á từ Đài Loan. Họ tới Indonesia từ khoảng năm 2000 trước Công Nguyên, và đẩy người Melanesia bản xứ về các vùng xa xôi phía đông khi họ mở rộng lãnh thổ. Các điều kiện nông nghiệp lý tưởng, và nền văn minh lúa nước xuất hiện sớm từ thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên, cho phép các làng mạc, thị trấn và các vương quốc nhỏ dần phát triển từ thế kỷ thứ nhất. Vị trí đường biển chiến lược của Indonesia giúp thương mại nội địa và với nước ngoài phát triển. Ví dụ, các con đường thương mại nối với cả các vương quốc Ấn Độ và Trung Quốc đã được thiết lập từ nhiều thế kỷ trước Công Nguyên. Chính thương mại đã hình thành nên lịch sử Indonesia.
Từ thế kỷ thứ bảy, vương quốc hàng hải Srivijaya hùng mạnh phát triển nhờ thương mại và các ảnh hưởng của Hindu giáo cùng Phật giáo được du nhập vào cùng thương mại. Từ thế kỷ thứ 8 tới thế kỷ thứ 10, các triều đại nông nghiệp Phật giáo Sailendra và Hindu giáo Medang phát triển và suy tàn trong vùng nội địa Java, để lại các công trình tôn giáo lớn như Borobudur của Sailendra và Prambanan của Medang. Vương quốc Hindu Majapahit được thành lập ở phía đông Java hồi cuối thế kỷ 13, và ở thời Gajah Mada, ảnh hưởng của nó đã lan rộng tới hầu hết Indonesia; giai đoạn này thường được coi là một "Thời kỳ Huy hoàng" trong lịch sử Indonesia.
Dù các thương gia Hồi giáo đã lần đầu đi qua Đông Nam Á từ đầu thời kỳ Hồi giáo, bằng chứng sớm nhất về cộng đồng dân cư Hồi giáo tại Indonesia có niên đại từ thế kỷ 13 ở phía bắc Sumatra. Các vùng khác của Indonesia dần chấp nhận Hồi giáo, và nó đã là tôn giáo ưu thế tại Java và Sumatra từ cuối thế kỷ 16. Ở hầu hết các nơi, Hồi giáo vượt lên và pha trộn với các ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo bản địa, hình thành nên hình thức Hồi giáo hiện tại ở Indonesia, đặc biệt tại Java. Những người châu Âu đầu tiên tới Indonesia năm 1512, khi các thương gia Bồ Đào Nha, do Francisco Serrão dẫn đầu tìm cách thâu tóm các nguồn tài nguyên nhục đậu khấu, đinh hương, và hạt tiêu tại Maluku. Các thương gia Hà Lan và Anh nhanh chóng theo chân. Năm 1602, Hà Lan thành lập Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) và trở thành một quyền lực lớn của châu Âu. Sau khi bị phá sản, Công ty Đông Ấn Hà Lan chính thức bị giải tán năm 1800, và chính phủ Hà Lan thành lập Đông Ấn Hà Lan như một thuộc địa được quốc hữu hóa.
Trong hầu hết thời gian của thời kỳ thuộc địa, Hà Lan chỉ kiểm soát vùng đất này một cách lỏng lẻo; chỉ tới đầu thế kỷ 20 Hà Lan mới thực sự kiểm soát toàn bộ vùng đất lãnh thổ Indonesia hiện tại. Cuộc xâm lược và chiếm đóng của Nhật Bản sau đó trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã chấm dứt thời kỳ cai trị của Hà Lan, và khuyến khích phong trào độc lập từng bị đàn áp trước đó ở Indonesia. Hai ngày sau khi Nhật Bản đầu hàng tháng 8 năm 1945, Sukarno, một lãnh đạo ảnh hưởng theo chủ nghĩa quốc gia, tuyên bố độc lập và được chỉ định làm tổng thống. Người Hà Lan đã tìm cách tái lập quyền cai trị, và cuộc tranh giành ngoại giao và vũ trang đã chấm dứt vào tháng 12 năm 1949, khi đối mặt với sức ép quốc tế, Hà Lan chính thức công nhận nền độc lập của Indonesia (ngoại trừ lãnh thổ Hà Lan Tây New Guinea, đã được tích hợp theo Thoả thuận New York năm 1962, và Đạo luật Tự do Lựa chọn được Liên hiệp quốc uỷ thác).
Sukarno chuyển từ dân chủ sang chủ nghĩa độc đoán, và duy trì cơ sở quyền lực bằng cách cân bằng các lực lượng đối lập trong quân đội, và Đảng Cộng sản Indonesia (PKI). Quân đội âm mưu đảo chính ngày 30 tháng 9 năm 1965, dẫn tới Các vụ giết người tại Indonesia 1965-1966, một phong trào thanh trừng chống cộng trong đó Đảng Cộng sản Indonesia bị cáo buộc âm mưu đảo chính, các đảng viên Cộng sản bị săn lùng và tiêu diệt. Khoảng 500 nghìn tới 1 triệu người bị cho là có liên hệ với Đảng Cộng sản Indonesia đã bị giết hại. Lãnh đạo quân đội, Tướng Suharto, công khai làm suy yếu vị trí chính trị của Sukarno, và được chính thức chỉ định làm tổng thống vào tháng 3 năm 1968. Chính sách Trật tự Mới của ông được chính phủ Mỹ ủng hộ, và khuyến khích đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Indonesia, đây là một yếu tố chính dẫn tới ba thập kỷ tăng trưởng kinh tế ổn định sau đó. Tuy nhiên, sự độc đoán của chính sách "Trật tự Mới" bị chỉ trích rộng rãi vì tình trạng tham nhũng và đàn áp chính trị đối lập.
Năm 1997 và 1998, Indonesia là nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc Khủng hoảng Tài chính châu Á. Điều này càng khiến sự bất mãn của dân chúng với Trật tự Mới gia tăng và dẫn tới các cuộc tuần hành dân chúng. Suharto từ chức ngày 21 tháng 5 năm 1998. Năm 1999, Đông Timor bỏ phiếu ly khai khỏi Indonesia, sau một cuộc xâm chiếm quân sự dài 25 năm được đánh dấu bởi những lời lên án quốc tế và những vụ đàn áp thường xuyên với người Đông Timor. Từ khi Suharto từ chức, một quá trình tăng cường dân chủ gồm cả một chương trình trao quyền tự trị cho các vùng, và cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp năm 2004. Tình trạng bất ổn chính trị và kinh tế, bất ổn xã hội, tham nhũng và chủ nghĩa khủng bố đã giảm sút đáng kể. Dù các quan hệ giữa các tôn giáo và các nhóm sắc tộc phần lớn hài hòa, những vấn đề bất đồng và bạo lực tại một số khu vực vẫn thỉnh thoảng xảy ra. Một cuộc dàn xếp chính trị cho cuộc xung đột vũ trang ly khai ở Aceh đã được thực hiện năm 2005.
== Địa lý ==
Indonesia gồm 13.487 hòn đảo, khoảng 6.000 trong số đó không có người ở. Các hòn đảo nằm rải rác ở cả hai phía đường xích đạo. Năm hòn đảo lớn nhất là Java, Sumatra, Kalimantan (phần Borneo thuộc Indonesia), New Guinea (cùng chung với Papua New Guinea), và Sulawesi. Indonesia có biên giới trên bộ với Malaysia trên hòn đảo Borneo và Sebatik, Papua New Guinea trên đảo New Guinea, và Đông Timor trên đảo Timor. Indonesia cũng có chung biên giới với Singapore, Malaysia, và Philippines ở phía bắc và Australia ở phía nam bằng một dải nước hẹp. Thủ đô, Jakarta, nằm trên đảo Java là thành phố lớn nhất nước, sau đó là Surabaya, Bandung, Medan, và Semarang. Với đặc điểm địa lý trên, Indonesia được mệnh danh là "Xứ sở vạn đảo".
Với diện tích 1.919.440 km² (741.050 dặm vuông), Indonesia là nước đứng thứ 16 trên thế giới về diện tích đất liền. Mật độ dân số trung bình là 134 người trên km² (347 trên dặm vuông), đứng thứ 79 trên thế giới, dù Java, hòn đảo đông dân nhất thế giới, có mật độ dân số khoảng 940 người trên km² (2.435 trên dặm vuông). Nằm ở độ cao 4.884 mét (16.024 ft), Puncak Jaya tại Papua là đỉnh cao nhất Indonesia, và hồ Toba tại Sumatra là hồ lớn nhất, với diện tích 1.145 km² (442 dặm vuông). Các con sông lớn nhất nước này nằm ở Kalimantan, và gồm các sông Mahakam và Barito; những con sông này là các đường giao thông quan trọng nối giữa các khu định cư trên đảo.
Indonesia nằm trên các rìa của các mảng kiến tạo Thái Bình Dương, Âu Á, và Úc khiến nước này trở thành nơi có nhiều núi lửa và thường xảy ra các vụ động đất. Indonesia có ít nhất 150 núi lửa đang hoạt động, gồm cả Krakatoa và Tambora, cả hai núi lửa này đều đã có những vụ phun trào gây phá hủy lớn trong thế kỷ 19. Vụ phun trào siêu núi lửa Toba khoảng 70.000 năm trước, là một trong những vụ phun trào lớn nhất từng xảy ra, và là một thảm họa toàn cầu. Những thảm họa gần đây liên quan tới hoạt động kiến tạo gồm vụ sóng thần năm 2004 đã giết hại tổng cộng gần 230.000 người và khoảng 167.736 người tính riêng phía bắc Sumatra, và trận động đất Yogyakarta năm 2006. Tuy nhiên, tro núi lửa là một yếu tố đóng góp vào sự màu mỡ của đất trong lịch sử từng giúp nuôi sống mật độ dân cư dày tại Java và Bali.
Nằm dọc theo xích đạo, Indonesia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa mưa và khô riêng biệt. Lượng mưa trung bình hàng năm tại các vùng đất thấp khoảng từ 1.780–3.175 milimét (70–125 in), và lên tới 6.100 milimét (240 in) tại các vùng núi. Các vùng đồi núi—đặc biệt ở bờ biển phía tây Sumatra, Tây Java, Kalimantan, Sulawesi, và Papua—có lượng mưa lớn nhất. Độ ẩm nói chung cao, trung bình khoảng 80%. Nhiệt độ ít thay đổi trong năm; khoảng nhiệt độ ngày trung bình tại Jakarta là 26–30 °C (79–86 °F).
Rừng nhiệt đới ẩm chiếm gần 2/3 diện tích lãnh thổ. Đất canh tác 8% (3% được tưới), đồng cỏ 10%, rừng và cây bụi 67%, các đất khác 15%. Khoáng sản chính: dầu khí, thiếc, niken, bauxit, đồng, than, vàng, bạc.
=== Sinh thái ===
Diện tích, khí hậu nhiệt đới cùng với hình thế địa lý quần đảo của Indonesia khiến nước này có mức độ đa dạng sinh học đứng thứ hai thế giới—chỉ sau Brazil— và hệ động thực vật của nó là sự pha trộn của các giống loài châu Á và Australasia. Khi còn kết nối với lục địa châu Á, đảo thềm Sunda (Sumatra, Java, Borneo, và Bali) có hệ động vật châu Á rất phong phú. Các loài thú lớn như hổ, tê giác, đười ươi, voi, và báo, từng hiện diện với số lượng lớn tới tận phía đông Bali, nhưng số lượng và diện tích phân bố của chúng đã giảm mạnh, đặc biệt ở Indonesia có loài Rồng komodo (Varanus komodoensis) là loài thằn lằn lớn nhất thế giới, chiều dài con lớn trung bình 2–3 m. Đây là một loại thuộc họ kỳ đà, (Varanidae), và sống trên nhiều đảo của Indonesia, năm 2011 con vật này đã được chọn làm biểu tượng linh vật của SEA Games 26. Rừng bao phủ khoảng 60% đất nước. Tại Sumatra và Kalimantan, có rất nhiều loài động vật châu Á. Tuy nhiên, rừng đang suy giảm, và số lượng dân cư đông đảo tại Java càng khiến tình trạng phá rừng tăng cao lấy đất sinh sống và canh tác. Sulawesi, Nusa Tenggara, và Maluku—từng tách rời khỏi lục địa từ lâu—đã phát triển hệ động thực vật của riêng mình. Papua từng là một phần của lục địa Úc, và là nơi có hệ động vật duy nhất có liên quan gần gũi với hệ động thực vật Australia, với hơn 600 loài chim.
Indonesia đứng thứ hai chỉ sau Australia về mức độ loài đặc hữu, với 26% trong tổng số 1.531 loài chim và 39% trong tổng số 515 loài có vú là động vật đặc hữu. Bờ biển dài 80.000 kilômét (50.000 dặm) của Indonesia được bao quanh bởi các biển nhiệt đới cũng đóng góp vào mức độ đa dạng sinh thái cao của nước này. Indonesia có nhiều hệ sinh thái biển và bờ biển, gồm các bãi biển, đụn cát, cửa sông, bãi lầy, rặng san hô, bãi cỏ biển, bãi bùn ven biển, bãi thuỷ triều, bãi tảo, và các hệ sinh thái nhỏ trong đất liền. Nhà tự nhiên học người Anh, Alfred Wallace, đã mô tả về một đường ranh giới phần bố giữa các loài châu Á và châu Úc. Được gọi là đường Wallace, chạy gần theo hướng bắc nam dọc theo cạnh Thềm Sunda, giữa Kalimantan và Sulawesi, và dọc theo Eo Lombok sâu, giữa Lombok và Bali. Phía tây đường này hệ động thực vật mang nhiều đặc điểm châu Á; về phía đông Lombok, hệ động thực vật dần mang đặc điểm Australia. Trong cuốn sách The Malay Archipelago năm 1869, Wallace đã miêu tả nhiều loài động vật duy chỉ có ở vùng này. Vùng đảo giữa đường Wallace và New Guinea hiện được gọi là Wallacea.
Dân số cao và cuộc công nghiệp hóa nhanh chóng của Indonesia đặt ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng và thường không được chú trọng nhiều vì mức độ nghèo đói cao cũng như sự quản lý yếu kém với các nguồn tài nguyên. Các vấn đề này gồm phá rừng trên quy mô lớn (đa số là trái phép) và những trận cháy rừng gây ra những đám khói dày che phủ nhiều vùng phía tây Indonesia, Malaysia và Singapore; khai thác quá mức các nguồn tài nguyên biển; và các vấn đề môi trường đi liền với sự đô thị hóa và phát triển kinh tế quá nhanh, gồm ô nhiễm không khí, tắc đường, quản lý rác, và xử lý nước thải. Phá hủy môi trường sống đe doạ sự tồn tại của các loài bản địa và đặc hữu, gồm 140 loài thú có vú được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) xác định là đang bị đe dọa, và 15 loài được coi là bị đe dọa tuyệt chủng, gồm cả đười ươi Sumatra (Sumatran Orangutan).
== Nhân khẩu ==
Dân số quốc gia theo cuộc tổng điều tra năm 2000 là 206 triệu người, và Văn phòng Thống kê Trung ương Indonesia và Thống kê Indonesia ước tính dân số năm 2006 là 222 triệu người., và năm 2012 đã đạt 249 triệu người.
Với 130 triệu người, Java là đảo đông dân nhất thế giới hiện nay. Dù có một chương trình kế hoạch hóa gia đình khá hiệu quả được thực thi từ thập niên 1960, dân số nước này được cho sẽ tăng lên khoảng 315 triệu người năm 2035, dựa trên mức ước tính tỷ lệ tăng hàng năm hiện nay là 1,25%.
Đa số người Indonesia là hậu duệ của những người nói các thứ tiếng Nam Đảo có nguồn gốc từ Đài Loan. Các nhóm chính khác gồm người Melanesia, sống ở phía đông Indonesia. Có khoảng 300 sắc tộc bản địa khác nhau tại Indonesia, và 742 ngôn ngữ cùng thổ ngữ. Nhóm đông nhất là người Java, chiếm 42% dân số, và có ưu thế văn hóa cũng như chính trị. Người Sunda, Malay, và Madur là các nhóm lớn nhất ngoài Java. Bản sắc địa phương của các sắc tộc được duy trì bên cạnh một tình cảm quốc gia Indonesia mạnh mẽ. Xã hội phần lớn hài hòa, dù các căng thẳng xã hội, tôn giáo và sắc tộc đã gây ra những vụ bạo lực kinh khủng. Người Indonesia gốc Hoa là sắc tộc thiểu số có ảnh hưởng dù chiếm chưa tới 1% dân số. Đa số lĩnh vực thương mại và tài sản tư nhân quốc gia đều thuộc sự kiểm soát của người Hoa, điều này góp phần gây ra sự oán giận to lớn, và thậm chí bạo lực chống lại người Hoa. xxxx250px|nhỏ|phải|Thánh đường Istiqlal và Thánh đường Jakarta in ở Trung Jakarta]] Ngôn ngữ quốc gia, tiếng Indonesia, được dạy trong các trường học và đại học, và được sử dụng bởi hầu hết mọi người dân Indonesia. Đây là ngôn ngữ được dùng trong thương mại, chính trị, truyền thông quốc gia, giáo dục và hàn lâm. Về nguồn gốc nó từng là một ngôn ngữ chung cho hầu hết cả vùng, gồm cả nước Malaysia hiện nay, và vì thế có quan hệ chặt chẽ với tiếng Malaysia. Tiếng Indonesia lần đầu tiên được những người theo chủ nghĩa quốc gia truyền bá vào thập niên 1920, và đã được tuyên bố là ngôn ngữ chính thức khi nước này giành độc lập năm 1945. Đa số người dân Indonesia nói ít nhất một trong hàng trăm ngôn ngữ địa phương (bahasa daerah), thường như tiếng mẹ đẻ. Trong số các ngôn ngữ đó, tiếng Java được sử dụng nhiều nhất bởi nó là ngôn ngữ của nhóm sắc tộc lớn nhất. Mặt khác, Papua có 500 hay nhiều hơn các ngôn ngữ bản địa Papua và Nam Đảo, trong một vùng chỉ có 2,7 triệu dân. Đa số những người già hiện nay vẫn có thể nói tiếng Hà Lan ở một số mức độ thành thạo.
Dù tự do tôn giáo đã được quy định trong Hiến pháp Indonesia, chính phủ chính thức công nhận chỉ sáu tôn giáo: Hồi giáo; Tin Lành; Công giáo La Mã; Ấn Độ giáo; Phật giáo; và Nho giáo. Dù không phải là một nhà nước Hồi giáo, Indonesia là quốc gia có đa số tín đồ Hồi giáo, với 86,1% người dân tuyên bố là tín đồ đạo này theo cuộc điều tra dân số năm 2000. Indonesia có 9% dân số là tín đồ Kitô giáo (trong đó khoảng hai phần ba theo Tin Lành), 3% là tín đồ Hindu giáo, và 2% là tín đồ Phật giáo hay tôn giáo khác. Đa số tín đồ Hindu Indonesia là người Bali, và đa số tín đồ Phật giáo tại Indonesia ngày nay là người Hoa. Dù hiện là tôn giáo thiểu số, Hindu giáo và Phật giáo vẫn có ảnh hưởng trong văn hóa Indonesia. Hồi giáo lần đầu được người dân Indonesia chấp nhận ở miền bắc Sumatra trong thế kỷ 13, thông qua ảnh hưởng từ các thương nhân, và đã trở thành tôn giáo chiếm ưu thế tại quốc gia này từ thế kỷ 16. Cơ đốc giáo La Mã lần đầu được đưa tới Indonesia bởi những người thực dân và các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha thời kỳ đầu, và phái Tin Lành chủ yếu phát triển nhờ những nhà truyền giáo người Hà Lan phái Calvin và Luther trong thời kỳ thực dân tại đây. Một tỷ lệ lớn người dân Indonesia-như người abangan Java, người Hindu giáo Bali, và người Kitô giáo Dayak-thực hành một dạng tôn giáo dung hợp và ít chính thống hơn, dựa trên các phong tục và tín ngưỡng địa phương.
== Phân chia hành chính ==
Về mặt hành chính, Indonesia gồm 34 tỉnh, trong đó năm tỉnh có quy chế đặc biệt. Mỗi tỉnh có cơ quan lập pháp và thống đốc riêng. Các tỉnh được chia tiếp thành các huyện (kabupaten) và các thành phố (kota), chúng lại được chia tiếp thành các quận (kecamatan), và các nhóm làng (hoặc desa hay kelurahan). Sau khi áp dụng các biện pháp vùng tự trị năm 2001, các huyện và các thành phố đã trở thành các đơn vị hành chính chủ chốt, chịu trách nhiệm cung cấp hầu hết dịch vụ nhà nước. Cấp hành chính làng là đơn vị có ảnh hưởng lớn nhất tới cuộc sống thường ngày của người dân, và giải quyết các vấn đề của làng hay khu vực lân cận thông qua một lurah hay kepala desa (trưởng làng) do dân bầu.
Các tỉnh Aceh, Jakarta, Yogyakarta, Papua, và Tây Papua có mức độ tự trị và ưu tiên hành pháp cao hơn từ chính quyền trung ương so với các tỉnh khác. Ví dụ, chính phủ Aceh, có quyền thiết lập một hệ thống luật pháp độc lập; năm 2003, tỉnh này đã cho ra đời một hình thức Sharia (Luật Hồi giáo). Yogyakarta được trao vị thế Vùng Đặc biệt để ghi nhận vai trò nòng cốt của nó trong việc hỗ trợ những người Cộng hòa Indonesia thời Cách mạng Indonesia. Papua, thường được gọi bằng Irian Jaya, đã được hưởng một quy chế tự chủ đặc biệt từ năm 2001. Jakarta là vùng thủ đô đặc biệt của quốc gia.
Các tỉnh của Indonesia và thủ phủ
Dấu † chỉ các tỉnh có quy chế đặc biệt
== Chính phủ và chính trị ==
Indonesia là một nước cộng hòa với một hệ thống tổng thống. Với tư cách một quốc gia đơn nhất, quyền lực tập trung trong tay chính phủ trung ương. Sau cuộc từ chức của Tổng thống Suharto năm 1998, chính trị Indonesia và các cơ cấu chính phủ đã trải qua những cuộc cải cách lớn. Bốn sửa đổi đã được tiến hành với Hiến pháp Indonesia năm 1945 sắp xếp lại các nhánh hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Tổng thống Indonesia là lãnh đạo quốc gia, tổng tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Indonesia, và là người chịu trách nhiệm quản lý nhà nước, lập chính sách cùng quan hệ đối ngoại. Tổng thống chỉ định một hội đồng bộ trưởng, các thành viên của hội đồng không buộc phải là các thành viên được bầu của nghị viện. Cuộc bầu cử tổng thống năm 2004 là cuộc bầu cử đầu tiên dân chúng được trực tiếp bầu ra tổng thống và phó tổng thống. Tổng thống có thể phục vụ tối đa hai nhiệm kỳ 5 năm liên tiếp.
Cơ quan đại diện cao nhất ở cấp quốc gia là Hội nghị Hiệp thương Nhân dân (MPR). Các chức năng chính của cơ quan này là hỗ trợ và sửa đổi hiến pháp, chứng nhận tổng thống nhậm chức, chính thức hoá các khuôn khổ của chính sách quốc gia. Cơ quan này có quyền buộc tội tổng thống. MPR gồm hai viện; Hội đồng Đại diện Nhân dân (DPR), với 550 thành viên, và Hội đồng Đại diện Khu vực (DPD), với 128 thành viên. DPR thông qua các luật và giám sát nhánh hành pháp; các thành viên thuộc các đảng chính trị được bầu với nhiệm kỳ 5 năm theo đại diện tỷ lệ. Những cải cách từ năm 1998 đã làm tăng đáng kể vai trò của DPR trong việc điều hành quốc gia. DPD hiện là một cơ quan mới chịu trách nhiệm quản lý khu vực.
Đa số các tranh chấp dân sự đều được đưa ra trước Tòa Nhà nước; các vụ phúc thẩm được xử tại Tòa Cấp cao. Tòa án Tối cao là tòa cấp cao nhất của nhà nước, và đưa ra phán quyết cuối cùng về các vụ phúc thẩm sau khi đã xem xét lại vụ việc. Các tòa khác gồm Tòa Thương mại, xử các vụ phá sản và mất khả năng thanh toán, một Tòa án Hành chính Quốc gia xử các vụ về luật hành chính chống lại chính phủ; một Tòa án Hiến pháp xử các vụ về tính hợp pháp của pháp luật, các cuộc bầu cử, giải tán các đảng chính trị, và phạm vi quyền lực của các định chế nhà nước; và một Tòa án Tôn giáo để xử các vụ án tôn giáo riêng biệt.
== Quan hệ ngoại giao và quân đội ==
Trái với tình cảm chống chủ nghĩa thực dân và những căng thẳng với Malaysia thời Sukarno, quan hệ ngoại giao của Indonesia từ thời chính sách "Trật tự Mới" của Suharto đã được đặt trên cơ sở hợp tác kinh tế và chính trị với các quốc gia phương Tây. Indonesia duy trì quan hệ gần gũi với các nước láng giềng ở Châu Á, và là một thành viên sáng lập của ASEAN cùng Hội nghị cấp cao Đông Á. Quốc gia này đã tái lập quan hệ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1990 sau một thời gian đóng băng bởi quan điểm chống cộng thời đầu cầm quyền của Suharto. Indonesia đã là một thành viên của Liên hiệp quốc từ năm 1950, và là một nước sáng lập Tổ chức không liên kết (NAM) và Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (OIC). Indonesia tham gia vào thỏa thuận Vùng Tự do Thương mại ASEAN, Nhóm Cairns, và WTO, và trong lịch sử từng là một thành viên của OPEC, dù đã rút lui vào năm 2008 bởi họ không còn là một nước xuất khẩu dầu mỏ. Indonesia đã nhận được viện trợ nhân đạo và viện trợ phát triển từ năm 1966, đặc biệt từ Hoa Kỳ, Tây Âu, Australia, và Nhật Bản.
Chính phủ Indonesia đã làm việc với các quốc gia khác để ngăn chặn và truy tìm những kẻ đánh bom có liên quan tới các du kích Hồi giáo và Al-Qaeda. Vụ gây tổn thất nhiều nhân mạng nhất đã giết hại 202 người, gồm 164 du khách quốc tế, ở thị xã nghỉ mát thuộc Bali Kuta năm 2002. Những vụ tấn công, và những cảnh báo du lịch được đưa ra sau đó bởi các quốc gia khác, đã làm thiệt hại nghiêm trọng ngành công nghiệp du lịch và đầu tư nước ngoài.
Các lực lượng vũ trang Indonesia (TNI) với 300.000 thành viên gồm Quân đội (TNI-AD), Hải quân (TNI-AL, gồm cả lính thủy đánh bộ), và Không quân (TNI-AU). Quân đội có khoảng 233.000 lính thường trực. Chi phí quốc phòng trong ngân sách quốc gia khoảng 4% GDP năm 2006, và được cung cấp thêm bởi các khoản lợi nhuận từ thương mại và các quỹ của quân đội. Giai đoạn hậu Suharto từ năm 1998, đại diện thường trực của quân đội trong nghị viện đã bị bãi bỏ; dù bị giảm uy thế, ảnh hưởng chính trị của quân đội vẫn còn rất lớn. Các phong trào ly khai tại các tỉnh Aceh và Papua đã dẫn tới xung đột vũ trang, và những cáo buộc vi phạm nhân quyền cũng như sự tàn ác từ tất cả các phía. Sau một cuộc chiến du kích không thường xuyên kéo dài khoảng ba mươi năm giữa Phong trào Tự do Aceh (GAM) và quân đội Indonesia, một thỏa thuận ngừng bắn đã được ký kết năm 2005. Tại Papua, đã có những điều luật tự trị cấp vùng quan trọng, dù vẫn chưa hoàn thiện và được áp dụng đầy đủ, và những vụ bạo lực cũng như vi phạm nhân quyền đã giảm bớt, từ khi Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono lên cầm quyền.
== Kinh tế ==
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Indonesia ước khoảng 940,953 tỷ đô la (1.038 tỷ đô la theo PPP), đứng thứ 16 thế giới, đứng thứ 5 châu Á và đứng số 1 Đông Nam Á. Năm 2016, ước tính GDP bình quân đầu người danh nghĩa là 3,362 đô la, và GDP trên đầu người theo sức mua tương đương (PPP) là 12,422 (đô la quốc tế). Lĩnh vực dịch vụ là ngành lớn nhất của nền kinh tế và chiếm 45,3% GDP (2005). Tiếp theo là công nghiệp (40,7%) và nông nghiệp (14,0%). Tuy nhiên, nông nghiệp sử dụng nhiều lao động hơn các lĩnh vực khác, chiếm 44,3% trong tổng số lực lượng lao động 95 triệu người. Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ (36,9%) và công nghiệp (18,8%). Các ngành công nghiệp chính gồm dầu mỏ và khí thiên nhiên, dệt, may, và khai thác mỏ. Các sản phẩm nông nghiệp chính gồm dầu cọ, gạo, chè, cà phê, gia vị, và cao su.
Các thị trường xuất khẩu chính của Indonesia (2005) là Nhật Bản (22,3%), Hoa Kỳ (13,9%), Trung Quốc (9,1%), và Singapore (8,9%). Indonesia nhập khẩu nhiều hàng của Nhật Bản (18,0%), Trung Quốc (16,1%), và Singapore (12,8%). Năm 2005, Indonesia có thặng dư thương mại, với kim ngạch xuất khẩu đạt 83,64 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu là 62,02 tỷ. Nước này có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn, gồm dầu mỏ, khí tự nhiên, thiếc, đồng, và vàng. Các mặt hàng nhập khẩu chính của Indonesia gồm máy móc và thiết bị, hoá chất, nhiên liệu và các mặt hàng thực phẩm.
Trong thập kỷ 1960, nền kinh tế đã suy giảm nghiêm trọng vì sự bất ổn chính trị, một chính phủ trẻ và không có kinh nghiệm, và chủ nghĩa kinh tế quốc gia yếu kém, dẫn tới tình trạng nghèo đói nghiêm trọng. Sau khi chế độ Sukarno sụp đổ hồi giữa thập niên 1960, chính sách Trật tự Mới đã mang lại một mức độ kỷ lục cho chính sách kinh tế nhanh chóng làm giảm lạm phát, ổn định tiền tệ, tái cơ cấu nợ nước ngoài, và thu hút đầu tư cũng như viện trợ từ nước ngoài. Indonesia là thành viên duy nhất của OPEC tại Đông Nam Á, và sự bùng nổ giá dầu mỏ thời thập niên 1970 đã mang lại một nguồn thu xuất khẩu lớn giúp duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Sau những cải cách thêm nữa hồi thập niên 1980, Đầu tư nước ngoài đổ vào Indonesia, đặc biệt vào những khu vực chế tạo phát triển nhanh và định hướng xuất khẩu, và từ năm 1989 tới năm 1997, kinh tế Indonesia phát triển với tốc độ trung bình trên 7%.
Indonesia là nước chịu tác động mạnh nhất từ cuộc Khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997–1998. Tỷ giá tiền tệ nước này so với đồng đô la Mỹ đã giảm từ khoảng 2.000 Rp tới 18.000 Rp, và nền kinh tế giảm 13,7%. Từ đó đồng rupiah đã ổn định ở mức trong khoảng 10.000 Rp/dollar, và đã xuất hiện dấu hiệu khôi phục kinh tế quan trọng tuy còn chậm chạp. Sự bất ổn chính trị, cải cách kinh tế chậm chạp và tham nhũng ở mọi cấp độ chính phủ và kinh doanh từ năm 1998 đã ảnh hưởng tiêu cực tới sự phục hồi kinh tế. Ví dụ, Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Indonesia đứng hạng 143 trên 180 nước trong bảng Chỉ số nhận thức tham nhũng của họ. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP đã vượt 5% trong cả hai năm 2004 và 2005, và được dự báo sẽ còn tăng thêm. Mặc dù vậy, tốc độ tăng này chưa đủ mạnh đề dẫn tới một sự thay đổi lớn trong tỷ lệ thất nghiệp, và mức tăng lương, giá nhiên liệu và gạo tăng cao càng làm trầm trọng hơn vấn đề đói nghèo. Năm 2006, ước tính 17,8% dân số sống dưới mức mức nghèo khổ, 49,0% dân số sống với chưa tới 2 đô la mỗi ngày, và tỷ lệ thất nghiệp ở mức 9,75%.
== Văn hóa ==
Indonesia có khoảng 300 nhóm sắc tộc, mỗi nhóm có văn hóa khác biệt và đã phát triển qua nhiều thế kỷ, với ảnh hưởng từ Ấn Độ, Ả Rập, Trung Quốc, Malaysia và châu Âu. Ví dụ, các điệu múa truyền thống Java và Bali chứa đựng các yếu tố văn hóa và thần thoại trong văn hóa Hindu, wayang kulit (rối bóng) cũng tương tự. Những loại vải dệt như batik, ikat và songket được sản xuất trên khắp đất nước Indonesia nhưng theo kiểu cách khác biệt tùy theo vùng. Ảnh hưởng lớn nhất trên kiến trúc Indonesia đến từ kiến trúc Ấn Độ; tuy nhiên, những ảnh hưởng kiến trúc từ Trung Quốc, Ả Rập và châu Âu cũng khá quan trọng. Các môn thể thao thông dụng tại Indonesia là bóng bàn và bóng đá; Liga Indonesia là giải vô địch cấp cao nhất của các câu lạc bộ bóng đá tại Indonesia. Các môn thể thao truyền thống gồm sepak takraw, và chạy đấu bò tại Madura. Tại các vùng có lịch sử chiến tranh giữa các bộ tộc, những cuộc thi đánh trận giả thường được tổ chức, như caci tại Flores, và pasola tại Sumba. Pencak Silat là một môn võ Indonesia. Các môn thể thao tại Indonesia nói chung thường dành cho phái nam và các khán giả cũng thường tham gia vào hoạt động cá cược cờ bạc.
Ẩm thực Indonesia khác biệt theo vùng tuỳ theo ảnh hưởng của Trung Quốc, châu Âu, Trung Đông hay Ấn Độ. Gạo là thực phẩm chính và được dùng cùng với thịt và rau. Các loại gia vị (có nhiều ớt), nước cốt dừa, cá và gà là các thành phần chính. Âm nhạc truyền thống Indonesia gồm gamelan và keroncong. Dangdut là một thể loại nhạc pop đương đại phổ thông có ảnh hưởng từ âm nhạc dân gian Ả Rập, Ấn Độ và Malaysia. Công nghiệp điện ảnh Indonesia phát triển mạnh trong thập niên 1980 và chiếm hầu hết các rạp chiếu bóng, dù tới đầu thập niên 1990 nó bắt đầu hơi suy giảm. Từ năm 2000 tới năm 2005, số lượng phim Indonesia được phát hành hàng năm đã liên tục tăng lên.
Bằng chứng cổ nhất về chữ viết tại Indonesia là một loạt bản ghi chép bằng tiếng Phạn có niên đại từ thế kỷ thứ 5. Những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong văn học hiện đại Indonesia gồm: tác gia Hà Lan Multatuli, người đã chỉ trích cách đối xử với người dân Indonesia thời cai trị thuộc địa Hà Lan; các nhân vật người Sumatra Muhammad Yamin và Hamka, là những nhà chính trị và tác gia ủng hộ độc lập quốc gia nổi tiếng; và tác gia vô sản Pramoedya Ananta Toer, nhà tiểu thuyết nổi tiếng nhất Indonesia. Nhiều người Indonesia có kiểu giọng địa phương rõ rệt, giúp xác định và duy trì bản sắc văn hóa của họ. Tự do truyền thông tại Indonesia đã tăng lên đáng kể từ khi chế độ Tổng thống Suharto chấm dứt, thời ấy Bộ Thông tin, nay đã bị bãi bỏ, giám sát và kiểm soát truyền thông trong nước, ngăn chặn truyền thông nước ngoài. Thị trường TV gồm mười mạng lưới truyền thông thương mại, và các mạng lưới địa phương cạnh tranh với TVRI của nhà nước. Các đài phát sóng tư nhân thực hiện bản tin của riêng mình và các chương trình khác lấy từ đài nước ngoài. Với 25 triệu người sử dụng năm 2008, Internet chỉ phố biến tới một bộ phận nhỏ người dân, xấp xỉ 10.5%.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Châu Á
Thái Bình Dương
== Liên kết ngoài ==
Chính phủ
Government of Indonesia
Minister of The State Secretary (tiếng Indonesia)
Antara – National News Agency
Statistics Center
Chief of State and Cabinet Members
Thông tin chung
Inđônêxia tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Indonesia tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Mục “Indonesia” trên trang của CIA World Factbook.
Indonesia from UCB Libraries GovPubs
Indonesia tại DMOZ
Wikimedia Atlas của Indonesia, có một số bản đồ liên quan đến Indonesia. |
hiệp hội bóng đá israel.txt | Hiệp hội bóng đá Israel là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Israel. Hiệp hội quản lý đội tuyển bóng đá quốc gia nam và nữ, tổ chức các giải bóng đá như vô địch quốc gia và cúp quốc gia. Hiệp hội bóng đá Israel gia nhập FIFA năm 1929 và UEFA năm 1994.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ |
bảo tàng hà nội.txt | Bảo tàng Hà Nội, trước đây nằm ở số 5B phố Hàm Long, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, là nơi trưng bày giới thiệu về thủ đô Hà Nội từ khi dựng nước đến nay.
Được thành lập từ năm 1982, nên số lượng hiện vật của bảo tàng lên tới hàng chục ngàn, trong đó riêng kho cổ vật quý hiếm đã chiếm tới hơn 7 ngàn. Bộ sưu tập của bảo tàng bao gồm đồ đá, đồ đồng, gốm sứ các thời nhà Lý, Trần, Lê, Nguyễn, gốm sứ của Trung Quốc, Nhật Bản. Các khu vực trưng bày của bảo tàng được chia thành ba phần:
Lịch sử thiên nhiên Hà Nội;
Lịch sử Hà Nội từ khi dựng nước đến trước Cách mạng tháng Tám;
Lịch sử Hà Nội từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.
== Công trình mới xây dựng ==
Để kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, một dự án xây dựng mới bảo tàng Hà Nội đã được thực hiện với số tiền đầu tư rất lớn, Bảo tàng Hà Nội mới nằm trong khu vực xây dựng Trung tâm Hội nghị Quốc gia Việt Nam tại phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm; có kết cấu hình kim tự tháp ngược, trong đó tầng 4 có diện tích lớn nhất, các tầng dưới nhỏ dần. Thiết kế của Liên doanh tư vấn GMP - ILAG (Đức); được xây dựng trên tổng diện tích khoảng 54.000 m², cao 30,7 mét. Công trình gồm 4 tầng nổi và 2 tầng hầm; diện tích xây dựng xấp xỉ 12.000 m², diện tích sàn hơn 30.000 m² (kể cả tầng hầm và tầng mái). Bảo tàng đã được khánh thành vào ngày 6 tháng 10 năm 2010. Ước tính có 50.000 hiện vật được trưng bày tại đây.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Mẫu thiết kế Bảo tàng Hà Nội: Giới khoa học nói gì?
3 phương án kiến trúc Bảo tàng Hà Nội |
mitanni.txt | Mitanni ( /mɪˈtæni/) là quốc gia của người Hurria ở phía bắc Lưỡng Hà vào khoảng 1500 TCN, vào thời đỉnh cao của mình trong thế kỷ 14 TCN quốc gia này bao gồm lãnh thổ phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, phía bắc Syria và bắc Iraq ngày nay, với trung tâm là thủ đô Washshukanni (Al Hasakah ngày nay). Vào thời kỳ đế quốc Assyria mới, cái tên Mitanni để chỉ vùng đất giữa hai con sông Khabur và Euphrates.
Các tài liệu lịch sử về Mitanni không được tìm thấy nhiều, phần lớn hiện nay là các tài liệu của Assyria, Hittite và Ai Cập cũng như các bia khắc ở Syria.
Người ta tin rằng cuộc chiến giữa các bộ tộc Hurria với các thành bang đã dẫn đến sự ra đời của một vương triều mới sau sự sụp đổ của Babylon trước cuộc chinh phạt của Mursili I của đế quốc Hittite và cuộc xâm lược của người Kassite. Cuộc chinh phạt của người Hittite, sự suy yếu của vương quốc Assyria, và sau đó là các cuộc nội chiến ở Hitttite đã tạo ra những khoảng trống quyền lực ở bắc Lưỡng Hà. Những điều đó đã góp phần tạo ra vương quốc Mitanni.
Vua Barattarna của Mitanni đã mở rộng lãnh thổ về phía tây đến Halab (Aleppo), Kizzuwatna cũng bị phụ thuộc, và đến giữa thế kỷ 15 TCn thì cả Arrapha và Assyria đều là chư hầu của Mitanni. Mitanni phát triển mạnh mẽ dưới triều vua Shaushtatar, nhưng người Mitanni không thể vươn ra ngoài cao nguyên Anatolia do sự ngăn trở của người Hittite. Kizzuwatna và Ishuwa là những đồng minh quan trọng của Mitanni để chống lại Hittite.
Sau một vài xung đột với Ai Cập trong việc tranh giành Syria, Mitanni đã nghị hoà và thiết lập quan hệ đồng minh với Ai Cập. Vào đầu thế kỷ 14 TCN quan hệ của Mitanni với Ai Cập rất tốt và vua Shuttarna đã gả công chúa Gilukheppa cho Pharaoh Amenhotep III. Đây là thời đỉnh cao của Mitanni.
Sau cái chết của Shuttarna, Mitanni rơi vào cuộc tranh chấp ngôi báu. Cuối cùng thì con trai của Shuttarna là Tushratta lên ngôi. Tuy nhiên Mitanni đã bị suy yếu và bị Hittite lấn chiếm biên giới. Lúc này quan hệ với Ai Cập trở nên lạnh nhạt còn Assyria thì đã vùng lên chống lại. Vua Suppiluluima I của Hittite đã xâm chiếm các nước chư hầu của Mitanni ở bắc Syria và cai trị những nơi này.
Tại thủ đô Washukanni một cuộc đấu đá mới diễn ra, giữa các thế lực được Hittite và Assyria ủng hộ, Cuối cùng quân đội Hittite đã chiếm Washukanni và lập Shattiwaza, con trai của Tushratta lên làm vua. Mitanni trở thành chư hầu của Hittite. Tuy nhiên vào thế kỷ 13 TCN người Assyria đã đánh bại Mitanni và biến nó thành lãnh thổ của mình.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ khai quốc ===
Người Hurria đã sống ở phía đông sông Tigris, phía bắc Lưỡng Hà và thung lũng Khabur. Một bộ phận đã di cư xuống phía nam vào trước thế kỷ 17. Eusebius, viết vào thế kỷ 4, trích dẫn từ Eupolemus-sử gia người Do Thái thế kỷ 2 TCN, rằng “vào thời Abraham, người Armenia xâm lược Syria”. Điều này gần khớp với sự xuất hiện của người Mitanni, vì Abraham được cho là sống vào khoảng thế kỷ 17 TCN. Người Mitanni được nhắc tới trong các văn bản Nuzi, Ugarit và được người Hittite cất trữ ở Hattushsha. Các văn bản Cuneiform từ Mari nói đến những người thống trị các thành bang ở bắc Lưỡng Hà với các tên Amorite và Hurria. Các kẻ thống trị ở Urshum và Hashshum cũng có tên Hurria. Không có các bằng chứng rõ rệt về một cuộc xâm lấn từ hướng đông bắc. Các bằng chứng chỉ ra rằng người Hurria đến từ phía nam và tây.
Theo truyền thuyết thì vị vua đầu tiên sáng lập Mitanni là Kirta. Tuy nhiên không ai biết gì về các vị vua đầu tiên của Mitanni.
=== Barattarna/Parsha(ta)tar ===
Vua Barattarna được nhắc đến trong các bản khắc ở Nuzi, nhưng các tài liệu Ai Cập không thấy đề cập đến. Có giả thiết rằng Barattarna là vị vua đã chiến đấu chống lại Pharaoh Thutmose III ở thế kỷ 15 TCN. Người ta vẫn đang tranh luận xem Barattarna và Parsha(ta)tar có phải là cùng một người không ?
Dưới triều vua Thutmose III, quân Ai Cập vượt qua sông Euphrate và tiến vào trung tâm lãnh thổ Mitanni. Tại Megiddo, quân Ai Cập giao tranh với liên quân Syria, các lãnh chúa Kadesh và quân Mitanni. Sau trận Megiddo, không rõ có tồn tại một hiệp ước nào không, nhưng Ai Cập đã thắng lợi trong việc mở đường tiến lên phương bắc.
Thutmose III lột lần nữa phát động chiến tranh vào năm thứ 33 trong triều đại của mình. Quân AI Cập vượt qua Carchemish tới một thị trấn tên là Iryn (có thể là Erin ngày nay, cách Aleppo 20km về hướng tây bắc). Quân Ai Cập vượt sông Euphrate đến Emar (Meskene) rồi trở lại Syria. Các vùng đất miền trung Orontes và Phoenicia trở thành lãnh thổ của Ai Cập.
Barattarna và con trai Shaushtatar kiểm soát miền bắc Syria và vùng duyên hải kéo dài từ Kizzuwatna tới Alalakh.
=== Shaushtatar ===
Shaushtatar đã cướp phá Assur vài lần trong thế kỷ 15 TCN. Ông đã lấy các cánh cửa bằng vàng bạc mang về Washukanni. Điều này được nhắc đến trong hiệp ước giữa Suppililiuma và Shattiwaza sau này.
Sau khi Assur bị cướp phá, Assyria có thể phải cống nạp cho Mitanni. Trong thời gian là chư hầu của Mitanni, các đền thờ Sin và Shamash đã được xây dựng ở Assur.
Aleppo, Nuzi, và Arrapha được sát nhập vào Mitanni dưới triều vua Shaushtatar. Quân đội Mitanni nổi tiếng với tài điều khiển chiến xa. Các văn bản nói về việc huấn luyện ngựa chiến được viết bởi Kikkuli đã được tìm thấy ở Hattusa. Vào thời của Pharaoh Amenhotep II, Mitanni đã giành lại được ảnh hưởng ở miền trung Orontes.
=== Artatama I và Shuttarna II ===
Về sau Ai Cập và Mitanni trở thành đồng minh. Bản thân vua Shuttarna II được tiếp đón tại Ai Cập. Giữa hai bên có những trao đổi thư từ và những món quà xa xỉ. Mitanni đặc biệt có hứng thú với vàng của Ai Cập. Điều này dẫn tới các đám cưới giữa hoàng tộc hai bên: con gái của Artatama I và Thutmose IV. Kilu-Hepa hay Gilukhipa, con gái Shuttarna II lấy Amenhotep III. Sau này Tadu-Hepa hay Tadukhipa, con gái Tushratta cũng được gả sang Ai Cập.
Khi Amenhotep III bị ốm, vua Mitanni đã gửi bức tượng thần Shaushka (Ishtar) của Niniveh sang để cầu phúc. Đường biên giới giữa Ai Cập và Mitanni là ở gần Qatna. Ugarit thuộc về Ai Cập.
=== Artashumara và Tushratta ===
Artashumara kế vị ngai vàng của Shuttarna II nhưng lại bị ám sát bởi UD-hi hay Uthi. Sau đó Uthi thay thế Tushratta, một người con khác của Shuttarna II. Có giả thiết rằng Uthi có được sự ủng hộ của Ai Cập trong việc này.
Lợi dụng tình trạng bất ổn tại các chư hầu của Mitanni, Aziru của Amurru đã bí mật hợp tác với Hittite. Vua Suppiluliuma của Hittite đã chiếm lại Kizzuwatna. Suppiluliuma cũng cướp vùng đất phía tây của thung lũng Euphrate và Amurru, Nuhashshe từ Mitanni.
Suppiluliuma đã kí hiệp ước với Artatama II, đối thủ của Tushratta. Suppiluliuma tiến hành thôn tính các vùng đất ở phía tây sông Euphrate. Tushratta đe doạ sẽ làm cỏ Euphrate.
Suppiluliuma muốn giành lại Ishuwa, vùng đất mà người Hittite đã để mất vào tay Mitanni ngày trước. Quân Hittite vượt qua biên giới và chiếm lại được Ishuwa. Hittite còn nhiều lần tấn công Washukanni. Suppiluliuma yêu sách về nhiều thứ.
Trong chiến dịch lần thứ hai, quân Hittite chiếm được Halab, Mukish, Niya, Arahati, Apina, and Qatna cũng như một vài thành phố khác chưa rõ tên. Hittite thu nhiều chiến lợi phẩm và chiến xa đưa về Hatti. Để đối phó với lực lượng chiến xa hùng mạnh của Mitanni, Hittite cũng đã nâng cấp chiến xa của mình.
=== Shattiwaza ===
Một người con của Tushratta làm phản, giết chết ông ta rồi kên ngôi. Một người con khác là Shattiwaza buộc phải bỏ trốn. Nhân đó, người Assyria giành lại độc lâp, Mitanni đã phải trao lại những cánh cửa mà họ cướp được ở Assur trước đây.
Shattiwaza đầu tiên chạy sang Babylon, sau đó sang Hittite. Vua Hittite đã gả con gái cho Shattiwaza. Suppiluliuma đã ký hiệp ước với Shattiwaza. Sau đó Piyashshili, con trai của Suppiluliuma đã đem quân giúp Shattiwaza quay về Mitanni. Quân Hittite vượt qua Euphrate, giao chiến với người Irrdu ở Hurrite. Quân Hittite đã thắng.
Trong khi đó quân Assyria tiến đến Washukanni. Có vẻ như Mitanni đã cầu viện Assyria để chống lại Hittite, nhưng Assyria lại từ chối. Shuttarna đành đầu hàng Hittite. Quân Assyria rút lui để tránh đối mặt với quân lực hùng hậu của Hittite.
Shattiwaza trở thành vua của Mitanni. Tuy nhiên chính quyền bị khống chế bởi Hittite và lãnh thổ bị thu hẹp. Hittite lợi dụng Mitanni để chống lại Assyria.
=== Shattuara I ===
Các tài liệu của Adad-ninari I (1307-1275 TCN) mô tả quan hệ giữa Shattuara I và Assyria. Adad-ninari I đã bắt Shattuara về Assur và sau này mới thả về Mitanni. Shattuara đã phải chịu những khoản cống nạp nặng nề cho Assyria. Lúc này ở Hittite đang là triều vua Mursili II.
=== Wasashatta ===
Ghen ghét trước sự hùng mạnh của Assyria, con trai của Shattuara là Wasashatta đã chống đối. Ông đã cầu viện Hittite nhưng bản thân Hittite lúc này đang vướng phải nội chiến do việc Hattusili III cướp ngôi cháu mình là Urhi-Teshup. Hittite có viện trợ tiền cho Mitanni nhưng không giúp đỡ về quận sự.
Assyria tấn công Taidu, chiếm Washshukannu, Amasakku, Kahat, Shuru, Nabula, Hurra và Shuduhu. Assyria còn tấn công Irridu, phá huỷ nó hoàn toàn và rắc muối lên trên đó. Vợ và con cái của Wasashatta bị bắt về Asshur còn bản thân ông thì chạy thoát. Một vài học giả nghĩ rằng ông ta đã chạy đến Shuriba (một thành bang của Mitanni) và trở thành người cai trị ở đó.
Trong cuộc chinh phạt Mitanni, Adad-ninari I không vượt qua Euphrate và Carchemish vẫn thuộc về Hittite. Adad-ninải đã gửi thư yêu cầu vua Hittite công nhận mình ngang hàng.
=== Shattuara II ===
Shattuara II, con trai hoặc cháu trai của Wasashatta đã nổi dậy chống lại vua Shalmaneser I (1270-1240 TCN) của Assyria. Ông được sự giúp đỡ của Hittite và bộ lạc Ahlamu. Thế nhưng Shalmaneser I đã giành chiến thắng vang dội. Quân Assyria đã tàn sát 14400 người. Theo các tài liệu ca ngợi chiến công của Shalmaneser I thì 180 thành phố của người Hurria bị tàn phá, quân Hittite và Ahlamu bị giết như những con cừu, các thành phố từ Taidu cho đến Irridu bị thất thủ.
=== Hanilgalbat ===
Một bộ phận dân chúng bị lưu đày và lao dịch. Nhà cầm quyền phải phân phát lúa mạch cho dân chúng. Assyria đã xây dựng một hệ thống thành lũy kiên cố để chống lại Hittite.
Ili-ippada, một thành viên trong hoàng tộc Assyria đã trở thành vua của Mitanni (lúc này có tên gọi là Hanilgalbat như là một tỉnh của Assyria). Assyria kiểm soát về quân đội và chính trị nhưng không kiểm soát giao thương.
Dưới thời vua Tukulti-Ninurta I (1243-1207 TCN) lại có một lượng lớn người tị nạn chạy từ Mitanni đến Asshur, tham gia vào việc xây dựng các cung điện. Vua Hittite đã tiến hành một cuộc xâm lược Hanilgalbat, kích động bạo loạn. Các thành phố của Assyria bị cướp phá.
Dưới thời Assur-nirari III, người Mushku và các bộ lạc khác xâm lược Hanilgalbat. Người Hurria vẫn nắm giữ Katmuhu và Paphu.
=== Thời kỳ đế quốc Assyria mới ===
Trong vài thế kỷ, Washukanni bị Assyria đô hộ. Người Mitanni dường như đã xây dựng lại một thành bang mới là Urartu ở phía bắc. Vào thời của Adad-nirari II, Assurbanipal II và Shalmaneser III cái tên Hanilgalbat vẫn được sử dụng.
== Tham khảo == |
trận sông boyne.txt | Trận sông Boyne (Tiếng Ireland: Cath na Bóinne, IPA: [kah n ˠ ə b ˠ o ː n ʲ ə]) là một trận đánh lớn diễn ra năm 1690 giữa hai đối thủ giành ngai vàng Anh, Scotland và Ireland - vị vua theo Công giáo James II và vua theo Kháng cách William III, người đã lật đổ James năm 1688. Trận chiến kết thục bằng chiến thắng lớn của William, là một bước ngoặt trong nỗ lực không thành James để giành lại vương miện và cuối cùng đã giúp đảm bảo ưu thế tiếp tục của phe Kháng Cách ở Ireland.
== Tham khảo ==
Padraig Lenihan, 1690 Battle of the Boyne, Tempus Publishing, Gloucestershire 2003. ISBN 0752433040
G.A Hayes McCoy, Irish Battles, Belfast 1990, ISBN 086281250X.
Richard Doherty, 'The Williamite War in Ireland 1688–1691', Dublin: Four Courts Press, 1998. ISBN 1-85182-375-1 |
cộng đồng kinh tế châu âu.txt | Bản mẫu:EU history
Cộng đồng Kinh tế châu Âu (tiếng Anh: European Economic Community, viết tắt là EEC) cũng gọi đơn giản là Cộng đồng châu Âu, ngay cả trước khi nó được đổi tên chính thức thành Cộng đồng châu Âu vào năm 1993, hoặc Thị trường chung (Common Market) ở các nước nói tiếng Anh, là một tổ chức quốc tế được thành lập năm 1957 đem tới việc hội nhập kinh tế (gồm một thị trường chung) giữa các nước Bỉ, Pháp, Tây Đức, Ý, Luxembourg và Hà Lan.
Sau đó được mở rộng thêm 6 nước khác gia nhập, và từ năm 1967, các cơ quan thể chế của Cộng đồng cũng điều khiển Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (EAEC hoặc Euratom) dưới tên Các cộng đồng châu Âu. Khi Liên minh châu Âu (EU) được thành lập năm 1993, thì "Cộng đồng Kinh tế châu Âu" biến đổi thành Cộng đồng châu Âu, một trong 3 trụ cột của Liên minh châu Âu, và các cơ quan của "Cộng đồng Kinh tế châu Âu" tiếp tục là cơ quan của Liên minh châu Âu.
== Lịch sử ==
Xem Lịch sử Liên minh châu Âu
=== Bối cảnh ===
Năm 1951, Hiệp ước Paris thành lập Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) được ký kết. Đây là một cộng đồng quốc tế dựa trên chủ trương siêu quốc gia và luật pháp quốc tế, để giúp nền kinh tế châu Âu và ngăn ngừa chiến tranh trong tương lai, bằng cách hội nhập các nước thành viên châu Âu với nhau.
Trong mục đích lập một Liên bang châu Âu, hai cộng đồng khác đã được đề nghị: Cộng đồng Phòng vệ châu Âu (European Defence Community, EDC) và Cộng đồng Chính trị châu Âu (European Political Community, EPC). Trong khi Hiệp ước cho các Cộng đồng nói trên được phòng nghị viện Cộng đồng Than Thép châu Âu soạn thảo, thì Nghị viện Pháp đã bác bỏ "Cộng đồng Phòng vệ châu Âu". Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean Monnet, nhân vật lãnh đạo đằng sau các cộng đồng, đã từ chức để phản đối, và bắt đầu dự kiến tạo ra các cộng đồng khác, dựa trên việc hội nhập kinh tế hơn là hội nhập chính trị. Sau Hội nghị Messina (Ý) năm 1955, Paul Henri Spaak được trao nhiệm vụ chuẩn bị một bản báo cáo về ý tưởng một liên minh thuế quan (customs union). Cái gọi là Báo cáo của Spaak của Ủy ban Spaak đã tạo thành nền tảng cho các cuộc thương thuyết liên chính phủ tại Lâu đài Val Duchesse (Bỉ) năm 1956. Cùng với Báo cáo của Ohlin, báo cáo của Spaak đã tạo cơ sở cho Các hiệp ước Roma.
Năm 1956, Paul Henri Spaak lãnh đạo Hội nghị liên chính phủ về Thị trường chung và Euratom tại Lâu đài Val Duchesse, để chuẩn bị cho Các hiệp ước Roma năm 1957. Hội nghị này dẫn tới việc ký kết Các hiệp ước Roma ngày 25.3.1957 để lập ra Cộng đồng Kinh tế châu Âu.
=== Việc thành lập & các năm đầu ===
Các cộng đồng được thành lập là Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (EAEC hoặc Euratom). Các cộng đồng này rõ ràng là ít siêu quốc gia hơn các cộng đồng dự trù trước kia, do việc phản đối của một số nước, cho là chủ quyền của họ bị xâm phạm. Cuộc họp chính thức đầu tiên của Ủy ban Hallstein, diễn ra ngày 16.1.1958 tại Lâu đài Val Duchesse. Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã lập ra liên minh thuế quan trong khi Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu thúc đẩy việc hợp tác trong lãnh vực năng lượng nguyên tử. Cộng đồng Kinh tế châu Âu nhanh chóng trở thành quan trọng nhất trong 3 cộng đồng, và mở rộng các hoạt động của mình. Một trong các thực hiện quan trọng đầu tiên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu là lập ra mức giá chung cho các sản phẩm nông nghiệp (1962). Năm 1968, các thuế quan trên một số sản phẩm buôn bán giữa các nước thành viên đã được bãi bỏ.
Một khủng hoảng khác đã xảy ra đối với các đề nghị tài trợ Chính sách Nông nghiệp chung, có hiệu lực từ năm 1962. Thời gian quá độ nhờ đó các quyết định được đưa ra bằng cách nhất trí đã chấm dứt, và cuộc bỏ phiếu đa số trong Hội đồng đã có hiệu lực. Việc chống đối chủ trương siêu quốc gia của Tổng thống Pháp thời đó Charles de Gaulle dẫn tới "chính sách bỏ trống ghế" do các đại diện của Pháp rút khỏi các cơ quan của Cộng đồng, cho tới khi quyền phủ quyết của Pháp được phục hồi. Cuối cùng, đạt tới thỏa hiệp Luxembourg ngày 29.1.1966 do đó một thoả thuận của người quân tử (gentlemen's agreement) cho phép các thành viên sử dụng quyền phủ quyết trên các lĩnh vực quyền lợi quốc gia.
Năm 1967 Hiệp ước Hợp nhất đã có tác dụng, hợp nhất các cơ quan của Cộng đồng Than Thép châu Âu và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu với các cơ quan của Cộng đồng Kinh tế châu Âu, các cơ quan này vốn đã dự phần vào Nghị viện châu Âu và Tòa án Cộng đồng châu Âu. Một cách tập thể, chúng được gọi là Các cộng đồng châu Âu. Các cộng đồng này vẫn có tư cách pháp nhân độc lập, dù đã gia tăng hội nhập. Vì nó gần sát với mục tiêu hội nhập chính trị và thống nhất châu Âu một cách hòa bình, nên Mikhail Gorbachev đã mô tả là Ngôi nhà chung châu Âu (Common European Home).
=== Việc mở rộng & các cuộc tuyển cử ===
Thập niên 1960 đã có các ý định mở rộng Cộng đồng. Ngày 3.5.1960, Đan Mạch, Ireland, Na Uy và Vương quốc Anh xin gia nhập Các cộng đồng châu Âu. Tuy nhiên tổng thống Pháp Charles de Gaulle coi việc gia nhập của Anh như con ngựa thành Troia của Hoa Kỳ cài vào, nên đã phủ quyết và đơn xin gia nhập của 4 nước nói trên bị đình hoãn.
Bốn nước này lại nộp đơn xin gia nhập ngày 11.5.1967, lúc đó Georges Pompidou làm tổng thống Pháp kế vị Charles de Gaulle, nên Pháp không phủ quyết. Các cuộc thương lượng bắt đầu từ năm 1970 dưới thời chính phủ thân châu Âu của thủ tướng Anh Edward Heath về sự bất đồng ý kiến liên quan tới Chính sách Nông nghiệp chung cùng quan hệ của Vương quốc Anh với Khối Thịnh vượng chung Anh, 2 năm sau các hiệp ước gia nhập đã được ký kết và 3 nước Đan Mạch, Ireland và Vương quốc Anh đã gia nhập Cộng đồng (ngoại trừ Na Uy, vì dân bỏ phiếu chống, trong cuộc trưng cầu ý dân).
Các hiệp ước Roma quy định là Nghị viện châu Âu phải được dân bầu trực tiếp, tuy nhiên điều đó đòi Hội đồng châu Âu trước hết phải nhất trí về một hệ thống bầu cử chung. Hội đồng đã trì hoãn vấn đề này và Nghị viện vẫn được chỉ định.
Nghị viện làm áp lực để đạt tới sự thỏa thuận, và ngày 20.9.1976 Hội đồng đã đồng ý phần các phương tiện cần thiết cho việc bầu cử, nhưng hoãn các chi tiết về các hệ thống bầu cử mà ngày nay vẫn còn khác biệt. Dưới thời chủ tịch Jenkins, tháng 6 năm 1979, các cuộc tuyển cử đã được tổ chức trong mọi quốc gia thành viên thời đó (xem Cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu, 1979). Nghị viện mới, được kích động bởi cuộc bầu cử trực tiếp và quyền hành mới, đã bắt đầu làm việc trọn thời gian và tích cực hơn các nghị viện trước đây.
Ngay sau cuộc bầu cử, Nghị viện trở thành cơ quan đầu tiên của Cộng đồng đưa ra đề nghị Cộng đồng nên chọn một lá Cờ châu Âu. Hội đồng châu Âu đã đồng ý và chọn các biểu tượng châu Âu là các biểu tượng của Cộng đồng năm 1984.
=== Hướng về Hiệp ước Maastricht ===
Hy Lạp xin gia nhập Cộng đồng ngày 12.6.1975, tiếp theo sự khôi phục nền dân chủ và được gia nhập ngày 1.1.1981. Tiếp theo Hy Lạp, và sau việc khôi phục dân chủ của mình, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha xin gia nhập năm 1977 và được gia nhập ngày 1.1.1986. Năm 1987 Thổ Nhĩ Kỳ chính thức xin gia nhập Cộng đồng và bắt đầu quá trình đàm phán về việc xin gia nhập lâu nhất trong số các nước xin gia nhập (năm 2009, vẫn còn đang thương lượng).
Với triển vọng mở rộng hơn nữa, và việc mong muốn tăng cường hợp tác, Đạo luật chung châu Âu đã được các bộ trưởng ngoại giao các nước thành viên ký ngày 17.2.1986 tại thành phố Luxembourg và ngày 28.2.1986 tại thành phố Den Haag, (Hà Lan). Trong một tài liệu đơn, có nêu vấn đề cải cách các thể chế, gia tăng quyền lực, hợp tác trong chính sách đối ngoại và thị trường chung, và có hiệu lực từ ngày 1.7.1987. Đạo luật này bị ảnh hưởng bởi dự định tạo ra Hiệp ước Maastricht, được ký ngày 10.12.1991, và có hiệu lực từ ngày 1.11.1993, lập ra Liên minh châu Âu.
Liên minh châu Âu thu nạp Cộng đồng Kinh tế châu Âu làm một trong 3 trụ cột của mình. Các lãnh vực hoạt động của Cộng đồng Kinh tế châu Âu trở thành một trụ cột của Cộng đồng châu Âu, tiếp tục theo cấu trúc siêu quốc gia của Cộng đồng Kinh tế châu Âu. Các cơ quan của Cộng đồng Kinh tế châu Âu trở thành các cơ quan của Liên minh châu Âu, một số cơ quan thay đổi tên tùy theo nhu cầu; tuy nhiên Tòa án, Nghị viện và Ủy ban châu Âu chỉ có đầu vào hạn chế trong 3 trụ cột mới, như chúng làm việc theo hệ thống liên chính phủ nhiều hơn là Cộng đồng châu Âu. Theo Hiệp ước Lisbon, hệ thống trụ cột này bị hủy bỏ và các trụ cột này phải theo con đường của Cộng đồng.
== Các mục tiêu & thành tựu ==
Mục tiêu chính của Cộng đồng Kinh tế châu Âu - như đã ghi trong lời nói đầu – là "duy trì hòa bình và tự do, cùng đặt nền móng cho một liên minh chặt chẽ trong các dân tộc châu Âu". Kêu gọi việc tăng trưởng kinh tế cân bằng, việc đó sẽ được hoàn thành thông qua:
1) việc thiết lập một Liên minh thuế quan với thuế suất nội địa chung
2) các chính sách chung về Nông nghiệp, Vận tải và Thương mại
3) Mở rộng Cộng đồng tới các nước châu Âu còn lại. Về Liên minh thuế quan, hiệp ước dự trù giảm thuế quan 10 % và tới 20 % các quotas nhập cảng toàn cầu. Diễn tiến của liên minh thuế quan nhanh hơn 12 năm theo dự trù, tuy nhiên Pháp phải đương đầu với vài thoái trào do có chiến tranh với Algérie.
== Các nước thành viên ==
Xem Các nước thành viên Liên minh châu Âu và Việc mở rộng Liên minh châu Âu
Sáu nước sáng lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu và 2 Cộng đồng khác (Than Thép & Năng lượng nguyên tử) thường được gọi là "6 nước bên trong" (inner six), còn 7 nước lập ra Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu được gọi là "7 nước bên ngoài" (outer seven). Sáu nước bên trong là Pháp, Tây Đức, Ý và 3 nước thuộc khối Benelux là: Bỉ, Hà Lan và Luxembourg. Đợt mở rộng thứ nhất vào năm 1973, thâu nhận 3 nước Đan Mạch, Ireland và Vương quốc Anh. Các nước Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha gia nhập trong thập niên 1980. Tiếp theo việc thành lập Liên minh châu Âu năm 1993, tới năm 2007 còn thu nạp thêm 15 nước nữa.
Các nước thành viên được đại diện theo một vài hình thức trong mỗi cơ quan thể chế. Hội đồng châu Âu gồm một bộ trưởng quốc gia, đại diện cho chính phủ của mình. Mỗi nước cũng có quyền có một Ủy viên châu Âu, dù các ủy viên này được cho là không đại diện cho quyền lợi của nước mình, mà đại diện cho Cộng đồng. Trước năm 2004, các nước thành viên lớn hơn (Pháp, Đức, Ý và Anh) có 2 ửy viên). Trong Nghị viện châu Âu, các nước thành viên được chia ghế theo tỷ lệ dân số, tuy nhiên từ cuộc bầu cử Nghị viện năm 1979 đã là bầu cử trực tiếp, vá các nghị viên ngồi theo nhóm khuynh hướng chính trị của mình, không theo gốc quốc gia. Phần lớn các cơ quan thể chế khác, trong đó có Tòa án Cộng đồng châu Âu, có thể thức riêng để chia ghế theo quốc gia.
== Các cơ quan thể chế ==
Xem Các thể chế của Liên minh châu Âu
Có 3 cơ quan thể chế chính trị nắm quyền lập pháp và hành pháp trong Cộng đồng châu Âut, cộng thêm cơ quan thể chế tư pháp và một cơ quan thứ 5 được lập năm 1975. Các cơ quan này (ngoại trừ Kiểm toán) được Cộng đồng Kinh tế châu Âu lập năm 1957, nhưng từ năm 1967 trở đi, chúng được áp dụng cho tất cả 3 Cộng đồng (Kinh tế, Than Thép & Năng lượng nguyên tử). Hội đồng đại diện các chính phủ, Nghị viện đại diện các công dân và Ủy ban đại diện các quyền lợi của Cộng đồng châu Âu. Về cơ bản thì Hội đồng, Nghị viện hoặc đảng khác đưa thỉnh cầu lập pháp cho Ủy ban, sau đó Ủy ban dự thảo rồi trình lên Hội đồng để phê chuẩn và Nghị viện xin ý kiến (trong vài trường hợp, có sự phủ quyết, tùy thuộc phủ tục lập pháp của Cộng đồng). Sau Hiệp ước Maastricht năm 1993, các cơ quan trên trở thành cơ quan của Liên minh châu Âu, dù có hạn chế trong vài lãnh vực, do cơ cấu trụ cột. Dù vậy, riêng Nghị viện đã chiếm được nhiều quyền lập pháp và an ninh của Ủy ban.
=== Bối cảnh ===
Cộng đồng Kinh tế châu Âu thừa kế các cơ quan thể chế của Cộng đồng Than Thép châu Âu trong đó Hội nghị lập pháp chung và Tòa án Cộng đồng châu Âu của Cộng đồng Than Thép châu Âu có quyền lực mở rộng tới Cộng đồng Kinh tế châu Âu và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu trong cùng vai trò. Tuy nhiên Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử có các cơ quan hành pháp khác với các cơ quan của Cộng đồng Than Thép. Thay cho Hội đồng bộ trưởng của Cộng đồng Than thép, là Hội đồng Cộng đồng Kinh tế châu Âu, và thay cho Chính quyền cấp cao của Cộng đồng Than Thép là Ủy ban các cộng đồng châu Âu.
Có sự khác biệt lớn giữa các cơ quan này hơn là tên gọi: chính phủ Pháp thời đó đã có nhiều hoài nghi về quyền lực siêu quốc gia của Chính quyền cấp cao của Cộng đồng và tìm cách kiềmchế quyền hành của nó để có lợi cho Hội đồng kiểu liên chính phủ. Do đó Hội đồng có vai trò hành pháp lớn trong việc điều hành Cộng đồng hơn là tình trạng trong Cộng đồng Kinh tế. Theo Hiệp ước Hợp nhất năm 1967, các cơ quan hành pháp của Cộng đồng Than Thép và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử được hợp nhất với các cơ quan trên của Cộng đồng Kinh tế, lập ra một cơ cấu tổ chức chung, điều khiển 3 Cộng đồng riêng rẽ. Từ đây trở đi, từ Các cộng đồng châu Âu được dùng cho các cơ quan thể chế (ví dụ, từ tên Ủy ban Cộng Kinh tế châu Âu tới tên Ủy ban các cộng đồng châu Âu.
=== Hội đồng ===
Hội đồng Các cộng đồng châu Âu là cơ quan nắm quyền lập pháp và hành pháp và do đó là cơ quan làm các quyết định chính của Cộng đồng. Chức chủ tịch Hội đồng do các nước thành viên luân phiên nắm giữ trong thời hạn 6 tháng và liên quan tới Hội đồng châu Âu, là cơ quan không chính thức tập hợp các nhà lãnh đạo các quốc gia thành viên (bắt đầu từ năm 1961) trên cùng một cơ sở như Hội đồng.
Hội đồng gồm có một bộ trưởng quốc gia của mỗi nước thành viên. Tuy nhiên Hội đồng họp trong nhiều hình thức khác nhau tùy theo chủ đề. Ví dụ, nếu vấn đề nông nghiệp cần thảo luận, thì Hội đồng sẽ gồm các bộ trưởng nông nghiệp của mỗi nước thành viên. Họ đại diện cho chính phủ của mình và chịu trách nhiệm trước hệ thống chính trị quốc gia của mình. Việc bỏ phiếu được tính hoặc theo đa số (với số phiếu nhiều hay ít theo dân số) hoặc theo sự nhất trí. Trong các hnìh thức khác nhau đó, họ chia sẻ một số quyền lập pháp và ngân sách của Nghị viện.
=== Ủy ban ===
Xem Ủy ban châu Âu
=== Nghị viện ===
Xem Nghị viện châu Âu
=== Tòa án ===
Xem Tòa án Cộng đồng châu Âu
Tòa án Cộng đồng châu Âu là tòa án tối cao xét xử các vụ việc theo luật Cộng đồng. Tòa án này gồm một thẩm phán của mỗi nước thành viên. Chủ tịch tòa án được bầu trong số các thẩm phán này. Vai trò của Tòa án là bảo đảm luật của Cộng đồng được áp dụng theo cùng một cách trong tất cả các nước thành viên. Nó trở thành cơ quan đầy quyền lực, vì luật Cộng đồng vượt trên luật quốc gia.
=== Kiểm toán ===
Xem Tòa án Kiểm toán châu Âu
Cơ quan thể chế thứ 5 là Tòa án Kiểm toán châu Âu. Mặc dù tên là tòa án, nhưng cơ quan này không có quyền tư pháp như Tòa án Cộng đồng châu Âu. Thay vào đó, cơ quan này có quyềm kiểm tra các sổ sách kế toán để bảo đảm ngân sách của Cộng đồng được chi tiêu chính xác. Cơ quan này lập báo cáo kiểm toán cho mỗi năm tài chính đệ trình Hội đồng và Nghị viện, và cho ý kiến cùng đề nghị về pháp luật tài chính, cùng các hành động chống gian lận. Đây là cơ quan thể chế duy nhất không được đề cập tới trong các hiệp ước nguyên thủy, và được lập ra từ năm 1975.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
European Union website
Treaty establishing the European Economic Community European NAvigator
History of the Rome Treaties European NAvigator
Papers of J. Robert Schaetzel, ambassador to European Economic Community, 1966-1972, Dwight D. Eisenhower Presidential Library
Bản mẫu:European Union topics |
jules brévié.txt | Jules Brévié (sinh 12/3/1880 tại Bagnères-de-Luchon, qua đời ngày 29/7/1964 tại Talizat), là quan cai trị thực dân; làm Toàn quyền ở Tây Phi thuộc Pháp và Đông Dương (bạn thân của Bộ trưởng Laval). Ông đồng thời cũng là nhà sử học - dân tộc học, nhà hoạch định chính sách thực dân Pháp ở các thuộc địa.
Ông bắt đầu sự nghiệp của mình vào đầu thế kỷ XX, khi ông được cử sang làm việc ở nước Soudan thuộc Pháp. Ông tiến hành khai quật khảo cổ các di tích đá cổ ở Bamako, Tondidarou (gần Niafunké). Năm 1922 - 1929, ông làm Phó Toàn quyền Nigeria - một thuộc địa phát triển tương đối thịnh vượng về nông nghiệp và giáo dục. Năm 1930, ông thay Jules Carde làm Toàn quyền Tây Phi thuộc Pháp (15/10/1930 - 27/9/1936). Ông là tác giả của nhiều công trình khoa học về lịch sử và dân tộc học với cách nhìn khoa học mang đậm chất thực dân: "Sự phát triển ngày càng mạnh của khoa học - kỹ thuật ở các thuộc địa đã đặt ra cho các chính quyền thuộc địa trong việc đề ra các giải pháp dựa trên hoàn cảnh, tham gia các cuộc thi để tìm ra các sáng kiến mới tự do của chủ nghĩa kinh nghiệm. Chế độ thuộc địa trở thành vấn đề của phương pháp, tính toán, dự báo khoa học, mang tính thẳng thắn".
Trong tháng 8/1936, chính phủ Pháp ra sắc lệnh số 1945/E5 cho phép thành lập IFAN (Viện châu Phi thuộc Pháp, khánh thành và đi vào hoạt động với Tổng thư ký đầu tiên là Theodore Monod vào tháng 7/1938). Nhiệm vụ chính của IFAN là tiến hành các chương trình nghiên cứu khoa học liên quan đến châu Phi, đặc biệt là vùng Tây Phi thuộc Pháp.
Cũng trong thời gian thế kỷ XX, ông làm chỉ huy đoàn quân Lê dương thuộc địa với cấp bậc Hiệp sĩ năm 1920; về sau cử làm quan chức cấp cao (Grand Officer) năm 1938.
Trong khi Marcel de Coppet kế nhiệm ông là người đứng đầu của các thống đốc Tây Phi thuộc Pháp (1936), Jules Brévié được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương trong tháng 9/1936, một vị trí mà ông sẽ nắm giữ cho đến ngày 23/8/1939. Từ ngày 18/4/1942 đến 26/3/1943, ông là Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại trong chính phủ của Pierre Laval. Trong thời gian này, ông sáng lập ra văn phòng nghiên cứu khoa học về thuộc địa tại Paris ngày 11/10/1943.
Do phản đối chính sách của chính phủ Vichy, ông bị cách tuột hết mọi chức vụ - kể cả chức vụ ở các thuộc địa vào tháng 1/1945, 2 tháng sau ông bị chính phủ cắt mất lương hưu. Cũng trong năm 1945, ông bị tước mất mọi quyền lợi tại Pháp và tại các thuộc địa bên ngoài. Ông mất trong cảnh cô đơn tại làng Pierrefitte (nằm gần thị trấn Talizat Cantal).
Ông còn là thành viên của Viện Hàn lâm khoa học ở hải ngoại (tức thuộc địa Pháp ở hải ngoại). Hiện nay có một con đường mang tên ông ở Niamay (Niger).
Tác phẩm:
Monographie du cercle de Bamako, 1904
Islamisme contre naturisme au Soudan français: essai de psychologie politique coloniale (Préface de Maurice Delafosse), Leroux, Paris, 1923
Trois études de M. le gouverneur général Brévié (« Communication faite le 13 octobre 1935 à l'Académie des sciences coloniales en présence de M. Albert Lebrun »; « Colonisation »; « Science et colonisation »), Imprimerie du gouvernement général de l'AOF, Dakar, 1936
Hommage à la colonisation portugaise, Institut Francais au Portugal, Lisbonne, 1940.
Préface de Rêves d'un campagnard annamite, de Tran Van Tung, Mercure de France, 1940, 192 p.
== Tham khảo == |
kênh đào.txt | Kênh đào là dòng dẫn nước trên mặt đất do con người tạo ra. Theo mục đích sử dụng thì có 2 loại kênh đào. Thứ nhất là kênh thủy lợi cho mục đích đưa nước đến nơi có nhu cầu tưới tiêu, sử dụng; thứ hai là kênh đào giao thông cho mục đích vận chuyển hàng hóa và con người. Kênh này nối tới và nối liền các sông hồ, biển và đại dương.
== Lịch sử ==
Vào thời điểm mà một lượng lớn hàng hóa được vận chuyển trên lưng thú (một con la có thể một món 8 tấn [250 pound (113 kg)] trong một chuyến hành trình dài tính theo ngày và tuần, mặc dù có những đoạn đường ngắn hơn và thời gian ngừng nghỉ trên suốt hành trình), và không có tàu hơi nước hoặc tàu điện, vận tải đường thủy là cách có hiệu quả kinh tế nhất. Thậm chí các "tàu của sa mạc" mạnh nhất chỉ có thể chất đầy gấp đôi tải trung bình của một con la khỏe mạnh, và cả hai loài động vật này cần các nguồn thức ăn mang theo trong suốt chuyến hành trình và cần người lai dắt, do đó làm tăng chi phí vận chuyển.
=== Những kênh đào cổ đại ===
Những kênh đào cổ xưa nhất được xây dựng ở Lưỡng Hà 4.000 năm trước Công Nguyên. Nền văn minh sông Ấn ở Pakistan và miền bắc Ấn Độ ngày nay đã có hệ thống kênh thủy lợi đầu tiên trên thế giới vào khoảng 2.600 năm TCN. Ở Ai Cập, các kênh đào có tuổi ít nhất vào thời Pepi I Meryre (trị vì 2332–2283 TCN), ông đã ra lệnh xây một kênh đào đi qua cataract trên sông Nin gần Aswan.
Ở Trung Quốc cổ đại, các kênh đào lớn dùng cho việc vận tải đường sông được xây dựng từ thời Chiến Quốc (481–221 TCN), kênh đào dài nhất vào thời đó là Hong Gou, theo sử gia cổ đại Tư Mã Thiên, nó nối các nước Song, Zhang, Chen, Cai, Cao, và Wei. Ngoài ra, kênh đào cổ đại dài nhất là Đại Vận Hà nối liền Bắc Kinh và Hàng Châu, và hiện vẫn giữ vị trí số một về độ dài kênh đào hiện nay. Kênh này dài 1.794 km được xây dựng và kéo dài trong nhiều giai đoạn. Đoạn đầu tiên của kênh hình thành vào thế kỷ 5 TCN. Ngày nay, kể cả đoạn hẹp nhất của kênh cũng rộng 30 m.
=== Đầu thời kỳ hiện đại ===
khoảng 1500—1800
Kên đào đầu tiên là Briare Canal nối Loire và Seine (1642), theo sau là Canal du Midi (1683) nối Đại Tây Dương với Địa Trung Hải. Kênh này bao gồm một bộ thang 8 khóa ở Béziers, một hầm 157 mét (515 ft) và 3 cửa chính.
Việc xây dựng kênh diễn ra điều đặng ở Đức trong thế kỷ 17 và 18 với 3 sông lớn Elbe, Oder và Weser được liên kết với nhau bởi các kênh đào. Trong thời kỳ Anh hậu Roman, kênh đào thời kỳ đầu hiện đại đầu tiên được xây dựng là Exeter Canal, nó được khảo sát năm 1563, và vận hành năm 1566.
=== Cách mạng công nghiệp ===
Ở Châu Âu và Hoa Kỳ trong giai đoạn đầu của Cách mạng công nghiệp, các kênh đào giao thông phát triển trước đường sắt. Một số kênh sau đó được rút nước và đặt đường ray ngay trong đó. Những kênh đào giao thông đã tạo ra con đường nối liền những vùng cách trở với thế giới. Ví dụ, kênh Erie, mở ra lối giao thông giữa vùng đông bắc nhiều dân với vùng bình nguyên trù phú sâu trong lục địa nước Mỹ.
Kênh đào đầu tiên phục vụ mục đích công nghiệp của Hoa Kỳ là kênh "Mother Brook" ở tiểu bang Massachusetts. Nó xây dựng năm 1639 nhằm cung cấp năng lượng nước cho các cơ xưởng của thị trấn Dedham. Cạnh tranh của giao thông đường sắt khiến nhiều kênh đào không còn được sử dụng cho mục đích giao thương và rất nhiều bị bỏ phế.
=== Mục đích sử dụng hiện đại ===
Một xu hướng đã bắt đầu ở Anh và Pháp là đi du thuyền trên những kênh đào. Điều này giúp những kênh đào giao thông xây dựng thời cách mạng công nghiệp tiếp tục có lý do tồn tại.
Các kênh đào dành cho các tàu lớn như kênh đào Panama và kênh đào Suez vẫn tiếp tục vận hành cho mục đích vận tải hàng hóa, cũng như các kênh đào sà lan ở châu Âu. Do toàn cầu hóa, chúng trở nên quan trọng, buộc chúng cần thiết phải mở rộng như dự án mở rộng kênh đào Panama.
== Những thành phố trên mặt nước ==
Những con kênh là đặc trưng của thành phố Venice đến mức mà người ta thường gọi những thành phố khác có đặc điểm gần giống là "Venice của..." Thành phố này được xây dựng trên những hòn đảo đất bùn. Cọc gỗ làm nền móng nâng đỡ các công trình bên trên. Vì thế, ở thành phố này, đất đai được con người tạo ra chứ không phải những con kênh. Tuy vậy, những con kênh hình thành bởi bờ của chúng là đường phố, nhà cửa. Thành phố có lịch sử hình thành lâu đời, tới thế kỷ 12, Venice đã là một thành quốc hùng mạnh.
Amsterdam được xây dựng tương tự, với những tòa nhà đặt trên các cọc gỗ. Quá trình rút nước ra khỏi đầm lầy và khu đất lấn biển ở Hà Lan tiến hành khẩn trương trong thế kỷ 14 và công cuộc "kênh đào hóa" biến làng Amsterdam trở thành thương cảng rồi thành phố khoảng năm 1300.
Đất bên kênh đào là dạng đất chia lô khá phổ biển ở những thành phố như Miama, Florida và Gold Coast, Queensland. Thành phố Gold Coast có hơn 700 km kênh đào trong khu dân cư. Những vùng đất ngập nước không thích hợp để xây dựng nhà cửa, vì thế, người ta đào sâu một phần đất để nước lưu thông vào đây đồng thời có đất tôn cao những chỗ khác. Những khu nhà ở xây trên những lô đất được nâng cao tạo nên đường phố sát mặt nước.
== Xem thêm ==
Kênh đào Suez
Kênh đào Panama
== Chú thích ==
== Tài liệu ==
== Liên kết ngoài ==
British Waterways' leisure website - Britain's official guide to canals, rivers and lakes
Leeds Liverpool Canal Photographic Guide
Triumphs of Canal Building
Information and Boater's Guide to the New York State Canal System
"Canals and Navigable Rivers" by James S. Aber, Emporia State University
National Canal Museum (USA)
London Canal Museum (UK)
Canals in Amsterdam
Canal du Midi
Canal des Deux Mers
Canal flow measurement using a sensor. |
người đứng thẳng.txt | Homo erectus (nghĩa là "người đứng thẳng", từ tiếng Latinh ērigere, "đứng thẳng"), còn được dịch sang tiếng Việt là trực nhân, là một loài người tuyệt chủng từng sinh sống trong phần lớn khoảng thời gian thuộc thế Pleistocen, với chứng cứ hóa thạch sớm nhất đã biết có niên đại khoảng 1,8 triệu năm trước và hóa thạch gần đây nhất đã biết khoảng 143.000 năm trước. Loài này đã bắt nguồn từ châu Phi hoặc châu Á và lan tỏa xa tới Anh, Gruzia, Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Quốc và Java.
