filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
fifa 100.txt
FIFA 100 là bản danh sách "những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống" được lựa chọn bởi tiền đạo người Brasil Pelé (người được mệnh danh là "Vua Bóng Đá"). Ra mắt vào ngày 4 tháng 3 năm 2004 tại buổi lễ Gala tại London, FIFA 100 đánh dấu một phần của lễ kỷ niệm 100 năm thành lập Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), tổ chức điều hành bóng đá toàn cầu. Con số 100 là để chỉ lễ kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của FIFA chứ không phải những cầu thủ được lựa chọn, số cầu thủ thực được lựa chọn là 125; Pelé được đề nghị lựa chọn ra 50 cầu thủ đang chơi bóng và 50 cầu thủ đã giải nghệ, cho tròn 100 cầu thủ, nhưng ông cảm thấy quá khó để hạn chế chỉ 50 cầu thủ đã giải nghệ. Danh sách bao gồm 123 cầu thủ nam và 2 cầu thủ nữ. Vào thời điểm FIFA 100 được lựa chọn, 50 cầu thủ vẫn còn đang chơi bóng và 75 thì đã giải nghệ. == Chỉ trích == Một số nhà quan sát bóng đá đã đặt ra câu hỏi về cách thức lựa chọn cho danh sách này. David Mellor, một cựu chính khách sau trở thành một nhà phê bình về bóng đá, đã viết trên tờ Evening Standard rằng ông cảm thấy sự lựa chọn là có tính chất chính trị nhiều hơn là bóng đá. Mellor cho rằng bảng danh sách đến từ ngòi bút của chủ tịch FIFA Sepp Blatter hơn là từ Pelé. Để chứng minh, Mellor lưu ý mọi người đến sự phân bổ địa lý một cách rộng rãi của các cầu thủ trong danh sách, ví dụ như Abédi Pelé của Ghana, Hong Myung-Bo của Hàn Quốc và El Hadji Diouf của Sénégal: một sự lựa chọn thực tế hơn sẽ phải nghiêng về các cầu thủ của Nam Mỹ và châu Âu. Một nhận xét tương tự cũng được Tim Vickery, một nhà bình luận của BBC, đưa ra. Gérson, một người đồng đội cũ của Pelé và cựu cầu thủ của đội tuyển Brasil đã có phản ứng về việc tên của ông không có trong danh sách FIFA 100 bằng cách xé danh sách này trên một chương trình TV Brasil. Marco van Basten và Uwe Seeler đã từ chối tham gia vì nguyên tắc. == Danh sách == Danh sách FIFA 100 đề cử bởi Pelé. Cầu thủ còn chơi bóng vào thời điểm công bố danh sách được đánh dấu (*). Cầu thủ hiện vẫn còn chơi được in chữ nghiêng. Cầu thủ đã mất đánh dấu (+) == Xem thêm == Danh sách 100 cầu thủ hay nhất thế giới của thế kỷ 20 == Liên kết ngoài == The FIFA 100 == Chú thích ==
mậu dịch nanban.txt
Mậu dịch Nanban (tiếng Nhật: 南蛮貿易, nanban-bōeki, "Nam Man mậu dịch") hay "thời kỳ thương mại Nanban" (tiếng Nhật: 南蛮貿易時代, nanban-bōeki-jidai, "Nam Man mậu dịch thời đại") là tên gọi một giai đoạn trong lịch sử Nhật Bản, bắt đầu từ chuyến viếng thăm đầu tiên của người châu Âu đến Nhật Bản năm 1543, đến khi họ gần như bị trục xuất khỏi quần đảo này vào năm 1641, sau khi ban bố sắc lệnh "Sakoku" (Tỏa Quốc). == Từ nguyên == Nanban (南蛮 "Nam Man") là một từ Hán-Hòa ban đầu dùng để chỉ người từ Nam Á và Đông Nam Á. Cách sử dụng của nó là từ Trung Quốc, vốn đặt tên rõ cho những người "dã man" ở bốn phía xung quanh mình, những người ở phương Nam được gọi Nam Man. Ở Nhật Bản, từ này có nghĩa mới khi nó được dùng để chỉ người châu Âu, người đầu tiên đến Nhật năm 1543, ban đầu từ Bồ Đào Nha, rồi đến Tây Ban Nha và sau đó là Hà Lan (mặc dù người Hà Lan thường được gọi là "Kōmō", 紅毛, nghĩa là "Hồng Mao") và Anh. Từ Nanban, một cách tự nhiên, được cho là phù họp với những người mới đến, vì họ đến bằng những con tàu từ phương Nam, và phong tục của họ bị coi là hơi "tự nhiên" với người Nhật. == Xung đột văn hóa == === Ghi chép của Nhật Bản về người châu Âu === Ban đầu người Nhật hơi thô bạo với tính cách của những người nước ngoài mới đến. Một ghi chép thời đó của Nhật thuật lại: "Họ ăn bằng ngón tay thay vì bằng đũa như chúng ta. Họ thể hiện cảm xúc của mình mà không có chút kiềm chế gì cả. Họ không thể hiểu ý nghĩa của các con chữ" (trích từ Boxer, "Christian century"). Tuy vậy, người Nhật sớm tiếp thu được vài kỹ thuật và thói quen văn hóa của các vị khách, trong các lĩnh vực quân sự (súng hỏa mai, kỵ binh mặc giáp kiểu châu Âu, thuyền châu Âu), tôn giáo (Cơ đốc giáo), nghệ thuật trang trí, và ngôn ngữ (sự hòa nhập vào tiếng Nhật của ngữ pháp phương Tây. Rất nhiều người nước ngoài đã kết bạn với các quý tộc người Nhât, và khả năng của họ đôi khi được tưởng thưởng bằng cách đưa lên đẳng cấp Samurai (như William Adams), và ban cho một thái ấp ở bán đảo Miura, phía Nam Edo. === Ghi chép của châu Âu về Nhật Bản === Châu Âu thời kỳ Phục hưng là một vùng đất khá hấp dẫn. Nhật Bản được coi là đất nước vô cùng giàu có về kim loại quý, chủ yếu là do những ghi chép của Marco Polo về những đền thời và cung điện mạ vàng, nhưng cũng nhờ lượng quặng bề mặt tương đối dồi dào ở một quốc gia có núi lửa, trước khi việc khai quặng dưới lòng đất theo quy mô lớn được hiện thực hóa vào thời đại công nghiệp. Nhật Bản trở thành nhà xuất khẩu đồng và bạc trong suốt thời kỳ này. Nhật Bản cũng có một xã hội phong kiến phức tạp với nền văn hóa cao và công nghệ tiền công nghiệp hùng mạnh. Đất nước này có dân số và đô thị hóa mạnh mẽ hơn bất kỳ quốc gia Tây Âu nào (trong thế kỷ 16, Nhật Bản có 26 triệu dân trong khi đó Pháp có 16 triệu còn Anh chỉ có 4.5 triệu người). Nhật Bản có trường "đại học" Phật giáo lớn hơn bất kỳ một học viện nào ở phương Tây, ví dụ như Salamanca hay Coimbra. Những nhà thám hiểm châu Âu nổi bật trong thời đại này dường như đồng ý rằng người Nhật "không chỉ hơn những người phương Đông khác, mà họ còn vượt trội cả người châu Âu" (Alessandro Valignano, 1584, "Historia del Principio y Progreso de la Compañía de Jesús en las Indias Orientales). Những vị khách châu Âu đầu tiên rất bất ngờ về chất lượng hàng thủ công mỹ nghệ và thép rèn của Nhật. Điều này xuất phát từ việc bản thân nước Nhật cũng khá hiếm những tài nguyên dễ kiếm ở châu Âu, đặc biệt là sắt. Do đó, người Nhật nổi tiếng tằn tiện khi sử dụng tài nguyên; họ sử dụng những gì mình có với một kĩ năng bậc thầy. Đồng và thép của họ là tốt nhất trên thế giới, vũ khí sắc bén nhất, giấy công nghiệp thì không gì có thể so sánh: người Nhật hỉ mũi vào những tờ giấy mềm mại dùng một lần làm từ washi, trong khi phần lớn thế giới phương Tây vẫn tay áo. Khi samurai samurai Hasekura Tsunenaga đến thăm Saint-Tropez, Pháp năm 1615, ông thu hút sự chú ý với thanh kiếm sắc vnes và những giấy xì mũi dùng một lần của mình: "Họ không bao giờ đụng tay vào thức ăn, thay vào đó họ dùng hai que nhỏ giữ bằng ba ngón. Họ xì mũi với giấy lụa mềm mại có kích thước bằng bàn tay, họ không bao giờ dùng thứ này hai lần, vì họ vứt chúng đi sau khi dùng xong, and they were delighted to see our people around them precipitate themselves to pick them up. Kiếm của họ sắc đến nỗi nó có thể cắt một tờ giấy mềm chỉ bằng đặt nó lên lưỡi kiếm và thổi." ("Relations of Mme de St-Troppez", tháng 10 năm 1615, Bibliotheque Inguimbertine, Carpentras). Quân đội Nhật tinh nhuệ đến nỗi họ được miêu tả rằng: "Một chiếu chỉ năm 1609 của Tây Ban Nha đặc biệt hướng dẫn các thuyền trưởng Tây Ban Nha trên Thái Bình Dương ‘chớ có liều lĩnh đem uy tín vũ khí và quốc gia chúng ta chống lại quân Nhật’" ("Giving up the gun", Noel Perrin). Đội quân samurai Nhật Bản sau này được người Hà Lan trên Quần đảo Gia Vị ở Đông Nam Á thuê để đánh lại người Anh. == Trao đổi thương mại == Không lâu sau chuyến tiếp xúc đầu tiên năm 1543, tàu Bồ Đào Nha bắt đầu đến Nhật Bản. Vào thời đó, đã có giao thương giữa Bồ Đào Nha với Goa (khoảng từ năm 1515), bao gồm 3 đến 4 thuyền vuông rời Lisbon với bạc để mua bông và gia vị ở Ấn Độ. Trong số đó, chỉ có một thuyền đến Trung Quốc để mua lụa, cũng đổi bằng bạc Bồ Đào Nha. Do đó, hàng hóa của những chiếc tàu Bồ Đào Nha (thường là mỗi bốn tàu cỡ nhỏ mỗi năm) đến Nhật Bản chở đầy hàng hóa Trung Quốc (lụa, đồ sứ). Người Nhật rất thích những hàng hóa này, nhưng bị Hoàng đế Trung Quốc cấm có bất kỳ một mối liên hệ nào với nước mình, như là một sự trừng phạt vì nạn cướp biển Wakō. Người Bồ Đào Nha sau đó chớp lấy cơ hội này đóng vai trò trung gian thương mại ở châu Á. Từ khi giành được Macau năm 1557, và được Trung Quốc chính thức công nhận là đối tác thương mại, Vua Bồ Đào Nha bắt đầu điều chỉnh thương mại với Nhật Bản, bằng cách bán cho người trả giá cao nhất cho chuyến hàng thường niên đến Nhật, ảnh hưởng của việc trao độc quyền thương mại cho chỉ một chiếc thuyền vuông duy nhất đến Nhật mỗi năm. Thuyền vuông này là loại thuyền cực lớn, thường khoảng từ 1000 đến 1500 tấn, gấp đôi đến gấp ba lần kích cõ thuyền buồm tiêu chuẩn hay thuyền mành loại lớn. Giao thương tiếp tục với một số gián đoạn cho đến năm 1638, khi nó bị cấm do cáo buộc các con tàu này đã lén đưa các tu sỹ vào Nhật Bản. Thương mại Bồ Đào Nha càng ngày càng bị cạnh tranh gay gắt hơn từ những tàu buôn lậu Trung Quốc và các Châu ấn thuyền Nhật Bản từ khoảng 1592 (khoảng 10 tàu mỗi năm), thuyền Tây Ban Nha từ Manila từ khoảng 1600 (một tàu mỗi năm), Hà Lan từ 1609, nguoiwf Anh từ 1613 (khoảng một tàu mỗi năm). === Quan hệ với người Hà Lan === Người Hà Lan, thay vì gọi là "Nanban" mà gọi là "Kōmō" (紅毛, "Hồng Mao"), lần đầu tiên đến Nhật Bản năm 1600, trên con tàu Liefde. Hoa tiêu của họ là William Adams, người Anh đầu tiên đến Nhật Bản. Năm 1605, hai thủy thủ tàu Liefde được Tokugawa Ieyasu gửi đến Pattani để mời người Hà Lan đến buôn bán với Nhật. Người đứng đầu thương điếm Hà Lan ở Pattani, Victor Sprinckel, từ chối với lý do rằng ông rất bận rội khi phải đối đầu với người Bồ Đào Nha ở Đông Nam Á. Tuy vậy, năm 1609, người Hà Lan Jacques Specx cùng 2 tàu đến Hirado, và qua Adams nhận được đặc quyền thương mại từ Ieyasu. Người Hà Lan cũng dính líu vào cướp biển và các cuộc hải chiến để làm suy yếu đội tàu Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha ở Thái Bình Dương, và cuối cùng trở thành nước phương Tây duy nhất được quyền tiếp cận Nhật Bản từ vùng đất nhỏ Dejima sau năm 1638 và tiếp diễn trong vòng hai thế kỷ sau đó. == Tiền xu thương mại Nhật Bản thời kỳ đầu và thương mại với Việt Nam thế kỷ 17 == Xem thêm: Thương mại Đàng Ngoài thời Lê trung hưng, Thương mại Đàng Trong thời Lê trung hưng === Bối cảnh lịch sử === Không có tài liệu lịch sử nào thuật lại chính xác khi nào người Nhật bắt đầu buôn bán với Việt Nam. Lịch sử Việt Nam chỉ biết rằng thương nhân Trung Quốc đã buôn bán với người Việt trước đó 200 năm. Theo Giáo sư Hasebe Gakuji và Giáo sư Aoyagi Yogi từ các phát hiện khảo cổ học gần đây ở Nhật Bản, các mảnh vỡ đồ sứ Việt Nam tìm thấy ở phía Bắc đảo Kyushu. Trong số đó có một đĩa gỗ có ghi năm 1330 trên đó. Vậy thì người Nhật đã đến Việt Nam hay người Việt đã đến Kyushu? Hay có lẽ người Trung Quốc, và người Nhật đã làm trung gian thương mại để đưa những hàng hóa này lên phía Bắc? Thư tịch lịch sử Việt Nam cho thấy Chúa Nguyễn Hoàng lập ra bến cảng Hội An vào đầu thế kỷ 17, và có hàng trăm người Nhật đã ở bến cảng này từ trước đó. Các tài liệu chính thức của Việt Nam ghi lại cuộc tiếp xúc đầu tiên của người Nhật và người Việt diễn ra năm 1585. Con thứ sáu của Chúa Nguyễn Hoàng dẫn một hạm đội 10 chiếc đến bến Cửa Việt, tiêu diệt hai chiếc tàu hải tặc Kenki, cướp biển Nhật Bản bị tưởng nhầm là người Tây. Sau đó năm 1599, tàu của Kenki bị đắm ở cửa Thuận An và bị tướng của Chúa Nguyễn Hoàng bắt. Năm 1601, Chúa Nguyễn Hoàng gửi thư đến Mạc phủ Tokugawa xin lỗi việc tấn công chiếc tàu của Kenki, một thương nhân Nhật Bản, và để ca ngợi tình hữu nghị giữa hai quốc gia. Lần lại các dữ kiện lịch sử, có chứng cứ rõ ràng rằng người Nhật muốn buôn bán với người Việt. Từ đời Đường thế kỷ thứ 8, thương nhân Trung Quốc đã vượt đại dương đến Nhật Bản, Chăm Pa, và Java để buôn bán. Thế kỷ 12, thương nhân Nhật Bản đến Trung Quốc cũng với mục đích tương tự. Trong suốt thời Minh thế kỷ 16, va chạm về thương mại giữa Nhật Bản và Trung Quốc tăng lên khi có cướp biển Nhật Bản tấn công nhiều hải cảng Trung Quốc. Nhà Minh cấm dân chúng không được giao thương với người nước ngoài, đặc biệt là với người Nhật, cho dù họ là các thương nhân Nhật Bản lương thiện hay cướp biển và áp đặt chính sách cấm vận với tàu thuyền Nhật Bản. Trong thời kỳ này, Nhật Bản rất cần lụa thô chất lượng cao của Trung Quốc cho Hoàng gia và trang bị cho quân đội. Do đó khi thương mại trực tiếp với Trung Quốc trở nên ngày càng khó khăn, thương nhân Nhật Bản thay vào đó hướng xuống phương các bến cảng Việt Nam, các địa điểm buôn bán trung lập với thương nhân Trung Quốc. Điều này có thể giải thích tại sao Hội An ở Đàng Trong và Phố Hiến, Kẻ Chợ ở Đàng Ngoài trở nên thịnh vượng trong vài thập niên của thế kỷ 17. === Chính sách Shuinsen của Mạc phủ Tokugawa === Năm 1600, Tokugawa Ieyasu đánh bại những người trung thành với Hideyori trong trận Sekigahara. Ba năm sau, Ieyasu được Thiên Hoàng phong chức Shogun. Điều đó đánh dấu sự khởi đầu thời kỳ Edo và Mạc phủ Tokugawa thống trị Nhật Bản trong hơn 250 năm. Shogun thường trao đổi thư tử với Chúa Nguyễn Hoàng. Thương mại giữa hai nước nhộn nhịp trong vài thập niên. Theo Giáo sư Kawamoto Kuniye, trong Gaiban Tsuuho – tuyển tập các văn kiện ngoại giao chính thức giữa Nhật Bản và các nước khác từ năm 1599 đến năm 1764, trong lời đáp từ Chúa Nguyễn Hoàng vào tháng 10 (âm lịch) năm 1601, Ieyasu tuyên bố rằng ‘Trong tương lại, các con thuyền đến nước ngài từ đất nước tôi sẽ phải được chứng nhận bằng con dấu như trong bức thư này, và thuyền nào không có dấu sẽ không được cho rằng là hợp pháp’. Kể từ đó, chính sách Shuisen (dấu đỏ) bắt đầu có hiệu lực. Bất kỳ thương nhân Nhật BẢn nào có con dấu đỏ của Tokugawa mới được coi là đại diện của Shogun buôn bán với nước ngoài. Giấy chứng nhận buôn bán Shuisen đầy quyền lực, cấp bởi chính quyền Shogun, chỉ được cấp cho các gia đình quý tộc ở Nhật Bản như Chaya, Cửa hàng Araki, Phuramoto, Suminnokura. Giáo sư Iwao Seichi đã tìm ra số lượng Châu ấn thuyền Nhật Bản đến Đại Việt, theo đó có ít nhất 124 tàu đã cập bến Đàng Ngoài và Đàng Trong trong giai đoạn từ 1604 đến 1635, bên cạnh đó còn có những tàu không có giấy phép cập bến trước năm 1604. Những người thống trị Việt Nam đã thiết lập thành công thương mại với Nhật Bản trong thế kỷ 17. Mỗi năm, từ tháng 1 đến tháng 3, khi ngọn gió Đông Bắc thuận lợi thổi về phương Nam, các con tàu Nhật Bản chất đầy bạc và đồng cập bến các cảng sông Việt. Ở Hội An, để để quản lý dòng chảy người Nhật lớn, chính quyền địa phương thành lập hẳn một khu phố Nhật tên là Nihomachi. Và thương nhân Trung Quốc cũng có một khu phố của mình ở gần đó. Họ trao đổi hàng hóa với nhau hay với dân địa phương trên nguyên tắc thị trường. Người Nhật thích lụa thô, đường, gia vị và gỗ đàn hương của Trung Quốc và Việt Nam. Đầu thế kỷ 17, Christoforo Borri sống ở Họi An đã ghi chú về lợi nhuận thương mại rằng "Calamba (gỗ đàn hương) ở điểm thu mua giá 5 đồng ducat một pound; đã ở bến cảng Đàng Trong nó đáng giá hơn nhiều; hiếm khi có thể mua với giá dưới 16 đồng ducat một pound: và khi đã được trở đến Nhật Bản, nó có giá 200 ducat một pound…với chỉ một mảnh đuer để gối đầu, người Nhật sẽ trả từ 300 đến 400 ducat một pound’. Khi gió Đông Nam thổi vào tháng 7, tháng 8, đoàn tàu buôn bắt đầu rời Đại Việt trở về nhà. Ở Đàng Trong, Chaya Shirojiro là thương nhân nổi tiếng nhất, mua lụa, gỗ đàn hương và bán xu bằng đồng, bác, đồng thiếc cho Chúa Nguyễn. === Tình hữu nghị giữa Đại Việt và Nhật Bản === Tình hữu nghị giữa hai đất nước phát triển nhanh chóng ở cả tầm quốc gia lẫn địa phương. Chúa Nguyễn và Tokugawa trao đồi thư từ và quà tặng hàng năm qua thương nhân Nhật Bản. Năm 1604, Chúa Nguyễn hoàng thậm chí còn có ý kiến nhận thương nhân Nhật Bản Hunamoto Yabeiji làm con nuôi. Sau đó, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, con trai Chúa Nguyễn hoàng, còn cố nâng quan hệ ngoại giao lên một tầm cao mới. Theo Phan Khoang trong Việt Sử. Xứ Đàng Trong, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái mình, Công chúa Ngọc Khoa cho Araki Shutaro, một thương nhân Nhật Bản khác. Chúa Nguyễn thậm chí còn ban cho Araki quốc tính là Nguyễn Taro, gọi là Hien Hung. Chúa Nguyễn cũng viết thư cho một số thương nhân Nhật Bản, Honda Kouzukenosuke và Chaya Shiro Jiro khuyến khích họ nên giao thương với Đàng Trong. Trong khi đó, quan hệ giữa Nhật Bản với Đàng Ngoài không mấy tiến triển. Trước năm 1635, rất ít thuyền Nhật cập bến Đàng Ngoài và thương nhân người Nhật mở thương điếm ở Phố Hiến và Thăng Long. Thương nhân Nhật Bản nổi tiếng nhất ở Đàng Ngoài Suminokura Kyoi, bán xu bằng đồng, vũ khí và bạc cho Chúa Trịnh và mua lụa tốt. Cho đến khi nhà Tokugawa thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, Tỏa Quốc năm 1635 và thương nhân Nhật Bản bị cấm ra nước ngoài, một số lớn thương nhân Nhật Bản quyết định ở lại và chuyển ra Đàng Ngoài định cư. Người Hà Lan, những trung gian thương mại tốt nhất của họ với thương nhân Việt Nam, thuê những người thông thạo phong tục Việt Nam, có kinh nghiệm giao thường và có thể nói thành thạo tiếng địa phương. Vì quan hệ giữa người Hà Lan và Chúa Nguyễn không tốt, người Hà Lan duy trì mối quan hệ thường xuyên hơn với Chúa Trịnh. Theo Dumoutier, vài người Nhật có quan hệ gần gũi với triều đình. Ông thuật chuyên một phu nhân người Nhât, Ouroussan trở thành ái thiếp của Vua Lê Thần Tông. Thương nhân Nhật Bản có quan hệ tốt với người bản địa. Họ hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam và dần tiếp thu những phong tục của địa phương. Một số lượng lớn thương nhân Nhật Bản kết hôn với người bản địa và ủng hộ tiền bạc để sửa hay xây mới Chùa và cầu. Ở đô thị cổ Hội An, cầu Nhật, hay còn có tên là Chùa Cầu, nối phố Trần Phú với phố Nguyễn Thị Minh Khai là biểu tượng cao nhất cho tình hữu nghị Việt-Nhật. === Buôn bán đồng xu Nhật Bản vào thế kỷ 17 === Để hiểu tại sao thương nhân Nhật Bản mang xu bằng đồng đến nước Việt để trao đổi vào thế kỷ 17, ta nên xem lại lịch sử tiền tệ Nhật Bản. Nhật Bản ban đầu là một quốc gia giàu tài nguyên kim loại quý ví dụ như bạc, vàng và đồng. Vào đầu thế kỷ 8, những đồng xu vàng, bạc và đồng không chỉ đã tồn tại mà còn được đúc ở chính nước Nhật. Những đồng xu này được làm để ban thưởng hơn là một hình thức trao đổi. Trong những ngày đó, nước Nhật vẫn mới ở mức kinh tế trao đổi hàng hóa. Từ thế kỷ 12 đến năm 1587, nước Nhật ngừng khai mỏ và gửi hàng hóa đến Trung Quốc để đổi lấy các xu bằng đồng của Trung Quốc, khi nhu cầu về tiền xu tăng lên. Thế kỷ 15, Mạc phủ Ashikaga nhiều lần gửi yêu cầu cho nhà Minh ở Trung Quốc về nguồn cung tiền xu. Bởi vậy, Toraisen, tiền xu nhập khẩu từ Trung Quốc, ví dụ như Gia Ðịnh thông bảo (Katei Tsuho) hay Tống, Hồng Võ thông bảo (Kobu tsuho) và Vĩnh Lạc thông bảo (Eiraku Tsuho) của nhà Minh lưu thông trên khắp Nhật Bản. Trong khi nguồn cung Toraisen vẫn không đáp ứng được cầu tiền tệ do mở rộng giao thương, giai cấp quý tộc tự mình đúc tiền xu Nhật (Shichusen) để lấp đầy khoản thiếu hụt. Trong thế kỷ 16, các đồng xu Toraisen bị vỡ hay hỏng hay các đồng Shichusen chất lượng kém được gọi là Bitasen, hay đồng xu chất lượng kém. Dân chúng bắt đầu thu thập tiền xu và không nhận thanh toán bằng Bitasen. Trong thời Tokugaw, tỉ lệ trao đổi giữa Toraisen và Bitasen là 4 ăn 1. Shogun muốn giải quyết tình trạng lộn xộn của thị trường tiền tệ, độc quyền đúc tiền xu và tiêu chuẩn hóa tiền tệ Nhật Bản. Năm 1608, nhà Tokugawa cấm lưu hành Bitasen, bao gồm cả các đồng xu Trung Quốc nhập khẩu. Ông cũng thúc đẩy việc khai thác vàng, bạc và đồng và ứng dụng công nghệ tiên tiến của Trung quốc vào việc tinh luyện kim loại. Xu, thỏi vàng và bạc cũng như Tensho Tsuho, Genna Tsuho và Kanei Tsuho bắt đầu thay thế những đồng xu cũ. Thương nhân Nhật nghĩ ra sáng kiến thu mua thứ tiền cấm và sụt giá này để bán cho các thương thuyền hay các nước khác. Dịch vụ buôn tiền vừa mang đến nhiều lợi tức cho Nhật, vừa được khuyến khích bởi chúa Nguyễn ở Ðàng Trong, đang cần đồng để đúc súng thần công và sử dụng tiền đồng ngoại nhập để tiêu dùng. Thời đó, các chúa Nguyễn đã yêu cầu ngườI Hòa Lan mua hết tiền đồng của Nhật, để mang đến bán cho Ðàng Trong. Ðến năm 1651, để đáp ứng lời yêu cầu cung cấp tiền đồng của Quế Vương, một thân vương của nhà Minh khởi nghĩa chống nhà Thanh vào thời đó, chính quyền địa phương của Nagasaki đã đúc tiền Vĩnh Lịch thông bảo (Eiryaku Tsuho) cung cấp cho Phúc Kiến, Đài Loan. Tokugawa, ngoài việc đáp lại yêu cầu của chúa Nguyễn, còn được nhiều lợi tức, đã cho phép đảo Trường Kỳ được quyền đúc tiền để xuất cảng từ năm thứ hai của Manji (1659) đến năm thứ hai của Jokyo (1685), sau nhiều lần từ khước những yêu cầu của chính quyền địa phương. Tuy nhiên đảo Trường Kỳ chỉ được phép đúc tiền ngoại thương, nhưng không được đúc tiền Khoan Vĩnh đang dùng trong nước Nhật. Dịch vụ buôn tiền và từ ngữ Trường Kỳ Mậu Dịch Tiền phát sinh từ đó, vì người Nhật đúc tiền đồng, thoi đồng mang đến Trường Kỳ, Nhật Bản để chở bán cho Ðại Việt. Tiền Trường Kỳ còn được tàu Leyden mang về Amsterdam vào năm 1621 để thử nghiệm kim loại trước khi người Hà Lan định mua để lấy đồng. Tuy nhiên kết quả không như mong muốn, và người Hoà Lan chở tiền đồng đem bán cho các nước khác như Ba Tư, Âu châu trên những chuyến tàu về xứ họ. Tác giả đã có dịp liên hệ với Bác sĩ Wybrand Op den Velde ở Amsterdam, một sưu tập gia về tiền cổ Á châu và cũng là tác giả quyển Cash Coin Index, part 2: The Cash Coins of Vietnam xuất bản ở Amsterdam, về tiền Trường Kỳ. Ông ta cho biết tiền Trường Kỳ khá dễ tìm thấy ở Amsterdam. Có lẽ Batavia, Hội An và Amsterdam là ba địa điểm có liên hệ sâu xa nhất với tiền Trường Kỳ và là những nơi dễ tìm thấy thứ tiền ngoại thương này nhất vào ngày nay. Ở Đàng Ngoài, tiền Trường Kỳ đã được dân Việt tiêu dùng như các tiền đồng của vua Lê, hoặc được nấu chảy để đúc khí cụ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Ðàng Ngoài vào năm 1627 đã nói về tiền tiêu dùng thời đó, rằng có hai loại tiền lớn và nhỏ. Tiền lớn do người Hoa, Nhật mang vào, được tiêu dùng khắp xứ. Tiền nhỏ chỉ tiêu dùng ở kinh đô và bốn tỉnh chung quanh. Trị giá của tiền nhỏ tùy thuộc số lượng nhập cảng của tiền lớn vào mỗi năm. Tuy vậy, trung bình 10 tiền đồng nhỏ tương đương với 6 tiền đồng lớn. Từ năm 1671, người Anh bắt đầu nghiên cứu về dịch vụ buôn tiền của người Hà Lan. Vài chi tiết được cung cấp trong sổ Nhật Ký của công ty Ðông Ấn của Anh ở Phố Hiến cho thấy. Xứ Ðàng Trong không có mỏ đồng. Trong lúc đó, chúa Nguyễn rất cần đồng để đúc tiền, đúc súng chống lại họ Trịnh. Nguồn cung cấp phần lớn từ Nhật Bản, phần còn lại từ Trung Hoa và Batavia. Chúa Nguyễn cho nhập cảng một số lớn đồng trong suốt thế kỷ 17 và sang cả thế kỷ 18; cho dù rằng chiến tranh Trịnh Nguyễn đã chấm dứt sau khi Trịnh Tạc lùi quân về bên kia sông Gianh vào năm 1672, qua 7 lần Nam Bắc giao tranh. Nhu cầu đúc súng không còn cấp bách nữa, nhưng vì tiền đồng có lưu thông dồi dào, việc giao thương trong xứ mới phát triển. Ðiển hình là chính chúa Nghĩa, trong năm 1688, đã gởi bốn lá thư yêu cầu chính quyền Nhật đúc tiền bán cho Ðại Việt, khi gia tộc Tokugawa khởi sự giới hạn việc xuất cảng bạc và đồng ra ngoại quốc. Tài liệu lưu trữ của công ty Ðông Ấn Hà Lan cho thấy tầm vóc của dịch vụ buôn tiền ở Ðàng Trong. Từ năm 1633 đến 1637, công ty đã nhập cảng 105834 xâu tiền đồng Trường Kỳ, mỗi xâu gồm 960 đồng tiền, vị chi là 101600640 đồng tiền được nhập cảng trong một thờI gian năm năm. A. van Aelst cho chi tiết rõ hơn về số lượng tiền đồng khổng lồ này, là 1.250.000 tiền Vĩnh Lạc và 100.000.000 tiền Khoan Vĩnh. Như thế, khoảng 20 triệu đồng tiền được đưa vào Ðàng Trong mỗi năm do người Hòa Lan. Ðó là chưa kể đến số lượng tương đương từ các thương thuyền Nhật và Hoa. Tài liệu cũng cho thấy một số lượng đồng khá lớn được dùng trong việc quốc phòng, như năm 1636, chúa Thượng đã mua 30 ngàn lạng đồng hạng xấu để đúc súng thần công. Và tháng 9 năm 1637, bốn thương thuyền Hoa cặp bến Ðàng Trong với hai triệu đồng tiền Nhật. Khi Tướng quân Tokugawa ban hành chính sách Tỏa Quốc và ra lệnh cấm thương nhân Nhật Bản xuất dương từ năm 1635, kẻ nào vi phạm luật sẽ bị tội chết, và chỉ cho phép thương thuyền của người Hà Lan và Trung Hoa đến giao thương ở Trường Kỳ; thương nhân Nhật Bản đã chuyển nhượng số tiền đồng lên đến 200 tấn qua tay người Hòa Lan, để nguồn tiếp liệu được duy trì đều đặn. Chẳng trách chỉ hơn 50 năm sau thế kỷ 18, khi Lê Quý Ðôn theo Ðoan quận Công Bùi Thế Đạt vào chiếm Thuận Hoá, Quảng Nam, đã phải than rằng ngày trước nhà Nguyễn dùng đồng rất hoang phí. Ðồng được dùng làm những cái đinh, những bản lề, và trang sức cho các công đường, đình sở. Trong Phủ Biên Tạp Lục, ông đã dẫn chứng về việc nhập cảng đồng từ Nhật, Hoa của chúa Nguyễn.... Hai xứ Thuận Hoá và Quảng nam không có mỏ đồng. Nước Nhật Bản thì thổ sản có nhiều đồng đỏ, nên hằng năm tàu nước ấy chuyên chở đồng đến nước ta bán, quan chức nhà Nguyễn phái người đến thâu mua, cứ 100 cân trị giá 45 quan tiền đồng. Còn như tàu thuyền các khách buôn ở tỉnh Phúc Kiến và tỉnh Quảng Đông thuộc nước Trung Hoa có chuyên chở đồng đỏ sang nước ta bán, thì phải khai báo đầy đủ giấy tờ, bấy giờ các quan chức mới y theo giá định kể trên mà mua hết. Còn thừa bao nhiêu, các khách buôn mới được phép bán, đổi chác cho người ngoài. Mức lợi tức của dịch vụ buôn tiền trong giai đoạn này ra sao? Nhật Ký của Công ty Đông Ấn Hà Lan cho thấy rõ lý do người Hà Lan đã tham gia vào dịch vụ này. Vào những năm 1635-1636, những xâu tiền trị giá 1 lạng bạc ở Nhật bán được ở Ðàng Trong với giá 10.5 lạng. Người Hoa cũng nhận thấy mối lợi lớn này. Nhiều thương thuyền Trung Hoa, hoặc sang Nhật buôn tiền Trường Kỳ hoặc mang tiền Hoa, sang bán cho Ðại Việt. Từ năm 1684, tiền Khang Hi được đúc giảm trọng lượng. Một lạng bạc tương đương 1400 - 1500 đồng tiền Khang Hi nặng hay 3030 đồng tiền Khang Hi nhẹ, nghĩa là tương đương hơn 5 quan tiền Ðại Việt (1 quan = 600 đồng). Trước năm 1750, theo Pierre Poivre, ở Đại Việt, 10 lạng vàng ăn từ 130 đến 150 quan, nghĩa là 5 quan tương đương vớI 0.3846 lạng vàng. Như thế, thương buôn phải trả 1 lạng bạc để mua được 1 chỉ vàng ở Trung Hoa theo trị giá tỷ lệ vàng bạc 1/10 thời đó, nhưng nếu buôn tiền, 1 lạng bạc có thể kiếm được gần 3.8 chỉ vàng ở Ðại Việt. === Tiền Nagasaki === Không kể đến tiền Nhật chính thống như tiền Khoan Vĩnh và các tiền Hoa ngoại nhập vào đất Nhật từ đời trước như tiền Vĩnh Lạc, Hồng Vũ đã được đưa vào Ðại Việt, tiền đồng đúc ở Trường Kỳ có ba loại chính: Tiền Trường Kỳ Vĩnh Lịch (Nagasaki Eiryaku Sen) Tiền Trường Kỳ Ngũ Hành (Nagasaki Gogyo Sen) Tiền Trường Kỳ Mậu Dịchins (Nagasaki Boeki Sen). Tiền Trường Kỳ Vĩnh Lịch (Nagasaki Eiryaku Sen) được sử dụng bên Ðài Loan, đúc theo mẫu Vĩnh Lịch thông bảo của tiền Hoa. Vĩnh Lịch là niên hiệu của Quế Vương (1646-1662), một thân vương của nhà Minh, được lập ở Triều Khánh, Quảng Ðông, trong khi nhà Thanh đã chiếm Bắc Kinh; sau Quế Vương bị Ngô tam Quế giết chết vào năm 1662. Khi thượng tướng Trịnh thành Công chiếm cứ Ðài Loan làm căn cứ địa để khôi phục nhà Minh, thì dịch vụ buôn tiền trở nên phát đạt vì thêm mối khách hàng. Cho nên đến khi Khang Hi bình định được Ðài Loan vào năm 1683, thành trì phản Thanh phục Minh cuối cùng bị phá vỡ, dịch vụ buôn tiền trở nên trì trệ, rồi chấm dứt sau đó. Tiền Trường Kỳ Ngũ Hành (Nagasaki Gogyo Sen) là một loại tiền đúc đặc biệt ở Trường Kỳ để chúc may mắn cho Teiseiko, một người Nhật đã bỏ trốn sang Ðài Loan. (26). Loại tiền này gồm các đồng Tứ Kim (Kin Sen), Tứ Mộc (Moku Sen), Tứ Thủy (Sui Sen), Tứ Hoả (Ka Sen) và Tứ Thổ (Do Sen). Mỗi đồng tiền được đúc bốn chữ tượng trưng cho một hành trong Ngũ Hành, với bốn mẫu chữ khác nhau. Tiền Trường Kỳ Mậu Dịch (Nagasaki Boeki Sen) là tiền dùng trong việc giao thương, phần lớn được đưa vào Ðại Việt thời đó và một phần cũng được xuất cảng đến Hoà Lan để nấu chảy. Loại tiêu biểu và được đúc nhiều nhất là tiền Nguyên Phong thông bảo, ngườI Nhật gọi là Genho Tsuho. Có đồng viết chữ triện, hoặc chữ thảo, hoặc chữ khải và tất cả chữ đều đọc vòng. Ðường kính tiền vào khoảng 24 mm. Gờ viền lỗ ở mặt sau có thể có hay không. Tiền Trường kỳ Nguyên Phong có đến 40 loại mẫu khác nhau. Có loại viết chữ thảo (gọi là Gyo Sho Genho), hoặc chữ triện (Cho Kan Ho Genho). Có loại chữ viết to (Hiji Genho), hoặc chữ viết nhỏ (Shoji Genho). Có loại tiền với vành tròn của rìa lớn hơn và có trị giá gấp 2 đồng khác mà ngườI Nhật gọi là loại Taiyo. Người sưu tập lại còn phân biệt thêm dựa vào chi tiết, từ nét ngang cuối cùng của chữ Phong có ngang hàng với nét ngang dưới của lỗ vuông hay không, hoặc nét móc của chữ Nguyên dài hay ngắn hơn cạnh dọc của lỗ vuông. Niên hiệu dùng trên tiền Trường Kỳ thường là những niên hiệu của nhà Tống. Tuy vậy tiền Trường Kỳ vẫn có những đặc thù, khi nhìn hai đồng tiền Trường Kỳ và Trung Hoa chúng ta sẽ phân biệt rõ rệt ngay. Ðặc điểm nổi bật nhất của tiền Trường Kỳ là lỗ vuông ở giữa tiền rất to, từ 7 mm đến 8 mm, viền lỗ được kẻ vuông vắn. Ngoài ra thư pháp cũng có những điều khác biệt với tiền Trung Hoa, như chữ viết đơn giản, bớt nét của trường hợp chữ Phong viết thảo; hoặc chữ viết như được vẽ đồ theo nét mẫu như chữ Phong viết chữ khải của tiền trên. Hợp kim dùng đúc tiền của ngườI Nhật Bản không giống như của người Trung Hoa, vì thế màu hoen rĩ sét trên tiền Trường Kỳ cũng có điểm khác biệt. Kế đến là tiền Trường Kỳ Tường Phù nguyên bảo cũng rất thông dụng thời đó. Người Nhật gọi là Shofu Genho. Chữ của tiền đọc vòng. Một số tiền Trường Kỳ khác, chữ viết chân phương như tiền Gia Hựu thông bảo (Kayu Tsuho), Hi Ninh nguyên bảo (Kinei Genho), Thiên Thánh nguyên bảo (Tensei Genho). Tác giả Tạ Chí Ðại Trường trong Những Bài Dã Sử Việt, khi nói về tiền Trường Kỳ, cho biết sách của Ðinh Phúc Bảo còn có tiền Trường Kỳ Thái Bình thông bảo với hai mẫu hình một đồng có chữ VĂN và một đồng có Nhật Nguyệt ở lưng tiền và tiền Trường Kỳ Hoàng Tống (28). Người Nhật gọi Thái Bình Thông bảo là Taisei Tsuho. Tuy nhiên các sách về tiền cổ của Nhật Bản không thấy nói đến tiền Trường Kỳ Thái Bình và Hoàng Tống này. Tiền Trường Kỳ cũng có nhiều đồng viết chữ triện, như tiền Trị Bình nguyên bảo (Jihei Genho), tiền Hi Ninh nguyên bảo (Kinei Genho), tiền Thiệu Thánh nguyên bảo (Shosei Genho). Trong dịp thảo luận với anh Lê Hoàn Hưng, biên tập viên của Tạp chí tem ở Việt Nam, về tiền Trường Kỳ, chúng tôi được biết có loại tiền mậu dịch Trường Kỳ do Ðàng Trong đúc lại. Theo nhận xét của anh Lê Hoàn Hưng, tiền mậu dịch của Nhật đúc đẹp và sắc sảo hơn; còn loại tiền đúc lại, thường là tiền Nguyên Phong Thông Bảo, đúc không đẹp và kém sắc sảo, nhất là ở chữ Phong. Một số tiền khác đúc nhỏ mỏng và xấu rất dễ phân biệt. Francois gần đây công bố nghiên cứu của mình về sự pha chế tiền Nagasaki và tiền xu đề cập đến trong Phủ Biên Tạp Lục. Nghiên cứu của anh được xuất bản năm 1999. === Kết thúc === Từ năm 1633, thậm chí cả khi Mạc phủ Tokugawa cũng cấm thương nhân Nhật Bản đi ra nước ngoài, giao thương giữa Nhật Bản với các nước châu Á khác vẫn nở rộ. Sau khi nước Nhật bế quan tỏa cảng, tàu Hà Lan và Trung Quốc từ các bến càng Đông Nam Á vẫn được phép đến Nagasaki. Nhà cung cấp chính tiền đồng Nhật Bản chuyển giao thị phần tiền đồng của mình ở Đàng Trong cho Công ty Đống Ấn Hà Lan. Chính sách Tỏa Quốc của Nhật căn bản không phải là chính sách cô lập về kinh tế. Tuy vậy, từ năm 1685, khi lệnh hạn chế xuất khẩu bạc được ban hành và sau đó là xuất khẩu đồng năm 1715, việc buôn bán giảm đi. Bạc và đồng đong vai trò thúc đẩy giao thương ở châu Á vào thời điểm đó. Khi xuất khẩu kim loại bị hạn chế, buôn bán tiền đồng cũng giảm sút nhanh chóng và hải thương ở châu Á cũng giảm mạnh. Vào đầu thế kỷ 18, thương nhân Anh và Tây Ban Nha hiếm khi cập bến Đị Việt vì họ nhân thấy lợi nhuận thu được không nhiều như quá khứ. Người Anh thấy rằng thị trường bông vải ở Ấn Độ hứa hẹn hơn. Bán đảo Mã Lai và Tây Java mất đi vị thế độc quyền của mình trên thị trường gia vị vì sản phẩm của họ cũng được tìm thấy ở châu Phi và Nam Mỹ. Hải thương ở Đại Việt cũng tuột dốc thảm hại. Thời kỳ suy tàn của Phố Hiến, Hội An và Cachao bắt đầu. Cả kinh tế Đàng Trong và Đàng ngoài của Đại Việt đều rơi vào nguy khốn. Một loạt nạn đói, thiên tai và dịch bệnh dẫn đến sự sụp đổ của cả hai triều Trịnh Nguyễn rồi đến sự nổi lên của nhà Tây Sơn. == Trao đổi kỹ thuật và văn hóa == === Tanegashima (種子島(銃)) (‘’Chủng Tử Đảo (súng)’’) === Một trong những thứ người Nhật quan tâm là súng của Bồ Đảo Nha. Ba người châu Âu đầu tiên đến Nhật Bản là những người Bồ Đào Nha (Fernão Mendes Pinto), đi trên một con tàu Trung Quốc đến phía Nam đảo Tanegashima, ở đó họ giới thiệu vũ khí của mình với những người họ gặp. Kể từ khi súng được truyền vào Tanegashima, súng hỏa mai ở Nhật cơ bản được gọi là Tanegashima. Vào thời đó, Nhật Bản đang chìm trong nội chiếm (thời kỳ Sengoku). Nói đúng ra, người Nhật đã quen với thuốc súng (được phát mình và du nhập từ Trung Hoa), và đã sử dụng loại súng đơn giản của Trung Quốc và đại bác ống gọi là Teppō (鉄砲 "Thiết pháo") từ khoảng 270 năm trước khi người Bồ Đào Nha đến. Tuy vậy, súng của Bồ Đào Nha nhẹ hơn, có bộ điểm hỏa cơ khí và dễ ngắm bắn. Damiyo nổi tiếng, người gần như đã thống nhất được Nhật Bản, Oda Nobunaga, sử dụng đại trà súng hỏa mai trong trận chiến quyết định Nagashino, được Akira Kurosawa chuyển thể thành bộ phim năm 1980 Kagemusha (Chiến binh bóng đêm). Trong vòng chưa đầy một năm, thợ đúc kiếm và thợ rèn Nhật Bản đã tái tạo thành công cơ cấu và có thể sản xuất hàng loạt súng. Chỉ trong vòng 50 năm sau đó, ’’’’cho đến cuối thế kỷ 16, súng đã trở nên thông dụng ở Nhật Bản hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới ", quân đội của họ trang bị số lượng súng lớn hơn bất kỳ một quân đội cùng thời nào ở châu Âu (Perrin). Súng đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất Nhật Bản của Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu, cũng như những cuộc xâm lược Triều Tiên của Hideyoshi năm 1592 và 1597. === Shuinsen (朱印船) === Thuyền buồm châu Âu có ảnh hưởng nhất định đến ngành công nghiệp đóng tàu Nhật Bản, và thực sự đã kích thích nhiều chuyến hải hành mạo hiểm của người Nhật. Mạc phủ thiết lập hệ thống hải thương với các con thuyền có giấy phép gọi là Châu ần thuyền (朱印船), dong buồm trên toàn cõi Đông và Đông Nam Á. Những con tàu này được kết hợp nhiều chi tiết thiết kế thuyền buồm, ví dụ như buồm, bánh lái và bố trí súng. Chúng mang thương nhân và nhà thám hiểm Nhật Bản đến các bến cảng Đông Nam Á, vài người dần có ảnh hưởng nhất định với các sự vụ tại địa phương, ví dụ như nhà thám hiểm Yamada Nagamasa ở Siam, hay sau này trở thành những hình tượng được yêu thích ở Nhật Bản như Tenjiku Tokubei. Cho đến đầu thế kỷ 17, Mạc phủ đã đóng vài con thuyền hoàn toàn dựa trên thiết kế Nanban, thường với sự trợ giúp của các chuyên gia nước ngoài, ví dụ như thuyền buồm San Juan Batista, hai lần vượt Thái Bình Dương với nhiệm vụ đưa đoàn sứ thần đến Nueva España (Mexico). === Đạo Công giáo ở Nhật Bản === Sau chuyến viếng thăm của tu sỹ dòng Tên hàng đầu Francis Xavier năm 1549, đạo Công giáo đã phát triển mạnh mẽ như là một tôn giáo quan trọng ở Nhật Bản. Mặc dù sự khoang dung của các "linh mục" phương Tây ban đầu liên quan đến vấn đề thương mại. Công giáo cũng đã có đến 200.000 tín đồ vào cuối thế kỷ 16, chủ yếu là nằm ở phía Nam đảo Kyūshū. Dòng Tên nhận được quyền lực thi hành pháp lý ở thành phố thương mại Nagasaki. Phản ứng đầu tiên là của kampaku Hideyoshi vào năm 1587, khi ông ban chiếu cấm đạo Công giáo, và ra lệnh trục xuất tất cả các linh mục. Tuy vậy, biện pháp này không được thực thi rốt ráo (chỉ có 3 trên 130 tu sỹ dòng Tên rời Nhật Bản), và các tu sỹ vẫn có thể theo đuổi mục đích của mình. Hideyoshi đã viết rằng: "1. Nhật Bản là đất nước của Thánh Thần, và với những linh mục đến đây mà giao giảng những phép tắc ma tà, là điều hiểm ác và không thể chấp nhận được... 2. Với những linh mục đến Nhật Bản và cải đạo dân chúng nơi đây, thiêu hủy chùa chiền và đền thờ Shinto, đến nay là chuyện chưa bao giờ nghe thấy, chưa bao giờ nhìn thấy… khuấy động lũ hạ dân làm điều phạm thượng loại này đáng bị trừng trị nghiêm khắc." (From Boxer, "The Christian century in Japan") Ông cũng lo lắng về nạn nô lệ mà đối tượng chủ yếu là phụ nữ Nhật Bản, họ là món hàng buôn bán giữa các daimyo Công giáo và người Bồ Đào Nha Maranos, ước tính đã có khoảng 500.000 người Nhật bị rao bán, chủ yếu là để đổi lấy thuốc súng. Phản ững của Hideyoshi với Công giáo mạnh mẽ hơn khi một thuyền buồm bị đắm của Tây Ban Nha mang giáo phái Francis đến Nhật Bản năm 1597. Vụ xử tử 26 người Công giáo (6 tu sĩ Dòng Phanxicô, 17 người mới nhập đạo, và 6 tu sĩ Dòng Tên - do nhầm lẫn) diễn ra Nagasaki ngày 5 tháng 2 năm 1597. Dường như quyết định của Hideyoshi là do lời khích bác của các tu sỹ dòng Tên để tiêu diệt địch thủ của mình, người Tây Ban Nha thông báo với ông rằng các chiến dịch quân sự thường theo sau việc truyền đạo Công giáo. Mặc dù gần 100 nhà thờ bị thiêu hủy, nhưng phần lớn tu sỹ dòng Tên vẫn ở lại Nhật. Cú đòn cuối cùng của Tokugawa Ieyasu là lệnh cấm ngặt Công giáo năm 1614, dẫn đến những hành động ngấm ngầm của tu sỹ dòng Tên, và sự tham gia của họ vào cuộc nổi dậy của Hideyori (1614-15). Việc đàn áp Công giáo trở nên dữ dội hơn sau cái chết của Ieyasu năm 1616, tra tấn và xử tử khoảng 20.000 người Công giáo (70 người phương Tây, còn lại là người Nhât), khiến 200-300.000 người bỏ đạo. Phản ứng mạnh mẽ cuối cùng của người Công giáo Nhật Bản là cuộc Nổi loạn Shimabara năm 1637. Sau đó, Công giáo Nhật Bản chuyển vào hoạt động ngầm, sử học gọi là Kakure Kirishitan ("Người bí mật theo Công giáo"). === Những ảnh hưởng Nanban khác === Nanban cũng có nhiều ảnh hưởng khác như: Nanbandō (南蛮胴) ("Nam Man Đỗng") dùng để chỉ một loại áo giáp bọc lấy thân người chỉ với một mảnh, thiết kế bắt nguồn từ châu Âu. Nanbanbijutsu (南蛮美術) ("Nam Man Mỹ thuật") dùng để miêu tả chung nghệ thuật Nhật Bản với chủ đề Nanban hay chịu ảnh hưởng của thiết kế Nanban. Nanbanga (南蛮画) ("Nam Man họa") dùng để chỉ các bức tranh do người nước ngoài vẽ, và tạo ra cả một phong cách trong nghệ thuật Nhật Bản (Xem Nghệ thuật Namban và ví dụ tại:[1] hay [2]) Nanbannuri (南蛮塗り) miêu tả kiểu tranh trí sơn mài dưa trên phong cách Bồ Đào Nhà, và là những vật dụng rất được yêu thích từ cuối thế kỷ 16 (Xem ví dụ tại: [3]). Nanbangashi (南蛮菓子) ("Nam Man quả tử") là các loại kẹo có nguồn gốc từ gia vị Bồ Đào Nhà và Tây Ban Nha, loại kẹo được yêu thích là "Kasutera" (カステラ) được đặt theo tên Castile và "Kompeito" (金平糖 こんぺいとう) được đặt tên theo từ tiếng Bồ Đào Nha "confeito", có nghĩa là kẹo đường. Các loại kẹo của người "Nam Man" vẫn được bày bán trong các siêu thị Nhật Bản cho đến ngày nay. Nanbanji (南蛮寺, "Nam Man tự", Nanbanji) là nhà thờ Công giáo đầu tiên ở Kyoto. Với sự giúp sức của Oda Nobunaga, linh mục dòng Tên Gnecchi-Soldo Organtino xây dựng hà thờ này năm 1576. 11 năm sau (1587), Nanbanji bị Toyotomi Hideyoshi thiêu hủy. Ngày nay, quả chuông vẫn được giữ gìn, gọi là "Nanbanji-no-kane" (Chuông Nanbanji) tại Đền Shunkoin ở Kyoto.Shunkoin Temple == Thương mại Nanban suy sụp == Tuy vậy, sau khi đất nước hòa bình và thống nhất nhờ Tokugawa Ieyasu năm 1603, Nhật Bản lại thu mình với những người Nam Man, chủ yếu là vì mối đe dọa ngày càng tăng của sự Phúc Âm hóa. Cho đến năm 1650, trừ tiền đồn trao đổi ở Dejima, Nagasaki, cho người Hà Lan, và một số việc buôn bán với Trung Quốc, người nước ngoài là đối tượng của hình phạt tử hình, và những người cải đạo Công giáo bị xử tử. Súng gần như bị bỏ đi để thay vào đó là thanh kiếm "văn minh" hơn. Việc đi ra nước ngoài và đóng các con tàu lớn cũng bị cấm. Sau đó bắt đầu thời kỳ bế quan tỏa cảng, hòa bình, thịnh vượng và tiến triển chậm chạp của những năm Edo. Những người "Nam Man" sẽ quay trở lại 250 năm sau đó, hùng mạnh hơn nhờ quá trình công nghiệp hóa, và chấm dứt sự cô lập của Nhật Bản, hạm đội Hoa Kỳ dưới sự chỉ huy của Phó đề đốc Matthew Perry sẽ buộc nước Nhật phải mở cửa lại năm 1854. == Cách sử dụng chữ "Nanban" == Cụm từ Nanban không biến mất trong đời sống hàng ngày cho đến thời kỳ Minh Trị, khi Nhật Bản quyết định Âu hóa triệt để với mục đích kháng cự tốt hơn với phương Tây, và không còn coi người phương Tây là những kẻ hoàn toàn "dã man" nữa. Những chữ như Yōfu (洋風), hay "dương phong", và Obeifu (欧米風), hay "Âu mễ phong" thay thế cho từ Nanban. Tuy vậy, quy tắc chính xác của quá trình âu hóa là Wakon-Yōsai (和魂洋才 hay "Hòa hồn Dương tài"), với mục đích ám chỉ rằng mặc dù công nghệ có thể tiếp thu từ phương Tây, nhưng tinh thần Nhật Bản vẫn vượt trội so với tinh thần phương Tây, nhưng có lẽ đó không phải là lý do để sử dụng từ "dã man" một cách công khai nữa... Ngày nay từ ‘’Nanban' chỉ còn được sử dụng trong tài liệu lịch sử, và được coi là kỳ quặc và xúc phạm. Nó đôi khi có thể được dụng để đùa cợt người phương Tây hoặc những người từ các nền văn hóa khác. Có một khu vực mà Nanban được sử dụng đặc biệt để chỉ một phong cách nhất định. Đó là nấu ăn và tên món ăn. Những món ăn Nanban không phải là món châu Mỹ hay châu Âu nhưng mà là những món ăn lạ không dùng nước tương hay miso mà dùng bột cà ri và rượu vang làm gia vị, một phong cách đặc trưng của phong cách ẩm thực từ Indo-Bồ Đào Nha Goan. Một số món khá giống món Đông Nam Á và thay đổi rất nhiều để phù hợp với khẩu vị người Nhật như ramen, đến nỗi chúng được coi là những món khác. == Mốc thời gian == 1543 – Thủy thủ Bồ Đào Nha (trong số họ có thể có Fernão Mendes Pinto) đến Tanegashima và truyền lại súng hỏa mai. 1549 - St Francis Xavier đến Kagoshima. 1555 – Bồ Đào Nha thiết lập Macau. Hàng năm gửi tàu thương mại đến Nhật Bản. 1570 – Cướp biển Nhật Bản chiếm một phần Đài Loan, từ đây họ thường xuyên quấy rối Trung Quốc. 1575 - Trận Nagashino, hỏa lực được sử dụng rông rãi. 1577 – Con tàu Nhật Bản đầu tiên đến Nam Kỳ, Nam Việt Nam. 1579 – Tu sĩ dòng Tên Alessandro Valignano đến Nhật Bản. 1580 – Dòng Tên nhận Nagasaki daimyo theo Công giáo Arima Harunobu. 1580 – Tu sĩ Dòng Phanxicô chạy trốn khỏi Nhật Bản đến An Nam (Việt Nam). 1584 - Mancio Ito đến Lisbon với ba người Nhật khác, đi cùng một linh mục dòng Tên. 1588 - Hideyoshi cấm cướp biển. 1592 – Nhật Bản xâm lược Cao Ly Những cuộc xâm lược Cao Ly của Hideyoshi với 160.000 quân. - Ghi chép sớm nhất về Châu ấn thuyền. 1597 – Hành quyết 23 người tử đạo Nhật Bản (chủ yếu là tu sĩ Dòng Phanxicô) ở Nagasaki. 1598 – Hideyoshi qua đời 1600 - William Adams đến Nhật trên tàu Liefde. - Trận Sekigahara, Tokugawa Ieyasu thống nhất Nhật Bản. 1602 – Tàu chiến Hà Lan tấn công tàu vuông Bồ Đào Nha Santa Catarina gần Malacca. 1603 - Edo được chọn làm nơi đặt chính quyền Bakufu. - Thành lập thương điếm Anh ở Bantam, Java. 1605 – Hai người bạn cùng tàu của William Adams được Tokugawa Ieyasu gửi đến Pattani, để mời người Hà Lan giao thương với Nhật Bản. 1609 – Hà Lan mở thương điếm ở Hirado. 1612 - Yamada Nagamasa định cư ở Ayutthaya, Siam. 1613 - Anh mở thương điếm ở Hirado. - Hasekura Tsunenaga đi sứ Mỹ và châu Âu. Ông trở về năm 1620. 1614 – Trục xuất dòng Tên khỏi Nhật Bản. Cấm đạo Công giáo. 1615 – Tu sĩ dòng Tên Nhật Bản bắt đầu truyền giáo ở Việt Nam. 1616 - Tokugawa Ieyasu qua đời. 1622 – Thảm sát người theo Công giáo. - Hasekura Tsunenaga qua đời. 1623 – Người Anh đóng cửa thương điếm ở Hirado, vì không sinh lời. - Yamada Nagamasa dong buồm từ Xiêm đến Nhật Bản, với một sứ thần của Vua Xiêm Songtham. Ông trở về Xiêm năm 1626. - Cấm giao thương với Philippines thuộc Tây Ban Nha. 1624 – Cắt đứt quan hệ ngoại giao với Tây Ban Nha. - Tu sĩ dòng Tên Nhật Bản bắt đầu truyền giáo ở Xiêm. 1628 – Đoàn Châu ấn thuyền của Takagi Sakuemon (高木作右衛門, "Cao Mộc Tác Hữu Vệ Môn") bị hải đội Tây Ban Nha phá hủy ở Ayutthaya, Xiêm. Để trả đũa, giao thương với Bồ Đào Nha ở Nhật bị cấm trong suốt 3 năm. 1632 - Tokugawa Hidetada qua đời. 1637 - Nổi loạn Shimabara của nông dân Công giáo. 1638 – Dứt khoát cấm giao thương với Bồ Đào Nha do Nổi loạn Shimabara bị quy là do âm mưu Công giáo. 1641 – Thương điếm Hà Lan chuyển từ Hirado đến Nagasaki. == Chú thích == == Tài liệu ham khảo == Giving Up the Gun, Noel Perrin, David R. Godine Publisher, Boston. ISBN 0-87923-773-2 Samurai, Mitsuo Kure, Tuttle publishing, Tokyo. ISBN 0-8048-3287-0 The Origins of Japanese Trade Supremacy. Development and Technology in Asia from 1540 to the Pacific War, Christopher Howe, The University of Chicago Press. ISBN 0-226-35485-7 == Liên kết ngoài == Tranh gấp Nanban Nghệ thuật Nanban (tiếng Nhật) Nghệ thuật Nhật Bản và ảnh hưởng phương Tây Đền Shunkoin Chuông Nanbanji Japan Mint: 2005 Cuộc thi thiết kế đồng xu quốc tế, Jury's Special Award -- "Gặp gỡ văn hóa" của Vitor Santos (Bồ Đào Nha)
wales.txt
Wales (tiếng Wales: Cymru /ˈkəmrɨ/, phiên âm tiếng Việt: Vu-êu-xư) là một trong bốn quốc gia cấu thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Wales tọa lạc ở Tây-Nam Đảo Anh và giáp Anh về phía Đông, Eo biển Bristol (Môr Hafren) về phía Nam và Biển Ireland (Môr Iwerddon) về phía Tây và phía Bắc, và cũng nằm bên cửa sông Dee (Afon Dyfrdwy) về phía Đông-Bắc. Wales là công quốc lớn nhất thế giới. Bản sắc văn hóa của Wales được đại diện bằng các yếu tố như thổ ngữ tiếng Wales, sự khổ hạnh tu hành, một hệ thống hệ thống pháp luật thế tục phát triển cao, và một nền truyền thống văn học riêng biệt đã nổi trội lên sau khi quân La Mã rút khỏi Anh vào thế kỷ thứ 5. Trong số các tổ chức nhà nước bên trong Wales, chỉ có Gwynedd vẫn giữ được độc lập cho đến cuối thế kỷ 13 khi bị Anh xâm chiếm. Tuy nhiên, việc thôn tính chính thức và việc hủy bỏ luật của Wales phải mãi đến thế kỷ 16 mới hoàn thành. Wales (với tất cả các vùng được thống nhất dưới một chính phủ) đã chưa bao giờ là một nhà nước có chủ quyền, dù một số công quốc cát cứ vẫn giữ độc lập cho đến thời điểm bị sự xâm chiếm của Anglo-Norman. Từ thế kỷ 19 trở đi, nhiều nơi của Wales đã được công nghiệp hóa cao độ, xuất khẩu số lượng lớn than đá và thép và thiết lập một cơ sở chế tạo lớn. Đến thời gian gần đây mới bị lĩnh vực dịch vụ vượt qua. Hai phần ba dân số của Wales sống ở các thung lũng và đồng bằng ven biển phía Nam, một số lượng đáng kể tập trung ở phía Đông Bắc. Các phần dân số còn lại ở Trung Wales, vùng Tây và Tây Nam chủ yếu là nông thôn và có đặc trưng là các vùng đồi núi. Kể từ thế kỷ 20 trở đi, đã diễn ra một sự hồi sinh về ý thức và tình cảm dân tộc Wales. Thành phố lớn nhất của Wales, Cardiff (Caerdydd) đã được chọn làm thủ đô của Wales năm 1955. Quốc hội Wales (Cynulliad Cenedlaethol Cymru) đã được thành lập năm 1999, có quyền sửa đổi pháp chế căn bản từ Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Các quyền hạn này đã được mở rộng bằng Sắc luật chính quyền Wales năm 2006, và Quốc hội Wales ngày nay có thể đề xuất và thông qua luật nhưng chỉ sau khi có được phép của Quốc hội Anh. == Nguồn gốc tên gọi == Tên gọi bằng tiếng Anh của Wales xuất phát từ một từ tiếng Đức Walha, có nghĩa "người lạ" hay "người nước ngoài", có lẽ lấy từ thuật ngữ Volcae. Thuật ngữ này cũng xuất hiện ở trong "-wall" của Cornwall. Người Wales gọi họ là Cymry trong tiếng Wales, chắc chắn nhất có nghĩa là "những người đồng bào" trong tiếng Wales Cổ. Tên gọi này đã tranh đua trong một thời gian dài trong văn học Wales với tên gọi cũ hơn là Brythoniaid (Brythons). Chỉ sau năm 1100 thì tên gọi sau cũ hơn đó mới trở nên thông dụng như tên Cymry; cả hai thuật ngữ ban đầu áp dụng không chỉ cho các cư dân của nơi mà nay là Wales, nhưng nói chung cũng cho những người nói tiếng Brython và các hậu duệ của họ, nhiều người trong số đó sống ở "Xứ Bắc Cổ": các tên gọi Cymru (trong tiếng Wales có nghĩa là Wales) và Cumbria có cùng nguồn gốc. Các từ Angles, Saxons và Jutes được gọi không phân biệt thành Saeson trong tiếng Wales (các thuật ngữ tương tụư với "Saxon"; so với tiếng Gaelic Sassenach); Sais, số nhiều Saeson, là từ tiếng Wales hiện đại có nghĩa là "người Anh". Có một truyền thuyết thời Trung cổ được tìm thấy trong Historia Regum Britanniae của Sieffre o Fynwy (Geoffrey của Monmouth) cho rằng tên gọi lấy từ tên Camber, con trai của Brutus và, theo truyền thuyết này, vị vua của Cymru được lấy tên (Cambria trong tiếng Latin); tuy nhiên điều này được mọi người cho là sản phẩm của trí tưởng tượng sinh động của Geoffrey. Cumberland và Cumbria ở Bắc nước Anh lấy tên từ một từ tiếng Wales Cổ. == Lịch sử == === Nguồn gốc tiền sử === === Thời La Mã === Lịch sử được ghi nhận bằng tài liệu đầu tiên là những gì được ghi chép lại từ thời La Mã chiếm đóng Anh. Vào thời đó, xứ Wales ngày nay đã được chia ra nhiều bộ lạc, trong số đó những người Silure ở Đông Nam và Ordovice ở các khu vực Trung và Tây Bắc là đông nhất và mạnh nhất. Người La Mã đã thiết lập một dãy các pháo đài dọc theo khu vực ngày nay là Southern Wales, đến tận phía Tây như Carmarthen (Caerfyrddin; Latin: Maridunum), và khai thác vàng tại Dolaucothi ở Carmarthenshire. === Hậu La Mã === === Xử Wales thời Trung cổ === === Xứ Wales thời công nghiệp === === Xứ Wales thời hiện đại === == Địa lý == Wales nằm trên bán đảo phía trung tâm phía tây Vương quốc Anh, có diện tích khoảng 20.779 km (khoảng 8.023 dặm vuông, gần bằng vùng Massachusetts, tương đương Slovakia, hay xấp xỉ El Salvador), chiều dài khoảng 274 km (170 dặm), và chiều rộng khoảng 97 km (60 dặm). Wales có phần đất liền giáp Anh ở phía Đông; phần lãnh hải giáp Môr Hafren (kênh Bristol) ở phía Nam, kênh St. George ở phía Tây và phía Bắc giáp biển Ireland. Ngoài ra, xung quanh Wales còn có rất nhiều hòn đảo nằm rải rác, trải rộng trên đường bờ biển dài 1.200 km (750 dặm) của công quốc rộng lớn nhất thế giới này. Dân số của Wales phần lớn sinh sống ở phía Nam, và nơi đây cũng chính là khu vực tập trung các vùng công nghiệp phát triển với những thành phố lớn như Cardiff (Caerdydd), Swansea (Abertawe) và Newport (Casnewydd). Phần lớn các danh lam thắng cảnh của Wales tập trung ở đồi núi đặc trưng cho phía Bắc. Hình dáng đắc sắc của các dãy núi ngày nay có được là nhờ quá trình "gọt đẽo" vào cuối kỷ băng hà. Dãy núi đồ sộ nhất của Wales ngày nay là Snowdonia (Eryri) với đỉnh cao nhất Snowdon (Yr Wyddfa) cao 1.085 m; sẽ có khoảng 14 (hoặc cũng có thể là 15) dãy núi ở Wales đạt đến độ cao 3.000 feet (khoảng 914 m) vào những năm 3000. Wales có 3 công viên Quốc gia: Snowdonia, Brecon Beacons và Bờ biển Pembrokehire; 5 thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng: Anglesey, dãy Clwydian-thung lũng Dee, bán đảo Gower, bán đảo Llŷn, và thung lũng Wye. Trong số đó, bán đảo Gower là nơi đầu tiên được Vương quốc Liên hiệp Anh công nhận là Thắng cảnh Thiên nhiên Nổi bật vào năm 1956. Xứ Wales có đường bờ biển phía Tây và phía Bắc trải dài hàng dặm, đẹp tuyệt mỹ với các địa danh: thung lũng Gower, Pembrokeshire, Carmarthenshire, và Ceredigion đầy hoang sơ. Ngoài ra, vùng đất này còn có vô số các bãi biển quyến rũ du khách với những bãi cát trắng, nước xanh vắt và một hệ sinh thái biển phong phú như Gower, Carmarthenshire, Pembrokeshire và vịnh Cardigan. Tuy nhiên, đằng sau những vẻ đẹp đó, xứ Wales có nhiều nơi đang bị chỉ trích nặng nề. Cùng với vùng biển Ireland, Conwall, vùng biển phía Tây và Nam Wales mỗi năm có rất nhiều con tàu bị phá hoại, làm bẩn bởi những cơn gió của Đại Tây Dương thổi từ phía Tây. Vào đêm 25 tháng 10 năm 1859, 114 con tàu bị cuốn văng bởi một cơn bão Đại Tây Dương. Theo con số thống kê gần đây cho thấy, xứ Wales là nơi đứng đầu châu Âu về số tàu bị đắm mỗi năm. GIống như Cornwall, Brittany và Ireland, vùng biển đẹp phía Tây - Nam Wales (Gower, Carmarthenshire, Pembrokeshire và vịnh Cardigan) có một hệ sinh thái biển rất phong phú với các loài động vật như: hải cẩu xám, rùa da, cá heo, cua, tôm hùm, cá heo mũi chai... == Các khu vực hành chính == Để thuận tiện cho việc quản lý, năm 1996, Wales được chia thành 22 hội đồng khu vực. Có rất nhiều cơ quan phụ trách các lĩnh vực khác nhau bao gồm giáo dục, giải quyết việc làm, môi trường và hạ tầng giao thông. Nữ hoàng bổ nhiệm Quan Khâm sai đại diện cho Hoàng gia Anh ở tám tỉnh của Wales. Có năm thành phố ở Wales: Bangor Cardiff (Caerdydd) Newport (Casnewydd) St David's (Tyddewi) Swansea (Abertawe) Bản mẫu:Wales subdivisions === Khí hậu === Nhiệt độ cao nhất đo được: 35.2 °C (95.4 °F) tại Hawarden Bridge, Flintshire vào ngày 2 tháng 8 năm 1990. Nhiệt độ thấp đo được: -23.3 °C (-10 °F) tại Rhayader, Radnorshire vào ngày 21 tháng 1 năm 1940. [1] Thời gian Mặt trời chiếu lâu nhất trong một tháng: 354.3 giờ tại Dale Fort, Pembrokeshire vào tháng 7 năm 1955. Thời gian Mặt trời chiếu ngắn nhất trong một tháng: 2.7 giờ tại Llwynon, Brecknockshire vào tháng 1 năm 1962. [2] Lượng mưa cao nhất đo được (0900 UTC - 0900 UTC): 211 mm (khoảng 8.30 inches) tại Rhondda, Glamorgan, vào ngày 11 tháng 11, 1929. [3] == Kinh tế == Nhiều vùng của Wales đã được công nghiệp hóa cao kể từ thế kỷ 18. Than đá, đồng, sắt, bạc, chì, vàng và đá đen đã được khai thác ở Wales. Đến giữa sau thế kỷ 19, ngành khai khoáng và luyện kim đã chiếm lĩnh nền kinh tế của Wales, làm chuyển biến cảnh quan và xã hội ở các khu vực công nghiệp của phía Nam và Đông Bắc Wales. Kể từ đầu thập niên 1970, nền kinh tế của Wales đã phải đối mặt với công cuộc tái cơ cấu to lớn với một số lớn công việc trong ngành công nghiệp nặng truyền thống đã mất đi và được thay bằng các loại công việc mới trong ngành công nghiệp nhẹ và trong lĩnh vực dịch vụ. Trong thời gian này, Wales đã thành công trong việc thu hút một phần đầu tư trực tiếp nước ngoài cao trên mức trung bình ở Anh quốc. Tuy nhiên, phần lớn ngành công nghiệp mới thực tế thuộc một loại "nhà máy chi nhánh", thường là các dây chuyền lắp ráp sử dụng nhân công có tay nghề thấp. Wales đã cố gắng để phát triển hoặc thu hút công việc có giá trị gia tăng cao trong các lĩnh vực như tài chính và nghiên cứu và phát triển, một phần là do thiếu đáng kể quần chúng kinh tế (có nghĩa là dân số) và sự thiếu vắng một thành phố lớn - Cardiff thì nhỏ hơn các thành phố vùng lớn của Đảo Anh như Leeds, Manchester hay Bristol, hoặc các thành phố hàng đầu ở các nước nhỏ như Dublin, Copenhagen hay Helsinki. Sự thiếu công việc trong lĩnh vực có giá trị gia tăng cao được phản ánh qua chỉ số sản lượng kinh tế đầu người thấp hơn tương đối so với các vùng khác của Anh quốc – năm 2002, con số này là khoảng 90% mức trung bình của EU25 và khoảng 80% mức trung bình của nước Anh. Tuy nhiên, cần phải thận trọng khi đánh giá thông qua chỉ số này do sự khác biệt chi phí sính hoạt của các khu vực. Mức chênh lệch về mức sống thực tế giữa Wales và các vùng giàu hơn của nước Anh không rõ rệt. Năm 2002, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Wales chỉ hơn 26 tỷ bảng Anh (48 tỷ USD), với GDP đầu người là £12.651 ($19.546). Đến năm 2006, tỷ lệ thất nghiệp của Wales là 5,7% - cao hơn mức trung bình của nước Anh, nhưng thấp hơn phần lớn các nước EU. Do đất cằn nên Wales không phù hợp cho nghề trồng trọt, do đó ngành chăn nuôi về truyền thống vẫn là nghề nông chính. Cảnh quan của Wales (được bảo vệ bằng 3 vườn quốc gia) cũng như nền văn hóa của Wales độc đáo đã thu hút một lượng lớn du khách và đóng góp quan trọng cho kinh tế các khu vực nông thôn. == HÌnh ảnh về Wales == == Những người xứ Wales nổi tiếng == xem Danh sách những người xứ Wales nổi tiếng == Xem thêm == England và Wales Quý tộc ở Wales Chủ nghĩa dân tộc Wales Tiếng Wlaes Đảng Lao động Wales Plaid Cymru Wales Council for Voluntary Action Visit Wales Welsh settlement in Argentina Seven Wonders of Wales Thủ đô Wales National Eisteddfod == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Wales - World Nation Welsh Icons - About Wales and all things Welsh Myths of British ancestory BBC Wales http://www.llywelyn.co.uk National Assembly for Wales 100 Welsh Heroes Wales Council for Voluntary Action Wales Tourists Online VisitWales
the guardian.txt
The Guardian là một nhật báo được phát hành hàng ngày ở Vương quốc Anh thuộc sở hữu của Guardian Media Group. Thành lập năm 1821, đây là một tờ báo hiếm hoi trong các tờ báo lớn ở Anh thuộc sở hữu bởi một tổ chức phi lợi nhuận (Scott Trust, thông qua Guardian Media Group). Đây là tờ báo nổi tiếng với khuynh hướng chính trị trung tả, trong cuộc bầu cử năm 2010 ở Anh, tờ báo đã ủng hộ đảng Tự do Dân chủ. The Guardian có lượng lưu hành đạt 283.063 bản tính ở thời điểm tháng 3 năm 2010, xếp sau The Daily Telegraph và The Times nhưng xếp trên The Independent. Trang web guardian.co.uk là một trong những website tin tiếng Anh có lượng truy cập lớn nhất thế giới. Theo biên tập viên của tờ báo, The Guardian có lượng độc giả online cao thứ hai trên thế giới trong các website báo tiếng Anh, chỉ sau tờ New York Times. The Guardian Weekly, là phiên bản cuối tuần được phát hành rộng rãi trên thế giới, với nội dung từ tờ The Guardian và thời báo chủ nhật The Observer, cũng như các bài báo và bài phê bình từ tờ The Washington Post và các bài báo được dịch từ tờ Le Monde. == Chú thích == == Liên kết == Website chính thức Founding of the Manchester Guardian GuardianFilms website
chinua achebe.txt
Chinua Achebe (phát âm như "Chi-nu-a A-chê-bê"; 16 tháng 11 năm 1930 - 21 tháng 3 năm 2013) là nhà văn và nhà thơ người Nigeria, nhà phê bình văn học được kính mến và bị tranh cãi, và là một trong những tác giả phổ biến nhất trong thế kỷ 20. Ông là nhà ngoại giao trong chính phủ Biafra không thành công của những năm 1967–1970; các tác phẩm của ông phần nhiều nói về chính trị châu Phi, cách miêu tả châu Phi và người châu Phi ở phương Tây, và các điều rắc rối trong văn hóa và văn minh châu Phi trước thời thuộc địa, cũng như những ảnh hưởng của thuộc địa hóa đối với các xã hội châu Phi. Tác phẩm chính của Achebe, Things Fall Apart (Mọi thứ đều đổ vỡ, 1958), là tiểu thuyết lịch sử nghĩ đến những ảnh hưởng của thuộc địa hóa đối với xã hội của người Igbo; nó được dịch ra 50 ngôn ngữ. Ông nổi tiếng về bài phê bình Joseph Conrad; bài Home and Exile (2001) của ông lập lại ý kiến lâu rằng châu Phi và người châu Phi bị cách ly khỏi đường phát triển xã hội vì những người trí thức châu Âu và phương Tây miêu tả họ không chính xác. == Tác phẩm == === Tiểu thuyết === Things Fall Apart, 1958 No Longer at Ease, 1960 Arrow of God, 1964 A Man of the People, 1966 Chike and the River, 1966 Anthills of the Savannah, 1988 === Truyện ngắn === The Sacrificial Egg and Other Stories, 1962 Girls at War and Other Stories, 1973 African Short Stories (thu thập với C.L. Innes), 1985 Heinemann Book of Contemporary African Short Stories (thu thập với C.L. Innes), 1992 Civil Peace === Bài thơ === Beware, Soul-Brother, and Other Poems, 1971 (xuất bản tại Hoa Kỳ là Christmas at Biafra, and Other Poems, 1973 Don't let him die: An anthology of memorial poems for Christopher Okigbo (thu thập với Dubem Okafor), 1978 Another Africa, 1998 Collected Poems, 2004 Refugee Mother And Child === Bài luận và bài phê bình === The Novelist as Teacher, 1965 An Image of Africa: Racism in Conrad's "Heart of Darkness", 1975 Morning Yet on Creation Day, 1975 The Trouble With Nigeria, 1984 Hopes and Impediments, 1988 Home and Exile, 2000 === Sách cho trẻ em === Dead Men's Path, 1972 How the Leopard Got His Claws (với John Iroaganachi), 1972 Marriage Is A Private Affair The Flute, 1975 The Drum, 1978 == Giải thưởng == 2002: Giải Hòa bình của ngành kinh doanh sách Đức 2007: Giải Man Booker quốc tế == Chú thích == == Liên kết ngoài == Chinua Achebe ở Internet Book List Chinua Achebe ở Internet Book Database of Fiction Chinua Achebe ở Internet Speculative Fiction Database Achebe đọc bài thơ của ông
the piano.txt
The Piano là một bộ phim chính kịch của New Zealand năm 2003 về một người phụ nữ chơi nhạc piano giao hưởng và con gái cô. Đặt bối cảnh giữa thế kỷ 19 trong một thị trấn biên giới bên bờ sông đầy bùn và ẩm ướt ở mạn biển phía tây của New Zealand, câu chuyện xoay quanh niềm đam mê chơi piano của một nghệ sĩ chơi nhạc cụ này và những cố gắng của cô để chuộc lại cây đàn sau khi nó bị bán. The Piano do Jane Campion đạo diễn và viết kịch bản, có sự tham gia của Holly Hunter, Harvey Keitel, Sam Neill và Anna Paquin trong vai diễn đầy tay của cô. Nhạc nền phim cho piano của Michael Nyman trở thành album nhạc phim bán chạy nhất, và Hunter đã tự chơi piano trong suốt bộ phim. Cô đồng thời cũng là giáo viên dạy ngôn ngữ ký hiệu cho Paquin, kiếm được ba cảnh screen credit (cảnh phim sau chạy chữ cuối phim). Phim là sự hợp tác sản xuất quốc tế của nhà sản xuất người Úc Jan Chapman và công ty của Pháp Ciby 2000. == Tham khảo ==
tỉnh (argentina).txt
Argentina được chia ra làm 23 tỉnh (tiếng Tây Ban Nha: provincias, số ít: provincia) và một thành phố tự trị (Ciudad autónoma de Buenos Aires). Thành phố và các tỉnh của Argentina đều có hiến pháp riêng nhưng đều tồn tại dưới một hệ thống liên bang. == Dân số == a San Fernando del Valle de Catamarca.b Không bao gồm tuyên bố chủ quyền vớiquần đảo Falkland hay châu Nam Cực. == Cờ tỉnh == Cờ các tỉnh của Argentina == Chú thích == == Liên kết == Argentine provinces (tiếng Tây Ban Nha) Information of Argentine provinces (tiếng Tây Ban Nha) Provincias Argentinas (tiếng Tây Ban Nha) Territorial Division Provinces' Flags and Governors since 1983
phụ âm.txt
Phụ âm là âm thanh của lời nói, được phát âm rõ ràng với sự đóng hoàn toàn hay một phần của thanh quản. Ví dụ [p] (tiếng Anh: "pop"), phát âm bằng môi; [t] (tiếng Việt: "ta"), phát âm bằng phần phía trước của lưỡi; [k] (tiếng Việt: "cá", đừng nhầm lẫn với kh), phát âm bằng mặt lưng của lưỡi; [h], phát âm từ họng; [f] và [s], phát âm bằng cách đưa không khí qua một đường thoát hẹp; [m] và [n] là những âm mà không khí được thoát ra đằng mũi (âm mũi). Đối lập với phụ âm là nguyên âm. Vì số phụ âm trong các ngôn ngữ trên toàn thế giới lớn hơn nhiều lần số ký tự trong bất kỳ bảng chữ cái nào, những nhà ngôn ngữ học đã tạo ra bảng mẫu tự phiên âm quốc tế (IPA) với mỗi ký tự ghi một âm. == Chú thích == Ian Maddieson, Patterns of Sounds, Cambridge University Press, 1984. ISBN 0-521-26536-3 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == interactive manner and place of articulation
lực lượng phòng vệ nhật bản.txt
Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (自衛隊 (Tự Vệ Đội), Jieitai), hay Lực lượng Tự vệ Nhật Bản là một tổ chức vũ trang chuyên nghiệp nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới hai. Năm 2007 Cục Phòng vệ được nâng cấp lên thành Bộ Quốc phòng Nhật Bản và Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản bắt đầu có những hoạt động gìn giữ hòa bình ở ngoài biên giới với tư cách quân đội chính quy, gây nên những tranh cãi về vai trò của JSDF và những bất hòa trong xã hội Nhật.. == Lịch sử == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Ministry of Defense Joint Staff Office Website Japan Ground Self-Defence Force Website Japan Air Self-Defense Force Website Japan Maritime Self-Defense Force Website Library of Congress Country Studies--Japan Yokosuka Naval Base Community Website PBS documentary on Japan Self-Defense Forces Mục “Japan” trên trang của CIA World Factbook.
