filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
sân vận động.txt
Sân vận động là nơi diễn ra thi đấu các môn thể thao đồng thời cũng là chỗ luyện tập của các vận động viên. Ngoài ra còn tổ chức các buổi hòa nhạc hay những sự kiện lớn khác. Sân gồm có: 1 sân cỏ rộng, xung quanh là đường tròn đồng mức giữa sân cỏ và khán đài, ngoài cùng bao quanh là khán đài dành cho khán giả, chia làm 2 khu khán đài A mặt chính thường có mái che và khán đài B có thể có mái hoặc không. Hiện nay, cũng có rất nhiều sân vận động nhân tạo. == Lịch sử của từ sân vận động == Từ sân vận động bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "stadion" (στάδιον), có nghĩa là "nơi mà người ta đứng". Sân vận động cổ xưa nhất từng được biết đến nằm ở Hy Lạp, về phía tây của Peloponnese, Hy Lạp, là nơi Đại hội Thể thao Olympic cổ đại được tổ chức từ năm 776 TCN. Khởi nguồn Đại hội thể thao chỉ bao gồm 1 môn thi đấu, cuộc thi chạy nước rút dọc theo chiều dài của sân. Vì vậy chiều dài của sân vận động Olympia hầu như đã được tiêu chuẩn hóa thành một đơn vị đo khoảng cách (khoảng 190 mét). Việc tiêu chuẩn hóa đường chạy theo độ dài trong khoảng 180-200 mét cũng đã được người La Mã tiếp tục thực hiện. Điều lý thú là khả năng duy trì vận tốc tối đa của một người bị suy giảm sau 200 mét chạy nước rút, điều này vẫn đúng trong điền kinh hiện đại. Những sân vận động của người Hy Lạp và La Mã cổ đại được tìm thấy ở rất nhiều thành phố cổ, trong đó có lẽ nổi tiếng nhất là Colosseum hay sân vận động Domitian, đều ở Roma. == Sân vận động hiện đại == === Phân loại === Sân vận động mái vòm có các mái che. Chúng được gọi là các "sân vận động" (stadium) bởi vì kích thước của chúng đủ lớn, và chúng được thiết kế dành cho các môn thể thao ngoài trời. (Những sân được thiết kế dành cho những môn thể thao trong nhà được gọi là nhà thi đấu arena.) Nhiều sân vận động có mái che một phần, và một số sân thì có thiết kế sân cỏ có thể di chuyển. Một sân vận động được gọi là all-seater khi nó có chỗ ngồi cho tất cả khán giả. Các sân vận động khác được thiết kế sao cho tất cả hay một số khán giả đứng xem cuộc thi đấu. Các sân vận động chuyên dụng (term stadium) nhằm sử dụng cho một môn thể thao nhất định và những hoạt động có liên quan ví dụ như môn bóng bầu dục và bóng đá. === Kiểu dáng === Các môn thể thao đòi hỏi kích thước và hình dạng sân cỏ khác nhau. Nhiều sân vận động được thiết kế chỉ dành cho một môn thể thao trong khi một số sân vận động có thể thích hợp cho nhiều sự kiện thể thao. Các sân vận động được xây dựng riêng cho các môn bóng đá thì khá phổ biến. Những sân vận động có thiết kế đa dụng thường gặp nhất thì thường kết hợp một sân cỏ bóng đá với một đường chạy xung quanh, sự kết hợp này thường là ổn, mặc dù cần có một số thay đổi. Hạn chế lớn nhất của loại sân này là khán đài cần lùi sâu vào so với sân cỏ, đặc biệt là ở hai đầu sân. Trong trường hợp của các sân vận động nhỏ hơn thì không có khán đài ở đầu sân. Khi các khán đài có ở vòng quanh đường chạy thì sân vận động có hình bầu dục. Khi một đầu sân để trống thì sân vận động có hình móng ngựa (horseshoe shape). Ba loại hình dạng sân vận động trên rất phổ biến. Ở Bắc Mĩ, nơi mà bóng chày và bóng bầu dục là hai môn thể thao ngoài trời phổ biến nhất, nhiều sân vận động bóng bầu dục/bóng chày đa dụng đã được xây dựng, đặc biệt là trong suốt thập niên 1960, và nhiều sân đã rất thành công. == Xem thêm == Danh sách các sân vận động Danh sách các nhà thi đấu Danh sách các sân vận động theo sức chứa == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Footballmatch Stadium Guide (tiếng Anh)
danh sách tạp chí khoa học.txt
Tạp chí khoa học là các xuất bản phẩm định kỳ với những tin tức, ý kiến, và báo cáo về đề tài khoa học cho các đọc giả không chuyên. Những ấn phẩm xuất bản định kỳ cho các chuyên gia khoa học thì được gọi là tập san khoa học. Các tạp chí khoa học được đọc bởi những người không làm khoa học và các nhà khoa học, những người muốn cập nhật thông tin trong các lĩnh vực ngoài chuyên môn của họ. Các bài báo trong tạp chí khoa học đôi khi được đăng lại hoặc tóm tắt lại bởi các tờ báo tin tức phổ thông. == Các tạp chí khoa học phổ thông == Argentina Muy Interesante Argentina Australia Australasian Science Cosmos Austria Universum Magazin Brazil Galileu Superinteressante Bulgaria Da znaem poveche Đan Mạch Aktuel Naturvidenskab Illustreret Videnskab Phần Lan Tiede Pháp La Recherche Pour la Science Sciences et Avenir Science & Vie Đức Spektrum der Wissenschaft Ấn Độ Current Science Sandarbh Science Reporter Italy Airone Focus Le Scienze Lithuania Mokslas ir gyvenimas Pakistan Engineering & Industrial Review (EIR)---www.eironline.com Global Science Amali Science Ba Lan Wiedza i Życie Młody Technik Nga Nauka i Zhizn Tehnika Molodezhi Serbia SciTech Planeta Thụy Điển Illustrerad Vetenskap Thổ Nhĩ Kỳ Bilim ve Teknik Vương Quốc Anh BBC Focus BBC Knowledge BBC Sky at Night Laboratory News New Scientist Physics World Practical Reptile Keeping All About Space Mỹ Phổ thông American Scientist Discover Popular Science Science News Scientific American Seed Technology Review Wired Du hành vũ trụ\Không gian Air & Space Astronomy Mercury Planetary Report Sky and Telescope Spinoff Khác Physics Today "Scientific American Mind" Skeptic The Scientist Weatherwise Việt Nam Tạp chí Tài hoa trẻ http://tiasang.com.vn/ Trực tuyến trên mạng internet Guru EU Research Magazine Plus Science Digest Seed == Xem thêm == Khoa học đại chúng Báo chí khoa học == Tham khảo ==
cột cờ hà nội.txt
Cột cờ Hà Nội hay còn gọi Kỳ đài Hà Nội là một kết cấu dạng tháp được xây dựng cùng thời với thành Hà Nội dưới triều nhà Nguyễn (bắt đầu năm 1805, hoàn thành năm 1812). Kiến trúc cột cờ bao gồm ba tầng đế và một thân cột, được coi là một trong những biểu tượng của thành phố. == Miêu tả == Các tầng đế hình chóp vuông cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh xây ốp gạch. Tầng 1: Mỗi chiều 42,5 m; cao 3,1 m Tầng 2: Mỗi chiều 27 m; cao 3,7 m Tầng 3: Mỗi chiều 12,8 m; cao 5,1 m; có 4 cửa, trừ cửa Bắc, 3 cửa còn lại đều có đắp 2 chữ tuỳ theo từng hướng: Cửa Đông - Nghênh Húc (đón nắng ban mai) Cửa Nam - Hướng Minh (hướng về ánh sáng) Cửa Tây - Hồi Quang (ánh sáng phản hồi) Từ tầng 1 đến tầng 3 đều có cầu thang xoắn dẫn lên. Trên tầng 3 là thân cột Cờ hình trụ có 8 cạnh thon dần lên phía trên, mỗi cạnh 2,13 m với thân cao 18,2 m. Trụ hình thang xoáy trôn ốc gồm 54 bậc; được rọi sáng (và thông hơi) bằng 39 ô cửa sổ hình hoa thị và 6 ô cửa sổ hình dẻ quạt. Những ô cửa này được đặt dọc các cạnh, mỗi cạnh có tới 5 hoặc 6 cửa sổ. Đỉnh cột cờ được cấu tạo thành một cái lầu hình bát giác, cao 3,3 m có 8 cửa sổ tương ứng 8 cạnh. Giữa lầu là một trụ tròn, đường kính 0,4 m và cao đến đỉnh lầu, là chỗ để cắm cán cờ (cao 8 m). Toàn phần xây từ đế đến trụ này cao 33,4 m gồm 3 tầng đế cao 12 m, cột cao 18,2 m, lầu 3,3 m. Nếu kể cả trụ treo cờ thì trên 40 m. Khi người Pháp phá thành Hà Nội, họ định phá luôn cột cờ, may mắn là họ không tiến hành việc này, lý do vì họ muốn biến nó thành đài xem đua ngựa. Hiện Cột cờ Hà Nội nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (trước đây là Bảo tàng Quân đội), trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình. == Xem thêm == Tháp Hà Nội == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cột cờ Hà Nội tại Google Map
yến (đo lường).txt
Bài này nói về đơn vị đo khối lượng. Xem các nghĩa khác ở yến. Trong khoa đo lường, yến là đơn vị đo khối lượng thuộc hệ đo lường cổ Việt Nam, hiện nay tương đương với 10 kilôgam, được sử dụng trong giao dịch đời thường ở Việt Nam. Một yến cũng bằng 10 cân, 1/10 tạ và bằng 1/100 tấn. Theo , trước kia, giá trị của yến trong hệ đo lường cổ của Việt Nam là 6,045 kg. == Xem thêm == Đơn vị đo khối lượng Hệ đo lường cổ Việt Nam Tấn Tạ Cân == Tham khảo ==
guernsey.txt
Địa hạt Guernsey (tiếng Pháp: Bailliage de Guernesey) là một thuộc địa Hoàng gia của Anh trong eo biển Măng-sơ về phía bờ biển Normandie. Ngoài chính đảo Guernsey, nó cũng gồm Alderney, Sark, Herm, Jethou, Brecqhou, Burhou, Lihou và những tiểu đảo khác. Mặc dù việc phòng thủ của những đảo này là trách nhiệm của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Guernsey không phải là một phần của Vương quốc Anh mà là một sở hữu riêng của Hoàng gia, giống như Đảo Man. Guernsey cũng không phải thành viên của Liên minh châu Âu. Đảo Guernsey được chia thành 10 xã. Cùng với Địa hạt Jersey, nó nằm trong nhóm đảo được biết đến với tên Quần đảo Eo biển. Guernsey thuộc về Khu vực Du lịch chung. Người dân Guernsey về mặt pháp lý là công dân của Vương quốc Anh, vì vậy họ có quyền ra vào và cư trú ở đó. Họ cũng được xem như là công dân của Liên hiệp Âu châu với sự hạn chế về tự do đi lại và cư trú cũng như những đặc quyền mà một người công dân Liên hiệp Âu châu được hưởng, ngoại trừ khi cha mẹ, hay ông bà đã xuất thân từ Vương quốc Anh, hay họ đã cư ngụ ở đó ít nhất 5 năm. == Thư viện ảnh == == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == States of Guernsey - official government site VisitGuernsey/ Guernsey Tourism BBC Guernsey - features and news Information about Port of Guernsey This Is Guernsey - information and news from Guernsey Press and Star The Guille-Allès Library - public library The Priaulx Library - local studies library Map of Guernsey
trạng thái bóng trên sân.txt
Trạng thái bóng trên sân (Bóng Trong Cuộc Và Bóng Ngoài Cuộc) là điều luật thứ 9 của Luật bóng đá, mô tả hai trạng thái của bóng trong một trận đấu. == Bóng Trong Cuộc == Bóng được coi là trong cuộc từ lúc bắt đầu trận đấu cho đến khi: Bóng vượt qua đường biên và ra ngoài sân. Trận đấu được dừng lại bởi trọng tài (do cầu thủ phạm lỗi hay bị chấn thương nghiêm trọng,hoặc do bóng bị hỏng) lưu ý rằng một quả bóng vẫn được tính là trong cuộc nếu: Bóng bật vào sân từ cột dọc, xà ngang cầu môn hoặc cột cờ góc. Bóng bật vào sân từ trọng tài hoặc trợ lý trọng tài đứng trong sân. Khi bóng ở trong cuộc, cầu thủ có thể chơi bóng, tranh cướp bóng và ghi bàn. Cầu thủ cũng bị thổi phạt nếu phạm lỗi. một đội bóng không thể thay cầu thủ nếu bóng vẫn ở trong cuộc,. == Bóng Ngoài Cuộc == Bóng được coi là ngoài cuộc khi: Bóng đã vượt qua hẳn đường biên ngang, biên dọc dù ở mặt sân hay trên không. Trọng tài thổi còi dừng trận đấu. Quả bóng được gọi là "bóng chết" khi bóng ngoài cuộc; Cầu thủ không được phép chơi bóng hay gây cản trở cho đối phương, và bàn thắng cũng không thể được ghi. == Các cách bắt đầu lại trân đấu == khi bóng rơi vào trạng thái bóng chết. Trận đấu lúc này sẽ được khởi động lại bằng các cách chính sau: Ném biên: Khi bóng rơi ra ngoài đường biên dọc do tác động của một cầu thủ đội nhà (dù ở trên mặt sân hay bay trên không). Đội đối phương sẽ được hưởng quyền ném bóng từ vị trí trên đường biên dọc mà bóng rời sân. Từ quả ném biên, bàn thắng chỉ được công nhận khi chạm chân cầu thủ khác Phát bóng: Khi bóng rơi ra ngoài đường biên ngang do tác động của cầu thủ tấn công đối phương. Đội phòng ngự sẽ được hưởng quyền phát bóng lên. Từ quả phát bóng, nếu bóng được đá vào cầu môn, bàn thắng được công nhận. Phạt góc: Khi bóng rơi ra ngoài đường biên ngang do tác động của cầu thủ phòng ngự. Đội tấn công sẽ được hưởng quyền đưa bóng vào trận đấu bằng cú đá từ điểm đá phạt góc (là điểm nối giữa đường biên dọc và đường biên ngang). Từ quả đá phạt góc, nếu bóng được đá vào cầu môn, bàn thắng sẽ được tính. Đá phạt gián tiếp: Khi có cầu thủ bị phạm lỗi nhẹ. Đội đối phương sẽ được hưởng quyền đưa bóng vào trận đấu, nếu đá bóng trực tiếp vào cầu môn, bàn thắng không được công nhận. Bàn thắng chỉ được công nhận khi bóng chạm chân một cầu thủ khác Đá phạt trực tiếp: Khi có cầu thủ bị phạm lỗi nặng (lỗi quy định trong điều 12 của Luật bóng đá, ví dụ bị phạm lỗi khi đang có lợi thế tấn công, bị phạm lỗi từ phia sau). Đội đối phương sẽ được quyền đưa bóng vào trận đấu và bàn thắng ghi vào cầu môn từ cú đá phạt này sẽ được tính. Phạt đền: Khi có cầu thủ tấn công bị phạm lỗi trong khu vực cấm địa của đội phòng ngự. Đội tấn công sẽ được hưởng cú đá phạt từ vị trí đá phạt 11 m, đây là cú đá chỉ có sự tham gia của một cầu thủ đội tấn công (người sút phạt đền) và thủ môn đội phòng ngự. Thả bóng: Khi trận đấu bị dừng lại không phải do bóng ra ngoài sân hoặc có cầu thủ bị phạm lỗi (ví dụ có cầu thủ bị chấn thương, có cổ động viên nhảy vào sân). Trọng tài sẽ là người cầm bóng và thả trước sự có mặt của một cầu thủ mỗi đội. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Toàn văn Luật bóng đá Việt Nam The current Laws of the Game (FIFA) Liên đoàn Bóng đá Việt Nam Văn bản pháp quy về bóng đá tại Việt Nam Văn bản sửa đổi, bổ sung luật thi đấu bóng đá năm 2005 Văn bản sửa đổi, bổ sung luật thi đấu bóng đá năm 2006 Quy định về kỷ luật của FIFA (FDC)
cơ quan nghiên cứu và phát triển hàng không vũ trụ nhật bản.txt
Cơ quan nghiên cứu và phát triển hàng không vũ trụ (kanji: 宇宙航空研究開発機構, âm Hán Việt: Vũ trụ hàng không nghiên cứu khai phát cơ quan, romaji: Uchū-Kōkū-Kenkyū-Kaihatsu-Kikō, tên giao dịch tiếng Anh: Japan Aerospace Exploration Agency, viết tắt là JAXA) của Nhật Bản được thành lập vào ngày 1 tháng 10 năm 2003 là một pháp nhân hành chính độc lập có chức năng là nghiên cứu, phát triển, thám hiểm và khai thác tiềm năng vũ trụ. JAXA có trách nhiệm nghiên cứu, phát triển và phóng các vệ tinh vào quỹ đạo, và tham gia vào nhiều phi vụ khác như thám hiểm thiên thạch (asteroid) và có thể là một chuyến bay có người lái lên Mặt Trăng. == Lịch sử == Vào 1 tháng 10 năm 2003, ba tổ chức quốc gia của Nhật được sáp nhập để tạo thành JAXA: Viện Khoa học Vũ trụ (thuộc Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (Nhật Bản)), Viện Công nghệ Vũ trụ Hàng không, và Cục Phát triển Vũ trụ. Trước khi sáp nhập, ISAS chịu trách nhiệm về các nghiên cứu không gian và các hành tinh khác, trong khi NAL chuyên về các lãnh vực hàng không. NASDA, được thành lập 1 tháng 10 năm 1969, đã phát triển tên lửa, vệ tinh, và cũng đã đóng Mô đun thí nghiệm Nhật Bản (Japanese Experiment Module), dự tính sẽ được phóng và ghép vào Trạm vũ trụ Quốc tế (International Space Station) trong các chuyến bay lắp ghép ISS của các tàu con thoi vào năm 2008. Trụ sở cũ của NASDA nằm tại nơi bây giờ là Trung tâm vũ trụ Tanegashima, trên đảo Tanegashima, 115 kilomete về phía nam của Kyūshū. NASDA cũng huấn luyện các nhà du hành vũ trụ, những người bay trên các tàu con thoi của Hoa Kỳ. == Các tên lửa == JAXA sử dụng tên lửa H-IIA (H "hai" A) phát triển từ NASDA trước đây để phóng các vệ tinh thử nghiệm, vệ tinh thời tiết, v.v. Các phi vụ khoa học như thiên văn tia X, JAXA sử dụng tên lửa nhiên liệu rắn M-V từ ISAS trước đây. Thêm vào đó, JAXA đang phát triển cùng với IHI, Lockheed Martin, và Galaxy Express Corporation (GALEX), tên lửa GX. Tên lửa GX sẽ là tên lửa đầu tiên trên thế giới sử dụng khí tự nhiên hóa lỏng (liquefied natural gas - LNG) như là nhiêu liệu đẩy. Với các thí nghiệm trên thượng tầng khí quyển JAXA sử dụng các tên lửa SS-520, S-520, và S-310. == Thành tựu == Trước khi JAXA được thành lập, ISAS khá thành công trong các chương trình kính viễn vọng không gian sử dụng tia X trong suốt những năm 1980 và 90. Một lãnh vực khác Nhật cũng khá thành công là Giao thoa với đường nền cực dài (Very Long Baseline Interferometry - VLBI) với phi vụ HALCA. Các nghiên cứu quan sát mặt trời và từ trường quyển (magnetosphere) cũng khá thành công. NASDA chủ yếu hoạt động trong các kỹ thuật truyền thông sử dụng vệ tinh. Từ lúc thị trường vệ tinh Nhật Bản là mở hoàn toàn, lần đầu tiên một công ty Nhật trúng một hợp đồng cho một vệ tinh dân sự là chỉ vào năm 2005. Một mặt khác được NASDA tập trung là quan sát thời tiết của Trái Đất. == Phát triển việc phóng và các phi vụ == === Lịch sử tên lửa === Nhật Bản phóng vệ tinh đầu tiên Ohsumi vào năm 1970 với tên lửa M-4 của ISAS. Không giống như tên lửa nhiên liệu rắn, Nhật Bản chọn một con đường chậm hơn với kỹ thuật tên lửa nhiên liệu lỏng. Ban đầu NASDA sử dụng các kiểu của Mỹ. Kiểu đầu tiên phát triển ở Nhật là H-II giới thiệu vào năm 1994. Tuy nhiên vào cuối những năm 90 với hai lần phóng H-II thất bại, kỹ thuật tên lửa của Nhật bị chỉ trích. === Các phi vụ H-IIA đầu tiên === Chuyến bay vũ trụ đầu tiên của Nhật dưới sự lãnh đạo của JAXA, một vụ phóng tên lửa H-IIA vào 29 tháng 11năm2003, đã kết thúc thất bại do các vấn đề về áp suất. Sau 15 tháng ngưng, JAXA phóng thành công một tên lửa H-IIA từ Trung tâm vũ trụ Tanegashima, đặt một vệ tinh vào quỹ đạo vào 26 tháng 2 năm 2005. == Các chuyến bay liên hành tinh == Những chuyến bay đầu tiên của Nhật Bản vượt khỏi quỹ đạo Trái Đất là vào năm 1985 với các vệ tinh quan sát sao chổi Halley mang tên Suisei và Sakigake. Để chuẩn bị cho tương lai, ISAS thử nghiệm các cú nhảy quỹ đạo Trái Đất với vệ tinh Hiten vào năm 1990. Các chuyến bay liên hành tinh hiện nay vẫn ở tại ISAS dưới khung của tổ chức JAXA. Hayabusa (hiện tại),SELENE, Planet-C, BepiColombo, Hayabusa 2 (đang phát triển)? === Thám hiểm thiên thạch nhỏ: phi vụ Hayabusa === Vào 9 tháng 5 2003, Hayabusa (nghĩa là, Peregrine falcon), được phóng từ một tên lửa M-V. Mục đích của phi vụ này là thu nhặt mẫu đất đá từ một thiên thạch. Tàu vũ trụ tự động dự tính là sẽ gặp thiên thạch vào tháng 11 năm 2005, và quay trở lại Trái Đất với mẫu đất đá từ thiên thạch vào tháng 7 năm 2007. Người ta tin chắc rằng là con tàu đã hạ cánh thành công trên thiên thạch vào 20 tháng 11 2005, sau một số rối loạn thông tin ban đầu. Vào 26 tháng 11 2005, Hayabusa thành công trong việc tiếp cận nhẹ nhàng, nhưng liệu nó có thu nhập mẫu đất đá hay không thì không ai biết. Hayabusa dự tính sẽ quay lại Trái Đất vào năm 2010. === Nghiên cứu về buồm mặt trời === Vào 9 tháng 8 năm 2004, ISAS đã phóng thành công hai kiểu buồm mặt trời từ một tên lửa siêu thanh. Một kiểu buồm có dạng ba lá được mở ra ở độ cao 122 km và một kiểu buồm hình quạt được mở ra ở độ cao 169 km. Cả hai loại buồm này đều sử dụng màng mỏng 7.5 micrometre. ISAS lại thử buồm mặt trời một lần nữa như là một phần phụ của chuyến bay Astro-F (Akari) vào ngày 22 tháng 2 năm 2006. Tuy nhiên buồm mặt trời đã không mở ra hoàn toàn. ISAS lại thử buồm mặt trời trên một phần của phi vụ Solar-B phóng vào 23 tháng 9 năm 2006, nhưng liên lạc với vệ tinh đã bị mất. Mục đích là có một chuyến bay bằng buồm mặt trời về Sao Mộc sau năm 2010. == Chương trình thiên văn == Phi vụ thiên văn đầu tiên của Nhật là vệ tinh tia X mang tên Hakucho (Corsa-B), được phóng năm 1979. Sau đó ISAS chuyển sang quan sát mặt trời, thiên văn vô tuyến thông qua VLBI trong không gian và thiên văn giao thoa. Hiện tại: Suzaku, Akari, Hinode. Đang phát triển: ASTRO-G === Thiên văn tia hồng ngoại === Phi vụ thiên văn hồng ngoại đầu tiên của Nhật là kính viễn vọng dài 15 cm IRTS là một phần của vệ tinh đa năng SFU vào năm 1995. Trong suốt 1 tháng trên quỹ đạo IRTS đã quét qua 7% bầu trời trước khi SFU bị đưa xuống mặt đất bởi tàu con thoi. Trong những năm 1990 JAXA cũng ủng hộ các trạm mặt đất cho chương trình Đài thiên văn hồng ngoại (Infrared Space Observatory - ISO) của ESA. Bước kế tiếp của JAXA là vệ tinh Akari, với tên gọi trước khi phóng là ASTRO-F. Vệ tinh này được phóng vào 21 tháng 2 năm 2006. Nhiệm vụ của nó là quan sát thiên văn bằng một kính viễn vọng 68 cm sử dụng tia hồng ngoại. Đây là lần đầu tiên toàn bộ bầu trời được quan sát kể từ phi vụ IRAS vào năm 1983. (Một vệ tinh nhỏ nặng 3.6 kg có tên CUTE-1.7 cũng được thả ra từ cùng một tên lửa phóng.) [1] JAXA cũng đang nghiên cứu và phát triển thêm để tăng cường tính năng của các thiết bị làm lạnh cơ học cho các chuyến phóng vệ tinh hồng ngoại trong tương lai SPICA. Điều này sẽ cho phép họ phóng lên mà không cần helium lỏng. SPICA có cùng kích thước với Trạm quan sát không gian Herschel của ESA, nhưng được dự tính với nhiệt độ khoảng 4.5 K lạnh hơn. Vụ phóng này dự tính vào năm 2015, tuy nhiên phi vụ chưa được cấp ngân sách hoàn toàn. ESA và NASA có thể đóng góp mỗi nơi một thiết bị quan sát.e.html === Thiên văn tia X === Từ năm 1979 Nhật đã bỏ gần 20 năm liên tục quan sát thiên văn dùng kính viễn vọng tia X đặt trên các vệ tinh Hakucho, Tenma, Ginga và Asca. Tuy nhiên vào năm 2000 việc phóng vệ tinh quan sát dùng tia X Astro-E đã thất bại. Vào 10 tháng 7năm 2005, JAXA cuối cùng đã phóng được một vệ tinh mang kính viễn vọng tia X với phi vụ mang tên ASTRO-E II (Suzaku). Có 3 thiết bị trên vệ tinh này: một quang phổ tia X (XRS), một máy chụp quang phổ tia X (XIS), và một máy phát hiện tia X cứng (HXD). Chi tiết thêm có ở ASTRO-E II (Suzaku). === Thiên văn mặt trời === Thiên văn mặt trời của Nhật bắt đầu từ những năm 1980 với phi vụ ASTRO-A. Vệ tinh Hinode (Solar-B), theo sau vệ tinh hợp tác giữa Nhật/US/UK Yohkoh (Solar-A), được phóng vào 23 tháng 9 năm 2006.[2][3] == Các thử nghiệm kỹ thuật == Một trong các nhiệm vụ chính của cơ quan NASDA trước đây là thử nghiệm những kỹ thuật không gian mới, chủ yếu là ở trong lãnh vực truyền thông. Vệ tinh thử nghiệm đầu tiên là ETS-I, được phóng vào năm 1975. Tuy nhiên trong suốt những năm 1990 NASDA bị nhiều vụ việc không may mắn xung quanh các phi vụ ETS-VI và COMETS. Tuy nhiên việc thử nghiệm các kỹ thuật truyền thông vẫn là một nhiệm vụ chính của JAXA hợp tác với NICT. Hiện tại: ETS-VIII, OICETS, Đang phát triển: WINDS, QZSS-1 == Các chương trình quan sát Trái Đất == Các vệ tinh quan sát Trái Đất đầu tiên của Nhật được phóng lên là MOS-1a và MOS-1b phóng vào năm 1987 và 1990. Trong những năm 1990 và đầu những năm 2000 chương trình này bị chỉ trích nặng nề, vì cả hai vệ tinh Adeos (Midori) và Adeos 2 (Midori 2) đều bị hỏng chỉ sau 10 tháng trên quỹ đạo. Các vệ tinh: ALOS (hiện tại) GOSAT, GCOM-W (đang phát triển) == Các vệ tinh khác của JAXA đang được sử dụng == Exos-D (Akebono) quan sát aurora, từ năm 1989. GEOTAIL vệ tinh quan sát từ trường quyển (từ 1992) DRTS Vệ tinh trung chuyển thông tin (Kodama), từ 2002. (dự kiến sẽ kéo dài 7 năm) Vệ tinh Akatsuki của JAXA đi vào quỹ đạo của Sao Kim vào tháng 12 năm 2015, sau 5 năm kể từ ngày rời bệ phóng. Các phi vụ đang hợp tác với NASA là Phi vụ đo lượng mưa nhiệt đới (Tropical Rainfall Measuring Mission-TRMM), Vệ tinh quan sát Trái Đất Aqua. == Các trung tâm nghiên cứu == JAXA có nhiều trung tâm nghiên cứu ở nhiều địa điểm khắp Nhật Bản, và một số trụ sở ở nước ngoài. Tổng hành dinh đặt tại Chofu, Tokyo. Nó cũng có Trung tâm nghiên cứu quan sát Trái Đất (Earth Observation Research Center- EORC), Tokyo Trung tâm quan sát Trái Đất (Earth Observation Center-EOC) ở Hatayama Trung tâm thử nghiệm Noshiro (NTC) - thành lập năm 1962. Tiến hành phát triển và thử các loại động cơ tên lửa. Trung tâm khinh khí cầu Sanriku (SBC) - Các khinh khí cầu được phóng lên từ nơi này từ năm 1971. Trung tâm động cơ đẩy trong không gian Kakuda (KSPC) - dẫn đầu trong việc phát triển các loại động cơ tên lửa. Chủ yếu là phát triển các động cơ nhiên liệu lỏng. Khu Sagamihara (ISAS) - Phát triển các thiết bị thử nghiệm cho tên lửa và vệ tinh. Cũng là nơi có các tòa nhà hành chính. Trung tâm không gian Tanegashima Trung tâm không gian Tsukuba (TKSC) ở Tsukuba. Đây là trung tâm của mạng lưới không gian Nhật Bản. Nó tham dự vào việc nghiên cứu và phát triển vệ tinh và tên lửa, theo dõi đường bay và điều khiển các vệ tinh. Nó phát triển các thiết bị thí nghiệm cho Mô đun thí nghiệm Nhật Bản ("Kibo"). Huấn luyện cho các phi hành gia cũng diễn ra ở đây. Trung tâm không gian Uchinoura == Tham khảo == == Liên kết ngoài == JAXA "JAXA 2025" Presentation RAND Report on Japan's Space Program, 2005 CSIS Report on US-Japan Space Policy Cooperation, 2003 GOSAT satellite
hạ viện.txt
Hạ viện (hay Hạ nghị viện) là một trong hai viện của Quốc hội ở tại các Quốc gia lưỡng viện. Các thành viên của Hạ viện được chọn lựa qua bầu cử. Hạ viện có chức năng lập pháp. Quyền lực của hạ viện so với thượng viện là khác nhau tùy theo hiến pháp. Đại biểu quốc hội tại hạ nghị viện thường là do người dân trực tiếp bầu, nên còn gọi là dân biểu. Trong khi đại biểu quốc hội tại thượng nghị viện thường được gọi là nghị sĩ, hay là thượng nghị sĩ. Tại các quốc gia theo thể chế dân chủ nghị viện, hạ viện có quyền lập ra thủ tướng và chính phủ. Đảng nào có nhiều ghế trong hạ viện có quyền thành lập chính phủ. Ví dụ: Anh, Canada, Úc... Quốc hội tại những quốc gia có một viện được coi là tương đương với hạ viện. Ví dụ: Việt Nam, Trung Quốc... Hạ viện Hoa Kỳ bao gồm 435 dân biểu được bầu chọn dựa trên tỷ lệ dân số của mỗi tiểu bang. = Xem thêm = Nghị viện Thượng viện Ngành lập pháp == Tham khảo ==
lục quân hoa kỳ.txt
Lục quân Hoa Kỳ là một quân chủng của Quân đội Hoa Kỳ có trách nhiệm với các chiến dịch quân sự trên bộ. Đây là quân chủng xưa nhất và lớn nhất về quân sự của Hoa Kỳ, và là một trong 7 lực lượng đồng phục của Hoa Kỳ (uniformed services). Lục quân hiện đại có nguồn gốc từ Lục quân Lục địa được thành lập vào ngày 14 tháng 6 năm 1775, trước khi Hoa Kỳ được khai sinh để đáp ứng nhu cầu cho Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Quốc hội Liên hiệp (Congress of the Confederation) thành lập Lục quân Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng 6 năm 1784 sau khi kết thúc chiến tranh để thay thế Lục quân Lục địa bị giải tán. Lục quân tự xem mình là hậu duệ của Lục quân Lục địa và vì thế coi ngày thành lập của mình chính là ngày thành lập của lực lượng Lục quân Lục địa. Nhiệm vụ chính của Lục quân Hoa Kỳ là "cung ứng các lực lượng và khả năng cần thiết... để hỗ trợ chiến lược phòng vệ và an ninh quốc gia." Lục quân Hoa Kỳ được điều hành và chỉ huy bởi Bộ Lục quân Hoa Kỳ, đây là một trong ba bộ quân sự trực thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Người lãnh đạo dân sự là Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Sĩ quan quân sự cao cấp nhất trong bộ là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ trừ khi Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ hay Tổng tham mưu phó Liên quân Hoa Kỳ là sĩ quan lục quân. Lục quân hiện dịch hiện có 475.000 quân, Lục quân Vệ binh Quốc gia có 342.000 quân và Lục quân Trừ bị Hoa Kỳ có 198.000 quân. Tính chung tất cả thì tổng lực lượng lên đến 1.015.000 quân (năm tài khóa 2016). == Sứ mạng == Lục quân Hoa Kỳ phục vụ với vai trò là binh chủng trên bộ của Quân đội Hoa Kỳ. Mục §3062 trong Điều 10 Bộ luật Hoa Kỳ đã định nghĩa mục đích của Lục quân như sau: Duy trì hòa bình và an ninh, cung ứng lực lượng bảo vệ Hoa Kỳ, các thịnh vượng chung, thuộc địa, và bất cứ vùng đất nào mà Hoa Kỳ chiếm giữ. Hỗ trợ các chính sách của quốc gia. Thực thi các mục tiêu của quốc gia. Vượt lên chiến thắng bất cứ quốc gia nào có những hành động gây hấn mà đe dọa hòa bình và an ninh của Hoa Kỳ. == Lịch sử == === Nguồn gốc === Lục quân Lục địa được Quốc hội Lục địa thành lập vào ngày 14 tháng 6 năm 1775 với vai trò là quân đội thống nhất của mười ba thuộc địa chống lại Vương quốc Anh. Khi đó George Washington được bổ nhiệm làm tư lệnh của đội quân thống nhất này. Lục quân ban đầu do các quân nhân phục vụ trong Lục quân Anh hay các dân quân thuộc địa. Những người này đã mang theo di sản quân đội Anh cùng với họ khi gia nhập Lục quân Lục địa. Khi Chiến tranh Cách mạng Mỹ đang tiến triển thì Lục quân Lục địa nhận được sự trợ giúp và tiếp liệu cũng như học thuyết của Pháp nên có phần ảnh hưởng đến lực lượng này. Sự trợ giúp của Phổ và các huấn luyện viên Phổ như Friedrich Wilhelm von Steuben cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với Lục quân Lục địa. George Washington đã sử dụng chiến lược Fabian (tránh đối đầu trực tiếp, từng bước tiêu hao lực lượng địch), chiến thuật đánh và rút nhằm vào nơi yếu điểm nhất của địch để tiêu hao các lực lượng Anh và đồng minh đánh thuê của họ. Washington đã dẫn dắt lục quân chiến thắng chống lại người Anh tại các trận Trenton và Princeton, và rồi quay trở về miền nam. Với chiến thắng có tính quyết định tại trận bao vây Yorktown và sự giúp đỡ của người Pháp, Tây Ban Nha, và Hà Lan, Lục quân Lục địa toàn thắng trước người Anh. Theo Hiệp định Paris (1783), nền độc lập của Hoa Kỳ được công nhận. Sau chiến tranh, Lục quân Lục địa nhanh chóng bị giải tán vì người Mỹ không tin tưởng vào quân đội hiện có mà thay vào đó quân dân từ các tiểu bang trở thành lực lượng bộ binh duy nhất của quốc gia mới, trừ một trung đoàn được giữ lại để bảo vệ vùng Lãnh thổ Tây Bắc và một đại đội pháp binh bảo vệ kho vũ khí ở West Point. Tuy nhiên vì xung đột tiếp tục xảy ra giữa Hoa Kỳ và người bản thổ Mỹ nên Hoa Kỳ nhận thấy rằng một lục quân hiên dịch được huấn luyện là điều cần thiết. Đơn vị đầu tiên là Lê Dương Hoa Kỳ, được thành lập vào năm 1791. === Thế kỷ 19 === Chiến tranh năm 1812 là cuộc chiến thứ hai và cũng là cuối cùng của người Mỹ chống lại người Anh nhưng không thành công bằng Chiến tranh Cách mạng Mỹ trước kia. Một cuộc xâm nhập vào Canada bị thất bại và quân đội Hoa Kỳ không thể ngăn cản được người Anh hỏa thiêu thủ đô mới của Hoa Kỳ vào lúc đó là Washington, D.C.. Tuy nhiên, Lục quân chính quy dưới quyền của các vị tướng Winfield Scott và Jacob Brown đã chứng tỏ được sự chuyên nghiệp của họ và có thể đánh bại quân đội Anh trong Chiến dịch Niagara vào năm 1814. Hai tuần sau khi một hiệp ước được ký kết, Andrew Jackson đã đánh bại cuộc xâm nhập New Orleans của người Anh. Tuy nhiên cuộc chiến thắng này không có ảnh hưởng lớn vì hiệp ước đã bắt buộc hai bên trở về vị trí ban đầu của mình. Giữa năm 1815 và 1860, tinh thần của cái gọi là Vận mệnh hiển nhiên trở nên quen thuộc tại Hoa Kỳ và khi người định cư Mỹ di chuyển về phía tây thì Lục quân Hoa Kỳ lại phải đối phó với một loại các vụ tập kích và trận đánh để chống lại người bản thổ Mỹ trong khi những người thực dân Mỹ đã làm lật tung nơi ăn chốn ở của họ. Lục quân Hoa Kỳ cũng phải chiến đấu trong Chiến tranh Mỹ-Mexico (1846–1848). Đây là sự kiện mang tính định đoạt đối với cả hai quốc gia. Sự chiến thắng của người Mỹ đã thu về cho Hoa Kỳ một vùng lãnh thổ rộng lớn mà sau này trở thành toàn bộ hay một phần của các tiểu bang California, Nevada, Utah, Colorado, Arizona, Wyoming và New Mexico. Nội chiến Hoa Kỳ là cuộc chiến đắt giá nhất thời kỳ này. Sau khi đa số các tiểu bang miền nam ly khai và thành lập liên minh miền Nam Hoa Kỳ, Lực lượng miền nam nổ súng tấn công lực lượng miền bắc và khởi sự cuộc nội chiến tại Đồn Sumter ở Charleston, Nam Carolina. Trong khoảng thời gian hai năm đầu nội chiến, lực lượng miền nam thắng đậm Lục quân Hoa Kỳ nhưng sau các trận đánh có tính quyết định tại Gettysburg ở miền đông và Vicksburg ở miền tây cùng với sức mạnh siêu đẳng về quân số cũng như công nghệ quân đội liên bang đã thực hiện một chiến dịch thần sầu vượt qua lãnh thổ của phe miền nam và cuộc nội chiến kết thúc khi phe miền nam đầu hàng vào tháng 4 năm 1865. Theo con số điều tra dân số năm 1860, có đến 8% nam người Mỹ da trắng tuổi từ 13 đến 43 chết trong cuộc chiến này trong đó khoảng 6% ở miền bắc và 18% ở miền nam. Sau nội chiến, Lục quân Hoa Kỳ đánh một cuộc chiến kéo dài với người bản thổ Mỹ vì người bản thổ Mỹ chống lại việc người Mỹ mở rộng lãnh thổ vào bên trong giữa lục địa Bắc Mỹ. Vào thập niên 1890, Hoa Kỳ trở thành một nhân tố tầm cỡ quốc tế khi Hoa Kỳ thắng cuộc trong Chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha và thắng cuộc chiến gây tranh cãi và ít biết đến hơn là Chiến tranh Mỹ-Philippines cũng như sự can thiệp của Hoa Kỳ vào châu Mỹ Latin và cuộc khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn. === Thế kỷ 20 === Năm 1910, Quân đoàn Truyền tin Hoa Kỳ trực thuộc Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Signal Corps) mua và sử dụng các phi cơ đầu tiên cho Lục quân Hoa Kỳ, đó là các phi cơ có cánh hai tầng Wright Type A. Hoa Kỳ tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ nhất vào năm 1917 bên cạnh Vương quốc Anh, Pháp, và Nga. Quân đội Hoa Kỳ được đưa đến mặt trận và tham gia vào cuộc tấn công mà cuối cùng đã phá vỡ được các phòng tuyến của Đức. Khi hiệp ước đình chiến được ký kết ngày 11 tháng 11 năm 1918 thì Lục quân Hoa Kỳ một lần nữa bị cắt giảm lực lượng. Hoa Kỳ tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai sau khi Đế quốc Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng. Tại chiến trường châu Âu, các lực lượng thuộc Lục quân Hoa Kỳ đã hình thành nên một bộ phận nổi bật của các lực lượng chiếm Bắc Phi và Sicilia. Vào ngày mà ngày nay gọi là D-Day và sau đó là giải phóng châu Âu và đánh bại Phát xít Đức thì đã có đến hàng triệu binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ đóng vai trò trung tâm của lực lượng đồng minh. Tại mặt trận Thái Bình Dương, các binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ đã cùng với Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tham gia vào chiến dịch tấn công chớp nhoáng vào các hải đảo để giành lấy từng đảo này từ tay của Đế quốc Nhật Bản. Sau khi phe trục đầu hàng vào tháng 5 (Đức) và tháng 8 (Nhật) năm 1945, binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ được triển khai để chiếm đóng hai quốc gia bại trận là Nhật và Đức. Hai năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Không lực Lục quân Hoa Kỳ được tách ra khỏi Lục quân Hoa Kỳ và trở thành Không lực Hoa Kỳ vào ngày 18 tháng 9 năm 1947 sau nhiều thập niên tìm cách tách ra khỏi lục quân. Vào năm 1948, Lục quân Hoa Kỳ cũng chấm dứt việc tách ly chủng tộc trong quân đội. Tuy nhiên, cuốiChiến tranh thế giới thứ hai cũng là thời điểm sinh ra sự đối đầu giữa Đông và Tây mà được biết đến với tên gọi Chiến tranh lạnh. Với sự kiện nổ ra Chiến tranh Triều Tiên, mối quan tâm đến sự phòng thủ Tây Âu phát sinh. Hai quân đoàn, V và VII, được tái phối trí hoạt động dưới quyền của Lục quân 7 Hoa Kỳ vào năm 1950. Lực lượng của Hoa Kỳ tại châu Âu gia tăng từ một sư đoàn lên đến bốn sư đoàn. Hàng trăm ngàn binh sĩ đóng quân Tây Đức cùng với một số khác ở Bỉ, Hà Lan, Vương quốc Anh cho đến thập niên 1990 nhằm ngăn chăn một cuộc tấn công có thể có của Liên Xô. Trong Chiến tranh lạnh, các binh sĩ Mỹ và đồng minh đã chiến đấu chống các lực lượng cộng sản tại Triều Tiên và Việt Nam (xem Thuyết Domino). Chiến tranh Triều Tiên xảy ra vào năm 1950 khi Liên Xô rời bỏ phòng họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và vì thế đã bỏ mất quyền phủ quyết có thể có của họ. Dưới cây dù của Liên Hiệp Quốc, hàng trăm ngàn binh sĩ của Hoa Kỳ đã tham chiến để ngăn cản Bắc Triều Tiên chiếm Nam Triều Tiên và rồi sau đó xâm nhập vào lãnh thổ miền bắc. Sau nhiều lần tiến thoái của cả hai bên và Trung Quốc nhảy vào vòng chiến thì một cuộc ngưng bắn được tuyên bố, kêu gọi hai bên rút về vị trí mà đã được tạo ra vào năm 1953. Chiến tranh Việt Nam thường được xem như một điểm thấp trong hồ sơ lịch sử của Lục quân Hoa Kỳ vì việc sử dụng các binh sĩ bị bắt buộc thi hành quân dịch, thiếu sự ủng hộ chiến tranh của dân chúng Mỹ và những hạn chế gây bức xúc bị áp đặt cho Lục quân Hoa Kỳ từ các nhà lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ (thí dụ như không có cuộc xâm nhập nào của bộ binh được tiến hành vào lãnh thổ của Bắc Việt). Trong lúc các lực lượng Mỹ đóng quân tại Việt Nam Cộng hòa từ năm 1959 với vai trò tình báo, huấn luyện và cố vấn thì họ vẫn chưa triển khai quân với số lượng lớn mãi cho đến năm 1965, sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Các lực lượng Mỹ thiết lập và kiểm soát hữu hiệu chiến trường "truyền thống" nhưng họ lại phải đối phó với các chiến thuật đánh và rút của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Về cấp chiến thuật, các binh sĩ Mỹ không thua một trận chiến tầm cỡ nào. Thí dụ trong trận công kích Tết Mậu Thân năm 1968, Lục quân Hoa Kỳ đã chuyển được tình thế từ bị tấn công thành phản công gây thiệt hại nặng cho các lực lượng Cộng sản tại miền Nam Việt Nam. Chính do kết quả này mà sau đó, đa số các trận đánh lớn khác của Lục quân Hoa Kỳ chỉ xảy ra với lực lượng quân đội chính quy của miền Bắc được bổ sung vào với danh nghĩa Quân giải phóng miền Nam. Tuy nhiên, cuối cùng, sự phản chiến của giới chính trị trong nước buộc Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam vào năm 1973. Năm 1975, Việt Nam thống nhất dưới một chính phủ cộng sản. Năm 1967, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara quyết định rằng 15 sư đoàn của Lực lượng Vệ Binh Quốc gia là không cần thiết và cắt giảm 8 sư đoàn bao gồm 1 sư đoàn Bộ Binh Cơ Giới, 2 sư đoàn Thiết Giáp và 5 sư đoàn Bộ Binh nhưng tăng số lượng lữ đoàn từ 7 lên 18 gồm 1 lữ đoàn Nhảy Dù, 1 lữ đoàn Thiết Giáp, 2 lữ đoàn Bộ Binh Cơ Giới và 14 lữ đoàn Bộ Binh. Chính sách tổng lực lượng được Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ là Đại tướng Creighton Abrams đưa ra sau Chiến tranh Việt Nam là coi ba thành phần của Lục quân Hoa Kỳ – Lục quân Chính quy, Lục quân Vệ binh Quốc gia và Lục quân Trừ bị là một lực lượng đơn độc. Vì tin rằng không có một vị Tổng thống Hoa Kỳ nào có thể đưa Hoa Kỳ (và đặc biệt hơn là Lục quân Hoa Kỳ) vào chiến tranh mà không có sự ủng hộ của dân chúng Mỹ nên đại tướng Abrams kết hợp cơ cấu tổ chức ba thành phần của Lục quân Hoa Kỳ theo cái cách khiến cho các hoạt động quân sự kéo dài không thể nào thực hiện được mà không có sự tham gia của cả Lục quân Vệ binh Quốc gia và Lục quân Trừ bị. Thập niên 1980 là một thập niên tái tổ chức của Lục quân. Lục quân đã biến đổi lực lượng thành lực lượng toàn binh sĩ tình nguyện phục vụ với điểm nhấn là huấn luyện và sử dụng kỹ thuật. Đạo luật Goldwater-Nichols năm 1986 tạo nên các Bộ tư lệnh Chiến đấu Thống nhất (unified combatant command), đưa Lục quân Hoa Kỳ cùng với bốn quân chủng khác nằm dưới các cơ cấu chỉ huy theo vị trí địa lý và thống nhất. Lục quân cũng đóng một vai trò trong cuộc xâm nhập Grenada năm 1983 (Chiến dịch Urgent Fury) và Panama năm 1989 (Chiến dịch Just Cause). Năm 1989 nước Đức thống nhất và Chiến tranh lạnh kết thúc. Các nhà lãnh đạo lục quân thực hiện một kế hoạch cắt giảm quân số. Đến tháng 11 năm 1989 các nhà phác thảo quân sự của Ngũ Giác Đài trình lên một kế hoạch nhằm cắt giảm 23% lực lượng thuộc Lục quân Hoa Kỳ từ 750.000 xuống còn 580.000. Một số sáng kiến giảm quân số được đưa ra như việc cho hồi hưu sớm được sử dụng. Năm 1990 khi Iraq xâm lược quốc gia nhỏ bé lân cận là Kuwait, các lực lượng bộ binh Hoa Kỳ do Sư đoàn Dù 82 lãnh đạo, nhanh chóng triển khai binh sĩ nhằm bảo vệ Ả Rập Saudi. Tháng 1 năm 1991 Chiến dịch Bảo Sa mạc bắt đầu, lực lượng liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo khai triển trên 500.000 binh sĩ, đa số từ các lực lượng thuộc Lục quân Hoa Kỳ cho đến khi Iraq bị đánh bật khỏi lãnh thổ Kuwait. Chiến dịch kết thúc bằng sự toàn thắng đối với Lục quân khi các lực lượng liên quân phương Tây đánh bật Quân đội Iraq trong chỉ một trăm giờ. Sau Chiến dịch Bão Táp Sa mạc, Lục quân Hoa Kỳ không gặp một chiến dịch quân sự lớn nào cho hết thập niên 1990. Các đơn vị của lục quân tham gia vào một số hoạt động gìn giữ hòa bình như ở Somalia năm 1993, nơi đã diễn ra Chiến dịch Gothic Serpent truy quét các chỉ huy cấp cao của quân nổi dậy Somali đang chiếm giữ thủ đô Mogadishu đã khiến cho 18 lính Biệt Động Quân, đặc nhiệm Delta và Trung đoàn 160 Không Vận Đặc Biệt tử trận cùng với hơn 100 lính đặc nhiệm khác bị thương, sau đó các lực lượng quốc tế rút bỏ khỏi quốc gia này. Lục quân cũng góp binh sĩ vào lực lượng gìn giữ hòa bình tại Nam Tư vào cuối thập niên 90. === Thế kỷ 21 === Sau sự kiện 11 tháng 9, và như là một phần của cuộc Chiến tranh chống khủng bố toàn cầu, các lực lượng kết hợp của Hoa Kỳ và Tổ chức Liên phòng Bắc Đại Tây Dương xâm chiếm Afghanistan vào 2001, lật đổ chính phủ Taliban. Lục quân Hoa Kỳ tham gia vào cuộc xâm chiếm phối hợp giữa Hoa Kỳ và đồng minh vào Iraq năm 2003. Những năm theo sau đó, sứ mệnh của cuộc xâm chiếm này thay đổi từ xung đột vũ trang giữa các quân đội chính quy sang chống chiến tranh du kích. Có một con số lớn các vụ tấn công tự sát đã khiến cho Hoa Kỳ tổn thất hơn 4.000 binh sĩ (tính đến tháng 3 năm 2008) và làm bị thương hàng ngàn binh sĩ khác. Vì bất ổn tại Iraq nên Hoa Kỳ đã phải khai triển dài hạn lực lượng Lục quân chính quy cũng như các lực lượng vệ binh quốc gia và trừ bị. Kế hoạch hiện đại hóa chính của Lục quân Hoa Kỳ là chương trình FCS (future combat systems có nghĩa là Hệ thống chiến đấu tương lai). Nhiều hệ thống đã bị hủy bỏ và phần còn lại được đưa vào chương trình hiện đại hóa BCT (brigade combat team có nghĩa là Đội ngũ chiến đấu lữ đoàn). == Tổ chức == === Các bộ phận của Lục quân Hoa Kỳ === Công việc tổ chức Lục quân Hoa Kỳ đã được bắt đầu vào năm 1775. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ nhất, "Lục quân Quốc gia" được tổ chức để tham chiến cuộc xung đột này. Nó bị giải thể vào cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất và được thay thế bởi Lục quân chính quy, các quân đoàn trừ bị có tổ chức, và dân quân tiểu bang. Trong thập niên 1920 và 1930, các quân nhân theo "binh nghiệp" được gọi là "Lục quân chính quy" và các quân đoàn sĩ quan trừ bị và quân đoàn binh sĩ trừ bị sẽ được thay thế vào các vị trí trống khi cần thiết. Năm 1941, "Lục quân của Hoa Kỳ" (Army of the United States) là bộ phận binh sĩ thi hành quân dịch trực thuộc Lục quân Hoa Kỳ được thành lập để tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Lục quân chính quy, Lục quân của Hoa Kỳ, Vệ binh Quốc gia và các quân đoàn sĩ quan/binh sĩ trừ bị cùng tồn tại. SauChiến tranh thế giới thứ hai, các quân đoàn sĩ quan và binh sĩ trừ bị được kết hợp lại thành Lục quân Trừ bị Hoa Kỳ. Lục quân của Hoa Kỳ được tái thành lập cho Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam và rồi bị giải thể ngay khi việc tuyển mộ quân dịch bị đình chỉ. Hiện tại, Lục quân Hoa Kỳ được chia thành Lục quân Chính quy, Lục quân Trừ bị, và Lục quân Vệ binh Quốc gia. Lục quân cũng được chia thành cách phân binh chủng chính như pháo phòng không, bộ binh, không lực, thông tin (signal corps), công binh, và cơ giới. Trước năm 1903, các binh sĩ thuộc Vệ binh Quốc gia được coi là binh sĩ thuộc các tiểu bang trừ khi được Tổng thống Hoa Kỳ liên bang hóa. Từ khi Đạo luật Dân quân 1903 ra đời, tất cả các binh sĩ thuộc Vệ binh Quốc gia là thuộc cả tiểu bang mà họ đóng quân và thuộc liên bang Hoa Kỳ: các binh sĩ vệ binh này nằm dưới quyền của thống đốc tiểu bang của họ và cũng là lực lượng trừ bị của Lục quân Hoa Kỳ dưới quyền của Tổng thống Hoa Kỳ. Từ khi áp dụng chính sách tổng lực lượng theo sau kết cục của Chiến tranh Việt Nam, các binh sĩ thuộc thành phần trừ bị đóng một vai trò hoạt động hơn trong các chiến dịch quân sự của Hoa Kỳ. Các đơn vị Vệ binh Quốc gia và lực lượng trừ bị đã tham gia trong Chiến tranh vùng Vịnh, giữ hòa bình tại Kosovo, và cuộc xâm chiếm Iraq vào năm 2003. Vô số lực lượng phòng vệ tiểu bang cũng tồn tại, đôi khi được gọi là dân quân tiểu bang do các chính quyền tiểu bang riêng biệt bảo trợ và phục vụ như là một đoàn quân thay thế cho Vệ binh quốc gia. Trừ khi trong thời gian quá nguy cấp cho quốc gia, thí dụ như Hoa Kỳ bị xâm chiếm, nếu không thì các lực lượng dân quân được hoạt động độc lập với Lục quân Hoa Kỳ và được xem là các lực lượng của chính quyền tiểu bang hơn là một thành phần quân sự quốc gia. Mặc dù Lục quân ngày nay gồm toàn lực lượng tình nguyện, được gia tăng quân số khi cần từ các lực lượng Lục quân Trừ bị và Lục quân Vệ binh Quốc gia nhưng chính sách quân dịch vẫn còn tồn tại trong trường hợp có tai họa, thí dụ như Hoa Kỳ bị tấn công trong phạm vi lớn hay chiến tranh thế giới bùng nổ. Giai đoạn cuối cùng của việc tổng động viên được biết đến với tên gọi "tái hoạt động các quân dân chưa được tổ chức" sẽ đặt toàn thể nam giới trong hạn tuổi phục vụ gia nhập Lục quân Hoa Kỳ. Lần cuối cùng xảy ra sự việc như thế là trong thời Nội chiến Hoa Kỳ khi liên minh miền Nam Hoa Kỳ kêu gọi nhập ngũ vào năm 1865, bắt buộc tất cả nam giới không phân biệt tuổi tác hay sức khỏe vào quân đội miền Nam. === Các bộ tư lệnh Lục quân và bộ tư lệnh thành phần của Lục quân === Nguồn: Tổ chức Lục quân Hoa Kỳ === Cơ cấu === Lục quân Hoa Kỳ gồm có ba thành phần: chính quy; 2 thành phần trừ bị là Lục quân Vệ binh Quốc gia và Lục quân Trừ bị. Cả hai thành phần trừ bị gồm có các binh sĩ bán thời gian, tham dự huấn luyện chỉ một lần trong tháng và tham dự một khóa huấn luyện thường niên dài từ hai đến ba tuần mỗi năm. Trong khi Lục quân Vệ binh Quốc gia được tổ chức, huấn luyện và trang bị như một thành phần của Lục quân Hoa Kỳ, khi nó không phục vụ cho liên bang thì mỗi đơn vị riêng của nó nằm dưới quyền của các thống đốc lãnh thổ và tiểu bang riêng biệt hay thị trưởng Đặc khu Columbia. Tuy nhiên Vệ binh Quốc gia Hoa Kỳ có thể bị liên bang hóa bằng sắc lệnh của Tổng thống Hoa Kỳ cho dù thống đốc tiểu bang có đồng ý hay không. Lục quân Hoa Kỳ do Bộ trưởng Lục quân thuộc giới dân sự lãnh đạo. Bộ trưởng này trực tiếp báo cáo với Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ và phục vụ với vai trò giám sát về mặt dân sự cho Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ là một thành viên của Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ, đây là một bộ phận chung gồm các tham mưu trưởng của các quân chủng có nhiệm vụ cố vấn cho Tổng thống Hoa Kỳ và Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ trong các vấn đề về quân sự dưới sự chỉ đạo của Tổng tham mưu trưởng và Tổng tham mưu phó Liên quân Hoa Kỳ. Năm 1986, Đạo luật Goldwater-Nichols đặt ra thứ tự lãnh đạo theo hệ thống dây chuyền từ Tổng thống Hoa Kỳ đến Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ rồi trực tiếp đến các tư lệnh của các Bộ tư lệnh Tiền phương Thống nhất (Unified Combatant Command). Những vị tư lệnh này nắm giữ tất cả các đơn vị vũ trang thuộc mọi quân chủng trong vùng địa lý trách nhiệm của họ. Vì thế mỗi tham mưu trưởng của các quân chủng chỉ có trách nhiệm tổ chức, huấn luyện và trang bị cho quân chủng của mình. Các quân chủng này sẽ cung ứng lực lượng đã được huấn luyện cho các tư lệnh chiến trường sử dụng. Cho đến năm 2013, Lục quân Hoa Kỳ sẽ thực hiện xong việc chuyển đổi sang sáu bộ tư lệnh vùng địa lý để hợp với sáu Bộ tư lệnh Tiền phương Thống nhất của Hoa Kỳ (mỗi Bộ tư lệnh Tiền phương Thống nhất gồm có tất cả các quân chủng): Lục quân 3 Hoa Kỳ đặc trách miền Trung, tổng hành dinh tại Trại McPherson, Georgia Lục quân 5 Hoa Kỳ đặc trách miền Bắc, tổng hành dinh tại Trại Sam Houston, Texas Lục quân Hoa Kỳ miền Nam, tổng hành dinh tại Trại Sam Houston, Texas Lục quân 7 Hoa Kỳ đặc trách châu Âu, tổng hành dinh tại Heidelberg, Germany Bộ tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ Thái Bình Dương, tổng hành dinh tại Trại Shafter, Hawaii (dần dần được nhập vào Lục quân 8 Hoa Kỳ). Southern European Task Force (Army component of USAFRICOM) headquartered at Vicenza, Italy Lục quân đang thay đổi cấp đơn vị cơ bản từ sư đoàn sang lữ đoàn. Cấp Sư đoàn vẫn sẽ được giữ nhưng Bộ Tư lệnh của các Sư đoàn có quyền điều khiển bất kì Lữ đoàn nào chứ không chỉ Lữ đoàn dưới quyền điều động của mình. Phần chính của việc hiện đại hóa này là các Lữ đoàn sẽ được tổ chức giống nhau và bất kì Lữ đoàn nào cũng có thể được điều động bởi bất kì Sư đoàn nào. Sẽ có 3 loại Lữ đoàn chiến đấu mặt đất chính như sau: Lữ đoàn Hạng nặng: Thiết Giáp có 4.700 binh sĩ bao gồm 90 xe tăng M1 Abrams, 90 xe thiết giáp M2 Bradley (BFV), 120 thiết quân vận M-113 (APC) và HMMWVs. Lữ đoàn Hạng trung: Stryker (sử dụng loại xe cơ giới 8 bánh thuộc dòng xe Stryker) có 4.500 binh sĩ gồm 300 xe thiết giáp Stryker các loại, 1 lữ đoàn Stryker có khả năng triển khai bất kì nơi nào trên thế giới trong vòng 24h và trong vòng 96h triển khai hoàn chỉnh 1 sư đoàn Thiết giáp Stryker. Lữ đoàn Hạng nhẹ: Bộ Binh, Nhảy Dù có 4.400 binh sĩ, các lữ đoàn nhẹ này có khả năng triển khai đến bất kì đâu trên thế giới trong vòng 18h. Ngoài ra cũng sẽ có các lữ đoàn hỗ trợ phục vụ và hỗ trợ chiến đấu. Các lữ đoàn hỗ trợ chiến đấu gồm có các lữ đoàn không vận gồm có các phi cơ hạng nặng và nhẹ các loại, các lữ đoàn pháo binh, và các lữ đoàn hậu cần. === Tổ chức lực lượng chiến đấu chính quy === Lục quân Hoa Kỳ gồm có 10 sư đoàn hiện dịch cũng như có một số đơn vị độc lập. Lực lượng đang trong tình trạng phát triển với bốn lữ đoàn nữa theo kế hoạch đã được thành lập vào năm 2013 với quân số sẽ tăng thêm 74.200 binh sĩ tính từ tháng 1 năm 2007. Mỗi sư đoàn sẽ có bốn lữ đoàn tác chiến bộ binh, sẽ có ít nhất một lữ đoàn không vận cũng như một lữ đoàn pháo binh và một lữ đoàn hậu cần. Trong Lục quân Vệ binh Quốc gia và Lục quân Trừ bị có thêm 8 sư đoàn với 15 lữ đoàn hỗn hợp, gồm các lữ đoàn hỗ trợ chiến đấu và hỗ trợ phục vụ chiến đấu, và các lữ đoàn kỵ binh, bộ binh, pháo binh, không lực, công binh, hỗ trợ độc lập. Vào năm 2015, Lục quân chính quy đã được cắt giảm xuống còn 32 lữ đoàn chiến đấu với 490.000 quân. Tướng Raymond Odierno cho biết vào năm 2018, Lục quân sẽ có quân số gồm 450.000 quân chính quy, 335.000 quân thuộc Vệ Binh Quốc gia và 195.000 quân thuộc Lục quân trừ bị. === Các lực lượng hành quân đặc biệt === Bộ tư lệnh Chiến dịch Đặc biệt Lục quân Hoa Kỳ (lính dù) == Nhân sự == Đây là các cấp bậc của Lục quân Hoa Kỳ hiện đang được sử dụng và các cấp bậc tương ứng của chúng trong lực lượng NATO. Các sĩ quan: Chuẩn úy: Binh sĩ và hạ sĩ quan: == Trang bị == === Vũ khí === Lục quân khai triển nhiều loại vũ khí cá nhân khác nhau cho mục đích tạo hỏa lực nhẹ ở tầm ngắn. Vũ khí phổ biến nhất mà Lục quân Hoa Kỳ sử dụng là súng M16 và chủng loại nhỏ hơn của nó là M4 carbine. Loại súng M4 đang từ từ thay thế loại súng M16 trong một số đơn vị, chủ yếu là bộ binh, biệt kích, và lực lượng đặc biệt. Các binh sĩ với nhiệm vụ mà cần có một loại vũ khí nhẹ hơn, thí dụ như các binh sĩ phục vụ trên xe chiến đấu, các sĩ quan tham mưu, quân cảnh, được trang bị với loại M4. Loại vũ khí đeo bên mình và phổ biến nhất trong Lục quân Hoa Kỳ là súng lục M9 9 mm được cấp cho đa số các đơn vị tác chiến và hỗ trợ. Biệt kích Hoa Kỳ sẽ được trang bị với loại súng trường SCAR-H vào cuối năm 2010. Nhiều loại vũ khí đặc biệt khác nhau được cung cấp gồm có súng máy nhẹ M249 để tăng cường hỏa lực cho cấp tiểu đội, súng săn Benelli M4 Super 90 hay Mossberg 590 dùng để bật tung cửa khóa và cận chiến, súng trường M14 dành cho các binh sĩ bắn xẻ tầm xa, súng trường bắn xẻ tầm xa M107, hệ thống bắn xẻ tầm xa M24, hay súng trường bắn xẻ bán tự động M110 dành cho các xạ thủ bắn xẻ. Lựu đạn như M67 và trái cay M18 cũng được dùng trong tác chiến. Lục quân cũng triển khai nhiều loại vũ khí tập thể để tăng cường hỏa lực ở ngoài tầm vũ khí cá nhân. Súng máy M249 là loại súng máy chuẩn hạng nhẹ của Lục quân. Súng máy M240 là loại chuẩn tầm trung của Lục quân.. Súng máy hạng nặng M2 được dùng như súng máy chống cá nhân và chống phá vật cản. Súng máy M2 cũng thường là vũ khí chính trên các loại xe tác chiến bộ binh Stryker và là hệ thống vũ khí thứ hai trên xe tăng M1 Abrams. Súng máy phóng lựu MK 19 được sử dụng chính yếu trong các đơn vị cơ giới. Loại này được sử dụng phổ biến trong vai trò bổ sung đối với súng máy hạng nặng M2. Lục quân sử dụng ba loại súng cối để hỗ trợ hỏa lực gián tiếp khi pháo binh nặng bắn không chính xác hay chưa sẵn có. Loại nhỏ nhất trong số súng cối là loại súng cối M224 60 mm, thường được giao cho các đơn vị cấp đại đội bộ binh. Ở cấp bậc đơn vị kế tiếp là cấp tiểu đoàn thì dùng súng cối M252 81 mm. Loại súng cối lớn nhất của Lục quân là súng cối M120 120 mm hay M121, thường được các tiểu đoàn cơ giới, các đơn vị xe Stryker, và các binh sĩ kỵ binh sử dụng bởi vì chúng cồng kềnh và nặng nề nên cần phải chuyển vận bằng vận xa hay kéo đằng sau xe. Các loại pháo binh kéo theo xe được sử dụng để yểm trợ hỏa lực cho các đơn vị bộ binh nhẹ trong đó có pháo binh M119A1 105 mm và pháo binh M777 155 mm (sẽ thay thế pháo binh M198). === Các loại xe và phi cơ === Lục quân Hoa Kỳ đã sử dụng một phần đáng kể ngân sách để quân sự của mình để duy trì một số lượng xe và phi cơ đủ các chủng loại. Loại xe phổ biến nhất của Lục quân là Humvee, có khả năng phục vụ với các vai trò như chở binh sĩ, tiếp liệu, nơi đặt vũ khí, tải thương và còn nhiều vai trò khác nữa. Mặc dù lục quân sử dụng nhiều loại xe hỗ trợ tác chiến khác nhau nhưng loại phổ biến nhất là nhóm xe chiến thuật cơ động mở rông hạng nặng HEMTT. M1A2 Abrams là loại xe tăng tác chiến chính của lục quân, trong khi đó M2A3 Bradley là xe chiến đấu bộ binh chuẩn của lục quân. Các loại xe quân sự khác gồm có xe tác chiến kỵ binh M3A3 thuộc dòng xe chiến đấu Bradley, dòng xe Stryker, và thiết vận xa bộ binh M113, và nhiều loại xe bộ binh bọc thép có thể chống được mìn bẫy. Vũ khí pháo binh của Lục quân Hoa Kỳ khá đa dạng. AN/TWQ-1 Avenger, MIM 104 Patriot và THAAD là 3 hệ thống tên lửa phòng không. Pháo mặt đất gồm lựu pháo M777, M119, pháo tự hành M109A6 Paladin, hệ thống pháo phóng loạt cơ động cao M142 HIMARS và hệ thống phóng nhiều tên lửa M270, được đặt trên bệ phóng có thể di chuyển bằng dây xích hay được triển khai cho các đơn vị cơ giới nặng. Mặc dù Lục quân Hoa Kỳ sử dụng một số ít phi cơ có cánh cố định nhưng lại sử dụng nhiều loại phi cơ cánh quạt. Trong số các loại cánh quạt là trực thăng tấn công AH-64 Apache(698 chiếc), trực thăng tấn công hạng nhẹ/trinh sát vũ trang OH-58 Kiowa, trực thăng vận tải tiện ích chiến thuật UH-60 Black Hawk (1345 chiếc) và trực thăng vận tải hạng nặng CH-47 Chinook(394 chiếc). === Quân phục === Quân phục tác chiến của Lục quân Hoa Kỳ có hình thể màu sắc ngụy trang, được thiết kế để sử dụng hợp với những môi trường đô thị, sa mạc, rừng. Các binh sĩ đang tác chiến tại Afghanistan sẽ sớm được phát loại quân phục tác chiến có khả năng chống lửa và hình thể có nhiều màu sắc. Quân phục chuẩn dùng cho khi đóng quân thường được biết đến là màu xanh lá lục quân (army green) và đã được tất cả các sĩ quan và binh sĩ mặc kể từ khi nó được sử dụng vào năm 1956 khi nó thay thế quân phục khaki màu olive. Quân phục màu xanh nước biển lục quân có lịch sử ngược về giữa thế kỷ 19, hiện nay là quân phục nghi thức của Lục quân Hoa Kỳ, nhưng nó sẽ thay thế quân phục màu trắng và màu xanh lá và sẽ trở thành quân phục thường ngày mới của Lục quân (dùng trong công việc văn phòng hay ở chốn công cộng). Mũ nồi (beret) sẽ tiếp tục được sử dụng cùng với quân phục tác chiến lục quân mớ khi làm nhiệm vụ ở nơi đóng quân và quân phục thường ngày được dùng khi thực hiện các nhiệm vụ không phải là nghi thức. Áo giáp cá nhân trong đa số các đơn vị là loại áo chắn ở ngực có cải tiến (improved outer tactical vest) và nón sắt tác chiến MICH TC-2000. === Lều === Lục quân Hoa Kỳ phụ thuộc nhiều vào lều để cung cấp nhiều cơ sở vật chất mà họ cần khi triển khai lực lượng tại một vùng nào đó. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ có nhiều luật lệ gắt gao về chất lượng và đặc tính của lều. Đa số lều được dùng nhất là loại lều dựng làm nơi nghỉ ngơi tạm cho binh sĩ, khu nhà ăn, các căn cứ tiền phương, trung tâm hành quân chiến thuật, các khu giải trí, phúc lợi, tinh thần, các điểm gác... == Chú thích == == Tham khảo == == Xem thêm == Quân đội Hoa Kỳ NATO
cộng hòa đại nghị.txt
Cộng hòa đại nghị hay cộng hòa nghị viện là một hình thức cộng hòa mà nguyên thủ quốc gia được bầu ra và quốc gia đó có một nghị viện mạnh và các thành viên chính của bộ phận hành pháp được chọn ra từ nghị viện đó. Ngược lại với nền cộng hòa tổng thống và nền cộng hòa bán tổng thống, tổng thống ở những quốc gia có nền Cộng hòa đại nghị thường không có quyền hành pháp rộng lớn bởi vì nhiều quyền trong đó được trao cho người đứng đầu chính phủ (thường được gọi là thủ tướng). Tuy nhiên, người đứng đầu chính phủ và nguyên thủ quốc gia có thể là một chức vụ ở nền cộng hòa đại nghị (như ở Cộng hòa Nam Phi và Botswana), nhưng tổng thống vẫn được bầu theo một cách gần tương tự đối với nhiều nước theo hệ thống Westminster. Có một số trường hợp cá biệt, theo luật, tổng thống được có quyền hành pháp để điều hành công việc hàng ngày của chính phủ (ví dụ Phần Lan hay Ireland) nhưng thông thường họ không dùng những quyền này. Do đó, một số nền cộng hòa đại nghị được xem như là một chế độ bán tổng thống nhưng hoạt động dưới quyền nghị viện. == Lịch sử phát triển == Điển hình, nền cộng hòa đại nghị là những quốc gia trước đây theo chế độ quân chủ lập hiến mà người đứng đầu nhà nước cho đến nay là quốc vương (và trong trường hợp Khối Thịnh vượng chung Anh, trước đây được một toàn quyền - Governor General - đại diện) đang được thay thế bằng một tổng thống không có quyền hành pháp. Cũng có nhiều nền cộng hòa đại nghị một thời đã là nhà nước đơn đảng như ở khối Đông Âu hay Liên Xô. == Những quốc gia theo chế độ cộng hòa đại nghị hiện nay == == Quốc gia trước đây theo chế độ cộng hòa đại nghị == == Ghi chú ==
karakoram.txt
Karakoram (hoặc Karakorum) là một dãy núi lớn bao trùm biên giới giữa Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc, nằm ở khu vực Gilgit-Baltistan (Pakistan), Ladakh (Ấn Độ), và khu vực Tân Cương, (Trung Quốc). Nó là một trong những dãy núi lớn của châu Á, thuộc một phần của Himalaya lớn hơn trong khi trên thực tế nó nằm về phía bắc của dãy Himalaya. Karakoram là nơi tập trung cao nhất của các đỉnh núi cao hơn năm dặm Anh, bao gồm K2, đỉnh cao thứ hai trên thế giới (8.611 mét). K2 chỉ cao kém đỉnh Everest 237 m (Everest có chiều cao 8.848 m). Dãy núi này dài khoảng 500 km (311 dặm) chiều dài, và là khu vực đóng băng dày đặc nhất của thế giới bên ngoài các vùng cực. Sông băng Siachen với chiều dài 70 km và sông Biafo dài 63 km là các sông băng dài thứ hai và thứ ba trong các sông băng bên ngoài các vùng cực. == Các đỉnh núi chính == Các đỉnh núi cao của dãy Karakoram gồm có: K2 (8.611 m) Gasherbrum I (8.068 m) Đỉnh Broad (Phalchen Kangri) (8.047 m) Gasherbrum II (8.035 m) Gasherbrum III (7.952 m) Gasherbrum IV (7.925 m) Distaghil Sar (7.885 m) Kunyang Chhish (7.852 m) Masherbrum I (7.821 m) Batura I (7.795 m) Rakaposhi (7.788 m) Batura II (7.762 m) Kanjut Sar (7.760 m) Saltoro Kangri (7.742 m) Batura III (7.729 m) Saser Kangri (7.672 m) Chogolisa (7.665m) Haramosh Peak (7.397 m) Baintha Brakk (7.285 m) Muztagh Tower (7.273 m) == Tham khảo ==
john churchill, công tước marlborough thứ nhất.txt
John Churchill, Công tước Marlborough thứ nhất (26 tháng 5 năm 1650 – 16 tháng 6 năm 1722) là một lãnh đạo quân sự và chính khách Anh mà sự nghiệp trải qua năm triều đại. Xuất thân từ người hầu trong cung đình Nhà Stuart, ông phục vụ James, Công tước xứ York trong thập niên 1670 và đầu những năm 1680, nhanh chóng thăng tiến trong cả quân đội lẫn chính trường nhờ lòng quả cảm và năng lực ngoại giao. Vai trò của Churchill trong việc đánh bại cuộc Khởi nghĩa Monmouth năm 1685 đã giúp đảm bảo ngai vàng cho James, nhưng chỉ 3 năm sau ông từ bỏ nhà bảo trợ theo Công giáo này để theo một người Kháng Cách Hà Lan, William xứ Orange. Được tưởng thưởng vì giúp William đăng quang bằng danh hiệu bá tước vùng Marlborough, ông phục vụ với thành tích xuất sắc những năm đầu Chiến tranh Chín năm, nhưng những cáo buộc ông theo phái Jacobite đã khiến ông mất chức và bị tống giam tạm thời tại Tháp Luân Đôn. Chỉ đến khi Nữ hoàng Anne lên ngôi năm 1702, Marlborough mới trở lại đỉnh cao quyền lực và đảm bảo được danh vị và tài sản. Hôn nhân của ông với Sarah Jennings, một người phụ nữ nóng nảy và bạn thân của Anne, đem lại nhiều lợi ích cho Marlborough, đầu tiên là chức Tổng tư lệnh Quân đội Anh, sau đó là danh hiệu công tước. Trở thành tổng chỉ huy de facto của quân đội Liên minh trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, những chiến thắng của ông tại một loạt các trận quan trọng đưa ông trở thành một trong những vị tướng vĩ đại nhất của lịch sử châu Âu. Nhưng quan hệ sóng gió giữa vợ ông với Nữ hoàng, khiến bà này bị đuổi khỏi cung đình, một lần nữa khiến sự nghiệp của ông vào chỗ suy vong. Bị Anne thất sủng và mắc kẹt giữa các đảng Tory và Whig, Marlborough bị cách chức và buộc phải tự lưu đày. Cuối đời, ông trở lại nước Anh và lấy lại ảnh hưởng khi Nhà Hanover nắm quyền ở Anh với vua George I lên ngôi năm 1714. Tham vọng không ngừng gia tăng của Marlborough khiến ông trở thành người giàu nhất trong số các thần dân dưới triều Anne. Những mối quan hệ gia đình khiến ông can dự vào chính trường châu Âu (chị gái ông, Arabella trở thành tình nhân của James II và con của họ, Công tước Berwick, trở thành Nguyên soái của Louis XIV). Trong khi đó, việc ông lãnh đạo thành công quân đội Liên minh đã đánh dấu sự trỗi dậy của nước Anh với tư cách một cường quốc hàng đầu. Đồng thời với việc duy trì sự thống nhất giữa các đồng minh hiềm khích với nhau, ông cũng tổ chức quân đội Anh tới một mức độ kỷ luật chưa từng thấy từ thời Trung Cổ. == Tuổi trẻ (1650-1678) == === Nhà Ashe === John Churchill sinh ra trong một gia đình quý tộc sa sút sinh sống ở gia trang Ashe ở xã Musbury, hạt Devon. Cha ông, Winston Churchill, là một kỵ sĩ tham gia vào phe Bảo hoàng chiến bại trong Nội chiến Anh và theo thỏa ước đình chiến, buộc phải nộp một khoản chuộc tội khá lớn 446,18 bảng Mặc dù tới năm 1651 Winston cuối cùng cũng trả được khoản phạt, nó cũng làm kiệt quệ gia tài của người đội trưởng kỵ binh cựu Bảo hoàng, người mang khẩu hiệu Fiel Pero Desdichado (Trung thành nhưng Bất hạnh) mà đến nay gia tộc Churchill vẫn duy trì. Winston và người vợ Elizabeth sinh ít nhất 9 người con, nhưng chỉ 5 người không bị chết yểu. Con gái cả Arabella sinh ngày 28 tháng 2 năm 1640; John là con trai trưởng, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1650 (lịch Julius). Hai em trai của John, George và Charles về sau đều trở thành đại tướng và đô đốc trong quân đội Anh. Các ghi chép cho biết rất ít về tuổi thơ của John Churchill, nhưng việc lớn lên trong cảnh gia đình túng bấn, cùng những căng thẳng nội bộ do những đấu tranh phe phái đương thời, có thể đã có ấn tượng lâu dài lên chàng trai John Churchill trẻ tuổi. Hậu duệ mang tên cha ông và là người viết tiểu sử của ông, Thủ tướng Winston Churchill cho rằng hai ấn tượng chính có thể là nỗi căm ghét cảnh nghèo khổ và nhu cầu che giấu suy nghĩ và cảm giác của mình với những người xung khắc. Việc vua Charles II phục hồi nền quân chủ năm 1660 khiến vận may Winston Churchill trở lại, nhưng không đưa ông tới chỗ giàu có. Năm 1661, Winston trở thành đại biểu Hạ viện cho thị trấn Weymouth, và như một ân huệ hoàng gia bù đắp cho những mất mát do nội chiến, ông được bổ nhiệm làm ủy viên tòa án về đất đai của Ireland năm 1661. Gia đình chuyển tới Dublin nơi John vào học tại Trường tự do Dublin; nhưng năm 1664 Winston được triệu hồi làm Trợ lý Tổng quản Hoàng gia tại Cung điện Whitehall, và John chuyển vào học tại trường tư St Paul ở Luân Đôn. Bản thân vua Charles cũng đang thiếu thốn nên các khoản thưởng cho các cựu kỵ sĩ trung thành như Winston rất ít ỏi, nhưng vị vua tiêu pha hoang tàng này có thể cho họ những thứ không tốn ông ta một xu, chẳng hạn những vị trí trong triều đình cho con cháu họ. Do đó năm 1665 Arabella trở thành hầu nữ chính thức (tiếng Anh: maid of honour) cho Anne Hyde, Nữ công tước xứ York. Ít lâu sau John trở thành người hầu cho chồng Anna, Công tước James của xứ York, em trai của nhà vua. === Buổi đầu binh nghiệp === Tham vọng quân sự và hàng hải của Công tước xứ York có ảnh hưởng mạnh mẽ lên John Churchill. Thường hộ tống công tước duyệt binh ở công viên hoàng gia, John quyết tâm lập công danh bằng binh nghiệp. Ngày 14 tháng 9 năm 1667, John nhận quân hàm thiếu úy trong Ngự lâm quân trong Trung đoàn Cận vệ số 1, tiền thân của Vệ binh Hoàng gia Anh. Năm 1668 Churchill được cử tới đồn trú ở Tangier thuộc Bắc Phi, nơi Anh mới thu được như vật hồi môn của Catherine của Braganza, công chúa Bồ Đào Nha vừa trở thành hoàng hậu của Charles II. Churchill lưu lại đây 3 năm, thu được nhiều kinh nghiệm chiến trường và huấn luyện chiến thuật từ những cuộc chạm trán với người Moor. Trở lại Luân Đôn tháng 2 năm 1671, phong cách hào hoa và vẻ điển trai của Churchill đã sớm lôi cuốn một trong những tình nhân nhiều ảnh hưởng nhất của nhà vua, Barbara Villers, Nữ công tước Cleveland. Nhưng mối quan hệ đó cũng gây ra nguy hiểm; một ghi chép nói rằng có lần Churchill tụt khỏi giường Barba trốn vào trong tủ khi Charles tới nhưng bị nhà vua phát hiện, ông nói "Mi là một thằng nhãi ranh, nhưng ta tha thứ cho bởi mi làm thế để kiếm miếng bánh mì." Mặc dù câu chuyện có phần đáng ngờ (một phiên bản khác nói rằng Churchill nhảy qua cửa sổ), nhưng dư luận nhìn chung tin rằng ông là cha đẻ của con gái Barbara, Công nương Barbara FitzRoy sinh năm 1672, dù cho Churchill không bao giờ công nhận. Năm 1672 Churchill tham gia hải quân, đánh nhau với quân Hà Lan trong trận Solebay ngoài bờ biển Suffolk tháng 6 năm đó. Những hành vi dũng cảm trên kỳ hạm của Công tước xứ York, HMS Prince, khiến cho Churchill được thăng vượt cấp lên thành thuyền trưởng (đại tá hải quân) trong Trung đoàn Đô đốc. Năm sau (1673) Churchill tiếp tục nhận khen thưởng khi tham gia vào một đội tiên phong đột kích 30 người, chiếm đóng và cố thủ thành công một phần pháo đài tại trận Maastricht. Ông trở thành nổi tiếng vì cứu mạng Công tước Monmouth và bị một vết thương nhẹ. Ông không chỉ được hoàng gia Anh ghi nhận mà cả vua Louis XIV của Pháp cũng ban lời khen ngợi trực tiếp, từ đó có được danh tiếng trong và ngoài quân đội. === Hôn nhân và gia đình === Khi trở lại St. James, Churchill bị thu hút bởi một thiếu nữ mới tới triều đình tên là Sarah Jennings Sarah có xuất thân rất giống với Churchill: gia đình quý tộc nhỏ, cha mất khi cô lên 8, được tưởng thưởng vì lòng trung thành với nhà Stuart bằng việc trở thành người hầu cho Mary của York, vợ thứ hai của Công tước York. Sarah mới khoảng 15 tuổi vào năm 1675 khi gặp Churchill, và đã lập tức khiến Churchill mê đắm bởi vẻ ngoài và sự duyên dáng. Ban đầu những lời bày tỏ đắm đuối của Churchill bị nghi ngờ, bởi người tình cũ là Barbara mới chuyển tới Paris khiến cho Sarah có thể cảm thấy mình như một tình nhân thế chân hơn là một hôn thê. Tuy nhiên cuối cùng nhiều tháng tán tỉnh cũng giúp Churchill thành công. Mặc dù Winston mong con trai mình lấy Catherine Sedley giàu có hơn, Đại tá Churchill vẫn lấy Sarah vào khoảng mùa đông năm 1677-1678, có lẽ trong gia tư của Nữ công tước xứ York. John và Sarah có cả thảy 7 người con: Công nước Harriet Churchill (tháng 10 năm 1679-khoảng 1698) Henrietta Churchill, Nữ công tước Marlborough thứ hai (19 tháng 7 năm 1681 – 24 tháng 10 năm 1733) Công nương Anne Churchill (27 tháng 2 năm 1683 – 15 tháng 4 năm 1716) John Churchill, Hầu tước Blandford (13 tháng 2 năm 1686 – 20 tháng 2 năm 1703) Công nương Elizabeth Churchill (15 tháng 3 năm 1687 – 22 tháng 5 năm 1751) Công nương Margaret Churchill (15 tháng 7 năm 1689 – 14 tháng 5 năm 1719) Đức ngài Charles Churchill (19 tháng 8 năm 1690 – 22 tháng 5 năm 1692) == Những năm khủng hoảng (1678-1700) == === Phục vụ trong ngành ngoại giao === Dưới thời Bá tước Danby chính phủ Anh bấy giờ tiến hành một cuộc tái tổ chức và chuẩn bị chiến tranh chống lại người Pháp. Mối liên minh mới với Hà Lan, cùng với quân đội Anh lớn mạnh mở ra những triển vọng quan trọng cho Churchill trong lĩnh vực quân sự và ngoại giao. Tháng 4 năm 1678, Churchill (đồng hành với người bạn và là một chính khách đang lên, Sidney Godolphin), đi tới La Hay để đàm phán một thỏa thuận triển khai quân Anh ở xứ Vlaanderen. Chuyến đi thất bại vì Charles II ngấm ngầm đi dây với vua Pháp, nhưng đem lại thành công cá nhân cho Churchill khi thiết lập mối quan hệ với William, Hoàng tử của Orange, người đặc biệt ấn tượng với sự sắc sảo và nhã nhặn trong kĩ năng thương thuyết của Churchill. Vào tháng 5 năm đó, Churchill được bổ nhiệm làm Chuẩn tướng bộ binh, nhưng hi vọng khuấy động chiến tranh trở thành ảo tưởng khi các đảng phái Hà Lan quyết định hòa đàm với Pháp, dẫn tới Hiệp ước Nijmegen. Khi Churchill trở lại Anh vào cuối năm 1678 ông nhận ra những thay đổi nghiêm trọng trong xã hội Anh. Lời khai man của Titus Oates về cái gọi là Âm mưu Giáo hoàng nhằm loại trừ Công tước York theo Công giáo ra khỏi dòng kế vị ngôi vua, đẩy ông này đi lưu đày trong gần 3 năm. James buộc Churchill đi theo, họ tới La Hay rồi Brussels, trước khi được phép tới Edinburgh. Chỉ tới năm 1682, khi Charles đánh bại đảng Whig thì Công tước York mới được quay lại Luân Đôn. Trong thời kỳ này Churchill đảm nhận một số nhiệm vụ ngoại giao, trong đó có chuyến đi tới Paris để xin viện trợ cho Charles II, đảm bảo tài chính cho nhà vua đương đầu với Nghị viện. Những phục vụ này được tưởng thưởng với tước hiệu quý tộc: ngày 21 tháng 12 năm 1682 ông trở thành Lãnh chúa của Eyemouth ở Scotland và 1 năm sau đó được bổ nhiệm làm đại tá trong Trung đoàn Long kỵ binh Ngự lâm quân. Gia tài kết hợp lại của nhà Churchill giờ đây đảm bảo cho họ một cuộc sống tương đối sung túc; ngoài một cơ ngơi ở Luân Đôn có 7 người hầu, họ cũng mua gia trang Holywell ở St Albans (quê Sarah) làm nhà nghỉ ở nông thôn. Sarah hạ sinh con gái đầu, Henrietta, năm 1681, rồi đến Anne (1684), John (1686), Elizabeth (1687), Mary (1689), Charles (1690, chết yểu khi 2 tuổi). Tháng 7 năm 1683 Churchill được gửi tới lục địa để đón Hoàng tử George của Đan Mạch đến Anh để kết hôn với Công chúa Anne, con gái út của Công tước xứ York. Anne ban cho Sarah, người công chúa quý mến từ nhỏ, vị trí tùy nữ chính thức (tiếng Anh: Ladies of the Chamber, hầu cận cho nữ hoàng hoặc công chúa). Mối quan hệ giữa hai người phụ nữ này ngày càng phát triển, đến độ mà về sau Sarah từng viết lại rằng nó "khiến một tình nhân cũng phải ghen tỵ." Về phần mình, Churchill tỏ tình cảm ngưỡng mộ với Anne, trở thành hiệp sĩ tùy tùng và với việc ngày càng gắn bó với công chúa theo Anh giáo này, dần xa rời vòng thân cận của James, những người theo Công giáo. === Cuộc nổi loạn Monmouth === Với cái chết của Charles II năm 1685, em trai ông là Công tước York trở thành Vua James II. Khi lên ngôi, James bổ nhiệm ông làm thống đốc của Công ty Vịnh Hudson. Ông cũng được xếp vào hàng tùy tùng của nhà vua và trở thành quý tộc xứ Anh với tước vị Nam tước Sandridge ở hạt Hertfordshire tháng 5 năm đó, và do đó có một ghế trong Thượng viện. Tuy nhiên bầu không khí chính trị bấy giờ bị phủ bóng bởi các cuộc nổi loạn, ở Scotland bởi Bá tước Argyll và ở xứ Anh bởi con trai ngoài giá thú của Charles II, Công tước Monmouth, người nhận được khuyến khích từ những người theo đảng Whig và nhân vật bất mãn khác, đòi lấy ngai vàng của xứ Anh mà ông cho chính đáng thuộc về mình. Churchill nhận quyền tư lệnh bộ binh thường trực trong quân đội hoàng gia đương đầu với quân nổi loạn Monmouth, nhưng vinh dự chỉ đạo chiến dịch được trao cho Bá tước Feversham, một người tài năng hạn chế nhưng rất trung thành. Monmouth đổ bộ vào Lyme Regis ngày 11 tháng 6 với một đội quân nông dân trang bị kém, sai thời cơ và không có quân sư tài giỏi, đã bị đánh tan tác trên cánh đồng Somerset trong trận Sedgemoor ngày 6 tháng 7 năm 1685. Mặc dù Churchill là cấp dưới do Feversham, tổ chức điều hành, kĩ năng tác chiến và lòng dũng cảm trên chiến trường của ông đóng vai trò then chốt trong chiến thắng. Sử gia John Tincey viết: "Sedgemoor hẳn không phải là chiến thắng ngoạn mục nhất của John Churchill, nhưng nó xứng đáng nên được ghi nhận là chiến thắng đầu tiên của ông". Churchill được thăng lên hàm Thiếu tướng ngày 3 tháng 7 năm đó, và nhậm chức chỉ huy nhiều đặc quyền ở Phân đội Cảnh vệ số 3. Nhưng phần lớn vinh dự chiến thắng thuộc về tay Feversham và theo nhà sử học David Chandler, có thể việc không được trọng đãi, cũng như hành động đàn áp đẫm máu sau đó của Bá tước Jeffreys dẫn đến sự vỡ mộng dâng cao thành việc từ bỏ James II của Marlborough sau này. Thực ra Churchill đã sớm lo lắng về khuynh hướng của James II, có nguồn cho rằng ông từng nói với lãnh chúa Galway ít lâu sau khi James II đăng quang, rằng "nếu nhà vua tìm cách thay đổi tôn giáo của chúng ta, tôi sẽ ngay lập tức ngừng phụng sự ông ta." === Cách mạng Vinh quang === Từ sau chiến dịch Sedgemoor, Churchill cảm thấy lo lắng sẽ bị cho là không tán thành nhiệt tâm tôn giáo ngày càng tăng của nhà vua chống lại phong trào Kháng Cách. Việc James II thăng chức cho những tín đồ Công giáo vào hàng loạt các cơ quan quyền lực - bao gồm cả quân đội - đầu tiên làm nảy sinh nghi ngờ, sau lớn dần thành mưu đồ nổi loạn trong dân chúng vốn phần lớn theo Kháng Cách; ngay cả những thành viên trong hoàng tộc cũng lo ngại về lòng mộ đạo Công giáo cuồng nhiệt của nhà vua. Họ nén sự bất mãn lại vì Charles không có con trai mà các con gái đều theo Kháng Cách, nhưng khi nữ hoàng hạ sinh con trai, James Francis Edward Stuart, điều này mở ra viễn cảnh một loạt các nhà quân chủ Công giáo liên tiếp nhau. Một số người dưới trướng nhà vua, như Nam tước Salisbury và Nam tước Melfort từ bỏ nguồn gốc Kháng Cách để nhận được ân sủng ở cung đình, nhưng Churchill thì không. Ông nói với nhà vua, "Thần được sinh ra là một người Kháng Cách, và định sẽ sống và chết trong tín ngưỡng đó"; tuy rằng ông nói vậy cũng bởi lợi ích riêng của mình. Tin rằng chính sách của nhà vua có thể hoặc phá hỏng sự nghiệp của chính ông hoặc tạo ra một cuộc nổi loạn lớn hơn nữa, ông không có ý định theo gót cha mình trước kia khi đứng về phe chiến bại. Để lật đổ James II, 7 nhân vật quyền lực đã họp và viết một lời mời gửi tới Quốc trưởng Hà Lan theo Kháng Cách, tức Hoàng tử William của Orange, đề xuất ông này xâm lược nước Anh và lên ngôi vua. Những người ký tên trong lá thư bao gồm các thành viên đảng Whig lẫn Tory, và Giám mục Luân Đôn, Henry Compton, người đảm bảo với William rằng "19 phần 20 dân chúng mong muốn thay đổi." William, vừa là con rể vừa là cháu gọi James II bằng cậu, không cần sự khuyến khích nào hơn để nắm lấy ngai vàng nước Anh. Tuy không ký vào lá thư (bởi khi đó ông chưa phải là yếu nhân chính trị), như nhiều người khác Churchill cũng tìm kiếm một cơ hội thích hợp để rời bỏ James. Churchill tuyên bố ý định của mình thông qua đại diện liên lạc của William tại La Hay - "Nếu ngài nghĩ có bất cứ điều gì khác tôi nên làm, ngài cứ việc ra lệnh cho tôi." William đổ bộ vào Torbay ngày 5 tháng 11 năm 1688, từ đây ông đem quân tới Exeter. Quân đội của James, dưới sự chỉ huy của Lãnh chúa Feversham, tiến tới Salisbury, nhưng hầu hết các sĩ quan cấp cao không mặn mà với đánh nhau - ngay cả công chúa Anne cũng viết cho William để chúc ông "thành công tốt đẹp trong chuyện này như một sự đảm đương nghĩa vụ." Churchill vẫn ở phe nhà vua và được thăng lên hàm Trung tướng ngày 7 tháng 12, nhưng việc ông bộc lộ sự sung sướng ra mặt khi Lãnh chúa Cornbury đào thoát sang phía Orange khiến cho Feversham đòi phải bắt giữ ông này. James phản ứng rất chậm trễ, trì hoãn lệnh bắt khiến cho sáng ngày 24 tháng 11, sau cuộc họp hội đồng chiến tranh, Churchill, với khoảng 400 tướng tá và tùy tùng, trốn khỏi trại quân hoàng gia và chạy tới chỗ William ở Axminster, để lại một lá thư xin lỗi và biện minh: ... Thần hi vọng rằng ưu đãi lớn lao mà thần thụ hưởng dưới quyền Bệ hạ, thứ mà thần có khiến thần không bao giờ trông đợi một sự thay đổi chính phủ khác, có thể thuyết phục Bệ hạ và thế giới một cách hợp lý rằng thần được thúc đẩy một nguyên lý cao cả hơn.. Đứng trước sự đào ngũ của một loạt tướng lĩnh và các cuộc nổi dậy của dân chúng Luân Đôn, trong khi từ chối quân Pháp can thiệp, James buộc phải chạy trốn sang Pháp ngày 23 tháng 12, khiến cho cuộc đảo chính về sau được gọi là "Cách mạng Vinh quang" thành công hầu như không gây đổ máu. === Tướng của William === Khi William và Mary lên ngôi đồng cai trị, họ ban thưởng cho một loạt những người ủng hộ mình, trong đó có Churchill được phong tước Bá tước Marlborough ngày 9 tháng 4 năm 1689, đồng thời được bổ sung vào Hội đồng Cơ mật. Việc thăng chức này dẫn tới những lời đồn cáo buộc Marlborough đã phản bội một cách nhục nhã vị vua cũ của mình để cầu danh vị. Những người biện hộ cho Marlborough, chẳng hạn hậu duệ của ông là Winston Churchill đã cố công đi tìm động lực ái quốc, tôn giáo và đạo đức cho hành động của ông; tuy nhiên theo cách nói của Chandler, khó mà gỡ cho Marlborough khỏi tội nhẫn tâm, bội ơn, mưu mô và phản nghịch chống lại một người mà ông ta nợ hầu như mọi thứ trong cuộc đời và sự nghiệp tính đến thời điểm đó. Hành động chính thức đầu tiên của Marlborough là hỗ trợ việc tổ chức lại quân đội-thẩm quyền xác nhận lòng trung thành hay thanh lọc các sĩ quan đem lại cho vị bá tước cơ hội xây dựng một mạng lưới quyền lực hữu ích trong hơn hai chục năm sau đó. Nhiệm vụ này được tiến hành khẩn trương, bởi chỉ sáu tháng sau khi James II ra đi, nước Anh tham gia vào cuộc chiến chống lại nước Pháp trong một liên minh nhằm ngăn chặn tham vọng bá chủ của Louis XIV. Marlborough được cử làm tư lệnh 8 nghìn quân gửi sang Hà Lan vào mùa xuân năm 1689, tuy nhiên trong suốt Chiến tranh Chín năm (1688-1697) ông chỉ có 3 năm phục vụ ở chiến trường và phần lớn ở dưới sự chỉ huy của người khác. Tuy nhiên, trong trận Walcourt ngày 25 tháng 8 năm 1689, Marlborough nhận được lời ca ngợi từ tư lệnh quân Liên minh, Hoàng thân Waldeck do năng lực cầm quân và lòng dũng cảm, và William ban cho ông chức chỉ huy nhiều bổng lộc ở Trung đoàn số 7 Bộ binh bảo vệ Luân Đôn. Tuy nhiên danh tiếng của Marlborough trong triều đình ngày càng suy giảm, do sự thân cận của vợ chồng ông với công chúa Anne, người xét theo tính chính thống xứng đáng lên ngôi hơn William và Mary. Mary cảm thấy rất khó chịu với Sara, người lên tiếng bênh vực Anne trong một loạt tranh cãi triều đình và nỗi căm ghét lây sang cả bá tước. Tuy nhiên trong một thời gian những tranh cãi nóng nảy này chìm xuống bởi các sự kiện ở Ireland nơi James đổ bộ tháng 3 năm 1689 để tìm cách lấy lại ngai vàng. Khi William đem đại quân tới Ireland tháng 6 năm 1690 Marlborough được chỉ định làm tư lệnh tất cả quân đội và dân quân ở xứ Anh, và tham gia vào Hội đồng Chín người cố vấn cho Nữ hoàng Mary về các vấn đề quân sự trong lúc nhà vua vắng mặt, tuy nhiên Mary không thèm che giấu sự căm ghét với Marlborough. Chiến thắng của William III trong trận Boyne ngày 1 tháng 7 năm 1690 buộc James II phải bỏ rơi đội quân của mình và chạy trốn trở về nước Pháp. Tháng 8 Marlborough đi tới Ireland, lần đầu tiên được cầm quân độc lập trong một chiến dịch kết hợp thủy-bộ vào các cảng miền nam Cork và Kinsale. Đó là một chiến dịch táo bạo, sáng tạo nhắm vào các tuyến đường vận chuyển quân lương của phe Jacobite mà vị bá tước đề xuất và tiến hành xuất sắc. Thành Cork thất thủ ngày 27 tháng 9, Kinsale nối tiếp vào giữa tháng 10. Dù không dẫn tới kết thúc chiến tranh như Marlborough kỳ vọng, chiến dịch đã dạy cho Marlborough bài học về tầm quan trọng của hậu cần và phối hợp tác chiến. Phải 10 năm sau đó Marlborough mới có dịp trở lại cầm quân. === Bị cách chức và thất sủng === William III ghi nhận tài cầm quân của Marlborough nhưng không ban cho Huân chương Garter và không bổ nhiệm Marlborough làm Tư lệnh Quân khí khiến cho vị bá tước bất mãn; mà Marlborough cũng không che đậy sự thất vọng đó đằng sau những lời thận trọng thông thường. Sử dụng ảnh hưởng trong Nghị viện và quân đội, Marlborough khuấy động sự bất mãn về việc William ưa sử dụng các tướng lĩnh nước ngoài, để gây tổn thương uy thế nhà vua. Biết được điều này, William đến lượt mình công khai bày tỏ nghi ngờ với Marlborough; sứ thần của Tuyển cử hầu Brandenburg tới Luân Đôn nghe thấy nhà vua nhận xét rằng ông đã bị Marlborough đối xử "một cách bỉ ổi đến mức, nếu không phải là vua, ông hẳn đã phải thách ông này đấu tay đôi." Kể từ tháng 1 năm 1691 Marlborough đã liên lạc với vị vua lưu đày James II ở Saint-German, cầu xin được xá tội cho việc đào ngũ trước đây - một lời xá tội là hết sức cần thiết cho sự nghiệp tương lai trong một kịch bản không phải hoàn toàn không thể xảy ra của một cuộc nổi dậy Jacobite thành công. William nhận biết rõ những mối liên lạc này, không chỉ của Marlborough mà cả những người khác, nhưng việc chơi nước đôi này giống một kiểu bảo hiểm hơn là một cam kết rõ ràng. William hiểu tầm quan trọng và năng lực của Marlborough và cần thấy phải loại bỏ mối lo ngại này. Vào lúc William và Marlborough trở về sau từ một chiến dịch ít đụng độ ở Hà Lan thuộc Tây Ban Nha năm 1691, quan hệ giữa họ càng tồi tệ hơn. Tháng 1 năm 1692, Nữ hoàng ra lệnh cho Anne loại bỏ Sarah khỏi gia tộc nhưng Anne từ chối. Tranh cãi cá nhân này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến Marlborough mất chức. Ngày 20 tháng 1, Bộ trưởng Nội vụ, Bá tước Nottingham ra lệnh cho Marlborough từ bỏ mọi chức vụ quân sự lẫn dân sự, và cấm ông tham gia triều đình. Không lý do cụ thể nào được đưa ra và những người đồng liêu với Marlborough tỏ ra bất bình: Shrewsbury lên tiếng phản đối còn Godolphin đe dọa từ chức. Đô đốc Russell, bấy giờ là tổng tư lệnh Hải quân Anh, còn thẳng thừng cáo buộc nhà vua đã vô ơn với "người đã đặt vương miện lên đầu ông ta." === Tội phản quốc === Vận rủi của Marlborough còn chưa dừng ở đó. Mùa xuân năm 1692 đem lại những nguy cơ mới về một cuộc xâm lược từ nước Anh và những âm mưu Jacobite. Dựa trên lời khai của một Robert Young nào đó, Nữ hoàng ra lệnh bắt tất cả những người ký tên vào một lá thư ủng hộ sự phục ngôi của James II và đòi bắt giữ William III. Marlborough, được cho là một trong những người ký tên, bị tống giam ở Tháp Luân Đôn ngày 4 tháng 5 nơi ông lâm bệnh trong 5 tuần, không chỉ vì hoàn cảnh bản thân mà còn do cái chết của con trai Charles ngày 22 tháng 5. Những lá thư của Young về sau bị xem là giả mạo và Marlborough được thả vào 15 tháng 6, nhưng ông tiếp tục liên lạc với James, dẫn tới sự kiện nổi tiếng được gọi là "lá thư vịnh Camaret" năm 1694. Từ vài tháng trước đó Liên minh đã chuẩn bị một cuộc tấn công vào Brest, cảng ở Vịnh Biscay mà Pháp nắm giữ. Người Pháp nhận được tin tình báo cánh bảo về một cuộc đột kích bất ngờ, và Nguyên soái Vauban đã tăng cường phòng thủ và canh gác ở đây. Kết quả là cuộc tấn công ngày 18 tháng 6 do Thomas Tollemache kết thúc trong thảm họa, hầu hết quân Anh bị chết hoặc cầm tù. Mặc dù không có bằng chứng, những người gièm pha Marlborough tuyên bố rằng chính ông đã báo cho kẻ thù. Macaulay khẳng định rằng Marlborough đã cảnh báo về việc đổ bộ cho James trong một lá thư ngày 3 tháng 5, để làm thất bại chiến dịch và khiến kình địch Tollemache bị giết hoặc mất uy tín. Giới sử gia hoặc nghi ngờ tính chân thực của lá thư, hoặc cho rằng lá thư Marlborough không có nhiều ý nghĩa thực tế, bởi kế hoạch Vịnh Camaret được nhiều người biết đến và người Pháp thực ra đã tăng viện từ tháng 4. === Hòa giải === Cái chết của Mary ngày 28 tháng 12 năm 1694 cuối cùng dẫn tới một cuộc hòa giải chính thức nhưng lạnh nhạt giữa William III và Anne, giờ đây là người thừa kế duy nhất ngai vàng. Vợ chồng Marlborough được phép trở lại triều đình nhưng bá tước không được trở lại các chức vị như ông hi vọng. Năm 1696 một lần nữa Marlborough, cùng với Godolphin, Russell và Shrewbury bị cáo buộc mưu phản liên kết với James II, lần này dưới sự chủ mưu của John Fenwick. Cáo buộc này cuối cùng bị bác (Fenwick vẫn bị xử tử) nhưng chỉ tới năm 1698, một năm sau khi Hiệp ước Ryswick chấm dứt Chiến tranh Chín năm, thì mối quan hệ giữa William và Marlborough mới ấm lên. Dưới sự đề xuất của Nam tước Sunderland (người có vợ là bạn thân của Sarah Churchill), William cuối cùng nhận được vị trí thống đốc cho Công tước Gloucester, con cả của Anne; ông cũng được phục hồi vị trí trong Hội đồng Cơ mật cùng cấp bậc Trung tướng. Khi William đến Hà Lan vào tháng 7 Marlborough từng tham gia vào hội đồng nhiếp chính. Tuy nhiên Marlborough không hoàn toàn hòa giải được với William, khi vừa muốn tỏ ra là một người trung thành với nhà vua vừa phải duy trì các mối quan hệ thân thiết với phe Tory == Những năm cuối đời (1700-1722) == === Chiến tranh thừa kế Tây Ban Nha === Với cái chết của vị vua nhu nhược và không có con Carlos II của Tây Ban Nha ngày 1 tháng 11 năm 1700, việc kế vị ngai vàng Tây Ban Nha, và do đó kiểm soát cả đế chế rộng lớn của nó, lại một lần nữa lôi kéo cả châu Âu vào một cuộc chiến tranh-Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha. Lúc hấp hối Carlos II đã truyền lại ngôi vị của mình cho cháu nội Louis XIV (vợ Louis XIV là Công chúa María Teresa, em cùng cha khác mẹ của Carlos) là Philip, Công tước Anjou, người lên ngôi với tước hiệu Felipe V của Tây Ban Nha. Điều này dẫn tới viễn cảnh thống nhất nước Pháp và Tây Ban Nha dưới quyền Nhà Bourbon, lật đổ cán cân quyền lực châu Âu và không thể chấp nhận đối với nước Anh, Cộng hòa Hà Lan và Hoàng đế Rôma Thần thánh Leopold I, người cũng có huyết thống với hoàng tộc Tây Ban Nha và đòi ngôi vị. Vì sức khỏe William giảm sút, và ảnh hưởng không nghi ngờ gì của vị bá tước với Công chúa Anne nắm quyền kế vị, nhà vua quyết định rằng Marlborough nên nắm trung tâm sự vụ châu Âu. Là Đại sứ Toàn quyền của William tại La Hay và chỉ huy quân đội Anh, Marlborough được trao cho nhiệm vụ thương thảo một liên minh mới để chống lại Anh và Tây Ban Nha.. Ngày 7 tháng 9 năm 1701, Hiệp ước Đại Liên minh thứ hai được ký kết giữa Anh, Hoàng đế Đức và Cộng hòa Hà Lan để dập tắt tham vọng của Louis XIV. Tuy nhiên, William không kịp chứng kiến nước Anh tuyên chiến mà qua đời ngày 8 tháng 3 năm 1702, đưa Anne trở thành Nữ hoàng Anh. Mặc dù cái chết của William gây ra sự chia rẽ nhất thời trong liên minh, Bá tước Wratislaw cho rằng điều an ủi là nó cho phép Marlborough nhận đầy đủ quyền hạn từ Nữ hoàng trao. Anne nhanh chóng phong cho Marlborough làm Tư lệnh Quân khí-một chức vụ béo bở mà ông mong mỏi từ lâu- thành viên Dòng Hiệp sĩ Garter (danh hiệu hiệp sĩ cao nhất của Anh) và Đại tướng, tổng tư lệnh quân đội ở trong nước và hải ngoại. Công nương Marlborough cũng nhận một loạt chức vụ thân cận trong triều, bao gồm cả Chưởng khố Cơ mật viện nắm ngân sách hoàng gia. Gia tộc Marlborough lên đến đỉnh cao quyền lực, với thu nhập hàng năm cộng lại trên 6 vạn bảng Anh cùng ảnh hưởng khuynh đảo triều đình. ==== Các chiến dịch đầu tiên ==== Ngày 4 tháng 5 năm 1702, nước Anh chính thức tuyên chiến với Pháp. Marlborough nhậm chức tư lệnh lực lượng Anh, Hà Lan và Đức hỗn hợp, nhưng tới thời điểm đó ông chưa có kinh nghiệm chỉ huy một quân đội lớn ở chiến trường, ít trải qua chiến trận hơn nhiều tướng lĩnh Hà Lan và Đức dưới quyền. Quyền chỉ huy của ông cũng bị giới hạn; ông chỉ có thể ra lệnh cho các tướng Hà Lan khi quân đội của họ hành động phối hợp, trong những thời điểm khác ông phải dựa vào tài xử trí và thuyết phục đối với không chỉ các tướng lĩnh mà cả các đại diện chính trị từ chính phủ Hà Lan. Tuy vậy, bất chấp sự uể oải ban đầu của Liên minh chiến dịch ở Hà Lan (mặt trận chính của cuộc chiến) khởi đầu tốt đẹp cho Marlborough. Sau khi chiếm ưu thế trước Nguyên soái Boufflers, ông lần lượt chiếm đóng Venlo, Roermond, Stevensweert và Liège, dẫn đến ông được phong Công tước tháng 11 năm đó. Cùng với sự thăng tiến của vợ chồng Marlborough, các con gái của họ cũng lần lượt được gả vào các gia tộc quyền lực. Tuy nhiên Marlborough dành nhiều hi vọng nhất vào đứa con trai cả cũng mang tên John, và là con trai duy nhất còn sống khi đó, người từ thiếu thời đã được phong làm Hầu tước Blandford. Nhưng khi đang học ở Cambridge, John mắc bệnh đậu mùa và mất vào tháng 2 năm 1703 khi mới 17 buổi, điều công tước gọi là "nỗi đau buồn lớn nhất trên đời". Trở lại La Hay vào tháng 3, công tước đối diện với Nguyên soái Villeroi đã thay thế Boufflers làm tư lệnh quân Pháp. Mặc dù Marlborough đem quân chiếm Bonn, Huy, và Limbourg vào năm 1703, cái gọi là 'Đại Chiến lược' - một kế hoạch giữa Anh và Hà Lan nhằm đảm bảo Antwerp và từ đó mở ra tuyến đường sông xuống Flandre và Brabant – bị thất bại do thế chủ động nằm trong tay Villeroi, sự phối hợp tác chiến kém của Liên minh, và thất bại thảm hại của tướng Obdam trong Trận Eckeren ngày 30 tháng 6. Trong nước công tước cũng phải lo lắng tới nhiều vấn đề. Chính quyền Tory ôn hòa của Marlborough, Bộ trưởng Ngân khố Godolphin, và Chủ tịch Hạ viện Robert Harley, thường xuyên xích mích và bị cản trở bởi những người Tory cực hữu muốn theo đuổi sử dụng tận lực Hải quân Hoàng gia Anh để giành các lợi ích thương mại và mở rộng thuộc địa hải ngoại. Phái Tory ủng hộ tác chiến trên biển hơn là đất liền: thay vì tấn công kẻ thù ở nơi họ mạnh nhất, những người Tory đề xuất tấn công Louis XIV và Felipe V nơi họ yếu thế hơn - ở các đế quốc thuộc địa và giữa đại dương. Trái lại phái Whig, đứng đầu là một nhóm gọi là 'Junto', nhiệt liệt ủng hộ chiến lược lục địa của nội các muốn thọc mũi tấn công vào trái tim nước Pháp. Sự ủng hộ này ít nhiều xẹp xuống do những chiến dịch không quyết định gần đó của Liên minh, nhưng Marlborough, người đã giành được một uy thế quốc tế như lãnh tụ Liên minh, có thể duy trì đường lối của mình bất chấp sự phản đối ở thời điểm đó. ==== Blenheim và Ramillies ==== Bị người Pháp và Bavaria gây áp lực ở phía tây và các cuộc nổi dậy của người Hungary ở phía đông, nước Áo đứng trước nguy cơ bị loại khỏi cuộc chiến. Những lo ngại về Viên và tình hình ở nam Đức thuyết phục Marlborough về sự cần thiết gửi viện quân tới miền Danube; nhưng kế hoạch chiếm thế chủ động từ đối phương hết sức liều lĩnh. Từ ban đầu công tước quyết định gạt người Hà Lan ra, bởi họ sẽ không bao giờ đồng ý chia sẻ bớt quân Liên minh khỏi miền Hà Lan thuộc Tây Ban Nha. Marlborough đưa quân đội Anh tới sông Moselle theo một kế hoạch thống nhất với La Hay từ trước, nhưng ở đây ông tìm cách thoát khỏi sự gò bó của người Hà Lan và hành quân tới phía nam để hội binh với quân Áo ở miền nam Đức. Một sự kết hợp giữa sự lừa gạt chiến lược và tài điều hành xuất sắc giúp Marlborough đạt được mục đích của mình. Sau khi hành quân 250 dặm (400 km) từ Hà Lan, quân Liên minh có một loạt trận giao chiến với quân đội Pháp-Bavaria dọc bờ sông Danube. Trận đụng độ lớn đầu tiên diễn ra ngày 2 tháng 7 năm 1704 khi Marlborough và Hoàng tử Louis của Baden tấn công ồ ạt các cao điểm Schellenberg ở Donauwörth. Trận chiến quan trọng nhất xảy ra vào ngày 13 tháng 8 khi Marlborough – được chỉ huy quân Thánh chế Rôma Eugène của Savoie, một vị tướng tài năng, hỗ trợ – tung ra một cú đánh quyết định vào quân đội của Nguyên soái Tallard và Tuyển cử hầu Bavaria ở Trận Blenheim. Toàn thể chiến dịch, mà sử gia quân sự John Lynn xem là một trong những ví dụ xuất sắc nhất về nghệ thuật hành quân và giao chiến trước thời Napoléon Bonaparte, là một kiểu mẫu về lên kế hoạch, hậu cần, chiến tranh chiến thuật và chiến dịch. Chiến dịch năm 1704 là bước ngoặt của chiến tranh, loại Bavaria khỏi vòng chiến đấu và hủy diệt hy vọng thắng lợi nhanh chóng của Louis XIV. Các thắng lợi liên tiếp sau đó ở Landau trên miền Rhine, cùng Trier và Traben-Trarbach trên bờ Moselle đưa Marlborough trở nên lừng danh như vị tướng số một của thời đại và anh hùng dân tộc mà mọi giới ở Anh bấy giờ, kể cả đảng Tory, đều ca ngợi. Nữ hoàng ban thưởng cho gia tộc Marlborough một thái ấp hoàng gia ở Woodstock và hứa hẹn sẽ xây một cung điện để tưởng nhớ đại thắng Blenheim; nhưng từ lúc đăng quang quan hệ của Nữ hoàng với Sarah trở nên dần dần xa cách. Việc vợ chồng Công tước leo tới đỉnh danh vọng có một phần không thể kể tới là nhờ quan hệ thân mật với Anne, nhưng chiến dịch không thương xót của Sarah (một người đảng Whig) chống lại phe Tory, đã cô lập bà khỏi Nữ hoàng người có những gắn bó tự nhiên với Tory, những người ủng hộ nhiệt thành cho Giáo hội Anh. Về phần mình, Anne, giờ đã thành nữ hoàng, không còn là thiếu nữ dễ bị thống ngự bởi cô bạn xinh đẹp hơn, phát ngấy những trò chính trị phách lối thiếu nhã nhặn và cách cư xử ngày một kiêu căng của Sarah. Trong lúc công tước hành quân tới Danube, Hoàng đế Leopold I ban tặng cho Marlborough danh hiệu hoàng thân của Đế quốc La Mã Thần thánh trong một lãnh địa nhỏ ở Mindelheim. Nữ hoàng nhiệt tình chấp thuận sự ban tước này, nhưng sau những thành công năm 1704, chiến dịch năm 1705 không đạt được kỳ vọng. Kế hoạch xâm lược nước Pháp thông qua thung lũng Moselle bị cả bạn bè lẫn đối thủ trong nước ngờ vực, buộc công tước phải rút lui về Hà Lan. Mặc dù Marlborough đột phá thành công Vành đai phòng thủ Brabant trong trận Elixheim vào tháng 7, sự do dự của Liên minh và nhất là sự ngập ngừng của Hà Lan, khiến cho công tước không thể khai thác được lợi thế từ Blenheim. Người Pháp và đảng Tory ở Anh bác bỏ lập luận rằng chỉ có chủ trương phá rối của người Hà Lan đã tước khỏi Marlborough một chiến thắng vĩ đại năm 1705, rằng Blenheim chỉ là một cú ăn may và Marlborough chẳng phải là một vị tướng đáng sợ. Những tháng đầu năm 1706 cũng gây nản lòng cho công tước khi các tướng của Louis XIV có những thắng lợi bước đầu ở Ý và Alsace. Những thất bại này đóng băng kế hoạch ban đầu của Marlborough cho chiến dịch sắp tới, nhưng ông sớm điều chỉnh kế hoạch và hành quân vào lãnh thổ đối phương. Louis XIV, cũng quyết tâm giao chiến không kém để phục thù cho Blenheim, thúc giục Nguyên soái Villeroi truy tìm Monsieur Marlbrouck. Hai bên gặp nhau ở trận Ramillies ở miền Hà Lan thuộc Tây Ban Nha ngày 23 tháng 5, nơi vào giờ phút quyết định Marlborough đã tuốt kiếm xung trận. Kết quả là một trận chiến có lẽ là thành công nhất trong binh nghiệp của Marlborough: bên Anh có 3 nghìn lính chết và bị thương, trong khi đối phương có tới khoảng 20 nghìn thương vong, theo lời Nguyên soái Pháp Villars, là "thảm bại xấu hổ, nhục nhã và tai họa nhất" cho Pháp. Các thành thị liên tiếp rơi vào tay Đồng minh, tới mức Marborough viết cho vợ: "Nó thực sự giống như là mơ hơn là thực". Cùng với đại thắng của Hoàng thân Eugène trước quân Pháp ở trận Turin vào tháng 9, năm 1706 tỏ ra là năm kỳ diệu cho quân đội Liên minh. ==== Thất sủng ==== Trong lúc Marborough đang tham chiến ở Hà Lan, sự đối địch trong chính trường nước Anh ngày một dâng cao. Đảng Whig, những người ủng hộ chính cho cuộc chiến, vẫn luôn nhắm vào công kích Godolphin. Đổi lại hứa hẹn ủng hộ chính phủ trong phiên họp nghị viện tiếp sau, những người đảng Whig ra giá đòi phải nhường một ghế trong nội các cho một trong các lãnh tụ của họ, Bá tước Sunderland (con rể Marlborough) vào ghế Bộ trưởng Nội vụ. Nữ hoàng, người, người căm ghét Sunderland và nhóm Junto, và không muốn bị thống trị bởi duy nhất một đảng, kịch liệt phản đối bước đi này; nhưng Godolphin, ngày càng phụ thuộc vào sự ủng hộ của đảng Whig, không có nhiều lựa chọn. Với cách ủng hộ thiếu nhã nhặn khéo léo của Sarah, Godolphin phải gây sức ép liên tục lên Nữ hoàng chấp nhận yêu sách của đảng Whig. Tuyệt vọng, Anne cuối cùng nhượng bộ và Sunderland nhận được ấn phong; nhưng điều này đã giáng một đòn mạnh vào quan hệ đặc biệt giữa Godolphin, Sarah, và Nữ hoàng và Anne ngày càng quay sang một sủng thần mới – em họ của Sarah, Abigail Masham. Anne cũng trông cậy nhiều hơn vào sự cố vấn của Harley, người cho rằng chính quyền nhị đầu chế thỏa hiệp với nhóm Whig Junto là không cần thiết. Theo sau chiến thắng ở trận Ramillies Marlborough quay lại nước Anh và nhận sự hoan hô nhiệt liệt của Nghị viện; các danh hiệu và gia sản được ban của ông được tuyên bố là có thể truyền lại đời đời cho con cháu, dù người kế thừa là nam hay là nữ. Tuy nhiên, tới năm 1707 quân đội Pháp bắt đầu trỗi dậy trên tất cả các mặt trận, trong khi nội bộ Liên minh rơi vào tranh cãi và sự do dự. Những diễn biến của Đại chiến Bắc Âu cũng đe dọa dẫn tới những hậu quả thảm khốc. Người Pháp đã hi vọng lôi kéo Karl XII, Vua Thụy Điển, tham chiến chống lại Thánh chế Rôma để giải quyết tranh chấp với việc kế vị ngội vua Ba Lan, nhưng bằng một chuyến công cán tới đại bản doanh của Karl tại Altranstädt, tài ngoại giao của Marlborough đã làm nhà vua Thụy Điển dịu lại và ngăn cản ông này can thiệp và việc kế vị ở Tây Ban Nha. Tuy nhiên, nhưng thất bại chính ở Tây Ban Nha tại trận Almanza cũng như dọc theo sông Rhine ở Nam Đức khiến cho Marlborough hết sức lo ngại. Việc Hoàng thân Eugène buộc phải rút khỏi Toulon chấm dứt hi vọng còn rơi rớt lại về một chiến thắng quyết định năm đó. Từ những tai ương này, Marlborough trở về với một cơn bão chính trị với cuộc khủng hoảng Nội các xoay chiều ra công kích việc điều hành tổng thể chiến tranh. Công tước và Godolphin ban đầu đã đồng ý về một 'kế hoạch ôn hòa' với Harley và tái cấu trúc lại chính phủ. nhưng họ nổi giận khi Harley phê phán việc điều hành chiến tranh lên Nữ hoàng, và đồng minh của ông này Henry St John, Bộ trưởng Chiến tranh, đặt vấn đề ra Nghị viện. Không còn nghi ngờ về âm mưu của Harley, hai người đồng cai quản đất nước (Marlborough và Godolphin) đe dọa sẽ từ chức nếu Nữ hoàng không cách chức Harley. Anne đòi giữ vị bộ trưởng sủng thần, nhưng khi Công tước Somerset và Bá tước Pembroke từ chối làm việc nếu không có 'Đại tướng lẫn Bộ trưởng Ngân khố', Harley phải từ chức: Henry Boyle thay thế làm Bộ trưởng Nội vụ,và một người đảng Whig khác, Robert Walpole, thay St John làm Bộ trưởng Chiến tranh. Kết cục cuộc đấu tranh lần cuối cùng chứng tỏ uy thế Marlborough nhưng nó là một chiến thắng cho Đảng Whig, và ông để mất đáng kể vị trí của mình trong mắt Nữ hoàng. ==== Oudenaarde và Malplaquet ==== Những thất bại quân sự năm 1707 kéo dài sang những tháng đầu năm 1708 với việc các thành Brugge và Gent bỏ theo phe Pháp. Marlborough cảm thấy nản lòng về tình hình chung, nhưng sự lạc quan trở lại khi Hoàng thân Eugène quay lại mặt trận. Nhờ sự động viên nhiệt tình của Eugène, Marlborough quyết định giành lại thế chủ động chiến lược. Quân Liên minh hành quân vượt qua sông Schelde ở Oudenaarde vừa đúng lúc quân đội Pháp, dưới quyền Nguyên soái Vendôme và Công tước Burgundy, Hoàng thái tôn của Pháp, vừa vượt sông xa hơn hơn về phía bắc một đoạn với dự định vây hãm địa điểm này. Marlborough hành quân quyết đoán để giao chiến. Chiến thắng sau đó tại Trận Oudenaarde ngày 11 tháng 7 năm 1708 đã làm nhụt chí quân đội Pháp ở Vlaanderen; khả năng quan sát trận địa, vận dụng thời gian và hiểu biết sâu sắc về đối phương một lần nữa lại thể hiện. Thắng lợi này, một phần cũng nhờ sự chia rẽ giữa hai chỉ huy Pháp, đã lấy lại thế chủ động cho Liên minh, họ quyết định vây hãm Lille, pháo đài mạnh nhất ở châu Âu. Trong khi công tước chỉ huy lực lượng bao vây, Eugène chỉ đạo cuộc công thành, và Lille đầu hàng ngày 22 tháng 10, nhưng chỉ đến ngày 10 tháng tướng Boufflers mới chịu đầu hàng ở thành lũy cuối cùng. Bất chấp những khó khăn của một cuộc công thành vào mùa đông, chiến dịch năm 1708 là một thành công phi thường, đòi hỏi năng lực tổ chức và hậu cần xuất sắc. Liên minh tái chiếm Brugge và Gent, con người Pháp bị đẩy lui khỏi phần lớn miền Hà Lan thuộc Tây Ban Nha. Trong khi Marlborough đạt được vinh quang trên chiến trường, đảng Whig, giờ ở thế thượng phong, đuổi tất cả những người Tory còn lại ra khỏi Nội các. Marlborough và Godolphin, giờ không còn gần gũi với Anne, buộc phải tuân thủ những quyết định của một chính quyền đảng Whig, trong khi những người Tory, thất vọng và mong báo thù, mong chờ sự thất thế của những người lãnh đạo cũ. Và các vấn đề phức tạp thêm với nữ công tước, bị thúc đẩy bởi sụ căm ghét đối với Harley và Abigail, cuối cùng đã khiến Nữ hoàng phát điên và phá hủy thứ còn lại của tình bạn giữa họ. Sarah chỉ còn giữ được vị trí trong cung đình như cái giá phải trả để giữ cho vị phu quân đang trên đỉnh cao chiến thắng lãnh đạo quân đội. Sau những thất bại gần đó và một trong những mùa đông buốt giá nhất trong lịch sử hiện đại, nước Pháp đứng trước bờ vực sụp đổ. Tuy nhiên, yêu cầu của Liên minh trong hòa đàm tại La Hay vào tháng 4 năm 1709 (chủ yếu liên quan tới Khoản 37 buộc Louis XIV trao lại Tây Ban Nha trong vòng hai tháng hoặc đối diện với chiến tranh tái diễn), bị người Pháp từ chối tháng 6. Đảng Whig, người Anh, Marlborough và Eugène thất bại vì những lý do cá nhân và chính trị trong việc tạo nên một hòa ước có lợi, gắn với khẩu hiệu không nhượng bộ 'Không hòa bình mà không có Tây Ban Nha' mà không có bất kì hiểu biết rõ ràng nào về cách để đạt được nó. Trong lúc đó Harley, được Abigail lén lút ủng hộ, tập hợp những người ôn hòa về phe mình, sẵn sàng để đóng một vai trung dung đầy tham vọng và quyền lực. Marlborough trở lại chiến dịch ở Hà Lan vào tháng 6 năm 1709. Sau khi dùng mưu mẹo với Nguyên soái Villars để chiếm thị trấn Tournai ngày 3 tháng 9 (một chiến dịch quan trọng và đẫm máu), Liên minh chuyển sự chú ý sang Mons, quyết định duy trì áp lực không ngừng lên người Pháp. Trước nguy cơ diệt vong Louis XIV ra lệnh khẩn cấp phải cứu bằng được thành phố, Villars tiến quân tới thị trấn nhỏ Malplaquet ngày 9 tháng 9 năm 1709 và đào hào cố thủ vị trí này. Hai ngày sau hai bên giao chiến tại đây. Ở phía cánh trái Liên minh Hoàng thân Orange lãnh đạo bộ binh Hà Lan tuyệt vọng công kích vào công sự Pháp chỉ để bị đánh tan nhiều lần. Ở cánh phải Eugène tấn công và chịu thương vong không kém. Tuy nhiên, áp lực dồn lên hai cánh buộc Villars nơi lỏng trung tâm, khiến cho Marlborough có thể đem quân đột phá và giành lấy chiến thắng. Cái giá phải trả rất cao: con số thương vong Liên quân chừng gấp đôi đối phương (khoảng 2 vạn người), buộc Marlborough phải thú nhận – "Người Pháp đã phòng thủ trong trận này tốt hơn bất cứ trận nào tôi từng thấy." Công tước chiếm Mons thành công vào ngày 20 tháng 10, nhưng khi ông về Anh những đối thủ của ông sử dụng con số thương vong ở Malplaquet để hạ uy tín của ông. Harley, giờ đây trở thành lãnh tụ đảng Tory, tìm mọi cách để thuyết phục người ta rằng những người đảng Whig ủng hộ chiến tranh - và sự tương hợp bề ngoài giữa chính sách Whig, Marlborough và Godolphin – đang dẫn đất nước vào chỗ sụp đổ. ==== Kết thúc ==== Trước giờ Liên minh vẫn tự tin kỳ vọng rằng chiến thắng trong một loạt các trận lớn sẽ buộc Louis XIV phải chấp nhận hòa bình theo các điều kiện của Liên minh, nhưng sau trận Malplaquet (trận đẫm máu nhất trong cuộc chiến), chiến lược đó mất đi tính đúng đắn: Villars chỉ cần phải tránh thất bại để cho một hòa ước có tính nhượng bộ trở thành không thể tránh khỏi. Tháng 3 năm 1710, các cuộc đàm phán được mở lại ở Geertruidenberg, nhưng một lần nữa Louis XIV không chịu chấp nhận yêu sách của đảng Whig đòi rời cháu nội ông ta, Felipe V, ra khỏi Tây Ban Nha. Một cách công khai Marlborough phục tùng chính phủ, nhưng cá nhân ông bày tỏ nghi ngờ việc gây sức ép lên người Pháp chấp nhận một giải pháp quá mất thể diện như vậy liệu có khả thi. Mặc dù công tước chỉ là quan sát viên tại Geertruidenberg, thất bại của đàm phán đem lại cớ cho những người chống ông tuyên truyền rằng ông đang tìm cách kéo dài cuộc chiến để trục lợi cá nhân. Nhưng với sự miễn cưỡng ông vẫn trở lại cầm quân vào mùa xuân, chiếm Douai vào tháng 6, trước khi chiếm Béthune, và Saint-Venant, rồi đến Aire-sur-la-Lys tháng 11. Tuy nhiên, đến lúc này sự ủng hộ cho chính sách tham chiến của đảng Whig đã suy sụp. Nội các từ lâu thiếu sự gắn kết và tin tưởng lẫn nhau (đặc biệt sau khi xảy ra bê bối Sacheverell) khi vào mùa hè Nữ hoàng tiến hành kế hoạch phá vỡ nó do Harley vạch ra. Sunderland bị sa thải vào tháng 6, sau đó là Godolphin (người từ chối cắt đứt quan hệ với Sarah) vào tháng 8, rồi đến lượt những người khác. Kết quả của cuộc bầu cử tháng 10 là một chiến thắng áp đảo cho đảng Tory với nghị trình kêu gọi hòa bình. Tuy nhiên Marlborough vẫn làm tổng tư lệnh quân đội. Nhóm Junto thất bại, người Hà Lan, Eugène và Hoàng đế Leopold, đều van nài ông ủng hộ mục đích chung, trong khi các bộ trưởng mới, biết rằng họ phải đánh một chiến dịch nữa, yêu cầu ông phải duy trì áp lực lên kẻ thù trong khi họ đưa ra những sắp xếp hòa đàm của riêng mình. Công tước, người đã gầy đi và thay đổi rất nhiều, trở lại Anh tháng 11. Quan hệ của ông với Anne chịu thêm những tổn hại trong những tháng gần đó (bà từ chối ban cho ông chức Đại tướng Tổng tư lệnh suốt đời, và can thiệp vào việc bổ nhiệm các tướng lĩnh). Tuy nhiên, vấn đề trung tâm là ở nữ công tước người mà sự căm tức với Harley và Abigail ngày càng tăng cuối cùng đã thuyết phục Nữ hoàng loại bỏ bà. Marlborough đến thăm Anne ngày 17 tháng 1 năm 1711 trong một nỗ lực cuối cùng để cứu mạng vợ mình, nhưng Nữ hoàng không lay động và đòi Sarah phải từ bỏ Chìa khóa Vàng (biểu tượng vị trí Chưởng khố Cơ mật viện mà bà giữ) trong vòng hai ngày, cảnh báo rằng "Ta sẽ không nói chuyện gì khác cho đến khi ta có chiếc chìa khóa." Sarah đành chấp nhận và các vị trí của bà rơi vào tay Abigail Masham và Nữ công tước Somerset. Bất chấp những biến động này - cộng với sức khỏe suy giảm - Marlborough trở lại La Hay cuối tháng 2 để chuẩn bị cho chiến dịch cuối cùng của mình, và sẽ là một trong những chiến dịch vĩ đại nhất. Một lần nữa Marlborough và Villars lập đội hình giáp trận nhau, lần này là dọc theo đoạn Avesnes-le-Comte–Arras của vành đai Non Plus Ultra. Bằng mưu chước tâm lý xuất chúng, và một cuộc hành quân bí mật ban đêm gần 40 dặm trong 18 tiếng, quân Liên minh đột phá vành đai được cho là không thể chọc thủng được mà không mất một người lính nào; Marlborough giờ ở vị trí có thể vây hãm pháo đài Bouchain. Villars không có cách nào để can thiệp, khiến cho pháo đài phải đầu hàng vô điều kiện ngày 12 tháng 9. Chandler viết – "Nghệ thuật quân sự thuần túy với nó ông liên tục lừa được Villars trong nửa đầu chiến dịch chỉ có vài người sánh nổi trong toàn lịch sử quân sự ... và trận vây hãm Bouchain sau đó với toàn bộ tính phức tạp kỹ thuật của nó là một minh chứng chính xác không kém về tính ưu việt trong quân sự." Tuy nhiên thời gian cho Marlborough đã hết. Thắng lợi chiến lược của ông năm 1711 khiến cho hầu như chắc chắn rằng Liên minh sẽ hành quân vào Paris năm sau đó, nhưng Harley không có ý định để tiến trình cuộc chiến đi quá xa và đe dọa phá hỏng những điều khoản có lợi có được từ những đàm phán Anh-Pháp bí mật (dựa trên ý tưởng rằng Felipe V sẽ giữ được ngai vàng) tiến hành trong suốt năm đó. Marlborough từ lâu nghi ngờ chính sách 'Không hòa bình mà không có Tây Ban Nha', nhưng ông không muốn từ bỏ các đồng minh của mình (bao gồm Tuyển cử hầu Hanover, người có thể kế vị Anne), và hợp lực với phe Whig phản đối các điều kiện hòa bình. Những lời khẩn nài cá nhân từ Nữ hoàng (người từ lâu đã mệt mỏi với chiến tranh), không thuyết phục được công tước. Tuyển cử hầu cũng nói rõ rằng ông cũng phản đối đề xuất hòa bình của đảng Tory, và công khai ủng hộ đảng Whig. Tuy nhiên, Anne tỏ ra cương quyết và ngày 7 tháng 12 năm 1711 bà tuyên bố rằng – "bất chấp những kẻ ham thích chiến tranh" – một lời nhạo báng Marlborough – "cả thời gian và địa điểm đã được chỉ định cho việc mở ra hiệp ước hòa bình chung." ==== Mất chức ==== Để ngăn cản chiến tranh trở lại vào mùa xuân, người ta cảm thấy cần phải thay thế Marlborough bằng một vị tướng khác gần gũi với các bộ trưởng của Nữ hoàng và ít quan hệ với Liên minh hơn. Để làm điều này, Harley (mới được phong là Bá tước Oxford) và St John đầu tiên cần phải đưa ra những cáo buộc chống lại công tước, hoàn thành bức tranh chống đảng Whig, chống chiến tranh mà Jonathan Swift đã đang giới thiệu cho một công chúng nhẹ dạ thông qua một loạt các tiểu luận của ông, nổi bật Cách cư xử của Đồng minh (1711). Các phương cách để đạt được một sự sụp đổ cho Marlborough được bắt đầu khi chính phủ lập ra một 'Ủy ban thu thập, điều tra, và xác định những ghi chép công cộng của Vương quốc' trực thuộc Nghị viện, để tường trình về những sai phạm điều hành trong chiến tranh. Hai cáo buộc chính chống Marlborough được đưa ra Hạ viện: thứ nhất là một khẳng định rằng trong vòng hơn 9 năm ông đã nhận hơn 63 nghìn bảng Anh tiền phi pháp từ các nhà thầu bánh mì và vận tải ở Hà Lan; thứ hai, ông đã lấy 2,5% từ khoản trả cho quân đội nước ngoài phục vụ cho Anh, lên tới 28 vạn bảng Anh. Marlborough bác bỏ chúng, khẳng định rằng cáo buộc thứ nhất thực chất là tiền lệ được thực hiện từ lâu, và đối với cáo buộc thứ hai, ông đưa ra một giấy phép ký bởi Nữ hoàng năm 1702 cho phép ông chiết khấu những khoản tiền dịch vụ bí mật dành cho chiến tranh. Nhưng phát hiện sơ bộ là đủ để Harley thuyết phục Nữ hoàng ra quyết định sau cùng. Ngày 29 tháng 12 năm 1711, dù cho những cáo buộc chưa được kiểm chứng, Anne, người nợ Marlborough thành công và vinh quang của triều đại bà, gửi thư cho ông: "Ta lấy làm tiếc cho thanh danh của ngài rằng các lý do đã trở nên công khai tới mức ta cần thiết phải cho ngài biết rằng ngài đã khiến mình không còn phù hợp để tiếp tục phục vụ ta thêm nữa". Phe Tory thống lĩnh Nghị viện ra kết luận với một đa số áp đảo rằng, 'việc chiếm lấy một số khoản tiền hàng năm của Công tước Marlborough từ nhà thầu cho việc mua bánh mì và xe ngựa ... là không được cấp phép và phi pháp', và rằng khoản 2,5% chiết khấu trong lương trả cho lính nước ngoài 'là tiền quỹ công và đáng ra nên được vào sổ.' Khi người thay thế Marlborough là Cong tước Ormonde, rời Luân Đôn tới La Hay để đảm nhận chức tư lệnh quân Anh, khởi hành, Giám mục Burnet ghi nhận là ông này mang theo 'chính khoản tiền chiết khấu mà vừa mới đây Công tước Marborough bị bỏ phiếu là phạm tội'. Các đồng minh bị choáng váng vì việc cách chức Marlborough, tất nhiên người Pháp cảm thấy vui mừng vì loại bỏ được vật cản chính cho các cuộc đàm phán Anh-Pháp. Bá tước Oxford (Harley) và St John không muốn Đại tướng mới của Anh tiến hành bất kỳ hành động nào, ra lệnh cho Ormonde thi hành kiềm chế không sử dụng quân Anh để chống lại người Pháp – một bước đi khét tiếng là đã phá hoại chiến dịch cô độc của Eugène ở Vlaanderen. Marlborough tiếp tục bày tỏ quan điểm của mình, nhưng ông bị tấn công không ngừng bởi kẻ thù và báo chí chính phủ; tài sản của ông tiêu tán và Cung điện Blenheim hết tiền xây dựng trong khi vẫn chưa hoàn thành; và với việc nước Anh chia rẽ giữa các phái Jacobite và phái thân Hanover, Marlborough nghĩ tốt hơn là rời khỏi đất nước. Sau khi dự đám tang của Godolphin vào ngày 7 tháng 10, ông tự lưu đày sang lục địa vào ngày 1 tháng 12 năm 1712. === Trở lại vòng ân sủng và những năm cuối đời === Marlborough được người dân và triều đình khắp châu Âu chào đón và ăn mừng, nơi ông không chỉ được kính trọng như một vĩ tướng vĩ đại mà còn là một hoàng thân của Đế quốc Rôma Thần thánh. Sarah cũng đoàn tụ với ông vào tháng 2 năm 1713, và lấy làm vui sướng tới Frankfurt giữa tháng 5 khi thấy rằng quân đội dưới quyền Eugene dành cho chồng bà 'tất cả sự kính trọng như thế ông vẫn còn ở vị trí cũ'. Công tước cũng du hành tới lãnh địa hoàng thân của mình ở Mindelheim mà ông ngờ rằng sẽ bị trả về Bavaria vào cuối cuộc hòa đàm. Trong suốt các chuyến hành trình Marlborough vẫn duy trì liên lạc chặt chẽ với triều đình Hanover, quyết định đảm bảo một sự chuyển giao quyền lực không đổ máu cho Tuyển cử hầu khi Anne qua đời. Ông cũng thư từ với những người Jacobite. Và tinh thần của thời đại đó cũng không thấy gì là sai trái trong tình bạn vẫn tiếp tục giữa Marlborough và người cháu của ông, Công tước Berwick, con ngoài giá thú của James II với Arabella. Nhưng những cam đoán chống lại một sự tái lập Jacobite (mà ông đã từ bỏ kể từ những năm đầu của triều đại William III, bất kể nó giả rối ra sao), đã khuấy động những nghi ngờ của Hanover, và có lẽ ngăn cản ông giữ vị trí hàng đầu trong số các cố vấn của nhà vua George I tương lai. Các đại diện của Pháp, Anh, và Cộng hòa Hà Lan ký Hiệp ước Utrecht vào ngày 11 tháng 4 1713 (Lịch Gregory) – Hoàng đế và các đồng minh Đức, bao gồm Tuyển cử hầu Hanover, tiếp tục chiến tranh thêm một năm rồi mới quyết định chấp nhận các điều khoản thương lượng chung. Hiệp định đánh dấu sự trỗi dậy của Anh trong vai trò một đại cường. Tuy nhiên trong nội bộ, quốc gia vẫn bị chia cắt giữa các đảng phái Whig và Tory, Jacobite và phe thân Hanover. Đến lúc đó Oxford và St John (trở thành Tử tước Bolingbroke kể từ 1712) – gắn bó chặt chẽ bởi các tranh chấp chính trị và kẻ thù – đã phá hoại hoàn toàn nền điều hành của Tory. Marlborough vẫn nắm đầy đủ tin tức về các sự kiện trong lúc lưu đày và vẫn là một nhân vật quyền lực trong chính trường, một phần đáng kể vì mối quan hệ cá nhân giữa ông và Nữ hoàng chưa đoạn tuyệt hẳn. Sau cái chết của con gái Elizabeth vì đậu mùa vào tháng 3 năm 1714, Marlborough liên lạc với Nữ hoàng. Mặc dù nội dung bức thư còn chưa rõ nhưng có thể là Anne đã triệu tập ông về nhà hoặc đã có một thỏa thuận tái bổ nhiệm ông vào các chức vụ trước đó. Thời hoàng kim của Oxford cũng đến chỗ kết thúc, và Anne quay sang Bolingbroke và Marlborough để ủy thác việc trông nom chính quyền và đảm bảo việc chuyển giao ngôi vị suôn sẻ. Nhưng trước cuộc đấu đá chính trị gay gắt sức khỏe Nữ hoàng, vốn sẵn yếu ớt, bị suy yếu nhanh chóng và vào ngày 1 tháng 8 năm 1714 – đúng ngày nhà Marlborough trở lại nước Anh – bà qua đời. Hội đồng Cơ mật lập tức tuyên bố Tuyển cử hầu Hanover thành Vua George I của Anh. Những người Jacobite không kịp trở tay; và các vị nhiếp chính do George bổ nhiệm cầm quyền chờ lúc ông tới Anh. Việc đăng quang này báo trước điềm gở cho những người chủ trương Hiệp ước Utrecht – Bolingbroke và Oxford. Bolingbroke (một người Jacobite trung thành) chạy trốn đến Pháp, trong khi những người đảng Whig truy đuổi Oxford tới Tháp Luân Đôn. Trái lại, Marlborough được chào đón nhiệt liệt. Nhà vua mới không hoàn toàn bỏ qua những chuyện qua lại của ông với Saint-Germain, và không hề có ý định sử dụng năng lực của ông ở đâu ngoài lĩnh vực quân sự. Tuy nhiên việc bổ nhiệm làm Đại tướng Tổng tư lệnh, Tư lệnh quân khí, và Đại tá của Trung đoàn Vệ binh Hoàng gia số 1, một lần nữa đưa Marlborough trở thành nhân vật quyền lực và đáng kính trong triều đình. Việc trở lại quyền lực khiến cho công tước trở thành người cầm quyền chỉ huy đàn áp cuộc nổi dậy Jacobite năm 1715 (mặc dù trợ tá cũ của ông, William Cadogan mới điều hành chiến dịch). Nhưng sức khỏe của ông suy giảm dần, và ngày 28 tháng 5 năm 1716, ít lâu sau cái chết của con gái Anne, Nữ bá tước Sunderland, ông chịu một trận đột quỵ liệt người ở gia trang Holywell. Đến tháng 11 ông lại bị đột quỵ lần nữa, lần này còn nghiêm trọng hơn, lần này ở Blenheim. Công tước hồi phục ít nhiều, trong khi giọng nói ông yếu đi trí óc ông vẫn còn sáng suất, và đủ khỏe để cưỡi ngựa quan sát những thợ xây xây dựng Cung điện Blenheim và tham dự buổi họp Thượng viện buộc tội Oxford phản quốc. Năm 1719 vợ chồng Công tước chuyển vào ở cánh trái của cung điện chưa hoàn thành, nhưng Công tước chỉ còn 3 năm để tận hưởng nó. Khi sống ở điền trang Windsor ông chịu một cơn đột quỵ nữa vào tháng 6 năm 1722, không lâu ngay sau lễ sinh nhật thứ 72. Cuối cùng, vào lúc 4 giờ chiều ngày 16 tháng 6, với sự hiện diện của vợ và hai con gái Henrietta Godolphin và Mary Montagu, Công tước Marlborough thứ nhất qua đời. Ban đầu ông được chôn trong mái vòm ở tiểu giáo đường của Henry VII ở Tu viện Westminster, nhưng dưới chỉ dẫn mà Sarah (mất năm 1744) để lại, thi hài của Marlborough được dời tới nằm dưới mài vòm gần giáo đường ở Blenheim, bên cạnh mộ bà. == Đánh giá == Các sử gia không thống nhất với nhau trong cách đánh giá Marlborough. Phần lớn trong số họ ghi nhận thiên tài quân sự của ông. Tuy nhiên, sử gia theo phái Whig, Thomas Macaulay, chê trách Marlborough trong suốt những trang liên quan trong cuốn Lịch sử nước Anh; điều mà các sử gia John Wilson Croker và George Trevelyan lên án là phỉ báng lộ liễu. Chính để đáp lại cuốn sách của Macaulay mà một hậu duệ của ông, Winston Churchill, đã viết một cuốn tiểu sử mang đậm tính tán dương tiêu đề Marlborough: His Life and Times (4 tập, 1933–1938). Đầu óc tham vọng và ham muốn theo đuổi sự giàu có, quyền lực và danh vọng khiến Marborough có tiếng là hám lợi và keo kiệt. Như Trevelyan chỉ ra, những đặc tính này hết sức phổ biến đương thời, hầu như bất kỳ chính khách nào cũng tìm cách vun vén cho gia tộc và tích lũy những khối tài sản khổng lồ lấy từ quỹ công; và rằng trường hợp Marlborough đã bị cường điệu lên do tuyên truyền bôi nhọ của đối thủ. Tuy nhiên trong con đường tiến thân Marlborough không ít lần tỏ ra bất chấp vô lương tâm, mà trường hợp đào ngũ khỏi phe James II là vết nhơ không thể chối cãi. Cùng với Macaulay, sử gia G. K. Chesterton cũng lên án mạnh mẽ điều này, so sánh Marborough với kẻ bội Chúa Judas. Trevelyan biện hộ cách hành xử của công tước trong cuộc đảo chính năm 1688 là thể hiện lòng trung thành với lý tưởng tự do và đức tin Kháng Cách, nhưng những điều đó không giúp giải thích tại sao sau này ông vẫn duy trì liên lạc với Saint-German; và chính kiểu ngoại giao hai mặt này khiến William III và George I không tin tưởng ông thực sự. Sự suy yếu của Marlborough cuối thời đại Anne nằm trong bối cảnh chính trị của nước Anh đương thời. Marlborough quyết tâm giữ cho nền điều hành của Nữ hoàng không bị chính trị đảng phái chi phối, ban đầu nhận được sự ủng hộ hoàn toàn, nhưng khi ân sủng hoàng gia ngoảnh mặt đi, công tước, cũng như đồng minh chính Godolphin cảm thấy bị cô lập vì không thực sự được đảng phái nào ủng hộ. Đầu tiên họ trở thành người phục vụ cho đảng Whig, sau đó lại thành nạn nhân của đảng Tory. Về mặt thành tích quân sự, đối với những sử gia quân sự David Chandler và Richard Holmes, Marlborough là vị tướng Anh vĩ đại nhất trong lịch sử, một đánh giá được chia sẻ bởi nhiều người khác, trong đó có Công tước Wellington, người nói không thể "nghĩ ra điều gì vĩ đại hơn Marlborough ở vị trí tổng tư lệnh quân đội Anh." Tài năng quân sự lớn nhất của Marlborough thể hiện ở chỗ, ông có một sự hiểu biết rộng rãi các vấn đề chiến lược liên quan mà hiếm ai có được. Ông hành động để duy trì sự thống nhất phối hợp giữa nhiều cường quốc, tuy nhiên sự mở rộng chiến tranh nhắm vào sự lật đổ ngôi vua Tây Ban Nha Felipe V tỏ ra là một sai lầm chết người. Dù cho cá nhân Marlborough không tán thành điều khoản phi thực tế này, và ông không có vai trò chính thức trong đàm phán hòa bình, với tầm ảnh hưởng của mình đáng ra ông có thể gây sức ép lên đàm phán, cũng như ông đã có thể kêu gọi các nước đồng minh ngừng chiến tranh sau khi nó đã đạt được những kết cục hợp lý. Về những điều này theo Chandler ông phải chịu một phần trách nhiệm. Trong chiến trận, Marlborough ưa vận động chiến hơn là chiến tranh công thành. Bên cạnh sự hỗ trợ của một loạt các thuộc cấp có năng lực (do chính ông chọn lựa cẩn thận, chẳng tướng Cadogan) cũng như phối hợp với một tài năng quân sự lớn khác là Hoàng thân Eugène, Marlborough còn có tầm nhìn xa trông rộng và khả năng đánh giá năng lực đối phương xuất sắc trong giao chiến, cũng như kĩ năng duy trì nhịp điệu tấn công vào những phút quyết định. Tài tiên đoán nổ súng, hành quân và tấn công binh chủng phối hợp nằm ở nguồn gốc những thắng lợi trên chiến trường của ông. Tuy nhiên, xét tổng thể, Marlborough được xem là một người thực hành vĩ đại các chiến lược chiến tranh của đầu thế kỉ 18, hơn là một nhà cách tân vĩ đại tái định nghĩa lý thuyết chiến tranh như Napoléon sau này. Bên cạnh đó, Marlborough còn là nhà tổ chức xuất sắc, liên tục đảm bảo quân nhu và giữ vững đội hình bất chấp những cuộc hành quân đường trường táo bạo sâu vào đất địch. Sự quan tâm dành cho binh lính cũng lòng dũng cảm cá nhân của Marlborough, người sẵn sàng xông ra tuyến đầu trận tiền chinh phục được lòng tin và ngưỡng mộ của binh lính, đến độ một hạ sĩ trong quân đội ông, Matthew Bishop, phải bày tỏ: "Thế giới trước giờ không thể sinh ra một con người giàu lòng nhân đạo hơn thế". Ngay cả những kẻ thù cũ của ông cũng phải thừa nhận những phẩm chất của công tước. Trong Letters on the Study of History (1752), Bollingbroke tuyên bố "Tôi lấy làm hân hạnh có cơ hội này để bày tỏ sự công bằng cho con người vĩ đại đó... [người mà ký ức] như vị tướng vĩ đại nhất, và bộ trưởng vĩ đại nhất mà quốc gia của chúng ta, mà có lẽ bất cứ quốc gia nào, mà tôi tôn kính." == Phả hệ == == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Công trình liên quan tới Văn bản trên Cột Khải hoàn ở Cung điện Blenheim tại Wikisource