Hiện tại vẫn còn bất đồng về các vấn đề như phân loại, tổ tiên và hậu duệ của H. erectus, với hai phân loại chính loại trừ lẫn nhau: erectus có thể là tên gọi khác cho Homo ergaster, và vì thế là tổ tiên trực tiếp của các dạng người xuất hiện muộn hơn như Homo heidelbergensis, Homo neanderthalensis và Homo sapiens; hoặc đây có thể là một loài khác biệt, nguồn gốc châu Á, khác với Homo ergaster có nguồn gốc châu Phi.
Một số nhà cổ nhân loại học coi H. ergaster chỉ đơn giản là chủng châu Phi của H. erectus. Điều này dẫn đến việc sử dụng thuật ngữ "Homo erectus sensu stricto" để chỉ chủng châu Á của H. erectus, và "Homo erectus sensu lato" để chỉ loài theo nghĩa rộng, bao gồm các quần thể châu Phi (H. ergaster) và các quần thể châu Á.
== Nguồn gốc ==
Giả thuyết đầu tiên cho rằng H. erectus đã di cư từ châu Phi trong Tiền Pleistocen, có lẽ là do kết quả hoạt động của máy bơm Sahara, khoảng 2,0 triệu năm trước (Ma), và loài đã lan tỏa rộng ra khắp Cựu thế giới. Các di tích hóa thạch có niên đại 1,8-1,0 Ma đã được tìm thấy tại châu Phi (như hồ Turkana và hẻm núi Olduvai), Gruzia, châu Âu (Tây Ban Nha), Indonesia (như Sangiran tại Trung Java và Trinil ở Đông Java), Việt Nam (Thẩm Khuyên, Thẩm Hoi), Trung Quốc (như Thiểm Tây) và Ấn Độ.
Giả thuyết thứ hai cho rằng H. erectus đã tiến hóa tại đại lục Á-Âu và sau đó di cư sang châu Phi. Loài này từng sinh sống trong một khu vực tại Kavkaz có tên gọi là Dmanisi ở Gruzia, từ khoảng 1,85 tới 1,77 Ma, cùng thời hoặc hơi sớm hơn một chút so với chứng cứ sớm nhất đã biết tại châu Phi. Các cuộc khai quật tìm thấy 73 công cụ đá để cắt và chặt và 34 mảnh xương của các dạng sinh vật chưa thể nhận dạng
== Phát hiện và hóa thạch đại diện ==
Nhà giải phẫu học người Hà Lan Eugène Dubois, người đặc biệt bị thu hút bởi học thuyết tiến hóa của Darwin với việc áp dụng vào loài người, quyết định tới châu Á (nơi được chấp nhận khi đó, mặc cho học thuyết của Darwin, như là cái nôi tiến hóa của loài người), để tìm kiếm tổ tiên loài người vào năm 1886. Năm 1891, đội của ông đã phát hiện ra một hóa thạch người trên đảo Java, Đông Ấn thuộc Hà Lan (nay là Indonesia) và ông miêu tả loài này là Pithecanthropus erectus (từ tiếng Hy Lạp πίθηκος, pithecos = "vượn", và ἄνθρωπος, anthropos = "người"), dựa trên một xương chỏm (nắp hộp sọ) và một xương đùi giống như của H. sapiens tìm thấy trên bờ sông Solo ở Trinil, Đông Java. Loài này hiện nay được coi là phân loài H. erectus erectus của H. erectus. Phát hiện này được biết đến như là người Java.
Nhờ có miêu tả ban đầu của nhà giải phẫu người Canada Davidson Black vào năm 1927 cho một chiếc răng hàm dưới, người ta gán cho nó tên gọi khoa học là Sinanthropus pekinensis (từ sino-, dạng tổ hợp của từ trong tiếng Hy Lạp Σίνα, "Trung Quốc" và từ trong tiếng Latinh pekinensis, "ở Bắc Kinh"), mặc dù phần lớn phát hiện ban đầu và thu hút sự chú ý của đơn vị phân loại này diễn ra tại khu vực Long Cốt Sơn, Chu Khẩu Điếm (nay thuộc quận Phòng Sơn), cách trung tâm Bắc Kinh khoảng 50 km về phía tây nam. Nhà giải phẫu người Đức Franz Weidenreich đã cung cấp phần lớn miêu tả chi tiết cho các di cốt tìm thấy trong vài chuyên khảo công bố trên tạp chí Palaeontologica Sinica (Series D). Loài này hiện được coi là một phân loài của H. erectus với danh pháp H. erectus pekinensis.
Gần như toàn bộ các mẫu vật gốc đã thất lạc trong Chiến tranh thế giới thứ hai; tuy nhiên, các khuôn đúc nguyên bản của Weidenreich vẫn còn trong Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ (AMNH) ở New York và tại Viện Cổ sinh Động vật có xương sống và Cổ nhân loại học Trung Quốc (IVPP) ở Bắc Kinh, và chúng được coi là chứng cứ đáng tin cậy.
Trong suốt thế kỷ 20, các nhà nhân loại học đã tranh luận về vai trò của H. erectus trong tiến hóa loài người. Trong giai đoạn đầu thế kỷ này, do các phát hiện tại Java và Chu Khẩu Điếm, người ta cho rằng người hiện đại đã tiến hóa trước tiên tại châu Á. Một số nhà tự nhiên học (Charles Darwin là nổi tiếng nhất trong số này) lại dự báo các tổ tiên sớm nhất của loài người có nguồn gốc châu Phi. Charles Darwin chỉ ra rằng tinh tinh và khỉ đột, các họ hàng gần của người, chỉ sinh sống tại châu Phi.
Giai đoạn từ thập niên 1950 tới thập niên 1970, hàng loạt các hóa thạch được tìm thấy tại Đông Phi mang lại các chứng cứ cho thấy các dạng người vượn (Homininae) cổ nhất phát sinh tại đây. Khi đó người ta tin rằng H. erectus là hậu duệ của một trong các loài có sớm hơn, như Ardipithecus và Australopithecus, hoặc một trong các loài có sớm thuộc chi Homo, như H. habilis hay H. ergaster. H. habilis và H. erectus cùng tồn tại trong vài nghìn năm, và có thể là đại diện cho các dòng dõi tách biệt của cùng một tổ tiên chung.
Các nhà khảo cổ học John T. Robinson và Robert Broom đặt ra tên gọi Telanthropus capensis trong thập niên 1950 cho một quai hàm dưới, hiện nay cũng được coi là thuộc về Homo erectus. Robinson đã phát hiện ra một mảnh hàm, ký hiệu là SK 45, vào tháng 9 năm 1949 tại Swartkrans, Nam Phi. Năm 1957, Simonetta đã đề xuất gán nó vào Homo erectus và Robinson (1961) đã đồng ý.
Hộp sọ của Tchadanthropus uxoris, do Yves Coppens phát hiện năm 1961 tại Chad, là hóa thạch người vượn sớm nhất được phát hiện tại Bắc Phi. Hóa thạch này bị xói mòn bởi cát do gió thổi tới mức nó có bề ngoài trông giống như của Australopithecina, một kiểu vượn người nguyên thủy. Mặc dù ban đầu một số học giả coi nó là một mẫu vật của H. habilis, nhưng hiện nay nó không còn được coi là đơn vị phân loại hợp lệ, và thay vì thế người ta coi nó là một đại diện của H. erectus.
=== Homo erectus georgicus ===
Homo erectus georgicus (tiếng Gruzia: ქართველი ადამიანი) là tên gọi của một phân loài, được sử dụng để miêu tả các hộp sọ và quai hàm hóa thạch tìm thấy tại Dmanisi, Gruzia. Mặc dù ban đầu được đề xuất như một loài tách biệt, hiện nay nó cũng được phân loại trong phạm vi H. erectus. Một phần bộ xương được phát hiện năm 2001 và các hóa thạch có niên đại khoảng 1,8 Ma. Các di tích được nhà khoa học người Gruzia là David Lordkipanidze cùng một đội khảo cổ quốc tế phát hiện lần đầu năm 1991. Có nhiều diễn giải được đề xuất cho sự phân tán của H. erectus georgicus. Các đồ dùng và xương động vật cũng được tìm thấy bên cạnh các di cốt người cổ đại.
Ban đầu các nhà khoa học này tin rằng họ đã tìm thấy các hàm dưới và hộp sọ thuộc về Homo ergaster, nhưng các khác biệt về kích thước đã làm cho họ đặt ra tên gọi mới, Homo georgicus, được ấn định như là hậu duệ của Homo habilis và tổ tiên của Homo erectus châu Á. Tuy nhiên, phân loại này không đứng vững và hóa thạch hiện được coi là thuộc về một phân nhóm đã rẽ nhánh ra của Homo erectus, đôi khi gọi là Homo erectus georgicus.
Với thể tích hộp sọ khoảng 600 cm³, hộp sọ D2700 có niên đại khoảng 1,77 Ma và trong tình trạng tốt, cung cấp sự hiểu biết thấu suốt trong so sánh với hình thái học hộp sọ người hiện đại. Vào thời điểm phát hiện thì hộp sọ này là nhỏ nhất và nguyên thủy nhất của phân tông Người (Hominina) được phát hiện từ trước tới nay bên ngoài châu Phi. Tuy nhiên, năm 2003 một hộp sọ người của phân loài H. erectus floresiensis nhỏ hơn một chút đã được tìm thấy trên đảo Flores. Homo erectus georgicus thể hiện sự dị hình giới tính mạnh, với đàn ông to lớn hơn đàn bà một cách đáng kể.
Sau đó, bốn bộ xương hóa thạch khác cũng được tìm thấy, chỉ ra một loài có hộp sọ và phần trên cơ thể nguyên thủy nhưng cột sống và các chân lại tương đối tân tiến, tạo ra sự linh động lớn hơn. Hiện nay chúng không được coi là loài tách biệt, mà là đại diện cho một giai đoạn ngay sau khi có sự chuyển tiếp của Homo habilis và H. erectus, và có niên đại khoảng 1,8 Ma. Bộ sưu tập này bao gồm một trong những hàm dưới lớn nhất của chi Homo thuộc thế Pleistocen (D2600), một trong những hàm dưới nhỏ nhất thuộc tầng Hạ Pleistocen (D211), một mẫu vật gần như hoàn hảo của người ở độ tuổi vị thành niên (D2735), và một mẫu vật hoàn toàn không có răng (D3900).
Hộp sọ tiếp theo, hộp sọ duy nhất còn nguyên vẹn được tìm thấy từ trước tới nay thuộc về người thuộc giai đoạn Tiền Pleistocen, được miêu tả năm 2013. Với thể tích chưa tới 550 cm³, nó là hộp sọ nhỏ nhất trong số tất cả các hộp sọ tìm thấy tại di chỉ này. Các biến thiên về thể tích của các hộp sọ này nhắc nhở các nhà nghiên cứu việc kiểm tra lại các biến thiên về hộp sọ của người hiện đại và tinh tinh. Họ thấy rằng trong khi các hộp sọ Dmanisi trông rất khác nhau, nhưng các biến thiên này là không lớn hơn so với các biến thiên về hộp sọ ở người hiện đại cũng như ở tinh tinh. Vì thế, các biến thiên này gợi ý rằng các phát hiện hóa thạch trước đây được coi là thuộc về các loài khác nhau trên cơ sở các biến thiên về thể tích hộp sọ của chúng, như H. rudolfensis, H. gautengensis, H. ergaster và có thể cả H. habilis, có thể được diễn giải khác đi như là thuộc về cùng một dòng dõi như của Homo erectus.
== Phân loại và khác biệt đặc biệt ==
Nhiều nhà cổ nhân loại học vẫn còn tranh luận về định nghĩa của H. erectus và H. ergaster như là các loài tách biệt hay không. Một vài học giả gợi ý việc bỏ đơn vị phân loại Homo erectus và thay vì thế coi H. erectus như là H. sapiens cổ xưa. Một số học giả lại gọi H. ergaster như là tổ tiên châu Phi trực tiếp của H. erectus, bằng việc đề xuất rằng nó đã rời khỏi châu Phi và di cư vào châu Á, rẽ nhánh ra thành loài khác biệt. Phần lớn lại chia rẽ về tên gọi loài ergaster, với việc nhận thấy không có khác biệt giữa các hóa thạch như cậu bé Turkana với người Bắc Kinh. Mặc dù "Homo ergaster" đôi khi vẫn được chấp nhận như là một đơn vị phân loại hợp lệ, nhưng hai đơn vị phân loại này thường được định nghĩa như là các quần thể châu Phi và châu Á khác biệt của cùng một loài (nghĩa rộng) H. erectus.
Trong khi một số học giả từng khẳng định rằng định nghĩa loài sinh học của Ernst Mayr không thể sử dụng để kiểm nghiệm các giả thuyết nói trên, tuy nhiên người ta có thể kiểm tra sự biến thiên hình thái hộp sọ trong phạm vi các mẫu vật H. erectus / H. ergaster đã biết, và so sánh nó với những gì người ta thấy ở các nhóm linh trưởng khác hẳn nhau còn sinh tồn với sự phân bố địa lý tương tự hoặc gần gũi về quan hệ tiến hóa. Vì thế, nếu mức độ biến thiên giữa H. erectus và H. ergaster lớn hơn những gì người ta thấy trong phạm vi một loài, chẳng hạn như ở khỉ Macaca, thì khi đó H. erectus và H. ergaster có thể được coi là hai loài tách biệt.
Mô hình so sánh hiện có là rất quan trọng, và viêc lựa chọn (các) loài phù hợp có thể là rất khó khăn (Chẳng hạn, độ biến thiên hình thái trong quần thể toàn cầu của H. sapiens là nhỏ, và sự đa dạng đặc biệt của chính loài người hiện đại có thể không phải là sự so sánh đáng tin cậy). Như một ví dụ, các hóa thạch tìm thấy ở Dmanisi ban đầu được miêu tả như là thuộc về một loài khác có quan hệ gần là Homo georgicus, nhưng sau đó cho thấy độ biến thiên của chúng nằm trong phạm vi độ biến thiên của Homo erectus, và hiện nay được phân loại là Homo erectus georgicus.
H. erectus có thể tích hộp sọ lớn hơn của Homo habilis (mặc dù các mẫu vật Dmanisi có các hộp sọ đặc biệt nhỏ): các di cốt sớm nhất chỉ ra thể tích hộp sọ khoảng 850 cm³, trong khi các mẫu vật Java muộn nhất có thể tích tới 1.100 cm³, đạt tới mức độ như ở H. sapiens; xương trán ít xiên hơn và vòm cuốn bộ răng nhỏ hơn ở Australopithecina; mặt thẳng hơn (ít lồi ra) hơn cả ở Australopithecina lẫn ở H. habilis, với các chỏm lông mày lớn và các xương gò má ít rõ nét hơn. Các dạng người cổ đại này đứng cao khoảng 1,70 m (5 ft 7 inch) (Chỉ khoảng 17% đàn ông hiện đại là cao hơn) và có thân hình đặc biệt thanh mảnh, với tay và chân dài.
Dị hình giới tính giữa đàn ông và đàn bà là hơi lớn hơn so với ở H. sapiens, với đàn ông khoảng 25% to lớn hơn đàn bà, nhưng hơi nhỏ hơn so với ở các loài xuất hiện sớm thuộc chi Australopithecus. Sự phát hiện ra bộ xương KNM-WT 15000, "cậu bé Turkana" (Homo ergaster), thực hiện gần hồ Turkana, Kenya của Richard Leakey và Kamoya Kimeu năm 1984, là một trong những bộ xương người cổ đại hoàn hảo nhất đã được phát hiện, và nó góp phần đáng kể vào việc diễn giải sự tiến hóa sinh lý học ở người.
== Tính xã hội ==
Homo erectus có lẽ là loài người cổ đại đầu tiên sống theo kiểu xã hội săn bắt hái lượm, và các nhà nhân loại học như Richard Leakey tin rằng loài này có tính xã hội gần với người hiện đại hơn là với các loài giống như Australopithecus trước đó. Tương tự, thể tích hộp sọ tăng lên nói chung trùng với sự xuất hiện của các công cụ ngày càng phức tạp hơn, đôi khi được tìm thấy cùng với các hóa thạch.
Sự phát hiện ra cậu bé Turkana (H. ergaster) năm 1984 đưa ra chứng cứ cho thấy mặc cho giải phẫu giống như ở Homo sapiens, loài này có thể không có khả năng phát ra các âm thanh có thể so sánh với tiếng nói ở người hiện đại. H. ergaster có lẽ liên lạc với nhau bằng thứ âm thanh tiền ngôn ngữ thiếu cấu trúc phát triển đầy đủ của ngôn ngữ người hiện đại nhưng phát triển hơn so với các kiểu liên lạc phi ngôn ngữ được tinh tinh sử dụng. Suy luận như vậy bị thách thức bởi sự phát hiện ra các cột sống của H. ergaster/erectus ở Dmanisi, Gruzia có niên đại khoảng 150.000 năm cổ hơn so với cậu bé Turkana, nhưng lại phản ánh các khả năng thanh âm trong phạm vi của H. sapiens. Cả kích thước bộ não lẫn sự hiện diện của vùng Broca cũng hỗ trợ khả năng ăn nói lưu loát.
H. erectus cũng có lẽ là loài người cổ đại đầu tiên sinh sống trong các cộng đồng bầy đàn nhỏ và thân thuộc, tương tự như các cộng đồng bầy đàn săn bắt hái lượm hiện đại. H. erectus/ergaster cũng được người ta cho là loài người cổ đại đầu tiên săn bắt theo các nhóm phối hợp, sử dụng các công cụ phức tạp và chăm sóc các bạn đồng hành yếu đuối hay yếu ớt.
Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn tranh luận về việc liệu H. erectus, và có thể cả người Neanderthal muộn hơn, có thể từng lai giống với người hiện đại về mặt giải phẫu tại khu vực nay là châu Âu và châu Á hay không. Xem thêm Thuyết hỗn huyết Neanderthal.
== Các phân loài và hậu duệ ==
Homo erectus vẫn là một trong những loài tồn tại lâu nhất của chi Homo, từng sinh tồn trên 1 triệu năm, trong khi Homo sapiens mới chỉ tồn tại được khoảng 200.000 năm. Tuy nhiên, như một loài châu Á khác biệt, vẫn chưa có đồng thuận về việc loài này có phải là tổ tiên của H. sapiens hay bất kỳ dạng người nào khác sau nó hay không.
Homo erectus
Homo erectus erectus
Homo erectus yuanmouensis
Homo erectus lantianensis
Homo erectus nankinensis
Homo erectus pekinensis
Homo erectus palaeojavanicus
Homo erectus soloensis
Homo erectus tautavelensis
Homo erectus georgicus
Các loài họ hàng
Homo ergaster
Homo floresiensis
Homo antecessor
Homo heidelbergensis
Homo neanderthalensis
Homo sapiens
Homo sapiens idaltu
Homo sapiens sapiens
Homo rhodesiensis
Homo cepranensis
Các đơn vị phân loại được gán cho trước đây
Homo erectus wushanensis (thực tế là nhóm đười ươi cổ)
Sự phát hiện ra Homo floresiensis năm 2003 và sự tuyệt chủng gần đây của loài này đã đưa ra khả năng là có hàng loạt loài hậu duệ của Homo erectus có thể đã tồn tại trên các đảo ở Đông Nam Á và đang chờ đợi để được phát hiện hóa thạch (xem Orang Pendek). Homo erectus soloensis, phân loài từ lâu được cho là từng sinh sống trên đảo Java ít nhất là cho tới khoảng 50.000 năm trước nhưng gần đây vào năm 2011 đã được xác định lại với niên đại cao hơn, có thể là một trong số này. Một số nhà khoa học hoài nghi về tuyên bố cho rằng Homo floresiensis là hậu duệ của Homo erectus. Một diễn giải cho rằng các hóa thạch này là của người hiện đại với tật đầu nhỏ, trong khi một diễn giải khác lại cho rằng các hóa thạch này là của một nhóm người Pygmy.
== Các hóa thạch riêng lẻ ==
Một số hóa thạch chính của Homo erectus:
Indonesia (đảo Java): Trinil 2 (mẫu gốc), bộ sưu tập Sangiran, bộ sưu tập Sambungmachan, bộ sưu tập Ngandong.
Trung Quốc ("Người Bắc Kinh"): Người Lam Điền (núi Công Vương Lĩnh và hang Trần Gia Oa), Vân, Chu Khẩu Điếm, Nam Kinh, Hòa
Kenya: ER 3883, ER 3733
Vértesszőlős, Hungary "Samu"
Việt Nam: Hang Thẩm Khuyên, Lạng Sơn
Gruzia: Bộ sưu tập Dmanisi ("Homo erectus georgicus")
Ethiopia: Daka calvaria
Eritrea: Hộp sọ Buia (có thể là H. ergaster)
Tỉnh Denizli, Thổ Nhĩ Kỳ: Hóa thạch Kocabas.
== Thư viện ảnh ==
== Ghi chú ==
== Xem thêm ==
Homo ergaster
Người vượn Java
Kozarnika
Chung:
Danh sách các di chỉ hóa thạch
Danh sách các hóa thạch tiến hóa của con người
Tiến trình tiến hóa loài người
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Việt)
(tiếng Anh)
Thông tin trên Archaeology
Homo erectus – Chương trình nguồn gốc loài người của Viện Smithsonian.
Possible co-existence with Homo Habilis – BBC News
Thảo luận về hóa thạch Kocabas của John Hawks.
Peter Brown's Australian and Asian Palaeoanthropology |
sint maarten.txt | Sint Maarten là một trong bốn quốc gia cấu thành của Vương quốc Hà Lan. Trước ngày 10 tháng 10 năm 2010, Sint Maarten được gọi là Lãnh thổ Đảo Sint Maarten (tiếng Hà Lan: Eilandgebied Sint Maarten) và là một trong năm lãnh thổ đảo (Eilandgebieden) của Antille thuộc Hà Lan. Nó bao gồm nửa phía nam của đảo Saint Martin. Theo điều tra dân số Antille thuộc Hà Lan năm 2001, dân số của Eilandgebied là 30.594 người. Dân số ước lượng chính thức vào ngày 1 tháng 1 năm 2009 là 50.300, tức mật độ dân số là 1.965 người/km². Các ngôn ngữ chính thức là tiếng Hà Lan và tiếng Anh. Một thổ ngữ giống tiếng Anh cũng được sử dụng.
Sint Maarten giáp với cộng đồng hải ngoại Saint-Martin thuộc Pháp, nó chiếm nửa đảo phía bắc.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Lt. Governor of St. Maarten — Official site |
sở giao dịch chứng khoán tōkyō.txt | Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (東京証券取引所, Tōkyō Shōken Torihikisho), hay TSE, là sở giao dịch chứng khoán ở Tokyo, lớn thứ hai thế giới tính về lượng tiền tệ, chỉ xếp sau sở giao dịch chứng khoán New York. Hiện tại sở giao dịch này niêm yết 2271 công ty nội địa và 31 công ty nước ngoài với tổng khối lượng vốn hóa thị trường hơn 4000 tỷ USD.
== Cấu trúc ==
TSE là một công ty dạng kabushiki kaisha với 9 giám đốc, bốn kiểm toán viên và 8 giám đốc điều hành. Trụ sở đóng tại 2-1 Nihonbashi-kabutocho, Chuo-ku, Tokyo, Nhật Bản. Giờ hoạt động là từ 9h đến 11h sáng và 12h30 đến 3h chiều. Từ ngày 24/4/2006, phiên giao dịch buổi chiều bắt đầu từ giờ như thường lệ là 12h30.
Các cổ phiếu niêm yết tại TSE được phân ra Phần thứ nhất (cho các công ty lớn), Phần thứ 2 (cho các công ty vừa) và phần "Mẹ" (cho các công ty mới bắt đầu tăng trưởng cao). Từ tháng 3/2006, có 1721 công ty ở Phần thứ 1, 489 ở Phần thứ 2 và 156 công ty "Mẹ".
Các chỉ số ghi nhận sự biến đổi của TSE là chỉ số Nikkei 225 của các công ty được chọn lọc bởi báo Nihon Keizai Shimbun (Nhật báo Kinh tế Nhật Bản - tờ báo kinh doanh lớn nhất Nhật Bản); chỉ số TOPIX dựa trên giá cổ phiếu của các công ty Phần 1; chỉ số J30 của các công ty công nghiệp lớn được xác nhận bởi các tờ báo khổ rộng chính của Nhật Bản.
89 công ty chứng khoán nội địa và 19 công ty chứng khoán nước ngoài tham gia giao dịch ở TSE. Xem: Các thành viên của Sở giao dịch chứng khoán Tokyo
Các thể chế liên quan đến Sở giao dịch chứng khoán Tokyo bao gồm:
Câu lạc bộ báo chí sở giao dịch:, được gọi là Kabuto Club (兜倶楽部, Kabuto kurabu), nằm ở tầng 3 của tòa nhà của Sở giao dịch chứng khoán Tokyo. Phần lớn các thành viên của Most Kabuto Club là thành viên của Nihon Keizai Shimbun, Kyodo News, Jiji Press, hay các phát thanh viên các hãng truyền hình như Bloomberg LP và CNBC. Kabuto Club thường bận rộn nhất vào tháng 3 và tháng 4, khi các công ty công công bố báo cáo tài chính hàng năm của mình.
== Lịch sử ==
== Tham khảo ==
Website của Sở giao dịch chứng khoán Tokyo
Company profile
Statistics
New York Times article ngày 13 tháng 12 năm 2005 "Tokyo Exchange Struggles With Snarls in Electronics"
The Register article ngày 25 tháng 11 năm 2005 "Fujitsu execs take pay cut after Tokyo exchange crash"
Tokyo Stock Exchange Building |
dấu cộng-trừ.txt | Dấu cộng-trừ (±) là một ký hiệu toán học đa nghĩa.
Trong toán học, nó thường chỉ ra một sự lựa chọn của hai giá trị khả dĩ chính xác, một trong đó là phủ định của cái còn lại.
Trong khoa học thực nghiệm, ký hiệu này thường chỉ ra khoảng tin cậy hoặc sai số trong một phép đo, thường là độ lệch chuẩn hay sai số chuẩn. Ký hiệu cũng có thể đại diện cho một miền chứa các giá trị mà sự đọc có thể có.
Trong kỹ thuật ký hiệu này biểu thị độ dung sai, là một loạt các giá trị được coi là có thể chấp nhận, an toàn, hoặc tuân thủ một số tiêu chuẩn, hoặc theo một hợp đồng.
Trong hóa học ký hiệu này được sử dụng để chỉ hỗn hợp racemic.
Trong cờ vua, ký hiệu chỉ ra một ưu thế rõ ràng dành cho các người đi cờ trắng; ký hiệu bổ trợ ∓ chỉ ra các lợi thế tương tự cho người đi cờ đen.
Ký hiệu này thường được đọc là "cộng hoặc trừ".
== Lịch sử ==
Một phiên bản của ký hiệu, cũng bao gồm cả từ Pháp "ou" (có nghĩa là "hoặc") đã được sử dụng theo ý nghĩa toán học của nó bởi Albert Girard vào năm 1626, và ký hiệu trong dạng hiện đại của nó đã được sử dụng gần như cùng lúc bởi William Oughtred trong tác phẩm Clavis Mathematicae (1631).
== Cách sử dụng ==
=== Trong toán học ===
Trong các công thức toán học, ký hiệu ± có thể được sử dụng để chỉ ký hiệu có thể được thay thế bởi một trong hai ký hiệu + or − , cho phép công thức đại diện cho hai giá trị hoặc hai phương trình. Ví dụ, với phương trình x2 = 1, ta có thể cho đáp án là x = ±1. Điều này chỉ ra rằng phương trình có đáp án, mỗi đáp án có thể thu được bằng cách thay thế phương trình này bởi một trong hai phương trình x = +1 hoặc x = −1. Chỉ có một trong hai phương trình thay thế là đúng đối với đáp án chuẩn bất kỳ. Một ứng dụng phổ biến của ký hiệu này được tìm thấy trong công thức bậc hai
x
=
−
b
±
b
2
−
4
a
c
2
a
.
{\displaystyle \displaystyle x={\frac {-b\pm {\sqrt {b^{2}-4ac}}}{2a}}.}
mô tả hai nghiệm cho phương trình bậc hai ax2 + bx + c = 0.
Tương tự như vậy, đẳng thức lượng giác
sin
(
A
±
B
)
=
sin
(
A
)
cos
(
B
)
±
cos
(
A
)
sin
(
B
)
.
{\displaystyle \sin(A\pm B)=\sin(A)\cos(B)\pm \cos(A)\sin(B).\,}
có thể được hiểu là viết tắt dành cho hai phương trình: một có "+" trên cả hai vế của phương trình, và một có "-" trên cả hai bên. Hai bản sao của dấu ± trong đẳng thức này đều phải được thay thế theo cùng cách: không hợp lệ khi thay thế một phương trình bằng "+" và phương trình khác với "-". Ngược lại với ví dụ về công thức bậc hai, cả hai phương trình được mô tả bởi đẳng thức này đồng thời hợp lệ.
Cách sử dụng có liên quan thứ ba được tìm thấy trong phần này của công thức cho chuỗi Taylor của hàm sin:
sin
(
x
)
=
x
−
x
3
3
!
+
x
5
5
!
−
x
7
7
!
+
⋯
±
1
(
2
n
+
1
)
!
x
2
n
+
1
+
⋯
.
{\displaystyle \sin \left(x\right)=x-{\frac {x^{3}}{3!}}+{\frac {x^{5}}{5!}}-{\frac {x^{7}}{7!}}+\cdots \pm {\frac {1}{(2n+1)!}}x^{2n+1}+\cdots .}
Ở đây, các ký hiệu cộng-hoặc-trừ cho biết các ký hiệu của các số hạng thay thế, trong đó (bắt đầu đếm từ 0) các số hạng có chỉ số n ẻ được cộng vào trong khi chỉ số lẻ thì được trừ. Một bài trình bày chặt chẽ hơn của cùng một công thức sẽ nhân mỗi số hạng với thừa số (−1)n, mà cho +1 khi n chẵn và -1 khi n lẻ.
=== Trong thống kê ===
Việc dùng ⟨±⟩ cho một xấp xỉ thường được gặp nhất trong giới thiệu các giá trị số của một lượng cùng với độ dung sai của nó hay sai số lợi nhuận thống kê. Ví dụ, "5,7 ± 0,2" có nghĩa là một lượng được chỉ rõ hoặc ước tính trong phạm vi 0,2 đơn vị là 5,7; nó có thể là bất cứ số nào trong khoảng 5,5-5,9. Trong cách dùng khoa học đôi khi nó đề cập đến một xác suất tồn tại trong khoảng đã nêu, thường tương ứng với các độ lệch chuẩn 1 hoặc 2 (xác suất 68,3% hoặc 95,4% trong phân bố bình thường).
Một phần trăm cũng được sử dụng để biểu thị biên độ sai số. Ví dụ, 230 ± 10% V dùng để chỉ điện áp trong vòng 10% của 230 V (207 V đến 253 V). Các giá trị riêng biệt cho các giới hạn trên và dưới cũng được sử dụng. Ví dụ, để cho biết rằng một giá trị có khả năng là 5,7 nhất nhưng có thể cao tới 5.9 hay thấp như 5.6, ta có thể viết &0000000000000005.7000005.7+0.2−0.1.
=== Trong cờ vua ===
Các ký hiệu ± và ∓ được sử dụng trong chú giải cờ vua để biểu thị lợi thế tương ứng cho cờ trắng và cờ đen. Tuy nhiên, ký hiệu cờ vua thường gặp hơn sẽ chỉ là + và -. Nếu nói về sự khác biệt, ký hiệu + và - biểu thị một lợi thế lớn hơn ± and ∓.
== Dấu trừ-cộng ==
Có một ký hiệu khác, dấu trừ-cộng (∓). Nó thường được sử dụng kết hợp cùng với các ký hiệu "±", trong các biểu thức như "x ± y ∓ z", được hiểu theo nghĩa "x + y − z" hoặc/và "x − y + z", nhưng không là "x + y + z" hay là "x − y − z". Dấu "−" trên "∓" được coi là có quan hệ với dấu "+" trong"±" (tương tự cho hai biểu tượng thấp hơn) mặc dù không có dấu hiệu trực quan về sự phụ thuộc. (Tuy nhiên, ký hiệu "±" thường được ưa thích hơn ký hiệu "∓", vì vậy nếu cả hai đều xuất hiện trong một phương trình thì giả định rằng chúng được liên kết sẽ an toàn hơn. Mặt khác, nếu có hai trường hợp ký hiệu "±" có trong một biểu thức, ta không thể phân biệt ký hiệu riêng liệu có phải cách giải thích ý định là hai hoặc bốn biểu thức phân biệt.) Biểu thức gốc có được viết lại thành "x ± (y − z)" để tránh nhầm lẫn, nhưng trường hợp như đẳng thức lượng giác
cos
(
A
±
B
)
=
cos
(
A
)
cos
(
B
)
∓
sin
(
A
)
sin
(
B
)
{\displaystyle \cos(A\pm B)=\cos(A)\cos(B)\mp \sin(A)\sin(B)}
được viết gọn gàng nhất bằng cách sử dụng ký hiệu "∓". Phương trình lượng giác trên này biểu diễn hai phương trình:
cos
(
A
+
B
)
=
cos
(
A
)
cos
(
B
)
−
sin
(
A
)
sin
(
B
)
{\displaystyle \cos(A+B)=\cos(A)\cos(B)-\sin(A)\sin(B)\,}
cos
(
A
−
B
)
=
cos
(
A
)
cos
(
B
)
+
sin
(
A
)
sin
(
B
)
{\displaystyle \cos(A-B)=\cos(A)\cos(B)+\sin(A)\sin(B)\,}
mà không phải là
cos
(
A
+
B
)
=
cos
(
A
)
cos
(
B
)
+
sin
(
A
)
sin
(
B
)
{\displaystyle \cos(A+B)=\cos(A)\cos(B)+\sin(A)\sin(B)\,}
cos
(
A
−
B
)
=
cos
(
A
)
cos
(
B
)
−
sin
(
A
)
sin
(
B
)
{\displaystyle \cos(A-B)=\cos(A)\cos(B)-\sin(A)\sin(B)\,}
vì các ký hiệu được độc quyền luân phiên.
Ví dụ khác là
x
3
±
1
=
(
x
±
1
)
(
x
2
∓
x
+
1
)
{\displaystyle x^{3}\pm 1=(x\pm 1)(x^{2}\mp x+1)}
mà cho 2 phương trình.
== Mã hoá ==
Trong mã Unicode: U+00B1 ± PLUS-MINUS SIGN (HTML ± · ±)
Trong ISO 8859-1, -7, -8, -9, -13, -15, và -16, ký hiệu cộng-trừ có mã thập lục phân 0xB1hex Bởi vì 256 điểm mã đầu tiên của Unicode giống các nội dung của tiêu chuẩn ISO-8859-1 nên ký hiệu này cũng có điểm mã Unicode là U + 00B1.
Ký hiệu này cũng có một đại diện đối tượng của mã HTML ±.
Các dấu trừ-cộng hiếm gặp hơn (∓) nhìn chung không được tìm thấy trong các bảng mã kế thừa và không có một thực thể HTML được đặt tên nhưng có trong Unicode với điểm mã U+2213 và do đó có thể sử dụng trong HTML bằng ∓ hay∓.
Trong TeX các ký hiệu 'cộng-trừ' và 'trừ-cộng' được định nghĩa tương ứng là \pm và\mp.
Những ký tự còn có thể được tạo ra qua một gạch dưới hoặc gạch trên + ký hiệu ( + or + ), nhưng hãy cẩn thận định dạng bị mất vào ngày sau, làm thay đổi ý nghĩa.
=== Đánh máy ===
Trên các hệ thống Windows, ký hiệu có thể được nhập bằng các mã Alt, bằng cách giữ phím ALT trong khi gõ các số 0177 hoặc 241 trên phần phím số.
Trên các hệ thống Unix, ký hiệu có thể được nhập bằng cách gõ chuỗi compose + -.
Trên các hệ thống Macintosh, ký hiệu có thể được nhập bằng cách nhấn tùy chọn shift = (trên phần phím không phải số).
== Các ký tự tương tự ==
Dấu cộng-trừ giống các ký tự Trung Quốc 士 và 土, trong khi dấu trừ-cộng tương tự 干.
== Xem thêm ==
Plus and minus signs
Table of mathematical symbols
≈ (approximately equal to)
Engineering tolerance
== Tham khảo == |
tiếng yoruba.txt | Tiếng Yoruba (èdè Yorùbá) là một ngôn ngữ được nói tại Tây Phi, chủ yếu tại Nigeria. Số người nói tiếng Yoruba là gần 30 triệu. Đây là một ngôn ngữ đa tâm hiện diện tại Bénin, Nigeria, và một số cộng đồng người Yoruba tại nhiều nơi khác ở châu Phi, châu Mỹ, và châu Âu. Một dạng của ngôn ngữ này, Lucumi, là ngôn ngữ nghi lễ của tôn giáo Santería tại Caribe. Nhiều từ tiếng Yoruba được sử dụng trong Candomblé của người Phi-Brasil. Tiếng Yoruba có quan hệ gần gũi với tiếng Itsekiri (nói tại châu thổ Niger) và tiếng Igala (tại trung Nigeria).
== Chú thích ==
== Liên kết ==
Omniglot: Yoruba orthography
Yoruba dictionary
Yoruba Translation - Free online translation service instantly Yorùbá.
kasahorow Yoruba Dictionary
Ọrọ èdè Yorùbá
xLingua: Yoruba-Online-Dictionary English-Yoruba / Yoruba-English
Sabere d'owo Yoruba video drama series. Radio Abeokuta (2006).
Yoruba Grammar
Pan-African Localization page for Yoruba
Yoruba in North America
Journal of West African Languages: Yoruba
yorubaweb.com
Yoruba blog (features bilingual texts in Yoruba and English, including folklore)
Abibitumi Kasa Yorùbá Language Resources |
câu lạc bộ bóng đá becamex bình dương.txt | Câu lạc bộ bóng đá Becamex Bình Dương là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Việt Nam, có trụ sở tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Việt Nam thuộc quyền Sở hữu của Công ty Cổ phần Thể thao bóng đá Bình Dương. Câu lạc bộ từng 4 lần giành chức vô địch quốc gia (2007, 2008, 2014, 2015).
== Tiền thân ==
Tháng 1 năm 1997, Đội bóng đá Cao su Bình Long, Bình Phước, sau khi thi đấu thành công ở giải hạng Nhì mùa bóng 1996 với suất thăng hạng được chuyển giao từ Công ty Cao su Bình Long, Bình Phước về cho Sở Thể dục Thể thao Bình Dương quản lý. Đội bóng được đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Bình Dương. Tuy nhiên, tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam 1998, đội sau khi gây ấn tượng ở lượt đi, do thiếu hụt lực lượng ở lượt về đã ảnh hưởng đến kết quả thi đấu của đội dẫn tới việc phải xuống hạng sau khi kết thúc mùa bóng.
Năm 2002, Công ty Becamex, Đài truyền hình Bình Dương và Sở thể dục thể thao Bình Dương cùng hợp tác đầu tư thành lập công ty cổ phần bóng đá Bình Dương. Đội chính thức mang tên Câu lạc bộ bóng đá Becamex Bình Dương, với nhà tài trợ chính là Công ty Becamex. Tại mùa bóng Giải vô địch hạng Nhất quốc gia 2003, Câu lạc bộ đạt hạng nhì chung cuộc, giành vé thăng hạng tham dự V-League, sau khi vượt qua đội Thanh Hóa.
== Mùa bóng 2012-2013 ==
Mùa bóng 2012 Bình Dương là một trong những câu lạc bộ nhiều ngôi sao nhất V-League,ở giai đoạn đầu mùa giải hoàn toàn khiến cho cổ động viên thất vọng về đội bóng của mình, những trận hòa và những trận thua điều do sự thiếu tinh thần thi đấu của các cầu thủ, đặc biệt là thủ thành Đinh Hoàng La. Anh liên tiếp có những tình huống sai lầm khiến các cổ động viên bất ngờ. Những vòng đấu cuối lượt đi đầu lượt về Bình Dương bắt đầu tìm lại được mình lên công về thủ rất hợp lý, cũng phải nói đến công nhiều nhất thuộc về thủ thành Đinh Hoàng La những pha bay người bắt bóng xuất sắc đã khiến cho cổ động viên lẫn ban huấn luyện đặc niềm tin rất nhiều ở anh. Trong giai đoạn đó Bình Dương vươn lên vị trí thứ 3 trên bản xếp hạng. Huấn luyện viên Đặng Trần Chỉnh đã nhận được danh hiệu huấn luyện viên xuất sắc nhất giai đoạn đó. Bình Dương ở giai đoạn đó cũng được chọn là đội có hàng thủ mạnh nhất giải.
Thế nhưng bi kịch đã xảy ra ở giai đoạn lược về khi Đinh Hoàng La bị kỉ luật nên phải ngồi ngoài bắt đầu từ đó tinh thần của đội càng ngày càng đi xuống khi liên tiếp gặp hòa hoặc thất bại. Thủ thành được chọn để thay thế Đinh Hoàng La là thủ thành Đặng Đình Đức, nhưng do ngồi dự bị quá lau nên Đặng Đình Đức không tìm lại được cảm giác của mình khi anh phải liên tiếp vào lưới nhặc bóng. Những vòng cuối thủ thành Đặng Đình Đức cũng bị treo giò.Do thiếu lực lượng nên thủ thành Dư Văn Bé được gọi lên đội một để thế chỗ.Dư Văn Bé chưa đủ kinh nghiệm nên cũng vào lưới nhặc bóng.Trận đấu an ủi của Bình Dương là trận gặp Hải Phòng, thắng với tỉ số 5-2. Trận đó Nguyễn Vũ Phong đã trở lại sau những chấn thương và ghi liên tiếp 4 bàn vào lưới Hải Phòng. Kết thúc mùa giải Becamex Bình Dương đứng vị trí thứ 6.Vị trí có thể nói là tạm được khi Bình Dương chơi quá đáng quên.
Mùa bóng 2013, Bình Dương gây sóc khi hỏi mua lần lượt Huỳnh Kesley Alves, Timothy Anjembe, Âu Văn Hoàn rồi đến Nguyễn Trọng Hoàng kể cả Lê Công Vinh cũng đề nghị ký hợp đồng.Thế nhưng chỉ có Huỳnh Kesley Alves là thành công cùng với đó là cầu thủ trẻ Sanday của Thanh Hóa. Hiện Bình Dương một trong 2 câu lạc bộ còn giữ được 2 đội hình chuyên nghiệp thi đấu ở cả V-League và Giải hạng Nhất (câu lạc bộ còn lại là Hà Nội T&T).
Năm vòng đấu đã qua Bình Dương điều toàn thua. Huấn luyện viên Cho Yoon Hwan cũng đã sa thải, phương án mà Bình Dương đưa ra để khắc phục là mời huấn luyện viên Lê Thụy Hải về dẫn dắc câu lạc bộ. Do ông Lê Thụy Hải thiếu bằng A theo quy định của VPF nên ban lãnh đạo Bình Dương đăng ký cho ông chức Giám đốc Kỹ thuật còn huấn luyện viên trưởng là ông Nguyễn Minh Dũng. Mọi chỉ đạo và chiến thuật đưa ra là do ông Lê Thụy Hải phụ trách còn ông Nguyễn Minh Dũng chỉ là hỗ trợ. Vòng 6 V.League Bình Dương đặt mục tiêu rất cao vào 3 điểm trọn vẹn trước Ninh Bình.
=== Bổ sung lực lượng ===
Ở mùa giải 2013 các cổ động viên của Becamex Bình Dương rất bất ngờ khi danh sách đăng ký của Becamex Bình Dương không có tên của đội trưởng Philani và Nguyễn Hữu Thắng tiền vệ trụ số 1 của Bình Dương. Nhưng cũng chỉ được 2 vòng đấu thì Philani được gọi trở lại từ TDC Bình Dương và Nguyễn Hữu Thắng trở lại sau 6 vòng đấu nhưng số áo anh mặc là số 33.
Sau vòng đấu thứ 6 Becamex Bình Dương chiêu mộ hai cầu thủ tự do là Thủ môn Trần Đức Cường,thủ môn của Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội năm 2012 và tiền vệ Nguyễn Rosger trước đây từng chơi cho Câu lạc bộ bóng đá Thanh Hóa và anh trở lại Việt Nam tìm việc sau khi nghỉ thời gian dài do chấn thương.
== Sân vận động ==
Sân vận động Gò Đậu, tỉnh Bình Dương có diện tích hơn 4 ha, tại góc đường 30/4 và Đại lộ Bình Dương (trung tâm Thành phố Thủ Dầu Một). Sân có 4 khán đài với sức chứa khoảng 18.250 chỗ ngồi.
Khán đài A có sức chứa 12.000 chỗ ngồi
Khán đài B có sức chứa 10.400 chỗ ngồi
Khán đài C có sức chứa 6.000 chỗ ngồi
Khán đài D có sức chứa 6.000 chỗ ngồi
== Nhà sản xuất và tài trợ áo đấu ==
=== Nhà sản xuất áo đấu ===
2015–nay: Kappa
=== Nhà tài trợ áo đấu ===
2004: BECAMEX
2005: PNB
2006: Unif
2007–09: Becamex IDC
2010–12: Maritime Bank
2013–nay: Becamex IDC
== Thành tích ==
=== Cấp châu lục và khu vực ===
Mekong Club Championship
Vô địch (1): 2014
=== Cấp quốc gia ===
V-League:
Vô địch (4): 2007, 2008, 2014, 2015
Á quân (2): 2006, 2009
Giải ba (1): 2005
Cúp Quốc gia:
Vô địch (2): 1994, 2015
Á quân (2): 2008, 2014
Siêu cúp bóng đá Việt Nam:
Vô địch (4): 2007, 2008, 2014, 2015
Giải hạng nhất:
Á quân (1): 2003
=== Các giải giao hữu ===
Cúp BTV:
Vô địch (5): 2002, 2003, 2005, 2012, 2013
Á quân (3): 2006, 2008, 2011
== Đội hình hiện tại ==
Tính đến giai đoạn 1 mùa giải V.League 2017.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Ban huấn luyện hiện tại ==
== Các đời huấn luyện viên trưởng ==
== Kỉ lục ==
Tại mùa giải 2007, đội giành chức vô địch quốc gia trước 4 vòng đấu, hơn đội xếp nhì bảng 13 điểm. Sau khi xô ngã để tạo ra các kỉ lục mới:
Đội vô địch sớm nhất.
Bất bại 14 trận.
Đội vô địch đạt nhiều điểm nhất.
Đội vô địch có số trận thắng nhiều nhất.
Đội vô địch ghi nhiều bàn thắng nhất.
Đội vô địch có số trận thua ít nhất.
Đội vô địch để lọt lưới ít nhất.
Đội vô địch có hiệu số bàn thắng/bàn thua cao nhất
Mùa giải 2013:
Đội chưa thắng trận nào trong 6 vòng liên tiếp.
== Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất ==
Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất khi đang chơi cho Bình Dương:
Kesley Alves – 2005
== Những cầu thủ xuất sắc ==
== Vua phá lưới ==
Cầu thủ đoạt giải Vua phá lưới khi đang chơi cho Bình Dương:
Kesley Alves – 2005
== Chiếc giày vàng Việt Nam ==
Cầu thủ đoạt giải Chiếc giày vàng Việt Nam khi đang chơi cho Bình Dương:
Huỳnh Kesley Alves – 2009
== Cầu Thủ thử việc tại nước ngoài ==
Nguyễn Hữu Thắng thử việc tại Los Angeles Galaxy- Năm 2007.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Công ty Cổ phần Câu lạc bộ bóng đá Bình Dương
Trang chủ Hội Cổ động viên CLB bóng đá Bình Dương |
mảng kiến tạo.txt | Mảng kiến tạo, xuất phát từ thuyết kiến tạo mảng, là một phần của lớp vỏ Trái Đất (tức thạch quyển). Bề mặt Trái Đất có thể chia ra thành bảy mảng kiến tạo chính và nhiều mảng kiến tạo nhỏ. Thuật ngữ mảng kiến tạo (tectonic plate hay plaque) hay bị dùng sai thành đĩa kiến tạo hay địa tầng kiến tạo. Địa tầng (strata) chỉ các lớp đất đá hình thành bên trên vỏ Trái Đất, gồm các thang phân vị địa tầng: liên giới, giới, hệ, thống, bậc và đới, tương ứng với các thời kỳ địa chất (liên đại, đại, kỷ), và thường chứa hóa thạch. Mảng có bề dày lớn hơn nhiều so với địa tầng.
Các mảng kiến tạo có độ dày khoảng 100 km (60 dặm) và bao gồm hai loại vật liệu cơ bản: lớp vỏ đại dương (còn gọi là quyển sima) và lớp vỏ lục địa (quyển sial). Nằm dưới chúng là một lớp tương đối dẻo của lớp phủ được gọi là quyển mềm (asthenosphere), nó chuyển động liên tục. Lớp này đến lượt của mình lại có một lớp rắn chắc hơn của lớp phủ nằm dưới nó.
Thành phần của hai dạng lớp vỏ khác nhau một cách đáng kể. Lớp vỏ đại dương chủ yếu chứa các loại đá bazan, trong khi lớp vỏ lục địa chủ yếu chứa các loại đá granit với tỷ trọng thấp có chứa nhiều nhôm và điôxít silic (SiO2). Hai dạng này của lớp vỏ cũng khác nhau về độ dày, trong đó lớp vỏ lục địa dày hơn một cách đáng kể.
Sự chuyển động của quyển mềm làm cho các mảng kiến tạo bị chuyển động theo một tiến trình gọi là sự trôi dạt lục địa, nó được giải thích bằng thuyết kiến tạo mảng. Sự tương tác giữa các mảng kiến tạo đã tạo ra các dãy núi và núi lửa, cũng như tạo ra các trận động đất và các hiện tượng địa chất khác.
Ranh giới giữa các mảng kiến tạo không trùng với ranh giới các châu lục. Ví dụ, mảng kiến tạo Bắc Mỹ bao trùm không chỉ Bắc Mỹ mà còn cả Greenland, vùng viễn đông của Siberi và phần phía bắc Nhật Bản.
Hiện nay người ta biết rằng Trái Đất là hành tinh duy nhất trong hệ Mặt Trời có hiện tượng kiến tạo mảng, mặc dù có một số giả thuyết cho rằng Sao Hỏa có thể cũng đã từng có các mảng kiến tạo trong quá khứ trước khi lớp vỏ của nó bị đông cứng lại tại chỗ.
== Các mảng kiến tạo ==
=== Bảy địa mảng chính cấu tạo nên lớp vỏ Trái đất ===
Mảng Thái Bình Dương
Mảng Á-Âu
Mảng Ấn-Úc
Mảng châu Phi
Mảng Bắc Mỹ
Mảng Nam Mỹ
Mảng Nam Cực
=== Một số mảng kiến tạo nhỏ ===
Mảng Ả Rập (bán đảo Ả Rập)
Mảng Ấn Độ (toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ và một phần lòng chảo thuộc Ấn Độ Dương.)
Mảng Caribe (Trung Mỹ và biển Caribe)
Mảng Cocos (phía tây México)
Mảng Juan de Fuca (ngoài khơi California)
Mảng Nazca (phía tây châu Nam Mỹ)
Mảng Philippin
Mảng Scotia (phía đông nam mũi Horn)
== Người tìm ra ==
Alfred Wegener, nhà vật lý, nhà địa chấn người Đức đã tìm ra "thuyết trôi lục địa" sau này gọi là "thuyết kiến tạo mảng". Ông phát hiện ra rằng mảng bờ đông của Nam Mĩ hợp với mảng tây của bờ châu Phi, lục địa Á-Âu với lục địa Phi. Nhờ quan sát, hình thái, di tích hóa thạch các châu lục và sự ăn khớp của nó. Các căn cứ trên chưa đủ để giải thích. Sau này các nhà khoa học tìm ra, khám phá và bổ sung giả thuyết của Wegener và xây dưng nên "thuyết kiến tạo mảng"
== Xem thêm ==
Kiến tạo mảng
Danh sách các mảng kiến tạo
Học thuyết địa máng, một học thuyết đã lỗi thời dùng để giải thích về sự tạo núi.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bird, P. (2003) Mô hình số hóa được cập nhật về ranh giới các mảng kiến tạo và cũng có sẵn ở dạng tập tin PDF với dung lượng khá lớn (13 MB)
Bản đồ các mảng kiến tạo |
bắc mỹ.txt | Bắc Mỹ là một lục địa nằm ở bán cầu bắc của Trái Đất, phía đông của Thái Bình Dương và phía tây của Đại Tây Dương, phía nam của Bắc Băng Dương, phía bắc của Nam Mỹ. Đây là phần phía bắc của toàn bộ châu Mỹ.
Bắc Mỹ còn được gọi là Tân Thế giới khi các nhà thám hiểm châu Âu khám phá ra lục địa này vào cuối thế kỷ 15, điển hình là Christopher Columbus (hay Cristoforo Colombo nếu viết theo tiếng Ý). Tuy Columbus thường được xem như người đầu tiên khám phá ra Bắc Mỹ, thật sự thì lục địa này đã có rất nhiều người bản xứ sinh sống trước khi Columbus đặt chân đến đây. Columbus cũng không phải là người châu Âu đầu tiên đến Bắc Mỹ, từ đầu thế kỷ 11, người Viking đã lập những làng nhỏ dọc theo bờ biển Bắc Đại Tây Dương – một di tích của họ còn được bảo tồn tại L'Anse aux Meadows, thuộc tỉnh bang Newfoundland và Labrador của Canada. Sau người Viking là Giovanni Caboto (cũng còn được gọi là John Cabot theo tiếng Anh hay Jean Cabot theo tiếng Pháp) khi ông đến Newfoundland vào ngày 24 tháng 6 năm 1497. Mãi cho đến năm 1498, Columbus mới đặt chân lên lục địa Bắc Mỹ.
Mặc dù các nước Canada, Hoa Kỳ và México (cũng như nhiều nước nhỏ) đều thuộc Bắc Mỹ, nhưng có nhiều người lầm tưởng là México thuộc vào Nam Mỹ (do quốc ngữ của Mexico là tiếng Tây Ban Nha).
== Động thực vật ==
=== Rừng núi ===
Bắc Mỹ chủ yếu gồm rất nhiều rừng lá rộng, nhất là ở các khu vực phía Đông Hoa Kỳ. Những khu vực thuộc bang California thường bao gồm chủ yếu là các khu rừng cận nhiệt đới. Phần lớn các khu rừng ở Canada và đảo Greenland gồm các loài cây thường xanh. Đó là những loài cây có khả năng thích nghi với trời lạnh. Khu vực thuộc vùng phía bắc nước Mexico vì thuộc dạng khí hậu bán sa mạc nên chủ yếu thực vật tồn tại dưới dạng savanna hoặc đồng cỏ hoang. Các savanna này còn lên tới cả Mỹ. Ngược lại, tại các khu vực thuộc phía nam Mexico lại bao gồm chủ yếu rừng nhiệt đới. Cây cối ở những nơi này thường rậm rạp và ẩm.
=== Động vật ===
Vì ở Bắc Mỹ có rất nhiều kiểu khí hậu khác nhau nên ở đó cũng có nhiều loài động vật khác nhau. Động vật phân hóa từ bắc xuống nam do trải dài trên nhiều vĩ độ; phân hóa từ tây sang đông do ảnh hưởng của địa hình.
==== Alaska và Canada ====
Vì đây là một khu vực chủ yếu với các kiểu khí hậu các loài động vật ở đây thường là động vật xứ lạnh. Ví dụ như:
Hải âu cổ rụt
Mòng biển
Gấu Bắc cực
Cú tuyết
Chuột Lemmut
Tuần lộc
Kỳ lân biển
Cá hồi
==== Mỹ ====
Mỹ có khí hậu nhiệt đới, ôn đới, núi cao và sa mạc nên là một quốc gia lý tưởng cho sự sinh sống của các loài động vật như:
Nai
Cá sấu Mỹ
Rắn đuôi chuông
Chó sói
Bò rừng
Bồ nông trắng
Đại bàng đầu trắng
Sóc xám
Nhím Bắc Mỹ
Chồn opossum
Cáo
Hải li
Sư tử núi
Gấu
==== Mexico ====
Vì Mexico chủ yếu gồm sa mạc nên ở đây gồm các loài động vật sa mạc như Tatu, Linh dương, Gà cát,Thằn lằn, Rắn,...
== Địa lý Bắc Mỹ ==
Xem chi tiết: Địa lý Bắc Mỹ
=== Đồng bằng ===
Miền đồng bằng ở giữa nằm trên đất nước Hoa Kỳ tựa như một lòng máng cao ở phía bắc và tây bắc, thấp dần ở phía nam và đông nam.
=== Núi ===
Bắc Mỹ nổi tiếng với dãy núi Rocky. Dãy núi này dài hơn 4800 km, chạy từ bắc British Columbia, dọc theo bờ biển phía Tây, đến New Mexico. Những núi cao nhất trong dãy núi này tập trung lại theo một đường thẳng nối từ bang Alaska đến bang Colorado (3-4,5 nghìn mét). Xung quanh khu vực này gồm các núi có độ cao 1-2 nghìn mét. Ở trung tâm Mexico thì lại chủ yếu gồm các núi cao 2-3 nghìn mét phủ một khu vực rất lớn tại Mexico.
=== Khoáng sản ===
Tại Bắc Mỹ, những khoáng sản chủ yếu gồm: vàng, đồng, urani, chì, than đá, dầu mỏ, dầu khí, niken, bạc, sắt. Các khoáng sản này được coi là rất có lợi trong nông nghiệp và công nghiệp Bắc Mỹ. Trong đó phân bố chủ yếu nhất chính là dầu mỏ. Sau đây là một số nơi có thể khai thác khoáng sản trên đất liền:
Dãy Rocky: dầu mỏ, vàng, than đá, đồng, uranium, chì, bạc, dầu khí.
Đông nam nước Mỹ: chì, dầu khí, dầu mỏ, than đá.
Khu vực quanh hồ Superior: urani, niken, đồng, sắt
=== Sông, hồ ===
Ở Bắc Mỹ có rất nhiều sông lớn, đặc biệt, hệ thống sông lớn nhất Bắc Mỹ chính là sông Mississippi. Con sông này bắt nguồn từ dãy Rocky bao gồm 6 nhánh sông và chảy ra biển ở New Orleans. Nhánh sông bao phủ phần lớn nước Mỹ với diện tích bao phủ hơn 6.877.000 km². Ở Canada, sông dài nhất sông Mackenzie đổ vào Bắc Băng Dương..
Hồ nước ngọt lớn nhất Bắc Mỹ và lớn nhất thế giới là Ngũ Đại hồ nằm ở giữa Mỹ và Canada, gồm 5 hồ hợp lại: hồ Superior, hồ Michigan, hồ Huron, hồ Erie và hồ Ontario. Hồ lớn nhất nằm hoàn toàn trong Canada là hồ Great Bear (Gấu lớn).
=== Vịnh ===
Vịnh Mexico
Vịnh California
Vịnh Hudson
Vịnh St.Lawrence
Vịnh Alaska
=== Quần đảo ===
Quần đảo Nữ hoàng Elizabeth
Quần đảo Aleut
Quần đảo Nữ hoàng Charlotte
=== Bán đảo ===
Yucatán
Bán đảo Baja California
Bán đảo Florida
Bán đảo Alaska
Bán đảo Labrador
== Khí hậu ==
=== Các đới khí hậu ===
Từ Bắc xuống Nam:
Ôn đới là kiểu khí hậu chiếm diện tích lớn nhất
Hàn đới
Khí hậu núi cao do dãy núi Rocky
Hoang mạc và nửa hoang mạc nằm ở phía tây nam nước Mỹ và phía bắc Mexico do ảnh hưởng dòng biển lạnh chảy từ Bắc xuống Nam qua bờ biển California
Cận nhiệt đới
Nhiệt đới
=== Khí hậu đất liền ===
Bắc Mỹ chủ yếu gồm khí hậu ôn đới bao phủ phần lớn Hoa Kỳ và Canada. Tại khu vực ven bờ biển phía tây từ 20° vĩ bắc đến 50° vĩ bắc thuộc khí hậu hoang mạc và nửa hoang mạc. Song song với khí hậu hoang mạc là khí hậu núi cao. phía nam nước Mỹ thuộc khí hậu cận nhiệt đới.
Trên phía bắc (cả đảo Greenland) thuộc khí hậu hàn đới. Mexico bao gồm chủ yếu là khí hậu hoang mạc và khí hậu nhiệt đới.
=== Hải lưu ===
Bắc Mỹ chủ yếu gồm 5 đợt hải lưu:
Hải lưu Bắc Thái Bình Dương (ấm): khi chạy qua vịnh Alaska trở thành hải lưu Alaska, một nhánh của dòng biển chảy xuống thành hải lưu Bắc Xích đạo.
Hải lưu California (lạnh): chảy từ British Columbia đến bán đảo California
Hải lưu ngược chiều tín phong (ấm): chảy từ tây sang đông.
Hải lưu Bắc Xích đạo (ấm): chảy từ đông sang tây.
Hải lưu Larbrador (lạnh) chảy từ đảo Greenland đến Bắc Carolina
== Dân cư Bắc Mỹ ==
=== Con người Bắc Mỹ ===
Chủng tộc Mongoloit cổ: Người thổ dân, sống trên toàn bộ Bắc Mỹ trước khi người da trắng đến.
Người Oropeoid: Da trắng, từ châu Âu tại các thuộc địa.
Chủng tộc Negroid: Da đen, từ châu Phi, thường bị đem đến làm nô lệ.
=== Mật độ ===
Dân số Bắc Mỹ là khoảng hơn 610 triệu người, mật độ dân số trung bình là khoảng 21 người/km². Tại bán đảo Alaska và miền bắc Canada có rất ít người, một số nơi không có người ở. Ở giữa nước Mỹ có một khu vực rất ít dân: 1-10 người/km²; ven biển phía tây, Mexico và phía đông Hoa Kì, bán đảo California có mật độ 51-100 người/km². Trên 100 người/km² nằm ở đông bắc Hoa Kỳ và phía nam Hồ Lớn
=== Các thành phố lớn ===
Tại Bắc Mỹ có khoảng 24 thành phố với 1-5 triệu và 4 thành phố trên 5 triệu người. Đây là các vùng đô thị có 1-5 triệu người trên toàn Bắc Mỹ:
==== Tại Canada ====
Toronto-Mississauga (hơn 5,1 triệu; thành phố Toronto chỉ khoảng 2,5 triệu)
Montréal-Laval (hơn 3,6 triệu; thành phố Montréal chỉ hơn 1,6 triệu)
Vancouver-Surrey (hơn 2,1 triệu; thành phố Vancouver chỉ khoảng 590 ngàn)
Ottawa-Gatineau (hơn 1,1 triệu; thành phố Ottawa chỉ hơn 812 ngàn)
Calgary (khoảng 1,1 triệu; thành phố Calgary chỉ khoảng 900 ngàn)
Edmonton (khoảng hơn 1 triệu; thành phố Edmonton chỉ hơn 730 ngàn)
==== Tại Mỹ ====
Boston
Philadelphia
Baltimore
Detroit
Columbus, Ohio
Milwaukee
Seattle
San Francisco
San Jose
San Diego
Phoenix
San Antonio
Dallas
Houston
New Orleans
Miami
==== Tại Mexico ====
Monterrey
Leon
Guadalajara
Puebla
==== Danh sách các TP trên 5 triệu dân ====
New York (8.104.080 người)
Chicago (9.661.840 người)
Los Angeles (12.923.550 người)
Mexico City (8.720.920 người)
== Các quốc gia Bắc Mỹ ==
=== Canada ===
Xem chi tiết: Canada
Canada là quốc gia lớn nhất Bắc Mỹ (9.984.670 km²) và ít dân nhất Bắc Mỹ (32.805.041 người). Canada giáp Hoa Kỳ tại hướng Nam và phía tây bắc.
=== Hoa Kỳ ===
Xem chi tiết: Hoa Kỳ
Hoa Kỳ có diện tích là 9.629.091 km² và dân số là 300.165.500 người (đông nhất Bắc Mỹ). Hoa Kỳ có 50 tiểu bang, trong đó lớn nhất là Alaska.
=== Mexico ===
Xem chi tiết: México
México có diện tích thứ ba tại Bắc Mỹ (1.972.550 km²) và dân số 106.202.903 người.
== Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mĩ (NAFTA) ==
Năm 1993 được thành lập gồm 3 nước Canada, México và Hoa Kỳ. Khối kinh tế này giúp cả 3 nước phát triển mạnh, tạo nên thị trường rộng lớn, tăng sức cạnh tranh trên thị trường
Hoa Kỳ và Canada là 2 nước có ngành công nghệ, kĩ thuật cao, phát triển theo hướng hiện đại hóa. Mexico có nguồn lao động rẻ, dồi dào
== Cơ quan lập pháp ==
Cơ quan lập pháp của các quốc gia Bắc Mỹ được tổ chức theo hai hệ thống, lưỡng viện (Hoa Kỳ, Canada, Bermuda và México) và đơn viện (Greenland, Saint Pierre và Miquelon). Trong đó Nghị viện Mexico có số lượng đại diện lớn nhất với 628 thành viên (thượng viện 128 ghế, hạ viện 500 ghế), Quốc hội Hoa Kỳ có số đại diện trong nghị viện lớn nhất, với 535 thành viên (thượng viện 100 nghị sĩ và hạ viện 435 nghị sĩ). Nghị viện có số đại diện thấp nhất là Saint Pierre và Miquelon chi có 19 thành viên.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
commons:Category:North America
commons:Category:Atlas of North America
"North America"/"Central America". The Columbia Encyclopedia, 6th ed. 2001-6. New York, Columbia University Press.
"North America"/"Central America". Encyclopædia Britannica. 2006. Chicago, Encyclopædia Britannica, Inc.
UN Statistics Division: Composition of macro geographical (continental) regions, geographical sub-regions, and selected economic and other groupings
GeoHive: The population of continents, regions and countries
"North America" (Archived 2009-10-31)/ "Central America" (Archived 2009-10-31). MSN Encarta Online Encyclopedia 2006.
American Heritage Dictionaries, North America and Central America
Houghton Mifflin Company, "North America"
Council on Hemispheric Affairs
Consortium for North American Higher Education Collaboration
WordNet Princeton University: Central America
Crystal Reference Encyclopedia, "North America"
Internet World Map Study showing the geographic distribution of the Internet across North America. |
thế kỷ 1.txt | Thế kỷ 1 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1 đến hết năm 100, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory.
== Tham khảo == |
mike pence.txt | Michael Richard "Mike" Pence (sinh 7 tháng 6 năm 1959) là đương kim Phó Tổng thống Hoa Kỳ. Trước đó, ông là một chính trị gia người Mỹ, luật sư và là Thống đốc thứ 50 của Indiana từ năm 2013 đến năm 2017. Là một thành viên của Đảng Cộng hòa, trước đây ông là Hạ nghị sĩ đại diện khu vực 2 và khu vực 6 của bang Indiana trong Hạ viện Hoa Kỳ từ năm 2001-2013 và từng là Chủ tịch của Hội nghị đảng Cộng hòa Hạ viện từ năm 2009 đến năm 2011. Pence là một chính trị gia theo đường lối bảo thủ và một người ủng hộ Phong trào Tiệc trà.
Ngày 15 tháng 7 năm 2016, Donald Trump tuyên bố rằng ông đã chọn Pence làm ứng cử viên phó tổng thống đồng hành trong cuộc Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, 2016.
== Chiến dịch tranh cử 2016 ==
Pence ủng hộ Thượng nghị sĩ Ted Cruz của bang Texas trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Cộng hòa năm 2016. Donald Trump đã cân nhắc Pence ứng cử viên Phó Tổng thống của ông cùng với 2 người khác là Thống đốc Chris Christie và cựu Chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich. Báo Indianapolis Star ngày 14 tháng 7 nói rằng Pence sẽ kết thúc chiến dịch tái tranh cử chức Thống đốc của ông và chấp nhận đề cử Phó Tổng thống của đảng Cộng hòa để thay thế. Điều này đã được thông báo rộng rãi ngày 14 tháng 7 năm 2016. Ngày hôm sau, Trump đã chính thức công bố trên Twitter rằng Pence sẽ là bạn đồng hành của ông. Ngay sau khi công bố, Pence nói rằng ông "rất ủng hộ cái mà được Donald Trump gọi là tạm đình chỉ nhập cư từ các nước mà ảnh hưởng khủng bố và tác động đại diện cho một mối đe dọa đối với Hoa Kỳ". Pence nói rằng ông "hoàn toàn" ủng hộ với đề nghị xây dựng một bức tường với Mexico của Trump, ông nói rằng Mexico "hoàn toàn" sẽ trả tiền cho nó.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Governor Mike Pence official government site
Mike Pence for Governor
Mike Pence tại DMOZ
Mike Pence trên C-SPAN
Profile at Ballotpedia
Articles
Collected news and commentary at The Indianapolis Star
Candidate information from Our Campaigns
Congress
Biography at the Biographical Directory of the United States Congress
Financial information (federal office) at the Federal Election Commission
Profile at SourceWatch |
tổ chức hiệp ước an ninh tập thể.txt | Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (tiếng Nga: Организация Договора о Коллективной Безопасности, viết tắt là ODKB hoặc CSTO) là một liên minh quân sự giữa các nước Armenia, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Nga và Tajikistan. Tại Tashkent ngày 7 tháng 10 năm 2002, tổng thống các nước nói trên đã ký hiến chương thành lập tổ chức này.
== Thành viên ==
thành viên hiện tại
Armenia (2002)
Belarus (2002)
Kazakhstan (2002)
Kyrgyzstan (2002)
Russia (2002)
Tajikistan (2002)
Quan sát viên
Afghanistan (2013)
Serbia (2013)
Ứng cử viên tiềm năng
Iran
Cựu thành viên
Azerbaijan (tham gia 1994, từ bỏ 1999)
Georgia (tham gia 1994, từ bỏ 1999)
Uzbekistan (tham gia 1994, từ bỏ 2012)
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Trang thông tin chính thức (bằng tiếng Nga)
Trang thông tin chính thức (tiếng Anh)
Hiến chương của Tổ chức |
android froyo.txt | Android Froyo là một phiên bản đã ngừng phát triển của hệ điều hành Android được Google phát triển, trải qua các phiên bản từ 2.2 tới 2.2.3. Nó được giới thiệu vào ngày 20 tháng 5 năm 2010 nhân hội nghị Google I/O 2010.
Một trong những thay đổi nổi bật ở phiên bản Froyo là tính năng USB tethering và Wi-Fi hotspot. Các thay đổi khác là hỗ trợ dịch vụ Cloud to Device Messaging (C2DM), cho phép đẩy thông báo. Ngoài ra còn cải thiện tốc độ ứng dụng, được hiện thực thông qua biên dịch JIT.
Vào ngày 2 tháng 11 năm 2015, Google thông báo rằng có 0.2% trong tổng số thiết bị Android truy cập Google Play đang chạy Froyo.
== Tính năng ==
Cách tính năng mới được giới thiệu trên Froyo là:
Tối ưu hóa tốc độ, bộ nhớ và hiệu suất
Cải thiện tốc độ ứng dụng, hiện thực thông qua biên dịch JIT
Tích hợp đông cơ V8 JavaScript của Chrome vào trong ứng dụng trình duyệt
Hỗ trợ dịch vụ Cloud to Device Messaging (C2DM) service, cho phép đẩy thông báo
Cải thiện hỗ trợ Microsoft Exchange, bao gồm chính sách an ninh, tự động phát hiện, tìm kiếm GAL, đồng bộ lịch và xóa từ xa
Cải thiện ứng dụng launcher vwois phím tắt đến ứng dụng Điện thoại và Trình duyệt
Tính năng USB tethering và Wi-Fi hotspot
Tùy chọn để vô hiệu hóa truy xuất dữ liệu qua mạng di động
Cập nhật ứng dụng Market với tính năng cập nhật tự động và hàng loạt
Chuyển đổi nhanh giữa nhiều ngôn ngữ bàn phím và từ điển
Hỗ trợ Bluetooth cho xe và bàn
Hỗ trợ mật khẩu dạng số và chữ
Hỗ trợ tải lên tập tin trên ứng dụng Trình duyệt
Trình duyệt sẽ hiển thị tất cả các khung của ảnh động GIF thay vì chỉ khung đầu tiên
Hỗ trợ cài đặt ứng dụng trên thẻ nhớ mở rộng
Hỗ trợ Adobe Flash
Hỗ trợ hiển thị cho các thiết bị có PPI cao (đến mức 320 ppi), như màn hình 4 inch 720p screens
Giới thiệu phần mở rộng tập tin .asec
Ứng dụng xem ảnh cho phép người dùng xem chồng ảnh bằng cử chỉ zoom
== Xem thêm ==
Lịch sử các phiên bản Android
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
[www.android.com Android] |
basel.txt | Basel (/ˈbɑːzəl/, tiếng Đức: Basel /ˈbaːzəl/, tiếng Pháp: Bâle /bal/ hoặc /bɑl/, tiếng Ý: Basilea /bazi'lɛːa/, tiếng Romansh: Basilea /bazi'lɛːa/) là thành phố đông dân thứ ba của Thụy Sĩ (166.209 người năm 2008). Nếu tính cả vùng đại đô thị, thành phố có dân số 731.000 người (tính đến 2004), Basel là vùng đô thị lớn thứ ba của Thụy Sĩ.
Nằm ở phía tây bắc Thụy Sĩ trên dòng sông Rhine, Basel đóng vai trò là trung tâm công nghiệp dược và hóa chất của quốc gia. Thành phố này giáp ranh với Đức và Pháp. Vùng Basel, có tầm ảnh hưởng lan rộng tới cả Baden-Württemberg của Đức và Alsace của Pháp, phản ảnh những di tích của ba bang của nó trong cái tên Latin hiện đại là: "Regio TriRhena". Nơi đây cũng có trường đại học lâu đời nhất liên bang Thụy Sĩ, đại học Basel (1460).
Basel thường được biết trong tiếng Anh là "Basle", phát âm như trong tiếng Pháp.
Basel là thành phố nói chủ yếu tiếng Đức. Ngữ âm của địa phương tiếng Đức tại Thụy Sĩ được gọi là tiếng Đức Basel.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
tiếng wales.txt | Tiếng Wales (Cymraeg hay y Gymraeg, phát âm [kəmˈraiɡ, ə ɡəmˈraiɡ]) là một thành viên của nhóm ngôn ngữ Britton của ngữ tộc Celt. Nó được sử dụng tại Wales, vài vùng của Anh, và ở Y Wladfa (khu kiều dân Wales tại tỉnh Chubut, Argentina). Trước đây nó được biết tới trong tiếng Anh với các tên "the British tongue", "Cambrian", "Cambric" và "Cymric".
Điều tra dân số năm 2011 cho thấy có 3,1 triệu người định cư tại Wales. Trong số này, 73% (2,2 triệu) xác nhận rằng không biết tiếng Wales. 27% (837,000) dân số toàn Wales được sinh ra ngoài Wales. Trong số dân trên ba tuổi, 19% (562.000) có thể nói, và 77% trong số này biết cả đọc, viết, và nói (431.000 người – hay 15% loài dân số Wales). Có thể so sánh với điều tra năm 2001, trong đó 20,8% dân số (582.000) nhận rằng có khả năng nói. Ước tính 110.000 tới 150.000 người nói tiếng Wales tại Anh.
== Lịch sử ==
Tiếng Wales xuất hiện vào khoảng thế kỷ 6, phát triển từ tiếng Britton Chung - tiền thân của tiếng Wales, tiếng Breton, tiếng Cornwall và tiếng Cumbria đã tuyệt chủng.
Lịch sử tiếng Wales có bốn giai đoạn được xác định, với ranh giới tương đối rõ: thời kỳ ngay sau khi tách ra khỏi tiếng Britton đôi khi được gọi là tiếng Wales nguyên thủy; sau đó là thời kỳ tiếng Wales cổ, kéo dài từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 12. Thời Tiếng Wales trung đại nối tiếp và kéo dài đến thế kỷ 14, khi thời tiếng Wales hiện đại bắt đầu.
Cái tên Welsh xuất phát từ một từ của người Anglo-Saxon, nghĩa là "tiếng nói ngoại quốc" (Walha). Nội danh của tiếng Wales là Cymraeg ("Wales" là Cymru).
=== Nguồn gốc ===
Tiếng Wales phát triển từ tiếng Britton, một ngôn ngữ Celt cổ từng được người Briton nói. Tiếng Briton đến Đảo Anh vào thời kỳ đồ đồng hoặc đồ sắt và có thể từng được nói trên toàn vùng phía nam cửa sông Forth. Vào sơ kỳ Trung Cổ tiếng Briton bắt đầu phân tách, phát triển thành tiếng Wales và một số khác (tiếng Breton, tiếng Cornwall, và tiếng Cumbria). Không rõ chính xác khi nào tiếng Wales trở thành ngôn ngữ riêng.
== Phân bố địa lý ==
Tiếng Wales được nói suốt chiều dài lịch sử Wales, nhưng tới năm 1911 nó trở thành một ngôn ngữ thiểu số - chỉ được 43,5% dân số nói. Dù sự giảm sút tiếp diễn ở những thập niên tiếp theo, ngôn ngữ này không bị mất đi. Đầu thế kỷ 21, số phần trăm người nói bắt đầu tăng trở lại. Nghiên cứu 2004 cho thấy rằng 21,7% dân số Wales nói tiếng Wales, tăng lên so với 20,8% năm 2001, và 18,5% năm 1991. Tuy nhiên, thống kê 2011 cho thấy số người nói đã giảm xuống 562.000, tức 19% dân số. Thống kê này cũng thể hiện một "cú sụt lớn" ở vùng nói tiếng Wales cốt lõi, khi số người nói vùng Ceredigion và Carmarthenshire lần đầu tiên tụt xuống dưới 50%.
Số người nói tiếng Wales tại những phần khác của Vương quốc Liên hiệp Anh chưa được thống kê chính xác. Năm 1993, kênh truyền hình tiếng Wales S4C công bố kết quả về số người nói và hiểu tiếng Wales, ước tính rằng có khoảng 133.000 người nói tiếng Wales tại Anh, khoảng 50.000 trong đó sống tại khu vực Đại London. Welsh Language Board, dựa trên cơ sở nghiên cứu của Văn phòng Thống kê Quốc gia, ước tính có 110.000 người nói tiếng Wales ở Anh, và một nghìn người ở Scotland và Bắc Ireland. Theo thống kê 2011, 8.248 người cho rằng tiếng Wales là tiếng bản ngữ hoặc ngôn ngữ thường dùng của họ. Những "khu" (ward) tại Anh với nhiều người xem tiếng Wales là ngôn ngữ chính là những khu ở Liverpool: Central, Greenbank, và Oswestry Nam.
Về lịch sử, phần lớn người Wales chỉ nói tiếng Wales. Trong suốt thế kỷ 20, số người đơn ngữ này gần như biến mất, trừ một số nhỏ sót lại trong thống kê 1981. Đa số người nói tiếng Wales giờ cũng nói tiếng Anh (trong khi ở tỉnh Chubut, Argentina, họ có thể nói tiếng Tây Ban Nha – xem Y Wladfa). Tuy nhiên, nhiều người vẫn thích trò chuyện bằng tiếng Wales hơn tiếng Anh.
Người bản ngữ tiếng Wales tập trung chủ yếu ở miền bắc và tây Wales, chủ yếu là Gwynedd, Conwy, Denbighshire (Sir Ddinbych), Anglesey (Ynys Môn), Carmarthenshire (Sir Gâr), bắc Pembrokeshire (Sir Benfro), Ceredigion, một phần Glamorgan (Morgannwg), tây bắc và cực tây nam Powys.
== Tham khảo == |
taiga (kịch).txt | Kịch taiga (大河ドラマ, "Đại hà drama") là tên mà NHK đặt cho các series truyền hình hư cấu lịch sử được phát sóng xuyên suốt trong năm ở Nhật Bản. Bắt đầu năm 1963 với bộ phim trắng đen Hana no Shōgai do diễn viên kabuki Onoe Shōroku và ngôi sao Takarazuka Awashima Chikage đóng, nhà đài đã thuê một nhà sản xuất, một đạo diễn, một nhà kịch bản, một giám đốc âm nhạc, và các diễn viên cho series này. Phim 45 phút chiếu trên NHK General network mỗi Chủ nhật lúc 20:00, chiếu lại vào chiều thứ Bảy lúc 13:05.
== Những series đang phát sóng ==
Gō (2011) - nói về Ogō, cháu họ của Oda Nobunaga, vợ của Tokugawa Hidetada và chị của vợ thứ hai của Toyotomi Hideyoshi, Yodo-Dono.
== Những series sắp lên sóng ==
Taira no Kiyomori (2012) - về Taira no Kiyomori, trưởng gia tộc Taira vào giữa thế kỉ 12.
Yae no sakura (2013) - lấy bối cảnh vào thời kì cuối thế kỉ 19, nói về Yae Nishijima, một phụ nữ sinh ra trong một căn hộ ở lãnh địa Aizu, người đã tham gia chiến tranh Boshin như một phần của gia tộc Aizu.
== Danh sách các series ==
== Kịch đặc biệt của NHK ==
Saka no Ue no Kumo nguyên gốc được sản xuất cho một buổi phát sóng 2006 với tựa "Kịch Taiga thế kỉ 21". Tuy nhiên, người viết kịch bản cho series này đã tự tử, làm sự sản xuất series bị trì hoãn. Series sẽ phát sóng với tựa "Kịch đặc biệt NHK" với 3 phần, mỗi phần phát sóng từ cuối tháng 11 đến cuối tháng 12 mỗi năm.
== Những series gần đây ==
Tenchijin (2009) - câu chuyện xoay quanh Naoe Kanetsugu, người đã phục vụ cho 2 thế hệ của gia tộc Uesugi trong khoảng thế kỉ 16 và 17.
Atsuhime (2008) - diễn viên chính: Aoi Miyazaki. Aoi thủ vai Tenshōin, vợ của Tokugawa Iesada (1824-1858), Shogun thứ 13. Cô cũng là diễn viên trẻ nhất trong lịch sử kịch Taiga, phá kỉ lục của Hideaki Takizawa với diễn xuất của anh trong Yoshitsune.
Fūrin Kazan (2007). Dựa trên tiểu thuyết lịch sử bán chạy Yasushi Inoue, câu chuyện xoay quanh Yamamoto Kansuke, một chiến binh đã đạt cấp bậc cao trong quân đội của chúa tể chiến tranh Takeda Shingen bằng những cách không đáng thuyết phục cho lắm. |
giá trị thật và giá trị danh nghĩa.txt | Trong kinh tế học, giá trị được nhắc tới thường được làm rõ là giá trị thực hay giá trị danh nghĩa. Khi so sánh các giá trị theo thời gian (ví dụ GDP năm 2000 so với GDP 2010) người ta thường phải quy các đại lượng này về giá trị thực, tức là quy về sử dụng cùng một đại lượng đo lường để so sánh. Giá trị danh nghĩa của GDP 2010 có thể lớn gấp hai lần giá trị danh nghĩa của GDP 2000 nhưng nếu đồng tiền để tính GDP 2010 chỉ bằng nửa giá trị so với đồng tiền để tính GDP năm 2000 thì giá trị thực của GDP hai năm này bằng nhau. Ở đây, đồng tiền năm 2010 không thể so sánh với đồng tiền năm 2000 vì giá trị thời gian của tiền là khác nhau ở các thời điểm.
== Tham khảo == |
bệnh viện trung ương quân đội 108.txt | Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam là bệnh viện tuyến cuối của quân đội ở khu vực phía bắc, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho cán bộ cấp cao trong quân đội, cán bộ cấp cao Đảng - Nhà nước, và các đối tượng khác.
Ngày truyền thống: ngày 01 tháng 4 năm 1951
Địa chỉ: Số 1 - Trần Hưng Đạo - Hà Nội.
Trang web chính thức: http://www.benhvien108.vn/
== Lịch sử hình thành ==
Từ phân đội tiền thân hình thành từ năm 1950, phục vụ chiến dịch Biên giới trên đất Thủy Khẩu - Trung Quốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được thành lập ngày 01/4/1951 tại Làng Nông, xã Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên với 500 giường bệnh. Từ 1954-1965, bệnh viện về Thủ đô, với các tên gọi mới qua các thời kỳ: Quân y viện 108 (6-1956), Viện quân y 108 (1960).
Địa điểm hiện tại của bệnh viện là Nhà thương Đồn Thủy trước kia, vốn là nhà thương do quân đội Pháp xây dựng từ năm 1894, nay là Bệnh viện quân đội 108 và Bệnh viện Hữu Nghị Việt-Xô. Khoảng cuối năm 1954, đầu năm 1955, khi mới tiếp quản Thủ đô, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam còn đóng trụ sở ở đây .
Ngày 31-3-1995 Bệnh viện được chính thức mang tên Bệnh viện TWQĐ 108. Ngày 06 tháng 9 năm 2002, Bệnh viện TWQĐ 108 được chuyển từ Tổng cục Hậu cần về trực thuộc Bộ Quốc phòng
Ngày 08 tháng 5 năm 2003, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định cho Bệnh viện TWQĐ 108 được mang thêm phiên hiệu Viện Nghiên cứu Khoa học Y-Dược lâm sàng 108 thuộc Bộ Quốc phòng, có con dấu riêng,có chức năng đào tạo sau đại học (Bác sĩ Chuyên khoa cấp 1, cấp 2 và Tiến sĩ y học).
== Chức năng, nhiệm vụ ==
Khám, cấp cứu thu dung điều trị cho các đối tượng bệnh nhân: quân nhân tại chức, cán bộ cấp cao trong quân đội, cán bộ cấp cao Đảng - Nhà nước, bảo hiểm y tế quân, bảo hiểm y tế khác và các đối tượng dịch vụ.
Nghiên cứu Khoa học Y Dược lâm sàng.
Đào tạo sau đại học: Chuyên khoa I, Chuyên khoa II, Tiến sĩ thuộc các chuyên ngành: Truyền nhiễm, Chấn thương chỉnh hình, Răng Hàm Mặt - Tạo hình, Gây mê - Hồi sức, Tim mạch, Tiêu hóa, Thần kinh, Nội hô hấp, Ngoại Lồng ngực, Da liễu Dị ứng, Chẩn đoán Hình ảnh.
Tham gia bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và làm nhiệm vụ Quốc tế với Lào, Camphuchia.
== Tổ chức Đảng ==
=== Tổ chức chung ===
Từ năm 2006 thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Tổ chức Đảng bộ trong Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 theo phân cấp như sau:
Đảng bộ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là cao nhất.