thương hàn.txt
Thương hàn là chứng bệnh đường tiêu hóa do nhiễm vi trùng Salmonella enterica serovar Typhi. Bệnh hiểm nghèo này dễ lan khi vi trùng trong phân người bị bệnh nhiễm vào thức ăn hay thức uống và truyền sang người khác. Khi theo thức ăn vào ruột, vi trùng này châm xuyên vào thành ruột và bị gộp bởi đại thực bào. Salmonella typhi lúc đó thay đổi cấu trúc để vô hiệu hóa tác động của đại thực bào nên không bị hủy diệt. Với cấu trúc mới S. typhi cũng không bị bạch cầu hạt gây hại, bổ thể và đáp ứng miễn dịch. Vi trùng sau đó theo lan tỏa theo hệ thống bạch huyết trong khi vẫn nằm gom trong đại thực bào. Từ đó chúng xâm nhập hệ thống lưới nội mô và sau đó là hầu khắp các cơ quan trong cơ thể. Salmonella enterica là vi trùng trực khuẩn Gram âm, di chuyển nhờ tiêm mao, tăng trưởng nhanh nhất ở nhiệt độ 37 °C, nhiệt độ cơ thể. Hàng năm khoảng 16-33 triệu người mắc bệnh thương hàn, 5-600.000 người chết. Tổ chức Y tế Thế giới đặt thương hàn vào loại bệnh truyền nhiễm công cộng quan trọng. Bệnh lây lan nhiều nhất ở lớp trẻ em 5 - 19 tuổi. == Triệu chứng == Bệnh thương hàn đặc trưng bởi sốt liên tục, sốt cao lên đến 40 °C (104 °F), vã nhiều mồ hôi, viêm dạ dày ruột và tiêu chảy không có màu. Ít gặp hơn là bang dát, chấm màu hoa hồng có thể xuất hiện Một cách điển hình, diễn tiến của bệnh thương hàn không được điều trị được chia làm bốn giai đoạn riêng rẽ, mỗi giai đoạn kéo dài khoảng một tuần. Trong tuần đầu tiên, có một sự gia tăng nhiệt độ từ từ tương ứng với chậm nhịp tim, khó chịu, nhức đầu và ho. Chảy máu mũi (chảy máu cam) gặp ở một phần tư các trường hợp và đau bụng cũng có thể có. Giảm bạch cầu, giảm số lượng bạch cầu trong tuần hoàn, giảm bạch cầu ưa axit tương quan với tăng bạch cầu lympho, phản ứng diazo và nuôi cấy máu dương tính với Salmonella Typhi hay Paratyphi. Test Widal kinh điển âm tính trong tuần đầu tiên. Vào tuần thứ hai của bệnh, bệnh nhân nằm liệt giường với sốt cao dạng cao nguyên quanh 40 °C (104 °F) và nhịp tim chậm (phân ly mạch nhiệt), điển hình là với mạch dội đôi. Luôn có mê sảng, li bì nhưng thỉnh thoảng bị kích thích. Sự mê sảng làm cho bệnh thường hàn có biệt danh là "sốt thần kinh" (nguyên gốc là: nervous fever). Chấm hoa hồng xuất hiện ở phần thấp của ngực và bụng ở khoảng 1/3 bệnh nhân. Có ran ngáy ở đáy phổi. Bụng chướng căng và đau ở một phần tư dưới phải nơi có thể nghe được sôi bụng. Tiêu chảy có thể xảy ra trong giai đoạn này, đi cầu sau đến tám lần trên ngày, phân màu xanh lục mùi đặc trưng, có thể so sánh với mùi súp đậu. Tuy nhiên táo bón cũng thường hay gặp. Gan và lách lớn, mềm và transaminases tăng. Phản ứng Widal dương tính rõ với kháng thể kháng O và kháng H. Nuôi cấy máu thỉnh thoảng vẫn dương tính trong giai đoạn này. Trong tuần thứ ba của thương hàn, một số biến chứng có thể xảy ra: Xuất huyết tiêu hóa, do chảy máu từ mảng Peyer xung huyết; có thể rất trầm trọng những thường không gây tử vong Thủng ruột non ở đoạn xa hồi tràng; đây là biến chứng cực kỳ trầm trọng và thường xuyên gây tử vong. Nó có thể xảy ra mà không có triệu chứng cảnh báo cho đến khi nhiễm trùng huyết và viêm phúc mạc lan tỏa bắt đầu. Viêm não Gây mủ ở cơ quan khác, viêm túi mật, viêm nội tâm mạc tim, viêm xương. Nhiệt độ tiếp tục tăng và rất ít dao động suốt hơn 24 giờ. Mất nước xảy ra sau đó và bệnh nhân mê sảng (trạng thái thương hàn). Đến cuối tuần thứ ba, sốt bắt đầu giảm (hạ sốt).Nó tiếp tục đến tuần thứ 4 và tuần cuối cùng == Chẩn đoán == Chẩn đoán được thiết lập bằng nuôi cấy máu, tủy xương, hay phân và Test Widal dương tính (chứng minh có kháng thể chống lại kháng nguyên thân O và kháng nguyên đuôi H). Yếu tố dịch tễ, và sau khi loại trừ sốt rét, lỵ hay viêm phổi. Điều trị thử với chloramphenicol nhìn chung đã được bảo đảm trong khi chờ kết quả test Widal và nuôi cấy máu. == Điều trị == Thương hàn không gây tử vong trong hầu hết các ca bệnh. Kháng sinh, như ampicillin, chloramphenicol, trimethoprim-sulfamethoxazole, Amoxicillin và ciprofloxacin, được sử dụng phổ biến để điều trị bệnh thương hàn ở các nước phát triển. Điều trị kịp thời với kháng sinh giảm tỷ lệ tử vong xuống xấp xỉ 1%. Nếu không được điều trị, thương hàn tồn tại trong ba tuần đến một tháng. Chết xảy ra ở 10% và 30 của những trường hợp không được điều trị. == Chú thích ==
sáng chế.txt
Sáng chế (invention) là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên . == Đặc điểm sáng chế == Bản chất tạo ra phương tiện mới sản phẩm mới về nguyên lý kỹ thuật, chưa từng tồn tại hoặc đã tồn tại trong một nhóm nhỏ song không phổ biến và là bí mật đối với cộng đồng, tức sáng chế vẫn có thể là mô tả chi tiết kỹ thuật tạo ra một sản phẩm kỹ thuật hoặc quy trình kỹ thuật bí mật; Không có khả năng áp dụng để giải thích thế giới; Có khả năng áp dụng trực tiếp hoặc qua thử nghiệm để ứng dụng vào sản xuất và đời sống; Có giá trị thương mại, mua bán bằng sáng chế (patent) và giấy phép (licence); Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; Và bị tiêu vong theo sự tiến bộ của công nghệ. == Ví dụ == Dưới đây là danh sách một số sáng chế nổi tiếng == Tham khảo == == Xem thêm == Phát minh/phát hiện Bằng sáng chế Biên niên sử các sáng chế == Liên kết ngoài == Sáng chế là gì Cơ sở dữ liệu sáng chế cơ khí Những sáng chế từ 1440 đến 1799
clymping f.c..txt
Clymping F.C. là một câu lạc bộ bóng đá đến từ Clymping, gần Littlehampton, Anh. Câu lạc bộ là thành viên của Sussex County Football Association. Hiện tại họ đang thi đấu ở Sussex County Football League Division Three. == Lịch sử == Câu lạc bộ được thành lập năm 1947 và ban đầu chơi ở Littlehampton and District League sau đó gia nhập West Sussex Football League. Câu lạc bộ leo lên các hạng đấu trên của West Sussex Football League, dưới thời huấn luyện viên Dominic Di Paola cuối mùa giải 2007–08, sau khi đứng thứ hai ở Premier Division, được thăng hạng Division Three của Sussex County Football League. Mùa giải đầu tiên ở Sussex County Football League chứng kiến đội bóng lên ngôi vô địch Division Three, và thăng hạng Division Two. Sau khi đứng thứ 6 trong mùa giải đầu tiên tại Division Two, huấn luyện viên Dominic Di Paola rời đi để gia nhập Worthing United, và câu lạc bộ bổ nhiệm Darren Prior làm người thay thế. Sau sự ra đi của Di Paola, câu lạc bộ đứng bét bảng Division Two và xuống trở lại Division Three. Câu lạc bộ vẫn ở Division Three đến nay. == Sân vận động == Clymping chơi trên sân nhà Clymping, A259, Climping, gần Littlehampton, West Sussex, BN17 5GW. == Danh hiệu == === Danh hiệu Giải đấu === Sussex County Football League Division ThreeVô địch (1): 2008–09 West Sussex Football League Premier Division:Á quân (1): 2007–08 West Sussex Football League Division Two South:Vô địch (2): 1997–98, 2001–02 West Sussex Football League Division Three South:Vô địch (1): 1992–93 West Sussex Football League Division Four South:Vô địch (1): 1990–91 West Sussex Football League Division Five South:Vô địch (1): 1972–73 === Danh hiệu Cup === Vernon Wentworth Cup:Vô địch (1): 2008–09 West Sussex Football League Centenary Cup:Á quân (1): 2007–08 West Sussex Football League Malcolm Simmonds:Vô địch (2): 2003–04, 2007–08 West Sussex Football League Division Three Charity Cup Winners:Vô địch (1): 1972–73 West Sussex Football League Division Four Charity Cup Winners:Vô địch (1): 1971–72 == Kỉ lục == Vị thứ cao nhất giải đấu: thứ 6 ở Sussex County Football League 2009–10 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức
lớp thú.txt
Lớp Thú (danh pháp khoa học: Mammalia /məˈmeɪli.ə/, còn được gọi là Động vật có vú hoặc Động vật hữu nhũ) là một nhánh động vật có màng ối nội nhiệt được phân biệt với chim bởi sự xuất hiện của lông mao, ba xương tai giữa, tuyến vú, và vỏ não mới (neocortex, một khu vực của não). Não bộ điều chỉnh thân nhiệt và hệ tuần hoàn, bao gồm cả một trái tim bốn ngăn. Lớp Thú bao gồm các động vật lớn nhất còn sinh tồn (như cá voi xanh và một vài loài cá voi khác), cũng như những động vật thông minh nhất - như voi, vài loài linh trưởng và cá voi. Kích thước cơ thể động vật có vú dao động từ 30–40 mm (1,2–1,6 in) dơi ong nghệ tới 33 mét (108 ft) cá voi xanh. Tên khoa học Mammalia được đặt bởi Carl Linnaeus năm 1758, xuất phát từ tiếng Latin mamma ("vú"). Tất cả con cái cho con bú bằng sữa tiết ra từ tuyến vú. Theo Mammal Species of the World, 5.416 loài được biết đến vào năm 2006. Lớp Thú được phân thành 1.229 chi, 153 họ và 29 bộ. Năm 2008, IUCN đã hoàn thành việc khảo sát đánh giá động vật có vú toàn cầu kéo dài 5 năm với sự tham gia của 1.700 nhà khoa học để lập Sách đỏ IUCN, trong đó ghi nhận 5.488 loài được công nhận vào cuối thời kỳ đó. Trừ 5 loài thú đơn huyệt (đẻ trứng), tất cả động vật có vú còn lại đều đẻ con. Ba bộ đa dạng và giàu số lượng loài nhất là Bộ Gặm nhấm (chuột, chuột cống, hải ly, chuột lang nước, chuột lang, và các loài khác), Bộ Dơi (dơi), và Bộ Chuột chù (chuột chù, chuột chũi và solenodon). Các bộ đa dạng khác là Bộ Linh trưởng, Bộ Guốc chẵn, và Bộ Ăn thịt (mèo, chó, chồn, gấu, hải cẩu và họ hàng). Trong khi việc phân loại các động vật có vú ở cấp độ họ đã tương đối ổn định, phương pháp phân loại khác nhau ở các cấp độ cao hơn-subclass, infraclass, order-xuất hiện trong sách vở đương thời, đặc biệt là cho các loài thú có túi. Thay đổi nhiều trong thời gian gần đây đã phản ánh kết quả phân tích cladistic và di truyền phân tử. Kết quả từ di truyền phân tử đã dẫn đến việc áp dụng các nhóm mới như Afrotheria và việc từ bỏ các nhóm truyền thống như sâu bọ. Các tổ tiên động vật có vú đầu synapsid là pelycosaurs sphenacodont, một nhóm bao gồm cả Dimetrodon. Vào cuối kỷ Cacbon, nhóm này tách ra từ dòng sauropsid và phát triển thành loài bò sát và các loài chim ngày nay. Dẫn trước bởi nhiều nhóm đa dạng của động vật có vú không synapsids (đôi khi được gọi là bò sát giống động vật có vú), các động vật có vú đầu tiên xuất hiện trong đầu thời đại Trung Sinh. Các loài động vật có vú hiện đại xuất hiện trong các giai đoạn của kỷ Paleogen và Neogen, sau sự tuyệt chủng của loài khủng long 66 triệu năm trước đây. == Phân loại == "Principles of Classification and a Classification of Mammals" (AMNH Bulletin v. 85, 1945) của George Gaylord Simpson là nguồn cơ bản của phân loại liệt kê trong bài này. Simpson đã vạch ra hệ thống học của nguồn gốc thú và các mối quan hệ nói chung được giảng dạy rộng khắp cho tới cuối thế kỷ 20. Kể từ phân loại của Simpson, các hồ sơ hóa thạch cổ sinh vật học đã được điều chỉnh lại, và trong những năm qua người ta đã chứng kiến nhiều tranh luận và tiến bộ liên quan tới những kiến thức cột trụ lý thuyết của chính việc hệ thống hóa, một phần là thông qua các khái niệm mới của miêu tả theo nhánh học. Mặc dù các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này đã dần dần làm cho hệ thống phân loại của Simpson trở nên lỗi thời, nhưng nó vẫn là điều gần gũi nhất với phân loại chính thức của động vật có vú. === Phân loại McKenna/Bell === Năm 1997, Malcolm C. McKenna và Susan K. Bell đã đưa ra sửa đổi tổng thể cho phân loại động vật có vú, bằng việc tạo ra phân loại McKenna/Bell. Cuốn sách Classification of Mammals above the Species Level, xuất bản năm 1997 của họ là công trình bao hàm toàn diện nhất tới nay về hệ thống học, các mối quan hệ và sự phát sinh của tất cả các đơn vị phân loại thú đã biết khi đó, dù còn sinh tồn hay đã tuyệt chủng, xuống tới cấp chi, mặc dù các dữ liệu phân tử gần đây đã và đang thách thức một vài kiểu gộp nhóm ở các cấp cao hơn. McKenna thừa hưởng dự án từ Simpson và cùng với Bell đã xây dựng một hệ thống cấu trúc thứ bậc được cập nhật trọn vẹn, bao gồm toàn bộ các đơn vị phân loại còn sinh tồn hoặc tuyệt chủng đã biết vào thời điểm đó, phản ánh phả hệ lịch sử của lớp Mammalia. Phân loại McKenna/Bell tóm tắt như sau: Lớp Mammalia Phân lớp Prototheria: Thú đơn huyệt: thú lông nhím và thú mỏ vịt. Phân lớp Theriiformes: Các loài thú sinh con và các họ hàng tuyệt chủng của chúng. Phân thứ lớp †Allotheria: multituberculates Phân thứ lớp †Triconodonta: triconodonts Phân thứ lớp Holotheria: Các loài thú sinh con hiện đại và các họ hàng tuyệt chủng của chúng. Superlegion †Kuehneotheria Supercohort Theria: Các loài thú sinh con. Cohort Marsupialia: Thú có túi Đại bộ Australidelphia: Thú có túi Australia và monito del monte (Dromiciops gliroides). Đại bộ Ameridelphia: Thú có túi Tân thế giới. Cohort Placentalia: Thú có nhau thai Đại bộ Xenarthra: Thú ăn kiến, lười cây. Đại bộ Epitheria: Liên bộ Anagalida: thú dạng thỏ, động vật gặm nhấm, và chuột chù voi. Liên bộ Ferae: thú ăn thịt, tê tê, †creodont, và các họ hàng. Liên bộ Lipotyphla: thú ăn sâu bọ Liên bộ Archonta: dơi, linh trưởng, chồn bay và đồi. Liên bộ Ungulata: động vật móng guốc. Bộ Tubulidentata incertae sedis: lợn đất Tiểu bộ Eparctocyona: †condylarth, cá voi và artiodactyla (động vật guốc chẵn) Tiểu bộ †Meridiungulata: động vật móng guốc Nam Mỹ. Tiểu bộ Altungulata: perissodactyla (động vật guốc lẻ), voi, lợn biển, bò biển và đa man. === Phân loại phân tử của thú có nhau thai === Các nghiên cứu phân tử dựa trên phân tích ADN trong vòng vài năm qua đã gợi ý các mối quan hệ mới giữa các họ thú. Phần lớn các phát hiện này đã được xác nhận độc lập bằng sự có mặt hay thiếu vắng dữ liệu retrotransposon. Các hệ thống phân loại dựa trên các nghiên cứu phân tử tiết lộ 3 nhóm chính hay 3 dòng dõi của thú có nhau thai là Afrotheria, Xenarthra và Boreoeutheria – đã rẽ nhánh ra từ các tổ tiên chung ban đầu trong kỷ Creta. Mối quan hệ giữa ba nhánh này vẫn chưa được thiết lập chắc chắn và người ta đưa ra ba giả thuyết khác nhau liên quan tới việc nhánh nào là cơ sở trong mối tương quan với phần còn lại của thú có nhau thai. Ba giả thuyết này được gọi là Atlantogenata (Boreoeutheria là cơ sở), Epitheria (Xenarthra là cơ sở) và Exafroplacentalia (Afrotheria là cơ sở). Tới lượt mình, Boreoeutheria chứa hai nhánh chính làEuarchontoglires và Laurasiatheria. Các ước tính về thời gian rẽ nhánh giữa 3 nhóm thú có nhau thai này dao động trong khoảng từ 105 tới 120 triệu năm trước, phụ thuộc vào kiểu ADN (chẳng hạn ADN nhân hay ADN ty thể) và các diễn giải có biến động về thời gian của các dữ liệu cổ địa lý học. Nhóm I: Afrotheria Nhánh Afroinsectiphilia Bộ Macroscelidea: chuột chù voi (Châu Phi) Bộ Afrosoricida: tenrecs và golden moles (Châu Phi) Bộ Tubulidentata: lợn đất (Châu Phi, nam Sahara) Nhánh Paenungulata Bộ Hyracoidea: đa man (Châu Phi, bán đảo Ả Rập) Bộ Proboscidea: voi (Châu Phi, Nam và Đông Nam Á) Bộ Sirenia: bò biển và lợn biển (nhiệt đới toàn cầu) Nhóm II: Xenarthra Bộ Pilosa: lười và thú ăn kiến (Trung và Nam Mỹ) Bộ Cingulata: ta tu và các họ hàng tuyệt chủng (Châu Mỹ) Nhóm III: Boreoeutheria Nhánh: Euarchontoglires (Supraprimates) Liên bộ Euarchonta Bộ Scandentia: đồi (Đông Nam Á). Bộ Dermoptera: chồn bay/cầy bay (Đông Nam Á) Bộ Primates: linh trưởng như khỉ, vượn, người (toàn cầu). Liên bộ Glires Bộ Lagomorpha: thỏ (Đại lục Á - Âu, châu Phi, châu Mỹ) Bộ Rodentia: động vật gặm nhấm như chuột, sóc (toàn cầu) Nhánh Laurasiatheria Bộ Erinaceomorpha: nhím chuột Bộ Soricomorpha: chuột chù Nhánh Ferungulata Nhánh Cetartiodactyla Bộ Cetacea: cá voi, cá heo Bộ Artiodactyla: động vật guốc chẵn, như lợn, hà mã, lạc đà, hươu cao cổ, hươu, linh dương, trâu, bò, cừu, dê. Nhánh Pegasoferae Bộ Chiroptera: dơi (toàn cầu) Nhánh Zooamata Bộ Perissodactyla: động vật guốc lẻ, như ngựa, lừa, ngựa vằn, lợn vòi và tê giác. Nhánh Ferae Bộ Pholidota: tê tê (Châu Phi, Nam và Đông Nam Á) Bộ Carnivora: thú ăn thịt, như hổ, báo, sư tử, mèo, chó, cáo, chồn, cầy (toàn cầu). == Đặc điểm nổi bật == Các động vật có vú có thể được xác định bởi sự hiện diện của các tuyến mồ hôi, bao gồm cả những tuyến chuyên sản xuất sữa để nuôi con. Tuy nhiên trong phân loại hóa thạch, các đặc điểm khác phải được sử dụng, vì các tuyến mô mềm và nhiều đặc điểm khác không thể nhìn thấy được trong các hóa thạch. Nhiều đặc điểm chung của tất cả các động vật có vú đã xuất hiện trong những thành viên đầu tiên của các động vật này: Khớp xương hàm - Các xương hàm dưới có chứa răng và xương sọ nhỏ gặp nhau để hình thành khớp. Trong hầu hết các gnathostomes, bao gồm các therapsids đầu, khớp bao gồm các khớp (xương nhỏ ở mặt sau của hàm dưới) và vuông (xương nhỏ ở mặt sau của hàm trên). Tai giữa - Trong động vật có vú nhóm crown, âm thanh được mang tới màng nhĩ bởi một chuỗi ba xương, xương búa, xương đe các, và xương bàn đạp. Theo tiến hóa, xương búa và xương đe được bắt nguồn từ các khớp và xương vuông điều đó tạo nên khớp xương hàm của các therapsids đầu. Răng thay thế - Răng được thay thế một lần hoặc (như trong cá voi có răng và động vật gặm nhấm murid) hoặc không thay lần nào, chứ không phải được thay thế liên tục trong suốt cuộc đời. Men răng - Các lớp men trên bề mặt của răng gồm canxi, vững chắc, cấu trúc giống hình que dài từ ngà đến bề mặt của răng. Condyles chẩm - Hai điểm nối ở cuối hộp sọ vừa khít với cổ đốt sống trên cùng; hầu hết động vật bốn chân, ngược lại, chỉ có một điểm nối như vậy. Hầu hết các đặc điểm trên đã không có mặt trong các tổ tiên của động vật có vú ở kỷ Trias. Đối với nhà cổ sinh học, để xác định loài có vú theo loài, không có giới hạn đặc điểm nào có thể được sử dụng để phân biệt các nhóm. Bất kỳ đặc điểm nào đều có thể liên quan đến đặc điểm loài của một hóa thạch. Mặt khác cổ sinh vật học xác định động vật có vú bằng các đặc điểm thì cần phải chỉ xem xét những tính năng xuất hiện trong định nghĩa. Các khớp xương hàm nối răng và xương sọ thường xuyên được nhắc đến. == Phát sinh chủng loài == Phát sinh chủng loài, xem Mammalia là nhóm chỏm cây. Một phát sinh chủng loài do Mikko Haaramo tạo ra dựa trên các phát sinh chủng loài riêng rẽ của Rowe 1988; Luo, Crompton & Sun 2001; Luo, Cifelli & Kielan-Jaworowska 2001, Luo, Kielan-Jaworowska & Cifelli 2002, Kielan-Jaworowska, Cifelli & Luo 2004, and Luo & Wible 2005. === Tiến hóa từ amniote trong Paleozoi === Các loài động vật có xương sống sống trên cạn hoàn toàn thuộc nhóm amniote. Giống như tổ tiên lưỡng cư của nó, chúng có phổi và chi. Trứng của amniote có các màng bên trong cho phép phôi phát triển chúng triển thở nhưng vẫn ở trong nước. Do vậy, amniote có thể đẻ trứng trên cạn, trong khi lưỡng cư nhìn chung cần đẻ trứng trong nước. Amniote đầu tiên xuất hiện vào cuối kỷ Cacbon. Chúng bắt nguồn từ lưỡng cư reptiliomorph trước đó, nhóm này sống trên cạn ăn côn trùng và các loài động vật không xương sống khác cũng như dương xỉ, rêu và các loại thực vật khác. Trong vòng vài triệu năm, hai dòng chính của amniot đã bị tuyệt chủng gồm synapsida, bao gồm lớp Thú; và sauropsida, bao gồm rùa, thằn lằn, rắn, cá sấu, khủng long và chim. Synapsida có một lỗ nằm thấp trên mỗi mặt của hộp sọ. Một nhóm synapsida là pelycosaur, bao gồm các loài động vật lớn nhất và ác liệt nhất vào đầu kỷ Pecmi. Therapsida tách nhánh từ pelycosaur trong Permi giữa, cách nay 265 triệu năm, và sau đó trở thành nhóm động vật có xương sống trên cạn phổ biến. chúng khác với các pelycosaur nhiều đặc điểm như hộp sọ và hàm như: temporal fenestrae lớn hơn và incisor bằng nhau về kích thước. Therapsida đã tiến hóa thành thú qua nhiều giai đoạn, bắt đầu với nhóm thú rất giống với tổ tiên pelycosaur của chúng và kết thúc bằng nhóm probainognathian cynodont, một số trong chúng dễ bị nhầm lẫn với thú. Các giai đoạn này đặc trưng bởi: Sự phát triển liên tục của palate xương thứ cấp. Tiến trình hướng đến tư thế đứng thẳng chân tay, làm tăng khả năng chịu đựng của con vật bằng cách tránh Carrier's constraint. nhưng quá trình này diễn ra chậm: ví dụ tất cả các động vật therapsida ăn cỏ không có dạng thú vẫn giữ các chi; Therapsida ănn thị trong Pecmi đã có chi trước sprawling, và một số trong cuối Pecmi cũng có chi sau semisprawling. Thực tế, các monotreme hiện đại vẫn có các chi semisprawling. Các dentary dân dần trở thành xương chính của hàm dưới, vào Trias, dần tiến đến hàm thú hoàn toàn và tai giữa được cấu tạo từ xương mà trước đây cấu tạo nên hàm của bò sát). Synapsida không thuộc nhóm thú được gọi là bò sát giống thú. == Chú thích == == Tham khảo == Bergsten, Johannes. February 2005. "A review of long-branch attraction". Cladistics 21:163–193. (pdf version) Brown, W.M. (2001). Natural selection of mammalian brain components. Trends in Ecology and Evolution, 16, 471–473. Khalaf-von Jaffa, Norman Ali Bassam Ali Taher (2006). Mammalia Palaestina: The Mammals of Palestine. Gazelle: The Palestinian Biological Bulletin. Number 55, July 2006. pp. 1–46. McKenna, Malcolm C., and Bell, Susan K. 1997. Classification of Mammals Above the Species Level. Columbia University Press, New York, 631 pp. ISBN 0-231-11013-8 Nowak, Ronald M. 1999. Walker's Mammals of the World, 6th edition. Johns Hopkins University Press, 1936 pp. ISBN 0-8018-5789-9 Simpson, George Gaylord (1945). “The principles of classification and a classification of mammals”. Bulletin of the American Museum of Natural History 85: 1–350. William J. Murphy, Eduardo Eizirik, Mark S. Springer et al., Resolution of the Early Placental Mammal Radiation Using Bayesian Phylogenetics,Science, Vol 294, Issue 5550, 2348–2351, ngày 14 tháng 12 năm 2001. Springer, Mark S., Michael J. Stanhope, Ole Madsen, and Wilfried W. de Jong. 2004. "Molecules consolidate the placental mammal tree". Trends in Ecology and Evolution, 19:430–438. (PDF version) Vaughan, Terry A., James M. Ryan, and Nicholas J. Capzaplewski. 2000. Mammalogy: Fourth Edition. Saunders College Publishing, 565 pp. ISBN 0-03-025034-X (Brooks Cole, 1999) Jan Ole Kriegs, Gennady Churakov, Martin Kiefmann, Ursula Jordan, Juergen Brosius, Juergen Schmitz. (2006) Retroposed Elements as Archives for the Evolutionary History of Placental Mammals. PLoS Biol 4(4): e91.“PLoS Biology – Retroposed Elements as Archives for the Evolutionary History of Placental Mammals”. Biology.plosjournals.org. doi:10.1371/journal.pbio.0040091. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2009. David MacDonald, Sasha Norris. 2006. The Encyclopedia of Mammals, 3rd edition. Printed in China, 930 pp. ISBN 0-681-45659-0. == Đọc thêm == Brown W.M. (2001). “Natural selection of mammalian brain components” (PDF). Trends in Ecology and Evolution 16 (9): 471–473. doi:10.1016/S0169-5347(01)02246-7. Khalaf-von Jaffa, Norman Ali Bassam Ali Taher (2006). Mammalia Palaestina: The Mammals of Palestine. Gazelle: The Palestinian Biological Bulletin. Number 55, July 2006. pp. 1–46. McKenna, Malcolm C., and Bell, Susan K. 1997. Classification of Mammals Above the Species Level. Columbia University Press, New York, 631 pp. ISBN 0-231-11013-8 Nowak, Ronald M. 1999. Walker's Mammals of the World, 6th edition. Johns Hopkins University Press, 1936 pp. ISBN 0-8018-5789-9 Simpson, George Gaylord (1945). “The principles of classification and a classification of mammals”. Bulletin of the American Museum of Natural History 85: 1–350. William J. Murphy, Eduardo Eizirik, Mark S. Springer et al., Resolution of the Early Placental Mammal Radiation Using Bayesian Phylogenetics,Science, Vol 294, Issue 5550, 2348–2351, ngày 14 tháng 12 năm 2001. Springer, Mark S., Michael J. Stanhope, Ole Madsen, and Wilfried W. de Jong. 2004. "Molecules consolidate the placental mammal tree". Trends in Ecology and Evolution, 19:430–438. (PDF version) Vaughan, Terry A., James M. Ryan, and Nicholas J. Capzaplewski. 2000. Mammalogy: Fourth Edition. Saunders College Publishing, 565 pp. ISBN 0-03-025034-X (Brooks Cole, 1999) Jan Ole Kriegs, Gennady Churakov, Martin Kiefmann, Ursula Jordan, Juergen Brosius, Juergen Schmitz. (2006) Retroposed Elements as Archives for the Evolutionary History of Placental Mammals. PLoS Biol 4(4): e91.“PLoS Biology – Retroposed Elements as Archives for the Evolutionary History of Placental Mammals”. Biology.plosjournals.org. doi:10.1371/journal.pbio.0040091. David MacDonald, Sasha Norris. 2006. The Encyclopedia of Mammals, 3rd edition. Printed in China, 930 pp. ISBN 0-681-45659-0 == Liên kết ngoài == Mammal (animal) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) BBC Wildlife Finder - video clips from the BBC's natural history archive GlobalTwitcher.com – All species in the world with distribution maps and images Paleocene Mammals, a site covering the rise of the mammals, paleocene-mammals.de Evolution of Mammals, a brief introduction to early mammals, enchantedlearning.com Tree of Life poster – Shows mammals' evolutionary relation to other organisms, tellapallet.com The Evolution of Mesozoic Mammals, a Rough Sketch, an informal introduction, home.arcor.de Carnegie Museum of Natural History, some discoveries of early mammal fossils, carnegiemnh.org High-Resolution Images of various Mammalian Brains, brainmaps.org Mammal Species, collection of information sheets about various mammal species, learnanimals.com Summary of molecular support for Epitheria, biology.plosjournals.org Mikko's Phylogeny Archive, fmnh.helsinki.fi European Mammal Atlas EMMA from Societas Europaea Mammalogica, european-mammals.org Marine Mammals of the World—An overview of all marine mammals, including descriptions, multimedia and a key, eti.uva.nl Mammalogy.org The American Society of Mammalogists was established in 1919 for the purpose of promoting the study of mammals, and this website includes a mammal image library (tiếng Việt) Thú tại Từ điển bách khoa Việt Nam 174 loài Thú ở Việt Nam trên trang SVRVN
địa chính trị.txt
Địa-chính trị (tiếng Anh: Geo-politics) là lĩnh vực nghiên cứu về tác động của các yếu tố địa lý tới hành vi của các quốc gia và quan hệ quốc tế. Cụ thể, địa chính trị xem xét việc các yếu tố như vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, dân số, hay địa hình tác động như thế nào tới chính sách đối ngoại của một quốc gia và vị thế của quốc gia đó trong hệ thống quốc tế. == Tổng quát == Địa-chính trị (tiếng Anh: Geo-politics) là thuật ngữ chỉ nghệ thuật/cách thức sử dụng quyền lực hay ảnh hưởng chính trị trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Mới đầu, thuật ngữ này chủ yếu ám chỉ tác động của yếu tố địa lý lên chính trị, nhưng hơn thế kỷ qua nó đã phát triển và mang nghĩa rộng hơn. Về lý thuyết thì việc học tập & nghiên cứu địa-chính trị bao gồm việc phân tích các yếu tố địa lý, lịch sử và khoa học xã hội trong sự tương quan với chính trị không gian và các mô hình ở các quy mô khác nhau (từ cấp độ quốc gia đến quốc tế). Thuật ngữ "Địa-chính trị" được tạo ra vào đầu thế kỷ 20 bởi Rudolf Kjellen, một nhà chính trị học người Thụy Điển. Kjellen được nhà địa lý người Đức Friedrich Ratzel (xuất bản cuốn Địa lý chính trị) gợi mở ý tưởng vào năm 1897 và sau đó được dùng phổ biến trong tiếng Anh bởi nhà ngoại giao người Mỹ Robert Strausz-Hupe, một giảng viên của trường Đại học Pennsylvania. Halford Mackinder cũng góp phần phổ cập nó mặc dù bản thân ông không dùng thuật ngữ "Địa chính trị". Kjillen cho rằng các đặc điểm về kinh tế, chính trị và quân sự của một quốc gia bắt nguồn từ các yếu tố địa lý và môi trường của quốc gia đó. Các yếu tố địa lý này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển về kinh tế-xã hội và chính trị, đồng thời góp phần định hình bản sắc và lịch sử của mỗi quốc gia. Kjellen đặc biệt chú ý tới tác động của các đặc điểm địa lý như núi non và đại dương đối với sinh mệnh chính trị của các quốc gia == Liên kết ngoài == Địa chính trị (Geopolitics), nghiencuuquocte.net == Chú thích == == Tham khảo == Ankerl, Guy. Global communication without universal civilization. INU societal research. Vol.1: Coexisting contemporary civilizations: Arabo-Muslim, Bharati, Chinese, and Western. Geneva: INU Press. ISBN 2-88155-004-5. O'Loughlin, John / Heske, Henning. "From War to a Discipline for Peace". In: Kliot, N. and Waterman, S. (ed.): The Political Geography of Conflict and Peace. London: Belhaven Press, 1991 Spang, Christian W.: "As a Factor within Japanese-German Rapprochement in the Inter-War Years?", in: C. W. Spang, R.-H. Wippich (eds.), Japanese-German Relations, 1895–1945. War, Diplomacy and Public Opinion, London, 2006, pp. 139–157. Diamond, Jared, Guns, Germs, and Steel (1997) Amineh, Parvizi M. and Henk Houweling, Central Eurasia in Global Politics, (London, Leiden: Brill Academic Publishing. Introduction and Chapeter 11
27 tháng 6.txt
Ngày 27 tháng 6 là ngày thứ 178 (179 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 187 ngày trong năm. == Sự kiện == 1214 – Nhằm tránh mũi nhọn của quân Mông Cổ, Kim Tuyên Tông rời bỏ thủ đô Trung Đô, tiến về phía nam đến Biện Kinh rồi định đô tại đó, tức ngày Nhâm Ngọ (18) tháng 5 năm Giáp Tuất. 1869 – Nước Cộng hòa Ezo trên đảo Hokkaido chính thức giải thể sau khi chiến bại trước quân đội của Thiên hoàng Nhật Bản. 1908 – Bồi bếp và binh lính người Việt phục vụ cho quân Pháp đóng ở thành Hà Nội tiến hành vụ mưu sát và binh biến mang tên Hà Thành đầu độc. 1954 – Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới được mở ra tại Obninsk, gần Moskva. 1964 – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa áp dụng chế độ hộ khẩu. 1959 – Thông qua bỏ phiếu, nhân dân Lãnh thổ Hawaii của Hoa Kỳ chấp nhận đạo luật gia nhập liên bang với tư cách tiểu bang. 1977 – Pháp trao trả độc lập cho Djibouti. 1981 – Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua quyết định chính thức phủ định Đại cách mạng văn hóa. == Sinh == 1880 - Tác giả Helen Keller, vì viêm màng não nên bị mù, câm và điếc, tốt nghiệp Đại học Harvard 1899 - Juan Trippe, người sáng lập Pan American World Airways 1962 - Lương Triều Vỹ, diễn viên người Hồng Kông == Mất == 1962 - Paul Viiding, nhà thơ Estonia (s. 1904) 1942 - Thạch Lam, nhà văn == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
1947.txt
1947 (số La Mã: MCMXLVII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Gregory. == Sự kiện == === Tháng 1 === 2 tháng 1: Quân giải phóng Trung Quốc tại Hoa Đông mở chiến dịch Lỗ Nam. 20 tháng 1: Kết thúc chiến dịch Lỗ Nam. === Tháng 2 === 17 tháng 2: Quân Việt Minh an toàn rút về căn cứ Việt Bắc. 28 tháng 2: Tại Đài Loan xảy ra sự kiện khởi nghĩa vũ trang. === Tháng 3 === 12 tháng 3: Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman tuyên bố về Chủ thuyết Truman sự kiện khởi mào chiến tranh lạnh. === Tháng 4 === 16 tháng 4: Ra đời thuật ngữ chiến tranh lạnh. === Tháng 5 === 6 tháng 5: Hoa Kỳ để xuất kế hoạch viện trợ cho Tây Âu bị tàn phá sau chiến tranh thế giới 22 tháng 5: Hoa Kỳ viện trợ 400 triệu USD cho Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp chống lại chủ nghĩa cộng sản. === Tháng 7 === 11 tháng 7: Hoa Kỳ công bố chính sách mới tại khu chiếm đóng ở nước Đức. === Tháng 8 === 15 tháng 8: Ấn Độ và Pakistan giành được độc lập. === Tháng 10 === 7 tháng 10: Thực dân Pháp tấn công căn cứ cách mạng tại Việt Bắc 9 tháng 10: Thực dân Pháp bao vây Việt Bắc. 30 tháng 10: Việt Minh phục kích quân Pháp tại đèo Bông Lau. === Tháng 11 === 6 tháng 11: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thạch Gia Trang. 12 tháng 11: Thành lập hội đồng dân chủ tự trị Đài Loan tại Hongkong. 14 tháng 11: Liên hợp quốc thông qua nghị quyết yêu cầu các lực lượng quân sự nước ngoài rút khỏi bán đảo Triều Tiên. === Tháng 12 === 19 tháng 12: Việt Minh đánh bại cuộc tấn công Việt Bắc của thực dân Pháp. 30 tháng 12: Thành lập nước cộng hòa nhân dân Rumani. == Sinh == Arnold Schwazenegger 28 tháng 2 - Quách Lê Thanh 22 tháng 4 - Năm Cam (1947 - 2004) 29 tháng 6 - Khương Đại Vệ, diễn viên Hong Kong 25 tháng 8 - Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo, họa sĩ Việt Nam. 14 tháng 2 - Phạm Tuân, phi công, phi hành gia Rodríguez Saá Michael Porter, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel về Kinh tế == Mất == 10 tháng 12 - Đạm Phương (sinh 1881), là nhà thơ, nhà hoạt động văn hóa, xã hội nổi tiếng, một nhà báo nữ Việt Nam đầu thế kỷ XX. == Giải Nobel == Vật lý - Edward Victor Appleton Hóa học - Sir Robert Robinson Y học - Carl Ferdinand Cori, Gerty Cori, Bernardo Houssay Văn học - André Gide Hòa bình - The Friends Service Council (UK) and The American Friends Service Committee (USA), on behalf of the Religious Society of Friends == Xem thêm == == Tham khảo ==
17 tháng 12.txt
Ngày 17 tháng 12 là ngày thứ 351 (352 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 14 ngày trong năm. == Sự kiện == 1538 – Giáo hoàng Phaolô III rút phép thông công Quốc vương Henry VIII của Anh. 1577 – Francis Drake bắt đầu đi thuyền từ Plymouth, Anh trong một sứ mệnh bí mật nhằm khám phá vùng bờ biển Thái Bình Dương của châu Mỹ cho Nữ vương Elizabeth I của Anh. 1637 – Một số nông dân là tín hữu Ki-tô giáo ở Nhật Bản bắt đầu tiến hành cuộc khởi nghĩa Shimabara. 1777 – Pháp chính thức công nhận Hoa Kỳ. 1807 – Napoleon Bonaparte ban chiếu chỉ Milan, xác nhận Hệ thống phong tỏa Lục địa. 1819 – Simón Bolívar tuyên bố nền độc lập của Đại Colombia tại Angostura thuộc Venezuela ngày nay. 1862 – Nội chiến Hoa Kỳ: Tướng Ulysses Simpson Grant ra sắc lệnh trục xuất người Do Thái ra khỏi nhiều nơi ở Tennessee, Mississippi, và Kentucky. 1865 – Giao hưởng số 8 của Franz Schubert được trình diễn lần đầu tiên. 1892 – Tạp chí Vogue được phát hành lần đầu tiên. 1935 – Máy bay chở khách Douglas DC-3 có chuyến bay đầu tiên. 1938 – Nhà hóa học người Đức Otto Hahn khám phá ra phản ứng phân hạch hạt nhân của nguyên tố urani nặng, nền tảng khoa học và kỹ thuật của năng lượng hạt nhân. 1947 – Máy bay ném bom chiến lược Boeing B-47 Stratojet tiến hành chuyến bay đầu tiên. 1969 – Không quân Hoa Kỳ kết thúc chương trình nghiên cứu của mình về vật thể bay không xác định. 2010 – Người bán hàng dạo Mohamed Bouazizi tự thiêu, hành động này khởi nguồn cho Cách mạng Tunisia. == Sinh == 1770 – Ludwig van Beethoven, nhà soạn nhạc người Đức (m. 1827) 1778 – Humphry Davy, nhà hóa học và vật lý học người Anh (m. 1829) 1797 – Joseph Henry, nhà vật lý học người Mỹ (m. 1878) 1829 – Friedrich Franz von Waldersee, sĩ quan quân đội người Đức (m. 1902) 1842 – Sophus Lie, nhà toán học người Na Uy (m. 1899) 1851 – Otto Schott, nhà hóa học người Đức (m. 1935) 1891 – Hồ Thích, triết học gia, tư tưởng gia, giáo dục gia người Trung Quốc (m. 1962) 1892 – Phạm Quỳnh, chính trị gia triều Nguyễn Việt Nam (m. 1945) 1898 – Nguyễn Thế Truyền, nhà hoạt động chính trị người Việt Nam (m. 1969) 1905 – Simo Hayha, xạ thủ bắn tỉa người Phần Lan (m. 2002) 1908 – Willard Libby, nhà hóa học người Mỹ, đoạt giải Nobel (m. 1980) 1912 – Bàng Bá Lân, nhà thơ, nhà giáo, nhà nhiếp ảnh người Việt Nam (m. 1988) 1925 – Nguyễn Từ Chi, nhà dân tộc học người Việt Nam (m. 1995) 1926 – José Lutzenberger, nhà môi trường học người Brasil (m. 2002) 1926 – Bùi Giáng, nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học người Việt Nam (m. 1988) 1927 – Hoàng Tụy, nhà toán học người Việt Nam. 1933 – Triều Dâng, nhạc sĩ người Việt Nam 1936 – Giáo hoàng Phanxicô 1949 – Sotiris Kaiafas, cầu thủ bóng đá người Síp 1961 – Mansoor Al-Jamri, nhà báo và tác gia người Bahrain 1972 – Laurie Holden, diễn viên người Mỹ 1975 – Milla Jovovich, diễn viên người Ukraina 1977 – Oksana Fyodorova, người mẫu, diên viên và ca sĩ người Nga, Hoa hậu Hoàn vũ 1978 – Manny Pacquiao, võ sĩ quyền Anh và chính trị gia người Philippines 1981 – Tim Wiese, cầu thủ bóng đá người Đức 1982 – Boubacar Sanogo, cầu thủ bóng đá người Bờ Biển Ngà 1984 – Hà Anh Tuấn, ca sĩ Việt Nam 1987 – Bradley Manning, binh sĩ người Mỹ 1988 – Takanashi Rin, diễn viên người Nhật Bản 1991 – Nadech Kugimiya, diễn viên người Thái Lan 2007 – James, thành viên vương thất Anh == Mất == 1187 – Giáo hoàng Grêgôriô VIII (s. 1100) 1273 – Rumi, luật gia, thần học gia, thi nhân người Ba Tư (s. 1207) 1830 – Simón Bolívar, thủ lĩnh quân sự và chính trị gia người Venezuela (s. 1783) 1860 – Désirée Clary, vương hậu người Pháp của Quốc vương Karl XIV Johan của Thụy Điển (s. 1777) 1881 – Lewis Henry Morgan, nhà lý luận xã hội học người Mỹ (s. 1818) 1907 – William Thomson, nhà vật lý người Ireland (s. 1824) 1933 – Thổ-đan Gia-mục-thố, Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 của Tây Tạng (s. 1876) 1947 – Johannes Nicolaus Brønsted, nhà lý-hóa người Đan Mạch (s. 1879) 1964 – Victor Francis Hess, nhà vật lý học người Mỹ gốc Áo, đoạt giải Nobel (s. 1883) 1967 – Harold Holt, thủ tướng người Úc (s. 1908) 1978 – Thanh Lãng, linh mục, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học người Việt Nam (s. 1924) 1986 – Guillermo Cano Isaza, nhà báo người Colombia (s. 1925) 1991 – Aida Mitsuo, nhà thơ người Nhật (s. 1924) 1999 – Văn Phụng nhạc sĩ người Việt Nam-Mỹ (s. 1930) 2009 – Jennifer Jones, diễn viên người Mỹ (s. 1919) 2011 – Cesária Évora, ca sĩ người Cape Verde (s. 1941) 2011 – Kim Jong-il, chính trị gia người Triều Tiên, Lãnh tụ Triều Tiên (s. 1942) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
phật giáo.txt
Phật giáo (zh. 佛教, sa. buddhaśāsana, pi. buddhasāsāna, bo. sangs rgyas bstan pa སངས་རྒྱས་བསྟན་པ་) là một tôn giáo vô thần bao gồm một loạt các truyền thống, tín ngưỡng và phương pháp tu tập dựa trên lời dạy của một nhân vật lịch sử là Tất-đạt-đa Cồ-đàm (zh. 悉達多瞿曇, sa. siddhārtha gautama, pi. siddhattha gotama). Tất-đạt-đa Cồ-đàm thường được gọi là Phật-đà, Bụt-đà (sa., pi. buddha), gọi tắt là Phật, hay Bụt, có nghĩa là "người tỉnh thức", "người giác ngộ". Theo sách vở Phật giáo cũng như các tài liệu khảo cổ đã chứng minh, Tất-đạt-đa Cồ-đàm đã sống và giảng đạo ở vùng đông Ấn Độ từ khoảng thế kỉ thứ 6 TCN đến thế kỉ thứ 4 TCN. Sau khi Tất-đạt-đa Cồ-đàm qua đời thì Phật giáo bắt đầu phân hóa ra thành nhiều nhánh và nhiều hệ tư tưởng, với nhiều sự khác biệt so với ban đầu: Phật giáo Nguyên thủy (Theravada), còn gọi là Phật giáo Nam Tông, Phật giáo Tiểu thừa, Phật giáo Thượng tọa Phật giáo Phát triển (Mahayana), còn gọi là Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Đại thừa, Phật giáo Đại chúng Phật giáo Chân ngôn (Vajrayana), còn gọi là Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Kim cương thừa, Phật giáo Mật tông Phật giáo Nguyên thủy phát triển mạnh ở Sri Lanka và Đông Nam Á (Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar.) Phật giáo Đại chúng phát triển ở Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam, Singapore) và bao gồm nhiều phân nhánh nhỏ hơn như Tịnh độ tông, Thiền tông, Thiên thai tông. Còn Phật giáo Kim cương thừa phát triển ở Tây Tạng, Mông Cổ và Bhutan. Mặc dù phát triển chủ yếu ở châu Á, nhưng hiện nay Đạo Phật được tìm thấy ở khắp thế giới. Ước tính số người theo đạo Phật vào khoảng 350 triệu đến 1,6 tỷ người. Các trường phái Phật giáo khác nhau ở quan điểm về bản chất của con đường đưa đến giải thoát, tính chính thống của các bài giảng đạo và kinh điển, đặc biệt là ở phương thức tu tập. == Giáo lý cốt lõi == === Tứ Thánh (diệu) đế === Cơ sở tư tưởng và cốt lõi của Phật pháp là tứ thánh đế. Bốn chân lý giải thích bản chất của sự khổ trong luân hồi (zh. 輪回, sa., pi. saṃsāra), nguyên nhân của sự khổ, và làm thế nào để giải trừ đau khổ. Nếu như có một ngọn lửa tự cháy giữa hư không, vô nhân, vô duyên, vậy thì khi muốn dập tắt ngọn lửa ấy là điều không thể nào, thế nhưng ngược lại, trong thực tế ngọn lửa nào cháy lên cũng có nhân, có duyên của: chất đốt, không khí, v.v.. Khi chúng ta loại bỏ các điều kiện đó thì ngọn lửa cũng tắt, tương tự như vậy, Đức Phật dạy Ở đời thực có khổ đau (Khổ đế), khổ đau cũng có nguyên nhân (Tập đế), khổ đau có thể dập tắt (Diệt đế), và Bát chánh đạo - Trung đạo là con đường đưa đến khổ diệt (Đạo đế) Khổ đế (zh. 苦諦, sa. duḥkhāryasatya, bo. sdug bsngal bden pa སྡུག་བསྔལ་བདེན་པ་), chân lý về sự Khổ: đau trên thân gồm: sinh, già, bệnh, chết; khổ tâm gồm: sống chung với người mình không ưa, xa lìa người thân yêu, mong muốn mà không được, chấp vào thân ngũ uẩn. Khổ đau là một hiện thực, không nên trốn chạy, không nên phớt lờ, cũng không nên cường điệu hóa. Muốn giải quyết khổ đau trước tiên phải thừa nhận nó. Tập đế (zh. 集諦, sa. samudayāryasatya, bo. kun `byung bden pa ཀུན་འབྱུང་བདེན་པ་), chân lý về sự phát sinh của khổ: khổ đau đều có nguyên nhân thường thấy do tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ. Cần truy tìm đúng nguyên nhân sinh ra khổ, nguồn gốc sâu xa sinh ra khổ trong sinh tử luân hồi là do vô minh và ái dục, những mắt xích liên quan nằm trong 12 nhân duyên. Diệt đế (zh. 滅諦, sa. duḥkhanirodhāryasatya, bo. `gog pa`i bden pa འགོག་པའི་བདེན་པ་), chân lý về diệt khổ: là trạng trạng thái không có đau khổ, là một sự an vui giải thoát chân thật, là một hạnh phúc tuyệt vời khi chấm dứt lòng ham muốn, và có sự hiểu biết của trí tuệ chấm dứt vô minh. Đạo đế (zh. 道諦, sa. duḥkhanirodhagāminī pratipad, mārgāryasatya, bo. lam gyi bden pa ལམ་གྱི་བདེན་པ་), chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đi đến sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Phương tiện hay pháp môn để thành tựu con đường bát chánh đạo là 37 phẩm trợ đạo. === Bát chính đạo === - Nhóm trí tuệ: Chính kiến (zh. 正見, pi. sammā-diṭṭhi, sa. samyag-dṛṣṭi, bo. yang dag pa`i lta ba ཡང་དག་པའི་ལྟ་བ་): hiểu biết chân chính: hiểu biết về nhân quả, duyên khởi, hiểu biết về sự vật hiện tượng chân thực, như chúng đang là, không kèm theo cảm xúc, cảm tính, hiểu biết 4 chân lý về khổ và cách thoát khổ, từ đó biểu hiện thái độ sống không làm khổ mình, khổ người. Chính tư duy (zh. 正思唯, pi. sammā-saṅkappa, sa. samyak-saṃkalpa, bo. yang dag pa`i rtog pa ཡང་དག་པའི་རྟོག་པ་): suy nghĩ hướng đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí và giác ngộ. - Nhóm đạo đức: Chính ngữ (zh. 正語, pi. sammā-vācā, sa. samyag-vāk, bo. yang dag pa`i ngag ཡང་དག་པའི་ངག་): lời nói chân chính: lời nói sự thật, lời nói hòa hợp, đoàn kết, mang tính xây dựng, mang lại an vui hạnh phúc cho người khác. Chính nghiệp (zh. 正業, pi. sammā-kammanta, sa. samyak-karmānta, bo. yang dag pa`i las kyi mtha` ཡང་དག་པའི་ལས་ཀྱི་མཐའ་): hành vi chân chính: không sát sanh, không trộm cắp, không ngoại tình, không sử dụng rượu bia ma túy. Các hành vi được khuyến khích: trồng cây bảo vệ môi trường, chia sẻ sở hữu hợp pháp với những người kém may mắn hơn, sống chung thủy một vợ một chồng, giữ sức khỏe để chăm sóc bảo vệ người thân. Chính mạng (zh. 正命, pi. sammā-ājīva, sa. samyag-ājīva, bo. yang dag pa`i `tsho ba ཡང་དག་པའི་འཚོ་བ་): nghề nghiệp chân chính để nuôi sống thân mạng: không làm nghề đồ tể vì giết động vật hàng loạt; không làm nghề buôn bán vũ khí vì tạo ra giết người hàng loạt; không làm nghề buôn bán ma túy vì tiếp tay cho con nghiện, hủy hoại đời sống cá nhân và mất ổn định xã hội; không làm nghề buôn bán độc dược vì tổn hại sức khỏe, sinh mạng nhiều người; không làm nghề mại dâm vì phá hoại hạnh phúc nhiều gia đình. Chính tinh tấn (zh. 正精進, pi. sammā-vāyāma, sa. samyag-vyāyāma, bo. yang dag pa`i rtsal ba ཡང་དག་པའི་རྩལ་བ་): nỗ lực kiên trì chân chính: tiếp tục làm những việc thiện đang làm, hiện thực hóa những việc thiện có ý định làm, từ bỏ những việc bất thiện đang làm, loại bỏ ý định về những việc bất thiện sẽ làm. - Nhóm thiền định: Chính niệm (zh. 正念, pi. sammā-sati, sa. samyag-smṛti, bo. yang dag pa`i dran pa ཡང་དག་པའི་དྲན་པ་): sự làm chủ các giác quan trong các tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tịnh, thức và ngủ, làm chủ cảm xúc và thái độ sống. Chính định (zh. 正定, pi. sammā-samādhi, sa. samyak-samādhi, bo. yang dag pa`i ting nge `dzin ཡང་དག་པའི་ཏིང་ངེ་འཛིན་): 4 tầng thiền: sơ thiền (ly dục ly ác pháp sinh hỷ lạc, có tầm, có tứ), nhị thiền (diệt tầm, diệt tứ, định sinh hỷ lạc, nội tĩnh, nhất tâm), tam thiền (ly hỷ, trú xả), tứ thiền (xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh) cùng với những phương pháp hỗ trợ như tứ niệm xứ, định niệm hơi thở, định sáng suốt,v.v... được đề cập trong kinh tạng Pali. Sau khi đã đạt tứ thiền, hành giả dẫn tâm về Tam minh gồm: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh. Chứng tam minh xong, hành giả giải thoát hoàn toàn, thành tựu thánh quả A-la-hán, các vị A-la-hán tuyên bố "Tái sinh đã tận, hạnh thánh đã thành, việc nên đã làm, không còn trở lại sinh tử này nữa". Những tư tưởng cơ bản của Phật-đà đều được nhắc lại trong các kinh sách, nhưng có khi chúng được luận giải nhiều cách khác nhau và vì vậy ngày nay có nhiều trường phái khác nhau, hình thành một hệ thống triết lý hết sức phức tạp. Giáo pháp đạo Phật được tập hợp trong Tam tạng (zh. 三藏, sa. tripiṭaka, pi. tipiṭaka), bao gồm: Kinh tạng (zh. 經藏, sa. sūtra-piṭaka, pi. sutta-piṭaka, bo. mdo sde`i sde snod མདོ་སྡེའི་སྡེ་སྣོད་) bao gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử. Kinh tạng tiêu biểu văn hệ Pali được chia làm năm bộ: 1. Trường bộ kinh (pi. dīgha-nikāya), 2. Trung bộ kinh (pi. majjhima-nikāya), 3. Tương ưng bộ kinh (pi. saṃyutta-nikāya), 4. Tăng chi bộ kinh (pi. aṅguttara-nikāya) và 5. Tiểu bộ kinh (pi. khuddaka-nikāya). Luật tạng (zh. 律藏; sa., pi. vinaya-piṭaka, bo. `dul ba`i sde snod འདུལ་བའི་སྡེ་སྣོད་), chứa đựng lịch sử phát triển của Tăng-già (sa., pi. saṅgha) cũng như các giới luật của người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi Phật nhập Niết-bàn. Luận tạng (zh. 論藏, sa. abhidharma-piṭaka, pi. abhidhamma-piṭaka, bo. mngon pa`i sde snod མངོན་པའི་སྡེ་སྣོད་)—cũng được gọi là A-tì-đạt-ma—chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lý học. Luận tạng được hình thành tương đối trễ, có lẽ là sau khi các trường phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy, nó không còn giữ tính chất thống nhất. Tăng-già (zh. 僧伽; s, pi. saṅgha) của đạo Phật gồm có Tỳ Kheo (zh. 比丘, sa. bhikṣu, pi. bhikkhu), Tỳ Kheo Ni (zh. 比丘尼, sa. bhikṣuṇī, pi. bhikkhunī) và giới Cư sĩ. == Lịch trình tu học == Theo giáo lý nguyên thủy thì một hành giả đạt bồ-đề, giác ngộ khi người đó đạt được một cái nhìn vạn vật như chúng đích thật là (Như thật tri kiến sa. yathābhūtadarśana), với một tâm thức thoát khỏi phiền não (sa. kleśa) và si mê (sa. moha). Trong các loại phiền não thì tham ái (sa. tṛṣṇā) và vô minh (sa. avidyā), cũng được gọi là si (sa. moha), là những loại nặng nhất. Tham (sa. rāga), sân (sa. dveṣa) và si được gọi chung là ba chất độc (tam độc), vì chúng gây ảnh hưởng lớn đến tâm thức. Vì phiền não vây phủ tâm thức nên hành giả gắng sức tiêu diệt chúng, và để tiêu diệt được thì người đó phải gắng sức đạt được tri kiến chân chính bằng cách thực hành bát chính đạo. Cách thực hành trong Phật giáo cũng được phân chia theo tam học (sa. tisraḥ śikṣāḥ), cụ thể là tu học về giới (tăng thượng giới học, sa. adhiśīlaśikṣā), định (tăng thượng định học, sa. adhicittaśikṣā) và huệ (tăng thượng huệ học, sa. adhiprajñāśikṣā). Trước hết hành giả phát lòng tin (tín, sa. śraddhā) vào tam bảo, giữ giới luật đúng theo địa vị của mình (cư sĩ, sa-di hoặc tỉ-khâu). Qua đó mà ông ta chuẩn bị cho cấp tu học kế đến là thiền định. Cấp này bao gồm bốn trạng thái thiền (tứ thiền, sa. caturdhyāna). Một số cách thực hành được nhắc đến nhằm hỗ trợ bốn cấp thiền định trên, đó là tứ niệm xứ (sa. catvāri smṛtyupasthānāni), Tứ vô lượng tâm, tức là trau dồi bốn tâm thức Từ, Bi, Hỉ và Xả (sa. catvāry apramāṇāni, cũng được gọi là Tứ Phạm trú, sa. brahmavihāra). Cách thiền định ở cấp này được phân làm hai loại: 1. Chỉ (sa. śamatha) là phương pháp lắng đọng tâm, và 2. Quán (sa. vipaśyanā, vidarśanā) là cách thiền quán lập cơ sở trên chỉ, tức là có đạt định an chỉ xong mới có thể thành tựu công phu Quán. Phần thứ ba của tam học là huệ học, lập cơ sở trên thiền quán. Đối tượng quán chiếu trong thiền định ở đây có thể là tứ diệu đế, nguyên lý duyên khởi (sa. pratītyasamutpāda) hoặc ngũ uẩn. Ai hoàn tất Tam học này sẽ đạt được sự hiểu biết về giải thoát (sa. vimuktijñāna), biết là mình đã đạt giải thoát. Phiền não của hành giả này đã được tận diệt, các lậu hoặc đã chấm dứt (vô lậu, sa. anāsrava) và hành giả ấy đạt tứ thánh quả A-la-hán. Song song với cách tu hành theo Tam học trên ta cũng tìm thấy phương cách theo 37 Bồ-đề phần (sa. saptatriṃśabodhipakṣyadharma). == Phật giáo tại các quốc gia == === Việt Nam === Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử (ở Hưng Yên ngày nay) học đạo của một nhà sư Ấn Độ. Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trị sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189. Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được phiên âm trực tiếp thành "Bụt", từ "Bụt" được dùng nhiều trong các truyện dân gian. Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coi như một vị thần tiên chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này, vào thế kỷ thứ 4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ "Bụt" bị mất đi và được thay thế bởi từ "Phật". Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành "Phật đà", "Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật". Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến đầu thế kỷ 17, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu. Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam trải qua bốn giai đoạn: từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp; thời Nhà Lý - Nhà Trần là giai đoạn cực thịnh; từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn suy thoái; từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn phục hưng. Phật giáo Bắc Tông có ba tông phái được truyền vào Việt Nam là Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông. === Trung Quốc === Theo sử liệu cho thấy Phật giáo được giới thiệu đến Trung Quốc do các nhà buôn hay các nhà sư truyền giáo người Ấn qua các ngã đường biển và đường bộ. Về đường biển thì xuất phát từ các hải cảng vùng Nam Ấn rồi qua ngã Sri Lanka, Nam Dương để vào hải cảng Quảng Đông. Về đường bộ, còn gọi là con đường tơ lụa (Silk road) nối liền Đông Tây, di chuyển bằng lạc đà, xuất phát từ miền Đông Bắc Ấn, rồi băng qua các sa mạc ở Trung Á để tới Lạc Dương (kinh đô của nhà Hán). Theo biên niên sử thì Phật giáo truyền đến Trung Quốc vào thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên từ Trung Á nhằm niên hiệu Nguyên Thọ đời vua Hán Ai Đế nhà Tây Hán, nhưng Phật giáo không truyền bá rộng rãi cho đến năm 65 Công nguyên, dưới triều vua Hán Minh Đế (niên hiệu Vĩnh Bình thứ 10 nhà Hậu Hán, 25-220 công nguyên), thì Phật giáo mới bắt đầu cắm rễ và phát triển ở Trung Quốc. Vì muốn thần dân tu học Phật pháp nên vua Minh Đế đã cử một phái đoàn gồm 18 người đến Ấn Độ để thỉnh cầu hai Thiền sư người Ấn là Ca Diếp Ma Đằng (Kàsyapama'tanga) và Trúc Pháp Lan (Dharmaraksa) đến Trung Quốc hoằng pháp. Hai vị Tăng người Ấn này đã mang đến Trung Quốc bộ Kinh Bốn Mươi Hai Chương và trú ngụ tại chùa Bạch Mã (ngôi chùa đầu tiên ở Trung Quốc do vua Minh Đế xây dựng, đến nay vẫn còn) ở Lạc Dương để hoằng dương Phật Pháp. Tiếp theo sau hai nhà sư Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, những nhà truyền giáo khác đến Trung Quốc là An Thế Cao (An Shih-Kao), là người An Tức (Parthian, thuộc Bắc Ấn), Chi Lâu Ca Sấm (Lokaksema), Trúc Phật Sóc (Sangha Buddha) đến Trung Quốc vào năm 148 Công nguyên, mang theo nhiều kinh điển hệ phái Đại thừa để phổ biến nơi vùng đất mới này. Đầu thế kỷ 20 là thời điểm chấn hưng Phật giáo Trung Quốc. Sau cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 đã tạo ra một làn sóng mới về dân chủ tự do cho nhân dân Trung Quốc thoát khỏi ách thống trị của chế độ phong kiến. Năm 1912, Tổng hội Phật giáo Trung Quốc (Chinese Buddhist Association) ra đời tại Thượng Hải, một năm sau đó một hội khác ra mắt tại Bắc Kinh là Trung ương Phật giáo Công hội. Đến năm 1922, công cuộc chấn hưng Phật giáo Trung Quốc đã lên cao với sự lãnh đạo phong trào tích cực của Đại sư Thái Hư (T'ai-Hsu, 1890-1947), người khai sáng Hội Phật giáo Trung Quốc (Buddhist Society of China) có hơn 5 triệu thành viên trên khắp đất nước. Mở đầu ông cho thành lập Phật học viện Pháp Tạng (Fa t'sang Buddhist School), ông nhấn mạnh rằng chương trình dạy được kết hợp hài hòa giữa Phật học và khoa học để thu hút giới thanh niên trí thức, kết quả là học viên theo học rất đông. Không những Đại sư Thái Hư chăm lo chấn hưng nền Phật giáo trong nước mà ngài còn có nhiều đóng góp để chấn hưng Phật giáo thế giới. Chẳng hạn, năm 1924, ông tổ chức Hội nghị Phật giáo thế giới (World Buddhist Conference) tại Lô Sơn, Trung Quốc. Năm 1925, ông tổ chức Hội nghị Phật giáo Đông Á (East Asian Buddhist Conference) ở Tokyo, Nhật Bản. Và từ năm 1928, ông bắt đầu các chuyến đi hoằng pháp ở các nước ở phương Tây. Ngài đã trở thành một trong những nhà truyền giáo người châu Á đầu tiên đến diễn thuyết tại Pháp, Đức, Anh và Mỹ, riêng tại Pháp, vào 1931, ông đã cho xây dựng một Học viện Phật giáo tại Paris để hướng dẫn quần chúng Tây phương học Phật. Nhìn chung với sự góp sức chấn hưng của các Đại sư Thái Sư và sự ủng hộ của chính phủ Trung Quốc, Phật giáo Trung Quốc đã nhanh chóng phục hưng về mọi phương diện từ kiết thiết trùng tu cơ sở cho đến văn hóa nghệ thuật, in ấn kinh điển. Phong trào chấn hưng Phật giáo tại Trung Quốc lúc ấy đã ảnh hưởng và lan tỏa đến các nước làng giềng như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Vào đầu thế kỷ 20, Phật giáo Trung Quốc phải chịu trải qua một thời kỳ cải cách để có thể thích hợp trào lưu mới của xã hội, những tưởng vận mệnh Phật giáo Trung Quốc đã thoát khỏi tai ách của thời cuộc, nhưng không bao lâu sau đó, Phật giáo Trung Quốc lại tiếp tục bị tàn phá trầm trọng qua cuộc chiến Trung-Nhật (1940-1945), rồi tiếp đó là cuộc cách mạng văn hóa nội bộ (1966-1976), Phật giáo Trung Quốc đã trở thành nạn nhân của các cuộc đàn áp vô căn cứ của chính sách đổi mới lạ lùng này. Từ năm 1976 đến nay, tuy chính phủ Trung Quốc có nhiều chính sách cởi mở hơn để khôi phục lại Phật giáo, nhưng nhìn chung Phật giáo Trung Quốc vẫn chưa lấy lại được sinh khí của mình như thuở nào. Tất cả phải đợi chờ đến một cuộc đổi mới khác trong một tương lai gần. Hiện nay, Phật giáo tại Trung Quốc gồm dòng là Phật giáo Bắc Tông, Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Nam Tông, tăng lữ xuất gia của ba hệ phái lớn này có 200 nghìn người. Hiện nay Trung Quốc có hơn 13.000 chùa mở cửa, có 33 trường Phật giáo và gần 50 loại sách báo, tạp chí Phật giáo xuất bản. === Miến Điện (Myanmar) === Truyền thuyết cho rằng Miến Điện (Myanma) đã tiếp cận với đạo Phật trong thời A-dục vương (zh. 阿育王, sa. aśoka, pi. asoka, thế kỉ thứ 3 trước CN). Theo một thuyết khác, đạo Phật đã đến Miến Điện trong thời đức Phật còn tại thế, do hai thương nhân từ Ấn Độ mang tới. Những vị này mang theo cả tóc Phật, ngày nay được giữ trong đền Shwe-Dagon tại Rangun (Yangon). Kể từ thế kỉ thứ 5, Phật giáo phát triển rực rỡ với sự có mặt của Thượng tọa bộ(Pa:Theravāda) và Đại thùa phái (sa, pa. Mahāyana). Kể từ thế kỉ thứ 7, hai phái Nguyên Thủy và Đại thừa song hành tại Miến Điện, sau đó Mật tông cũng bắt đầu có ảnh hưởng. Thế kỷ 11, nhà vua A-na-ra-tha tuyên bố chỉ chấp nhận Thượng tọa bộ và từ đó, Đại thừa biến mất tại đây. Tại Miến Điện, Bagan ở miền bắc trở thành trung tâm Phật giáo. Phật giáo Miến Điện liên hệ chặt chẽ với Phật giáo Tích Lan, nhất là với Đại Tự (pi. mahāvihāra). Thế kỉ thứ 15, vua Đạt-ma-tất-đề (pi. dhammaceti) lại xác định lần nữa rằng Phật giáo Miến Điện mang nặng quan điểm của Thượng tọa bộ. Sự có mặt của người Anh trong thế kỉ thứ 19 làm xáo trộn Phật giáo Miến Điện đáng kể. Mãi đến lúc giành lại độc lập năm 1947, Miến Điện mới trở lại cơ chế cũ. Năm 1956 tại Rangun có một cuộc kết tập kinh điển quan trọng. Ngày nay, 90% dân Miến Điện là Phật tử, đạo Phật được xem là quốc giáo. === Sri Lanka === Người ta cho rằng Phật giáo đến Tích Lan (Sri Lanka) khoảng năm 250 trước Công nguyên, do Ma-hi-đà và Tăng-già-mật-đa (pi. saṅghamitta), hai người con của A-dục vương (sa. aśoka, pi. asoka), truyền từ Ấn Độ. Nhà vua Tích Lan hồi đó là Thiên Ái Đế Tu (pi. devānampiya tissa) trở thành Phật tử và thành lập Đại tự (pi. mahāvihāra) nổi tiếng, nơi đó ông trồng một nhánh cây Bồ-đề có nguồn từ nơi Phật thành đạo, Bồ-đề đạo tràng. Đại tự trở thành trung tâm của Thượng tọa bộ. Theo thời gian, nhiều tông phái Phật giáo khác thành hình và gây nhiều tranh cãi, đến nỗi có khi nhà vua phải can thiệp. Đó là những tranh luận ban đầu của Tiểu thừa và mầm mống của Đại thừa, của cả Mật tông thời bấy giờ. Cuối cùng, Thượng tọa bộ thắng, trong đó Phật Âm (sa. buddhaghoṣa, pi. buddhaghosa) - một Luận sư xuất sắc của Thượng tọa bộ - đóng vai trò quyết định. Tác phẩm của Phật Âm ngày nay vẫn còn ảnh hưởng lên Phật giáo Tích Lan. Đến thế kỉ thứ 12, vua Ba-lạc-la Ma-bà-ha-y (pi. parakkambahu), họp hội nghị Phật giáo và ép tất cả các trường phái phải theo giáo lý của Thượng tọa bộ tại Đại tự. Qua thế kỉ thứ 16, người Bồ Đào Nha vào Tích Lan và tìm cách du nhập đạo Thiên chúa. Đến thế kỉ thứ 17, người Hà Lan lại ủng hộ việc khôi phục đạo Phật tại Tích Lan. Ngoài ra, Miến Điện và Thái Lan cũng có ảnh hưởng đáng kể lên nền đạo Phật tại đây. Kể từ khi Tích Lan giành lại độc lập năm 1948, đạo Phật luôn luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tín ngưỡng và nền văn hóa của xứ này. === Indonesia === Người ta cho rằng Phật giáo du nhập đến Indonesia khoảng thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên. Cao tăng Pháp Hiển, vị tăng Trung Quốc đầu tiên đến Ấn Độ, cũng là người đến Nam Dương năm 418. Cuối thế kỉ thứ 5 thì Phật giáo bắt đầu phát triển tại Indonesia, đến thế kỉ thứ 7 thì Sumatra và Java trở thành hai trung tâm Phật giáo quan trọng. Tại đây, giáo lý Đại thừa được truyền bá rộng rãi, có một số tư tưởng Tiểu thừa, có lẽ của Thuyết nhất thiết hữu bộ, được thừa nhận. Dưới thời vua Shai-len-dra, Phật giáo phát triển rực rỡ, đó là thời kì xây dựng tháp tại Borobudur, là Phật tích lớn nhất còn lưu tới ngày nay. Khoảng cuối thế kỉ thứ 8, Mật tông bắt đầu thịnh hành. Đại thừa và Mật tông tồn tại mãi đến thế kỉ thứ 15, trong suốt thời gian này, Phật giáo Nam Dương liên hệ nhiều với Ấn Độ và với viện Na-lan-đà (sa. nālandā). Với sự xâm nhập của Hồi giáo, Phật giáo bắt đầu tàn lụi tại Nam Dương, kể từ thế kỉ thứ 15. Ngày nay chỉ còn một số nhỏ tín đồ, nhất là trong giới Hoa kiều. === Campuchia === Người ta cho rằng Phật giáo du nhập vào Campuchia trong thế kỉ thứ 3 sau CN, theo văn hệ Phạn ngữ, trường phái Thuyết nhất thiết hữu bộ và đạt được đỉnh cao khoảng thế kỉ thứ 5, thứ 6. Năm 791 người ta tìm thấy gần đền Đế Thiên Đế Thích (Angkor Wat) một văn bản chứng tỏ rằng Đại thừa đã có mặt nơi đây song song với việc thờ thần Thấp-bà (sa. śiva). Sự hỗn hợp này có lẽ bắt nguồn từ việc thờ cúng Bồ Tát Quán Thế Âm, mà Thấp-bà được xem là một hóa thân. Mọi nhà vua của Campuchia cũng đều được xem là hóa thân của Quan Thế Âm. Sau một thời gian thì yếu tố thần Thấp-bà hầu như bị mất đi, nhưng đến thế kỉ thứ 13, người ta lại tôn thờ thần Thấp-bà và tăng giả Phật giáo bị bức hại. Theo các Cao tăng Trung Quốc thì trong thời gian này, Thượng tọa bộ được phát triển trong lúc Đại thừa bị lu mờ. Một số văn bản bằng văn hệ Pali ghi năm 1309 chứng minh rằng Thượng tọa bộ được hoàng gia công nhận và kể từ đó là giáo phái chính thống của Campuchia. Mãi đến cuối thế kỉ thứ 19, Phật giáo truyền từ Thái Lan mới bắt đầu có ảnh hưởng. === Thái Lan === Người ta biết rất ít việc đạo Phật được truyền bá đến Thái Lan. Kết quả khảo cổ cho thấy Phật giáo đến Thái Lan khoảng thế kỉ thứ 6 từ Miến Điện. Ban đầu giáo lý Therevada tức Phật giáo nguyên thủy Nam tông có ảnh hưởng rộng rãi. Khoảng giữa thế kỉ thứ 8 và 13, Mahayana (hay phái Bắc Tông) được truyền bá rộng hơn. Giữa thế kỉ thứ 11 và 14, ảnh hưởng của Ấn Độ giáo bắt đầu phát triển. Trong thế kỉ 13, Hoàng gia Thái Lan chính thức công nhận Thượng tọa bộ (giáo lý của Phật giáo nguyên thủy Therevada)và mối liên hệ với Tích Lan trong thời kì này càng làm cho bộ này phát triển thêm rộng rãi. Năm 1782, nhà vua triệu tập một đại hội nhằm kiểm điểm lại Tam tạng kinh điển. Trong thế kỉ thứ 19, nhà vua Ma-ha Mông-cút (mongkut) lên ngôi, bản thân ông cũng đã là một tăng sĩ, ông là người đặt nền tảng cho nền Phật giáo cận đại. Ông thành lập Pháp tông (dhammayut), cơ sở dựa vào Luật tạng và ngày nay có nhiều tín đồ nhất tại Thái Lan. Vua Chulalangkorn - trị vì từ 1868 đến 1910 - cho xuất bản các tạng kinh quan trọng của đạo Phật, có thể gọi là đầy đủ nhất từ xưa đến nay. Ngày nay, 95% dân số Thái Lan theo đạo Phật. === Triều Tiên === Trong thế kỉ thứ 4 sau CN, Phật giáo du nhập vào Triều Tiên và phát triển rực rỡ nhất là giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 9. Trong thời kì này, các trường phái quan trọng của Trung Quốc đều được thành lập tại Triều Tiên như Thiền tông, Hoa Nghiêm tông, Mật tông (Chân ngôn tông). Bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (sa. prajñāpāramitā-sūtra) cũng được truyền bá rộng rãi rất sớm tại Triều Tiên. Người ta cũng tìm thấy nhiều tác phẩm văn hóa mang đặc tính Phật giáo tại đây. Suốt thời nhà Lý (yi, 1392-1910), nền văn hóa Khổng giáo trở thành quốc đạo và tăng ni Phật giáo bị ép buộc phải vào núi tu hành. Sau năm 1945, Phật giáo được phục hưng và phát sinh một phong trào mới gọi là Viên Phật giáo (en. won-buddhism). Ngày nay, tại Hàn Quốc người ta ít phân biệt các tông phái đạo Phật và thực hành song song với nhau thiền quán, niệm Phật A-di-đà và tụng kinh. Phép niệm thần chú cũng được truyền bá rộng rãi, vốn có nguồn gốc từ Mật tông của thời trung cổ. Trong giới trí thức, Thiền tông được nhiều người theo trong lúc giới dân giã lấy niệm danh hiệu các đức Phật làm chủ yếu. Trộn lẫn với đạo Phật là hình thức thờ đa thần như thần núi, linh vật, thần tinh tú. === Mông Cổ === Theo nhà nghiên cứu sử học người Anh Andrew Skilton, Phật giáo được truyền vào Mông Cổ từ Ấn Ðộ, Trung Á và Trung Hoa vào đầu thế kỷ 4 TCN bằng con đường tơ lụa (Silk Road) qua các nhà buôn người Ấn Độ. Từ đó Phật giáo dần dà phát triển đến thế kỷ 13 với nhiều đợt truyền giáo của Phật giáo Tây Tạng và Phật giáo Trung Quốc. Tuy nhiên, Phật giáo Tây Tạng chiếm ưu thế và ảnh hưởng mạnh mẽ vào đời sống của người dân Mông Cổ. Ðỉnh cao của sự ảnh hưởng này là Đạt-lại Lạt-ma thứ 4 là người Mông Cổ (1588). Trước khi Phật giáo được truyền vào Mông Cổ, tôn giáo bản địa là Shaman giáo, một tôn giáo chịu ảnh hưởng từ truyền thống tâm linh của người Ba Tư. Phật giáo Mông Cổ bắt đầu hưng thịnh từ thế kỷ 13 đến cuối thế kỷ 19 khi tôn giáo này trở thành quốc giáo của Mông Cổ. Đến đầu thế kỷ 20, Mông Cổ chịu nhiều đau khổ vì chiến tranh, xung đột chính trị từ các cường quốc bên ngoài, sau Trung Quốc (1912), Nhật Bản đánh chiếm vào Manchuria vào năm 1931, và sau thế chiến thứ 2 vào năm 1945, Hồng quân Liên Xô bắt đầu cuộc giải phóng cho Mông Cổ. Và từ đó trở đi Mông Cổ trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa, với chính sách không khoan nhượng tôn giáo, có hàng chục ngàn tăng ni và cư sĩ Phật giáo Mông Cổ trí thức bị trục xuất hoặc bị tống giam, thanh thiếu niên dưới 18 tuổi không được xuất gia, hơn 800 tự viện bị phá hủy hoàn toàn trên khắp Mông Cổ. Từ năm 1989 đến nay, khi Mông Cổ trở thành nước đa đảng thì các rào cản về sinh hoạt tín ngưỡng được tháo bỏ, các hoạt động của Phật giáo đã từng bước trở lại bình thường, có hơn 160 ngôi Tu viện Phật giáo được xây dựng hoặc mở cửa trở lại và rất nhiều người xuất gia tu học và làm công tác truyền giáo. Hiện nay, 50% dân số Mông Cổ theo Phật giáo Tây Tạng. === Lào === Hầu hết nhân dân Lào theo đạo Phật. Phật giáo trở thành quốc giáo của họ. Ở Lào, Phật giáo giữ vị trí quốc giáo từ nhiều thế kỷ nay. Phật giáo có ảnh hưởng đến việc hình thành tính cách dân tộc, nhân sinh của người Lào. Theo nhiều nguồn sử liệu còn để lại cho thấy, vào khoảng thế kỷ 12, những người Môn đầu tiên di cư xuống vùng Tây Lào đã truyền bá Phật giáo cho những cư dân tại đây. Những người Môn này đã mang theo rất nhiều kinh Phật, tượng Phật và những tu sĩ am hiểu Phật giáo từ Sri Lanka đến truyền bá Phật pháp. Từ đó họ truyền đi các ngả và phát triển rộng khắp đến các vùng phía Tây của Lào. Đến thế kỷ 13 khi tộc người Lào Thay chinh phục xong toàn bộ phần đất Bắc Lào rộng lớn họ đã tiếp thu Phật giáo hệ phái Thượng tọa Bộ hay Therevada - Phật giáo Nam tông và phát triển rộng khắp cả vùng Bắc và Trung Lào. Thời gian này, Phật giáo Lào có quan hệ mật thiết với Phật giáo Srilanka. Trong khi đó, từ phía Nam, Phật giáo Lào cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Khmer vốn theo Thượng tọa Bộ - Therevada. Dưới thời của đế chế Angkor, thống trị từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13, Phật giáo Đại thừa đã được truyền bá vào Lào. Thế kỷ 14 khi vua Phà Ngừm (1316 - 1373) thống nhất toàn bộ lãnh thổ nước Lào, ông đã tiếp thu Phật giáo Thượng tọa Bộ từ Campuchia và phát triển trên khắp đất nước Lào. Hiện nay, Phật giáo tại Lào tồn tại song song hai hệ phái là Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Thượng tọa Bộ, trong đó hệ phái Phật giáo Thượng tọa Bộ - Therevada chiếm đa số. Theo con số thống kê, hiện nay ở Lào có hơn 20.000 tăng ni, khoảng 6.300 cơ sở thờ tự, chiếm khoảng 85% dân số nước này. Phật giáo Thượng tọa Bộ ở Lào phân chia thành 2 phái nhỏ là Đại tông phái truyền thống chiếm 94% số chùa, 90% số sư sãi. Tông phái này từ Thái Lan truyền sang vào thế kỷ 14. Và Pháp tông phái vốn do nhà vua Mongkut (Rama IV) của Vương triều Chakri (Thái Lan) lập ra khi nhà vua chưa lên ngôi. Phái này chủ trương cải cách Phật giáo, chủ trương bảo vệ giới luật nghiêm túc, do các cao tăng điều hành. Sư tăng của phái nầy tuy hạn chế, nhưng phần lớn là các quý tộc xuất gia, nhiều nhà trí thức, trước kia được Hoàng gia Lào ủng hộ. === Nhật Bản === Đạo Phật bắt đầu từ Ấn Độ từ thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Một nhánh chính của Phật giáo, nhánh Mahayana hay gọi là Phật giáo Bắc tông đã du nhập vào Nhật Bản. Phật giáo được du nhập vào Nhật từ Trung Hoa và Triều Tiên dưới dạng món quà của vương quốc thân hữu Triều Tiên Kudara vào thế kỷ thứ 6 sau Công Nguyên. Trong khi Phật giáo được giới quý tộc cai trị ủng hộ, lúc đầu nó lại không phổ biến trong giới thường dân vì những lý thuyết phức tạp của nó. Đến thời Nara, Phật giáo mới phát triển mạnh mẽ trong dân chúng và toàn nước Nhật. Trong nhiều thế kỷ, Phật giáo là quốc giáo của nước này. Ảnh hưởng lớn đến chính trị, xã hội, văn hóa của quốc gia này. Từ khi Phật giáo truyền đến nước Nhật, sự hợp nhất giữa Phật giáo và Thần đạo đã diễn ra trong một khoảng thời gian dài. Phật giáo bắt đầu thời kỳ suy vi tại Nhật vào thế kỉ 19, vào thời Minh Trị, chính quyền lúc bấy giờ đã ra sắc lệnh "Thần Phật phân ly", tách Thần Đạo ra khỏi Phật giáo, đồng thời nỗ lực chấn hưng tôn giáo bản địa. Đây là thời kì Thần Đạo phát triển mạnh mẽ với sự bảo trợ đặc biệt của chính quyền. Thần Đạo trở thành quốc giáo của Nhật Bản, gắn liền với các hoạt động của nhà nước. Phật giáo được khôi phục lại sau khi kết thức Chiến tranh thế giới thứ hai với việc nhiều tổ chức Phật giáo ra đời làm sống dậy các sinh hoạt Phật sự trên khắp nước Nhật. Theo thống kê gần đây, Phật giáo Nhật Bản có 70.000 ngôi chùa, 250.000 tăng ni, 96 triệu Phật tử. Có trên 20 trường đại học, trung học và viện nghiên cứu Phật giáo ở khắp đất nước Nhật. Phật giáo Nhật Bản có rất nhiều tông phái khác nhau, được chia thành mười ba tông phái chính. == Nền tảng và khác biệt so với các tôn giáo khác == Nền tảng Đạo Phật: là tứ thánh đế. Đạo Phật là đạo giải quyết khổ đau với 2 khái niệm quan trọng là Nhân Quả và Luân hồi. Nhân Quả: Đạo Phật giải thích là mọi sự việc đều có lý do từ Nhân Quả. Nghĩa là mọi sự việc đều là kết quả từ nguyên nhân trước đó. Và sự việc đó chính nó lại sẽ là một nguyên nhân của kết quả sau này. Các sự việc tương tác Nhân Quả phức tạp lẫn nhau gọi là trùng trùng duyên khởi. Nhân có khi còn gọi là Duyên hay Nghiệp, và một khi đã gieo Duyên hay Nghiệp thì ắt sẽ gặt Quả (để phân biệt tích cực với tiêu cực một cách tương đối thì có khái niệm "thuận duyên", "nghịch duyên" hoặc "Thiện nghiệp", "Ác nghiệp"). Từ Nhân đến Quả có yếu tố Duyên. Duyên là điều kiện thuận lợi cho phép Quả tới nhanh hơn dự kiến (thuận duyên) hoặc điều kiện cản trở trì hoãn Quả tới chậm hơn, đôi khi triệt tiêu Quả (nghịch duyên). Nhân quả tương tác theo luật hạt giống: hạt táo không thể sinh ra quả bưởi, hạt xoài không thể sinh ra quả đào. Nhân quả đạo đức là một ứng dụng của duyên khởi (nguyên lý duyên khởi là quy luật vận hành của vạn vật). Các nhân cùng loại nhưng trái chiều sẽ tương tác, bù trừ nhau, cái nào mạnh hơn sẽ trổ quả sau khi bù trừ xong, ví dụ: về nghiệp tuổi thọ của một người, thiện nghiệp (trồng cây, phóng sanh, cứu mạng người khác) và ác nghiệp (sát sanh, giết người) đã gieo sẽ bù trừ nhau, nếu ác nghiệp nhiều hơn thì người đó sẽ nhận phần ác nghiệp sau khi đã được trừ với thiện nghiệp, bị bệnh tật hoặc tai nạn làm giảm tuổi thọ. Học thuyết nhân quả dựa trên kinh tạng nguyên thủy lý giải rằng nghiệp đã gieo có thể chuyển được do gieo nhân mới đối lập với nhân cũ. Dù con người dù không thể thấy được toàn bộ, không thể lý giải được hoàn toàn nhân quả này thì mối quan hệ Nhân Quả vẫn là một quy luật tự nhiên khách quan. Con người dù không thể hiểu hết, thấy hết, thậm chí có thể họ không tin Nhân Quả, nhưng quy luật này vẫn vận hành và chi phối vạn vật. Thời gian giữa Nhân và Quả là xuyên suốt thời gian vũ trụ chứ không chỉ trong một kiếp sống. Việc này dẫn đến 1 khái niệm là Luân hồi. Luân hồi: Luân hồi chỉ cho việc tâm thức trải qua nhiều kiếp sống. Chết là hết 1 kiếp, tâm thức mang theo nghiệp đi tái sinh kiếp mới. Hình thức của 1 kiếp sống là khác nhau, có thể chuyển đổi giữa các loài, các thế giới (cõi súc sinh, cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la…). Quan hệ Nhân Quả quyết định cách thức Luân hồi, hay nói cách khác tùy theo Duyên hay Nghiệp đã tạo mà sẽ Luân hồi tương ứng để nhận Quả. Chết là hết một kiếp, nhưng lại là khởi đầu của một kiếp khác, nối tiếp vô cùng tận. Dù có hết 1 kiếp sống thì vẫn sẽ tiếp tục Luân hồi sang kiếp khác để nhận Quả. Còn Luân hồi là còn khổ và Đạo Phật chỉ rằng Luân hồi chỉ có thể bị phá vỡ nếu đạt Giác ngộ. Nghĩa là có thể thoát khỏi Luân hồi sinh tử nếu biết cách "đoạn diệt" các nguyên nhân dẫn dắt Luân hồi. Đạo Phật gọi đó là giải thoát và toàn bộ Phật pháp đều nhằm chỉ ra con đường giải thoát, như Phật đã nói "Như mặn là vị của nước biển, còn vị của đạo ta là giải thoát". Khác biệt của Đạo Phật với hầu hết các tôn giáo: Bình đẳng: Trong hầu hết các tôn giáo, không ai có thể sánh bằng hoặc ngang hàng với một đấng tối thượng là giáo chủ. Tất cả tín đồ đều phải suy tôn, coi vị này là số một và không bao giờ có cơ hội được như đấng đó. Điều này làm tôn giáo thường bị nhiều kẻ xấu lợi dụng để phục vụ cho lợi ích của riêng mình bằng cách làm cho người khác tin rằng mình là giáo chủ hoặc là người đại diện cho giáo chủ. Đạo Phật thì chỉ coi một bậc là tối thượng chứ không phải cá biệt duy nhất một ai là tối thượng. Bậc Vô thượng bồ đề hay gọi đơn giản là Phật chính là một bậc mà mọi chúng sanh đều có thể đạt được nếu kiên trì tu tập và đạt tới giác ngộ. Phật là danh từ chung để gọi một người đã giác ngộ, đạt tới cảnh giới giải thoát, ra khỏi Luân hồi, hoàn toàn trong sạch và hơn nữa phải là người có lòng từ bi thương yêu, cứu giúp tất cả chúng sinh không phân biệt dù hy sinh cả bản thân mình. Sự suy tôn trong Đạo Phật là do tự cảm phục trước lòng từ bi, đức độ và công hạnh của người đã đạt đến bậc Vô thượng bồ đề. Là sự tự nguyện noi theo đức độ và giải thoát chứ không hề có sự ép buộc phải phục tùng, cầu lợi. Chính Phật cũng đã khẳng định: "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành" Tính vô thường của vạn vật: Đạo Phật cho rằng mọi sự vật hiện tượng (trừ cõi Niết Bàn) đều là vô thường, không thể tồn tại vĩnh hằng, có sinh thì phải có diệt, Duyên khởi thì sinh - Duyên tận thì diệt. Ngay cả không gian, thời gian và vũ trụ cũng vậy, cũng có khởi đầu, biến đổi và cuối cùng là kết thúc (2.500 năm sau khi Đức Phật thuyết pháp, thuyết Big Bang và Vũ trụ giãn nở mà khoa học tìm ra cũng có nội dung tương tự). Trong khi đó, hầu hết các tôn giáo khác đều cho rằng bậc Thượng đế của họ là vĩnh hằng bất biến và sáng tạo ra vạn vật, cho rằng bậc Thượng đế đó không sinh ra từ đâu mà tự đã có khi vạn vật chưa tồn tại. Tính vô lượng của thế giới: đa số các tôn giáo khác coi Trái Đất là trung tâm vũ trụ, loài người là sinh vật tối thượng do Thượng đế tạo ra. Đạo Phật thì cho rằng thế giới này chỉ là một trong muôn vàn các thế giới cùng hiện hữu, loài người (Nhân giới) cũng chỉ là một kiếp sống như các loài vật khác (súc sinh giới), có kiếp sống còn cao cấp hơn loài người (Thiên giới), và tất cả đều phải chịu luân hồi vô tận từ kiếp này sang kiếp khác. Phật tổ từng nói: "Trên vũ trụ này còn vô số những thế giới khác, trong một ly nước cũng có vô số những con trùng trong đó". Vào thời đó, những gì Đức Phật nói là mơ hồ và không ai có thể chứng minh, nhưng ngày nay thì nhiều điều đã được khoa học hiện đại chứng minh là đúng. Tôn thờ: Chính vì sự bình đẳng nên Đạo Phật không ép buộc hay khuyến khích thờ cúng cho bất kỳ ai. Nên phân biệt rõ sự ép buộc thờ cúng để hưởng thụ với sự thành tâm cúng dàng, hỷ xả của một tín đồ. Một vị Phật hay một vị tăng chân chính không coi trọng bản thân mình, sẵn sàng hy sinh vì chúng sinh và thực tế đã có rất nhiều bằng chứng trong lịch sử. Vì vậy việc chúng sinh dâng cúng và họ thụ nhận, hoặc một số trường hợp họ khuyên dâng cúng chính là vì muốn chúng sinh tạo công đức, gieo một nhân lành, gieo một duyên tốt để từ đó diệt trừ tham lam, đi vào tu tập, xả bỏ vướng bận và giải thoát. Sự cúng dàng và bái lạy, hầu cận Phật là một sự ngưỡng mộ, noi theo đối với đấng Thế tôn đã giải thoát và từ bi vô lượng. Khi một người đạt đến quả vị Vô thượng bồ đề thì cả vũ trụ đều rúng động và suy tôn vì đức độ vĩ đại của vị Phật đó chứ vị Phật đó không còn mong muốn ai suy tôn, thờ cúng cho mình. Quả vị đó là một sự thật chứ không phải tự phong. Phật đã đạt tới và Phật nhận tất cả tấm lòng của chúng sinh hướng về chính đạo để hướng dẫn cách giải thoát cho chúng sinh. Hơn hết tất cả, quả vị Vô thượng bồ đề là bậc mà mọi chúng sinh đều có thể tự tu tập và đạt được theo sự chỉ bảo của Phật. Tóm lại, Đạo Phật là con đường giải thoát dành cho tất cả chúng sinh, không phân biệt ai. Đạo Phật nói lên sự thật, là một con đường khách quan để đi tới chân lý. Giáo lý của Đạo Phật không phải do Phật sáng tạo ra mà là chân lý khách quan. Phật chỉ là người phát hiện, dấn thân và chứng đắc để rồi truyền dạy lại cho chúng sinh cách giải thoát với lòng từ bi vô lượng. Sự cao quý của Phật ở chỗ xem tất cả chúng sinh là bình đẳng và hoàn toàn có thể thành Phật. == Nhận xét == Nhà bác học Vật lý Albert Einstein có nhắc qua về Đạo Phật trên tờ New York Times số ra 09.11 năm 1930 như sau: "một người được giác ngộ bởi tôn giáo, đối với tôi có vẻ như là người cố gắng đến khả năng cực đại của bản thân, giải thoát mình khỏi những xiềng xích của những ham muốn ích kỷ của mình và đi sâu, chìm đắm trong những suy nghĩ, cảm xúc và nguyện vọng, những cái mà người đó luôn giữ chặt, vì giá trị của siêu-cái tôi cá nhân (gọi tắt là X). Tôi thấy rằng, dường như cái quan trọng là sức mạnh của những thứ (nội dung) nằm trong X... chứ không cần quan tâm đến bất kỳ một nỗ lực nào được thực hiện để thống nhất những điều này với một đấng Thiên chúa, nếu không thì nó có thể không khả thi khi tính Phật và Spinoza là như loại hình tôn giáo (nhân cách). Theo đó, người mộ đạo theo cảm giác (có ý thức) rằng, họ không hề nghi ngờ gì về tầm quan trọng của các đối tượng nằm trong X này và về các mục tiêu, cái mà không cần và cũng không có đủ khả năng xây dựng nên dựa trên một nền tảng khoa học hợp lý... Theo cách hiểu này, tôn giáo là nỗ lực lâu đời của nhân loại để trở nên rõ ràng và được nhận thức hoàn toàn đầy đủ về những giá trị và mục tiêu, và không ngừng củng cố cũng như mở rộng ảnh hưởng của nó. Nếu mọi người quan niệm về tôn giáo và khoa học theo những định nghĩa này, thì một cuộc xung đột giữa tôn giáo và khoa học dường như là không thể. Vì đối với khoa học chỉ có thể xác định nó "là gì", chứ không phải nó "nên là gì"..." Friedrich Nietzsche chỉ trích Đạo Phật làm thúc đẩy những thứ mà ông gọi là thuyết hư vô (nihilism). Ông cho rằng, đạo Phật có thể được mô tả như một nỗ lực, thông qua sự kiềm chế từ hành động, để thoát khỏi đau khổ và đi vào trạng thái không tồn tại một cách tuyệt đối, cái mà ông phê phán và cho rằng đó là sự trốn chạy hèn nhát trước thực tại. Nhà bác học Vật lý Albert Einstein đã nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)... Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau: "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó... Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình theo xu hướng khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học... Tôi là một người không tôn giáo. Nhưng nếu có Tôn giáo thì Tôi phải là một Phật tử. Vì những gì Tôi hiểu biết bây giờ thì mấy ngàn năm qua Kinh Phật đã nói hết rồi". == Tham khảo == Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.) Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986. Conze, Edward: Buddhism. Its Essence and Development, Oxford 1953. Buddhist Thought in India, London 1962, (Đức ngữ: Buddhistisches Denken, Frankfurt am Main, 1988) A Short History of Buddhism, London 1980. Hirakawa, Akira: A History of Indian Buddhism. From Śākyamuni to Early Mahāyāna. Translated and Edited by Paul Groner. University of Hawaii Press, 1990. The World of Buddhism, ed. by Richard Gombrich & Heinz Bechert. London 1991. == Xem thêm == Phật giáo Nhật Bản Phật giáo Tây Tạng Phật giáo Trung Quốc Phật giáo Việt Nam Phật giáo Phương Tây == Chú thích == == Đọc thêm == What the Buddha Taught, by Wapola Rahula. Grove Press, Revised Edition, 1994. === Trực tuyến === Berzin, Alexander (tháng 11 năm 2001). “Historical Sketch of Buddhism and Islam in Afghanistan”. Berzin Archives. Wei, Wei Wu (1960). “Why Lazarus Laughed: The Essential Doctrine Zen-Advaita-Tantra”. Routledge and Kegan Paul Ltd., London. Sentient Publications. Dhammananda, Kirinde (2002). “What Buddhists Believe” (PDF). Buddhist Missionary Society of Malaysia. == Liên kết ngoài == Buddhism (religion) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
tiếng ngô.txt
Tiếng Ngô, Ngô ngữ (chữ Hán: 吳語/吴语; bính âm: Wú yǔ) là một trong những bộ phận lớn của tiếng Trung Quốc. == Phân bố == Tiếng Ngô được nói ở phần lớn tỉnh Chiết Giang, thành phố Thượng Hải, Nam Giang Tô, cũng như một số phần nhỏ hơn của các tỉnh An Huy, Giang Tây, và Phúc Kiến. Các phương ngữ chính của tiếng Ngô là Thượng Hải, Tô Châu, Ôn Châu, Hàng Châu, Thiệu Hưng, Kim Hoa, Vĩnh Khang, và Cù Châu. == Lịch sử == Tiếng Ngô hiện đại có nguồn gốc từ nước Ngô và nước Việt thời Xuân Thu. Hai nước này nằm ở khu vực tỉnh Giang Tô và Chiết Giang hiện nay. Tiếng Nhật có cách đọc chữ Hán theo âm Go-on (呉音 goon?, pinyin: Wú yīn; Ngô âm) là do dựa theo ngôn ngữ của nước Đông Ngô thời Tam Quốc. Nước Đông Ngô cũng có trung tâm nằm tại khu vực nói tiếng Ngô hiện nay. Trong lúc Ngũ Hồ tràn vào Trung Nguyên, thân thuộc nhà Tấn bỏ chạy từ phía bắc về phía nam và tái lập nhà Đông Tấn ở thành Kiến Khang (khu vực nói tiếng Ngô). Lúc này ngôn ngữ của dân Tấn (tiếng Tấn hoặc Quan Thoại) có phần lấn át tiếng Ngô. Một số nhân vật lịch sử nói tiếng Ngô như tiếng mẹ đẻ là: Tùy Dạng Đế, Dạng Mẫn hoàng hậu, Tây Lương Tuyên Đế,.. Thời nhà Thanh, người tiếng Ngô chiếm tới 20% tổng số dân Trung Quốc. Sau loạn Thái Bình Thiên Quốc, khu vực có người nói tiếng Ngô bị giảm chỉ còn khoảng 8%. Năm 1984, có khoảng 77 triệu người nói tiếng Ngô. == Văn hóa == Một số nhân vật tiêu biểu trong lịch sử hiện đại Trung Quốc là người nói tiếng Ngô như: Tưởng Giới Thạch, Lỗ Tấn, Thái Nguyên Bồi,... Tiếng Ngô cũng giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển và được sử dụng nhiều trong Việt kịch (越剧; hoặc 绍兴戏 Thiệu Hưng hí - Shaoxing opera), Kinh kịch,... Năm 1991, có 87 triệu người nói tiếng Ngô, khiến đây là loại tiếng Trung được nói đông thứ hai sau tiếng Quan Thoại (800 triệu người nói). == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
kentucky.txt
Thịnh vượng chung Kentucky (tiếng Anh: Commonwealth of Kentucky, phát âm như "Ken-tắc-ky") là tiểu bang thứ 15 của Hoa Kỳ. Kentucky thường được coi là tiểu bang miền Nam. Ðây là nơi sinh của Tổng thống Abraham Lincoln (tại Hardin County). == Địa lý == Kentucky, có tên hiệu The Bluegrass State (Tiểu bang Cỏ poa), tiếp giáp với cả những tiểu bang miền Trung Tây và miền Trung Nam như Tây Virginia và Virginia về phía đông, Tennessee về phía nam, Missouri về phía tây, và Illinois, Indiana và Ohio về phía bắc. Dọc theo ranh giới phía bắc và phía tây của tiểu bang lần lượt là sông Ohio và sông Mississippi. Các sông lớn khác của Kentucky là sông Kentucky, sông Tennessee, sông Cumberland, sông Xanh, và sông Licking. Có thể chia Kentucky thành năm vùng chính: dãy núi Cumberland và cao nguyên Cumberland ở đông nam, vùng Cỏ poa (Bluegrass region) ở trung bắc, cao nguyên Pennyroyal ở phía trung nam và phía tây (còn được gọi Pennyrile) với hai thành phố Elizabethtown và Bowling Green), vùng than phía tây, và Miền đất mua Jackson (Jackson Purchase) ở xa miền tây. Kentucky là tiểu bang duy nhất ở nước Mỹ có một vùng đất lọt vào giữa tiểu bang khác. Ở xa miền tây Kentucky có Kentucky Bend, một miến đất nhỏ trên bờ sông Mississippi. Nó giáp với Missouri và Tennessee (theo đường sông), do động đất New Madrid tạo ra. Miền Cỏ poa thường được chia thành hai miền nhỏ hơn: miền Nội Cỏ poa (Inner Bluegrass) – trong vòng Lexington cách 145 kilômét (90 dặm) – và miền Ngoại Cỏ poa (Outer Bluegrass) bao gồm hầu hết các vùng phía bắc của tiểu bang, trên miền Gò (Knobs Region). Phần lớn miền Ngoại Cỏ poa thuộc về vùng dãy đồi Eden Shale (Eden Shale Hills), có những đồi thấp, dốc và rất hẹp. === Các kỳ quan tự nhiên nổi tiếng === Đèo Cumberland (Cumberland Gap) là đường chính qua dãy Appalachian trong lịch sử Mỹ. Công viên Tiểu bang thác Cumberland (Cumberland Falls) có cầu vồng trắng duy nhất ở Tây bán cầu và một trong hai trên thế giới (cái kia ở Thác Victoria). Công viên Quốc gia Hang Mammoth (Mammoth Cave) để khách đi bộ vào hầm dài nhất trên thế giới. Khu địa chất hẻm Sông Đỏ là một phần của Rừng Quốc gia Daniel Boone. Land Between the Lakes là Khu giải trí quốc gia trực thuộc Dịch vụ Rừng Hoa Kỳ. Rừng Bernheim là vườn cây, rừng, và khu bảo tồn tự nhiên rộng 57 km² (14.000 mẫu Anh) tại Clermont. Khu tưởng niệm Quốc gia Sinh quán Abraham Lincoln tại Hodgenville. Sông và Khu giải trí quốc gia Big South Fork gần thành phố Whitley. Đường mòn lịch sử Quốc gia Nước mắt cũng đi qua Kentucky. Núi Đen, nơi cao nhất của tiểu bang, dọc theo ranh giới của hai quận Harlan và Letcher. Khu bảo tồn tự nhiên Quốc gia Thác Bad Branch là khu bảo tồn tự nhiên rộng 10,68 km² (2.639 mẫu Anh) trên đường dốc phía nam của núi Pine tại Quận Letcher. Đây là một trong những nơi có nhiều loài quý hiếm và nguy hiểm trong tiểu bang, cũng như có thác nước 18 mét (60 foot) và dòng sông Kentucky Wild. Rừng kỷ niệm Jefferson ở phía nam thành phố Louisville ở miền Gò. Đây là rừng trong thành phố lớn nhất ở Hoa Kỳ. Công viên Tiểu bang Sông Xanh thuộc Quận Taylor. === Các thành phố lớn === Các thành phố lớn nhất của Kentucky và nhiều các quận đang phát triển nhanh nhất tập trung ở vùng Tam giác Vàng, phần lớn vùng này nằm trong miền Cỏ poa, trừ ba quận Hardin, Meade, và LaRue thuộc về miền Pennyroyal. Thành phố lớn nhất của Kentucky là thành phố Louisville (cùng chính phủ với Quận Jefferson), có dân số ước lượng năm 2004 là 556.332. Bên Kentucky của khu vực thống kê tổng hợp Louisville (Kentuckiana) có 1.120.039 người. Thành phố lớn thứ hai là Lexington (cùng chính phủ với Quận Fayette) có 260.512 người, và khu vực thống kê tổng hợp của nó có dân số ướng lượng là 635.547 người vào năm 2005. Vùng Bắc Kentucky, tức là bảy quận của Kentucky thuộc về khu vực thống kê tổng hợp của Cincinnati, có dân số ước lượng năm 2005 là 403.727 người. Các khu vực đô thị của Louisville, Lexington, và Bắc Kentucky có dân số tổng cộng là 2.159.313 vào năm 2005, tương đương 51,7% của dân số toàn tiểu bang. Hai vùng thành thị đang phát triển mạnh là vùng Bowling Green và "Miền Ba Thành phố" (Tri Cities Region) ở miền Đông Nam Kentucky, bao gồm Somerset, London, và Corbin. Tuy chỉ có một thành phố, Somerset, ở miền Ba Thành phố có hơn 10.000 dân cư, vùng này đang phát triển dễ sợ về dân số và việc làm từ thập niên 1990, và nhiều nhà địa lý cho rằng đây là khu vực thành thị tiếp theo của Kentucky. Quận Laurel phát triển đặc biệt nhanh, và nhanh hơn những vùng khác như là Quận Scott và Quận Jessamine gần Lexington hay Quận Shelby và Quận Nelson gần Louisville. London, Kentucky coi như sắp tăng lên dân số gắp đôi từ 5.692 người vào năm 2000 tới 10.879 vào năm 2010. Wal-Mart đã xây một trung tâm phân phối ở London vào năm 1997, tao ra hàng ngàn việc làm với lương cao cho thành phố. == Xem thêm == Quận Kentucky, Virginia Gà rán Kentucky == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Kentucky.gov – chính phủ tiểu bang (tiếng Anh) Bộ Du lịch Kentucky (tiếng Anh) Đoàn thể Lịch sử Kentucky (tiếng Anh) Kentucky Department of Tourism The Kentucky Highlands Project USGS real-time, geographic, and other scientific resources of Kentucky State Facts Kentucky: Unbridled Spirit Kentucky Virtual Library "Science In Your Backyard: Kentucky" U.S. Department of the Interior | U.S. Geological Survey, July 3, 2006, truy cập November 4, 2006 U.S. Census Bureau Kentucky QuickFacts Interactive Kentucky for Kids
đám mây oort.txt
Đám mây Oort (phát âm là oóctơ, đầy đủ là đám mây Öpik-Oort lấy theo tên của Ernst Julius Öpik và Jan Hendrik Oort) là một đám mây bụi khí, sao chổi và vẩn thạch khổng lồ, có tên chính xác là Đám mây tinh vân Oort, bao quanh Hệ Mặt Trời với đường kính 1 năm ánh sáng. Nó gồm có hai phần: đám mây phía trong và đám mây phía ngoài cách mặt trời khoảng 30.000 đến 50.000 đơn vị thiên văn. Theo giả thuyết, các sao chổi được hình thành tại đây, và 50% số sao chổi trong Hệ Mặt Trời được tạo thành từ đám mây phía trong. Đám mây Oort được hình thành từ thời khi Hệ Mặt Trời còn là những đám mây bụi khí. Khi lực hấp dẫn lớn dần lên, nó kéo các khí và bụi lại gần nhau, tạo thành Mặt Trời và các hành tinh. Nhưng phần bên ngoài, do lực hấp đẫn không đủ mạnh, nên chúng vẫn còn lơ lửng trong vũ trụ. Chúng hình thành nên đám mây Oort, ranh giới cuối cùng của Hệ Mặt Trời. == Nguồn gốc == == Cấu trúc == == Sao chổi == == Xem thêm == == Tham khảo ==
cải cách taika.txt
Cải cách Taika (大化の改新 (Đại Hoá cải tân), Taika no Kaishin) là cuộc cải cách trong lịch sử Nhật Bản, do Thiên hoàng Kōtoku (孝徳天皇, Kōtoku-tennō) đề xướng năm 645. Từ cuộc cải cách của vua Kōtoku, Nhật Bản từng bước chuyển hoá thành một nhà nước phong kiến. Trước cải cách Taika, các triều Thiên hoàng vẫn còn mang dấu vết của chế độ thủ lĩnh bộ lạc, tuỳ theo mức độ cao hay thấp. Cuộc cải cách được thực hiện ít lâu sau khi Thánh Đức Thái tử (622) qua đời, và thất bại của dòng họ Soga, nước Nhật được thống nhất. == Công cuộc cải cách == Năm 645, Hoàng tử Karu lên nối ngôi, trở thành Thiên hoàng Kōtoku - vị Thiên hoàng thứ 36 trong lịch sử đất nước Mặt trời mọc. Phỏng theo thiết chế của triều Đường bên Trung Hoa, Thiên hoàng Kōtoku đã thực hiện cải cách về nhiều mặt: hành chính, tài chính, thuế khoá, quân đội, luật pháp, đất đai, giáo dục, … Với cuộc cải tổ này, ông đã thành lập một nhà nước phong kiến Nhật Bản, trên thực tế là theo hình mẫu chế độ phong kiến của đế quốc Trung Hoa đương thời. Về sau, Thiên hoàng Tenji (Tenji-tennō) lên nối ngôi, trở thành vị Thiên hoàng thứ 37 trong lịch sử Nhật Bản. Ông và con trai là Thiên hoàng Mommu (Mommu-tennō) (697 - 707) tiếp tục thực hiện cuộc Cải cách Taika do vua Kōtoku đề xướng. == Xem thêm == Vương quyền Yamato Thiên hoàng Kōtoku Thiên hoàng Tenji Thiên hoàng Mommu Thời kỳ Asuka Phong kiến == Tham khảo == Sansom, George.(1958). A History of Japan to 1334. Stanford: Stanford University Press. Asakawa, Kan'ichi. (1963, reprinting 1903 text). The Early Institutional Life of Japan: A Study in the Reform of 645. New York: Paragon Press. == Tham khảo ==
đại học oxford.txt