lá cờ hawaii.txt
Lá cờ Hawaiʻi (tiếng Hawaii: Ka Hae Hawaiʻi) là lá cờ chính thức tượng trưng Hawaiʻi là một vương quốc (dưới thời Anh thuộc ngắn), chế độ bảo hộ, cộng hòa, lãnh thổ, và tiểu bang. Đây là lá cờ tiểu bang duy nhất ở Hoa Kỳ mà được bay dưới nhiều chế độ chính phủ như thế, và là cờ duy nhất bao gồm Quốc kỳ Liên hiệp Anh (tiếng Anh: Union Flag). Ka Hae Hawaiʻi cũ hơn phần nhiều lá cờ tiểu bang Mỹ. == Thiết kế == Phía trên bên trái của cờ Hawaiʻi là Quốc kỳ Liên hiệp Anh. Nền lá cờ có tám sọc tượng trưng tám đảo chính của Hawaiʻi. Từ trên xuống, các sọc có màu theo thứ tự: trắng, đỏ, xanh, trắng, đỏ, xanh, trắng, đỏ. Các đảo được tượng trưng là Hawaiʻi, Oʻahu, Kauaʻi, Kahoʻolawe, Lānaʻi, Maui, Molokaʻi, và Niʻihau. == Lịch sử == Có nhiều cách kể chuyện lịch sử của Ka Hae Hawaiʻi. Một cách giải thích rằng Vua Kamehameha I treo cờ Vương quốc Anh của hạm trưởng người Anh George Vancouver để biểu hiện tình hữu nghị với Quốc vương George III. Một cố vấn của Kamehameha bảo là quốc kỳ đó có thể kéo Hawaiʻi vào xung đột quốc tế, tại vì nước khác có thể tưởng Hawaiʻi đồng minh với Vương quốc Anh. Kamehameha kéo cờ xuống tại nhà vua. Tuy sự chính xác bị tranh cãi, có truyện kể rằng về sau, để nhân nhượng người Mỹ tại Hawaiʻi trong thời Chiến tranh 1812, quốc kỳ Hoa Kỳ được bay trên nhà Kamehameha và bị dời ngay khi sĩ quan Anh trong triều đình Kamehameha phản đối sôi nổi. Chuyện này giải thích tại sao lá cờ Hawaiʻi về sau cố tình hỗn hợp quốc kỳ của hai nước này. Một lý do nữa là, trong thời Định mệnh Hiển nhiên (Manifest Destiny) tại Hoa Kỳ, và khi Hawaiʻi bị Vương quốc Anh tiếp quản một ngày, lá cờ này được sử dụng để cho rằng Hawaiʻi là quốc gia độc lập. Phần của hai quốc kỳ được nối thành một để cho rằng Hawaiʻi không sẽ bị tiếp quản. Năm 1816, Kamehameha đặt làm cờ này để tránh xung đột. Nhà lịch sử cho Ka Hae Hawaiʻi là do một sĩ quan trong Hải quân Hoàng gia Anh, dựa trên lá cờ hải quân Anh. Tên sĩ quan này bị tranh cãi: có người cho là Alexander Adams; có người cho là George Beckley. Khác với cờ Anh được treo bởi Kamehameha lần đầu tiên, phía tên bên trái có bốn đường chéo thêm vì Vương quốc Anh đã trở thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Cờ đầu tiên có sọc màu đỏ-trắng-xanh, có thể do một số cờ trong lịch sử Anh. Tuy nhiên, có người cho rằng các màu này do quốc kỳ Mỹ. Vì lầm lẫn, cờ được sử dụng trong buổi treo cờ chính thức đầu tiên xếp màu theo thứ tự trắng-đỏ-xanh. Số sọc cũng thay đổi: ban đầu, lá cờ chỉ có bảy sọc, nhưng vào năm 1845 một sọc được thêm vào. Hai quốc gia đầu tiên công nhận Ka Hae Hawaiʻi chính thức là Vương quốc Anh và Pháp. Hoa Kỳ và Nhật Bản theo sau. Năm 1990, Thống đốc Hawaiʻi John D. Waihee III tuyên bố ngày 31 tháng 7 là Ngày Ka Hae Hawaiʻi, tức là Ngày Lá cờ Hawaiʻi. == Xem thêm == Huy hiệu Hawaii == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Quy tắc trưng bày Ka Hae Hawaiʻi theo luật tiểu bang (tiếng Anh) Trang về lá cờ Hawaiʻi ở Flags of the World (Anh)
vĩnh long (thành phố).txt
Thành phố Vĩnh Long là tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Long, nằm bên bờ sông Cổ Chiên, một nhánh của sông Tiền. Ngày 17 tháng 7 năm 2007, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ký Quyết định số 1010/ QĐ-BXD công nhận thị xã Vĩnh Long thuộc tỉnh Vĩnh Long là đô thị loại III. Đồng thời vào ngày 10 tháng 4 năm 2009 Chính phủ đã nghị định thành lập thành phố Vĩnh Long trên địa giới có sẵn của thị xã Vĩnh Long. == Vị trí địa lý == Thành phố tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Long nằm cặp sông Cổ Chiên với ba mặt Bắc, Đông, Nam đều giáp với huyện Long Hồ cùng tỉnh và Tây giáp huyện Châu Thành của tỉnh Đồng Tháp, Tây Bắc giáp huyện Cái Bè, Tiền Giang qua sông Tiền và qua Cầu Mỹ Thuận./. == Hành chính == Thành phố gồm 7 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 8, 9 và 4 xã: Tân Hoà, Tân Hội, Tân Ngãi, Trường An. == Lịch sử == Năm 1757, địa bàn thành phố Vĩnh Long ngày nay là thôn Long Hồ, là lị sở của dinh Long Hồ, châu Định Viễn.Thời Gia Long, thôn Long Hồ thuộc tổng Vĩnh Trường, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. Năm 1814, vua Gia Long cho xây thành Vĩnh Long bằng đất tại đây. Năm 1832, dưới triều Minh Mạng, thôn Long Hồ thuộc tổng Bình Long, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long. Năm Tự Đức thứ 17, văn thân trong tỉnh lập văn miếu tại đây, nay vẫn còn. Đầu thời Pháp thuộc, thôn Long Hồ thuộc tổng Vĩnh Tường, hạt Định Viễn, sau thuộc hạt Vĩnh Long. Từ ngày 5 tháng 1 năm 1876, đổi gọi là làng, thuộc hạt tham biện Vĩnh Long. Từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, làng Long Hồ thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ngày 25 tháng 1 năm 1908, làng Long Hồ thuộc quận Long Châu, tỉnh Vĩnh Long. Ngày 9 tháng 2 năm 1917, làng Long Hồ thuộc quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Ngày 11 tháng 8 năm 1942, tách phần đất thị tứ nhập vào làng tỉnh lỵ Long Châu, cùng quận. Sau năm 1956, làng tỉnh lỵ Long Châu được đổi thành xã Long Châu, tổng Phước An, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai tỉnh Vĩnh Long và Vĩnh Bình hợp nhất thành tỉnh Cửu Long, đồng thời tách đất của quận Châu Thành để thành lập thị xã Vĩnh Long, tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Long lúc đó gồm có 7 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 8, 9. Ngày 11 tháng 3 năm 1977, thị xã Vĩnh Long được sáp nhập 2 xã Tân Hòa và Tân Ngãi tách ra từ huyện Châu Thành Tây vừa giải thể. Ngày 17 tháng 4 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam ra quyết định số 44/HĐBT, điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Vĩnh Long, theo đó, các xã An Bình, Bình Hoà Phước, Đồng Phú, Thanh Đức, Tân Hạnh (trừ ấp An Hiệp và 1/2 ấp Phước Bình), và xã Long Phước (gồm ấp Phước Hanh, Phước Ngươn A, 1/2 ấp Phước Lợi A và 4/5 ấp Phước Lợi B) thuộc huyện Long Hồ được sáp nhập vào thị xã Vĩnh Long. Sau khi mở rộng địa giới hành chính, thị xã Vĩnh Long có 7 phường và 8 xã. Ngày 26 tháng 12 năm 1991, tỉnh Cửu Long được tách thành tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh. Thị xã Vĩnh Long là tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Long. Ngày 13 tháng 2 năm 1992, các xã Đồng Phú, An Bình, Bình Hòa Phước, Phước Hậu, Tân Hạnh, Thanh Đức được trả về huyện Long Hồ. Thị xã Vĩnh Long chỉ còn 7 phường. Ngày 9 tháng 8 năm 1994, tách đất xã Tân Hòa lập xã Tân Hội, tách đất xã Tân Ngãi lập xã Trường An. Ngày 17 tháng 7 năm 2007, thị xã Vĩnh Long được công nhận là đô thị loại III. Ngày 10 tháng 4 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 16/NĐ-CP, về việc nâng cấp thị xã Vĩnh Long lên thành thành phố Vĩnh Long thuộc tỉnh Vĩnh Long. == Kinh tế & xã hội == === Kinh tế === Năm 2003, GDP của toàn thị xã Vĩnh Long là 1.353 tỷ, đến năm 2008 con số này là 2700 tỷ. Thu nhập đầu người năm 2003 là 10,5 triệu/người/năm, năm 2008 là 20 triệu/người/năm. Trong 6 tháng đầu năm 2009, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ của thành phố ước đạt 2.106,09 tỷ đồng, tăng 24,54% so cùng kỳ và đạt 48,31% kế hoạch năm. Định hướng phát triển kinh tế của thành phố là đẩy mạnh thương mại - dịch vụ, với tổng mức bán lẻ và doanh thu thương mại - dịch vụ trên 3.487 tỷ đồng. Tiếp tục đầu tư và phát triển các chợ, các khu thương mại dịch vụ đáp ứng tốt nhu cầu kinh doanh của người dân. Giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt trên 1.005 tỷ đồng. Tiếp tục triển khai quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thành phố với quy mô khoảng 50 ha tại xã Trường An. Tương lai tại đây sẽ hình thành một nhà máy bia có công suất rất lớn. Dự kiến, khi nhà máy này đi vào hoạt động giai đoạn 1 sẽ đóng vào nguồn thu ngân sách nhà nước là 600 tỷ đồng. Và khi hoàn thành giai đoạn 2, nguồn thu sẽ tăng lên khoảng 1.000 tỷ đồng. === Xã hội === Trong năm 2008, thị xã Vĩnh Long đã giải quyết việc làm cho 5.637 lao động, đào tạo nghề cho 3.524 lao động, giải quyết cho 235 hộ thoát nghèo. Tại thời điểm tháng 05 năm 2009, thành phố Vĩnh Long còn 1120 hộ nghèo, chiếm tỉ lệ 3,7%, vừa hoàn thành điều tra hộ cận nghèo là 960 hộ với 3.373 nhân khẩu. Tất cả các hộ nghèo đều được cấp thẻ bảo hiểm y tế... Tại thời điểm này, thành phố Vĩnh Long có 31 khóm, ấp, 1 phường và trên 93% gia đình đạt tiêu chí văn hóa, 96% hộ sử dụng nước sạch, 99% hộ có điện sinh hoạt, kiên cố hóa trường học, trạm y tế, các cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn chỉnh... Đồng thời, Để đáp ứng nhu cầu văn hoá, thể thao và giải trí của người dân thành phố, do đó ngày 26 tháng 03 năm 2010, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Trung tâm văn hoá thể thao thành phố Vĩnh Long. Theo kế hoạch phát triển đô thị của thành phố, trong tương lai, không gian thành phố Vĩnh Long sẽ mở rộng về phía Đông tức khu vực phường 5, hướng tới ngã ba sông Cổ Chiên và sông Tiền, phát triển mạnh về phía Nam và Tây theo các trục quốc lộ 1A và quốc lộ 53. Cụ thể, đến năm 2020, phía Tây mở rộng một phần diện tích theo trục quốc lộ 53 kéo dài, hình thành khu đô thị mới Mỹ Thuận. Phía Đông mở rộng theo trục quốc lộ 57 và tỉnh lộ 31, nhằm phát triển tuyến công nghiệp Cổ Chiên. Phía Nam sẽ được mở rộng theo trục quốc lộ 53 (đường Phó Cơ Điều) đến sông cầu Ông Me Nhỏ, nhằm phát triển khu dân cư. Phía Bắc khai thác các khu sinh thái, du lịch tại cồn Chim, cồn Giông thuộc các phường Trường An, Tân Ngãi và Tân Hội. == Du lịch == Với thế mạnh là một là trung tâm của tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long nổi tiếng với các vườn trái cây, được quy hoạch rất bài bản để cho ra các loại trái cây nổi tiếng khắp cả nước và cũng là nơi cung cấp các loại cây giống cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như bưởi, chôm chôm, nhãn, măng cụt, xoài, cam, quýt,... Khi đến Vĩnh Long sẽ được thưởng thức các loại trái cây đặc sản của tỉnh. Ngoài ra cũng đừng bỏ qua chuyến du lịch đến các xã cù lao nằm bên cạnh Thành phố Vĩnh Long, trung tâm sản xuất của các loại trái cây bên trên. Người Vĩnh Long bảo nếu về Vĩnh Long mà chưa đi sang thăm các xã cù lao là chưa về Vĩnh Long. Từ trung tâm thành phố có thể thuê tàu riêng hoặc lên phà để khám phá các cù lao. Nếu đi tàu riêng sẽ làm quen với phương tiện giao thông chủ yếu của người dân nơi đây và đừng bỏ quên ngắn cầu Mỹ Thuận từ dưới dòng sông. Nếu thích khám phá thì phà là phương tiện thích hợp để có thể đem cả ô tô sang cù lao chơi, mạng lưới giao thông ở các cù lao khá hoàn chỉnh với các đường trải nhựa. Nhưng phương tiện đi chơi tuyệt vời nhất là xe gắn máy, với một chiếc xe gắn máy bạn có thể khám phá mọi nơi trên cù lao. Khu du lịch sinh thái ở các xã cù lao chính là các vườn trái cây, kết hợp phục vụ ăn uống. Địa điểm tham quan: Khu du lịch thương mại và dịch vụ Trường An (xã Tân Ngãi); Quảng trường thành Phố Vĩnh Long (phường 1); Công viên tượng đài chiến thắng Mậu Thân (phường 3); Văn Thánh Miếu (phường 4), v.v... == Một vài hình ảnh == == Chú thích ==
15 tháng 11.txt
Ngày 15 tháng 11 là ngày thứ 319 (320 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 46 ngày trong năm. == Sự kiện == 655 – Trận Winwaed: Penda của Mercia thua Oswiu của Northumbria. 976 – Triệu Quang Nghĩa trở thành hoàng đế thứ nhì của Bắc Tống, tức Tống Thái Tông, sau khi anh là Tống Thái Tổ từ trần. 1515 – Thomas Cardinal Wolsey được trở thành đức hồng y. 1533 – Francisco Pizarro tới Cuzco, Peru. 1777 – Cách mạng Hoa Kỳ: Sau khi Quốc hội Lục địa tranh luận 16 tháng, họ thông qua Các điều khoản liên bang (Articles of Confederation). 1791 – Trường đại học Công giáo đầu tiên ở Hoa Kỳ, Đại học Georgetown, mở cửa. 1864 – Nội chiến Hoa Kỳ: Tướng miền Bắc William Tecumseh Sherman bắt đầu "Cuộc hành quân ra Biển", tàn phá tài sản và cơ sở hạ tầng trên đường đi từ Atlanta đến Savannah, Georgia. 1889 – Deodoro da Fonseca dẫn đầu cuộc đảo chính lật đổ Hoàng đế Pedro II của Brasil được lòng dân. 1920 – Hội Quốc Liên họp lần đầu tiên tại Giơnevơ, Thụy Sĩ, 41 quốc gia thành viên sáng lập có mặt. 1922 – Cộng hòa Viễn Đông sáp nhập vào nước Nga Xô viết, tất cả quyền hạn và lãnh thổ được chuyển giao cho chính phủ Bolshevik tại Moskva. 1935 – Hoa Kỳ thành lập Khối thịnh vượng chung Philippines với Manuel L. Quezon là tổng thống đầu tiên. 1966 – Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương được hình thành với ba thành viên là Úc, New Zealand, Fiji. 1968 – Chiến tranh Việt Nam: Quân lực Hoa Kỳ mở đầu Chiến dịch Commando Hunt, một chiến dịch không kích lớn có mục đích ngăn trở Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể chở quân và đạn dược trên đường Trường Sơn. 1983 – Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ Bắc Síp đơn phương tuyên bố độc lập tại lãnh thổ do Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng ở phía bắc đảo Síp. 1988 – Tàu vũ trụ Buran, đối trọng của Liên Xô với tàu con thoi của NASA, được phóng lên không có người lái trong chuyến bay duy nhất. 1990 – Quốc hội Bulgaria bỏ phiếu đổi tên nước từ Cộng hòa Nhân dân Bulgaria thành Cộng hòa Bulgaria và loại bỏ biểu tượng nhà nước cộng sản khỏi quốc kỳ. 1991 - Chúc thư của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Đệ tam Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kêu gọi sự phục hoạt 2005 – Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. == Sinh == 986 - Lê Long Đĩnh, Hoàng đế cuối cùng của nhà Tiền Lê, Việt Nam (m. 1009) 1923 - Văn Cao, nhạc sĩ nổi tiếng, tác giả quốc ca Việt Nam 1954 - David B. Audretsch nhà kinh tế học người Hoa Kỳ == Mất == 1210 - Lý Cao Tông, Hoàng đế thứ bảy của nhà Lý, Việt Nam (s. 1173) 1630 – Johannes Kepler, nhà toán học, thiên văn học, và chiêm tinh học người Đức (s. 1571) 1888 - Tôn Thất Đàm, võ tướng và trung thần nhà Nguyễn (s. 1864) 1998 - Lê Yên, nhạc sĩ tiền chiến Việt Nam (s. 1917) 2001 - Đoàn Chuẩn, nhạc sĩ của mùa thu Hà Nội (s. 1924) == Những ngày lễ == == Tham khảo ==
tiếng mông cổ.txt
Tiếng Mông Cổ (chữ Mông Cổ truyền thống: , Mongɣol kele; chữ Kirin: Монгол хэл, Mongol khel) là ngôn ngữ chính thức của Mông Cổ và là thành viên nổi tiếng nhất của hệ ngôn ngữ Mongol. Số người nói tất cả các phương ngữ khác nhau lên tới hơn 10 triệu, gồm đa phần cư dân ở Mông Cổ và nhiều người Mông Cổ ở Khu tự trị Nội Mông Cổ. Tại Mông Cổ, phương ngữ Khalkha, được viết bằng chữ Kirin (và có lúc bằng chữ Latinh trên mạng xã hội), chiếm ưu thế, còn ở Nội Mông có sự đa dạng về phương ngữ hơn và được viết bằng chữ viết Mông Cổ truyền thống. Một số học giả phân loại những ngôn ngữ Mongol khác như Buryat và Oirat thành những phương ngữ của tiếng Mông Cổ, song cách phân loại này không tương đồng với tiêu chuẩn quốc tế hiện nay. Tiếng Mông Cổ có sự hài hòa nguyên âm (vowel harmony) và cấu trúc âm tiết phức tạp cho phép những nhóm ba phụ âm nằm cuối âm tiết hiện diện. Đây là một ngôn ngữ chắp dính điển hình, dựa trên các chuỗi hậu tố. Dù có cấu trúc cơ bản, thứ tự từ ngữ trong các cụm danh từ thì tương đối tự do, nên vai trò ngữ pháp phải được chỉ ra bởi một hệ thống gồm khoảng tám cách ngữ pháp. Có năm dạng. Động từ được xác định bởi dạng, thể, thì, và tình thái/evidentiality. Tiếng Mông Cổ hiện đại phát triển từ tiếng Mông Cổ trung đại, thứ ngôn ngữ từng hiện diện tại Đế quốc Mông Cổ vào thế kỷ 13 và 14. Nhiều sự thay đổi đã diễn ra, gồm một đợt biến đổi mẫu hình hòa âm nguyên âm xuất hiện, nguyên âm dài phát triển, hệ thống cách ngữ pháp biến đổi, và hệ thống gốc động từ được tái cấu trúc. Tiếng Mông Cổ có liên qua xa với tiếng Khiết Đan (Khitan). Nó thuộc về vùng ngôn ngữ Bắc Á, cùng với hệ ngôn ngữ Turk, hệ ngôn ngữ Mongol, ngữ tộc Tungus, tiếng Hàn Quốc và tiếng Nhật Bản. Văn học tiếng Mông Cổ được lưu giữ tốt ở dạng viết, với những văn liệu từ đầu thế kỷ 13. == Phân bố địa lý == Tiếng Mông Cổ là ngôn ngữ chính thức của Mông Cổ, nơi nó là ngôn ngữ chính của 2,8 triệu người (thống kê 2010), và là ngôn ngữ khu vực tại Khu tự trị Nội Mông Cổ, nơi có ít nhất là 4,1 triệu người Mông Cổ. Khoảng một nửa trong số 5,8 người Mông Cổ trên khắp Trung Quốc nói ngôn ngữ này (ước tính 2005) Tuy nhiên, không biết chính xác số người nói tiếng Mông Cổ tại Trung Quốc. Tiếng Mông Cổ tại Trung Quốc đã trải qua nhiều đợt suy giảm và phục hồi, nhất là tại Nội Mông. Lần suy giảm đầu tiên là vào cuối thời nhà Thanh, rồi một cuộc phục hồi (1947 tới 1965), rồi lần suy giảm thứ hai (1966 tới 1976), đến một cuộc phục hồi thứ hai (1977 tới 1992), và cuối cùng là một lần suy giảm thứ ba (1995 tới 2012). Tình trạng đa ngữ tại Nội Mông không làm cản trở người Mông Cổ tại đây bảo tồn ngôn ngữ của họ. Dù một số không rõ người Mông Cổ không còn biết nói tiếng Mông Cổ nữa, họ vẫn được chính phủ Trung Quốc xem là người Mông Cổ và vẫn tự xem mình là người Mông Cổ. Những đứa trẻ người lai Hán-Mông Cổ cũng được ghi nhận là người Mông Cổ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Lingua Mongolia (một trang web chuyên về tiếng Mông Cổ, đa phần về bản chữ viết Mông Cổ truyền thống) StudyMongolian Từ điển Bolor tiếng Anh-Mông Cổ Những phông chữ Mông Cổ truyền thống Unicode
vùng đô thị manila.txt
Vùng Thủ đô Manila (tiếng Filipino: Kalakhang Maynila, Kamaynilaan) hay Vùng Thủ đô Quốc gia (tiếng Filipino: Pambansang Punong Rehiyon) hay Metro Manila là một vùng thủ đô bao gồm thành phố Manila và các khu vực xung quanh tại Philippines. Vùng bao gồm 16 thành phố là Manila Caloocan, Las Piñas, Makati, Malabon, Mandaluyong, Marikina, Muntinlupa, Navotas, Pasay, Pasig, Parañaque, Quezon, San Juan, Taguig, Valenzuela—và đô thị tự trị Pateros. Nếu so sánh với quan điểm thông thường trên thế giới cũng như tại Việt Nam thì "Vùng" này tương tự như một thành phố thống nhất và 16 "thành phố" tương tự như các quận trực thuộc của thành phố đó. Diện tích của toàn "Vùng" chỉ là 638,55 km², bằng khoảng 2/3 diện tích của Hà Nội trước năm 2008. Vùng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giáo dục của Philippines. Theo quy định, Manila là thủ đô trong khi toàn bộ Metro Manila là trụ sở của chính phủ Trung ương . Metro Manila chiếm 33% tổng GDP của toàn Philippines Metro Manila là vùng đô thị đông dân nhất tại Philippines. Theo thống kê năm 2007, tổng dân số của Vùng là 11.553.427 người, chiếm 13% dân số toàn quốc. Nếu tính cả những khu vực ngoại thành thuộc quyền hành chính của các tỉnh liền kề, như Bulacan, Cavite, Laguna và Rizal thì dân số của Đại Manila sẽ lên tới khoảng 20 triệu người . == Lịch sử == Tên gọi Metro Manila được dùng nhiều bắt đầu từ những năm 1980 khi các thành phố mà nay trực thuộc Vùng đô thị vẫn là một phần của các tỉnh lân cận. Nhiều người ở bên ngoài khu vực đô thị, chủ yếu là những nơi khác ở Philippines thường đề cập đến Metro Manila giống như khi đề cập đến Manila. Tuy nhiên, nhiều cư dân của các thành phố lân cận này lại phản đối việc sử dụng tên "Manila". Nhu cầu phát triển đòi hỏi phải thống nhất về mặt quản lý đối với thủ đô Manila và toàn bộ vùng đô thị xung quanh và từ đó xuất hiện cái tên "Metro Manila". Năm 1995, Hội đồng Metro Manila trở thành Hội đồng Phát triển Vùng thủ đô Manila. Người đứng đầu cơ quan này do Tổng thông Philippines bổ nhiệm. == Địa lý == Metro Manila nằm trên một eo đất giữa vịnh Manila ở phía tây và hồ Laguna de Bay ở phía đông nam và sông Pasig chảy từ hồ ra vịnh. Vùng giáp với các tỉnh Bulacan ở phía bắc, Rizal ở phía đông, Laguna ở phía nam và Cavite ở phía tây nam. Vùng đầm lầy phía tây eo đất của Vùng Thủ đô chủ yếu nằm trên dộ cao 10 m so với mặt biển, khu vực phía đông có độ cao tăng dần cho đến dãy núi Sierra Madre. == Chính quyền == Bản thân thành phố Manila là thủ đô quốc gia của Philippines. Vùng đô thị Manila lớn hơn là trụ sở chính phủ. Thương viện Philippines nằm ở thành phố Pasig và Hạ viện nằm ở thành phố Quezon. Metro Manila là vùng nhỏ nhất trong các vùng của Philippines, nhưng lại là vùng đông dân nhất với dân số lên tới trên 11 triệu người trên một diện tích 638 km². Đây là vùng duy nhất tại Philippines mà không bao gồm các tỉnh mà chỉ bao gồm 16 thành phố và một khu đô thị tự trị: == Kinh tế == Thành phố Makati là trung tâm tài chính và kinh tế của cả Metro Manila cũng như toàn Philippines, thành phố là nơi đặt trụ sở của nhều tập đoàn lớn nhất của Philippines như Tập đoàn các Công ty Ayala cũng như các ngân hàng chính của đất nước. Khu vực Makati được xây dựng trong khu vực gần Căn cứ Không quân Nielsen của Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đường băng của căn cứ này nay là những đường phố chính của thành phố. Ortigas Center là khu thương mại quan trọng thứ hai tại Metro Manila, nằm trên địa giới của thành phố Mandaluyong và Pasig. Quận Binondo ở thành phố Manila là trung tâm thương mại truyền thống của người gốc Hoa và cũng là trung tâm thương mại quốc gia trước khi akati được phát triển. == Nhân khẩu == Những người dân bản địa Tagalog đã sinh sống ở khu vực mà nay là Metro Manila. Các dân tộc bản địa khác của Philippines sau đó cũng đã di cư đến vùng đô thị, có thể kể đến như người Visayan, người Ilocos, người Bicolanos, người Kapampangan, người Pangasinan. Các nhóm bộ tộc như Igổt hay Bajau cũng tới định cư trong vùng. Ngoài ra, vùng đô thị cũng có một số người gốc Hoa, Nhật hay gốc Ấn. Cũng có một số lượng đáng kể công dân Tây Ban Nha, Hoa Kỳ và Hàn Quốc sinh sống trong vùng đô thị. Ngôn ngữ phổ biến nhất tại Metro Manila là tiếng Tagalog (94,34%). Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi và là ngôn ngữ chính của tầng lớp thượng lưu hay trong thương mại. Tiếng Hoa được dạy trong các trường học của người gốc Hoa, nngoài ra một số ngôn ngữ bản địa khác của Philippines cũng được sử dụng cùng với những người di cư. Tôn giáo chủ yếu tại Metro Manila là Công giáo La Mã. Các tôn giáo khác bao gồm Tin Lành (3&), Hồi giáo (5%), Ấn Độ giáo và Phật giáo chiếm khoảng 2%. == Giáo dục == Năm 2008, Metro Manila có khoảng 511 trường tiểu học và 220 trường trung học . Ngoài ra còn có 81 cơ sở giáo dục cấp cao. Tỉ lệ biết chữ là 92,4% . Metro Manila đóng vai trò là trung tâm giáo dục của cả nước và nhiều sinh viên từ các tỉnh đến đây để học tập. Metro Manila cũng có nhiều trường tư của các cơ sở tôn giáo. Một số trường quốc tế cũng nằm trong địa giới hay nằm lân cận Metro Manila. == Xem thêm == Danh sách vùng đô thị châu Á == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website Chính thức của Metro Manila
sông công (thành phố).txt
Sông Công là thành phố trực thuộc tỉnh Thái Nguyên. Thành phố Sông Công tiền thân là Thị xã Sông Công được thành lập trên cơ sở thị trấn Mỏ Chè, các xã Cải Đan, Tân Quang và Bá Xuyên của huyện Phổ Yên theo quyết định số 113/HĐBT ngày 11 tháng 4 năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam, ban đầu gồm 3 phường: Lương Châu, Mỏ Chè, Thắng Lợi và 3 xã: Bá Xuyên, Cải Đan, Tân Quang, khi đó thuộc tỉnh Bắc Thái. Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tái lập tỉnh Thái Nguyên từ tỉnh Bắc Thái, thị xã Sông Công trực thuộc tỉnh Thái Nguyên. Ngày 10 tháng 4 năm 1999, thị xã Sông Công thành lập phường Phố Cò và xã Vinh Sơn theo Nghị định số 18/1999/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam. Cũng theo quyết định này, xã Cải Đan đổi thành phường Cải Đan, xã Bình Sơn thuộc huyện Phổ Yên chuyển về thị xã Sông Công quản lý. Ngày 18 tháng 10 năm 2010, Bộ Xây dựng ban hành quyết định số 925/QĐ-BXD công nhận thị xã Sông Công là đô thị loại III . Ngày 13 tháng 1 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP giải thể thị trấn nông trường và điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập thị trấn thuộc các huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, Đại Từ; thành lập phường thuộc thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; theo đó, thành lập phường Bách Quang trên cơ sở điều chỉnh 852,5 ha diện tích tự nhiên và 9.260 nhân khẩu của xã Tân Quang . Ngày 15 tháng 5 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công; thành lập phường thuộc thị xã Sông Công và thành lập thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; theo đó, chuyển giao toàn bộ 1.560,80 ha diện tích tự nhiên và 23.865 nhân khẩu của xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên về thị xã Sông Công quản lý; thành lập phường Lương Sơn thuộc thị xã Sông Công trên cơ sở toàn bộ 1.560,80 ha diện tích tự nhiên và 23.865 nhân khẩu của xã Lương Sơn; thành lập thành phố Sông Công trên cơ sở toàn bộ 9.837,07 ha diện tích tự nhiên và 109.409 nhân khẩu của thị xã Sông Công. Sông Công là thành phố công nghiệp, trung tâm kinh tế, hành chính, văn hóa - xã hội phía Nam của tỉnh Thái Nguyên; là đầu mối giao thông, giao lưu phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của vùng Đông Bắc Bắc Bộ. Với vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du, Sông Công có các tuyến giao thông quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua nối với Thủ đô Hà Nội ở phía Nam và thành phố Thái Nguyên ở phía Bắc, là điều kiện rất thuận lợi để đẩy mạnh giao thương với các vùng kinh tế Bắc Thủ đô Hà Nội, phía Nam vùng Trung du miền núi phía Bắc mà Trung tâm là thành phố Thái Nguyên và các vùng kinh tế Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang. Với lợi thế đặc biệt, Sông Công từ lâu đã được xác định là trung tâm công nghiệp lớn và là đô thị bản lề, trung chuyển kinh tế giữa các vùng trong và ngoài tỉnh Thái Nguyên. Ngày 1 tháng 7 năm 2015, Sông Công long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm thành lập thị xã Sông Công, công bố thành lập Thành phố Sông Công và đón nhận huân chương lao động hạng Ba cùng với sự hiện diện của nhiều đại biểu đến từ các thành phố, thị xã trong khu vực miền bắc == Địa lý == Thành phố Sông Công giáp thành phố Thái Nguyên về phía bắc; giáp Thị xã Phổ Yên về phía Nam. Hướng Đông và Tây giáp thành phố Thái Nguyên, huyện Phú Bình và thị xã Phổ Yên. Thành phố có vị trí khá thuận lợi: cách thủ đô Hà Nội 65 km về phía Bắc, cách thành phố Thái Nguyên 15 km về phía Nam, cách sân bay quốc tế Nội Bài 45 km, cách hồ Núi Cốc 17 km. === Dân cư === Thành phố Sông Công hiện có 109.409 nhân khẩu, tập trung ở các đô thị và nhà máy, xí nghiệp. === Hành chính === Thành phố Sông Công có 7 phường: Bách Quang, Cải Đan, Lương Châu, Lương Sơn, Mỏ Chè, Phố Cò, Thắng Lợi và 4 xã: Bá Xuyên, Bình Sơn, Tân Quang, Vinh Sơn. === Địa hình === Địa hình tương đối bằng phẳng, mang đặc điểm của miền trung du, nền dốc dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, có nhiều ngọn cao vài trăm mét. Nơi cao nhất trong khu vực nội thành là ngọn núi Tảo (54 m), cao độ nền trung bình thường ở mức 15 – 17 m. Thành phố Sông Công được dòng sông Công chia làm 2 khu vực phía Đông và phía Tây tạo 2 nhóm cảnh quan chính: Khu vực phía Đông có địa hình đồng bằng, xen lẫn gò đồi nhỏ và thấp, có độ cao trung bình từ 25 – 30 m, phân bố dọc theo thung lũng sông thuộc các xã Bá Xuyên, xã Tân Quang và các phường Lương Châu, Thắng Lợi, Cải Đan, Phố Cò, Bách Quang: - Khu vực phía Tây có địa hình chủ yếu là gò đồi và núi thấp với độ cao 80 – 100 m; một số đồi cao khoảng 150 m và núi thấp trên 300 m, phân bố dọc theo ranh giới phía Tây thị xã trên địa phận các xã Bình Sơn và Vinh Sơn. === Khí hậu === Thành phố Sông Công thuộc vùng trung du Bắc Bộ. Nhiệt độ không khí trung bình 23 °C, nhiệt độ tháng cao nhất là 28 °C, nhiệt độ tháng thấp nhất là 16,1 °C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,4 °C và nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3 °C Độ ẩm trung bình năm (%): 82%, độ ẩm trung bình tháng cao nhất là 86%, độ ẩm trung bình tháng thấp nhất là 78%, độ ẩm thấp tuyệt đối là 16%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 2168 mm, số ngày mưa hàng năm là 142 ngày, lượng mưa tháng lớn nhất là 443 mm, lượng mưa tháng nhỏ nhất 22 mm, số ngày mưa trên 50 mm là 12 ngày, số ngày mưa trên 100 mm là 2-3 ngày, lượng mưa ngày lớn nhất là 353 mm, lượng mưa tháng lớn nhất là 1103 mm, lượng mưa tăng dần từ đầu mùa đến cuối mùa và đạt tới mức lớn nhất vào tháng 8. === Thủy văn === Sông Công bắt nguồn từ vùng Đèo Khế, tỉnh Thái Nguyên, chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Sau khi ra khỏi hồ Núi Cốc ở phía Tây thành phố Thái Nguyên, nó chia thành hai nhánh. Nhánh chính chảy qua trung tâm thành phố Sông Công, qua thị xã Phổ Yên để hội lưu với sông Cầu từ bên phải tại ranh giới ba xã Thuận Thành (thị xã Phổ Yên), Trung Giã (huyện Sóc Sơn, Hà Nội) và Hợp Thịnh (huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang). Nhánh phụ nhỏ hơn chảy qua phía Bắc thành phố Sông Công, huyện Phú Bình rồi chảy vào thị xã Phổ Yên để nối với sông Cầu tại ranh giới ba xã Tân Phú, Thuận Thành (thị xã Phổ Yên), Đại Thành (huyện Hiệp Hòa). Sông này dài 96 km. Diện tích lưu vực 951 km², cao trung bình 224 m, độ dốc trung bình 27,3%, mật độ sông suối 1,20 km/km². Tổng lượng nước 0,794 km³ ứng với lưu lượng trung bình năm 25 m³/s, môđun dòng chảy năm 26 l/s.km². Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 74,7% lượng nước cả năm; tháng 8 có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm 19,30% lượng nước cả năm; tháng cạn kiệt nhất chiếm 1,8% lượng nước cả năm. === Địa chất === Vùng Gò Đầm có nền đất tốt, cường độ chịu lực R = 2-2,5 Kg/cm^2 Vùng ven sông địa hình lòng chảo có cường độ chịu lực thấp hơn R = 1-1,5 Kg/cm^2 Mực nước ngầm thường xuất hiện ở độ sâu từ 4–5 m. == Lịch sử == Nhân dân thành phố Sông Công luôn tự hào với truyền thống lịch sử vẻ vang của mình. Trong các cuộc kháng chiến chống sự xâm lược của phong kiến phương Bắc trước đây đều có sự tham gia tích cực của nhân dân thành phố Sông Công. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta nhân dân thành phố đã tích cực hưởng ứng cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế năm 1886 và khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917. Căng (camp:trại) Bá Vân được xây dựng khoảng năm 1941 nằm ở trung tâm xã Bình Sơn. Từ đầu năm 1942, thực dân Pháp đưa gần 200 tù chính trị, phần lớn là các chiến sĩ cộng sản từ Bắc Mê và nhà tù Sơn La về giam giữ tại Bá Vân. Hiện tại có nhà bia di tích Căng Bá Vân - Bình Sơn. == Văn hóa == Trên địa bàn thành phố có một số ngôi chùa: Chùa Tân Quang. Hội chùa vào ngày 10 tháng 1 hằng năm. Chùa Cải Đan. Hàng năm chùa có hội vào ngày 3 tháng 1 (âm lịch) Chùa Phố Cò hay là đền Phố Cò. Mở hội vào ngày 10 tháng 10 (âm lịch) == Các tuyến đường, phố chính == Đường Cách mạng tháng 10 Đường Thắng Lợi Đường 3/2 Đường 30/4 Đường Lương Sơn Đường Cách mạng tháng tám Đường Thống Nhất Đường Trần Phú Đường Trần Hưng Đạo Đường Lê Hồng Phong Đường Nguyễn Văn Cừ Đường Vũ Xuân Đường Lý Thường Kiệt Phố An Châu Phố Tôn Thất Tùng Phố Ngô Sĩ Liên Phố Kim Đồng Phố Nguyễn Lương Bằng Phố Nguyễn Khuyến == Giáo dục == Sông Công cũng là một trung tâm giáo dục của tỉnh Thái Nguyên sau TP.Thái Nguyên. Tại đây có các trường: Trường Cao đẳng Công nghiệp Việt Đức, Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế công nghiệp (Cơ sở 2), cao đẳng cơ khí luyện kim... Trên địa bàn mỗi phường, xã thuộc thành phố đều có một trường tiểu học. Trên địa bàn thành phố có một số trường cấp hai như: THCS Nguyễn Du, THCS Thắng Lợi, THCS Bình Sơn, THCS Bá Xuyên,... Trên địa bàn thành phố chỉ có 2 trường THPT: THPT Sông Công, THPT dân lập Lương Thế Vinh và Trường văn hóa Bộ Công An Về đại học và cao đẳng thì có trường Trường Cao đẳng Công nghiệp Việt Đức, Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp (Cơ sở 2), Trường Cao đẳng Cơ khí Luyện Kim == Du lịch == Hồ Núc Nác thuộc xã Vinh Sơn. Hồ Ghềnh chè thuộc xã Bình Sơn. Nhà tù Căng Bá Vân thuộc xã Bình Sơn Trại Ngựa thuộc xã Bình Sơn == Kinh tế == Khu công nghiệp Sông Công I thuộc thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Khu công nghiệp Sông Công là một trong những công trình trọng điểm. Dự án khả thi xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Sông Công được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt số: 181 ngày 01/9/1999. Diện tích theo quy hoạch tổng thể: 320 ha; diện tích giai đoạn I: 70 ha. Năm 2011, thành phố Sông Công đạt được những thành tựu kinh tế sau: Tổng giá trị sản xuất (tính theo giá hiện hành) ước đạt gần 5,9 nghìn tỷ đồng, bằng 102,1% kế hoạch, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2010; giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn ước đạt trên 660 tỷ đồng (33,2 triệu USD), bằng 184% kế hoạch, tăng 202% so với cùng kỳ năm 2010; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 24,6 triệu đồng/người/năm, tăng 4,6 triệu đồng/người/năm so với cùng kỳ năm 2010; thu ngân sách thành phố ước đạt trên 115 tỷ đồng, bằng 169,2% kế hoạch tỉnh giao, bằng 152% kế hoạch thành phố, tăng 43% so với cùng kỳ năm 2010; sản lượng lương thực cây có hạt ước đạt trên 17 nghìn tấn, bằng 101% kế hoạch tỉnh giao, 104% kế hoạch thành phố, tăng 0,94% so với cùng kỳ 2010; tỷ lệ hộ nghèo còn 7,21%, giảm 3,08% so với kế hoạch (tính theo tiêu chí mới). == Quy hoạch == Thành phố Sông Công được quy hoạch là một đô thị công nghiệp theo hướng hiện đại. Hiện tại, trên địa bàn thành phố Sông Công đã và đang thu hút nhiều dự án đầu tư về đô thị như: Khu đô thị Kosy 40ha, khu dân cư đường Thống Nhất 20ha, khu đô thị 2 đầu cầu cứng Sông Công... sẽ góp phần tăng tỉ lệ đô thị hóa trên địa bàn thành phố. == Hình ảnh == == Liên kết ngoài == Các trục đường chính và giá đất Sở tài nguyên môi trường tỉnh Thái Nguyên. Thị xã Sông công tưng bừng ngày hội Văn hóa thể thao ngày 19/12/2009 == Chú thích ==
sukhoi su-27.txt
Sukhoi Su-27 (Су-27 trong Bảng chữ cái Kirin) (tên ký hiệu của NATO 'Flanker' - kẻ tấn công sườn) là một máy bay tiêm kích phản lực Xô Viết độc đáo được thiết kế bởi Phòng thiết kế Sukhoi (SDB) và được sản xuất năm 1977. Nó là đối thủ trực tiếp của những loại máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư của Hoa Kỳ (gồm F-14 Tomcat, F-15 Eagle, F-16 Fighting Falcon và F/A-18 Hornet). Su-27 có tầm hoạt động lớn, trang bị vũ khí hạng nặng, và cực kỳ cơ động nhanh nhẹn linh hoạt. Nhiệm vụ chính của Su-27 là thực hiện các chuyến bay trong các nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không, nhưng nó cũng có thể thực hiện gần như mọi nhiệm vụ chiến đấu. Từ thiết kế cơ bản của Su-27, nhiều phiên bản khác đã được chế tạo và nâng cấp liên tục nhằm thực hiện những nhiệm vụ khác nhau: Su-30 là một mẫu máy bay tiêm kích đa nhiệm hai chỗ ngồi, bay trong mọi thời tiết, chuyên thực hiện các nhiệm vụ không chiến và đánh chặn từ xa. Su-33 'Flanker-D' là một mẫu máy bay tiêm kích đánh chặn phòng thủ hạm đội được phát triển từ thiết kế của Su-27 và được trang bị trên các tàu sân bay. Sự khác nhau chính bao gồm móc hãm ở đuôi và cánh mũi. Su-34 'Fullback' là phiên bản thiên về ném bom chống các mục tiêu mặt đất và mặt biển, được trang bị vỏ giáp mạnh, buồng lái mở rộng và tải trọng vũ khí được tăng cường Su-35 'Flanker-E' và Su-37 'Flanker-F' là các phiên bản tiêm kích phòng thủ trên không cải tiến có những tính năng vượt trội trong mọi mặt như động cơ chỉnh hướng phụt 3D, radar đối không mạnh, tên lửa đối không tầm siêu xa. Tính đến tháng 5/2016, đã có khoảng 1.850 chiếc Su-27 và các phiên bản phát triển từ nó được sản xuất, nhiều hơn cả số lượng tiêm kích đối thủ F-15 Eagle được Mỹ sản xuất (1.712 chiếc). Số lượng các phiên bản của Su-27 được sản xuất sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai nhờ những đơn hàng mới, trong khi F-15 Eagle thì đã ngừng sản xuất. == Phát triển == === Bối cảnh === Năm 1969, Liên bang Xô viết biết rằng Không quân Hoa Kỳ đã lựa chọn McDonnell Douglas để sản xuất loại Máy bay Chiến đấu Thí nghiệm (sẽ trở thành loại F-15 Eagle sau này). Để đáp trả mối đe dọa tương lai đó, người Xô viết đã lập ra chương trình PFI (perspektivnyi frontovoy istrebitel, "Máy bay tiêm kích chiến thuật tiên tiến"), để chế tạo một loại máy bay có thể đương đầu với loại máy bay tiêm kích mới của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vào năm 1971 người Xô Viết nhận thấy loại máy bay PFI có giá thành quá đắt mà họ lại rất cần một số lượng lớn, và chương trình máy bay PFI đã bị chia thành TPFI (Tyazholyi Perspektivnyi Frontovoi Istrebitel, có nghĩa là "Máy bay tiêm kích chiến thuật tiên tiến hạng nặng") và LPFI (Legkiy Perspektivnyi Frontovoi Istrebitel, có nghĩa là "Máy bay tiêm kích chiến thuật hạng nhẹ"). Chương trình TPFI tương tự như Chương trình F-X của Mỹ, và F-15 là kết quả của chương trình này. Trong khi chương trình LPFI lại tương tự như Chương trình LWF, mà kết quả của LWF là F-16 Fighting Falcon và Northrop YF-17, từ YF-17 đã dẫn đến loại F/A-18 Hornet. Sukhoi OKB nhận được chương trình TPFI, và Mikoyan-Gurevich đảm nhận phát triển LPFI. Vì cùng được xuất phát từ một chương trình đã nghiên cứu trước đó nên Su-27 và MiG-29 có hình dạng bên ngoài khá giống nhau. Su-27 được thiết kế như một máy bay chiến đấu và đánh chặn tầm xa, còn MiG-29 được thiết kế trong vai trò máy bay hỗ trợ chiến thuật tầm ngắn. === Giai đoạn thiết kế === Thiết kế của Sukhoi, dần được thay đổi để phản ánh tham vọng Liên Xô về một loại máy bay vượt xa F-15, và mẫu đầu tiên có tên gọi là T-10 (thiết kế máy bay cánh tam giác thứ 10 của Sukhoi), cất cánh lần đầu ngày 20 tháng 5 năm 1977. Chiếc máy bay này có cánh tam giác lớn, rút ngắn, với hai động cơ tách rời và một cánh đuôi kép. Khoảng 'rỗng' giữa hai động cơ, tương tự loại F-14 Tomcat, vừa có tác dụng như một bề mặt tạo lực nâng phụ vừa có tác dụng che chắn vũ khí khỏi sự phát hiện của radar. Khi đang được phát triển, mẫu thiết kế của Sukhoi đã bị vệ tinh gián điệp phát hiện khi thực hiện chuyến bay thử tại Trung tâm thử nghiệm bay Zhukovsky gần thị trấn Ramenskoe, dẫn tới việc nó bị tạm đặt mật danh Ram-K. Phương Tây tin rằng Ram-K đã được phát triển thành hai phiên bản: một máy bay chiến đấu cánh cụp cánh xoè với chức năng tương tự Grumman F-14 và một phiên bản máy bay tiêm kích đánh chặn cánh cứng 2 chỗ, trên thực tế trở thành loại Mikoyan MiG-31 không hề liên quan. T-10 đã bị các nhà quan sát phương Tây phát hiện và đặt tên ký hiệu 'Flanker-A'). Sự phát triển T-10 được đánh dấu bởi nhiều vấn đề nghiêm trọng, ví dụ như tai nạn rơi máy bay ngày 7 tháng 5 năm 1978. Những thiết kế khác được đưa ra thay thế, và một phiên bản đã được sửa đổi rất nhiều có tên gọi là T-10S, cất cánh lần đầu ngày 20 tháng 4 năm 1981. Cả phiên bản này cũng gặp phải nhiều vấn đề kỹ thuật dẫn tới một vụ tai nạn khác ngày 23 tháng 12 năm 1981. Việc chế tạo Su-27 (thỉnh thoảng gọi là Su-27S, tên ký hiệu của NATO 'Flanker-B') và bắt đầu hoạt động trong VVS diễn ra khoảng năm 1984, dù những khó khăn trong chế tạo khiến nó không thể xuất hiện cho tới tận năm 1986. Su-27 đã hoạt động trong cả Quân chủng Phòng không Xô Viết (PVO) và Hàng không Tiền tuyến. Khi hoạt động trong Lực lượng phòng không Xô viết (V-PVO), vai trò chủ yếu của nó là đánh chặn thay thế các loại máy bay cũ như Sukhoi Su-15 và Tupolev Tu-28. Dù 'Flanker' có khả năng mang các loại vũ khí không đối đất, khi hoạt động trong Hàng không Tiền tuyến, vai trò chủ yếu của nó không phải là hỗ trợ trên không cũng không phải là chiếm ưu thế trên không ở chiến trường mà là ngăn chặn trên không, với nhiệm vụ vượt qua đường giới tuyến quân địch (có thể là NATO) để tấn công máy bay tiếp dầu và máy bay AWACS. Những nhà hoạch định kế hoạch Xô viết biết rằng các lực lượng NATO sở hữu nhiều kỹ thuật ưu thế trong các lĩnh vực đó, và tin rằng việc tấn công trực tiếp vào đó sẽ hạn chế khả năng duy trì và mở rộng các chiến dịch không quân của NATO. Su-27 vẫn giữ vai trò đó khi hoạt động tại Cộng đồng Quốc gia Độc lập, và những phiên bản sau này được sửa đổi để mang tên lửa chống AWACS tầm xa mới Novator KS-172 AAM-L. Từ năm 1986, một chiếc Su-27 đặc biệt được gọi tên P-42, chế tạo lại từ nguyên mẫu T-10S-3 và giảm trọng lượng tối đa, đã lập kỷ lục đầu tiên trong một loạt các kỷ lục khác được thiết lập về tính năng hoạt động, vận tốc lên cao và độ cao, chiếc máy bay này đã lập ra 27 kỷ lục mới trong khoảng thời gian từ 1986 tới 1988. == Thiết kế == === Độ cơ động === Thiết kế căn bản của Su-27 về mặt khí động học tương tự MiG-29, nhưng lớn hơn. Đây là một loại máy bay rất lớn, và để giảm trọng lượng cấu trúc đến mức tối thiểu, nó sử dụng nhiều titanium (khoảng 30%, nhiều hơn bất kỳ một loại máy bay cùng thời). Vật liệu composite không được sử dụng. Cánh xuôi sau đi vào thân tại những diềm cánh trước và về cơ bản là kiểu cánh tam giác, dù các đầu cánh được đặt các giá treo tên lửa hay các thiết bị đối phó điện tử (ECM). Tuy nhiên Su-27 không hoàn toàn là kiểu máy bay cánh tam giác vì nó vẫn giữ các cánh đuôi ngang truyền thống, với hai cánh đuôi đứng phía trên động cơ, kết hợp với những cánh thăng bằng ở bụng để tăng khả năng ổn định mỗi bên của máy bay. Động cơ phản lực của Su-27 là loại Lyulka AL-31F, khoảng cách giữa 2 động cơ khá lớn, vừa để an toàn vừa để đảm bảo không gián đoạn luồng khí xuyên qua những khe lấy không khí. Khoảng không giữa 2 động cơ cũng cung cấp thêm lực nâng, giảm bớt trọng tải cho cánh. Cánh của cánh quạt động cơ có thể di chuyển trong các khe hút không khí cho phép máy bay đạt tốc độ Mach 2+, và giúp duy trì luồng khí vào động cơ luôn ổn định khi máy bay đang ở góc tấn lớn. Một màn chắn ở mỗi đầu vào khe hút khí ngăn không cho các vật thể lạ bị hút vào động cơ trong khi máy bay cất cánh. Su-27 là máy bay đầu tiên của Liên Xô có hệ thống điều khiển fly-by-wire, được phát triển dựa vào kinh nghiệm thiết kế của Sukhoi T-4 - một dự án máy bay ném bom. Kết hợp với lực ép lên cánh tương đối thấp và hệ thống điều khiển bay cơ bản mạnh, nó làm cho máy bay nhanh nhẹn một cách khác thường, máy bay vẫn có thể kiểm soát ở tốc độ rất thấp và góc đụng lớn, hoặc tắt động cơ đột ngột khi bổ nhào và thực hiện các kỹ thuật bay nhào lộn. Trong một triển lãm hàng không, Su-27 đã trình diễn một động tác bay có tên gọi Cobra - rắn hổ mang (Rắn hổ mang Pugachev) hay bay với vận tốc thấp - nói tóm tắt là máy bay bay duy trì với vận tốc thấp ở góc 120°. Lực đẩy có hướng cũng được kiểm soát (và được hoàn thiện trên Su-30MKI và Su-37), cho phép máy bay tiêm kích thực hiện những động tác quay khó liên tục gần như không theo một bán kính cố định nào, kết hợp với những động tác nhào lộn thẳng đứng trong khi máy bay đang chuyển động. Các loại máy bay cùng thời của Mỹ như F-15 đều không có khả năng thực hiện thao tác bay “Rắn hổ mang Pugachev”. Khi xem thao tác cơ động này, các phi công Mỹ đã kinh ngạc là tại sao máy bay không bị vỡ tan trong không trung. Phiên bản hải quân của 'Flanker' là Su-27K (hay còn gọi là Su-33), được gắn thêm cánh mũi để tăng lực nâng, giảm quãng đường cất cánh (rất quan trọng vì Su-33 được trang bị trên tàu sân bay Admiral Kuznetsov, mà tàu sân bay này lại không được trang bị máy phóng máy bay). Những cánh mũi này cũng được lắp trên một số phiên bản Su-30, Su-35 và Su-37. Ngoài những cải tiến thêm vào để tăng tính nhanh nhẹn, Su-27 sử dụng thể tích lớn bên trong để chứa nhiên liệu, nó có sức chứa nhiên liệu rất lớn. Trong mức mang nhiên liệu cực đạt cho phép, nó có thể mang 9.400 kg (20.700 lb) nhiên liệu, trong khi bình thường nó có thể mang 5.270 kg (11.620 lb) nhiên liệu. === Vũ khí === Su-27 được trang bị vũ khí với một pháo đơn 30 mm Gryazev-Shipunov GSh-30-1 trong mạn phải thân máy bay, và có tới 10 điểm treo tên lửa và các vũ khí khác. Tên lửa trang bị tiêu chuẩn của Su-27 cho không chiến là Vympel R-73 (AA-11 Archer), Vympel R-27 (AA-10 'Alamo'), sau này là các kiểu tên lửa được mở rộng tầm bay và hệ thống dẫn đường bằng tia hồng ngoại. Những phiên bản Flanker hiện đại (như Su-30, Su-35, Su-37) có thể mang tên lửa Vympel R-77 (AA-12 Adder). Máy tính trên khoang của Su-27 lại ngang bằng về hiệu suất và bộ nhớ so với F-15 của Mỹ. Nhưng máy tính của Su-27 hiệu quả hơn khi giải quyết các bài toán điều khiển máy bay và hỏa lực, đó là nhờ trình độ rất cao của các chuyên gia lập trình Nga. Su-27 có hệ thống hiển thị trước buồng lái (HUD) và hệ thống hiển thị ngắm bắn trên mũ của phi công kết nối với nhau, và chúng tương thích với tên lửa R-73, sự nhanh nhẹn cùng các yếu tố khác đã làm Su-27 trở thành một trong số máy bay không chiến tầm gần tốt nhất thế giới. Radar ban đầu được trang bị là Phazotron N-001 (NATO 'Slot Back'), là một radar xung doppler khả năng theo dõi trong khi đang quét, nhưng bộ xử lý của nó tương đối cổ, làm cho nó trở nên dễ dàng bị tổn thương với những báo động sai và mù mục tiêu. Su-30 và Su-35 có radar cao cấp có tầm quét lớn hơn là Phazotron 'Bars' N-011M, với một hệ thống điện tử quét mạng bị động rất nhạy, cải thiện tầm quét, có thể theo dõi nhiều mục tiêu cùng lúc. Radar là một vấn đề phát triển chính cho Su-27. Nhu cầu ban đầu của Liên Xô rất tham vọng, họ yêu cầu một radar có khả năng giao chiến được với nhiều mục tiêu, có thể phát hiện và theo dõi mục tiêu là những máy bay ném bom từ khoảng cách 200 km (những mục tiêu có diện tích phản xạ sóng radar RCS là 16 m², đó là những máy bay ném bom đối thủ của Tu-16). Những điều này vượt xa so với tầm tìm kiếm của radar APG-63 trang bị cho F-15 (khoảng 180 km đối với những mục tiêu có RCS là 100 m²) và nói chung có thể so sánh được với radar mảng pha Zaslon nặng 1 tấn sử dụng trên MiG-31. Để đạt được điều này với một trọng lượng hợp lý, đội thiết kế đã tính toán radar sử dụng kỹ thuật quét điện tử cho độ cao và quét bằng cơ khí cho góc phương vị. Không may, thiết kế này đòi hỏi quá nhiều các thiết bị tinh vi hiện đại mà công nghiệp vi điện tử của Liên Xô trong thập niên 1970 chưa đạt được, do đó vào năm 1982, chương trình Myesch gốc phải hủy bỏ và một mảng ăng-ten thay thế ít năng lực hơn đã được lựa chọn. Để bù đắp cho thời gian đã lãng phí, nhiều công nghệ hoàn thiện từ radar N019 Topaz bao gồm một phiên bản mở rộng của mảng ăngten gương kép (cassegraine) quay trên MiG-29 đã được sử dụng, và do đó sản phẩm radar N001 chia sẻ bộ xử lý tín hiệu số TS100 cũng được sử dụng trên radar N019 Topaz, trong khi N001V, mẫu kế thừa của N001 dùng chung bộ xử lý tín hiệu số với N019M, mẫu kế thừa của N019. Radar chỉ đạt được tầm dò tìm là 140 km với những mục tiêu có kích thước như Tu-16, và chỉ có khả năng phát hiện và theo dõi trên một mục tiêu. Dù vậy, radar vào lúc đầu vẫn được chấp nhận về độ tin cậy và điều này đã giúp N001 được trang bị cho máy bay tiêm kích, nửa thập niên sau khi chiếc Su-27 đầu tiên đi vào hoạt động năm 1986. Seri radar N001 đầu tiên, Tikhomirov (NIIR) N001 (NATO 'Slot Back'), là một thiết bị xung Doppler với khả năng theo dõi trong khi quét, nhưng bộ xử lý của nó tương đối cũ, khiến nó dễ tạo báo động nhầm và điểm mù lớn, cũng như khó sử dụng. Trong những năm sau đó, dưới sự phát triển của tổng công trình sư thiết kế radar N001 là Giáo sư Viktor Konstantinovitch Grishin, radar N001 đã được nâng cấp nhiều lần, với các phiên bản N001V, N001VE, N001VEP, tất cả những phiên bản này đều đã được trang bị cho các máy bay, bao gồm cả phiên bản xuất khẩu của Su-27. Giáo sư V.K. Grishin là tổng công trình sư của radar mảng pha bị động Zalson S-800 trên MiG-31, và những kinh nghiệm này sau đó đã góp phần vào việc thiết kế các radar mảng pha thay thế cho seri N001. Hiển nhiên rằng không có nhiều lý do cho bất kỳ cải tiến quan trọng nào cho seri radar N001 nữa, vì máy bay Su-30 và Su-35/37 đã được trang bị radar Tikhomirov (NIIR) 'Bars' (Panther) N011M cao cấp với quét mảng pha điện tử bị động, tăng tầm hoạt động, phát hiện và theo dõi nhiều mục tiêu, và rất nhạy. Radar Bars (Panther) được lên kế hoạch sẽ bị thay thế bởi một mẫu còn hiện đại và cao cấp hơn, đó là radar mảng pha Irbis (Snow leopard)-E trong tương lai gần. Radar Irbis-E có khả năng rất mạnh, có thể theo dõi mục tiêu có RCS 3 m² (cỡ máy bay F-16) ở tầm 400 km và mục tiêu có RCS 0.01 m² (cỡ máy bay tàng hình) ở tầm 90 km. Đối thủ của Tikhomirov (NIIR) là Phazotron (NIIP) cũng đã giới thiệu mẫu radar tương tự với quét mảng điện tử bị động. Su-27 có 1 hệ thống tìm kiếm và theo dõi bằng tia hồng ngoại (IRST) ở phía trước buồng lái hay còn được gọi là "con ngươi", nó cũng được kết nối với hệ thống kính trắc viễn laser. Hệ thống này có thể được nối với radar, hay sử dụng độc lập cho hoạt động tấn công "lén lút" với tên lửa hồng ngoại (như R-73 và R-27T/ET). Nó cũng điều khiển pháo, cung cấp sự chính xác tốt hơn so với một radar ngắm bắn. Thậm chí, hệ thống này cho phép Su-27 có khả năng phát hiện và giao chiến với các loại máy bay tàng hình như F-22, F-35 từ cự ly tới vài chục km (máy bay tàng hình được thiết kế để có mức độ bộc lộ trước radar rất thấp, nhưng chúng vẫn phát ra tia hồng ngoại như máy bay thường do đều phải sử dụng động cơ phản lực tỏa ra nhiều nhiệt). Tiêu biểu là các hệ thống OLS-30 (trang bị trên Su-30MKK), OLS-35 (trang bị trên Su-35) đã đạt tầm phát hiện máy bay địch tới 90 km, trong khi hệ thống mới hơn (OLS-50M) được phát triển từ năm 2010 có cự ly phát hiện còn cao hơn nữa, có thể tới 150 km. Với tín hiệu hồng ngoại thu được cùng tên lửa "bắn và quên" (như R-73), Su-27 có thể nhắm bắn máy bay tàng hình từ cự ly khá xa, bất kể việc máy bay địch có bị phát hiện trên radar hay không. == Lịch sử hoạt động == Su-27, dù có khả năng không chiến tốt, nó chỉ được trông thấy trong những hoạt động nhỏ từ khi nó được đưa vào hoạt động. Ngoại lệ đáng chú ý duy nhất là trong thời gian Chiến tranh Eritrea-Ethiopia (1998-2000), khi đó một số chiếc Su-27A đã được sử dụng triệt để bởi Ethiopia trong nhiệm vụ CAP (Combat Air Patrol - Tuần tra chiến đấu trên không) và hộ tống cho MiG-21 và máy bay ném bom MiG-23. Trong quá trình phục vụ, Su-27 của Ethiopia đã bắn hạ 2 chiếc MiG-29 của Eritrea; một số chiếc Flanker được điều khiển bởi phi công Nga và phi công Ukrainia, người ta cho rằng những phi công đến từ Nga và Ukraina đã điều khiển những chiếc Su-27 và MiG-29 đó (một số bị buộc tội làm lính đánh thuê). Một phi công của Ethiopia tên là Aster Tolossa đã trở thành người phụ nữ đầu tiên của Châu Phi giành chiến thắng trong không chiến. Tháng 8/1992, các phi công của Trung tâm huấn luyện chiến đấu của Không quân Nga ở Lipetsk đã bay Su-27UB sang ơcăn cứ không quân Langley, bang Virgimia, theo lời mời của phía Mỹ. Hai bên đã quyết định tiến hành “cuộc diễn tập chung” ở cách xa bờ biển 200 km. Theo kịch bản đề xuất, ban đầu 1 chiếc F-15D phải tìm cách thoát khỏi sự truy đuổi của Su-27UB, sau đó các máy bay sẽ đổi vai cho nhau và Su-27 phải thoát khỏi sự truy đuổi của F-15. Một chiếc F-15C cũng cất cánh để quan sát cuộc tập trận. Đầu tiên, chiếc F-15D đã cố bứt khỏi Su-27 ở chế độ tăng lực toàn phần, nhưng Su-27 vẫn bám cứng chiếc F-15 bằng cách sử dụng chế độ tăng lực cực tiểu và lực đẩy không tăng lực tối đa. Sau khi các máy bay đổi chỗ cho nhau, Su-27 đã bật tăng lực toàn phần và lập tức thoát khỏi F-15D với vòng lượn và lấy độ cao gắt, khiến F-15 tụt lại phía sau. Sau vòng lượn, chiếc Su-27UB bám ngay vào đuôi chiếc F-15, và đã “bắn rơi” chiếc chiếc F-15C đang quan sát ở phía sau. Sau khi hạ chiếc F-15 thứ nhất, Su-27 bắt vào máy ngắm chiếc F-15D hai chỗ ngồi và "bắn hạ" luôn nó. Trận không chiến kết thúc, Su-27UB đã hạ cả 2 chiếc F-15 nhờ khả năng cơ động rất tốt của mình. Máy bay chiến đấu Su-27 được tạp chí hàng không hàng đầu trên thế giới Flight International đánh giá là máy bay chiến đấu tốt nhất thế kỷ 20. == Các sự kiện và tai nạn == 9 tháng 9 năm 1990: Tại triển lãm hàng không Salgareda, Ý, 2 người bị thiệt mạng (phi công Rimantas Stankevičius + 1 khán giả). 12 tháng 12 năm 1995, đội bay biểu diễn có tên Russkie Vityazi (hiệp sĩ Nga) của Nga đang trên đường trở về nước sau khi tham dự biểu diễn hàng không tại Malaysia thì gặp tai nạn khi ghé qua căn cứ Cam Ranh để tiếp nhiên liệu. Chiếc IL-76 đột ngột trở hướng trong điều kiện mây mù làm ba chiếc Su-27 bay kèm theo đâm vào núi gần Cam Ranh làm bốn phi công Nga thiệt mạng. [1][2]. 27 tháng 7 năm 2002: Thảm họa triển lãm hàng không Sknyliv tại Lviv, Ukraina - 78 người xem bị thiệt mạng (Video) 16 tháng 8 năm 2009: hai chiếc máy bay chiến đấu Su-27 bay tập chuẩn bị cho Triển lãm hàng không MAKS-2009 của Không quân Nga đã rơi do đâm vào nhau, làm một phi công thiệt mạng là Ðại tá Igor Tkachenko tại phía đông nam thủ đô Moskva. Hai máy bay bị nạn rớt xuống làng Belozerikha làm cháy 3 ngôi nhà và 5 người bị thương vì trúng những mảnh vụn trong đó một phụ nữ bị phỏng nặng. Đội bay biểu diễn Hiệp sĩ Nga, đã không tham dự Ðại hội Hàng không Moskva 2009 sau tai nạn đó. 1 tháng 7 năm 2007, 1 chiếc Sukhoi Su-27SK của Không quân Nhân dân Việt Nam bị rơi xuống biển trong một cuộc huấn luyện tại Cam Ranh. Năm 2011, một chiếc Su-27 SM đã bị rơi tại Vladivostok khi đang chuẩn bị hạ cánh. Nguyên nhân là do một hệ thống điều khiển bị hỏng. 28 tháng 6 năm 2012, một chiếc chiến đấu cơ phản lực Su-27UB của Không quân Nga đã gặp tai nạn ở khu vực Petrozavodsk, phía Đông Bắc nước Cộng hòa Karelia thuộc Nga, may mắn, hai phi công nhảy thoát an toàn. Đại diện Không quân Nga, Đại tá Vladimir Drik cho biết, tất cả các chuyến bay của Su-27 đều bị tạm hoãn sau khi chiếc Su-27UB gặp tai nạn 15 tháng 6 năm 2012, Trung đoàn không quân tiêm kích 940 thuộc Không quân Nhân dân Việt Nam đưa máy bay Su-27 ra quần đảo Trường Sa làm nhiệm vụ tuần tra, lần đầu tiên Trung đoàn không quân tiêm kích 940 đưa tiêm kích Su-27 từ căn cứ ở miền Trung ra tuần tiễu. Khu vực Quần đảo Trường Sa là khu vực đang có tranh chấp nên ngay sau đó Trung Quốc phản đối Việt Nam đưa máy bay tuần tiễu Trường Sa. Tính đến tháng 6/2016, sau gần 40 năm phục vụ trên khắp thế giới, đã có 43 chiếc Su-27 bị rơi do tai nạn. So với gần 1.100 chiếc Su-27 được chế tạo thì tỷ lệ rơi do tai nạn là 4%, đây là tỷ lệ rất thấp so với những máy bay cùng thời của phương Tây như F-15 Eagle (tỷ lệ rơi do tai nạn là 10,1%), F-16 Fighting Falcon (tỷ lệ rơi do tai nạn là 14,4%), F/A-18 Hornet (tỷ lệ rơi do tai nạn là 12%). Tỷ lệ này cũng cho thấy độ bền bỉ trước điều kiện khắc nghiệt, khả năng bảo dưỡng dễ dàng của máy bay Su-27 so với những đối thủ từ phương Tây. Tuy nói là dễ dàng nhưng đến năm 2016 thì trên thế giới chỉ có Nga, Ukraine, Belarus, Trung Quốc và Nhà máy sửa chữa máy bay A32 thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân (Việt Nam) là làm chủ hoàn toàn quy trình sửa chữa và tăng tổng niên hạn của máy bay Su-27. == Các phiên bản == === Thời kỳ Xô Viết === T10 ("Flanker-A"): Mẫu đầu tiên. T10S: Nguyên mẫu cải tiến, có nhiều điểm giống với mẫu sản xuất. P-42: Phiên bản đặc biệt chế tạo để phá các kỷ lục tốc độ leo lên. Vũ khí, radar và lớp sơn ngụy trang bị loại bỏ, giảm trọng lượng xuống còn 14.100 kg. Nó còn có động cơ cải tiến. Su-27: Seri tiền sản xuất chế tạo với số lượng nhỏ, trang bị động cơ AL-31. Su-27S (Su-27 / "Flanker-B"): Phiên bản sản xuất một chỗ đầu tiên với động cơ cải tiến AL-31F. Tên gọi "T10P" đôi khi được sử dụng cho Su-27S một chỗ loại bỏ khả năng tấn công thứ yếu. Su-27UB ("Flanker-C"): Phiên bản sản xuất 2 chỗ đầu tiên, được chuyển đổi cho hoạt động huấn luyện. Su-27SK: Su-27 một chỗ xuất khẩu. Su-27UBK: Su-27UB hai chỗ xuất khẩu. Su-27K (Su-33 / "Flanker-D"): Phiên bản một chỗ trang bị cho tàu sân bay, với cánh gấp, móc hãm, thiết bị giúp tăng tốc khi cất cánh, chế tạo với số lượng nhỏ. Nó theo sau mẫu máy bay biểu diễn thí nghiệm "T10K". === Thời kỳ hậu Xô Viết === Su-27PD: Phiên bản thao diễn một chỗ với những cải tiến như cần tiếp nhiên liệu trên không. Su-27PU (Su-30): Phiên bản 2 chỗ sản xuất hạn chế với các cải tiến như cần tiếp nhiên liệu trên không, hệ thống điện tử điều khiển chiến đấu, hệ thống điều khiển bay mới và các cải tiến khác. Su-30M / Su-30MK: Phiên bản 2 chỗ đa chức năng thế hệ tiếp theo. Vài chiếc Su-30M đã được chế tạo cho Không quân Nga đánh giá vào giữa thập niên 1990, dù chẳng có gì trở thành kết quả. Phiên bản xuất khẩu là Su-30MK. Su-30MKA: Phiên bản xuất khẩu cho Algérie. Su-30MKI (Flanker-H): Về thực chất là Su-30MK cải tiến cho Không quân Ấn Độ, với cánh mũi, động cơ đẩy vec-tơ, hệ thống điện tử mới, và khả năng đa nhiệm. Su-30MKK (Flanker-G): Su-30MK cho không quân Trung Quốc, với hệ thống điện tử nâng cấp của Nga và khả năng đa nhiệm, không có cánh mũi hay động cơ đẩy vec-tơ. Hải quân Trung Quốc cũng mua "Su-30MK2" nâng cao khả năng tấn công tàu chiến. Su-30MKM: Mẫu sao chép của Su-30MKI với hình dạng đặc riêng biệt cho Malaysia. Su-30KN (Flanker-B Mod. 2): Phiên bản một chỗ cải tiến với hệ thống điện tử nổi bật cho phép Su-30KN thực hiện những chức năng mới, hầu hết liên quan đến dẫn đường. Su-30KI (Flanker-B Mod. 2): Phiên bản một chỗ cải tiến với những đặc tính của Su-30MK cho Indonesia, tiếp sau những bước đi của một chiếc máy bay đánh giá "Su-27SMK" bay vào giữa thập niên 1990. Su-27M (Su-35 / 37, Flanker-E/F): Seri những mẫu thao diễn cải tiến bắt nguồn từ Su-27S một chỗ đa vai trò. Seri này cũng bao gồm mẫu thao diễn "Su-35UB" hai chỗ. Su-27SM (Flanker-B Mod. 1): Su-27S nâng cấp cho Nga, được trang bị với các công nghệ mới áp dụng trên các mẫu Su-27M (Su-35). Su-27SM2: Su-27SM trang bị động cơ Salyut AL-31F-M1. Su-27SKM: Máy bay tiêm kích đa vai trò một chỗ cho xuất khẩu. Nó bắt nguồn từ Su-27SK nhưng bao gồm những nâng cấp về buồng lái, hệ thống phòng vệ tác chiến điện tử tinh vi và hệ thống tiếp nhiên liệu trên không. Su-27UBM: Phiên bản Su-27UB nâng cấp. Su-32 (Su-27IB): Phiên bản tấn công tầm xa 2 chỗ song song trong buồng lái mũi có hình dạng thú mỏ vịt. Nguyên mẫu của Su-32FN và Su-34 Fullback Su-27KUB: Về cơ bản là Su-27K một chỗ trang bị trên tàu sân bay với buồng lái song song, sử dụng để huấn luyện trên tàu sân bay hay như một máy bay đa vai trò. Su-27BM (Su-35): Còn được gọi là "The Last Flanker", đây là phát triển mới nhất của dòng Sukhoi Flanker. Nó nổi bật với hệ thống điện tử và radar mới. Radar PESA Irbis-E rất mạnh với khả năng theo dõi mục tiêu có RCS 3 m² ở tầm 400 km và mục tiêu RCS 0.01 m² ở tầm 90 km. == Các quốc gia sử dụng == Khoảng 680 chiếc Su-27 đã được chế tạo tại Liên Xô và Nga. Con số này chỉ bao gồm Su-27 mà không bao gồm những mẫu phát triển sau này. Ngoài ra, khoảng 300 chiếc Shenyang J-11 (phiên bản của Su-27) đã được chế tạo bởi Trung Quốc (tính tới 2015) sao chép bất hợp pháp. === Các quốc gia đang sử dụng === Angola Khoảng 8 chiếc Su-27 và 27UB. Belarus Có thể có 25 chiếc đang hoạt động. Trung Quốc Trung Quốc đã mua 76 chiếc tiêm kích Su-27 từ Nga trước khi ký một thỏa thuận vào năm 1998 để chế tạo SU-27 tạo Trung Quốc với tên gọi Shenyang J-11 (khoảng 276 chiếc đã được chế tạo tính đến năm 2014). Năm 2006, Trung Quốc cũng đã mua 100 chiếc Sukhoi Su-30MKK/MK2 (Modernizirovannyi Kommercheskiy Kitaiskiy - phiên bản nâng cấp thương mại cho Trung Quốc) cho Không quân Quân giải phóng Nhân dân. Trung Quốc cũng dự tính mua 48 chiếc Sukhoi Su-33 cho Hải quân để trang bị trên tàu sân bay mới của Trung Quốc, tuy nhiên hợp đồng mua Su-33 đã không được tiếp tục do Trung Quốc đã tập trung vào nghiên cứu phiên bản Su-33 nội địa với tên gọi Shenyang J-15. Eritrea Khoảng 8 chiếc Su-27SK/27UB đã tới Eritrea năm 2003. Ethiopia 15 chiếc Ấn Độ Sau nhiều năm thương lượng, Ấn Độ cuối cùng đã đặt mua 40 chiếc Su-30MKI với động cơ AL-31FP mạnh hơn, hệ thống điện tử cao cấp, cánh mũi và động cơ đẩy vec-tơ. Hindustan Aeronautics cũng có một giấy phép để sản xuất 140 chiếc đến năm 2020. Indonesia Indonesia có 2 Su-27SK và 2 Su-30MK để thay thế A-4 Skyhawk. Trong giai đoạn 2007-2009, Không quân Indonesia sẽ có 3 Su-27SKM và 3 Su-30MK2 để tăng số lượng Su-27 sử dụng trong biên chế. Kazakhstan sử dụng khoảng 30 chiếc Malaysia Không quân Hoàng gia Malaysia đặt mua 18 chiếc Su-30MKM năm 2003 có giá trị là 900 triệu USD, đã được giao hàng. Su-30MKM trang bị các loại tên lửa hiện đại đời mới như AA-10, AA-12 và AA-11, ngoài ra còn có vũ khí không đối đất bao gồm tên lửa không điều khiển và bom. Su-30MKM của Malaysia còn có cánh mũi và động cơ đẩy vec-tơ để tăng độ cơ động nhanh nhẹn. Nga 449 đang hoạt động trong Không quân Nga. Nga đang nâng cấp lên tiêu chuẩn Su-27SM, bao gồm buồng lái kính và hệ thống lái fly-by-wire số. Radar nâng cấp với một mảng pha (giống như Pero) cho phép tăng tầm hoạt động. Hệ thống bảo vệ và dẫn đường cũng được nâng cấp, cũng như hệ thống tấn công. Ngoài Su-27, Nga còn có 19 Su-30, 28 Su-33, 30 Su-34 và 11 Su-35. Ukraina 80 . Uzbekistan có 25 chiếc đang hoạt động. Venezuela xxxxthumb|Su-27SK của Không quân Nhân dân Việt NamKhông quân Venezuela có 24 chiếc Su-30MK2 trong một hợp đồng trị giá 1.5 tỉ USD. Việt Nam Không quân Nhân dân Việt Nam có 7 chiếc Su-27 SK, 3 chiếc Su-27 UBK, 2 chiếc Su-27 PU, tổng cộng là 12 chiếc Su-27 (1 chiếc SK bị rơi tại Cam Ranh năm 2007). Có 2 chiếc PU là do ngày 16/2/1997, trên đường vận chuyển thì hai chiếc Su-27 UBK mang số hiệu 8524 và 8525 bị hư hại nặng phía bên trái. Nga phải đền bù cho phía Việt Nam 2 chiếc Su-27PU. Không quân Nhân dân Việt Nam cũng sở hữu 36 chiếc Su-30MK2V (là phiên bản nâng cấp của Su-27). Hoa Kỳ 2 chiếc Su-27 đã được chuyển đến Mỹ năm 1995, được dùng để huấn luyện. === Quốc gia sử dụng trước đây === Liên Xô Không quân Xô viết và Quân chủng Phòng không Xô viết == Thông số kỹ thuật (Sukhoi Su-27) == === Đặc điểm riêng === Phi hành đoàn:1 Chiều dài: 21.9 m (72 ft) Sải cánh: 14.7 m (48 ft 3 in) Chiều cao: 5.93 m (19 ft 6 in) Diện tích cánh: 62 m² (667 ft²) Trọng lượng rỗng: 16.380 kg (36.100 lb) Trọng lượng cất cánh: 23.000 kg (50.690 lb) Trọng lượng cất cánh tối đa: 33.000 kg (62.400 lb) Động cơ: 2× Saturn/Lyulka AL-31F, 122.8 kN (27.600 lbf) mỗi chiếc === Hiệu suất bay === Vận tốc cực đại: Mach 2.35 (2.500 km/h, 1.550 mph) Tầm bay chiến đấu: Trên biển: 1.340 km Trên đất liền: 3.530 km Trần bay: 18.500 m (60.700 ft) Vận tốc bay lên: 325 m/s (64.000 ft/min) Áp lực lên cánh: 371 kg/m² (76 lb/ft²') Lực đẩy/trọng lượng: 1.07 === Vũ khí === 1x pháo 30 mm GSh-30-1 với 150 viên đạn 8.000 kg (17.600 lb) vũ khí trên 10 giá treo ngoài Mang được 6 tên lửa không đối không tầm trung R-27, 4 tên lửa không đối không tầm nhiệt tầm gần R-73 Su-27SM nâng cấp có thể mang được R-77 thay cho R-27 Su-27IB có thể sử dụng để phóng tên lửa chống bức xạ Kh-31, tên lửa không đối đất Kh-29L/T (điều khiển bằng laser/TV, có thể chiếu lên mũ), bom KAB-150 và UAB-500 điều khiển bằng laser, TV hay IR == Trò chơi máy tính và Phim == Su-27 giữ vai chính trong game mô phỏng bay Su-27 Flanker và Flanker 2.0 Su-27 đã xuất hiện trong phim Stealth. == Tham khảo == Modern Combat Aircraft: Reference guide pp. 50–51 Minsk, "Elida", 1997, ISBN 985-6163-10-2. (tiếng Nga) Comprehensive Russian Military Analysis, warfare.ru. == Liên kết ngoài == http://www.knaapo.ru/eng/ http://www.irkut.com/en/ Russkiye Vityazi (Russian Knights) Acrobatic Team GlobalSecurity.org Sukhoi Su-27 page by the Federation of American Scientists Sukhoi Flankers - The Shifting Balance of Regional Air Power The Su-27SKM Su-27SК Sukhoi Su-27SК Russia Military Analysis Asia's Advanced Flankers Su-27 free walkaround (37 shots) Máy bay chiến đấu dòng Su của Nga Mỹ công nhận máy bay Nga dòng Su vượt trội hơn F-16 và F-15 https://books.google.com.vn/books?id=qU4uE-A1pUAC&pg=PA78&lpg=PA78 Giới thiệu sơ Su-27 1 Giới thiệu sơ Su-27 2 Giới thiệu sơ Su-27 3 Giới thiệu sơ Su-27 4 == Chủ đề liên quan == === Máy bay có cùng sự phát triển === Sukhoi Su-30 Sukhoi Su-30MKI Sukhoi Su-30MKK Sukhoi Su-32 Sukhoi Su-33 Sukhoi Su-34 Sukhoi Su-35 Sukhoi Su-37 Sukhoi Su-47 Shenyang J-11 === Máy bay có tính năng tương đương === F-15 Eagle F/A-18 Hornet Panavia Tornado
devanagari.txt
Devanagari, từ ghép của "deva" (देव) và "nágari" (नगर)), cũng được gọi là Nagari (nguyên là tên của hệ thống chữ viết là khởi nguồn của Devanagari) là một hệ thống chữ cái của Ấn Độ và Nepal. Hệ thống chữ viết này được ghi từ trái sang phải, không có các chữ cái đặc biệt, và được công nhận (cùng với hầu hết các chữ viết Bắc Ấn khác, như Gujarat và Oriya) là những loại chữ viết có đầy đủ các chữ cái. Devanagari là thứ chữ viết chính dùng để ghi lại tiếng Hindi chuẩn, tiếng Marath và tiếng Nepal. Từ thế kỷ 19, nó trở thành kiểu chữ viết thông dụng nhất để viết tiếng Phạn. Devanagari cũng được sử dụng trong tiếng Bhojpur, tiếng Gujarat, tiếng Pahar (Garhwal và Kumaon), Konkan, Magah, Maithili, Marwar, Bhili, Newar, Santhal, Tharu và thỉnh thoảng trong tiếng Sindh, tiếng Dogri, tiếng Sherpa và tiếng Kashmir. Đây cũng là kiểu chữ viết trước đây của tiếng Gujarat. == Nguồn gốc == Devanagari thuộc Hệ chữ viết Bà la môn, được sử dụng tại Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng và Đông Nam Á. Đây là hậu duệ của chữ Gupta, cùng với Siddham và Sharada. Biến thể phía đông của Gupta được gọi là Nagari xuất hiện lần đầu từ thế kỷ thứ 8; khoảng năm 1200 chúng dần dần thay thế Siddham, vốn là thứ chữ dùng để truyền bá Phật giáo tại Đông Á; và Shara, loại chữ này hiện được dùng một cách song song tại Kashmir. Phiên bản đầu tiên của Devanagari có thể nhìn thấy trên cấu khắc Kutila của Bareilly trong thời kỳ Vikram Samvat 1094 (khoảng năm 992), thể hiện rõ việc xếp các chữ cái theo một đường nằm ngang để tạo thành một từ. Việc sử dụng tên gọi Devanagari chỉ mới xuất hiện gần đây và thuật ngữ cũ Nagari vẫn được sử dụng rộng rãi. Sự gia tăng của việc sử dụng thuật ngữ Devanagari có thể liên quan tới việc sử dụng loại chữ này để viết các bản văn tiếng Phạn. Việc này đã làm tăng thêm mối liên kết giữa Devanagari và tiếng Phạn và qua đó Devanagari hiện được gọi rộng rãi là chữ Phạn; tuy nhiên, trước thời thuộc địa chữ Phạn không hề có chuẩn chữ viết và được viết bằng bất kỳ thứ chữ nào quen thuộc với cư dân địa == Chú thích == == Tham khảo == Masica, Colin (1991), The Indo-Aryan Languages, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 9780521299442 . Snell, Rupert (2000), Teach Yourself Beginner's Hindi Script, Hodder & Stoughton, ISBN 9780071419840 . Salomon, Richard (2003), “Writing Systems of the Indo-Aryan Languages”, trong Cardona, George; Jain, Dhanesh, The Indo-Aryan Languages, Routledge, tr. 67–103, ISBN 9780415772945 . Verma, Sheela (2003), “Magahi”, trong Cardona, George; Jain, Dhanesh, The Indo-Aryan Languages, Routledge, tr. 498–514, ISBN 9780415772945 . Wikner, Charles (1996), A Practical Sanskrit Introductory . == Liên kết ngoài == === Thông tin về Devanagari === Omniglot.com—Devanāgarī Alphabet, including classical/northern variant forms of अ (a) and related letters, झ (jh), ण (ṇ) AncientScripts.com—Devanāgarī Intro Hindi/Devanāgarī Script Tutor IS13194:1991 standard for "ISCII" Unicode Chart for Devanāgarī === Phần mềm === Omkarananda-ashram.org, Itranslator Free program to convert Itrans to Devanagari. Uses 16-bit Unicode-compatible fonts. Works only on Windows 2000 / XP / Server 2003. DMJoshi.org, To write Devanagari or Gujarati Script Devised by Dayashankar Joshi Merosoft.webs.com, Nepali Font Converter/Deconverter 0.3—Java Based Nepali Font Converter/Deconveter. Supports Preeti, Kantipur & Jaga—FontConverter 0.3 is the software based on java language and is used to convert non-Unicode to Unicode. This software is basically focused on Devanagari non-Unicode fonts (only for Nepali language). It works well on Preeti, Kantipur and Jaga HImali. Bhashaindia.com—Indic script IMEs (keyboard layouts) and other Indic-language software by Microsoft Windows. Devendraparakh.port5.com, HindiWriter—The Phonetic Hindi Writer with AutoWord lookup and Spellcheck for MS Word and OpenOffice.org for Windows. Baraha.com—Devanāgarī Input using English Keyboard Lipikaar.com—The indic script typing tool with support for Devanāgarī through a Windows desktop executable or Firefox Extension. [1]—Devawriter, comprehensive Devanagari input for Windows and Macintosh. ==== Font ==== Hundreds of Devanagari fonts—free download Unicode Compliant Open Type Fonts including ligature glyphs (TDIL Data Centre) Unicode Devanagari font gallery Download Free Marathi Fonts Nepali Devanagari fonts free download ==== Tổng hợp ==== A compilation of Tools and Techniques for Hindi Computing Technical information for Hindi Users srijangatha.com Hindi Portal Resources for typing in the Nepali language in Devanāgarī Resources for viewing and editing Devanāgarī Unicode support for Web browsers Creating and Viewing Documents in Devanāgarī ==== Cách nhập dữ liệu ==== Microsoft BhashaIndia—Indic Language Computing resources Online tool for English (Roman Script) to Hindi (Devanagari script) Transliteration by CDAC Mumbai Online tools for typing in Unicode Devanagari for the Nepali language Romanized Nepali Unicode Keyboard developed by OOPSLite Technologies IndiX, Indian language support for Linux, a site by the Indian National Centre for Software Technology Devanāgarī Tools: Wiki Sandbox, Devanāgarī Mail, Yahoo/Google Search & Devanāgarī Transliteration Online Latin to Devanāgarī transliteration tool Devawriter & Devawriter Pro digitisation tools. ==== Bàn phím Devanagari ==== TVS Devanagari Hindi keyboard with details of keyboard layout, installation instructions for Windows/Linux, shops and online purchase Intex Technologies Swadeshi bilingual Hindi keyboard, keyboard layout is Hindi Typewriter
puntarenas (tỉnh).txt
Puntarenas là một tỉnh của Costa Rica nằm ở phía tây của quốc gia này, dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, và là tỉnh lớn nhất của Costa Rica. Tỉnnh Puntarenas giáp ranh với các tỉnh Guanacaste, Alajuela, San José và Limón, và giáp với thành phố của nước láng giềng là Panama. Thủ phủ của thành phố là Puntarenas. Tỉnh Puntarenas có diện tích 11.266 kilômét vuông (4.350 sq mi), và dân số năm 2011 là 410.929. == Phân chia hành chính == Tỉnh Puntarenas được chia thành 11 tổng. Về mục đích hành chính, đảo Isla del Coco, trên Thái Bình Dương cách bờ biển 500 kilômét (310 mi) được xem là một phần của tỉnh này. Các tổng gồm: Canton (thủ phủ): Puntarenas (Puntarenas) Esparza (Esparza) Buenos Aires (Buenos Aires) Montes de Oro (Miramar) Osa (Ciudad Cortés) Aguirre (Quepos) Golfito (Golfito) Coto Brus (San Vito) Parrita (Parrita) Corredores (Ciudad Neily) Garabito (Jacó) == Những nơi nổ tiếng == Jacó Vườn quốc gia Manuel Antonio Montezuma Monteverde Đảo San Lucas == Tham khảo ==
mỹ tân, ngọc lặc.txt
Mỹ Tân là một xã thuộc huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Xã có diện tích 24,7 km², dân số năm 1999 là 4905 người, mật độ dân số đạt 199 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
thánh george.txt
Thánh George (tiếng Hy Lạp: Γεώργιος Georgios; tiếng Syriac cổ điển: ܓܝܘܪܓܝܣ Giwargis; tiếng Latinh: Georgius; khoảng năm 275/281 - 23 tháng 4 năm 303), theo truyền thống, là một người lính La Mã từ Syria Palaestina và là lính trong đội cảnh vệ của Hoàng đế Diocletianus. Ông được tôn kính như một vị tử vì đạo Kitô giáo. Trong Hạnh thánh học, Thánh George là một trong những vị Thánh được sùng kính nhất trong Công giáo Rôma, Anh giáo, Chính thống giáo Đông phương và Chính thống giáo Cổ Đông phương. Ông được bất tử hóa trong câu chuyện Thánh George và con rồng và là một trong 14 vị Thánh trợ giúp chống lại các loại bệnh tật. Lễ kính của ông được cử hành vào ngày 23 tháng 4 (cách dễ nhớ là 23/4) ông được coi là một trong những vị Thánh quân sự nổi bật nhất. Có rất nhiều xứ thuộc sự bảo trợ của Thánh George trên thế giới, bao gồm: Gruzia, Anh, Ai Cập, Bulgaria, Aragon, Catalonia, Rumani, Ethiopia, Hy Lạp, Ấn Độ, Iraq, Litva, Palestine, Bồ Đào Nha, Serbia, Ukraina và Nga, cũng như các thành phố Genoa, Amersfoort, Beirut, Fakiha, Bteghrine, Cáceres, Ferrara, Freiburg, Kumanovo, Ljubljana, Pomorie, Preston, Qormi, Rio de Janeiro, Lod, Lviv, Barcelona, Moskva, Tamworth và đảo Malta Gozo, cũng như nhiều nghề nghiệp, tổ chức hay các bệnh nhân. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Saint George tại Wikimedia Commons
người tây ban nha.txt
Người Tây Ban Nha là công dân của Tây Ban Nha, bất kể nguồn gốc. Ở Tây Ban Nha, hiện còn nổi lên chủ nghĩa dân tộc địa phương, phản ánh lịch sử phức tạp của đất nước Tây Ban Nha. Ngôn ngữ chính ở Tây Ban Nha là tiếng Tây Ban Nha, đây là ngôn ngữ chuẩn dựa trên phương ngữ trung cổ của người Castile ở miền trung Tây Ban Nha. Ngoài tiếng Basque thì ngôn ngữ của người bản xứ Tây Ban Nha thuộc nhóm ngôn ngữ Rôman. Một lượng khá lớn dân số có tổ tiên nhập cư từ Tây Ban Nha, kết quả của quá trình xâm chiếm thuộc địa của Tây Ban Nha, sống ở các khu vực trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ Latinh. == Tôn giáo == Công giáo La Mã là tôn giáo chiếm lớn nhất ở Tây Ban Nha. Theo nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu Xã hội học Tây Ban Nha năm 2013 khoảng 71% người Tây Ban Nha là người Công giáo, 2% tin vào những thứ khác, và khoảng 25% xác định là người vô đạo hoặc tuyên bố không theo đạo nào. == Tham khảo ==
quyền trẻ em.txt
Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn. Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của người lớn, mà các em là những thành viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển. Bao gồm quyền được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt mà mọi người, mọi gia đình dành cho trẻ em và cả quyền được cha mẹ ruột yêu thương, cũng như những nhu cầu căn bản: được ăn uống, được giáo dục phổ quát do nhà nước trả tiền, được chăm sóc sức khoẻ và các điều luật hình sự thích hợp với độ tuổi và sự phát triển của trẻ em. Những cách giải thích về quyền trẻ em thay đổi từ cho phép trẻ em khả năng tự quyết về hành động tới đảm bảo cho trẻ em tự do về thân thể, tinh thần và tình cảm không bị lạm dụng, dù cái bị gọi là "lạm dụng" đang là một vấn đề gây tranh cãi. Các định nghĩa khác gồm quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng. "Trẻ em là một người có độ tuổi dưới 18, trừ khi luật pháp ở từng nước cụ thể quy định tuổi thành niên. Luật pháp Việt Nam quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. " Theo Đại học Cornell, một đứa trẻ là một người, và cha mẹ có quyền lợi và tính sở hữu tuyệt đối với đứa trẻ, nhưng đây là một quan điểm hoàn toàn theo kiểu Mỹ. Thuật ngữ "trẻ em" không cần thiết phải có nghĩa là một đứa trẻ mà có thể gồm cả trẻ em trưởng thành cũng như trẻ em trưởng thành không phụ thuộc. Không có các định nghĩa về các thuật ngữ khác được sử dụng để miêu tả người còn trẻ như "thanh niên", "vị thành niên," hay "thiếu niên" trong luật pháp quốc tế. Lĩnh vực quyền trẻ em bao hàm các lĩnh vực của luật pháp, chính trị, tôn giáo, và đạo đức. == Cơ sở pháp lý == Được định nghĩa là trẻ em theo pháp luật, đứa trẻ không có quyền tự chủ hay quyền tự đưa ra quyết định về chính mình theo bất kỳ một hệ thống pháp lý từng biết trên thế giới. Thay vào đó, những người lớn giám hộ, gồm cha mẹ, nhân viên xã hội, giáo viên, và những người khác được trao quyền đó, tuỳ thuộc theo từng hoàn cảnh. Một số người tin rằng việc này khiến trẻ em không có đủ sự giám sát với cuộc đời của chính chúng và khiến chúng trở nên dễ bị nguy hiểm. Louis Althusser đã đi xa tới mức miêu tả hệ thống pháp luật này, khi nó được áp dụng cho trẻ em, là "cơ cấu đàn áp". Các cấu trúc như chính sách chính phủ đã được một số nhà bình luận coi là cách thức che giấu những cách người lớn lạm dụng và khai thác trẻ em, dẫn tới tình trạng nghèo của trẻ em, thiếu các cơ hội giáo dục và lao động trẻ em. Theo quan điểm này, trẻ em bị coi là một nhóm thiểu số mà xã hội cần phải xem xét lại cách đối xử của mình với nó. Tuy nhiên, không có bằng chứng rằng những quan điểm như thế được chia sẻ rộng rãi trong xã hội. Các nhà nghiên cứu đã xác định trẻ em cần thiết phải được công nhận như những thành viên tham gia vào xã hội mà quyền và trách nhiệm của nó phải được công nhận ở mọi lứa tuổi. == Các định nghĩa lịch sử về quyền trẻ em == Sự đồng thuận về việc định nghĩa quyền trẻ em đã trở nên rõ ràng hơn trong năm mươi năm qua. Một bài viết xuất bản năm 1973 của Hillary Clinton (khi ấy là một luật sư) nói rằng quyền trẻ em là một "cụm từ cần được định nghĩa". Theo một số nhà nghiên cứu, khái niệm về quyền trẻ em vẫn không được định nghĩa rõ ràng, với ít nhất một đề xuất rằng không có định nghĩa hay lý thuyết về quyền của trẻ em được chấp nhận là duy nhất. Luật về quyền trẻ em được định nghĩa là điểm nơi pháp luật giao cắt với đời sống của một đứa trẻ. Nó gồm tình trạng phạm tội vị thành niên, quy trình pháp lý cho trẻ em liên quan tới hệ thống pháp lý hình sự, sự đại diện thích hợp và các dịch vụ phục hồi hiệu quả; chăm sóc hay bảo vệ trẻ em trong các trung tâm chăm sóc của nhà nước; đảm bảo giáo dục cho mọi đứa trẻ không cần biết tới nguồn gốc, nòi giống, giới tính, sự tàn tật, hay khả năng, và chăm sóc sức khoẻ và biện hộ pháp lý.</nowiki><ref>(1997) "Children's rights in the Canadian context", ''Interchange. 8''(1-2). Springer.</ref> Trong một mô hình tương tự, Quyền mạng lưới thông tin của trẻ em, hay CRIN để thiết lập một cách ngắn gọn các quyền trẻ em theo hai nhóm:<ref>[http://www.crin.org/resources/infoDetail.asp?ID=13423 "A-Z of Children's Rights"], Children's Rights Information Network. Truy cập 2/23/08.</ref> <ref>Freeman, M. (2000) "The Future of Children's Rights," ''Children & Society. 14''(4) p 277-93.</ref> Quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá, liên quan tới các điều kiện cần thiết để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người như thực phẩm, nơi trú ngụ, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, việc làm có trả công. Ngoài ra còn có quyền về giáo dục, nhà ở thích hợp, thực phẩm, nước, tiêu chuẩn chăm sóc sức khoẻ tốt nhất có thể, quyền làm việc và quyền tại nơi làm việc, cũng như các quyền văn hoá của các nhóm sắc tộc thiểu số và bản xứ. Các quyền về môi trường, văn hoá và phát triển, thỉnh thoảng được gọi là "quyền của thế hệ thứ ba," và gồm cả quyền được sống trong các môi trường an toàn và có lợi cho sức khoẻ và các nhóm người có quyền về văn hoá, chính trị và phát triển kinh tế. Ân xá quốc tế công khai ủng hộ bốn quyền riêng biệt của trẻ em, gồm sự chấm dứt việc giam giữ trẻ em vị thành niên mà không có cam kết, chấm dứt tuyển mộ và sử dụng trẻ em vào quân sự, chấm dứt hình phạt tử hình cho mọi người dưới 21 tuổi, và nâng cao nhận thức về nhân quyền trong lớp học. Human Rights Watch, một tổ chức nhân quyền quốc tế, đấu tranh cho lao động trẻ em, pháp lý cho trẻ vị thành niên, trẻ em mồ côi và bị bỏ rơi, người tị nạn, trẻ em đường phố và nhục hình.<ref>[http://www.hrw.org/children/child-legal.htm "Children's Rights"], Human Rights Watch. Truy cập 2/23/08.</ref> Sự nghiên cứu học thuật nói chung tập trung trên quyền trẻ em bằng cách xác định các quyền cá nhân. Các quyền sau "cho phép trẻ em lớn lên một cách khoẻ mạnh và tự do":<ref>Calkins, C.F. (1972) "Reviewed Work: Children's Rights: Toward the Liberation of the Child by Paul Adams", ''Peabody Journal of Education. 49''(4). p. 327.</ref> Tự do ngôn luận Tự do tư tưởng Tự do kính sợ Tự do lựa chọn và quyền tham gia vào quá trình hoạch định chính sách Sở hữu với cơ thể của mình Các vấn đề các ảnh hưởng tới quyền trẻ em gồm trẻ em an toàn, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em. === Những khác biệt giữa quyền trẻ em và quyền thanh niên === "Ví dụ, trong đa số các hệ thống pháp lý, trẻ em không được phép bỏ phiếu, kết hôn, mua rượu, có quan hệ tình dục, hay tham gia vào lao động có trả lương."<ref>[http://plato.stanford.edu/entries/rights-children/ "Children's Rights"], ''Stanford Encyclopedia of Philosophy.'' Retrieved 2/23/08.</ref> Bên trong phong trào quyền thanh niên, mọi người tin rằng sự khác biệt chính giữa quyền trẻ em và quyền thanh niên là quyền trẻ em nói chung ủng hộ việc thiết lập và thực thi việc bảo hộ trẻ em và thanh niên, trong khi quyền thanh niên (một phong trào nhỏ hơn nhiều) nói chung ủng hộ việc mở rộng quyền tự do cho trẻ em và/hay thanh niên và các quyền như bỏ phiếu. === Quyền cha mẹ === Cha mẹ có tác động tới cuộc sống của trẻ em theo một cách duy nhất, và vì thế vai trò của họ trong quyền trẻ em phải được phân biệt theo một cách riêng biệt. Các vấn đề riêng biệt trong mối quan hệ trẻ em-cha mẹ gồm sao lãng trẻ em, lạm dụng trẻ em, tự do lựa chọn, hình phạt thân thể và giám hộ trẻ em. Đã có các lý thuyết đề nghị cung cấp cho cha mẹ các cách hành xử dựa trên quyền để giải quyết căng thẳng giữa "tình cảm thông thường của cha mẹ" và quyền trẻ em. Vấn đề đặc biệt có liên quan tới các quá trình pháp lý ảnh hưởng tới sự giải phóng trẻ em, và trong các trường hợp khi trẻ em kiện cha mẹ chúng. Một quyền trẻ em về một mối quan hệ với cả cha và mẹ đang dần được công nhận như là một yếu tố quan trọng để xác định các quyền lợi tốt nhất của trẻ em khi ly dị và quyết định quyền giám hộ trẻ em. Một số chính phủ đã ra các điều luật tạo ra một giả định có thể bị bác bỏ rằng sự chia sẻ chăm sóc giữa cha mẹ là những quyền lợi tốt nhất của trẻ em. == Phong trào == Cuốn The Rights of Infants (Quyền Trẻ em) xuất bản năm 1796 của Thomas Spence là một trong những cuốn sách đầu tiên bằng tiếng Anh xác nhận các quyền của trẻ em. Trong suốt thập niên đầu tiên của thế kỷ 20 các nhà hoạt động vì quyền trẻ em đã được tổ chức để đòi hỏi quyền cho trẻ em vô gia cư và giáo dục công cộng. Cuốn The Child's Right to Respect (Quyền được tôn trọng của trẻ em) xuất bản năm 1927 của Janusz Korczak đã gia tăng sự chú ý của văn học về lĩnh vực này, và hiện nay hàng chục tổ chức quốc tế đang hoạt động trên khắp thế giới để cổ động cho quyền trẻ em. === Phản đối === Sự phản đối với quyền trẻ em đã quá cổ lỗ trong bất kỳ khuynh hướng hiện tại nào của xã hội, với những lời tuyên bố chống quyền trẻ em được ghi lại từ những năm 1200 và còn sớm hơn nữa. Những người phản đối quyền trẻ em tin rằng thiếu niên cần được bảo vệ khỏi thế giới người lớn, gồm cả những quyết định và trách nhiệm của thế giới đó. Trong xã hội thống trị của người lớn, tuổi thơ được lý tưởng hoá như một thời kỳ ngây thơ, một thời kỳ không có trách nhiệm và xung đột, và một thời kỳ chủ yếu là vui chơi. Đa số sự phản đối xuất phát từ những lo ngại liên quan tới chủ quyền quốc gia, quyền của nhà nước, và quan hệ cha mẹ-con cái.<ref>[http://www.amnestyusa.org/children/crn_faq.html "Frequently Asked Questions about Children's Rights"], Amnesty International USA. Truy cập 2/24/08.</ref> Những khó khăn tài chính và "các giá trị truyền thống ngầm đối lập với các quyền trẻ em" cũng đã được trích dẫn.<ref>Covell, K. and Howe, R.B. (2001) ''The Challenge of Children's Rights for Canada. Wilfrid Laurier University Press. p 158.</ref> Quan niệm về quyền trẻ em đã nhận được ít sự quan tâm tại Hoa Kỳ.<ref>Mason, M.A. (2005) [http://archive.is/20120713075031/findarticles.com/p/articles/mi_m2005/is_4_38/ai_n15681379 "The U.S. and the international children's rights crusade: leader or laggard?"] ''Journal of Social History.'' Summer.</ref> == Luật pháp quốc tế == Xem thêm thông tin: Quyền trẻ em tại Mali, Quyền trẻ em tại Chile, và Quyền trẻ em tại Colombia Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền được xem là căn bản cho mọi tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về quyền trẻ em hiện nay. Có nhiều hiệp ước và luật pháp đề cập tới quyền trẻ em trên khắp thế giới. Một số lượng tài liệu hiện tại và lịch sử ảnh hưởng tới những quyền này, gồm Tuyên bố về Quyền Trẻ em năm 1923, được Eglantyne Jebb và chị/em của bà là Dorothy Buxton phác thảo tại London, Anh năm 1919, được Hội quốc liên tán thành và được Liên hiệp quốc thông qua năm 1946. Sau này nó trở thành nền tảng cho Hiệp ước về Quyền Trẻ em. === Hiệp ước về Quyền Trẻ em === Hiệp ước về Quyền Trẻ em hay CRC, của Liên hiệp quốc năm 1989 là công cụ có tính bắt buộc pháp lý quốc tế đầu tiên có tích hợp toàn bộ phạm vi nhân quyền –dân sự, văn hoá, kinh tế, chính trị và quyền xã hội. Việc thực thi nó được giám sát bởi Uỷ ban về Quyền Trẻ em. Các chính phủ quốc gia phê chuẩn hay cam kết bảo vệ và đảm bảo quyền trẻ em, và đồng ý có trách nhiệm với cam kết này trước cộng đồng quốc tế. CRC, cùng với các cơ cấu trách nhiệm tội phạm quốc tế như Toà án Tội phạm Quốc tế, Toà án Nam Tư và Toà án Rwanda, và Toà án Đặc biệt về Sierra Leone, được cho là đã làm gia tăng đáng kể quyền của trẻ em trên thế giới. === Thực thi === Nhiều cơ cấu và tổ chức để thực thi có tồn tại nhằm đảo bảo quyền của trẻ em. Chúng gồm Child Rights Caucus cho Phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về trẻ em. Nó được thành lập để khuyến khích việc áp dụng đầy đủ và tương thích với Hiệp ước về Quyền Trẻ em, và để đảm bảo rằng các quyền trẻ em được ưu tiên trong các phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về Trẻ em và quá trình chuẩn bị. Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc đã được thành lập "với hy vọng rằng nó có thể có hiệu quả, đáng tin cậy và tậ trung hơn vào việc lên án những hành động vi phạm nhân quyền trên thế giới hơn là Cao uỷ Nhân quyền vốn bị chỉ trích rất nhiều." Nhóm các tổ chức phi chính phủ vì Hiệp ước về quyền Trẻ em là một liên minh các tổ chức phi chính phủ quốc tế ban đầu được thành lập năm 1983 để tạo điều kiện cho việc áp dụng Hiệp ước Liên hiệp quốc về Quyền Trẻ em. Nhiều quốc gia trên thế giới có các nhân viên thanh tra hay uỷ viên với trách nhiệm đại diện cho các quyền lợi của trẻ em bằng cách điều tra và chuyển những lời phàn nàn bởi các cá nhân công dân liên quan tới quyền trẻ em. Các viên thanh tra về quyền trẻ em cũng có thể làm việc cho một hội đoàn, một tờ báo, một tổ chức phi chính phủ, hay thậm chí cho công cộng. Tất cả mọi người có thể xem thêm tại những địa chỉ trang web sau: me.zing.vn idgunny.com.vn Giải hoà bình trẻ em quốc tế Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Prince v. Massachusetts Red Hand Day Giải trẻ em quốc tế về quyền trẻ em New Jersey v. T.L.O. (Vụ xét xử của Toà án tối cao Hoa Kỳ về quyền riêng tư của học sinh trường công) === Các vấn đề === Xem thêm thông tin: Danh sách các bài liên quan tới quyền thanh niên === Các tổ chức vì quyền trẻ em === Xem thêm thông tin: Danh sách các tổ chức vì quyền trẻ em theo quốc gia Xem thêm thông tin: Category:Cơ cấu quyền trẻ em == Câu nói == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Save Child Rights and Stop Child Labour 12 year old girl being forced into marriage with 50 year old man 2 year old sentenced to 3 years imprisonment Quake orphans "adopted" for Jihad Trafficked child dies in prison, other victims are sentenced to jail International Bureau of Children's Rights Smile Foundation India Spence. T. 1796 The Rights of Infants Çocuk Hakları İzleme Raporlama Projesi (Turkish) === Thư mục === "UGANDA: Child 'Night Commuters'". Amnesty International. "Sri Lankan Army Warns Children can be Targets". CRIN. Implementing Adolescent Reproductive Rights Through the Convention on the Rights of the Child". Center for Reproductive Rights. "Lessons in Terror: Attacks on Education in Afghanistan". Human Rights Watch. "Burundi: Former Child Soldiers Languish in Custody". Human Rights Watch. "Saudi Arabia: Follow U.N. Call to End Juvenile Death Penalty". Human Rights Watch. "United States: Thousands of Children Sentenced to Life without Parole". Human Rights Watch. "What Future: Street Children in the Democratic Republic of Congo". Human Rights Watch. Bản mẫu:Quyền gia đình
chiến tranh thanh-nhật.txt