Đảng bộ các Viện, Trung tâm trực thuộc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Chi bộ các Phòng, ban cơ quan đơn vị trực thuộc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
=== Thành phần ===
Về thành phần của Đảng ủy Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 thường bao gồm như sau:
Bí thư: Chính ủy
Phó Bí thư: Giám đốc
Ban Thường vụ
Ủy viên Thường vụ: Phó Giám đốc
Ủy viên Thường vụ: Phó Giám đốc
Ủy viên Thường vụ: Phó Giám đốc
Ban Chấp hành Đảng bộ
Đảng ủy viên: Phó Giám đốc
Đảng ủy viên: Trưởng phòng Chính trị
Đảng ủy viên: Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp
Đảng ủy viên: Trưởng phòng Tham mưu Hành chính
Đảng ủy viên: Trưởng phòng Tài chính
Đảng ủy viên: Trưởng phòng Sau Đại học
Đảng ủy viên: Viện trưởng Viện Tim mạch Quân đội
Đảng ủy viên: Viện trưởng Viện Chấn thương - Chỉnh hình Quân đội
Đảng ủy viên: Chủ nhiệm Khoa
Đảng ủy viên: Chủ nhiệm Khoa
Đảng ủy viên: Chủ nhiệm Khoa
== Tổ chức chính quyền ==
=== Ban Giám đốc ===
Giám đốc: Thiếu tướng GS.TS. Mai Hồng Bàng
Chính uỷ: Trung tướng PGS.TS Lê Thu Hà
Phó giám đốc Kế hoạch Tổng hợp: Đại tá PGS.TS Lê Hữu Song
Phó giám đốc Ngoại khoa: Đại tá PGS.TSKH Nguyễn Thế Hoàng
Phó giám đốc Nội khoa: Đại tá PGS.TS. Phạm Nguyên Sơn
Phó giám đốc Huấn luyện - NCKH: Đại tá PGS.TS Lâm Khánh
=== Khối cơ quan ===
Phòng Chính trị.
Phòng Kế hoạch - Tổng hợp.
Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường.
Phòng Sau Đại học.
Ban Quân lực.
Phòng Chỉ đạo tuyến.
Phòng Điều dưỡng.
Phòng Tham mưu - Hành chính.
Phòng Tài chính.
Phòng Hậu cần - Kỹ thuật.
Ban quản lý các dự án đầu tư và xây dựng.
Ban Quản lý Nhà tang lễ Quốc gia.
=== Viện, trung tâm ===
Viện Chấn thương - Chỉnh hình Quân đội: trực thuộc Bệnh viện TƯQĐ 108 thành lập trên cơ sở phát triển Khoa Chấn thương - Chỉnh hình. Viện gồm có 4 khoa:
Khoa Chấn thương - Chỉnh hình tổng hợp (Khoa B1-A).
Khoa Chấn thương chi trên và Vi phẫu (Khoa B1-B).
Khoa Phẫu thuật khớp (Khoa B1-C).
Khoa Chấn thương chỉnh hình cột sống (khoa B1-D).
Viện Tim mạch Quân đội: trực thuộc Bệnh viện TƯQĐ 108 thành lập trên cơ sở phát triển Khoa Nội Tim mạch. Viện gồm có 3 khoa:
Khoa Nội Tim mạch (Khoa A2-A).
Khoa Phẫu thuật Tim mạch (Khoa A2-B).
Khoa Chẩn đoán và Can thiệp Tim mạch (Khoa A2-C).
Viện Phẫu thuật Tiêu hoá. Trước mắt, Viện gồm có 2 khoa:
Khoa Phẫu thuật Ống tiêu hoá (B3-A)
Khoa Phẫu thuật Gan mật tuỵ (B3-B)
Viện Lâm sàng các bệnh Truyền nhiễm. Viện gồm có 3 khoa:
Khoa bệnh lây theo đường máu (A4-A).
Khoa bệnh lây theo đường tiêu hóa (A4-B).
Khoa bệnh lây đường hô hấp và hồi sức(A4-C)
Trung tâm xạ phẫu CYBERKNIFE: Được thành lập tháng 5 năm 2006.
Trung tâm Đột quỵ não (A21): Được thành lập ngày 21/5/2002 trên cơ sở tách ra từ khoa Nội thần kinh.
Trung tâm Máy gia tốc CYCLOTRON 30MEV (Khoa C18).
Trung tâm phẫu thuật nội soi.
=== Khối nội ===
Khoa Nội Cán bộ (Khoa A1)
Bộ môn - Khoa Nội Tiêu hóa (Khoa A3)
Khoa Lao và bệnh phổi (Khoa A5)
Khoa huyết học lâm sàng (Khoa A6)
Khoa Nội Thần kinh (Khoa A7)
Khoa Da liễu - Dị ứng (Khoa A8)
Khoa Nhi (Khoa A9)
Khoa Y học cổ truyền (Khoa A10)
Khoa Chăm sóc bảo vệ sức khỏe cán bộ Trung ương (Khoa A11)
Bộ môn - Khoa Hồi sức tích cực (Khoa A12)
Khoa Lọc máu (Khoa A14)
Khoa Nội thận (Khoa A15)
Khoa Quốc tế (Khoa A16)
Khoa Y học hạt nhân (Khoa A20)
=== Khối ngoại ===
Khoa Ngoại Tiết niệu (Khoa B2)
Khoa Ngoại Tiêu hóa (Khoa B3)
Khoa Ngoại Lồng ngực (Khoa B4)
Khoa Gây mê hồi sức (Khoa B5)
Khoa Ngoại Thần kinh (Khoa B6)
Khoa Mắt (Khoa B7)
Khoa Phẫu thuật Hàm mặt và Tạo hình (Khoa B8)
Khoa Tai Mũi Họng (Khoa B9)
Khoa Răng miệng (Khoa B10)
Khoa Phụ sản (Khoa B11)
=== Khối cận lâm sàng ===
Khoa khám bệnh Đa khoa - Chuyên khoa (Khoa C1-1)
Khoa Khám bệnh - Quản lý sức khỏe cán bộ cao cấp (Khoa C1-2)
Khoa Cấp cứu ban đầu (Khoa C1-3)
Khoa Huyết học (Khoa C2)
Khoa Sinh hóa (Khoa C3)
Khoa Vi sinh vật (Khoa C4)
Khoa Giải phẫu bệnh lý (Khoa C5)
Khoa Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng (Khoa C6)
Khoa Chẩn đoán chức năng (Khoa C7)
Khoa Chẩn đoán hình ảnh (Khoa C8)
Khoa Dược (Khoa C9)
Khoa Trang bị (Khoa C10)
Khoa Dinh dưỡng (Khoa C11)
Khoa Chống nhiễm khuẩn (Khoa C12)
Khoa Miễn dịch (Khoa C14)
Khoa Y học thực nghiệm (Khoa C15)
Khoa Truyền máu (Khoa C16)
Khoa Sinh học phân tử (Khoa C17)
Đơn vị xạ trị (Khoa A6-C)
== Giám đốc qua các thời kỳ ==
1965-1987, Nguyễn Thế Khánh, Trung tướng (1995)
1985-1996, Bùi Đại, Thiếu tướng (1985)
-2008, Đinh Ngọc Duy, Trung tướng (2006)
2008-2014, Trần Duy Anh, Trung tướng (2011)
2014-nay, Mai Hồng Bàng (1962-), Thiếu tướng (2013)
== Chính ủy qua các thời kỳ ==
-6.2009, Nguyễn Hồng Giang, PGS.TS, Thiếu tướng (2007), Nữ tướng thứ 2
7.2009-2013, Nguyễn Trọng Chính, PGS.TS, Thiếu tướng (2009), nay là Chính ủy Học viện quân y
2013-nay, Lê Thu Hà, Trung tướng (2014), nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện 108, Nữ tướng thứ 4
== Phó Giám đốc qua các thời kỳ ==
Nguyễn Ngọc Doãn, Thiếu tướng (1985)
Phạm Gia Triệu, Thiếu tướng
Nguyễn Huy Phan, Thiếu tướng
Nguyễn Văn Âu, Thiếu tướng
1981-1988, Phạm Tử Dương, Thiếu tướng (1990)
Nguyễn Bắc Hùng
Lê Xuân Thục, Đại tá
Nguyễn Kim Nữ Hiếu
Hoàng Minh Châu
Phạm Hòa Bình, Thiếu tướng (2009)
Nguyễn Việt Tiến, Thiếu tướng (2010)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web của Bệnh viện TƯQĐ 108 |
cavalier king charles spaniel.txt | Cavalier King Charles Spaniel (Vua kỵ sĩ xứ Tây Ban Nha) gọi tắt là chó Spaniel là loài chó cảnh có kích thước nhỏ. Loài chó này xuất hiện nhiều bên cạnh các thành viên hoàng gia, gia đình quyền quý bởi ngoại hình dễ thương của chúng. Giống chó này được nuôi để ẵm bế, nổi tiếng từ 400 năm nay. Đặc biệt, nó có khả năng săn thú nhỏ. Chúng rất thân thiện nếu được đối xử nhẹ nhàng, thích chơi đùa và thích đi bộ thật lâu dù không cần vận động nhiều tính dịu dàng, lúc nào cũng vẫy đuôi và ít ồn ào. Chó có thần kinh cân bằng nhưng rất hung dữ và dũng cảm khi tấn công kẻ địch.
== Tổng quan ==
Tên của loài chó này được đặt bởi Vua Charles Đệ Nhị. Cavalier King Charles Spaniels là hậu duệ từ loài King Charles Spaniel. Những năm sau năm 1600, King Charles Spaniel được lai tạo với những con chó Pug, mà dẫn đến kết quả là tạo ra một giống chó nhỏ hơn với chiếc mũi phẳng hơn, khuôn mặt hãy hơn, đầu thủ tròn trịa và cặp mắt lồi. Kết quả của việc nhân giống này là giống chó King Charles Spaniel (English Toy Spaniel) được biết đến ngày nay.
Vào năm 1920, một người Mỹ có tên là Roswell Eldridge người đã tài trợ tiền trong suốt cuộc triển lãm Chó của Cruft ở Luân Đôn và đối với bất cứ ai triển lãm chó King Charles Spaniel với những chiếc mũi dài. Ông ta đã tìm kiếm những con chó tương tự như những con chó xuất hiện ở trong những bức họa của Van Dyck của Vua Charles Đệ Nhị và những con Spaniel của ông, trước khi chó Pug được nhân giống cùng.
Ông ta đã bắt đầu nhân giống những mẫu mà ông ta đã thu thập và tới những năm 1940 những con chó này đã được phân loại như một loài riêng biệt và được cố định với tiền tố Cavalier, để phân biệt chúng với những tổ tiên của chúng. Cavalier King Charles Spaniel được triển lãm ở trong Nhóm chó cảnh nhỏ (Toy Group) của AKC bắt đầu từ năm 1996.
== Đặc điểm ==
Cavalier King Charles Spaniel là một giống chó nhỏ nhắn cân đối. Chúng cao khoảng 30–33 cm, nặng 5–8 kg, chó có tầm vóc nhỏ, cao 36 cm, nặng 5–8 kg, có thân hình rằn chắc và dai sức. Đầu thủ hơi tròn, mõm đầy đặn, thuôn nhọn, mặt hơi gãy. Mũi đen, mõm rộng, hàm răng khít như cặp kéo cắt. Đôi tai ở vị trí cao trên đầu thủ với nhiều lông rậm. Lưng bằng phẳng. Đuôi bị cộc khoảng 1/3 nhưng thường là để tự nhiên. Móng đeo nên được gỡ bỏ. Bộ lông màu tơ tằm dài vừa phải với nhiều lông trên tai, ngực, chân và đuôi. Màu lông bao gồm màu hoàng tử charles (ba màu), hồng ngọc (đỏ thẫm), màu vua charles (nâu và đen) và màu Blenheim (đỏ và trắng). Những con chó Blenheim, những đốm nâu đỏ ở trên đỉnh đầu giữa hai tai được ưa chuộng bởi các nhà nhân giống, loài này rụng lông vừa phải.
Cặp mắt nâu tối tròn và cách xa nhau với viền mắt đen. Chúng có cặp mắt nổi bật và khứu giác tốt và có thể được sử dụng trong những cuộc săn nhỏ ở những nơi phù hợp. Chúng thực hiện tốt với những đòi hỏi tuân thủ. Tuổi thọ chúng khoảng từ 9-14 năm. Chó đực có thể phối giống lúc 20 tháng tuổi, chó cái có thể sinh sản lúc 16 tháng tuổi, chó cái đẻ mỗi lứa từ 3-6 con. Chúng mắc chứng bệnh syringomyelia, bệnh di truyền về mắt, bệnh khớp gối, bệnh về lưng, những ảnh hưởng của tai, điếc. Nhiều con mắc chứng loạn sản xương hông. Cũng mắc chứng bệnh van hai lá, một vấn đề về tim nghiêm trọng do gen, mà có thể gây ra tử vong sớm. Nên kiểm tra kỹ lưỡng lịch sử bệnh tất của những thế hệ chó trước khi chọn.
Khi chăm sóc chúng thì tắm khô cần thiết. Lông giữa các đệm thịt ở bàn chân cần được cắt tỉa. Mắc những vật bẩn và hạt trong tai và do đó nên được làm chải lông và làm sạch ở cả bên trong tai thường xuyên. Luôn đảm bảo con chó được sạch sẽ và ấm áp sau khi tắm. Kiểm tra mắt cẩn thận đối với bất kì dấu hiệu nào của nhiễm trùng. Không nên cho ăn quá nhiều. Loài này có xu hướng tăng cân nhanh. Giống chó Cavalier King Charles Spaniel có bộ não to hơn cả hộp sọ của chúng. Giống chó này đang là vật nuôi phổ biến ở Mỹ, và có một sự thật mà ít người biết đến là não của loài vật này thậm chí còn to hơn cả hộp sọ của chúng.
== Tập tính ==
Cavalier King Charles Spaniel là giống chó năng nổ, tình cảm và hạnh phúc. Luôn luôn ve vẩy đuôi. Chúng cởi mở và năng động. Những con chó nhỏ bé sống động và không biết sợ này rất hoạt bát và sẵn sàng làm hài lòng chủ nhân. Chúng thông minh đủ để hiểu chủ muốn gì và do đó thường dễ huấn luyện và đáp ứng tốt với những phương pháp huấn luyện vâng lời nhẹ nhàng. Chúng được cho là bản chất tốt tự nhiên và hòa thuận với những con chó và vật nuôi khác. Chúng được cho là phù hợp với người già hơn với trẻ nhỏ, cho chúng hòa nhập để tránh dè dặt với người lạ. Cavalier King Charles Spaniel là một giống chó dễ tính.
Cavalier King Charles Spaniel yêu mọi người, thích kết bạn. Chúng không phù hợp cuộc sống trong cũi và không muốn bị bỏ một mình suốt cả ngày. Nếu có việc phải rời xa chúng, đảm bảo rằng cho nó đi dạo trước khi cho nó nghỉ ngơi một cách tự nhiên. Thực hiện bản năng săn bắt của chúng, chúng có bản năng rượt đuổi. Hạn chế việc phát triển Hội chứng chó nhỏ, những hành vi do con người gây nên, khi con chó nghĩ nó là kẻ được cưng chiều. Điều này có thể gây ra một loạt những vấn đề về hành vi, mà không phải là tính cách của Cavalier King Charles Spaniel, nhưng những hành vi này được tạo ra bởi cách mà chúng được đối xử.
Cavalier King Charles Spaniels phù hợp cuộc sống căn hộ. Chúng khá hiếu động trong nhà và một mảnh sân nhỏ là phù hợp. Cavalier King Charles Spaniels không phù hợp với những điều kiện nóng nực. Cavalier King Charles Spaniels cần đi dạo hàng ngày. Chơi đùa sẽ đảm bảo cho sự vận động cần thiết, tuy nhiên, như với tất cả các loài chó, chơi đùa không thỏa mãn đầy đủ bản năng cơ bản đối với việc đi dạo của chúng. Những con chó không được đi dạo đầy đủ dường như thể hiện nhiều hơn về những vấn đề hành vi. Chúng cũng sẽ thích thú chạy nhảy tự do không xích trong một khu vực rộng rãi đảm bảo như một sân rộng có rào quanh.
== Tham khảo ==
Christian Limouzy, Le cavalier king charles spanieul, Editions De Vecchi, 1999 (ISBN 978-2-7328-8703-6)
Danielle Marchand, Le cavalier king charles, Editions Artémis, mars 2005 (ISBN 2-84416-360-2)
"AKC MEET THE BREEDS: Cavalier King Charles Spaniel". American Kennel Club. [1]. Truy cập 2010-04-05.
"AKC Dog Registration Statistics". American Kennel Club. [2]. Truy cập 2009-11-15.
"A Potted History". The Cavalier King Charles Spaniel Club. 2009. [3]. Truy cập 2009-11-17.
"Cavalier King Charles Spaniel". [4]. Truy cập 2009-11-15.
Coile, D. Caroline (2008). Cavalier King Charles Spaniels (2nd ed.). Barron's Educational Series. ISBN 978-0-7641-3771-6. [5]
"Cavalier King Charles Spaniels". Blenheim Company. [6]. Truy cập 2009-11-15.
Dupre, Malcolm. "Cavalier King Charles Spaniel History". Barkbytes.com. [7] Retrieved 2009-11-14.
Lambert, Cathy (2008). Getting to Know Cavaliers. AnimalInfo Publications. ISBN 978-1-921537-13-4. [8].
Leighton, Robert (2006-10-28). Dogs and All about Them. BiblioBazaar. p. 280. ISBN 978-1-4264-4489-0. [9]. Truy cập 2010-04-05.
"2007 Top 20 Breed Registrations". The Kennel Club. [10]. Truy cập 2009-11-15.
Lytton, Mrs. Neville (1911). Toy Dogs and Their Ancestors Including the History And Management of Toy Spaniels, Pekingese, Japanese and Pomeranians. London, England: Duckworth & Co. pp. 81–82. [11]. Truy cập 2009-11-29.
Moffat, Norma (2006). Cavalier King Charles Spaniel: Your Happy Healthy Pet (2nd ed.). John Wiley & Sons. ISBN 0-471-74823-4.
Wheeler, Cynthia A. (1999). Ocular Disorders Presumed to be Inherited in Purebred Dogs. American College of Veterinary Ophthalmologists. ISBN 0-96 35163-2-0.
“AKC MEET THE BREEDS: Cavalier King Charles Spaniel”. American Kennel Club. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010.
“AKC Dog Registration Statistics”. American Kennel Club. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2009.
“A Potted History”. The Cavalier King Charles Spaniel Club. 2009. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2009.
“Cavalier King Charles Spaniel”. CavalierKingCharlesSpanielClub.co.za. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2009.
Coile, D. Caroline (2008). Cavalier King Charles Spaniels (ấn bản 2). Barron's Educational Series. ISBN 978-0-7641-3771-6.
“Cavalier King Charles Spaniels”. Blenheim Company. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2009.
Dupre, Malcolm. “Cavalier King Charles Spaniel History”. Barkbytes.com. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2009.
Lambert, Cathy (2008). Getting to Know Cavaliers. AnimalInfo Publications. ISBN 978-1-921537-13-4.
“2007 Top 20 Breed Registrations”. The Kennel Club. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2009.
Lytton, Mrs. Neville (1911). Toy Dogs and Their Ancestors Including the History And Management of Toy Spaniels, Pekingese, Japanese and Pomeranians. London, England: Duckworth & Co. tr. 81–82. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2009.
Moffat, Norma (2006). Cavalier King Charles Spaniel: Your Happy Healthy Pet (ấn bản 2). John Wiley & Sons. ISBN 0-471-74823-4.
Wheeler, Cynthia A. (1999). Ocular Disorders Presumed to be Inherited in Purebred Dogs. American College of Veterinary Ophthalmologists. ISBN 0-9635163-2-9.
Youatt, William (1852). The Dog. Blanchard and Lea.
== Liên kết ngoài ==
PDF Standard sur le site de la SCC
Gesundheitsinformationen zum Cavalier King Charles Spaniel (englisch)
Rassebeschreibung des Verbandes Deutscher Kleinhundezüchter e.V.
Cavalier King Charles Spaniel Club Deutschland e.V.
Internationaler Club für Cavalier King Charles Spaniel e.V. (ICC) |
mại dâm tại việt nam.txt | Mại dâm ở Việt Nam là tình hình về hoạt động mại dâm tại Việt Nam, cũng như những quy định của pháp luật về hành vi mua bán dâm, chủ chứa, môi giới mại dâm...
== Trong lịch sử ==
Thời phong kiến, do kết cấu làng xã với hệ thống tôn ti chặt chẽ, quy chuẩn đạo đức và thuần phong mỹ tục nghiêm ngặt, nên mại dâm ở Việt Nam dường như không chính thức tồn tại. Các bộ luật Việt Nam thời phong kiến đều không thấy nhắc đến vấn đề này.
Một số tác phẩm như Truyện Kiều lấy đề tài về kỹ nữ lầu xanh nhưng là lấy bối cảnh ở Trung Quốc chứ không phải Việt Nam.
=== Thời kỳ Pháp thuộc ===
Đến thời Pháp thuộc, chính sách khai thác thuộc địa và sự du nhập kinh tế thị trường dẫn đến ra đời các phố thị. Nhu cầu mua dâm của thị dân và binh lính dẫn đến mại dâm xuất hiện và hình thành các ổ nhiều tầm cỡ . Vấn đề mãi dâm được báo chí đề cập đến lần đầu tiên là trên báo Phụ nữ tân văn ngày 12/12/1929.
Vào những năm 1930, vấn đề mại dâm ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề nhức nhối trong xã hội. Các báo đã mô tả tình trạng "lúc nhúc xóm bình khang, đầy rẫy phường bán phấn" trong các đô thị Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. "Nếu đi qua các ngõ Sầm Công ở Hà Nội, phố Hạ lý Hải Phòng, phố Bến Củi Nam Định... ta sẽ thấy một cảnh tượng đau lòng, một sự dâm ô đê tiện hơn hết trong sự mãi dâm, chắc không có nước nào mà mãi dâm lại đê tiện hơn mãi dâm ở nước ta: Họ ra tận đường phố lôi kéo khách hàng, họ nói những câu, hát những giọng khiêu dâm tục tằn..."
Dưới chế độ thuộc địa, thực dân Pháp cho phép mại dâm công khai, vừa để kiếm tiền từ thuế vừa để làm thui chột truyền thống văn hóa Việt Nam. Trong xã hội nảy sinh hai loại gái mại dâm. Một loại có giấy phép hành nghề và phải nộp thuế cho chính quyền thuộc địa, một loại bán dâm chui mà báo chí thường gọi là loại "gái đi ăn mảnh", "gái lậu" (Lậu thuế). Hầu hết gái bán dâm ở Việt Nam thuộc loại không có giấy phép và tự kiếm khách, bởi đây là hành vi vô đạo đức nên cả người mua dâm lẫn người bán dâm thường không muốn lộ mặt công khai. Đối với người mua dâm, phần lớn cảm thấy xấu hổ khi chường mặt trước thiên hạ để vào các nhà chứa hợp pháp.
Tình trạng mắc bệnh hoa liễu trong gái mãi dâm rất cao. Năm 1933 ở Sài Gòn, một bệnh viện chuyên trị các bệnh hoa liễu đã phải chữa cho hơn 20.000 người. Một bệnh viện chuyên chữa bệnh lậu "một ngày không dưới 30 đàn ông đến chữa bệnh, đàn bà là 150 người" (chỉ là chữa bệnh lậu, chưa kể các bệnh khác). Ở bệnh viện Bạch Mai thì cứ 100 gái bán dâm, thì có đến 70 mắc bệnh. Còn ở Hà Nội cũng có khoảng 5000 gái bán dâm mà trong đó tới 99% mắc bệnh hoa liễu. Mại dâm là một vấn đề bức xúc của toàn xã hội.
Trong những năm cuối thập kỷ 30 của thế kỷ 20, một biến tướng khác của mại dâm là "hát cô đầu" đã trở thành "một cái ung nhọt" của xã hội. Ở vùng ngoại ô Hà Nội năm 1938 có tới 216 nhà hát cô đầu và gần 2000 cô đầu. Henri Virgitti và bác sĩ B. Joyeux cho biết: ít nhất ở Hà Nội vào năm 1938 có khoảng 250 nhà hát cô đầu với khoảng 1.100 người và số gái bán dâm có từ 1500 tới 2000 người. Hầu hết trong số họ mắc bệnh hoa liễu. Còn ở Vinh, một thị xã nhỏ cũng có tới 8 nhà hát cô đầu với khoảng hơn 300 cô đầu. Nguyễn Doãn Vượng đã nhận xét về "hầu hết những kẻ đi hát bây giờ đều là thanh niên... do đó sự kém sút về sức khoẻ, sự truỵ lạc về tinh thần, những bệnh hoa liễu cũng từ đó mà về thăm gia đình và vợ con những thanh niên đó; lại còn bao nhiêu kẻ trong cơn mê muội đớn hèn lỗi đạo vì đi hát, ăn trộm, ăn cắp vì mê hát và khuynh gia bại sản vì những cô đầu hát"
Trọng Quỳnh trên Đông Pháp năm 1940 đã phân tích quá trình "từ ngây thơ đến bán dâm" của một số cô gái quê" vì quá đua đòi "theo mới", kém suy nghĩ, yếu đạo đức, đã bỏ nhà ra đi và cuối cùng sa vào con đường lầm lạc. Bài báo vạch rõ sự cám dỗ của cuộc sống tiêu thụ nơi thành thị đã biến một cô gái quê trong trắng trở thành một cô gái làng chơi với những vũ trường, khách sạn, nhà hát... Nhìn chung các ý kiến đều cho rằng: mại dâm phát triển là do nguyên nhân kinh tế, là sản phẩm của chế độ thực dân tư bản, nơi con người mờ mắt vì đồng tiền và hưởng lạc.
Trong thời kỳ này, Đảng cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương "chống chế độ đa thê, phản đối chính phủ Pháp duy trì và lợi dụng chế độ làm đĩ để thu thuế" Vì vậy, trên các báo Đảng và trên truyền đơn của Đảng thường đề ra các khẩu hiệu như: chống nạn mãi dâm và tuyên truyền vận động phụ nữ tham gia vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội mới văn minh, bình đẳng. Đây được coi là con đường thiết thực nhất để xoá bỏ nạn mãi dâm trong xã hội, nâng cao địa vị của phụ nữ cũng như tôn trọng nhân cách của họ.
=== Thời kỳ 1945-1975 ===
Tại Hà Nội vào năm 1954 (trước khi Pháp rút đi), tài liệu cho thấy có khoảng 12.000 gái điếm làm việc trong 45 nhà chứa và 55 quán rượu, trong đó 6000 đã đăng ký với chính quyền. Sau 1954, mại dâm trở thành bất hợp pháp và bị loại trừ trên lý thuyết theo Điều 202 của Bộ luật Hình sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, hằng năm khoảng 300-400 người vẫn bị phát hiện hành nghề này.
Tại miền nam Việt Nam, giữa những năm 1959 đến 1962, bà Trần Lệ Xuân đã cho đóng cửa hết tất cả các nhà chứa và phạt tiền các chủ nhà chứa, và do đó mại dâm có tổ chức dường như đã bị dập tắt. Tuy nhiên, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các tổ chức mại dâm lại nổi lên, và đến cuối thập niên 1960, đã có khoảng 32 nhà chứa tồn tại ở Sài Gòn.
Trong giai đoạn 1960-1975, hàng triệu lính viễn chinh Mỹ ào ạt đổ bộ vào Việt Nam vào thời chiến tranh Việt Nam. Từ đó nở rộ các những chủ thầu cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho lính Mỹ, những người làm sở Mỹ... đến bọn ma cô, gái điếm, gái nhảy, gái tắm hơi... Sự phân hóa về kinh tế đó dẫn tới sự đảo lộn các giá trị đạo đức truyền thống. Người miền Nam thời đó có câu vè: "Thứ nhất sở Mỹ, thứ nhì gái đĩ, thứ ba ma cô, thứ tư tướng tá".
Để "giúp vui" cho đạo quân viễn chinh, Mỹ - Thiệu cho phép mở cửa hàng loạt bar, phòng tắm hơi, hộp đêm, vũ trường và nhất là nhà thổ, hiện diện ở khắp Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh các cư xá Mỹ. Mại dâm - gọi nôm na là "chợ heo" - được Việt Nam Cộng hòa công khai và hợp pháp hóa. Ước tính toàn miền Nam năm 1975 có trên 200.000 gái bán dâm. So với số gái bán dâm trên toàn Việt Nam vào năm 2012 thì con số này cao gấp 7 lần, nếu xét về tỉ lệ dân số thì gấp 30 lần. Một quan chức Sài Gòn còn công khai phát biểu: "Người Mỹ cần gái, chúng ta cần đôla. Tại sao chúng ta phải hạn chế, đó là nguồn thu đôla vô tận".
Năm 1966, từ Sài Gòn về, Thượng nghị sĩ Mỹ William Fulbright nhận xét: "Mỹ đã biến Sài Gòn thành một ổ điếm". Một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn mô tả: "Tại chợ heo đó, hằng ngày có hai ba trăm người con gái Việt Nam đứng sắp hàng... cho lính Mỹ đến chọn dắt đi như một con vật. Với một nắm đôla trong tay, lính Mỹ thật là nhiều tự do: tự do phá hoại văn hóa Việt Nam"
Chủ trương nói trên của Mỹ - Thiệu gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống văn hóa - tinh thần của nhân dân. "Sự sa đọa, sự trụy lạc trong xã hội... đã gây ra biết bao thảm cảnh gia đình, bao nhiêu đổ vỡ hạnh phúc, bao nhiêu chuyện bi đát thương tâm...". Học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét: sự tha hóa của đạo đức xã hội là một trong các nguyên nhân khiến chế độ Việt Nam Cộng hòa ngày càng mất lòng dân, cuối cùng sụp đổ hoàn toàn.
== Hiện nay ==
Giai đoạn 1975-1985, với chính sách "đời sống văn hóa mới", chính phủ Việt Nam đã hầu như đã quét sạch nạn mại dâm trên toàn Việt Nam, nhất là những ổ mại dâm tại miền Nam từ thời quân Mỹ để lại.
Đến giai đoạn Đổi mới 1986 về sau, mại dâm bắt đầu xuất hiện trở lại. Mặt khác, tại các cửa khẩu tiếp giáp với Trung Quốc, tình hình mua bán người vì mục đích mại dâm và bắt cóc phụ nữ để đưa sang Trung Quốc cũng trở thành vấn đề đáng báo động.
=== Thống kê ===
==== Số lượng người bán dâm ====
Hội nghị tổng kết phòng, chống mại dâm năm 2013 của Việt Nam cho thấy: cả nước ước tính có gần 33.000 người bán dâm, phần lớn là nữ; nhưng chỉ có khoảng 9.000 gái bán dâm có hồ sơ quản lý. Độ tuổi bán dâm ngày càng trẻ hóa, từ 16 - 18 tuổi chiếm 15,3%, từ 25 - 35 tuổi chiếm 35% và đông nhất là từ 18 - 25 tuổi chiếm 42%. Về học vấn, 17,1% chỉ tốt nghiệp tiểu học, 39,3% đã tốt nghiệp trung học và đáng lưu ý là khoảng 10,3% đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng. Quan niệm cho rằng gái mại dâm do "học vấn thấp" thực tế không còn đúng nữa
Tại "Hội nghị tổng kết 10 năm thi hành Pháp lệnh phòng, chống mại dâm" sáng 19/12/2014, Thứ trưởng Bộ LĐTB&XH Nguyễn Trọng Đàm cho biết: theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đến tháng 11/2014, cả nước có 11.240 người bán dâm có hồ sơ quản lý. Trước đó, ngày 13/6/2014, ông Phạm Ngọc Dũng, Phó trưởng phòng Chính sách phòng chống mại dâm, Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) cho biết, cả nước hiện có khoảng 30.000 người đang hoạt động mại dâm.
Năm 2012, tần suất bán dâm trung bình của mỗi gái mại dâm là 60 lần/tháng, riêng Hải Phòng là 187 lần/tháng (162 lần cho khách lạ và 25 lần cho khách quen) Khảo sát của Bộ Lao động thương binh xã hội cho biết, vào đầu năm 2012, thu nhập trung bình của gái mại dâm đạt 10,6 triệu đồng/tháng, chưa kể các khoản phụ khác, cao gấp 2,5 lần thu nhập trung bình của nhóm 20% người có thu nhập cao ở Việt Nam. Mức thu nhập cao đã lôi cuốn ngày càng nhiều phụ nữ tham gia bán dâm
Điều tra quốc gia năm 2005 cho biết: trong số nam thanh niên ở độ tuổi 22-25 và chưa lập gia đình, có khoảng 11,2% ở thành thị và khoảng 5% ở nông thôn đã từng có quan hệ tình dục với gái mại dâm. Dù tỉ lệ không phải là cao, nhưng đây vẫn là điều đáng lo ngại vì thanh niên là lực lượng lao động chủ yếu và sẽ tiếp quản đất nước trong trung và dài hạn.
Thời gian gần đây, gái mại dâm hoạt động tinh vi hơn. Nhiều gái mại dâm là lưu động, không nằm trong đường dây lớn mà tự hoạt động theo kiểu đơn lẻ hoặc theo nhóm 2-3 người, không ở trong nhà chứa hoặc đứng đường mà tự quảng cáo, chào mời trên các trang web đen ở Internet hoặc điện thoại di động. Những đối tượng này rao bán dâm trên mạng, tung thông tin, hình ảnh, số điện thoại hoặc sử dụng nickname để chatsex với sự hỗ trợ của webcam. Sau khi móc nối với khách và xác minh đúng "mật khẩu", gái mại dâm sẽ cho khách địa chỉ hoặc sẽ đi đến địa chỉ của khác. Ngoài ra, hoạt động mại dâm theo phương thức gái bao theo tour du lịch đang gia tăng.
Bên cạnh đó, tổ chức hoạt động mại dâm vẫn là lợi dụng các dịch vụ ăn nghỉ, vũ trường, karaoke, cà phê, tẩm quất... Đã hình thành các đường dây liên tỉnh, hoặc có sự móc nối với các hướng dẫn viên du lịch để cung cấp gái mại dâm cho khách đến các địa điểm du lịch trong nước hoặc nước ngoài.
Trung bình khoảng 66% người bán dâm được điều tra hoạt động độc lập, trong đó tỉ lệ hoạt động độc lập của nam là 70,4% so với 61,8% của nữ. Việc có ít bán dâm qua môi giới là do sự phát triển của công nghệ thông tin, người bán dâm có nhiều cơ hội để giao dịch trực tiếp với khách hàng hơn, do đó không phụ thuộc vào các chủ chứa. Lý do khác là vì pháp luật Việt Nam trừng phạt môi giới mại dâm rất nặng, nhưng lại nhẹ tay với người bán dâm và mua dâm. Môi giới phải lĩnh án hình sự và bị tù nhiều năm, nhưng mua và bán dâm thì lại chỉ bị phạt hành chính vài trăm nghìn. Trình độ học vấn của gái bán dâm cao hơn so với trước nên cũng tìm những cách hoạt động tinh vi hơn (như Internet, điện thoại di động...) mà không cần qua môi giới. Việc pháp luật Việt Nam chỉ xử nặng kẻ môi giới mà nương nhẹ xử lý hành vi mua bán dâm khiến việc chống mại dâm thiếu tính răn đe, tác dụng phòng chống không có hiệu quả.
Sau khi Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực, gái mại dâm không còn bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương hoặc đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội mà chỉ bị phạt hành chính với số tiền rất nhỏ (100-300 ngàn đồng). Biện pháp xử lý quá nhẹ khiến số lượng người bán dâm ngày càng tăng. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, thống kê năm 2016 ước tính cả thành phố có 3.600 người bán dâm, kích dục, tăng tới 20% so với năm 2015
==== Nạn buôn người để phục vụ mại dâm ====
Số liệu của Ban chỉ đạo Phòng chống tội phạm cho thấy, tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015, các địa phương đã phát hiện gần 2.000 vụ buôn bán người với hơn 3.800 nạn nhân. Trong đó, trên 85% số nạn nhân là phụ nữ và trẻ em. Phần lớn phụ nữ bị buôn bán để làm gái mại dâm tại các đô thị hoặc đưa sang Trung Quốc làm gái mại dâm tại nước này, ngoài ra đã có những trường hợp bị lừa sang Malaysia làm nô lệ tình dục
Chính phủ Việt Nam đã có những biện pháp đấu tranh và ngăn chặn tội phạm buôn người bằng việc thông qua Luật Phòng chống mua bán người và Chương trình hành động quốc gia phòng, chống mua bán người. Tuy nhiên, do phần lớn nạn nhân của tội phạm buôn người là để phục vụ mại dâm, trong khi các quy định về phòng chống mại dâm của Việt Nam còn khá nương nhẹ, nên hiệu quả thu được không cao.
==== Lây nhiễm HIV/AIDS ====
Khảo sát năm 2001 ở Việt Nam cho biết 51% gái mại dâm nghiện ma túy và 27% bị nhiễm HIV, chưa kể các bệnh khác như viêm gan, lậu mủ, giang mai... Tại Hà Nội ước tính có khoảng 7.000 gái mại dâm, trong đó 2.000 là gái đứng đường, 80% số này nghiện ma tuý và nhiễm HIV. Tỷ lệ gái mại dâm nghiện hút chích chung bơm kim tiêm chiếm tới 44,2%, và tỷ lệ này trong nhóm nhiễm HIV lên đến 77,1%. Đáng báo động, tỷ lệ gái mại dâm sử dụng bao cao su thường xuyên là 65,4%, trong khi ở nhóm nhiễm HIV lại chỉ có 23,3% (do tâm lý buông xuôi và muốn "trả thù đời" khi biết mình đã nhiễm bệnh)..
Thống kê của Bộ Y tế, năm 2000 chỉ có 25.000 khách làng chơi nhiễm HIV từ gái bán dâm nhưng 5 năm sau đó đã lên tới 60.000. Thống kê 6 tháng đầu năm 2012 đã phát hiện thêm gần 6.000 ca nhiễm HIV mới, lây qua đường tình dục là nguyên nhân đứng đầu với tỷ lệ 45,6%, chủ yếu là do mua bán dâm gây ra.
Theo Thạc sĩ Võ Hải Sơn (Cục Phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế), chỉ trong 3 tháng đầu năm 2015, số người nhiễm HIV mới phát hiện đã lên tới trên 1.504 người, tức là mỗi ngày có thêm khoảng 20 người nhiễm HIV. Một nghiên cứu ở Hà Nội với khoảng 200 - 250 người cho thấy, tỷ lệ phụ nữ bán dâm nhiễm HIV lên tới 17%, cao gấp 5 lần TP. HCM và gần 6 lần so với tỉ lệ gái bán dâm nhiễm HIV trong cả nước (3%). Tiến sĩ Hoàng Đình Cảnh, Phó cục trưởng Cục Phòng chống HIV/AIDS cho biết: tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục ngày càng cao, đã chiếm tới gần 40% so với khoảng 30% của thời kỳ trước
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục ngày càng tăng, chiếm tới 57,5% (ở giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ này chỉ là 24%). Trên phạm vi cả nước, trong 10 tháng đầu năm 2016, tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục chiếm tới 56%, tăng rất nhanh so với tỷ lệ 45% của năm 2013 Nguyên nhân khiến tỷ lệ nhiễm HIV qua đường tình dục tăng nhanh là do các quy định bất hợp lý tại Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012: gái mại dâm không còn phải vào trung tâm chữa bệnh như trước đó (trong khi có nhiều người trong số họ nhiễm HIV), cho nên họ cứ tiếp tục tái phạm và lây nhiễm bệnh cho những người mua dâm mà không ai ngăn chặn được.
Năm 2017, viện trợ của quốc tế cho chương trình chống HIV của Việt Nam sẽ bị chấm dứt hoàn toàn. Nhiều chương trình phân phát bao cao su, thuốc điều trị HIV cho gái mại dâm sẽ không còn kinh phí thực hiện. Nếu tiếp tục duy trì chính sách xử phạt nhẹ người bán dâm như hiện nay (không giáo dục bắt buộc tại địa phương và đưa vào cơ sở chữa bệnh) thì tỷ lệ lây nhiễm HIV từ nhóm đối tượng này sẽ ngày càng tăng cao.
=== Nguyên nhân bán dâm ===
Trên 53% gái bán dâm thú nhận nguyên nhân chủ yếu khiến họ bán dâm là do thu nhập cao, trong khi bản thân họ lười lao động, sợ vất vả nhưng lại thích ăn chơi và đua đòi, trong đó có cả những cô gái nhà khá giả nhưng bị cha mẹ quản lý tiền chặt chẽ, muốn có tiền ăn chơi nên tự đi bán dâm, thậm chí có cả những người mẫu, diễn viên, hoa hậu, ca sĩ vì muốn sống xa hoa nên cũng làm gái gọi. Nguyên nhân khác là muốn thỏa mãn nhu cầu sinh lý.
Gái bán dâm luôn lấy lý do là "nhà nghèo" nên phải đi bán dâm Tuy nhiên, theo thống kê năm 2012 sau khi thực hiện khảo sát tại 3 thành phố Hà Nội, Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh của Bộ Lao động Thương binh Xã hội Việt Nam cho thấy: đa phần gái bán dâm có gia cảnh trung bình (42,4% nhà nghèo, 52,2% có gia cảnh trung bình và 2,4% có gia đình khá giả). 27,6% đi bán dâm là do bạn bè rủ rê, 63,9% là do lôi kéo bởi chính những gái mại dâm khác, chỉ có 6% là do bị lừa hoặc cưỡng bức Một bộ phận khác bán dâm là để có tiền thỏa mãn cơn nghiện ma túy (51% gái mại dâm nghiện ma túy). 34,9% muốn tiếp tục bán dâm trong khoảng 3 năm tới vì muốn duy trì khoản thu nhập cao trong khi bản thân đã quen tiêu xài phung phí
Nhận xét về lý do bán dâm, Chuyên gia tâm lý – Thạc sĩ Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu (Khoa Tâm lý - ĐH Sư phạm TP. Hồ Chí Minh) nhận định: "Nhà nghèo luôn là điệp khúc được nhiều cô gái trẻ thanh minh cho vấn đề tại sao lại đi bán dâm... Tuy nhiên, không phải ai nghèo cũng đem thân thể mình ra mua bán. "Nghèo" chỉ là lý do bên ngoài của cái sự lười lao động... Các bạn trẻ lười lao động sẽ rất dễ sa chân khi thấy kiếm tiền cách này quá dễ."
Thu nhập nhiều nhưng phần lớn thu nhập kiếm được lại được gái bán dâm ném vào nghiện ngập, hút chích, vũ trường, cờ bạc nên "tiền vào thì nhanh mà ra cũng nhanh" Càng kiếm nhiều thì càng ăn chơi nhiều, một bài báo cho biết ít nhất 70% gái bán dâm ở Hà Nội phải tìm đến bọn cho vay nặng lãi. Vay ít thì là 5 triệu, không ít vay nợ tới cả trăm triệu. Lãi suất thì rất cao, có khi tới 5-10%/ngày. Ăn chơi, cờ bạc tiếp rồi chẳng mấy mà hết, chưa kịp trả hết món nợ này, họ lại vay món khác. Nợ chồng nợ, họ càng cật lực bán dâm để trả nợ thì lại càng lao vào ăn chơi, lô đề, rồi lại càng nợ. Cái vòng luẩn quẩn này khiến con đường hoàn lương càng thêm mịt mù.
Một số gái bán dâm có học vấn không hề thấp. Công an đã làm rõ một số đường dây mại dâm bao gồm cả giáo viên, viên chức, đặc biệt là những sinh viên có ngoại hình đẹp, thích ăn chơi đua đòi tại các trường đại học, cao đẳng được các tú bà tuyển mộ để bán dâm giá cao. Gái bán dâm trong các đường dây này là sinh viên, nhưng lại thích đua đòi, ăn chơi ở những chốn sành điệu, dù bố mẹ chu cấp đầy đủ nhưng vẫn đi bán dâm chỉ để có tiền thỏa mãn sĩ diện. Có cô cho biết: "Nhà em không phải là nghèo, giàu là khác nhưng ông bà già quản tiền chặt. Chơi với bạn, cái sỹ nổi lên, không có tiền thì tự mình kiếm. Bạn em nó gợi ý cái là em đồng ý luôn." Có sinh viên, thậm chí cả học sinh Trung hoc phổ thông mới 17 tuổi đã vừa bán dâm vừa kiêm luôn vai trò môi giới mại dâm, buôn bán phụ nữ với những chiêu tinh vi như "bán trinh giả" Nhu cầu tiền bạc và lối sống buông thả, ăn chơi đua đòi của một bộ phận sinh viên đang trở nên phổ biến, sức hút của đồng tiền khiến nhiều sinh viên chấp nhận bán dâm để thỏa mãn lối ăn chơi xa xỉ cho xứng với "đẳng cấp của dân chơi".
Đặc biệt, một số gái mại dâm còn là người mẫu, diễn viên, hoa hậu... có thu nhập cao, nhưng vì muốn ăn chơi xa hoa mà đi bán dâm. Điển hình ở Việt Nam là các diễn viên, người mẫu, ca sĩ như Yến Vy, Kim Tính, Hồng Hà, Võ Thị Mỹ Xuân, Thiên Kim, Lâm Nhật Ánh. Một số còn kiêm luôn vai trò "tú bà", chăn dắt và môi giới mại dâm ... Giá bán dâm của các đối tượng này lên tới hàng ngàn USD/đêm, năm 2015 đã phát hiện trường hợp Lại Thu Trang (sinh năm 1986, quê ở Quảng Ninh), diễn viên, từng giành danh hiệu Á khôi cuộc thi sắc đẹp của trường Đại học Sân khấu Điện ảnh, bán dâm với giá tới 7.000 USD/ngày Người mẫu bán dâm Hồng Hà từng nói về động cơ đi bán dâm của mình là để nhanh "mua được nhà lầu, xe ôtô".
Một tuyên truyền viên chống HIV cho biết: "Tôi đã tiếp xúc với rất nhiều gái mại dâm, số cô mà tôi đã gặp, đã trò chuyện, chắc phải đến đôi trăm. Trong số đó, có lẽ chỉ 1/10 là hoàn cảnh thực sự quá khó khăn, buộc phải làm gái. Còn lại, đa số là lười lao động, thích chưng diện, thích ăn sung mặc sướng... Với những người đó, tôi không thể thông cảm hay xót xa được..."
Có gái mại dâm mới 16 tuổi khi bị bắt đã trả lời tỉnh queo: "Ở nhà mỗi lần xin 5-10 ngàn đi chơi game mà ông bà già cứ cằn nhằn nên em mới đi làm kiếm tiền chơi, khỏi bị cằn nhằn nhức đầu" Có gái mại dâm thì nói thẳng với nhà báo: "Chị không bỏ nghề đâu, vì nghề này vừa sướng lại vừa có tiền" Thậm chí, có ngôi làng đua nhau đẩy con gái đi bán dâm để làm giàu. Nhiều gia đình của làng còn có hẳn một kế hoạch đưa ra cho con gái họ, bắt phải bán dâm bao lâu, để gia đình mua sắm thế nào. Có bà mẹ vì hám tiền đã bất chấp nhân phẩm và tình mẫu tử, ép con đi bán dâm
Theo thượng tá Đào Thanh Hải - Trưởng phòng Cảnh sát hình sự Hà Nội thì nếu trước đây, đối tượng bán dâm thường có văn hóa thấp, hoàn cảnh khó khăn, thì qua những vụ bắt mại dâm vừa qua cho thấy, gái bán dâm đã có sự thay đổi. Chuẩn mực đạo đức suy thoái, nhiều cô gái dù có học thức vẫn không ngần ngại kiếm tiền từ con đường này (ước tính 10,3% gái bán dâm có trình độ Đại học, cao đẳng, trung cấp nghề). Do học đòi "phong cách Tây", nhiều cô coi rẻ trinh tiết, sẵn sàng làm theo bản năng, chấp nhận dùng thân xác mình làm vật trao đổi vì tiền bạc danh lợi Trong điều kiện xã hội hiện nay, nếu vẫn cho rằng gái mại dâm là "nạn nhân của số phận, vì hoàn cảnh mới phải bán dâm" thì xem ra không còn phù hợp, nhiều trường hợp chẳng đói nghèo, dốt nát gì vẫn đi bán dâm. Việc liên tiếp nhiều vụ án mại dâm sinh viên, người mẫu bị phát hiện đã gióng lên hồi chuông báo động về lối sống ngày càng tha hóa của một bộ phận con người trong xã hội
== Pháp luật ==
Mại dâm ở Việt Nam là bất hợp pháp. Ngày 15 tháng 4 năm 2003, Pháp lệnh Phòng chống mại dâm được công bố, quy định những biện pháp và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong việc loại trừ mại dâm. Ngày 15 tháng 10 năm 2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm.
Theo Điều 22, 23 của Pháp lệnh, người mua dâm và bán dâm tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng các hình thức khác nhau. Tuy nhiên, nếu người mua/bán dâm chưa thành niên hoặc biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi chứa mại dâm bị truy cứu hình sự theo Điều 254, với khung hình phạt cao nhất là tù chung thân.
Trong giai đoạn 2006 – 2010, lực lượng công an các cấp đã truy quét, triệt phá 6.109 vụ mại dâm, với 19.443 đối tượng (gồm 4.113 chủ chứa, môi giới; 9.067 gái bán dâm; 6.263 khách mua dâm), đưa hơn 5.100 gái mại dâm vào cơ sở chữa bệnh. Viện kiểm sát Nhân dân đã khởi tố 4.585 bị can về mại dâm. Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử 3.542 vụ với 4.866 bị cáo. Bên cạnh việc xử lý các bị cáo là chủ chứa, môi giới mại dâm, thời gian qua Tòa án các cấp đã xét xử 114 vụ án với 178 bị cáo phạm tội mua dâm người vị thành niên.. Trong năm 2011, công an cả nước đã khám phá 717 ổ mại dâm, xử lý gần 2.800 đối tượng.
Theo ông Tô Văn Huệ, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính trật tự xã hội, hầu hết những cơ sở nghi là có hoạt động mại dâm, đều nằm dưới sự bảo lãnh của những nhân vật có "uy" với địa phương. Chính vì thế nhiều khi chỉ bằng một cú điện thoại cũng có thể ngăn bước các cơ quan chức năng khi tiến hành kiểm tra. Theo ông, Công an sở tại "biết tuốt", vấn đề là có sự tiếp tay bao che hay không. Bà Lê Thị Hà, Cục trưởng Cục Phòng chống Tệ nạn xã hội, cho biết cả nước hiện có hơn 20.000 cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm. Tuy nhiên cách quản lý những cơ sở này bị buông lỏng, nhất là tại những thành phố lớn. "Chẳng hạn ngay ở TP.HCM, nhiều nơi siết chặt cấp giấy phép cơ sở kinh doanh nhạy cảm song nhiều nơi lại cấp phép tràn lan khó quản lý". Sự phối hợp giữa các lực lượng nghiệp vụ, các ban ngành đoàn thể còn lỏng lẻo hoặc cứng nhắc do đó không phát huy được tác dụng..
=== Các vướng mắc trong pháp luật về chống mại dâm ===
==== Đối với người bán dâm ====
Trước năm 2012, tại Việt Nam có các Trung tâm bảo trợ xã hội chuyên dành cho gái mại dâm. Gái mại dâm nếu không thể trả về địa phương quản lý thì sẽ được đưa vào đó giáo dục, dạy nghề để sau này có nghề nghiệp mưu sinh, không phải quay lại con đường cũ. Có gái mại dâm tâm sự: "Bao nhiêu tiền kiếm được, em lại ném vào nghiện ngập, hút chích. Bây giờ bị bắt đưa vào đây rồi, được quản lý trại tạo công ăn việc làm, em mới thấm thía giá trị của đồng tiền kiếm được bằng nghề lương thiện"
Tuy nhiên, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định gái mại dâm sẽ không phải bắt buộc vào các trung tâm bảo trợ xã hội mà chỉ bị phạt tiền (300 ngàn nếu lần đầu và 3-5 triệu nếu tái phạm). Lý do của việc bãi bỏ áp dụng hình thức đưa gái mại dâm vào trại là để "tăng cường áp dụng các biện pháp xã hội để gái mại dâm tự nguyện hoàn lương". Tuy nhiên, thực tế là các cơ sở hỗ trợ xã hội ở Việt Nam còn rất thiếu và quy mô nhỏ, mỗi tỉnh cả năm chỉ hỗ trợ được mấy chục người, trong khi số gái bán dâm cả nước lên tới hàng vạn. Ví dụ, Chi cục Phòng chóng tệ nạn Hà Nội chỉ đặt mục tiêu hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm được cho khoảng 60-80 người bán dâm trong suốt 3 năm. Tại TP Hồ Chí Minh, mỗi năm chỉ hỗ trợ được 30 suất vay vốn tạo việc làm. Ở Khánh Hòa, suốt năm 2011 chỉ có 2 đối tượng mại dâm được hỗ trợ hoàn lương và 6 đối tượng được tư vấn, hỗ trợ vay vốn tạo việc làm . Mặt khác, tiền học nghề cũng không được là bao (5 triệu đồng/người), thu nhập thấp hơn trong khi lại vất vả hơn nhiều so với đi bán dâm nên phần lớn gái bán dâm lại bỏ học nghề và tiếp tục bán dâm. Việc bãi bỏ quy định bắt buộc gái mại dâm vào các trung tâm bảo trợ xã hội, trên thực tế lại phản tác dụng và càng làm công tác hỗ trợ gái mại dâm hoàn lương thêm phần khó khăn.
Việc áp dụng Luật mới trong khi không cân nhắc đến tình hình thực tế đã khiến mại dâm lan tràn bởi mức xử phạt quá nhẹ, không có tính răn đe, trong khi các biện pháp quản lý tại xã hội thì yếu và lỏng lẻo. Mặt khác, thu nhập từ bán dâm cao hơn nhiều so với lao động thông thường lại ít nặng nhọc, một tỷ lệ lớn gái bán dâm chẳng phải vì nghèo khổ mà vì muốn có nhiều tiền để ăn chơi. Vấn đề chung được nhiều cán bộ chi cục và bản thân người bán dâm nhìn nhận: đó là thu nhập quá chênh lệch của những công việc khác so với việc bán dâm, trong khi đã quen thói tiêu xài phung phí, nên họ rất khó từ bỏ công việc mang lại cuộc sống dư dả cho bản thân. Do vậy, việc bãi bỏ biện pháp cưỡng chế vào trung tâm xã hội đã khiến việc hoàn lương của người bán dâm là rất khó khăn, trong khi sẽ ngày càng có nhiều cô gái trẻ sẵn sàng bước vào con đường này vì không còn sợ bị xử phạt nặng.
Theo báo cáo của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐ-TB-XH), thực tế cho thấy sau 1 năm luật mới được áp dụng với mức phạt nhẹ, tổng số người bán dâm cả nước năm 2013 ước tính khoảng 32.700 người, đã tăng tới 9,3% so với năm 2012 Tại TP Hồ Chí Minh, mại dâm gia tăng mạnh trong năm 2015, số gái bán dâm tăng 20% chỉ sau 1 năm (từ 3.000 lên 3.600 người).
Lãnh đạo Sở LĐ-TB-XH Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: tình trạng "bắt rồi lại thả" này đã làm gia tăng mại dâm; khi bị bắt quả tang gái mại dâm sẵn sàng nộp phạt rồi sau đó tiếp tục hoạt động bình thường, thậm chí công khai. Thu nhập bình quân của gái mại dâm khoảng 10 triệu đồng/tháng, gái gọi cao cấp tới 150 triệu đồng/tháng, phạt tiền 300 ngàn đồng thì chẳng bõ bèn gì. Nếu số tiền nộp phạt lớn, gái bán dâm sẽ tăng giá, không ảnh hưởng đến túi tiền. Một gái bán dâm không che giấu: "Sau một thời gian làm nhân viên phục vụ cho các quán ăn, vừa mệt lại không có tiền nhiều, nghe lời mấy đứa bạn bảo làm gái vừa sướng vừa có tiền nên em theo. Lúc mới vào nghề phải lén lén lút lút, sợ công an bắt giam, giờ chỉ bị phạt hành chính thì chẳng còn gì phải sợ nữa… Tính ra, một ngày em có thể tiếp đến 10 khách, mỗi lượt cũng được 200.000 – 300.000 đồng thì nộp phạt cũng chẳng đáng là bao".
Về phía cơ quan công an, mức xử phạt hành chính đối với gái mại dâm cũng đẩy họ vào thế khó, bởi thời gian từ lúc truy bắt, hỏi cung tới khi ra mức xử phạt, chỉ được giới hạn trong 24 giờ. Nhiều vụ, công an phải nhờ các trung tâm lao động giáo dục xã hội cho đối tượng lưu trú 10 ngày để có thời gian thẩm tra. Tuy nhiên, hiện nay các trung tâm không còn chức năng này nữa, công an buộc phải thả gái mại dâm dù chưa kịp điều tra, xử phạt được gì. Có những trường hợp gái mại dâm là con nhà khá giả, đi bán dâm vì ăn chơi đua đòi, tuy nhiên với chế tài chỉ xử phạt hành chính nên cơ quan điều tra không thể làm gì được để răn đe. Với quy định này, những gái mại dâm đơn lẻ (không qua môi giới) dù có bị bắt thì cũng chỉ có thể phạt hành chính với số tiền rất nhỏ, sau khi bị phạt họ sẽ vẫn tiếp tục tái phạm nhiều lần vì không còn sợ bị xử phạt nặng.
Tiêu biểu của việc gái bán dâm chỉ bị phạt hành chính nên liên tục tái phạm là trường hợp Lại Thu Trang (sinh năm 1986, quê ở Quảng Ninh), là diễn viên, từng giành danh hiệu Á khôi cuộc thi sắc đẹp của trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội. Năm 2015, Thu Trang bị phát hiện tham gia đường dây mại dâm cao cấp với giá tới 7.000 USD/ngày Sau khi bị phạt hành chính, Lại Thu Trang vẫn tiếp tục bán dâm. Đến năm 2016, cô này lại bị phát hiện tham gia đường dây bán dâm cao cấp với giá 3.000 USD/đêm.
Tại Hà Nội, từ khi biện pháp đưa người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh được gỡ bỏ, việc xử lý gái bán dâm đứng đường gặp rất nhiều khó khăn. Sau một thời gian tạm yên, hiện tượng gái mại dâm vẫy khách nơi công cộng ở Hà Nội có dấu hiệu phức tạp trở lại. Gái mại dâm bị bắt nhưng lại phải thả ra vì không có chế tài xử lý, sau khi được thả gái mại dâm ngay lập tức dạt sang địa bàn phường khác vẫy khách. Hoặc tại Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi luật mới được áp dụng, công tác ngăn chặn mại dâm trở nên cực kỳ khó khăn, đối tượng bán dâm hoạt động công khai hơn vì họ biết nếu bị bắt quả tang thì cũng chỉ bị xử phạt hành chính chứ không phải giáo dục tại địa phương và đưa vào cơ sở chữa bệnh như trước đây. Gái mại dâm còn đưa tiền cho bảo kê giữ, nếu bị đưa về công an phường, sau khi lấy lời khai, gái mại dâm quyết không nộp phạt trong khi công an chẳng làm gì được. Có trường hợp còn đứng phắt dậy, bỏ về và tuyên bố thẳng thừng: "Nhà nước đã bỏ việc đưa chúng tôi vào trại, các ông chả có lý do gì mà giữ chúng tôi. Còn phạt thì tôi chẳng có tiền".
Tại thành phố Hồ Chí Minh, đại diện huyện Củ Chi cho biết: trước kia mại dâm chỉ hoạt động ở trung tâm nhưng nay "đã bung ra toàn thành, chỗ nào cũng có". Đại diện Hội Phụ nữ thành phố cho biết: do mức phạt quá nhẹ nên người bán dâm cứ thoải mái tái phạm. Những người bán dâm đã quen kiếm nhiều tiền lại nhàn hạ, mức phạt lại nhẹ nên rất khó động viên họ từ bỏ bán dâm để kiếm việc làm khác. Mỗi người bán dâm chỉ được cấp 5 triệu đồng học nghề, số nghề có thể học lại hạn chế, học xong rồi thì thu nhập khi đi làm cũng thấp hơn nhiều so với đi bán dâm, lại vất vả nên phần lớn họ lại bỏ nghề và tiếp tục đi bán dâm, vì mức phạt nhẹ nên dù có tái phạm liên tiếp họ cũng không sợ. Vì pháp luật không có tính răn đe nên công tác hỗ trợ gái mại dâm hoàn lương chỉ thu được kết quả rất hạn chế.
Ông Trần Ngọc Lợi - Chi cục trưởng Phòng chống tệ nạn xã hội tỉnh Vĩnh Long, cho biết: quy định mức phạt vi phạm hành chính đối với người bán dâm vẫn còn quá nhẹ (từ 100.000- 300.000 đồng/lần). Người bán dâm dù tái phạm nhiều lần cũng chỉ được phép lập hồ sơ vi phạm và phạt một số tiền nhỏ, không áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương hoặc đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội. Qua theo dõi, nhiều đối tượng bán dâm thường không về lại địa phương cư trú mà chuyển sang địa bàn khác tiếp tục hành nghề, thậm chí chấp nhận phạt tiền để tiếp tục bán dâm nên rất khó tiếp cận để tư vấn, tạo điều kiện cho họ hòa nhập cộng đồng.
Phó trưởng CA xã Xuân Đỉnh (Từ Liêm, Hà Nội), ông Nguyễn Xuân Long chia sẻ: dù đã có 15 năm làm công tác giữ gìn trật tự an ninh ở xã, nhưng chưa bao giờ việc đấu tranh phòng chống mại dâm lại khó như bây giờ. Sau một năm nay, việc không đưa vào cơ sở chữa bệnh, không giáo dục tại xã, phường đối với người bán dâm mà chỉ phạt tiền khiến hoạt động của gái mại dâm ngày càng công khai, phức tạp hơn. Cần phải có những chế tại mạnh hơn thì mới có thể đủ sức răn đe.
Mặt khác, về lâu dài, việc xử phạt nhẹ, thả lỏng gái mại dâm sẽ dẫn tới nguy cơ lan tràn bệnh hoa liễu. Tỷ lệ rất cao gái mại dâm trong các trung tâm này đã mang mầm bệnh như AIDS, lậu mủ, giang mai... hoặc nghiện ma túy. Ví dụ, ở Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội số 2 (Ba Vì - Hà Nội) có 208 học viên, số nghiện ma túy lên tới 50%, số nhiễm HIV lên tới 10%, nếu tính cả lậu mủ, giang mai thì có tới 142 người (70%) bị nhiễm. Khi thả họ ra thì không ai biết họ sẽ đi đâu và làm gì, phần lớn sẽ tiếp tục đi bán dâm, hút chích và sẽ lây bệnh cho nhiều người nữa. Khi phát hiện bị bệnh thì cũng chẳng ai đưa họ vào bệnh viện, họ cứ thế mà gieo rắc mầm bệnh.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục ngày càng tăng, chiếm tới 57,5% (ở giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ này chỉ là 24%). Trên phạm vi cả nước, trong 10 tháng đầu năm 2016, tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục chiếm tới 56%, tăng rất nhanh so với tỷ lệ 45% của năm 2013 Nguyên nhân khiến tỷ lệ nhiễm HIV qua đường tình dục tăng nhanh là do các quy định bất hợp lý tại Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012: gái mại dâm không còn phải vào trung tâm chữa bệnh như trước đó (trong khi có nhiều người trong số họ nhiễm HIV), cho nên họ cứ tiếp tục tái phạm và lây nhiễm bệnh cho những người mua dâm mà không ai ngăn chặn được.
Kể từ năm 2015, viện trợ của quốc tế cho chương trình chống HIV của Việt Nam đã bị cắt giảm và sẽ chấm dứt hoàn toàn vào năm 2017. Nhiều chương trình phân phát bao cao su, thuốc điều trị HIV cho gái mại dâm sẽ không còn kinh phí thực hiện. Nếu tiếp tục duy trì chính sách xử phạt nhẹ người bán dâm một cách bất hợp lý như tại Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (không giáo dục bắt buộc tại địa phương hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh) thì tỷ lệ lây nhiễm HIV từ nhóm đối tượng này sẽ ngày càng tăng cao.
Để khắc phục những vướng mắc này, tháng 3/2016, chính quyền Đà Nẵng đã ban hành văn bản cho phép tiếp nhận người bán dâm vào trung tâm bảo trợ xã hội. Việc tiếp nhận đối tượng vào cơ sở bảo trợ xã hội không bị coi là xử lý vi phạm hành chính. Cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, quản lý, chăm sóc đối tượng được đặt tại thôn Lộc Mỹ, xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, Đà Nẵng. Thời gian đối tượng sống tại cơ sở bảo trợ xã hội tối đa 3 tháng. Trường hợp đối tượng được đào tạo nghề ngắn hạn tại cơ sở bảo trợ xã hội thì được gia hạn đến khi hết thời gian đào tạo nghề. Các hành vi đưa đối tượng ra khỏi cơ sở bảo trợ xã hội khi chưa được người có thẩm quyền giải quyết là không được phép. Ông Lê Minh Hùng, Chi cục trưởng Phòng chống tệ nạn xã hội Đà Nẵng lý giải việc ban hành quyết định này:
"Rất khó thống kê số lượng người bán dâm. Từ khi trung ương ra Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định bán dâm chỉ bị xử phạt tiền và không được đưa vào cơ sở xã hội chữa bệnh và không được giáo dục ở cơ sở xã, phường thì gần như các cơ quan chức năng đã “dạt ra”, không còn cố gắng chống nạn mại dâm như trước. Nếu làm thì chỉ ở những điểm nóng, phức tạp.
Luật hiện tại chỉ xử phạt hành chính với người bán dâm mà không đưa vào cơ sở xã hội, không quản lý tại xã phường. Điều này đang tồn tại những bất cập và một số địa phương đã đưa ra cách làm riêng... Nếu anh phát hiện họ bán dâm, anh phạt tiền rồi để họ ra ngoài tiếp tục hoạt động thì xem như là thả nổi. Thậm chí có người chịu phạt một ít nhưng vẫn còn một khoản đủ sống. Như vậy, xử lý pháp luật vẫn chưa rốt ráo. Quyết định của Đà Nẵng đưa ra là để giúp những người phụ nữ bán dâm có cuộc sống tốt hơn, vì thành phố an bình hơn.
Đà Nẵng đi tiên phong hơn khi thực hiện bằng văn bản, mang tính chất lâu dài, công khai minh bạch... không chỉ giúp đảm bảo an ninh trật tự mà còn là chính sách nhân văn. Trong 3 tháng đưa người bán dâm vào sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, chúng tôi sẽ cố gắng để làm cầu nối nhằm đưa họ về đoàn tụ cùng gia đình hoặc tư vấn cho học nghề... Chúng tôi sẽ giúp họ nhận thức ra việc làm đó là sai và tìm đường tư vấn cho họ tránh những kẻ bảo kê, tránh lặp lại con đường cũ.
Nếu ở thời điểm này chúng ta buông lỏng quản lý thì chắc chắn sẽ phải lãnh hậu quả ngay, mà có khi đến 10 năm sau cũng không khắc phục được. Bây giờ thành phố đang thấy trước nguy cơ đó thì dẹp bỏ trước để tránh sau này có những hệ lụy phức tạp."
Theo tiến sĩ Đỗ Đức Hồng Hà - Ban Thư ký Bộ Tư pháp, cần bổ sung thêm tội danh "Bán dâm" vào luật Hình sự để tăng thêm tính răn đe. Việc không xử lý hình sự người bán dâm, nhất là những đối tượng bán dâm chuyên nghiệp, đã bị xử lý hành chính mà vẫn còn tái phạm rõ ràng là bỏ lọt tội phạm, không ngăn chặn được tệ nạn mại dâm. Vì vậy, đã đến lúc cần trừng trị cả người bán dâm nếu họ đã bị xử lý hành chính về hành vi này mà vẫn còn tái phạm
==== Đối với người mua dâm ====
Một vấn đề khác là mức phạt hành vi mua dâm. Ở nhiều nước như Mỹ, Thụy Điển, Na Uy, Pháp, Hàn Quốc... hành vi mua dâm bị phạt nặng để răn đe tối đa những người có ý định mua dâm (khi đó tự khắc số gái bán dâm cũng giảm đi). Ở những nước này, mua dâm là tội hình sự, có thể bị phạt hàng ngàn USD và đi tù nhiều tháng. Cảnh sát cũng công khai danh tính kẻ mua dâm nơi công cộng để họ phải cảm thấy hổ thẹn. So với những nước này, mức phạt tại Việt Nam nhẹ hơn rất nhiều, chỉ bị phạt tiền 300-500 ngàn đồng, cũng không bị giam giữ hoặc công khai danh tính. Nghị định 178/2004/NĐ-CP quy định: nếu là cán bộ, công chức, người thuộc lực lượng vũ trang thì ngoài việc xử lý hành chính còn bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý người đó để xử lý. Nhưng thực tế trong nhiều năm qua, có không ít cán bộ, công chức bị bắt khi mua dâm nhưng đa số đều không bị thông báo về cơ quan vì "nể tình" hoặc có sự can thiệp từ nhiều mối quan hệ, khiến pháp luật mất tính răn đe.
Mức xử phạt thấp như vậy chẳng thấm tháp gì so với túi tiền của khách mua dâm nên không có sức răn đe, bị phạt cũng không ai sợ, việc chống mại dâm do vậy chỉ như "chống ngọn mà chưa chống gốc, giơ thì cao nhưng đánh thì khẽ". Việc xử lý như hiện nay là phạt ít tiền rồi lại thả nên chẳng khác gì "bắt cóc bỏ đĩa", theo chiều hướng này sẽ dẫn đến một hệ quả tất yếu: bán dâm thì chẳng e ngại gì, còn kẻ mua dâm thì cứ mặc sức mà mua.
Thực tế này đòi hỏi cần phải có chế tài mới nghiêm khắc tương xứng. Có những đề nghị phải tăng mức phạt, đồng thời công khai danh tính đối tượng mua dâm để nâng cao tính răn đe những đối tượng này. Đây là hoạt động "có cầu có cung" nên phải xử lý nghiêm từ cả hai phía là mua dâm và bán dâm. Bà Nguyễn Thị Huệ - Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục Ba Vì nói: "Về việc này, tôi nhận thấy là không công bằng. Trong hoạt động mại dâm có cầu mới có cung... nếu chúng ta hạn chế được người mua dâm, thì gái mại dâm không có cơ hội để hành nghề". Tiến sĩ xã hội học Tống Văn Trung nói: "Việc không công khai danh tính người mua dâm là dung túng đối với người mua dâm... cần công khai danh tính để răn đe, khi phạt thì cũng phải phạt nặng. Nếu chỉ phải xử phạt hành chính thì không ai dám chắc rằng họ không tái phạm, bởi dù có bị bắt thì chỉ nộp phạt là xong.".
Theo một chuyên gia xã hội học, thuốc đặc trị để dẹp mại dâm không hề khó, nhưng phải được nhiều ngành phối hợp làm nghiêm túc và triệt để. Đó là sửa đổi Pháp lệnh Phòng chống mại dâm theo hướng tăng nặng, đặc biệt là việc thông báo về gia đình, nơi công tác của người mua dâm cần được thực hiện thật nghiêm túc. Không chỉ cán bộ, công chức mà bất cứ ai mua dâm đều bị đưa ra kiểm điểm trước gia đình, tổ dân phố, cơ quan... Các đối tượng bảo kê cũng cần có chế tài xử lý về hình sự.
Chuyên gia tâm lý, PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp, Trưởng khoa nhân học, Trường Đại học KHXH&NV Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
"Một hiện tượng mới trong xã hội phát triển là hình thành một tầng lớp mới gọi là "đại gia". Họ giàu có nhờ những nguồn này nguồn khác, kể cả lao động hay bất chính; từ đó, nảy sinh nhu cầu mua dâm "chân dài". Đáp ứng lại điều đó, một số người mẫu, diễn viên, sinh viên (gọi nôm na là "chân dài") hình thành các nhóm bán dâm cao cấp, do tham tiền bạc, đạo đức xuống cấp đã sẵn sàng bán mình để lấy nguồn tiền lớn từ túi "đại gia". Vì thế, không chỉ phạt gái bán dâm, mà còn phải xử phạt thật nặng những người đi mua dâm nói chung và những người mua dâm thuộc tầng lớp "đại gia" nói riêng"
== Đề xuất ==
Ngày 23 tháng 8 năm 2015, Phó chi cục trưởng Chi cục Phòng chống Tệ nạn xã hội TP HCM, ông Lê Văn Quý đề xuất: để phòng chống tệ nạn mại dâm hiệu quả hơn, cần phải gom các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ phát sinh mại dâm vào một khu riêng. Ông Quý nhấn mạnh: việc thành lập khu vực này không phải là để công nhận mại dâm hợp pháp, mà là để tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với những cơ sở dịch vụ dễ phát sinh mại dâm (mát xa, karaoke...). Các cơ sở kinh doanh ở đây nếu để xảy ra tệ nạn mại dâm thì vẫn bị xử phạt theo pháp luật.
Theo TS Khuất Thu Hồng, cách ngăn chặn mại dâm lỏng lẻo như hiện nay không xoá bỏ được mại dâm mà nó vẫn ngày càng phát triển phức tạp hơn, tiềm ẩn nhiều bất ổn về đạo đức, trật tự, an toàn xã hội, nguy cơ lây lan một số bệnh truyền nhiễm. Cho nên bà tán thành đề xuất của ông Quý vì những ưu điểm của nó: người làm ở đây được quản lý ở một khu vực nhất định, nơi phải đăng ký hoạt động, họ được cung cấp dịch vụ y tế để đảm bảo sức khoẻ, tránh việc mại dâm trá hình phát sinh. Cách quản lý này cũng giảm thiểu được tình trạng buôn bán phụ nữ, giảm bóc lột và bạo lực đối với người lao động tại các cơ sở. Tuy nhiên, áp dụng mô hình này thì cũng phải làm sao đảm bảo để mại dâm không tồn tại ở các khu vực khác, đó là việc rất khó. Nếu luật pháp thực hiện không nghiêm, mại dâm vẫn sẽ hoạt động bí mật ở khu vực khác
Hiện có một số đề xuất hợp pháp hóa mại dâm gây nhiều tranh luận, đặc biệt sau các vụ việc các người mẫu hoa hậu bị phát hiện bán dâm. Theo ông Nguyễn Văn Minh, Cục trưởng Cục Phòng chống tệ nạn xã hội, thì: "trước đây cũng đã có những ý kiến kiểu như vậy. Đó chỉ là số ít và tôi không hiểu phát biểu như vậy thì nhận thức của họ về vấn đề này như thế nào. Nếu muốn sửa, thay đổi điều này thì phải sửa cả hiến pháp, pháp luật, mà hiến pháp, pháp luật của ta hiện hành đều bảo vệ gia đình, bảo vệ trẻ em, bảo vệ nhân phẩm, danh dự người phụ nữ, hạnh phúc gia đình họ...", ông còn cho biết: "việc này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức của một bộ phận giới trẻ về mại dâm. Chỉ cần bỏ ra một ít tiền là nam thanh niên sẽ sa đà vào con đường chơi bời, gái gú. Còn với nữ giới, thấy việc bán dâm vừa nhàn lại có tiền sắm sửa nên nhiều em sẽ sẵn sàng đi bán dâm... xã hội sẽ loạn vì không kiểm soát được đại dịch HIV/AIDS, làm hư hỏng cả một bộ phận giới trẻ" .
Nếu phân tích điều kiện xã hội tại Việt Nam thì việc hợp pháp hóa mại dâm sẽ làm nảy sinh nhiều hệ lụy:
Về vấn đề quản lý, ngay cả những nước có hệ thống pháp luật chặt chẽ như Đức, Úc, Hà Lan, việc hợp pháp hóa mại dâm vẫn gây ra những hệ lụy nghiêm trọng. Chính phủ các nước này gần như bất lực trong việc kiểm soát hoạt động này, khiến nó ngày một lan tràn và gây thêm nguy hại (xem chi tiết tại Hợp pháp hóa mại dâm và các hệ lụy). Nhiều nước khác như Thụy Điển, Na Uy đã phải quay lại biện pháp cấm triệt để mại dâm sau một thời gian cho hợp thức. Với tình trạng quản lý nhiều yếu kém và bất cập (thậm chí là hối lộ và lách luật) tại Việt Nam, nếu cho hợp thức hóa thì chắc chắn mại dâm sẽ càng biến tướng và nguy hại khôn lường, các quy định quản lý sẽ chỉ là hình thức. Thực tế hiện nay, ở các cơ sở mát xa trá hình, chỉ cần bỏ ra 2 triệu đồng là đã có hồ sơ đầy đủ, từ chứng chỉ hành nghề tới đầy đủ các xét nghiệm máu, HIV và giấy chứng nhận sức khỏe tốt. Thực chất, chẳng cần có khóa đăng ký hay cuộc kiểm tra sức khỏe nào diễn ra cả, tất cả giấy tờ chỉ cần bỏ ít tiền ra là mua được.. Chỉ cần 200 ngàn, "cò" khám bệnh có thể thông đồng với bác sĩ để "hô biến" các thông số về sức khỏe như ý muốn của khách mua
Về mặt đạo đức, hợp pháp mại dâm sẽ là sự đạp đổ các giá trị đạo lý gia đình, văn hóa truyền thống dân tộc, từ đó làm mất phương hướng việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, về lâu dài sẽ dẫn tới sự băng hoại đạo đức, "khủng hoảng các giá trị sống" ở những thế hệ tương lai. Trẻ nhỏ, học sinh thấy người lớn mua bán dâm công khai thì khi lớn lên chúng sẽ muốn học theo. Những lời dạy trẻ nhỏ về nhân phẩm, tình yêu, lòng tự trọng sẽ trở nên sáo rỗng khi mà chính người lớn lại công khai làm ngược lại. Đạo đức xã hội cứ dần xói mòn, những đứa trẻ sẽ lớn lên trong sự khủng hoảng giá trị sống, và chỉ 10-15 năm sau là mối nguy này phát tác, chúng sẽ trở thành cả một thế hệ thanh niên bị tha hóa và hư hỏng. Nhiều em gái sẽ chẳng còn muốn phấn đấu học tập, lao động nữa mà sẽ rủ rê nhau đi bán dâm, vừa kiếm tiền dễ dàng lại không phải vất vả nặng nhọc; còn đàn ông vì chẳng sợ bị trừng phạt nữa nên sẽ kéo nhau đi mua dâm nếu có tiền. Xã hội sẽ trở thành một "bầy người" quần giao hỗn loạn như thời Tiền sử. Không những vậy, những kẻ "kinh doanh xác thịt" sẽ lợi dụng sự điều này để mở rộng mạng lưới hoạt động .
Về bản chất hệ thống chính trị, chế độ Xã hội chủ nghĩa chân chính không bao giờ dung túng cho sự tha hóa nhân phẩm, mua bán xác thịt con người vì đồng tiền. Nếu dung túng cho một dạng tệ nạn xã hội trái với đạo đức dân tộc thì sẽ là sự tự phủ nhận chính bản chất của chế độ Xã hội chủ nghĩa mà nhà nước Việt Nam đang tuyên bố xây dựng (Điều 4 Cương lĩnh 1991: Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc), phản bội lại lý tưởng giải phóng phụ nữ của thế hệ Cách mạng đi trước. Sự "tự phủ nhận, tự chệch hướng" này chính là một dạng "Tự Diễn biến hòa bình", sẽ gây mất niềm tin trong đội ngũ cán bộ và sự bất bình trong dư luận nhân dân, về lâu dài sẽ là nguy cơ gây rối loạn xã hội, làm sụp đổ cả hệ thống chính trị. Trong lịch sử Việt Nam đã có không ít các triều đại bại vong vì dung túng cho sự dâm dục vô đạo: nhà Lý mất vì Cao Tông trầm mê nữ sắc, nhà Trần suy vong vì Trần Dụ Tông dâm dục háo sắc, nhà Hậu Lê thì sụp đổ vì "vua lợn" Lê Tương Dực...
Không chỉ gây ra những hệ lụy xấu về xã hội, văn hóa và chính trị, chỉ xét riêng vấn đề chi phí và cơ sở hạ tầng thì việc hợp pháp hóa mại dâm ở Việt Nam cũng là điều bất khả thi. Ví dụ, nếu quy định cho tất cả người bán dâm đi xét nghiệm mỗi tháng 1 lần (gói Level 2 tốn khoảng 400 USD/lần), chính phủ Việt Nam sẽ phải chi ít nhất 150 triệu USD (khoảng 3.200 tỷ đồng) mỗi năm (tương lai có thể sẽ còn cao hơn nhiều lần khi số người bán dâm tăng). Đây là con số rất lớn, gấp 6 lần ngân sách hàng năm cho thể thao, gấp 3 lần ngân sách cho phát thanh truyền hình và gấp 40 lần ngân sách cho xúc tiến đầu tư, du lịch. Hệ thống y tế vốn nghèo nàn của Việt Nam cũng sẽ quá tải với gần 400 ngàn lượt xét nghiệm tăng thêm mỗi năm.
Theo tiến sĩ Đỗ Đức Hồng Hà - Ban Thư ký Bộ Tư pháp, cần bổ sung thêm tội danh "Bán dâm" vào luật Hình sự để tăng thêm tính răn đe. Việc không xử lý hình sự người bán dâm, nhất là những đối tượng bán dâm chuyên nghiệp, đã bị xử lý hành chính mà vẫn còn tái phạm rõ ràng là bỏ lọt tội phạm, không ngăn chặn được tệ nạn mại dâm. Đã đến lúc cần trừng trị cả người bán dâm nếu họ đã bị xử lý hành chính về hành vi này mà vẫn còn tái phạm
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Robert T. Francoeur, Raymond J. Noonan, Beldina Opiyo-Omolo biên tập (2004). The Continuum Complete International Encyclopedia of Sexuality. New York: Continuum. |
krone đan mạch.txt | krone Đan Mạch (ký hiệu: kr; mã ISO 4217: DKK) là đơn vị tiền tệ của Đan Mạch bao gồm cả các lãnh thổ tự trị Greenland và Quần đảo Faroe. Đồng krone Đan Mạch gắn liền với đồng euro thông qua cơ chế giao hoán của Liên minh châu Âu. Một krone được chia thành 100 øre (tương đương xu).
== Lịch sử ==
Cho tới cuối thế kỷ 18, đồng krone được định giá trị bằng 8 đồng rigsdaler Đan Mạch. Đồng krone mới được đưa ra lưu hành vào năm 1873, thay cho đồng rigsdaler Đan Mạch với tỷ giá 2 kroner = 1 rigsdaler. Đồng krone Đan Mạch được lưu hành là kết quả của Liên minh tiền tệ Scandinavia, gồm các nước Đan Mạch, Thụy Điển và 2 năm sau thêm Na Uy gia nhập. Tổ chức này tồn tại tới Thế chiến thứ nhất. Đồng krone Đan Mạch dựa trên bản vị vàng với tỷ lệ 2.480 kroner = 1 kilogram vàng nguyên chất.
Sau khi Liên minh tiền tệ Scandinavia giải thể vào năm 1914 thì Đan Mạch, Thụy Điển và Na Uy đều quyết định thay đổi tên tiền riêng của mình.
Đan Mạch quay trở lại bản vị vàng năm 1924, nhưng tới năm 1931 thì từ bỏ vĩnh viễn. Từ năm1940 tới 1945, đồng krone Đan Mạch gắn chặt với đồng Reichsmark Đức.
Sau khi chấm dứt cuộc chiếm đóng của Đức quốc xã năm 1945, thì tỷ giá hối đoái được ấn định là 24 kroner = 1 bảng Anh, tới tháng 8 cùng năm thì tỷ giá giảm xuống còn 19,34 (4,8 kroner = 1 dollar Mỹ). Trong hệ thống Bretton Woods, Đan Mạch phá giá tiền của mình so với đồng bảng Anh và dollar Mỹ vào năm 1949 với tỷ giá 6,91 kroner = 1 dollar Mỹ. Tới năm 1967 lại phá giá lần nữa dẫn tới tỷ giá là 7,5 kroner = 1 dollar Mỹ và 18 kroner = 1 bảng Anh.
== Quần đảo Faroe và Greenland ==
Quần đảo Faroe sử dụng đồng krone kim loại của Đan Mạch, nhưng sử dụng các tiền giấy khác (xem króna Faroe).
Tiền giấy mới của quần đảo Faroe được phát hành trong thập niên 1950. Mặc dù có sự nhận thức sai thông thường, đồng króna Faroe không phải là loại tiền tệ độc lập, nhưng là bộ tiền giấy riêng của đồng krone Đan Mạch với mẫu thiết kế khác.
Tại Greenland, chính quyền thuộc địa phát hành loại tiền giấy riêng giữa năm 1803 và 1968, cùng với tiền kim loại giữa năm 1926 và 1964 (xem rigsdaler Greenland và krone Greenland). Năm 2006, chính phủ Đan Mạch và chính phủ tự trị Greenland công bố là sẽ cho lưu hành tiền giấy riêng của Greenland. Tiền này – cũng như tiền của Quần đảo Faroe - sẽ có cương vị như loại biến thể của tiền krone bằng giấy. Tuy nhiên, tới nay là năm 2009, các tiền này vẫn chưa được phát hành mà theo kế hoạch, sẽ được phát hành vào năm 2011.
Do vậy, tiền giấy của Đan Mạch vẫn được lưu hành hợp pháp ở cả Greenland và quần đảo Faroe, và Ngân hàng Quốc gia Đan Mạch qui đổi tiền giấy phát hành ở 2 lãnh thổ này lấy tiền krone Đan Mạch với tỷ giá 1:1.
== Quan hệ với đồng euro ==
Khi ký hiệp ước Maastricht Đan Mạch đã thương thuyết một số điều khoản bảo lưu, không tham gia chung với các nước khác trong Liên minh châu Âu một số lãnh vực, trong đó có tiền tệ, do đó Đan Mạch vẫn giữ riêng tiền krone của mình, chưa sử dụng đồng euro như phần lớn các nước khác trong Liên minh. Một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề gia nhập khối euro được tổ chức năm 2000 đã bị đa số cử tri bác bỏ.
Thông qua Cơ chế Tỷ giá Hối đoái châu Âu (European Exchange Rate Mechanism, viết tắt là ERM II), đồng krone Đan Mạch có tỷ giá hối đoái cố định so với đồng euro. Trước đó, đồng krone Đan Mạch gắn chặt với đồng mark Đức để giữ cho đồng krone được ổn định.