Viện Đại học Oxford (tiếng Anh: University of Oxford, thường gọi là Oxford University hay Oxford), còn gọi là Đại học Oxford, là một viện đại học nghiên cứu liên hợp ở Oxford, Anh. Mặc dù ngày thành lập của Oxford chưa được xác định, có bằng chứng cho thấy hoạt động giảng dạy đã diễn ra từ tận năm 1096. Như vậy Oxford là viện đại học lâu đời nhất trong thế giới nói tiếng Anh và là viện đại học lâu đời thứ hai đang còn hoạt động trên thế giới. Oxford phát triển mạnh kể từ năm 1167 khi Vua Henry II ra lệnh cấm sinh viên Anh đến học tại Viện Đại học Paris ở Pháp. Sau những cuộc tranh cãi giữa sinh viên và cư dân Oxford trong năm 1209, một số học giả chuyển đến Cambridge, phía đông bắc của Oxford, và thành lập một hội đoàn mà sau này trở thành Viện Đại học Cambridge. Hai viện đại học lâu đời này của nước Anh thường được gọi chung là "Oxbridge." Viện Đại học Oxford được tạo thành bởi nhiều cơ sở khác nhau, trong đó có 38 trường đại học thành viên và một loạt các khoa học thuật được tổ chức thành bốn phân khoa đại học. Tất cả các trường đại học này là các cơ sở tự điều hành và là một phần của viện đại học; mỗi trường đại học tự kiểm soát việc thu nhận thành viên và có thẩm quyền đối với cấu trúc tổ chức nội bộ cũng như những hoạt động của chính mình. Là một viện đại học ở nội thị, Oxford không có khuôn viên chính; những tòa nhà và cơ sở vật chất của viện đại học nằm rải rác khắp trung tâm thành phố. Phần lớn hoạt động giảng dạy ở bậc đại học được thực hiện thông qua những buổi học và thảo luận hàng tuần tại các trường thành viên; thêm vào đó là những buổi học, bài giảng, và buổi thực hành trong phòng thí nghiệm do các khoa và phân khoa của viện đại học tổ chức. Oxford là nơi ra đời của một số học bổng danh tiếng, trong đó có Học bổng Clarendon hoạt động từ năm 2001 và Học bổng Rhodes trong hơn một thế kỷ qua đã giúp đưa sinh viên ưu tú bậc sau đại học từ các nước đến học tại Oxford. Trong số những cựu sinh viên của Oxford có 27 người được giải Nobel, 26 thủ tướng Anh, và nhiều nguyên thủ quốc gia ở các nước khác. Oxford là thành viên của Nhóm Russell các viện đại học nghiên cứu ở Anh, Nhóm Coimbra, Nhóm G5, Liên đoàn các Viện Đại học Nghiên cứu Âu châu, và Liên mình Quốc tế các Viện Đại học Nghiên cứu, cũng là thành viên cốt cán của Europaeum và thuộc "Tam giác vàng" (gồm ba viện đại học nghiên cứu hàng đầu ở Anh: Cambridge, London, và Oxford) của hệ thống giáo dục đại học Anh. == Lịch sử == Ngày thành lập Đại học Oxford vẫn chưa được xác định. Dù trường đã giảng dạy trong năm 1096, không ai biết chắc thời điểm trường ra đời. Oxford phát triển mạnh kể từ năm 1167 khi Vua Henry II ra lệnh cấm sinh viên Anh đến học tại Viện Đại học Paris ở Pháp, đồng thời chủ trương trục xuất người nước ngoài khỏi Đại học Paris khiến nhiều học giả người Anh rời nước Pháp và đến Oxford. Nhà sử học Gerald xứ Wales đã diễn thuyết trước những học giả ấy trong năm 1188, và người đầu tiên được biết đến như một học giả nước ngoài, Emo xứ Freisland, đến đây năm 1190. Ít nhất là từ năm 1201, người đứng đầu viện đại học được gọi với chức danh Viện trưởng. Sinh viên liên kết với nhau theo địa phương gốc, chia thành hai "vùng miền", sinh viên miền Bắc (kể cả người Scotland) và sinh viên miền Nam (bao gồm người Ireland và xứ Wales). Thành viên những dòng tu như Franciscan, Carmelite, và Augustinian, đến Oxford từ thế kỷ 13, tạo lập ảnh hưởng, và điều hành các ký túc xá. Cũng vào giai đoạn này, những nhà tài trợ tư nhân thiết lập các trường thành viên như là những cộng đồng học thuật tự trị. Trong số những nhà tài trợ ban đầu có William of Durham, năm 1249 tài trợ cho University College, và John Balliol (Balliol College mang tên ông). Một nhà tài trợ khác, Walter de Merton, Tể tướng Anh, sau này là Giám mục Rochester, ông thiết lập những quy chuẩn cho nếp sống đại học; theo cách đó mà Merton College trở nên hình mẫu cho phương thức tài trợ tại Oxford cũng như tại Cambridge. Từ đó, ngày càng có nhiều sinh viên rời những ký túc xá do các dòng tu điều hành để đến sống tại các college. Nền học thuật mới của Thời kỳ Phục hưng tạo dấu ấn sâu đậm trên Đại học Oxford kể từ thế kỷ 15. Trong số những học giả của giai đoạn này có William Grocyn đã góp phần phục hồi việc nghiên cứu Hi văn, và John Colet, một học giả Kinh Thánh tài năng. Khi bùng nổ cuộc Cải cách Kháng Cách cũng là lúc mối quan hệ với Giáo hội Công giáo Rô-ma bị cắt đứt. Những người bất phục rời Oxford để đến châu Âu lục địa, chủ yếu tập trung về Đại học Douai. Phương pháp giáo dục tại Oxford được chuyển đổi từ nền học thuật kinh viện Trung Cổ sang nền giáo dục Phục hưng. Năm 1636, Viện trưởng William Laud, cũng là Tổng Giám mục Canterbury, chuẩn hóa quy chế đại học; phần lớn các điều khoản trong quy chế này vẫn được áp dụng cho đến giữa thế kỷ 19. Laud là người có công xác lập những chức năng nhằm bảo đảm các ưu đãi cho Nhà Xuất bản Đại học, cũng đã đóng góp đáng kể cho Thư viện Bodleian, thư viện chính của viện đại học. Suốt trong cuộc Nội chiến Anh (1642 – 1649) viện đại học là trung tâm của đảng Bảo hoàng, trong khi thị trấn Oxford ủng hộ cánh Quốc hội đối nghịch. Song, kể từ giữa thế kỷ 10, Đại học Oxford ít khi can dự vào các vụ tranh chấp chính trị. Năm 1729, tại trường Christ Church, một nhóm sinh viên, dưới sự hướng dẫn của hai anh em John và Charles Wesley, cùng đến với nhau để tìm kiếm một nếp sống tôn giáo sâu nhiệm hơn bằng cách nghiên cứu Kinh Thánh, cầu nguyện, và chia sẻ những trải nghiệm tâm linh; đồng thời họ cũng dấn thân trong công tác từ thiện như thăm viếng người tù, và dạy học cho trẻ mồ côi. Nhóm "Câu lạc bộ thánh", như họ được gọi vào thời ấy, là tiền thân của Phong trào Giám Lý, có ảnh hưởng sâu rộng trên cộng đồng Kháng Cách cho đến ngày nay. Giai đoạn giữa thế kỷ 19 chứng kiến những tác động của Phong trào Oxford (1833-1845) khởi phát bởi John Henry Newman (về sau là Hồng y Công giáo). Còn ảnh hưởng của mô hình cải cách từ các đại học Đức đến Oxford qua những học giả như Edward Bouverie Pusey, Benjamin Jowett, và Max Müller. Trong thế kỷ 19 có nhiều cải cách được thực thi như thay hình thức vấn đáp trong các kỳ thi tuyển sinh bằng thi viết, có thái độ cởi mở hơn đối với các giáo hội ngoài quốc giáo, và thiết lập bốn trường thành viên dành cho nữ giới. Có thêm những cải tổ trong thế kỷ 20 như bỏ việc bắt buộc dự lễ thờ phượng hằng ngày, không chỉ các mục sư mới có thể nhận chức giáo sư môn tiếng Hebrew, trong khuynh hướng giảm thiểu ràng buộc với nề nếp truyền thống, và khởi sự mở các môn học mới về khoa học và y khoa. Từ năm 1920 chấm dứt yêu cầu hiểu biết tiếng Hi Lạp cổ khi nhập học, và tiếng La-tinh từ năm 1960. Trong danh sách dài các nhân vật xuất chúng của Đại học Oxford có nhiều người người nổi bật trong chính trường, các ngành khoa học, y học, và văn chương Anh. Hơn 40 khôi nguyên Giải Nobel và hơn 50 nhà lãnh đạo thế giới từng có mối quan hệ với Đại học Oxford. === Giáo dục cho Nữ giới === Từ năm 1875, viện đại học thông qua bản quy chế cho phép thu nhận nữ sinh viên cấp cử nhân. Bốn trường thành viên dành cho nữ được thành lập nhờ sự vận động tích cực của Hội Giáo dục Đại học cho Nữ giới (AEW). Năm 1878 thành lập Trường Lady Margaret, năm 1879 Somverille College; 21 nữ sinh viên đầu tiên đến những nghe giảng bài trong những lớp học ngay tầng trên của một hiệu bánh của Oxford. Kế đó là các trường nữ St Hugh (1886),) St Hilda (1893), và St Anne (1952). Từ lâu, Oxford vẫn được xem là thành lũy của đặc quyền nam giới, cho nên mãi đến ngày 7 tháng 10 năm 1920, nữ sinh viên của trường mới được hưởng đầy đủ quyền lợi. Năm 1927, các khoa trưởng ra quy định giới hạn số nữ sinh viên không quá một phần tư số nam sinh viên, đến năm 1957, quy định này mới bị hủy bỏ. Tuy vậy, trước thập niên 1970 viện đại học vẫn duy trì hệ thống giáo dục tách biệt giữa các trường nam và trường nữ, và các trường nữ bị giới hạn trong tuyển sinh. Chỉ từ năm 1959 các trường nữ mới có được sự bình đẳng. Năm 1974 các trường Brasenose, Jesus, Wadham, Hertford, và St Catherine bắt đầu thu nhận nữ sinh viên. Năm 2008, trường nữ duy nhất còn sót lại, St Hilda, nhận nam sinh viên, chấm dứt thời kỳ dài phân biệt giới tính trong tuyển sinh ở Oxford. Đến năm 1988, 40% sinh viên cấp cử nhân ở Oxford là nữ; tỷ lệ này hiện là 48/52, nam giới vẫn tiếp tục duy trì thế đa số ở đây. Bối cảnh cuốn tiểu thuyết trinh thám Gaudy Night của Dorothy Sayers – Sayers là một trong những phụ nữ đầu tiên nhận văn bằng đại học của Oxford – diễn ra tại một trường nữ ở Oxford, những vấn đề về giáo dục cho nữ giới cũng là tâm điểm của câu chuyện. == Tổ chức == Là một viện đại học có nhiều đơn vị thành viên, cấu trúc tổ chức của Oxford có thể gây bối rối cho những ai chưa quen với mô hình này. Viện Đại học trông giống như một liên đoàn với hơn bốn mươi trường đại học tự trị, nhưng được điều hành bởi một bộ máy hành chính, đứng đầu là Phó Viện trưởng. Các khoa chuyên ngành đều được tập trung ở đây; chúng không phụ thuộc vào trường thành viên nào. Những khoa này cung ứng lực lượng giảng dạy và nghiên cứu, ấn định giáo trình và phương pháp giảng dạy, tiến hành các cuộc nghiên cứu, thuyết trình, và tổ chức các hội nghị chuyên đề. Những trường thành viên tổ chức các lớp học cho sinh viên cấp cử nhân. Giảng viên của những khoa và ban chuyên ngành được phân bổ cho nhiều trường thành viên, mặc dù một vài trường không liên kết đa ngành như Nuffield College chỉ chuyên về khoa học xã hội, trong khi hầu hết các trường thành viên đều có tầm liên kết rộng đa ngành. Các tiện nghi giáo dục như thư viện được đáp ứng đầy đủ cho mọi cấp học: ở viện đại học trung tâm có Thư viện Bodleian, mỗi khoa và ban chuyên ngành đều có thư viện riêng, thí dụ như Thư viện Khoa Anh ngữ, còn tại mỗi trường thành viên đều có thư viện đa ngành. === Hành chính === Lãnh đạo chính thức của viện đại học là Viện trưởng (Chancellor), đương nhiệm là Lord Patten of Barnes, mặc dù giống hầu hết các viện đại học tại Anh, chức vụ Viện trưởng chỉ có tính tượng trưng, không phải giải quyết các công việc thường nhật của trường. Các thành viên Hội nghị (Convocation) bầu chọn Viện trưởng có nhiệm kỳ trọn đời. Lúc đầu, chỉ có những người tốt nghiệp với văn bằng tiến sĩ hoặc thạc sĩ mới được gia nhập Hội nghị, về sau tất cả sinh viên tốt nghiệp đều là thành viên. Chức danh Phó Viện trưởng (Vice-Chancellor), đương nhiệm là Andrew Hamilton, mới thực sự là người lãnh đạo viện đại học. Hiện có năm Phụ tá Phó Viện trưởng đặc trách Giáo dục, Nghiên cứu, Quy hoạch và Tài nguyên, Phát triển và Ngoại vụ, Nhân sự và Cơ hội bình đẳng. Hội đồng Viện Đại học là cơ quan điều hành của nhà trường gồm có Phó Viện trưởng, các khoa trưởng, và các thành viên khác là những người được Hội đoàn (Congregation) bầu chọn, cùng một số quan sát viên của Liên đoàn Sinh viên. Hội đoàn, "Nghị viện của giới chức viện đại học", có 3 700 thành viên gồm có những nhà khoa bảng và viên chức quản trị của viện đại học, chịu trách nhiệm tối hậu về các vấn đề lập pháp: thảo luận và công bố các chính sách do Hội đồng Viện Đại học đệ trình. Chỉ có Oxford và Cambridge (có cấu trúc tương tự) mới có hình thái quản trị dân chủ như thế. Đại học Oxford là viện đại học công, trường nhận tiền từ chính phủ, nhưng cũng là là "đại học tư" theo ý nghĩa trường được hoàn toàn tự trị, cũng như có quyền chọn lựa để trở thành trường tư nếu từ chối nhận tiền từ công quỹ. === Trường thành viên === Có hai loại trường thành viên: college và hall. Oxford có 38 college (trường đại học) và 6 Permanent Private Hall (PPH, tạm dịch: Nhà Riêng Thường trực). Một sự khác biệt giữa college và PPH là college được điều hành bởi các ủy viên đại học, trong khi PPH được thành lập và tiếp tục được điều hành, ít nhất là một phần, bởi giáo hội Kitô giáo có liên quan). Mỗi đơn vị thành viên có quyền tự trị về nhân sự, cấu trúc nội bộ, và điều hành. Danh sách colleges: Danh sách PPHs: === Giảng dạy và Văn bằng === Ở cấp cử nhân, chương trình giảng dạy tập trung vào các buổi học nhóm, mỗi nhóm (từ 1 – 4) sinh viên thảo luận về một đề tài hoặc giải một luận đề. Thường thì mỗi tuần có một hoặc hai lần thảo luận nhóm dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Ngoài ra, còn có những buổi thuyết trình, các lớp học, và các hội nghị chuyên đề được tổ chức trên quy mô khoa. Sinh viên cao học được yêu cầu tham dự các lớp học và các hội nghị chuyên đề, mặc dù họ phải dành nhiều thì giờ hơn cho nghiên cứu của riêng họ. Viện đại học tự tổ chức các kỳ thi và cấp văn bằng. Phải qua được hai đợt khảo thí là yêu cầu tiên quyết cho văn bằng đầu tiên. Đợt đầu, gọi là Honour Moderations ("Mods" và "Honour Mods") hoặc sơ khảo ("Prelims") thường tổ chức vào cuối năm thứ nhất (sau hai học kỳ nếu học Luật, Thần học, Triết học, Tâm lý, hoặc sau năm học kỳ nếu học các môn cổ điển). Đợt khảo thí thứ hai, Final Honour School ("Finals") tổ chức vào cuối chương trình cử nhân (cho các môn nhân văn và khoa học xã hội) hoặc vào cuối mỗi năm học sau năm thứ nhất (toán, vật lý và khoa học đời sống, cùng một số môn khoa học xã hội). Dựa vào kết quả kỳ thi chung cuộc (Finals), thí sinh sẽ nhận văn bằng xếp hạng tối ưu, ưu, bình, và bình thứ, hoặc chỉ đơn giản đã "đậu" kỳ thi. Hạng "bình" chiếm tỷ lệ cao nhất trong số thí sinh qua được kỳ thi. Tuy nhiên, chỉ từ hạng "bình thứ" trở lên mới được đi tiếp cho chương trình cao học. === Niên khóa === Mỗi năm học có ba học kỳ. Học kỳ Michaelmas kéo dài từ tháng 10 đến tháng 12; Học kỳ Hilary từ tháng 1 đến tháng 3; và Học kỳ Trinity từ tháng 4 đến tháng 6. Lễ phục là trang phục bắt buộc khi tham dự các kỳ thi, những buổi họp hội đồng kỷ luật, và khi sinh viên đến gặp các giới chức đại học. == Tài chính == Trong niên khóa 2005-06 Viện đại học thu được 608 triệu bảng Anh, các trường thành viên thu 237 triệu bảng Anh (trong đó có 41 triệu bảng từ Viện đại học rót xuống). Đối với Viện Đại học, những nguồn thu lớn nhất là từ ngân sách quốc gia (166 triệu bảng), và các khoản trợ cấp nghiên cứu (213 triệu bảng). Đối với các trường thành viên, nguồn thu lớn nhất là từ các khoản đóng góp và tiền lãi (82 triệu bảng), và phí ký túc xá (47 triệu bảng). Trong khi Viện Đại học có ngân sách điều hành lớn hơn, thì các trường thành viên có các khoản quyên tặng lớn hơn nhiều, cộng dồn lên đến khoảng 2, 7 tỉ bảng, so với 900 triệu bảng tiền quyên tặng cho Viện Đại học. Tháng 5, 2008, Viện Đại học phát động chiến dịch gây quỹ gọi là Oxford Thinking – The Campaign for the University of Oxford. Với mục tiêu tối thiểu là 1, 25 tỉ bảng Anh, chiến dịch tìm kiếm ngân quỹ cho ba lãnh vực: các chương trình học thuật cùng các vị trí giảng dạy và nghiên cứu, hỗ trợ sinh viên, xây dựng cơ sở và cấu trúc hạ tầng. == Tuyển sinh == === Tuổi === Oxford không giới hạn độ tuổi tuyển sinh cấp cử nhân. Thời trước, nam sinh viên năm thứ nhất thường tuổi từ mười bốn đến mười chín. Jeremy Bentham nhập học năm 1761 lúc mười ba tuổi, là một ngoại lệ. Ngày nay, độ tuổi bình thường để vào Oxford là mười bảy, mặc dù đa số ở tuổi mười tám hoặc mười chín. Riêng Trường Harris Manchester chỉ nhận sinh viên đã trưởng thành (trên 21 tuổi). Trên lý thuyết, dù nhỏ tuổi bạn vẫn có thể nhập học nếu đạt yêu cầu tuyển sinh. Năm 1983, Ruth Lawrence trở thành sinh viên Oxford lúc mới mười hai. === Quy trình === Giống các đại học khác ở Anh, thí sinh vào Oxford phải nộp đơn theo hệ thống Dịch vụ Tuyển sinh Đại học (UCAS), hạn chót là 15 tháng 10 hằng năm. Để đánh giá chính xác từng cá nhân, thí sinh không được nộp đơn nhập học hai trường Oxford và Cambridge trong cùng một năm, ngoại trừ những người xin Học bổng Organ, và thí sinh văn bằng hai. Các trường thành viên phối hợp với nhau để bảo đảm rằng những sinh viên giỏi nhất sẽ giành được một chỗ trong Viện Đại học bất kể trường nào họ chọn. Khoảng 60% thí sinh đậu vòng sơ tuyển, sẽ được mời đến phỏng vấn trong ba ngày trong tháng 12, nhà trường cung cấp bữa ăn và chỗ ở cho những người được mời. Sinh viên bên ngoài châu Âu có thể được phỏng vấn từ xa, thí dụ như qua Internet. Năm 2007, các trường thành viên, khoa, ban chuyên ngành ấn hành một "bộ khung chung" trình bày những nguyên tắc và quy trình cần tuân thủ. Giấy mời nhập học sẽ được gởi đến ngay trước Giáng sinh. Cứ bốn thí sinh được chọn sẽ có một người được mời nhập học tại một trường họ không nộp đơn. Đối với thí sinh cấp cao học, nhiều trường thích chọn những người đã làm nghiên cứu với một trong những giảng viên của trong trường, bộ môn hữu quan sẽ xem xét trước khi chuyển giao cho trường. Ban Giáo dục Kéo dài của Viện Đại học hỗ trợ những sinh viên lớn tuổi học tại chức. Hầu hết theo học tại Trường Kellogg, dù vài trường khác cũng chấp nhận họ. == Tiện nghi giáo dục == === Thư viện === Oxford có 102 thư viện, trong đó có 30 thư viện thuộc chuỗi Thư viện Bodleian, thư viện nghiên cứu trung tâm của Viện Đại học. Với hơn 11 triệu đầu sách chứa trên các kệ sách có chiều dài 120 dặm (190 km), chuỗi Thư viện Bodleian là thư viện lớn thứ nhì tại Anh, chỉ sau Thư viện Anh Quốc. Thư viện Bodleian là một trong số sáu thư viện ở Anh có đặc quyền lưu trữ, tức là quyền yêu cầu tất cả đầu sách, nhật báo, tạp chí, và tiểu luận xuất bản tại Anh phải nộp cho thư viện một ấn bản của đầu sách ấy. Do đó, tốc độ tăng trưởng chiều dài kệ sách của chuỗi thư viện mỗi năm là hơn 3 dặm (5 km). Những cơ sở chính gồm có thư viện nguyên thủy tại khu tứ giác Old Schools (Sir Thomas Bodley thành lập năm 1598, mở cửa năm 1602), và các tòa nhà Radcliffe Camera, Clarendon, và New Bodleian. Một đường hầm bên dưới Đường Broad nối kết những tòa nhà này với nhau. Những thư viện còn loại thuộc chuỗi Bodleian gồm có Thư viện Luật Bodleian, Thư viện Học viện Ấn Độ, Thư viện Khoa học Radcliffe, Thư viện Học viện Đông phương, và Thư viện Lịch sử Hoa Kỳ Vere Harmworth. Tháng 10, 2010, khánh thành một kho chứa sách mới ở South Marston, Swindon, và tòa nhà New Bodleian đang được tái thiết, sẽ mang tên mới Thư viện Weston khi khánh thành trong khoảng năm 2014-15, nhằm xây dựng một sảnh trưng bày những bộ sưu tập quý của thư viện (trong đó có tuyển tập những vở kịch của Shakespeare xuất bản năm 1623 mà giới học giả thường gọi là First Folio, và quyển Kinh Thánh Gutenberg), cũng như những cuộc triển lãm khác. Những thư viện chuyên ngành của Oxford gồm có Thư viện Sackler lưu giữ những bộ sưu tập cổ điển, và những thư viện khác trực thuộc những ban học thuật và các trường thành viên. Hầu như tất cả thư viện của Oxford đều có chung một danh mục liệt kê, Hệ thống Thông tin Thư viện Oxford. === Bảo tàng === Bên cạnh hệ thống thư viện đồ sộ của mình, Oxford còn có những viện bảo tàng. Bảo tàng Ashmolean, thành lập năm 1683, là viện bảo tàng lâu đời nhất nước Anh, cũng là viện bảo tàng đại học cổ xưa nhất thế giới. Lưu giữ tại viện bảo tàng này là những bộ sưu tập quan trọng về nghệ thuật và khảo cổ, trong đó có những tác phẩm của Michelangelo, Leonardo da Vinci, Turner, và Picasso, cùng các cổ vật quý như bình đá Scorpion, bia văn Parian, và bộ châu báu Alfred. Ở đây còn có cây đàn vĩ cầm cổ của Stradivarius, "The Messiah", được xem là một trong số những cây đàn vĩ cầm tinh xảo nhất còn hiện hữu. Sau đợt tái thiết tốn 49 triệu bảng, Bảo tàng viện Ashmolean mở cửa trong tháng 11 năm 2009 với diện tích sử dụng được tăng gấp đôi cùng những tiện nghi mới. Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên lưu giữ những mẫu vật lịch sử thiên nhiên của Viện Đại học. Tọa lạc tại một tòa nhà lớn theo kiến trúc neo-Gothic trên đường Parks, thuộc Khu Khoa học của Viện Đại học. Trong bộ sưu tập của viện bảo tàng có những bộ xương của loài khủng long bạo chúa và loài khủng long ba sừng, cùng bộ sưu tập gần như hoàn chỉnh loài chim dodo được tìm thấy bất cứ nơi nào trên thế giới. Kế đó là Bảo tàng Pitt Rivers, thành lập năm 1884, trưng bày những bộ sưu tập nhân học và khảo cổ học của Viện Đại học, đang lưu trữ hơn 500 000 hiện vật. Nhiều cán bộ của viện bảo tàng giảng dạy môn nhân học tại Oxford từ ngày mới thành lập, khi Tướng Augustus Pitt Rivers yêu cầu Viện Đại học thiết lập môn nhân học theo một trong những điều kiện ông đưa ra khi đóng góp cho nhà trường. Bảo tàng Lịch sử Khoa học nằm trong tòa nhà cổ trên đường Broad, chứa 15 000 hiện vật từ thời cổ đại đến thế kỷ 20 tiêu biểu cho hầu hết mọi khía cạnh của lịch sử khoa học. Khoa Âm nhạc nằm trên Đường St Aldate ở Oxford, lưu giữ bộ sưu tập Bate các loại nhạc cụ thuộc dòng nhạc cổ điển phương Tây từ thời Trung Cổ cho đến nay. Vườn Bách thảo là vườn thực vật lâu đời nhất ở Anh, và là vườn bách thảo lâu đời thứ ba của thế giới. Ở đây có thể tìm thấy hơn 90% họ thực vật trên thế giới. Phòng Tranh Christ Church có bộ sưu tập hơn 200 tác phẩm của các họa sĩ trước năm 1800. == Uy tín == Trên bảng xếp hạng của Times Good University Guide 2008, Oxford chiếm vị trí số một ở Anh, kế đó là Cambridge. Oxford được xếp hạng đầu trong các môn Chính trị học, Khoa học Sinh lý, Anh ngữ, Hội họa, Kinh doanh, Trung Đông học và Phi châu học, Âm nhạc, Triết học, riêng hai môn Giáo dục học và Ngôn ngữ học cùng xếp hạng nhất với Cambridge. Oxford đứng kế Cambridge trong 17 môn khác. Oxford có 3 hạng ba, 1 hạng ba đồng hạng, và có 3 môn xếp hạng tư, năm, và sáu đồng hạng. Oxford xếp vị trí thứ 10 thế giới và 2 châu Âu trong bảng xếp hạng Academic Ranking of World Universities 2010. Trên bảng Times Higher Education World University Rankings 2011, Oxford ở hạng tư thế giới (Caltech số một, Harvard và Stanford đồng hạng nhì), và hạng nhất châu Âu. Trên bảng QS World University Rankings 2011, Oxford xếp hạng nhì sau Cambridge. == Nhân vật nổi tiếng == Có nhiều cựu sinh viên Oxford (Oxonian) nổi tiếng trên khắp thế giới: Trong danh sách Thủ tướng Anh có những người từng theo học tại Oxford như William Gladstone, Herbert Asquith, Clement Attlee, Harold Macmillan, Harold Wilson, Edward Heath, Margaret Thatcher, Tony Blair và cựu thủ tướng David Cameron. Có ít nhất 30 nhà lãnh đạo trên thế giới đã thụ hưởng nền giáo dục tại Oxford, gồm có Harald V của Na Uy, Abdullah II của Jordan, ba Thủ tướng Úc (John Gorton, Malcolm Fraser và Bob Hawke), hai Thủ tướng Canada (Lester B. Pearson, và John Turner), Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh và Indira Gandhi (dù bà chưa hoàn tất chương trình học để được cấp bằng), năm Thủ tướng Pakistan (Liaquat Ali Khan, Huseyn Shaheed Suhrawardy, Sir Feroz Khan Noon, Zulfiqar Ali Bhutto, và Benazir Bhutto), S. W. R. D. Bandaranaike (cựu Thủ tướng Sri Lanka), Norman Washington Manley của Jamaica, Eric Williams (Thủ tướng Trinidad và Tobago), Álvaro Uribe (Cựu Tổng thống Colombia'), Abhisit Vejjajiva (cựu Thủ tướng Thái Lan), và Bill Clinton (Tổng thống Mỹ đầu tiên từng theo học ở Oxford; ông được Học bổng Rhodes). Arthur Mutambara (Phó Thủ tướng Zimbabwe) cũng là người được Học bổng Rhodes. Festus Mogae (cựu Tổng thống Botswana) từng là sinh viên University College. Nhà dân chủ Miến Điện và là khôi nguyên Giải Nobel, Aung San Suu Kyi, từng học ở St. Hugh's College. Ngoài Aung San Suu Kyi, còn có 47 người đoạt Giải Nobel từng học hoặc giảng dạy tại Oxford. Oxford cũng là nơi xuất thân của ít nhất 12 vị thánh, và 20 Tổng Giám mục Canterbury kể cả Tổng Giám mục Canterbury gần đây Rowan Williams, (ông học tại Wadham College rồi trở thành Giáo sư tại Christ Church). Nhà cải cách tôn giáo John Wycliffe từng là học giả và giáo sư tại Balliol College. John Colet, nhà nhân văn Kitô giáo, kinh sĩ trưởng Nhà thờ chính tòa Thánh Paul, từng học ở Magdalen College. Người khởi xướng Phong trào Giám Lý, John Wesley, đã học tại Christ Church College và được bầu làm ủy viên của Lincoln College. Phong trào Oxford trong Giáo hội Anh cũng khởi phát từ đây với các nhân vật như John Henry Newman, Edward Bouverie Pusey và John Keble. Những nhân vật tôn giáo khác là Mirza Nasir Ahmad, Caliph của Cộng đồng Hồi giáo Ahmadiyya, và Shoghi Effendi, một trong những lãnh tụ của đạo Baha'i. Khoảng 40 người đoạt huy chương Olympic có mối quan hệ học thuật với Oxford, trong đó có Sir Matthew Pinsent, bốn huy chương vàng môn đua thuyền. T. E. Lawrence sinh viên của Jesus College, ngoài ra còn có nhiều sinh viên Oxford xuất sắc khác là nhà thám hiểm, nhà văn, và nhà thơ, Sir Walter Raleigh, (từng học tại Oriel College nhưng rời trường mà không có văn bằng nào) và ông trùm truyền thông người Úc, Rupert Murdoch. Trong danh sách dài các tác gia có quan hệ với Oxford có John Fowles, Theodor Geisel, Thomas Middleton, Samuel Johnson, Robert Graves, Evelyn Waugh, Lewis Carroll, Aldous Huxley, Oscar Wilde, C. S. Lewis, J. R. R. Tolkien, Graham Greene, V.S.Naipaul, Philip Pullman, Joseph Heller, Vikram Seth, những thi sĩ Percy Bysshe Shelley, John Donne, A. E. Housman, W. H. Auden, T. S. Eliot, Wendy Perriam và Philip Larkin, và bảy nhà thơ được trao giải (Thomas Warton, Henry James Pye, Robert Southey, Robert Bridges, Cecil Day-Lewis, Sir John Betjeman, và Andrew Motion). Các kinh tế gia Adam Smith, Alfred Marshall, E. F. Schumacher và Amartya Sen, cùng các triết gia Robert Grosseteste, William of Ockham, John Locke, Thomas Hobbes, Jeremy Bentham, và A. J. Ayer từng học ở Oxford. Những nhà khoa học tiếng tăm như Robert Hooke, Stephen Hawking, Richard Dawkins, Frederick Soddy, Tim Berners-Lee, co-inventor of the World Wide Web, and Dorothy Hodgkin. Robert Boyle, Albert Einstein, Edwin Hubble, Erwin Schrödinger cũng từng học hoặc làm việc tại Oxford. Tương tự, những nhà soạn nhạc Sir Hubert Parry, George Butterworth, John Taverner, William Walton, James Whitbourn và Andrew Lloyd-Webber từng có thời kỳ sống ở Oxford. Các diễn viên Hugh Grant, Kate Beckinsale, Dudley Moore, Michael Palin, và Terry Jones từng là sinh viên cấp cử nhân tại Viện Đại học, cũng từng học ở Oxford là Florian Henckel von Donnersmarck, và những nhà làm phim Ken Loach và Richard Curtis, cả hai đều nhận Giải Oscar. Trong lĩnh vực thể thao còn có Imran Khan. Trong số những người Việt Nam thành danh từng theo học tại Oxford có Trịnh Hội, nhà hoạt động xã hội, diễn viên. == Oxford trong văn học và truyền thông == Đại học Oxford được sử dụng làm bối cảnh cho nhiều tác phẩm văn học hư cấu. Từ năm 1400, Chaucer đã nhắc đến "sinh viên Oxenford" trong quyển Cantebury Tales. Đến năm 1989, có 533 cuốn tiểu thuyết lấy Oxford làm bối cảnh, và con số này đang gia tăng. Trong số các tác phẩm nổi tiếng có thể kể từ quyển Brideshead Revisited của Evelyn Waugh đến His Dark Materials của Philip Pullman. == Các cơ quan thành viên == === Truyền thông === Cherwell (do sinh viên xuất bản) Isis (s. viên xuất bản) Oxford Student Publications Limited (Nhà xuất bản của sinh viên) The Owl Journal (s. viên xuất bản) Journal of the Oxford University History Society (tạp chí học thuật) Oxford University Press (nhà xuất bản đại học lớn nhất thế giới) Oxide Radio (đài phát thanh của sinh viên) The Oxford Student (s. viên xuất bản) The Oxonian Review of Books (s. viên cao học xuất bản) The Triple Helix Oxford (s. viên xuất bản) The Oxymoron (ấn phẩm châm biếm của sinh viên) === Kiến trúc và công viên === Christ Church Cathedral, Oxford Oxford University Parks Radcliffe Camera Rhodes Trust, the centre of the Rhodes Scholarship Sheldonian Theatre Tom Tower University Church of St Mary the Virgin Oxford Botanic Garden and Harcourt Arboretum == Hình ảnh == == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == University of Oxford website 'The University of Oxford', A History of the County of Oxford: Volume 3: The University of Oxford (1954), pp. 1–38
âm nhạc việt nam.txt
Âm nhạc Việt Nam là một phần của lịch sử và văn hóa Việt Nam. Âm nhạc Việt Nam phản ánh đúng những nét đặc trưng của con người, văn hóa, phong tục, địa lý,... của đất nước Việt Nam, trải dài qua suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Âm nhạc Việt Nam bắt đầu từ những nền văn minh đầu tiên qua những phát hiện khảo cổ về những nhạc cụ và tranh vẽ trong hang đá. Trải qua những triều đại phong kiến, nền âm nhạc Việt Nam có được những nét phát triển rõ rệt và đặc trưng. Tới thời kỳ đô hộ của Trung Quốc ngoài ra của các nền văn hóa ngoại lai khác như Ấn Độ, Chăm Pa,... âm nhạc Việt Nam sớm có được những ảnh hưởng và quan điểm mới, dung hòa hoàn hảo những yếu tố ảnh hưởng từ nước ngoài với những nét nổi bật vốn có của âm nhạc truyền thống, từ đó tạo nên những loại hình âm nhạc cổ truyền của từng vùng miền như hát xẩm, hát chèo, ca trù, hò, cải lương, đờn ca tài tử, nhã nhạc cung đình Huế, quan họ,... Âm nhạc phương Tây xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ 14. Giai đoạn Pháp thuộc vào cuối thế kỷ 19 đặc biệt góp phần giúp âm nhạc Việt Nam được tiếp xúc với những phong cách và quan điểm của văn hóa phương Tây, đồng thời tiếp tục phát triển với những nét đặc trưng riêng. Tân nhạc Việt Nam ra đời vào cuối thập niên 1930 với dòng nhạc tiền chiến rồi tiếp hơi cho những làn điệu mới trong thời gian đất nước chia đôi dưới hai chính thể: Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhạc đỏ ra đời sau năm 1945 ở miền Bắc với sự xuất hiện của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng, sau này trở thành cột trụ của nền âm nhạc Việt Nam hiện đại, trong khi đó nhiều thể loại âm nhạc mới như nhạc vàng, nhạc trẻ, du ca nở rộ ở Miền Nam. Sau năm 1975, âm nhạc Việt Nam bắt đầu học tập nhiều phong cách từ khắp nơi trên thế giới. Sau khi đất nước mở cửa vào cuối thập niên 1980, đặc biệt là việc những lứa nghệ sĩ chuyên nghiệp đầu tiên được cử đi du học ở nước ngoài, âm nhạc Việt Nam đã theo kịp xu hướng của thế giới, mang theo nhiều phong cách và thể loại chưa từng xuất hiện tới nền văn hóa đại chúng nói chung và nền âm nhạc nói riêng ở Việt Nam. Ngoài ra, một số lượng lớn nghệ sĩ hải ngoại cũng góp phần xây dựng đáng kể vào sự phát triển của nền âm nhạc Việt Nam ngày nay. Âm nhạc hiện đại Việt Nam bao gồm nhiều yếu tố kết hợp của các nền văn hóa châu Á, châu Âu, thậm chí châu Mỹ và châu Phi qua việc gia tăng cộng tác của các nghệ sĩ trong nước với các nghệ sĩ từ khắp nơi trên thế giới. Trên hết, âm nhạc Việt Nam vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng của nền văn hóa truyền thống Việt Nam. == Lịch sử == === Thời kỳ vua Hùng === Là thời kỳ chịu ảnh hưởng của âm nhạc Trung Quốc và Ấn Độ với trống bồng (gần giống trống "damaru" của Ấn Độ), đàn tranh 7 giây (giống như đàn "k'in" của Trung Quốc), đàn tỳ bà, đàn đoản, đàn dây, sáo ngang, kèn dọc... === Thời kỳ Bắc thuộc === Đây là thời kỳ chịu sự ảnh hưởng mạnh của nền văn hóa Trung Hoa với các triều đại phong kiến (Hán, Tùy, Đường...), với các nhạc cụ cổ truyền như đàn tỳ bà, đàn tranh, đàn nhị. === Thời phong kiến === Sự đa dạng về sinh học, nhiều dân tộc cư ngụ trên lãnh thổ cùng với những phát triển mở đất xuống phía nam đã tạo cho nền âm nhạc Việt Nam nhiều sắc thái. Âm nhạc, với đặc điểm có trước sự xuất hiện của chữ viết, từ lâu luôn là phương tiện để người dân thể hiện mọi cảm xúc của mình về thế giới xung quanh, dù là tình yêu đôi lứa, lòng căm thù hay sự buồn giận, chán nản. Âm nhạc ở Việt Nam còn sớm thể hiện những tư tưởng tôn giáo, đời sống tâm linh và phong tục tập quán của dân tộc. ==== Chèo ==== Vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đã không cho phép biểu diễn chèo trong cung đình, do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng. Chèo trở về với nông dân, kịch bản lấy từ truyện viết bằng chữ Nôm. Tới thế kỷ 18, hình thức chèo đã được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19. Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này. Đến thế kỷ 19, chèo ảnh hưởng của tuồng, khai thác một số tích truyện như Tống Trân, Phạm Tải, hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán Sở tranh hùng. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như Tô Thị, Nhị Độ Mai. Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cái nôi của nền văn minh lúa nước của người Việt. Mỗi khi vụ mùa được thu hoạch, họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và cảm tạ thần thánh đã phù hộ cho vụ mùa no ấm. Nhạc cụ chủ yếu của chèo là trống chèo. Chiếc trống là một phần của văn hoá cổ Việt Nam, người nông dân thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo. ==== Xẩm ==== Theo truyền thuyết, đời nhà Trần, vua cha Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Tỉnh dậy, hai mắt mù loà nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong mơ Bụt hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua vời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung. Người dân lấy ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của ông. Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã lập ra một giải thưởng mang tên Trần Quốc Đĩnh nhằm tôn vinh, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà sưu tầm, nghiên cứu, nhà báo có công lao, đóng góp cho lĩnh vực âm nhạc truyền thống và trao giải lần đầu tiên năm 2008. Theo chính sử thì vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán. Thái tử con vua Thánh Tông tên là Khảm, sau lên ngôi là vua Nhân Tông; một người con nữa là Tả Thiên vương. Vì vậy nguồn gốc hát xẩm là dựa trên thánh tích chứ không truy được ra trong chính sử. ==== Quan họ ==== Ý nghĩa từ "Quan họ" thường được tách thành hai từ rồi lý giải nghĩa đen về mặt từ nguyên của "quan" và của "họ". Điều này dẫn đến những kiến giải về Quan họ xuất phát từ "âm nhạc cung đình", hay gắn với sự tích một ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của liền anh liền chị ở đó và đã dừng bước để thưởng thức ("họ"). Tuy nhiên cách lý giải này đã bỏ qua những thành tố của không gian sinh hoạt văn hóa quan họ như hình thức sinh hoạt (nghi thức các phường kết họ khiến anh hai, chị hai suốt đời chỉ là bạn, không thể kết thành duyên vợ chồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đối nhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian. ==== Nhạc cung đình ==== ==== Hát chầu văn ==== Hát chầu văn là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc trong nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn chau truốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh. Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thời kỳ thịnh vượng nhất của hát văn là cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Vào thời gian này, thường có các cuộc thi hát để chọn người hát cung văn. Từ năm 1954, hát văn dần dần mai một vì hầu đồng bị cấm do bị coi là mê tín dị đoan. Chầu văn sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như thơ thất ngôn, song thất lục bát, lục bát, nhất bát song thất (có thể gọi là song thất nhất bát gồm có một câu tám và hai câu bảy chữ), hát nói… Các thí dụ minh họa: - Thể thất ngôn: (trích đoạn bỉ của văn công đồng) 森森鶴駕從空下 Sâm sâm hạc giá tòng không hạ 顯顯鸞輿滿坐前 Hiển hiển loan dư mãn tọa tiền 不舍威光敷神力 Bất xả uy quang phu thần lực 證明功德量無邊 Chứng minh công đức lượng vô biên ==== Ca trù ==== Hát ca trù hay hát ả đào là một bộ môn nghệ thuật truyền thống ở phía Bắc Việt Nam kết hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và học giả yêu thích. Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ tư của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009), ca trù đã được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là di sản văn hóa thế giới có vùng ảnh hưởng lớn nhất Việt Nam, có phạm vi tới 16 tỉnh, thành phố phía Bắc. Hồ sơ đề cử Ca trù là di sản văn hóa thế giới với không gian văn hóa Ca trù trải dài khắp 16 tỉnh phía Bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Thái Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. ==== Hò ==== Hò là một loại ca hát trình diễn dân gian phổ biến đến đời sống, là nét văn hóa của miền Trung và miền Nam. Có nguồn gốc lao động sông nước, diễn tả tâm tư tình cảm của người lao động. Trong sinh hoạt những đêm trăng những nhóm con trai đi chơi, thường cất lên những điệu hò để dò hỏi những cô gái về những công việc. Điệu hò giao duyên giữ hai bên đối đáp lại nhau, người con gái hay một nhóm sẽ hò đáp trả lại khi đó. Trên sông nước khi đi đò, người hò thường hò điệu giao duyên giữa hai chiếc đò gần nhau. Các loại hò phổ biến: Hò Đồng Tháp Hò kéo lưới Hò Qua sông hái củi Hò khoan Hò mái nhì Hò Giã gạo Hò Xay lúa Hò Kéo gỗ Hò Đạp lúa === Thời cận đại === ==== Thời Pháp thuộc ==== ===== Giai đoạn chuẩn bị ===== Vào những năm đầu thế kỷ 20. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong nghệ thuật văn học Việt Nam nói chung, xuất hiện sau phong trào thơ mới và dòng văn học lãng mạn vài năm. Chủ nghĩa tư bản của người Pháp cùng với nền văn hóa phương Tây được du nhập vào Việt Nam gây nên những xáo trộn lớn trong xã hội. Nhiều giá trị tư tưởng bền vững mấy ngàn năm trước đó lại bị giới trẻ Tây học xem thường, thậm chí trở thành đối tượng để mỉa mai của nhiều người. Tầng lớp tư sản, tiểu tư sản ở thành thị hình thành. Giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản lớp trên (trí thức, viên chức cao cấp) đã có một lối sinh hoạt thành thị mới với nhiều tiện nghị theo văn minh Tây phương. Họ ở nhà lầu, đi ô tô, dùng quạt điện, đi nghe hòa nhạc. Sinh hoạt của tư sản và tiểu tư sản thành thị cũng thể hiện ngay cả trong cách ăn mặc của thanh niên, mốt quần áo thay đổi mỗi năm. Những đổi thay về sinh hoạt cũng đồng thời với sự thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc. Những thay đổi đó cũng do sự tiếp xúc với văn hóa lãng mạn Pháp. Âm nhạc của châu Âu theo chân những người Pháp vào Việt Nam từ rất sớm. Đầu tiên chính là những bài thánh ca trong các nhà thờ Công giáo. Các linh mục Việt Nam được cũng được dạy về âm nhạc với mục đích truyền giáo. Tiếp đó người dân được làm quen với "nhạc nhà binh" qua các đội kèn đồng. Tầng lớp giàu có ở thành thị được tiếp xúc với nhạc khiêu vũ, nhạc cổ điển phương Tây. Từ đầu thế kỷ 20, các bài hát châu Âu, Mỹ được phổ biến mạnh mẽ ở Việt Nam với các đĩa hát 78 vòng rồi qua những bộ phim nói. Những thanh niên yêu âm nhạc thời kỳ đó bắt đầu chơi mandoline, ghita và cả vĩ cầm, dương cầm. Giai đoạn trước 1937 được xem là giai đoạn hình thành Tân nhạc Việt Nam nhạc sĩ Trần Quang Hải gọi đây là "giai đoạn tượng hình". Còn Phạm Duy cho rằng những năm đầu thập niên 1930 là "thời kỳ đi tìm nhạc ngữ mới". Giống như những nhà văn lãng mạn, thi sĩ của phong trào thơ mới chịu ảnh hưởng bởi văn học lãng mạn Pháp, các nhạc sĩ tiền chiến chịu ảnh hưởng bởi âm nhạc phương Tây. Thời kỳ này một số nhạc sĩ cải lương bắt đầu soạn các nhạc phẩm, thường được gọi là "bài tây theo điệu ta". Người tiêu biểu cho số đó là nghệ sĩ cải lương Tư Chơi, tức Huỳnh Thủ Trung. Ông đã viết các bài Tiếng nhạn trong sương, Hòa duyên và soạn lời Việt cho một vài ca khúc châu Âu thịnh hành khi đó để sử dụng trong các vở sân khấu như: Marinella trong vở Phũ phàng, Pouet Pouet trong Tiếng nói trái tim, Tango mystérieux trong Đóa hoa rừng, La Madelon trong Giọt lệ chung tình... Nghệ sĩ Bảy Nhiêu cũng có một nhạc phẩm là Hoài tình rất được ưu chuộng. Không chỉ các nghệ sĩ, trong giới thanh niên yêu nhạc cũng có phong trào chuyển ngữ các bài hát của Tino Rossi, Rina Ketty, Albert Préjean, Georges Milton... mà họ yêu thích. Những nghệ sĩ sân khấu như Ái Liên, Kim Thoa đã được các hãng đĩa của người Pháp như Odéon, Béka mới thu âm các bài ta theo điệu tây. Khoảng thời gian từ 1935 tới 1938, rất nhiều các bài hát của Pháp như Marinella, C'est à Capri, Tant qu'il y aura des étoiles, Un jour loin de toi, Celle que j'aime éperdument, Les gars de la marine, L'Oncle de Pékin, Guitare d'amour, Créola, Signorina, Sous les ponts de Paris, Le plus beau tango du monde, Colombella... mà phần lớn là sáng tác của nhạc sĩ người Pháp Vincent Scotto và của Mỹ như Goodbye Hawaii, South of The Border... đã được phổ biến mạnh mẽ với lời ca tiếng Việt, soạn bởi một nhà báo trẻ tên là Mai Lâm và bởi những tác giả vô danh khác. Ca sĩ Tino Rossi đặc biệt được giới trẻ yêu thích, đã có những hội Ái Tino được thành lập ở Hà Nội, Hải Phòng. Năm 1930, trong thời gian bị tù ở Côn Đảo, nhạc sĩ Đinh Nhu đã viết ca khúc Cùng nhau đi Hồng binh. Theo Trần Quang Hải thì Cùng nhau đi Hồng binh là ca khúc tân nhạc đầu tiên của Việt Nam. Từ giữa thập niên 1930, nhiều nhóm thanh niên yêu âm nhạc ở Hà Nội đã tập trung cùng sáng tác. Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn, ba thành viên của nhóm Tricéa đã viết nhiều ca khúc như Bẽ bàng (1935), Nghệ sĩ hành khúc (1936) của Lê Yên; Tiếng sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937) của Văn Chung. Tại Huế, Nguyễn Văn Thương viết bản Trên sông Hương năm 1936. Lê Thương ở Hải Phòng cũng có Xuân năm xưa năm 1936. Giai đoạn từ 1935 tới 1938 được nhạc sĩ Phạm Duy gọi là "thời kỳ chuẩn bị của Tân nhạc Việt Nam". ===== Giai đoạn thành lập (1938-1945) ===== Năm 1938 được coi là điểm mốc đánh dấu sự hình thành của Tân nhạc Việt Nam với những buổi biểu diễn và thuyết trình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên tại Hà Nội. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên khi đó ở Sài Gòn, là người Việt duy nhất tham gia hội Hiếu nhạc (Philharmonique). Ông bắt đầu hát nhạc Tây và đoạt được cảm tình của báo chí và radio. Năm 1937 ông phổ một bài thơ của người bạn và viết thành ca khúc đầu tiên của mình. Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, khi đó làm việc cho đài Radio Indochine, có đưa thơ cho Nguyễn Văn Tuyên và giúp ông soạn lời ca. Nguyễn Văn Cổn còn giới thiệu ông với Thống đốc Nam Kỳ. Viên Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Pagès[1] nghe ông hát và mời ông du lịch sang Pháp để tiếp tục học nhạc nhưng Nguyễn Văn Tuyên từ chối vì lý do gia đình. Ngược lại ông lại đề nghị và được thống đốc Pagès tài trợ cho đi một vòng Việt Nam ra Huế, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định để quảng bá những bài nhạc mới này. Chính Nguyễn Văn Cổn là người đặt tên cho loại nhạc mới là "âm nhạc cải cách" (musique renovée). Tới Hà Nội vào tháng 3 năm 1938, Nguyễn Văn Tuyên nói chuyện tại hội Trí Tri. Nhưng trong cuộc vận động cải cách, ông đã gặp một cử tọa đông đảo, ồn ào không trật tự. Một phần thất bại buổi đó do giọng nói địa phương của ông được ít người hiểu. Hơn nữa, có thể nhiều thanh niên Hà Nội lúc đó như đã cho việc hô hào của ông là thừa, vì các bài hát cải cách đã có sẵn ở đây. Tại hội Trí Tri Hải Phòng, Nguyễn Văn Tuyên đã may mắn hơn. Tuy số khán giả chỉ độ 20 người, nhưng Nguyễn Văn Tuyên đã có người thông cảm. Trong buổi nói chuyện này, một vài nhạc sĩ của Hải Phòng cũng trình một bản nhạc mới của miền Bắc. Sau đó nhân kỳ hội của trường Nữ học Hoài Đức, Nguyễn Văn Tuyên còn trình bày tại rạp chiếu bóng Palace một lần nữa. Lần này cử tọa rất tán thưởng giọng hát của ông trong bài Bông cúc vàng. Tiếp đó tháng 9 năm 1938, tờ Ngày Nay của Nhất Linh, một tờ báo uy tín khi ấy, cho đăng những bản nhạc đầu tiên Bông cúc vàng, Kiếp hoa của Nguyễn Văn Tuyên, Bình minh của Nguyễn Xuân Khoát, Bản đàn xuân của Lê Thương, Khúc yêu đương của Thẩm Oánh, Đám mây hàng, Cám dỗ của Phạm Đăng Hinh, Đường trường của Trần Quang Ngọc... Nhiều ca khúc sáng tác từ trước được các nhạc sĩ phát hành. Từ đầu 1939, các bản nhạc của được bán tại các hiệu sách, phần đầu hình thành Tân nhạc Việt Nam. ==== Giai đoạn 1945 - 1954 ==== Từ năm 1945, tân nhạc Việt Nam bắt đầu có sự phân tách. Đa số các nhạc sĩ rời bỏ thủ đô và những thành phố lớn để tham gia kháng chiến. Nhưng một số vẫn ở lại trong vùng kiểm soát của Pháp hoặc có những nhạc sĩ theo kháng chiến rồi lại quay trở lại thành phố. Với đề tài kháng chiến, ở miền Bắc, Đỗ Nhuận viết Du kích sông Thao, Nhớ chiến khu, Hoàng Vân có Hò kéo pháo, Văn Chung viết Quê tôi giải phóng, Lê Yên viết Bộ đội về làng... Ở miền trung có Bình Trị Thiên khói lửa của Nguyễn Văn Thương, Lời người ra đi của Trần Hoàn, Đoàn vệ quốc quân, Có một đàn chim của Phan Huỳnh Điểu, Du kích Ba Tơ của Dương Minh Viên... Còn ở miền Nam, một lớp nhạc sĩ trẻ hơn như Hoàng Việt với Lên ngàn, Nhạc rừng, Nguyễn Hữu Trí với Tiểu đoàn 307, Trần Kiết Tường với Anh Ba Hưng, Con kênh xanh xanh của Ngô Huỳnh. Một đề tài sáng tác mới nữa của các nhạc sĩ là ca ngợi Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam. Lưu Hữu Phước đã viết Chào mừng Đảng lao Động Việt Nam, Lưu Bách Thụ viết Biết ơn Cụ Hồ. Tham gia kháng chiến, Văn Cao đã sửa lời Bến xuân thành Đàn chim Việt và viết Trường ca Sông Lô, Ca ngợi Hồ Chủ tịch. Các ca khúc này đánh dấu sự ra đời thực sự của nhạc kháng chiến, hay "nhạc đỏ". Tuy vậy, ngay trong số những nhạc sĩ trên, nhiều người vẫn tiếp tục viết các ca khúc lãng mạn và được xếp vào dòng nhạc tiền chiến như Sơn nữ ca của Trần Hoàn, Dư âm của Nguyễn Văn Tý, Nụ cười sơn cước của Tô Hải, Tình quê hương của Việt Lang. Tham gia kháng chiến, Phạm Duy cũng có Chiến sĩ vô danh, Quê nghèo, Bà mẹ Gio Linh. Nhưng ông cũng viết Bên cầu biên giới và bài hát bị coi là không hợp với hoàn cảnh chiến đấu khi đó và về sau ông rời bỏ miền Bắc vào Nam. Ở các vùng đô thị thuộc kiểm soát của Pháp, những nhạc sĩ vẫn sáng tác nhạc lãng mạn như Văn Giảng với Ai về sông Tương, Lâm Tuyền với Tiếng thời gian, Văn Phụng với Mơ khúc tương phùng... Lê Thương vào miền Nam viết các bản nhạc hài hước, trào phúng Hòa bình 48, Liên Hiệp Quốc. Ở Hà Nội, năm 1947 Nguyễn Đình Thi viết ca khúc Người Hà Nội. Trong giai đoạn này, tại Pháp trong những năm 1949 tới 1951, hãng đĩa Oria đã thu một số đĩa nhựa 78 vòng tiếng hát của các ca sĩ Hải Minh, Bích Thuận, Hoàng Lan, Văn Lý những ca khúc Hội nghị Diên Hồng của Lưu Hữu Phước, Chiến sĩ vô danh của Phạm Duy, Tiếng thùy dương, Hòa bình 48 của Lê Thương, Trách người đi của Đan Trường... Sau thành công của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên và được sự ủng hộ của báo chí, nhiều nhóm nhạc được thành lập và các nhạc sĩ phổ biến rộng rãi những tác phẩm của mình. Và ngay từ thời kỳ này, nhiều nhạc sĩ tài năng đã ghi dấu ấn với các nhạc phẩm trữ tình lãng mạn. Một số thuật ngữ được dùng để chỉ nền tân nhạc Việt Nam giai đoạn này, phổ biến nhất là "nhạc tiền chiến". Dòng nhạc tiến chiến còn kéo dài tới năm 1954 và cả sau 1954 ở miền Nam. Những bài hát cải cách nhanh chóng được giới trẻ sinh viên, trí thức ái mộ đón nhận, tuy vậy nó cũng gây nên nhiều ý kiến khác nhau. Các trí thức phong kiến thì chỉ trích còn giới dân nghèo thì thờ ơ. Với phong cách trữ tình lãng mạn, các ca khúc tiền chiến có lời ca mang tính văn học cao. Ngoài các ca khúc về tình yêu, chủ đề lịch sử, yêu nước là những đề tài chính của nhạc tiền chiến. ==== Giai đoạn 1954 - 1975 ==== ===== Miền Bắc ===== Hiệp định Genève năm 1954 tạm chia Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự để chờ tổng tuyển cử toàn quốc năm 1956. Chính quyền Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa từ chối thi hành tổng tuyển cử theo hiệp định, hành động này đã chia Việt Nam thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Tại miền Bắc, nhạc kháng chiến tiếp tục và cùng với nhạc dân ca, truyền thống là những thể loại âm nhạc duy nhất được phát trên đài phát thanh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Bắc. Các ca khúc nhạc đỏ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ chiến tranh, truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng cộng sản, cũng có cả những bài hát trữ tình, thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng. Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, tân nhạc cũng như điện ảnh, có nhiệm vụ chính là cổ vũ chiến đấu. Dòng nhạc Cách mạng chiếm vị trí độc tôn, các nhạc sĩ lãng mạn như Văn Cao, Đoàn Chuẩn hầu như không còn sáng tác. Song song với lớp nhạc sĩ đầu như Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Lương Ngọc Trác, sau đó tới Doãn Nho, Tô Hải, Hồ Bắc, Huy Thục, đã xuất hiện một số nhạc sĩ trẻ hơn Trọng Bằng, Cao Việt Bách... Việc một số nhạc sĩ được gửi đi học ở các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc... và nhiều đoàn ca múa chuyên nghiệp của các quốc gia Liên Xô và Đông Âu tới Hà Nội trình diễn đã tạo nên sự ảnh hưởng tới tân nhạc Việt Nam. Bốn chủ đề sáng tác chính của các nhạc sĩ miền Bắc thời kỳ này là: Hồ Chí Minh Ca ngợi hình ảnh lãnh tụ được thể hiện qua nhiều bài hát như Việt Bắc nhớ Bác Hồ của Phạm Tuyên, Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người của Trần Kiết Tường, Ðôi dép Bác của Văn An, Nhớ ơn Hồ Chí Minh của Tô Vũ, Lời ca dâng Bác của Trọng Loan, Trồng cây lại nhớ đến Người của Ðỗ Nhuận, Ca ngợi Hồ chủ tịch của Văn Cao, Tình Bác sáng đời ta của Lưu Hữu Phước... Phong cảnh và tâm hồn Việt Nam Một số ca khúc như Quảng Bình quê ta ơi của Hoàng Vân, Vàm Cỏ Ðông của Trương Quang Lục, Tây Nguyên bất khuất của Văn Ký, Bài ca Hà Nội của Vũ Thanh, Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây của Hoàng Hiệp, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh của Nguyễn Văn Tý, Những cô gái đồng bằng sông Cửu Long của Huỳnh Thơ, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn của Lư Nhất Vũ... Dân tộc thiểu số Do hoàn cảnh chiến tranh, một số nhạc sĩ có những tiếp xúc với các dân tộc thiểu số và đã viết các ca khúc như Tiếng đàn ta lư (Huy Thục), Cô gái cầm đàn lên đỉnh núi (Văn Ký), Bản Mèo đổi mới (Trịnh Lai), Em là hoa Pơ Lang (Ðức Minh), Bóng cây kơ nia (Phan Huỳnh Ðiểu)... Kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam Tân nhạc với nhiệm vụ cổ vũ chiến đấu, đây là đề tài chính của nhiều bài hát: Anh vẫn hành quân (Huy Du), Chào anh giải phóng quân (Hoàng Vân), Lời anh vọng mãi ngàn năm (Vũ Thành), Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý), Lá thư hậu phương (Phạm Tuyên), Trai anh hùng, gái đảm đang (Ðỗ Nhuận), Bài ca may áo (Xuân Hồng), Hành khúc giải phóng (Lưu Nguyễn Long Hưng, tức Lưu Hữu Phước), Giải phóng miền Nam (Huỳnh Minh Siêng, tức Lưu Hữu Phước)... trong đó bài Giải phóng miền Nam được dùng làm bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam từ năm 1960 tới năm 1975. Kế thừa thực tế Hà Nội là trung tâm của cả Đông dương thuộc Pháp, kiến thức văn hóa âm nhạc phương Tây được miền Bắc hấp thụ trước miền Nam, vốn có đờn ca tài tử làm chủ đạo. Trong những năm 1954-1975, do bị chính quyền giới hạn ở chủ đề sáng tác, các nhạc sĩ miền Bắc tập trung vào sáng tạo trong lĩnh vực chuyên môn âm nhạc với các kỹ thuật nhạc thính phòng và phô diễn các khả năng thanh nhạc nhiều hơn nhạc miền Nam cùng thời, vốn tập trung vào số lượng và sự tự do trong chủ đề sáng tác. Một số tác phẩm tiêu biểu chứng minh là Trường ca sông Lô, bài hát Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi), Tổ khúc quê hương với các thay đổi đột ngột trong cả nhịp điệu và phong cách, đồng thời yêu cầu ca sĩ phải có một kỹ thuật thanh nhạc tốt mới có thể trình bày các tác phẩm trên. Ngoài các ca khúc phổ thông, nhiều thể loại khác cũng được các nhạc sĩ thể nghiệm. Ảnh hưởng bởi các màn hợp xướng do các đoàn văn nghệ Liên Xô và Đông Âu trình diễn ở Hà Nội, một số nhạc sĩ Việt Nam đã soạn các ca khúc cho nhiều bè như năm 1955 có Hò đẵn gỗ của Đỗ Nhuận, Sóng cửa Tùng của Doãn Nho, Chiến sĩ biên phòng của Huy Thục, năm 1956 và 1957 có Ta đã lớn, Hò kiến thiết của Nguyễn Xuân Khoát, Tiếng chim của Lưu Cầu, Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy của Tô Hải năm 1958... Một số vở thanh xướng kịch cũng xuất hiện: Vượt sông Cái của Nguyễn Xuân Khoát viết năm 1955, Nguyễn Văn Trỗi của Đàm Linh theo lời thơ Chu Điền năm 1965. Một vài thể loại nữa là các ca kịch nhỏ (như Tục lụy của Lưu Hữu Phước), kịch hát nói (Căn nhà màu hồng ngọc của Hoàng Vân). Sự xuất hiện các bộ phim điện ảnh cách mạng cũng dẫn tới nhiều ca khúc cho phim được sáng tác. Tác giả nhạc phim đầu tiên là Nguyễn Đình Phúc với phim Chung một dòng sông và Lửa trung tuyến. Tiếp đó tới các nhạc sĩ khác như Trọng Bằng với Cù Chính Lan, Biển lửa, Hồng Đăng với Hà Nội mùa chim làm tổ, Hoàng Vân với Con chim vành khuyên... ===== Miền Nam ===== Ở miền Nam, với sự tự do, đa dạng hơn trong sáng tác nghệ thuật, các nhạc sĩ đã viết các ca khúc thuộc nhiều thể loại. Dòng nhạc tiền chiến được Cung Tiến, Phạm Đình Chương tiếp tục. Một số nhạc sĩ trẻ như Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An sáng tác các bản tình ca mới. Dòng nhạc vàng xuất hiện với các tên tuổi tiêu biểu Hoàng Thi Thơ, Trúc Phương, Lam Phương. Văn hóa Âu Mỹ tràn ngập miền Nam dẫn đến sự hình thành dòng nhạc trẻ. Bên cạnh đó là các phong trào Du ca và dòng nhạc phản chiến. Một nhạc sĩ tiêu biểu cho dòng nhạc phản chiến này và cả tình ca là Trịnh Công Sơn. Khác với miền Bắc, ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 các nghệ sĩ về cơ bản được tự do sáng tác các loại nhạc, trừ nhạc phản chiến, nhạc cách mạng, và các nhạc phẩm thân Cộng hoặc có xu hướng chống Mỹ nói chung. Cũng như điện ảnh, tân nhạc ở miền Nam thời kỳ này hình thành một thị trường sôi động. Các dòng nhạc tiến chiến, tình khúc, nhạc vàng đều có đông đảo người nghe và các nghệ sĩ riêng. Dòng nhạc tiền chiến được các giọng ca hàng đầu như Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Hà Thanh, Duy Trác tiếp tục. Nhạc vàng của các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Lam Phương được các ca sĩ Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Thúy, Thanh Tuyền thể hiện. Các tình khúc mới của Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt qua các tiếng hát Khánh Ly, Lê Uyên, Lệ Thu. Một số ca sĩ, nhạc sĩ, ban nhạc trẻ xuất hiện đánh dấu sự ra đời của dong nhạc trẻ như Elvis Phương, Nguyễn Trung Cang, Quốc Dũng, Lê Hựu Hà. Các hãng băng nhạc Sơn Ca, Trường Sơn, Shotguns... được phát hành đều đặn. Dòng nhạc tiền chiến: Một số nhạc sĩ di cư vào miền Nam năm 1954 như Hoàng Trọng, Văn Phụng... hoặc từ trước đó như Lê Thương, Phạm Duy... và những nhạc sĩ trẻ hơn như Phạm Đình Chương, Cung Tiến... đã tiếp tục dòng nhạc tiền chiến tại miền Nam. Những nhạc sĩ này trong khoảng 1954 đến 1975 có những sáng tác đa dạng, trong đó nhiều ca khúc của họ vẫn được xếp chung vào dòng nhạc tiền chiến. Một số tác phẩm nổi tiếng như Mộng dưới hoa, Trường ca Hội trùng dương của Phạm Đình Chương, Hương xưa của Cung Tiến. Những nhạc phẩm tiền chiến thường xuyên được trình diễn và thu âm bởi những tiếng hát hàng đầu như Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu, Duy Trác, Hà Thanh... Tình khúc: Một lớp nhạc sĩ trẻ hơn xuất hiện với các bản tình ca mới. Khác với dòng nhạc tiền chiến thường mượn cảnh mùa thu, mưa... để nói lên tình cảm của mình, những nhạc sĩ này có cách thể hiện trực tiếp hơn như Vũ Thành An với các Bài không tên, Lê Uyên Phương với các ca khúc... Giai đoạn này, bên cạnh nhạc sĩ tiền bối Phạm Duy vẫn sáng tác đều đặn những ca khúc giá trị (Cỏ hồng, Trả lại em yêu, Mùa thu chết...). Còn xuất hiện thêm những nhạc sĩ với phong cách riêng. Năm 1965, Vũ Thành An viết ca khúc đầu tay Tình khúc thứ nhất, phổ thơ Nguyễn Đình Toàn. Ngay từ ca khúc đầu tiên này, Vũ Thành An được nổi danh. Tiếp sau đó, ông viết một loạt Bài không tên được đánh số cùng một vài ca khúc có tên như Em đến thăm anh đêm 30. Những nhạc phẩm của Vũ Thành An được yêu thích rộng rãi ở miền Nam khi đó, thường xuyên được nghe thấy trong các quán cà phê, trên sóng đài phát thanh, trong các băng nhạc. Ngô Thụy Miên bắt đầu với Chiều nay không có em được viết năm 1963, nhưng đến với công chúng vào năm 1955. Tiếp theo, ông phổ nhạc cho một số bài thơ của thi sỹ Nguyên Sa và giành được thành công rực rỡ. Các ca khúc Niệm khúc cuối, Mắt biếc, Áo lụa Hà Đông đã ghi dấu ấn của Ngô Thụy Miên trong thời kỳ đó. Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện băng nhạc đầu tay Tình Ca Ngô Thụy Miên gồm 17 tình khúc đã được viết trong khoảng thời gian 1965 tới 1972. Với sự góp mặt của các ca sĩ danh tiếng Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan... và nhạc sĩ hòa âm Văn Phụng, cuốn băng tạo được thành công rực rỡ. Từ Đà Lạt, đôi nghệ sĩ Lê Uyên và Phương xuất hiện mang đến cho tân nhạc những sắc thái mới với các ca khúc khắc khoải, nồng nàn. Bắt đầu từ nhạc phẩm đâu tay Buồn đến bao giờ viết năm 1960 tại Pleiku, Lê Uyên Phương với những Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta... được giới trẻ nồng nhiệt đón nhận. Một gương mặt nổi danh nữa của dòng nhạc này là nhạc sĩ Từ Công Phụng. Khởi sự từ ca khúc đầu tay Bây giờ tháng mấy, các nhạc phẩm tiếp theo của Từ Công Phụng đều mang không khi mang mác như Lời cuối, Trên ngọn tình sầu, Mùa xuân trên đỉnh bình yên, Giọt lệ cho ngàn sau, Mắt lệ cho người... Đặc biệt sau 1975 ở hải ngoại, các ca khúc của Từ Công Phụng còn được biết đến nhiều hơn qua giọng ca Tuấn Ngọc trình bày rất thành công. Một số nhạc sĩ khác cũng viết các tình khúc nổi tiếng rát được ưa chuộng vào thời gian này như Hoàng Nguyên với Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ, Quốc Dũng với Đường xưa, Cơn gió thoảng, Nguyễn Ánh 9 với Không, Buồn ơi xin chào mi, Văn Phụng với Yêu, Tình; Khánh Băng với Sầu đông, Vọng ngày xanh; Y Vân với Buồn, Thôi, Ảo ảnh, Anh Bằng với Khúc Thụy du, Nỗi lòng người đi; Trần Trịnh với Lệ đá; Nguyễn Văn Đông với Chiều mưa biên giới, Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp; Phạm Trọng Cầu, học ở Paris, cũng đã viết Mùa thu không trở lại... Phạm Đình Chương cũng có Nửa hồn thương đau phổ từ thơ Thanh Tâm Tuyền rất nổi tiếng, hay Người đi qua đời tôi phổ thơ Trần Dạ Từ. Lê Trọng Nguyễn nổi danh với Chiều bên giáo đường, Lá rơi bên thềm và đặc biệt Nắng chiều, ca khúc còn được biết đến ở Hồng Kông, Đài Loan và Nhật Bản. Hàng Trọng thành công với các bài hát theo điệu tango Ngỡ ngàng, Lạnh lùng, Tiến bước sang ngang. Nhạc vàng: Bên cạnh các tình khúc, dòng nhạc vàng cũng đặc biệt phổ biến. Với các bài hát giai điệu nhẹ nhàng, đơn giản, dòng nhạc này đã thu hút một số lượng lớn khán giả bình dân. Trong hồi ký của mình[1], Phạm Duy viết: "Đầu thập niên 70 là lúc Nhạc Việt, trong phạm vi ca khúc, phát triển đến tột độ. Có sự thành công của những bài hát thông thường và chỉ được coi là nhạc thương phẩm - mệnh danh là nhạc vàng - với những tình cảm dễ dãi phù hợp với tuổi choai choai, với em gái hậu phương và lính đa tình, tuy không được coi trọng nhưng lại rất cần thiết cho vài tầng lớp xã hội trong thời chiến." Từ trước 1963, các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Lam Phương đã soạn các bản như Gạo trắng trang thanh, Chiều hành quân... Nhưng phải tới sau 1963, khi nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam bắt đầu thì các bài hát về Tình và Lính mới trở nên thực sự phổ biến. Đây cũng là hai đề tài chủ yếu của nhạc vàng. Hoàng Thi Thơ là một nhạc sĩ thành công trong nhiều lĩnh vực. Ông từng là trưởng đoàn nghệ thuật của Việt Nam Cộng hòa đi trình diễn ở một số nước. Hoàng Thi Thơ cũng từng tham gia sản xuất điện ảnh với phim Người cô đơn nói về đề tài âm nhạc. Trên lĩnh vực sáng tác ông viết nhiều bản với âm hưởng dân tộc như Trăng rụng xuống cầu, Rước tình về quê hương, Tình ca trên lúa, Đám cưới trên đường quê, các bản tình cảm như Chuyện tình người trinh nữ tên Thi, Đường xưa lối cũ... Ông còn soạn một vài vở kịch hát Cô gái điên, Ả đào say. Lam Phương được biết tới với các bản nhạc tình Bài tango cho em, Em là tất cả, Tình bơ vơ... hoặc các bài chủ đề khác như Đoàn người lữ thứ, Cho em quên tuổi ngọc, Kiếp nghèo, Chuyến đò vỹ tuyến... Các ca khúc với chủ đề Lính, người tiêu biểu nhất là Trần Thiện Thanh. Vốn cũng là một ca sĩ với nghệ danh Nhật Trường, ông đã sáng tác và tự trình diễn nhiều bài hát về hình ảnh người lính Việt Nam Cộng hòa: Biển mặn, Chiều trên phá Tam Giang, Hoa trinh nữ, Rừng lá thấp, Tâm sự người lính trẻ, Tình thư của lính... Một số ca khúc khác của ông cũng rất phổ biến như Chiếc áo bà ba, Khi người yêu tôi khóc, Gặp nhau làm ngơ, Mùa đông của anh. Một tác giả viết về lính khác là Trúc Phương, tác giả của Đò chiều, Kẻ ở miền xa, Tàu đêm năm cũ, Trên bốn vùng chiến thuật... và Ai cho tôi tình yêu, Đôi mắt người xưa, Thói đời, Mưa nửa đêm, Tình thắm duyên quê... Những bản nhạc tình bi lụy còn có Châu Kỳ với Giọt lệ đài trang, Được tin em lấy chồng, Sao chưa thấy hội âm, Con đường xưa em đi. Một vài bản khác rất nổi danh như Người yêu cô đơn của Đài Phương Trang, . Ngoài ra còn một số ca khúc như Phiên gác đêm xuân của Nguyễn Văn Đông, Người yêu của lính của Anh Chương, Sang ngang của Đỗ Lễ, Căn nhà ngoại ô của Anh Bằng... Giọng ca tiêu biểu của nhạc vàng, đầu tiên có thể kể đến Duy Khánh. Tiếp theo là ca sĩ Chế Linh, cũng là tác giả của ca khúc Đêm buồn tỉnh lẻ[2]. Các giọng ca nữ có Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hoàng Oanh. Cùng với các nhạc sĩ, các ca sĩ này cũng góp phần định hình dòng nhạc vàng với cách hát khác hẳn các ca sĩ của nhạc tiền chiến hay tình khúc 1954-1975. Nhạc trẻ: Vào cuối thập niên 1950, nhạc kích động châu Âu và Mỹ bắt đầu thâm nhập thị trường miền Nam. Một số thanh niên trẻ con các thương gia, các học sinh học theo chương trình của Pháp thường nghe các ca khúc của Mỹ và Pháp. Nhưng phải tới khoảng thời gian 1963-1965 thì phong trào nghe các ca khúc phương Tây này mới thực sự bành trướng qua các buổi tổ chức khiêu vũ tại gia. Các danh ca của Mỹ như Paul Anka, Elvis Presley, The Platters... của Anh như Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones... của Pháp như Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida... trở thành thần tượng của giới trẻ Sài Gòn. Đầu những năm 1960 thì nhạc trẻ trở thành một hiện tượng của âm nhạc Việt Nam. Những ban nhạc trẻ kích động như C.B.C., The Dreamers, The Uptight, The Blue Jets, The Spotlights (sau đổi thành Strawberry Four với Tùng Giang, Đức Huy, Tuấn Ngọc và Billy Shane) và một số ca sĩ Việt thích kèm theo tên ngoại quốc bên cạnh tên Việt như Elvis Phương, Pauline Ngọc, Prosper Thắng, Julie Quang, Carol Kim... nổi danh với các bạn nhạc ngoại quốc hát bằng lời Anh hoặc Pháp. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ năm 1968 khuyến khích nhiều ca sĩ hát nhạc Mỹ. Nhiều bản nhạc ngoại quốc nổi tiếng được các nhạc sĩ Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang, Trường Hải... đặt lời Việt. Không chỉ dừng lại ở việc hát nhạc ngoại quốc, nhiều nhạc sĩ tự sáng tác các bạn nhạc kích động. Một trong những người đầu tiên có thể kể tới là Khánh Băng với Sầu đông, Có nhớ đêm nào, Tiếng mưa rơi. Các nhạc sĩ khác như Quốc Dũng, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà cũng là những người đầu tiên Việt hóa thể loại nhạc này. Quốc Dũng, với nhiều ca khúc nổi tiếng, cùng với Thanh Mai tạo thành một đôi song ca được nhiều mến mộ. Ban Phượng Hoàng của Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà và ca sĩ Elvis Phương trở thành một trong nhưng ban nhạc thành công nhất của Sài Gòn giai đoạn đó. Tới năm 1971, đại hội nhạc trẻ đầu tiên được tổ chức tại sân Hoa Lư do Trường Kỳ, Tùng Giang và Nam Lộc tổ chức. Sự thành công của đại hội nhạc trẻ đầu tiên ở Sài Gòn đã đẩy mạnh nhạc trẻ lên cao độ. Tiếp theo đó nhiều đại nhạc hội khác được tiếp tục được tổ chức: năm 1971 tại trường trung học Taberd với hơn 10.000 người nghe, năm 1974 tại sở thú với trên 20.000 khán giả. Cho tới sau 1975, nhiều bản nhạc nước ngoài vẫn ăn khách trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một vài ca khúc còn được các ca sĩ trẻ trong nước hát, như Bang bang do Phạm Duy đặt lời Việt được Mỹ Tâm hát lại vào những năm đầu thập niên 2000. Nhạc phản chiến: Khi cuộc chiến tranh Việt Nam ngày càng lan rộng, ở miền Nam, không chỉ có các nhạc sĩ sáng tác các bài hát ca ngợi người lính Việt Nam Cộng hòa mà còn xuất hiện nhiều ca khúc phản chiến. Người tiêu biểu nhất cho phong trào nhạc phản chiến này là Trịnh Công Sơn. Bắt đầu từ khoảng năm 1966, những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly đã chinh phục giới trẻ, đánh trúng tâm lý chán ghét chiến tranh, mong muốn hòa bình. Năm 1968, sau sự kiên Tết Mậu Thân, Trịnh Công Sơn tung ra tập nhạc Kinh Việt Nam. Năm 1969, Trịnh Công Sơn cho ra tiếp tập Ta phải thấy mặt trời, rồi sau đó là Ca khúc da vàng. Với các ca khúc Nối vòng tay lớn, Bài ca dành cho những xác người, Gia tài của mẹ... Trịnh Công Sơn kêu gọi mọi người ngừng chiến tranh, nêu lên một hình ảnh Việt Nam đau thương vì cuộc chiến. Song song với nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, sau Tết Mậu Thân năm 1968, mầm mống chống đối chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu nảy nở ở các trường đại học tại Sài Gòn. Nhạc sĩ Miên Đức Thắng đã sáng tác các ca khúc như Hát từ cách đồng hoang, Lớn mãi không ngừng. Phong trào học sinh và sinh viên xuống đường xuất hiện cùng với Hát cho đồng bào tôi nghe, trong đó hai nhạc sĩ tiêu biểu là Trần Long Ẩn và Tôn Thất Lập. Năm 1971, một tập nhạc khác xuất hiện là Hát cùng đồng bào ta. Những bài hát xuống đường được giới sinh viên học sinh hát nhiều nhất lúc đó là: Sức mạnh nhân dân của Trương Quốc Khánh, Tình nghĩa Bắc Nam của Nguyễn Văn Sanh, Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tấn... Phạm Thế Mỹ cũng viết Hoa vẫn nở trên đường quê hương, Thương quá Việt Nam. Phạm Duy cũng sáng tác một số ca khúc phản đối cuộc chiến tranh Kỷ vật cho em, Chuyện hai người lính, Khi tôi về, Tình khúc trên chiến trường tồi tệ, Thầm gọi tên nhau trên chiến trường tồi tệ, Tưởng như còn người yêu... Trong đó ca khúc Kỷ vật cho em phổ từ thơ Linh Phương trở nên rất nổi tiếng, được các danh ca của Sài Gòn khi đó như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly hát thường xuyên tại các phòng tra, vũ trường gây nên các tác động mạnh mẽ tới khán giả. Lê Hựu Hà cũng là một người có nhiều sáng tác trong phong trào phản đối chiến tranh tiêu biểu là bài hát Hãy nhìn xuống chân... Phong trào du ca: Năm 1966, hai nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và Đinh Gia Lập thành lập phong trào Du ca, là một đoàn thể hoạt động về văn hóa và văn nghệ phục vụ cộng đồng, xuất hiện cùng lúc với phong trào làm công tác xã hội của sinh viên, học sinh. Chủ tịch phong trào từ 1967 là dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ và đến năm 1972 được thay thế bởi Đỗ Ngọc Yến. Trưởng xưởng Du ca do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang điều hành, đến năm 1972 được thay thế bởi Ngô Mạnh Thu. Phong trào được Bộ Quốc gia Giáo dục và Thanh niên Việt Nam Cộng hòa công nhận chính thức và cấp giấy phép hoạt động trên toàn quốc kể từ ngày 24 tháng 1 năm 1969. Du ca quy tụ khá nhiều các nhạc sĩ tên tuổi, cũng như nhiều nhạc sĩ trẻ xuất phát từ phong trào: Nguyễn Đức Quang, Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu, Trần Tú, Nguyễn Quyết Thắng... Phạm Duy cũng có đóng góp trong phong trào du ca với một số bài như Sức mấy mà buồn, Thôi bỏ đi tám. Du ca ra đời đúng lúc mọi người đang đòi hỏi một nền văn nghệ sống động, thức tỉnh và mới lạ. Những loại nhạc mà phong trào du ca thường sử dụng là Thanh niên ca, Thiếu nhi ca, Sinh hoạt ca, Nhận thức ca, Sử ca, Dân ca, những bài hát ca ngợi tình yêu con người và thân phận quê hương. Nhiều bài hát của du ca đã trở nên quen thuộc như Việt Nam, Việt Nam của Phạm Duy, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang, Hát từ tim, hát bằng hơi thở của Nguyễn Quyết Thắng, Anh sẽ về của Nguyễn Hữu Nghĩa, thơ Kinh Kha, Xin chọn nơi này làm quê hương của Nguyễn Đức Quang. Những ca khúc trong phong trào du ca có mục đích kêu gọi thanh niên hãy tự hào, tin tưởng và hy vọng nơi tương lai. Trước năm 1975, phong trào du ca có tác dụng sâu mạnh đối với giới trẻ qua các đoàn, toán ca như Con Sáo Huế, Du ca Áo Nâu, Du ca Lòng mẹ, Du ca Trùng Dương... Họ trình diễn ở khắp nơi miền Nam khi đó, trong trường học, ngoài sân cỏ, trên sân khấu, trong các đoàn thể bạn, hướng đạo, hay Thanh sinh công, Gia đình Phật tử. Du ca cũng đã phát hành một số tuyển tập nhạc như: Tuyển tập Du ca 1, Du ca 2, Du ca 3, Những bài ca khai phá, Ta đi trên dòng lịch sử, Những điều trông thấy, Những khuôn mặt Duca, Hát cho những người sống sót, Anh hùng ca, Sinh hoạt ca. Các nhạc sĩ khác: Trong thời kỳ từ 1954 đến 1975, Phạm Duy vẫn là một trong những nhạc sĩ có sức sáng tác mạnh mẽ nhất và các ca khúc của ông cũng thuộc nhiều thể loại. Tiếp tục những ca khúc "dân ca mới", Phạm Duy còn sáng tác nhiều tình khúc như Nghìn trùng xa cách, Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi, Nha Trang ngày về, Cỏ hồng, Mùa thu chết, Nước mắt mùa thu... Ông còn có các bài hát Bé ca dành cho thiêu nhi: Ông trăng xuống chơi, Chú bé bắt được con công, Thằng Bờm, Bé bắt dế, Đưa bé đến trường, Đốt lá trên sân Các trường ca Con đường cái quan, Mẹ Việt Nam cũng được Phạm Duy viết trong thời kỳ này. Ngoài ra có thể kể đến Đạo ca, Tâm ca... Trong các phong trào Nhạc trẻ, Du ca, Nhạc phản chiến Phạm Duy đều có tham gia với nhiều ca khúc. Trịnh Công Sơn, ngoài các ca khúc phản chiến, ông là tác giả của rất nhiều tình khúc, giúp ông trở thành một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của thời kỳ đó và cả sau này. Từ sáng tác được coi là đầu tay Ướt mi xuất bản năm 1959, Trịnh Công Sơn tiếp tục thành công với Diễm xưa, Tuổi đá buồn, Tình xa, Tình nhớ... Cùng với tiếng hát Khánh Ly, các bản tình ca của Trịnh Công Sơn đã chinh phục giới thanh niên miền Nam khi đó, trở thành một hiện tượng của tân nhạc. Một điểm khác biệt giữa âm nhạc miền Bắc và miền Nam khi đó là trong khi ở miền Bắc, các ca khúc chỉ được phát trên đài phát thanh, qua các buổi biểu diễn của những đội văn công... thì tại miền Nam, âm nhạc hình thành một thị trường sôi động với nhiều hãng băng đĩa. Các ca khúc được phát trên sóng phát thanh, truyền hình, được trình diễn tại các vũ trường, phòng trà và các đại nhạc hội. Những người đi đầu trong việc sản xuất băng đĩa có thể kể đến Phạm Mạnh Cương, Nguyễn Văn Đông, Tùng Giang... Những băng nhạc Sơn ca, Trường Sơn, Nhã ca, Nhạc trẻ, Shotguns, Sóng nhạc... được phát hành đều đặn. Với lợi nhuận từ các băng nhạc, tập nhạc, các nhạc sĩ nổi tiếng có được thu nhập rất cao. Phòng trà và vũ trường là hai điểm trình diễn phổ biến của Sài Gòn giai đoạn đó. Những phòng trà như Đêm Màu Hồng, Queen Bee... là điểm yêu thích của nhiều khán giả nghe nhạc. === Giai đoạn 1975 đến nay === ==== Giai đoạn 1975-1996 ==== ===== Trong nước ===== Sau khi Việt Nam thống nhất, nền tân nhạc Việt Nam có nhiều thay đổi thăng trầm. Để xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, Việt Nam đã tiến hành cuộc cách mạng văn hoá tư tưởng và đấu tranh cải tạo công thương nghiệp, cải cách ruộng đất. Trong nước các dòng nhạc vàng bị cấm hoàn toàn vì không phù hợp với chủ trương chính trị, các ca sĩ nhạc vàng được khuyến khích chuyển sang hát nhạc truyền thống cách mạng (nhạc đỏ) Nhiều ca sĩ & nhạc sĩ Việt Nam phải vượt biên sang định cư tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác. Nhiều bài hát tiền chiến và tình ca bị hạn chế lưu hành. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra. Đề tài sáng tác chủ yếu trong giai đoạn này là: -Ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh: có các bài hát tiêu biểu như: Viếng lăng Bác, Miền Nam Nhớ mãi ơn người,Lời Bác dặng trước lúc ra đi... -Ca ngợi Đảng: Đảng đã cho ta một mùa xuân(Phạm Tuyên)... -Ca ngợi chiến công lẩy lừng của cuộc kháng chiến như: Dáng đứng Bến Tre(Nguyễn Văn Tý), 40 thế kỷ cùng ra trận, Tổ quốc yêu thương, -Tình yêu quê hương đất nước và tình yêu lứa đôi: Quê Hương (Giáp Văn Thạch, phổ thơ Đổ Trung Quân), Đất nước lời ru (Văn Thành Nho), Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Xuân Hồng), Huyền Thoại Mẹ (Trịnh Công Sơn), Bài ca không quên (Phạm Minh Tuấn), Thuyền và Biển (Phan Huỳnh Điểu), Gửi em chiếc nón bài thơ (Lê Việt Hòa), Giai điệu Tổ quốc (Trần Tiến)... -Ca ngợi và phát động các phong trào lao động tập thể như: Đêm rừng Đắc Min(Nguyễn Đức Trung), Em nông trường anh ra biên giới(Trịnh Công Sơn), Hồ núi Cốc(Phó Đức Phương), Trị An âm vang mùa xuân(Tôn Thất Lập), Tàu anh qua núi(Phan Lạc Hoa), Đêm thành phố đầy sao(Trần Long Ẩn), Người đi xây hồ Kẻ Gỗ(Nguyễn Văn Tý), Mùa xuân từ những giếng dầu(Phạm Minh Tuấn),Ơi cuộc sống mến thương(Nguyễn Ngọc Thiện)... Các nhạc sĩ tiêu biểu trong giai đoạn này là: Diệp Minh Tuyền, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Thế Hiển, Nguyễn Nam, Nguyễn Văn Hiên, An Thuyên, Phó đức Phương, Phong Nhã, Trần Tiến,Nguyễn Ngọc Thiện... Đặc biệt Ca sĩ kiêm nhạc sĩ Trần Tiến chịu ảnh hưởng của phong trào du ca trước năm 1975 nên đã có nhiều sáng tác mới lạ thời bấy giờ nên được công chúng yêu nhạc đón nhận với các ca khúc: Mặt trời bé con, Tuỳ hứng lý qua cầu, Tạm biệt chim én... Các ca sĩ thành danh như: Cẩm Vân, Bảo Yến, Nhã Phương, Quang Lý, Tuấn Phong, Cao Minh, Thế Hiển, Trần Tiến... Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển mạnh mẽ. Hội âm nhạc Việt Nam được thành lập. Hằng năm đều tổ chức nhiều chuyến du khảo hội trại sáng tác theo những chủ đề do nhà nước đặt hàng. Các trường âm nhạc, văn hoá nghệ thuật được quan tâm thành lập tuy nhiên chỉ mới dừng lại ở quy mô dạy dòng nhạc thính phòng cỏ điển và âm nhạc tuyên truyền. Nhiều văn nghệ sĩ có cơ hội giao lưu học tập tại Liên Xô (Nga) đã du nhập nhiều bản nhạc Liên Xô được hát bằng tiếng Nga hoặc dịch ra lời Việt: Một triệu đoá hoa hồng(Cẩm Vân trình bày), Chiều hải cảng, đôi bờ, Cây thuỳ dương. Sau Đại hội Đảng lần VI đề ra chủ trương đổi mới tư duy, xoá bao cấp,văn hoá nghệ thuật được cởi mở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) đã tổ chức các cuộc thi Tiếng hát truyền hình tạo cơ hội cho nhiều ca sĩ trẻ thành danh như: Như Quỳnh, Như Hảo, Thanh Thuý, Tạ Minh Tâm... Hội thi tiếng hát Hoa Phượng Đỏ dành cho lứa tuổi học sinh. Tại miền nam nhiều bài hát từ các nước phương Tây được các ca sĩ trình bày lời ngoại ngữ và lời việt(do Khúc Lan dịch): Tình cha (Phương Thảo)... Đặc biệt là phong trào hát nhạc Hoa lời Việt với các ca sĩ: Minh Thuận, Nhật Hào, Tú Châu, Lam Trường... Nhạc tình ca (còn gọi là nhạc sến do đa số viết theo điệu Bolero và có giai điệu buồn với nội dung chủ yếu là mô tả tâm trạng thất tình) được tiếp tục phát triển với các nhạc sĩ như: Vinh Sử, Hàng Châu... với các giọng ca: Đình Văn, Ngọc Sơn, Chế Thanh, Thuỳ Dương... Nhiều Trung tâm băng nhạc được thành lập như: Bến Thành AV, Sài Gòn Audio, Hãng Phim trẻ,Kim Lợi Studio,Trùng Dương AV... ===== Hải ngoại ===== Các nhạc sĩ của Sài Gòn sau 1975 định cư tại nước ngoài vẫn tiếp tục sáng tác và cùng với những nhạc sĩ trẻ hơn đã tạo nên dòng nhạc hải ngoại. Tại hải ngoại củng xuất hiện nhiều trung tâm phát hành băng đĩa nhạc như: Thuý Nga, Asia, Làng văn,... Nổi bật nhất là trung tâm Thuý Nga với loạt đĩa chủ đề "Paris By Night" được thực hiện nghiêm túc, giàn dựng công phu, mang nhiều giá trị nghệ thuật được giới yêu nhạc đánh giá cao. Những nhạc sĩ tên tuổi đầu tiên rời Việt Nam khoảng cuối năm 1975. Trong những năm đầu, một chủ đề sáng tác chính của họ là nỗi nhớ quê hương và Sài Gòn như Nam Lộc với Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt, Khi xa Sài Gòn của Lê Uyên Phương, Đêm nhớ về Sài gòn của Trầm Tử Thiêng... Chủ đề thân phận lưu vong cũng được nói đến với Tị nạn ca của Phạm Duy, Người di tản buồn của Nam Lộc, Ai trở về xứ Việt của Phan Văn Hưng, Một chút quà cho quê hương của Việt Dũng... Một chủ đề phổ biến nữa là "phục quốc kháng chiến" nói lên mong muốn được quay trở lại miền Nam của ca sĩ Nguyệt Ánh. Từ khoảng đầu thập kỷ 1980, một số nhạc sĩ sau thời gian cải tạo tại Việt Nam ra định cư ở nước ngoài. Họ viết nhiều ca khúc tả lại thời gian cải tạo ở Việt Nam như Hà Thúc Sinh với tập Tiếng hát tủi nhục năm 1982, Châu Đình An với Những lời ca thép năm 1982... Phạm Duy cũng sáng tác 20 bài lấy tựa là Ngục ca phổ từ thơ của Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ Tiếng vọng từ đáy vực ==== Giai đoạn 1996 đến nay ==== ===== Trong nước ===== Vào năm 1996 bắt nguồn từ giải thưởng âm nhạc "Làn sóng Xanh" do Đài tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. người đoạt giải là ca sĩ Lam Trường với ca khúc "Tình thôi xót xa" Bảo Chấn khiến cho trào lưu nhạc trẻ ra đời với hàng loạt ca khúc thành công sau đó như: Hà Nội mùa vắng những cơn mưa, Bên em là biển rộng, Giọt sương trên mí mắt, Hôn môi xa, Tình em ngọn nến... góp phần đưa hàng loạt ca sĩ trẻ nổi danh như: Mỹ Tâm, Đan Trường, Cẩm Ly, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thu Phương, Thanh Lam, Quang Linh, Quang Dũng, Đức Tuấn, Tuấn Hưng, Đàm Vĩnh Hưng... Nhạc sĩ trẻ Hoài An đoạt giải thưởng từ cuộc thi sinh viên với bài hát "Tình thơ" với phần hoà âm mới lạ hiện đại lúc bấy giờ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc Việt Nam: phần nhạc dạo đầu bài hát và phần hoà âm và phối khí được chú trọng hơn so với trước đây làm cho ca khúc Việt Nam trở nên hiện đại hơn, hay hơn. Tại Việt Nam đã xuất hiện nhiều nhạc sĩ hoà âm phối khí như: Quốc Dũng, Bảo Chấn, Sỹ Dan, Tùng Châu, Quốc Trung, Mạnh Trinh, Trần Thanh Tùng, Quang Phúc, Đức Trí, Hoài Sa, Lê Quang, Lý Huỳnh Long... Nghề mix nhạc (DJ) cũng xuất hiện. Bên cạnh đó dòng nhạc dân ca phát triển mạnh mẽ: "Vọng cổ buồn", "Đêm Gành Hào nghe điệu Hoài Lang", "Quê tôi mùa nước lũ".. Vài ca sĩ Việt Nam có hoài bão vươn ra thị trường âm nhạc thế giới và đã đạt được một số thành công ban đầu: Mỹ Tâm được đài truyền hình ABC xếp hạng 6 trong số các ca sĩ châu Á thành công nhất, Hồ Quỳnh Hương đoạt giải Liên hoan âm nhạc tại Bình Nhưỡng. Thành công với các ca khúc nhạc trẻ mà báo chí ngưỡng mộ, cái tên phát triển cho ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều khán giả trẻ, vào năm 2008 cái tên V-Pop đã xuất hiện làm cho nhiều thần tượng và khán giả rất tò mò. Đặc biệt là sự nổi lên của làn sóng nhạc Hàn Quốc, nên nhiều ca sĩ đã bắt chước model của Hàn Quốc và các giai điệu âm nhạc của nó. Đến năm 2017, dòng nhạc trẻ đã trở nên phổ biến toàn Việt Nam, ở YouTube, nhiều bài hát đã đạt được 100 triệu lượt xem ===== Hải Ngoại ===== Đến giữa thập niên 1980, các nhạc sĩ bắt đầu bỏ chủ đề "phục quốc kháng chiến" quay lại viết các bản tình ca. Ở giai đoạn này, những nhạc sĩ tiêu biểu có thể kể đến Đức Huy với "Và con tim đã vui trở lại", "Đừng xa em đêm nay", Trần Quảng Nam với "Mười năm tình cũ", Hoàng Thanh Tâm với "Tháng sáu trời mưa", Trúc Hồ với "Trái tim mùa đông", Ngọc Trọng với "Buồn vương màu áo", Trịnh Nam Sơn với "Dĩ vãng", "Quên đi tình yêu cũ"... Ngô Thụy Miên tại hải ngoại cũng có nhiều sáng tác, trong đó nổi tiếng hơn cả là Riêng một góc trời viết năm 1997. Kể từ khi trong nước đổi mới các ca sĩ & nhạc sĩ ở hải ngoại được về nước biểu diễn đã tạo nên sự giao thoa (trao đổi nghệ thuật) về âm nhạc giữa trong và ngoài nước, có nhiều ca khúc trong nước được các ca sĩ hải ngoại biểu diễn rất thành công và ngược lại. Nhiều ca sĩ trẻ nổi danh như: Lưu Bích, Như Quỳnh, Quang Lê, Trần Thái Hoà, Ngọc Hạ, v.v... == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
ram động.txt
Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động (DRAM hay RAM động) là một loại bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên lưu mỗi bit dữ liệu trong một tụ điện riêng biệt trên một mạch tích hợp. Vì các tụ điện bị rò điện tích nên thông tin sẽ bị mất dần trừ khi dữ liệu được nạp lại đều đặn. Đây là điểm khác biệt so với RAM tĩnh. Ưu điểm của DRAM là có cấu trúc đơn giản: chỉ cần một transistor và một tụ điện cho mỗi bit trong khi cần sáu transistor đối với SRAM. Điều này cho phép DRAM lưu trữ với mật độ cao. Vì DRAM mất dữ liệu khi không có điện nên nó thuộc loại thiết bị nhớ tạm thời. == Lịch sử == DRAM được phát minh bởi tiến sĩ Robert Dennard tại Trung tâm nghiên cứu Thomas J. Watson IBM vào năm 1966 và được cấp bằng sáng chế năm 1968. Tụ điện đã được dùng trong những sơ đồ bộ nhớ đời đầu như: drum của Atanasoff-Berry Computer, ống Williams và ống Selectron. Vào năm 1969, Honeywell yêu cầu Intel chế tạo cho họ bộ nhớ DRAM sử dụng một cell 3 transistor mà họ vừa phát triển. Nó đã trở thành Intel 1102 (1024x1) vào đầu những năm 1970. Tuy nhiên 1102 gặp nhiều lỗi, điều đó khiến Intel bắt đầu làm việc trên những mẫu thiết kế có cải tiến của riêng họ (việc này được tiến hành bí mật nhằm tránh động chạm tới Honeywell). Chính điều này đã dẫn tới sự ra đời của DRAM thương mại đầu tiên có cell 1 transistor - Intel 1103 (1024x1) vào tháng 10 năm 1970 (mặc dù có chút vấn đề vì số lượng tiêu thụ thấp, mãi đến bản sửa đổi thứ 5). Bộ nhớ DRAM đầu tiên có nhiều địa chỉ hàng/cột là Mostek MK4096 (4096x1) năm 1973. == Nguyên lý hoạt động == DRAM thường được sắp xếp trong một mảng hình chữ nhật của một phần dự trữ bao gồm một tụ điện và transistor cho mỗi bit dữ liệu. Hình bên phải là một ví dụ đơn giản với ma trận 4x4. Một số ma trận DRAM có tới hàng nghìn phần. Các đường ngang nối dài với mỗi hàng được gọi là đường nối. Mỗi cột của các phần được tạo thành từ hai bit- dòng, mỗi dòng kết nối với tất cả các phần lưu trữ khác trong cột (hình minh họa bên phải không bao gồm chi tiết quan trọng này). Nó thường được gọi là " + " và - đường bit " ". === Hoạt động đọc một bit dữ liệu từ một phần lưu trữ Dram === Các bộ khuếch đại bị ngắt kết nối Các dòng bit được sạc sẵn để cân bằng điện áp giữa mức cao và mức thấp. Các dòng bit thì đối xứng để giữ sự cân bằng điện dung, do đó tại thời điểm này điện áp được cân bằng. Mạch tích điện được tắt. Bởi vì dòng bit tương đối dài, nó ko có đủ điện dung để cân bằng điện áp được sạc sắn trong một khoảng thời gian. Sau đó, dòng nối của hàng muốn được kết nối cao hơn với tụ điện của tế bào lưu trữ. Điều này tạo transistor bán dẫn, chuyển điện tích từ tế bào lưu trữ tới dòng nối liên kết hoặc từ dòng nối lien kết tới tế bào lưu trữ (nếu giá trị lưu trữ là 0). Điện dung của dòng nối thì cao hơn nhiều so với điện dung trong tế bào lưu trữ,điện áp trên dòng nối tăng từ từ nếu tụ điện của tế bào lưu trữ không tích điện, và giảm nhẹ nếu tế bào lưu trữ có tích điện. Khi một dòng nối khác sẽ có một hiệu điện áp giữa hai dòng nối. Bộ khuếch đại bây giờ được kết nối với các cặp dòng nối. Thông tin phản hồi tích cực xuất hiện từ biến tần kết nối, do đó bộ khuếch đại hiệu điện áp nhỏ giữa dòng bit lẻ và thậm chí là hàng dòng bit của một cột cho đến khi một dòng bit đầy khi điện áp thấp nhất và cái khác thì điện áp cao nhất. Khi điều này xảy ra, hàng " mở ra "(tế bào dữ liệu đã sẵn sàng). Tất cả tế bào lưu trữ trong một hàng mở được cảm nhận cùng lúc, và kết quả bộ khuếch đại cảm giác được chốt. Địa chỉ cột sau đó chọn bit chốt để kết nối với dữ liệu bus bên ngoài. Đọc sự khác nhau của các cột trong cùng một hàng có thể biểu hiện mà không cần hàng mở gián đoạn, bởi vì khi một hàng mở, tất cả dữ liệu đã cảm nhận và chốt. Trong khi đọc các cột tronng một hàng mở đang thực hiện, dòng điện đang chảy ngược lên dòng bit từ kết quả của bộ khuếch đại và tế bào lưu trữ đang tích điện. Điều này làm mới điện trong tế bào lưu trữ bằng cách tăng điện áp trong tụ điện nếu nó có điện ban đầu, hoặc giữ cho không có điện nếu nó trống. Ghi chú là bởi vì chiều dài của dòng bit có một độ trễ khá dài để tích điện trở lại tụ điện tế bào. Nó cần một khoảng thời gian trước khi kết thúc của bộ khuếch đại cảm nhận, và do đó có sự trùng với một hoặc nhiều cột. Khi đọc xong tất cả các cột trong một hàng mở hiện tại, dòng nối được tắt để ngắt kết nối với tụ điện tế bào lưu trữ từ dòng bit. Bộ khuếch đại cảm nhận được tắt đi, và dòng bit được tích điện trở lại. === Ghi vào bộ nhớ === Để giữ dữ liệu, một hàng được mở và một bộ khuếch đại cảm nhận của cột cho sẵn thì tạm thời buộc phải tăng hoặc giảm điện áp, do đó gây ra dòng bit để tích điện hoặc không tích điện một tụ điện tế bào lưu trữ để ham muốn giá trị. Do thông tin phản hồi tích cực của bộ khuếch đại, nó sẽ giữ một dòng bit điện áp ổn định thậm chí sau khi buộc điện áp được gỡ bỏ. Trong khi ghi lên một tế bào cụ thể, tất cả cột trong một hàng sẽ cảm nhận cùng lúc giống như lúc đọc, mặc dù chỉ có điện tích một tụ điện tế bào lưu trữ của cột được thay đổi, nhưng tất cả cột sẽ được làm mới. === Tốc độ làm mới === Thông thường, các nhà máy chỉ định mỗi hàng phải có tụ điện tế bào lưu trữ của nó được làm mới mỗi 64 ms hoặc ít hơn, như được định nghĩa bởi JEDEC. Làm mới được cung cấp trong mỗi DRAM điều khiển tự động làm mới định kỳ, mà không có phần mềm hoặc phần cứng có thể thực hiện. Điều này làm cho mạch điều khiển thêm phức tạp, nhưng nhược điểm là nó nặng bởi thực tế là DRAM rẻ hơn nhiều so với tế bào lưu trữ and mỗi tế bào lưu trữ thì đơn giản, DRAM có nhiều dung lượng trên mỗi đơn vị bề mặt hơn SRAM. == Phát hiện và sửa lỗi == Điện và từ tính là nguyên nhân gây ảnh hưởng bên trong hệ thống máy tính có thể dẫn đến một vài đơn vị dữ liệu của DRAM phát sinh chuyển đổi thành trạng thái ngược lại.Phần lớn các lỗi nhỏ trong các vi xử lý DRAM xảy ra như một hậu quả của bức xạ nền, chủ yếu là các nơtron từ các tia vũ trụ, nó có thể thay đổi thành phần của một hay nhiều tế bào lưu trữ hoặc gây cản trở các cho các mạch điện thường dùng để ghi hay truy xuất dữ liệu.Những nghiên cứu gần đây cho thấy sự thay đổi lớn về tỉ lệ lỗi về rối loạn dữ kiện với hơn 7 cấp độ khác nhau,phạm vi từ 1 bit lỗi/giờ/gigabyte đến 1 bit lỗi/thế kỷ/gigabyte. Vấn đề có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng bộ nhớ dư và tăng thêm hệ thống mạch điện,dùng cách này có thể tìm và sửa được những lỗi hiện có.Trong hầu hết các trường hợp,sự phát hiện và sửa lỗi hợp lý được minh chứng bằng bộ kiểm soát bộ nhớ, nó có thể tách hoặc nhóm các mạch vào một CPU;đôi khi,những yêu cầu hợp lý được thực thi một cách rõ ràng trong các vi xử lý và mô-đun của DRAM, cho phép thực hiện chức năng của bộ nhớ EEC thay cho các hệ thống EEC không đủ khả năng khác. Phần dữ liệu thêm được sử dụng để ghi lại tương ứng và cho phép các dữ liệu mất đi được xây dựng lại bằng mã sửa lỗi (EEC).Sự tương ứng này cho phép phát hiện tất cả các lỗi đơn dữ liệu. Những mã sửa lỗi thông dụng nhất,1 mã SECDEC Hamming,cho phép một lỗi đơn dữ liệu được sửa chữa,và trong một cấu hình thông thường,với một 1 bit dữ liệu thêm vào,lỗi đôi dữ liệu được tìm ra. Một bộ điều khiển bộ nhớ ECC khả dụng được dùng trong nhiều máy tính cá nhân hiện nay có thể phát hiện và sửa một lỗi đơn dữ liệu mỗi 64-bit,và phát hiện(nhưng không sửa)lỗi 2 bits mỗi 64-bit. Một vài hệ thống cũng "lọc" những lỗi này,bằng cách sửa phiên bản hiện tại trở lại bộ nhớ. Phần nhận biết ECC của một vài máy tính và ECC nhận biết của hệ thống,như Linux,cho phép đếm số lần phát hiện và sửa lỗi bộ nhớ,giúp hệ thống có thể nhận dạng và thay thế mô-đun bộ nhớ bị hỏng. == Các dạng của DRAM (RAM động) == Vì lý do tài chính, phần lớn bộ nhớ trong máy tính hay các thiết bị chơi game không cầm tay như PlayStation, Xbox thường đều nằm trong RAM động (DRAM). Trong khi đó thì những phần khác của máy tính thì bộ nhớ đều hầu hết chứa trong SRAM Hầu hết hình dạng của DRAM là hộp nhựa chữ nhật màu đen bằng epoxy === Dạng cơ bản === DRAM được sản xuất dưới dạng một mạch điện tích hợp gắn với vành bên ngoài bằng nhựa có chân kim loại để kết nối và kiểm soát các loại tín hiệu. Khi mới sử dụng, DRAM dạng mạch tích hợp thường được cài đặt thẳng vào mạch chủ hay mạch mở rộng ISA nhưng về sau nó được thiết kết thành các chip đa công dụng (DIMMs, SIMMs,....). Một vài mẫu chính như DRAM Chip Dạng hai đường kẻ song song (DIP) Mẫu bộ nhớ DRAM Pin đơn (SIPP) Bộ nhớ đơn (SIMM) Bộ nhớ đôi (DIMM) Bộ nhớ Rambus (RIMM). Gần như tương tự với bộ nhớ DIMM nhưng được gọi la RIMM và số lượng ô nhớ của nó Bộ nhớ đôi dạng nhỏ (SO-DIMM).Bằng một nữa dung lượng của DIMM Bộ nhớ đôi Rambus dạng nhỏ (SO-RIMM). Cũng tương tự như RIMM nhưng nhỏ hơn RIMM, thường được dùng trong laptop Mẫu RAM có ngăn xếp và không có ngăn xếp RAM có ngăn xếp gồm hai chip RAM đặt chồng lên nhau. Nó sẽ giúp những mẫu RAM lớn có thể hoạt động dù xài những tấm siliocon mỏng và rẻ. RAM có ngăn xếp sử dụng nhiều năng lượng hơn và có xu hướng nóng hơn khi sử dụng so với loại RAM không có ngăn xếp RAM ngăn xếp đang ngày càng được ít sử dụng bởi hiện nay TSV ra đời vớ nhiều chức năng, chứa nhiều dữ liệu và chạy nhanh hơn === Các mẫu RAM phổ biến === DIP 16-pin (DRAM chip) SIPP 30-pin (thường dùng cho FPRAM) SIMM 30-pin (thường dùng cho FPRAM) SIMM 72-pin (thường xuất dữ liệu ra DRAM (EDO DRAM) nhưng FPRAM thì không được sử dụng phổ biến) DIMM 168-pin (SDRAM) DIMM 184-pin (DDR SDRAM) RIMM 184-pin (RDRAM) DIMM 240-pin (DDR2 SDRAM and DDR3 SDRAM) DIMM 288-pin (DDR4 SDRAM) Các mẫu SO-DIMM DRAM: 72-pin (32-bit) 144-pin (64-bit) dùng cho SO-DIMM SDRAM 200-pin (72-bit) dùng cho SO-DIMM DDR SDRAM và SO-DIMM DDR2 SDRAM 204-pin (64-bit) dùng cho SO-DIMM DDR3 SDRAM 260-pin dùng cho SO-DIMM DDR4 SDRAM === Độ lớn bộ nhớ của DRAM === Bộ nhớ của DRAM luôn ở dưới dạng lũy thừa của hai. Chẳng hạn SDRAM DIMM chứa 512 MiB (mebibytes) =512 × 220 bytes = 229 bytes = 536,870,912 bytes. Hay 2 GB SDRAM module chứa 2 GiB (gibibytes) = 2 × 230 bytes = 231 bytes = 2,147,483,648 bytes. == Bảo mật == Mặc dù RAM động thường được sử dụng khi cung cấp nặng lượng và hay thay đổi sau một khoảng thời gian ngắn (thường là 64ms) nhưng các tụ điện trong RAM động thường có xu hướng nhớ dữ liệu trong một khoảng thời gian lâu hơn và với một nhiệt độ thấp. Dưới một số điều kiện phần lớn dữ liệu trong DRAM có thể được khôi phục cho dù nó được không được làm mới trong một vài phút. Chức nặng này có thể đánh lừa các hệ thống bảo mật và khôi phục dữ liệu chứa trong bộ nhớ mặc dù cho rằng dữ liệu đó đã bị xóa (như do vần đề cúp điện nếu chúng ta khởi động lại máy làm nguội con chip đồng thời chuyển đến một máy tính khác). Một cuộc tấn công như thế có thể đánh lừa việc mã hóa của hệ thống trong máy. Chẳng hạn như các nguồn mở TrueCrypt, Microsoft's BitLocker Drive Encryption và Apple's FileVault. Những cuộc tấn công như vậy được gọi là "khởi động và làm nguội ". == So sánh với các loại bộ nhớ khác == == Xem thêm == RAM RAM tĩnh == Tham khảo ==
hướng đông nam.txt
Hướng Đông Nam là hướng nằm giữa hướng Nam và hướng Đông theo chỉ dẫn của la bàn. Hướng Đông Nam còn để chỉ góc phía dưới bên phải khi trình bày về các sơ đồ, hình vẽ, đồ thị. == Xem thêm == Hướng Đông Bắc Hướng Tây Bắc Hướng Tây Nam == Tham khảo ==
thiên hướng tình dục.txt