Chiến tranh Nhật-Thanh (theo cách gọi ở Nhật Bản, tiếng Nhật: 日清戦争, Nisshin Sensō), hay Chiến tranh Giáp Ngọ (theo cách gọi cũ ở Trung Quốc, tiếng Trung: 甲午戰爭, Jiǎwǔ Zhànzhēng) là một cuộc chiến tranh giữa Đại Thanh và Đế quốc Nhật Bản diễn ra từ 1 tháng 8 năm 1894 đến 17 tháng 4 năm 1895. Cuộc chiến tranh này đã trở thành biểu tượng về sự suy yếu của nhà Thanh và chứng tỏ sự thành công của quá trình hiện đại hóa do công cuộc Minh Trị duy tân mang lại so với Phong trào Dương vụ ở Trung Quốc. Kết quả chủ yếu của cuộc chiến này là một sự chuyển dịch sự chi phối khu vực châu Á từ Trung Quốc sang Nhật Bản và là một đòn chí mạng vào nhà Thanh và truyền thống cổ truyền Trung Quốc. Các xu hướng này sau đó đã dẫn đến cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911. == Bối cảnh và nguyên nhân == Nhật Bản từ lâu đã mong ước mở rộng lãnh địa của mình vào đại lục Đông Á. Trong thời kỳ cai trị của Toyotomi Hideyoshi vào cuối thế kỷ 16, Các cuộc xâm lược Triều Tiên của Nhật Bản (1592-1598) nhưng sau thành công ban đầu đã không thể giành được thắng lợi và kiểm soát hoàn toàn Triều Tiên. Sau hai thế kỷ, chính sách đóng cửa đất nước dưới thời Mạc phủ Tokugawa đã đi đến kết thúc khi Nhật Bản bị Hoa Kỳ ép mở cửa giao thương vào năm 1854. Những năm tiếp theo cuộc Minh Trị duy tân năm 1868 và sự sụp đổ của chế độ mạc phủ, Nhật Bản đã tự chuyển đổi từ một xã hội khá lạc hậu và phong kiến sang một quốc gia công nghiệp hiện đại. Nhật đã cử các phái đoàn và sinh viên đi khắp thế giới để học và hấp thụ khoa học và nghệ thuật phương Tây, điều này đã được thực hiện nhằm giúp Nhật Bản tránh khỏi rơi vào ách thống trị của nước ngoài và cũng giúp cho Nhật có thể cạnh tranh ngang ngửa với các cường quốc phương Tây. === Xung đột về Triều Tiên === Là một quốc gia mới nổi, Nhật Bản chuyển hướng sự chú ý của mình đến Triều Tiên. Để bảo vệ an ninh và các lợi ích của mình, Nhật Bản vừa muốn sáp nhập Triều Tiên trước khi nó bị bất kỳ một cường quốc nào khác chiếm, hay ít nhất là đảm bảo Triều Tiên vẫn duy trì được nền độc lập của mình bằng cách phát triển các nguồn lực của nó và cải cách chính trị. Như cố vấn người Phổ cho quân đội Minh Trị Jakob Meckel đã nói, Triều Tiên là "con dao chỉ thẳng vào trái tim nước Nhật". Nhật Bản cảm thấy một cường quốc khác có sự hiện diện quân sự tại bán đảo Triều Tiên sẽ bất lợi cho an ninh quốc gia Nhật Bản, và vì vậy Nhật Bản quyết tâm chấm dứt quyền bá chủ của Trung Quốc với Triều Tiên. Hơn nữa, Nhật Bản nhận ra rằng có thể tiếp cận với than và quặng sắt Triều Tiên sẽ có lợi cho sự phát triển nền tảng công nghiệp Nhật Bản. Triều Tiên vẫn nạp cống phẩm theo truyền thống và tiếp tục chịu ảnh hưởng của nhà Thanh. Triều đại này cũng có ảnh hưởng lớn đến những vị quan bảo thủ Triều Tiên tập hợp xung quanh Hoàng gia của nhà Triều Tiên. Trong khi đó, nội bộ Triều Tiên bị chia rẽ. Những người cải cách muốn thiết lập quan hệ chặt chẽ hơn với Nhật Bản và các nước phương Tây. Sau Chiến tranh Nha phiến và Chiến tranh Pháp-Thanh, Đại Thanh đã yếu hơn và không thể kháng cự lại sự can thiệp chính trị và xâm phạm lãnh thổ của các cường quốc phương Tây (xem Hiệp ước bất bình đẳng). Nhật Bản thấy được cơ hội của mình trong việc thay thế ảnh hưởng của Trung Quốc với Triều Tiên. Ngày 27 tháng 2 năm 1876, sau khi các sự kiện nào đó và đối đầu với những người chủ trương cô lập Triều Tiên và người Nhật, Nhật Bản áp đặt Hòa ước Giang Hoa lên Triều Tiên, ép Triều Tiên phải tự mở cửa cho người Nhật và ngoại thương và tuyên bố độc lập khỏi Trung Quốc trong quan hệ đối ngoại. Năm 1884 một nhóm các nhà cải cách thân Nhật lật đổ nhanh chóng chính quyền bảo thủ thân Trung Quốc trong một cuộc đảo chính đẫm máu. Tuy vậy, phe thân Đại Thanh, với sự giúp đỡ của quân đội nhà Thanh dưới quyền Viên Thế Khải, đã giành lại được quyền kiểm soát bằng một cuộc lật đổ không kém phần đẫm máu, dẫn đến cái chết của rất nhiều người cải cách. Họ còn đốt cháy Công sứ quán Nhật Bản và gây ra cái chết của vài người bảo vệ tòa công sứ và công dân Nhật. Điều này dẫn đến một sự kiện giữa Nhật Bản và Đại Thanh, nhưng cuối cùng được giải quyết bằng Điều ước Thiên Tân năm 1885, theo đó hai phía đồng ý: (a) đồng thời rút quân đội viễn chinh khỏi bán đảo Triều Tiên; (b) không gửi chuyên gia quân sự đến để huấn luyện quân đội Triều Tiên; và (c) thông báo cho phía bên kia trước khi một bên quyết định điều quân đến Triều Tiên. Tuy vậy, người Nhật Bản nổi giận vì những nỗ lực liên tiếp của người Trung Quốc nhằm làm xói mòn ảnh hưởng của họ tại Triều Tiên. == Vị thế của hai quân đội == === Nhật Bản === Những cải cách của Nhật Bản dưới thời Thiên hoàng Minh Trị đã cho phép Nhật Bản có lực lượng lục quân và hải quân thực sự hiện đại. Nhật Bản gửi rất nhiều sĩ quan hải quân ra nước ngoài huấn luyện, và ước lượng sức mạnh và chiến thuật tương đối của lục quân và hải quân châu Âu. ==== Hải quân Đế quốc Nhật Bản ==== Hải quân Đế quốc Nhật Bản được xây dựng theo mẫu Hải quân Hoàng gia Anh, khi ấy là cường quốc hải quân hàng đầu thế giới. Các cố vấn người Anh được gửi đến Nhật Bản để huấn luyện, cố vấn và giáo dục về tổ chức hải quân. Đồng thời, các sinh viên Nhật được gửi đến Liên hiệp Anh để học và nghiên cứu Hải quân Hoàng gia Anh. Qua tập luyện và giảng dạy với các hướng dẫn viên của Anh, Nhật Bản đã xây dựng được một lực lượng hải quân rất thành thạo trong việc bắn đại bác và điều khiển tàu. Thời gian đầu chiến sự, Hải quân Đế quốc Nhật Bản bao gồm một hạm đội (mặc dù thiếu chủ lực hạm) có 12 chiến hạm hiện đại (Tuần dương hạm Izumi (Hòa Tuyền) được bổ sung trong thời gian chiến sự), một tuần dương hạm (Takao) (Cao Hùng), 22 thuyền phóng lôi, và rất nhiều thương hạm vũ trang và tàu thủy được chuyển thành tàu chiến. Nhật Bản không đủ nguồn lực để có một chủ lực hạm và vì vậy phải lên kế hoạch triển khai học thuyết "Jeune École" (hạm đội nhỏ) với các tàu chiến nhỏ, chạy nhanh, đặc biệt là tuần dương hạm và tàu phóng lôi, chống lại các tàu chiến lớn. Rất nhiều tàu chiến chính của Nhật được đóng tại các xưởng tàu của Anh và Pháp (8 chiếc ở Anh, 3 ở Pháp, và 2 ở Nhật) và 16 thuyền phóng lôi đã được đóng tại Pháp và tập hợp lại ở Nhật Bản. ==== Lục quân Đế quốc Nhật Bản ==== Chính quyền thời kỳ Minh Trị ban đầu xây dựng quân đội theo mẫu Lục quân Pháp. Các cố vấn Pháp đã được gửi đến Nhật theo hai phái đoàn quân sự (trong các năm 1872-1880 và 1884; đó được coi là các phái đoàn thứ hai và thứ ba, phái đoàn đầu tiên là dưới thời Mạc phủ Tokugawa). Chế độ nghĩa vụ quân sự toàn quốc được thực thi từ năm 1873 và quân đội nghĩa vụ kiểu phương Tây được hình thành; các kho vũ khí và trường quân sự cũng được xây dựng. Năm 1886, Nhật Bản chuyển hướng theo Lục quân Đức, đặc biệt là Phổ như là nền tảng của lục quân. Học thuyết, hệ thống quân sự và cách tổ chức của nó được học tập chi tiết và ứng dụng vào lục quân Nhật. Năm 1885, Jakob Meckel, một cố vấn người Đức ứng dựng những phương pháp mới, ví dụ như tái tổ chức lại cấu trúc chỉ huy lục quân thành các sư đoàn và trung đoàn, củng cố hậu cần, vận tải và công trình xây dựng của lục quân (bằng cách ấy tăng cường khả năng cơ động); và thành lập các trung đoàn pháo binh và công binh như những đơn vị độc lập. Cho đến những năm 1890, Nhật Bản đã có một quân đội kiểu phương Tây hiện đại, chuyên nghiệp, được trang bị và cung cấp tương đối tốt. Các sĩ quan được du học nước ngoài và được đào tạo tốt về những chiếc lược và chiến thuật. Cho đến đầu cuộc chiến, Lục quân Đế quốc Nhật Bản có thể triển khai lực lượng 120.000 lính trong 2 tập đoàn quân và 5 sư đoàn. === Mãn Thanh === Mặc dù Quân đội Bắc Dương - Lục quân Bắc Dương và Hạm đội Bắc Dương – được trang bị tốt nhất và tượng trưng cho quân đội Thanh hiện đại, song tham nhũng là một vấn đề nghiêm trọng làm xói mòn sức mạnh quân đội. Các quan lại nhà Thanh biển thủ công quỹ một cách có hệ thống, thậm chí ngay cả trong giai đoạn chiến tranh. Kết quả là, Hạm đội Bắc Dương không có nổi một chủ lực hạm nào sau khi nó được thành lập vào năm 1868. Việc mua sắm vũ khí dừng lại vào năm 1891, khi ngân sách được chuyển sang xây dựng Di Hòa Viên ở Bắc Kinh. Hậu cần gặp khó khăn lớn do việc xây dựng tuyến đường sắt Mãn Châu đã bị đình lại. Sĩ khí của quân đội Thanh nói chung rất thấp vì thiếu lương và uy thế, việc sử dụng thuốc phiện, và lãnh đạo kém góp phần vào những cuộc rút chạy nhục nhã ví dụ như việc bỏ đồn Uy Hải Vệ được trang bị tốt và hoàn toàn có thể phòng ngự. ==== Lục quân Bắc Dương ==== Nhà Thanh không có lục quân quốc gia. Sau cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc, quân đội của nước đã bị chia cắt thành các quân đội Mãn Châu, Mông Cổ, Hồi Hột và Hán riêng, rồi được chia thành kiểu chỉ huy mang nặng tính độc lập địa phương. Trong chiến tranh, lực lượng tham chiến phía Thanh chủ yếu là Lục quân và Hạm đội Bắc Dương. Lời kêu gọi cứu viện từ quân đội Bắc Dương tới các quân đội khác hoàn toàn bị bỏ mặc vì vấn đề thù địch địa phương. Hoài quân và An Huy quân còn lớn hơn Lục quân Bắc Dương nhưng lại không tham chiến. ==== Hạm đội Bắc Dương ==== Hạm đội Bắc Dương là một trong bốn đội hải quân hiện đại cuối thời nhà Thanh. Hải quân nhận được nhiều sự hậu thuẫn của Lý Hồng Chương, Tổng đốc Trực Lệ. Hạm đội Bắc Dương là hạm đội thống trị Đông Á trước Chiến tranh Nhật-Thanh, được coi là "hàng đầu Á Châu" và "lớn thứ 8 thế giới" trong thập kỷ 1880. Tuy vậy, các con tàu không được duy trì thích đáng và kỷ luật rất kém. khoảng 13 tàu phóng lôi, rất nhiều pháo hạm và thương hạm vũ trang == Mở đầu cuộc chiến == Năm 1893, nhà cách mạng Triều Tiên thân Nhật Bản, Kim Ngọc Quân (Kim Okkyun), bị điệp viên của Viên Thế Khải ám sát tại Thượng Hải. Thi thể của ông được mang lên một tàu chiến Trung Quốc và được gửi lại Triều Tiên, nơi nó bị cắt thành nhiều phần và trưng ra như một lời cảnh báo với các lực lượng thân Nhật khác. Chính phủ Nhật Bản coi đó là một sự sỉ nhục trực tiếp. Tình hình trở nên ngày càng căng thẳng khi triều đình Đại Thanh, theo yêu cầu của vua Triều Tiên Cao Tông, gửi quân đến giúp đàn áp Phong trào nông dân Đông học. Nhà Thanh thông báo cho chính phủ Nhật Bản biết về ý định của mình gửi quân đến bán đảo Triều Tiên phù hợp với Điều ước Thiên Tân, và cử tướng Viên Thế Khải làm đại diện toàn quyền dẫn đầu 2.800 quân. Người Nhật đáp lại rằng họ coi hành động này là một sự vi phạm Điều ước, và gửi quân đội viễn chinh 8.000 người đến Triều Tiên (lữ đoàn hỗn hợp Oshima). Quân đội Nhật Bản sau đó bắt giam Cao Tông, chiếm giữ Hoàng cung ở Seoul (Thủ Nhĩ) trước ngày 8 tháng 6 1894, và thay thế triều đình hiện tại bằng các thành viên từ phe thân Nhật. Mặc dù quân đội Trung Quốc đã rời khỏi Triều Tiên vì tự thấy mình không được chào đón ở đây, nhưng triều đình Triều Tiên thân Nhật mới vẫn cho phép Nhật Bản quyền đánh đuổi quân đội Trung Quốc bằng vũ lực. Nhật Bản đổ ngày càng nhiều quân vào Triều Tiên. Nhà Thanh không thừa nhận triều đình mới của Triều Tiên. Chiến sự vì thế bùng nổ. 1 tháng 6 năm 1894: Quân nổi loạn Đông học tiến về Seoul. Triều đình Triều Tiên yêu cầu nhà Thanh giúp đỡ đàn áp cuộc nổi dậy. 6 tháng 6 năm 1894: Nhà Thanh thông báo cho chính phủ Nhật Bản theo nghĩa vụ của Điều ước Thiên Tân về các chiến dịch quân sự của mình. Khoảng 2.465 lính Thanh di chuyển đến Triều Tiên trong vài ngày. 8 tháng 6 năm 1894: Khoảng 4.000 lính bộ binh và 500 lính thủy đánh bộ Nhật đổ bộ xuống Jemulpo (Tế Vật Phổ, nay là (Incheon (Nhân Xuyên)) bất chấp sự phản đối của Triều Tiên và Đại Thanh. 11 tháng 6 năm 1894: Phong trào nông dân Đông học bị dập tắt. 13 tháng 6 năm 1894: Chính phủ Nhật điện tín cho Tư lệnh các lực lượng Nhật Bản tại Triều Tiên, Otori Keisuke, rằng phải lưu trú tại Triều Tiên càng lâu càng tốt bất chấp cuộc nổi dậy đã chấm dứt. 16 tháng 6 năm 1894: Ngoại vụ đại thần Nhật Bản Mutsu Munemitsu gặp Uông Phượng Tảo, Đại sứ Thanh tại Nhật Bản, để thảo luận về vị thế tương lai của Triều Tiên. Uông tuyên bố rằng triều đình Đại Thanh dự định sẽ rút quân khỏi Triều Tiên sau khi cuộc nổi dậy bị dập tắt và hy vọng Nhật Bản cũng làm điều tương tự. Tuy vậy, nhà Thanh cũng bổ nhiệm một công sứ để chăm lo đến các lợi ích của mình ở Triều Tiên và để tái bảo đảm vị thế chư hầu truyền thống của Triều Tiên với Trung Quốc. 22 tháng 6 năm 1894: Quân tiếp viện của Nhật tới Triều Tiên. 3 tháng 7 năm 1894: Otori đề xuất các cải cách với hệ thống chính trị Triều Tiên, vốn bị những người bảo thủ và triều đình thân Trung Quốc bác bỏ. 7 tháng 7 năm 1894: Hòa giải giữa Đại Thanh và Nhật Bản do Đại sứ Anh làm trung gian kết thúc với thất bại của nhà Thanh. 19 tháng 7 năm 1894: Thành lập Hạm đội liên hợp Nhật Bản, bao gồm gần như toàn bộ các tàu lớn của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, để chuẩn bị cho cuộc chiến sắp tới. 23 tháng 7 năm 1894: Quân đội Nhật tiến vào kinh đô Seoul, bắt giam Triều Tiên Cao Tông và thành lập triều đình thân Nhật mới, hủy bỏ mọi Điều ước Thanh-Triều và cho Lục quân Đế quốc Nhật Bản quyền đánh đuổi Lục quân Bắc Dương khỏi Triều Tiên. == Các sự kiện trong chiến tranh == === Khai chiến === Cho đến tháng 7 năm 1894, quân Thanh ở Triều Tiên có khoảng 3.000-3.500 lính và chỉ có thể tiếp tế bằng đường biển qua vịnh Asan. Quân Nhật có kế hoạch là ban đầu phong tỏa quân Thanh tại Asan và sau đó bao vây họ bằng bộ binh. === Đắm tàu Cao Thăng === Tàu Cao Thăng là một tàu buôn của Anh nặng 2.134 tấn do Indochina Steam Navigation Company ở Luân Đôn làm chủ, do thuyền trưởng T. R. Galsworthy chỉ huy và thủy thủ đoàn gồm 64 người. Chiếc tàu được triều đình Thanh thuê chở quân Thanh đến Triều Tiên. Ngày 25 tháng 7, Cao Thăng khởi hành tới Asan để tiếp viện cho quân Thanh ở đó với 1.200 lính cộng thêm lương thực và trang bị. Một sĩ quan pháo binh Đức, Thiếu tá von Hanneken, với vị trí cố vấn cho quân Thanh cũng ở trên tàu. Ngày 25 tháng 7 năm 1894, các tuần dương hạm Yoshino, Naniwa, Akitsushima của hạm đội cơ động Nhật Bản, vốn đang tuần tra Asan, đụng đầu với Phóng lôi hạm Tế Viễn và Pháo hạm Quảng Ất. Những con tàu này đang đi ra khỏi Asan (Nha Sơn) để gặp một pháo hạm Trung Quốc khác, chiếc Pháo hạm Thao Giang, đang hộ tống tàu Cao Thăng đến Asan. Sau một cuộc chạm trán nhanh chóng, khoảng 1 giờ đồng hồ, chiếc Tế Viễn chạy thoát trong khi chiếc Quảng Ất bị mắc cạn, và kho thuốc súng của nó phát nổ. Tuần dương hạm Naniwa (Lãng Tốc) (dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Togo Heihachiro) chặn đường Thao Giang và Cao Thăng. Thao Giang cuối cùng bị bắt sống. Người Nhật sau đó ra lệnh cho Cao Thăng đi theo Naniwa và yêu cầu những người châu Âu trên tàu chuyển qua tàu Naniwa. Tuy vậy, 1.200 quân Thanh trên tàu muốn trở về Taku, và đe dọa giết thuyền trưởng người Anh, Galsworthy và thủy thủ đoàn. Sau 4 giờ đàm phán, Thuyền trường Togo ra lệnh nổ súng vào con tàu. Những người châu Âu nhảy lên boong đều bị quân Thanh bắn hạ. Người Nhật cứu được vài người trong thủy thủ đoàn. Việc chiếc Cao Thăng bị đánh chìm tạo ra một trục trặc ngoại giao giữa Nhật Bản và Anh, nhưng hành động này được chỉ dẫn phù hợp với luật pháp quốc tế theo điều khoản đối xử với người làm binh biến. === Giao chiến ở Triều Tiên === Được triều đình Triều Tiên thân Nhật mới ủy nhiệm đánh đuổi quân Thanh khỏi lãnh thổ Triều Tiên bằng vũ lực, Thiếu tướng Oshima Yoshimasa dẫn lữ đoàn hỗn hợp Nhật Bản gồm 4.000 binh sĩ hành quân nhanh chóng từ Seoul xuống phía Nam đến vịnh Asan đối mặt với 3.500 quân Thanh đang đóng tại đồn Sŏnghwan (Thành Hoan) phía Đông Asan và Kongchu (Công Châu). Ngày 28 tháng 7 năm 1894, quân hai bên chạm trán ngay ngoài Asan trong một trận đánh kéo dài đến 7 giờ 30 phút sáng ngày hôm sau. Quân Thanh dần dần mất trận địa vào quân Nhật đông hơn và mạnh hơn; cuối cùng tan vỡ và chạy về Pyongyang (Bình Nhưỡng). Thương vong phía quân Thanh là khoảng 500 người bị chết và bị thương. Phía quân Nhật là 82 người. Chiến tranh Nhật-Thanh chính thức được tuyên bố vào ngày 1 tháng 8 năm 1894. Quân Thanh còn lại ở Triều Tiên, cho đến ngày 4 tháng 8, rút lui đến thành phố phía Bắc Bình Nhưỡng, nơi họ hợp cùng đội quân mới được gửi đến. Lực lượng phòng thủ 13.000-15.000 người chuẩn bị và củng cố kỹ lưỡng cho thành phố, hy vọng sẽ cản trở được bước tiến của quân Nhật. Lục quân Đế quốc Nhật Bản chia làm vài mũi cùng kéo về Bình Nhưỡng vào ngày 15 tháng 9 năm 1894. Quân Nhật đột kích vào thành phố và cuối cùng tiêu diệt quân Thanh nhờ một cuộc tấn công từ cánh. Quân Thanh đầu hàng. Tuy vậy, lợi dụng trận mưa lớn và đêm tối, lực lượng quân Thanh còn lại hành quân ra khỏi Bình Nhưỡng và tiến lên phía Bắc đến bờ biển và thành phố Uiju (Nghĩa Châu). Thương vong của quân Thanh là 2.000 người chết, 4.000 người bị thương. Của phía Nhật là 102 người chết, 433 người bị thương và 33 người mất tích. Toàn quân Nhật tiến vào Bình Nhưỡng sáng sớm ngày 16 tháng 9 năm 1894. === Tiêu diệt hạm đội Bắc Dương === Hải quân Đế quốc Nhật Bản tiêu diệt 8 trong số 10 tàu chiến của Hạm đội Bắc Dương trên biển Hoàng Hải gần cửa sông Áp Lục ngày 17 tháng 9 năm 1894. Quyền thống trị mặt biển của người Nhật được khẳng định. Tuy vậy, quân Thanh vẫn đổ bộ được 4.500 lính ở gần sông Áp Lục. === Xâm lược Mãn Châu Lý === Sau thất bại ở Bình Nhưỡng, nhà Thanh bỏ Bắc Triều Tiên và chuyển sang giữ thế thủ trên các đồn ở sông Áp Lục bên phía Trung Quốc gần Áp Lục Giang. Sau khi nhận được quân cứu viện, ngày 10 tháng 10 quân Nhật nhanh chóng tiến về phía Bắc hướng đến Mãn Châu. Đêm ngày 24 tháng 10 năm 1894, quân Nhật vượt được sông Áp Lục mà không bị phát hiện nhờ dựng các cầu phao. Chiều hôm sau, ngày 25 tháng 10 lúc 5 giờ chiều, họ tấn công đồn Hushan, phía Đông Áp Lục Giang. Lúc 10 giờ 30 tối, quân Thanh phòng thủ bỏ vị trí của mình và cho đến ngày hôm sau đã rút lui toàn bộ khỏi Áp Lục Giang. Với việc chiếm được Áp Lục Giang, Tập đoàn quân số 1 của Tướng Yamagata đã chiếm được ngoại ô thành phố Đan Đông. Trong khi đó, đội quân tháo chạy của Lục quân Bắc Dương nổi lửa đốt thành phố Phụng Thành. Quân Nhật đã đứng vững chắc trên lãnh thổ Trung Quốc với chỉ 4 người bị giết và 140 người bị thương. Tập đoàn quân số 1 sau đó chia làm 2 hướng với Sư đoàn địa phương số 5 của Tướng Nozu Michitsura tiến đến thành phố Thẩm Dương và Sư đoàn địa phương số 3 của Trung tướng Katsura Taro đuổi theo tàn quân Thanh về phía Tây đến bán đảo Liêu Đông. Cho đến tháng 12, Sư đoàn địa phương số 3 đã chiếm được các thị trấn Ta-tung-kau, Ta-ku-shan, Tự Nham, Tomu-cheng, Hai-cheng, và Kang-wa-seh. Sư đoàn địa phương số 5 hành quân chống lại thời tiết khắc nghiệt ở Mãn Châu Lý tiến đến Thẩm Dương. Tập đoàn quân số 2 của Oyama Iwao đổ bộ xuống phía Nam bán đảo Liêu Đông ngày 24 tháng 10 và nhanh chóng chiếm được Tiến Hiền và Đại Liên vào các ngày 6-7 tháng 11. Quân Nhật bao vây cảng chiến lược Lữ Thuận. === Lữ Thuận Khẩu thất thủ === Ngày 21 tháng 11 năm 1894, quân Nhật đã chiếm được thành phố Lữ Thuận. Quân Nhật được cho là đã thảm sát hàng ngàn thường dân Trung Quốc, trong một sự kiện gọi là Đại tàn sát Lữ Thuận (Lữ Thuận đại đồ sát). Ngày 10 tháng 12 năm 1894, Kaipeng (ngày nay là Cái Huyện, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc) mất về tay Tập đoàn quân số 1 Nhật Bản. === Uy Hải Vệ thất thủ và sau trận đánh === Hải quân Thanh sau đó rút lui đến sau các công sự tại Uy Hải Vệ. Tuy vậy, họ lại bị lục quân Nhật Bản đột kích vào sườn quân phòng ngự bến cảng. Trận Uy Hải Vệ kéo dài 23 ngày bao vây với lực lượng bộ binh và thủy quân lớn diễn ra từ 20 tháng 1 đến 12 tháng 2 năm 1895. Sau sự thất thủ của Uy Hải Vệ vào ngày 12 tháng 2 năm 1895 và thời tiết mùa đông bớt khắc nghiêt, quân đội Nhật tiến sâu hơn nữa xuống phía Nam Mãn Châu và Bắc Trung Quốc. Cho đến tháng 3 năm 1895, quân Nhật đã chiếm được các đồn kiểm soát đường biển đến Bắc Kinh. Đây sẽ là những trận đánh lớn cuối cùng, tuy vậy, hàng loạt các vụ xung đột lẻ tẻ vẫn tiếp diễn. Trận Doanh Khẩu diễn ra ngoài thành Doanh Khẩu, Mãn Châu Lý vào ngày 5 tháng 3 năm 1895. === Xâm lược Đài Loan và Bành Hồ === Ngày 26 tháng 3 1895, quân Nhật xâm lược và chiếm quần đảo Bành Hồ ngoài khơi Đài Loan mà không bị thương vong, trong khi đó vào ngày 29 tháng 3 năm 1895, quân Nhật dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Motonori Kabayama đổ bộ xuống phía Bắc Đài Loan và tiến lên chiếm toàn bộ nó. == Kết thúc chiến tranh == Hòa ước Mã Quan ký ngày 17 tháng 4 1895 theo đó nhà Thanh công nhận sự độc lập hoàn toàn của Triều Tiên, nhượng lại bán đảo Liêu Đông (ngày nay là phía Nam tỉnh Liêu Ninh) cho Nhật Bản "vĩnh viễn". Thêm vào đó, Thanh phải trả cho Nhật Bản 200 triệu lượng bạc bồi thường chiến phí. Nhà Thanh cũng ký hiệp ước thương mại cho phép tàu của Nhật tiến vào sông Trường Giang, mở các nhà máy gia công ở các cảng theo điều ước và mở thêm bốn bến cảng nữa cho ngoại thương. Tuy vậy, các nước phương Tây đã can thiệp buộc Nhật phải từ bỏ bán đảo Liêu Đông để đổi lấy 30 triệu lạng bạc (450 triệu yen). === Bồi thường chiến phí === Sau chiến tranh, theo học giả Trung Quốc Jin Xide, nhà Thanh phải trả tổng cộng 340.000.000 lạng bạc cho Nhật Bản cho cả bồi thường chiến phí và chiến lợi phẩm, tương đương với 510.000.000 yên Nhật, bằng khoảng 6,4 lần thu ngân sách Nhật Bản. Tương tự, học giả Nhật Bản, Ryoko Iechika, tính toán rằng nhà Thanh đã trả tổng cộng 21.000.000 dollar Mỹ, bằng 1/3 tồng thu của triều Thanh để bồi thường chiến phí cho Nhật Bản, hay khoảng 320.000.000 yên Nhật, tương đương với thu ngân sách Nhật Bản trong vòng 2,5 năm. == Hậu chiến == Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh là kết quả của hai thập kỷ nỗ lực công nghiệp hóa và hiện đại hóa trước đó. Chiến tranh thể hiện sự vượt trội của chiến thuật và huấn luyện của người Nhật nhờ áp dụng kiểu quân sự Tây phương. Lục quân và Hải quân Đế quốc Nhật Bản có thể giáng cho quân Thanh hàng loạt thất bại qua tầm nhìn xa, tính nhẫn nại, chiến lược và sức mạnh tổ chức. Uy thế của nước Nhật tăng lên trong mắt quốc tế. Chiến thắng này đánh dấu việc Nhật Bản vươn lên thành một thế lực trong khu vực (nếu không phải là một cường quốc) theo nghĩa tương đương với phương Tây và là thế lực thống trị ở Á Đông. Cuộc chiến cũng đã hé lộ sự thiếu hiệu quả của triều đình, các chính sách, sự tham những trong hệ thống hành chính và sự mục nát của nhà Thanh (điều đã được nhận rõ từ hàng thập kỷ trước đó). Tình cảm bài ngoại công khai tăng lên và sau này lên tới đỉnh điểm trong cuộc khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn 5 năm sau đó. Trong suốt thế kỷ 19, nhà Thanh không thể ngăn ngừa được sự xâm phạm lãnh thổ của nước ngoài—điều này cùng với lời kêu gọi cải cách và nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn sẽ là nhân tố chủ chốt dẫn đến cuộc cách mạng năm 1911 và sự sụp đổ của nhà Thanh năm 1912. Mặc dù Nhật Bản đã đạt được điều mình mong muốn, cụ thể là chấm dứt ảnh hưởng của Trung Quốc với Triều Tiên, Nhật miễn cưỡng phải trả lại bán đảo Liêu Đông (Lữ Thuận) để đổi lấy sự bồi thường tài chính lớn hơn. Các cường quốc phương Tây (đặc biệt là Nga) trong khi không có mục đích nào với các điều khoản của hiệp ước, cảm thấy rằng nước Nhật không nên có được cảng Arthur, vì chính họ cũng có tham vọng với khu vực này của thế giới. Nga thuyết phục Đức và Pháp cùng với họ tạo áp lực ngoại giao với Nhật, dẫn đến cuộc Tam Cường can thiệp ngày 23 tháng 4 1895. Năm 1898 Nga ký hợp đồng thuê bán đảo Liêu Đông trong vòng 25 năm và tiếp đó xây dựng một trạm hải quân tại cảng Lữ Thuận. Mặc dù việc này làm người Nhật tức điên, họ vẫn lo ngại với sự xâm lấn của nước Nga đến Triều Tiên hơn là đến Mãn Châu Lý. Các cường quốc khác, ví dụ như Pháp, Đức và Anh, lợi dụng tình hình của Trung Quốc mà nhận được các nhượng bộ về bến cảng và thương mại trả giá bằng sự suy tàn của nhà Thanh. Thanh Đảo và Giao Châu nhượng lại cho Đức, Vịnh Quảng Châu cho Pháp, và Uy Hải Vệ cho Anh. Căng thẳng giữa Nga và Nhật leo thang trong những năm sau chiến tranh Trung-Nhật. Trong cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn Liên quân 8 nước được cử đến để đàn áp cuộc nổi dậy; Nga cử quân đội tiến vào Mãn Châu Lý như là một phần của liên quân. Sau khi đánh bại Nghĩa Hòa Đoàn, chính phủ Nga quyết định bỏ trống vùng này. Tuy vậy, cho đến năm 1903, họ thực tế lại tăng số lượng quân tại đây. Đàm phán giữa hai quốc gia (1901–1904) để thiết lập sự công nhận lẫn nhau về phạm vi ảnh hưởng (Nga với Mãn Châu Lý và Nhật với Triều tiên) liên tục bị người Nga làm cho đình đốn một cách có chủ đích. Họ cảm thấy rằng họ có đủ sức mạnh và sự tự tin để không chấp nhận bầy kỳ một sự thương lượng nào và tin rằng Nhật Bản sẽ không dám khai chiến với một cường quốc Âu Châu. Nga cũng có ý định sử dụng Mãn Châu Lý làm bàn đạp để mở rộng hơn nữa lợi ích của mình tại vùng Viễn Đông. Năm 1902, Nhật Bản lập liên minh với Anh, các điều khoản của liên minh này chỉ rõ nếu Nhật Bản tham chiến tại Viễn Đông, và một cường quốc thứ ba tham chiến chống Nhật Bản, Anh quốc sẽ đến cứu viện người Nhật. Điều này có tác dụng ngăng cản cả Đức lẫn Pháp có bất kỳ một can thiệp quân sự nào trong cuộc chiến tương lai với Nga. Lý do của người Anh khi tham gia liên minh này cũng là để ngăn chặn việc nước Nga mở rộng ảnh hưởng xuống Thái Bình Dương, qua đó đe dọa các lợi ích của nước Anh. Căng thẳng gia tăng giữa Nhật và Nga là kết quả của việc Nga không muốn tham gia thương thuyết và triển vọng Triều Tiên sẽ rơi vào tay người Nga, vì thế sẽ làm xói mòn các lợi ích của nước Nhật, từ đó, nước Nhật buộc phải hành động. Điều này là nhân tố quyết định và chất xúc tác để dẫn đến cuộc Chiến tranh Nga-Nhật (1904–05). == Xem thêm == Minh Trị duy tân Nhà Thanh Lục quân Bắc Dương Hạm đội Bắc Dương Lịch sử Trung Quốc Lịch sử Nhật Bản Lịch sử Triều Tiên Hải quân Đế quốc Nhật Bản Lục quân Đế quốc Nhật Bản Cửa Độc Lập Nhật Bản xâm lược Đài Loan (1895) Lịch sử quân sự Trung Quốc Lịch sử quân sự Nhật Bản Tân Quân Thảm sát cảng Arthur (1894) Chiến tranh Nga-Nhật Chiến tranh Trung-Nhật Quan hệ Trung-Nhật == Tham khảo == Chamberlin, William Henry. Japan Over Asia, 1937, Little, Brown, and Company, Boston, 395 pp. Colliers (Ed.), The Russo-Japanese War, 1904, P.F. Collier & Son, New York, 129 pp. Kodansha Japan An Illustrated Encyclopedia, 1993, Kodansha Press, Tokyo ISBN 4-06-205938-X Lone, Stewart. Japan's First Modern War: Army and Society in the Conflict with China, 1894-1895, 1994, St. Martin's Press, New York, 222 pp. Paine, S.C.M. The Sino-Japanese War of 1894-1895: Perception, Power, and Primacy, 2003, Cambridge University Press, Cambridge, MA, 412 pp. Sedwick, F.R. (R.F.A.). The Russo-Japanese War, 1909, The Macmillan Company, NY, 192 pp. Theiss, Frank. The Voyage of Forgotten Men, 1937, Bobbs-Merrill Company, 1st Ed., Indianapolis & New York, 415 pp. Warner, Dennis and Peggy. The Tide At Sunrise, 1974, Charterhouse, New York, 659 pp. Urdang, Laurence/Flexner, Stuart, Berg. "The Random House Dictionary of the English Language, College Edition. Random House, New York, (1969). Military Heritage did an editorial on the Sino-Japanese War of 1894 (Brooke C. Stoddard, Military Heritage, tháng 12 năm 2001, Volume 3, No. 3, p. 6). Nhật Bản chiếm ưu thế trong Chiến tranh Giáp Ngọ với nhà Thanh TQ == Chú thích == == Link liên quan == Thông tin chi tiết về trận Hải chiến sông Áp Lục của Philo Norton McGiffen Under the Dragon Flag - My Experiences in the Chino-Japanese War by James Allan' tại Dự án Gutenberg Print exhibition at MIT Vụ đắm tàu Kowshing – Báo cáo của thuyền trưởng Galsworthy
chủ nghĩa lãng mạn.txt
Chủ nghĩa lãng mạn vừa là trào lưu văn học, vừa là phương pháp sáng tác, mang một nội dung lịch sử xã hội-cụ thể, được hình thành ở Tây Âu sau Cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Chủ nghĩa lãng mạn chia làm hai khuynh hướng: lãng mạn tích cực và lãng mạn tiêu cực, nhưng giữa chúng vẫn có mối liên hệ qua lại khá phức tạp. == Thuộc tính "lãng mạn" == Lãng mạn được hiểu theo nghĩa chiết tự là sóng tràn bờ, chỉ một sự phóng khoáng, tự do, vượt lên trên mọi ràng buộc. Xung quanh từ lãng mạn có rất nhiều thuật ngữ khác nhau mà chủ nghĩa lãng mạn chỉ là một trong số đó như: "phương thức lãng mạn", "hình thái lãng mạn", "tính chất lãng mạn"... Phương thức lãng mạn là kiểu sáng tác tái tạo, là một trong hai kiểu sáng tác chính của lịch sử văn học bên cạnh kiểu sáng tác tái hiện theo cách gọi của Friedrich Engels. Hình thái lãng mạn là khái niệm đặc thù được Georg Wilhelm Friedrich Hegel dùng để đối lập với hình thái tượng trưng trong lịch sử phát triển nghệ thuật. Tính chất lãng mạn là một thuộc tính thẩm mỹ biểu hiện chủ yếu ở chỗ vươn lên trên thực tại và đã hình thành trong lịch sử sáng tác văn học. Lãng mạn cùng với trữ tình là hai phạm trù nghệ thuật nằm trên những bình diện khác nhau: đối lập với lãng mạn là hiện thực, đối lập với trữ tình là tự sự. Trữ tình là kết quả của việc biểu hiện cảm xúc, tâm trạng chủ quan của con người, do phản ánh ước mơ và khát vọng của con người nên thường vươn lên trên thực tại. Vì vậy, trữ tình và lãng mạn dù khác nhau nhưng thường đi đôi với nhau. == Cơ sở ra đời == === Cơ sở xã hội === Cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã đánh đổ chế độ phong kiến. Sự kiện này là một bước ngoặt vĩ đại không chỉ đối với Pháp mà còn đối với cả Châu Âu. Chính sự sụp đổ của chế độ phong kiến và sự hình thành quan hệ xã hội mới đã tác động sâu sắc đến tư tưởng tình cảm của mọi tầng lớp trong xã hội. Đối với lớp người thuộc ý thức hệ quý tộc (lớp người cũ), họ cảm thấy bất mãn với trật tự xã hội mới (các đặc quyền, đặc lợi của họ trước kia hoàn toàn mất sau cuộc cách mạng này), lo sợ trước các phong trào quần chúng, hoang mang vì tương lai mờ mịt đồng thời luyến tiếc thời oanh liệt không còn nữa. Một bộ phận tầng lớp tiểu tư sản bị phá sản khi cách mạng nổ ra nên họ có tâm trạng bi đát. Đối với lớp người ủng hộ và đặt hy vọng vào cuộc cách mạng thì họ cảm thấy thất vọng (cái họ chống đối không phải là lý tưởng cách mạng mà là thành quả thực tế của cuộc cách mạng không như họ mong muốn). Chính những phản ứng đối với xã hội thực tại của họ đã sản sinh ra chủ nghĩa lãng mạn. Friedrich Engels cũng đã có nhận xét về giai đoạn này: "Vì những cơ cấu mới tưởng như hợp lý hơn so với trước kia, thì lại hoàn toàn không hợp lý... Phương châm bác ái được thực hiện bằng những trò lừa bịp, đố kị trong cạnh tranh...". Sau Cách mạng Pháp, thế lực quý tộc cũ nổi dậy, tầng lớp dân chủ cấp tiến vươn lên. Nên khuynh hướng lãng mạn tiêu cực ra đời sớm hơn khuynh hướng lãng mạn tích cực. === Cơ sở tư tưởng === Chủ nghĩa lãng mạn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng, nhưng chia làm hai khuynh hướng: Chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực: Là sự phản ánh ý thức hệ của giai cấp bị Cách mạng tư sản tước đoạt quyền lợi và đẩy ra khỏi đời sống chính trị. Những nhà văn lãng mạn xuất thân từ tầng lớp quý tộc thường tìm tới thời Trung cổ, thời hoàng kim của chế độ phong kiến, hướng tới lý tưởng về cuộc sống đẹp đẻ êm đềm của thời xưa cũ. Khuynh hướng lãng mạn tiêu cực này mơ ước khôi phục lại chế độ cũ và đức tin đối với nhà thờ để truyền bá thuyết Thần bí về thế giới. Chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực chịu sự tác động của Chủ nghĩa lãng mạn tích cực: Chủ nghĩa lãng mạn tích cực gắn liền với tâm trạng quần chúng nhân dân đang bất mãn trước những hệ quả của cuộc Cách mạng tư sản Pháp. Nhưng họ cũng mơ ước một tương lai tốt đẹp hơn thực tại mà họ đang sống, nơi đó con người được giải phóng khỏi mọi áp bức bất công. Chủ nghĩa lãng mạn tích cực chịu sự ảnh hưởng của hai nhà tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng, họ "nhìn vào chiều hướng của sự phát triển thực tại", nhưng thực tế họ đã đi trước sự phát triển của thực tại. == Các nguyên lý cơ bản == === Đề cao mộng tưởng === Chủ nghĩa lãng mạn là sự phản ứng chống lại xã hội đương thời, con người muốn thoát li thực tế tìm đến một thế giới khác giúp con người quên đi cuộc sống mà họ cảm thấy chán ghét, vẽ ra một cuộc sống làm thỏa mãn "cái tôi" bị tổn thương cái tôi của con người, nên thế giới trong chủ nghĩa lãng mạn là thế giới mộng tưởng. Tùy vào sự phản ứng khác nhau của hai khuynh hướng tiêu cực và tích cực. Đối với những người lãng mạn tiêu cực thì họ có thái độ bi quan trốn chạy cuộc đời, họ thường tìm về quá khứ vào mộng ảo hay thu mình vào "cái tôi" bí ẩn, thiên định về cuộc đời, về ái tình, về cái chết (Nỗi đau của chàng Werther của Johann Wolfgang von Goethe). Đối với những người lãng mạn tích cực thì họ không hòa hoãn thỏa hiệp với thực tại mà họ mong muốn thiết lập nên một xã hội mới đảm bảo hạnh phúc cho con người, họ thường vẽ nên một xã hội lý tưởng (Nhà thờ đức bà Paris, Những người khốn khổ của Victor Hugo). === Đề cao tình cảm === Chủ nghĩa lãng mạn còn được gọi là chủ nghĩa tình cảm, vì ở đây tình cảm của con người được biểu hiện rõ rệt nhất. Vì vậy, chủ nghĩa lãng mạn chính là sự phản ứng chống lại chủ nghĩa cổ điển vốn đề cao và tôn sùng lý trí với những quy tắc tam duy nghiêm ngặt (không đề cập đến tình cảm của con người, không đưa thiên nhiên vào tác phẩm...) đã siết chặt tính sáng tạo và tình cảm của con người. Trong chủ nghĩa lãng mạn tình yêu của con người được khai thác ở mọi phương diện, thiên nhiên được phản ánh một cách sinh động nhất, trở thành nơi phản ánh nội tâm và nuôi dưỡng tình cảm. === Đề cao sự tự do === Vì đề cao mộng tưởng và tình cảm nên con người muốn hướng đến một cuộc sống tự do, thoát khỏi mọi ràng buộc. Ở chủ nghĩa lãng mạn người nghệ sĩ được trả lại tất cả mọi quyền tự do để họ thỏa sức sáng tạo và tưởng tượng. Nên đa số các tác phẩm của họ hướng đến cái khoáng đạt phi thường, vì chủ nghĩa lãng mạn không chấp nhận những quy định nghiêm ngặt (đôi khi vô lý), nên nó đã tự cho phép mình đạt đến sự tự do tuyệt đối. == Chủ nghĩa lãng mạn trong văn chương == Sự hình thành và phát triển của văn học lãng mạn Pháp trong thế kỷ 19 có thể được diễn trình như sau: Xã hội Pháp trước Cách mạng Pháp phân hoá làm 3 đẳng cấp (tu sĩ, quý tộc, bình dân) đã tạo nên sự bất bình đẳng sâu sắc, bất hợp lý về cơ cấu kinh tế, xã hội, văn hoá tinh thần, tư pháp, chính trị, giáo dục. Triều đình Louis XVI của Pháp sống xa xỉ và phung phí đã dẫn đến khủng hoảng tài chính rồi khủng hoảng chính trị. Cuộc Cách mạng Pháp với khẩu hiệu "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" là mơ ước của nhân dân Pháp, nhưng họ đã hoàn toàn tan vỡ khi họ phải chứng kiến một thời kỳ dài đầy biến động liên tiếp: Quốc ước hội nghị (1792-1795) thành lập Đệ nhất cộng hoà, Chấp chánh hội nghị (1795-1799), Chế độ Tổng tài (1799-1804), sự kiện 1793 (phái Jacobin cực đoan nắm quyền với chính sách tàn sát đẫm máu). Năm 1804 Napoléon Bonaparte làm cuộc chính biến thành lập Đế chế thứ nhất và lên ngôi hoàng đế. Đế chế thứ nhất kéo dài 10 năm (1804-1814) với những sự kiện đáng chú ý: sự ra đời của bộ dân luật (code civil), chiến thắng Austerlitz năm 1805..., đây là những niềm tự hào của Đế chế. Sự tan vỡ của huyền thoại Napoléon về khát vọng anh hùng, khát vọng chiến thắng được phản ánh trong nhiều tác phẩm lãng mạn và hiện thực đương thời như: Chiến tranh và Hoà bình, Tội ác và trừng phạt... Sự tái lập chế độ phong kiến với triều đình nhà Bourbons từ năm 1815 đến 1830, rồi đến chế độ quân chủ tư sản của Louis-Philippe I từ 1830 đến 1848. Cách mạng Pháp không theo con đường "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" như khẩu hiệu đề ra làm cho nhiều tầng lớp (quý tộc, trí thức, bình dân...) đều thất vọng. Chính những điều trên đã dẫn đến hiện tượng phủ nhận thực tại sau cách mạng thể hiện qua nhiều thái độ khác nhau. Sự phủ nhận của các tầng lớp nhân dân đối với xã hội mới thiết lập sau Cách mạng Pháp do nhiều nguyên nhân khác nhau: sự thất vọng sâu xa về cơ chế xã hội đã không đáp ứng được khát vọng tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân. Từ đó dẫn đến nhiều thái độ khác nhau trước thực tế xã hội và trong sáng tác văn học, đồng thời đây cũng là tiền đề lịch sử dẫn đến sự ra đời của văn học lãng mạn Pháp. "Chủ nghĩa lãng mạn là phản ứng đầu tiên đối với Cách mạng Pháp và tư tưởng khai sáng gắn liền với cuộc cách mạn đó." (Karl Marx) "Chủ nghĩa lãng mạn là sự ghê tởm đối với thực tại và nguyện vọng muốn thoát ra khỏi thực tại đó." (Emile Faguet) == Tiền đề văn hóa tinh thần == Ảnh hưởng bởi tư tưởng ánh sáng: Thế kỷ ánh sáng, khoảng thế kỷ 18, là một thế kỷ mà văn chương Pháp đã dành trọn thời gian để hướng về mục tiêu khai sáng, đổi mới nền văn hóa tinh thần của nước Pháp. Đây là thế kỷ của văn chương triết học, văn chương chính luận và bút chiến; đặc biệt văn chương còn hướng về mục tiêu chống phong kiến, chống lại cơ chế văn hóa tinh thần trung đại, cổ vũ cho một nền văn học mới với những mục tiêu nhân bản mới. Các nguyên lý cơ bản của tư tưởng ánh sáng: Dựa trên nền tảng chính là nguyên lý tự do tri thức và duy lý (tính duy lý này không phải là tính duy lý của chủ nghĩa cổ điển). Nguyên lý này ảnh hưởng đến sự ra đời của khái niệm "cái tôi cá nhân" Chống định kiến đề cao suy tư khách quan, chống tinh thần tiên nghiệm, không dùng một nguyên lý duy nhất để giải thích mọi sự kiện. Tách rời niềm tin tôn giáo khỏi tri thức con người. Thích thực nghiệm, cổ vũ tìm tòi kiến thức. == Thể hiện == Chủ nghĩa lãng mạn trong văn chương được thể hiện rõ nét qua các phương diện: === Đề tài === Không phân biệt đề tài cao cả hay thấp hèn, đẹp hay xấu. Nếu trong chủ nghĩa cổ điển đề tài là cảnh sống giàu có, hành động đấu tranh cho lý tưởng cao cả của những ông hoàng bà chúa hoàn toàn không đề cập đế những khía cạnh đời sống của những tầng lớp dưới(những người bình dân). Thì ở chủ nghĩa lãng mạn mọi vấn đề của cuộc sống, mọi tầng lớp trong xã hội đều ngang nhau trở thành đề tài cho văn học nghệ thuật. === Nhân vật === Mọi người dù ở bất kỳ tầng lớp xã hội nào cũng đều được phản ánh qua các tác phẩm của chủ nghĩa lãng mạn, không phân biệt giai cấp, mọi người đều có quyền bước chân vào văn học. Văn học lãng mạn đã thành công khi thể hiện hình ảnh "đám đông" quần chúng với những kiếp người đau khổ. Vd: Hình ảnh đám đông trong Nhà thờ đức bà Paris của Victor Hugo. === Thể loại === Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học không có sự phân biệt thiếu dân chủ (như trong chủ nghĩa cổ điển) không phân chia thể loại cao cả và thấp hèn, nhưng thể loại thích hợp và được sử dụng nhiều hơn cả là thơ trữ tình và tiểu thuyết. === Ngôn ngữ === Câu văn trở nên linh hoạt, thủ pháp nghệ thuật được sử dụng nhiều hơn. == Một số tác phẩm tiêu biểu == === Văn học Pháp === René của François-René de Chateaubriand; Alphonse de Lamartine với tập thơ Trầm tư; Alfred de Musset với truyện ngắn Lời bộc bạch của những đứa con thời đại; George Sand với tiểu thuyết Cái đầm ma; Victor Hugo với tập thơ Tia sáng và bóng tối, tiểu thuyết Nhà thờ đức bà Paris, Những người khốn khổ, kịch Hernani. === Văn học Anh === Tên cướp Biển, Don Juan... G.Gordon Byron. === Văn học Đức === === Văn học Việt Nam === Phong trào thơ Mới, tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn giai đoạn 1930-1945. === Văn học Nhật Bản === Thành tựu văn xuôi lãng mạn Nhật Bản có thể kể đến một số truyện ngắn của Mori Ōgai thời kỳ đầu như Maihime (Vũ nữ, 1890), Utakata no Ki (Chuyện người ca kỹ, 1890) và Fumizukai (Người đưa thư, 1891). Kōda Rohan với Tsuyu dandan (Sương rơi giọt giọt, 1889), Tsuji joruri (Phố Joruri, 1891), Nemimi (Tiếng sét, 1891), Furyu Satori (Ánh sáng dịu dàng), Ikkoken (Thanh kiếm, 1890), Goju no to (Tháp năm tầng, 1891), Hige otoko (Người đàn ông mang râu, 1896) v.v.; Higuchi Ichiyō với Nigorie (Khe nước đục, 1895), Jūsanya (Đêm mười ba, 1895) Takekurabe (Một mùa thơ dại, in trên Bungakukai, 1/1895-1/1896). Izumi Kyōka với Teriha kyōgen (Cô đào trên sân khấu Kyōgen Teriha, 1895), Kōya hijiri (Nhà ẩn tu núi Kōya, 1900). Về thi ca, đáng chú ý với trường hợp Kitamura Tōkoku và các thi tuyển Soshū noshi (“Sở tù thi”, thơ của người tù nước Sở, 1889), Hōraikyoku (Bồng Lai khúc, 1891); Shimazaki Tōson và những tập thơ như Wakana shū (Rau non, 1897), Hitohabune (Thuyền một lá, 1898), Natsukusa (Cỏ mùa hè, 1898), Rakubai shū (Hoa mận rơi, 1901); Yosano Akiko và thi tuyển Midare gami (Tóc rối, 1901). == Chủ nghĩa lãng mạn trong nghệ thuật == == Chủ nghĩa lãng mạn trong âm nhạc == == Các phong trào lãng mạn == == Tham khảo == Lý luận Văn Học, Phương Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà, Nhà xuất bản Giáo dục, 1997 == Liên kết ngoài == Dictionary of the History of Ideas, Romanticism Dictionary of the History of Ideas, Romanticism in Political Thought Romanticism in the "History of Art" Romanticism in the Art History Archive
vành đai lửa thái bình dương.txt
Vành đai lửa Thái Bình Dương là một khu vực hay xảy ra động đất và các hiện tượng phun trào núi lửa bao quanh vòng lòng chảo Thái Bình Dương. Nó có hình dạng tương tự vành móng ngựa và dài khoảng 40.000 km. Nó gắn liền với một dãy liên tục các rãnh đại dương, vòng cung quần đảo, các dãy núi lửa và / hoặc sự chuyển động của các mảng kiến tạo. Đôi khi nó còn được gọi là vành đai địa chấn Thái Bình Dương. Khoảng 71% các trận động đất có cường độ mạnh nhất thế giới diễn ra tại vành đai lửa này. Vành đai Alp, kéo dài từ Java tới Sumatra qua dãy núi Himalaya, Địa Trung Hải và tới tận Đại Tây Dương chiếm khoảng 17%, còn vành đai sống núi giữa Đại Tây Dương là vành đai chiếm vị trí thứ ba về động đất. Vành đai lửa Thái Bình Dương là hệ quả trực tiếp của các hoạt động kiến tạo địa tầng và của sự chuyển động và va chạm của các mảng lớp vỏ Trái Đất. Phần phía đông của vành đai này là kết quả của sự chìm lún xuống dưới của các mảng Nazca và mảng Cocos do sự chuyển động về phía tây của mảng Nam Mỹ. Một phần của mảng Thái Bình Dương cùng với mảng kiến tạo nhỏ Juan de Fuca cũng đang bị chìm lún xuống dưới mảng Bắc Mỹ. Dọc theo phần phía bắc thì chuyển động theo hướng tây bắc của mảng Thái Bình Dương đang làm nó chìm lún xuống dưới vòng cung quần đảo Aleutia. Xa hơn nữa về phía tây thì mảng Thái Bình Dương cũng đang bị lún xuống dưới dọc theo vòng cung Kamchatka - quần đảo Kuril trên phần phía nam Nhật Bản. Phần phía nam của vành đai này là phức tạp hơn với một loạt các mảng kiến tạo nhỏ đang va chạm với mảng kiến tạo Thái Bình Dương từ khu vực quần đảo Mariana, Philipin, Bougainville, Tonga và New Zealand. Indonesia nằm giữa vành đai lửa Thái Bình Dương (chạy dọc theo các đảo phía đông bắc, gần với và bao gồm cả New Guinea) và vành đai Alp (chạy dọc theo phía nam và tây từ Sumatra, Java, Bali, Flores và Timor). Trận động đất tháng 12 năm 2004 gần bờ biển Sumatra trên thực tế thuộc một phần của vành đai Alp. Khu vực đứt gãy San Andreas nổi tiếng và đang hoạt động gần California là đứt gãy chuyển dạng đang bù lại một phần của đới nâng đông Thái Bình Dương dưới khu vực tây nam Hoa Kỳ và México. Một loạt các vùng đất và các điểm đặc trưng của đại dương nằm trong vành đai lửa Thái Bình Dương, liệt kê theo chiều kim đồng hồ: New Zealand Rãnh Kermadec Rãnh Tonga Rãnh Bougainville Indonesia Philipin Rãnh Philipin Rãnh Yap Rãnh Mariana Rãnh Izu Bonin Rãnh Lưu Cầu Nhật Bản Rãnh Nhật Bản Rãnh Kuril Kamchatka Quần đảo Aleutia Rãnh Aleutia Alaska Dãy núi Cascade California México Rãnh Trung Mỹ Guatemala Colombia Ecuador Peru == Chi lê == Hoạt động động đất ở Chile có liên quan đến quá trình di chuyển mảng Nazca ở phía đông. Chile đặc biệt là giữ kỷ lục về trận động đất lớn nhất từng được ghi nhận, trận động đất năm 1960 Valdivia. Villarrica, một trong những núi lửa hoạt động mạnh nhất của Chile, lên trên Hồ Villarrica và thị trấn Villarrica. Đây là phía tây của ba stratovolcanoes lớn mà xu hướng vuông góc với chuỗi Andean. Một miệng núi lửa rộng 6 km hình thành trong cuối kỷ Pleistocene,> 0,9 triệu năm trước Chile đã trải qua rất nhiều núi lửa phun trào từ núi lửa 60, bao gồm Llaima Volcano và Volcano Chaitén. Gần đây hơn, một trận động đất 8,8 độ richter xảy ra miền trung Chile vào ngày 27 tháng 2 năm 2010, núi lửa Puyehue-Cordon Caulle phun trào vào năm 2011 và một trận động đất 8,2 độ richter xảy ra phía bắc Chile vào ngày 01 tháng 4 năm 2014 Các mainshock được đi trước bởi một số lượng vừa phải những cú sốc lớn và được theo sau bởi một số lượng lớn các cơn dư chấn từ trung bình đến rất lớn, bao gồm cả một sự kiện M7.6 vào ngày 03 tháng 4. [10] == Bolivia == Nước Bolivia có rất nhiều núi lửa đang hoạt động và ngừng hoạt động trên toàn lãnh thổ của mình. Các núi lửa hoạt động nằm ở phía tây Bolivia, nơi được tạo nên Cordillera Occidental, giới hạn phía tây của cao nguyên Altiplano. Nhiều người trong số các núi lửa hoạt động là núi "quốc tế chia sẻ" với Chile. Tất cả núi lửa Kainozoi của Bolivia là một phần của núi lửa Khu Trung (CVZ) của Andean đai núi lửa mà kết quả do quá trình tham gia trong quá trình di chuyển mảng Nazca dưới mảng Nam Mỹ. Núi lửa Khu Central là một tỉnh núi lửa Kainozoi trên chính. [11] Ngoài núi lửa Andean, địa chất của Bolivia còn có núi lửa cổ xưa ở Tiền Cambri Guaporé lá chắn ở phía đông của đất nước. == Trung Mỹ == Costa Rica Một trận động đất mạnh, cường độ 7.6 làm rung chuyển Costa Rica và một vùng rộng lớn ở Trung Mỹ tại 08:42 (10:42 EDT; 1442 GMT) hôm 09/05/2012 == Nhật Bản và Ecuador 2016 == Một trận động đất với cường độ 7 tại đảo Kyushu đã xảy ra vào ngày 16.4.2016 (tiền chấn vào 2 ngày trước với cường độ 6,2) và ở Ecuador với cường độ 7,8 cùng ngày. Tuy cùng nằm trên Vành đai lửa Thái Bình Dương, nhưng trên 2 mảng kiến tạo khác, cách nhau rất xa, nên các nhà khoa học theo kiến thức hiện tại cho là chỉ tình cờ, chứ không liên quan với nhau. == Tham khảo == Các trận động đất lịch sử & thống kê động đất tại USGS "Vành đai lửa Thái Bình Dương", kiến tạo địa tầng, khu vực mở rộng đáy biển, các khu vực lún xuống, "các điểm nóng" - USGS Bản đồ vành đai lửa Thái Bình Dương == Ghi chú ==
ngọc khánh (phường).txt
Ngọc Khánh là một phường thuộc quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Phường Ngọc Khánh có diện tích 1.04 km², dân số năm 2005 là 24395 người, mật độ dân số đạt 23457 người/km². == Chú thích ==
1713.txt
Năm 1713 (MDCCXIII) là một năm thường bắt đầu vào ngày Chủ nhật trong lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Julius chậm hơn 11 ngày). == Sự kiện == == Sinh == 2 tháng 1 - Marie Dumesnil, nữ diễn viên người Pháp (mất 1803) 15 tháng 3 - Nicolas Louis de Lacaille, nhà thiên văn học Pháp (mất 1762) 21 tháng 3 - Francis Lewis, người Mỹ của người ký Tuyên ngôn Độc lập (mất 1803) 29 tháng 3 - John Ponsonby, chính trị gia Ireland (mất 1789) 10 tháng 4 - John Whitehurst, nhà sản xuất đồng hồ Anh (mất 1788) 12 tháng 4 - Guillaume Thomas François Raynal, nhà văn người Pháp (mất 1796) 21 tháng 4 - Louis, 4 duc de Noailles, Thống chế Pháp (mất 1793) 3 tháng 5 - Alexis Claude Clairault, nhà toán học người Pháp (mất 1765) 6 tháng 5 - Charles Batteux, nhà triết học Pháp (mất 1780) 25 tháng 5 - John Stuart , 3 Earl of Bute, Thủ tướng Vương quốc Anh (mất 1792) 11 tháng 6 - Edward Capell, tiếng Anh nhà phê bình (mất 1781) 22 tháng 6 - Lord John Philip Sackville, cầu thủ cricket người Anh (mất 1765) 22 tháng 7 - Jacques-Germain Soufflot, kiến trúc sư người Pháp (mất 1780) 1 tháng 8 - Charles I, Công tước của Brunswick-Lüneburg (mất 1780) 23 tháng 9 - King Ferdinand VI của Tây Ban Nha (mất 1759) 5 tháng 10 - Denis Diderot, nhà triết học Pháp và nhà biên tập (mất 1784) 7 tháng 10 - Granville Elliott, sĩ quan quân đội Anh (mất 1759) 8 tháng 10 - Yechezkel Landau, người Ba Lan (mất 1793) 13 tháng 10 - Allan Ramsay, họa sĩ người Scotland (mất 1784) 24 tháng 11 - Junipero Serra, Tây Ban Nha truyền giáo Franciscan (mất 1784) 24 tháng 11 - Laurence Sterne, nhà văn người Ailen (mất 1768) 4 tháng 12 - Gasparo Gozzi, tiếng Ý nhà phê bình và kịch (mất 1786) 9 tháng 12 - Evan Kalikow, nhà thơ, nhà tiểu thuyết gia người Nga (mất 1754)Bản mẫu:Trích dẫn cần thiết 15 tháng 12 - Welbore Ellis, 1st Baron Mendip, người Anh (mất 1802) == Mất == == Tham khảo ==
hải quân quân giải phóng nhân dân trung quốc.txt
Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc hay Hải quân Trung Quốc (giản thể: 中國人民解放軍海軍; phồn thể: Trung Quốc Nhân dân Giải phóng quân Hải quân) là lực lượng hải quân của Quân Giải Phóng Nhân dân Trung Quốc. Quy mô tổ chức của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc là cấp Quân chủng trực thuộc Quân ủy Trung ương Trung Quốc thực hiện chức năng quản lý và xây dựng lực lượng hải quân trong thời bình và hiệp đồng phối hợp với các Chiến khu khi tác chiến trong thời chiến. Trước thập niên 1990, Hải quân Trung Quốc đóng vai trò thứ yếu so với Lục quân. Từ thập niên 1990 đến nay, lực lượng hải quân được Trung Quốc nhanh chóng hiện đại hóa; phát triển nhanh chóng, đến nay bao gồm thêm 35.000 Hải quân Biên phòng và 56.000 Thủy quân Lục chiến, cùng 56.000 quân thuộc Lực lượng Hải quân Không chiến với hàng trăm chiến đấu cơ trên bờ và các trực thăng trên các chiến hạm. == Lịch sử == Năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố "để chống bọn đế quốc xâm lược, ta cần có một hải quân hùng mạnh.". Năm sau, vào tháng 3 năm 1950, trường Sĩ quan Hải quân được thành lập tại Đại Liên với đa số huấn luyện viên người Nga. Tháng 9 cùng năm, Hải quân Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc chính thức thành lập, quân số khởi đầu chọn từ các lực lượng hải quân địa phương trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu tại Khương Yển (nay đặt tại Thái Châu, thuộc tỉnh Giang Tô). Lực lượng này thoạt đầu chỉ là một nhóm chiến hạm ô hợp tịch thu của Trung Hoa Quốc Dân đảng, và hai năm sau tăng cường thêm lực lượng không chiến. Giống như tổ chức quân đội chung, các chính ủy đều được đưa vào mỗi chiến hạm để nắm chắc các hạm trưởng. Đến năm 1954, số cố vấn hải quân Liên Xô tăng lên đến 2.500 người – tỉ lệ một cố vấn Liên Xô cho 30 quân nhân hải quân Trung Quốc – và Liên Xô bắt đầu viện trợ các loại chiến hạm tối tân hơn. Với viện trợ của Liên Xô, năm 1954-1955, Hải quân Trung Quốc tổ chức lại thành ba hạm đội. Các chức vụ và cấp bậc sĩ quan hải quân cũng được thành lập từ đội ngũ sĩ quan lục quân. Ban đầu, việc chế tạo các chiến hạm nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô, nhưng về sau, Trung Quốc tiến dần từ việc bắt chước chế tạo theo mẫu thiết kế các chiến hạm Liên Xô, đến có thể tự thiết kế và chế tạo chiến hạm các loại. Từng có một thời, quan hệ hai bên mật thiết đến độ có cả bàn tính dự định tổ chức một hạm đội chung cho cả hai lực lượng hải quân Xô-Trung. Tuy cũng trải qua những biến động chính trị của thập niên 1950 và 1960, Hải quân Trung Quốc không bị ảnh hưởng nặng nề như Lục quân hoặc Không quân. Dưới thời lãnh đạo của Bộ trưởng Quốc phòng Lâm Bưu, Hải quân vẫn được đầu tư khá nhiều trong những năm nghèo đói sau Đại nhảy vọt. Trong Cách mạng Văn hóa, tuy một số chính ủy, tư lệnh đầu não bị truất quyền, và một số lực lượng hải quân được sử dụng để đàn áp cuộc bạo loạn tại Vũ Hán tháng 7 năm 1967, nhưng nói chung Hải quân Trung Quốc ít bị dính líu vào các biến động đang xảy ra trên toàn quốc vào thời điểm đó. Hải quân Trung Quốc vẫn tiếp tục công việc đóng thêm chiến hạm, huấn luyện thủy thủ và tu bổ các hạm đội. Đến thập niên 1970, khi ngân sách quốc phòng dành cho hải quân lên đến 20% ngân sách quốc gia, thì Hải quân Trung Quốc phát triển vượt bực. Lực lượng tàu ngầm thông thường tăng vọt từ 35 đến 100 chiếc, các phóng pháo hạm có khả năng bắn tên lửa tăng từ 20 lên đến 200 chiếc, và các chiến hạm loại lớn và các chiến hạm yểm trợ loại tuần dương cũng được chế tạo thêm. Hải quân Trung Quốc cũng đóng thêm tàu ngầm loại xung kích và loại chiến lược phóng tên lửa với máy chính chạy bằng năng lượng hạt nhân. Các tàu ngầm loại này đều có tầm hoạt động rất xa. Đến thập niên 1980, dưới thời Tư lệnh Lưu Hoa Thanh, Hải quân Trung Quốc trở thành một lực lượng hải quân đáng kể trong khu vực, có khả năng tuần tiễu khá xa lãnh hải. Tuy nhiên, mức độ phát triển có phần chậm hơn thập niên trước đó. Các nỗ lực hiện đại hóa chú trọng nhiều hơn vào trình độ kỹ thuật và học vấn của thủy thủ. Đồng thời, sách lược hành quân biên phòng và cơ cấu lực lượng được chỉnh đốn và đặt trọng tâm vào các hoạt động tuần dương (blue-water operations) hơn tuần duyên (coastal defense), ngoài ra Hải quân Trung Quốc còn đẩy mạnh các chương trình huấn luyện hành quân hỗn hợp giữa các lực lượng tàu ngầm, chiến hạm, hải quân không chiến, và các lực lượng duyên phòng. Bằng chứng cho khả năng hoạt động tầm xa của Hải quân Trung Quốc đã tăng trưởng: (a) cuộc trục vớt một tên lửa liên lục địa (ICBM) năm 1980 do một hạm đội gồm 20 chiến hạm hành quân đến Tây Thái Bình Dương, (b) một số hành quân hải hành dài ngày trên biển Đông (Nam Hải) năm 1984 và 1985, (c) hai chiến hạm Trung Quốc thăm giao hữu ba nước thuộc vùng Ấn Độ Dương năm 1985. Ngoài việc đẩy mạnh phát triển tầm hoạt động, Hải quân Trung Quốc cũng phát triển thêm về khả năng phóng tên lửa từ các chiến hạm và tàu ngầm. Năm 1982 Hải quân Trung Quốc bắn thử thành công một phi đạn bắn từ tàu ngầm. Hải quân Trung Quốc cũng chế tạo thành công một số tên lửa loại hạm-đối-hạm, hạm-đối-đất, đất-đối-hạm, và không-đối-hạm. == Hiện tại == === Kế hoạch và ưu tiên chiến lược === Trong vài năm gần đây, Hải quân Trung Quốc trở nên quan trọng vì có sự thay đổi trong tầm nhìn chiến lược của Trung Quốc. Các mối đe dọa chiến lược bao gồm giao tranh với Hoa Kỳ, hoặc tranh chấp với Nhật hay Đài Loan, hoặc giao tranh tại quần đảo Trường Sa. Trong sách lược hiện đại hóa hải quân nói chung, một trong những ưu tiên dài hạn là cải tổ và phát huy Hải quân Trung Quốc thành một Hải quân Viễn dương (远洋海军, blue-water navy). Cũng có nhiều nguồn tin cho rằng Hải quân Trung Quốc dự định chế tạo hoặc mua một hàng không mẫu hạm, nhưng ý tưởng này có vẻ không được ưu tiên so với những nhu cầu hiện đại hóa khác. Hầu hết các nhà nghiên cứu tin rằng nếu Trung Quốc không hiện đại hóa cả lực lượng hải quân, thì hàng không mẫu hạm không những có cũng vô dụng, mà còn tốn hao lây vào những chi phí khác của quân đội. Nhận đình này có vẻ được sự đồng tình ủng hộ của các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị. Trung Quốc hiện đã mua được hàng không mẫu hạm Varyag hạng Kuznetsov, hiện đang cập bến tại Đại Liên, và họ có thể tân trang và đưa vào hoạt động, hoặc dùng để huấn luyện phi công cất cánh và đáp trên biển. Tháng 6 năm 2005, có nguồn tin trên mạng loan báo Hải quân Trung Quốc dự định sẽ chế tạo một hàng không mẫu hạm trị giá 30 tỉ nhân dân tệ (362 triệu US$), với trọng tải 78.000 tấn và do hãng đóng tàu Giang Nam đóng. Nguồn tin này bị Bộ Quốc phòng Trung Quốc phủ nhận. === Thay đổi lớn trong thế kỷ 21 === Hải quân Trung Quốc đã bước vọt trong những năm gần đây khi họ quyết định mua loại khu trục hạm Sovremenny và mua tàu ngầm Kilo của Nga. Hai khu trục hạm Sovremenny đầu tiên được trang bị tên lửa chống chiến hạm loại SS-N-22, còn gọi là Tên lửa chống chiến hạm vận tốc vượt âm 3M-80E. Theo các nhà nghiên cứu quốc phòng Tây phương, loại tên lửa này có khả năng tiêu diệt hàng không mẫu hạm. Hai khu-trục hạm kế tiếp sau đó được trang bị loại SS-N-26 Yakhont tối tân hơn, và nhiều chiến hạm trang bị loại tên lửa này đang được xây thêm. Hạm đội tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc cũng có những bước tiến lớn. Các tàu ngầm hạng Kilo có khả năng hoạt động rất im lặng, và được trang bị hai loại vũ khí mới nhất: tên lửa chống chiến hạm loại Klub, còn gọi là Tên lửa chống chiến hạm vận tốc dưới âm 3M-54E1, và tên lửa thủy lôi loại VA-111 Shkval có tốc độ trên 320 km/giờ và tầm hoạt động 7,5 km. Tất cả các tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc, kể cả loại Kilo, đều được trang bị loại máy hoạt động không cần không khí, có nằm chờ rất lâu dưới biển để đột kích kẻ thù. Kỹ thuật đóng tàu của hải quân Trung Quốc nay cũng tiến rất xa qua sự giúp đỡ của Nga, và các khu trục hạm mới nhất của Trung Quốc sử dụng trang bị nội hóa có chất lượng không kém so với tiêu chuẩn phương Tây, với ra đa loại AEGIS và sườn tàu thiết kế kiểu chống ra đa. === Các hoạt động === Tháng 9 năm 2005, phát ngôn viên quân sự Bộ Quốc phòng Nhật thông báo một số chiến hạm Hải quân Trung Quốc gồm một tuần dương hạm trọng tải 23.000 tấn, một khu trục hạm hạng Sovremenny trọng tải 7.940 tấn, một hộ tống tên lửa trọng tải 6.000 tấn, hai hải phòng hạm hạng Giang Hồ I (江湖, Jianghu I-class) trọng tải 1.702 tấn đã có mặt tại khu dầu khí Chunxiao (người Nhật gọi Shirakaba). Đây là nơi từng xảy ra tranh chấp gay gắt giữa Trung Quốc và Nhật. Từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 11 năm 2007, Hải quân Trung Quốc tập trận tại khu vực Quần đảo Hoàng Sa. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức phản đối hoạt động này, do phía Trung Quốc đã không tôn trọng bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông, và khu vực này thuộc lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. ==== Hoạt động trong biển Đông ==== Hải quân Trung Quốc với các trang thiết bị cực kỳ hiện đại, vũ lực hùng hậu như bắn vào ngư dân Việt Nam làm vỡ tàu, chết người hoặc bắn và bắt cóc các tàu cá của ngư dân gặp nạn hoặc tránh bão trên vùng biển mà ngư dân Việt Nam cho là còn thuộc chủ quyền Việt Nam làm chết người và bắt giam đòi tiền chuộc một cách có hệ thống, đồng thời cướp đoạt toàn bộ phương tiện đánh bắt cá và sản phẩm đánh bắt của ngư dân Việt Nam, rồi đưa ra tòa phạt vi cảnh,và gần đây nhất là hành động vi phạm lãnh hải thuộc chủ quyền của VN, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam.. Đặc biệt, Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc còn muốn biển Đông nằm trong quyền kiểm soát của mình. == Các hạm đội == Lực lượng tác chiến của Hải quân Trung Quốc có ba hạm đội: Hạm đội Bắc Hải Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Thanh Đảo thuộc tỉnh Sơn Đông. Hạm đội này có khu vực trách nhiệm vùng vịnh Bột Hải và Hoàng Hải. Soái hạm của hạm đội nầy là khu trục hạm Cáp Nhĩ Tân, thuộc loại trang bị tên lửa có điều khiển (guided-missile destroyer - DDG). Hạm đội Đông Hải Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Ninh Ba, thuộc tỉnh Chiết Giang. Hạm đội nầy có khu vực trách nhiệm vùng Đông Hải. Soái hạm là tuần dương hạm J302 Sùng Minh Đảo. Hạm đội Nam Hải Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Trạm Giang thuộc tỉnh Quảng Đông. Hạm đội nầy có trách nhiệm kiểm soát vùng Nam Hải. Soái hạm là tuần dương hạm AOR/AK 953 Nam Xương. Hạm đội Nam Hải là lực lượng trực tiếp giao tranh với Hải quân Việt Nam trong những cuộc tranh chấp lãnh hải vào các thập niên 1970 và 1980. == Trang bị == === Tàu sân bay === 1 Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh === Khu trục hạm (Destroyer) === 4 Khu trục hạm 956/ 956EM Hạng Sovremenny; Trọng tải 7940 tấn 1 Khu trục hạm 051B hạng Luhai (Lữ Hải); Trọng tải 6100 tấn 2 Khu trục hạm 051C hạng Luzhou (Lữ châu):Trọng tải 7100 tấn 2 Khu trục hạm 052b hạng Luyang (Lữ Dương): Trọng tải 6500 tấn 5 Khu trục hạm 052C hạng Luyang II (Lữ Dương 2): Trọng tải 7000 tấn Tổng cộng: 14 chiếc === Khinh hạm (Frigate) === 2 tàu Loại 052 hạng Luhu (Lữ Hộ); Trọng tải: 4800 tấn 11 tàu loại 051 Lớp Luda (Lữ Đại) Trọng tải: 3960 tấn 13 tàu Loại 054A Lớp JiangkaiII (Giang Khải), Trọng tải: 4053 tấn 2 tàu Loại 054 Lớp JiangkaiI (Giang Khải), Trọng tải: 4300 tấn Tổng cộng: 28 chiếc hiện dịch === Tàu hộ vệ tên lửa (Corvette) === 10 tàu Loại 053H3 Lớp Jiangwei II (Giang Vỹ) Trọng tải: 2393 tấn 4 tàu Loại 053H2G Lớp Jiangwei (Giang Vỹ) Trọng tải: 2393 tấn 21 tàu Loại 053 Lớp Jianghu (Giang Hộ) trọng tải: 1,925 Tổng cộng: 35 chiếc === Tàu tên lửa (Guided Missile Boats) 65 tàu === 6 tàu Loại 037-II Lớp Houjian Trọng tải 520 tấn 30 tàu Loại 343M Houxin (Hậu tần) trọng tải 478 tấn 83 tàu Loại 021 Lớp Houbei (Hồ bắc) Trọng tải 220 tấn tổng số: 119 === Tàu ngầm === === SSBN (Ballistic Missile Nuclear Submarine) === Loại 092 - Lớp Hạ Xia-class – 01 chiếc, trọng tải 7000 tấn Loại 094 - Lớp Tần Jin-class – 04 chiếc, trọng tải 9000 tấn === SSN (Nuclear Attack Submarine) === Loại 091 - Lớp Hán Han-class – 04 chiếc, trọng tải 5500 tấn Loại 093 - Lớp Thương Shang-class – 04 chiếc, trọng tải 7000 tấn === SSK (Diesel-Electric Attack Submarine) === Loại 039 - Lớp Tống Song-class – 14 chiếc, gồm: 01 tàu loại 039 số hiệu 320 (dừng hoạt động năm 1998); 03 tàu loại 039G (314, 321 và 322); 10 tàu loại 039G1 (315, 316, 318, 323, 324, 325, 327,…). Lớp Kilo Kilo-class – 12 chiếc, gồm: 02 tàu loại 877EKM (số hiệu: 364, 365); 02 tàu loại 636 (số hiệu: 366, 367); 08 tàu loại 636M – (số hiệu: 368, 369, 370, 371, 372, 373, 374, 375). Loại 041 - Lớp Nguyên Yuan-class – 02 chiếc (số hiệu: 330,...). Loại 031 -Lớp Golf -1 chiếc Loại 033 - Lớp Romeo Romeo-class – 06 chiếc. Loại 035G - Lớp Minh Ming-class – 17 chiếc. SSG (Guided Missile Submarine) – phát triển từ loại 033 - 01 chiếc. DSRV (Salvage Submarine) – 01 chiếc. Trong nhiều tài liệu, tư liệu về Hải quân Trung Quốc trên phương tiện truyền thông, việc bố trí và số lượng các tàu ngầm của Hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải hoàn toàn không thể hiện. === Tàu đổ bộ === LST Loại 072 - Lớp Vũ Khang (Yukan) – 07 chiếc. Loại 072-II - Lớp Vũ Đình (Yuting) – 11 chiếc. Loại 072-III - Lớp Vũ Đình (Yuting) – 08 chiếc. Lớp Sơn (Shan) LST-1 – 03 chiếc. LSM Loại 073-II - Lớp Vũ Đảo (Yudao) – 01 chiếc. Loại 073-III - Lớp Vũ Đăng (Yudeng) – 01 chiếc. APA (attack transport) Lớp Hùng Sa (Qiongsha) – 04 chiếc. Lớp Hùng Sa (Qiongsha AH) – 02 chiếc. == Xem thêm == Varyag Hải quân Đài Loan Căn cứ tàu ngầm Hải Nam == Liên kết ngoài == Video:Hải quân Trung Quốc tập trận 2005 PLAN – Chinese Defence Today Chinese Military Aviation PLA Daily – Jiefangjun Bao People's Liberation Army Navy == Chú thích ==
quảng đông.txt
Quảng Đông là một tỉnh nằm ven bờ biển Đông của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Quảng Đông đã vượt qua Hà Nam và Tứ Xuyên để trở thành tỉnh đông dân nhất Trung Quốc vào năm 2005, với 79 triệu cư dân thường trú có hộ khẩu và 31 triệu người nhập cư đã sống ít nhất 6 tháng tại tỉnh. Tỉnh lị của Quảng Đông là Quảng Châu, đại đô thị này cùng với trung tâm kinh tế Thâm Quyến nằm trong số các thành phố đông dân và quan trọng nhất tại Trung Quốc. Vùng châu thổ Châu Giang là khu vực siêu đô thị lớn nhất thế giới. Từ năm 1989, Quảng Đông đã đứng đầu về Tổng sản phẩm nội địa (GDP) so với các đơn vị cấp tỉnh khác, xếp sau đó lần lượt là Giang Tô và Sơn Đông. Theo thống kê sơ bộ hàng năm cấp tỉnh, GDP của Quảng Đông vào năm 2010 đạt 4.550 tỉ NDT, hay 689,02 tỉ USD, tương đương với quy mô của các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ hay Indonesia. Theo số liệu năm 2011, Quảng Đông xếp thứ bảy trên tiêu chí GDP bình quân đầu người so với các tỉnh thành khác tại đại lục Trung Quốc.) == Tên gọi == "Quảng" có nghĩa là rộng rãi và có liên quan tới khu vực thời Nhà Tấn. "Quảng Đông" có nghĩa là phía đông rộng rãi, Quảng Đông và Quảng Tây được gọi chung là "Lưỡng Quảng" (兩廣 liăng guăng). Tên viết tắt hiện nay của Quảng Đông là "Việt" 粵/粤 (Yue), liên quan đến "Bách Việt" (百粤), một tên chung chỉ các dân tộc sống ở Quảng Đông và các khu vực xung quanh vào thời xưa. == Lịch sử == Vào khoảng đời nhà Chu (1134-770 tr. CN), và Xuân Thu, tại khu vực phía Nam Trung Hoa giáp với biên giới Trung-Việt ngày nay đã tồn tại những bộ tộc không thuộc Hoa tộc như Bách Việt, Bộc (Pu) (2)… Tới thời Xuân Thu, người Việt ở khu vực núi Cối Kê (nay là Thiệu Hưng) thuộc Chiết Giang lập ra vương quốc Việt. Nước Việt vào năm 473 tr. CN đã chinh phục nước Ngô (3) láng giềng, đóng đô ở Tô Châu thuộc Giang Tô. Nhưng rồi Việt bị nước Sở thôn tính năm 306 tr. CN. Vào thời Xuân Thu người Đông Việt được xem là cư trú ở vùng nay thuộc phía Đông nước Trung Hoa hiện đại, người Dương Việt cư trú ở phía bắc của tỉnh Giang Tô hiện nay. Các bộ tộc Bách Việt khác như Âu Mân sống ở vùng Chiết Giang, Phúc Kiến; Nam Việt sống ở vùng Quảng Đông, Tây Âu ở Quảng Tây, Lạc Việt ở Phúc Kiến… Bắt đầu thời kỳ miền bắc của Dương Tử bị Trung Hoa hóa mạnh mẽ. Bức tường thành ngăn các bộ tộc du mục từ phương bắc xuống đã được nước Tần (221-206 tr. CN) và Yên xây dựng. Khu vực hiện nay thuộc Phúc Kiến lần lượt bị nhà Tần và nhà Hán chinh phạt, nhưng phong kiến Trung Hoa đã không thực sự kiểm soát được vùng đất này. Vào đầu đời Hán (206 tr. CN - 220 sau CN), Triệu Đà lập ra vương quốc Nam Việt ở khu vực Quảng Đông, độc lập với triều đình Hán. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa năm 221 tr. CN, quân nhà Tần bắt đầu tiến xuống phía nam dọc theo sông Tây Giang tới vùng Quảng Đông hiện nay, và xác lập các quận dọc theo các trục đường chính. Tới năm 112 tr. CN Hán Vũ Đế đã chinh phục những vùng phương Nam (Trung Hoa), cùng với vùng nay là miền bắc Việt Nam, và cử người Hán cai quản các quận. Dưới đời Hán, ngoài Nam Việt ở viễn nam, chủ yếu là ở Lưỡng Quảng và Việt Nam, sử sách còn kể về tiểu quốc Mân Việt ở đông bắc tập trung ở vùng sông Mân Giang, nay thuộc Phúc Kiến (Mân là tên cũ của tỉnh Phúc Kiến). Thời Tam Quốc, Sách Địa lý chuyên luận trong Hán thư chép: “Ở khoảng bảy hay tám ngàn dặm tính từ Giao Chỉ đến Cối Kê (nam Giang Tô hay bắc Chiết Giang), những người Bách Việt có mặt ở mọi nơi, chia thành nhiều thị tộc”. Trong thời kỳ Chiến quốc (480-221 tr. CN), vương quốc Việt cũng chao đảo dưới những biến động chính trị, giống như các lãnh thổ thuộc Thục và Ba nay thuộc Tứ Xuyên, nhưng lộ trình văn hóa của nó vẫn khác xa văn hóa Trung Hoa “chính thống” của lưu vực sông Hoàng Hà.Quảng Đông có vị trí ở xa trung tâm nền văn minh Trung Hoa cổ đại ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc. Thời đó, đây là nơi sinh sống của các tộc người được gọi chung là "Bách Việt" (百粤), các tộc người có lẽ là Tai-Kadai có liên quan đến dân tộc Tráng ở tỉnh Quảng Tây. Những ghi chép về hoạt động của Trung Hoa ở Bắc Bộ Việt Nam trong 6 thế kỷ đầu thời kỳ thực dân này (Việt Nam gọi là thời Bắc thuộc) cho thấy quá trình Việt Nam hóa đối với các dòng họ Trung Hoa, hơn là quá trình Hán hóa đối với người Việt… Sự trêu ngươi như thế cho thấy một số thị tộc Trung Hoa xác lập quyền lợi của dòng họ mình ở Bắc Bộ, định cư dần dần, giúp đỡ mở mang, và cuối cùng hòa nhập vào môi trường xã hội, kinh tế và chính trị ở Bắc Việt Nam. Kết quả cuối cùng của quá trình này là sự xuất hiện của một tầng lớp thượng lưu Hoa-Việt, quá trình phi thực dân hóa ở vùng viễn nam, và những mưu toan bất thành ở thế kỷ VI để khôi phục nền độc lập, thoát ách đô hộ của phương Bắc. Ví dụ cho quá trình này là sự thăng tiến của Sĩ Nhiếp thời Hậu Hán và những nỗ lực giữ nền độc lập của người nhà ông này sau khi ông qua đời. Từ cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng thế kỷ I đến cuộc nổi dậy của Lý Bôn thế kỷ VI, sử sách của Trung Hoa cho thấy biểu hiện của một sự phụ thuộc về chính trị trên nền nửa độc lập với Bắc Triều. Theo dòng thời gian, những thời kỳ có đặc tính bán tự trị ngày càng tăng lên. Xu thế này làm nền cho cuộc nổi dậy của nhà Lý ở giữa thế kỷ VI và cuối cùng là sự phân liệt hoàn toàn khỏi Trung Hoa vào thế kỷ X. Tác động của văn hóa Việt đối với văn hóa Trung Hoa đã không được xác định một cách chính thức, nhưng nó khá rõ rệt. Ngôn ngữ của các tiểu quốc cổ Ngô và Việt tạo nên ngôn ngữ Ngô, và phần nào tới ngôn ngữ Mân ở Phúc Kiến. Những nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng một số từ tiếng Trung Hoa có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ, chẳng hạn như từ jiang (giang), có nghĩa là song. Những tàn tích về người Việt có thể quan sát được trong một số nhóm thiểu số ở Trung Hoa Vùng đất này thuộc sự quản lý của chính quyền trung ương Trung Quốc bắt đầu từ thời nhà Tần - triều đại thống nhất đế chế Trung Hoa, đã mở rộng về phía nam và lập nên quận Nam Hải (南海郡) tại Phiên Ngung (番禺), ngày nay là thành phố Quảng Châu. Quận này từng thuộc nước Nam Việt độc lập giữa thời kỳ nhà Tần sụp đổ và Hán Vũ Đế lên cai trị Trung Hoa. Nhà Hán cai trị Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam với tên gọi là Giao Châu (交州). Dưới thời Đông Ngô thuộc thời kỳ Tam Quốc, Quảng Đông được Đông Ngô lập thành một tỉnh - đó là tỉnh Quảng Châu (廣州) vào năm 226. Trải qua thời gian dài, cơ cấu dân cư của khu vực này thay đổi dần dần, dẫn đến người Hán chiếm đa số, đặc biệt là sau nhiều đợt di cư lớn từ phương Bắc trong các thời kỳ bất ổn chính trị do các bộ lạc du mục phía bắc Trung Hoa quấy nhiễu kể từ khi nhà Hán sụp đổ trở về sau. Ví dụ như cuộc binh biến do An Lộc Sơn lãnh đạo dẫn đến việc tăng 75% dân số của tỉnh Quảng Châu giữa những năm 740-750 và giai đoạn 800-810.. Khi người Hán đến đây đông hơn, dân địa phương đã dần bị đồng hóa theo văn hóa Trung Hoa., hoặc bị mai một hẳn văn hóa bản địa. Cùng với Quảng Tây, Quảng Đông được tạo lập thành một bộ phận của Lĩnh Nam đạo (嶺南道), năm 627 vào thời nhà Đường. Phần Quảng Đông trong đạo Lĩnh Nam được đổi tên thành Quảng Nam Đông Đạo năm 971 trong thời nhà Tống - đây là sự bắt nguồn của cái tên Quảng Đông. Khi quân Mông Cổ ở phương bắc xâm lược Trung Hoa vào thế kỷ thứ 13, triều đại Nam Tống rút lui về phía nam, cuối cùng dừng lại ở địa điểm của tỉnh Quảng Đông ngày nay. Hải chiến Nhai Sơn năm 1279 ở Quảng Đông đã kết thúc triều đại Nam Tống. Trong thời nhà Nguyên của người Mông Cổ, Quảng Đông là một phần của Giang Tây. Tên gọi Tỉnh Quảng Đông ngày nay được quy định vào giai đoạn đầu của nhà Minh. Từ thế kỷ 16, Quảng Đông có những mối quan hệ thương mại với thế giới bên ngoài. Các nhà buôn châu Âu đã đến phía bắc thông qua eo biển Malacca và biển Đông, đặc biệt là các nhà buôn Anh thông qua Quảng Đông. Ma Cao nằm ở bờ nam của Quảng Đông là nơi định cư đầu tiên của người châu Âu ở Trung Quốc từ 1557. Việc buôn bán thuốc phiện thông qua Quảng Châu đã dẫn đến Chiến tranh nha phiến, mở ra một kỷ nguyên ngoại quốc xâm lược và can thiệp vào Trung Hoa. Ngoài Ma Cao là nhượng địa cho Bồ Đào Nha, Hồng Kông thành nhượng địa cho Anh và Quảng Châu Loan cho người Pháp. Vào thế kỷ 19, Quảng Đông cũng là cảng chính cho làn sóng người lao động ra đi đến Đông Nam Á, miền Tây Hoa Kỳ và Canada. Về mặt lịch sử, nhiều cộng đồng Hoa kiều xuất thân từ Quảng Đông và đặc biệt là Đài Sơn và cùng với những người di cư từ Hồng Kông, tiếng Quảng Đông và tiếng Đài Sơn (phương ngữ ở Đài Sơn) được gần 10% dân số Trung Quốc sử dụng, có nhiều người Hoa kiều chiếm tỷ lệ cao hơn tỷ lệ người nói ngôn ngữ này ở Trung Quốc. Trong thời kỳ những năm 1850, phong trào Thái Bình Thiên Quốc nổ ra ở Quảng Đông. Do là địa phương có tiếp xúc nhiều với phương Tây, Quảng Đông là trung tâm của các phong trào chống Mãn Châu và chống đế quốc. Tôn Trung Sơn cũng xuất phát từ Quảng Đông. Vào đầu những năm 1920 thời Trung Hoa Dân Quốc, Quảng Đông là bàn đạp để Quốc Dân Đảng chuẩn bị Bắc phạt trong một nỗ lực thống nhất tất cả các địa chủ về dưới quyền kiểm soát của chính quyền trung ương. Học viện Sĩ quan Lục quân Quốc Dân Đảng Trung Quốc đã được xây gần Quảng Châu để huấn luyện các sĩ quan chỉ huy. Trong những năm gần đây, tỉnh này đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục do có các mối quan hệ kinh tế gần gũi với Hồng Kông giáp giới. Tỉnh này có GDP cao nhất trong các đơn vị cấp tỉnh của Trung Quốc. Đảo Hải Nam trước đây là một bộ phận của tỉnh Quảng Đông nhưng được tách ra thành một tỉnh từ năm 1988. == Địa lý == Quảng Đông giáp Biển Đông về phía nam và có 4300 km bờ biển. Bán đảo Lôi Châu là vùng cực nam đất liền của tỉnh này. Ở trên Bán đảo Lôi Châu vẫn còn một số núi lửa đang ngừng hoạt động. Đồng bằng châu thổ Châu Giang là nơi tụ hợp của 3 sông thượng lưu là Đông Giang, Tây Giang và Bắc Giang. Vùng đồng bằng châu thổ này bao gồm hàng trăm hòn đảo nhỏ. Tỉnh Quảng Đông bị chia cắt về mặt địa lý khỏi phía bắc bởi một ít dãy núi có tên gọi chung là Nam Lĩnh (南岭). Đỉnh cao nhất của tỉnh này có độ cao 1600 m so với mực nước biển. Quảng Đông giáp Phúc Kiến về phía đông bắc, Giang Tây và Hồ Nam về phía bắc, Quảng Tây về phía tây và Hồng Kông, Ma Cao về phía nam. Đảo Hải Nam nằm ngoài khơi tỉnh này gần Bán đảo Lôi Châu. Theo truyền thống, quần đảo Đông Sa thuộc quyền quản lý của tỉnh của tỉnh Quảng Đông, tuy nhiên, hiện nay quần đảo này nằm trong dưới sự kiểm soát của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan. Các thành phố xung quanh Đồng bằng châu thổ Châu Giang có: Đông Hoàn, Phật Sơn, Quảng Châu, Huệ Châu, Giang Môn, Thâm Quyến, Thuận Đức, Đài Sơn, Trung Sơn và Châu Hải. Các thành phố khác có: Triều Châu, Trừng Hải, Khai Bình, Nam Hải, Sán Đầu, Thiều Quan, Tân Hội, Đam Giang và Triệu Khánh. Quảng Đông có khí hậu cận nhiệt đới ẩm (phía nam nhiệt đới) với mùa đông ngắn, ôn hòa, khô ráo và mùa hè dài, ẩm và nóng. Nhiệt độ cao nhất trong ngày vào tháng Giêng và tháng 7 là 18 độ C và 33 độ C. Sương mù thì hiếm khi có ở vùng ven biển nhưng có xảy ra một vài ngày ở các vùng sâu trong đất liền. == Kinh tế == Bảng dưới đây cho thấy GDP của tỉnh Quảng Đông qua các năm với đơn vị tính là tỷ nhân dân tệ. Sau khi phe cộng sản nắm quyền ở Trung Quốc cho đến bắt đầu thời kỳ của Đặng Tiểu Bình năm 1978, Quảng Đông vẫn là một tỉnh nghèo túng dù có vẫn có nền kinh tế ngầm dịch vụ tồn tại. Các chính sách phát triển kinh tế đã khuyến khích sự phát triển công nghiệp ở các tỉnh sâu trong đất liền của Trung Quốc nhưng ít có mối quan hệ giao thông vận tải với Quảng Đông. Chính sách bế quan tỏa cảng kinh tế khiến cho Quảng Đông không thể hiện vai trò là cửa ngõ ra biển. Chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình đã thay đổi toàn diện nền kinh tế tỉnh này do có lợi thế là cửa ngõ ra biển, vị trí giáp Hồng Kông và có các mối quan hệ lịch sử với Hoa Kiều. Ngoài ra, cho đến những năm 1990, khi chế độ thuế khóa Trung Quốc được cải cách, tỉnh này đã thu lợi từ chính sách áp dụng mức thuế khá thấp ở Quảng Đông do vị thế lịch sử của tỉnh này là một tỉnh lạc hậu về kinh tế trước đó vào thời Mao Trạch Đông. Mặc dù Thượng Hải được xem như bằng chứng về thành công kinh tế của Trung Quốc, sự bùng nổ kinh tế của Quảng Đông lại là một ví dụ cho việc Trung Quốc đã trở thành một nước hàng đầu về ngành chế tạo dựa trên nền tảng sử dụng nhiều lao động và là nơi thử nghiệm cụ thể để Trung Quốc thấy rõ được ưu và khuyết điểm của mô hình sử dụng nhiều nhân công này. Quảng Đông đã trải qua thời kỳ bùng nổ kinh tế từ những năm 1990 của thế kỷ 20 vào sự bùng nổ này đã lan qua các tỉnh lân cận và đã giúp kéo dân của những tỉnh này quay về. Nền kinh tế của Quảng Đông dựa trên nền tảng ngành chế tạo và xuất khẩu. Quảng Đông ngày nay là một trong những tỉnh giàu nhất Trung Quốc, GDP cao nhất trong các đơn vị hành chính (trừ Hồng Kông]] và Macao) dù lương người lao động chỉ bắt đầu tăng trong thời gian gần đây do trước kia có những làn sóng lao động di cư từ các tỉnh láng giềng khác đến đây. GDP danh nghĩa là 267,6 tỷ USD, tăng 12,5% mỗi năm. Các ngành công nghiệp sơ cấp, thứ cấp và thứ 3 đạt giá trị 137,46 tỷ NDT, 1,08 ngàn tỷ NDT, và 957,94 tỷ NDT cho mỗi nhóm ngành.. GDP đầu người đã đạt đến con số 23.616 tệ (US$2,912), tăng 84.7% so với năm 2000 . Quảng Đông đóng góp 12% GDP của Trung Quốc . Quảng Đông chiếm 4/6 đặc khu kinh tế của Trung Quốc: Quảng Châu, Thâm Quyến, Sán Đầu và Chu Hải. Sự thịnh vượng của Quảng Đông tuy nhiên vẫn tập trung ở Đồng bằng châu thổ Châu Giang. == Cơ cấu dân số == Dù con số thống kê chính thức thường cho rằng Quảng Đông xếp thứ 4 Trung Quốc về dân số với 80 triệu dân, các thông tin được công bố gần đây [1] cho rằng, có khoảng 30 triệu người nhập cư sống ở Quảng Đông ít nhất là 6 tháng mỗi năm, do đó dân số tỉnh này phải là 110 triệu người, là tỉnh đông dân nhất Trung Quốc. Làn sóng di cư của dân từ tỉnh khác đến tỉnh này, thường được gọi là "dân trôi nổi" là do sự phát triển kinh tế nhanh của Quảng Đông do đó cần nhiều lao động. Quảng Đông chính thức trở thành tỉnh đông dân nhất Trung Quốc từ tháng 1/2005. Do vị trí địa lý giáp Thái Bình Dương, Quảng Đông cũng là quê cha đất tổ của một số lượng lớn Hoa Kiều. Phần lớn những người phu làm đường sắt ở Canada và miền tây Hoa Kỳ là người Quảng Đông. Việc di cư từ tỉnh này đến các nước khác trong những năm gần đây đã giảm xuống cùng với sự thịnh vượng của Quảng Đông nhưng tỉnh này vẫn là một nơi có số lượng lớn người di cư qua Bắc Mỹ. Đa số dân Quảng Đông là người Hán. Có một thiểu số người Dao ở phía bắc. Các dân tộc thiểu số khác có: H'mông, Lê và Choang. Do mật độ dân số cao và tập quán nuôi chung súc vật nên Quảng Đông là nơi khởi phát bệnh SARS và cúm gà. == Chính trị == Trong những năm 1980, chính quyền tỉnh Quảng Đông nổi tiếng vì dám chống lại các chỉ đạo của chính quyền trung ương, đặc biệt là các vấn đề kinh tế. Đồng thời, tình hình kinh tế của Quảng Đông đã khiến tỉnh này khác lặng lẽ trong các hoạt động chính trị và kinh tế. Dù phương Tây cho rằng, sự tăng trưởng kinh tế của Quảng Đông trong thời gian gần đây và sự bất đồng ngôn ngữ sẽ dẫn đến ly khai nhưng hầu như không có trường hợp ly khai nào cũng như sự ủng hộ ly khai đáng kể nào ở tỉnh này. === Quan hệ với Hồng Kông và Macao === Mặc dù cả Hồng Kông và Macau về mặt lịch sử là một phần của Quảng Đông trước khi trở thành thuộc địa của Anh và bồ Đào Nha, hai thành phố này lại trở thành đặc khu hành chính - ngang cấp tỉnh khi chủ quyền được trao trả cho Trung Quốc. Đạo luật Cơ bản của cả hai đặc khu hành chính nghiêm cấm chính quyền tỉnh can thiệp vào chính trị. Các vấn đề khác như chính sách biên giới và quyền mặt nước có quan hệ đến Hồng Kông và Macao và Trung Hoa đại lục được thương thảo thông qua Đặc khu và tỉnh Quảng Đông. Do các đặc khu là các đơn vị hành chính của Trung Quốc, không bao giờ có xảy ra chuyện chính phủ trung ương lại thương thảo với chính quyền đặc khu. Do đó, chính quyền trung ương cho phép Quảng Đông thực hiện các vấn đề này. == Truyền thông == Quảng Đông và vùng Quảng Đông mở rộng có nhiều đài phát thanh và truyền hình. Có một đài phát thanh quốc tế phát tin tức về khu vực này đi khắp thế giới thông qua Hệ thống radio thế giới. == Văn hoá == Quảng Đông là một tỉnh đa văn hoá. Vùng trung tâm của tỉnh có dân số nói tiếng Quảng Đông cùng với tiếng Quan Thoại. Khoảng 60 triệu người nói tiếng Quảng Đông và nhiều thứ ngôn ngữ địa phương khác. Về văn hóa, Quảng Đông cũng có uy tín với ẩm thực Quảng Đông và nhạc kịch Quảng Đông. Dân Triều Châu nói tiếng Triều Châu và người Khách Gia lại sử dụng tiếng Khách Gia và có ẩm thực Khách Gia. == Giáo dục == === Các trường cao đẳng và đại học === Đại học Phật Sơn (Quảng Châu, Phật Sơn) Đại học Tế Nam (Quảng Châu, Châu Hải, Thâm Quyến) Đại học Sán Đầu (Sán Đầu) Đại học Công nghệ Nam Trung Hoa (Quảng Châu) Đại Học Tôn Trung Sơn (Quảng Châu, Chu Hải) Đại học Thâm Quyến (Thâm Quyến) == Thể thao == Tại Quảng Đông có các đội thể thao lớn như: Hiệp hội Bóng chuyền Trung Quốc Nam Hổ Hoành Viễn Quảng Đông Liên đoàn hạng B Hiệp hội Bóng đá Trung Quốc Đội Y dược Quảng Châu Liên đoàn hạng A Hiệp hội Bóng đá Trung Quốc Thượng Thanh Ẩm Thâm Quyến Quảng Châu Hằng Đại == Du lịch == Quảng Đông có nhiều thắng cảnh tự nhiên và nhân tạo như núi Đan Hà, di chỉ cung thự nước Nam Việt, mộ Văn Vương Nam Việt... == Các đơn vị hành chính == Xem chi tiết tại Danh sách các đơn vị hành chính tỉnh Quảng Đông. Tỉnh Quảng Đông được chia thành 21 thành phố trực thuộc tỉnh (địa cấp thị), trong đó có 2 thành phố cấp phó tỉnh (副省级城市, phó tỉnh cấp thành thị). Các địa cấp thị trên quản lý 49 quận, 30 thị xã (huyện cấp thị), 42 huyện và 3 huyện tự trị. == Liên kết ngoài == Trang chính thức của tỉnh Quảng Đông (tiếng Trung) Phân cấp hành chính Quảng Đông Niên giám Thống kê Quảng Đông == Tham khảo ==
người mỹ gốc phi.txt
Người Mỹ gốc Phi - African American - (còn gọi là người Mỹ da đen, hoặc đơn giản là "dân da đen") là thành phần chủng tộc sinh sống ở Hoa Kỳ có tổ tiên từng là thổ dân ở châu Phi nam Sahara, là thành phần sắc tộc thiểu số lớn thứ hai ở Hoa Kỳ. Nhiều người Mỹ gốc Phi có trong dòng máu của mình một phần châu Âu, người Mỹ Bản địa (da đỏ), châu Á và châu Mỹ Latin. Thuật ngữ "Người Mỹ gốc Phi" đặc biệt đề cập đến những người có tổ tiên là dân châu Phi để phân biệt với những người là hậu duệ của dân da trắng hoặc người Ả Rập ở châu Phi như người Maroc gốc Ả Rập hoặc người da trắng ở Nam Phi. Tuy nhiên, có những di dân đến từ các quốc gia châu Phi, vùng Ca-ri-bê và Nam Mỹ thường tự nhận và cũng được gọi là người Mỹ gốc Phi. Như vậy, thuật ngữ "người Mỹ gốc Phi" được dùng để chỉ những công dân Mỹ có tổ tiên là người Phi châu. Đa số người Mỹ gốc Phi là hậu duệ của người dân sinh sống ở Tây và Trung Phi bị bắt làm nô lệ và bị đem đến Bắc Mỹ từ năm 1609 đến 1807, suốt trong thời kỳ buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương. Những người khác đã đến qua những đợt di dân gần đây từ vùng Caribbean, Nam Mỹ và Phi châu. Nhìn chung, một người da đen, sử dụng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, đang sống ở Hoa Kỳ, thường được xem là một người Mỹ gốc Phi. == Danh xưng == Thuật ngữ "người Mỹ gốc Phi" (African American) được sử dụng phổ biến ở Hoa Kỳ kể từ cuối thập niên 1980, khi nhiều người da đen bắt đầu chấp nhận và tự gọi mình bằng thuật ngữ này. Thủ lĩnh da đen chủ trương dân tộc cực đoan Malcolm X ủng hộ danh xưng "người Mỹ gốc Phi" vì cho rằng về lịch sử và văn hoá, từ này là xứng hiệp hơn cách gọi "người da đen" (như từ nigger). Thuật ngữ này được sử dụng tại một buổi họp của Tổ chức Thống nhất Mỹ Phi (OAAU) vào đầu thập niên 1960, trong bản tuyên bố "Hai mươi triệu người Mỹ gốc Phi – đó là tên gọi dành cho chúng tôi - những người Phi châu đang sinh sống tại Mỹ". Từ thập niên 1950, cầu thủ và huấn luyện viên bóng rổ thuộc NBA, Lenny Wilkens, đã sử dụng từ này khi ông, lúc ấy còn là một thiếu niên, điền mẫu đơn xin việc. == Dân số == Theo Cơ quan điều tra dân số Hoa Kỳ, năm 2005 có 39,9 triệu người Mỹ gốc Phi sinh sống ở Hoa Kỳ, chiếm 13,8% dân số toàn quốc. Theo thống kê năm 2000, có 54,8% người Mỹ gốc Phi sống ở miền Nam, 17,6% sống ở vùng Đông Bắc và 18,7% ở Trung Tây, trong khi chỉ có 8,9% cư trú tại những tiểu bang miền Tây. Năm 2000, có khoảng 88% người Mỹ gốc Phi sống ở các vùng đô thị. Thành phố New York có đông cư dân da đen nhất, vượt quá con số 2 triệu. Trong số các thành phố có dân số từ 100.000 trở lên, Gary, Indiana có tỉ lệ dân da đen cao nhất (85%), kế đó là Detroit, Michigan (83%), Atlanta, Georgia (65%), Philadelphia (43%) và Washington, D.C. (60%) được kể là những trung tâm dân cư người Mỹ gốc Phi lớn nhất Hoa Kỳ. == Lịch sử == === Thời kỳ nô lệ === Người da đen ở Mỹ là một cộng đồng cấu thành từ nhiều nhóm chủng tộc khác nhau. Có hơn 40 nhóm chủng tộc đến từ ít nhất 25 vương quốc ở Phi châu bị đem bán đến vùng đất mới Bắc Mỹ thuộc Đế quốc Anh (về sau là Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ) trong thời kỳ buôn nô lệ qua Đại Tây Dương. Các vương quốc Phi châu hùng cường dọc bờ biển thường bán những nhóm người này cho các thương buôn người Âu để đổi lấy các loại hàng hoá như hàng dệt và vũ khí. Ít khi xảy ra tình trạng người Phi bị người Âu bắt cóc, bởi vì người Âu không thể thâm nhập sâu vào nội địa. Những hiểm hoạ bệnh tật chết người luôn hiện hữu và các vương quốc hùng mạnh và hiếu chiến thường kiểm soát vùng duyên hải. Người Phi bị bán và trao đổi như những nô lệ và bị đem lên tàu vượt biển sang Hoa Kỳ đến từ tám khu vực buôn nô lệ ở Phi châu, bao gồm Senegambia (nay là Sénégal, Gambia, Guinée và Guiné-Bissau), Sierra Leone (bao gồm vùng đất ngày nay thuộc Liberia), Windward Coast (nay là Côte d'Ivoire), Gold Coast (nay là Ghana và vùng phụ cận), Bight of Benin (nay là Togo, Bénin và Tây Nigeria), Bight of Biafra (Nigeria phía nam sông Benue, Cameroon và Guinea Xích đạo), Trung Phi (Gabon, Angola, Cộng hoà Dân chủ Congo) và Mozambique và Madagascar. Những người nô lệ Phi châu đã mang theo họ tín ngưỡng, ngôn ngữ và văn hoá khi bị cưỡng bức lên tàu đến Tân Thế giới, tuy nhiên, những thương buôn và chủ nô đẩy mạnh những chiến dịch tàn bạo và có hệ thống nhằm tước bỏ bản sắc châu Phi, dần dần tiến đến việc loại bỏ hoàn toàn tên, ngôn ngữ và tín ngưỡng nguyên thuỷ của họ. Khi có thêm các phương tiện nô dịch, giới chủ nô cố ý sắp xếp nô lệ nói các ngôn ngữ khác nhau sống chung tại các nông trang và cấm họ sử dụng bất cứ ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Anh cũng như cấm họ học đọc học viết. Dần dà, người Phi ở Mỹ hình thành một bản sắc mới tập chú vào các điều kiện tương tác tại vùng đất mới đối nghịch với những ràng buộc lịch sử và văn hoá với châu Phi. Khoảng năm 1860, có 3,5 triệu người nô lệ bị đem vào miền Nam Hoa Kỳ, cùng với 500.000 người Phi đang sống tự do ở khắp đất nước. Sở hữu nô lệ là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong chính trị và xã hội Mỹ. Chủ trương bãi bỏ nô lệ có tiến triển và lên đến đỉnh điểm khi Abraham Lincoln đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 1860, dẫn đến hành động ly khai của Liên bang miền Bắc, và bùng nổ cuộc Nội chiến Mỹ (1861-1865). === Thời kỳ Tái thiết và sự kỳ thị chủng tộc === Khi nội chiến kết thúc với chiến thắng thuộc về miền Bắc, Hoa Kỳ công nhận các quyền dân sự dành cho người Mỹ gốc Phi. Bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ năm 1862 công bố rằng mọi nô lệ thuộc liên bang miền Nam đều được tự do chiếu theo luật pháp Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bản Tuyên ngôn lại có những ngoại lệ dành cho các nô lệ bị cầm giữ trong những vùng lãnh thổ không ly khai, như thế chẳng có nô lệ nào được giải phóng, bởi vì luật pháp Hoa Kỳ vào thời điểm ấy không có hiệu lực đối với Liên bang miền Nam. Đến khi Tu chính án thứ Mười ba của Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1865, tất cả nô lệ mới được tự do, kể cả những người đang sống ở các tiểu bang ly khai. Trong thời kỳ Tái thiết, người Mỹ gốc Phi ở miền Nam giành được quyền bầu cử và nắm giữ các chức vụ công, cũng như hưởng được một số quyền dân sự mà trước đây họ bị khước từ. Thế nhưng, khi Thời kỳ Tái thiết chấm dứt vào năm 1877, giới chủ đất miền Nam áp đặt một thể chế mới nhằm tước bỏ quyền công dân của người da đen và theo đuổi chủ trương phân biệt chủng tộc, từ đó bùng phát làn sóng khủng bố và áp bức, thể hiện qua các hình thức như xử tử bởi đám đông bạo hành mà không cần xét xử (lynching) và bạo hành trong đêm. Trong Thời kỳ Tiến bộ (1900-1917), người da đen thuộc giai cấp trung lưu có nhiều nỗ lực nhằm cải thiện điều kiện sống cho đồng bào của họ. Phong trào này phát triển mạnh nhất tại miền Nam trong các trường đại học dành cho người da đen như Đại học Tuskegee hay Đại học Atlanta, các tạp chí dành cho giới học thuật và trong giáo hội Episcopal (Anh giáo). Giống thành phần tiến bộ da trắng, những người tiến bộ da đen bắt tay trợ giúp giai cấp công nhân thông qua các chương trình từ thiện trong khi ủng hộ các thay đổi chính trị nhằm gia tăng vai trò của chính quyền trong nỗ lực kiến tạo sự công bằng trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội. Nhiều người da đen tiến bộ thuộc giới tinh hoa thường tìm đến những anh em cùng màu da để giúp đỡ, cũng giống như tính cách và hành động của những người da trắng tiến bộ đối xử với di dân đến từ Âu châu. Mặc dù những thành công của họ trong các nỗ lực nhân đạo, thành phần da đen tiến bộ lại không quan tâm đến các vấn đề như kỳ thị chủng tộc. Thay vào đó, họ quảng bá tinh thần đấu tranh sinh tồn với hi vọng người da đen, nhờ chăm chỉ làm việc và học vấn mà dần dà thăng tiến vị trí xã hội của mình. Trong thực tế, hoàn cảnh của đa số người da đen không được cải thiện bao nhiêu do chính sách phân biệt chủng tộc áp đặt bởi người da trắng, hỗ trợ bởi những cuộc bạo hành có hệ thống. Trong thập niên cuối của thế kỷ 19 ở Hoa Kỳ, các luật lệ kỳ thị và các cuộc bạo hành chủng tộc nhắm vào người Mỹ gốc Phi bắt đầu nở rộ. Giới cầm quyền được bầu cử, bổ nhiệm hoặc tuyển dụng bởi công dân da trắng khởi sự ban hành hoặc đỡ đầu các biện pháp kỳ thị, nhất là ở các tiểu bang Texas, Louisiana, Mississippi, Alabama, Georgia, Florida, Nam Carolina, Bắc Carolina, Virginia, Arkansas, Tennessee, Oklahoma và Kansas. Có bốn đạo luật kỳ thị hoặc cho phép kỳ thị chống lại người Mỹ gốc Phi được tán thành bởi phán quyết của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ trong vụ án Plessy v. Ferguson năm 1896 – cho phép chính quyền địa phương áp chế hoặc tước bỏ quyền bầu cử tại các tiểu bang miền nam, khước từ các cơ hội kinh tế hoặc các nguồn tài nguyên quốc gia, bao che các hành vi bạo lực cá nhân hay tập thể nhắm vào người da đen. Mặc dù sự kỳ thị hiện hữu trên toàn quốc, hệ thống phân biệt chủng tộc trong các lĩnh vực luật pháp, kinh tế, xã hội và các chuỗi bạo động chống lại người Mỹ gốc Phi ở các tiểu bang miền nam được biết đến nhiều nhất dưới tên Jim Crow. === Làn sóng di dân và Phong trào Dân quyền === Tình trạng khốn cùng của người Mỹ gốc Phi ở miền Nam đã kích hoạt đợt Di dân lớn vào đầu thế kỷ 20, cùng lúc với sự thăng tiến của giới tinh hoa trong thành phần trí thức và hoạt động văn hoá của cộng đồng da đen ở miền Bắc, hình thành phong trào chống chủ trương bạo động và kỳ thị người Mỹ gốc Phi, giống phong trào bãi bỏ chế độ nô lệ trước đó, thu hút nhiều thành phần chủng tộc khác nhau. Một trong số những nhóm này, Hiệp hội Quốc gia Thăng tiến cho Người Da màu (NAACP), phát động bởi nhà báo nổi tiếng hay nói thẳng, Ida B. Wells Barnett, tiến hành chiến dịch chống các vụ xử tử bởi đám đông bạo hành (lynching). Trong thập niên 1950, tổ chức này xúc tiến một loạt các thách thức pháp lý có tính toán cẩn thận nhằm xoá bỏ hệ thống kỳ thị Jim Crow, nổi bật nhất là vụ án "Brown chống Sở Giáo dục thành phố Topeka" (Brown v. Board), tiểu bang Kansas khi Tối cao Pháp viện phán quyết chủ trương phân biệt chủng tộc tại các cơ sở giáo dục công lập là vi hiến. Phán quyết của Tối cao Pháp viện trong vụ án Brown v. Board là ngả rẽ quyết định cho Phong trào Dân quyền Mỹ. Đấy là một phần trong chiến lược lâu dài nhằm đánh đổ hệ thống Jim Crow trong giáo dục công lập, bệnh viện, giao thông, nhân dụng và gia cư, giành quyền bình đẳng cho người Mỹ gốc Phi khi tiếp cận các tiện nghi kể trên cũng như bảo đảm quyền bầu cử của họ. Từ năm 1954 đến năm 1968, Phong trào Dân quyền nỗ lực nhắm vào mục tiêu bãi bỏ các hành vi kỳ thị chủng tộc ở chỗ riêng tư cũng như tại nơi công cộng đối với người Mỹ gốc Phi, nhất là tại miền nam Hoa Kỳ. Năm 1966 chứng kiến sự xuất hiện của Phong trào Sức mạnh Da đen, kéo dài từ năm 1966 đến 1975, mở rộng các mục tiêu của Phong trào Dân quyền bằng cách thêm vào những đòi hỏi về phẩm cách chủng tộc, độc lập về kinh tế và chính trị, cũng như giải phóng khỏi quyền lực da trắng. Một vài học giả bắt đầu gọi Phong trào Dân quyền là cuộc Tái thiết lần thứ hai. Phong trào Dân quyền và Phong trào Sức mạnh Da đen là đỉnh cao của những thế hệ bị áp bức và chứng kiến những sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Mỹ như vụ sát hại Emmet Till, Rosa Parks và cuộc tẩy chay xe buýt ở Montgomery, Alabama, vụ kỳ thị ở Little Rock, Arkansas, rất nhiều vụ biểu tình ngồi (sit-in), các cuộc tuần hành vì tự do, cuộc Diễu hành đến Washington vì Việc làm và Tự do năm 1963 và các sự kiện khác. Cuộc Diễu hành đến Washington vì Việc làm và Tự do cùng các điều kiện đã giúp hình thành cuộc diễu hành được cho là các nhân tố tạo nên áp lực đối với Tổng thống John F. Kennedy, sau đó là Lyndon B. Johnson, vận động thông qua Đạo luật Dân quyền năm 1964 cấm đoán tất cả hành động kỳ thị tại các tiện nghi công cộng, trong tuyển dụng nhân lực và trong các nghiệp đoàn lao động. Chiến dịch "Mùa hè Tự do Mississippi" năm 1964 tạo cơ hội cho hàng ngàn thanh niên đầy ắp lý tưởng, da đen và da trắng, điều hành các "trường học tự do" nhằm dạy các kỹ năng đọc viết, lịch sử và công dân giáo dục trong khi những thiện nguyện viên khác vận động người da đen đăng ký bầu cử. Các mùa hè này được ghi dấu bởi những hành động quấy rối, đe dọa và bạo động nhắm vào những người hoạt động cho dân quyền cũng như những gia đình đón tiếp họ. Sự mất tích của ba thanh niên, James Chaney, Andrew Goodman và Michael Schwerner, tại Philadelphia và Mississippi thu hút sự quan tâm của công luận trên toàn quốc. Sáu tuần sau, người ta tìm thấy thi thể bị đánh đập dã man của Chaney, một thanh niên da đen, trong một bãi đầm lầy cùng với thi thể của hai người bạn da trắng, cả hai đều bị bắn chết. Cơn phẫn nộ của công luận đối với "Mùa hè Mississippi đẫm máu" và sự tàn bạo của những kẻ giết người giúp thúc đẩy việc thông qua Đạo luật Quyền Bầu cử năm 1965. Đạo luật đã đánh đổ những rào cản từng ngăn trở không cho người da đen hưởng quyền bầu phiếu và là một thắng lợi tạo tiền đề cho việc thông qua các đạo luật dân quyền khác trong hơn một thập niên. Đến lúc này, những người Mỹ gốc Phi vẫn nghi ngờ về tính hiệu quả của chủ trương phản kháng bất bạo động bắt đầu có nhiều ảnh hưởng. Các thủ lĩnh da đen chủ trương bạo động như Malcolm X thuộc tổ chức Dân tộc Hồi giáo và Eldridge Cleaver thuộc Đảng Báo đen, kêu gọi người da đen tự phòng vệ và sử dụng các biện pháp bạo động nếu cần. Từ giữa thập niên 1960 đến giữa thập niên 1970, phong trào Báo đen thúc giục người Mỹ gốc Phi hướng về châu Phi để tìm kiếm sự soi dẫn và nhấn mạnh đến tình đoàn kết da đen hơn là tinh thần hoà nhập. Trong khi Phong trào Dân quyền đạt được đỉnh cao sức mạnh của mình vào thập niên 1960 dưới sự dẫn dắt của những nhà lãnh đạo như Martin Luther King, Jr., Whitney Young và Roy Wilkins, Sr., thì các phát ngôn nhân của tổ chức Dân tộc Hồi giáo như Malcolm X, sau này là Stokeley Carmichael, Đảng Báo đen, và tổ chức Cộng hòa Tân Phi châu kêu gọi người Mỹ gốc Phi theo đuổi chủ nghĩa dân tộc da đen và kiến tạo quyền lực da đen, quảng bá các ý tưởng về thống nhất, đoàn kết châu Phi (đen) và chủ thuyết Liên Phi. Đến cuối thập niên 1960, một số nhà hoạt động dân quyền và các thủ lĩnh chủ trương liên Phi bị ám sát, trong đó có Medgar Evers, Malcolm X, Martin Luther King, Jr. và Fred Hampton. Tuy nhiên, khi ấy người Mỹ gốc Phi đã đạt được những bước tiến căn bản trong lĩnh vực kinh tế và chính trị nhờ những nỗ lực trong thời kỳ đấu tranh cho dân quyền. == Các vấn đề hiện tại == Kể từ Phong trào Dân quyền, nhiều người Mỹ gốc Phi đã đạt được những thăng tiến quan trọng cho vị trí của mình trên nấc thang xã hội, trong khi những thập niên gần đây chứng kiến sự phát triển về quy mô của người Mỹ gốc Phi thuộc giai cấp trung lưu trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Mặc dù những cơ hội chưa từng có đã giúp người Mỹ da đen tiếp cận hệ thống giáo dục đại học và tuyển dụng nhân lực, do những tàn dư của chế độ nô lệ và sự kỳ thị chủng tộc, người da đen vẫn là một cộng đồng tụt hậu về kinh tế, giáo dục và xã hội nếu so sánh với người da trắng. Các vấn đề nan giải trong chính trị, kinh tế, xã hội đối với người Mỹ gốc Phi là việc khó tiếp cận các chương trình chăm sóc sức khoẻ, chủ nghĩa chủng tộc trong các định chế, phân biệt trong gia cư, giáo dục, cảnh sát, tư pháp và nhân dụng; cũng có các vấn nạn về nghèo khổ và bị lạm dụng. Nghèo khổ là vấn nạn lớn khi liên quan đến các tổn thương tinh thần trong cuộc sống hôn nhân và biện pháp giải quyết, các vấn đề về sức khoẻ, trình độ học vấn thấp, mất quân bình trong các chức năng tâm lý và tội phạm. Năm 2004, có 24,7% gia đình người Mỹ gốc Phi được xem là sống dưới mức nghèo. Ảnh hưởng của các hoạt động tội phạm như giết người, buôn ma tuý và trấn lột khiến các cộng đồng người Mỹ gốc Phi càng nghèo khổ hơn và đang là một vấn đề nghiêm trọng. Năm 1995, một phần ba nam giới người Mỹ gốc Phi ở độ tuổi từ 20 đến 29 từng chịu một hình thức chế tài vì dính líu đến tội phạm (giam giữ trong tù, quản chế hoặc tù treo). Một số thống kê cho thấy người Mỹ gốc Phi phạm tội giết người, bị giết hoặc bị giam giữ bảy lần nhiều hơn người da trắng. Tuy vậy, các cuộc nghiên cứu khác chỉ ra rằng sẽ là sai lầm nếu nối kết nguồn gốc chủng tộc với mức phạm tội cao, nhưng có lẽ trình độ học vấn và địa vị xã hội là nguyên nhân dẫn đến tập quán phạm tội. Tỷ lệ các vụ sát nhân và các hình thức bạo hành khác của người Mỹ gốc Phi là cao hơn so với các cộng đồng dân cư da trắng hoặc các chủng tộc khác có chung hoàn cảnh (tụt hậu về kinh tế). Người Mỹ gốc Phi thường là đối tượng của việc phân loại hồ sơ dựa theo yếu tố chủng tộc, cũng dễ bị nhìn xem là hình mẫu tiêu cực trong xã hội. Theo Hiệp hội Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ, đàn ông da đen có nguy cơ tử vong vì bệnh tim 20% cao hơn người da trắng, và nam giới da đen có tỷ lệ mắc bệnh huyết áp cao đứng đầu thế giới. Tỷ lệ sinh con ngoài hôn nhân trong vòng người da đen cao hơn tỷ lệ bình quân cả nước, 56% trẻ da đen sinh ra trong những gia đình mà người mẹ không có ràng buộc hôn nhân chính thức với cha của đứa trẻ. Năm 1998, con số các bà mẹ độc thân chiếm 54% gia đình người Mỹ gốc Phi. == Điều kiện kinh tế == Tình trạng kinh tế của cộng đồng người Mỹ gốc Phi, nói chung, đang là một vấn đề gây tranh cãi, khi các con số thống kê tính đến những tàn dư của quá trình kỳ thị trong quá khứ lẫn sự tăng trưởng bền vững trong đại bộ phận dân số Hoa Kỳ, cũng như sự phồn vinh của cộng đồng nếu so sánh với các quốc gia bên ngoài nước Mỹ. Lợi tức trung bình của người Mỹ gốc Phi xấp xỉ 65% lợi tức của dân "da trắng", tức là "những người có nguồn gốc chủng tộc từ Âu châu, Trung Đông hoặc Bắc Phi", theo các con số thống kê. Sự cách biệt này lớn nhất khi mức lợi tức được tính ở nấc thang cao nhất, mặc dù rõ ràng là thành phần giàu có nhất khó được xem là biểu trưng cho toàn thể cộng đồng, da trắng hoặc da đen. Theo danh sách những người giàu nhất của tạp chí Forbes, tài sản trị giá 800 triệu đôla trong năm 2000 của Oprah Winfrey đã đặt cô vào vị trí người Mỹ gốc Phi giàu nhất trong thế kỷ 20, thật thảm hại khi so sánh với con số 100 tỷ đôla trị giá tài sản của Bill Gates trong năm 1999, khi Gates được xếp thứ nhất trong danh sách những người Mỹ da trắng giàu nhất thế kỷ 20. Tuy nhiên, trong danh sách năm 2004 của Forbes, trị giá tài sản của Gates chỉ còn 46,6 tỷ đôla trong khi tài sản của Winfrey tăng lên 1,4 tỷ đôla, củng cố vị trí của cô như là người Mỹ gốc Phi giàu nhất thế kỷ 20, tỉ phú da đen duy nhất trên thế giới, xếp thứ 235 trong danh sách những người giàu nhất nước Mỹ năm 2005, thứ 562 trong số những người giàu nhất thế giới và là một trong những nhân vật vừa giàu nhất vừa có ảnh hưởng lớn nhất tại Hoa Kỳ. Mặc dù nhiều người Mỹ gốc Phi vẫn sống dưới mức nghèo, những chỉ số gần đây cho thấy khoảng cách giàu nghèo đang thu hẹp dần. Kể từ cuối thập niên 1990, mức lợi tức của người da đen gia tăng đáng kể - thành phần hạ lưu đang thu hẹp dần trong khi giai cấp trung lưu đang phát triển mạnh, và tình trạng tương tự đang diễn ra trong giới giàu có. Hơn 1,7 triệu người Mỹ gốc Phi đã vượt qua ngưỡng nghèo; khoảng cách giữa mức lợi tức của phụ nữ da đen và phụ nữ da trắng nay chỉ còn một vài phần trăm; tỷ lệ thất nghiệp ở người da đen trong những năm gần đây ở dưới mức 10%. Tỷ lệ người nghèo từ 26,5% trong năm 1998 còn 24,7% năm 2004. Năm 2003, yếu tố giới tính thay thế yếu tố chủng tộc để trở nên nhân tố chính kéo dài tuổi thọ ở Hoa Kỳ, với sự kiện phụ nữ Mỹ gốc Phi sống lâu hơn nam giới da trắng sinh cùng năm. Khoảng cách tuổi thọ giữa người da trắng (78,0) và da đen (72,8) giảm 5,2 năm, biểu thị chiều hướng lâu dài của hiện tượng này. Năm 2004, công nhân da đen có mức lợi tức trung bình xếp hạng thứ nhì trong các cộng đồng thiểu số tại Mỹ, chỉ sau cộng đồng Mỹ gốc Á. Tương tự, trong các nhóm thiểu số, chỉ có người Mỹ gốc Á là có nhiều cơ may hơn người Mỹ gốc Phi trong việc nắm giữ các công việc văn phòng (quản trị, chuyên gia và các lãnh vực liên quan). Năm 2001, hơn một nửa gia đình Mỹ gốc Phi kiếm được 50.000 đôla hoặc hơn trong một năm. Nhìn chung, người Mỹ gốc Phi tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị hơn các nhóm thiểu số khác với tỷ lệ cử tri đi bầu ở mức cao nhất trong năm 2004. == Văn hoá == Trong khi chia sẻ những điểm chung với các gia đình Mỹ khác, người Mỹ gốc Phi giữ riêng cho mình những nét đặc thù liên quan đến thời điểm cũng như phương cách xây dựng hôn nhân và tổ chức gia đình, vai trò của giới tính, cung cách làm cha mẹ và những biện pháp đối phó với khó khăn. Trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi, sự hình thành một gia đình thường không khởi đầu bằng một cuộc hôn nhân, mà bằng sự kiện một đứa trẻ chào đời. Một gia đình da đen tiêu biểu thường tôn trọng tôn ti trật tự và tỏ ra nghiêm nhặt trong việc tuân giữ các chuẩn mực đạo đức, cũng áp dụng các biện pháp kỷ luật về thể xác. Ông bà, đặc biệt là bà, thường thủ giữ vai trò chủ chốt trong việc bảo vệ gia đình. Khi các bà mẹ không thể đảm đương nhiệm vụ của mình, bà sẽ bước vào bắt tay chăm sóc và dạy dỗ bọn trẻ. Năm 1998, có 1,4 triệu, tức 12%, trẻ da đen sống với ông bà (dù chúng có cha mẹ hay không). Mặt khác, khi về già ông bà được chăm sóc bởi các thành viên còn lại trong đại gia đình. Trong số các cộng đồng chủng tộc sinh sống ở Hoa Kỳ, người Mỹ gốc Phi được xem là cộng đồng quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề tâm linh. Theo các cuộc thăm dò thực hiện năm 2006 của Nhóm Barna (một tổ chức đặt trụ sở tại California, chuyên khảo sát các lĩnh vực tôn giáo), có 52% người da đen tham dự các buổi lễ tôn giáo hàng tuần [1], 95% có cầu nguyện trong tuần [2] và 66% có đọc Kinh Thánh [3]. Sức mạnh văn hoá của gia đình người Mỹ gốc Phi thể hiện trong lĩnh vực tâm linh, tinh thần tương trợ, bản sắc chủng tộc, cấu trúc gia đình rộng mở, và nhà thờ. Những nhân tố này được xem là nguồn lực hỗ trợ trong ý thức hệ và trong thực tế cuộc sống. Các món ăn của cộng đồng người Mỹ gốc Phi sản sinh trong hoàn cảnh bị áp bức về chủng tộc và kinh tế. Dưới chế độ nô lệ, người Mỹ gốc Phi không được phép ăn những phần thịt ngon, còn sau khi được giải phóng nhiều người không đủ tiền để mua thịt. Soul food, những món ăn có nguồn gốc từ châu Phi, không chỉ được ưa thích trong vòng người Mỹ gốc Phi ở miền nam mà còn phổ biến trong cộng đồng da đen trên toàn quốc, với nhiều sáng tạo trong công thức chế biến từ những sản phẩm rẻ tiền thu hoạch được ở nông trang cũng như do săn bắt và câu cá. Âm nhạc của người Mỹ gốc Phi (còn gọi là âm nhạc da đen) hiện diện khắp nơi trong văn hoá Mỹ gốc Phi. Tổ tiên người Mỹ gốc Phi bị đem đến Bắc Mỹ để làm nô lệ tại các nông trường bông vải, đã mang theo họ các ca khúc phức điệu (polyphonic) tiêu biểu từ hàng trăm nhóm chủng tộc trên khắp vùng Tây Phi và Hạ Sahara. Tại Mỹ, truyền thống văn hoá đa dạng hoà quyện với các thể loại âm nhạc phương Tây như polka, waltz... tạo nên một loại hình âm nhạc độc đáo của các cộng đồng Mỹ gốc Phi. Có nhiều thay đổi lớn trong các giai đoạn sau này, đến thế kỷ 21, các thể loại âm nhạc của người Mỹ gốc Phi chiếm vị trí thống trị trong dòng nhạc phổ thông trên khắp thế giới như nhạc rap, nhảy hiphop. Xuyên suốt các cộng đồng người Mỹ gốc Phi trên khắp Hoa Kỳ, âm nhạc da đen thể hiện những khía cạnh đa dạng và phức tạp của văn hoá và cuộc sống đương đại cũng như trong lịch sử của người Mỹ gốc Phi. == Ảnh hưởng == Từ những ngày đầu tiên đặt chân lên Bắc Mỹ trong thân phận nô lệ, người Phi và người Mỹ gốc Phi đã có nhiều đóng góp sáng tạo cho văn học, nghệ thuật, kỹ năng nông nghiệp, thực phẩm, kiểu dáng trang phục, âm nhạc, ngôn ngữ trong văn hoá Mỹ. Âm nhạc Mỹ gốc Phi là một trong những ảnh hưởng văn hoá Mỹ gốc Phi lan toả rộng nhất ở nước Mỹ ngày nay cũng như trong dòng nhạc phổ thông trên khắp thế giới. Hip hop, R&B, funk, soul, techno và các loại hình âm nhạc Mỹ đương đại khác đều sản sinh từ các cộng đồng da đen, biến thể từ nhạc blues, jazz và nhạc phúc âm, gospel. Âm nhạc Mỹ gốc Phi cũng gây ảnh hưởng và nối kết với hầu hết các loại hình nhạc phổ thông trên thế giới. Các ca sĩ, diễn viên nổi tiếng người Mỹ gốc Phi và có sức ảnh hưởng cực lớn tới thế giới như Ông hoàng nhạc Pop Michael Jackson, diva huyền thoại Whitney Houston, nữ ca sĩ kiêm diễn viên Beyoncé, nữ danh ca Diana Ross, huyền thoại nhạc Soul Aretha Franklin, những giọng ca nhạc gospel nổi tiếng như Cissy Houston, Dionne Warwick (mẹ và chị họ của Whitney Houston) Nhiều tác giả sáng tác tiểu thuyết, thi ca và tiểu luận từ những trải nghiệm sống của người Mỹ gốc Phi, và văn học Mỹ gốc Phi chiếm vị trí quan trọng trên văn đàn Mỹ. Trong số các tác giả nổi tiếng có Langston Hughes, James Baldwin, Richard Wright, Zora Neale Hurston, Ralph Ellison, Toni Morrison và Maya Angelou. Nhiều sáng chế của người Mỹ gốc Phi được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới. Mặc dù hầu hết các nhà phát minh nô lệ đều là vô danh, một nô lệ của Tổng thống Liên bang miền Nam Jefferson Davis đã thiết kế chân vịt tàu thuỷ, được lắp đặt cho tất cả tàu thuyền của hải quân miền Nam. Sau Nội chiến, thành phần chủng tộc thiểu số, trong đó có người Mỹ gốc Phi đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng vượt bậc của nền công nghiệp Mỹ. Đến năm 1913 có hơn 1.000 ngàn sáng chế đã đăng ký của người Mỹ gốc Phi. Trong số những nhà phát minh nổi bật nhất có Jan Matzeliger, phát triển máy sản xuất giày với số lượng lớn, Elijah McCoy, sáng chế các thiết bị bôi trơn tự động cho máy hơi nước. Granville Woods đã có 35 bằng sáng chế cải tiến hệ thống đường ray xe điện kể cả hệ thống giúp tàu hoả có thể liên lạc khi đang di chuyển... Có nhiều tên tuổi lớn trong các lĩnh vực thể thao, nghệ thuật, âm nhạc là người Mỹ gốc Phi. Trong những thập niên gần đây, người Mỹ gốc Phi cũng nắm giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy tư pháp và trong Chính phủ Hoa Kỳ; ngoài Clarence Thomas là người Mỹ gốc Phi thứ nhì (sau Thurgood Marshall) được bổ nhiệm vào Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ năm 1991, thì Colin Powell là người Mỹ gốc Phi đảm nhiệm chức vụ cao nhất trong chính phủ liên bang, Powell được bổ nhiệm Ngoại trưởng Hoa Kỳ năm 2000, sau khi phục vụ trong cương vị Cố vấn An ninh Quốc gia (1987-1989) và Chủ tịch Liên quân (1989-1993). Người kế nhiệm Powell trong chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao từ năm 2004, Condoleezza Rice, là phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên phục vụ chính phủ trong vị trí này; trước đó Rice là Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống George W. Bush (2000-2004). Những thành quả người Mỹ gốc Phi giành được qua Phong trào Dân quyền và Phong trào Sức mạnh Da đen không chỉ bảo đảm một số quyền căn bản cho người da đen mà còn thay đổi sâu sắc và toàn diện xã hội Hoa Kỳ. Trước thập niên 1950, người Mỹ vẫn sống dưới bóng của chế độ nô lệ và luật lệ kỳ thị chủng tộc (Jim Crow), nhưng như lời của Martin Luther King, Jr., người Mỹ gốc Phi và những người ủng hộ họ đã thách thức nước Mỹ "trỗi dậy để sống đúng với ý nghĩa thật của niềm xác tín rằng mọi người sinh ra trong bình đẳng..." (Tôi Có một Giấc mơ). Phong trào Dân quyền đánh dấu một sự thay đổi triệt để trong xã hội, chính trị, kinh tế và đời sống dân sự Hoa Kỳ. Nó xuất hiện với các cuộc tẩy chay, biểu tình ngồi lỳ (sit-in), tuần hành, kiện tụng, đánh bom và những hình thức bạo động khác; đã thúc đẩy các phương tiện truyền thông toàn cầu và mở ra các cuộc tranh luận gay gắt; hình thành các liên minh dân sự, kinh tế và tôn giáo; phân hoá và hàn gắn hai chính đảng lớn nhất đất nước; làm thay đổi mối quan hệ giữa người da trắng và người da đen, cũng như cách xử sự giữa mọi người với nhau. Điều quan trọng hơn hết là phong trào đã gỡ bỏ tinh thần kỳ thị chủng tộc khỏi đời sống và luật pháp Hoa Kỳ, thăng tiến các quyền tự do dân sự và xã hội mà nhiều người Mỹ thuộc các nền văn hoá khác nhau vẫn hằng mong đợi. Những tiền lệ được thiết lập bởi Phong trào Dân quyền trong khía cạnh chiến lược và chiến thuật, cũng như những mục tiêu mà nó đã đạt được, đã tác động lên Phong trào Tự do Ngôn luận, cuộc đấu tranh của công nhân nông trại và lao động nhập cư thuộc nghiệp đoàn Công nhân Nông trại Hiệp nhất, Phong trào Người Da đỏ Mỹ, những nỗ lực bảo đảm quyền bình đẳng dành cho phụ nữ, người tàn tật và các cộng đồng thiểu số khác. == Ai là người Mỹ gốc Phi? == Câu trả lời tiêu biểu là bất cứ người nào có tổ tiên là người Phi châu da đen. Định nghĩa này biểu thị những kinh nghiệm kéo dài trong suốt thời kỳ phân biệt chủng tộc, quyền tối thượng của người da trắng, chế độ nô lệ và hệ thống luật lệ phân biệt màu da. Tại miền nam Hoa Kỳ, có luật một giọt máu, nghĩa là chỉ cần có một giọt "máu đen" là người da đen. Khi một người mang dòng máu lai thì người ấy sẽ được xem là thuộc về nhóm chủng tộc "hạ đẳng" trong hai dòng máu ấy. Đến từ miền nam, nó được xem là định nghĩa chuẩn trên toàn quốc, được cả người da trắng lẫn người da đen chấp nhận – vì những lý do khác nhau. Người ủng hộ quyền tối thượng của người da trắng, tức người chủ trương kỳ thị chủng tộc, xem bất cứ ai có nguồn gốc châu Phi da đen là thua kém về đạo đức và trí tuệ, như thế là thuộc thành phần hạ đẳng. Trong thời kỳ nô lệ, do những động cơ kinh tế giới chủ nô tìm mọi cách nâng cao đến mức tối đa số nô lệ hầu bảo đảm nguồn lao động rẻ tiền trong vào giai đoạn ấy cũng như trong những thập niên kế tiếp. Trong khi đó, đối với người Mỹ gốc Phi, hệ thống một giọt máu phân biệt con người theo màu da là nhân tố quan trọng đóng góp cho tinh thần đoàn kết trong các cộng đồng chủng tộc thiểu số. Người Mỹ gốc Phi chia sẻ với nhau nhiều điều trong xã hội, và vì vậy có chung một chính nghĩa - bất kể những pha trộn đa chủng hoặc những phân tầng về xã hội và kinh tế. Người Mỹ da trắng, người da đỏ, người Á châu hoặc Ả Rập vẫn không được nhìn nhận là người Mỹ gốc Phi sinh sống ở Hoa Kỳ, dù cho tổ tiên của họ di cư từ lục địa Phi. Trong một số trường hợp, có những người da trắng Nam Phi, người Bắc Phi gốc Âu hoặc người Á đến từ Phi châu tự đồng hoá mình với người Mỹ gốc Phi hầu có thể hưởng lợi từ luật Affirmative Action (dành đặc quyền cho các chủng tộc thiểu số) hoặc những chương trình khác, nhưng luận điểm của họ thường không đứng vững. == Thống kê == Bảng kê dưới đây biểu thị số người Mỹ gốc Phi trải qua các thời đại, dựa trên số liệu của Văn phòng Thống kê Hoa Kỳ (Từ năm 1920 đến 2000 dựa trên số liệu của Văn phòng Thống kê Hoa Kỳ, phổ biến bởi Time Almanac năm 2005, trang 377) Ghi chú: Theo Dữ liệu Thống kê CIA, năm 2005, tỷ lệ này là 13,5%[4] == Chú thích == == Đọc thêm == Jack Salzman, ed., Encyclopedia of Afro-American culture and history, New York, NY: Macmillan Library Reference USA, 1996 African American Lives, edited by Henry L. Gates, Evelyn Brooks Higginbotham, Oxford University Press, 2004 - more then 600 biographies From Slavery to Freedom. A History of African Americans, by John Hope Franklin, Alfred Moss, McGraw-Hill Education 2001, standard work, first edition in 1947 Black Women in America - An Historical Encyclopedia, Darlene Clark Hine (Editor), Rosalyn Terborg-Penn (Editor), Elsa Barkley Brown (Editor), Paperback Edition, Đại học Indiana Press 2005 van Sertima, Ivan "They Came Before Columbus" == Tham khảo == Brandon S. Centerwall, "Race, Socioeconomic Status and Domestic Homicide, Atlanta, 1971-72," 74 AM. J. PUB. HLTH. 813, 815 (1984) Darnell F. Hawkins, "Inequality, Culture, and Interpersonal Violence," 12 HEALTH AFFAIRS 80 (1993) Jerome A. Neapolitan, "Cross-National Variation in Homicide; Is Race A Factor?" 36 CRIMINOLOGY 139 (1998) Bohlen, C. "Does She Say the Same Things in her Native Tongue?" New York Times, ngày 18 tháng 5 năm 1986 Felder, J. (1992) From the Statue of Liberty to the Statue of *Bigotry. New York: Jack Felder. Felder, J. "Black Origins and Lady Liberty." Daily Challenge. ngày 16 tháng 7 năm 1990 Sinclair, T. Was Original Statue a Tribute to Blacks? New York Voice, ngày 5 tháng 7 năm 1986 The New York Post, "Statue of Liberty" ngày 17 tháng 6 năm 1986. Altman, Susan "The Encyclopedia of African-American Heritage" == Liên kết ngoài == Định nghĩa Người Mỹ gốc Phi của MedicineNet Về những Vấn nạn trong Định nghĩa Người Mỹ gốc Phi Vũ khí và Luật pháp
trường trung học phổ thông trần phú - hoàn kiếm.txt
Trường Trung học Phổ thông Trần Phú - Hoàn Kiếm, tiền thân là Trường Petit Lycée, rồi Trường Albert Sarraut. Là một trong các trường trung học phổ thông công lập hệ không chuyên nổi tiếng với lịch sử lâu đời và chất lượng giáo dục hàng đầu được đánh giá cao trong số các trường trung học phổ thông của thủ đô.Trường thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. == Lịch sử == Năm 1919, Pháp cho thành lập hai trường Trung học dành cho tầng lớp cao tại Đông Dương, là trường Grand Lycée và Petit Lycée. Trường Petit Lycée đào tạo các lớp dưới, 11 đến 15 tuổi, trường Grand Lycée đào tạo các lớp trên, 16 đến 18 tuổi. Trường Petit Lycée chính là trường Trần Phú ngày nay. Năm 1923, trường Grand Lycée được đổi tên là Trường Albert Sarraut, năm 1954 thì chuyển hoàn toàn về trường Petit Lycée, đào tạo toàn bộ tại đây. Sau đó xoá bỏ tên Albert Sarraut. Năm 1960, trường này được phân chia thành buổi sáng là trường phổ thông trung học Hoàn Kiếm, buổi chiều là trường phổ thông trung học Trần Phú, lấy theo tên của nhà hoạt động cách mạng, tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1995, hai trường này sáp nhập, lấy tên là trường Trung học Phổ thông Trần Phú. Đến tháng 2 năm 2009 trường đổi tên thành trường Trung học phổ thông Trần Phú - Hoàn Kiếm (để phân biệt với một trường cùng tên trên địa bàn Hà Nội 2). == câu lạc bộ == Humans of Tran Phu (HoTP) Tran Phu's Dance (TPD) Wizards of Tran Phu (WoTP) Bóng rổ Trần Phú Music of Tran Phu (MoTP) Clb truyền thông trẻ (2M) == Danh sách hiệu trưởng == Đỗ Xuân Vọng: 1960-1967 Nguyễn Đức Thanh: 1967-1971 phân hiệu thôn Ngọc Chi giữ tên trường Phổ thông Công nghiệp cấp 3 Hà Nội Lê Mới: 1967-1971 phân hiệu thôn Thành Công lấy tên trường Phổ thông Công nghiệp cấp 3 Hoàn Kiếm Trịnh Cương: 1971- trường sáng Phổ thông Công nghiệp cấp 3 Hà Nội Phạm Xuân Vị: 1971- trường chiều Phổ thông Công nghiệp cấp 3 Hoàn Kiếm Trần Đức Sinh: trường Phổ thông Công nghiệp cấp 3 Hoàn Kiếm Hoàng Xuân Hoài: Dương Xuân Hiển: 1975- Hoàng Trọng Tuấn: Nguyễn Chính Nghĩa 1985 Nguyễn Hữu Chiệu: - 2012 Bùi Thị Minh Nga: (quyền hiệu trưởng) 2012- trường Trung học Phổ thông Trần Phú - Hoàn Kiếm Phạm Đức Doanh: 2013-nay == Các cựu học sinh trường Albert Sarraut == Một số nhân vật nổi tiếng tốt nghiệp từ trường này: Đạo diễn Khái Hưng (1896 - 1947) Nhà văn Thạch Lam (1910 - 1942) Bác sĩ Hồ Đắc Di (1900-1984) Trường Chinh (1907-1988) Nhà giáo dụcHoàng Xuân Hãn (1908–1996) Nguyễn Mạnh Tường (luật sư) (1909–1997) Hoàng thân Souphanouvong (1909-1995) Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911-2013) Nguyễn Thúc Hào (1912-2009) Nhà văn Vũ Bằng (1913-1984) Hoàng Văn Chí (1913-1988) Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938) Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976) Phu nhân Trần Lệ Xuân (1924-2011) Nhạc sĩ Văn Phụng (1930-1999) Hot teen Mẫn Tiên Hot face Phí Phương Anh == Thành tích == Huân chương Lao động hạng Ba 1965 Huân chương Lao động hạng Ba 1990 Huân chương Lao động hạng Nhì 2000 == Xem thêm == Trường Trung học Albert Sarraut == Chú thích == == Liên kết ngoài == (tiếng Anh) Photo of classes at Lycée Albert Sarraut in 1939-1940 Lycée Albert Sarraut Lycée Albert Sarraut in Hanoi, Vietnam (tiếng Việt) Website chính thức Diễn đàn học sinh Trần Phú
ayoreo.txt
Ayoreo (Ayoreode, Ayoréo, Ayoréode) là nhóm thổ dân bản địa sống ở Gran Chaco, khu vực nẳm giữa các sông Paraguay, Pilcomayo, Parapetí và Grande, kéo dài đến Bolivia và Paraguay. Họ nói tiếng Ayoreo, ngôn ngữ được xếp vào nhóm Zamucoan, một họ ngôn ngữ nhỏ của Paraguay và Bolivia. Ayoreo sống bằng cách hái lượm-săn bắn kết hợp trồng trọt, tùy theo mùa trong năm. Có vài ghi nhận về kiểu shamanism ("nainai", shaman). == Chú thích == == Tài liệu == Bremen, Voker von (2000). “Dynamics of Adaptation to Market Economy among the Ayoréode of Northwest Paraguay”. Trong Schweitzer, Peter P.; Biesele, Megan; Hitchcock, Robert K. Hunters & Gatherers in the Modern World. Conflict, Resistance, and Self-Determination. Berghahn Books. tr. 275–286. ISBN 157181101X. fPcN Germany (2004). Gran Chaco: The wilderness die (Both downloadable and streamed video) (Documentary). Friends of Peoples close to Nature. (tiếng Đức) Iniciativa Amotocodie (2005–2007). “The Ethnic Group of the Ayoreo”. Sebag, Lucien (24 tháng 4 năm 1965). “Le chamanisme ayoréo”. L'Homme. Revue Française d'Anthropologie (bằng tiếng Pháp) (Paris) 5 (1): 5–32. Sebag, Lucien (24 tháng 4 năm 1965). “Le chamanisme ayoréo (II)”. L'Homme. Revue Française d'Anthropologie (bằng tiếng Pháp) (Paris) 5 (2): 92–122. Survival International (2009). “The Ayoreo-Totobiegosode”. Survival International • The movement for tribal peoples. The site includes news, images, songs. Survival International. “Before contact — on the run”. WRM (tháng 7 năm 2005). “Paraguay: Two pieces of good news for the Totobiegosode and for Humanity”. World Rainforest Movement. == Liên kết ngoài == fPcN Germany (2004). Gran Chaco: The wilderness die (Both downloadable and streamed video) (Documentary). Friends of Peoples Close to Nature. (tiếng Đức) Ayoreo man recounts first encounter with bulldozer (streamed video). Survival International. “The Ayoreo-Totobiegosode”. Survival International • The movement for tribal peoples. The site includes news, images, songs.