== Tiền kim loại ==
Tiền krone kim loại được Ngân hàng Quốc gia Đan Mạch phát hành. Trong đợt đúc tiền vào thập niên 1870, các tiền kim loại được đúc với các mệnh giá 1, 2, 5, 10, 25 øre và 1, 2, 10, 20 kroner. Các đồng 1, 2, 5 øre được đúc bằng đồng thiếc, các đồng 10, 25 øre, cùng đồng 1 và 2 kroner đúc bằng bạc, còn đồng 10 và 20 kroner bằng vàng. Việc đúc tiền bằng vàng chấm dứt năm 1917, sau đó tiền kim loại bằng bạc cũng ngưng đúc từ năm 1919. Tiền sắt thay tiền bằng đồng thiếc trong năm 1918 và 1919. Năm 1920, đồng 10 và 25 øre được đúc bằng đồng-kền, sau đó, năm 1924, đồng 1 và 2 kroner bằng nhôm-đồng thiếc ½.
Năm 1941, phát hành các đồng 1, 10, 25 øre bằng kẽm; các đồng 2 và 5 øre bằng nhôm, năm 1942 các đồng 2 và 5 øre bằng kẽm. Đồng 50 øre không được đúc vì thiếu kim loại và trong các năm Đức quốc xã chiếm đóng thì đồng 2 krone không được đúc. Các đồng 10 và 25 øre bằng đồng-kền lại được đúc năm 1946; năm 1947 đúc đồng 2 krone bằng nhôm-đồng thiếc. Năm 1960, đúc đồng 5 krone và ngưng phát hành đồng 2 krone. Các đồng 1 và 2 øre được thu hồi năm 1973 , và đồng 10 krone được phát hành năm 1979. Năm 1989 thu hồi các đồng 5 và 10 øre (không sử dụng nữa). Giữa năm 1989 và 1992, phát hành các đồng 50 øre, 2 krone, 20 krone; và năm 2008 thì đồng 25 øre không còn lưu hành hợp pháp nữa. Từ đây chỉ còn lưu hành các tiền kim loại sau:
Việc thu hồi đồng 25 øre có hiệu lực từ ngày 1.10.2008, do giá hàng hóa tăng cao và mãi lực của đồng tiền này quá thấp. Có thể đổi đồng 25 øre này tại Ngân hàng Quốc gia Đan Mạch tới ngày 1.10. 2011.
== Tiền giấy ==
Năm 1875, Ngân hàng Quốc gia Đan Mạch phát hành các loại tiền giấy mệnh giá 10, 50, 100, 500 kroner; năm 1898 phát hành đồng 5 kroner. Từ năm 1891, một số ngân hàng tư cũng phát hành tiền giấy, trong đó có ngân hàng tín dụng Aalborg, ngân hàng tín dụng Aarhus, ngân hàng Thương gia Đan Mạch, ngân hàng tín dụng Esbjerg, ngân hàng tín dụng Fredrikshavn, ngân hàng tín dụng Hjørring, ngân hàng tín dụng Odense, ngân hàng tín dụng Randers, ngân hàng tín dụng Thisted, ngân hàng tín dụng Varde và ngân hàng tín dụng Vejle với các tiền mệnh giá 10 øre, 25 øre, 1 krone, 2 kroner, 5 kroner, 10 kroner, 20 kroner, 25 kroner và 50 kroner.
Năm 1914, phát hành tiền giấy 1 krone do nổ ra Thế chiến thứ nhất và được lưu hành tới năm 1921. Năm 1945, Lực lượng Đồng Minh của Thế chiến thứ hai phát hành tiền giấy 25 øre, 1 krone, 5 kroner, 10 kroner, 50 kroner và 100 kroner.
Tiền giấy 5 kroner được thay bằng tiền kim loại năm 1960. Năm 1972, bắt đầu phát hành tiền giấy mệnh giá 1.000 kroner. Năm 1979, tiền giấy 10 kroner được thay bằng tiền kim loại, và phát hành tiền giấy 20 kroner, mặc dù đã có tiền kim loại cùng mệnh giá, rồi sau đó được thay thế bằng tiền kim loại.
Năm 1997, một loạt tiền mới từ 50 tới 1.000 kroner được phát hành. Từ năm 2002-2005, các dấu an toàn phụ được in thêm vào tiền giấy.
=== Loạt tiền giấy in hình các cầu ===
Các mẫu thiết kế tiền giấy của Đan Mạch hiện hành sẽ được thay thế bằng các mẫu mới từ năm 2009 tới 2012 . Các chủ đề mới trên tiền giấy là các cầu của Đan Mạch. Quá trình thiết kế các mẫu mới được bắt đầu từ năm 2006 bởi Ngân hàng Quốc gia Đan Mạch.
Bản mẫu:Exchange Rate
== Xem thêm ==
Kinh tế Đan Mạch
krone Na Uy
krona Thụy Điển
Liên minh tiền tệ Scandinavia
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng DKK ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của Ngân hàng Quốc gia Đan Mạch
Trang lịch sử Ngân hàng Quốc gia Đan Mạch (tiếng Đan Mạch)
Royal Mint of Denmark xem Loạt tiền của Đan Mạch. |
oganesson.txt | Oganesson (phát âm "o-ga-nét-sơn"; tên quốc tế: Oganesson) là một nguyên tố tổng hợp siêu nặng trong bảng tuần hoàn có ký hiệu hóa học là Og và có số nguyên tử là 118. Đầu tiên, các nhà khoa học cho rằng nó chắc chắn có các đặc tính của nhóm của nó, nhóm khí hiếm, giống radon về các đặc tính hóa học; vì thế, một số tài liệu nghiên cứu đã gọi nó là eka-radon. Tuy nhiên, người ta phát hiện ra rằng không phải nó mà là ununquadi mới có các đặc tính giống các nguyên tố khác trong nhóm 18. Nếu phải thì ununocti là nguyên tố thể khí phóng xạ thứ hai và khí bán dẫn đầu tiên dưới điều kiện chuẩn.
Trừ ra tính không ổn định do có lẽ phóng xạ, các nhà khoa học dự đoán là ununocti sẽ phản ứng hơn xenon và radon. Nó chắc có thể tạo thành oxit ổn định (UuoO3 v.v.) cùng với các muối clorua và florua.
Ngày 10 tháng 10 năm 2006, các nhà khoa học của Viện liên hợp nghiên cứu hạt nhân và Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore làm việc tại Dubna (Nga) đã tuyên bố trong tạp chí Physical Review C rằng họ đã tạo ra nguyên tố thứ 118 trên bảng tuần hoàn, tạm được gọi ununocti, bảy năm sau khi các nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley tại California tuyên bố phát hiện ra nguyên tố này. Nhưng năm 2000, dựa trên dữ liệu giả mạo của trưởng nhóm là Victor Ninov.
== Phát hiện ==
Vào ngày 16 tháng 10 năm 2006, các nhà nghiên cứu làm việc tại Viện liên hợp nghiên cứu hạt nhân (JINR) tại Dubna, Nga thông báo trong Physical Review C rằng họ đã gián tiếp phát hiện ra tổng cộng ba hạt nhân của ununocti-294 (một vào năm 2002 và hai vào năm 2005) được tạo ra thông qua các va chạm của các nguyên tử californi-249 và các ion canxi-48 :
24998Cf4820Ca → + 294118Og + 3 n.
Do xác suất rất nhỏ của phản ứng tổng hợp (tổng hợp tiết diện là 0,5 pb = 5×10−41 m2) nên phải trên 4×1019 ion canxi cần dược bắn phá vào californi để có được chỉ 3 phản ứng tổng hợp.
Nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khoa học từ JINR và Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore ở California, Hoa Kỳ. Các sản phẩm phân rã của 3 nguyên tử ununocti, chứ không phải chính các nguyên tử, đã được quan sát tại Dubna. Chu kỳ bán rã 0,89 ms cũng đã được quan sát: 294Uuo phân rã thành 290Lv theo phân rã alpha. Do chỉ có 3 hạt nhân nên chu kỳ bán rã đã được lấy theo thời gian tồn tại quan sát được và do vậy nó có độ tin cậy không cao: 0,89-0,31+1,07 ms.
Sự nhận dạng ra các hạt nhân 294Og đã được kiểm tra bởi sự tạo ra một cách tách biệt của hạt nhân con được giả định là của 290Lv bằng cách bắn phá 245Cm bằng các ion của 48Ca,
24596Cm + 4820Ca → 290116Lv + 3 n,
và kiểm tra rằng phân rã của 290Lv phù hợp với chuỗi phân rã của hạt nhân 294Og.
Hạt nhân con 290Lv là cực kỳ không ổn định, nó phân rã với chu kỳ bán rã 14 mili giây thành 286Fl, và nó có thể phân rã tự phát hay phân rã alpha thành 282Cn, và hạt nhân này sẽ phân rã tự phát.
== Lịch sử ==
Năm 1999, các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley đã thông báo về phát hiện ra các nguyên tố số 116 và 118, trong bài báo đăng trên Physical Review Letters.
Các nhà nghiên cứu này tuyên bố rằng họ đã thực hiện phản ứng:
8636Kr + 20882Pb → 293118Og + n.
Năm sau, họ lại công bố lời rút lại sau khi các nhà nghiên cứu khác không thể lặp lại các kết quả. Vào tháng 6 năm 2002, viện trưởng phòng thí nghiệm này thông báo rằng tuyên bố ban đầu về phát hiện ra hai nguyên tố này đã dựa trên các dữ liệu bị giả mạo bởi trưởng nhóm Victor Ninov.
Nhóm các nhà nghiên cứu Mỹ đã có ý định đặt tên cho nó là ghiorsium theo tên của Albert Ghiorso trước khi phải rút lại tuyên bố của mình.
== Tên gọi ==
Cho đến thập niên 1960 ununocti được gọi là eka-emanation (emanation là tên gọi cũ để chỉ radon). Năm 1979 IUPAC đưa ra các đề nghị gọi nguyên tố này là ununocti, tên hệ thống nguyên tố, một tên tạm thời cho đến khi phát hiện ra nguyên tố này và IUPAC quyết định đặt tên.
Trước năm 2002, các nhà nghiên cứu ở Berkeley đã đặt tên nguyên tố này là ghiorsi (Gh) theo tên của Albert Ghiorso (thành viên của nhóm nghiên cứu).
Những người phá người Nga đã báo cáo về sự tổng hợp ra nguyên tố này của họ vào năm 2006. Năm 2007, người đứng đầu viên nghiên cứu Nga nói rằng nhóm đã đưa ra hai tên gọi cho nguyên tố mới là Flyori theo tên của Georgy Flyorov, người sáng lập ra phòng nghiên cứu ở Dubna; và moskovi tỉnh Moskovskaya nơi đặt phòng thí nghiệm Dubna. Ông cũng chỉ ra rằng mặc dù nguyên tố được phát hiện trong sự hợp tác nghiên cứu với Mỹ, phía này đã cung cấp nguyên tố californi (Cf), nguyên tố này nên được đặt theo tên danh dự của Nga từ khi phòng thí nghiệm phản ứng hạt nhân Flerov ở JINR là cơ sở duy nhất trên thế giới có thể làm được kết quả như thế.
Vào ngày 2/12/2016, IUPAC đã công bố chính thức tên của nguyên tố này là Oganesson cùng với 3 nguyên tố khác là Nihoni, Moscovi và Tennessine.
== Tham khảo == |
ghế an toàn trẻ em.txt | Ghế an toàn trẻ em (đôi khi được gọi là ghế an toàn dành cho trẻ sơ sinh, hệ thống kiềm chế trẻ em, ghế kiềm chế) là ghế được thiết kế đặc biệt để bảo vệ trẻ em khỏi thương tích hoặc tử vong khi va chạm. Các nhà sản xuất xe ô tô có thể tích hợp ghế an toàn trực tiếp vào thiết kế của xe. Chủ yếu, ghế sẽ được mua và lắp đặt bởi người tiêu dùng. Một số khu vực yêu cầu trẻ em theo độ tuổi, cân nặng, và/hoặc chiều cao phải sử dụng ghế an toàn được công nhận từ chính quyền. Ghế an toàn trẻ em cung cấp một biện pháp kềm giữ thụ động và phải được sử dụng đúng cách để đạt hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều biện pháp an toàn trẻ em ở các nước như Canada và Hoa Kỳ đã không được sử dụng đúng cách. Để giải quyết xu hướng tiêu cực này, các quan chức y tế và các chuyên gia an toàn trẻ em thực hiện video an toàn trẻ em để hướng dẫn cách lắp đặt ghế an toàn thích hợp cho phụ huynh và người chăm sóc.
Ghế an toàn trong xe hơi cho trẻ em bị bắt buộc theo luật pháp tại nhiều quốc gia, kể cả Hoa Kỳ, để vận chuyển một cách an toàn trẻ em trên 2 tuổi trong xe ô tô và các loại xe khác.
Các loại ghế khác, còn được gọi là "ghế nâng", được yêu cầu cho đến khi con đủ lớn để sử dụng một dây an toàn dành cho người lớn. Điều này thường là, nhưng không phải lúc nào cũng vậy, khi trẻ cao hơn 1,45m (4 ft 9 in) thì có thể không cần sử dụng. Những đứa trẻ cần đáp ứng năm tiêu chí để không cần ghế nâng, bao gồm cả vị trí của đứa trẻ ngồi, vị trí vành đai vai, vị trí đai lưng, vị trí đầu gối, và khả năng ngồi đúng cách cho chiều dài của chuyến đi.
Nói chung, các nước có điều luật an toàn cho hành khách sẽ có luật an toàn trẻ em, đòi hỏi một đứa trẻ phải được kềm giữ một cách thích hợp tùy thuộc vào độ tuổi và cân nặng của chúng. Những quy định và tiêu chuẩn thường là tối thiểu, và sau đó sẽ được thay thế bằng các loại tiếp theo của ghế an toàn, mặc dù sẽ giảm độ bảo vệ một đứa trẻ trong một vụ va chạm. Một số quốc gia như Úc và Hoa Kỳ, cấm ghế dành cho trẻ sơ sinh đặt trên ghế trước nếu xe có trang bị túi khí. Một ghế cho trẻ sơ sinh loại hướng về phía sau mà đặt ở ghế trước của một chiếc xe sẽ đặt đầu của trẻ gần với túi khí, mà có thể gây ra chấn thương đầu nghiêm trọng hoặc tử vong nếu các túi khí bung ra. Một số xe hiện đại có hệ thống nút tắt để vô hiệu hóa các túi khí ở ghế phụ phía trước để có thể sử dụng ghế trẻ em sơ sinh.
Năm 2003, Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ (AAP - American Academy of Pediatrics) đề nghị trẻ em "nên giảm thiểu thời gian ngồi trong ghế trẻ em (nếu không phải là một hành khách trong xe) hoặc ghế ngồi khác mà có giữ vị thế nằm ngửa" để tránh phát triển hội chứng đầu phẳng".
Vào năm 1990, hệ thống tiêu chuẩn ISO đã chuẩn hóa ISOFIX, được phát triển tạo ra một chuẩn thống nhất để lắp ghế an toàn vào các mẫu xe khác nhau. Tiêu chuẩn này hiện nay bao gồm một dây phía trên đầu; các phiên bản Hoa Kỳ của hệ thống này được gọi là LATCH. Nói chung, hệ thống ISOFIX có thể được sử dụng với nhóm 0, 0 + 1.
Năm 2013, một quy định ghế an toàn mới đã được giới thiệu: "i-Size" là tên của một quy định an toàn của châu Âu mới có ảnh hưởng đến ghế xe cho trẻ em dưới 15 tháng tuổi. Nó có hiệu lực vào tháng 7 năm 2013 và cung cấp bảo vệ thêm bằng nhiều cách, nhất là bằng cách yêu cầu phải cho trẻ vào ghế quay ra sau cho trẻ em từ 15 tháng thay vì 9-12 tháng, mà các quy định của EU trước khuyên.
== Lịch sử ==
Kể từ khi chiếc xe đầu tiên được sản xuất và đưa ra thị trường trong năm 1900, với nhiều thay đổi và điều chỉnh đã được thực hiện để bảo vệ những người lái xe và đi xe trong xe cơ giới. Hầu hết các hạn chế đã được đưa vào vị trí để bảo vệ người lớn mà không quan tâm đối với trẻ nhỏ. Mặc dù ghế trẻ em đã bắt đầu được sản xuất trong những năm 1930, mục đích của họ không phải là sự an toàn của trẻ em. Mục đích là để làm ghế nâng để đưa con đến một chiều cao dễ dàng hơn cho các phụ huynh khi lái xe có thể nhìn thấy con mình. Mãi cho đến năm 1962 trong đó hai thiết kế với mục đích bảo vệ một đứa trẻ được phát triển một cách độc lập. Nhà phát minh người Anh Jean Ames tạo ra một ghế trẻ em phía sau với một dây đeo y hình tương tự như mô hình hiện nay. Leonard Rivkin, Denver Colorado, thiết kế một chỗ ngồi hướng về phía trước với một khung kim loại để bảo vệ trẻ em. Cần lưu ý rằng dây an toàn cho người lớn là không trang bị tiêu chuẩn trong xe ô tô cho đến những năm 1950.
== Phân loại ==
Có một số loại của ghế xe, khác nhau về vị trí của các con và kích thước của ghế. Chuẩn ECE R44 / 04 của Liên Hợp Quốc phân loại thành 4 nhóm: 0-3. Nhiều ghế xe kết hợp các nhóm lớn hơn 1, 2 và 3. Một số mẫu xe mới bao gồm chỗ ngồi kiềm chế theo thiết kế mặc định của xe.
=== Nhóm 0 ===
Nhóm 0 ghế em bé, hoặc ghế dành cho trẻ sơ sinh, giữ em bé ở một vị trí phía sau và được bảo đảm tại chỗ bằng một dây an toàn dành cho người lớn tiêu chuẩn và/hoặc một phù ISOFIX.
Ghế nhóm 0 loại cũi giữ trẻ nằm bằng lưng.
Ghế loại cũi được được giữ chặt bằng các dây an toàn ở ghế sau của chiếc xe. Cả hai loại có tay cầm để cho phép họ dễ dàng di chuyển vào và ra khỏi xe.
Vị trí: Nằm, nhìn về phía sau, không có túi khí (với ngoại lệ túi khí ở hai bên).
Trọng lượng khuyến nghị: từ khi sinh cho đến 13 kg (22 lb)
Độ tuổi: từ khi sinh đến 15 tháng
==== Ghế cũi ====
Ghế cũi hoặc giường xe cho trẻ sơ sinh được sử dụng cho trẻ em mà không thể ghế dạng ngồi, chẳng hạn như trẻ sơ sinh non hoặc trẻ sơ sinh có triệu chứng ngưng thở. Một ghế cũi là một hệ thống kiềm chế nhằm phục và hạn chế tình trạng trẻ em trong một tư thế nằm ngửa hoặc nghiêng với cột sống của trẻ vuông góc với mặt phẳng dọc trung bình của chiếc xe. Ghế cũi được thiết kế để phân phối các lực lượng trên đầu và cơ thể của trẻ, không bao gồm các chi, trong trường hợp của một vụ tai nạn nghiêm trọng. Ghế cũi phải được đặt trên ghế sau của chiếc xe. Một số mô hình có thể được thay đổi để đối mặt về phía trước sau khi em bé đã đạt đến giới hạn trọng lượng đó là bình thường khoảng 15–20 kg.
Ghế cũi thường bao gồm một dây an toàn bụng và một kết nối đến (ba điểm) dây an toàn.
==== Ghế dành cho trẻ sơ sinh ====
Ghế dành cho trẻ sơ sinh là một hệ thống kiềm chế nhằm phục vụ cho trẻ trong một vị trí nửa nằm nửa ngồi đối mặt ra phía sau. Thiết kế này phân phối các lực lượng trên đầu và cơ thể của trẻ, không bao gồm các chi của trẻ, trong trường hợp va chạm trực diện.
Đối với trẻ nhỏ, ghế cho trẻ sơ sinh có trọng lượng khuyến nghị tiêu biểu ở 2–9 kg. Hầu hết các ghế trẻ sơ sinh được sản xuất ở Mỹ bây giờ có thể được sử dụng cho đến khi các bé được 10 kg và 75 cm, với một số sẽ lên đến 15,8 kg. Trước đây, hầu hết các ghế cho trẻ sơ sinh ở Mỹ giới hạn ở 9 kg và 66 cm. Một số (nhưng không phải tất cả) chỗ ngồi có thể được sử dụng với đế, hoặc một số có thể không cần đế. Ghế dành cho trẻ sơ sinh được gắn nhìn ra phía sau và được thiết kế dạng "kén" chống lưng của ghế xe trong trường hợp của một vụ va chạm, với tác động được hấp thụ trong lớp vỏ bên ngoài. Phía sau ghế ngồi được coi là an toàn nhất, và ở trẻ em Mỹ phải ngồi ở vị trí này cho đến khi chúng được ít nhất 1 tuổi và ít nhất 9 kg. mặc dù nó được khuyến khích để giữ trẻ ngồi trong tư thế nhìn ra sau cho đến khi ít nhất 2 tuổi hoặc trẻ vượt quá cân nặng hoặc chiều cao cho phép.
=== Nhóm 0+ ===
Nhóm O+ thường có một khung cố định vào xe từmột dây an toàn dành cho người lớn và có thể được đặt vào một số hình thức vận chuyển trẻ em thông qua những cách cài đặt cụ thể theo từng mẫu ghế. Ghế nhìn ra phía sau dành cho trẻ em vốn đã an toàn hơn ghế hướng về phía trước vì chúng cung cấp nhiều hỗ trợ tốt hơn cho đầu của trẻ trong trường hợp có giảm tốc đột ngột. Mặc dù một số bậc cha mẹ muốn chuyển sang một ghế trẻ em hướng về phía trước bởi vì trông có vẻ "lớn lên", các nước và các nhà sản xuất ghế xe khuyên rằng trẻ em tiếp tục sử dụng một ghế trẻ em phía sau lâu nhất có thể.
Vị trí: Ngồi, nhìn ra sau, không túi khí (với ngoại lệ túi khí hai bên).
Trọng lượng khuyến nghị: từ khi sinh (2–3 kg) đến 13 kg (29 lb).
Độ tuổi: từ khi sinh đến 15 tháng
==== Ghế chuyển đổi ====
Ghế chuyển đổi có thể sử dụng cho nhiều giai đoạn khác nhau. Rất nhiều ghế chuyển đổi có khả năng chuyển từ ghế nhìn ra phía, sang ghế nhìn ra phía trước, một số còn có thể sử dụng như ghế nâng. Đa số các ghế chuyển đổi có thể sử dụng cho trẻ từ 2,2 kg đến 18 kg.
Ghế chuyển đổi có thể dùng với cả hai tư thế là nhìn ra phía sau và nhìn ra phía trước. Có rất nhiều lựa chọn từ các nhà sản xuất như sự khác nhau về giới hạn cân nặng, giới hạn chiều cao, và các tính năng cộng thêm. Ghế có hệ thống 5 điểm khóa được coi là an toàn hơn so với các ghế có bảo vệ ở trên đầu
Ghế chuyển đổi không được coi là an toàn cho trẻ sơ sinh vì phần dưới của khóa thường nằm dưới vai của trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, người dùng có thể sử dụng ghế có phần khóa ở vị trí thấp dành cho trẻ sơ sinh.
Khi ở tư thế nhìn ra sau, ghế hạn chế cân nặng từ 9,1 đến 22,7 kg tùy thuộc vào nhà sản xuất và xuất sứ sản phẩm. Khi ở tư thế nhìn ra trước, giới hạn cân nặng từ 9,1 đến 40,8 kg, tùy vào từng loại ghế.
=== Nhóm 1 ===
Một hệ thống giữ cố định sử dụng dây an toàn của người lớn để giữ ghế và khóa năm điểm để giữ trẻ sơ sinh.
Vị trí: Ngồi, đề xuất vị trí nhìn ra sau nhưng luật cho phép sử dụng vị trí nhìn ra trước, không có túi khí (ngoại trừ túi khí hai bên).
Cân nặng đề xuất: 9 đến 18 kg
Độ tuổi: 9 tháng tuổi đến 4 năm tuổi (mặc dù trẻ lớn hơn có thể ngồi vừa ghế)
Trẻ em được khuyến cáo là nên ngồi trong tư thế nhìn ra sau càng lâu càng tốt. Ở các nước Scandinavi, trẻ em ngồi ở tư thế nhìn ra sau đến 4 tuổi. Tư thế nhìn ra sau được coi là an toàn hơn trong các va chạm trực diện, thường tạo ra các chấn thương nghiêm trọng hoặc tử vong.
=== Nhóm 2 ===
Lớn hơn ghế thuộc Nhóm 1. Các ghế này sử dụng dây an toàn của người lớn để cố định trẻ.
Vị trí: Ngồi, nhìn ra sau hoặc nhìn ra trước
Cân nặng đề xuất: 15 kg đến 25 kg
Độ tuổi: 4 đến 6 tuổi (mặc dù trẻ lớn hơn có thể ngồi vừa ghế)
=== Nhóm 3 ===
Còn được biết đến là ghế nâng (booster seat), nâng trẻ lên độ cao vừa phải để có thể sử dụng được dây an toàn của người lớn.
Vị trí: Ngồi, nhìn ra trước
Cân nặng đề xuất: 22 kg đến 36 kg
Độ tuổi: 4 đến 10 tuổi, và có thể hơn nếu trẻ chưa đạt 36 kg
==== Ghế nâng ====
Ghế nâng được đề xuất cho các trẻ chưa đạt chiều cao tiêu chuẩn để có thể sử dụng dây an toàn. Dây an toàn được thiết kế dành cho người lớn, và có thể quá lớn dành cho trẻ em. Tại Hoa Kỳ, trẻ dưới 4 tuổi và / hoặc dưới 40 lb được đề xuất sử dụng ghế có 5 điểm khóa thay vì ghế nâng.
Khi sử dụng ghế nâng, dây an toàn sẽ vắt chéo ngang qua xương đòn và ngực trẻ, và vắt qua eo. Dây an toàn không được sử dụng đúng cách sẽ tạo ra thương tích trong trường hợp đâm xe.
== Tham khảo == |
12 tháng 11.txt | Ngày 12 tháng 11 là ngày thứ 316 (317 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 49 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
969 – Hoàng đế Đông La Mã Nikephoros II Phokas bị ám sát bởi vợ là Theophano và người tình của bà là Ioannes I Tzimiskes.
1028 – Nữ hoàng Đông La Mã tương lai Zoë được phong làm hoàng hậu của Romanos III Argyros.
1893 - Hiệp ước Đường Durand được ký giữa hai quốc gia ngày nay là Pakistan và Afghanistan - Đường Durand đã được quốc tế công nhận là đường biên giới giữa hai quốc gia chị em này.
1912 – Xác của nhà thám hiểm người Anh Robert Falcon Scott và những đồng đội của ông được tìm thấy tại Nam Cực, 8 tháng sau thất bại của cuộc thám hiểm Terra Nova dẫn đến cái chết của họ trên đường về.
1918 - Áo trở thành một nước cộng hòa.
1923 - Phiên bản đầu tiên của Quốc kỳ Liên Xô được thông qua.
1927 – Lev Trotsky bị trục xuất khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô, dọn đường cho những cuộc trục xuất hàng loạt những người đối lập tại Liên Xô vào đầu năm sau.
1936 - Ngày 12-11-1936, hơn 10 nghìn công nhân mỏ than Cẩm Phả đã giành được thắng lợi sau một tuần bãi công, đấu tranh buộc chủ mỏ phải tǎng lương giảm giờ làm.
1936 – Cầu qua vịnh Oakland-San Francisco bắc qua Vịnh San Francisco nối hai thành phố San Francisco và Oakland của Hoa Kỳ bắt đầu được đưa vào sử dụng.
1942 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Bắt đầu Hải chiến Guadalcanal tại quần đảo Solomon giữa quân Đồng Minh và quân Nhật Bản.
1948 - Tại Tokyo, một tòa án quốc tế về tội ác chiến tranh tuyên án bảy sĩ quan và viên chức Nhật Bản tử hình, bao gồm tướng Hideki Tojo, vì vai trò của họ trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
1970 – Xoáy thuận Bhola đổ bộ tại bờ biển của Đông Pakistan, trở thành xoáy thuận nhiệt đới gây thiệt hại nhân mạng cao nhất trong lịch sử.
1971 - Chiến tranh Việt Nam: Như một phần của Việt Nam hóa Chiến tranh, Tổng thống Hoa Kỳ Richard M. Nixon đặt 1 tháng 2 năm 1972 là thời hạn chót để rút 45.000 quân Hoa Kỳ troops khỏi Việt Nam.
1979 - Khủng hoảng Con tin Iran: Đáp lại tình hình bắt cóc con tin tại Tehran, Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter ra lệnh dừng nhập khẩu dầu mỏ từ Iran vào Hoa Kỳ.
1980 – Tàu thăm dò không gian Voyager 1 của NASA tiếp cận gần nhất với Sao Thổ và có được những bức ảnh đầu tiên về vành đai của hành tinh này.
1982 - Tại Liên Xô, Yuri Andropov trở thành tổng bí thư của Đảng Cộng sản Liên Xô, kế nhiệm Leonid I. Brezhnev.
1998 - Phó Tổng thống Hoa Kỳ Al Gore ký tượng trưng vào Nghị định thư Kyoto.
1990 – Hoàng thái tử Akihito tiến hành lễ tức vị tại Hoàng Cư ở Tokyo, chính thức trở thành Thiên hoàng thứ 125 của Nhật Bản.
2014 – Phi thuyền Rosetta lần đầu tiên đổ bộ lên sao chổi 67P/Churyumov-Gerasimenko. Lần đầu tiên đổ bộ thành công lên một sao chổi.
== Sinh ==
1840 - Auguste Rodin, họa sĩ người Pháp
Tôn Dật Tiên
1948 - Trần Thu Hà, Nhà giáo Nhân dân, Nghệ sĩ Nhân dân, nghệ sĩ dương cầm Việt Nam
1980 - Ryan Gosling, diễn viên người Canada
== Mất ==
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
sân bay gia lâm.txt | Sân bay Gia Lâm là sân bay cấp II, thuộc Quận Long Biên, cách trung tâm thành phố Hà Nội 8 km.
== Đặc tính kỹ thuật ==
Chiều dài đường cất hạ cánh: chính 2.000 m; phụ: 1.200m
Chiều rộng đường cất hạ cánh: chính 45 m, phụ 20m
Kích thước đường lăn chính: 1.450x20 (m)
Kết cấu đường cất hạ cánh: bê tông xi măng - bê tông nhựa
Sân đỗ máy bay: 2 chiếc
Sân chứa máy bay: 20 chiếc
== Đặc điểm khai thác ==
Đây là sân bay chính của Hà Nội trước năm 1970. Sau năm 1975, sân bay này đã được thay thế bằng Sân bay Quốc tế Nội Bài. Hiện nay, sân bay Gia Lâm dành cho hoạt động bay huấn luyện và bay taxi phục vụ các chuyến du lịch bằng máy bay trực thăng.
== Định hướng phát triển ==
Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam cho biết, đang quy hoạch sân bay Gia Lâm. Đến sau năm 2015, sân bay này sẽ thành ga hàng không giá rẻ để đáp ứng yêu cầu mở rộng thị trường.
== Tham khảo == |
ppm (mật độ).txt | Trong khoa đo lường, ppm là đơn vị đo mật độ thường dành cho các mật độ tương đối thấp.
Nó thường chỉ tỷ lệ của lượng một chất trong tổng số lượng của hỗn hợp chứa chất đó. Ở đây lượng có thể hiểu là khối lượng, thể tích, số hạt (số mol),... Khi dùng cần chỉ rõ lượng là gì.
Giá trị của ppm là:
ppm = 1/1 000 000 = 10-6
Chữ ppm xuất phát từ tiếng Anh parts per million nghĩa là một phần triệu.
== Dẫn chứng ==
Mật độ tương đối của khí hiếm trong khí quyển có thể đo bằng ppm.
ppm = 1µl/l = 1 mg/kg
== Tham khảo == |
ukiyo-e.txt | Ukiyo-e là một thể loại nghệ thuật phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ 17 tới thế kỷ 19 tại Nhật Bản. Các nghệ sĩ của thể loại này sản xuất các bản in và tranh in mộc bản của các đối tượng như những thiếu nữ đẹp; diễn viên kabuki và đô vật sumo; các cảnh trích từ những câu chuyện lịch sử và dân gian; cảnh đẹp du ngoạn và phong cảnh khắp nơi; thực vật và động vật; và kể cả nội dung khiêu dâm. Thuật ngữ ukiyo-e (浮世絵, IPA: [u.ki.jo.e]) dịch ra có nghĩa là "[những] bức tranh của thế giới hư ảo".
Edo (ngày nay là Tokyo) trở thành nơi đặt trụ sở của chính quyền chế độ độc tài quân sự vào đầu thế kỷ 17. Tầng lớp thương nhân - vốn nằm ở dưới cùng của trật tự xã hội - được hưởng lợi nhiều nhất từ sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của thành phố. Nhiều người mê đắm trong thế giới lạc thú của nhà hát kabuki, kỹ nữ hạng sang và geisha của những khu phố lầu xanh. Thuật ngữ ukiyo ("phù thế") xuất hiện để mô tả lối sống hưởng lạc này. Các bức tranh ukiyo-e được in hoặc vẽ ra của môi trường này xuất hiện vào cuối thế kỷ 17, và trở nên phổ biến với tầng lớp thương nhân, những người đã trở nên đủ giàu có để đủ khả năng sử dụng những bức tranh nhằm mục đích trang trí nhà cửa của mình.
Sự thành công sớm nhất rơi vào khoảng thập niên 1670, với các bức tranh vẽ và tranh in đơn sắc về những thiếu nữ đẹp của Moronobu. Màu sắc trong in ấn bắt đầu xuất hiện một cách chậm rãi—lúc đầu được thêm bằng tay cho những đơn hàng đặc biệt. Vào thập niên 1740, các nghệ sĩ như Masanobu sử dụng nhiều bản gỗ (mộc bản) để in các vùng màu. Từ thập niên 1760, thành công của "tranh in gấm" của Harunobu đã dẫn đến việc quá trình sản xuất với đầy đủ màu sắc trở thành tiêu chuẩn, mỗi bản in được thực hiện với nhiều khối. Các chuyên gia đã đánh giá cao các bức chân dung của người đẹp và diễn viên của các bậc thầy như Kiyonaga, Utamaro và Sharaku, những người xuất hiện vào cuối thế kỷ 18. Thế kỷ 19 chứng kiến sự tiếp nổi của cặp đôi bậc thầy đáng nhớ nhất về tranh phong cảnh: một nghệ sĩ theo chủ nghĩa hình thức một cách mạnh mẽ là Hokusai, người có tác phẩm Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa - một trong những tác phẩm được biết đến nhiều nhất trong các tác phẩm nghệ thuật của Nhật Bản; và nghệ sĩ còn lại với phong cách bình lặng, đầy tâm trạng là Hiroshige, được chú ý nhiều nhất với loạt tranh Năm mươi ba trạm nghỉ của Tōkaidō của ông. Sau khi hai bậc thầy này qua đời, và với việc đối lập với sự hiện đại hóa công nghệ và xã hội, là những hệ quả của cuộc Minh Trị Duy tân năm 1868, việc sản xuất ukiyo-e bước vào thời kỳ suy yếu mạnh.
Một số nghệ sĩ ukiyo-e chuyên vẽ tranh, nhưng hầu hết các tác phẩm còn tồn tại là tranh in. Người nghệ sĩ hiếm khi tự khắc mộc bản riêng của họ cho việc in ấn; đúng hơn thì việc sản xuất được phân chia giữa nghệ sĩ, người thiết kế các bản in; thợ chạm khắc, người cắt gọt mộc bản; thợ in, người bôi mực và ấn mộc bản lên trên giấy làm thủ công; và nhà xuất bản, người tài trợ, quảng bá và phân phối các tác phẩm. Khi việc in ấn được thực hiện bằng tay, thợ in có thể tạo ra hiệu ứng thực tế với máy móc, chẳng hạn như sự pha trộn hoặc phân cấp màu sắc trên khối mộc bản in.
Ukiyo-e là trung tâm trong sự hình thành nhận thức về nền nghệ thuật Nhật Bản của người phương Tây trong những năm cuối thế kỷ 19–đặc biệt là những bức tranh phong cảnh của Hokusai và Hiroshige. Từ thập niên 1870, chủ nghĩa Nhật Bản đã trở thành một xu hướng nổi bật và có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên các nghệ sĩ theo trường phái Ấn tượng thời kỳ đầu như Degas, Manet và Monet, cũng như các nghệ sĩ theo trường phái Hậu ấn tượng như van Gogh và phong cách Art Nouveau như Toulouse-Lautrec. Thế kỷ 20 chứng kiến một sự hồi sinh trong nghệ thuật in tranh Nhật Bản: thể loại shin-hanga ("tân bản hoạ") tận dụng niềm hứng thú với văn hoá phương Tây vào các bản in thể hiện các khung cảnh Nhật Bản truyền thống, và phong trào sōsaku-hanga ("sáng tác bản hoạ") khuyến khích các tác phẩm theo chủ nghĩa cá nhân được thiết kế, khắc mộc bản và in bởi một nghệ sĩ đơn nhất. Các bản in từ cuối thế kỷ 20 tiếp tục tồn tại theo một phong cách mang chủ nghĩa cá nhân, thường được tạo ra bằng kỹ thuật được du nhập từ phương Tây.
== Lịch sử ==
=== Thời đại trước khi ukiyo-e xuất hiện ===
Nghệ thuật Nhật Bản từ thời kỳ Heian (794–1185) đã đi theo hai con đường chính: dòng tranh truyền thống Yamato-e mang tính đề cao văn hoá bản địa, tập trung vào các chủ đề về Nhật Bản, được biết đến nhiều nhất bởi các tác phẩm của các nghệ sĩ thuộc môn phái Tosa; và dòng tranh kara-e lấy cảm hứng từ Trung Quốc được thể hiện trong một số phong cách, chẳng hạn như tranh thuỷ mặc đơn sắc của Sesshū Tōyō và các môn đồ của ông. Tranh của môn phái Kanō kết hợp các đặc trung của cả hai dòng.
Từ xa xưa, nền nghệ thuật Nhật Bản đã nhận được sự trợ giúp từ những người đỡ đầu trong giới quý tộc, các chính quyền quân sự và các thế lực tôn giáo. Cho tới thế kỷ 16, cuộc sống của những người dân thường không phải là một chủ đề chính của hội họa, và ngay cả khi họ được xuất hiện, các tác phẩm này vẫn là những món đồ xa xỉ được tạo ra cho các samurai cầm quyền và tầng lớp thương gia giàu có. Các tác phẩm sau này xuất hiện bởi - và dành cho - bản thân những người dân thành thị, trong đó có những bức tranh đơn sắc không quá tốn kém về thiếu nữ đẹp và những khung cảnh nhà hát và khu phố lầu xanh. Bản chất được thực hiện thủ công của các bức tranh shikomi-e đã hạn chế quy mô sản xuất của họ, một giới hạn đã khiến nó sớm bị vượt qua bởi các thể loại chuyển sang loại hình in mộc bản sản xuất hàng loạt.
Trong suốt một thời gian dài của cuộc nội chiến trong thế kỷ 16, một tầng lớp của các thương gia có quyền lực về mặt chính trị đã phát triển. Những machishū này tự liên minh với triều đình và có quyền lực đối với các cộng đồng tại địa phương; sự bảo trợ các loại hình nghệ thuật của họ khuyến khích một sự phục hưng với các loại hình nghệ thuật cổ điển vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17. Vào đầu thế kỷ thứ 17, Tokugawa Ieyasu (1543–1616) thống nhất đất nước và được bổ nhiệm làm shogun với quyền lực tối cao trên khắp Nhật Bản. Ông củng cố chính phủ của mình tại làng Edo (ngày nay là Tokyo), và yêu cầu các lãnh chúa phải tập hợp tại đây trong những năm xen kẽ nhau với tuỳ tùng của họ. Những đòi hỏi của một thủ đô đang mở rộng ngày càng thu hút nhiều lao động nam giới từ các vùng thôn quê, do đó số lượng nam giới này đã chiếm gần 70% dân số. Ngôi làng đã phát triển mạnh trong suốt thời kỳ Edo (1603–1867) từ chỉ có 1800 dân tới hơn một triệu dân vào thế kỷ 19.
Chính quyền Mạc phủ tập quyền đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của machishū và chia dân chúng thành bốn tầng lớp xã hội, với tầng lớp samurai cầm quyền đứng đầu và tầng lớp thương nhân nằm thấp nhất dưới đáy xã hội. Trong khi bị tước đi ảnh hưởng chính trị, tầng lớp thương nhân là những người được hưởng lợi nhiều nhất từ nền kinh tế phát triển nhanh chóng của thời kỳ Edo, và những khu dân cư được cải thiện cho phép nhiều người tìm kiếm những khoảng thời gian thư giãn ở các khu phố lầu xanh—đặc biệt là Yoshiwara ở Edo—và tiến hành thu thập các tác phẩm nghệ thuật để trang trí nhà cửa, điều mà trong khoảng thời gian trước đó nằm ngoài khả năng tài chính của họ. Trải nghiệm của các khu lầu xanh được mở ra cho những người đủ khả năng về mức độ giàu có, văn hoá ứng xử và trình độ hiểu biết.
Nghệ thuật in mộc bản tại Nhật Bản có thể lần theo dấu vết tới Hyakumantō Darani vào khoảng năm 770 SCN. Cho tới thế kỷ 17, những bản in như vậy được dành cho con dấu và hình ảnh về Phật giáo. Hệ thống chữ in di động xuất hiện vào khoảng năm 1600, nhưng khi hệ thống chữ viết tiếng Nhật cần khoảng 100.000 miếng chữ để in, con chữ khắc bằng tay vào các khối mộc bản tỏ ra hiệu quả hơn. Tại phiên Saga, nhà thư pháp Honami Kōetsu và nhà xuất bản Suminokura Soan kết hợp văn bản in và hình ảnh trong một tác phẩm chuyển thể của Truyện kể Ise (Ise monogatari) (1608) và các tác phẩm văn chương khác. Trong thời Kan'ei (1624–1643), các cuốn sách minh hoạ về truyện dân gian gọi là tanrokubon, hay "sách cam lục", là những cuốn sách sản xuất hàng loạt đầu tiên sử dụng hình thức in mộc bản. Các hình ảnh in mộc bản tiếp tục phát triển như một hình thức minh họa cho kanazōshi, thể loại của những câu chuyện về cuộc sống đô thị theo chủ nghĩa khoái lạc ở thủ đô mới. Công cuộc xây dựng lại Edo sau trận Đại hoả hoạn Meireki năm 1657 là thời cơ cho một sự hiện đại hoá của thành phố, và việc xuất bản sách in minh họa bắt đầu phát triển mạnh trong môi trường đang trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng.
Thuật ngữ "ukiyo", có thể được dịch ra là "thế giới không thực", là một từ đồng âm khác nghĩa với một thuật ngữ Phật giáo cổ, mang nghĩa "thế giới của phiền muộn và đau khổ này". Thuật ngữ với ý nghĩa ra đời sau, tại các thời điểm, đã được dùng với nghĩa chỉ sự "gợi tình" hoặc "hợp thời", trong số những nghĩa khác, và nhắm tới việc mô tả tinh thần hưởng thụ lạc thú tại thời gian này cho những tầng lớp thấp kém hơn. Asai Ryōi đã tán dương tinh thần này trong cuốn tiểu thuyết Ukiyo Monogatari ("Truyện về thế giới hư ảo", k. 1661):
"sống chỉ cho hiện tại, thưởng nguyệt, ngắm tuyết, ngắm hoa anh đào, lá phong, ca hát, uống rượu sake, và giải sầu cho bản thân chỉ trong trạng thái hư ảo, không quan tâm viễn cảnh đói nghèo sắp xảy đến, sôi nổi và vô tư, như một quả bầu hồ lô mang theo người với con sông hiện tại: đấy là những gì chúng ta gọi là ukiyo."
=== Sự xuất hiện của ukiyo-e (cuối thế kỷ 17 – đầu thế kỷ 18) ===
Các nghệ sĩ ukiyo-e xuất hiện sớm nhất đến từ thế giới của hội họa Nhật Bản. Tranh theo trường phái Yamato-e của thế kỷ 17 đã phát triển một phong cách với các kiểu vẽ viền đối tượng, cho phép các giọt mực được nhỏ giọt trên bề mặt ướt và lan ra phía đường viền—các kiểu vẽ viền này đã trở thành phong cách chủ đạo của ukiyo-e.
Khoảng năm 1661, các bức tranh cuộn treo tường như Chân dung người đẹp Kanbun trở nên phổ biến. Các bức tranh của thời đại Kanbun (1661–73), hầu hết trong số đó là khuyết danh, đánh dấu sự khởi đầu của ukiyo-e như một trường phái độc lập. Các bức tranh của Iwasa Matabei (1578–1650) có một sự giống nhau về cấu trúc đối với những bức tranh ukiyo-e. Các học giả không đồng ý với ý kiến rằng bản thân các tác phẩm của Matabei không rõ có phải là ukiyo-e hay không; các ý kiến khẳng định ông là người sáng lập của thể loại này đặc biệt phổ biến trong số các nhà nghiên cứu Nhật Bản. Đôi lúc, Matabei được ghi danh là nghệ sĩ hoàn thành bức tranh Bình phong Hikone, một bức bình phong gấp byōbu không có chữ ký mà có thể là một trong những công trình ukiyo-e sớm nhất còn sót lại. Bức bình phong được vẽ một cách tinh tế theo phong cách Kanō, và mô tả cuộc sống đương đại chứ không phải là các đối tượng theo quy định của các trường phái hội họa.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cho các tác phẩm ukiyo-e, Hishikawa Moronobu (1618–1694) đã sản xuất ra các bản tranh in mộc bản ukiyo-e đầu tiên. Tới năm 1672, một trong những thành công của Moronobu thể hiện ở việc ông đã bắt đầu ký tên vào tác phẩm của mình—Moronobu là người đầu tiên trong số các hoạ sĩ minh hoạ làm điều này. Ông là một hoạ sĩ minh hoạ năng suất, với gia tài vô số các tác phẩm của mình thuộc một loạt các thể loại, và đã phát triển một phong cách minh hoạ có ảnh hưởng đáng kể về chân dung các thiếu nữ đẹp. Một trong những điểm đáng kể nhất trong sự nghiệp của Moronobu nằm ở việc ông bắt đầu sản xuất hình ảnh minh họa, không chỉ cho sách, mà còn là các tranh vẽ đơn bản, những sản phẩm có thể đứng một mình hoặc là một phần của một loạt tranh. Môn phái của Hishikawa thu hút một số lượng lớn các tín đồ, cũng như những hoạ sĩ học theo phong cách như Sugimura Jihei, và báo hiệu sự bắt đầu của việc phổ biến một loại hình nghệ thuật mới.
Torii Kiyonobu I và Kaigetsudō Ando đã trở thành những đối thủ nổi bật đối lập với phong cách Moronobu sau khi bậc thầy này qua đời, mặc dù họ không phải là một thành viên của môn phái Hishikawa. Cả hai đều loại bỏ chi tiết ở hậu cảnh để tập trung vào các nhân vật con người—các diễn viên kabuki trong các bức yakusha-e của Kiyonobu và môn phái Torii tiếp nối ông, và các kỹ nữ hạng sang trong các bức bijin-ga của Ando và môn phái Kaigetsudō. Ando và các môn đồ của ông đã tạo ra một hình ảnh phụ nữ mang tính rập khuôn, mà thiết kế và tư thế của các thiếu nữ cho phép bản thân chúng có thể được dùng để sản xuất hàng loạt, và sự phổ biến của những hình ảnh này đã tạo ra một nhu cầu về tranh in mà các họa sĩ và các môn phái khác đã tận dụng. Sự tồn tại của môn phái Kaigetsudō và khái niệm "vẻ đẹp Kaigetsudō" nổi tiếng của nó đã bị chấm dứt sau khi Ando bị lưu đày do vai trò của ông trong sự kiện Ejima-Ikushima năm 1714.
Nghệ sĩ người bản địa Kyoto Nishikawa Sukenobu (1671–1750) đã vẽ nên những hình ảnh tinh tế về mặt kỹ thuật của những kỹ nữ hạng sang (oiran). Được coi là một bậc thầy của loại hình chân dung khiêu dâm, ông là chủ thể của một lệnh cấm từ phía chính quyền trong năm 1722, mặc dù người ta tin rằng ông vẫn tiếp tục sáng tác các tác phẩm được lưu hành dưới các tên gọi khác nhau. Sukenobu dành phần lớn sự nghiệp của mình ở Edo, và ảnh hưởng của ông tỏ ra đáng kể ở cả vùng Kantō và Kansai. Các bức tranh của Miyagawa Chōshun (1683–1752) khắc họa cuộc sống đầu thế kỷ 18 với những màu sắc tinh tế. Chōshun không hề thực hiện bản tranh in nào. Môn phái Miyagawa mà ông thành lập vào đầu thế kỷ 18 chuyên sáng tác các bức tranh lãng mạn với một phong cách tinh tế hơn trong đường nét và màu sắc so với môn phái Kaigetsudō. Chōshun cho phép tự do biểu cảm hơn trong cách vẽ của các môn đồ, một nhóm mà sau này bao gồm cả Hokusai.
Các bậc thầy ukiyo-e thời kỳ đầu
=== Tranh in màu (giữa thế kỷ 18) ===
Màu sắc trong in ấn đã xuất hiện ngay cả trong các bản in và sách in đơn sắc ở thời kỳ đầu, chúng được thêm vào bằng tay cho những yêu cầu đặt hàng đặc biệt. Nhu cầu về màu sắc vào đầu thế kỷ 18 đã được đáp ứng với tan-e, loại tranh in được vẽ màu bằng tay với màu cam và đôi khi là màu xanh lá cây hoặc vàng. Những bức tranh này được tiếp nổi trong thập niên 1720 với một xu hướng thịnh hành của dòng tranh chuyên được tô màu hồng beni-e và sau này là loại mực giống với màu sơn mài của thể loại urushi-e. Năm 1744, dòng tranh benizuri-e là dòng thành công đầu tiên trong lĩnh vực in ấn có màu, sử dụng nhiều mộc bản—mỗi bản một màu, với những màu dùng sớm nhất là màu hồng beni và màu xanh thực vật.
Một người tự khởi xướng lớn, Okumura Masanobu (1686–1764) đóng một vai trò quan trọng trong giai đoạn phát triển kỹ thuật nhanh chóng trong in ấn từ những năm cuối thế kỷ 17 tới giữa thế kỷ 18. Ông thành lập một xưởng in vào năm 1707 và kết hợp các yếu tố của các môn phái đương đại hàng đầu trong một loạt các thể loại, mặc dù bản thân Masanobu không thuộc một môn phái nào. Trong số những sáng kiến trong các bức tranh lãng mạn, trữ tình của ông là sự giới thiệu hệ thống phối cảnh đồ hoạ vào dòng tranh uki-e trong thập niên 1740; các bản in hashira-e dài và hẹp; và sự kết hợp của đồ họa và văn học viết trong các bản in ấn bao gồm các bài thơ haiku tự sáng tác.
Ukiyo-e đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 17 với sự ra đời của các bản in đầy đủ màu sắc, kỹ thuật được phát triển sau khi Edo thịnh vượng trở lại dưới thời Tanuma Okitsugu sau một thời gian suy thoái kéo dài. Những bản in màu nổi tiếng này được gọi là nishiki-e, hay "tranh in gấm", khi những màu sắc rực rỡ của họ dường như chịu sự tương đồng từ dòng vải thổ cẩm đất Thục (Shu) nhập khẩu từ Trung Quốc, được biết đến trong tiếng Nhật với tên gọi là Shokkō nishiki. Sản phẩm đầu tiên trở nên nổi bật là các bản in lịch đắt tiền, được in với nhiều khối in trên giấy có chất lượng rất tốt với mực đặc và đục. Những bản in có số của các ngày cho mỗi tháng được ẩn đi trong thiết kế, và được gửi vào năm mới như lời chào mang tính cá nhân, mang tên của người bảo trợ chứ không phải là nghệ sĩ. Các khối cho các bản in sau đó được tái sử dụng cho quá trình sản xuất thương mại, được cạo đi tên của người bảo trợ và thay thế bằng tên của nghệ sĩ.
Các tranh in mang phong cách thanh nhã, tinh xảo, lãng mạn của Suzuki Harunobu (1725–1770) nằm trong số những người đầu tiên thực hiện các thiết kế có màu sắc biểu cảm và phức tạp, được in với số khối lên đến hàng chục khối riêng biệt để xử lý các màu sắc khác nhau và các sắc độ trung gian. Các bản tranh in có giới hạn với nét phong nhã của ông gợi nhớ đến chủ nghĩa kinh điển trong thơ waka và tranh theo trường phái Yamato-e. Một Harunobu bước vào thời kỳ sung mãn giúp cho ông trở thành nghệ sĩ ukiyo-e có ảnh hưởng vô cùng lớn trong thời đại của mình. Thành công của những bức nishiki-e đầy màu sắc của Harunobu từ 1765 dẫn đến một sự suy giảm đáng kể nhu cầu đối với các dòng tranh sử dụng bảng màu hạn chế như benizuri-e và urushi-e, cũng như tranh in được lên màu bằng tay.
Một xu hướng đối đầu với chủ nghĩa duy tâm của các bản in của Harunobu và môn phái Torii đã phát triển sau sự qua đời của Harunobu vào năm 1770. Katsukawa Shunshō (1726–1793) và môn phái của ông tạo ra các chân dung của diễn viên kịch kabuki với việc tuân thủ hơn tới đặc trưng thật sự của người diễn viên, hơn là theo xu hướng lúc bấy giờ. Bộ đôi với một vài tác phẩm cộng tác cùng nhau Koryūsai (1735 – k. 1790) và Kitao Shigemasa (1739–1820) là những tác giả miêu tả phụ nữ nổi bật, những người cũng thúc đẩy ukiyo-e rời xa khỏi sự thống trị của chủ nghĩa lý tưởng Harunobu bằng cách tập trung vào thời trang đô thị hiện đại và tán dương những kỹ nữ hạng sang cũng như geisha trong thế giới thực. Koryūsai có lẽ là một trong những nghệ sĩ ukiyo-e sung sức nhất thế kỷ 17, và sản xuất một số lượng lớn các bức tranh và loạt tranh in nhiều hơn bất kỳ người tiền nhiệm nào khác. Môn phái Kitao mà Shigemasa lập nên là một trong những môn phái chi phối trong những thập niên cuối của thế kỷ 18.
Trong thập niên 1770, Utagawa Toyoharu tạo ra một số bản in uki-e có sự xuất hiện của phối cảnh mà chứng minh một ưu thể của các kỹ thuật phối cảnh phương Tây nhằm thoát khỏi ảnh hưởng từ những người tiền nhiệm trong thể loại này. Các tác phẩm của Toyoharu đã giúp mở ra thể loại phong cảnh như một chủ đề của ukiyo-e, chứ không chỉ đơn thuần là một khung cảnh làm nền cho các nhân vật con người Trong thế kỷ 19, các kỹ thuật phối cảnh phương Tây được tiếp thu vào văn hóa nghệ thuật Nhật Bản, và được triển khai trong các cảnh quan tinh tế của các nghệ sĩ như Hokusai và Hiroshige, người là một môn đồ của môn phái Utagawa mà Toyoharu sáng lập. Môn phái này đã trở thành một trong những môn phái có ảnh hưởng lớn nhất, và sáng tác các tác phẩm thuộc một số lượng rất lớn các thể loại nhiều hơn bất cứ môn phái nào.
Các tác phẩm ukiyo-e có màu thời kỳ đầu
=== Thời kỳ đỉnh cao (cuối thế kỷ 18) ===
Vào thời buổi kinh tế khó khăn những năm cuối thế kỷ 18, ukiyo-e đạt đến đỉnh cao về số lượng và chất lượng tác phẩm, đặc biệt là trong thời kỳ Kansei (1789–1791). Tranh ukiyo-e trong thời kỳ Cải cách Kansei tập trung vào vẻ đẹp và sự hài hoà, những điều bị chuyển biến xấu theo hướng suy đồi và không hoà hợp trong thế kỷ tiếp theo, khi cải cách bị đình trệ - sau khi người đứng đầu cuộc cải cách là Matsudaira Sadanobu phải từ nhiệm do một loạt các sự kiện - và căng thẳng gia tăng, mà đỉnh cao là cuộc Minh Trị Duy tân năm 1868.
Đặc biệt trong thập niên 1780, Torii Kiyonaga (1752–1815) của môn phái Torii mô tả các đối tượng truyền thống của ukiyo-e như người đẹp và cảnh đô thị, trong đó ông in chúng trên nhiều tờ giấy khổ lớn, thường là những bản in đôi hoặc in ba liên tiếp xếp ngang liền nhau. Các tác phẩm của ông không cần đến những khung cảnh mộng mị trong thi ca như của Harunobu, thay vào đó lựa chọn tả thực những hình thức phụ nữ lý tưởng trong trang phục thời trang tân thời trong các địa điểm danh lam thắng cảnh. Ông còn tạo nên những bức chân dung của các diễn viên kịch kabuki với một phong cách hiện thực, bao gồm các nhạc sĩ và đội ca vũ đi kèm.
Một điều luật đã có hiệu lực vào năm 1790 đòi hỏi các bản in phải được đóng một con dấu kiểm duyệt, đại diện cho sự chấp thuận cho phép được bán. Sự kiểm duyệt đã trở nên nghiêm ngặt hơn nhiều trong những thập kỷ sau đó, và người vi phạm có thể phải chịu những hình phạt khắc nghiệt. Từ năm 1799, thậm chí các bản phác thảo sơ bộ cũng đòi hỏi phải nhận được sự chấp thuận. Một nhóm môn đồ bị kết tội của phái Utagawa bao gồm Toyokuni đã bị đàn áp các tác phẩm vào năm 1801, và Utamaro đã bị tống giam vào năm 1804 vì tạo ra các bản in về hình ảnh nhà chính trị và lãnh đạo quân sự vào thế kỷ 16 Toyotomi Hideyoshi.
Utamaro (k. 1753–1806) làm nên tên tuổi của mình vào thập niên 1790 với các tác phẩm chân dung bijin ōkubi-e ("tranh với phần đầu lớn của phụ nữ đẹp") của mình, tập trung vào phần đầu và thân trên, một phong cách mà những người khác trước đó đã từng thực hiện với chân dung của các diễn viên kabuki. Utamaro đã thử nghiệm với các kỹ thuật về đường nét, màu sắc và in ấn để mang lại sự khác biệt tinh tế trong các nét mặt, biểu cảm, và phông nền của các đối tượng từ một loạt các lớp và phần nền. Những vẻ đẹp được cá tính hoá của Utamaro đối lập mạnh mẽ với những hình ảnh rập khuôn, lý tưởng đã thành chuẩn mực trước đó. Đến cuối thập kỷ này, đặc biệt là sau khi người bảo trợ của ông là Tsutaya Jūzaburō qua đời năm 1797, sức sáng tác phi thường của Utamaro rơi vào thời kỳ giảm sút về mặt chất lượng, và ông mất vào năm 1806.
Xuất hiện bất ngờ vào năm 1794 và biến mất một cách đột ngột không kém mười tháng sau, các bản in của nghệ sĩ bí ẩn Sharaku nằm trong số các tác phẩm ukiyo-e được biết đến nhiều nhất. Sharaku sáng tác các tác phẩm chân dung mang phong cách ấn tượng của các diễn viên kịch kabuki, giới thiệu một mức độ cao hơn của chủ nghĩa hiện thực vào trong các bản in của ông, nhấn mạnh sự khác biệt giữa các diễn viên và nhân vật được miêu tả. Các khuôn mặt méo mó đầy biểu cảm mà ông miêu tả tương phản một cách mạnh mẽ với các gương mặt thanh bình (mà đôi lúc tỏ ra khô cứng) phổ biến hơn của các nghệ sĩ như Harunobu hoặc Utamaro. Được xuất bản bởi Tsutaya, tác phẩm của Sharaku cho thấy sự chống cự mãnh liệt, tuy vậy, các sản phẩm mới của ông bị ngưng lại một cách bí ẩn như lúc chúng xuất hiện vào năm 1795, và danh tính thực sự của ông vẫn chưa rõ. Utagawa Toyokuni (1769–1825) tạo ra các chân dung diễn viên kabuki theo một phong cách dễ tiếp cận hơn với cư dân Edo, nhấn mạnh các tư thế kịch tính và tránh tiếp cận với chủ nghĩa hiện thực của Sharaku.
Một mức độ chất lượng nhất quán cao đã giúp cho ukiyo-e đạt được một cột mốc quan trọng vào cuối thế kỷ 18, nhưng các tác phẩm của Utamaro và Sharaku thường làm lu mờ những bậc thầy khác của cùng thời đại. Một trong các môn đồ của Kiyonaga, Eishi (1756–1829), từ bỏ vị trí của mình là họa sĩ cho shogun Tokugawa Ieharu để bắt đầu công việc thiết kế ukiyo-e. Ông mang đến một cảm giác tinh tế cho những bức chân dung về những cô kỹ nữ hạng sang duyên dáng, mảnh mai, và để lại một số lượng những học trò đáng ghi nhận. Với một dòng dõi tốt đẹp, Eishōsai Chōki (hoạt động trong những năm 1786–1808) đã thiết kế chân dung của các cô gái kỹ nữ một cách tinh tế. Môn phái Utagawa đã thống trị các sản phẩm ukiyo-e vào cuối thời kỳ Edo.
Edo là trung tâm chính của việc sản xuất ukiyo-e trong suốt thời kỳ Edo. Một trung tâm lớn khác phát triển tại các khu vực trong vùng Kamigata, nằm trong và xung quanh vùng Kyoto và Osaka. Ngược lại với các phạm vi của các đối tượng trong các bản in ở khu vực Edo, những bản in ở Kamigata có xu hướng nghiêng về chân dung của các diễn viên kịch kabuki. Phong cách các bản in ở Kamigata ít có sự phân biệt so với các bản in ở Edo cho tới cuối thế kỷ 18, một phần vì các nghệ sĩ thường di chuyển qua lại giữa cả hai khu vực này. Màu sắc có xu hướng nhẹ nhàng hơn và thuốc màu được sử dụng đặc hơn trong các bản in ở Kamigata so với ở Edo. Trong thế kỷ 19, rất nhiều bản in được thiết kế bởi những người hâm mộ kabuki và những người nghiệp dư khác.
Các bậc thầy của thời kỳ đỉnh cao
=== Thời kỳ nở rộ cuối cùng: thực vật, động vật và phong cảnh (thế kỷ 19) ===
Cuộc Cải cách Thiên Bảo năm 1841–1843 đã tìm cách đàn áp việc thể hiện sự giàu sang về bề ngoài, bao gồm việc mô tả các kỹ nữ và diễn viên. Kết quả là, nhiều nghệ sĩ ukiyo-e đã chuyển sang việc thiết kế các khung cảnh du ngoạn và các hình ảnh tự nhiên, đặc biệt là chim muông và hoa cỏ. Các phong cảnh vốn không nhận được nhiều sự chú trọng từ thời của Moronobu, và chúng hình thành một yếu tố quan trọng trong các tác phẩm của Kiyonaga và Shuncho. Phải mãi cho đến cuối thời kỳ Edo, phong cảnh mới tách hẳn thành một thể loại riêng biệt, đặc biệt là thông qua các tác phẩm của Hokusai và Hiroshige. Thể loại phong cảnh bắt đầu thống trị các phối cảnh phương Tây của ukiyo-e, mặc dù ukiyo-e đã có một lịch sử phát triển lâu dài trước khi các bậc thầy thời kỳ cuối này xuất hiện. Tranh phong cảnh Nhật Bản khác với truyền thống phương Tây ở chỗ, nó dựa nhiều hơn vào trí tưởng tượng, thành phần và bầu không khí hơn là sự chấp hành nghiêm ngặt với thiên nhiên.
Hokusai, người tự xưng là "cuồng hoạ sĩ" (1760–1849) đã có một sự nghiệp lâu dài và đa dạng. Tác phẩm của ông được đánh dấu bởi sự thiếu vắng biểu lộ tình cảm uỷ mị thông thường ở ukiyo-e, và một sự tập trung vào chủ nghĩa hình thức chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật phương Tây. Trong số những thành tựu của ông, phải kể đến các tranh minh họa trong cuốn tiểu thuyết Trăng lưỡi liềm của Takizawa Bakin, loạt sách phác thảo của ông, Bắc Trai mạn hoạ, và sự đại chúng hoá thể loại phong cảnh của ông với Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ, bao gồm bản tranh được biết đến nhiều nhất của ông, Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa. một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất trong nền nghệ thuật Nhật Bản. Đối lập với tác phẩm của các bậc thầy tiền bối đi trước, màu sắc trong tranh của Hokusai tỏ ra táo bạo, đồng đều và trừu tượng, và chủ đề sáng tác của ông không phải là những khu phố lầu xanh, mà là cuộc sống và môi trường của những người dân thường đang làm việc. Các bậc thầy sáng lập Eisen, Kuniyoshi và Kunisada cũng tiếp bước Hokusai tạo ra các bản in phong cảnh trong thập niên 1830, sản xuất các bản in với các sắp đặt táo bạo và hiệu ứng ấn tượng.
Mặc dù không thường xuyên nhận được sự chú ý của các bậc tiền bối nổi tiếng hơn mình, môn phái Utagawa cũng sản sinh ra một vài bậc thầy trong thời kỳ suy yếu này. Một Kunisada sung mãn (1786–1865) đã có vài đối thủ trong dòng tranh chân dung truyền thống về kỹ nữ và diễn viên. Một trong số những đối thủ đó là Eisen (1790–1848), cũng là một bậc thầy lão luyện về tranh phong cảnh. Có lẽ là thành viên quan trọng cuối cùng của giai đoạn cuối này, Kuniyoshi (1797–1861) đã thử thách mình ở một loạt các chủ đề và phong cách, nhiều như Hokusai đã từng thực hiện. Các khung cảnh lịch sử của các chiến binh trong tư thế chiến đấu mãnh liệt của ông khá nổi tiếng, đặc biệt là loạt anh hùng trong Suikoden (1827–1830) và Chūshingura (1847). Ông chuyên về phong cảnh và cảnh trào phúng—thể loại thứ hai này là một phân vùng hiếm thấy trong bầu không khí độc tài thời kỳ Edo; mà việc Kuniyoshi dám thể hiện các đối tượng này trong tranh của mình là một dấu hiệu của sự suy yếu của Mạc phủ vào thời điểm đó.
Hiroshige (1797–1858) được coi là đối thủ lớn nhất của Hokusai về mặt tầm vóc. Ông chuyên về hình ảnh của các loài chim muông, hoa và phong cảnh thanh bình, và được biết đến với các loạt tranh du ngoạn của mình, như Năm mươi ba trạm nghỉ của Tōkaidō và Sáu mươi chín trạm nghỉ của Kiso Kaidō, loạt thứ hai là một nỗ lực hợp tác với Eisen. Tác phẩm của ông mang nhiều nét tả thực, sử dụng màu sắc tinh tế và nặng về diễn tả tâm trạng hơn so với tranh của Hokusai; thiên nhiên và các mùa là những yếu tố chính: sương mù, mưa, tuyết, và ánh trăng là những phần nổi bật trong các sắp đặt của ông. Các hậu bối của Hiroshige, bao gồm con trai được nhận nuôi Hiroshige II và con rể Hiroshige III, tiếp nối phong cách về tranh phong cảnh của bậc thầy trong thời đại Minh Trị.
Các bậc thầy trong thời kỳ cuối
=== Suy yếu (cuối thế kỷ 19) ===
Tiếp nối sự qua đời của Hokusai và Hiroshige và cuộc Duy tân Minh Trị năm 1868, ukiyo-e bước vào thời kỳ bị suy giảm mạnh cả về số lượng và chất lượng. Sự Âu hoá nhanh chóng của thời kỳ Minh Trị đã kéo theo sự chứng kiến nghệ thuật in mộc bản chuyển đổi đối tượng phục vụ sang báo chí, và đối mặt với sự cạnh tranh từ nhiếp ảnh. Các học viên nghệ thuật ukiyo-e thuần khiết trở nên khan hiếm hơn, và thị hiếu bây giờ quay lưng lại với một thể loại đã được xem như là một tàn dư của một thời kỳ cũ kỹ. Các nghệ sĩ tiếp tục sản xuất những tác phẩm đáng chú ý, nhưng vào những năm 1890, truyền thống đã bị suy tàn.
Các loại thuốc màu tổng hợp được nhập khẩu từ Đức bắt đầu thay thế các thuốc màu truyền thống có nguồn gốc hữu cơ vào giữa thế kỷ 19. Nhiều bản in từ thời đại này đã sử dụng rộng rãi một màu đỏ tươi, và được gọi là aka-e ("tranh đỏ"). Các nghệ sĩ như Yoshitoshi (1839–1892) đã dẫn đầu một xu hướng trong những năm 1860 nhằm diễn tả những cảnh giết chóc và ma quái khủng khiếp, quái vật và các thế lực siêu nhiên, và các anh hùng huyền thoại của Nhật Bản và Trung Quốc. Loạt tác phẩm Trăm vẻ mặt trăng (1885–1892) mô tả một loạt các chủ đề tuyệt vời và trần tục với một mô típ về mặt trăng. Kiyochika (1847–1915) được biết đến với những bản in của ông ghi lại quá trình hiện đại hóa nhanh chóng của Tokyo, chẳng hạn như sự giới thiệu về đường sắt, và những miêu tả của ông về cuộc chiến tranh của Nhật Bản với Trung Quốc và với Nga. Trước đó, một họa sĩ của môn phái Kanō, trong những năm 1870, Chikanobu (1838–1912) đã chuyển sang các ấn phẩm, đặc biệt là về hoàng gia và những khung cảnh chịu ảnh hưởng của phương Tây đối với cuộc sống Nhật Bản ở thời kỳ Minh Trị.
Ukiyo-e thời kỳ Minh Trị
=== Sự giới thiệu với phương Tây ===
Bên cạnh những thương nhân người Hà Lan, những người có mối quan hệ thương mại bắt đầu từ đầu thời kỳ Edo, người phương Tây ít chú ý đến nghệ thuật Nhật Bản trước thời điểm giữa thế kỷ 19, và khi tìm hiểu, họ hiếm khi phân biệt được nó với các loại nghệ thuật khác từ phương Đông. Nhà tự nhiên học người Thuỵ Điển Carl Peter Thunberg đã dành một năm ở Dejima, một thị trấn thương mại của Hà Lan, gần Nagasaki, và là một trong những người phương Tây đầu tiên thu thập các bản tranh in của Nhật Bản. Sự xuất khẩu của ukiyo-e sau đó tăng trưởng một cách chậm rãi, và vào những năm đầu thế kỷ 19, bộ sưu tập của thương nhân người Hà Lan Isaac Titsingh đã thu hút sự chú ý của những người sành điệu ưa thích nghệ thuật ở Paris.
Sự xuất hiện ở Edo của Thiếu tướng Hải quân Hoa Kỳ Matthew Perry năm 1853 dẫn tới Hiệp ước Kanagawa năm 1854, hiệp ước giúp mở cửa Nhật Bản với thế giới bên ngoài sau hơn hai thế kỷ tách biệt. Các bản tranh in ukiyo-e nằm trong số những vật phẩm mà ông mang về Hoa Kỳ. Những bản in này đã xuất hiện ở Paris từ ít nhất là những năm 1830, và tăng mạnh về số lượng trong những năm 1850; phản ứng khi đón nhận tương đối trái chiều, và thậm chí khi được ca ngợi, ukiyo-e nhìn chung bị coi là kém hơn các tác phẩm phương Tây, vốn nhấn mạnh vào việc nắm vững phối cảnh và giải phẫu theo tự nhiên. Nghệ thuật Nhật Bản đã thu hút sự chú ý của mình tại Triển lãm Quốc tế năm 1867 ở Paris, và bắt đầu trở nên thời thượng ở Pháp và Vương quốc Anh trong những thập niên 1870 và 1880. Các bản tranh in của Hokusai và Hiroshige đóng một vai trò nổi bật trong việc định hình nhận thức phương Tây về nghệ thuật của Nhật Bản. Vào thời điểm có sự giới thiệu với phương Tây, nghệ thuật in mộc bản là phương tiện thông dụng phổ biến nhất ở Nhật Bản, và người Nhật hiếm khi nghĩ rằng nó có giá trị bền vững lâu dài.
Các nhà quảng bá và các học giả về nghệ thuật ukiyo-e và nghệ thuật Nhật Bản với các nước châu Âu bao gồm nhà văn Edmond de Goncourt và nhà phê bình nghệ thuật Philippe Burty, người đặt ra thuật ngữ "Japonism" (chủ nghĩa Nhật Bản). Các cửa hàng buôn bán hàng hoá của Nhật Bản đã được mở ra, bao gồm các cửa hàng của Édouard Desoye năm 1862 và nhà buôn tác phẩm nghệ thuật Siegfried Bing năm 1875. Từ năm 1888 đến năm 1891, Bing đã cho xuất bản tạp chí Artistic Japan bằng tiếng Anh, Pháp và Đức, và tổ chức một triển lãm ukiyo-e tại École des Beaux-Arts vào năm 1890, với sự tham gia của các nghệ sĩ như Mary Cassatt.
Nhà sử học về nghệ thuật người Hoa Kỳ Ernest Fenollosa là một trong những người mộ đạo Tây phương đầu tiên của văn hoá Nhật Bản, ông đã thực hiện rất nhiều hoạt động để quảng bá các tác phẩm nghệ thuật của Nhật Bản—các tác phẩm của Hokusai nổi bật tại triển lãm mở đầu của ông như người phụ trách về mảng nghệ thuật Nhật Bản đầu tiên tại Bảo tàng Mỹ thuật tại Boston, và tại Tokyo năm 1898, ông đã tổ chức triển lãm ukiyo-e đầu tiên tại Nhật Bản. Vào cuối thế kỷ 19, sự phổ biến của ukiyo-e ở phương Tây đã khiến giá cả tăng vượt mức trung bình của hầu hết các nhà sưu tập—một vài người, như Degas, đã phải đổi những bức tranh của họ lấy những bản tranh in như vậy. Hayashi Tadamasa là một nhà buôn nổi tiếng với gu thẩm mỹ được tôn trọng ở Paris, người có văn phòng ở Tokyo chịu trách nhiệm đánh giá và xuất khẩu số lượng lớn các bản tranh in ukiyo-e sang phương Tây, với số lượng mà các nhà phê bình Nhật Bản sau đó cáo buộc rằng ông ta đã rút cạn những gì được coi là báu vật quốc gia của Nhật Bản. Sự bòn rút này ban đầu không được chú ý tới ở Nhật Bản, khi mà các nghệ sĩ Nhật Bản còn đang đắm chìm trong các kỹ thuật hội hoạ kinh điển của Tây phương.
Nghệ thuật Nhật Bản, và đặc biệt là những bản in ukiyo-e, đã ảnh hưởng đến nghệ thuật phương Tây từ thời kỳ của những nghệ sĩ thuộc trường phái Ấn tượng đầu tiên. Các họa sỹ thời kỳ đầu đã kết hợp các chủ đề và các kỹ thuật chế tác của Nhật vào các tác phẩm của họ vào đầu những năm 1860: những bản giấy dán tường và thảm được trang trí hoạ tiết trong tranh của Manet được lấy cảm hững từ những bộ kimono có hoạ tiết trong ukiyo-e, và Whistler tập trung chú ý vào các yếu tố mang tính phù du của thiên nhiên như trong các tranh phong cảnh của ukiyo-e. Van Gogh là một nhà sưu tập tham lam, ông từng vẽ lại các bản sao bằng màu dầu của các bản tranh in của Hiroshige và Eisen. Degas và Cassatt đã miêu tả những khoảnh khắc hàng ngày bằng những bố cục và phối cảnh chịu ảnh hưởng của Nhật Bản. Phối cảnh phẳng và màu sắc không được điều chuyển (gradient) của ukiyo-e là một luồng ảnh hưởng đặc biệt đối với các nhà thiết kế đồ hoạ và các nhà sản xuất poster. Các bản in thạch bản (lithograph) của Toulouse-Lautrec thể hiện sự quan tâm không chỉ đến màu sắc đồng nhất và các hình thức phác thảo của ukiyo-e, mà còn về chủ đề của chúng: các nghệ sĩ biểu diễn và gái điếm. Ông đã ký trên nhiều tác phẩm này với tên viết tắt của mình trong một vòng tròn, bắt chước những con dấu trên bản in của Nhật Bản. Các nghệ sĩ khác khi đó đã chịu ảnh hưởng từ ukiyo-e bao gồm Monet, La Farge, Gauguin và các thành viên của nhóm Les Nabis như Bonnard và Vuillard. Nhạc sĩ người Pháp Claude Debussy đã lấy cảm hứng cho âm nhạc của mình từ các bản in của Hokusai và Horoshige, nổi bật nhất là ở La mer (1905). Các nhà thơ thuộc chủ nghĩa Hình tượng như Amy Lowell và Ezra Pound đã tìm thấy cảm hứng trong các bản in ukiyo-e; Lowell đã xuất bản một cuốn sách về thơ mang tên Pictures of the Floating World (Hình ảnh của Thế giới nổi) (1919) về những chủ đề phương Đông hoặc theo phong cách phương Đông.
Ảnh hưởng của ukiyo-e tới nghệ thuật phương Tây
=== Các truyền thống phái sinh (thế kỷ 20) ===
Những bức tranh phác thảo du lịch trong sổ tay đã trở thành một thể loại phổ biến bắt đầu từ năm 1905, khi chính quyền Minh Trị thúc đầy nền du lịch nội địa để giúp cho công dân hiểu biết rõ hơn về đất nước của mình. Năm 1915, nhà xuất bản Watanabe Shōzaburō đã giới thiệu thuật ngữ shin-hanga ("tân bản hoạ" - "tranh mới") để mô tả một phong cách in ấn mà ông đã xuất bản với chủ đề truyền thống của Nhật Bản, và nhằm vào những đối tượng là người thưởng lãm nước ngoài và cao cấp của Nhật Bản. Các nghệ sĩ nổi bật bao gồm Hashiguchi Goyō, được gọi là "Utamaro của thời kỳ Đại Chính" vì cách miêu tả phụ nữ của ông; Itō Shinsui, người đã mang lại nhiều cảm giác hiện đại hơn đối với hình ảnh của phụ nữ; và Kawase Hasui, người đã tạo ra những bức tranh phong cảnh hiện đại. Watanabe cũng xuất bản các tác phẩm của các nghệ sĩ không phải là người Nhật Bản, sự thành công ban đầu của công việc này là một bộ ấn bản in theo chủ đề của Ấn Độ và Nhật Bản vào năm 1916 bởi hoạ sĩ người Anh Charles W. Bartlett (1860–1940). Các nhà xuất bản khác đã tiếp nối theo sự thành công của Watanabe, và một số nghệ sĩ shin-hanga như Goyō và Yoshida Hiroshi đã thành lập các xưởng tranh để xuất bản tác phẩm của mình.
Các nghệ sĩ của phong trào sōsaku-hanga ("sáng tác bản hoạ" - "tranh sáng tạo") đã kiểm soát được mọi khía cạnh của quá trình in ấn—thiết kế, điều khắc, và in ấn từ cùng một đôi bàn tay. Yamamoto Kanae (1882–1946), sau này là sinh viên của Trường Mỹ thuật Tokyo, được ghi danh cho sự ra đời của cách tiếp cận này. Năm 1904, ông thực hiện tác phẩm Ngư phu, sử dụng kỹ thuật in mộc bản, một kỹ thuật cho đến khi đó đã bị đánh bại bởi các hội nhóm nghệ thuật Nhật Bản khác vì sự lỗi thời và liên quan đến nền sản xuất thương mại hàng loạt. Sự thành lập của Hiệp hội Nghệ sĩ Tranh khắc gỗ Nhật Bản (Japanese Woodcut Artists' Association) năm 1918 đã đánh dấu bước khởi đầu của cách tiếp cận này như là một phong trào. Phong trào này ủng hộ cá tính trong các nghệ sĩ của nó, và như vậy không có các chủ đề hoặc phong cách chi phối. Tác phẩm bao gồm từ những bức tranh trừu tượng hoàn toàn của Onchi Kōshirō (1891–1955) đến những nét phác họa theo hình ảnh cổ điển của những cảnh vật Nhật Bản của Hiratsuka Un'ichi (1895–1997). Những nghệ sĩ này đã sản xuất ra những bản in không phải chỉ vì họ hy vọng có thể tiếp cận được đông đảo khán giả, mà còn như một kết quả sáng tạo trong tự thân của tác phẩm, và không chịu sự hạn chế về phương tiện in của họ vào những khối mộc bản của ukiyo-e truyền thống.
Các bản in từ cuối thế kỷ 20 và 21 đã phát triển từ những mối quan tâm của các phong trào trước đó, đặc biệt là sự nhấn mạnh của phong trào sōsaku-hanga đối với cá nhân thể hiện. Nghệ thuật in lụa, khắc axit, khắc nạo, phương tiện kết hợp, và các phương pháp Tây phương khác đã tham gia vào quá trình khắc gỗ truyền thống giữa các kỹ thuật in ấn.
Các hậu duệ của ukiyo-e
== Phong cách ==
Các nghệ sĩ ukiyo-e thuở sơ khai đã đưa vào trong các tác phẩm một lượng kiến thức tinh vi phức tạp về các nguyên lý về bố cục trong nghệ thuật hội hoạ kinh điển của Trung Quốc, cũng như có sự luyện tập khắt khe về chúng; một cách chậm rãi, những nghệ sĩ này từ bỏ dần ảnh hưởng công khai từ Trung Quốc để phát triển một cách biểu đạt thuần tuý Nhật Bản. Những nghệ sĩ ukiyo-e sơ khai này được gọi là "những người nguyên thuỷ" (Primitives), theo nghĩa môi trường in ấn là một thách thức mới cho loại hình nghệ thuật mà họ đã áp dụng những kỹ thuật đã có niên đại hàng thế kỷ này - các thiết kế hình ảnh của họ không được coi là "nguyên thuỷ". Nhiều nghệ sĩ ukiyo-e đã nhận được sự đào tạo từ những người chỉ dạy của môn phái Kanō và các môn phái hội hoạ khác.
Một điểm đặc trưng đã được xác định của hầu hết các bản tranh in ukiyo-e là một kiểu nét vẽ được phân định rõ ràng, rõ nét và đồng nhất. Các bản in sớm nhất chỉ có màu đơn sắc, và những đường nét này là yếu tố duy nhất được in ra; kiểu vẽ nét đặc thù này tiếp tục thống trị ngay cả với sự xuất hiện của màu sắc. Trong ukiyo-e, các dạng bố cục được bố trí trong các không gian phẳng với các hình thể thông thường ở cùng một độ sâu mặt phẳng duy nhất. Sự chú ý được dồn vào các mối quan hệ theo chiều dọc và chiều ngang, cũng như các chi tiết như các đường nét, hình dạng và hoạ tiết, chẳng hạn như những hoạ tiết trên trang phục. Bố cục thường là bất đối xứng, và điểm nhìn thường nằm ở những góc độ bất thường, chẳng hạn như từ bên trên xuống. Các yếu tố hình ảnh thường được cắt xén, tạo cho bố cục một cảm giác thanh thoát. Trong các bản in màu, đường viền của hầu hết các vùng màu sắc được xác định rõ ràng, thường là do sự đi nét kĩ. Tính thẩm mỹ của những vùng đồng nhất về màu sắc tỏ ra tương phản với việc điều chỉnh màu sắc theo vùng của các truyền thống hội hoạ phương Tây và với các truyền thống đương đại nổi bật khác trong nghệ thuật Nhật Bản được bảo trợ bởi tầng lớp thượng lưu, chẳng hạn như trong các nét bút lông với mực đơn sắc huyền ảo của nghệ thuật vẽ tranh bằng bút lông zenga hoặc màu sắc theo tông của tranh theo môn phái Kanō.
Các hoạ tiết đầy màu sắc, hoành tráng và phức tạp, liên quan đến việc thay đổi về thời trang, và các tư thế cũng như bố cục mang tính căng thẳng và đầy nhịp điệu trong ukiyo-e rất trái ngược với nhiều khái niệm trong thẩm mỹ Nhật Bản truyền thống. Nổi bật trong những điều này, wabi-sabi ủng hộ tính đơn giản, bất đối xứng và không hoàn hảo, với bằng chứng về sự trường tồn theo thời gian; và shibui đánh giá sự tinh tế, khiêm nhường và nhẫn nhịn. Ukiyo-e có thể ít xung đột hơn với các khái niệm thẩm mỹ như sự thịnh vượng, phong cách lịch thiệp của iki.
Ukiyo-e biểu thị một cách tiếp cận khác thường với phối cảnh đồ hoạ, một điểm có thể xuất hiện một cách kém phát triển khi so sánh với các bức tranh Châu Âu cùng thời kỳ. Phối cảnh đồ hoạ theo kiểu Tây phương đã được biết đến ở Nhật—được thực hiện một cách nổi bật nhất bởi các hoạ sĩ thuộc môn phái Akita trong thập niên 1770—cũng như các phương pháp của Trung Quốc để tạo ra một cảm giác về chiều sâu bằng cách sử dụng sự đồng nhất của các đường song song. Các kỹ thuật này đôi khi xuất hiện cùng nhau trong các tác phẩm ukiyo-e, phối cảnh đồ hoạ cung cấp một ảo giác về chiều sâu trong cảnh nền và phối cảnh rõ nét hơn của Trung Quốc ở phía trước. Các kỹ thuật này hầu như được học đầu tiên từ những bức tranh theo phong cách phương Tây của Trung Quốc, chứ không phải là trực tiếp từ các tác phẩm phương Tây. Một thời gian dài sau khi trở nên quen thuộc với những kỹ thuật này, các nghệ sĩ vẫn tiếp tục cân đối hài hòa chúng với các phương pháp truyền thống theo nhu cầu về cách sắp xếp bố cục và nhu cầu biểu cảm của chúng. Những phương cách tạo ra chiều sâu khác bao gồm phương pháp về bố cục ba phần của Trung Quốc được sử dụng trong các hình ảnh Phật giáo, ở đó một hình dáng lớn được đặt ở tiền cảnh, nhỏ hơn ở trung cảnh, và nhỏ hơn nữa ở hậu cảnh; điều này có thể nhận biết được trong tác phẩm Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa của Hokusai, với một chiếc thuyền lớn ở tiền cảnh, một chiếc nhỏ hơn ở phía sau, và một Đỉnh Fuji nhỏ nằm phía sau chúng.