Thiên hướng tình dục (đôi khi được gọi là "xu hướng tình dục" hay "khuynh hướng tình dục), chỉ sự bị hấp dẫn về mặt tình cảm hoặc về mặt tình dục bởi người khác giới tính hoặc người cùng giới tính với mình hoặc cả hai một cách lâu dài. Theo Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ, thiên hướng tình dục cũng chỉ sự ý thức cá nhân và sự công nhận của xã hội về những hấp dẫn đó cũng như chỉ một cộng đồng cùng có chung sự hấp dẫn. Thiên hướng tình dục thường được phân loại dựa trên giới tính của những người hấp dẫn mình do đó thường được nêu lên dưới dạng ba loại: dị tính luyến ái, đồng tính luyến ái và song tính luyến ái. Tuy nhiên một vài người có thể thuộc một loại khác với ba loại trên hoặc không thuộc một loại nào cả. Những dạng thiên hướng tình dục thông thường nhất nằm trên một thang đo từ hoàn toàn dị tính luyến ái (chỉ bị hấp dẫn bởi người khác phái) cho đến hoàn toàn đồng tính luyến ái (chỉ bị hấp dẫn bởi người cùng phái) và bao gồm vài dạng song tính luyến ái khác (bị hấp dẫn bởi cả hai phái). Hầu hết các định nghĩa về thiên hướng tình dục đều bao gồm một khía cạnh tâm lý là sự khao khát tình dục cá nhân hoặc sự thể hiện của cá nhân. Một vài định nghĩa bao gồm cả hai khía cạnh đó. Vài người khác chỉ đơn giản dựa trên định nghĩa hoặc sự tự nhận biết của chính mình. Vài nhà nghiên cứu tình dục học, nhân chủng học và lịch sử nêu ra rằng sự phân loại thành dị tính và đồng tính luyến ái là không phổ quát. Các xã hội khác nhau có thể dựa theo những tiêu chí khác quan trọng hơn giới tính để phân loại, bao gồm tuổi tác của bạn tình hoặc là vai trò chủ động hay thụ động của cá nhân hoặc vị trí trong xã hội. Sự ý thức giới tính và sự thể hiện giới tính có liên quan mật thiết đến thiên hướng tình dục nhưng đây là những khái niệm khác nhau. Sự ý thức giới tính chỉ sự ý thức của chính cá nhân đó về giới tính sinh học của họ, sự thể hiện giới tính chỉ các điệu bộ, cử chỉ, cách cư xử của cá nhân đó còn thiên hướng tình dục thì liên quan đến sự tưởng tượng, mong mỏi, khao khát. Chẳng hạn một người đàn ông có giới tính sinh học là nam và ý thức mình là nam (ý thức giới tính là nam) nhưng có điệu bộ, cử chỉ và cách cư xử như phụ nữ (thể hiện giới tính là nữ) đồng thời cũng có thể có ham thích tình dục với phụ nữ (thiên hướng tình dục là dị tính luyến ái). Mỗi cá nhân có thể thể hiện hoặc công khai thiên hướng tình dục của mình ra bên ngoài hay không. Những người đồng tính luyến ái thường che giấu sự thật về họ. == Xác định thiên hướng tình dục == Vì mỗi người có thể định nghĩa thiên hướng tình dục một cách khác nhau và vì các chuẩn mực xã hội nên việc xác định thiên hướng tình dục là khó khăn. Để xác định có thể dựa vào sự tự nhận biết hoặc sự thể hiện ra bên ngoài hoặc sự ham thích của đối tượng cần xác định. Ít nhất là vào cuối thế kỷ 19, ở châu Âu, người ta đã suy đoán rằng, thiên hướng tình dục của con người có vẻ nằm trên một thang liên tục hơn là thuộc hai ba loại riêng biệt. Năm 1896, nhà nghiên cứu tình dục học 28 tuổi ở Berlin, Magnus Hirschfeld, công bố một cách đánh giá độ mạnh của ham thích tình dục của mỗi cá nhân bằng một thang hai chiều, mỗi chiều 10 điểm. Chiều A, đồng tính luyến ái và chiều B, dị tính luyến ái. Điểm của một người dị tính có thể là A0, B5 hoặc của một người đồng tính có thể là A5, B0. Điểm của người vô tính là A0, B0 và nếu một người nào đó ham thích tình dục cao độ với cả nam và nữ có điểm là A9, B9. 50 năm sau, nhà tình dục học người Mỹ Alfred Kinsey viết trong quyển Thể hiện tình dục ở nam giới (1948): Không thể phân tách đàn ông thành hai loại riêng biệt là dị tính và đồng tính luyến ái cũng như không thể chia thế giới thành cừu và dê. Thế giới tự nhiên hiếm khi được phân chia thành những loại riêng biệt…Trong mọi khía cạnh, thế giới sống này là liên tục. Dựa trên nguyên lý đó, cần thiết đề xuất một cách phân loại mới bằng cách thêm vào hai loại hoàn toàn dị tính và hoàn toàn đồng tính những loại khác mà chúng khác nhau một cách tương đối. Một người có thể nằm đâu đó trên thang đánh giá này trong một thời điểm nào đó của cuộc đời…Một thang đo 7 điểm thể hiện những thiên hướng tình dục. – Thang đo Kinsey đánh giá thiên hướng tình dục từ 0 (hoàn toàn dị tính luyến ái) đến 6 (hoàn toàn đồng tính luyến ái) và một loại khác X, những ai không có ham thích tình dục với cả nam hay nữ. Không giống như thang đo của Hirschfeld, thang Kinsey là thang một chiều. Simon LeVay viết "điều đó cho thấy (mặc dù Kinsey không tin rằng) mỗi người có độ mạnh ham thích tình dục như nhau và được chia thành hai phần là ham thích người cùng giới và ham thích người khác giới theo một tỉ lệ phụ thuộc vào thiên hướng tình dục của người đó." == Khả năng thay đổi của thiên hướng tình dục == Năm 1985, trong quyển Lựa chọn song tính luyến ái (Bisexual Option), Fritz Klein trình bày một thang đo để kiểm tra giả thuyết của mình cho rằng thiên hướng tình dục là "một quá trình thay đổi và nhiều biến" vì nó thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau bao gồm yếu tố liên quan và không liên quan đến tình dục. Klein xem xét các yếu tố như ham thích về mặt tình dục, sự thể hiện, tình cảm và mối quan hệ xã hội, lối sống và sự tự nhận biết. Mỗi yếu tố đó đều ảnh hưởng đến quá khứ, hiện tại và quan niệm của từng người. Khả năng thay đổi thiên hướng tình dục tùy thuộc vào từng người. Trung tâm Nghiên cứu Nghiện và Sức khỏe Tâm thần (Centre for Addiction and Mental Health) cho rằng "Ở một vài người, thiên hướng tình dục là liên tục và cố định trong suốt cuộc đời. Ở người khác, nó có thể thay đổi theo thời gian". Nghiên cứu của Lisa Diamond cho thấy thiên hướng tình dục của phụ nữ song tính luyến ái dễ thay đổi hơn của phụ nữ đồng tính luyến ái. Có những tổ chức không đồng ý với Fritz Klein. Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (American Psychological Association) khẳng định rằng "thiên hướng đồng tính luyến ái là không thể thay đổi". Năm 2001, bác sĩ người Mỹ David Satcher (United States Surgeon General) công bố rằng "không có một bằng chứng khoa học nào cho thấy thiên hướng tình dục là có thể thay đổi được". == Sự ham thích, thể hiện và ý thức == Vài người phân biệt 1. Ham thích người khác phái/cùng phái. 2. Quan hệ/thể hiện tình cảm với người khác phái/cùng phái. 3. Sự ham thích người khác phái/cùng phái so với sự thể hiện cá nhân (nam tính/nữ tính). 4. Tự nhận mình là dị tính, đồng tính, song tính, vv. Các tổ chức y khoa chính thống cũng khẳng định rằng "sự thể hiện giới tính (sexual behaviour) là khác với thiên hướng tình dục". == Thiên hướng tình dục và ý thức giới tính == Những tác giả đầu tiên thường hiểu rằng thiên hướng tình dục liên quan đến giới tính của cá nhân. Chẳng hạn, người ta nghĩ rằng một người có cơ thể là nữ mà lại thích người có cơ thể là nữ thì có tính đàn ông và ngược lại. Từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, hầu hết những nhà lý luận nổi bật và chính những người đồng tính cũng đồng ý như vậy. Tuy nhiên, vấn đề này được đưa ra tranh cãi và đến nửa sau của thể kỷ 20, ý thức giới tính (gender identity) ngày càng được xem là độc lập với thiên hướng tình dục. Những người có ý thức giới tính trùng với giới tính sinh học của mình (cisgender) và những người có ý thức giới tính không trùng với giới tính sinh học của mình (transgender) đều có thể có ham thích đối với nam hoặc nữ hoặc cả hai mặc dù thiên hướng tình dục của hai nhóm này khá khác nhau. Một người đồng tính, dị tính hoặc song tính đều có thể là người nam tính, nữ tính hoặc ái nam ái nữ. == Nhân khẩu học == Phương pháp nghiên cứu nhân khẩu học của thiên hướng tình dục có nhiều thử thách vì thiên hướng tình dục có nhiều khía cạnh khác nhau và ranh giới khác nhau. Việc xác định tỉ lệ các thiên hướng tình dục khác nhau trên thực tế là khó khăn và gây nhiều tranh cãi. Trong Thể hiện tình dục ở nam giới (1948) và Thể hiện tình dục ở phụ nữ (1953), của Alfred Kinsey, người ta được yêu cầu tự đánh giá mình theo thang Kinsey. Khi phân tích sự thể hiện giới tính và ý thức giới tính của từng cá nhân, ông rút ra rằng thiên hướng song tính luyến ái, ham thích tình dục với cả người cùng và khác phái, chiếm đa số. Theo ông, dị tính và đồng tính luyến ái chiếm một tỉ lệ nhỏ (5-10%). Tuy nhiên, hoàn toàn song tính luyến ái (ham thích tình dục với người cùng phái và khác phái là bằng nhau) một tỉ lệ nhỏ hơn nữa. Phương pháp của Kinsey bị chỉ trích là có lỗ hổng, đặc biệt là về độ ngẫu nhiên của nhóm người được kiểm tra. Phần lớn họ là tù nhân. Tuy nhiên, Paul Gebhard, giám đốc kế nhiệm của Viện Nghiên cứu Tình dục Kinsey đã xem xét lại dữ liệu và kết luận rằng điều đó không ảnh hưởng nhiều đến kết quả. Hầu hết các thống kê khoa học hiện nay cho thấy phần lớn con người là dị tính luyến ái. Tuy nhiên, tỉ lệ đồng tính luyến ái thay đổi tùy theo phương pháp thống kê và tiêu chuẩn chọn lựa. Đa số kết quả cho thấy ở Mỹ tỉ lệ đồng tính nam là từ 2.8 đến 9% và đồng tính nữ là 1 đến 5%. Tỉ lệ này có thể lên đến 12% đối với các thành phố lớn và chỉ 1% đối với vùng nông thôn. Những làng đồng tính như The Castro ở San Francisco, California, tỉ lệ này lên đến 40%. Tỉ lệ song tính luyến ái được xác định thay đổi tùy cách định nghĩa ít nhất là khi thống kê trong cùng một vùng. Vài nghiên cứu coi một người là song tính luyến ái chỉ khi người đó ham thích tình dục với cả người cùng và khác phái một cách bằng nhau. Các nghiên cứu khác coi một người là song tính khi người đó không phải là hoàn toàn đồng tính hoặc không phải là hoàn toàn dị tính. Một tỉ lệ nhỏ là những người không ham thích tình dục với bất kỳ ai (vô tính). == Những yếu tố ảnh hưởng đến thiên hướng tình dục == Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pedeatrics) khẳng định rằng "Thiên hướng tình dục chỉ được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen, hoocmon và ảnh hưởng môi trường". Nhiều tranh cãi tiếp tục dựa trên các yếu tố sinh học và/hoặc tâm lý như kiểu gen và sự hoạt động của một số hoocmon ở bào thai. Sigmund Freud và các nhà tâm lý khác xác nhận rằng sự hình thành thiên hướng tình dục do nhiều nhân tố trong đó có những điều trải qua khi còn nhỏ. === Nhân tố môi trường === === Hoocmon tác động lên bào thai === Giả thuyết về hoocmon cho rằng sự hoạt động của những hoocmon tác động lên sự khác biệt giới tính và cũng tác động lên thiên hướng tình dục, thiên hướng tình dục này sẽ thể hiện khi trưởng thành. Hoocmon giai đoạn bào thai có thể là một nhân tố chính cũng như kết hợp với kiểu gen và/hoặc điều kiện môi trường và xã hội. === Thứ tự trong gia đình === Những nghiên cứu gần đây cho rằng những người nam có nhiều anh trai có khả năng là đồng tính cao hơn. Tuy nhiên điều này vô hiệu khi người đó thuận tay trái. === Nhân tố kiểu gen === Các nghiên cứu phát hiện rằng nhiều nhân tố sinh học liên quan tới hình thành thiên hướng tình dục bao gồm kiểu gen, hoocmon giai đoạn bào thai và cấu trúc não. Không có yếu tố nào là duy nhất và nghiên cứu đang tiếp tục. Những nghiên cứu trên người sinh đôi cho thấy nhân tố kiểu gen là chủ yếu nhưng cách lập luận trong những nghiên cứu đó cũng gặp khó khăn. Một nghiên cứu gần đây đã nêu lên rằng kiểu gen không phải là nhân tố chủ yếu. === Song tính luyến ái bẩm sinh === Sigmund Freud giới thiệu khái niệm song tính luyến ái bẩm sinh dựa trên công trình của Wilhelm Fliess, một cộng tác của ông. Theo giả thuyết này, tất cả mọi người đều sinh ra là song tính luyến ái nhưng trải qua quá trình tâm lý, bao gồm các nhân tố bên trong lẫn bên ngoài trở nên đơn tính luyến ái (monosexual, đồng tính hoặc dị tính) nhưng thiên hướng song tính vẫn còn tiềm ẩn. === Khả năng lựa chọn === Theo bác sĩ Angela Pattatucci, một nhà sinh học lâm sàng, "Thật sai lầm khi cho rằng thiên hướng tình dục là do lối sống – có ai muốn mình là người thuận tay trái như một cách lựa chọn lối sống? Nhưng sự sai lầm này đã được nói trên thông tin đại chúng và ngày càng phổ biến. Khi những phóng viên dùng từ lối sống, đó là sự lười suy nghĩ. Nhiều người tôn sùng từ này vì trong nhiều trường hợp, người ta cho rằng thiên hướng tình dục là sự lựa chọn của mỗi người, là phù phiếm và bất bình thường, là những gì bạn làm đi ngược với thiên hướng bên trong của bạn. Tôi rất tiếc, điều này là không đúng." Trong vụ kiện 1993 chống lại Bổ sung Colorado 2 (Colorado Amendment 2) đã vi phạm luật chống phân biệt đối xử người đồng tính, Dean Hamer nêu lên "Vì con người không thể lựa chọn giới tính, họ không thể lựa chọn cũng như thay đổi thiên hướng tình dục. Con người không thể thay đổi giới tính. Thiên hướng tình dục là bẩm sinh và không thể thay đổi". Simon LeVay bác bỏ "…áp lực của vụ kiện đã làm cho các nhân chứng trở nên cực đoan hoặc đơn giản hóa vấn đề hơn. Lập luận của Hamer đã đi xa hơn dữ kiện ở hai điểm. Thứ nhất, nó đã bác bỏ mọi khả năng lựa chọn thiên hướng tình dục nếu như kiểu gen chỉ là một trong nhiều nhân tố. Có thể xây dựng một giả thuyết rằng thiên hướng tình dục bao gồm một "kiểu gen đồng tính" và một sự mong muốn đồng tính. Thứ hai, nó đã đánh đồng kiểu gen và tính cố định, điều này phát sinh nhiều vấn đề." == Yếu tố xã hội == Bởi vì vấn đề thiên hướng tình dục là phức tạp và đa chiều, nhiều học viện và nhà nghiên cứu, đặc biệt là trong Nghiên cứu Đồng tính luyến ái (Queer studies), đã nói đây là vấn đề mang tính lịch sử và xã hội. Năm 1976, nhà sử học Michel Foucault chỉ ra rằng đồng tính luyến ái đã không tồn tại ở thế kỷ 18; sự kê gian (sodomy, tình dục giữa hai người nam) chỉ là một hành vi tình dục. Kê gian là một tội thường được bỏ qua nhưng đôi khi bị xử phạt rất nặng. Vài nhà sử học và nhà nghiên cứu nói khía cạnh tình cảm liên quan đến thiên hướng tình dục thay đổi đáng kể theo thời gian và tùy từng nền văn hóa. Chẳng hạn, ở các nước nói tiếng Anh, việc hôn người cùng phái, đặc biệt là hai người đàn ông là một dấu hiệu của đồng tính trong khi đó việc này là sự thể hiện tình bạn một cách bình thường ở các nước khác. Ngoài ra, ở nhiều nền văn hóa, mặc dù đồng tính luyến ái là điều cấm kỵ, hiện nay và trong quá khứ có những lễ cưới chính thức dành cho những cặp cùng phái. == Một số dạng khác == Monosexual (tạm dịch: đơn tính luyến ái) chỉ những người chỉ bị hấp dẫn tình dục bởi một giới tính (nam hoặc nữ). Đơn tính luyến ái có thể là đồng tính luyến ái hoặc dị tính luyến ái. Polysexual (tạm dịch: đa tính luyến ái) chỉ những người bị hấp dẫn tình dục bởi hơn một giới tính nhưng không xác định mình là song tính luyến ái bởi vì họ cho rằng giới tính không phải là dạng nhị phân. Khái niệm này khác với khái niệm pansexual. Pansexual hoặc omnisexual (tạm dịch: toàn tính luyến ái) chỉ sự hấp dẫn bởi cái đẹp, tình yêu lãng mạn hoặc ham muốn tình dục đối với ai đó mà không cần biết giới tính của họ. Vài người pansexual cho rằng họ là người mù giới tính. Giới tính là không quan trọng và không thích hợp khi xác định việc họ bị hấp dẫn tình dục bởi ai đó. Pomosexual là từ mới chỉ những người không xác định thiên hướng tình dục của mình (chẳng hạn như đồng tính hay dị tính) và không gán mình vào một loại thiên hướng tình dục nào. Khái niệm này khác với vô tính chỉ những người không bị hấp dẫn tình dục bởi bất kỳ ai. Questioning (tạm dịch: thắc mắc) chỉ người muốn xác định giới tính thật sự hoặc thiên hướng tình dục của mình. Những người này không chắc chắn về thiên hướng tình dục của mình hoặc đang khám phá cảm giác của mình. Bi-curious (tạm dịch: tò mò song tính) chỉ người không xác định mình là song tính hoặc đồng tính luyến ái nhưng cảm thấy tò mò về mối quan hệ hoặc hành vi tình dục với người cùng giới. Khái niệm này cũng chỉ người xác định mình là đồng tính nhưng cảm thấy quan tâm về mối quan hệ hoặc hành vi tình dục với người khác phái. Zoosexual (tạm dịch: dị loài luyến ái) chỉ thiên hướng tình dục hướng tới động vật không phải con người. == Xem thêm == Công khai thiên hướng tình dục Chứng ghê sợ đồng tính luyến ái Ái nam ái nữ == Chú thích ==
ipad air 2.txt
iPad Air 2 là máy tính bảng iPad thế hệ thứ 6 được Apple Inc. thiết kế, phát triển và đưa ra thị trường. Nó được công bố vào ngày 16 tháng 10 năm 2014 cùng với sản phẩm iPad Mini 3, cả hai đều được phát hành vào ngày 22 tháng 10 năm 2014. iPad Air 2 mỏng hơn và nhanh hơn so với sản phẩm tiền nhiệm của nó, iPad Air, giới thiệu tính năng mới ID Touch. iPad Air 2 có thiết kế, chiều cao và kích thước màn hình cũng tương tự như iPad Air. == Timeline == Bản mẫu:Timeline of iPad models == Tham khảo == == Liên kết ngoài == iPad Air 2 – Trang chính thức
thời kỳ đại chính.txt
Thời kỳ Taishō (大正時代, Taishō jidai, Thời kỳ Đại chính) là một thời kỳ trong lịch sử Nhật Bản từ ngày 30 tháng 7 năm 1912 đến 25 tháng 12 năm 1926, dưới sự trị vì của Nhật hoàng Taishō. Vị thế của hoàng đế mới còn yếu, đều đó thúc đẩy cho việc chuyển giao quyền lực từ nhóm chính khách thiểu số sang quốc hội Nhật Bản và các đảng dân chủ. Do đó, thời kỳ này còn được xem là khoảng thời gian của phong trào tự do như "Taishō democracy" ở Nhật Bản; nó thường được phân biệt với thời kỳ Minh Trị đầy hỗn loạn trước và thời kỳ đầu của chủ nghĩa quân sự của thời kỳ Shōwa. == Tham khảo ==
binh chủng pháo binh việt nam cộng hòa.txt
Binh chủng Pháo binh (tiếng Anh: Artillery Republic of Vietnam Armed Forces, ARVNAF) là lực lượng hỏa lực trọng yếu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tồn tại từ 1955 đến 1975. Tiền thân của lực lượng này là Binh chủng Pháo binh Quốc gia Việt Nam. Bài ca chính thức: Pháo binh hành khúc. Thánh tổ: An Dương Vương. == Lịch sử hình thành == === Giai đoạn Quốc gia Việt Nam === Pháo binh Quốc gia Việt Nam được thành hình vào đầu thập niên 1950. Thoạt đầu thành lập các Pháo đội Tác xạ biệt lập, sau đó kết hợp thành các Tiểu đoàn Pháo binh: -Pháo đội biệt lập đầu tiên thành lập tại Bắc Việt ngày 1/11/1951 -Tiểu đoàn 5 Pháo binh thành lập ngày 1/7/1952. Đơn vị này do Tiểu đoàn Pháo binh Liên hiệp Pháp số 1/41 R.A.C chuyển sang -Tiểu đoàn 3 Pháo Binh Việt Nam thành lập ngày 1/11/1952 tại Bắc Việt -Tiểu đoàn 2 Pháo Binh Việt Nam thành lập ngày 1/2/1953 tại Trung Việt -Tiểu đoàn 4 Pháo Binh Việt Nam thành lập ngày 1/1/1953 tại Cao Nguyên Trung Việt -Tiểu đoàn 1 Pháo Binh Việt Nam thành lập ngày 1/5/1953 tại Nam Việt. Mỗi Tiểu đoàn Pháo binh có quân số 410 người, trang bị 12 khẩu đại bác 105 ly, gồm có một Bộ tham mưu, một Pháo đội chỉ huy và công vụ, ba Pháo đội tác xạ. Năm 1953, Pháo binh vị trí được thành lập do quyết định của Hội đồng cao cấp Việt Pháp ngày 24 tháng 2 năm 1953. Bắt đầu từ tháng 5 năm 1953, 42 khẩu đội Pháo binh vị trí của Pháp tại các phân khu Transbassac và Mỹ Tho được chuyển giao. Lần lượt ngành Pháo binh vị trí trên toàn quốc phát triển để ứng phó với tình thế. Ngoài các khẩu đội trên, sự thành lập và chuyển giao các Pháo binh vị trí đã được diễn ra như sau: Pháo binh vị trí Đệ nhất Quân khu ngày 1/1/1954: Bộ Chỉ Huy Pháo binh vị trí miền Trung tâm (Centre Zone): -Pháo đội chỉ huy -2 Trung đội bán lưu động -14 khẩu đội (chuyển giao) Bộ Chỉ Huy Pháo binh miền Đông ngày 1/3/1954: -Pháo đội chỉ huy -5 Trung đội bán lưu động -15 Khẩu đội Pháo binh vị trí phân khu Quy Nhơn (chiếm đóng đầu năm 1954) ngày 1/4/1954: -Pháo đội chỉ huy -9 Trung đội cố định -4 Trung đội bán lưu động Pháo binh vị trí Đệ nhị Quân khu ngày 1/12/1953: Bộ chỉ huy Pháo binh vị trí Bắc Trung Việt: -Pháo đội chỉ huy miền -16 Trung đội cố định (Secions-Fixes) -2 khẩu đội 25 Pounders. Bộ Chỉ Huy Pháo binh vị trí Nam Trung Việt: -Pháo đội chỉ huy Phân khu Nha Trang. -3 Trung đội bán lưu động (Sections AP semi-mobiles) -9 Trung đội cố định -Pháo binh duyên hải (Cam Ranh) Pháo binh vị trí Đệ tam Quân khu ngày 1/12/1953: -4 khẩu đội Phân khu Nam Định Phân khu Nam Định vào tháng 3/1954, thêm 7 pháo đội vị trí được thành lập mang số từ 301 đến 307, nhưng vì thiếu súng, chỉ có 1/3 thành hình. Pháo binh vị trí Đệ Tứ quân khu ngày 1/1/1952: -5 khẩu đội Pháp chuyển giao Mỗi tổ chức Pháo binh vị trí miền thường gồm có một ban chỉ huy 17 người (1 cấp tá, 2 cấp úy, 5 hạ sĩ quan và 9 binh sĩ). Một ban chỉ huy của Pháo đội chỉ huy 19 người (1 cấp úy, 4 hạ sĩ quan và 14 binh sĩ), nhiều Trung đội bán lưu động với mỗi trung đội 36 người (1 sĩ quan, 5 hạ sĩ quan và 30 binh sĩ). Nhiều trung đội cố định với mỗi Trung đội 17 người (4 hạ sĩ quan, 13 binh sĩ). Mỗi khẩu đội cố định 7 người. Để thuận tiện cho việc nhận danh, kể từ 1/7/1954, các Pháo binh vị trí cải hiệu là: -Pháo binh vị trí Tranabassac thành Pháo binh vị trí số 151 -Pháo binh vị trí miền Trung tâm thành Pháo binh vị trí số 152 -Pháo binh vị trí miền Bắc Trung Việt thành Pháo binh vị trí số 251 -Pháo binh vị trí phân khu Quy Nhơn thành Pháo binh vị trí số 451 -Pháo binh vị trí miền Nam Trung Việt thành Pháo binh vị trí số 452 -Pháo binh vị trí phân khu Nam Định thành Pháo binh vị trí số 351 Các pháo đội chỉ huy và các trung đội cố định hay bán lưu động thuộc trong thành phần của một Pháo binh vị trí đều mang chung một danh hiệu với một vài khác biệt ở cách sắp xếp, thí dụ: -Pháo đội chỉ huy 151 (thuộc Pháo binh vị trí số 151) -Trung đội 151/1M là Trung đội 1 bán lưu động Pháo binh vị trí 151 -Trung đội 151/1F là trung đội 1 cố định Pháo binh vị trí 151 Pháo binh vị trí đã sử dụng những loại đại bác lỗi thời và hết sức phức tạp. Có cả thẩy 173 khẩu mà có tới những 5 loại như sau: -Đại bác 105 ly, HM-3: 11 khẩu -Đại bác 25 Pounder (88 ly): 122 khẩu -Đại bác 75/95: 29 khẩu -Đại bác 3"7: 7 khẩu -Đại bác 138.6mm: 4 khẩu Kể từ tháng 9/1953, tất cả các Tiểu đoàn Pháo binh hiện hữu được hệ thống hóa vào các Liên đoàn bộ binh (tổ chức mỗi Liên đoàn gồm có: một Bộ chỉ Huy, Đại đội chỉ huy công vụ, ba Tiểu đoàn bộ binh, một Tiểu đoàn pháo binh 105 ly, một pháo đội 155 ly, một phân đội truyền tin, một đơn vị công binh, ….), và vì sự xuất hiện của các Liên đoàn bộ binh mà những Tiểu đoàn được thành lập sau đó đã mang những danh hiệu theo một thứ tự khác với những Tiểu đoàn tiền lập: -Tiểu đoàn Pháo binh số 22 thành lập ngày 1/12/1953 tại Huế đặt thuộc thành phần cơ hữu của Liên đoàn bộ binh số 22 -Tiểu đoàn 33 Pháo binh thành lập ngày 1/1/1954 tại Bắc Việt đặt thuộc thành phần cơ hữu của Liên đoàn bộ binh số 33 -Tiểu đoàn 34 Pháo binh thành lập ngày 1/1/1954 tại Bắc Việt đặt thuộc thành phần cơ hữu của Liên đoàn bộ binh số 34 -Tiểu đoàn 12 thành lập ngày 15/8/1954 tại Nam Việt để dành cho Liên đoàn bộ binh số 12. Nhưng thực ra chỉ riêng có các Liên đoàn bộ binh số 11, 21, 31, 32, và 41 được thành lập, còn các Liên đoàn bộ binh số 12, 22, 33 và 34 bị cắt bỏ. Đứng trước sự kiện này, trong số 4 Tiểu đoàn tân lập chỉ có 3 Tiểu đoàn được duy trì, còn Tiểu đoàn số 33 phải giải tán ngày 1/3/1955 Khi giải tán Tiểu đoàn trên, quân đội lại phải chấp nhận thu nạp Tiểu đoàn 3 Pháo binh R.A.C.M. hoàn toàn gốc Nùng, do Quân đội Pháp chuyển giao ngày 1/4/1955, và Tiểu đoàn này được cải thành Tiểu đoàn 6 Pháo binh Việt Nam. Liên đoàn Nhảy dù cũng thành lập Đại đội súng cối 4"2, năm 1960 đổi thành Pháo đội súng cối Nhảy dù. Cũng cần kể là khi ngừng chiến, ngành Pháo binh vị trí lần lượt bị giải tán và đến tháng 3/1955 thì sự giải tán này hoàn tất. Vừa lúc này quân đội lại tiếp nhận Trung tâm Huấn luyện Pháo binh Phú Lợi chuyển giao (16/3/1955). Pháo binh Việt Nam lúc ấy gồm có 9 Tiểu đoàn và một Trung tâm huấn luyện được phân bổ vị trí như sau: -Tiểu đoàn 1 Pháo binh: Bình Thủy -Tiểu đoàn 2 Pháo binh: Đông Hà -Tiểu đoàn 3 Pháo binh: Nha Trang -Tiểu đoàn 4 Pháo binh: Pleiku -Tiểu đoàn 5 Pháo binh: Quảng Ngãi -Tiểu đoàn 6 Pháo binh: Sông Mao -Tiểu đoàn 12 Pháo binh: Dĩ An -Tiểu đoàn 22 Pháo binh: Huế -Tiểu đoàn 34 Pháo binh: Mỹ Tho. Đầu năm 1954, Pháo binh Việt Nam có quân số 4248 gồm 163 sĩ quan, 732 hạ sĩ quan và 3453 binh sĩ. Bắt đầu từ tháng 10/1954, các chức vụ Tiểu đoàn trưởng mới được giao cho sĩ quan Pháo binh Việt Nam. Kể từ 1/1/1954, trước một quân số Pháo binh càng ngày càng lớn lao cần được quản trị và huấn luyện một cách chu đáo, phái bộ thanh tra đã phải đặt riêng ra 2 phòng thuộc lĩnh vực thanh tra của họ để chuyên trách về Pháo binh Việt Nam. Hai phòng đó là: -Phòng tổ chức theo dõi những vấn đề liên quan đến tổ chức đơn vị, thực hiện quân số, vật liệu, thăng thưởng và kỷ luật. -Phòng nghiên cứu tổng quát theo dõi những vấn đề liên quan đến việc sử dụng đơn vị, huấn luyện đơn vị và cá nhân, kinh nghiệm sử dụng vật liệu và kiểm soát điều hành. Trước đà tiến triển của các đơn vị Pháo binh và cũng để cho các Tư lệnh Quân khu Việt Nam có thể sử dụng được các đơn vị này một cách dễ dàng, ngày 3/5/1954, các bộ chỉ huy Pháo binh Quân khu thành lập, nhưng vẫn do sĩ quan Pháp điều khiển vừa với tư cách cố vấn vừa là chỉ huy trưởng Pháo binh cho Quân khu liên hệ. Việc tổ chức này được áp dụng cho cả các binh chủng Thiết giáp, Công binh, và Xa binh. Nhưng chi tới cuối tháng 1/1955, tất cả các Bộ Chỉ Huy binh chủng của Quân khu này đều bị giải tán. Tiếp sau đó một cơ quan thanh tra các binh chủng tại Bộ Tổng Tham mưu được thành lập vào tháng 3/1955, trong đó có binh chủng Pháo binh. Chính cơ quan thanh tra này đã khai sinh ra bộ chỉ huy Pháo Binh cũng như Thiết giáp, Công binh và Xa binh, kể từ 1/12/1955. Chỉ huy trưởng Pháo Binh Việt Nam đầu tiên là Trung tá Bùi Hữu Nhơn đảm nhiệm chức vụ vào tháng 8/1955. Do kế hoạch quân số 150.000 người, ngành Pháo binh đang từ 9 Tiểu đoàn gia tăng thành 11 Tiểu đoàn, trong đó có một Tiểu đoàn Pháo binh 155 ly đầu tiên được thành lập. Tiểu đoàn số 34 được cải biến thành 155 ly và di chuyển khỏi miền Nam để đồn trú tại Đà Nẵng. === Giai đoạn Đệ nhất Cộng hòa === Tháng 8 năm 1955, Quân đội Việt Nam Cộng hòa có 4 Sư đoàn Dã chiến quân số 8.600 người (Sư đoàn 1, 2, 3 và 4). 6 Sư đoàn Khinh chiến quân số 5.245 người (Sư đoàn 11, 12, 14, 15, 22 và 23). Mỗi Sư đoàn Dã chiến có một Bộ chỉ huy PB và một Tiểu đoàn PB 105 ly. Đầu tháng 1 năm 1956 Pháo binh tăng thêm 2 Tiểu đoàn, Tiểu đoàn số 23, 25 thành lập liên tiếp và 3 Tiểu đoàn 155 ly với danh hiệu Tiểu đoàn 35, 36, và 37 Pháo binh. Trong lúc đó để hòa nhịp với sự cải tổ của quân đội: -Tiểu đoàn 2 Pháo binh Đông Hà đổi tên thành Tiểu đoàn 1 Pháo binh, cơ hữu Sư đoàn 1 Bộ binh -Tiểu đoàn 5 Pháo binh Quảng Ngãi thành Tiểu đoàn 2 Pháo binh, cơ hữu Sư đoàn 2 Bộ binh -Tiểu đoàn 6 Pháo binh Sông Mao thành Tiểu đoàn 3 Pháo binh, cơ hữu Sư đoàn 3 Bộ binh -Tiểu đoàn 3 Pháo binh Nha Trang thành Tiểu đoàn 4 Pháo binh, cơ hữu Sư đoàn 4 Bộ binh -Tiểu đoàn 1 Pháo binh Bình Thủy thành Tiểu đoàn 21 Pháo binh, thuộc Quân khu 1 -Tiểu đoàn 12 Pháo binh Dĩ An thành Tiểu đoàn 27 Pháo binh, thuộc Quân khu 1 -Tiểu đoàn 22 Pháo binh Huế thành Tiểu đoàn 26 Pháo binh, thuộc Quân khu 2 -Tiểu đoàn 4 Pháo binh Pleiku thành Tiểu đoàn 24 Pháo binh, thuộc Quân khu 4 -Tiểu đoàn 34 Pháo binh Mỹ Tho trang bị đại bác 155 ly và di chuyển ra Đà Nẵng. Đồng thời, Đại đội Trọng pháo của Liên đoàn Thủy Quân Lục Chiến được thành lập. Cuối năm 1958, 10 Sư đoàn kể trên cải tổ thành 7 Sư đoàn Bộ binh: (Sư đoàn 1, 2, 5, 7, 21, 22 và 23) với quân số là 10.500 cho mỗi Sư đoàn, thành phần Pháo binh cũng gia tăng, mỗi Sư đoàn có một Bộ chỉ huy, một Tiểu đoàn pháo binh 105 ly, và một Tiểu đoàn súng cối với 27 khẩu 4"2. === Giai đoạn Đệ nhị Cộng hòa === Năm 1961, Đại đội trọng pháo Thủy quân Lục chiến được biến đổi thành thành Pháo đội đại bác trang bị 8 khẩu 75 ly sơn Pháo. Cùng năm Tiểu đoàn Pháo binh Thủy quân Lục chiến thành lập với Pháo đội A, B trang bị mỗi Pháo đội 8 khẩu sơn Pháo, và Pháo đội C với 8 khẩu 105 ly. Năm 1962 tân lập 2 Bộ chỉ huy PB Sư đoàn cho SĐ 9 và SĐ 25 Bộ binh, tân lập Tiểu đoàn 9 Pháo binh, Tiểu đoàn 9 súng cối cho Sư đoàn 9 Bộ binh. Tân lập Tiểu đoàn 25 Pháo binh và Tiểu đoàn 25 súng cối cho Sư đoàn 25 Bộ binh. Bộ chỉ huy PB Sư đoàn 9 và 2 Tiểu đoàn di chuyển vào Sa Đéc thuộc Quân khu 4. Bộ chỉ huy PB Sư đoàn 25 di chuyển về Hậu Nghĩa thuộc Quân khu 3. Năm 1964 các Tiểu đoàn súng cối được biến cải và được trang bị đại bác 105 ly. Như vậy mỗi Tiểu đoàn Pháo binh được trang bị với 18 đại bác 105 ly. Danh hiệu cũng thay đổi, thí dụ PB Sư đoàn 1 có Bộ chỉ huy PB Sư đoàn, Tiểu đoàn 11 và Tiểu đoàn 12 Pháo binh. Tháng 8 năm 1965 thành lập thêm Sư đoàn 10 (Sư đoàn 18 bộ binh). Pháo binh thành lập thêm một PB Sư đoàn và 2 Tiểu đoàn PB 105 ly. Tháng 12 năm 1965 thành lập Tiểu đoàn Pháo Binh Nhảy Dù. Giữa năm 1968 Pháo binh Thủy quân Lục chiến thay các đại bác sơn pháo 75 thành đại bác 105 ly. Tháng 8 năm 1968 thành lập Bộ chỉ huy PB Sư đoàn Dù, tân lập Tiểu đoàn 2 Pháo binh Nhảy Dù, đồng thời đổi tên Tiểu đoàn Pháo binh Nhảy Dù thành Tiểu đoàn 1 Pháo binh ND. Tháng 10 năm 1968 Tiểu đoàn 3 Pháo binh Nhảy Dù thành lập. Sau Tết Mậu thân, Pháo Binh Sư đoàn được tăng thêm đơn vị và số lượng pháo như sau: Bộ chỉ huy PB Sư đoàn, một Tiểu đoàn 155 ly, ba Tiểu đoàn 105 ly, mỗi Tiểu đoàn đều trang bị 18 đại bác. Danh hiệu như sau, Thí dụ PB Sư đoàn 18: Tiểu đoàn 180 Pháo binh (155 ly), Tiểu đoàn 181 Pháo binh (105 ly), Tiểu đoàn 182 Pháo binh (105 ly), và Tiểu đoàn 183 Pháo binh (105 ly). Theo đó, các Tiểu đoàn PB được đổi tên khi sát nhập vào các Sư đoàn Bộ binh: -Tiểu đoàn 34 Pháo binh sát nhập SD1BB đổi tên thành Tiểu đoàn 10 Pháo Binh (155 ly) -Tân lập Tiểu đoàn 155 ly cho SD2BB với danh hiệu Tiểu đoàn 20 Pháo Binh -Tiểu đoàn 35 Pháo binh sát nhập Sư đoàn 5 đổi tên thành Tiểu đoàn 50 Pháo Binh (155 ly) -Tiểu đoàn 32 Pháo binh sát nhập Sư đoàn 18 đổi tên thành Tiểu đoàn 180 Pháo Binh (155 ly) -Tiểu đoàn 38 Pháo binh sát nhập Sư đoàn 25 đổi tên thành Tiểu đoàn 250 Pháo Binh (155 ly) -Tiểu đoàn 45 Pháo binh sát nhập Sư đoàn 22 đổi tên thành Tiểu đoàn 220 Pháo Binh (155 ly) -Tiểu đoàn 39 Pháo binh sát nhập SD23BB đổi tên thành Tiểu đoàn 230 Pháo Binh (155 ly) -Tiểu đoàn 33 Pháo binh sát nhập Sư đoàn 7 đổi tên thành Tiểu đoàn 70 Pháo Binh (155 ly) -Tiểu đoàn 34 Pháo binh sát nhập Sư đoàn 9 đổi tên thành Tiểu đoàn 90 Pháo Binh (155 ly) -Tiểu đoàn 36 Pháo binh sát nhập Sư đoàn 21 đổi tên thành Tiểu đoàn 210 Pháo Binh (155 ly) Đầu năm 1969 Tiểu đoàn 2 PB Thủy quân Lục chiến thành lập. Năm 1971 Pháo binh thành lập 5 Tiểu đoàn Pháo binh 175 cơ động, 3 cho Quân đoàn I, 1 cho Quân đoàn II và 1 cho Quân đoàn III. Pháo binh Phòng không có 4 Tiểu đoàn. Cuối năm 1971, Pháo binh Tiểu khu được thành lập, phần lớn cố định tại các vị trí cạnh quận lỵ để yểm trợ lãnh thổ hay di chuyển yểm trợ các cuộc hành quân ngắn hạn của các Tiểu khu. Mỗi Tiểu Khu có một Ban Pháo binh, phối hợp hỏa lực yểm trợ cho Tiểu khu. Số lượng đại bác tùy thuộc nhiệm vụ và lãnh thổ của Tiểu Khu. Tổng số tất cả pháo binh Tiểu khu là 176 Trung đội. Đồng thời cuối 1971 Sư đoàn 3 Bộ binh được thành lập, Pháo binh lại thành lập Bộ chỉ huy PB Sư đoàn: -Tiểu đoàn 48 Pháo binh sát nhập SD3BB đổi tên thành Tiểu đoàn 30 Pháo Binh (155 ly) -Tiểu đoàn 62 Pháo binh sát nhập Sư đoàn 3 đổi tên thành Tiểu đoàn 31 Pháo Binh -Tiểu đoàn 64 Pháo binh sát nhập Sư đoàn 3 đổi tên thành Tiểu đoàn 32 Pháo Binh -Tân lập Tiểu đoàn 105 ly mang danh hiệu Tiểu đoàn 33 Pháo binh. Vì nhu cầu hành quân, Pháo binh Sư đoàn 3 vừa tổ chức, vừa huấn luyện, và vừa yểm trợ hành quân. Riêng Tiểu đoàn 33 chưa thụ huấn xong Giai Đoạn 3 Huấn luyện đơn vị đã phải sử dụng hành quân. Tính đến tháng 4/1975 Pháo binh Quân Lực Việt Nam Cộng hòa có: -Bộ chỉ huy PB Trung ương tại Sài Gòn -Trường Pháo binh tại Dục Mỹ Ninh Hòa -Bốn Bộ chỉ huy PB Quân đoàn tại Đà Nẵng, Pleiku, Biên Hòa, và Cần Thơ -Mười một Bộ chỉ huy PB Sư đoàn tại Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, An Sơn (Bình Định), Ban Mê Thuột, Long Khánh, Lai Khê, Củ Chi, Mỹ Tho, Sa Déc, Sóc Trăng -Hai Bộ chỉ huy PB của 2 Sư đoàn Tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến (Bộ chỉ huy PB Biệt động quân được thành lập năm 1974 tại Sài Gòn) Hậu cứ của PB Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến tại Sài Gòn. Mỗi Pháo Binh Sư đoàn có một Tiểu đoàn PB 155 ly, 3 tiểu đoàn PB 105 ly. Các PB Sư đoàn Nhảy dù và Thủy Quân Lục Chiến không có 155 ly. 176 Trung đội Pháo binh Lãnh thổ (352 khẩu đại bác, tương đương với 20 Tiểu đoàn Pháo binh). Thuộc dụng các Quân đoàn gồm có: -Năm Tiểu đoàn 105 ly (Tiểu đoàn 63 và 69 Quân đoàn II, Tiểu đoàn 61 Quân đoàn III, Tiểu đoàn 67 và 68 Quân đoàn IV) -Bốn Tiểu đoàn 155 ly (Tiểu đoàn 44 Quân đoàn I, Tiểu đoàn 37 Quân đoàn II, Tiểu đoàn 46 Quân đoàn III, Tiểu đoàn 47 Quân đoàn IV) -Năm Tiểu đoàn Pháo binh cơ động 175 ly (Tiểu đoàn 101, 102 và 105 Quân đoàn I, Tiểu đoàn 103 Quân đoàn II và Tiểu đoàn 104 Quân đoàn III) -Bốn Tiểu đoàn Pháo binh phòng không (Tiểu đoàn 1 và 3 Quân đoàn I, Tiểu đoàn 4 Quân đoàn II và Tiểu đoàn 2 Quân đoàn III). == Bộ chỉ huy Pháo binh TW và Chỉ huy Trường Pháo binh/1975 == == Chỉ huy Pháo binh Quân khu 1 và các Tiểu khu trực thuộc/1975 == == Chỉ huy Pháo binh Quân khu 2 và các Tiểu khu trực thuộc/1975 == == Chỉ huy Pháo binh Quân khu 3 và các Tiểu khu trực thuộc/1975 == == Chỉ huy Pháo binh Quân khu 4 và các Tiểu khu trực thuộc/1975 == == Chỉ huy Pháo binh các đơn vị Tổng trừ bị/1975 == == Chỉ huy trưởng Pháo binh TW qua các thời kỳ == == Chủ thích == == Tham khảo == Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa. == Xem thêm == Quân lực Việt Nam Cộng hòa == Liên kết == Binh chủng Pháo binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa Pháo thủ Thủy quân lục chiến họp mặt 2006 Binh chủng Pháo binh Việt Nam Cộng hòa vùng Nam Cali mừng Xuân Quý Tỵ
v.txt
V, v là chữ thứ 22 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 27 trong chữ cái tiếng Việt. Tên của chữ này trong tiếng Việt được phát âm như "vê". == Lịch sử == V bắt nguồn từ chữ Semit wāw, giống các chữ hiện đại F, U, W, và Y. Xem F để biết thêm về nguồn gốc này. Trong tiếng Hy Lạp, chữ "upsilon" (Υ) được phỏng theo waw mới đầu để tiêu biểu cho nguyên âm /u/ giống trong "phun" và về sau để tiêu biểu cho /y/, một nguyên âm làm tròn giống chữ ü trong tiếng Đức. Latinh mượn chữ này mới đầu theo dạng V để tiêu biểu cùng nguyên âm /u/, cũng như phụ âm /w/ (trong lịch sử, âm Latinh /w/ bắt nguồn từ âm /*gʷ/ trong ngôn ngữ tiền Ấn-Âu. Vì thế, num được phát âm giống trong tiếng Việt và via được phát âm như "uy-a." Từ thế kỷ 5 về sau, tùy loại Latinh bình dân, phụ âm /w/ phát triển thành /v/ hay /b/. Vào cuối thời Trung Cổ, hai loại "v" được phát triển, ứng với hai chữ hiện đại u và v. Dạng nhọn "v" được viết vào đầu từ, trong khi dạng tròn "u" được sử dụng vào giữa hay vào cuối từ, bất chấp âm, nên trong khi valor (tiếng Anh của "dũng cảm") và excuse ("lý do bào chữa") được viết như ngày nay, have ("có") và upon ("ở trên") được viết haue và vpon. Từ từ, vào thập niên 1700, để phân biệt giữa phụ âm và nguyên âm, dạng "v" được sử dụng cho phụ âm, và "u" cho nguyên âm, dẫn đến chữ hiện đại "u". Chữ hoa "U" cũng xuất hiện vào lúc này; trước đó, V được sử dụng trong các trường hợp. Trong IPA, /v/ tiêu biểu cho âm sát môi răng hữu thanh. == Tham khảo ==
cj group.txt
CJ Group (Hangul: CJ 그룹) là một tập đoàn của Hàn Quốc có trụ sở tại Seoul. Nó hoạt động trong nhiều ngành nghề: thực phẩm và dịch vụ đồ ăn, dược phẩm và công nghệ sinh học, giải trí và truyền thông, mua sắm tại nhà và hậu cần,... CJ Group ban đầu là một chi nhánh của Samsung cho đến khi nó tách ra trong những năm 1990. Các công ty con của CJ đáng chú ý gồm Mnet Media (âm nhạc), CJ Entertainment (nhà phân phối và sản xuất phim lớn nhất nước) và CJ CGV (chuỗi rạp hát lớn nhất nước). == Mua lại == 1962 Wonhyeong Industrial CO. 1968 Mipung Industrial CO. 1971 Dongyang Jedang 1975 Yongin hog farm 1985 Dongryp Industrial Corp. 1997 m.net, Cheil Investment & Securities 2000 39 Shopping 2004 CJ Consortium, Shin Dong Bang Corp., CJ Internet, Planers>(now CJ Internet), Hanil Pharmaceuticals Ind., công ty thực phẩm tại Thổ Nhĩ Kỳ 2006 Accord Express(Công ty dịch vụ tại Singaporian) 2007 Pioneer Trading, Inc.(now CJ Omnifood), một công ty sản xuất thực phẩm ở Mỹ 2009 Onmedia 2011 Korea Express == Công ty con == === Thực phẩm và dịch vụ === CJ Cheil Jedang's Food Division CJ Foodville VIPS Cold stone Tous Les Jours CJ Freshway CJ MD1 CJ N City Da Jung Co === Mua bán tại nhà và dịch vụ === CJ O Shopping - trước là CJ Home Shopping CJ Telenix CJ Olive Young CJ Korea Express - mua lại từ Kumho Asiana Group năm 2012, sáp nhập cùng CJ GLS năm 2013 CJ KIFT - mua lại từ Kumho Asiana Group năm 2012 === Giải trí, truyền thông === CJ E&M (trước là O Media Holdings) CJ E&M Music and Live (trước là Mediopia và Mnet Media) - phân phối nhãn, âm nhạc Core Contents Media FNC Entertainment Good Entertainment CJ Entertainment - nhà tài trợ, sản xuất và phân phối CJ E&M Media - sở hữu nhiều kênh truyền hình On-Media - mua lại từ Orion Group năm 2010 Mnet Channel - kênh âm nhạc giải trí, mua lại vào năm 1997 tvN - kênh giải trí tổng hợp Onstyle - kênh thời trang Olive - kênh thực phẩm OCN - kênh phim truyện số 1 Hàn Quốc, mua lại từ Daewoo năm 1999 XTM - kênh đời sống nam giới National Geographic Channel insiteTV - kênh trực tuyến Chunghwa TV - kênh Trung Quốc CJ E&M Games CJ E&M SmartMedia CJ CGV - chuỗi rạp chiếu phim CJ HelloVision - trước là CJ CableNet CJ Powercast === Công nghệ sinh học & dược phẩm === CJ Cheil Jedang's Biotechnology & Pharmaceutics Division Da Jung Co.ltd - Korea Ginseng Story (KGS) === Cơ sở hạ tầng === CJ Systems CJ Engineering & Construction === Công ty con trước đây === CJ Cheil Jedang's Beverage Division - được mua bởi Lotte Group năm 2001 CJ Investment & Securities - được mua bởi Hyundai Heavy Industries Group năm 2008, bây giờ là HI Investment & Securities. CJ Asset Management - được mua bởi Hyundai Heavy Industries Group năm 2008, bây giờ là HI Asset Management ChampVision also known as Champ TV - được mua bởi Taekwang + Heungkuk Finance Groups năm 2011 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == CJ Group website (tiếng Hàn) English CJ Group website
koi.txt
Cá chép Koi (Nhật: 鯉 (Lý)/ こい, Koi, "Cá chép") hay cụ thể hơn Cá chép Nishikigoi (Nhật: 錦鯉 (Cẩm Lý)/ にしきこい, Nishikikoi, "Cá chép thổ cẩm") là một loại cá chép thường (Cyprinus carpio) đã được thuần hóa, lai tạo để nuôi làm cảnh trong những hồ nhỏ, được nuôi phổ biến tại Nhật Bản. Chúng có quan hệ họ hàng gần với cá vàng và, trên thực tế, kiểu cách nhân giống và nuôi cảnh là khá giống với cách nuôi cá vàng, có lẽ là do các cố gắng của những người nhân giống Nhật Bản trong việc ganh đua với cá vàng. Cá chép Koi và các hình xăm trên cá được người Nhật coi là điềm may mắn. == Xuất xứ == Đầu thế kỷ 20, năm 1914, để tôn vinh hoàng tử Hirohito, Nhật Bản đã cho triển lãm giống cá chép Koi đầu tiên tại Tokyo và đảo Niigata chính thức được mang tên Niigata Koi. Từ đây, cá chép Nhật với 2 màu chủ đạo "đỏ và trắng" được tôn vinh và mua bán rộng rãi. Để nghiên cứu thêm về cách lai tạo màu, sinh sản, nhân giống và nuôi dưỡng v.v. từ năm 1950, Nhật Bản đã cử các chuyên gia đến học hỏi tại Trung tâm Khoa học Kỹ thuật thuộc khoa Sinh vật trường Đại học Chicago và khoa Hóa lý thuộc Viện nghiên cứu Illinois, Hoa Kỳ. Cá chép do người Nhật lai tạo đẹp về màu sắc và đắt giá. Do vậy, mỗi khi nhắc đến loài cá chép được lai tạo có nhiều màu sắc đẹp, người ta liên tưởng ngay đến người Nhật và thường được dùng chung một tên gọi là "cá chép Nhật". Thực ra, cá chép do Nhật Bản lai tạo có tên gọi là Nishikigoi, dịch ra tiếng Việt là cá chép nhiều màu sắc, đến thế kỷ 19 thì có thêm tên gọi KOI. Từ Koi theo tiếng Nhật là cá chép, từ đồng âm khác nghĩa là tình yêu, yêu mến. Do cá Koi của Nhật thuộc loại xuất sắc, đắt giá và nổi tiếng, nên người Nhật đã tự đặt ra những quy cách về gam màu, tên gọi để phân biệt từng chủng loại. == Chủng loại == Cá Koi được chia ra làm 2 loại: Koi chuẩn và Koi bướm. Koi chuẩn: Hình dáng giống như cá nguyên thủy, nhưng được pha trộn nhiều màu sắc rất đẹp (khi được nhìn từ trên xuống, dọc theo sống lưng), do đó cá Koi chỉ thật sự đẹp khi được nuôi ở ao. Koi bướm: Khác với cá nguyên thủy là vi, vây và đuôi dài, khi bơi nhìn uyển chuyển rất đẹp, nên có thể nuôi được ở cả ao và hồ kiếng. Koi bướm còn có những tên gọi khác như "cá chép vây dài" hoặc "cá chép Rồng". Từ năm 1980 Nhật Bản mới bất đầu nhân giống loại Koi bướm. == Màu sắc == Người Nhật tin rằng những mảng màu trên mình cá chép Koi là những hình xâm luôn luôn mang lại sự may mắn. Tiêu chuẩn về màu được người Nhật đặt tên như sau: Trắng pha Đỏ = Kohaku. Trắng pha Đỏ+Đen = Showa Sanke. Trắng pha Đen = Utsurimono. Đen pha Trắng = Shiro Bekko. Vàng pha Đen = Ki Utsuri. Bạch kim hoặc Vàng kim = Kinginrin. Xám bạc = Asagi Trắng, trên đỉnh đầu có một vòng tròn Đỏ = Tancho. và những giống khác như: Sanke, Ogon, Shusui, Matsuba, Chagoi, Soragoi, Karasu (crow), Taisho Sanke, Koromo, Kawarimono. Hiện nay, không riêng gì Nhật Bản mà các nước châu Âu, châu Á cũng biết cách lai tạo giống Koi, nhưng các mảng màu và màu sắc thì khó sánh được với Koi của Nhật. == Phân biệt == Cá chép Koi Trung Quốc và Việt Nam là giống với chép nguyên thủy và Koi Nhật, Koi Pháp có hông ngắn (nhìn ngang) đầu hơi gù…và điều đặc biệt là chỉ Koi Nhật là có màu đỏ chót như đỏ máu và đỏ ớt còn tất cả các loại Koi khác chỉ có màu đỏ cam hay cam. Màu sắc của Koi Nhật rất rực rỡ và có đường biên sắc nét, các mảng màu lớn và đều ở hai bên hông (khi nhìn từ trên xuống, dọc theo sống lưng). Riêng loại Butterfly Koi của Nhật thì vi, vây và đuôi rất dài (có khi bằng 2/3 thân) và màu thì phủ kín đuôi… Việt Nam cũng có giống Butterfly Koi màu trăng sữa, đuôi dài vừa phải, dọc trên sống lưng hàng vảy có pha chút màu đen. Khác với cá Nhật, toàn thân trắng sữa, đuôi dài hơn và đặc biệt là có một hình tròn đỏ chót ngay giữa đỉnh đầu, tượng trưng cho quốc kỳ của Nhật, giá cá này rất cao; Thời gian gần đây xuất hiện giống Koi có màu óng ánh như kim tuyến, nhưng chỉ có trên 2 màu là trắng và vàng mà người Nhật gọi là Kinginrin. == Kích thước == Trước đây, cá chép Koi được xác nhận là chiều dài có thể tới 2 m (6 ft) và chúng có thể sống tới 230 năm, rồi suy giảm dần xuống theo các thế hệ. Người ta cho rằng, phần lớn cá Koi hiện nay, có thể dài tới 1 m (3 ft) và tuổi thọ từ 40 đến 60 năm tuổi. Nếu cá Koi được nuôi ở ao thì đến năm thứ 8 có thể chiều dài tối đa của cá đạt đến 1 mét. Hình dưới đây là kích thước tính bằng cm theo tháng tuổi của cá. == Cách chọn == Trước hết, phải xác định là nuôi cá ở hồ kiếng hay hồ xi măng. Nếu là hồ kiếng thì nên chọn giống cá Butterfly Koi (chép đuôi dài) vì chúng đẹp ở dáng thướt tha. Chọn cá nhỏ hoặc lớn đều được, khoảng từ 5 cm đến 40 cm tùy từng hồ, vì nuôi hồ kiếng cá bột lớn rất nhanh, nhưng khi phát triển đến 20 cm thì khựng lại và chậm lớn… Nếu nuôi hồ xi măng (hồ ít nhất là 6 m3) nên có hòn non bộ, một vài cây sen và súng vừa trang trí cho đẹp vừa tạo bóng mát cho cá cũng nên có vòi phun hoặc thác nước cho hòn non bộ, chủ yếu là để tạo ôxy cho cá. Để nuôi hồ xi măng nên chọn cá đã phát triển từ 20 cm trở lên, vì hồ xi măng sẽ có rất nhiều vi sinh vật vừa có lợi vừa có hại cho cá, cá nhỏ sẽ khó chống chọi lại được, cũng như sự phát triển của cá ở hồ xi măng sẽ đạt tối đa. Theo kinh nghiệm, cá bột tỉ lệ sống là 50 %, trong khi cá trên 20 cm tỉ lệ sống từ 90 đến 99 %. Vì cá nuôi trong hồ xi măng, cho nên cần chọn loại cá Standard Koi (giống cá đuôi ngắn) vì sức khỏe và đề kháng gần gấp đôi loại Butterfly. Do chỉ nhìn từ phía trên, nên màu cá là quan trọng nhất. Nên chọn cá có những mảng màu lớn và cân đối đều 2 bên, luôn có màu chủ đạo là trắng và đỏ. Một điểm đáng chú ý nữa và cũng rất quan trọng khi chọn cá Koi là hình dáng của chúng. Nên xem xét kỹ, dáng bơi phải thẳng và uyển chuyển, không có dị tật như: phần cuối thân bị cong lên, hở mang, râu không đều (do bị cụt, mọc lại không được như cũ) và dị tật xấu nhất của cá chép là "méo miệng". Tỷ lệ méo miệng khoảng 5 %. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Koi tại Wikimedia Commons
netflix.txt
Netflix Inc. là dịch vụ truyền dữ liệu video theo yêu cầu trên toàn cầu, thuê DVD trả phí tại Hoa Kỳ, nơi DVD và đĩa Blu-ray được gửi thông qua thư điện tử bởi Permit Reply Mail. Công ty thành lập vào năm 1997 và có trụ sở tại Los Gatos, California. Công ty bắt đầu dịch vụ đăng ký trả phí từ năm 1999. Tính đến năm 2009, Netflix sở hữu tập hợp 100.000 tựa đề DVD và hơn 10 triệu lượt người đăng ký. Vào ngày 25 tháng 2 năm 2007, Netflix phân phối chiếc DVD thứ 1 tỷ. Tính đến giữa tháng 10 năm 2015, Netflix báo cáo có hơn 69.17 triệu lượt người đăng ký trên toàn cầu, bao gồm 43 triệu người tại Hoa Kỳ. Công ty lần đầu đưa ra dịch vụ truyền dữ liệu tại thị trường quốc tế vào năm 2010 và tiếp tục mở rộng sang 130 lãnh thổ mới vào tháng 1 năm 2016, trong đó có Việt Nam. == Xem thêm == Truyền dữ liệu Truyền hình kỹ thuật số == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
19 tháng 11.txt
Ngày 19 tháng 11 là ngày thứ 323 (324 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 42 ngày trong năm. == Sự kiện == 461 – Nguyên lão Libius Severus trở thành hoàng đế của Đế quốc Tây La Mã, song quyền lực thực tế nằm trong tay Thống lĩnh Ricimer. 461 – Thánh Hilarius được trở thành Giáo hoàng. 537 – Quân Đông Ngụy dưới quyền Cao Hoan giao tranh với quân Tây Ngụy dưới quyền Vũ Văn Thái trong trận Sa Uyển. 1493 – Cristoforo Colombo đổ bộ lên hòn đảo mà ông trông thấy vào ngày hôm trước, và đặt tên đảo là San Juan Bautista (Thánh Gioan Tẩy Giả), ngày nay là Puerto Rico. Ông là người Âu Châu đầu tiên đến đảo. 1863 – Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln đọc bài Diễn văn Gettysburg trong lễ thánh hiến nghĩa địa quân đội tại Gettysburg, Pennsylvania. 1881 – Một vẫn thạch rơi xuống đất gần làng Großliebenthal, về phía tây nam của Odessa (Ukraina). 1942 – Đệ Nhị Thế Chiến: Hồng quân Liên Xô dưới quyền lãnh đạo của Georgy Zhukov bắt đầu tiến hành Chiến dịch Sao Thiên Vương chống lại các lực lượng phe Trục tại Stalingrad và các vùng phụ cận. 1967 – Đài truyền hình TVB chính thức phát sóng tại Hồng Kông, hiện là đài truyền hình vô tuyến hàng đầu tại lãnh thổ này. 1969 – Cầu thủ bóng đá người Brasil Pelé ghi bàn thắng thứ 1000 của mình khi thi đấu cho Santos trong trận đấu với Vasco da Gama tại Rio de Janeiro. 1997 – Ngày đầu Internet tại Việt Nam được hòa vào mạng Internet toàn cầu. == Sinh == 1168 – Tống Ninh Tông Triệu Khoách, hoàng đế Nam Tống (mất 1224) 1600 – Charles I của Anh (mất 1649) 1711 – Mikhail Vasilyevich Lomonosov, nhà khoa học và học giả người Nga (mất 1765) 1786 – Carl Maria von Weber, nhà soạn nhạc người Đức (mất 1826) 1805 – Ferdinand de Lesseps, nhà ngoại giao và công trình sư người Pháp, phát triển Kênh đào Suez (mất 1894) 1828 – Nữ chúa Lakshmibai, nữ vương Ấn Độ (mất 1858) 1831 – James A. Garfield, chính trị gia Hoa Kỳ, Tổng thống thứ 20 của Hoa Kỳ (mất 1881) 1875 – Mikhail Kalinin, chính trị gia Liên Xô (mất 1946) 1887 – James Batcheller Sumner, nhà hóa học người Mỹ, được nhận Giải Nobel hóa học (mất 1955) 1909 – Peter Drucker, nhà lý luận người Mỹ (mất 2005) 1915 – Earl Wilbur Sutherland Jr., nhà sinh lý học người Mỹ, được nhận Giải Nobel (mất 1974) 1917 – Indira Gandhi, chính trị gia Ấn Độ, Thủ tướng thứ ba của Ấn Độ (mất 1984) 1934 – Valentin Kozmich Ivanov, cầu thủ bóng đá người Nga thi đấu trong đội tuyển Liên Xô (mất 2011) 1936 – Lý Viễn Triết, nhà hóa học người Mỹ gốc Đài Loan, được nhận giải Nobel hóa học 1961 – Meg Ryan, diễn viên và nhà sản xuất người Mỹ 1962 – Jodie Foster, diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất người Mỹ 1962 – Sean Parnell, chính trị gia người Mỹ, Thống đốc thứ 12 của Alaska 1963 – Mariléia dos Santos, cầu thủ bóng đá Brasil 1964 – Petr Nečas, chính trị gia người Séc, Thủ tướng thứ 9 của Cộng hòa Séc 1965 – Laurent Blanc, cầu thủ bóng đá người Pháp 1973 – Ryukishi07, tác giả người Nhật 1975 – Sushmita Sen, người mẫu và diễn viên Ấn Độ, đăng quang Hoa hậu Hoàn vũ 1994 1985 – Chris Eagles, cầu thủ bóng đá người Anh 1989 – Tyga, người đọc rap người Mỹ 1993 – Suso, cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha 1994 – Ibrahima M'baye, cầu thủ bóng đá người Senegal == Mất == 1665 – Nicolas Poussin, họa sĩ người Pháp (sinh 1594) 1828 – Franz Schubert, nhà soạn nhạc người Áo (sinh 1797) 1931 – Từ Chí Ma, nhà thơ Trung Hoa (sinh 1897) 1970 – Andrey Ivanovich Yeryomenko, Nguyên soái Liên Xô (sinh 1892) 1990 – Tôn Lập Nhân, Tổng tư lệnh Lục quân Trung Hoa Dân Quốc (sinh 1900) 1993 – Leonid Iovich Gaidai, đạo diễn hài kịch Liên Xô (sinh 1923) 2004 – John Robert Vane, nhà dược lý học Anh Quốc, đoạt giải Nobel (sinh 1927) 2005 – Erik Balling, đạo diễn người Đan Mạch (sinh 1924) == Những ngày lễ == Thế giới - Ngày lễ vệ sinh thế giới Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất - Ngày hành hương Trinidad và Tobago - Ngày quốc tế Đàn ông India - Ngày quốc tế Đàn ông == Tham khảo ==
17 tháng 5.txt
Ngày 17 tháng 5 là ngày thứ 137 (138 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 228 ngày trong năm. == Sự kiện == 528 – Thảm sát Hà Âm: Sau khi chiếm Lạc Dương, Nhĩ Chu Vinh hạ lệnh sát hại Hồ thái hậu, hoàng đế Nguyên Chiêu và hàng nghìn quan lại của Bắc Ngụy. 1742 – Chiến tranh Silesia lần thứ nhất: Nhà vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế đánh tan tác quân Áo trong trận đánh tại Chotusitz. 1792 – Sàn giao dịch chứng khoán New York chính thức thành lập. 1869 – Chiến tranh Boshin: Quân triều đình đánh bại dư đảng của Mạc phủ Tokugawa trong trận Hakodate tại Hokkaido. 1900 – Chiến tranh Boer lần thứ nhì: Quân Anh Quốc giải vây tại Mafeking. 1940 – Đệ Nhị Thế Chiến: Đức chiếm đóng Bruxelles, Bỉ. 1997 – Thủ lĩnh Laurent-Desire Kabila xưng là tổng thống, đình chỉ Hiến pháp, đổi quốc hiệu từ Zaire sang Cộng hòa Dân chủ Congo, tiến vào thủ đô Kinshasa. 2004 – Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy có hiệu lực sau khi được 151 bên phê chuẩn. 2006 – Tàu sân bay USS Oriskany của Hoa Kỳ bị đánh chìm tại vịnh Mexico để làm một ám tiêu nhân tạo. 2014 – Một máy bay An-74 của Quân đội Lào gặp nạn tại tỉnh Xiengkhuang, khiến 17 người thiệt mạng, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng An ninh Lào. == Sinh == 1873 - Henri Barbusse, nhà vǎn Pháp. == Mất == 1916 - Thái Phiên, một trong những người đầu tiên theo Tây học tham gia phong trào chống thực dân Pháp ở miền Trung 1938 - Tào Côn, nhân vật quân sự và chính trị người Trung Quốc, tổng thống của Trung Quốc (s. 1862) 2007 - Phạm Khắc, nhà quay phim, nhà nhiếp ảnh Việt Nam (s. 1939) 2010 - Hữu Lộc, nghệ sĩ hài, doanh nhân người Việt Nam, == Ngày lễ và kỷ niệm == Ngày Hiến pháp (Nauru và Na Uy) Ngày Giải phóng (CHDC Congo) Ngày Thông tin Xã hội Quốc tế (World Information Society Day) Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người đồng tính, song tính và chuyển giới (Tiếng Anh: International Day Against Homophobia and Transphobia, viết tắt: IDAHO) == Tham khảo ==
tiếng caroline.txt
Tiếng Caroline islà một ngôn ngữ Nam Đảo được nói tại Quần đảo Bắc Mariana, nơi nó là một trong các ngôn ngữ chính thức cùng với tiếng Anh và tiếng Chamorro. Ngôn ngữ này chủ yếu được nói bởi người Caroline, tiếng Caroline có quan hệ gần gúi nhất với tiếng Satawal, tiếng Woleiai, và tiếng Puluwat. Tiếng Carolinian tương đồng đến 95% về từ vựng với tiếng Satawal, 88% với tiếng Woleai và Puluwat; 81% với tiếng Mortlock; 78% với tiếng Chuuk, 74% với tiếng Ulithian. Một điều tra năm 1990 ước tính số người sử dụng là 3.000. Tiếng Caroline còn được những người sử dụng bản địa biết đến với cái tên Refaluwasch. Bảng chữ cái tiếng Caroline gồm 31 chữ cái. == Tham khảo == “Ethnologue report for language code:cal”. Ethnologue: Languages of the World. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2005. “Joshua Project Carolinian of Northern Mariana Islands Ethnic People Prolife”. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2008. Bản mẫu:Au-lang-stub
thanh thiếu niên.txt
Thanh thiếu niên hay còn gọi là Teen, xì-tin, tuổi ô mai là một giai đoạn chuyển tiếp thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành. Sự chuyển tiếp này liên quan tới những thay đổi về sinh học (ví dụ dậy thì), xã hội và tâm lý, dù những thay đổi về sinh học và tâm lý là dễ nhận thấy nhất. Về lịch sử, tuổi dậy thì thường gắn liền với tuổi teen (13-19) và sự bắt đầu của sự phát triển tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự bắt đầu giai đoạn dậy thì đã có một sự gia tăng trong thiếu niên (đặc biệt là nữ, như được thấy với dậy thì sớm); thỉnh thoảng tuổi thiếu niên được kéo dài tới sau cả tuổi teen (đặc biệt ở nam). Những thay đổi này đã khiến việc định nghĩa một cách chắc chắn khung thời gian của tuổi thiếu niên trở nên khó khăn. Sự kết thúc của tuổi thiếu niên và sự khởi đầu của tuổi trưởng thành khác biệt theo từng quốc gia và bởi chức năng, và hơn nữa thậm chí bên trong một quốc gia hay nền văn hoá cũng có những độ tuổi khác nhau để một cá nhân được coi là (theo tuổi tác và pháp lý) đủ lớn để được xã hội tin tưởng giao phó một số trách nhiệm. Những cột mốc đó gồm, nhưng không hạn chế bởi, lái xe, có quan hệ tình dục hợp pháp, thực hiện nghĩa vụ quân sự hay tham gia một bồi thẩm đoàn, mua và uống rượu, bỏ phiếu, tham gia hợp đồng, cạnh tranh một số cấp giáo dục, và kết hôn. Tuổi thiếu niên thường đi kèm với sự gia tăng mức độ độc lập được phép từ phía cha mẹ hay người giám hộ và giảm bớt sự giám sát, trái ngược với giai đoạn thiếu niên (tiền thiếu niên). == Dậy thì == Dậy thì là một giai đoạn kéo dài nhiều năm trong đó xảy ra những sự thay đổi lớn về tăng trưởng thể chất và tâm lý, lên tới đỉnh điểm là sự trưởng thành tình dục. Tuổi bắt đầu trung bình của tình trạng dậy thì là 10 tuổi với các bé gái và 12 với các cậu bé. Biểu thời gian cá nhân cho độ tuổi dậy thì của từng người bị ảnh hưởng chủ yếu bởi tính di truyền, dù các yếu tố môi trường, cũng có một số ảnh hưởng. Các yếu tố này có thể dẫn tới sự dậy thì muộn. Dậy thì bắt đầu với một sự tăng vọt trong lượng sản xuất hormone, và tới lượt nó, lại gây ra một số thay đổi thể chất. Nó cũng là giai đoạn trong cuộc sống khi một đứa trẻ phát triển các đặc điểm giới tính thứ hai (ví dụ, một giọng trầm hơn và một yết hầu lộ ở các cậu bé, và sự phát triển vú và hông nở và rõ hơn ở các cô bé) khi sự cân bằng hormone của cô bé hay cậu bé đó bị thay đổi hướng mạnh về giai đoạn dậy thì. Nó được gây ra bởi tuyến yên, sản sinh ra một lượng tác nhân hormone lớn trong mạch máu, dẫn tới một phản ứng dây chuyền. Các tuyến sinh dục nam và nữ sau đó được kích hoạt, tiến vào một giai đoạn phát triển và tăng trưởng nhanh chóng; các tuyến sinh dục được kích hoạt khi ấy bắt đầu sản xuất ra hàng loạt các hoá chất cần thiết. Các tinh hoàn chủ yếu sản xuất ra testosterone, và các buồng trứng chủ yếu sản xuất ra estrogen phân giải. Sự sản xuất ra các hormone này dần tăng lên cho tới khi đạt điểm trưởng thành giới tính. Một số chú bé có thể phát triển gynecomastia vì một sự mất cân bằng các hormone sinh dục, sự phản ứng mô hay béo phì. Một cách đơn giản, tuổi dậy thì là thời điểm khi cơ thể một đứa trẻ bắt đầu thay đổi để trở thành một cơ thể trưởng thành. Râu ở các chú bé thường xuất hiện như một dấu hiệu nhận biết riêng biệt trong giai đoạn dậy thì. Thường ban đầu râu có khuynh hướng mọc ở hai phía mép trên, thường trong khoảng 14 tới 16 tuổi. Sau đó nó lan ra để thành hình một bộ ria mép trên toàn bộ môi trên. Tiếp đó là sự xuất hiện râu ở phần trên má, và vùng dưới môi dưới. Cuối cùng râu lan sang hai bên và phần dưới cằm, và phần còn lại của mặt dưới để tạo thành một bộ râu đầy đủ. Như với hầu hết các quá trình sinh học của con người, thời điểm chính xác có thể khác biệt theo từng người. Râu thường xuất hiện ở cuối tuổi thiếu niên, khoảng 17 hay 18, nhưng cũng có thể không xuất hiện cho tới nhiều năm sau. Một số nam giới không có đầy đủ râu trong một giai đoạn 10 năm sau khi dậy thì. Râu có thể tiếp tục rậm hơn, đen hơn và dày hơn trong khoảng 2 tới 4 năm sau dậy thì. Một cột mốc quan trọng trong giai đoạn dậy thì của nam là lần xuất tinh đầu tiên, vốn xảy ra, theo trung bình, ở độ tuổi 13. Với nữ, đó là sự bắt đầu có kinh nguyệt, sự khởi đầu của kinh nguyệt, vốn xảy ra, theo trung bình, trong giai đoạn 12 và 13 tuổi. Độ tuổi bắt đầu có kinh nguyệt cũng bị ảnh hưởng bởi tính di truyền, nhưng một chế độ ăn và phong cách sống của một cô bé cũng góp phần vào đó. Không cần biết tới gene, một cô bét phải có một số tỷ lệ mỡ cơ thể để bắt đầu có kinh nguyệt. Vì thế, các cô bé có khẩu phần nhiều mỡ và không hoạt động thể chất nhiều thường có khuynh hướng có kinh nguyệt sớm hơn, theo trung bình, so với những cô bé có chế độ ăn có ít chất béo và có nhiều hoạt động thể chất làm giảm béo hơn (ví dụ, múa ballet và thể dục). Các cô gái bị suy dinh dưỡng hay trong các xã hội trong đó trẻ em thường phải làm các công việc thể chất cũng bắt đầu có kinh nguyệt ở các độ tuổi muộn hơn. Thời điểm diễn ra tuổi dậy thì có thể có những hậu quả tâm sinh lý và xã hội quan trọng. Các chú bé dậy thì sớm thường cao và khoẻ hơn các bạn. Chúng có ưu thế trong việc thu hút sự chú ý của các đối tác tiềm năng và trong việc trở thành những nhân vật nổi bật trong thể thao. Các chú bé đang dậy thì thường có một hình ảnh cơ thể đẹp, và tự tin hơn, độc lập hơn. Các chú bé dậy thì muộn có thể kém tự tin hơn bởi hình ảnh thân hình kém hơn khi so với những người bạn đã dậy thì. Tuy nhiên, dậy thì sớm không phải luôn là tốt cho các chú bé; những chú bé trưởng thành sớm về giới tính có thể đi kèm với sự gia tăng tính hung hãn vì sự gia tăng mạnh hormone ảnh hưởng tới họ. Bởi họ có vẻ ngoài già dặn hơn các bạn, những chú bé dậy thì sớm có thể phải đối mặt với nhiều áp lực xã hội hơn để tương thích với các tiêu chuẩn của người lớn; xã hội có thể coi họ là những cá nhân phát triển hơn về cảm xúc, dù trên thực thế sự hiểu biết và phát triển xã hội của chúng có thể chậm hơn vẻ ngoài. Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy những chú bé dậy thì sớm thường có hoạt động tình dục nhiều hơn và dường như thường tham gia vào những hành động có nhiều nguy cơ. Với các bé gái, sự trưởng thành sớm có thể thỉnh thoảng dẫn tới sự gia tăng tự tin, dù đó là một khía cạnh thường thấy ở phụ nữ đang trưởng thành. Bởi cơ thể họ phát triển trước, các cô bé đang dậy thì có thể trở nên dễ bị nguy hiểm hơn. Vì thế, các cô bé đạt tới sự trưởng thành tình dục sớm thường có nguy cơ gặp rối loạn về ăn uống hơn các bạn đồng lứa. Gần một nửa chế độ ăn uống của các cô bé học tại các trường cấp ba của Mỹ là để giảm cân. Ngoài ra, các cô bé có thể phải đối mặt với những sự tán tỉnh tình dục từ những chú bé lớn tuổi hơn trước khi họ hoàn toàn trưởng thành về cảm xúc và tinh thần. Ngoài việc có những trải nghiệm sớm về tình dục và mang thai ngoài ý muốn hơn các cô bé dậy thì muộn, các cô bé dậy thì sớm thường có nguy cơ nhiều hơn với rượu và lạm dụng ma tuý. Những người đã có các trải nghiệm đó thường ít có thành tích học tập tốt ở trường như những người bạn cùng trang lứa "không có kinh nghiệm". Tới độ tuổi 15-17, các cô bé thường đã phát triển đầy đủ về thể chất. Tới tuổi 16, các chú bé gần như đã hoàn thành giai đoạn dậy thì, và thường hoàn thành ở tuổi 17 hay 18. Những thiếu niên tuổi teenage và những nam giới mới trưởng thành có thể tiếp tục phát triển cơ bắp thậm chí sau tuổi trưởng thành. == Tâm lý == Tâm lý thiếu niên gắn liền với những thay đổi quan trọng trong tính khí thỉnh thoảng được gọi là những sự thay đổi tính khí. Những thay đổi về nhận thức, tình cảm và thái độ là đặc điểm của thiếu niên, thường diễn ra trong giai đoạn này, và điều này có thể là một nguyên nhân của sự xung đột ở một mặt và mặt khác là sự phát triển nhân cách tích cực. Bởi những người thiếu niên đang trải qua nhiều thay đổi mạnh về nhận thức và thân thể, lần đầu tiên trong đợi họ có thể bắt đầu coi những người bạn, nhóm bạn, là quan trọng hơn và có ảnh hưởng lớn hơn cha mẹ/người giám hộ. Bởi áp lực bạn bè, họ có thể thỉnh thoảng tự cho phép mình thực hiện các hành vi dường như không được xã hội chấp nhận, dù đây thường là một hiện tượng xã hội hơn là một hiện tượng tâm lý. Sự chồng lấn này được xem xét đến trong việc nghiên cứu tâm lý xã hội học. Gia đình là một khía cạnh quan trọng của tâm lý thiếu niên: môi trường gia đình và nhà ở có ảnh hưởng lớn trên sự phát triển tâm lý của thiếu niên, và những phát triển đó có thể đạt tới đỉnh điểm trong thời thiếu niên. Ví dụ, những người cha mẹ có khuynh hướng lạm dụng thường dẫn tới việc một đứa trẻ "chế giễu" các bạn cùng lớp khi nó tới tuổi mười bảy hay lớn hơn, nhưng trong thời thiếu niên, tình trạng này thường trở nên dần tồi tệ hơn. Nếu các ý tưởng và các lý thuyết đằng sau sự đúng và sai không được hình thành sớm trong cuộc đời một đứa trẻ, sự thiếu hụt sự hiểu biết này có thể làm sút giảm khả năng đưa ra các quyết định có lợi của thiếu niên cũng như cho phép nó có khả năng kiểm soát các hành động của mình. Trong cuộc tìm kiếm một bản sắc riêng biệt cho chính mình, các thiếu niên thường nhầm lẫn giữa cái là 'đúng' và cái là 'sai.' G. Stanley Hall cho thời kỳ này là một trong các giai đoạn của "Dông bão và Stress" và, theo ông, xung đột tại giai đoạn phát triển này là bình thường và không phải là bất thường. Margaret Mead, mặt khác, gắn cách hành xử của thiếu niên với văn hoá và sự nuôi dưỡng của họ. Tuy nhiên, Piaget, gắn giai đoạn phát triển này với sự gia tăng lớn về khả năng nhận thức; ở giai đoạn này của cuộc đời các tư tưởng của một cá nhân bắt đầu có một hình thức trừu tượng hơn và các tư tưởng coi trọng bản thân dần giảm bớt, vì thế cá nhân được cho là có khả năng suy nghĩ và lập luận ở một mức độ cao hơn. Tâm lý tích cực thỉnh thoảng cũng được đề cập khi nhắc tới tâm lý thiếu niên. Cách tiếp cận này với thiếu niên là việc cung cấp cho họ động cơ để được chấp nhận về mặt xã hội và các cá nhân đáng chú ý, bởi nhiều thiếu niên cảm thấy buồn chán, do dự và/hay không có động cơ. Thiếu niên có thể là đối tượng của áp lực trong khoảng thời gian thiếu niên của mình, gồm nhu cầu phải có hoạt động tình dục, uống đồ uống có cồn, sử dụng ma tuý, không tuân theo các khuôn mẫu của cha mẹ, hay thực hiện bất kỳ một hành động nào mà một người phải chịu đựng sẽ không coi là thích hợp, cùng nhiều điều khác. Áp lực của bạn bè là một trải nghiệm thường thấy của thiếu niên và có thể chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn hay ở một mức độ lớn hơn. Nếu nó dẫn tới một mức độ lớn hơn, thiếu niên cần tư vấn hay điều trị y tế. Cũng cần lưu ý rằng thiếu niên là giai đoạn đột phá về tâm sinh lý trong cuộc đời một con người khi sự phát triển nhận thức diễn ra nhanh chóng và các tư tưởng, ý tưởng và khái niệm được phát triển trong giai đoạn này ảnh hưởng lớn tới cuộc sống tương lai của người đó, đóng một vai trò quan trọng trong việc hiìn thanh nhân cách và tính nết. Những cuộc đấu tranh giữa cái tôi và tình trạng phiền muộn ở tuổi thiếu niên thường hình thành khi một thiếu niên trải qua một sự mất mát. Sự mất mát quan trọng nhất trong cuộc đời họ là sự thay đổi mối quan hệ giữa thiếu niên và cha mẹ. Các thiếu niên cũng có thể trải qua sự xung đột trong quan hệ với bạn bè. Điều này có thể bởi các hành động mà bạn bè họ tham gia vào, như hút thuốc, khiến thiếu niên cảm thấy việc tham gia vào các hoạt động đó dường như là căn bản để duy trì các mối quan hệ bạn bè đó. Tình trạng phiền muộn của thiếu niên có thể rất mãnh liệt ở nhiều thời điểm bởi những thay đổi thân thể và hormone nhưng sự bất ổn về cảm xúc là một phần của thiếu niên. Sự thay đổi trong đầu óc, thân thể và quan hệ của họ thường đặt họ trước sự stress và sự thay đổi đó, họ cho rằng là một thứ đáng sợ. Các quan điểm về quan hệ gia đình trong thời thiếu niên cũng thay đổi. Quan điểm cũ về quan hệ gia đình trong thời thiếu niên đặt một sự nhấn mạnh vào xung đột và sự thoát ly và những xung đột và stress trong tư tưởng là bình thường và không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, quan điểm mới nhấn mạnh trên sự biến đổi hay mối quan hệ và sự duy trì liên hệ. == Giới tính == Tình dục thiếu niên chỉ tới những cảm giác, hành vi và sự phát triển tình dục trong thiếu niên và là một giai đoạn của tình dục loài người. Tình dục và ham muốn tình dục thường bắt đầu tăng lên cùng với sự bắt đầu của tuổi dậy thì. Sự trải nghiệm ham muốn tình dục trong thiếu niên (hay bất kỳ ai, về vấn đề này), có thể bị ảnh hưởng bởi các giá trị gia đình, văn hoá và tôn giáo nơi họ lớn lên (hay như một phản ứng với nó), social engineering, kiểm soát xã hội, cấm kị, và các kiểu tập tục xã hội khác. Trong xã hội hiện tại, thiếu niên cũng phải đối mặt với một số nguy cơ khi bắt đầu có sự phát triển về giới tính. Một số vấn đề trong số đó là sự mệt mỏi về cảm xúc (sợ bị lạm dụng hay khai thác) và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (gồm cả HIV/AIDS), các vấn đề khác như mang thai (vì không sử dụng hay sử dụng các biện pháp tránh thai không đúng cách) bị coi là các vấn đề xã hội tại hầu hết các xã hội phương tây. Về bản sắc tình dục, toàn bộ các khunh hướng tình dục có ở người lớn đều có ở thanh niên. Theo nhà nhân loại học Margaret Mead và nhà tâm lý học Albert Bandura, sự hỗn loạn có trong thiếu niên tại xã hội phương Tây có nguyên nhân văn hoá hơn là thể chất; họ thông báo rằng các xã hội nơi những phụ nữ trẻ tham gia vào hoạt động tình dục tự do không có sự hỗn loạn thiếu niên như vậy. Một cuộc nghiên cứu tiến hành năm 2008 bởi YouGov cho Channel 4, 20% thiếu niên trong độ tuổi 14−17 được thăm dò nói rằng họ có trải nghiệm tình dục đầu tiên ở độ tuổi 13 hay ít hơn. Tuổi nhận thức với hành vi tình dục khác biệt theo các bộ luật, thay đổi từ 12 tới 21 tuổi. == Văn hoá == Trong thương mại, thế hệ này được coi là một mục tiêu quan trọng. Điện thoại di động, âm nhạc đại chúng, phim ảnh, các chương trình truyền hình, website, các môn thể thao, video game và quần áo cho độ tuổi này thường được quảng cáo mạnh và cũng là thường thấy ở độ tuổi thanh niên. Trong quá khứ (và hiện tại trong một số nền văn hoá) có những nghi lễ đánh dấu sự trưởng thành, thường diễn ra ở tuổi thiếu niên. Seijin shiki (dịch nghĩa "lễ trưởng thành") là một ví dụ như vậy tại Nhật Bản. Upanayanam là một nghi lễ mừng tuổi sắp đến cho nam giới trong thế giới Hindu giáo. Trong Đạo Do Thái, các chú bé 13 tuổi và các cô bé 12 tuổi trở thành Bar hay Bat Mitzvah, và thường có một buổi lễ để mừng tuổi sắp đến. Trong số một vài giáo phái của Thiên chúa giáo, nghi lễ hay lễ ban phước Xác nhận được thực hiện cho thanh niên và có thể coi đó là thời điểm khi thanh niên trở thành các thành viên của nhà thờ với quyền riêng của mình (cũng có một lễ Xác nhận tại một số đền Do Thái Cải cách, dù nghi lễ bar hay bat mitzvah dường như có ưu thế hơn. Tại Hoa Kỳ, các bé gái thường có một bữa tiệc "sweet sixteen" (tuổi mười sáu ngọt ngào) để ăn mừng độ tuổi đó, một truyền thống tương tự như quinceañera trong văn hoá Latin. Trong xã hội phương tây hiện đại, các sự kiện như lần đầu tiên có bằng lái, bằng trung học và tốt nghiệp cao đẳng và nghề nghiệp đầu tiên được cho là các dấu mốc quan trọng trong quá trình chuyển tiếp thành người trưởng thành. Thanh niên cũng là một yếu tố quan trọng trong nhiều phong trào cải cách xã hội trên khắp thế giới. Lịch sử thanh niên tham gia vào các phong trào đó có thể bắt đầu với Jeanne d'Arc, và kéo dài tới thời hiện đại với các phong trào hoạt động thanh niên, hoạt động sinh viên, và các nỗ lực khác để khiến tiếng nói thanh niên được cất lên. == Các vấn đề pháp lý, quyền và ưu tiên == Trên bình diện quốc tế, những người đạt tới một độ tuổi nhất định (thường là 18, dù có thể xê dịch) về mặt pháp lý được coi là đã đạt tới tuổi trưởng thành và được coi là người lớn và phải chịu trách nhiệm về các hành vi của mình. Người dưới tuổi này được coi là thiếu niên hay trẻ em. Một người dưới độ tuổi trưởng thành có thể có được những quyền của người lớn thông qua sự giải phóng pháp lý. Những người dưới độ tuổi nhận thức, hay chịu trách nhiệm pháp lý, có thể bị coi là quá trẻ để bị kết án về hành vi tội phạm. Điều này được gọi là doli incapax hay bảo vệ vị thành niên. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự thay đổi từ 7 ở Ấn Độ tới 18 ở Bỉ. Sau khi đạt tới tuổi ban đầu, có thể có những mức độ trách nhiệm được quy định theo tuổi và kiểu hành vi, và các hành vi tội phạm có thể được xử tại một toà án vị thành niên. Tuổi lao động hợp pháp tại các nước phương Tây thường từ 14 tới 16, tuỳ thuộc theo số lượng giờ làm và kiểu công việc. Ví dụ, tại Anh Quốc và Canada, những thiếu niên trong độ tuổi 14 và 16 có thể làm một số công việc nhẹ với một số giới hạn để cho phép có thời gian tới trường; trong khi các thiếu niên trên 16 tuổi có thể làm việc toàn thời gian (ngoại trừ công việc ban đêm). Nhiều quốc gia cũng quy định một độ tuổi rời trường học tối thiểu, trong khoảng từ 10 tới 18, ở độ tuổi đó một người được phép về pháp lý rời khỏi giáo dục phổ cập. Tuổi nhận thức với hành vi tình dục thay đổi lớn giữa các quốc gia, từ 13 tới 21, dù thông thường hơn ở độ tuổi 14 tới 16. Trong một cuộc nghiên cứu năm 2008 về các thiếu niên 14 tới 17 tuổi do YouGov tiến hành cho Channel 4, có phát hiện rằng một trong ba thiếu niên 15 tuổi có hoạt động tình dục thường xuyên. Quan hệ tình dục với một người dưới tuổi nhận thức theo pháp luật thường bị coi là hành vi tội phạm như cưỡng hiếp. Một số quốc gia cho phép một sự miễn trừ khi cả hai người thực hiện hành vi đều gần trong độ tuổi; ví dụ, một người 16 tuổi và một người 18 tuổi. Độ tuổi một người được phép kết hôn cũng khác biệt, từ 17 ở Yemen tới 22 cho nam và 20 cho nữ tại Trung Quốc. Tại các quốc gia phương Tây, mọi người thường được cho phép kết hôn ở tuổi 18, dù họ thỉnh thoảng được phép kết hôn ở một độ tuổi thấp hơn với sự cho phép của cha mẹ hay toà án. Tại các quốc gia đang phát triển, độ tuổi kết hôn theo luật pháp không luôn luôn tương ứng với độ tuổi mọi người thực tế kết hôn; ví dụ, tuổi pháp lý để kết hôn ở Ethiopia là 18 cho cả nam và nữ, nhưng tại các vùng nông thôn đa số các cô bé kết hôn khi 16 tuổi. Tại hầu hết các quốc gia dân chủ, một công dân được quyền bỏ phiếu khi 18 tuổi. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, sửa đổi Hai Sáu giảm tuổi bỏ phiếu từ 21 xuống 18. Tại một số quốc gia, tuổi bỏ phiếu là 17 (ví dụ, Indonesia) hay 16 (ví dụ, Brasil). Trái lại, một số quốc gia có độ tuổi bỏ phiếu tối thiểu là 21 (ví dụ, Singapore) trong khi tuổi tối thiểu ở Uzbekistan là 25. Tuổi ứng cử là độ tuổi tối thiểu một cá nhân đủ tư cách theo pháp luật để giữ một số chức vụ chính phủ qua bầu cử. Tại hầu hết các quốc gia, một người phải đủ 18 tuổi hay hơn để được giữ chức vụ qua bầu cử, nhưng một số quốc gia như Hoa Kỳ và Italia còn có những giới hạn thêm nữa tuỳ theo kiểu chức vụ. Việc bán một số loại hàng hoá như thuốc lá, rượu, và băng video với nội dung bạo lực hay sex cũng bị giới hạn bởi độ tuổi ở hầu hết các quốc gia. Tại Hoa Kỳ, độ tuổi tối thiểu để mua một bộ phim mức R, game mức M hay một album với nhãn cần sự tư vấn của cha mẹ là 17 (tại một số bang là 18 hay thậm chí 21). Trên thực tế, thiếu niên tham gia vào việc hút thuốc hay uống rượu dưới tuổi là phổ thông, và trong một số nền văn hoá việc này được khoan dung ở một số mức độ. Tại Hoa Kỳ, thiếu niên được phép lái xe trong độ tuổi 14-18 (mỗi bang đặt ra tuổi lái xe tối thiểu riêng với một sự giới nghiêm có thể được áp dụng), tại Hoa Kỳ, thiếu niên 17 tuổi có thể phục vụ nghĩa vụ quân sự. Tại châu Âu thông thường tuổi lái xe cao hơn (thường là 18) trong khi độ tuổi được uống rượu thấp hơn ở Hoa Kỳ (thường là 16 hay 18). Tại Canada, tuổi được uống rượu là 18 tại một số vùng và 19 ở những vùng khác. Tại Úc, tuổi tối thiểu để được uống rượu là 18, trừ một người đang ở trong một căn nhà tư hay đang ở dưới sự giám sát của cha mẹ với sự cho phép. Tuổi lái xe khác biệt theo từng bang nhưng hệ thống thường thấy là một hệ thống chứng chỉ "biển số L" (một giấy chứng nhận học yêu cầu sự giám sát từ một lái xe có bằng) từ tuổi 16, "biển số P" đỏ (bằng tập sự) ở tuổi 17, "biển số P" xanh ở tuổi 18 và cuối cùng là bằng lái đầy đủ, ví dụ, cho hầu hết mọi người ở khoảng tuổi 20. Tuổi hợp pháp để chơi cờ bạc cũng tuỳ thuộc theo từng hệ thống pháp luật, dù thông thường là 18 tuổi. Tuổi tối thiểu để hiến máu tại Hoa Kỳ là 17 dù nó có thể là 16 với sự cho phép của cha mẹ tại một số bang như New York và Pennsylvania. Tuổi thích hợp và nhận thức là một định nghĩa pháp luật về sự trưởng thành. Một số nhà khoa học xã hội, gồm cả nhà nhân loại học Margaret Mead và nhà xã hội học Mike Males, đã lưu ý sự đối xử trái ngược của luật pháp ảnh hưởng tới thanh niên tại Hoa Kỳ. Như Males đã dẫn chứng, Toà án Tối cao Hoa Kỳ đã, "phán quyết một cách rõ ràng rằng các nhà làm luật có thể áp đặt các trách nhiệm và hình phạt với người lớn với các cá nhân thanh niên nếu họ đã là người lớn ở cùng thời điểm các điều luật và các chính sách bãi bỏ toàn bộ các quyền của thanh niên nếu họ là trẻ em." Vấn đề hoạt động thanh niên ảnh hưởng tới các hoàn cảnh chính trị, xã hội, giáo dục và đạo đức đang ngày càng có tầm quan trọng lớn hơn trên thế giới. Các tổ chức do thanh niên lãnh đạo trên khắp thế giới đã đấu tranh cho công bằng xã hội, bỏ phiếu thanh niên tìm cách để các thanh niên có được quyền bỏ phiếu, để đạt được thêm quyền của thanh niên, và yêu cầu có trường học tốt hơn thông qua hoạt động sinh viên. Từ khi Công ước về Quyền Trẻ em xuất hiện năm 1989 (trẻ em được định nghĩa là người dưới 18 tuổi), hầu như mọi quốc gia (ngoại trừ Hoa Kỳ và Somalia) trên thế giới đã tự nguyện cam kết thực hiện lập trường chống phân biệt đối xử với trẻ em ở mọi lứa tuổi. Đây là một tài liệu có tính bắt buộc về pháp lý lôi kéo sự tham gia của thanh niên trong toàn xã hội trong khi hoạt động chống lại lao động trẻ em, binh lính trẻ em, mại dâm trẻ em, và sách báo khiêu dâm. == Xem thêm == Giáo dục giới tính == Tham khảo == Bản mẫu:Phát triển con người
samsung galaxy note 7.txt
Samsung Galaxy Note 7 (tên thương hiệu và thị trường là Samsung Galaxy Note7) là một phablet điện thoại thông minh chạy Android được phát triển và sản xuất bởi Samsung Electronics. Chiếc điện thoại là kế thừa sự thành công của Samsung Galaxy Note 5 trong năm 2015, đã được công bố bởi Samsung vào ngày 2 tháng 8 năm 2016 tại sự kiện Galaxy Unpacked ở New York, Mỹ, trực tiếp sự kiện tại London và Rio. Nó được phát hành vào 19 tháng 8 năm 2016 ở Mỹ và dự kiến sẽ phát hành vào ngày 2 tháng 9 năm 2016 ở châu Âu. Hiện giờ Samsung Galaxy Note7 vẫn đang được Samsung tiếp tục thu hồi do vấn đề cháy nổ pin nghiêm trọng. Samsung công bố vào ngày 11 Tháng 10 năm 2016, kết thúc sản xuất Galaxy Note 7. Tập đoàn này kêu gọi hãy tắt các điện thoại Galaxy Note 7 ngay cả các điện thoại đã được thay pin và không nên dùng chúng nữa. == Thông số kỹ thuật == === Phần cứng === Samsung Galaxy Note 7 có màn hình 5.7-inch AMOLED cong với độ phân giải 2.560 x 1.440 pixel. Nó có bộ nhớ trong 64GB (khoảng 53GB khả dụng cho người dùng) và bao gồm khe thẻ nhớ microSD lên đến 256GB. Galaxy Note 7 là điện thoại Galaxy đầu tiên có tính năng quét mống mắt]], nó có thể mở điện thoại. Samsung Galaxy Note 7 còn là điện thoại Samsung đầu tiên trang bị USB Type-C. Phiên bản ở Hàn Quốc có điều khiển TV. Không có cổng IR, nhận radio. Galaxy Note 7 sử dụng SoC Exynos 8890 Octa trên phiên bản quốc tế, trong khi ở Mỹ và Trung Quốc sẽ sử dụng Snapdragon 820 SoC. Thiết bị có 4GB LPDDR4 RAM. === Máy ảnh === Galaxy Note 7 module máy ảnh giống như dòng Galaxy S7. Nó có 12 megapixel với khẩu độ f/1.7. Máy ảnh có chức năng quay 4K (2160p) với 30FPS, 1080p với 30/60fps và 720p slow-mo @ 240fps. Máy ảnh trước 5 megapixel cảm biến ISOCELL với khẩu độ f/1.7 và góc mở rộng. Cả hai máy ảnh đều có HDR tự động. === Phần mềm === Samsung Galaxy Note 7 phát hành với Android 6.0.1 Marshmallow và dự kiến sẽ nhận cập nhật Android 7.0 sớm sau khi phát hành và là điện thoại đầu tiên được thiết kế lại giao diện người dùng Touchwiz của Samsung, tên là "Grace UX". === Bộ nhớ === Galaxy Note 7 trang bị bộ nhớ trong 64GB cùng với thẻ nhớ ngoài micro-SD. === Phát hành === Số lượng đặt hàng trước ở Hàn Quốc đã phá vỡ kỷ lục với 200.000 đơn đặt hàng trước chỉ trong 2 ngày. Samsung Canada tuyên bố rằng số lượng đặt hàng trước ở Canada "rất sôi nổi". Do nhu cầu tại một số quốc gia như Malaysia, Hà Lan, Nga và Ukraine dẫn đến sự trì hoãn đến tháng 9 do thiếu hụt nguồn cung. == Ngưng bán toàn cầu == Đầu tháng 9 năm 2016, Samsung tạm thời ngưng bán Galaxy Note7 vì sự cố liên quan đến pin. Sau khi họ đã thay pin được cải thiện mới cho các điện thoại này đã được giao hàng trong chương trình đổi pin vì nguy cơ bốc cháy, sau khi đã thu hồi và được đổi trả thiết bị Galaxy Note 7 an toàn thì lại xuất hiện thêm trường hợp lỗi liên quan đến pin của Galaxy Note 7 đã đổi trả. Vào ngày 11 tháng 10 năm 2016, Samsung công bố kết thúc sản xuất Galaxy Note7, bởi vì chúng có vấn đề kỹ thuật liên quan đến pin. Tập đoàn này kêu gọi hãy tắt các điện thoại Galaxy Note 7 nguyên gốc, cả các điện thoại đã được thay pin và không nên dùng chúng nữa. Vào ngày 22/1/2017 Samsung công bố nguyên nhân lỗi pin. == Tham khảo == == Liên kết == Trang chủ Samsung: http://www.samsung.com/global/galaxy/galaxy-note7/ Chi tiết thông số kỹ thuật tại PDAdb.net
natri superoxit.txt
Natri superoxit là hợp chất vô cơ có công thức NaO2. Chất rắn màu vàng cam này muối của anion superoxit. Nó là sản phẩm trung gian của quá trình oxi hoá natri bằng oxi. NaO2 được điều chế bằng cách xử lý natri peroxit với oxi dưới áp suất cao: Na2O2 + O2 → 2NaO2 Nó còn được điều chế khi oxi hoá cẩn thận dung dịch chứa natri trong amoniac: Na + O2 → NaO2 Sản phẩm có tính thuận từ, đúng tính chất của anion O2−. Nó dễ thủy phân tạo ra hỗn hợp natri hiđroxit nà hiđro peroxit, ngoài ra còn có thể giải phóng oxi.. Nó kết tinh tương tự NaCl. == Chú thích ==
tiên đề.txt
Một tiên đề trong toán học là một đề xuất được coi như luôn đúng mà không thể và không cần chứng minh. Một hệ thống tiên đề hay gọn hơn hệ tiên đề là một tập hữu hạn các tiên đề thoả mãn điều kiện là các suy diễn logic trên hệ thống tiên đề này không thể xảy ra mâu thuẫn. == Sự cần thiết của tiên đề == Tiên đề là điều kiện cần thiết để xây dựng bất cứ một lý thuyết nào. Bất cứ một khẳng định (hay đề xuất) nào đưa ra đều cần được giải thích hay xác minh bằng một khẳng định khác. Và vì nếu một khẳng định được giải thích hay xác minh bằng chính nó thì khẳng định đó sẽ không có giá trị, nên cần có một số vô hạn các khẳng định để giải thích bất kì một khẳng định nào. Vì thế cần phải có một (hay một số) khẳng định được công nhận là đúng để làm chỗ bắt đầu và đưa quá trình suy diễn từ vô hạn về hữu hạn. Tương tự như vậy, bất cứ sự suy luận hay giao tiếp nào của con người cũng cần có điểm xuất phát chung. Tiên đề thuộc vào nhóm những yếu tố đầu tiên này. Một số yếu tố khác là: định nghĩa, quan hệ, v.v. Lưu ý: Euclid nhận thấy sự cần thiết này khi xây dựng hình học của mình, do đó ông đưa ra hệ thống tiên đề đầu tiên trong lịch sử: hệ tiên đề Euclid. Trong bộ "Cơ bản" của mình, ông nêu ra 23 định nghĩa, 5 tiên đề và 5 định đề. Sau này người ta thống nhất chung một tên gọi là tiên đề. Tiên đề cũng được sử dụng trong các ngành khoa học khác như: vật lý, hoá học, ngôn ngữ học, v.v. == Tiên đề trong toán học == Nổi tiếng nhất là tiên đề V của Euclide. Nội dung của tiên đề này là: Nếu hai đường thẳng tạo với một đường thẳng thứ ba hai góc trong cùng phía có tổng nhỏ hơn 180o thì chúng sẽ cắt nhau về phía đó. == Tiên đề trong vật lý == == Xem thêm == Định nghĩa Hệ tiên đề Euclide Hệ tiên đề Hilbert Hệ tiên đề Einstein Hệ tiên đề số học Tiên đề chọn == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
khoa học.txt
Khoa học (tiếng Anh: science) là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ. Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng. Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được. Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa. Trong tiếng Việt, "khoa học", "kỹ thuật", và "công nghệ" đôi khi được dùng với nghĩa tương tự nhau hay được ghép lại với nhau (chẳng hạn "khoa học kỹ thuật"). Tuy vậy, khoa học khác với kỹ thuật và công nghệ. Kỹ thuật là việc ứng dụng kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội, và thực tiễn để thiết kế, xây dựng, và duy trì các cấu trúc, máy móc, thiết bị, hệ thống, vật liệu, và quá trình. Còn công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt được một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. == Lịch sử khoa học == Khoa học theo nghĩa rộng đã tồn tại trước kỷ nguyên hiện đại, và trong nhiều nền văn minh cổ, nhưng khoa học hiện đại đánh dấu một bước phát triển vượt bật khác biệt rất xa trong cách tiếp cận của nó so với thời kỳ trước đó. Những thành công từ những kết quả mà nó mang lại đã làm cho định nghĩa khoa học theo nghĩa chặt chẽ hơn thì nó gắn liền với giai đoạn hiện này. Từ trước kỷ nguyên hiện đại rất lâu, cũng có một bước chuyển biến quan trong khác đó là sự phát triển triết học tự nhiên cổ đại trong thế giới nói tiếng Hy Lạp cổ. ==== Tiền triết học ==== Khoa học theo nghĩa nguyên thủy của nó là một từ chỉ kiến thức hơn là một từ chỉ việc theo đuổi kiến thức. Đặc biệt, nó là một loại kiến thức mà con người có thể giao tiếp và chia sẻ với nhau. Ví dụ như kiến thức về sự vận động của những vật trong tự nhiên đã được thu thập trong thời gian dài trước khi được chép thành lịch sử và dẫn đến sự phát triển tư duy trừu tượng phức tạp, như được thể hiện qua công trình xây dựng các loại lịch phức tạp, các kỹ thuật chế biến thực vật có độc để có thể ăn được, và các công trình xây dựng như các kim tự tháp. Tuy nhiên, không có sự phân định rõ ràng giữa kiến thức về những điều thực tế đã diễn ra trong mỗi cộng đồng và các kiểu kiến thức chung khác như thần thoại hoặc truyền thuyết. ==== Nghiên cứu triết học về tự nhiên ==== Trước khi phát minh hay khám phá ra khái niệm về "tự nhiên" (tiếng Hy Lạp cổ phusis), của các nhà triết học tiền Socratic, các từ tương tự có khuynh hướng được dùng để miêu tả "cách" tự nhiên mà một cái cây phát triển, và ví dụ như "cách" mà một bộ tộc tôn thờ một vị thần đặc biệt nào đó. Vì lẽ đó, có thể xem những người này là những nhà triết học đầu tiên theo nghĩa hẹp, và cũng là những người đầu tiên phân biệt rõ ràng giữa "tự nhiên" và "tục lệ" theo. Do đó, khoa học đã được phân biệt là kiến thức về tự nhiên, và những gì là sự thật đối với mỗi cộng đồng, và tên gọi của việc theo đuổi những kiến thức như thế là triết học — lĩnh vực của những nhà vật lý-triết học đầu tiên. Họ chủ yếu là những người suy đoán hoặc các nhà lý thuyết, đặc biệt quan tâm đến thiên văn học. Ngược lại, việc cố gắng sử dụng kiến thức về tự nhiên để bắt trước tự nhiên được nhìn thấy bởi các nhà khoa học cổ điển như là một điều thích thú phù hợp hơn đối với các nghệ nhân hạng thấp hơn. == Phân loại cơ bản == Các lĩnh vực khoa học thường được chia thành 4 nhóm: Khoa học tự nhiên: nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên (kể cả đời sống sinh học) Khoa học xã hội: nghiên cứu hành vi con người và xã hội Khoa học hình thức: bao gồm toán học Khoa học ứng dụng: nghiên cứu và ứng dụng Những nhóm chính là khoa học thực nghiệm, trong đó kiến thức phải được dựa trên những hiện tượng quan sát được và có khả năng được thử nghiệm để kiểm nghiệm tính đúng đắn của nó bởi các nhà nghiên cứu khác nhau làm việc trong cùng điều kiện. Ngoài ra còn có các ngành liên quan được nhóm lại thành các khoa học liên ngành và khoa học ứng dụng, chẳng hạn như khoa học kỹ thuật và khoa học sức khỏe. Các thể loại khoa học này có thể bao gồm các yếu tố của các ngành khoa học khác nhưng thường có thuật ngữ và cơ quan chuyên môn riêng. Khoa học thuần túy là các môn học bao gồm các phương diện triết lý, tôn giáo, khoa học, tín ngưỡng, xã hội học, nhân chủng học, chính trị học, luận lý học, đạo đức học, tâm lý học, phân tâm học, thần kinh bệnh học, ngôn ngữ học, tôn giáo học huyền bí học. Khoa học ứng dụng là khoa học chính xác sử dụng các kiến thức thuộc một hay nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội để giải quyết những vấn đề thực tế. Nó có liên hệ mật thiết hoặc đồng nhất với kỹ nghệ. Khoa học ứng dụng có thể sử dụng để phát triển công nghệ. Toán học, được phân loại là khoa học thuần túy, có cả sự tương đồng và khác biệt với các ngành khoa học tự nhiên và xã hội. Nó tương tự như khoa học thực nghiệm ở chỗ nó bao gồm một phương pháp nghiên cứu khách quan, thận trọng và có hệ thống lĩnh vực kiến thức. Nó là khác nhau vì để xác minh kiến thức, toán học sử dụng phương pháp tiên nghiệm hơn là phương pháp thực nghiệm. Khoa học thuần túy, trong đó bao gồm các số liệu thống kê và logic, có vai trò quan trọng đối với các ngành khoa học thực nghiệm. Các tiến bộ trong khoa học thuần túy thường dẫn đến những tiến bộ lớn trong các ngành khoa học thực nghiệm. Các ngành khoa học thuần túy rất cần thiết trong việc hình thành các giả thuyết, lý thuyết và định luật, cả hai phát hiện và mô tả bằng làm thế nào sự việc xảy ra (khoa học tự nhiên) và con người suy nghĩ và hành động như thế nào (khoa học xã hội). == Triết học khoa học == == Khoa học thực nghiệm == "Nếu một người bắt đầu bằng một sự chắc chắn, anh ta sẽ kết thúc trong sự hoài nghi; nhưng nếu bắt đầu bằng nội dung nghi ngờ, anh ta sẽ kết thúc trong sự chắc chắn." —Francis Bacon (1605) The Advancement of Learning, Book 1, v, 8 Một quan điểm hoài nghi, cần sự chứng minh, là những gì đã được thực hiện bằng thực tiễn trong khoảng 10.000 năm trước đây, với Alhazen, Doubts Concerning Ptolemy, theo Bacon (1605), và C. S. Peirce (1839–1914), họ đã ghi nhận rằng một cộng đồng sau đó sẽ thành lập để giải quyết những điểm nghi ngờ này. Các phương pháp tìm tòi/tìm hiểu một vấn đề đã được biết trong hàng ngàn năm, và đã triển khai từ lý thuyết thành thực tiễn. Ví dụ như dùng cách đo lường là cách tiếp cận thực tế để giải quyết các tranh chấp trong cộng đồng. John Ziman chỉ ra rằng việc nhận dạng yếu tố liên chủ thể là nền tảng cho sự sáng tạo của tất cả tri thức khoa học. Ziman cho thấy làm thế nào mà các nhà khoa học có thể xác định được những yếu tố liên quan này qua nhiều thế kỷ: Needham 1954 (minh họa trang 164) cho thấy làm thế nào các nhà thực vật học phương tây được đào tạo ngày nay có thể xác định loài Artemisia alba từ các ảnh được chụp từ các loại được liệu của Trung Quốc từ thế kỷ 16, và Ziman xem khả năng này là 'khả năng chấp nhận' ('perceptual consensibility'). Ziman sau đó thực hiện consensibility, dẫn đến điểm đồng thuận, rồi tiêu chuẩn đánh giá về kiến thức đáng tin cậy. === Đo lường === Đo lường cung cấp các chuẩn mực về độ lớn trong quan sát và thí nghiệm, là một bước quan trọng trong nghiên cứu khoa học (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội). Trong vật lý và công nghệ, đo lường được thực hiện bằng cách so sánh giữa đại lượng vật lý cần đo với đại lượng vật lý cùng thể loại, nhưng ở những điều kiện tiêu chuẩn (thường là không thay đổi theo thời gian) gọi là đơn vị đo. Việc đo này đem lại một con số thể hiện mối liên hệ về độ lớn giữa đại lượng cần đo và đơn vị đo. Đồng thời, nếu có thể, đo lường cũng cho biết sai số của con số trên (sai số phép đo). === Đơn vị SI === === Toán học và khoa học thuần túy === Toán học là thành phần thiết yếu trong khoa học. Một trong những chức năng quan trọng của toán học trong khoa học là nó đóng vai trò trong việc thể hiện những "mô hình" khoa học. Việc quan sát và thu thập các số liệu đo đạc, cũng như các giả thiết và dự đoán, thường đòi hỏi việc sử dụng nhiều kiến thức về toán học. Ví dụ như số học, đại số, hình học, lượng giác và vi tích phân tất cả đều cần thiết cho vật lý học. Những ứng dụng của khoa học máy tính nhằm mô phỏng các hiện trạng của thế giới thực giúp cho con người hiểu rõ hơn về các vấn đề khoa học hơn là cách tiếp cận chỉ từ toán học thuần túy. Theo Society for Industrial and Applied Mathematics, công cụ tính toán bằng máy tính hiện quan trọng như học thuyết và thí nghiệm trong tri thức khoa học tiên tiến. === Phương pháp khoa học === == Cộng đồng khoa học == Cộng đồng khoa học là nhóm bao gồm tất cả các nhà khoa học, trong đó có các nhóm nhỏ các nhà khoa học làm việc chuyên về các lĩnh vực khoa học, và trong các tổ chức cụ thể; bao gồm các hoạt động liên ngành và xuyên tổ chức. === Các tổ chức khoa học === Các cộng đồng học thuật với mục đích trao đổi thông tin và phát huy tư tưởng khoa học và thực nghiệm đã tồn tại từ thời kỳ Phục Hưng. Viện nghiên cứu cổ nhất còn tồn tại là Accademia dei Lincei ở Ý, viện này được thành lập năm 1603. Viện hàn lâm khoa học quốc gia là các tổ chức khoa học đặc biệt và chỉ có ở một số quốc gia, như sớm nhất là Royal Society của Anh thành lập năm 1660 và của Pháp là Académie des Sciences thành lập năm 1666. === Văn liệu khoa học === Có nhiều dạng văn liệu khoa học được xuất bản. Các tạp chí khoa học có mục đích truyền thông và ghi nhận những kết quả nghiên cứu được thực hiện ở các trường đại học và những cơ sở (viện) có chức năng nghiên cứu khác. Các tạp chí khoa học đầu tiên là Journal des Sçavans sau đó là Philosophical Transactions, đã bắt đầu xuất bản năm 1665. Kể từ đó, tổng số các hoạt động xuất bản theo định kỳ tăng lên đều. Đến năm 1981, theo ước tính, số tạp chí khoa học và công nghệ đã xuất bản là 11.500. Thư viện Y quốc gia Hoa Kỳ (United States National Library of Medicine) hiện có số đầu mục tạp chí là 5.516 bao gồm các bài báo liên quan đến khoa học đời sống. Mặc dù các tạp chí được viết bằng 39 ngôn ngữ khác nhau, nhưng có đến 91% số bài báo được viết bằng tiếng Anh. == Xem thêm == Lịch sử khoa học Khoa học tự nhiên Khoa học xã hội == Chú thích == == Tham khảo == (bằng tiếng Việt) Khoa học và các khoa học: La science et les sciences. Gilles-Gaston Granger; Phan Ngọc, Phan Thiều dịch. Nhà xuất bản Thế giới, 1995, 147tr, (Tôi biết gì? Que sais-je? Bộ sách giới thiệu những kiến thức thời đại) Danh từ, thuật ngữ khoa học công nghệ và khoa học về khoa học. B.s: Đỗ Công Tuấn (ch.b), Nguyễn Tiến Đức, Lê Thị Hoài An. Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2001, 179tr Từ điển khoa học và kỹ thuật Anh-Việt: Khoảng 95.000 mục từ. B.s: Trương Cam Bảo, Nguyễn Văn Hồi, Phương Xuân Nhàn. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2002, 1220tr (bằng tiếng Anh) The origins of modern science 1300 - 1800. H. Butterfield - New York: The Macmillan company, c 1958, x, 242tr Science in History. J. D. Bernal - 4th ed. - Cambridge: The M.I.T Press, c 1969, Tr. 695-1003, XXV The history of science in western civilization. L. Pearce Williams, Henry John Steffens University press of America, 1977 Studies in history of sciences. Ed.: S. Chatterfee,. - Calcutta: The Asiatic society, 1997, XIII, 240tr Feyerabend, Paul (2005). Science, history of the philosophy, as cited in Honderich, Ted (2005). The Oxford companion to philosophy. Oxford Oxfordshire: Oxford University Press. ISBN 0199264791. OCLC 173262485. of. Oxford Companion to Philosophy. Oxford. Feynman, R.P. (1999). The Pleasure of Finding Things Out: The Best Short Works of Richard P. Feynman. Perseus Books Group. ISBN 0465023959. OCLC 181597764. Papineau, David. (2005). Science, problems of the philosophy of., as cited in Honderich, Ted (2005). The Oxford companion to philosophy. Oxford Oxfordshire: Oxford University Press. ISBN 0199264791. OCLC 173262485. Parkin, D (1991). “Simultaneity and Sequencing in the Oracular Speech of Kenyan Diviners”. Trong Philip M. Peek. African Divination Systems: Ways of Knowing. Indianapolis, IN: Đại học Indiana Press. . Stanovich, Keith E (2007). How to Think Straight About Psychology. Boston: Pearson Education. == Đọc thêm == Augros, Robert M., Stanciu, George N., "The New Story of Science: mind and the universe", Lake Bluff, Ill.: Regnery Gateway, c1984. ISBN 0-89526-833-7 Baxter, Charles "Myth versus science in educational systems"PDF (66.4 KB) Becker, Ernest (1968). The structure of evil; an essay on the unification of the science of man. New York: G. Braziller. Cole, K. C., Things your teacher never told you about science: Nine shocking revelations Newsday, Long Island, New York, 23 tháng 3 năm 1986, pg 21+ Feynman, Richard "Cargo Cult Science" Gopnik, Alison, "Finding Our Inner Scientist", Daedalus, Winter 2004. Krige, John, and Dominique Pestre, eds., Science in the Twentieth Century, Routledge 2003, ISBN 0-415-28606-9 Kuhn, Thomas, The Structure of Scientific Revolutions, 1962. McComas, William F. "The principal elements of the nature of science: Dispelling the myths"PDF (189 KB) Rossier School of Education, University of Southern California. Direct Instruction News. Spring 2002 24–30. Obler, Paul C.; Estrin, Herman A. (1962). The New Scientist: Essays on the Methods and Values of Modern Science. Anchor Books, Doubleday. Thurs, Daniel Patrick (2007). Science Talk: Changing Notions of Science in American Popular Culture. New Brunswick, NJ: Rutgers University Press. tr. 22–52. ISBN 978-0-8135-4073-3. Levin, Yuval (2008). Imagining the Future: Science and American Democracy. New York, Encounter Books. ISBN 1-59403-209-2 Stephen Gaukroger. The Emergence of a Scientific Culture: Science and the Shaping of Modernity 1210-1685. Oxford, Clarendon Press, 2006, 576 pp. == Liên kết ngoài == Thư viện khoa học VLOS Tin tức Nature News. Science news by the journal Nature New Scientist. An weekly magazine published by Reed Business Information ScienceDaily Science Newsline Sciencia Discover Magazine Irish Science News from Discover Science & Engineering Science Stage Scientific Videoportal and Community Tài liệu Euroscience: Euroscience Open Forum (ESOF) Science Council Science Development in the Latin American docta Classification of the Sciences Dictionary of the History of Ideas "Nature of Science" University of California Museum of Paleontology United States Science Initiative. Selected science information provided by U.S. Government agencies, including research and development results.