vùng đô thị liverpool.txt
Vùng đô thị Liverpool (tiếng Anh: Liverpool Urban Area) là thuật ngữ mà Cơ quan Thống kê Quốc gia của Anh dùng để gọi khu vực đô thị mà Liverpool là đô thị lõi và các đô thị lân cận là đô thị vệ tinh. Theo Cơ quan nói trên, Vùng đô thị Liverpool gồm các thành phố với dân số như sau: == Tham khảo == == Xem thêm == Chuối Xanh
chủ nghĩa kinh nghiệm.txt
Chủ nghĩa kinh nghiệm hay chủ nghĩa duy nghiệm (Empiricism) là một khuynh hướng lý thuyết về tri thức triết học với đặc điểm nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm. Trải nghiệm có thể được hiểu là bao gồm tất cả các nội dung của ý thức hoặc nó có thể được giới hạn trong dữ liệu của các giác quan mà thôi. Chủ nghĩa kinh nghiệm nhấn mạnh đến các khía cạnh của tri thức khoa học có quan hệ chặt chẽ với trải nghiệm, đặc biệt khi được tạo ra qua các sắp đặt thử nghiệm có chủ ý. Một yêu cầu căn bản của phương pháp khoa học là tất cả các giả thuyết và lý thuyết đều phải được kiểm nghiệm bằng các quan sát về thế giới tự nhiên thay vì chỉ dựa trên lập luận tiên nghiệm, trực giác, hay mặc khải. Do đó, về bản chất, khoa học được xem là theo lối kinh nghiệm một cách có phương pháp. == Tổng quan về chủ nghĩa kinh nghiệm trong triết học == Học thuyết đầu tiên về chủ nghĩa kinh nghiệm được phát biểu một cách tường minh bởi John Locke vào thế kỷ XVII. Locke cho rằng tâm thức là một tabula rasa (tấm bảng sạch) trước khi các trải nghiệm lưu dấu vết của mình lên đó. Chủ nghĩa kinh nghiệm như của Locke phủ nhận rằng con người có các ý niệm bẩm sinh hay cái gì đó nhận biết được mà không phải tham chiếu tới trải nghiệm. Chủ nghĩa kinh nghiệm không cho rằng ta có được các tri thức kinh nghiệm một cách tự động. Thay vào đó, theo quan điểm của các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa, để cho một tri thức bất kỳ có thể được suy luận hoặc suy diễn một cách đúng đắn, tri thức đó phải bắt nguồn từ trải nghiệm giác quan của ta. Về mặt lịch sử, chủ nghĩa kinh nghiệm triết học thường được đặt đối lập với trường phái tư tưởng được gọi là "chủ nghĩa duy lý", trường phái này khẳng định rằng nhiều tri thức có thể quy cho lý tính một cách độc lập với các giác quan. Tuy nhiên, ngày nay, sự đối lập này được xem là một sự đơn giản hóa quá mức về các vấn đề có liên quan, vì các nhà duy lý lục địa quan trọng (Descartes, Spinoza và Leibniz) cũng đã ủng hộ các "phương pháp khoa học" theo lối kinh nghiệm vào thời của họ. Hơn nữa, về phần mình, Locke cho rằng có một số tri thức (chẳng hạn tri thức về sự tồn tại của Chúa trời) chỉ có thể đạt được bằng trực giác và lập luận mà thôi. Một số triết gia quan trọng được cho là có quan hệ với chủ nghĩa kinh nghiệm bao gồm Aristotle, Thomas Aquinas, Francis Bacon, Thomas Hobbes, John Locke, George Berkeley, David Hume, và John Stuart Mill. == Lịch sử == === Các hình thức sơ khởi của chủ nghĩa kinh nghiệm === Các hình thức sơ khởi của chủ nghĩa kinh nghiệm bao gồm các công trình nghiên cứu về nhận thức luận của một số nhà triết học, trong đó có Aristotle, Thomas Aquinas và Roger Bacon. Có lẽ các nhà triết học kinh nghiệm đầu tiên của triết học phương Tây là các nhà Sophist (khoảng thế kỷ 2 trước CN), họ đã phủ nhận các suy đoán duy lý về bản chất của thế giới (mà đã rất phổ biến trong các vị tiền bối của họ) để tập trung vào "những thực thể tương đối cụ thể hơn chẳng hạn như con người và xã hội". Các nhà Sophist đã viện đến các luận cứ hoài nghi ngữ nghĩa, sử dụng các ví dụ mà người khác có thể dễ dàng thấy được để làm suy yếu các tuyên bố của lý tính thuần túy. Khoảng một thế kỷ sau đó, phản ứng chống lại cách tiếp cận duy lý và hết sức suy đoán của Plato (427–347 TCN), trong những năm cuối đời, Aristotle (384–322 TCN) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì các giác quan thu nhận được, nghĩa là nhấn mạnh vào các quan sát hậu nghiệm. Aristotle dùng thuật ngữ triết học tự nhiên để gọi nhiệm vụ tìm hiểu thế giới tự nhiên, sử dụng cái mà sau này đã được biết với tên lập luận quy nạp (inductive reasoning) để đi đến các phạm trù và nguyên lý dựa trên dữ liệu giác quan. Cách tiếp cận này đã đối ngược sâu sắc với lý thuyết hình thức của Plato - lý thuyết phụ thuộc rất lớn vào các giả thuyết tiên nghiệm (xem chú thích trên). Trong các thời kỳ "giữa" và "sau" của mình, Aristotle ngày càng không đồng ý với các quan niệm của Plato và phát triển một sự kỳ vọng ngày càng chặt chẽ về các khẳng định tường minh bằng thực nghiệm cho tất cả các kết luận từ quy nạp. Aristotle còn khẳng định nguyên lý cốt lõi của chủ nghĩa kinh nghiệm rằng tri thức của con người về thực tại được đặt nền móng bằng trải nghiệm từ các giác quan. Một thế hệ sau Aristotle, cả các nhà triết học Khắc kỷ (Stoic) và Hưởng lạc (Epicurean) đều thiết lập các giải thích tường minh hơn theo kiểu kinh nghiệm về sự hình thành của các ý niệm và khái niệm. Đi trước Locke hàng nghìn năm, các nhà triết học khắc kỷ tuyên bố rằng tâm thức con người là một tấm bảng trắng trơn mà sau đó sẽ được xếp đầy các ý niệm từ các tri giác giác quan. Tuy nhiên, họ còn khẳng định rằng có một số "khái niệm chung" nhất định có sẵn trong tâm thức của tất cả mọi người một cách tiên nghiệm. Các nhà triết học theo thuyết hưởng lạc có một quan điểm hậu nghiệm kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa còn mạnh hơn nữa. Đối với họ, các khái niệm thần kinh là các hình ảnh ký ức hoặc các bản sao của các trải nghiệm giác quan trước đó, và các cảm giác luôn luôn là các bằng chứng tốt về các nguyên nhân của các cảm giác đó. Trong các nhà triết học kinh viện, Thomas Aquinas thu nhận từ Aristotle tiên đề triết học nổi tiếng: "Không có gì trong trí tuệ mà nó không đến đầu tiên từ các giác quan". Aquinas lý luận rằng sự tồn tại của Chúa trời có thể được chứng minh bằng lập luận từ dữ liệu giác quan. Ông sử dụng một biến thể của khái niệm của Aristotle về "trí tuệ chủ động" (active intellect) mà ông giải nghĩa là khả năng trừu tượng hóa ý nghĩa phổ quát từ dữ liệu kinh nghiệm cụ thể. === Chủ nghĩa kinh nghiệm Anh === Các khái niệm sơ khởi về sự tồn tại của "các ý niệm bẩm sinh" đã là chủ đề của cuộc tranh luận giữa các nhà duy lý lục địa và các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa Anh trong suốt thời gian từ thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18. John Locke, George Berkeley, và David Hume đã là những người diễn giải chính của chủ nghĩa kinh nghiệm. Phản ứng lại "chủ nghĩa duy lý" lục địa mà người bảo vệ xuất chúng nhất là René Descartes (một cách tiếp cận triết học mà không nên nhầm lẫn với chủ nghĩa duy lý nói chung), John Locke (1632-1704), trong cuốn Luận về hiểu biết của con người (An Essay Concerning Human Understanding) năm 1689, đã đề xuất một quan điểm mới mẻ và có tầm ảnh hưởng rất lớn, trong đó nói rằng tri trức duy nhất mà con người có thể có là tri thức hậu nghiệm, nghĩa là dựa trên các trải nghiệm. Người ta ghi nhận Locke với khẳng định của ông rằng tâm thức con người là một tabula rasa, một "cái bảng trống trơn", trong lời của Locke là "trang giấy trắng," mà viết trên đó là các trải nghiệm rút ra từ các ấn tượng giác quan khi cuộc đời của một con người tiến triển. Có hai nguồn cho các ý niệm của chúng ta: cảm giác và suy tưởng. Trong cả hai trường hợp, ông phân biệt giữa các ý niệm đơn và các ý niệm phức. Các ý niệm đơn không thể phân tích được, và được phân ra thành các tính chất sơ cấp và thứ cấp. Các ý niệm phức là kết hợp của các ý niệm đơn giản hơn và được chia thành các chất, các dạng thức và các quan hệ. Theo Locke, tri thức của ta về sự vật là một tri giác về các ý niệm hợp nhau hay không hợp nhau, điều này rất khác với câu hỏi của Descartes về tính xác tín. Một thế hệ sau, mục sư người Ailen George Berkeley (1685-1753) xác định rằng quan niệm của Locke đã mở ngay một cánh cửa mà cuối cùng sẽ dẫn tới chủ nghĩa vô thần. Để phản ứng lại Locke, trong cuốn "Luận về các nguyên lý của tri thức con người" (Treatise Concerning the Principles of Human Knowledge) năm 1710, ông đã đề xuất một hình thức khác rất cực đoan của chủ nghĩa kinh nghiệm, trong đó sự vật chỉ tồn tại do chúng đang được tri giác hoặc bởi thực tế rằng chúng là các thực thể đang thực hiện việc tri giác. (Đối với Berkeley, Chúa trời thực hiện công việc tri giác giúp con người mỗi khi con người không ở quanh một sự vật để làm việc đó. Nhờ đó mà sự vật có thể tồn tại mà không cần lúc nào có người đang nhìn/nghe/ngửi/sờ thấy nó.) Trong tác phẩm Alciphron, Berkeley đã khẳng định rằng bất cứ trật tự nào mà con người có thể nhìn thấy trong thiên nhiên đều là ngôn ngữ hay chữ viết tay của Chúa trời. (Thornton, 1987) Sau này, cách tiếp cận của Berkeley đối với chủ nghĩa kinh nghiệm đã được gọi là chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Nhà triết học người Scotland David Hume (1711-1776) đã bổ sung vào quan điểm của chủ nghĩa kinh nghiệm một chủ nghĩa hoài nghi cực đoan mà ông đem đến để chống lại các luận cứ và phản luận đã được chất đống lại của các nhà triết học khác, trong đó có Descartes, Locke và Berkeley. Hume lý luận trên quan điểm gìn giữ quan niệm kinh nghiệm chủ nghĩa rằng mọi tri thức đều bắt nguồn từ trải nghiệm giác quan. Cụ thể, ông phân chia tất cả các tri thức của con người thành hai loại: các quan hệ của ý niệm và sự kiện thực tế. Các mệnh đề toán học và lôgic (chẳng hạn, "bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông") là các ví dụ của các quan hệ của ý niệm, còn các mệnh đề có liên quan đến quan sát nào đó về thế giới (chẳng hạn, "ngày mai mặt trời sẽ mọc") là các ví dụ của sự kiện thực tế. Lần lượt, tất cả các "ý niệm" của một người được rút ra từ các "ấn tượng" của người đó. Đối với Hume, một "ấn tượng" gần như tương ứng với cái mà ta gọi là một cảm giác. Khi ghi nhớ hoặc hình dung các ấn tượng như vậy là khi ta có một "ý niệm". Do đó, ý niệm là bản sao mờ nhạt của cảm giác. Qua các luận cứ hoài nghi (các luận cứ này đã trở nên nổi tiếng bởi lôgic khó quên của chúng), Hume đã khẳng định rằng tất cả các tri thức, ngay cả các niềm tin cơ bản nhất về thế giới tự nhiên, không thể được thiết lập một cách chắc chắn bởi lý tính. Thay vào đó, ông khẳng định rằng, các niềm tin của ta chẳng qua là kết quả của các thói quen tích lũy, chúng được phát triển để đáp ứng với các trải nghiệm giác quan được tích lũy. Bên cạnh nhiều luận cứ của mình, Hume còn bổ sung một thiên kiến quan trọng cho cuộc tranh luận về phương pháp khoa học — đó là vấn đề quy nạp. Hume lý luận rằng ta cần đến lập luận quy nạp để đi đến các tiền đề cho nguyên lý của lập luận quy nạp, và do đó sự biện minh cho lập luận quy nạp là một luận cứ vòng tròn. Một trong các kết luận của Hume về vấn đề quy nạp là: không có sự chắc chắn rằng tương lai sẽ giống quá khứ. Do đó, một ví dụ của Hume, ta không thể dùng lập luận quy nạp để biết chắc chắn rằng mặt trời sẽ tiếp tục mọc ở phía Đông, mà thay vào đó, ta trông đợi nó sẽ như vậy bởi vì trong quá khứ nó đã liên tục như vậy. Hume kết luận rằng những thứ như niềm tin vào một thế giới bên ngoài và niềm tin vào sự tồn tại của bản thân không thể được chứng minh bằng lý luận. Theo Hume, những niềm tin này tuy vậy vẫn được chấp nhận vì chúng có cơ sở vững chắc trong trực quan và truyền thống. Tuy nhiên, di sản trường tồn của Hume là mối nghi ngờ mà các luận cứ hoài nghi của ông phủ lên tính hợp lệ của lập luận quy nạp, nó cho nhiều người hoài nghi sau ông mối nghi ngờ tương tự. === Hiện tượng luận === Đa số những người theo học thuyết của Hume đã không đồng ý với kết luận của ông rằng niềm tin vào một thế giới bên ngoài về mặt lý tính là không thể chứng minh được (rationally unjustifiable), họ khẳng định rằng các nguyên lý của chính Hume đã ngầm chứa đựng chứng minh hợp lý cho một niềm tin như thế, nghĩa là vượt ra khỏi sự hài lòng với việc để cho vấn đề dựa trên trực quan, thói quen và truyền thống của con người. Theo một học thuyết kinh nghiệm chủ nghĩa cực đoan được gọi là Hiện tượng luận, được dọn đường bởi các luận cứ của cả Hume và George Berkeley, một đối tượng vật lý là một dạng cấu trúc tạo bởi các trải nghiệm của ta. Hiện tượng luận là quan niệm rằng các đối tượng, tính chất, sự kiện vật lý (bất cứ thứ gì vật lý) đều suy giản được về các đối tượng, tính chất, sự kiện tâm thần. Cuối cùng, chỉ có các đối tượng, tính chất, sự kiện tâm thần tồn tại — từ đó dẫn đến thuật ngữ có quan hệ chặt chẽ chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Theo dòng tư duy hiện tượng luận, có một trải nghiệm hình ảnh về một vật vật lý có thật là có một trải nghiệm thuộc một kiểu nhóm trải nhiệm nhất định. Loại tập hợp các trải nghiệm này sở hữu một tính bất biến và gắn kết - tính chất mà tập các trải nghiệm, mà các ảo giác cũng nằm trong đó, không có. Như John Stuart Mill đã nói vào giữa thế kỷ 19, vật chất là "khả năng bền vững của cảm giác" (permanent possibility of sensation). Chủ nghĩa kinh nghiệm của Mill còn đi một bước quan trọng vượt qua Hume tại một khía cạnh khác: trong khẳng định rằng quy nạp là cần thiết cho mọi tri thức có nghĩa, trong đó có toán học. D.W. Hamlin đã tóm tắt: [Mill] cho rằng các chân lý toán học chẳng qua là các tổng quát hóa đã được khẳng định ở mức độ cao từ các trải nghiệm; Mill khẳng định rằng suy luận toán học, thường được hiểu là có bản chất suy diễn [và tiên nghiệm], có nền tảng là quy nạp. Do đó, trong triết học của Mill, không có vị trí thực sự cho các tri thức dựa trên các quan hệ của các ý niệm. Trong quan niệm của ông, các điều kiện cần về toán học và lôgic chỉ là các vấn đề tâm lý; chúng ta đơn giản là không thể nhận thức được bất cứ khả năng nào ngoài những gì mà các mệnh đề toán học và lôgic khẳng định. Đây có lẽ là phiên bản cực đoan nhất của chủ nghĩa kinh nghiệm mà ta được biết, nhưng nó chưa tìm được nhiều người ủng hộ. Do đó chủ nghĩa kinh nghiệm của Mill cho rằng tri thức thuộc bất kỳ dạng nào đều không phải được tạo từ trải nghiệm trực tiếp mà từ một suy luận quy nạp từ trải nghiệm trực tiếp. Các vấn đề nảy sinh đối với các nhà triết học khác về quan điểm của Mill xoay quanh các điểm sau: Trước hết, hệ thống của Mill gặp khó khăn khi nó mô tả trải nghiệm trực tiếp là cái gì bằng cách chỉ phân biệt giữa các cảm giác có thực và cảm giác có thể. Điều này bỏ qua một số bài cãi quan trọng về các điều kiện để cho các "nhóm gồm các khả năng bền vững của cảm giác" có thể tồn tại. Berkeley đã đặt Chúa trời vào khe hở đó; các nhà hiện tượng luận, trong đó có Mill, về bản chất đã bỏ ngỏ câu hỏi đó mà không trả lời. Cuối cùng, thiếu một sự thừa nhận về một khía cạnh của "thực tại" mà nó vượt ra ngoài "các khả năng của cảm giác", một quan điểm như vậy dẫn đến một phiên bản của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Các câu hỏi như làm thế nào mà các cây cột đỡ sàn vẫn tiếp tục đỡ sàn trong khi không ai quan sát nó, làm thế nào mà cây vẫn tiếp tục sinh trưởng trong khi con người không nhìn đến hay động đến nó, v.v.. không được trả lời, và có lẽ không thể trả lời được trong hệ thống này. Thứ hai, hệ thống của Mill để ngỏ khả năng không rõ ràng rằng các "thực thể lấp chỗ trống chỉ thuần túy là các khả năng mà không hề là những gì có thực". Thứ ba, khi cho rằng toán học là chỉ là một dạng khác của suy luận quy nạp, quan điểm của Mill đã giải nghĩa sai về toán học. Quan điểm này không xét toàn diện cấu trúc và phương pháp của toán học, các sản phẩm của toán học được đạt đến qua một tập hợp suy diễn nhất quán gồm các quy trình không hề nằm trong nghĩa quy nạp, ngay cả tại thời nay hay thời của Mill. Giai đoạn hiện tượng luận của chủ nghĩa kinh nghiệm hậu-Hume đã kết thúc vào những năm 1940, vì đến thời gian đó, người ta đã thấy rõ ràng rằng các phát biểu về các sự vật vật lý không thể được chuyển dịch thành các phát biểu về các dữ liệu giác quan thực tế và có thể. Nếu một phát biểu về một đối tượng vật lý có thể chuyển được thành một phát biểu dữ liệu giác quan, phát biểu đầu ít nhất phải suy ra được từ phát biểu sau. Nhưng người ta đã nhận ra rằng không tồn lại một tập hữu hạn gồm các phát biểu về dữ liệu cảm giác có thể và thực tế mà từ đó ta có thể suy ra thậm chỉ một phát biểu về đối tượng vật lý. Ghi nhớ rằng việc dịch và diễn đạt lại phát biểu phải được diễn đạt bằng các quan sát viên ở tình trạng bình thường trong các điều kiện quan sát bình thường. Tuy nhiên, không có một tập hợp hữu hạn gồm các phát biểu được diễn đạt theo kiểu thuần túy giác quan mà tập hợp này có thể thỏa mãn điều kiện về sự có mặt của một quan sát viên thường. Theo hiện tượng luận, để nói rằng có mặt một quan sát viên bình thường có nghĩa đặt một phát biểu giả thuyết rằng có một bác sĩ kiểm tra quan sát viên đó, và người bác sĩ thấy rằng quan sát viên đó ở tình trạng bình thường. Nhưng tất nhiên, chính người bác sĩ đó phải là một quan sát viên bình thường. Nếu ta cần chỉ rõ tình trạng bình thường của người bác sĩ này theo kiểu giác quan, ta phải viện đến một bác sĩ thứ hai, người kiểm tra các cơ quan cảm giác của bác sĩ thứ nhất, và bác sĩ thứ hai này cũng chính là một quan sát viên phải thỏa mãn điều kiện là đang ở tình trạng bình thường. Nghĩa là ta phải viện đến bác sĩ thứ ba, và cứ như vậy. === Chủ nghĩa kinh nghiệm lôgic === Vào đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa kinh nghiệm lôgic (còn gọi là chủ nghĩa thực chứng lôgic (logical positivism) hay chủ nghĩa chứng thực mới (neopositivism)) là một cố gắng để tổng hợp các tư tưởng cốt lỗi của chủ nghĩa kinh nghiệm Anh (ví dụ, nhấn mạnh vào trải nghiệm giác quan như là nền tảng của tri thức) với một số hiểu biết từ ngành lôgic toán học do Gottlob Frege và Ludwig Wittgenstein phát triển. Một số nhân vật quan trọng trong phong trào này là Otto Neurath, Moritz Schlick và những người còn lại của Vienna Circle, cùng với A.J. Ayer, Rudolf Carnap và Hans Reichenbach. Các nhà thực chứng mới có chung một quan niệm rằng triết học là sự làm trong sáng về khái niệm của các phương pháp, hiểu biết và các phát kiến của khoa học. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Chủ nghĩa duy lý đối với chủ nghĩa kinh nghiệm tại Bách khoa toàn thư Triết học Stanford Vài nét về thuyết duy nghiệm tại triethoc.edu.vn
kamen rider 555
trọng lượng riêng.txt
Trọng lượng riêng (tiếng Anh: specific weight) là một đại lượng khác với khối lượng riêng, cùng là đại lượng đặc trưng cho một chất rắn, lỏng hay khí. Đơn vị của trọng lượng riêng là N/m³. == Công thức tính == Trọng lượng riêng của vật được tính bằng trọng lượng chia cho thể tích: d = P V {\displaystyle d={P \over V}} Trong đó: d là trọng lượng riêng (N/m³) P là trọng lượng (N) V là thể tích (m³) ⇒ {\displaystyle \Rightarrow } P = V d {\displaystyle P=Vd} ⇒ V = P d {\displaystyle \Rightarrow V={\operatorname {P} \! \over \operatorname {d} \!}} Hoặc tính trọng lượng riêng của vật nếu biết khối lượng riêng của vật đó. d = 10 D {\displaystyle d=10D} → {\displaystyle \rightarrow } Mối quan hệ giữa trọng lượng riêng và khối lượng riêng. == Xem thêm == Lực đẩy Archimedes Cơ học chất lưu Phù kế Mật độ tương đối == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
houston.txt
Houston (phát âm tiếng Anh: /ˈhjuːstən/) là thành phố đông dân nhất Texas và là thành phố đông dân thứ tư tại Hoa Kỳ. Theo ước tính nhân khẩu Hoa Kỳ năm 2012, thành phố có 2,16 triệu dân cư trong một diện tích đất 599,6 dặm vuông Anh (1.553 km2). Houston là quận lỵ của quận Harris, và khu vực đại đô thị Houston đông dân thứ năm tại Hoa Kỳ, với trên 6 triệu người. Houston được thành lập vào năm 1836 trên vùng đất gần bờ sông Buffalo Bayou và được hợp nhất tổ chức thành một thành phố vào ngày 5 tháng 6 năm 1837. Thành phố được đặt tên theo Tướng Sam Houston, là tổng thống của Cộng hòa Texas. Phát triển kinh tế cảng và đường sắt, cộng thêm khám phá dầu thô vào năm 1901 khiến dân số thành phố liên tục tăng trưởng. Đến giữa thế kỷ 20, Houston trở thành nơi đặt trụ sở của Trung tâm Y tế Texas—trung tâm chăm sóc và nghiên cứu y tế lớn nhất thế giới—và trung tâm không gian Johnson của NASA. Kinh tế Houston có nền tảng là các ngành năng lượng, chế tạo, hàng không, và vận tải. Thành phố cũng dẫn đầu trong lĩnh vực y tế và xây dựng hạ tầng mỏ dầu; và chỉ xếp sau thành phố New York về số lượng trụ sở của các công ty trong Fortune 500. Dân cư Houston đa dạng về dân tộc và tôn giáo và là một cộng đồng mang tính chất quốc tế lớn và đang phát triển. Thành phố có nhiều thể chế và triển lãm văn hóa. == Lịch sử == Vào giữa thập niên 1800, hai anh em - John Kirby Allen và Augustus Chapman Allen - là những người kinh doanh và khuếch trương địa ốc ở New York đi tìm một địa điểm mà họ có thể bắt đầu việc xây dựng "một trung tâm lớn của nhà nước và thương mại." Vào tháng 8 năm 1836, họ mua 6.642 acre (27 km²) đất từ T. F. L. Parrot, vợ góa của John Austin, với giá 9.428 Mỹ kim. Hai anh em nhà Allen đặt tên thành phố của họ theo tên của Sam Houston. Houston bắt đầu như là một làng nhỏ. Gail và Thomas H. Borden đo đạc và vẽ bản đồ thành phố theo kiểu bàn cờ thông thường, với những con đường rộng chạy song song và vuông góc với hệ thống những nhánh sông trong vùng. Thành phố được phép thành lập vào ngày 5 tháng 6 năm 1837 và James S. Holman trở thành thị trưởng đầu tiên. Cùng năm đó, Houston cũng trở thành khu quản lý hành chính của quận Harrisburg, sau được đặt tên lại là quận Harris vào năm 1839. Vào lúc này, Nghị viện Texas chỉ định Houston như là thủ đô tạm thời của Cộng hòa Texas vừa thành lập. Thủ đô sau đó được di chuyển về Austin, lúc đó được biết đến như là Waterloo vào 14 tháng 1 năm 1839. Vào năm 1900, dân số Houston vào khoảng 45.000 - thành phố lớn thứ 85 ở Hoa Kỳ. Việc phát hiện ra dầu hỏa tại Spindletop ở Beaumont vào năm 1901 đã làm thúc đẩy công nghiệp dầu hỏa, dần dần biến Houston thành một thành phố lớn. Vào năm 1902, Theodore Roosevelt chấp thuận dự án 1 triệu đôla để nâng cấp kênh đào tàu thủy Houston. Vào năm 1910, dân số Houston trở nên lớn hơn của Galveston. Tổng thống Woodrow Wilson khai trương Cảng Houston vào năm 1914, 74 năm sau việc đào xới bắt đầu. Vào 1914, kênh đào Houston được nạo vét để cho Houston một cảnh nước sâu, vượt qua khỏi cảng Galveston đã bị phá hoại một phần trong cơn bão Galveston vào năm 1900. Khi Thế chiến thứ hai bắt đầu, lượng hàng hóa giảm và năm đường lưu chuyển bằng tàu thủy đã kết thúc các chuyến đến Houston, nhưng cuộc chiến đã đem lại một số lợi ích kinh tế cho thành phố. Sân bay Ellington, được xây trong Thế chiến thứ nhất, được tái sử dụng như là một trung tâm huấn luyện cho các phi công ném bom, và máy bay và đóng tàu trở thành công nghiệp chủ lực trên cả tiểu bang. Hiệp hội M. D. Anderson thành lập Trung tâm y khoa Texas vào năm 1945. Ngân hàng cũng phát triển lên vượt bậc trong cuối thập niên 1940. Sau chiến tranh, kinh tế Houston được chuyển ngược lại một nền kinh tế dựa vào cảng. Vào năm 1948, một số khu vực trống được cho thêm vào giới hạn của thành phố, và phạm vi Houston bắt đầu trải ra khắp thảo nguyên. Công nghiệp đóng tàu trong suốt Thế chiến thứ hai đã thúc đẩy sự phát triển, cũng như là sự thiết lập năm 1961, của "Trung tâm phi thuyền có người điều khiển" của NASA (được đặt tên lại là Trung tâm vũ trụ Lyndon B. Johnson vào năm 1973), tạo ra công nghiệp hàng không cho thành phố. Tháng 12 năm 1961 bão Carla quật vào thành phố. Astrodome (sau này gọi là Harris County Domed Stadium), là sân vận động trong nhà có mái vòm đầu tiên, mở ra vào năm 1965 và nhanh chóng được mệnh danh là "Kỳ quan thứ 8 của thế giới". Cuối thập niên 1970 dân số bùng nổ do khủng hoảng dầu hỏa năm 1973 và do dân từ các tiểu bang vùng Rust Belt di chuyển với số lượng lớn vào Texas, đang hưởng lợi từ việc khan hiếm dầu hỏa. Nhưng sự phụ thuộc của Houston vào dầu hỏa như là nền của các ngành công nghiệp dẫn đến sự đi xuống của nó khi giá dầu suy giảm vào thập niên 1980. Từ đó, Houston đã cố gắng đa dạng hóa các ngành kinh tế của thành phố bằng cách tập trung vào công nghiệp hàng không và kỹ thuật sinh học, và làm giảm sự phụ thuộc của nó vào dầu hỏa. Năm 1990 chứng kiến Sân bay Liên lục địa Houston xây dựng bởi hãng hàng không quốc tế Mickey Leland mở cửa. Nhà ga 12 cổng được đặt tên theo Mickey Leland. Vào cùng năm đó, Hội nghị G8 được tổ chức ở Houston. Lee P. Brown, thị trưởng người da đen đầu tiên của Houston, được bầu lên vào năm 1997. == Địa lý == Houston nằm trên vùng quần xã sinh vật thuộc đồng bằng ven vịnh biển, và thực vật được xếp vào loại đất cỏ ôn đới. Đa số thành phố được xây dựng trên đất rừng, vùng đầm lầy hay thảo nguyên - tất cả những thứ này vẫn còn được nhìn thấy ở các khu vực xung quanh. Đa phần Houston rất bằng phẳng, làm lụt lội là vấn đề hàng năm đối với người dân ở đây. Khu trung tâm cao khoảng 50 foot trên mực nước biển - với đa phần thành phố thấp hơn 100 foot. Thành phố đã từng dựa vào mạch nước ngầm cho nhu cầu về nước, nhưng sự lún đất đã bắt buộc thành phố sử dụng các nguồn nước ở trên mặt như là hồ Houston. Houston có bốn nhánh sông chính chảy qua thành phố: nhánh sông Buffalo, chảy qua khu trung tâm thành phố và kênh đào Houston; và 3 nhánh nhỏ của nó: nhánh Brays, chảy dọc theo Trung tâm y tế Texas; nhánh White Oak, chảy qua vùng Heights và gần khu vực tây bắc; và nhánh Sims, chảy qua phí nam Houston và khu trung tâm Houston. Kênh tàu thủy đi qua Galveston và đổ vào Vịnh Mexico. === Địa chất === Phía dưới bề mặt đất Houston là đất sét không vững chắc, đất sét từ đá phiến, và cát không dính chặt vào nhau sâu đến vài dặm. Địa chất của khu vực này phát triển từ các bồi đắp phù sa xói mòn từ dãy Rocky. Những lớp trầm tích này bao gồm một loạt đất cát và đất sét được dồn lên những chất hữu cơ phân hủy mà, qua thời gian, biến đổi thành dầu hỏa và khí đốt. Phía dưới những lớp này là một lớp đá muối mỏ ngậm nước. Những lớp xốp này được nén qua thời gian và được đẩy lên phía trên. Khi nó được đẩy lên phía trên, muối kéo theo những lớp trầm tích xung quanh tạo thành những hình mái vòm, thường chứa dầu và khí đốt thấm qua từ các lớp cát xốp xung quanh. Đất dày nhiều dầu này cũng cung cấp một môi trường tốt cho việc trồng lúa trong các khu ngoại ô thành phố tiếp tục phát triển gần khu Katy. Bằng chứng về việc trồng lúa trong quá khứ vẫn còn thấy rõ trong các khu vực phát triển bởi vì nơi đó vẫn còn lớp đất đen màu mỡ ở phía trên cùng. Vùng Houston nhìn chung là không có động đất. Trong khi thành phố chứa 86 đứt đoạn địa chất được thống kê là từng hoạt động trong quá khứ với tổng độ dài là 149 dặm (240 km), lớp đất sét bên dưới bề mặt ngăn chặn sự dồn nén độ ma sát tạo nên chấn động bề mặt khi có động đất. Những đứt đoạn này nhìn chung là di chuyển từ từ với một độ trơn và được gọi là "các đứt đoạn đang trườn đi". === Quang cảnh thành phố === Khi Houston được thiết lập vào năm 1837, các nhà thành lập thành phố - John Kirby Allen và Augustus Chapman Allen - đã chia nó ra thành nhiều quận hành chính gọi là "ward". Phân chia thành ward là các điểm khởi xướng cho các quận được chia bởi hội đồng thành phố hiện nay của Houston - tổng cộng có 9 quận. Các địa điểm ở Houston nhìn chung được chia ra là hoặc bên trong hay bên ngoài Đường 610, được biết đến như là "Đường vòng 610" hay "Đường vòng". Bên trong đường vòng là khu vực thương mại trung tâm và nhiều khu nhà ở và các khu vực được chia ra từ trước Thế chiến thứ hai. Gần đây hơn, những phát triển đô thị dày đặc hơn đã tạo ra kết quả là một nếp sống và một nếp nghĩ đô thị hơn. Cách gọi "bên trong Houston" mang theo với nó những mong đợi của một cuộc sống kiểu đô thị. Khu vực nằm bên ngoài Houston, các sân bay và các vùng ngoại vi và phụ cận nằm bên ngoài đường vòng. Một đường vòng khác, State Highway Beltway 8 (cũng thường được biết đến một cách đơn giản là "Beltway"), bao quanh thành phố khoảng 5 dặm (8 km) xa hơn ra phía ngoài. Đường vòng thứ ba, State Highway 99 (cũng được biết đến như là Grand Parkway), đang trong quá trình xây dựng. Houston, là một thành phố lớn nhất Hoa Kỳ không có những luật chia vùng, đã phát triển trong một cách thức không bình thường. Thay vì là một khu "đô thị" (downtown) như là trung tâm việc làm của thành phố, thêm năm khu kinh doanh đã phát triển bên trong thành phố: Uptown, Texas Medical Center, Greenway Plaza, Westchase và Greenspoint. Nếu những khu thương mại này được gộp lại, chúng sẽ tạo thành một khu downtown lớn thứ ba trên toàn nước Mỹ. Thành phố cũng có khu nhà chọc trời lớn thứ ba toàn quốc (sau Thành phố New York và Chicago), nhưng bởi vì nó trải dài vài dặm, những bức ảnh chỉ có thể cho thấy phần lớn khu vực trung tâm chính. === Khí hậu === Khí hậu Houston được liệt kê như là cận nhiệt đới ẩm. Lượng mưa trung bình hàng năm là khoảng 48 inch (1.220 mm). Bão mùa xuân đôi khi đem lại lốc xoáy vào khu vực này. Gió thổi quanh năm từ miền nam và đông nam trong suốt phần lớn của năm, đem theo cái nóng từ các sa mạc của México và độ ẩm từ Vịnh Mexico. Trong suốt các tháng mùa hè, nhiệt độ cao nhất trong ngày có thể lên đến 94 °F (34 °C) vào cuối tháng 7 vơí một trung bình khoảng 99 ngày mỗi năm có nhiệt độ trên 90 °F (32 °C). Không khí có cảm giác như là đứng yên và độ ẩm (trung bình trên 90% độ ẩm tương đối vào buổi sáng trong mùa hè và khoảng 60 phần trăm bữa chiều) tạo kết quả là một chỉ số nhiệt cao hơn nhiệt độ thật sự. Để đối phó với cái nóng, người ta sử dụng máy điều hòa không khí gần như trong mỗi xe hơi và mỗi tòa nhà trong thành phố. Mưa buổi chiều là phổ biến và trong hết các ngày mùa hè, các nhà khí tượng Houston dự định ít nhất là một vài khả năng có mưa. Nhiệt độ nóng nhất được ghi nhận ở Houston là 109 °F (43 °C) vào ngày 4 tháng 9 năm 2000. Mùa đông ở Houston khá lạnh bắt đầu vào tháng 11 nhiệt độ giảm dần dưới 20 độ c thường là 16 và 14 độ và thường xuất hiện nhiều mưa và tháng này vì thế nhiệt độ có khi giảm xuống từ 3-6 độ c nếu có mây khoảng từ 10-12 độ c, khí lạnh của houston thường do gió thổi mang theo nên có cảm giác buốt (2015) . Tuyết không bao giờ nghe nói đến, và thông thường là đổ dồn lại khi tuyết được nhìn thấy. Cơn bão tuyết cuối cùng đổ vào Houston 4 - đêm tuyết rơi đầu tiên được ghi nhận ở thành phố vào dịp Giáng sinh. Nhiệt độ thấp nhất từng được ghi nhận ở Houston là 5 °F (−15 °C) vào 23 tháng 1 năm 1940. == Nhân khẩu == Houston là một thành phố đa văn hóa, một phần là do thành phố có nhiều học viện hàn lâm, các ngành công nghiệp mạnh, cũng như là một thành phố cảng lớn. Có trên 90 ngôn ngữ được nói trong thành phố. Houston có một trong các cơ cấu dân số trẻ nhất tại Hoa Kỳ, một phần là do dòng người nhập cư vào Texas. Theo điều tra nhân khẩu năm 2010, người da trắng chiếm 51% dân số Houston; 26% tổng dân số là người da trắng phi Hispanic. Người da đen/người Mỹ gốc Phi chiếm 25% dân số Houston. Người da đỏ chiếm 0,7% dân số. Người châu Á chiếm 6% (1,7% người Việt, 1,3% người Hoa, 1,3% người Ấn, 0,9% người Pakistan, 0,4% người Philippines, 0,3% người Hàn, 0,1% người Nhật), người các đảo Thái Bình Dương chiếm 0,1%. Các cá nhân từ một số chủng tộc khác chiếm 15,2% dân số thành phố, trong đó 0,2% là người phi Hispanic. Các cá nhân xuất thân từ hai chủng tộc trở lên chiếm 3,3% dân số thành phố. Người có nguồn gốc Hispanic, bất kể chủng tộc, chiếm 44% dân số Houston. Theo điều tra nhân khẩu năm 2000, thành phố có 1.953.631 người với mật độ dân số là 1.301,8/km². Thành phần chủng tộc là: 49,3% người da trắng, 25,3% người Mỹ gốc Phi, 5,3% người châu Á, 0,4% người da đỏ, 0,1% người các đảo Thái Bình Dương, 16,5% đến từ một số chủng tộc khác, và 3,1% xuất thân từ hai chủng tộc trở lên. Ngoài ra, người Hispanic chiếm 37,4% dân số Houston trong khi người da trắng phi Hispanic chiếm 30,8%, giảm từ 62,4% vào năm 1970. == Kinh tế == Công nghiệp năng lượng của Houston là một khu năng lượng lớn của thế giới (đặc biệt là dầu hỏa), nhưng nghiên cứu về y khoa, hàng không và kênh cho tàu thủy cũng chiếm phần lớn của phần công nghiệp cơ sở của thành phố. Khu đô thị Houston bao gồm khu vực sản xuất hóa chất lọc dầu lớn nhất thế giới, bao gồm cho cả cao su tổng hợp, thuốc trừ sâu và phân bón. Khu vực này cũng là trung tâm lớn nhất trên thế giới trong việc đóng các trang thiết bị cho giàn khoan. Đa số sự thành công của Houston như là một khu công nghiệp hóa dầu là do sự nhộn nhịp trên kênh đào cho tàu cho qua lại, Cảng Houston. Cảng này xếp đầu toàn quốc trong thương mại quốc tế là cảng lớn thứ sáu trên thế giới. Trong các cảng khác của Mỹ, nó là nơi bận rộn nhất tình theo số lượng hàng nước ngoài và xếp thứ hai trong tổng số hàng hóa. Bởi vì những buôn bán kinh tế này, nhiều người dân đã di cư đến Houston từ các tiểu bang khác của Mỹ, cũng như là từ hàng trăm nước trên thế giới. Không giống như các nơi khác, khi giá xăng dầu lên cao được xem là có hại cho nền kinh tế, chúng nhìn chung là được xem là có lợi cho Houston bởi vì nhiều người ở đây làm việc cho công nghiệp năng lượng. Theo lịch sử, Houston đã có một vài đột phá trong phát triển kinh tế (và một vài suy thoái kinh tế thảm hại gắn liền với công nghiệp dầu hỏa. Sự khám phá ra dầu hỏa gần Houston vào năm 1901 đã dẫn đến sự đột phá phát triển đầu tiên - cho đến thập niên 1920, Houston đã phát triển đến vào khoảng 140.000 người. Công nghiệp hàng không đang phát triển của thành phố đã kéo theo sự đột phá kinh tế lần thứ hai, được làm tăng thêm với khủng hoảng dầu hỏa 1973. Nhu cầu dầu hỏa từ Texas tăng lên, và nhiều người từ đông bắc di cư đến Houston để hưởng lợi từ những thương mại đó. Khi việc cấm vận được bãi bỏ, sự phát triển hầu như là đứng lại. Tuy vậy, Pasadena vẫn còn các nhà máy lọc dầu của nó, và Cảng Houston vẫn là một trong những nơi bận rộn nhất trên thế giới. Houston chỉ đứng thứ hai sau Thành phố New York trong số tổng hành dinh của các công ty Fortune 500. Thành phố này đã cố gắng xây dựng công nghiệp ngân hàng, nhưng các công ty nguyên xuất phát từ Houston từ lúc đó đã hợp nhất với các công ty khác toàn quốc. Ngân hàng, tuy vậy, vẫn là thiết yếu đối với vùng này. Tổng sản lượng khu vực (GAP) của khu đô thị Houston–Sugar Land–Baytown trong năm 2005 là $308,7 tỷ, tăng 5,4% từ 2004 trong số đô la - chỉ một ít lớn hơn tổng sản lượng quốc gia (GDP) của nước Áo. Chỉ có 28 nước khác với Hoa Kỳ có GDP vượt khỏi tổng sản lượng khu vực Houston. Khai mỏ, mà trong Houston hoàn toàn là thăm dò và sản xuất dầu hỏa và khí đốt, chiếm đến 11% của GAP của Houston - giảm từ 21% so với gần đây nhất là năm 1985. Sự suy giảm trong vai trò của dầu khí trong GAP của Houston phản ánh sự phát triển nhanh chóng của các ngành khác - chẳng hạn như là dịch vụ về công nghệ, dịch vụ sức khỏe và sản xuất. Bốn mươi nhà nước ngoại quốc duy trì các văn phòng giao dịch quốc tế và ngoại thương ở đây và thành phố có 23 tổ chức hiệp hội thương mại nước ngoài. Hai mươi ngân hàng nước ngoài đại diện cho mười nước hoạt động ở Houston và cung cấp giúp đỡ về tài chính cho cộng đồng quốc tế. Trong 10 khu vực đô thị đông dân nhật, Houston xếp thứ hai trong tỉ lệ tăng trưởng số việc làm và xếp thứ 4 trong phát triển việc làm. Vào năm 2006, khu vực đô thị Houston xếp thứ 1 ở Texas và thứ 3 trên toàn nước Mỹ trong thể loại "Những nơi tốt nhất cho kinh doanh và sự nghiệp" bởi Forbes. == Văn hóa == == Kiến trúc == == Giáo dục == === Nghiên cứu về sức khỏe và khoa học === Houston là nơi tọa lạc của khu Trung tâm Y khoa Texas (Texas Medical Center) nổi tiếng thế giới, bao gồm sự tập trung đông đảo nhất của các học viện nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe. Có 42 viện là thành viên của Trung tâm y khoa Texas - tất cả đều là tổ chức bất vụ lợi - tận tâm đến những tiêu chuẩn cao nhất của việc chăm sóc bệnh nhân và phòng bệnh, nghiên cứu, giáo dục và sức khỏe của cộng đồng địa phương, toàn quốc và quốc tế. Những viện này bao gồm 13 bệnh viện nổi tiếng và viện đặc biệt, hai trường y khoa, bốn trường y tá và các trường nha khoa, y tế cộng đồng, dược và hầu hết các ngành khác có liên quan đến chăm sóc sức khỏe. Đây là một trong những nơi đầu tiên - và vẫn là nơi lớn nhất - dịch vụ cấp cứu hàng không được tạo ra, một chương trình transplant trao đổi giữa các bệnh viện được phát triển rất thành công. Thêm vào đó, nhiều phẫu thuật tim được tiến hành ở Trung tâm Y khoa Texas hơn bất cứ một nơi nào trên thế giới. Một số học viện nghiên cứu về sức khỏe là Baylor College of Medicine, University of Texas Health Science Center at Houston, Bệnh viện Methodist và The University of Texas M. D. Anderson Cancer Center. M. D. Anderson Cancer Center được biết đến rộng rãi trên thế giới như là một những nơi nổi tiếng về chăm sóc bệnh nhân ung thư, nghiên cứu, giáo dục và phòng bệnh. === Các trường đại học === Houston có hệ thống Đại học Houston, là hệ thống đại học nội thành lớn nhất trong vùng Vịnh với trên 56.000 học sinh. Hệ thống này có 4 đại học - 3 nằm trong thành phố Houston - và hai khu trung tâm giảng dạy nhiều trường gộp lại. Đại học đầu đàn là Đại học Houston (UH), và là đại học lớn thứ ba của Texas với số học sinh ghi danh hơn 35.000 và là nơi của trên 40 trung tâm và viện nghiên cứu. Hai trường khác cũng nằm trong hệ thống UH phục vụ Houston là Đại học Huston tại Clear Lake và Đại học Houston tại Downtown. Một trường khác thuộc tiểu bang là Đại học Nam Texas - một đại học mà lịch sử là dành cho học sinh da đen - tọa lạc ở khu vực Phường 3 trong lịch sử. Houston cũng là địa điểm của một số đại học tư - thuộc các tôn giáo hay không. Thành phố là nơi của Đại học Rice, một trường đại học tư với nhiều tài trợ tài chính - nó xếp thứ 17 trong các trường đại học tốt nhất của toàn nước Mỹ bởi U.S. News & World Report. Rice duy trì các cơ sở nghiên cứu và các phòng thí nghiệm khác nhau. Thành lập vào năm 1923, Trường Cao đẳng Luật Nam Texas (South Texas College of Law) cung cấp các chương trình luật vào loại tốt nhất trên toàn quốc and is Houston's oldest law school.. Đại học St. Thomas, một trường nghệ thuật Công giáo theo truyền thống Basilian, được thành lập bởi các cha xứ dòng Basilian của Canada, và tọa lạc ở khu vực Montrose. Đại học Baptist Houston, một đại học Baptist thành lập vào năm 1960, tọa lạc ở phía tây nam Houston có trên 50 ngành học và các chương trình dạy nghề. Đa số Houston được phục vụ bởi Houston Community College System, là một trong những hệ thống cao đẳng cộng đồng lớn nhất Hoa Kỳ. HCCS phục vụ phần HISD của Houston và các khu vực khác. Các phần phía bắc của Houston được phục vụ bởi North Harris Montgomery Community College District. Một phần của đông và đông nam Houston được phục vụ bởi San Jacinto College. Rất nhiều khu ngoại vi của Houston cũng có hệ thống trường cao đẳng cộng đồng của riêng họ. == Giáo dục == Khu Học Chánh Houston == Chú thích == == Liên kết ngoài == Thành phố Houston (tiếng Anh)/(tiếng Tây Ban Nha) Houston và với những người con lai Mỹ Việt
louis xiv của pháp.txt
Louis XIV (tiếng Pháp: Louis-Dieudonné; 5 tháng 9, 1638 – 1 tháng 9, 1715), còn được biết như Louis Vĩ đại (Louis le Grand; Le Grand Monarque) hoặc Thái Dương vương (The Sun King; Le Roi Soleil), là một quân chủ thuộc Nhà Bourbon, đã trị vì với danh hiệu Quốc vương Pháp và Navarre. Ông được xem là một trong những nhà chinh phạt lớn trong lịch sử. Triều đại của ông kéo dài 72 năm, dài nhất trong lịch sử nước Pháp và cả Châu Âu. Ông lên ngôi khi được 4 tuổi, và được mẹ là Anne của Áo nhiếp chính. Khi lên 9 tuổi, sau những cuộc nổi loạn, ông được dẫn đi ẩn náu khỏi kinh đô Paris. Ông cảm thấy bị sỉ nhục và nhất quyết muốn tự chủ, không để ai chi phối như Hồng y Richelieu đã chi phối cha ông và Hồng y Mazarin đã chi phối mẹ ông. Cũng từ đây trở về sau, ông có ác cảm với kinh đô Paris và không bao giờ muốn trở lại thành phố này. Năm 1661, khi được 23 tuổi, Louis XIV mới chính thức cai trị vương quốc sau cái chết của Hồng y Mazarin. Với chủ nghĩa quân chủ chuyên chế (Divine right of kings), Louis XIV chủ trương thiết lập một triều đình chuyên chế, xóa bỏ tàn dư phong kiến phân quyền đã ảnh hưởng sâu sắc toàn bộ nước Pháp, và một trong những việc này là tiến hành xây dựng Điện Versailles. Năm 1666, ông chọn địa điểm của cung điện cho riêng ông, cách Paris 20 kílômét về hướng tây, rồi ra lệnh thi công. Ông huy động 36.000 công nhân, thêm 6.000 ngựa để chuyên chở vật liệu xây dựng. Thương vong của công nhân khá cao. Mỗi đêm, xe goòng đi nhặt xác chết do tai nạn nghề nghiệp. Hàng chục người chết mỗi tuần vì sốt rét. Năm 1682, Điện Versailles hoàn thành, trở thành một cung điện vĩ đại nhất thế giới. Điện Versailles không có thành lũy, vị vua đã xây cung điện trị vì không được che chắn, giữa đồng trống, để chứng tỏ một đấng quân vương đủ quyền lực không cần đến hào và tường thành để bảo vệ. Versailles trở thành biểu tượng của vị thế giàu có và quyền lực của đế chế hùng mạnh nhất châu Âu. Trên toàn lục địa, những quân vương khác – kể cả người đang có chiến tranh với Pháp – thể hiện tình thân hữu, lòng ganh tỵ và thách đố họ bằng cách xây cung điện theo mẫu Versailles. Mỗi quân vương đều muốn xây một Versailles cho riêng mình. Ngay cả những đại lộ dài và hoành tráng ở thủ đô Washington, D.C. của Mỹ, được quy hoạch 100 năm sau, cũng do một kiến trúc sư người Pháp thiết kế tổng thể theo mẫu Versailles. Sau khi hoàn thành Điện Versailles, Louis XIV đã triệu tập các nhà quý tộc của Pháp dời đến trong triều đình để định cư, làm dịu đi những sự phân tranh của tầng lớp quý tộc, trong đó có nhiều người tham gia vào cuộc Biến loạn Fronde khi ông còn đang giai đoạn nhiếp chính. Bằng cách này, Louis XIV đã thiết lập một chế độ quân chủ chuyên chế tuyệt đối của các Quân vương Pháp, được duy trì mãi tận đến khi xảy ra cuộc Cách mạng Pháp. Quân đội Pháp bao gồm 15 vạn binh sĩ vào thời bình và 40 vạn quân tinh nhuệ trong thời chiến. Bản thân vua Louis XIV không có kinh nghiệm chiến trường, nhưng ông là nhà chiến lược và quản lý quân sự tài ba. Kiêm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Chiến tranh, nhà vua bàn luận về vĩ mô chiến lược với các tướng lĩnh dày dạn trận mạc của ông, rồi chỉ đạo các hoạt động cung ứng quân nhu, tuyển quân, huấn luyện, tình báo quân đội... Theo thời gian, uy tín của Louis XIV và của nước Pháp dâng cao mỗi năm. Quân đội Pháp trở nên đáng sợ nhất châu Âu. Turenne - vị thống soái được Hoàng đế Napoléon Bonaparte ngợi ca là Vị tướng Pháp vĩ đại nhất - đã phò tá dưới triều vua Louis XIV. Vào năm 1672, nhà vua sai tướng Turenne mang quân đi đánh Hà Lan nhưng không thành, phải rút lui. Vẻ lộng lẫy của cung điện Versailles dấy lên lòng ngưỡng mộ và ganh tỵ của thế giới. Tiếng Pháp trở nên ngôn ngữ phổ cập trong ngoại giao, xã hội và văn học. Dường như bất kỳ việc gì – mọi việc – đều khả thi, nếu dưới văn bản chỉ thị có mang chữ ký cao to, nguệch ngoạc "Louis". Những năm cuối của triều đại Louis XIV xảy ra nhiều thảm họa. Trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, liên quân Anh - Áo - Phổ do Công tước thứ nhất của Marlborough, Vương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau và Vương công Eugène xứ Savoie chỉ huy đập tan tác Quân đội vua Louis XIV trong trận đánh lớn tại Blenheim (1704) - một đòn đánh cực kỳ đau vào quân Pháp. Sau chiến bại thê thảm tại Blenheim, Quân đội vua Louis XIV lại bị Quận công Marlborough đại phá trong trận đánh tại Ramilies (1706). Cùng năm đó, liên quân Áo - Phổ của Vương công Leopold và Vương công Eugène đè bẹp trong trận đánh tại Turin. Mãi đến năm 1712, Quân đội Pháp do Thống chế Claude-Louis-Hector de Villars thống lĩnh mới đánh tan tác liên quân Áo - Hà Lan của Eugène trong trận đánh nhỏ tại Denain. Song, người con chính thức độc nhất, người kế vị ngai vàng của nhà vua, qua đời năm 1711. Con trai của ông, Quận công của Bourgogne, hiện thân cho niềm hy vọng của nước Pháp trong tương lai, qua đời năm 1711 vì bệnh sởi ở tuổi 30. Đứa con trai trưởng của Quận công, cháu nội của Louis XIV, cũng chết vì bệnh sởi ít ngày sau. Chỉ còn có một đứa trẻ thuộc dòng dõi kế vị ngai vàng trực tiếp, mới lên 2, là cháu kêu Louis XIV bằng ông cố. Đứa trẻ này cũng mắc bệnh sởi, nhưng thoát chết nhờ người bảo mẫu nhốt kín cậu bé và không cho phép các bác sĩ sờ đến cậu với hai bàn tay mang những bọc mọng nước. Vương tôn này được sống sót để trị vì nước Pháp trong 59 năm dưới tên Louis XV. Trên giường bệnh, Louis XIV triệu đứa chắt lên 5 tuổi đến và nói: "Cháu ạ, một ngày cháu sẽ là vị Quân chủ vĩ đại. Đừng bắt chước tính hiếu chiến của ta. Hãy luôn hành xử dựa theo Thượng đế và khiến cho thần dân phải trọng vọng Người. Ta đau lòng mà thấy đã để cho thần dân trong tình trạng như thế." Quốc vương Louis XIV qua đời năm 1715 sau khi trị vì 72 năm, thọ 76 tuổi. Có lẽ ông là vị Quân vương vĩ đại nhất của Pháp. Những vị quân vương kế tục ông không tham vọng như ông, và huyền thoại về một lực lượng Quân đội Pháp bất khả chiến bại đã bị phá vỡ tan tành với việc họ bị Quân đội tinh nhuệ Phổ của vua Friedrich II Đại Đế đè bẹp trong trận đánh lớn tại Rossbach (1757), và sau này là đại bại trong Chiến tranh Bảy năm trước người Anh, và mất hết lãnh thổ Bắc Mỹ vào tay Anh. == Thời thơ ấuSửa đổi == Louis XIV sinh vào ngày 5 tháng 9 năm 1638, tại Lâu đài Château de Saint-Germain-en-Laye, là con trai của Louis XIII của Pháp và Vương hậu Anne của Áo. Cha mẹ của ông đã kết hôn được 23 năm trước khi sinh ra ông. Mẹ ông đã từng mang thai bốn lần, nhưng cả bốn lần đều bị hỏng. Do đó, mọi người coi ông như là một món quà mà Thiên Chúa ban tặng, và ngày sinh của ông là một phép lạ của Chúa Trời. Ông thường được gọi là Louis-Dieudonné (Louis Chúa ban) và ông cũng mang danh hiệu Trữ quân nước Pháp (Dauphin of France).. Năm 1643, khi đang hấp hối, Louis XIII đã chuẩn bị tất cả mọi thứ để giúp đỡ con trai mình trong những năm đầu trên ngai vàng. Ông lập một Hội đồng nhiếp chính, đại diện cho Louis trong thời gian còn thơ ấu. Trái ngược với phong tục, ông không cho Anne độc chiếm chức nhiếp chính ngay cả Louis là con đẻ của bà và em trai của ông là Phillipe vì ông không chắc chắn về tài năng chính trị của bà. Nhưng rốt cuộc bà cũng trở thành người đứng đầu Hội đồng. Khi Louis XIII qua đời, Vương hậu đã đưa Louis - lúc này ông chưa đầy năm tuổi - đến để viếng cha. Cậu bé Louis đã có thể nắm được tình hình thực tế bởi khi người cha hỏi con trai của mình rằng có biết mình là ai, thì cậu trả lời rằng, "Louis thứ mười bốn, thưa phụ vương !". Cha ông trả lời rằng: "Con không phải Louis thứ mười bốn vào lúc này." Quan hệ giữa Louis và mẹ ông, Anne của Áo, rất tích cực. Những người đương thời đều nhận định rằng Vương hậu dành toàn bộ thời gian với Louis, cả 2 đều có những sở thích về ẩm thực và nghệ thuật sân khấu. Cũng chính Vương hậu đã khiến Louise vững tin thực hiện ý niệm tiến hành quân chủ chuyên chế của mình. == Ghi chúSửa đổi == == Đọc thêmSửa đổi == Ashley, Maurice P. Louis XIV And The Greatness Of France (1965) excerpt and text search Beik, William. Louis XIV and Absolutism: A Brief Study with Documents (2000) excerpt and text search Beik, William. "The Absolutism of Louis XIV as Social Collaboration." Past & Present 2005 (188): 195–224. online at Project MUSE Bluche, François, Louis XIV, (Franklin Watts, 1990) Buckley, Veronica. Madame de Maintenon: The Secret Wife of Louis XIV. London: Bloomsbury, 2008 Burke, Peter. The Fabrication of Louis XIV (1994) excerpt and text search Cambridge Modern History: Vol. 5 The Age Of Louis XIV (1908), old, solid articles by scholars; complete text online Campbell, Peter Robert. Louis XIV, 1661–1715 (London, 1993) Church, William F., ed. The Greatness of Louis XIV. (1972). Cowart, Georgia J. The Triumph of Pleasure: Louis XIV and the Politics of Spectacle (U of Chicago Press, 2008) 299 pp; focus on opera and ballet Cronin, Vincent. Louis XIV. London: HarperCollins, 1996 (ISBN 0002720728) Dunlop, Ian. Louis XIV (2000), 512pp excerpt and text search Erlanger, Philippe, Louis XIV (Praeger 1970) Fraser, Antonia. Love and Louis XIV: The Women in the Life of the Sun King. London: Weidenfeld & Nicolson, 2006 (hardcover, ISBN 0-297-82997-1); New York: Nan A. Talese, 2006 (hardcover, ISBN 0385509847) Goubert, Pierre. Louis XIV and Twenty Million Frenchmen (1972), social history from Annales School Jones, Colin. The Great Nation: France from Louis XIV to Napoleon (1715–1799) (2002) Lewis, W. H. The Splendid Century: Life in the France of Louis XIV (1953) excerpt and text search; also online complete edition Le Roy Ladurie, Emmanuel. The Ancien Regime: A History of France 1610–1774 (1999), survey by leader of the Annales School excerpt and text search Lynn, John A. The Wars of Louis XIV, 1667–1714 (1999) excerpt and text search Mitford, Nancy. The Sun King (1995), popular excerpt and text search Nolan, Cathal J. Wars of the Age of Louis XIV, 1650–1715: An Encyclopedia of Global Warfare and Civilization. (2008) 607pp; over 1000 entries; ISBN 978-0-313-33046-9 Rowlands, Guy. The Dynastic State and the Army under Louis XIV: Royal Service and Private Interest, 1661–1701 (2002) online edition Rubin, David Lee, ed. Sun King: The Ascendancy of French Culture during the Reign of Louis XIV. Washington: Folger Books and Cranbury: Associated University Presses, 1992. Shennan, J. H. Louis XIV (1993) online edition Thompson, Ian. The Sun King's Garden: Louis XIV, André Le Nôtre And the Creation of the Gardens of Versailles. London: Bloomsbury Publishing, 2006 ISBN 1582346313 Treasure, Geoffrey. Louis XIV (London, 2001). Wilkinson, Rich. Louis XIV (2007) Wolf, John B. Louis XIV (1968), the standard scholarly biography online edition == Liên kết ngoàiSửa đổi == Louise XIV của Pháp
paramount pictures.txt
Paramount Pictures Corporation là một tập đoàn truyền thông Mỹ, sản xuất và phát hành phim và các sản phẩm truyền thông. Trụ sở hãng đặt tại 5555 Melrose Avenue, Hollywood, California. Thành lập năm 1912 và hiện tại sở hữu bởi Viacom, đây là hãng phim có lịch sử lâu đời nhất tại miền Nam California, trước Universal Studios của NBC Universal hơn 1 tháng; đây cũng là hãng phim đại thụ cuối cùng vẫn đặt trụ sở tại Hollywood. Paramount được xem như một trong những hãng phim hàng đầu trên toàn thế giới. == Chú thích == === Ghi chú === === Tư liệu === Berg, A. Scott. Goldwyn. New York: Alfred A. Knopf, 1989. DeMille, Cecil B. Autobiography. Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall, 1959. Eames, John Douglas, with additional text by Robert Abele. The Paramount Story: The Complete History of the Studio and Its Films. New York: Simon & Schuster, 2002. Evans, Robert. The Kid Stays in the Picture. New York: Hyperion Press, 1994. Gabler, Neal. An Empire of Their Own: How the Jews Invented Hollywood. New York: Crown Publishers, 1988. Lasky, Jesse L. with Don Weldon, I Blow My Own Horn. Garden City NY: Doubleday, 1957. Mordden, Ethan. The Hollywood Studios. New York: Alfred A. Knopf, 1988. Schatz, Thomas. The Genius of the System. New York: Pantheon, 1988. Sklar, Robert. Movie-Made America. New York: Vintage, 1989. Zukor, Adolph, with Dale Kramer. The Public Is Never Wrong: The Autobiography of Adolph Zukor. New York: G.P. Putnam's Sons, 1953. == Liên kết ngoài == Official website
chánh án tòa án nhân dân tối cao (việt nam).txt
Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam là người đứng đầu Tòa án Nhân dân Tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước. Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao thường là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chỉ đạo cải cách Tư pháp Trung ương, Ủy viên Ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. == Nhiệm vụ và quyền hạn == Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao có nhiệm vụ và quyền hạn: Tổ chức công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao; chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Chủ tọa phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án nhân dân theo quy định của luật tố tụng. Trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình. Chỉ đạo việc tổng kết thực tiễn xét xử, xây dựng và ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; tổng kết phát triển án lệ, công bố án lệ. Chỉ đạo việc soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; ban hành hoặc phối hợp ban hành văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền theo Luật ban hành văn bản pháp luật. Trình Quốc hội phê chuẩn việc đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; trình Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Thẩm phán các Tòa án khác. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh Chánh án và Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án và Phó Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chánh án và Phó Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Phó Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Chánh án và Phó Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Chánh án và Phó Chánh án Tòa án quân sự khu vực và các chức vụ trong Tòa án nhân dân tối cao, trừ các chức vụ thuộc thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức của Chủ tịch nước. Quyết định luân chuyển, điều động, biệt phái Thẩm phán, trừ Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự quân khu và tương đương; Tòa án quân sự khu vực; quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao và thành lập các Tòa chuyên trách khác của Tòa án nhân dân khi xét thấy cần thiết. Trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao. Quyết định việc tổ chức Tòa chuyên trách theo quy định; quy định cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân theo quy định. Đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định số lượng Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp và tỷ lệ các ngạch Thẩm phán tại mỗi cấp Tòa án. Đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định danh sách Ủy viên Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia. Đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định quy chế hoạt động của Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia. Đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định chế độ tiền lương, phụ cấp; mẫu trang phục, cấp phát và sử dụng trang phục, Giấy chứng minh Thẩm phán. Quyết định phân bổ biên chế, số lượng Thẩm phán, ngân sách chi cho hoạt động của các Tòa án nhân dân; quy định biên chế của các Tòa án quân sự sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tổ chức kiểm tra việc thực hiện biên chế, quản lý cán bộ, quản lý và sử dụng ngân sách, cơ sở vật chất của Tòa án nhân dân. Tổ chức công tác đào tạo; bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác của Tòa án nhân dân. Chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn, kiến nghị của đại biểu Quốc hội. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật tố tụng; giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. == Lịch sử == === Giai đoạn 1945-1958 === Trong giai đoạn này hệ thống tư pháp của Việt Nam vẫn mang tính chất thiên về quân sự, không thiết lập chức vụ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Ngay sau khi thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hệ thống Tòa án có 2 loại: Toà án Quân sự với nhiệm vụ xét xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập và Tòa án đặc biệt xét xử những nhân viên của các Uỷ ban nhân dân hay các cơ quan của Chính phủ do ban Thanh tra truy tố. Chủ tịch Chính phủ lâm thời làm Chánh án Tòa án đặc biệt và Bộ trưởng Tư pháp làm Hội thẩm. Trong thời kỳ sau từ những năm 1946-1950 hệ thống tư pháp thiết lập 3 hệ thống tòa án: Tòa án thường, Tòa án binh và Tòa án Quân sự. Tòa án thường được phân theo cấp thứ tự chứ không phân theo khu vực địa hạt, Tòa sơ cấp, Tòa đệ nhị cấp, Tòa thượng thẩm. Năm 1950 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cải cách hệ thống tư pháp, trong giai đoạn từ 1950-1958 đã thiết lập hệ thống tòa án nhân dân các cấp, nhưng chưa thiết lập tòa án nhân dân tối cao. === Gian đoạn 1958-nay === Sau khi cải cách hệ thống tư pháp năm 1959 Tòa án Nhân dân Tối cao được thành lập với người đứng đầu là Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và chính thức được đưa vào Hiến pháp năm 1959. Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao có quyền hạn giải quyết các vần đề quan trọng của Tòa án Nhân dân Tối cao. Tới năm 1980 thì quyền hạn được tăng lên như hiện nay. == Danh sách Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam == Khung màu xám chỉ người giữ chức vụ Quyền Chánh án Tối cao. == Xem thêm == Chủ tịch nước Việt Nam Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam == Tham khảo ==
mtv.txt
MTV (Music Television hay Kênh truyền hình âm nhạc) là một kênh truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh của Mỹ thuộc sở hữu của MTV Networks Music & Logo Group, một đơn vị của bộ phận Viacom Media Networks trực thuộc tập đoàn Viacom. Kênh đặt trụ sở tại New York City. Bắt đầu phát sóng từ 1 tháng 8 năm 1981, với tư tưởng khởi đầu là kênh chuyên chiếu các video âm nhạc với những người dẫn chương trình khác nhau, gọi là VJs (video jockeys). Trong những năm đầu, mục tiêu chính của MTV là những người trẻ, nhưng ngày nay các chương trình của MTV chủ yếu nhắm vào trẻ thành niên và thanh thiếu niên. Kể từ khi được trình chiếu, MTV đã góp công lớn vào sự phát triển của nền công nghiệp âm nhạc. Những khẩu hiệu như "Tôi muốn MTV của tôi" ("I want my MTV") đã trở thành câu ấn tượng trong tâm trí nhiều người, buổi diễn của VJ trở nên nổi tiếng, sau đó các ý tưởng dần được hình thành, như chiếu những buổi diễn trực tiếp hay phỏng vấn, tin tức giúp các nghệ sĩ và người hâm mộ đến gần nhau hơn. MTV đã sản sinh ra nhiều kênh chị em ở Mỹ và các kênh quốc tế liên kết, một số các kênh đó đã tách ra hoạt động độc lập. Tác động của MTV vào đối tượng của nó, bao gồm các vấn đề liên quan tới việc kiểm duyệt và hoạt động xã hội đã trở thành một chủ đề được tranh cãi trong nhiều năm qua. Tính đến tháng 8 năm 2013 có khoảng 97.654.000 hộ gia đình Mỹ (85,51% hộ gia đình có truyền hình) có kênh MTV. == Ra mắt == === Khái niệm chương trình (1964-1977) === Một số khái niệm về chương trình truyền hình âm nhạc đã có từ khoảng những năm đầu thập niên 1960. Bắt đầu từ giữa những năm 1960, ban nhạc The Beatles đã sử dụng video âm nhạc để quảng bá đĩa nhạc của họ. Việc sáng tạo sử dụng các video âm nhạc trong bộ phim ra mắt năm 1964 (phim A Hard Day’s Night), và đặc biệt là việc quảng bá bài hát Can’t Buy My Love, đã khiến MTV tôn vinh đạo diễn của bộ phim Richard Lester với giải thưởng về “sáng tạo” video âm nhạc một thập kỷ sau đó. Trong cuốn sách Mason Williams FCC Rapport của mình, tác giả Mason Williams nói rằng ông gợi ý cho CBS một ý tưởng về một chương trình truyền hình có tính năng “video-radio”, nơi những DJ sẽ chơi các tác phẩm nghệ thuật avant-garde theo bản nhạc đang phát sóng. CBS đã bỏ qua các ý tưởng này, nhưng Williams đã đi đầu khi đưa tác phẩm âm nhạc của riêng mình “Classical Gas” lên chương trình Smothers Brothers Comedy Hour, nơi ông đóng vai trò biên tập viên chính. Năm 1970 tại Philadenphia DJ Bob Withney tạo ra The Now Explosion, một series phim truyền hình quay tại Atlanta và phát sóng cho các đài truyền hình trong vùng và trên khắp nước Mỹ. Các series trong đó có các clip quảng cáo của các nghệ sĩ nổi tiếng khác nhau. Chương trình này đã bị ngưng phát vào năm 1971. Một số chương trình âm nhạc có nguồn gốc bên ngoài Hoa Kỳ bào gồm Countdown của Úc và Top of the Pops của Anh, bước đầu đã phát sóng các video âm nhạc thay cho màn trình diễn của các nghệ sĩ không có video ca nhạc trực tiếp và bắt đầu phát các chương trình này thường xuyên vào giữa những năm 1970. Trong năm 1974 Gary Van Haas, phó chủ tịch tổng công ty Televak, giới thiệu một khái niệm một kênh video âm nhạc đến các cửa hàng bán băng đĩa trên khắp nước Mỹ, và quảng bá kênh Music Video TV đến các nhà phân phối và bán lẻ băng đĩa trên tạp chí Billboard tháng 5 năm 1974. Kênh âm nhạc này chơi những đĩa video âm nhạc và ký kết một thỏa thuận với US Cable vào năm 1978 để mở rộng đối tượng của nó từ dịch vụ bán lẻ băng đĩa tới truyền hình cáp. Các dịch vụ trên đã ngừng hoạt động từ thời điểm MTV ra mắt vào năm 1981. === Chuẩn bị (1977-1981) === Tiền thân của MTV bắt đầu vào năm 1977, khi Warner Cable (một bộ phận của Warner Communication, trực thuộc Warner Bros), và là tiền thân của Warner Amex Satellite Entertaiment (WASEC) đưa ra QUBE, một hệ thống truyền hình cáp tương tác đầu tiên tại Columbus, Ohio. Hệ thống QUBE cung cấp nhiều kênh chuyên biệt hóa. Một trong những kênh chuyên biệt là Sight On Sound, một kênh âm nhạc đặc trưng có các chương trình truyền hình các buổi hòa nhạc và các chương trình truyền hình định hướng âm nhạc với các dịch vụ tương tác QUBE giúp người xem có thể bỏ phiếu cho các bài hát và nghệ sĩ yêu thích của họ. Các định dạng ban đầu của chương trình MTV đã được tạo ra từ giám đốc truyền thông Robert W. Pittman, người sau này trở thành chủ tịch và giám đốc điều hành (CEO) của MTV Networks. Pittman đã thử nghiệm và điều chỉnh các mẫu chương trình âm nhạc bằng cách sản xuất và phát hành show 15 phút có tên Album tracks trên đài truyền hình thành phố New York WNBC vào cuối năm 1970. Ông chủ của Pittman - phó chủ tịch WASEC - John Lack có dẫn dắt PopClips, một series phim truyền hình được cựu ca sĩ solo Monkee-Turned Michael Nesmith sản xuất. Monkee-Turned Michael Nesmith đã chuyển qua các định dạng video âm nhạc vào cuối năm 1970. Những cảm hứng cho PopClips đến từ một chương trình tương tự trên truyền hình TVNZ của New Zealand, một đài phát thanh và hình ảnh khởi đầu từ năm 1976. Khái niệm này đã có mặt tại các chương trình từ năm 1966, khi các công ty thu âm lớn bắt đầu cung cấp cho Broadcasting Corporation New Zealand các clip nhạc quảng cáo phát trên máy bay miễn phí (một số nghệ sĩ thực hiện chuyến đi dài tới New Zealand để xuất hiện trực tiếp). === Ra mắt Music Television === Ngày thứ bảy. 1 tháng 8 năm 1981, Vào lúc 12h01 EST MTV khai trương với John Lack nói “Kính thưa quý vị, rock and roll” và video phát cảnh quay đếm ngược của tàu vũ trụ Space Shuttle Columbia xuất phát diễn ra hồi đầu năm đó và hình ảnh rời bệ phóng của tàu Apollo 11. Sau những lời nói đó là âm thanh bài hát thương hiệu của MTV- một giai điệu rock do Johnathan Elias và John Peterson sáng tác, phát song song với hình ảnh của tàu Apollo 11 hạ cánh xuống Mặt Trăng với lá cờ logo của MTV, thay đổi liên tục với nhiều màu sắc, kết cấu và thiết kế. Các biên tập sản xuất của MTV Alan Goodman và Fred Seibert sử dụng cảnh quay được công chúng biết tới này như một sự khoa trương. Seibert cho biết họ đã lên kế hoạch sử dụng video “một bước nhỏ” của Neil Armstrong, nhưng luật sư cho biết Armstrong sở hữu tên và chân dung của ông, và Armstrong đã từ chối cho phép do đó các âm thanh liên quan đến Armstrong đã được thay thế bằng âm thanh bíp bíp. Các video ca nhạc đầu tiên được trình chiếu trên MTV là Video Killed Star Radio của ban nhạc The Buggles, sau video này là video You Better Run của Pat Benatar. Thỉnh thoảng màn hình MTV sẽ chuyển màu đen khi nhân viên MTV cho đĩa vào VCR. Hình gạt MTV xuất hiện gần thời điểm bắt đầu và kết thúc của video âm nhạc cuối cùng sử dụng các kiểu chữ Kabel dễ nhận biết trong 25 năm liền sau đó, nhưng những hình gạt trong ngày đầu lên sóng của MTV dùng kiểu chữ khác và bao gồm thông tin của bài hát như năm và tên bài hát. Giám đốc Robert W. Pittman tuyển chọn và quản lý một nhóm làm việc, bao gồm Tom Freston (người kế vị Pittman làm giám đốc điều hành của MTV Networks), Fred Seibert, John Sykes, Carolyn Baker (trưởng ban phát triển nhân lực và sát nhập), Marshall Cohen (trưởng ban nghiên cứu), Gail Sparrow (nhân lực và sát nhập), Sue Steinberg (điều hành sản xuất), Julian Goldberg, Steve Lawrence, Geoff Bolton, người sản xuất studio và người viết MTV News Liz Nealon, Nancy Lapook và Robin Zorn, Steve Casey (sáng tạo ra tên “MTV” và là giám đốc chương trình đầu tiên của kênh), Marcy Brahman, Ronald E. “Buzz” Brindle, và Robert Morton. Kenneth M.Mille được công nhận là giám đốc kỹ thuật đầu tiên, chính thức khai trương MTV tại trung tâm kỹ thuật truyền hình New York City. MTV đã ngay lập tức gây ra hiệu ứng trong khu vực nó được phát sóng. Chỉ trong vòng vài tháng, các cửa hàng trong khu vực nơi phát các bản nhạc của MTV đã bán hết các đĩa hát mặc dù các đài địa phương không hề phát các bản nhạc đó, chẳng hạn như Men at Work, Bow Bow Bow, và Humen League. MTV đã châm ngòi cho sự xâm lấn âm nhạc Anh lần 2 cùng với hàng loạt các video của các diễn viên Anh, vốn đã quen với việc sử dụng các video âm nhạc cả nửa thập kỷ lúc đó. === Những ý tưởng trong các năm tiếp theo (1981-1992) === HBO cũng có một chương trình có thời lượng 30 phút cho các video âm nhạc, tên là Video Jukebox, phát sóng lần đầu vào khoảng thời gian ra mắt của MTV và kéo dài cho đến cuối năm 1986. Cũng vào thời điểm này HBO cũng như các kênh truyền hình cao cấp khác như Cinemax, Showtime và The Movie Channel thỉnh thoảng chơi một vài video âm nhạc giữa các bộ phim. SuperStation WTBS tung ra Night Tracks vào ngày 3 tháng 6 năm1983 với tối đa 14 giờ video âm nhạc phát sóng mỗi đêm cuối tuần của năm 1985. Sự khác biệt đáng chú ý nhất với MTV là các bài hát của các nghệ sĩ da đen đã được lên sóng trên kênh này, trong khi MTV đã bỏ qua. Chương trình phát cho tới tháng 5 năm 1992. Một số thị trường cũng tung ra các kênh âm nhạc bao gồm KVMY của Las Vegas (kênh 21) được ra mắt vào mùa hè năm 1984 với mã kênh KRLR-TV cùng tên thương hiệu “Vusic 21”. Video phát đầu tiên trên kênh đó là “Video Killed Star Radio”, theo bước MTV. Ngay sau khi TBS bắt đầu Tracks Night, NBC đã phát động một chương trình video ca nhạc được gọi là Friday Night Video, được coi là câu trả lời của hệ thống truyền hình đối với sự xuất hiện của MTV. Sau đó chương trình này đổi tên thành đơn giản hơn là Friday Night. Chương trình kéo dài từ năm 1983 đên 2002. Vào năm 1984, Kênh ABC Rocks, nỗ lực của ABC cho thể loại chương trình video ca nhạc này, đã ra đời nhưng thành công ít hơn và chỉ kéo dài một năm. Nhà sáng lập TBS Ted Turner bắt đầu với kênh Cable Music Channel vào năm 1984, được thiết kế để phát kết hợp nhiều loại video âm nhạc thay vì chỉ nhạc rocks theo format của kênh MTV cho phép. Nhưng sau một tháng, kết quả hoạt động kinh doanh của kênh này đã thua lỗ. Turner đã bán nó cho MTV và MTV đã tái phát triển nó thành kênh VH1. Một thời gian sau khi ra mắt. Disney Channel đã phát sóng một chương trình gọi là D-TV một từ viết tắt gần như MTV. Chương trình sử dụng các đoạn âm nhạc cắt ngắn, bao gồm cả từ nghệ sĩ hiện tại và quá khứ. Chương trình này thay các video ca nhạc bằng các chương trình sử dụng video clip của nhiều phim hoạt hình Disney cổ điển và phim hoạt hình để đi kèm với các bài hát. Chương trình này được phát sóng ở nhiều định dạng, đôi khi là giữa chương trình, đôi khi là chương trình riêng, và mỗi lần đều khác nhau. Các chương trình âm nhạc đặc biệt của kênh này đều được phát sóng lại trên các kênh Disney và NBC. Chương trình được phát sóng vào các thời điểm khác nhau từ năm 1984 đến 1999. Năm 2009 Disney làm mới lại các ý tưởng của D-TV với một loạt các phân đoạn ngắn theo mẫu gọi là Re-Micks. == Video âm nhạc == Mục đích ban đầu của MTV là một kênh truyền hình chơi âm nhạc 24h/ngày, bảy ngày một tuần và được các MC chuyên nghiệp hướng dẫn. Họ được gọi là VJ hay Video Jockeys. Khẩu hiệu ban đầu của kênh là “Bạn sẽ không bao giờ cảm nhận âm nhạc theo cách tương tự một lần nữa” và “On Cable. In Stereo”. Mặc dù kênh MTV gốc không còn phát các video ca nhạc 24/7 nhưng một số kênh phái sinh của nó lại làm điều này bao gồm MTV hits và MTV jams. Ngoài ra người xem có thể xem các video ca nhạc theo yêu cầu tại MTV.com. MTV cũng tiếp tục hỗ trợ số lượng video âm nhạc rộng rãi trên kênh MTV International. === Các VJ và định dạng đầu tiên (1980-1994) === Định dạng sớm nhất của MTV được mô hình hóa theo mô hình AOR (album rock oriented) của đài phát thanh. MTV chuyển sang bắt chước 40 đài phát thanh cùng lúc vào năm 1984. Đàn ông và phụ nữ trẻ có khuôn mặt tươi tắn được thuê để dẫn chương trình cho kênh và giới thiệu các video âm nhạc được phát. Thuật ngữ VJ (video jockey) được đưa ra khi nhái chữ DJ, vốn là chữ viết tắt của disc jockey. Nhiều VJ cuối cùng đã trở thành người nổi tiếng theo đúng nghĩa của từ này. Các VJ đầu tiên của MTV năm 1980 là Nina Blackwood, Mark Goodman, Alan Hunter, JJ Jackson và Martha Quinn. Các VJs sẽ ghi âm “intro” và “outro” đoạn video âm nhạc, cùng với các tin tức âm nhạc, phỏng vấn, show diễn và chương trình khuyến mãi. Những phân đoạn sẽ xuất hiện với không khí “trực tiếp” và ra mắt trên chương trình MTV lịch 24/ngày, bảy ngày một tuần, mặc dù phân đoạn hình đã được ghi âm sẵn trong một tuần làm việc thường xuyên tại studio của MTV. Các video âm nhạc sớm đã chiếm phần lớn trong chương trình MTV trong thập niên 1980 là video quảng cáo (promo: một thuật ngữ có nguồn gốc từ Anh) mà công ty thu âm đưa vào sử dụng hoặc mỗi buổi hòa nhạc clip quốc tế từ các nguồn có sẵn. Các ban nhạc Rock và các ca sĩ của những năm 1980 được phát sóng trên MTV baom gồm các thể loại new wave, hard rock và heavy metal như Adam Ant, Blondie, Eurythmics, Culture Club, Motley Crue, Split Enz, Prince, Ultravox, Duran Duran, Van Halen, Bon Jovi, RATT, Def Leppard, The Police và The Card. MTV cũng quay video âm nhạc của “Weird AL” Yankovic, người sống bằng nghề làm video âm nhạc để chế nhạo những nghệ sĩ khác. MTV cũng phát sóng một số sản phẩm đặc biệt của “Weird AL” trong những năm 1980 và 1990 dưới cái tên AL TV. MTV cũng đưa lên sóng một số video âm nhạc của một số nghệ sĩ nhạc rock cổ điển từ những năm 1980 và những thập kỷ trước đó bào gồm David Bowie, Dire Straits (với bài hát năm 1985 và video Money for Nothing đều nhắc đến MTV và bao gồm khẩu hiệu “Tôi muốn MTV của tôi” trong lời bài hát), Journey, Rush, Linda Rontstadt, Genesis, Billy Squier, Aerosmith, The Rolling Stones, The Moody Blues, John Mellencamp, Billy Joel, Robert Palmer, Rod Stewart, The Who, và ZZ Top, các nghệ sĩ solo mới như Robert Plant, Phil Collins, Paul McCartney, David Lee Roth, và Pete Townshend, các nhóm siêu sao Asia, Power Station, The Film, và Treveling Wilburys cũng như một số nghệ sĩ bị lãng quên như Michael Stanley Band, Shoes, Blotto, và Taxxi. Các ban nhạc rock Kiss công bố công khai xuất hiện mà không cần tới makeup trong lần đầu tiên xuất hiện trên MTV vào năm 1983. Trong những ngày đầu xuất hiện của kênh, MTV thỉnh thoảng cho các ngôi sao khác xuất hiện kênh trong vòng một giờ đồng hồ với tư cách “VJ khách mời”. Những VJ này bao gồm các nhạc sĩ như Adam Ant, Billy Idol, Phil Collins, Simon Lebon và Nick Rhodes của Duran Duran, Tina Turner và diễn viên hài như Eddie Murphy, Martin Short, Dan Aykroyd, và Steven Wright bằng cách cho họ chọn các video âm nhạc yêu thích của họ. Bộ phim Flashdance là bộ phim đầu tiên mà trong đó nhà tổ chức đã trích đoạn nhạc phim của nó và cung cấp chúng cho MTV như một video âm nhạc, các kênh phát sóng sau đó luân phiên sử dụng đoạn video âm nhạc này. Ngoài việc đưa các nghệ sĩ ít nổi tiếng vào, MTV còn là công cụ làm bùng nổ làn sóng âm nhạc vào những thập niên 80. Ngân sách của các video âm nhạc tăng vọt, các nghệ sĩ đã bắt đầu đưa đầy đủ phần vũ điệu vào video clip của họ. Âm nhạc của Michael Jackson đã gắn liền với vũ điệu. Ngoài lời bài hát, người hâm mộ cũng học được vũ đạo của Jackson để họ có thể nhảy cùng bài hát. Madonna sử dụng múa trong các video âm nhạc của mình, cô sử dụng nhạc jazz cổ điển và các vũ công chuyên nghiệp. Cùng với việc sử dụng phục trang và make-up phong phú, Duran Duran sử dụng các yếu tố vũ điệu của một số bộ lạc với các kỹ thuật Dunham trong Wild Boys và Kate Bush sử dụng một bản song ca múa hiện đại trong Running Up That Hill. MTV đưa các yếu tố ngoài âm nhạc tới công chúng xem truyền hình, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ về vũ điệu trong âm nhạc từ những năm 1980 cho tới ngày hôm nay. Năm 1984 các công ty thu âm và các nghệ sĩ đã bắt đầu làm các video âm nhạc chất lượng hơn so với trước đó vì họ đã nhân ra được khả năng quảng bá của MTV đối với thị trường âm nhạc. Để phù hợp với số lượng video đông đảo, MTV công bố thay đổi danh sách nhạc của mình trong ngày 03/11/1984 trong tạp chí Billboard, với danh sách có hiệu lực vào tuần sau đó. Các loại video nhạc được mở rộng thay vì 3 (Light, Medium, Heavy) thành 7 mức: New, Light, Breakout, Medium, Active, Heavy và Power. Điều này đảm bảo với các nghệ sĩ rằng các bản thu âm hit của họ trên bảng xếp hạng sẽ được người xem tiếp cận một cách công bằng và xứng đáng; trong đó mức Medium là mức ổn định cho các bản hit mới ra và vẫn còn khả năng leo vào top 10, và mức Heavy là mức ổn định cho những bản hit lớn. === Phá vỡ rào cản “màu da” (1981-1983) === Trong những năm đầu tiên MTV phát sóng, rất ít các nghệ sĩ da màu được sắp xếp đưa vào danh sách. Một vài lựa chọn những người trong danh sách phát sóng của MTV là Prince, Eddy Grant, Donna Summer, Youth Musical và Herbie Hancock. Các nghệ sĩ không phải là da trắng lần đầu tiên được phát trên sóng MTV là ban nhạc Anh The Specials, trong lần đó phát một bài hát có hỗn hợp các nhạc sĩ và các ca sĩ da trắng và da đen. Video của Specials là “Rat Race” có thứ tự phát là 58 vào ngày phát sóng đầu tiên của kênh. MTV từ chối video của các nghệ sĩ da màu khác chẳng hạn như Rick James với video “Super Freak” bởi vì họ không phù hợp với định dạng AOR, một tiêu chí lựa chọn của kênh vào thời điểm đó. Việc video này bị loại trừ làm James tức giận, ông công khai ủng hộ việc bổ sung các video của các nghệ sĩ da đen trên kênh này. Huyền thoại nhạc rock David Bowie cũng đặt câu hỏi về việc thiếu các nghệ sĩ da đen trên kênh MTV trong một cuộc phỏng vấn trên sóng của MTV với VJ Mark Goodman vào năm 1983. Người đứng đầu về phát triển nhân lực và sát nhập của MTV, Carolyn B. Baker, vốn là người da đen, đã đặt câu hỏi tại sao khái niệm âm nhạc lại phải hẹp hòi như vậy, và câu hỏi này cũng được một vài người ngoài ngành truyền hình nêu ra. “Bên kia chiến tuyến tại MTV chúng tôi đã không chơi nhạc của người da đen vì những “nghiên cứu”, Baker đã nói vào năm sau. "Nhưng các nghiên cứu đã dựa trên sự thiếu hiểu biết… chúng tôi còn trẻ, chúng tôi đã làm quá tay. Chúng tôi đáng lẽ không cần phải quá mức như thế, thậm chí tới gần đến mức phân biệt chủng tộc." Tuy nhiên chính Baker đã đích thân bác bỏ video Super Freak của Rick James “bởi vì có những hình ảnh phụ nữ bán khỏa thân trong video đó và đó là một sự nhảm nhí. Là một phụ nữ da đen, tôi không muốn điều đó đại diện cho dân tộc tôi như là một video âm nhạc da đen đầu tiên trên MTV." Giám đốc chương trình âm nhạc của kênh Buzz Brindle trả lời phỏng vấn vào năm 2006, "MTV ban đầu được thiết kế để trở thành một kênh chuyên nhạc rock. Đó là khó khăn đối với MTV để tìm các nghệ sĩ Mỹ gốc Phi có âm nhạc phù hợp với định dạng của kênh, vốn tập trung vào nhạc rock ngay từ đầu." Nhà văn Craig Marks và Rob Tannenbaum lưu ý rằng MTV đã "phát sóng video của nhiều nghệ sĩ da trắng không hề chơi rock." Andrew Goodwin sau này đã viết, "[MTV] từ chối đã phân biệt chủng tộc, với lý do kênh chỉ tuân theo quy định phát nhạc rock (vốn là hậu quả của một lịch sử lâu dài của phân biệt chủng tộc)." Phó chủ tịch điều hành MTV Les Garland phàn nàn nhiều thập kỷ sau đó, "điều tồi tệ nhất là thứ nhảm nhí "phân biệt chủng tộc"... hầu như không có bất kỳ video rock nào được nghệ sĩ da đen trình diễn. Các công ty băng đĩa có tài trợ cho họ đâu. Trong khi các công ty băng đĩa thì không bao giờ bị buộc tội phân biệt chủng tộc cả." Trước năm 1983, Michael Jackson cũng đấu tranh để có quyền lên sóng trên MTV. Để giải quyết cuộc đấu tranh và cuối cùng là "phá vỡ các rào cản màu da", chủ tịch của CBS Records vào thời điểm đó, Walter Yetnikoff tố cáo MTV trong một tuyên bố, với ngôn ngữ chửi thề, ông đã đe dọa không cho bất kỳ video âm nhạc nào của hãng mình được phát trên MTV. Tuy nhiên, Les Garland, giám đốc phòng bản quyền, cho biết ông quyết định đưa video "Billie Jean" của Jackson lên sóng mà không hề có áp lực từ CBS. Điều này mâu thuẫn với thông tin do người đứng đầu bộ phận PR của CBS, David Benjamin, khi trả lời phỏng vấn của tạp chí Vanity Fair. Theo The Austin Chronicle, video của Jackson cho bài hát "Billie Jean" là "video đã phá vỡ rào cản màu da, mặc dù ngay từ đầu chính MTV đã tự tạo ra rào cản này." Tuy nhiên, sự thay đổi không diễn ra ngay lập tức. "Billie Jean" đã không được thêm vào "danh sách phát mức trung bình" trong danh sách nhạc của MTV (2 đến 3 lần phát mỗi ngày) cho đến khi nó đã đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 chart. Một tháng sau đó, nó đã được nâng lên thành "Heavy", một tuần trước khi video "Beat It" của Jackson được chiếu lần đầu trên MTV. Cả hai video được phát vài lần một ngày trong hai tháng tiếp theo; vào đầu mùa hè, MTV đã ngừng phát các bài hát này. Nhưng tác động của video này mang tính lâu dài vì tại thời điểm đó các video của các nghệ sĩ da đen khác như "Little Red Corvette" và "1999" của Prince và "She Works Hard For The Money" của Donna Summer đã có trong danh sách hạng nặng của kênh. Khi video "Thriller" của Jackson được phát hành vào cuối năm, với nội dung tốt Jackson đã có tham vọng mong video này có thể được MTV quảng bá nhiều nhất có thể; và sau đó các video thể loại nhạc pop, R&B cũng được phát trên MTV. Cuối cùng, video của các thể loại nhạc mới nổi như rap và hiphop cũng bắt đầu được phát trên MTV. Phần lớn các nghệ sĩ rap xuất hiện trên MTV vào giữa những năm 1980, như Run-DMC, The Fat Boys, Whodini, LL Cool J, và Beastie Boys, đều là các ban nhạc đến từ bờ biển phía Đông nước Mỹ. Giám đốc video Don Letts có một cái nhìn khác về quá trình chuyển đổi này, ông nói, "Người ta thường nói "Billie Jean" là video âm nhạc da đen đầu tiên trên MTV. Thực ra "Pass Dutchie" mới là video đầu tiên. Bởi vì các ca sĩ trong video này còn nhỏ và nói bằng giọng Anh hài hước, nên ban nhạc Musical Youth được coi như không có chút đe dọa và không phải ban nhạc của người da đen." Dù sao đi nữa, nhiều video âm nhạc của nghệ sĩ da đen đã được phát trong danh sách ca khúc hạng "nặng" của năm sau đó (1984). Cùng với Prince, Michael Jackson và Donna Summer, nghệ sĩ da màu khác như Billy Ocean, Tina Turner, Stevie Wonder, Chaka Khan, Lionel Ritchie, Ray Parker Jr, Rockwell, The Pointer Sisters, Kool and the Gang, Diana Ross, Shannon, và Deniece Williams đều đã có video phát trong danh sách "ca khúc hạng nặng" trên MTV. === Video Music Awards (1984-nay) === Năm 1984, MTV sản xuất MTV Video Music Awards lần đầu tiên của mình, còn gọi là VMAs. MTV Video Music Awards lần đầu vào năm 1984, đã được nhấn mạnh bởi một màn trình diễn trực tiếp của Madonna "Like A Virgin". Các bức tượng được trao tại Video Music Awards là của moonman MTV, hình ảnh ban đầu của kênh từ lần phát sóng đầu tiên năm 1981. Hiện nay, các Video Music Awards là sự kiện thường niên được xem nhiều nhất của MTV. === Sự kiện đặc biệt hàng năm (1986-nay) === MTV bắt đầu phát sóng chương trình Spring Break hàng năm của kênh vào năm 1986. Kênh thiết lập các chi nhánh tạm thời ở Daytona Beach, Florida trong một tuần tháng 3 năm đó để phát sóng trực tiếp tám giờ mỗi ngày. "Spring break mùa xuân là một sự kiện văn hóa cho thanh niên", phó chủ tịch của MTV Doug Herzog nói vào thời điểm đó. "Chúng tôi muốn trở thành một phần của sự kiện này vì lý do đó. Thật hợp lý để chúng tôi tới phát sóng trực tiếp từ trung tâm sự kiện, bởi vì rõ ràng những người trẻ tham gia là những loại người thích xem MTV." Tính năng nổi bật của kênh là phát rất nhiều màn trình diễn live của các nghệ sĩ và ban nhạc ngay tại chỗ. Truyền thống hàng năm tiếp tục tới tận những năm 2000, lúc đó sự kiện này chuyển thành điểm nhấn cho kênh mới mtvU, kênh phái sinh của kênh MTV nhắm mục tiêu vào các trường đại học. MTV sau đó mở rộng sự kiện bãi biển theo chủ đề thành sự kiện âm nhạc mùa hè, trích phần lớn thời gian mỗi mùa hè để phát sóng trực tiếp từ một ngôi nhà bãi biển tại các địa điểm khác nhau xung quanh thành phố New York, đến mức tên của các ngôi nhà trên đã trở thành các thương hiệu được nhắc đến nhiều nhất của MTV trong suốt mùa hè những năm 1990 và đầu những năm 2000, như Motel California, Summer Share, Isle of MTV, SoCal Summer, Summer in the Keys, và Shore Thing. MTV VJ sẽ phát hàng loạt các video âm nhạc, các đoạn phỏng vấn nghệ sĩ và ban nhạc, giới thiệu các chương trình biểu diễn trực tiếp và các chương trình khác từ vị trí ngôi nhà bãi biển mỗi mùa hè. Trong những năm 2000, khi MTV giảm thời gian phát sóng của mình cho các video âm nhạc và loại bỏ phần lớn chương trình của kênh, sự kiện mùa hè kéo dài hàng năm của MTV đã kết thúc. MTV cũng tổ chức các sự kiện âm nhạc kéo dài một tuần bên cạnh sự kiện của kênh. Ví dụ từ những năm 1990 và 2000 bao gồm All Access Week, thực hiện một tuần vào mùa hè dành riêng cho các buổi hòa nhạc sống và các lễ hội; New Music Week Spankin, thực hiện một tuần vào mùa thu dành riêng cho thương hiệu của video âm nhạc mới; và chương trình đặc biệt kéo dài một tuần để tường thuật một sự kiện trực tiếp đặc biệt, chẳng hạn như Wanna be a VJ và Video Music Awards. Vào cuối mỗi năm, MTV tận dụng lợi thế vị trí của mình tại thành phố New York để phát sóng truyền hình trực tiếp đêm giao thừa năm mới ở Times Square của thành phố này. Một số màn trình diễn nhạc sống được phát cùng với các video phỏng vấn các nghệ sĩ và ban nhạc có ảnh hưởng nhất trong cả năm. Suốt từ những năm 1980 đến những năm 2000, kênh duy trì truyền thống có một ban nhạc thực hiện một ca khúc cover vào lúc nửa đêm ngay sau khi bắt đầu năm mới. === Phát sóng trực tiếp các buổi đại nhạc hội (1985-2005) === Trong suốt lịch sử của nó, MTV đã phát sóng trực tiếp một loạt nhạc hội toàn cầu. Trong hầu hết ngày 13 tháng 7 năm 1985, MTV phát sóng buổi hòa nhạc Live Aid tổ chức tại London và Philadelphia, do Bob Geldof và Midge Ure tổ chức để gây quỹ cho cứu trợ nạn đói ở Ethiopia. Trong khi kênh ABC chỉ điểm tin nổi bật về buổi hòa nhạc này trong khung giờ vàng, MTV phát sóng hẳn 16 giờ. Cùng với VH1, MTV phát sóng Live 8 concert - một loạt các buổi hòa nhạc đặt ở các tiểu bang G8 và Nam Phi, vào ngày 2 tháng 7 năm 2005. Live 8 tổ chức trước hội nghị thượng đỉnh G8 lần thứ 31 và kỷ niệm 20 năm Live Aid. MTV bị chỉ trích nặng nề cho việc phát sóng của Live 8. Chương trình đã để quảng cáo, bình luận của VJ và các video biểu diễn khác tràn ngập trong chương trình phát trực tiếp này. Chỉ trích trên internet tập trung phê phán việc MTV làm gián đoạn hình ảnh cuộc hội ngộ của ban nhạc Pink Floyd. Để đáp lại, chủ tịch MTV Van Toeffler nói rằng ông muốn phát sóng hoạt động nổi bật từ Live 8 trên MTV và VH1, và nhấn mạnh những người dẫn chương trình của kênh đã nói chuyện về buổi biểu diễn chỉ trong quá trình chuyển đổi của các quảng cáo thương mại, phân đoạn thông tin, và các video âm nhạc khác. Toeffler thừa nhận rằng "MTV không nên đặt tham vọng phát sóng hết tất cả các trình diễn trong chương trình trên, mà nên phát sóng hoàn chỉnh các video của các nghệ sĩ chính." Ông cũng đổ lỗi cho sự gián đoạn khi phát chương trình về Pink Floyd là do cáp truyền hình bị hỏng. MTV có trung bình 1,4 triệu người xem cho ngày phát sóng của Live 8 (2 tháng 7). Sau đó MTV và VH1 phát sóng năm giờ liên tục toàn bộ nội dung của Live 8 vào ngày 9 tháng 7, với mỗi kênh phát sóng các video âm nhạc của các nghệ sĩ khác nhau. === Các series chương trình âm nhạc theo format (1986-2008) === MTV giới thiệu 120 phút vào năm 1986, một chương trình phát các bài hát dòng alternative rock với ít lần phát lại, và các video "underground" trong 14 năm tiếp theo trên MTV và ba năm nữa trên kênh chị em MTV2. Chương trình sau đó được biết đến như Subterranean trên MTV2. Tám năm sau, vào ngày 31 tháng 7 năm 2011, 120 phút được sống lại với Matt Pinfield tiếp quản nhiệm vụ dẫn chương trình một lần nữa và phát sóng hàng tháng trên MTV2. Một chương trình video nhạc đêm khuya được bổ sung vào năm 1987, Headbangers Ball, tập trung vào âm nhạc heavy metal rock và tin tức. Trước khi bị đột ngột ngưng phát vào năm 1995, chương trình này có VJ Riki Rachtman và Adam Curry dẫn chương trình. Một tuần video âm nhạc với tên Headbangers Ball được phát sóng trong giai đoạn 2003-2011 trên kênh chị em MTV2, trước khi phát hành thêm hai năm qua trang web của MTV2, và cuối cùng Headbangers Ball bị ngưng hẳn vào năm 2013. Năm 1988, MTV ra mắt Yo! MTV Raps, một định dạng chương trình hip-hop/rap. Chương trình này phát sóng cho đến tháng 8 năm 1995. Nó được đổi tên đơn giản hơn thành Yo! và phát sóng như chương trình 1 giờ từ năm 1995 đến năm 1999. Định dạng này được giới thiệu lại trong chương trình Direct Effect vào năm 2000, đổi tên thành Sucker Free trong năm 2006 và đã bị hủy bỏ vào năm 2008 sau một thời gian ngắn kỷ niệm năm thứ 20 phát sóng của Yo! MTV Raps trong suốt tháng 4 và tháng 5 năm 2008. Mặc dù bị hủy bỏ trên MTV, chương trình hàng tuần tổng hợp hiphop Sucker Free vẫn được phát sóng trên MTV2 cho đến nay. Đến cuối những năm 1980, MTV lần đầu tiên ra mắt Dial MTV, một chương trình top 10 video âm nhạc được phát hàng ngày. Người xem có thể gọi số điện thoại miễn phí 1-800-DIAL-MTV để yêu cầu một video âm nhạc. Mặc dù chương trình Dial MTV đã kết thúc trong năm 1990, số điện thoại vẫn được sử dụng cho các yêu cầu phát sóng cho đến năm 2006. Năm 1989, MTV bắt đầu công chiếu các chương trình âm nhạc đặc biệt dựa trên MTV Unplugged, trong đó giới thiệu hàng chục nghệ sĩ với vai trò khách mời. Chương trình này vẫn đang hoạt động với vô số hình thức trên các nền tảng khác nhau trong hơn 20 năm qua. === Sự nổi lên của các đạo diễn (1990-1993) === Đến đầu năm 1990, MTV đã phát sóng kết hợp các chương trình hard rock gần gũi với nhạc pop, các bản nhạc rock đầu bảng xếp hạng và các nghệ sĩ nhạc rock như Metallica, Nirvana và Guns N 'Roses, ca sĩ pop như Michael Jackson, Madonna, 2 Unlimited, New Kids on the Block, và các bộ tứ R&B như New Edition, Bell BIV Devoe, Tony Toni Tone, và Boyz II Men, đồng thời giới thiệu hit Vanilla Ice và MC Hammer của thể loại nhạc rap. MTV dần dần tăng thời lượng phát sóng các bài hát của những nghệ sĩ hip hop, như LL Cool J, Naughty By Nature, Onyx, và Sir-Mix-A-Lot. Năm 1993, MTV giới thiệu thêm các rapper West Coast trước đây được coi là rap gangsta, với thể loại âm thanh khác xa với nhạc pop, như Tupac Shakur, Ice Cube, Warren G, Dr. Dre và Snoop Doggy Dogg. Đi kèm với các thể loại nhạc mới, MTV cũng đưa ra định dạng mới của các video âm nhạc: sáng tạo hơn, hài hước, nghệ thuật, có tính thử nghiệm, dùng nhiều kỹ xảo hơn so với những video trong các năm 1980. Một số đạo diễn video âm nhạc đã đi đầu và bắt đầu tạo ra các video âm nhạc của họ. Sau khi chịu áp lực từ Hiệp hội Sản xuất Video âm nhạc, MTV bắt đầu liệt kê danh sách các giám đốc video âm nhạc trong danh sách credits vào tháng năm 1992. Nhờ vậy, khán giả của MTV dần quen thuộc với tên tuổi của Spike Jonze, Michel Gondry, David Fincher, Mary Lambert, Samuel Bayer, Matt Mahurin, Mark Romanek, Jonathan Dayton và Valerie Faris, Anton Corbijn, Mark Pellington, Tarsem, Hype Williams, Jake Scott, Jonathan Glazer, Marcus Nispel, F. Gary Gray, Jim Yukich, Russell Mulcahy, Steve Barron, và Marty Callner, và nhiều tên tuổi khác. Trong loạt phóng sự khám phá của PBS Frontline, MTV được coi là một động lực tạo bệ phóng cho video âm nhạc đến với khán giả, biến video ca nhạc thành một hình thức nghệ thuật cũng như một bộ máy tiếp thị hiệu quả lớn cho các nghệ sĩ. Danny Goldberg, chủ tịch và CEO của Artemis Records, nói như sau về nghệ thuật video âm nhạc: "Tôi biết khi tôi làm việc với Nirvana, Kurt Cobain quan tâm nhiều về các video âm nhạc không kém các đĩa nhạc. Kurt đã viết kịch bản cho chúng. Anh ấy đã biên tập chúng, và các video đó trở thành một phần của bản thân anh ta. Và tôi nghĩ rằng các video âm nhạc là một phần của Kurt Cobain, điều này cũng là sự thật đối với các nghệ sĩ đương đại giỏi nhất. Không phải tất cả nghệ sĩ đều là một nghệ sĩ lớn và không phải tất cả các video âm nhạc đều là một video hay, nhưng nói chung việc có nó như là một công cụ kinh doanh, đối với tôi là rất hiệu quả. Tôi ước gì có video âm nhạc trong thời kỳ hoàng kim của The Beatles và Rolling Stones. Tôi nghĩ rằng nếu chuyện đó xảy ra thì họ sẽ đóng góp thêm sự sáng tạo của họ nhiều hơn nữa cho nền công nghiệp âm nhạc thay vì đứng ngoài." === Nhạc alternative rock (1991-1997) === Nirvana đã mở đầu một quá trình thay đổi lớn khi MTV chuyển qua thể loại nhạc alternative rock vào năm 1991 với bộ phim của mình "Smells Like Teen Spirit". Đến cuối năm 1991 đầu năm 1992, MTV bắt đầu thường xuyên phát sóng các video trong bộ phim được quảng cáo mạnh "Buzz Bin", gồm các bài hát của Nirvana, Pearl Jam, Alice in Chains, Soundgarden, Nine Inch Nails, Tori Amos, PM Dawn, Arrested Development, Björk, và Blossoms Gin. MTV tăng thời gian của chương trình nhạc alternative hàng tuần 120 Minutes và thêm chương trình Alternative Nation hàng ngày để phát những video trên và các bài hát của những nghệ sĩ tiềm năng khác. Nhờ vậy, grunge và alternative rock đã từ từ trở thành thị hiếu chủ đạo, trong khi các ban nhạc với rocker kiểu tóc dài truyền thống trong những năm 1980 đã dần biến mất. Tuy vậy vẫn có một số trường hợp ngoại lệ như các ban nhạc Aerosmith và Tom Petty. Các nghệ sĩ cũ như R.E.M. và U2 vẫn còn ưu thế bằng cách làm cho âm nhạc của họ trở nên thực tế hơn hoặc mang các yếu tố bất ngờ. Trong năm 1993, nhiều bản hit của các nghệ sĩ alternative rock đã được phát sóng dày đặc, chẳng hạn như Stone Temple Pilots, Soul Asylum, Rage Against the Machine, Tool, Beck, Therapy?, Radiohead, và The Smashing Pumpkins. Các ban nhacj với các bài hát hit khác như Weezer, Collective Soul, Blind Melon, The Cranberries, Bush, và Silverchair cũng được lên sóng trong vài năm sau đó. Ban nhạc alternative White Zombie cũng đã xuất hiện trên chương trình Beavis and Butt-head. Trong vài năm tiếp theo, từ 1994 đến 1997, MTV bắt đầu quảng bá các nghệ sĩ có sức bật mới, trong đó thành công nhất là việc quảng bá các ban nhạc Green Day và The Offspring, và nghệ sĩ ska-rock như No Doubt, The Mighty Mighty Bosstones và Sublime. Ca sĩ nhạc pop đã được thêm vào danh sách quảng bá miễn là chúng được coi là "alternative", như Alanis Morissette, Jewel, Fiona Apple, và Sarah McLachlan. === Electronica và pop (1997-1999) === Đến năm 1997, MTV chủ yếu tập trung vào giới thiệu các nghệ sĩ electronica vào dòng chảy âm nhạc, thêm chúng vào danh sách phát nhạc của mình, bao gồm cả The Prodigy, The Chemical Brothers, Moby, Aphex Twin, Daft Punk, The Crystal Method và Fatboy Slim. Một số nhạc sĩ đã tiến hành thử nghiệm với nhạc điện tử giờ vẫn còn được phát trên MTV bao gồm Madonna, U2, David Bowie, Radiohead, và Smashing Pumpkins. Năm đó, MTV cũng đã cố gắng để giới thiệu các ban nhạc neo-swing, nhưng đã không thành công. Tuy nhiên vào cuối năm 1997, MTV bắt đầu chuyển dần sang thể loại nhạc pop, lấy cảm hứng từ sự thành công của nhóm Spice Girls và sự gia tăng của các nhóm nhạc boyband ở châu Âu. Giữa năm 1998 và năm 1999, nội dung âm nhạc của MTV bao gồm rất nhiều các video của các boyband như Backstreet Boys và 'N Sync cũng như "nàng công chúa" tuổi teen hát nhạc pop Britney Spears, Christina Aguilera, Mandy Moore và Jessica Simpson. Tỷ lệ phát sóng của rock, electronica, và alternative rock giảm dần. Nhạc hip-hop tiếp tục được phát nhiều thông qua những ban nhạc được yêu thích như Puff Daddy, Master P, DMX, Busta Rhymes, Jay-Z, Missy Elliott, Eminem, Ja Rule, Nas, và cộng sự của họ. Nhạc R&B cũng được phát sóng rất nhiều với các nghệ sĩ đại diện như Destiny's Child và Brandy. === Sự trở lại của nhạc rock (1997-2004) === Bắt đầu từ cuối năm 1997, MTV dần dần giảm phát sóng của các video nhạc rock, dẫn đến các vấn đề nghi vấn và những người hoài nghi "Rock đã chết." Sự thật lúc đó người hâm mộ nhạc rock ít và lượng mua đĩa nhạc ít nhờ việc xem các video rock trên truyền hình, được coi là lý do mà MTV từ bỏ nhạc rock, vốn là sản phẩm chủ yếu của MTV trong thời gian dài. Thay vào đó MTV dành thời gian phát sóng chủ yếu các thể loại pop, hiphop/R&B. Tất cả các show nhạc rock được loại bỏ và các bài hát rock giành các giải thưởng Video Music Awards bị đẩy xuống một bậc trong mức ưu tiên. Từ thời điểm 1997 cho đến năm 2004, MTV có những nỗ lực định kỳ để giới thiệu lại video nhạc rock và pop. Cuối năm 1998 đầu năm 1999, ban nhạc punk-rock Blink-182 được thường xuyên lên sóng trên MTV, chủ yếu nhờ bài hát "All the Small Things" chế giễu những boyband mà MTV đang phát sóng vào lúc đó. Trong khi đó, album của một số các ban nhạc rock như Korn và Creed - không được nhận hỗ trợ của MTV- tiếp tục bán chạy. Sau đó, khi Korn phát hành album lai rock/rap Follow the Leader, MTV bắt đầu phát sóng video của Korn "Got the Life" và "Freak on a Leash". Một ban nhạc được Korn tài trợ, Limp Bizkit, được lên sóng MTV vì bản cover lại của bài hát "Faith" của ca sĩ George Michael, và đã trở thành một bài hit. Sau đó, MTV bắt đầu phát sóng nhiều nghệ sĩ hybrid rap/rock như Limp Bizkit và Kid Rock. Một số nghệ sĩ rock với video hài hước hơn, chẳng hạn như Rob Zombie, Red Hot Chili Peppers và Foo Fighters, cũng được lên sóng. Vào mùa thu năm 1999, MTV đã công bố một chương trình cuối tuần đặc biệt Return of the Rock, trong đó nghệ sĩ nhạc rock mới được phát sóng, và một album tổng hợp được phát hành sau đó. System of a Down, Staind, Godsmack, Green Day, Incubus, Papa Roach, P.O.D., Sevendust, Powerman 5000, Slipknot, Kittie, Static X, và CKY nằm trong số những ban nhạc trên. Những ban nhạc này đã nhận được một số thời gian phát sóng trên MTV và nhiều hơn trên MTV2, mặc dù cả hai kênh đều dành thời gian hơn với các nghệ sĩ rock/rap. Đến năm 2000, Sum 41, Linkin Park, Jimmy Eat World, Mudvayne, Cold, At the Drive-In, Alien Ant Farm, và các ban nhạc khác đã được thêm vào danh sách phát sóng. MTV cũng tung ra kênh truyền hình cáp kỹ thuật số MTVX chuyên phát video nhạc rock, thí nghiệm này kéo dài cho đến năm 2002. Một chương trình video ca nhạc hàng ngày trên MTV mang tên Return of the Rock được phát tới đầu năm 2001, thay thế bằng chương trình kế thừa có tên All Things Rock từ năm 2002 đến năm 2004. === Total Request Live (1998-2008) === Cũng vào năm 1997, MTV đã bị chỉ trích nặng nề vì đã không phát nhiều video âm nhạc như nó đã từng thực hiện trong quá khứ. Để đáp lại, MTV đã tạo ra bốn show tập trung vào các video âm nhạc: MTV Live, Total Request, Say What?, và 12 Angry Viewers. Cũng tại thời điểm này, MTV giới thiệu studio mới tại Times Square. Một năm sau, vào năm 1998, MTV sáp nhập Total Request và MTV Live thành chương trình Total Request Live hàng ngày phát sóng trực tiếp với top 10 video đếm ngược. Chương trình này trở nên nổi tiếng với tên rút gọn TRL (người dẫn chương trình gốc là Carson Daly) và giữ vững vị trí là chương trình mạnh nhất dù không được thừa nhận chính thức của kênh. Vào mùa thu năm 1999, các khán giả trong studio trực tiếp đã được bổ sung vào chương trình. Mùa xuân năm 2000, chương trình đếm ngược đạt tới đỉnh cao. Chương trình đặc biệt thành công khi phát sóng video âm nhạc trong top ten pop, rock, R&B, hiphop, và các cuộc phỏng vấn trực tiếp với các nghệ sĩ và những người nổi tiếng. Từ năm 1998 đến năm 2001, MTV cũng phát sóng một số chương trình video ca nhạc khác từ studio ở Times Square và ở các địa điểm khác nhau theo chủ đề bãi biển mỗi mùa hè. Những chương trình này bao gồm Say What? Karaoke, một game show do Dave Holmes dẫn chương trình, tiến hóa từ Say What? - chương trình trước đó của MTV chạy lời bài hát của video âm nhạc trên màn hình. TRL Wannabes được phát sóng trong hai năm 1999-2000, chuyên phát các video âm nhạc suýt soát TRL top ten. VJ cho một ngày, được tổ chức bởi Raymond Munns, tiếp tục ý tưởng này vào đầu năm 2001. Raymond Munns dẫn VJ for a Day là một phần mở rộng của sự kiện hàng năm, Wanna be a VJ, được phát sóng vào mỗi mùa xuân từ 1998 đến 2000 để chọn một VJ mới để dẫn các chương trình trên MTV. MTV cũng phát Hot Zone, với Ananda Lewis dẫn, trong đó chiếu các video nhạc pop trong khoảng thời gian giữa trưa và là một thay thế đơn giản của TRL; sau đó nó đã trở thành chương trình MTV Hits. Các chương trình khác là Direct Effect, Return of the Rock, MTV Jams, BeatSuite, MTV Soul, và hàng loạt các video âm nhạc được các VJ dẫn chỉ đơn giản gọi là Music Television theo đúng tinh thần ban đầu của kênh. Trong suốt ngày 11 tháng 9 năm 2001 do các cuộc tấn công khủng bố vào Trung tâm Thương mại Thế giới và Lầu Năm Góc, MTV đình chỉ tất cả các chương trình của nó, cùng với kênh truyền hình cáp chị em VH1, và tiếp sóng CBS News (kênh tin tức của CBS, được mua lại bởi công ty mẹ Viacom hai năm trước đó) cho đến khoảng 23 giờ EST đêm đó. Các kênh trên sau đó phát lặp một loạt video âm nhạc mà không có quảng cáo nào cho đến chương trình MTV News phiên bản đặc biệt của TRL phát sóng vào ngày 14 tháng 9 năm 2001. Năm 2002, Carson Daly rời MTV TRL và theo đuổi một chương trình trò chuyện đêm khuya trên NBC. Sau khi VJ này đi khỏi, ảnh hưởng của Total Request Live từ từ giảm dần. TRL là một phần của lịch trình thường xuyên chương trình MTV trong mười năm. Và cuối cùng chương trình này đã kết thúc với một tập cuối đặc biệt, Total Finale Live, phát sóng ngày 16 tháng 11 năm 2008, với sự có mặt của những người dẫn chương trình trong những năm qua, nhiều khách mời đặc biệt trong lịch sử chương trình, và chơi video âm nhạc mới nhất của mình "...Baby One More Time" của Britney Spears. === Các cột mốc và các chương trình đặc biệt (1999-2011) === Khoảng năm 1999 đến năm 2001, khi MTV phát sóng video ca nhạc ít hơn trong suốt cả ngày, kênh thường xuyên phát sóng các chương trình đặc biệt biên soạn từ lịch sử 20 năm của mình. Bao gồm tất cả các bản đặc biệt, MTV Uncensored công chiếu vào năm 1999 và sau đó đã được phát hành như một cuốn sách. MTV tổ chức kỷ niệm lần thứ 20 của mình vào ngày 1 tháng 8 năm 2001, bắt đầu với một chương trình hoài niệm dài 12 tiếng MTV20: Buggles to Bizkit, trong đó có hơn 100 video bài hát kinh điển phát theo thứ tự thời gian, với các VJ khác nhau dẫn chương trình theo cách dựng của các studio cũ của MTV. Chương trình lên đến đỉnh điểm trong ngày với một sự kiện trực tiếp ăn mừng ba giờ gọi là MTV20: Live and Almost Legal, do Carson Daly dẫn chương trình và có đông đảo khách mời trong lịch sử của MTV, bao gồm cả các VJ từ năm đầu tiên 1981. Nhiều sản phẩm đặc biệt liên quan MTV20 khác được phát sóng trong tháng xung quanh sự kiện này. Janet Jackson đã trở thành người được vinh danh khai mạc của giải thưởng "mtvICON", một sự công nhận hàng năm của các nghệ sĩ cho những người đã có những đóng góp đáng kể cho âm nhạc, video âm nhạc và văn hóa pop đồng thời ảnh hưởng sâu đậm đến các thế hệ xem MTV." Các ban nhạc đoạt giải này trong các năm tiếp theo bao gồm Aerosmith, Metallica và The Cure. Năm năm sau, vào ngày 1 tháng 8 năm 2006, MTV tổ chức kỷ niệm lần thứ 25 của mình. Trên trang web MTV.com, khách có thể xem lại giờ phát sóng đầu tiên của MTV, bao gồm các khuyến mãi và quảng cáo ban đầu từ Mountain Dew, Atari, kẹo cao su Chewels, và Jovan. Các bài hát của The Buggles, Pat Benatar, Rod Stewart và những ca sĩ khác cũng được đưa lên, cùng với lần ra mắt của năm VJ đầu tiên. Ngoài ra, MTV.com đặt cùng một "kỷ yếu" gồm các video lớn nhất của mỗi năm từ năm 1981 đến năm 2006. MTV chỉ đề cập đến những kỷ niệm này một lần nữa trên TRL. Mặc dù MTV cán mốc năm thứ 30 của mình trong năm 2011, các kênh MTV đã bỏ qua cột mốc này và vẫn phát chương trình phát sóng của chúng như thông thường. MTV đã phát sóng lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập trên hai mạng chị em của nó MTV2 và VH1 Classic. Nathaniel Brown - phó chủ tịch truyền thông của MTV - khẳng định rằng không có kế hoạch cho một lễ kỷ niệm MTV trên sóng để kỷ niệm 30 năm của kênh như các lần trước. Brown giải thích, "MTV là một thương hiệu không có tuổi đối với khán giả của chúng tôi. Chúng tôi đang thực sự tập trung vào người xem hiện tại của chúng tôi, và chúng tôi cảm thấy là kỷ niệm của chúng tôi không phải là thứ có thể có ý nghĩa đối với họ. Nhiều người trong số họ thậm chí còn chưa ra đời vào năm 1981." === Giảm bớt video âm nhạc (2000-2008) === Từ năm 1995 đến năm 2000, số lượng video âm nhạc được phát trên MTV giảm 36,5%. Chủ tịch MTV Van Toeffler giải thích: "...Rõ ràng, việc phát các video âm nhạc đã không còn gì mới lạ nữa. Điều này yêu cầu chúng tôi phải tái tạo lại chính mình cho đối tượng khán giả mới". Mặc dù có những nỗ lực tập trung vào một số loại video âm nhạc đặc thù, MTV đã giảm đáng kể danh sách các video âm nhạc được lên sóng vào giữa những năm 2000. Trong khi các video âm nhạc được giới thiệu trên MTV lên đến tám giờ mỗi ngày trong năm 2000, năm 2008 thời gian trung bình chỉ là ba giờ với video âm nhạc mỗi ngày trên MTV. Sự gia tăng của Internet như phương thức thuận tiện để quảng bá và xem các video âm nhạc được coi là lý do cho việc giảm thời gian phát sóng này. Trong thập kỷ sau đó, MTV tiếp tục chơi một số video âm nhạc thay vì đưa chúng sang cho các kênh phái sinh, nhưng trong khoảng thời gian này kênh bắt đầu phát các video âm nhạc không chỉ trong những giờ sáng sớm hoặc trong một chương trình đặc biệt như trên Total Request Live. Sau những thay đổi về chương trình này, Justin Timberlake cầu xin MTV hãy "phát video thật nhiều hơn nữa!" trong khi phát biểu tại Video Music Awards 2007. Bất chấp những lời thách thức của Timberlake, MTV tiếp tục giảm tổng thời gian phát sóng cho các video âm nhạc trong năm 2007, và cắt các chương trình đặc biệt có video âm nhạc dài như "Buzzworthy" (gồm các nghệ sĩ chưa được đánh giá), "Breakthrough" (cho các video có hiệu ứng hình ảnh đẹp), và "Spankin' New" (cho các video mới). Ngoài ra, các kiểu chữ Kabel lịch sử, mà MTV hiển thị ở đầu và cuối của tất cả các video âm nhạc từ năm 1981, đã bị loại bỏ để có văn bản lớn hơn và bỏ bớt thông tin về hãng thu âm cũng như đạo diễn. Các font chữ cổ điển vẫn có thể được nhìn thấy trong phiên bản dựng lại của video cũ trên mạng ở kênh chị em VH1 Classic, trong đó có thông tin tiêu đề giống như các video cũ. === FNMTV và AMTV (2008-nay) === Trước khi đến hồi kết trong năm 2008, nguồn chính của video âm nhạc trên MTV là chương trình Total Request Live, phát sóng mỗi tuần bốn lần, có clip ngắn của video âm nhạc cùng với các VJ và khách mời. Tại các thời điểm khác nhau MTV đã thử nghiệm với những ý tưởng mới cho các chương trình âm nhạc để thay thế mục đích của TRL, nhưng với một định dạng mới. Vào giữa năm 2008, MTV chiếu chương trình video âm nhạc mới được gọi là FNMTV và một sự kiện đặc biệt hàng tuần FNMTV Premieres, quay tại Los Angeles với VJ Pete Wentz của ban nhạc Fall Out Boy, được thiết kế để chiếu các video âm nhạc mới và nhận thông tin phản hồi khán giả cung cấp tại chỗ. Các chương trình FNMTV Premieres kết thúc trước lễ trao giải Video Music Awards vào tháng 9 năm 2008. Với hai chương trình với chủ đề ngày lễ vào tháng 12 năm 2008 và Spring Break đặc biệt vào tháng 3 năm 2009 với tiêu đề tương tự, FNMTV Premieres không bao giờ quay trở lại danh sách chương trình thường xuyên của MTV, khiến lần đầu tiên trong lịch sử của nó MTV không còn bất kỳ chương trình video ca nhạc nào do VJ dẫn. Chương trình video ca nhạc trở lại với MTV vào tháng 3 năm 2009 với cái tên AMTV, một chương trình phát vào sáng sớm gồm các video âm nhạc mà ban đầu được phát trong khoảng giờ 03:00-09:00 sáng trong hầu hết các ngày trong tuần. Không giống như các chương trình FNMTV trước đó, AMTV có nhiều video âm nhạc khá dài, bao gồm cả một số video cũ mà đã được tách ra khỏi danh sách phát thường xuyên trong nhiều năm trên MTV. AMTV cũng có tính năng cập nhật tin tức âm nhạc, các cuộc phỏng vấn và các buổi biểu diễn. AMTV là chương trình hiện hành duy nhất trên kênh MTV chuyên biệt riêng cho các video âm nhạc. Trong suốt phần còn lại của ngày, MTV phát những đoạn trích từ video âm nhạc, thường là các đoạn trích ngắn, ở định dạng màn hình nhỏ trong các đoạn chạy chữ credits khi hết các chương trình khác, cùng với địa chỉ của một trang web để khuyến khích người xem đến đó để xem video trực tuyến đầy đủ. MTV đã có trang web của mình, MTV.com, như là nơi đến của các video âm nhạc. === Chương trình ca nhạc gần đây (2009-nay) === MTV một lần nữa làm sống lại chương trình lâu năm MTV Unplugged vào năm 2009 với màn trình diễn của các nghệ sĩ như Adele và Paramore. Tuy nhiên, không giống như các sản phẩm Unplugged đặc biệt trong quá khứ, các bản ghi âm mới thường chỉ được phát sóng toàn bộ trên trang web của MTV (MTV.com). Tuy nhiên, đoạn video ngắn của các sản phẩm đặc biệt được thể hiện trên MTV trong danh sách các video âm nhạc được phát trong chương trình AMTV vào những giờ sáng sớm. Ngày 12 tháng 6 năm 2011, MTV phát sóng một buổi ra mắt truyền hình truyền thống của phần mới của MTV Unplugged thay vì ra mắt trên web. Các nghệ sĩ tham gia là rapper Lil Wayne và buổi trình diễn ra mắt trên MTV và cả MTV2. MTV nối tiếp một buổi ra mắt trên truyền hình tương tự của MTV Unplugged với Florence and the Machine vào ngày 8 tháng 4 năm 2012. MTV tung ra chương trình 10 on Top vào tháng 5 năm 2010, một chương trình phát sóng hàng tuần vào các ngày thứ 7 và được Lenay Dunn dẫn chương trình, mà nói chuyện về 10 chủ đề hot nhất của tuần qua (thường tập trung vào giải trí). Dunn cũng xuất hiện trong các phân đoạn giữa chương trình của MTV trong suốt cả ngày như một cách nhận dạng MC của kênh khi thiếu VJ truyền thống hoặc thiếu người dẫn chương trình MTV News. Loạt phim hoạt hình Beavis and Butt-head bắt đầu trở lại MTV vào tháng 10 năm 2011 với các tập phim mới. Cũng như phiên bản gốc của series phát trong các năm 1993-1997, các tập Beavis and Butt-head chia thành nhiều đoạn video trong đó nhân vật chính của nó xem và phê bình các video âm nhạc. Trong năm 2012, MTV ra mắt Clubland, mà trước đây xuất hiện như một chương trình 1 giờ video EDM trong tổng chương trình của AMTV. Chương trình không có người dẫn, nhưng hầu hết nội dung biên tập được đẩy lên tài khoản Tumblr trực tuyến của chương trình, cũng như các phương tiện truyền thông xã hội khác như Facebook và Twitter. Các chương trình này bắt đầu chương trình video âm nhạc của kênh trong những giờ sáng sớm ngày thứ ba đến ngày thứ năm trong tuần và cũng được phát sóng trên MTV Hits. DJ Hardwell dẫn chương trình này vào ngày 05 tháng 7 năm 2012, nhưng Clubland vẫn là chương trình không có người dẫn mới nhất và lâu nhất gồm các bài hát EDM. MTV tung ra một talk show mới dựa trên âm nhạc hiphop vào ngày 12 tháng 4 năm 2012, được gọi là Hip Hop POV với Amanda Seales, Bu Thiam, Charlamagne, Devi Dev, và Sowmya Krishnamurthy dẫn chương trình. Chương trình thực hiện các bình luận về các tiêu đề trong văn hóa hiphop, đóng góp ý kiến về âm nhạc mới, cấp giấy mời nội bộ cho các sự kiện lớn, bao gồm cả các cuộc phỏng vấn các nghệ sĩ. Hip Hop POV kéo dài nhiều tập trước khi bị ngưng phát. Chương trình được cho là sẽ trở lại trong mùa thu năm 2012, nhưng đã được chuyển đến kênh MTV2. Tại đây nó được đổi tên và sáp nhập với Sucker Free Countdown thành chương trình mới ra mắt với tên mới là The Week in Jams vào ngày 28 tháng 10 năm 2012. === Các show trực tiếp hậu-TRL (2009-nay) === MTV tung ra chương trình trò chuyện trực tiếp, It's on with Alexa Chung, vào ngày 15 tháng 6 năm 2009. Người dẫn chương trình, Alexa Chung, được mô tả như một "người trẻ" phiên bản thế hệ Web 2.0 của Jimmy Fallon. Mặc dù được quay tại studio ở Times Square, nơi TRL sử dụng để phát sóng, MTV nói rằng " điểm chung duy nhất của hai chương trình là vị trí studio." It's On đã bị hủy bỏ vào tháng 12 năm đó, một lần nữa loại bỏ các chương trình duy nhất được thực hiện studio của MTV, chỉ một năm sau khi TRL cũng đã bị hủy bỏ. Một thời gian ngắn sau khi Michael Jackson qua đời vào ngày 25 tháng 6 năm 2009, kênh đã phát sóng vài giờ liền video âm nhạc của Jackson, kèm với sản phẩm đặc biệt là tin tức trực tiếp với các thông tin phản hồi trực tiếp từ MTV và những người nổi tiếng khác. Sự thay đổi tạm thời trong chương trình MTV lên đến đỉnh điểm vào tuần sau với chương trình truyền hình trực tiếp lễ tang của Michael Jackson. MTV phát sóng một giờ đặc biệt trực tiếp tương tự với các video âm nhạc và cập nhật tin tức khi Whitney Houston chết vào ngày 11 tháng 2 năm 2012, và cái chết của Adam Yauch của ban nhạc Beastie Boys vào ngày 4 tháng 5 năm 2012. MTV đã thử phát chương trình trực tiếp lần nữa với buổi ra mắt của một chương trình nửa giờ gọi là The Seven vào tháng 9 năm 2010. Chương trình mang tới bảy câu chuyện giải trí người xem quan tâm (và bao gồm một số đoạn phỏng vấn trong đó), phát sóng các ngày trong tuần lúc 17:00 với tóm lược vào cuối tuần lúc 10:00 EST. Một thời gian ngắn sau khi ra mắt, chương trình đã được thiết kế lại một chút khi bỏ người dẫn Julia Alexander nhưng giữ lại người dẫn Kevin Manno; các chương trình tổng hợp vào cuối tuần cũng bị ngưng phát. The Seven đã bị hủy bỏ vào ngày 13 tháng 7 năm 2011. Công việc cho Manno sau chương trình này là người phỏng vấn các ban nhạc, phát sóng trên MTV.com. Hiện tại Manno không còn làm việc với MTV và xuất hiện như một phóng viên thường xuyên trên NBC với loạt bài Look 1 do LXTV sản xuất. Hiện nay, MTV phát sóng các chương trình trực tiếp đặc biệt rải rác gọi là MTV First. Các chương trình ngắn này được MTV News sản xuất và ra mắt lần đầu năm 2011 và tiếp tục phát sóng đều đặn một lần trong vài tuần vào bất kỳ ngày nào trong tuần. Các sản phẩm đặc biệt này thường bắt đầu lúc 7:53pm EST, với người dẫn chương trình là một trong những phóng viên của MTV News. Người dẫn này sẽ thực hiện một cuộc phỏng vấn trực tiếp với một nghệ sĩ nổi bật hay diễn viên đã đến với MTV để ra mắt một video ca nhạc hoặc trailer phim. MTV bắt đầu chương trình tiếp theo của nó vào lúc 8:00 pm, trong khi các cuộc phỏng vấn và trò chuyện với người hâm mộ tiếp tục trên MTV.com với thời lượng 30 đến 60 phút. Kể từ khi ra mắt vào năm 2011, MTV First phỏng vấn các nhân vật rất nổi tiếng như Lady Gaga, Katy Perry, Usher và Justin Bieber. Khi không có các chương trình hàng ngày trực tiếp như TRL, It's on with Alexa Chung và The Seven, kênh sử dụng MTV First như là phương pháp mới nhất để trình bày các video âm nhạc ra mắt và đưa người xem từ kênh truyền hình chính đến trang web của mình để tương tác với các nghệ sĩ và những người nổi tiếng theo thời gian thực. == Các chương trình khác == Khi MTV mở rộng, video âm nhạc đã không còn là nội dung chính của chương trình nữa. Chương trình truyền hình thông thường đã thay thế các chương trình video âm nhạc VJ dẫn. Hiện nay MTV phát sóng một loạt các show truyền hình liên quan đến âm nhạc chủ yếu hướng tới các đối tượng nhân khẩu học 12-18 tuổi. === Phát triển định dạng trong những năm đầu tiên (1985-1991) === Năm 1985, Viacom mua Warner-Amex Satellite Entertainment, chủ sở hữu MTV và Nickelodeon, đổi tên công ty thành MTV Networks và bắt đầu mở rộng nó. Trước năm 1987, MTV chuyên phát video âm nhạc nổi bật, nhưng sau này họ đã giới thiệu một loạt các chương trình khác, bao gồm cả một số chương trình ban đầu được dự định cho các kênh khác. Các chương trình video không phải âm nhạc bắt đầu được phát vào cuối những năm 1980 với sự ra đời của chương trình tin tức âm nhạc The Week in Rock. Đó cũng là khởi đầu của bộ phận tin tức của MTV, MTV News. Khoảng thời gian này, MTV cũng đã giới thiệu một chương trình tin tức thời trang House of Style; một chương trình khiêu vũ, Club MTV; và một chương trình trò chơi, Remote Control. Các chương trình vậy không có tính năng video âm nhạc, nhưng chúng vẫn dựa vào thông tin âm nhạc trên khắp thế giới. Tiếp theo thành công của MTV Video Music Awards, trong một nỗ lực để chuyển từ âm nhạc vào phim ảnh và văn hóa pop rộng hơn, MTV bắt đầu MTV Movie Awards năm 1992, và tiếp tục cho tới hiện nay. MTV cũng đã tạo ra một chương trình giải thưởng cho châu Âu sau sự thành công của Video Music Awards. MTV Europe Music Awards, hay là giải thưởng EMA, được tạo ra vào năm 1994, mười năm sau khi ra mắt của VMAs. Những chương trình mới sẽ chỉ là khởi đầu của một loạt các chương trình thể loại mới tác động lên MTV. Do định dạng của kênh tiếp tục phát triển, nhiều thể loại chương trình bắt đầu xuất hiện. Vào đầu những năm 1990, MTV đã ra mắt chương trình thực tế đầu tiên của mình, The Real World và Road Rules. === Chương trình thực tế (1992-nay) === Trong nửa sau của thập niên 1990 và đầu những năm 2000, MTV đặt ra một mục tiêu tập trung mạnh mẽ vào chương trình thực tế và hàng loạt chương trình có liên quan, xây dựng trên sự thành công của The Real World và Road Rules. Lượt đầu tiên của các show diễn ra vào giữa những năm 1990, với nhiều gameshow như Singled Out, chương trình thực tế dựa trên phim hài như Buzzkill, và chương trình talk show đêm khuya như The Jon Stewart Show và Loveline. Lượt tiếp theo của các show diễn đến trong khoảng cuối những năm 1990, khi MTV chuyển trọng tâm sang chương trình prank/hài hước như The Tom Green Show và Jackass, Real World/Road Rules Challenge, The Blame Game, webRIOT, và Say What? Karaoke. Một năm sau, vào năm 2000, MTV's Fear đã trở thành một trong những chương trình thực tế dọa nhau đầu tiên và đây là các chương trình thực tế đầu tiên của MTV mà các thí sinh tự quay chính mình. MTV tiếp tục thử nghiệm với chương trình talk show đêm khuya vào đầu những năm 2000 với các chương trình tương đối ngắn ngủi như Kathy's So Called Reality, starring Kathy Griffin, và The New Tom Green Show. Một số các chương trình thực tế trên mạng cũng mô phỏng theo cuộc sống của các nghệ sĩ. The Osbournes, một chương trình thực tế dựa trên cuộc sống hàng ngày của thủ lĩnh Black Sabbath Ozzy Osbourne, vợ Sharon, và hai đứa con của họ, Jack và Kelly, phát trên MTV vào năm 2002. Show này đã trở thành một trong những thành công lớn nhất từ trước tới nay và cũng bị đánh giá khi các thành viên của gia đình Osbourne chửi bậy thường xuyên, tuy vậy bị biến thành tiếng bíp khi phát sóng. Nó cũng đã mở đầu cho sự nghiệp âm nhạc của Kelly Osbourne, trong khi Sharon Osbourne mở show riêng của bà trên truyền hình. The Osbournes kết thúc vào năm 2004. Vào mùa thu năm 2004, chương trình thực tế của Ozzy Osbourne là Battle for Ozzfest được phát sóng; chương trình này tổ chức các cuộc thi giữa các ban nhạc cạnh tranh nhau để giành vé dự Ozzfest, một tour diễn âm nhạc heavy metal hàng năm trên khắp Hoa Kỳ do Osbourne dẫn dắt. Năm 2003, MTV thêm chương trình Punk'd, một dự án do Ashton Kutcher khởi động để chơi khăm những người nổi tiếng khác nhau, và Pimp My Ride, một chương trình về chỉnh sửa và làm đẹp cho xe ô tô và các loại xe khác. Chương trình khác là Newlyweds: Nick and Jessica, một chương trình thực tế tường thuật cuộc sống của cặp vợ chồng ca sĩ nhạc pop Jessica Simpson và Nick Lachey, một cặp đôi âm nhạc. Chương trình này bắt đầu vào năm 2003 và kéo dài bốn phiên bản, kết thúc vào đầu năm 2005; cặp vợ chồng này sau đó ly hôn. Sự thành công của Newlyweds đã được tiếp nối vào tháng 6 năm 2004 với chương trình The Ashlee Simpson Show, trong đó ghi chép sự khởi đầu của sự nghiệp âm nhạc của Ashlee Simpson, em gái của Jessica Simpson. Trong năm 2005 và 2006, MTV tiếp tục tập trung vào các chương trình thực tế, với màn ra mắt của các chương trình như 8th & Ocean, Laguna Beach: The Real Orange County, NEXT, The Hills, Two-A-Days, My Super Sweet 16, Parental Control, và Viva La Bam, với Bam Margera. Năm 2007, MTV phát sóng chương trình thực tế cho A Shot at Love with Tila Tequila, kể cuộc hành trình của siêu sao MySpace Tila Tequila tìm bạn. Việc Tila là lưỡng tính đã được series tận dụng - thí sinh cả nam và nữ đều cạnh tranh ngang nhau để có được tình yêu của Tila. Điều này là chủ đề của những lời chỉ trích. Đó là chương trình phát sóng #2 trên MTV vào lúc đó, chỉ sau The Hills. Một seríe phái sinh từ A Shot at Love, với tựa đề That's Amoré!, áp dụng một công thức tương tự của A Shot at Love với người dự thi Domenico Nesci. MTV cũng đưa Paris Hilton vào danh sách khách mời trong tháng 10 năm 2008 với sự ra mắt của chương trình thực tế mới của cô, Paris Hilton's My New BFF. Năm 2009, MTV phát sóng chương trình thứ hai của Snoop Dogg- Dogg After Dark, và các chương trình College Life, quay tại Đại học Wisconsin-Madison. Vào cuối năm 2009, MTV chuyển hướng tập trung trở lại cho chương trình thực tế với phong cách Real World với buổi ra mắt của Jersey Shore, một chương trình mang lại xếp hạng cao cho kênh và cũng gây ra tranh cãi vì một số nội dung của nó. Với phản ứng dữ dội của một số người xem phàn nàn có quá nhiều nội dung hời hợt trên MTV, một bài báo của New York Times năm 2009 cũng đã nêu ý định của MTV chuyển mối quan tâm sang các nội dung truyền thông xã hội nhiều hơn, với tiêu đề bài viết "MTV cho thời đại Obama.", bao gồm các show T.I.'s Road to Redemption, Fonzworth Bentley show From G's to Gents dành cho học sinh sắp kết thúc cấp 3. Các kênh cũng được trình chiếu một chương trình mới trong khoảng thời gian này có tựa đề 16 and Pregnant, trong đó ghi chép cuộc sống của các em gái vị thành niên 16 tuổi có thai. Chương trình kế tiếp mang tên Teen Mom, tường thuật quá trình các em gái vị thành niên này trải qua các giai đoạn đầu tiên với đứa con mới sinh. MTV đạt thành công hơn nữa với The Buried Life, một chương trình về bốn người bạn đi du lịch trên toàn nước Mỹ để thực hiện một danh sách "100 điều cần làm trước khi chết" và giúp đỡ người khác trên đường đi. Một chương trình thực tế gần đây là Hired của MTV, theo dõi quá trình phỏng vấn xin việc; các ứng viên sẽ làm việc với tư vấn nghề nghiệp Ryan Kahn từ University of Dreams và cuối của mỗi tập phim là một ứng cử viên tìm được công việc trong mơ của họ. Năm 2011, MTV ra mắt một gameshow về các video clip nghiệp dư- Ridiculousness, lấy cảm hứng từ chương trình Tosh.0 trên Comedy Central. Trong năm 2012, Punk'd trở lại với MC mới cho mỗi tập phim. Trong khi đó, các chương trình phái sinh từ Jersey Shore như The Pauly D Project và Snooki & JWoww đã được sản xuất. MTV đã công bố kế hoạch sản xuất lại các chương trình hài phát vào đêm khuya vào khoảng năm 2012 với Nikki & Sara Live, một chương trình tấu hài ngẫu hứng với diễn viên hài Nikki Glaser và Sara Schaefer. Chương trình dự kiến sẽ được phát sóng hàng tuần từ studio của MTV tại Times Square. === Chương trình hoạt hình (1991-2011) === Trong một nỗ lực liên tục để trở thành một kênh đa dạng hơn tập trung vào giới trẻ, văn hóa và âm nhạc, MTV thêm các chương trình hoạt hình vào dòng sản phẩm của mình đầu năm 1990. Showcase hoạt hình Liquid Television (một sản phẩm hợp tác giữa BBC và MTV sản xuất tại San Francisco bởi Colossal Pictures) là một trong những chương trình đầu tiên của kênh tập trung vào các phương tiện giải trí. Ngoài việc phát sóng chương trình ban đầu được tạo ra chỉ dành cho MTV, kênh này cũng đôi khi phát sóng tập phim của loạt phim hoạt hình được kênh phái sinh của MTV sản xuất đầu tiên Nickelodeon (Nicktoons) đầu những năm 1990. MTV có một lịch sử phim hoạt hình với chủ đề trưởng thành bao gồm Beavis and Butt-head, Æon Flux, The Brothers Grunt, Celebrity Deathmatch, Undergrads, Clone High, và Daria. Mặc dù kênh đã sản xuất và ra mắt nhiều chương trình hoạt hình khác, vài phim trong series phim hoạt hình khác của MTV đã được đặt hàng cho mùa sau, bất chấp việc khán giả tiếp nhận các phim đó ra sao. Trong tháng 9 năm 2009, các kênh phát sóng Popzilla, trong đó giới thiệu và bắt chước nhân vật nổi tiếng trong một hình thức hoạt hình. MTV một lần nữa đưa chương trình hoạt hình trở lại dòng sản phẩm của mình với việc tái sản xuất các chương trình Beavis and Butt-head vào đầu năm 2011 sau 14 năm, cùng với thương hiệu mới: chương trình hoạt hình Good Vibes. === Các chương trình có kịch bản (1989-nay) === MTV có một lịch sử lâu dài của cả chương trình phát sóng phim hài và phim truyền hình với cơ sở kịch bản hay và ứng biến tốt. Ví dụ từ những năm 1990 và 2000 bao gồm phim hài dựa trên phác thảo như Just Say Julie, The Ben Stiller Show, The State, The Jenny McCarthy Show, The Lyricist Lounge Show, và Doggy Fizzle Televizzle, cũng như các vở kịch soap opera như Undressed và Spyder Games. MTV mở rộng trọng tâm chương trình của nó trong những năm 2000 và đầu những năm 2010 để bao gồm nhiều hơn các chương trình có kịch bản. Sự hồi sinh của các chương trình có kịch bản trên MTV đã ra đời các show diễn hài như Awkward. và The Hard Times of RJ Berger, và các bộ phim truyền hình như Skins và Teen Wolf. Vào tháng 6 năm 2012, MTV đã xác nhận rằng họ sẽ phát triển một chương trình dựa trên loạt phim Scream. === Các chương trình phát sóng lại === Trong những năm gần đây, MTV đã tái phát sóng chương trình khác từ mạng Viacom các nước khác, chẳng hạn như College Hill của BET và I Love New York và Flavor of Love của VH1. Các chương trình phát lại khác không từ hệ thống của Viacom có chương trình Fastlane (của Fox), Life As We Know It (của ABC), Scrubs (của ABC và NBC), và các chương trình America's Next Top Model, Beauty and the Geek, và Hidden Palms của CW. MTV cũng bắt đầu chiếu phim nhắm về phía nhân khẩu học những người thanh niên, trong đó có 8 Mile, My Boss's Daughter, Shaun of the Dead, và Napoleon Dynamite. Các kênh cũng đã phát sóng nhiều phim của riêng mình từ bộ phận sản xuất MTV Films như Crossroads và Jackass: The Movie, và phát sóng bộ phim nguyên bản do MTV Studios thực hiện như Super Sweet 16: The Movie. === Ảnh hưởng và công nhận (2010) === Năm 2010, một nghiên cứu của Gay and Lesbian Alliance Against Defamation cho thấy trong số 207,5 giờ chương trình giờ vàng trên MTV, 42% có nội dung phản ánh cuộc sống của người đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới. Đây là mức cao nhất trong ngành công nghiệp và tỷ lệ phần trăm cao nhất từ trước đến nay. == Hình ảnh và thương hiệu == === Logo gốc và ID === Logo của MTV được thiết kế vào năm 1981 do Manhattan Design - một tập thể được thành lập bởi Frank Olinsky, Pat Gorman và Patty Rogoff, dưới sự hướng dẫn của giám đốc sáng tạo ban đầu của MTV, Fred Seibert. Chữ 'M' được Rogoff phác thảo, với chữ 'TV' do Olinksky phun sơn. Trong suốt những ngày đầu của MTV, logo chính của kênh là một chữ "M" to màu vàng với chữ "TV" màu đỏ, nhưng không giống như biểu tượng của hầu hết các kênh, logo của MTV liên tục thay đổi biến hóa với những màu sắc khác nhau, mô hình và hình ảnh lấp vào trong các khối lớn. Những khoảnh khắc đầu tiên của MTV phát sóng một bản sửa đổi của việc con người đổ bộ đầu tiên lên mặt trăng, ảnh tĩnh trực tiếp của NASA (một khái niệm của Seibert do Buzz Potamkin và Perpetual Motion Pictures thực hiện) Sau đó là cảnh "hạ cánh xuống mặt trăng", đoạn phim này được phát đầu mỗi giờ cho đến khi ít nhất là giữa những năm 1980 (đoạn quay logo này được phát "hơn 15.000" lần mỗi năm, theo Seibert), với điểm dễ thấy là một logo thay đổi nhanh chóng hình ảnh của nó nhiều lần mỗi giây. Đặc điểm cố định duy nhất của logo của MTV tại thời điểm đó là hình dạng chung và tỷ lệ của nó; còn mọi thứ khác đều thay đổi. Hình ảnh và thương hiệu chiến dịch của kênh "Tôi muốn MTV của tôi!" đã được đưa ra vào năm 1982. Các chiến lược truyền thông và mô hình sáng tạo được George Lois phát triển dựa trên một quảng cáo đồ ăn nhanh ngũ cốc từ những năm 1950, "Tôi muốn Maypo của tôi!" do chính George tạo ra. Trong những năm làm chiến lược này các nghệ sĩ và những người nổi tiếng được mời tham gia bao gồm Pete Townshend, Pat Benatar, Adam Ant, David Bowie, The Police, Kiss, Culture Club, Billy Idol, Hall & Oates, Cyndi Lauper, Madonna, Lionel Richie, Ric Ocasek, John Mellencamp, Peter Wolf, Joe Elliot, Stevie Nicks, Rick Springfield và Mick Jagger tương tác với logo MTV, khuyến khích người xem gọi các nhà cung cấp cáp hoặc vệ tinh của họ và yêu cầu thêm MTV vào danh sách kênh của họ. Cuối cùng các khẩu hiệu đã trở nên quá phổ biến nó trở thành như là một sự bùng nổ khi nó được nhắc đến trong lời của bài hát Money for Nothing của Sting (nhạc Mark Knopfler, lời Dire Straits). === Những năm 1990 và 2000 === Khi biểu tượng gốc của MTV đã hoàn thành nhiệm vụ, kênh bắt đầu sử dụng một biểu tượng màu trắng cố định cùng kích cỡ với logo gốc. Trong thời gian cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, MTV cập nhật lại logo trên sóng vào đầu mỗi năm và một lần nữa vào mùa hè, tạo ra một thương hiệu nhất quán trên tất cả các chương trình liên quan đến âm nhạc. Phong cách xây dựng thương hiệu kênh này đã kết thúc khi MTV giảm mạnh số lượng các chương trình liên quan đến âm nhạc trong khoảng đầu cho đến giữa những năm 2000. Tại thời điểm hiện tại, MTV giới thiệu một thể loại logo mới sử dụng kỹ thuật số đơn màu trong tất cả các chương trình. === Thương hiệu riêng năm 2010 === Kể từ khi sự ra mắt ngắn ngủi của kênh FNMTV trong năm 2008, MTV đã sử dụng một chút sửa đổi nhỏ trong phiên bản biểu tượng truyền thống của nó trong hầu hết các chương trình trên sóng. Logo mới này đã được hoàn thành và chính thức trở thành nhãn hiệu chính thức của MTV vào ngày 8 tháng 2 năm 2010, khi nó ra mắt trên website của MTV. Dòng nhãn hiệu chính thức "Music Television" đã chính thức bị bỏ đi vào thời điểm này. Logo sửa đổi gần giống biểu tượng ban đầu của MTV, nhưng nó không bao gồm các chú thích "Music Television", bỏ phần dưới cùng của khối chữ "M" và đuôi kéo dài của chữ "V". Tuy nhiên, giống như logo luôn thay đổi của bản gốc năm 1981, logo mới năm 2010 của MTV được thiết kế để được lấp đầy với một loạt các hình không giới hạn. Logo này được sử dụng trên toàn thế giới nhưng không phải ở tất cả các nước. Nó lần đầu tiên được áp dụng cho MTV Films với 2010 phát hành Jackass 3D. Thương hiệu riêng của MTV được Popkern giám sát. == Ảnh hưởng và những tranh cãi == MTV là mục tiêu của những lời chỉ trích của các nhóm khác nhau về sự lựa chọn chương trình, các vấn đề xã hội, tính chính trị, sự nhạy cảm, vấn đề kiểm duyệt, và ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức xã hội của thanh niên. Các phần nội dung của các chương trình và sản phẩm của MTV đã gây ra tranh cãi trong giới truyền thông nói chung và giữa các nhóm xã hội, một số các nhóm này đã phản ứng mạnh.Một vài nhân vật của ngành công nghiệp âm nhạc chỉ trích những gì mà họ coi là sự đồng nhất của MTV với rock 'n' roll, bao gồm ban nhạc punk Dead Kennedys với bài hát "MTV - Get Off the Air" được phát hành trong album Frankenchrist năm 1985, khi ảnh hưởng của MTV trên ngành công nghiệp âm nhạc đã ngày càng vững chắc. MTV cũng đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của video âm nhạc trong suốt những năm 80. === Kiểm duyệt video === MTV biên tập một số video âm nhạc nhằm loại bỏ các từ ám chỉ ma túy, quan hệ tình dục, bạo lực, vũ khí, phân biệt chủng tộc, đồng tính, hoặc quảng cáo. Nhiều video âm nhạc được phát sóng trên kênh đã được kiểm duyệt, chuyển qua phát vào buổi đêm, hoặc bị cấm hoàn toàn. Trong những năm 1980, các nhóm phụ huynh giám sát phương tiện truyền thông như Parents Music Resource Center chỉ trích MTV phát một số video âm nhạc nhất định có hình ảnh rõ ràng của giáo phái Satan. MTV sau đó đã phát triển chính sách kiểm duyệt chặt hơn nhằm loại bỏ các video miêu tả việc thờ ma quỷ hoặc các chủ đề chống tôn giáo. Chính sách này dẫn đến MTV cấm các video ca nhạc "Jesus Christ Pose" của Soundgarden năm 1991 và"Megalomaniac" của Incubus vào năm 2004. === Andrew Dice Clay === Trong buổi lễ MTV Video Music Awards năm 1989, diễn viên hài Andrew Dice Clay đã thường dùng "điệu hát nhạc người lớn" của mình (hành vi ông thực hiện thường xuyên khi diễn các tiểu phẩm hài), sau đó các nhà quản lý kênh đã ra một lệnh cấm suốt đời với diễn viên này. Video của Billy Idol cho ca khúc "Cradle of Love" ban đầu đã có những cảnh từ phim The Adventures of Ford Fairlane của Clay khi nó được phát sóng lần đầu; cảnh từ bộ phim sau đó đã được cắt bỏ. Trong lễ trao giải 2011 MTV Video Music Awards, Clay cũng tham dự và ông khẳng định rằng MTV đã dỡ bỏ lệnh cấm. === Beavis and Butt-head "Lửa". === Sau việc một đứa trẻ đốt nhà của mình sau khi xem chương trình Beavis and Butt-head và gây tranh cãi lớn, các nhà sản xuất di chuyển các chương trình trên từ thời gian ban đầu 19:00 của mình sang buổi đêm lúc 23:00. Ngoài ra, xu hướng điên rồ của Beavis khi thường xuyên dùng bật lửa/hộp quẹt và hét lên "Lửa!" khi bật lửa đã được gỡ bỏ khỏi các tập phim sau đó, và những cảnh gây tranh cãi đã được gỡ bỏ khi phát sóng lại. Các chỉnh sửa nhiều đến nỗi mà khi tác giả Mike Judge biên soạn lại Collection DVDs, ông phát hiện ra rằng "một số cảnh trong những tập phim có thể không có trong nội dung ban đầu của chúng." === Dude, This Sucks === Một bản phát thử của chương trình gọi là Dude, This Sucks đã bị hủy bỏ sau khi các thiếu niên tham dự một buổi thu hình tại Snow Summit Ski Resort trong tháng 1 năm 2001 đã bị nhóm The Shower Rangers phun phân lỏng vào người. Những thiếu niên này sau đó đã kiện ra tòa. MTV đã xin lỗi và nói rằng hình ảnh trên sẽ không được lên sóng. === Super Bowl XXXVIII === Sau khi công ty mẹ của MTV-Viacom-mua kênh CBS, MTV đã được lựa chọn để sản xuất các chương trình phát trong giờ nghỉ tại Super Bowl XXXV năm 2001 để phát sóng trên kênh CBS, gồm các ca sĩ Britney Spears, 'N Sync và Aerosmith. Do sự thành công của chương trình này, MTV được mời trở lại để sản xuất cũng chương trình trên để phát trong giờ nghỉ của Super Bowl năm 2004, nhưng lần này chương trình đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận trên toàn nước Mỹ và dẫn đến những thay đổi sâu rộng trong show nghỉ giải lao của Super Bowl, các chương trình của MTV, và thậm chí cả âm nhạc phát trên radio. Khi CBS phát sóng Super Bowl XXXVIII năm 2004, MTV một lần nữa được chọn để sản xuất các chương trình ca nhạc trong giờ nghỉ, với màn trình diễn của các nghệ sĩ như Nelly, Diddy, Janet Jackson, và Justin Timberlake. Chương trình gây tranh cãi sau khi Timberlake xé một phần trang phục của Janet Jackson trong khi thực hiện bài hát hit của mình Rock Your Body với cô ấy, để lộ phần ngực bên phải của Janet Jackson. Tất cả các bên liên quan đã xin lỗi về vụ việc, và Timberlake gọi vụ việc là một "sự cố trang phục”. Michael Powell, lúc đó là Chủ tịch của Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC), ra lệnh điều tra chương trình một ngày sau khi phát sóng. Trong những tuần sau chương trình gây tranh cãi này, MTV kiểm duyệt nhiều chương trình của kênh. Một số video âm nhạc, bao gồm cả This Love của Maroon 5 và I Miss You của Blink-182 bị biên tập xóa nội dung tình dục. Vào tháng 9 năm 2004, FCC quyết định rằng các chương trình nghỉ giữa giờ trên là không đứng đắn và CBS bị phạt 550,000 USD. FCC giữ nguyên quyết định của mình trong năm 2006, nhưng thẩm phán liên bang đã bỏ qua tiền phạt trên vào năm 2008. Super Bowl từ đó không có video nhạc giữa giờ cho đến khi The Black Eyed Peas biểu diễn tại Super Bowl XLV vào năm 2011. === Chỉ trích đạo đức === Tổ chức Kitô giáo American Family Association cũng đã chỉ trích MTV vì các ảnh hưởng tinh thần tiêu cực, thậm chí còn mô tả MTV như thúc đẩy văn hóa "cổ vũ tình dục, phản kháng gia đình, cổ vũ quyền được phá thai và sử dụng ma túy." Năm 2005, Parents Television Council phát hành một nghiên cứu mang tên MTV Smut Peddlers, mô tả những gì PTC tin là tình dục, xúc phạm, và nội dung bạo lực quá mức trên các kênh MTV, dựa trên chương trình Spring Break của MTV từ năm 2004. Jeanette Kedas, giám đốc điều hành kênh MTV, gọi báo cáo của PTC là "không công bằng và không chính xác" và "đánh giá thấp trí tuệ và sự tinh tế của giới trẻ", trong khi L. Brent Bozell III, lúc đó là chủ tịch của PTC, tuyên bố rằng "sự bẩn thỉu đầy dẫy trên MTV thể hiện thuyết phục cho cái gọi là lựa chọn truyền hình của xã hội tiêu dùng", ám chỉ đến việc các công ty truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh yêu cầu người sử dụng phải trả tiền cho các kênh do họ tự lựa chọn. Vào tháng 4 năm 2008, PTC phát hành The Rap on Rap, một nghiên cứu bao gồm các video âm nhạc hip-hop và R&B 106 & Park và Rap City, chiếu trên BET và Sucker Free chiếu trên MTV. PTC đã thúc giục các nhà quảng cáo ngừng tài trợ của các chương trình này, do video nói trên được chiếu cho trẻ em và thanh thiếu niên nhưng có chứa nội dung người lớn. === Jersey Shore === MTV đã chịu chỉ trích đáng kể từ các tổ chức người Mỹ gốc Ý về chương trình Jersey Shore, được trình chiếu vào năm 2009. Tranh cãi là do một phần lớn vào cách thức mà MTV tiếp thị chương trình, khi nó thoải mái sử dụng từ "guido" để mô tả các diễn viên. Từ "guido" thường được dùng để sỉ nhục dân tộc khi đề cập đến người Ý và người Mỹ gốc Ý. Một quảng cáo nói rằng chương trình làm theo, "tám người Guidos điên khùng có làn da đen và hấp dẫn nhất” trong khi quảng cáo khác nói, "Jersey Shore phơi bày một trong những sinh vật kỳ dị nhất của khu vực tiếp giáp 3 tiểu bang... các Guido. Vâng, họ thực sự tồn tại! Guidos và Guidettes sẽ di chuyển vào ngôi nhà cuối bãi biển cho thuê và cùng thưởng thức tất cả những gì Seaside Heights, New Jersey có." Trước khi loạt chương trình này ra mắt, UNICO National (là tổ chức lớn nhất của người Mỹ gốc Ý) chính thức yêu cầu MTV hủy bỏ chương trình. Trong một bức thư gửi cho kênh, UNICO gọi chương trình này là một hành động "trực tiếp, cố ý và đáng hổ thẹn tấn công vào người Mỹ gốc Ý." Chủ tịch UNICO National Andre DiMino cho biết trong một tuyên bố," MTV đã trang trí các ngôi nhà 'kiểu Bordello’ với những lá cờ Ý và màu đỏ, trắng và xanh lá cây trên bản đồ của New Jersey trong khi mỗi cảnh cutaway khác là dấu hiệu và các biểu tượng của người Ý. Họ ngang nhiên chế giễu người Mỹ gốc Ý bằng tất cả các cách có thể." Cũng trong thời gian này, các tổ chức gốc Ý tham gia vào cuộc chiến, bao gồm cả NIAF và Order Sons of Italy in America. MTV trả lời các chỉ trích bằng cách phát hành một thông cáo báo chí nói rằng "Các diễn viên người Mỹ gốc Ý rất tự hào về dân tộc của họ. Chúng tôi hiểu rằng chương trình này không dành cho mọi đối tượng và chỉ tập trung vào một phần nhỏ của văn hóa thanh niên." Sau hàng loạt lời yêu cầu loại bỏ show, một số nhà tài trợ yêu cầu quảng cáo của họ không được phát sóng trong chương trình này. Các nhà tài trợ này bao gồm Dell, Domino's Pizza và American Family Insurance. Mặc dù mất một số nhà quảng cáo, nhưng MTV đã không hủy bỏ chương trình. Hơn nữa, chương trình tăng số khán giả từ khi ra mắt vào năm 2009, và tiếp tục được đánh giá là một trong các chương trình hàng đầu của MTV trong sáu mùa chiếu chương trình này, được kết thúc vào năm 2012. == Hoạt động xã hội == Ngoài chương trình thông thường của nó, MTV đã có một lịch sử lâu dài thúc đẩy các hoạt động xã hội, chính trị và môi trường của những người trẻ tuổi. Tư tưởng của kênh cho các hoạt động này là Choose or Lose, hỗ trợ các phong trào chính trị và khuyến khích người xem bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử; Fight For Your Rights, hỗ trợ các phong trào chống bạo lực và chống kỳ thị; think MTV, MTV Act và Power of 12 là những chương trình mới nhất cho các hoạt động xã hội của MTV. === Choose or Lose === Năm 1992, MTV bắt đầu một chiến dịch ủng hộ dân chủ gọi là Choose or Lose, khuyến khích đến 20 triệu người đăng ký bỏ phiếu, và các kênh đã tổ chức một diễn đàn bầu cử cho ứng cử viên lúc đó Bill Clinton. Trong những năm gần đây, các chương trình chính trị đa dạng trên MTV bao gồm True Life, với thông tin về cuộc sống và các vấn đề của người dân, và các chương trình MTV News đặc biệt, trong đó tập trung nhiều vào các sự kiện đương thời trong cả ngành công nghiệp âm nhạc lẫn trên toàn thế giới. Một chương trình đặc biệt bao quanh cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2004, phát sóng các chương trình tập trung vào các vấn đề và ý kiến của những người trẻ tuổi, trong đó có một chương trình mà khán giả có thể đặt câu hỏi cho Thượng nghị sĩ John Kerry. MTV đã làm việc với chiến dịch của P. Diddy, "Vote or Die", được thiết kế để khuyến khích những người trẻ tuổi bỏ phiếu. Ngoài ra, MTV phát sóng một bộ phim tài liệu bao gồm một chuyến đi bằng các nhóm nhạc Sum 41 đến Cộng hòa Dân chủ Congo, ghi hình về cuộc xung đột tại đó. Nhóm đã bị vây trong một cuộc tấn công bên ngoài của khách sạn họ ở và sau đó đã được đưa lên máy bay ra khỏi đất nước này. MTV cũng bắt đầu hiển thị quảng cáo tranh cử tổng thống lần đầu tiên trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008 của Mỹ. Điều này đã dẫn đến những lời chỉ trích từ cánh hữu khi Jonah Goldberg cho rằng "MTV phục vụ như chính chương trình thanh niên tiếp cận cộng đồng của đảng Dân chủ." === Fight For Your Rights === Trong những năm 1990 và đầu những năm 2000, MTV quảng bá chiến dịch hàng năm được gọi là Fight For Your Rights, với khẩu hiệu "Speak Out / Stand Up Against Violence," để đưa ra nhận thức về tội phạm của nước Mỹ, ma túy và các vấn đề bạo lực. Ngày 6 tháng 4 năm 2001, MTV tự nguyện thay đổi chương trình thông thường trong 24 giờ như là một phần trong chiến dịch nâng cao nhận thức về tội phạm của năm. Vào đêm đó, MTV phát sóng phim Anatomy of a Hate Crime được thực hiện cho truyền hình, dựa trên một câu chuyện giết người có thật vào năm 1998 của Matthew Shepard, một sinh viên đại học 21 tuổi đồng tính. Sau bộ phim và một cuộc thảo luận, MTV chuyển màn hình đen và chiếu tên của các nạn nhân của tội ác này. === think MTV === Chiến dịch vận động tiếp theo của MTV là think MTV, trong đó thảo luận các vấn đề chính trị hiện nay như hôn nhân đồng tính, các cuộc bầu cử tại Mỹ, và cuộc chiến tranh ở các nước khác. Khẩu hiệu ban đầu của chương trình là "Reflect. Decide. Do." Là một phần trong think MTV, kênh này cũng phát sóng một loạt các quảng cáo ủng hộ bảo tồn được gọi là Break The Addiction như một cách để khuyến khích người xem tìm cách sử dụng ít các loại nhiên liệu và năng lượng hóa thạch. think MTV nêu ra 12 vấn đề chính ở khu vực: phân biệt đối xử, môi trường, chính trị, sức khỏe và bản thân, tội phạm và bạo lực, nghèo đói và bệnh tật, nhân quyền, chiến tranh và hòa bình, các mối quan hệ và quan hệ tình dục, đức tin, lạm dụng chất gây nghiện và giáo dục. Những người trẻ tuổi được khuyến khích để lựa chọn những vấn đề cộng hưởng nhất và có hành động để thực hiện một thay đổi tích cực. Phương châm là, "Your cause. Your effect” think MTV cũng đã được tích hợp vào các chương trình của MTV. === MTV Act và Power of 12 === Năm 2012, MTV đưa ra MTV Act và Power of 12, chiến dịch hoạt động xã hội mới nhất hiện nay. MTV Act tập trung vào một mảng rộng các vấn đề xã hội, trong khi Power of 12 là chiến dịch thay thế cho MTV Choose or Lose và tập trung vào các cuộc bầu cử tổng thống năm 2012. == Mở rộng MTV == Từ khi ra mắt vào năm 1981, thương hiệu "MTV" đã được mở rộng để bao gồm nhiều tính năng bổ sung ngoài các kênh MTV ban đầu, bao gồm một loạt các kênh chị em ở Mỹ, hàng chục kênh liên kết trên toàn thế giới, và có mặt trên Internet thông qua MTV.com và các trang web liên quan. === Kênh chị em trong lãnh thổ Hoa Kỳ === MTV quản lý một nhóm các kênh dưới tên MTV Networks - tên vẫn tiếp tục được sử dụng cho các đơn vị cá nhân của các kể từ khi đổi tên Viacom Media Networks, một bộ phận của tập đoàn mẹ của nó, Viacom. Năm 1985, MTV chứng kiến ra đời của kênh chị em đầu tiên VH1 của nó, một từ viết tắt của "Video Hits One" và được thiết kế để phát các video âm nhạc người lớn đương đại. Hiện nay, VH1 nhằm vào người nổi tiếng và các chương trình văn hóa phổ biến. Một kênh chị em nữa là CMT, nhắm mục tiêu đến âm nhạc nước ngoài và thị trường văn hóa miền Nam nước Mỹ. Sự ra đời của truyền hình vệ tinh và truyền hình cáp kỹ thuật số mang lại cho kênh MTV sự đa dạng, bao gồm cả các kênh chị em hiện nay MTV2 và MTV Tr3́s, ban đầu chơi video âm nhạc đơn thuần nhưng bây giờ tập trung vào các chương trình khác. Video âm nhạc vẫn chiếm hầu hết các lịch trình trên hai kênh bổ sung, MTV Hits và MTV Jams. MTV cũng phát mtvU, một kênh theo định hướng sinh viên tại các trường đại học khác nhau. Trong những năm 2000, MTV ra mắt MTV HD, kênh phát lại simulcast độ nét cao 1080i của MTV. Cho đến khi trung tâm kiểm soát chính của Viacom đã được nâng cấp vào năm 2013, các chương trình sau năm 2010 (với một số nội dung trước 2010) được phát sóng ở độ nét cao, trong khi các video âm nhạc, mặc dù được quay để trình bày ở định dạng độ nét cao, chỉ được phát theo định dạng 4: 3, buộc chúng phải phát trong một cửa sổ con (windowboxing); kể từ khi thời điểm đó tất cả các video âm nhạc được thể hiện trong HD nếu có, tùy thuộc vào sở thích của đạo diễn video đó. Jersey Shore, dù đã được quay với chất lượng HD màn ảnh rộng, cũng được phát dạng SD windowboxing. Các nhà cung cấp truyền hình trả tiền như DirecTV, Dish Network, Comcast, Time Warner Cable, AT&T U-verse, và Verizon FiOS đều có kênh HD. MTV Networks cũng điều hành Palladia, một kênh độ nét cao ban đầu chiếu các chương trình HD và phiên bản HD của chương trình từ MTV, VH1 và CMT. Kênh này đã được ra mắt trong tháng 1 năm 2006 như là MHD (Music: High Definition). Kênh chính thức được đổi tên thành Palladia vào ngày 1 tháng 9 năm 2008, trùng hợp với sự chuyển đổi sang toàn bộ chương trình HD. Trong năm 2005 và 2006, MTV tung ra một loạt các kênh cho người Mỹ gốc Á. Kênh đầu tiên là MTV Desi, ra mắt vào tháng 7 năm 2005, dành riêng đối với người Mỹ Nam-Á. Tiếp theo là MTV Chi trong tháng 12 năm 2005, chuyên phục vụ cho người Mỹ gốc Hoa. Kênh thứ ba là MTV K, ra mắt vào tháng 6 năm 2006 mục tiêu hướng tới người Mỹ gốc Hàn. Mỗi kênh video chiếu nhạc và chương trình từ các chi nhánh của MTV quốc tế với các quảng cáo và cách thức đóng gói giống kênh gốc Mỹ. Tất cả ba kênh này ngừng phát sóng vào ngày 30 tháng 4 năm 2007. === Internet === Vào cuối những năm 1980, trước khi có World Wide Web, MTV VJ Adam Curry bắt đầu thử nghiệm trên internet. Ông đã đăng ký tên miền không có người nhận lúc đó "MTV.com" vào năm 1993 với ý tưởng là tiếng nói chính thức mới của MTV trên internet. Mặc dù động thái này đã bị xử phạt bởi người quản lý tại MTV Networks vào thời điểm đó, khi Curry nghỉ việc để chuyển sang thiết kế web-portal và công ty hosting của riêng mình. MTV sau đó đã kiện ông vì tên miền “MTV.com”, dẫn đến một sự dàn xếp ngoài tòa án. Các dịch vụ lưu trữ tại tên miền đầu tiên được mang nhãn hiệu "MTV Online" trong thời gian kiểm soát ban đầu của MTV vào giữa những năm 1990. Nó phục vụ như là một đối trọng của các cổng thông tin America Online chứa nội dung MTV đã tồn tại trên AOL với từ khóa MTV cho đến khoảng cuối những năm 1990. Sau thời gian này, trang web được gọi đơn giản là "MTV.com" và phục vụ như là trang nguồn internet cho tất cả các nội dung MTV và MTV News. MTV.com thử nghiệm website hoàn toàn dựa trên video vào giữa năm 2005 và 2007. Các thí nghiệm bắt đầu vào tháng 4 năm 2005 như MTV Overdrive, một dịch vụ truyền tải video hỗ trợ cho trang web MTV.com. Một thời gian ngắn sau khi lễ trao giải Video Music năm 2006, được truyền trực tiếp trên MTV.com và sử dụng tối đa các tính năng của MTV Overdrive, MTV đã thay đổi nhiều cho MTV.com, chuyển toàn bộ trang web thành một trang video flash. Phần lớn các ý kiến phản hồi của người dùng về các trang web dựa trên flash là tiêu cực, thể hiện sự không hài lòng với đoạn video phát tự động, nên quảng cáo không thể bị bỏ qua hoặc tạm dừng, làm cho tốc độ của toàn bộ website chậm hơn. Các thử nghiệm này đã kết thúc vào tháng 2 năm 2006 khi MTV.com trở lại là website truyền thống dùng HTML với video clip nhúng, theo phong cách của YouTube và một số trang web phát video khác. Từ năm 2006 đến năm 2007, MTV vận hành một kênh trực tuyến, MTV International, nhắm đến thị trường quốc tế rộng lớn. Mục đích của các kênh trực tuyến là để phát sóng video âm nhạc không có quảng cáo một khi kênh truyền hình bắt đầu tập trung vào các chương trình không liên quan đến các video âm nhạc hoặc các chương trình liên quan đến âm nhạc. MTV phản ứng với sự phát triển của Internet như là các xem video âm nhạc tốt nhất trong tháng 10 năm 2008 bằng cách tung ra MTV Music, website có tính năng chứa hàng nghìn video nhạc của thư viện video trên MTV và VH1, có từ năm 1981. Một bộ phận mới được thành lập của công ty, MTV New Media, công bố trong năm 2008 rằng ban đầu họ sẽ sản xuất hàng loạt trang web, để tạo ra một cầu nối giữa các phương tiện truyền thông cũ và mới. Người xem có thể xem các chương trình thông qua máy tính cá nhân, điện thoại di động, máy nghe nhạc iPod, và các thiết bị kỹ thuật số khác. Vào mùa hè năm 2012, MTV ra mắt trang web khám phá âm nhạc gọi là Artists.MTV. MTV cho biết, "Trong khi công nghệ đã làm cho nó cách dễ dàng hơn cho các nghệ sĩ để sản xuất và phân phối âm nhạc theo cách riêng của họ, nó đã không làm bất kỳ điều gì để cắt giảm tất cả các tiếng ồn trên Internet và nói chuyện trực tiếp với các fan tiềm năng của họ. Sự ra mắt Artists.MTV vào mùa hè là một nỗ lực để giúp người thưởng thức âm nhạc và nhạc sĩ thu hẹp khoảng cách bằng cách cung cấp một cánh cửa ở đó người hâm mộ có thể lắng nghe, mua nhạc, mua vé các buổi hòa nhạc và các thứ khác." Ngày nay, MTV.com vẫn là trang web chính thức của MTV, và nó mở rộng chương trình phát sóng của kênh bằng cách đưa thêm nội dung cho người xem. Các tính năng của trang web bao gồm một phiên bản trực tuyến của MTV News, kênh truyền thanh, dịch vụ video có quảng cáo, phim, hồ sơ và phỏng vấn các nghệ sĩ thu âm từ các chương trình truyền hình trên MTV. === MTV trên toàn thế giới === MTV Networks đã tung ra hàng loạt các kênh với ngôn ngữ bản địa theo khu vực trên kênh MTV trên các nước trên thế giới. Các kênh MTV quốc tế này đã có tại châu Âu, châu Á, châu Đại Dương, Trung Đông, châu Phi và châu Mỹ. == Ghi chú == == Sách tham khảo == == Liên kết ngoài == MTV.com MTV International