Có một khuynh hướng bắt đầu từ thời kỳ đầu của ukiyo-e để tạo dáng cho những người đẹp theo cách mà nhà sử học về nghệ thuật Wakakura Midori gọi là một "dáng điệu hình con rắn", kiểu tư thế mà cơ thể của các chủ thể xoắn lại một cách không tự nhiên trong khi đang chạm mặt với chính mình. Nhà sử học về nghệ thuật Kōno Motoaki đã cho rằng điều này có nguồn gốc trong điệu múa buyō truyền thống; Suwa Haruo đã phản bác rằng các tư thế đó là đặc thù về mỹ thuật do các nghệ sĩ ukiyo-e thực hiện, khiến cho một tư thế dường như thoải mái có thể tạo ra những thái cực không tự nhiên hoặc không thể xảy ra. Điều này vẫn tồn tại ngay cả khi các kỹ thuật phối cảnh thực tế đã được áp dụng cho các phần khác của bối cảnh.
=== Chủ đề và thể loại ===
Các chủ đề tiêu biểu là những người phụ nữ đẹp ("'bijin-ga'"), diễn viên kabuki ("'yakusha-e'"), và phong cảnh. Những phụ nữ được miêu tả thường là những kỹ nữ hạng sang và geisha trong lúc nhàn rỗi, và quảng bá các hoạt động giải trí tồn tại trong các khu phố lầu xanh. Các chi tiết mà nghệ sĩ mô tả về thời trang và kiểu tóc của kỹ nữ hạng sang cho phép các bản in có thể xác định được niên đại với độ tin cậy nhất định. Sự chú ý thứ yếu nhằm đến tính chính xác của các đặc điểm thể chất của phụ nữ, điều tiếp nối các kiểu thời trang qua tranh ảnh của thời đại đó—khuôn mặt rập khuôn, thân hình cao và dày dặn ở một thế hệ này, trong khi nhỏ nhắn hơn trong một thế hệ khác. Chân dung của những người nổi tiếng được yêu cầu khá nhiều, đặc biệt là những người từ giới kabuki và sumo, hai trong số những thú giải trí phổ biến nhất của thời đại này. Trong khi tranh phong cảnh đã giúp định hình được ukiyo-e cho rất nhiều người phương Tây, loại hình này lại phát triển tương đối muộn trong lịch sử của ukiyo-e.
Các bản in của ukiyo-e đã phát triển từ tranh minh hoạ cho sách—nhiều bản in trang đơn đầu tiên của Moronobu là các trang từ những cuốn sách ông đã vẽ minh hoạ. Các cuốn sách tranh minh hoạ e-hon được phổ biến và tiếp tục là một thị trường quan trong cho các nghệ sĩ ukiyo-e. Vào thời kỳ cuối, Hokusai đã sản xuất bộ ba tập Một trăm cảnh núi Phú Sĩ và bộ mười lăm tập Bắc Trai mạn hoạ, đây là một bản tóm tắt của hơn 4000 bản phác thảo theo nhiều chủ đề hiện thực và kỳ dị.
Các tôn giáo truyền thống của Nhật Bản không coi tình dục hoặc tranh ảnh khiêu dâm là sự sai lệch về đạo đức như trong cảm thức của Do Thái-Kitô, và cho đến khi diễn ra sự thay đổi về mặt nhận thức đạo đức của thời đại Minh Trị dẫn đến sự đàn áp với thể loại này, các bản in khiêu dâm shunga vẫn là một thể loại chính. Trong khi chế độ Tokugawa áp dụng chế độ kiểm duyệt nghiêm ngặt cho Nhật Bản, nội dung khiêu dâm không bị coi là một hành vi phạm tội quan trọng và thường nhận được sự chấp thuận của người kiểm duyệt. Nhiều trong số những bản in này cho thấy mức độ cao trong việc diễn tả qua nét vẽ, và thường có tính hài hước, trong những miêu tả rõ ràng về cảnh phòng the, những người thích xem tranh ảnh khiêu dâm, và giải phẫu quá khổ. Cũng giống như những miêu tả về kỹ nữ hạng sang, những hình ảnh này gắn liền với những thú tiêu khiển của những khu phố đèn đỏ. Gần như mọi bậc thầy ukiyo-e đều vẽ shunga vào một thời điểm nào đó. Những hồ sơ lưu trữ về sự chấp nhận của xã hội cho shunga hầu như không hề có, mặc dù Timon Screech cho rằng hầu như chắc chắn có một số lo ngại về vấn đề này, và mức độ chấp nhận của nó đã bị cường điệu hóa bởi các nhà sưu tập sau này, đặc biệt là ở phương Tây.
Các khung cảnh từ thiên nhiên là một phần quan trọng của nghệ thuật châu Á trong suốt lịch sử. Các nghệ sĩ đã nghiên cứu kỹ các hình thức và giải phẫu chính xác về thực vật và động vật, mặc dù các mô tả giải phẫu về người vẫn tỏ ra kỳ cục hơn cho tới thời kỳ hiện đại. Các bản in về tự nhiên của ukiyo-e được gọi là kachō-e, dịch ra có nghĩa là "tranh về hoa và chim muông", mặc dù thể loại này không chỉ nói về hoa hay chim muông, cũng như hoa cỏ và chim không nhất thiết phải xuất hiện cùng nhau. Các bản in chi tiết, chính xác của Hokusai đã được ghi nhận với việc thành lập kachō-e như một thể loại.
Cải cách Thiên Bảo vào thập niên 1840 đã ngăn chặn việc miêu tả các diễn viên và những người kỹ nữ. Bên cạnh tranh phong cảnh và kachō-e, các nghệ sĩ đã chuyển sang mô tả các cảnh trong lịch sử, chẳng hạn như các chiến binh cổ đại hoặc các cảnh từ huyền thoại, văn học và tôn giáo. Tác phẩm thế kỷ 11 Truyện kể Genji và tác phẩm thế kỷ 13 Truyện kể Heike đã là nguồn cảm hứng cho nghệ thuật trong suốt lịch sử Nhật Bản, trong đó có ukiyo-e. Các chiến binh và kiếm sĩ nổi tiếng như Miyamoto Musashi (1584–1645) là những đối tượng được miêu tả thường xuyên, cũng như những sự mô tả về quái vật, các thể lực siêu nhiên, và những anh hùng của thần thoại Nhật Bản và Trung Quốc.
Từ thế kỷ 17 đến 19, Nhật Bản đã tự cô lập chính mình khỏi phần còn lại của thế giới. Thương mại, chủ yếu với Hà Lan và Trung Quốc, bị giới hạn ở đảo Dejima gần Nagasaki. Những bức tranh về người ngoại quốc mang tên Nagasaki-e được bán cho khách du lịch nước ngoài cùng đồ dùng của họ. Vào giữa thế kỷ 19, Yokohama đã trở thành khu định cư nước ngoài đầu tiên sau năm 1859, từ đó kiến thức phương Tây đã có dịp được sinh sôi nảy nở ở Nhật Bản. Đặc biệt từ năm 1858 đến năm 1862, các bản in Yokohama-e được in ra, với nhiều cấp độ khác nhau của sự kiện và thị hiếu, cộng đồng ngày càng tăng của các cư dân trên thế giới mà người Nhật đã tiếp xúc; những bộ tam liên họa (triptych) về người phương Tây và công nghệ của họ đặc biệt phổ biến.
Các ấn bản đặc biệt bao gồm surimono, các bản in chất lượng cao với số lượng giới hạn dành cho những người sành sỏi, trong đó có một bài thơ kyōka năm dòng thường là một phần của thiết kế; và uchiwa-e được in lên quạt tay, thường được lắp cán.
Các thể loại của ukiyo-e
== Sản xuất ==
=== Tranh vẽ ===
Các nghệ sĩ ukiyo-e thường thực hiện cả hai loại tranh in và vẽ; một số nghệ sĩ chỉ chuyên về một loại tranh nhất định. Trái ngược với các truyền thống trước đây, các họa sỹ ukiyo-e ưa chuộng những màu sắc tươi sáng, sắc nét, và thường vẽ các đường viền bằng mực sumi, một hiệu ứng tương tự như các đường lên nét trong bản in. Không bị giới hạn bởi những hạn chế về mặt kỹ thuật của in ấn, một phạm vi rộng các kỹ thuật, thuốc màu và bề mặt đã có sẵn cho họa sĩ tự do sáng tác. Các nghệ sĩ vẽ bằng các chất khoáng hoặc chất hữu cơ, chẳng hạn như cây hồng hoa, vỏ của các động vật dưới nước, chì và chu sa, và các thuốc nhuộm tổng hợp sau đó được nhập khẩu từ phương Tây như xanh lá cây Paris và xanh Phổ. Tranh cuộn treo tường
bằng giấy lụa hoặc giấy kakemono, tranh thủ quyển makimono, hoặc tranh gấp byōbu là những dạng phổ biến nhất.
Các tranh vẽ ukiyo-e
=== Sản xuất in ấn ===
Các bản in ukiyo-e là các tác phẩm của những đội ngũ nghệ nhân trong một số xưởng in; rất hiếm khi các nhà thiết kế tự cắt các mộc bản của chính họ. Những người chịu trách nhiệm cho sản phẩm được chia thành bốn nhóm: nhà xuất bản, người ủy nhiệm, thăng cấp và phân phát các ấn phẩm; các nghệ sĩ, người cung cấp hình ảnh thiết kế; thợ khắc gỗ, những người chế tác các mộc bản dùng để in ấn; và các thợ in, người thực hiện công đoạn ấn mộc bản để in lên giấy. Thông thường, chỉ có tên của nghệ sĩ và nhà xuất bản được ghi danh trên bản in hoàn chỉnh.
Các bản in ukiyo-e được in ấn một cách thủ công trên loại giấy làm bằng tay, chứ không phải bằng lực ép cơ khí như phương Tây. Người nghệ sĩ đã cung cấp một bản vẽ bằng mực trên giấy mỏng, được dán vào một khối làm bằng gỗ cây anh đào và chà xát với dầu cho đến khi các lớp bên trên của giấy có thể kéo được đi, để lại một lớp mờ của giấy mà người đục khối gỗ có thể sử dụng như một chỉ dẫn. Người đục khối gỗ cắt bỏ các vùng không có màu đen của hình ảnh, để lại các vùng được nâng lên đã được tô mực lại để có thể đóng dấu in xuống. Bản vẽ gốc bị phá hủy trong quá trình này.
Các bản in được thực hiện với mặt khắc của khối mộc bản hướng lên trên, do đó thợ in có thể thay đổi áp lực cho các hiệu ứng khác nhau, và canh chừng khi giấy thấm mực sumi vốn có gốc nước, thấm vào một cách nhanh chóng ngay cả với những nét ngang. Nằm trong số các thủ thuật của người thợ in là kỹ thuật dập nổi trên bức tranh, đạt được bằng cách nhấn một khối gỗ không được bôi mực trên giấy để đạt được các hiệu ứng, chẳng hạn như các chất liệu của hoạ tiết trang phục hoặc lưới đánh cá. Các tác động khác bao gồm kỹ thuật đánh bóng bằng cách chà xát với đá mã não để làm sáng màu sắc; đánh véc-ni; in đè (overprinting); rắc bụi kim loại hoặc mica; và xịt nước để bắt chước cảnh tuyết rơi.
Ngành in ukiyo-e là một hình thức nghệ thuật mang tính thương mại, và các nhà xuất bản đóng một vai trò quan trọng. Việc xuất bản có tính cạnh tranh cao; hơn một ngàn nhà xuất bản được biết đến trong suốt thời kỳ này. Con số này đạt đỉnh khoảng 250 vào thập niên 1840 và 1850—con số này đã là 200 người chỉ tại Edo—và dần thu hẹp lại sau khi Nhật Bản mở cửa cho đến khi còn lại khoảng 40 người còn lại vào đầu thế kỷ 20. Các nhà xuất bản sở hữu các mộc bản và bản quyền, và từ cuối thế kỷ 18 đã bắt đầu bắt buộc thực thi bản quyền thông qua Phường hội Các nhà xuất bản Sách tranh và Bản in. Các ấn phẩm đã trải qua nhiều lần quảng cáo đặc biệt mang lại lợi nhuận, khi nhà xuất bản có thể sử dụng lại các mộc bản mà không cần trả thêm tiền cho các nghệ sĩ hoặc thợ khắc mộc bản. Các mộc bản cũng được trao đổi hoặc bán cho các nhà xuất bản hoặc hiệu cầm đồ khác. Các nhà xuất bản thường cũng là các nhà buôn tranh, và thường buôn bán các mặt hàng của nhau trong các cửa hàng của họ. Ngoài dấu của nghệ sĩ, các nhà xuất bản đã đóng dấu các bản in với con dấu riêng của họ - một số logo đơn giản, một số khác khá phức tạp, kết hợp địa chỉ hoặc thông tin khác.
Các nhà thiết kế in ấn đã trải qua thời gian học nghề trước khi được trao quyền sản xuất các bản in của riêng mình mà họ có thể ký tên riêng của họ vào đó. Các nhà thiết kế trẻ có thể được dự kiến sẽ phải trang trải một phần hoặc toàn bộ chi phí cắt và khắc gỗ. Khi các nghệ sĩ đạt được thành công, các nhà xuất bản nổi tiếng thường trang trải những chi phí này, và các nghệ sĩ có thể đòi hỏi mức phí cao hơn.
Ở xã hội Nhật Bản tiền hiện đại, người ta có thể có nhiều tên gọi trong suốt cuộc đời của họ, tên thuở nhỏ yōmyō cá nhân của họ khác so với tên vào thời trưởng thành zokumyō. Tên của một nghệ sĩ bao gồm một tên họ gasei của nghệ sĩ, sau đó là nghệ danh azana mang tính cá nhân. Tên gọi gasei này thường được lấy từ môn phái mà nghệ sĩ thuộc về, như Utagawa hoặc Torii, và tên gọi azana thường lấy một Hán tự từ nghệ danh của bậc thầy—ví dụ, nhiều học sinh của Toyokuni (豊国) lấy chữ "kuni" (国) từ tên của ông, bao gồm Kunisada (国貞) và Kuniyoshi (国芳). Những tên gọi mà các nghệ sĩ ký vào tác phẩm của họ có thể là một nguồn gây nhầm lẫn, vì đôi khi họ thay đổi tên gọi trong suốt sự nghiệp của họ; Hokusai là một trường hợp cực đoan, sử dụng hơn 100 tên trong suốt sự nghiệp bảy mươi năm của ông.
Các bản in được tiếp thị hàng loạt và vào giữa thế kỷ 19, tổng số ấn phẩm in ra có thể đạt tới hàng nghìn bản. Các nhà bán lẻ và nhà buôn vãng lai đã quảng bá cho chúng với giá phải chăng cho người dân thành thị trong thời kì làm ăn thịnh vượng. Trong một số trường hợp, các bản in đã quảng cáo các thiết kế kimono của nghệ sĩ in ấn. Từ nửa sau của thế kỷ 17, các bản in thường được bán trên thị trường như là một phần của loạt tranh, mỗi bản in được đóng dấu với tên của loạt tranh và số của ấn bản trong loạt tranh. Điều này đã chứng tỏ một kỹ thuật tiếp thị thành công, khi những nhà sưu tập đã mua mỗi bản in mới trong loạt tranh để hoàn thành bộ sưu tập của họ. Vào thế kỷ 19, những loạt tranh như Năm mươi ba trạm nghỉ của Tōkaidō của Hiroshige đã đạt tới số lượng hàng chục bản in.
Tạo bản in ukiyo-e
==== Sản xuất bản in màu ====
Trong khi nghệ thuật in màu xuất hiện ở Nhật Bản vào những năm 1640, các bản in ukiyo-e ban đầu chỉ sử dụng mực đen. Màu đôi khi được thêm bằng tay, sử dụng một loại mực từ chì màu đỏ trong các bản in tan-e, hoặc sau đó là mực màu hồng từ hoa rum (hồng hoa) trong các bản in beni-e. Việc in màu đã xuất hiện trong các cuốn sách vào thập niên 1720 và trong các bản in đơn trong thập niên 1740, với một mộc bản và bản in khác nhau cho mỗi màu. Màu sắc ban đầu chỉ giới hạn ở màu hồng và xanh lá cây; các kỹ thuật được mở rộng trong hai thập kỷ sau để cho phép tối đa năm màu. Khoảng thời gian giữa thập niên 1760 chứng kiến sự xuất hiện các bản in đầy đủ màu sắc nishiki-e được in từ mười mộc bản hoặc hơn. Để giữ cho các mộc bản cho mỗi màu đồng đều với nhau, các dấu lồng màu được gọi là kentō được đặt ở một góc và cạnh liền nhau.
Các thợ in ban đầu sử dụng những thuốc nhuộm có màu tự nhiên được làm từ các nguồn khoáng sản hoặc thực vật. Các thuốc nhuộm có chất lượng trong mờ cho phép nhiều màu sắc được trộn lẫn từ bột màu cơ bản màu đỏ, xanh dương và vàng. Trong thế kỷ 18, màu xanh Phổ trở nên phổ biến, và đặc biệt nổi bật trong các tranh phong cảnh của Hokusai và Hiroshige, cũng như bokashi, nơi mà thợ in tạo ra sự ngả màu hoặc pha trộn một màu sắc vào những màu khác. Thuốc nhuộm aniline tổng hợp rẻ tiền và đặc hơn đã du nhập từ phương Tây vào năm 1864. Các màu này thô nhám và sáng hơn các thuốc nhuộm truyền thống. Chính phủ Minh Trị đã thúc đẩy việc sử dụng chúng như một phần của các chính sách rộng lớn hơn về Tây phương hóa.
== Phê bình và ghi chép sử sách ==
Những ghi chép hiện tại về các nghệ sĩ ukiyo-e rất khan hiếm. Ghi chép mang tính nổi bật nhất là Ukiyo-e Ruikō ("Những suy nghĩ khác nhau về Ukiyo-e"), một bộ sưu tập các bài bình luận và tiểu sử về nghệ sĩ. Ōta Nanpo đã biên soạn phiên bản đầu tiên, nay không còn tồn tại vào khoảng năm 1790. Tác phẩm không được in trong thời kỳ Edo, nhưng được lưu hành trong các ấn bản chép tay đã được bổ sung và thay đổi nhiều; có hơn 120 biến thể của Ukiyo-e Ruikō đã được biết đến.
Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, quan điểm chủ đạo về ukiyo-e nhấn mạnh đến vai trò trung tâm của các bản in; quan điểm này gắn vai trò sáng lập ukiyo-e cho Moronobu. Sau chiến tranh, tư duy chuyển sang tầm quan trọng của tranh ukiyo-e và kết nối trực tiếp với các bức tranh Yamato-e từ thế kỷ 17; quan điểm này xem xét Matabei như là người khởi xướng thể loại, và đặc biệt được ưa thích ở Nhật Bản. Quan điểm này đã trở nên phổ biến rộng rãi trong các nhà nghiên cứu Nhật Bản vào những năm 1930, nhưng chính phủ quân phiệt thời đó đã đàn áp quan điểm, muốn nhấn mạnh sự phân chia giữa các bức tranh cuộn Yamato-e liên quan đến triều đình, và các bản in liên quan đến tâng lớp thương nhân đôi khi chống lại chủ nghĩa độc tài.
Các tác phẩm lịch sử và phê bình một cách toàn diện sớm nhất về ukiyo-e đến từ phương Tây. Ernest Fenollosa là Giáo sư Triết học tại Đại học Hoàng gia ở Tokyo từ năm 1878, và là Ủy viên Mỹ thuật cho chính phủ Nhật Bản từ năm 1886. Tác phẩm Masters of Ukioye (Các bậc thầy Ukiyo-e) năm 1896 của ông là một tác phẩm tổng quan mang tính toàn diện đầu tiên và đặt ra cơ sở cho hầu hết các tác phẩm sau này, với một cách tiếp cận đối với lịch sử theo các thuật ngữ của từng thời đại: bắt đầu từ Matabei từ thời kỳ sơ khai, nó đã phát triển tới thời kỳ vàng son vào cuối thế kỷ 18, bắt đầu suy yếu với sự xuất hiện của Utamaro, và đã có một sự hồi sinh ngắn ngủi với tranh phong cảnh của Hokusai và Hiroshige vào thập niên 1830. Laurence Binyon, Quản lý về Bản in và Tranh vẽ Phương Đông ở Bảo tàng Anh, đã viết một bản báo cáo trong Painting in the Far East (Tranh của vùng Viễn Đông) vào năm 1908 tương tự như bản của Fenollosa, nhưng đặt Utamaro và Sharaku ở vị trí trung tâm giữa các bậc thầy. Arthur Davison Ficke xây dựng dựa trên các tác phẩm của Fenollosa và Binyon với một tác phẩm toàn diện hơn là Chats on Japanese Prints ("Nói chuyện về Tranh in Nhật Bản") năm 1915. Tác phẩm The Floating World của James A. Michener năm 1954 tiếp nối một cách đại thể theo các niên đại của các tác phẩm trước đó, trong khi loại bỏ những sự phân loại vào các thời kỳ và nhận ra rằng các nghệ sĩ thời kỳ đầu không phải là thời kỳ sơ khai, mà là những bậc thầy vĩ đại xuất phát từ những bức tranh sơn dầu trước đó. Với Michener và người thỉnh thoảng đóng vai trò cộng tác viên là Richard Lane, ukiyo-e đã bắt đầu với Moronobu chứ không phải là Matabei. Tác phẩm Masters of the Japanese Print ("Các bậc thầy tranh in Nhật Bản") của Lane năm 1962 đã duy trì cách tiếp cận của các phân đoạn thời kỳ, trong khi đặt ukiyo-e vào một vị trí vững chắc trong phả hệ của nghệ thuật Nhật Bản. Cuốn sách này thừa nhận các nghệ sĩ như Yoshitoshi và Kiyochika là những bậc thầy cuối cùng.
Tác phẩm Traditional Woodblock Prints of Japan ("Các bản in mộc bản truyền thống Nhật Bản") của Takahashi Seiichirō năm 1964 đã đặt các nghệ sĩ ukiyo-e vào ba thời kỳ: thứ nhất là thời kỳ nguyên thủy bao gồm Harunobu, tiếp theo là thời kỳ hoàng kim của Kiyonaga, Utamaro và Sharaku, và kết thúc bằng một thời kỳ suy tàn sau tuyên ngôn bắt đầu từ những năm 1790 của những pháp lệnh tiết kiệm nghiêm ngặt đã giới hạn những gì có thể được miêu tả trong các tác phẩm nghệ thuật. Tuy nhiên, cuốn sách này đã nhận ra được một số lượng lớn hơn các bậc thầy trong suốt thời kỳ cuối cùng này so với những tác phẩm trước đó, và xem hội hoạ ukiyo-e như là một sự hồi sinh của hội họa Yamato-e. Kobayashi Tadashi đã làm sáng tỏ hơn về phân tích của Takahashi bằng cách xác định sự suy yếu này là trùng khớp với những nỗ lực tuyệt vọng của chính quyền Mạc phủ để nắm giữ quyền lực, thông qua việc thông qua các điều luật khắc nghiệt để giữ cho đất nước của họ tiếp tục tan rã, đạt đến đỉnh điểm là cuộc Minh Trị Duy tân năm 1868.
Giới học giả về ukiyo-e có xu hướng tập trung vào việc phân loại các nghệ sĩ vào các danh mục, một cách tiếp cận thiếu tính nghiêm ngặt và độc đáo đã được áp dụng cho ngành phân tích nghệ thuật ở các lĩnh vực khác. Những danh mục này rất nhiều, nhưng thường có xu hướng tập trung vào một nhóm các thiên tài được công nhận. Rất ít nghiên cứu ban đầu được thêm vào những đánh giá đặt nền móng ban đầu về ukiyo-e và các nghệ sĩ của nó, đặc biệt là đối với các nghệ sĩ tương đối nhỏ. Mặc dù bản chất thương mại của ukiyo-e luôn được thừa nhận, sự đánh giá về các nghệ sĩ và các tác phẩm của họ thường dựa trên sở thích thẩm mỹ của những người sành sỏi và ít chú ý đến những thành công về thương mại đương đại.
Các tiêu chuẩn cho việc thêm vào các luật lệ về ukiyo-e nhanh chóng phát triển trong các tài liệu ban đầu. Utamaro đặc biệt gây tranh cãi, được xem xét bởi Fenollosa và những người khác như là một biểu tượng thoái trào của sự suy yếu về ukiyo-e; Utamaro từ đó đã nhận được sự chấp nhận chung là một trong những bậc thầy vĩ đại nhất của thể loại này. Các nghệ sĩ của thế kỷ 19 như Yoshitoshi bị bỏ qua hoặc bị gạt ra bên lề, chỉ thu hút sự chú ý của giới học giả vào cuối thế kỷ 20. Tác phẩm của các nghệ sĩ thuộc môn phái Utagawa vào thời kỳ cuối như Kunisada và Kuniyoshi đã làm sống lại một số sự tôn kính đương thời mà các nghệ sĩ này được yêu thích. Nhiều tác phẩm gân đây xem xét các điều kiện xã hội hoặc các điều kiện khác đằng sau nghệ thuật, và không quan tâm đến những giá trị có thể khiến nó rơi vào giai đoạn suy thoái.
Tiểu thuyết gia Tanizaki Jun'ichirō thường có ý kiến chỉ trích thái độ trịnh thượng của những người Tây phương, những người tuyên bố rằng sở hữu mức độ thẩm mỹ cao hơn với ý định khám phá ra ukiyo-e. Ông cho rằng ukiyo-e chỉ đơn thuần là hình thức dễ hiểu nhất của nghệ thuật Nhật Bản từ quan điểm của các giá trị phương Tây, và rằng tất cả các tầng lớp xã hội của người Nhật Bản đã hưởng thụ ukiyo-e, nhưng đạo đức Nho giáo thời đó đã ngăn họ tự do thảo luận về nó, những tập tục xã hội bị xâm phạm bởi sự phấn khích của Tây phương với khám phá này.
Kể từ buổi đầu thế kỷ 20, các nhà sử học của manga—truyện tranh và hoạt hình Nhật Bản—đã phát triển những truyện tự sự kết nối hình thức nghệ thuật trước đó với nghệ thuật Nhật Bản trước thế kỷ 20. Sự nhấn mạnh đặc biệt nằm ở Bắc Trai mạn hoạ (hay Mạn hoạ Hokusai) như là một tiền đề, mặc dù cuốn sách của Hokusai không phải là truyện kể, cũng không phải là thuật ngữ manga có nguồn gốc từ Hokusai. Trong tiếng Anh và các ngôn ngữ khác, từ manga được sử dụng theo nghĩa hạn chế "truyện tranh Nhật Bản" hoặc "truyện tranh phong cách Nhật Bản", trong khi ở Nhật nó biểu thị cho tất cả các dạng truyện tranh, hoạt hình, và biếm hoạ.
== Sưu tập và bảo quản ==
Các tầng lớp cai trị hạn chế một cách nghiêm ngặt khoảng không cho phép trong khuôn viên nhà cửa của các tầng lớp xã hội thấp hơn; kích thước tương đối nhỏ của các tác phẩm ukiyo-e tỏ ra lý tưởng để treo trong những ngôi nhà này. Có khá ít ghi chép về những người bảo trợ hội hoạ ukiyo-e còn lưu trữ được. Họ đã bán với mức giá cao hơn nhiều so với các bản in—nhiều lần lên tới hàng nghìn lần, và do đó phải được mua bởi các thương gia giàu có, có khả năng và có lẽ một số từ tầng lớp samurai. Các bản in ở thời kỳ cuối là những ví dụ còn sót lại nhiều nhất, vì chúng được sản xuất với số lượng lớn nhất trong thế kỷ 19, và bản in lớn hơn thì ít có cơ hội tồn tại hơn. Ukiyo-e phần lớn liên quan đến Edo, và khách đến Edo thường mua những thứ mà họ gọi là azuma-e ("hình ảnh về thủ đô phía Đông") làm quà lưu niệm. Các cửa hàng bán chúng có thể chuyên về các sản phẩm như quạt cầm tay, hoặc cung cấp nhiều lựa chọn đa dạng.
Thị trường tranh in ukiyo-e có sự đa dạng cao khi được cung cấp cho một tập hợp công chúng không đồng nhất, từ những người làm việc bán thời gian cho đến các thương gia giàu có. Có ít ghi chép cụ thể được biết đến về tập quán sản xuất và tiêu thụ. Các bản ghi chép chi tiết về Edo được lưu giữ ở một tập hợp rộng những kỹ nữ hạng sang, diễn viên và đô vật sumo, nhưng không còn dấu vết nào của ghi chép liên quan đến ukiyo-e—hoặc thậm chí có lẽ còn tồn tại. Việc xác định những điều cho thấy về nhân khẩu học của thói quen tiêu dùng ukiyo-e đã đòi hỏi phải sử dụng tới các phương tiện gián tiếp.
Việc xác định mức giá mà bản in được bán ra là một thách thức đối với các chuyên gia, khi mà các bản ghi số liệu thô tồn tại rất ít và có nhiều sự khác biệt về chất lượng sản xuất, quy mô, cung và cầu, và các phương pháp, sản phẩm đã trải qua những thay đổi như sự ra đời của kỹ thuật in ấn đầy đủ màu sắc. Cách mà các mức giá đắt đỏ có thể được chấp nhận cũng rất khó để xác định, khi mà điều kiện kinh tế xã hội đã bị biến đổi liên tục trong suốt thời kỳ này. Vào thế kỷ 19, các bản ghi chép còn tồn tại cho thấy việc buôn bán tranh với mức giá từ thấp nhất vào khoảng 16 mon cho tới tận 100 mon cho các phiên bản sang trọng. Ōkubo Jun'ichi cho rằng giá cả trong khoảng tầm 20 tới dưới 40 mon thường có xu hướng phổ biến đối với các bản in chuẩn. Có một so sánh lỏng lẻo, rằng một bát mì soba vào đầu thế kỷ 19 thường có giá 16 mon.
Thuốc nhuộm trong các bản in ukiyo-e dễ bị phai mờ ngay cả khi tiếp xúc với mức ánh sáng nhẹ; điều này khiến cho việc trưng bày lâu dài trở nên khó khả thi. Loại giấy dùng để in sẽ bị hư hỏng khi tiếp xúc với các vật liệu có tính axit, do đó, các hộp lưu trữ, bao đựng, và khung viền phải có độ pH trung tính hoặc kiềm. Các bản in phải được kiểm tra thường xuyên để nhận biết được các vấn đề cần được xử lý, và phải được lưu giữ ở độ ẩm tương đối 70% hoặc ít hơn để ngăn ngừa sự đổi màu bởi tác dụng của nấm mốc.
Giấy và thuốc nhuộm trong tranh ukiyo-e rất nhạy cảm với sự thay đổi độ ẩm và thời tiết theo mùa. Khung viền cần phải có độ mềm dẻo, vì tấm in có thể bị rách dưới sự thay đổi độ ẩm. Trong thời kì Edo, tấm in được đóng khung trên loại giấy có nhiều sợi thớ và được bảo quản bằng cách cuộn vào và đặt trong các hộp gỗ hông trơn, rồi tiếp tục đặt trong một hộp gỗ sơn mài khác. Trong các thiết lập của bảo tàng, thời gian trưng bày phải được giới hạn để tránh sự xuống cấp do tiếp xúc với ánh sáng và ô nhiễm môi trường. Động tác cuộn giấy lại là nguyên nhân gây nên các độ lõm của giấy, và việc cuộn đi cuộn lại các bức tranh gây ra các nếp gấp. Độ ẩm tương đối lý tưởng cho cuộn tranh nên được giữ từ 50% tới 60%; sự giòn và nứt nẻ sẽ xảy ra khi độ ẩm xuống dưới mức độ này.
Bởi vì các bản in ukiyo-e được sản xuất hàng loạt, việc sưu tập chúng thể hiện một sự cân nhắc khác biệt so với sưu tập các loại tranh khác. Có nhiều sự khác biệt trong điều kiện, độ hiếm, chi phí và chất lượng của các bản in còn sót lại. Các bản in có thể có vết bẩn, bị ố, bị mối mọt gặm, bị rách, bị nhăn hoặc gấp mép, màu sắc có thể đã bị mờ hoặc có thể đã được chỉnh sửa lại. Thợ khắc có thể đã thay đổi màu sắc hoặc bố cục của bản in mà đã từng trải qua nhiều phiên bản. Khi cắt giấy sau khi in, giấy có thể đã được tỉa vào bên trong lề. Các giá trị của bản in phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm danh tiếng của nghệ sĩ, điều kiện in, độ hiếm, và liệu đó có phải là bản in ban đầu—thậm chí các bản in chất lượng cao về sau cũng sẽ đạt được một phần giá trị của bản gốc. Tính tới năm 2016, mức giá kỷ lục cho một bản in ukiyo-e được bán đấu giá là €745,000 cho Fukaku Shinobu Koi (k. 1793–94) của Utamaro.
Các bản in ukiyo-e thường trải qua nhiều phiên bản chỉnh sửa, đôi khi có những thay đổi đối với các mộc bản in trong các ấn bản sau này. Các ấn bản được tạo ra từ các mộc bản gỗ khắc lại cũng được lưu hành, chẳng hạn như các bản sao chép hợp pháp sau này, cũng như các ấn bản vi phạm bản quyền và các tranh giả khác. Takamizawa Enji (1870–1927), một nhà sản xuất bản sao ukiyo-e, đã phát triển một phương pháp khắc lại các mộc bản để in lớp màu mới lên trên các bản gốc bị phai mờ, qua đó ông đã sử dụng tro thuốc lá để làm cho lớp mực mới trông có vẻ cũ hơn. Những bản in được làm mới này được ông bán lại như những tranh in gốc. Trong số những nhà sưu tập bị lừa đảo phải kể đến kiến trúc sư người Mỹ Frank Lloyd Wright, người đã mang 1.500 bản in của Takamizawa từ Nhật Bản về Mỹ, một số tranh trong số đó đã được ông bán đi trước khi sự thật bị phát hiện.
Các nghệ sĩ ukiyo-e được nhắc tới theo kiểu Nhật Bản, họ trước tên cá nhân, và các nghệ sĩ nổi tiếng như Utamaro và Hokusai được nhắc tới chỉ bằng tên riêng. Các đại lý thường nhắc tới các bản in ukiyo-e bằng tên kích thước tiêu chuẩn, thường là khổ aiban (34,5 nhân 22,5 xentimét (13,6 in × 8,9 in)), khổ chūban (22,5 nhân 19 xentimét (8,9 in × 7,5 in)), và khổ ōban (38 nhân 23 xentimét (15,0 in × 9,1 in))—các kích thước có độ chính xác khác nhau, và giấy thường được tỉa sau khi.
Nhiều trong số những bộ sưu tập ukiyo-e chất lượng cao nhất nằm bên ngoài Nhật Bản. Các ví dụ có thể nhắc tới bộ sưu tập của Thư viện Quốc gia Pháp vào nửa đầu thế kỷ 19. Bảo tàng Anh bắt đầu một bộ sưu tập vào năm 1860 vào cuối thế kỷ 20 đã đạt tới con số 70.000 bản tranh. Bộ sưu tập lớn nhất, vượt trội với 100.000 bản tranh, nằm trong Bảo tàng Mỹ thuật Boston, bắt nguồn khi Ernest Fenollosa quyên tặng bộ sưu tập của ông vào năm 1912. Triển lãm đầu tiên ở Nhật Bản về các bản in ukiyo-e có lẽ là do Matsukata Kōjirō tổ chức vào năm 1925, người đã thu thập bộ sưu tập của ông ở Paris trong suốt Chiến tranh thế giới thứ nhất và sau đó đã tặng nó cho Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Quốc gia Tokyo. Bộ sưu tập ukiyo-e lớn nhất Nhật Bản là 100.000 bản tranh nằm trong Bảo tàng Ukiyo-e Nhật Bản ở thành phố Nagano.
== Xem thêm ==
Danh sách thuật ngữ ukiyo-e
Các môn phái của nghệ sĩ ukiyo-e
Bảo tàng tưởng niệm nghệ thuật Ukiyo-e ở Ōta
Hiệp hội Ukiyo-e Hoa Kỳ
== Ghi chú ==
== Chú thích ==
=== Trích dẫn tác phẩm ===
==== Tạp chí học thuật ====
==== Sách ====
==== Trang web ====
== Đọc thêm ==
Calza, Gian Carlo (2007). Ukiyo-E. Phaidon Press. ISBN 978-0-7148-4794-8.
Kanada, Margaret Miller (1989). Color Woodblock Printmaking: The Traditional Method of Ukiyo-e. Shufunomoto. ISBN 978-4-07-975316-6.
Lane, Richard (1978). Images from the Floating World, The Japanese Print. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-211447-1.
Newland, Amy Reigle (2005). Hotei Encyclopedia of Japanese Woodblock Prints. Hotei. ISBN 978-90-74822-65-7.
== Liên kết ngoài ==
A Guide to the Ukiyo-e Sites of the Internet
Ukiyo-e Techniques, một bộ sưu tập tương tác của video và các đoạn phim hoạt hình thể hiện các kỹ thuật của bậc thầy in tranh Shinohara Keiji.
ukiyo-e.org, bộ sưu tập các hình ảnh ukiyo-e được số hóa |
gap.txt | Gap là tỉnh lỵ của tỉnh Hautes-Alpes, thuộc vùng hành chính Provence-Alpes-Côte d'Azur của nước Pháp, có dân số là 36.262 người (thời điểm 1999).
== Các thành phố kết nghĩa ==
Traunstein, Bayern
Pinerolo, Piemont
== Những người con của thành phố ==
Guillaume Farel, nhà cải cách của vùng Thụy Sĩ nói tiếng Pháp, cộng sự của Johannes Calvins
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Gap city council website
Gap 2018 olympic bid web site
Bản mẫu:Catholic
Gallia Christiana (Nova, 1715), I, 452-473, Instrumenta, 86-89, (Nova, 1725), III, 1051-1107; Instrumenta, 177-188, 205-8;
Albanes, Gallia christiana Novissima (Montbeliard, 1899), I,
Depery, Histoire hagiologique du diocese de Gap (Gap, 1852);
Honoré Fisquet, France Pontificale (Paris, 1868);
Gaillaud, Histoire de Notre Dame d'Embrun (Gap, 1862);
Roman, Sigillographie du diocese de Gap (Grenoble, 1870);
IDEM, Tableau historique du departement des Hautes-Alpes (Paris, 1889-91);
Chevalier, Topo-bibl., pp. 988, 1266. |
vũ bằng.txt | Vũ Bằng (3 tháng 6 năm 1913 – 7 tháng 4 năm 1984), tên thật là Vũ Đăng Bằng, là một nhà văn, nhà báo của Việt Nam. Ông là người có sở trường về viết truyện ngắn, tùy bút, bút ký. Ông đã vào Sài Gòn sau 1954 để làm báo và hoạt động tình báo. Ngoài bút hiệu Vũ Bằng, ông còn ký với các bút hiệu khác: Tiêu Liêu, Vịt Con, Thiên Thư, Vạn Lý Trình, Lê Tâm, Hoàng Thị Trâm.
== Tiểu sử ==
Nhà văn Vũ Bằng sinh ngày 3 tháng 6 năm 1913 tại Hà Nội và lớn lên trong một gia đình Nho học, quê gốc ở làng Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông theo học Trường Albert Sarraut, tốt nghiệp Tú Tài Pháp.
Cha mẹ Vũ Bằng sinh sáu người con, ba trai ba gái. Cha mất sớm, Vũ Bằng ở với mẹ là chủ một tiệm bán sách ở phố Hàng Gai (Hà Nội), nên không bị thiếu thốn. Ngay khi còn nhỏ ông đã say mê viết văn, làm báo. Năm 16 tuổi ông đã có truyện đăng báo, liền sau đó ông lao vào nghề văn, nghề báo với tất cả niềm say mê, chứ không phải vì mưu sinh.
Năm 1935, ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Quỳ, người Thuận Thành, Bắc Ninh. Cuối năm 1946, Vũ Bằng cùng gia đình tản cư ra vùng kháng chiến.
Cuối năm 1948, trở về Hà Nội, bắt đầu tham gia hoạt động trong mạng lưới tình báo cách mạng. Năm 1954, được sự phân công của tổ chức, ông vào Sài Gòn, để lại vợ và con trai ở Hà Nội (năm 1967, bà Quỳ qua đời) và tiếp tục hoạt động cho đến 30 tháng 4 năm 1975. Vì nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đứt đoạn đường dây liên lạc, mãi đến sau này, ông mới được công nhận là người hoạt động cách mạng và được truy tặng huân chương nhà nước . Ở Sài Gòn, ông lập gia đình với bà Phấn.
Ông mất lúc 4 giờ 30 phút ngày 7 tháng 4 năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 71 tuổi. Ngày 13 tháng 2 năm 2007, nhà văn Vũ Bằng được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
== Sự nghiệp văn chương ==
Năm 17 tuổi (1931), ông xuất bản tác phẩm đầu tay Lọ Văn. Trong lãnh vực báo chí, ngay từ trong thập niên 30, thập niên 40, nghĩa là lúc ông còn rất trẻ, ông đã là chủ bút tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy, thư ký tòa soạn tờ Trung Bắc Chủ Nhật và cộng tác với nhiều tờ báo ở Hà Nội, Sài Gòn... Và "có thể nói trong lịch sử văn học từ những năm 30 cho đến năm 1954, Vũ Bằng là một trong những người hoạt động sôi nổi nhất"(Triệu Xuân) .
Mặc cho người mẹ cản ngăn, muốn ông du học Pháp để làm bác sĩ y khoa, Vũ Bằng quyết chí theo nghiệp văn chương . Đến khi in được vài truyện ngắn và tiểu thuyết, ông sa vào lãnh vực ăn chơi vào loại khét tiếng. Khoảng năm 1934 - 1935, Vũ Bằng nghiện á phiện rất nặng suốt 5 năm. Nhờ người cô ruột và nhờ vợ là Nguyễn Thị Quỳ thường xuyên săn sóc, khuyên nhủ, cộng với sự quyết tâm của bản thân nên ông đã cai được, rồi viết cả một cuốn tự truyện mang tên Cai.
Sau năm 1954, Vũ Bằng vào Sài Gòn tiếp tục viết văn, làm báo. ông làm việc tại Việt Tấn Xã và cộng tác với nhiều tờ báo. Ông chuyên về dịch thuật nhiều hơn sáng tác. Đặc biệt với "cái ăn" ông viết rất tuyệt vời: Miếng ngon Hà Nội (bút ký, 1960), Miếng lạ miền Nam (bút ký, 1969) và trong Thương Nhớ Mười Hai (hồi ký, 1972).
== Nhận xét về Vũ Bằng ==
Trích một số ý kiến của người trong giới:
Nhà văn Vũ Ngọc Phan:
Tiểu thuyết của Vũ Bằng rất gần với tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan về lối tả cảnh và nhân vật, dù là họ ở vào cảnh nghèo khổ hay cảnh giàu sang, bao giờ Vũ Bằng cũng tả bằng ngọn bút dí dỏm, nhạo đời hơi đá hoạt kê một chút; còn về cảnh, ông chỉ tả sơ sơ; ông chú trọng cả vào hành vi ấy là động tác của cuốn tiểu thuyết và gây nên những cảnh riêng biệt cho nhân vật...
Nhà văn Tô Hoài:
Những năm ấy Nam Cao đương ở với tôi trên Nghĩa Đô. Chúng tôi mải mê đọc Vũ Bằng… Nếu nhà nghiên cứu văn học nào lưu tâm đến những truyện ngắn Vũ Bằng thời kỳ ấy với truyện ngắn của Nam Cao và những truyện ngắn "Bụi ô tô", "Một đêm sáng giăng suông"… của tôi trên báo Hà Nội Tân văn có thể dễ dàng nhận thấy hai ngòi bút này hơi hướng Vũ Bằng. Chính chúng tôi vẫn thường thành tâm tự nhận xét ảnh hưởng ấy với anh ấy…
Thi sĩ Nguyễn Vỹ:
Anh có lối tả chân thật đặc biệt và trào phúng chuyên môn, có khi rất nhẹ nhàng khả ái như Alphonse Daudet, có khi cầu kỳ lý thú như Courteline. Tôi không nói Vũ Bằng là một văn hào, nhưng chắc chắn anh là một nhà văn Việt Nam độc đáo trên lĩnh vực tả chân trào phúng, trước kia và bây giờ.
Nhà văn Võ Phiến trong tác phẩm Văn Học Miền Nam:
Vũ Bằng có lúc tay nầy một tờ báo của Vũ Đình Long, tay kia một tờ khác của Nguyễn Doãn Vượng; có lúc một mình trông nom cả ba tờ báo ở Sài Gòn là Đồng Nai, Sài Gòn Mai và Tiếng Dân; lại có lúc vừa viết cho Dân Chúng, làm tổng thư ký báo Tin Điện, lại vừa hợp tác với người thứ ba làm báo Vịt Vịt...
Nhà văn Tạ Tỵ đã gọi Vũ Bằng là Người trở về từ cõi đam mê, và ông đã viết như sau:
Vũ Bằng là một hiện tượng. Trong suốt dòng sông của cuộc đời có mặt, Vũ Bằng đã đánh đổi tất cả chỉ để xin lấy về phần mình hơi thở của nghệ thuật. Vũ Bằng thích sống một đời sống nhiều đam mê, dù là tội lỗi, hơn đạo đức. Theo anh, đã sống phải nếm đủ mùi đời mới thực là sống, còn bôn ba theo đuổi danh lợi rồi chết im lìm thì chỉ là sống một cách què cụt, thiếu sót...Tuy nói vậy, chứ Vũ Bằng còn ham làm việc lắm. Anh thường nói với tôi, anh ước mong viết...Đó, chân dung Vũ Bằng với ngần ấy ước vọng ở mức tuổi gần 60. Ước vọng tuy không lớn lao nhưng thời gian và cơm áo có cho phép Vũ Bằng thực thi dự định? Riêng tôi, tôi cầu chúc cho ước vọng của Vũ Bằng thành sự thực...
Tạ Tỵ thuật tiếp:
Nhưng khi nhìn thẳng vào đời sống của Vũ Bằng dưới mái nhà nhỏ bé bên chân cầu Tân Thuận, tự nhiên trong lòng tôi thấy xót xa… Chính vì cần tiền nên cứ vào khoảng 3 giờ sáng, Vũ Bằng một mình một bóng vừa viết...vừa ngồi hứng từng chậu nước đổ vào bể chứa cho vợ nấu cơm và giặt giũ. Trời vừa hửng sáng, mặc quần áo đi làm, mang theo bản thảo. Buổi trưa đến cây xăng Cống Bà Xếp ngồi giữa hơi xăng và đống dầu mỡ mà viết, vì về nhà con còn nhỏ, la hét um sùm không viết nổi. Có lúc nhà in giục gấp quá, Vũ Bằng viết luôn tại nhà in, được trang nào đưa sắp chữ ngay trang ấy. Nhiều khi Vũ Bằng viết ở ghế đá công viên, nghĩa là chỗ nào và lúc nào anh cũng viết được, vì chữ nghĩa đã có sẵn, chờ dịp trút xuống. Trong đời, tôi được biết có hai nhà văn viết bản thảo một mạch ít khi sửa chữa. Đó là Vũ Bằng và Đào Trinh Nhất.....
Ngoài ra, không ít nhà văn, nhà phê bình nghiên cứu văn học cho rằng ngay từ những năm Ba mươi, Vũ Bằng là một trong những người có công lớn cách tân tiểu thuyết Việt Nam, hiện đại hóa nền văn xuôi Việt Nam
== Tác phẩm "Thương nhớ Mười Hai" ==
Trong số trước tác của Vũ Bằng, Thương Nhớ Mười Hai là tác phẩm tiêu biểu cho tâm tư và phong cách viết của ông. Nội dung sách ông viết về hình ảnh người vợ tên Quỳ bên kia vỹ tuyến. Ông khởi sự viết từ tháng Giêng 1960, ròng rã mười một năm mới hoàn thành tác phẩm dày khoảng 250 trang vào năm 1971.
GS Hoàng Như Mai đánh giá:
Dù phải thích nghi với hoàn cảnh chính trị như thế nào đấy, cuốn sách vẫn bày tỏ rất rõ tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da diết quê hương ở bên kia "giới tuyến". Chính tấm lòng ấy đã cùng với ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng làm nên giá trị văn chương của tác phẩm này. Nó hấp dẫn chúng ta từng dòng, từng trang...
Nhà văn Triệu Xuân ca ngợi:
Có người bạn thân, trong lúc đàm đạo văn chương, hỏi tôi: "Sắp sang thế kỷ 21 rồi, nếu chỉ được phép mang mười cuốn sách văn học vào thế kỷ mới, ông mang những cuốn nào?". Tôi trả lời ngay: "Một trong những cuốn tôi mang theo là Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng!…
Bởi viết về Hà Nội, viết về đất nước quê hương, không ai có thể hơn Vũ Bằng. Bởi Vũ Bằng yêu Hà Nội, yêu đất nước quê hương khi mà ông đang sống ở Sài Gòn, cách Hà Nội chưa đầy hai giờ máy bay mà vời vợi ngàn trùng. Nỗi nhớ niềm yêu ấy là tuyệt vọng! Hơn thế nữa, bà Nguyễn Thị Quỳ, vợ hiền của ông, người đã góp phần quyết định làm nên một Vũ Bằng nhà văn, nhà báo, là nguồn cảm hứng văn chương của ông…
Và trong Từ điển văn học (bộ mới):
Văn hồi ký của ông là loại văn trữ tình, giàu chất thơ, hướng vào biểu hiện nội tâm, hướng về phong cảnh thiên nhiên bốn mùa xứ sở. Các câu văn tràn đầy cảm xúc, cảm giác tinh tế. Cùng với Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội…đã góp phần định hình kiểu hồi ký trữ tình độc đáo. Có thể xem đây là một đóng góp quan trọng của Vũ Bằng vào thể ký nói riêng và nền văn học hiện đại nói chung.
== Hoạt động mật ==
Nhà văn Triệu Xuân kể:
Một thời gian dài, Vũ Bằng và gia đình ông âm thầm chịu tiếng là nhà văn "dinh tê, về thành", nhà văn "quay lưng lại với Kháng chiến", là "di cư vào Nam theo giặc"! Có lẽ vì thế mà trong sách giáo khoa phổ thông cũng như ở bậc đại học, người ta không giảng dạy về Vũ Bằng.
Mặc dù vào những năm 1932 - 1945, Vũ Bằng đã nâng đỡ, hướng nghiệp, dìu dắt rất nhiều nhà văn trẻ, sau này trở thành những nhà văn tên tuổi lẫy lừng; và những người am hiểu Vũ Bằng từ khi ông vào Nam mà tôi đã gặp đều khẳng định: Vũ Bằng là một con người chân chính, một nhà văn yêu nước, có tấm lòng son sắt với Hà Nội.
Khi ông lâm bệnh cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, gia cảnh ông vô cùng túng thiếu.
Nhờ có rất nhiều người yêu mến Vũ Bằng, đã bỏ công sức tìm hiểu lai lịch cuộc đời ông, nên phát hiện thêm nhiều bằng chứng cho thấy không phải ông "dinh tê, di cư, phản bội", mà là ông đã nhận nhiệm vụ hoạt động bí mật trong giới trí thức nội thành từ năm 1952.
Nhờ vậy, vấn đề Vũ Bằng đã được Hội Nhà văn Việt Nam cử người xác minh.
Tháng 3 năm 2000, Cục Chính trị thuộc Tổng cục 2 - Bộ Quốc phòng Việt Nam đã có văn bản xác nhận nhà văn Vũ Bằng là chiến sĩ quân báo. Hy vọng rằng ở nơi chín suối, hương hồn nhà văn Vũ Bằng sẽ thanh thản sau những năm dài buồn tủi...
== Các tác phẩm ==
Lọ văn (tập văn trào phúng, 1931)
Một mình trong đêm tối (tiểu thuyết, 1937)
Truyện hai người (tiểu thuyết, 1940)
Tội ác và hối hận (tiểu thuyết, 1940)
Để cho chàng khỏi khổ (tiểu thuyết, 1941)
Bèo nước (tiểu thuyết, 1944)
Ba truyện mổ bụng (tập truyện, 1941)
Cai (hồi ký, 1944)
Ăn tết thủy tiên (1956)
Miếng ngon Hà Nội (bút ký, 1960)
Miếng lạ miền Nam (bút ký, 1969)
Bốn mươi năm nói láo (hồi ký, 1969)
Mê chữ (tập truyện, 1970)
Nhà văn lắm chuyện (1971)
Những cây cười tiền chiến (1971)
Khảo về tiểu thuyết (biên khảo, 1969)
Thương nhớ mười hai (bút ký, 1972)
Người làm mả vợ (tập truyện ký, 1973)
Bóng ma nhà mệ Hoát (tiểu thuyết, 1973)
Tuyển tập Vũ Bằng (3 tập, Nhà xuất bản Văn học, 2000)
Những kẻ gieo gió (2 tập, Nhà xuất bản Văn học, 2003)
Vũ Bằng toàn tập (4 tập, Nhà xuất bản Văn học, 2006)
Vũ Bằng, Các tác phẩm mới tìm thấy (Lại Nguyên Ân sưu tầm. Nhà xuất bản. Văn hóa Sài Gòn, 2010)
Hà Nội trong cơn lốc (Nhà xuất bản Phụ Nữ, 2010)
Văn Hóa... Gỡ (Nhà xuất bản Phụ Nữ, 2012).
và một số sách dịch khác.
Một triển lãm tác phẩm Vũ Bằng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông được ra mắt tháng 6 năm 2013 tại Nhã Nam thư quán (TP. Hồ Chí Minh) với gần 40 đầu tài liệu gồm sách, báo, thủ bút bản thảo của ông.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Bài viết về Vũ Bằng của Triệu Xuân
Bài viết về Vũ Bằng trên web Chim Việt
Bài viết về Vũ Bằng của Vương Trí Nhàn
Tư liệu về Vũ Bằng trên web Tiền Vệ
Vũ Bằng viết về Nam Cao, Nam Cao mô tả Vũ Bằng
Ðọc sách: "Ðời sống và Ðời viết" của Văn Giá |
vũ trường new century.txt | Vũ trường New Century là một vũ trường nằm trên số 10 Tràng Thi, Hà Nội, thành lập từ năm 1999, được coi là một trong những tụ điểm ăn chơi bậc nhất Hà Nội năm 2007. Chủ quản vũ trường là Công ty TNHH Hoa Phượng Thăng Long.
== Sự kiện ma túy ở Vũ trường ==
Ngày 28 tháng 4 năm 2007, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Bộ Công an đã tổ chức thi hành chuyên án Kế hoạch 23 và Điện của Bộ Công an với hơn 500 cảnh sát. Khi đó giám đốc công an Hà Nội - thiếu tướng Nguyễn Đức Nhanh không biết trước kế hoạch và trụ sở công an quận Hoàn Kiếm nằm cách đó 500 m cũng không hề biết và hoàn toàn bị bất ngờ. Chuyên án bí mật của Tổng cục Cảnh sát đã thành công ngoài dự kiến: phá tụ điểm ăn chơi, phát hiện đường buôn ma túy, đường dây gái gọi, trốn thuế...
== Thông tin thêm ==
Trước đây chuyên án triển khai thường không hiệu quả vì thông tin đã được tội phạm biết trước do chính những người công an bị mua chuộc tiết lộ bí mật, hoặc chính là người bảo kê cho tội phạm. Chuyên án này là cuộc thử nghiệm cho các chuyên án sau, đến giám đốc công an Hà Nội và công an quận Hoàn Kiếm, công an Phường cũng không được biết.
17 người bị kỷ luật liên quan đến vũ trường ở 3 ban ngành Hà Nội bao gồm: Công an Hà Nội, Sở Văn hóa Thông tin, ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm hầu hết là chức phó. Còn các đơn vị khác tự phê bình kiểm điểm.
Viện Kiểm sát Nhân dân quận Hoàn Kiếm ngày 9/12/2008 đã ký quyết định đình chỉ điều tra (miễn trách nhiệm hình sự) với Nguyễn Đại Dương:
"VKSND quận Hoàn Kiếm cho rằng việc khởi tố điều tra với Nguyễn Đại Dương về tội chứa chấp sử dụng chất ma túy là có căn cứ. Tuy nhiên quá trình điều tra không có điều kiện làm rõ mối quan hệ giữa 30 người đã sử dụng ma túy tại vũ trường với các nhân viên phục vụ và người quản lý vũ trường. Mặt khác, tại thời điểm kết thúc điều tra và xử lý vụ án do có một số quy định cụ thể hơn về việc xử lý tội danh chứa chấp chất ma túy nên VKS Hoàn Kiếm đã ra quyết định đình chỉ tội danh trên với ông Dương.
Với việc chỉ còn bị truy tố tội kinh doanh trái phép, theo khung hình phạt của Bộ luật Hình sự Nguyễn Đại Dương sẽ phải đối mặt với mức án cao nhất là 2 năm tù, thấp nhất 3 tháng."
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bí mật vụ đột kích New Century, Ngoisao tổng hợp, 5/5/2007.
Chủ New Century cũng là chủ nhân của chiếc Maybach triệu đô
Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Bộ Công an vây New Century
Chủ vũ trường New Century thành khẩn
Gần 300 người bị tạm giữ tại New Century có dấu hiệu sử dụng ma túy
Phát hiện nhiều đĩa sex và rượu lậu ở New Century, VnExpress, 5/5/2007
Xung quanh vụ New Century: Lợi nhuận khổng lồ!
Vụ New Century, Giám đốc Sở VHTT Hà Nội: "Chúng tôi phải trả giá cho việc này quá đắt"
Thủ tướng chỉ đạo xử lý nghiêm vụ vũ trường New Century
Người dân biết, lẽ nào cơ quan chức năng không biết?
Vụ New Century cho thấy quản lý Nhà nước bị buông lỏng, VnExpress, 7/5/2007
Gái mại dâm cao cấp hoạt động thế nào tại New Century?
Đã xác định được 2 loại ma túy tổng hợp nguy hiểm
Kỹ sư Bách khoa cung cấp ma tuý cho vũ trường New Century
Xem xét quyết định khởi tố chủ vũ trường New Century
Sau ma túy đến gái gọi va rượu lậu
vũ trường New Century(Hà Nội):Khởi tố 6 bị can và kỷ luật 17 cán bộ
Vũ trường New Century có dấu hiệu trốn thuế
Bảo vệ vũ trường NewCentury lại dẹp thuốc lắc
Video clip đêm đột kích vũ trường New Century P1.wmv trên YouTube
Clip đột kích vũ trường New Century năm 2007 phần 2 trên YouTube
Vu truong New Century và những hình ảnh chưa công bố - phần 3 trên YouTube |
william mcgregor (bóng đá).txt | William McGregor (13 tháng 4 năm 1846 - 20 tháng 12 năm 1911) là một quản trị viên hiệp hội bóng đá trong thời đại Victoria, người được coi là người sáng lập của Liên đoàn bóng đá, lần đầu tiên tổ chức hiệp hội bóng đá vô địch thế giới. The Football League, liên đoàn này được thành lập năm 1888 theo sáng kiến của giám đốc câu lạc bộ Aston Villa, ông William McGregor. Giải đấu này bao gồm 12 câu lạc bộ thuộc miền Trung và miền Bắc nước Anh. Sau khi chuyển từ Perthshire tới Birmingham để thành lập doanh nghiệp với nghề buôn bán vải, McGregor tham gia với câu lạc bộ bóng đá địa phương Aston Villa, mà ông đã giúp thành lập như là một trong những đội bóng hàng đầu ở Anh. Ông đã phục vụ câu lạc bộ trong hơn 20 năm ở nhiều cương vị khác nhau, bao gồm cả chủ tịch công ty, giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị. Vào năm 1888, cảm thấy thất vọng bởi việc hủy bỏ thường xuyên các trận đấu của Villa, McGregor đã tổ chức một cuộc họp của đại diện các câu lạc bộ hàng đầu của Anh, đã dẫn đến sự hình thành của Liên đoàn bóng đá, dành cho các câu lạc bộ thành viên một lịch thi đấu cố định đảm bảo mỗi mùa. Đây là công cụ trong quá trình chuyển đổi của bóng đá từ một trò tiêu khiển nghiệp dư đến một doanh nghiệp chuyên nghiệp. McGregor phục vụ như là cả Chủ tịch hội đồng quản trị và chủ tịch của Liên đoàn bóng đá và cũng là chủ tịch của Hiệp hội bóng đá (FA). Ông được công nhận bởi FA chod đóng góp cho môn bóng đá một thời gian ngắn trước khi qua đời vào năm 1911, và sau khi ông qua đời đã được vinh danh bởi các cơ quan chức bóng đá địa phương và Aston Villa.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
giao thông hà nội.txt | Hà Nội là thủ đô của Việt Nam và cũng là một trong những thành phố có số dân và mật độ dân cư cao của cả nước nên giao thông Hà Nội có tầm quan trọng nhất định trong việc đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hành khách và hàng hóa ngày một tăng.
== Đường bộ ==
=== Lịch sử ===
Hà Nội là thành phố đầu tiên ở Á châu có điện thắp sáng từ cuối thế kỷ 18 thời Pháp thuộc. Năm 1897 công suất của công ty điện lực mà người Việt quen gọi là "sở nhà đèn" tăng lên thành 850 mã lực. Tư nhân cũng có thể đặt mua. Với nguồn năng lượng này chính phủ giao cho hãng Société foncière de l’Indochine đặt hệ thống xe điện dài 13 cây số với ba tuyến:
Tuyến A chạy từ Bờ Hồ xuống Bạch Mai
Tuyến B từ Bờ Hồ lên Thụy Khuê
Tuyến C từ Bờ Hồ ra Thái Hà.
Đến năm 1930 thì có năm tuyến xe điện với 27 cây số đường sắt.
=== Hệ thống đường bộ ===
Cho đến cuối năm 2011, Hà Nội hiện có 7.365 km đường giao thông, trong đó 20% là trục đường chính, 7 trục hướng tâm và 3 tuyến vành đai, cũng như đang quản lý hơn 4,3 triệu phương tiện giao thông các loại, trong đó riêng xe máy chiếm gần 4 triệu .
=== Hệ thống xe buýt ===
Mặc dù Hà Nội đã phát triển nhanh hệ thống xe buýt để phục vụ tới 300 triệu lượt người trong 2005, số người lựa chọn đi xe buýt chỉ chiếm gần 18% số người tham gia theo một cuộc điều tra của Sở Giao thông Công chính thành phố. Hơn 60% trả lời họ lựa chọn xe máy làm phương tiện di chuyển hàng ngày, và khoảng 13% nói họ chọn xe đạp hoặc đi bộ. Sở không công bố bao nhiêu người tham gia cuộc điều tra.
=== Hệ thống đường sắt ===
Đường sắt Hà Nội là hệ thống giao thông quan trọng trong vận chuyển hàng hóa và hành khách, được nối liền với hầu hết với mọi miền ở Việt Nam. Hà Nội là một đầu mút của đường sắt Thống Nhất Bắc Nam dài 1.726 km, nằm trong tổng chiều dài 2.600 km của hệ thống đường sắt Việt Nam, chủ yếu do Pháp xây dựng.
Ngoài ra, từ Hà Nội còn có các tuyến đường sắt nối với các tỉnh phía Bắc và đi ra cảng Hải Phòng.
Từ năm 1900 Hà Nội đã có đường sắt nội đô dùng cho tàu điện do Pháp xây dựng. Tồn tại trong 9 thập kỷ đến năm 1991 thì tàu ngừng hoạt động, đường ray đã được bóc đi vì phương tiện giao thông này gây tắc đường, một phần do đường ray và phần vì tốc độ tàu chạy chậm.
=== Cầu ở Hà Nội ===
Hà Nội hiện có 2 cầu bắc qua sông Đà và 7 cây cầu bắc qua sông Hồng, theo thứ tự lần lượt từ hướng bắc xuống nam:
Cầu Đồng Quang: Đây là cây cầu được khánh thành mới nhất tính đến thời điểm này. Cầu nối xã Minh Quang - Ba Vì - Hà Nội với Đồng Luận - Thanh Thủy - Phú Thọ
Cầu Trung Hà.
Cầu Vĩnh Thịnh
Cầu Thăng Long
Cầu Nhật Tân
Cầu Long Biên
Cầu Chương Dương
Cầu Vĩnh Tuy
Cầu Thanh Trì
Các cầu lớn khác:
1. Cầu Mai Lĩnh bắc qua sông Đáy
2. Cầu sông đáy trên đại lộ Thăng Long.
Và các cây cầu dự kiến xây trong thời gian tới như Cầu Tứ Liên, cầu Mễ Sở, cầu Hồng Hà. Ngoài ra trong thành phố có các cầu nhỏ bắc qua các con sông nhỏ nội đô như cầu Giấy, cầu Hòa Mục, cầu Trung Hòa, cầu Cống Mọc, cầu Kim Ngưu... và có cả những cây cầu không bắc qua sông nào như cầu Thê Húc.
== Đường sông ==
Hà Nội có hệ thống sông ngòi khá lớn, thuận lợi cho việc vận tải bằng đường sông. Các sông chảy qua địa bàn:
Sông Hồng
Sông Đáy
Sông Đuống
Sông Cà Lồ
Sông Nhuệ
Sông Lừ
Sông Tô Lịch
Sông Kim Ngưu...
== Hàng không ==
Hà Nội có hai sân bay: sân bay Nội Bài (quốc tế và nội địa) và sân bay Gia Lâm (sân bay nhỏ, nơi có thể thuê trực thăng du lịch).
Sân bay Nội Bài cách thành phố 45 km về phía Bắc. Sân bay Gia Lâm cách trung tâm Hà Nội 8 km. Ngoài ra, Hà Nội còn có một sân bay quân sự hiện đang không sử dụng là sân bay Bạch Mai.
== Quản lý ==
Sở Giao thông Vận tải (trước đây là Sở Giao thông công chính-nay đổi tên) là đầu mối quản lý nhà nước cấp địa phương cho cơ sở hạ tầng giao thông của Hà Nội.
== Tiêu cực và tai nạn ==
Trong nội ô, các con phố của Hà Nội thường xuyên ùn tắc do cơ sở hạ tầng đô thị còn thấp kém, lượng phương tiện tham gia giao thông quá lớn – đặc biệt là xe máy –, và ý thức chưa tốt của các cư dân thành phố . Lại thêm khâu xử lý vi phạm giao thông của cảnh sát giao thông hiện nay chưa nghiêm, việc quản lý nhà nước và tổ chức giao thông còn nhiều bất cập, luôn thay đổi tùy tiện . Giáo sư Seymour Papert – nhà khoa học máy tính từ Viện Công nghệ Massachusetts bị tai nạn ở Hà Nội vào cuối năm 2006 – đã miêu tả giao thông của thành phố như một ví dụ minh họa cho giả thuyết về "hành vi hợp trội", phương thức mà các đám đông, tuân theo các nguyên tắc đơn giản và không cần sự lãnh đạo, tạo ra các vận động và hệ thống phức tạp . Trên những đường phố Hà Nội, vỉa hè thường bị chiếm dụng khiến người đi bộ phải đi xuống lòng đường. Trong những năm gần đây, Hà Nội chỉ phát triển thêm 5 tới 10 km đường mỗi năm . Nhiều trục đường của thành phố thiết kế chưa khoa học, không đồng bộ và hệ thống đèn giao thông ở một vài điểm cũng thiếu hợp lý. Thêm nữa, hiện tượng ngập úng mỗi khi mưa lớn cũng gây khó khăn cho người tham gia giao thông. Trong thập niên 2000, hệ thống xe buýt – loại hình phương tiện giao thông công cộng duy nhất – của thành phố có phát triển mạnh, nhưng phần đông người dân vẫn sử dụng các phương tiện cá nhân, chủ yếu là xe máy.
=== Quản lý và tổ chức giao thông ===
Theo quy hoạch giao thông Hà Nội được Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt năm 2008, chi phí cho phần phát triển đường bộ lên tới 100.000 tỷ đồng. Ba tuyến đường vành đai, 30 tuyến đường trục chính cùng nhiều tuyến phố sẽ được xây dựng mới hoặc cải tạo lại . Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng dự báo tới năm 2015, thành phố Hà Nội sẽ hết tình trạng ùn tắc giao thông .
Đã có nhiều ý kiến phê phán khâu xử lý vi phạm giao thông của cảnh sát giao thông hiện nay chưa nghiêm, việc quản lý nhà nước và tổ chức giao thông còn nhiều bất cập, luôn thay đổi tùy tiện, tạo bất ngờ và gây khó cho người dân, hiệu quả không những không cao mà còn rất lãng phí .
=== Tai nạn giao thông ===
Trong 11 tháng đầu năm 2011, trên địa bàn Hà Nội đã xảy ra 533 vụ tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt làm 531 người chết và 144 người bị thương . Năm 2012 Hà Nội xảy ra 777 vụ tai nạn giao thông, làm 619 chết, 397 người bị thương .
=== Ý thức người dân ===
Ý thức giao thông của người dân Hà Nội còn kém, còn nhiều cảnh giao thông hỗn loạn tại các ngã tư, vượt rào chắn...
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Sở Giao thông Vận tải Hà Nội
Trung tâm Quản lý và Điều hành Giao thông Độ thị Hà Nội |
bia tươi.txt | Bia tươi là loại bia có thể chưa được diệt khuẩn theo phương pháp Pasteur trước khi đóng lon hoặc đóng chai. Bia phải được giữ lạnh từ 2 °C đến 4 °C và uống ngay sau khi khui. Bia sẽ bị chua nếu để bia trên 6 °C sau hai ngày. Bia tươi có thể giữ được hương vị nguyên thủy trong vòng 20-30 ngày nếu được giữ lạnh dưới 6 °C.
Quá trình thanh trùng hay diệt khuẩn theo phương pháp Pasteur bao gồm nâng nhiệt độ của bia lên khoảng 70 độ C, rồi hạ trở lại nhiệt độ ban đầu, kế tiếp là quá trình lọc nhằm loại bỏ hoàn toàn con men ra khỏi bia. Qua 2 quá trình trên sẽ biến bia tươi thành bia đóng chai, bia hơi, dễ dàng hơn trong bảo quản vận chuyển nhưng lại ảnh hưởng rất nhiều đến chất dinh dưỡng trong bia.
Theo các chuyên gia, bia tươi có chứa nấm men có thể tồn tại trong cơ thể người, có thể thúc đẩy sự tiết dịch dạ dày trong cơ thể người, tăng cường sự thèm ăn của khách hàng.Vì bia tươi giữ lại được các enzyme hoạt động, chứa các axit amin và protein hòa tan phong phú hơn nên nó trở thành thức uống được sử dụng phổ biến hơn.
Có 2 dòng bia được ưa chuộng nhất đó là bia đen và bia vàng. Bia vàng được nấu với hàm lượng hoa bia cao hơn trong khi bia đen được sản xuất với nguyên liệu lúa mạch sấy khô cho có màu đen. Sự khác biệt chính của 2 dòng bia chính là về tính chất của bia: bia đen có độ đạm cao trong khi bia vàng có nhiều vitamin như B2, B6 và B9 tốt cho sức khỏe. Bia tươi có hương vị ngon nhất khi uống ở nhiệt độ 12 độ C, sau khi nguội, bia đen có vị ngọt còn bia vàng lại có vị đắng, đây cũng là điểm khác biệt giữa 2 dòng bia này.
Hiện nay, để giữ được hương vị cũng như chất lượng bia tươi, các nhà hàng chuyên phục vụ bia tươi được nấu và phục vụ đến tay khách hàng tại nhà hàng. Ly uống bia cũng phải được ướp đá lạnh để khi uống bia tươi vẫn giữ được độ ngon và hương vị nguyên bản.
== Đặc điểm ==
Bia tươi trong dạng lon hoặc chai thường có đồ phụ tùng nhỏ chứa khí nitơ để bia có bọt như được rót từ bom bia hoặc thùng tô-nô. Ví dụ bia Guinness dùng cục bi nhỏ chứa khí nitơ cho các lon bia tươi.
Bia tươi thường được đựng trong các thùng chứa chuyên dụng (bom bia) để vận chuyển từ nhà máy tới nơi tiêu thụ. Bia tươi phổ thông còn được biết đến dưới tên "bia hơi".
Bia tươi là loại bia thường không qua thanh trùng hoặc lọc, vì thế khi uống bia tươi sẽ có cảm giác đặc, đậm hơn nhiều các loại bia đóng chai hoặc lon. Bia tươi thường được sử dụng ngay tại khu vực sản xuất chiết rót trực tiếp từ tank LMP v.v.
== Phân loại ==
Có rất nhiều loại bia tươi trên thế giới. Ở Việt Nam cũng có khá nhiều loại, trong đó bia của Cộng hòa Séc và của Đức là loại phổ biến nhất.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bia tươi - vài điều đáng bàn |
đường hầm eo biển manche.txt | Đường hầm eo biển Manche hay Đường hầm eo biển Anh (tiếng Pháp: le tunnel sous la Manche, tiếng Anh: Channel Tunnel), là một đường hầm đường sắt dài 50,45 km bên dưới biển Manche tại Eo biển Dover, nối Folkestone, Kent ở Anh (51°5′49,5″B 1°9′21″Đ) với Coquelles gần Calais ở phía bắc Pháp (50°55′22″B 1°46′50,16″Đ).
Đây là một đại dự án với nhiều khởi đầu sai lầm nhưng cuối cùng đã thành công vào năm 1994. Đường hầm đường sắt này dài thứ hai thế giới; tuyến đường hầm Seikan ở Nhật Bản dài hơn nhưng đoạn dưới biển chỉ là 37,9 km, là đường hầm dưới biển dài nhất thế giới. Đường hầm qua eo biển Manche do hãng Eurotunnel vận hành. Trong đường hầm có những chuyến tàu chở khách tốc độ nhanh Eurostar, vận tải phương tiện Eurotunnel roll-on/roll-off - lớn nhất thế giới - và các chuyến tàu chở hàng quốc tế. Năm 1996 Hội Kỹ sư Dân dụng Mỹ đã coi đường hầm này là một trong Bảy kỳ quan thế giới hiện đại.
Các ý tưởng về một đường hầm cố định nối giữa hai bờ biển đã xuất hiện ngay từ năm 1802, nhưng sức ép của giới chính trị gia và báo chí Anh Quốc về vấn đề an ninh quốc gia đã làm đình trệ những nỗ lực xây dựng. Tuy nhiên, dự án thành công cuối cùng, được tổ chức bởi Eurotunnel, bắt đầu công việc xây dựng năm 1988 và khai trương năm 1994. Chi phí dự án đã vượt mức dự toán 80%. Từ khi được xây dựng, đường hầm đã phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng. Những trận hoả hoạn đã làm ngưng trệ hoạt động của đường hầm. Những người nhập cư trái phép và tìm kiếm quy chế tị nạn đã sử dụng đường hầm này để vào Anh (thỉnh thoảng, thậm chí còn có thể đi bộ được vào trong hầm), gây ra một sự bất đồng ngoại giao nhỏ về vị trí của trại tị nạn Sangatte, cuối cùng nó bị đóng cửa năm 2002.
== Nguồn gốc ==
=== Các đề xuất và nỗ lực ===
Năm 1802, kỹ sư mỏ Pháp Albert Mathieu đưa ra đề xuất về một đường hầm dưới eo biển Manche, được chiếu sáng bằng những chiếc đèn dầu, với những chiếc xe ngựa kéo, một hòn đảo nhân tạo giữa biển để đổi ngựa.
Sau đó, vào thập niên 1830, Aimé Thomé de Gamond người Pháp thực hiện những chuyến khảo sát địa chất và thuỷ văn đầu tiên về eo biển, giữa Calais và Dover. Thomé de Gamond đã khảo sát nhiều kế hoạch và, vào năm 1856, ông đệ trình Napoleon III một kế hoạch về một tuyến đường sắt mỏ từ Mũi Gris-Nez tới Eastwater Point với một port/airshaft trên bãi cát Varne với chi phí 170 triệu franc Pháp, hay chưa tới 7 triệu bảng Anh.
Năm 1865, một phái đoàn do George Ward Hunt dẫn đầu đệ trình ý tưởng về một đường hầm tới Bộ trưởng Bộ tài chính Anh khi ấy, William Ewart Gladstone.
Sau năm 1867, William Low và Sir John Clarke Hawkshaw ủng hộ các ý tưởng, nhưng không kế hoạch nào được thực hiện. Một nghị định chính thức giữa Anh và Pháp được thiết lập năm 1876 về một đường hầm đường sắt xuyên eo biển. Năm 1881, nhà kinh doanh vận tải đường sắt Anh Ngài William Watkin và nhà thầu Kênh Suez Pháp Alexandre Lavalley đều ở trong Công ty Đường sắt ngầm dưới biển Anh-Pháp tiến hành công việc khảo sát ở cả hai phía eo biển. Ở phía Anh một máy đào có đường kính 2.13 đã đào một đường hầm dẫn hướng dài 1893m từ Vách Shakespeare. Ở phía Pháp, một máy tương tự đào một đường hầm dài 1669m từ Sangatte. Dự án bị huỷ bỏ vào tháng 5 năm 1882, trước sức ép từ giới chính trị gia và báo chí Anh cho rằng đường hầm sẽ gây ảnh hưởng tới khả năng quốc phòng của Anh. Những công việc đầu tiên này sẽ được thực hiện hơn một thế kỷ sau trong dự án TML.
Năm 1955, những tranh cãi về quốc phòng bị coi là không thích hợp bởi sự thống trị của không quân; vì thế, cả chính phủ Anh và Pháp đều ủng hộ những cuộc khảo sát kỹ thuật và địa chất. Việc xây dựng bắt đầu ở cả hai phía eo biển năm 1974, một dự án được chính phủ tài trợ sử dụng hai đường hầm ở cả hai phía của một đường hầm dịch vụ, với khả năng lưu thông cho những đoàn tàu chở xe hơi. Tháng 1 năm 1975, trước sự mất tinh thần của các đối tác Pháp, chính phủ Anh đã huỷ bỏ dự án. Chính phủ đã thuộc Công đảng và đang có sự không chắc chắn về quy chế thành viên Uỷ ban châu Âu, các ước tính chi phí đã tăng lên tới 200% và nền kinh tế quốc gia đang gặp khó khăn. Tới thời điểm ấy British Priestly TBM đã sẵn sàng và Bộ giao thông đã có khả năng thực hiện một đường hầm dẫn hướng thực nghiệm dài 300 m. Tuy nhiên, đường hầm ngắn này sẽ được tái sử dụng làm điểm khởi đầu và lối vào cho những hoạt động đào hầm ở phía Anh.
Năm 1979 "Mouse-hole Project" (Dự án Lỗ Chuột) được đề xuất khi đảng Bảo thủ Anh quay lại nắm quyền lực. Ý tưởng là một hầm đường sắt đơn với một hầm dịch vụ, nhưng không có các ga đầu cuối. Chính phủ Anh không quan tâm tới việc rót vốn cho dự án, nhưng Thủ tướng Margaret Thatcher nói rằng bà không phải đối một dự án do tư nhân tài trợ. Năm 1981 Thủ tướng Anh Margaret Thatcher và Tổng thống Pháp François Mitterrand đồng ý thành lập một nhóm làm việc với mục tiêu một dự án do tư nhân tài trợ, và vào tháng 4 năm 1985 những người ủng hộ được chính thức mời tới một cuộc họp về các kế hoạch đề xuất. Bốn bản đề xuất được xem xét:
một đề xuất đường sắt dựa trên kế hoạch được đệ trình bởi Channel Tunnel Group/France–Manche (CTG/F–M) năm 1975,
Eurobridge – một cây cầu treo dài 4.5 km với một đường bộ trong một ống kín
Euroroute – một đường hầm dài 21 km với các hòn đảo nhân tạo tiếp cận bằng cầu, và
Channel Expressway – các đường hầm có đường kính lớn với các tháp thông gió ở giữa eo biển.
Các công ty phà xuyên eo biển dưới cái tên "Flexilink" phản đối. Năm 1975 không có chiến dịch nào phản đối một đường nối cố định, với một trong những nhà điều hành phà lớn nhất (Sealink) là thuộc sở hữu nhà nước. Flexilink tiếp tục phản đối trong cả năm 1986 và 1987. Công chúng rất thích ý tưởng về một đường hầm có thể lái xe xuyên qua, nhưng các vấn đề về thông gió, những lo ngại về việc quản lý rủi ro, và sự trái nghịch chiều lưu thông dẫn tới việc chỉ những dự án đường sắt được xem xét, CTG/F-M, đã được trao dự án.
=== Tổ chức ===
Channel Tunnel Group của Anh gồm hai ngân hàng và năm công ty xây dựng, trong khi các đối tác phía Pháp, France–Manche, gồm ba ngân hàng và năm công ty xây dựng. Vai trò của các ngân hàng là để tư vấn về tài chính và đảm bảo các cam kết về vốn. Ngày 2 tháng 7 năm 1985, các nhóm thành lập Channel Tunnel Group/France–Manche (CTG/F–M). Đề xuất của họ tới chính phủ Anh và Pháp được soạn thảo từ dự án năm 1975, gồm 11 tập và một báo cáo về ảnh hưởng môi trường.
Việc thiết kế và xây dựng được thực hiện bởi mười công ty xây dựng trong CTG/F-M group. Ga đầu cuối phía Pháp và việc đào hầm từ Sangatte được thực hiện bởi năm công ty xây dựng Pháp trong nhóm liên doanh GIE Transmanche Construction. Ga đầu cuối phía Anh và việc đào hầm từ Vách Shakespeare được thực hiện bởi năm công ty xây dựng Anh thuộc Trankslink Joint Venture. Hai bên đối tác được điều phối bởi TransManche Link (TML), một tổ chức dự án hai quốc gia. Maître d'Oeuvre là một tổ chức giám sát kỹ thuật do Eurotunnel thuê theo các điều khoản của việc nhượng quyền giám sát hoạt động của dự án và báo cáo về các ngân hàng và chính phủ.
Tại Pháp, với truyền thống đầu tư hạ tầng từ lâu đời, dự án nhận được sự ủng hộ rộng rãi, và vào tháng 4 năm 1987 Quốc hội Pháp nhất trí ủng hộ và, vào tháng 6 năm 1987, sau một cuộc điều tra ý kiến công chúng, Thượng viện cùng ủng hộ. Tại Anh, các uỷ ban lựa chọn xem xét đề xuất, lần đầu tiên thực hiện những phiên điều trần lịch sử phía ngoài Westminster, tại Kent. Tháng 2 năm 1987, lần thứ ba Dự án Đường hầm Eo biển được đưa ra xem xét tại Hạ viện, và được thông qua với số phiếu 94 trên 22. Đạo luật Đường hầm Eo biển được Hoàng gia đồng thuận và thông qua thành luật trong tháng 7 năm đó.
Đường hầm Eo biển là một dự án xây dựng-điều hành-chuyển giao (BOOT) với một sự nhượng quyền. TML sẽ thiết kế và xây dựng đường hầm, nhưng việc cung cấp tài chính thông qua một thực thể luật pháp riêng biệt: Eurotunnel. Eurotunnel là công ty mẹ của CTG/F-M và đã ký một hợp đồng xây dựng với TML; tuy nhiên, chính phủ Pháp và Anh kiểm soát công việc kỹ thuật cuối cùng và các quyết định về an toàn. Chính phủ Pháp và Anh trao cho Eurotunnel quyền điều hành 55- (sau này là 65-) năm để trả các khoản nợ và cổ tức. Một Thoả thuận Sử dụng Đường sắt được ký kết giữa Eurotunnel, British Rail và Société Nationale des Chemins de fer Français đảm bảo những khoản thu tương lai để đổi lấy việc những tuyến đường sắt chiếm một nửa công suất của đường hầm.
Vốn tư nhân cho một dự án hạ tầng phức tạp như vậy đã đạt tới tầm mức chưa từng có. Một khoản vốn ban đầu £45 triệu được CTG/F-M gọi, tăng £206 triệu từ các định chế tư nhân, £770 triệu được gọi từ các khoản gọi cổ phần công cộng gồm cả quảng cáo báo chí và tivi, một khoản vay ngân hàng nghiệp đoàn và thư tín dụng dàn xếp £5 tỷ. Được tư nhân cung cấp tài chính, tổng chi phí đầu tư theo giá cả năm 1985 là £2600 triệu. Khi hoàn thành năm 1994 chi phí thức tế, theo giá năm 1985, là £4650 triệu: tăng 80%. Chi phí tăng thêm chủ yếu bởi sự tăng cường an toàn, an ninh và các yêu cầu về môi trường. Các chi phí tài chính cao hơn 140% so với dự toán.
=== Xây dựng ===
Mười một máy đào hầm dạng khiên, làm việc từ cả hai phía Eo biển (5 máy đào từ phía bờ nước Pháp, 6 máy đào từ phía bờ nước Anh), cắt xuyên qua lớp đá phấn marl để xây dựng hai đường hầm đường sắt và một đường hầm dịch vụ. Các ga đầu cuối của tàu hoả nằm tại Cheriton (một phần của Folkestone) và Coquelles, và được nối với các tuyến đường bộ của Anh và Pháp (M20 và A16).
Việc đào hầm bắt đầu năm 1988, và hầm bắt đầu hoạt động năm 1994. Theo giá cả năm 1985, tổng chi phí xây dựng là £4650 triệu (£10,153 triệu nếu tính cả lạm phát cho tới năm 2007), tăng 80%. Ở thời điểm xây dựng đỉnh điểm 15,000 người làm việc hàng ngày với chi phí lên tới hơn £3 triệu. Mười công nhân, tám trong số đó là người Anh, đã thiệt mạng khi xây dựng từ năm 1987 tới năm 1993, đa số ở những tháng đầu tiên của việc đào hầm.
=== Hoàn thành ===
Hai hố dẫn hướng có đường kính 50-mm đã giúp đường hầm dịch vụ được xuyên thủng ngày 30 tháng 10 năm 1990. Ngày 1 tháng 12 năm 1990, Graham Fagg người Anh và Phillippe Cozette người Pháp đã đi xuyên qua hầm trước sự chứng kiến của truyền thông. Eurotunnel hoàn thành đường hầm đúng thời hạn, và đường hầm được Nữ hoàng Elizabeth II và Tổng thống Pháp François Mitterrand chính thức khai trương trong một buổi lễ được tổ chức tại Calais ngày 6 tháng 5 năm 1994. Nữ hoàng đã đi qua đường hầm tới Calais trên một đoàn tàu Eurostar, nó dừng đối diện với đoàn tàu chở Tổng thống Mitterrand từ Paris. Sau buổi lễ Tổng thống Mitterrand và Nữ hoàng đã đi trên một Le Shuttle tới một buổi lễ tương tự tại Folkestone.
Tuyến đường sắt xuyên Eo biển (CTRL), hiện được gọi là High Speed 1, chạy 111 km từ ga đường sắt St Pancras ở London tới cổng Đường hầm Eo biển tại Folkestone ở Kent. Nó có chi phí 5,8 tỷ bảng. Ngày 16 tháng 9 năm 2003, Thủ tướng Anh Tony Blair đã khai trương đoạn đầu tiên của High Speed 1, từ Folkestone tới bắc Kent. Ngày 6 tháng 11 năm 2007, Nữ hoàng chính thức khai trương High Speed 1 và ga quốc tế St Pancras, thay thế đường nối tốc độ chậm cũ tới ga đường sắt quốc tế Waterloo. Trên High Speed 1 các đoàn tàu chạy với tốc độ lên tới 300 km/h, chuyến đi từ London tới Paris mất 2h15' và London tới Brussels mất 51 phút.