huy chương fields.txt
Huy chương Fields là một giải thưởng được trao cho tối đa bốn nhà toán học không quá 40 tuổi tại mỗi kì Đại hội quốc tế (ICM) của Hiệp hội Toán học quốc tế (IMU), được tổ chức 4 năm một lần. Giải thưởng được sáng lập bởi nhà toán học Canada John Charles Fields lần đầu được trao vào năm 1936, đã bị gián đoạn trong suốt qua thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai và từ năm 1950 được trao đều đặn. Mục đích của giải thưởng là sự công nhận và hỗ trợ cho các nhà toán học trẻ tuổi đã có những đóng góp quan trọng có tính cách đột phá cho ngành toán học. Huy chương được đi kèm với số tiền thưởng cổ vũ tượng trưng là 15.000 đôla Canada. Huy chương Fields thường được coi là "Giải Nobel dành cho Toán học". Sự so sánh này là không thật sự chính xác, bởi vì giới hạn tuổi của giải Fields được áp dụng nghiêm ngặt. Hơn nữa, giải Fields Medals thường được trao cho các nhà toán học có nhiều công trình nghiên cứu hơn là chỉ có một nghiên cứu quan trọng. == Các nhà toán học đã nhận giải == 2014: Artur Avila, Manjul Bhargava, Martin Hairer, Maryam Mirzakhani 2010: Elon Lindenstrauss (Israel), Ngô Bảo Châu (Việt Nam), Stanislav Smirnov, (Nga), Cédric Villani (Pháp) 2006: Terence Tao (Đào Triết Hiên) (Úc/Mỹ), Grigori Perelman (Nga), Andrei Okounkov (Nga/Mỹ), Wendelin Werner (Pháp) 2002: Laurent Lafforgue (Pháp), Vladimir Voevodsky (Nga/Mỹ) 1998: Richard Ewen Borcherds (Anh), William Timothy Gowers (Anh), Maxim Kontsevich (Nga), Curtis T. McMullen (Mỹ) 1994: Efim Isakovich Zelmanov (Nga), Pierre-Louis Lions (Pháp), Jean Bourgain (Bỉ), Jean-Christophe Yoccoz (Pháp) 1990: Vladimir Drinfeld (Liên Xô), Vaughan Frederick Randal Jones (New Zealand), Mori Shigefumi (Nhật Bản), Edward Witten (Mỹ) 1986: Simon Donaldson (Anh), Gerd Faltings (Tây Đức), Michael Freedman (Mỹ) 1982: Alain Connes (Pháp), William Thurston (Mỹ), Khâu Thành Đồng/(Mỹ) 1978: Pierre Deligne (Bỉ), Charles Fefferman (Mỹ), Grigory Margulis (Liên Xô), Daniel Quillen (Mỹ) 1974: Enrico Bombieri (Ý), David Mumford (Mỹ) 1970: Alan Baker (Anh), Heisuke Hironaka (Nhật), Sergei Petrovich Novikov (Liên Xô), John Griggs Thompson (Anh) 1966: Michael Atiyah (Anh), Paul Joseph Cohen (Mỹ), Alexander Grothendieck (Pháp), Stephen Smale (Mỹ) 1962: Lars Hörmander (Thụy Điển), John Milnor (Mỹ) 1958: Klaus Roth (Anh), René Thom (Pháp) 1954: Kunihiko Kodaira (Nhật Bản), Jean-Pierre Serre (Pháp) 1950: Laurent Schwartz (Pháp), Atle Selberg (Na Uy) 1936: Lars Ahlfors (Phần Lan), Jesse Douglas (Mỹ) == Danh sách các quốc gia tính theo số huy chương Fields == == Sự kiện đặc biệt == Năm 1954, Jean-Pierre Serre trở thành người trẻ nhất từng đạt Huy chương Fields, ở tuổi 28. Đến nay, ông vẫn giữ kỉ lục này. Năm 1966, Alexander Grothendieck tẩy chay lễ trao giải Fields cho mình, tổ chức tại Moskva, để phản đối các hoạt động của quân đội Liên Xô ở Đông Âu. Năm 1970, Sergei Petrovich Novikov, vì sự quản thúc của chính phủ Liên Xô, đã không thể tới Nice để nhận huy chương,Hironaka Heisuke-người Nhật Bản thứ hai được nhận Huy chương Fields trước kia đã từng thi trượt trường đại học tại Hiroshima Năm 1978, Gregori Margulis do bị chính phủ Liên Xô hạn chế di chuyển nên đã không thể tới tham gia đại hội tại Helsinki để nhận giải thưởng. Jacques Tits đã thay mặt ông nhận giải và đã có bài diễn văn: Năm 1982, đại hội được tổ chức tại Warszawa, Ba Lan nhưng cuối cùng đã phải chuyển sang năm sau vì tình hình chính trị không ổn định. Giải Fields được công bố vào kì họp thứ 9 của IMU vào đầu năm và được trao vào năm 1983 tại đại hội Warszawa. Năm 1998, tai đại hội ICM, Andrew Wiles được chủ tịch hội đồng giám khảo giải Fields, Yuri Manin, trao tấm thẻ bạc IMU đầu tiên để công nhận thành quả của ông trong việc chứng minh định lý Fermat cuối cùng. Việc trao thưởng này thường làm mọi người suy nghĩ đến việc vào năm 1998 Wiles đã quá tuổi nhận giải Fields. Nhà toán học người Anh đã chứng minh định lý cuối của Fermat; để công nhận ông được trao giải thưởng đặc biệt bạc mảng bám - ông đã vượt quá giới hạn độ tuổi truyền thống của 40 năm để nhận huy chương vàng - Những lĩnh vực Toán học quốc tế do Liên minh vào năm 1998. Wiles được học tại Merton College, Oxford (BA, 1974), và Clare College, Cambridge (Tiến sĩ, 1980). Sau một học bổng nghiên cứu trẻ tuổi ở Cambridge (1977-1980), Wiles chức một cuộc hẹn tại Đại học Harvard, Cambridge, Mass, Hoa Kỳ, và năm 1982 chuyển tới Princeton (NJ) Đại học. Wiles đã làm việc trên một số vấn đề nổi bật trong lý thuyết số: bạch dương và Swinnerton-Dyer phỏng đoán, những phỏng đoán chủ yếu của Iwasawa lý thuyết, và các Shimura - Taniyama - Weil. Ông đã từng có cơ hội nhận giải vào năm 1994, nhưng một sai sót trong việc chứng minh định lý Fermat cuối cùng được tìm ra vào năm 1993 (về sau Wiles đã sửa được sai sót trong chứng minh)[2]. Don Zagier đã miêu tả tấm thẻ IMU là "giải Fields trá hình". Năm 1990,Mori Shigefumi-người Nhật Bản thứ ba được nhận huy chương Fields,ông đã nhận tại Kyoto nơi mà ông đã từng học Đại học và công tác lâu năm. Năm 2006, lần đầu tiên giải thưởng Fields bị từ chối nhận. Người từ chối là Grigori Perelman. Năm 2010, Ngô Bảo Châu, nhà toán học đầu tiên người Việt Nam, mang hai quốc tịch Việt Nam và Pháp (cũng là người thứ tư của châu Á) đã chính thức ghi tên mình vào danh sách những người nhận giải thường Fields với việc chứng minh thành công bổ đề cơ bản trong "chương trình Langlands". Đây cũng là lần đầu tiên, một quốc gia đang phát triển có người giành được giải thưởng này. Năm 2014,Huy chương Fields được trao tại Seoul,Hàn Quốc;đây là lần đầu tiên một quốc gia hồi giáo tại Tây Á có người đạt huy chương FIELDS với Maryam Mirzakhani,người Iran được nhận giải thưởng này khi bà mới 37 tuổi == Giải Fields trong văn hóa đại chúng == Vào năm 1997 trong bộ phim Good Will Hunting, giáo sư MIT hư cấu Gerald Lambeau (Stellan Skarsgård đóng) được miêu tả là đã được nhận giải Fields cho công trình nghiên cứu về tổ hợp toán học. Trong bộ phim A Beautiful Mind, John Forbes Nash (Russell Crowe đóng) than phiền về việc không được nhận giải Fields. == Xem thêm == Giải thưởng Toán học == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức
thang độ cứng mohs.txt
Thang độ cứng Mohs đặc trưng cho tính chất chống lại vết trầy xước trên những khoáng vật khác nhau dựa trên tính chất: khoáng vật có độ cứng lớn hơn sẽ làm trầy khoáng vật có độ cứng nhỏ hơn. Nó được nhà khoáng vật học người Đức Friedrich Mohs đưa ra vào năm 1812 và là một trong những thang đo độ cứng trong khoa học. Mohs dựa trên mười loại khoáng vật đã có sẵn, ngoại trừ kim cương. Độ cứng của vật liệu được đo bằng cách tìm hai loại vật liệu mà nó có thể làm trầy được và bị làm trầy. Ví dụ: nếu một vật liệu nào đó bị apatit (có độ cứng là 5) làm trầy xước nhưng không bị làm trầy bởi đá fluorit (có độ cứng là 4), thì độ cứng trong thang Mohs sẽ là 4,5. Thang đo độ cứng Mohs là một thang độ cứng tương đối. Nếu như corundum (độ cứng là 9) chỉ có độ cứng gấp đôi topaz (độ cứng là 8) thì kim cương (độ cứng là 10) lại có độ cứng gấp 4 lần corundum. == Thang cơ bản == Bảng sau đây cho thấy độ cứng của 10 khoáng vật cơ bản. Theo như thang độ cứng Mohs, móng tay có độ cứng là 2.5, đồng xu bằng đồng có độ cứng 3.5; một lưỡi dao là 5.5; thủy tinh cửa sổ là 5.5, một thanh thép là 6.5. Sử dụng những vật liệu có độ cứng đã được biết trước sẽ cho chúng ta biết chính xác vị trí của vật liệu trên thang đo Mohs. == Thang sửa đổi == Thang độ cứng Mohs có thể được sửa đổi để tính thêm các vật liệu có độ cứng nằm giữa các vật liệu cơ bản. Dưới đây là thang độ cứng sửa đổi của một số vật liệu thường gặp từ http://www.amfed.org/t_mohs, trang web của Hội Khoáng vật học Hoa Kỳ. == Xem thêm == Độ cứng == Tham khảo ==
peter debye.txt
Peter Debye ForMemRS(tên đầy đủ: Peter Joseph William Debye (tiếng Hà Lan: Petrus Josephus Wilhelmus Debije); sinh ngày 24 tháng 3 năm 1884 - mất ngày 2 tháng 11 năm 1966 là nhà hóa học, vật lý và đoạt Giải Nobel hóa học người Hà Lan. Ông là viện sĩ của Viện Hàn lâm Giáo hoàng về Khoa học. Ông là đoạt Giải Nobel Hóa học năm 1936. Công trình khoa học giúp ông đoạt giải thưởng nổi tiếng này là nghiên cứu về momen lưỡng cực, sự khuếch tán của tia X và điện tử các chất khí. Ngoài ra, ông còn có những nghiên cứu về photon. Năm 1910, Peter Debye suy luận ra định luật Planck cho bức xạ vật đen từ một giả thiết tương đối đơn giản. Ông đã đúng khi phân tách trường điện từ trong một hốc thành những mode Fourier, và giả sử rằng năng lượng trong một mode bất kỳ là bội nguyên lần của h ν {\displaystyle h\nu } , với ν {\displaystyle \nu } là tần số của mode điện từ. Định luật Planck cho bức xạ vật đen trở thành tổng hình học của các mode này. Tuy vậy, cách tiếp cận của Debye đã không suy luận ra được công thức đúng cho thăng giáng năng lượng của bức xạ vật đen, mà Einstein đã thu được từ năm 1909. Để tưởng nhớ tới ông, Giải Peter Debye đã được lập ra. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Debye Biography – Institute of Chemistry, Hebrew University Debye Biography – Nobel Prize Debye Biography – NNDB Debye Biography – IUCR Museum Boerhaave Negen Nederlandse Nobelprijswinnaars Deutsche Physikalische Gesellschaft (DPG) Kennislink Dr. Rispens research Debye Institute Oral History interview transcript with Peter Debye 3 & ngày 4 tháng 5 năm 1962, American Institute of Physics, Niels Bohr Library and Archives National Academy of Sciences Biographical Memoir
ngôi sao tiếng hát truyền hình.txt
Tiếng hát Truyền hình là một cuộc thi ca nhạc do Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty truyền thông và du lịch Mây Quỳnh phối hợp tổ chức, được diễn ra từ tháng 9 - tháng 11 hằng năm. Đây là cuộc thi "nhằm tuyển chọn các giọng ca triển vọng cho màn ảnh nhỏ và phong trào ca hát trên cả nước". == Lịch sử == Năm 1991, với nhu cầu tìm kiếm những tài năng âm nhạc trẻ, Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức cuộc thi này với tên gọi ban đầu là Tiếng hát Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Trải qua 15 lần tổ chức, cuộc thi này đã tìm ra những tài năng âm nhạc như: Như Quỳnh, Như Hảo, Đông Đào, Thu Minh, Minh Tuyết, Đàm Vĩnh Hưng, Hồng Ngọc, Đức Tuấn, Đoan Trang, Thanh Thúy,... == Tiếng hát Truyền hình 2006 == Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình 2006 thực hiện theo kịch bản Project SuperStar mua bản quyền của MediaCorp Studios Singapore. Cuộc thi khác rất nhiều so với phiên bản cũ Tiếng hát Truyền hình về cách thức thi, chấm giải cũng như quan niệm về trình diễn. Trong phiên bản mới, các thí sinh "đấu loại" trực tiếp qua từng đêm. === Chung kết 1 === Đợt 1: từ 25 thí sinh (chia đều cho 2 đêm 15 và 16/9) chọn lại 16 thí sinh. Đợt 2: (22 và 23/9) từ 16 thí sinh chọn 8. Đợt 3: (25/9) 8 thí sinh bị rớt ở đợt 2 cùng thi thố để tranh 2 suất. Đợt 4: (27/9) 2 thí sinh vượt qua đợt 3 cùng 8 thí sinh được chọn ở đợt 2 (tổng cộng 10) tranh tài để chọn lại 8 thí sinh vào vòng chung kết xếp hạng. === Chung kết xếp hạng === 8 thí sinh sau Chung kết 1 cùng biểu diễn giao lưu trong 2 đêm (7 và 14/10) trước khi chính thức bước vào 4 đợt "loại" trực tiếp khác để vươn đến ngôi vị Super Star. Vòng chung kết xếp hạng: Đợt 1 (20 và 21/10), từ 8 thí sinh chọn 6. Đợt 2 (27 và 28/10), 6 chọn 4. Đợt 3 (3/11), 4 chọn 2. Đêm Super Star (11/11) 2 thí sinh tranh tài giành "vương miện" Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình 2006. Điểm khác biệt nữa ở vòng chung kết Ngôi sao tiếng hát truyền hình 2006 là nam, nữ thi riêng, số lượng chọn cho mỗi đợt, nam và nữ bằng nhau. Hai thí sinh ở đêm Super Star, người thắng cuộc sẽ là "Ngôi sao Tiếng hát truyền hình 2006", người thua cuộc được trao giải nhất. Đối với mỗi thí sinh, vòng chung kết 1 hát 1 bài, vòng chung kết 2 hát 2 bài và đêm Super Star hát 4 bài. Các đêm chung kết 1 tổ chức tại Nhà hát Hòa Bình, 2 đêm gala tổ chức tại Nhà thi đấu Nguyễn Du và chung kết xếp hạng tổ chức tại sân khấu ca nhạc Lan Anh. Tất cả các đêm đều được truyền hình trực tiếp trên HTV. === Khán giả bình chọn === Hội đồng giám khảo (gồm 6 thành viên) chỉ chấm điểm ở vòng chung kết 1. Vòng chung kết xếp hạng gồm 5 đêm, chỉ có Hội đồng nghệ thuật nhận xét góp ý, còn kết quả hoàn toàn cho khán giả bình chọn. Với phương thức này, Ban tổ chức đã "đá" trái bóng về phía khán giả, sẽ không còn chuyện phàn nàn về tính công bằng của Hội đồng giám khảo như năm 2005. === Đào tạo, hỗ trợ thí sinh === Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình 2006 ngoài những chuyên gia về thanh nhạc, thiết kế trang phục, trang điểm, tạo mẫu tóc... của Việt Nam, còn có sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài như: bà Miglena Mihaylova Tzenova (chuyên gia thanh nhạc - Học viện nghệ thuật Bulgaria), bà Rumyana Dimitrova (chuyên gia vũ đạo và phong cách trình diễn), ông Jaw Man Fai (giám đốc sáng tạo của MediaCorp Studios - Singapore), bà Poh Shaa Ching (Singapore, chuyên gia tạo dựng hình ảnh ca sĩ)... === Danh sách 25 thí sinh vòng chung kết Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình 2006 === Nguyễn Phước Vũ Bảo, Nguyễn Duy Thiện, Tô Quốc Phong, Trương Sỹ Linh, Nguyễn Đức Quang, Hồ Minh Phúc, Đặng Trường Thư, Vũ Thị Thảo Vân, Đặng Gia An, Kỳ Phương Uyên, Võ Hoài Phương Anh, Giang Thụy Hồng Ngọc, Trần Hoàng Nghiệp, Bùi Thanh Liêm, Hồ Viết Cường, Lê Huy Trực, Nguyễn Ngọc Linh, Nguyễn Tuấn Kiệt, Lâm Thụy Ngọc Trinh, Nguyễn Ngọc Thủy Tiên, Nguyễn Ngọc Phương Trinh, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thúy Huyền, Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Hòa Mi. === Kết quả cuộc thi Ngôi sao tiếng hát truyền hình 2006 === Giải Ngôi sao: Nguyễn Ngọc Phương Trinh Giải nhất: Nguyễn Phước Vũ Bảo Giải nhì: Nguyễn Duy Thiện - Kỳ Phương Uyên Giải ba: Nguyễn Ngọc Linh - Nguyễn Thị Thu Trang Giải tư: Võ Hoài Phương Anh - Giang Thụy Hồng Ngọc - Trần Hoàng Nghiệp - Nguyễn Tuấn Kiệt Trình bày ca khúc truyền thống cách mạng hay nhất: Nguyễn Duy Thiện Trình bày ca khúc mang âm hưởng dân ca hay nhất: Võ Hoài Phương Anh Phong cách trẻ trung gây ấn tượng nhất: Kỳ Phương Uyên Thí sinh nhỏ tuổi nhất: Giang Thụy Hồng Ngọc === Giải thưởng === Giải Ngôi sao: 25.000.000 đồng Giải nhất: 20.000.000 đồng Giải nhì: 15.000.000 đồng Giải ba: 10.000.000 đồng Giải tư: 7.000.000 đồng Thí sinh thể hiện bài hát mang âm hưởng dân ca hay nhất: 4.000.000 đồng Thí sinh nhỏ tuổi nhất: 1.000.000 đồng Thí sinh hát ca khúc Truyền thống Cách mạng hay nhất: 4.000.000 đồng Thí sinh người dân tộc đạt thứ hạng cao: 4.000.000 đồng Thí sinh có phong cách trẻ trung ấn tượng nhất: 4.000.000 đồng == Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình 2007 == Với phiên bản mới Star Academy, thuộc bản quyền của Công ty Gestmusic - Tây Ban Nha, vòng chung kết Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình 2007 có 10 đêm thi (26, 27, 29-10 và 2, 3, 16, 17, 23, 24 -11 và đêm chung kết xếp hạng trao giải 1-12). Đêm thi cuối cùng, ba thí sinh tranh một giải nhất, một nhì và một ba Cách chấm giải cũng thay đổi: Ban giám khảo sẽ chấm chín đêm thi đầu và khán giả sẽ bình chọn qua tin nhắn và điện thoại cố định đêm thi cuối cùng. 12 thí sinh vào vòng chung kết trong 10 đêm, từ 26-10 đến 1-12-2007. Ngoài ra, Trung tâm mua sắm Sài Gòn - Nguyễn Kim trao tặng học bổng đào tạo các tài năng ca hát trẻ HTV - Nguyễn Kim, trị giá 27 triệu đồng/ 1 học bổng. === Kết quả cuộc thi Ngôi sao tiếng hát truyền hình 2007 === Giải nhất: Võ Hạ Trâm Giải nhì: Trần Thị Thu Hường Giải ba: Nguyễn Đức Quang Giải tư: Trịnh Đan Duy Anh, Nguyễn Thị Hòa Mi Trình bày ca khúc truyền thống cách mạng hay nhất: Y Thanh Nhị Trình bày ca khúc mang âm hưởng dân ca hay nhất: Trần Thị Thu Hường Phong cách trẻ trung gây ấn tượng nhất: Nguyễn Tiến Trung Thí sinh nhỏ tuổi nhất: Võ Hạ Trâm Thí sinh người dân tộc: Y Thanh Nhị === Giải thưởng === Giải nhất: 30.000.000 đồng Giải nhì: 20.000.000 đồng Giải ba: 15.000.000 đồng Giải tư: 10.000.000 đồng Giải khuyến khích: 7.000.000 đồng Thí sinh thể hiện bài hát mang âm hưởng dân ca hay nhất: 5.000.000 đồng Thí sinh nhỏ tuổi nhất: 4.000.000 đồng Thí sinh hát ca khúc Truyền thống Cách mạng hay nhất: 5.000.000 đồng Thí sinh người dân tộc đạt thứ hạng cao: 5.000.000 đồng Thí sinh có phong cách trẻ trung ấn tượng nhất: 5.000.000 đồng == Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình 2008 == Cuộc thi tuyển chọn các thí sinh trên 5 tỉnh, thành phố đại diện cho 5 vùng, miền: Hà Nội, Đà Nẵng, Đắc Lắc, Cần Thơ và [[Thành phố Hồ Chí Minh|Thành phố Hồ Chí Minh]]. === Vòng sơ tuyển === Từ ngày 25/8 đến 12/9/2008, Ban giám khảo chọn ra 65 thí sinh xuất sắc nhất từ 5 khu vực bước vào vòng bán kết tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngay từ đầu vào, các thí sinh được tuyển chọn bởi các giám khảo như: nhạc sĩ Nguyễn Nam, Trần Hữu Bích, Phan Hồng Sơn, Thập Nhất, Nguyễn Đức Trung, Nghệ sĩ ưu tú Ánh Tuyết, ca sĩ Thanh Thúy… === Vòng bán kết === Diễn ra trong hai ngày 16,17/9/2008 tại [[Nhà hát Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh]] để chọn ra 12 thí sinh xuất sắc nhất gồm 6 nam, 6 nữ bước vào vòng chung kết. === Vòng chung kết === Gồm 10 đêm được truyền hình trực tiếp trên kênh HTV9, bắt đầu từ ngày 20/9 đến ngày 11/10/2008. Trong 3 đêm thi đầu tiên, cả 12 thí sinh trình diễn 3 thể loại nhạc riêng biệt: dân ca/dân gian đương đại, nhạc truyền thống và nhạc nhẹ trữ tình. Từ đêm thi thứ 4 trở đi, các thí sinh dự thi với những ca khúc tự chọn. Đêm chung kết xếp hạng là phần dự thi của 3 thí sinh có số điểm cao nhất của đêm chung kết thứ 9 do Hội đồng nghệ thuật lựa chọn. Trong đêm chung kết xếp hạng, 3 thí sinh này sẽ tranh giải Nhất, Nhì, Ba và kết quả này do khán giả bình chọn. === 12 gương mặt vào chung kết === Nguyễn Ngọc Ánh (Hà Tây, giải Nhì Thần tượng âm nhạc 2007) Hjina Bya (Đắc Lắc) Hoàng Thị Uyên (Đắc Lắc) Y Garia (Đắc Lắc, giải Nhì các ban nhạc sinh viên toàn quốc năm 2002, Ca sĩ thể hiện hiệu quả Bài hát Việt 7/2008) Nguyễn Tỳ Triệu Lộc (Thành phố Hồ Chí Minh, giải Nhất Tiếng hát phát thanh 2007) Nguyễn Trần Minh Sang (Thành phố Hồ Chí Minh, giải khuyến khích Tiếng hát Phát thanh) Nguyễn Tiến Trung (Đà Nẵng, giải khuyến khích NSTHTH 2007) Đỗ Tùng Lâm (Bắc Ninh, giải Nhì Tiếng ca học đường 2008) Nguyễn Thu Hiền (Hà Nội, giải Tư Tiếng ca học đường 2008) Quang Thanh Thủy (Cần Thơ, giải Nhất Tiếng hát Phát thanh truyền hình Cần Thơ) Nguyễn Huyền Quân (Hà Nội, giải khuyến khích NSTHTH 2007) Phạm Hồng Anh (Hà Nội, giải Nhì Giọng hát hay Hà Nội 2008) Đến với cuộc thi Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình 2008, mỗi thí sinh chuẩn bị ít nhất 7 bài hát để đi hết từ vòng loại đến chung kết xếp hạng. Thí sinh có thể chọn các bài hát theo các thể loại nhạc như: dân ca, dân ca đương đại, nhạc truyền thống, hoặc nhạc trẻ như pop, R&B, dance … === Đào tạo, hỗ trợ thí sinh === Vào vòng chung kết, các thí sinh được những chuyên gia nổi tiếng tư vấn về trang phục, kiểu tóc, phong cách biểu diễn cũng như hướng dẫn tập luyện, chọn bài hát phù hợp và được phối nhạc bài hát dự thi vòng chung kết. Cuộc thi năm 2008 còn cung cấp cho mỗi thí sinh 1 trang web riêng để giao lưu với khán giả, liên kết với trang web chính thức của cuộc thi . === Kết quả cuộc thi Ngôi sao Tiếng hát truyền hình 2008 === Giải nhất: Đỗ Tùng Lâm (Bắc Ninh) Giải nhì: Nguyễn Tỳ Triệu Lộc (TP HCM) Giải ba: Hoàng Thị Uyên (Đăk Lăk) Giải tư: Nguyễn Ngọc Ánh (Hà Tây), Hzina Bya (Đăk Lăk) Giải khuyến khích: Y Garia (Đăk Lăk), Nguyễn Trần Minh Sang (TP HCM), Nguyễn Tiến Trung (Đà Nẵng), Nguyễn Thu Hiền (Hà Nội), Quang Thanh Thủy (Cần Thơ), Nguyễn Huyền Quân (Hà Nội), Phạm Hồng Anh (Hà Nội) Thí sinh thể hiện bài hát mang âm hưởng dân ca hay nhất: Đỗ Tùng Lâm (Bắc Ninh) Thí sinh nhỏ tuổi nhất: Đỗ Tùng Lâm (Bắc Ninh) Thí sinh hát ca khúc Truyền thống Cách mạng hay nhất: Hoàng Thị Uyên (Đăk Lăk) Thí sinh người dân tộc đạt thứ hạng cao: Hzina Bya (Đăk Lăk) Thí sinh có phong cách trẻ trung ấn tượng nhất: Phạm Hồng Anh (Hà Nội) === Giải thưởng === Giải nhất: 30.000.000 đồng Giải nhì: 20.000.000 đồng Giải ba: 15.000.000 đồng Giải tư: 10.000.000 đồng Giải khuyến khích: 7.000.000 đồng Thí sinh thể hiện bài hát mang âm hưởng dân ca hay nhất: 5.000.000 đồng Thí sinh nhỏ tuổi nhất: 4.000.000 đồng Thí sinh hát ca khúc Truyền thống Cách mạng hay nhất: 5.000.000 đồng Thí sinh người dân tộc đạt thứ hạng cao: 5.000.000 đồng Thí sinh có phong cách trẻ trung ấn tượng nhất: 5.000.000 đồng == Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình 2010 == Cuộc thi tuyển chọn các thí sinh trên khắp mọi miền đất nước, với hơn 1300 thí sinh tham gia. === Vòng chung kết === Hội đồng nghệ thuật năm nay có nhiều gương mặt quen thuộc như: nhạc sĩ Trần Long Ẩn, nhạc sĩ Trọng Đài, nhạc sĩ Hồ Quang Bình, Nghệ sĩ ưu tú Tạ Minh Tâm, Nghệ sĩ ưu tú Quang Lý, Nghệ sĩ ưu tú Ánh Tuyết và ca sĩ Thanh Thúy. Gồm 8 đêm được truyền hình trực tiếp trên kênh HTV9, bắt đầu ngày 4/11 đến ngày 1/12, tại nhà hát HTV và nhà hát Hòa Bình. Đêm chung kết xếp hạng là phần dự thi của 3 thí sinh có số điểm cao nhất của đêm chung kết thứ 9 do Hội đồng nghệ thuật lựa chọn (không phân biệt nam nữ). Trong đêm chung kết xếp hạng, 3 thí sinh này sẽ tranh giải Nhất, Nhì, Ba và kết quả này do khán giả bình chọn. 12 gương mặt vào chung kết === Giải thưởng === Cơ cấu giải thưởng gồm 1 giải nhất (40 triệu đồng), 1 giải nhì (30 triệu đồng), 1 giải ba (22 triệu đồng) cùng các giải tư, giải khuyến khích. Bên cạnh đó, ban tổ chức còn trao các giải thưởng phụ như giải thí sinh nhỏ tuổi nhất, giải thí sinh người dân tộc, giải thể hiện bài hát mang âm hưởng dân ca, bài hát truyền thống cách mạng… Sau mỗi đêm thi sẽ có một thí sinh được nhận giải thưởng do khán giả bình chọn. == Các thí sinh đoạt ngôi vị cao nhất qua các năm == Tiếng hát Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Năm 1991: Như Quỳnh, Khánh Duy, Cam Thơ, Đông Đào Năm 1992: Như Hảo Năm 1993: Thu Minh Năm 1994: Thanh Thúy Năm 1995: Thanh Sử Năm 1996: Lương Chí Cường Năm 1997: Tấn Đạt Năm 1998: Ca sĩ Thụy Vân Năm 1999: Nam Khánh Năm 2000: Đức Tuấn Năm 2001: Ca sĩ Tú Anh Năm 2002: Boneur Trinh Năm 2003: Hồ Bích Ngọc Năm 2004: Khánh Ngọc Năm 2005: Trương Thị Hải Yến Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình Năm 2006: Phương Trinh, Vũ Bảo Năm 2007: Võ Hạ Trâm Năm 2008: Đỗ Tùng Lâm Năm 2009: Tiêu Châu Như Quỳnh Năm 2010: H’Zina Bya Năm 2011: Bùi Anh Tuấn Tiếng hát Truyền hình Năm 2012: Lưu Hiền Trinh == Chú thích == == Liên kết ngoài == [1]
americi.txt
Americi là một nguyên tố tổng hợp có ký hiệu Am và số nguyên tử 95. Một nguyên tố kim loại phóng xạ, americi là một actinide đã được Glenn T. Seaborg tách vào năm 1944, ông đã bắn phá plutoni bằng các nơtron và là nguyên tố siêu Urani thứ tư được phát hiện. Nó được đặt tên theo Châu Mỹ (America) tương tự như Europi. Americi được sử dụng rộng rãi trong các máy dò khói buồng ion hóa thương mại, cũng như trong các nguồn nơtron và đồng hồ đo công nghiệp. Americi là một kim loại phóng xạ tương đối mềm có màu bạc. Các đồng vị phổ biến nhất của nó là 241Am và 243Am. Ở dạng hợp chất, nó thường được cho là có trạng thái ôxi hóa +3, đặc biệt trong các dung dịch. Có 7 trạng thái ôxi hóa khác đã được phát hiện, thay đổi từ +2 đến +7 và có thể nhận dạng được thông qua các tính chất hấp thụ quang phổ của chúng. Ô mạng tinh thể của americi rắn các của các hợp chất của nó chứa các khuyết tật bên trong, chúng được sinh ra bởi các hạt alpha tự phóng xạ và tích tụ theo thời gian; điều này tạo ra một khoảng trống của một số tính chất vật liệu. == Tổng hợp và chiết tách == === Tổng hợp hạt nhân đồng vị === Americi đã được tạo ra với số lượng nhỏ trong các lò phản ứng hạt nhân trong vài thập niên, và hiện đã có vài kilogram các đồng vị 241Am và 243Am. Tuy nhiên, kể từ khi nó được chào bán đầu tiên năm 1962, giá của nó vào khoảng 1.500 USD một gram 241Am, vẫn hầy như không đổi mặc dù quy trình chiết tách rất phức tạp. Đồng vị nặng hơn là 243Am đã được sản xuất với sản lượng nhỏ hơn nhiều do nó rất khó tách nên giá của nó cao hơn vào khoảng 100–160 USD/mg. Americi không được tổng hợp trực tiếp từ urani – một nguyên liệu phổ biến trong các lò phản ứng hạt nhân - nhưng nó được tổng hợp từ đồng vị plutoni 239Pu. Đồng vị Pu cần được tạo ra trước theo phản ứng sau: 92 238 U → ( n , γ ) 92 239 U → 23.5 m i n β − 93 239 N p → 2.3565 d β − 94 239 P u {\displaystyle \mathrm {^{238}_{\ 92}U\ {\xrightarrow {(n,\gamma )}}\ _{\ 92}^{239}U\ {\xrightarrow[{23.5\ min}]{\beta ^{-}}}\ _{\ 93}^{239}Np\ {\xrightarrow[{2.3565\ d}]{\beta ^{-}}}\ _{\ 94}^{239}Pu} } Việc bắt giữa 2 nơtron bằng 239Pu (a so-called (n,γ) reaction), theo sau là phân rã β, tạo ra 241Am: 94 239 P u → 2 ( n , γ ) 94 241 P u → 14.35 y r β − 95 241 A m {\displaystyle \mathrm {^{239}_{\ 94}Pu\ {\xrightarrow {2(n,\gamma )}}\ _{\ 94}^{241}Pu\ {\xrightarrow[{14.35\ yr}]{\beta ^{-}}}\ _{\ 95}^{241}Am} } Plutoni có mặt trong các nguyên liệu hạt nhân đã qua sử dụng khoảng 12% 241Pu. Do nó liên tục phân hạch thành 241Am, 241Pu có thể được tách ra và có thể được sử dụng để tạo ra 241Am. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra khá chậm: phân nửa lượng 241Pu ban đầu phân rã thành 241Am sau khoảng 15 năm, và một lượng 241Am sẽ tạo ra tối đa sau 70 năm. 241Am được tạo ra có thể được sử dụng để tiếp tục tạo ra các đồng vị americi nặng hơn bằng cách bắt nơtron tiếp theo trong lò phản ứng hạt nhân. Trong lò phản ứng nước nhẹ (LWR), 79% 241Am chuyển thành 242Am và 10% thành đồng phân hạt nhân của nó 242mAm: 79%: 95 241 A m → ( n , γ ) 95 242 A m {\displaystyle \mathrm {^{241}_{\ 95}Am\ {\xrightarrow {(n,\gamma )}}\ _{\ 95}^{242}Am} } 10%: 95 241 A m → ( n , γ ) 95 242 m A m {\displaystyle \mathrm {^{241}_{\ 95}Am\ {\xrightarrow {(n,\gamma )}}\ _{\ \ \ 95}^{242m}Am} } Americi-242 có chu kỳ bán rã chỉ 16 giờ, tức sau đó nó tiếp tục biến đổi thành 243Am, một đồng vị không có ích. Đồng vị sau được tạo ra thay vì trong quá trình mà 239Pu bắt 4 nơtron trong luồng nơtron cao: 94 239 P u → 4 ( n , γ ) 94 243 P u → 4.956 h β − 95 243 A m {\displaystyle \mathrm {^{239}_{\ 94}Pu\ {\xrightarrow {4(n,\gamma )}}\ _{\ 94}^{243}Pu\ {\xrightarrow[{4.956\ h}]{\beta ^{-}}}\ _{\ 95}^{243}Am} } == Xuất hiện == Đồng vị phổ biến nhất và tồn tại lâu nhất của americi, 241Am và 243Am, có chu kỳ bán rã 432,2 và 7.370 năm. Tuy vậy, bất kỳ primordial americi (americi có mặt trên trái đất khi chúng hình thành) hiện đã phân rã hết. Americi hiện hữu tập trung ở những khu vực thử các vũ khí hạt nhân trong khí quyển đã diễn ra trong khoảng thời gian 1945 đến 1980, cũng như tại các vị trí xảy ea sự cố hạt nhân như thảm họa Chernobyl. Ví dụ như, khi phân tích các mảnh vụn ở vị trí thử bom hydro đầu tiên của Mỹ Ivy Mike, (1 tháng 11 năm 1952, Enewetak Atoll), thì có nồng độ cao các nguyên tố nhóm actini bao gồm cả americi; nhưng do bí mật quân sự, kết quả này chỉ được công bố từ năm 1956. Trinitit, mảnh vỡ thủy tin trên hoang mạc gần Alamogordo, New Mexico, sau vụ thử Trinity gốc plutoni vào 16 tháng 7 năm 1945, chứa vết của americi-241. Americi ở các độ cao cũng được phát hiện từ vị trí rơi máy bay ném bom Boeing B-52 của mỹ, máy bay này đã chở 4 quả bom hydro rơi tại Greenland năm 1968. Ở những khi vực khác, lượng phóng xạ trong bình americi trong đất mặt khoảng 0,01 picocuries/g (0.37 mBq/g). Các hợp chất americi trong khí quyển có khả năng tan kém trong các dung môi phổ biến và hầu hết tồn đọng trong đất. Phân tích đất cát cho giá trị americi cao hơn 1.900 lần hàm lượng tồn tại trong nước lỗ rỗng; và thậm chí có tỉ lệ cao hơn khi đo đạc trong đất bột. Americi được tạo ra chủ yếu từ quá trình nhân tạo rất ít chủ yếu dùng cho nghiên cứu. Một tấn nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng chứa khoảng 100 gram của nhiều đồng vị americi, chủ yếu là 241Am và 243Am. Hoạt tính phóng xạ dài của nó là không mong đợi trong việc đổ thải, và do đó, ngoài americi cùng với các actini tồn tại lâu dài khác phải được trung hòa. Quá trình xử lý này có thể trải qua nhiều bước, trước tiên americi phải được tách ra và sau đó được chuyên hóa bằng cách bắn phá neutron trong các lò phản ứng đặc biệt tạo thành các hạt nhân có thời gian tồn tại ngắn. Quá trình này được gọi là nuclear transmutation, nhưng nó vẫn đang được phát triển cho americi. Các nguyên tố transurani từ americi đến fermi xuất hiện một cách tự nhiên trong các lò phản ứng phân hạch tự nhiên trong tự nhiên ở Oklo, nhưng không còn làm như vậy nữa. == Chú thích == == Tham khảo ==
billiards snooker.txt
Môn chơi gồm cây gậy (cơ) đẩy những trái bi trên một mặt bàn, đang là môn thể thao thịnh hành ở nhiều nơi. Ở châu Âu, người ta bắt đầu chơi bida từ thế kỉ 13, trên những chiếc bàn bằng đất nện, xung quanh có bờ cỏ. Có tài liệu chép vào năm 1469, tức là 16 năm sau khi bị quân Thổ xâm chiếm, đã có bàn bida. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa thống nhất được là bida ở nước nào đầu tiên. Riêng ở Pháp, sử sách ghi rõ: chiếc bàn bida bằng gỗ đầu tiên có từ thời vua Louis 11; tác giả là ông Henri de Vigue đã đóng cho vua chơi. (Viện bảo tàng Pháp còn lưu giữ hình ảnh chiếc bàn này) Vào năm 1643, người Hà Lan đổ bộ lên New York (lúc đầu đặt tên là New Netherland) và du nhập bida vào đây. Chẳng bao lâu, các hội bida mọc lên khắp 2 miền Nam – Bắc Mỹ. Ở châu Âu, từ thế kỉ 17, ở Đức – Áo đã bắt đầu chơi bida; ở Bắc Âu thì bida vào Đan Mạch năm 1766, rồi qua Thuỵ Điển, Na Uy, Phần Lan. Về phía Đông, cũng chính người Hà Lan đã chiếm Indonesia năm 1636 và đưa bida tới đây. Đến năm 1560 thì Nhật Bản được biết môn bida do các thuỷ thủ Hà Lan mang tới. Ngày nay, Nhật Bản là nước có nhiều CLB bida nhất và cũng đã sản sinh ra nhiều tay vô địch bida. Đứng đầu hiệp hội bida Nhật là ông Tsuneyoshi Takeda, một thành viên trong Uỷ ban Olympic quốc tế. == Lịch sử == Bida là một trò chơi ngoài trời trên nền đất có dùng bi và gậy từ thế kỷ 14. Sau đó người ta chuyển trò chơi này vào trong nhà. Có bằng chứng cho thấy bàn bida xuất hiện vào năm 1470, Vua Louis XI của Pháp đã mua một chiếc bàn như thế. Trò chơi này trở nên phổ biến trong các giới hoàng gia, Mary một Nữ hoàng của Scots trong thời gian chờ đợi hành hình vào năm 1586 còn phàn nàn rằng bà đã bị tịch thu cả bàn bida. Trò chơi này phổ biến ở những nơi công cộng và trong các nhà trọ. Năm 1591, nhà thơ người Anh Edmund Spenser đã nên án "balyards" như một thú tiêu khiển xa hoa. Những quyển sách đầu tiên chỉ dẫn về trò chơi này được viết vào thế kỷ 17 tại nước Anh và Pháp. Vào thời gian đó người ta dùng một dụng cụ bằng gỗ để đẩy bóng cơ gọi là gậy chơi bida (mace), có đầu tù tựa vào bàn. Một hình cung nhỏ trên mặt bàn là bia. Trong thế kỷ 18, hình cung nhường chỗ cho túi lưới đựng bida, gậy (mace) được thay bằng cơ và chỉ được chống một tay. Người Anh đã hình thành nên một lối chơi mà sau đó gọi là bida Anh, kết hợp cả túi lưới và cú đánh liên tiếp nhiều bi (carom), lối chơi vẫn phổ biến đến tận những năm 1930. Người Pháp lại chỉ chú trọng vào kiểu đánh carom và đến giữa thế kỷ 19 họ mới chơi bàn không có lỗ. Bida được xem là một trò chơi yêu cầu độ chính xác và nghệ thuật cao trong suốt giai đoạn đầu thế kỷ 19 sau khi xuất hiện một loạt những tiến bộ kỹ thuật như: sáng tạo ra loại đầu bịt bằng da, sử dụng phấn để tăng độ ma sát giữa đầu cơ và bóng cơ và dùng đá phiến để làm mặt bàn và băng bằng chất liệu cao su. == Các loại hình Billiards & Snooker == === Snooker === Môn snooker được đại tá Sir Neville Chamberlain phát minh ra ở Ấn Độ năm 1845 là một trò chơi tâm lý với những quy luật khá đơn giản. Các tay cơ phải đánh 15 quả đỏ lần lượt với 1 quả trong 6 quả màu khác vào lỗ. Mỗi quả đỏ được tính 1 điểm, những quả màu khác từ 2 đến 7 điểm. - Snooker là trò chơi cơ phổ biến nhất ở nước Anh và các nước trước đây là một phần của Đế chế Anh. Bàn snooker điển hình có kích thước là 2x4 m (6x12 ft) gồm 6 lỗ. - Bộ bi Snooker gồm 1 bi cái, 15 bóng mục tiêu đỏ không đánh số (gọi là bóng đỏ), 6 bóng mục tiêu màu không đánh số (gọi là bóng màu). Bóng đỏ: 1 điểm, vàng: 2 điểm, xanh lá cây: 3 điểm, nâu: 4 điểm, xanh da trời: 5 điểm, hồng: 6 điểm, đen: 7 điểm. Nội dung chơi là ai ghi được nhiều điểm hơn thì người đó thắng. - Điểm có thể được ghi bằng 2 cách: từ lỗi của đối thủ hoặc ghi điểm trực tiếp. Muốn ăn một bi màu thì phải ăn một bi đỏ rồi mới được ăn một bi màu trong một lượt đánh. Nếu bi màu đã được đánh vào lỗ rồi thì lại được nhặt lên đặt vào vị trí ban đầu. Cứ ăn 1 đỏ rồi 1 màu, cứ như vậy cho đến khi nào không còn bi đỏ trên bàn thì người chơi bắt đầu đánh 6 bi màu nhưng phải theo thứ tự bi 2 điểm (vàng) đến bi 7 điểm (đen) và kết thúc ván. Những quả đỏ vào lỗ sẽ được ở lại đó, còn các bi màu sẽ được để lại chỗ cũ khi vẫn còn bi đỏ trên bàn. Khi không còn bi đỏ, các viên bi màu sẽ được đánh vào lỗ theo trật tự điểm. Một ván được xem là kết thúc khi một bên giành số điểm áp đảo mà đối phương không thể đuổi kịp hoặc bi được đánh hết trên bàn. Mỗi trận có 17 ván và có thể kéo dài 8 giờ. Các tay cơ sẽ di chuyển khoảng 5 km, và giảm chừng 4 kg. Snooker là một phương trình với rất nhiều ẩn số trong đó tâm lý đóng một vai trò rất quan trọng. Các điều kiện ngoại cảnh khác như bụi, độ ẩm mặt nỉ cũng có thể thay đổi đường chạy của bi. Nếu mặt trời chiếu vào bàn thì bi sẽ chạy nhanh hơn, nếu lạnh nó sẽ chuyển động chậm lại. Bởi vậy, các tay cơ chuyên nghiệp thường chơi trong phòng có rèm và ở nhiệt độ chuẩn 18’C. Mặt bàn được sưởi. Trước mỗi trận đấu, người ta căng lại tấm nỉ. Hút sạch những hạt bụi nhỏ nhất. Các tay cơ chuyên nghiệp chơi với cơ gồm hai phần bằng gỗ sồi. Trong khi bi-a thông thường được chơi trong các CLB sặc khói thuốc lá, bia và rượu nặng thì snooker luôn có vị trí trang trọng trong các CLB Snooker. Người chơi mặc smoking hoặc sơ mi, đeo nơ rất lịch sự. Ở Vương quốc Anh, Trung Quốc và Thái Lan, snooker được xem là môn thể thao quần chúng rất được ưa chuộng. Chỉ tính ở Anh có 350 giờ snooker được truyền hình/năm và xếp vị trí thứ 2 sau bóng đá. === Billiards === Billiards bao gồm một nhóm các trò chơi trên bàn hình chữ nhật, bàn có chiều dài gấp đôi chiều rộng. Bi được đẩy bởi một cây gậy vót thon, đầu bịt da gọi là gậy bida (cơ). Đường viền xung quanh bàn là đường biên (băng), mà bi bật trở lại, làm bằng chất liệu cao su. Kích thước của bàn có chiều rộng từ 0.9 đến 1.8 m (3 đến 6 ft), chiều dài từ 1.8 đến 3.6 m (6 đến 12 ft). Bề mặt của bàn bằng phẳng, gọi là đệm, thông thường làm bằng đá phiến được bao phủ bằng lớp vải mịn êm, thường người ta bọc vải màu xanh. Một cơ điển hình dài 145 cm (57 in), nặng 538 g (19 oz) và kích thước của đường kính đầu bịt là 1.2 cm (0.5 in). Chất liệu của bi trước đây bằng ngà voi nhưng bây giờ làm từ tổng hợp các hợp chất cứng, kích cỡ từ 5 cm (2 in) đến 6 cm (2.4 in). Bi trắng mà người chơi đánh bằng đầu gậy cơ được gọi là bi cơ. Những viên bi còn lại có màu sắc được gọi là bi mục tiêu. ==== Pool ==== Pool, đôi khi gọi là bida túi lưới được chơi phổ biến nhất ở Mỹ và nhiều nước khác. Bàn pun nhỏ hơn bàn bida carom hoặc snooker và có 6 túi lưới. Kiểu chơi phổ biến nhất bao gồm 8 bóng, 9 bóng, chơi luân phiên và pun đơn giản. Hai cơ thủ người Mỹ nổi tiếng là những cơ thủ chơi pun tự do là Ralph Greenleaf và Willie Mosconi, họ chơi thành công nhất ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20. Lối chơi 9 bóng đòi hỏi thủ thuật khôn khéo và cách đánh tinh xảo đã hấp dẫn khán giả hơn lối chơi pun tự do. Từ những năm 1970, lối chơi này dường như chỉ dành riêng cho những giải thi đấu chuyên nghiệp. Người ta sử dụng bi đánh số. Đầu tiên bóng cơ phải chạm vào bi đánh số thấp nhất, sau đó nếu có bi nào lọt xuống lỗ thì cơ thủ tiếp tục đánh những bi khác. Cơ thủ nào ăn được bi số 9 thì sẽ thắng. Các cơ thủ nghiệp dư chơi ở những quán công cộng, các CLB tư nhân, tại nhà và trên các bàn nhỏ ở quán rượu tiêu tiền xu đã trở nên phổ biến rộng rãi vào những năm 1970, tại đây lối chơi 8 bóng được chơi phổ biến hơn cả. Lối chơi này sử dụng 15 bi đánh số liên tiếp. Một cơ thủ đánh bi mà được đánh số cao hơn số 8 còn đối thủ của anh ta đánh bi còn lại (có số nhỏ hơn số 8), người thắng cuộc là người phải thọc được tất cả số bóng của mình vào lưới rồi cuối cùng là bi số 8. Bida 8 bóng được chơi trên bàn bida có 6 lỗ và với 15 bi (đánh số thứ tự từ 1 đến 15) được chia làm 2 nhóm. Nhóm màu là nhóm có số từ 9-15, còn bi số 8 là bi màu đen. Ngoài 15 bi mục tiêu còn có 1 bi cái màu trắng. Khi chơi, 2 người chọn 2 nhóm bi. Ví dụ, chọn nhóm khoang thì phải đánh hết các bi ở nhóm khoang (9-15) rồi sau đó mới được phép đánh bi số 8. Nếu ai ăn được bi số 8 thì người đó thắng. Định ăn bi số 8 lỗ nào thì phải chỉ lỗ ấy. Khi bắt đầu trò chơi, bi số 8 được xếp ở giữa, bi khoang và màu ở 2 đỉnh tam giác. Bida 9 bóng được chơi trên bàn có 6 lỗ, gồm có 1 bi cái và 9 bi mục tiêu được đánh số từ 1-9. Ở mỗi lần đánh bi đầu tiên mà bi cái chạm vào phải là bi có số thấp nhất ở trên bànvà phải ăn lần lượt từ bi số 1 đến bi số 9. Nếu một người ăn được một bi thì lại được đánh tiếp và đối thủ nào ăn được bi số 9 thì người đó thắng. Bida 9 bóng lúc bắt đầu trò chơi, bóng được xếp như hình quả trám, bi số 9 ở giữa, bi số 1 ở điểm cuối (foot spot) ==== Billiard Carom ==== Là cách chơi billiards theo đó người chơi đánh bi của mình (bi chủ) chạm liên tiếp bi đỏ và bi của đối phương. Khi đánh cú khai cuộc, bi đỏ được đặt ở điểm cuối bàn (điểm giữa theo chiều dài bàn và cách băng cuối 71 cm), bi đối phương được đặt ở điểm đầu bàn (tương tự điểm cuối) và bi của đấu thủ khai cuộc được đặt cách ngang bi đối phương 18 cm (trái hoặc phải). Người đánh cú khai cuộc phải đánh bi chủ chạm vào bi đỏ trước tiên. Ở lần đánh tiếp theo có thể chạm bất cứ bi nào trước cũng được. Bida carom thường được chơi trên bàn không túi lưới, kích thước là 1.5 x 3 m (5 x 10 ft), dùng hai bi cơ (mỗi bi cho một người chơi) và một hoặc hai bi mục tiêu. Đây được gọi là lối chơi bida tự do, hoặc đơn giản, lối chơi này được chơi rộng rãi nhất, một điểm được ghi bằng cách đánh bi cơ chạm vào bóng mục tiêu này đến bóng mục tiêu khác. Lối chơi khó hơn là carom băng, trước khi chạm một hoặc hai bi mục tiêu thì bóng cơ phải chạm nhiều hơn một lần vào thành bàn (băng). Lối chơi balkline là kiểu chơi trong đó người ta vẽ các vạch trên mặt bàn mà người chơi chỉ được phép chơi trong các giới hạn đó. Lối chơi khó nhất là bida 3 băng, trước khi chạm 1 hoặc 2 bi cơ phải chạm vào 3 băng trở lên. Bida tự do (đơn giản), mà vẫn rất phổ biến ở châu Âu, Mỹ La Tinh và châu Á, đã dần mất tính phổ biến ở Mỹ trong thời kỳ nước Mỹ bị chia cắt trước chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). Nó được thay thế bởi lối chơi bida 3 băng. Ba người Mỹ là Jake Schaefer, Jr., Welker Cochran và Willie Hoppe đã thống trị lối chơi Balkline và 3 băng từ năm 1910 đến 1952. Sau đó Allen Gilbert trở thành cơ thủ hàng đầu. Trên trường quốc tế, Raymond Ceulemans người Bỉ là cơ thủ thống trị lối chơi 3 băng, anh giành được danh hiệu vô địch thế giới nhiều lần và được coi là một cơ thủ huyền thoại. Torbjorn Blomdahl người Thụy Điển trở thành cơ thủ chơi 3 băng xuất sắc nhất những năm 1990. Billiard (Carom 3 băng)(3 cushion carom) - Trước khi chạm 1 hoặc 2 bi, bi chủ phải chạm ba lần vào băng - Khi 3 bi bị dính, bi được đặt lại thẳng hàng như sau: bi chủ đặt tại điểm đầu bàn, bi đỏ đặt điểm cuối bàn, bi đối phương đặt điểm giữa bàn (cách đều 2 bi kia) Billiard (Carom 1 băng) (1 cushion carom) - Trước khi chạm 1 hoặc 2 bi, bi chủ phải chạm một lần vào băng (chạm vào thành bàn) - Người đánh bị mất lượt trong các trường hợp sau: Bi rơi ra khỏi bàn Bi văng lên rồi đứng yên trên thành bàn Chân người đánh không chạm sàn Quần áo hoặc bộ phận nào đó của cơ thể chạm vào bi Chạm bi chủ 2 lần - Nếu bi chủ dính bi mục tiêu thì bi chủ được đặt lại vào vị trí quy định và bi mục tiêu ở nguyên vị trí. Trong trường hợp điểm quy định đã bị mục tiêu khác choán chỗ thì bi choán chỗ phải được dời về vị trí quy định. Billiard (Libre) (Tự do) - Một bi chạm 2 bi còn lai dưới bất kỳ hình thức nào - Khi bi chủ bị dính vào một trong hai bi còn lại, đấu thủ sẽ tiếp cú đánh ở vị trí khai cuộc == Kích thước bàn Billiard == Theo tiêu chuẩn thi đấu, mặt bàn billiards phải được làm bằng những phiến đá tự nhiên có bề dày tối thiểu 2,54 cm, không biến dạng trước sự thay đổi của nhiệt độ hay môi trường. Mặt bàn thường làm bằng 3 phiến đá ghép lại để dễ di chuyển cũng như điều chỉnh độ phẳng. Điểm bắt buộc là điểm nối giữa những phiến đá phải thật phẳng, sai số cho phép không quá 0,04mm. Để đảm bảo độ phẳng, mặt bàn chỉ được phép sai số giữa 2 đầu chiều dài là 0,4mm và 0,2mm theo chiều ngang. Ngoài ra, mặt bàn không được võng xuống quá 0,7mm khi có vật nặng 90 kg đặt lên trên. Mặt bàn được phủ 1 lớp vải với thành phần chính làm từ len và được căng đúng mức để không ảnh hưởng đến đường lăn của bi. Băng (mặt trong của bàn billiards) phải được làm bằng cao su đặc và chìm sâu khi thả xuống nước. Khi đánh mạnh, bi chạm băng bật ra phải không bị nhảy. Lớp vài bọc căng được kéo căng ở mức nhất định và lớp vải này phải nổi khi thả trên nước. Vải có chất lượng tốt phải có thành phần gồm 75% len và 25% nylon. Ngoài ra, bàn billiards còn phải đáp ứng một số tiêu chuẩn khác như bàn phải cao 75/80 cm, băng cao 3,6/3,7 cm, kích thước bàn lọt lòng 142x284cm, kích thước phủ bì 168x310cm. == Các loại bàn == Có hai loại bàn sau đây được chơi thịnh hành hơn cả: Loại bàn thứ nhất có lỗ hổng, những lỗ này gọi là các túi lưới để hứng bi, nằm ở các góc bàn và ở hai đầu trung tuyến đường biên bàn bida. Loại bàn thứ hai không có túi hứng bi. Đối với bàn có túi lưới, mục đích của người chơi là dùng cây gậy đánh bóng vào lưới. Loại bàn thứ hai là bàn không có túi lưới, người ta tính điểm bằng cách đánh bóng cơ bật liên tiếp vào những viên bi khác (Carom), đôi khi bi cơ bắt buộc phải chạm vào thành bàn. Các trò chơi Carom của bàn không có túi lưới rất thịnh hành ở châu Âu, châu Mỹ La Tinh, và châu Á. Các trò chơi của bàn có túi lưới, bao gồm cả lối đánh pool, lại thịnh hành ở những nước nói tiếng Anh. == Các tay cơ nổi tiếng == === Quốc tế === Cơ thủ snooker huyền thoại là Joe Davis người Anh, ông nghỉ hưu vào năm 1946 sau 20 năm bất bại. Ông ghi được 100 điểm hoặc 687 lần thọc bi vào lưới. Sau đó, Horace Lindrum người Úc đã phá vỡ kỷ lục của ông. === Việt Nam === 1) Carom Lý Thế Vinh 4 HCV Trần Đình Hòa 2 HCV Dương Văn Vũ 3 HCV Trương Văn Anh 1 HCV Lê Phước Lợi 2 HCV Đặng Đình Tiến 2 HCV 2) Pool Nguyễn Thành Nam 4 HCV Lê Công Đức 5 HCV Nguyênc Phúc Long 3 HCV Lương Chí Dũng 3 HCV Bùi Dương Thái Chân 2 HCV Nguyễn Phương Thảo 1 HCV Vũ Trọng Khải 1 HCV 3) Snooker Lê Trọng Ngọc 5 HCV Lê Dũng 2 HCV Phạm Thanh Thủy 1 HCV Phạm Hoài Nguyên 1 HCV Phạm Hoài Nam 1 HCV Nguyễn Trọng Kiên 2 HCV Nguyễn Thành Long 2 HCV Trò chơi billiard đã xuất hiện trên thế giới hơn một nửa thế kỷ nay. Tại Việt Nam thời Pháp thuộc đã xuất hiện các bàn billiard France (3 bi) trong các Câu lạc bộ sĩ quan để tầng lớp thượng lưu và các sĩ quan giải trí. Trước thời kỳ 86-87 ở Việt Nam phong trào billiard tồn tại mang tính tự phát chủ yếu nhằm phục vụ mục đích giải trí, ở phía bắc phổ biến chơi billiard lỗ (POOL). Ở phía nam thì phổ biến loại hình Bi-da (CAROOM). Cuối năm 1996, ông Hoàng Vĩnh Giang, giám đốc sở thể dục thể thao đi công tác ở nước ngoài mang tài liệu về Việt Nam với ý tưởng đưa trò chơi này phát triển thành một môn thể thao, đã được tổ chức thi đấu từ lâu trên thế giới. Môn chơi này đòi hỏi không nhiều về thể lực rất phù hợp với tố chất con người Việt Nam. Người được giao trọng trách này là ông Đoàn Đức Đính, Nột người lúc này là chủ một Câu lạc bộ tập hợp rất nhiều cơ thủ giỏi của Hà Nội. Ngay khi bộ môn Billiard-Snooker được thành lập, giải Seagame 19 tại Indonesia Billiard-Snooker Việt Nam ra quân thành công rực rỡ với 1HCV của Lý Thế Vinh, 1HCB của Dương Hoàng Anh và 2HCĐ của Đặng Đình Tiến và Lê Phúc Lợi. Sau những thành công ngoài mong đợi của lần đầu tiên ra quân Billiard-Snooker Việt Nam đã được nhà nước mạnh dạn đầu tư và gạt hái được rất nhiều thành tích tại các giải quốc tế: 1HCĐ tại Seagame 21 1HCV, 1HCB tai AISAS 2002; 4HCV, 3HCB, 1HCĐ tại Seagame 22 == Chú thích == == Liên kết ngoài == World Snooker Association International Billiards & Snooker Federation European Billiards & Snooker Association Scottish Snooker NGB for Snooker & Billiards in Scotland
ulaanbaatar.txt
Ulan Bator hay Ulaanbaatar (tiếng Việt: U-lan Ba-to, còn có tên Việt hóa là Khố Luân; tiếng Nga: Улан-Батор, Ulan Bator; tiếng Mông Cổ: Улаанбаатар, ᠤᠯᠠᠭᠠᠨᠪᠠᠭᠠᠲᠤᠷ, [ʊɮɑːŋ.bɑːtʰɑ̆r], Ulaγanbaγatur; nghĩa là "Anh hùng Đỏ") là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Mông Cổ. Với vị thế là một đô thị trực thuộc trung ương, thành phố không thuộc bất kỳ một tỉnh nào, và có dân số trên một triệu người vào năm 2008. Nằm tại phía bắc của miền trung Mông Cổ, thành phố có độ cao 1.310 mét (4.300 ft) trên một thung lũng nằm bên sông Tuul. Ulaanbaatar là trung tâm văn hóa, kinh tế và tài chính của toàn bộ đất nước Mông Cổ. Thành phố cũng là trung tâm của mạng lưới đường bộ tại Mông Cổ, và có thể kết nối với cả Đường sắt xuyên Siberi của Nga và hệ thống đường sắt Trung Quốc. Thành phố được hình thành từ năm 1639 với vai trò là một trung tâm tu viện Phật giáo và di chuyển dần cùng với những người dân du mục. Năm 1778 thành phố được hình thành một cách cố định tại địa điểm hiện nay, nơi hợp lưu của hai dòng sông Tuul và Selbe. Trước đó thành phố đã thay đổi vị trí 28 lần, mỗi địa điểm trước đó đều được chọn lựa một cách kỹ lưỡng. Trong thế kỷ 20, Ulaanbaatar đã phát triển thành một trung tâm sản xuất của Mông Cổ. == Tên gọi == Ulaanbaatar trước đó đã từng mang nhiều tên gọi trong lịch sử. Từ 1639 đến 1706, thành phố được gọi là Urga (tiếng Mông Cổ: Өргөө, Örgöö, "Cư trú"), và từ năm 1706 đến 1911 với tên gọi Kuren (Хүрээ, Xüree, "Lều"), Da-Kuren (Даа Хүрээ, Daa Xüree, từ tiếng Trung: 大, đại, chuyển tự của tiếng Mông Cổ: Их Хүрээ, Ix Xüree, "Trại Lớn"), hoặc Kulun (tiếng Trung: 庫倫 Khố Luân, chuyển tự của Xüree). Sau khi Mông Cổ độc lập vào năm 1911, cả chính quyền thế tục và cung điện của Khan/Hãn Bogd đều đổi tên thành phố thành Niĭslel Xüree (Нийслэл Хүрээ, "Lều Thủ đô"). Thành phố được gọi là Bogdiin Khuree (Богдийн Хүрээ, Bogdiĭn Xüree, "Lều Thánh") trong bài dân ca "Tôn kính Bogdiin Khuree". Năm 1924, thành phố trở thành thủ đô của nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ mới được thành lập, tên của thành phố được đổi thành Ulaanbaatar (Улаанбаатар, Ulaanbaatar, nghĩa là "Anh hùng Đỏ") để tỏ lòng kính trọng đối với anh hùng dân tộc Mông Cổ Damdin Sükhbaatar, người đã kề vai sát cánh với Hồng quân Liên Xô giải phóng Mông Cổ khỏi sự chiếm đóng của Trung Quốc và chống lại quân đội xâm lược của Roman von Ungern-Sternberg. Tượng của ông nay vẫn được đặt tại quảng trường trung tâm thủ đô. Do ảnh hưởng lâu dài của Liên Xô tại Mông Cổ, tên gọi Ulan Bator chuyển tự từ tiếng Nga (tiếng Nga: Улан-Батор, Ulan-Bator) đã trở thành tên gọi thông dụng của thành phố trong nhiều ngôn ngữ. Cách viết tên thành phố trong chữ cái tiếng Nga khác với trong chữ cái tiếng Mông Cổ là do liên quan đến các vấn đề về định nghĩa phát âm, và chữ cái Kirin mới chỉ được giới thiệu tại Mông Cổ 17 năm sau khi mước này giành được độc lập. Với người Mông Cổ, thành phố có biệt danh là Aziĭn Cagaan Dagina (Азийн Цагаан Дагина, "Nàng tiên Trắng [Dakini của châu Á") vào cuối thế kỷ 20. Tại Mông Cổ ngày nay, thành phố đôi khi được gọi một cách châm biếm là Utaanbaatar (Утаанбаатар, "Anh hùng Sương khói") do có sương mù dày đặc vào mùa đông. == Lịch sử == === Định cư trước-1778 === Con người đã bắt đầu tới định cư tại nơi là Ulaanbaatar ngày nay từ thời đại đồ đá cũ thấp. Nhà khảo cổ học Alexey Okladnikov đã làm việc từ năm 1949 và đến năm 1960 ông đã phát hiện ra nhiều di chỉ từ thời đồ đá cũ trên các ngọn núi Bogd Khan Uul, Buyant-Ukhaa và Songinokhairkhan. Đến năm 1962 nhiều dụng cụ từ thời đồ đá cũ khác nhau đã được tìm thấy tại núi Songinokhairkhan và núi Buyant-Ukhaa (23 dụng cụ bằng đá) và các học giả cho rằng các dụng cụ này có niên đại từ 300.000 năm đến 40.000-12.000 trước. Okladnikov phát hiện ra các di chỉ từ thời đồ đá cũ cao (40.000-12.000 năm trước) ở góc đông nam của đồi Zaisan Hill ở phía bắc núi Bogd Khan Uul. Byambyn Rinchen cho rằng đây là một nguồn cảm hứng cho cuốn truyện thời tiền sử của ông mang tên Zaan Zaluudai. Những người sống ở Thời đại đồ đá cũ Cao đã đi săn voi ma mút và tê giác lông mịn, xương của hai loài này được tìm thấy nhiều tại khu vực xung quanh Ulan Bator. Các bức vẽ trên đá màu vàng nhạt từ thời đại đồ đồng (3000 năm trước) đã được tìm thấy tại hẻm núi Ikh Tenger Gorge ở mặt phía bắc của núi Bogd Khan Uul đối diện với thành phố. Các bức vẽ mô tả con người, ngựa, đại bàng và các hình vẽ trừu tượng như đường nằm ngang và hình vuông lớn có một trăm chấm nhỏ bên trong. Các lối vẽ tương tự trong thời kỳ này cũng xuất hiện tại Gachuurt ở phía tây của thành phố, cũng như tại tỉnh Khövsgöl và ở miền nam Siberi, chỉ dấu của một sự tương đồng với văn hóa du mục nam Siberi. Núi Bogd Khan Uul gần như chắc chắn đã là một địa điểm thờ cúng tôn giáo quan trọng của những cư dân thời đó. Phía bắc Ulan Bator có các ngôi mộ hoàng gia Hung Nô rất lớn và đã 2000 năm tuổi. Một ngôi mộ Hung Nô cũng được tìm thấy tại quận Chingeltei thuộc nội thành. Nằm bên bờ dòng sông thiêng Tuul ("Khatun Tuul" hay Nữ hoàng Tuul trong truyền thuyết), khu vực Ulan Bator nằm bên trong phạm vi của các đế chế du mục như Hung Nô (209BC-93AD), Tiên Ti (93AD-4th century), Nhu Nhiên (402-555), Đột Quyết (555-745), Hồi Hột (745-840), Khiết Đan (907-1125) và Đế quốc Mông Cổ (1206–1368). Tại quận Nalaikh District có bức bia Tonyukuk (thôn dục cốc) (khoảng năm 697 SCN) khắc chữ Run của người Turk (Thổ). Câu khắc này dài và nó có giá trị lưu ý rằng ở đây người ta có thể tìm thấy một người được gọi là "Khiết Đan" vốn là một người nói tiếng Mông Cổ ở phía đông. Một bia Kurgan (balba) hay tượng người cổ đã được lựa chọn để hình thành thành phố từ năm 1778 và vị trí thành phố hiện nay và được coi là một địa điểm thành lập long trọng (Shav). Một con rùa đá hiện đại nay nằm trên đỉnh của balbal cổ gần quảng trường Sukhbaatar ở trung tâm thành phố. Vương Hãn của bộ lạc Khắc Liệt, một quốc vương Thiên chúa giáo Nestoria (Thiên chúa giáo Đông), đã tuyên bố rằng ông có cung điện tại đây (Rừng Đen của Sông Tuul) và ngăn cấm săn bắn trên ngọn núi thánh Bogd Uul. Các tàn tích của cung điện này (15x27 mét với một cửa hướng về phía nam) được tìm thấy tại khu vực quận Songinokhairkhan vào năm 1949 và được D.Navaan kahi quật vào năm 2006. Cung điện xây bằng gạch này chịu ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa, cũng được gọi là Đệ Tam Cung điện của Thành Cát Tư Hãn hay cung Yesui Khatun, là nơi Thành Cát Tư Hãn sóng cùng Yesui Khatun trước khi tấn công Đảng Hạng. Năm 1984, một ngôi mộ có nhiều của cải từ thế kỷ 13 của một người 50-60 tuổi, cao 175 cm với một dây lưng trang trí bằng vàng đã được khai quật tại Dadart Uul thuộc khu vực núi Songinokhairkhan. Một bức khắc trên đá đơn giản từ thế kỷ 13 kể về một phụ nữ Mông Cổ cùng chiếc mũ Mông Cổ đặc trưng đã được tìm thấy tại núi Bogd Khan Uul. Hãn Abtai Sain được cho là đã tôn thờ ngọn núi vào thế kỷ 16. Một sứ thần nhà Thanh đã viết một thư tịch nói về chuyến đi của ông qua khu vực này vào năm 1712, trong đó những người tùy tùng đã nghỉ ngơi và đã bắt được 10 tới 12 con cá hồi và cá chó trên dòng sông trong khi một người khác đã giết được một con hươu bằng một phát súng. Ông cũng miêu tả cảnh thiên nhiên "dồi dào và phong phú" xung quanh một dãy núi mà có thể là núi Songino Khairkhan ngày nay. === Tu viện di động === Được thành lập năm 1639 và ban đầu là một tu viện yurt (lều tròn truyền thống Mông Cổ), Ulan Bator, khi đó được gọi là Örgöö (cung-yurt), đầu tiên nằm gần hồ Shireet Tsagaan, nay thuộc Övörkhangai, cách địa điểm thủ đô hiện nay 250 km, và chủ yếu dùng để làm nhà ở cho Jebtsundamba Khutughtu (người đứng đầu dòng Phật giáo Cách-lỗ phái tại Mông Cổ) đầu tiên tên là Zanabazar. Với vai trò là một khu vực gắn với tu viện động, thành phố thường "di chuyển" tới những địa điểm khác nhau dọc theo các sông Selenge, Orkhon và Tuul. Trong chiến tranh Dzungar vào cuối thế thế kỷ 17, thành phố thậm chí còn từng được di dời đến Nội Mông ngày nay. Sau này, khi phát triển hơn trước, thành phố dần dần giảm tần suất di chuyển. Năm 1778, thành phố gần như ổn định tại vị trí ngày nay, gần nơi hợp lưu của sông Selbe và sông Tuul và nằm dưới chân núi Bogd Khan Uul, sau đó cũng nằm trên tuyến lữ hành từ Bắc Kinh đến Kyakhta. Xét theo đơn tỉnh cầu của Yundendorji, hoàng đế Càn Long đã chính thức công nhận một nghi lễ hàng năm trên núi Bogd Khan Uul vào năm 1778 với điều kiện phải giao nộp triều cống hàng năm. Thành phố không chỉ là nơi Lạt-ma Jebtsundamba Khutugtus cư ngụ mà còn có hai trú tráp đại thần của nhà Thanh và có một Mãi mại thành của người Hán (tiếng Trung: 買賣城; bính âm: Măimàichéng) được đặt cách thành phố khoảng 4,24 km về phía đông. Một cột trụ được trang trí công phu cao 11 mét vẫn còn tại chùa Quan Âm tại khu vực Mãi mại thành cũ và hiện được nhà nước Mông Cổ bảo tồn. Từ năm 1778, Urga có thể đã là nơi cư ngụ của 10.000 sư thầy, Urga cũng từng được nhiều người ngoại quốc viếng thăm, bao gồm Egor Fedorovich Timkovskii (1820), N.M.Przhevalsky, Pyotr Kozlov, M. De Bourbolon (1860) và A.M.Pozdneev. Đoàn sứ thần Nga gồm 130 người đã đến Urga vào tháng 1 năm 1806, trong số đó có Bá tước Yury Golovkin, Bá tước Jan Potocki, Julius Klaproth và Andrey Yefimovich Martynov. Năm 1863, tòa lãnh sự Nga tại Urga được hình thành với trụ sở là một tòa nhà mới xây gồm có hai tầng. Một nhà thờ Thánh Ba Ngôi có mái vòm hình củ hành cũng được hình thành cùng năm. === Cách mạng 1911 và 1921 và thời kỳ Cộng sản === Đầu thế kỷ 20, Ikh Khüree có dân số khoảng 25.000 người, trong đó có khoảng 10.000 là sư sãi Phật giáo. Năm 1911, khi triều đình nhà Thanh sụp đổ hoàn toàn, các lãnh đạo người Mông Cổ tại Ikh Khüree đã bí mật họp kín tại Naadam và quyết tâm kết thúc 200 năm mất tự chủ. Vào ngày 29 tháng 12 năm 1911, Jeptsundamba Khutughtu thứ 8 được tuyên bố là người cai trị nước Mông Cổ độc lập và dược phong tước hiệu Bogd Khan. Khüree trở thành nơi đặt trụ sở của chính quyền Jebtsundamba Khutugtu và được coi là một sự lựa chọn hợp lý cho thủ đô của quốc gia mới. Tuy nhiên, theo thỏa thuận ba bên Kyakhta vào năm 1915 (giữa Nga, Mông Cổ và Trung Quốc), Mông Cổ chỉ giành được quyền tự trị. Năm 1919, các quý tộc Mông Cổ đối lập với Bogd Khan, đã đồng ý với đại diện của Trung Quốc về việc giải quyết "vấn đề Mông Cổ" theo vị thế vốn có từ thời nhà Thanh, nhưng trước khi giải pháp này được thực hiện, Khüree đã bị quân phiệt Trung Quốc Từ Thụ Tranh chiếm đóng, ông đã ép buộc giới quý tộc và tăng lữ Mông Cổ phải từ bỏ hoàn toàn các quyền tự trị. Năm 1921 thành phố đã trải qua tới hai lần đổi chủ. Lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1921, lực lượng hỗn hợp Nga-Mông Cổ do quân phiệt Bạch vệ Baron Ungern von Sternberg lãnh đạo đã chiếm được thành phố, giải thoát Bogd Khan khỏi nhà tù và tiêu diệt hầu hết quân đồn trú Trung Quốc. Việc chiếm giữ Urga của Baron Ungernwas sau đó đã kéo theo các hành vi cướp bóc và giết người cũng như việc thảm sát một cộng đồng Do Thái nhỏ tại thành phố. Vào ngày 22 tháng 2 năm 1921 Bogd Khan một lần nữa trở thành Hãn Mông Cổ tại Urga. Tuy nhiên, vào lúc Baron Ungern đang kiểm soát Urga, một lực lượng Cộng sản Mông Cổ được Xô viết ủng hộ do Damdin Sükhbaatar lãnh đạo đã được thành lập tại Nga, và đến tháng 3 cùng năm họ đã vượt qua biên giới. Ungern và những người cùng chí hướng cũng đã đến vào tháng 5 để gặp họ song đã gặp phải thất bại thảm hại vào tháng 6. Đến tháng 7, quân đội cộng sản Nga-Mông Cổ đã tiến vào Urga. Ngày 29 tháng 10 năm 1924 đô thị được đổi tên thành Ulaanbaatar ("Anh hùng đỏ") để tướng nhớ đến Sükhbaatar, người đã hi sinh một năm trước đó. Trong thời kỳ cộng sản, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các căn hộ kiểu Xô viết đã thay thế hầu hết các khu nhà yurt (nhà truyền thống Mông Cổ), và thường được Liên Xô viện trợ kinh phí xây dựng. Quy hoạch đô thị bắt đầu từ thập niên 1950, và hầu hết các công trình tại thành phố hiện nay được xây dựng trong thời kỳ từ 1960 đến 1985. Đường sắt Xuyên Mông Cổ, kết nối Ulaanbaatar với Moskva và Bắc Kinh được hoàn thành vào năm 1956, các rạp chiếu phim, nhà hát hay bảo tàng cũng đã xuất hiện. Trên một khía cạnh khác, nhiều đền chùa và tu viện từ trước đó đã bị phá hủy trong các cuộc thanh trừng tôn giáo vào cuối thập kỷ 1930. === Dân chủ hóa === Ulaanbaatar đã diễn ra các cuộc biểu tình với kết quả là dân chủ hóa và kinh tế thị trường vào năm 1990. Ngày 10 tháng 12 năm 1989, có nhiều người biểu tình bên ngoài Trung tâm Văn hóa Thanh niên kêu gọi Mông Cổ thi hành perestroika (cải tổ) và glasnost (công khai) một cách đầy đủ. Các lãnh đạo biểu tình yêu cầu bầu cử tự do và cải cách kinh tế. Ngày 14 tháng 1 năm 1990 những người biểu tình đã phát triển từ hai trăm lên đến trên một nghìn người, họ tụ tập tại Bảo tàng Lênin tại Ulaanbaatar. Một cuộc biểu tình lớn tại quảng trường Sukhbaatar cũng diễn ra vào ngày 21 tháng 1 năm đó. Sau đó, các cuộc biểu tình tuần hành diễn ra vào mỗi dịp cuối tuần tháng một và tháng hai đã được tổ chức và đi kèm với đó là việc hình thành đảng đối lập đầu tiên của Mông Cổ. Vào ngày 7 tháng 3, mười người phản đối đã tụ tập tại quảng trường Sukhbaatar và tiến hành tuyệt thực. Hàng nghìn người đã tham gia ủng hộ họ. Đến ngày 8 tháng 3, đám đông biểu tình trở nên lộn xộn và kết quả là bảy mươi người bị thương cùng một người thiệt mạng. Đến ngày 9 tháng 3, chính phủ cộng sản của Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ đã tuyên bố từ chức. Chính phủ lâm thời sau đó tuyên bố tiến hành cuộc bầu cử tự do đầu tiên tại Mông Cổ sẽ được tổ chức vào tháng 7 cùng năm. Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ đã thắng cử và phục hồi lại quyền lực. Từ khi Mông Cổ chuyển sang nền kinh tế thị trường vào năm 1990, thành phố đã có những bước phát triển rất nhanh - đặc biệt là tại các khu nhà yurt, chúng đã cơ bản bị xóa sổ và cuối thập niên 1990. Dân số thành phố ăng gấp đôi lên trên một triệu người, và chiếm gần một nửa dân số cả nước. Tuy nhiên điều này đã dẫn tới một số vấn đề về xã hội, môi trường và giao thông. Trong những năm gần đây, việc xây dựng các công trình mới đã được tiến hành, đặc biệt là tại khu vực trung tâm thành phố. == Địa lý == Ulan Bator nằm trên độ cao 1.350 mét (4.430 ft) so với mực nước biển, hơi lệch về phía đông ở miền trung Mông Cổ và nằm bên sông Tuul, một phụ lưu của sông Selenge, thuộc một thung lũng nằm tại chân núi Bogd Khan Uul. Ulan Bator là một thủ đô có vị trí biệt lập. Do nằm trên độ cao lớn, vĩ độ cao và ở rất sâu trong nội địa, và chịu ảnh hưởng của áp cao Siberi, Ulan Bator là thủ đô lạnh nhất trên thế giới, với một khí hậu bán khô hạn lạnh và chịu ảnh hưởng của gió mùa (Köppen BSk) và gần với ranh giới của kiểu khí hậu cận Bắc cực. Thành phố có đặc điểm là có mùa hè ngắn, ấm và mùa đông dài, băng giá và khô. Hầu hết lượng mưa trung bình năm (216 milimét (8,50 in)) tập trung từ tháng 6 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình của thành phố là −2,4 °C (27,7 °F). Thành phố nằm trên một vùng đất đóng băng ttheo mùa và điều này có nghĩa là các tòa nhà tại đây gặp khó khăn để phòng tránh các tác động xấu khi lớp băng này tan đi vào mùa hè. Các cư dân ven đô sống trong các yurt truyền thống. == Toàn cảnh == == Hành chính == Ulaanbaatar được chia thành chín quận (Düüregs): Baganuur, Bagakhangai, Bayangol, Bayanzürkh, Chingeltei, Khan Uul, Nalaikh, Songino Khairkhan, và Sükhbaatar. Mỗi quận được chia tiếp thành các Khoroo, tổng cộng có 121 khoroo. Hội đồng thành phố (Hural Đại biểu Nhân dân) với bốn mươi thành viên, được bầu với nhiệm kì bốn năm. Hồi đồng thành phố lựa chọn Thị trưởng. Khi người tiền nhiệm trở thành thủ tướng vào tháng 1 năm 2006, Gombosuren Monkhbayar đã được bầu làm thị trưởng. Ulan Bator được quản lý độc lập và không phụ thuộc vào tỉnh Töv bao quanh. Thành phố có một khu trung tâm có các kiến trúc Xô viết thập niên 1940 và 1950, bao quanh là các tòa nhà ở cao tầng bằng bê tông cùng các khu yurt lớn. Trong những nằm gần đây, tầng trệt tại nhiều khu nhà cao tầng đã được cải tạo, sửa chữa thành các cửa hàng nhỏ, và nhiều tòa nhà mới cũng đã mọc lên. == Thắng cảnh == Ulaanbaatar chưa từng bị cuộc chiến nào gây ảnh hưởng đến ngoại trừ trong trận Urga diễn ra vào tháng 2 năm 1921 khi Baron Ungern von Sternberg đè bẹp 10.000 quân đồn trú người Hán lúc đó đang chiếm giữ thành phố. Tuy vậy, trận Urga cũng chủ yếu diễn ra khu vực ngoại vi thành phố và thiệt hại phần lớn là do hỏa hoạn. Tuy nhiên, dưới chế độ hà khắc của thủ tướng Khorloogiin Choibalsan, gần như toàn bộ thành phố đã bị phá hủy vào năm 1937. Trong đó khu phức hợp đền-chùa trung tâm Zuun Khuree, nơi cư ngụ của giới quý tộc, nhiều khu vực ger (nhà truyền thống) cũng như các khu chợ chính đã bị phá hủy hoàn toàn để mở đường cho việc xây dựng các toàn nhà hiện đại hơn. Do vậy hiện Ulan Bator chỉ còn lại một vài công trình từ trước 1937. Các công trình kiến trúc trước năm 1937 gồm có: Tu viện Dambadarjaalin tại quận Sukhbaatar (xây từ năm 1765), các nhà nguyện yurt lớn của Tu viện Dashchoilin (hình thành từ năm 1778), chùa Gandantegchinlen mạ vàng của Tu viện Gandan hay còn được gọi là Tsogchin dugan (từ năm 1838), chùa Vajradhara (1841), chùa Zuu (1869), chùa Didan Laviran (thế kỉ 19), tòa nhà Lãnh sự quán Nga được phục hồi (được xây lần đầu năm 1863), chùa Erdem Itgemjit (năm 1893) tại Cung điện Mùa Đông của Bogd Khan (Bác Khắc Đạt Hãn), phần còn lại của các công trình như Cung điện (1893–1906), Bảo tàng Lịch sử Ulaanbaatar nguyên là tư gia của một thương gia Buryat tên là Tsogt Badamjav (từ năm 1904), kiến trúc Bảo tàng Nghệ thuật Zanabazar trước đây được gọi là Ondor Khorshoo (1905), Trụ sở hai tầng xây bằng gạch của công ty khai mỏ "Mongolore" (năm 1905), chùa Megjid Janraisig (1913–1914) nguyên là nơi ở của Chin Wang Khanddorj, một quý tộc có ảnh hưởng và là một chính trị gia trong những năm đầu Mông Cổ độc lập (1913), tòa nhà có điện thoại đầu tiên là nơi mà đội hợp xướng Chính Thống giáo Nga từng ở (1914), Bảo tàng Marshal Zhukov và một số công trình khác. Tòa nhà Học viện Giáo dục vốn là trụ sở chính quyền được xây từ năm 1930. Nơi sinh sống của Thủ tướng được xây vào năm 1930. === Tu viện === Trong số các tu viện cổ nổi tiếng có Tu viện Lạt-ma Choijin (Hưng Nhân Lạt-ma tự), một tu viện Phật giáo được hoàn tất việc xây dựng vào năm 1908. Nó đã tránh được số phận bị phá hủy giống như các tu viện Phật giáo khác khi được chính quyền cộng sản chuyển thành một bảo tàng năm vào năm 1942. Tu viện nổi tiếng khác là Tu viện Gandan (Cam Đan tự), được xây dựng từ thế kỷ 19. Điểm thu hút chính của tu viện là một tượng Quán Thế Âm cao 26,5 mét. Các tu viện này là một trong số rất ít các công trình tôn giáo tại Mông Cổ thoát khỏi việc bị phá hủy dưới thời Khorloogiin Choibalsan. === Cung điện Mùa đông === Ikh Khüree trước đây đã có một số cung điện và các dinh thự của giới quý tộc trong một khu vực được gọi là Öndgiin sürgiin nutag. Jebtsundamba Khutughtu, người sau này kế nhiệm Bogd Khan (Bác Khắc Đạt Hãn), có tới bốn dinh thự hoàng gia, nằm giữa Trung tâm (Dund gol) và sông Tuul. Cung điện Mùa hè được gọi là Erdmiin dalai buyan chuulgan süm hay Bogd khaanii serüün ord. Các dinh thự khác là Bạch dinh (Tsagaan süm hay Gьngaa dejidlin), và Dinh Pandelin (cũng được gọi là süm Naro Kha Chod), nằm ở bờ tả của sông Tuul. Một số dinh thự cũng được sử dụng cho mục đích tôn giáo. Cung điện duy nhất còn lại đến ngày nay là Cung điện Mùa đông. Cung điện Mùa đông của Bogd Khan (Bogd khaanii nogoon süm hay Bogd khaanii öwliin ordon) hiện là một bảo tàng về vị hãn Mông Cổ cuối cùng. Khu phức hợp này bao gồm sáu ngôi chùa, nhiều đồ vật do Bogd Khan (Bác Khắc Đạt Hãn) và hoàng hậu của ông sở hữu được trưng bày tại khu nhà chính. === Bảo tàng === Ulaanbaatar có một số bảo tàng chuyên về lịch sử và văn hóa Mông Cổ. Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên có một số hóa thạch khủng long và thiên thạch được tìm thấy tại Mông Cổ. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Mông Cổ có các hiện vật từ thời tiền sử cho đến thời đế quốc Mông Cổ và thời kì hiện đại. Bảo tàng Mĩ thuật Zanabazar có một bộ sưu tập lớn về nghệ thuật Mông Cổ, bao gồm các tác phẩm của nhà điêu khắc/họa sĩ Zanabazar từ thế kỉ 17, xũng như bức họa nổi tiếng nhất, Một ngày tại Mông Cổ của B. Sharav. Các hiện vật trước năm 1778 chưa từng rời khỏi thành phố từ khi chúng được phát hiện bao gồm tượng Chấp Kim Cương Thần (Vajradhara) do chính Zanabazar (La Bố Tạng Vượng Bố Trát Mộc Tát) tạo nên vào năm 1683, một vương tọa lộng lẫy do hoàng đế Khang Hi tặng cho Zanabazar (trước năm 1723), một chiếc mũ làm bằng gỗ đàn hương do Đạt-lai Lạt-ma tặng cho Zanabazar (khoảng năm 1663), Bộ áo choàng lớn bằng lông thú của Zanabazar do hoàng đế Khang Hi tặng và một con số lớn các bức tượng do chính Zanabazar tạo ra. === Nhà hát nhạc kịch === Nhà hát Lớn Ulaanbaatar nằm tại trung tâm thành phố, là nơi tổ chức các buổi biểu diễn hòa nhạc và âm nhạc. === Quảng trường Sukhbaatar === Quảng trường Sukhbaatar nằm tại khu hành chính ở trung tâm Ulaanbaatar. Quảng trường rộng 31.068 mét vuông. Ở trung tâm quảng trường Sükhbaatar, có một tượng đài Damdin Sükhbaatar trên lưng ngựa. Địa điểm này được chọn vì đây là nơi ngựa của Sukhbaatar đã đi tiểu (một điềm tốt) vào ngày 8 tháng 7 năm 1921 trong khi hội họp với Hồng quân. Ở phía bắc quảng trường Sükhbaatar là tòa nhà Quốc hội Mông Cổ, với nét đặc biệt là có một bức tượng Thành Cát Tư Hãn ở mặt tiền. Đại lộ Hòa Bình (Enkh Taivny Urgon Chuloo), tuyến đường chính chạy dọc thành phố, đi qua phía nam quảng trường. === Đài tưởng niệm Zaisan === Đài tưởng niệm Zaisan, một đài tưởng niệm các binh lính Xô viết đã thiệt mạng trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, nằm trên một ngọn đồi ở phía nam thành phố. Đài tưởng niệm Zaisan có một chiếc xe tăng Xô viết và một bức họa tưởng niệm theo phong cách hiện thực xã hội chủ nghĩa miêu tả tình hữu nghị giữa nhân dân Liên Xô và Mông Cổ. Du khách sẽ có một hành trình dài để lên được đến phần cao nhất của đài tưởng niệm và ở nơi này có thể nhìn được toàn cảnh thành phố. === Sân vận động quốc gia === Sân vận động Thể thao Quốc gia là nơi thi đấu chính cho các mông thể thao tại Mông Cổ. Lễ hội Naadam được tổ chức tại đây vào mỗi tháng bảy hàng năm. === Lâu đài Hồ Nhân Tạo === Lâu đài Hồ Nhân Tạo được xây dựng vào năm 1969, khi Công viên giải trí quốc gia được thành lập tại trung tâm thủ đô Ulaanbaatar. === Vùng phụ cận === Công viên quốc gia Gorkhi-Terelj, một khu bảo tồn thiên nhiên được nhiều du khách viếng thăm, nằm cách Ulaanbaatar xấp xỉ 70 km. Có thể đi đến trên một tuyến đường được đầu tư xây dựng. Tượng Thành Cát Tư Hãn cưỡi ngựa có chiều cao 40 mét nằm cách Ulaanbaatar 54 km, là bức tượng về người trên lưng ngựa lớn nhất thế giới. === Đại sứ quán === Nhiều nước đã có cơ quan đại diện ngoại giao tại Ulaanbaatar như Úc, Áo, Bulgaria, Canada, Trung Quốc, Cuba, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Kazakhstan, Lào, Nga, Slovakia, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraina, Anh Quốc, Hoa Kỳ và Việt Nam. == Biểu tượng == Biểu tượng chính thức của Ulaanbaatar là garuḍa (Ca-lâu-la hoặc Kim sí điểu), là một loài chim lớn có tính cánh mãnh liệt trong Thần Thoại của Ấn Độ, và cũng là một loài chim thần thoại trong kinh Phật giáo và Ấn Độ giáo, được người Mông Cổ gọi là Hãn Garuda hay Khangar'd (tiếng Mông Cổ: Хангарьд). === Biểu trưng === Ca-câu-la xuất hiện trên huy hiệu của Ulaanbaatar. Trên bàn tay phải của loài chim thánh này có một chiếc khóa, một biểu tượng của phồn thịnh và cởi mở, và trên tay trái của chim là một bông hoa sen, một biểu tượng của hòa bình, bình đẳng và tinh khiết. Móng vuốt của chim giữ một con rắn, một biểu tượng của việc sự xấu xa sẽ không được dung thứ. Trên trán của Ca-câu-la là soyombo (Tác/Sách-vĩnh-bố), một biểu tượng trên quốc kỳ Mông Cổ. === Cờ === Cờ của thành phố có nền màu xanh da trời với biểu tượng garuḍa ở trung tâm. == Giáo dục == Ulan Bator có sáu trường đại học chính: Đại học Quốc gia Mông Cổ Đại học Khoa học và Công nghệ Mông Cổ Đại học Nông nghiệp Quốc gia Mông Cổ Đại học Khoa học Y tế Mông Cổ Đại học Sư phạm Quốc gia Mông Cổ Đại học Nghệ thuật và Văn hóa Mông Cổ. Mặc dù tương đối nhỏ song Học viện Tài chính và Kinh tế là một trường kinh tế khá nổi tiếng tại Mông Cổ. Thư viện Quốc gia Mông Cổ có rất nhiều tài liệu bằng tiếng Anh về các chủ đề liên quan đến Mông Cổ. Trường Hoa Kỳ Ulaanbaatar và Trường Quốc tế Ulaanbaatar đều áp dụng mô hình giáo dục K-12 bằng tiếng Anh cho công dân Mông Cổ cũng như người nước ngoài. == Thư viện == Thư viện Quốc gia Mông Cổ nằm tại Ulan Bator và có rất nhiều tài liệu bằng các ngoại ngữ khác bên cạnh tiếng Mông Cổ, đặc biệt là sách cho thiếu nhi. Thư viện Trung ương Thủ đô Ulaanbataar, đôi khi còn được gọi là Thư viện Công cộng Ulaanbaatar là một thư viện công cộng và sở hữu tời 500.000 tài liệu. Thư viện có khoảng 232.097 độc giả và tổng số lượt mượn hàng năm là 497.298 lần. Năm 1986, chính quyền Ulaanbaatar đã thành lập một hệ thống tập trung bao phủ tất cả các thư viện trong thành phố, được gọi là Hệ thống thư viện thủ đô Ulaanbaatar (MLSU). Hệ thống này còn có tên chính thức là, Dashdorjiin Natsagdorj, người đã sáng lập nền văn học hiện đại Mông Cổ. == Giao thông == Ulaanbaatar có sân bay quốc tế Thành Cát Tư Hãn (Chinggis Khaan) (nguyên là sân bay Buyant Ukhaa) nằm cách thành phố 18 km về phía tây nam. Sân bay Thành Cát Tư Hãn là sân bay duy nhất tại Mông Cổ có các đường bay quốc tế. Hiện Ulan Bator có các tuyến bay quốc tế nối với Tokyo, Seoul, Berlin, Moskva, Irkutsk, và Bắc Kinh. Đường sắt Xuyên Mông Cổ đi qua Ulaanbaatar và có thể nối với Đường sắt xuyên Siberi tại Naushki và nối với hệ thống đường sắt Trung Quốc qua ngả tại Tập Ninh. Ulan Bator có kết nối bằng đường bộ với hầu hết các đô thị chính tại Mông Cổ, nhưng hầu hết các tuyến đường bộ này không được lát đá và theo dõi nên việc đi lại gặp nhiều khó khăn. Bên trong thành phố, không phải tất cả mọi tuyến đường đều được lát đá hay trải nhựa do có những khu vực có điều kiện tự nhiên bất lợi. Bên trong thành phố, chính quyền trung ương và thành phố quản lý một hệ thống xe buýt tư rộng lớn trải dài khắp thành phố. Cũng có một xe điện tại Ulaanbaatar. Một hệ thống chuyên chở tư nhân khác là các xe khách nhỏ hoạt động đồng thời với các tuyến xe buýt. Ngoài ra, Ulaanbaatar còn có trên 4000 taxi. Thủ đô Mông Cổ có khoảng 418,2 km đường bộ, trong đó 76,5 km đã được lát đá hay trải nhựa. == Thành phố kết nghĩa == Theo trang thông tin chính thức:: Adana, Thổ Nhĩ Kỳ Seoul, Hàn Quốc(1995) Irkutsk, Nga Moskva, Nga Sankt-Peterburg, Nga Ulan-Ude, Nga Denver, Hoa Kỳ Bangkok, Thái Lan Sapporo, Nhật Bản Đài Bắc, Đài Loan Hohhot, Nội Mông, Trung Quốc San Francisco, Hoa Kỳ Bonn, Đức Hà Nội, Việt Nam Tokyo, Nhật Bản Gold Coast, Úc Delhi, Ấn Độ Leeds, Anh Quốc Most, Cộng hòa Séc Colombo, Sri Lanka Từ 2012-2016 == Chú thích == == Liên kết ngoài == UB Post Tuần san tiếng Anh sống ở Ulan Bator Photo của Ulanbaataar kèm theo bình luận thông tin về thành phố (tiếng Đức) City of Ulaanbaatar Trang chính thức (tiếng Mông Cổ) Thành phố Ulaanbaatar Trang chính thức (tiếng Anh) Hội ffoongf thành phố Ulaanbaatar Trang chính thức (tiếng Mông Cổ) Thị trưởng Ulaanbaatar Trang chính thức (tiếng Mông Cổ) "Urga or Da Khuree" from A. M. Pozdneyev’s Mongolia and the Mongols
réunion.txt
Đảo Réunion (tiếng Pháp: Réunion hay chính thức là La Réunion; trước đây là Île Bourbon) là một hòn đảo nhỏ nằm trong Ấn Độ Dương, cách Madagascar 700 km về phía đông và cách Mauritius 200 km về phía tây nam. Réunion có chiều dài là 63 km, rộng 45 km và diện tích khoảng 2.517 km², hiện thuộc quyền sở hữu của Pháp và là một vùng hải ngoại của Pháp. Đơn vị tiền tệ sử dụng ở đây là Euro. Những người dân sống ở đây tự gọi mình là Réunionnais hay Créoles. == Lịch sử == Với dân số 720.934 người (7/2000), Réunion có một nền kinh tế tập trung vào xuất khẩu đường, du lịch và săn cá mập. Réunion có một lịch sử hình thành và phát triển khá lâu dài bắt đầu từ năm 1513 khi được người Bồ Đào Nha phát hiện và đặt tên là Santa Apollonia. Cái tên Réunion chỉ được biết đến từ năm 1793. Trong suốt lịch sử của nó, hòn đảo đã từng được đổi tên nhiều lần. Réunion là nơi hai Vua của Việt Nam là Thành Thái và Duy Tân bị đưa đi đày vào tháng 11 năm 1916. Ngày 29/7/2015, một số mảnh vỡ đã được tìm thấy tại bờ biển đảo Réunion mà nhiều người nghi ngờ là xuất phát từ chuyến bay 370 của Malaysia Airlines. == Chính trị == Réunion có năm ghế ở Hạ viện Pháp và ba ghế ở Thượng viện Pháp. == Cơ cấu hành chính == Về mặt hành chính, Réunion được chia thành bốn quận, hai mươi tư tổng và hai mươi tư xã.. Réunion được coi như một tỉnh "hải ngoại" của nước Pháp. == Các địa điểm quan trọng == Saint-Benoît Bras-Panon La Possession Le Port Le Tampon Saint-André Saint-Denis Saint-Joseph Saint-Louis Saint-Leu Saint-Paul Saint-Pierre Sainte-Suzanne == Địa lý == Réunion dài 63 km, rộng 45 km với diện tích 2512 km². Réunion có diện tích tương đương với đảo Hawaii và cả hai đều nằm trên những điểm nóng điểm nóng của vỏ trái đất. Piton de la Fournaise, một khiên núi lửa ở cực đông của đảo, nhô cao hơn mực nước biển 2.631 mét và thỉnh thoảng được ví như chị em với các núi lửa trên đảo Hawaii bởi những nét tương đồng về khí hậu và bản chất kiến tạo. Núi này đã phun trào hơn 100 lần kể từ 1640 và đang được giám sát liên tục. Lần phun trào gần đây nhất là vào ngày 4 tháng 4 2007. Ước tính khoảng 3 triệu m3 nham thạch đã được phun ra mỗi ngày. Piton de la Fournaise được tạo ra bởi kiểu núi lửa phun trào kết hợp với phun nước nóng hotspot volcano. Nó cũng là tác nhân kiến tạo Piton des Neiges và các đảo Mauritius, Rodrigues. Núi lửa Piton des Neiges với độ cao 3.070m, là điểm cao nhất của Réunion, nằm về phía tây bắc của Piton de la Fournaise. Phía tây nam là cáccaldera và canyon. Mặc dù tên gọi của ngọn núi trọng tiếng Pháp có nghĩa "ngọn núi tuyết" nhưng tuyết chẳng bao giờ xuất hiện trên đỉnh của ngọn núi này. Các sườn của cả hai núi lửa này có thảm thực vật dày đặc. Đất nông nghiệp và các thành phố như Saint-Denis tập trung tại các dải đất ven biển bao quanh. Réunion còn có 3 caldera: Cirque de Salazie, Cirque de Cilaos Cirque de Mafate. Cái cuối cùng có thể tiếp cận bằng trực thăng hay đi bộ. == Kinh tế == Mía đường là cây trồng chính và nguồn xuất khẩu truyền thống của đảo. Du lịch là nguồn thu nhập quan trọng. Năm 2007, tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Réunion là 18,8 tỷ đô la Mỹ. Thu nhập bình quân đầu người năm 2007 là 23,501 đô la Mỹ (tính theo giá thị trường), cao nhất châu Phi. == Dân cư == Réunion có thành phần dân cư giống như đảo Mauritius, gồm người gốc Ấn, người gốc Phi, người Malagasy, người Hoa và người Pháp, nhưng với tỷ lệ khác nhau. Creole (tên gọi chung cho tất cả nhóm người sinh ra trên đảo) là nhóm đa số. Người da trắng chiếm 1/4 dân số, người Ấn chiếm 21%, và hậu duệ của người Hoa chiếm phần còn lại. Ngoài ra cũng có một ít con cháu người Việt sinh sống trên đảo. Réunion có những nét tương đồng về văn hóa, thành phần dân tộc, ngôn ngữ, và phong tục với Mauritius và Seychelles. === Sự phát triển của dân số === === Tôn giáo === 86% dân số Réunion theo Công giáo, phần còn lại theo Hindu, Hồi và Phật giáo. === Ngôn ngữ === Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức mặc dù tiếng Creole mang đặc trưng của vùng Réunion cũng được sử dụng phổ biến. Tiếng Hán được sử dụng trong cộng đồng Hoa Kiều nhưng thế hệ trẻ của cộng đồng này đang dần chuyển sang nói tiếng Pháp. Một bộ phận khá lớn dân số nói tiếng Tamil. Tiếng Ả rập được giảng dạy trong các đền thờ Hồi Giáo và được sử dụng trong cộng đồng Ả rập. == Văn hóa == Văn hóa và ẩm thực Réunion là sự pha trộn văn hóa Âu, Phi, Ấn, Trung. == Hệ động thực vật == Réunion là nơi cư ngụ của nhiều loài chim. Động vật bản địa lớn nhất là loài tắc kè hoa Furcifer pardalis. Đa phần dải duyên hải phía tây được viền quanh bởi các rạn san hô với sự hiện diện của các loài nhím biển, cá chình conga. Rùa biển cũng thường xuyên xuất hiện. == Giao thông vận tải == Sân bay Roland Garros, thực hiện các chuyến bay nối đảo với Madagascar, Mauritius và châu Âu. Sân bay Pierrefonds là sân bay nhỏ hơn với các chuyến bay tới Mauritius và Madagascar. == Tham khảo == == Các hình ảnh == == Liên kết ngoài == (tiếng Pháp) Trang mạng chính thức (tiếng Pháp) Tin tức trên Clicanoo
đô la quốc tế.txt
Đô la quốc tế là một đơn vị tiền tệ giả định. Nó có sức mua ngang bằng sức mua của đô la Mỹ tại một thời điểm nhất định. Nó chính là dollar Mỹ quy đổi theo tỷ giá hối đoái sức mua tương đương (PPP). Nó cho thấy một đơn vị tiền tệ nội địa có giá trị quốc tế thế nào trong phạm vi biên giới của một quốc gia. Nó dùng để so sánh giữa các quốc gia hoặc giữa các thời điểm. Ví dụ, so sánh tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người giữa nhiều nước bằng dollar quốc tế, chứ không phải đơn giản dựa trên tỷ giá hối đoái, sẽ cho một thước đo có giá trị hơn để so sánh mức sống. Thuật ngữ này, mặc dù không được dùng phổ biến, song đôi khi lại được dùng bởi các tổ chức quốc tế như Nhóm Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế khi công bố các thống kê. Các con số thể hiện bằng dollar quốc tế không thể được chuyển đổi sang một đơn vị tiền tệ quốc gia khác sử dụng tỷ giá hối đoái thị trường hiện hành; thay vào đó chúng phải được chuyển đổi bằng cách dùng tỷ giá hối đoái PPP của nước đó. == Tham khảo == World Bank use of the term under definition of Purchasing Power Parity
chủ nghĩa đế quốc mỹ.txt