tín dụng.txt
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Xuất hiện sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa: giàu, nghèo, người nắm quyền lực, người không có gì....Khi người nghèo gặp phải những khó khăn không thể tránh thì buộc họ phải đi vay, mà những người giàu thì câu kết với nhau để ấn định lãi suất cao, chính vì thế, tín dụng nặng lãi ra đời. Trong giai đoạn tín dụng nặng lãi, tín dụng có lãi suất cao nhất là 40-50%, do việc sử dụng tín dụng nặng lãi không phục vụ cho việc sản xuất mà chỉ phục vụ cho mục đích tín dụng nên nền kinh tế bị kìm hãm động lực phát triển. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ. Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,... Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. == Đặc điểm, vai trò của tín dụng == === Đặc điểm của tín dụng === Phân phối của tín dụng mang tính hoàn trả; Hoạt động của tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cả. === Vai trò của tín dụng === Tín dụng là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế; Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn; Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội; Tín dụng góp phần thực hiện chính sách xã hội. == Các loại tín dụng == === Tín dụng thương mại === ==== Khái niệm tín dụng thương mại ==== Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán chịu hàng hóa. Hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định, và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu. ==== Đặc điểm của tín dụng thương mại ==== Tín dụng thương mại vốn cho vay dưới dạng hàng hóa hay một bộ phận của vốn sản xuất chuẩn bị chuyển hóa thành tiền, chưa phải là tiền nhàn rỗi. Người cho vay (chủ nợ) và người đi vay (con nợ) đều là những doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khối lượng tín dụng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trị của khối lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu. ==== Công cụ lưu thông của tín dụng thương mại ==== Thương phiếu Cơ sở pháp lý xác định quan hệ nợ nần của tín dụng thương mại là giấy nhận nợ, được gọi là kỳ phiếu thương mại hay gọi tắt là thương phiếu. Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Đặc điểm của thương phiếu Thương phiếu mang tính trừu tượng; Thương phiếu mang tính bắt buộc; Thương phiếu mang tính lưu thông. Phân loại thương phiếu Dựa trên cơ sở người lập: Thương phiếu do người mua chịu lập ra gọi là lệnh phiếu; Thương phiếu do người bán chịu lập ra gọi là hối phiếu. Dựa trên phương thức ký chuyển nhượng: Thương phiếu vô danh; Thương phiếu đích danh; Thương phiếu ký danh. ==== Ưu, nhược điểm của tín dụng thương mại ==== Ưu điểm của tín dụng thương mại Tín dụng thương mại góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, làm cho chu kỳ sản xuất rút ngắn lại; Tín dụng thương mại tham gia vào quá trình điều tiết vốn giữa các doanh nghiệp một cách trực tiếp mà không thông qua bất kỳ cơ quan trung gian nào; Tín dụng thương mại góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, làm giảm chi phí lưu thông xã hội. Nhược điểm của tín dụng thương mại Về quy mô: lượng giá trị cho vay bị hạn chế, chỉ giới hạn trong khả năng vốn hàng hoá mà họ có. Về thời gian: ngắn thường là dưới 1 năm; " Về điều kiện kinh doanh, chu kỳ sản xuất": Thời gian doanh nghiệp muốn bán chịu không phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp cần mua chịu thì tín dụng thương mại cũng không xảy ra. 'Về phạm vi': bị hạn chế chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp với nhau, và phải quen biết và tin tưởng nhau. " Về sự phù hợp": Được cấp dưới hình thức hàng hoá, vì vậy doanh nghiệp bán chịu chỉ có thể cung cấp cho một số doanh nghiệp nhất định - những doanh nghiệp có nhu cầu đúng thứ hàng hoá đó để phục vụ sản xuất hoặc kinh doanh. === Tín dụng ngân hàng === ==== Khái niệm tín dụng ngân hàng ==== Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán. ==== Đặc điểm của tín dụng ngân hàng ==== Huy động vốn và cho vay vốn đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ; Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay; Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa; Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế. ==== Công cụ lưu thông của tín dụng ngân hàng ==== Công cụ lưu thông của tín dụng ngân hàng là kỳ phiếu ngân hàng; là một loại chứng từ có giá của ngân hàng hay là một giấy nhận nợ của ngân hàng phát hành cho các pháp nhân và thể nhân, nó được lưu hành không thời hạn trên thị trường. Kỳ phiếu ngân hàng do ngân hàng phát hành dựa trên quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp, cư dân và nhà nước. Nó được ra đời trên hai cơ sở bảo đảm bằng vàng và tín dụng. Kỳ phiếu ngân hàng còn được gọi là giấy bạc ngân hàng và trở thành tiền tệ. ==== Ưu, nhược điểm của tín dụng ngân hàng ==== Ưu điểm của tín dụng ngân hàng Thời hạn cho vay linh hoạt - ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đáp ứng mọi nhu cầu vay vốn của khách hàng; Về khối lượng tín dụng lớn; Về phạm vi được mở rộng với mọi ngành, mọi lĩnh vực. Nhược điểm của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng có độ rủi ro cao - gắn liền với chính ưu điểm do việc ngân hàng có thể cho vay số tiền lớn hơn nhiều so với số vốn tự có, hoặc có sự chuyển đổi thời hạn và phạm vi tín dụng rộng. === Tín dụng nhà nước === ==== Khái niệm tín dụng nhà nước ==== Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội và các cá nhân. Tín dụng nhà nước xuất hiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng; nó còn là công cụ để nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và khu vực kinh tế kém phát triển, và là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý, điều hành vĩ mô. ==== Đặc điểm của tín dụng nhà nước ==== Chủ thể là nhà nước, các pháp nhân và thể nhân; Hình thức đa dạng, phong phú; Tín dụng nhà nước chủ yếu là loại hình trực tiếp, không thông qua tổ chức trung gian. ==== Công cụ lưu thông của tín dụng nhà nước ==== Khi nhà nước vay Tín phiếu kho bạc; Trái phiếu kho bạc; Trái phiếu đầu tư: Trái phiếu huy động vốn cho từng công trình; Trái phiếu huy động vốn cho Quỹ hỗ trợ phát triển; Công trái; Trái phiếu chính phủ quốc tế. Khi nhà nước cho vay Cho vay đầu tư; Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; Bảo lãnh tín dụng. ==== Ưu, nhược điểm của tín dụng nhà nước ==== Ưu điểm của tín dụng nhà nước Duy trì hoạt động thường ngày của nhà nước; Góp phần xây dựng cơ sở vật chất hiện đại; Góp phần vào nghĩa vụ quốc tế, vì quan hệ ngày càng phát triển, đôi khi nhà nước không thể từ chối nghĩa vụ cho vay đối với nước ngoài; Tạo điều kiện phát triển tín dụng ngân hàng. Nhược điểm của tín dụng nhà nước Rủi ro là vỡ nợ của nhà nước, do tính toán kỹ nhu cầu vay và sử dụng vốn vay không hiệu quả; === Tín dụng tiêu dùng === ==== Khái niệm tín dụng tiêu dùng ==== Tín dụng tiêu dùng là quan hệ tín dụng giữa dân cư với doanh nghiệp, ngân hàng và các công ty cho thuê tài chính. ==== Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng ==== Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho dân cư; Hình thức là hàng hóa hoặc tiền tệ; Dân cư là người vay; ngân hàng, công ty cho thuê tài chính, doanh nghiệp là người cho vay. ==== Công cụ lưu thông của tín dụng tiêu dùng ==== Ngân hàng cấp tín dụng tiêu dùng bằng tiền; Doanh nghiệp cho vay dưới hình thức bán chịu, trả góp; Công ty cho thuê tài chính cho vay dưới dạng cho thuê tài sản. ==== Ưu, nhược điểm của tín dụng tiêu dùng ==== Ưu điểm của tín dụng tiêu dùng Thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, nhất là hàng hóa ứ đọng; Góp phần nâng cao, cải thiện đời sống dân cư, cho phép sử dụng trước khả năng mua. Nhược điểm của tín dụng tiêu dùng Khối lượng tín dụng bị hạn chế; Hình thức tín dụng bị hạn chế. === Tín dụng thuê mua === ==== Khái niệm của tín dụng thuê mua ==== Tín dụng thuê mua là quan hệ phát sinh giữa các công ty cho thuê tài chính với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân dưới hình thức cho thuê tài chính. Nó thuộc thị trường vốn ==== Đặc điểm của tín dụng thuê mua ==== Đối tượng là tài sản; Chủ thể là công ty cho thuê tài chính (người cho thuê), và doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân (người đi thuê). ==== Công cụ lưu thông của tín dụng thuê mua ==== Công cụ lưu thông của tín dụng thuê mua là các hợp đồng thuê mua giữa công ty cho thuê tài chính và bên đi thuê. ==== Hình thức của tín dụng thuê mua ==== Thuê mua tài trợ trực tiếp; Thuê mua liên kết; Thuê mua bắc cầu; Bán và tái thuê; Thuê mua giáp lưng; Thuê mua trả góp. ==== Ưu, nhược điểm của tín dụng thuê mua ==== Ưu điểm của tín dụng thuê mua Tạo điều kiện cho doanh nghiệp hiện đại hóa sản xuất, áp dụng công nghệ mới trong khi nguồn vốn chủ sở hữu còn có hạn. Nhược điểm của tín dụng thuê mua Khối lượng tín dụng hạn hẹp theo công dụng của sản phẩm đi thuê; Phạm vi tín dụng hạn hẹp theo công dụng của sản phẩm đi thuê. === Tín dụng quốc tế === ==== Khái niệm tín dụng quốc tế ==== Tín dụng quốc tế là mối quan hệ giữa các nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước với nhau, hoặc với ngân hàng quốc tế và các tổ chức quốc tế, các cá nhân người nước ngoài và giữa các doanh nghiệp của các nước với nhau. ==== Đặc điểm của tín dụng quốc tế ==== Phản ánh mối quan hệ tín dụng giữa các chủ thể kinh tế của một quốc gia với các chủ thể kinh tế của các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế; Đối tượng tín dụng quốc tế là hàng hóa hoặc tiền tệ; Chủ thể tham gia là chính phủ, cơ quan nhà nước, ngân hàng quốc tế, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và cá nhân. ==== Ưu, nhược điểm của tín dụng quốc tế ==== Ưu của tín dụng quốc tế Đáp ứng được nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội khi mà các nguồn vốn trong nước còn hạn chế. Nhược điểm của tín dụng quốc tế Tín dụng quốc tế có rủi ro do bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của tỷ giá hối đoái quốc tế. == Lãi suất == Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay. == Quỹ tín dụng == Quỹ tín dụng là tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động Mục tiêu Tương trợ các thành viên, phát huy sức mạnh tập thể. Đặc điểm Thành viên tham gia quỹ tín dụng có quyền sở hữu và quản lý mọi tài sản và hoạt động của quỹ theo tỷ lệ vốn góp Phạm vi hoạt động của quỹ tín dụng hẹp Thế mạnh của quỹ tín dụng là bám sát khách hàng: cung cấp các dịch vụ của quỹ một cách nhanh chóng và có hiệu quả Mỗi quỹ tín dụng là một đơn vị kinh tế độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau thông qua hoạt động điều hòa vốn, thông tin, cơ chế phân tán rủi ro nhằm đảm bào cho hệ thống quỹ phát triển bền vững Các hoạt động cơ bản Huy động vốn, nhận tiền gửi, vay vốn từ các tổ chức tài chính khác Cho vay Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ (phục vụ thành viên) Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật == Xem thêm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
phân cấp hành chính myanmar.txt
Myanmar có bốn cấp hành chính chính thức là trung ương, vùng hành chính và bang, huyện, xã. Ba cấp hành chính sau là các cấp hành chính địa phương. == Cấu trúc cấp bậc == == Vùng hành chính và bang == Vùng hành chính và bang là cấp hành chính địa phương cao nhất. Vùng hành chính là những đơn vị có người Myanma chiếm phần lớn dân số, trong khi các bang là những nơi là các dân tộc thiểu số của Myanmar chiếm đa số. Tên của bang thường được đặt theo tên của dân tộc đông nhất trong bang. Ví dụ, bang Rakhine là bang mà dân cư phần lớn là người Rakhine. Sự phân chia về mặt địa lý giữa các vùng hành chính và các bang hiện nay là sự kế thừa cách phân chia của chính quyền thực dân Anh ở Myanmar thời kỳ trước độc lập. Nhìn chung, các vùng hành chính có trình độ phát triển kinh tế xã hội cao hơn, cơ sở hạ tầng phát triển hơn so với các bang. Ngoài ra, hầu hết các bang đều nằm ở khu vực miền núi sát biên giới trong khi các vùng hành chính nằm ở vùng thấp hơn và ở trung tâm hơn, ngoại trừ vùng Tanintharyi. Vùng hành chính và bang đều có chính quyền và hội đồng địa phương. Bảy vùng hành chính của Myanmar gồm: Ayeyarwady, Bago, Magway, Mandalay, Sagaing, Tanintharyi, và Yangon. Bảy bang của Myanma gồm: Chin, Kachin, Kayin, Kayah, Mon, Rakhine và Shan. === Danh sách Bang và Vùng hành chính === Cấu trúc hành chính các bang, vùng và khu vực tự trị được quy định trong Hiến pháp thông qua 2008. ==== Khu Tự Quản ==== == Huyện == Huyện là cấp hành chính địa phương thứ hai ở Myanma, dưới vùng/bang, trên xã. Trong tiếng Myanma, các huyện gọi là myotnal và thường được dịch ra tiếng Anh là township. Các huyện đều có chính quyền và hội đồng địa phương. Một số huyện có thể hợp lại thành thành phố (myot taw), nhưng trừ Yangon và Mandalay ra các thành phố này không phải là cấp hành chính chính thức và không có chính quyền thành phố mà chỉ có văn phòng của chính quyền vùng hoặc bang để quản lý thành phố. Một số huyện vùng sâu vùng xa cũng được nhóm thành các nhóm huyện (myotnal su hoặc kayaing hoặc seeyin su trong tiếng Myanma) và có văn phòng của chính quyền vùng hoặc bang để chuyển tải các chính sách của mình về các huyện vùng xa. Các nhóm huyện cũng không phải là cấp hành chính chính thức. == Xã == Xã là cấp hành chính địa phương thấp nhất. Trong tiếng Myanma, xã gọi là yat quat và thường được dịch ra tiếng Anh là town hoặc ward hoặc village. Các xã đều có chính quyền và hội đồng địa phương. Dưới xã còn có các cụm dân cư bao gồm từ 10 đến 100 hộ gia đình. Tuy nhiên, cụm dân cư không phải là đơn vị hành chính chính thức. == Tham khảo ==
1875.txt
Năm 1875 (MDCCCLXXV) là một năm thường bắt đầu vào Thứ 6 (liên kết sẽ hiển thị đầy đủ lịch) trong Lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào Thứ 4 trong Lịch Julius chậm hơn 12 ngày). == Tham khảo ==
thiên đàng.txt
Thiên đàng hay Thiên đường (chữ Hán 天堂; thiên: trời, tầng trời, cõi trời; đường hay đàng: cái nhà, cõi) là khái niệm về đời sau được tìm thấy trong nhiều tôn giáo và các tác phẩm triết học. Những người tin vào thiên đàng cho rằng thiên đàng (hoặc Hoả ngục) là chỗ ở trong đời sau của nhiều người hoặc toàn thể nhân loại. Trong một số trường hợp, có những người, theo truyền thuyết hoặc theo lời chứng, có những trải nghiệm cá nhân giúp hiểu biết về Thiên đàng. Họ tin rằng những trải nghiệm họ có được là để thuật lại cho người khác biết về sự sống, Thiên đàng và Thiên Chúa. == Những khái niệm == Trong khi hiện hữu vô số các khái niệm khác nhau về thiên đàng thì quan niệm tiêu biểu của những người tin vào thiên đàng thường phụ thuộc vào truyền thống tôn giáo riêng biệt của họ. Các tôn giáo khác nhau miêu tả thiên đàng là nơi chốn dành cho thiên sứ, ma quỷ, các nam và nữ thần, cũng như các vị anh hùng (nhất là trong Thần thoại Hi Lạp). Thiên đàng thường được hiểu là nơi chốn của phước hạnh, đôi khi được hiểu là chỗ ở phước hạnh vĩnh cửu. Trong phần lớn các giáo hội thuộc cộng đồng Cơ Đốc giáo, thiên đàng là sự trở lại tình trạng trước khi sa ngã của loài người, sự tái lập Vườn Eden, ở đó con người được tái hợp với Thiên Chúa trong tình trạng toàn hảo và tự nhiên của sự sống đời đời. Tín hữu Cơ Đốc tin rằng sự tái hợp này giữa con người và Thiên Chúa được hoàn tất qua sự hi sinh của Chúa Giê-xu Cơ Đốc khi ngài chết trên thập tự giá vì tội lỗi của loài người. Quan niệm phổ biến của hầu hết các tôn giáo là khi vừa lìa đời, con người sẽ bước ngay vào thiên đàng. Tuy nhiên, không phải tất cả tín hữu Cơ Đốc chia sẻ niềm tin này. Nhiều người trong cộng đồng Cơ Đốc giáo tin rằng trước khi vào thiên đàng cần phải chờ đợi "cho đến khi thế gian này qua đi". Trong thần học Cơ Đốc, có hai khái niệm hỗ tương về thiên đàng thường được gọi là "sự sống lại của thân xác" và "sự bất diệt của linh hồn". Trong khái niệm đầu, linh hồn sẽ không lên thiên đàng cho đến khi có sự phán xét sau cùng là lúc thân xác được hồi sinh và mọi người chịu xét xử. Trong khái niệm sau, linh hồn lên thẳng thiên đàng sau khi chết. Cả hai khái niệm này được kết hợp trong học thuyết hai lần phán xét, theo đó linh hồn chịu phán xét lần đầu sau khi chết để vào ở một nơi phước hạnh tạm thời (paradise) trong khi chờ đợi sự phán xét lần thứ hai trong ngày tận thế. == Điều kiện == Các tôn giáo trình bày những quan điểm khác nhau về điều kiện cần có để vào thiên đàng, nhưng hầu hết đều cho rằng cần có một cuộc sống "thiện hảo" (theo ý nghĩa của các hệ thống tâm linh). Một ngoại lệ quan trọng là niềm xác tín của cộng đồng Kháng Cách, dựa trên tín lý Duy Đức tin (sola fide), nhấn mạnh đến đức tin chấp nhận Chúa Giê-xu Cơ Đốc là đấng gánh thay tội lỗi cho con người là điều kiện tiên quyết, thay vì tập chú vào những việc lành đã làm hoặc những tội lỗi đã phạm trong cuộc sống (Xem Năm Tín lý Duy nhất). Nhiều tôn giáo tin rằng nếu không được lên thiên đàng thì phải xuống hoả ngục, nơi chốn của sự trừng phạt. Có một thiểu số (những người chấp nhận thuyết phổ độ - universalism) tin rằng mọi người đều sẽ vào thiên đàng, bất kể người ấy đã sống như thế nào trên đất. Thuyết Phổ độ nói rằng, chúng ta đều biết là trên chín tầng mây có thiên đàng còn dưới lòng đất chẳng có gì cả vì lòng đất không có không khí, tối như mực, nhiệt độ lại quá cao không gì có thể ở được. Những người sinh thời sống tốt khi chết đi sẽ lên thiên đàng, thành hồn ma tốt còn những người sinh thời sống không tốt khi chết đi vẫn lên thiên đàng, thành hồn ma xấu. Những người không tôn giáo có vẻ đều tin vào thuyết này và họ tin rằng, họ đang cần có phước hạnh vĩnh cửu. Theo niềm tin của họ, hỏa ngục (tức địa ngục) cùng ma quỷ chỉ là mê tín, vì dưới lòng đất chẳng có gì và nhiệt độ quá cao. == Cơ Đốc giáo == === Chính Thống giáo === Giáo huấn của các cộng đồng Cơ Đốc giáo Đông phương về Vương quốc Thiên đàng, hoặc Vương quốc của Thiên Chúa, lập nền trên Kinh Thánh, do đó bao gồm nhiều yếu tố đồng thuận với quan điểm của các giáo phái Cơ Đốc khác. Một số miêu tả về Vương quốc này có thể liệt kê khái quát như sau: Sống an bình trong Đất Mới - Is. 2:2-4, 9:7, 11:6-9, 27:13, 32:17-18, 33:20-21, 60:17-18, Ez. 34:25-28, 37:26, Zech 9:10, Matt. 5:3-5, Rev. 21 Sự cai trị đời đời của Vua là Đấng Messiah - Ps. 72, Jer 31:33-34, Zech 2:10-11, 8:3, 14:9, Matt 16:27, Rev 21:3-4 Hậu duệ của Vua David, Is. 9:6-7, 11:1-5 Sự Toàn hảo của Thân xác - Không còn đói, khát, sự chết hoặc bệnh tật.... - Is. 1:25, 4:4, 33:24, 35:5-6, 49:10, 65:20-24, Jer. 31:12-13, Ez. 34:29, 36:29-30, Micah 4:6-7, Zeph. 3:9-19, Matt 13:43 Những thành đổ nát nay đông đảo cư dân và bầy chiên - Is. 32:14, 61:4-5, Ez. 36:10,33-38, Amos 9:14 === Kháng Cách === Theo dòng lịch sử, một trong những nguyên nhân chia cắt Cơ Đốc giáo là các quan điểm dị biệt về điều kiện được vào thiên đàng. Từ thế kỷ 16 đã hiện hữu ba quan điểm của ba trào lưu Cơ Đốc chính yếu: Công giáo Rôma, Chính Thống giáo và Kháng Cách. Tín hữu Công giáo tin rằng sau khi chết cần phải vào Ngục luyện tội (Purgatory) để được thanh tẩy tội lỗi rồi mới có thể vào thiên đàng, nhưng quy trình này chỉ hiệu quả với các loại "khinh tội". Nhiều tín hữu Anh giáo chấp nhận xác tín này mặc dù nguồn gốc lịch sử của họ với đức tin Kháng Cách. Tuy nhiên, Giáo hội Chính Thống tin rằng chỉ có Thiên Chúa là Đấng có tiếng nói sau cùng quyết định ai là người sẽ vào thiên đàng. Theo đức tin Chính Thống giáo, thiên đàng nên được hiểu là sự hiệp nhất và tương giao mật thiết với Thiên Chúa Ba Ngôi. Như vậy, thiên đàng trong trải nghiệm của tín hữu Chính Thống giáo là một thực tế có thể được nhận biết và nếm trải ngay trong đời này bằng cách tham dự vào thân thể của Chúa Cơ Đốc, Hội thánh, và sau đó trong cõi vĩnh hằng. Theo đức tin Kháng Cách, điều kiện vào thiên đàng hoàn toàn phụ thuộc vào hành động chấp nhận ân điển của Thiên Chúa, qua đức tin trông cậy vào Chúa Giê-xu. Thần học Kháng Cách tập chú vào sự kiện Chúa Giê-xu chết trên thập tự giá, gánh chịu sự trừng phạt vì tội lỗi của thế gian. Trái với quan điểm Công giáo (được xác nhận và miêu tả tại Công đồng Trent vào thế kỷ 16), hầu hết tín hữu Kháng Cách tin rằng sự cứu rỗi có được chỉ bởi ân điển của Thiên Chúa, chỉ do đức tin tiếp nhận Chúa Cơ Đốc ("sola gratia, sola fide" - xem Năm Tín lý Duy nhất), mà không bởi việc lành cũng không bởi gia nhập một tổ chức giáo hội nào. Vì vậy, bất cứ ai, bởi đức tin, chân thành tiếp nhận Chúa Cơ Đốc và nài xin sự tha thứ của Thiên Chúa, sẽ được thanh tẩy mọi tội lỗi và được bảo chứng chắc chắn sự sống vĩnh cửu trong thiên đàng. Theo quan điểm Kháng Cách, nếp sống thiện hảo là kết quả tất yếu của cuộc sống đã được tái sinh trong ân điển, bởi sự vận hành của Chúa Thánh Linh. Có sự phân nhánh trong thần học Kháng Cách, chủ yếu là thuộc về hai trào lưu: hệ tư tưởng Calvin và hệ tư tưởng Arminus. Thần học Calvin tin rằng một người được cứu rỗi (vào thiên đàng) là do sự tiền định của Thiên Chúa – nghĩa là mọi tín hữu Cơ Đốc đều đã được chọn từ thuở ban đầu để nhận lãnh sự cứu rỗi. Đức tin tiếp nhận Chúa Cơ Đốc là điều căn cốt, nhưng có được đức tin là bởi người ấy đã được chọn bởi Thiên Chúa. Trong khi đó, Thần học Arminus chấp nhận một hình thức dung hoà hơn của học thuyết tiền định, theo đó, một người, bởi ý chí tự do, có thể quyết định tiếp nhận Chúa Cơ Đốc hay không mà không có sự can thiệp từ quyền lực thần thượng. Tuy nhiên, có những quan điểm trung dung được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng Kháng Cách, được quảng bá bởi những nhân vật có ảnh hưởng lớn như John Wesley (thuộc thần học Arminius) và Charles Finney (thần học Calvin). Những người chỉ trích thần học Kháng Cách cho rằng có sự mâu thuẫn giữa ý tưởng một người có thể được cứu rỗi do sự chọn lựa đặt niềm tin vào Chúa Cơ Đốc với ý niệm cho rằng Thiên Chúa đã chọn trước một số người để hưởng thiên đàng. Song, cả Sứ đồ Phao-lô và Polycarp đều không cho là có bất cứ mâu thuẫn nào giữa quyền tể trị của Thiên Chúa và khả năng của con người để lĩnh hội và chấp nhận ân điển. Nhiều tín hữu Kháng Cách cho rằng cả hai ý niệm này đều được luận giải rõ ràng trong Kinh Thánh: sự cứu rỗi đời đời để được ở cùng Thiên Chúa trong thiên đàng là ân điển thiên thượng được ban cho bởi Thiên Chúa, dành sẵn cho "bất cứ ai" muốn tiếp nhận Chúa Giê-xu để được cứu rỗi. Song hành với xác tín cho rằng sự sống đời đời ở thiên đàng là sự ban cho của Thiên Chúa bởi đức tin tiếp nhận Chúa Cơ Đốc, tín hữu Kháng Cách tin rằng một người tiếp tục nếp sống tội lỗi chắc chắn sẽ bị khước từ khỏi thiên đàng; họ tin rằng chỉ dùng lời nói để bày tỏ đức tin vào Chúa Cơ Đốc là không đủ, nhưng cần phải tuân giữ giáo huấn của ngài cũng như phải sống cuộc đời tốt lành và xứng hiệp với đức tin. Bởi vì Kinh Thánh dạy rằng ngay cả ma quỷ cũng "tin" Chúa Giê-xu, nhưng ma quỷ không thể vào thiên đàng. Có đức tin thật nghĩa là xưng nhận mọi tội lỗi và tin rằng chỉ có Chúa Cơ Đốc, đấng đã chết để chuộc tội cho con người, là Đấng cứu rỗi và ban cho sự sống đời đời ở thiên đàng. Đối với tín hữu Kháng Cách, bất tuân Thiên Chúa và theo đuổi nếp sống tội lỗi là một minh chứng hoặc của sự không chân thật khi xưng nhận đức tin, hoặc của sự "sa ngã" sau khi xưng nhận đức tin. Hebrew 6. 4-8 được dùng để hỗ trợ luận điểm cho rằng những người "đã được cứu" có thể bị sa ngã và vuột mất ân điển, trong khi Giăng (hoặc Gioan) 10. 27-30 ký thuật lời Chúa Giê-xu hứa rằng không ai có thể cướp giật khỏi tay Thiên Chúa những người đã tiếp nhận Chúa Giê-xu và trung tín bước đi trong sự dẫn dắt của ngài. Sự khác biệt giữa thần học Công giáo và thần học Kháng Cách là trong khi Giáo hội Công giáo dạy rằng một người được vào thiên đàng là bởi đức tin vào Chúa Giê-xu và bởi cuộc sống xứng hiệp và tốt lành, thần học Kháng Cách tin rằng sự cứu rỗi có được chỉ bởi ân điển qua đức tin trông cậy vào thân vị và công đức của Chúa Giê-xu, và một tín hữu thật là người thật tâm muốn thay đổi nếp sống và bước đi trong sự thánh khiết. Thiên đàng cũng là chủ đề thú vị trong hệ tư tưởng Cơ Đốc, ấy là sự phục sinh của thân xác hiện diện trong khái niệm về đời sau. Giai đoạn trung gian (giữa sự chết và sự phục sinh) vẫn không được luận giải rõ ràng. Tuy nhiên, tình trạng sau cùng của tín hữu là một thân xác mới, hồi sinh và không còn bị rữa nát, sống trong thành Jerusalem mới. Linh hồn và thân xác sẽ không bao giờ bị tách rời. Cái chết không còn là phần tất yếu của sự sống, bởi vì sự chết đã đến sau hành động bất tuân của Adam và Eva đối với Thiên Chúa (xem nguyên tội) đến nỗi nhân loại đánh mất sự sống vĩnh cửu và sống trong tình trạng tội lỗi, nghĩa là bị phân cách với Thiên Chúa. "hê basileia tou ouranou" trong Hi văn thường được dịch là "Vương quốc Thiên đàng", theo nghĩa đen là "quyền cai trị của các tầng trời", ở đây "các tầng trời" nghĩa là Thiên Chúa. Nhiều người tin rằng "sản nghiệp" của thiên đàng là phi vật chất; phước hạnh ở đây là vĩnh hằng, không hề hư nát, không bị hủy diệt cũng không thể bị tước đoạt. Sau khi chết, người được cứu sẽ được hưởng những phước hạnh như được ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa (Khải Huyền 22. 3-4), vắng bóng sự đau đớn và buồn khổ (Khải Huyền 21.4). Hơn nữa, ngay trong đời này họ cũng có thể hưởng những phước hạnh tương tự như sự bình an (Philippians 4.7), và lòng vui thỏa (Giăng 16. 22). === Công giáo === Theo giáo lý Công giáo, thiên đàng là nơi ngự trị của Thiên Chúa, Đức Mẹ, các thiên sứ, và các thánh. Theo giáo lý Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời, Mẹ Đồng trinh "sau khi hoàn tất công việc của Mẹ trên đất, hồn và xác được đem vào thiên đàng vinh hiển", điều này ngụ ý thiên đàng là nơi ở cho cả phần hồn lẫn phần xác. Giáo huấn Công giáo về thiên đàng được trình bày trong Giáo lý của Giáo hội Công giáo: "Những ai chết trong ân điển và tình bằng hữu của Thiên Chúa được thanh tẩy hoàn toàn và sống đời đời... Sự sống trọn vẹn này với Thiên Chúa... được gọi là thiên đàng. Đó là mục tiêu tối hậu và là sự ứng nghiệm đầy trọn những khao khát sâu xa nhất của con người, đó là tình trạng phước hạnh tuyệt đối và vĩnh hằng." Sau khi chết, mỗi linh hồn phải đối diện với "sự phán xét đặc biệt" để hoặc sẽ vào thiên đàng sau khi ở Luyện ngục (Purgatory), hoặc vào thẳng thiên đàng, hoặc vào Hỏa ngục. Ý niệm này khác với quan điểm "sự phán xét chung" hoặc "sự phán xét sau cùng" khi Chúa Cơ Đốc trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nhiều giáo dân Công giáo Rôma tin rằng Tổng lãnh Thiên thần Micae đem các linh hồn lên thiên đàng, cũng phổ biến xác tín cho rằng Thánh Phêrô chào đón các linh hồn ngay tại "Cửa thiên đường" dựa trên niềm tin Chúa Kitô giao cho Thánh Phêrô - là giáo hoàng đầu tiên theo niềm tin Công giáo - chìa khóa thiên đàng. Thiên đàng là nơi chốn dành cho những ai đã được thanh tẩy, người chết trong tội lỗi không được phép vào. "Những ai chết trong ân sủng và tình bằng hữu của Thiên Chúa và được thanh tẩy hoàn toàn sẽ sống đời đời với Chúa Kitô. Họ đời đời giống Thiên Chúa, vì họ "nhìn thấy Ngài" mặt đối mặt." (Giáo lý Giáo hội Công giáo 1023) "Những ai chết trong ân sủng và tình bằng hữu của Thiên Chúa và được thanh tẩy không trọn vẹn, dù không được chắc chắn sự cứu rỗi đời đời, phải trải qua sự thanh tẩy sau khi chết, cũng sẽ đạt được sự thánh khiết cần thiết để bước vào sự vui thoả của Thiên Chúa." (Giáo lý Giáo hội Công giáo 1054). Nếu một người chịu rửa tội đúng cách, khi chết người ấy sẽ lên thiên đàng (theo đức tin Công giáo Rôma, thánh lễ rửa tội (báp têm) xoá sự trừng phạt hiện thời hay vĩnh cửu của mọi tội). Nếu một người không bao giờ phạm trọng tội, trong khi đã được xoá các khinh tội trước khi chết, người ấy sẽ vào thiên đàng. Song, đa phần sẽ vào thiên đàng sau khi qua Luyện ngục (hoặc "nơi thanh tẩy"). Trong Luyện ngục, linh hồn phải chịu trừng phạt vì những tội đã phạm khi còn sống, nhưng không phải luôn luôn như vậy. Nếu một người dự thánh lễ, xưng tội đúng cách, cũng như đã được đại xá (plenary indulgence), sau khi chết sẽ vào thiên đàng. Có nhiều cách để được đại xá, chiếu theo các thánh chỉ của Giáo hoàng. Để được đại xá, cần phải dự thánh lễ xưng tội đúng cách, ăn năn, dự Bí tích Thánh thể đúng cách, đọc một số lần các kinh như Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Sáng Danh và làm số công đức. Hơn nữa, người ấy cần phải giữ mình khỏi mọi tội, trọng tội cũng như khinh tội, trong khi thực thi những điều này. Nhiều người tin rằng họ cần phải nhận lãnh sự toàn xá để khỏi phải ở lâu trong ngục luyện tội trong khi những giáo dân bất đồng khác cho rằng nếu có thể tránh xa mọi tội lỗi thì không cần phải được đại xá. == Chú thích == == Tham khảo == Bunyan, John. The Strait Gate: Great Difficulty of Going to Heaven Liskeard, Cornwall: Diggory Press, 2007. ISBN 978-1-84685-671-6. Bunyan, John. No Way to Heaven but By Jesus Christ Liskeard, Cornwall: Diggory Press, 2007. ISBN 978-1-84685-780-5. Ginzberg, Louis. Henrietta Szold (trans.). The Legends of the Jews. Philadelphia: The Jewish Publication Society of America, 1909–38. ISBN 0-8018-5890-9. Hahn, Scott. The Lamb's Supper: The Mass as Heaven on Earth. New York: Doubleday, 1999. ISBN 978-0-385-49659-9. Moody, D.L. Heaven. Liskeard, Cornwall: Diggory Press, 2007. ISBN 978-1-84685-812-3. Heaven: Beyond the Grave. A&E Network. (IMDB) Mysteries of the Bible: "Heaven and Hell". A&E Network. == Xem thêm == Niết-bàn Địa ngục == Liên kết ngoài == Heaven tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Facts About Heaven An Audio Sermon about Heaven Heaven by Sylvania Christian Catechism of the Catholic Church "I believe in Life Everlasting" Explanation of Catholic teaching about Heaven, Hell & Purgatory Famous Quotes on Heaven Salvation Versus Liberation, A Buddhist View of the Paradise or Heavenly Worlds Everlasting Life in Paradise according to Qu'ran Seven Steps rising to the heavens Christian Theological Views of Heaven Stanford Encyclopedia of Philosophy entry on Heaven and Hell Heaven from In Our Time (BBC Radio 4) Tiếng Việt:
ban bí thư trung ương đảng cộng sản việt nam.txt
Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là một cơ quan do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập để giám sát việc thi hành chính sách hàng ngày của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết định một số vấn đề theo sự phân công của Ban Chấp hành Trung ương. Ban Bí thư được bầu bởi Ban Chấp hành Trung ương. Thành phần Ban Bí thư gồm có Tổng Bí thư, một số Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và một số Ủy viên Bộ Chính trị (do Bộ Chính trị phân công). Số lượng Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương quyết định. == Lịch sử == Ban Bí thư được thành lập lần đầu sau Hội nghị TW lần thứ năm (3-1938) gồm Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong nhưng chỉ tồn tại một thời gian. Ban Bí thư bắt đầu được thành lập lại từ nhiệm kỳ TW sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (năm 1951) của Đảng Cộng sản Việt Nam và duy trì trong các nhiệm kỳ tiếp theo. Riêng nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII không thành lập Ban Bí thư mà thành lập Thường vụ Bộ Chính trị. Nhiệm kỳ của Ban Bí thư tương ứng với nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương do các Đại hội đại biểu toàn quốc bầu ra. == Chức năng, nhiệm vụ == Ban Bí thư là cơ quan lãnh đạo công việc hàng ngày của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện các nhiệm vụ sau: Chỉ đạo công tác xây dựng đảng và công tác quần chúng. Kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Chỉ đạo sự phối hợp hoạt động của giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Quyết định một số vấn đề tổ chức, cán bộ và một số vấn đề khác theo sự phân công của Ban Chấp hành Trung ương. Chỉ đạo hoặc kiểm tra việc chuẩn bị các vấn đề đưa ra Bộ Chính trị thảo luận và quyết định. Trong lĩnh vực nhân sự, Ban Bí thư quyết định hay giới thiệu nhân sự các chức vụ quan trọng trong đảng, Nhà nước, đoàn thể, ngoài các chức danh do Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị quyết định, theo phân cấp. Quyền hạn của các Bí thư trung ương Đảng (ủy viên Ban Bí thư) theo quy định của Đảng. Khác với Bộ Chính trị làm việc cơ bản theo nguyên tắc tập thể, Ban Bí thư làm việc theo nguyên tắc kết hợp chế độ tập thể với trách nhiệm cá nhân. Ngoài Tổng Bí thư và Thường trực Ban Bí thư giúp Tổng Bí thư điều hành công việc hàng ngày của Đảng, các ủy viên Ban Bí thư khác phụ trách theo lĩnh vực. Ban Bí thư họp kín, biểu quyết theo quy định của Đảng. == Cơ cấu tổ chức == Số lượng thành viên (ủy viên) Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương quyết định. Các ủy viên này (kể cả Tổng Bí thư, Thường trực Ban Bí thư) thường được gọi là Bí thư Trung ương Đảng. Ban Bí thư gồm có các thành viên sau: Tổng bí thư; Ủy viên Thường trực Ban Bí thư, gọi tắt là Thường trực Ban Bí thư, phụ trách và chủ trì những công việc hàng ngày; Các ủy viên khác (do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số các thành viên Ban Chấp hành Trung ương hoặc do Bộ Chính trị phân công từ các thành viên Bộ Chính trị), thường là các cán bộ được phân công trực tiếp làm Trưởng Ban Tổ chức, Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, đại diện Nhà nước là một số cán bộ cấp cao, đại diện quân đội là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. == Danh sách Ủy viên Ban Bí thư các nhiệm kỳ == === Ban Bí thư khóa II (1951 - 1960) === === Ban Bí thứ khóa III (1960 - 1976) === === Ban Bí thư khóa IV (1976 - 1982) === === Ban Bí thư khóa V (1982 - 1986) === === Ban Bí thư khóa VI (1986 - 1991) === === Ban Bí thư khóa VII (1991 - 1996) === === Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII (1996 - 2001) === === Ban Bí thư khóa IX (2001 - 2006) === === Ban Bí thư khóa X (2006-2011) === === Ban Bí thư khóa XI (2011-2016) === Ban Bí thư khóa XI gồm 11 người, 5 do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI bầu và 6 do Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phân công. === Ban Bí thư khóa XII (2016-2021) === Bộ Chính trị sẽ phân công một số Ủy viên Bộ Chính trị tham gia Ban Bí thư. Tại Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu 3 người vào Ban Bí thư. == Chú thích ==
thiết kế tương tác.txt
Trong thiết kế, tương tác giữa con người- máy tính và sự phát triển phần mềm. Thiết kế tương tác thường được viết tắt là IxD, được định nghĩa là sự ứng dụng của thiết kế tương tác giữa các sản phẩm kỹ thuật số, môi trường, hệ thống, các dịch vụ." Giống như nhiều lĩnh vực thiết kế khác, thiết kế tương tác cũng có sự quan tâm đến hình thức nhưng trọng tâm chính vẫn là chú trọng vào phản ứng của người dùng. Điều mà thể hiện một cách rõ ràng, thiết kế tương tác khác với lĩnh vực khoa học, kỹ thuật là thiết kế tương tác là sự tổng hợp và mang tính giả thuyết hơn là chú trọng vào bản chất thực tế của sự vật. Thiết kế tương tác tập trung chủ yếu vào thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của phần lớn những đối tượng sẽ dùng sản phẩm, nghiên cứu phần mềm cụ thể thì tập trung chủ yếu vào một nhóm đối tượng cụ thể. == Lịch sử == Thuật ngữ thiết kế tương tác được đặt ra đầu tiên bởi Bill Moggridge và Bill Verplank vào giữa những năm 1980, sau đấy khoảng 10 thì các nhà thiết kế khác mới bắt đầu sử dụng nó. Đối với Verplank nó là một sự thích ứng của thuật ngữ "khoa học máy tính" đối với những lĩnh vực thiết kế chuyên nghiệp. Đối với Moggridge nó là một sự vượt trội so với soft-face cái mà Moggridge chỉ ra vào năm 1984 đề cập đến sự ứng dụng của thiết kế công nghiệp đối với những sản phẩm phần mềm lưu trữ. Trương trình học thuật đầu tiên chính thức được đặt tên là" thiết kế tương tác" được tổ chức tại trường đại học Carnegie Mellon University vào năm 1994 với tên gọi là thạc sĩ chuyên ngành thiết kế tương tác. Khi chương trình này bắt đầu nó chủ yếu tập trung vào thiết kế giao diện màn hình nhưng ngày nay nó tập trung nhiều vào những khía cạnh lớn hơn của sự tương tác – con người, các tổ chức văn hóa, dịch vụ và hệ thống. Năm 1990 Gillian Crampton Smith thành lập Computer-related Design MA tại Royal College of Art (RCA), London và được đổi tên thành Thiết kế Tương tác. vào năm 2005, Được đứng đầu bởi giáo sư Anthony Dunne. Vào năm 2001, Crampton Smith đã giúp thành lập học viện Thiết Kế Tương Tác Ivrea, một học viện nhỏ ở miền bắc nước Ý chỉ tập trung vào thiết kế tương tác; Học viện này chuyển đến Milan vào năm 2005và các khóa học được sát nhập với Domus Academy. In 2007, Năm 2007 một trong số những người đầu tiên có liên quan đến IDII đã thành lập Copenhagen Institute of Interaction Design (CIID). Năm 1998 Swedish Foundation for Strategic Research thành lập " The Interactive Institute" – một học viện nghiên cứu Thụy Điển trong lĩnh vực thiết kế tương tác. Ngày nay thiết kế tương tác được dạy ở rất nhiều trường trên toàn thế giới. Nó thường xuyên được thảo luận ở các hội thảo như là Gamification 2013 được tổ chức tại University of Waterloo Stratford Campus, tại đó tác giả Stephen P. Anderson đã thảo luận về sự hấp dẫn thiết kế tương tác, một cách tiếp cận mới đối với thiết kế trang web và sự tương tác dựa trên các giai đoạn của sự hấp dẫn. == Các phương pháp nghiên cứu == === Thiết kế định hướng mục tiêu === Thiết kế định hướng mục tiêu quan tâm chủ yếu đến thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của những người sẽ tương tác với sản phẩm và dịch vụ.." Alan Cooper lập luận trong cuốn sách The Inmates Are Running the Asylum rằng chúng ta cần có một cách tiếp cận mới đối với việc làm sao để giải quyết những vấn đề cơ bản của các phần mềm tương tác. Những vấn đề gặp phải đối với việc thiết kế giao diện máy tính thì về cơ bản khác với những thách thức chúng ta phải đối mặt khi thiết kế giao diện cho sản phẩm những thứ mà không bao gồm phần mềm ví dụ như cái búa, đinh… Alan đã đưa ra khái niệm về sự xung đột về mặt nhận thức, nhờ đó mà chúng ta xử lý sự việc một cách có lý trí khi mà chúng thật sự phức tạp đến nỗi chúng ta không thể lúc nào cũng hiểu cách mà chúng phản ứng. Những giao diện máy tính thì đủ phức tạp để được xử lý theo cách này. Nó cũng được lập luận rằng chúng ta phải hoàn toàn thấu hiểu những mục đích của người sử dụng "cả cá nhân và mục đích" để mà giải quyết vấn đề trong khả năng tốt nhất có thể vì vậy cách tiếp cận hiện tại thì hướng tới giải quyết những vấn đề một cách riêng lẻ, từ khía cạnh của một doanh nghiệp hoặc những bên liên quan khác. === Đặc tính ảo (personas) === Thiết kế định hướng mục tiêu được giải thích trong cuốn sách the Inmates Are Running the Asylum cho việc sử dụng của "đặc tính ảo", cái mà được tạo sau khi phỏng vấn một số lượng người sử dụng nhất định Mục tiêu của một đặc tính ảo là để " phát triển sự miêu tả chính xác về người dùng của chúng ta và những điều mà người dùng mong muốn đạt được". phương pháp tốt nhất như đã được miêu tả the Inmates Are Running the Asylum là tạo ra những người sử dụng với tên và những thông tin đi kèm, người mà đại diện cho người sử dụng thật của một sản phẩm nhất định. Những người sử dụng này thì không phải là ảo mà nó được xem xét như là sản phẩm của một quá trình điều tra. Lý do cho việc tạo dựng những thông tin đi kèm cho một đặc tính ảo là để làm cho chúng đang tin hơn. Vậy chúng có thể được coi như một con người thực sự và có quyền đòi hỏi nhu cầu. đặc tính ảo cũng giúp cho việc loại trừ những thuộc tính mà có thể gán cho một cá nhân cụ thể. === Định dạng nhận thức === Mô hình định dạng nhận thức cung cấp một nhóm từ chuyên dụng để đánh giá và thay đổi những giải pháp thiết kế cụ thể. Định dạng nhận thức được thiết kế như là một cách tiếp cận dễ dàng với việc phân tích chất lượng của thiết kế hơn là hiểu chi tiết cụ thể. Chúng cung cấp một vốn từ chung cho việc thảo luận rất nhiều yếu tố trong phần chú thích, UI hoặc là thiết kế ngôn ngữ lập trình. Những định dạng cung cấp các miêu tả ở cấp độ cao của giao diện và người sử dụng tương tác với nó như thế nào. Ví dụ như tính thống nhất, sự điều hành phần cứng, tính linh động hoặc là những sự cam kết sớm. những khái niệm này hỗ trợ cho việc tạo ra những thiết kế mới từ thiết kế có sẵn thông qua các thao tác thiết kế như là việc chỉnh sửa các vị trí của thiết kế trong một định dạng cụ thể === Thiết kế tương tác cảm xúc === Thông qua quá trình thiết kế tương tác, những nhà thiết kế phải nhận thức được những khía cạnh chính trong những thiết kế của họ cái mà ảnh hưởng đến phản ứng cảm xúc của những khách hàng mục tiêu. Nhu cầu cho những sản phẩm để truyền tải những cảm xúc tích cực và tránh những cảm xúc tiêu cực là yếu tố quan trọng trong việc thành công của sản phẩm. những khía cạnh này bao gồm tích cực, tiêu cực, động viên, học hỏi, sáng tạo, xã hội và những tác động mang tính chất thuyết phục và một vài thứ khác. Một phương pháp có thể giúp truyền tải những khía cạnh này là sử dụng những giao diện. Trong phần mềm, ví dụ việc sử dụng của những biểu tưởng và hình ảnh động và âm thanh có thể giúp giao tiếp. một giai đoạn của quá trình điều hành, tạo một cảm giác của sự giao tiếp và phản hồi. những khía cạnh về mặt giao diện như là phông, màu chữ, đồ họa có thể tác động đến sự truyền tải của giao diện. các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những khía cạnh cảm xúc có thế tác động đến nhận thức của người dùng về sự tiện dụng. Lý thuyết về cảm xúc và thỏa mãn tồn tại để giải thích cho những phản ứng của con người đối với việc sử dụng của những sản phẩm mang tính tương tác. Chúng bao gồm mô hình thiết kế cảm xúc của Don Norman, mô hình niềm vui của Patrick Jordan và công nghệ. == 5 định dạng của thiết kế tương tác == Các mô hình của thiết kế tương tác lần đầu tiên dc giới thiệu trong cuốn sách Designing interactions.Gillian Crampton Smith đã tuyến bô rằng có 4 mô hình đối vơi 1 ngôn ngữ thiết kế tương tác A fifth dimension was added by Kevin Silver. Mô hình thứ 5 đã được thêm bới Kevin silver. === 1 Ngôn từ === Mô hình này nhận định những sự tương tác. Ngôn từ là sự tương tác mà ng sử dụng dùng trong quá trình tương tác. === 2 Những sự đại diện ảo === Những sự đại diện ảo là những cái mà ng dùng tương tác trên bề mặt giao diện. nó có thể bảo gồm mà ko giới hạn vơi biểu đồ, biểu tượng, đồ họa, bản in. === 3 Đối tượng vật lý hay không gian === Không gian với người sử dụng tương ứngng là một định dạng thứ ba của thiết kế tương tác. Nó chỉ rõ không gian hoặc mục đích " vớiđối tượng nào hoặc trong không gian nàongười sử dụng tương tác" === Thời gian === Một số ví dụ của việc này là "nội dung thay đổi theo thời gian như âm thanh, video, hoặc hình ảnh động" === 5 Hành vi === Hành vi chỉ ra hành vi của người sử dụng trong tương tác với giao diện và họ phản ứng với nó như thế nào == Hiệp hội thiết kế tương tác == Hiệp hội thiết kế tương tác(The Interaction Design Association) (IxDA) đã được thành lập vào năm 2003 để phục vụ cộng đồng Thiết kế Tương tác toàn cầu. Các tổ chức hiện có 50.000 thành viên và 140 nhóm địa phương trên khắp thế giới. Nó tạo ra tương tác, các hội nghị tương tác thiết kế hàng năm, và giải thưởng tương tác. == Xem thêm == Interaction Design Foundation Chief Experience Officer (CXO) Data presentation architecture Information architecture Hardware Interface design Human interface guidelines (user friendly computer application designs) Instructional design Interaction design pattern Interactive systems engineering Interactivity Interface design Kinetic user interface Mobile interaction Service design Sonic interaction design Transgenerational design Usability User experience design User-centered design Web literacy (Creating interactive experiences on the web) == Tham khảo == == Đọc thêm == Lal, Raj (2013). Digital Design Essentials: 100 Ways to Design Better Desktop, Web, and Mobile Interfaces. Rockport Publishers. ISBN 1-592-53803-7. Bolter, Jay D.; Gromala, Diane (2008). Windows and Mirrors: Interaction Design, Digital Art, and the Myth of Transparency. Cambridge, Massachusetts: MIT Press. ISBN 0-262-02545-0. Buchenau, Marion; Suri, Jane Fulton. Experience Prototyping. DIS 2000. ISBN 1-58113-219-0. Buxton, Bill (2005). Sketching the User Experience. New Riders Press. ISBN 0-321-34475-8. Dawes, Brendan (2007). Analog In, Digital Out. Berkeley, California: New Riders Press. Goodwin, Kim (2009). Designing for the Digital Age: How to Create Human-Centered Products and Services. ISBN 978-0-470-22910-1. Houde, Stephanie; Hill, Charles (1997). “What Do Prototypes Prototype?”. Trong Helander, M; Landauer, T; Prabhu, P. Handbook of Human–Computer Interaction (ấn bản 2). Elsevier Science. Jones, Matt & Gary Marsden: Mobile Interaction Design, John Wiley & Sons, 2006, ISBN 0-470-09089-8. Kolko, Jon (2009). Thoughts on Interaction Design. ISBN 978-0-12-378624-1. Laurel, Brenda; Lunenfeld, Peter (2003). Design Research: Methods and Perspectives. MIT Press. ISBN 0-262-12263-4. Tinauli, Musstanser; Pillan, Margherita (2008). “Interaction Design and Experiential Factors: A Novel Case Study on Digital Pen and Paper”. Mobility '08: Proceedings of the International Conference on Mobile Technology, Applications, and Systems. New York: ACM. doi:10.1145/1506270.1506400. ISBN 978-1-60558-089-0. Norman, Donald (1988). The Design of Everyday Things. New York: Basic Books. ISBN 978-0-465-06710-7. Raskin, Jef (2000). The Humane Interface. ACM Press. ISBN 0-201-37937-6. Saffer, Dan (2006). Designing for Interaction. New Riders Press. ISBN 0-321-43206-1. == Liên kết ngoài == Interaction-Design.org – A peer-reviewed encyclopedia, a comprehensive bibliography, and a calendar of interaction design events Design Patterns in Interaction Design Designing Interactions: Interviews – conversations with key figures in interaction design Introducing Interaction Design – Boxes and Arrows
cựu ước.txt
Cựu Ước là phần đầu của toàn bộ Kinh Thánh Kitô giáo được tuyển chọn từ phần lớn kinh Tanakh của Do Thái giáo. Cựu Ước được sắp xếp thành các phần khác nhau như luật pháp, lịch sử, thi ca (hay các sách về sự khôn ngoan) và tiên tri. Tất cả các sách này đều được viết trước thời điểm sinh ra của Chúa Giêsu người Nazareth, người mà cuộc đời và tư tưởng là trọng tâm của Tân Ước. Cần lưu ý rằng Do Thái giáo dùng từ Tanakh như là một thay thế cho thuật ngữ Cựu Ước, vì họ không chấp nhận Tân Ước là một phần của Kinh Thánh. == Quy điển == Cựu Ước của cộng đồng Kháng Cách (Protestantism) bao gồm toàn bộ các sách của kinh Tanakh, chỉ có thay đổi về thứ tự và số lượng các sách này. Cựu Ước Kháng Cách có 39 sách trong khi số lượng các sách trong kinh Tanakh của Do Thái giáo là 24. Có sự khác biệt này là vì theo sự sắp xếp trong kinh Tanakh, các sách Samuel, Các Vua và Sử ký được gộp thành một sách, 12 sách tiểu tiên tri cũng được tính chung thành một sách, điều tương tự cũng xảy ra cho các sách Ezra và Nehemiah. Công giáo Rôma và Chính thống giáo Đông phương thêm vào Cựu Ước một số sách, được gọi là thứ kinh (deuterocanonical), các sách này không được công nhận bởi cộng đồng Kháng cách. Nền tảng của thứ kinh được tìm thấy trong bản Bảy mươi Hi văn cổ, dịch từ Kinh Thánh Do Thái. Đây là bản dịch được sử dụng rộng rãi bởi các tín hữu thời kỳ tiên khởi cũng như được trích dẫn bởi Tân Ước. == Lịch sử == Một vài giáo sư khảo cổ học cho rằng nhiều câu chuyện chép trong Cựu Ước, bao gồm những ký thuật về Abraham, Moses, Solomon, và một số nhân vật khác, thật ra chỉ được trước tác bởi các biện ký (scribe) của vua Josiah (thế kỷ thứ 7 trước công nguyên) nhằm hệ thống hóa niềm tin vào Yaweh. Theo lập luận của các nhà khảo cổ này, đến nay vẫn không tìm thấy nhiều ký thuật được lưu giữ tại các quốc gia kế cận như Ai Cập và Assyria, cũng không có văn bản nào về các câu chuyện của Kinh Thánh hay về các nhân vật ấy trước năm 650 TCN. Ngược lại, các nhà khảo cổ khác lại tìm thấy trong cùng những ký thuật ấy những chứng cớ hỗ trợ cho các câu chuyện trong Kinh Thánh, dù chúng không trực tiếp thuật lại các câu chuyện này. == Tên gọi == Thuật ngữ "Cựu Ước", dịch từ tiếng Latin Vetus Testamentum, có nguyên ngữ Hi văn hê Palaia Diathêkê (Η Παλαιά Διαθήκη) nghĩa là "Giao ước (hoặc lời chứng) cũ". Kitô hữu gọi là Cựu Ước vì họ tin rằng nay đã có một giao ước mới được thiết lập giữa Thiên Chúa và loài người, sau khi Giêsu người Nazareth đến thế gian (xem Thư gởi người Do Thái). Do Thái giáo không công nhận Tân Ước, cũng không chấp nhận Cựu Ước như là tên gọi thay thế cho Tanakh (tuy nhiều người Do Thái chấp nhận Chúa Giêsu là một nhân vật lịch sử hoặc ngay cả là môn đệ của một giáo sư kinh luật truyền khẩu Do Thái giáo). == Ứng dụng == Không có sự đồng thuận hoàn toàn về việc ứng dụng các giáo huấn của Cựu Ước và Tân Ước vào đời sống giáo hội của cộng đồng Kitô giáo, đặc biệt là trong thời kỳ hội Thánh tiên khởi. Cũng có một số tranh luận trong vòng các học giả Kháng Cách về việc có nên áp dụng giáo huấn Tân Ước cho người Do Thái hay không. Tương tự, vẫn còn bất đồng về mức độ áp dụng các giáo luật của Cựu Ước cho Kitô hữu. Ngày nay, rất ít Kitô hữu tuân giữ các giáo luật của Cựu Ước đòi hỏi kiêng cữ một số thức ăn, trong khi hầu hết trong số họ tin và tuân giữ Mười Điều Răn. Hầu hết Kitô hữu đều đồng ý rằng sự hiểu biết về Cựu Ước là nền tảng giúp họ hiểu biết Tân Ước, họ cũng tin rằng nội dung của cả Cựu Ước và Tân Ước đều được soi dẫn bởi Thiên Chúa. Trong lịch sử đã xuất hiện các quan điểm dị biệt như nhóm Khả tri (Gnostic), đi xa đến mức khẳng định Thiên Chúa của Cựu Ước là một thực thể khác với Thiên Chúa của Tân Ước, họ thường gọi Thiên Chúa của Cựu Ước là demiurge, hoặc Marcion xứ Sinope còn đi xa hơn khi cho rằng không nên xem Cựu Ước là một phần của Kinh Thánh Kitô giáo. Hầu hết Kitô hữu tin rằng quan điểm các nhóm này là dị giáo. Ngày nay, nhiều học giả thích dùng Kinh Thánh Do Thái như một thuật ngữ thay thế cho Tanakh và Cựu Ước (không bao gồm các thứ kinh) nhằm biểu dương tính đồng thuận trong học thuật giữa các giáo phái Cơ Đốc. Các tác giả Tân Ước thường tham khảo và trích dẫn Cựu Ước, đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến việc ứng nghiệm các lời tiên tri đề cập đến Đấng Messiah mà người Cơ Đốc tin là Giêsu người Nazareth. Theo quan điểm thần học Kitô, sự trông đợi Đấng Messiah được tiên báo trong Cựu Ước, sự ứng nghiệm trong hiện tại và trong thời kỳ tận thế, vương quốc thần Thánh và vĩnh cửu dưới quyền tể trị của Chúa Giêsu hiện hữu như một sơi dây xuyên suốt từ Cựu Ước đến Tân Ước. Những người ủng hộ thuyết Hoán vị (supersessionism) tin rằng kể từ thời Chúa Kitô, dân Do Thái, với địa vị và đặc quyền như là tuyển dân của Thiên Chúa, được thay thế bởi cộng đồng Cơ Đốc giáo. Lập luận này đặt nền tảng trên một số luận giải trong Tân Ước, trong số đó có Galatians 3.29 "Nếu anh em thuộc về Chúa Kitô, anh em là hậu duệ của Abraham, tức là người kế tự theo lời hứa". Trong thực tế, điều này có nghĩa là trong khi các giáo luật Cựu Ước về nghi thức và kiêng cữ thức ăn nên được huỷ bỏ, thì các giáo huấn về tinh thần và đạo đức cần được tuân giữ. Hơn nữa, những người tin vào thuyết Hoán vị cho rằng những lời tiên tri về dân Do Thái được chép trong Cựu Ước được ứng nghiệm trong thân vị của Chúa Giêsu và qua hội Thánh với tư cách là tuyển dân của Thiên Chúa. == Đọc thêm == Tân Ước Kinh Thánh Kinh Thánh Tiếng Việt 1926 Kinh Thánh Do Thái == Tham khảo ==
múa rối nước.txt
Múa rối nước (hay còn gọi là trò rối nước) là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống độc đáo, ra đời từ nền văn hóa lúa nước. Từ một nghệ thuật mang yếu tố dân gian, múa rối nước đã trở thành một nghệ thuật truyền thống, một sáng tạo đặc biệt của người Việt == Lịch sử == Múa rối nước đã ra đời chừng hơn 10 thế kỷ trước ở vùng châu thổ sông Hồng. Loại hình này thường diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết, dùng con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước. Trò rối nước cũng được coi là nét văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Do tính đặc sắc, nên từ nghệ thuật mang yếu tố dân gian, múa rối nước đã nhanh chóng trở thành nghệ thuật truyền thống, có thể sánh ngang với tuồng, chèo là những bộ môn nghệ thuật có vị trí cao trong nền sân khấu dân tộc. Múa rối có ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng múa rối nước thì chỉ duy nhất có ở Việt Nam. === Hình thành === Múa rối nước ra đời cùng nền văn minh lúa nước nhưng được hình thành và phát triển vào triều đại nhà Lý (1010 - 1225). Theo thời gian, nghệ thuật múa rối nước được truyền từ đời này sang đời khác, dần dần trở thành một thú chơi tao nhã của người dân Việt Nam trong các dịp lễ hội. Chứng cứ bằng văn tự đầu tiên ghi chép về múa rối nước Việt Nam là bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, dựng năm 1121, trong đó có đoạn viết: "Thả rùa vàng đội ba ngọn núi, trên mặt sóng dập dờn. Phơi mai vân để lộ bốn chân, dưới dòng sông lờ lững, liếc mắt nhìn lên bờ, cúi xét bầu trời lồng lộng. Trông vách dựng cheo leo, dạo nhạc thiều réo rắt. Cửa động mở ra thần tiên xuất hiện. Ðều là dáng điệu thiên cung, há phải phong tư trần thế. Vươn tay nhỏ dâng khúc Hồi phong, nhăn mày thúy ngợi ca vận tốt. Chim quý từng đàn ca múa, thú lành từng đội xênh xang". === Đặc điểm === Nghệ thuật trò rối nước có những đặc điểm khác với múa rối thông thường: dùng mặt nước làm sân khấu (gọi là nhà rối hay thủy đình), phía sau có phông che (được gọi là tấm y môn) tạo sân khấu biểu dễn múa rối nước y như ban thờ lớn ở Đình, Chùa của người Việt, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã... trên "sân khấu" là những con rối (được làm bằng gỗ) biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây... Biểu diễn rối nước không thể thiếu những tiếng trống, tiếng pháo phụ trợ. === Cách thức hoạt động === Con rối làm bằng gỗ sung, loại gỗ nhẹ nổi trên mặt nước, được đục cốt, đẽo với những đường nét cách điệu riêng sau đó gọt giũa, đánh bóng và trang trí với nhiều màu sơn khác nhau để làm tôn thêm đường nét tính cách cho từng nhân vật. Hình thù của con rối thường tươi tắn, ngộ nghĩnh, tính hài và tính tượng trưng cao. Phần thân rối là phần nổi lên mặt nước thể hiện nhân vật, còn phần đế là phần chìm dưới mặt nước giữ cho rối nổi bên trên và là nơi lắp máy điều khiển cho quân rối cử động. Máy điều khiển và kỹ xảo điều khiển trong múa rối nước tạo nên hành động của quân rối nước trên sân khấu, đó chính là mấu chốt của nghệ thuật trò rối nước. Máy điều khiển rối nước có thể được chia làm hai loại cơ bản: máy sào và máy dây đều có nhiệm vụ làm di chuyển quân rối và tạo hành động cho nhân vật. Máy điều khiển được giấu trong lòng nước, lợi dụng sức nước, tạo sự điều khiển từ xa, cống hiến cho người xem nhiều điều kỳ lạ, bất ngờ. Buồng trò rối nước là nhà rối hay thủy đình thường được dựng lên giữa ao, hồ với kiến trúc cân đối tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam. Người nghệ nhân rối nước đứng trong buồng trò để điều khiển con rối. Họ thao tác từng cây sào, thừng, vọt... hoặc giật con rối bằng hệ thống dây bố trí ở bên ngoài hoặc dưới nước Sự thành công của quân rối nước chủ yếu trông vào sự cử động của thân hình, hành động làm trò đóng kịch của nó. Sân khấu rối nước là khoảng trống trước mặt buồng trò. Buồng trò, sân khấu được trang bị cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã...Buổi diễn rất nhộn nhịp với lời ca, tiếng trống, mò, tù và, chen tiếng pháo chuột, pháo thăng thiên, pháo mở cờ từ dưới nước lên, trong ánh sáng lung linh và màn khói huyền ảo. Trò rối nước là trò khéo lấy động tác làm ngôn ngữ diễn đạt, rối nước gắn bó với âm nhạc như nghệ thuật múa. Âm nhạc điều khiển tốc độ, giữ nhịp, dẫn dắt động tác, gây không khí với tiết tấu truyền thống giữ vai trò chủ đạo của trò rối nước, nhạc rối nước thường sử dụng các làn điệu chèo hoặc dân ca đồng bằng Bắc Bộ. Theo các truyền thuyết, huyền thoại lịch sử, trò rối nước ra đời từ thời xây thành Cổ Loa, Kinh An Dương Vương, năm 255 trước công nguyên. Còn theo sử sách, văn bia trò rối nước ra đời năm 1121 (đời Lý). Trong kho tàng trò rối nước của Việt Nam, có 30 tiết mục cổ truyền và hàng trăm tiết mục rối hiện đại kể về những sự tích dân gian và cuộc sống hàng ngày của người dân Việt. Các trò diễn thường được mở đầu bằng sự giới thiệu của chú Tễu,mô tả: Những sinh hoạt đời thường như: công việc nhà nông, câu ếch, cáo bắt vịt, Lễ hội: múa rồng, múa sư tử, rước kiệu, đấu vật, đánh võ, chọi trâu. Trích đoạn một số tích cổ: Thạch Sanh, Tấm Cám... == Một số phường múa rối nước ở Việt Nam == Nghệ thuật rối nước là đặc phẩm văn hoá bản địa dân tộc Việt, phát triển ở hầu hết các làng xã quanh kinh thành Thăng Long như Đào Thục (Đào Xá) - Huyện Đông Anh, chùa Nành - Gia Lâm, Phường rối nước xã Thanh Hải - Thanh Hà - Hải Dương và nhiều phường rối ở hầu hết các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài Nhà hát múa rối Trung ương và Nhà hát múa rối Thăng Long, cón có một số phường như Đào Thục, Tế Tiêu, Tràng Sơn, Bình Phú, Thạch Xá, Nguyên Xá và Nam Chấn. Đặc biệt, trong những địa phương này, nổi bật có rối Thẩm Rộc của đồng bào Tày ở huyện Định Hoá, Thái Nguyên. Từ 13 đời nay, nghề rối được dòng họ Ma Quang gìn giữ. Dù trải qua nhiều thăng trầm, nhưng nghề vẫn được truyền đến ngày nay. Múa rối Thẩm Rộc thuộc loại hình rối que, thông thường phường rối có 12 thành viên gồm người điều khiển, người chơi nhạc và một số người giúp. Cách điều khiển con rối ở phường rối Thẩm Rộc cũng có cách khác với các phường rối khác. Ngoài một số con rối dùng dây giật, cầm trên tay điều khiển, phần lớn các con rối được điều khiển qua các que tre. Năm 1992, Nhà hát Múa rối Thăng Long tại Hà Nội phục hồi 17 trò rối nước làm sống dậy trò rối nước trên toàn quốc gồm 17 trò: Bật cờ, Chú Tễu, Múa rồng, Em bé chăn trâu, Cày cấy, Cậu ếch, Bắt vịt, Đánh cá, Vinh quy bái tổ, Múa sư tử, Múa phượng, Lê Lợi trả gươm, Nhi đồng vui chơi, Đua thuyền, Múa lân, Múa tiên, Tứ linh. Tại thành phố Hồ Chí Minh có sân khấu múa rối nước Rồng Vàng. === Múa rối nước Đào Thục === Rối nước Đào Thục là môn rối nước có xuất xứ tại làng Đào Thục, xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Vào thời Hậu Lê làng Đào Thục có Ông Đào Tướng Công (Tự Phúc Khiêm) tên thật là Nguyễn Đăng Vinh quê ở Đào Xá, huyện Yên Phong, Bắc Ninh nay là Đào Thục, xã Thụy lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Sau khi đỗ đạt Thám Hoa (Tiến sĩ) rồi làm quan Nội giám thời vua Lê Hy Tông, được nhà vua yêu mến ban cho nghệ thuật múa rối nước đem về quê hương xây dựng làng Đào Xá cùng với tâm huyết của mình. Vì có công lớn nên dân làng đã lập đơn đề nghị triều đình Hậu Lê phong thần lập bia đá năm 1735 (thời Lê Ý Tông). Rối nước Đào Thục có màn đốt pháo bật cờ khai mạc và dùng nhân vật Ba Khí giáo trò (Ba khí là đại diện chung cho cả hình ảnh người nông dân Bắc Bộ và anh Ba Khía Miền Nam) chứ không chỉ là chú Tễu - anh nông dân đồng bằng Bắc Bộ từ xa xưa như các phường rối khác. === Múa rối nước Đồng Ngư === Hiện nay chưa có tài liệu nào ghi chép về thời gian ra đời của trò múa rối nước làng Đồng Ngư, xã Ngũ Thái. Trước năm 1945, phường múa rối nước làng Đồng Ngư chủ yếu biểu diễn phục vụ nhân dân trong làng vào những dịp nông nhàn, hội hè, đình đám và đi biểu diễn giao lưu với các phường rối bạn. Sau Cách mạng Tháng Tám, trò múa rối nước mai một dần. Năm 1986, được sự giúp đỡ của Viện Văn hóa, chính quyền địa phương, Phường rối nước Đồng Ngư được thành lập với sự tham gia của 40 nghệ nhân tâm huyết với nghề. Năm 2012, nhằm bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật trình diễn múa rối nước của làng Đồng Ngư, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh đã lập hồ sơ trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. == Thư viện ảnh == == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Nét độc đáo của nghệ thuật rối nước truyền thống Đặc trưng múa rối
fortune (tạp chí).txt
Fortune là một tạp chí kinh doanh đa quốc gia, được phát hành và sở hữu bởi Time Inc. và có trụ sở ở thành phố New York. Ấn phẩm được thành lập bởi Henry Luce vào năm 1929. Nó cạnh tranh với tạp chí Forbes và Bloomberg Businessweek trong danh mục tạp chí kinh doanh quốc gia và có sự khác biệt bởi những bài viết chuyên đề dài và chuyên sâu. Tạp chí được biết đến nhiều bởi Fortune 500, một bảng xếp hạng các công ty theo doanh thu mà nó đã xuất bản hàng năm từ năm 1955. == Lịch sử == Fortune được thành lập bởi đồng sáng lập của tờ Time Henry Luce vào năm 1929 với ý tưởng là "tạp chí lý tưởng cho tầng lớp cao cấp", một ấn phẩm "sang trọng và khác biệt" để "mô tả, giải thích và ghi lại nền văn minh công nghiệp". == Danh sách Fortune == Fortune thường xuyên công bố danh sách xếp hạng. Ví dụ như trong lĩnh vực nhân sự, nó xuất bản danh sách Công ty tốt nhất để làm việc. Danh sách bao gồm các công ty xếp theo thứ tự doanh thu và hồ sơ doanh nghiệp: == Danh sách biên tập viên == Đã có 17 nhà biên tập hàng đầu kể từ khi Fortune được hình thành năm 1929. Theo xu hướng loại bỏ vị trí tổng biên tập tại Time Inc. vào tháng 10 năm 2013, danh hiệu biên tập viên hàng đầu đã được thay đổi từ "biên tập viên quản lý" (managing editor) sang "biên tập viên" in 2014. == Xem thêm == Fortune Battle of the Corporate Bands, cuộc thi âm nhạc hàng năm cho các ban nhạc do các công ty nghiệp nghiệp dư tài trợ Danh sách tạp chí Hoa Kỳ == Ghi chú == == Đọc thêm == James S. Miller, "White-Collar Excavations: Fortune Magazine and the Invention of the Industrial Folk," American Periodicals, vol. 13 (2003), pp. 84–104. In JSTOR == Liên kết ngoài == Website chính thức Fortune India Fortune China Fortune Turkey Danh sách 100 công ty tốt nhất để làm việc “Fortune Data Store”. Fortune. Time. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). Complete downloadable list of Fortune 500/1000 Companies – 1955–2008 Bản mẫu:Time Inc. Bản mẫu:Fortune (tạp chí)
ấn tượng vtv.txt
Ấn tượng VTV là giải thưởng truyền hình thường niên của Đài Truyền hình Việt Nam nhằm vinh danh các sản phầm truyền hình, gương mặt MC, Biên tập viên, bộ phim truyền hình ấn tượng, thu hút lượng lớn khán giả của VTV trong suốt một năm. Giải thưởng cũng chính là sự ghi nhận những đóng góp và nỗ lực của các MC, Biên tập viên, nghệ sĩ và các ê-kíp tổ chức sản xuất chương trình hay các đoàn làm phim. Giải thưởng Ấn tượng VTV gồm 2 vòng bình chọn: vòng thứ nhất chọn ra top 5, vòng thứ hai kết thúc trước đêm trao giải nhằm chọn ra người thắng cuộc. == Các lần trao giải == === Ấn tượng VTV 2014 === Ấn tượng VTV 2014 diễn ra vào ngày 5/9/2014 tai trường quay S14 - Đài Truyền hình Việt Nam. Có 11 hạng mục được đề cử. MC Nguyên Khang là người dẫn dắt chương trình. === VTV Awards - Ấn tượng VTV 2015 === Ấn tượng VTV 2015 diễn ra vào ngày 6/9/2015 tại Cung thể thao Quần Ngựa. Có 14 hạng mục được đề cử. MC Minh Hà, Đinh Tiến Dũng và NSƯT Thành Lộc là những người điều khiển chương trình. === VTV Awards - Chuyển động 2016 === VTV Awards - Chuyển động 2016 diễn ra vào ngày 7/9/2016 tại Nhà hát Hòa Bình. Có 11 hạng mục được đề cử. Trấn Thành và Ái Phương là 2 MC của đêm trao giải. == Tham khảo ==
đại học quốc gia thành phố hồ chí minh.txt
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (tên tiếng Anh: Vietnam National University, Ho Chi Minh City, viết tắt: VNU-HCM) là một trong hai đại học quốc gia của Việt Nam trực thuộc Thủ tướng Chính phủ, đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một trong những trung tâm đào tạo chất lượng cao nhất Việt Nam, theo QS World University Rankings (2016), Đại học Quốc gia TP.HCM lọt vào top 150 trường đại học tốt nhất châu Á. == Lịch sử == Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ban đầu được thành lập vào ngày 27 tháng 1 năm 1995 theo Nghị định 16/CP của Chính phủ trên cơ sở sắp xếp chín trường đại học (Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tài chính Kế toán Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh, Phân hiệu Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh) lại thành 10 trường đại học thành viên và chính thức ra mắt vào ngày 6 tháng 2 năm 1996. Quy hoạch của Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh được phát triển trên nền tảng của Quy hoạch Làng Đại học Thủ Đức do KTS Ngô Viết Thụ thiết kế và xây dựng từ thập niên 1960, trong đó bao gồm việc xây dựng xong một số hệ thống đường sá và hạ tầng cho khu đại học đường và khu biệt thự cho các giáo sư, tổng thể các công trình của Đại học Nông Lâm Súc xây xong vào khoảng 1974 (nay là Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh), Đại học Khoa học, và một số biệt thự trong khu ở cho giáo sư. Ngày 12 tháng 2 năm 2001, Thủ tướng Phan Văn Khải ra quyết định số 15/2001/QĐ-TTg về việc tổ chức lại hai đại học quốc gia tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (cũng như Đại học Quốc gia Hà Nội) có quy chế tổ chức và hoạt động riêng dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học– công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nồng cốt cho hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế–xã hội. Cũng theo quyết định đó, một số trường thành viên trước đây của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tách ra độc lập và chỉ trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiện nay, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có 6 trường đại học thành viên: Trường Đại học Bách khoa, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Quốc tế, Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Kinh tế - Luật, một khoa trực thuộc: Khoa Y và một trung tâm đào tạo Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tại tỉnh Bến Tre. Giữa tháng 3 năm 2016, Văn phòng Chính phủ công bố quyết định của Thủ tướng về chuyển đổi cơ quan chủ quản của 2 trường đại học. Theo quyết định, Trường Đại học Việt - Đức sẽ được bàn giao về cho Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Theo đó, trong vòng 60 ngày, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ bàn giao nguyên trạng Trường Đại học Việt - Đức (bao gồm các dự án đầu tư) về cho ĐHQG. Như vậy, Trường Đại học Việt - Đức có thể sẽ là trường thành viên thứ 7 của ĐHQG Tp.HCM. Tuy nhiên, vào ngày 29/8/2016, Văn phòng chính phủ đã công bố kết luận của Thủ tướng về việc không chuyển Trường Đại học Việt Đức về Đại học Quốc gia TP HCM. Theo đó, Trường Đại học Việt Đức tiếp tục trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn đầu xây dựng trường. Ngày 8 tháng 12 năm 2016 Thủ tướng có văn bản đồng ý chủ trương chuyển Trường ĐH An Giang từ trường ĐH chịu sự quản lý trực tiếp của UBND tỉnh An Giang thành trường Đại học thành viên của ĐH Quốc gia TP.HCM. == Ban Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh == === Giám đốc === PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, Bí thư Đảng ủy, Thành ủy viên, Ủy viên Trung ương Đảng. === Phó Giám đốc === TS Nguyễn Đức Nghĩa PGS.TS Nguyễn Hội Nghĩa PGS.TS Dương Anh Đức == Quy mô & Cơ sở vật chất == Hiện nay, quy mô đào tạo chính quy (bao gồm các chương trình đại học và sau đại học) của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là 65.000 sinh viên chính quy (trong đó có hơn 10.000 học viên cao học và nghiên cứu sinh) với 89 ngành đào tạo bậc đại học, 90 ngành đào tạo bậc thạc sĩ, 77 ngành đào tạo bậc tiến sĩ. Các lĩnh vực đào tạo của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trải rộng trong nhiều ngành, bao gồm: kỹ thuật-công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội- nhân văn, khoa học kinh tế và khoa học sức khỏe. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện có tổng cộng khoảng 5.700 giảng viên và nhân viên, trong đó có 3.500 người tham gia giảng dạy (trong đó có hơn 300 người có chức danh giáo sư và phó giáo sư; 1100 tiến sĩ và 2200 thạc sĩ). Cơ quan hành chính của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay được đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm văn hóa, thương mại và công nghiệp lớn và năng động nhất của khu vực phía Nam cũng như của Việt Nam. Địa chỉ của nhà làm việc chính của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Khu phố 6, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang xúc tiến xây dựng cơ sở mới tại khu quy hoạch Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh) – Dĩ An (tỉnh Bình Dương) trên diện tích rộng 643,7 hecta theo mô hình một đô thị khoa học hiện đại. == Các đơn vị thành viên == Hiện nay, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm các thành viên là các trường sau: === Trường Phổ thông Năng Khiếu === Đào tạo học sinh năng khiếu các ngành Toán, Tin học, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Văn học, Tiếng Anh. Năm 2004, trường mở thêm lớp Không Chuyên theo định hướng thi đại học ban A. Đến năm 2005, trường tiếp tục mở thêm lớp Không Chuyên theo định hướng thi đại học ban D. Hầu hết giáo viên và cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Hiệu phó...) của Trường Phổ Thông năng khiếu đều là Giảng viên của ĐH Khoa học Tự nhiên. Một số môn học của sinh viên ĐH Khoa học Tự nhiên được giảng dạy tại cơ sở của trường PTNK. Hàng năm trường PTNK đều đào tạo ra những học sinh xuất sắc đi thi Quốc gia và Quốc tế đạt thứ hạng cao cũng như đỗ thủ khoa các kì thi tuyển sinh Đại học. === Trường Đại học Bách khoa === Đào tạo bậc Kỹ sư các ngành: Công nghệ thông tin, Công nghệ hóa học, Cơ khí, Điện – Điện tử, Kỹ thuật xây dựng, Khoa học ứng dụng, Môi trường, Địa chất – Dầu khí, Kỹ thuật giao thông, Công nghệ vật liệu Đào tạo bậc Kiến trúc sư ngành: Kiến trúc dân dụng và Công nghiệp Đào tạo bậc cử nhân ngành: Quản lý công nghiệp. Đào tạo Thạc sĩ các ngành: Kỹ thuật khoan khai thác và công nghệ dầu khí, Công nghệ sinh học, Quản trị kinh doanh, Vật lý Kỹ thuật, Địa chất khoáng sản và thăm dò, Địa chất môi trường, Địa Kỹ thuật, Bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý, Toán ứng dụng, Khoa học máy tính, Cơ học Kỹ thuật, Công nghệ chế tạo máy, Kỹ thuật Chế tạo phôi, Kỹ thuật Hệ thống công nghiệp, Kỹ thuật Ôtô, máy kéo, Thiết bị, mạng và nhà máy điện, Tự động hóa, Kỹ thuật điện tử, Công nghệ hóa học, Quá trình và thiết bị công nghệ hóa học, Công nghệ Nhiệt, Kỹ thuật trắc địa, Công nghệ thực phẩm và đồ uống, Xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp, Xây dựng cầu, hầm, Xây dựng đường ôtô và đường thành phố, Xây dựng công trình thủy, Xây dựng công trình biển, Địa Kỹ thuật xây dựng, Vật liệu và công nghệ vật liệu xây dựng, Công nghệ và quản lý xây dựng, Công nghệ vật liệu vô cơ, Công nghệ vật liệu kim loại, Công nghệ vật liệu cao phân tử và tổ hợp, Công nghệ môi trường, Quản lý môi trường, Kỹ thuật máy và thiết bị xây dựng, nâng chuyển. Đào tạo Tiến sĩ các ngành: Quản trị kinh doanh, Vật lý Kỹ thuật, Địa chất đệ tứ, Địa kiến tạo, Bản đồ, Chế biến thực phẩm và đồ uống, Công nghệ chế tạo máy, Công nghệ dệt may, Công nghệ hóa dầu và lọc dầu, Công nghệ hóa học các chất hữu cơ, Công nghệ hóa học các chất vô cơ, Công nghệ tạo hình vật liệu, Công nghệ và thiết bị lạnh, Công nghệ và thiết bị nhiệt, Công nghệ và thiết bị năng lượng mới, Công nghệ vật liệu cao phân tử và tổ hợp, Công nghệ điện hóa và bảo vệ kim loại, Khoa học máy tính, Kỹ thuật máy công cụ, Kỹ thuật máy nâng, máy vận chuyển liên tục, Kỹ thuật ôtô, máy kéo, Kỹ thuật điện tử, Mạng và hệ thống điện, Nhà máy điện, Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước, Thiết bị điện, Trắc địa cao cấp, Trắc địa ảnh và viễn thám, Tự động hóa, Xây dựng công trình biển, Xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp, Xây dựng công trình thủy, Xây dựng cầu, hầm, Xây dựng đường ôtô và đường thành phố, Địa chất công trình, Địa Kỹ thuật xây dựng, Cấp thoát nước, Địa hóa học... === Trường Đại học Khoa học Tự nhiên === Đào tạo bậc Cử nhân các ngành: Toán tin học, Công nghệ thông tin, Vật lý, Vật lý hạt nhân, Hóa học, Công nghệ kỹ thuật hóa học, Địa chất, Sinh học, Công nghệ sinh học, Khoa học môi trường, Công nghệ kỹ thuật môi trường, Khoa học vật liệu, Khoa Hải Dương Học & Khí Tượng -Thủy Văn, Kỹ thuật điện tử truyền thông. Đào tạo bậc Cao đẳng ngành: Tin học. Đào tạo bậc Thạc sĩ: Sinh học thực nghiệm, Vi sinh vật học, Sinh thái học, Di truyền học, Vật lý lý thuyết và vật lý toán, Vật lý vô tuyến và điện tử, Vật lý nguyên tử, hạt nhân và năng lượng cao, Quang học, Vật lý địa cầu, Hóa vô cơ, Hóa hữu cơ, Hóa phân tích, Hóa lý thuyết và hóa lý, Địa chất học, Thạch học, khoáng vật học và địa hóa học, Địa chất thủy văn, Địa chất công trình, Hải dương học, Khí tượng thủy văn, Toán giải tích, Đại số và lý thuyết số, Hình học và tôpô, Lý thuyết xác suất và thống kê toán học, Lý thuyết tối ưu, Bảo đảm toán học cho hệ thống máy tính và tính toán, Khoa học máy tính, Khoa học môi trường, Quản lý môi trường, Cơ học ứng dụng, cơ học lý thuyết (Liên kết đào tạo với Viện Cơ học ứng dụng Thành phố Hồ Chí Minh). Đào tạo bậc Tiến sĩ: Sinh lý học người và động vật, Sinh lý học thực vật, Hóa sinh học, Vi sinh vật học, Sinh thái học, Di truyền học, Vật lý lý thuyết và vật lý toán, Vật lý vô tuyến và điện tử, Vật lý nguyên tử và hạt nhân, Vật lý năng lượng cao, Vật lý chất rắn, Quang học, Vật lý địa cầu, Cơ học vật thể rắn, Hóa hữu cơ, Hóa phân tích, Hóa lý thuyết và hóa lý, Thạch học, Khoáng vật học, Địa hóa học, Thủy thạch động lực học biển, Hóa học biển, Toán giải tích, Phương trình vi phân và tích phân, Đại số và lý thuyết số, Hình học và tôpô, Lý thuyết xác suất và thống kê toán học, Lý thuyết và tối ưu, Khoa học máy tính, Môi trường đất và nước, Quản lý tổng hợp môi trường đới bờ, Vi điện tử và Thiết kế Vi mạch. === Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn === Đào tạo bậc Cử nhân các ngành: Quan hệ quốc tế, Triết học, Văn học và ngôn ngữ, Báo chí và Truyền thông, Đông phương học, Văn hóa học, Lịch sử, Ngữ văn Anh, Ngữ văn Nga, Ngữ văn Pháp, Ngữ văn Trung Quốc, Ngữ văn Đức, Ngữ văn Ý, Ngữ văn Tây Ban Nha, Hàn Quốc học, Địa lý, Xã hội học, Công tác xã hội, Giáo dục học, Tâm lý học, Đô thị học, Nhật Bản học, Thư viện - Thông tin học, Việt Nam học và Tiếng Việt cho người nước ngoài Đào tạo bậc Thạc sĩ các chuyên ngành: Châu Á học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Dân tộc học, Đô thị học, Địa lý học, Hán nôm, Khảo cổ học, Khoa học thông tin thư viện, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử thế giới, Lịch sử Việt Nam, Lưu trữ học, Lý luận và phương pháp giảng dạy tiếng Anh, Lý luận văn học, Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Nga, Ngôn ngữ Pháp, Nhân học, Quan hệ quốc tế, Quản lý giáo dục, Quản lý tài nguyên và môi trường, Triết học, Văn hóa học, Văn học nước ngoài, Văn học Việt Nam, Việt Nam học, Xã hội học. Đào tạo bậc Tiến sĩ các chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Dân tộc học, Khảo cổ học, Lịch sử thế giới, Lịch sử Việt Nam, Lý luận văn học, Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Ngôn ngữ Nga, Quản lý tài nguyên và môi trường, Triết học, Văn hóa học, Văn học Việt Nam, Xã hội học. === Trường Đại học Quốc tế === Đào tạo bậc Cử nhân: Chương trình liên kết: Bằng cấp có thể do trường Đại học Quốc tế hoặc các trường đối tác cấp. Các ngành liên kết đào tạo: Công nghệ Thông tin, Công nghệ Sinh học, Điện tử - Viễn thông, Quản trị Kinh doanh, Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp. Hợp tác với các trường: Hoa Kì: Đại học SUNY Binghamton, Đại học Rutgers, Đại học Houston Anh: Đại học Nottingham, Đại học West of England Úc: Đại học New South Wales New Zealand: Đại học Công nghệ Auckland, Đại học Auckland Thái Lan: Viện Công nghệ châu Á Chương trình do Đại học Quốc tế cấp bằng: Cử nhân: Quản trị Kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Hóa sinh Kỹ sư: Công nghệ Thông tin, Khoa học Máy tính, Công nghệ Sinh học, Điện tử Viễn thông, Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp, Kỹ thuật Y sinh, Quản lý Nguồn lợi Thuỷ sản, Công nghệ Thực phẩm, Kỹ thuật Xây dựng. Đào tạo bậc Cao học: Thạc sĩ: Công nghệ Sinh học, Kỹ thuật Điện tử, Quản lý Công nghệ Thông tin, Quản trị Kinh doanh Tiến sĩ: Quản lý Công nghệ Thông tin, Quản trị Kinh doanh, Công nghệ Sinh học === Trường Đại học Công nghệ thông tin === Đào tạo Kỹ sư các ngành: Mạng máy tính và truyền thông, Kỹ thuật máy tính, Hệ thống thông tin, Công nghệ phần mềm, An toàn thông tin; Đào tạo Cử nhân các ngành: Khoa học máy tính, công nghệ thông tin; Đào tạo Kỹ sư tài năng ngành: An toàn thông tin; Đào tạo Cử nhân tiên tiến: Hệ thống Thông tin; Đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Khoa học máy tính; Đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Khoa học máy tính. === Trường Đại học Kinh tế - Luật === Đào tạo bậc Cử nhân: Đào tạo cử nhân các ngành/chuyên ngành thuộc lĩnh vực kinh tế, luật và quản lý: Kinh tế học, Kinh tế & Quản lý công, Kinh tế đối ngoại, Kinh doanh quốc tế, Tài chính - Ngân hàng, Kế toán, Kiểm toán, Hệ thống thông tin quản lý, Thương mại điện tử, Quản trị kinh doanh, Marketing, Luật kinh doanh, Luật thương mại quốc tế, Luật dân sự, Luật tài chính - ngân hàng. Đào tạo cử nhân tài năng các ngành/chuyên ngành: Kinh tế học, Luật tài chính - ngân hàng. Đào tạo cử nhân chất lượng cao các ngành/chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại, Kinh doanh quốc tế, Tài chính - Ngân hàng, Kiểm toán, Luật thương mại quốc tế: Đào tạo bậc Thạc sĩ các ngành/chuyên ngành: Kinh tế học, Kinh tế & Quản lý công, Kinh tế chính trị, Kinh tế quốc tế, Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh, Luật kinh tế, Luật dân sự & tố tụng dân sự. Đào tạo bậc Tiến sĩ các ngành: Kinh tế học, Kinh tế chính trị, Tài chính - Ngân hàng, Luật kinh tế. === Trường Đại học An Giang === Ngày 8 tháng 12 năm 2016 Thủ tướng có văn bản đồng ý chủ trương chuyển Trường ĐH An Giang từ trường ĐH chịu sự quản lý trực tiếp của UBND tỉnh An Giang thành trường Đại học thành viên của ĐH Quốc gia TP.HCM. === Khoa Y === Khoa Y là đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM, được thành lập ngày 23 tháng 6 năm 2009 với định hướng là một đơn vị đào tạo tiên tiến, chất lượng cao dựa trên mô hình Trường – Bệnh viện, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Khoa Y đã chính thức tuyển sinh khoá đầu tiên trong kỳ tuyển sinh đại học – cao đẳng năm 2010. Khoa Y được định hướng phát triển theo cơ chế tự chủ cao về chuyên môn, là một Khoa Y mở, gắn bó mật thiết với hệ thống các trường đào tạo y dược trong cả nước, quan hệ chặt chẽ với các bệnh viện trong khu vực, phát huy những thế mạnh sẵn có của Đại học Quốc gia Tp.HCM đa ngành, đa lĩnh vực để đào tạo ra những bác sĩ vừa hội đủ những yêu cầu chung theo quy định của Bộ Y tế, vừa mang những đặc thù riêng của Đại học Quốc gia-HCM. === Viện nghiên cứu === Viện Môi trường – Tài nguyên: nghiên cứu giải quyết các vấn đề về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, viện còn đào tạo sau đại học các ngành: Đào tạo Thạc sĩ: Công nghệ môi trường, Quản lý môi trường, Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường. Đào tạo Tiến sĩ: Công nghệ môi trường nước và nước thải, Cấp nước và thoát nước, Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường, Độc học môi trường, Công nghệ môi trường chất thải rắn, Công nghệ môi trường không khí Trung tâm Xuất sắc John von Neumann: nghiên cứu, đào tạo chuyên sâu về Khoa học Dữ Liệu, Tài chính Định lượng, Sáng tạo Cách Tân. Viện tập trung nghiên cứu vào các lãnh vực nghiên cứu đem lại hiệu quả cao. === Trung tâm đào tạo Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh tại Bến Tre === Trung tâm đào tạo Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tại tỉnh Bến Tre, trụ sở đặt tại số 99A, Quốc lộ 60, khu phố 1, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre. Thành lập ngày 15/06/2016, Chủ tịch Hội đồng là PGS.TS Huỳnh Thành Đạt - Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Giám đốc ĐHQG TP. HCM, Giám đốc trung tâm là PGS.TS Vũ Phan Tú. Nhiệm vụ trọng tâm là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong khu vực. == Các thành viên khác == Nhà xuất bản; Trung tâm Đại học Pháp (PUF); Viện Đào tạo Quốc tế (IEI); Viện Công nghệ Nano Viện xuất sắc John Von Neumann (JVN) Viện Quản trị Đại học Khu Công nghệ phần mềm; Thư viện Trung tâm; Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo; Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - An ninh sinh viên; Trung tâm Dịch vụ và xúc tiến đầu tư; Trung tâm Lý luận chính trị; Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Thiết kế vi mạch (ICDREC); Trung tâm Quản lý Nước và Biến đổi Khí hậu (WACC) Trung tâm Đào tạo tiền tiến sĩ (CPT) Trung tâm Nghiên cứu vật liệu cấu trúc nano và phân tử (INOMAR) == Các Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Trung tâm Đại học Pháp - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Trường Phổ thông Năng khiếu - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Trường Đại học Bách Khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Trường Đại học Công nghệ Thông tin - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Trường Đại học Quốc tế - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Trường Đại học Kinh tế-Luật - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Thư viện Trung tâm - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Viện Đào tạo Quốc tế - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Ban Quản lý Ký túc xá Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Trung tâm Quản lý Nước và Biến đổi Khí hậu - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Website của Trung tâm Đào tạo Tiền Tiến sĩ - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
quần đảo cocos (keeling).txt
Lãnh thổ Quần đảo Cocos (Keeling) (tiếng Anh: Territory of the Cocos (Keeling) Islands) - còn gọi là Quần đảo Cocos và quần đảo Keeling - là một quần đảo đồng thời là lãnh thổ của Úc trong Ấn Độ Dương, nằm về phía tây nam đảo Christmas và ở vào khoảng giữa quãng đường từ Úc đến Sri Lanka. Quần đảo này bao gồm hai rạn san hô vòng và hai mươi bảy đảo san hô, trong đó hai đảo Tây và Home có xấp xỉ 600 dân sinh sống. == Địa lý == Quần đảo Cocos (Keeling) gồm hai rạn san hô vòng thấp phẳng với diện tích 14,2 km², chiều dài đường bờ biển 26 km và độ cao cao nhất đạt 5 m. Trên các đảo có rất nhiều cây dừa cũng như các thực vật khác. Khí hậu quần đảo dễ chịu, ôn hoà nhờ gió mậu dịch đông nam thổi hầu hết các tháng trong năm. Nhiệt độ dao động trong khoảng từ 23 °C đến 30 °C. Lượng mưa ở mức 2000 mm mỗi năm, chủ yếu rơi vào thời gian từ tháng 1 đến tháng 8. Có thể xuất hiện lốc xoáy trong các tháng đầu năm. Đảo Bắc Keeling là một rạn san hô vòng với một đảo san hô nằm phía trên có hình chữ C; vành san hô hầu như khép kín với một cửa vào nhỏ nối thông vào một đầm nước có diện tích khoảng 0,5 km². Đảo rộng khoảng 50 m tại mặt đông nam, có diện tích vào khoảng 1,1 km² và không có người ở. Đảo Bắc Keeling và hải vực rộng 1,5 km tính từ bờ đảo hợp thành Công viên Quốc gia Keeling (thành lập ngày 12 tháng 12 năm 1995). Công viên là ngôi nhà của loài chim Gallirallus philippensis andrewsi đặc hữu đang bị đe doạ. Quần đảo Nam Keeling là một rạn vòng bao gồm 24 đảo nhỏ nằm trên vành san hô không khép kín và có tổng diện tích đất nổi vào khoảng 13,1 km². Trong số này chỉ có hai đảo có người ở là đảo Tây và đảo Home. Cộng đồng Cocos Malays (người Mã Lai Cocos) sống trong các căn pondok trên hầu hết các đảo lớn. Không có sông hay hồ trên cả hai rạn vòng. Nước ngọt chỉ có trong các túi nước mưa ngầm nằm bên trên lớp nước mặn tại các đảo lớn và được khai thác qua các giếng đào. Quần đảo Cocos (Keeling) nằm trên điểm đối chân với đảo Corn ở Nicaragua - một đảo nằm tương đối gần với một hòn đảo có cái tên gần giống là Cocos của Costa Rica. === Hệ động vật và thực vật === === Dân cư === Đa số cư dân quần đảo Cocos (Keeling) là hậu duệ của các công nhân di cư tới đây để làm việc trong các đồn điền. Theo thống kê năm 2010 thì dân số quần đảo ước khoảng gần 600 người. Dân cư trên hai đảo Tây và Home nhìn chung có thể phân thành các nhóm sắc tộc là người gốc Âu trên đảo Tây (khoảng 100 người) và người gốc Mã Lai (Cocos Malays) trên đảo Home (khoảng 500 người). Tiếng Mã Lai quần đảo Cocos và tiếng Anh là các ngôn ngữ chính. Văn hoá địa phương có nền tảng là văn hoá truyền thống Mã Lai và Hồi giáo. Theo ước tính năm 2002 thì 80% dân Cocos là người Hồi giáo Sunni. == Lịch sử == Tuy được khám phá vào năm 1609 nhưng mãi đến năm 1826 thì quần đảo Cocos (Keeling) mới đón người Anh đến định cư. Năm 1857, thuyền trưởng Fremantle của tàu HMS Juno tuyên bố quần đảo trở thành một lãnh thổ tự trị thuộc Anh. Năm 1886, nữ hoàng Victoria ban toàn bộ quần đảo cho người cháu trai của John Clunies Ross là George Clunies-Ross nhưng Hoàng gia Anh vẫn có thể thu hồi lại cho mục đích công cộng và xây dựng cáp viễn thông. Nhà Clunies-Ross mở đồn điền trồng dừa và thuê lao động từ châu Á đến làm việc. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quần đảo bị lực lượng Đồng minh chiếm giữ. Năm 1955, quyền quản lý quần đảo được chuyển giao cho Úc và Cocos (Keeling) trở thành lãnh thổ của nước này. Từ cuối thập kỉ 1970, Chính phủ Úc tiến hành mua lại đất đai từ tay Clunies-Ross. Năm 1984, những phần đất còn lại ngoài đất của Liên bang và đất của Clunies-Ross được chuyển giao sang Hội đồng Quần đảo Cocos (Keeling). == Chính quyền == Thủ phủ của Lãnh thổ Quần đảo Cocos (Keeling) là West Island (đảo Tây). Nền hành chính của quần đảo dựa theo Đạo luật Quần đảo Cocos (Keeling) năm 1955 và phụ thuộc sâu sắc vào luật pháp của Úc. Bộ Vùng Úc, Chính quyền địa phương, Nghệ thuật và Thể thao (Department of Regional Australia, Local Government, Arts and Sport) quản lý quần đảo thông qua một Người quản lý (không sống ở quần đảo) do Toàn quyền Úc chỉ định. Người quản lý hiện thời của quần đảo Cocos (Keeling) là Brian Lacy - người được chỉ định vào ngày 18 tháng 9 năm 2009. Ông đồng thời cũng đang nắm chức quản lý đảo Christmas. Bộ Vùng Úc, Chính quyền địa phương, Nghệ thuật và Thể thao có trách nhiệm bao quát đối với quần đảo bao gồm cả cung cấp dịch vụ công cấp liên bang nhưng chính quyền Tây Úc là người thực hiện các thoả thuận cung ứng dịch vụ. Căn cứ theo Đạo luật Cải cách Luật Lãnh thổ năm 1992 của Chính phủ liên bang (có hiệu lực từ 1 tháng 7 năm 1992) thì các sắc luật bang Tây Úc được áp dụng cho quần đảo Cocos, "miễn là chúng áp dụng được tại lãnh thổ này"; việc không áp dụng hay áp dụng một phần các luật này là tuỳ thuộc ý chí của Chính phủ liên bang. Đạo luật 1992 cũng trao cho toà án bang Tây Úc quyền tư pháp đối với quần đảo Cocos (Keeling). Dù quần đảo vẫn độc lập với bang Tây Úc nhưng quyền lập pháp của bang Tây Úc đối với quần đảo này là quyền được Chính phủ liên bang giao phó. Ngoài ra, Hội đồng Quận Quần đảo Cocos (Keeling) là một thể chế một viện gồm bảy ghế. Mỗi quan chức có nhiệm kì đầy đủ kéo dài bốn năm thông qua cuộc bầu cử hai năm/lần; xấp xỉ một nửa số thành viên hội đồng nghỉ hưu sau mỗi hai năm. Xét ở phương diện liên bang thì quần đảo Cocos (Keeling) cùng với đảo Christmas và Lãnh thổ Bắc Úc xa xôi hợp thành khu bầu cử Lingiari. Lực lượng cảnh sát tại quần đảo gồm năm người, trong khi việc phòng thủ quần đảo vẫn là trách nhiệm của chính phủ Úc. == Kinh tế == Ngành du lịch nhỏ đang tăng trưởng trên quần đảo có định hướng nhắm đến các hoạt động du lịch sinh thái hay du lịch gắn biển. Các khu vườn nhỏ và cá đánh bắt là các nguồn cung cấp thực phẩm cho cư dân. Tuy vậy, phần lớn thức ăn và nhu yếu phẩm khác vẫn phải nhập từ Úc hoặc nơi khác. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cocos Islands Cooperative Society tuyển dụng công nhân xây dựng, công nhân bốc vác và công nhân làm việc trên sà lan. Tỉ lệ thất nghiệp năm 2006 ở mức 11,3%. == Thông tin liên lạc và giao thông == Quần đảo được kết nối với hệ thống viễn thông (dãy số điện thoại là +61 8 9162 xxxx) và hệ thống bưu chính (mã bưu chính: 6779) của Úc. Điện thoại công cộ có ở đảo Tây và đảo Home. CiiA (Christmas Island Internet Association) điều hành một mạng thông tin di động GSM (+61 406 xxx) có chất lượng khá tốt tại quần đảo. Có thể mua thẻ SIM (cỡ đầy đủ) và thẻ nạp tiền tại Telecentre trên đảo Tây nếu muốn dùng dịch vụ điện thoại này. Đảo Tây có một sân bay mang tên Sân bay Quốc tế Quần đảo Cocos (Keeling) do Virgin Australia điều hành với các chuyến bay dịch vụ lên lịch trước từ Perth, Tây Úc và quá cảnh tại đảo Christmas. Giữa hai đảo Horsburgh và Direction còn có một chỗ thả neo cho tàu lớn, trong khi du thuyền có nơi neo đậu riêng ở mạn dưới gió phía nam đảo Direction. Sau năm 1952, sân bay quần đảo Cocos từng trở thành điểm dừng cho các chuyến bay giữa Úc và Nam Phi. Ngày đó, hãng Qantass và South African Airways thường dừng lại đây để tiếp nhiên liệu. Tuy nhiên, điều này đã chấm dứt khi máy bay phản lực đường dài ra đời vào năm 1967. === Internet === Tên miền Internet của quần đảo là .cc do VeriSign thông qua một công ty con có tên là eNIC (khởi thuỷ, tên miền.cc được IANA cấp cho eNIC Corporation of Seattle WA vào tháng 10 năm 1997). Bắc Síp cũng sử dụng tên miền.cc bên cạnh các tên miền khác như.nc và.tr. Dịch vụ truy cập Internet tại Cocos cũng do CiiA cung cấp thông qua trạm vệ tinh mặt đất trên đảo Tây và được phân phối đến người dùng qua mạng WAN PPPoE không dây trên cả đảo Tây và đảo Home. Điểm truy cập Internet còn có tại Telecentre trên đảo Tây và tại văn phòng của Indian Ocean Group Training trên đảo Home. Đầu năm 2012, có thông tin cho biết National Broadband Network sẽ mở rộng dịch vụ đến Cocos vào năm 2015 thông qua đường truyền vệ tinh tốc độ cao. == Truyền thông đại chúng == Dân cư tại quần đảo Cocos (Keeling) có thể tiếp cận nhiều dịch vụ truyền thông hiện đại. Có bốn trạm truyền hình phát sóng từ Tây Úc thông qua vệ tinh, gồm là ABC, SBS, WIN và GWN. Quần đảo có một đài truyền thanh là 6CKI – Voice of the Cocos (Keeling) Islands với nội dung chương trình do các tình nguyện viên địa phương thực hiện. === Truyền hình === ==== Úc ==== Quần đảo tiếp nhận bốn kênh phát sóng từ Tây Úc qua vệ tinh, đó là: ABC1 SBS One WIN Television GWN7 Sở dĩ chỉ có bốn kênh là vì dịch vụ truyền hình số mặt đất chưa có mặt tại đây. ==== Malaysia ==== Từ năm 2013 trở đi, quần đảo sẽ thu được bốn kênh của Malaysia qua vệ tinh, đó là: TV3 ntv7 8TV TV9 == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Cocos (Keeling) Islands tại Wikimedia Commons Atoll Research Bulletin vol. 403 Cocos (Keeling) Islands Tourism website Cocos (Keeling) Islands entry from the CIA World Factbook Shire of Cocos (Keeling) Islands Noel Crusz, The Cocos Islands mutiny, Reviewed by: PETER STANLEY, Principal Historian, Australian War Memorial History of Cocos (Keeling) Islands Areas of individual islets The man who lost a 'coral kingdom'
.ng.txt
.ng là tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD) của Nigeria. == Các tên miền cấp 2 == com.ng – thực thể thương mại và kinh doanh org.ng – tổ chức phi lợi nhuận gov.ng – tổ chức chính phủ edu.ng – cơ quan cấp bằng net.ng – cơ sở hạ tầng ISP == Tham khảo == == Liên kết ngoài == IANA.ng whois information Official.ng Registry site .ng domain registration website .ng domain registration website .ng domain registration website .ng domain registration website
hệ thống giao thông việt nam.txt