Năm 1996, Hội Kỹ sư Dân dụng Mỹ, với Popular Mechanics, đã lựa chọn đường hầm là một trong Bảy Kỳ quan của Thế giới Hiện đại.
== Kỹ thuật ==
Việc khảo sát đã được thực hiện trong 20 năm trước khi công việc xây dựng xác nhận những dự đoán trước đó rằng một tuyến đường hầm có thể được đào xuyên một tầng đá marl. Tầng đá marl có thể là lớp dẫn cho đường hầm, với khả năng chống thẩm thấu, dễ đào và có cường độ cao. Tuy ở phía Anh, tầng đá marl chạy dọc theo toàn bộ chiều dài đường hầm, ở phía Pháp có một đoạn dài 5 km có địa chất phức tạp và khó khăn. Đường hầm Eo biển gồm ba đường riêng: hai hầm đường sắt có đường kính 7.6m, cách nhau 30m, dài 50 km và một hầm dịch vụ có đường kính 4.8m ở giữa. Cũng có những đoạn vượt cho hành khách và các cửa hoạt động bằng piston. Đường hầm dịch vụ được sử dụng như một hầm định hướng, được đào trước các đường hầm chính để xác định điều kiện địa chất. Lối vào từ phía Anh là Vách Shakespeare, lối vào từ phía Pháp là một hầm tại Sangatte. Phía Pháp sử dụng năm máy đào hầm (TBM), phía Anh sử dụng sáu. Đường hầm dịch vụ sử dụng Hệ thống Dịch vụ Vận tải Đường hầm (STTS) và các Phương tiện Dịch vụ Đường hầm Hạng nhẹ (LADOGS). An toàn cứu hoả là vấn đề rất quan trọng trong thiết kế.
Giữa các cổng tại Beussingue và Castle Hill đường hầm dài 50.5 km, với 3.3 km dưới đất bên phía Pháp, 9.3 km ngầm bên phía Anh và 37.9 km ngầm dưới biển. Điều này khiến Đường hầm Eo biển trở thành đường hầm đường sắt dài thứ hai trên thế giới, sau Đường hầm Seikan tại Nhật Bản, nhưng là đường hầm có đoạn ngầm dưới biển dài nhất. Độ sâu trung bình là 45m dưới đáy biển. Ở phía Anh, trong số 5 triệu mét khối đất dự tính đào lên 1 triệu mét khối được dùng đắp quả đồi tại ga đầu cuối, và số còn lại được đổ tại Hạ Vách Shakespeare phía sau một đê biển, lấn thêm được 30 hécta đất of land. Vùng đất này sau đó được làm thành Công viên Hạt Samphire Hoe. Ảnh hưởng môi trường không bị coi là bất kỳ một nguy cơ lớn nào cho dự án, và những nghiên cứu sâu nữa về an toàn, tiếng ồn và ô nhiễm không khí đều có kết quả tốt. Tuy nhiên, những lo ngại về môi trường đã xuất hiện với tuyến đường cao tốc nối với London.
=== Địa chất ===
Việc đào hầm thành công đòi hỏi sự thấu hiểu về địa hình và địa chất và việc lựa chọn lớp đá tốt nhất để đường hầm đi xuyên qua. Nhìn chung địa chất khu vực này gồm các tầng đá tuổi Creta có hướng cắm về phía đông bắc, là một phần của rìa bắc của vòm Wealden-Boulonnais, có các đặc điểm như sau:
Theo quan sát của Verstegan năm 1698, vách đá phấn ở cả hai bên Eo biển đều liên tục, và không có đứt gãy lớn;
Các vách gồm bốn tầng chính, các trầm tích biển đã có từ 90–100 triệu năm trước; lớp đá phấn dễ thấm qua ở trên và ở giữa phủ lên trên một lớp đá có độ thấm thấp và cuối cùng là lớp đất sét dày không thấm nước. Một địa tầng cát, glauconitic marl (tortia), nằm giữa đá marl và lớp đất sét;
Một lớp đá phấn - marl dày 25–30 mét (82–98 ft) (tiếng Pháp: craie bleue) ở dưới cùng của lớp thứ 3 có lẽ là môi trường tốt nhất để đào hầm. Lớp đá có chứa đất sét khoảng 30–40% làm tăng khả năng chống thấm và vì thế khá dễ để đào với cường độ chịu lực tối thiểu. Lý tưởng nhất đường hầm phải được đào ở đáy 15m của đá marl trên lớp đá sét với lượng nước thấm từ các đứt gãy và khe nứt là nhỏ nhất, nhưng điều này sẽ làm tăng áp lực lên tuyến đường hầm khi các vật liệu trương nở và mềm ra khi ẩm.
Ở phía Anh góc cắm của các tầng đá chưa tới 5°, tuy nhiên ở phía Pháp con số này lên tới 20°. Các khe nứt và đứt gãy có ở cả hai phía Anh và Pháp. Ở phía Anh chỉ có những đứt gãy nhỏ có độ dịch chuyển chưa tới 2m. Ở phía Pháp độ dịch chuyển lên tới 15m xuất hiện trong nếp lồi Quenocs. Các đứt gãy có chiều rộng hạn chế, được lắp đầy bởi canxit, pyrit và đất sét. Độ dốc lớn và đứt gãy khiến việc chọn tuyến đường phía Pháp bị hạn chế. Để tránh nhầm lẫn, các mẫu vi hóa thạch được sử dụng để phân tầng lớp đá malk. Ở phía Pháp, đặc biệt là khu vực gần bờ biển, các đá phấn cứng hơn, giòn hơn và nứt nẻ nhiều hơn phía Anh. Điều này khiến nhiều kỹ thuật đào hầm đã được áp dụng riêng biệt bên phía Anh và phía Pháp.
Tuy nhiên, không có tai biến địa chất nào lớn xảy ra, các trầm tích đệ Tứ trong thung lũng Fosse Dangaered dưới biển và trượt đất Castle Hill ở phía Anh cũng là vấn đề cần quan tâm. Theo cuộc khảo sát địa vật lý năm 1964–1965, Fosse Dangaered là một hệ thống thung lũng được lắp đầy rộng đến 80 m bên dưới đáy biển, cách đoạn đường hầm 500 m về phía nam và nằm ở khoảng giữa. Cuộc khảo sát năm 1986 cho thấy một nhánh cắt qua tuyến đường nhầm, và vì thế tuyến đường hầm có thể phải được dời về phía bắc và ở sâu hơn. Nhà ga phía Anh phải đặt trong khu Castle Hill, đây là khu vực gồm phần đỉnh của các khối đá thuộc phần dưới của lớp đá phấn, glauconitic marl đã bị trượt. Khu vực này đã được ổn định bằng tường chắn và hệ thống thoát nước sườn. Các hầm dịch vụ là các hầm dẫn hướng được thi công trước các hầm chính nhằm xác định rõ điều kiện địa chất như các khu vực có đá bị cà nát và các đới có khả năng thấm nước cao. Việc thăm dò dã được tiến hành trong các hầm dịch vụ một cách chi tiết hơn theo chiều đứng và chiều ngang.
=== Khảo sát ===
Công việc đo độ sâu đáy biển và lấy mẫu được Thomé de Gamond tiến hành vào khoảng năm 1833–1867 cho thấy rằng độ sâu đáy biển tối đa là 55 m và địa tầng là liên tục. Công tác khảo sát cũng được tiến hành liên tục trong vài năm sau đó gồm 166 lỗ khoan dưới biển và 70 lỗ khoan trên bờ và hơn 4.000 km tuyến khảo sát địa vật lý biển. Surveys were undertaken in 1958–59, 1964–65, 1972–74 và 1986–88.
Cuộc khảo sát năm 1958–1959 phục vụ cho việc thiết kế các ống chìm và cầu cũng như việc đào hầm, do đó một khu vực rộng được khảo sát. Vào lúc này, việc khảo sát địa vật lý biển cho các dự án kỹ thuật còn rất sơn khai do việc định vị thiếu chính xác và độ phân giải của các mặt cắt địa chấn thấp. Các cuộc khảo sát năm 1964-1965 tập trung vào tuyến đường phía bắc của phía bờ biển Anh ở cảng Dover gồm 70 lỗ khoan cho thấy một khu vực có lớp đá phong hóa phát triển sâu và độ thấm cao nằm ở phía nam của cảng Dover.
Theo các kết quả của các cuộc khảo sát trước, một cuộc khảo sát năm 1972-1972 sâu về phía nam của tuyến đường đã được tiến hành và tuyến đường được xác định là khả thi. Thông tin về dự án được hầm cũng đã loan tới công trình trước khi hủy bỏ năm 1975. Ở phía Pháp tại Sangatte, một hầm sâu có các lối vào đã được thực hiện. Ở phía Anh tại Shakespeare Cliff, chính phủ cho phép đào một hầm dài 250 m vớo đường kính 4,5 m. Việc chỉnh đường hầm theo thực tế, phương pháp đào và chống đỡ về cơ bản thực hiện giống như năm 1975. Trong cuộc khảo sát năm 1986–1997, các phát hiện trước đó đã được gia cố và lớp sét glaut, môi trường đào hầm và đá phấn marl chiếm 85%, tuyến đường đã được khảo sát. Các kỹ thuật địa vật lý dùng trong ngành dầu khí cũng được sử dụng để khảo sát.
=== Đào hầm ===
Việc đào hầm giữa Anh và Pháp là một thách thức lớn về kỹ thuật, với chỉ một công trình trước đó là Đường hầm Seikan dưới biển tại Nhật Bản. Một nguy cơ nghiêm trọng là đường hầm ngầm có thể bị rò nước bởi áp lực từ phía trên tại những khu vực có điều kiện địa chất yếu. Đường hầm cũng gặp phải một trở ngại khác ở thời điểm đó - là công trình do tư nhân đầu tư, việc thu hồi vốn sớm rất quan trọng.
Mục tiêu là xây dựng: hai đường hầm đường sắt có đường kính 7.6m, cách nhau 30m, một đường hầm dịch vụ có đường kính 4.8m giữa hai đường hầm chính; các đôi đường nối đường kính 3.3m nối giữa hai hầm đường sắt với hầm dịch vụ ở khoảng cách mỗi 375m; các ống dẫn hoạt động bằng piston đường kính 2m nối các hầm đường sắt ở khoảng cách mỗi 250m; hai hầm vượt dưới biển để nối các hầm đường sắt. Hầm dịch vụ luôn được thi công trước các hầm chính ít nhất 1 km để xác định chính xác điều kiện địa chất, kinh nghiệm đào hầm xuyên đá đã có từ công nghiệp khai mỏ. Các hầm vượt dưới biển là một vấn đề kỹ thuật phức tạp. Hầm của Pháp dựa theo Đường hầm Núi Baker ở Mỹ. Hầm của Anh được đào từ hầm dịch vụ trước hai hầm chính để tránh chậm trễ.
Các đốt hầm đúc sẵn trong máy đào hầm chính (TBM) được sử dụng, nhưng các giải pháp khách nhau được áp dụng phía Anh và phía Pháp. Ở phía Pháp đốt neoprene bắt bu lông bằng thép đúc hay bê tông cốt thép và gắn bằng vữa được sử dụng. Ở phía Anh yêu cầu chính là tốc độ, và việc liên kết các đốt hầm bằng thép đúc chỉ được thực hiện ở những nơi có điều kiện địa chất kém. Trong các hầm phía Anh tám đốt hầm cộng một đốt chính được áp dụng; ở phía pháp cứ năm đốt lại có một đốt chính. Ở phía Pháp một hố có đường kính 55m, sâu 75m được đào tại Sangatte làm điểm tiếp cận. Ở phía Anh một khu vực công trường nằm dưới 140m từ đỉnh Vách Shakespeare, và biện pháp đào hầm mới của Áo (NATM) ban đầu được áp dụng ở lớp đá marl tại đây. Ở phía Anh các đường hầm trên đất liền được đào từ Vách Shakespeare, cùng nơi với đường hầm biển, không phải từ Folkestone. Khu vực ở dưới vách không đủ lớn cho tất cả các máy đào, và dù có những lo ngại về môi trường, đất đào ra được đổ phía sau một đê biển bằng bê tông, với điều kiện đổ đá trong một đầm kín để tránh bột đá phát tán rộng. Vì hạn chế về không gian, nhà máy bê tông đúc sẵn được đặt trên Đảo Grain ở cửa sông Thames.
Ở phía Pháp, vì độ thấm nước lớn hơn, các máy đào hầm cân bằng áp lực đất với các kiểu mở và đóng được sử dụng. Các máy đào hầm ở chế độ đóng trong 5 km đầu nhưng sau đó hoạt động ở chế độ mở, đào xuyên qua vỉa đá marl. Nó làm giảm thiểu tác động tới đất và cho phép chống lại được áp lực nước lớn hơn, và cũng làm giảm nhu cầu nhét vữa phía trước đường hầm. Phía Pháp cần 5 máy đào hầm: hai máy chính đào dưới biển, một máy đào trên đất liển (khoảng cách ngắn 3 km trên đất liền cho phép một chiếc máy đào hầm hoàn thành đường hầm đầu tiên và sau đó quay đầu đào tiếp hầm thứ hai), và hai máy đào hầm dịch vụ. Ở phía Anh điều kiện địa chất đơn giản hơn cho phép sử dụng các máy đào hầm mở có tốc độ nhanh hơn. Sáu máy được sử dụng, tất cả đều bắt đầu đào từ Vách Shakespeare, ba máy đào hầm dưới biển và ba máy đào hầm trên đất liển. Khi đường hầm dưới biển gần hoàn thành các máy đào hầm của Anh đào nghiêng xuống dưới và chôn chặt cách đường hầm. Các máy đào hầm của Pháp sau đó sẽ hoàn thiện đường hầm và được dỡ ra. Một đường ray khổ 900 mm được dùng bên phía Anh khi xây dựng.
Trái với các máy của Anh, được gọi tên theo số đơn giản, các máy đào hầm của Pháp đều được đặt tên phụ nữ: Brigitte, Europa, Catherine, Virginie, Pascaline, Séverine.
=== Thiết kế đường sắt và rolling stock ===
Xem thêm thông tin: British Rail Class 373
Có ba hệ thống thông tin trong hầm: concession radio (CR) cho các phương tiện di chuyển và người bên trong vùng quy định của đường hầm (ga đầu cuối, đường hầm, hầm bờ biển); track-to-train radio (TTR) để truyền dữ liệu và thông tin giữa các đoàn tàu và trung tâm điều khiển đường sắt, radio nội bộ của tàu (SIR) cho việc liên lạc giữa các lái tàu shuttle và với hành khách qua radio trên ô tô. Toàn bộ dịch vụ trong đường hầm đều chạy điện, chia đều từ phía nguồn của Anh và Pháp. Năng lượng được truyền tới các đầu máy thông qua đường dây phía trên (dây tiếp nối) ở điện thế 25 kV 50 Hz}}. Một hệ thống tín hiệu cabin được sử dụng cung cấp thông tin trực tiếp tới các lái tàu trên một màn hình hiển thị. Có hệ thống bảo vệ tàu hoả tự động (ATP) để dừng tàu nếu tốc độc khác biệt với số chỉ thị trên màn hình trong cabin. TVM430, như được sử dụng trên LGV Nord, được dùng trong đường hầm. Tốc độ tối đa cho phép là 160 km/h. Hệ thống thám sát của American Sonneville International Corporation được sử dụng trong hầm; ballasted track bị bỏ bởi những cản trở bảo dưỡng và nhu cầu ổn định hình học. Hệ thống Sonneville có các đường ray UIC60 ở cấp 900A nằm trên tấm đệm EVA vi rỗng, được bắt chặt vào bê tông.
Ban đầu 38 đầu máy Le Shuttle được bố trí, làm việc theo cặp với một ở mỗi đầu cuối của một tàu shuttle. Các tàu shuttle có hai nửa riêng biệt: một và hai tầng. Mỗi nửa có hai toa chất tải/dỡ tải và 12 toa chở. Ban đầu Eurotunnel đặt hàng 9 tàu shuttle. 46 đầu máy Class 92 để kéo hàng và những chuyến tàu chở khách xuyên đêm được đặt hàng, chúng có thể chạy bằng điện xoay chiều từ dây dẫn trên nóc và từ điện một chiều từ ray thứ ba. Các tàu chở hàng cũng có hai nửa, mỗi nửa có một toa chất tải, một toa dỡ tải và 14 toa chở. Có một toa dịch vụ phía sau đầu máy. Eurotunnel ban đầu đặt hàng 6 tàu chở hàng. 31 tàu Eurostar, dựa trên TGV của Pháp, được sản xuất hợp với khổ đường của Anh, và với nhiều biến đổi tăng cường độ an toàn bên trong đường hầm, với quyền sở hữu được phân chia giữa British Rail, Công ty Đường sắt Quốc gia Pháp và Công ty Đường sắt Quốc gia Bỉ. British Rail đã đặt hàng thêm 7 chiếc cho các dịch vụ phía bắc London.
Một tỷ lệ lớn đường ray phía nam Luân Đôn sử dụng một đường ray thứ ba cấp điện một chiều 750 V DC cho đầu máy; tuy nhiên từ khi High Speed 1 khai trương không cần phải sử dụng hệ thống đường ray thứ ba cho bất kỳ phần nào của hành trình bằng Eurostar nữa. High Speed 1, đường hầm và đường tới Paris sử dụng năng lượng từ dây diện phía trên ở điện thế 25 kV 50 Hz. Các tuyến đường sắt ở Brussels cũng được cấp điện từ dây dẫn phía trên, nhưng ở điện thế 3000 V DC.
== Điều hành ==
=== Sử dụng và dịch vụ ===
là phong cảnh cuối cùng phía Anh cho hầu hết hành khách đi trên tàu từ ga Cheriton.]]
Các dịch vụ tại đường hầm gồm:
Eurotunnel Shuttle (tên chính thức Le Shuttle) dịch vụ tàu roll-on roll-off cho phương tiện,
Eurostar tàu chở khách,
tàu chở hàng chạy suốt.
Cả những dự đoán về số lượng hàng hoá và hành khách trước khi xây dựng đường hầm đều quá lớn. Đặc biệt, những dự báo về doanh số của đường hầm cũng quá lạc quan. Dù thị phần chuyên chở qua đường hầm (so với đường biển và đường không) được dự báo chính xác, tính cạnh tranh cao và việc giảm giá đã dẫn tới doanh thu thấp. Ước tính tổng thể về giao thông qua đường hầm quá cao.
==== Khả năng vận tải hành khách ====
Tổng khối lượng vận tải hành khách qua đường hầm đạt đỉnh là 18.4 triệu người năm 1998, sau đó giảm xuống còn 14.9 triệu năm 2003, sau đó lại tăng lên 16.1 triệu năm 2008.
Ở thời điểm quyết định xây dựng đường hầm, 15.9 triệu hành khách dược dự đoán sẽ đi trên các chuyến tàu Eurostar trong năm đầu tiên. Năm 1995, năm đầy đủ đầu tiên, số lượng thực tế hơi lớn hơn 2.9 triệu, lên tới 7.1 triệu năm 2000, sau đó giảm xuống còn 6.3 triệu năm 2003. Tuy nhiên, Eurostar cũng bị giới hạn bởi sự thiếu hụt một đường kết nối tốc độ cao ở phía Anh. Sau khi High Speed 1 (tên chính thức CTRL) nối với London được hoàn thành trong hai giai đoạn năm 2003 và 2007, khối lượng vận tải đã tăng lên. Năm 2008, Eurostar chở 9,113,371 hành khách xuyên đường hầm, tăng 10% so với năm trước đó, dù có những giới hạn vận tải vì trận hoả hoạn Đường hầm eo biển Manche năm 2008.
==== Khả năng vận tải hàng hoá ====
Khối lượng vận tải hàng hoá qua đường hầm không ổn định, với sự sụt giảm năm 1997 vì thời gian đóng cửa sau một vụ cháy tàu chở hàng. Tổng khối lượng hàng hoá qua đường hầm đã tăng theo thời gian, cho thấy khả năng thay thế của đường hầm cho đường biển. Đường hầm đã đạt mức thị phần vận tải hàng hoá xuyên eo biển bằng hay trên mức dự báo cho thập niên 1980 nhưng các dự báo cho năm 1990 và 1994 là quá lớn.
Với việc vận tải hàng hoá bằng các đoàn tàu hàng, dự đoán vận tải hàng hoá cho năm đầu tiên là 7.2 triệu tấn tổng trọng lượng, tuy nhiên, con số của năm 1995 là 1.3 triệu tấn tổng trọng lượng. Khối lượng hàng vận chuyển đạt đỉnh năm 1998 ở mức 3.1 triệu tấn. Tuy nhiên, với những vấn đề vẫn đang diễn ra, con số này đã giảm xuống còn 1.21 triệu tấn năm 2007, hơi tăng trở lại lên 1.24 triệu tấn năm 2008.
Tuy nhiên, cùng với số lượng hàng hoá được chuyên chở trên những tàu shuttle, tăng trưởng số lượng hàng hoá chuyên chở đã diễn ra từ khi đường hầm mở cửa, với 6.4 tấn được chuyên chở năm 1995, 18.4 triệu tấn năm 2003 và 19.6 triệu tấn năm 2007.
Chi nhánh vận tải hàng hoá của Eurotunnel là Europorte 2. Tháng 9 năm 2006 EWS, nhà điều hành vận tải hàng hoá đường sắt lớn nhất Anh Quốc, đã thông báo rằng vì có sự chấm dứt các khoản trợ cấp trị giá £52 triệu hàng năm từ chính phủ Anh và Pháp cho "Phí Sử dụng Tối thiểu" của đường hầm (một khoản trợ cấp khoảng £13,000 cho mỗi đoàn tàu, ở một mức độ qua lại 4,000 đoàn tàu mỗi năm), các đoàn tàu hàng sẽ dừng chạy sau ngày 30 tháng 11.
==== Hoạt động kinh tế ====
Cổ phần trong Eurotunnel được phát hành ở mức giá £3.50 trên mỗi cổ phần ngày 9 tháng 12 năm 1987. Tới giữa năm 1989 giá đã tăng lên £11.00. Những chậm trễ và đội chi phí khiến giá cổ phần giảm; trong những hoạt động thử nghiệm tháng 10 năm 1994 giá cổ phần ở mức thấp nhất trong lịch sử. Eurotunnel đã tạm ngừng việc trả các khoản nợ của mình vào tháng 9 năm 1995 để tránh phá sản. Tháng 12 năm 1997 chính phủ Anh và Pháp đã kéo dài thời gian nhượng quyền quản lý hoạt động cho Eurotunnel thêm 34 năm tới năm 2086. Việc tái cơ cấu tài chính của Eurotunnel diễn ra giữa năm 1998, giảm nợ và các trách nhiệm tài chính. Dù có việc tái cơ cấu, tờ The Economist thông báo trong năm 1998 rằng để vượt qua tình trạng khó khăn thậm chí Eurotunnel phải tăng giá vé, lưu lượng và thị phần để có thể hoạt động bền vững. Một cuộc phân tích chi phí lợi tức của Đường hầm cho thấy rằng có ít ảnh hưởng trên nền kinh tế chung và ít sự phát triển liên quan tới dự án, và rằng nền kinh tế Anh sẽ tốt hơn nếu đường hầm không được xây dựng.
Theo các điều khoản của việc nhượng quyền, Eurotunnel buộc phải nghiên cứu một tuyến hầm đường bộ xuyên eo biển. Tháng 12 năm 1999 các đề xuất hầm đường bộ và đường sắt được đệ trình tới chính phủ Anh và chính phủ Pháp, nhưng có sự nhấn mạnh rằng không có đủ nhu cầu cho một tuyến đường hầm thứ hai. Một thoả thuận ba bên giữa Anh Quốc, Pháp và Bỉ về việc kiểm soát biên giới, với sự thành lập các vùng kiểm soát trong đó các sĩ quan của quốc gia khác có thể thực hiện một số quyền hải quan và luật pháp hạn chế. Cho hầu hết các mục đích ở mỗi đầu của đường hầm, có các trạm kiểm tra biên giới của Pháp ở đầu đường hầm phía Anh và ngược lại. Với một số chuyến tàu chạy giữa các thành phố, chính con tàu là một vùng kiểm soát. Một kế hoạch khẩn cấp giữa hai quốc gia phối hợp các hoạt động khẩn cấp của Anh và Pháp.
Năm 1999 Eurostar lần đầu tiên công bố lợi nhuận, sau khi đã thua lỗ £925 triệu năm 1995.
=== Hoả hoạn ===
Đã có ba lần xảy ra hoả hoạn trong Đường hầm với ảnh hưởng khá nghiêm trọng dẫn tới việc phải đóng cửa, tất cả đều xảy ra trên các đoàn tàu shuttle xe tải hạng nặng (HGV).
Ngày 18 tháng 11 năm 1996 một đám cháy bùng phát trong một toa xe của đoàn tàu chở xe tải hạng nặng trong đường hầm nhưng không ai bị thương nặng. Nguyên nhân chính xác vẫn chưa được tìm ra, dù đó không phải là một vấn đề do thiết bị đường hầm hay rolling stock; có thể nó bị gây ra bởi sự cố ý của một xe tải hạng nặng. Ước tính nhiệt độ của đám cháy lên đến 1000 °C, và đường hầm đã bị hư hại nghiêm trọng một đoạn dài 46m, và lên tới 500m bị ảnh hưởng ở một số mức độ. Hoạt động đầy đủ của đường hầm được nối lại sáu tháng sau đám cháy.
Đường hầm đã bị đóng cửa trong nhiều giờ ngày 21 tháng 8 năm 2006, khi một xe tải trên một đoàn tàu shuttle bốc cháy. Ngày 11 tháng 9 năm 2008 một đám cháy xảy ra trong đường hầm lúc 13:57 GMT. Vụ việc phát sinh trên một đoàn tàu chở phương tiện đang chạy về phía Pháp. Đám cháy xảy ra cách cổng vào phía Pháp 11 km. Không ai thiệt mạng nhưng nhiều người đã phải vào bệnh viện vì ngạt khói, và những thương tích nhỏ. Đường hầm bị đóng cửa với mọi loại phương tiện, và Đường hầm phía nam không bị thiệt hại đã được mở cửa phục vụ hạn chế hai ngày sau đó. Hoạt động đầy đủ được khôi phục ngày 9 tháng 2 năm 2009 sau khi tốn 60 triệu ẻuro tiền sửa chữa.
=== Dấu ấn trong vùng ===
Một báo cáo năm 1996 của Uỷ ban châu Âu dự đoán rằng Kent và Nord-Pas de Calais phải đối mặt với tình trạng gia tăng khối lượng giao thông vì sự tăng trưởng chung của giao thông xuyên đường hầm và giao thông phục vụ đường hầm. Tại Kent, một đường ray tốc độ cao tới London sẽ chuyển giao thông từ đường bộ sang đường sắt. Sự phát triển vùng của Kent sẽ được hưởng lợi từ đường hầm, nhưng vị trí ở quá gần London cũng làm giới hạn các lợi ích. Các lợi ích chủ yếu thuộc các ngành công nghiệp truyền thống và phần lớn phụ thuộc vào sự phát triển của Ga hành khách quốc tế Ashford, nếu không có nó Kent sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào sự mở rộng của London. Nord-Pas-de-Calais có được một ảnh hưởng mang tính biểu tượng lớn trong nước nhờ đường hầm, dẫn tới những lợi ích lớn khác trong ngành chế tạo.
Việc loại bỏ một nút cổ chai bằng các biện pháp như Đường hầm eo biển không cần thiết phải dẫn tới những lợi ích kinh tế ở mọi vùng có liên quan, hình ảnh của một vùng được nối với mạng lưới vận tải cao tốc châu Âu và hiệu quả chính trị tích cực còn quan trọng hơn sự phát triển kinh tế của vùng. Sự phát triển của vùng từ đường hầm là nhỏ so với sự tăng trưởng kinh tế chung. Đông Nam nước Anh dường như được hưởng lợi về mặt xã hội và phát triển nhờ hệ thống vận tải nhanh chóng và rẻ hơn tới lục địa châu Âu, nhưng những lợi ích có lẽ sẽ không được phân bố đồng đều trong vùng. Tác động môi trường tổng thể hầu như chắc chắn là tiêu cực.
Năm năm sau khi đường hầm được mở cửa có ít dấu ấn lớn lên nền kinh tế chung, và rất khó khăn để xác định những phát triển lớn liên quan tới đường hầm. Đã có ý kiến cho rằng nền kinh tế Anh thực tế đã có thể phát triển tốt hơn nếu không mất những khoản tiền cho việc đầu tư xây dựng đường hầm, cả Eurotunnel và Eurostar, các công ty chính trong việc xây dựng và điều hành đường hầm, đều đã phải viện đến những khoản hỗ trợ lớn của chính phủ cho những khoản nợ ngày càng tăng cao. Eurotunnel has been described as being in a serious situation.
=== Tị nạn và nhập cư ===
Xem thêm: Tìm kiếm quy chế tị nạn
Những người nhập cư và sẽ là những người tìm kiến quy chế tị nạn đã từng sử dụng đường hầm trong nỗ lực vào đất Anh. Tới năm 1997, vấn đề này đã thu hút sự chú ý của báo giới quốc tế, và Chữ thập đỏ Pháp đã mở một trung tâm tị nạn tại Sangatte năm 1999, sử dụng một nhà kho từng được dùng cho việc xây dựng đường hầm; tới năm 2002 đây là nơi trú ngụ của 1500 người, đa số họ đang tìm cách vào Anh. Ở một thời điểm, một lượng lớn người tới từ Afghanistan, Iraq và Iran, nhưng cũng có cả người người châu Phi và các quốc gia Đông Âu.
Đa số người nhập cư vào Anh đều tìm cách leo lên được một đoàn tàu chở hàng, nhưng những người khác sử dụng Eurostar. Dù cơ sở bị rào kỹ, việc ngăn cản hoàn toàn dường như không thể thực hiện; những người tị nạn thậm chí sẽ nhảy từ những cây cầu xuống những đoàn tàu đang chạy. Trong nhiều vụ việc họ đã bị thương khi vượt qua đường hầm; những người khác làm hỏng thiết bị đường sắt, gây chậm trễ và buộc phải sửa chữa. Eurotunnel nói họ mất £5 triệu mỗi tháng vì vấn đề này. Khoảng hơn mười người tị nạn đã chết khi cố vượt qua đường hầm.
Năm 2001 và 2002, nhiều cuộc bạo động đã bùng phát tại Sangatte và các nhóm người tị nạn (lên tới 550 trong một vụ việc vào tháng 12 năm 2001) đã giật đổ các hàng rào và tìm cách tràn vào với chiến thuật biển người. Những người nhập cư cũng đã thử như những hành khách hợp pháp của tàu Eurostar nhưng không có giấy tờ nhập cảnh.
Chính quyền địa phương ở cả Pháp và Anh đã kêu gọi đóng cửa Sangatte, và Eurotunnel đã hai lần tìm kiếm một trát toà chống lại trung tâm này. Anh Quốc lên án Pháp đã cho phép mở cửa Sangatte, và Pháp buộc tội Anh vì các quy chế tị nạn lỏng lẻo của họ và EU vì không có một chính sách nhập cư thống nhất. Tình trạng cause célèbre của vấn đề thậm chí còn khiến một số nhà báo bị bắt giữ khi họ đi theo những người tị nạn vào trong khu vực tài sản của công ty đường sắt.
Năm 2002, sau khi Hội đồng châu Âu nói với Pháp rằng họ đang phá vỡ các quy định của Liên minh châu Âu về tự do vận chuyển hàng hoá, bởi những chậm trễ và đóng cửa là kết quả của sự quản lý an ninh kém của họ, một hàng rào kép đã được dựng lên với chi phí £5 triệu, giảm số người tị nạn bị phát hiện mỗi tuần trên những đoàn tàu chở hàng từ 250 xuống gần như không. Các biện pháp khác gồm các camera CCTV và tăng cường tuần tra cảnh sát. Cuối năm 2002, trung tâm Sangatte bị đóng cửa sau khi Anh quốc đồng ý nhận một số người tị nạn.
Eurotunnel, công ty mà điều hành khoảng đường hầm này, cho biết là họ đã ngăn chận hơn 37.000 người tị nạn từ tháng 1 năm 2015. Vào tối ngày 28 tháng 7, 1 người, tuổi khoảng 25 cho tới 30, đã chết khi khoảng 1.500 cho tới 2.000 người tị nạn tìm cách vào đường hầm để sang Anh Quốc. Theo con số chính thức trong tháng 7, khoảng 3.000 người tị nạn, đa số từ Ethiopia, Eritrea, Sudan và Afghanistan, đang sống trong trại lều dựng tạm thời ở Calais. Người ta phỏng đoán là có tới 5.000 người tị nạn đang đợi ở thành phố cảng Calais chờ cơ hội để sang được Vương quốc Anh. Chỉ riêng từ tháng 6, mười người tị nạn đã chết gần trạm xe lửa Channel tunnel.,
=== An toàn ===
Đường hầm dịch vụ được sử dụng làm nơi tiếp cận cho phương tiện kỹ thuật trong các phòng cross-passage và phòng thiết bị, để thông khí, và để sơ tán trong trường hợp khẩn cấp. Hệ thống Giao thông Hầm Dịch vụ (STTS) cho phép tiếp cận nhanh mọi khu vực của hầm. Các phương tiện dịch vụ sử dụng xe bánh lốp với một hệ thống đường dây dẫn đường ngầm. 24 phương tiện STTS đã được sản xuất, và được sử dụng chủ yếu cho bảo dưỡng, nhưng cũng cho cả mục đích cứu hoả và trong các trường hợp khẩn cấp. "Các vỏ kén" với các mục đích khác nhau, có chất tải lên tới 2.5–5 tấn, được nhét vào trong thành bên của các phương tiện. Các phương tiện STTS không thể quay đầu bên trong đường hầm, và phải được lái sang đầu phía bên kia. Tốc độ tối đa của nó là 80 km/h khi vô lăng bị khoá. Một đội 15 Phương tiện Dịch vụ Hầm Hạng nhẹ (LADOGS) nhỏ hơn được bổ sung để hỗ trợ cho các STTS. Các LADOGS có chiều dài cơ sở thấp với bán kính quay 3.4 m cho phép quay đầu bên trong đường hầm dịch vụ. Vô lăng không thể bị khoá như các phương tiện STTS, và tốc độ tối đa là 50 km/h. Các vỏ kén lên tới 1 tấn có thể được chất lên phía sau phương tiện. Các lái xe trong đường hầm ngồi phía phải và xe có tay lái nghịch. Với nguy cơ nhân viên từ phía Pháp có thể lái theo chiều thuận quen thuộc của họ, các cảm biến trong phương tiện sẽ cảnh báo tài xế nếu chiếc xe lạc sang bên phải đường hầm.
Ba đường hầm chứa 6000 tấn không khí được điều hoà cho mục đích tiện nghi và an toàn. Không khí được cung cấp từ các toà nhà thông gió tại Vách Shakespeare và Sangatte, với mỗi toà nhà có khả năng cung cấp toàn bộ 100% công suất dự trữ. Thông gió phụ trợ cũng được lắp đặt ở cả hai phía đường hầm. Trong trường hợp hoả hoạn, hệ thống thông gió được sử dụng để giữ khói không lọt vào đường hàm dịch vụ và đưa nó theo một hướng trong đường hầm chính để hành khách bên trong vẫn có không khí sạch. Nhiệt độ được tạo từ thiết bị kéo và cản. Thiết kế giới hạn được đặt ở mức 30 °C, sử dụng một hệ thống làm lạnh với các nhà máy điều hoà nhiệt độ ở cả hai phía Anh và Pháp đẩy nước lạnh chạy theo các đường ống bên trong hầm.
Các đoàn tàu chạy với tốc độ cao tạo ra những thay đổi áp lực kiểu piston có thể làm ảnh hưởng tới sự tiện nghi của hành khách, các hệ thống thông gió, các cửa đường hầm, quạt và các cơ cấu của con tàu, và lực cản trên con tàu. Các ống dẫn hoạt động bằng piston đường kính 2m đã được sử dụng để giải quyết vấn đề này, với 4 ống trên mỗi kilômét để tạo hiệu quả tốt nhất. Không may thay kiểu thiết kế này dẫn tới các lực bên không thể chấp nhận trên các con tàu vì thế việc giảm tốc độ tàu là cần thiết và các thiết bị giới hạn đã được lắp đặt bên trong các ống dẫn.
Vấn đề an toàn cứu hoả trên một đoàn tàu shuttle chở khách được quan tâm lớn nhất, chính Eurotunnel đã lưu ý rằng hoả hoạn là nguy cơ thu hút sự chú ý hàng đầu trong một Trường hợp An toàn năm 1994 vì ba lý do: các công ty đường sắt phản đối việc hành khách được phép ở lại trong toa xe; các thống kê của Home Office cho thấy các vụ cháy toa xe đã tăng gấp đôi trong mười năm; và chiều dài lớn của đường hầm. Eurotunnel đã thuê Cơ quan Nghiên cứu Hoả hoạn Anh lập báo cáo về các vụ cháy phương tiện, cũng như liên kết với Sở cứu hoả Kent để thu thập các thống kê hoả hoạn phương tiện trong vòng một năm. Những thử nghiệm hoả hoạn diễn ra tại Cơ quan Nghiên cứu Mỏ Pháp với một toa tàu giả được dùng để nghiên cứu xem nó sẽ cháy như thế nào. Các hệ thống cửa toa được thiết kế để chống hoả hoạn bên trong toa tàu trong 30 phút, dài hơn thời gian vượt qua hầm là 27 phút. Các máy điều hoà nhiệt độ của toa giúp loại bỏ khói độc từ bên trong toa trước khi khởi hành. Mỗi toa có một hệ thống cứu hoả và phòng hoả, với các cảm biến ion hay bức xạ cực tím, khói và khí có thể gây ra khí tổng hợp có thể dẫn tới cháy. Bởi các toa tàu của Tàu chở phương tiện hạng nặng không được lắp đặt hệ thống chống cháy, các cảm biến hoả hoạn nằm ở toa chất tải và trong chính đường hầm. Một đường ống nước 10-inch (254-mm) được sử dụng trong hầm dịch vụ để cung cấp nước cho các đường hầm chính với các khoảng cách 125m. Hệ thống thông gió có thể kiểm soát sự di chuyển của khói. Có các đầu ra đặc biệt cho các đoàn tàu đang bốc cháy, bởi tàu không được phép dừng lại khi đang cháy trong hầm. Eurotunnel đã cấm vận chuyển rất nhiều hàng hoá nguy hại trong hầm. Hai phương tiện STTS với các pod cứu hoả luôn túc trực ở mọi thời điểm, với thời gian trễ tối đa 10 phút trước khi tiếp cận đoàn tàu đang cháy.
=== Ga đầu cuối ===
Các địa điểm ga đầu cuối được đặt tại Cheriton (Folkestone ở Anh) và Coquelles (Calais ở Pháp). Các ga đầu cuối là những cơ sở duy nhất được thiết kế để vận chuyển phương tiện từ đường cao tốc vào tàu hỏa với tốc độ 700 xe và 113 phương tiện nặng mỗi giờ. Phía Anh sử dụng đường cao tốc M20. Các ga đầu cuối được tổ chức với các điểm kiểm soát biên giới ở cạnh lối vào hệ thống để cho phép hành khách đi vào đường cao tốc tại quốc gia đến ngay sau khi rời khỏi tàu. Vùng đặt ga của Anh rất không thích hợp và thiết kế của nó đang bị đòi xem xét lại. Bố trí của Pháp có cách tiếp cận dễ dàng hơn. Để đạt được hiệu suất thiết kế, các đoàn tàu nhận xe trong toa hai tầng; để dễ dàng hơn, các bờ dốc được đặt bên trong tàu để làm lối lên tầng trên. Tại Folkestone có đường tàu chính 20 km và 45 điểm ra với 8 sân ga. Tại Calais có 30 km đường với 44 điểm ra. Tại các ga đầu cuối các đoàn tàu shuttle quay đầu theo hình số 8 để giảm sự hao mòn không đều của bánh.
== Trong văn hoá đại chúng ==
Đường hầm đã xuất hiện trong cao trào bộ phim Mission: Impossible năm 1996 của blockbuster, trong đó một chiếc máy bay trực thăng đã bay vào trong hầm. Miệng hầm, bên trong đường hầm, đoàn tàu TGV và chiếc trực thăng trên phim đều được dựng hình trên máy tính, với lối vào hầm được quay tại một tuyến đường sắt ở Scotland. Điều này là cần thiết bởi những sự sai lệch đáng kể so với thực tế: đường hầm trong phim có hai đường ray (để đủ chỗ cho trực thăng bay và để có tàu chạy ngược chiều), và không có đường dây điện phía trên (để cho phép nhảy xuống từ trực thăng). Kiểu đoàn tàu được dựng trên phim, TGV Réseau, (không giống với tàu Eurostar, chỉ có thể được cung cấp năng lượng từ dây điện phía trên) không chạy qua đường hầm. Các chi tiết không chính xác khác gồm đoàn tàu chuyển từ đường ray này sang đường ray kia trong nhiều cảnh.
== Xem thêm ==
British Rail Class 373 – Tàu được sử dụng trong đường hầm
Đường hầm ngầm dưới biển Nhật Bản-Triều Tiên
== Tham khảo ==
== Thư mục ==
Anderson, Graham; Roskrow, Ben (1994). The Channel Tunnel Story. London: E & F N Spon. ISBN 041919620X.
European Commission. Directorate-General for Regional Policy and Cohesion. (1996). The regional impact of the Channel Tunnel throughout the Community. Luxembourg: European Commission. ISBN 92 826 8804 6.
Flyvbjerg, B. Buzelius, N. Rothengatter, W. (2003). Megaprojects and Risk. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0 521 00946 4.
Institution of Civil Engineers (1989). The Channel Tunnel. London: Thomas Telford. ISBN 0 7277 1546 1.
Kirkland, Colin J., ed. (1995). Engineering the Channel Tunnel. London: Chapman and Hall. ISBN 0 419 17920 8.
Whiteside, Thomas (1962). The Tunnel under the Channel. Rupert Hart-Davis. ISBN 0684832437.
Wilson, Jeremy; Spick, Jerome (1994). Eurotunnel - The Illustrated Journey. HarperCollins. ISBN 0002555395.
== Liên kết ngoài ==
Official site
Bản mẫu:Đường hầm eo biển Manche |
cacbon.txt | Cacbon (bắt nguồn từ tiếng Pháp: carbone) là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu là C và số nguyên tử bằng 6, nguyên tử khối bằng 12. Là một nguyên tố phi kim có hóa trị 4 phổ biến, cacbon có nhiều dạng thù hình khác nhau, phổ biến nhất là 3 dạng thù hình gồm cacbon vô định hình, graphit và kim cương.
Các sợi cacbon là tương tự như cacbon thủy tinh. Dưới các xử lý đặc biệt (kéo giãn các sợi hữu cơ và cacbon hóa) nó có khả năng sắp xếp các mặt tinh thể cacbon theo hướng của sợi. Vuông góc với trục của sợi không có các mặt tinh thể cacbon. Kết quả là các sợi có độ bền đặc biệt cao hơn cả thép.
Cacbon tồn tại đa số trong mọi sự sống hữu cơ và nó là nền tảng của hóa hữu cơ. Phi kim này còn có thuộc tính hóa học đáng chú ý là có khả năng tự liên kết với nó và liên kết với một loạt các nguyên tố khác, tạo ra gần 10 triệu hợp chất đã biết. Khi liên kết với ôxy nó tạo ra cacbon điôxít là rất thiết yếu đối với sự sinh trưởng của thực vật. Khi liên kết với hiđrô, nó tạo ra một loạt các hợp chất gọi là các hiđrôcacbon là rất quan trọng đối với công nghiệp trong dạng của các nhiên liệu hóa thạch. Khi liên kết với cả ôxy và hiđrô nó có thể tạo ra rất nhiều nhóm các hợp chất bao gồm các axít béo, là cần thiết cho sự sống, và este, tạo ra hương vị của nhiều loại hoa quả.
Đồng vị cacbon-14 được sử dụng trong xác định tuổi tuyệt đối cho các mẫu vật nguồn gốc sinh vật theo phương pháp định tuổi bằng đồng vị cacbon, được ứng dụng trong khảo cổ học và nghiên cứu địa chất kỷ Đệ Tứ.
== Các thuộc tính đặc trưng ==
Carbon là nguyên tố đáng chú ý vì nhiều lý do. Các dạng khác nhau của nó bao gồm một trong những chất mềm nhất (graphit) và hai trong những chất cứng nhất (graphene và kim cương, hay fullerene -hợp chất rất cứng có thể nói là cứng nhất của carbon và các hợp chất khác) cũng như là chất bán dẫn tốt nhất, hơn cả silic (graphene). Ngoài ra, nó có ái lực lớn để tạo ra liên kết với các nguyên tử nhỏ khác, bao gồm cả các nguyên tử cacbon khác, và kích thước nhỏ của nó làm cho nó có khả năng tạo ra liên kết phức tạp. Vì các thuộc tính này, cacbon được biết đến như là nguyên tố có thể tạo ra cỡ 10 triệu loại hợp chất khác nhau, chiếm phần lớn trong các hợp chất hóa học. Các hợp chất của cacbon tạo ra nền tảng cho mọi loại hình sự sống trên Trái Đất và chu trình cacbon-nitơ dự trữ và tái cung cấp một số năng lượng được sản sinh từ Mặt Trời và các ngôi sao.
Cacbon cũng có điểm thăng hoa cao nhất trong tất cả các nguyên tố. Trong điều kiện áp suất khí quyển nó không có điểm nóng chảy vì điểm ba trạng thái của nó ở tại 10,8 ± 0,2 MPa và 4.600 ± 300 K (~4.330 °C hay 7.820 °F), do đó nhiệt độ thăng hoa của nó trong trường hợp này vào khoảng 3.900 K.
=== Các thù hình ===
Các thù hình của cacbon là khác nhau về cấu trúc mạng nguyên tử mà các nguyên tử tinh khiết có thể tạo ra. Ba dạng được biết nhiều nhất là cacbon vô định hình, graphit và kim cương. Một số thù hình kỳ dị khác cũng đã được tạo ra hay phát hiện ra, bao gồm các fullerene, cacbon ống nano và lonsdaleit. Muội đèn bao gồm các bề mặt dạng graphit nhỏ. Các bề mặt này phân bổ ngẫu nhiên, vì thế cấu trúc tổng thể là đẳng hướng. Cacbon thủy tinh là đẳng hướng và có tỷ lệ độ xốp cao. Không giống như graphit thông thường, các lớp graphit không xếp lên nhau giống như các trang sách, mà chúng có sự sắp xếp ngẫu nhiên.
Ở dạng vô định hình, cacbon chủ yếu có cấu trúc tinh thể của graphit nhưng không liên kết lại trong dạng tinh thể lớn. Trái lại, chúng chủ yếu nằm ở dạng bột và là thành phần chính của than, muội, bồ hóng, nhọ nồi và than hoạt tính.
Ở áp suất bình thường cacbon có dạng của graphit, trong đó mỗi nguyên tử liên kết với 3 nguyên tử khác trong mặt phẳng tạo ra các vòng lục giác, giống như các vòng trong các hiđrôcacbon thơm. Có hai dạng của graphit đã biết, là alpha (lục giác) và beta (rhombohedral), cả hai có các thuộc tính vật lý giống nhau, ngoại trừ về cấu trúc tinh thể. Các loại graphit có nguồn gốc tự nhiên có thể chứa tới 30% dạng beta, trong khi graphit tổng hợp chỉ có dạng alpha. Dạng alpha có thể chuyển thành dạng beta thông qua xử lý cơ học và dạng beta chuyển ngược thành dạng alpha khi bị nung nóng trên 1000 °C.
Vì sự phi tập trung hóa của các đám mây pi, graphit có tính dẫn điện. Vật liệu vì thế là mềm và các lớp, thường xuyên bị tách ra bởi các nguyên tử khác, được giữ cùng nhau chỉ bằng các lực van der Waals, vì thế chúng dễ dàng trượt trên nhau.
Ở áp suất cực kỳ cao các nguyên tử cacbon tạo thành thù hình gọi là kim cương, trong đó mỗi nguyên tử được liên kết với 4 nguyên tử khác. Kim cương có cấu trúc lập phương như silic và gecmani và vì độ bền của các liên kết cacbon-cacbon, cùng với chất đẳng điện nitrua bo (BN) là những chất cứng nhất trong việc chống lại sự mài mòn. Sự chuyển hóa thành graphit ở nhiệt độ phòng là rất chậm và khong thể nhận thấy. Dưới các điều kiện khác, cacbon kết tinh như là Lonsdaleit, một dạng giống như kim cương nhưng có cấu trúc lục giác.
Các fulleren có cấu trúc giống như graphit, nhưng thay vì có cấu trúc lục giác thuần túy, chúng có thể chứa 5 (hay 7) nguyên tử cacbon, nó uốn cong các lớp thành các dạng hình cầu, elip hay hình trụ. Các thuộc tính của các fulleren vẫn chưa được phân tích đầy đủ. Tất cả các tên gọi của các fulleren lấy theo tên gọi của Buckminster Fuller, nhà phát triển của kiến trúc mái vòm, nó bắt chước cấu trúc của các "buckyball".
=== Sự phổ biến ===
Cacbon là nguyên tố phổ biến thứ 4 trong vũ trụ về khối lượng sau hydro, heli, và ôxy. Cacbon có rất nhiều trong Mặt Trời, các ngôi sao, sao chổi và bầu khí quyển của phần lớn các hành tinh. Một số thiên thạch chứa các kim cương vi tinh thể, loại được hình thành khi hệ Mặt Trời vẫn còn là một đĩa tiền hành tinh. Các kim cương vi tinh thể này có thể đã được tạo ra bằng áp lực rất mạnh và nhiệt độ cao tại những nơi mà thiên thạch đó va chạm.
Có khoảng 10 triệu hợp chất khác nhau của cacbon mà khoa học đã biết và hàng nghìn trong số đó là tối quan trọng cho các quá trình của sự sống và cho các phản ứng trên cơ sở hữu cơ rất quan trọng về kinh tế. Trong tổ hợp với các nguyên tố khác, cacbon được tìm thấy trong bầu khí quyển Trái Đất và hòa tan trong mọi thực thể có chứa nước. Với một lượng nhỏ hơn của canxi, magiê và sắt, nó tạo ra thành phần chủ yếu của một lượng rất lớn đá cacbonat (đá vôi, đôlômit, đá cẩm thạch v.v.). Khi tổ hợp với hiđrô, cacbon tạo thành than, dầu mỏ và khí tự nhiên, còn được gọi là các hiđrôcacbon.
Graphit được tìm thấy với một số lượng lớn ở các bang New York và Texas (Mỹ); Nga; México; Greenland và Ấn Độ.
Kim cương tự nhiên có trong khoáng chất kimberlit tìm thấy trong các "cổ" hay "ống" núi lửa cổ đại. Phần lớn các mỏ kim cương nằm ở châu Phi, chủ yếu là Nam Phi, Namibia, Botswana, Cộng hòa Congo và Sierra Leone. Cũng có các mỏ ở Arkansas, Canada, vùng Bắc cực nước Nga, Brasil và ở miền bắc và tây nước Úc.
=== Chu trình cacbon ===
Bài chính: Chu trình cacbon
Trong những điều kiện của Trái Đất, sự chuyển hóa từ một đồng vị sang một đồng vị khác là rất hiếm. Vì thế, đối với các mục đích thực tiễn, khối lượng của cacbon trên Trái Đất có thể coi là một hằng số. Vì vậy các quá trình sử dụng cacbon phải thu nhận nó từ một nơi nào đó và giải phóng nó ở một nơi nào khác. Chu trình mà cacbon luân chuyển trong môi trường được gọi là chu trình cacbon. Ví dụ, thực vật lấy cacbon điôxít từ môi trường và sử dụng nó để tạo ra khối lượng sinh học. Một số trong khối lượng sinh học này được động vật ăn, ở đó một phần chúng cuối cùng lại được thải ra dưới dạng cacbon điôxít. Chu trình cacbon trong thực tế phức tạp hơn nhiều so với ví dụ nhỏ này; ví dụ, một phần cacbon điôxít bị hòa tan trong nước biển; các động thực vật chết có thể trở thành đá trầm tích v.v.
=== Đồng vị ===
Cacbon có 2 đồng vị ổn định, có nguồn gốc tự nhiên: cacbon-12, hay 12C, (98,89%) và cacbon-13, hay 13C, (1,11%), Năm 1961, Liên đoàn Quốc tế về Hoá học Thuần túy và Ứng dụng (IUPAC) đã chấp nhận đồng vị cacbon-12 làm cơ sở để đo khối lượng nguyên tử.
Một đồng vị không ổn định, cũng có nguồn gốc tự nhiên là đồng vị phóng xạ cacbon-14 hay 14C. Đồng vị 14C phát sinh do sự tương tác của neutron 1n trong bức xạ vũ trụ với nitơ 14N trong khí quyển. Nó được thực vật hấp thụ bằng quá trình quang hợp như với mọi đồng vị carbon khác, và lan truyền vào mọi cơ thể sống theo chuỗi thức ăn. Khi sinh vật chết chúng lắng đọng trong các tầng đất, đặc biệt trong than bùn và các vật liệu hữu cơ khác. Đồng vị này phân rã bằng cách phát xạ hạt β− có năng lượng 0,158 MeV. Do chu kỳ bán rã có 5730 năm, 14C hầu như không có mặt trong các đá cổ, Sự phong phú của 14C trong khí quyển và trong các cơ thể sống là một hằng số, nhưng chúng sẽ giảm sau khi sinh vật đó chết đi, và tỷ số đồng vị 14C/12C nói lên quãng thời gian chết của chúng. Nguyên tắc này được sử dụng trong phương pháp định tuổi bằng đồng vị cacbon cho mẫu vật, được Willard Libby phát minh năm 1949, và nay được sử dụng rộng rãi để xác định tuổi của các mẫu vật chứa cacbon với giới hạn lên đến khoảng 60.000 năm và được ứng dụng chủ yếu trong khảo cổ học.
Tỷ số đồng vị 13C/12C trong trầm tích cổ được sử dụng để nghiên cứu cổ khí hậu (Paleoclimate). Nó dựa trên hiện tượng thực vật thực hiện quang hợp với 12C dễ hơn. Do đó những sinh vật phù du ở biển như benthic foraminifera khi phát triển mạnh thì làm lệch tỷ số đồng vị. Nếu các tầng nước đại dương không bị đối lưu pha trộn, thì sự lệch tỷ số này xảy ra trong thời gian dài, và dấu hiệu này được lưu giữ trong các tầng trầm tích biển. (Lynch-Stieglitz et al., 1995)
Tổng số đồng vị carbon là 15, từ 8C đến 22C, trong đó 12 đồng vị là nhân tạo. Đồng vị có tuổi ngắn nhất là 8C, nó phân rã theo bức xạ proton và phân rã alpha, có chu kỳ bán rã là 1,98739x10−21 s. Đồng vị kích thích 19C thể hiện tính chất của một hạt nhân halo, tức là bán kính của nó có thể lớn hơn đáng kể so với bán kính dự đoán nếu hạt nhân nguyên tử là một khối hình cầu có tỷ trọng không đổi.
=== Hình thành trong các ngôi sao ===
Cacbon đã không được tạo ra trong Vụ Nổ Lớn (The Big Bang) vì thiếu các yếu tố cần thiết cho sự va chạm ba của các hạt alpha (hạt nhân heli) để sản xuất nó. Vũ trụ đầu tiên được mở rộng ra và bị làm nguội quá nhanh để điều này có thể xảy ra. Tuy nhiên, nó được sản xuất trong tâm của các ngôi sao trong nhánh ngang, ở đó các ngôi sao chuyển hóa nhân heli thành cacbon bằng các cách thức của quy trình ba-alpha. Nó cũng đã được tạo ra trong các trạng thái nguyên tử phức tạp.
=== Chu trình cacbon ===
Trong các điều kiện trên Trái Đất, sự chuyển biến từ một nguyên tố này thành một nguyên tố khác là rất hiếm. Dù vậy, hàm lượng cacbon trên Trái Đất là không đổi. Do đó, các quá trình sử dụng cacbon phải tiêu thụ nó ở một nơi và thải ra ở một nơi khác. Những cách mà cacbon di chuyển trong môi trường tạo thành một chu trình gọi là chu trình cacbon. Một phần của sinh khối này được độn vật tiêu thụ, trong khi một lượng cacbon được động vật thảy ra ở dạng cacbon đi-ô-xít. Chu trình cacbon được xem là phức tạp hơn vòng tuần hoàn ngắn này; ví dụ như cacbon điôxít bị hòa tan trong các đại dương; thực vật chất hoặc xác động vật có thể hình thành nên dầu mỏ hoặc than, nếu đốt chúng sẽ thải ra cacbon.
== Ứng dụng ==
Cacbon là các thành phần thiết yếu cho mọi sự sống đã biết, và không có nó thì sự sống mà chúng ta đã biết không thể tồn tại (Xem Sự sống phi cacbon). Việc sử dụng kinh tế chủ yếu của cacbon là trong dạng các hiđrôcacbon, chủ yếu là các nhiên liệu hóa thạch như than, khí mêtan và dầu mỏ (xăng dầu). Dầu mỏ được sử dụng trong công nghiệp hóa dầu để sản xuất ra các sản phẩm như xăng và dầu hỏa, thông qua các quy trình chưng cất trong lọc dầu. Dầu mỏ cũng là nguồn nguyên liệu cho nhiều chất hữu cơ tổng hợp khác, rất nhiều trong số chúng gọi chung là các chất dẻo (plastic).
=== Các ứng dụng khác ===
Đồng vị Cacbon-14 được phát hiện vào ngày 27 tháng 2 năm 1940 và được sử dụng trong định tuổi bằng đồng vị phóng xạ.
Một số các thiết bị phát hiện sử dụng một lượng nhỏ đồng vị phóng xạ của cacbon làm nguồn bức xạ ion hóa (Phần lớn các thiết bị như thế sử dụng đồng vị của Americi)
Graphit kết hợp với đất sét để tạo ra 'chì' sử dụng trong các loại bút chì.
Kim cương được sử dụng vào mục đích trang sức hay trong các mũi khoan và các ứng dụng khác đòi hỏi độ cứng cao của nó.
Cacbon được thêm vào quặng sắt để sản xuất gang và thép.
Cacbon dưới dạng than chì được sử dụng như là các thanh điều tiết nơtron trong các lò phản ứng hạt nhân.
Graphit cacbon trong dạng bột, bánh được sử dụng như là than để đun nấu, bột màu trong mỹ thuật và các sử dụng khác.
Than hoạt tính được sử dụng trong y tế trong dạng bột hay viên thuốc để hấp thụ các chất độc từ hệ thống tiêu hóa hay trong các thiết bị thở.
Các thuộc tính hóa học và cấu trúc của các fulleren, trong dạng các cacbon ống nano, có ứng dụng đầy hứa hẹn trong các lĩnh vực mới phát sinh của công nghệ nano.
== Lịch sử ==
Ít ai nghĩ sợi carbon (Carbon fiber – CF) được sáng chế vào năm 1879 bởi Thomas Edison và được coi là loại sợi tổng hợp cổ nhất của loài người, lại có giá trị lớn lao đến thế đối với sự phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại. Ban đầu, nhà phát minh này đã sử dụng sợi carbon làm dây tóc của bóng đèn. Mặc dù lúc đó sợi sợi carbon không giống như sợi carbon ngày nay, nhưng chúng lại có sức chịu đựng đáng kể với nhiệt độ, điều này khiến cho sợi carbon trở thành ý tưởng không tồi cho các loại sợi dẫn điện.
Edison chế tạo sợi carbon dựa trên chất xenluloza gồm có cotton hoặc tre, hoàn toàn không giống như sợi carbon ngày nay làm từ dầu mỏ. Sự carbon hóa được tiến hành từ việc đốt cháy các sợi tre ở nhiệt độ cao trong môi trường tiêu chuẩn dưới sự kiểm soát chặt chẽ. Thomas Edison đã mất 40 giờ đốt cháy liên tục vật chất trên nhằm loại bỏ oxy, nitơ, hydro và chỉ giữ lại carbon để tạo ra những sợi carbon đầu tiên trên thế giới. Phương pháp chế tạo trên được gọi là “nhiệt phân” và vẫn được dùng trong thời đại ngày nay. Kết quả là những sợi tre được “carbon hóa” có khả năng chịu lửa và nhiệt độ cao – điều kiện cần thiết cho sự cháy sáng của dây tóc bóng đèn.
Về sau, đến tận những năm 1950 khả năng kéo giãn của sợi carbon mới được khám phá. Người đầu tiên được cho là tạo ra sợi carbon ngày nay có tên là Rayon. Ngày nay, sợi carbon hiện đại được sản xuất bởi một vật liệu có tên là polyacrylonitrile (PAN), đây cũng là nguyên liệu được sử dụng để sản xuất hầu hết khối lượng sợi carbon hiện tại.
== Sản xuất ==
=== Than chì ===
Các mỏ than chì tự nhiên có giá trị thương mại xuất hiện nhiều nơi trên thế giới, nhưng các nguồn quan trọng nhất có giá trị kinh tế tập trung ở Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Bắc Hàn. Các mỏ than chì có nguồn gốc biến chất, được tìm thấy cùng với thạch anh, mica và feldspar trong các đá phiến, gneiss và cát kết và đá vôi bị biến chất ở dạng thấu kính hoặc mạch, đôi khi có bề dày một mét hoặc lớn hơn. Các mỏ than chì ở Borrowdale, Cumberland, Anh đầu tiên có kích thước và độ tinh khiết (cho đến thế kỷ 19) đủ để làm các cây bút chì bằng cách đơn giản là cưa chúng thành các que và lấp vỏ gỗ vào. Ngày nay, các mỏ than chì nhỏ hơn được khai thác bằng cách nghiền đá gốc và dùng phương pháp tuyển nổi để lấy than chì nhẹ hơn nổi trên mặt.
Có 3 loại than chì tự nhiên gồm: vô định hình, than chì lớp, và mạch. Than chì vô định hình có chất lượng thấp và phổ biến nhất. Khác với khoa học, trong công nghiệp "vô định hình" ở đây đê cập đến kích thước tinh thể rất nhỏ thay vì không có một cấu trúc tinh thể rõ ràng. Dạng vô định hình được sử dụng cho các sản phẩm than chì có giá trị thấp và là than chì có giá thấp nhất. Một lượng lớn các mỏ than chì vô định hình được phát hiện ở Trung Quốc, châu Âu, Mexico và Hoa Kỳ. Than chì Flake ít phổ biến hơn và có chất lượng cao hơn dạng vô định hình; nó có mặt ở dạng các tấm tách biệt được kết tinh trong đá biến chất. Than chì Flake có thể đắt gấp 4 lần dạng vô định hình. Flake chất lượng tốt có thể được xử lý thành than chì có thể giãn nở được dùng cho nhiều mục đích khác nhau như chất chống cháy. Các mỏ quan trọng nhất của dạng này được tìm thấy ở Áo, Brazil, Canada, Trung Quốc, Đức và Madagascar. Than chì dạng mạch là hiếm nhất, có giá trị nhất, và là loại than chì tự nhiên có chất lượng cao nhất. Nó xuất hiện ở các dạng mạch dọch theo các nơi tiếp xúc với đá xâm nhập, và loại thương mại được khai thác chỉ có tại Sri Lanka.
Theo USGS, sản lượng than chì tự nhiên trên thế giới là 1,1 triệu tấn năm 2010, trong đó Trung Quốc là 800.00 tấn, Ấn Độ 130.000 tấn, Brazil 76.000 tấn, Bắc Hàn 30.000 tấn và Canada 25.000 tấn. Than chì không có nguồn gốc tự nhiên đã được khai thác ở Hoa Kỳ, nhưng 118.000 tấn than chì tổng hợp có giá trị khoảng 998 triệu USD đã được sản xuất năm 2009.
=== Kim cương ===
== Các hợp chất ==
=== Hợp chất vô cơ ===
Các hợp chất chứa cacbon phổ biến liên quan đến các khoáng vật hoặc không chứa hydro hoặc flo được xem là một nhóm các hợp chất vô cơ riêng biệt; tuy nhiên định nghĩa này là không cứng nhắc. Ôxít nổi tiếng nhất của cacbon là cacbon điôxít, CO2. Nó là thành phần nhỏ của Khí quyển Trái Đất, được sử dụng và sản sinh ra bởi các thực thể sống, và nó có mặt ở mọi nơi. Trong nước nó tạo thành một lượng nhỏ axít cacbonic, H2CO3, nhưng giống như phần lớn các hợp chất với nhiều liên kết của các đơn nguyên tử ôxy trên một nguyên tử cacbon duy nhất là không bền. Thông qua trung gian này, các ion cacbonat ổn định hơn được tạo ra. Một số khoáng chất quan trọng là các cacbonat, nổi tiếng nhất là canxít. Cacbon đisulfua, CS2, là tương tự.
Các ôxít khác là cacbon mônôxít, CO và cacbon subôxít không phổ biến lắm, C3O2. Cacbon mônôxít được tạo ra do sự cháy không hết, và nó là chất khí không màu, không mùi. Các phân tử đều có liên kết ba và là phân cực thật sự, kết quả là chúng có xu hướng liên kết vĩnh cửu với các phân tử hemoglobin, vì thế khí này là một khí rất độc. Xyanua, CN-, có cấu trúc tương tự và có các tính chất rất giống với các ion halua; nitrua xyanogen, (CN)2, là tương tự. Ví dụ, nó có thể tạo thành phân tử cyanogen nitrit (CN)2), tương tự như halua 2 nguyên tử. Cá ôxít không phổ biến khác như cacbon suboxide (C3O2), dicacbon monoxit không bền (C2O), cacbon trioxit (CO3), cyclopentanepenton (C5O5) cyclohexanehexon (C6O6), và mellitic anhydrit (C12O9).
Khi phản ứng với các kim loại như tungsten, cacbon tạo thành các carbua (C4–), hoặc acetylua (C2−2) từ đó tạo ra các hợp kim có nhiệt độ nóng chảy cao. các anion này cũng kết hợp với metan và acetylen, cả hai đều là các axít rất yếu. Với độ âm điện 2,5, cacbon tạo nên các liên kết cộng hóa trị. Một vài cacbua có các ô mạng cộng hóa trị, giống như Cacborunđum (SiC), có cấu trúc tương tự kim cương.
=== Hợp chất với kim loại ===
Với các kim loại mạnh cacbon tạo ra hoặc là các cacbua, C-, hoặc các axetylua, C22-; các ion này có liên quan với mêtan và axetylen, cả hai đều là các axít rất yếu. Trên tất cả, với độ điện âm 2,55, cacbon có xu hướng tạo ra các liên kết cộng hóa trị. Một số cacbua là các lưới cộng hóa trị, giống như cacborundum, SiC, là chất giống với kim cương.
=== Mạch cacbon ===
Các hiđrôcacbon là một mạch của các nguyên tử cacbon, được bão hòa bởi các nguyên tử hiđrô. Các loại xăng dầu có mạch cacbon ngắn. Các chất béo có mạch cacbon dài hơn, và các loại sáp có mạch cacbon cực dài.
== Cảnh báo ==
Cacbon tương đối an toàn. Tuy nhiên, việc hít thở vào một lượng khói lớn chứa thuần túy bồ hóng có thể gây nguy hiểm. Cacbon có thể bắt lửa ở nhiệt độ cao và cháy rất mãnh liệt (như trong Vụ cháy Windscale).
Có nhiều hợp chất của cacbon là những chất độc chết người như các (xyanua, CN-), hay cacbon mônôxít, CO và một số các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp khác.
== Điều chế ==
Cách để điều chế cacbon là dùng kim loại mạnh là nhôm hoặc ma-giê để khử một hợp chất oxit cacbon bất kì thành cacbon. Ví dụ:
2Al + 3CO → Al2O3 + 3C
2Mg + CO2 → 2MgO + C
Sau đó cho hỗn hợp vào một dung dịch axit (không có tính ôxi hóa mạnh) như HCl, H2SO4 loãng để hòa tan Al2O3 hoặc MgO, còn lại cacbon không tan, ta lọc cacbon ra khỏi dung dịch. Ngoài ra có thể điều chế cacbon theo các phương trình sau nhưng hiệu suất không cao do khí hiđro rất dễ bay lên:
CO + H2 ↔ C + H2O (Nhiệt độ khoảng 1050 độ C)
CO + 3H2 → CH4↑ + H2O (Chất xúc tác: Niken, 250 độ C)
CO2 + 4H2 → CH4↑ + 2H2O (Xúc tác, nhiệt độ cao, áp suất cao)
CH4 → C + 2H2↑ (Nhiệt độ trên 1000 độ C)
== Tham khảo ==
On Graphite Transformations at High Temperature and Pressure Induced by Absorption of the LHC Beam, J.M. Zazula, 1997
WebElements.com and EnvironmentalChemistry.com per the guidelines at Wikipedia's WikiProject Elements
== Xem thêm ==
Hóa hữu cơ
Hóa vô cơ của cacbon
Các thù hình của cacbon
Kim cương
Các thuộc tính của kim cương
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Los Alamos National Laboratory – Carbon
Nature articleNature article
WebElements.com – Carbon
EnvironmentalChemistry.com – Carbon
It's Elemental – Carbon
– Carbon Fullerene and other Allotropes models by Vincent Herr
Extensive Carbon page at asu.edu |
ronald reagan.txt | Ronald Wilson Reagan ( /ˈrɒnəld ˈwɪlsən ˈreɪɡən/; 6 tháng 2 năm 1911 – 5 tháng 6 năm 2004) là tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981–1989). Trước đó, ông là thống đốc thứ 33 của California (1967–1975), và từng là diễn viên truyền hình, truyền thanh và điện ảnh.
Ông sinh tại thành phố Tampico, Illinois, và lớn lên ở Dixon. Ông học Đại học Eureka và có bằng cử nhân về kinh tế và xã hội học. Sau khi tốt nghiệp, đầu tiên ông chuyển đến tiểu bang Iowa để làm việc trong vai trò phát thanh viên, sau đó vào năm 1937, ông đến thành phố Los Angeles nơi ông khởi nghiệp trong vai trò diễn viên điện ảnh và sau đó là diễn viên truyền hình. Một số bộ phim nổi bật nhất của ông gồm có Knute Rockne, All American (1940), Kings Row (1942), và Bedtime for Bonzo (1951). Reagan làm chủ tịch liên đoàn lao động Screen Actors Guild và sau đó là người phát ngôn cho công ty General Electric (GE). Ông bắt đầu tham gia chính trị trong thời kỳ làm việc cho công ty GE. Ban đầu ông là đảng viên Dân chủ. Thiên hướng của ông bắt đầu chuyển đổi sang cánh hữu vào thập niên 1950 và sau đó ông đổi sang đảng Cộng hòa vào năm 1962. Sau khi đọc một bài diễn văn mạnh mẽ ủng hộ ứng cử viên tổng thống Barry Goldwater năm 1964, người ta thuyết phục ông chạy đua vào chức thống đốc tiểu bang California. Ông thắng cử thống đốc tiểu bang California hai năm sau đó và tái đắc cử lần nữa vào năm 1970. Ông thất bại trong các lần chạy đua tìm sự đề cử của đảng Cộng hòa ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ vào các năm 1968 và năm 1976 nhưng sau đó ông thắng cả sự đề cử của đảng Cộng hòa và cuộc tổng tuyển cử năm 1980, đánh bại đương kim tổng thống Jimmy Carter.
Trong vai trò tổng thống, Reagan thực hiện các đề xướng kinh tế và chính trị mới có tầm cỡ. Các chính sách kinh tế trọng cung của ông, được gọi là "Reaganomics", chủ trương giảm tỉ lệ thuế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát nguồn tiền để giảm lạm phát, bãi bỏ kiểm soát kinh tế, và giảm chi tiêu của chính phủ. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông thoát chết trong một vụ ám sát; ông kiên quyết chống lại các công đoàn lao động, và ra lệnh xâm chiếm Grenada. Reagan tái đắc cử tổng thống một cách vang dội vào năm 1984 và tuyên bố rằng đây là "bình minh tại Mỹ". Nhiệm kỳ thứ hai của ông để lại với những vấn đề còn gây tranh cãi, chủ yếu vì các vấn đề đối ngoại, thí dụ như sự kết thúc Chiến tranh lạnh, vụ không kích Libya năm 1986, và vụ tai tiếng Iran-Contra bị phơi bày. Công khai mô tả Liên Xô là một "đế quốc ma quỷ", Reagan ủng hộ các phong trào chống cộng trên toàn thế giới và dành ra nhiệm kỳ đầu tiên của mình hủy bỏ chiến lược giảm thiểu tối đa căng thẳng giữa phương Tây và khối Xô Viết, thường được gọi là chiến lược détente, bằng cách ra lệnh tăng cường mạnh mẽ sức mạnh quân sự trong cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô. Reagan thương thuyết với Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô là Mikhail Gorbachev và kết quả đỉnh điểm là sự ra đời của Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân tầm trung và việc giảm thiểu kho vũ khí hạt nhân của cả hai nước.
Reagan rời chức tổng thống vào năm 1989. Năm 1994, cựu tổng thống tiết lộ rằng ông bị mắc bệnh mất trí nhớ; ông mất 10 năm sau đó ở tuổi 93. Là một hình tượng bảo thủ, Reagan được xếp cao trong các cuộc thăm dò ý kiến công chúng và được công nhận vì đã tạo ra cuộc phục sinh ý tưởng chính trị cánh hữu Mỹ.
== Thời niên thiếu ==
Ronald Wilson Reagan sinh ngày 6 tháng 2 năm 1911 trong căn hộ tầng hai của một tòa nhà thương mại ở Tampico, Illinois; ông là con của Jack Reagan và Nelle (Wilson) Reagan. Cha ông làm nghề bán hàng và viết truyện; là hậu duệ của những người nhập cư Công giáo đến từ Tỉnh Tipperary, Ireland còn mẹ ông gốc Scotland và Anh. Reagan có một người anh tên là Neil (1908–1996), một nhân viên hành chính của một hãng quảng cáo. Khi còn nhỏ, cha Reagan đặt cho ông biệt danh là "Dutch" (người Hà Lan) vì vẻ ngoài của ông giống như "một thằng nhỏ mập Hà Lan" và kiểu tóc cắt "cậu bé Hà Lan" của ông; cái biệt danh này bám theo Ronald trong suốt quãng đời trẻ. Gia đình của Reagan sống một thời gian ngắn tại một số thị trấn và thành phố của tiểu bang Illinois trong đó có Monmouth, Galesburg và Chicago, cho đến năm 1919, khi họ quay trở lại Tampico và sống bên trên cửa hàng H. C. Pitney Variety. Sau khi trở thành tổng thống, nghỉ ngơi tại tầng trên của khu cá nhân trong Tòa Bạch Ốc, Reagan đùa rằng ông đang "sống phía trên cửa hàng lần nữa".
Theo Paul Kengor, tác giả sách God and Ronald Reagan (Thượng đế và Ronald Reagan (tạm dịch)), Reagan có một niềm tin đặc biệt mạnh mẽ về cái thiện của con người, xuất phát từ niềm tin lạc quan của mẹ ông, bà Nelle, và niềm tin của một tín đồ Tin lành, mà ông đã được thanh tẩy vào năm 1922. Reagan chống đối mạnh mẽ tư tưởng kỳ thị chủng tộc. Ông nhớ lại có lần tại Dixon, lữ quán địa phương không cho phép người da đen nghỉ ở đó. Ông đã đưa họ về nhà của mình và mẹ ông mời họ nghỉ qua đêm rồi dùng điểm tâm vào sáng hôm sau.
Sau khi cửa hàng Pitney đóng cửa cuối năm 1920, gia đình Reagan chuyển đến Dixon; thị trấn "tiểu hoàn vũ" miền Trung Tây này có ấn tượng sâu sắc lâu dài đối với Reagan. Ronald học tại Trường Trung học Dixon, là nơi ông phát triển sở thích về kịch nghệ, thể thao, và kể chuyện. Công việc đầu tiên của ông là nhân viên cứu hộ ở sông Rock tại Lowell Park, gần Dixon, vào năm 1927. Reagan đã thực hiện 77 vụ cứu người khi làm tại đây. Mỗi khi cứu được một người, ông lại khắc một dấu vào khúc gỗ. Reagan theo học tại Đại học Eureka là nơi ông trở thành một thành viên của hội sinh viên Tau Kappa Epsilon, một cổ vũ viên, với bằng chính là kinh tế học và xã hội học. Thanh danh của Reagan được phát triển khi ông trong vai trò một người biết đủ mọi thứ ngành nghề, xuất sắc về chính trị tại trường, các môn thể thao và sân khấu. Ông tham gia đội bóng bầu dục, là đội trưởng đội bơi lội và được bầu làm chủ tịch hội sinh viên. Trong vai trò chủ tịch hội sinh viên, Reagan lãnh đạo một cuộc biểu tình của sinh viên chống lại chủ tịch trường đại học sau khi ông này tìm cách cắt giảm nhân sự trong ban giám hiệu.
== Sự nghiệp trong ngành giải trí ==
=== Phát thanh viên và diễn viên điện ảnh ===
Sau khi tốt nghiệp Đại học Eureka năm 1932, Reagan lái xe đến tiểu bang Iowa để dự tuyển việc làm tại nhiều đài phát thanh ở các thị trấn nhỏ. Đại học Iowa thuê mướn ông làm bình luận viên các trận đấu của đội bóng bầu dục Hawkeyes của trường. Trường trả cho ông $10 cho mỗi trận. Chẳng bao lâu sau đó, đài phát thanh WOC tại Davenport thuê Reagan với tiền lương là $100 một tháng. Nhờ có giọng nói hấp dẫn người nghe, ông chuyển đến đài phát thanh WHO tại Des Moines để tường thuật các trận đấu bóng chày của đội Chicago Cubs. Ông chuyên về tường thuật chi tiết các trận đấu mà đài phát thanh nhận được qua điện tín.
Trong lúc đi cùng với đội bóng Cubs tại California, Reagan dự tuyển diễn viên điện ảnh năm 1937 với kết quả là công ty điện ảnh Warner Brothers ký hợp đồng 7 năm với ông. Trong mấy năm đầu tiên của sự nghiệp điện ảnh Hollywood, Reagan đóng phim với một nhóm làm phim có ngân sách hạn chế. Reagan nói đùa rằng các nhà sản xuất phim tại đây "không muốn chúng có chất lượng mà họ chỉ muốn chúng hoàn thành ngày Thứ năm (ý nói làm gấp rút để công chiếu vào tối thứ sáu cuối tuần)". Mặc dù chưa nổi tiếng so với các diễn viên khác, hoạt động điện ảnh của Reagan lúc đó cũng nhận được nhiều đánh giá tốt.
Vai diễn điện ảnh đầu tiên của ông là trong phim Love Is on the Air năm 1937, và đến cuối năm 1939 ông đã tham gia vào 19 bộ phim, trong đó có phim Dark Victory với Bette Davis và Humphrey Bogart. Trước bộ phim Santa Fe Trail, thủ diễn cùng với Errol Flynn năm 1940, ông đóng vai George "The Gipper" Gipp trong phim Knute Rockne, All American; từ đó, ông mang biệt danh trọn đời là "the Gipper". Năm 1941, các chủ rạp phim đã bình chọn ông là ngôi sao điện ảnh được ưa chuộng đứng thứ năm thuộc thế hệ diễn viên trẻ tại Hollywood.
Vai diễn ưa thích của Reagan là vai một người cụt mất hai chân trong phim Kings Row năm 1942, mà trong phim này ông có nói một câu thoại như sau: "Phần còn lại của tôi ở đâu?", sau này trở thành tựa đề cho cuốn sách tự truyện của ông vào năm 1965. Nhiều nhà phê bình phim xem Kings Row là bộ phim hay nhất mà ông từng đóng, mặc dù bộ phim này bị nhà phê bình Bosley Crowther của tờ New York Times lên án.
Tuy Reagan gọi Kings Row là bộ phim "đã làm cho tôi trở thành một ngôi sao", nhưng ông đã không tận dụng được ưu thế thành công này vì ông phải phục vụ hiện dịch trong Lục quân Hoa Kỳ tại San Francisco hai tháng sau khi bộ phim trình chiếu, và không bao giờ lấy lại được vị thế "ngôi sao" trên màn bạc lần nữa. Thời hậu chiến tranh, sau khi phục vụ gần bốn năm suốt thời Chiến tranh thế giới thứ hai tại một đơn vị nội địa Hoa Kỳ, ông giải ngũ vào tháng 12 năm 1945. Reagan đóng vai trong các phim như The Voice of the Turtle, John Loves Mary, The Hasty Heart, Bedtime for Bonzo, Cattle Queen of Montana, Tennessee's Partner, Hellcats of the Navy và The Killers (đây là phim cuối của ông và cũng là phim duy nhất mà ông đóng vai phản diện) là phiên bản làm lại vào năm 1964. Trong suốt sự nghiệp điện ảnh, mẹ ông thường trả lời phần lớn lượng thư tín đến từ những người hâm mộ ông.
=== Phục vụ quân đội ===
Sau khi hoàn thành 14 lớp lục quân mở rộng tự học ở nhà, Reagan đăng lính vào Lục quân Trừ bị ngày 29 tháng 4 năm 1937 với cấp bậc binh nhì, được phái đến Trung đội B thuộc Lực lượng Kị binh số 322 đóng tại Des Moines, Iowa. Ông được thăng cấp bậc thiếu úy trong Quân đoàn Sĩ quan Trừ bị thuộc lực lượng kỵ binh Lục quân Hoa Kỳ ngày 25 tháng 5 năm 1937.
Reagan phục vụ hiện dịch lần đầu tiên vào ngày 18 tháng 4 năm 1942. Vì ông bị cận thị nên người ta xếp ông chỉ phục vụ có giới hạn và không phải phục vụ ở nước ngoài. Nhiệm vụ đầu tiên của ông là sĩ quan liên lạc cảng tại văn phòng giao thông của Cảng Embarkation thuộc trại quân Mason tại thành phố San Francisco, California. Sau khi được Không lực Lục quân Hoa Kỳ chấp thuận, ông làm đơn xin thuyên chuyển từ kỵ binh sang không lực lục quân ngày 15 tháng 5 năm 1942, và chuyển đến đơn vị Quan hệ Công chúng Không lực Lục quân và sau cùng đến Đơn vị Điện ảnh số 1 (First Motion Picture Unit), tên chính thức là "Đơn vị Căn cứ Không lực Lục quân số 18 đóng tại Culver City, California. Ngày 14 tháng 1 năm 1943, Reagan được thăng cấp bậc trung úy và chuyển đến một đơn vị tại Burbank, California. Ông trở lại Đơn vị Điện ảnh số 1 sau khi hoàn thành nhiệm vụ tại đó và đạt cấp bậc đại úy ngày 22 tháng 7 năm 1943.
Tháng 1 năm 1944, Reagan phải phục vụ tạm thời tại Thành phố New York để tham gia lễ khai mạc vận động mua công trái tái thiết thời hậu chiến. Ông trở lại Đơn vị Điện ảnh số 1 ngày 14 tháng 11 năm 1944, nơi ông ở lại đó cho đến khiChiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Ông được đề nghị thăng cấp bậc lên thiếu tá ngày 2 tháng 2 năm 1945, nhưng lời đề nghị này không được chấp thuận ngày 17 tháng 7 năm đó. Trong khi phục vụ với Đơn vị Điện ảnh số 1 vào năm 1945, ông có vai trò gián tiếp trong việc khám phá tài năng của diễn viên Marilyn Monroe. Reagan trở lại Trại quân MacArthur tại California, nơi ông hoàn tất nghĩa vụ phục vụ hiện dịch ngày 9 tháng 12 năm 1945. Vào cuối chiến tranh, các đơn vị của ông đã sản xuất được khoảng 400 phim huấn luyện cho Không lực Lục quân Hoa Kỳ.
Reagan chưa bao giờ rời Hoa Kỳ trong suốt thời gian xảy ra chiến tranh và ông vẫn giữ một thước phim mà mình có được trong lúc phục vụ quân đội. Thước phim này mô tả trận đánh giải phóng trại tập trung Auschwitz của Đức Quốc xã. Ông giữ thước phim này vì ông tin rằng có ngày nào đó người ta sẽ nghi ngờ về nạn diệt chủng người Do Thái có thực sự xảy ra hay không. Có người cho rằng đã nghe lén lời ông nói với ngoại trưởng Israel Yitzhak Shamir vào năm 1983 là ông đã tự quay thước phim này và nó đã giúp giải phóng trại tập trung Auschwitz, mặc dù lời thoại ngụ ý này đã bị Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ George Shultz làm gián đoạn.
=== Chủ tịch liên đoàn lao động SAG ===
Reagan được bầu lần đầu tiên vào ban lãnh đạo của liên đoàn lao động Screen Actors Guild, đây là liên đoàn đại diện cho các diễn viên điện ảnh và truyền hình trên toàn thế giới vào thời đó, trong vai trò dự khuyết vào năm 1941. SauChiến tranh thế giới thứ hai, ông tiếp tục công việc và trở thành phó chủ tịch thứ 3 vào năm 1946. Sự kiện luật phụ về xung đột lợi ích được thông qua vào năm 1947 đã khiến cho chủ tịch công đoàn SAG và sáu thành viên ban lãnh đạo từ chức; Reagan được đề cử trong một cuộc bầu cử đặc biệt cho chức danh chủ tịch và sau đó đắc cử. Sau đó, các thành viên bầu chọn ông phục vụ thêm 7 nhiệm kỳ một năm, từ năm 1947 đến năm 1952 và vào năm 1959. Có nhiều sự kiện xảy ra trong thời gian Reagan làm lãnh đạo công đoàn SAG, thí dụ như các cuộc tranh chấp giữa giới lao động và giới quản trị, Đạo luật Taft-Hartley ra đời, các vụ điều trần của ủy ban hạ viện đặc trách theo dõi các hoạt động không thuộc Mỹ (House Committee on Un-American Activities) và thời đại sổ đen Hollywood (nghi ngờ hoạt động của cộng sản tại Hollywood).