Chủ nghĩa đế quốc Mỹ (tiếng Anh: American imperialism), hoặc gọi tắt là Đế quốc Mỹ, là một thuật ngữ nói về sự bành trướng chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa của Hoa Kỳ. Khái niệm về "Đế quốc Mỹ" đầu tiên được phổ biến rộng rãi từ kết quả của cuộc chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ vào năm 1898. Nguồn gốc và sự ủng hộ khái niệm này đến từ những người theo trường phái cổ điển Marxist rằng chủ nghĩa đế quốc là một sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, cho tới những lý thuyết gia hiện đại của trường phái Tự do và Bảo thủ khi họ nghiên cứu và phân tích chính sách ngoại giao Hoa Kỳ. Thuật ngữ "chủ nghĩa đế quốc" đầu tiên được dùng để nói về các vấn đề liên quan tới Napoleon, và cũng được dùng khi nói về chính sách ngoại giao của Anh. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi hơn trong thế kỷ 19. Nó lần đầu tiên được sử dụng phổ biến để nói về Hoa Kỳ bởi tổ chức Liên minh Hoa Kỳ chống Đế quốc, được thành lập năm 1898 để chống chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ và chiến tranh Philippines–Mỹ. Kể từ sau Thế chiến thứ hai, các đời Thổng thống Mỹ luôn duy trì chính sách can thiệp vào nội bộ các quốc gia khác, thâm chí sắn sàng dùng sức mạnh quân sự để tấn công nước khác. Kể từ năm 1946 đến 2015, quân đội Hoa Kỳ đã trực tiếp tấn công 9 quốc gia (Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, Grenada, Afghanistan, Iraq, Nam Tư, Panama, Cuba), các cuộc chiến này gây ra cái chết của 10 tới 15 triệu người. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng gây ra đảo chính hoặc ngầm can dự vào xung đột tại 28 quốc gia khác, gây ra cái chết của 9 tới 14 triệu người. Tổng cộng Hoa Kỳ đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra cái chết của khoảng 20 đến 30 triệu người trong các cuộc chiến tranh và xung đột rải rác trên khắp thế giới kể từ năm 1946 đến 2015. == Các quan điểm về chủ nghĩa đế quốc Mỹ == === Chủ nghĩa đế quốc đóng vai trò trung tâm trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ === Hoa Kỳ có ảnh hưởng kinh tế, chính trị và quân sự trên cán cân quốc tế mà khiến chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ là một đề tài quan tâm lớn nhất trên khắp thế giới. Hầu như tất cả các quốc gia có tòa đại sứ tại Washington, D.C, và nhiều lãnh sự quán khắp đất nước. Tương tự, gần như tất cả các quốc gia đều có các sứ bộ ngoại giao tạo Mỹ. Tuy nhiên, Cuba, Iran, Bắc Triều Tiên, Bhutan, và Sudan không có quan hệ ngoại giao chính thức với Hoa Kỳ. Người theo chủ nghĩa cô lập Mỹ thường hay bất hòa với những người theo chủ nghĩa quốc tế cũng giống như những người theo chủ nghĩa chống đế quốc bất hòa với những người đề xướng cổ võ cho thuyết Vận mệnh hiển nhiên (Manifest Destiny) và Đế quốc Mỹ. Chủ nghĩa đế quốc của Mỹ tại Philippines đã bị Mark Twain, triết học gia William James, và nhiều người khác chỉ trích nặng nề. Sau này, Tổng thống Woodrow Wilson đã đóng vai trò chính trong việc thành lập Hội Quốc Liên nhưng Thượng viện Hoa Kỳ cấm không cho Hoa Kỳ trở thành thành viên của tổ chức này. Chủ nghĩa cô lập đã trở thành một chuyện trong quá khứ khi Hoa Kỳ nắm vai trò lãnh đạo trong việc thành lập Liên Hiệp Quốc, trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và là nơi đóng tổng hành dinh Liên Hiệp Quốc. Hoa Kỳ có mối quan hệ đặc biệt với Anh Quốc và liên hệ chặt chẽ với Úc, New Zealand, Nhật Bản, Israel, và các thành viên đồng sự NATO. Hoa Kỳ cũng làm việc bên cạnh các quốc gia láng giềng qua Tổ chức các quốc gia châu Mỹ và những thỏa thuận tự do mậu dịch như Thỏa thuận Tự do Mậu dịch Bắc Mỹ ba bên với Canada và México. Năm 2005, Hoa Kỳ đã chi tiêu 27,3 tỷ đô la trong chương trình trợ giứp phát triển chính thức, đứng nhất trên thế giới. Tuy nhiên nếu tính theo tỉ lệ tổng lợi tức quốc gia (GNI), sự đóng góp của Hoa Kỳ chỉ là 0,22 phần trăm, đứng thứ hai mươi trong 22 quốc gia viện trợ tài chánh. Mặt khác, các tổ chức phi chính phủ như các quỹ, công ty, và các tổ chức tôn giáo và giáo dục tư nhân đã cho tặng 95,5 tỷ đô la. Tổng số 122,8 tỷ đô la lần nữa đứng hạng nhất trên thế giới và hạng bảy tính theo phần trăm tổng lợi tức quốc gia. === Các quan điểm ý thức hệ và lý thuyết về chủ nghĩa đế quốc của Mỹ === ===== Trường phái Tự do ===== ===== Trường phái Dân chủ Xã hội ===== ===== Trường phái Marx-Lenin ===== ===== Lý thuyết siêu đế quốc ===== ===== Lý thuyết đế quốc cổ điển ===== ===== Lý thuyết tân đế quốc ===== === Căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài như một hình thức đế quốc === === Bênh vực chủ nghĩa đế quốc === === Bành trướng văn hóa === == Các cuộc chiến tranh và đảo chính Hoa Kỳ tiến hành == === Tiêu diệt người da đỏ bản xứ === Sự hăng hái mở rộng lãnh thổ của người Mỹ về phía tây đã khởi sự một loạt Các cuộc chiến tranh với người bản địa Mỹ kéo dài cho đến cuối thế kỷ 19, khi những người thổ dân da đỏ châu Mỹ bị đuổi khỏi đất đai của họ. Tại nhiều nơi, người da đỏ tổ chức chiến đấu chống lại quân Mỹ nhưng cuối cùng họ vẫn bị đánh bại. Theo báo cáo của Gregory Michno dựa theo hồ sơ lưu trữ quân đội thì chỉ trong 40 năm từ 1850 đến 1890 khoảng 21.586 người (lính lẫn thường dân) bị giết, bị thương hay bị bắt. Theo Russell Thornton thì khoảng 45.000 người da đỏ và 19.000 người da trắng bị giết - trong đó có đàn bà và trẻ em của cả hai bên. Một số cuộc kháng chiến nổi bật của người da đỏ chống lại Mỹ gồm: Năm 1776, chiến tranh Cherokee lần 2 xảy ra, dân tộc bản xứ Cherokee chiến đấu chống sự xâm lấn của Mỹ vào khu vực Đông Tennessee và Đông Kentucky của họ. Sau đó cuộc xung đột dai dẳng tiếp diễn với cuộc chiến tranh Chickamaga, khi các bộ tộc, bộ lạc bản xứ liên minh lại với nhau chống quân đội Mỹ. Năm 1794, họ thất bại hoàn toàn và khu vực này bị sát nhập vào các bang Tennessee và Kentucky của Mỹ. Năm 1785, chiến tranh Da đỏ Tây Bắc nổ ra, một chuỗi trận đánh đẫm máu giữa nhiều bộ tộc, bộ lạc bản xứ với quân đội Mỹ nhằm bảo vệ lãnh thổ của họ ở Ohio. Chiến tranh kết thúc năm 1795 với phần thắng thuộc về Mỹ. Năm 1810, người da đỏ ở Tây Florida tuyên bố độc lập. Tổng thống Mỹ James Madison ra lệnh cho lục quân Hoa Kỳ đến tiêu diệt nhà nước non trẻ và sát nhập Tây Florida vào liên bang Mỹ. Năm 1812, Mỹ đánh chiếm vùng Ohio. Năm 1816, Mỹ viện cớ người da đỏ Seminole chứa chấp những nô lệ da đen đang ẩn náu, và cho quân đánh chiếm, sát nhập lãnh thổ của người Seminole vào Bắc Florida. Năm 1819, tất cả những vùng ở Florida sát nhập vào nước Mỹ. Năm 1835 - 1842, người Seminole lần nữa nổi dậy giành lại Florida nhưng đều bị quân Mỹ đàn áp triệt để. Chính phủ Mỹ cưỡng ép lưu đày người Seminole qua phía Tây Mississippi, kết thúc 7 năm kháng chiến của người Seminole. Ngoài ra còn có khoảng 100 cuộc chiến và hàng chục ngàn trận chiến nhỏ khác đã diễn ra từ năm 1783 đến 1924. Năm 1924, Chiến tranh Apache tại mặt trận Tây Nam giữa bộ tộc Apache chống đỡ cuộc xâm lăng của quân đội Mỹ kết thúc với thất bại của bộ tộc Apache, đã đánh dấu thất bại cuối cùng của cuộc kháng chiến dài 302 năm của người da đỏ chống thực dân châu Âu (kể từ trận Jamestown năm 1622 giữa thực dân Anh và liên minh Powhatan ở thuộc địa Virginia) và 141 năm chống quân Mỹ của thổ dân da đỏ bản xứ. Hàng triệu người da đỏ cũng đã chết trong quá trình mở rộng lãnh thổ của người Mỹ. Theo ước tính người da đỏ có vào khoảng 15 triệu khi người Tây phương bắt đầu xâm lược, chỉ còn lại chưa đầy 250 ngàn vào năm 1890. Phần lớn những người sống sót bị dồn vào những khu đất cằn cỗi, hẻo lánh mà chính quyền Mỹ gọi là những “khu bảo tồn” (Reservations). Theo một ước tính, khoảng 95 triệu tới 114 triệu người da đỏ bản xứ đã bị tiêu diệt trong hơn 300 năm lãnh thổ Bắc Mỹ bị người da trắng xâm chiếm Trong sách tựa đề American Holocaust, nhà sử học người Mỹ là David Stannard cho rằng cuộc càn quét sát hại người bản địa tại châu Mỹ qua nhiều chiến dịch của người châu Âu và các thế hệ sau (Anglo Americans - người da trắng Hoa Kỳ) là một hành động diệt chủng khổng lồ nhất trong lịch sử nhân loại.. === Mexico === Chiến thắng của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Mexico-Mỹ năm 1848 đưa đến việc Mexico buộc phải ký hòa ước bất bình đẳng Guadalupe Hidalgo, nhượng lại California và phần nhiều những vùng đất mà ngày nay là bang Texas. Mỹ còn gây áp lực ép Mexico phải bán vùng đất Mexican Cession (ngày nay là vùng tây nam Hoa Kỳ) trù phú cho Mỹ với giá 15 triệu USD. Năm 1853, để làm một dự án đường ray xe lửa, Mỹ lại ép Mexico bán rẻ lãnh thổ ở một vùng đất tiềm năng giáp ranh biên giới Hoa Kỳ - Mexico, với giá 10 triệu USD. Vùng này ngày nay là phía nam Arizona và tây nam New Mexico. Năm 1876, Mỹ chiếm giữ thị trấn Matamoros của Mexico. Năm 1905, sau thỏa ước Banco, Mỹ có thêm 2 vùng đất từ Mexico ở sông Colorado giáp ranh Arizona, tổng cộng 3.409 km2. Về sau, Mexico nhượng tiếp 3 hòn đảo và 68 khu đất cho Mỹ, tổng cộng 1.275,9 mẫu Anh (5.163 km2). Năm 1963, Mỹ và Mexico ký hòa ước Chamizal, kết thúc gần 100 năm tranh chấp đất đai giữa hai nước ở vùng nay là El Paso, Texas. Hiệp định này khiến Mexico phải cắt thêm 1.070 km2 cho nước Mỹ. === Trung Quốc === Trong cuộc Chiến tranh nha phiến lần thứ hai (1856-1860), Mỹ đã hỗ trợ và viện trợ cho thực dân Anh - Pháp xâm lược Trung Quốc, giao tranh với quân đội nhà Thanh. Hải quân Mỹ, dưới sự chỉ huy của 2 tướng Andrew Hull Foote và James Armstrong đã đánh chìm và đánh bại thủy binh nhà Thanh trong trận sông Châu Giang (Quảng Châu). Năm 1898, Mỹ gửi khoảng 6 vạn quân từ Philippines sang Trung Quốc tham gia Bát quốc liên quân (Liên quân tám nước: Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Nga, đế quốc Áo-Hung), dưới sự thống lĩnh của tướng Adna Chaffee, xâm lược Trung Quốc, đánh bại quân nhà Thanh và lực lượng Nghĩa Hòa Đoàn. Sau khi Bắc Kinh thất thủ, nhà Thanh bị ép phải ký hiệp định bất bình đẳng, cắt đất cầu hòa và chịu nhượng bộ nhiều điều khoản bất bình đẳng khác. Các khu tô giới người Mỹ và khu vực đặc quyền của Mỹ được thành lập ở Trung Quốc và các vùng lãnh thổ thuộc nước này. === Philippines === Cuộc chiến tranh giành thuộc địa giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ bùng nổ vào năm 1898, sau cuộc chiến, Hoa Kỳ giành được Philippines và đảo Guam từ tay Tây Ban Nha, đồng thời xâm lược vịnh Guantanamo của Cuba (lúc này đang là thuộc địa của Tây Ban Nha), và chiếm giữ vịnh này cho đến nay. Cùng năm, Mỹ tấn công vào Puerto Rico, 15 ngàn quân Mỹ đánh bại 8 ngàn quân Tây Ban Nha và 10 ngàn quân bản xứ, xâm chiếm Puerto Rico từ tay Tây Ban Nha. Tại Philippines, Đệ nhất Cộng hòa Philippines được người bản xứ thành lập để giành độc lập, nhưng ngay lập tức Mỹ đem quân đến trấn áp. Cuộc chiến giữa quân Mỹ và người Philippines kéo dài 3 năm. Kết quả Mỹ chiến thắng, Đệ nhất Cộng hòa Philippines bị Mỹ giải thể, Philippines trở thành thuộc địa của Mỹ cho đến năm 1946. === Afghanistan === === Brasil === Năm 1964, tướng Castelo Branco làm đảo chính lập lên chính quyền độc tài quân sự kéo dài suốt 20 năm. CIA đã cung cấp mọi sự hỗ trợ cần thiết để đảm bảo vụ đảo chính thành công, bao gồm tài trợ cho các nhóm sinh viên và lao động đối lập trong biểu tình đường phố, giống như ở Ukraina và Venezuela sau này. Lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đã chờ sẵn để đổ bộ vào Sao Paolo trong trường hợp cần thiết. Giống như các nạn nhân khác trong những cuộc đảo chính được Mỹ hậu thuẫn ở châu Mỹ Latin, tổng thống dân cử Joao Goulart là một chủ đất giàu có, không phải là đảng viên cộng sản, nhưng nỗ lực của ông ta nhằm duy trì vị thế trung lập trong chiến tranh lạnh là không thể chấp nhận được đối với Hoa Kỳ. === Chile === Khi Salvador Allende, một người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, trở thành tổng thống vào năm 1970, tổng thống Nixon thề sẽ "bắt nền kinh tế Chile phải than khóc"'. Mỹ, vốn là đối tác thương mại lớn nhất của Chile, đã cắt giảm buôn bán tạo ra tình trạng khan hiếm và hỗn loạn kinh tế. CIA và bộ ngoại giao đã thực hiện chiến dịch tuyên truyền phá hoại ở Chile trong suốt một thập kỷ, tài trợ cho các chính khách bảo thủ, các đảng phái, các công đoàn, các nhóm sinh viên và tất cả các dạng truyền thông, trong khi mở rộng mối quan hệ với quân đội. Sau khi tướng Pinochet lên nắm quyền, CIA tiếp tục trả lương cho các sĩ quan người Chile và hợp tác chặt chẽ với cơ quan tình báo Chile (DINA) trong việc chính phủ quân sự giết hại hàng ngàn người và bỏ tù cũng như tra tấn hàng chục ngàn người khác trong suốt 16 năm của chế độ độc tài quân sự Pinochet. === Nicaragua === Anastasio Somosa là nhà độc tài cai trị Nicargua trong suốt 43 năm với sự hỗ trợ của Mỹ, lực lượng Vệ Binh Quốc gia của ông ta tự do thực hiện các tội ác từ thảm sát, tra tấn tới cướp bóc và cưỡng hiếp. Sau khi nhà độc tài bị cuộc cách mạng Sandinista lật đổ năm 1979, CIA đã tuyển dụng, huấn luyện và hỗ trợ cho lính đánh thuê Contra xâm lược Nicaragua đồng thời thực hiện các vụ khủng bố gây bất ổn. Năm 1986 Tòa án Quốc tế đã tuyên bố Mỹ có tội trong việc tấn công Nicaragua vì đã triển khai lực lượng Contra và phá hoại các cảng biển của Nicaragua. Tòa án yêu cầu Mỹ chấm dứt tấn công và bồi thường chiến tranh cho Nicaragua, nhưng người Mỹ không bao giờ thực hiện. Mỹ tuyên bố rằng không bị ràng buộc bởi các phán quyết của Tòa án Quốc tế. === Dominica, Grenada và Panama === Năm 1965, Mỹ đưa quân vào Dominica để tấn công Đảng Cách mạng Dominican và Đảng Cách mạng 14 tháng 6 khi hai đảng cánh tả này đang tổ chức biểu tình chống chính quyền quân sự thân Mỹ. Năm 1983, Mỹ đem quân xâm lược đảo quốc Grenada, tiêu diệt Chính phủ Nhân dân Cách mạng Grenada mà Mỹ cho là thiên tả và có thái độ ủng hộ Liên Xô. Cuối năm 1989, Mỹ đem 2 vạn quân tấn công Panama, trấn áp Lực lượng Vũ trang Công lập Panama. === Cuba === Mỹ đã hỗ trợ cho chế độ độc tài Batista giết hại khoảng 20.000 người trong thập niên 1950. Cựu đại sứ Mỹ Erl Smith nói tại Quốc hội rằng, "nước Mỹ có ảnh hưởng rất lớn tại Cuba, đại sứ Mỹ là người quan trọng thứ hai ở Cuba, đôi khi quan trọng hơn cả tổng thống Cuba". Sau cách mạng Cuba do Fidel Castro tiến hành lật đổ Batista, CIA tiến hành chiến dịch quy mô chống lại Cuba, đào tạo các phần tử lưu vong người Cuba tại Florida, Trung Mỹ và nước Cộng hòa Dominica để ám sát và phá hoại ở Cuba. Các chiến dịch chống Cuba được CIA hậu thuẫn bao gồm cả Sự kiện Vịnh Con Lợn, khiến 100 lính Cuba lưu vong, 4 lính Mỹ và hơn 1.000 dân thường Cuba bị giết; nhiều âm mưu ám sát Fidel Castro và các quan chức khác; vụ đặt bom năm 1960 (3 người Mỹ bị giết và 2 bị bắt) và các vụ đánh bom khủng bố nhằm vào khách du lịch năm 1997; vụ đánh bom tàu của Pháp tại cảng Havana (ít nhất 75 người chết); vụ tấn công sinh học bằng virus bệnh cúm khiến nửa triệu con lợn chết; và vụ đánh bom máy bay Cuba (78 người chết) của Luis Posada Carriles và Orlando Bosch. Hai hung thủ này vẫn tự do tại Mỹ, trong đó Bosch đã được chính tay tổng thống Geogre Bush ký lệnh ân xá. === Ghana === Vào năm 1950 và 1960, đã từng có một tổng thống cánh tả nổi bật ở Ghana: Kwame Nkrumah. Ông là thủ tướng dưới thời người Anh cai trị từ năm 1952 đến 1960, khi Ghana độc lập thì ông trở thành tổng thống. Đó là một người xã hội chủ nghĩa, với tư tưởng chống đế quốc, vào năm 1965 ông viết một cuốn sách lấy tên là "Chủ nghĩa thực dân mới: Giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc". Nkrumah bị CIA lật đổ trong cuộc đảo chính năm 1966. CIA đã phủ nhận mọi liên quan nhưng báo chí Anh đưa tin có 40 sĩ quan CIA hoạt động tại đại sứ quán Mỹ đã "cung cấp hào phóng cho các kẻ thù bí mật của tổng thống Nkrumah" và công việc của họ "đã được thưởng công đầy đủ". Cựu sĩ quan CIA John Stockwell tiết lộ thêm về vai trò quyết định của CIA trong vụ đảo chính với cuốn sách "In Search of Enemies". === Zaire === Patrice Lumumba, chủ tịch đương nhiệm của phong trào Liên Phi Quốc gia Congo, đã tham gia vào quá trình giành độc lập của Congo và trở thành thủ tướng dân cử đầu tiên của Congo năm 1960. Ông ấy bị lật đổ trong cuộc đảo chính được CIA hậu thuẫn của Joseph-Desire Mobutu, vốn là chỉ huy quân đội. Mobutu giao Lumumba cho phe ly khai và lính đánh thuê được Bỉ hậu thuẫn. Lumumba đã chiến đấu ở tỉnh Katanga và bị bắn trong một vụ đọ súng với lính đánh thuê Bỉ. Mobutu xóa bỏ bầu cử và tự phong mình làm tổng thống năm 1965, cai trị với chế độ độc tài trong suốt 30 năm. Mobutu giết hại các đối thủ chính trị bằng cách treo cổ công khai, tra tấn tới chết và biển thủ khoảng 5 tỷ USD. Nhưng Mỹ tiếp tục ủng hộ Mobutu, ngay cả khi tổng thống Jimmy Carter công khai giữ khoảng cách, Zaire vẫn nhận được 50% tổng số viện trợ quân sự của Mỹ cho khu vực châu Phi cận Sahara. Chỉ cho tới những năm 1990 thì viện trợ của Mỹ mới bắt đầu giảm đi, cho tới khi Mobutu bị Laurent Kabila lật đổ năm 1997 và chết sau đó. === Iran === Năm 1953, CIA và cơ quan tình báo Anh MI6 lật đổ chính quyền dân cử của Mohammed Mossadegh. Trước đó, Iran quốc hữu hóa công nghiệp dầu mỏ bằng bỏ phiếu công khai tại Quốc hội, chấm dứt sự độc quyền khai thác dầu của Anh tại Iran. Để trả đũa, quân Anh phong tỏa đường biển và cấm vận kinh tế quốc tế. Sau khi tổng thống Eisenhower lên nắm quyền năm 1953, CIA đồng ý với yêu cầu can thiệp của Anh. Một số hoạt động đảo chính ban đầu thất bại khiến vua Shah và gia đình phải trốn sang Italy, CIA chi hàng triệu USD để mua chuộc các quan chức và trả cho các băng đảng để gây bạo loạn trên đường phố Tehran. Mossadegh cuối cùng cũng bị lật đổ và vua Shah trở về nắm quyền. Với sự ủng hộ mạnh mẽ từ phía Anh và Mỹ, triều đình Shah trao cho phương Tây các ngành công nghiệp Iran và đàn áp phe đối lập trong tầng lớp tăng lữ Hồi giáo Shia và những người ủng hộ dân chủ. Chế độ của Shah bị nhân dân căm ghét: Quần chúng nhận thức rằng Shah chịu ảnh hưởng lớn - nếu không nói là con rối - của thế lực phi Hồi giáo phương Tây (Hoa Kỳ), rằng văn hóa hưởng thụ Hoa Kỳ đang làm ô uế đất nước Iran; rằng chế độ của Shah quá thối nát,và ngông cuồng. tất cả dẫn tới cuộc cách mạng Iran năm 1979. === Guatemala === Sau chiến dịch lật đổ một chính quyền ở Iran 1953, CIA tiến hành chiến dịch khác để lật đổ chính quyền dân cử của Jacobo Arbenz ở Guatemala năm 1954. CIA đã tuyển dụng và đào tạo một đơn vị lính đánh thuê nhỏ dưới sự chỉ huy của một người Guatemala lưu vong tên là Castillo Armas để chiếm đóng Guatemala, với 30 máy bay Mỹ không mang phù hiệu để hỗ trợ đường không. Đại sứ Mỹ Peurifoy chuẩn bị danh sách những người Guatemala cần xử tử, Armas được chỉ định làm tổng thống. Triều đại thân Mỹ sau đó đã dẫn đến cuộc nội chiến kéo dài 40 năm, có ít nhất 200.000 người đã bị giết, phần lớn là thường dân. Đỉnh điểm của cuộc chiến là chiến dịch diệt chủng ở Ixil của tổng thống Rios Montt, ông ta bị tuyên án tù chung thân vào năm 2013 vì vụ diệt chủng đó nhưng sau đó Tòa án Tối cao Guatemala đã vô hiệu hóa bản án về mặt kỹ thuật. Tài liệu giải mật của CIA cho thấy chính quyền Ronald Reagan đã được cảnh báo về các hoạt động diệt chủng của lực lượng quân sự Guatemala khi chấp thuận viện trợ quân sự cho quân đội này vào năm 1981, bao gồm các xe quân sự, linh kiện máy bay trực thăng và cố vấn quân sự. === Iraq === Vào năm 1958, sau khi vương triều phong kiến do Anh hậu thuẫn bị tướng Abdul Qasim lật đổ, CIA đã thuê người thanh niên Iraq 22 tuổi có tên Saddam Hussein để ám sát vị tổng thống mới. Hussein thất bại và phải trốn sang Lebanon, CIA thuê cho ông ta một căn hộ ở Beirut và sau đó chuyển ông ta tới Cairo làm việc cho cơ quan tình báo Ai Cập. Qasim bị giết trong cuộc đảo chính của những người theo đảng Baath do CIA hậu thuẫn, giống như ở Guatemala và Indonesia, CIA đưa cho chính phủ mới danh sách gồm ít nhất 4.000 đảng viên Cộng sản cần thủ tiêu. Nhưng khi đã nắm được quyền lực thì chính phủ của đảng Baath không cam chịu làm tay sai cho phương Tây, họ quốc hữu hóa ngành công nghiệp dầu mỏ của Iraq, áp dụng chính sách ngoại giao Arab, xây dựng hệ thống giáo dục và y tế tốt nhất trong thế giới Arab. Năm 1979, Hussein trở thành tổng thống, đàn áp các đối thủ chính trị. Được Mỹ cổ vũ, ông ta tiến hành chiến tranh chống Iran. Tình báo quốc phòng Mỹ DIA cung cấp do thám vệ tinh để dẫn đường cho vũ khí hóa học mà phương Tây giúp Hussein chế tạo, Donald Rumsfeld và các quan chức Mỹ khác đã chào đón Hussein, ca ngợi ông ta như là đồng minh chống lại Iran. Chỉ sau khi Iraq xâm lược Kuwait, đe dọa quyền lợi dầu mỏ của phương Tây thì Mỹ mới công kích ông ta là nhà độc tài và lật đổ ông ta sau khi Mỹ xâm lược Iraq vào năm 2003 với cái cớ là Iraq sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt (những vũ khí này đã không bao giờ được tìm thấy sau đó). Năm 2015, Thủ tướng Anh Tony Blair trong cuộc phỏng vấn với CNN đã thừa nhận các báo cáo về vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Iraq là sai sự thật. Tuy nhiên ông này tỏ ra không hề tiếc nuối khi đã đem quân lật đổ Saddam. Vì những điều này mà nhiều người coi Chiến tranh Iraq 2003 thực chất là 1 cuộc chiến vì dầu mỏ, trong đó Mỹ-Anh muốn dựng lên 1 chính phủ thân phương Tây để mở cửa cho các công ty Mỹ và Anh vào khai thác nguồn tài nguyên dầu khí phong phú của Iraq. Dù không tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt, cũng không có người Mỹ-Anh nào phải chịu trách nhiệm hay bị “xử lý” vì những thông tin sai và vô căn cứ cả, tất cả đều "vô can". Chỉ có một thực tế: Chủ quyền Iraq bị xâm phạm, Tổng thống nước này bị lật đổ và xử tử, còn người dân Iraq thì phải hứng chịu bao khổ đau do chiến tranh gây ra. Đất nước Iraq chìm trong chiến tranh suốt từ nằm 2003 tới nay với hàng trăm ngàn người thiệt mạng. Năm 2014, đất nước Iraq đã bị xé nát thành nhiều mảnh bởi nhiều phe phái như chính phủ thân Mỹ, Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant, quân người Kurd... === Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant === Theo Global Research, cựu nhân viên Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSA), Edward Snowden, đã tiết lộ rằng tình báo Anh, tình báo Mỹ và tình báo Israel (Mossad) đã làm việc với nhau để tạo ra ISIL. Các tài liệu mật bị rò rỉ tiết lộ rằng nhà lãnh đạo ISIL, giáo sĩ Abu Bakr Al-Baghdadi, đã được huấn luyện quân sự trong suốt một năm dưới sự đào tạo của Mossad, bên cạnh các khóa học về thần học và nghệ thuật phát biểu. Người đứng đầu Viện nghiên cứu vì hòa bình và thịnh vượng Ron Paul, ông Daniel McAdams giải thích rằng: "Thực ra, "phe ôn hòa" (trong cuộc nội chiến Syria) đã được trợ giúp bởi người Mỹ từ lâu, họ đã chiến đấu bên cạnh những người có liên hệ với Al-Qaeda, và sau này là với những chiến binh của ISIS." Lãnh tụ tối cao Iran, Ali Khamenei đã nói rằng Mỹ, Israel và Anh đứng đằng sau tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant tự xưng; ông cho rằng các nước này đã tạo ra Al-Qaeda và Da'esh (tức ISIL) nhằm tạo ra sự chia rẽ và sử dụng chúng trong cuộc chiến chống lại các nước Hồi giáo, nhưng rốt cục các tổ chức này lại quay sang chống lại Mỹ. === Việt Nam === == Xem thêm == == Chú thích == == Tham khảo == Bacevich, Andrew (2008). The Limits of Power: The End of American Exceptionalism. Macmillan. ISBN 0-8050-8815-6. Boot, Max (2002). The Savage Wars of Peace: Small Wars and the Rise of American Power. Basic Books. ISBN 0-465-00721-X. Brown, Seyom (1994). Faces of Power: Constancy and Change in United States Foreign Policy from Truman to Clinton. New York: Columbia University Press. ISBN 0231096690. Buchanan, Patrick (1999). A Republic, Not an Empire: Reclaiming America's Destiny. Regnery Pub. ISBN 0-89526-272-X. Burton, David H. (1968). Theodore Roosevelt: Confident Imperialist. Philadelphia: University of Pennsylvania Press. ASIN B0007GMSSY. Callahan, Patrick (2003). Logics of American Foreign Policy: Theories of America's World Role. New York: Longman. ISBN 0321088484. Card, Orson Scott (2006). Empire. TOR. ISBN 0-7653-1611-0. Daalder, Ivo H.; James M. Lindsay (2003). America Unbound: The Bush Revolution in Foreign Policy. Washington, DC: Brookings Institution. ISBN 0815716885. Field, James A., Jr. (tháng 6 năm 1978). “American Imperialism: The Worst Chapter in Almost Any Book”. The American Historical Review 83 (3): 659. doi:10.2307/1861842. Fulbright, J. William; Seth P. Tillman (1989). The Price of Empire. Pantheon Books. ISBN 0394572246. Gaddis, John Lewis (2005). Strategies of Containment: A Critical Appraisal of Postwar American National Security Policy (ấn bản 2). New York: Oxford University Press. ISBN 019517447X. Hardt, Michael; Antonio Negri (2001). Empire. Cambridge, MA: Harvard University Press. ISBN 0674006712. online Huntington, Samuel P. (1996). The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order. New York: Simon & Schuster. ISBN 0684811642. Johnson, Chalmers (2000). Blowback: The Costs and Consequences of American Empire. New York: Holt. ISBN 0-8050-6239-4. Johnson, Chalmers (2004). The Sorrows of Empire: Militarism, Secrecy, and the End of the Republic. New York: Metropolitan Books. ISBN 0-8050-7004-4. Johnson, Chalmers (2007). Nemesis: The Last Days of the American Republic. New York, NY: Metropolitan Books. ISBN 0-8050-7911-4. Kagan, Robert (2003). Of Paradise and Power: America and Europe in the New World Order. New York: Knopf. ISBN 1400040930. Kerry, Richard J. (1990). The Star-Spangled Mirror: America's Image of Itself and the World. Savage, MD: Rowman & Littlefield. ISBN 0847676498. Lens, Sidney; Zinn, Howard (2003). The Forging of the American Empire: From the Revolution to Vietnam: A History of American Imperialism. Plkuto press. ISBN 0745321003. Lundestad, Geir (1998). Empire by Integration: The United States and European Integration, 1945–1997. New York: Oxford University Press. ISBN 0198782128. Meyer, William H. (2003). Security, Economics, and Morality in American Foreign Policy: Contemporary Issues in Historical Context. Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall. ISBN 0130863904. Nye, Joseph S., Jr (2002). The Paradox of American Power: Why the World’s Only Superpower Can’t Go It Alone. New York: Oxford University Press. ISBN 0195150880. Odom, William (2004). America's Inadvertent Empire. Yale University Press. ISBN 0300100698. Patrick, Stewart; Shepard Forman, eds. (2001). Multilateralism and U.S. Foreign Policy: Ambivalent Engagement. Boulder, CO: Lynne Rienner. ISBN 1588260429. Perkins, John (2004). Confessions of an Economic Hit Man. Tihrān: Nashr-i Akhtarān. ISBN 1-57675-301-8. Rapkin, David P., ed. (1990). World Leadership and Hegemony. Boulder, CO: Lynne Rienner. ISBN 1555871895. Ruggie, John G., ed. (1993). Multilateralism Matters: The Theory and Praxis of an Institutional Form. New York: Columbia University Press. ISBN 978-0231079808. Smith, Tony (1994). America's Mission: The United States and the Worldwide Struggle for Democracy in the Twentieth Century. Princeton, NJ: Princeton University Press. ISBN 0691037841. Tomlinson, John (1991). Cultural Imperialism: A Critical Introduction. Baltimore, MD: Johns Hopkins University Press. ISBN 0801842506. Todd, Emmanuel (2004). After the Empire: The Breakdown of the American Order. New York: Columbia University Press. ISBN 978-0-231-13103-2. Tremblay, Rodrigue (2004). The New American Empire. Infinty publishing. ISBN 0-7414-1887-8. Zepezauer, Mark (2002). Boomerang!: How Our Covert Wars Have Created Enemies Across the Middle East and Brought Terror to America. Monroe, Maine: Common Courage Press. ISBN 1-56751-222-4. == Liên kết ngoài == Letter to Editor about U.S. Imperialism in Vietnam, ngày 5 tháng 2 năm 1994
dpkg.txt
dpkg là phần mềm làm nền tảng cho các hệ thống quản lý gói tin trên hệ điều hành tự do nguồn mở Debian và các phát sinh từ nó. dpkg được sử dụng để cài đặt, gỡ bỏ, và cung cấp thông tin về các gói .deb. dpkg (Debian Package) là một công cụ cấp thấp. APT (Advanced Packaging Tool), một công cụ cấp cao hơn,được sử dụng nhiều hơn dpkg vì nó có thể tim các gói gói tin từ xa và giải quyết các gói tin có quan hệ phức tạp, chẳng hạn như các gói tin phụ thuộc. Frontends cho APT như aptitude (ncurses) và synaptic (GTK+) được sử dụng các giao diện thân thiện của chúng. Các gói tin Debian "dpkg" cung cấp ứng dụng dpkg, cũng như một số chương trình khác cần thiết cho chức năng run-time của hệ thống đóng gói, bao gồm cả dpkg-deb, dpkg-split, dpkg-query, dpkg-statoverride, dpkg-divert and dpkg-trigger. 37/5000 Nó cũng bao gồm các chương trình như update-alternatives and start-stop-daemon. Chương trình install-info được dùng trong hầu như tất cả các gói, nhưng sau đó đã bị gỡ bỏ và bây giờ phát triển và phân phối riêng biệt. Các gói Debian "dpkg-dev" bao gồm rất nhiều các công cụ xây dựng được mô tả ở dưới. == Lịch sử == dpkg ban đầu được tạo ra bởi Matt Welsh, Carl Streeter và Ian Murdock, đầu tiên là một ứng dụng Perl, và sau đó được viết lại phần lớn bằng C bởi Ian Jackson năm 1994. Tên gọi dpkg ban đầu là viết tắt cho "Debian package", nhưng ý nghĩa của cụm từ đó đã phát triển đáng kể. == Ví dụ việc sử dụng == Để cài đặt một gói tin.deb: dpkg -i debFileName Với debFileName là tên của gói cài đặt. Danh sách các gói cài đặt có thể được có được với: dpkg -l [optional pattern] Để gỡ bỏ một gói tin: dpkg -r packagename == Công cụ phát triển == dpkg-dev có chứa một loạt công cụ phát triển được yêu cầu để giải nén, build và tải lên các gói mã nguồn Debian. Chúng bao gồm: dpkg-source đóng gói và giải nén các tập tin mã nguồn của một gói Debian. dpkg-gencontrol đọc thông tin từ một nguồn cây Debian giải nén và tạo ra một gói điều khiển gói nhị phân, tạo ra một mục cho vấn đề này Debian/file. dpkg-shlibdeps tính toán các phụ thuộc của chạy đối với các thư viện với. dpkg-genchangesđọc thông tin từ một nguồn cây Debian giải nén mà sau khi xây dựng tạo ra một tập tin điều khiển (.changes). dpkg-buildpackage là một kịch bản kiểm soát có thể được sử dụng để xây dựng các gói tự động. dpkg-distaddfile bổ sung một file đầu vào debian / tập tin. dpkg-parsechangelog rđọc các tập tin thay đổi (changelog) của một nguồn cây Debian giải nén và tạo ra một đầu ra chuẩn bị thuận tiện với các thông tin cho những thay đổi đó. == Cơ sở dữ liệu == Các cơ sở dữ liệu dpkg nằm trong /var/lib/dpkg; "trạng thái" tập tin chứa danh sách các phần mềm được cài đặt trên hệ thống hiện tại. Không có thông tin về kho trong cơ sở dữ liệu này. == Xem thêm == Advanced Packaging Tool Alien Debian build toolchain RPM, cho các hệ thống có nguồn gốc từ RedHat opkg, cho việc cài đặt Linux bị lưu trữ hạn chế. wpkg, cho hệ thống Microsoft Windows. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức Mailing list
kênh đầu tư vàng.txt
Trong các kim loại quý, vàng là một kênh đầu tư phổ biến nhất. Các nhà đầu tư mua vàng để dự trữ và là địa chỉ an toàn trước những biến động về kinh tế, chính trị, xã hội hoặc khủng hoảng tiền định danh (fiat money) (bao gồm cả sự suy giảm của thị trường đầu tư, nợ quốc gia đang gia tăng, suy thoái tiền tệ, lạm phát, chiến tranh và bất ổn xã hội). Thị trường vàng cũng bị ảnh hưởng bởi sự đầu cơ như các hàng hóa khác, đặc biệt thông qua sử dụng những hợp đồng tương lai (futures contract) và hàm phiếu. Lịch sử của bản vị vàng, vai trò của dự trữ vàng trong các ngân hàng trung ương, sự tương quan thấp của vàng với giá cả của các hàng hóa khác, và giá cả của nó liên quan đến tiền định danh trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2010, cho thấy vàng có nhiều đặc điểm của tiền. == Chú thích == == Tham khảo == GoldPrice.org (cập nhật giá vàng) NYMEX:GC (Gold) futures quotes (chi tiết giá vàng) Kênh đầu tư vàng tại DMOZ giavang.108x.org (cập nhật giá vàng SJC tại Việt Nam) sacombank-sbj.com (cập nhật giá vàng SBJ tại Việt Nam)
t-ara.txt
T-Ara hay Tiara (phát âm: /tiˈɑːrə/; tiếng Hàn: 티아라; tiếng Nhật: ティアラ; cách điệu: T-ARA, T♔ARA hoặc TΛRΛ) là một nhóm nhạc nữ thần tượng của Hàn Quốc ra mắt vào ngày 29 tháng 7 năm 2009 bởi Core Contents Media, nay là MBK Entertainment. Trước khi đứng trên sân khấu, nhóm đã được đào tạo chuyên nghiệp trong vòng ba năm. Ban đầu, T-Ara có năm thành viên là Jiae, Jiwon, Eunjung, Hyomin và Jiyeon. Họ cho ra mắt ca khúc đầu tiên "Good Person" (tiếng Hàn: 좋은 사람) trong bộ phim Cinderella Man vào tháng 4 năm 2009. Hai tháng sau, hai thành viên Jiwon và Jiae rời nhóm. Tháng 7 năm 2009, ba thành viên mới là Boram, Qri và Soyeon gia nhập vào đội hình. Nhóm bắt đầu sự nghiệp chính thức với đội hình gồm sáu thành viên và phát hành đĩa đơn đầu tay "Lies" vào ngày 27 tháng 7 năm 2009 cùng trưởng nhóm Eunjung. Năm 2011, T-Ara ký một hợp đồng 4.7 tỷ won với công ty giải trí J-Rock cho việc ra mắt tại Nhật, đây là số tiền cao nhất trong tất cả các nhóm nhạc nữ Hàn Quốc ra mắt tại Nhật Bản. Đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên của nhóm là ca khúc làm lại từ bản hit "Bo Peep Bo Peep" năm 2009, ca khúc sau đó đã được Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản trao chứng nhận Vàng khi bán ra được hơn 100.000 bản. Năm 2011 và 2012, các đĩa đơn "Roly-Poly", "Cry Cry", "We Were in Love", "Lovey-Dovey" và "Day by Day" đều nằm trong Top 2 ở bảng xếp hạng âm nhạc Gaon và Korea K-Pop Hot 100. Trong đó, "Roly-Poly" giúp T-Ara mang về 2 triệu USD doanh thu và là bài hát có lượt tải kỹ thuật số lớn nhất trong lịch sử của Gaon với 4 triệu lượt tải trong năm. Trong thời gian hoạt động, nhóm đã bổ sung thêm hai thành viên là Hwayoung vào tháng 7 năm 2010 và Areum vào tháng 6 năm 2012. Thành viên thứ chín Dani đã được lên kế hoạch gia nhập nhóm, tuy nhiên vấn đề này đã bị trì hoãn vô thời hạn do cô chưa "sẳn sàng" để ra mắt và rồi cô được gán vào nhóm nhỏ T-ara N4; Sau đó, Hwayoung rời nhóm vào tháng 7 năm 2012 do scandal giữa cô và T-Ara, còn Areum rời nhóm vào tháng 7 năm 2013 để theo đuổi sự nghiệp hát đơn. T-Ara là nhóm nhạc không có nhóm trưởng cụ thể mà các thành viên sẽ luân phiên thay đổi theo thời gian, trưởng nhóm hiện tại của nhóm là Qri. T-Ara được xem là nhóm nhạc nữ K-pop nổi tiếng nhất tại Trung Quốc. == Ý nghĩa tên gọi, Fanclub == Tên gọi T-Ara bắt nguồn từ "tiara" (có nghĩa là vương miện) xuất phát từ ý tưởng rằng nhóm sẽ trở thành "nữ hoàng của ngành âm nhạc". Ban đầu, nhóm có tên là Super Rookies nhưng đến khi ra mắt thì lại đổi tên thành T-Ara. Tên câu lạc bộ người hâm mộ (FC) chính thức của nhóm là "Queen's" (tiếng Hàn: 여왕이) được công bố vào 14 tháng 7 năm 2012 tại Đại học Kyung Hee. == Sự nghiệp == === Trước lần ra mắt đầu tiên === Trước khi ra mắt, năm thành viên ban đầu của nhóm đều đã được đào tạo chuyên nghiệp trong ba năm ở Mnet Media và ra mắt ca khúc đầu tiên "Good Person" (Ver. 1) cho bộ phim Cinderella Man vào tháng 4 năm 2009. Đến tháng 5, Jiyeon của T-Ara hợp tác cùng Davichi và SeeYa cho ra mắt bài hát "Women's Generation" (tiếng Hàn: 여성시대) được thực hiện trong phòng thu ở Namyangju-Gyeonggi. Tháng 6 cùng năm, hãng Core Contents Media thông báo rằng hai thành viên Jiae và Jiwon rời khỏi nhóm do có sự khác biệt về phong cách âm nhạc. Cùng thời điểm này, Boram, Qri và Soyeon gia nhập nhóm. Soyeon từng là thực tập sinh và cũng dự định tham gia nhóm nhạc nữ Girls' Generation nhưng đã xin rút lui vì lý do cá nhân, Qri từng là người mẫu ảnh và Boram có ba là Jeon Young-rok và mẹ là Lee Mi-young, cả hai đều là ca sĩ nổi tiếng. Đầu tháng 7 năm 2009, nhóm chuyển sang nằm dưới sự quản lý của công ty con Mnet Media là Core Contents Media. === 2009: Ra mắt và album đầu tay === T-Ara xuất hiện lần đầu tiên trên truyền hình trong chương trình đối thoại Radio Star của đài MBC vào ngày 29 tháng 7 năm 2009. Nhóm biểu diễn lần đầu trên sân khấu tại M! Countdown với bài hát "Wanna Play?" (tiếng Hàn: 놀아볼래?) và "Lie" (tiếng Hàn: 거짓말). Tuy nhiên, phần biểu diễn bị cư dân mạng cho là giống như của học sinh tiểu học biểu diễn vì nhóm đã hát nhép toàn bộ các ca khúc. Sau đó, T-ara đã lên tiếng hát live trong những lần diễn sau. Một số thành viên của T-Ara (Soyeon, Eunjung, Hyomin và Jiyeon) cùng nhóm nhạc nam Supernova cho ra mắt đĩa đơn "T.T.L (Time to Love)" dưới dạng kỹ thuật số vào ngày 15 tháng 9. Ca khúc này ngay sau đó đã leo lên đứng đầu nhiều bảng xếp hạng trực tuyến như Cyworld, Melon, Mnet, Soribada. Họ cũng ra mắt tiếp đĩa đơn "T.T.L Listen 2" vào ngày 9 tháng 10, bao gồm tất cả thành viên của hai nhóm. Album phòng thu đầu tay của nhóm Absolute First Album được phát hành kỹ thuật số vào ngày 27 tháng 11 năm 2009 với 6 đĩa đơn. Album giữ vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng âm nhạc Gaon. Để xác định ca khúc chủ đề cho album, Core Contents Media đã tổ chức một cuộc khảo sát mà công chúng phải lựa chọn giữa "Bo Peep Bo Peep" hoặc "Like the First Time" (tiếng Hàn: 처음처럼). 9.000 người đã tham gia cuộc khảo sát trên nhiều cổng thông tin âm nhạc khác nhau, trong đó 53% (4.770 người) đã chọn "Like the First Time". Tuy nhiên, "Bo Peep Bo Peep" lại được quảng bá trên các chương trình âm nhạc vì những lý do nào đó. "Bo Peep Bo Peep" đạt vị trí thứ 4 trên Gaon trong khi "Like the First Time" đạt vị trí thứ 10. Tại Golden Disk Awards lần thứ 24, T-Ara và nhóm nhạc nữ 4minute cùng được tặng giải Tân binh của năm. === 2010: Breaking Heart và Temptastic === T-Ara lần đầu tiên giành giải thưởng trong một chương trình biểu diễn âm nhạc với tiết mục "Bo Peep Bo Peep" trên Music Bank vào ngày 1 tháng 1 năm 2010. Ca khúc mang về cho nhóm năm giải thưởng: 2 cúp trên Music Bank và 3 cúp trên Inkigayo (giúp nhóm đạt "Triple Crown"). Cũng trong tháng này, hãng đĩa Mnet Media thông báo rằng Eunjung và Hyomin hợp tác cùng Davichi và SeeYa trong bài hát "Wonder Woman"; bài này sau đó đã nhận giải Nhạc chuông tại Gaon Chart Grand Opening Awards. Tháng 1 năm 2010, nhóm công bố chương trình quảng bá cho đĩa đơn tiếp theo "Like The First Time" nhưng sớm phải tạm dừng vì Soyeon bị nhiễm cúm H1N1. Cũng trong tháng này, T-ara xuất hiện với vai trò khách mời ở tập phim thứ bảy và thứ tám của bộ phim Cao thủ học đường do Jiyeon thủ vai chính. Đầu tháng 2 năm 2010, có thông báo rằng T-ara sẽ phát hành phiên bản repackaged nhằm để cảm ơn người hâm mộ đã ủng hộ cho album đầu tay của nhóm. Ngày 23 tháng 2 năm 2010, T-ara tái phát hành album đầu tay của mình với đĩa đơn chủ lực "I Go Crazy Because Of You" (tiếng Hàn: 너 때문에 미쳐) do Wheesung sáng tác, lần lượt đạt vị trí thứ nhất và thứ 31 trên bảng xếp hạng âm nhạc Gaon, nhận được 3.042.224 lượt tải kỹ thuật số trong năm. Cùng ngày, T-Ara có màn trình diễn trở lại trên sân khấu M! Countdown và giành ba giải thưởng âm nhạc: 1 cúp trên M! Countdown và 2 cúp trên Inkigayo. Ngày 3 tháng 3 năm 2010, nhóm phát hành bản repackage Breaking Heart cùng đĩa đơn thứ hai "Naega Neomu Apa" (tiếng Hàn: 내가 너무 아파, "I'm Really Hurt"), giữ vị trí thứ 2 trên Gaon tuần và thứ 35 trên Gaon năm với 40.695 bản đĩa được bán ra trong năm 2010, nâng tổng doanh số lên 59.172 bản. Tháng 6 cùng năm, T-Ara ra mắt bài hát "We Are the One" nhằm mục đích cổ vũ cho mùa World Cup năm 2010 diễn ra ở Nam Phi, nhóm cũng quyên góp toàn bộ lợi nhuận từ trang web trực tuyến T-araDotCom nhân mùa cho World Cup để chuyển đến trẻ em châu Phi. Tháng 11 năm 2010, T-ara tham dự mùa thứ ba của chương trình truyền hình thực tế Hello Baby. Ngày 23 tháng 11 năm 2010, T-Ara ra mắt bản kỹ thuật số cho ca khúc "Why Are You Being Like This?" (tiếng Hàn: 왜 이러니) do Yangpa, Kim Do-hoon và Lee Sang-ho sản xuất. Ca khúc đạt vị trí thứ 4 trên Gaon tuần và thứ 7 trên Gaon tháng. Ngày 1 tháng 12, T-Ara phát hành đĩa mở rộng đầu tiên Temptastic cùng với đĩa đơn thứ hai "Yayaya" đạt vị trí thứ 5 theo Gaon tuần và thứ 6 theo Gaon tháng. Album giữ vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng âm nhạc Gaon. Thời gian album lên kệ bị trì hoãn đến ngày 3 tháng 12 do xảy ra sự kiện Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên pháo kích đảo Yeonpyeong của Hàn Quốc trong tháng 11. Ngày 3 tháng 12, T-Ara biểu diễn trở lại trên sân khấu Music Bank và bắt đầu hoạt động quảng bá cùng với thành viên thứ bảy Hwayoung và trưởng nhóm mới Boram. Nhóm cũng giành 2 chiến thắng tại M! Countdown cho "Why Are You Being Like This" và "Yayaya", lần lượt vào ngày 9 và 16 tháng 12. === 2011: John Travolta Wannabe, kế hoạch Nhật tiến và Black Eyes === John Travolta Wannabe - đĩa mở rộng thứ hai của nhóm phát hành vào ngày 29 tháng 6 năm 2011 và leo lên vị trí thứ 3 với tổng doanh số 34.180 bản được bán ra trên bảng xếp hạng âm nhạc Gaon. Tên của album xuất phát từ bộ phim Saturday Night Fever mà diễn viên chính là John Travolta. Nhóm đã đưa ra ý tưởng sau khi xem phim. Đĩa đơn duy nhất của album là "Roly-Poly" (tiếng Hàn: 롤리폴리) được ra mắt cùng ngày và đạt vị trí thứ 2 trên Gaon và thứ nhất trên Korea K-Pop Hot 100. Ca khúc đã gặt hái thành công vang dội, trở thành bài hát được tải xuống nhiều nhất ở Gaon trong năm 2011 tại Hàn Quốc với 4.077.885 lượt tải và giúp T-Ara nhận về 2 triệu đô-la doanh thu. "Roly-Poly" giành giải Video âm nhạc xuất sắc nhất tại MelOn Music Awards, Giải âm nhạc kỹ thuật số tại Seoul Music Awards, Đĩa đơn của năm tại Gaon Chart K-Pop Awards. Vũ đạo xoay tay của "Roly-Poly" cũng được người hâm mộ từ hơn 70 quốc gia trên toàn thế giới cover lại. Đến năm 2012, ca khúc được làm thành vở nhạc kịch mang tựa đề 'Our Youth, Roly Poly Musical'. Nhóm phát hành lại phiên bản giới hạn từ đĩa mở rộng thứ hai với nhan đề Roly-Poly in Copacabana vào ngày 2 tháng 8 năm 2011. Ca khúc chủ đề "Roly-Poly in Copacabana" được đặt theo tên của bài hát "Copacabana" phổ biến rộng rãi trong thập niên 1980 ở các câu lạc bộ disco tại Jongno. Album giữ vị trí thứ 3 trong khi đĩa đơn đạt vị trí số thứ 45 trên bảng xếp hạng âm nhạc Gaon. Ngày 30 tháng 8, tại chương trình Showbiz News của Nhật Bản, T-Ara đã ra mắt teaser mới cho "Bo Peep Bo Peep" với tin tức rằng nhóm sẽ ra mắt tại Nhật Bản. T-Ara phát hành đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay "Bo Peep Bo Peep" vào ngày 28 tháng 9 năm 2011 với hai phiên bản là phiên bản giới hạn và phiên bản thường, Đĩa đơn đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Oricon ngày và tuần. Biến T-Ara trở thành nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên đạt được vị trí số #1 ở Oricon và là nhóm nhạc thứ ba của Hàn Quốc sau "Replay-Kimi wa Boku no Everything" của Shinee và "Your Luv" của MBLAQ. Đĩa đơn cũng xếp đầu trên Billboard Japan Hot 100 và được RIAJ trao chứng nhận Vàng cho cả hai phiên bản tải xuống trên điện thoại di động và máy tính cá nhân. Cùng ngày ra mắt đĩa đơn, T-ara đã có một sự kiện tại Tokyo với hơn 16.000 người hâm mộ. Ngày 11 tháng 11 năm 2011, T-ara phát hành đĩa mở rộng thứ tư với nhan đề Black Eyes. Album giữ vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng âm nhạc Gaon với tổng doanh số 52.065 bản. Đĩa đơn của album là "Cry Cry" được ra mắt cùng ngày và đạt vị trí thứ nhất trên Gaon và Korea K-Pop Hot 100, thứ 8 trên Bảng xếp hạng Bài hát kỹ thuật số thế giới, giành 2 cúp trên M! Countdown. Một video nhạc dài 30 phút được phát hành vào ngày 22 tháng 12 có kinh phí sản xuất 1 tỷ won Hàn Quốc với sự góp mặt của diễn viên Cha Seung-won và Ji Chang-wook. Ngày 30 tháng 11 năm 2011, nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ hai tức phiên bản làm lại của ca khúc "Yayaya". Đĩa đơn đạt vị trí thứ 7 trên Oricon và thứ 6 trên Billboard Japan Hot 100. Ngày 7 tháng 12 năm 2011, Core Contents Media thông báo về việc chuyển quyền lãnh đạo của nhóm từ Hyomin sang Soyeon để thực hiện quảng bá cho sản phẩm mới. Nhóm cũng thực hiện một chuyến lưu diễn mini kéo dài ba ngày với tên gọi X-mas Premium Live được tổ chức tại Shinagawa Stella Hall ở Tokyo, Zepp ở Nagoya và Zepp ở Osaka. T-Ara được xếp thứ 8 trong cuộc bình chọn Gallup ở Hàn Quốc. Ngày 23 tháng 12 năm 2011, T-Ara và Davichi cho ra mắt bản ballad "We Were in Love" (tiếng Hàn: 우리 사랑했잖아) nhân dịp giáng sinh, mà về sau được đưa vào album tái bản Funky Town. Ca khúc giữ hạng nhất trên Gaon và hạng nhì trên Korea K-Pop Hot 100. === 2012: Funky Town, Jewelry Box, Day by Day Và scandal bắt nạt với Hwayoung === Ngày 3 tháng 1 năm 2012, T-ara phát hành lại đĩa mở rộng thứ tư dưới nhan đề Funky Town. Album đạt vị trí số 1 trên Gaon tuần và số 2 trên Gaon tháng, bán được tổng cộng 77.688 bản. Đĩa đơn từ album là "Lovey-Dovey" (tiếng Hàn: 러비 더비) được ra mắt vào ngày 2 tháng 2 và đạt vị trí thứ nhất trên cả hai bảng xếp hạng Billboard Hàn Quốc và Gaon cùng vị trí thứ 11 trên Billboard Nhật Bản, nhận được cúp "Triple Crown" lần thứ 2 trên Inkigayo. Ca khúc được sáng tác và sản xuất bởi Shinsadong Tiger và Choi Kyu-sung, mang âm hưởng của dòng nhạc ở châu Âu và Mỹ. "Lovey-Dovey" nhận được 3.758.864 lượt tải kỹ thuật số tính đến cuối năm, là bài hát được tải nhiều thứ hai trên Gaon năm 2012. Trước đó, Core Contents Media đã phát hành phiên bản drama cho "Lovey-Dovey" là phần tiếp theo của drama "Cry Cry", video nhạc đứng ở vị trí thứ 7 trong danh sách Video nhạc K-pop được xem nhiều nhất tại Hàn Quốc do YouTube công bố. Bốn phiên bản khác của "Lovey-Dovey" cũng được ra mắt và đều đứng nhất trên GomTV. Tháng 2 năm 2012, nhân kỷ niệm chín năm thành lập, Forbes Korea đã lập một danh sách của năm gồm "40 nhân vật nổi tiếng quyền lực hàng đầu". Trong danh sách này, T-Ara đứng thứ 17, trở thành nhóm nhạc nữ quyền lực thứ ba Hàn Quốc. Ngày 23 tháng 5, T-ara ra mắt bài hát "Round and Round" (tiếng Hàn: 빙글빙글) đạt vị trí thứ 10 trên Korea K-Pop Hot 100. Ngày 3 tháng 6, T-Ara tổ chức một buổi hòa nhạc nhỏ đầu tiên tại Hội trường 105 BITEC Bangna ở Băng Cốc, Thái Lan với 7.800 người hâm mộ. Vào tháng 4, Core Contents Media thông báo từ tháng 7 T-Ara sẽ bổ sung thêm hai thành viên nữa cho nhóm. Ngày 30 tháng 5 năm 2012, thành viên Dani gia nhập nhóm khi mới 14 tuổi. Tuy nhiên, cô chưa chính thức ra mắt cùng T-Ara cho đến khi nào cô cảm thấy "sẵn sàng" và vẫn đang trong giai đoạn được đào tạo. Về sau Dani có tham gia phiên bản drama của video nhạc "Day by Day". Ngày 14 tháng 6 năm 2012, Core Contents Media giới thiệu thêm thành viên Areum 18 tuổi, cô chính thức ra mắt cùng T-Ara trong đĩa đơn "Day by Day" của nhóm. T-Ara phát hành album tiếng Nhật đầu tiên mang tên Jewelry Box vào ngày 6 tháng 6 năm 2012. Album xếp ở vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Oricon với doanh số 57.102 bản ở tuần đầu, và 14.276 bản ở tuần thứ hai, nâng doanh số lên 104.478 bản tính đến cuối năm. Album được chứng nhận Vàng từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản với doanh số hơn 100.000 bản. Nhóm cũng bắt tay thực hiện chuyến lưu diễn Nhật Bản đầu tiên với tên gọi T-ara Japan Tour 2012: Jewelry Box tại Nagoya vào ngày 19 tháng 6 và kết thức ở Tokyo vào 26 tháng 7. Lượng người tham dự được dự tính trên 40.000 người. Trước khi ra mắt album, nhóm đã phát hành bốn đĩa đơn tiếng Nhật là "Bo Peep Bo Peep", "Yayaya", "Roly-Poly" và "Lovey-Dovey". Ngày 29 tháng 6, T-Ara công bố hình ảnh đầu tiên cho ca khúc mới. Ngày 3 tháng 7 năm 2012, T-Ara phát hành đĩa mở rộng thứ tư Day by Day đạt vị trí thứ 5 trên Gaon tuần và thứ 4 trên Gaon tháng với doanh số 40.928 bản. Ca khúc chủ đề cùng tên "Day by Day" phát hành cùng ngày leo lên vị trí thứ 2 trên Gaon và Billboard Korea K-Pop Hot 100. Video nhạc của "Day by Day" dài 20 phút thuộc thể loại khoa học viễn tưởng về các anh hùng trong tương lai năm 2330. Phần thứ hai cũng được phát hành vào tháng 9. Dịp này ghi dấu sự ra mắt của thành viên thứ tám của nhóm là Areum và đây là đĩa đơn duy nhất của T-Ara có sự tham gia giữa tám thành viên. Đến ngày 9 tháng 7, T-Ara ra mắt thêm video nhạc phiên bản dance cho "Day by Day" với sự hướng dẫn vũ đạo của Jonte Moaning. T-Ara là nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên được biểu diễn ở Budokan với tổng cộng 20.000 người hâm mộ, được tổ chức vào ngày 25 và 26 tháng 7. Trong đó, Hwayoung chỉ biểu diễn bài hát "Day by Day" do một chân bị chấn thương. Vấn đề bắt đầu khi thành viên Eunjung, Soyeon, Hyomin và Jiyeon viết "bóng gió" lên Twitter. Sau đó, Hwayoung và chị gái Hyoyoung viết lên Twitter để nói về một người xấu nào đó mà cuối cùng đã làm cho cư dân mạng và các phương tiện truyền thông của Hàn Quốc cho rằng có một cuộc xung đột xảy ra trong nhóm. Cư dân mạng bắt đầu gửi nhiều thông điệp và lan truyền tin đồn rằng Hwayoung bị bắt nạt là có thật. Họ cũng tìm được nhiều bằng chứng để chứng minh cho vụ việc này. Ngày 30 tháng 7 năm 2012, Core Contents Media bất ngờ thông báo về việc thành viên Hwayoung rời nhóm. Tổng giám đốc Kim Kwang-soo tuyên bố rằng công ty đã chấm dứt hợp đồng với Hwayoung do "chiếu theo ý kiến phàn nàn của 19 người trong đội ngũ 'những người liên quan' với T-Ara". Ông phát biểu rằng vấn đề bắt nạt không phải là nguyên nhân dẫn đến vụ việc rời nhóm này và ý nghĩa của những dòng Twitter mà các thành viên T-Ara đã viết cũng không không ám chỉ đến ai. Các doanh nghiệp lớn được T-Ara làm đại sứ như: Tony Moly, Daewoo, Look Optical đều hủy hợp đồng với nhóm dù hợp đồng vẫn chưa hết hạng. Cả Hwayoung và các thành viên khác trong T-Ara đều tuyên bố rằng sự thật về chuyện bắt nạt đã bị các cư dân mạng xuyên tạc, nhưng mặt khác họ cũng xác nhận rằng giữa họ có xảy ra xung đột. Về sau có thông báo rằng kế hoạch trở lại của nhóm sẽ không có gì thay đổi; tuy nhiên, người đại diện đã rút lại lời nói trên và thông báo rằng màn biểu diễn trở lại sẽ bị hoãn vô hạn. Ngày 30 tháng 8, Core Contents Media thông báo rằng T-Ara sẽ phát hành mini-album thứ bảy vào tháng 9. Đĩa đơn quảng bá cho album là ca khúc mang hình tượng robot "Sexy Love" với sự hợp tác thứ tư của nhóm giữa Shinsadong Tiger và Choi Kyu-sung. Mirage, bản phát hành lại của đĩa mở rộng thứ 4 ra mắt vào ngày 3 tháng 9 năm 2012 với hai đĩa đơn đã leo lên vị trí thứ 2 theo Gaon tuần và thứ 5 theo Gaon tháng. "Sexy Love" phát hành cùng ngày giữ vị trí thứ 4 trên Gaon và thứ 3 trên Billboard Hàn Quốc. Đĩa đơn thứ hai là bản ballad "Day and Night" (tiếng Hàn: 낮과 밤) phát hành sau đó vào ngày 8 tháng 9 là sản phẩm hợp tác giữa thành viên Areum (T-ara), Gun-ji (Gavy NJ) và Shannon Pix. Ngày 25 tháng 9 năm 2012, T-ara phát hành album ảnh phiên bản giới hạn đặc biệt từ chuyến đi châu Âu của nhóm mang tên T-ara's Free Time in Paris and Swiss. Album bán được hơn 15.000 bản trong khi Core Contents Media chỉ giới hạn 7.000 bản. Ngày 10 tháng 9 năm 2012, T-Ara thông báo rằng nhóm sẽ phát hành album nhạc tuyển chọn các bài hát hay nhất tại Nhật Bản, bao gồm 14 đĩa đơn tiếng Hàn tính đến thời điểm hiện tại (ngoại trừ "Day by Day" và "Sexy Love") nhân dịp kỷ niệm một năm ngày ra mắt ở Nhật. Album mang tên T-ara's Best of Best 2009-2012: Korean ver. được lên kệ vào ngày 10 tháng 10 bởi hãng EMI Music Japan. Ngày 26 tháng 9, T-Ara phát hành bản tiếng Nhật của "Day by Day", chủ yếu gồm các cảnh lấy từ video nhạc tiếng Hàn của bài. Đến ngày 14 tháng 11, nhóm phát hành phiên bản tiếng Nhật của "Sexy Love" với ba phiên bản. === 2013: Lập nhóm nhỏ, Treasure Box, Areum tách nhóm và Again === Ngày 20 tháng 3 năm 2013, T-Ara ra mắt đĩa đơn tiếng Nhật thứ sáu "Bunny Style!" (バニスタ!, Banisuta!). Đĩa đơn với 10 phiên bản khác nhau: bảy phiên bản thường là những bản do từng thành viên trong nhóm hát đơn ca và ba phiên bản giới hạn là do các nhóm nhỏ trình bày. Bunny Style! (mặt A) là đĩa đơn tiếng Nhật nguyên bản đầu tiên của nhóm. Để quảng bá cho đĩa đơn này, T-ara đã tiến hành nhiều buổi diễn đặc biệt tại 10 thành phố của Nhật Bản, bắt đầu từ ngày 20 tháng 2 tại Sapporo Factory Atrium và kết thúc vào ngày 9 tháng 3 tại Seagull Square ở Nagasaki. Chuyến lưu diễn được phát trên kênh chính thức của nhóm là Nico Nico Douga. Bunny Style! giữ vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Oricon tuần và tháng, thứ 3 trên Billboard Japan Hot 100. Tháng 4 năm 2013, Core Contents Media thông báo về việc T-Ara sẽ lập nhóm nhỏ mang tên T-ara N4 với bốn thành viên gồm Eunjung, Hyomin, Jiyeon và Areum. Tên nhóm là viết tắt của từ "T-ara Brand New 4" nhằm biểu thị sự thay đổi của bốn thành viên. T-ara N4 ra mắt công chúng ngày 29 tháng 4 năm 2013 bằng đĩa đơn "Countryside Life" (tiếng Hàn: 전원일기) do Duble Sidekick sản xuất và bán được 27.586 bản. Đến tháng 6 cùng năm, T-ara ra mắt thêm nhóm nhỏ thứ hai gồm 3 thành viên Qri, Boram và Soyeon tên QBS. Ngày 10 tháng 7 năm 2013, Core Contents Media ra video xác nhận việc Areum rời nhóm để theo đuổi sự nghiệp hát đơn với dòng nhạc hip-hop (khác với phong cách âm nhạc của T-Ara). Ngày 12 tháng 7, Core Contents Media thông báo Dani sẽ thay thế vị trí của Areum trong nhóm T-Ara N4 để tham gia các chương trình quảng bá trong nước và quốc tế nhưng sẽ không thay Areum để làm thành viên T-ara. Dani sẽ tham gia quảng bá cùng Eunjung, Hyomin và Jiyeon với tư cách thành viên của T-Ara N4 nhờ có vốn tiếng Anh lưu loát. Ngày 12-13 tháng 7 năm 2013, T-Ara biểu diễn tại Budokan nhằm chào mừng việc ra mắt album bằng tiếng Nhật thứ hai Treasure Box với 9.000 người hâm mộ. Cùng ngày, T-Ara thông báo rằng Qri là trưởng nhóm mới của T-Ara. Tiêu đề của album được tiết lộ vào ngày 15 tháng 6 cùng với 13 bài hát mới, concept của album là "kho báu" (宝探し, "kho báu" "takarasagashi"). Ngày 1 tháng 8, T-Ara hợp tác cùng Davichi và Skull trong bản kỷ thuật số "Painkiller" (tiếng Hàn: 비키니, Bikini); nhân vật chính của video nhạc là Ji-yeon. Ngày 16 tháng 9, Core Contents Media thông báo T-Ara sẽ trở lại vào tháng 10. Ngày 10 tháng 10 năm 2013, T-Ara phát hành đĩa mở rộng thứ tám có nhan đề Again và hai video nhạc "Number Nine" (tiếng Hàn: 넘버나인) và "Because I Know" (tiếng Hàn: 느낌 아니까). Là ca khúc sáng tác chung của Shinsadong Tiger và Choi Kyu Sung, "Number 9" được biểu diễn lần đầu tiên tại Hallyu Dream Concert 2013 cùng với "Sexy Love" vào ngày 6 tháng 10. Đến ngày 17 tháng 10, T-Ara phát hành video thứ hai cho "Number Nine" với các cảnh quay của nhóm chạy xe Jeep trên sa mạc. Ở lần trở lại này, T-Ara chính thức hoạt động với sáu thành viên, sau sự ra đi của Areum vào mùa hè. Again giữ vị trí thứ 2 trên Gaon; còn đĩa đơn "Number 9" đạt vị trí thứ 4 trên Korea K-Pop Hot 100 và thứ 7 trên Bảng xếp hạng Bài hát kỹ thuật số thế giới. Ngày 4 tháng 12 năm 2013, T-Ara phát hành bản repackage Again 1977 với ca khúc chủ đề "What Do I Do?" và "Again 1977". Bài hát được Shinsadong Tiger và Polar Bear phổ lại dựa theo một bản hit ở College Music Festival năm 1977. "What Should I Do?" ("Sand Pebbles") do Mr. Yeo Byung Seop viết lời, ca khúc mang giải điệu pop dance hơi hướng retro, vui nhộn, đầy màu sắc và cùng những động tác vũ đạo bắt mắt. Video nhạc của "What Should I Do?" được thực hiện theo phong cách nhạc kịch, vừa có bản ballad, vừa có dance. Nhân dịp Giáng sinh 2013, vào ngày 14 tháng 12, nhóm tiếp tục ra một ca khúc ballad ngọt ngào, sâu lắng - "Hide And Seek". Được sáng tác bởi Park Duk Sang và Park Hyun Joong, T-Ara dự định đưa vào mini album Again 1977 (Repackage). Tuy nhiên họ quyết định phát hành vào dịp Giáng Sinh, nhưng đã ra trước Giáng Sinh một vài ngày và nằm trong bản repackage thứ hai của Again là White Winter. === 2014: Các dự án solo, Gossip Girls, And & End và Little Apple === T-Ara được xếp thứ 7 là nhóm nhạc với hầu hết các bài hát hit #1 đứng đầu trên các bảng xếp hạng âm nhạc kỹ thuật số trong thập kỷ qua (mặc dù ra mắt hơn 4.5 năm trước), với 13 bài hát. Ngày 5 tháng 3, T-Ara trở lại Nhật Bản với bộ đôi đĩa đơn A-side thứ 9 "Lead The Way" và "LA'booN". Ngày 21 tháng 2 năm 2014, T-Ara phát hành ca khúc "First Love" gồm bộ ba Jiyeon, Hyomin, Soyeon hợp tác cùng Choi Eunbin (Produce 101), ca khúc được sáng tác bởi Cho Young-soo và nằm trong album All-Star của nhạc sĩ này. Theo thông tin tiết lộ từ công ty quản lý, Jiyeon và Hyomin sẽ ra mắt solo, họ đang xem xét việc thúc đẩy cùng lúc nhưng họ cũng xem xét việc cho Jiyeon ra mắt vào tháng 5 và Hyomin ra mắt vào tháng 6. Ngày 21 tháng 3, Core Contents Media Nhật Bản thông báo rằng T-ara phát hành album phòng thu thứ ba Gossip Girls tại Nhật vào ngày 14 tháng 5 năm 2014 với ba phiên bản là Diamond, Sapphire và Pearl. Ngày 30 tháng 4, Jiyeon có màn trở lại như một nghệ sĩ solo, cô là thành viên đầu tiên của T-Ara tách ra để hát đơn. Ngày 20 tháng 5, Jiyeon phát hành đĩa mở rộng đầu tay Never Ever cùng với ca khúc chủ đề có tên tiếng Hàn "1 Minute 1 Second". Album giữ vị trí thứ 3 trên Gaon với doanh số 15.639 bản. Sau đó, thành viên Hyomin ra mắt EP solo Make Up với đĩa đơn "Nice Body" kết hợp cùng rapper Loco vào 30 tháng 6 năm 2014. Album giành vị trí thứ 6 ở Gaon tuần và 15 theo Gaon tháng. Ngày 6 tháng 8 năm 2014, có thông báo rằng T-Ara sẽ trở lại với một album vào tháng sau. Ngày 10 tháng 9, T-Ara tập hợp lại đội hình và ra mắt đĩa mở rộng And & End với 7 bài hát và ca khúc chủ đề thuộc dòng nhạc EDM sôi động mang tên "Sugar Free". Ca khúc được sản xuất bởi Beom & Nang và Shinsadong Tiger - nhạc sĩ đã làm nên tên tuổi cho nhóm qua các hit "Roly-Poly", "Lovey-Dovey", "Number 9". Đĩa đơn đạt vị trí thứ 4 trên Bảng xếp hạng Bài hát kỹ thuật số thế giới (Billboard's World Digital Songs) và thứ 12 cho album trên Bảng xếp hạng album thế giới (World Albums Chart). Ngoài ra, T-Ara còn quảng bá ca khúc "I Don't Want You". Ngày 24 tháng 9, album remix theo phong cách nhạc điện tử, nhạc sàn được phát hành cùng tên gọi EDM Club Sugar Free Edition với 16 bài hát. Album bao gồm một phiên bản tiếng Anh của "Sugar Free", đó là bài hát đầu tiên của T-Ara được thu âm bằng tiếng Anh. Ngày 13 tháng 10, T-Ara ký hợp đồng trị giá 5 tỷ won (~300 triệu nhân dân tệ) với công ty Longzhen Culture Development; với bản hợp đồng này, có khả năng T-Ara sẽ nâng cao lợi nhuận hàng năm lên 16.5 tỷ won. Ngày 24 tháng 11, T-Ara ra mắt đội hình gồm bốn thành viên Qri, Eunjung, Hyomin và Jiyeon để quảng bá bài hát Hoa ngữ "Little Apple", một bản hit tiếng Trung của nhóm nhạc Chopstick Brothers. "Little Apple" lấy cảm hứng từ diễn viên nổi tiếng Lý Tiểu Long. Video âm nhạc đánh dấu con đường Trung tiến đầy tiềm năng của nhóm, MV mới ra mắt được hai ngày đã thu hút được 8 triệu lượt xem trên trang Tudou của Trung Quốc, đứng đầu 16 tuần trên các bảng xếp hạng và được chọn là bài hát nổi tiếng nhất Trung Quốc. MV của bài hát có sự diễn xuất của Seung Hee từ F-ve Dolls và Dani từ T-ara N4. Ngày 25 tháng 12, T-Ara có buổi hòa nhạc đầu tiên ở quê nhà Hàn Quốc sau nhiều năm biểu diễn ở nước ngoài. Buổi hòa nhạc mang tên 'Dear My Family' và được tổ chức tại COEX Auditorium, Samseongdong, Seoul với 1.100 người hâm mộ. === 2015: Eunjung solo, 'T-ara Great China Tour' và So Good === Ngày 10 tháng 1 năm 2015, T-Ara tổ chức mini show tại thành phố Hồ Chí Minh với hơn 3.000 fan Việt Nam tham gia cùng với nhiều fan quốc tế. Ngày 27 tháng 3, MBK Entertainment thông báo rằng Eunjung là thành viên thứ ba của T-ara ra hoạt động solo. Ngày 9 tháng 5 năm 2015, Elsie (nghệ danh của Eunjung) phát hành đĩa mở rộng đầu tay I'm Good. Ca khúc chủ đề cùng tên "I'm Good" là sự hợp tác lần đầu giữa Elsie và K.Will. Trước đó vào ngày 3 tháng 2, MBK Entertainment ra mắt dự án "TS" với các thần tượng cùng công ty (T-ara, The SeeYa, Speed) và nữ ca sĩ solo Seung-hee, sản phẩm mang tên "Don't Forget Me". Ngày 20 tháng 6 năm 2015, T-ara khởi động chuyến lưu diễn 'T-Ara Great China Tour' tại tỉnh Nam Kinh. Sau đó, nhóm biểu diễn đến các tỉnh Bắc Kinh, Hợp Phì và Quảng Châu đến cuối năm. Năm 2015, MBK Entertainment thông báo rằng T-Ara sẽ có màn trở lại vào hè tháng 8. Ngày 4 tháng 8, T-Ara có sự trở lại với đĩa đơn "So Crazy" (tiếng Hàn: 완전 미쳤네) cùng mini-album thứ 11 So Good đã vượt qua triệu lượt xem trong 2 ngày. Cũng trong tháng này, Queen's (Fandom chính thức của T-Ara) giành chức vô địch tại Fan Army Face-Off do Billboard tổ chức với 1.153.002 phiếu bầu trên 64 trang Major Fanbases trên toàn thế giới. Ngày 14 tháng 10, Eunjung phát hành thêm đĩa mở rộng thứ hai Goodbye. Đĩa đơn cùng tên được dùng làm nhạc phim trong web drama Only for You (một trong sáu web-drama của Sweet Temptation). Sweet Temptation có tất cả sáu phần do được từng thành viên trong nhóm tham gia diễn xuất và được sản xuất bởi Core Contents Media và SBS MTV, Sweet Temptation được phát sóng tại Hàn Quốc và Trung Quốc. === 2016: Hyomin solo, Remember === Hyomin chính thức có sự trở lại với đĩa mở rộng thứ hai vào ngày 17 tháng 3 với hai ca khúc chủ đề là "Sketch" và "Gold". Hyomin cũng tổ chức một showcase vào ngày 16 tháng 3 tại Hapjeong-dong, Seoul để quảng bá cho Sketch. Cũng trong tháng 3, T-ara đến Việt Nam để quảng bá cho hãng điện thoại Pantech và giao lưu với người hâm mộ Việt Nam trong ba ngày. Ngày 17 tháng 9, T-ara có buổi hòa nhạc thứ năm trong chuyến lưu diễn 'T-ara Great China Tour' được bắt đầu vào giữa năm 2015. Buổi diễn được tổ chức tại Mercedes-Benz Arena, Thượng Hải đã thu hút 8.500 người hâm mộ tham gia. Ngày 14 tháng 10, MBK Entertainment thông báo rằng T-ara sẽ trở lại vào tháng 11. Ngày 9 tháng 11, T-ara phát hành mini-album thứ 12 Remember với ca khúc chủ đề "Tiamo" (tiếng Hàn: 띠아모, I Love You) đã nhận được 130 triệu lượt xem trong một tuần tại trang Tudou ở Trung Quốc. Cùng ngày, T-ara tổ chức showcase tại Blue Square Samsung Hall để bắt đầu quảng bá cho album mới. === 2017: Scandal được giải quyết - T-Ara chưa tan rã === Đầu năm 2017, cục chính phủ của Trung Quốc đã phất lệnh cấm với tất cả các nhóm nhạc Hàn Quốc sẽ không được hoạt động quảng bá ở Trung Quốc. Tuy nhiên, khi đó trang fanpage lớn nhất của T-ara tại Trung Quốc thông báo rằng, nhóm vẫn được hoạt động tại Trung Quốc đã làm các fan hâm mộ của nhóm bớt đi lo lắng. Sau đó, cục chính phủ của Trung Quốc cũng đã lên tiếng: "T-ara sẽ là nhóm nhạc duy nhất của Hàn Quốc được hoạt động tại Trung Quốc, họ sẽ được đối xử như một nghệ sĩ của Trung Quốc, tuy nhiên, nhóm sẽ phải học phong tục tập quán của nước và phải học tiếng quan thoại". Điều này càng chứng tỏ rằng, T-ara chính là nhóm nhạc nữ của Hàn nổi tiếng nhất tại Trung Quốc. Ngày 8 tháng 2, cựu quản lý của T-ara đã tiết lộ chị em nhà Ryu nói dối trong scandal T-ara bắt nạt cựu thành viên Ryu Hwayoung sau khi hai chị em tham gia trên chương trình truyền hình Taxi của đài tvN, và tung công khai đoạn tin nhắn Hyoyoung từng đe dọa Areum - cựu thành viên cuối cùng gia nhập T-ara. Đại diện của Hyoyoung xác nhận tin nhắn này là thật, cho rằng vì bấy giờ Hyoyoung còn nhỏ tuổi, nóng lòng bênh vực em gái nên có hành động không đúng mực. Cách sau đó mấy ngày, công ty chủ quản của Hyoyoung đã chính thức cắt hợp đồng với cô. Ngày 9 tháng 2, đại diện của MBK Entertainment trả lời phỏng vấn Osen:“Dù cảm thấy bất công về nhiều mặt khi sự cố đầu tiên xảy ra cách đây 5 năm, vào tháng 7 năm 2012, nhưng chúng tôi đã không hề giải thích nửa lời. Vào thời điểm đó, công chúng đã quay lưng lại với T-ara nên sẽ chẳng ai tin lời chúng tôi nói. Sự thật của 5 năm trước cuối cùng cũng được đưa ra ánh sáng, nhưng thú thật, chúng tôi không hoan nghênh điều đó.” Các thành viên T-ara cũng chia sẻ thông qua công ty quản lý: “Chúng tôi khá bối rối vì chuyện xảy ra quá bất ngờ”. Areum đã viết lên trang cá nhân của mình: "Cuối cùng mọi sự việc cũng đã sáng tỏ, các chị của em hãy cố lên nhé, em luôn ủng hộ các chị". Sau thông báo về đợt trở lại với vai trò solo của Jiyeon, công ty chủ quản của nhóm MBK Entertainment tuyên bố kế hoạch này sẽ bị dời lại vô thời hạn với lý do bắt nguồn từ tranh cãi bắt nạt thành viên liên quan đến T-ara, Ryu Hwayoung, Ryu Hyo Young và Areum đang khiến dư luận xôn xao và cho rằng đây không phải là thời điểm thích hợp để cho ra mắt một album. Sau chuyện scandal được làm sáng tỏ, cư dân mạng Hàn dường như đang dần chấp nhận T-ara hơn, bằng chứng là có rất nhiều bình luận động viên nhóm cùng với những lời xin lỗi vì đã không ủng hộ nhóm. Thậm chí, sau khi scandal được đưa ra ánh sáng, thành viên Eunjung của nhóm liền được đài MBC mời vào tham gia một bộ phim truyền hình trong vai trò nữ chính. Các tài khoản Instagram cũng đều được xác mình bằng dấu tích xanh - chứng minh là người của công chúng. Ngoài ra, các bài hát trước đó của T-ara như Roly Poly, Sexy Love, Number Nine, Sugar Free đều xếp ở vị trí cao trên trang điện tử Naver - trang tìm kiếm lớn nhất ở Hàn Quốc. Fancafe lớn nhất của T-ara ở Hàn hiện tại đang tăng dần số lượng thành viên tham gia. Ngày 23 tháng 3, MBK Entertainment lên tiếng xác nhận hai thành viên Soyeon và Boram không tiếp tục ký hợp đồng, và như vậy, T-ara sẽ chỉ còn 4 thành viên kể từ ngày 15 tháng 5. Qri, Eunjung, Hyomin và Jiyeon gia hạn lịch làm việc với nhóm đến cuối tháng 12. Trong thời gian đó, các thành viên vẫn sẽ có những hoạt động solo và thậm chí là các hoạt động ở nước ngoài. Dù mất đi hai thành viên nhưng MBK Entertainment khẳng định album tới của nhóm ra mắt vào tháng 6 sẽ đầy đủ 6 thành viên. Tuy nhiên, do không đạt được thỏa thuận với MBK Entertainment, Soyeon và Boram sẽ rút khỏi dự án album chia tay này. Qri, Eunjung, Hyomin và Jiyeon sẽ phải thu âm lại các ca khúc trong album do phần của Soyeon và Boram không được sử dụng. Vì vậy, MBK Entertainment cho biết ngày phát hành album của T-Ara sẽ tiếp tục bị hoãn thay vì 1 tháng 6 như kế hoạch trước đó. Album của T-Ara đã bị đẩy lịch phát hành xuống cuối tháng 6 để có thêm thời gian thu âm lại. Show thực tế dự kiến phát sóng vào tháng 5 với nội dung chuyến du lịch của 6 thành viên trong 4 ngày 3 đêm, cùng nhìn lại quãng đường 9 năm của T-Ara cũng đã bị huỷ bỏ. == Nhóm nhỏ == === T-ara N4 === Tháng 4 năm 2013, Core Contents Media xác nhận việc thành lập nhóm nhạc nhỏ đầu tiên của T-ara là T-ara N4 (tiếng Hàn: 티아라 엔포), bao gồm bốn thành viên Eunjung, Hyomin, Jiyeon và Areum. Đĩa đơn đầu tay "Countryside Life" (tiếng Hàn: 전원일기, "Jeon Won Diary") ra mắt vào ngày 29 tháng 4 năm 2013 do Duble Sidekick sản xuất và được lấy cảm hứng từ bộ phim cùng tên vào thập niên 1980. Đĩa đơn này cũng phát hành phiên bản drama vào ngày 7 tháng 5 và được ra mắt tại thị trường Mỹ vào khoảng tháng 6 năm 2013 với sự giúp đỡ của Chris Brown. === QBS === Tháng 5 năm 2013, có thông báo rằng ba thành viên còn lại của T-ara là Qri, Boram và Soyeon sẽ lập thêm một nhóm nhạc nhỏ nữa mang tên QBS. Nhóm sẽ tập trung vào thị trường Nhật Bản và ra mắt đĩa đơn đầu tay "Like The Wind" (tiếng Nhật: 風のように, Kaze no Youni) vào ngày 26 tháng 6 năm 2013, ca khúc được sáng tác bởi Takanori Fukuta. Để thúc đẩy quảng bá, QBS tổ chức một live show ở Quảng trường thành phố Sunshine tại Ikebukuro, Tokyo vào ngày 10 tháng 6 trước 2.000 người hâm mộ. == Thành viên == Thành lập với cái tên Super Rookies cùng năm thành viên (gồm Jiae, Jiwon, Eunjung, Hyomin và Jiyeon). Nhóm đã được đào tạo chuyên nghiệp về kỹ năng thanh nhạc và khả năng diễn xuất trong ba năm ở Mnet Media. Tháng 4 năm 2009, nhóm phát hành ca khúc "Good Person" cho bộ phim Cinderella Man. Hai tháng sau, Jiae và Jiwon rời nhóm do khác biệt về phong cách âm nhạc; cùng lúc này, Boram, Soyeon và Qri vào nhóm. Ngày 29 tháng 7 năm 2009, nhóm chính thức ra mắt công chúng trong chương trình Radio Star và biểu diễn lần đầu trên sân khấu M! Countdown với "Lie" và "Wanna Play?". Trước khi ra mắt, Qri từng làm người mẫu ảnh cho nhiều công ty và tham gia chơi bass trong ban nhạc rock Six Color. Cô tốt nghiệp cùng Boram ngành Nghiên cứu Nghệ thuật của trường Đại học Myungji. Boram là thế hệ thứ ba trong gia đình tham gia hoạt động nghệ thuật giống như ba Jeon Young-rok, mẹ Lee Mi-young, ông nội Hwang-hae và bà ngoại Baek Seol-hee, tất cả đều nổi tiếng. So-yeon, cô từng là thực tập sinh của SM Entertainment để chuẩn bị ra mắt với vai trò trưởng nhóm của Girls' Generation nhưng sau đó cô lại rời khỏi công ty vì lý do cá nhân. Năm 2005, Soyeon nhận giải thưởng vàng (1st Place) cho các cuộc thi hát CMB Chin Chin. Sau khi ra mắt, Soyeon đảm nhận vai trò giọng ca chính của nhóm. Eunjung và Jiyeon là hai thành viên của công ty được đào tạo về diễn xuất nhưng sau đó cả hai chuyển sang ca hát, khác với ý định ban đầu của họ. Năm 1995, Eunjung gia nhập làng giải trí thông qua cuộc thi Little Miss Korea và tham gia phim đầu tay A New Generation of Adults. Eunjung cũng là thành viên tham gia "màn ảnh nhỏ" nhiều nhất trong T-ara. Jiyeon, tuy là em út nhưng cô lại là gương mặt đại diện của nhóm. Còn Hyomin, cô từng làm thực tập sinh của JYP Entertainment để thay thế HyunA trong nhóm Wonder Girls nhưng sau đó cô đã rời công ty và gia nhập vào Core Contents Media. Trong quá trình hoạt động, T-ara đã kết nạp thêm ba thành viên nữa là Hwa-young, Areum và Dani. Hoạt động được một thời gian, đến tháng 7 năm 2012, Hwayoung rời nhóm do scandal giữa cô và T-ara, còn Areum rời nhóm vào tháng 7 năm 2013 do cô theo đuổi sự nghiệp hát đơn. Thành viên còn lại là Dani, cô vẫn còn trong quá trình đào tạo. Hiện tại T-ara vẫn hoạt động với 6 thành viên chính thức cho đến tháng 5 năm 2017. === Dòng thời gian thành viên === === Dòng thời gian trưởng nhóm === == Hoạt động khác == === Quảng cáo === Trước khi ra mắt, T-ara nhận được đề nghị quảng cáo cho đồ uống, may mặc, mỹ phẩm và người bán thông tin liên lạc. Tháng 10 năm 2009, T-ara đã ký hợp đồng cho bộ phim thương mại đầu tiên Nonghyup Apples. Nhóm đã ghi âm bài hát "Apple Song" cho các CF, mà sau này đã đổi tên thành "Apple is A" và đưa vào album đầu tay Absolute First Album. Năm 2010, T-ara làm người mẫu cho các công ty như Mentholatum Korea, Tedin Water Parks và Olympus Cameras. Sau đó nhóm được chọn làm người mẫu cho Tedin Water Parks một lần nữa vào năm 2011. Trong tháng 2, T-ara và Supernova đã ký hợp đồng quảng cáo cho chuỗi nhà hàng Gusto của một gia đình tại Nhật Bản. Năm 2011, T-ara làm người mẫu cho bộ phim thương mại của thương hiệu thể thao Spris, thương hiệu điện tử iRiver, công ty phần mềm Windysoft, lưu trữ quang học Look Optical, mì ăn liền Shin Ramyun, Crown Mountain. T-ara cũng ra mắt thương hiệu café của riêng mình có tên Cafe Page One và sẽ mở rộng 500 cửa hàng trên toàn quốc. Cafe Page One khai trương vào ngày 1 tháng 7 năm 2011, nơi mà các thành viên có mặt để chào đón và phục vụ các khách hàng. Cùng năm đó, T-ara được chọn làm người mẫu cho nhãn hiệu mỹ phẩm Tony Moly. Nhóm dự kiến ​​sẽ làm người mẫu cho các thương hiệu không chỉ ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản mà ở các nước châu Á khác. T-ara cũng là nhóm nhạc thần tượng đầu tiên ký hợp đồng với trung tâm mua sắm trực tuyến Hi-Mart. Vào ngày 6 tháng 2 năm 2012, T-ara đã ký hợp đồng một năm để làm người quảng cáo cho thương hiệu Gibalhan Chicken, số tiền mà nhóm nhận được là 1 tỷ won. Đại diện của thương hiệu chia sẻ: Chúng tôi đã chọn T-ara vì họ là nhóm nhạc được yêu thích ở nhiều lứa tuổi khác nhau, từ những thiếu niên đến người có độ tuổi 60 đều thích các ca khúc hit "Roly-Poly", "Cry Cry", "We Were in Love" và "Lovey-Dovey" của họ". Vào tháng 9 năm 2013, T-ara đã ký hợp đồng đầu tiên của mình kể từ khi vụ bê bối của năm trước, làm hương hiệu cho thời trang Nhật Bản DPG. Vào đầu năm 2015, T-ara đã ký hợp đồng 1 triệu USD với Celucasn, một thương hiệu Trung Quốc, nhóm quảng bá về quần áo và phát hành một đoạn video ngắn để quảng cáo. === Phim ảnh === Ngoài việc tham gia các hoạt động âm nhạc, sáu thành viên T-ara cũng góp mặt trong nhiều dự án phim truyền hình lẫn điện ảnh. Eun-jung, cô được xem là thành viên tham gia màn ảnh diễn xuất nhiều nhất. Trước khi ra mắt cùng T-ara năm 2009, Eunjung đã góp vai cho nhiều bộ phim khác nhau như: A New Generation of Adults, White: The Melody of the Curse, Death Bell, Time Please Stop,... Cô đã đạt giải Ngôi sao mới trong MBC Dramma Award 2010 với phim Coffee House và Diễn viên mới xuất sắc nhất trong MBC Entertainment Awards 2011 ở phim We Got Married. Năm 2009, Boram vào vai Ami trong phim truyền hình một tập Purple Heeled Grim Reaper Is Coming trong khi Qri tham gia phim Queen Seon Deok với vai vợ Kim Yeo Shin. Đầu năm 2010, T-ara được làm khách mời trong phim Master Of Study do Ji-yeon thủ vai chính, phim này cũng giúp cô nhận được hai đề cử trong KBS Drama Awards. Năm 2011, Qri cùng Eun-jung góp mặt trong phim truyền hình King Geunchogo của đài KBS; Qri cũng xuất hiện với So-yeon với tư cách khách mời ở phim Giants. Cũng trong năm này, Hyomin nhận giải Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất trong phim truyền hình MBC Gye Baek của MBC Drama Awards ở vai Cho Young. Đến năm 2011, Hyomin góp vai Yurin trong phim kinh dị Gisaeng Ryung thì Ji-yeon lại được làm khách mời ở phim Miss Ripley của đài MBC. Năm 2012, So-yeon và Ji-yeon góp vai vào hai bộ phim của đài KBS2 là Haeundae Lovers và Dream High 2. Những năm tiếp theo, các thành viên T-ara ít tham gia đóng phim hơn ngoài Eun-jung tiếp tục góp mặt ở các bộ phim như: Endless Love, I Love You From Today,... Năm 2015, T-ara phát hành dự án phim Sweet Temptation gồm sáu bản web-drama do từng thành viên trong nhóm tham gia diễn xuất và tập đầu sẽ lên sóng vào ngày 5 tháng 10. === Từ thiện === Ngày 11 tháng 3 năm 2012, theo Core Contents Media cho biết, các thành viên của T-ara đã đồng ý tặng miễn phí bản quyền "Roly-Poly" của nhóm cho một cơ quan của tổ chức phi lợi nhuận để giúp các nạn nhân trong thảm họa hạt nhân Fukushima, đúng vào dịp kỷ niệm một năm khi tai nạn xảy ra. T-ara đã gửi lời quan tâm đến họ: Những đóng góp của chúng tôi tuy không thể làm cho những nạn nhân bớt đau khổ nhưng chúng tôi hy vọng sẽ giúp đỡ được các các bạn một phần nhỏ. T-ara đã tổ chức sự kiện từ thiện Charity Bazaar vào ngày 14 tháng 12 năm 2013 tại Gangnam. Quần áo cũ của T-ara, các trang phục sân khấu được đóng góp từ cá thành viên Davichi, Ha Seok-jin, Hwang Jung-eum và Son Ho-jun đã được bán đấu giá. T-ara cho biết tổng số tiền thu được là 12.5 triệu won (tương đương 12.000 USD) từ doanh số bán hàng và họ sẽ tặng khoảng 2.5 triệu won ngay trong ngày. Ngày 27 tháng 12 năm 2013, T-ara tặng số tiền còn lại là 10 triệu won cho chiến dịch chia sẻ Hope Windmill của Hội Chữ thập đỏ tổ chức bằng cách đến thăm sự kiện này. T-ara cho biết: Chúng tôi có thể kết thúc năm với một trái tim ấm áp nhờ có nhiều người đã tham gia sự kiện từ thiện này và chúng tôi tạ ơn những người đã giúp T-ara thực hiện nó. == Phong cách nghệ thuật == === Âm nhạc === Ngay khi ra mắt năm 2009, T-ara chuyên trị dòng nhạc chính là dance-pop và ballad. Phát hành album đầu tiên Absolute First Album, T-ara bắt đầu đi theo hướng "hiện đại" và "trẻ trung" với những đĩa đơn mang giai điệu sôi động, mới mẻ và dễ gây nghiện. Mỗi lần quảng bá một sản phẩm, T-ara luôn tự đổi mới mình trong âm nhạc. Như hai đĩa mở rộng Temptastic và John Travolta Wannabe mà T-ara phát hành năm 2010-2011 với âm hưởng của dòng nhạc electropop thì T-ara lại chuyển sang thể loại electronic mạnh mẽ và sôi động trong đĩa mở rộng 2013 Again hay mini-album năm 2014 And & End, T-ara lại muốn thử sức cùng dòng khạc EDM với tiết tấu nhanh và giai điệu dồn dập. === Hình ảnh === T-ara có khả năng vừa hát live vừa vũ đạo liên tục, mỗi ca khúc mà T-ara chọn để ra mắt đều mang một phong cách khác nhau. Tháng 11 năm 2009, T-ara nhanh chóng gây được chú ý qua đĩa đơn "Bo Peep Bo Peep" khi hóa thân thành mèo, màn kết hợp giữa điệp khúc 'Bo peep bo peep!' cùng điệu nhảy của mèo và những phụ kiện trang phục mèo đính kèm làm cho người hâm mộ thấy thích thú. Năm 2010, T-ara xuất hiện với hình ảnh của những thổ dân nghịch ngợm trong "Yayaya". Đầu năm 2012, "Lovey-Dovey" phiên bản zombie của T-ara lấy hình ảnh của các zombie tấn công con người trong lúc nhóm đang trình diễn bài hát tại một quán bar. Cùng năm, T-ara hóa thân thành các chiến binh ở tương lai với những trận đấu kiếm tranh giành làm Chúa tối cao trong video nhạc "Day by Day". Cuối năm, T-ara ra mắt bài hát popping "Sexy Love" với điệu nhảy được mô phỏng như những robot. Tháng 3 năm 2013, T-ara ra mắt sản phẩm "Bunny Style!", lần này nhóm trở lại với hình ảnh dễ thương và vũ đạo của bài hát trong giống như thỏ. Năm 2014, trong đợt quảng bá "Sugar Free", T-ara mang trên mình phong hip-hop mạnh mẽ. Năm 2015, T-ara trở lại với hình ảnh của sáu thủy thủ trong "So Crazy". == Đĩa nhạc == == Các buổi diễn == === Chuyến lưu diễn === 2011: T-ara X'mas Premium Live 2012: T-ara Japan Tour 2012: Jewelry Box 2013: T-ara Japan Showcase "Banisuta" 2013: T-ara Japan Tour 2013: Treasure Box 2015: T-ara Great China Tour === Buổi hòa nhạc === == Sách == T-ARA Sparkl: T-ARAファースト写真集 (2012). ISBN 4344021592 Sparkle (2012) Tokyo: Gentosha, 2012. ISBN 9784344021594 T-ara Private Book (2013) Tokyo: Kodansha, 2013. ISBN 9784062182201 == Giải thưởng và đề cử == Cuối năm sau khi ra mắt vào ngày 29 tháng 7 năm 2009, T-ara nhận giải Tân binh của năm tại Golden Disk Awards. Năm 2010, T-ara giành giải Bonsang tại Melon Music Awards và Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất tại Seoul Music Awards. Hai năm 2011 và 2012, T-ara nhận được nhiều giải thưởng như: Video âm nhạc xuất sắc nhất tại Melon Music Awards cho "Roly-Poly", Ca khúc của năm tại Golden Disk Awards cho "Lovey-Dovey", giành 2 giải Bonsang tại Seoul Music Awards và Melon Music Awards. Hai ca khúc "Roly-Poly" và "Lovey-Dovey" cũng giúp nhóm nhận thêm 2 giải Đĩa đơn của năm tại Gaon Chart K-Pop Awards. Tháng 4 năm 2015, T-ara nhận giải Nghệ sĩ Hàn Quốc được yêu thích nhất và Nghệ sĩ Hàn Quốc có xu hướng Hot của năm tại YinYueTai VChart Awards. Đến năm 2016, T-ara nhận thêm giải Nhóm nhạc Hàn Quốc xuất sắc nhất. Về phần cúp trên các sân khấu âm nhạc, T-ara giành được 5 cúp nhờ tiết mục "Bo Peep Bo Peep và 13 cúp nhờ đĩa đơn "Lovey-Dovey". Ngoài ra, T-ara nhận được 3 cúp cho "I Go Crazy Because of You" và 3 cúp cho "Roly-Poly". == Xem thêm == Danh sách video của T-ara Danh sách bài hát thu âm của T-ara == Chú thích == Ghi chú ^ Những album/ album tái bản/ đĩa mở rộng (EP)/ mini-album/ đĩa đơn/ bài hát nếu không được nói rõ là được xếp hạng ở thời gian nào thì xem như là được xếp hạng ở thời gian tuần. Chú thích nguồn == Liên kết ngoài == Website MBK Entertainment (tiếng Hàn) Website T-ara (tiếng Hàn) Website T-ara (tiếng Nhật)
thuyết tương đối.txt
Thuyết tương đối miêu tả cấu trúc của không gian và thời gian trong một thực thể thống nhất là không thời gian cũng như giải thích bản chất của lực hấp dẫn là do sự uốn cong của không thời gian bởi vật chất và năng lượng. Thuyết tương đối gồm hai lý thuyết vật lý do Albert Einstein phát triển, với thuyết tương đối đặc biệt công bố vào năm 1905 và thuyết tương đối tổng quát công bố vào cuối năm 1915 và đầu năm 1916. Thuyết tương đối hẹp miêu tả hành xử của không gian và thời gian và những hiện tượng liên quan từ những quan sát viên chuyển động đều tương đối với nhau. Thuyết tương đối rộng tổng quát các hệ quy chiếu quán tính sang hệ quy chiếu chuyển động có gia tốc và bao gồm lực hấp dẫn giữa các khối lượng với nhau. Thuyết tương đối thường phải được tính đến trong những quá trình có vận tốc là lớn đáng kể so với tốc độ ánh sáng (thường là trên 10% tốc độ ánh sáng) hoặc có trường hấp dẫn khá mạnh và không thể bỏ qua được. Ở vận tốc tương đối tính, các hiệu ứng của thuyết tương đối hẹp trở nên quan trọng và ảnh hưởng tới kết quả tiên đoán cũng như miêu tả hiện tượng vật lý. Thuật ngữ "thuyết tương đối" (tiếng Đức: Relativtheorie) sử dụng lần đầu tiên vào năm 1906 bởi Max Planck khi ông nhấn mạnh trong lý thuyết này có một trong những nền tảng là dựa trên nguyên lý tương đối. Trong phần thảo luận của cùng một bài báo, Alfred Bucherer lần đầu tiên sử dụng cách viết Relativitätstheorie. == Lịch sử phát triển == === Thuyết tương đối đặc biệt === Xuất phát từ những vấn đề của lý thuyết Ê te và phương trình Maxwell trong thế kỷ 19, thuyết tương đối hẹp dần hình thành từ những dấu mốc chính sau: Thí nghiệm Michelson-Morley thực hiện năm 1887, được coi là thí nghiệm đầu tiên phủ định giả thuyết bức xạ điện từ truyền trong môi trường giả định ê-te. Giả thuyết độ dài co ngắn nêu bởi George FitzGerald (1889) và Hendrik Antoon Lorentz (1892)nhằm giải thích các kết quả của thí nghiệm Michelson - Morley. Phép biến đổi Lorentz do Lorentz (1892, 1899) và Joseph Larmor (1897) nêu ra, trong đó thời gian là một tọa độ biến đổi như không gian, và việc không phát hiện được sự trôi ête có thể giải thích bằng phép biến đổi này. Henri Poincaré phát biểu nguyên lý tương đối (1900, 1904), tốc độ ánh sáng là hằng số (1898, 1904), tính tương đối của sự đồng thời (1898, 1900), mặc dù ông vẫn ủng hộ quan điểm tồn tại Ête. Đạt tới tính hiệp biến đầy đủ của các phương trình cơ bản của điện động lực học bởi Lorentz (1904) và Poincaré (1905) trong lý thuyết Lorentz về Ête. Cuối cùng Albert Einstein (1905) đưa ra thuyết tương đối hẹp bằng diễn giải sáng sủa về toàn bộ lý thuyết dựa trên nguyên lý tương đối và tiên đề tốc độ ánh sáng không đổi, ông loại bỏ khái niệm Ête khi xem xét lại bản chất của không gian, thời gian và liên hệ của chúng với hệ quy chiếu quán tính. Quan điểm động lực của Lorentz và Poincaré được thay thế bằng quan điểm động học của Einstein. Mô hình toán học của lý thuyết tương đối hẹp hoàn thiện đầy đủ khi Hermann Minkowski (1907) thêm thời gian vào thành tọa độ thứ tư trong cách biểu diễn không gian Minkowski. === Thuyết tương đối rộng === Đã có một số các nhà khoa học đóng góp vào sự phát triển của thuyết tương đối hẹp và cuối cùng với các bài báo Einstein công bố vào năm 1905 đưa đến lý thuyết hoàn thiện đồng thời ông cũng mở ra sự phát triển mới cần thiết của thuyết tương đối rộng. Thuyết tương đối rộng hầu như do một mình Einstein phát triển khi ông nghiên cứu những ý nghĩa vật lý cơ bản và mối liên hệ giữa hình học và vật lý. Sự phát triển này bắt đầu từ năm 1907, với "ý tưởng hạnh phúc nhất trong đời" của Einstein, đó là nguyên lý tương đương về sự tương đương giữa khối lượng hấp dẫn và khối lượng quán tính. Từ nguyên lý này có thể suy ra được hiệu ứng dịch chuyển đỏ do hấp dẫn và đường đi của ánh sáng bị lệch trong trường hấp dẫn cũng như độ trễ thời gian của tia sáng, hay độ trễ Shapiro. Năm 1911, ông đã có thể tính được sơ bộ độ lệch tia sáng là bao nhiêu. Trong thời gian này ông cũng đề xuất rằng có thể đo được độ lệch rất nhỏ này từ các ngôi sao ở xa khi ánh sáng đi gần Mặt Trời. Tuy vậy, giá trị tính toán lúc đầu của ông chỉ bằng một nửa giá trị đúng của độ lệch. Trong quá trình nghiên cứu, Einstein nhận ra cách biểu diễn không thời gian bằng không gian Minkowski có vai trò rất quan trọng đối với lý thuyết mới. Lúc này ông cũng nhận thức rõ ràng rằng hình học Euclid không còn phù hợp khi tính tới ảnh hưởng của lực hấp dẫn. Năm 1913, ông bắt đầu sử dụng hình học phi Euclid được phát triển trong thế kỷ 19 cho lý thuyết của mình với sự trợ giúp từ người bạn và là nhà toán học Marcel Grossmann, nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn, tức là miêu tả được mọi định luật của tự nhiên trong mọi hệ quy chiếu. Ông cuối cùng vượt qua được vấn đề này vào tháng 11 năm 1915 sau nhiều lần thất bại, và Einstein đi đến được dạng đúng của phương trình trường hấp dẫn. Hầu như đồng thời với ông, nhà toán học David Hilbert cũng tìm ra được phương trình trường nhờ phương pháp biến phân. Dựa vào kết quả này, Einstein đã tính đúng ra sự dịch chuyển của điểm cận nhật của Sao Thủy, và giá trị độ lệch của tia sáng bằng 2 lần giá trị ông tìm ra vào năm 1911. Năm 1919, giá trị này đã được xác nhận trong lần nhật thực toàn phần và đưa đến sự thành công của lý thuyết tương đối tổng quát cũng như gây sự chú ý đối với thế giới. Sau đó, nhiều nhà vật lý đã tìm ra các nghiệm chính xác của phương trình trường cũng như giới thiệu các kỹ thuật nghiên cứu mới, đưa đến nhiều mô hình vũ trụ học và kết quả kì lạ như sự tồn tại của lỗ đen. === Các lý thuyết mở rộng === Với lý thuyết mới coi bản chất của lực hấp dẫn như một hiệu ứng hình học, các nhà vật lý đặt câu hỏi liệu những lực cơ bản khác, như lực điện từ có là do hiệu ứng hình học. Theodor Kaluza (1921) và Oskar Klein (1926) đã mở rộng thuyết tương đối rộng để nghiên cứu thêm lực điện từ bằng cách thêm một chiều nữa vào không thời gian bốn chiều để có không gian năm chiều, mà một chiều có kích cỡ vi mô ẩn giấu dưới cảm nhận thông thường. Tuy nhiên, lý thuyết của họ đã không thành công. Thậm chí Einstein đã dành phần lớn thời gian nghiên cứu khoa học của nửa cuộc đời còn lại để nghiên cứu lý thuyết trường thống nhất nhưng ông cũng đã không thành công. Một trong những lý do thất bại của Einstein đó là, ở thời điểm của ông, cộng đồng các nhà vật lý chưa hiểu rõ hết bản chất của hai lực cơ bản còn lại: tương tác mạnh và tương tác yếu. Cùng với sự phát triển của lý thuyết trường lượng tử, lý thuyết Kaluza-Klein đã được khôi phục lại khi các nhà vật lý dựa trên ý tưởng không thời gian có nhiều hơn bốn chiều như vẫn thường thấy. Ngày nay, hầu hết các lý thuyết nhằm thống nhất thuyết tương đối với cơ học lượng tử bao gồm lý thuyết dây có cơ sở dựa trên không thời gian nhiều chiều, với sáu hoặc bảy chiều ẩn giấu ở phạm vi độ dài Planck. == Tầm quan trọng == Thuyết tương đối làm nên cuộc cách mạng về sự hiểu biết không gian và thời gian cũng như những hiện tượng liên quan mà vượt xa khỏi những ý tưởng và quan sát trực giác. Những hiện tượng này đã được miêu tả bằng những phương trình toán học chính xác và xác nhận đúng đắn bằng thực nghiệm. Khi được phát minh, thuyết tương đối chứa đựng lý thuyết cơ học cổ điển của Isaac Newton có từ hơn 200 năm trước như là một trường hợp giới hạn của nó.Và do đó, thuyết tương đối cũng thỏa mãn nguyên lý tương ứng. Mô hình chuẩn của vật lý hạt mô tả bằng lý thuyết trường lượng tử, lý thuyết thống nhất giữa thuyết tương đối hẹp và cơ học lượng tử. Với thuyết tương đối, ngành vũ trụ học và vật lý thiên văn đã tiên đoán và quan sát thấy những hiện tượng thiên văn học kỳ lạ bao gồm sao neutron, lỗ đen, sóng hấp dẫn, thấu kính hấp dẫn... Thuyết tương đối tổng quát cùng với vật lý lượng tử là hai trụ cột chính yếu của vật lý hiện đại. Hiện nay, các nhà vật lý đang nỗ lực thống nhất hai lý thuyết này trong một thuyết gọi là Lý thuyết vạn vật (Theory of Everything). Mặc dù có nhiều bước tiến với những mô hình khác nhau, song nỗ lực thống nhất hai lý thuyết vẫn là một trong những thử thách lớn nhất của ngành nghiên cứu vật lý cơ bản. == Thuyết tương đối hẹp == === Nguyên lý tương đối === Thuyết tương đối hẹp dựa trên hai tiên đề: Tốc độ ánh sáng trong chân không có độ lớn bằng c (=299792458 m/s) trong mọi hệ quy chiếu quán tính, không phụ thuộc vào phương truyền và tốc độ của nguồn sáng hay máy thu Các định luật vật lý có cùng một dạng như nhau trong mọi hệ quy chiếu quán tính (nguyên lý tương đối). Những hệ quy chiếu chuyển động đều gọi là hệ quy chiếu quán tính. Galileo Galilei đã miêu tả một dạng của nguyên lý tương đối trong cuốn "Dialogo sopra i due massimi sistemi del mondo" vào năm 1632 bằng minh họa về một người ngồi trên con thuyền và nguyên lý này cũng được Newton áp dụng cho cơ học của ông. Một hệ quả trực tiếp của nguyên lý này là không có cách nào để đo vận tốc tuyệt đối của quan sát viên chuyển động đều trong không gian và không thể định nghĩa một hệ quy chiếu đứng yên tuyệt đối. Hệ này phải chứa một thứ gì đó đứng im đối với mọi thứ khác và nó mâu thuẫn với nguyên lý tương đối, theo đó các định luật vật lý trong mọi hệ quy chiếu phải là như nhau. Trước khi có sự ra đời của thuyết tương đối, lý thuyết điện từ cổ điển đề xuất sóng điện từ lan truyền trong môi trường gọi là ê te, một môi trường đứng im bất động. Môi trường này lấp đầy không gian với cấu trúc rắn chắc và do đó các nhà vật lý dùng nó để định nghĩa một hệ quy chiếu tuyệt đối. Trong hệ này các định luật vật lý sẽ có dạng đơn giản và tốc độ ánh sáng sẽ không phải là hằng số do vậy trái ngược với nguyên lý tương đối. Tuy nhiên mọi thí nghiệm nhằm chứng minh sự tồn tại của ê te, như thí nghiệm Michelson - Morley nổi tiếng vào năm 1887 đều thất bại khi không phát hiện ra sự sai khác về tốc độ khi ánh sáng lan truyền theo các hướng khác nhau trong môi trường ê te giả định. Einstein đã từ bỏ khái niệm thông thường về không gian và thời gian cũng như giả thuyết ê tê để lý giải được vẻ mâu thuẫn bề ngoài giữa nguyên lý tương đối và tốc độ ánh sáng không đổi trong lý thuyết điện từ. Không phải ngẫu nhiên mà có những thí nghiệm và kết luận trong thuyết điện từ dẫn tới sự khám phá ra thuyết tương đối, như thí nghiệm di chuyển cuộn dây và nam châm. Einstein đã đặt tên cho bài báo công bố năm 1905, khai sinh ra thuyết tương đối hẹp, "Về điện động lực học của các vật thể chuyển động" để thể hiện sự trân trọng đối với lý thuyết điện từ Maxwell và ảnh hưởng của nó tới khám phá của ông. === Tính tương đối của không gian và thời gian === Không gian và thời gian không còn là cấu trúc bất biến phổ quát trong thuyết tương đối nữa. Cụ thể, các quan sát viên sẽ nhận xét hai sự kiện xảy ra trong không gian và thời gian là đồng thời hay sớm hoặc trễ tùy thuộc vào trạng thái chuyển động của họ. Vật thể chuyển động có kích thước bị ngắn lại theo hướng chuyển động so với khi nó đứng yên và đồng hồ chuyển động chạy chậm hơn so với đồng hồ đặt yên một chỗ. Tuy nhiên, mỗi quan sát viên chuyển động với vận tốc đều đưa ra kết luận chỉ đúng trong hệ quy chiếu của riêng họ, do vậy những kết luận từ hai quan sát viên có tính tương hỗ lẫn nhau, ví dụ như mỗi người sẽ thấy đồng hồ của người kia chạy chậm lại. Thêm nữa, nếu hai người chuyển động dọc theo hướng nhìn của nhau, mỗi người sẽ thấy thước đo của người kia ngắn đi. Nguyên lý tương đối không thể trả lời cho câu hỏi về người nào miêu tả là đúng mà nó chỉ cho biết kết quả của từng người thu được. Sự co ngắn chiều dài và sự dãn thời gian có thể dễ dàng hiểu được từ biểu đồ Minkowski và nghịch lý anh em sinh đôi. Trong dạng thức toán học, chúng là kết quả của phép biến đổi Lorentz miêu tả mối liên hệ giữa tọa độ không gian và thời gian của các quan sát viên khác nhau. Phép biến đổi tuyến tính này được rút ra trực tiếp từ hai tiên đề trên. Hầu hết các hiệu ứng tương đối tính đều trở lên đáng kể khi vận tốc là tương đối lớn so với tốc độ ánh sáng, do vậy phần lớn các hiện tượng hàng ngày có thể giải thích dựa trên cơ học Newton và những hiệu ứng tương đối tính có vẻ như trái ngược với trực giác. === Tốc độ ánh sáng là một giới hạn === Không một vật nào và không một thông tin nào có thể đi nhanh hơn ánh sáng trong chân không. Càng gần tiếp cận với tốc độ ánh sáng, thì năng lượng vật đó càng lớn, bởi vì động năng của vật luôn luôn tăng rất nhanh khi vận tốc của nó tăng. Để vật đạt tới tốc độ ánh sáng thì cần phải cung cấp cho vật năng lượng lớn vô hạn. Kết luận trên là hệ quả của cấu trúc không thời gian không phải là thuộc tính của vật, chẳng hạn do hạn chế về công nghệ chế tạo tàu vũ trụ. Nếu một vật chuyển động nhanh hơn ánh sáng từ A tới B, và một quan sát viên chuyển động từ B tới A thì lúc này câu hỏi ai miêu tả tình huống đúng đắn lại có ý nghĩa. Khi đó quan sát viên sẽ nhìn thấy kết quả trước khi nhìn thấy nguyên nhân (anh ta nhìn thấy vật xuất hiện ở B trước khi thấy nó đi ra từ A). Như vậy, nguyên lý nhân quả bị vi phạm bởi vì trình tự nguyên nhân kết quả không được xác định. Những vật chuyển động nhanh hơn ánh sáng sẽ đi ra khỏi tầm quan sát của người hoặc thiết bị theo dõi. === Không thời gian === Không gian và thời gian xuất hiện trong những phương trình cơ bản của thuyết tương đối có vai trò như nhau và