Các tuyến đường bộ, đường sắt, hàng không trong mạng lưới giao thông Việt Nam chủ yếu theo hướng Bắc Nam, phần lớn các tuyến đường thủy nội địa có hướng Đông Tây bởi hầu hết các con sông chính đều đổ từ hướng tây ra biển. == Mạng lưới giao thông == === Hệ thống đường bộ === Hệ thống đường bộ chính tại Việt Nam bao gồm các con đường Quốc lộ, nối liền các vùng, các tỉnh cũng như đi đến các cửa khẩu quốc tế với Trung Quốc, Lào, Campuchia. Dưới đây là các tuyến Quốc lộ tại Việt Nam: Quốc lộ 1A: Đây là con đường có tổng chiều dài 2260 km. Là con đường bắt đầu từ tỉnh Lạng Sơn theo hướng nam, qua các tỉnh, thành phố Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa ở miền Bắc, qua các tỉnh duyên hải miền Trung tới Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và kết thúc tại Cà Mau. Qua 31 tỉnh, thành phố của Việt Nam, vượt qua các sông lớn như sông Kỳ Cùng, sông Thương, sông Cầu, sông Đuống, sông Hồng, sông Đáy, sông Lèn (qua cầu Đò Lèn), sông Mã, sông Lam, sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Bến Hải, sông Hương, sông Cầu Đỏ (qua cầu Đỏ), sông Thu Bồn (qua cầu Đò Rèn), sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Côn (qua cầu Gành), sông Đà Rằng (qua cầu Đà Rằng mới), sông Dinh, sông Cái, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Tiền, sông Hậu... Trên quốc lộ 1 có tổng tất cả 400 cây cầu, trong đó có những cây cầu lớn như cầu Thanh Trì (Hà Nội), cầu Mỹ Thuận (Tiền Giang), cầu Cần Thơ (Cần Thơ). Một số đoạn như đoạn Thừa Thiên- Huế qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng,... theo tiêu chuẩn cao tốc. Quốc lộ 1B: Đây là con đường có tổng chiều dài 135 km, từ thành phố Thái Nguyên (tại cầu Gia Bảy) đến thị trấn Đồng Đăng, Lạng Sơn(tại điểm giao với quốc lộ 1A) đi qua các huyện, thành phố thuộc tỉnh Thái Nguyên:Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Võ Nhai; và thuộc tỉnh Lạng Sơn: Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, và Cao Lộc. Quốc lộ 1C: Đây là con đường có tổng chiều dài 17,3 km, chạy theo hướng Tây-Đông tại tỉnh Khánh Hòa, có điểm đầu tại đèo Rù Rì ở xã Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang, và điểm cuối tại ngã ba Thành, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh. Tuyến đường này là tuyến quốc lộ 1A đi qua trung tâm thành phố Nha Trang trước khi tuyến tránh (quốc lộ 1A hiện nay) được xây dựng ở ngoại thành. Quốc lộ 1D: Đây là con đường có tổng chiều dài 33 km, nối thị xã Sông Cầu (tỉnh Phú Yên) với Tp.Quy Nhơn -tỉnh Bình Định Quốc lộ 1K: Đây là con đường có tổng chiều dài 24,7 km (đo theo Google Maps). Quốc lộ 1K là một trong các con đường huyết mạch nối Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai.Điểm đầu của tuyến đường là sân bay Tân Sơn Nhất (Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh) hoặc cầu Bình Lợi cũ (giáp ranh giữa Bình Thạnh và Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) giao với quốc lộ 1A rồi qua thị xã Dĩ An-Bình Dương đến điểm cuối tại ngã ba Hố Nai (thành phố Biên Hòa - Đồng Nai) giao cắt với quốc lộ 1A. Đoạn cuối cũng trùng đường Nguyễn Ái Quốc (Biên Hòa) Quốc lộ 2: Đây là con đường có tổng chiều dài 315 km. Con đường bắt đầu từ Hà Nội theo hướng tây bắc, qua các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, qua sông Chảy... Quốc lộ 2B: từ Vĩnh Yên đi Tam Đảo Quốc lộ 2C: từ Sơn Tây qua Vĩnh Yên đi Tuyên Quang, giao cắt sông Phó Đáy Quốc lộ 3: Đây là con đường có tổng chiều dài 351 km. Con đường từ Hà Nội theo hướng bắc, qua các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, đến cửa khẩu Tà Lùng. Từ xã Quốc Toản, Trà Lĩnh nối tỉnh lộ 205 đi thị trấn Hùng Quốc, cửa khẩu Trà Lĩnh. Quốc lộ 3B: Bắc Kạn - Lạng Sơn Quốc lộ 4: Đây là con đường có tổng chiều dài 670,3 km (chủ yếu đo bằng Google Maps), chạy từ Quảng Ninh theo hướng tây và được chia thành từng đoạn đường 4A, 4B, 4C, 4D, 4E, 4G và 4H. Qua Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La. Đoạn Lạng Sơn - Quảng Ninh (điểm cuối Tiên Yên, có dự án cầu Vân Tiên nối với Vân Đồn) gọi là 4B, đoạn Đồng Đăng qua Tràng Định (Lạng Sơn) - Đông Khê (Cao Bằng) gọi là 4A, đoạn từ thành phố Hà Giang đi Đồng Văn, Mèo Vạc, đến cửa khẩu Săm Pun (Mèo Vạc), một đoạn tới cầu Lý Bôn trên sông Nho Quế gọi là 4C, đoạn từ cửa khẩu Xín Tẻn qua Mường Khương đến thành phố Lào Cai đi Sa Pa, qua thành phố Lai Châu đến Phong Thổ gọi là 4D, từ Lào Cai qua Phố Lu cắt quốc lộ 70 gọi là 4E, từ thành phố Sơn La qua cửa khẩu Chiềng Khương đến thị trấn Sông Mã gọi là 4G, đoạn Si Pa Phìn - Mường Nhé (Điện Biên) gọi là 4H. Quốc lộ 5: Đây là con đường có tổng chiều dài 107 km. Từ Hà Nội theo hướng đông, qua Hưng Yên, Hải Dương, và kết thúc tại Hải Phòng, giao cắt sông Đuống, sông Thái Bình,... Quốc lộ 6: Đây là con đường có tổng chiều dài 505 km. Từ Hà Nội theo hướng tây bắc, qua Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, giao cắt sông Đáy Quốc lộ 7: Đây là con đường có tổng chiều dài 225 km. Từ Diễn Châu qua Đô Lương (Nghệ An) đi về hướng tây đến cửa khẩu Nậm Cắn, nối sang Phonsavan, Luong Pha Bang (Lào) Quốc lộ 8: Đây là con đường có tổng chiều dài 225 km. Gồm có Quốc lộ 8A và 8B. Từ Hà Tĩnh đi về hướng tây đến cửa khẩu Cầu Treo nối sang Viên Chăn (Lào), giao cắt sông Ngàn Sâu,... Quốc lộ 8B, Nghệ An Quốc lộ 9: Đây là con đường có tổng chiều dài 83,5 km. Từ Quảng Trị đi về hướng tây đến cửa khẩu Lao Bảo nối sang Savannakhet (Lào) Quốc lộ 10: Đây là con đường có tổng chiều dài 228 km. Từ Thanh Hóa đi Ninh Bình theo hướng đông bắc qua Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, giao cắt sông Lèn (cầu Thắm), sông Đáy, sông Hồng (cầu Tân Đệ), sông Luộc, sông Văn Úc, sông Cấm (cầu Kiền), sông Giá, sông Đá Bạc (cầu Đá Bạc),... Quốc lộ 12: nối Điện Biên với Lai Châu, từ thành phố Điện Biên Phủ đi cửa khẩu Ma Lù Thàng Quốc lộ 12A: Toàn tuyến Quốc lộ 12A cũ dài khoảng 145,5 km. Nối Quốc lộ 1A tại Thị trấn Ba Đồn Quảng Bình đi theo hướng tây qua thị trấn Đồng Lê (huyện Tuyên Hoá), thị trấn Quy Đạt (huyện Minh Hoá) chạy trùng vào đường Hồ Chí Minh (đoạn từ ngã ba Trung Hoá đến ngã ba Khe Ve) đi lên cửa khẩu Quốc tế Cha Lo sang Khăm Muộn- Lào Quốc lộ 12B, nối từ Kim Sơn qua Tam Điệp, Nho Quan (Ninh Bình) tới Tân Lạc (Hòa Bình) Quốc lộ 12C, nối khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh) với quốc lộ 12A Quốc lộ 13: Đây là con đường có tổng chiều dài 156 km. Từ TP.HCM, theo hướng bắc qua Bình Dương, Bình Phước, qua thị trấn Lộc Ninh đến cửa khẩu Hoa Lư sang Campuchia, hướng đến Kratié Quốc lộ 14: Đây là con đường có tổng chiều dài 1005 km. Từ huyện Đakrông, Quảng Trị theo hướng nam, qua Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước. Quốc lộ 14B: Đây là con đường có tổng chiều dài 74 km. Là một tuyến giao thông cấp quốc gia nối cảng Tiên Sa và thành phố Đà Nẵng với Tây Quảng Nam và Tây Nguyên. Điểm đầu là cảng Tiên Sa thành phố Đà Nẵng. Điểm cuối là nơi giao cắt với quốc lộ 14 ở phía bắc thị trấn Thạnh Mỹ (huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam). Quốc lộ 14B đi qua trung tâm thành phố Đà Nẵng, qua huyện Hòa Vang của Đà Nẵng và qua thị trấn Ái Nghĩa (huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam). Đoạn từ Hà Nha tới Hội Khánh trước đây bên trái sông Vu Gia và qua sông bằng cầu phao Hội Khánh. Năm 2006, cầu Hà Nha được đưa vào sử dụng, đoạn từ Hà Nha tới Hội Khánh nằm bên phải sông Vu Gia. Quốc lộ 14C: Bắt đầu từ thị trấn Plei kần - huyện Ngọc Hồi- tỉnh Kon Tum, Quốc lộ 14B là tuyến giao thông cấp quốc gia nối các địa phương Trung và Nam Tây Nguyên dọc biên giới Việt Nam-Campuchia. Điểm đầu tại ngã ba giao cắt với Quốc lộ 19 ở xã Ia Nam, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Chạy qua các huyện: Đức Cơ - Chư Prông - Ea Súp - Buôn Đôn - Cư Jút - Đăk Mil - Đăk Song - Tuy Đức. Điểm cuối đoạn trên tại ngã ba giao cắt với Quốc lộ 14 ở thị trấn Đắk Mil, điểm đầu đoạn dưới phía Bắc thị trấn Đức An, huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông, đi cửa khẩu Bu Prăng, Tuy Đức, Đăk Nông. Quốc lộ 14D: nối đường Hồ Chí Minh đoạn Quảng Nam, với cửa khẩu Nam Giang sang Lào, hướng đến Sekong, Pakse Quốc lộ 14E: địa phận Quảng Nam Quốc lộ 14G: nối Đà Nẵng với tây Quảng Nam Quốc lộ 15 (còn gọi là QL 15A): Đây là con đường có tổng chiều dài 710 km, là quốc lộ bắt đầu từ Tòng Đậu (km118, Quốc lộ 6, tỉnh Hòa Bình), đến thị trấn Cam Lộ (tỉnh Quảng Trị), qua các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, giao cắt sông Mã (cầu Na Sài), sông Chu, sông Con, sông Cả... (một số đoạn nhập đường Hồ Chí Minh, đoạn qua Quảng Bình và một phần Nghệ An, Hà Tĩnh gọi là 15A) Quốc lộ 15B: nối Quốc lộ 1A và quốc lộ 15A, tỉnh Hà Tĩnh Quốc lộ 15C: tỉnh Thanh Hóa Quốc lộ 15D: tỉnh Quảng Trị Quốc lộ 15 (Biên Hòa): thuộc thành phố Biên Hòa (còn gọi là QL 15B) là tuyến đường từ ngã ba Vườn Mít, giao với quốc lộ 1K (nay là đường Nguyễn Ái Quốc) đến ngã ba cầu Suối Quan (Cổng 11), giao với quốc lộ 51. Quốc lộ 16, thuộc tỉnh Quảng Bình, từ Đồng Hới đi Bố Trạch Quốc lộ 17, nối từ Hà Nội qua các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Thái Nguyên. Quốc lộ 18: Đây là con đường có tổng chiều dài 340 km. Từ Hà Nội, theo hướng đông bắc qua Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh, giao cắt sông Thái Bình (khúc Lục Đầu giang) ở cầu Phả Lại, sông Tiên Yên... Quốc lộ 18B, nối Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội với Quế Võ (Bắc Ninh) Quốc lộ 18C: nối Tiên Yên với cửa khẩu Hoành Mô (Quảng Ninh) Quốc lộ 19: Đây là con đường có tổng chiều dài 240 km. Từ Quy Nhơn (Bình Định theo hướng tây đi An Khê, đến Pleiku (Gia Lai) và địa bàn Gia Lai nối quốc lộ 14 qua Đức Cơ đến cửa khẩu Lệ Thanh, Gia Lai, hướng Stung Treng (Campuchia) Quốc lộ 19B: Từ khu kinh tế Nhơn Hội đến sân bay Phù Cát (Bình Định) Quốc lộ 19C: nối các tỉnh Bình Định – Phú Yên – Đắk Lắk Quốc lộ 20: Đây là con đường có tổng chiều dài 233 km. Từ ngã ba Dầu Giây đến Đơn Dương gần hồ thủy điện Đa Nhim, giao cắt sông Đồng Nai. Đi qua các huyện Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú (tỉnh Đồng Nai), Đạ Huoai, thành phố Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh, Đức Trọng,thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng). Đơn Dương Quốc lộ 21A: Từ Hải Hậu (Nam Định) đến thành phố Nam Định, qua Phủ Lý, qua cầu Hồng Phú (sông Đáy), đi qua thị trấn Xuân Mai đến thị xã Sơn Tây (một đoạn nhập đường Hồ Chí Minh) Quốc lộ 21B: Từ Hà Đông (Hà Nội) đến Tam Điệp (Ninh Bình). Khởi điểm từ Ba La, Hà Đông đi qua các huyện nam Hà Nội, xuyên tỉnh Hà Nam, vượt sông Đáy qua cầu Ba Đa, từ Phủ Lý qua Nam Định, ngược qua Kim Sơn, Yên Mô, và kết thúc ở Tam Điệp (Ninh Bình). Quốc lộ 22: Đây là con đường có tổng chiều dài 72,5 km. Từ TP. Hồ Chí Minh (An Sương, huyện Hóc Môn) theo hướng Tây bắc đi Tây Ninh, đến cửa khẩu Mộc Bài, hướng Phnôm Pênh Quốc lộ 22B: Đây là con đường có tổng chiều dài 80 km. Từ Gò Dầu (Tây Ninh), theo hướng bắc lên cửa khẩu Xa Mát, hướng đi Kampong Cham Quốc lộ 23: địa bàn Đông Anh, Mê Linh (Hà Nội) đến Phúc Yên, Vĩnh Phúc Quốc lộ 24: Đây là con đường có tổng chiều dài 170 km. Từ Quảng Ngãi theo hướng tây lên Kon Tum Quốc lộ 24B: Bình Sơn - Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi Quốc lộ 25: Đây là con đường có tổng chiều dài 181 km. Từ Tuy Hòa (Phú Yên) theo hướng tây bắc đi Pleiku (Gia Lai), giao cắt sông Ba Quốc lộ 26: Đây là con đường có tổng chiều dài 150 km. Từ Khánh Hòa theo hướng tây đi Buôn Ma Thuột Quốc lộ 26B: Từ trung tâm thị xã Ninh Hòa đi xã Ninh Vân, Ninh Hòa, Khánh Hòa Quốc lộ 27: Đây là con đường có tổng chiều dài khoảng 300 km. Từ Phan Rang (Ninh Thuận theo hướng Tây bắc, qua đèo Ngoạn Mục đi Liên Khương huyện Đức Trọng, huyện Lâm Hà (Lâm Đồng), đến thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) Quốc lộ 27B: Từ thị xã Cam Ranh (Khánh Hòa) đi huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận) Quốc lộ 28: Đây là con đường có tổng chiều dài 192 km. Từ Phan Thiết (Bình Thuận theo hướng tây bắc, qua Di Linh (Lâm Đồng) đi Gia Nghĩa (Đắk Nông) Quốc lộ 28B: Tuyến đường Lương Sơn (Bình Thuận) - Đại Ninh (Lâm Đồng). Quốc lộ 28B có chiều dài 69 km Quốc lộ 29: Đây là con đường có tổng chiều dài 149 km (đo bằng Googles Maps). Được chuyển từ tỉnh lộ lên quốc lộ theo Quyết định 1307/QĐ-BGTVT ngày 14/6/2011 của Bộ Giao thông vận tải trên cơ sở các đường tỉnh lộ của hai tỉnh Đắc Lắc và Phú Yên. Điểm đầu của tuyến đường này giao với Quốc lộ 1A gần cảng Vũng Rô (tỉnh Phú Yên), đoạn qua tỉnh Đắc Lắc có chiều dài gần 70 km bắt đầu từ ranh giới 2 tỉnh Đắc Lắc và Phú Yên đến thị xã Buôn Hồ. Đoạn đường bị hỏng nghiêm trọng nhất là khoảng 20 km đi qua Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô - từ xã Ea Sô (huyện Ea Kar) đến xã Cư Prao (huyện M’Drak), nhất là từ Trạm kiểm lâm số 1 đến Trạm số 8 Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, đường nhiều chỗ bị sụt lún, tạo nên những ổ gà trên mặt, một số chỗ đá dăm trồi lên nham nhở, có đoạn dài hàng chục mét, toàn bộ mặt nhựa bị bong tróc, gồ ghề. Quốc lộ 30: Đây là con đường có tổng chiều dài 120 km. Từ xã An Hữu (Tiền Giang) trên Quốc lộ 1 đi theo hướng tây bắc qua Cao Lãnh, Hồng Ngự (Đồng Tháp). Quốc lộ 31: Đây là con đường có tổng chiều dài hơn 142,4 km, trong đó đoạn từ biên giới Việt - Trung đến thị trấn Đình Lập dài 32,4 km, đoạn từ thị trấn Đình Lập đến quốc lộ 1A dài hơn 109 km (đều đo bằng Google Maps). Là tuyến đường liên tỉnh nối Lạng Sơn với Bắc Giang và nối các huyện ở phía Tây của Bắc Giang với nhau. Điểm đầu tuyến tại ngã ba Bản Chắt, xã Bình Xá, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Điểm cuối tuyến tại thành phố Bắc Giang, trên Quốc lộ 1A. Quốc lộ 31 đi qua Đình Lập - Sơn Động - Lục Ngạn - Lục Nam - Lạng Giang - thành phố Bắc Giang. Quốc lộ 32: Đây là con đường có tổng chiều dài 415 km. Từ Hà Nội theo hướng tây bắc, qua thị xã Sơn Tây (Hà Nội), qua cầu Trung Hà sang Phú Thọ, Yên Bái, Lai Châu. Quốc lộ 32B, địa bàn Tân Sơn (Phú Thọ) - Phù Yên (Yên Bái), nối quốc lộ 32 với quốc lộ 37 Quốc lộ 32C, nối Phú Thọ - Yên Bái, từ Việt Trì qua cầu Phong Châu sang Tam Nông, đi đến cầu Yên Bái Quốc lộ 34: Đây là con đường có tổng chiều dài 260 km. Nối Cao Bằng với Hà Giang. Điểm đầu tại thành phố Cao Bằng, giao với Quốc lộ 4A và Quốc lộ 2. Điểm cuối tại phường Trần Phú, thành phố Hà Giang. Quốc lộ 37: Đây là con đường có tổng chiều dài 470 km. Nối 7 tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái và Sơn La với nhau. Điểm đầu bắt đầu từ Cảng Diêm Điền (Thái Thụy - Thái Bình). Điểm cuối tuyến tại Ngã ba Cò Nòi thuộc xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Quốc lộ 37B nối các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Hà Nam Quốc lộ 38: Đây là con đường có tổng chiều dài 87 km, kết nối Bắc Ninh với Hưng Yên và Hà Nam. Quốc lộ 38 có một đầu tại ngã ba Ninh Xá ở thành phố Bắc Ninh, chỗ giao cắt với Quốc lộ 1A. Tuyến này có hướng cơ bản là Bắc-Nam, đi qua Tiên Du - cầu Hồ (bắc qua sông Đuống) - Thuận Thành - Cẩm Giàng - Bình Giang - Ân Thi - Kim Động - thành phố Hưng Yên - cầu Yên Lệnh (bắc qua sông Hồng) - Duy Tiên - Kim Bảng. Điểm cuối là ngã ba Lưu Hoàng, giao cắt với Quốc lộ 21B tại nơi giáp ranh giữa Ứng Hòa và Kim Bảng. Ngoài thành phố Bắc Ninh, thành phố Hưng Yên, tuyến đường này còn chạy qua các thị trấn Hồ, Thuận Thành, Cẩm Giàng, Kẻ Sặt, Ân Thi, Lương Bằng, Hòa Mạc và Đồng Văn. Quốc lộ 38B: Đây là con đường có tổng chiều dài 145,06 km, kết nối từ Hải Dương tới Ninh Bình. Điểm đầu là ngã tư Gia Lộc (tại km 52+00, Quốc lộ 37) giữa huyện Gia Lộc và thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; điểm cuối là ngã ba Anh Trỗi (tại km 11+50, Quốc lộ 12B) thuộc xã Quỳnh Lưu huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, giao cắt sông Hồng (cầu Yên Lệnh), sông Đáy (mới có dự án cầu nối thị trấn Lâm và thị trấn Thiên Tôn)... Quốc lộ 39A: Đây là con đường có tổng chiều dài 110 km. Điểm đầu là giao cắt Quốc lộ 5, thị trấn Bần Yên Nhân (Mỹ Hào). Điểm cuối qua cầu Triều Dương, đến Hưng Hà và nối xuống thị trấn Diêm Điền. Là con đường nối liền 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình. Nối đường liên tỉnh Hà Nội (cầu Thanh Trì) - Hưng Yên tại xã Dân Tiến, Khoái Châu Quốc lộ 39B: Là tuyến giao thông đường bộ nối Hưng Yên với Thái Bình. Tuyến đường này có hướng Đông-Tây. Đầu phía Đông tại thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, sát biển Đông. Đầu phía Tây tại thành phố Hưng Yên. Quốc lộ có đường nối với cao tốc Ninh Bình -Cầu Giẽ qua cầu Thái Hà Quốc lộ 40: Đây là con đường có tổng chiều dài 20 km. Điểm đầu là tại Plei Cần, giao cắt với Quốc lộ 14 và Quốc lộ 14C. Điểm cuối là ngã ba Đông Dương tại cửa khầu Bờ Y trên biên giới Việt-Lào. Quốc lộ 40 nối Quốc lộ 11 của Lào, hướng đến Sekong, Pakse. Quốc lộ 43: Đây là con đường có tổng chiều dài 105 km. Điểm đầu tại ngã ba Gia Phù, giao cắt với Quốc lộ 37. Điểm cuối là tại cửa khẩu Pa Háng (Còn gọi là cửa khẩu Lóng Sập) tại Mộc Châu, Sơn La, biên giới Việt - Lào. Quốc lộ 45, nối Nho Quan, Ninh Bình tới thành phố Thanh Hóa, cắt sông Bưởi, sông Mã, sông Chu (cầu Thiệu Hóa),... Quốc lộ 46, từ Cửa Lò qua Vinh đi thị trấn Đô Lương, Nghệ An, qua cầu Rộ (sông Lam) đến cửa khẩu Thanh Thủy (Thanh Chương) Quốc lộ 46B, từ Vinh đi Nam Đàn, Nghệ An Quốc lộ 47, nối Sầm Sơn với huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa Quốc lộ 48A, Nghệ An, qua thị xã Thái Hòa đến biên giới Việt - Lào Quốc lộ 48B, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, từ cửa Lạch Quèn đi Cầu Giát, xã Quỳnh Châu Quốc lộ 48C, nối quốc lộ 7 và quốc lộ 48, Nghệ An Quốc lộ 49, Thừa Thiên - Huế, Huế đi A Lưới Quốc lộ 49B, từ điểm giao Quốc lộ 1A thuộc Hải Lăng (Quảng Trị) qua Thừa Thiên - Huế, các huyện Phong Điền, huyện Quảng Điền, nối Quốc lộ 49, qua thị trấn Thuận An, Phú Vang, đến Quốc lộ 1A (xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc) Quốc lộ 50: Đây là con đường có tổng chiều dài 95,2 km. Từ TP. Hồ Chí Minh (Cầu Nhị Thiên Đường), theo hướng nam đi Long An, Gò Công, Mỹ Tho (Tiền Giang), qua sông Vàm Cỏ (cầu Mỹ Lợi). Quốc lộ 51: Đây là con đường có tổng chiều dài 86 km. Từ Biên Hoà (Đồng Nai), theo hướng đông nam đi đến Bà Rịa. Quốc lộ 52 (Xa lộ Hà Nội): Đây là con đường có tổng chiều dài 35,7 km. Từ TP. Hồ Chí Minh, theo hướng nam đi Biên Hòa, Đồng Nai, qua sông Đồng Nai,... Quốc lộ 53: nối Vĩnh Long - Trà Vinh Quốc lộ 54: có chiều dài 155 km, nằm cặp sông Hậu, nối liền Đồng Tháp, Vĩnh Long và Trà Vinh. Quốc lộ 54 bắt đầu (km 0) tại bến phà Vàm Cống và kết thúc tại thành phố Trà Vinh (km 155) Quốc lộ 55: Đây là con đường có tổng chiều dài 229 km. Từ Bà Rịa theo hướng đông đi La Gi, Hàm Tân (Bình Thuận), đến Bảo Lộc (Lâm Đồng) Quốc lộ 56: Đây là con đường có tổng chiều dài 50 km. Từ Long Khánh (Đồng Nai) theo hướng nam qua các huyện Cẩm Mỹ, Châu Đức tới thành phố Bà Rịa Quốc lộ 57: Từ Thạnh Phú (Bến Tre) đi Long Hồ (Vĩnh Long) Quốc lộ 60: Đây là con đường có tổng chiều dài khoảng 115 km. Từ Mỹ Tho (Tiền Giang) theo hướng nam, qua Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, con đường này phải đi qua các con sông lớn là Sông Tiền (cầu Rạch Miễu), sông Hàm Luông (cầu Hàm Luông), sông Cổ Chiên (cầu Cổ Chiên), và qua Sông Hậu bằng phà (cầu Đại Ngãi) Quốc lộ 61: Đây là con đường có tổng chiều dài 96 km. Từ thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A Hậu Giang, qua Vị Thanh, Hậu Giang, đi Kiên Giang Quốc lộ 61B: Đây là con đường có tổng chiều dài 20 km nối liền Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang, con đường này đi men theo kênh xáng Xà No. Quốc lộ 62: từ Tân An đến cửa khẩu Bình Hiệp, Long An Quốc lộ 63: Đây là con đường có tổng chiều dài 100 km. Từ Cà Mau theo hướng bắc đi thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành (Kiên Giang) nối quốc lộ 61 đi Rạch Giá (Kiên Giang) Quốc lộ 70: Đây là con đường có tổng chiều dài 185 km. Từ Phú Thọ theo hướng tây bắc, đi Yên Bái, Lào Cai Quốc lộ 70B: nối Phú Thọ với Hòa Bình Quốc lộ 80: Đây là con đường có tổng chiều dài 215 km. Từ Vĩnh Long theo hướng tây nam qua Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, đến Hà Tiên, hướng đi Sihanoukville Quốc lộ 91: Đây là con đường có tổng chiều dài 142 km. Từ Cần Thơ đi Long Xuyên, Châu Đốc, Tịnh Biên (An Giang), nối Quốc lộ 2 Campuchia đi Takeo. Đường rẽ qua cầu Châu Đốc theo tỉnh lộ 953 và 952 đi Tân Châu, cửa khẩu Vĩnh Xương. Đường rẽ qua cầu Cồn Tiên theo quốc lộ 91C và tỉnh lộ 957 đi An Phú, cầu Long Bình - Chrey Thom (biên giới Việt Nam - Campuchia) Quốc lộ 91B: Cần Thơ, nối nội thành với quốc lộ 91 Quốc lộ 91C (Quốc lộ Nam Sông Hậu): Cần Thơ đi Bạc Liêu Quốc lộ 91C: từ Châu Đốc qua cầu Cồn Tiên, đi An Phú đến đường giáp cầu Long Bình (biên giới Việt Nam - Campuchia) Quốc lộ 100: Đây là con đường có tổng chiều dài 21 km, Phong Thổ, Lai Châu. Quốc lộ 217, nối Thanh Hóa với quốc lộ 6 của Lào qua cửa khẩu Na Mèo đi sang Xamneua, Lào Quốc lộ 279: nối Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và Điện Biên với nhau, điểm đầu Hạ Long, điểm cuối là cửa khẩu Tây Trang, đi Phongsaly (Lào), giao cắt sông Đà (cầu Pá Uôn), sông Hồng (cầu Bảo Hà), sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (cầu Ba Đạo), sông Thương, sông Lục Nam... Quốc lộ N1, nối Bình Phước với Hà Tiên, giao cắt sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Tiền, sông Hậu Quốc lộ Quản Lộ - Phụng Hiệp đi qua 4 tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Tổng chiều dài các con đường kể trên là 14.790,46 km, trong khi đó toàn bộ các tuyến đường Quốc lộ của Việt Nam được cho là có tổng chiều dài khoảng 17.300 km, với gần 85% đã tráng nhựa. Ngoài các đường quốc lộ còn có các đường tỉnh lộ (đường vành đai, đường trục...) nối các huyện trong tỉnh, huyện lộ (đường cái, đại lộ...) nối các xã trong huyện. Các tuyến tỉnh lộ có tổng chiều dài khoảng 27.700 km, với hơn 50% đã tráng nhựa. Các tuyến đường quan trọng khác trong quá trình hoàn thiện: Đường Hồ Chí Minh: dài khoảng 3.167 km và cũng là con đường thứ 2 chạy từ Bắc vào Nam Việt Nam, chạy qua vùng núi phía tây, từ Pác Bó, đến Đất Mũi, theo tiêu chuẩn đường cao tốc có đoạn Đoan Hùng (Phú Thọ)- Chợ Bến (Hòa Bình), Cam Lộ (Quảng Trị) - Túy Loan (Đà Nẵng), Mỹ An (Đồng Tháp) - Rạch Sỏi (Kiên Giang) (trước 2020), sau đó các đoạn Khe Cò (Hà Tĩnh) - Bùng (Quảng Bình),... Đường Trường Sơn Đông có chiều dài 657 km, đi qua 7 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng, điểm đầu thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, điểm cuối Đưng K’nớ, tại cầu Suối Vàng nối với tỉnh lộ 722, thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng (đang thi công). Tuyến đường N2: nối Bình Phước - Cà Mau, qua cầu Cao Lãnh, cầu Vàm Cống Đường tuần tra biên giới Đường ven biển Việt Nam Các đường cao tốc có: Đường cao tốc Bắc – Nam, từ Hà Nội đi Cần Thơ, hiện hoàn thiện các tuyến Hà Nội - Ninh Bình (đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình, tuyến đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương, đang hoàn thiện đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận – Cần Thơ, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, đường cao tốc Ninh Bình – Thanh Hóa... Đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, nối lên Chợ Mới, Bắc Kạn, dự kiến lên Cao Bằng Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai Đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh (đang thi công, đoạn Hải Phòng - Quảng Ninh, qua cầu Bạch Đằng) Đại lộ Thăng Long, địa bàn Hà Nội Đường cao tốc Liên Khương, nối Đà Lạt - Liên Khương Đường cao tốc Dầu Giây - Liên Khương (dự án) Đường cao tốc Hà Nội - Lạng Sơn (hiện hoàn thiện đoạn Hà Nội - Bắc Giang) Đường cao tốc Bến Lức - Long Thành (đang thi công, qua cầu Bình Khánh, Phước Khánh) Đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu (dự án) Đường cao tốc Hạ Long – Móng Cái (dự án, trước mắt khởi công đoạn Hạ Long - Vân Đồn) Đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết (dự án) Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài (dự án) Dự án đường cao tốc nối thành phố Tuyên Quang với đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai Đường cao tốc Hà Nội - Viêng Chăn (dự án) Danh sách các tuyến đường cao tốc và ký hiệu của mỗi tuyến: Một số tuyến quốc lộ và cao tốc của Việt Nam được chỉ định tham gia mạng lưới đường bộ xuyên Á, đó là: Quốc lộ 1A, 22, cao tốc CT.01 (AH1), 2, 5, 70, cao tốc CT.05, cao tốc CT.04 (AH14), 6, 279 (AH13), 8A (AH15), 9A (AH16), đường Hồ Chí Minh, 14B, 13, 51 (AH17), 12A, 12C (AH131), 24, 14, 40 (AH132). === Hệ thống đường sắt === Hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài khoảng 2600 km, trong đó tuyến đường chính nối Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh dài 1726 km, toàn ngành có 302 đầu máy, 1063 toa tàu chở khách và 4986 toa tàu chở hàng. Các tuyến đường sắt từ Hà Nội: Hà Nội – TP. Hồ Chí Minh: 1726 km, được gọi là Đường sắt Bắc Nam Hà Nội - Thái Nguyên Hà Nội – Lào Cai: 296 km Hà Nội – Hải Phòng: 102 km Hà Nội – Đồng Đăng: 162 km, một đoạn nối xuống Na Dương Các tuyến khác: Đường sắt cao tốc Bắc Nam (dự án chưa được phê duyệt, chỉ nâng cấp một số đoạn) Đường sắt Thái Nguyên - Quảng Ninh, từ Thái Nguyên, qua Bắc Giang, Chí Linh - Hải Dương, đến cảng Cái Lân, Quảng Ninh Đường sắt thành phố Hồ Chí Minh - Lộc Ninh (dự án) Đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt (khởi động lại) Đường sắt Vũng Áng - Mụ Giạ kết nối đường sắt đến Viêng Chăn (dự án) Đường sắt thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ (dự án) Đường sắt Cầu Giát - Nghĩa Đàn (bỏ hoang) Đường sắt Trảng Bom - thành phố Hồ Chí Minh (dự án) Dự án đường sắt Mỹ Thủy -Đông Hà - Lao Bảo kết nối đường sắt cao tốc Savannakhet - Lao Bảo Đường sắt đô thị Hà Nội Đường sắt đô thị TP. Hồ Chí Minh Đường sắt Việt Nam hiện gồm có hai loại đội tàu hỏa là: Các loại tàu khách, gồm: tàu liên vận quốc tế, tàu khách tốc hành và tàu nhanh, tàu khách thường và tàu hỗn hợp. Các loại tàu chở hàng, gồm: tàu chuyên chở nhanh, tàu chuyên chở thường. Hiện nay phần lớn đường sắt Việt Nam (khoảng 2249 km) dùng khổ rộng 1,0 m, và toàn tuyến đường sắt Bắc Nam dùng khổ 1,0 m. Có 180 km dùng khổ 1,435 m là tuyến đường Hà Nội - cảng Cái Lân dùng cho tàu chở hàng === Hệ thống đường thủy === Các tuyến đường thủy nội địa dựa theo các con sông chính như: sông Hồng, sông Đà ở miền Bắc; sông Tiền, sông Hậu ở miền Tây Nam Bộ và sông Đồng Nai, sông Sài Gòn ở miền Đông Nam Bộ. Tổng chiều dài của tất cả các loại sông, kênh, rạch trên lãnh thổ Việt Nam khoảng 42.000 km, dài nhất là hai con sông: sông Hồng với khoảng 541 km và sông Đà khoảng 543 km. Sông Hậu là con sông có khúc rộng nhất ở huyện Long Phú (Sóc Trăng) và Cầu Kè (Trà Vinh) với chiều ngang khoảng gần 4 km. Sông Đà là con sông chảy qua các tỉnh như Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ, Hà Tây và giao nhau với sông Hồng tại Việt Trì(Phú Thọ) Sông Hồng chảy qua các tỉnh như Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định Sông Tiền chảy qua các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre Sông Hậu chảy qua các tỉnh như An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Hậu Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng Sông Sài Gòn và sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh Các cảng sông, quy hoạch theo Quyết định số: 1071/QĐ-BGTVT ngày 24 tháng 04 năm 2013: Khu vực phía Bắc: Cảng hàng hóa: gồm 66 cảng, công suất quy hoạch đến năm 2020 là 42,01 triệu tấn/năm. Cảng hành khách: gồm 20 cảng, công suất quy hoạch đến năm 2020 là 5,52 triệu lượt khách/năm. Khu vực miền Trung: Gồm 7 cảng hàng hóa. Khu vực phía Nam: Cảng hàng hóa: gồm 56 cảng, công suất quy hoạch đến năm 2020 là 32,6 triệu tấn/năm (trong đó có 11 cảng chính, công suất quy hoạch đến năm 2020 là 10,9 triệu tấn/năm và 45 cảng khác có công suất quy hoạch đến năm 2020 là 21,7 triệu tấn/năm). Cảng hành khách: gồm 17 cảng, công suất quy hoạch đến năm 2020 là 29 triệu lượt hành khách/năm Hệ thống đường thủy Việt Nam hiện đang đảm nhiệm 30% tổng lượng hàng hóa lưu chuyển trong nước, riêng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đảm nhiệm tới 70% lưu thông hàng hóa trong vùng. Các cảng biển chính hiện nay gồm: cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân ở miền Bắc, cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn ở miền Trung và cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái ở miền Nam. Năm 2007, tổng khối lượng hàng hoá thông qua các cảng tại Việt Nam là 177 triệu tấn, trong đó hệ thống cảng Sài Gòn là 55 triệu tấn. Theo dự báo, dự báo lượng hàng hóa qua hệ thống cảng biển Việt Nam vào năm 2010 sẽ đạt 230-250 triệu tấn/năm và 500-550 triệu tấn/năm vào năm 2020. Theo Quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2009, theo quy hoạch các cảng tổng hợp quốc gia là các cảng chính trong hệ thống cảng biển Việt Nam, bao gồm: Cảng trung chuyển quốc tế: Vân Phong – Khánh Hòa; Cảng cửa ngõ quốc tế: Hải Phòng, Bà Rịa – Vũng Tàu; Cảng đầu mối khu vực: Hòn Gai – Quảng Ninh, Nghi Sơn – Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn Dương, Vũng Áng – Hà Tĩnh, Dung Quất – Quảng Ngãi, Quy Nhơn – Bình Định, Nha Trang, Ba Ngòi – Khánh Hòa, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Cần Thơ. Ngoài ra có các cảng địa phương và các cảng chuyên dùng. Tại Trà Vinh, đã có dự án cảng trung chuyển. Tại Quảng Trị có dự án cảng nước sâu Mỹ Thủy. === Hệ thống đường hàng không === Hệ thống đường hàng không Việt Nam bao gồm cơ sở hạ tầng là các sân bay quốc tế và các sân bay nội địa. Các hãng hàng không của Việt Nam và một số quốc gia khác cùng khai thác. Các sân bay quốc tế gồm: sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay quốc tế Đà Nẵng, sân bay quốc tế Phú Bài, sân bay quốc tế Cam Ranh, sân bay quốc tế Cát Bi, Sân bay quốc tế Trà Nóc, sân bay quốc tế Phú Quốc, sân bay quốc tế Vinh, sân bay quốc tế Chu Lai,... sân bay quốc tế Quảng Ninh, sân bay quốc tế Long Thành (dự án) Các hãng hàng không của Việt Nam gồm: Vietnam Airlines, Jetstar Pacific, Vasco và hai hãng tư nhân vừa được chính phủ ký quyết định cho phép hoạt động là VietJetAir và Air Speed Up. Trong 4 hãng này, hiện tại duy nhất chỉ có Vietnam Airlines trực tiếp thực hiện các đường bay quốc tế. Các đường bay quốc tế do Vietnam Airlines và các hãng hàng không khác có hoạt động tại Việt Nam chuyên chở, xuất phát từ 2 sân bay Tân Sơn Nhất và Nội Bài: Các đường bay đi Châu Á gồm: Hà Nội - Thành Đô, TP. Hồ Chí Minh - Thành Đô, Hà Nội - Côn Minh, Hà Nội - Nam Ninh, TP. Hồ Chí Minh - Nam Ninh, Hà Nội - Quảng Châu, TP. Hồ Chí Minh - Quảng Châu, Hà Nội - Thượng Hải, TP. Hồ Chí Minh - Thượng Hải, Hà Nội - Bắc Kinh, Hà Nội - Seoul, TP. Hồ Chí Minh - Seoul, Hà Nội - Busan, TP. Hồ Chí Minh - Busan, Hà Nội - Đài Bắc, TP. Hồ Chí Minh - Đài Bắc, Hà Nội - Cao Hùng, TP. Hồ Chí Minh - Cao Hùng, Hà Nội - Hồng Kông, TP. Hồ Chí Minh - Hồng Kông, Hà Nội - Tokyo, TP. Hồ Chí Minh - Tokyo, Hà Nội - Nagoya, TP. Hồ Chí Minh - Nagoya, Hà Nội - Osaka, TP. Hồ Chí Minh - Osaka, Hà Nội - Yangon, TP. Hồ Chí Minh - Yangon, Hà Nội - Bangkok, TP. Hồ Chí Minh - Bangkok, Hà Nội - Viêng Chăn, TP. Hồ Chí Minh - Viêng Chăn, Hà Nội - Luang Prabang, Hà Nội - Phnôm Pênh, TP. Hồ Chí Minh - Phnôm Pênh, Hà Nội - Xiêm Riệp, TP. Hồ Chí Minh - Xiêm Riệp, Hà Nội - Kuala Lumpur, TP. Hồ Chí Minh - Kuala Lumpur, Hà Nội - Singapore, TP. Hồ Chí Minh - Singapore, TP. Hồ Chí Minh - Doha, TP. Hồ Chí Minh - Abu Dhabi, TP. Hồ Chí Minh - Dubai, TP. Hồ Chí Minh - Almaty, TP. Hồ Chí Minh - Mumbai, TP. Hồ Chí Minh - Ma Cao, TP. Hồ Chí Minh - Thâm Quyến, TP. Hồ Chí Minh - Phúc Châu, TP. Hồ Chí Minh - Vũ Hán, TP. Hồ Chí Minh - Đài Trung, TP. Hồ Chí Minh - Fukuoka, TP. Hồ Chí Minh - Pakse, TP. Hồ Chí Minh - Sihanoukville, TP. Hồ Chí Minh – Manila, TP. Hồ Chí Minh - Jakarta, TP. Hồ Chí Minh - Bandar Seri Begawan, TP. Hồ Chí Minh - Johor Bahru Các đường bay đi Châu Âu gồm: Hà Nội - London, TP. Hồ Chí Minh - London, Hà Nội - Paris, TP. Hồ Chí Minh - Paris, Hà Nội - Frankfurt, TP. Hồ Chí Minh - Frankfurt, Hà Nội - Moskva, TP. Hồ Chí Minh - Moskva, TP. Hồ Chí Minh - Helsinki, TP. Hồ Chí Minh - Istanbul Các đường bay đi Châu Phi gồm: Hà Nội - Nairobi Các đường bay đi Châu Đại Dương gồm: TP. Hồ Chí Minh - Sydney, TP. Hồ Chí Minh - Melbourne, TP. Hồ Chí Minh - Auckland Các đường bay đi Châu Mỹ: TP. Hồ Chí Minh – San Francisco, TP. Hồ Chí Minh - Los Angeles Các đường bay nội địa do Vietnam Airlines, Jetstar Pacific, Vasco chuyên chở kết nối các điểm: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đồng Hới, Hải Phòng, Thọ Xuân, Vinh, Điện Biên Phủ, Huế, Quy Nhơn, Khánh Hòa, Tuy Hòa, Chu Lai, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Cà Mau, Rạch Giá, Phú Quốc, Côn Đảo, Cần Thơ Việt Nam hiện nay có tổng cộng 27 sân bay các loại có bãi đáp hoàn thiện, trong đó có 8 sân bay có đường băng dài trên 3.000 m có khả năng đón được các máy bay loại cỡ trung trở lên như Airbus A320, Airbus A321... == Phương tiện giao thông đường bộ == === Cá nhân === Ở Việt Nam xe gắn máy (là loại xe mô tô 2 bánh) vẫn là phương tiện di chuyển chủ yếu của người dân. Hiện nay cả nước có khoảng 21 triệu chiếc đang được phép lưu hành, trung bình 4 người dân/ chiếc. Riêng tại hai thành phố lớn là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội tổng số xe đăng ký đã là 7 triệu chiếc chiếm khoảng 1/3 lượng xe lưu hành tại Việt Nam, đáp ứng đến 90% nhu cầu đi lại của người dân. Năm 2013 trên toàn quốc có khoảng 37 triệu xe máy. Phần lớn xe gắn máy do các công ty của Nhật Bản, Đài Loan sản xuất tại Việt Nam cung cấp và một phần các loại xe rẻ tiền chủ yếu sử dụng tại các vùng nông thôn nhập khẩu từ Trung Quốc. === Hệ thống giao thông công cộng === Tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh có hệ thống xe buýt công cộng để phục vụ người dân nhằm giảm thiểu lượng xe cá nhân lưu thông. Tuy nhiên hệ thống này còn yếu kém, năm 2011, sau khi đi thử xe buýt công cộng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (Việt Nam) Đinh La Thăng cũng cho biết: "Thực tế, với tình hình chất lượng xe buýt như hiện nay thì đến tôi còn chẳng thể đi nổi, làm sao mà bắt buộc anh em phải đi được." Tại TP Hồ Chí Minh đã khởi công dự án xây dựng đường xe tàu điện ngầm (metro). Hệ thống xe lửa nối liền các thành phố được xây dựng từ thời Pháp thuộc đã quá cũ kỹ. Dự án Đường sắt cao tốc sử dụng hoàn toàn kỹ thuật và vốn vay từ Nhật Bản vấp phải sự phản đối quyết liệt từ Quốc hội và người dân, và bị Quốc hội bác bỏ vì cho là quá tốn kém không thích hợp với thực trạng kinh tế hiện nay và cần nhiều dự án thiết thực hơn, dù Chính phủ Việt Nam muốn quyết tâm tiến hành dự án tốn kém 56 tỷ USD này.. == Tiêu cực và tai nạn == === Hạ tầng cơ sở === Trong nội đô, các con phố của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thường xuyên ùn tắc do cơ sở hạ tầng đô thị còn thấp kém, lượng phương tiện tham gia giao thông quá lớn – đặc biệt là xe máy –, và ý thức chưa tốt của người tham gia giao thông Thêm nữa, hiện tượng ngập úng mỗi khi mưa lớn cũng gây khó khăn cho người tham gia giao thông. === An toàn giao thông === Theo Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam thì tính trung bình mỗi ngày ở Việt Nam có 35 người chết và 70 người bị thương vì tai nạn giao thông. Tổng kết sáu tháng đầu năm 2007 là khoảng 7669 vụ với 6910 người thiệt mạng và khoảng 6000 người bị thương. Theo những dữ kiện này của Ủy ban Giao thông Quốc gia thì con số tử thương trung bình đã tăng thành 38 người mỗi ngày vào giữa năm 2007. Trong 11 tháng đầu năm 2011, trên địa bàn Hà Nội đã xảy ra 533 vụ tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt làm 531 người chết và 144 người bị thương. Năm 2012 Hà Nội xảy ra 777 vụ tai nạn giao thông, làm 619 chết, 397 người bị thương. Tính vào thời điểm năm 2013 thì mỗi năm có khoảng 10.000 vụ tử thương vì giao thông và thêm gần 40.000 bị chấn thương. == Quản lý và tổ chức giao thông == Đã có nhiều ý kiến phê phán khâu xử lý vi phạm giao thông của cảnh sát giao thông Hà Nội hiện nay chưa nghiêm, việc quản lý nhà nước và tổ chức giao thông còn nhiều bất cập, luôn thay đổi tùy tiện, tạo bất ngờ và gây khó cho người dân, hiệu quả không những không cao mà còn rất lãng phí. . Đã có nhiều ý kiến đóng góp và tìm cách giải quyết thực trạng của giao thông tại Việt Nam. Theo quy hoạch giao thông Hà Nội được Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt năm 2008, chi phí cho phần phát triển đường bộ lên tới 100.000 tỷ đồng. Ba tuyến đường vành đai, 30 tuyến đường trục chính cùng nhiều tuyến phố sẽ được xây dựng mới hoặc cải tạo lại.. Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng dự báo tới năm 2015, thành phố Hà Nội sẽ hết tình trạng ùn tắc giao thông. Tháng 11 năm 2011, bộ trưởng Đinh La Thăng đã đề nghị Quốc hội Việt Nam bố trí khoản ngân sách 40.000 tỷ đồng, thu vượt từ dầu thô, cho các công trình trọng yếu của ngành giao thông vì "Hiện Bộ GTVT không còn tiền để đầu tư hạ tầng". Để tránh ùn tắc giao thông và quá tải của đường phố, cùng với việc đổi giờ làm việc và giờ học, ông Thăng còn đề xuất hạn chế xe cá nhân và tăng phí lưu thông ô tô và xe máy, như thâu phí lưu thông xe máy 500.000 đến 1 triệu đồng/năm và phí lưu thông ô tô từ 20 dến 50 triệu đồng/năm. Theo ông thì "việc thu phí lưu hành để sử dụng vào nhiều mục đích, nên người sử dụng phương tiện cá nhân phải có đóng góp cho đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, và thực hiện các giải pháp giảm tai nạn giao thông. Nhiều ý kiến cho rằng việc đề xuất tăng phí lưu hành xe ô tô lên 20–50 triệu đồng/năm của Bộ trưởng Thăng và Chính phủ là "đổ gánh nặng sang dân", "cào bằng giàu - nghèo", "phí chồng lên phí",... == Hình ảnh == == Một số dữ liệu == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Tổng cục đường bộ Việt Nam Cục đường sông Việt Nam Tổng Công ty đường sắt Việt Nam Tổng Công ty hàng không Việt Nam Cục CSGT đường bộ-đường sắt (Bộ Công an) Diễn đàn An toàn Giao thông, Bộ Giao thông Vận tải và Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia Thực trạng giao thông ở Việt Nam và giải pháp, Nguyễn Anh Minh, 6/2/2007
trượt băng nghệ thuật.txt
Trượt băng nghệ thuật (tiếng Anh: Figure skating) là một môn thể thao Olympic trong đó các cá nhân, các đôi hoặc các nhóm biểu diễn các động tác xoay, nhảy, các động tác di chuyển trên băng cùng nhiều động tác phức tạp khác. Các vận động viên trượt băng nghệ thuật được phân từ nhóm mới học cho tới nhóm trình độ Olympic, ở nhiều cấp độ tranh tài từ địa phương, quốc gia và quốc tế. Liên đoàn Trượt băng Quốc tế điều hành việc đánh giá và tổ chức các sự kiện trượt băng nghệ thuật quốc tế. Đây là môn thể thao chính thức của Thế vận hội Mùa đông. == Tham khảo == == Liên kết == International Skating Union Official Site World Skating Museum and Hall of Fame
du lịch hà nội.txt
Du lịch Hà Nội là một ngành kinh tế quan trọng, với vai trò là trung tâm phát triển du lịch Việt Nam, đầu mối phân phối khách cho các tỉnh khu vực phía Bắc. == Tổng quan == Hà Nội là thủ đô hơn 1000 năm tuổi, có lịch sử lâu đời, truyền thống văn hóa đa dạng và giàu bản sắc, Hà Nội thực sự là một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam. Hà Nội luôn là một trong những địa điểm thu hút nhiều khách du lịch nội địa và quốc tế. Hà Nội đứng đầu về số lượng di tích Việt Nam với 3840 di tích trên tổng số gần 40.000 di tích Việt Nam (trong đó có 1164 di tích cấp quốc gia); Hà Nội hiện là địa phương sở hữu nhiều danh hiệu UNESCO ở Việt Nam nhất. Chính vì vậy mà Hà Nội có thế mạnh và đủ điều kiện để phát triển du lịch văn hóa, tâm linh và hội thảo. Trung tâm du lịch Hà Nội có vai trò hội tụ giao thông, nằm ở trọng tâm của tam giác du lịch Ninh Bình - Quảng Ninh - Lào Cai, có vai trò phân phối khách du lịch cho những vùng du lịch trọng điểm này và toàn miền Bắc Việt Nam. == Các loại hình du lịch == === Du lịch lịch sử, tâm linh === Nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như: Thành cổ Hà Nội, Tháp Rùa nằm giữa Hồ Hoàn Kiếm, Khu phố cổ Hà Nội, Ô Quan Chưởng, Thành Cổ Loa, Thăng long tứ trấn, Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Làng gốm cổ truyền Bát Tràng, Chợ Gốm làng cổ Bát Tràng, Hỏa Lò, Nhà 48 Hàng Ngang, Nhà 5D Hàm Long. Hà Nội có nhiều đền, chùa như: Chùa Một Cột, Chùa Quán Sứ, Chùa Trấn Quốc, chùa Non Nước, chùa Hương, Chùa Hoè Nhai, Chùa Láng, Chùa Liên Phái, Đền Ngọc Sơn, Đền Voi Phục, Đền Quán Thánh, Đình Bát Tràng, Đình Kim Liên, Chùa Tĩnh Lâu, Phủ Tây Hồ, Đền Bạch Mã, Chùa Hương,... Hà Nội cũng có nhiều Nhà thờ: Nhà thờ Lớn Hà Nội, Nhà thờ Cửa Bắc, Nhà thờ Hàm Long, Nhà thờ Giáp Bát, Nhà thờ Tin lành (Ngõ Trạm), Nhà thờ Hồi Giáo Thánh đường Jamia Al Noor (Thánh đường Ánh Sáng), Thánh thất Cao Đài Thủ Đô. === Du lịch văn hóa, lễ hội === Về ẩm thực, Người Hà Nội có truyền thống ẩm thực lâu đời, tổng hợp những tinh túy từ quê hương những người lên Hà Nội lập nghiệp mà mang theo cái hồn quê trong món ăn, đồ uống. Sống qua nhiều thế hệ ở Hà Nội, họ góp phần hình thành một nền ẩm thực Hà Nội phong phú. Một số món ăn đặc trưng của người Hà Nội: Bánh cốm, Bánh cuốn Thanh Trì, Bánh tôm Hồ Tây, Bia hơi Hà Nội, Bún chả, Bún ốc, Bún thang, Chả cá Lã Vọng, Cốm làng Vòng, Phở Hà Nội. Hà Nội có nhiều lễ hội, tiêu biểu như: Lễ hội tiến xuân ngưu ở cửa ô Đông Hà Phụ chú hội Làng Dàn, Hội Phú Xá (đêm 14.8), Hội Chèm (chính hội ngày 15.5), Hội Gióng đền Sóc (chính hội ngày 6.1), Hội Gióng đền Phù Đổng (chính hội ngày 9.4), Hội đền Đồng Cổ (chính hội ngày 4.4), Hội Đăm (chính hội ngày 10.3), Hội Láng (chính hội ngày 7.3), Hội Phú Thị (chính hội ngày 3.3), Hội Hồ Khẩu (chính hội ngày 13.2), Hội Nành (chính hội ngày 6.2), Hội đồng Nhân (chính hội ngày 5.2), Hội Nhội - Rước vua sống (chính hội ngày 12.1), Hội Triều Khúc (chính hội ngày 10.1), Hội thổi cơm thi Thị Cấm (chính hội ngày 8.1), Hội Cổ Loa (chính hội ngày 6.1), Lễ hội Chùa Láng, Lễ hội Ngãi Cầu (Chính hội ngày 8.1 âm lịch), Hội Chùa Hương (chính hội từ rằm tháng riêng cho tới 18.2 âm lịch). Năm 2015, Hà Nội có 1.350 làng nghề và làng có nghề chiếm gần 59% tổng số làng, trong đó 244 làng có nghề truyền thống. Số làng có nghề phân bố không đều đa số tập trung chủ yếu ở các huyện: Phú Xuyên 124 làng, Thường Tín 125 làng, Chương Mỹ 174 làng, Ứng Hoà 113 làng, Thanh Oai 101 làng, Ba Vì 91 làng..., trong đó có 198 làng nghề truyền thống được công nhận. Hà Nội có nhiều làng nghề nổi tiếng như: Gốm Bát Tràng, Làng lụa Hà Đông, Tranh Hàng Trống, Làng hoa Ngọc Hà, Đúc đồng Ngũ Xã, Rắn Lệ Mật, rèn Đa Sĩ, Miến Cự Đà === Du lịch giải trí, nghỉ dưỡng === Đây là loại hình du lịch phát triển khá mạnh sau khi Hà Nội mở rộng. Những lợi thế phát triển du lịch của hệ thống núi Ba Vì và nhiều hồ nước nhân tạo có diện tích mặt nước lớn như hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Quan Sơn… trong những năm qua nhiều khu, điểm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cuối tuần được hình thành và phát triển như: Khu du lịch Thác Đa; Đầm Long - Bằng Tạ; suối khoáng Tản Đà; Asean; Ao Vua; Khoang Xanh - Suối Tiên; Thiên Sơn - Suối Ngà... góp phần đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng cuối tuần, vui chơi giải trí, hoạt động thể thao cho khách du lịch. Hà Nội có nhiều không gian công cộng như: Hồ Hoàn Kiếm, Khu phố cổ Hà Nội, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Thành cổ Sơn Tây, Gò Đống Đa, Phủ Chủ tịch và khu di tích, Lăng Hồ Chí Minh, Nhà hát Lớn, Vườn quốc gia Ba Vì, Công viên Thống Nhất, Công viên Thủ Lệ, Vườn bách thảo, Ao Vua, Đồng Mô, Hồ Tây, Công viên Hồ Tây, Khoang Xanh, Hồ Thiền Quang, Hồ Trúc Bạch, Sông Hồng, Công viên Thiên Đường Bảo Sơn. Nhiều bảo tàng lớn như: Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam Nhiều công trình lớn của quốc gia như: Sân bay quốc tế Nội Bài, Ga Hà Nội, Cầu Long Biên, Cầu Chương Dương, Cầu Thăng Long, Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Trung tâm Hội nghị Quốc gia Việt Nam, Khách sạn Sofitel Metropole, Hanoi Hilton Opera, Quảng trường Ba Đình, Quảng trường Cách mạng tháng Tám, Quảng trường Lao động, Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Tràng Tiền Plaza, Vincom Center Bà Triệu === Du lịch hội thảo, mice === Với cơ sở vật chất hiện có, với kinh nghiệm tổ chức các hội nghị quốc tế lớn như Hội nghị Thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp, Hội nghị Thượng đỉnh các nước ASEAN, Hội nghị ASEM 5, Hội nghị APEC…, Hà Nội là thành phố hàng đầu Việt Nam để tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế lớn. Các tiện nghi hội nghị, hội thảo của Hà Nội hiện nay có sức chứa tổng cộng khoảng trên 14.000 chỗ ngồi, có khả năng phục vụ các sự kiện từ vài trăm đến cả ngàn người/địa điểm. Tổng số phòng họp hội nghị trong các khách sạn là 97 phòng/6939 chỗ ngồi. Việc tổ chức các hội nghị với phòng họp có trang bị kỹ thuật, máy móc hiện đại, đồng bộ kết hợp với các tour du lịch ngắn ngày giúp khách dự hội nghị có thời gian thư giãn đang được các khách sạn từ 3 sao trở lên, các hãng lữ hành quốc tế và Tổng công ty hàng không Việt Nam phối hợp xây dựng và quảng bá. Khách du lịch quốc tế đến Thủ đô với nhiều mục đích, trong đó với mục đích du lịch chiếm khoảng 70%, khách công vụ, thương mại, hội nghị hội thảo, thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ chiếm tương ứng 15,9; 4,0 và 2,9%; thăm thân 5,1%. Ngành Du lịch Hà Nội đã tổ chức thành công nhiều sự kiện như: Hội nghị lần thứ 7 của Hội đồng xúc tiến du lịch châu Á (CPTA) trong khuôn khổ mạng lưới các Thành phố lớn châu Á Thế kỷ 21 (ANMC21) do Hà Nội đăng cai là nước chủ nhà vào tháng 10/2008; Tham gia Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF 2009) và Hội chợ du lịch Travex tại Hà Nội từ ngày 10 -12/01/2009; Tổ chức thành công năm Du lịch quốc gia 2010 tại Hà Nội với 2 sự kiện lớn là: Liên hoan Du lịch Quốc tế Thăng Long - Hà Nội 2010 và Liên hoan ẩm thực Hà Thành; Tổ chức lễ khai hội chùa Hương vào ngày mùng 6 tết; Tổ chức thành công Liên hoan du lịch làng nghề truyền thống Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng diễn ra từ ngày 8/10 - 12/10/2013 tại Cung Thể thao tổng hợp Quần Ngựa Hà Nội… == Quy hoạch phát triển == === Mục tiêu === Đến năm 2020, du lịch Hà Nội trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh; mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, thân thiện với môi trường; xây dựng Hà Nội trở thành điểm đến hấp dẫn, có đẳng cấp và xứng đáng là trung tâm du lịch của khu vực và cả nước. Dự kiến Năm 2020 đón 3,2 triệu khách quốc tế và 20,0 triệu khách nội địa; năm 2030 đón 4,5 triệu khách quốc tế và 26,8 triệu khách nội địa. Tổng thu từ khách du lịch năm 2020 đạt 3.794,0 triệu USD tương đương 79.674 tỷ VNĐ; năm 2030 thu nhập đạt 8.865,0 triệu USD tương đương 186.165 tỷ VNĐ. Tỷ trọng GRDP du lịch trong tổng GRDP thành phố năm 2020 đạt chiếm 8,7%; năm 2030, chiếm 9,3%. Nhu cầu cơ sở lưu trú du lịch năm 2020 là 58.100 phòng; năm 2030 là 98.600 phòng. Năm 2020 tạo việc làm cho gần 383 nghìn lao động, trong đó 127,8 nghìn lao động trực tiếp; năm 2030 tạo việc làm cho khoảng 750 nghìn lao động, trong đó 250 nghìn lao động trực tiếp. === Các sản phẩm du lịch === Du lịch văn hóa: Phát triển các loại hình tham quan di tích lịch sử văn hóa, làng nghề, tham quan phố cổ, du lịch lễ hội, du lịch cộng đồng. Du lịch sinh thái: Tập trung vào các sản phẩm tham quan, nghiên cứu tìm hiểu các giá trị cảnh quan, sinh thái tại khu vực Vườn quốc gia Ba Vì; khu danh thắng Hương Sơn; khu vực núi Sóc - hồ Đồng Quan. Du lịch vui chơi giải trí: Hình thành các khu vui chơi giải trí gồm tổng hợp ở Sóc Sơn; Khu vui chơi giải trí mang tính khám phá thiên nhiên tại Ba Vì; Khu vui chơi giải trí thể thao ở khu vực Ba Vì hoặc Sóc Sơn; Khu vui chơi giải trí thế giới nước Hồ Tây; Khu Thiên đường Bảo Sơn. Du lịch MICE khai thác các sự kiện chính trị quốc tế; các sự kiện văn hóa thể thao lớn được tổ chức thường xuyên; các sự kiện du lịch: hội chợ du lịch, festival du lịch... Du lịch nghỉ dưỡng: Tập trung phát triển ở Ba Vì, Sóc Sơn. Du lịch mua sắm: Phát triển tại các trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm hiện đại; các điểm du lịch làng nghề truyền thống nổi tiếng. Du lịch nông nghiệp: Phát triển ở các vùng ngoại thành bổ sung cho các chương trình du lịch nội đô. === Các tuyến du lịch === Tuyến du lịch mang tính quốc tế: Liên kết Hà Nội với các điểm đến quốc tế theo đường hàng không; Đường sắt liên vận quốc tế: Hà Nội - Trung Quốc, Hà Nội - Lào; Đường bộ xuyên Á. Tuyến du lịch quốc gia: Các tuyến du lịch quốc gia phát triển trên cơ sở các tuyến quốc lộ từ Hà Nội gồm: Quốc lộ 1; Quốc lộ 2; Quốc lộ 3; Quốc lộ 5; Quốc lộ 6; Quốc lộ 32. Tuyến du lịch nội vùng gồm: City tour nội thành; Tuyến Hồ Tây - Cổ Loa - Đền Sóc; Tuyến Trung tâm Hà Nội - Vân Trì - Đền Sóc - Bắc Ninh; Tuyến Hà Nội - Sơn Tây - Ba Vì; Tuyến sông Đáy; Tuyến sông Hồng: Chương Dương - Đền Lộ - Bát Tràng; Trung tâm Hà Nội - Chùa Hương. == Xem thêm == Du lịch sinh thái Du lịch Việt Nam Khu du lịch Văn hóa Suối Tiên Du lịch Caravan Du lịch Bình Thuận Du lịch Đắk Lắk Du lịch Ninh Bình Du lịch Quảng Ngãi Du lịch Quảng Trị Du lịch Paris == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội Hình ảnh Hà Nội sáng sớm mùng 1 Tết Giới thiệu du lịch Hà Nội Bản đồ chi tiết Hà Nội trên trang mạng du lịch Việt Nam
saint-barthélemy.txt
Saint-Barthélemy (tiếng Anh: Saint Barthélemy), tên chính thức là Cộng đồng Saint-Barthélemy (tiếng Pháp: Collectivité de Saint-Barthélemy), là một cộng đồng hải ngoại của Pháp. Còn được biết với tên Saint Barts, Saint Barths, hay Saint Barth, cộng đồng này là một trong bốn vùng lãnh thổ trong Quần đảo Leeward ở Caribbean bao gồm cả Tây Ấn thuộc Pháp, và là vùng đất duy nhất đã từng là thuộc địa của Thụy Điển. Địa vị hiện nay của cộng đồng hải ngoại này có hiệu lực vào ngày 22 tháng 2 năm 2007 và gồm chính đảo Saint-Barthélemy, cộng với vài tiểu đảo ven bờ. == Lịch sử == Saint-Barthélemy do Pháp tuyên bố đầu tiên vào năm 1648. Nó được bán cho Thụy Điển vào năm 1784, sau đó bán cho Pháp vào năm 1878. Thời kỳ Thụy Điển để lại dấu ấn ở tên của nhiều con đường và xã (để tưởng nhớ Đức vua Gustav III) và để lại biểu tượng quốc gia, Ba Vương miện cùng với con diệc xám, cũng như vương miện tường, trong quốc huy đảo. == Sách tham khảo == Jean Deveau, Peuplement de Saint-Barthélemy, Bulletin de la Société d'histoire de la Guadeloupe , nos 17-18, 1972 et no 29, 3e trimestre 1976, 64 p. Ernst Ekman, Sweden, The Slave Trade and Slavery, 1784-1847, Revue française d'histoire d'outre-mer , Paris, 1975, p. 226-227 Göran Skytte, Det kungliga svenska slaveriet, Askelin & Hägglund, Stockholm, 1986 ISBN 91-7684-096-4 Denis Gonthier, Abolition de l’esclavage et transformation des ménages de la population rurale de couleur, Île antillaise de Saint-Barthélémy, de 1840 à 1857, Université de Montréal (mémoire de maîtrise co-dirigé par Yolande Lavoie et Francine MAYER), Montréal, 1987, 127 p. Louis-Jean Calvet & Robert Chaudenson, 1998. Saint-Barthélemy: une énigme linguistique. Paris: Diffusion Didier Érudition. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Collectivity of Saint Barthélemy (tiếng Pháp) (official goverment website) Mémoire St Barth: History of Saint Barthélemy (slave trade, slavery, abolitions) (tiếng Pháp) St Barts Talk Forum Allô! St. Barths Radio St Barth St-Barth Weekly Le Citoyen SBH, government information (tiếng Pháp) Saint Barths Online Mục “Saint Barthelemy” trên trang của CIA World Factbook. St Barthélemysällskapet (tiếng Thụy Điển) L'aménagement linguistique à Saint-Barthélemy (tiếng Pháp) Photosite St. Barths 17°54′B 62°50′T Bản mẫu:West Indies
cấm vận.txt
Cấm vận là sự ngăn cấm quan hệ ngoại giao, viện trợ, buôn bán, thương mại, vũ khí, năng lượng, đi lại vận chuyển hàng hóa (bằng hàng không hay đường biển), khoa học kỹ thuật... với một nước nào đó. Nó thường được một nước có nhiều tiềm lực, có nhiều ảnh hưởng sử dụng để chống lại một nước khác. Mục tiêu của cấm vận là gây khó cho nước khác trên lĩnh vực bị cấm vận cũng như các lĩnh vực có liên quan. Ảnh hưởng của cấm vận kinh tế tùy thuộc vào sức mạnh kinh tế của nước cấm vận, khả năng kinh tế của nước bị cấm vận và các đồng minh của nó. Các nước nhỏ, cô lập, khi bị nước lớn cấm vận thì có thể gặp khó khăn trong việc xuất nhập khẩu, khó hòa nhập với nền kinh tế thế giới, kinh tế khó phát triển hơn và khó tiếp cận các tài nguyên chiến lược. Lệnh cấm vận thường được sử dụng như một sự trừng phạt chính trị do sự bất đồng về chính sách và hành động trái với một nhóm nước lớn mạnh về mọi mặt. Mặt khác nó còn là công cụ xử lý, đe doạ một số quốc gia không tuân theo. Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu,OPEC... là các tổ chức/quốc gia có khả năng cấm vận gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các quốc gia khác. == Tham khảo ==
tính cách.txt
Tính cách hay tính là tính chất, đặc điểm về nội tâm của mỗi con người, mà có ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, lời nói và hành động của người đó. Một người có thể có nhiều tính cách và nhiều người có thể có cùng một tính cách. Tính cách khác với tính tình, tính khí hay cá tính. Tính cách là yếu tố quan trọng nhất của con người. Người ta thường đánh giá hành động, lời nói, và đôi khi là suy nghĩ của một người để suy ra tính cách người đó, và cuối cùng là kết luận về bản chất người đó. Thường thì tính cách được chia làm hai loại: tính tốt và tính xấu. Tốt và xấu là theo quan niệm của đa số người dân. Tuy nhiên đối với những tính cách mà số người cho là xấu bằng số người cho là tốt hay không ai cho tốt xấu gì cả thì chúng ta nên xem xét lại trong từng trường hợp cụ thể hoặc gắn cho nó quan niệm trung lập. Xem thêm Danh sách tính cách == Tính tốt == Người tốt thường có nhiều tính tốt và có đầy đủ các tính tốt chủ yếu. Tính tốt giúp cho những người xung quanh ta cảm thấy dễ chịu, hài lòng, nhiều khi mến phục và yêu quý ta. Những người có quá nhiều tính tốt thường dễ bị lợi dụng. Sau đây là một vài tính tốt quan trọng trong thời đại ngày nay: Khiêm tốn Vị tha, khoan dung Kiên nhẫn, chịu khó Hòa đồng, cởi mở, vui vẻ, hoạt bát Lễ phép, chừng mực, biết kính trên nhường dưới Biết nghĩ đến người khác và nhiệt tình giúp đỡ mọi người == Tính xấu == Tính xấu là tính trái ngược với tính tốt. Có bao nhiêu tính tốt thì có bấy nhiêu tính xấu. Tính xấu thường gây ra những tai hại hay bực bội cho người khác nên bị ghét và lên án. Cũng có vài tính xấu không gây ảnh hưởng đến ai, nên không hoàn toàn bị chê trách. Mọi tính xấu trên đời này đều bắt nguồn từ sự ích kỉ... Sau đây là vài tính xấu thịnh hành ngày nay: Ích kỉ: đừng nhầm lẫn từ này với nghĩa keo kiệt, người ích kỉ chỉ muốn mọi thứ đều diễn ra có lợi cho mình và không quan tâm xem người khác có lợi hay hại. Tính xấu này là động cơ chủ yếu để phát triển những tính xấu khác. Ví dụ như những người hay giận dỗi hoặc giận dai, họ chỉ nghĩ là những người xung quanh đáng ghét và phải bị mình giận, trong khi không nghĩ rằng những người bị giận đang gặp phiền toái vì hành động ngu xuẩn đó. Khoe khoang, ba hoa: là người lúc nào cũng khoe khoang những thứ mình có được, thậm chí những thứ mình chưa có hoặc không hề có. Ví dụ: khoe mình từng là tỷ phú dù hiện tại rất nghèo. Hoặc như Giúp người thì tốt, nhưng giúp một mà đi khoe mười thì đúng là khoác lác. Những người này chỉ cố tạo cho mình một cái vỏ tốt bên ngoài để che đậy những cái xấu trong tâm. Dựng chuyện, đặt điều, bêu xấu người khác: những điều tốt đẹp trong mắt họ đều trở thành xấu xí. Họ dùng mọi cách để bêu xấu những người tốt xung quanh mình. Đơn giản họ chỉ muốn tự nâng mình lên vị trí cao nhất. Những người này thường không hạnh phúc với chính mình, thường xuất phát từ tính ích kỷ và tính đố kỵ. Vụ lợi, thích lợi dụng Gian trá, lừa lọc Nhẫn tâm, ác độc Vô duyên, lố bịch, nhảm nhí Đua đòi. Đố kị, ganh ghét Vô ơn: phủ nhận những điều mà người khác đã từng giúp mình bằng cách đi bêu xấu họ Học tính tốt bỏ tính xấu, hai thứ sẽ bổ sung cho nhau vào tâm hồn con người, khiến nó thanh khiết, tươi đẹp và hoàn hảo hơn. Xem thêm Danh sách tính xấu == Tính trung lập và tính vừa xấu vừa tốt == Tính vừa xấu vừa tốt Kiên định (hay bảo thủ), đôi lúc ta cần giữ vững lập trường, nhưng đôi lúc cũng phải biết thay đổi nếu thấy mình chưa đúng. Thẳng thắn: nhiều khi có những điều cần phải bộc trực mà nói, nhưng nhiều khi không thể thẳng mặt mà nhận xét được. Nên sự thẳng thắn nên kết hợp với khéo léo và tế nhị. Có những điều chúng ta cũng nên giữ riêng cho mình vì quá thẳng thắn sẽ làm đau lòng người khác. Hiền lành: trong những trường hợp bình thường thì đúng là nên nhu mì, hiền diệu, nhưng khi gặp kẻ dữ dằn, ghê gớm thì nên cứng rắn lên để tránh bị lợi dụng hay ăn hiếp. Tính trung lập. Ví dụ như trầm lặng, người mang tính này chả gây rắc rối gì, mà cũng chẳng bị ai gây rắc rối cho, không xấu mà cũng không tốt. Xem thêm Danh sách tính trung lập và tính vừa xấu vừa tốt == Tham khảo ==
peam chor.txt
Huyện Peam Chor (tiếng Khmer: ស្រុកពាមជរ) là một huyện nằm ở tỉnh Prey Veng, đông nam Campuchia. Dân số năm 1998 của huyện này là 66.413 người. Người Việt gọi địa danh này là Bìm Cho. Huyện Peam Chor gồm 10 xã: Angkor Angk: Angkor Angk, Preaek Traeng, Veal Robang Kraom, Veal Robang Leu Kampong Prasat: Ta Huy, Ta Paeu, Krang Krouch, Tuek Vil, Kampong Prasat Kaoh Chek: Mean Chey, Kaoh Chek, Kaoh Peam Reang, Spean Kaoh Roka: Svay Chrum, Dei Srot, Prey Thmei, Kaoh Roka Kaoh Sampov: Pou Thmei, Ampov Prey, Svay Andoung, Tuol Sang, Khsach Krang Ta Yang: Chrey Otdam, Krang Chen, Krang Prey Phdau, Krang Ta Yang, Krang Skar, Pring, Pong Tuek, Roka Doh Preaek Krabau: Otdam, Otdong, Preaek Krabau Preaek Sambuor: Khpob, Sambuor, Preaek Chrov Ruessei Srok: Peaen, Ta Sou, Ta Pung, Ruessei Srok, Edth, Chheu Teal, Svay Chek, Prey Moan, Boeng Aksar, Pou Khpos, Krang Poun Svay Phluoh: Sangkruoh, Sameakki, Bang'aek. == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu về huyện Peam Chor năm 2009. Bản mẫu:PreyVengProvince
israel.txt
Israel (phiên âm tiếng Việt: I-xra-en; tiếng Hebrew: יִשְׂרָאֵל‎ Yisrā'el; tiếng Ả Rập: إِسْرَائِيل Isrāʼīl), tên chính thức là Nhà nước Israel (tiếng Hebrew: מְדִינַת יִשְׂרָאֵל‎ [mediˈnat jisʁaˈʔel]; tiếng Ả Rập: دولة إِسْرَائِيل Dawlat Isrāʼīl [dawlat ʔisraːˈʔiːl]), là một quốc gia tại Trung Đông, trên bờ đông nam của Địa Trung Hải và bờ bắc của biển Đỏ. Israel có biên giới trên bộ với Liban về phía bắc, với Syria về phía đông bắc, với Jordan về phía đông, và lần lượt giáp với các lãnh thổ Bờ Tây và Dải Gaza của Palestine về phía đông và tây, và với Ai Cập về phía tây nam. Quốc gia này có diện tích tương đối nhỏ, song lại có đặc điểm địa lý đa dạng. Trung tâm tài chính và công nghệ của Israel là Tel Aviv và Jerusalem được tuyên bố là thủ đô, song chủ quyền của Israel đối với Jerusalem không được quốc tế công nhận. Ngày 29 tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua một phương án phân chia cho Lãnh thổ ủy trị Palestine. Phương án này quy định biên giới của các nhà nước Ả Rập và Do Thái mới, và khu vực Jerusalem nằm dưới quyền quản lý của Liên Hiệp Quốc dưới một chính thể quốc tế. Thời điểm kết thúc quyền quản lý ủy trị của Anh đối với Palestine được định vào nửa đêm ngày 14 tháng 5 năm 1948. Đến ngày đó, một thủ lĩnh Do Thái là David Ben-Gurion tuyên bố "thành lập một nhà nước Do Thái tại Eretz Israel, được biết đến với tên gọi Nhà nước Israel", thể chế sẽ bắt đầu hoạt động khi kết thúc sự quản lý ủy trị. Biên giới của nhà nước mới không được xác định trong tuyên bố. Quân đội các quốc gia Ả Rập lân cận xâm chiếm cựu lãnh thổ do Anh quản lý ủy trị vào ngày sau đó và chiến đấu với lực lượng Israel. Kể từ đó, Israel chiến đấu trong một số cuộc chiến với các quốc gia Ả Rập lân cận, trong quá trình đó Israel chiếm đóng Bờ Tây, bán đảo Sinai (1956–57, 1967–82), bộ phận của miền nam Liban (1982–2000), Dải Gaza (1967–2005; vẫn bị xem là chiếm đóng sau 2005) và Cao nguyên Golan. Israel mở rộng pháp luật của mình đến Cao nguyên Golan và Đông Jerusalem, song không đến Bờ Tây. Các nỗ lực nhằm giải quyết xung đột Israel–Palestine không đạt được kết quả là hòa bình. Tuy nhiên, các hiệp ước hòa bình giữa Israel với Ai Cập và Jordan được ký kết thành công. Sự chiếm đóng của Israel tại Dải Gaza, Bờ Tây và Đông Jerusalem là hành động chiếm đóng quân sự dài nhất trong lịch sử hiện đại. Theo xác định của Cục Thống kê Trung ương Israel, dân số Israel vào năm 2016 ước đạt 8.541.000 người. Đây là quốc gia duy nhất trên thế giới mà người Do Thái chiếm đa số, với 6.388.800 hay 74,8% công dân được chỉ định là người Do Thái. Nhóm công dân lớn thứ nhì trong nước là người Ả Rập, có số lượng là 1.775.400 người (bao gồm người Druze và hầu hết người Ả Rập Đông Jerusalem). Đại đa số người Ả Rập Israel theo phái Hồi giáo Sunni, bao gồm một lượng đáng kể người Negev Bedouin bán du cư; còn lại là các tín đồ Cơ Đốc giáo và Druze cùng các nhóm khác. Israel còn có một lượng cư dân đáng kể là các công nhân ngoại quốc, và những người tị nạn từ châu Phi và châu Á không có quyền công dân, trong đó có những người nhập cư bất hợp pháp từ châu Phi. Theo Luật Cơ bản, Israel tự xác định là một nhà nước Do Thái và dân chủ. Israel có thể chế dân chủ đại nghị có một hệ thống nghị viện, đại diện tỷ lệ và phổ thông đầu phiếu. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và Knesset đóng vai trò cơ quan lập pháp. Israel là một quốc gia phát triển và là một thành viên của OECD, có nền kinh tế lớn thứ 35 thế giới theo GDP danh nghĩa tính đến năm 2015. Quốc gia hưởng lợi từ lực lượng lao động có kỹ năng cao, và nằm trong số các quốc gia có giáo dục nhất trên thế giới với tỷ lệ công dân có bằng bậc đại học vào hàng đầu. Israel có tiêu chuẩn sinh hoạt cao nhất tại Trung Đông, và đứng thứ tư tại châu Á, và nằm trong các quốc gia có tuổi thọ dự tính cao nhất thế giới. == Tên nước == Tên "Israel" bắt nguồn từ Kinh thánh Hebrew: Jacob, tổ phụ của dân tộc Do Thái, đã được đổi tên Israel sau khi chiến đấu với Đức Chúa Trời. Theo đó, hậu duệ của Jacob được gọi là "con cái của Israel", trong tiếng Anh gọi là "Israelites". Các công dân của nước Israel hiện đại ngày nay, theo tiếng Anh, được gọi là "Israelis". Sau khi vua Solomon (973 - 937 TCN) (còn nhiều tranh cãi về niên đại chính xác) mất, Vương quốc Israel Thống nhất bị chia đôi thành: Vương quốc Israel (Samaria) ở miền bắc và Vương quốc Judah ở miền nam. Danh từ Judah được phiên âm Hán ngữ là "Do Thái". Nước Israel ở phía bắc có thủ đô là Samaria, tồn tại đến năm 721 TCN thì bị Đế quốc Assyria (nay ở miền bắc Iraq) tiêu diệt. Nước Judah ở phía nam có thủ đô là Jerusalem, tồn tại đến năm 587 TCN thì bị Đế quốc Tân Babylon (nay ở miền nam Iraq) tiêu diệt. == Lịch sử == === Cổ đại === Khái niệm về "Vùng đất Israel", gọi là Eretz Yisrael trong tiếng Hebrew, trở nên quan trọng và thiêng liêng đối với người Do Thái từ thời kỳ Kinh Thánh. Theo Kinh Torah, Thượng đế đảm bảo vùng đất cho ba tộc trưởng của người Do Thái. Trên cơ sở kinh thánh, thời kỳ ba tộc trưởng được xác định là khoảng đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, và Vương quốc Israel thứ nhất được thành lập vào khoảng thế kỷ 11 TCN. Các vương quốc và nhà nước Israel sau đó cai trị không liên tục trong bốn thế kỷ tiếp sau, và được đề cập trong nhiều nguồn ngoài kinh thánh. Ghi chép đầu tiên về tên gọi Israel (với dạng ysrỉꜣr) xuất hiện trong Bia Merneptah, được dựng cho Pharaoh Merneptah của Ai Cập vào khoảng năm 1209 TCN. "Israel" này là một thực thể văn hóa và có lẽ là chính trị của cao địa trung tâm, đủ vững chắc để người Ai Cập xem là một thách thức khả dĩ đối với quyền bá chủ của họ, song là một dân tộc thay vì là một nhà nước có tổ chức; Tổ tiên của người Israel có thể gồm người Semit bản địa của Canaan và Liên minh Hải nhân. Các ngôi làng có dân số đến 300 hoặc 400, họ sống bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi, và phần lớn là tự cung tự cấp; trao đổi kinh tế là điều phổ biến. Người ta biết đến chữ viết và có thể dùng để ghi chép, thậm chí tại các di chỉ nhỏ. Bằng chứng khảo cổ học cho thấy một xã hội gồm các trung tâm giống như làng, song với tài nguyên hạn chế hơn và dân số nhỏ. Học giả hiện đại nhìn nhận Israel xuất hiện trong hòa bình và nội bộ, từ cư dân hiện hữu tại cao địa Canaan. Khoảng năm 930 TCN, vương quốc bị phân chia thành Vương quốc Judah tại miền nam và Vương quốc Israel tại miền bắc. Từ giữa thế kỷ 8 TCN, Israel ngày càng xung đột với Đế quốc Tân Assyria đang bành trướng. Dưới thời Tiglath-Pileser III, đế quốc này ban đầu phân chia lãnh thổ Israel thành một vài đơn vị nhỏ hơn và sau đó phá hủy thủ đô Samaria (722 TCN). Một cuộc khởi nghĩa của người Israel (724–722 TCN) bị dẹp tan sau khi Quốc vương Assyria Sargon II bao vây và chiếm lĩnh Samaria. Con trai của Sargon là Sennacherib nỗ lực bất thành nhằm chinh phục Judah. Ghi chép của Assyria viết rằng ông ta san bằng 46 thành và bao vây Jerusalem, rời đi sau khi nhận được cống nạp lớn. Năm 586 TCN, Quốc vương Nebuchadnezzar II của Babylon chinh phục Judah. Theo Kinh Thánh Hebrew, ông ta phá hủy Đền Solomon và đày người Do Thái đến Babylon. Thất bại này của Judah cũng được người Babylon ghi lại. Năm 538 TCN, Cyrus Đại đế của Ba Tư chinh phục Babylon và tiếp quản đế quốc này. Cyrus ra tuyên cáo rằng cấp cho các dân tộc bị chinh phục (gồm người Judah) quyền tự do tôn giáo. Theo Kinh Thánh Hebrew, có 50.000 người Judea dưới quyền lãnh đạo của Zerubabel trở về đến Judah và tái thiết đền thờ. Một nhóm thứ hai dưới quyền lãnh đạo của Ezra và Nehemiah trở về đến Judah vào năm 456 TCN bất chấp việc có những người phi Do Thái viết thư cho Cyrus nhằm ngăn chặn động thái này. === Thời kỳ Cổ điển === Khu vực liên tục nằm dưới quyền cai quản của Ba Tư, được phân chia giữa tỉnh Syria-Coele và sau đó là Yehud Medinata tự trị, và dần phát triển trở lại thành xã hội đô thị, phần lớn do người Judea chi phối. Các cuộc chinh phục của người Hy Lạp phần nhiều là tràn qua khu vực mà không gặp phải kháng cự. Miền nam Levant được hợp nhất vào Ptolemaios rồi Seleukos, và bị Hy Lạp hóa mạnh mẽ, gây căng thẳng giữa người Judea và người Hy Lạp. Khởi nghĩa Maccabe bùng phát vào năm 167 TCN, khởi nghĩa thành công và Vương quốc Hasmoneus độc lập được lập nên tại Judah. Vương quốc này sau đó bành trướng ra phần lớn Israel ngày nay, trong bối cảnh Seleukos dần đánh mất quyền kiểm soát trong khu vực. Đế quốc La Mã xâm chiếm khu vực vào năm 63 TCN, ban đầu họ nắm quyền kiểm soát Syria, và sau đó can thiệp nội chiến tại Hasmoneus. Đấu tranh giữa các phái thân La Mã và thân Parthia tại Judea cuối cùng dẫn đến việc Herodes Đại vương đăng cơ và củng cố Vương quốc Herod với vị thế là một nhà nước Judea chư hầu của La Mã. Khi thế lực Herod suy yếu, Judea lúc này có vị thế là một tỉnh của La Mã, trở thành nơi diễn ra đấu tranh bạo lực của người Do Thái chống lại người Hy Lạp-La Mã, lên đến cực điểm là các cuộc chiến Do Thái-La Mã, kết thúc trong tàn phá, trục xuất và diệt chủng quy mô lớn. Sự hiện diện của người Do Thái trong khu vực thu hẹp đáng kể sau thất bại của Khởi nghĩa Bar Kokhba chống La Mã vào năm 132 CN. Tuy thế, có một lượng nhỏ người Do Thái hiện diện liên tục và Galilee trở thành trung tâm tôn giáo của họ. Các văn bản trung tâm của người Do Thái là Mishnah và một phần của Talmud được soạn thành trong các thế kỷ thứ hai đến thứ tư CN tại Tiberias và Jerusalem. Thành phần dân cư trong khu vực lúc đó chủ yếu là người Hy Lạp-La Mã tại duyên hải và người Samaria tại vùng đồi núi. Cơ Đốc giáo dần phát triển hơn dị giáo La Mã khi khu vực nằm dưới quyền cai quản của Byzantine. Trong thế kỷ 5 và 6, các cuộc khởi nghĩa của người Samaria tái định hình khu vực, khiến xã hội Cơ Đốc giáo Byzantine và xã hội Samaria bị tàn phá nghiêm trọng và dẫn đến suy giảm dân số. Sau khi Ba Tư chinh phục và lập ra Thịnh vượng chung Do Thái đoản mệnh vào năm 614, Byzantine tái chinh phục khu vực vào năm 628. === Trung Cổ và cận đại === Năm 634–641, khu vực bị người Ả Rập chinh phục, họ là một dân tộc mới chấp nhận Hồi giáo. Khu vực nằm dưới quyền cai quản của người Hồi giáo trong 1.300 năm sau đó dưới nhiều triều đại khác nhau. Quyền kiểm soát khu vực được chuyển giao giữa các Khalip Rashidun, Umayyad, Abbas, Fatima, Seljuk, quân Thập tự chinh, và Ayyub trong suốt sáu trăm năm đầu, đến năm 1260 thì bị Vương triều Mamluk chinh phục. Trong Thập tự chinh thứ nhất, khi Jerusalem bị vây vào năm 1099, cư dân Do Thái trong thành chiến đấu bên phía quân đồn trú Fatima và cư dân Hồi giáo. Đến khi thành thất thủ, khoảng 60.000 người bị tàn sát, trong đó có 6.000 người Do Thái tìm cách tị nạn trong một thánh đường Do Thái giáo. Đương thời là tròn một nghìn năm sau khi nhà nước Do Thái sụp đổ, các cộng đồng Do Thái hiện diện khắp khu vực. 50 trong số cộng đồng đó được biết đến và gồm có Jerusalem, Tiberias, Ramleh, Ashkelon, Caesarea, và Gaza. Năm 1165, nhà triết học người Do Thái sinh tại Tây Ban Nha ngày nay là Maimonides đến thăm Jerusalem và cầu nguyện tại Núi Đền. Năm 1141, nhà thơ Do Thái Tây Ban Nha Yehuda Halevi ra lời kêu gọi người Do Thái di cư đến Vùng đất Israel. Năn 1187, Sultan Saladin của Vương triều Ayyub đánh bại quân Thập tự chinh trong Trận Hattin và sau đó chiếm lĩnh Jerusalem và hầu như toàn bộ Palestine. Đương thời, Saladin ra tuyên cáo mời người Do Thái trở về và định cư tại Jerusalem. Năm 1211, cộng đồng Do Thái trong khu vực được tăng cường khi có thêm một nhóm dưới quyền lãnh đạo của trên 300 giáo sĩ đến từ Pháp và Anh,. Nachmanides là một giáo sĩ Do Thái Tây Ban Nha thế kỷ 13, và là thủ lĩnh được công nhận của dân Do Thái, ông hết sức tán dương Vùng đất Israel và nhìn nhận việc định cư tại đó là một giới mệnh tuyệt đối với toàn bộ người Do Thái. Ông viết rằng "Nếu người ngoại đạo muốn kiến tạo hòa bình, chúng ta sẽ kiến tạo hòa bình và để chúng trong các điều khoản rõ rõ ràng; song đối với đất đai, chúng ta sẽ không để nó vào tay họ, hay vào tay bất kỳ dân tộc nào, không vào bất kỳ thế hệ nào." Năm 1260, quyền kiểm soát khu vực thuộc về các sultan Mamluk tại Ai Cập. Khu vực nằm giữa hai trung tâm quyền lực của Mamluk là Cairo và Damascus, và chỉ có một số bước phát triển dọc tuyến đường bưu chính liên kết hai thành phố. Jerusalem dù không còn tường thành nào bảo vệ kể từ năm 1219, song cũng chứng kiến bùng nổ các dự án xây dựng tập trung quanh tổ hợp Thánh đường Al-Aqsa (Núi Đền). Năm 1266, Sultan Mamluk Baybars chuyển đổi Hang các Tộc trưởng tại Hebron thành một nơi tôn nghiêm của riêng Hồi giáo và cấm chỉ tín đồ Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo bước vào, dù trước đó họ có thể tự do vào hang. Lệnh cấm duy trì cho đến khi Israel giành quyền kiểm soát công trình vào năm 1967. Năm 1470, Isaac b. Meir Latif đến từ Ancona và đếm được 150 gia đình Do Thái tại Jerusalem. Giáo sĩ Joseph Saragossi đến vào những năm cuối của thế kỷ 15, nhờ có công lao của ông mà Safed và khu vực xung quanh phát triển thành nơi tập trung lớn nhất của người Do Thái tại Palestine. Nhờ các di dân Do Thái Sephardic từ Tây Ban Nha, dân số Do Thái đã tăng lên 10.000 vào đầu thế kỷ 16. Năm 1516, khu vực bị Đế quốc Ottoman chinh phục; và duy trì nằm dưới quyền kiểm soát của người Thổ cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi Anh Quốc đánh bại Ottoman và lập một chính quyền quân sự cai quản khu vực Syria của Ottoman trước kia. Năm 1920, Syria thuộc Ottoman cũ bị phân chia giữa Anh và Pháp theo hệ thống ủy trị, và khu vực do Anh cai quản bao gồm Israel ngày nay và có tên gọi Lãnh địa ủy trị Palestine. === Chủ nghĩa phục quốc Do Thái và Anh cai quản === Từ khi xuất hiện cộng đồng Do Thái tha hương đầu tiên, nhiều người Do Thái đã mong mỏi trở về "Zion" và "Vùng đất Israel", Hy vọng và khao khát của người Do Thái sống lưu vong là một đề tài quan trọng trong hệ thống đức tin Do Thái. Sau khi người Do Thái bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha vào năm 1492, một số cộng đồng đến định cư tại Palestine. Trong thế kỷ 16, các cộng đồng Do Thái bén rễ tại Bốn thành phố thánh địa—Jerusalem, Tiberias, Hebron, và Safed—và đến năm 1697, Giáo sĩ Yehuda Hachasid dẫn một nhóm gồm 1.500 người Do Thái đến Jerusalem. Trong nửa sau của thế kỷ 18, các thành phần đối lập tại Đông Âu của phái Hasidim, gọi là Perushim, đến cư trú tại Palestine. Làn sóng đầu tiên trong quá trình người Do Thái nhập cư thời hiện đại đến Palestine thuộc Ottoman, gọi là Aliyah lần thứ nhất, bắt đầu vào năm 1881 khi người Do Thái tị nạn cuộc tàn sát tại Đông Âu. Mặc dù phong trào phục quốc Do Thái đã hiện diện trên thực tiễn, song nhà báo Áo-Hung Theodor Herzl được công nhận có công hình thành chủ nghĩa phục quốc Do Thái về chính trị, phong trào này mưu cầu thành lập một nhà nước Do Thái tại Vùng đất Israel, do đó đề xuất một giải pháp gọi là Vấn đề Do Thái của các quốc gia châu Âu. Năm 1896, Herzl công bố Der Judenstaat (Nhà nước của người Do Thái), đề xuất viễn kiến của ông về một nhà nước Do Thái trong tương lai; đến năm sau ông chủ tọa Đại hội Phục quốc Do Thái lần thứ nhất. Aliyah lần thứ nhì (1904–14) bắt đầu sau Thảm sát Kishinev tại Đế quốc Nga; có khoảng 40.000 người Do Thái định cư tại Palestine, song gần một nửa trong số đó cuối cùng rời đi. Làn sóng nhập cư thứ nhất và thứ hai chủ yếu là người Do Thái Chính thống, song Aliyah lần thứ hai cũng bao gồm các tổ chức xã hội chủ nghĩa, họ lập ra phong trào cộng đồng tập thể kibbutz. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Bộ trưởng Ngoại giao Anh Arthur Balfour gửi Tuyên ngôn Balfour 1917 cho một thủ lĩnh cộng đồng Do Thái tại Anh là Walter Rothschild, viết rằng Anh có ý định lập một "quê hương dân tộc" (national home) cho người Do Thái trong Lãnh thổ ủy trị Palestine. Quân đoàn Do Thái là một tổ chức chủ yếu gồm các tình nguyện viên theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, họ giúp người Anh chinh phục Palestine vào năm 1918. Người Ả Rập phản đối người Anh cai trị và người Do Thái nhập cư, dẫn đến bạo loạn năm 1920 tại Palestine và hình thành một tổ chức dân quân Do Thái mang tên Haganah, các tổ chức bán quân sự Irgun và Lehi sau đó tách ra từ Haganah. Năm 1922, Hội Quốc Liên cấp cho Anh quyền cai trị ủy trị đối với Palestine theo các điều khoản bao gồm cả Tuyên ngôn Balfour và cam kết trong đó với người Do Thái, và với các điều khoản tương tự liên quan đến người Palestine Ả Rập. Đương thời người Ả Rập và Hồi giáo chiếm ưu thế trong thành phần dân tộc của khu vực, người Do Thái chiếm khoảng 11%, và người Cơ Đốc giáo Ả Rập chiếm khoảng 9,5% dân số. Aliyah lần thứ ba (1919–23) và lần thứ tư (1924–29) đưa thêm 100.000 người Do Thái đến Palestine. Cuối cùng, việc chủ nghĩa quốc xã xuất hiện và tình trạng gia tăng áp bức người Do Thái tại châu Âu trong thập niên 1930 dẫn đến Aliyah lần thứ năm, với số lượng là 1/4 triệu người Do Thái. Đây là một nguyên nhân chủ yếu khiến người Ả Rập khởi nghĩa trong giai đoạn 1936–39, khi đó nhà cầm quyền Anh tại lãnh thổ cùng với các dân quân phục quốc Do Thái thuộc Haganah và Irgun sát hại 5.032 người Ả Rập và làm bị thương 14.760, kết quả là trên 10% nam giới trưởng thành người Ả Rập Palestine bị giết, bị thương, bị cầm tù hay lưu đày. Người Anh áp đặt hạn chế trong vấn đề người Do Thái nhập cư đến Palestine bằng Sách trắng 1939. Trước tình hình các quốc gia khắp thế giới quay lưng với người tị nạn Do Thái chạy trốn khỏi Holocaust (Đức Quốc xã diệt chủng người Do Thái), một phong trào bí mật mang tên Aliyah Bet được tổ chức nhằm đưa người Do Thái đến Palestine. Đến cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, dân số Do Thái tại Palestine tăng lên đến 33% tổng dân số. === Sau Chiến tranh thế giới thứ hai === Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Anh nhận thấy bản thân xung đột mãnh liệt với cộng đồng Do Thái về vấn đề hạn chế người Do Thái nhập cư, cũng như tiếp tục xung đột với cộng đồng Ả Rập về mức độ hạn chế. Các tổ chức Haganah, Irgun và Lehi của người Do Thái cùng tham gia một cuộc đấu tranh vũ trang chống lại sự cai trị của Anh. Đồng thời, hàng trăm nghìn nạn nhân còn sống và người tị nạn diệt chủng Holocaust tìm kiếm cuộc sống mới cách xa khỏi cộng đồng đã bị phá hủy của họ tại châu Âu. Người Do Thái tại Palestine nỗ lực đưa những người tị nạn này đến Palestine song nhiều người bị Anh trục xuất, vây bắt hoặc tống giam tại Atlit và Síp. Ngày 22 tháng 7 năm 1946, Irgun tấn công trục sở chính quyền Anh tại Palestine, nằm tại phía nam của Khách sạn King David tại Jerusalem. Tổng cộng có 91 người thiệt mạng và 46 người bị thương. Cuộc tấn công được cho là nhằm phản ứng trước Chiến dịch Agatha của nhà cầm quyền Anh (nhằm bắt giữ các thành viên phục quốc Do Thái ngầm) và là sự kiện đẫm mẫu nhất đối với người Anh trong thời kỳ cai trị ủy trị (1920–1948). Năm 1947, chính phủ Anh tuyên bố họ sẽ triệt thoái khỏi Lãnh thổ ủy trị Palestine, cho rằng không thể đi đến một giải pháp chấp nhận được cho cả người Ả Rập và Do Thái. Ngày 15 tháng 5 năm 1947, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc quyết định thành lập Ủy ban Đặc biệt Liên Hiệp Quốc về Palestine (UNSCOP). Trong báo cáo của ủy ban đề ngày 3 tháng 9 năm 1947 lên Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, đa số thành viên trong ủy ban tại Chương VI đề xuất một kế hoạch thay thế Lãnh thổ ủy trị của Anh bằng "một nhà nước Ả Rập độc lập, một nhà nước Do Thái độc lập, và Thành phố Jerusalem... cái thứ ba nằm dưới một Hệ thống Quản thác Quốc tế". Đến ngày 29 tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng phê chuẩn một nghị quyết về kế hoạch phân chia Palestine. Kế hoạch này về cơ bản giống như đề xuất của đa số thành viên UNSCOP vào ngày 3 tháng 9 năm 1947. Cơ quan Do Thái là đại biểu được công nhận của cộng đồng Do Thái, họ chấp thuận kế hoạch này. Liên đoàn Ả Rập và Ủy ban Cấp cao Ả Rập Palestine bác bỏ nó, và chỉ ra rằng họ sẽ bác bỏ bất kỳ kế hoạch phân chia nào khác. Đến ngày hôm sau, 1 tháng 12 năm 1947, Ủy ban Cấp cao Ả Rập công bố đình công ba ngày, và các toán người Ả Rập bắt đầu tấn công các mục tiêu Do Thái. Người Do Thái ban đầu ở thế phòng thủ khi nội chiến bùng phát, song đến tháng 4 năm 1948 họ chuyển sang thế tấn công. Kinh tế của cộng đồng Ả Rập Palestine sụp đổ và 250.000 người Ả Rập Palestine đào thoát hoặc bị trục xuất. Ngày 14 tháng 5 năm 1948, là ngày trước khi kết thúc quyền ủy trị của người Anh, người đứng đầu Cơ quan Do Thái là David Ben-Gurion tuyên bố "thành lập một nhà nước Do Thái tại Eretz-Israel, được gọi là Nhà nước Israel". Ám chỉ duy nhất trong văn bản Tuyên ngôn về biên giới của nhà nước mới là sử dụng thuật ngữ Eretz-Israel ("Vùng đất Israel"). Ngày hôm sau, quân đội của bốn quốc gia Ả Rập gồm Ai Cập, Syria, Ngoại Jordan và Iraq tiến vào Lãnh thổ ủy trị Palestine cũ, phát động Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948; Các đạo quân đến từ Yemen, Maroc, Ả Rập Saudi và Sudan cũng tham chiến. Mục đích hiển nhiên của hành động này là ngăn chặn thành lập nhà nước Do Thái vào lúc sơ khởi, và một số nhà lãnh đạo Ả Rập thảo luận về việc đẩy người Do Thái ra biển. Liên đoàn Ả Rập tuyên bố rằng cuộc xâm chiếm là để vãn hồi pháp luật và trật tự và để ngăn chặn đổ máu thêm. Sau một năm giao chiến, một thỏa thuận đình chiến được công bố và biên giới tạm thời gọi là Giới tuyến Xanh được lập ra. Jordan sáp nhập khu vực được gọi là Bờ Tây, bao gồm Đông Jerusalem, và Ai Cập nắm quyền cai quản Dải Gaza. Liên Hiệp Quốc ước tính rằng trên 700.000 người Palestine bị trục xuất bởi hoặc phải chạy trốn khỏi quân Israel trong xung đột, một tình trạng được gọi là Nakba ("tai ương") trong tiếng Ả Rập. === Những năm đầu của Nhà nước Israel === Israel được đa số thành viên Liên Hiệp Quốc chấp thuận là một thành viên vào ngày 11 tháng 5 năm 1949. Năm 1949, Israel và Jordan chân thành quan tâm đến một thỏa thuận hòa bình song người Anh hãm lại nỗ lực của Jordan để tránh gây hại cho các lợi ích của Anh tại Ai Cập. Trong những năm đầu lập quốc, phong trào Phục quốc Do Thái Lao động do Thủ tướng David Ben-Gurion lãnh đạo đã chi phối chính trường Israel. Các kibbut giữ vị thế trụ cột trong việc thành lập nhà nước mới. Cơ quan Nhập cư Israel và tổ chức phi chính phủ Mossad LeAliyah Bet giúp đỡ nhập cư đến Israel vào cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950). Một dòng chảy các nạn nhân còn sống sau họa diệt chủng và người Do Thái từ các lãnh thổ Ả Rập và Hồi giáo di cư đến Israel trong ba năm đầu tiên sau lập quốc, khiến số lượng người Do Thái tại Israel tăng từ 700.000 lên 1.400.000,. Do đó, dân số Israel tăng từ 800.000 lên đến hai triệu từ năm 1948 đến năm 1958. Từ năm 1948 đến năm 1970, khoảng 1.150.000 người tị nạn Do Thái tái định cư đến Israel. Các di dân đến Israel vì nguyên nhân khác nhau, một số tin tưởng vào một ý thức hệ Phục quốc Do Thái, trong khi một số khác di chuyển để thoát khỏi ngược đãi. Một số người khác thì di cư vì hứa hẹn về một đời sống tốt hơn tại Israel và một lượng nhỏ bị trục xuất khỏi quê hương của họ, như trường hợp người Do Thái gốc Anh và Pháp tại Ai Cập sau Khủng hoảng Suez. Một số di dân mới đến với thân phận người tị nạn và không có tài sản, họ được cho ở trong các trại tạm thời gọi là ma'abarot; đến năm 1952, có trên 200.000 di dân sống trong các khu lán trại này. Trong thời kỳ đó, thực phẩm, quần áo và đồ đạc bị chia khẩu phần theo chế độ được gọi là Thời kỳ Khắc khổ. Nhu cầu giải quyết khủng hoảng khiến Ben-Gurion ký một thỏa thuận bồi thường với Tây Đức, song nó khiến người Do Thái kháng nghị quy mô lớn do giận dữ với ý tưởng rằng Israel có thể chấp thuận bồi thường tiền tệ cho nạn diệt chủng Holocaust. Những người tị nạn thường được đối đãi khác biệt dựa theo nguồn gốc của họ, người Do Thái xuất thân từ châu Âu được đối đãi thuận lợi hơn so với những người Do Thái đến từ các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi, như nhóm sau thường ở trong các ma'abarot lâu hơn. Căng thẳng phát triển giữa hai nhóm do các kỳ thị như vậy tiếp tục cho đến nay. Năm 1950, Ai Cập đóng cửa Kênh đào Suez đối với các tàu của Israel, căng thẳng dâng cao khi xung đột vũ trang diễn ra dọc biên giới Israel. Trong thập niên 1950, các fedayeen (du kích dân tộc) Palestine thường xuyên tấn công Israel, gần như luôn chống lại thường dân, mainly from the Egyptian-occupied Gaza Strip, dẫn đến một số cuộc phản công của Israel. Năm 1956, Anh và Pháp đặt mục tiêu giành lại quyền kiểm soát Kênh đào Suez từ Ai Cập. Do tàu của Israel tiếp tục bị phong tỏa tại Kênh đào Suez và Eo biển Tiran, cùng với gia tăng số cuộc tấn công của fedayeen chống lại cư dân miền nam của Israel, cùng các tuyên bố nghiêm trọng và đe dọa gần đó từ thế giới Ả Rập, Israel quyết định tấn công Ai Cập. Israel tham gia một liên minh bí mật với Anh và Pháp, tràn ngập Bán đảo Sinai song chịu áp lực phải triệt thoái từ Liên Hiệp Quốc để đối lấy đảm bảo quyền lợi hàng hải của Israel tại Biển Đỏ qua Eo biển Tiran và Kênh đào Suez. Cuộc chiến này khiến các vụ xâm nhập biên giới Israel giảm đáng kể. Đầu thập niên 1960, Israel bắt giữ tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã Adolf Eichmann tại Argentina và đưa ông về Israel để xét xử. Phiên tòa có tác động lớn đến nhận thức công chúng về Holocaust. Eichmann vẫn là người duy nhất bị hành quyết tại Israel dựa theo kết tội của tòa án dân sự Israel. === Chiến tranh Sáu ngày và Chiến tranh Yom Kippur === Từ năm 1964, các quốc gia Ả Rập lo ngại về các kế hoạch của Israel nhằm chuyển nước từ Sông Jordan đến đồng bằng duyên hải, họ nỗ lực chuyển nước đầu nguồn nhằm tước đoạt tài nguyên nước của Israel, kích động căng thẳng giữa Israel với Syria-Liban. Các thành phần dân tộc chủ nghĩa Ả Rập dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser từ chối công nhận Israel, và kêu gọi tiêu diệt nước này. Đến năm 1966, quan hệ Israel-Ả Rập xấu đến mức diễn ra các trận đánh trên thực địa giữa lực lượng của Israel và Ả Rập. Đến tháng 5 năm 1967, Ai Cập tập trung quân đội của mình gần biên giới với Israel, trục xuất lực lượng duy trì hòa bình của Liên Hiệp Quốc đồn trú tại Bán đảo Sinai từ năm 1957, và phong tỏa tàu Israel tiếp cận Biển Đỏ. Các quốc gia Ả Rập khác cũng huy động lực lượng của mình. Ngày 5 tháng 6 năm 1967, Israel phát động tấn công phủ đầu chống Ai Cập. Jordan, Syria và Iraq phản ứng và tấn công Israel. Trong Chiến tranh Sáu ngày, Israel đánh bại Jordan và chiếm Bờ Tây, đánh bại Ai Cập và chiếm Dải Gaza cùng Bán đảo Sinai, đánh bại Syria và chiếm Cao nguyên Golan. Ranh giới của Jerusalem được mở rộng, sáp nhập Đông Jerusalem, và Giới tuyến Xanh năm 1949 trở thành biên giới hành chính giữa Israel và các lãnh thổ do họ chiếm đóng. Sau chiến tranh năm 1967 và nghị quyết "ba không" của Liên đoàn Ả Rập, trong Chiến tranh Tiêu hao 1967–1970 Israel phải đối diện với các cuộc tấn công từ người Ai Cập tại Sinai, và từ các tổ chức Palestine nhắm mục tiêu là người Israel tại các lãnh thổ bị chiếm đóng, tại bản thân Israel, và toàn thế giới. Tổ chức người Palestine và Ả Rập quan trọng nhất trong số đó là Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO), được thành lập vào năm 1964 và ban đầu cho rằng "đấu tranh vũ trang là cách thức duy nhất để giải phóng quê hương". Đến cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, các tổ chức Palestine phát động một làn sóng tấn công chống lại các mục tiêu Israel và Do Thái trên toàn thế giới, trong đó có cuộc tàn sát các vận động viên Israel tại Thế vận hội Mùa hè 1972 tại München. Chính phủ Israel sau đó tiến hành chiến dịch ám sát những người tổ chức cuộc tàn sát, oanh tạc và tập kích đại bản doanh của Tổ chức Giải phóng Palestine tại Liban. Ngày 6 tháng 10 năm 1973, khi người Do Thái cử hành Yom Kippur, quân đội Ai Cập và Syria phát động tấn công bất ngờ chống lực lượng Israel tại Bán đảo Sinai và Cao nguyên Golan, khai màn Chiến tranh Yom Kippur. Chiến tranh kết thúc vào ngày 26 tháng 10 với kết quả là Israel đẩy lui thành công quân Ai Cập và Syria song chịu tổn thất 2.500 binh sĩ. Một cuộc điều tra nội bộ miễn trách nhiệm cho chính phủ về các thất bại trước và trong chiến tranh, song nỗi tức giận của công chúng buộc Thủ tướng Golda Meir phải từ chức. === Tiếp tục xung đột và tiến trình hòa bình === Tháng 7 năm 1976, một máy bay bị các du kích Palestine bắt cóc khi đang bay đến Tel Aviv, buộc phải hạ cánh tại Entebbe, Uganda. Biệt kích Israel tiến hành một chiến dịch giải cứu thành công các con tin. Bầu cử Knesset (quốc hội) năm 1977 là một bước ngoặt lớn trong lịch sử chính trị Israel khi Đảng Likud của Menachem Begin giành quyền kiểm soát từ Đảng Lao động. Trong cùng năm, Tổng thống Ai Cập Anwar El Sadat thực hiện một chuyến đi đến Israel và phát biểu trước Quốc hội, được cho là sự công nhận Israel đầu tiên của một nguyên thủ Ả Rập. Trong hai năm sau đó, Sadat và Begin ký kết Hiệp nghị Trại David (1978) và Hiệp định Hòa bình Israel–Ai Cập (1979). Đổi lại, Israel triệt thoái khỏi Bán đảo Sinai mà họ chiếm giữ từ năm 1967, và đồng ý tham gia đàm phán về quyền tự trị cho người Palestine tại Bờ Tây và Dải Gaza. Ngày 11 tháng 3 năm 1978, một cuộc tấn công du kích của Tổ chức Giải phóng Palestine từ Liban khiến hàng chục thường dân Israel thiệt mạng. Israel đáp lại bằng một cuộc xâm chiếm miền nam Liban để tiêu diệt các căn cứ của PLO tại phía nam sông Litani. Hầu hết chiến binh PLO triệt thoái, song Israel có thể chiếm giữ miền nam Liban cho đến khi một lực lượng Liên Hiệp Quốc và quân đội Liban có thể tiếp quản. PLO nhanh chóng khôi phục chính sách tấn công chống Israel. Trong khi đó, chính phủ của Begin cung cấp ưu đãi cho người Israel đến định cư tại Bờ Tây bị chiếm đóng, gia tăng bất hòa với người Palestine tại khu vực đó. Luật Cơ bản: Jerusalem, Thủ đô của Israel được thông qua vào năm 1980, được một số người cho là tái xác nhận hành động sáp nhập Jerusalem của Israel vào năm 1967 bằng một sắc lệnh chính phủ, và khơi lại tranh luận quốc tế về tình trạng của thành phố. Không có pháp luật Israel nào định nghĩa lãnh thổ của Israel và không có đạo luật nào bao gồm cụ thể Đông Jerusalem trong đó. Lập trường của đa số thành viên Liên Hiệp Quốc được phản ánh trong nhiều nghị quyết tuyên bố rằng các hành động do Israel tiến hành nhằm định cư công dân của họ tại bờ Tây, và áp đặt pháp luật và chính quyền của họ tại Đông Jerusalem, là bất hợp pháp và vô hiệu. Năm 1981, Israel sáp nhập Cao nguyên Golan, song động thái này không được quốc tế công nhận. Ngày 7 tháng 6 năm 1981, không quân Israel phá hủy lò phản ứng hạt nhân duy nhất của Iraq, nhằm cản trở chương trình vũ khí hạt nhân của Iraq. Sau một loạt cuộc tấn công của Tổ chức Giải phóng Palestine vào năm 1982, Israel xâm chiếm Liban vào cùng năm để phá hủy các căn cứ mà PLO dùng để phát động tấn công và phóng tên lửa vào miền bắc Israel. Trong sáu ngày đầu giao chiến, Israel phá hủy lực lượng quân sự của PLO tại Liban và đánh bại quyết định Syria. Ủy ban Kahan của chính phủ Israel sau đó quy trách nhiệm gián tiếp cho Begin, Sharon và một số tướng lĩnh Israel về cuộc thảm sát người Palestine và Liban tại Sabra và Shatila. Năm 1985, Israel đáp lại một cuộc tấn công khủng bố của người Palestine tại Síp bằng cách oanh tạc trụ sở của PLO tại Tunis. Israel triệt thoái khỏi hầu hết Liban vào năm 1986, song duy trì một vùng đệm biên giới tại miền nam Liban cho đến năm 2000, tại đó lực lượng Israel tham gia xung đột với tổ chức dân quân Liban Hezbollah. Đa dạng sắc tộc của Israel được mở rộng trong thập niên 1980 và 1990 do nhập cư. Một số làn sóng người Do Thái Ethiopia di cư đến Israel trong thập niên 1980 và 1990. Trong khi đó, từ năm 1990 đến năm 1994, dân số Israel tăng 12% nhờ người Nga nhập cư. Đại khởi nghĩa (Intifada) lần thứ nhất chỉ một cuộc khởi nghĩa của người Palestine chống lại quyền cai trị của Israel, bùng phát vào năm 1987, với các làn sóng tuần hành và bạo lực không có phối hợp tại Bờ Tây và Dải Gaza. Trong sáu năm sau đó, Đại khởi nghĩa có tổ chức hơn và gồm các biện pháp kinh tế và văn hóa nhằm mục tiêu phá vỡ sự chiếm đóng của Israel. Trên một nghìn người bị giết chết trong bạo lực. Trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, PLO ủng hộ Saddam Hussein và Iraq phóng tên lửa tấn công Israel. Tuy nhiên, Israel lưu ý đến lời kêu gọi của Hoa Kỳ về giữ kiềm chế trả đũa và không tham gia cuộc chiến này. Năm 1992, Yitzhak Rabin trở thành thủ tướng khi đảng của ông thắng cử với lời kêu gọi thỏa hiệp với láng giềng của Israel. Năm sau, Shimon Peres đại diện cho Israel, và Mahmoud Abbas đại diện cho Tổ chức Giải phóng Palestine, ký kết Hiệp nghị Oslo, theo đó trao cho Chính quyền Dân tộc Palestine quyền cai quản một bộ phận của Bờ Tây và Dải Gaza. PLO cũng công nhận quyền tồn tại của Israel và cam kết kết thúc chính sách khủng bố. Năm 1994, Hiệp định hòa bình Israel–Jordan được ký kết, theo đó Jordan trở thành quốc gia Ả Rập thứ nhì bình thường hóa quan hệ với Israel. Tháng 11 năm 1995, Yitzhak Rabin bị ám sát bởi một người Do Thái cực hữu phản đối Hiệp nghị Oslo. Đến cuối thập niên 1990, Israel dưới quyền lãnh đạo của Benjamin Netanyahu triệt thoái khỏi Hebron, và ký kết Bị vong lục Wye River, trao quyền cai quản lớn hơn cho Chính quyền Dân tộc Palestine. Ehud Barak trở thành thủ tướng vào năm 1999, ông cho rút quân khỏi miền nam Liban và tiến hành đàm phán với Chủ tịch Chính quyền Palestine Yasser Arafat và Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tại Hội nghị thượng đỉnh Trại David năm 2000. Trong hội nghị, Barak đề xuất kế hoạch thành lập một nhà nước Palestine, bao gồm toàn bộ Dải Gaza và trên 90% Bờ Tây, còn Jerusalem là thủ đô chung của Israel và Palestine.. Sau khi các cuộc đàm phán tan vỡ và chuyến thăm gây tranh luận của thủ lĩnh Đảng Likud là Ariel Sharon đến Núi Đền, Đại khởi nghĩa lần thứ hai khởi đầu. Một số nhà bình luận cho rằng cuộc khởi nghĩa do Yasser Arafat lên kế hoạch từ trước do đàm phán hòa bình tan vỡ. Sharon trở thành thủ tướng trong cuộc bầu cử năm 2001, ông tiến hành kế hoạch nhằm đơn phương triệt thoái khỏi Dải Gaza và cũng đi đầu trong xây dựng hàng rào Bờ Tây của Israel, kết thúc Đại khởi nghĩa. Tháng 7 năm 2006, Hezbollah tiến hành pháo kích các cộng đồng biên giới phía bắc của Israel và vượt biên bắt cóc hai binh sĩ Israel, dẫn đến Chiến tranh Liban thứ hai kéo dài trong hơn một tháng. Ngày 6 tháng 9 năm 2007, Không quân Israel phá hủy một lò phản ứng hạt nhân tại Syria. Cuối năm 2008, Israel tham gia một cuộc xung đột khác khi thỏa thuận đình chiến giữa Hamas và Israel tan vỡ. Chiến tranh Gaza kéo dài trong ba tuần và kết thúc sau khi Israel tuyên bố đơn phương đình chiến. Hamas tuyên bố lệnh đình chiến riêng của họ. Mặc dù các vụ phóng rocket của người Palestine và các cuộc tấn công trả đũa của Israel không hoàn toàn ngưng lại, song lệnh đình chiến mong manh vẫn được duy trì. Với lý do là phản ứng trước các cuộc tấn công rocket của người Palestine nhằm vào các thành phố miền nam Israel, Israel bắt đầu tiến hành một chiến dịch tại Gaza vào ngày 14 tháng 11 năm 2012, kéo dài trong tám ngày. Tháng 7 năm 2014, Israel bắt đầu một chiến dịch khác tại Gaza sau khi Hamas leo thang các cuộc tấn công rocket. == Địa lý == Israel nằm ven cực đông của Địa Trung Hải, giáp với Liban về phía bắc, Syria về phía đông bắc, Jordan và Bờ Tây về phía Đông, và Ai Cập cùng Dải Gaza về phía tây nam. Lãnh thổ Israel nằm giữa vĩ tuyến 29° Bắc và 34° Nam, và kinh tuyến 34°Đ và 36°Đ. Lãnh thổ chủ quyền của Israel (theo phân giới trong Hiệp định Đình chiến 1949 và loại trừ toàn bộ lãnh thổ bị Israel chiếm lĩnh trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967) có diện tích khoảng 20.770 kilômét vuông (8.019 sq mi), trong đó hai phần trăm là mặt nước. Tuy nhiên, vùng đặc quyền kinh tế của họ tại Địa Trung Hải lớn gấp đôi diện tích đất liền. Tổng diện tích lãnh thổ tuân theo pháp luật Israel, kể cả Đông Jerusalem và Cao nguyên Golan, là 22.072 kilômét vuông (8.522 sq mi), và tổng diện tích nằm dưới quyền kiểm soát của Israel, bao gồm Bờ Tây do Israel kiểm soát quân sự và người Palestine quản lý cục bộ, là 27.799 kilômét vuông (10.733 sq mi). Mặc dù có quy mô nhỏ song Israel sở hữu các đặc điểm địa lý đa dạng, từ hoang mạc Negev tại miền nam đến thung lũng Jezreel phì nhiêu nội lục, các dãy núi Galilee, Carmel và về phía Golan tại miền bắc. Đồng bằng Duyên hải Israel bên bờ Địa Trung Hải là nơi cư trú của 57% cư dân toàn quốc. Phía đông của các cao địa trung tâm là Thung lũng đứt gãy Jordan, một bộ phận nhỏ của Thung lũng tách giãn Lớn dài 6.500 kilômét (4.039 mi). Sông Jordan chảy dọc Thung lũng đứt gãy Jordan, từ núi Hermon qua thung lũng Hulah và biển Galilee đến biển Chết- điểm thấp nhất trên bề mặt Trái Đất. Xa hơn về phía nam là Arabah, kết thúc là vịnh Eilat thuộc biển Đỏ. Điểm độc đáo của Israel và bán đảo Sinai là các makhtesh, hay các đài vòng bị xói mòn. Makhtesh lớn nhất trên thế giới là miệng Ramon tại Negev, có kích thước 40 nhân 8 kilômét (25 nhân 5 mi). Một báo cáo về tình trạng môi trường của các quốc gia lưu vực Địa Trung Hải cho thấy Israel có số lượng loài thực vật nhiều nhất trên mỗi mét vuông so với các quốc gia khác trong lưu vực. === Kiến tạo và địa chấn === Thung lũng đứt gãy Jordan là kết quả của vận động địa chấn bên dưới hệ thống đứt gãy Đoạn tầng Biển Chết (DSF). DSF hình thành ranh giới biến đổi giữa mảng châu Phi ở phía tây và mảng Ả Rập ở phía đông. Cao nguyên Golan và toàn bộ Jordan thuộc mảng Ả Rập, trong khi Galilee, Bờ Tây, Đồng bằng Duyên hải và Negev cùng bán đảo Sinai nằm trên mảng châu Phi. Sự sắp xếp kiến tạo này kéo theo hoạt động địa chấn tương đối cao độ trong khu vực. Toàn bộ đoạn thung lũng Jordan được cho là nhiều lần bị đứt, thí dụ trong hai trận động động đất lớn cuối cùng dọc theo cấu trúc này vào năm 749 và 1033. Sự thiếu hụt trượt bắt nguồn từ sự kiện năm 1033 là đủ để gây một trận động đất Mw~7.4. Các trận động đất thê thảm nhất được biết đến từng diễn ra vào các năm 31 TCN, 363, 749, và 1033, trung bình cách nhau khoảng 400 năm. Các trận động đất hủy diệt gây ra tổn thất nghiêm trọng về nhân mạng xảy ra mỗi 80 năm. Trong khi các quy định xây dựng nghiêm ngặt đang được thi hành và các công trình xây dựng gần đây an toàn với động đất, tính đến năm 2007 phần lớn công trình tại Israel được xây trước khi thi hành các quy định này và nhiều tòa nhà công cộng cũng như 50.000 tòa nhà ở không đáp ứng các tiêu chuẩn mới và bị "dự kiến sụp đổ" nếu gặp phải một trận động đất mạnh. === Khí hậu === Nhiệt độ tại Israel biến động nhiều, đặc biệt là trong mùa đông. Các khu vực duyên hải, như Tel Aviv và Haifa, có khí hậu Địa Trung Hải đặc trưng với mùa đông mát và có mưa nhiều còn mùa hè kéo dài và nóng. Khu vực Beersheba và Bắc Negev có khí hậu bán hoang mạc với mùa hè nóng và mùa đông lạnh, số ngày mưa ít hơn so với khí hậu Địa Trung Hải. Các khu vực Nam Negev và Arava có khí hậu hoang mạc với mùa hè rất nóng và khô, mùa đông ôn hòa với vài ngày có mưa. Nhiệt độ cao nhất tại lục địa châu Á (54,0 °C hoặc 129,2 °F) ghi nhận được vào năm 1942 tại kibbutz Tirat Zvi thuộc miền bắc thung lũng sông Jordan. Trên các khu vực núi cao cực độ khác có thể nhiều gió và lạnh, các khu vực có độ cao từ 750 mét trở lên (cùng độ cao với Jerusalem) thường có ít nhất một trận tuyết rơi mỗi năm. Mưa hiếm khi rơi tại Israel từ tháng 5 đến tháng 9. Do tài nguyên nước khan hiếm, Israel phát triển các kỹ thuật tiết kiệm nước khác nhau, chẳng hạn như tưới nhỏ giọt. Người Israel cũng tận dụng ánh sáng mặt trời sẵn có cho ngành quang năng, biến Israel trở thành nước dẫn đầu về năng lượng mặt trời sử dụng bình quân (hầu như toàn bộ hộ gia đình sử dụng tấm năng lượng mặt trời để đun nước). Israel có bốn khu vực địa lý thực vật khác nhau, do nước này nằm giữa ôn đới và nhiệt đới, giáp với Địa Trung Hải tại phía tây và hoang mạc về phía đông. Vì nguyên nhân này, động thực vật tại Israel cực kỳ đa dạng. Phát hiện được 2.867 loài thực vật tại Israel. Trong đó, ít nhất 253 loài được du nhập và phi bản địa. Israel có 380 khu bảo tồn thiên nhiên. == Chính trị == Israel thi hành hệ thống nghị viện theo mô hình cộng hòa dân chủ cùng quyền phổ thông đầu phiếu. Một thành viên của nghị viện được đa số nghị viện ủng hộ sẽ trở thành thủ tướng, thường là thủ lĩnh của đảng lớn nhất. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và nội các. Nghị viện của Israel có 120 thành viên, gọi là Knesset. Tư cách thành viên của Knesset dựa trên đại diện tỷ lệ của các chính đảng, với ngưỡng phiếu bầu là 3,25%. Bầu cử nghị viện được quy định bốn năm tổ chức một lần, song các liên minh không ổn định hoặc một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm của Knesset có thể giải tán chính phủ sớm hơn. Luật Cơ bản của Israel có chức năng là hiến pháp bất thành văn. Năm 2003, Knesset bắt đầu soạn thảo hiến pháp chính thức dựa trên các luật này. Tổng thống Israel là nguyên thủ quốc gia, có nhiệm vụ hạn chế và phần lớn mang tính lễ nghi. Israel không có tôn giáo chính thức, song việc định nghĩa nhà nước là "Do Thái và dân chủ" tạo ra một liên kết mạnh với Do Thái giáo, cũng như là xung đột giữa luật nhà nước và luật tôn giáo. Sự tương tác giữa các chính đảng giúp duy trì cân bằng giữa nhà nước và tôn giáo ở mức độ lớn như đã từng hiện hiện thời Anh ủy trị. === Hệ thống tư pháp === Israel có hệ thống tòa án ba cấp. Cấp thấp nhất là các tòa án thẩm phán, nằm tại hầu hết thành phố khắp Israel. Cấp thứ hai là các tòa án cấp quận, đóng vai trò là các tòa án phúc ẩm và tòa án sơ thẩm; chúng nằm tại năm trong số sáu quận. Cấp cao nhất tòa tòa án tối cao; nằm tại Jerusalem; nó đóng vai trò là tòa án phúc thẩm tối cao và tòa án tư pháp tối cao. Trong chức năng thứ hai, Tòa án tối cao là tòa án sơ thẩm, cho phép các cá nhân, cả công dân và phi công dân, được đệ đơn kiện các quyết định của nhà cầm quyền đất nước. Mặc dù Israel ủng hộ mục tiêu của Tòa án Hình sự Quốc tế, song họ không phê chuẩn Quy chế Roma do lo ngại về khả năng tòa án duy trì rằng buộc công bằng chính trị. Hệ thống tư pháp của Israel kết hợp ba truyền thống tư pháp: thông luật Anh, dân luật, và luật Do Thái. Nó dựa trên nguyên tắc án lệ (tiền lệ) và là một hệ thống đối địch, tại đó các bên trình bằng chứng trước tòa. Các vụ kiện tòa án do thẩm phán chuyên nghiệp quyết định thay vì bồi thẩm đoàn. Kết hôn và ly hôn là thẩm quyền của các tòa án tôn giáo: Do Thái giáo, Hồi giáo, Druze, Cơ Đốc giáo. Một ủy ban gồm hai thành viên Knesset, ba thành viên Tòa án Tối cao, hai thành viên hiệp hội luật sư, và hai bộ trưởng (một người là bộ trưởng tư pháp và là chủ tịch ủy ban) bầu ra các thẩm phán. Các thành viên của hội đồng thuộc Knesset được Knesset bầu bí mật, và một người theo truyền thống là thành viên của phe đối lập. === Đơn vị hành chính === ^a Bao gồm 201.170 người Do Thái và 313.350 người Ả Rập tại Đông Jerusalem, tính đến năm 2014. ^b Chỉ công dân Israel. Nhà nước Israel được phân chia thành sáu quận hành chính, gọi là mehozot (מחוזות; số ít: mahoz) – Trung, Haifa, Jerusalem, Bắc, Nam, và Tel Aviv, cùng với Khu vực Judea và Samaria tại Bờ Tây. Toàn bộ Khu vực Judea và Samaria cùng bộ phận của các quận Jerusalem và Bắc không được quốc tế công nhận là bộ phận của Israel. Các quận được phân chia thành 15 nafot (נפות; số ít: nafa), chúng lại được chia thành 50 khu vực tự nhiên. Vì mục đích thống kê, quốc gia được chia thành ba khu vực đại đô thị: Đại đô thị Tel Aviv, đại đô thị Haifa, và đại đô thị Beersheba. Đô thị lớn nhất của Israel về dân số và diện tích là Jerusalem với 773.800 cư dân trên diện tích 126 kilômét vuông (49 sq mi) (năm 2009). Số liệu thống kê của chính phủ Israel về Jerusalem bao gồm dân số và diện tích của Đông Jerusalem, vốn được công nhận phổ biến là bộ phận lãnh thổ của Palestine bị Israel chiếm đóng. Tel Aviv, Haifa, và Rishon LeZion là các thành phố đông dân kế tiếp của Israel. === Ngoại giao === Israel duy trì quan hệ ngoại giao với 158 quốc gia và có 107 phái bộ ngoại giao trên toàn cầu; hầu hết các quốc gia Hồi giáo nằm trong nhóm không có quan hệ ngoại giao với Israel. Chỉ có ba thành viên của Liên đoàn Ả Rập bình thường hóa quan hệ với Israel: Ai Cập và Jordan lần lượt ký các hiệp định hòa bình vào năm 1979 và 1994, và Mauritania chọn lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Israel vào năm 1999. Mặc dù Israel và Ai Cập có hiệp định hòa bình, song Israel vẫn bị nhìn nhận phổ biến là quốc gia đối địch trong xã hội Ai Cập. Theo pháp luật Israel thì Liban, Syria, Ả Rập Saudi, Iraq, Iran, Sudan, và Yemen là các quốc gia đối địch, và công dân Israel không được đến đó nếu không được phép từ Bộ Nội vụ. Iran có quan hệ ngoại giao với Israel dưới thời triều đại Pahlavi song thu hồi việc công nhận Israel trong Cách mạng Hồi giáo. Do Chiến tranh Gaza 2008-2009, Mauritania, Qatar, Bolivia, và Venezuela đình chỉ các quan hệ chính trị và kinh tế với Israel. Hoa Kỳ và Liên Xô là hai quốc gia đầu tiên công nhận Nhà nước Israel, họ ra tuyên bố công nhận gần như đồng thời. Hoa Kỳ nhìn nhận Israel là "đối tác đáng tin cậy nhất tại Trung Đông" của họ, dựa trên "các giá trị dân chủ, thân thuộc tôn giáo, và lợi ích an ninh chung". Hoa Kỳ đã cung cấp 68 tỷ USD viện trợ quân sự và 32 tỷ USD tài trợ cho Israel từ năm 1967 theo Đạo luật Viện trợ Nước ngoài, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trong cùng thời kỳ cho đến năm 2003. Anh Quốc được nhận định là có một mối quan hệ "tự nhiên" với Israel bắt nguồn từ khi Anh Quốc cai trị ủy trị Palestine. Quan hệ giữa hai quốc gia cũng được củng cố nhờ các nỗ lực của cựu Thủ tướng Tony Blair về một giải pháp hai nhà nước. Đến năm 2007 Đức đã chi trả 25 tỷ euro tiền bồi thường cho Nhà nước Israel và những công dân Israel sống sót sau nạn diệt chủng người Do Thái. Israel được đưa vào trong Chính sách Láng giềng Châu Âu (ENP) của Liên minh châu Âu, vốn có mục tiêu thắt chặt quan hệ giữa EU và các quốc gia lân cận. Mặc dù Thổ Nhĩ Kỳ và Israel không thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ cho đến năm 1991, song Thổ Nhĩ Kỳ đã hợp tác với Nhà nước Israel kể từ khi công nhận quốc gia này vào năm 1949. Mối quan hệ của Thổ Nhĩ Kỳ với các quốc gia Hồi giáo đa số trong khu vực vào đương thời cản trở quan hệ giữa họ và Israel. Quan hệ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Israel bị suy sụp sau Chiến tranh Gaza 2008-2009 và việc Israel tập kích đội tàu Gaza năm 2010. Quan hệ giữa Israel và Hy Lạp được cải thiện từ năm 1995 do quan hệ Israel-Thổ Nhĩ Kỳ suy thoái. Hai quốc gia có một hiệp định hợp tác phòng thủ và vào năm 2010, Không quân Israel tổ chức diễn tập chung với Không quân Hy Lạp tại căn cứ Uvda. Chương trình thăm dò chung dầu khí Síp-Israel tập trung tại mỏ khí Leviat là một yếu tố quan trọng đối với Hy Lạp do nước này có liên kết mạnh mẽ với Síp. Hợp tác trong tuyến cáp điện ngầm EuroAsia Interconnector giúp tăng cường quan hệ giữa Síp và Israel. Azerbaijan là một trong vài quốc gia Hồi giáo phát triển các quan hệ chiến lược và kinh tế song phương với Israel. Azerbaijan cung cấp cho Israel dầu, và Israel giúp hiện đại hóa lực lượng vũ trang của Azerbaijan. Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Israel vào năm 1992 và từ đó phát triển quan hệ đối tác quân sự, công nghệ và văn hóa mạnh mẽ với Israel. Theo một cuộc thăm dò quan điểm quốc tế được tiến hành vào năm 2009 nhân danh Bộ Ngoại giao Israel, Ấn Độ là quốc gia thân Israel nhất trên thế giới. Ấn Độ là khách hàng lớn nhất của thiết bị quân sự Israel và Israel là đối tác quân sự lớn thứ nhì của Ấn Độ sau Nga. Tại châu Phi, Ethiopia là đồng minh chủ yếu và thân cận nhất của Israel do có chính trị, tôn giáo và lợi ích an ninh tương đồng. === Quân đội === Lực lượng Phòng vệ Israel là cánh quân sự duy nhất của các lực lượng an ninh Israel, có người đứng đầu là tổng tư lệnh (Ramatkal), dưới quyền nội các. Lực lượng Phòng vệ Israel gồm có lục quân, không quân và hải quân. Lực lượng này được thành lập trong Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, do hợp nhất các tổ chức bán quân sự mà trong đó chủ yếu là tổ chức Haganah tồn tại từ trước khi lập quốc. Lực lượng Phòng vệ Israel cũng dựa trên nguồn lực của Cục Tình báo Quân sự (Aman), cơ quan này hoạt động cùng với cơ quan tình báo quốc gia Mossad và cơ quan an ninh nội bộ Shabak. Lực lượng Phòng vệ Israel tham gia một số chiến tranh và xung đột biên giới quy mô lớn trong lịch sử ngắn ngủi của mình, trở thành một trong những lực lượng quân sự được huấn luyện trong chiến đấu nhiều nhất trên thế giới. Hầu hết người Israel thực hiện nghĩa vụ quân sự vào tuổi 18. Nam giới phục vụ trong hai năm tám tháng, còn nữ giới phục vụ trong hai năm. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ, nam giới Israel tham gia lực lượng dự bị và thường xuyên thực hiện đến vài tuần nhiệm vụ dự bị mỗi năm cho đến khi 40 tuổi. Hầu hết nữ giới được miễn nhiệm vụ dự bị. Công dân Israel là người Ả Rập (ngoại trừ tín đồ Druze) và những người tham gia nghiên cứu tôn giáo toàn thời gian được miễn nghĩa vụ quân sự, song việc miễn trừ cho các học viên chủng viện Do Thái là một đề tài gây tranh luận nhiều năm trong xã hội Israel. Một sự thay thế cho những người được miễn trừ vì các nguyên nhân khác nhau là phục vụ quốc gia (Sherut Leumi), tức tham gia một chương trình phục vụ trong các bệnh viện trường học, và các cơ cấu tổ chức phúc lợi xã hội khác. Do chương trình nghĩa vụ quân sự, Lực lượng Phòng vệ Israel duy trì khoảng 176.500 lính tại ngũ cộng thêm 445.000 lính dự bị (2012). Quân sự Israel dựa chủ yếu vào các hệ thống vũ khí công nghệ cao, do Israel thiết kế và chế tạo, cùng một số vũ khí nhập khẩu. Tên lửa Arrow nằm trong số ít hệ thống tên lửa chống tên lửa đạn đạo hoạt động trên thế giới. Dòng tên lửa không đối không Python thường được nhận định là một trong các vũ khí quan trọng nhất trong lịch sử quân sự quốc gia. Tên lửa Spike của Israel nằm trong số tên lửa chống tăng được xuất khẩu nhiều nhất trên thế giới. Hệ thống phòng không chống tên lửa Vòm Sắt được tán dương trên toàn cầu sau khi chặn đứng hàng trăm pháo phản lực Qassam, 122 mm Grad và Fajr-5 do các chiến binh Palestine phóng đi từ Dải Gaza. Kể từ Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, Israel phát triển một mạng lưới vệ tinh do thám. Thành công của chương trình Ofeq khiến Israel trở thành một trong bảy quốc gia có năng lực phóng các vệ tinh như vậy. Israel được nhiều người tin là sở hữu vũ khí hạt nhân cũng như các vũ khí hóa học và sinh học hủy diệt hàng loạt. Israel không ký kết Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân và duy trì một chính sách mơ hồ chủ ý về năng lực hạt nhân của mình. Các tàu ngầm Dolphin của Hải quân Israel được cho là được vũ trang bằng các tên lửa Popeye Turbo hạt nhân, cung cấp năng lực tấn công thứ hai hạt nhân. Kể từ Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, khi Israel bị các tên lửa Scud của Iraq tấn công, toàn bộ nhà tại Israel được yêu cầu có một phòng an ninh tăng cường gọi là Merkhav Mugan, không thẩm thấu các vật chất hóa học và sinh học. Israel nằm trong số các quốc gia phát triển có tỷ lệ chi tiêu phòng thủ cao nhất so với GDP, chỉ đứng sau Oman và Ả Rập Saudi (theo nghiên cứu năm 2014). Chẳng hạn như vào năm 1984, Israel dành 24% GDP của mình cho phòng thủ. Đến năm 2006, con số này giảm xuống 7,3%. Israel là một trong các quốc gia xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới, từng đứng thứ tư thế giới về xuất khẩu vũ khí vào năm 2007. Đa số xuất khảu vũ khí của Israel không được tường trình vì lý do an ninh. Từ năm 1967, Hoa Kỳ là nước đóng góp đặc biệt đáng kể vào viện trợ quân sự cho Israel: Hoa Kỳ được dự kiến cung cấp cho Israel 3,15 tỷ đô la Mỹ mỗi năm từ năm 2013 đến năm 2018. Israel liên tục bị xếp hạng thấp trong Chỉ số hòa bình toàn cầu, đứng thứ 148 trong số 162 quốc gia về tình trạng hòa bình trong năm 2015. == Kinh tế == Israel được nhận định là quốc gia tiến bộ nhất tại Tây Nam Á và Trung Đông về phát triển kinh tế và công nghiệp. Chất lượng giáo dục đại học của Israel và việc hình thành một cộng đồng quần chúng có động lực và được giáo dục ở mức độ cao là nguyên nhân chính khiến công nghệ cao trong nước bùng nổ và phát triển kinh tế nhanh chóng. Năm 2010, Israel gia nhập OECD. Israel có số lượng công ty khởi nghiệp nhiều thứ hai thế giới (sau Hoa Kỳ) theo một nghiên cứu năm 2005 và có nhiều công ty nhất được niêm yết tại NASDAQ bên ngoài Bắc Mỹ. Năm 2010, Israel xếp hạng 17 trong số các quốc gia phát triển nhất về kinh tế, theo Niên giám Cạnh tranh Thế giới của IMD. Kinh tế Israel được xếp hạng bền vững nhất thế giới trong việc đối diện với khủng hoảng, và cũng xếp thứ nhất về tỷ lệ đầu tư vào các trung tâm nghiên cứu và phát triển. Ngân hàng Israel được xếp hạng nhất trong số các ngân hàng trung ương về hoạt động hiệu quả, tăng từ vị trí thứ tám vào năm 2009 trước đó. Israel cũng được xếp hạng đầu thế giới về cung cấp nhân lực lành nghề. Năm 2015, dự trữ ngoại tệ và vàng của Israel là 90,58 tỷ USD. Tính đến năm 2016, GDP của Israel đạt 311.739 USD, đứng thứ 35 thế giới, đứng thứ 12 châu Á và đứng thứ 4 Trung Đông. Mặc dù có tài nguyên tự nhiên hạn chế, song do phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp trong nhiều thập niên nên Israel phần lớn tự cung cấp được thực phẩm, trừ ngũ cốc và thịt bò. Kim ngạch nhập khẩu đến Israel đạt 77,59 tỷ USD vào năm 2012, bao gồm nguyên liệu thô, thiết bị quân sự, hàng hóa đầu tư, kim cương thô, nhiên liệu, lương thực, hàng tiêu dùng. Các mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Israel gồm có điện tử, phần mềm, thiết bị điện toán hóa, công nghệ viễn thông, thiết bị y tế, dược phẩm, quả, hóa chất, công nghệ quân sự, kim cương chế tác; vào năm 2012, kim ngạch xuất khẩu của Israel đạt 64,74 tỷ USD. Israel là quốc gia dẫn đầu về phát triển năng lượng Mặt trời. Israel đứng đầu thế giới về bảo tồn nước và năng lược địa nhiệt, và bước phát triển của Israel trong các công nghệ ưu việt về phầm mềm, viễn thông và khoa học sự sống gợi lên so sánh với Thung lũng Silicon. Theo OECD, Israel cũng xếp hạng nhất thế giới về chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R&D) theo tỷ lệ trong GDP. Israel có thành tích ấn tượng về sáng tạo các công nghệ thúc đẩy lợi nhuận, khiến quốc gia này là một lựa chọn hàng đầu của nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp và dã khổng lồ công nghiệp công ngệ cao. Intel và Microsoft xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển hải ngoại đầu tiên của họ tại Israel, và các tập đoàn đa quốc gia công nghệ cao khác, như IBM, Google, Apple, HP, Cisco Systems, Facebook đã mở các cơ sở R&D tại Israel. Tháng 7 năm 2007, công ty Berkshire Hathaway của nhà đầu tư người Mỹ Warren Buffett mua lại một công ty Israel là Iscar, vụ thu mua đầu tiên của công ty ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ, với giá 4 tỷ USD. Từ thập niên 1970, Israel nhận được viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ, cũng như giúp đỡ kinh tế dưới dạng bảo lãnh vốn vay và hiện dạng này chiếm khoảng một nửa nợ nước ngoài của Israel. Israel có nợ nước ngoài vào hàng thấp nhất trong các quốc gia phát triển, và là một nước cho vay ròng dưới dạng nợ nước ngoài ròng, ở mức thặng dư 118 tỷ USD vào tháng 12 năm 2015. Tuần làm việc tại Israel kéo dài từ Chủ Nhật đến Thứ Năm (đối với tuần làm việc năm ngày), hoặc Thứ Sáu (đối với tuần làm việc sáu ngày). Tuân theo Shabbat, tại những nơi làm việc vào ngày Thứ Sáu và đa số cư dân là người Do Thái, Thứ Sáu là một "ngày ngắn", thường kéo dài đến 14:00 trong mùa đông, hoặc 16:00 trong mùa hè. Có một số đề xuất để điều chỉnh tuần làm việc phù hợp với đa số thế giới. === Khoa học và kỹ thuật === Israel là quốc gia dẫn đầu về nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong khoa học tự nhiên, kỹ thuật, và khoa học y tế, chúng cũng là một trong các lĩnh vực phát triển nhất tại Israel. Israel xếp hạng năm trong số các quốc gia sáng tạo nhất theo Chỉ số sáng tạo Bloomberg. Tỷ lệ người Israel tham gia nghiên cứu khoa học, và số tiền chi cho nghiên cứu và phát triển so với GDP, nằm vào hàng cao nhất trên thế giới. Israel có số lượng cao nhất về tỷ lệ các nhà khoa học, nhà kỹ thuật, và kỹ sư trên thế giới, với 140/10.000 người lao động. Trong khi đó, con số này là 85/10.000 tại Hoa Kỳ và 83/10.000 tại Nhật Bản. Các trường đại học Israel được xếp hạng trong số 100 đại học hàng đầu thế giới về toán học (Dại học Hebrew, TAU và Technion), vật lý (TAU, Đại học Hebrew và Học viện Khoa học Weizmann), hóa học (Technion và Học viện Khoa học Weizmann), khoa học máy tính (Học viện Khoa học Weizmann, Technion, Đại học Hebrew, TAU và BIU) và kinh tế (Đại học Hebrew và TAU). Israel có nhiều nhà khoa học đạt giải Nobel, và thường xuyên được xếp hạng là một trong các quốc gia có tỷ lệ bình quân cao nhất về các bài luận khoa học trên thế giới. Israel dẫn đầu thế giới về các bài luận nghiên cứu tế bào gốc từ năm 2000. Cơ quan Không gian Israel điều phối toàn bộ các chương trình nghiên cứu không gian của Israel với các mục tiêu khoa học và thương mại. Năm 2012, Israel được xếp hạng chín trên thế giới theo Chỉ số cạnh tranh không gian của Futron. Israel là một trong bảy quốc gia có năng lực sản xuất đồng thời phóng vệ tinh của mình. Shavit là một tên lửa đẩy không gian do Israel sản xuất để phóng các vệ tinh nhỏ vào quỹ đạo Trái Đất thấp. Nó được phóng lần đầu vào năm 1988, biến Israel thành quốc gia thứ tám có năng lực phóng vệ tinh. Các tên lửa Shavit được Cơ quan Không gian Israel phóng từ sân bay vũ trụ tại Căn cứ Không quân Palmachim. Từ năm 1988, Israel Aerospace Industries đã thiết kế và chế tạo bản địa ít nhất 13 vệ tinh thương mại, nghiên cứu và do thám. Một số vệ tinh của Israel được xếp vào hàng các hệ thống vệ tinh tiến bộ nhất thế giới. Năm 2003, Ilan Ramon trở thành nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Israel, song thiệt mạng khi Tàu con thoi Columbia của NASA bị vỡ. Israel nằm trong số các quốc gia dẫn dầu thế giới về kỹ thuật nước. Năm 2011, ngành kỹ thuật nước đạt giá trị khoảng 2 tỷ USD mỗi năm với lượng xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ mỗi năm là hàng chục triệu USD. Do liên tục thiếu hụt tài nguyên nước, Israel có sáng kiến về các kỹ thuật bảo tồn nước, và một kỹ thuật hiện đại hóa nông nghiệp trọng yếu là tưới nhỏ giọt được phát minh tại Israel. Israel cũng ở vị trí hàng đầu về kỹ thuật khử muối và tuần hoàn nước. Nhà máy thẩm thấu ngược nước biển Ashkelon có quy mô hàng đầu thế giới. Israel tổ chức Triển lãm và Hội nghị Kỹ thuật Nước (WaTec) thường niên, thu hút hàng nghìn người từ khắp thế giới. Đến năm 2014, chương trình khử muối của Israel cung cấp khoảng 35% nước uống của Israel và được dự kiến cung cấp 70% vào năm 2050. Tính đến tháng 5 năm 2015, trên 50% nước cho các gia đình, nông nghiệp và công nghiệp Israel được sản xuất nhân tạo. Do các sáng kiến về kỹ thuật thẩm thấu ngược, Israel bắt đầu trở thành một nước xuất khẩu ròng về nước trong những năm tới. Israel đã đi theo hướng năng lượng Mặt trời; các kỹ sư của họ đi tiên phong về lĩnh vực này và các công ty năng lược Mặt trời của Israel làm việc trong các dự án khắp thế giới. Trên 90% gia đình Israel sử dụng năng lượng Mặt trời để làm nóng nước, đây là tỷ lệ cao nhất thế giới (2011). Theo số liệu của chính phủ, quốc gia tiết kiệm được 8% tiêu thụ điện năng mỗi năm nhờ sử dụng năng lượng Mặt trời để đun nóng. Bức xạ Mặt trời cao tạo điều kiện lý tưởng cho ngành công nghiệp nghiên cứu và phát triển năng lượng Mặt trời nổi danh thế giới tại Hoang mạc Negev. Israel có cơ sở hạ tầng ô tô điện hiện đại, có hệ thống trạm nạp điện trên toàn quốc. Người ta cho rằng loại xe này sẽ khiến Israel giảm sự phụ thuộc vào dầu và hạ thấp chi phí nhiên liệu của những người lái xe Israel sử dụng ô tô chỉ chạy bằng pin điện. Mô hình Israel được một số quốc gia học tập và thực hiện. Tuy nhiên, công ty ô điện tiên phong của Israel là Better Place đóng cửa vào năm 2013. === Giao thông === Israel có 18.096 km được được xử lý bề mặt (2008), và 2,4 triệu xe ô tô (2008). Số lượng xe ô tô trên 1.000 người là 324, tương đối thấp so với các quốc gia phát triển khác. Israel có 5.715 xe buýt trên các tuyến cố định, do một số hãng vận chuyển điều hành, lớn nhất trong số đó là Egged, phục vụ hầu hết toàn quốc. Các tuyến đường sắt trải dài 949 km, và công ty quốc doanh Israel Railways là thể chế điều hành duy nhất (số liệu năm 2008). Sau các khoản đầu tư lớn từ đầu đến giữa thập niên 1990, số lượng hành khách đường sắt mỗi năm tăng từ 2,5 triệu vào năm 1990, lên đến 35 triệu vào năm 2008; đường sắt cũng được sử dụng để vận chuyển 6,8 tấn hàng hóa mỗi năm. Israel có hai sân bay quốc tế: Sân bay quốc tế Ben Gurion là trung tâm hàng không quốc tế chủ yếu và nằm gần đại đô thị Tel Aviv-Yafo, còn Sân bay Ovda phục vụ thành phố cảng cực nam Eilat. Ngoài ra, còn có các sân bay nội địa. Sân bay Ben Gurion vận chuyển 12,1 triệu lượt hành khách vào năm 2010. Tại bờ biển Địa Trung Hải, Cảng Haifa là cảng lâu năm nhất và lớn nhất Israel, còn Cảng Ashdod là một trong vài cảng nước sâu trên thế giới được xây dựng trên vùng biển mở. Ngoài ra, Cảng Eilat có quy mô nhỏ hơn nằm ven Biển Đỏ, chủ yếu được sử dụng để mậu dịch với các quốc gia Viễn Đông. === Du lịch === Du lịch, đặc biệt là du lịch tôn giáo, là một ngành quan trọng tại Israel, nhờ có khí hậu ôn hòa, các bãi biển, di chỉ khảo cổ học, các di tích lịch sử và kinh thánh, và địa lý độc đáo. Vấn đề an ninh của Israel gây tổn hại cho ngành du lịch, song số lượng du khách phục hồi sau Đại khởi nghĩa của người Palestine. Năm 2013, một báo cáo cho hay 3,54 triệu du khách đến Israel, địa điểm phổ biến nhất là Bức tường Than khóc với 68% du khách đến đó. Israel có số lượng bảo tàng bình quân đầu người cao nhất trên thế giới. == Nhân khẩu == Năm 2016, dân số Israel ước tính đạt 8.541.000 người, trong đó 6.388.800 (74,8%) được chính phủ dân sự ghi lý lịch là người Do Thái. 1.775.400 công dân Israel là người Ả Rập và chiếm 20,8% dân số, trong khi người Cơ Đốc giáo phi Ả Rập và người theo tôn giáo không được liệt vào đăng ký dân sự chiếm 4,4%. Trong khoảng thập niên đầu của thế kỷ 21, có lượng lớn công nhân di cư đến từ Romania, Thái Lan, Trung Quốc, châu Phi, và Nam Mỹ định cư tại Israel. Không rõ số liệu chính xác do nhiều người cư trú bất hợp pháp tại Israel, song có ước tính là 203.000. Đến tháng 6 năm 2012, có khoảng 60.000 di dân châu châu Phi nhập cảnh Israel. Khoảng 92% người Israel cư trú tại các khu vực đô thị. Tình trạng người Do Thái di cư từ Israel (được gọi là yerida trong tiếng Hebrew), chủ yếu là đến Hoa Kỳ và Canada, được các nhà nhân khẩu học mô tả là khiêm tốn, song các cơ quan chính phủ Israel thường dẫn ra như một mối đe dọa lớn đến tương lai của quốc gia. Năm 2009, trên 300.000 công dân Israel cư trú tại các khu định cư Bờ Tây như Ma'ale Adumim và Ariel, bao gồm các khu định cư có từ trước khi thành lập Nhà nước Israel và được tái lập sau Chiến tranh Sáu Ngày, tại các thành phố như Hebron và Gush Etzion. Năm 2011, có 250.000 người Do Thái cư trú tại Đông Jerusalem. 20.000 người Israel cư trú tại các khu định cư trên Cao nguyên Golan. Tổng dân số người cư trú tại các khu định cư Israel là trên 500.000 (6,5% dân số Israel). Khoảng 7,800 người Israel cư trú tại các khu định cư thuộc Dải Gaza cho đến khu họ bị chính phủ Israel di dời theo kế hoạch triệt thoái năm 2015. Israel được thành lập làm tổ quốc cho người Do Thái và thường được gọi là nhà nước Do Thái. Luật Trở về của Israel trao cho toàn bộ người Do Thái và những người có tổ tiên Do Thái quyền có tư cách công dân Israel. Trên ba phần tư, hay 75.5% dân số là người Do Thái song họ có xuất thân đa dạng. Khoảng 4% người Israel (300.000) được xác định dân tộc vào mục "khác", họ là những hậu duệ người Nga có tổ tiên hoặc dòng dõi Do Thái, họ không phải là người Do Thái theo luật rabi, song đủ tư cách có quyền công dân Israel theo Luật Trở về. Năm 2016, khoảng 76% người Do Thái Israel sinh tại Israel, 16% là người nhập cư từ châu Âu và châu Mỹ, và 8% là người nhập cư từ châu Á và châu Phi (kể cả Thế giới Ả Rập). Người Do Thái từ châu Âu và Liên Xô cũ cùng hậu duệ của họ sinh tại Israel, gồm nhóm Ashkenazi, chiếm khoảng 50% người Do Thái Israel. Người Do Thái đến từ các quốc gia Ả Rập và Hồi giáo cùng hậu duệ của họ, gồm nhóm Mizrahi và Sephardi chiếm hầu hết số người Do Thái còn lại tại Israel. Tỷ lệ liên hôn Do Thái tăng đến trên 35% và các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng tỷ lệ người Israel có nguồn gốc từ cả hai nhóm Sephardi và Ashkenazi tăng trưởng 0,5 phần trăm mỗi năm, với trên 25% học sinh hiện có nguồn gốc từ cả hai cộng đồng. ^a Số liẹu này bao gồm các khu vực Đông Jerusalem và Bờ Tây. Chủ quyền của Israel đối với Đông Jerusalem không được quốc tế công nhận]]. === Ngôn ngữ === Israel có hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Hebrew và tiếng Ả Rập. Hebrew là ngôn ngữ chính của quốc gia và được đa số cư dân nói hàng ngày. Người thiểu sổ Ả Rập nói tiếng Ả Rập, và tiếng Hebrew được dạy tại các trường học Ả Rập. Do là một quốc gia của người nhập cư, nhiều ngôn ngữ hiện diện tại Israel. Do nhập cư hàng loạt từ Liên Xô cũ và Ethiopia]] (khoảng 130.000 người Do Thái Ethiopia cư trú tại Israel), tiếng Nga và tiếng Amhara được nói phổ biến. Trên một triệu người nhập cư nói tiếng Nga đến Israel từ các quốc gia Liên Xô cũ từ năm 1990 đến năm 2004. Khoảng 700.000 người Israel nói tiếng Pháp, hầu hết nhóm này có nguồn gốc từ Pháp và Bắc Phi. Tiếng Anh là một ngôn ngữ chính thức trong thời kỳ Ủy thác; nó mất vị thế này sau khi Israel hình thành, song giữ được một vai trò tương đương một ngôn ngữ chính thức, như có thể thấy trong các bảng hiệu đường bộ và văn kiện chính thức. Nhiều người Israel giao tiếp khá tốt bằng tiếng Anh, do nhiều chương trình truyền hình được phát bằng tiếng Anh cùng phụ đề và ngôn ngữ này được dạy từ các lớp đầu trong trường tiểu học. Ngoài ra, các đại học tại Israel cung cấp khóa trình bằng tiếng Anh cho nhiều môn học khác nhau. === Tôn giáo === Liên hệ tôn giáo của người Do Thái Israel có bất đồng lớn: một nghiên cứu xã hội với những người trên 20 tuổi cho thấy rằng 55% nói rằng họ "theo truyền thống", trong khi 20% tự nhận là "người Do Thái thế tục", 17% tự xác định là "người phục quốc tôn giáo"; 8% tự xác định là "người Do Thái Haredi" tức chính thống cực đoan. Người Do Thái Haredi được dự kiến sẽ chiếm trên 20% dân số Do Thái Israel vào năm 2028. Người Hồi giáo chiếm 16% dân số Israel và là cộng đồng thiểu số tôn giáo lớn nhất tại đây. Khoảng 2% dân số là tín đồ Cơ Đốc giáo và 1,5% là tín đồ Druze. Dân số Cơ Đốc giáo chủ yếu gồm người Cơ Đốc giáo Ả Rập, song cũng có các di dân hậu Liên Xô, lao động ngoại quốc đến từ nhiều quốc gia, và những người theo Do Thái giáo Chúa cứu thế- bị hầu hết người Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo cho là một dạng của Cơ Đốc giáo. Thành viên của nhiều nhóm tôn giáo khác, như Phật giáo và Ấn Độ giáo, duy trì hiện diện tại Israel dù có số lượng nhỏ. Trong số hơn một triệu di dân từ Liên Xô cũ tại Israel, có khoảng 300.000 người bị giáo sĩ chính thống cho là không phải người Do Thái. Thành phố Jerusalem có tầm quan trọng đặc biệt đối với người Do Thái, Hồi giáo và Cơ Đốc giáo do tại đây có các địa điểm chủ chốt trong đức tin tôn giáo của họ, như trong khu Thành cổ có Bức tường Thankhuocs và Núi Đền, Nhà thờ Hồi giáo Al-Aqsa và Nhà thờ Mộ Thánh. Các địa điểm tôn giáo quan trọng khác tại Israel là Nazareth (linh thiêng trong Cơ Đốc giáo do là nơi lễ truyền tin của Maria), Tiberias và Safed (hai trong số bốn thành phố linh thiêng trong Do Thái giáo), Thánh đường Trắng tại Ramla (linh thiêng trong Hồi giáo vì là nơi thờ nhà tiên tri Saleh), và Nhà thờ Thánh George tại Lod (linh thiếng trong Cơ Đốc giáo và Hồi giáo vì là lăng mộ của Thánh George hoặc Al Khidr). Một số địa danh tôn giáo khác nằm tại Bờ Tây, như Lăng mộ Giuse tại Nablus, sinh quán của Giêsu và Lăng mộ Rachel tại Bethlehem, và Hang các Thượng phụ tại Hebron. Trung tâm hành chính của Đức tin Bahá'í và Đền thờ Báb nằm tại Trung tâm Thế giới Bahá'í tại Haifa; thủ lĩnh của đức tin được táng tại Acre. Ngoài nhân viên bảo trì, không có cộng đồng Bahá'í tại Israel, song đây là các tín đồ Bahá'í hành hương. Nhân viên Bahá'í tại Israel không truyền dạy đức tin của mình cho người Israel do tuân theo chính sách nghiêm ngặt. === Giáo dục === Giáo dục được xem trọng cao độ trong văn hóa Israel, được nhận định là một trong các nền tảng cơ bản trong sinh hoạt của người Israel cổ đại. Các cộng đồng Do Thái tại Levant là những người đầu tiên áp dụng giáo dục nghĩa vụ, do đó cộng đồng có tổ chức chịu trách nhiệm về giáo dục cho thế hệ tương lai của người Do Thái bên cạnh cha mẹ. Hệ thống giáo dục Israel được tán dương vì nhiều nguyên nhân, bao gồm chất lượng cao và có vai trò lớn trong khích lệ bùng nổ phát triển kinh tế và kỹ thuật của Israel. Do kinh tế Israel dựa phần lớn vào khoa học và kỹ thuật, thị trường lao động yêu cầu cá nhân cần đạt được một dạng giáo dục bậc đại học nào đó, đặc biệt là liên quan đến khoa học và kỹ thuật để có lợi thế cạnh tranh khi tìm việc. Năm 2012, quốc gia này xếp thứ nhì trong các quốc gia OECD (đồng hạng với Nhật Bản và sau Canada) về tỷ lệ người trong độ tuổi 25-64 đạt được trình độ đại học là 46%, trong khi tỷ lệ trung bình của OECD là 32%. Ngoài ra, Israel có tỷ lệ người trong độ tuổi 55–64 sở hữu bằng đại học là 47%, trong khi mức bình quân của OECD là 25%. Năm 2012, Israel xếp hạng ba thế giới về số bằng đại học bình quân (20% dân số). Người Israel có số năm đi học binh quân là 15,5 và tỷ lệ biết chữ đạt 97,1% theo Liên Hiệp Quốc. Luật Giáo dục Nhà nước được thông qua vào năm 1953, lập ra năm loại trường học: thế tục nhà nước, tôn giáo nhà nước, chính thống giáo cực độ, trường học khu định cư cộng đồng, và trường học Ả Rập. Thế tục công cộng là loại trường học lớn nhất, đa số học sinh Do Thái và phi Ả Rập theo học tại đó. Hầu hết người Ả Rập đưa con mình đến các trường học có ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Ả Rập. Giáo dục là nghĩa vụ tại Israel đối với trẻ em từ 3-18 tuổi. Trường học được chia thành ba cấp – trường tiểu học (lớp 1–6), trường trung học cơ sở (lớp 7–9), và trường trung học phổ thông (lớp 10–12) – cực đỉnh là kỳ thi Bagrut để được công nhận hoàn thành 12 năm học. Năng lực về các môn học chủ chốt như toán học, tiếng Hebrew và văn học tổng thể, tiếng Anh, lịch sử, kinh thánh và dân quyền là cần thiết để nhận được giấy chứng nhận Bagrut. Trong các trường học Ả Rập, Cơ Đốc giáo và Druze, môn thi nghiên cứu kinh thánh được thay thế bằng môn thi về di sản tín hữu Hồi giáo, Cơ Đốc giáo hoặc Druze. Người Ả Rập Cơ Đốc giáo có thành tích giáo dục tốt nhất so với các nhóm khác tại Israel. Trẻ em Israel xuất thân từ các gia đình nói tiếng Nga có tỷ lệ đỗ bagrut cao hơn mức bình quân. Năm 2003, trên một nửa số người có bằng hoàn thành lớp 12 có giấy trúng tuyển đại học. Israel có chín đại học công lập được nhà nước trợ cấp, và 49 học viện tư nhân. Đại học Hebrew Jerusalem là đại học lâu năm thứ hai tại Israel sau Technion, bao gồm Thư viện Quốc gia Israel. Technion, Đại học Hebrew, và Học viện Weizmann lần lượt nằm trong 100 đại học hàng đầu thế giới theo xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải năm 2013. Đại học Hebrew Jerusalem và Đại học Tel Aviv nằm trong 100 đại học hàng đầu thế giới theo tạp chí Times Higher Education năm 2012. Các đại học lớn khác tại Israel là Đại học Bar-Ilan, Đại học Haifa, Đại học Mở Israel, và Đại học Ben-Gurion Negev. Bảy đại học nghiên cứu của Israel (ngoại trừ Đại học Mở) lần lượt nằm trong danh sách 500 đại học hàng đầu thế giới. == Văn hóa == Văn hóa đa dạng của Israel bắt nguồn từ sự đa dạng về dân cư: người Do Thái từ các cộng đồng tha hương khắp thế giới đem các truyền thống văn hóa và tôn giáo theo mình khi họ nhập cư, tạo ra sự dung hợp của các phong tục và đức tin Do Thái. Israel là quốc gia duy nhất trên thế giới có sinh hoạt dựa theo lịch Hebrew. Các ngày lễ công cộng và trường học được gắn với các ngày lễ Do Thái giáo, và ngày nghỉ chính thức trong tuần là Thứ Bảy, tức ngày cầu nguyện Shabbat của người Do Thái. Cộng đồng Ả Rập thiểu số tại Israel cũng khắc dấu ấn trong văn hóa Israel tại các phạm vi kiến trúc, âm nhạc, và ẩm thực. Văn học Israel chủ yếu là thơ và văn xuôi viết bằng tiếng Hebrew, là bộ phận của quá trình phục hưng tiếng Hebrew ở dạng nói từ thế kỷ 19, song có một bộ phận nhỏ văn học được xuất bản bằng các ngôn ngữ khác, như tiếng Anh. Theo luật, hai bản sao của toàn bộ ấn phẩm xuất bản tại Israel cần phải lưu tại Thư viện Quốc gia Israel. Năm 2001, luật được sửa đổi để bao trùm các âm thanh và đoạn phim, cùng các truyền thông phi in ấn khác. Năm 2013, 91 % trong số 7.863 sách được chuyển đến thư viện được viết bằng tiếng Hebrew. Năm 1966, Shmuel Yosef Agnon cùng đoạt giải Nobel Văn học cùng tác giả người Do Thái Đức Nelly Sachs. Các nhà thơ hàng đầu Israel là Yehuda Amichai, Nathan Alterman và Rachel Bluwstein. Các nhà văn Israel đương đại nổi tiếng quốc tế gồm có Amos Oz, Etgar Keret và David Grossman. Nhà thơ trào phúng người Ả Rập Israel Sayed Kashua cũng được quốc tế biết đến. Israel cũng là nơi có hai tác giả người Palestine hàng đầu: Emile Habibi và Mahmoud Darwish- được nhiều người nhìn nhận là "nhà thơ quốc dân Palestine". Âm nhạc Israel chịu ảnh hưởng từ toàn cầu; âm nhạc Sephardic, giai điệu Hasidic, âm nhạc múa bụng, âm nhạc Hy Lạp, jazz, và pop rock đều là một phần của âm nhạc. Trong số dàn nhạc nổi tiếng thế giới của Israel có Dàn nhạc Giao hưởng Israel hoạt động được hơn bảy mươi năm và nay trình diễn trên hai trăm buổi mỗi năm. Israel cũng có nhiều nhạc sĩ đáng chú ý, một số trở thành ngôi sao quốc tế. Itzhak Perlman, Pinchas Zukerman và Ofra Haza nằm trong số các nhạc sĩ được hoan nghênh quốc tế sinh tại Israel. Israel tham gia thi đấu tại Eurovision Song Contest gần như mọi năm kể từ năm 1973, giành chiến thắng trong ba lần và hai lần tổ chức giải. Eilat là nơi tổ chức Lễ hội Jazz Biển Đỏ, được tổ chức mỗi mùa hè kể từ năm 1987. Các bài hát dân ca kinh điển của quốc gia, gọi là "các bài ca của Vùng đất Israel," có liên quan đến kinh nghiệm của những người tiên phong trong kiến thiết quê hương Do Thái. Vũ điệu vòng tròn Hora được những người định cư Do Thái ban đầu giới thiệu, nó trước tiên phổ biến tại các cộng đồng Kibbutz và ngoại vi. Nó trở thành một biểu trưng của tái thiết phục quốc Do Thái và khả năng trải nghiệm niềm vui giữa cảnh khắc khổ. Nó hiện đóng một vai trò quan trọng trong dân vũ Israel và được biểu diễn thường xuyên trong các đám cưới và sự kiện khác, và trong các bài nhảy nhóm khắp Israel. Israel là nơi cư trú của nhiều nhạc sĩ Palestine, trong đó có bậc thầy đàn oud và violin Taiseer Elias, ca sĩ Amal Murkus, và anh em Samir và Wissam Joubran. Các nhạc sĩ Ả Rập Israel có danh tiếng vượt khỏi biên giới: Elias và Murkus thường xuyên trình diễn cho khán giả tại châu Âu và châu Mỹ. Mười bộ phim Israel được đề cử chung kết cho giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất từ khi Israel lập quốc. Phim Ajami năm 2009 là đề cử thứ ba liên tiếp của một phim Israel. Các nhà làm phim Israel-Palestine đã làm một số phim liên quan đến xung đột Ả Rập-Israel và tình trạng của người Palestine trong Israel. Tiếp tục truyền thống sân khấu mạnh mẽ của sân khấu Yiddish tại Đông Âu, Israel duy trì cảnh tượng sân khấu sôi động. Sân khấu Habima tại Tel Aviv được thành lập vào năm 1918 và là sân khấu quốc gia của Israel. Năm 2014, Israel được xếp hạng 96 trong số 180 nước theo xếp hạng về tự do báo chí của Phóng viên không biên giới, đứng thứ hai sau Kuwait tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi. Nghiên cứu và báo cáo Tự do trên Thế giới năm 2013 của Freedom House xếp hạng Israel là quốc gia tự do duy nhất tại Trung Đông và Bắc Phi. Bảo tàng Israel tại Jerusalem là một trong các thể chế văn hóa tối quan trọng của quốc gia và lưu giữ các Cuộn giấy Biển Chết, cùng bộ sưu tập lớn về nghệ thuật Do Thái và châu Âu. Bảo tàng Holocaust quốc gia của Israel là Yad Vashem, đây là trung tâm lưu trữ thế giới về các thông tin liên quan đến Holocaust. Beth Hatefutsoth (bảo tàng tha hương) trong khuôn viên Đại học Tel Aviv là một bảo tàng tương tác dành cho lịch sử của các cộng đồng Do Thái khắp thế giới. Ngoài các bảo tàng lớn tại các đô thị lớn, còn có các không gian nghệ thuật chất lượng cao tại nhiều thị trấn và kibbutz. Mishkan Le'Omanut tại Kibbutz Ein Harod Meuhad là bảo tàng nghệ thuật lớn nhất tại miền bắc của Israel. Ẩm thực Israel gồm các món ăn bản địa cũng như các món ăn được di dân Do Thái đưa đến. Từ khi lập quốc vào năm 1948, và đặc biệt là từ cuối thập niên 1970, một nền ẩm thực dung hợp Israel đã phát triển. Khoảng một nửa cư dân Do Thái Israel duy trì chế độ ăn uống Do Thái kosher tại nhà. Các nhà hàng kosher hiếm thấy trong thập niên 1960, song tăng lên khoảng 25% tính đến năm 2015, có lẽ phản ánh các giá trị phần lớn là thế tục của những thực khách. Các nhà hàng khách sạc có nhiều khả năng phục vụ thực phẩm kosher. Thị trường bán lẻ phi kosher vốn thưa thớt, song phát triển nhanh chóng và đáng kể sau khi có dòng người nhập cư từ Đông Âu và Nga trong thập niên 1990. Cùng với cá, thỏ và đà điểu phi kosher, thịt lợn—thường gọi là "thịt trắng" tại Israel—được sản xuất và tiêu thụ bất chấp việc bị cả Do Thái giáo và Hồi giáo cấm chỉ. === Thể thao === Israel giành được huy chương vàng Thế vận hội đầu tiên tại nội dung lướt ván buồm trong Thế vận hội Mùa hè 2004. Israel giành được hơn 100 huy chương vàng tại Thế vận hội dành cho người khuyết tật. Thế vận hội Mùa hè người khuyết tật năm 1968 được tổ chức tại Israel. Đại hội thể thao Maccabiah là một sự kiện theo thể thức thế vận hội dành cho các vận động viên Do Thái và các vận động viên Israel, nó được bắt đầu từ thập niên 1930, và từ đó được tổ chức bốn năm một lần. Các môn thể thao có khán giả phổ biến nhất tại Israel là bóng đá và bóng rổ. Giải Ngoại hạng Israel là giải bóng đá cấp cao nhất toàn quốc, và Giải bóng rổ siêu cấp Israel là giải cấp cao nhất. Maccabi Haifa, Maccabi Tel Aviv, Hapoel Tel Aviv và Beitar Jerusalem là các câu lạc bộ thể thao lớn nhất. Maccabi Tel Aviv, Maccabi Haifa và Hapoel Tel Aviv thi đấu tại Giải bóng đá vô địch các câu lạc bộ châu Âu và Hapoel Tel Aviv từng vào đến trận tứ kết giải này. Maccabi Tel Aviv B.C. nhiều lần giành chức vô địch tại giải vô địch bóng rổ châu Âu. Năm 1964, Israel đăng cai và giành chức vô địch Giải các quốc gia châu Á; năm 1970 đội tuyển bóng đá quốc gia Israel đủ điều kiện tham gia Giải bóng đá vô địch thế giới, đây là lần duy nhất họ tham dự World Cup. Đại hội Thể thao châu Á 1974 tổ chức tại Tehran là lần cuối cùng Israel tham gia đại hội này, và bị tổn hại do các quốc gia Ả Rập từ chối thi đấu với Israel. Israel bị trục xuất khỏi Đại hội Thể thao châu Á 1978 và từ đó không tham gia đại hội này. Năm 1994, Liên đoàn bóng đá châu Âu chấp thuận nhận Israel và các đội tuyển bóng đá Israel nay thi đấu tại giải của châu Âu. Cờ vua là một môn thể thao hàng đầu tại Israel và được mọi lứa tuổi hưởng ứng. Có nhiều đại kiện tướng và kỳ thủ Israel giành một số giải vô địch thế giới trẻ. Israel tổ chức một giải vô địch quốc tế thường niên và đăng cai Giải vô địch cờ vua đội tuyển thế giới năm 2005. Bộ Giáo dục và Liên đoàn Cờ vua Thế giới đồng ý về một kế hoạch dạy cờ vua trong các trường học Israel, và nó được đưa vào chương trình giảng dạy tại một số trường. Thành phố Beersheba trở thành một trung tâm cờ vua quốc gia, trò chơi này được dạy trong các nhà trẻ của thành phố. Một phần nhờ vào các di dân Liên Xô cũ, đây là thành phố có số lượng đại kiện tướng cờ vua cao nhất thế giới. Nhà vô địch quần vợt Israel Shahar Pe'er xếp hạng 11 thế giới vào ngày 31 tháng 1 năm 2011. Krav Maga là một môn võ thuật phát triển trong các khu người Do Thái khi đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít tại châu Âu, nó được lực lượng an ninh và cảnh sát Israel sử dụng và được học khắp thế giới. == Tham khảo == == Thư mục == == Liên kết ngoài == Chính phủ Trang dịch vụ và thông tin chính phủ Về Israel tại Bộ Ngoại giao Israel Trang chính thức của Văn phòng Thủ tướng Israel Trang chính thức của Bộ Du lịch Israel Trang chính thức của Cục Thống kê Trung ương Israel Thông tin tổng quát Mục “Israel” trên trang của CIA World Factbook. Israel tại Thư viện Thị giác người Do Thái Key Development Forecasts for Israel từ International Futures Bản mẫu:GovPubs Israel tại DMOZ Bản đồ [[commons:Atlas of {{{1}}}|Wikimedia Atlas của {{{1}}}]], có một số bản đồ liên quan đến {{{1}}}. Dữ liệu địa lý liên quan đến Israel tại OpenStreetMap
context.txt
ConTEXt là hệ thống sắp chữ dựa trên TeX. Khác với LaTeX, một gói macro TeX chính khác, ConTeXt vừa có tính mô-đun hơn trong khái niệm, vừa có tính đơn khối hơn trong thiết kế. Thí dụ như đồ hoạ véc-tơ dựa trên TeX được tích hợp đầy đủ vào ConTeXt thông qua Metafun, phần mở rộng (mô-đun) của ngôn ngữ lập trình đồ hoạ MetaPost (MetaPost xuất phát từ ngôn ngữ Metafont, một công trình của Donald Knuth). Nó cũng chú trọng đến việc sử dụng PdfTeX để phát sinh các phiên bản trên giấy lẫn màn hình (screen) trực tuyến của cùng một tài liệu. Nó có chứa một số văn lệnh tiện ích viết bằng Perl, như TeXutil và TeXexec. Nó tích hợp bộ phân tích cú pháp (parser) XML (có hỗ trợ MathXML). Hệ thống này được Hans Hagen của PRAGMA Advanced Document Engineering (Pragma ADE), một công ty đặt trụ sở tại Hà Lan, phát triển từ năm 1990. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Pragma ADE ConTeXt wiki
serbia.txt