==== Điềm chỉ viên bí mật của FBI tại Hollywood ====
Trong suốt cuối thập niên 1940, Reagan và vợ ông đã cung cấp cho FBI tên của các diễn viên trong ngành công nghiệp điện ảnh mà họ nghi ngờ là cảm tình viên cộng sản, cho dù ông có nói đến một số hạn chế nào đó. Ông nói "Không lẽ họ mong chúng tôi phải tự biến thành một thằng nhóc FBI và xác định đúng xem ai là cộng sản và ai không phải cộng sản?".,
Reagan cũng có điều trần trước ủy ban Hạ viện đặc trách theo dõi các hoạt động không thuộc Mỹ về đề tài này. Là một người chống cộng nhiệt huyết, ông tái khẳng định dấn thân mình vào các nguyên tắc dân chủ và nói rằng "là một công dân tôi không bao giờ muốn thấy quốc gia này trở nên cấp bách vì sự e ngại hay bực tức với nhóm này, rằng chúng ta phải thỏa hiệp với bất cứ các nguyên tắc dân chủ nào vượt qua sự e ngại hay bực tức đó."
=== Truyền hình ===
Dù sớm là nhà phê bình của truyền hình, Reagan đã có vài vai diễn vào cuối thập niên 1950 và quyết định tham gia vào phương tiện truyền hình. Ông được thuê làm người dẫn chương trình General Electric Theater, một chương trình kịch hàng tuần rất được ưa thích. Hợp đồng yêu cầu ông phải thăm viếng các nhà máy của GE mười sáu tuần một năm, và thường đòi hỏi ông mười bốn bài phát thanh mỗi ngày. Ông nhận được khoảng $125.000 một năm (khoảng $1,07 triệu đô la tính theo giá trị năm 2010) trong vai trò này. Công việc cuối cùng của ông trong vai trò diễn viên là trong vai người dẫn chương trình và diễn viên của bộ phim truyền hình nhiều tập Death Valley Days từ năm 1964 đến 1965. Reagan và Nancy Davis xuất hiện cùng nhau vài lần, bao gồm một tập trong chương trình GE Theater năm 1958 có tựa đề "A Turkey for the President".
== Hôn nhân và con cái ==
Năm 1938, Reagan đóng phim Brother Rat với sự tham gia của nữ diễn viên Jane Wyman (1917–2007). Họ hứa hôn tại Nhà hát Chicago, và lễ cưới tổ chức ngày 26 tháng 1 năm 1940 trong Thánh đường Wee Kirk o' the Heather tại Glendale, tiểu bang California. Reagan và Jane có với nhau hai người con, Maureen (1941–2001) và Christine (sinh năm 1947 nhưng chỉ sống có một ngày), và họ nhận nuôi một người con thứ ba là Michael (sinh năm 1945). Sau các lần tranh cãi về tham vọng chính trị của Reagan, Wyman nộp đơn xin ly dị vào năm 1948; vụ ly dị chính thức hoàn tất vào năm 1949. Ông là tổng thống Hoa Kỳ duy nhất từng bị ly dị.
Reagan gặp nữ diễn viên Nancy Davis (1921-2016) năm 1949, bà đến gặp ông khi ông đang là chủ tịch công đoàn lao động Screen Actors Guild để giúp bà một số vấn đề có liên quan đến chuyện tên bà có trong danh sách đen liệt kê những cảm tình viên cộng sản tại Hollywood (bà bị nhầm lẫn với một người khác cùng tên Nancy Davis). Bà mô tả cuộc gặp mặt của họ như sau, "Tôi không biết liệu nó có phải là tình yêu sét đánh hay không, nhưng nó khá giống vậy". Họ hứa hôn trong nhà hàng Chasen's ở thành phố Los Angeles và cưới vào ngày 4 tháng 3 năm 1952 tại Thánh đường Little Brown trong Thung lũng San Fernando. Diễn viên William Holden làm phù rể trong lễ cưới. Họ có chung hai người con: Patti (sinh ngày 21 tháng 10 năm 1952) và Ron (sinh ngày 20 tháng 5 năm 1958).
Những người quan sát mô tả mối quan hệ của ông bà Reagan là gần gũi, chân thật và mật thiết. Trong suốt thời gian làm tổng thống, họ thường xuyên biểu lộ tình cảm đối với nhau trước đám đông; một thư ký báo chi nói rằng "Họ không bao giờ giả vờ chân thật với nhau. Họ không bao giờ ngừng tán tỉnh nhau." Ông thường gọi bà là "Mommy" và bà gọi ông một cách thân thiết là "Ronnie". Có lần ông viết cho bà rằng "Tất cả những thứ anh trân trọng và thích thú... tất cả sẽ không còn ý nghĩa nếu như anh không có em." Khi ông nằm bệnh viện vào năm 1981, bà ngủ với một cái áo của ông để được an ủi bởi mùi hương của ông. Trong một lá thư gửi cho công dân Hoa Kỳ được viết vào năm 1994, Reagan viết "Vừa rồi tôi được thông báo rằng tôi là một trong số hàng triệu người Mỹ mắc phải chứng bệnh mất trí nhớ.... Tôi chỉ ước có vài cách để tôi có thể làm cho Nancy không phải vượt qua nỗi đau này", và vào năm 1998 trong khi Reagan bị căn bệnh mất trí nhớ hành hạ, Nancy nói với tạp chí Vanity Fair rằng "Mối quan hệ của chúng tôi rất là đặc biệt. Chúng tôi yêu nhau rất nhiều và vẫn còn như thế. Khi tôi nói cuộc đời của tôi bắt đầu cùng với Ronnie (cách gọi tên thân thiết của ông), này, đấy là nói thật. Đúng vậy. Tôi không thể hình dung được cuộc sống không có ông ấy."
== Sự nghiệp chính trị ban đầu ==
Reagan bắt đầu sự nghiệp chính trị với tư cách là đảng viên đảng Dân chủ, và vào tháng 12 năm 1945, công ty điện ảnh Warner Brothers đã gây áp lực để ngăn việc ông lãnh đạo một cuộc biểu tình chống vũ khí hạt nhân ở Hollywood. Sau này ông đi tiên phong trong vận động chống lại vũ khí hạt nhân, một dấu mốc trong suốt thời gian làm tổng thống Hoa Kỳ. Ông cố tìm cách hạn chế sự lan tràn của vũ khí hạt nhân cho đến mục tiêu là giảm thiểu số lượng và chủng loại của chúng. Tuy nhiên, vào đầu thập niên 1950, khi bắt đầu mối quan hệ với nữ diễn viên Cộng hòa là Nancy Davis, ông chuyển đổi sang cánh hữu và trong khi vẫn còn là người thuộc đảng Dân chủ, ông công khai ủng hộ các ứng viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa là Dwight D. Eisenhower vào các năm 1952 và 1956 cũng như Richard Nixon năm 1960. Lần cuối cùng Reagan tích cực ủng hộ một ứng cử viên Dân chủ là vào năm 1950 khi ông giúp Helen Gahagan Douglas vận động tranh cử bất thành vào Thượng viện Hoa Kỳ trước đối thủ là Richard Nixon.
Sau khi trở thành người giới thiệu cho chương trình truyền hình General Electric Theater vào năm 1954, Reagan đã sớm đón nhận những quan điểm bảo thủ từ các viên chức tài trợ cho chương trình truyền hình này. Nhiều bài diễn văn đọc tại GE của ông — mà do chính ông viết — không có tính đảng phái nhưng chứa đựng một thông điệp bảo thủ, ủng hộ doanh nghiệp; tư tưởng chính trị của ông bị ảnh hưởng bởi Lemuel Boulware, một quản lý cao cấp của GE. Boulware là người có lập trường cứng rắn đối với các nghiệp đoàn và có các chiến lược đầy sáng tạo để thu phục công nhân, ông ủng hộ các giáo điều trọng tâm của chủ nghĩa bảo thủ Mỹ hiện đại: thị trường tự do, chủ nghĩa chống cộng, thuế thấp, và chính quyền thu gọn. Dần dần, chương trình của Reagan không còn hấp dẫn nữa và công ty GE sa thải Reagan năm 1962. Vào tháng 8 năm đó, Reagan chính thức chuyển sang đảng Cộng hòa và nói rằng "Tôi đã không bỏ đảng Dân chủ. Đảng Dân chủ đã bỏ tôi".
Trong đầu thập niên 1960, Reagan chống đối một số luật về quyền công dân khi ông cho rằng "nếu một cá nhân muốn phân biệt đối xử người da đen hay những người khác trong việc mua hay cho thuê nhà thì đó là quyền của cá nhân đó." Theo lý luận của ông, ông lên tiếng phản đối chính phủ xâm phạm vào quyền tự do cá nhân như chống lại chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc; ông mạnh mẽ bác bỏ rằng ông có căn nguyên của một người theo chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc và sau này ông thay đổi không còn chống đối quyền bầu cử và các luật lệ công bằng về nhà ở. Khi luật liên quan đến chương trình Medicare (chăm sóc y tế) được giới thiệu vào năm 1961, Reagan thâu âm cho Hội Y tế Mỹ cảnh báo rằng luật như thế sẽ đồng nghĩa với sự kết thúc tự do dân chủ tại Mỹ. Reagan nói rằng nếu thính giả của ông không viết thư phản đối luật này thì "Chúng ta khi thức giấc sẽ thấy chúng ta có chủ nghĩa xã hội. Và nếu bạn không làm điều này và nếu tôi không làm điều này một trong những ngày hôm nay, bạn và tôi sẽ phải dành những năm tháng cuối đời của mình để kể cho con cháu chúng ta rằng trước đây như thế nào tại Mỹ khi con người được tự do." Ông cũng gia nhập Hội Súng trường Quốc gia và trở thành thành viên trọn đời.
Reagan ủng hộ cuộc vận động tranh cử của ứng cử viên tổng thống bảo thủ Barry Goldwater năm 1964. Phát ngôn thay cho Goldwater, Reagan nhấn mạnh niềm tin của ông về tầm quan trọng của chính phủ tinh gọn hơn. Ông tiết lộ động cơ tư tưởng của mình trong một bài diễn văn nổi tiếng, đọc vào ngày 27 tháng 10 năm 1964: "Những vị cha già lập quốc biết rằng một chính phủ không thể nào kiểm soát được nền kinh tế nếu như không kiểm soát được người dân. Và họ biết rằng khi một chính phủ khởi sự làm vậy thì chính phủ phải dùng vũ lực và ép buộc để đạt được mục đích của mình. Vì thế chúng ta đến lúc nào đó phải chọn lựa." Ông cũng nói rằng, "Bạn và tôi được bảo rằng chúng ta phải chọn giữa phe tả hay phe hữu, nhưng tôi đề nghị rằng không có điều gì như thể là phe tả hay phe hữu. Chỉ có lên cao hay xuống thấp. Lên cao vì giấc mơ lâu dài của con người – sự tối đa tự do cá nhân phù hợp với trật tự – hay xuống thấp đến ổ kiến của chủ nghĩa toàn trị." Bài diễn văn có tựa đề "A Time for Choosing" mà sau này gọi là "The Speech" đã quyên góp được $1 triệu đô la cho chiến dịch tranh cử tổng thống của ứng cử viên Goldwater và là sự kiện lớn khởi đầu cho sự nghiệp chính trị của Reagan.
== Thống đốc California, 1967–1975 ==
Các đảng viên Cộng hòa của tiểu bang California rất đỗi ấn tượng với uy tín và quan điểm chính trị của Reagan sau bài diễn văn "Time for Choosing" (đến lúc chọn lựa) của ông, và đề cử ông tranh chức thống đốc California năm 1966. Trong chiến dịch tranh cử của Reagan, ông nhấn mạnh hai chủ đề chính: "đưa những kẻ ăn bám trợ cấp xã hội trở lại làm việc", và khi nói đến các vụ biểu tình của sinh viên chống chiến tranh và tư tưởng chống đối xã hội đang ươm mầm tại Đại học California tại Berkeley, "để dọn dẹp lại trật tự tại Berkeley". Ông đắc cử, đánh bại thống đốc hai nhiệm kỳ Edmund G. "Pat" Brown, và tuyên thệ nhậm chức ngày 2 tháng 1 năm 1967. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông đình chỉ thuê mướn thêm nhân viên chính quyền và chấp thuận tăng thuế để cân bằng ngân sách tiểu bang.
Ngay sau khi bắt đầu nhiệm kỳ thống đốc, Reagan thử nghiệm tranh cử tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1968. Đây là một phần của phong trào "Chặn đứng Nixon" với hy vọng cắt đứt sự ủng hộ dành cho Nixon tại miền nam Hoa Kỳ và Reagan trở thành một ứng cử viên thỏa hiệp nếu như cả Nixon và người đứng hạng hai Nelson Rockefeller đều không nhận được đủ số đại biểu để chiến thắng trong vòng bầu cử đầu tiên tại Đại hội Đảng Cộng hòa. Tuy nhiên, cho đến kỳ đại hội, Nixon có được tổng số phiếu là 692 đại biểu, 25 phiếu cao hơn con số mà ông cần để được đảng Cộng hòa để cử ra tranh cử tổng thống, theo sau là Rockefeller, và thứ ba là Reagan.
Reagan có dính líu vào một số vụ xung đột lớn với các phong trào biểu tình của thời đại. Ngày 15 tháng 5 năm 1969, trong suốt thời gian có các vụ biểu tình tại Đại học California tại Berkeley, Reagan phái đội tuần tra xa lộ California và các viên chức khác đến để dập tắt các cuộc biểu tình. Đây là sự kiện mà sau này được biết đến với cái tên là "Thứ năm đẫm máu" với kết cục làm chết sinh viên tên James Rector và làm mù mắt thợ mộc Alan Blanchard. Reagan sau đó cho gọi 2.200 vệ binh quốc gia tại tiểu bang đến chiếm giữ thành phố Berkeley trong hai tuần để đàn áp những người biểu tình. Một năm sau sự kiện "Thứ năm đẫm máu", Reagan đáp trả lại các chất vấn về các cuộc biểu tình tại đại học rằng "Nếu như có tắm máu thì cứ để cho nó xảy ra. Không nhân nhượng nữa." Khi Quân đội Giải phóng Symbionese (nhóm cách mạng tả phái tự lập của Mỹ hoạt động giữa năm 1973 và 1975) bắt cóc Patty Hearst tại Berkeley và đòi hỏi phân phát thực phẩm cho người nghèo, Reagan đùa rằng, "Thật là quá tệ hại rằng chúng ta không thể có một nạn dịch ngộ độc thịt."
Đầu năm 1967, nổ ra cuộc tranh luận về phá thai. Thượng nghị sĩ tiểu bang California thuộc đảng Dân chủ Anthony Beilenson giới thiệu "Đạo luật Phá thai Trị liệu" nhằm giảm bớt con số các vụ phá thai bất hợp pháp được tiến hành trong tiểu bang California. Lập pháp tiểu bang gửi đạo luật này đến Reagan, sau nhiều ngày đắn đo, ông đã ký đạo luật này thành luật. Kết quả là khoảng hai triệu trường hợp phá thai đã được tiến hành phần lớn vì một điều khoản có nói trong luật là cho phép phá thai vì sức khỏe của người mẹ. Reagan chỉ nhận chức vụ thống đốc mới có bốn tháng khi ông ký thông qua đạo luật này, và phát biểu rằng nếu như ông có nhiều kinh nghiệm hơn với tư cách thống đốc thì đạo luật này sẽ không được ký thông qua. Sau khi ông nhận ra những điều mà ông gọi là "những hậu quả" của luật, Reagan công khai ông là người thuộc giới chống phá thai. Ông vẫn giữ lập trường này trong sự nghiệp chính trị của mình.
Mặt dù gặp phải một nỗ lực bất thành nhằm phế truất chức vụ thống đốc của ông năm 1968, nhưng Reagan đã tái đắc cử thống đốc năm 1970, đánh bại Jesse Unruh. Ông không tranh cử thống đốc cho nhiệm kỳ thứ ba. Một trong những thất vọng lớn nhất của Reagan khi tại chức là có liên quan đến hình phạt tử hình mà ông là người ủng hộ nó mạnh mẽ. Những nỗ lực của ông nhằm thi hành luật tiểu bang trong phạm vi này đã bị ngăn cản khi Tối cao Pháp viện California đưa ra phán quyết vụ Nhân dân đối đầu Anderson. Phán quyết này làm vô hiệu hóa tất cả các vụ kết án tử hình được đưa ra trong tiểu bang California trước năm 1972 mặc dù phán quyết này sau đó bị một tu chính án hiến pháp lật ngược. Vụ hành hình duy nhất trong lúc Reagan làm thống đốc là vào ngày 12 tháng 4 năm 1967 khi bản án của Aaron Mitchell được thi hành.
Năm 1969, Reagan, với tư cách thống đốc, ký Đạo luật Luật Gia đình. Đây là luật ly dị "không lỗi" (tự nguyện ly dị) đầu tiên tại Hoa Kỳ.
Hai nhiệm kỳ thống đốc của Reagan đã giúp hoạch định ra các chính sách mà ông sẽ theo đuổi trong sự nghiệp chính trị sau này với tư cách là tổng thống. Qua vận động với khẩu hiệu đưa "những kẻ ăn bám trợ cấp xã hội trở lại làm việc", ông lên tiếng chống lại ý tưởng về tình trạng phúc lợi xã hội. Ông cũng mạnh mẽ ủng hộ ý tưởng của đảng Cộng hòa về việc chính phủ nên có ít luật lệ áp đặt vào nền kinh tế.
Reagan không ra tranh cử thống đốc nhiệm kỳ ba năm 1974 và chức vụ thống đốc của ông được kế vị bởi Bộ trưởng Ngoại giao California là Jerry Brown, một đảng viên Dân chủ, vào ngày 6 tháng 1 năm 1975.
== Vận động tranh cử tổng thống năm 1976 ==
Năm 1976, Reagan đối đầu với đương kim tổng thống Gerald Ford để tìm sự đề cử của đảng Cộng hòa ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Liền ngay khi đó Reagan tự đặt mình thành ứng viên bảo thủ với sự ủng hộ của các tổ chức có cùng khuynh hướng như Liên đoàn Bảo thủ Mỹ. Liên đoàn này sau đó trở thành các yếu tố chủ yếu trong nền tảng chính trị của ông trong khi tổng thống Ford được xem là một đảng viên Cộng hòa ôn hòa hơn.
Chiến dịch vận động của Reagan dựa vào chiến lược mà người điều hành cuộc vận động bầu cử của ông là John Sears hoạch định. Chiến lược này là chiến thắng một vài cuộc bầu cử sơ bộ ban đầu để gây tổn thất cho cơ hội của Ford vốn có nhiều ưu thế được đảng đề cử ra tranh cử tổng thống. Reagan thắng các cuộc bầu cử sơ bộ tại North Carolina, Texas, và California, nhưng chiến lược này bị thất bại khi ông thua các cuộc bầu cử sơ bộ tại New Hampshire, Florida, và tiểu bang gốc của mình Illinois. Chiến dịch vận động tại tiểu bang Texas cho ông hy vọng lật ngược khi ông thắng hết 96 đại biểu trong cuộc bầu cử sơ bộ ngày 1 tháng 5, với bốn đại biểu nữa đang chờ đợi tại đại hội đảng tiểu bang. Phần lớn công lao chiến thắng này là nhờ sự làm việc của ba vị đồng chủ tịch trong đó phải kể đến là Ernest Angelo, thị trưởng thành phố Midland, và Ray Barnhart của thành phố Houston. Ray Barnhart là người sau này được Reagan, với tư cách là tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1981, cách đặt làm giám đốc Cơ quan Quản trị Xa lộ Liên bang.
Tuy nhiên khi đại hội đảng Cộng hòa năm 1976 gần kề cận, Ford trông có vẽ gần như chiến thắng. Để có được sự ủng hộ của cánh ôn hòa trong đảng, Reagan chọn thượng nghị sĩ ôn hòa Richard Schweiker của tiểu bang Pennsylvania đứng chung liên danh với mình nếu được đề cử. Tuy nhiên, Ford chiến thắng với 1.187 đại biểu trong khi Reagan được 1.070. Ford tiếp tục cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ nhưng thất cử trước đối thủ đảng Dân chủ là Jimmy Carter.
Bài diễn văn thú nhận thất cử của Reagan nhấn mạnh đến sự nguy hiểm của chiến tranh hạt nhân và mối đe dọa từ Liên Xô. Mặc dù ông thất bại trong cuộc chạy đua dành sự đề cử của đảng nhưng ông nhận được 307 phiếu bầu tự do (cử tri tự viết tên người mình muốn bầu vào lá phiếu mặc dù tên này không có ghi trong lá phiếu) tại tiểu bang New Hampshire, 388 phiếu bầu trong tư cách ứng cử viên độc lập (không thuộc đảng Cộng hòa hay Dân chủ) tại tiểu bang Wyoming, và một phiếu đại cử tri duy nhất từ một đại cử tri "bất trung" (không bỏ phiếu theo sự chỉ dẫn của đảng) từ tiểu bang Washington, mà đáng ra Ford đã giành được phiếu đại cử tri này.
Sau chiến dịch tranh cử, Reagan vẫn tiếp tục tranh luận công khai trong một loạt chương trình bình luận trên đài phát thanh.
== Vận động tranh cử tổng thống năm 1980 ==
Cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 1980 giữa Reagan và đương kim tổng thống Jimmy Carter tiến hành trong lúc có những vấn đề quan tâm trong nước và cuộc khủng hoảng con tin tại Iran đang tiếp diễn. Chiến dịch vận động của ông nhấn mạnh một số nguyên tắc cơ bản của ông về thuế suất thấp để kích thích nền kinh tế, sự can thiệp ít hơn của chính phủ vào cuộc sống của nhân dân, dành nhiều quyền hơn cho các tiểu bang, tăng cường quốc phòng, và phục hồi đồng đô la Mỹ theo bản vị vàng.
Reagan mở đầu chiến dịch vận động bằng lời tuyên bố "Tôi tin vào quyền của các tiểu bang" tại Philadelphia, Mississippi. Thành phố này nổi tiếng vào lúc đó vì vụ ám sát ba nhân viên dân quyền khi họ đang tìm cách ghi danh cho những người Mỹ gốc châu Phi tham gia bỏ phiếu trong thời kỳ phong trào dân quyền Mỹ. Sau khi được đảng Cộng hòa đề cử ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ, Reagan chọn một đối thủ của ông từ cuộc bầu cử sơ bộ là George H.W. Bush đứng chung liên danh tranh cử với ông. Sự xuất hiện của ông trong cuộc tranh luận truyền hình vào tháng 10 đã làm tăng thêm vị thế tranh cử của ông. Reagan thắng cử, chiếm được 44 tiểu bang với 489 phiếu đại cử tri so với 49 phiếu đại cử tri cho Carter (đại diện cho sáu tiểu bang và thủ đô Washington, D.C.). Reagan chiếm được 50,7% số phiếu phổ thông trong khi Carter được 41%, và ứng cử viên độc lập John B. Anderson (đảng viên Cộng hòa cấp tiến) nhận được 6,7%. Đảng Cộng hòa chiếm đa số ghế tại Thượng viện Hoa Kỳ lần đầu tiên kể từ năm 1952, và chiếm được 34 ghế Hạ viện nhưng đảng Dân chủ vẫn chiếm đa số tại Hạ viện Hoa Kỳ.
Trong suốt cuộc vận động tranh cử tổng thống, các phóng viên đã nêu lên những câu hỏi về lập trường của ông đối với Đề xướng Briggs, còn gọi là Đề xướng số 6, một đề xướng được đưa ra bỏ phiếu tại tiểu bang nhà của Reagan nơi ông làm thống đốc. Đề xướng này sẽ cấm những người đồng tình luyến ái và những ủng hộ viện của đồng tình luyến ái làm việc trong các trường công lập trong tiểu bang California. Sự chống đối của ông đối với đề xướng này là công cụ khiến cho nó bị cử tri California bác bỏ với số đông áp đảo. Reagan công bố một bài xã luận trong đó ông nói rằng "đồng tình luyến ái không phải là một căn bệnh gây lan giống như bệnh sởi", và rằng ý kiến khoa học hiện hành cho rằng thiên hướng tình dục của một đứa trẻ không thể bị người nào khác tác động được.
== Tổng thống Hoa Kỳ 1981–1989 ==
Trong thời làm tổng thống, Reagan theo đuổi các chính sách phản ánh niềm tin cá nhân của ông về tự do cá nhân, mang đến những thay đổi trong nước, cả về nền kinh tế Hoa Kỳ và mở rộng quân sự, góp phần kết thúc Chiến tranh lạnh. Thời làm tổng thống của ông, được gọi là Cách mạng Reagan, đã tái tiếp sức tinh thần Mỹ và giảm thiểu sự phụ thuộc của người dân vào chính phủ. Với tư cách là tổng thống, Reagan giữ một bộ nhật ký mà trong đó ông ghi lại những sự việc xảy ra hàng ngày trong thời gian làm tổng thống cũng như những quan điểm của ông về các vấn đề hàng ngày. Bộ nhật ký này được xuất bản vào tháng 5 năm 2007 và trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất với tựa đề The Reagan Diaries.
=== Nhiệm kỳ thứ nhất 1981–1985 ===
Reagan là người già nhất đắc cử tổng thống (lúc 69 tuổi) cho đến khi Donald Trump (lúc 70 tuổi) vượt Reagan để trở thành người già nhất đắc cử tổng thống vào ngày 8 tháng 11 năm 2016. Trong bài diễn văn nhậm chức đầu tiên ngày 20 tháng 1 năm 1981, do chính Reagan viết, ông nói về căn bệnh kinh tế của quốc gia khi cho rằng: "Trong cuộc khủng hoảng hiện tại, chính phủ không phải là giải pháp cho những vấn đề của chúng ta; chính phủ là vấn đề."
==== Bị mưu sát ====
Ngày 30 tháng 3 năm 1981, chỉ 69 ngày sau khi nhận chức tổng thống, Reagan, bộ trưởng báo chí James Brady, sĩ quan cảnh sát thành phố Washington Thomas Delahanty, và nhân viên đặc vụ Timothy McCarthy bị trúng đạn từ kẻ suýt trở thành sát nhân tên là John Hinckley, Jr. bên ngoài Khách sạn Washington Hilton. Mặc dù "suýt chết" lúc đưa đến Bệnh viện Đại học George Washington, Reagan được ổn định trong phòng cấp cứu, rồi trải qua một cuộc giải phẫu khẩn cấp. Ông hồi phục, rồi xuất viện vào ngày 11 tháng 4, và trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thoát chết sau khi bị bắn trong một vụ mưu sát. Vụ mưu sát này có ảnh hưởng rất lớn đối với sự ủng hộ của dân chúng dành cho Reagan; các cuộc thăm dò cho thấy tỉ lệ chấp thuận dành cho ông là khoảng 73%. Reagan tin rằng Thượng đế đã giành lại cuộc sống cho ông để ông có thể tiếp tục hoàn thành một mục đích cao cả hơn.
==== Vụ đình công của các nhân viên kiểm soát không lưu ====
Vào mùa hè năm 1981, PATCO, công đoàn của các nhân viên kiểm soát không lưu liên bang tiến hành đình công, họ đã vi phạm luật liên bang nghiêm cấm các công đoàn chính phủ (nhân viên chính phủ nhưng có gia nhập công đoàn) đình công. Tuyên bố tình trạng khẩn cấp như được nêu trong Đạo luật Taft–Hartley năm 1947, Reagan phát biểu rằng nếu những nhân viên điều khiển không lưu "không đến làm việc trong vòng 48 giờ thì tư cách công việc của họ bị vô hiệu và họ sẽ bị đuổi việc". Họ không trở lại làm việc và vào ngày 5 tháng 8, Reagan đuổi việc 11.345 nhân viên kiểm soát không lưu đang đình công, những người phớt lờ lệnh của ông. Reagan ra lệnh sử dụng những quản đốc và nhân viên kiểm soát không lưu quân sự trông coi không lưu thương mại quốc gia cho đến khi các nhân viên kiểm soát không lưu mới được tuyển dụng và đào tạo. Theo như một bản tóm tắt tham khảo hàng đầu về sự quản lý công cộng đã kết luận "Việc đuổi việc các nhân viên thuộc công đoàn PATCO không chỉ chứng tỏ một giải pháp mạnh của tổng thống, người nắm trong tay bộ máy hành chính của chính phủ, mà nó cũng gửi một thông điệp rõ ràng đến khu vực tư nhân rằng các công đoàn không cần phải bị lo sợ nữa."
==== "Reaganomics" và nền kinh tế ====
Trong suốt năm cuối cùng của tổng thống Jimmy Carter (1980), lạm phát trung bình là 12,5%, so với 4,4% suốt năm cuối cùng tại chức của tổng thống Reagan (1988). Trong thời chính phủ Reagan, tỉ lệ thất nghiệp giảm từ 7,5% xuống 5,4%, với tỉ lệ lên đến mức cao là 10,8% năm 1982 và 10,4% năm 1983, trung bình 7,5% trong vòng tám năm ông tại chức.
Reagan triển khai các chính sách dựa vào chủ nghĩa kinh tế học trọng cung và chủ trương tán thành triết lý laissez-faire (tự do kinh tế) và Chủ nghĩa tự do cổ điển, tìm cách kích thích nền kinh tế bằng việc cắt giảm thuế lớn và rộng khắp mọi giới. Ông cũng ủng hộ đưa Hoa Kỳ trở lại sử dụng một số tiêu chuẩn dựa trên bản vị vàng, và thành công hối thúc Quốc hội Hoa Kỳ thiết lập Ủy ban Bản vị vàng Hoa Kỳ để nghiên cứu cách thức nào để có thể thực hiện. Nhắc lại các lý thuyết kinh tế của Arthur Laffer, Reagan vận động cắt giảm thuế như đã đề nghị nhằm kích thích một cách tiềm năng vào nền kinh tế, đủ để mở rộng nền tảng thuế, cân bằng lại sự mất mát thu nhập thuế do tỉ lệ thuế giảm. Kinh tế kiểu Reagan (Reaganomics) là chủ đề tranh luận giữa những người ủng hộ và chỉ trích. Những người ủng hộ chỉ ra những cải thiện trong một số chỉ số kinh tế chủ lực để làm bằng chứng cho thấy sự thành công của Reaganomics trong khi đó những người chỉ trích tấn công vào sự gia tăng ngày càng lớn sự thâm thủng ngân sách liên bang và nợ quốc gia. Chính sách "hòa bình qua sức mạnh" của ông (cũng còn được mô tả là "chắc chắn và công bằng") dẫn đến sự gia tăng xây dựng quốc phòng thời bình trong đó con số chi tiêu thật sự cho quốc phòng tăng lên đến 40% giữa khoảng thời gian năm 1981 và năm 1985.
Trong thời gian làm tổng thống của Reagan, tỉ lệ thuế thu nhập liên bang được hạ thấp đáng kể khi Đạo luật Phục hồi Kinh tế 1981 được thông qua với sự ủng hộ của cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa. Đạo luật này hạ thấp nhóm tỉ lệ thuế đỉnh điểm từ 70% xuống 50% (nhóm có thu nhập cao nhất) và nhóm tỉ lệ thuế thấp nhất (nhóm có thu nhập thấp nhất) từ 14% đến 11%. Tuy nhiên các thứ thuế khác lại bị gia tăng, do Quốc hội Hoa Kỳ thông qua và được ký bởi Reagan, nhằm bảo đảm nguồn thu nhập thuế trong khoảng thời gian hai nhiệm kỳ của ông là 18,2% GDP so với 18,1% trong khoảng thời gian dài 40 năm giữa 1970-2010. Sau đó vào năm 1982, Đạo luật Liên hợp Đào tạo Việc làm 1982 được ký thành luật, khởi sự một trong số các nhóm liên hợp giữa tư nhân và công chính đầu tiên của quốc gia và là một phần chủ yếu của chương trình tạo việc làm của tổng thống. Trợ tá Bộ trưởng Lao động và Chánh văn phòng, Al Angrisani, là kiến trúc sư chính của đạo luật này. Đạo luật Cải cách Thuế 1986, một cố gắng khác của lưỡng đảng và được Reagan cổ vũ, tiếp tục giảm nhóm tỉ lệ thuế điểm đỉnh xuống đến 28% nhưng lại tăng nhóm tỉ lệ thuế đáy từ 11% lên 15% và cùng lúc đó cắt con số nhóm tỉ lệ thuế xuống còn 4 nhóm.
Ngược lại, Quốc hội thông qua và Reagan ký thành luật để tăng một số loại thuế mỗi năm từ 1981 đến 1987 để tài trợ các chương trình của chính phủ, thí dụ như Đạo luật Trách nhiệm Tài chính và Thu hồi Thuế (Tax Equity and Fiscal Responsibility Act of 1982, gọi tắt là TEFRA), an sinh xã hội, và Đạo luật Giảm Thâm hụt 1984 (Deficit Reduction Act of 1984, gọi tắt là DEFRA). Mặc dù thực tế TEFRA là "sự tăng thuế thời bình lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ" nhưng người ta lại biết đến Reagan nhiều hơn vì các vụ giảm thuế cũng như triết lý thuế thấp của ông. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) hồi phục mạnh sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế đầu thập niên 1980 kết thúc năm 1982, và phát triển trong suốt tám năm tổng thống của ông với tỉ lệ tăng trưởng hàng năm là 3,85%. Nạn thất nghiệp lên điểm đỉnh 10.8% vào tháng 12 năm 1982 — cao hơn bất cứ thời gian nào kể từ thời đại khủng hoảng — sau đó hạ xuống trong suốt phần còn lại trong thời làm tổng thống của ông. Mười sáu triệu việc làm mới được tạo ra trong khi đó lạm phát giảm đáng kể. Hiệu quả thực giá của tất cả các đạo luật thuế thời tổng thống Reagan là nguồn thu nhập của chính phủ bị giảm 1% khi so sánh với các ước tính về thu nhập của Bộ Ngân khố Hoa Kỳ dự toán lúc ban đầu. Tuy nhiên, tiền thu được từ thuế thu nhập liên bang đã gia tăng từ 1980 đến 1989, tăng từ $308,7 tỉ lên đến $549 tỉ.
Trong suốt thời tổng thống Reagan, tiền thu của liên bang gia tăng với tỉ lệ trung bình 8,2% (2,5% là do tiền thu cao hơn từ thuế An sinh Xã hội), và chi tiêu liên bang gia tăng với tỉ lệ hàng năm là 7,1%. Reagan cũng sửa đổi luật thuế bằng Đạo luật Cải cách Thuế 1986 với sự ủng hộ của lưởng đảng.
Các chính sách của Reagan nêu lên rằng sự phát triển kinh tế sẽ xảy ra khi tỉ lệ thuế cận biên đủ thấp để thúc đẩy sự đầu tư, sau đó sẽ kéo theo sự phát triển kinh tế gia tăng, việc làm và tiền lương tăng cao hơn. Những người chỉ trích thì gán cho nó là "nền kinh tế trickle-down" — đây là một niềm tin rằng các chính sách thuế mang lợi ích đến giới nhà giàu thì sau đó sẽ tạo ra một hiệu quả "trickle-down" (lan truyền dần xuống) đến người nghèo. Những câu hỏi được đặt ra là có phải các chính sách của Reagan đã mang lợi ích đến cho giới nhà giàu hơn là những ai sống trong nghèo khổ. Nhiều người thiểu số và người nghèo xem Reagan không quan tâm đến những khó khăn của họ. Những quan điểm như thế xuất hiện thêm bởi sự thật rằng chính sách kinh tế của Reagan gồm có việc đóng băng lương tối thiểu ở mức $3,35 một giờ, cắt giảm trợ giúp liên bang dành cho chính quyền địa phương 60%, cắt giảm phân nửa ngân sách dành cho nhà ở công cộng và trợ giá thuê nhà, và loại bỏ chương trình cấp quỹ phát triển cộng đồng chống nghèo đói. Khoảng cách mở rộng giữa giàu và nghèo đã bắt đầu trong thập niên 1970 trước khi các chính sách kinh tế của Reagan có hiệu lực. Cùng lúc cắt giảm thuế năm 1981 đối với tỉ lệ thuế đỉnh điểm thông thường đánh vào thu nhập từ cho thuê mướn, Reagan cũng giảm tỉ lệ thuế tối đa đánh vào lợi nhuận tài chính (từ chứng khoán, tiền tiết kiệm) xuống còn 20%. Reagan sau đó định lại tỉ lệ thuế đánh vào lợi nhuận tài chính (từ chứng khoán, tiền tiết kiệm) bằng với tỉ lệ thu nhập thông thường là tiền lương. Tỉ lệ cao nhất cho cả hai thứ thuế này là 28%. Reagan được xem là một anh hùng chống thuế mặc dù tăng thuế 11 lần trong suốt thời gian làm tổng thống, tất cả với danh nghĩa là trách nhiệm năm tài chính. Theo Paul Krugman, "Chung qui lại, việc tăng thuế năm 1982 đã vô hiệu khoảng một phần ba việc giảm thuế năm 1981; nếu so sánh theo tổng sản lượng nội địa, việc tăng thuế này cao hơn việc tăng thuế của tổng thống Clinton năm 1993 một cách đáng kể." Theo sử gia kiêm cố vấn chính sách đối nội Bruce Bartlett, các lần tăng thuế của Reagan trong suốt thời gian làm tổng thống đã lấy lại phân nửa giá trị của lần giảm thuế năm 1981.
Xa hơn nữa khi theo đuổi các quan điểm ít can thiệp của chính phủ, Reagan cắt giảm các ngân sách phi quân sự trong đó có chương trình trợ giúp y tế, chương trình phiếu mua thực phẩm, các chương trình giáo dục liên bang và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ. Trong khi ông bảo vệ các chương trình như An sinh Xã hội và chăm sóc sức khỏe, thì chính phủ của ông lại tìm cách loại bỏ nhiều người tàn tật ra khỏi danh sách hưởng chế độ tàn tật thuộc quỹ An sinh Xã hội.
Lập trường của chính phủ đối với nền công nghiệp tiết kiệm và cho vay đã góp phần tạo ra cuộc khủng hoảng tiết kiệm và cho vay. Theo một nhóm thiểu số những người chỉ trích thuyết Reaganomics thì các chính sách này một phần có ảnh hưởng đến vụ sụp đổ thị trường chứng khoán năm 1987, nhưng không có sự đồng thuận nào nói rằng đây là cuội nguồn duy nhất gây ra vụ sụp đổ thị trường chứng khoán. Để lấp những khoản thâm hụt ngân sách liên bang vừa mới lan tràn, Hoa Kỳ vay mượn rất nhiều cả trong và ngoài nước, làm tăng nợ quốc gia từ $997 tỉ lên đến $2,85 ngàn tỷ đô la. Reagan mô tả mức nợ mới này là "nổi thất vọng lớn lao nhất" trong thời làm tổng thống của ông.
Ông tái bổ nhiệm Paul Volcker làm chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang, và năm 1987 ông bổ nhiệm nhà tiền tệ học Alan Greenspan kế nhiệm Paul Volcker. Reagan kết thúc sự kiểm soát tiền tệ trên dầu lửa trong nước mà từng góp phần gây ra các cuộc khủng hoảng năng lượng trong đầu thập niên 1970. Giá dầu lửa từ từ giảm xuống và vào thập niên 1980 không còn thiếu nhiên liệu nữa như trong thập niên 1970. Reagan cũng thực hiện lời hứa vận động tranh cử vào năm 1980 là bãi bỏ thuế lợi nhuận đột xuất (windfall profit tax) năm 1988 mà trước đây từng làm tăng sự lệ thuộc vào dầu lửa ngoại quốc. Một số nhà kinh tế, như người đoạt giải Nobel Milton Friedman và Robert A. Mundell, cho rằng các chính sách thuế của Reagan đã làm tiếp thêm sinh lực cho nền kinh tế Mỹ và góp phần mang đến một cuộc bùng nổ kinh tế vào thập niên 1990. Các nhà kinh tế khác, như người thắng giải Nobel Robert Solow, cho rằng những thâm thụt ngân sách là lý do chính yếu tại sao người kế nhiệm Reagan là George H. W. Bush đã không giữ được lời hứa lúc vận động tranh cử tổng thống và kết cuộc lại phải tăng các thứ thuế.
Trong suốt thời Reagan làm tổng thống, một chương trình đã được khởi sự bên trong cộng đồng tình báo Hoa Kỳ để bảo đảm sức mạnh kinh tế của Hoa Kỳ. Chương trình với tên gọi "Dự án Socrates" phát triển và chứng thực các phương tiện cần thiết để Hoa Kỳ tạo ra và dẫn đầu bước nhảy tiến hóa tiếp theo trong việc tiếp thu và sử dụng kỹ thuật để có một lợi thế cạnh tranh - đó là các sáng kiến phát minh tự động hóa. Để bảo đảm rằng Hoa Kỳ đạt được lợi ích tối đa từ sáng kiến phát minh tự động hóa, trong nhiệm kỳ hai, Reagan thảo ra một lệnh hành pháp nhằm lập ra cơ quan liên bang mới để thực hiện các kết quả từ Dự án Socrates trên cơ bản toàn quốc. Tuy nhiên, nhiệm kỳ hai của Reagan kết thúc trước khi lệnh hành pháp có thể được điều phối và ký thông qua. Chính phủ mới của tổng thống Bush chỉ coi Dự án Socrates như một "chính sách công nghiệp" và kết thúc dự án này.
==== Liban và Chiến dịch Urgent Fury (Grenada) năm 1983 ====
Lực lượng gìn giữ hòa bình của Mỹ tại Beirut, một thành phần trong lực lượng đa quốc gia trong thời gian Nội chiến Liban, trước đó được Reagan triển khai, bị tấn công ngày 23 tháng 10 năm 1983. Vụ đánh bom doanh trại quân Mỹ bởi một kẻ đánh bom tự sát bằng xe tải tại Beirut đã làm cho 241 binh sĩ Mỹ thiệt mạng và làm bị thương hơn 60 người khác. Reagan phái một toán nhân sự Tòa Bạch Ốc, dẫn đầu bởi phó tổng thống của ông là George H.W. Bush, đến nơi đánh bom bốn ngày sau đó. Reagan gọi vụ tấn công này là "hèn hạ", cam đoan giữ lực lượng quân sự ở lại Liban, và hoạch định mục tiêu nhắm vào bản doanh Sheik Abdullah tại Baalbek, Liban, một cơ sở huấn lệnh cho các chiến binh Hezbollah, nhưng sứ mệnh này sau đó bị rút lại. Ngày 7 tháng 2 năm 1984, Tổng thống Reagan ra lệnh cho thủy quân lục chiến bắt đầu rút quân khỏi Liban. Tháng tư năm 1984, trong bài diễn văn chủ đạo đọc trước 20.000 người tham dự đại hội "Baptist Fundamentalism '84" của mục sư Jerry Falwell tại Washington, D.C., ông đọc bản tường trình đầu tiên về vụ đánh bom do người tuyên giáo hải quân Arnold Resnicoff viết. Resnicoff là người được yêu cầu viết bản tường trình cho phó tổng thống và nhiệm vụ tìm hiểu sự thật vụ đánh bom. Osama bin Laden sau này dẫn giải sự rút quân của Reagan như dấu hiệu suy yếu của người Mỹ.
Ngày 25 tháng 10 năm 1983, chỉ hai ngày sau, Reagan ra lệnh lực lượng Hoa Kỳ xâm chiếm Grenada với mật danh là Chiến dịch Urgent Fury. Nơi đây đã xảy ra một vụ đảo chính năm 1979 và dựng lên một chính phủ không liên kết theo Chủ nghĩa Marx-Lenin. Sự can thiệp của lực lượng Hoa Kỳ là kết quả của một lời kêu gọi chính thức từ Tổ chức các quốc gia Đông Caribbe (OECS); Tổng thống Reagan cũng viện lẽ về một sự đe dọa trong vùng vì Liên Xô và Cuba tăng cường xây dựng quân sự tại vùng Caribbe và mối quan tâm về sự an toàn của hàng trăm sinh viên y khoa Mỹ tại Đại học St. George's như lý do để thực hiện vụ xâm chiếm. Chiến dịch Urgent Fury là một chiến dịch quân sự lớn đầu tiên của các lực lượng Hoa Kỳ kể từ Chiến tranh Việt Nam. Sau mấy ngày giao tranh, lực lượng Hoa Kỳ giành được chiến thắng với tổn thất 19 binh sĩ Mỹ thiệt mạng và 116 binh sĩ khác bị thương. Giữa tháng 12, sau khi một chính phủ mới được toàn quyền bổ nhiệm, lực lượng Hoa Kỳ rút quân khỏi Grenada.
==== Leo thang chiến tranh lạnh ====
Reagan leo thang chiến tranh lạnh, tăng tốc đảo ngược chính sách "détente" (giảm thiểu căng thẳng để chung sống hòa bình) bắt đầu từ năm 1979 theo sau sự kiện Chiến tranh Xô Viết tại Afghanistan. Reagan ra lệnh tăng cường khổng lồ việc xây dựng các lực lượng quân sự Hoa Kỳ và thực hiện các chính sách mới đối đầu với Liên Xô: tái lập chương trình oanh tạc cơ B-1 Lancer mà đã bị chính phủ Carter hủy bỏ, và sản xuất tên lửa MX. Để đáp trả việc Liên Xô triển khai tên lửa SS-20, Reagan giám sát việc triển khai tên lửa Pershing của NATO tại Tây Đức.
Cùng với thủ tướng Vương quốc Anh Margaret Thatcher, Reagan lên án Liên Xô bằng những thuật ngữ tư tưởng. Trong một bài diễn văn nổi tiếng ngày 8 tháng 6 năm 1982 trước Nghị viện Vương quốc Anh trong phòng triển lãm hoàng gia tại Cung điện Westminster, Reagan nói, "bước chân tiến tới của tự do và dân chủ sẽ bỏ Chủ nghĩa Marx-Lenin trên đóng tro tàn của lịch sử". Ngày 3 tháng 3 năm 1983, ông tiên đoán chủ nghĩa cộng sản sẽ sụp đổ và nói rằng, "Chủ nghĩa cộng sản là một chương khác dị thường và đáng buồn trong lịch sử nhân loại mà những trang cuối của nó thậm chí hiện nay vẫn còn đang được viết." Trong một bài diễn văn trước Hội Evangelical Quốc gia ngày 8 tháng 3 năm 1983, Reagan gọi Liên Xô là "một đế quốc ma quỷ".
Sau khi Liên Xô bắn rơi chuyến bay 007 của Korean Air Lines gần đảo Moneron ngày 1 tháng 9 năm 1983, có chở 269 người trong đó có nghị sĩ tiểu bang Georgia là Larry McDonald, Reagan cho hành động này là một vụ "thảm sát" và tuyên bố rằng người Liên Xô đã quay lại "chống thế giới và những giáo huấn đạo lý mà hướng dẫn các mối quan hệ giữa con người với con người ở mọi nơi". Chính phủ Reagan đáp trả sự kiện này bằng việc ngưng dịch vụ hàng không thương mại của Liên Xô đến Hoa Kỳ, và hủy bỏ một số thỏa ước đang được thảo luận với Liên Xô, gây thiệt hại tài chính cho họ. Với hậu quả của vụ bắn rơi máy bay và nguyên nhân chuyến bay 007 bay trật khỏi đường bay có liên quan đến hệ thống hoa tiêu của nó, Reagan thông báo vào ngày 16 tháng 9 năm 1983 rằng Hệ thống Định vị Toàn cầu được cho phép sử dụng trong dân sự và được miễn phí để tránh xảy ra lỗi kỹ thuật về hoa tiêu trong tương lai.
Dưới một chính sách được biết đến như học thuyết Reagan, Reagan và chính phủ của ông cũng cung cấp trợ giúp công khai và cả bí mật cho các phong trào du kích chống cộng trong một cố gắng nhằm thay thế các chính phủ cộng sản do Liên Xô hậu thuẫn tại châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latin. Reagan triển khai phân bộ hoạt động đặc biệt của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ đến Afghanistan và Pakistan. Phân bộ này là có nhiệm vụ huấn luyện, trang bị và lãnh đạo các lực lượng chiến binh hồi giáo Mujaheddin chống quân đội Liên Xô. Chương trình hành động bí mật của Tổng thống Reagan có công trong việc giúp kết thúc sự chiếm đóng của Liên Xô tại Afghanistan, mặc dù số lượng vũ khi mà Hoa Kỳ cung cấp lúc đò lại trở thành mối đe dọa sau này cho các lực lượng của Hoa Kỳ trong chiến tranh Afghanistan vào thập niên 2000. Tuy nhiên, trong một hành động cắt ngang chính sách cung cấp vũ khí cho Đài Loan của chính phủ Carter theo Đạo luật Quan hệ Đài Loan, Reagan cũng đồng ý giảm bán vũ khí cho Đài Loan với chính phủ cộng sản tại Trung Quốc.
Tháng 3 năm 1983, Reagan giới thiệu Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược (viết tắt theo tiếng Anh là SDI ), một dự án quốc phòng mà sẽ sử dụng các hệ thống có căn cứ trên không gian và mặt đất để bảo vệ Hoa Kỳ khỏi các cuộc tấn công bằng tên lửa hạt nhân liên lục địa chiến lược. Reagan tin rằng lá chắn quốc phòng này có thể khiến cho chiến tranh hạt nhân không thể xảy ra, nhưng không tin tưởng rằng kỹ thuật như thế có thể hoạt động. Việc này khiến những người chống đối chương trình gán cho Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược cái tên là "Chiến tranh giữa các vì sao" và cho rằng mục tiêu kỹ thuật là không thể nắm bắt được. Liên Xô trở nên lo lắng về hiệu quả có thể có mà SDI sẽ mang lại lợi thế cho Hoa Kỳ; nhà lãnh đạo Yuri Andropov nói rằng nó sẽ đặt "toàn thế giới trong nguy cơ chạy đua vũ trang". Vì những lý do đó, David Gergen, một cựu phụ tá của Tổng thống Reagan, sau khi gợi lại ký ức, tin rằng Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược đã giúp kết thúc chiến tranh lạnh một cách vội vã.
Những người chỉ trích gán cho các chính sách ngoại giao của Reagan là hung hăng, mang tính đế quốc, và trách móc chúng là "hiếu chiến" tuy chúng được ủng hộ bởi những người đứng đầu chủ nghĩa bảo thủ Mỹ. Những người này cho rằng các chính sách như thế là cần thiết để bảo vệ lợi ích an ninh của Hoa Kỳ.
==== Vận động tranh cử tổng thống năm 1984 ====
Reagan nhận đề cử của đảng Cộng hòa tại Dallas, Texas. Ông tuyên bố rằng "bình minh lại đến nước Mỹ", hàm ý nói đến nền kinh tế đang phục hồi và sự biểu diễn vượt trội của các vận động viên Hoa Kỳ tại Thế vận hội Mùa hè 1984, trong số nhiều sự việc khác. Ông trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên khai mạc một thế vận hội được tổ chức tại Hoa Kỳ.
Đối thủ của Reagan trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1984 là cựu phó tổng thống Walter Mondale. Với những câu hỏi về tuổi tác của ông và sự diễn đạt yếu kém trong lần tranh luận tổng thống đầu tiên của ông, người ta bắt đầu nghi ngờ đến khả năng thực hiện những nhiệm vụ tổng thống của ông thêm một nhiệm kỳ nữa. Hành vi và cách xử trí dễ quên và lầm lẫn thấy rõ của ông là bằng chứng khiến những người ủng hộ ông quan tâm vì họ đã từng biết đến ông là một người thông minh và dí dỏm. Những tin đồn bắt đầu lan rộng rằng ông bị bệnh mất trí nhớ. Reagan lật ngược thế cờ trong cuộc tranh luận tổng thống lần thứ hai, và đối chất với những câu hỏi về tuổi tác của ông. Ông nói nước đôi rằng "Tôi sẽ không coi tuổi tác là một vấn đề trong cuộc vận động tranh cử này. Tôi sẽ không khai thác sự thiếu kinh nghiệm và tuổi trẻ của đối thủ mình vì mục đích chính trị". Lời nói của ông tạo nên tiếng cười rộ và tiếng vỗ tay, ngay cả từ chính đối thủ của ông là Mondale.
Tháng 11, Reagan tái đắc cử tổng thống, thắng 49 trong số 50 tiểu bang. Ở tuổi 73 khi thắng cử, ông là người cao tuổi nhất được bầu làm tổng thống. Chiến thắng áp đảo của ông khiến cho Mondale chỉ thắng được tiểu bang nhà của mình là Minnesota (bằng sai khác 3800 phiếu phổ thông) và Đặc khu Columbia. Reagan thắng kỷ lục 525 phiếu đại cử tri, con số cao nhất đối với bất cứ ứng viên nào trong lịch sử Hoa Kỳ, và nhận được 58,8% số phiếu phổ thông so với Mondale là 40,6%.
=== Nhiệm kỳ thứ hai 1985–1989 ===
Reagan tuyên thuệ nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ hai vào ngày 20 tháng 1 năm 1985 trong một buổi lễ riêng tại Tòa Bạch Ốc. Vì 20 tháng 1 rơi vào ngày chủ nhật nên buổi lễ công cộng không được tổ chức nhưng được tiến hành tại gian phòng tròn của Tòa Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày hôm sau. Ngày 21 tháng 1 là một ngày lạnh kỷ lục nhất tại Washington, D.C.; vì thời tiết xấu, buổi lễ nhậm chức được tổ chức bên trong tòa quốc hội. Trong những tuần kế tiếp, ông tái cơ cấu chút ít về nhân sự, chuyển chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc James Baker làm bộ trưởng ngân khố và bộ trưởng ngân khố Donald Regan, cựu viên chức của công ty Merrill Lynch, làm chánh văn phòng.
Năm 1985, Reagan thăm viếng nghĩa trang quân sự Đức tại Bitburg để đặt vòng hoa cùng với Thủ tướng Tây Đức là Helmut Kohl. Khi biết được nghĩa trang này có mộ phần của bốn mươi chín thành viên của Waffen-SS, Reagan đưa ra lời tuyên bố, gọi các binh sĩ Đức Quốc xã được chôn cất trong nghĩa trang này cũng chính là "nạn nhân". Lời tuyên bố này gây xôn xao rằng chẳng lẽ Reagan coi các thành viên SS ngang hàng với nạn nhân của Holocaust; Pat Buchanan, Giám đốc Thông tin của Reagan, cho rằng tổng thống không coi các thành viên SS ngang hàng với nạn nhân Holocaust thật sự. Lúc này khi bị hối thúc hủy bỏ cuộc viếng thăm một cách mạnh mẽ, Reagan đáp lại rằng thật là sai lầm phải rút lại lời hứa với Thủ tướng Kohl. Sau cùng ông dự buổi lễ mà tại đó hai vị tướng quân đội đặt một vòng hoa.
Vụ tai nạn phi thuyền con thoi Challenger ngày 28 tháng 1 năm 1986 khiến cho bảy phi hành gia bị thiệt mạng. Vào đêm tai nạn, Reagan đọc một bài diễn văn do Peggy Noonan viết trong đó ông nói rằng:
Tương lai không thuộc về những người yếu tim; nó thuộc về những người can đảm... Chúng ta sẽ không bao giờ quên họ, cũng không quên lần cuối cùng chúng ta thấy họ, vào buổi sáng hôm nay, khi họ chuẩn bị cho cuộc hành trình và vẫy tay chào tạm biệt và 'trượt sức hút gắt gỏng của địa cầu để chạm mặt Thượng đế.'
==== Chiến tranh chống ma túy ====
Vào nữa nhiệm kỳ hai, Reagan công bố nhiều chính sách quân sự hơn trong cuộc chiến chống ma túy. Ông nói rằng "ma túy đang gây bệnh hoạn cho xã hội chúng ta". Ông hứa tranh đấu cho nơi làm việc và trường học không có ma túy, mở rộng điều trị nghiện ma túy, nỗ lực nghiêm cấm ma túy, lực lượng thi hành luật pháp phải lớn mạnh hơn, và gia tăng sự nhận thức của công chúng tốt hơn.
Năm 1986, Reagan ký đạo luật thi hành chống ma túy với ngân sách $1,7 tỷ đô la để tài trợ cho cuộc chiến chống ma túy và ấn định hình phạt tối thiểu bắt buộc đối với những kẻ vi phạm luật chống ma túy. Đạo luật này bị chỉ trích vì nó làm gia tăng sự mất cân đối chủng tộc đáng kể trong số tù nhân trong nước và những người chỉ trích cũng tố cáo rằng các chính sách này chỉ có ít hiệu lực làm giảm số ma túy lưu hành trên đường phố trong khi đó mang đến gánh nặng tài chính cho nước Mỹ. Những người ủng hộ nỗ lực này nêu lên sự thành công trong việc làm giảm tỉ lệ sử dụng ma túy trong giới thanh thiếu niên. Đệ nhất phu nhân Nancy Reagan coi cuộc chiến chống ma túy là ưu tiên chính của bà bằng cuộc vận động nhận thức về ma túy "Just Say No" với mục đích ngăn chặn trẻ em và thiếu niên không sử dụng ma túy như thú giải trí qua nhiều cách nói "không" khác nhau. Nancy Reagan đã đến 65 thành phố trong 33 tiểu bang để vận động sự nhận thức về tác hại của ma túy bao gồm cả chất rượu cồn.
==== Không kích Libya ====
Quan hệ giữa Libya và Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Reagan tiếp tục xấu đi, bắt đầu với sự kiện vịnh Sidra năm 1981. Năm 1982, nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi bị CIA xem là đồng minh của nhà lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev và nhà lãnh đạo Cuba Fidel Castro, là phần tử của một nhóm được biết với tên gọi "unholy trinity" (ba ngôi bất thánh thiện) và cũng bị một viên chức CIA gán cho cái tên là "kẻ thù quốc tế công khai số một của chúng ta". Những căng thẳng này sau đó lại tái phát sinh vào đầu tháng 4 năm 1986 khi một quả bom phát nổ tại một quán nhảy disco trong thành phố Berlin, làm bị thương 63 quân nhân Mỹ và một binh sĩ khác thiệt mạng. Cho rằng có bằng chứng không thể chối cải là Libya chỉ thị "vụ đánh bom khủng bố", Reagan ra lệnh sử dụng lực lượng chống Libya. Vào cuối ngày 15 tháng 4 năm 1986, Hoa Kỳ mở màn một loại không kích vào các mục tiêu trên đất liền tại Libya. Thủ tướng Vương quốc Liên hiệp Anh Margaret Thatcher cho phép Không quân Hoa Kỳ sử dụng các căn cứ tại Anh để mở cuộc tấn công với viện lẽ rằng Vương quốc Liên hiệp Anh ủng hộ quyền tự vệ của Mỹ theo Điều khoản 51 trong Hiến chương Liên hiệp quốc. Cuộc tấn công được hoạch định để ngăn chặn "khả năng xuất khẩu khủng bố" của Gaddafi, cho ông ta "sáng kiến và lý do để thay đổi hành vi tội ác của mình". Tổng thống nói chuyện trước quốc dân từ Văn phòng Bầu dục sau khi vụ không kích được thông báo. Ông nói rằng "Khi công dân của chúng ta bị tấn công hay bị lạm dụng khắp nơi trên thế giới qua chỉ thị trực tiếp của các chế độ thù địch, chúng ta sẽ đáp trả khi mà tôi còn ở trong văn phòng này." Vụ tấn công bị nhiều quốc gia lên án. Với số phiếu 79 ủng hộ so với 28 phiếu chống và 33 phiếu trắng, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua Nghị quyết 41/38 lên án cuộc tấn công quân sự chống Libya ngày 15 tháng 4 năm 1986.
==== Di dân ====
Reagan ký Đạo luật Kiểm soát và Cải cách Di dân năm 1986. Đạo luật này bất hợp pháp hóa việc thuê mướn hoặc tuyển mộ các di dân mà giới chủ nhân biết rõ là di dân bất hợp pháp, bắt buộc các chủ nhân phải chứng minh tình trạng di trú của các công nhân. Đạo luật này cũng ân xá cho khoảng 3 triệu di dân bất hợp pháp vào Hoa Kỳ trước ngày 1 tháng 1 năm 1982 và đã sống liên tục tại nước Mỹ. Những người chỉ trích cho rằng việc cấm vận giới chủ nhân không có răng đe và thất bại trong việc ngăn chặn di dân bất hợp pháp. Ngay sau khi ký đạo luật trong một buổi lễ được tổ chức bên trong Tượng Nữ thần Tự do vừa mới được trùng tu, Reagan nói, "các điều khoản hợp pháp hóa trong đạo luật này sẽ đi xa hơn để cải thiện cuộc sống của một tầng lớp cá nhân mà hiện nay phải trốn trong bóng tối, không có được lối tiếp cận đến nhiều lợi ích của một xã hội cưởi mở và tự do. Chẳng mấy chốc, nhiều người đàn ông và đàn bà sẽ có thể bước ra ánh sáng mặt trời và, sau cùng, nếu họ chọn lựa, họ có thể trở thành người Mỹ." Reagan cũng nói "Chương trình cấm vận giới chủ nhân là thành phần chính và then chốt. Nó sẽ loại bỏ động cơ khích lệ di dân bất hợp pháp qua việc loại bỏ cơ hội tìm việc làm mà lôi kéo người ngoại quốc bất hợp pháp đến đây."
==== Vụ tai tiếng Iran–Contra ====
Năm 1986, một vụ tai tiếng làm rung động chính phủ Reagan. Vụ tai tiếng này bắt nguồn từ việc sử dụng tiền thu được trong vụ bán vũ khí bí mật cho Iran để tài trợ nhóm du kích Contras ở Nicaragua vốn từng bị đặt ra ngoài vòng pháp luật bởi một đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ. Vụ Iran–Contra trở thành vụ tai tiếng chính trị lớn nhất tại Hoa Kỳ trong thập niên 1980. Mặc dù Hoa Kỳ tranh chấp thẩm quyền phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế, tòa phán quyết rằng Hoa Kỳ đã vi phạm luật quốc tế và vi phạm các hiệp ước tại Nicaragua theo nhiều cách khác nhau.
Tổng thống Reagan nhận không biết sự tồn tại của âm mưu này. Ông bổ nhiệm hai đảng viên cộng hòa và một đảng viên Dân chủ (John Tower, Brent Scowcroft và Edmund Muskie, được biết đến là "Ủy ban Tower") để điều tra vụ tai tiếng. Ủy ban không thể tìm ra bằng chứng trực tiếp là Reagan đã biết trước về chương trình này nhưng chỉ trích ông nặng nề vì buông thỏng kiểm soát nhân viên của mình, khiến cho việc chuyển dịch công quỹ có thể dễ dàng thực hiện được. Một báo cáo riêng của Quốc hội Hoa Kỳ kết luận rằng "nếu tổng thống không biết các cố vấn an ninh quốc gia của mình đang làm gì thì tổng thống đáng ra đã biết." Mức độ ủng hộ của công chúng dành cho Reagan xuống thấp từ 67% đến 46% trong non một tuần. Đây là mức độ giảm xút nhanh nhất và lớn nhất chưa từng có đối với một vị tổng thống. Vụ tai tiếng này đưa đến kết quả là 14 viên chức của Reagan bị truy tố và 11 người bị kết án.
Nhiều người ở Trung Mỹ chỉ trích Reagan vì ủng hộ nhóm du kích Contras, gọi ông là một kẻ quá khích chống cộng, làm ngơ trước các vụ vi phạm nhân quyền trong khi đó những người khác nói rằng ông "đã cứu Trung Mỹ". Daniel Ortega, chủ tịch Nicaragua và Sandinista, nói rằng ông hy vọng Thượng đế sẽ tha thứ cho Reagan vì "cuộc chiến dơ bẩn chống Nicaragua" của Reagan.
==== Kết thúc chiến tranh lạnh ====
Vào đầu thập niên 1980, nhiều người tại Hoa Kỳ nhận định rằng khả năng quân sự của Liên Xô đang vượt bậc khả năng quân sự của Hoa Kỳ. Trước đó, Hoa Kỳ đã cậy vào sự siêu đẳng chất lượng vũ khí của mình để làm cho Liên Xô nể sợ nhưng khoảng cách dần thu hẹp. Tuy Liên Xô không gia tăng chi tiêu quốc phòng sau khi tổng thống Reagan tăng cường xây dựng quốc phòng, nhưng các chi tiêu quân sự lớn của họ, kết hợp với nền nông nghiệp tập thể hóa và kỹ nghệ sản xuất theo kế hoạch, là một gánh nặng khổng lồ đối với nền kinh tế Liên Xô. Cùng thời gian đó, Ả Rập Saudi gia tăng sản xuất dầu lửa, khiến cho dầu lửa rớt giá trong năm 1985 xuống còn một phần ba mức giá trước đó. Dầu lửa là nguồn thu nhập xuất cảng chính yếu của Liên Xô. Các yếu tố này dần dần đưa nền kinh tế Liên Xô đến tình trạng bi đát trong thời gian Gorbachev nắm quyền.
Reagan nhận ra sự thay đổi chiều hướng của giới lãnh đạo Liên Xô dưới thời Mikhail Gorbachev vì vậy ông đã chuyển dịch sang ngoại giao với quan điểm khuyến khích giới lãnh đạo Liên Xô theo đuổi các thỏa thuận về tài giảm vũ khí đáng kể. Sứ mệnh cá nhân của Reagan là có được "một thế giới không có vũ khí hạt nhân", thứ vũ khí mà ông coi là "hoàn toàn vô lý, hoàn toàn phi nhân, không gì tốt đẹp ngoài giết chóc, có thể hủy hoại sự sống trên Trái Đất và nền văn minh". Ông đã có thể bắt đầu các cuộc thương thảo về giải trừ hạt nhân với Tổng bí thư Gorbachev. Gorbachev và Reagan có bốn cuộc hội nghị thượng đỉnh giữa năm 1985 và 1988: hội nghị đầu tiên tại Genève, Thụy Sỉ, hội nghị thứ hai tại Reykjavík, Iceland, hội nghị thứ ba tại Washington, D.C., và hội nghị thứ tư tại Moskva. Reagan tin rằng nếu ông có thể thuyết phục được người Liên Xô cho phép dân chủ hơn và tự do ngôn luận hơn thì điều này sẽ dẫn đến sự cải cách và chấm dứt chủ nghĩa cộng sản.
Nói chuyện tại Bức tường Berlin ngày 12 tháng 6 năm 1987, Reagan thách thức Gorbachev đi xa hơn nữa qua lời nói:
Trước lúc Gorbachev viếng thăm Washington, D.C. cho cuộc hội nghị thượng đỉnh năm 1987, nhà lãnh đạo Liên Xô thông báo ý định của mình theo đuổi các hiệp định tài giảm vũ khí đáng kể. Thời điểm về việc thông báo khiến các nhà ngoại giao phương Tây đoan chắc rằng Gorbachev đang đưa ra những nhượng bộ lớn đối với Hoa Kỳ về các tầm mức lực lượng thông thường, vũ khí hạt nhân, và chính sách tại Đông Âu. Ông và Reagan ký Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân tầm trung (Intermediate-Range Nuclear Forces Treaty hay viếc tắc là INF Treaty) tại Tòa Bạch Ốc, loại bỏ hoàn toàn lớp vũ khi hạt nhân này. Hai nhà lãnh đạo đặt khuôn sườn cho Hiệp ước Tài giảm Quân bị Chiến lược hay gọi tắt là START I; Reagan nhất mực rằng tên của hiệp ước này nên đổi từ Đàm phán Hạn chế Quân bị Chiến lược thành Đàm phán Tài giảm Quân bị Chiến lược.
Khi Reagan viếng thăm Moskva cho hội nghị thượng đỉnh năm 1988, ông được người Liên Xô xem như một nhân vật nổi tiếng. Một nhà báo hỏi tổng thống rằng ông có còn xem Liên Xô là một đế quốc ma quỹ nữa không. Ông trả lời "Không", "Tôi đang nói chuyện về một thời điểm khác, một thời đại khác." Theo lời yêu cầu của Gorbachev, Reagan diễn thuyết về các nền kinh tế tự do tại Đại học Quốc gia Moskva. Trong cuốn sách tự truyện của mình có tựa đề An American Life (Một cuộc đời Mỹ), Reagan diễn tả sự lạc quan của mình về chiều hướng mới mà họ cùng vẽ ra và cảm giác nồng ấm của ông dành cho Gorbachev. Tháng 11 năm 1989, Bức tường Berlin bị phá sập, Chiến tranh lạnh chính thức được tuyên bố kết thúc tại hội nghị thượng đỉnh Malta ngày 3 tháng 12 năm 1989 và hai năm sau, Liên Xô sụp đổ.
=== Sức khỏe ===
Vào đầu thời gian làm tổng thống, Reagan bắt đầu đeo dụng cụ trợ thính với kỹ thuật tân tiến, lúc đầu là bên tai phải của ông và sau đó cả bên tai trái. Quyết định của ông công bố về việc ông đeo dụng cụ trợ thính vào năm 1983 đã giúp cho loại dụng cụ trợ thính này bán chạy.
Ngày 13 tháng 7 năm 1985, Reagan trải qua cuộc giải phẫu tại Bệnh viện Hải quân Bethesda để lấy bướu ung thư khỏi ruột kết của ông. Ông trao quyền tổng thống cho phó tổng thống trong khoảng thời gian 8 tiếng đồng hồ cho cuộc giải phẫu theo như tu chính hiến pháp 25 đã quy định. Cuộc giải phẫu chỉ kéo dài ba tiếng đồng hồ và thành công. Reagan nhận lại quyền lực tổng thống sau đó trong ngày. Tháng 8 năm đó, ông trải qua một cuộc giải phẫu để loại bỏ các tế bào ung thư da trên mũi của ông. Vào tháng mười, thêm các tế bào ung thư da được phát hiện trên mũi của ông và chúng bị loại bỏ.
Tháng 1 năm 1987, Reagan trải qua giải phẫu tuyến tiền liệt, gây thêm sự lo lắng về sức khỏe của ông. Tuy nhiên, không có phát hiện nào được tìm thấy về sự phát triển của ung thư và ông không phải bị gây mê cho cuộc giải phẫu. Tháng 7 năm đó, vào tuổi 76, ông trải qua một cuộc giải phẫu ung thư da lần thứ ba trên mũi ông.
=== Tư pháp ===
Trong suốt chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1980, Reagan tuyên bố rằng nếu có dịp, ông sẽ bổ nhiệm vị nữ thẩm phán tối cao pháp viện đầu tiên. Dịp đó đã đến trong năm đầu tại chức của ông khi ông đề cử Sandra Day O'Connor ngồi vào chiếc ghế trống do Thẩm pháp Potter Stewart nghĩ hưu để lại. Trong nhiệm kỳ hai, Reagan đề bạt William Rehnquist thay thế Warren Burger làm Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ, và đưa Antonin Scalia thay thế chiếc ghế trống William Rehnquist vừa rời bỏ. Reagan đề cử luật gia bảo thủ Robert Bork vào tòa thượng thẩm năm 1987. Thượng nghị sĩ Ted Kennedy, một đảng viên Dân chủ của tiểu bang Massachusetts, mạnh mẽ lên án Bork, và sự việc gây tranh cãi lớn xảy ra ngay sau đó. Bork bị Thượng viện Hoa Kỳ bác bỏ với số phiếu 58–42. Reagan sau đó đề cử Douglas Ginsburg, nhưng Ginsburg rút tên khỏi đề cử sau khi bị công kích vì sử dụng chất ma túy gai dầu (cannabis). Sau cùng Anthony Kennedy được Thượng viện xác nhận thay thế vị trí này. Cùng với việc bổ nhiệm ba thẩm phán tối cao pháp viện, Reagan bổ nhiệm 83 thẩm phán tòa thượng thẩm, và 290 thẩm phán tòa án khu vực.
Reagan cũng đề cử Vaughn R. Walker, người về sau này bị tiết lộ là thẩm phán liên bang đồng tính được biết đến trước nhất, vào tòa án khu vực đặc trách Khu vực Trung tâm California. Tuy nhiên, sự đề cử này bị trì hoãn tại Thượng viện, và Walker không được xác nhận cho đến khi được người kế nhiệm Reagan là George H. W. Bush tái đề cử.
Vào thời gian đầu tại chức, Reagan bổ nhiệm Clarence M. Pendleton, Jr. của San Diego, một người Mỹ gốc châu Phi đầu tiên, làm chủ tịch Ủy ban đặc trách Dân quyền Hoa Kỳ. Pendleton cố gắng lái ủy ban này theo hướng bảo thủ để phù hợp với những quan điểm của Reagan về chính sách dân quyền và xã hội trong suốt thời gian tại chức của ông từ năm 1981 cho đến khi ông đột ngột qua đời vào năm 1988. Pendleton chẳng bao lâu sau đó đã làm nhiều nhà hoạt động dân quyền và nữ quyền giận dữ khi ông chế nhạo lời đề nghị về quyền bình đẳng lương bổng như là "Looney Tunes" (loạt phim hoạt hình ngắn của Warner Bros).
== Những năm sau tổng thống 1989–2004 ==
Sau khi rời nhiệm sở năm 1989, gia đình Reagan mua thêm một căn nhà tại Bel Air, Los Angeles tuy trước đó đã có Nông trại Reagan tại Santa Barbara. Họ thường xuyên dự thánh lễ tại Nhà thờ Giáo hội Trưởng Nhiệm Bel Air và đôi khi xuất hiện trước công chúng thay mặt cho đảng Cộng hòa; Reagan đọc một bài diễn văn rất được hoan nghênh tại Đại hội Quốc gia Đảng Cộng hòa năm 1992. Trước đó vào ngày 4 tháng 11 năm 1991, Thư viện Tổng thống Ronald Reagan được khánh thành và mở cửa cho công chúng. Tại các buổi lễ khánh thành, có năm vị tổng thống và sáu đệ nhất phu nhân tham dự, đánh dấu đây là lần đầu tiên có đến năm vị tổng thống cùng tựu họp chung tại cùng một địa điểm. Reagan tiếp tục công khai bài tỏ sự ủng hộ đối với quyền phủ quyết từng phần của tổng thống (line-item veto); đạo luật Brady; tu chính hiến pháp bắt buộc chính phủ có ngân sách cân bằng; và việc bãi bỏ tu chính án 22 là tu chính án cấm bất cứ ai phục vụ hơn hai nhiệm kỳ tổng thống. Năm 1992 Reagan lập Giải thưởng Tự do Ronald Reagan cùng với Quỹ Tổng thống Ronald Reagan vừa mới lập ra. Bài diễn văn công cộng cuối cùng của ông là vào ngày 3 tháng 2 năm 1994 trong buổi lễ vinh danh ông tại Washington, D.C.. Ông xuất hiện lần cuối cùng trước công chúng là lúc tham dự lễ tang của cựu tổng thống Richard Nixon ngày 27 tháng 4 năm 1994.
=== Bệnh mất trí nhớ ===
==== Thông báo và phản ứng ====
Tháng 8 năm 1994, lúc 83 tuổi, Reagan được chẩn đoán bị bệnh mất trí nhớ, một loại bệnh rối loạn tâm thần không thể chữa trị. Bệnh này hủy hoại các tế bào não và sau cùng gây ra cái chết. Tháng 11, ông thông báo cùng quốc dân qua lá thư viết tay, một phần viết như sau:
Tôi vừa được bảo rằng tôi là một trong số hàng triệu người Mỹ sẽ bị hành hạ bởi căn bệnh mất trí nhớ... Trong khoảnh khắc tôi cảm thấy khá ổn. Tôi dự định sống phần còn lại của những năm tháng mà Thượng đế ban cho tôi trên Trái Đất này để làm những gì mà tôi luôn luôn đã và đang làm... Hiện nay tôi bắt đầu cuộc hành trình mà sẽ đưa tôi đến hoàng hôn của cuộc đời mình. Tôi biết rằng sẽ luôn luôn có một bình minh tươi đẹp phía trước đối với nước Mỹ. Cám ơn những người bạn. Cầu mong Thượng đế luôn ban phước cho các bạn.
Sau khi ông được chẩn đoán có bệnh mất trí nhớ, các lá thư ủng hộ từ những người cầu nguyện điều tốt lành đã đổ đến ngôi nhà của ông tại tiểu bang California, nhưng cũng có tin đồn lan truyền về việc Reagan đã có dấu hiệu và triệu chứng suy giảm về tâm thần từ bao lâu trước đó. Trong hồi ký của mình, cựu nữ thông tín viên đài CBS thường trực tại Tòa Bạch Ốc, Lesley Stahl nhớ lại cuộc gặp mặt cuối cùng của bà với tổng thống năm 1986: "Reagan dường như không biết tôi là ai.... Ôi, trời ơi, ông ta là một người vô hồn sắc, tôi đã nghĩ vậy. Tôi phải đi ra ngoài vườn hoa đêm nay và nói với nhân dân tôi rằng tổng thống Hoa Kỳ là một người vô hồn lặp cặp." Nhưng cuối cùng sau đó, ông tỉnh táo trở lại. Như bà mô tả là "Tôi đã gần như quyết định tường trình rằng Reagan già yếu." Tuy nhiên, bác sĩ Lawrence K. Altman, một y sĩ được điều động làm thông tín viên cho tờ The New York Times, ghi nhận rằng "khoảng cách giữa lảng trí và bắt đầu căn bệnh mất trí nhớ có thể khó mà biết được", và tất cả bốn bác sĩ của Reagan tại Tòa Bạch Ốc đều nói rằng họ đã không thấy bằng chứng nào về bệnh mất trí nhớ trong lúc ông làm tổng thống. Bác sĩ John E. Hutton, y sĩ chính của Reagan từ năm 1984 đến 1989, nói rằng tổng thống "tuyệt đối" không có "biểu lộ bất cứ dấu hiệu nào của chứng mất trí hay bệnh Alzheimer". Reagan có trải qua đôi lần lảng trí tuy nhiên chỉ là với những cái tên. Có lần trong lúc họp với Thủ tướng Nhật Bản Yasuhiro Nakasone, ông lặp lại nhiều lần khi gọi phó tổng thống Bush là "thủ tướng Bush." Tuy nhiên các bác sĩ của Reagan ghi nhận rằng ông chỉ bắt đầu biểu lộ triệu chứng ngầm của căn bệnh này vào cuối năm 1992 hay năm 1993, mấy năm sau khi rời nhiệm sở. Cựu chánh văn phòng của ông là James Baker xem ý tưởng cho rằng Reagan ngủ trong các buổi họp nội các là "lố bịch". Các viên chức trong văn phòng Tòa Bạch Ốc, các cựu trợ tá và bạn bè nói rằng họ không thấy dấu hiệu nào về bệnh mất trí nhớ trong khi ông làm tổng thống.
Vấn đề phức tạp là Reagan đã chụi đựng một cơn chấn thương đầu vào tháng 7 năm 1989, 5 năm trước khi được chẩn đoán. Sau khi bị ngã từ lưng ngựa tại Mexico, máu bầm trong vùng não được tìm thấy và được giải phẫu chữa trị ngay sau đó trong năm. Nancy Reagan quả quyết rằng vụ té từ lưng ngựa năm 1989 đã khiến cho ông sớm phát triển căn bệnh mất trí nhớ theo như lời các bác sĩ nói với ba, mặc dù sự tổn thương não cấp tính chưa từng được chứng minh là làm gia tăng sự mất trí nhớ và căn bệnh mất trí nhớ. Bác sĩ một thời gian ngắn của Reagan, Daniel Ruge nói rằng điều này có thể xảy ra nhưng không chắc chắn rằng vụ tai nạn té ngựa đã ảnh hưởng đến tiến trình trí nhớ của Reagan. 3
==== Tiến triển của căn bệnh ====
Khi năm tháng trôi qua, căn bệnh từ từ hủy hoại khả năng trí nhớ của Reagan. Ông chỉ có thể nhận ra một ít người trong đó có vợ của ông là bà Nancy. Tuy nhiên ông vẫn hoạt động: đi bộ qua các công viên gần nhà và trên bãi biển, chơi đánh golf đều đặn, và cho đến năm 1999 ông thường đến văn phòng của mình gần Century City.
Reagan bị té tại ngôi nhà của ông ở Bel Air ngày 13 tháng 1 năm 2001, khiến làm gãy xương mông. Ông được chỉnh xương ngày hôm sau và được trở về nhà một tuần sau đó tuy ông phải qua các buổi vật lý trị liệu khó khăn tại nhà. Ngày 6 tháng 2 năm 2001, Reagan bước sang tuổi 90, trở thành cựu tổng thống thứ ba sống thọ đến tuổi này (hai người kia là John Adams và Herbert Hoover và sau này Gerald Ford cũng sống đến 90 tuổi). Những lần xuất hiện trước công chúng của Reagan bắt đầu thưa dần khi bệnh tình tiến triển thêm. Cuối cùng gia đình quyết định đưa ông đến một nơi yên tĩnh hơn để sống cùng vợ của ông là bà Nancy. Nancy Reagan nói với Larry King của đài truyền hình cáp CNN vào năm 2001 rằng rất ít người được phép viếng thăm ông bởi vì bà cảm thấy rằng "Ronnie chắc hẳn muốn người ta nhớ đến ông là một người như trước kia." Sau khi chồng của bà được chẩn đoán mắc bệnh mất trí nhớ và qua đời, bà Reagan trở thành một người vận động cho việc nghiên cứu tế bào gốc, hối thúc Quốc hội Hoa Kỳ và tổng thống George W. Bush ủng hộ tài chính liên bang cho việc nghiên cứu tế bào gốc, một điều mà tổng thống Bush chống đối. Năm 2009, bà khen gợi tổng thống Barack Obama vì vỡ bỏ các hạn chế đối với sự nghiên cứu như vậy. Bà Reagan nói rằng bà tin rằng việc nghiên cứu này có thể đưa đến việc chữa lành bệnh mất trí nhớ.
== Qua đời ==
Reagan qua đời vì viêm phổi (do bệnh mất trí nhớ gây ra) tại nhà của ông ở Bel Air, California vào trưa ngày 5 tháng 6 năm 2004. Ngay sau khi ông qua đời, Nancy Reagan đưa ra thông báo nói rằng "Gia đình tôi và tôi muốn thế giới biết rằng Tổng thống Ronald Reagan đã chết sau 10 năm mang bệnh mất trí nhớ ở tuổi 93. Chúng tôi cám ơn sự cầu nguyện của mọi người." Tổng thống George W. Bush tuyên bố ngày 11 tháng 6 là một ngày quốc tang. Nhiều lời chia buồn khắp thế giới được gởi đến. Thi thể của Reagan được đưa đến nhà tang lễ Kingsley và Gates ở Santa Monica, California vào cuối ngày hôm đó. Tại đây công chúng đến đặt vòng hoa và cờ Mỹ trên cỏ để tỏ lòng tôn kính. Ngày 7 tháng 7, thi thể của ông được đưa đến Thư viện Tổng thống Ronald Reagan là nơi gia đình tổ chức một buổi lễ tang ngắn do Mục sư Michael Wenning làm chủ lễ. Thi thể ông được đặt yên nghĩ trong thư viện cho đến ngày 9 tháng 6. Trên 100.000 người đến viếng thăm linh cữu.
Ngày 9 tháng 6, thi thể Reagan được đưa bằng máy bay đến Washington, D.C. và được đặt trang trọng theo nghi lễ quốc tang. 104.684 người đi qua viếng linh cữu của ông.
Ngày 11 tháng 6, lễ tang quốc gia được tiến hành tại Nhà thờ chính tòa Quốc gia Washington, và do Tổng thống George W. Bush làm chủ tọa. Cựu thủ tướng Vương quốc Liên hiệp Anh Margaret Thatcher, cựu thủ tướng Canada Brian Mulroney, và cả hai tổng thống Bush đọc diễn văn ca ngợi Reagan. Dự tang lễ còn có Mikhail Gorbachev và nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới trong đó có thủ tướng Vương quốc Liên hiệp Anh Tony Blair, thủ tướng Đức Gerhard Schröder, thủ tướng Ý Silvio Berlusconi, và các tổng thống lâm thời Hamid Karzai của Afghanistan, và Ghazi al-Yawer của Iraq.
Sau lễ tang, thi thể Reagan được chở bằng máy bay trở về Thư viện Tổng thống Ronald Reagan ở California. Tại đây một buổi lễ khác được tổ chức và tổng thống Reagan được chôn cất. Vào lúc qua đời, Reagan là vị tổng thống Hoa Kỳ sống thọ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông sống đến 93 năm và 120 ngày (2 năm, 8 tháng, và 23 ngày lâu hơn John Adams). Ông hiện là tổng thống sống thọ thứ hai, chỉ thua Gerald Ford 45 ngày. Ông là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên chết trong thế kỷ 21, và lễ tang của ông là lễ tang quốc gia đầu tiên tại Hoa Kỳ kể từ khi lễ tang của tổng thống Lyndon B. Johnson năm 1973.
Nơi chôn cất của ông có khắc hàng chữ mà ông đã đọc khi khai mạc Thư viện Tổng thống Ronald Reagan: "Trong tận trái tim, tôi biết rằng con người là tốt, rằng những gì đúng dần dần sẽ luôn chiến thắng và rằng có mục tiêu và giá trị với nhau và mọi cuộc đời."
== Di sản ==
Từ khi Reagan rời nhiệm sở năm 1989, một cuộc tranh luận lớn xảy ra giữa những học giả, sử gia và công chúng quanh di sản của ông. Phe ủng hộ nêu ra nền kinh tế thịnh vượng và có hiệu quả hơn như là kết quả của chính sách kinh tế Reagan, những thành công về chính sách ngoại giao trong đó có sự kết thúc chiến tranh lạnh một cách hòa bình sau tám năm tại chức của Reagan, và việc tái lập tinh thần và niềm tự hào của người Mỹ. Phe chỉ trích cho rằng các chính sách kinh tế của Reagan đã làm gia tăng sự thâm thủng ngân sách khổng lồ, khoảng cách rộng giữa giàu và nghèo, và số người vô gia cư. Họ cũng cho rằng vụ tai tiếng Iran-Contra đã làm giảm uy tín của người Mỹ. Mặc dù cuộc tranh luận vẫn tiếp diễn nhưng theo các cuộc thăm dò ý kiến công chúng, Reagan được xếp trong số các vị tổng thống được lòng công chúng nhất trong số tất cả các tổng thống Hoa Kỳ hiện đại.
Các ý kiến và nhận định về di sản của Reagan trong số các nhà hoạch định chính sách hàng đầu và các nhà báo trong nước cũng khác nhau. Edwin Feulner, chủ tịch Quỹ The Heritage, nói rằng Reagan "đã giúp tạo một thế giới tự do hơn và an toàn hơn" và nói về các chính sách kinh tế của Reagan như sau: "Ông đảm nhận một nước Mỹ đang quằn quại 'bệnh hoạn'... và đã làm cho công dân của nó tin tưởng trở lại về vận mệnh của mình." Tuy nhiên, Mark Weisbrot, đồng giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Kinh tế, cho rằng "các chính sách kinh tế của Reagan phần lớn là một thất bại" trong khi đó Howard Kurtz của tờ The Washington Post cho ý kiến rằng Reagan là "một khuôn mặt đương thời đầy tranh cãi vượt xa hơn là các tầm mức ảnh hưởng nổi phồng trên truyền hình đã nói đến."