có thể kết hợp thành không thời gian bốn chiều. Sự cảm nhận về không gian và thời gian theo cách khác nhau chỉ là do cảm nhận của con người. Về mặt toán học, khoảng không thời gian giữa hai sự kiện được định nghĩa bằng hiệu tọa độ không thời gian bốn chiều của hai sự kiện trong một hệ quy chiếu giống như định nghĩa về khoảng cách giữa hai điểm trong không gian Euclide, chỉ có một điểm khác là tọa độ thời gian ngược dấu với tọa độ không gian. Trong không thời gian cũng định nghĩa vectơ bốn như vectơ thông thường trong không gian ba chiều. Trong không thời gian Minkowski, giới hạn tốc độ ánh sáng và tính tương đối của độ dài và khoảng thời gian phân ra những vùng riêng biệt đối với mỗi quan sát viên: Miền các điểm nằm trong nón ánh sáng tương lai là các điểm mà quan sát viên có thể tới được với vận tốc ánh sáng hoặc gửi đi tín hiệu với tốc độ ánh sáng. Miền các điểm nằm trong nón ánh sáng quá khứ là các điểm gửi đi với tín hiệu có tốc độ bằng tốc độ ánh sáng tới được quan sát viên. Những điểm còn lại nằm trong miền "kiểu-không gian" tách biệt khỏi quan sát viên. Trong miền này, không thể định nghĩa được quá khứ và tương lai. Các vectơ-bốn không thời gian có nhiều ứng dụng thực tiễn và lý thuyết, ví dụ như trong tính toán động năng của các hạt chuyển động trong máy gia tốc. === Sự tương đương giữa khối lượng và năng lượng === Một hệ có khối lượng m chứa trong nó một năng lượng nghỉ E liên hệ bởi công thức E = m c 2 {\displaystyle E=mc^{2}} với c là tốc độ ánh sáng. Công thức này là một trong những công thức nổi tiếng nhất của vật lý học nói riêng và khoa học nói chung. Cũng vì công thức này mà Einstein hay bị hiểu nhầm rằng ông có liên quan tới sự phát triển của bom nguyên tử mặc dù chỉ có lá thư của ông gửi tới tổng thống Franklin D. Roosevelt là đề cập tới việc Hoa Kỳ cần phải cảnh giác với chương trình nghiên cứu vũ khí của Đức Quốc xã. Lượng năng lượng khổng lồ giải phóng ra từ phản ứng phân hạch hạt nhân phần lớn là do giải phóng năng lượng liên kết của các hạt nhân trước khi phản ứng trong khi năng lượng bởi sự chênh lệch khối lượng trước và sau phản ứng nhân với hệ số c² chỉ đóng góp phần nhỏ. Phản ứng phân hạch được Otto Hahn, Otto Frisch và Lise Meitner phát hiện vào năm 1938. Phương trình E=mc² đóng góp vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu phân hạch hạt nhân. Không phải vì cơ chế đằng sau năng lượng hạt nhân, nhưng mà là một công cụ: Bởi vì năng lượng và khối lượng tương đương với nhau, những phép đo độ nhạy cao về khối lượng của các hạt nhân nguyên tử khác nhau cho những nhà nghiên cứu chứng cứ quan trọng về độ lớn của năng lượng liên kết hạt nhân. Công thức của Einstein không nói cho chúng ta tại sao năng lượng liên kết hạt nhân lại lớn đến cỡ đó mà nó mở ra một khả năng (cùng với những phương pháp khác) để đo những năng lượng liên kết này. === Từ trường trong thuyết tương đối === Sự tồn tại của lực từ có mối liên hệ mật thiết với thuyết tương đối hẹp. Định luật Coulomb về lực điện khi đứng riêng rẽ sẽ không thể tương thích với cấu trúc của không thời gian. Thật vậy, khi các điện tích đứng yên sẽ không có từ trường xuất hiện, trừ khi có một quan sát viên đang di chuyển so với các điện tích. Có thể giải thích kết quả quan sát này dựa trên phép biến đổi Lorentz giữa mối liên hệ của vectơ từ trường và vectơ điện trường, cho thấy mối liên hệ khăng khít giữa từ trường, điện trường và hệ quy chiếu được lựa chọn. Sự xuất hiện của từ trường khi đưa nam châm di chuyển đến gần vòng dây dẫn (và ngược lại), hay tổng quát hơn khi có từ trường biến đổi thì xuất hiện điện trường (và ngược lại) còn liên quan đến thuộc tính của không gian và thời gian. Từ phương diện này, tuy hai định luật Coulomb và định luật Biot-Savart có vẻ khác nhau nhưng khi xét trong từng hệ quy chiếu của quan sát viên đứng yên hay chuyển động sẽ cho những kết quả như nhau. Trong mô tả toán học của thuyết tương đối, từ trường và điện trường được miêu tả chung bằng một đại lượng, tenxơ trường điện từ hạng bốn, tương tự như sự thống nhất giữa không gian và thời gian trong không thời gian bốn chiều. == Thuyết tương đối rộng == === Lực hấp dẫn và độ cong của không thời gian === Thuyết tương đối rộng giải thích lực hấp dẫn bằng độ cong hình học của không thời gian xác định bởi: Vật chất và năng lượng làm cong không thời gian xung quanh chúng Một vật rơi tự do dưới tác dụng của trường lực hấp dẫn chuyển động trên đường trắc địa giữa hai điểm của không thời gian. Không thời gian bốn chiều trong thuyết tương đối hẹp đã thật khó hình dung, vì vậy không thời gian cong thậm chí còn khó hơn nữa. Để minh họa nó, có thể giảm số chiều của không thời gian xưống và lấy hình ảnh tương tự trong trường hợp mặt cong 2 chiều. Giả sử có hai chiếc xe chạy trên mặt cầu, chúng bắt đầu tại đường xích đạo và lái hướng về phía bắc theo đường tròn lớn. Lúc đầu hướng của hai xe này song song với nhau, mặc dù không bị tác động bởi lực nào khác, cuối cùng hai xe sẽ gặp nhau tại cực bắc. Một quan sát viên đứng trên mặt cầu, anh ta sẽ không biết bề mặt bị cong và cho rằng đã có một lực hút hai xe về phía lại gần nhau. Đây là một hiện tượng thuần túy hình học. Do đó lực hấp dẫn đôi khi trong thuyết tương đối rộng được gọi là giả lực. Vì đường trắc địa nối hai điểm trong không thời gian không phụ thuộc vào đặc tính của vật rơi tự do trong trường hấp dẫn, hiện tượng đã được Galileo Galilei phát hiện ra đầu tiên, nên hai vật ở cùng cao độ sẽ rơi tự do với tốc độ như nhau. Trong cơ học Newton, điều này có nghĩa là khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn của một vật phải tương đương nhau. Phát biểu này cũng là cơ sở cho thuyết tương đối rộng. === Cấu trúc toán học của thuyết tương đối rộng === Trong khi nhiều tiên đoán của thuyết tương đối hẹp được miêu tả dựa trên cấu trúc toán học gọn nhẹ và đơn giản, thì cấu trúc toán học của thuyết tương đối rộng lại phức tạp hơn. Lý thuyết cần các phương pháp của hình học vi phân để miêu tả không thời gian cong, thay thế cho hình học Euclid của không gian phẳng quen thuộc đối với chúng ta. Để miêu tả sự cong, một vật thể cong hoặc không gian cong thường được nhúng vào không gian có số chiều cao hơn. Ví dụ, mặt cầu hai chiều thường được hình dung ra khi nó đặt trong không gian ba chiều. Tuy nhiên, các nhà toán học có thể miêu tả được độ cong mà không cần áp dụng hình thức nhúng này, tức là nó không phụ thuộc vào không gian bên ngoài, một đặc điểm quan trọng cần thiết của thuyết tương đối tổng quát. Ví dụ như việc một người sống trên mặt cong đo tổng các góc trong của một tam giác trên mặt cong cho kết quả không bằng 180° thì người đó sẽ hiểu rằng anh ta đang sống trong một mặt cong mà không cần phải "nhảy" ra khỏi bề mặt này. Mối liên hệ giữa độ cong và vật chất-năng lượng cũng như chuyển động của hạt trong trường hấp dẫn được xác định bằng phương trình trường Einstein. Nó là phương trình tenxơ đối xứng hạng hai, tương ứng với hệ 10 phương trình khi viết tường minh. Đối với các hiện tượng vật lý hấp dẫn, các nhà vật lý thường đưa phương trình về những dạng xấp xỉ ít phức tạp hơn để có thể thu được những tính chất hữu ích. Phương trình trường Einstein như sau: === Đồng hồ trong trường hấp dẫn === Trong thuyết tương đối rộng, tốc độ hoạt động của đồng hồ không chỉ phụ thuộc vào vận tốc tương đối của chúng, mà còn phụ thuộc vào vị trí của nó trong trường hấp dẫn cũng như độ mạnh yếu của trường. Một đồng hồ đặt trên đỉnh núi sẽ chạy nhanh hơn cái y hệt đặt dưới thung lũng. Tuy hiệu ứng này là rất nhỏ trong trường hấp dẫn của Trái Đất, nhưng để máy thu GPS tránh được các sai số trong tọa độ vị trí khi nó thu được từ tần số vệ tinh thì cần phải hiệu chỉnh thời gian giữa máy thu và thời gian trên vệ tinh để cho chúng đồng bộ. === Vũ trụ học === Trong khi thuyết tương đối hẹp áp dụng cho trường hợp hệ quy chiếu đang xét nằm trong vùng không thời gian có độ cong nhỏ có thể bỏ qua được, thì thuyết tương đối tổng quát không đòi hỏi giới hạn này. Do đó nó có thể áp dụng cho toàn thể vũ trụ và lý thuyết đóng vai trò quan trọng của ngành vũ trụ học. Vì thế, sự giãn nở của vũ trụ, như được tiên đoán bởi Alexander Friedmann và Georges Lemaître từ phương trình trường Einstein cũng như kết hợp với hằng số vũ trụ học (năng lượng tối) và một số yếu tố khác như vật chất tối đã trở thành mô hình chuẩn của vũ trụ học. Sự giãn nở này bắt đầu từ Vụ Nổ Lớn xảy ra từ cách nay 13,8 tỷ năm trước. Nó cũng là sự bắt đầu của không gian và thời gian khi toàn bộ vũ trụ tập trung trong một vùng không gian có đường kính kích cỡ chiều dài Planck. === Lỗ đen === Một tiên đoán khác của thuyết tương đối rộng đó là sự tồn tại của lỗ đen. Những vật thể này tạo ra trường hấp dẫn rất mạnh khiến cho ánh sáng cũng bị hút vào chân trời sự kiện, do đó nó không thể thoát ra khỏi lỗ đen. Einstein không thích thú với ý tưởng về sự tồn tại của vật thể này, và ông cho rằng phải có một cơ chế vật lý nào đó ngăn cản sự hình thành lỗ đen. Nhiều dữ liệu quan sát thiên văn vật lý ngày nay cho thấy quả thực có những lỗ đen ẩn nấp trong vũ trụ, và chúng có thể là trạng thái tiến hóa cuối cùng của các ngôi sao lớn trong các thiên hà hoặc được hình thành từ sự suy sụp hấp dẫn của các đám khí trong vũ trụ sơ khai. === Sóng hấp dẫn === Tương tự như sóng điện từ tiên đoán bởi lý thuyết điện từ của Maxwell, thuyết tương đối rộng cho phép sự tồn tại của sóng hấp dẫn: sự tập trung của khối lượng (hay năng lượng) làm cong không thời gian, và sự thay đổi của hình dáng hoặc vị trí của vật thể gây ra sự biến đổi và lan truyền trong toàn bộ vũ trụ với tốc độ bằng tốc độ ánh sáng. Tuy nhiên, những biến đổi này rất nhỏ mà các nhà vật lý vẫn chưa phát hiện được sóng hấp dẫn một cách trực tiếp. Một vụ nổ siêu tân tinh năm 1987 có thể phát ra sóng hấp dẫn và được các trạm quan sát ngày nay (2011) phát hiện được. Tuy vậy chỉ có hai trạm quan sát cho tới năm đó và độ nhạy của chúng không thể phát hiện ra được những gợn không thời gian cực nhỏ này. Nhờ những quan sát quỹ đạo hệ pulsar đôi chứng tỏ một cách gián tiếp sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Russell Hulse và Joseph Taylor đã nhận Giải Nobel Vật lý năm 1993 nhờ những quan sát này. Ngày 17 tháng 3 năm 2014, một đoàn thám hiểm Mỹ sau một nghiên cứu 3 năm thông báo tại buổi họp báo ở Harvard, rằng họ đã quan sát được sóng hấp dẫn ban sơ (primordial gravitational waves) của giây phút ngay sau Big Bang. Tuy nhiên sau đó nhóm BICEP 2 và Planck đã hợp tác cùng phân tích dữ liệu với nhau và đi đến kết luận là hình ảnh mà BICEP 2 nhận được chủ yếu do ảnh hưởng của bụi trong Ngân Hà chứ không phải từ sóng hấp dẫn nguyên thủy. Sau hơn 40 năm khởi xướng, huy động vốn tài trợ từ Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF), xây dựng và nâng cấp, nhóm cộng tác khoa học Advanced LIGO thông báo ngày 11 tháng 2 năm 2016 rằng hai trạm thám trắc ở Livingstone, Lousiana và Hanford, Washington đã thu được trực tiếp tín hiệu sóng hấp dẫn từ kết quả sáp nhập của hai lỗ đen khối lượng sao nằm cách Trái Đất khoảng 1,3 tỷ năm ánh sáng. Phát hiện này đã mở ra thời kỳ mới của thiên văn sóng hấp dẫn. == Xác nhận bằng thực nghiệm == Sự thành công đầu tiên của thuyết tương đối hẹp đó là nó giải thích được sự mâu thuẫn trong kết quả thu được ở thí nghiệm Michelson-Morley và lý thuyết điện động lực học, trong khi đó lý thuyết điện động lực học còn được coi là cơ sở cho sự phát triển của thuyết tương đối hẹp. Lý thuyết đã được chứng minh là đúng đắn qua rất nhiều thí nghiệm và thực nghiệm, như thí nghiệm Ives–Stilwell. Một ví dụ điển hình đó là việc phát hiện muon trong tia vũ trụ, mà những hạt này không thể tới bề mặt Trái Đất được với thời gian sống rất ngắn của chúng nếu không có hiệu ứng giãn thời gian khi chúng chuyển động với tốc độ gần bằng với tốc độ ánh sáng, hoặc các hạt muon chuyển động với một quãng đường ngắn hơn do sự co độ dài. Chứng cứ cho điều này đến từ các cuộc bay bằng khinh khí cầu vào tầng bình lưu thực hiện bởi nhà vật lý Thụy Sĩ Auguste Piccard trong các năm 1931 và 1932, mà quá trình chuẩn bị có sự tham gia của Einstein. Còn đối với lý thuyết tương đối rộng, ở thời điểm công bố nó mới chỉ có một bằng chứng thực nghiệm có thể để kiểm chứng, đó là sự dịch chuyển điểm cận nhật trong quỹ đạo của Sao Thủy. Năm 1919, Arthur Eddington dẫn đầu tổ chức hai đoàn thám hiểm quan sát hiện tượng nhật thực, họ đo được sự dịch chuyển của vị trí biểu kiến của các sao gần Mặt Trời và xác nhận trực tiếp về các tia sáng bị lệch khi đi qua trường hấp dẫn. Thí nghiệm Pound–Rebka kiểm tra dịch chuyển đỏ do hấp dẫn thực hiện năm 1959 là thí nghiệm chính xác cao đầu tiên về thuyết tương đối tổng quát. Các thí nghiệm và thực chứng khác bao gồm: thấu kính hấp dẫn, phát hiện trực tiếp sóng hấp dẫn, quan sát quỹ đạo của cặp sao xung, mô hình chuẩn vũ trụ học, thí nghiệm Gravity Probe B... Ngoài thuyết tương đối rộng nêu bởi Einstein, cũng có những lý thuyết hấp dẫn tương đối tính khác được đề xuất dựa trên các cơ sở của thuyết tương đối rộng. Lý thuyết nổi bật nhất là lý thuyết Jordan - Brans-Dicke, mặc dù đa số những lý thuyết này có cấu trúc phức tạp hơn. Sự đúng đắn của các lý thuyết này vẫn chưa hoàn toàn bị bác bỏ. Đã có nhiều thí nghiệm và thực nghiệm nhằm kiểm tra thuyết tương đối tổng quát lẫn các lý thuyết thay thế khác. == Tiếp nhận và giải thích == === Nhận thức của công chúng === Cách tiếp cận mới của thuyết tương đối về không gian và thời gian đã thu hút sự quan tâm của công chúng kể từ khi lý thuyết ra đời. Einstein trở lên nổi tiếng và thuyết tương đối dần xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Với cách nói đơn giản mọi thứ đều tương đối, đôi khi lý thuyết trở thành một lĩnh vực xem xét của chủ nghĩa tương đối trong triết học. Trong bộ phim chiếu vào tháng 4 năm 1922 nhan đề "Những điều cơ bản của thuyết tương đối Einstein", với nhiều khung hình minh họa giải thích thuyết tương đối hẹp của Einstein trước khán giả. Những lời chỉ trích phê bình về thuyết tương đối bắt nguồn từ nhiều cách khác nhau, như hiểu sai lý thuyết, chống đối những tiến bộ của toán học và vật lý hay liên quan đến nguồn gốc Do Thái của Einstein. Từ thập kỷ 1920 một vài nhà vật lý ở Đức đã công khai chống người Do Thái, bao gồm hai người đoạt giải Nobel là Philipp Lenard và Johannes Stark, với phong trào Deutsche Physik chống lại thuyết tương đối. Vài năm sau khi Chủ nghĩa Quốc xã nắm quyền, Stark đăng một bài viết trên tờ Das Schwarze Korps của SS số ngày 15 tháng 7 năm 1937 chống lại những người trong nước còn theo ủng hộ thuyết tương đối và thuyết lượng tử. Trong số họ, Stark tố cáo Werner Heisenberg và Max Planck là những người Do Thái trắng. Heisenberg đã đến gặp trực tiếp Himmler và đạt được khôi phục danh dự của mình. === Khoa học công nhận === Thời gian đầu thuyết tương đối mới ra đời chưa được cộng đồng khoa học công nhận, với Albert Einstein nhận giải Nobel Vật lý năm 1921 với lý do có cống hiến cho nền vật lý lý thuyết và đặc biệt cho hiệu ứng quang điện. Ngày nay, cả thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối rộng đã được thừa nhận rộng rãi và chúng là những trụ cột cho ngành vật lý cũng như nền tảng trong sự phát triển của các công nghệ hiện đại. == Xem thêm == Thuyết tương đối hẹp Thuyết tương đối rộng Lỗ đen == Chú thích == == Sách tham khảo == === Sách chuyên khảo vật lý === Max Born: Die Relativitätstheorie Einsteins. Bearbeitet von Jürgen Ehlers und Markus Pössel. Springer, Berlin 2003, ISBN 3-540-67904-9. Albert Einstein, Leopold Infeld: Die Evolution der Physik. Zsolnay, Hamburg 1950, Rowohlt, Reinbek 1987, ISBN 3-499-18342-0., Albert Einstein: Grundzüge der Relativitätstheorie. Springer, Berlin 2002, ISBN 3-540-43512-3.(Originaltitel Meaning of relativity) Jürgen Freund: Relativitätstheorie für Studienanfänger – ein Lehrbuch. vdf Hochschulverlag, Zürich 2004, ISBN 3-7281-2993-3. Hubert Goenner: Spezielle Relativitätstheorie und die klassische Feldtheorie. Elsevier – Spektrum Akademischer Verlag, München 2004, ISBN 3-8274-1434-2. Holger Müller, Achim Peters: Einsteins Theorie auf dem optischen Prüfstand – Spezielle Relativitätstheorie. In: Physik in unserer Zeit. Wiley-VCH, Weinheim 35.2004,2, S.70–75. Wolfgang Nolting: Grundkurs Theoretische Physik. Band 4. Spezielle Relativitätstheorie, Thermodynamik. Springer, Berlin 2003, ISBN 3-540-42116-5. Hans Stephani: Allgemeine Relativitätstheorie. Deutscher Verlag der Wissenschaften, Berlin 1991, ISBN 3-326-00083-9. Torsten Fließbach: Allgemeine Relativitätstheorie'. Spektrum Akademischer Verlag, Heidelberg 2006, ISBN 3-8274-1685-X. === Sách đại chúng === Julian Schwinger: Einsteins Erbe. Die Einheit von Raum und Zeit. Spektrum, Heidelberg 2000. ISBN 3-8274-1045-2. David Bodanis: Bis Einstein kam. Die abenteuerliche Suche nach dem Geheimnis der Welt. Fischer, Frankfurt am Main 2003. ISBN 3-596-15399-9. Gerald Kahan: Einsteins Relativitätstheorie – zum leichten Verständnis für jedermann. Dumont, Köln 1987, 2005. ISBN 3-7701-1852-9. Einstein, Albert (2005). Relativity: The Special and General Theory. Translated by Robert W. Lawson . New York: Pi Press. ISBN 0131862618. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) === Thảo luận về triết học === Julian Barbour: The End of Time. Weidenfeld & Nicolson, London 1999, ISBN 0-297-81985-2. Ernst Cassirer: Zur Einsteinschen Relativitätstheorie. Erkenntnistheoretische Betrachtungen. Meiner, Hamburg 2001, ISBN 3-7873-1410-5. John Earman: World Enough and Space-Time. Absolute versus relational theories of space and time. MIT, Cambridge, Mass. 1989, ISBN 0-262-05040-4. John Earman (Hrsg.): Foundations of space-time theories. University of Minnesota Press, Minneapolis, Minn. 1977, ISBN 0-8166-0807-5. Lawrence Sklar: Space, Time, and Spacetime. University of California Press 1977, ISBN 0-520-03174-1. R. Torretti: Relativity and Geometry. Pergamon, Oxford 1983, ISBN 0-08-026773-4. M. Friedman: Foundations of Space-Time Theories. Relativistic physics and philosophy of science. Princeton University Press, Princeton, NJ 1983, ISBN 0-691-07239-6. John Earman: Bangs, Crunches, Whimpers and Shrieks. Singularities and acausalities in relativistic spacetimes. Oxford University Press, Oxford 1995, ISBN 0-19-509591-X. H. Brown: Physical Relativity. Space-time structure from a dynamical perspective. Clarendon, Oxford 2005, ISBN 978-0-19-927583-0. Graham Nerlich: What spacetime explains. Metaphysical essays on space and time. Cambridge University Press, Cambridge 1994, ISBN 0-521-45261-9. T. Ryckman: The Reign of Relativity. Philosophy in physics 1915–1925. Oxford University Press, New York 2005, ISBN 0-19-517717-7. R. DiSalle: Understanding space-time. The philosophical development of physics from Newton to Einstein. Cambridge University Press, Cambridge 2007, ISBN 978-0-521-85790-1. Sendker, Werner Bernhard: Die so unterschiedlichen Theorien von Raum und Zeit. Der transzendentale Idealismus Kants im Verhältnis zur Relativitätstheorie Einsteins, Osnabrück, 2000 ISBN 3-934366-33-3 === Phim === Einsteins große Idee, Frankreich, Großbritannien 2005, ARTE F, Regie: Gary Johnstone. Das Drehbuch basiert auf dem Bestseller Bis Einstein kam von David Bodanis. == Liên kết ngoài == Tempolimit Lichtgeschwindigkeit – Visualisierung der Phänomene der Relativitätstheorie Einstein Online (Max Planck Institut für Gravitationsphysik - Albert Einstein Institut) Zur technischen Anwendung der Relativitätstheorie in GPS-Systemen J. J. O'Connor / E. F. Robertson: Special Relativity J. J. O'Connor / E. F. Robertson: General Relativity Online-Kurs „Spezielle Relativitätstheorie“ (mit GeoGebra, ausgezeichnet mit dem österreichischen Bildungssoftware-Preis L@rnie 2005) J. R. Lucas: Homepage mit zahlreichen Publikationen zur Philosophie der Zeit, Raumzeit und Relativität, darunter der Volltext von Reason and Reality, 2006 Early Philosophical Interpretations of General Relativity-Mục từ bởi Thomas A. Ryckman trong Bách khoa toàn thư Triết học Standford Being and Becoming in Modern Physics-Mục từ bởi Steven Savitt trong Bách khoa toàn thư Triết học Standford Absolute and Relational Theories of Space and Motion-Mục từ bởi Nick Huggett / Carl Hoefer trong Bách khoa toàn thư Triết học Standford Space and Time: Inertial Frames-Mục từ bởi Robert DiSalle trong Bách khoa toàn thư Triết học Standford Conventionality of Simultaneity-Mục từ bởi Allen Janis trong Bách khoa toàn thư Triết học Standford Andrew Hamilton: Special Relativity Yuri Balashov: Bản lưu trữ tại Wayback Machine, Rice University, Houston, Texas 1999 On the Electrodynamics of Moving Bodies (tiếng Anh)
1 tháng 2.txt
Ngày 1 tháng 2 là ngày thứ 32 trong lịch Gregory. Còn 333 ngày trong năm (334 ngày trong năm nhuận). == Sự kiện == 772 – Giáo hoàng Ađrianô I tựu nhiệm. 1327 – Edward III đăng quang quốc vương Anh ở độ tuổi thiếu niên, song quốc gia trên thực tế nắm dưới quyền cai trị của mẹ Isabella và tình nhân Roger Mortimer của ông. 1662 – Trưởng quan Formosa của Công ty Đông Ấn Hà Lan là Frederick Coyett ký vào thư đầu hàng tướng phản Thanh phục Minh Trịnh Thành Công, kết thúc cuộc bao vây pháo đài Zeelandia kéo dài trong chín tháng và đặt dấu chấm hết cho Formosa thuộc Hà Lan, mở đầu thời kỳ Minh Trịnh trị Đài Loan, tức 13 tháng 12 năm Tân Sửu. 1790 – Phiên họp đầu tiên của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ được tiến hành tại thành phố New York. 1793 – Chiến tranh Cách mạng Pháp: Pháp tuyên chiến với Anh Quốc và Hà Lan. 1814 – Núi lửa Mayon tại Philippines phun trào, sát hại khoảng 1.200 người, đây là lần phun trào tàn phá nặng nề nhất của núi lửa này. 1835 – Chế độ nô lệ bị bãi bỏ tại Mauritius. 1861 – Nội chiến Hoa Kỳ: Texas ly khai khỏi Hợp chúng quốc. 1864 – Chiến tranh Schleswig lần thứ hai bùng nổ khi các lực lượng của Phổ và Áo vượt qua biên giới tiến vào xứ Schleswig thuộc Đan Mạch. 1884 – Quyển đầu tiên (A đến Ant) của Từ điển tiếng Anh Oxford được phát hành. 1887 – Ngày ra đời của Hollywood. Đến năm 1903, Hollywood được hưởng quy chế của một thành phố và năm 1910 được sát nhập vào Los Angeles. 1908 – Quốc vương Carlos I của Bồ Đào Nha và con là Vương tử Luís Filipe bị sát hại tại thủ đô Lisboa. 1942 – Đài Tiếng nói Hoa Kỳ phát sóng lần đầu tiên với các chương trình nhằm vào những khu vực do phe Trục kiểm soát. 1958 – Cộng hòa Ả Rập Thống nhất được hình thành trên cơ sở liên minh giữa Cộng hòa Ai Cập và Cộng hòa Syria. 1968 – Chiến tranh Việt Nam: Eddie Adams quay phim và chụp ảnh sự việc Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Ngọc Loan hành hình sĩ quan Việt Cộng Nguyễn Văn Lém. Bức ảnh góp phần xây dựng Phong trào phản chiến trong Chiến tranh Việt Nam. 1972 – Kuala Lumpur trở thành một thành phố theo chiếu chỉ của Yang di-Pertuan Agong của Malaysia. 1974 – Kuala Lumpur trở thành một lãnh thổ liên bang của Malaysia. 1979 – Giáo chủ Ruhollah Khomeini về đến Tehran, Iran sau gần 15 năm lưu vong. 1982 – Sénégal và Gambia thành lập một liên minh lỏng lẻo mang tên Liên minh Sénégambia. 1999 – Mã Morse bị loại bỏ trong ngành thông tin hàng hải để thay vào đó là một hệ thống vệ tinh. 2003 – Phi thuyền không gian của NASA là Columbia nổ tung trong khi trở về bầu khí quyền của trái đất. 7 phi hành gia trên phi thuyền thiệt mạng. 2005 – Quốc vương Gyanendra của Nepal tiến hành một cuộc đảo chính nhằm đoạt lấy chính quyền dân chủ, trở thành Chủ tịch của Hội đồng bộ trưởng. 2009 – Jóhanna Sigurðardóttir bắt đầu nhiệm kỳ thủ tướng của Iceland, bà là người đứng đầu chính phủ đầu tiên công khai mình là người đồng tính luyến ái. 2013 – Tòa nhà cao nhất Liên minh châu Âu là The Shard tại Luân Đôn được mở cửa cho công chúng. == Sinh == 1042 - Đỗ Đô, thiền sư nhà Lý, tức 9 tháng 1 năm Nhâm Ngọ (m. ?) 1394 – Nhất Hưu Tông Thuần, thiền sư người Nhật Bản, tức 1 tháng 1 năm Giáp Tuất (m. 1481) 1659 – Jakob Roggeveen, nhà thám hiểm người Hà Lan (m. 1729) 1864 – Sương Nguyệt Anh, nhà thơ, nhà báo người Việt Nam (m. 1921) 1871 – Gabriel Veyre, đạo diễn và nhiếp ảnh gia người Pháp (m. 1936) 1894 – John Ford, đạo diễn và nhà sản xuất người Mỹ (m. 1973) 1901 – Clark Gable, diễn viên người Mỹ (m. 1960) 1902 – Langston Hughes, tác gia người Mỹ (m. 1967) 1902 – Nguyễn Phong Sắc, nhà hoạt động chính trị người Việt Nam (m. 1931) 1905 – Emilio G. Segrè, nhà vật lý học người Ý, đoạt giải Nobel (m. 1989) 1915 – Stanley Matthews, cầu thủ bóng đá người Anh Quốc (m. 2000) 1930 – Hussein Muhammad Ershad, chính trị gia người Ấn Độ-Bangladesh, Tổng thống Bangladesh 1931 – Boris Yeltsin, chính trị gia người Liên Xô và Nga, Tổng thống Nga (m. 2007) 1940 – Nguyễn Văn Trỗi, quân nhân đánh bóm tự sát người Việt Nam (m. 1964) 1945 – Phaolô Nguyễn Thái Hợp, giám mục người Việt Nam 1946 – Thạch Tịnh, chính trị gia người Việt Nam 1952 – Roger Y. Tsien, nhà hóa sinh học người Mỹ 1957 – Jackie Shroff, diễn viên người Ấn Độ 1958 – Lương Gia Huy, diễn viên người Hồng Kông 1960 – Urasawa Naoki, mangaka người Nhật Bản 1965 – Sherilyn Fenn, diễn viên người Mỹ 1965 – Lý Quốc Hào, diễn viên và võ sĩ người Mỹ (m. 1993) 1965 – Stéphanie, công chúa của Monaco 1966 – Michelle Akers, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1967 – Meg Cabot, tác gia người Mỹ 1969 – Gabriel Batistuta, vầu thủ bóng đá người Argentina 1969 – Brian Krause, diễn viên và nhà biên kịch người Mỹ 1972 – Leymah Gbowee, nhà hoạt động hòa bình người Liberia, đoạt giải Nobel 1972 – Christian Ziege, cầu thủ bóng đá người Đức 1973 – Óscar Pérez Rojas, cầu thủ bóng đá người Mexico 1973 – Ye Ji-won, diễn viên người Hàn Quốc 1978 – K'naan, nhà soạn nhạc và ca sĩ người Somalia-Canada 1984 – Darren Fletcher, cầu thủ bóng đá người Anh Quốc 1987 – Sebastian Boenisch, cầu thủ bóng đá người Ba Lan 1988 – Higashide Masahiro, diễn viên, người mẫu người Nhật Bản 1992 – Ichimichi Mao, diễn viên người Nhật Bản 1994 – Harry Styles, ca sĩ người Anh Quốc (One Direction) == Mất == 772 – Giáo hoàng Stêphanô III (s. 720) 1072 – Lý Thánh Tông, tức Lý Thánh Tông, quân chủ triều Lý, tức ngày Canh Dần tháng 1 năm Nhâm Tý (s. 1023) 1328 – Charles IV, quốc vương của Pháp (s. 1294) 1590 – Catarina thành Ricci, trinh nữ người Ý được phong thánh (s. 1522) 1691 – Giáo hoàng Alexanđê VIII (s. 1610) 1851 – Mary Shelley, tác gia người Anh Quốc (s. 1797) 1903 – George Gabriel Stokes, nhà vật lý học người Anh Quốc (s. 1819) 1905 – Gustav Hermann von Alvensleben, tướng lĩnh Phổ (s. 1827) 1908 – Carlos I, quốc vương của Bồ Đào Nha (s. 1863) 1908 – Luís Filipe, vương tử của Bồ Đào Nha (s. 1887) 1922 – Yamagata Aritomo, nguyên soái và chính trị gia người Nhật Bản, thủ tướng của Nhật Bản (s. 1838) 1944 – Piet Mondrian, họa sĩ người Hà Lan (s. 1872) 1957 – Friedrich Paulus, tướng lĩnh người Đức (s. 1890) 1958 – Clinton Davisson, nhà vật lý học người Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1888) 1966 – Buster Keaton, tác gia người Mỹ (s. 1895) 1968 – Lê Thị Riêng, nhà hoạt động chính trị người Việt Nam (s. 1925) 1968 – Nguyễn Minh Hoàng, quân nhân người Việt Nam (s. 1940) 1976 – Werner Heisenberg, nhà vật lý học người Đức, đoạt giải Nobel (s. 1901) 1976 – George Whipple, thầy thuốc, nhà bệnh lý học người Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1878) 1986 – Alva Myrdal, nhà xã hội học và chính trị gia người Thụy Điển, đoạt giải Nobel (s. 1902) 2012 – Wisława Szymborska, nhà thơ người Ba Lan, đoạt giải Nobel (s. 1923) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
chiết giang.txt
Chiết Giang (浙江) là một tỉnh ven biển phía đông của Trung Quốc. Tên gọi Chiết Giang lấy theo tên cũ của con sông Tiền Đường chảy qua Hàng Châu - tỉnh lỵ Chiết Giang. Tên gọi tắt của tỉnh này là Chiết. Chiết Giang giáp giới với tỉnh Giang Tô và thành phố Thượng Hải về phía bắc, An Huy và Giang Tây về phía tây và Phúc Kiến về phía nam, phía đông giáp biển Hoa Đông. Trong tiếng Việt, Chiết Giang hay bị viết nhầm thành Triết Giang. == Lịch sử == Từ khoảng 50.000 năm trước, vào thời đại đồ đá cũ, một giống người nguyên thủy gọi là người Kiến Đức (建德人) đã sinh sống tại Chiết Giang. Đến thời đại đồ đá mới, tại Chiết Giang trước sau đã xuất hiện văn hóa Thượng Sơn, văn hóa Tiểu Hoàng Sơn, văn hóa Khóa Hồ Kiều, văn hóa Hà Mỗ Độ (河姆渡), văn hóa Mã Gia Banh (马家浜) và văn hóa Lương Chử (良渚). Trong đó, văn hóa Lương Chử ước tính cách nay khoảng 5.000 năm, thể hiện mức độ phát triển văn hóa rất cao tại Trung Quốc trong thời đại đồ đá mới. Đến thời đại đồ đồng, lưu vực Thái Hồ và sông Tiền Đường tiến vào thời kỳ văn hóa Mã Kiều (马桥), người dân sống ở đó được gọi là "Việt". Khi tiến hành khảo cổ tại khu vực Thái Hồ và sông Tiền Đường và đồng bằng Ninh-Thiệu, người ta đã phát hiện được một số lượng lớn các di chỉ của văn hóa Mã Kiều, nền văn hóa này phát triển độc lập và ít chịu ảnh hưởng từ Trung Nguyên. Bắt đầu từ thời Xuân Thu, nước Việt nổi lên ở phía bắc Chiết Giang, định đô ở Cối Kê (nay thuộc Thiệu Hưng). Đến đời Việt vương Câu Tiễn, nước Việt đã đạt đến thời kỳ cực thịnh và năm 473 TCN đã có thể đã đánh bại nước Ngô ở phía bắc, một trong những tiểu quốc mạnh thời bấy giờ. Năm 333 TCN, đến lượt nước Việt bị nước Sở ở phía tây đánh bại. Năm 221 TCN, đến lượt nước Tần chinh phục được tất cả các tiểu quốc ở Trung Hoa và thành lập một đế quốc Trung Hoa thống nhất. Dưới thời nhà Tần và thời nhà Hán, Chiết Giang thuộc quyền kiểm soát của đế quốc Trung Hoa, tuy nhiên vùng này vẫn là biên ải và vùng Nam Chiết Giang chỉ thuộc quyền kiểm soát trên danh nghĩa do các tộc Bách Việt vẫn cư ngụ ở đây với các tổ chức xã hội và chính trị của riêng họ, đó chính là nước Đông Âu. Năm 138 TCN, Đông Âu và nước Mân Việt phát sinh tranh giành, Mân Việt vương đã xuất binh bao vây Đông Âu thành (thuộc Ôn Châu ngày nay), chỉ đến khi nhà Hán cử quân tiếp viện cho Đông Âu thì quân Mân Việt mới thoái lui. Sau đó, dưới áp lực từ Mân Việt, quốc vương Đông Âu đã phải dẫn trên 4 vạn quân tiến về phía bắc đến khu vực Thư Thành thuộc An Huy ngày nay. Những cư dân Đông Âu còn ở lại đất cũ đã di cư ra các đảo trên biển Hoa Đông để tránh chiến loạn. Cuối đời nhà Hán, Chiết Giang là địa bàn hoạt động của các tướng Nghiêm Bạch Hổ (嚴白虎) và Vương Lãng (王朗). Hai người này đã thua trước hai anh em Tôn Sách (孙策) và Tôn Quyền (孫權) - những người cuối cùng đã lập nên nước Ngô, một trong ba nước thời Tam Quốc. Từ thế kỉ 4, Trung Quốc bắt đầu bị các tộc du mục phương Bắc đánh chiếm - những tộc người đã chiếm được toàn bộ vùng Hoa Bắc và thiết lập Ngũ Hồ thập lục quốc (thực tế có nhiều nước hơn) và Bắc triều Ngụy. Do đó, những đợt lớn dân di cư từ phía bắc đã đổ về miền Na, điều này đã tăng tốc quá trình Hán hóa vùng Nam Trung Quốc, trong đó có Chiết Giang. Nhà Tùy tái thống nhất Trung Quốc và xây dựng con kênh lớn Đại Vận Hà nối Hàng Châu với bình nguyên Hoa Bắc, mang lại cho Chiết Giang một đường kết nối quan trọng với các trung tâm của văn minh Trung Hoa. Thời nhà Đường là thời hoàng kim của Trung Hoa. Khi đó, Chiết Giang là một phần của Giang Nam Đông đạo (江南東道) và bắt đầu phát triển thịnh vượng. Về sau, khi nhà Đường sụp đổ, đa phần lãnh thổ của nước Ngô Việt thời Ngũ Đại Thập Quốc là tại Chiết Giang. Bắc Tống tái thống nhất Trung Quốc vào khoảng năm 960. Trong thời nhà Tống, sự giàu có thịnh vượng của miền Nam Trung Quốc bắt đầu vượt miền Bắc Trung Quốc. Sau khi miền Bắc bị người Nữ Chân xâm chiếm vào năm 1127, Chiết Giang tiến vào thời cực thịnh: Hàng Châu trở thành kinh đô của Nam Tống. Nổi tiếng vì vẻ đẹp và sự giàu có, thành phố này có thể đã là thành phố lớn nhất thế giới vào thời đó. Kể từ đó đến nay, trong văn hóa Trung Hoa, cùng với vùng Nam Giang Tô lân cận, vùng Bắc Chiết Giang đã đồng nghĩa với sự xa hoa và giàu có. Chiến thắng của quân Mông Cổ và việc thành lập nhà Nguyên năm 1279 đã kết thúc vai trò quan trọng về chính trị của Hàng Châu, tuy nhiên, thành phố này vẫn tiếp tục phát triển thịnh vượng; Marco Polo đã đến thăm Hàng Châu, ông gọi thành phố này là "Kinsay" và gọi đây là "thành phố sang trọng và đẹp đẽ nhất" trên thế giới. === Thời Minh === Nhà Minh, triều đại đánh đuổi được người Mông Cổ vào năm 1368, là triều đại đầu tiên thiết lập đơn vị hành chính cho riêng Chiết Giang, Chiết Giang thừa tuyên bố chánh sứ ti (浙江承宣布政使司), và kể từ đó ranh giới của tỉnh hầu như không thay đổi. Thời nhà Minh, Chiết Giang có 11 phủ và 75 huyện. Thời Minh, Chiết Giang là một vùng quan trọng về thuế, đương thời Gia Hưng và Hồ Châu là những vùng sản xuất tơ sống chủ yếu. Tuy nhiên, do Trương Sĩ Thành (张士诚) và Phương Quốc Trân (方国珍) đối kháng với triều đình, Chu Nguyên Chương đã thực hiện chính sách hải cấm, tiến hành phong tỏa các khu vực duyên hải của Chiết Giang, do vậy nền thương mại nói chung và ngoại thương nói riêng của tỉnh có khuynh hướng suy giảm. Theo chính sách "Hải cấm", cư dân duyên hải bị buộc phải di chuyển vào sâu trong nội địa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế của họ. Năm Hồng Vũ thứ 19 (1386), hơn 30.000 cư dân tại 46 đảo Chu Sơn bị bách phải chuyển vào nội địa, năm sau, huyện đảo duy nhất khi ấy là Xương Quốc huyện (tức Chu Sơn ngày nay) bị phế bỏ. Đến những năm Gia Tĩnh, Trung Quốc chịu ảnh hưởng của hải tặc Uy khấu, nặng nề nhất là Phúc Kiến và Chiết Giang. === Thời Thanh === Sau khi người Mãn Châu nhập quan, lập nên nhà Thanh, triều đình mới đã đổi Chiết Giang thừa tuyên bố chánh sứ ti thành Chiết Giang tỉnh, về quân sự do tổng đốc Mân Chiết quản lý. Do Chiết Giang tích cực phản kháng quân Thanh, triều đình Mãn Thanh đã có các chính sách thẩm tra dã man đối với văn nhân Giang Nam, như Văn tự ngục (文字獄), Minh sử án (明史案). Năm Đạo Quang thứ 20 (1840), quân Anh pháo kích thành Định Hải, Chiến tranh Nha phiến chính thức bùng phát. Sau khi thành bị bao vây, tổng binh Định Hải trấn Cát Vân Phi (葛云飞), tổng binh Thọ Xuân trấn Vương Tích Bằng (王锡朋), tổng binh Xử Châu trấn Trịnh Quốc Hồng (郑国鸿) đã suất quân để kháng cự song đã thiệt mạng trong trận chiến. Căn cứ theo Điều ước Nam Kinh ký kết sau chiến tranh, Ninh Ba trở thành một 5 cảng thông thương với ngoại quốc đầu tiên. Năm 1861, quân Thái Bình Thiên Quốc tiến từ Giang Tây đến Chiết Giang, do là nơi xuất thân của nhiều quan viên và thân sĩ Trung Quốc, Giang Chiết là vùng cư dân chịu ảnh hưởng mạnh của Nho giáo nên các dân đoàn địa phương đã liên tục cùng quân Thái Bình tác chiến, vì thế có đến trên một nửa cư dân Chiết Giang đã thiệt mạng trong cuộc chiến này. Đặc biệt, ở các khu vực phía tây như tại ba huyện Vũ Khang, Hiếu Phong và An Cát thuộc hai phủ Hồ Châu, Hàng Châu, tổn thất nhân khẩu là trên 96%. Cuộc chiến khốc liệt này đã khiến một số lượng lớn nhân sĩ Giang Chiết đến tị nạn tại Thượng Hải (tô giới ngoại quốc), đóng một vai trò quyết định cho sự phát triển của Thượng Hải. Sau chiến tranh, Tương quân nhập Chiết Giang để đánh Thái Bình Thiên Quốc trước kia khuếch trương thế lực và sau năm 1861, nhiều tuần phủ Chiết Giang do Tương quân độc quyền nắm giữ. Tuy nhiên, sau án Cát Tất thị, lực lượng Tương quân đã suy yếu rất nhiều. Trong các sự kiện Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn và Bát quốc liên quân xâm lược, tỉnh Chiết Giang tham gia Đông Nam hỗ bảo, tránh được chiến tranh xâm lược. === Thời Trung Hoa Dân Quốc === Sau Cách mạng Tân Hợi, Tân quân Hàng Châu vào tháng 11 năm 1911 đã phát động khởi nghĩa, hình thành việc người Chiết Giang đứng đầu Chiết Giang đô đốc phủ, tuyên cáo Chiết Giang độc lập. Ngày 12 tháng 4 năm 1916, tỉnh Chiết Giang tham gia chiến tranh phản Viên hộ Quốc. Đến tháng 1 năm 1917, chính phủ Bắc Dương bổ nhiệm Dương Thiện Đức (杨善德) đưa quân đến Hàng Châu nhậm chức Chiết Giang đốc quân, Tề Diệu Sơn (齐耀珊) nhậm chức tỉnh trưởng, kết thúc thời đại người Chiết Giang cai trị Chiết Giang. Sau khi Dương Thiện Đức nhậm chức Chiết Giang đốc quân, tỉnh Chiết Giang chính thức gia nhập vào phạm vi ảnh hưởng của thế lực Hoàn hệ quân phiệt. Sau khi Dương Thiện Đức chết, Lô Vĩnh Tường tiếp nhiệm chức Chiết Giang đốc quân. Nhưng lúc đó, do tỉnh Giang Tô thuộc quyền thống trị của Trực Lệ quân phiệt, hai bên cùng quản lý khu vực Thượng Hải song về sau đã bùng phát chiến tranh Giang-Chiết. Sau nhiều tháng, chiến tranh kết thúc với thắng lợi thuộc về Trực hệ. Tôn Truyền Phương của Trực hệ nhậm chức đốc quân, nắm quyền cho đến cuối tháng 2 năm 1927, khi quân Bắc phạt chiếm lĩnh toàn cõi Chiết Giang. ngày 27 tháng 7, chính quyền tỉnh Chiết Giang chính thức được thành lập. Trong Chiến tranh Trung-Nhật, Chiết Giang là một trong những chiến trường chính thuộc chiến khu 3. Gia Hưng, Ngô Hưng, Trường Hưng ở phía bắc Chiết Giang là chiến trường chủ yếu trước hội chiến Tùng Hỗ. Cuối năm đó, Trung Hoa Dân Quốc thất thủ toàn diện tại khu vực đồng bằng ở phía bắc Hàng Châu, chính phủ Quốc dân đã thực hiện chính sách tiêu thổ tại Chiết Giang, hình thành vùng ngăn cách sông nước giữa quân Trung-Nhật qua sông Tiền Đường. Sau đó, Chiết Giang thất thủ, quân Nhật lập nên chế độ bù nhìn chính phủ Duy Tân Trung Hoa Dân Quốc, đến năm 1940, Chiết Giang thuộc "vùng quản lý" của chính quyền Uông Tinh Vệ bù nhìn. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, quân Trung Hoa Dân Quốc quản lý Chiết Giang. Tháng 4 năm 1949, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã tiến vào Chiết Giang giao chiến với quân Trung Hoa Dân Quốc. Đến tháng 5, Ôn Châu, Hàng Châu, Ninh Ba cùng tất cả vùng đại lục của Chiết Giang đều về tay lực lượng cộng sản. Chính phủ Quốc dân tỉnh Chiết Giang di dời đến quần đảo Chu Sơn, tiếp tục quản lý các đảo duyên hải của Chiết Giang. Tháng 5 năm 1950, chính quyền Quốc dân tỉnh Chiết Giang cùng quân Trung Hoa Dân Quốc, tổng cộng 125.000 người và tổng cộng khoảng 20.000 dân chúng bản địa đã triệt thoái đến Đài Loan. Chính phủ Quốc dân tỉnh Chiết Giang trên thực tế chấm dứt tồn tại. Sau đó, Giải phóng quân tiếp quản các đảo của quần đảo Chu Sơn. Sau khi từ bỏ Chu Sơn, chính phủ Quốc dân vẫn khống chế quần đảo Đại Trần (大陈列岛) hay quần đảo Thai Châu (台州列岛) ở đông nam Chiết Giang, như đảo Nhất Giang Sơn (一江山岛). Ngày 20 tháng 1 năm 1955, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc công chiếm đảo Nhất Giang Sơn. Chính phủ Quốc dân thấy tình hình đã trở nên vô vọng, với sự hộ tống của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ, toàn bộ quân lính và cư dân trên đảo Đại Trần đã triệt thoái đến Đài Loan, sau đó đến lượt quần đảo Nam Kỉ (南麂列岛) cũng phải tiến hành di tản. Từ đó, toàn bộ tỉnh Chiết Giang đã về tay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. === Thời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa === Vùng Nam Chiết Giang nhiều đồi núi và không thích hợp cho nông nghiệp, vốn đã là vùng nghèo và kém phát triển. Tuy nhiên, các cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình đã đem lại thay đổi đặc biệt cho khu vực này. Nhờ làm việc cần cù, có đầu óc kinh doanh, giá lao động thấp, và một tầm nhìn tới thị trường thế giới, vùng Nam Chiết Giang, đặc biệt là các thành phố như Ôn Châu (溫州) và Nghĩa Ô (义乌), đã trở thành một trung tâm xuất khẩu chính yếu. Cùng với sự giàu có từ xưa của vùng Bắc Chiết Giang, điều này đã làm cho Chiết Giang nhảy vọt vượt qua một số tỉnh khác và trở thành một trong những tỉnh giàu nhất của Trung Quốc. == Địa lý == Chiết Giang là tỉnh duyên hải đông nam Trung Quốc, ở phía nam của đồng bằng châu thổ Trường Giang, phía bắc liền kề với Thượng Hải và tỉnh Giang Tô, phía tây giáp với tỉnh An Huy và tỉnh Giang Tây, phía nam giáp với tỉnh Phúc Kiến, phía đông giáp với biển Hoa Đông. Đại bộ phận đường bờ biển của Chiết Giang khúc khuỷu, có nhiều vịnh biển và đảo. Diện tích đất liền của Chiết Giang chiếm 1,02% diện tích toàn quốc, là một trong các tỉnh có diện tích nhỏ nhất Trung Quốc. Địa hình của Chiết Giang phức tạp, có thuyết nói là "thất sơn nhất thủy lưỡng phần điền", trong thực tế đồi núi chiếm 70,4% tổng diện tích của Giang Tây, đồng bằng và bồn địa chiếm 23,2%. Đỉnh Hoàng Mao Tiêm (黄茅尖, 1929 m) tại Long Tuyền, Lệ Thủy là đỉnh cao nhất tại tỉnh Chiết Giang. Lưu vực sông lớn nhất chảy trên địa bàn tỉnh là sông Tiền Đường, song dòng chảy lại nhiều uốn khúc, nên còn gọi là Chi Giang [sông hình chữ chi (之)], ngoài ra sông Tiền Đường cũng được gọi là Chiết Giang và là nguồn gốc của tên tỉnh. Tỉnh lị Hàng Châu chỉ cách Thương Hải hơn 130 km đường cao tốc. Các phương tiện truyền thông thường ám chỉ thủy triều ở sông Tiền Đường giống người Chiết Giang có "tinh thần chiến đấu cùng với tất cả sức mạnh" (拼搏精神, bính bác tinh thần). Đồng bằng tại Chiết Giang đa phần nằm ở hạ du các con sông lớn. Ở bắc bộ Chiết Giang là đồng bằng Hàng-Gia-Hồ, là một bộ phận của đồng bằng châu thổ Trường Giang với địa thế rất thấp, bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi dày đặc, có kênh Đại Vận Hà đi qua. Ngoài ra, tại vùng ven biển và ven sông trên địa bàn tỉnh có không ít các đồng bằng và bồn địa nhỏ, chủ yếu là có hình dạng dài và hẹp. Đồng bằng Ninh-Thiệu nằm ở duyên hải phía đông Chiết Giang, do phù sa của các sông Tiền Đường, sông Phổ Dương (浦陽江), sông Tào Nga (曹娥江) và sông Dũng (甬江) bồi đắp nên. Ở hạ du sông Linh (灵江) là đồng bằng Ôn-Hoàng, nằm trên địa phận các khu thị của Thai Châu. Ở phía hạ du sông Âu (瓯江) và sông Phi Vân (飞云江) là đồng bằng Ôn-Thụy, thuộc địa phận các khu thị của Ôn Châu. Ở tả ngạn hạ du sông Ngao (鳌江) thuộc huyện Bình Dương là đồng bằng Tiểu Nam, ở phía hữu ngạn thuộc huyện Thương Nam là đồng bằng Giang Nam. Các vùng đồng bằng này đều có đất đai phì nhiêu, sông sâu, sản lượng ngũ cốc dồi dào. Bồn địa Kim-Cù trải dài dọc theo sông Cù (衢江), sông Lan (兰江), sông Tân An (新安江), sông Kim Hoa (金华江) trên địa phận Kim Hoa và Cù Châu, là bồn địa lớn nhất tỉnh Chiết Giang. Ngoài ra, tại Chiết Giang, còn có bồn địa Chư-Kỵ, bồn địa Tân-Thặng, bồn địa Thiên-Thai và bồn địa Cổ Tùng. === Sông hồ === Trong nhiều năm, bình quân tổng lượng tài nguyên nước của tỉnh là 93,7 tỷ m³, xét trên một đơn vị diện tích thì xếp thứ 4 toàn quốc, song do tỉnh có mật độ dân số cao, bình quân tài nguyên nước chỉ là 2.008 m³/người, thấp hơn mức bình quân chung của cả nước, thấp nhất là bình quân tài nguyên nước trên người tại quần đảo Chu Sơn, với chỉ 600 m³/người. Hệ thống các sông tại tỉnh Chiết Giang có đặc điểm đại bộ phận là các sông ngắn, có lưu vực hẹp. diện tích sông và hồ chiếm 6,4% tổng diện tích của tỉnh. Do Chiết Giang có địa thế cao ở tây nam và thấp ở đông bắc, đa số các sông bắt nguồn từ tây bộ hoặc trung bộ, chảy theo hướng đông hoặc đông bắc rồi đổ vào biển Hoa Đông. Sông dài nhất và có diện tích lưu vực lớn nhất tại Chiết Giang là sông Tiền Đường; dòng đầu nguồn chính là Tân An, bắt nguồn từ khu vực Huy Châu của tỉnh An Huy; dòng đầu nguồn phía nam là sông Lan, bắt nguồn từ huyện Khai Hóa. Hai dòng đầu nguồn này đến trấn Mai Thành của Kiến Đức thì hợp dòng rồi đổ vào vịnh Hàng Châu. Hệ thống chi lưu của sông Tiền Đường còn có sông Kim Hoa, sông Phân Thủy, sông Phổ Dương, sông Tào Nga. Hiện tượng thủy triều trên sông Tiền Đường là một cảnh quan trứ danh, cả thiên hạ biết đến. Ở bắc bộ Chiết Giang, sông Điều (苕溪) đổ nước vào Thái Hồ, là một bộ phận của lưu vực Trường Giang. Với 5 sông lớn đổ trực tiếp ra biển Hoa Đông là sông Âu, sông Linh, sông Dũng, sông Phi Vân và sông Ngao, chúng được gọi là "Chiết Giang thất đại thủy hệ". Sông Tào Nga trước đây được xem là một lưu vực sông độc lập đổ thẳng ra biển song hiện nay được xem là một chi lưu lớn cuối cùng của sông Tiền Đường, do đó đôi khi người ta đưa sông Tào Nga vào thất đại thủy hệ, trở thành Chiết Giang bát đại thủy hệ. Thái Hồ nằm trên ranh giới giữa hai tỉnh Chiết Giang và Giang Tô, khu Ngô Hưng và huyện Trường Hưng của Hồ Châu nằm ở bờ nam của Thái Hồ. Ngoài Tây Hồ, trên địa phận Chiết Giang còn có Tây Hồ, hồ Đông Tiền (东钱湖) cùng trên 30 hồ có dung tích trên 1 triệu m³. Hồ Đông Tiền là hồ tự nhiên lớn nhất tại Ninh Ba, diện tích bề mặt là 19,89 km². Các hồ nổi tiếng là Tây Hồ của Hàng Châu, Nam Hồ tại Gia Hưng, Đông Hồ tại Thiệu Hưng. Hồ nhân tạo lớn nhất Chiết Giang là hồ Thiên Đảo (千岛湖), tức hồ chứa sông Tân An, diện tích mặt hồ là 573 km². === Biển đảo === Bờ biển đại lục Chiết Giang khúc khuỷu, nước sâu, tổng chiều dài đường bờ biển (bao gồm cả bờ biển các hải đảo) là 6.646 km, đứng đầu cả mước. Vùng bờ biển Chiết Giang có nhiều vịnh lớn nhỏ, vùng biển của tỉnh là một bộ phận của biển Hoa Đông, trong đó diện tích vùng nước nội thủy là 30.900 km², diện tích lãnh hải là 11.500 km², bao gồm cả vùng tiếp giáp lãnh hải. Trung Quốc tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của tỉnh Chiết Giang rộng hơn 260.000 km². Vịnh Hàng Châu là vịnh biển lớn nhất tỉnh Chiết Giang. Đường bờ biển đại lục của Chiết Giang bắt đầu từ Bình Hồ ở phía bắc đến huyện Thương Nam ở phía nam. Tổng chiều dài các đoạn bờ biển có thể xây dựng chỗ đậu cho tàu trên 10.000 tấn là 253 km, chiếm 1/3 của cả nước, còn các đoạn bờ biển có thể xây dựng chỗ đậu cho tàu trên 100.000 tấn là 105,8 km.. Diện tích bãi triều ven biển 2.886 km². Chiết Giang là tỉnh có nhiều đảo, đứng hàng đầu trong cả nước. Theo kết quả của cuộc điều tra tổng hợp tài nguyên hải đảo Trung Quốc tiến hành từ 1988-1995, tỉnh Chiết Giang có 3.061 hòn đảo với tổng diện tích đất liền là 500 km², trong đó có 2.886 đảo không có cư dân, tức chiếm khoảng hơn 40% số đảo của cả nước.Đảo Chu Sơn với diện tích 503 km² thuộc quần đảo Chu Sơn là hòn đảo lớn nhất tỉnh Chiết Giang, là hòn đảo lớn thứ 4 tại Đại Trung Hoa (sau Đài Loan, Hải Nam và đảo Sùng Minh thuộc Thượng Hải). Đảo cực bắc của Chiết Giang là đảo Hoa Điểu (花鸟山), đảo cực nam là đảo Thất Tinh (七星岛). Ngày 3 tháng 12 năm 12007, tỉnh Chiết Giang đã tổ chức hội nghị liên tịch về quản lý các hải đảo không có cư dân lần thứ nhất, đẩy nhanh việc quản lý hiệu quả với các hòn đảo này. Trong một thời gian dài, đã liên tục diễn ra các hoạt động khai hoang lấn biển tại Chiết Giang, thậm chí còn nối liền các vùng đất. Trong thế kỷ 21, đã có một số công trình cải tạo đất được thi công, chẳng hạn như xây dựng cảng Dương Sơn, đường cao tốc Ninh Ba-Chu Sơn. === Khí hậu === Chiết Giang nằm ở vùng chuyển tiếp khí hậu giữa đại lục Âu-Á và vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, có khí hậu cận nhiệt đới gió mùa điển hình, bốn mùa rõ rệt. Mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 5, mưa nhiều và khí hậu cũng biến đổi lớn; mùa hè từ tháng 6 đến tháng 9, mưa kéo dài và nhiệt độ rất nóng, ẩm; mùa thu có khí hậu ấm áp và khô; mùa đông không kéo dài song nhiệt độ lạnh (nam bộ Ôn Châu có mùa đông ấm). Nhiệt độ trung bình năm là 15 °C-18 °C, nhiệt độ trung bình tháng 1 (tháng lạnh nhất) là 2 °C-8 °C và có thể xuống thấp đến -2,2 °C đến -17,4 °C, nhiệt độ trung bình tháng 7 (tháng nóng nhất) là 27 °C-30 °C và có thể lên cao đến 33 °C-43 °C. Do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Á, nên hướng gió và lượng mưa có sự thay đổi đáng kể giữa mùa hè và mùa đông. Lượng giáng thủy hàng năm là 980–2000 mm, số giờ nắng trung bình năm là 1.710-2.100 giờ. Vào đầu mùa hè có lượng mưa lớn, thường gọi là "Mai vũ quý tiết" (梅雨季节, mùa mưa gió mùa Đông Á), song tỉnh thường chịu ảnh hưởng của các cơn bão nhiệt đới từ Thái Bình Dương vào cuối hè. Vào mùa hè, gió đông nam chiếm ưu thế, các vùng núi phía đông núi Quát Thương (括苍山), núi Nhạn Đãng (雁荡山) và núi Tứ Minh (四明山) có lượng mưa lớn, vùng hải đảo và khu vực trung bộ Chiết Giang có lượng mưa thấp hơn tương đối, nhiệt độ ở vùng bồn địa Kim-Cù tại trung bộ của tỉnh rất cao, các vùng xung quanh thấp hơn rõ rệt. Vào mùa đông, hướng gió lại chuyển thành hướng tây bắc, nhiệt độ cao dần từ bắc xuống nam. Do nằm trên vùng chuyển tiếp giữa vùng có vĩ độ thấp và trung bình, nằm ở ven biển, kết hợp với việc có địa hình nhấp nhô lớn, lại phải chịu ảnh hưởng kép của gió mùa nhiệt đới và khối khí lạnh lục địa, Chiết Giang là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của các cơn bão tại Trung Quốc. Tuy nhiên, tấn suất các thảm họa tự nhiên diễn ra thì nhỏ hơn. === Khoáng sản === Chiết Giang là một tỉnh nhỏ về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu là khoáng sản phi kim. Chiết Giang đứng đầu cả nước về trữ lượng than antraxit, anulit, pirofilit, đá tro núi lửa dùng để làm xi măng; đứng thứ hai cả nước về trữ lượng fluorit. Anulit tại huyện Thương Nam có trữ lượng rất phong phú, trữ lượng Kali alum (phèn chua) tại khu khai khoáng Phàn Sơn ở phía nam Thương Nam có trữ lượng chiếm tới 80% của cả nước, chiếm 60% trữ lượng toàn thế giới, được gọi là "thủ đô phèn thế giới". Chiết Giang có trữ lượng đá vôi rất phong phú, đá vôi là nguyên liệu chủ yếu để sản xuất xi măng, sản lượng xi măng của Chiết Giang chiếm 10% sản lượng toàn quốc. Tấn Văn tại Chiết Giang là khu vực sản xuất zeolit trọng yếu của Trung Quốc. Chiết Giang thiếu các tài nguyên than đá và sắt; than đá chủ yếu được khai thác ở mỏ than Trường Quảng ở tây bắc của huyện Trường Hưng, tức nơi giáp với tỉnh An Huy; ở huyện Thiệu Hưng có mỏ sắt Li Chử (漓渚), song sản lượng không lớn. Chiết Giang là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản hải dương, thềm lục địa tại biển Hoa Đông có triển vọng phát triển lĩnh vực khai thác dầu mỏ và khí thiên nhiên; hiện đã xây dựng các dàn khoan tại mỏ dầu khí Xuân Hiểu (春晓油气田), Bình Hồ (平湖油气田), Thiên Ngoại Thiên (天外天油气田), tuy nhiên việc phát triển ngành dầu khí lại chịu ảnh hưởng từ việc tranh chấp vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Nhật Bản. == Sinh vật == Chiết Giang có nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có 123 loài động vật được đưa vào damh mục động vật hoang dã cần được bảo hộ trọng điểm quốc gia. Cá sấu Trung Quốc (Alligator sinensis) là loài động vật bảo hộ cấp 1 quốc gia, khu bảo hộ tự nhiên cá sấu Trung Quốc tại trấn Tứ An của huyện Trường Hưng là khu bảo hộ lớn thứ hai của loài này tại Trung Quốc. Hồ Hạ Chử (下渚湖) của huyện Đức Thanh là nơi sinh sống của loài Cò quăm có mào (Nipponia nippon). Chiết Giang cũng có tài nguyên thực vật phong phú, còn được gọi là "kho báu thực vật Đông Nam". Tỷ lệ che phủ rừng đạt 60,5%, đứng thứ hai sau tỉnh Phúc Kiến (63,1%). Tại Chiết Giang, có 51 loài quý hiếm và nguy cấp được liệt vào danh sách bảo hộ trọng điểm quốc gia, chiếm 12,2% trong tổng số 419 loài trên cả nước.Sồi tai ngỗng Phổ Đà (Carpinus putoensis) là loài có nguy cơ tuyệt chủng được bảo hộ cấp 1 quốc gia, hiện chỉ còn các cây sồi tai ngỗng Phổ Đà tự nhiên tại Phổ Đà sơn (普陀山). == Nhân khẩu == Theo tổng điều tra nhân khẩu toàn quốc vào ngày 31 tháng 12 năm 2012, tỉnh Chiết Giang có khoảng 54,77 triệu nhân khẩu thường trú, chiếm 4,37% và đứng thứ 10 toàn quốc. Năm 2007, số nhân khẩu của Chiết Giang vượt qua con số 50 triệu. Theo số liệu từ cuộc tổng điều tra nhân khẩu năm 2010, tỉnh Chiết Giang có 54,43 triệu người. Trên phương diện tăng trưởng tự nhiên, theo điều tra năm 2000, tỷ lệ sinh và tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên của Chiết Giang lần lượt là 10,30 ‰ và 4,17 ‰, chỉ cao hơn Thượng Hải và Bắc Kinh và thấp hơn so với các đơn vị hành chính cấp tỉnh khác. Việc tỷ lệ sinh thấp từng khiến Chiết Giang ra khỏi danh sách 10 đơn vị hành chính cấp tỉnh đông dân nhất trong cuộc điều tra năm 1990, khi đó nó đã bị Quảng Tây vượt lên, song Chiết Giang đã lấy lại vị thế trong cuộc tổng điều tra năm 2000 do tiêu chuẩn thống kê chuyển thành nhân khẩu thường trú thay vì tỷ lệ tăng tự nhiên. Tỷ lệ sinh và tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên của Chiết Giang lần lượt là 10,12 ‰ và 4,60 ‰ năm 2012. Trên phương diện tăng trưởng cơ giới, nhân khẩu tại các khu vực miền núi phía tây và tây nam của tỉnh suy giảm đáng kể, các khu vực ven biển và các đô thị lớn thu hút người nhập cư trong và ngoài tỉnh. Hàng Châu, Ninh Ba, Ôn Châu, Thiệu Hưng, Thai Châu là các khu vực điển hình của hiện tượng nhập cư. Cù Châu và Lệ Thủy là điển hình cho hiện tượng xuất cư, tổng nhân khẩu tiếp tục suy giảm. Chu Sơn có tổng dân số gần như giữ nguyên. Trong cuộc điều tra năm 2000, số người Hán tại Chiết Giang là 45.535.266 người, tức chiếm 99,1% tổng nhân khẩu toàn tỉnh. Các dân tộc thiểu số có tổng số 399.700 người. Người Xa là dân tộc thiểu số bản địa tại Chiết Giang, là nhóm dân tộc đông thứ hai sau người Hán, với 170.993, chiếm 0,4% tổng số nhân khẩu và 43% tổng nhân khẩu dân tộc thiểu số toàn tỉnh. Các huyện thị có trên 10.000 người Xa là khu Liên Đô (19.455 người), huyện tự trị dân tộc Xa Cảnh Ninh (16.144), Thương Nam (16.133), Thái Thuận (13.862) và Toại Xương (13658). Về tỷ lệ, người Xa chiếm 10,55 tổng nhân khẩu của huyện tự trị dân tộc Xa Cảnh Ninh và chiếm 8,6% tổng nhân khẩu của huyện Vân Hòa. Chiết Giang có một huyện tự trị dân tộc và 18 hương trấn dân tộc, đều của người Xa. Huyện tự trị dân tộc Xa là huyện dân tộc tự trị duy nhất của người Xa trên toàn quốc và là huyện dân tộc tự trị duy nhất tại Hoa Đông. Cũng theo số liệu năm 2010, có 19.609 người Hồi thường trú tại Chiết Giang, đa số sinh sống tại huyện Thương Nam và Thụy An. Các dân tộc thiểu số còn lại chủ yếu di cư đến Chiết Giang trong thời gian gần đây do các nguyên nhân xã hội như việc làm hay hôn nhân và không có khu vực cư trú riêng. Chiết Giang là tỉnh có ít thành phố lớn song lại có nhiều thành phố vừa và nhỏ, chủ yếu phân bố tuyến tính hoặc đơn lẻ. Cuối năm 2011, tỉnh Chiết Giang có 1 siêu đại thành thị (có trên 2 triệu cư dân phi nông nghiệp có hộ tịch), 1 đặc đại thành thị (có từ 1-2 triệu cư dân phi nông nghiệp có hộ tịch), 1 đại thành thị (có từ 0,5-1 triệu cư dân phi nông nghiệp có hộ tịch). Trong số các địa cấp thị, ngoại trừ Lệ Thủy là tiểu thành thị (có chưa đến 200.000 cư dân phi nông nghiệp có hộ tịch), tất cả đều là thành phố cấp trung (có từ 0,2-0,5 triệu cư dân phi nông nghiệp có hộ tịch). Hàng Châu, Ninh Ba và Ôn Châu là tam đại thành thị của Chiết Giang. Chu Sơn là một trong hai địa cấp thị hải đảo duy nhất của Trung Quốc (cùng với Tam Sa). === Ngôn ngữ === Ngôn ngữ bản địa của đại bộ phận cư dân Chiết Giang là tiếng Ngô. Số người sử dụng tiếng Ngô tại Chiết Giang ước tính vào khoảng 41,81 triệu người. Tại Chiết Giang, tiếng Ngô có nhiều phương ngữ, đa phần thuộc đại phương ngữ Thái Hồ như phương ngữ Tô-Gia-Hồ, phương ngữ Hàng Châu, phương ngữ Lâm-Thiệu, phương ngữ Dũng-Giang, các phương ngữ tiếng Ngô phương Nam có phương ngữ Thai Châu, phương ngữ Kim-Cù, phương ngữ Thượng Lệ, phương ngữ Âu Giang và phương ngữ Tuyên Châu. Giữa các phương ngữ của tiếng Ngô có sự khác biệt đáng kể. Tiếng Ngô có phụ âm, nguyên âm, thanh điệu, ngữ pháp, từ vựng hoàn toàn khác so với các phương ngôn phương Bắc Trung Quốc. Ngoài ra, trên địa bàn Chiết Giang cũng có những vùng không nói tiếng Ngô, trong đó tiếng Mân Nam là phương ngôn lớn thứ hai tại tỉnh với khoảng 1-2 triệu người nói, tập trung ở phía nam. Tiếng Huy là phương ngôn lớn thứ ba tại Chiết Giang, chủ yếu được nói tại Thuần An và Kiến Đức. Cư dân tại phía nam huyện Thái Thuận sử dụng phương ngôn Man Giảng của tiếng Mân Đông. Có 200.000 cư dân tại vùng đồng bằng ven biển phía đông huyện Thương Nam nói phương ngôn Man Giảng. Tại Chiết Giang cũng có một bộ phận người Khách Gia. Quan thoại chủ yếu được các di dân và hậu duệ của họ sử dụng, tiếng Phổ Thông là ngôn ngữ giáo dục. == Các đơn vị hành chính == Xem thêm: Danh sách đơn vị hành chính Chiết Giang Chiết Giang được chia làm 11 đơn vị hành chính, toàn bộ là thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị, 地级市): Các đơn vị hành chính cấp địa khu trên đây được chia thành 90 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 32 quận (thị hạt khu), 22 thị xã (huyện cấp thị), 35 huyện, và 1 huyện tự trị. Các đơn vị hành chính cấp huyện này lại được nhỏ thành 1570 đơn vị hành chính cấp hương, gồm 761 thị trấn (trấn), 505 hương, 14 hương dân tộc, và 290 phường (nhai đạo). == Kinh tế == Chiết Giang thuộc vùng Giang Nam, là một bộ phận của tam giác châu thổ Trường Giang. Cây lương thực chủ yếu là lúa gạo, có truyền thống phong phú về trà, đồ sứ, từ thời cổ đã được gọi là "ngư mễ chi hương" (vùng đất sung túc) và "ti trì chi phủ" (phủ tơ lụa), luôn là vùng giàu có và đông dân, có câu "Tô Hồ thục, thiên hạ túc" (Tô Hồ được mùa, thiên hạ no đủ). Sau khi Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa vào năm 1978, kinh tế Chiết Giang phát triển nhanh chóng, kinh tế dân doanh chiếm tỷ trọng cao hàng đầu trong số các tỉnh thị. Trong số các tỉnh tại Trung Quốc đại lục, Chiết Giang là tỉnh phát triển kinh tế cân bằng nhất, và cũng là một trong các tỉnh phát triển nhanh nhất, tổng GDP toàn tỉnh vào năm 1978 đứng thứ 12 cả nước, song đến năm 1994 đã lên vị trí thứ 4. Năm 1991, tổng GDP của tỉnh vượt mức 100 tỉ NDT, đến năm 2004 vượt 1000 tỉ NDT, đến năm 2008 vượt mức 2000 tỉ NDT, đến năm 2011 vượt mức 3000 tỉ NDT. Trong 34 năm từ 1979-2012, theo giá trị tuyệt đối, tổng GDP đã tăng 279,71 lần. Theo giá cả so sánh (mức giá bình quân toàn quốc làm chuẩn), tỉ lệ tăng GDP hàng năm là 12,7%, tốc độ tăng trưởng đứng thứ hai cả nước sau Quảng Đông. Từ năm 1978-2012, trừ ba năm 1983, 1989, 1990, 2009, 2011 và 2012, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đều trên 10%, trong đó, 5 năm 1978, 1984, 1985, 1993 và 1994 có tốc độ tăng trưởng GDP cao trên 20%, cao nhất là năm 1993 với tỷ lệ 22%. Năm 1985, GDP đầu người của Chiết Giang vượt mức 1.000 NDT, đến năm 1997 thì vượt mức 10.000 NDT, đến năm 2006 vượt 30.000 NDT và đến năm 2012 thì vượt mức 60.000 NDT. Năm 1995, chỉ tiêu kinh tế trên người của Chiết Giang đã vượt qua Quảng Đông, chỉ đứng sau ba trực hạt thị là Thượng Hải, Bắc Kinh và Thiên Tân, tức trở thành tỉnh giàu có nhất Trung Quốc. Đến năm 2012, vị trí tỉnh giàu nhất đã rơi vào tay Giang Tô, Chiết Giang đứng thứ 6 trong số các tỉnh trên toàn quốc. Về tổng thể, thực lực kinh tế của Chiết Giang không phải là mạnh nhất, song có mức bình quân cao nhất trong số các tỉnh, các khu vực trong tỉnh phát triển cân bằng, mức độ chênh lệch nhỏ. Năm 2007, tổng GDP toàn tỉnh (con số cuối cùng) đạt 18,86 tỉ NDT, tăng 14,5% so với năm trước đó, chiếm tỷ lệ 6,28% so với toàn quốc. Trong đó khu vực một đạt 1,025 tỉ NDT, chiếm 5,5%; khu vực hai đạt 10,09 tỉ NDT, chiếm 54,15%; khu vực ba đạt 7,5 tỉ NDT, chiếm 40,35%, GDP bình quân đầu người vào năm 2007 là 37.128 NDT. Theo thống kê năm 2011, tổng GDP của Chiết Giang đạt 32,32 tỉ NDT, tăng trưởng 9% so với năm trước. Năm 2011, Viện Khoa học Trung Quốc đã công bố về chất lượng GDP của các khu vực tại Trung Quốc, theo đó Chiết Giang đứng ở vị trí số ba, chỉ sau Bắc Kinh và Thượng Hải, xếp trên Thiên Tân. Theo số liệu của chính phủ Chiết Giang công bố vào tháng 2 năm 2013, thu nhập ròng bình quân đầu người Chiết Giang là 34.550 NDT. Kinh tế Chiết Giang có một đặt điểm là kinh tế dân doanh lớn mạnh. Thành tựu và kinh nghiệm phát triển kinh tế của Chiết Giang được gọi là "mô thức Chiết Giang", "kinh nghiệm Chiết Giang" hoặc "hiện tượng Chiết Giang", nhận được sự quan tâm rộng rãi. Chiết Giang nhờ có nhân dân cần cù, dũng cảm, đã phát triển từ một tỉnh nhỏ trở thành một tỉnh lớn về kinh tế. Thương nhân Chiết Giang nổi tiếng khắp nơi. Đồng thời, khu vực kinh tế quốc doanh tại Chiết Giang cũng có hiệu quả kinh tế đáng kể. Sau khi Trung Quốc từ bỏ nền kinh tế kế hoạch, Chiết Giang là tỉnh đi đầu cả nước trong việc giải phóng kinh tế cá thể và kinh tế tư doanh. Ngoài các hoạt động tại tỉnh nhà, thương nhân Chiết Giang còn đầu tư kinh tế sang các tỉnh khác. Tư bản Ôn Châu là điển hình cho việc một lượng tư bản lớn của người dân Chiết Giang đổ vào các lĩnh vực khai mỏ than đá vốn do nhà nước chiếm độc quyền, đóng góp quan trọng trong việc giải quyết được vấn đề cung ứng năng lượng. Các thương nhân Chiết Giang đã thúc đẩy quá trình hợp lý hóa và tối ưu hóa trong việc phân bổ các nguồn tài nguyên, mở rộng chuỗi công nghiệp Chiết Giang. Thặng dư mậu dịch ngoại thương của Chiết Giang đứng đầu cả nước, năm 2006, Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản là ba đối tác mậu dịch hàng đầu của Chiết Giang. Trong đó, liên minh châu Âu là đối tác và thị trường xuất khẩu lớn nhất, Nhật Bản là nguồn nhập khẩu lớn nhất. Năm 2007, Chiết Giang là tỉnh có số lượng doanh nghiệp nước ngoài nhiều nhất tại Trung Quốc. == Giao thông == === Đường sắt === Hiện nay, trên địa bàn Chiết Giang có các tuyến đường sắt lớn như đường sắt Hỗ-Hàng, đường sắt Chiết-Cám, đường sắt Tiêu-Dũng, đường sắt Kim-Ôn, đường sắt Tuyên-Hàng, đường sắt Kim-Thiên và đường sắt Dũng-Thai-Ôn. Đến cuối năm 2010, chiều dài đoạn đường sắt chính hoạt động là 1.775 km, tức mỗi 1 triệu người chỉ có 32,6 km đường sắt, thấp hơn một nửa mức bình quân của toàn Trung Quốc. Việc thiếu đường sắt đã khiến tỉnh Chiết Giang phải tích cực đề ra các kế hoạch xây dựng những tuyến đường sắt mới, như đường sắt vận chuyển hành khách Ninh-Hàng, đoạn Hàng Châu-Ninh Ba của đường sắt vận chuyển hành khách Hỗ-Hàng-Dũng. Dự tính tất cả các địa cấp thị tại Chiết Giang sẽ đều thông đường sắt, các đoạn Ninh Ba-Thiệu Hưng-Hàng Châu và Kim Hoa Tây-Hàng Châu-Hia Hưng sẽ là các tuyến đường sắt cao tốc với tốc độ trên 250 km/h. Tháng 9 năm 2006, Công ty Tập đoàn Đầu tư Đường sắt tỉnh Chiết Giang đã được thành lập, là chủ thể chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng đường sắt trong tỉnh. Chiết Giang là một trong số ít các tỉnh tại Trung Quốc có đường sắt tư nhân. Năm 2005, sau khi phân cục đường sắt Hàng Châu bị bãi bỏ, đường sắt Chiết Giang thuộc phạm vi phụ trách của cục đường sắt Thượng Hải. Tuy nhiên tuyến đường sắt Kim-Ôn nối giữa Kim Hoa, Lệ Thủy và Ôn Châu do công ty Hữu hạn Phát triển Đường sắt Kim-Ôn vận hành. Các ga đường sắt hành khách lớn tại Chiết Giang là ga Hàng Châu, ga Ôn Châu, ga Ôn Châu Nam, ga Ninh Ba, ga Thai Châu, ga Hàng Châu Đông, ga Kim Hoa Tây, ga Nghĩa Ô. Các ga đường sắt vận chuyển hàng hóa lớn nhất là ga Cấn Sơn Môn, ga Kim Hoa Đông, ga Ninh Ba Bắc, ga Kiều Ti, ga Ôn Châu Tây, ga Thai Châu Nam. Ga Hàng Châu là trung tâm của mạng lưới đường sắt Chiết Giang. Ga Kim Hoa Tây là trung tâm giao thông đường sắt của khu vực trung nam bộ Chiết Giang. Sau khi đường sắt Dũng-Thai-Ôn và đường sắt Ôn-Phúc thông tuyến, Ôn Châu sẽ trở thành trung tâm giao thông đường sắt tại nam bộ Chiết Giang. === Đường bộ === Theo thống kê, đến cuối năm 2011, tổng chiều dài đường bộ toàn tỉnh Chiết Giang là 101.937 km, mật độ đường bộ là 97,9 km/100 km², trong đó tổng chiều dài các tuyến đường cao tốc là 3.500 km. Sau khi hoàn thành cầu vượt biển Chu Sơn, quần đảo Chu Sơn đã được hợp nhất vào trong mạng lưới đường cao tốc của tỉnh. Các tuyến đường cao tốc chủ yếu trên địa bàn Chiết Giang là đường cao tốc Hỗ-Hàng, đường cao tốc Hàng-Ninh, đường cao tốc Hàng-Dũng, đường cao tốc Dũng-Chu, đường cao tốc Hàng-Huy, đường cao tốc Hàng-Thiên, đường cao tốc Hàng-Kim-Cù, đường cao tốc Hỗ-Tô-Chiết-Hoàn, đường cao tốc Dũng-Thai-Ôn, đường cao tốc Thượng-Tam, đường cao tốc Dũng-Kim, đường cao tốc Kim-Lệ-Ôn, đường cao tốc Chư-Vĩnh, đường cao tốc Hàng-Phố, đường cao tốc Sạ-Gia-Tô. Chiết Giang có 6 tuyến quốc lộ đi qua là 104, 205, 318, 320, 329, 330. Có 68 tuyển tỉnh lộ và 11 tuyến tỉnh lộ cao tốc. Cầu vượt biển lớn nhất thế giới, cầu vịnh Hàng Châu nằm trên địa bàn Chiết Giang, kết nối Gia Hưng ở phía bắc vịnh với Ninh Ba ở phía nam vịnh. Việc xây dựng "đại kiều" này được xem là một bước ngoặt của Chiết Giang. Hệ thống các cầu vượt biển từ đất liền ra quần đảo Chu Sơn cũng là công trình tầm cỡ thế giới, trong đó, cầu Tây Hậu Môn là cầu treo có nhịp cầu dài thứ hai trên thế giới. === Đường thủy === Chiết Giang là tỉnh lớn về vận chuyển đường thủy tại Trung Quốc, loại hình giao thông này có địa vị trọng yếu trong hệ thống giao thông chung. Năm 2003, hệ thồng giao thông đường thủy tại Chiết Giang đã vận chuyển được 296 triệu tấn hàng hóa, xếp thứ nhất toàn quốc. Về vận tải biển, cảng Ninh Ba-Chu Sơn là thương cảng lớn nhất trong tỉnh. Nửa đầu năm 2008, cảng Ninh Ba-Chu Sơn chỉ xếp sau cảng Thượng Hải trên toàn quốc về lượng hàng hóa vận chuyển, xếp thứ 4 toàn quốc về lượng container vận chuyển (sau cảng Thượng Hải, cảng Thâm Quyến và Cảng Quảng Châu). Cảng Ôn Châu cũng là một hải cảng lớn trên toàn quốc. Các cảng quan trọng khác là cảng Hải Môn, cảng Ngao Giang, cảng Thụy An, cảng Sạ Phố (tức cảng Gia Hưng). Có các chuyến tàu đều đặn kết nối đất liền Chiết Giang với quần đảo Chu Sơn, đảo Động Đầu và các đảo có người cư trú khác. Giữa đảo Chu Sơn và Ninh Ba có hàng chục chuyến tàu thủy thông hành thủy mỗi ngày. Về vận tải đường sông, lấy Đại Vận Hà kết nối Hàng Châu với Bắc Kinh làm chủ đạo, giao thông đường sông tại vùng đồng bằng Hàng-Gia-Hồ phát triển mạnh. Gia Hưng, Hồ Châu, Đức Thanh, Tân Thị, Gia Thiện đều là những cảng sông quan trọng. Năm 2003, tổng chiều dài các tuyến đường sông có thể thông hành tại Chiết Giang là 10.539 km, một số lượng lớn than đá, nhiên liệu và vật liệu đá xây dựng được vận chuyển gần như hoàn toàn bằng các phương tiện giao thông đường thủy. Bắt đầu từ năm 2005, tỉnh Chiết Giang đã tiến hành cải cách, theo đó khuyến khích vốn tư nhân và nước ngoài trong việc xây dựng và cải tạo các tuyến vận tải đường sông. Sau đó, vốn nước ngoài đã bắt đầu đổ vào hệ thống vận tải đường sông, như ba cảng container Hàng Châu, Gia Hưng, An Cát. Năm 2007, Hàng Châu đã mở hệ thống xe buýt đường thủy đầu tiên tại Trung Quốc. === Hàng không === Hiện nay, Chiết Giang có 7 sân bay dân dụng, về cơ bản có các đường bay đến toàn quốc và các tuyến bay quốc tế đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Đông, Đông Nam Á, Hoa Kỳ và châu Âu. Trong đó, có ba sân bay quốc tế là Sân bay quốc tế Tiêu Sơn Hàng Châu (một trong 10 sân bay lớn nhất Trung Quốc), Sân bay quốc tế Vĩnh Cường Ôn Châu, Sân bay quốc tế Lịch Xã Ninh Ba. Bốn sân bay quốc nội là sân bay Lộ Kiều Thai Châu, sân bay Nghĩa Ô, sân bay Phổ Đà Sơn Chu Sơn, sân bay Cù Châu. Từ tháng 4 năm 2006, Công ty Hàng không Chuyên nghiệp Phi Long Trung Quốc (China Flying Dragon Aviation) đã mở đường bay liên đảo giữa các đảo của quần đảo Chu Sơn bằng các máy bay trực thăng "Z-9", là lần đầu tiên máy bay trực thăng hoạt động trên khoảng cách ngắn tại Trung Quốc. == Giáo dục == == Địa phương kết nghĩa == Sau cải cách mở cửa, chính quyền Chiết Giang đã bắt đầu tiến hành giao lưu quốc tế, nhiều địa phương cấp một của các quốc gia đã thiết lập quan hệ hữu nghị với Chiết Giang == Tham khảo == Hồ sơ kinh tế Chiết Giang tại tại HKTDC == Liên kết ngoài == Chính quyền Nhân dân tỉnh Chiết Giang Bản đồ lớn Chiết Giang
cung điện buckingham.txt
Điện Buckingham là một dinh thự của Vua (hoặc Nữ hoàng) Vương quốc Anh ở London, nơi ở chính thức và cũng là nơi làm việc chính của Hoàng gia Anh. Cung điện này được xây dựng từ năm 1703 và được ba công viên bao bọc, trong đó có công viên nổi tiếng Hyde Park. Nó được xây dựng để phục vụ cho các sự kiện đặc biệt của đất nước và cho hoàng gia. Buckingham Palace là một biểu tượng và nhà của chế độ quân chủ Anh, một phòng trưng bày nghệ thuật và thu hút hấp đẫn được nhiều khách du lịch. Nó là một địa điểm quy tụ của người Anh trong những thời điểm ăn mừng của đất nước cũng như khi đất nước rơi vào khủng hoảng. Nữ hoàng Anh và các thành viên khác trong hoàng tộc sẽ tiếp đãi khách, và tổ chức những nghi lễ long trọng tại đây. == Nhà của quốc vương == Điện được xây dựng bởi John Sheffield, công tước Buckingham và Normandy thứ 1, năm 1703 là một ngôi nhà phố (nơi thường trú ở London). Nó đã được mua bởi vua George III năm 1761, và trở thành nhà chính thức của gia đình hoàng gia Anh ở London vào năm 1837. Nó thuộc sở hữu của Nhà nước. === Nội thất === Điện Buckingham có diện tích sàn 77.000 mét vuông (828.821 dặm vuông). Một tranh cãi tuyên bố là cung điện làm việc lớn nhất thế giới, bất chấp diện tích sàn nhỏ hơn của nó. Cung điện có tất cả 19 phòng khách, 52 phòng ngủ dành cho khách và các thành viên trong hoàng gia, 78 phòng tắm, 188 phòng dành cho nhân viên của cung điện, 92 phòng làm việc. === Vườn tại Điện Buckingham === Vườn Buckingham là khu vườn tư nhân lớn nhất tại London. Vào mùa xuân, cả cung điện tràn ngập hoa thủy tiên vàng, loài hoa đặc trưng của đồng quê nước Anh. Từ năm 2001, phần hoa viên của cung điện được mở cửa để đón khách tham quan. Thiết kế của hoa viên khá đặc biệt có thể đưa mọi người ngược thời gian trở về những năm 1852, khi cung điện bắt đầu là nơi ở của Hoàng gia. Hồ trung tâm của cung điện có diện tích rộng hơn 3 mẫu Anh. Vào thời Vua George VI và Nữ hoàng Elizabeth, người ta đã thay đổi rừng cây kiểu Victoria thành vườn hoa. Đấy còn là nhà của hơn 30 ngàn loài chim. Một con đường dài gần nửa cây số đến thẳng hồ trung tâm. Phía Nam của hồ là thế giới của những loài động vật hoang dã. Nơi đây còn được ví là trái tim của thành phố Luân Đôn, vì nó đã tạo nên quang cảnh tuyệt đẹp cho thành phố. Khi đi từ cửa cung điện đến hồ trung tâm, du khách có thể ngắm nhìn rất nhiều loại hoa dại, có tất cả 350 loại và cuộc sống của hầu hết các loài động vật, nhất là các loài chim. Hồ trung tâm là nơi yên tĩnh và đẹp nhất điện Buckingham. === Tham quan công cộng === Vào năm 2004, kỷ niệm 50 năm lên ngôi của Nữ hoàng Elizabeth, người ta đã tổ chức chiêu đãi hơn 500 trẻ em trong tổ chức từ thiện của Nữ hoàng ở hoa viên cung điện. Chăm sóc trẻ em nghèo là một trong những việc làm từ thiện mà Nữ hoàng quan tâm. Người ta còn tổ chức cho các em đi dạo quanh hoa viên trong cung điện. Xung quanh, phía ngoài cung điện có nhiều lính canh gác, họ không bao giờ tỏ một thái độ biểu cảm nào, dù chỉ một khóe cười. Các phòng nhà nước, được sử dụng cho công chức nhà nước và giải trí, được mở cửa cho công chúng mỗi năm cho hầu hết của tháng Tám và tháng Chín, như là một phần của mùa hè mở cửa. Các cung điện còn sở hữu các văn phòng của Hoàng gia và là nơi làm việc của 450 người. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Buckingham Palace, official site Account of Buckingham Palace, with prints of Arlington House and Buckingham House, from Edward Walford, Old and New London, Vol 4, Chap. VI (1878) Account of the acquisition of the Manor of Ebury, from F.H.W. Sheppard (ed.), Survey of London, vol. 39, "The Grosvenor Estate in Mayfair", part 1 (1977)
năm cam.txt
Năm Cam (tên khai sinh: Trương Văn Cam; 22 tháng 4 năm 1947 - 3 tháng 6 năm 2004) là một trùm tội phạm có tổ chức khét tiếng ở Việt Nam, đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh. Năm Cam còn là bị cáo chính trong Vụ án Năm Cam và đồng bọn (chuyên án Z5.01) nổi tiếng Việt Nam. Năm Cam và băng nhóm của mình trong quá trình bảo kê các nhà hàng karaoke và các tụ điểm đánh bạc ở thành phố Hồ Chí Minh đã phạm vào nhiều tội hình sự. Tháng 10 năm 2003, Năm Cam bị tòa án Việt Nam tuyên có tội, đến ngày 3 tháng 6 năm 2004 thì bị thi hành án tử hình. Vụ xét xử Năm Cam và đồng bọn đã gây sự chú ý của dư luận Việt Nam và trên thế giới. Số lượng tội phạm ra hầu tòa là 156, ở mức kỷ lục. Phiên xử sơ thẩm kéo dài từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2003 với bản án dài hàng trăm trang. Việc phá được Vụ án Năm Cam được báo giới và chính quyền Việt Nam công nhận là một chiến công lớn trong phòng chống tội phạm. Bên cạnh đó vụ án cũng được coi là mang ý nghĩa chống tham nhũng. == Hoạt động tội phạm == Năm Cam tên thật là Trương Văn Cam, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1947 tại Sài Gòn, quê quán ở tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Năm Cam bắt đầu hoạt động trong giới giang hồ khi còn rất trẻ. Ban đầu ông ta làm chân gác sòng bạc cho người anh rể Nguyễn Văn Sy (Bảy Sy) ở khu vực Cầu Muối, quận Nhì, Sài Gòn, thuộc địa bàn bảo kê trước đây của Lê Văn Đại (Đại Cathay). Năm Cam hoạt động cờ bạc chuyên nghiệp cùng với Thành "đô la", Nguyễn Văn Nhã (Sáu Nhã), khi có kinh nghiệm hơn thì được giữ vai trò phát hỏa, cắm xường trong sòng bạc của Bảy Sy. Tháng 12 năm 1962, để bảo vệ sòng bạc tại khu Da heo, hẻm 100 đường Nguyễn Công Trứ, Bảy Sy dùng dao đâm chết Nguyễn Văn Lót (Trần Ánh Tuyết); Để cứu lấy sự nghiệp cờ bạc của anh rể, Năm Cam đã đứng ra nhận tội. Do lúc đó Năm Cam đang ở độ tuổi vị thành niên nên ngày 10 tháng 4 năm 1964, Tòa án Sài Gòn xử phạt 3 năm tù giam về tội "Cố ý đả thương nhân thương trí mạng". Trong tù, Năm Cam đã đánh chết một trung sĩ Việt Nam Cộng hòa.Tháng 1 năm 1965, Năm Cam được trả tự do. Sau khi bị Đại Cathay thôn tính các sòng bạc ở quận Nhất, sòng bạc của Bảy Sy cũng bị xóa sổ. Mất chỗ dựa của Bảy Sy, Năm Cam đến cầu cứu Phạm Văn Hiếu, tức Hiếu "Trọc", sinh năm 1949, là trùm giang hồ quận 4, con của một sĩ quan Việt Nam Cộng hòa có tên Phạm Văn Triệu vốn khét tiếng ở chốn Sài Gòn thời bấy giờ. Hiếu "Trọc" mang quân hàm thiếu úy, có lần đã từng chĩa súng hù bắn chết sĩ quan cấp trên trong một quán bar, chuyên tổ chức các vụ "ăn bay" nhận hàng tiếp vụ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Năm Cam xin nhập băng nhưng không được chấp nhận vì "bản lĩnh và tuổi đời giang hồ" của Năm Cam còn quá ít. Tháng 8 năm 1966, trong chiến dịch "bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn pháp luật" của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Đại Cathay và hầu hết giang hồ cộm cán ở Sài Gòn bị đày ra đảo Phú Quốc. Năm 1967, Bảy Sy được trả tự do ra trại, mua lại sòng bài cẩu của Năm Thông Lợi, gọi Năm Cam và Sáu Nhã (Nguyễn Văn Nhã) ra phụ giúp việc phát hỏa và cắm xường. Để giải quyết ân oán giang hồ, theo lệnh Bảy Sy, Năm Cam và Sáu Nhã lập kế hoạch giết Tài "chém" - một trùm giang hồ khét tiếng quận 1. Sự việc không thành, Năm Cam bị đàn em Tài "chém" truy đuổi. Sau, Hiếu "Trọc" xin tha cho mạng sống của Năm Cam và Hiếu "Trọc" đã xin cho Năm Cam nhập ngũ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong vị trí lính kiểng quân tiếp vận thuộc Đại đội 313, đóng quân tại đường Nguyễn Văn Thoại (nay là đường Lý Thường Kiệt, quận 11), sau là vận động viên bơi lội thuộc Cục Quân vận Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Năm 1971, Năm Cam bị Cảnh sát hàng Keo, Sài Gòn bắt giữ về tội đánh bạc và bị giam bảy ngày, sau đó bị giao cho Tòa án Quân sự Sài Gòn xử lý và trả về đơn vị cũ. Hoạt động của Năm Cam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, chưa có một vai trò gì đáng kể trong giới giang hồ và các tổ chức tội phạm ở Sài Gòn, chỉ "ăn theo" hoặc núp bóng người khác như vai trò gác sòng, cắm xường, phát hỏa cho sòng bạc, tuy nhiên đã manh nha thành một tội phạm nguy hiểm. Sau khi Việt Nam Cộng hòa cáo chung vào năm 1975, Năm Cam ra trình diện Ban Quân quản Quận 4 rồi bị đưa đi học tập cải tạo ba ngày tại phường Lý Nhơn (nay là phường 6, quận 4). Sau khi học tập cải tạo, Năm Cam làm nghề buôn bán đồng hồ cũ, radio cũ tại chợ trời Huỳnh Thúc Kháng, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Do không đủ uy tín trong giới cờ bạc, Năm Cam tìm tới Tám Phánh (một chủ sòng bạc lớn ở Sài Gòn trước năm 1975). Dựa vào đó, Năm Cam đã trình bày chiến thuật mới được Tám Phánh chấp thuận là tổ chức đánh bạc vào giờ nghỉ của cơ quan hành chính, thời gian kéo dài khoảng hai tiếng, chọn lựa khách quen, xong thì giải tán. == Các trọng tội hình sự == Không thay đổi tâm tính sau lần cải tạo, Năm Cam lại bắt đầu mưu sinh bằng những hoạt động phi pháp. Năm 1994, Năm Cam lại bị bắt nhưng được ân xá ngay năm sau đó nhờ Trần Mai Hạnh và Phạm Sĩ Chiến. Không chỉ hai người này, Năm Cam còn hối lộ cho các quan chức từ địa phương đến quan chức cấp cao hơn trong Chính phủ Việt Nam để những công việc phạm pháp mình trót lọt. === Vụ ám sát Dung Hà === Một trong các trọng tội dẫn đến án tử hình dành cho Năm Cam là việc chủ mưu giết Vũ Thị Hoàng Dung (tức Dung Hà) - một nữ trùm xã hội đen nổi tiếng gốc Hải Phòng sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Năm Cam từng đề nghị Dung Hà hợp tác mở rộng mạng lưới cờ bạc ra miền Bắc nhưng Dung Hà lại có ý định thành lập băng đảng riêng. Năm Cam đã lệnh cho đàn em là Nguyễn Tuấn Hải (Hải "bánh") giết Dung Hà, và Hải "bánh" chỉ đạo cho đàn em thân tín của mình bắn chết Dung Hà ngay trên phố vào đêm ngày 1 tháng 10 năm 2000. Năm Cam đã bị khởi tố do có liên quan đến cái chết của Dung Hà, nhưng đã hối lộ cho các quan chức. == Tội danh và hình phạt == Ngày 30 tháng 10 năm 2003, tại phiên xét xử sơ thẩm, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên án Trương Văn Cam về bảy tội danh, gồm "giết người, hối lộ, cố ý gây thương tích, đánh bạc, tổ chức đánh bạc, che giấu tội phạm, tổ chức đưa người khác trốn đi nước ngoài". Tổng hợp hình phạt chung đối với bảy tội danh là tử hình. Năm Cam có đơn kháng cáo, tuy nhiên tại phiên xét xử phúc thẩm, mức hình phạt tổng hợp đối với Năm Cam không thay đổi. Ngày 3 tháng 6 năm 2004, bản án được thi hành. Trước đó Năm Cam đã gửi đơn xin ân xá đến Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương nhưng đã bị bác đơn. Trước khi ra pháp trường Năm Cam đã viết lá thư cho con gái út hiện đang đi tu nói là rất xin lỗi và ân hận. Còn có bốn người bị xử tử chung với Năm Cam là Châu Phát Lai Em, Nguyễn Hữu Thịnh, Nguyễn Việt Hưng và Phạm Văn Minh. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Thi hành án tử hình Năm Cam đăng trên VnExpress Y án tử hình Trương Văn Cam, Tuổi trẻ Thắng "Tài Dậu" - Người cuối cùng trong vụ án bắn chết Dung Hà đầu thú, Tiền phong
cao nguyên thanh tạng.txt
Cao nguyên Thanh Tạng (gọi tắt trong tiếng Trung Quốc của cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng) hay cao nguyên Tây Tạng (25~40 độ vĩ bắc, 74-104 độ kinh đông) là một vùng đất rộng lớn và cao nhất Trung Á cũng như thế giới, với độ cao trung bình trên 4.500 mét so với mực nước biển, bao phủ phần lớn khu tự trị Tây Tạng và tỉnh Thanh Hải của Trung Quốc cũng như Ladakh tại Kashmir của Ấn Độ. Nó chiếm một khu vực với bề rộng và dài vào khoảng 1.000 và 2.500 cây số. Được mệnh danh là "mái nhà của thế giới", với diện tích khoảng 2,5 triệu km² (khoảng 4 lần lớn hơn diện tích bang Texas hay nước Pháp), nó có những rặng núi cao nhất Trái Đất, như dãy Himalaya với đỉnh Everest là đỉnh cao nhất Trái Đất. Cao nguyên này hình thành từ sự va chạm của các mảng kiến tạo Ấn-Úc và Á-Âu vào thời kỳ thuộc đại Tân sinh, cách đây khoảng 55 triệu năm, và quá trình này hiện vẫn còn tiếp diễn. Phay nghịch của cao nguyên này được xem là có ảnh hưởng đáng kể đến sự thay đổi khí hậu, cũng như đến gió mùa châu Á. Khu vực dãy núi Khả Khả Tây Lý là khu vực gần như không có dân cư, nằm ở phần tây bắc của cao nguyên này. == Địa lý == === Dãy núi === Côn Lôn Hy Mã Lạp Sơn === Sông === Một số con sông dài nhất thế giới bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng: Dương Tử (hay Trường Giang) Hoàng Hà Sông Ấn Sông Hằng Brahmaputra Mê Kông Ayeyarwady Các con sông này mang 25% trữ lượng đất thế giới. === Hồ === Các hồ: Hồ Thanh Hải Nam Co Dagze Co Hồ Yamzho Yumco Hồ Puma Yumco Hồ Paiku === Sông băng === == Xem thêm == Địa lý Tây Tạng Sa mạc Taklamakan Cao nguyên Vân Quý Lop Nur == Chú thích == == Liên kết ngoài == The End of Earth's Summer Leaf morphology and the timing of the rise of the Tibetan Plateau Chùm ảnh về cao nguyên Thanh Tạng
3 tháng 7.txt
Ngày 3 tháng 7 là ngày thứ 184 (185 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 181 ngày trong năm. == Sự kiện == 710 – Đường Trung Tông trúng độc và từ trần tại Thần Long điện, Vi hậu giữ kín sự việc và không phát tang. 987 – Hugh Capet lên ngôi vua nước Pháp, trở thành vị vua đầu tiên của triều đại Capet, triều đại đã cai trị Pháp liên tục cho đến khi bị lật đổ trong cuộc cách mạng Pháp năm 1792. 1608 – Thành phố Québec được nhà thám hiểm người Pháp Samuel de Champlain chính thức thành lập. 1866 – Chiến tranh Áo-Phổ: Quân đội Phổ giành thắng lợi quyết định trước quân đội Áo trong trận Königgrätz tại khu vực nay thuộc Séc. 1962 – Chiến tranh Algérie, hay còn được gọi là chiến tranh giành độc lập Algérie, kết thúc. 1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hồng quân Liên Xô giải phóng Minsk khỏi lực lượng Đức Quốc xã trong Chiến dịch Bagration. 2005 – Tây Ban Nha trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới. 2013 – Quân đội Ai Cập tiến hành đảo chính lật đổ Mohamed Morsi, tổng thống dân cử đầu tiên trong lịch sử quốc gia. == Sinh == == Mất == 896 - Đổng Xương, quân phiệt triều Đường, tức ngày Kỉ Hợi (19) tháng 5 năm Bính Thìn. 1290 - Trần Thánh Tông, Hoàng đế thứ hai của nhà Trần, Việt Nam (s. 1240) 1950 - Lư Khê, nhà báo Việt Nam (s. 1916) 1985 - Dương Quân, nhà thơ trào phúng Việt Nam (s. 1926) 1991 - Lê Văn Thiêm, nhà toán học Việt Nam (s. 1918) 2015 - An Thuyên, nhạc sĩ (s. 1949) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
nhóm nitơ.txt
Các nguyên tố nhóm nitơ (thuộc nhóm VA) còn được IUPAC giới thiệu như là nhóm nguyên tố 15 (trước đây là nhóm V) trong bảng tuần hoàn các nguyên tố. Nhóm này có các đặc trưng xác định là mọi nguyên tố thành phần đều có 5 điện tử trên lớp ngoài cùng nhất, trong đó 2 điện tử thuộc phân lớp s và 3 điện tử thuộc phân lớp p. Vì thế trong trạng thái không bị ion hóa chúng thiếu 3 điện tử để có thể điền đầy lớp điện tử ngoài cùng nhất. Nguyên tố quan trọng nhất trong nhóm này là nitơ (N), nguyên tố này trong dạng phân tử là thành phần cơ bản của không khí. Các thành viên khác của nhóm này là phốtpho (P), asen (As), antimon (Sb), bitmut (Bi) và ununpenti (UUp) (vẫn chưa được xác nhận chính thức). Tên gọi chung pnicogen hay pnictogen đôi khi cũng được sử dụng cho các nguyên tố trong nhóm này (một số học giả không tính nitơ vào trong tên gọi chung này, do các hợp chất nitrua có các tính chất không giống với các pnictua khác), với các hợp chất chứa dạng RxPny, trong đó Pn là gốc pnictogen, còn R là kim loại được gọi là các pnictua. Ví dụ Li3P còn gọi là phốtphua liti. Cả hai thuật ngữ đều được IUPAC chấp nhận. Cả hai cách phát âm đều được coi là có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp πνίγειν (pnigein), mang nghĩa làm tắt lửa hay dập tắt lửa, là một thuộc tính của nitơ. == Pnictua == Các pnictua là các vật liệu có một số đặc tính vật lý/hóa học dị thường. Về mặt vật lý, một số chất là thuận từ nhưng lại nghịch từ ở nhiệt độ phòng. một số khác là sắt từ nhưng phản sắt từ ở các nhiệt độ thấp. Chúng tạo ra nhiều hợp chất bán dẫn. Về mặt hóa học, các hợp chất này nằm trung gian giữa các hợp chất có liên kết ion và các hợp chất có liên kết cộng hóa trị. Nhóm pnictua hiện thu hút được nhiều sự quan tâm, do người ta kỳ vọng sẽ tìm được các chất siêu dẫn ở nhiệt độ tương đối không quá thấp trong số các pnictua, có công thức tổng quát: RExMyPnz hay các ôxít pnictua có công thức tổng quát: RExMyPnzOt Trong đó: RE là các kim loại đất hiếm M là các nguyên tố nhóm 13 (nhóm bo/nhôm) hay 14 (nhóm cacbon/silíc). Pn là pnictogen. O là ôxy. == Tham khảo == Pnicogen
viber.txt
Viber là một phần mềm nhắn tin nhanh dựa trên giao thức VoIP đa nền tảng do Viber Media phát triển cho điện thoại thông minh dùng để nhắn tin và thực hiện cuộc gọi qua internet. Cùng với tin nhắn văn bản, người dùng có thể trao đổi hình ảnh, video và âm thanh. Phần mềm này có thể dùng được cho Mac OS, Android, BlackBerry OS, iOS, Series 40, Symbian, Bada, Windows Phone và Microsoft Windows and a Linux version is in development. Viber kết nối được với cả mạng 3G/4G và Wi-Fi. Ngày 7 tháng 5 năm 2013, Viber đạt 200 triệu người dùng. Vào ngày 14 tháng 2 năm 2014, Viber được Rakuten, một công ty kinh doanh trực tuyến của Nhật, mua lại với giá 900 triệu USD. == Lịch sử == Viber lần đầu tiên ra mắt cho iPhone ngày 2/12/2010 để cạnh tranh trực tiếp với Skype. Phiên bản tiền-phát hành cho Android xuất hiện vào tháng 5 năm 2011 nhưng chỉ giới hạn cho 50.000 người, một phiên bản không giới hạn được phát hành ngày 19/7/2012. Viber cho các thiết bị của BlackBerry và Windows Phone ra mắt ngày 8/5/2012. Khi đạt được 90 triệu người dùng ngày 24/7/2012, dịch vụ nhắn tin nhóm và công cụ HD Voice được thêm vào cả úng dụng của Android và iPhone. Ứng dụng cho nền tảng Series 40, Symbian của Nokia và Bada của Samsung cũng được công bố cùng ngày đấy.. Ngày 14/2, Viber được sát nhập với Rakuten với giá 900 triệu USD. Đây được coi như một bước đệm để Rrkuten bước vào thị trường viễn thông và cạnh tranh với Line, một ứng dụng tán gẫu tương tự rất thành công toàn cầu. == Công ty == Viber Media là một công ty đóng tại Israel và có trung tâm phát triển tại Belarus và Cộng Hòa Síp. Công ty do một doanh nhân người Israel gốc Mỹ tên là Talmon Marco. Công ty hiện đang không tạo ra doanh thu nhưng tuyên bố sẽ bắt đầu tạo doanh thu trong năm 2013 thông qua một "cửa hàng Sticker". Công ty được tài trợ bởi các nhà đầu tư cá nhân. Tính đến tháng 5 năm 2013, 20 triệu USD đã được đầu tư vào công ty này. == Hack == Ngày 24/7/2013, hệ thống hỗ trợ của Viber bị [en:Syrian Electronic Army] tấn công. Theo Viber không có thông tin người dùng nhạy cảm nào bị truy cập. == Tham khảo ==