Serbia - tên chính thức là Cộng hòa Serbia (tiếng Serbia: Република Србија - Republika Srbija) - là một quốc gia không giáp biển thuộc khu vực đông nam châu Âu. Serbia nằm trên phần phía nam của đồng bằng Pannonia và phần trung tâm của bán đảo Balkan. Địa hình phía bắc nước này chủ yếu là đồng bằng còn phía nam lại nhiều đồi núi. Serbia giáp với Hungary về phía bắc; România và Bulgaria về phía đông; Albania và Cộng hòa Macedonia về phía nam; và cuối cùng giáp với Montenegro, Croatia và Bosna và Hercegovina về phía tây. Tính đến tháng 7 năm 2007, dân số của nước này là 10.150.265 người. Serbia từng là một quốc gia có nền văn hóa phát triển cao vào thời kỳ trung cổ trước khi trở thành thuộc địa của Đế chế Ottoman. Năm 1878, Serbia chính thức giành lại được nền độc lập cho dân tộc. Đường biên giới hiện nay của Serbia được hình thành sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và nước này trở thành một bộ phận của Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, một quốc gia xã hội chủ nghĩa nhưng không phải là đồng minh của Liên Xô. Khi Liên bang Nam Tư giải thể vào thập niên 1990, chỉ còn lại Montenegro ở lại với Serbia trong liên bang Serbia và Montenegro. Năm 2006, Montenegro tách khỏi liên bang và Serbia trở thành một quốc gia độc lập. Hiện nay vấn đề vùng lành thổ Kosovo tách khỏi Serbia để thành lập một quốc gia độc lập vẫn gây nhiều tranh cãi trên thế giới. Ngày nay Serbia là một nước cộng hòa đa đảng theo thể chế dân chủ đại nghị. Thủ tướng là người đứng đầu nhà nước và nắm thực quyền chính ở Serbia. Nền kinh tế Serbia hiện nay đang tăng trưởng khá nhanh và thu nhập bình quân của nước này được xếp vào nhóm trung bình trên của thế giới. Serbia cũng là nước có Chỉ số Phát triển Con người (HDI) cao. == Tên gọi == Trong khoảng thời gian từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 20, Serbia thường bị gọi là Servia trong tiếng Anh[4]. Điều này khiến người Serb rất tức giận vì nó gần với từ servus trong tiếng Latin có nghĩa là "nô lệ". Năm 1914, Serbia là đồng minh của Anh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất mà việc gọi tên nước đồng minh bằng một từ gần với "nô lệ" thì chắc chắc không hề thích hợp. Vì vậy từ Serbia bắt đầu được sử dụng để thay thế cho Servia. Các học giả ngày nay cũng tuyên bố tên nước Serbia không hề có một sự liên hệ hay bắt nguồn nào từ servus trong tiếng Latin. Cái tên Serbia bắt nguồn từ tên bộ tộc Serboi sống ở phía bắc dãy núi Kavkaz và được nhắc đến trong các tác phẩm của Tacitus, Plinius và Ptolemy trong thế kỉ 1 và thế kỉ 2. Người Serboi đã di cư đến vùng Trung Âu ngày nay và lập ra quốc gia Sorbia vào thế kỉ 5. Tiếp đó những người thuộc dân tộc này được cho là đã đến bán đảo Balkan vào năm 630, lúc đó người họ đã đến định cư cùng với nhiều dân tộc Slav khác và thành lập những quốc gia Serbia đầu tiên thời trung cổ. Biên niên sử Hoàng gia Frank đã miêu tả sự có mặt của người Serb tại vùng Balkan vào năm 822 với cái tên Sorabi như "một dân tộc kiểm soát phần lớn lãnh thổ Dalmatia" lúc bấy giờ (Dalmatia là một vùng của nước Croatia ngày nay). Vào thời kỳ trung cổ, người ta hay dùng thuật ngữ "đất của người Serb" hay "vua của người Serb" nhiều hơn là "Serbia" hay "vua của Serbia" vì người Serb lúc đó đã phân tán trên rất nhiều vùng khác nhau của bán đảo Balkan. == Lịch sử == === Tiền sử & Buổi đầu lịch sử === Người Illyrian, Thracian và Dacians cổ đã sinh sống ở Serbia trước người La Mã. Macedon đã mở rộng về phía nam Serbia ngày nay vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, điểm cực bắc của đế chế của Alexander Đại Đế là thị trấn Kale. Thành phố phía bắc Serbia Sirmium là một trong những thủ đô La Mã thời Tam đầu chế. === Vương quốc Serbia trung cổ (thế kỉ 7 đến thế kỉ 14) === Vào thế kỉ 7, người Serb đã di cư đến vùng bán đảo Balkan ngày nay và chia thành 6 bộ tộc lớn là Raska, Bosna, Duklja (hay Zeta), Zahumlje, Travunia và Pagania. Khi đó hầu hết người Serb đã cải theo Cơ đốc giáo, bao gồm cả đạo Công giáo và đạo Chính thống. Năm 1077 tại Zeta (nay là Montenegro), vua Mihailo đã được Giáo hoàng phong lên ngôi vua. Con trai ông là Konstantin Bodin tiếp tục nối ngôi và cai trị vùng đất này từ năm 1080 đến khi mất vào năm 1101. Thời gian này, những vương quốc của người Serb vẫn bị đe dọa bởi các nước lớn là Đế chế Byzantine và Bulgaria. người Serb không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau trong cùng một vương quốc mà nhiều lúc, họ tách ra thành nhiều vương quốc nhỏ độc lập. Trong tất cả các công quốc của người Serb thì Raska là nước có tiềm lực và lãnh thổ lớn nhất. Họ bắt đầu thống nhất đất đai với nhiều vùng đất xung quanh rồi đổi tên nước thành Serbia. Vương triều Serbia thống nhất đầu tiên là triều đại Caslav Klonimirovic, thành lập tại Rascia vào giữa thế kỉ 10. Trong giai đoạn từ nửa đầu thế kỉ 11 đến cuối thế kỉ 12, vương quyền lại thuộc về triều đại Vojislavljevic của Zeta. Vương quốc Serbia thời trung cổ đạt sự cực thịnh của nó dưới triều đại của vua Stefan Dushan. Ông đã mở mang các tuyến đường thương mại của người Serb khiến nền kinh tế đất nước phát triển mạnh mẽ, sức mạnh của vương triều được củng cố và Serbia trở thành một trong những trung tâm văn hóa hàng đầu châu Âu lúc bấy giờ. Nhân lúc Đế chế Byzantine suy yếu, Stefan Dushan đã xâm chiếm các vùng đất ở phía nam và phía đông, chiếm gần hết phần đất liền của nước Hy Lạp và mở rộng gấp đôi diện tích của Serbia. Năm 1346, ông đăng quang danh hiệu "Hoàng đế của người Serb và người Hy Lạp", thành lập Đế quốc Serbia, nhưng sự huy hoàng đó đã kéo dài không lâu. Năm 1355, vua Stefan Dushan bị đầu độc chết ở tuổi 47. Đất nước Serbia rơi vào khủng hoảng và hỗn loạn bởi những triều đại yếu kém tiếp theo trong khi người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman đang thôn tính Đế chế Byzantine tại phía đông. === Sự xâm lược của Đế chế Ottoman === Cuối thế kỉ 14, những cuộc chiến tranh đầu tiên giữa người Serb và người Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu nổ ra. Năm 1371, anh em Nam tước Mrnjavcevic đã đẩy lùi quân Thổ Nhĩ Kỳ về lãnh thổ của họ nhưng sau đó lại bị phản công ngay tại trận Maritsa. Năm 1386, tướng Milos Obilic của người Serb đã đánh thắng quân Thổ Nhĩ Kỳ một trận lớn tại trận Plocnik. Tuy nhiên đến năm 1389, trận Kosovo với thất bại thuộc về Serbia đã định rõ số phận của nước này khi không còn một lực lượng nào có đủ khả năng đẩy lùi những cuộc tiến công tiếp theo của người Thổ Nhĩ Kỳ. Đến năm tiếp sau, Kosovo đã bị mất vào tay Đế chế Ottoman, Vương quốc Serbia buộc phải chuyển dần lãnh thổ của mình lên phía bắc. Đến năm 1459, người Thổ Nhĩ Kỳ cũng chiếm xong toàn bộ miền bắc Serbia. Chỉ còn lại một số vùng đất còn duy trì được tự do là Bosnia và Zeta nhưng cuối cùng cũng bị sát nhập vào năm 1496. Từ đấy trở đi bắt đầu 4 thế kỉ Serbia bị nằm dưới ách đô hộ của Đế chế Ottoman. Từ thế kỉ 14, một bộ phận lớn người dân Serbia đã nhập cư vào Vojvodina, lúc đó nằm dưới quyền cai quản của Hungary. Đến khi những cuộc chiến tranh giữa Đế chế Áo và Đế chế Ottoman bùng nổ trong những thế kỉ tiếp theo đó, người Serb đã đứng về phe người Áo nhằm cố gắng giành lại những vùng đất đai đã mất song họ vẫn chưa thành công. === Serbia cận đại === Dưới ách cai trị tàn bạo của Đế chế Ottoman, người Serb đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh. Sau hai cuộc nổi dậy lớn của người Serb vào năm 1804 (lãnh đạo bởi Karadorde Petrovic) và năm 1815 (lãnh đạo bởi Milos Obrenovic), Đế chế Ottoman đã phải trao quyền tự trị cho người Serb. Vào thời kỳ cận đại, Đế chế Ottoman của người Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu suy yếu do những mâu thuẫn sắc tộc sâu sắc bên trong đế chế và sự uy hiếp của các nước tư bản phương Tây. Đây là điều kiện thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc ở những quốc gia Cơ đốc giáo sống trong sự kìm kẹp của đế chế. Trong hoàn cảnh đó, người Serb không chỉ đẩy mạnh đấu tranh vũ trang mà còn tiến hành những cải cách xã hội với sự xuất hiện của những giá trị tư bản phương Tây. Những cuộc chiến tranh chống Ottoman bùng nổ mạnh mẽ đã dẫn tới việc thành lập Công quốc Serbia độc lập và nhận được sự công nhận của cộng đồng quốc tế vào năm 1878. Bên cạnh đó, cộng đồng người Serb tại Vojvodina nằm trong Đế chế Áo-Hung cũng đòi quyền tự trị cho khu vực này. Từ năm 1882, Công quốc Serbia đổi thành Vương quốc Serbia. Thời kỳ tiếp theo đó là sự luân phiên cai trị đất nước của hậu duệ của Karadorde Petrovic, người lãnh đạo cuộc nổi dậy lần thứ nhất của người Serb năm 1805 và hậu duệ của Milos Obrenovic, người lãnh đạo cuộc nổi dậy lần thứ hai năm 1815. Sau khi giành được độc lập từ tay Đế chế Ottoman, Serbia đã có nhiều bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hóa. Điều này có được do chính phủ Serbia lúc đó đã cử nhiều thanh niên Serbia sang các nước châu Âu lớn học tập và khi trở về, họ đã mang theo nhiều kiến thức quan trọng cũng như cả một hệ thống tư tưởng mới để xây dựng đất nước. Năm 1903, một cuộc đảo chính diễn ra đã đưa một người cháu trai của Karadorde là vua Petar I của Serbia lên ngai vàng, mở đường cho những cải cách dân chủ tại Serbia. Petar I là người theo tư tưởng tự do và từng được học tập tại phương Tây. Ông đã thành lập một chính phủ dân chủ nghị viện và ban hành bản hiến pháp dân chủ đầu tiên của Serbia. Năm 1912-1913, Serbia liên minh với Bulgaria, Hy Lạp và Montenegro đánh bại quân của Đế chế Ottoman, chấm dứt hoàn toàn sự đô hộ của người Thổ Nhĩ Kỳ đối với khu vực Balkan. === Thế chiến I === Ngày 28 tháng 6 năm 1914 vụ ám sát Hoàng tử nước Áo Franz Ferdinand tại Sarajevo thuộc Bosnia-Herzegovina bởi Gavrilo Princip (một thành viên công đoàn Nam Tư thuộc Thanh niên Bosnia) và là một công dân Áo, đã dẫn tới việc Áo-Hung tuyên chiến với Vương quốc Serbia. Để bảo vệ đồng minh Serbia của mình, Nga bắt đầu huy động binh sĩ, dẫn tới việc đồng minh của Áo-Hung là Đức tuyên chiến với Nga. Sự trả đũa của Áo-Hung với Serbia đã dẫn tới một loạt các liên minh quân sự tạo nên một phản ứng dây chuyền các hành động tuyên chiến trên khắp lục địa, dẫn tới sự bùng phát của Thế chiến I trong vòng một tháng. Quân đội Serbia đã giành được nhiều chiến thắng quan trọng trước Áo-Hung khi bắt đầu Thế chiến I, như Trận Cer và Trận Kolubara – là những thắng lợi đầu tiên của Đồng Minh trước Liên minh trung tâm trong Thế chiến I. Dù có những thắng lợi ban đầu cuối cùng họ cũng bị đánh bại bởi các lực lượng liên hợp của Đế chế Đức, Áo-Hung và Bulgaria năm 1915. Đa phần quân đội Serbia và một số người phải sống lưu vong tại Hy Lạp và Corfu nơi họ phục hồi, tái tổ chức và quay lại Mặt trận Macedonia (Thế chiến I) để đứng đầu một cuộc đột phá cuối cùng qua các giới tuyến quân địch ngày 15 tháng 9 năm 1918, giải phóng Serbia và đánh bại Đế chế Áo-Hung cùng Bulgaria. Serbia (với chiến dịch lớn của mình) là một Cường quốc Đồng minh vùng Balkan quan trọng đóng góp đáng kể vào thắng lợi của Đồng Minh tại Balkan tháng 11 năm 1918, đặc biệt buộc Bulgaria phải đầu hàng với sự hỗ trợ của Pháp. Về quân sự nước này được coi là một tiểu cường quốc Đồng minh. Serbia cũng là một trong những nước góp công vào việc buộc Áo-Hung đầu hàng ở Trung Âu. === Vương quốc Nam Tư === Vùng Syrmia là nơi đầu tiên thuộc các vùng đất Habsburg tuyên bố liên minh với Vương quốc Serbia ngày 24 tháng 11 năm 1918. Banat, Bačka và Baranja - (Vojvodina) – gia nhập Vương quốc vào ngày hôm sau. Ngày 26 tháng 11 năm 1918, Hội đồng Podgorica phế truất Nghị viện Petrovic-Njegos của Vương quốc Montenegro, lựa chọn triều đình Karadjordjevic (triều đình nắm quyền Vương quốc Serbia), trên thực tế thống nhất hai nhà nước. Bosna và Hercegovina tuyên bố thống nhất với Belgrade Ngày 1 tháng 12 năm 1918, Nhà nước của người Slovenia, Croatia và Serbia và Vương quốc Serbia gia nhập Vương quốc của người Serb, Croatia và Slovenia (sau này là Vương quốc Nam Tư). Vua Petar I của Serbia trở thành Vua Petar I của Nam Tư. === Thế chiến II và nội chiến tại Serbia === ==== Xâm lược Nam Tư ==== Vương quốc Nam Tư có quan điểm không nhất quán trong Thế chiến II. Lo ngại một cuộc xâm lược của Đức, Nhiếp chính Nam Tư, Hoàng tử Paul, đã ký Hiệp ước Ba Bên với Liên minh Trung tâm ngày 25 tháng 3 năm 1941, dẫn tới những cuộc biểu tình tại Belgrade. Ngày 27 tháng 3 Hoàng tử Paul bị một cuộc đảo chính quân sự lật đổ và được thay thế bởi Vua Petar II. Tướng Dušan Simović trở thành Thủ tướng và Vương quốc Nam Tư rút lui sự ủng hộ với Liên minh Trung tâm. Để trả đũa Adolf Hitler tung ra cuộc xâm lược Nam Tư ngày 6 tháng 4. Tới ngày 17 tháng 4, thoả thuận đầu hàng không điều kiện được ký kết tại Belgrade. Sau cuộc xâm lược, Vương quốc Nam Tư bị giải tán và, với sự phân chia Nam Tư, Serbia trở thành một phần của Hành chính Quân sự Serbia, dưới một chính phủ liên minh Đức-Serbia lãnh đạo bởi Milan Nedić. Bên cạnh việc bị Wehrmacht chiếm đóng từ năm 1941 tới năm 1945, Serbia cũng là nơi diễn ra một cuộc nội chiến giữa Những người Chetnik bảo hoàng của Draža Mihailović và những người du kích Cộng sản dưới sự lãnh đạo của Josip Broz Tito tiến hành. Chống lại các lực lượng đó là các đơn vị của Nedić thuộc Quân đoàn Tình nguyện Serbia và Vệ binh Nhà nước Serbia. Tới đầu năm 1944, quân du kích trở thành lực lượng chính ở Bosnia, Montenegro, Slovenia và Herzegovina. Tuy nhiên, tại Serbia, đặc biệt là các vùng nông thôn, dân chúng vẫn trung thành với Draza Mihajlovic. Sự đồng chiếm đóng của Xô viết và Bulgaria năm 1944 dẫn tới thời cơ cho quân du kích, khi ấy họ trở thành lực lượng lãnh đạo chính, với việc triều đình Karadjordjevic bị cấm quay trở lại Serbia. Mặt trận Syrmia là địa điểm cuối cùng của cuộc nội chiến Serbia. ==== Diệt chủng người bởi chế độ Ustaše trong Thế chiến II Croatia ==== Ustaše theo chủ nghĩa phát xít và dân tộc cực đoan tìm cách thanh trừng người Serb, người Do thái và Roma tại Nhà nước Croatia Độc lập, họ bị đàn áp và diệt chủng trên quy mô lớn, khét tiếng nhất là tại trại tập trung Jasenovac. Thư viện Ảo Do thái ước tính từ 45.000 tới 52.000 người Serb tại Croatia đã bị giết hại tại trại tập trung Jasenovac và khoảng 330.000 tới 390.000 người là nạn nhân của chiến dịch diệt chủng. Con số ước tính trẻ em Serbia chết trong khoảng 35,000 tới 50,000. Trung tâm Yad Vashem báo cáo rằng hơn 600.000 người Serb bịt giết hại trong NDH, với khoảng 500.000 người thuộc nhiều quốc tịch và dân tộc bị giết hại riêng tại trại Jasenovac. Sau chiến tranh các nguồn chính thức của Nam Tư ước tính khoảng 700.000 nạn nhân, chủ yếu là người Serb. Misha Glenny cho rằng số lượng người Serb bị giết hại trong cuộc diệt chủng là hơn 400,000 người. Tháng 4 năm 2003 tổng thống Croatia Stjepan Mesić đã thay mặt Croatia xin lỗi các nạn nhân của Jasenovac. Năm 2006, trong tình huống tương tự, ông đã thêm rằng cần giải thích rõ với mọi khách tới thăm Jasenovac rằng "Diệt chủng người Do thái, diệt chủng và các tội ác chiến tranh" đã diễn ra tại đây. === Serbia bên trong Nam Tư xã hội chủ nghĩa === Sau khi chiến tranh chấm dứt, luật bầu cử được thông qua, dự định tiến hành vào tháng 11 năm 1945. Theo luật này, quyền bầu cử được trao cho mọi công dân Nam Tư trên 18 tuổi, cũng như mọi thành viên của Mặt trận Nhân dân và các đơn vị du kích không quan tâm tới độ tuổi của họ. Quyền bầu cử không được trao cho các lực lượng trung thành cũ, các đảng ủng hộ độc lập tại Serbia và Croatia, (cho rằng là) những kẻ cộng tác và người Đức và người Ý. Các đảng đối lập được khuyến khích giải tán và gia nhập danh sách của Mặt trận Nhân dân. Sự kiểm duyệt chặt chẽ được tăng cường, và mọi thành viên của Ủy ban Bầu cử đều thuộc Mặt trận Nhân dân. Mọi đảng đối lập đã thông báo sự lạm dụng của Ozna, lực lượng cảnh sát mật. Đa số các đảng giải tán và bị sáp nhập vào trong một danh sách mặt trận Nhân dân duy nhất, bởi họ bị cấm tự tham gia vào cuộc bầu cử, các thành phần đối lập còn lại tẩy chay cuộc bầu cử. Danh sách duy nhất, như một ứng cử viên duy nhất tham gia vào cuộc bầu cử, giành thắng lợi lớn. Tới năm 1947, Mặt trận Nhân dân "đã sạch bóng" các cá nhân lãnh đạo cũ, và mọi đảng đối lập bên ngoài danh sách đã bị xoá bỏ. Cùng lúc đó, lãnh đạo tối cao chính thức chấp nhận chương trình của Đảng Cộng sản như của riêng nó. Trên cơ sở của cuộc bầu cử, Quốc hội lập hiến được thành lập bởi Đảng Cộng sản Nam Tư tuyên bố xoá bỏ chế độ quân chủ do người Serb lãnh đạo tại Nam Tư – và gia đình hoàng gia bị cấm quay trở lại đất nước. Một chế độ cộng sản được thiết lập dưới sự lãnh đạo độc tài của lãnh đạo Đảng Cộng sản Nam Tư Joseph Broz Tito. Tito, là người Croat- Slovene đã đích thân tìm kiếm sự thống nhất giữa các sắc tộc sau cuộc chia rẽ đất nước trong bạo lực ở Thế chiến II qua một chính sách được gọi là Anh em và Thống nhất khuyến khích việc hợp tác giữa các sắc tộc và ủng hộ một tính chất Nam Tư thống nhất thay cho các tính chất sắc tộc và tôn giáo trước đang có, ngăn chặn những kẻ quốc gia của bất kỳ nước cộng hoà nào, và buộc những sắc tộc khác nhau phải cùng làm việc để giải quyết những sự khác biệt. Điều này đã gây nhiều tranh cãi tại Seriba trong những năm cuối thời kỳ cầm quyền của Tito. Serbia là một trong sáu đơn vị nhà nước của liên bang, Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Nam Tư (Socijalistička Federativna Republika Jugoslavija, hay SFRJ). Với thời gian tầm ảnh hưởng của Serbia giảm đi khi những cuộc cải cách do các nước cộng hoà khác yêu cầu nhằm giảm tập trung quyền lực trao cho họ tiếng nói tương đương trong hệ thống tập trung hoá. Điều này bắt đầu với việc thành lập các tỉnh tự trị Kosovo và Vojvodina vốn ban đầu chỉ có ít quyền lực. Tuy nhiên, các cuộc cải cách năm 1974 đã dẫn đến những thay đổi lớn, khiến các tỉnh tự trị có quyền gần tương đương với các nước cộng hoà, theo đó nghị viện Serbia không giữ quyền kiểm soát với các công việc chính trị của hai tỉnh, và về kỹ thuật chỉ giữ quyền lực với Trung Serbia. Nhiều người Serb, gồm cả những người trong Đảng Cộng sản Nam Tư, bực tức với những quyền lực được trao cho các tỉnh tự trị. Cùng lúc đó, một số người Albani tại Kosovo trong thập niên 1980 bắt đầu yêu cầu trao cho Kosovo quyền trở thành một nhà nước cộng hoà bên trong Nam Tư, vì thế trao cho họ quyền ly khai, một quyền mà các tỉnh tự trị không có. Những căng thẳng sắc tộc giữa người Serb và người Albani tại Kosovo cuối cùng có tầm ảnh hưởng lớn dẫn tới sự sụp đổ của Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Nam Tư. === Giải tán Nam Tư và các cuộc Chiến tranh Nam Tư === Slobodan Milošević lên nắm quyền tại Serbia năm 1989 trong Liên đoàn Cộng sản Serbia thông qua một loạt hành động táo bạo chống lại các thành viên trong chính phủ cầm quyền. Milošević hứa giảm bớt quyền lực của những tỉnh tự trị Kosovo và Vojvodina. Điều này làm phát sinh căng thẳng với giới lãnh đạo cộng sản của các nước cộng hoà khác cuối cùng dẫn tới sự ly khai của Slovenia, Croatia, Bosna và Hercegovina và Cộng hoà Macedonia khỏi Nam Tư. Chế độ dân chủ đa đảng xuất hiện tại Serbia năm 1990, chính thức loại bỏ chế độ cầm quyền đơn đảng cộng sản cũ. Những lời chỉ trích chính phủ Milošević cho rằng chính phủ Serbia tiếp tục độc đoán dù đã có những thay đổi hiến pháp và Milošević duy trì một ảnh hưởng cá nhân mạnh trong truyền thông nhà nước Serbia. Milošević ra lệnh tạm thời cấm truyền thông với những đài phát độc lập đưa tin về những cuộc phản đối chống chính phủ của ông và hạn chế tự do ngôn luận thông qua việc cải cách Luật hình sự Serbia với đe doạ tuyên án tội hình sự với bất kỳ ai "chế giễu" chính phủ và các lãnh đạo của nó, khiến nhiều người chống đối Milošević và chính phủ của ông bị bắt giữ. Giai đoạn hỗn loạn chính trị và xung đột đánh dấu sự gia tăng căng thẳng sắc tộc và giữa người Serb và các sắc tộc khác của Nam Tư cũ khi những yêu cầu lãnh thổ của các nhóm sắc tộc khác nhau thường xung đột lẫn nhau Những người Serb vốn từng chỉ trích không khí quốc gia, chính phủ Serbia, hay các thực thể chính trị của người Serb ở Bosnia và Croatia được thông báo là đã bị quấy rầy, đe doạ, hay bị giết hại bởi những người Serb theo chủ nghĩa quốc gia. Người Serb tại Serbia sợ rằng các chính phủ quốc gia và ly khai của Croatia lãnh đạo bởi những người có cảm tình với Ustase sẽ đàn áp người Serb đang sống tại Croatia. Quan điểm này về chính phủ Croatia được Milošević ủng hộ, ông cũng buộc tội các chính phủ ly khai của Bosna và Hercegovina đang dưới sự lãnh đạo của những người Hồi giáo chính thống. Chính phủ Croatia và Bosnia về phần mình buộc tội chính phủ Serbia đang tìm cách tạo ra một nhà nước Đại Serbia. Những quan điểm này dẫn tới tình trạng gia tăng tính bài ngoại giữa các dân tộc trong các cuộc chiến tranh. Năm 1992, các chính phủ Serbia và Montenegro đồng ý thành lập một liên bang Nam Tư mới gọi là Cộng hòa Liên bang Nam Tư xoá bỏ phương hướng cộng sản chính thức của nhà nước Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Nam Tư cũ, và thay vào đó bằng chế độ dân chủ. Trước những cáo buộc rằng chính phủ Nam Tư đang ủng hộ các lực lượng quân sự của người Serb tại Bosnia & Herzegovina về tài chính và quân sự, các biện pháp trừng phạt được Liên hiệp quốc áp dụng trong thập niên 1990, dẫn tới sự cô lập chính trị, suy giảm kinh tế, tình trạng khó khăn và siêu lạm phát của đồng tiền tệ Nam Tư. Milošević đại diện cho người Serb Bosnia tại thoả thuận hoà bình Dayton năm 1995, ký kết thoả thuận chấm dứt cuộc Chiến tranh Bosnia đã làm phân chia Bosnia & Herzegovina chủ yếu theo các vùng cư trú sắc tộc thành một nhà nước cộng hoà Serb và một Liên bang người Bosnia-Croat. Khi Đảng Xã hội chủ nghĩa Serbia cầm quyền từ chối chấp nhận các kết quả của cuộc bầu cử thành phố năm 1997 theo đó họ đã thua cuộc, những người Serb tham gia vào các cuộc tuần hành lớn phản đối chính phủ, các lực lượng chính phủ ngăn cản những người biểu tình. Trong năm 1998 và 1999, nền hoà bình chính thức của Serbia bị phá vỡ khi tình hình tại Kosovo xấu đi với những cuộc xung đột liên tiếp tại đây giữa một bên là các lực lượng an ninh Nam Tư và một bên là Quân đội Giải phóng Kosovo (KLA) của người Albani, cuộc chiến này hiện được gọi là Chiến tranh Kosovo. === Chuyển tiếp chính trị === Tháng 9 năm 2000, các đảng đối lập cáo buộc Milošević đã gian lận trong các thủ tục bầu cử liên bang. Những cuộc tuần hành đường phố và tụ tập trên khắp Serbia cuối cùng đã buộc Milošević nhượng bộ và trao lại quyền lực cho phe Đối lập Dân chủ Serbia (Demokratska opozicija Srbije, hay DOS) mới được thành lập. DOS là một liên minh rộng lớn của các đảng chống Milošević. Ngày 5 tháng 10, sự ra đi của Milošević đã dẫn tới việc quốc tế ngừng cô lập Serbia trong những năm cầm quyền của Milošević. Milošević bị đưa tới Toà án Hình sự Quốc tế vì những cáo buộc tài trợ cho các tội ác chiến tranh và các tội ác chống lại loài người trong các cuộc chiến tại Croatia, Bosnia, và Kosovo và ông bị giữ để xét xử cho tới khi chết năm 2006. Với sự ra đi của Milošević, các lãnh đạo mới của Serbia thông báo rằng nước này sẽ tìm cách gia nhập Liên minh châu Âu (EU). Tháng 10 năm 2005, EU khai trương các cuộc đàm phán với Seriba về một Thoả thuận Liên minh và Ổn định (SAA), một bước đầu tiên hướng tới sự gia nhập EU. Không khí chính trị Serbia từ sự ra đi của Milošević vẫn còn căng thẳng. Năm 2003, Zoran Đinđić bị ám sát bởi một người Serb theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Các lực lượng quốc gia và ủng hộ Eu tại Serbia vẫn bị chia rẽ mạnh về tiến trình chính trị của Serbia về các quan hệ của nó với Liên minh châu Âu và phương Tây. Từ năm 2003 tới năm 2006, Serbia đã trở thành một phần của "Liên minh Nhà nước Serbia và Montenegro." Liên minh này là thực thể kế tục Liên bang Cộng hoà Nam Tư(SRJ). Ngày 21 tháng 5 năm 2006, Montenegro tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để quyết định tiếp tục hay ngừng liên minh với Serbia. Ngày hôm sau kết quả cho thấy 55.4% cử tri ủng hộ độc lập. Tỷ lệ này chỉ hơi vượt quá yêu cầu cần thiết 55%. === Cộng hoà Serbia === Ngày 5 tháng 6 năm 2006, sau cuộc trưng cầu dân ý tại Montenegro, Quốc hội Serbia tuyên bố nhà nước "Cộng hoà Serbia" là thực thể kế tục pháp lý của "Nhà nước Liên minh Serbia và Montenegro." Serbia và Montenegro trở thành các quốc gia riêng biệt. Tuy nhiên, khả năng về một quyền công dân kép cho Người Serb tại Montenegro là một vấn đề vẫn đang được đàm phán giữa hai chính phủ. Tháng 4 năm 2008 Serbia được mời gia nhập chương trình Đối thoại tăng cường với NATO dù sự bất hoà ngoại giao với Liên minh này về vấn đề Kosovo vẫn còn. === Serbia và việc gia nhập EU === Ngày 21 tháng 1 năm 2014 các cuộc đàm phán gia nhập EU bắt đầu. Vào ngày 14 tháng 12 2015 những chương thảo luận đầu tiên đã được bàn cãi trong đó có chương 35 về việc bình thường hóa quan hệ với Kosovo, ngoài ra chương 32 về việc kiểm soát tài chánh. Kế tiếp là chương 23 và 24 về nhà nước pháp quyền. EU giúp đỡ tài chánh để Serbia thực hiện những chương này. Từ 2007-2015 Serbia đã nhận được hơn 1,8 tỷ Euro. Riêng năm 2015 là 216,1 triệu Euro. Serbia sẽ nhận được tổng cộng từ 2014 tới 2020 khoảng 1,5 tỷ EUR. == Địa lý == Serbia là ngã tư đường giữa Trung Âu, Nam Âu và Đông Âu, giữa bán đảo Balkan và Đồng bằng Pannonian. Serbia có tiềm năng rất lớn về vận tải đường thuỷ. Dù là một nước nằm kín trong lục địa, có khoảng 2000 km sông và kênh phù hợp với vận tải thuỷ, những sông lớn nhất là: Danube, Sava, Tisa, cùng với các sông Timiş và Begej, tất cả chúng nối Serbia với Bắc và Tây Âu (thông qua đường Kênh Rhine-Main-Danube – Biển Bắc), tới Đông Âu (qua Tisa, Timiş, Begej và các đường ra Biển Đen của sông Donau) và tới Nam Âu (qua sông Sava). Hai thành phố lớn nhất của Serbia – Belgrade và Novi Sad, cũng như Smederevo – có những cảng lớn trên sông Danube. Vùng phía bắc đất nước nằm hoàn toàn bên trong Đồng bằng Pannonian Trung Âu. Mũi cực đông của Serbia kéo tới Đồng bằng Wallachian. Biên giới phía bắc đất nước là dãy Núi Carpathian, chạy suốt Trung Âu. Dãy Nam Carpathian gặp dãy Núi Balkan, theo dòng Velika Morava, một con sông dài 500 km (có thể giao thông thuỷ một phần). Đỉnh Midžor là đỉnh cao nhất ở đông Serbia ở độ cao 2156 m. Ở đông nam, dãy núi Balkan gặp dãy Núi Rhodope. Núi Šar của Kosovo là biên giới với Albania, với một trong những đỉnh cao nhất trong vùng, Djeravica (2656 m). Dinaric Alps của Serbia chạy theo dòng chảy của sông Drina (với 350 km có thể giao thông thuỷ với các tàu nhỏ) nhìn lên những đỉnh núi Dinaric ở bờ đối diện thuộc Bosna và Hercegovina. Hơn một phần tư diện tích Serbia (27%) là rừng. Năm 2010, theo kế hoạch, các vườn quốc gia sẽ chiếm 10% tổng diện tích lãnh thổ. === Khí hậu === Khí hậu Serbia thay đổi từ khí hậu lục địa ở phía bắc, với các mùa đông lạnh, và các mùa hè nóng, ẩm với lượng mưa phân bố khá đều, và một kiểu khí hậu thiên về Adriatic ở phía nam với mùa hè và mùa thu nóng, khô và mùa đông khá lạnh với lượng mưa khá lớn trong đất liền. Những khác biệt về độ cao, sự gần gũi với Biển Adriatic và các châu thổ sông lớn, cũng như những cơn gió là nguyên nhân gây ra những sự khác biệt về khí hậu. Vojvodina có kiểu khí hậu đặc trưng lục địa, với những khối không khí từ bắc và tây Âu tạo nên đặc trưng của nó. Nam và tây nam Seriba thuộc ảnh hưởng của vùng Địa Trung Hải. Tuy nhiên, dãy Dinaric Alps và các rặng núi khác cũng góp phần làm lạnh bớt hầu hết các khối không khí ấm. Mùa đông khá khắc nghiệt tại Sandžak bởi các dãy núi bao quanh cao nguyên. Nhiệt độ không khí trung bình năm trong giai đoạn 1961–90 của vùng này với độ cao lên tới 300 m là 10.9 °C. Các khu vực có độ cao từ 300 m tới 500 m có nhiệt độ trung bình năm khoảng 10.0 °C, và trên 1000 m khoảng 6.0 °C. Nhiệt độ thấp nhất ghi nhận được ở Serbia là –39.5 °C (-39 °F, 13 tháng 1 năm 1985, Karajukića Bunari tại Pešter), và cao nhất là 44.9 °C (113 °F, 24 tháng 7 năm 2007, Smederevska Palanka). Vào mùa hè năm 2007, nhiệt độ lên tới 46 °C ở Serbia (23 tháng 7; 114.8 °F). === Vườn quốc gia === Serbia có 5 vườn quốc gia: Fruška Gora (250 km2) Kopaonik (120 km2) Tara (220 km2) Đerdap (640 km2) Núi Šar (390 km2) === Môi trường === Việc bảo vệ môi trường tại Serbia được giám sát bởi Cơ quan Bảo vệ Môi trường Cộng hoà Serbia (SEPA), thuộc Bộ Khoa học và Bảo vệ Môi trường của Cộng hoà Serbia. Những cuộc ném bom của NATO năm 1999 đã gây ra những thiệt hại lâu dài về môi trường cho Serbia, với nhiều ngàn tấn chất độc hoá học được lưu trữ trong các nhà máy bị ném bom đã thẩm thấu ra đất, không khí và nước ảnh hưởng tới con người và các loài vật hoang dã. Việc tái sử dụng vẫn đang là một hoạt động mới ở Serbia, với chỉ 15% rác thải được tái sử dụng, trong khi Bộ Khoa học và Bảo vệ Môi trường đang tiến tới việc cải thiện tình hình. Cơ quan Sử dụng Năng lượng Hiệu quả Serbia (SEEA) đã được thành lập tháng 5 năm 2002. Là một tổ chức phi lợi nhuận quốc gia, nó phát triển và thực thi các chương trình và biện pháp, phối hợp và khuyến khích các hành động có chủ định nhằm hướng tới việc sử dụng tiết kiệm và tiết kiệm năng lượng, cũng như tăng hiệu năng của việc sử dụng năng lượng trong mọi khu vực tiêu thụ. Nước này đang hướng tới mục tiêu sử dụng nhiều hơn nữa năng lượng tái tạo, một trạm điện gió 20 megawatt đang được phát triển tại Belo Blato như một phần của kế hoạch phát triển 300 megawatt điện. == Chính phủ == Ngày 4 tháng 2 năm 2003 nghị viện Liên bang Cộng hoà Nam Tư đã đồng ý một hình thức hợp tác yếu hơn giữa Serbia và Montenegro bên trong một nhà nước liên bang được gọi là Serbia và Montenegro. Liên minh ngừng tồn tại sau khi Montenegro và Serbia tuyên bố độc lập tháng 6 năm 2006. Sau khi loại bỏ Slobodan Milošević ngày 5 tháng 10 năm 2000, nước này được lãnh đạo bởi Đối lập Dân chủ Serbia. Căng thẳng dần gia tăng bên trong liên minh cho tới khi Đảng Dân chủ Serbia (DSS) rời bỏ chính phủ, để Đảng Dân chủ (DS) toàn quyền kiểm soát chính phủ. Serbia đã tổ chức cuộc trưng cầu dân ý trong hai ngày 28 và 29 tháng 10 năm 2006, phê chuẩn một hiến pháp mới thay thế hiến pháp thời kỳ Milošević. Tổng thống Serbia hiện tại là Boris Tadić, lãnh đạo Đảng Dân chủ (DS) trung tả. Ông được bầu lại với 50.5% số phiếu trong vòng hai cuộc bầu cử tổng thống Serbia được tổ chức ngày 4 tháng 2 năm 2008. Serbia tổ chức cuộc bầu cử nghị viện ngày 21 tháng 5 năm 2008. Liên minh Vì một Serbia châu Âu do DS lãnh đạo tuyên bố chiến thắng, nhưng không có đa số tuyệt đối. Sau những cuộc đàm phán với liên minh trung tả quanh Đảng Xã hội chủ nghĩa Serbia (SPS) và các đảng của các sắc tộc thiểu số (người Hungary, Bosnia và Albania) một thoả thuận đã đạt được để hình thành một chính phủ mới, với thủ tướng là Mirko Cvetković. Chính trị Serbia hiện nay có nhiều phe phái và chia rẽ sâu sắc giữa các đảng quốc gia và các đảng tự do ủng hộ gia nhập Liên minh châu Âu. Các vấn đề gồm các đề xuất tái lập chế độ quân chủ Serbia mà các thành viên hoàng gia đã nói rằng họ quan tâm tới việc thành lập một chế độ quân chủ lập hiến tại Serbia. Tuy nhiên, không một đảng lớn nào thực sự ủng hộ việc tái lập. === Phân chia hành chính === Serbia được chia thành 24 quận cộng với Thành phố Belgrade. Các quận và Thành phố Belgrade được chia nhỏ tiếp thành các đô thị. Serbia có 2 tỉnh tự trị: Vojvodina với (7 quận, 46 khu đô thị) và Kosovo và Metohija. Kosovo đã tuyên bố độc lập và hiện tại nằm dưới quyền hành chính của EULEX; (Xem Quá trình vị thế Kosovo); Kosovo đã tuyên bố độc lập ngày 17 tháng 2 năm 2008, nhưng bị Belgrade phản đối. Phần của Serbia không thuộc Kosovo cũng không thuộc Vojvodina được gọi là Trung Serbia. Trung Serbia không phải là một khu vực hành chính, không giống như hai tỉnh tự trị, và không có chính phủ địa phương riêng. Trong tiếng Anh vùng này thường được gọi là "Serbia proper" (Serbia chuẩn) để biểu thị "phần của Cộng hoà Serbia không gồm các tỉnh Vojvodina và Kosovo", như Thư viện Hạ viện đặt ra. Việc sử dụng này cũng được dùng trong Serbo-Croatian trong thời Nam Tư (dưới hình thức "uža Srbija", dịch nghĩa: "Serbia hẹp"). Việc sử dụng trong tiếng Anh chỉ đơn giản có ý nghĩa địa lý, không có ý nghĩa chính trị. === Nhân quyền === Trong báo cáo năm 2009 của mình, Hội đồng châu Âu ghi nhận những cải thiện trong quyền con người và quyền của người thiểu số tại Serbia, tuy vẫn chỉ ra một số vấn đề cần cải thiện hơn nữa. Ân xá Quốc tế, dù khen ngợi những tiến bộ gần đây của Serbia trong việc truy tìm những nghi can và tội phạm chiến tranh cho toà án hình sự quốc tế Hague, đã kết luận trong một bản báo cáo dài 424 trang xuất bản năm 2009 rằng họ ghi nhận những sự lạm dụng tiếp tục với các tù nhân người Albani cũng như cách hành xử của cảnh sát vi phạm vào quyền của báo chí và dân cư Roma ở Serbia. Báo cáo cùng ghi chú rằng sự xung đột giữa các đảng chính trị địa phương và các nhóm Hồi giáo tiếp tục gây ra bạo lực ở vùng Sandzak phía nam Serbia và đe doạ sự ổn định. Cũng có những báo cáo về việc cưỡng bức di cư với cộng đồng Roma tại Serbia vào tháng 4 năm 2009. Ân xá Quốc tế ghi chú rằng "Khoảng 250 người Romani, một số người Roma đã bị dời chỗ trong nội địa khỏi Kosovo, gồm cả trẻ nhỏ, người gà và người ốm yếu bị buộc phải tới các khu định cư tạm thời". === Quân đội === Các lực lượng vũ trang Serbia thuộc Bộ quốc phóng. Các lực lượng vũ trang được chia thành Bộ tư lệnh lục quân, Bộ tư lệnh Phòng không và Không quân và Bộ tư lệnh huấn luyện. Là một nước nằm kín trong lục địa, Serbia không có hải quân nhưng có một Serbian River Flotilla như một đơn vị độc lập. Theo hiến pháp, tư lệnh các lực lượng vũ trang là Tổng thống đương nhiệm của Serbia. Những cuộc chiến tranh và khủng hoảng hồi thập niên 1990 là gây ảnh hưởng đáng kể đến Quân đội, và họ gặp phải tình trạng thiếu hụt tài chính, nhân sự giảm từ 150,000 người, xuống 30,000 và tỷ lệ tuyển mộ thấp. Chi phí quân sự của Serbia đã giảm từ khoảng 5% GDP hồi cuối những năm 1990 xuống chỉ còn 2.1% năm 2009. Các biện pháp cải cách và chuyên nghiệp hoá toàn bộ (dự định hoàn thành vào cuối năm 2010) đang được tiến hành nhưng sự thiếu hụt tài chính đã làm chậm quá trình. Việc đăng ký nghĩa vụ quân sự vẫn là bắt buộc và thời gian phục vụ là 6 tháng, nhưng một số lượng lớn tân binh từ chối vì lý do đạo lý và thay vào đó phục vụ 9 tháng trong lĩnh vực dân sự. Serbia tham gia vào chương trình Đối tác vì hoà bình, nhưng không muốn gia nhập NATO, vì sự phản đối khá mạnh của công chúng, phần lớn bởi việc NATO ném bom Nam Tư năm 1999. == Nhân khẩu == Serbia (Điều tra dân số năm 2002, không gồm Kosovo): 7,498,001Trung Serbia: 5,466,009 Vojvodina: 2,031,922 Người Serb là nhóm sắc tộc lớn nhất, với nhiều nhóm thiểu số gồm người Hungary, người Bosnia, người Albania, người Roma, người Croat, người Czech và người Slovak, người Macedonia, người Bulgaria, người Romania, người Đức, và người Trung Quốc. Theo những đánh giá của Liên hiệp quốc, từ 450,000 tới 500,000 người Roma sống tại Serbia. Cộng đồng người Đức thiểu số tại Vojvodina đông hơn so với quá khứ (336,430 năm 1900, hay 23.5% dân số). Tỉnh phía bắc của Vojvodina đa dạng về sắc tộc và tôn giáo. Theo cuộc điều tra dân số chính thức mới nhất các dữ liệu được thu thập năm 2002, thành phần sắc tộc của Serbia gồm: Cuộc điều tra dân số không được tiến hành ở tỉnh Kosovo miền nam Seriba, nằm dưới quyền quản lý hành chính của Liên hiệp quốc. Tuy nhiên, theo những ước tính của Liên minh châu Âu, tổng dân số được ước tính là 1,350,000 người, trong số đó 90% là người Albani, 8% là người Serb và các nhóm khác 2%. Cũng có khoảng 200,000 người Serb và những người tị nạn khác bị trục xuất khỏi Kosovo. Người tị nạn và IDPs tại Serbia chiếm khoảng 7% tới 7.5% dân số - khoảng một nửa triệu người tị nạn xin tị nạn trong nước sau một loạt các cuộc chiến tranh Nam TƯ (chủ yếu từ Croatia, ở một mức độ nào đó là người Bosna và Hercegovina và IDPs từ Kosovo, vốn là nhóm đông nhất với hơn 200,000 nghìn người) Serbia là nước có số người tị nạn đông nhất châu Âu. Mặt khác, ước tính 500,000 người đã rời Serbia chỉ riêng trong thập niên 90. Một số lượng lớn là những người có học thức. Serbia là nước có dân số già thứ tư trên hành tinh, chủ yếu bởi sự di cư lớn và tỷ lệ sinh thấp, và dự đoán sẽ tiếp tục trong tương lai xa. Các thành phố Các thành phố được công nhận chính thức (hơn 100,000 ở mức độ đô thị)—dữ liệu cuộc điều tra dân số năm 2002 (2005/2007 data for Novi Sad/Belgrade). Các thành phố lớn trong tỉnh tranh cãi Kosovo và Metohija như Priština, Prizren, Peć và Kosovska Mitrovica không phải là đối tượng của cuộc điều tra dân số năm 2002. === Tôn giáo === Trong nhiều thế kỷ thay đổi biên giới tôn giáo giữa Chính thống giáo Đông phương và Công giáo La Mã, tiếp đó là sự xuất hiện của Hồi giáo, Serbia vẫn là một trong những nước đa dạng tôn giáo nhất châu Âu. Trong nhiều thế kỷ, các tôn giáo khác nhau tại Serbia vẫn chủ yếu ở tại các vùng đô thị: tỉnh Vojvodina 25% Công giáo và Tin lành, trong khi các vùng Trung Serbia và Belgrade có hơn 90% dân theo Chính thống giáo. Kosovo gồm cộng đồng đa số 90% người Albania Hồi giáo. Trong các Giáo hội Chính thống Đông phương, Giáo hội Chính thống Serbia nằm xa nhất ở phía tây. Theo cuộc điều tra dân số năm 2002, 82% dân số Serbia (không gồm Kosovo) hay 6,2 triệu người tuyên bố quốc tịch là người Serb, đa số họ theo Nhà thờ Chính thống Serbia. Các cộng đồng Chính thống giáo khác tại Serbia gồm Montenegrins, người Romania/Vlachs, Macedonia, Bulgaria vân vân. Tổng cộng họ chiếm khoảng 84% toàn bộ dân số. Công giáo hầu như chỉ có mặt tại Vojvodina (chủ yếu ở vùng phía bắc), nơi hầu hết 20% dân số vùng là các nhóm sắc tộc nhỏ như người Hungary, người Slovak, người Croat, người Bunjevci, người Czechs... Ước tính có 433,000 người được rửa tội theo Công giáo tại Serbia, khoảng 6,2% dân số, chủ yếu ở miền bắc Serbia. Tin lành chiếm khoảng 1.5% dân số đất nước. Hồi giáo có một lịch sử mạnh tại các vùng phía nam Serbia – Raska và nhiều khu độ thị ở phía đông nam. Người Bosnia là cộng đồng Hồi giáo lớn nhất Serbia với khoảng 140,000 người (2%), tiếp đó là người Albania (1%), người Thổ, người Ả Rập vân vân. Với việc trục xuất người Do Thái khỏi Tây Ban Nha trong thời kỳ Thẩm tra nổi tiếng, hàng nghìn gia đình và cá nhân phải bỏ chạy qua châu Âu tới Balkan. Một số lượng lớn định cư ở Serbia và trở thành một phần dân cư. Họ được chấp nhận và trong những thế hệ tiếp sau đa số đã đồng hoá hay trở thành truyền thống hay thế tục, chứ không còn là những người Do thái chính thống như trước nữa. Sau này với những cuộc chiến tranh trong vùng dẫn tới một phần lớn người Do thái Seriba phải di cư khỏi châu Âu. == Kinh tế == Với GDP theo PPP năm 2016 ước tính ở mức $37.755 tỷ ($14,939 trên đầu người PPP), Cộng hoà Serbia là nền kinh tế có mức thu nhập trên trung bình theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới. FDI (Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài) năm 2006 là $5.85 tỷ hay €4.5 tỷ. FDI năm 2007 đạt $4.2 tỷ trong khi GDP trên đầu người được ước tính đạt $6,781 (tháng 4 năm 2009). Tỷ lệ tăng trưởng GDP tăng 6.3% (2005), 5.8% (2006), reaching 7.5% in 2007 and 8.7% in 2008 là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong vùng. Theo dữ liệu của Eurostat, GDP PPS của Serbia trên đầu người đứng ở mức 37% của mức trung bình của EU năm 2008. Ở điểm đầu cuộc chuyển tiếp kinh tế năm 1989, nền kinh tế có những dấu hiệu phát triển tốt. Nhưng lệnh cấm vận kinh tế từ năm 1992 đến năm 1995, cũng như những tàn phá với ngành công nghiệp trong cuộc Chiến tranh Kosovo đã huỷ hoại không khí kinh tế bên trong Serbia. Việc mất các thị trường Nam Tư cũ và khối Comecon ảnh hưởng nặng nề đến xuất khẩu. Sau khi nhân dân lật đổ cựu Tổng thống Nam Tư Milošević tháng 10 năm 2000, đất nước này đã có giai đoạn phát triển kinh tế nhanh chóng, và đang chuẩn bị trở thành thành viên của Liên minh châu Âu, đối tác thương mại lớn nhất của họ. Sự hồi phục của nền kinh tế vẫn gặp phải nhiều trở ngại, trong số đó có nạn thất nghiệp (14%) thâm hụt thương mại xuất/nhập khẩu cao và khoản nợ khá lớn của đất nước. Serbia hy vọng nước này sẽ có một số xung lực cho phát triển và tăng trưởng cao trong những năm tới. Với tỷ lệ tăng trưởng cao trong những năm gần đây, trung bình ở mức 6.6% trong ba năm qua, những nhà phân tích nước ngoài thỉnh thoảng gọi Serbia là "Con hổ Balkan". Một phần nhờ thoả thuận thương mại tự do với Liên minh châu Âu mà Serbia là một thành viên liên kết, Serbia là quốc gia duy nhất của châu Âu bên ngoài Liên xô cũ có các thoả thuận thương mại tự do với Liên bang nga và, gần đây hơn, là Belarus. Một phần nhờ những thoả thuận kinh tế với cả Đông và Tây Âu, những bước đó sẽ sớm được thực hiện với Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Theo cách này Serbia hy vọng tạo lập một nền kinh tế theo hướng thị trường. Các doanh nghiệp lớn đang đầu tư tại Serbia gồm: US Steel, Philip Morris, Microsoft, FIAT, Coca-Cola, Lafarge, Siemens, Carlsberg và các công ty khác . Trong lĩnh vực năng lượng, các công ty lớn của Nga Lukoil và Gazprom đã đầu tư mạnh vào đây . Lĩnh vực ngân hàng đã thu hút các khoản đầu tư từ Banca Intesa (Ý), Credit Agricole và Societe Generale (Pháp), HVB Bank (Đức), Erste Bank (Áo), Eurobank EFG và Piraeus Bank (Hy Lạp), và các công ty khác . Citibank có trụ sở tại Mỹ, đã mở văn phòng đại diện tại Belgrade vào tháng 12 năm 2006 . Trong lĩnh vực thương mại, các nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất là công ty Intermarche của Pháp, Metro Cash & Carry của Đức, Veropoulos của Hy Lạp, và Mercator của Slovenia. Serbia trồng khoảng một phần ba số quả mâm xôi của thế giới và đang đứng đầu về xuất khẩu sản phẩm đông lạnh. === Viễn thông === 89% hộ gia đình Serbia có điện thoại cố định, và số lượng người sử dụng điện thoại di động đã vượt quá số dân Serbia 23%, với 9,21 triệu số (7,5 triệu công dân). (Telekom Srbija–5,6 triệu, Telenor có 3,1 triệu người sử dụng và Vip mobile chiếm số còn lại). 24 tháng 8 năm 2008 42% hộ gia đình có máy tính, 33% sử dụng internet, và 42% có truyền hình cáp, khiến nước này đứng trước một số thành viên của EU. === Vận tải === Serbia sở hữud một trong những hãng hàng không già nhất thế giới, Jat Airways, được thành lập năm 1927. Có 3 sân bay quốc tế tại Serbia: Sân bay Belgrade Nikola Tesla, Sân bay Niš Constantine Đại đế và Sân bay quốc tế Vršac và một sân bay tại Kosovo, Sân bay quốc tế Pristina. Các nhà sử học cho rằng toàn bộ Serbia, và đặc biệt là châu thổ Morava, là "ngã tư đường giữa Đông và Tây", đây là một trong những lý do chính khiến nước này có một lịch sử đầy xáo trộn. Con đường châu thổ Morava, tránh những vùng núi non, là con đường dễ dàng nhất trên bộ giữa lục địa châu Âu tới Hy Lạp và Tiểu Á. Serbia hiện đại là nước đầu tiên trong vùng xây dựng các tuyến đường sắt năm 1858 tuyến đường đầu tiên tới Vrsac, và sau đó tới Áo-Hung (tới năm 1882 tuyến đường tới Belgrade và Niš đã hoàn thành). Đường sắt Serbian quản lý toàn bộ mạng lưới đường trong nước. Các tuyến đường châu Âu E65, E70, E75 và E80, cũng như các đường E662, E761, E762, E763, E771, và E851 đi qua toàn bộ đất nước. Tuyến đường E70 phía tây từ Belgrade và hầu hết tuyến đường E75 là các đường cao tốc hiện đại hay có tiêu chuẩn motorway / autobahn hay gần đạt như vậy. Ở thời điểm năm 2005, Serbia có 1,481,498 ô tô đã đăng ký, 16,042 xe máy, 9,626 xe buýt, 116,440 xe tải, 28,222 phương tiện vận tải đặc biệt, 126,816 máy kéo và 101,465 xe container. Sông Donau, đường kết nối Trung Âu tới Biển Đen, chảy xuyên Serbia. Thông qua kênh Danube-Rhine-Mein cũng có thể tiếp cận tới Biển Bắc. Sông Tisza là đường kết nối với hầu thết Đông Âu trong khi sông Sava nối nó với các nước cộng hoà phía tây của Nam Tư cũ gần Biển Adriatic. === Du lịch === Chính phủ, các doanh nghiệp và công dân Serbia tập trung ngành du lịch của mình vào các làng và các ngọn núi của đất nước. Các khu nghỉ dưỡng nổi tiếng nhất tại vùng núi là Zlatibor, Kopaonik, và Tara. Cũng có nhiều khu spa tại Serbia, một trong những khu lớn nhất là Vrnjačka Banja. Các khu spa khác gồm Soko Banja và Niška Banja. Có khá nhiều du khách tại các thành phố lớn như Belgrade, Novi Sad và Niš, nhưng cũng có nhiều người tới các vùng nông thôn Serbia như kỳ quan núi lửa Đavolja varoš, Con đường hành hương Thiên chúa giáo xuyên qua đất nước và chạy dọc theo sông Danube, Sava hay Tisza. Có nhiều lễ hội dân chúng được tổ chức tại Serbia, như EXIT Festival (được tuyên bố là festival hay nhất của châu Âu bởi UK Festival Awards 2007 và Yourope, Hiệp hội Festival của 40 festival lớn nhất của châu Âu) và Guča trumpet festival. 2,2 triệu du khách tới Serbia năm 2007, tăng 15% so với năm 2006. == Văn hoá == Trong nhiều thế kỷ của sự xê dịch các biên giới giữa Đông và Tây, Serbia đã bị chia rẽ giữa: Đông và Tây các phần của Đế chế Roma; giữa Vương quốc Hungary, Đế chế Bulgaria, Vương quốc Frankish và Byzantium; và giữa Đế chế Ottoman và Đế chế Áo (sau này là Áo-Hung), cũng như Venice ở phía nam. Kết quả của những sự chồng lấn ảnh hưởng đó là những đặc tính riêng biệt và tương phản mạnh giữa nhiều tôn giáo Serbia, vùng phía bắc của nó có nhiều quan hệ với Tây Âu và phần phía nam nghiêng về vùng Balkan và Biển Địa Trung Hải. Dù có những ảnh hưởng trái ngược đặc tính riêng của Serbia khá vững chắc, được miêu tả là "có ảnh hưởng phương tây hoá mạnh nhất của những người Chính thống giáo phía đông, cả về xã hội và văn hoá" theo Bách khoa toàn thư Lịch sử Thế giới (2001). Ảnh hưởng của Đế chế Byzantine với Serbia rất sâu đậm, qua việc truyền bá Chính thống giáo Hy Lạp từ thế kỷ thứ 7t trở về sau (ngày nay là Nhà thờ Chính thống Serbia). Những ảnh hưởng khác nhau cũng xuất hiện, đáng chú ý nhất là Ottoman, Hungarian, Áo và Venetian (người Serb ven biển). Người Serb đã sử dụng cả ký tự Cyrillic và ký tự Latin. các tu viện của Serbia, hầu hết được xây dựng trong Thời Trung Cổ, là các địa điểm có giá trị và đáng tham quan nhất về sự liên kết thời Trung cổ của Serbia với Đế chế Byzantine và Thế giới Chính thống giáo, nhưng Serbia cũng có quan hệ chặt chẽ với người Romanic (Tây) châu Âu Serbia từ thời Trung Cổ. Đa số các nữ hoàng Serbia vẫn còn được nhớ tới ngày nay trong lịch sử Serbia đều có nguồn gốc nước ngoài, gồm Hélène d'Anjou (một người chị/em họ của Charles I của Sicilia), Anna Dondolo (con gái của Doge của Venice, Enrico Dandolo), Catherine của Hungary, và Symonide của Byzantium. Serbia có tám địa điểm văn hoá được xếp hạng trong danh sách địa điểm di sản thế giới của UNESCO: các tu viện Stari Ras và Sopoćani (được đưa vào năm 1979), Tu viện Studenica (1986), Khu phức hợp Serbia Trung cổ tại Kosovo, gồm: Tu viện Dečani, Our Lady of Ljeviš, Gračanica và Khu giáo trưởng Pec- (2004, đưa vào danh sách gặp nguy hiểm năm 2006), và Gamzigrad – Romuliana, Cung điện Galerius, được đưa vào năm 2007. Tương tự, có 2 công trình tưởng niệm văn hoá được đưa vào danh sách của UNESCO như một phần của Chương trình Tưởng niệm Thế giới: Phúc âm Miroslav, viết tay từ thế kỷ 12 (được đưa vào năm 2005), và thư khố của Nikola Tesla (2003). Bảo tàng nổi tiếng nhất tại Serbia là Bảo tàng Quốc gia, được thành lập năm 1844; nó lưu giữ bộ sưu tập hơn 400,000 vật trưng bày, (hưon 5600 bức tranh và 8400 bản in và bản vẽ) gồm nhiều bộ sưu tập hàng đầu từ nước ngoài và cuốn Miroslavljevo Jevanđelje. Hiện bảo tàng đang được xây dựng lại. Bảo tàng nằm tại Belgrade. Xem thêm Các công trình văn hoá rất quan trọng === Phim ảnh và nhà hát Serbia === Serbia có một truyền thống sân khấu mạnh với nhiều nhà hát. Nhà hát Quốc gia Serbia được thành lập năm 1861 và toà nhà được xây dựng từ năm 1868. Nhà hát bắt đầu trình diễn opera từ cuối thế kỷ 19 và những vở opera thường xuyên đã xuất hiện từ năm 1947. Nhà hát đã thành lập một công ty ballet. Bitef, Festival Nhà hát Quốc tế Belgrade, là một trong những festival kịch cổ nhất thế giới. New Theatre Tendencies là phụ đề thường thấy của Festival. Được thành lập năm 1967, Bitef đã liên tục đi theo và ủng hộ những khuynh hướng kịch mới nhất. Nó đã trở thành một trong năm festival lớn nhất và quan trọng nhất châu Âu. Đây cũng là một trong những định chế văn hoá đáng chú ý nhất của Serbia. Điện ảnh đã phát triển mạnh sau Thế chiến II. Đạo diễn nổi tiếng nhất thời hậu chiến là Dušan Makavejev ông được quốc tế công nhận về vở diễn Love Affair: Or the Case of the Missing Switchboard Operator năm 1969 tập trung vào vấn đề chính trị Nam Tư. Vở Montenegro của Makavejev được thực hiện ở Thuỵ Điển năm 1981. Zoran Radmilović là một trong những diễn viên đáng chú ý nhất giai đoạn hậu chiến. Điện ảnh Serbia vẫn tiếp tục phát triển dù có tình trạng hỗn loạn trong thập niên 1990. Emir Kusturica đã giành một giải Golden Palm cho Best Feature Film tại Cannes Film Festival với bộ phim Underground năm 1995. Năm 1998, Kusturica giành giải Silver Lion cho đạo diễn bộ phim Black Cat, White Cat. Ở thời điểm năm 2001, có 167 rạp chiếu phim tại Serbia (không tính Kosovo và Metohija) và hơn 4 triệu người Serb tới rạp chiếu phim trong năm này. Năm 2005, San zimske noći (Một giấc mơ đêm mùa đông) được đạo diễn bởi Goran Paskaljević đã gây ra tranh cãi khi nó chỉ trích vai trò của Serbia trong các cuộc chiến tranh Nam Tư những năm 1990. === Giáo dục === Giáo dục tại Serbia được quản lý bởi Bộ giáo dục. Giáo dục bắt đầu từ trường cơ sở các trường chuẩn bị. Trẻ em đăng ký vào các trường cơ sở (tiếng Serbia: Osnovna škola / Основна школа) khi lên 7 và học tại đó trong 8 năm. Gốc rễ của hệ thống giáo dục Serbia có từ thế kỷ 11 và 12 khi những trường Công giáo đầu tiên được thành lập tại Vojvodina (Titel, Bač). Tuy nhiên, giáo dục Trung Cổ Serbia chủ yếu được tiến hành thông qua các tu viện Chính thống giáo Serbia (Sopocani, Studenica, Khu giáo trưởng Pec) bắt đầu từ sự trỗi dậy của Raska ở thế kỷ 12, khi người Serb đa số theo Chính thống giáo chứ không phải Công giáo. Trường đại học đầu tiên ở Serbia được thành lập trong cuộc cách mạng Belgrade năm 1808 với tên gọi Trường Cao học Belgrade, tiền thân của Đại học Beograd ngày nay. Ví dụ, Khoa Luật Đại học Belgrade ngày nay là một trong những khoa hàng đầu về giáo dục pháp luật trong vùng. Trường (khoa) cổ nahát bên trong các biên giới hiện nay của Serbia có từ năm 1778; được thành lập tại thành phố Sombor, khi ấy thuộc Đế chế Habsburg, nó được biết dưới cái tên Norma và là trường sư phạm cổ nhất dạy tiếng Slavơ ở Nam Âu. === Ngày lễ === Tất cả các ngày lễ ở Serbia tuân theo Luật quốc gia và các ngày lễ tại Cộng hoà Serbia (Zakon o državnim i drugim praznicima u Republici Srbiji). Những ngày lễ sau được áp dụng trên toàn quốc: Tương tự, các thành viên của các tôn giáo khác có quyền nghỉ vào ngày lễ của họ. === Thể thao === Thể thao tại Serbia hầu hết là các môn tập thể: bóng đá, bóng rổ, bóng nước, bóng chuyền, bóng ném, và gần đây hơn là tennis. Hai câu lạc bộ bóng đá chính tại Serbia là Red Star Belgrade và FK Partizan, cả hai đều thuộc thủ đô Belgrade. Red Star là câu lạc bộ bóng đá duy nhất của Serbia và Nam Tư cũ từng thắng một giải của UEFA, giành Cúp châu Âu 1990–91 tại Bari, Ý. Cũng năm đó tại Tokyo, Nhật Bản, câu lạc bộ giành Intercontinental Cup. Partizan là câu lạc bộ đầu tiên của Serbia tham gia vào vòng bảng của UEFA Champions League sau sự tan rã của Nam Tư cũ. Các trận đấu giữa hai đối thủ được gọi là "Eternal Derby" (tiếng Serbia: Вечити дерби, Večiti derbi). Serbia là nước đăng cai EuroBasket 2005. FIBA coi đội tuyển bóng rổ quốc gia Serbia là thực thể thừa kế của đội bóng rổ quốc gia Nam Tư nổi tiếng. KK Partizan là vô địch châu Âu năm 1992, dù chơi tất cả ngoại trừ một trận (bán kết với Knorr) ở nước ngoài; FIBA quyết định không cho phép các đội của Nam Tư cũ chơi trận sân nhà tại các địa điểm trong nước mình, bởi sự thù địch công khai trong vùng. KK Partizan không được pphép bảo vệ ngôi vô địch ở mùa giải 1992–1993, vì lệnh cấm vận của Liên hiệp quốc. Các vận động viên Serbia đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử bóng rổ, gặt hái những thành công cả ở những giải vô địch hàng đầu châu Âu và tại NBA. Serbia là một trong những nước có truyền thống bóng rổ của thế giới, giành nhiều FIBA World Championship, nhiều Eurobasket và huy chương Olympic (mặc dù với tên gọi Nam Tư). Thủ đô Belgrade của Serbia là nơi tổ chức Giải vô địch water polo nam châu Âu năm 2006. Đội tuyền water polo quốc gia Serbia trước kia là đội tuyền water polo nam quốc gia Nam Tư. Sau khi giành độc lập, Serbia đã giành chức vô địch châu Âu năm 2006, đứng thứ hai tại giải năm 2008 và giành huy chương đồng tại Olympics mùa hè 2008 được tổ chức ở Bắc Kinh. VK Partizan đã giành sáu danh hiệu vô địch châu Âu và là đội có lịch sử thành công thứ hai ở châu Âu môn water polo. Serbia và Ý là các quốc gia đồng tổ chức Giải vô địch bóng chuyền nam châu Âu năm 2005. Đội tuyền bóng chuyền nam quốc gia Serbia là hậu duệ trực tiếp của đội tuyển bóng chuyền nam quốc gia Nam Tư. Sau khi giành độc lập, Serbia đã giành huy chương đồng tại Giải vô địch bóng chuyền nam châu Âu năm 2007 tổ chức ở Moscow. Các vận động viên tennis người Serb Novak Đoković, Ana Ivanović, Jelena Janković, Nenad Zimonjić và Janko Tipsarević rất thành công và đã góp phần vào sự phổ biến của môn thể thao này tại Serbia. Milorad Čavić và Nađa Higl môn bơi lội, Olivera Jevtić, Dragutin Topić môn điền kinh, Aleksandar Karakašević môn bóng bàn, Jasna Šekarić môn bắn súng là những vận động viên nổi tiếng ở Serbia. === Ẩm thực === Serbian cuisine is varied, the turbulent historical events influenced the food and people, and each region has its own peculiarities and differences. It is strongly influenced by the Byzantine-Greek, Mediterranean, Oriental and Austro-Hungarian styles. == Xếp hạng quốc tế == == Xem thêm == == Tham khảo == Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies. Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc CIA World Factbook. == Liên kết ngoài == National Tourist Organization of Serbia Serbian Government e-Government Portal of Serbia President of Serbia National Assembly of Serbia Ministry of Foreign Affairs of Serbia National Bank of Serbia Serbia Investment and Export Promotion Agency Statistical Office of Serbia Chief of State and Cabinet Members General information Mục “Serbia” trên trang của CIA World Factbook. Serbia from UCB Libraries GovPubs Serbia tại DMOZ Wikimedia Atlas của Serbia, có một số bản đồ liên quan đến Serbia.
henry ford.txt
Henry Ford (30 tháng 7 năm 1863 – 7 tháng 4 năm 1947) là người sáng lập Công ty Ford Motor. Ông là một trong những người đầu tiên áp dụng sản xuất kiểu dây chuyền lắp ráp trong sản xuất ô tô. Ông không chỉ cách mạng ngành công nghiệp sản xuất ở Hoa Kỳ và châu Âu mà còn có nhiều ảnh hưởng tới kinh tế và xã hội thế kỷ 20 tới mức sự phối hợp giữa sản xuất hàng loạt, tiền lương cao và giá thành sản phẩm thấp cho người tiêu dùng đã được gọi là "Chủ nghĩa Ford." Ông đã trở thành một trong hai hay ba người giàu nhất thế giới; ông để lại hầu như toàn bộ tài sản của mình cho Quỹ Ford, nhưng vẫn thu xếp để gia đình ông mãi giữ được quyền quản lý công ty. == Tuổi trẻ == Ford sinh ra ở một trang trại thịnh vượng ở hạt Springwells (hiện ở thành phố Dearborn, Michigan) do cha mẹ ông sở hữu, William Ford (1826-1905) và Mary Litogot (c1839–1876), là những người nhập cư từ Quận Cork, Ireland. Gia đình Ford có nguồn gốc từ tây nước Anh – họ đã buộc phải rời khỏi đất đai ở Somerset và 'di cư' đến Ireland. Những anh chị em ruột của ông gồm: Margaret Ford (1867–1868); Jane Ford (c1868–1945); William Ford (1871–1917) và Robert Ford (1873–1934). Vào mùa hè năm 1873, Henry lần đầu nhìn thấy một cái máy tự chạy trên đường, một cái động cơ hơi nước đứng yên được dùng để đập lúa hay để cung cấp sức lực cho một máy xay. Người điều khiển nó, Fred Reden, chất nó lên trên mấy cái bánh được nối với một sợi xích lái. Henry bị cái máy quyến rũ và trong năm sau Reden dạy Henry cách khởi động và điều khiển cái máy đó. Sau này Ford nói, chính kinh nghiệm đó "đã chỉ cho tôi thấy rằng tôi là một kỹ sư từ trong bản năng."[1] Henry đem theo sự đam mê máy móc về nhà. Cha ông đã cho ông một cái đồng hồ đeo tay khi ông bắt đầu sang tuổi thanh niên. Tới mười lăm tuổi, ông đã nổi tiếng là một người sửa chữa đồng hồ giỏi, đã từng tháo ra và lắp lại các loại đồng hồ của bạn bè và hàng xóm hàng chục lần.[2] Mẹ ông chết năm 1876. Đó là một sự kiện làm Henry bị sốc nặng. Cha ông hy vọng rằng cuối cùng Henry sẽ quản lý trang trại của gia đình, nhưng ông không thích nghề nông. Và cùng với cái chết của mẹ, không còn nhiều điều hứng thú có thể giữ ông ở lại trang trại nữa. Sau này ông nói, "Tôi không bao giờ có bất kỳ một tình cảm đặc biệt nào với trang trại. Chính mẹ tôi ở trang trại mới là điều tôi yêu quý."[3] Năm 1879, ông rời gia đình để đến thành phố gần đó Detroit và làm việc với tư cách thợ học việc, đầu tiên với James F. Flower & Bros., và sau đó với Detroit Dry Dock Co. Năm 1882, ông quay trở lại Dearborn để làm việc ở trang trại gia đình và trở thành người lão luyện trong việc điều khiển máy hơi nước loại nhỏ Westinghouse. Vì vậy ông được Công ty Westinghouse thuê để bảo dưỡng các loại máy móc. Lúc ông lấy Clara Bryant năm 1888, Ford tự kiếm sống bằng cách lao động ở trang trại và điều hành một nhà máy cưa. Họ chỉ có một đứa con: Edsel Bryant Ford (1893–1943). Năm 1891, Ford trở thành một kỹ sư ở Edison Illuminating Company, và sau khi ông được thăng chức lên làm kỹ sư trưởng năm 1893, ông đã có đủ thời gian và tiền bạc để dành cho sự chú tâm của mình tới việc thực nghiệm máy chạy xăng. Những cuộc thực nghiệm đó lên tới đỉnh điểm năm 1896 khi ông hoàn thành một phương tiện tự hành đầu tiên của mình được đặt tên là Quadricycle, ông đã lái thử nó vào ngày 4 tháng 6 cùng năm. Sau nhiều lần lái thử nghiệm, Henry Ford bất chợt nghĩ ra nhiều cách để cải thiện chiếc Quadricycle. == Công ty ô tô Detroit == Sau thành công ban đầu này, Ford tới Công ty chiếu sáng Edison năm 1899 cùng nhiều nhà đầu tư khác, sau đó họ thành lập Công ty ô tô Detroit. Công ty ô tô Detroit nhanh chóng phá sản sau đó bởi vì Ford tiếp tục cải tiến thiết kế, chứ không bán xe. Ford cho xe của mình chạy đua với xe của các công ty khác để thể hiện các ưu thế trong thiết kế của ông. Vì ông chú ý tới xe đua, ông đã thành lập nên một công ty thứ hai, Công ty Henry Ford. Trong giai đoạn này, chính ông là người lái xe và chiến thắng trong cuộc đua với Alexander Winton, một tay đua nổi tiếng và rất được hâm mộ vào ngày 10 tháng 10 năm 1901. Ford bị các nhà đầu tư buộc phải rời công ty và người thay thế ông là Henry M. Leland năm 1902, và công ty được tổ chức lại thành Cadillac. == Công ty Ford Motor == Henry Ford, cùng với mười một nhà đầu tư khác và $28.000 tiền vốn lập ra Công ty Ford Motor năm 1903. Ford đã lái một chiếc xe được thiết kế mới hoàn toàn tới một cuộc triển lãm trong đó chiếc xe đã chạy qua khoảng cách một dặm trên mặt băng hồ St. Clair trong 39.4 giây, đó là một tốc độ kỷ lục trên mặt đất mới. Bị thuyết phục bởi thắng lợi này, tay đua nổi tiếng Barney Oldfield, người đã đặt tên model "999" mới này của Ford để tỏ lòng trân trọng với một cuộc đua xe lửa mới ngày hôm đó, đã lái chiếc xe chạy vòng quanh đất nước và làm cho thương hiệu Ford trở nên nổi tiếng trên khắp Hoa Kỳ. Henry Ford cũng là một trong những người đầu tiên ủng hộ giải đua Indianapolis 500. Henry Ford đã làm các nhà tư bản bạn ông sửng sốt khi tăng lương ngày lên gấp đôi cho đa số công nhân của ông vào năm 1914, mười một năm sau khi ông lập nên nhà máy ô tô đầu tiên của ông. Ông biết điều mình đang làm. Khả năng mua sắm của công nhân tăng lên, và nó kích thích nhu cầu tiêu thụ của họ. Ford gọi đó là 'động cơ lương.' Việc áp dụng hệ thống chiều dọc và một số mưu kế kinh doanh khác cũng góp phần vào thành công của công ty. === Model T === Năm 1908, Công ty Ford tung ra Model T được thiết kế bởi một người Hungary, Jozsef Galamb. Từ 1909 đến 1913, Ford bước vào tháo rời những chiếc Model T trong các cuộc đua, hoàn thiện trước (mặc dù sau đó không đạt quy cách) trong một cuộc đua "hai đại dương" (xuyên Hoa Kỳ) năm 1909, và thiết lập một kỷ lục tốc độ khi chạy trên đường tròn ở Detroit Fairgrounds năm 1911 với tay đua Frank Kulick. Năm 1913, Ford cố gắng chế tạo lại Model T trong cuộc đua Indianapolis 500, nhưng được thông báo rằng các quy định đòi hỏi chiếc xe phải được tăng thêm trọng lượng 1.000 pounds (450 kg) trước khi nó có thể tham gia đua. Ford bỏ cuộc, và nhanh chóng sau đó từ bỏ hẳn các cuộc đua và chỉ trích rằng ông không hài lòng với các quy định của môn thể thao đó và lúc ấy ông cần dành thời gian cho việc chế tạo Model T đang ngày càng phát triển. Tới năm 1913, đua xe không còn là cách cần thiết để quảng cáo xe với công chúng nữa bởi vì Model T đã nổi tiếng và có mặt ở mọi nơi trên những con đường nước Mỹ. Chính vào năm này, Henry Ford đã đưa dây chuyền lắp ráp chuyển động vào trong các nhà máy của mình, nó cho phép tăng năng xuất lên rất cao. Mặc dù tên Ford thường gắn liền với các ý tưởng, một số nguồn khác tạm thời cho thấy rằng ý tưởng và sự phát triển của nó bắt nguồn từ từ Clarence Avery, Peter E. Martin, Charles E. Sorensen, và C.H. Wills. (Xem Piquette Plant) Tới năm 1918, một nửa số ô tô ở Mỹ là Model T. Thiết kế của Model T, vốn được Henry Ford nồng nhiệt tán thưởng và ủng hộ, tiếp tục tồn tại đến năm 1927 (sau khi sự nổi tiếng trong đại chúng của nó đã nguội), với tổng số sản xuất lên đến mười lăm triệu chiếc. Đây là một kỷ lục còn tồn tại trong 45 năm tiếp sau đó. Mọi người cho rằng Ford đã nói, "Bất kỳ khách hàng nào có thể có một chiếc xe được sơn bất kỳ màu ông ta muốn cho tới khi nó vẫn là màu đen," dù câu chuyện này có vẻ không chính xác. Trước đó Model T được sơn nhiều màu, kể cả màu đỏ cho tới khi sự phát triển của dây chuyền lắp ráp áp đặt màu đen bởi vì nó có thời gian khô khô nhanh hơn, Tháng 12, 1918, sau khi thua trong cuộc chạy đua chức nghị sĩ, Henry Ford chuyển quyền quản lý Ford Motor cho con trai Edsel Ford. Tuy nhiên, Henry vẫn giữ quyền quyết định tối hậu và thỉnh thoảng đảo ngược ý kiến của con trai. Henry và Edsel mua tất cả cổ phiếu còn lại từ các nhà đầu tư khác, vì thế gia đình họ sở hữu riêng cả công ty. Tới giữa thập kỷ 1920, doanh số bán Model T bắt đầu sụt giảm vì sự cạnh tranh đã tăng mạnh. Những nhà sản xuất ô tô khác tung ra các kế hoạch thanh toán giúp khách hàng có thể mua xe của họ, thường là có thêm các đặc tính kỹ thuật hiện đại và kiểu cách mà Model T không có được. Dù có những thúc ép của Edsel, Henry vẫn kiên quyết từ chối tích hợp thêm các tính năng mới vào Model T hay tạo dựng một kế hoạch tài chính khách hàng. === Model A và thời gian sau đó === Tới năm 1926, doanh số bán thấp kém của Model T đã thuyết phục được Henry về điều Edsel đã nhiều lần nhấn mạnh: cần một model mới. Ông già Ford vẫn theo đuổi kế hoạch về một cải tiến lớn trong thiết kế kỹ thuật động cơ, chassis và các sự cần thiết cơ khí khác, trong khi bỏ phần phát triển thiết kế thân xe cho con trai. Edsel cũng gắng sức thuyết phục cha về sự chống đối lúc đầu của ông trong kết luận về truyền động thay đổi kiểu trượt (sliding-shift transmission). Kết quả rất thành công Ford Model A, được giới thiệu vào tháng 12 năm 1927 và được sản xuất tới 1931, với tổng số xuất xưởng hơn bốn triệu chiếc. Sau đó công ty chấp nhận một hệ thống thay đổi model hàng năm và hiện nó vẫn được các nhà sản xuất ô tô áp dụng. Ford là một người ủng hộ ngành hàng không từ rất sớm. Ông tài trợ rất nhiều cho Stout Metal Airplane Company, công ty này phát triển Ford Tri-Motor, một máy bay dân dụng loại lớn đầu tiên. Trong thập niên ba mươi, Ford cũng đã vượt qua được sự phản đối của mình đối với các công ty tài chính, và Universal Credit Company của Ford đã trở thành một tổ chức tài chính lớn đầu tư vào ngành ô tô. === Cái chết của Edsel === Tháng 5, 1943, Edsel Ford chết, để trống chiếc ghế chủ tịch công ty. Henry Ford tiến cử Harry Bennett người đã hợp tác với ông từ lâu lên giữ chức này. Vợ góa của Edsel là Eleanor, người đã thừa kế cổ phần của Edsel, muốn con mình là Henry Ford II được nắm vị trí đó. Vấn đề được giải quyết sau một giai đoạn khi chính Henry, lúc ấy đã 79 tuổi, phải đích thân giữ chức đó. Henry Ford II ra khỏi Hải quân và trở thành phó chủ tịch chấp hành, trong khi Harry Bennett có một ghế trong hội đồng và chịu trách nhiệm về nhân sự, các quan hệ lao động và quan hệ đối ngoại. Công ty đã rơi vào thời kỳ khó khăn trong hai năm sau đó, thua lỗ $10 triệu một tháng. Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã phải cấp cho Công ty Ford Motor một khoản tiến cứu trợ để việc sản xuất của họ có thể tiếp tục trong thời chiến. Tới năm 1945, tình trạng suy yếu của Henry Ford đã khá rõ ràng và vợ cùng con dâu của ông buộc ông phải từ chức trao quyền cho cháu trai, Henry Ford II. === Triết lý lao động của Ford === Henry Ford có những ý tưởng rất đặc biệt về các quan hệ với công nhân. Ngày 5 tháng 1 năm 1914 Ford tuyên bố chương trình 5 dollar một ngày của ông. Chương trình này kêu gọi giảm giờ làm từ 9 giờ xuống còn 8 giờ và nâng lương tối thiểu trên ngày từ $2.34 lên $5 cho các công nhân lành nghề. Ford coi trọng việc tăng đền bù như một hình thức chia lợi nhuận hơn là lương. Lương được trả cho người lao động trên tuổi 22, đã làm việc cho công ty sáu tháng hay hơn, và, một điều rất quan trọng, phải sống theo kiểu mà Ford tán thành. Công ty lập nên một Phòng xã hội học gồm 150 nhà điều tra và nhân viên phụ trợ để kiểm tra điều này. Thậm chí với những yêu cầu như vậy, một phần đông công nhân vẫn đủ tư cách được chia lợi nhuận. Trái ngược hẳn lại, Ford kiên quyết phản đối các liên đoàn lao động bên trong các nhà máy của mình. Để sớm ngăn chặn các hoạt động công đoàn, ông ủng hộ Harry Bennett, cựu boxer hải quân, làm chủ tịch Phòng dịch vụ. Bennett đã sử dụng nhiều mưu kế dọa dẫm để nghiền nát tổ chức công đoàn. Rắc rối nổi tiếng nhất, năm 1937, là một cuộc cãi lộn dẫn tới đổ máu giữa những nhân viên an ninh công ty và những người tổ chức, sau này được gọi là vụ Trận đánh nhau giữa các Overpass. Ford là nhà sản xuất ô tô cuối cùng ở Detroit công nhận công đoàn Liên hiệp công nhân ô tô UAW). Một cuộc biểu tình ngồi của công đoàn UAW tháng 4 năm 1914 đã đóng cửa River Rouge Plant. Dưới sức ép của Edsel và vợ và Clara, Henry Ford cuối cùng đã phải đồng ý thu nhận những kiến nghị bên trong các nhà máy của Ford, và hợp đồng đầu tiên với UAW được ký tháng 6 năm 1941. == Con tàu hòa bình == Năm 1915, ông hỗ trợ tiền cho một chuyến đi đến châu Âu, nơi Chiến tranh thế giới thứ nhất đang sắp nổ ra, cho ông và 170 lãnh đạo hòa bình nổi tiếng khác. Ông đã nói với Tổng thống Wilson về chuyến đi này nhưng không nhận được ủng hộ từ phía chính phủ. Nhóm của ông tới nước Thụy Điển và Hà Lan trung lập để gặp gỡ với những nhà hoạt động hòa bình ở đó. Ford, mục tiêu của nhiều sự nhạo báng, đã rời khỏi tàu ngay sau khi nó tới Thụy Điển. == Chủ nghĩa bài Do Thái và Tờ The Dearborn Independent == Năm 1918 thư ký chính của Ford là Ernst Liebold bị một nhà báo cáo buộc đã nói chuyện bằng tiếng Đức với một nhà báo từ tờ báo tiếng Đức là Chicago. Tình báo quân đội đã điều tra và hủy bỏ vụ việc vì không có cơ sở. Liebold là người chịu trách nhiệm việc sử dụng tên tuổi của Ford năm 1919 và báo chí để chỉ trích người Do Thái (nhiều năm trước khi phong trào Phát xít bắt đầu). Liebold đã sử dụng quyền lực của Ford để bắt đầu một tạp chí, The Dearborn Independent, năm 1919. Tờ báo hoạt động trong tám năm, trong thời gian đó Liebold đã tái bản "Protocols of the Learned Elders of Zion," vốn hồi đó đã bị tai tiếng là một sự giả mạo. Hiệp hội sử học Do Thái ở Mỹ coi những ý tưởng trong tờ tạp chí đó là "chống nhập cư, chống lại lao động, chống rượu, và bài Do Thái". Tháng 2, 1921, tờ New York World in một bài phỏng vấn Ford, trong đó ông nói "Lời tuyên bố duy nhất tôi có thể đưa ra về các Protocols là chúng phù hợp với những gì đang diễn ra. Chúng đã mười sáu tuổi, và chúng đã phù hợp với tình hình thế giới cho tới thời điểm này. Hiện chúng đang thích hợp với nó." Tờ Independent cũng cho in, dưới tên Ford, nhiều bài báo chống Do Thái từng được in đầu thập kỷ 1920 dưới hình thức một bộ bốn tập, được tập hợp với cái tên "Người Do Thái trên thế giới, Vấn đề đầu tiên của thế giới." Bị lên án bởi Liên đoàn chống phỉ báng (ADL), tuy nhiên các bài báo rõ ràng lên án những cuộc thảm sát người Do Thái và bạo lực chống lại họ (Tập 4, Chương 80), thích hợp với việc lên án các vụ bạo lực số đông nhằm vào người Do Thái hơn. Trên thực tế chẳng có bài nào trong số này do Ford viết ra, mặc dù có thể chúng được ông ngụ ý đồng ý. Việc kiện cáo phỉ báng về vụ bài Do Thái dẫn Ford tới hành động đóng cửa tờ Dearborn Independent tháng 12 năm 1927. Trong thời gian xử án, tổng biên tập tờ báo của Ford là William Cameron, đã chứng minh rằng Ford chẳng có liên hệ gì tới các công việc tòa soạn mặc dù đúng ra chúng là của ông. Cameron nói ông không bao giờ tranh cãi về nội dung các trang báo hay phải gửi chúng tới để xin ý kiến của Ford. [Lewis, The Public Image of Henry Ford, pp. 140–156; Baldwin p 220-221] Ford chính thức rút lui tờ International Jew và Protocols. Tháng 1, 1942, Ford đã viết một bức thư ngỏ tới ADL phản đối lòng căm ghét với người Do Thái và bày tỏ hy vọng của ông rằng sự căm ghét người Do Thái sẽ giảm bớt đi với thời gian. Tuy nhiên, những nhóm cực đoan thường tái sử dụng lại những thứ đó—dù không được phép; nó vẫn xuất hiện trên những trang web bài Do Thái và Quốc xã mới. == Ford làm ăn với thế giới == Ford đã có một cam kết chắc chắn rằng thương mại quốc tế tạo ra hòa bình quốc tế, và ông đã sử dụng Model T để giúp mở rộng điều ông tin tưởng. [Watts 236-40] Ông đã mở xưởng lắp ráp đầu tiên ở Anh Quốc ngay từ năm 1911, và nhanh chóng trở thành nhà sản xuất lớn nhất ở đó. Ông cũng làm như vậy ở Canada. Năm 1912 ông giúp Agnelli của Fiat ở Italia. Trong thập kỷ 1920 ông mở nhiều nhà máy ở Australia, Ấn Độ thuộc Pháp và Đức. Ông thực nghiệm trồng cao su ở vùng rừng Amazon và gọi nó là Fordlândia; đây là một trong số ít những thất bại của ông, và tới năm 1929 ông đã có quan hệ buôn bán thành công trên sáu lục địa. [Wilkins] Năm 1929 Ford chấp nhận lời mời của Stalin để xây một nhà máy hiện đại tại Gorky—và ông đã gửi các kỹ sư cùng thợ máy Mỹ, gồm cả nhà lãnh đạo lao động tương lai Walter Reuther tới đó. Khi Hoa Kỳ còn đang có hóa bình với quốc gia nào đó, Công ty Ford Motor còn làm ăn với quốc gia đó. Những nhà máy đầu tiên ở Đức được xây dựng trong thập kỷ 1920 với sự ủng hộ của Herbert Hoover và Sở thương mại, họ đồng ý với lý thuyết của Ford rằng thương mại quốc tế là mục tiêu căn bản của Ford cho hòa bình thế giới.[Wilkins] Hình ảnh của Ford làm cho người châu Âu, đặc biệt là người Đức, kính nể, nó gợi lên "nỗi sợ cho một số người, sự say mê đối với những người khác, và sự mê hoặc cho tất cả" [Nolan tr. 31]. Tất cả những người Đức bàn về chủ nghĩa Ford đều tin rằng nó tượng trưng cho một thứ gì đó thuộc về phần tinh túy của Mỹ. Một nhà lãnh đạo công đoàn đã nhấn mạnh rằng những công việc của Ford—tầm vóc, nhịp độ, sự tiêu chuẩn hoá, và triết lý coi sản xuất là dịch vụ—là điều Mỹ nhất mà ông thấy ở Hoa Kỳ. Cả những người ủng hộ và chỉ trích đều nhấn mạnh rằng chủ nghĩa Ford là hình ảnh thu nhỏ của sự phát triển chủ nghĩa tư bản Mỹ và rằng nền công nghiệp ô tô là then chốt để hiểu được các mối quan hệ kinh tế và xã hội ở Mỹ. Như một người Đức từng giải thích, "Ô tô đã làm thay đổi rất lớn kiểu sống của người Mỹ tới mức hiện nay một người Mỹ khó có thể tưởng tượng rằng anh ta có thể sống mà không có nó. Khó có thể nhớ cuộc sống đã từng thế nào trước khi Ford bắt đầu thuyết giảng học thuyết về sự cứu rỗi." [Nolan tr. 31]. Đối với nhiều người Đức, Henrry Ford là hiện thân của bản chất của chủ nghĩa Mỹ. Một nhà báo của tờ Detroit News đã phỏng vấn Hitler năm 1931 (hai năm trước khi ông lên nắm quyền) và hỏi ông về tấm ảnh Ford trên bàn của ông; Hitler đã nói với cô, "Tôi coi Henry Ford như người truyền cảm hứng cho mình." Năm 1928 lãnh sự Đức ở Cleveland đã trao cho Ford và một quan chức cao cấp của General Motors giải thưởng Grand Cross of the German Eagle vì đã chế tạo xe hơi cho đại chúng. A picture of Ford receiving the Cross is available here. == Quỹ Ford == Henry Ford, cùng con trai là Edsel, đã lập ra Quỹ Ford năm 1936 với một hiến chương rộng để thúc đẩy sự thịnh vượng của con người. Ford đã chia cổ phần của ông thành những số lượng cổ phần có quyền biểu quyết nhỏ và trao chúng cho gia đình, và một lượng lớn những cổ phần không có quyền biểu quyết cho quỹ. Quỹ đã trở nên to lớn và tới năm 1950, đã trở thành một tổ chức ở tầm thế giới. Nó đã bán tất cả mọi cổ phần của nó trên thị trường chứng khoán và không còn giữ quan hệ với Công ty Ford Motor và gia đình Ford.[4] == Cái chết == Ford bị đột quỵ lần đầu tiên năm 1938, sau đó ông chuyển quyền điều hành công ty cho Edsel. Khi Edsel chết, năm 1943, Ford buộc phải tạm ngừng nghỉ ngơi. Trong tình trạng sức khỏe kém, ông đã chuyển quyền lãnh đạo cho cháu trai Henry Ford II vào tháng 9 năm 1945, và về nghỉ. Ông chết năm 1947 vì một vụ xuất huyết não ở tuổi 83 tại Fair Lane, trong lãnh địa của ông ở Dearborn, và được chôn trong nghĩa trang Ford tại Detroit. == Những lời trích dẫn == Ford rất hay đưa ra lời châm biếm, và đã thuê các nhà văn sản xuất ra những câu cách ngôn để gán cho mình. "Lịch sử dù sao cũng là một cái đã qua rồi. Nó là truyền thống. Chúng ta không thích truyền thống. Chúng ta muốn sống trong thực tại, và chỉ duy nhất thứ lịch sử đáng giá bằng một câu chửi thề của người thợ hàn là thứ lịch sử mà chúng ta tạo ra ngày hôm nay." "Những nhà tài chính quốc tế đứng đằng sau mọi cuộc chiến. Họ là những người được gọi là Do Thái quốc tế -- Do Thái Đức, Do Thái Pháp, Do Thái Anh, Do Thái Mỹ. Tôi tin rằng ở tất cả các nước đó, trừ Mỹ, những nhà tài chính Do Thái là tối thượng... Ở đây, người Do Thái là một mối đe doạ." "Không có gì là quá khó, nếu bạn chia nó thành từng công việc nhỏ." "Bất kỳ ai dừng học tập đều già, dù anh ta ở tuổi hai mươi hay tám mươi. Bất kỳ ai đang học tập đều trẻ. Điều vĩ đại nhất trong cuộc sống là giữ tâm hồn bạn trẻ trung." "Bất kỳ khách hàng nào cũng có thể có được một chiếc xe sơn bất kỳ màu nào anh ta muốn khi nó còn đang là màu đen." "Đa số mọi người tiêu phí thời gian và sức lực vào việc đi đường vòng để tránh các vấn đề hơn là tìm cách giải quyết chúng." "Tôi không tin vào tình trạng sẵn sàng. Nó giống như một người đang cầm một khẩu súng. Con người và các quốc gia mang súng sẽ gặp rắc rối. Nếu tôi có cách, tôi sẽ ném tất cả thuốc súng xuống biển và lột hết quân phục của mọi binh lính và thủy thủ." "Tôi theo thuyết tái sinh khi tôi hai mươi sáu tuổi. Tín ngưỡng không cống hiến tí gì về vấn đề này. Ngay cả sự nghiệp cũng không thể cho tôi sự mãn nguyện hoàn toàn. Sự nghiệp sẽ vô bổ nếu ta không thể đem cái kinh nghiệm mà ta thu góp trong kiếp này để sử dụng trong kiếp sau. Khi tôi khám phá ra thuyết tái sanh thì thời gian không còn bị hạn chế nữa. Tôi không còn làm nô lệ cho kim đồng hồ nữa... Tôi muốn san sẻ với người khác sự an tịnh mà cái thấy ấy đã đem lại cho ta." " Một trong những hạnh phúc lớn nhất ở trên đời là tình bạn, hạnh phúc lớn nhất trong tình bạn là có một người gửi gắm tâm tình." == Những thí dụ phụ == Henry Ford từ lâu đã chú ý tới sự phát triển các loại nhựa từ các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là đậu nành. Các sản phẩm nhựa từ đậu nành đã được sử dụng ở Công ty ô tô Ford trong thập kỷ 1930 cho những phần nhựa như còi, sơn, vv... Dự án này lên tới đỉnh điểm vào năm 1942, khi Ford được cấp bằng sáng chế một chiếc ô tô hầu như được làm toàn bằng nhựa, được gắn vào một khung hàn hình ống. Nó nhẹ hơn 30% so với xe bằng sắt thép, và được nói là có thể chống lại các lực tác động lớn hơn thép mười lần. Hơn nữa, nó chạy bằng cồn thực vật là (ethanol) chứ không dùng xăng. Thiết kế này không bao giờ được ưa chuộng. [Lewis 1995] Ford giữ một nơi nghỉ dưỡng (được gọi là "Ford Plantation") ở Richmond Hill, Georgia. Về căn bản ông đóng góp cho cộng đồng, xây một nhà nguyện và một ngôi trường và sử dụng một lượng lớn người địa phương. Ford chú ý tới việc "sưu tập văn minh Mỹ". Trong thập kỷ 1920s, ông bắt đầu làm việc để biến Sudbury, Massachusetts thành một làng có chủ đề lịch sử. Ông chuyển ngôi trường (mà người ta cho là) được nhắc đến trong bài hát ru, Mary có một chú cừu nhỏ từ Sterling, Massachusetts và mua di tích lịch sử Wayside Inn. Kế hoạch này không bao giờ thành công, nhưng Ford tiếp tục thực hiện nó với việc sáng tạo ra Greenfield Village ở Dearborn, Michigan. Có lẽ nó cũng lấy cảm hứng từ sự sáng tạo Old Sturbridge Village. Cùng lúc ấy ông bắt đầu sưu tập các đồ vật cho bảo tàng của mình, nó có chủ đề công nghệ thực tiễn. Nó được mở cửa năm 1929 với tên Viện Edison và hiện vẫn đang mở cửa mặc dù đã được hiện đại hóa hơn nhiều. Henry Ford đôi khi được coi là tác giả của phát minh ô tô mà nói chung thuộc về Karl Benz, và dây chuyền sản xuất do Ransom E. Olds sáng tạo ra. Những công nhân của Ford đã thực sự phát triển dây chuyền lắp ráp di động đầu tiên dựa trên kỹ thuật băng tải. == Ghi chú == ^ Ford, My Life and Work, 22; Nevins and Hill, Ford: The Times, the Man, the Company (TMC), 54-55. ^ Ford, My Life and Work, 22-24; Nevins and Hill, Ford TMC, 58. ^ Ford, My Life and Work, 24; Edward A. Guest "Henry Ford Talks About His Mother," American Magazine, July, 1923, 11-15, 116-120. ^ Senator "Condemned" for Excessive Campaign Expenditures, United States Senate, Historical Minutes. ^ Henry Ford, A Science Odyssey, People and Discoveries. ^ Detroit News, 31 tháng 7 năm 1938. ^ FAQ, Ford Foundation. == Tham khảo == === Những nguồn đầu tiên === Ford, Henry and Crowther, Samuel; My Life and Work, 1922. Bản tiếng Việt: Henry Ford: Cuộc đời và sự nghiệp của tôi, Alpha Books & Nhà xuất bản Lao động, 3/2006 Ford, Henry and Crowther, Samuel; Today and Tomorrow, 1926 Ford, Henry and Crowther, Samuel; Moving Forward, 1930 Bennett, Harry, as told to Paul Marcus. Ford: We Never Called Him Henry, 1951 Sorensen, Charles E., with Samuel T. Williamson. My Forty Years with Ford, 1956; ISBN 0-915299-36-4 === Những tiểu sử === Bak, Richard. Henry and Edsel: The Creation of the Ford Empire (2003) Brinkley, Douglas G. Wheels for the World: Henry Ford, His Company, and a Century of Progress (2003) Halberstam, David. "Citizen Ford" American Heritage 1986 37(6): 49-64. interpretive essay Jardim, Anne. The First Henry Ford: A Study in Personality and Business Leadership Massachusetts Inst. of Technology Press 1970. Lacey, Robert. Ford: The Men and the Machine Little, Brown, 1986. popular biography Lewis, David I. The Public Image of Henry Ford: An American Folk Hero and His Company Wayne State U Press (1976), Nevins, Allan; Frank Ernest Hill (1954). Ford: The Times, The Man, The Company. New York: Charles Scribners' Sons. Nevins, Allan; Frank Ernest Hill (1957). Ford: Expansion and Challenge, 1915-1933. New York: Charles Scribners' Sons. Nevins, Allan; Frank Ernest Hill (1962). Ford: Decline and Rebirth, 1933-1962. New York: Charles Scribners' Sons. Nye, David E. Henry Ford: "Ignorant Idealist." Kennikat, 1979. Watts, Steven. The People's Tycoon: Henry Ford and the American Century (2005) === Những nghiên cứu đặc biệt === Batchelor, Ray. Henry Ford: Mass Production, Modernism and Design Manchester U. Press, 1994. Bonin, Huber et al. Ford, 1902-2003: The European History 2 vol Paris 2003. ISBN 2914 369 069 scholarly essays in English; reviewed in * Holden, Len. "Fording the Atlantic: Ford and Fordism in Europe" in Business History Volume 47, #1 tháng 1 năm 2005 pp 122–127 Brinkley, Douglas. "Prime Mover". American Heritage 2003 54(3): 44-53. on Model T Bryan, Ford R. Henry's Lieutenants, 1993; ISBN 0-8143-2428-2 Bryan, Ford R. Beyond the Model T: The Other Ventures of Henry Ford Wayne State Press 1990. Dempsey, Mary A. "Fordlandia," Michigan History 1994 78(4): 24-33. Ford's rubber plantation in Brazil Jacobson, D. S. "The Political Economy of Industrial Location: the Ford Motor Company at Cork 1912-26." Irish Economic and Social History 1977 4: 36-55. Ford and Irish politics Kraft, Barbara S. The Peace Ship: Henry Ford's Pacifist Adventure in the First World War Macmillan, 1978 Levinson, William A. Henry Ford's Lean Vision: Enduring Principles from the First Ford Motor Plant, 2002; ISBN 1-56327-260-1 Lewis, David L. "Ford and Kahn" Michigan History 1980 64(5): 17-28. Ford commissioned architect Albert Kahn to design factories Lewis, David L. "Henry Ford and His Magic Beanstalk". Michigan History 1995 79(3): 10-17. Ford's interest in soybeans and plastics Lewis, David L. "Working Side by Side" Michigan History 1993 77(1): 24-30. Why Ford hired large numbers of black workers McIntyre, Stephen L. "The Failure of Fordism: Reform of the Automobile Repair Industry, 1913-1940: Technology and Culture 2000 41(2): 269-299. repair shops rejected flat rates Meyer, Stephen. The Five Dollar Day: Labor Management and Social Control in the Ford Motor Company, 1908-1921 (1981) Nolan; Mary. Visions of Modernity: American Business and the Modernization of Germany (1994) Daniel M. G. Raff and Lawrence H. Summers (tháng 10 năm 1987). “Did Henry Ford Pay Efficiency Wages?”. Journal of Labor Economics 5 (4): S57–S86. Pietrykowski, Bruce. "Fordism at Ford: Spatial Decentralization and Labor Segmentation at the Ford Motor Company, 1920-1950" Economic Geography 1995 71(4): 383-401. Roediger, David, ed "Americanism and Fordism - American Style: Kate Richards O'hare's 'Has Henry Ford Made Good?'" Labor History 1988 29(2): 241-252. Socialist praise for Ford in 1916 Segal, Howard P. "'Little Plants in the Country': Henry Ford's Village Industries and the Beginning of Decentralized Technology in Modern America" Prospects 1988 13: 181-223. Ford created 19 rural workplaces as pastoral retreats Tedlow, Richard S. "The Struggle for Dominance in the Automobile Market: the Early Years of Ford and General Motors" Business and Economic History 1988 17: 49-62. Ford stressed low price based on efficient factories but GM did better in oligopolistic competition by including investment in manufacturing, marketing, and management. Thomas, Robert Paul. "The Automobile Industry and its Tycoon" Explorations in Entrepreneurial History 1969 6(2): 139-157. argues Ford did NOT have much influence on US industry, Valdés, Dennis Nodin. "Perspiring Capitalists: Latinos and the Henry Ford Service School, 1918-1928" Aztlán 1981 12(2): 227-239. Ford brought hundreds of Mexicans in for training as managers Wilkins, Mira and Frank Ernest Hill, American Business Abroad: Ford on Six Continents Wayne State University Press, 1964 Williams, Karel, Colin Haslam and John Williams, "Ford versus `Fordism': The Beginning of Mass Production?" Work, Employment & Society, Vol. 6, No. 4, 517-555 (1992), stress on Ford's flexibility and commitment to continuous improvements === Do Thái, chủ nghĩa bài Do Thái và Đức Quốc xã === Baldwin, Neil; Henry Ford and the Jews: The Mass Production of Hate; PublicAffairs, 2000; ISBN 1-58648-163-0 Foust, James C. "Mass-produced Reform: Henry Ford's Dearborn Independent" American Journalism 1997 14(3-4): 411-424. Higham, Charles, Trading With The Enemy 1983 Kandel, Alan D. "Ford and Israel" Michigan Jewish History 1999 39: 13-17. covers business and philanthropy Lee, Albert; Henry Ford and the Jews; Rowman & Littlefield Publishers, Inc., 1980; ISBN 0-8128-2701-5 Lewis, David L. "Henry Ford's Anti-semitism and its Repercussions" Michigan Jewish History 1984 24(1): 3-10. Reich, Simon (1999) "The Ford Motor Company and the Third Reich" Dimensions, 13(2): 15 - 17 online Ribuffo, Leo P. "Henry Ford and the International Jew" American Jewish History 1980 69(4): 437-477. Sapiro, Aaron L. "A Retrospective View of the Aaron Sapiro-Henry Ford Case" Western States Jewish Historical Quarterly 1982 15(1): 79-84. Silverstein, K. (2000) "Ford and the Fuhrer" The Nation 270(3): 11 - 16 Wallace, Max The American Axis: Henry Ford, Charles Lindbergh, and the Rise of the Third Reich; ISBN 0-312-33531-8 Woeste, Victoria Saker. "Insecure Equality: Louis Marshall, Henry Ford, and the Problem of Defamatory Antisemitism, 1920-1929" Journal of American History 2004 91(3): 877-905. == Xem thêm == Công ty Ford Motor Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Ford Việt Nam Đường xe lửa Detroit, Toledo và Ironton Edison and Ford Winter Estates Fair Lane Fordlândia William B. Mayo Dodge kiện Công ty Ford Motor Philip Roth, nhà văn mà tưởng tượng ông Ford là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong chính quyền tưởng tượng dưới tên Lindbergh trong tiểu thuyết The Plot Against America năm 2005. Danh sách những người giàu nhất trong lịch sử == Liên kết ngoài == Full text of My Life and Work from Project Gutenberg My Life and Work, adapted from the Gutenberg Project version, with contextual links to Wikipedia. Notable quotations and speech excerpts Nevins and Hill tell story of Peace Ship in American Heritage College student reports on the 1915 Peace Ship expedition The Henry Ford Heritage Association Review of Henry Ford and the Jews American Corporate Support for Nazis Các tác phẩm của Henry Ford tại Dự án Gutenberg The Washington Post reports on Ford and General Motors possible collaboration with Nazi Germany
tiếng punjab.txt
Tiếng Punjab (chữ Gurmukhi: ਪੰਜਾਬੀ, chữ Shahmukhi: پنجابی, tiếng Devanagari: पंजाबी) là ngôn ngữ Ấn-Aryan được nói bởi người dân của vùng Punjab lịch sử (tây bắc Ấn Độ và ở Pakistan). Đối với người Sikh, tiếng Punjab là ngôn ngữ chính thức, trong đó tất cả các nghi lễ và nghi thức dùng ngôn ngữ này. Theo ước tính năm 2005 của Ethnologue, có 88.000.000 người dùng tiếng Punjab làm tiếng bản ngữ, khiến nó trở thành ngôn ngữ có số người dùng đông thứ 13 thế giới. Theo điều tra dân số năm 2008 của Pakistan, có 76.335.300 người nói tiếng Punjab như tiếng mẹ đẻ còn theo điều tra dân số của Ấn Độ, có 29.102.477 nói tiếng Punjab như tiếng mẹ đẻ. Tiếng Punjab có nhiều phương ngữ khác nhau, được nói ở tiểu vùng Đại Punjab. Tiếng Majhi là phương ngữ Majhi uy tín của Punjabi. phương ngữ này được coi là tiếng Punjabi giáo khoa và được nói trong khu vực lịch sử của Majha, tập trung ở Lahore và Amritsar. Tiếng Punjab - cũng như tiếng Lahnda và tiếng Tây Pahari - là một ngôn ngữ bất thường trong hệ ngôn ngữ Ấn-Âu hiện đại vì nó là một ngôn ngữ thanh điệu. == Tham khảo ==
lý khắc cường.txt
Lý Khắc Cường (tiếng Trung: 李克强; bính âm: Lǐ Kèqiáng) (sinh 1 tháng 7 năm 1955) là một chính khách cao cấp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ông hiện là Thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và là nhân vật đứng thứ 2 trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, bộ phận ra quyết định cao nhất của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. ông Lý có thế mạnh về phát triển kinh tế, kiểm soát giá, tài chính, biến đổi khí hậu và quản lý kinh tế vĩ mô. == Tiểu sử == Ông là người dân tộc Hán, nguyên quán tại Định Viễn, An Huy. Xuất thân là lao động chân tay ở nông thôn, ông Lý tiến nhanh lên vị trí bí thư tỉnh ủy và nay được cho là có nhiều hy vọng trở thành lãnh đạo hàng đầu đất nước. Ông bắt đầu làm việc trong chính quyền với vai trò viên chức từ tháng 3 năm 1974. Ông đã tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế học Học viện Kinh tế Đại học Bắc Kinh, Nghiên cứu sinh tại chức và là Tiến sĩ kinh tế học. Sinh trưởng tại huyện Định Viễn, Lý Khắc Cường đã trải qua 4 năm lao động chân tay tại Tập đoàn sản xuất Đông Lăng tại tỉnh An Huy. Vào năm 1978, ông vào Đại học Bắc Kinh, nơi ông tốt nghiệp đại học Luật và Kinh tế. Vào những năm 1980 và 90, Lý Khắc Cường làm Bí thư Liên hiệp sinh viên Toàn trung Quốc, sau đó giữ vị trí trong đảng tại Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản. Vào năm 1999, ông được bổ nhiệm Chủ tịch tỉnh Hà Nam và sau đó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Hà Nam. Thế nhưng trong thời gian ông làm lãnh đạo ở tỉnh nông thôn đông dân này, đã xảy ra một số vụ như hỏa hoạn và truyền máu có nhiễm HIV. Từ đó, ông tới Liêu Ninh trước khi đặt chân vào Thường vụ Bộ Chính trị vào năm 2007. Ông Lý Khắc Cường được cho là thân cận với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào từ hồi còn cùng hoạt động Đoàn Thanh niên. Ông được trông đợi sẽ kế nhiệm Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Ngày 15 tháng 3 năm 2013, ông được Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc (Trung Quốc) bầu làm Thủ tướng Quốc vụ viện. == Đời tư == Lý Khắc Cường xuất thân không là con của cán bộ cấp cao trong chính trường Trung Quốc. Theo Brookings, ông xuất thân từ trần lớp quan chức trung lưu với cha là một cán bộ cấp huyện. Vợ ông, Trần Hồng, là giáo sư tiếng Anh và văn chương tại Đại học Kinh tế và Thương mại Bắc Kinh. Họ có một con gái đang học tại Mỹ. Cha vợ ông từng giữ chức Phó Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đoàn. == Đánh giá == Phong thái bình dân và nhỏ nhẹ của ông khiến nhiều người đặt câu hỏi liệu ông có đủ mạnh mẽ để đương đầu với các nhóm lợi ích đang thống lĩnh kinh tế Trung Quốc hay không. Theo Cheng Li của viện Brookings, Lý Khắc Cường là người theo chủ nghĩa dân túy, là người ưa tranh luận các chủ đề như gia tăng việc làm, ưu đãi nhà cửa, chăm sóc y tế cơ sở, phát triển cân đối vùng miền và thúc đẩy cải cách công nghệ năng lượng sạch. Ông được tiếng là quan tâm tới người nghèo, có thể vì bản thân sinh ra trong gia đình không mấy khá giả. Ông được cho là có công lớn trong việc vực dậy nền kinh tế của tỉnh Hà Nam, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở tỉnh Liêu Ninh, một tỉnh bị ảnh hưởng mạnh của quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước. == Tham khảo ==
thế kỷ 16.txt
Thế kỷ 16 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1501 đến hết năm 1600, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory. == Tham khảo ==
process explorer.txt
Process Explorer is a phần mềm miễn phí cho Microsoft Windows do Sysinternals tạo ra, và được tập đoàn Microsoft mua lại. Process Explorer là tiện ích theo dõi và kiểm tra hệ thống, có thể sử dụng như một công cụ gỡ rối cho các phần mềm cũng như các vấn đề phát sinh của hệ thống. Có thể dùng như một tiện ích thay thế task manager của Windows. Process Explorer có thể được sử dụng để theo dõi về các vấn đề. Ví dụ như, xem tiến trình nào đang chạy, theo dõi những tệp tin đang được mở bởi các chương trình, hiện dòng lệnh đã được sử dụng để khởi động chương trình. Nó cũng được dùng như Task Manager để quản lý tài khoản từng chương trình chiếm dụng, thiết lập mức độ ưu tiên của từng tiến trình,v.v... Process Explorer là một trong những tiện ích quản lý vào theo dõi hệ thống sẵn dùng tại Microsoft Sysinternals website. Hiện nay Process Explorer làm việc trên Windows 9x/Me, Windows NT 4.0, Windows 2000, Windows XP, Windows Server 2003, Windows Vista, Windows 7 bao gồm cả các phiên bản 64-bit. == Chức năng == Xem các quá trình theo cấu trúc cây. Có khả năng hiện biểu tượng và tên nhà sản xuất của từng quá trình. Có khả năng tạm dừng/tiếp tục một quá trình. Diệt một cây quá trình. Tìm kiếm dll, tài nguyên đang bị chiếm giữ, giải phóng tài nguyên bị chiếm giử. Đặt mức độ ưu tiên cho các tiến trình Đồ thị trạng thái ở khay hệ thống Khởi chạy các tiến trình với quyền hạn chế/ nâng cao. == Xem thêm == Process Monitor Tập tinMon RegMon Windows Task Manager == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Sysinternals Suite Bộ công cụ Sysinternals. Process Explorer Official Webpage Microsoft Retrieved on ngày 29 tháng 12 năm 2008 Using Process Explorer to tame svchost.exe - Advanced topics ngày 9 tháng 2 năm 2008 Process Explorer Part 2 ngày 10 tháng 2 năm 2008 Process Explorer Guide for Newbies ngày 27 tháng 2 năm 2009
hypena hoareae.txt
Hypena hoareae là một loài bướm đêm trong họ Erebidae. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Dữ liệu liên quan tới Hypena hoareae tại Wikispecies Phương tiện liên quan tới Hypena hoareae tại Wikimedia Commons
8 tháng 11.txt
Ngày 8 tháng 11 là ngày thứ 312 (313 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 53 ngày trong năm. == Sự kiện == 1278 – Trần Thánh Tông nhường ngôi Hoàng đế triều Trần cho Thái tử Trần Khâm, Trần Thánh Tông trở thành Thái thượng hoàng. 1602 – Thư viện Bodleian tại Đại học Oxford mở cửa cho công chúng. 1895 – Trong khi làm thí nghiệm về điện, nhà vật lý học người Đức Wilhelm Röntgen phát hiện ra tia X. 1923 – Đảo chính nhà hàng bia: Tại München, Adolf Hitler lãnh đạo lực lượng Quốc xã trong một nỗ lực lật đổ chính phủ Đức, song thất bại. 1940 – Chiến tranh Hy Lạp-Ý: Cuộc xâm chiếm Hy Lạp của Ý thất bại khi người Ý bị đẩy lui trong Trận Elaia-Kalamas. 1942 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Chiến dịch Bó đuốc – Các lực lượng Hoa Kỳ và Anh Quốc đổ bộ Bắc Phi thuộc Pháp. 1960 – John F. Kennedy đánh bại Richard Nixon trong một cuộc bầu cử tổng thống có kết quả sít sao, trở thành Tổng thống Hoa Kỳ thứ 35. 1965 – Chiến tranh Việt Nam: Chiến dịch Hump ở phía bắc Biên Hòa kết thúc với thắng lợi của Liên quân Hoa Kỳ-Úc trước quân Việt Cộng. 1965 – Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh được thiết lập, gồm các nhóm đảo Chagos, Aldabra, Farquhar và Des Roches. 2006 – Sao Thủy đi qua Mặt Trời lần thứ 2 trong số 14 lần của hiện tượng này vào thế kỷ 21. 2013 – Siêu bão Haiyan tiến công khu vực Visayas tại Philippines, khiến hàng nghìn người thiệt mạng. == Sinh == 1711 - Mikhail Vasilevich Lomonosov -nhà bác học Nga thế kỷ XVIII. 1900 - Margaret Mitchell, nhà văn Mỹ, tác giả Cuốn theo chiều gió (m. 1949) 1927 – Nguyễn Khánh, Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa 1974- Masashi Kishimoto - Thánh Kishi- Tác giả bộ truyện Naruto 1946 – Guus Hiddink, huấn luyện viên bóng đá Hà Lan 2000 - Vương Nguyên, thành viên nhóm nhạc TFBOYS, ca sĩ, diễn viên người Trung Quốc == Mất == 1910 - Lev Nicolaevitr Tolstoi, đại văn hào người Nga. 2011 - Phạm Song, giáo sư, viện sĩ y học, cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam (s. 1931) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
cricket.txt
Cricket (phiên âm: Crích-kê; cũng gọi: bóng gậy, bản cầu, mộc cầu, tường cầu) là một môn thể thao dùng gậy đánh bóng, phổ biến tại nhiều quốc gia trong cộng đồng Thịnh vượng chung Anh, chơi giữa hai đội, mỗi đội 11 đấu thủ, trên sân cỏ hình tròn. Mục đích của trận đấu là hai đội thay phiên nhau, một đội giao bóng và một đội đánh bóng. Sau khi tất cả các đấu thủ của đội đánh bóng bị loại, đội này sẽ đổi sang ném bóng, và đội bên kia sẽ vào sân để thành đội đánh. Khi bắt đầu vào trận, một đội cử ra hai người cầm gậy đứng ở hai đầu một dải đất phẳng gọi là "phương cầu trường" (tiếng Anh: pitch). Mỗi đầu đều có tam trụ môn (wicket) gồm ba que gỗ cắm vào đất, có hai thỏi gỗ nằm trên. Đội bên kia cử ra một người giao bóng - "đầu cầu viên" (bowler) và một số người cùng đội đứng chung quanh đợi đánh bóng - "kích cầu viên" (fielder). Người ném bóng cố ném từ một đầu phương cầu trường sang đầu bên kia, mục đích là cho bóng dội lên từ mặt đất và làm vỡ ba cọc trụ môn của tam trụ môn ở đầu bên kia. Người cầm gậy của đội đối phương phải ráng đánh bật bóng ra, bảo vệ tam trụ môn phía bên mình. Trong khi bóng bị đánh xa, hai người cầm gậy phải chạy tới lui giữa hai đầu phương cầu trường. Mỗi đợt chạy tính là một "bào vị" (run). Những đấu thủ đội ném phải bắt được bóng trả về khu phương cầu trường. Hai đấu thủ đội đánh bóng tiếp tục đánh và chạy tới lui như thế và kiếm điểm cho tới khi một trong hai người này bị đội ném loại ra bằng những cách: Làm vỡ tam trụ môn khi giao bóng Bắt được bóng từ gậy người đánh khi bóng chưa chạm đất (catch) Đùi chặn bóng (leg before wicket): Làm người đánh sểnh chân đứng lố ra trước, chân che tam trụ môn và nếu trọng tài thấy, sẽ phạt, cho loại ra. Dùng bóng làm vỡ khung thành tam trụ môn trong khi người đánh bóng còn đang chạy, không kịp về mức của tam trụ môn. Đấu thủ bị loại được đồng đội khác vào thay. Đội đánh luôn có hai người cầm gậy trên sân (partner). Tính điểm: Chạy từ một đầu phương cầu trường sang mức tam trụ môn bên kia: 1 bào vị Đánh bóng ra tới vòng biên của sân: 4 bào vị Đánh bóng không chạm đất, bay ngoài vòng biên (kể cả bay vào khán đài): 6 bào vị == Kiểu cricket == Thể thao cricket co vài kiểu chơi Test cricket Cricket đơn nhật (one-day matches) Criket hai hai mươi (Twenty20) === Test cricket === Test cricket hay cricket đối kháng là kiểu chơi cricket kéo dài nhất, tối đa là năm ngày. Một trận cầu criket đối kháng được hai quốc gia tham dự; nếu không có hai quốc gia thì không được ghi nhận là criket đối kháng. Hiện bây giờ, có mười quốc gia được Hội Cricket Quốc tế (International Cricket Council – ICC) cho ghi danh để chơi test cricket. ICC cho một quốc gia tham dự criket đối kháng nếu quốc gia đó đạt được một trình độ chấp nhận. Một trận cầu criket đối kháng có thể kéo dài năm ngày; nếu một đội thắng trước năm ngày, thì trận chắm dứt sớm. Nếu sau năm ngày, không có một đội thắng, thì kết quà là hòa. Trong thể thao test cricket, mỗi đội thay phiên đánh và giao bóng; mỗi đội được đánh bóng tối đa là hai lần. Mục đích của trò chơi là để đạt nhiều điểm hơn đội kia, trong tổng cộng hai phiên đánh bóng. Trong test cricket, để thắng, một đội phải làm đối phương bị loại hai lần (hoặc có một đội xin thua (declaration)). Nếu một đội đạt được nhiều điểm hơn, mà đối phương không có bị loại, mà tiếp tục thủ người giao bóng, thành công tới cuối thời giơ tôi đa, vậy thì kết quả là hoà. Trận criket đối kháng đầu tiên được tổ chức năm 1877, do Anh và Úc tham dự. === Cricket đơn nhật === Cricket đơn nhật (tiếng Anh: One-day cricket hoặc Limited overs cricket), là một kiểu cricket mới, được sáng chế vào khoảng những năm 1960 và 1970. Các trận cricket được tổ chức trong một ngày. Trong trận cricket đơn nhật, mỗi đội có phép đánh bóng, trong một thời gian có giới hạn, thường là 50 "vòng ném bóng" (over). Sau thời đánh bóng được giới hạn, đôi, thứ hai thay phiên đánh bóng. Nếu một đội bị loại trước thời gian giới hạn, thì đội đối phương được bắt đầu đánh bóng. Nếu đội thứ hai đạt được số điểm của đội thứ nhất trong giới hạn, thì đội thư hai thắng. Nếu đội thứ hai bị loại trước khi đạt được số lượng điểm của đội thứ nhất, thì đội thứ nhất thắng. Cricket đơn nhật khác cricket đối kháng tại vì mỗi đội được đánh bóng chỉ có một lần. Và thứ hai là, đội nào có ít điểm hơn là thua; còn ở trong cricket đối kháng, đội giao bóng phải gây cho đội đánh bóng bị loại mới đạt kết quả. === Criket Hai hai mươi === Criket Hai hai mươi (Twenty20) là một kiểu cricket đơn nhật, mới được áp dụng trong thế kỷ 21. Hai hai mươi có nghĩa là mỗi đội được giới hạn đánh và giao bóng trong 20 vòng ném bóng, thay vì với 50 vòng ném bóng cho cricket đơn nhật thường. Mục đích của criket hai hai mươi là trận sẽ rất ngắn và chấm dứt trong khoảng ba tiếng đồng hồ. Hai hai mươi được sáng chể để thu hút người mới coi môn thể thao cricket, tại vì người mới coi môn thể thao này lần đầu có thể không hứng thú nếu trân đấu kéo dài quá lâu. Giải vô địch thế giới đầu tiên cho criket hai hai mươi được tổ chức lần đầu tiên năm 2007. == Xem thêm == Giải vô địch cricket thế giới == Tham khảo ==
akita.txt
Akita (Nhật: 秋田県 (Thu Điền Huyện), Akita-ken) là một tỉnh ở vùng Tohoku của Nhật Bản. Trung tâm hành chính là thành phố Akita. == Lịch sử == == Địa lý == Nằm ở phía bắc của đảo Honshū, Akita trông ra biển Nhật Bản ở phía tây và giáp bốn tỉnh khác: Aomori ở phía bắc, Iwate ở phía đông, Miyagi ở phía đông nam, và Yamagata ở phía nam. == Hành chính == === Thành phố === Akita có 13 thành phố: === Làng và thị trấn === Ngoài ra có 9 thị trấn và 3 làng nằm trong 6 quận == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của tỉnh (tiếng Nhật) Hướng dẫn tham quan tỉnh Akita (tiếng Anh) Akitafan (Cung cấp thông tin du lịch của chính quyền tỉnh Akita) (tiếng Anh)
samsung galaxy y.txt
Samsung Galaxy Y (GT-S5360) là điện thoại thông minh Android của Samsung, công bố vào tháng 8 năm 2011. Tính năng chính của nó là kết nối 3G với tốc độ lên đến 7.2Mbit/s và Wifi. == Tính năng == Galaxy Y sử dụng Android 2.3.5 Gingerbread OS với giao diện TouchWiz độc quyền từ Samsung, tích hợp sẵn các ứng dụng mạng xã hội và các tính năng đa phương tiện, bao gồm Google Voice Search, và kênh âm thanh cải tiến 5.1. Có một jack âm thanh chuẩn 3.5 mm 4-pin. Thiết bị sử dụng vi xử lý 832 MHz ARMv6, 290 MB bộ nhớ trong và hỗ trợ lên đến 32 GB lưu trữ ngoài thông qua thẻ nhớ microSD. Điện thoại có máy ảnh 2 MP, màn hình độ phân giải 240x320 đa chạm cùng với bàn phím tùy biến SWYPE. Điện thoại cung cấp tùy chọn kết nối như HSDPA 3G lên đến 7.2Mbit/s và kết nối Wifi. Chiếc điện thoại cũng cung cấp điều khiển từ xa cho phép khóa thiết bị, theo dõi và xóa dữ liệu từ xa. === Bộ xử lý === Galaxy Y sử dụng 832 MHz ARMv6 cùng với Broadcom VideoCore IV. === Bộ nhớ === Galaxy Y hỗ trợ 290 MB RAM và 190 MB bộ nhớ trong và thẻ microSDHC (lên đến 32 GB). === Màn hình === Galaxy Y sử dụng màn hình 76,2 milimét (3,00 in) QVGA (240*320) TFT LCD cảm ứng điện dung với mật độ điểm ảnh (PPI) là 133. === Máy ảnh === Đằng sau thiết bị là máy ảnh 2-megapixel fixed-focus không có flash có thể quay video độ phân giải tối đa QVGA. Galaxy Y không có máy trước. == Biến thể == Thiết bị bao gồm bảy biến thể: S5360L, S5360B (Brazil), S5360T, S5363, S5367, S5368, và S5369. Sự khác nhau đó là băng thông, SAR levels, màu sắc, vỏ thiết kế, dịch vụ vận chuyển và thuế. S5360L (châu Mỹ La Tinh) hỗ trợ băng thông 850 và 1900 MHz UMTS. S5363 thường được xem là biến thể của nhà mạng được đổi tên. S5369 là bản khóa mạng ở thị trường Ý. S5367 là Galaxy Y TV, phát hành vào tháng 4 năm 2012. Nó là biến thể được phân biệt bằng thiết bị thu TV kĩ thuật số; một số tính năng khác bao gồm thẻ nhớ 2 GB MicroSD, hỗ trợ đa chạm, và máy ảnh 3.15 Mpix. == Xem thêm == Samsung Galaxy (series) Samsung Galaxy Y Pro DUOS Samsung Galaxy Pocket == Them khảo == == Liên kết == Full phone specifications GSMArena page on Galaxy Y Google Play Android Website Features Galaxy Y
bhutan.txt
Bhutan (phiên âm tiếng Việt: Bu-tan; འབྲུག་ཡུལ་ druk yul), tên chính thức là Vương quốc Bhutan (འབྲུག་རྒྱལ་ཁབ་ druk gyal khap), là một quốc gia nội lục tại miền đông Dãy Himalaya thuộc Nam Á. Bhutan có biên giới với Trung Quốc về phía bắc và với Ấn Độ về phía nam, đông và tây. Bhutan tách biệt với Nepal qua bang Sikkim của Ấn Độ; và xa hơn về phía nam bị tách biệt với Bangladesh qua các bang Assam và Tây Bengal của Ấn Độ. Thimphu là thủ đô và thành phố lớn nhất của Bhutan. Quốc vương Bhutan có hiệu là Druk Gyalpo, nghĩa là "Quốc vương rồng sấm". Cảnh quan Bhutan biến đổi từ các đồng bằng cận nhiệt đới phì nhiêu tại phía nam đến các núi thuộc Dãy Himalaya tại phía nam, có các đỉnh vượt 7.000 m. Núi cao nhất tại Bhutan là Gangkhar Puensum, là một ứng cử viên chính của danh hiệu núi cao nhất chưa bị chinh phục trên thế giới. Bhutan có liên kết văn hóa mạnh mẽ với Tây Tạng và nằm trên Con đường tơ lụa giữa Trung Quốc và tiểu lục địa Ấn Độ. Lãnh thổ Bhutan từng bao gồm nhiều thái ấp nhỏ xung khắc lẫn nhau cho đến đầu thế kỷ 17. Khi đó một lạt ma và thủ lĩnh quân sự tên là Ngawang Namgyal thống nhất khu vực và gây dựng một bản sắc Bhutan riêng biệt. Đến đầu thế kỷ 20, Bhutan thiết lập quan hệ với Đế quốc Anh. Khi chủ nghĩa cộng sản giành thắng lợi tại Trung Quốc và truyền bá đến Tây Tạng, Bhutan ký kết hiệp ước hữu nghị với Ấn Độ vào năm 1949. Quốc gia này từ giã vị thế cô lập có tính lịch sử của mình dưới thời Quốc vương Jigme Singye Wangchuck. Năm 2008, Bhutan chuyển đổi từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ quân chủ lập hiến và tổ chức tổng tuyển cử lần đầu tiên. Trong cùng năm, vương vị được chuyển giao cho Jigme Khesar Namgyel Wangchuck. Bhutan là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, có quan hệ ngoại giao với 52 quốc gia và Liên minh châu Âu, tuy nhiên không duy trì quan hệ chính thức với năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Bhutan là một đối tác chiến lược mật thiết với Ấn Độ láng giềng. Đây là một thành viên sáng lập của Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực (SAARC), và cũng là một thành viên của BIMSTEC. Kinh tế Bhutan phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu thủy điện. Thu nhập bình quân đầu người của Bhutan cao thứ nhì tại Nam Á, đứng sau Maldives. == Từ nguyên == Không rõ về từ nguyên chính xác của "Bhutan", song có vẻ nó bắt nguồn từ "Bod" (Tây Tạng) trong tiếng Tây Tạng. Theo truyền thống, nó được cho là bắt nguồn từ một chuyển tự của tiếng Phạn là Bhoṭa-anta "cuối của Tây Tạng", ám chỉ vị trí của Bhutan là cực nam của cao nguyên và văn hóa Tây Tạng. Từ đầu thế kỷ 17, tên chính thức của Bhutan trong tiếng bản địa là Druk yul (quốc gia của dòng Drukpa, Người Rồng, hoặc Đất của Rồng Sấm, ám chỉ phái Phật giáo chi phối toàn quốc), còn Bhutan chỉ xuất hiện trong các thư từ chính thức bằng tiếng Anh. Các tên gọi tương tự Bhutan — bao gồm Bohtan, Buhtan, Bottanthis, Bottan và Bottanter — bắt đầu xuất hiện tại châu Âu khoảng thập niên 1580. Sáu Hành trình của Jean-Baptiste Tavernier vào năm 1676 có ghi chép đầu tiên về tên gọi Boutan. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, chúng có vẻ miêu tả không phải Bhutan hiện đại mà là Vương quốc Tây Tạng. Phân biệt thời hiện đại giữa hai thực thể Tây Tạng và Bhutan chỉ bắt đầu sau hành trình của thám hiểm Scotland George Bogle vào năm 1774 — nhận thức khác biệt giữa hai khu vực, văn hóa và nhà nước, báo cáo chung cuộc của ông cho Công ty Đông Ấn Anh chính thức đề xuất định danh cho vương quốc của Druk Desi (nhiếp chính Bhutan) là "Boutan" và vương quốc của Ban Thiền Lạt Ma là "Tibet" (Tây Tạng). Một nhà địa lý học của Công ty này là James Rennell Anh hóa tên gọi trong tiếng Pháp thành Bootan và sau đó phổ biến khác biệt giữa quốc gia này và Tây Tạng. == Lịch sử == Các công cụ, vũ khí và voi làm bằng đá, và tàn tích của các công trình kiến trúc đá lớn cung cấp bằng chứng rằng Bhutan có người cư trú từ 2000 TCN, song không có ghi chép còn tồn tại từ thời kỳ này. Các sử gia đưa ra giả thuyết rằng nhà nước của người Lhomon (nghĩa là "da đen sạm miền nam"), hoặc Monyul ("Đất ngăm đem", ám chỉ người Monpa, cư dân nguyên trú của Bhutan) có thể hiện diện từ 500 TCN đến 600 CN. Các tên gọi Lhomon Tsendenjong (Quốc gia đàn hương), và Lhomon Khashi, hoặc Nam Mon (quốc gia có bốn lối vào), được phát hiện trong các biên niên sử Bhutan và Tây Tạng. Phật giáo lần đầu được đưa truyền bá đến Bhutan vào thế kỷ 7 CN. Tán phổ Tùng Tán Cán Bố (trị vì 627–649) là một người cải sang Phật giáo, ông bành trướng Đế quốc Thổ Phồn (Tây Tạng) đến Sikkim và Bhutan, hạ lệnh cho xây dựng hai chùa tại Bumthang thuộc miền trung Bhutan và tại Kyichu (gần Paro) thuộc Thung lũng Paro. Phật giáo được truyền bá sốt sắng vào năm 746 dưới thời Quốc vương Sindhu Rāja (còn gọi là Künjom; Sendha Gyab; Chakhar Gyalpo), một quốc vương người Ấn lưu vong lập chính phủ trong Cung Chakhar Gutho tại Bumthang. Không rõ hầu hết lịch sử sơ khởi của Bhutan do hầu hết ghi chép bị phá hủy do hỏa hoạn tại cố đô Punakha vào năm 1827. Đến thế kỷ 10, phát triển chính trị của Bhutan chịu ảnh hưởng mạnh từ lịch sử tôn giáo tại đây. Nhiều phái Phật giáo xuất hiện, được các quân phiệt người Mông Cổ khác nhau bảo trợ. Sau khi nhà Nguyên diệt vong vào thế kỷ 14, các giáo phái này ganh đua lẫn nhau để giành quyền tối cao trong chính trị và tôn giáo, cuối cùng dẫn đến uy thế của Dòng Drukpa vào thế kỷ 16. Cho đến đầu thế kỷ 17, Bhutan gồm nhiều thái ấp tương tranh, đến lúc này khu vực được thống nhất bởi một lạt ma và thủ lĩnh quân sự người Tây Tạng là Ngawang Namgyal, ông là người đào thoát khủng bố tôn giáo tại Tây Tạng. Nhằm phòng thủ quốc gia chống lại các cuộc cướp phá không liên tục từ Tây Tạng, Namgyal cho xây một hệ thống dzong (công sự) vững chắc, và ban bố bộ luật Tsa Yig nhằm giúp đưa các lãnh chúa địa phương vào quyền kiểm soát tập trung. Nhiều dzong như vậy vẫn tồn tại và là các trung tâm hữu hiệu về tôn giáo và hành chính. Các tu sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha là Estêvão Cacella và João Cabral là những người Âu đầu tiên được ghi nhận là đến Bhutan, trong hành trình đến Tây Tạng của họ. Họ diện kiến Ngawang Namgyal, dâng lên súng cầm tay, thuốc súng và kính thiên văn, và đề nghị được giúp đỡ trong chiến tranh chống Tây Tạng, song Zhabdrung từ chối đề xuất. Sau khi dành gần tám tháng tại đây, Cacella viết một bức thư dài từ Chùa Chagri kể lại về hành trình, đây là một ghi chép hiếm hoi còn tồn tại về Shabdrung. Sau khi Ngawang Namgyal mất vào năm 1651, việc ông qua đời được giữ bí mật trong 54 năm; sau một thời kỳ thống nhất, Bhutan lâm vào xung đột nội bộ. Đến năm 1711, Bhutan bước vào chiến tranh chống Đế quốc Mogul và phiên vương quốc Cooch Behar chư hầu của đế quốc này nằm về phía nam. Trong các hỗn loạn sau đó, người Tây Tạng tấn công bất thành Bhutan vào năm 1714. Đến thế kỷ 18, Bhutan xâm chiếm và chiếm đóng phiên vương quốc Cooch Behar. Năm 1772, Cooch Behar thỉnh cầu Công ty Đông Ấn Anh và được giúp đỡ đẩy lui người Bhutan và sau đó tấn công chính Bhutan vào năm 1774. Một hòa ước được ký kết, theo đó Bhutan đồng ý triệt thoái về biên giới trước năm 1730. Tuy nhiên, hòa bình trở nên mong manh và các vụ chạm trán biên giới với người Anh tiếp tục trong nhiều năm sau đó. Các vụ chạm trán cuối cùng dẫn đến Chiến tranh Duar (1864–65) nhằm tranh giành kiểm soát vùng đồng bằng và chân đồi gần biên giới Bhutan ngày nay. Sau khi Bhutan chiến bại, Hiệp định được ký kết giữa Ấn Độ thuộc Anh và Bhutan, theo đó các khu vực này bị cắt nhượng cho Anh, toàn bộ hành vi thù địch giữa Ấn Độ thuộc Anh và Bhutan kết thúc. Trong thập niên 1870, đấu tranh quyền lực giữa hai thung lũng kình địch là Paro và Tongsa dẫn đến nội chiến tại Bhutan, kết quả chung cuộc là uy thế của Ugyen Wangchuck, ponlop (thống đốc) của Tongsa. Từ căn cứ quyền lực của mình tại miền trung Bhutan, Ugyen Wangchuck đánh bại các địch thủ chính trị của mình và thống nhất quốc gia sau một số cuộc nội chiến và khởi nghĩa trong giai đoạn 1882–85. Năm 1907, một hội đồng gồm các tăng lữ Phật giáo, quan chức chính phủ, và thủ lĩnh các gia tộc trọng yếu nhất trí lựa chọn Ugyen Wangchuck là quốc vương thế tập của quốc gia. Chính phủ Anh nhanh chóng công nhận chế độ quân chủ mới, và đến năm 1910 Bhutan ký kết Hiệp ước Punakha, một kiểu liên minh bảo hộ mà theo đó người Anh kiểm soát ngoại vụ của Bhutan và có nghĩa là Bhutan được đối đãi như một phiên vương quốc Ấn Độ. Hiệp ước ít có hiệu lực thực tế, không có tác động đến quan hệ truyền thống của Bhutan với Tây Tạng. Sau khi Ấn Độ độc lập từ Anh vào năm 1947, Bhutan trở thành một trong các quốc gia đầu tiên công nhận Ấn Độ độc lập. Ngày 8 tháng 8 năm 1949, một hiệp ước được ký kết, theo đó Ấn Độ được quyền kiểm soát ngoại vụ của Bhutan giống như Anh trước đó. Năm 1953, Quốc vương Jigme Dorji Wangchuck cho lập Quốc hội gồm 130 thành viên nhằm xúc tiến dân chủ trong cai trị. Năm 1965, ông cho lập Hội đồng Cố vấn Vương thất, và đến năm 1968 ông cho lập nội các. Năm 1971, Bhutan được nhận vào Liên Hiệp Quốc, giữ vị trí quan sát viên trong ba năm. Đến tháng 7 năm 1972, Jigme Singye Wangchuck đăng cơ sau khi cha mất. Hệ thống chính trị của Bhutan gần đây được cải biến từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ quan chủ lập hiến Quốc vương Jigme Singye Wangchuck chuyển giao hầu hết quyền lực hành pháp của ông cho Hội đồng bộ trưởng nội các và cho phép luận tội Quốc vương bởi đa số hai phần ba trong Quốc hội. Năm 1999, chính phủ dỡ bỏ lệnh cấm đối với truyền hình và Internet, khiến Bhutan là quốc gia cuối cùng du nhập truyền hình. Quốc vương nói rằng truyền hình là một bước then chốt nhằm hiện đại hóa Bhutan cũng như đóng góp lớn vào tăng trưởng hạnh phúc quốc dân, song cảnh báo "lạm dụng" truyền hình có thể làm xói mòn các giá trị Bhutan truyền thống. Một bản hiến pháp mới được đệ trình vào năm 2005. Đến tháng 12 năm 2005, Quốc vương Jigme Singye Wangchuck tuyên bố ông sẽ thoái vị để nhường ngôi cho con vào năm 2008. Ngày 14 tháng 12 năm 2006, ông tuyên bố lập tức thoái vị. Các cuộc bầu cử nghị viện đầu tiên tại Bhutan diễn ra trong tháng 12 năm 2007 và tháng 3 năm 2008. Ngày 6 tháng 11 năm 2008, Jigme Khesar Namgyel Wangchuck đăng cơ làm quốc vương. == Địa lý == Vùng phía bắc gồm một vòng cung những đỉnh núi băng với khí hậu rất lạnh trên độ cao lớn. Đa số các đỉnh ở phía bắc cao hơn 7.000 m (23.000 foot) trên mực nước biển; đỉnh cao nhất được cho là Kula Kangri, 7.553 m (24.780 foot), nhưng những nghiên cứu chi tiết về địa hình cho thấy Gangkhar Puensum, hiện là núi cao nhất chưa được chinh phục trên thế giới, cao hơn ở mức 7.570 m (24.835 foot). Được những con sông tuyết cung cấp nước, các thung lũng trên núi tại vùng này mang lại các đồng cỏ chăn nuôi cho những người nông dân chăn thả du mục thưa thớt tại đây. Núi Đen tại miền trung Bhutan hình thành một đường phân thuỷ giữa hai hệ thống sông chính: Mo Chhu và Drangme Chhu. Các đỉnh Núi Đen ở độ cao trong khoảng 1500 m tới 2.700 m (4.900 foot và 8.900 foot) trên mực nước biển, và những con sông chảy nhanh đã đào thành những máng sâu tại những vùng núi thấp hơn. Những khu rừng vùng trung tâm cung cấp hầu hết các sản phẩm lâm nghiệp của Bhutan. Torsa, Raidak, Sankosh, và Manas là những con sông chính tại Bhutan, chảy xuyên qua vùng này. Đa số dân cư sống tại những cao nguyên trung tâm. Ở phía nam, Đồi Shiwalik được bao phủ bởi những rừng cây sớm rụng (deciduous) dày đặc, các thung lũng đất bồi và núi non với độ cao lên tới 1.500 m (4.900 foot) trên mực nước biển. Những đồi thấp chân núi chạy xuống tới đồng bằng cận nhiệt đới Duars. Đa số đồng bằng Duars nằm trong lãnh thổ Ấn Độ, dù có một dải rộng 10–15 km (6–9 mile) kéo dài vào Bhutan. Đồng bằng Duars Bhutan được chia thành hai phần: bắc và nam Duars. Bắc Duars, tiếp giáp với những đồi thấp dưới chân Himalaya, là vùng đất gồ ghề, dốc và khô, đất xốp với nhiều loại động thực vật. Nam Duars có đất đai khá màu mỡ, những đồng cỏ savanna, rừng cây và những con suối. Những con sông từ trên núi, được cấp nước từ tuyết tan hay những cơn mưa gió mùa, dẫn nước vào sông Brahmaputra tại Ấn Độ. Dữ liệu do Bộ nông nghiệp đưa ra cho thấy tại thời điểm tháng 10 năm 2005 nước này có 64% diện tích rừng che phủ. Khí hậu Bhutan khác biệt theo vĩ độ, từ cận nhiệt đới ở phía nam tới ôn hoà trên các cao nguyên và khí hậu cực trên những đỉnh núi cao quanh năm tuyết phủ ở phía bắc. Bhutan có năm mùa riêng biệt: mùa hè, gió mùa, mùa thu, mùa đông và mùa xuân. Tây Bhutan có những cơn mưa gió mùa lớn nhất; nam Bhutan có mùa hè ẩm và mùa đông lạnh; vùng trung và đông Bhutan ôn hòa và khô hơn phía tây với mùa hè ấm và mùa đông lạnh. == Kinh tế == Dù kinh tế Bhutan là một trong những nền kinh tế nhỏ nhất thế giới, nó có tốc độ tăng trưởng rất nhanh chóng ở mức khoảng 8% năm 2005 và 14% năm 2006. Tới tháng 3 năm 2006, thu nhập trên đầu người của Bhutan đạt 1.321 dollar Mỹ, cao nhất tại Nam Á. Tiêu chuẩn sống tại Bhutan đang tăng dần và hiện cũng ở mức cao tại Nam Á. Nền kinh tế nhỏ của Bhutan phụ thuộc vào nông nghiệp, lâm nghiệp, và việc bán thủy điện cho Ấn Độ. Nông nghiệp là phương tiện sinh sống của hơn 80% dân số. Hoạt động nông nghiệp chủ yếu là canh tác và chăn nuôi gia súc. Các sản phẩm thủ công, đặc biệt là sản phẩm dệt và các sản phẩm thủ công tôn giáo phục vụ việc thờ cúng trong gia đình là một ngành công nghiệp nhỏ và một nguồn thu nhập cho một số dân cư. Với sự đa dạng địa hình từ đồi núi cho tới những dãy núi gồ ghề khiến việc xây dựng đường sá, và các cơ sở hạ tầng khác, trở nên khó khăn và đắt đỏ. Điều này, và sự thiếu hụt đường tiếp cận ra biển, khiến Bhutan chưa bao giờ có thể thu lợi đúng mức từ việc buôn bán các sản phẩm do nó làm ra. Hiện tại Bhutan không có một hệ thống đường sắt, dù Indian Railways đang có kế hoạch nối miền nam Bhutan với mạng lưới đường sắt rộng lớn của nó theo một thỏa thuận được ký tháng 1 năm 2005. Những con đường thương mại lịch sử qua dãy núi cao Himalayas, nối Ấn Độ với Tây Tạng, đã bị đóng cửa từ năm 1959 khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Tây Tạng (dù hoạt động buôn lậu vẫn đưa hàng hóa từ Trung Quốc vào Bhutan). Lĩnh vực công nghiệp còn nhỏ bé, sản phẩm làm ra theo kiểu công nghiệp gia đình. Đa số các dự án phát triển, như xây dựng đường sá, phụ thuộc vào nguồn nhân công thuê từ Ấn Độ. Sản phẩm nông nghiệp gồm gạo, ớt, các sản phẩm sữa, kiều mạch, lúa mạch, cây lấy rễ, táo và cam quýt cùng ngô ở những nơi có độ cao thấp. Các ngành công nghiệp gồm xi măng, gỗ, chế biến hoa quả, đồ uống có còn và calcium carbide. Đồng tiền tệ Bhutan, đồng ngultrum, được ấn định tỷ giá theo đông Rupee Ấn Độ. Đồng rupee cũng được coi là đồng tiền tệ chính thức trong nước. Thu nhập từ Nu 100.000 mỗi năm sẽ bị đánh thuế, nhưng rất ít người đạt mức thu nhập này. Tỷ lệ lạm phát tại Bhutan được ước tính khoảng 3% năm 2003. Bhutan có Tổng sản phẩm quốc nội khoảng 2.913 tỷ USD (đã được quy đổi theo Sức mua tương đương), biến nó trở thành nền kinh tế đứng thứ 162 trên thế giới. Thu nhập trên đầu người khoảng 1.400 dollar (€1.170), xếp hạng 124. Tổng nguồn thu chính phủ đạt $146 triệu (€122 triệu), dù số chi lên tới $152 triệu (€127 triệu). Tuy nhiên, 60% chi tiêu ngân sách được Bộ ngoại giao Ấn Độ cung cấp. Xuất khẩu của Bhutan, chủ yếu là điện, bạch đậu khấu, thạch cao, gỗ, đồ thủ công, xi măng, hoa quả, đá quý và gia vị, tổng cộng $154 triệu (€128 triệu) (ước tính 2000). Tuy nhiên, nhập khẩu lên tới $196 triệu (€164 triệu), dẫn tới tình trạng thâm hụt thương mại. Các sản phẩm nhập khẩu chính gồm nhiên liệu và dầu nhờn, ngũ cốc, máy, xe cộ, sợi và gạo. Các đối tác thương mại chính của Bhutan là Ấn Độ, chiếm 87.9% hàng xuất khẩu. Bangladesh (4.6%) và Philippines (2%) cũng là hai đối tác xuất khẩu khác. Bởi biên giới với Tây Tạng đã bị đóng cửa, thương mại giữa Bhutan và Trung Quốc hiện không tồn tại. Các đối tác nhập khẩu của Bhutan gồm Ấn Độ (71.3%), Nhật Bản (7.8%) và Áo (3%). Đáp trả lời buộc tội năm 1987 của một nhà báo Anh Quốc trên tờ Financial Times rằng tốc độ phát triển tại Bhutan còn thấp, nhà Vua đã nói rằng "Tổng Hạnh phúc Quốc gia còn quan trọng hơn Tổng Sản phẩm Quốc nội". Lời tuyên bố này dường như đã đi trước những khám phá gần đây của các nhà tâm lý học kinh tế phương Tây, gồm cả người đoạt giải thưởng Nobel năm 2002 Daniel Kahneman, rằng vấn đề về sự liên quan giữa mức độ thu nhập và hạnh phúc. Nó cho thấy sự cam kết của nhà Vua trong việc xây dựng một nền kinh tế thích hợp cho nền văn hóa độc nhất của Bhutan, dựa trên các giá trị tinh thần Phật giáo, và là định hướng thống nhất cho nền kinh tế. Ngoài ra, chính sách dường như đã gặt hái được những kết quả mong muốn bởi trong một cuộc khảo sát gần đây do Đại học Leicester [1] tại Anh Quốc tổ chức, Bhutan được xếp hạng là địa điểm hạnh phúc thứ 8 trên thế giới [2]. Tính đến năm 2016, GDP của Bhutan đạt 2.085 USD, đứng thứ 165 thế giới, đứng thứ 44 châu Á và đứng thứ 8 Nam Á. == Chính phủ và chính trị == Chính trị Bhutan theo cơ cấu quân chủ chuyên chế đang phát triển trở thành một nền quân chủ lập hiến. Năm 1999, đức vua thứ tư của Bhutan đã lập lên một cơ cấu mười thành viên gọi là Lhengye Zhungtshog (Hội đồng Bộ trưởng). Vua Bhutan là nguyên thủ quốc gia. Quyền hành pháp thuộc hội đồng bộ trưởng. Quyền lập pháp thuộc cả chính phủ và Quốc hội. Hiện đất nước đang chuẩn bị cho một sửa đổi mang tích lịch sử khi nền dân chủ nghị viện đang được đặt kế hoạch trở thành hiện thực vào năm 2008, những công việc đang được tiến hành và các đảng chính trị được phép hoạt động. Quyền tư pháp thuộc tất cả các tòa án Bhutan. Chánh án là lãnh đạo hành chính của tư pháp. Đồng tiền giấy Ngultrums hiện nay của Bhutan hiện đang được sửa đổi và loại tiền mới sẽ được phát triển thay thế loại cũ. Hiện tại, đồng một và năm Mgultrum đã được đưa ra. Những đồng tiền xu cũng được sử dụng nhiều tại Bhutan. == Quận == Vì các mục đích hành chính, Bhutan được chia thành bốn dzongdey (vùng hành chính). Mỗi dzongdey được chia tiếp thành dzongkhag (huyện). Có 20 dzongkhag tại Bhutan. Các dzongkhag lớn được chia tiếp thành các đơn vị dưới quận được gọi là dungkhag. Ở mức độ căn bản, các nhóm làng hình thành lên một đơn vị cử tri được gọi là gewog và được quản lý bởi một gup, do dân bầu ra. Bumthang Chukha (cách đánh vần cũ: Chhukha) Dagana Gasa Haa Luentse Mongar Paro Pemagatshel (Pemagatsel) Punaka Samdrup Jongkhar Samtse (Samchi) Sarpang Thimphu Trashigang (Tashigang) Trashiyangse Trongsa (Tongsa) Tsirang (Chirang) Wangdue Phodrang (Wangdi Phodrang) Zhemang (Shemgang) == Thành phố và thị trấn == Jakar - các trụ sở hành chính của Quận Bumthang và là nơi Phật giáo thâm nhập vào Bhutan. Mongar Paro - Nơi có một sân bay quốc tế Punakha - Thủ đô cũ Phuentsholing - Trung tâm thương mại Bhutan. Samdrup Jongkhar Thimphu - thành phố lớn nhất và thủ đô Bhutan Trashigang Trongsa == Quân đội và Ngoại giao == Các bài chính: Quân đội Bhutan, Quan hệ nước ngoài Bhutan Quân đội Hoàng gia Bhutan là lực lượng quân đội Bhutan. Nó gồm Cận vệ Hoàng gia và Cảnh sát Hoàng gia Bhutan. Việc tham gia do tự nguyện, và tuổi tối thiểu để được tuyển mộ là 18. Số lượng quân thường trực khoảng 6.000 người và được Quân đội Ấn Độ huấn luyện. Lực lượng này có ngân sách hàng năm khoảng 13.7 triệu dollar — 1.8% GDP. Dù Hiệp ước năm 1949 với Ấn Độ vẫn thỉnh thoảng bị diễn giải sai mang nghĩa rằng Ấn Độ kiểm soát quan hệ ngoại giao của Bhutan, Bhutan ngày nay giữ quyền với mọi quan hệ ngoại giao của mình gồm cả vấn đề phân chia ranh giới nhạy cảm (với Ấn Độ) với Trung Quốc. Bhutan có quan hệ ngoại giao với 22 nước, gồm Liên minh châu Âu, với phái bộ tại Ấn Độ, Bangladesh, Thái Lan và Kuwait. Nước này có hai phái bộ tại Liên Hiệp Quốc, một tại New York và một tại Geneva. Chỉ Ấn Độ và Bangladesh có Đại sứ quán tại Bhutan, còn Thái Lan có một văn phòng lãnh sự tại Bhutan. Theo một hiệp ước đã có từ lâu, người Ấn Độ và Bhutan có thể đi lại sang nước kia không cần hộ chiếu hay visa mà chỉ cần chứng minh thư quốc gia của họ. Công dân Bhutan có thể làm việc tại Ấn Độ mà không gặp hạn chế pháp luật. Bhutan không có quan hệ ngoại giao chính thức với nước láng giềng phương bắc là Trung Quốc, dù những cuộc thăm viếng lẫn nhau ở nhiều mức độ đã gia tăng đáng kể trong thời gian gần đây. Thỏa thuận song phương đầu tiên giữa Trung Quốc và Bhutan đã được ký kết năm 1998, và Bhutan cũng đã thiết lập các lãnh sự quán tại Ma Cao và Hồng Kông. Biên giới của Bhutan với Trung Quốc phần lớn vẫn chưa được phân định và vì thế đang ở tình trạng tranh chấp tại một số địa điểm. Ngày 13 tháng 11 năm 2005, binh sĩ Trung Quốc đã tràn qua biên giới vào Bhutan trong hoàn cảnh tình hình thời tiết buộc họ phải triệt thoái về phía nam từ Himalaya. Chính phủ Bhutan đã cho phép sự việc này (sau khi sự việc đã diễn ra) vì lý do nhân đạo. Ngay sau đó, Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng đường sá và cầu cống trong lãnh thổ Bhutan. Bộ trưởng Ngoại giao Bhutan Khandu Wangchuk đã đề cập vấn đề này với chính quyền Trung Quốc sau khi sự việc gây ra tranh cãi trong nghị viện Bhutan. Để đáp lại, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Qin Gang nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã nói rằng biên giới đang ở tình trạng tranh cãi (hoàn toàn bỏ qua hoàn cảnh chính thức của vụ việc) và rằng hai bên tiếp tục làm việc một cách hòa bình để tìm ra một giải pháp hòa bình và thân thiện cho cuộc tranh chấp. Cả chính phủ Bhutan lẫn Ấn Độ (Ấn Độ vẫn kiểm soát một số quan hệ ngoại giao của Bhutan) chưa từng thông báo bất kỳ một tiến bộ nào về việc này (hòa bình, thân thiện vân vân), và Trung Quốc tới giờ vẫn tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng và gia tăng đồn trú trong lãnh thổ Bhutan. Một sĩ quan tình báo Ấn Độ đã nói rằng một phái đoàn Trung Quốc tại Bhutan nói với người dân Bhutan rằng họ đang "phản ứng quá mức." Tờ Kuensel của Bhutan đã nói rằng Trung Quốc có thể sử dụng đường sá để tăng thêm nữa tuyên bố lãnh thổ của họ dọc biên giới. Bhutan đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước khu vực Nam Á; Đông Á (Nhật Bản 1986; Hàn Quốc 1987); Đông Nam Á (Thái Lan 1991, Singapore 2002, Việt Nam 2012); với Úc 2002; và một số nước khác trên thế giới. Bhutan không có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Bhutan đang ngày càng mở rộng thiết lập quan hệ hợp tác với nhiều nước, đặc biệt các nước Châu Âu và các đối tác lớn Áo, Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển, EU, Mỹ, Nhật Bản... Ấn Độ vẫn là một hướng quan trọng trong chính sách đối ngoại của Bhutan. Quốc vương Bhutan thăm Ấn Độ tháng 7 năm 2006, hai bên đã ký hiệp ước thân thiện sửa đổi, theo đó, Bhutan độc lập hơn về đối ngoại. Ấn Độ cam kết nâng trợ giúp cho kế hoạch năm năm lần thứ 09 của Bhutan (2002-2007). Ấn Độ cũng đồng ý hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho chính phủ Bhutan xây dựng 3 nhà máy thủy điện Chukha (336MW), Kurichhu (60MW), và Tala (1020MW). Bhutan là thành viên Liên Hiệp Quốc, Phong trào không liên kết, IOC, SAARC và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác. == Nhân khẩu == Dân số Bhutan, từng được ước tính ở mức nhiều triệu người, hiện theo chính phủ Bhutan đã giảm bớt còn 750.000, sau một cuộc điều tra dân số đầu thập niên 1990. Một cuộc điều tra dân số toàn quốc thực hiện tháng 6 năm 2005 cho thấy dân số còn giảm tiếp chỉ còn 672.425 người [3]. Tuy vậy Chính phủ chưa đưa ra con số chi tiết thành phần của số dân này. Đa số tin rằng số dân đã được cố ý thổi phồng trong thập niên 1970 vì nhận thức khi ấy cho rằng những quốc gia với dân số dưới một triệu người sẽ không được chấp nhận vào Liên Hiệp Quốc. Vì thế con số do Liên hiệp quốc đưa ra cao hơn con số chính thức của chính phủ nước này. CIA World Factbook đưa ra con số 2.279.723 người (tháng 7 năm 2006) tuy cũng ghi chú rằng một số ước tín đưa ra con số chỉ ở mức 810.000. Mật độ dân số, 45 người trên km² (117/sq. mi), khiến Bhutan trở thành một trong những nước có mật đô dân số thưa thớt nhất châu Á. Khoảng 20% dân số sống tại các vùng đô thị gồm các thị trấn nhỏ chủ yếu dọc theo thung lũng trung tâm và biên giới phía nam. Phần trăm số dân này đang gia tăng nhanh chóng bởi làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị đang tăng lên. Thành phố lớn nhất là thủ đô Thimphu, với dân số 50.000 người. Các vùng đô thị khác với số dân khá lớn gồm Paro và Phuentsholing. Trong số dân Bhutan, nhiều nhóm sắc tộc chính có thể được phân biệt với nhau. Nhóm chủ chốt là người Ngalop, một nhóm Phật giáo sinh sống ở phần phía tây đất nước. Văn hóa của họ rất tương đồng với văn hóa Tây Tạng. Người Sharchop ("người phía đông"), gắn liền với phần phía đông Bhutan (nhưng theo truyền thống theo Nyingmapa chứ không phải hình thức chính thức Drukpa Kagyu của Phật giáo Tây Tạng cũng có nhiều điểm tương đồng). Hai nhóm đó được gọi gộp chung là người Bhutan. 15% dân số còn lại là sắc tộc Nepal, đa số họ là tín đồ Hindu. Tỷ lệ biết chữ chỉ là 42.2% (56.2% nam giới và 28.1% nữ). Người từ 14 tuổi trở xuống chiếm 39.1% dân số, trong khi người từ 15 tới 59 tuổi chiếm 56.9%, và người trên 60 tuổi chỉ chiếm 4%. Nước này có độ tuổi trung bình 20.4. Tuổi thọ bình quân tại Bhutan là 62.2 năm (61 cho nam giới và 64.5 cho nữ) theo dữ liệu gần đây nhất của Ngân hàng Thế giới. Có 1.070 nam trên 1.000 nữ trong nước. === Ngôn ngữ === Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Dzongkha, một trong 53 ngôn ngữ trong nhóm ngôn ngữ Tạng. Chữ viết Dzongkha, được gọi là Chhokey ("Ngôn ngữ Đạt ma"), đồng nhất với hệ chữ viết tiếng Tạng cổ điển. Tiếng Dzongkha là ngôn ngữ giảng dạy tại trường học. Ethnologue liệt kê 24 hiện được nói ở Bhutan, tất cả số này đều thuộc về ngữ tộc Tạng-Miến, trừ tiếng Nepal, một ngôn ngữ Indo-Arya. Nhiều trong số những ngôn ngữ tại Bhutan này chưa được ghi nhận một cách hàn lâm và khoa học về mặt ngữ pháp. Tính đến thập niên 1980, Lhotshampa (cộng đồng nói tiếng Nepal), chủ yếu sống ở miền Nam Bhutan, chiếm xấp xỉ 30% dân số. == Văn hoá == Tuy người Bhutan được tự do đi du lịch nước ngoài, Bhutan bị coi là không thể xâm nhập với người nước ngoài. Nhận thức sai lầm của nhiều người cho rằng Bhutan đã đặt ra những hạn chế trong việc cấp visa du lịch, thuế du lịch cao và yêu cầu khách phải đi theo tour được tổ chức dường như đã dẫn tới cảm giác này. Trang phục truyền thống cho đàn ông Ngalong và Sharchop là gho, một áo choàng dài tới đầu gối được buộc ngang eo bằng một dải thắt lưng được gọi là kera. Phụ nữ mặc trang phục dài tới mắt cá chân, kira, bị cắt cụt ở một bên vai và thắt ngang lưng. Một vật bổ sung cho kira là một áo choàng dài tay, được mặt bên trong lớp trang phục ngoài. Vị thế xã hội và cấp bậc sẽ quyết định kiểu dệt, màu sắc và trang trí của những đồ trang phục. Khăn quàng và khăn choàng cũng là những yếu tố cho thấy vị thế xã hội, bởi theo truyền thống Bhutan là một xã hội phong kiến. Phụ nữ có đeo khuyên tai. Một điều gây nhiều tranh cãi, luật pháp Bhutan hiện yêu cầu tất cả công dân nước mình đều phải mặc những y phục đó. Gạo, và ngô với vị trí ngày càng gia tăng, là những loại thực phẩm chính trong nước. Chế độ ăn ở vùng đồi giàu protein bởi người dân ở đây ăn nhiều thịt, chủ yếu là gia cầm, bò Tây Tạng và bò. Các món súp thịt, gạo và rau khô với gia vị là ớt và phó mát là món được ưa thích trong những mùa lạnh. Các thực phẩm chế biến từ sữa, đặc biệt là bơ và phó phát từ bò Tây Tạng và bò, cũng phổ biến, và vì thế hầu hết sữa đều được dành chế biến bơ và pho mát. Các đồ uống dân dã gồm trà bơ, chè, rượu gạo địa phương và bia. Bhutan là quốc gia duy nhất trên thế giới có lệnh cấm hút thuốc và bán thuốc lá. Môn thể thao quốc gia tại Bhutan là bắn cung, và những cuộc thi được tổ chức thường xuyên tại hầu hết các làng. Nó khác với các tiêu chuẩn Olympic không chỉ ở các chi tiết kỹ thuật như vị trí đặt bia và không khí. Có hai bia được đặt cách 100 mét và các đội bắt từ một phía sang phía kia. Mỗi thành viên trong đội bắn hai mũi mỗi vòng. Bắn cung truyền thống Bhutan là một sự kiện xã hội và những cuộc thi được tổ chức giữa các làng, thị trấn và các đội không chuyên. Thường có rất nhiều đồ ăn, uống cùng với hát hò nhảy múa từ phía những người vợ và cổ động viên dành cho các đấu thủ. Họ thường cố gắng làm giảm tập trung của đội bạn bằng cách đứng xung quanh bia và trêu chọc khả năng bắn của vận động viên. Phi tiêu (khuru) là một môn thể thao theo đội ngoài trời được nhiều người ưa thích, trong đó những mũi lao bằng gỗ nặng, đầu được đóng một cây đinh 10 phân được phóng vào bia giấy cách xa khoảng mười tới hai mươi mét. Một môn thể thao truyền thống khác là digor, có thể được miêu tả chính xác nhất như một shot put gộp với ném móng ngựa. Bóng đá là môn thể thao ngày càng được ưa chuộng. Năm 2002, đội bóng đá quốc gia Bhutan đã thi đấu với Montserrat - được quảng cáo là 'Trận chung kết khác', một trận đấu cùng ngày với trận chung kết giữa Brazil và Đức, nhưng Bhutan và Montserrat là hai đội bóng xếp hạng thấp nhất thế giới. Trận đấu được tổ chức tại Sân vận động Quốc gia Changlimithang tại Thimphu và Bhutan đã thắng với tỷ số 4-0. Một bộ phim tài liệu về trận đấu đã được nhà làm phim Hà Lan Johan Kramer tiến hành. Rigsar là kiểu âm nhạc đại chúng mới xuất hiện, được chơi bằng cả các nhạc cụ truyền thống và điện tử, và đã xuất hiện từ đầu thập niên 1990; nó có ảnh hưởng từ âm nhạc đại chúng Ấn Độ, một hình thức lai của các ảnh hưởng truyền thống và phương Tây. Các thể loại truyền thống gồm zhungdra và boedra. Đặc thù của vùng là một kiểu pháo đài được gọi là kiến trúc dzong. Bhutan có nhiều ngày nghỉ lễ, đa số chúng tập trung quanh những lễ hội truyền thống theo mùa, thế tục và tôn giáo. Chúng gồm đông chí (khoảng 1 tháng 1, phụ thuộc theo lịch âm), Năm mới Âm lịch (tháng 2 hay tháng 3), sinh nhật Nhà vua và kỷ niệm ngày đăng quang, ngày bắt đầu chính thức của mùa gió mùa (22 tháng 9), Quốc khánh (17 tháng 12), và nhiều lễ hội Phật giáo và Hindu giáo. Thậm chí những ngày nghỉ lễ phi tôn giáo cũng có phụ thêm ý nghĩa tôn giáo, gồm những cuộc nhảy múa tôn giáo và cầu nguyện. Nhảy múa với mặt nạ và những buổi diễn kịch là hình thức truyền thống tại những ngày lễ hội, thường đi cùng với âm nhạc truyền thống. Những vũ công khỏe mạnh, đeo những chiếc mặt nạ gỗ hay vật liệu khác nhiều màu sắc với kiểu trang phục riêng, thể hiện các anh hùng, ma quỷ, yêu ma, đầu người chết, thú vật, thần thánh, và biếm hoạ những nhân vật đời thường. Những vũ công được sự bảo trợ của hoàng gia và gìn giữ âm nhạc dân gian truyền thống cùng các trang phục tôn giáo và lưu giữ toàn bộ những hiểu biết và nghệ thuật chế tạo mặt nạ. Bhutan chỉ có một tờ báo của chính phủ (Kuensel) và hai tờ báo khác mới xuất hiện gần đây, một đài truyền hình thuộc sở hữu nhà nước và nhiều đài phát thanh FM. == Tôn giáo == Người ta ước tính rằng khoảng hai phần ba dân số Bhutan theo Phật giáo Kim cương thừa, và đây cũng là quốc giáo. Khoảng một phần tư đến một phần ba là tín đồ của Ấn Độ giáo. Các tôn giáo khác chiếm ít hơn 1% dân số. Khung pháp lý hiện hành của Bhutan, trên nguyên tắc đảm bảo quyền tự do tôn giáo, nhưng việc truyền đạo bị cấm theo quyết định của chính phủ hoàng gia và Hiến pháp Bhutan quy định Phật giáo là quốc giáo, một tôn giáo được truyền đến Bhutan trong thế kỷ thứ 7. == Xem thêm == Phật giáo tại Bhutan Viễn thông Bhutan Quan hệ nước ngoài Bhutan Danh sách các chủ đề liên quan tới Bhutan Quân đội Bhutan Âm nhạc Bhutan Vận tải Bhutan == Ghi chú == == Tham khảo == “A Country Study: Bhutan”. Federal Research Division, Library of Congress. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2005. “Bhutan”. CIA World Factbook. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2005. “Bhutan Portal”. Government of Bhutan. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2005. “Bhutan”. MSN Encarta. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2005. “Bhutan army sees action at last”. Asia Times Online. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2005. “Bhutan-China Relations”. Bhutan News Online. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2005. “MoUs with Bhutan on rail links, power projects”. The Tribune, Chandigarh. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2005. “Border tension pushes MEA allocation”. The Tribune, Chandigarh. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2005. “Happy Land”. Yoga Journal. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2005. “Fast forward into trouble”. The Guardian Unlimited. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2005. “A New Measure of Well-Being From a Happy Little Kingdom”. The New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2005. A.P. Agarwala (2003). Sikkim and Bhutan. Nest and Wings. ISBN 81-87592-07-9. Sunanda K. Datta-Ray (1984). Smash and Grab: The Annexation of Sikkim. Vikas. ISBN 0-7069-2509-2. “Bhutan: A Kingdom Besieged”. Jigmi Y. Thinley. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 1993. Foning, A.R. (1987). Lepcha, My Vanishing Tribe. Sterling Publishers. ISBN 81-207-0685-4. “A hidden and mysterious kingdom”. Toplum Postasi. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2006. Rose, Leo (1993). The Nepali Ethnic Community in the Northeast of the Subcontinent. University of California, Berkeley. == Liên kết ngoài == Cổng chính phủ Bhutan Earth-Bound Insight Bhutan Times Bhutan Mountain Travels Bản mẫu:SAARC