Mặt dù cuộc tranh cãi tiếp diễn quanh di sản của ông, nhiều học giả bảo thủ và tự do đồng ý rằng Reagan là một vị tổng thống có ảnh hưởng nhất kể từ sau Franklin D. Roosevelt. Ông đã để lại dấu ấn của mình trên nền chính trị, ngoại giao, văn hóa và kinh tế Mỹ. Từ khi ông rời nhiệm sở, các sử gia đã đạt được sự đồng thuận, như đã được tóm tắt bởi sử gia Anh, M. J. Heale. Sử gia này thấy rằng các học giả hiện nay cùng tán thành rằng Reagan đã khôi phục lại chủ nghĩa bảo thủ, xoay quốc gia sang phía hữu, thực hiện chủ nghĩa bảo thủ tương đối giáo điều mà cân bằng giữa lý tưởng và kiềm chế chính trị, làm sống lại niềm tin vào tổng thống và sự tự trọng của người Mỹ, và góp phần chiến thắng chiến tranh lạnh.
=== Chiến tranh lạnh ===
Chiến tranh lạnh là một sự gắng sức lớn về kinh tế và chính trị trên bốn thập niên nhưng sự đối đầu giữa hai siêu cường đột ngột giảm cường độ vào cuối thời tổng thống Reagan. Các ý kiến về vai trò quan trọng của Reagan trong việc kết thúc chiến tranh lạnh đã và đang tạo nên một cuộc tranh luận gay gắt và dễ gây tranh cãi. Ý kiến rằng Reagan có một số vai trò góp phần làm sụp đổ Liên Xô được mọi người đồng ý với nhau nhưng mức độ rộng lớn của vai trò này thì vẫn còn tiếp tục bị tranh cãi. Nhiều người tin rằng các chính sách quốc phòng của Reagan, lời lẽ hùng hồn cứng rắn đối với Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản, cũng như các hội nghị thượng đỉnh với Tổng bí thư Gorbachev đã đóng một phần vai trò nổi bật trong việc kết thúc chiến tranh lạnh.
Ông là người nổi bật trong số những tổng thống thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai vì tin chắc rằng Liên Xô có thể bị đánh bại hơn là chỉ qua thương thuyết, một niềm tin được xác nhận bởi Gennadi Gerasimov, phát ngôn viên bộ ngoại giao dưới thời Gorbachev. Gerasimov nói rằng chương trình được mệnh danh, Chiến tranh giữa các vì sao, "là một sự tống tiền rất thành công.... Nền kinh tế Liên Xô không thể chịu đựng nổi cuộc chạy đua vũ trang như thế." Lời lẽ mạnh bạo của Reagan nhắm vào Liên Xô đã có những hiệu quả khác nhau; Jeffery W. Knopf nhận xét rằng bị dán nhãn là "ma quỷ" có lẽ không có gì khác biệt đối với người Liên Xô nhưng có khác biệt khi các công dân tại Đông Âu được khuyến khích chống lại chủ nghĩa cộng sản. Ý kiến rằng Reagan có ít hoặc không có ảnh hưởng gì trong việc kết thúc chiến tranh lạnh được tranh cãi ngang bằng nhau; rằng sự suy yếu nội bộ của chủ nghĩa cộng sản đã trở nên rõ ràng, và Liên Xô sẽ cuối cùng bị sụp đổ cho dù bất cứ ai đang nắm quyền. Chính sách Kiềm chế của Tổng thống Harry Truman cũng được xem là một sức mạnh đằng sau sự sụp đổ của Liên Xô, và sự xâm chiếm Afghanistan của Liên Xô đã làm hao mòn chính hệ thống Xô Viết.
Tổng bí thư Gorbachev nói về vai trò chiến tranh lạnh của cựu đối thủ của mình như sau: "[Ông ta là] một người mà là công cụ đưa đến sự kết thúc chiến tranh lạnh", và cho rằng ông ta là "một tổng thống vĩ đại". Gorbachev không công nhận có thắng hay bại trong cuộc chiến nhưng đúng hơn là một kết thúc hòa bình; ông nói rằng ông không bị bắt nạt bởi những lời lẽ cứng rắn của Reagan. Margaret Thatcher, cựu nữ thủ tướng Vương quốc Liên hiệp Anh, nói về Reagan như sau: "ông cảnh báo rằng Liên Xô có một nỗ lực đầy tham vọng về sức mạnh quân sự... nhưng ông cũng cảm giác rằng nó đang bị ăn mòn bởi những sự thất bại có hệ thống mà không thể nào cải thiện được." Sau này bà nói rằng "Ronald Reagan có yêu cầu cao hơn bất cứ nhà lãnh đạo nào khác để thắng Chiến tranh lạnh vì sự tự do và ông đã làm được mà không cần phải bắn một phát súng nào." Brian Mulroney, cựu thủ tướng Canada nói: "Ông ta đi vào lịch sử trong vai trò một người chơi ấn tượng và mạnh mẽ trong Chiến tranh lạnh." Cựu tổng thống Ba Lan Lech Wałęsa nhận định rằng "Reagan là một trong những nhà lãnh đạo thế giới đã góp phần to lớn làm sụp đổ chủ nghĩa cộng sản."
=== Di sản quốc nội và chính trị ===
Ronald Reagan đã làm thay hình đổi dạng đảng Cộng hòa, lãnh đạo phong trào bảo thủ hiện đại, và làm thay đổi sự năng động chính trị của Hoa Kỳ. Thêm nhiều người bỏ phiếu cho đảng Cộng hòa dưới thời Reagan, và Reagan lấy được phiếu bầu của các cử tri tôn giáo. Cái gọi là "Reagan Democrat" (người thuộc đảng Dân chủ nhưng bỏ đảng để ủng hộ Reagan) là kết quả của những năm ông làm tổng thống.
Sau khi rời nhiệm sở, Reagan trở thành một biểu tượng có ảnh hưởng bên trong đảng Cộng hòa. Các chính sách và niềm tin của ông thường xuyên được các ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa viện dẫn tới kể từ năm 1989. Các ứng viên tổng thống năm 2008 thuộc đảng Cộng hòa đều không ngoại lệ vì họ muốn nhắm tới việc so sánh họ giống như ông trong các cuộc tranh luận bầu cử sơ bộ, thậm chí bắt chước các chiến lược vận động tranh cử của ông. Người được đảng Cộng hòa đề cử ra tranh cử tổng thống là John McCain thường xuyên phát biểu rằng ông nhận nhiệm sở với tư cách là "một người lính chân đất trong cuộc cách mạng của Reagan". Sau cùng, lời nói nổi tiếng nhất của Reagan rằng "Chính phủ không phải là giải pháp đối với vấn đề của chúng ta mà chính phủ là vấn đề", đã trở thành khẩu hiệu không chính thức đối với sự trỗi dậy của những nhà bình luận bảo thủ như Glenn Beck và Rush Limbaugh cũng như sự ra đời của Phong trào Tea Party.
=== Khuôn mặt văn hóa và chính trị ===
Theo người viết xã luận Chuck Raasch, "Reagan đã chuyển hóa vai trò tổng thống Mỹ trong cách thức mà chỉ có ít người đã có thể làm được". Ông tái định nghĩa nghị trình chính trị của các thời đại, chủ trương thuế thấp hơn, một triết lý kinh tế bảo thủ, và một quân đội mạnh hơn. Vai trò của ông trong Chiến tranh lạnh càng làm gia tăng hình tượng của ông trong vai trò một loại người lãnh đạo khác biệt. "Phong cách cha chú, chủ nghĩa lạc quan, và cách cư xử bình dân" của Reagan cũng giúp ông biến "công khích chính phủ thành một hình thức nghệ thuật".
Trong lúc đương nhiệm, tổng thống Reagan không được tỉ lệ chấp thuận cao nhất của công chúng, nhưng sự ủng hộ dành cho ông gia tăng kể từ năm 1989. Các cuộc thăm dò công chúng của Gallup năm 2001 và 2007 đã xếp ông đứng đầu hoặc đứng thứ hai khi những người trả lời thăm dò được hỏi ai là tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử. Reagan được xếp thứ ba trong số các tổng thống thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai trong một cuộc thăm dò của Rasmussen Reports vào năm 2007, đứng thứ năm trong cuộc thăm dò của đài truyền hình ABC năm 2000, đứng thứ chín (trong số tất cả tổng thống của mọi thời đại) trong một cuộc thăm dò khác cũng của Rasmussen thực hiện vào năm 2007, và đứng thứ tám trong cuộc thăm dò cuối năm 2008 của tờ báo Vương quốc Liên hiệp Anh là tờ The Times. Tuy nhiên, trong một cuộc thăm dò của Đại học Siena, được thực hiện với trên 200 sử gia, Reagan được xếp thứ 16 trong số 42 vị tổng thống của Hoa Kỳ. Trong lúc cuộc tranh luận về di sản của Reagan còn đang tiếp diễn thì cuộc thăm dò công chúng về các vị tổng thống do C-SPAN tổ chức hàng năm vào năm 2009 đã xếp Reagan là vị tổng thống vĩ đại thứ mười. Cuộc thăm dò với các sử gia hàng đầu đã xếp Reagan đứng thứ 11 năm 2000.
Năm 2011, Viện Nghiên cứu Mỹ châu phát hành bảng thăm dò hàn lâm đầu tiên chưa từng có trước đây của Vương quốc Liên hiệp Anh với mục đích xếp hạng các vị tổng thống Hoa Kỳ. Cuộc thăm dò các chuyên gia Vương quốc Liên hiệp Anh về lịch sử và chính trị Hoa Kỳ đã xếp Reagan là tổng thống vĩ đại thứ tám của Hoa Kỳ.
Khả năng truyền đạt gần gũi với dân của Reagan đã giúp cho ông có được biệt danh đáng kính là "nhà truyền đạt vĩ đại". Về việc này, Reagan nói như sau: "tôi giành được biệt danh nhà truyền đạt vĩ đại. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ nghĩ rằng chính kiểu cách của tôi đã tạo nên sự khác biệt mà chính là phần nội dung. Tôi không phải là một nhà truyền đạt vĩ đại, nhưng (đúng hơn) tôi đã truyền đạt những điều vĩ đại." Tuổi tác và giọng nói nhẹ nhàng của ông đã giúp cho ông có một hình ảnh nồng ấm giống như cha già đối với người Mỹ.
Reagan cũng nhận được biệt danh là "Teflon President" (tổng thống với thanh danh không gì có thể gây tổn hại) mà theo đó nhận thức của công chúng đối với ông vẫn không bị lu mờ sau những vụ tai tiếng xảy ra trong suốt thời gian ông làm tổng thống. Theo nữ nghị sĩ Patricia Schroeder (người đặt ra thuật từ trên) và phóng viên Howard Kurtz, tính ngữ đó ám chỉ đến khả năng của Reagan "làm hầu như bất cứ điều gì sai trái và rồi không bị đổ lỗi vì điều sai trái đó".
Phản ứng của công chúng đối với Reagan luôn đa dạng; tổng thống già nhất được sự ủng hộ của các cử tri trẻ tuổi, và bắt đầu liên minh để rồi dịch chuyển nhiều người trong số họ sang đảng Cộng hòa. Reagan không được lòng cho lắm đối với các nhóm dân thiểu số, đặc biệt là người Mỹ gốc châu Phi. Sự việc này phần lớn là vì sự phản đối của ông đối với các chính sách "hành động khẳng định" (tại Mỹ, "affirmative action" là thuật ngữ được dùng để chỉ chính sách ưu tiên dành cho dân thiểu số). Tuy nhiên, sự ủng hộ của ông dành cho Israel suốt thời làm tổng thống đã giúp cho ông giành được sự ủng hộ của nhiều người Do Thái. Ông trở thành đảng viên Cộng hòa đầu tiên từng lấy được đa số phiếu bầu của các cử tri gốc Do Thái. Ông luôn nhấn mạnh đến giá trị gia đính trong các cuộc vận động tranh cữ và trong suốt những năm làm tổng thống mặc dù ông là tổng thống đầu tiên từng li dị. Sự kết hợp giữa các yếu tố bao gồm kiểu cách ăn nói, chủ nghĩa yêu nước không nao núng, tài năng thương thảo cũng như việc sử dụng giới truyền thông một cách khôn khéo đã đóng một vai trò quan trọng trong việc định nghĩa thập niên 1980 và di sản tương lai của ông.
Reagan được biết là thường hay nói đùa trong suốt cuộc đời của ông, biểu diễn tính khôi hài trong suốt thời gian làm tổng thống, và nổi tiếng với biệt tài kể chuyện. Vô số các lần nói đùa và nói đơn độc một câu của ông đã được gán nhãn là "hài hước, châm biếm cổ điển" và "huyền thoại". Trong số lần nói đùa nổi bật nhất là lần nói đùa liên quan đến chiến tranh lạnh. Khi kiểm tra âm thanh trước khi phát biểu hàng tuần trên radio vào tháng 8 năm 1984, Reagan đã nói đùa như sau khi kiểm tra âm thanh micrô: "Thưa đồng bào Mỹ của tôi, tôi trân trọng thông báo đến mọi người hôm nay rằng tôi đã ký luật nhằm đặt Nga ra khỏi vòng pháp luận vĩnh viễn. Chúng ta bắt đầu đánh bom trong vòng 5 phút." Cựu trợ tá David Gergen có ý kiến rằng "chính cái kiểu hài hước đó... mà theo tôi nghĩ, đã làm cho người dân quý mến Reagan."
=== Vinh danh ===
Reagan nhận một số giải thưởng trong những năm trước và sau khi mãn nhiệm tổng thống. Sau khi được bầu làm tổng thống, Reagan nhận được tư cách thành viên "vàng" trọn đời của công đoàn điện ảnh Screen Actors Guild, được tuyển chọn là Diễn giả Đại sảnh Danh vọng của Hội Diễn giả Quốc gia và nhận được giải Sylvanus Thayer của Học viện Quân sự Hoa Kỳ.
Năm 1989, Reagan được vinh danh là Hiệp sĩ Đại Thập tự Danh dự thuộc Huân chương Bath, một trong số các huân chương cao quý nhất của Vương quốc Liên hiệp Anh. Chỉ có hai tổng thống Mỹ đã nhận vinh dự này, đó là Reagan và George H.W. Bush. Reagan cũng được vinh danh viện sĩ danh dự của Đại học Keble, Oxford. Nhật Bản trao tặng ông Huân chương Hoa cúc năm 1989. Ông là người Mỹ thứ hai nhận được huân chương này và là người đầu tiên nhận được huân chương này vì những lý do cá nhân (Dwight D. Eisenhower nhận được huân chương này như một món quà lưu niệm cho mối quan hệ Nhật Bản và Hoa Kỳ).
Ngày 18 tháng 1 năm 1993, cựu phó tổng thống của Reagan đồng thời là tổng thống đương nhiệm George H. W. Bush trao tặng ông Huân chương Tự do Tổng thống, đây là huân chương vinh dự nhất của Hoa Kỳ. Reagan cũng được trao Huân chương Tự do Thượng viện đảng Cộng hòa, huân chương cao quý nhất dành cho thành viên đảng Cộng hòa tại Thượng viện Hoa Kỳ.
Vào sinh nhật thứ 87 của Reagan năm 1998, Sân bay Quốc gia Washington được đặt tên lại là Sân bay Quốc gia Ronald Reagan Washington bởi một đao luật được tổng thống Bill Clinton ký thành luật. Năm đó, Trung tâm Thương mại Quốc tế và Tòa nhà Ronald Reagan được khánh thành tại Washington, D.C. Ông là một trong số 18 người có tên trong Danh sách những người được kính mến rộng rải trong thế kỷ 20 của viện Gallup. Danh sách này là kết quả từ cuộc thăm đò công chúng Mỹ được tiến hành trong năm 1999. Hai năm sau đó, siêu hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan được Nancy Reagan và Hải quân Hoa Kỳ làm lễ khánh thành. Đây là một trong số ít tài hải quân được khánh thành để vinh danh một người còn sống và là hàng không mẫu hạm đầu tiên được đặt tên để vinh danh một cựu tổng thống còn sống.
Năm 1998 Quỹ Tưởng niệm Hải quân Hoa Kỳ trao giải di sản hải quân cho Reagan vì sự ủng hộ của ông dành cho Hải quân và quân đội trong suốt cả sự nghiệp điện ảnh và trong lúc phục vụ trong vai trò tổng thống.
Quốc hội Hoa Kỳ ủy quyền thành lập Khu Lịch sử Quốc gia Nhà thời bé của Ronald Reagan tại Dixon, Illinois năm 2002 trong lúc chờ đợi chính phủ liên bang mua khu nhà này. Ngày 16 tháng 5 năm đó, Nancy Reagan nhận Huân chương Vàng Quốc hội, huân chương dân sự vinh dự nhất của Quốc hội Hoa Kỳ, thay mặt tổng thống và đây cũng chính là của bà.
Sau khi Reagan qua đời, Cục Bưu điện Hoa Kỳ phát hành tem tưởng niệm Tống thống Ronald Reagan năm 2005. Sau đó trong năm, CNN cùng với các biên tập viên của tạp chí Time nêu tên ông là "người quyến rũ nhất" trong 25 năm đầu tiên của hệ thống; Time cũng đưa Reagan vào danh sách 100 người quan trọng nhất thế kỷ 20. Discovery Channel hỏi khán giả của mình bình chọn người Mỹ vĩ đại nhất vào tháng 6 năm 2005; Reagan đứng hạng nhất, trước Lincoln và Martin Luther King, Jr.
Năm 2006, Reagan được chọn vào Đại sảnh Danh vọng California nằm tại Bảo tàng Lịch sử, Phụ nữ và Mỹ thuật California. Mỗi năm kể từ năm 2002, tống đốc California Gray Davis và Arnold Schwarzenegger đều tuyên bố ngày 6 tháng 2 là "Ngày Ronald Reagan" trong tiểu bang California để vinh danh người tiền nhiệm lừng danh của họ. Năm 2010, Schwarzenegger ký Đạo luật Thượng viện California 944 với sự ủy quyền của thượng nghị sĩ George Runner để biến ngày 6 tháng 2 là Ngày Ronald Reagan trong tiểu bang California.
Năm 2007, tổng thống Ba Lan Lech Kaczyński phong tặng Reagan sau khi mất huân chương cao quý nhất Ba Lan là Huân chương Ó trắng và nói rằng Reagan đã tạo nguồn hứng khởi cho nhân dân Ba Lan làm việc để tạo thay đổi và giúp lật đổ chế độ cộng sản áp bức; Kaczyński nói rằng "điều đó đáng lẽ đã không thể xảy ra nếu như không có đầu óc cứng rắn, sự kiên định và cảm nghĩ về sứ mệnh của tổng thống Ronald Reagan". Reagan hậu thuẫn quốc gia Ba Lan trong suốt thời làm tổng thống, ủng hộ phong trào Đoàn kết chống cộng cùng với giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Ngày 3 tháng 6 năm 2009, Nancy Reagan ra mắt một bức tượng về người chồng quá cố của bà trong gian phòng tròn của Tòa Quốc hội Hoa Kỳ. Bức tượng đại diện cho tiểu bang California trong Bộ sưu tập Đại sảnh Tượng Quốc gia. Sau khi Reagan qua đời, cả hai đảng chính trị lớn của Mỹ đồng ý dựng bức tượng của Reagan tại nơi bức tượng của Thomas Starr King. Ngày trước đó, Tổng thống Obama ký Đạo luật Ronald Reagan Centennial Commission (ủy ban tổ chức mừng sinh nhật thứ 100 của Ronald Reagan) thành luật nhằm thành lập ủy ban hoạch định các hoạt động để đánh dấu ngày sinh thứ 100 của Reagan sắp đến.
Lễ độc lập năm 2011 chứng kiến sự ra mắt một bức tượng khác của Reagan nhưng lần này tại thủ đô của Vương quốc Liên hiệp Anh là Luân Đôn, bên ngoài Đại sứ quán Hoa Kỳ trong Quảng trường Grosvenor. Buổi lễ ra mắt bức tượng đáng lẽ có sự hiện diện của phu nhân của Reagan là Nancy nhưng bà đã không đến dự. Cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice thay mặt bà đọc một bài diễn văn ngắn. Ngoài sự vắng mặt của cựu đệ nhất phu nhân, người bạn của Reagan và cũng là thủ tướng Vương quốc Liên hiệp Anh trong suốt thời gian tổng thống của ông là Baroness Thatcher cũng không thể đến dự vì sức khỏe yếu.
== Chú thích ==
== Sách tham khảo bằng tiếng Anh ==
== Liên kết ngoài ==
=== Các trang mạng chính thức ===
Ronald Reagan (1981–1989) tại trang mạng của Tòa Bạch Ốc
Thư viện Tổng thống Ronald Reagan
Các bài diễn văn chính của Ronald Reagan
Ronald Reagan tại Đại học Eureka
=== Truyền thông ===
Ronald Reagan trên trang mạng của C-SPAN
Tài liệu âm thanh của Ronald Reagan được lưu trữ tại Đài Phát thanh Công cộng Quốc gia Hoa Kỳ
Các tài liệu lịch sử ghi chép lại các cuộc nói chuyện của chính phủ Reagan, được lưu trữ tại Trung tâm Miller đặc trách Sự vụ Công cộng.
Diễn văn về vai trò của các tuyên giáo trong quân đội, dựa theo vụ đánh bom doanh trại Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ năm 1983, phiên bản chữ viết; phiên bản video
Diễn văn về vụ Liên Xô bắn rơi Chuyến bay 007 của Korean Air Lines
=== Báo chí đưa tin ===
Thêm tin tức và bình luận về Ronald Reagan trên The New York Times
Ronald Reagan từ The Washington Post
Ronald Reagan từ tạp chí Time
Ronald Reagan tại CNN
Ronald Reagan – Chương trình Tiểu sử của đài BBC
=== Thời biểu ===
Thời biểu tại Hệ thống Phát thanh Công Cộng, PBS
=== Tiểu luận và sử liệu ===
Tiểu luận mở rộng về Ronald Reagan, và các tiểu luận về mỗi thành viên nội các và đệ nhất phu nhân của ông từ Trung tâm Miller đặc trách Sự vụ Công cộng
Giới thiệu về Chào nước Mỹ: Ronald Reagan đã sáng tạo thập niên 1980 như thế nào, một bài tường thuật lại chi tiết về ảnh hưởng của Reagan đối với Hoa Kỳ
Các vị tổng thống: Reagan - một tài liệu về kinh nghiệm Mỹ |
chiến tranh hoa hồng.txt | Chiến tranh Hoa Hồng là một loạt các cuộc nội chiến tranh giành vương vị nước Anh giữa những người ủng hộ hai dòng họ Lancaster và York. Cuộc chiến diễn ra trong các giai đoạn rời rạc khoảng từ 1455 tới 1485. Nguyên nhân của cuộc chiến xuất phát từ những rối ren về xã hội và tài chính theo sau cuộc Chiến tranh Trăm Năm, cộng thêm tình trạng thần kinh bất ổn về nền cai trị yếu mềm của vua Henry VI đã thúc đẩy Công tước xứ York là Richard nổi lên đòi ngôi báu.
Chiến tranh kết thúc với chiến thắng của Bá tước xứ Richmond Henry Tudor, một người thừa kế của nhà Lancaster đã thành lập nên nhà Tudor cai trị nước Anh và xứ Wales trong 117 năm. Sở dĩ cuộc chiến có tên gọi chiến tranh Hoa Hồng là do huy hiệu của hai dòng họ đứng đầu cuộc chiến đều có hình ảnh hoa hồng: hoa hồng trắng của nhà York và hoa hồng đỏ của nhà Lancaster.
== Tổng quan ==
=== Tóm tắt ===
Henry của Bolingbroke, tức Henry IV, lập nên nhà Lancaster ở Anh vào năm 1399 khi ông lật đổ người em họ là Richard II. Henry IV và con trai ông là Henry V lần lượt làm vua nước Anh, nhưng khi Henry V qua đời, người thừa kế của ông là Henry VI chỉ là một đứa bé sơ sinh. Henry VI lớn lên trong tình trạng thần kinh không ổn định và hoàn toàn bị lấn át bởi các quyền thần.
Do Henry VI không có khả năng cai trị vương quốc Anh. Richard Plantagenet, Công tước thứ ba của York, lên tiếng đòi ngai vàng. Richard là con cháu của dòng họ Edward, dòng họ cai trị nước Anh trước thời Lancaster và tỏ ra là một lãnh đạo có tài, nắm giữ nhiều trọng trách trong nước. Mặc dù các cuộc đụng độ vũ trang trước đó đã diễn ra giữa những người ủng hộ hai dòng họ York và Lancaster, đến năm 1455 mới nổ ra trận đánh lớn đầu tiên, trận St. Albans lần thứ nhất. Nhiều nhân vật chủ chốt của gia đình Lancaster thiệt mạng, nhưng những người thừa kế tiếp tục cuộc chiến. Hòa bình được tái lập tạm thời, nhưng dòng họ Lancaster, dưới sự lãnh đạo của Margeret Anjou, hoàng hậu của Henry VI, tiếp tục thách thức ảnh hưởng của dòng họ York.
Chiến tranh tiếp diễn vào năm 1459. Phe York thua cuộc và bị buộc phải lưu vong, nhưng một trong những người ủng hộ chủ chốt của họ, Bá tước của Warwick, xâm lược nước Anh từ Calais và bắt sống Henry VI trong trận Northampton. Richard xứ York về nước và làm Bảo hộ của nước Anh, nhưng không được thừa kế ngai vàng. Margeret và các thành viên còn lại của nhà Lancaster thu thập tàn quân và củng cố lực lượng ở miền bắc Anh. Khi quân York tiến về miền bắc, Richard xứ York bị giết trong một trận đánh cuối năm 1460. Nhà Lancaster lại tiến về phía nam và giải thoát cho Henry VI trong trận St. Albans lần thứ hai, nhưng không chiếm được London và lại rút về miền bắc.
Sau đó, con trai út của Richard xứ York, Edward IV, lên ngôi, tập hợp lực lượng và giành được một chiến thắng quan trọng trước phe Lancaster trong trận Towton vào đầu năm 1461. Sau khi dẹp tan những cuộc nổi loạn của phe Lancaster, quân York bắt lại được Henry VI vào năm 1464, nhưng Edward bất đồng quan điểm với cận thần quan trọng nhất của ông, Bá tước của Warwick, "Người buôn vua". Ông cũng gây bực tức với nhiều triều thần và cả các thành viên trong gia đình mình khi dành nhiều ưu tiên cho gia đình bên vợ, hoàng hậu Elizabeth Woodville, người ông kết hôn trong bí mật. Warwick định thay Edward bằng cậu em trai George, Công tước của Clarence, rồi sau đó sẽ khôi phục ngai vàng cho Henry VI. Điều này giúp cho Henry VI giành lại quyền kiểm soát trong hai năm 1470 và 1471, trước khi Edward IV giành được thắng lợi hoàn toàn vào năm 1471. Warwick và người thừa kế của dòng họ Lancaster, Edward, Hoàng thân của Wales, chết trong chiến trận và Henry bị xử tử ngay sau đó.
Sau đó là một giai đoạn hòa bình tương đối, nhưng Edward qua đời đột ngột vào năm 1483. Em trai của ông, Richard của Gloucester, cố gắng ngăn cản gia đình Woodville của bà vợ góa của Edward tham gia triều chính khi người kế vị của Edward, Edward V, còn quá nhỏ. Sau đó, Richard cướp luôn ngôi vua với lời giải thích rằng cuộc hôn nhân của Edward IV không được pháp luật thừa nhận. Henry Tudor, một người họ hàng xa của nhà Lancaster, khởi binh chống lại Richard, đánh bại ông ở Bosworth năm 1485. Những người ủng hộ dòng họ York thừa dịp bất ổn nội bộ của nhà Lancaster lại nổi dậy năm 1487 và Henry Tudor đưa quân dẹp loạn trong những trận đánh cuối cùng. Hầu hết thành viên có quyền thừa kế của gia đình York đều bị bắt, nhưng các nhóm nổi loạn lẻ tẻ vẫn hoạt động cho tới khi một người tự xưng là Perkin Warbeck, người thừa kế xa của nhà York, bị xử tử vào năm 1499.
=== Tên gọi và biểu tượng ===
Tên gọi Chiến tranh Hoa Hồng chỉ được sử dụng sau này dựa trên gia huy của hai dòng họ hoàng gia, hoa hồng trắng đại diện cho nhà York và hoa hồng đỏ đại diện cho nhà Lancaster. Tên gọi cuộc chiến trở nên phổ biến từ thế kỷ 19 sau khi Sir Walter Scott cho xuất bản cuốn sách Anne of Geierstein. Scott đặt tên cho cuộc chiến dựa theo một hồi trong vở kịch dã sử Henry VI của William Shakespeare.
Mặc dù các biểu tượng hoa hồng cũng được sử dụng trong cuộc chiến, hầu hết những tướng lĩnh trực tiếp tham chiến có gia huy riêng dựa trên lãnh địa phong kiến và dòng tộc của họ. Chẳng hạn, lực lượng của Henry VI ở Bosworth chiến đấu dưới lá cờ có hình rồng đỏ, còn quân đội của York sử dụng biểu tượng cá nhân của Richard III, một con lợn rừng màu trắng. Tuy nhiên, biểu tượng hoa hồng có tầm quan trọng lớn nhất và vào cuối cuộc chiến, vua Henry VII đã hợp nhất hai biểu tượng thành một đóa hồng vừa có màu đỏ vừa có màu trắng, hoa hồng Tudor.
Tên và biểu tượng của hai dòng họ cũng rất ít liên quan đến những thành phố York và Lancaster, hay các địa hạt Yorkshire và Lancashire ở Anh ngày nay, dù các trận cricket và bóng bầu dục giữa hai đội đại diện cho hai thành phố vẫn được gọi là Cuộc chiến Hoa Hồng. Trên thực tế, các vùng lãnh địa của Công tước xứ Lancaster nằm chủ yếu ở Gloucestershire, bắc Wales và Cheshire, trong khi đất phong và lãnh địa của Công tước xứ York (và của bá tước xứ March mà Richard xứ York được thừa kế) trải rộng khắp nước Anh, tập trung nhất tại vùng March xứ Wales.
=== Quân đội và các bên tham chiến ===
Các lực lượng tham chiến chủ yếu trong Chiến tranh Hoa Hồng là quân đội của những lãnh chúa phong kiến và các dòng họ quý tộc Anh. Những người ủng hộ cho hai bên York và Lancaster chủ yếu dựa vào quan hệ dòng tộc, hôn nhân trong giới quý tộc hoặc các quyền lợi về đất đai. Hệ thống phân phong không chính thức cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến. Theo đó, các quý tộc nhiều quyền lực cam kết sự bảo hộ với những ai chấp nhận đi theo lá cờ của họ, cũng như trả tiền cho binh lính từ đất phong của mình. Vua nước Anh do đó, không có thực quyền với những quý tộc lãnh chúa và ngai vàng có thể bị đe dọa một cách khá dễ dàng. Do những mâu thuẫn gia đình, dòng họ, lợi ích về đất phong, tham vọng quyền lực, các quý tộc cũng có thể dễ dàng trở cờ và một số trận đánh được định đoạt chỉ do sự phản bội của các lực lượng tham chiến ở cả hai bên.
Quân đội thời bấy giờ chủ yếu là những người gia thần của các quý tộc, với hai quân chủng chủ yếu là lính bắn cung và bộ binh dùng giáo. Cũng có các binh chủng sử dụng súng và pháo, nhưng rất hạn chế. Kỵ binh chỉ được sử dụng ở mức dùng làm quân do thám hoặc các toán trinh sát. Gần như toàn bộ lực lượng tham chiến là bộ binh.
== Bối cảnh ==
=== Tranh cãi quyền thừa kế ===
Mối kình địch giữa hai dòng họ bắt đầu sau khi vua Richard II bị người em họ Henry Bolingbroke, Công tước của Lancaster, lật đổ vào năm 1399. Chính quyền của Richard II rất mất lòng dân và Bolingbroke, trở về Anh sau giai đoạn lưu vong ở nước ngoài, lúc đầu chỉ muốn lấy lại tước hiệu Công tước xứ Lancaster. Nhưng nhận được sự ủng hộ của hầu hết các quý tộc, Bolingbroke lật đổ Richard II và lên ngôi với vương hiệu Henry IV. Tuy nhiên, so với một ứng cử viên khác cho ngai vàng, John của Gaunt, con trai thứ ba của vua Edward III, Bolingbroke ở quá xa chi trưởng của dòng họ được thừa kế. Theo đúng luật thừa kế, ngai vàng lẽ ra phải được trao cho một trong những con trai của Lionel của Antwerp, Công tước của Clarence, con trai thứ hai của Edward III. Trên thực tế, Richard II, không có con, cũng đã phong Roger Mortimer, Bá tước thứ tư của March và là cháu trai của Lionel, làm thái tử. Tuy nhiên, Mortimer qua đời một năm trước đó và trước khi Bolingbroke về nước, các quý tộc đã dự định đưa con trai nhỏ của Mortimer, Edmund, lên thừa kế ngai vàng. Trong vài năm nắm giữ ngai vàng, Henry IV phải đối phó với một số cuộc nổi dậy dưới danh nghĩa cần vương cho Mortimer và con trai ở xứ Wales, Chesire và Northumberland. Tất cả các cuộc nổi dậy đều bị đàn áp, dù chính quyền trung ương gặp không ít khó khăn.
Henry IV băng hà năm 1413. Con trai và người thừa kế của ông, Henry V, được thừa kế một quốc gia tương đối hòa bình. Henry V tỏ ra là một chiến binh can trường. Quân đội của ông đã đánh tan quân Pháp trong cuộc Chiến tranh Trăm năm, giúp ông giành được uy tín lớn trong nước và củng cố ngai vàng cho dòng họ Lancaster. Trong thời kỳ trị vì khá ngắn ngủi của Henry V, ông phải đối phó với âm mưu Southampton, một mưu đồ lật đổ ông. Người thực hiện âm mưu này là Richard, Bá tước của Cambridge, con trai của Edmud của Langley, con trai thứ tư của Edward III. Âm mưu thất bại và Cambridge bị xử tử năm 1415. Vợ của Cambridge, Anne Mortimer, cũng muốn giành ngai vàng do bà là con gái của Roger Mortimer và là hậu duệ của Lionel của Antwerp. Anh trai Edmund của bà, một người ủng hộ Henry V nhiệt thành, qua đời khi chưa có con, nên bà trở thành người thừa kế gần nhất trong dòng hoàng tộc chính thống.
Richard, con trai của Cambridge và Anne Mortimer, mới bốn tuổi khi cha bị hành quyết. Richard được thừa kế tước hiệu Công tước xứ York từ người anh của Cambridge, Edward của Norwich, Công tước thứ hai của York, chết trận khi chiến đấu cùng Henry V ở trận Agincourt. Mặc dù Cambridge tạo phản, Henry V vẫn cho phép Richard thừa kế tước hiệu và phần đất phong của người bác quá cố, qua đời mà không có người thừa kế. Lúc đó, Henry V, còn có ba người em trai, đang ở độ tuổi đẹp nhất và vừa kết hôn, tin tưởng chắc chắn vào khả năng nhà Lancaster sẽ bảo vệ được ngai vàng. Tuy nhiên, sau khi ông qua đời, con trai duy nhất của ông gặp các vấn đề thần kinh, không đủ sức cai trị, trong khi những người em trai không nhận được sự ủng hộ để thừa kế ngai vàng. Tất yếu, Richard của York trở thành một ứng cử viên hàng đầu cho ngai vàng nước Anh.
=== Henry VI ===
Henry V đột ngột qua đời năm 1422 và con trai ông, Henry VI của Anh, nối ngôi khi là một đứa bé sơ sinh mới chín tháng tuổi. Sau cái chết của người chú, John, Công tước của Bedford năm 1435, các triều thần bên cạnh Henry VI không còn ai đáng tin cậy. Những người nhiều ảnh hưởng nhất là Humphrey, Công tước của Gloucester, một người chú khác của nhà vua, Hồng y Beaufort và William de la Pole, Công tước thứ nhất của Suffolk. Tuy nhiên, uy tín của họ suy giảm do những thất bại trong cuộc Chiến tranh Trăm năm tiếp diễn với người Pháp. Trong thời của Henry VI, nước Anh lần lượt để mất cho Pháp nhiều vùng lãnh thổ, bao gồm cả phần đất mà Henry V giành được trước kia.
Nội bộ triều đình cũng chia rẽ. Suffolk bắt giam Humphrey của Gloucester với cáo buộc ông này phạm tội khi quân. Humphrey chết trong ngục khi đang chờ xét xử ở Bury St Edmunds năm 1447. Một số sử gia cho rằng Chiến tranh Hoa Hồng bắt đầu từ cái chết của Humphrey. Tuy nhiên, sau những thất bại ở Pháp, chính Suffolk cũng buộc phải từ chức và bị sát hại khi trên đường đi lưu vong. Edmund Beaufort, Công tước thứ hai của Somerset, thừa kế quyền hành của Suffolk trong triều và tìm kiếm hòa bình với Pháp. Tuy nhiên, Richard, Công tước của York, đang làm tư lệnh quân đội Anh ở Pháp, muốn tiếp tục cuộc chiến và chỉ trích triều đình, đặc biệt là Somerset, hèn nhát, tham nhũng và ăn chặn tiền của quân đội đang chiến đấu ở Pháp. Trong tất cả những biến động này, Henry VI hầu như không có vai trò gì. Ông tỏ ra là một vị vua yếu ớt, không chút ảnh hưởng. Hơn nữa, Henry VI còn bị bệnh thần kinh có thể do di truyền từ ông ngoại là vua Charles VI của Pháp. Đến năm 1450, rất nhiều quý tộc cho rằng Henry VI không thể hoàn thành nhiệm vụ trên ngai vàng.
Năm 1450, một cuộc nổi loạn xảy ra ở Kent do Jack Cade lãnh đạo. Triều đình vả bản thân nhà vua bị chỉ trích vì không thể bảo vệ tài sản của nhiều tầng lớp, cả thường dân và quý tộc, trước sự cướp bóc của quân nổi loạn. Quân nổi loạn thậm chí chiếm được một phần London, nhưng người dân ở đó tổ chức các nhóm tự vệ và đẩy lui các cuộc cướp bóc. Quân nổi loạn sau đó tự giải tán khi một số thành viên hàng đầu được chính quyền ân xá, bao gồm cả Cade (nhưng sau này Cade vẫn bị xử tử).
Hai năm sau, Richard của York trở lại Anh khi đang làm tư lệnh quân đội Anh ở Ireland. Ông dẫn quân về London và đòi Somerset phải cải tổ toàn bộ triều đình. Các quý tộc không ủng hộ sự thay đổi đó và York buộc phải mang quân về trình diện tại Blackheath. Ông bị bắt giam trong hai năm 1452 và 1453 nhưng được thả ra sau khi đã thề sẽ không chống lại triều đình.
Tình hình trị an trên cả nước tiếp tục phức tạp khi các gia tộc phong kiến tranh giành lãnh địa và ảnh hưởng, hoàn toàn coi thường quyền lực của chính quyền trung ương. Nhiều cuộc xung đột vũ trang quy mô lớn diễn ra giữa những gia đình này, như các cuộc chiến giữa nhà Percy và nhà Neville ở Northumberland, giữa nhà Courtenay và nhà Bonville ở Cornwall và Devon. Nhiều binh lính Anh được giải ngũ sau cuộc chiến tranh thất bại ở Pháp trở về nhà tham gia vào những cuộc chiến này. Các lãnh chúa địa phương dần xây dựng quân đội riêng cho họ. Tình trạng tham nhũng và bất lực của chính quyền Henry VI càng khiến các điều kiện cho một cuộc nội chiến thêm chín muồi. Những nhân vật quyền lực nhất trong triều bây giờ là Somerset và các thành viên khác của dòng họ Lancaster được Henry VI phong đất một cách bừa bãi.
Năm 1453, bệnh tình của Henry VI thêm trầm trọng, ông thậm chí không nhận ra được con trai mới sinh của mình, Edward của Westminster. Một hội đồng nhiếp chính được thành lập do chính Richard, Công tước của York, người được lòng dân nhất trong triều đình, đứng đầu. York dần dần củng cố lại quyền lực của ông, bắt giam Somerset và ủng hộ gia đình Neville trong cuộc chiến với nhà Percy tranh giành lãnh địa Northumberland. Neville, Bá tước của Salisbury là anh rể của York, trong khi Percy, Bá tước của Northumberland, là một người ủng hộ nhiệt thành dòng họ Lancaster (dẫu vậy, đến lúc này, York vẫn chưa có dấu hiệu gì cho thấy ông muốn tranh chấp ngai vàng). Tuy nhiên, Henry VI bình phục năm 1455 và phe Lancaster lại chiếm ưu thế trong triều, lần này dưới sự lãnh đạo của Margeret Anjou, hoàng hậu đầy quyền lực, người lãnh đạo trên thực tế của nhà Lancaster. Margeret tập hợp các quý tộc khác trong triều và loại Richard của York khỏi vị trí đứng đầu hội đồng nhiếp chính. Tranh chấp quyền hành bùng phát thành xung đột vũ trang vào năm 1455.
== Diễn biến ==
=== Từ trận St Albans lần thứ nhất đến trận Towton ===
==== Trận St Albans lần thứ nhất và Ngày Yêu thương ====
Richard, Công tước của York, đưa một lực lượng nhỏ tiến tới London và chạm trán với lực lượng của Henry VI tại St Albans, phía bắc London, vào ngày 22 tháng 5 năm 1455. Trận St Albans lần thứ nhất, một trận đánh nhỏ, nổ ra và là lần xung đột vũ trang đầu tiên của cuộc nội chiến. Mục tiêu của Richard chưa phải là ngai vàng nước Anh, mà chỉ là loại bỏ các triều thần của Henry VI. Trận chiến kết thúc với thất bại cho nhà Lancaster. Một số lãnh đạo quan trọng của họ, bao gồm Somerset và Northumberland, thiệt mạng. Sau trận đánh, quân đội York tìm thấy vua Henry VI im lặng ngồi trong lều của mình. Nhà vua đã bị triều thần của ông bỏ rơi và chứng thần kinh lại tái phát. York và các đồng minh của ông lấy lại ảnh hưởng tại triều đình. Henry VI chỉ định York làm nhiếp chính và Margeret không được tham gia triều chính, mà chỉ chăm sóc nhà vua.
Lúc đầu, cả hai phía bị sốc vì xung đột vũ trang đã thật sự diễn ra và cố gắng hết sức thu xếp các bất đồng. Nhưng mâu thuẫn lại nhanh chóng nảy sinh vì vấn đề cơ bản: ai sẽ thừa kế ngai vàng nước Anh, Richard, Công tước xứ York hay Edward, con trai sơ sinh của Henry VI và Margeret Anjou. Margeret không chấp nhận bất cứ giải pháp nào yêu cầu con trai bà từ bỏ quyền thừa kế và chỉ cam chịu thế hạ phong chừng nào mà Công tước xứ York và các đồng minh của ông vẫn chiếm ưu thế về quân sự.
Tháng 2 năm 1456, Henry VI bình phục và cách chức nhiếp chính của York. Mùa thu năm đó, Henry có chuyến đi đến miền trung nước Anh, nơi vua và hoàng hậu nhận được nhiều sự ủng hộ nhất. Sau đó, Margeret không cho nhà vua trở về London vì tình hình trật tự hỗn loạn do các lái buôn nổi giận với tình trạng thương mại sụt giảm trầm trọng. Henry VI dời địa điểm thiết triều về Coventry. Khi đó, Công tước mới của Somerset (kế vị Somerset đã tử trận ở St. Albans) là triều thần số một của Henry VI. Margeret thuyết phục nhà vua hủy bỏ vai trò nhiếp chính của York. Ông đành trở lại làm tổng tư lệnh quân Anh tại Ireland.
Tình hình trị an ở thủ đô và miền bắc Anh trở nên rối loạn vì một số nguyên nhân: cuộc chiến tiếp diễn giữa hai dòng họ Neville và Percy và các đoàn tàu chiến của Pháp cướp bóc dọc theo bờ biển phía nam gia tăng. Tuy nhiên, vua và hoàng hậu vẫn không chịu về thủ đô. Tại London, một đồng minh của York, Warwick (người sau này được gọi là "Người buôn vua") lợi dụng sự vắng mặt của vua và hoàng hậu để củng cố uy tín cá nhân với giới thương gia.
Mùa xuân năm 1458, Thomas Bourchier, Tổng giám mục Canterbury, đứng ra dàn xếp thỏa thuận ngừng bắn. Các lãnh chúa phong kiến tập hợp ở London trong một cuộc họp đại hội đồng và thành phố tràn ngập lính vũ trang của các dòng họ. Tổng giám mục Canterbury thu xếp được một thỏa thuận yêu cầu các dòng họ ngừng cuộc chiến đẫm máu kéo dài sau trận St Albans lần thứ nhất. Sau đó, ngày 25 tháng 3 năm 1458, hoàng gia tổ chức Ngày Yêu thương. Trong ngày đó, nhà vua dẫn đầu một đoàn người vào nhà thờ St Paul. Các quý tộc của hai gia đình Lancaster và York, tay trong tay, bước theo sau ông. Nhưng rồi những ảo tưởng hòa bình tan biến và các âm mưu lại bắt đầu.
==== Chiến tranh tiếp diễn, 1459-1460 và Luật thỏa hiệp ====
Năm 1459, York trở về Anh từ Ireland mà chưa được phép của nhà vua, tình trạng căng thẳng lại tiếp diễn. York gọi các lãnh đạo dòng họ Neville đến gặp ông tại tổng hành dinh của phe York ở lâu đài Ludlow vùng March xứ Wales. Ngày 23 tháng 9 năm 1459, trong trận Blore Heath ở Staffordshire, quân đội nhà Lancaster không thể ngăn được Salisbury nhà Neville đưa quân từ lâu đài Middleham ở Yorkshire tới Ludlow. Không lâu sau đó, liên quân của York đụng độ với một lực lượng lớn hơn hẳn của nhà Lancaster trong trận Ludford Bridge. Một đạo quân của Warwick đóng ở Calais do Andrew Trollope chỉ huy trở giáo quy hàng nhà Lancaster khiến quân York thua trận và buộc phải tháo chạy. York trở lại Ireland. Còn Edward, Bá tước của March (con trai đầu của York), Salisbury cùng Warwick chạy sang Calais.
Nhà Lancaster lại kiểm soát hoàn toàn triều đình. York và những người ủng hộ bị tuyên bố phạm tội khi quân. Somerset được chỉ định làm Thống đốc xứ Calais và được cử đi đóng quân ở những pháo đài có vai trò sống còn bên kia eo biển Anh. Tuy nhiên, nỗ lực đè bẹp Warwick trên đất Pháp của Somerset không thành công. Warwick chống trả Somerset quyết liệt và dần dần có thể tổ chức những cuộc đột kích vào bờ biển Anh từ Calais. Bị khép tội khi quân, York và những người ủng hộ không còn cách nào khác để bảo tồn mạng sống ngoài việc lật đổ bằng được Henry VI hoặc buộc ông khôi phục tước vị cho họ, bằng vũ lực. Warwick đi đường biển tới Ireland để gặp York và lên kế hoạch tấn công nước Anh. Trên đường đi, ông đã phải tránh né các tàu tuần tra của Henry VI do Henry Holland, Công tước thứ ba của Exeter chỉ huy.
Cuối tháng 6 năm 1460, Warwick, Salisbury và Edward của March vượt eo biển Anh và nhanh chóng thiết lập được căn cứ tại Kent và London, nơi họ nhận được nhiều sự ủng hộ. Được một linh mục dẫn đường, họ tiến về phía bắc. Henry VI bèn đưa quân về phía nam, để Margeret và hoàng thân Edward ở lại giữ miền bắc. Trong trận Northampton ngày 10 tháng 7 năm 1460, quân York do Warwick chỉ huy đánh bại quân Lancaster do phía nhà vua có người phản bội. Lần thứ hai trong cuộc nội chiến, những người York lại tìm thấy vua Henry VI bị bỏ lại một mình trong lều của ông. Sau khi bắt được nhà vua, quân York trở về London.
Nhờ các chiến thắng quân sự ở miền nam, York tự tin rời Ireland. Ông và vợ, Cecily Neville, đáp tàu ở miền bắc Wales và vào London. York định tiến hành lễ đăng quang, giải tán nghị viện và lên ngôi hoàng đế. Tuy nhiên, tuyên bố của ông gặp phải sự im lặng đầy bối rối từ các quý tộc ủng hộ dòng họ York. Hầu hết các lãnh chúa quý tộc, thậm chí cả Warwick và Salisbury, đều bị sốc trước tham vọng của York và chưa sẵn sàng phế truất vua Henry VI. Họ chỉ mới dừng lại ở việc yêu cầu nhà vua loại bỏ các triều thần của ông.
Ngày hôm sau, York trình bày những mối quan hệ dòng tộc để khẳng định lại mong muốn lên ngôi của ông là thích đáng, bởi ông là hậu duệ của Lionel của Antwerp. Lần này các quý tộc tỏ ra thông cảm hơn, nhưng khi bỏ phiếu, đa số vẫn cho rằng Henry VI phải tiếp tục giữ ngai vàng. Một thỏa thuận nhượng bộ đạt được vào tháng 10 năm 1460 với Luật thỏa hiệp theo đó quy định Henry VI tiếp tục là vua nước Anh, nhưng York sẽ là người thừa kế, tước quyền thừa kế của đứa con trai sáu tuổi của Henry, Edward. York chấp nhận sự nhượng bộ này, bởi lẽ nó còn cho phép ông làm nhiếp chính và là người cai trị nước Anh, trong khi Henry chỉ là bù nhìn.
==== Nhà Lancaster phản công ====
Sau khi nhà vua bị bắt, hoàng hậu Margaret và con trai rút về bắc Wales, một phần vẫn do nhà Lancaster kiểm soát. Sau đó họ đi bằng đường biển tới Scotland để xin viện quân của người Scotland. Mary của Gueldres, hoàng hậu của vua James II của Scotland, đồng ý cho Margeret một đạo viện quân với điều kiện bà phải nhường thị trấn Berwick cho Scotland và hoàng thân Edward phải cưới con gái của Mary. Margeret đồng ý, dù bà không có tiền trả cho quân đội và chỉ hứa hẹn về việc cướp bóc những quý tộc giàu có ở miền nam sau khi thắng trận.
Cuối năm 1460, York rời London cùng Bá tước của Salisbury để củng cố các vùng đất ở miền bắc chuẩn bị chống những đợt phản công của nhà Lancaster, đã đưa quân tới gần thành phố York. York đóng quân ở lâu đài Sandal gần Wakefield vào khoảng Giáng sinh năm 1460. Ngày 30 tháng 12, quân đội của ông rời lâu đài và tấn công thẳng vào quân Lancaster dù lực lượng phía York ít hơn. Trận Wakefield là một chiến thắng tuyệt đối cho nhà Lancaster. Richard xứ York tử trận, Salisbury và con trai thứ hai của York, Edmund, Bá tước của Rutland, mới 17 tuổi, bị bắt và bị xử tử. Margeret đã ra lệnh bêu đầu cả ba người bọn họ lên cổng thành phố York.
Luật thỏa hiệp và trận chiến Wakefield khiến con trai cả của York, Edward, Bá tước của March, 18 tuổi, giờ là người thừa kế lãnh địa York cũng như ngai vàng nước Anh sau khi Henry VI chết. Với quân đội thân York huy động ở vùng March (vùng biên giới giữa Anh và Wales), Edward, Bá tước của March, đối đầu với quân đội Lancaster do Jasper Tudor, Công tước thứ nhất của Bedford, chỉ huy ở Wales. Edward giành được chiến thắng vang dội ở trận Mortimer's Cross tại Herefordshire. Edward đã lên tinh thần cho binh sĩ bằng việc chỉ cho họ ba mặt trời trên bầu trời (thực ra là hiện tượng mặt trời ảo) mà ông khẳng định là tượng trưng cho ba con trai còn lại của nhà York: chính ông, George và Richard. Sau này, Edward lấy mặt trời làm biểu tượng cho lá cờ chiến của ông.
Sau thất bại của Jasper Tudor, quân đội của Margeret tiến về phía nam, vừa đi vừa cướp bóc miền nam Anh giàu có. Ở London, Warwick sử dụng các chiến dịch tuyên truyền để củng cố sự ủng hộ với dòng họ York ở miền nam và thị trấn Coventry trở cờ sang quy thuận nhà York. Quân đội của Warwick đồn trú ở thị trấn St Albans để chặn con đường chính từ phương bắc, nhưng lực lượng của Warwick ít hơn nhiều so với Margeret và ông bị đánh từ hai phía trong trận St Albans lần thứ hai. Nhà Lancaster giành được một thắng lợi quyết định. Quân york bỏ chạy tán loạn, không kịp mang theo tù nhân quan trọng nhất, vua Henry VI. Nhà vua hoàn toàn không bị sây sát và đang ngồi dưới một gốc cây khi quân Lancaster tiến vào.
Henry VI phong hiệp sĩ ngay lập tức cho 30 binh lính của Lancaster sau trận đánh. Trong một sự kiện cho thấy sự tàn khốc của cuộc chiến, hoàng hậu Margeret đã ra lệnh cho cậu con trai bảy tuổi, Edward của Westminster, phải cương quyết xử tử những kỵ sĩ của York đã bảo vệ vua Henry VI an toàn trong suốt trận đánh. Quân Lancaster tiến tiếp về phía nam, gây ra một làn sóng sợ hãi ở London. Người dân London loan truyền tin đồn về những vụ cướp bóc tàn bạo của quân miền bắc, đóng cửa thành và không cung cấp lương thực cho đạo quân của hoàng hậu, khiến họ phải đi cướp bóc ở các hạt quanh thành phố, Hertfordshire và Middlesex.
==== Chiến thắng của nhà York ====
Sau thất bại của Warwick, Edward của March đưa quân về London từ phía tây và thu thập tàn quân của Warwick. Quân hoàng hậu, do thiếu lương thực, phải rút về phía bắc tới Dunstable. Nhờ đó, Edward và Warwick dễ dàng tiến vào London. Họ được chào đón nồng nhiệt và nhận được những hỗ trợ lớn về tài chính ở thành phố luôn ủng hộ phe York suốt từ đầu cuộc chiến. Đến đây, Edward không còn có thể đơn giản loại bỏ các triều thần của vua Henry VI. Trận chiến kể từ lúc này là vì ngai vàng nước Anh. Edward nhận được sự ủng hộ của Thomas Kempe, Giám mục London. Kempe hỏi người dân London ý kiến của họ và người dân hô vang "vua Edward". Edward nhanh chóng sắp xếp một lễ đăng quang không chính thức ở tu viện Westminster, nhưng khẳng định chưa là vua nước Anh chừng nào Henry VI và Margeret chưa bị hành quyết hay buộc phải lưu vong. Edward cũng tuyên bố Henry đã từ bỏ ngai vàng khi cho phép hoàng hậu đem quân chống lại người thừa kế theo luật của ông.
Edward và Warwick lại tập hợp được một lực lượng lớn và đem quân về phía bắc. Họ trạm trán đạo quân Lancaster đông không kém ở thị trấn Towton. Trận Towton, diễn ra gần thành phố York, là trận đánh lớn nhất trong cả cuộc Chiến tranh hoa hồng. Cả hai bên đều coi trận đánh là sự kiện quyết định cuộc chiến. Từ 40.000 đến 80.000 quân đã tham gia trận đánh này và hơn 20.000 người đã chết trong và sau cuộc chiến. Đó là trận đánh lớn nhất từng diễn ra trên đất Anh mọi thời đại và cũng chiếm kỷ lục về số thương vong trong một ngày. Edward giành được một thắng lợi quyết định và hầu hết các tướng lĩnh của nhà Lancaster bị tiêu diệt, nhiều người khác đầu hàng vua Edward. Những người không đầu hàng cố gắng rút về các lâu đài ở miền bắc hoặc ở Wales. Henry VI, hoàng hậu Margeret và cậu con trai, lúc đó đang đợi ở York, nhanh chóng bỏ chạy về phía bắc khi biết kết quả trận đánh. Edward tiến tiếp và chiếm lại York, nơi ông thay thế đầu của cha, anh mình và Salisbury bằng đầu những tướng lĩnh nhà Lancaster. Trong số những người ủng hộ nhà Lancaster bị bêu đầu ở thành phố York có cả John Clifford, Nam tước thứ chín nhà Clifford của Skipton-Craven, người đã hành quyết em trai của Edward, Edmund xứ Rutland, sau trận Wakefield.
=== Từ Edward IV đến Henry Tudor ===
==== Edward IV ====
Lễ đăng quang chính thức của Edward IV diễn ra tháng 6 năm 1461 tại thủ đô London, nơi ông nhận được sự chào đón nồng nhiệt của những người ủng hộ. Edward cai trị trong một nền hòa bình tương đối khoảng 10 năm.
Ở miền bắc Anh, Edward chưa bao giờ thực sự kiểm soát hoàn toàn cho tới tận năm 1465. Sau trận Towton, Henry và Margeret chạy sang Scotland và nương nhờ vua James III của Scotland. Cuối năm đó, họ tổ chức một cuộc tấn công Carlisle, nhưng do thiếu hỗ trợ tài chính, họ dễ dàng bị quân Edward đẩy lui và buộc phải rút khỏi cả những vùng còn lại mà lực lượng Lancaster trước kia chiếm đóng ở miền bắc. Một số lâu đài do các chỉ huy ủng hộ nhà Lancaster còn trụ lại được nhiều năm, như Dunstanburgh, Alnwick (nơi gia đình Percy đồn trú), và Bamburgh.
Năm 1464 cũng diễn ra những cuộc nổi dậy của nhà Lancaster ở miền bắc Anh. Một số quý tộc Lancaster, bao gồm Henry Beaufort, Công tước thứ ba của Somerset, người trước kia đã đầu hàng Edward, lãnh đạo quân nổi dậy. Cuộc nổi dậy bị em trai của Warwick, John Neville, Hầu tước thứ nhất của Montagu đàn áp. Một lực lượng nhỏ quân nổi dậy bị tiêu diệt trong trận Hedgeley Moor ngày 25 tháng 4, nhưng do Neville đang định dàn xếp một thỏa thuận với Scotland, ông không đuổi theo quân nổi dậy sau khi lực lượng này chạy sang đất Scotland. Ngày 15 tháng 5, Somerset lại bị đánh bại trong trận Hexham, bị bắt và bị xử tử.
Vua Henry VI bị quân đội nhà York bắt lần thứ ba ở Clitheroe, Lancashire năm 1465. Ông bị giải về London, bị giam ở Tháp London và được đối xử tốt. Cũng lúc đó, Edward IV và Scotland đạt được một thỏa thuận. Margeret cùng con trai buộc phải rời Scotland đi bằng đường biển sang Pháp, nơi họ sống trong cảnh lưu vong vất vả. Pháo đài cuối cùng của nhà Lancaster là lâu đài Harlech ở Wales, đầu hàng vào năm 1468 sau bảy năm bị vây hãm.
==== Cuộc nổi dậy của Warwick và âm mưu đưa Henry VI trở lại ngai vàng ====
Sau chiến tranh, Bá tước của Warwick, "Người buôn vua", trở thành lãnh chúa quyền lực nhất, nhiều đất đai nhất trong cả nước Anh. Ngoài đất đai của nhà vợ, Warwick còn được thừa kế các lãnh địa của cha và được phong cho nhiều vùng đất cướp được từ trong cuộc chiến với nhà Lancaster. Ông đặt nhiều chân tay của mình để cai quản các vùng đất nói trên. Warwick cho rằng nước Anh cần phải liên minh với Pháp và đã thương lượng cuộc hôn nhân của Edward IV với một cô dâu trong hoàng tộc Pháp. Tuy nhiên, Edward bí mật kết hôn với Elizabeth Woodville, góa phụ của một hiệp sĩ nhà Lancaster, vào năm 1464. Edward chỉ tuyên bố cuộc hôn nhân của ông sau khi sự đã rồi và khiến Warwick bẽ mặt.
Xung đột quyền lợi bắt đầu nảy sinh khi những thành viên trong gia đình Woodvilles được Edward IV ưu ái hơn so với gia đình Nevilles trong triều. Nhiều người thân của hoàng hậu Elizabeth kết hôn với các gia đình quý tộc, những người khác được phong đất ở khắp nơi. Ngoài ra, trong khi Warwick muốn liên minh với Pháp thì Edward IV lại muốn giao hảo với Burgundy. Edward cũng không sẵn lòng để hai người em trai của ông, George, Công tước của Clarence và Richard, Công tước của Gloucester, kết hôn với các con gái của Warwick, Isabel và Anne. Uy tín của Edward IV với người dân cũng giảm sút do tình trạng thuế má cao và trị an không được vãn hồi.
Tới năm 1649, Warwick thành lập một liên minh với người em trai xảo trá và nhiều tham vọng của Edward, Clarence, người đã cưới Isabel Neville bất chấp sự phản đối của Edward. Liên minh ra mặt chống đối nhà vua và đánh bại đạo quân của ông trong trận Edgecote Moor. Edward IV bị bắt tại Olney, Buckinghamshire, và bị giam giữ ở lâu đài Middleham tại Yorkshire (như vậy là trong thời gian ngắn, Warwick đã cầm tù hai nhà vua nước Anh). Warwick ra lệnh xử trảm cha của hoàng hậu, Richard Woodville, Bá tước Rivers thứ nhất và em trai bà, John Woodville. Tuy nhiên, ông không đề cập đến việc xét xử Edward IV mà đưa ngay Clarence lên ngôi. Đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn. Các quý tộc lại tập hợp quân đội và đánh lẫn nhau để tranh giành đất đai. Những người Lancaster lại nổi dậy. Rất ít quý tộc sẵn sàng ủng hộ việc Warwick nắm quyền. Để làm dịu tình hình, Warwick buộc phải dàn hòa ngoài mặt với Edward IV với sự trung gian của Tổng giám mục York tại London.
Sau khi trở lại ngai vàng, Edward lấy lại uy tín bằng chiến thắng trước quân nổi dậy trong trận Losecoat Field. Từ lời khai của những người lãnh đạo cuộc nổi dậy này, nhà vua tuyên bố Warwick và Clarence phạm tội thông đồng với quân nổi dậy. Warwick và Clarence buộc phải trốn chạy sang Pháp, nơi Margeret Anjou đang lưu vong cùng con trai. Louis XI của Pháp, đang muốn ngăn chặn việc Edward IV liên minh với em rể ông, Charles Can Trường, Công tước của Burgundy và đe dọa nước Pháp, đã đề nghị liên minh giữa Warwick và Margeret. Lúc đầu, hai kẻ cựu thù không chấp nhận ý tưởng đó, nhưng dần dần cả hai nhận ra lợi ích của quan hệ liên minh. Tuy nhiên, hai bên mang theo những mục địch khác nhau: Warwick muốn dựng lên một vị vua bù nhìn giống như Henry VI hay con trai ông, còn Margeret muốn giành lại quyền lực thực sự cho nhà Lancaster. Một cuộc hôn nhân được thu xếp giữa con gái của Warwick, Anne và con trai của Margeret, Edward và Warwick đem quân tiến vào nước Anh mùa thu năm 1470.
Khi đó, Edward IV đang đóng quân ở phía bắc vì ông đi đàn áp một cuộc nổi dậy ở Yorkshire. Warwick, với sự giúp đỡ của hải quân do một người cháu ông chỉ huy, cập bến đất liền nước Anh ở Dartmouth và nhanh chóng chiếm giữ các địa hạt và hải cảng miền nam. Ông chiếm được London vào tháng 10 và đưa vua Henry VI diễu hành qua các đường phố thủ đô với tư cách vị vua được khôi phục ngai vàng. Em trai của Warwick, John Neville, lúc đó là một vị tướng chỉ huy đạo quân lớn trong cuộc chinh phạt miền bắc của vua Edward IV, đã trở giáo ủng hộ anh mình Warwick. Edward đã không ngờ tới và phải cùng Gloucester bỏ chạy từ Doncaster xuống vùng bờ biển rồi đi sang Hà Lan và từ đó đi đường bộ đến lưu vong ở Burgundy. Họ bị Henry VI và Warwick kết tội khi quân, trong khi nhiều triều thần của nhà Lancaster trở về nhận lại đất phong.
Tuy nhiên, chiến thắng của Warwick không kéo dài được bao lâu. Ông đã làm việc quá sức mình khi liên minh với Pháp để xâm lấn Burgundy. Warwick quá tham vọng và bị quyến rũ bởi những lời hứa hẹn của vua Louis XI về những vùng lãnh thổ ở Hà Lan. Charles của Burgundy, em rể của Edward IV, liền cung cấp tiền và quân đội cho anh trai quay lại tấn công nước Anh năm 1471. Lực lượng không lớn lắm của Edward đổ bộ xuống vùng Ravenspur trên bờ biển Yorkshire. Lần này, ông tuyên bố ủng hộ Henry VI và chỉ muốn được khôi phục tước hiệu Công tước xứ York. Ông nhanh chóng chiếm được thành phố York và cũng có vài người ủng hộ. Em trai ông, Clarence, lại một lần nữa phản bội, lần này là quay lưng lại với Warwick. Nhờ thế, Edward chiếm được London. Trận đánh quyết định giữa Edward và Warwick là trận Barnet, diễn ra trong sương mù dày đặc. Quân Warwick nhầm lẫn và đánh lẫn nhau, gây ra sự hoang mang rằng có kẻ đã phản bội, dẫn tới việc toàn quân tan rã. Warwick và người em trai John Neville đều chết trong trận đánh này.
Margeret và con trai Edward tới Anh vài ngày sau trận Barnet. Thay vì trở về Pháp, Margeret tìm cách gầy dựng lực lượng trong số những người ủng hộ nhà Lancaster ở Wales. Nhưng quân đội của bà, do Edmund Beaufort, Công tước thứ tư của Somerset chỉ huy, bị đè bẹp ở trận Tewkesbury. Hoàng thân Edward, người thừa kế ngai vàng của dòng họ Lancaster, tử trận. Không có người thừa kế, Henry VI bị sát hại không lâu sau đó vào ngày 14 tháng 5 năm 1471 khi nhà York tìm cách củng cố ngai vàng của họ.
==== Richard III ====
Việc Edward IV trở lại ngai vàng năm 1471 được một số sử gia coi là sự kiện kết thúc Chiến tranh Hoa Hồng. Hòa bình được vãn hồi trong giai đoạn cai trị còn lại của Edward. Em trai út của ông, Richard, Công tước của Gloucester và người ủng hộ trung thành của Edward, William Hastings, được tưởng thưởng vì lòng trung thành, và lần lượt được phong làm thống đốc các vùng miền bắc và miền trung nước Anh. George xứ Clarence không có được sự may mắn đó, bị nhà vua xa lìa và bị xử tử năm 1478 với cáo buộc phản bội.
Tuy nhiên, khi Edward IV đột ngột qua đời năm 1483, tình hình chính trị lại trở nên hỗn loạn. Nhiều quý tộc vẫn căm ghét ảnh hưởng từ những người họ hàng của hoàng hậu Woodville (em trai bà là Anthony Woodville, Bá tước Rivers thứ hai và con trai riêng của bà là Thomas Grey, Hầu tước thứ nhất của Dorset) và coi họ là những kẻ tiếm quyền. Vào lúc Edward qua đời, người thừa kế của ông, Edward V, mới 12 tuổi và quyền nhiếp chính được trao cho Bá tước Rivers ở Ludlow. Lúc lâm chung, Edward di mệnh cho em trai là Richard của Gloucester làm người nhiếp chính. Tuy nhiên, Richard đang ở miền bắc Anh lúc Edward qua đời. Hastings đã gửi thư cho ông yêu cầu ông đưa quân về London để ngăn chặn việc nhà Woodville cướp quyền nhiếp chính. Henry Stafford, Công tước thứ hai của Buckingham cũng tuyên bố ông ủng hộ Richard.
Richard và Buckingham đưa quân về thủ đô. Trên đường đi, tại Buckinghamshire ngày 28 tháng 4, họ bắt được Bá tước Rivers khi ông này đang đưa vua Edward V đến London. Họ tuyên bố gia đình Woodville phạm tội mưu sát nhà vua. Rivers cùng người cháu trai là Richard Grey bị đưa đến lâu đài Pontefract ở Yorkshire và bị xử tử vào cuối tháng 6. Richard đưa Edward V vào London ngày 4 tháng 5 và bắt đầu lộ rõ tham vọng soán ngôi. Ông giam nhà vua vào Tháp London. Lễ đăng quang dự kiến ngày 22 tháng 6, cũng là lúc Richard kết thúc quyền nhiếp chính. Tuy nhiên, ngày 13 tháng 6, Richard triệu tập cuộc họp hội đồng quý tộc, tuyên bố Hastings có âm mưu chống lại ông và đem vị cố mệnh đại thần ra xử tử mà không xét xử ngay trong ngày hôm đó.
Sau đó, thông qua Tổng giám mục Canterbury là Thomas Bourchier, Richard thuyết phục Elizabeth Woodville đưa nốt cậu con trai thứ hai của bà mới chín tuổi là Richard, Công tước của York, vào Tháp London. Sau khi đã bắt giữ cả hai người thừa kế, Richard tuyên bố cuộc hôn nhân của Edward IV với Elizabeth Woodville là bất hợp pháp, nên con họ không có quyền thừa kế. Nghị viện và hội đồng quý tộc đều chấp nhận và chính thức đưa Richard lên ngôi, vua Richard III của Anh. Hai hoàng tử bị giam cầm sau đó có thể đã bị sát hại, nhưng đây vẫn còn là một nghi án trong sử học. Richard III làm lễ đăng quang ngày 6 tháng 7 năm 1483.
==== Cuộc nổi dậy của Buckingham ====
Ngày 18 tháng 10, Buckingham, một người ủng hộ Richard III trước kia, khởi quân nổi dậy với mục tiêu đưa Henry Tudor của nhà Lancaster lên ngôi. Đầu tiên, Buckingham định lấy danh nghĩa ủng hộ Edward V hoặc con trai nhà vua, nhưng khi biết cả hai đều đã chết, ông thay đổi ý định. Nhiều quý tộc khác, tức giận vì thái độ tráo trở của Richard III và phẫn nộ trước cái chết của hai hoàng tử, cũng nổi dậy chống lại Richard.
Henry Tudor là người thừa kế ngai vàng gần nhất của dòng họ Lancaster sau khi Henry VI và con ông qua đời năm 1471. Cha của Henry, Edmund Tudor, Công tước thứ nhất của Richmond, là anh cùng cha khác mẹ của vua Henry VI. Ngoài ra, mẹ của Henry Tudor, Margeret Beaufort, là hậu duệ của John Beaufort. John Beaufort lại là con trai của John của Gaunt, tức là cháu nội của vua Edward III. John Beaufort đầu tiên là con không được thừa nhận, nhưng sau đó được thừa nhận với điều kiện từ bỏ quyền kế vị ngai vàng. Thời thơ ấu, Henry sống chủ yếu ở lâu đài Harlech của nhà Lancaster bị quân York vây hãm và đi lưu vong ở Brittany. Sau năm 1471, Edward IV cũng đề phòng không để Henry Tudor tiếp cận ngai vàng, nhưng nhờ sự bảo vệ của người mẹ Margeret và người cha ruột, chú của Buckingham, cũng như người cha dượng là Huân tước Thomas Stanley, một triều thần có ảnh hưởng của Edward IV, Henry Tudor vẫn được an toàn.
Cuộc nổi dậy của Buckingham thất bại. Một số người ủng hộ ông ở miền nam không chuẩn bị tốt khiến tư lệnh của Richard III ở miền nam, John Howard, Công tước thứ nhất của Norfolk, chặn được các lực lượng nổi dậy liên kết với nhau và bẻ gãy từng nhóm một. Buckingham tập hợp được một đội quân ở Brecon, miền trung Wales. Tuy nhiên, ông không vượt được sông Severn để gia nhập các lực lượng nổi dậy ở phía nam vì bão và lũ lụt. Quân đội của Buckingham không có lương ăn, ông bị phản bội và bị giết. Tuy nhiên, thất bại của cuộc nổi dậy không phải là chấm dứt những nỗ lực chống lại Richard III. Sau khi vợ và cậu con trai 11 tuổi của ông qua đời, dòng họ York đứng trước nguy cơ để mất ngai vàng.
==== Henry Tudor ====
Nhiều người ủng hộ Buckingham và các quý tộc bất mãn khác cùng Henry Tudor đi lưu vong. Richard III đã tung tiền hối lộ thuộc hạ của Công tước Britanny để phản bội và bắt lại Henry, nhưng Henry kịp biết tin và trốn sang Pháp, nơi ông nhận được sự hỗ trợ từ triều đình Pháp.
Tự tin rằng nhiều quý tộc ở Anh và ngay cả các cận thần của Richard III cũng sẽ theo ông, Henry Tudor lên tàu trở về từ Harfleur vào ngày 1 tháng 8 năm 1485 với lực lượng tập hợp được từ Pháp. Nhờ thuận gió, ông đến Pembrokeshire sáu ngày sau. Những triều thần của Richard III ở Wales hoặc trở giáo theo Henry, hoặc không can thiệp vào cuộc hành quân của ông. Henry vừa thu thập thêm người ủng hộ vừa tiến qua Wales và vùng March. Ông đánh bại Richard III tại trận Bosworth Field. Vị vua cuối cùng nhà York tử trận. Tương truyền, tay cung thủ người xứ Wales Rhys ap Thomas chính là người đã lấy mạng ông. Ba ngày sau đó, Rhys được Henry Tudor, giờ là vua Henry VII, phong tước hiệp sĩ.
Henry được tôn làm vua, lấy hiệu là Henry VII. Ông củng cố ngai vàng của mình bằng cách kết hôn với Elizabeth của York, con gái của Edward IV và là người gần gũi nhất bên phía nhà York có thể tranh giành ngai vàng. Qua đó, Henry VII thống nhất hai dòng họ hoàng tộc và hợp nhất biểu tượng hoa hồng đỏ và hoa hồng trắng thành một đóa hồng vừa đỏ vừa trắng, hoa hồng Tudor. Henry VII tiếp tục củng cố ngai vàng bằng cách xử tử bất cứ kẻ nào có khả năng thừa kế ngay khi có cơ hội, một chính sách được con trai ông, Henry VIII, tiếp tục.
Nhiều sử gia nhất trí rằng việc Henry VII đăng quang đánh dấu kết thúc cuộc Chiến tranh Hoa Hồng. Nhưng cũng có những người cho rằng cuộc chiến tiếp tục tới tận cuối thế kỷ 15 với những âm mưu lật đổ Henry VII của các thành viên nhà York. Hai năm sau trận Bosworth, nhà York lại khởi loạn, lần này do John de la Pole, Bá tước của Lincoln, lãnh đạo. Lincoln từng được Richard III chỉ định làm người thừa kế nhưng lại quy phục Henry VII sau trận Bosworth. Những người nhà York còn dựng lên một nhân vật để đòi ngai vàng. Một cậu bé tên là Lambert Simnel có ngoại hình rất giống với Edward, Bá tước của Warwick (con trai của Clarence), người thừa kế ngai vàng gần nhất còn sống bên nhà York, được phe nổi dậy tôn làm thủ lĩnh. Tuy nhiên, âm mưu này rất hồ đồ vì chính Edward, Bá tước xứ Warwick vẫn còn sống và đang nằm trong tay Henry VII. Trong trận Stoke, Henry VII đè bẹp quân đội của Lincoln. Simnel được ân xá và được vào làm việc trong bếp của hoàng gia.
Ngai vàng của Henry lại một lần nữa bị thách thức vào năm 1491 khi một giả vương khác, Perkin Warbeck, xuất hiện. Warbeck tự nhận là Richard, Công tước xứ York (người em bị nhốt chung với vua Edward V trong tòa tháp). Warbeck nhiều lần kêu gọi nổi dậy và nhận được sự ủng hộ từ Burgundy và James IV của Scotland. Nhưng ông bị bắt sau cuộc nổi dậy Cornish lần thứ hai năm 1497, bị xử tử năm 1499 sau khi vượt ngục bất thành.
Ngay cả trong thời của Henry VIII, con trai Henry VII, nhà York vẫn tiếp tục thách thức ngai vàng, tới tận năm 1525, với những nhân vật lãnh đạo như Edward Stafford, Công tước thứ ba của Buckingham, Edmund de la Pole, Công tước thứ ba của Suffolk và người em trai Richard de la Pole. Tất cả những người đó đều là hậu duệ trực tiếp của nhà York từng nắm giữ ngai vàng.
== Hệ quả ==
Mặc dù các nhà sử học vẫn còn tranh cãi về ảnh hưởng của cuộc chiến đối với lịch sử Anh thời trung cổ, nhiều người nhất trí rằng Chiến tranh Hoa Hồng đã dẫn tới một cục diện chính trị mới và những thay đổi sâu sắc trong cán cân quyền lực. Ảnh hưởng rõ ràng nhất là sụp đổ của triều đại Plantagenet và sự nổi lên của triều đại Tudor, những người cai trị sẽ làm thay đổi sâu sắc nước Anh trong những năm sau đó.
Rất nhiều quý tộc Anh cũng đã thiệt mạng trong cuộc chiến dẫn đến những thay đổi trong xã hội phong kiến Anh, tiếp nối những ảnh hưởng của trận đại dịch Cái chết đen trước đó. Một cách tương đối, cuộc chiến làm suy yếu quyền lực của các lãnh chúa phong kiến và tăng cường sức mạnh cho tầng lớp thương nhân cũng như cho ra đời một chính quyền quân chủ tập trung mạnh mẽ hơn hẳn dưới thời các vua nhà Tudor. Các sự kiện đó báo hiệu kết thúc thời trung cổ ở Anh và chuyển sang thời Phục Hưng.
Ngoài ra, một số nhà sử học cho rằng thiệt hại của cuộc chiến đã được vua Henry VII phóng đại để nhấn mạnh tầm quan trọng của ông trong việc mang lại hòa bình. Chắc chắn các ảnh hưởng tiêu cực của chiến tranh đối với lái buôn, người lao động và hầu hết dân thường nhỏ hơn nhiều so với những cuộc chiến tranh kéo dài ngày khác ở châu Âu. Cũng có những cuộc vây hãm kéo dài, như ở lâu đài Harlech hay lâu đài Bamburgh, nhưng đó đều là những vùng xa xôi, cư dân thưa thớt. Trong các vùng đông dân cư, các phe phái thường trọn lựa việc tiến hành trận đánh ở những khoảng không gian mở, thuần túy quân sự và không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt dân sự bình thường.
Cuộc chiến cũng làm suy giảm nghiêm trọng ảnh hưởng của Anh trên đất Pháp. Sau khi chiến tranh kết thúc, Anh mất tất cả những vùng đất giành được trên đất Pháp trong cuộc Chiến tranh Trăm năm, ngoài vùng Calais dần rơi vào tay Mary I. Mặc dù sau này các nhà cai trị Anh có nỗ lực đưa quân vào châu Âu lục địa, họ không bao giờ còn làm chủ các vùng lãnh thổ nữa. Tại châu Âu lục địa, hai đối thủ của nhau, nhà Burgundy và nước Pháp, cũng lợi dụng tình hình chia rẽ ở Anh để ủng hộ khi thì phe này, khi thì phe kia để chế ngự đối thủ cũng như ngăn chặn một nước Anh thống nhất, hùng mạnh có thể đe dọa họ.
Kết thúc cuộc chiến còn đánh dấu sự chấm dứt tình trạng các lãnh chúa có đất phong được quyền sở hữu quân đội riêng. Henry VII, lo ngại các cuộc nổi dậy, đã quản lý những quý tộc được phong đất hết sức chặt chẽ, tước quyền tuyển, huấn luyện và trang bị quân đội của họ. Kể từ thời Henry VII, quân đội hoàn toàn do chính quyền trung ương kiểm soát. Cũng kể từ đó, các dòng họ quý tộc không còn sẵn sàng mạo hiểm tính mạng và tước hiệu của mình trong những cuộc xung đột không rõ ràng nữa.
== Những nhân vật chủ chốt trong cuộc chiến ==
=== Danh sách ===
Các vua nước Anh
Henry VI (nhà Lancaster)
Edward IV (nhà York)
Edward V (nhà York)
Richard III (nhà York)
Henry VII (nhà Lancaster)
Những nhân vật chủ chốt giai đoạn 1455–1487
Nhà York
Elizabeth Woodville, hoàng hậu của Edward IV
George Plantagenet, Công tước thứ nhất của Clarence
Richard Plantagenet, Công tước thứ ba của York
Richard Neville, Công tước thứ 16 của Warwick ("Người buôn vua")
Richard Neville, Bá tước thứ năm của Salisbury
John Neville, Hầu tước thứ nhất của Montagu
William Neville, Bá tước thứ nhất của Kent
Bastard of Fauconberg
William Herbert, Bá tước thứ nhất của Pembroke
Nhà Lancaster
Margaret Anjou, hoàng hậu của Henry VI
Henry Percy, Bá tước thứ hai của Northumberland
Henry Percy, Bá tước thứ ba của Northumberland
Richard Neville, Công tước thứ 16 của Warwick ("Người buôn vua")
Edmund Beaufort, Công tước thứ hai của Somerset
Henry Beaufort, Công tước thứ ba của Somerset
Edmund Beaufort, Công tước thứ tư của Somerset
John Clifford, Nam tước thứ chín của Clifford
=== Cây gia phả ===
Trong bảng dưới đây, những người khung đỏ là người nhà Lancaster, khung xanh là người nhà York, Warwick, "Người buôn vua" có lúc ủng hộ Lancaster, có lúc ủng hộ Warwick nên có khung màu tím.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Thư mục ===
== Liên kết ngoài ==
The Wars of the Roses
warsoftheroses.com bao gồm bản đồ, mốc thời gian, thông tin về các nhân vật chính và tóm tắt các trận đánh.
diagram of the Wars of the Roses |
tỉnh của nhật bản.txt | Đô, đạo, phủ, huyện là cấp hành chính địa phương thứ nhất trong hai cấp hành chính địa phương chính thức hiện nay ở Nhật Bản. Cấp hành chính này có tổng cộng 47 đô, đạo, phủ, huyện; trong đó có 1 đô, 1 đạo, 2 phủ, 43 huyện. Tuy nhiên, giữa đô, đạo, phủ và huyện hiện nay không có phân biệt gì về mặt quyền hạn hành chính. Người đứng đầu mỗi đô đạo phủ huyện là Thống đốc, do dân bầu trực tiếp từng nhiệm kỳ 4 năm. Các tỉnh được chia thành các hạt, bao gồm các thành phố (市 thị), thị trấn (町 đinh) và làng (村 thôn); riêng ở Tokyo còn có 23 khu đặc biệt (特別区 đặc biệt khu).
Hệ thống hành chính hiện tại được triều đình Minh Trị thiết lập từ tháng 7 năm 1871 sau khi bãi bỏ hệ thống phiên (廃藩置県 haihan-chiken, phế phiên trí huyện). Dù ban đầu có hơn 300 đơn vị đạo, phủ, huyện, con số này được giảm xuống còn 72 đơn vị cuối năm 1871 rồi lại giảm còn 47 đơn vị năm 1888. Luật tự trị địa phương năm 1947 của Chính phủ Nhật Bản đã chuyển thêm một số quyền lực cho cấp đô, đạo, phủ, huyện.
=== Danh sách các tỉnh của Nhật Bản xếp theo bảng chữ cái ===
== Xem thêm ==
Địa lý Nhật Bản
== Tham khảo == |
bè.txt | Bè là một cấu trúc phẳng phục vụ cho việc chuyên chở và vận chuyển trên mặt nước. Nó là phương tuyện vận chuyển giao thông đường thủy có cấu trúc đơn giản nhất với điểm đặc trưng là hoàn toàn không có thân như các loại tàu thuyền khác. Thông thường, bè được giữ cho nổi trên mặt nước nhờ những vật liệu có khả năng nổi như gỗ, thùng tôn nô bịt kín, hoặc các túi, khoang bơm đầy hơi (ví dụ phao) và thường không chạy bằng động cơ - mặc dù có một số ít loại bè mang những đặc điểm khác với thông thường.
== Bè do con người chế tạo ==
Những chiếc bè truyền thống được đóng từ gỗ hay sậy, còn các loại bè hiện đại có thể được ghép từ phao, thùng phuy hay những khối chất dẻo như polystyrene. Những chiếc bè bơm hơi có thể dùng những giàn khung nhiều lớp cao su hóa có độ bền cao. Tùy vào công năng và kích thước, bè có thể có thêm cột buồm, bánh lái và cấu trúc trên boong.
Bè chở gỗ được sử dụng để chuyên chở những khúc gỗ vừa mới bị đốn hạ về nơi chế biến. Loại bè này thật ra được làm từ chính những khúc gỗ bị đốn hạ, cụ thể những khúc gỗ này được cột lại với nhau thành những mảng lớn rồi cho thả trôi sông hoặc được tàu kéo về nhà máy chế biến. Phương pháp này hiện nay ít được dùng nhưng khá phổ biến từ giữa thế kỷ 20 trở về trước.
Những loại bè thể thao hay bè du lịch, giải trí hầu như là những loại không thể bơm hơi và được sản xuất từ những vật liệu dẻo để có thể lướt trên những vùng "nước trắng".
== "Bè" không do con người "chế tạo" ==
Trong sinh học, nhất là mảng địa sinh học đảo, những loại "bè" không có nguồn gốc từ con người là một khái niệm quan trọng. Những chiếc "bè" như vậy được "kết" từ những thảm thực vật bị bão, sóng thần, động đất hay nước triều đánh dạt vào bờ; trong thời điểm hiện nay chúng cũng bao hàm cả hàng hóa trôi dạt như các thùng côngtenơ làm bằng nhựa. Chúng cứ trôi nổi lềnh bềnh như vậy có thể trên một quãng đường cả ngàn cây số để rồi bị phân hủy, bị dạt vào bờ hay bị sóng biển đánh vỡ tan.
Những chiếc "bè" sinh học như vậy là phương tiện phát tán quan trọng của những động vật không biết bay. Đối với những loài thú, lưỡng cư và bò sát nhỏ cùng nhiều loài động vật không xương sống, những mẩu trôi nổi như thế là giá thể duy nhất để chúng bám vào và sinh sống trên biển khơi hay các đảo cho đến khi các phương tiện giao thông do con người chế tạo cung ứng những phương thức vận chuyển mới.
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
World of Boats (EISCA) Collection ~ Australian Reed Raft
World of Boats (EISCA) Collection ~ Brazilian Jangada
Homemade Raft Plans and Photos of Rafts
Neutrino Raft - vessels made from scrap |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.