kilômét.txt
Một kilômét (từ tiếng Pháp: kilomètre, viết tắt là km) là một khoảng cách bằng 1000 mét. Trong hệ đo lường quốc tế, kilômét là đơn vị đo được suy ra từ đơn vị cơ bản mét theo định nghĩa trên. Chữ kilô (hoặc trong viết tắt là k) viết liền trước các đơn vị trong hệ đo lường quốc tế để chỉ rằng đơn vị này được nhân lên 1000 lần. Xem thêm trang Độ lớn trong SI. Tại Việt Nam, kilômét còn thường được gọi là cây số hoặc thậm chí đọc tắt là cây. Từ "cây số" trong tiếng Việt có nguồn gốc từ những cây cột trụ trên các quốc lộ, cách nhau mỗi kilômét, để chỉ số km từ bắc vào nam. == Xem thêm == Hệ đo lường quốc tế Độ lớn trong SI == Tham khảo ==
microsoft word.txt
Microsoft Word, còn được biết đến với tên khác là Winword, là một chương trình soạn thảo văn bản khá phổ biển hiện nay của công ty phần mềm nổi tiếng Microsoft. Nó cho phép người dùng làm việc với văn bản thô (text), các hiệu ứng như phông chữ, màu sắc, cùng với hình ảnh đồ họa (graphics) và nhiều hiệu ứng đa phương tiện (multimedia) khác như âm thanh, video khiến cho việc soạn thảo văn bản được thuận tiện hơn. Ngoài ra cũng có các công cụ như kiểm tra chính tả, ngữ pháp của nhiều ngôn ngữ khác nhau để hỗ trợ người sử dụng. Các phiên bản của Word thường lưu tên tập tin với đuôi là .doc, hay .docx đối với các phiên bản từ Word 2007 trở đi. Hầu hết các phiên bản của Word đều có thể mở được các tập tin văn bản thô (.txt) và cũng có thể làm việc với các định dạng khác, chẳng hạn như xử lý siêu văn bản (.html), thiết kế trang web. == Lịch sử phát triển == Microsoft Word còn có phiên bản dành cho các hệ điều hành khác như Mac OS hay OS/2. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Microsoft Word tại Wikimedia Commons Website chính thức
khí công.txt
Khí công (氣功, qigong hay chikung) là một thuật ngữ của Trung Quốc dùng để chỉ rất nhiều hệ thống luyện tập vật lý và tâm thần để đạt được sức khoẻ, luyện võ và để tự giác ngộ. Định nghĩa của từ khí (氣) thường xoay quanh các nghĩa như "hít thở", "không khí", "gas" và "hơi nước" nhưng theo lý thuyết của người Trung Quốc thì nó cũng có thể dùng trong trường hợp mô tả mối quan hệ giữa vật chất, năng lượng và tinh thần. Từ công (功) có nghĩa là thành quả hoặc kết quả hoặc là một loại vật chất có năng lượng cao. Hai từ này hợp lại dùng để mô tả các hệ thống và phương pháp "tu dưỡng năng lượng" và sử dụng nguồn năng lượng bên trong các cơ thể sống. "Khí công"(氣功) là công phu của việc dùng khí, chữ "công" là thực hiện việc đó trải qua một thời gian có thể có nổ lực và khó khăn mới đạt được. Chữ "khí" thì như khí trong 'không khí' vậy nên gọi là "khí" của dòng khí chuyển động trong cơ thể. == Các loại khí công == === Phân loại === Khí công trị bệnh: Y học cổ truyền Trung Quốc có một khoa mục là "khí công trị bệnh" có tác dụng cho chức năng phòng và chữa trị bệnh tật. Khí công võ thuật: sử dụng phép vận khí, tụ khí (khí được xem là một loại năng lượng trong cơ thể) để tăng khả năng chống đỡ các đòn đánh, nâng cao khả năng võ thuật. Thường các phép dẫn khí là do người thầy truyền dạy cho đệ tử và hướng dẫn cụ thể để vận khí. Khả năng chống đỡ các đòn đánh có thể đạt đến như đập một khúc gỗ lớn lực mạnh vào người, đâm thương yết hầu (đầu thương không quá nhọn). Phần lớn kỹ thuật vận khí trong võ thuật không được tiết lộ ra bên ngoài. Khí công tu luyện: Khí công tu luyện gồm có các trường phái như khí công Đạo gia, khí công Phật gia. Khí công tu luyện chú trọng về những điều vượt khỏi tầng thứ chữa bệnh khoẻ người, giảng về tầng thứ cao hơn, chú trọng về hàm dưỡng và tâm tính. Khí công Đạo gia: Khí công thuộc trường phái Đạo gia chú trọng về nội ngoại kiêm tu, vừa luyện võ vừa tu nội. Chú trọng vào hàm dưỡng tâm tính, chú trọng vào Chân, sự chân thật, và ngay thẳng. Khí công được sử dụng như là một phần thiền định của họ Confucian scholars practice qigong to improve their moral character.. Phương pháp xếp bằng của Đạo gia gọi là "đơn bàn" với chân này đặt trên chân kia, hai chân song song, áp chặt các huyệt vị. Các môn phái thuộc trường phái Đạo gia: Võ Đang, Nga Mi, Tai Chi(Thái cực quyền),... Khí công Phật gia: Khí công thuộc trường phái Phật gia chú trọng về hàm dưỡng tâm tính ở sự thiện lành và từ bi. Phương pháp xếp bằng trường phái Phật gia là "song bàn" với hai chân bắt tréo chồng lên nhau theo thế hoa sen. Các môn phái thuộc trường phái Phật Gia: Mật tông Tây Tạng... === Hình thức tập luyện === Động công: Các chuyển động chậm rãi, có nhịp điệu nhằm hỗ trợ sự lưu thông của khí, và khai thông các dòng năng lượng trong cơ thể, Tai Chi (Thái cực quyền) là một ví dụ nổi trội cho động công.. Một ví dụ khác là Ngũ Cầm Hí của Hoa Đà với các tư thế bắt chước động tác của năm loài động vật. Tĩnh công: Người tập được yêu cầu giữ thế tay, chân, hay đứng bất động trong một tư thế trong một khoảng thời gian. Bát Đoạn Cẩm là một loạt các bài tập cũng dựa trên các tư thế . Thiền định: Hầu hết các trường phái đào tạo khí công đều có một số hình thức thiền định. Trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, thiền định được xem như một kỹ thuật tập trung cao cấp mà ở đó các học giả dùng để có sự tập trung và thanh tĩnh, các Danh y cũng thực hành thiền định. Thiền định cũng được xem như để khai thông một số điểm tập trung năng lượng gọi là Luân Xa theo Cảm xạ học, hay là để khai mở các huyệt đạo và hình thành dòng đại chu thiên nối các kinh mạch. Thiền định cũng được thực hành nhằm tăng khả năng nhẫn nại, và sự tập trung, định lực. Hoạt động đòi hỏi sự hỗ trợ từ bên ngoài: Một số môn phái chú ý vào sự hỗ trợ từ thức ăn và đồ uống, sử dụng massage và các hình thức khác nhau. Một số khí công sư dùng hình thức phát khí hay phát tín tức (năng lượng) cho các học viên. == Những nguyên tắc chung về tập luyện khí công để khỏe == === Nơi tập luyện === Nơi tập phải "thông" và "thoáng" khí. Thông và thoáng có nghĩa là lưu động khí đầy đủ nhưng không phải là nơi gió ầm ầm mà đứng tập và cũng không phải căn phòng kín mít đến nỗi thở thông thường mà tim đập mạnh và nhiều. Nơi tập không phải là nơi sâu thẳm dưới lòng đất cũng như trên ngoạn núi cao chót vót. === Cách thức tập luyện === "Khí công" thì có rất nhiều phương pháp và cách vận hành khác nhau nhưng tựu trung tập luyện để "khỏe" thì cách tập nhẹ nhàng và thanh thoát, thanh thản là vẫn an toàn hơn. === Hiệu quả tập luyện === Tập khí công nhiều thì phải "khỏe lên mỗi ngày", nếu không thì đã tập sai. Việc tập sai thì tác hại không ít đến sức khỏe. == Hoài nghi và những tranh cãi về khí công == === Nghi ngờ === Đã có một vài cuộc tranh cãi về lợi ích của khí công khi mà định nghĩa của khí công chỉ dừng lại ở một loạt các động tác di chuyển vật lý và một số bài tập thư giãn. Mâu thuẫn giữa quan điểm phương Tây và hệ thống khí công tăng lên khi người Trung Quốc tuyên bố việc tập khí công vượt có thể vượt qua được những khả năng và kiến thức mà khoa học từng biết tới và một tuyên bố hùng hồn về việc khí công đem lại sức mạnh siêu nhiên. Sự hoài nghi về các bài tập khí công cũng xảy ra với trong Đông Y và mở rộng ra chủ đề thuốc an thần và thuốc bổ. Một số bác sĩ cho rằng những thông tin từ các lĩnh vực này không đúng với những gì mà khoa học phương Tây đã nghiên cứu được và đi ngược lại với những thứ mà y học phương Tây có thể giải thích được. Tuy nhiên hiệu quả của việc chữa bệnh của khí công qua thực tế là điều mà Y học phương Tây chưa giải thích được, đôi khi là những bệnh mà y học phương Tây bó tay như Ung thư. Những bác sĩ cho rằng phần lớn các tác dụng từ thuốc an thần là để trấn an người bệnh (tức là làm người bệnh có cảm giác yên tâm sau khi uống chứ không phải là do thuốc có tác dụng an thần). Các ý kiến phản bác của những người nghi ngờ về mối quan hệ giữa các bài tập khí công và kết quả của khí công liên quan tới sức khoẻ là: Sự tồn tại của khí, hay bất cứ dạng nào của "nội lực", hiện chưa được xác nhận trong bất cứ cuộc thí nghiệm nào để thuyết phục cộng đồng khoa học nói chung. Chẳng có khái niệm nào như vậy trong nền sinh học truyền thống. Các màn biểu diễn võ thuật như là phá vỡ các vật cứng bằng các cú đánh hoàn toàn có thể được giải thích bằng vật lý học, mà không cần đến khái niệm khí. Những công bố đã được ghi lại về các khả năng siêu nhiên có vẻ lừa đảo, giống với các màn ảo thuật hơn là bất cứ lĩnh vực khoa học chính thống nào. Những lý giải về sức mạnh siêu nhiên hay những thứ đòi hỏi yếu tố tinh thần đều vượt quá giới hạn của các phương pháp khoa học. Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu và chứng minh sự tồn tại của kinh mạch. Tiến sĩ Jean-Claude Darras thuộc bệnh viện Necker tại Paris đã sử dụng các chất phóng xạ để chứng minh sự tồn tại của các đường kinh mạch. Ông đã tiêm chất phóng xạ này cho một số con lợn gi-nê tại một số huyệt đạo nhất định. Với sự trợ giúp của máy quay phát sáng, ông đã có thể theo dõi sự chuyển động của chất phóng xạ theo các đường kinh mạch. Còn trong nhóm điều khiển, chất phóng xạ được tiêm vào một điểm trung tính của da. Không có sự di chuyển nào của chất phóng xạ được phát hiện trong nhóm điều khiển này. Giáo sư Popp, tiến sĩ Schlebusch, và tiến sĩ Maric-Oehler đã tiến hành thí nghiệm với một máy quay hồng ngoại. Họ sử dụng ngài nhung để làm nóng một vùng nhất định trên cơ thể để xem hướng chạy của một kinh mạch có trở nên nhìn thấy được không. Thông qua những bức ảnh chụp hồng ngoại, họ có thể nhìn thấy sự tăng nhiệt độ dọc theo kinh mạch đó. === Rối loạn tâm thần === Trong một số trường hợp,một số người cho rằng việc tập khí công có thể dẫn tới hội chứng rối loạn tâm thần. Những người tập khí công gọi tình trạng này là tẩu hỏa nhập ma (走火入魔) và được mô tả bởi những người tập khí công là do có một dòng chảy của khí không thể kiểm soát được trong cơ thể. Những lời than phiền khác bao gồm việc bị đau ở một số vùng, đau đầu, mất ngủ và một số hành động không ý thức. Tuy nhiên, cũng có khả năng là do sự ảnh hưởng lo sợ của người tập mà sinh ra bệnh tật chứ không phải do tập khí công, hoặc người tập có tiền sử bị một căn bệnh nào đó, khi bị bệnh họ liên tưởng tình trạng bệnh của mình với hiện tượng "tẩu hỏa nhập ma". Trong lần xuất bản thứ hai của cuốn phân loại các kiểu rối loạn tâm thần (CCMD-2) xuất bản bởi hiệp hội tâm thần Trung Quốc thì việc chẩn đoán "biểu hiện của tẩu hoả nhập ma" được dựa trên các dấu hiệu sau: Mọi thứ hoàn toàn bình thường trước khi tập khí công Các phản ứng tâm lý và sinh lý xảy ra trong hoặc sau khi tập khí công Các cảm giác không bình thường xuất hiện trong hoặc sau khi tập khí công Các triệu chứng không phải là của các loại rối loạn tâm thần khác như tâm thần phân liệt hay rối loạn thần kinh. Ở phương Tây, chưa bao giờ có những trải nghiệm tương tự cho đến khi người ta bắt đầu tập khí công. Khi cộng đồng y học phương Tây gặp phải tình trạng không bình thường của những người bệnh tập khí công, họ đã dùng thuật ngữ phản ứng rối loại thần kinh khí công và liệt hội chứng này vào loại hội chứng liên quan đến văn hóa trong lần xuất bản thứ tư của tác phẩm Diagnostic and Statistical Manual (DSM-IV) của hiệp hội tâm thần Mỹ. Hội chứng này được mô tả như: "Một thuật ngữ chỉ giai đoạn cấp tính, xuất hiện trong một thời gian, của các triệu chứng rời rạc của những người mắc bệnh tâm thần mà có thể xảy ra sau khi tham gia tập mấy bài khí công nhằm tăng cường sức khoẻ của người Trung Quốc. Những người dễ bị mắc hội chứng này là những người quá chăm chú luyện tập." Việc phân loại hội chứng tâm thần trong cuốn DSM-IV đã bị phê bình bởi các nhà tâm thần học phương Tây khác rằng xếp tẩu hoả nhập ma vào dạng bệnh tâm thần là chưa chính xác. Tuy nhiên trong hầu hết các trường hợp, những nhà tâm thần học Trung Quốc thường dùng cụm "tẩu hỏa nhập ma" hơn là các thuật ngữ tâm thần học. Trong trường hợp rối loạn tâm thần, quan điểm của phương Tây thì đó là một dạng rối loạn thần kinh tiềm ẩn mà người bệnh đã bị ảnh hưởng từ trước đó, chứ không phải là do tập khí công không đúng; một kiểu phát bệnh của một dạng bệnh tâm thần có sẵn trong người, như là hội chứng tâm thần phân liệt hay rối loạn stress sau sang chấn. == Chú thích nguồn gốc ==
học viện nông nghiệp việt nam.txt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam trước là Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (tiếng Anh: Vietnam National University of Agriculture, viết tắt VNUA) là một trường đại học chuyên về nông nghiệp đóng ở Thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm TP. Hà Nội 12 km. == Lịch sử == 12/10/1956-1958. Trường Đại Học Nông Lâm 1958-1963. Học viện Nông Lâm 1963-1967. Trường Đại Học Nông nghiệp 1967-2008. Trường Đại Học Nông nghiệp I 2008-3/2014. Trường Đại Học Nông nghiệp Hà Nội 28/3/2014. Học Nông nghiệp Viêt Nam Giai đoạn 1956 – 1966 Thành lập trường đại học Nông lâm theo nghị định số 53/NĐ-NL ngày 12/10/1956 của Bộ Nông Lâm, gồm 03 khoa: Nông học, Chăn nuôi -Thú y, Lâm học; có 5 ngành học, gồm: trồng trọt, cơ khí nông nghiệp, chăn nuôi, thú y và lâm nghiệp. Có 03 phòng Hành chính quản trị, Tổ chức cán bộ và Giáo vụ. Năm 1958, sáp nhập thêm Viện khảo cứu trồng trọt, Viện khảo cứu chăn nuôi, phòng nghiên cứu gỗ và lâm sinh để trở thành Học viện Nông Lâm. Năm 1961, mở thêm ngành nuôi trồng và đánh bắt chế biến thuỷ sản; thành lập thêm khoa kinh tế nông nghiệp. Năm 1963, Học viện chuyển một phần cán bộ và cơ sở vật chất kỹ thuật để thành lập Viện Khoa học Nông nghiệp. Năm 1964 Học viện tách khoa Lâm học, phòng nghiên cứu gỗ và lâm sinh, một phần tổ bộ môn cơ khí, một phần các tổ bộ môn khoa kinh tế để thành lập trường Đại học Lâm nghiệp (nay là Đại học Lâm nghiệp Việt Nam). Lúc này phần còn lại của trường đổi tên thành Đại học Nông nghiệp. Giai đoạn 1967 – 1975 Tách thành hai trường đại học Nông nghiệp I và Đại học nông nghiệp II (nay là Đại học Nông lâm Huế) theo Quyết định số 124/CP ngày14/8/1967 của Thủ trướng Chính phủ. Trường giữ lại tên gọi chính thức là Trường Đại học Nông nghiệp I. Năm 1968, Trường tách khoa Thuỷ sản ra để thành lập trường Đại học Thuỷ sản (nay là Đại học Nha Trang) theo quyết định số 155-CP của Thủ tướng Chính phủ. Giai đoạn 1975 – 1990 Năm 1977, Trường thành lập thêm Khoa Quản lý ruộng đất. Giai đoạn này Trường có 8 khoa với 9 ngành và chuyên ngành. Giai đoạn từ 1991 – 2000 Trường đã thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạo, đào tạo đủ các bậc đại học, sau đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Giai đoạn từ 2001 – 2008 Trường có 13 Khoa, 9 Phòng ban, 13 Viện và Trung tâm, có 29 chương trình đào tạo đại học, 24 chương trình đào tạo sau đại học. Trường đã được Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh năm 2001, Danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới năm 2005. Giai đoạn 2009 đến nay Ngày 28 tháng 03 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 441/QĐ-TTg thành lập Học viện Nông nghiệp Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. == Nhân sự == Tổng số giảng viên và nhân viên của trường là 1392 người. Trong đó 738 giảng viên, 01 nhà giáo nhân dân, 27 nhà giáo ưu tú, 8 giáo sư và 85 phó giáo sư, 278 tiến sĩ, 510 thạc sĩ. Cán bộ Ql và nhân viên 658 người. == Tổ chức == === Các khoa === Khoa Nông học; Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng Thủy sản; Khoa Thú y; Khoa Quản lý đất đai; Khoa Môi trường; Khoa Công nghệ thông tin; Khoa Công nghệ sinh học; Khoa Cơ - Điện; Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn; Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh; Khoa Công nghệ thực phẩm; Khoa Sư phạm và Ngoại ngữ; Khoa Lý luận chính trị và Xã hội; === Các Viện/Ban/Trung tâm/ Nhà xuất bản === Ban Quản lý đào tạo; Viện Sinh học nông nghiệp; Trung tâm Kĩ thuật Tài nguyên và Môi trường; Trung tâm Sinh thái nông nghiệp (CARES); Trung tâm VAC; Trung tâm dạy nghề và ứng dụng kỹ thuật cao; Trung tâm nghiên cứu bệnh cây nhiệt đới; Trung tâm thực nghiệm và Đào tạo nghề (EVT) Trung tâm phát triển nông nghiệp bền vững; Trung tâm nghiên cứu liên ngành Phát triển nông thôn; Trung tâm Thông tin-Thư viện; Trung tâm Thể thao văn hóa; Viện nghiên cứu lúa; Viện Kinh tế và Phát triển; Viện Đào tạo và Kĩ thuật Cơ Điện. Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp. Trung tâm giống lợn chất lượng cao. Trung tâm Bảo tồn và Phát triển nguồn gen cây trồng. == Các khoa và chuyên ngành đào tạo == === Khoa Nông học === Khoa Nông học là một trong ba khoa được thành lập đầu tiên của Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Khoa Nông học, tiền thân là Khoa Trồng trọt, được thành lập từ năm 1956. Đến năm 1997 khoa chính thức đổi tên thành Nông học như hiện nay. Chức năng nhiệm vụ của khoa 1. Đào tạo kỹ sư Nông nghiệp với 6 chuyên ngành: (1) Khoa học cây trồng, (2) Bảo vệ thực vật, (3) Chọn giống cây trồng, (4) Công nghệ Rau - Hoa - Quả, (5) Cử nhân Nông nghiệp, (6) Dâu tằm – nuôi ong mật. Từ năm học 2006 - 2007 đến nay khoa được giao thực hiện Chương trình đào tạo tiên tiến (CTTT) Khoa học cây trồng (crop Science) hợp tác với Đại học UC-DAVIS (UCD) - California (Hoa Kỳ) và Chương trình đào tạo hướng nghiệp Công nghệ rau hoa quả và thiết kế cảnh quan. 2. Đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ 3 chuyên ngành: (1) Kỹ thuật trồng trọt, (2) Bảo vệ thực vật, (3) Chọn giống cây trồng. 3. Làm công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng về cây trồng, chọn giống cây trồng và bảo vệ thực vật phục vụ sản xuất nông nghiệp nước nhà. Lược sử phát triển Trải qua 55 năm, Khoa đã nhiều lần tách ra rồi nhập lại với các tên gọi khác nhau. - Năm 1956: Khoa Trồng trọt - Học viện Nông Lâm. - Năm 1963: Sau khi Học viện Nông Lâm tách ra thành Viện Khoa Học Nông nghiệp và Trường đại học Nông nghiệp, Khoa Trồng trọt chia làm hai khoa là Khoa Cây công nghiệp và khoa Cây lương thực, thuộc Trường Đại học Nông nghiệp Hà nội. - Năm 1970: Khoa Cây công nghiệp và Cây lương thực sát nhập trở lại thành Khoa Trồng trọt. - Năm 1978: Khoa Trồng trọt chia làm ba khoa: Khoa Bảo vệ thực vật – Dâu tằm, Khoa Cây trồng và Khoa Quản lý ruộng đất. - Năm 1984: Khoa Bảo vệ Thực Vật – Dâu Tằm và khoa Cây Trồng sát nhập thành khoa Trồng Trọt. - Năm 1997 Khoa chính thức đổi tên thành khoa Nông học. Cơ sở vật chất của Khoa bao gồm - 40 phòng làm việc với tổng diện tích sử dụng trên 1400m2 - 13 phòng thí nghiệm, trong đó: 01 phòng thí nghiệm Khoa học cây trồng (do CTTT tài trợ) 01 phòng thí nghiệm chuyên ngành giống (do DANIDA tài trợ) Phòng Thí nghiệm bệnh lý thực vật (do ACIAR tài trợ) 10 phòng thí nghiệm trực thuộc các bộ môn - Vườn thực vật rộng 3 ha - Vườn tiêu bản rộng 1,1 ha - Khu thí nghiệm đồng ruộng 4,3 ha - 11 nhà lưới với diện tích mặt bằng trên 2000m2 - 01 phòng máy tính với 40 máy tính nối mạng internet Đội ngũ cán bộ khoa hiện có 103 người, trong đó có 17 GS&PGS-TS, 25 Tiến sĩ và 26 Thạc sĩ Các chuyên ngành đào tạo Hệ đại học: Khoa học cây trồng (trong đó có chuyên ngành khoa học cây trồng tiến tiến hợp tác với trường ĐH: UC DAVIS của Mỹ) Chọn giống và nhân giống cây trồng Bảo vệ thực vật Công nghệ Rau, hoa quả và thiết kế cảnh quan Cử nhân Nông nghiệp Dâu tằm và nuôi ong mật Hệ cao đẳng Chuyên ngành khoa học cây trồng Hệ liên thông từ cao đảng lên đại học Bảo vệ thực vật Khoa học cây trồng Hệ sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ): Kỹ thuật trồng trọt Chọn giống và nhân giống cây trồng Bảo vệ thực vật === Khoa Quản lý đất đai === Hệ đại học Kỹ sư Quản lý đất đai; Kỹ sư Khoa học đất; Kỹ sư Nông hóa-thổ nhưỡng; Hệ Sau đại học (thạc sĩ-tiến sĩ); Thạc sĩ Nông hóa; Thạc sĩ Thủy nông-cải tạo đất; Thạc sĩ Quản lý đất đai; Thạc sĩ Khoa học đất; Tiến sĩ Nông hoá; Tiến sĩ Khoa học đất; Tiến sĩ Thuỷ nông cải tạo đất. === Khoa Môi trường === Hệ đại học Kỹ sư Môi trường; Hệ Sau đại học Thạc sĩ Khoa học môi trường. === Khoa Chăn nuôi-nuôi trồng thủy sản === Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản === Khoa Thú y === Trường Đại học Nông Lâm được thành lập ngày 12 - 10 -1956, theo Nghị định số 53/NL – NĐ của Bộ Nông Lâm, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Có 3 Khoa là: Trồng trọt, Chăn nuôi Thú y và Lâm học tại Văn Điển, xã Quỳnh Đô, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội. Khoa Chăn nuôi Thú y ban đầu có 5 giáo viên: Bác sĩ Thú y Phạm Khắc Mai, Trưởng Khoa, Điền Văn Hưng, Nguyễn Vĩnh Phước, Nguyễn Xuân Hoạt và Phùng Mạnh Chí. Đến năm 1960 Học viện Nông Lâm chuyển về Trại Bông xã Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Khoa Chăn nuôi Thú y chiêu sinh 2 ngành đào tạo riêng biệt là Chăn nuôi và Thú y. Ngày 01- 9 -1977, Khoa Chăn nuôi Thú y tách thành 2 khoa Chăn nuôi và Thú y. Khoa Thú y của Trường Đại học Nông nghiệp 1 bao gồm 9 tổ bộ môn và thầy Phạm Gia Ninh được bổ nhiệm làm trưởng Khoa đầu tiên. Cũng năm này Khoa Thú Y bắt đầu đào tạo nghiên cứu sinh. Năm1984, hai khoa Chăn nuôi và Thú y được sát nhập thành Khoa Chăn nuôi Thú y, với nhiệm vụ đào tạo hai ngành học là Chăn nuôi và Thú y. Năm 2007, Khoa Thú y được tái lập. Đến 2011, đã có hơn 12.000 bác sĩ thú y, kỹ sư chăn nuôi được khoa đào tạo trong đó có 5.430 bác sĩ thú y hệ chính quy, hơn 1.000 người hệ tại chức, 17 bác sĩ thú y cho các nước bạn. Ở tầm khu vực đã có 135 Thú y sĩ và 28 Bác sĩ Thú y, trong đó có khoảng 10 người Căm pu chia và Lào giỏi lý thuyết và thạo tay nghề, đạt tiêu chuẩn Asean và đang tiếp cận với tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn. Mục tiêu lớn trong giai đoạn mới của khoa là: - Có khả năng đấu thầu và triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học lớn về lĩnh vực Thú y, - Có khả năng hợp tác quốc tế, hợp tác chặt chẽ và ngang tầm với các nước trong khu vực Asean và thế giới. - Tham gia mạnh vào hiệp hội các trường đào tạo Thú y của châu Á (AAVS – Association of Asian Veterinary Schools), hiệp hội Bệnh lý Thú Y châu Á (ASVP – Asian Society of Veterinary Pathology), Hiệp hội các Trường đào tạo thú y Đông Nam Á, (SEASA), và chương trình quốc tế Một nền sức khỏe chung (ONE HEALTH). Khoa Thú y đã và đang có quan hệ hợp tác chặt chẽ với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Australia, Hoa Kỳ, Bỉ, và Pháp. Những cơ quan trong nước liên quan: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Thú y, Viên Thú y, các trung tâm Thú y vùng, chi cục Thú y, Chi cục kiểm dịch, các Trung tâm chuyên môn của Cục Thú y, các Sở Nông nghiệp, Trung tâm khuyến nông, Các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học Nông nghiệp khác. Hệ đại học Bác sĩ thú y Hệ sau đại học (thạc sĩ - tiến sĩ) Thú y === Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn === Khoa Kinh tế và PTNT là một trong những khoa lớn của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, được thành lập năm 1961 với 5 cán bộ trong một tổ bộ môn do KS Phan Trọng Đỉnh là trưởng bộ môn. Năm 1963 sau khi kết hợp với trường HTX Nông nghiệp trung ương, Khoa Kinh tế Nông nghiệp đã chính thức được ra đời với 20 cán bộ, trong đó trình độ cao nhất là đại học với 3 bộ môn truyền thống là Kinh tế nông nghiệp, Tổ chức quản lý xí nghiệp và Thống kế (Thống kê - Kế hoạch - Kế toán). Trải qua 45 năm phát triển và trưởng thành, hiện này số lượng cán bộ của Khoa đã tăng tới trên 80 người, trong đó có: 3 giáo sư, 6 phó giáo sư, 26 tiến sĩ, 20 thạc sĩ và 25 kỹ sư và cử nhân. Các cán bộ có trình độ trên đại học chủ yếu được đào tạo từ các nước Liên Xô (cũ), Bungaria, CH Séc, CHDC Đức (cũ) và CHLB Đức, Thái Lan, Philipin, Nhật Bản, Úc, Canada. Khoa hiện gồm 6 bộ môn và một trung tâm nghiên cứu, đó là bộ môn: Kinh tế, Kinh tế tài nguyên và môi trường, Phân tích định lượng, Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp & Chính sách, Kế hoạch & Đầu tư và Trung tâm Nghiên cứu-đào tạo quản trị nông nghiệp & PTNT. Thư viện của khoa cũng đã được thành lập năm 1990 với trên một nghìn đầu sách và tạp chí tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nhật phục vụ giáo viên và học sinh trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu. Nhiệm vụ chủ yếu của khoa là đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kinh tế và phát triển nông thôn. Từ ngày đầu thành lập cho tới trước đổi mới (1986) khoa chỉ có một chuyên ngành đào tạo đại học là Kinh tế Nông nghiệp nhưng đến nay Khoa đã phát triển chuyên ngành đào tạo nên đến 5 chuyên ngành là Kinh tế nông nghiệp, Kinh doanh nông nghiệp, Kế toán doanh nghiệp, PTNT& Khuyến nông và Quản trị kinh doanh. Đối với đào tạo sau đại học, đào tạo thạc sĩ các ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế, Phát triển nông thôn và tiến sĩ các ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển và Quản trị nhân lực. Số lượng sinh viên đã không ngừng tăng lên bao gồm sinh viên chính quy và sinh viên hệ vừa học vừa làm. Tính đến tháng 3/2006 khoa đã đào tạo được khoảng 7500 cử nhân chính quy và hơn 7000 cử nhân hệ tại chức hiện đang đảm nhiệm ở các vị trí công tác trên các ngành và các vùng miền khác nhau trong cả nước. Khoa cũng đã đào tạo được 52 tiến sĩ và 275 thạc sĩ. Ngoài việc đảm nhận một lượng công việc lớn là giảng dạy (khoảng 70 sinh viên/giáo viên), cán bộ Khoa đã tham gia nhiều chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Trường; liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu, các tỉnh thành, địa phương và các cơ quan Trung ương để thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu và chuyển giao, các dự án và chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Khoa có nhiều liên kết với các bộ như Bộ NN&PTNT, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Lao động và thương binh xã hội, các viện nghiên cứu, các sở ở tại các địa phương, các doanh nghiệp và hợp tác xã. Khoa cũng là nơi chủ trì khâu nối các trường đại học chuyên ngành kinh tế nông nghiệp ở các miền Bắc, Trung, Nam tạo ra một mạng luới đào tạo và nghiên cứu khoa học rộng khắp trong cả nước. Trong những năm gần đây khoa còn mở rộng hợp tác với các trường đại học và các tổ chức quốc tế như ĐHTH Kyushu, ĐH Saga, ĐHTH Tokyo (Nhật Bản), ĐHTH Humbold, ĐHTH Hohenheim (Đức), ĐH Vân Nam (Trung Quốc), ĐHTH Chiang Mai (Thái Lan), AIT, ĐHTH Sydney (Úc), ĐH Codorba (Tây Ban Nha), Gembloux (Bỉ), ĐHTH Gia Nghĩa (Đài Loan), các tổ chức quốc tế như IFAD, REI, IRRI, SEARCA, MCC, JICA, GTZ, UNDP, Ford Foundation, AIDA, SPF... thực hiện nhiều dự án và có nhiều đóng góp trong phát triển nông thôn. Vị trí khoa học của Khoa ngày càng được khẳng định trong Trường, phạm vi quốc gia và quốc tế. Kinh tế Kinh tế Nông nghiệp Phát triển nông thôn === Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh === Kế toán; Quản trị kinh doanh; Kinh doanh nông nghiệp; Quản trị kinh doanh Nông nghiệp tiên tiến. === Khoa Cơ - Điện === Hệ đại học Cơ khí nông nghiệp Cơ khí động lực Cơ khí chế tạo máy Cơ khí bảo quản chế biến Cung cấp và sử dụng điện Tự động hóa Công trình nông thôn (công trình) Công nghiệp nông thôn (công thôn) Thạc sĩ Kỹ thuật máy và thiết bị cơ giới hoá Nông-lâm nghiệp Kỹ thuật Ôtô máy kéo Điện khí hoá sản xuất nông nghiệp và nông thôn Tiến sĩ Kỹ thuật máy và thiết bị cơ giới hoá nông nghiệp và nông thôn === Khoa Công nghệ sinh học === Khoa công nghệ sinh học được thành lập ngày 23 tháng 10 năm 2008 Trình độ đại học: Kỹ sư công nghệ sinh học Thạc sĩ: Công nghệ sinh học === Khoa Công nghệ thông tin (FITA) === Website thông tin và học liệu mở của khoa: http://fita.hua.edu.vn Khoa thành lập ngày 10/10/2005. Khóa đầu tiên là lớp TH47 nhập học năm 2002, ra trường vào tháng 6/2007. Hiện nay Khoa có 05 Bộ môn và 01 Trung tâm: Bộ môn Công nghệ phần mềm; Bộ môn Khoa học máy tính; Bộ môn Toán; Bộ môn Vật lý; Bộ môn Toán - Tin ứng dụng; Trung tâm Tính toán và Tích hợp Dữ liệu Chương trình đào tạo có 2 ngành: Kỹ sư tin học Kỹ sư quản lý thông tin === Khoa Sư phạm và Ngoại ngữ === Giáo viên Kỹ thuật Nông nghiệp Giáo viên ngoại ngữ === Khoa Lý luận Chính trị và Xã hội === Cử nhân Xã hội học (Chuyên ngành Xã hội học Nông thôn) == Tặng thưởng == Huân chương Độc lập hạng nhì (năm 1991); Huân chương Độc lập hạng ba (năm 1986); Huân chương Lao động hạng nhất (năm 1981); 3 Huân chương Lao động hạng nhì (năm 1977, 1965, 1962); 2 Huân chương Lao động hạng ba (năm 1973, 1960); Huân chương Tự do của CHDCND Lào (năm 1981). Danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 2005); Huân chương Hồ Chí Minh (năm 2001); Huân chương Độc lập hạng nhất (năm 1996); Huân chương Lao động hạng nhất của CHDCND Lào (năm 2000); Bộ GD và ĐT khen thưởng và tặng cờ Trường tiên tiến xuất sắc (năm học 1999 – 2000, 2002 –2003); 02 Bằng khen về đào tạo (năm 1997, 1998), 06 Bằng khen về NCKH (từ năm 2001 - 2005); 20 Bằng khen của Bộ Nông nghiệp – PTNT, Bộ KH và CN, của UBND các tỉnh về thành tích đào tạo cán bộ KHKT và chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất; 30 năm liên tục được công nhận đơn vị tiên tiến xuất sắc về TDTT của Thủ đô (1975 – 2005). == Hiệu trưởng qua các thời kỳ == GS. Bùi Huy Đáp (1956-1958); Trần Hữu Dực (1959-1960); Chu Văn Biên (1960-1962); Nguyễn Đăng (1963-1975); GS., TS., NGND Lê Duy Thước (1976-1983); GS., TS., NGƯT Trần Thị Nhị Hường (1984-1992); GS., TSKH., NGND Cù Xuân Dần (1992-1996); GS., TS., NGƯT. Nguyễn Viết Tùng (1996-2001); GS., TS., NGƯT. Đặng Vũ Bình (2001 đến 2006); GS.TS. Trần Đức Viên (2007 - 2014). PGS.TS Nguyễn Thị Lan (2015 - nay). == Cựu giảng viên và sinh viên nổi tiếng == Nhà nông học Lương Định Của (1920-1975). Nguyễn Công Tạn (1935-2014) - Nguyên Phó Thủ tướng, nguyên Giảng viên Bộ môn Canh tác; Vũ Văn Hiền - Tổng GĐ Đài Tiếng nói Việt Nam, Cựu Sinh viên Lớp Chăn nuôi Khóa 14; Giáo sư Vũ Tuyên Hoàng (1939-2008) - Nguyên Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam; Nguyễn Bá Thanh (1953 - 2015) - Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Nguyên Trưởng ban nội chính Trung ương. Bùi Quang Vinh (sinh năm 1953) - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Phạm Gia Ninh trưởng khoa Thú Y nhiều năm, nổi tiếng trong giới thú y chuyên nghiệp thế giới. Vũ Quang Hội, ông cũng được cho là một trong những người giàu nhất Việt Nam hiện nay, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh Bitexco, chủ các toà nhà The Manor, The Garden, Tòa nhà Financial Tower... == Một số hình ảnh hoạt động của trường == == Xem thêm == Đại học Lâm nghiệp Việt Nam Danh sách trường đại học và cao đẳng tại Hà Nội == Liên kết ngoài == Trang web của trường == Tham khảo ==
giải quần vợt wimbledon 2016 - đơn nam.txt
Novak Djokovic là đương ki vô địch của giải và đứng đầu hạt giống, nhưng thua tại vòng ba hạt giống số 28 là Sam Querrey. Đây là lần thất bại đầu tiên của anh trước tứ kết một giải đấu lớn kể từ giải Pháp Mở rộng năm 2009, một chuỗi 28 trận tứ kết diễn ra liên tiếp. Trận thua này cũng đã vọt lên thành bốn trận liên tiếp chiến thắng liên tiếp, có niên đại từ giải Wimbledon năm 2015. Andy Murray chiến thắng 3 giải grandslam trong sự nghiệp và 2 giải Wimbledon đánh bại Milos Raonic trong trận chung kết, với tỉ số là 6–4, 7–6(7–3), 7–6(7–2). Raonic trở thành người Canada đầu tiên tìm đến trận chung kết Grand Slam. Anh cũng là người không phải là người châu Âu đầu tiên tham gia trận chung kết Wimbledon kể từ khi Andy Roddick vào năm 2009. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 2002 rằng người đàn ông tham gia trận chung kết không phải là Djokovic, Roger Federer, or Rafael Nadal.Điều này đã kết thúc mùa giải của Federer khi anh không chơi quần vợt một lần nữa cho tới khi bắt đầu Hopman Cup 2017 do chấn thương ở đầu gối và lưng.. Đây lầ lần thứ 53 liên tiếp trong đó ít nhất một trong số những người bán kết đã giành được ít nhất một giải Grand slam trước giải đấu diễn ra. == Hạt giống == Nhấn vào số hạt giống của cặp vận động viên để tới phần thi đấu của họ. == Bốc thăm == === Chú giải === === Chung kết === === Nửa trên === ==== Bảng 1 ==== ==== Bảng 2 ==== ==== Bảng 3 ==== ==== Bảng 4 ==== === Nửa dưới === ==== Bảng 6 ==== ==== Bảng 6 ==== ==== Bảng 7 ==== ==== Bảng 8 ==== == Tham khảo == Bốc thăm đơn nam Bản mẫu:ATP World Tour 2016
trường trung học phổ thông chuyên khoa học tự nhiên, đại học quốc gia hà nội.txt
Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên Hà Nội (HUS High School for Gifted Students) là hệ đào tạo trung học phổ thông của trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (một trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Đây là một trong số ba trường trung học trên địa bàn thành phố Hà Nội, Việt Nam, không trực thuộc sự quản lý về hành chính của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội (Hai trường còn lại là Trường THPT chuyên, Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường THPT chuyên Ngoại ngữ - Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội). Khối được thành lập đầu tiên là chuyên Toán năm 1965; sau đó là chuyên Vật lý; chuyên Tin học (Thành lập thêm lớp chuyên Tin thuộc cùng khối chuyên Toán); Chuyên Hóa học và Chuyên Sinh học là trẻ nhất, được thành lập năm 1998) Các khối chuyên của Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên Hà Nội đóng góp nhiều thành viên cho đội tuyển học sinh giỏi quốc gia và học sinh giỏi quốc tế. Trường cũng đồng thời được công nhận là ngôi trường giàu thành tích nhất Việt Nam về số lượng huy chương cũng như giải thưởng đạt được trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia (Toán, Tin, Lý, Hóa, Sinh), Olympic Quốc tế (IMO, IOI, IPhO, IChO, IBO) và các kỳ thi Olympic trong khu vực.. Các khối chuyên của trường cũng luôn nằm trong top dẫn đầu 200 trường có điểm trung bình thi đại học cao nhất Việt Nam từ lúc có bảng xếp hạng này (Năm 2008 , Năm 2009 , Năm 2010 , xem thêm Xếp hạng trường trung học phổ thông Việt Nam) == Khuôn viên == Hiện nay, trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên đóng tại ký túc xá Mễ Trì - 182 Lương Thế Vinh, Quận Thanh Xuân, Hà Nội. Khuôn viên của khối chuyên gồm có ba tòa nhà: Giảng đường Mới: gồm phòng học của các khối chuyên; Văn phòng Ban Điều hành trường Trung học phổ thông Chuyên; Nhà C3 là giảng đường của chuyên và văn phòng các khối chuyên, các phòng thí nghiệm, phòng thực thành, phòng máy vi tính cho các khối chuyên; tòa nhà B1 gồm giảng đường của một số lớp chuyên. Ngoài ra, trường Trung học phổ thông Chuyên dùng các tòa nhà khác, hệ thống thông tin, thư viện, máy tính, đồ thực hành, máy móc, trang thiết bị kỹ thuật như các sinh viên đại học của Đại học Quốc gia Hà Nội. == Cơ cấu tổ chức == Trường Trung học Phổ thông chuyên hiện nay bao gồm năm Bộ môn chuyên: Bộ môn Chuyên Toán Bộ môn Chuyên Tin Bộ môn Chuyên Lý Bộ môn Chuyên Hóa Bộ môn Chuyên Sinh Mỗi khối chuyên cũ nay là một/hai bộ môn, trực thuộc một khoa tương ứng của trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Mỗi Bộ môn do Chủ nhiệm Bộ môn đứng đầu. Giúp đỡ chủ nhiệm khối Bộ môn có Phó Chủ nhiệm và Văn phòng Bộ môn. Chủ nhiệm Bộ môn có quyền quyết định hầu hết mọi việc tại Bộ môn. Trường Trung học phổ thông chuyên cũng được tổ chức như một trường trung học phổ thông độc lập. Mỗi năm, trong kỳ học sinh giỏi quốc gia, mỗi Bộ môn chuyên chọn 10 học sinh tham gia với tư cách là đại diện cho Đại học Quốc gia Hà Nội === Ban giám hiệu === Ban giám hiệu của trường gồm hiệu trưởng và ba hiệu phó là chủ nhiệm / phó chủ nhiệm các khối chuyên trước khi thành lập trường . Hiệu trưởng: TS. Lê Công Lợi Hiệu phó: PGS. TS. Trần Thạch Văn TS. Đặng Đình Tới TS. Phạm Văn Quốc == Các khối phổ thông chuyên cũ, tiền thân và là hạt nhân của Trường THPT chuyên KHTN == === Khối chuyên Toán - Tin === Chủ nhiệm khối: Nhà giáo ưu tú, PGS. TS. Nguyễn Vũ Lương Phó chủ nhiệm khối: ThS. Phạm Văn Hùng, Giảng viên Lê Đình Vinh Các GS, PGS từng giảng dạy tại khối: Phan Đức Chính, Lê Đình Thịnh, Nguyễn Văn Mậu, Đặng Hùng Thắng... ==== Quá trình hình thành và phát triển ==== Tháng 9 năm 1965,xuất phát từ ý tưởng thành lập "lớp toán đặc biệt" của GS Hoàng Tuỵ nguyên chủ nhiệm khoa Toán, Đại học Tổng hợp Hà Nội cùng với sự ủng hộ mạnh mẽ của cố GS Lê Văn Thiêm phó hiệu trưởng, cố GS Ngụy Như Kon Tum hiệu trưởng, cố GS Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và cố thủ tướng Phạm Văn Đồng. Lớp Toán đặc biệt khóa 1 tiền thân của khối chuyên toán trường ĐHKHTN - ĐHQGHN được mở với 38 học sinh tại huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái nơi sơ tán của trường Tổng Hợp khi đó. Mở đầu cho việc thành lập các lớp chuyên toán ở các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Vinh, và các tỉnh thành. ==== Thành tích ==== Khối là đơn vị giàu thành tích nhất Việt Nam ở các kì thi toán quốc tế: Tất cả các kì thi IMO từ năm 1974 đến năm 2007 mà đoàn Việt Nam tham dự đều có mặt học sinh của khối. Từ năm 1974, các học sinh của khối đạt 59 huy chương trong các kì thi Olympic Toán học Quốc tế (trong tổng số 151 huy chương của Việt Nam), trong đó có 23 huy chương Vàng (trên tổng 30 huy chương Vàng của Việt Nam). Từ năm 1989 đến 2016, học sinh của Khối đã đạt được 41 huy chương Olympic Tin học Quốc tế, trong đó có 7 huy chương Vàng. Từ năm 2013 đến 2016, học sinh của Khối đã đạt được 12 huy chương Olympic Tin học châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có 5 huy chương Vàng. Ngoài ra học sinh của Khối còn đạt nhiều giải trong các kì thi Quốc gia. Đơn vị đã được nhà nước Việt Nam trao tặng các danh hiệu: Anh hùng lao động: 2005 Huân chương độc lập: Hạng ba (2005) Huân chương lao động: Hạng ba (1985) Hạng nhì (1995) Hạng nhất (2000) ==== Học sinh tiêu biểu ==== GS. TSKH. Trần Văn Nhung, nguyên thứ trưởng Bộ GD-ĐT (cựu học sinh khóa 1). GS. TSKH. Đào Trọng Thi, Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm Uỷ ban văn hoá-giáo dục-thanh niên-thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội (cựu học sinh khóa 2). Nguyễn Thành Nam, cựu Tổng giám đốc FPT (cựu học sinh khoá 11) GS. Đàm Thanh Sơn, huy chương vàng toán quốc tế, giáo sư vật lý đại học Washington, Mỹ. Nguyễn Việt Hà, hiệu trưởng Đại học Công nghệ Hà Nội. GS. Ngô Bảo Châu, giáo sư Toán đại học Chicago, Viện trưởng Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán Việt Nam, giải thưởng toán học Clay năm 2004, Huy chương Fields 2010 (cựu học sinh khóa 23). 2 năm liền đoạt huy chương vàng toán quốc tế: Ngô Bảo Châu, Đào Hải Long, Ngô Đắc Tuấn, Lê Hùng Việt Bảo, Nguyễn Thế Hoàn. 2 năm liền đoạt huy chương vàng tin học quốc tế: Nguyễn Ngọc Huy === Khối chuyên Lý === Chủ nhiệm khối: TS. Đặng Đình Tới Thành lập ngày:15/10/1985 Khối ra đời trực thuộc khoa Vật lý, trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội. Hàng năm có khoảng 270 học sinh được học tập tại khối, các em đến từ nhiều vùng ở miền Bắc Việt Nam. Khối đi đầu trong việc đào tạo học sinh có năng khiếu Vật lý ở bậc phổ thông trung học,cũng như đào tạo học sinh thi đại học:tỉ lệ đỗ đại học của học sinh hàng năm luôn trên 95%. Hàng năm thường có nhiều cuộc thi chất lượng cho các em học sinh trong khối,gồm 3 môn toán, lý, hóa nhằm kiểm tra chất lượng học tập các em trong mỗi kì(mỗi kì thi 1 lần),đồng thời có nhắc nhở học tập nếu kết quả kém,cũng như tuyên dương các em có thành tích học tập tốt. Cơ cấu xét đội tuyển tham dự kì thi học sinh giỏi vật lý quốc gia khá ngặt nghèo: "Sơ đồ hình chóp", các em học sinh vừa vào học sẽ được đào tạo chung để tham dự đội tuyển, sau đó qua các kì thi sẽ chọn được những em xuất sắc nhất để thi Quốc gia Vật lý Theo thống kê, trong kì thi đại học 2008, khối Chuyên Lý có điểm trung bình ba môn cao nhất cả nước. Trong kỳ thi tuyển sinh năm học 2009, thành tích rất đáng tự hào này một lần nữa được lập lại. Hoạt động ngoại khóa của khối chuyên lý khá đa dạng, bao gồm ngày kỉ niệm thành lập khối 15/10, trung thu, dã ngoại,... với nhiều trò chơi như cờ (cờ tướng, cờ vua, cờ ca rô, cờ vây,...), nhảy bao bố, đua xe đạp chậm, đá bóng ba chân,... và giải đá bóng Chuyên Lý Cup diễn ra thường niên. === Khối chuyên Hóa === Chủ nhiệm khối: PGS.TS.Trần Thạch Văn Phó Chủ nhiệm khối: PGS.TS. Lê Kim Long Ngoài ra, tham gia giảng dạy tại khối có các GS, PGS, TS: PGS.TS. Đào Hữu Vinh, NGƯT GS.TS. Từ Vọng Nghi (chủ nhiệm bộ môn Hóa phân tích, khoa Hóa, ĐHKHTN), PGS.TS. Phạm Văn Nhiêu (phó chủ nhiệm bộ môn Hóa Lý, khoa Hóa, ĐHKHTN), PGS.TS. Đỗ Đức Thanh (bộ môn Vật Lý Lý Thuyết, khoa Lý, ĐHKHTN), TS. Đặng Định Tới (chủ nhiệm khối Trung học phổ thông chuyên Lý),... ==== Quá trình hình thành và phát triển ==== Năm 1992, PGS.TS. Đào Hữu Vinh (bộ môn Hóa phân tích, khoa Hóa, Đại học Tổng hợp Hà Nội) cùng với một số đồng nghiệp tâm huyết đã chính thức thành lập ra Khối Trung học phổ thông chuyên Hóa. Khối là một bộ môn trực thuộc khoa Hóa của Đại học Tổng hợp, do chính thầy Đào Hữu Vinh là chủ nhiệm. Từ những ngày đầu đầu thành lập, Khối đã nhận được nhiều sự ủng hộ về giảng dạy của tập thể giảng viên khoa Hóa. Nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ,... ở khoa Hóa và cả các khoa khác (Toán, Lý,...) trực tiếp giảng dạy các môn học tại đây. Năm 1996, sau khi thầy Đào Hữu Vinh nghỉ hưu, thầy Trần Thạch Văn (bấy giờ là phó chủ nhiệm khối Trung học phổ thông chuyên Hóa) được bầu làm chủ nhiệm khối. Kế thừa tâm huyết của thầy Vinh, thầy Văn không ngừng nỗ lực xây dựng khối, liên tục nâng cao yêu cầu đầu vào của thí sinh và thỉnh giảng nhiều giáo sư tên tuổi nhằm nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy của khối chuyên. ==== Thành tích ==== Trong nhiều năm trở lại đây, học sinh khối Trung học phổ thông chuyên Hóa luôn có điểm thi đại học trung bình lọt vào top 5 trường Trung học phổ thông cao nhất cả nước (điểm trung bình khoảng 22 đến 25 điểm), với nhiều thủ khoa 29, 30 điểm các trường Đại học Ngoại Thương, Đại học Y Hà Nội,...top 200 trường thpt có điểm thi cao nhất năm 2009 Ngoài ra, khối còn giành được nhiều huy chương trong các kỳ thi Olympic Hóa Học quốc gia và quốc tế. Tỉ lệ học sinh của khối nhận được học bổng tại các trường đại học nước ngoài (Mỹ, Anh, Úc,...) có năm học lên đến gần 30%. ==== Học sinh tiêu biểu ==== 2 năm liền đoạt huy chương vàng hóa quốc tế: Vũ Minh Châu Đường lên đỉnh Olympia: 1 giải 3 chung kết năm thứ 13 === Khối chuyên Sinh === Chủ nhiệm khối: PGS.TS. Lưu Lan Hương Phó Chủ nhiệm: CN. Nguyễn Thị Yến Khối chuyên Sinh có sự tham gia giảng dạy của các PGS, TS: TS. Phạm Văn Lập, TS. Trần Viết Kính (Toán), PGS.TS. Lê Đức (Hóa học hữu cơ),... Thành tích Năm 2007, trong 4 thành viên của Đội tuyển Việt Nam đi dự Olympic Sinh học Quốc tế (IBO) thì có 3 thành viên là học sinh Khối chuyên Sinh học. Năm 2009, học sinh Nguyễn Thị Thùy Trang của Khối chuyên Sinh đã giành huy chương bạc duy nhất cho dội tuyển Việt Nam tại IBO 2009 được tổ chức tại Nhật Bản. Năm 2013, học sinh Nguyễn Quang Huy đã giành huy chương đồng kỳ thi IBO 2013 tổ chức tại Thụy Sĩ Năm 2015, học sinh Vũ Thị Chinh đã giành huy chương Vàng kì thi IBO 2015 tổ chức tại Việt Nam sau nhiều năm chờ đợi. == Thành lập trường THPT chuyên KHTN == Vào ngày 18 tháng 6 năm 2010, UBND TP Hà Nội đã ban hành quyết định thành lập trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên (High School for Gifted Students), chịu sự quản lý trực tiếp toàn diện của ban giám hiệu trường Đại học Khoa học Tự nhiên- Đại học Quốc gia Hà Nội và chịu sự quản lý về chuyên môn của Sở GD-ĐT Hà Nội. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của trường thpt Chuyên Khoa Học Tự Nhiên Diễn đàn học sinh chuyên Tổng Hợp Trang web Khối chuyên Toán - Tin Khuôn viên khối chuyên Lĩnh vực đào tạo
danh sách các thành viên hội đồng bảo an liên hiệp quốc.txt
Bên cạnh các thành viên thường trực gồm Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Cộng hoà Pháp, Liên bang Nga (trước là Liên Xô), Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc còn có các thành viên không thường trực, bầu theo năm hoặc theo nhiệm kỳ. Từ năm 1966, các thành viên không thường trực phân bổ cho các khu vực và nhóm quốc gia như sau: Châu Á: 2 Châu Phi: 3 Mỹ Latin và vùng Caribe: 2 Đông Âu: 2 Tây Âu và các nhóm khác: 2 (ít nhất phải có 1 quốc gia thuộc Tây Âu) Khối Ả Rập: 1 (có thể thuộc châu Phi hay châu Á) == Danh sách thành viên thường trực == Hội đồng có 5 thành viên thường trực: == Danh sách các thành viên không thường trực == == Danh sách thành viên không thường trực trước 1966 == == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Các thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh)
địa lý việt nam.txt
Việt Nam là một quốc gia nằm ở cực đông nam bán đảo Đông Dương. Biên giới Việt Nam giáp với vịnh Thái Lan ở phía nam, vịnh Bắc Bộ và biển Đông ở phía đông, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ở phía bắc, Lào và Campuchia phía tây. Hình thể nước Việt Nam có hình chữ S, khoảng cách từ bắc tới nam (theo đường chim bay) là 1.648 km và vị trí hẹp nhất theo chiều đông sang tây là 50 km. Đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo. Ngoài vùng nội thuỷ, Việt Nam tuyên bố 12 hải lý lãnh hải, thêm 12 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải, 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và cuối cùng là thềm lục địa. Diện tích vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km² biển Đông. == Địa hình == Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới với những vùng đất thấp, đồi núi, nhiều cao nguyên với những cánh rừng rậm. Đất đai có thể dùng cho nông nghiệp chiếm chưa tới 20%. Đất nước bị chia thành miền núi, vùng đồng bằng sông Hồng ở phía bắc; và dãy Trường Sơn, Tây Nguyên, đồng bằng duyên hải miền trung, và đồng bằng sông Cửu Long ở phía nam. === Đồng bằng ven biển === Những vùng đồng bằng thấp và phẳng ven biển trải dài từ phía nam đồng bằng sông Hồng tới châu thổ sông Cửu Long. Ở phía đất liền, dãy Trường Sơn mọc dựng đứng trên bờ biển, các mũi của nó ở nhiều chỗ chạy xiên ra biển. Nói chung mảnh đất ven biển khá màu mỡ và được canh tác dày đặc. === Đồng bằng sông Cửu Long === Bài chi tiết: Đồng bằng sông Cửu Long Sông Mêkong, dài 4.220 km, là một trong 12 con sông lớn nhất trên thế giới. Bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, nó chảy qua vùng Tây Tạng và Vân Nam ở Trung Quốc, tạo nên biên giới giữa Lào và Myanma cũng như giữa Lào và Thái Lan, sau khi chảy qua Phnôm Pênh, nó chia thành hai nhánh là Tiền Giang và Hậu Giang rồi tiếp tục chảy qua Campuchia và vùng châu thổ sông Cửu Long trước khi đổ ra biển qua chín đường nhánh, được gọi là Cửu Long (chín con rồng). Con sông mang nhiều phù sa và tàu bè có thể đi từ ngoài biển qua trên con sông nông này đến tận Kompong Chàm ở Campuchia. Một nhánh phụ từ hồ Tonlé Sap chảy hợp vào với con sông ở Phnôm Pênh, đây là một hồ nước ngọt nông, đóng vai trò một hồ chứa tự nhiên làm ổn định dòng chảy ở hạ lưu sông Cửu Long. Khi con sông ở thời kỳ lũ, vùng đồng bằng cửa sông không thể thoát kịp lượng nước khổng lồ của nó. Nước lũ chảy ngược vào hồ Tonlé Sap, làm cho hồ ngập tràn và mở rộng ra đến 10.000 km vuông. Khi nước lũ rút đi, nước từ hồ lại tiếp tục chảy ra biển. Hiệu ứng này làm giảm đáng kể sự nguy hiểm của những đợt lũ lụt nguy hại ở đồng bằng Sông Cửu Long, nơi lũ lụt khiến cho những cánh đồng lúa hàng năm bị chìm ngập sâu từ một đến hai mét nước. === Đồng bằng sông Hồng === Sông Hồng, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam ở Trung Quốc, dài khoảng 1.200 km. Hai hợp lưu là sông Lô và sông Đà cùng góp phần vào lưu lượng hàng năm trung bình lên tới 3000 mét khối mỗi giây. Con số này có thể tăng lên gấp 60 lần vào mùa mưa. Vùng châu thổ dựa lưng vào vùng trung du và thượng du núi non. Cao độ của vùng châu thổ chỉ khoảng hơn ba mét so với mực nước biển, thậm chí đa phần chỉ là một mét hay còn thấp hơn nữa. Vì là đất thấp nên châu thổ hay bị lũ lụt; ở một số nơi mức nước lụt đã từng dâng ngập làng mạc dưới 14 mét nước. Qua nhiều thế kỷ, việc phòng lụt đã trở thành một công việc gắn liền với văn hoá và kinh tế của vùng. Hệ thống đê điều và kênh mương rộng lớn đã được xây dựng để chứa nước sông Hồng và để tưới tiêu cho vùng châu thổ giàu lúa gạo này cùng để tháo nước khi bị lụt. Hệ thống này sau nhiều thế hệ đã góp phần duy trì mật độ dân số cao ở đồng bằng sông Hồng và làm tăng gấp đôi diện tích có thể canh tác lúa nước ở đây. === Trung du và miền núi === Phía Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Việt Nam là vùng miền núi và trung du bao gồm nhiều dãy núi, khối núi, cao nguyên và các đồi. Đây là nơi sinh sống của nhiều nhóm dân tộc thiểu số. Dãy núi lớn ở đây là Hoàng Liên Sơn ở miền Bắc và Trường Sơn ở miền Trung. Nhiều ngọn núi có độ cao trên 2.000 mét, trong đó Phan Xi Păng là ngọn cao nhất, lên tới 3.143 mét. Ở vùng Đông Bắc và miền Trung, nhiều dãy núi chạy ra biển, tạo thành những cảnh quan tự nhiên tráng lệ, hùng vĩ. Đồng bằng sông Hồng là một vùng hình tam giác, diện tích 15.000 km vuông, hơi nhỏ hơn nhưng lại đông dân hơn đồng bằng sông Cửu Long. Thời trước nó là một vịnh nhỏ của vịnh Bắc Bộ, dần dần nó được bồi đắp nhờ khối lượng phù sa lắng đọng khổng lồ của các con sông, thuộc hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình, qua hàng nghìn năm khiến mỗi năm lấn thêm ra biển khoảng một trăm mét. Đây là nơi sinh sống của tổ tiên người Việt. Trước năm 1975, đồng bằng sông Hồng chiếm 70% sản lượng nông nghiệp và 80% sản lượng công nghiệp miền bắc Việt Nam. Đồng bằng sông Cửu Long, với diện tích 40.000 km vuông, là một đồng bằng thấp. Mọi vị trí trên đồng bằng này không cao hơn ba mét so với mực nước biển. Đồng bằng bị chia cắt dọc ngang bởi nhiều con kênh và các con sông. Con sông mang nặng phù sa trên mọi nhánh chằng chịt của nó làm cho đồng bằng hàng năm tiến thêm về phía biển 60 đến 80 mét. Các con sông bồi đắp nên đồng bằng này thuộc hệ thống sông Cửu Long và hệ thống sông Đồng Nai. Một nguồn thông tin chính thức của Việt Nam ước tính rằng khối lượng phù sa lắng động hàng năm là khoảng một tỷ mét khối, hay gần gấp 13 lần khối lượng phù sa lắng đọng của sông Hồng. Khoảng 10.000 km vuông đồng bằng hiện được dùng cho canh tác lúa gạo, biến đây trở thành một trong những vùng sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới. Mũi phía nam, được gọi là mũi Cà Mau, hay mũi Bãi Bung, là nơi có mật độ rừng rậm cao và các đầm lầy đước. == Các miền tự nhiên == Lãnh thổ Việt Nam phần trên đất liền gồm ba miền tự nhiên (có những đặc điểm địa hình, động thực vật, khí hậu chung trong miền), đó là: Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ; Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ; Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ là miền nằm phía Bắc của sông Hồng và tới tận phía Nam của Ninh Bình. Miền này lại được chia thành ba khu tự nhiên là khu Việt Bắc, khu Đông Bắc và khu đồng bằng Bắc Bộ. Đặc điểm cơ bản của vùng này là: có quan hệ mật thiết với Hoa Nam (Trung Quốc) về mặt địa chất - kiến tạo và chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa Đông Bắc. Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp với độ cao trung bình 600m. Hướng vòng cung của các dãy núi và các thung lũng sông là nét nổi bật trong cấu trúc sơn văn của miền. Địa hình karst khá phổ biến. Hướng nghiêng chung là tây bắc - đông nam với các bề mặt địa hình thấp dần ra biển và sự hợp lưu của các dòng sông lớn khiến cho đồng bằng mở rộng. Địa hình bờ biển đa dạng: nơi thấp phẳng, nơi nhiều vịnh, đảo, quần đảo. Vùng biển nông, tuy nhiên vẫn có vịnh nước sâu thuận lợi cho phát triển kinh tế biển. Tài nguyên khoáng sản: giàu than, sắt, thiếc, vonfram, chì, bạc, kẽm, vật liệu xây dựng,... Vùng thềm lục địa Bắc Bộ có bể dầu khí sông Hồng. Sự xâm nhập mạnh của gió mùa Đông Bắc tạo nên một mùa đông lạnh. Đặc điểm này được thể hiện ở sự hạ thấp đai cao cận nhiệt đới (có nhiều loài cây phương Bắc) và sự thay đổi cảnh qua thiên nhiên theo mùa. Sự bất thường của nhịp điệu mùa khí hậu, của dòng chảy sông ngòi và tính bất ổn cao của thời tiết là những trở ngại lớn của vùng. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ là phần phía Nam của sông Hồng tới phía Bắc dãy núi Bạch Mã. Miền này cũng chia làm ba khu, gồm khu Hoàng Liên Sơn, khu Tây Bắc và khu Hòa Bình-Bắc Trung Bộ. Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ là phần phía Nam dãy núi Bạch Mã. == Các vùng miền == Việt Nam được chia thành 3 miền và 8 vùng: Bắc Bộ: Tây Bắc Bộ Đông Bắc Bộ Đồng bằng sông Hồng Trung Bộ Bắc Trung Bộ Nam Trung Bộ Tây Nguyên Nam Bộ Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long == Khí hậu == Dọc theo lãnh thổ trải dài khí hậu Việt Nam phân bố thành 3 vùng: miền bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, miền trung mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong khi khi miền nam nằm trong vùng nhiệt đới xavan. Khí hậu Việt Nam có độ ẩm tương đối trung bình 84-100% cả năm. Tuy nhiên, vì có sự khác biệt về vĩ độ và sự khác biệt địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng vùng. Trong mùa đông hay mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió mùa thường thổi từ phía đông bắc dọc theo bờ biển Trung Quốc, qua vịnh Bắc Bộ, luôn theo các thung lũng sông giữa các cánh cung núi ở Đông Bắc mang theo nhiều hơi ẩm; vì vậy ở đa số các vùng việc phân biệt mùa đông là mùa khô chỉ là khi đem nó so sánh với mùa mưa hay mùa hè. Trong thời gian gió mùa tây nam mùa hè, xảy ra từ tháng 5 đến tháng 10, không khí nóng từ sa mạc Gobi phát triển xa về phía bắc, khiến không khí ẩm từ biển tràn vào trong đất liền gây nên mưa nhiều. Lượng mưa hàng năm ở mọi vùng đều lớn dao động từ 120 đến 300 xentimét, và ở một số nơi có thể gây nên lũ. Gần 90% lượng mưa đổ xuống vào mùa hè. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở đồng bằng nói chung hơi cao hơn so với vùng núi và cao nguyên. Dao động nhiệt độ từ mức thấp nhất là 5°C từ tháng 12 đến tháng 1, tháng lạnh nhất, cho tới hơn 37 °C vào tháng 7, tháng nóng nhất. Sự phân chia mùa ở nửa phía bắc rõ rệt hơn nửa phía nam, nơi mà chỉ ngoại trừ vùng cao nguyên, nhiệt độ mùa chỉ chênh lệch vài độ, thường trong khoảng 21-28 °C. == Thủy văn == Các hồ này nước ít luân chuyển, các hồ đầm tự nhiên xuất hiện ở vùng núi thường là dấu vết còn lại của núi lửa, động đất hay những nguyên nhân khác. Phần lớn các hồ đầm tự nhiên nước không chảy nhưng cũng có hồ nước chảy nhẹ như hồ Ba Bể. Các lợi đầm phá nước mặn: Các đầm phá nước mặm có rất nhiều ở vùng ven biển Việt Nam, và đang được khai thác triệt để. Hồ và kho nước nhân tạo Tính đến năm 2003 Việt Nam có khoảng 3500 hồ chứa có dung tích lớn hơn 0.2 triệu m3. Chỉ có 1976 hồ có dung tích lớn hơn 1 triệu m3, chiếm 55,9% với tổng dung tích 24.8 tỷ m3. Trong số hồ trên có 10 hồ do ngành điện quản lý với tổng dung tích 19 tỷ m3. Có 44 tỉnh và thành phố trong 63 tỉnh thành Việt Nam có hồ chứa. Tỉnh có nhiều hồ nhất là Nghệ An (249 hồ), Hà Tĩnh (166 hồ), Thanh Hóa (123 hồ), Phú Thọ (118 hồ), Đắk Lăk (116 hồ) và Bình Định (108 hồ). Trong số 1957 hồ cấp nước tưới do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Việt Nam) quản lý phân theo dung tích có: 79 hồ có dung tích trên 10 triệu m3, 66 hồ có dung tích từ 5 đến 10 triệu m3, 442 hồ có dung tích từ 1 đến 5 triệu m3, 1370 hồ có dung tích từ 1 đến 2 triệu m3. Tổng dung tích các hồ chứa này là 5.8 tỷ m3 nước tưới cho 505,162 ha. Hệ sinh thái hồ khác với ao và đầm ở độ sâu: ánh sáng chỉ chiếu được vào tầng nước mặt, do đó vực nước được chia thành 2 lớp: Lớp nước trên được chiếu sáng nên thực vật nổi phong phú, nồng độ oxy cao, sự thải khí oxy trong quá trình quang hợp và nhiệt độ của lớp nước trên thay đôi phụ thuộc vào nhiệt độ không khí. Lớp nước dưới thiếu ánh sáng, nhiệt độ ổn định (40C), nồng độ oxy thấp, nhất là trong trường hợp có sự lên men các chất hữu cơ tầng đáy. == Diện tích và biên giới == === Các số liệu chính === Diện tích Tổng: 331.212 km²Đất liền: khoảng 324.480 km² Nội thuỷ: hơn 4.200 km² Chiều dài đường biên giới trên đất liền Tổng: 4.639 km Biên giới với các nước: Campuchia (1137 km), Trung Quốc (1.449,566 km), Lào (2067 km) Đường bờ biển 3.260 km (không tính các đảo) Vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán Lãnh hải: 12 hải lý (22 km) từ đường cơ sở Vùng tiếp giáp lãnh hải: 12 hải lý (22 km) từ lãnh hải Vùng đặc quyền kinh tế: 200 hải lý (370 km) từ đường cơ sở Thềm lục địa Độ cao Điểm thấp nhất: mặt biển Đông (0 m) Điểm cao nhất: đỉnh Phan Xi Păng (3.143 m) Biên giới với Lào, được quy định dựa trên cơ sở dân tộc, giữa những vị vua cai trị Việt Nam và Lào vào giữa thế kỷ 17, nó đã được định nghĩa chính thức bằng một hiệp ước phân định ranh giới ký kết năm 1977 và được phê chuẩn năm 1986. Biên giới với Campuchia, được xác định từ thời người Pháp sáp nhập vùng phía tây đồng bằng sông Cửu Long năm 1867, hiện hầu như vẫn không thay đổi nhiều. Theo Việt Nam, một số vấn đề biên giới còn tồn tại cuối cùng đã được giải quyết vào giai đoạn 1982-1985. Biên giới trên đất liền và trên biển với Trung Quốc, được phác ra theo những hiệp ước Pháp-Thanh năm 1887 và 1895, là "đường biên giới" mà Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã đồng ý tôn trọng nó vào năm 1957-1958. Tuy nhiên, tháng 2 năm 1979, tiếp sau cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979, Việt Nam đã tuyên bố rằng từ năm 1957 trở về sau Trung Quốc đã gây ra nhiều vụ xung đột ở biên giới như một phần trong chính sách chống Việt Nam của họ và ý định thực hiện chủ nghĩa bành trướng ở Đông Nam Á. Trong số những sự vi phạm lãnh thổ được nêu ra có việc Trung Quốc chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 và chiếm toàn bộ quần đảo vào ngày 19 tháng 1 năm 1974. Hiện Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam đều tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này và hiện vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Tại quần đảo Trường Sa, ngoài Việt Nam thì còn năm bên tuyên bố chủ quyền là Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Philippines, Malaysia và Brunei. === Các điểm cực === Điểm cực bắc Điểm cực bắc trên đất liền của Việt Nam nằm ở xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang tại toạ độ 23.391185°B 105.323524°Đ / 23.391185; 105.323524. Điểm cực nam Điểm cực nam trên đất liền của Việt Nam nằm ở mũi Rạch Tàu, huyện Ngọc Hiển (huyện Năm Căn cũ tính đến ngày 17 tháng 12 năm 1984), tỉnh Cà Mau tại toạ độ 8.562035°B 104.836335°Đ / 8.562035; 104.836335. Điểm cực tây Điểm cực tây trên đất liền của Việt Nam nằm ở A Pa Chải-Tá Miếu (thuộc xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên) (ngã ba biên giới Việt-Trung-Lào) tại toạ độ 22.397745°B 102.143297°Đ / 22.397745; 102.143297. Điểm cực đông Điểm cực đông trên đất liền của Việt Nam nằm ở mũi Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, vịnh Vân Phong, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tại toạ độ 12.6483756°B 109.4616339°Đ / 12.6483756; 109.4616339.(không nên nhầm với mũi Điện ở Phú Yên). Nếu tính cả quần đảo Trường Sa thì điểm cực đông của Việt Nam (hiện đang kiểm soát) nằm tại đá Tiên Nữ thuộc quần đảo này tại toạ độ 8.855°B 114.655°Đ / 8.855; 114.655. == Tài nguyên và sử dụng đất == Tài nguyên thiên nhiên phốt phát, than đá, măng gan, bô xít, chrômát, ngoài biển: khoáng sản dầu mỏ và khí tự nhiên, rừng, thuỷ năng (thủy điện). Sử dụng đất Đất canh tác: 17% Mùa màng cố định: 4% Đồng cỏ cố định: 1% Rừng và vùng rừng: 30% Khác: 48% (ước tính năm 1993) Đất được tưới tiêu 18.600 km² (ước tính năm 1993) == Những vấn đề môi trường == Thiên tai Bão nhiệt đới xảy ra tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, xảy ra chủ yếu ở khu vực miền Bắc và Trung với lũ lụt trên diện rộng. Môi trường Khai thác gỗ và đốt rừng làm rẫy góp phần vào sự phá rừng và xói mòn đất; ô nhiễm nước và đánh bắt cá quá mức đe doạ cuộc sống sinh vật biển; ô nhiễm nước ngầm làm giảm nguồn cung nước sạch; tăng công nghiệp hoá đô thị và di cư làm suy giảm nhanh chóng môi trường ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Việt Nam là thành viên của: Công ước về Đa dạng sinh học, Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về thay đổi khí hậu, Công ước Chống sa mạc hoá, Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng, Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển, Công ước Viên về bảo vệ tầng ozon, Công ước Quốc tế về Phòng chống ô nhiễm từ tàu biển (MARPOL 73/78), Công ước Ramsar về đất ngập nước. Việt Nam đã ký nhưng chưa phê chuẩn: Nghị định thư Kyōto về biến đổi khí hậu, Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia Việt Nam được thực hiện định lỳ 5 năm một lần, báo cáo gần đây nhất là năm 2010. Giữa các năm đó là những báo cáo môi trường chuyên đề. Theo đó, các vấn đề môi trường nổi cộm là ô nhiễm chất hữu cơ trong nước mặt của các lưu vực sông có nhiều khu công nghiệp và đô thị đông đúc, hàm lượng chất hữu cơ và coliform chảy qua các khu vực này cao hơn tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam 2-3 lần; Ô nhiễm nông nghiệp do sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật quá mức; Đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng, 80% rạn san hô nằm trong tình trạng xấu, diện tích thảm cỏ biển suy giảm 40-60% so với thời kỳ trước năm 1990. Các vấn đề về an ninh môi trường của Việt Nam chưa được đánh giá như an ninh nguồn nước, ô nhiễm xuyên biên giới chưa được kiểm soát, các loài ngoại lai xâm lấn và các loài biến đổi gen xâm lấn. == Đường cơ sở biển của Việt Nam == Đường cơ sở của Việt Nam gồm có 11 đoạn, bắt đầu từ vùng nước lịch sử Việt Nam-Campuchia, đi qua quần đảo Thổ Chu, Hòn Khoai, Côn Đảo, Đảo Phú Quý, mũi Đôi, mũi Đại Lãnh, hòn Ông Căn, đảo Lý Sơn, đảo Cồn Cỏ. == Xem thêm == Việt Nam Sông Việt Nam Hang động Việt Nam Tài nguyên sinh vật Việt Nam == Chú thích == == Thư mục == Phạm Khôi Nguyên, Bùi Cách Tuyến, Lê Kế Sơn và nnk (2010). Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2010 - Tổng quan môi trường Việt Nam (pdf). Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam. tr. 201. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2014.
malta.txt
Malta ( /ˈmɒltə/; tiếng Malta: [ˈmɐltɐ]), tên chính thức Cộng hòa Malta (tiếng Malta: Repubblika ta' Malta), là một đảo quốc Nam Âu, gồm một quần đảo ở Địa Trung Hải. Nó tọa lạc ở vị trí 80 km (50 mi) về phía nam của Ý, 284 km (176 mi) về phía đông của Tunisia, và 333 km (207 mi) về phía bắc của Libya. Quốc gia này chỉ có diện tích 316 km2 (122 sq mi), với dân số khoảng 450.000 người, khiến nó trở thành một trong những quốc gia nhỏ nhất, và vào loại có mật độ dân cư dày nhất. Thủ đô của Malta, Valletta, với diện tích 0.8 km2, là thủ đô nhỏ nhất trong Liên minh châu Âu. Malta có hai ngôn ngữ chính thức: tiếng Malta và tiếng Anh. == Địa lý == Malta là một quần đảo nằm giữa Địa Trung Hải (nằm ở lòng chảo phía đông). Chỉ có ba đảo lớn – Malta (Malta), Gozo (Għawdex), và Comino (Kemmuna) – là có người ở. Những đảo nhỏ (xem dưới đây) đều bỏ hoang. Quần đảo này là dấu tích của dải đất nối liền Sicilia và Bắc Phi, bị tách ra khi nước biển dâng cao ở cuối Kỉ Băng Hà.. Quần đảo Malta nằm ở rìa mảng kiến tạo Phi, nơi nó tiếp giáp với mảng Âu. Rất nhiều vịnh nằm dọc theo bờ biển lồi lõm tạo ra các cảng đẹp. Địa hình bao gồm đồi thấp và đồng bằng. Điểm cao nhất của Malta là Ta' Dmejrek, cao 253 mét (830 ft), gần Dingli. Mặc dù có một vài sông nhỏ vào thời điểm có lượng mưa lớn, ở Malta không có một con sông hay hồ cố định nào. Tuy nhiên, có một vài suối chảy quanh năm ở Baħrija, l-Imtaħleb, San Martin, và thung lũng Lunzjata ở Gozo. Theo Địa thực vật học, Malta thuộc về khu vực khí hậu Địa Trung Hải. Theo Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên, lãnh thổ Malta thuộc về vùng rừng và cây bụi Địa Trung Hải. === Những hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo và không có người ở === === Khí hậu === Malta có khí hậu Cận nhiệt Địa Trung Hải, với mùa đông không quá lạnh, mùa hè ấm nóng. Mưa nhiều vào mùa đông, mùa hạ nói chung khô hạn. Nhiệt độ trung bình năm là 22–23 °C (72–73 °F) vào ban ngày và 15 °C (59 °F) vào ban đêm. Vào tháng lạnh nhất – tháng 1 – Nhiệt độ nằm trong khoảng 12 đến 20 °C (54 đến 68 °F) ban ngày và 7 đến 12 °C (45 đến 54 °F) ban đêm. Tháng nóng nhất là tháng 8, nhiệt độ nằm trong khoảng 28 đến 34 °C (82 đến 93 °F) ban ngày và 19 đến 24 °C (66 đến 75 °F) ban đêm. Nhìn chung mùa hè kéo dài 8 tháng, bắt đầu từ khoảng giữa tháng tư 19–23 °C (66–73 °F) vào ban ngày và 13–14 °C (55–57 °F) vào ban đêm, kết thúc vào tháng 11 với nhiệt độ khoảng 17–23 °C (63–73 °F) ban ngày và 11–20 °C (52–68 °F) ban đêm, mặc dù vậy, trong bốn tháng còn lại, nhiệt độ cũng có khi lên đến 20 °C (68 °F). Trong tất cả các thủ đô ở châu Âu, Valletta -thủ đô của Malta có mùa đông ấm nhất, với nhiệt độ trung bình khoảng 15–16 °C (59–61 °F) ban ngày và 9–10 °C (48–50 °F) ban đêm trong khoảng từ tháng Một đến tháng Hai. Vào tháng Ba và tháng 11, nhiệt độ trung bình khoảng 17 °C (63 °F) vào ban ngày và 11 °C (52 °F) ban đêm. Rất hiếm những biến động đột ngột về nhiệt độ. Malta cũng là một trong số ít những nước châu Âu "xanh quanh năm". Nhiệt độ trung bình năm của nước biển vào khoảng 20 °C (68 °F) (cao nhất ở châu Âu), từ 16 °C (61 °F) vào tháng 1 đến 26 °C (79 °F) vào tháng 8.Trong cả 6 tháng – từ tháng 6 đến tháng 11 – nhiệt độ trung bình của nước biển lên đến 21 °C (70 °F). Khoảng 3000 giờ nắng mỗi năm (cao hàng đầu châu Âu), từ trung bình trên 5 giờ mỗi ngày vàng tháng 12 đến trên 12 giờ vào tháng 6. tức là khoảng gấp đôi so với thành phố nằm ở phía bắc của châu Âu Luân Đôn – 1,461, chênh lệch này còn lớn hơn vào mùa đông, London chỉ có 37 giờ nắng trong khi khi Malta có 155 đến 167 giờ nắng vào tháng 12. == Lịch sử == Do có vị trí chiến lược quan trọng nên hòn đảo này từ xưa bị người Phoenicia, đến người Hy Lạp, người Carthage và người La Mã tranh giành quyền thống trị. Khoảng năm 58, trong một tai nạn đắm tàu gần đảo Malta, Thánh Phaolô đã lưu lại và rao giảng Phúc âm trên đảo này. Năm 870, Malta rơi vào tay người Ả Rập. Bá tước Roger I chinh phục Malta năm 1090, từ đây số phận của đảo này gắn liền với lịch sử của vương quốc Sicilia cho đến thế kỉ 16. Năm 1530, Charles Quint giao lại đảo này cho dòng Hiệp sĩ Cứu tế, nơi đây trở thành căn cứ quân sự chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ. Malta bị Napoléon Bonaparte chiếm giữ năm 1798. Người Anh giành lại đảo này sau hai năm vây hãm. Malta trở thành thuộc địa và là căn cứ quân sự của thực dân Anh từ năm 1813. Trong Chiến tranh thế giới thứ II, Malta giữ một vai trò quan trọng trong cuộc chiến ở Địa Trung Hải (1940-1943), trở thành đảo quốc độc lập và là nước thành viên trong Khối Liên hiệp Anh năm 1964. Năm 1972, Malta đã thỏa thuận với Anh việc đóng cửa các căn cứ Anh trên đảo, việc ký kết có hiệu lực năm 1979. Malta tuyên bố là nước cộng hòa năm 1974. Sau khi kết thúc liên minh với Anh, Malta tìm cách đảm bảo chính sách trung lập của mình thông qua các thỏa thuận với các nước khác. Malta gia nhập Liên minh châu Âu từ năm 2004. == Chính trị == Theo chế độ cộng hòa, đứng đầu Nhà nước là Tổng thống (nhiệm kỳ 5 năm). Quốc hội gồm 1 Viện với 65 ghế (nhiệm kỳ 5 năm). Theo Hiến pháp Malta, Tổng thống được các Nghị sĩ bầu với nhiệm kỳ 5 năm. Dựa trên kết quả bầu cử, lãnh đạo đảng nào hoặc lãnh đạo liên minh đảng nào được đa số phiếu sẽ được chỉ định làm thủ tướng. Theo kết quả cuộc bầu cử tháng 3 năm 2004, Tổng thống Eddie Fenech Adami được 33/65 phiếu. === Đối ngoại === Là một nước nhỏ nên Malta chọn lọc trong việc chọn đối tác quan hệ. Do lịch sử, Malta có quan hệ khá chặt chẽ với Anh. Malta ưu tiên chính phát triển quan hệ với các nước thành viên EU, bên cạnh đó, Malta cũng chú trọng mở rộng quan hệ với các nước láng giềng trong khu vực Địa Trung Hải và Bắc Phi; các nước lớn ở Trung Âu và vùng Baltic; và tại Châu Á là Trung Quốc. Năm 2004, Malta gia nhập khối EU. Malta còn là thành viên của Liên Hiệp Quốc (1 tháng 12 năm 1964) ==== Chính sách quốc tịch ==== Với mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế, Malta đưa ra nhiều chính sách phát triển kinh tế, trong đó Chương trình Nhà đầu tư Cá nhân của Malta (IIP) được giới thiệu vào đầu năm 2014, cho phép cấp quốc tịch cho các cá nhân và gia đình giàu có trên thế giới tại Malta. Những người muốn hay được cấp hộ chiếu Malta phải giàu có để đáp ứng chính sách đầu tư của chính phủ Malta qua hình thức đầu tư trực tiếp bằng tiền, mua trái phiếu, mua bất động sản theo Chương trình nhà đầu tư cá nhân của Malta. Ví như, nếu mua trái phiếu chính phủ Malta hoặc các dạng trái phiếu được chính quyền công nhận, nhà đầu tư cần bỏ ra ít nhất 150 nghìn euro với cam kết 5 năm trở lên. Chỉ sau khi có bất động sản và được cấp quyền định cư, nhà đầu tư mới được cấp quốc tịch. Ước tính, để có được quốc tịch Malta phải tốn ít nhất là gần 900 nghìn USD. Thủ tục pháp lý của IIP khá nhanh gọn. Nếu Việt Nam phải mất 5 năm sinh sống kể từ thời điểm xin nhập tịch thì tại Malta chỉ cần 12 tháng. Thậm chí, nếu đã đáp ứng được các yêu cầu cư trú của Malta theo tiêu chuẩn IIP, khoảng thời gian được công nhận quốc tịch chỉ trong 6 tháng. Theo quy định của pháp luật Malta thì các cá nhân đầu tư để có quốc tịch thứ hai không phải từ bỏ quốc tịch hiện có của họ. Các ứng viên thành công sẽ được cấp quốc tịch ở Malta bằng một Giấy Chứng Nhận Nhập Tịch và có thể được mở rộng cho cả gia đình của họ. Khi một ứng viên được cấp quốc tịch Malta, sẽ trở thành công dân châu Âu, họ được hưởng quyền tự do đi lại tới tất cả 28 quốc gia châu Âu và Thụy Sĩ. Họ được phép thành lập doanh nghiệp ở Malta và được cấp hộ chiếu Malta cho phép họ được miễn thị thực khi đến hơn 160 quốc gia trên toàn thế giới trong đó có cả Mỹ. == Kinh tế == Kinh tế khá đa dạng và thịnh vượng. Vốn đầu tư nước ngoài gia tăng đáng kể từ năm 1987 vào các ngành hàng hải, hàng không, tài chính và văn hóa. Nông nghiệp trồng trọt gồm ngũ cốc và rau quả. Du lịch là một ngành quan trọng. Tính đến năm 2016, GDP của Malta đạt 10.463 USD, đứng thứ 133 thế giới và đứng thứ 42 châu Âu. Đồng tiền: Euro. GDP: 5.4 tỷ USD (2006). Tăng trưởng GDP năm 2006: 2.4%. Thu nhập bình quân đầu người:: 21.000 USD (2006) Lạm phát: 2.6% (2006). Xuất khẩu: 2,4 tỷ USD (2006) với các mặt hàng máy móc và phương tiện vận chuyển. Đối tác xuất khẩu: Singapore, Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Trung Quốc và Ý. Nhập khẩu: 4.0 tỷ USD (2006) chủ yếu là thực phẩm, máy chưa lắp ráp hoàn thiện và các phương tiện vận chuyển. Với vị trí địa lý thuận lợi, Malta có tài nguyên thiên nhiên chính là đá vôi. Malta chỉ sản xuất 20% nhu cầu thực phẩm và thiếu nguồn nước ngọt. Nền kinh tế Malta dựa chủ yếu vào trao đổi thương mại nước ngoài, du lịch, sản xuất đồ điện tử và dệt may, đóng và sửa chữa thuyền. Dịch vụ chiếm 74% tổng sản phẩm xã hội. Công nghiệp chiếm 23% bao gồm các mặt hàng máy móc, sản xuất và sửa chữa tàu thuyền, thực phẩm, giày dép và quần áo... Nông nghiệp chiếm 3%. Lực lượng lao động: 164.000 người (2006). Tỷ lệ thất nghiệp: 6,8% (2006). == Tôn giáo == Công giáo Rôma là quốc giáo ở Malta bởi quốc đảo này theo truyền thuyết đã có một lịch sử lâu dài 2000 năm gắn bó với Kitô giáo, kể từ vụ đắm tàu của Tông đồ Phaolô vào khoảng năm 60 Công Nguyên. Theo Văn phòng Thống Kê Trung ương của Tòa Thánh Vatican cuối năm 2008, Malta chỉ có 443,000 dân, trong đó có 418,000 (tức 94.4%) là tín hữu Công giáo Rôma chiếm 97% dân số. Malta có hai giáo phận và 85 giáo xứ với 9 Giám mục, 853 linh mục, 1.143 tu sĩ, 1.231 giáo lý viên, 269 tiểu chủng sinh và 91 đại chủng sinh. Có 17.786 học sinh tham dự ở 80 trung tâm giáo dục Công giáo, từ mẫu giáo tới đại học. Các hoạt động bác ái xã hội do Công giáo điều hành bao gồm 24 nhà chăm sóc cho người tàn tật và già yếu, 26 viện mồ côi và nhà trẻ, 9 trung tâm tham vấn về gia đình và phò sự sống, 24 trung tâm giáo dục và phục hồi, và 4 tổ chức các loại khác. Ngoài ra Malta còn 1% Kitô hữu ngoài Công giáo bao gồm Chính Thống giáo và Tin Lành; 1% theo Hồi giáo và 1% không theo đạo nào. == Văn hóa == == Tham khảo == Government Gov.mt – Maltese Government official site Laws of Malta – A summary of principal laws and glossary of terms. Chief of State and Cabinet Members The Maltese Armed Forces official website Malta Environment and Planning Authority's GIS Map Server which includes place names and street's layout and names General information Mục “Malta” trên trang của CIA World Factbook. Malta from UCB Libraries GovPubs Malta tại DMOZ Wikimedia Atlas của Malta, có một số bản đồ liên quan đến Malta. News media The Times of Malta Travel Official Maltese Tourism website Malta Travel Guide Malta Travel Guide Economy The Tax System in Malta – Malta’s Taxes At a Glance
giải quần vợt marseille mở rộng 2017.txt
Giải quần vợt Marseille Mở rộng 2017 là giải quần vợt chuyên nghiệp nam chơi ở sân cứng trong nhà. Nó là lấn thứ 24 tổ chứcOpen 13, và 1 phần của ATP World Tour 250 thuộc ATP World Tour 2017. Nó đã diễn ta tại Palais des Sports ở Marseille, Pháp, từ ngày 20 tháng 2 đến ngày 26 tháng 2 năm 2017. == Vận động viên Đơn == === Hạt giống === Bảng xếp hạng ngày 13 tháng 2 năm 2017. === Vận độn viên khác === WIldcard: Julien Benneteau Denis Shapovalov Stefanos Tsitsipas Vượt qua vòng loại: Evgeny Donskoy Norbert Gombos Andrey Rublev Sergiy Stakhovsky === Bỏ cuộc === Trước giải đấu Grigor Dimitrov →replaced by Jérémy Chardy Mischa Zverev →replaced by Paul-Henri Mathieu == Vận động viên Đôi == === Hạt giống === 1 Bảng xếp hạng ngày 13 tháng 2 năm 2017. === Vận động viên khác === Wildcard (Đặc cách): Nick Kyrgios / Matt Reid Lucas Miedler / Maximilian Neuchrist Các cặp sau đây nhận được mục nhập thay thế: Maxime Chazal / David Guez == Nhà vô địch == === Đơn === Jo-Wilfried Tsonga def. Lucas Pouille, 6–4, 6–4 === Đôi === Julien Benneteau / Nicolas Mahut def. Robin Haase / Dominic Inglot, 6–4, 6–7(9–11), [10–5] == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Official website Bản mẫu:Marseille Open tournaments
danh sách giải bóng đá vô địch thế giới.txt
Giải bóng đá vô địch thế giới được FIFA bắt đầu tổ chức từ năm 1930. Ngoại trừ 2 năm 1942 và 1946 bị gián đoạn bởi Chiến tranh thế giới thứ hai, cứ 4 năm 1 lần, các đội tuyển bóng đá quốc gia lại quy tụ tại vòng chung kết, cùng thi đấu để tìm ra nhà vô địch mới. Tính tới năm 2014, đã có 20 Giải bóng đá vô địch thế giới được tổ chức, trong đó 10 giải tại châu Âu, 8 giải tại châu Mỹ, 1 giải tại châu Á và 1 giải tại châu Phi. Trong lịch sử, đã có 4 quốc gia từng hai lần đăng cai Giải bóng đá vô địch thế giới là Ý, Pháp, México và Brasil. Cùng với thời gian, số đội bóng tham dự vòng chung kết dần tăng lên, từ 13 đội năm 1930 lên 24 đội năm 1982 và 32 đội từ năm 1998. Brasil là đội bóng duy nhất góp mặt ở tất cả các vòng chung kết từng được tổ chức. Từ năm 1930 đến nay, 77 đội tuyển đã tham dự vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới, và trong số đó chỉ có 8 đội tuyển từng giành ngôi cao nhất. Có 6 đội tuyển bước lên vinh quang trong những giải đấu tổ chức tại quốc gia của mình, gồm Uruguay, Ý, Anh, Tây Đức, Argentina và Pháp. Đội tuyển giàu thành tích nhất tại Giải vô địch bóng đá thế giới là Brasil với 5 cúp vô địch và 2 lần đoạt huy chương bạc. Tiếp theo Brasil là đội tuyển Đức với 4 lần vô địch và 4 lần đạt vị trí á quân, Ý với 4 lần vô địch và 2 lần đạt vị trí á quân. Với trận thắng 1–0 trước Argentina tại trận chung kết năm 2014, đội tuyển Đức hiện nay là nhà đương kim vô địch của Giải vô địch bóng đá thế giới. == Danh sách == == Tham khảo == == Xem thêm == Các giải thưởng của Giải vô địch bóng đá thế giới Danh sách trận chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới == Liên kết ngoài == Trang chính thức của Liên đoàn Bóng đá Thế giới.
pascal (đơn vị).txt
Để đọc về các sử dụng khác, xem Pascal (định hướng). Pascal (ký hiệu Pa) là đơn vị đo áp suất trong hệ đo lường quốc tế (SI). Nó là một đơn vị dẫn xuất trong SI nghĩa là nó được suy ra từ việc các đơn vị cơ bản. 1 Pa = 1 N/m² Đơn vị đo lực(N) trong SI cũng là một đơn vị dẫn xuất nên quy về đơn vị cơ bản của SI là: 1 Pa = 1 N/m² = 0,981kg/m s-2 Ký hiệu Pa còn dùng để chỉ sức căng, độ dẻo, và sức giãn. Đơn vị này được đặt theo tên của Blaise Pascal, nhà toán lý học và nhà triết học nổi tiếng người Pháp. == Định nghĩa == 1 pascal là áp suất tạo ra được từ áp lực 1 niutơn tác dụng lên bề mặt có diện tích 1 mét vuông. 1 Pa = 1 N/m² == Hệ thống SI == ==== Các tiền tố kết hợp với đơn vị pascal ==== ==== Bảng chuyền đổi giá trị giữa các ước số-bội số khác nhau ==== == So sánh với các đơn vị áp suất khác == Ví dụ: 1 Pa = 1 N/m2 = 10−5 bar = 10,197×10−6 at = 9,8692×10−6 atm, vân vân.Ghi chú: mmHg là viết tắt của milimét thủy ngân. == Tham khảo ==
đồ chơi.txt
Đồ chơi là những đồ vật được chơi bởi trẻ em và thú cưng trong các hoạt động giải trí. Chúng thường là những đồ vật, thú vật thu nhỏ, được tạo dáng đơn giản và có màu sắc hấp dẫn. Đồ chơi có những nét tiêu biểu dưới dạng khái quát, bảo đảm tái tạo các hoạt động tương ứng của đồ vật, thú vật. Ví dụ đồ chơi xe ô tô có thể chạy, đồ chơi búp bê có hình dạng giống con người. Những dân tộc, những nền văn hóa hay các thời kỳ khác nhau hình thành các đồ chơi khác nhau. Trong việc khảo cổ, người ta tìm thấy từ thời tiền sử con người đã làm ra các đồ chơi, đơn giản như mô hình nhà, thú vật bằng đất nung, búp bê trẻ sơ sinh, chiến binh cũng như các công cụ được sử dụng bởi người lớn. Những đồ chơi này được tìm thấy ở các khu vực nghiên cứu khảo cổ học. Nguồn gốc của từ "đồ chơi" chưa được khám phá, nhưng người ta cho rằng từ này có từ thế kỷ thứ 14. Đồ chơi không chỉ là thứ để trẻ em giải trí. Nó còn mang tính giáo dục và do đó ảnh hưởng tới sự hình thành tính cách của trẻ nhỏ. Những đồ chơi ngày nay rất đa dạng. Nhiều công ty đồ chơi lớn còn có những phòng thí nghiệm riêng, nghiên cứu sở thích của trẻ em, sự ảnh hưởng của đồ chơi với trẻ em. Khoa học giáo dục coi đồ chơi là một phương tiện quan trọng trong việc giáo dục trẻ em. == Lịch sử == Đa số trẻ em có thể chơi với bất cứ thứ gì chúng tìm thấy như quả thông hay đá. Đồ chơi và trò chơi được khai quật từ các khu vực nền văn minh cổ đại. Đồ chơi được ghi chép lại trong các văn tự cổ. Một số đồ chơi được khai quật từ nền văn minh lưu vực sông Ấn (3000-1500 TCN) bao gồm các xe thồ nhỏ, cái còi có hình giống chim, đồ chơi con khỉ trượt trên dây. Những đồ chơi sớm nhất làm từ các vật liệu trong tự nhiên, chẳng hạn như đá, khúc củi hay đất sét. Hàng nghìn năm trước, trẻ em Ai Cập cổ đại chơi búp bê có tóc giả và chân tay làm từ đá, gốm và gỗ. Tại Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại, trẻ em chơi búp bê làm bằng sáp hay terracotta, khúc củi nhỏ, cung, và yo-yo. Khi trẻ em Hy Lạp, đặc biệt là bé gái đến tuổi nghi lễ (trưởng thành) thì phải dâng hiến đồ chơi cho các vị thần. Vào đêm trước đám cưới, các cô gái trẻ khoảng 14 tuổi sẽ mang những con búp bê của mình đến một ngôi đền như là một nghi thức cho tuổi trưởng thành. Trò chơi câu đố cơ học cổ nhất cũng có từ Hy Lạp và xuất hiện ở thế kỷ thứ 3 TCN. Trò chơi bao gồm một ô vuông chia thành 14 phần, mục đích là tạo các hình dạng khác nhau từ các phần này. Ở Iran, "puzzle-lock" được tạo ra vào đầu thế kỷ 17. == Trò chơi dùng cho động vật == Không có ngạc nhiên khi một số loài động vật chơi đồ chơi. Ví dụ cá heo được huấn luyện để di chuyển quả bóng thông qua cái vòng trên không. Các con tinh tinh non có thể dùng khúc củi như là món đồ chơi - khía cạnh xã hội cho thấy con cái thường dùng đồ chơi này nhiều hơn con đực. Một số con chó thích chơi với đĩa bay, chủ của nó sẽ quăng đĩa bay ra thật ra, chúng chạy đuổi theo đĩa bay và nhặt mang về cho chủ. == Tham khảo == == Xem thêm == Kline, Stephen (1995). Out of the Garden: Toys, TV, and Children's Culture in the Age of Marketing. Verso Books. ISBN 1-85984-059-0. P. Rampini, Enciclopedia Auto-giocattolo 1890-1940, Edizioni P.R. 1985 Walsh, Tim (2005). Timeless Toys: Classic Toys and the Playmakers Who Created Them. Andrews McMeel Publishing. ISBN 0-7407-5571-4. Wulffson, Don L. Toys!. Henry Holt and Company. ISBN 0-8050-6196-7.
foot.txt
Một foot (phát âm gần như giọng miền Bắc phút), số nhiều là feet hay foot; ký hiệu là ft hoặc, đôi khi, ′ – dấu phẩy trên đầu, tiếng Việt có khi dịch là bộ là một đơn vị chiều dài, trong một số hệ thống khác nhau, bao gồm Hệ đo lường Anh (Imperial unit) và Hệ đo lường Mỹ (US customary unit). Chiều dài mà nó mô tả có thể khác nhau theo từng hệ thống, nhưng nó đều khoảng từ một phần tư đến một phần ba của mét. Đơn vị foot sử dụng phổ biến nhất ngày nay là foot quốc tế. Có 3 feet trong một yard và 12 inch trong một foot. == Định nghĩa == === Foot quốc tế === Vào năm 1958 Hoa Kỳ và các nước trong Khối Thịnh vượng chung Anh đã định nghĩa chiều dài của yard quốc tế là 0,9144 mét. Do đó, foot quốc tế được định nghĩa là bằng với 0,3048 mét (tương đương với 304,8 milimét). Ký hiệu chuẩn quốc tế của foot là "ft" (xem ISO 31-1, Phụ lục A). Trong một số trường hợp, foot đượcòn được biểu thị với một dấu phết (dấu phẩy trên), tương tự như một dấu lược, và inch với một dấu phết kép. Ví dụ, 5 feet 2 inch ký hiệu thành 5'2″. Cách sử dụng này có thể gây nên nhầm lẫn, vì dấu ' và dấu " cũng là ký hiệu chuẩn quốc tế cho phút góc và giây góc. === Foot đo đạc của Hoa Kỳ === Foot đo đạc của Hoa Kỳ được định nghĩa chính xác là 1200/3937 mét, xấp xỉ 0,30480061 m. Nó chỉ được dùng với những đo đạc dùng trong các đo đạc của Cơ quan Đo đạc Đất và Bờ biển Hoa Kỳ. Nó lớn hơn foot quốc tế 610 nm. Foot đo đạc Hoa Kỳ được dùng bởi những nhà đo đạc đất đai và những người chuyên vẽ bản đồ cho dự án và bản đồ. Mỗi bang có quy định về loại foot nào được dùng trong đo đạc ở bang đó. Sự khác nhau là rất đáng chú ý khi chuyển đổi tọa độ trên Hệ thống Tọa độ Phẳng của bang đó. == Nguồn gốc lịch sử == Đơn vị foot được dùng trong đo đạc được sử dụng trong hầu như tất cả các nền văn hóa và thường được chia thành 12, đôi khi là 10 inch/ngón cái hoặc thành 16 finger/ngón tay. Foot tiêu chuẩn đầu tiên được biết đến là từ nền văn minh Sumer, khi đó định nghĩa về foot được ghi trên một bức tượng vua Gudea của thành Lagash vào khoảng năm 2575 TCN. Một số nhà khoa học suy đoán rằng foot của Đế quốc Anh dựa vào một đơn vị đo của Ai Cập qua người Hy Lạp, và sau đó một foot lớn hơn được dùng bởi người La Mã. Nhiều người tin rằng chuẩn gốc của foot là chiều dài của một bàn chân người (trong tiếng Anh foot là "bàn chân"). Điều này có vẻ đúng, nhưng khi những nhà cầm quyền địa phương và những nhà cai trị quốc gia bắt đầu đo đạc và định nghĩa sự đo lường, chẳng có bàn chân của người nào có thể được dùng làm gốc. Trong những vùng nông nghiệp và không có thước đo chuẩn, nhiều đơn vị đo lường thực sự dựa vào chiều dài của một bộ phận nào đó của con người (hoặc như số diện tích cày được một ngày). Theo ý nghĩa đó, bàn chân người chính là nguồn gốc của đơn vị đo lường gọi là "foot" và cũng là định nghĩa chiều dài trong một thời gian dài. Để tránh xích mích và phục vụ thông thương, nhiều làng đã quyết định chọn chiều dài chuẩn và thông báo rộng rãi cho mọi người. Để có thể sử dụng đồng thời nhiều đơn vị chiều dài khác nhau dựa trên những bộ phận khác nhau của cơ thể người và đơn vị "tự nhiên" khác, những đơn vị khác nhau đã được định nghĩa lại thành bội số của nhau, từ đó các chiều dài không còn tương ứng với các tiêu chuẩn "tự nhiên" gốc nữa. Tiến trình tiêu chuẩn hóa quốc gia bắt đầu ở Scotland vào năm 1150 và ở Anh vào năm 1303, nhưng nhiều tiêu chuẩn địa phương khác đã tồn tại ở cả hai nước này từ rất lâu trước đó. Có người tin rằng sự đo lường một foot Anh bắt nguồn từ vua Henri I của Anh, người có bàn chân dài 12 inch, và mong muốn chuẩn hóa đơn vị đo lường ở Anh. Tuy nhiên điều này có vẻ không đúng, vì có những ghi chép về những từ ngữ đã được sử dụng khoảng 70 năm trước khi ông ra đời (Laws Æthelstan). Nó dĩ nhiên không loại trừ khả năng tiêu chuẩn cũ này đã được định nghĩa lại ("định cỡ") theo bàn chân của người cai trị. Thực ra, có bằng chứng rằng kiểu quy trình này là khá phổ biến vào thời xa xưa. Nói cách khác, một ông vua mới có thể cố gắng áp đặt một tiêu chuẩn mới cho một đơn vị đã tồn tại, nhưng chẳng phải chân của ông vua nào cũng dài bằng với đơn vị đo ngày nay. Chiều dài một bàn chân trung bình vào khoảng 9,4 inch (240 mm) đối với người Âu Châu hiện nay. Khoảng 99,6% đàn ông Anh có bàn chân ngắn hơn 12 inch. Đã từng có một nỗ lực để "giải thích" những inch "bị thiếu" là do người ta không đo chân trần, mà đo khi mang giày, do đó có thể thêm vào từ 1 đến 2 inch chiều dài. Nó tương đồng với kiểu đo thường dùng ở những nơi xây dựng, ở đó người ta thường sải bước trong khi mang giày, chứ không bỏ chúng ra mà đi chân không. Tuy nhiên đã có ghi chép về những định nghĩa từ thời xưa về inch dựa trên chiều rộng (không phải chiều dài) của ngón tay cái đã đóng vai trò một chuẩn rất chính xác vào thời đó. Một trong số này dựa trên số đo trung bình từ ba người đàn ông có kích cỡ khác nhau, do đó tạo nên một độ chính xác và đồng nhất đáng ngạc nhiên trên khắp đất nước mà không cần phải có một nhà thống trị nào ra tay. Nó cho thấy ít nhất là từ thế kỷ 12 chiều dài chính xác của một foot thực sự dựa trên inch, không còn có giải thích nào khác. Vì chiều dài này khá gần với chiều dài của phần lớn bàn chân, có cả giày, nên cho phép việc sử dụng những đôi giày để đo khi không có dụng cụ đo chính xác. Kiểu đo không chính xác này sẽ tăng thêm độ sai lệch khi dùng với các bội số của nó, do đó nó không bao giờ được dùng trong đo đạc và xây dựng những công trình phức tạp hơn. == Xem thêm == Đơn vị đo lường Lịch sử đo lường Hệ thống đo lường Khối lượng và đo lường Hệ đo lường Anh Hệ đo lường Mỹ Hệ đo lường quốc tế == Tham khảo == == Liên kết ngoài == http://www.knowledgedoor.com/1/Library_of_Units_and_Constants/Group_Index/foot_group.htm
chiyoda, tokyo.txt
Chiyoda (千代田区, Chiyoda-ku, Thiên Đại Điền) là một trong 23 khu đặc biệt của Tōkyō. Khu này nổi tiếng với Hoàng cung, nơi sống của gia đình Nhật hoàng, và các tòa nhà chính quyền trung ương Nhật Bản như Quốc hội, Tòa án tối cao, tư dinh của Thủ tướng Nhật Bản. Nơi đây còn có đền Yasukuni, nhà ga Tōkyō và Nippon Budōkan - nơi nghiên cứu và huấn luyện các môn võ cổ truyền của Nhật Bản. Ở đây còn có 15 văn phòng đại sứ quán các nước. Song, nơi được nhiều người lui tới nhất ở Chiyoda chính là Khu phố điện tử Akihabara. Chiyoda được phục vụ bởi các tuyến đường sắt: Shinkansen: ga Tokyo Yamanote: các ga Tokyo, Kanda và Akihabara Chuo Honkan: các ga Tokyo, Kanda và Ochanomizu Chuo-Sobu: các ga Tokyo, Kanda, Akihabara, Ochanomizu, Suidobashi, Iidabashi, Ichigaya Keihin Tohoku]: các ga Yurakucho, Tokyo, Kanda và Akihabara Keiyou: ga Tokyo Toukaido và Yokosuka: ga Tokyo Hệ thống tàu điện ngầm Tōkyō == Các điểm tham quan lịch sử == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Chiyoda (tiếng Anh)
khủng hoảng tài chính châu á 1997.txt
Khủng hoảng tài chính châu Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là "những con Hổ Đông Á". Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Khủng hoảng tiền tệ châu Á. Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này. Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình. Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng. Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thân mình. Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ. == Nguyên nhân == === Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém === Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn). Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ. Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát. Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình trung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế. Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau năm 1987. Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng. Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro. Năm 1994, nhà kinh tế Paul Krugman của trường đại học Princeton, (lúc đó còn ở MIT), cho đăng bài báo tấn công ý tưởng về "thần kỳ kinh tế Đông Á". Ông ta cho rằng: Sự tăng trưởng kinh tế của Đông Á, trong quá khứ, là do kết quả của đầu tư theo hình thức tư bản, dẫn tới sự tăng năng suất lao động. Trong khi đó, năng suất tổng nhân tố lại chỉ được nâng lên ở một mức độ rất nhỏ, hoặc hầu như giữ nguyên. Krugman cho rằng việc chỉ tăng trưởng năng suất tổng nhân tố không thôi, mà không cần đầu tư vốn, đã có thể mang lại sự thịnh vượng dài hạn. Krugman có thể được nhiều người coi như một nhà tiên tri sau khi khủng hoảng tài chính lan rộng, tuy nhiên chính ông ta cũng đã từng phát biểu rằng ông ta không dự đoán cơn khủng hoảng hoặc nhìn trước được chiều sâu của nó. === Các dòng vốn nước ngoài kéo vào === Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức. Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển. Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á. Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bất chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro. (Hiện tượng thông tin phi đối xứng dẫn tới lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.) === Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt === Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á. Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ. Thị trường bất động sản của Thái Lan đã vỡ. Một số thể chế tài chính bị phá sản. Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định. Khi phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á. Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra. Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lý khủng hoảng yếu kém. Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ các nước châu Á phải lập tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nối cạn kiệt cả dự trữ ngoại hối nhà nước mà lại càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài. Ngoại trưởng 9 nước ASEAN (khi đó chưa có Campuchia) lúc đó tin rằng, việc liên kết các hệ thống tiền tệ chặt chẽ là một nỗ lực thận trọng nhằm củng cố vững chắc các nền kinh tế ASEAN. Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 30 diễn ra tại Subang Jaya, Malaysia đã thông quan một Tuyên bố chung vào ngày 25 tháng 7 năm 1997 nêu rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goi các nước ASEAN cần hợp tác chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ và tăng cường lợi ích của ASEAN trong giai đoạn này. Ngẫu nhiên là trong cùng ngày này, các Ngân hàng Trung ương của hầu hết các nước chịu tác động của khủng hoảng đã gặp nhau tại Thượng Hải trong Hội nghị cấp cao Đông Á Thái Bình dương EMEAP, và thất bại trong việc đưa ra một biện pháp Dàn xếp cho vay mới. Trước đó một năm, Bộ trưởng Tài chính của các nước này cũng đã tham dự Hội nghị Bộ trưởng Tài chínhAPEC lần thứ 3 tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày 17 tháng 3 năm 1996, và theo như Tuyên bố chung, các bên đã không thể nhân đôi được Quỹ tài chính phục vụ cho Hiệp định chung về cho vay và Cơ chế Tài chính trong tình trạng khẩn cấp. Vì vậy, cuộc khủng hoảng có thể xem như một thất bại trong việc xây dựng năng lực phù hợp kịp thời, thất bại trong việc ngăn chặn sự lôi kéo tiền tệ. Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng. .. == Diễn biến == === Thái Lan === Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 9%. Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu. Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh. Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi. Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn. Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vào ngày 2 tháng 7. Baht ngay lập tức mất giá gần 50%. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản. Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan. Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar. === Philippines === Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24%. Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng. Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các vụ bê bối của tổng thống Joseph Estrada. Do khủng hoảng chính trị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997. Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá. Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm tổng thống. === Hong Kong === Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ. Đồng tiền này vốn được neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ. Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công. Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó tương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình. Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ. Từ ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ số Hang Seng đã giảm 23%. Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500%. Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắt đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áp lực giảm giá cổ phiếu. Cơ quan này và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính và sau này làm Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong, đã công khai tuyên chiến với giới đầu cơ. Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar Hong Kong (tương đương 15 tỷ Dollar Mỹ) các loại chứng khoán. Sau này, vào năm 2001, chính quyền đã bán ra số chứng khoáng này và thu lời khoảng 30 tỷ Dollar Hong Kong (khoảng 4 tỷ Dollar Mỹ). Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứng khoán của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủ Malaysia và bởi sự sụp đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga. Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở mức 7,8: 1. === Hàn Quốc === Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ. Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài. Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra. Khi thị trường châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn. Ngày 28 tháng 11 năm 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2. Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá. Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4%. Ngày 24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ. Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD. === Malaysia === Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh. Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar. Phần lớn sức ép giảm giá đối với Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước ngoài. Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sử giảm giá của đồng Ringgit trong tương lai. Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài. Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997. === Indonesia === Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ từ 8% lên 12%. Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn. Đồng Rupiah liên tục mất giá. IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu Dollar Mỹ ở Indonesia tăng vọt. Tháng 9, cả giá Rupiah lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử. Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên. Trước tình hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiến cho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt. Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF khiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng lên. Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát. Riêng ở Jakarta đã có tới 500 người bị chết do bạo động. Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội đã dẫn tới khủng hoảng chính trị. Giữa năm 1998, Suharto buộc phải từ chức tổng thống. Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar vào khoảng 2000: 1. Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000: 1. Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiều nhân tố khác, GDP theo Dollar Mỹ của Indonesia đã giảm đi. == Hậu quả == Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998. Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan. Khủng hoảng kinh tế còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto ở Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan. Tâm lý chống phương Tây gia tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào George Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Các phòng trào Hồi giáo và ly khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu. Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng, đó là GDP và GNP bình quân đầu người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi. Nội tệ mất giá là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này. Cuốn CIA World Fact Book cho biết thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ mức 8.800 USD năm 1997 xuống còn 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ 4.600 USD xuống 3.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống 10.400 USD. Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phần dẫn tới khủng hoảng tài chính Nga và khủng hoảng tài chính Brasil. Một số nước không bị khủng hoảng, nhưng kinh tế cũng chịu ảnh hưởng xấu do xuất khẩu giảm và do FDI vào giảm. == Ý nghĩa == Khủng hoảng tài chính Đông Á làm người ta nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải có một hệ thống tài chính - ngân hàng vững mạnh, minh bạch. Điều này thôi thúc Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế đổi mới các quy chế về ngân hàng và các tổ chức tín dụng nói chung. Chính phủ nhiều nước đang phát triển cho rằng các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và vốn vay ngân hàng nước ngoài có thể đem lại những tác động bất lợi với nền kinh tế của họ. Do đó, nhiều chính phủ đã ban hành những quy chế nhằm điều tiết các dòng vốn này. Bên cạnh đó, những thỏa thuận ở cấp khu vực nhằm phát triển một hệ thống phòng ngừa khủng hoảng tái diễn đã được thúc đẩy ở châu Á, ví dụ như Sáng kiến Chiang Mai, Tiến trình Đánh giá và Đối thoại Kinh tế ASEAN+3, Sáng kiến Thị trường Trái phiếu châu Á,... Về mặt học thuật, các nhà nghiên cứu kinh tế đã nhận thấy sự hạn chế của các mô hình lý luận về khủng hoảng tiền tệ trước đây trong việc giải thích nguồn gốc và sự lây lan của khủng hoảng tài chính Đông Á. Đã có nhiều nỗ lực nhằm đưa ra một mô hình mới về khủng hoảng tiền tệ, chẳng hạn như mô hình phương pháp tiếp cận bảng cân đối tài sản, lý thuyết bong bóng, lý thuyết về nguồn gốc khủng hoảng từ chính sách tài chính và chính sách tiền tệ [1][2],... == Các biện pháp khôi phục kinh tế sau khủng hoảng == Để khôi phục nền kinh tế và ngăn ngừa khủng hoảng tái diễn, các nền kinh tế Đông Á bị ảnh hưởng nặng đều tiến hành các cải cách cơ cấu mạnh mẽ, gồm: cải tổ cách thức quản lý trong khu vực doanh nghiệp, cải cách tài chính, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô, và đổi mới cả phương thức tăng trưởng kinh tế. === Đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô === Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã và đang thực thi một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt và cơ chế ổn định giá cả. Cụ thể, các nước từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái neo và hướng tới chế độ mục tiêu lạm phát. Đồng thời, các nước nỗ lực gia tăng lượng dữ trự ngoại hối nhà nước của mình. Từ 1997 đến 2005, năm nước bị ảnh hưởng nặng nhất của khủng hoảng đã tăng lượng dự trữ ngoại hối của mình lên bốn lần, đạt 378 tỷ USD. === Cải cách khu vực tài chính === Các nước Đông Á đã thực thi các biện pháp, chính sách sau để cải cách khu vực tài chính: (1) Xóa và giảm nợ xấu, tái vốn hóa các thể chế tài chính; (2) Đóng cửa các thể chế tài chính đổ vỡ, (3) Tăng cường giám sát và áp dụng các tiêu chuẩn quản trị, kế toán mới đối với các tổ chức tín dụng và tài chính khác; (4) Đẩy mạnh chuyên môn hóa các thể chế tài chính; (5) Tăng cường giám sát và điều tiết các tổ chức tín dụng đồng thời với nâng cao kỷ luật thị trường. Yellen (2007) cho thấy các ngân hàng của Hàn Quốc đã áp dụng phương thức quản trị hiện đại của phương Tây và đã giảm được tỷ lệ sở hữu gia đình tại các ngân hàng, tăng cường lợi ích cho các giám đốc bằng cách cho họ quyền chọn mua cổ phiếu, v.v... Còn các ngân hàng Malaysia đã thay đổi tập quán cho vay của mình. Giờ đây, họ cho các xí nghiệp nhỏ và vừa vay nhiều hơn. === Cải tổ cách thức quản lý của khu vực xí nghiệp === Các nước Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã hoàn thiện các thủ tục về phá sản, nỗ lực tái cơ cấu nợ của các xí nghiệp, củng cố các quy định và tiêu chuẩn về cáo bạch, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ cũng như nâng cao quyền lực và trách nhiệm của ban giám đốc, áp dụng các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán theo thông lệ quốc tế, tăng cường mức vốn tự có của doanh nghiệp và tạo thuận lợi cho các hoạt động mua lại và sáp nhập kể cả với doanh nghiệp trong nước cũng như với doanh nghiệp nước ngoài. === Cải cách các thị trường === Các nước Đông Á đã và đang phát triển thị trường trái phiếu định danh bằng nội tệ của mình. Đồng thời, cải cách thị trường lao động đã cho phép các xí nghiệp tuyển dụng và sa thải lao động dễ dàng hơn, giúp xí nghiệp của các nước Đông Á trở nên linh hoạt hơn. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Michael Pettis, The Volatility Machine: Emerging Economies and the Threat of Financial Collapse Oxford University Press 2001 ISBN 0-19-514330-2 Paul Blustein, The Chastening: Inside the Crisis that Rocked the Global Financial System and Humbled the IMF PublicAffairs 2001 ISBN 1-891620-81-9 Frontline: The Crash, from the PBS series Frontline, unfortunately only the transcript is available and not the episode itself. WGBH's Commanding Heights, additional information in Episode 3 Chapters 11-14. Peter Gowan: The Globalization Gamble Ngian Kee Jin, Coping with the Asian Financial Crisis: The Singapore Experience. http://www.iseas.edu.sg/vr82000.pdf Extracted 13 tháng 12, 2005. Tiwari, Rajnish (2003): Post-crisis Exchange Rate Regimes in Southeast Asia, Seminar Paper, University of Hamburg. (PDF) Kilgour, Andrea, (1999) The changing economic situation in Vietnam: A product of the Asian crisis? (Link) == Xem thêm == Khủng hoảng nợ Mỹ Latinh (đầu thập niên 1980) Khủng hoảng Bảng Anh (1992) Khủng hoảng Peso Mexico (1994) Khủng hoảng tài chính Nga (1998) Khủng hoảng nợ Argentina (1999-2002)
bắc phi.txt
Bắc Phi là khu vực cực Bắc của lục địa châu Phi, ngăn cách với khu vực châu Phi hạ Sahara bởi sa mạc Sahara. Về mặt địa lý, định nghĩa của Liên hiệp quốc về Bắc Phi bao gồm bảy khu vực: Tunisia Algérie Ai Cập Libya Maroc Sudan Tây Sahara Những vùng đất thuộc chủ quyền Tây Ban Nha (plazas de soberanía) nằm ở phía nam Địa Trung Hải và được bao bọc bởi Maroc trên đất liền. Quần đảo Canary thuộc Tây Ban Nha và quần đảo Madeira thuộc Bồ Đào Nha nằm ở phía bắc Đại Tây Dương và tây bắc của lục địa châu Phi đôi khi cũng được tính là thuộc vùng này. Về mặt địa lý, Mauritanie và Açores đôi khi cũng được tính là thuộc Bắc Phi. Khu vực Maghreb bao gồm Tây Sahara, Maroc, Algérie và Libya. Bắc Phi thường được tính trong những định nghĩa phổ thông là cũng thuộc Trung Đông, vì hai vùng Bắc Phi và Trung Đông tạo nên thế giới Ả Rập. Ngoài ra, bán đảo Sinai thuộc Ai Cập nằm ở châu Á, khiến Ai Cập trở thành một quốc gia liên châu lục. Khu vực tranh chấp Tây Sahara hiện thuộc quyền kiểm soát về hành chính của Maroc; nhưng tổ chức ly khai Polisario Front cũng tuyên bố chủ quyền ở khu vực này và đấu tranh để tách vùng Tây Sahara khỏi Maroc. == Địa hình == Dãy núi Atlas, kéo dài từ Maroc sang bắc Algérie và Tunisia, là một phần của hệ thống núi chạy dọc theo khu vực Nam Âu. Các đỉnh núi hạ dần độ cao ở phía nam và phía đông, trở thành vùng bình nguyên trước khi gặp sa mạc Sahara, che phủ hơn 90% diện tích khu vực. Cát của sa mạc Sahara phủ lên một bình nguyên đá hoa cương cổ có tuổi đời hơn bốn tỷ năm. == Con người == Cư dân sống ở Bắc Phi thường được chia theo các khu vực địa lý: vùng Maghreb, vùng thung lũng sông Nil và vùng Sahara. Toàn bộ vùng tây bắc Phi được cho là do người Berber sinh sống kể từ khi có sử thành văn, trong khi vùng đông của Bắc Phi là nơi sinh sống của người Ai Cập, người Abyssin (hay người Ethiopia) và người Nubia (tổ tiên của người Sudan). Sau khi bị người Ả Rập Hồi giáo chinh phục vào thế kỷ 7, vùng này trải qua một quá trình Ả Rập hóa và Hồi giáo hóa có ảnh hưởng lớn đến nền văn hóa của vùng. == Văn hóa == Cư dân ở vùng Maghreb và Sahara nói nhiều thổ ngữ thuộc tiếng Berber và tiếng Ả Rập khác nhau, và gần như toàn bộ theo Hồi giáo. Nhóm ngôn ngữ Berber và nhóm ngôn ngữ Ả Rập có quan hệ xa với nhau, đều là những thành viên của hệ ngôn ngữ Á Âu. Các thổ ngữ ở Sahara ít thay đổi hơn so với những thành phố ven bờ biển. Sau nhiều năm, người Berber chịu ảnh hưởng bởi các nền văn hóa khác mà họ có liên hệ: Nubia, Hy Lạp, Phoenicia, Ai Cập, Ethiopia, La Mã, Vanda, Ả Rập và sau này là châu Âu. Nền văn hóa của vùng Maghreb và Sahara do đó là sự kết hợp giữa văn hóa Berber bản xứ, văn hóa Ả Rập và những yếu tố của các nền văn hóa châu Âu, châu Á và châu Phi lân cận. Ở Sahara, sự khác biệt giữa những cư dân sống ở ốc đảo và dân du mục Bedouin và Tuareg là một trong những điểm nhấn quan trọng của văn hóa vùng. Những chủng người phức tạp ở Sahara thường được phân chia theo chủng tộc và ngôn ngữ. Ở vùng Maghreb, nơi người Ả Rập và người Berber sống trộn lẫn với nhau, sự phân chia này có thể không được rõ ràng. Một số người Bắc Phi nói tiếng Berber có thể được xác định là người Ả rập tùy thuộc vào hoàn cảnh xã hội và chính trị, mặc dù một số lớn người Berber vẫn giữ nguyên những nét văn hóa điển hình của họ trong thế kỷ 20. Những người sống ở vùng tây bắc châu Phi nói tiếng Ả Rập, dù có nguồn gốc thế nào, thường gắn với văn hóa Ả Rập và chia sẻ cái nhìn chung với thế giới Ả Rập. Tuy nhiên, điều này vẫn không ngăn họ giữ nguyên lòng tự hào với phần nguyên gốc Berber trong di sản của mình. Trong khi đó, những nhà hoạt động văn hóa và chính trị của Berber, vẫn xem những người sống ở tây bắc châu Phi về nguyên tắc là người Berber, dù cho họ nói tiếng Berber hay tiếng Ả Rập. Thung lũng sông Nil ở phía bắc Sudan là nơi ra đời của những nên văn minh cổ đại như Ai Cập và Kush. Người Ai Cập qua nhiều thế kỷ đã chuyển đổi ngôn ngữ của họ từ tiếng Ai Cập sang tiếng Ai Cập Ả Rập hiện đại (cả hai đều thuộc hệ ngôn ngữ Á Âu), trong khi vẫn duy trì những bản sắc văn hóa lịch sử vốn đã tách biệt họ hẳn với các nhóm cư dân khác trong vùng. Hầu hết cư dân Ai Cập là những người Hồi giáo Sunni và có một thiểu số khá quan trọng người Thiên chúa giáo Ai Cập có mối quan hệ lịch sử sâu sắc với Chính thống giáo Ethiopia. Ở vùng Nubia, kéo dài từ Ai Cập sang Sudan, phần lớn dân số nói tiếng Nubia cổ, nhưng cũng theo đạo Hồi. Phần phía bắc Sudan chủ yếu gồm cư dân Hồi giáo Ả Rập, nhưng xa hơn về phía nam thung lũng sông Nil, khu vực văn hóa phi Hồi giáo của cư dân Nilotic và Nubia bắt đầu. Sudan là đất nước lớn nhất và đa văn hóa nhất trong tất cả các quốc gia Bắc Phi. Bắc Phi trước đây có một số lượng dân Do Thái khá lớn, rất nhiều người trong số đó di cư sang Pháp hoặc Israel khi các quốc gia Bắc Phi giành được độc lập. Một số nhỏ hơn di cư sang Canada. Trước khi nhà nước Israel hiện đại được thành lập, có khoảng 600.000 đến 700.000 người Do Thái ở Bắc Phi, bao gồm người Sfardīm (những cư dân di cư từ Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha từ thời Phục hưng) cũng như người Do Thái Mizrāhîm bản xứ. Ngày nay, chỉ còn không tới 15.000 người Do Thái trong vùng, hầu hết sống ở Maroc và Tunisia. == Lịch sử == === Thời cổ đại và La Mã === Những quốc gia đáng chú ý nhất trong thời cổ đại ở phía tây Bắc Phi là Carthage và Numidia. Người Carthage có nguồn gốc là người Phoenicia, trong khi các huyền thoại La Mã cho rằng nguồn gốc của người Carthage là nữ hoàng Dido, một công chúa người Phoenicia được một lãnh chúa ở Bắc Phi trao cho vùng đất dựa trên việc cô có thể phủ một tấm da bò rộng bao xa. Dido đã tìm được cách kéo thật mỏng tấm da bò ra để có được một vùng đất rộng lớn. Truyền thuyết cũng kể rằng cô đã bị hoàng tử thành Troja là Aeneas từ chối. Sự kiện này được tin là nguồn gốc lịch sử của mối thù giữa Carthage và La Mã, khi sau đó Aeneas thành lập một đất nước mới tại La Mã. Carthage là một cường quốc về thương mại và có lực lượng hải quân hùng mạnh, nhưng trên đất liền, họ phải dựa vào những lính đánh thuê. Người Carthage đã phát triển một đế chế ở Tây Ban Nha và Sicilia. Việc xâm chiếm Sicilia đã dẫn đến cuộc Chiến tranh Punic lần thứ nhất với Đế chế La Mã. Hơn một trăm năm, vùng đất của Carthage bị La Mã chinh phục, dẫn đến việc vùng Bắc Phi thuộc Carthage trở thành thuộc địa của La Mã ở châu Phi vào năm 146 TCN. Điều này dẫn đến căng thẳng và sau đó là xung đột giữa Numidia và La Mã. Cuộc Chiến tranh Numudia đã bắt đầu sự nghiệp của Marius và Sulla và gây ra một gánh nặng lên nền cộng hòa của La Mã khi Marius yêu cầu phải có một lực lượng quân đội chuyên nghiệp, điều đi ngược lại với các giá trị La Mã trước đó, để có thể đánh bại thủ lĩnh quân sự đối địch đầy tài năng Jugurtha. Bắc Phi tiếp tục là một phần của đế chế La Mã và sản sinh ra những công dân nổi tiếng như Augustus xứ Hippo, cho đến khi đế chế La Mã yếu đi vào đầu thế kỷ 5 cho phép các bộ tộc man rợ Germanic Vandal băng qua eo biển Gibraltor và xâm chiếm vùng Bắc Phi. Việc để mất Bắc Phi là một thất bại nặng nề, một cột mốc quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã vì châu Phi là một thuộc địa quan trọng giúp La Mã duy trì sự thịnh vượng và giàu có để nuôi quân đội. Nhiệm vụ tái chiếm Bắc Phi trở nên trọng yếu với Đế chế Tây La Mã, nhưng lúc này, La Mã đã quá mệt mỏi với những cuộc tấn công của các chủng tộc rợ và mối đe dọa từ phía người Huns. Năm 468, cố gắng cuối cùng của La Mã, với sự giúp đỡ của Đế quốc Đông La Mã, để tái chiếm lại Bắc Phi bị đẩy lùi. Hoàng đế cuối cùng của La Mã bị Ostrogoth lật đổ vào năm 475. Con đường thương mại giữa châu Âu và Bắc Phi bị cắt đứt cho đến khi những người Hồi giáo đến vùng này. === Thời Ả Rập đến nay === Cuộc chinh phục của người Hồi giáo Ả Rập lan đến Bắc Phi vào năm 640. Năm 670, hầu hết Bắc Phi đều nằm dưới sự cai trị của người Hồi giáo. Người Berber bản xứ cũng lập nên những chính thể của mình ở những nơi như Fez, Maroc và Sijilimasa. Trong thế kỷ 11, một phong trào cải cách bao gồm những thành viên tự gọi là Almoravid tiến hành một cuộc thánh chiến chống lại những vương quốc phía nam ở Savanna. Phong trào này thống nhất xung quanh niềm tin vào đạo hồi và tiến dần xuống vùng hạ Sahara. Sau thời Trung cổ, khu vực này nằm dưới sự kiểm soát của Đế quốc Ottoman, trừ Maroc. Sau thế kỷ 19, vùng Bắc Phi trở thành thuộc địa của Pháp, Anh, Tây Ban Nha và Ý. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai từ 1940 đến 1943 khu vực này nằm trong vùng Chiến dịch Bắc Phi. Trong những thập niên 1950 và thập niên 1960, tất cả vùng Bắc Phi lần lượt giành được độc lập. Hiện vẫn còn tranh chấp ở vùng Tây Sahara giữa Maroc và phong trào Polisario Front được Algérie ủng hộ. == Đất và biển == Những thung lũng cách biệt trong dãy núi Atlas, thung lũng và đồng bằng sông Nil cũng như vùng bờ biển Địa Trung Hải và những mảnh đất trồng trọt màu mỡ. Nhiều loại cây trồng khác nhau như các loại ngũ cốc, gạo và cây bông cũng như các cây lấy gỗ như cây tuyết tùng. Những loại cây trồng điển hình của vùng Địa Trung Hải như cây olive, chà là và các loại cam quýt cũng rất phát triển trong vùng. Thung lũng sông Nil hết sức màu mỡ và hầu hết cư dân Ai Cập sống dọc theo dòng sông. Ở những vùng khác, công tác thủy lợi là hết sức quan trọng để trồng trọt ở những vùng ven sa mạc. Rất nhiều bộ lạc du mục Bắc Phi, chẳng hạn như người Bedouin, vẫn tiếp tục cuộc sống du mục truyền thống dọc theo vùng ven sa mạc cùng những bầy cừu, dê và lạc đà từ nơi này đến nơi khác, băng qua những biên giới giữa các quốc gia để tìm kiếm những bãi chăn mới. == Giao thông và công nghiệp == Nền kinh tế của Algérie và Lybia đã thay đổi kể từ khi dầu và khí đốt tự nhiên được tìm thấy ở sa mạc. Ngành xuất khẩu lớn nhất của Maroc là phosphate và các sản phẩm nông nghiệp, và ở Ai Cập và Tunisia, du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng nhất. Ai Cập có nhiều khu công nghiệp lớn, nhập khẩu kỹ thuật từ nước ngoài để phát triển các ngành công nghiệp điện tử và chế tạo, đồng thời nổi tiếng là một nhà xuất khẩu bông vải chất lượng cao. Những giếng dầu nằm rải rác ở các vùng sa mạc thuộc Libya và Algérie. Dầu mỏ của Libya đặc biệt có giá vì có hàm lượng lưu huỳnh thấp, đồng nghĩa với việc gây ra ít ô nhiễm hơn so với các loại dầu mỏ thường. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bắc Phi
sơ sinh.txt
Sơ sinh là một chuyên ngành của Nhi Khoa nhằm chăm sóc sức khỏe cho trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ sơ sinh đẻ non hoặc trẻ sơ sinh bị bệnh. Đây là một chuyên ngành thường làm việc tại đơn vị chăm sóc tích cực trẻ sơ sinh (NICU) tại Bệnh viện. Bệnh nhân của các bác sĩ nhi sơ sinh là trẻ sơ sinh (dưới 28 ngày tuổi) bị bệnh hoặc cần chăm sóc y khoa đặc biệt do đẻ non, trọng lượng lúc sinh thấp, chậm phát triển trong tử cung, dị tật bẩm sinh, nhiễm trùng huyết hoặc ngạt lúc sinh. == Lịch sử == Tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh được cộng đồng y tế Anh nhận ra ngay từ những năm 1860. Chăm sóc tích cực sơ sinh hiện đại gần đây tương đối tiến bộ. Năm 1898, Bác sĩ Joseph B. De Lee thiết lập một [lồng ấp] cho trẻ sơ sinh đẻ non đầu tiên tại Chicago, Illinois, Hoa Kỳ. Sách giáo khoa đầu tiên về đẻ non của Hoa Kỳ được xuất bản năm 1922. Năm 1952 Bác sĩ Virginia Apgar mô tả hệ thống thang điểm Apgar như là một phương tiện đánh giá tình trạng trẻ sơ sinh. Đơn vị chăm sóc tích cực sơ sinh (NICU) đầu tiên tại Hoa Kỳ được khánh thành năm 1965 tại New Haven, Connecticut và năm 1975 Hội Nhi Khoa Hoa kỳ đã cấp Bằng về sơ sinh đầu tiên. Năm 1960 sự xuất hiện máy thở cho sơ sinh đã mang lại bước tiến nhanh chóng trong chăm sóc trẻ sơ sinh. Điều này đã cho phép cứu sống cho trẻ sơ sinh ngày càng nhỏ hơn. Trong những năm 1980, sự phát triển của liệu pháp thay thế surfactant phổi đã cứu sống nhiều hơn nữa những trẻ sơ sinh cực non và giảm bệnh phổi mạn, một trong những biến chứng của trẻ đẻ non sống sót có thở máy. Năm 2006 các trẻ sơ sinh nhỏ đến 450 gram và chỉ mới 22 tuần tuổi thai có thêm cơ hội cứu sống. Tại những đơn vị chăm sóc tích cực trẻ sơ sinh hiện đại, những trẻ có cân nặng 1000 gram và chỉ 27 tuần tuổi thai có khoảng 90% cơ hội sống và đa số có phát triển thần kinh bình thường. == Đào tạo == Bác sĩ sơ sinh là bác sĩ thực hành trong lĩnh vực sơ sinh. Để trở thành một bác sĩ sơ sinh, đầu tiên bác sĩ phải được đào tạo thành một bác sĩ Nhi khoa, sau đó được đào tạo thêm về sơ sinh (3 năm tại Hoa Kỳ). == Tham khảo == Baines, M.A. (1862). "Excessive Infant-Mortality: How Can It Be Stayed? (www.neonatology.org/classics/baines.html#note1)". Truy cập 2007-02-18.# American Acedemy of Pediatrics (2001). "Committee Report: American Pediatrics: Milestones at the Millenium".Pediatrics 107: 1482-1491." Lemmons, J.A., et al (2001). "Very Low Birth Weight Outcomes of the National Institute of Child Health and Human Development Neonatal Research Network, January 1995 Through December 1996". Pediatrics 107(1): 1-8" == Tham khảo ==
durbaniella clarki.txt
Clark’s Rocksitter (Durbaniella clarki) là một loài bướm ngày thuộc họ Bướm xanh. Loài này có ở Nam Phi. Sải cánh dài 18–24 mm đối với con đực và 18–26 mm đối với con cái. Con trưởng thành bay từ tháng 9 đến tháng 12. Có một lứa một năm. Ấu trùng ăn Cyanobacteria species. == Phụ loài == Durbaniella clarki clarki (West Cape from Langeberg along Swartberg to Kammanassieberg, Schoemanspoort và along Witteberge to Willowmore) Durbaniella clarki belladonna Ball, 1994 (low altitude rocky riverbeds near Jansenville in the East Cape) Durbaniella clarki jenniferae Ball, 1994 (along the Outeniqua range, the Tsitsikamma và Baviaanskloof ranges to Uitenhage) Durbaniella clarki phaea Ball, 1994 (Riviersonderend Mountains và the hills between Worcester và Montagu in the West Cape) == Chú thích == == Tham khảo ==
chả cá lã vọng.txt
Chả cá Lã Vọng là tên của món chả cá đặc sản Hà Nội. Đây là món chả làm từ cá (thông thường là cá da trơn) thái miếng đem tẩm ướp, nướng trên than rồi rán lại trong chảo mỡ, do gia đình họ Đoàn tại số nhà 14 phố Chả Cá (trước đây là phố Hàng Sơn) trong khu phố cổ giữ bí quyết kinh doanh và đặt tên cho nó như trên. == Lịch sử == Vào những năm thời kỳ Pháp thuộc, ở số 14 Hàng Sơn có một gia đình họ Đoàn sinh sống, họ thường lấy nhà mình làm nơi cưu mang nghĩa quân Đề Thám. Chủ nhà hay làm một món chả cá rất ngon đãi khách, lâu dần thành quen, những vị khách ấy đã giúp gia đình mở một quán chuyên bán món ăn ấy, vừa để nuôi sống gia đình, vừa làm nơi tụ họp. Lâu dần, hai tiếng 'Chả Cá' được gọi thành tên phố. Trong nhà hàng luôn bày một ông Lã Vọng - Khương Tử Nha ngồi bó gối câu cá - biểu tượng của người tài giỏi nhưng đang phải đợi thời. Vì thế khách ăn quen gọi là Chả cá Lã Vọng, ngày nay trở thành tên nhà hàng và cũng là của món ăn. Bí quyết làm chả cá chỉ truyền lại cho người con cả họ Đoàn == Thực hiện == Cá làm chả thường là cá lăng tươi. Đây là loại cá ít xương, ngọt thịt và thơm. Đặc biệt nhất và cũng vô cùng hiếm hoi là chả làm từ cá Anh Vũ, bắt ở ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì - Phú Thọ). Không có cá lăng thì có thể dùng đến cá nheo, cá quả, nhưng cá nheo thì thịt bở hơn và cá quả thì nhiều xương dăm hơn nên không ngon bằng cá lăng. Thịt cá được lọc theo kiểu lạng từ hai bên sườn, thái mỏng, ướp với nước riềng, nghệ, mẻ, hạt tiêu, mắm tôm theo một phương cách bí truyền đặc biệt ít nhất 2 giờ đồng hồ, rồi kẹp vào cặp tre (hoặc vỉ nướng chả có quết một lớp mỡ cho đỡ dính). Người nướng phải quạt lửa, lật giở đều tay sao cho hai mặt đều chín vàng như nhau. Chuẩn bị ăn, người ta mới mang những kẹp chả đã nướng trút vào chảo mỡ có gia thêm chút mỡ chó - đây là bí kíp gia truyền của loại chả cá này - trên bếp than hoa đặt giữa bàn ăn. Khi các miếng chả sôi trong mỡ lăn tăn, vàng thơm, rau thì là và hành hoa cắt khúc được gia vào chảo đảo lẫn và nhanh chóng chia ra các bát ăn. Thường không dùng dầu ăn để rán cá vì nhiệt độ thấp hơn và cá kém thơm hơn. == Thưởng thức == Chả phải ăn nóng. Khi ăn, gắp từng miếng cá ra bát, rưới nước mỡ (đang sôi) lên trên, ăn kèm bún rối, bánh đa nướng, lạc rang, thì là, hành hoa, dọc hành chẻ nhỏ ngâm dấm, rau mùi, húng Láng và chút mắm tôm. Mắm tôm phải được pha chế bằng cách vắt chanh tươi, một ít nước mỡ, đường, rượu trắng và ớt, đánh sủi lên rồi thêm chút tinh dầu cà cuống. Một số khách nước ngoài không ăn được mắm tôm thì thay bằng nước mắm, nhưng nước mắm ít nhiều khiến món chả cá bị giảm hương vị. Có hai cách ăn phổ biến: Cho cá đã nướng vào chảo mỡ, bỏ hành và rau thì là vào. Khi rau chín tái thì gắp ra ăn với bún, rau thơm, đậu phộng rang và mắm tôm đã pha chế theo cách cho một ít bún vào bát, cho rau và một vài miếng chả cá lên trên, rắc ít lạc rang, rưới chút mắm tôm rồi trộn ăn. Khi ăn mùi mắm tôm quyện với vị ngọt của cá, mùi rau và vị bùi của lạc rang. Do có nhiều mỡ nên khi ăn phải kèm theo cuống hành tươi chẻ nhỏ ngâm qua dấm pha loãng. Cho chả cá, hành và rau vào bát, rưới nước mỡ đang sôi và dùng ngay, có thể ăn kèm với bánh đa nướng. Cách ăn này làm vừa đủ ăn nếu không cá sẽ nguội, mất ngon. Ngoài hai cách trên, một số người có thể cho cả bún vào chảo và đảo nhanh với cá, thì là, hành hoa sau đó trút ra bát ăn. Ăn cách này rất nóng ngon nhưng hơi nhiều mỡ. Món này có thể nhắm với rượu và hợp với tiết trời lạnh. Với trời nóng thì, để cho đỡ ngán, thực khách thường uống bia. == Bình luận đánh giá == Patricia Schultz đã đưa món Chả cá Lã Vọng vào cuốn "1.000 nơi nên biết trước khi chết" (1000 Places to See Before You Die). Cuối năm 2003, hãng tin Mỹ MSNBC đã rút gọn lại và đặt nhà hàng Chả cá Lã Vọng Hà Nội ở vị trí thứ 5 trong 10 nơi nên biết trước khi chết cùng với 9 địa danh, lễ hội nổi tiếng khác trên thế giới. Món này tương đối nhiều dầu mỡ động vật nên không tốt cho những người có vấn đề về tim mạch. == Hình ảnh == == Xem thêm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Chả cá Lã Vọng, món ăn khắc vào tâm trí
so sánh các thiết bị android.txt
Android là hệ điều hành mở dành cho thiết bị di động bao gồm phiên bản sửa đổi của Linux kernel, middleware, và khóa ứng dụng. Trang này liệt kệ và so sánh thiết bị phần cứng cùng chạy hệ điều hành Android của Google. Google công bố trong Q3 2011, tổng số lượt kích hoạt Android vượt 190 triệu, tăng đáng kể từ 135 triệu của quý trước. Sự gia tăng được thúc đẩy bởi doanh số bán hàng của điện thoại thông minh Android ở mức giá thấp từ nhà sản xuất Trung Quốc và Ấn Độ. Tính đến 3 tháng 9 năm 2013, đã có 1 tỉ thiết bị Android được kích hoạt. == Chính thức phát hành == Dưới đây là danh sách thiết bị đã chính thức phát hành và cài sẵn hệ điều hành Android của Google. Nhiều tên cho cùng một thiết bị cũng được nhập vào một hàng nếu có. Một số nhà sản xuất nhỏ hơn sản xuất thiết bị Android, phần lớn trong việc phát triển thị trường, nhưng không được đưa vào danh sách do có quá nhiều thiết bị. === Điện thoại thông minh === Để giải thích về các cột, xem Bản mẫu:Thông tin điện thoại di động hoặc Bản mẫu:Thông tin điện thoại di động/doc. === Máy tính bảng === Bảng này bao gồm máy tính bảng, máy tính bảng PC, máy nghe nhạc, và thiết bị di động Internet (MIDs). ==== Acer ==== ==== Amazon ==== ==== Archos ==== ==== Asus ==== ==== Barnes and Noble ==== ==== CUBE ==== ==== HTC ==== ==== LG ==== ==== Samsung ==== ==== Sony ==== ==== Toshiba ==== ==== ViewSonic ==== == Xem thêm == So sánh các điện thoại thông minh == Tham khảo == == Liên kết == Thiết bị Android tại Google.com Danh sách Google Play hỗ trợ thiết bị Android
phân phối kỹ thuật số.txt
Phân phối kỹ thuật số (cũng có thể gọi là phân phối trực tuyến, hay phân phối phần mềm điện tử (ESD)) là sự phân phối hay vận chuyển nội dung media như ghi âm và sao chép, phần mềm và các video game. Thuật ngữ này được dùng chung để mô tả sự phân phối trên các phương tiện trực tuyến, chẳng hạn như mạng Internet, và vì vậy bỏ quá các phương thức vận chuyển vật lý như giấy, CD và DVD. Nội dung được phân phối trực tuyến có thể được tải về hay xem trực tiếp thường là sách, điện ảnh, chương trình truyền hình, và âm nhạc, phần mềm và các video game. == Tham khảo ==