neon.txt
Neon là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Ne và số nguyên tử bằng 10, nguyên tử khối bằng 20. Là một khí hiếm không màu, gần như trơ, neon tạo ra ánh sáng màu đỏ khi sử dụng trong các ống phóng điện chân không và đèn neon, nó có trong không khí với một lượng rất nhỏ. == Thuộc tính == Neon là khí hiếm nhẹ thứ hai sau heli, tạo ra ánh sáng da cam ánh đỏ trong ống phóng điện chân không và có khả năng làm lạnh gấp 40 lần heli lỏng và 3 lần so với hiđrô lỏng (trên cùng một đơn vị thể tích). Trong phần lớn các ứng dụng nó là chất làm lạnh rẻ tiền hơn so với heli. Trong số mọi khí hiếm, neon có cường độ xả điện tích mạnh nhất ở các hiệu điện thế và cường độ dòng điện bình thường. == Lịch sử == Neon (tiếng Hy Lạp: neos, có nghĩa là "mới") được phát hiện năm 1898 bởi William Ramsay và Morris Travers. == Ứng dụng == Ánh sáng màu da cam ánh đỏ mà neon phát ra trong các đèn neon được sử dụng rộng rãi trong các biển quảng cáo. Từ "neon" cũng được sử dụng chung để chỉ các loại ánh sáng quảng cáo trong khi thực tế rất nhiều khí khác cũng được sử dụng để tạo ra các loại màu sắc khác. Các ứng dụng khác có: Đèn chỉ thị điện thế cao. Thu lôi. Ống đo bước sóng. Ống âm cực trong ti vi. Neon và heli được sử dụng để tạo ra các loại laser khí. Neon lỏng được sử dụng trong công nghiệp như một chất làm lạnh nhiệt độ cực thấp có tính kinh tế. == Sự phổ biến == Neon thông thường được tìm thấy ở dạng khí với các phân tử chỉ có một nguyên tử. Neon là khí hiếm tìm thấy trong khí quyển Trái Đất với tỷ lệ 1/65.000, được sản xuất từ không khí siêu lạnh được chưng cất từng phần từ không khí lỏng. == Hợp chất == Mặc dù neon trong các mục đích thông dụng là một nguyên tố trơ, nhưng nó có thể tạo ra hợp chất kỳ dị với flo trong phòng thí nghiệm. Người ta vẫn không chắc chắn là có các hợp chất của neon trong tự nhiên hay không nhưng một số chứng cứ cho thấy nó có thể là đúng. Các ion, như Ne+, (NeAr)+, (NeH)+ và (HeNe)+, cũng đã được quan sát từ các nghiên cứu quang phổ và khối lượng phổ. Ngoài ra, neon còn tạo ra hiđrat không ổn định. == Đồng vị == Neon có ba đồng vị ổn định: 20Ne (90,48%), 21Ne (0,27%) và Ne22 (9,25%).21Ne và 22Ne có nguồn gốc phóng xạ hạt nhân và các biến đổi của chúng được hiểu rất rõ. Ngược lại, Ne20 không được coi là có nguồn gốc phóng xạ hạt nhân và nguồn gốc biến đổi của nó trên Trái Đất là một điều gây tranh cãi nóng bỏng. Phản ứng hạt nhân cơ bản để sinh ra các đồng vị neon là bức xạ nơtron, phân rã alpha của 24Mg và 25Mg, để tạo ra 21Ne và 22Ne một cách tương ứng. Các hạt alpha thu được từ chuỗi phân rã dây chuyền của urani, trong khi các nơtron được sản xuất chủ yếu bởi phản ứng phụ từ các hạt alpha. Kết quả cuối cùng sinh ra có xu hướng về phía các tỷ lệ 20Ne/22Ne thấp hơn và 21Ne/22Ne cao hơn được quan sát trong các loại đá giàu urani, chẳng hạn như granit. Phân tích đồng vị của các loại đá phơi nhiễm ra ngoài khí quyển đã chỉ ra rằng 21Ne có nguồn gốc vũ trụ. Đồng vị này được sinh ra bởi các phản ứng va đập trên Mg, Na, Si và Al. Bằng cách phân tích cả ba đồng vị, thành phần nguồn gốc vũ trụ có thể được tách khỏi neon nguồn gốc macma và neon nguồn gốc phản ứng hạt nhân. Điều này cho thấy neon sẽ là công cụ có ích trong việc xác định niên đại phơi nhiễm vũ trụ của các đá bề mặt và các thiên thạch. Tương tự như xenon, thành phần neon được quan sát trong các mẫu khí núi lửa là giàu 20Ne, cũng như 21Ne có nguồn gốc phản ứng hạt nhân so với thành phần của 22Ne. Thành phần các đồng vị neon của các mẫu lấy từ lớp phủ của Trái Đất này đại diện cho các nguồn phi-khí quyển của neon. Các thành phần giàu 20Ne được cho là thành phần nguyên thủy của khí hiếm này trên Trái Đất, có thể có nguồn gốc từ neon mặt trời. Sự phổ biến của 20Ne cũng tìm thấy trong kim cương, được coi là nguồn neon mặt trời trên Trái Đất. == Tham khảo == Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, Hoa Kỳ – Neon == Liên kết ngoài == WebElements.com – Neon EnvironmentalChemistry.com – Neon Đây là nguyên tố – Neon "Hong Kong Neonsigns" website
iridi.txt
Iridi là một nguyên tố hóa học với số nguyên tử 77 và ký hiệu là Ir. Là một kim loại chuyển tiếp, cứng, màu trắng bạc thuộc nhóm platin, iridi là nguyên tố đặc thứ 2 (sau osmi) và là kim loại có khả năng chống ăn mòn nhất, thậm chí ở nhiệt độ cao khoảng 2000 °C. Mặc dù chỉ các muối nóng chảy và halogen nhất định mới ăn mòn iridi rắn, bụi iridi mịn thì phản ứng mạnh hơn và thậm chí có thể cháy. Các hợp chất iridi quan trọng nhất được sử dụng là các muối và axit tạo thành với clo, mặc dù iridi cũng tạo thành một số các hợp chất kim loại hữu cơ được dùng làm chất xúc tác và nghiên cứu.191Ir và 193Ir là hai đồng vị tự nhiên của iridi và cũng là hai đồng vị bền; trong đó đồng vị 193Ir phổ biến hơn. Iridi được Smithson Tennant phát hiện năm 1803 ở Luân Đôn, Anh, trong số các tạp chất không hòa tan trong platin tự nhiên ở Nam Mỹ. Mặc dù nó là một trong những nguyên tố hiếm nhất trong vỏ Trái Đất, với sản lượng và tiêu thụ hàng năm chỉ 3 tấn, nó có nhiều ứng dụng trong công nghiệp đặc thù và trong khoa học. Iridi được dùng với chức năng chống ăn mòn cao ở nhiệt độ cao như nồi nung làm tái kết tinh của các chất bán dẫn ở nhiệt độ cao, các điện cực trong sản xuất clo, và máy phát nhiệt điện đồng vị phóng xạ được dùng trong phi thuyền không người lái. Các hợp chất iridi cũng được dùng làm các chất xúc tác trong sản xuất axit axetic. Trong công nghiệp ôtô, iridi được dùng làm bugi (high-end after-market sparkplugs) với vai trò điện cực trung tâm, thay thế việc sử dụng các kim loại thông thường. Các dị thường iridi cao trong lớp sét thuộc ranh giới địa chất K-T (kỷ Creta-kỷ Trias) đã đưa đến giả thuyết Alvarez, mà theo đó sự ảnh hưởng của một vật thể lớn ngoài không gian đã gây ra sự tiệt chủng của khủng long và các loài khác cách đây 65 triệu năm. Iridi được tìm thấy trong các thiên thạch với hàm lượng cao hơn hàm lượng trung bình trong vỏ Trái Đất. Người ta cho rằng lượng iridi trong Trái Đất cao hơn hàm lượng được tìm thấy trong lớp vỏ đá của nó, nhưng có mật độ cao và khuynh hướng của iridi liên kết với sắt, hầu hết iridi giảm theo chiều từ bên dưới lớp vỏ đi vào tâm Trái Đất khi Trái Đất còn trẻ và vẫn nóng chảy. Iridi có thể được làm thành dải hoặc dây mảnh bằng cách cán hoặc chuốt kéo. == Tính chất == === Tính chất vật lý === Là thành viên của các kim loại nhóm platin, iridi có màu trắng tương tự platin nhưng chơi ngả sang màu vàng nhạt. Do độ cứng, giòn, và điểm nóng chảy rất cao của nó, iridi rắn khó gia công, định hình, và thường được sử dụng ở dạng bột luyện kim. Nó là kim loại duy nhất duy trì được các đặc điểm cơ học tốt trong không khí ở nhiệt độ trên 1600 °C. Iridi có điểm nóng chảy cao và trở thành chất siêu dẫn ở nhiệt độ dưới 0,14 K. Mô đun đàn hồi của iridi lớn thứ 2 trong các kim loại, sau osmi. Điều này kết hợp với mô đun độ cứng cao và hệ số Poisson thấp cho thấy cấp độ của độ cứng và khả năng chống biến dạng lớn nên để chế tạo các bộ phận hữu ích là vấn đề rất khó khăn. Mặc dù có những hạn chế và giá cao, nhiều ứng dụng đã được triển khai trong các môi trường cần độ bền cơ học cao đặc biệt trong công nghệ hiện đại. Mật độ được đo đạc của iridi chỉ thấp hơn của osmi một ít (khoảng 0,1%). Có một số nhập nhằng liên quan đến hai nguyên tố này là nguyên tố nào đặc hơn, do kích thước nhỏ khác nhau về mật độ và khó khăn về độ chính xác của phép đo, nhưng, khi độ chính xác tăng khi tính mật độ bằng dữ liệu tinh thể học tia X thì mật độ của iridi là 22,56 g/cm3 và của osmi là 22,59 g/cm3. === Tính chất hóa học === Iridi là kim loại có khả năng chống ăn mòn lớn nhất: nó không phản ứng với hầu hết axit, nước cường toan, kim loại nóng chảy hay các silicat ở nhiệt độ cao. Tuy nhiên, nó có thể phản ứng với một số muối nóng chảy như natri xyanua và kali xyanua, cũng như oxy và các halogen (đặc biệt flo) ở nhiệt độ cao hơn. === Các hợp chất === Iridi tạo thành các hợp chất ở dạng ôxit có trạng thái ôxi hóa từ −3 đến +6; trạng thái ôxy hóa phổ biến nhất là +3 và +4. Các mẫu có tính chất đặc trưng tốt của các trạng thái ôxy hóa cao nhất thì hiếm có, nhưng có một số dạng như IrF6 và 2 ôxit hỗn hợp Sr2MgIrO6 và Sr2CaIrO6. Ngoài ra, năm 2009, iridi(VIII) tetroxit (IrO4) đã được điều chế ở dạng matrix isolation conditions (6 K trong Ar) bằng cách chiếu tia cực tím vào phức iridium-peroxo. Tuy nhiên, mẫu này không ổn định như mong đợi khi mà trạng thái rắn của nó phải được duy trì ở nhiệt độ cao hơn. Trạng thái ôxy hóa cao nhất (+9) cũng là điểm mà nhiệt độ cao nhất được ghi nhận đối với bất kỳ nguyên tố này, chỉ được biết đến ở một cation IrO+4; đó là loại pha khí duy nhất được biết đến và không hình thành bất kỳ muối nào. Iridi điôxít, IrO2, một chất bột màu nâu, là ôxít của iridi được mô tả chi tiết nhất. Sesquioxit, Ir2O3, đã được mô tả là một chất bộ màu xanh-đen bị ô-xy hóa thành IrO2 bởi HNO3. Disulfua, diselenua, sesquisulfua, và sesquiselenua tương ứng cũng đã được biết đến, và IrS3 cũng đã được nghiên cứu. Iridi cũng tạo thành các iridat có trạng thái ô-xy hóa +4 và +5, như K2IrO3 và KIrO3, các chất này có thể được điều chế từ phản ứng của kali ôxít hoặc kali superoxit với iridi ở nhiệt độ cao. Mặc dù các hydrua hai cấu tử của iridi, IrxHy đã được biết đến, các phức được cho là có chứa IrH4−5 và IrH3−6, trong các phức này iridi có trạng thái ô-xy hóa tương ứng là +1 và +3. Hydrua ba cấu tử Mg6Ir2H11 được tin là chứa cả IrH4−5 và IrH5−4 18-electron. Không monohalua hoặc dihalua nào tồn tại trong khi trihalua, IrX3, kết hợp với tất cả halogen. Đối với trạng thái ô-xy hóa +4 và cao hơn, chỉ có tetrafluorua, pentafluorua và hexafluorua là tồn tại. Iridi hexafluorua, IrF6, là chất rắn màu vàng có tính phản ứng mạnh, bao gồm các phân tử tám mặt. Nó phân hủy trong nước và bị khử thành IrF4 ở dạng chất rắn kết tinh bằng iridi màu đen. Iridi pentaflorua có tính chất tương tự nhưng thật sự là một tetramer, Ir4F20, được tạo thành bởi bát diện dùng chung 4 góc. Kim loại iridi tan trong cyanua-kali kim loại nóng chảy tạo ra ion Ir(CN)3+6 (hexacyanoiridat). A-xít hexachloroiridic(IV), H2IrCl6, và các muối của nó là những hợp chất iridi quan trong nhất trong lĩnh vực công nghiệp. Chúng liên quan đến việc làm tinh khiết iridi và được sử dụng như các tiền chất để tạo các hợp chất iridi quan trọng khác, cũng như trong việc mạ anode. Ion IrCl2−6 có màu nâu sẫm, và có thể dễ dàng bị khử thành IrCl3−6 nhạt màu hơn và ngược lại. Iridi trichlorua, IrCl3, có thể thu được ở dạng anhydrat từ sự ô-xy hóa trực tiếp bột iridi bằng clo ở 650 °C, hoặc dạng hydrat bằng cách hòa tan Ir2O3 trong Axit clohydric, thường được dùng làm vật liệu ban đầu trong việc tổng hợp các hợp chất Ir(III) khác. Hợp chất khác được sử dụng làm tiến chất là ammoni hexachloroiridat(III), (NH4)3IrCl6. Các phức iridi(III) là nghịch từ (spin thấp) và thường có phân tử tám mặt đối xứng. Các hợp chất iridi hữu cơ chứa các liên kết iridi–carbon trong đó kim loại thường có trạng thái ô-xy hóa thấp hơn. Ví dụ, trong thái ô-xy hóa zero được phát hiện trong tetrairidi dodecacarbonyl, Ir4(CO)12, đây là một carbonyl của iridi hai cấu tử bền ổn định và phổ biến nhất. Trong hợp chất này, mỗi nguyên tử iridi được liên kết đến 3 nguyên tử khác, tạo thành ô mạng tứ diện. Một vài hợp chất kim loại hữu cơ Ir(I) không đủ nổi tiếng để đặt tên sau khi được phát hiện ra. Ví dụ một chất là phức Vaska, IrCl(CO)[P(C6H5)3]2, nó có tính chất liên kết bất thường với phân tử ôxy, O2. Một chất khác là xúc tác Crabtree, xúc tác đồng nhất trong các phản ứng tạo hydro. Các hợp chất này đều có cấu trúc phẳng vuông, phức d8, có tổng cộng 16 electron liên kết, chúng liên quan đến tính hoạt động của chất này. Một vật liệu hữu cơ gốc iridi LED đã được ghi nhận, và được phát hiện là sáng hơn nhiều so với DPA hoặc PPV, vì vậy nó có thể là nền tảng cho ánh sáng OLED chủ động trong tương lai. === Đồng vị === Iridi có hai đồng vị bền trong tự nhiên là 191Ir và 193Ir, với thành phần thứ tự 37,3% và 62,7%. Có ít nhất 34 đồng vị phóng xạ đã được tổng hợp có số khối từ 164 đến 199. 192Ir, nằm giữa hai đồng vị bền là đồng vị phóng xạ bề nhất với chu kỳ bán rã là 73,827 ngày, và được ứng dụng trong cận xạ trị và trong chụp ảnh phóng xạ công nghiệp, đặc biệt trong các thí nghiệm không phá hủy các mối hàn của thép và trong công nghiệp dầu khí; các nguồn iridi-192 liên quan đến nhiều sự cố phóng xạ. Ba đồng vị khác có chu kỳ bán rã ít nhất một ngày—188Ir, 189Ir, và 190Ir. Các đồng vị có số khối dưới 191 phân rã theo cách kết hợp giữa phân rã β+, α, và (hiếm hơn) phát xạ proton, ngoại trừ 189Ir phân rã bằng cách bắt giữ electron. Các đồng vị tổng hợp nặng hơn 191 phân rã β−, mặc dù 192Ir cũng có bắt giữ một ít electron. Tất cả các đồng vị đã biết của iridi đã được phát hiện trong khoảng thời gian 1934 và 2001; đồng vị được phát hiện gần đây nhất là 171Ir. Ít nhất có 32 đồng phân hạt nhân đã được mô tả có số khối từ 164 đến 197. Đồng phân ổn định nhất là 192m2Ir, nó phân rã thành đồng phân chuyển tiếp với chu kỳ bán rã 241 năm, nên nó là đồng phân ở định hơn trong tất cả các đồng vị tổng hợp ở trạng thái ổn định. Đồng phân kém bền nhất là 190m3Ir có chu kỳ bán rã chỉ 2 µ giây. Đồng vị 191Ir là đồng vị đầu tiên trong bất kỳ nguyên tổ nào thể hiện hiệu ứng Mössbauer. Điều này rất hữu ích trong phổ Mössbauer trong nghiên cứu vật lý, hóa học, sinh hóa, luyện kim và khoáng vật học. == Lịch sử == Việc phát hiện ra iridi đan xen với việc phát hiện ra platin và các kim loại khác trong nhóm platin. Platin tự sinh được sử dụng bởi người Ethiopia cổ đại và trong các nền văn hóa Nam Mỹ cũng có chứa một lượng nhỏ các kim loại khác thuộc nhóm platin bao gồm cả iridi. Platin đến Châu Âu với tên gọi là platina ("silverette"), được tìm thấy trong thế kỷ 17 bởi những kẻ xâm lược người Tây Ban Nha trong vùng mà ngày nay được gọi là Chocó ở Colombia. Việc phát hiện kim loại này không ở dạng hợp kim của các nguyên tố đã biết, nhưng thay vào đó là một nguyên tố hoàn toàn mới, mà đã không được biết đến cho mãi tới năm 1748. Các nhà hóa học nghiên cứu platin đã hòa tan nó trong nước cường toan để tạo ra các muối tan. Chúng được quan sát từ một lượng nhỏ có màu sẫm, chất còn lại không tan. Joseph Louis Proust đã nghĩ rằng chất không tan này là graphit. Các nhà hóa học Pháp Victor Collet-Descotils, Antoine François, comte de Fourcroy, và Louis Nicolas Vauquelin cũng đã quan sát chất cặn này năm 1803, nhưng không thu thập đủ cho các thí nghiệm sau đó. Năm 1803, nhà khoa học Anh Smithson Tennant (1761–1815) đã phân tích chất cặn không tan và kết luận rằng nó phải chứa một kim loại mới. Vauquelin đã xử lý bột trộnvo71i7 kiềm và các axit và thu được một ôxit dễ bay hơn mới, mà từ đó ông tin rằng đây là kim loại mới, ông đặt tên nó là ptene, trong tiếng Hy Lạp πτηνός ptēnós nghĩa là "cánh chim". Tennant đã có thuận lợi hơn trong việc thu được lượng cặn lớn hơn, và ông tiếp tục nghiên cứu của mình và xác định hai nguyên tố mà trước đó chưa được phát hiện trong chất cặn đen, là iridi và osmi. Ông thu được các tinh thể màu đỏ sẫm (có lẽ là Na2[IrCl6]·nH2O) bằng một chuỗi các phản ứng với natri hydroxit và Axit clohydric. Ông đặt tên iridium theo tên Iris (Ἶρις), the Greek winged goddess of the rainbow and the messenger of the Olympian gods, bởi vì nhiều muối mà ông thu được có nhiều màu. Việc phát hiện ra nguyên tố mới được ghi nhận trong một lá thư gởi Hiệp hội hoàng gia ngày 21 tháng 6 năm 1804. Nhà khoa học người Anh John George Children là người đầu tiên nấu chảy mẫu iridi năm 1813 với sự trợ giúp của "pin mạ lớn nhất từng được chế tạo" (vào lúc đó). Lần đầu tiên thu nhận được iridi độ tinh khiết cao do Robert Hare thực hiện năm 1842. Ông đã phát hiện nó có tỉ trọng khoảng 21,8 g/cm3 và ghi nhận rằng kim lọai này gần như không thể uốn và rất cứng. Việc nấu chảy đầu tiên với số lượng đáng kể được thực hiện bởi Henri Sainte-Claire Deville và Jules Henri Debray năm 1860. Họ đã đốt hơn 300 lit khí O2 và H2 tinh khiết để thu được mỗi kg iridi. Những điểm cực kỳ khó trong việc nung chảy kim loại đã làm hạn chế khả năng xử lý iridi. John Isaac Hawkins was looking to obtain a fine and hard point for fountain pen nibs, và năm 1834 đã kiểm soát việc tạo ra bút vàng có đầu iridi. Năm 1880, John Holland và William Lofland Dudley đã có thể nấu chảy iridi bằng cách cho thêm phốt pho vào và nhận được bằng sáng chế công nghệ này ở Hoa Kỳ; Công ty Anh Johnson Matthey sau đó đã chỉ ra họ đã đang sử dụng công nghệ tương tự từ năm 1837 và đã trình diễn nấu chảy iridi tại nhiều hội chợ Thế giới. Ứng dụng đầu tiên của hợp kim iridi và rutheni là làm cặp nhiệt điện, nó được tạo ra bởi Otto Feussner năm 1933. Cặp nhiệt điện này cho phép đo nhiệt độ trong không khí lên đến 2000 °C. Ở Munich, Đức vào năm 1957 Rudolf Mößbauer, trong bối cảnh được gọi là "một trong những thí nghiệm ấn tượng của vật lý thế kỷ 20", đã phát hiện ra sự cộng hưởng và recoil-phát xạ và hấp thụ tự do các tia gama bởi các nguyên tử trong kim loại rắn chỉ chứa 191Ir. Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng Mössbauer (từng được quan sát trên các hạt nhân khác như 57Fe), và đã phát triển thành phổ Mössbauer, đã có những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu vật lý, hóa học, sinh hóa, luyện kim, và khoáng vật học. Mössbauer đã nhận giải Giải Nobel vật lý năm 1961 ở tuổi 32, chỉ 3 năm sau khi phát hiện của ông được công bố. Năm 1986 Rudolf Mössbauer đã được vinh dự nhận được huy chương Albert Einstein và Elliot Cresson từ thành tựu này. == Phân bố == Iridi là một trong 9 nguyên tố bền ít phổ biến nhất trong vỏ trái đất, có tỉ lệ khối trung bình 0,001 ppm trong đá của vỏ; trong khi vàng phổ biến hơn gấp 40 lần, platin gấp 10 lần, và bạc và thủy ngân gấp 80 lần. Telua có độ phổ biến bằng với iridi. Ngược lại với tính phố biến thấp của nó trong đá của vỏ, iridi tương đối phổ biến trong các thiên thạch, với hàm lượng 0,5 ppm hoặc hơn. Tổng hàm lượng iridi trên Trái đất được cho rằng lớn hơn nhiều so với những gì đã quan sát được trong đá của vỏ, nhưng do mật độ và tính siderophilic ("ái sắt") của iridi, nó chìm xuống bên dưới vỏ và đi vào trong lõi Trái đất khi hành tinh còn ở trạng thái nói chảy. Iridi được tìm thấy trong tự nhiên ở dạng nguyên tố không kết hợp hoặc trong dạng hợp kim tự nhiên; đặc biệt là các hợp kim iridi–osmis, osmiridi (giàu osmi), và iridosmi (giàu iridi). Trong các mỏ nikel và đồng, các kim loại platin tồn tại ở dạng sulfua (như (Pt,Pd)S), tellurua (như PtBiTe), antimonua (PdSb), và arsenua (như PtAs2). Trong tất cả các hợp chất này, platin là được trao đổi bởi một lượng nhỏ iridi và osmi. Cũng như với tất cả các kim loại nhóm platin, iridi có thể được tìm thấy trong tự nhiên ở dạng hợp kim với nikel tự sinh hoặc đồng tự sinh. Trong vỏ Trái đất, iridi được tìm thấy với hàm lượng cao nhất trong ba kiểu cấu trúc địa chất: quặng mácma (các thể mácma xâm nhập từ bên dưới), các hố va chạm, và quặng tái lắng đọng từ một trong các cấu trúc vừa kể trên. Trữ lượng nguyên sinh lớn nhất từng được biết là trong [[phức hệ mácma Bushveld[[ ở Nam Phi, mặc dù các lớn khác là mỏ đồng-nikel lớn gần Norilsk ở Nga, và bồn trũng Sudbury ở Canada cũng có một lượng đáng kể iridi. Các trữ lượng nhỏ hơn được tìm thấy ở Hoa Kỳ. Iridi cũng được tìm thấy ở dạng mỏ thứ sinh cùng với platin và các kim loại nhóm platin trong các trầm tích sông. Mỏ nguồn gốc sông được sử dụng bởi người tiền Columbia vùng Chocó, Colombia vẫn là nguồn cung cấp kim loại nhóm platin. Cho đến năm 2003, trữ lượng trên thế giới vẫn chưa được ước lượng. === Có mặt trong ranh giới tuyệt chủng Creta-Paleogen === Ranh giới Kỷ Creta-Paleogen cách đây 66 triệu năm, đánh dấu mốc thời gian giữa Kỷ Creta và Paleogen trong thang thời gian địa chất, được xác định từ một lớp địa tầng mỏng là sét giàu iridi. Một nhóm nghiên cứu dẫn đầu là Luis Alvarez đã đề xuất năm 1980 về nguồn gốc ngoài trái đất của lượng iridi này, đó là do sự va chạm của một tiểu hành tinh hay sao chổi. Giả thuyết của họ, được gọi là giả thiết Alvarez, hiện được chấp nhận rộng rãi để giải thích sự kiện tuyệt chủng các loài khủng long phi chim. Một hố va chạm lớn bị chôn vùi với tuổi ước tính khoảng 66 triệu năm sau đó được xác định nằm ở nơi mà ngày nay là bán đảo Yucatán (tên gọi hố va chạm Chicxulub). Dewey M. McLean và những người khác đã tranh luận rằng iridi có thể có nguồn gốc phun trào, do lõi Trái đất giàu iridi, và các núi lửa hoạt động như Piton de la Fournaise, ở đảo Réunion, vẫn đang giải phóng iridi. == Sản xuất == Iridi được sản xuất thương mại ở dạng sản phẩm phụ của quá trình khai thác mỏ và chế biến nickel và đồng. Trong quá trình điện luyện đồng và nickel, các kim loại hiếm như bạc, vàng và kim loại nhóm platin cũng như selen và tellur lắng đọng ở đáy lò ở dạng "bùn anốt", là điểm khởi đầu của việc tách chúng. Để tách các kim loại này, chúng phải được chuyển thành dung dịch. Nhiều phương pháp tách khách nhau có thể áp dụng tùy theo thành phần của hỗn hợp; hai phương pháp điển hình là phản ứng với natri peroxit sau khi hòa tan bằng nước cường toan, và phương pháp hòa tan vào hỗn hợp clo bằng Axit clohydric. Sau khi hỗn hợp được hòa tan, iridi được tách ra khỏi nhóm kim loại platin bằng cách tạo kết tủa ammonium hexachloroiridate ((NH4)2IrCl6) hoặc tách IrCl2−6 bằng các amin hữu hơ. Phương pháp kết tủa tương tự như quy trình Tennant và Wollaston sử dụng để tách chúng. Phương pháp thứ 2 có thể được thực hiện bằng cách chiết tách chất lỏng-chất lỏng liên tục và thích hợp hơn với sản xuất quy mô công nghiệp. Trong cả hai trường hợp, sản phẩm được khử bằng hydro, tạo ra kim loại ở dạng bột hoặc kim loại dạng bọt, loại này có thể được xử lý bằng các kỹ thuật luyện kim bột. Giá iridi dao động trong khoảng đáng kể. Với khối lượng tương đối nhỏ trên thị trường thế giới (so với các kim loại công nghiệp khác như nhôm hay đồng), giá iridi thay đổi mạnh với sự không ổn định về sản lượng, nhu cầu, đầu cơ, tích trữ, và tình hình chính trong ở các quốc gia sản xuất. Là một chất có các tính chất hiếm, giá của nó đặc biệt bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của công nghệ hiện đại: Giá nó giảm liên tục trong khoảng 2001 và 2003 liên quan đến tình trạng thừa cung từ các lò nấu Ir được sử dụng trong phát triển công nghiệp các tinh thể lớn đơn lẻ. Tương tự giá đạt trên 1000 USD/oz trong khoảng 2010 và 2014 được giải thích là do việc lắp đặt các nhà máy tổng hợp tinh thể sapphire đơn dùng trong LED TV. == Ứng dụng == Nhu cầu iridi dao động trong khoảng từ 2,5 tấn năm 2009 đến 10,4 năm 2010, hầu hết là các ứng dụng liên quan đến điện tử làm tăng từ 0,2 đến 6 tấn – các nồi nấu kim loại iridi được sử dụng phổ biến để nuôi các tinh thế đơn lẻ chất lượng cao, làm cho nhu cầu tăng mạnh. Việc tăng lượng tiêu thụ iridi được dự đoán đạt bảo hòa vì được dồn vào các lò nấu kim loại, như đã diễn ra trước đây torng thập niên 2000. Các ứng dụng chính khác như làm bugi đánh lửa tiêu thụ 0,78 tấn iridi năm 2007, điện cực trong công nghệ chloralkali (1,1 tấn năm 2007) và xúc tác hóa học (0,75 năm 2007). === Trong công nghiệp và y học === Tính chống mòn, độ cứng và nóng chảy cao của iridi và các kim loại của nó định hình nên hầu hết các ứng dụng của chúng. Iridi và đặc biệt là hợp kim iridi-platin hoặc iridi-osmi có a low wear và được sử dụng, ví dụ trong hệ thống pét phun nhiều lỗ, qua đó nhựa polymer lỏng được đẩy ra tạo thành các sợi chỉ nhân tạo. Osmi–iridi được dùng làm vòng la bàn và để giữa thăng bằng. Khả năng chống lại ăn mòn hồ quang làm cho các hợp kim iridi là vật liệu lý tưởng để làm bề mặt tiếp xúc điện trong bugi, và các bugi dùng iridi đặc biệt được sử dụng trong ngành hàng không. Iridi tinh khiết cực giòn, rất khó hàn các đới nứt chịu tác động của nhiệt, nhưng nó có thể dễ uốn hơn khi thêm một lượng nhỏ titan và zirconi (khoảng 0,2%) Sự ăn mòn và chịu nhiệt làm cho iridi là một hợp kim quan trọng. các bộ phận động cơ máy bay có tuổi thọ lâu nhất định được làm từ hợp kim iridi, và hợp kim iridi-titan được dùng làm các ống dẫn ở vùng nước sâu do đặc điểm chống ăn mòn của nó. Iridi cũng được dùng làm chất làm cứng hơn trong các hợp kim platin. Độ cứng Vickers của platin nguyên chất là 56 HV, trong khi đó khi thêm vào với tỷ lệ 50% iridi nó làm tăng độ cứng của hợp kim lên hơn 500 HV. Các thiết bị phải làm việc trong điều kiện nhiệt độ cực kỳ cao thường được làm từ iridi. Ví dụ, các lò nấu kim oại nhiệt đ6ọ cao làm từ iridi được dùng trong công nghệ Czochralski để tạo ra các tinh thể ôxít đơn lẻ (như sapphire) để sử dụng trong các thiết bị bộ nhới của máy tính và trong các máy laser trạng thái rắn. Các tinh thể như gadolinium gallium garnet và yttrium gallium garnet, được nuôi dưỡng bằng cách làm tan chảy tiền thiêu kết hỗn hợp các ôxit trong điều kiện ôxy hóa ở nhiệt độ lên đến 2100 °C. Các hợp chất iridi được sử dụng làm chất điện phân trong công nghệ Cativa để cacbonyl hóa methanol tạo ra axit acetic. Đồng vị phóng xạ iridi-192 là một trong 2 nguồn năng lượng quan trọng nhất được dùng trong công nghiệp như chụp ảnh phóng xạ-γ trong các thí nghiệm không phá hủy các kim loại. Ngoài ra, 192Ir được sử dụng làm nguồn cung cấp phóng xạ gama trong điều trị ung thư, một dạng xạ trị mà các nguồn phóng xạ đóng gói được đặt bên trong hoặc gần khu vực cần điều trị trong cơ thể. Các điều trị đặc biệt như cận xạ trị tiền liệt liều cao, cận xạ trị ống mật, và cận xạ trị hốc cổ tử cung. Iridi là chất điện phân tốt trong việc phân hủy hydrazine (thành nitơ và ammoniac), và việc phân hủy này được dùng trong các động cơ tên lửa đẩy lực thấp; xem thêm ở tên lửa một động cơ đẩy (monopropellant rocket). === Trong khoa học === Một hợp kim gồm 90% platinvà 10% iridi được sử dụng năm 1889 để làm thiết bị đo International Prototype Metre và kilogram, được lưu trữ tại International Bureau of Weights and Measures gần Paris. Thanh thước được thay thế bằng việc định nghĩa đơn vị đo chiều dài cơ bản vào năm 1960 bởi một vạch quang phổ nguyên tử của krypton, nhưng nguyên mẫu đo kilogram vẫn được dùng làm thang chuẩn quốc đế về đo khối lượng. Iridi từng được sử dụng trong việc phát nhiệt điện đồng vị phóng xạ của một phi thuyền không gian chưa được đặt tên thuộc các chương trình Voyager, Viking, Pioneer, Cassini, Galileo, và New Horizons. Iridi đã được chọn để đóng gói nhiên liệu plutoni-238 trong các máy phát điện vì nó có thể chịu được nhiệt độ hoạt động lên đến 2000 °C và do nó có độ bền lớn. Ứng dụng khác quan tâm đến tính quang học của tia-X, đặc biệt là các kính viễn vọng tia-X. Các gương của đài thiên văn tia X Chandra được phủ bởi một lới iridi dày 60 nm. Iridi thể hiện là lựa chọn tốt nhất cho các phản xạ tia X sau nickel, vàng và platin được thử nghiệm. Lớp iridi phải nhẵn ở mức vài phân tử đã được ứng dụng bằng cách đắp lớp hơn iridi trong chân không trên lớp nền crôm. Iridi được dùng trong vật lý hạt để tạo ra các phản proton, một hạt phản vật chất. Các phản protons được tạo ra bằng cách bắn phá một chùm proton mật độ cao ở một mục tiêu chuyển đổi (conversion target), điều này cần được tạo ra từ một vật liệu tỉ trọng rất cao. Thay vì có thể dùng tungsten, thì iridi là loại có thuận lợi hơn do tính ổn định tốt hơn trong điều kiện các sóng chấn động được tạo ra khi nhiệt độ tăng do tác động của các tia. Kích hoạt liên kết C-H (Carbon–hydrogen bond activation) là một lĩnh vực nghiên cứu về các phản ứng tách các liên kết C-H, mà trước đây được coi là không thể phản ứng. Thông cáo đầu tiên về sự thành công trong việc tác liên kết C-H trong các hydrocacbon bảo hòa được công bố năm 1982, đã sử dụng các phức cơ kim iridi thông qua quá trình cộng hợp ôxy hóa với hydroacbon. Các phức của iridi đang được nghiên cứu ở dạng chất điện phân trong phản ứng hydro hóa đối xứng. Các chất điện phân này được sử dụng trong việc tổng hợp các sản phẩm tự nhiên và có thể hydro hóa các chất khó hydro hóa hơn như các anken phi chức năng, tổng hợp không đối xứng (chỉ tạo ra một trong hai đồng phân đối hình tiềm năng). Iridi tạo thành một loạt các phức cơ bản of fundamental interest in triplet harvesting. === Lịch sử ứng dụng === Các hợp kim iridi–osmi đã được sử dụng làm ngòi bút bút máy. Ứng dụng quan trọng đầu tiên của iridi được thực hiện năm 1834 trong một đầu bút gắn trên vàng. Từ năm 1944, cây bút máy nổi tiếng Parker 51 có đầu là hợp kim rutheni và iridi (với 3,8% iridi). các nguyên liệu quan trọng làm đầu bút máy hiện đại về truyền thống vẫn được gọi là "iridi", mặc dù chúng không có một ít iridi nào trong đó; các kim loại khác như rutheni, osmi và tungsten được dùng thay cho iridi. Một hợp kim iridi–platin đã được dùng làm touch hole hay rãnh nhỏ trong súng thần công. Theo một báo cáo về Triễn lãm Paris năm 1867, một trong những mảnh này được Johnson and Matthey trưng bày "has been used in a Withworth gun for more than 3000 rounds, and scarcely shows signs of wear yet. Those who know the constant trouble and expense which are occasioned by the wearing of the vent-pieces of cannon when in active service, will appreciate this important adaptation". Chất tạo màu đen iridi gồm các bột iridi rất mịn, được dùng trong sơn porcelain an intense black; it was said that "all other porcelain black colors appear grey by the side of it". == Chú ý == Iridi ở dạng khối kim loại không có vai trò sinh học quan trọng hoặc nguy hiểm đối với sức khỏe do nó không phản ứng với các tế bào; chỉ có khoảng 20 ppt (một phần tỉ) iridi có mặt trong tế bào. Tuy nhiên, bột iridi mịn có thể nguy hiểm khi tiếp xúc, vì nó là một chất kích thích và có thể cháy trong không khí. Có rất ít thông tin về độc tính của các hợp chất iridi do chúng được sử dụng với số lượng rất nhỏ, nhưng các muối hòa tan như iridi halua, có thể nguy hiểm do các nguyên tố khác trong hợp chất hơn là do iridi. Hầu hết các hợp chất iridi không hòa tan nên nó khó hấp thụ vào trong cơ thể. Đồng vị phóng xạ của iridi, 192Ir thì nguy hiểm giống như các đồng vị phóng xạ khác. Tổn thương được thông báo duy nhất liên quan đến việc tiếp xúc 192Ir là loại được dùng trong cận xạ trị. Bức xạ gama năng lượng cao của 192Ir có thể làm tăng nguy cơ gây ung thư. Tiếp xúc bên ngoài có thể gây bỏng, nhiễm độc phóng xạ, và chết. Ăn 192Ir vào có thể đốt cháy lớp lót dạ dày và ruột. 192Ir, 192mIr, và 194mIr có xu hướng tích tụ trong gan, và có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe do bức xạ beta và gamma. == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Iridium at The Periodic Table of Videos (University of Nottingham) Iridium in Encyclopædia Britannica
quần thể kiến trúc phật giáo khu vực chùa horyuji.txt
Quần thể kiến trúc Phật giáo khu vực chùa Horyu-ji (Hōryū-ji Chiiki No Bukkyo Kenzobutsu (法隆寺地域の仏教建造物, Hōryū-ji Chiiki No Bukkyo Kenzobutsu ほうりゅうじちいきのぶっきょうけんぞうぶつ)) là một di sản thế giới (văn hóa) của Nhật Bản. Quần thể bao gồm 48 di tích kiến trúc thuộc chùa Horyuji và chùa Hoki-ji ở thị trấn Ikaruga, tỉnh Nara. Quần thể được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1993. Khu vực này bao gồm một số công trình bằng gỗ cổ nhất thế giới, kiến thiết từ thế kỷ thứ 7 mà nay vẫn hoạt động là cơ sở thờ tự. Được xây dựng từ cuối thứ 7 hoặc đầu thế kỷ thứ 8, đây là những công trình kiến trúc bằng gỗ cổ nhất thế giới. Những kiệt tác kiến trúc bằng gỗ không chỉ quan trọng đối với lịch sử nghệ thuật, minh họa cho sự thích nghi của kiến trúc Phật giáo Trung Quốc vào bố trí văn hóa Nhật Bản, mà còn đối với lịch sử của tôn giáo, vì quá trình hình thành của những di tích này trùng hợp với thời điểm du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản từ Trung Quốc bằng cách qua bán đảo Triều Tiên. Riêng Pháp Long Tự (Chùa Horyuji) thì có Saiin (Tây viện) và Toin (Đông viện). Tây viện bị thiêu rụi năm 670 nhưng được tái thiết vào cuối thế kỷ thứ 7. Đông viện thì có niên đại cuối thế kỷ thứ 8. Tây viện không phải là một tòa nhà mà là một tu viện lớn, gồm Kim đường, Ngũ trùng tháp, Trung môn... xây dần thêm cho đến thế kỷ 13. Chùa Hokiji được Thánh Đức Thái tử khởi công xây dựng từ năm 638 nhưng chỉ hoàn thành khi ông qua đời. Tòa nhà còn tồn tại duy nhất là một ngọn tháp 3 tầng cao 24m. Các giảng đường được xây dựng lại năm 1694, và hội trường Shoten-do được xây dựng lại năm 1863. Ngôi chùa có một bức tượng gỗ Quán Thế Âm cao 3,5m đã được xây dựng trong nửa sau của thế kỷ 10. == Xem thêm == Chùa Horyuji Chùa Hokiji Du lịch Nhật Bản == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website của UNESCO về Quần thể kiến trúc Phật giáo khu vực chùa Horyuji
kingston technology.txt
Kingston Technology Company, là một công ty Hoa Kỳ, thuộc sở hữu tư nhân, là một tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia chuyên về phát triển, sản xuất, bán hàng và hỗ trợ các sản phẩm bộ nhớ flash và các sản phẩm bộ nhớ liên quan tới máy vi tính khác. Kingston Technology là nhà sản xuất các bộ nhớ DRAM độc lập lớn nhất thế giới, hiện tại đang sở hữu 46% thị phần DRAM toàn cầu, theo iSuppli. Kingston cũng được cho rằng là nhà cung cấp sản phẩm bộ nhớ flash lớn thứ hai thế giới. Gartner xếp hạng Kingston là nhà cung cấp số một thế giới về ổ USB, số ba về thẻ nhớ và số năm về ổ cứng thể rắn. Năm 2010, Kingston có doanh thu là 6,5 tỷ đô-la Mỹ. Forbes xếp Kingston ở trí thứ 48 trong danh sách "500 công ty tư nhân lớn nhất tại Hoa Kỳ" và Inc. xếp Kingston ở vị trí số 6 trong số các công ty tư nhân về doanh thu, và đứng ở vị trí số một trong nhóm các công ty phần cứng máy tính. Kingston phục vụ khách hàng thông qua một hệ thống mang tính quốc tế bao gồm các nhà phân phối, các đại lý, các nhà bán lẻ và các khách hàng OEM trên khắp sáu lục địa: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Đại Dương. Công ty cũng cung cập việc sản xuất theo hợp đồng và dịch vụ quản lý chuỗi cung ứng cho các nhà sản xuất bán dẫn và hệ thống OEMs. Thông qua việc sở hữu Kingston Technology Company Inc. và Advanced Validation Labs Inc. (AVL), Kingston Technology là một trong những công ty hàng đầu thế giới về sản xuất các sản phẩm bộ nhớ, đóng gói và kiểm tra thiết bị bán dẫn. == Lịch sử == 1987 – Khởi nghiệp Kingston Technology đã phát triển trong bối cảnh những năm 1980, khi thị trường công nghệ cao đang thiếu hụt nghiêm trọng chip bộ nhớ gắn trên bề mặt trong. Với quyết tâm tìm kiếm một giải pháp cho tình hình này, hai nhà sáng lập John Tu và David Sun đã kết hợp chuyên môn kỹ thuật riêng của mình, thiết kế ra loại Mô-đun nhớ một hàng chân (Single In-Line Memory Module - SIMM) hoàn toàn mới, trong khi vẫn sử dụng các linh kiện chân cắm kiểu cũ hiện có. Sự đồng tâm nhất trí này đã khai sinh ra một công nghệ mới, một tiêu chuẩn công nghiệp mới và vào ngày 17 tháng 10 năm 1987, công ty Kingston đã ra đời. 1989 Kingston đã tạo được sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh bằng hệ thống thử nghiệm 100%, mang lại kết quả là sự bảo đảm chất lượng và vị trí dẫn đầu trên thị trường. 1990 Kingston ra mắt dòng sản phẩm phi bộ nhớ đầu tiên, đó là các sản phẩm nâng cấp bộ xử lý. 1992 Kingston được tạp chí Inc. xếp hạng là công ty tư nhân phát triển nhanh nhất tại Mỹ. 1993 Kingston mở rộng sang các dòng sản phẩm mạng và lưu trữ. 1994 Kingston giới thiệu các sản phẩm DataTraveler® và DataPak™ tiện lợi cho việc mang đi mọi nơi. Kingston đạt được thành tích hiếm hoi là được cấp chứng nhận ISO 9000 ngay trong lần đánh giá đầu tiên. Tạp chí Forbes xếp Kingston ở vị trí 367 trong danh sách "500 Công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ" với danh thu 489 triệu USD. 1995 Kingston gia nhập Câu lạc bộ Tỷ Phú Đô la khi doanh thu năm 1995 của công ty vượt 1,3 tỷ USD. Các quảng cáo xuất hiện trên tờ Wall Street Journal, Orange County Register và LA Times với tiêu đề "Cảm ơn một tỷ lần!" và liệt kê danh sách tất cả các nhân viên của Kingston. 1996 Ngày 15 tháng 8, tập đoàn Softbank® của Nhật Bản mua 80% cổ phần của Kingston với tổng giá trị 1,5 tỷ USD. Kingston và Toshiba cùng tìm kiếm thị trường cho sản phẩm bộ nhớ nâng cấp máy tính Toshiba. Đây là lần đầu tiên một nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM) máy tính và một nhà sản xuất bộ nhớ hợp tác để tạo ra một mô-đun mang thương hiệu chung. Tháng 12, John Tu và David Sun chi 100 triệu USD để thưởng cho nhân viên sau thương vụ mua bán. 1997 Kingston khai trương trụ sở châu Âu của công ty tại Vương Quốc Anh. 1998 Kingston được tạp chí Fortune xếp thứ 2 trong danh sách "100 Công ty tốt nhất để làm việc tại Mỹ". 1999 Tháng 7, John Tu và David Sun mua lại 80% cổ phần của Kingston từ Softbank với giá 450 triệu USD. 2000 Tạp chí Forbes xếp Kingston ở vị trí 141 trong danh sách "500 Công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ". Kingston được xếp trong danh sách với doanh thu 1,5 tỷ USD trong năm 1999. 2001 Kingston được Industry Week tôn vinh là một trong "Top 5 Công ty sản xuất toàn cầu". 2002 Tháng 1, Kingston được Fortune xếp trong danh sách "Những công ty tốt nhất để làm việc" năm thứ 5 liên tiếp. Tháng 7, Kingston cho ra mắt sản phẩm thử nghiệm bộ nhớ bản quyền hiện đại nhất trong ngành. 2003 Tháng 4, Kingston nhận được "Giải thưởng Nhà cung cấp đa dạng mang lại Tổng hiệu suất cao nhất" từ Dell. Tháng 6, Kingston được Viện nghiên cứu Nơi làm việc tốt tôn vinh là công ty "Xuất sắc trong bảo đảm sự công bằng". Tháng 10, Kingston cho ra mắt "Sáng kiến xanh" trong sản xuất mô-đun. Forbes xếp Kingston ở vị trí 63 trong danh sách những công ty tốt nhất để làm việc, đánh dấu năm thứ 5 liên tiếp Kingston lọt vào danh sách 100 công ty tốt nhất. 2004 iSuppli xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun bộ nhớ số 1 thế giới dành cho thị trường bộ nhớ bên thứ ba. Tháng 8, Kingston tăng thời gian bảo hành thẻ nhớ Flash lên "trọn đời sản phẩm". Forbes xếp Kingston ở vị trí 178 trong danh sách các công ty tư nhân hàng đầu. 2005 iSuppli xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun bộ nhớ số một thế giới dành cho thị trường bộ nhớ bên thứ ba năm thứ hai liên tiếp. Forbes xếp Kingston ở vị trí 140 trong danh sách "500 Công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ." Tháng 7, Kingston được cấp bằng sáng chế của Mỹ cho thiết bị thử nghiệm đốt nóng linh động dành cho bộ nhớ máy chủ. Tháng 9, Kingston mở nhà máy sản xuất mô-đun bộ nhớ lớn nhất thế giới tại Thượng Hải, Trung Quốc. 2006 iSuppli xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun bộ nhớ số 1 thế giới dành cho thị trường bộ nhớ bên thứ ba năm thứ 3 liên tiếp. DRAMeXchange xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun DRAM bên thứ ba số 1 thế giới. Tháng 3, Kingston giới thiệu ổ lưu trữ USB 100% riêng tư, bảo mật hoàn toàn đầu tiên với công nghệ mã hoá dựa trên phần cứng 128 bit và sau đó cũng trong năm này, công nghệ mã hoá phần cứng 256 bit. Tháng 4, Kingston giới thiệu công nghệ Fully-Buffered Dimm (FBDIMM), phá vỡ giới hạn 16GB. Tháng 9, Kingston nhận được Giải thưởng Nhà cung cấp Xuất sắc của Intel cho dịch vụ hỗ trợ vượt trội, chất lượng và giao hàng đúng hẹn các sản phẩm FB-DIMM. Forbes xếp Kingston ở vị trí 97 trong danh sách "500 Công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ." 2007 iSuppli xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun bộ nhớ số 1 thế giới dành cho thị trường bộ nhớ bên thứ ba năm thứ 4 liên tiếp. DRAMeXchange xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun DRAM bên thứ ba số 1 thế giới. Forbes xếp Kingston ở vị trí 83 trong danh sách "500 Công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ." Inc. xếp hạng Kingston là Công ty tư nhân phát triển nhanh nhất tính theo doanh thu. 2008 iSuppli xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun bộ nhớ số 1 thế giới dành cho thị trường bộ nhớ bên thứ ba năm thứ 5 liên tiếp. DRAMeXchange xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun DRAM bên thứ ba số 1 thế giới. Tháng 8, trong danh sách "Top 100 trong 5000 công ty Inc." của Inc.com, Kingston xếp thứ hai ở cả Tổng giá trị đô la tăng trưởng và Tổng doanh thu. Forbes xếp Kingston ở vị trí 79 trong danh sách "500 Công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ." Gartner Research xếp hạng Kingston là nhà sản xuất ổ USB số 1 thế giới. 2009 Kingston báo cáo doanh thu đạt 4 tỷ USD trong năm 2008. Số lượng thiết bị bộ nhớ bán ra từ năm 2007 tăng 41%. iSuppli xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun bộ nhớ số 1 thế giới dành cho thị trường bộ nhớ bên thứ ba năm thứ 6 liên tiếp. Tháng 8, trong danh sách "Top 100 trong 5000 công ty Inc." của Inc.com, Kingston xếp thứ 5 trong hạng mục Công ty tư nhân lớn nhất tính theo doanh thu. Forbes xếp Kingston ở vị trí 97 trong danh sách "500 Công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ," và vị trí thứ nhất trong hạng mục phần cứng máy tính. Gartner Research xếp hạng Kingston là nhà sản xuất ổ USB số 1 thế giới. 2010 Kingston báo cáo doanh thu đạt 4,1 tỷ USD trong năm 2009, mức cao thứ 2 trong lịch sử công ty. iSuppli xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun bộ nhớ số 1 thế giới dành cho thị trường bộ nhớ bên thứ ba với 40,3% thị phần, tăng từ mức 32,8% năm 2008 và 27,5% năm 2007. Forbes xếp Kingston ở vị trí 77 trong danh sách "500 Công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ." Trong danh sách "Top 100 trong 5000 công ty Inc." của Inc.com, Kingston xếp thứ 6 trong hạng mục Công ty tư nhân lớn nhất tính theo doanh thu. Gartner Research xếp hạng Kingston là nhà sản xuất ổ USB số 1 thế giới. 2011 Kingston báo cáo doanh thu đạt 6,5 tỷ USD trong năm 2010, mức cao nhất trong lịch sử công ty. iSuppli xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun bộ nhớ số 1 thế giới dành cho thị trường bộ nhớ bên thứ ba với 46% thị phần trong năm 2010, tăng từ mức 40%. Kingston ra mắt các sản phẩm lưu trữ Wi-Drive Wireless. Forbes xếp Kingston ở vị trí 51 trong danh sách các công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ, tăng từ vị trí 77 trước đó. Inc. xếp Kingston ở vị trí thứ 4 về doanh thu trong danh sách 100 công ty hàng đầu và vị trí số một trong hạng mục phần cứng máy tính. Gartner Research xếp hạng Kingston là nhà sản xuất USB số 1 thế giới. 2012 Kingston kỷ niệm 25 năm tham gia thị trường bộ nhớ. iSuppli xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun bộ nhớ số 1 thế giới dành cho thị trường bên thứ ba năm thứ 9 liên tiếp. Kingston kỷ niệm 10 năm ra mắt sản phẩm bộ nhớ cao cấp HyperX. Kingston ra mắt ổ SSD mang thương hiệu HyperX.Kingston ra mắt ổ USB Windows to Go đầu tiên. Forbes xếp Kingston ở vị trí 48 trong danh sách "500 Công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ." Gartner Research xếp hạng Kingston là nhà sản xuất USB số 1 thế giới. 2013 Kingston xuất xưởng USB Flash 3.0 nhanh nhất, dung lượng lớn nhất thế giới là DataTraveler HyperX Predator 3.0 với dung lượng lên đến 1TB. Kingston ra mắt đầu đọc MobileLite Wireless thuộc dòng sản phẩm lưu trữ cho điện thoại thông minh và máy tính bảng. iSuppli xếp hạng Kingston là nhà sản xuất mô-đun bộ nhớ số một thế giới trong thị trường bộ nhớ bên thứ ba trong mười năm liên tiếp. Gartner Research xếp hạng Kingston là nhà sản xuất USB Flash số một thế giới trong 6 năm liên tiếp. == Tham khảo == Giải thưởng &Danh hiệu
âm nhạc máy tính.txt
Âm nhạc máy tính là hình thức sử dụng công nghệ để sáng tác, hỗ trợ các nhạc sĩ, thậm chí lập trình để máy tính có thể tự tạo nên các sản phẩm âm nhạc với các phần mềm chuyên dụng. Khái niệm này bao gồm một số lý thuyết và áp dụng những phần mềm công nghệ vào các khái niệm âm nhạc cơ bản nhằm tạo nên âm thanh tổng hợp, nhịp đếm kỹ thuật số, thiết kế hòa âm, hiệu ứng âm thanh phát, âm học và thẩm âm học. Âm nhạc máy tính chính là nền móng cho sự ra đời của âm nhạc điện tử và những thử nghiệm và cải tiến đầu tiên của các nhạc cụ điện tử vào cuối thế kỷ 20. Tới thập niên 2000, với sự phổ biến rộng khắp của máy tính cá nhân tiện nghi tốc độ xử lý cao, cùng sự phát triển của kỹ thuật phòng thu và thu âm kỹ thuật số từ Garageband tới Protools, khái niệm này được nhắc tới để miêu tả âm nhạc được tạo nên từ công nghệ kỹ thuật số. == Tham khảo == == Thư mục == Ariza, C. 2005. "Navigating the Landscape of Computer-Aided Algorithmic Composition Systems: A Definition, Seven Descriptors, and a Lexicon of Systems and Research." In Proceedings of the International Computer Music Conference. San Francisco: International Computer Music Association. 765-772. Internet: http://www.flexatone.net/docs/nlcaacs.pdf Ariza, C. 2005. An Open Design for Computer-Aided Algorithmic Music Composition: athenaCL. Ph.D. Dissertation, New York University. Internet: http://www.flexatone.net/docs/odcaamca.pdf Berg, P. 1996. "Abstracting the future: The Search for Musical Constructs" Computer Music Journal 20(3): 24-27. Boulanger, Richard biên tập (ngày 6 tháng 3 năm 2000). The Csound Book: Perspectives in Software Synthesis, Sound Design, Signal Processing, and Programming. The MIT Press. tr. 740. ISBN 0-262-52261-6. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2009. Chadabe, Joel. 1997. Electric Sound: The Past and Promise of Electronic Music. Upper Saddle River, New Jersey: Prentice Hall. Chowning, John. 1973. "The Synthesis of Complex Audio Spectra by Means of Frequency Modulation". Journal of the Audio Engineering Society 21, no. 7:526–34. Collins, Nick (2009). Introduction to Computer Music. Chichester: Wiley. ISBN 978-0-470-71455-3. Dodge, Charles; Jerse (1997). Computer Music: Synthesis, Composition and Performance. Thomas A. (ấn bản 2). New York: Schirmer Books. tr. 453. ISBN 0-02-864682-7. Doornbusch, P. 2015. "A Chronology / History of Electronic and Computer Music and Related Events 1906 - 2015" http://www.doornbusch.net/chronology/ Heifetz, Robin (1989). On the Wires of Our Nerves. Lewisburg Pa.: Bucknell University Press. ISBN 0-8387-5155-5. Manning, Peter (2004). Electronic and Computer Music . Oxford Oxfordshire: Oxford University Press. ISBN 0-19-517085-7. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Perry, Mark, and Thomas Margoni. 2010. "From Music Tracks to Google Maps: Who Owns Computer-Generated Works?". Computer Law and Security Review 26: 621–29. Roads, Curtis (1994). The Computer Music Tutorial. Cambridge: MIT Press. ISBN 0-262-68082-3. Supper, M. 2001. "A Few Remarks on Algorithmic Composition." Computer Music Journal 25(1): 48-53. Xenakis, Iannis (2001). Formalized Music: Thought and Mathematics in Composition. Harmonologia Series No. 6. Hillsdale, NY: Pendragon Pr. ISBN 1-57647-079-2.
google news.txt
Google News là một trang web tổng hợp tin tức tự động được cung cấp bởi Google. Ý tưởng ban đầu được hình thành từ việc xếp hạng trang web của Google, được phát triển bởi Krishna Bharat vào năm 2001, trưởng bộ phận Nghiên cứu của Google. Không ai được thay thế trang chủ hoặc nội dung của nó. Tất cả đều được thực hiện bằng các giải thuật tổng hợp tin. Google News trở thành bản chính thức vào tháng 1 năm 2006. Hiện trang đã có phiên bản tiếng Việt tại địa chỉ http://news.google.com.vn. == Liên kết ngoài == Google News Google tin tức Việt Nam == Chú thích ==
sông hồng.txt
Sông Hồng có tổng chiều dài là 1,149 km bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Việt Nam và đổ ra biển Đông. Đoạn chảy trên đất Việt Nam dài 510 km. Đây là dòng sông quan trọng của nền văn hóa lúa nước Việt Nam. == Tên gọi == Sông Hồng còn có các tên gọi khác như Hồng Hà (tiếng Trung: 紅河 Honghe), hay sông Cái (người Pháp đã phiên tên gọi này thành Song-Koï). Đoạn chảy trên lãnh thổ Trung Quốc được gọi là Nguyên Giang (元江, bính âm: yuan2 jiang1), đoạn đầu nguồn có tên là Lễ Xã Giang (禮社江). Đoạn từ chảy từ Lào Cai đến "ngã ba Hạc" ở Việt Trì (Phú Thọ) được gọi là sông Thao, đoạn qua Hà Nội còn gọi là Nhĩ Hà hoặc Nhị Hà. Lịch sử Việt còn ghi sông với tên Phú Lương. == Dòng chảy và lưu lượng == Dòng chính (chủ lưu) của sông Hồng bắt nguồn từ vùng núi thuộc huyện Nguy Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ở độ cao 1.776 m. Chi lưu phía đông bắt nguồn từ vùng núi huyện Tường Vân. Chủ yếu nó chảy theo hướng tây bắc-đông nam, qua huyện tự trị Nguyên Giang của người Thái (傣 Dăi), Di (彞), Cáp Nê (哈尼 Hani, ở Việt Nam gọi là người Hà Nhì). Đến biên giới Việt - Trung, sông Hồng chạy dọc theo biên giới khoảng 80 km; bờ nam sông thuộc Việt Nam, bờ bắc vẫn là lãnh thổ Trung Quốc. Điểm tiếp xúc đầu tiên của sông Hồng với lãnh thổ Việt Nam tại xã A Mú Sung (huyện Bát Xát), chính giữa sông là điểm phân chia lãnh thổ hai nước. Đến thành phố Lào Cai, sông Hồng chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam qua phía đông thủ đô Hà Nội trước khi đổ ra biển Đông ở cửa Ba Lạt (ranh giới giữa hai tỉnh Thái Bình và Nam Định). Ở Lào Cai sông Hồng cao hơn mực nước biển 73 m. Đến Yên Bái cách Lào Cai 145 km thì sông chỉ còn ở cao độ 55 m. Giữa hai tỉnh đó là 26 ghềnh thác, nước chảy xiết. Đến Việt Trì thì triền dốc sông không còn mấy nên lưu tốc chậm hẳn lại. Đồng bằng sông Hồng nằm ở hạ lưu con sông này. Các phụ lưu của sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc là sông Đà (có tên là sông Lý Tiên), sông Nậm Na (sông Đăng), sông Lô (Bàn Long) và sông Nho Quế (Phổ Mai) cùng một số sông nhỏ khác như sông Mễ Phúc, sông Nam Khê chảy qua biên giới hai nước vào Việt Nam. Trên lãnh thổ Việt Nam thì những phụ lưu trên như sông Đà, sông Lô (với phụ lưu là sông Chảy và sông Gâm), ngòi Phát, ngòi Bo, ngòi Nhù, ngòi Hút, ngòi Thia, ngòi Lao, sông Bứa đổ dồn vào sông Hống phía trên Ngã ba Hạc. Từ đó xuống hạ lưu thì sông Hồng khoong nhận thêm nước nữa mà bắt đầu rót nước sang các phân lưu. Phía tả ngạn là sông Đuống chảy từ Hà Nội sang Phả Lại ở phía đông thuộc Hải Dương và sông Luộc chảy từ Hưng Yên đến Quý Cao (huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Hai sông này nối sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình. Phân lưu phía hữu ngạn là sông Đáy và sông Đài (còn gọi là Lạch Giang hay Ninh Cơ), nối sông Hồng và sông Đáy là hai sông Phủ Lý và sông Nam Định. Sông Hồng có lưu lượng nước bình quân hàng nǎm rất lớn, tới 2.640 m³/s (tại cửa sông) với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 tỷ m³, tuy nhiên lưu lượng nước phân bổ không đều. Về mùa khô lưu lượng giảm chỉ còn khoảng 700 m³/s, nhưng vào cao điểm mùa mưa có thể đạt tới 30.000 m³/s. == Lợi ích và nguy cơ == Nước sông Hồng về mùa lũ có màu đỏ-hồng do phù sa mà nó mang theo, đây cũng là nguồn gốc tên gọi của nó. Lượng phù sa của sông Hồng rất lớn, trung bình khoảng 100 triệu tấn trên nǎm tức là gần 1,5 kg phù sa trên một mét khối nước. Sông Hồng góp phần quan trọng trong sinh hoạt đời sống cũng như trong sản xuất. Phù sa giúp cho đồng ruộng thêm màu mỡ, đồng thời bồi đắp và mở rộng vùng châu thổ ở vùng duyên hải thuộc hai tỉnh Thái Bình, Nam Định. Nguồn cá bột của sông Hồng đã cung cấp giống đáng kể cho nghề nuôi cá nước ngọt ở đồng bằng Bắc Bộ. Do lượng phù sa lớn mà lòng sông luôn bị lấp đầy khiến cho lũ lụt thường xuyên xảy ra, vì thế mà từ lâu hai bên bờ sông người ta đã đắp lên những con đê to nhỏ để tránh lũ lụt ngăn nước. == Khai thác thuỷ điện == Nguồn thuỷ năng trong lưu vực sông Hồng tương đối dồi dào, điều kiện khai thác thuận lợi nhất là công trình trên sông nhánh, cho đến nay đã xây dựng các trạm thuỷ điện sau: Các trạm phát điện có công suất lắp máy dưới 10.000 kW tổng cộng là 843 với tổng công suất lắp đặt là 99.400 kW và 1 trạm thuỷ điện loại vừa ở Lục Thuỷ Hà có công suất 57.500 kW, như vậy mới khai thác chưa đến 5% khả năng thuỷ điện có thể khai thác trong lưu vực. Tổng công suất các trạm thuỷ điện trong lưu vực có thể khai thác đạt 3.375 triệu kW trong đó dòng chính sông Hồng chỉ chiếm 23% còn 77% tập trung ở các sông nhánh. Nét nổi bật về khai thác thuỷ điện lưu vực sông Hồng là: Tập trung khai thác thuỷ điện trên các sông nhánh có đầu nước cao lưu lượng nhỏ, kiểu đường dẫn chuyển nước sang lưu vực địa hình thấp là kinh tế nhất. Dòng chính sông Hồng chảy theo đường thẳng, ít gấp khúc và chêch lệch thuỷ đầu tập trung không nhiều vì vậy phần lớn khai thác kiểu thuỷ điện sau đập, có nhiều khó khăn vì núi cao khe sâu phải làm đập cao để tạo đầu nước sẽ không kinh tế. Các thuỷ điện trên sông nhánh thường xa khu dân cư và đất canh tác rất phân tán, làm thế nào để công trình thuỷ điện đồng thời kết hợp cấp nước cho sản xuất và đời sống của nông dân là vấn đề cần nghiên cứu giải quyết đạt hiệu ích kinh tế. Nhưng do lượng phù sa lớn, làm nông dòng sông và lưu lượng chảy sẽ kém nên sẽ làm giảm hiệu quả hay phá hủy các công trình thủy điện trong tương lai gần đây. == Lưu lượng == Bản thống kê lưu lượng nước qua từng tháng được thống kê trong bảng sau: == Các tỉnh, thành phố chảy qua == Trung Quốc Vân Nam Việt Nam Lào Cai Yên Bái Phú Thọ Vĩnh Phúc Hà Nội Hưng Yên Hà Nam Nam Định Thái Bình == Các cây cầu == Trên lãnh thổ Việt Nam (theo thứ tự từ bắc đến nam) Kim Thành, tỉnh Lào Cai. Cốc Lếu, tỉnh Lào Cai. Phố Mới, tỉnh Lào Cai. Cầu nối đường 30- 4 với xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai (đã khởi công) Phố Lu, tỉnh Lào Cai Phố Lu mới, tỉnh Lào Cai (đã khởi công) Bảo Hà, tỉnh Lào Cai Trái Hút, tỉnh Yên Bái. Mậu A, tỉnh Yên Bái. Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Văn Phú, tỉnh Yên Bái. Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Sông Hồng, tỉnh Phú Thọ, trên cao tốc Hà Nội - Lào Cai Ngọc Tháp, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Cầu nối Việt Trì - Ba Vì (đã khởi công) Vĩnh Thịnh, thành phố Hà Nội -Vĩnh Phúc. Hồng Hà (dự án), Hà Nội. Thượng Cát (dự án), Hà Nội. Thăng Long, Hà Nội. Nhật Tân, Hà Nội. Tứ Liên (dự án), Hà Nội. Long Biên, Hà Nội. Chương Dương, Hà Nội. Vĩnh Tuy, Hà Nội. Thanh Trì, Hà Nội. Ngọc Hồi (dự án), Hà Nội. Mễ Sở, Hà Nội - Hưng Yên (dự án) Yên Lệnh, Hưng Yên-Hà Nam Hưng Hà, Hưng Yên -Hà Nam (đã khởi công) Thái Hà, Hà Nam - Thái Bình (đã khởi công) Tân Đệ, Nam Định-Thái Bình. Cầu Cồn Nhất, Nam Định - Thái Bình (dự án) == Các hình ảnh về sông Hồng == == Xem thêm == Đê sông Hồng Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng Dự án thành phố sông Hồng == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Sông Hồng, những đổi thay qua thời gian
hiệp ước xô-đức.txt
Hiệp ước Xô-Đức, còn được gọi là Hiệp ước Molotov-Ribbentrop hay Hiệp ước Hitler-Stalin có tên chính thức là Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Liên bang Xô viết (Tiếng Đức: Deutsch-sowjetischer Nichtangriffspakt; Tiếng Nga: Договор о ненападении между Германией и Советским Союзом); được ký kết ngày 23 tháng 8, 1939 giữa Ngoại trưởng Vyacheslav Mikhailovich Molotov đại diện cho Liên Xô và Ngoại trưởng Joachim von Ribbentrop đại diện cho Đức Quốc xã. Nghị định thư bí mật đính kèm Hiệp ước quy định các nước Phần Lan, Estonia, Latvia, Litva, và România thuộc "vùng ảnh hưởng của Liên Xô". Ngoài ra, Đức chấp thuận việc Liên Xô thu hồi lại Tây Ukraine và Tây Byelorussia (khi đó bị Ba Lan chiếm đóng và gọi là Đông Ba Lan). Các bên thỏa thuận với các cam kết kiềm chế không tấn công lẫn nhau và giữ thái độ trung lập trong trường hợp một trong hai bên trở thành mục tiêu của những hành động quân sự của bất kỳ bên thứ ba nào. Các thành viên Hiệp định cũng cam kết không tham gia vào các nhóm thế lực trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại phía bên kia. Trong tương lai, hai bên cam kết việc cung cấp, trao đổi lẫn nhau về thông tin đối với những vấn đề có ảnh hưởng đến lợi ích của các bên. Kèm theo hiệp định là một nghị định thư bí mật được ký bổ sung. Trong đó quy định Đông Âu là phần lãnh thổ nằm trong phạm vi quyền lợi của Đức và Liên Xô trong trường hợp có "sự sắp xếp lại về chính trị đối với lãnh thổ" của các quốc gia này. Nghị định này cho phép thành lập chính quyền thân Liên Xô tại Litva, Latvia, Estonia và Đông Ba Lan. Phần Lan và Bessarabia đều nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô. Ngày 1 tháng 9 năm 1939 Đức xâm chiếm Ba Lan, và ngày 17 tháng 9 quân đội Liên Xô tiến vào miền Đông Ba Lan theo lệnh của Stalin. Việc phân chia lãnh thổ của Ba Lan giữa Liên Xô và Đức đã được hoàn thành. Ngày 28 tháng 9 năm 1939, Đức và Liên Xô ký kết Hiệp ước hữu nghị về biên giới. Sau đó, Liên Xô đã sáp nhập các nước Baltic (Estonia, Latvia, Litva), Bessarabia và Bắc Bukovina, và một phần của Phần Lan vào lãnh thổ của mình. Các thỏa thuận đã được ký kết đã làm dịu sự căng thẳng trong quan hệ chính trị và kinh tế giữa Liên Xô và Đức đang nóng lên sau sự xuất hiện của Hitler trên vũ đài chính trị và nắm quyền điều hành nước Đức cùng với các cuộc xung đột vũ trang (trong đó Liên Xô chống lại sự can thiệp của Đức và Italy ở Tây Ban Nha và ủng hộ phái Cộng hoà Tây Ban Nha, chống lại quân đội Nhật Bản ở Viễn Đông trong các Chiến dịch hồ Khasan và Khalkhyn Gol). Sự kiện này trở thành một bất ngờ chính trị cho các nước thứ ba. Gần như đồng thời với các tin đồn về sự tồn tại của thỏa thuận bí mật bổ sung, các văn bản Hiệp ước đã được xuất bản vào năm 1948 dưới dạng các bản sao. Năm 1993, văn bản gốc của Hiệp ước được tìm thấy. Sau khi Đức tấn công Liên Xô ngày 22 tháng 6 năm 1941, cũng như tất cả các văn kiện ngoại giao Xô-Đức khác, hiệp định này đã không còn giá trị.. == Bối cảnh quốc tế == Một số nguyên nhân cơ bản dẫn tới hiệp ước bao gồm: Đức đang chuẩn bị tấn công Ba Lan và muốn tránh chiến đấu trên hai mặt trận: phía Tây chống Anh-Pháp và phía Đông chống Liên Xô. Hơn nữa, Đức cũng muốn tăng cường ngoại thương với Liên Xô để bù đắp cho sự phong tỏa của Đồng minh trên mặt biển. Liên Xô muốn đẩy lùi chiến tranh nhưng vấp phải sự cản trở của các nước phương Tây do họ đã ký với nước Đức Quốc xã hiệp ước Munchen. Mặc dù tiềm lực kinh tế quốc phòng đã được củng cố một bước nhưng về vấn đề cán bộ lại đang gặp khó khăn sau đợt thanh trừng của Josef Stalin những năm 1936-1938. Mục đích của Liên Xô là hòa hoãn hoặc với Anh-Pháp để cùng chống Đức hoặc hòa hoãn với Đức để tránh chiến tranh. Anh-Pháp luôn đánh giá thấp tiềm lực quân sự của Liên Xô, và nhất là Anh luôn nghi kỵ Liên Xô. Thủ tướng Anh Neville Chamberlain ghi trong nhật ký của mình: "Tôi xin thú thực rằng tôi rất nghi ngờ nước Nga". Vì thế, họ thường tỏ ra thờ ơ mỗi khi Liên Xô đề nghị cùng hợp lực chống Đức. Việc này vô hình trung đẩy Liên Xô phải đàm phán với nước Đức Quốc xã vì nền an ninh của mình. Ba Lan cũng nghi kỵ Liên Xô (trong quá khứ 2 nước đã nhiều lần xâm lược lẫn nhau) nên không muốn Liên Xô mang quân qua lãnh thổ của họ để chống lại Đức. Vì việc này, liên minh Nga-Anh-Pháp nhằm bảo vệ Ba Lan khó thành hiện thực. Do đó, kế hoạch thiết lập an ninh tập thể châu Âu do Liên Xô đề xướng luôn vấp phải sự chống đối hoặc ít ra cũng là sự lãnh đạm của các nước lớn ở Tây Âu. Điều này buộc Liên Xô phải ký kết với các nước Đông Âu và Pháp các bản hiệp ước song phương về tương trợ an ninh quốc phòng. Mặc dù không ưa Liên Xô nhưng dưới sức ép của dư luận trong nước, chính phủ các nước này cũng phải đàm phán với Liên Xô về các vấn đề quốc phòng và an ninh nhằm chống lại sự đe dọa của nước Đức Quốc xã. Tháng 5 năm 1935, hai hiệp ước được Liên Xô ký kết với Anh và Pháp. Tuy nhiên, tổng thống Tiệp Khắc Benet đã từ chối thi hành hiệp ước này và coi nó là một dĩ vãng còn sót lại. Còn đối với người Pháp, mặc dù các thỏa ước khung đã được ký kết nhưng họ vẫn không chịu ký với Liên Xô một hiệp định chung giữa bộ tham mưu quân đội hai nước để cùng nhau chống nước Đức Quốc xã. Trong các năm 1936-1937, Liên Xô đã giúp đỡ những người Cộng hòa Tây Ban Nha chống lại chế độ Franco được Adolf Hitler bảo trợ nhưng lại không được Anh, Pháp ủng hộ tích cực. Ngược lại, từ tháng 11 năm 1937, họ đã mở nhiều cuộc hội đàm với các thủ lĩnh Đức Quốc xã tại Obersanzberg. Tham dự các vòng hội đàm còn có cả Huân tước Anh Halifax, các bộ trưởng của chính phủ Pháp. Họ cho rằng chế độ của Hitler đã trở thành thành trì chống chủ nghĩa Bolshevik và đã đến lúc có thể tiến hành cuộc thập tự chinh mới về phương Đông. Thái độ không dứt khoát của Anh và Pháp vô hình trung đã "động viên" Hitler mạnh dạn ra tay. Ngày 1 tháng 3 năm 1938, nước Đức quốc xã thôn tính Cộng hòa Áo mà không cần nổ một phát súng. Trong khi Bộ trưởng dân ủy ngoại giao Liên Xô tuyên bố lên án cuộc xâm lược này thì thủ tướng Anh Neville Chamberlain lại nói: "Chúng ta phải tránh bị mắc lừa. Và chúng ta cũng không để cho các nước nhỏ có ảo tưởng về sự giúp đỡ của Hội Quốc Liên có thể dành cho họ để chống lại sự xâm lược". Thái độ đó càng khuyến khích Hitler lấn tới. Tháng 8 năm 1938, quân đội Đức tập trung 30 sư đoàn quanh biên giới Tiệp Khắc. Đáng lẽ phải thành lập một mặt trận chung chống nước Đức Quốc xã thì Anh - Pháp lại nhận lời mời của Ribbentrop tham gia Hội nghị Munchen trong các ngày 29 và 30 tháng 9 năm 1938 giữa tứ cường Anh, Đức, Pháp, Ý. Kết quả của hội nghị này là một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau được ký giữa bốn nước này ngày 30 tháng 9 mà không hề đếm xỉa đến Hiệp ước tương trợ giữa Anh và Pháp với chính phủ Tiệp Khắc của tổng thống Benet. Ngày 6 tháng 12 năm 1938, Pháp tuyên bố từ bỏ Hiệp ước tương trợ với Liên Xô để ký với Đức bản tuyên bố thừa nhận hiệu lực hoàn toàn của Hiệp định Munich 1938. Bằng Hiệp định Munich, Anh và Pháp đã thừa nhận việc Đức Quốc xã thôn tính nước Áo là việc đã rồi, cho phép Hitler đánh chiếm xứ Bohemia và Moravia, chia cắt Tiệp Khắc; đặt Ba Lan và cả Liên Xô trước nguy cơ xâm lược của nước Đức Quốc xã. Nhà sử học Cộng hòa Liên bang Đức Michael Freuner viết: "Khi gót giày Đức làm rung chuyển xứ Bohemia thì toàn thế giới sụp đổ. Người ta đã bỏ đi hòn đá tảng của Hiệp ước Versailles. Đế quốc Đức thấy mình đã được mở cửa sang phía Đông" Hiệp định Munich 1938 không chỉ mở đường cho nước Đức Quốc xã chiếm đóng Tiệp Khắc mà còn "bật đèn xanh" cho quân đội Đức tại Đông Phổ chiếm vùng Klaipeda của Litva, áp đặt một hiệp ước kinh tế bất bình đẳng với Romania và khuyến khích nước Ý phát xít của Benito Mussolini xâm lược Albania. Tháng 4 năm 1939, trong một nỗ lực cuối cùng để cứu vãn nền an ninh tập thể của châu Âu, Liên Xô mở lại các cuộc thương lượng với Anh và Pháp, thành thực tìm kiếm một hiệp định tương trợ thật sự với các nước Tây Âu và Đông Âu. Mặc dù người Nga thực lòng muốn ký một hiệp ước phòng thủ chung càng sớm càng tốt với Anh và Pháp nhưng họ đã vấp phải sự lạnh nhạt của các chính phủ Édouard Daladier và Neville Chamberlain. Họ đòi Liên Xô bảo đảm sự giúp đỡ nếu nước Đức Quốc xã tiến công về phía Tây nhưng lại lảng tránh vấn đề giúp đỡ Ba Lan nếu nước Đức gây hấn ở phía Đông. Chính thái độ này của Anh và Pháp đã khuyến khích các nước Đức, Ý, Nhật ký kết với nhau tại Berlin bản "Hiệp ước chống quốc tế cộng sản" ngày 27 tháng 9 năm 1940. Toàn bộ tình hình trên đã buộc chính phủ Liên Xô phải có những hành động kiên quyết trong việc tìm con đường để đảm bảo cho nền anh ninh đất nước. Con đường đó là con đường lợi dụng mâu thuẫn giữa các kẻ thù, khi Liên Xô quyết định chấp nhận đề nghị (nhiều lần) của Quốc xã ký với họ hiệp ước không xâm lược lẫn nhau. Những lời đề nghị này đã có từ ngày 20 tháng 8 năm 1936 nhưng chỉ đến khi thấy không còn biện pháp ngoại giao nào khác để đẩy lùi chiến tranh; ngày 23 tháng 8 năm 1939, Nhà nước Liên Xô mới cử phái đoàn do Bộ trưởng dân ủy ngoại giao V. M. Molotov dẫn đầu đón tiếp phái đoàn Đức của Ribbentrop tại Moskva để đàm phán với nước Đức Quốc xã. Về phía Đức Quốc xã, để chuẩn bị cho Chiến tranh thế giới thứ hai, Hitler đặc biệt quan tâm đến vấn đề làm sao tránh cho nước Đức thoát khỏi tình cảnh phải tiến hành chiến tranh cùng lúc trên hai mặt trận như trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Để đạt được mục đích ấy, trong quan hệ với các cường quốc tư bản phương Tây, Hitler đã nói: "Phải dùng con ngáo ộp Bolshevik để đe dọa các cường quốc Versailles làm cho họ tin rằng, nước Đức là con đê cuối cùng ngăn chặn làn sóng đỏ. Đối với chúng ta, đó là cách duy nhất để vượt qua thời kì khủng hoảng này, thanh toán hiệp ước Versailles và tái vũ trang.". Nhưng mặt khác, Hitler cũng chủ trương tạm hòa hoãn với Liên Xô để tập trung lực lượng chống các cường quốc tư bản phương Tây, trước hết là Anh-Pháp. Kết quả của cuộc đàm phán là bản Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Liên Xô, gọi tắt là Hiệp ước Xô-Đức. Mặc dù bản hiệp ước có giá trị 10 năm nhưng đến tháng 11 năm 1940, khi phái đoàn Liên Xô do Bộ trưởng Dân ủy ngoại giao V. M. Molotov dẫn đầu sang Đức để bàn việc thi hành hiệp ước này thì người Đức lại khước từ. Và hiệp ước này thực sự trở thành tờ giấy lộn từ ngày 22 tháng 6 năm 1941. == Chính sách đối ngoại của Liên Xô trong những năm 1933-1939 == Sau khi Hitler lên nắm quyền năm 1933 và đưa nước Đức vào tiến trình của chủ nghĩa "quốc gia xã hội" chống Xô Viết, chống bồi thường cho cộng sản Liên Xô, làm băng giá các quan hệ kinh tế và quân sự Xô-Đức. Có những ý kiến cho rằng ban đầu Stalin nhìn nhận Hitler như một con rối của các tầng lớp tư bản độc quyền Đức. Họ đã đưa Hitler lên cầm quyền nhưng chính họ mới là những người chủ thực sự của Đức. Kể từ đó, lập trường chính thức của các nhà ngoại giao Liên Xô, đứng đầu là Litvinov với chính sách về "an ninh chung châu Âu" trở thành cơ sở của hệ thống các điều ước quốc tế mà Liên Xô ký kết, phù hợp với hệ thống Versailles và ngăn chặn việc tìm kiếm kế hoạch phục thù của nước Đức. Đến tháng 3 năm 1935, rốt cuộc nước Đức đã đơn phương chấm dứt hoạt động của các quan sát viên theo dõi việc thi hành các điều khoản quân sự của Hiệp ước Versailles 1919. Nước này đã thiết lập chế độ cưỡng bách tòng quân, thực hiện phổ biến chế độ đảm phụ chiến tranh phổ biến và thời kỳ tái vũ trang nước Đức đã bắt đầu. Tuy nhiên, hành động này của nước Đức đã không gặp phải sự phản đối có hiệu lực từ các cường quốc phương Tây, những nước bảo lãnh của Hiệp ước Versailles. Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau giữa Ba Lan và Liên Xô đã được ký ngày 25 tháng 7 năm 1932, ban đầu có hiệu lực trong 2 năm. Đến ngày 5 tháng 5 năm 1934, nó được gia hạn đến ngày 31 tháng 12 năm 1945. Ngày 2 tháng 5 năm 1935, Liên Xô đã ký kết với Pháp, và ngày 16 tháng 6 ký kết với Tiệp Khắc các thỏa thuận hỗ trợ lẫn nhau. Còn Ba Lan thì đã tự nguyện đảm nhận việc bảo vệ lợi ích của Đức tại Hội Quốc Liên. Ngày 26 tháng 1 năm 1934, Ba Lan đã ký một tuyên bố với Đức về tình hữu nghị và không xâm phạm lẫn nhau. Tiếp đó, tháng 11 năm 1936, Đức và Nhật Bản đã ký hiệp định chống lại Quốc tế Cộng sản Liên Xô, đến năm 1937 có thêm Italia tham gia. Liên Xô cung cấp hỗ trợ quân sự cho chính phủ Cộng hòa Tây Ban Nha, nơi mà Đức và Ý đang tích cực hỗ trợ các cuộc đảo chính của tướng Franco. Trong tháng 3 năm 1938, Đức thôn tính nước Áo và tuyên bố chủ quyền vùng Sudet trên lãnh thổ Tiệp Khắc. Trong khi đó, Anh và Pháp lại theo đuổi một chính sách xoa dịu và nhượng bộ. Rất nhiều tổ hợp và tập đoàn đầu tư của phương Tây đầu tư vào nền kinh tế nước Đức, đặc biệt là trong ngành công nghiệp nặng.. Sự việc rõ ràng hơn qua thư khố của Bộ Ngoại giao Đức. Một bản ghi nhớ ngày 4 tháng 11, 1938 cho thấy Hermann Göring nhấn mạnh việc phục hồi quan hệ mậu dịch với Liên Xô, nhất là việc mua nguyên vật liệu của Liên Xô. Những hiệp ước kinh tế Nga-Đức sẽ hết hạn vào cuối năm, và các cuộc đàm phán để ký kết lại thì chưa ngã ngũ. Hai bên vẫn còn nghi ngại nhau nhưng đang chầm chậm tiến đến gần nhau. Trở ngại chính trong mậu dịch là trong khi Đức đang thèm muốn nguyên liệu của Liên Xô, Đức không thể cung cấp cho Liên Xô những hàng hóa để dùng vào việc trao đổi hiện vật. Tuy nhiên quan hệ kinh tế khó có thể thay thế các quan hệ chính trị ngoại giao đã có những dấu hiệu khác thường. Ngày 10 tháng 3 năm 1939, Josef Stalin đọc một bài diễn văn dài trong Đại hội Đảng lần thứ 18. Ba ngày sau, Đại sứ Đức ở Nga, Friedrich von der Schulenburg, gửi về Berlin một bản báo cáo dài, cho biết: "Trong tình hình quốc tế hiện nay mà họ cho là nghiêm trọng, Chính phủ Xô Viết tìm cách tránh cuộc xung đột giữa Liên Xô với Đức". Anh bỏ qua, nhưng Đức để ý đến việc này. Stalin tin rằng Anh thích liên minh với Ba Lan hơn là với Liên Xô. Ông cũng cho rằng Thủ tướng Anh Arthur Neville Chamberlain muốn đẩy Liên Xô ra ngoài rìa chính trường châu Âu. Tuy thế, chính sách ngoại giao của Liên Xô vẫn là để mở cho cả hai bên Đức và Anh-Pháp. Ngày 16 tháng 4 năm 1939, Ngoại trưởng Litvinov của Liên Xô chính thức đề nghị Hiệp ước Ba Bên gồm Anh, Pháp và Nga. Đấy là nỗ lực cuối cùng của Litvinov nhằm tạo mối liên minh chống Đức. Không nước nào ở Đông Âu, kể cả Ba Lan, có đủ tiềm lực duy trì một mặt trận ở vùng này. Tuy thế, đề nghị của Liên Xô đã gặp phải thái độ nghi ngại của Anh và Pháp. === "Sứ mạng Kandelaki" === Trong những nỗ lực để mở rộng quan hệ kinh tế, chính trị nhằm giảm căng thẳng. Việc tìm kiếm những địa chỉ liên lạc bắt đầu vào năm 1934, sau những "đêm yến tiệc" ngoại giao, người Đức đã thuyết phục được Stalin rằng Hitler là biểu tượng của quyền lực lâu bền. Kết quả là vào cuối năm 1934, người Nga đã cử ông David Vladimirovik Kandelaki đến văn phòng đại diện thương mại của họ tại Berlin làm sứ giả để tìm kiếm việc thiết lập quan hệ chính trị với nước Đức. Trước khi chia tay Kandelaki, Stalin đã gặp ông ta hai lần (và cuộc gặp lần thứ hai diễn ra tại tư gia) cho thấy tầm quan trọng của nhiệm vụ mà Stalin giao. Tại Đức, Kandelaki đã làm việc tích cực để chuyển các mối quan hệ từ vấn đề kinh tế sang vấn đề chính trị trong các cuộc đàm phán của mình với các bộ trưởng của nước Đức Quốc xã, với Hermann Göring và Thống đốc Ngân hàng quốc gia Đức Hjalmar Schacht. Đặc biệt, Kandelaki nói với Schacht: "Nếu có một cuộc gặp giữa Stalin và Hitler, rất có thể sẽ có những thay đổi". Trong bản báo cáo của Kandelaki về chuyện này, Stalin đã phê vào góc trên, bên trái: "Thật thú vị. J. St.". Và ông thông báo việc này với Voroshilov và Kaganovich. Tháng 3 năm 1935, Stalin đặc biệt lưu ý đối với các báo cáo tình báo "quan trọng, cần xem xét" của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Pierre Laval, trong đó coi Liên Xô và đối thủ Đức Quốc xã không phải là không thể thay đổi hiện thực chính trị quốc tế. Cuối cùng, Đức và Liên Xô cũng vẫn có thể tấn công nhau và thiệt hại của họ là "một món hời" đối với Pháp. Năm 1936, phía Liên Xô từ chối ký kết với Đức hiệp ước không xâm lược với lý do hai nước không có biên giới chung. Theo người đứng đầu mạng lưới tình báo Liên Xô Walter Germanovich Krivitsky, để chứng tỏ một phần thiện chí của Moskva; trong tháng 12 năm 1936, ông này đã được lệnh phải giảm bớt hoạt động tình báo tại Đức. Cái gọi là "sứ mệnh Kandelaki" tiếp tục đến năm 1937 và kết thúc thất bại. Vì các lý do chính trị và tư tưởng, phía Đức Quốc xã đã không xem nó là cần thiết để đi đến việc mở rộng quan hệ với Liên Xô.. === "Những bài diễn văn có màu hạt dẻ" === Theo lịch sử phương Tây và báo chí trong Chiến tranh Lạnh, tên gọi này do Stalin nêu ra hồi tháng 10 năm 1939 tại Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Liên Xô (Bolshevik). Đến nửa sau những năm 80 của thế kỷ 20, với trào lưu "cải tổ", tên gọi này được lược bỏ trong lịch sử và báo chí Liên Xô và sau đó là Nga. Theo một số nhà sử học, trong bài phát biểu, Stalin đã gọi những cáo buộc của Anh và Pháp về chính sách của Liên Xô đối với Đức là sự khiêu khích, kích động chiến tranh, có hại cho hòa bình bằng cái tên này. Tại đây, ông cũng thông báo các mục tiêu chính trong chính sách đối ngoại của Liên Xô: Để tiếp tục các chính sách hòa bình, Liên Xô tăng cường quan hệ kinh doanh với tất cả các nước. Không để đất nước chúng tôi bị kéo vào các xung đột bởi các thế lực hiếu chiến đã quen được người ta ủy cho quyền thao túng trong sự phục thù. Mặc dù Viacheslav Damichev (Вячеслав Дашичев) cho rằng gợi ý này có vẻ như ngay lập tức được chấp nhận ở Berlin; rằng sau khi ký kết Hiệp ước Xô-Đức, Molotov gọi nó là "sự khởi đầu của những biến đổi" trong quan hệ Xô-Đức, nhưng lại không có một cơ sở tài liệu nào để giải thích tùy tiện bài phát biểu của Stalin tại Đại hội. Tại mục "Vị trí quốc tế của Liên Xô" trong báo cáo của mình, Stalin phân tích tình hình quốc tế lúc đó trực tiếp chỉ ra nguy cơ xâm lược: "Đây là các sự kiện quan trọng trong thời kỳ hiện nay, đang mở ra một cuộc chiến tranh đế quốc. Năm 1935, Ý xâm chiếm Abyssinia và nô dịch nó. Vào mùa hè năm 1936 Đức và Ý đã tổ chức một sự can thiệp quân sự ở Tây Ban Nha, và Đức đã thực hiện cuộc can thiệp đó ở phía bắc Tây Ban Nha và vùng giáp giới giữa Tây Ban Nha với Maroc, và Ý ở phía nam của Tây Ban Nha và quần đảo Balearic. Năm 1937, Nhật Bản, sau khi chiếm đóng Mãn Châu, đã xâm chiếm miền Bắc và miền Trung Trung Quốc, đã chiếm Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải và bắt đầu mở rộng phạm vi chiếm đóng ra ngoài khu vực của đối thủ cạnh tranh của họ. Đầu năm 1938, Đức xâm chiếm Áo, và mùa thu năm 1938, chiếm vùng đất Sudet của Tiệp Khắc. Cuối năm 1938, Nhật Bản chiếm Quảng Châu, và vào đầu năm 1939, chiếm đảo Hải Nam". Bản báo cáo cũng chỉ ra những nước đã lùi bước trước các cuộc xâm lược và giải thích những lý do cho tình huống này: "Trong cuộc chiến đấu với những kẻ xâm lược, sự thiếu tích cực của một số quốc gia, chủ yếu là Anh, Pháp, Hoa Kỳ đã vô hình trung làm phương hại đến lợi ích của chính họ với những chính sách ngược đời, từng bước rút lui, nhượng bộ và tiếp tục nhượng bộ kẻ xâm lược. Lý do chính là họ đã từ chối sự thống nhất giữa các cường quốc; đặc biệt là Anh và Pháp đã từ bỏ chính sách an ninh tập thể chống xâm lược trong quá trình chuyển đổi của họ từ vị trí không can thiệp đến vị trí trung lập ". Những luận điểm chính trong bài phát biểu về chính sách đối ngoại của Liên Xô đã không được các nước phương Tây chú ý, cũng như những gợi ý của nó mặc dù không chỉ ra kế hoạch "nâu hoá" nhưng đã hàm chứa nguy cơ này một cách rõ ràng. Và, cho dù có những luận điểm quan trọng trong bài nói của Stalin có động chạm đến Anh và Pháp, nhưng cánh cửa để đàm phán với họ vẫn được để ngỏ, và các sự kiện tiếp theo cho thấy rõ điều này. Ngày 18 tháng 3 năm 1939, chính phủ Liên Xô đề xuất triệu tập một hội nghị sáu nước: Liên Xô, Anh, Pháp, Ba Lan, Rumani và Thổ Nhĩ Kỳ để phát triển một liên minh phối hợp hành động nhằm đối phó các hành động gây hấn mới của Đức là sự đe dọa đối với Rumani. Kể từ đó, các kênh liên hệ ngoại giao Liên Xô, Anh và Pháp vẫn tiếp tục do hiểm hoạ xâm lược của Đức. Sau đó, các kênh này đã biến thành một cuộc đàm phán đầy đủ về một liên minh chính trị và quân sự. Trên bối cảnh toàn cục, có thể coi cụm từ của Stalin giống như một tín hiệu rõ ràng: Không để đất nước chúng tôi bị kéo vào các xung đột bởi các thế lực hiếu chiến đã quen được người ta ủy cho quyền thao túng trong sự phục thù. Điều đó biểu thị ý muốn hành động một cách cân bằng trên cơ sở chính sách đối ngoại trước hết nhằm bảo đảm lợi ích của Liên Xô. == Cuộc khủng hoảng năm 1939 == === Diễn biến cuộc khủng hoảng ngoại giao xuân hè 1939 === Ngày 15 tháng 3 năm 1939 Đức chiếm đóng Tiệp Khắc, và vào cuối tháng 3 tiếp tục chiếm đóng vùng Klaipeda (Memele). Ngày 21 tháng 3, ngoại trưởng Đức Ribbentrop gửi tối hậu thư yêu cầu người đồng cấp Jozef Beck của Ba Lan đáp ứng tất cả các yêu cầu của Đức và "cùng làm việc với Đức về chính sách chống Liên Xô". Ba Lan đã dứt khoát từ chối các yêu cầu của nước Đức . Vào ngày 31 tháng 3, Thủ tướng Anh Chamberlain đã thay mặt các nước Anh và Pháp thông báo bảo đảm hỗ trợ Ba Lan trong trường hợp bị gây hấn. Ngày 6 tháng 4, những lời bảo đảm trên được chính thức ghi nhận trong Hiệp ước quân sự Anh-Ba Lan. Trong một bài phát biểu tại nước Đức ngày 28 tháng 4, Hitler đã tuyên bố xóa bỏ Hiệp ước không xâm lược giữa Đức và Ba Lan đã được ký ngày 26 tháng 1 năm 1934 và thỏa thuận hàng hải - hải quân năm 1935 giữa Anh và Đức. Một điểm đáng chú ý rằng Hitler trong bài phát biểu của ông luôn nhấn mạnh "để tránh các cuộc tấn công truyền thống của Liên bang Xô viết". Ngày 22 tháng 5 cái gọi là "Hiệp ước thép" được ký kết, và ngày hôm sau, Hitler tuyên bố với các công ty hàng đầu của nước Đức về ý định của mình tấn công Ba Lan để "mở rộng không gian sinh tồn sang phía Đông". Cùng lúc đó, Anh được gọi là kẻ thù chính của Đức và cuộc đấu tranh chống lại họ là một vấn đề "sống còn". Đối với Liên Xô, Hitler tuy không cho rằng họ sẽ "vô tư trước số phận của Ba Lan" nhưng trong trường hợp không có cuộc xâm lược của Liên Xô, ông bày tỏ ý định của mình "sẽ tấn công Anh, Pháp và sẽ đánh cho họ tan nát". === Chính sách đối ngoại của Liên Xô trong cuộc khủng hoảng xuân hè 1939 === Đáp lại sự chiếm đóng xứ Bohemia và sáp nhập nó vào nước Đức, Chính phủ Liên Xô đã lưu ý trong Bị vong lục ngày 18 tháng 3: "... Nếu không có bất kỳ sự đồng thuận nào của người Tiệp, sự chiếm đóng của quân đội Đức đối với Tiệp Khắc sẽ là tùy tiện, bạo lực và hung hãn theo kiểu các nhà nước german thời trung cổ." Ngày 18 tháng 3, cùng khi nhận được những tin tức về tối hậu thư của nước Đức Quốc xã với Romania, Phó dân uỷ Ngoại giao Liên Xô Litvinov thông qua các đại sứ ở Moskva đã đề xuất triệu tập một hội nghị sáu nước: Liên Xô, Anh, Pháp, Romania, Ba Lan và Thổ Nhĩ Kỳ đến Đức để ngăn chặn, không cho sự xâm lăng tiến triển thêm. Tuy nhiên, phía Anh thấy đề nghị "hơi sớm" và đề xuất một giải pháp hạn chế là tuyên bố chung của các nước Anh, Pháp, Liên Xô và Ba Lan về sự quan tâm của các quốc gia này trong việc bảo tồn sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia miền Đông và Đông Nam châu Âu. Ngày 16 tháng 4, Litvinov đề nghị ký một hiệp ước quân sự ba bên về hỗ trợ lẫn nhau giữa các nước Anh, Pháp và Liên Xô, kể cả Ba Lan nếu họ muốn tham gia. Tuy nhiên, trong bức giác thư trả lời ngày 8 tháng 5, Chính phủ Anh đã có sự đáp ứng tiêu cực. Việc khước từ của Anh củng cố mối e ngại của Liên Xô rằng Chamberlain không muốn lập liên minh với Nga để ngăn chặn Hitler chiếm Ba Lan. Ngày 17 tháng 4, Phó dân ủy Litvinov với tư cách là Đại sứ Liên Xô tại Berlin đã cùng với Phó ủy viên ngoại giao Liên Xô Merekalov đến gặp Thư ký Văn phòng đối ngoại Nhà nước Đức Erhack von Weizsacker. Trong cuộc gặp, phía Liên Xô lưu ý những kháng nghị của mình về các hành động chiến tranh nhân danh nước Đức chống lại Tiệp Khắc có thể dẫn đến sự đổ vỡ các hợp đồng cung cấp của Liên Xô về pháo binh, súng cao xạ, hệ thống điều khiển phát hỏa cùng các bản thiết kế trong đó mô tả đầy đủ các quy trình và vật liệu để sử dụng vào mục đích quân sự, tổng cộng trị giá hơn 3.500.000 USD. Vào cuối cuộc họp, những đàm thoại về các chủ đề chính trị nói chung được Weizsacker khởi xướng. Trong đó, có đoạn như sau: Merekalov nói: "Sự khác biệt tư tưởng dường như không ảnh hưởng đến quan hệ Nga-Ý, và quan hệ này cũng không trở thành một trở ngại cho Đức". Weizsäcker nói: "Các ngài đã biết, chúng tôi có thể kết bạn với những người có mâu thuẫn về nguyên tắc ý thức hệ. Nhưng tại thời điểm này, chúng tôi xin chân thành muốn phát triển quan hệ kinh tế với các ngài." . Trong nửa cuối tháng 4, Stalin đã có trong tay các tài liệu chính xác chứng tỏ Anh và Pháp đang chuẩn bị để chiến đấu yểm hộ Ba Lan. Theo nhà nghiên cứu, Sergei Zinovievich Slutch, triển vọng của việc tham gia cuộc chiến chống lại Đức không phù hợp với ý định của Stalin, và việc giữ mối quan hệ với Berlin đã trở thành sự "ưu tiên hàng đầu của ông ta".. Ngày 3 tháng 5 năm 1939, Litvinov được thay thế bởi Vyacheslav Molotov. Tại Berlin, nó được coi như là một dấu hiệu đáng khích lệ. Việc thay đổi đột ngột có ý nghĩa đặc biệt. Litvinov có chủ trương củng cố an ninh cho Nga chống lại Đức Quốc xã bằng cách liên minh với Anh và Pháp. Sự lưỡng lự của Chamberlain với liên minh này đã làm hại đến Litvinov. Theo phán xét của Stalin, chính sách của Litvinov đã thất bại. Hơn nữa, chính sách này đe dọa đưa Nga vào cuộc chiến với Đức. Stalin kết luận rằng phải thay đổi. Nếu Chamberlain đã xoa dịu Hitler, liệu ông ấy sẽ xoa dịu nhà độc tài Nga được không? Việc Litvinov gốc Do Thái được thay thế bởi Molotov không phải là người Do Thái có thể gây tác động lên giới lãnh đạo Quốc xã. Ngày hôm sau, báo chí Đức đã bị cấm đăng tất cả các bài công kích Liên Xô. Trong khi Thủ tướng Anh vẫn có thái độ lạnh nhạt và thậm chí là khinh bỉ đối với Liên Xô thì ngược lại, Winston Churchill (lúc này chỉ là đại biểu Nghị viện) cho rằng Liên Xô đã có đề nghị "công bằng hơn, đơn giản hơn, trực tiếp hơn và hiệu quả hơn" so với đề nghị của chính Chamberlain. Ông van nài Chính phủ Anh quốc nên tiến gần đến Nga, vì "nếu không có Nga sẽ không có mặt trận miền Đông vững chắc.". Từ ngày 9 tháng 5 tại Berlin loan đi tin đồn rằng Đức "đã và đang chuẩn bị để cùng với Nga để thực hiện kế hoạch phân chia lãnh thổ của Ba Lan". Với các diễn biến như trên thì không có gì là bất bình thường trong việc Liên Xô tăng cường sự tiếp xúc với Đức. Ngày 20 tháng 5, Bộ trưởng dân ủy Ngoại giao Liên Xô tiếp đại sứ Đức Schulenburg trong một cuộc nói chuyện với không khí rất thân thiện. Họ cho rằng sự thành công của cuộc đàm phán về kinh tế "nên được đặt trong một khuôn khổ chính trị". Việc đề cập đến "cơ sở chính trị" của vấn đề là một sự bất ngờ đối với Schulenburg. Đây là đường hướng mới từ Điện Kremli nhưng Molotov vẫn tỏ ra kín đáo. Khi Schulenburg hỏi "cơ sở chính trị" có nghĩa như thế nào, Molotov đáp đấy là điều hai chính phủ nên suy nghĩ. Mọi nỗ lực của vị đại sứ muốn khai thác thêm ý nghĩa từ vị Ủy viên Ngoại giao chỉ hoài công. Ngày 21 tháng 5, Stalin yêu cầu Bộ dân ủy Ngoại giao Liên Xô chuẩn tất cả tài liệu về Đức và các điều ước của Liên Xô.. Ngày 27 tháng 5 Chamberlain lo ngại rằng Đức sẽ có thể làm hòa Liên bang Xô viết nên đã lệnh cho Đại sứ của mình tại Moskva đồng ý thảo luận về một hiệp ước tương trợ, kèm theo một hiệp ước liên minh quân sự giữa hai nước để chống Hitler. Molotov đã ngạc nhiên khi nhận được một gói đề xuất có liên quan của người Anh trong đó có cả một bức thông điệp của người Pháp. Ngày 31 tháng 5 năm 1939, Molotov đọc bài diễn văn công khai đầu tiên trên cương vị Ủy viên Ngoại giao trước Hội đồng Tối cao của Liên Xô. Ông trách móc các nước dân chủ phương Tây đã lưỡng lự và tuyên bố nếu họ nghiêm túc trong việc tham gia cùng Liên Xô ngăn chặn gây hấn, họ phải tỏ ra thực tiễn và đạt đến thỏa thuận về ba điểm chính: Hiệp ước trợ giúp hỗ tương ba bên có tính chất thuần túy phòng thủ. Sự đảm bảo cho các nước Trung Âu và Đông Âu kể cả mọi nước tiếp giáp với Liên Xô. Hiệp ước về loại hình và phạm vi tương trợ cấp thời và có hiệu quả cho mọi bên và cho các quốc gia nhỏ hơn bị đe dọa gây hấn. Molotov cũng tuyên bố rằng việc đàm phán với phương Tây không có nghĩa Liên Xô sẽ bỏ qua "những quan hệ mậu dịch trên cơ sở thực dụng" với Đức và Ý. Ngày 28 tháng 6, Molotov đã tiếp Schulenburg và nói chuyện với ông này về khả năng và hiện thực trong việc bình thường hóa quan hệ với Đức. == Các cuộc đàm phán mùa hè năm 1939 == === Liên Xô đàm phán chính trị với Anh và Pháp === Cuộc đàm phán chính trị tay ba giữa Liên Xô, Anh và Pháp bắt đầu từ ngày 10 tháng 4. Kết quả của nó là bản dự thảo của Liên Xô ngày 2 tháng 6 kêu gọi các bên ký kết hiệp định về một Liên minh quân sự có hiệu lực trong các trường hợp sau đây: Trong trường hợp có một cuộc tấn công của Đức vào một trong các cường quốc châu Âu tham gia ký kết hiệp định. Trong trường hợp chống lại sự xâm lược của Đức và Thổ Nhĩ Kỳ đối với các nước Bỉ, Ba Lan, Latvia, Estonia, Hy Lạp, Romania và Phần Lan. Tất cả các bên ký kết hiệp định có trách nhiệm thực hiện sứ mạng bảo hộ này; Trong trường hợp một bên tham gia Hiệp định lâm vào cuộc chiến với một quốc gia khác, yêu cầu có sự hỗ trợ, cung cấp của các nước tham gia liên minh tay ba. Các điều ước này chỉ được London và Paris chấp nhận một phần. Cho đến cuối tháng 7, các cuộc đàm phán vẫn dẫm chân tại chỗ chủ yếu do thái độ thiếu thiện chí của Anh và Pháp trong việc thảo luận định nghĩa của Liên Xô về "gián tiếp xâm lược", trong đó liên minh cam kết là có hiệu lực. Trong phần giải trình của Liên Xô, nó đã được xác định như sau: Tuy nhiên, điều này lại được các đại biểu Anh và Pháp nhìn nhận như một yêu sách của Liên Xô có thể cho phép họ có lý do để thực hiện ý định đưa quân đội của mình vào các quốc gia láng giềng. Về phần mình, các nhà đàm phán Anh và Pháp đề nghị việc thực hiện các thỏa thuận đó còn tùy theo việc "xâm lược gián tiếp" phải được xác định chỉ sau khi tham khảo ý kiến ba bên. Liên Xô cho rằng Anh và Pháp chỉ cam kết thừa nhận miễn cưỡng một phần đề nghị đó trong trường hợp họ có thể phải đối đầu với Đức trong một cuộc chiến tranh.. Wilston Churchill đã nhận xét: === Các cuộc hội đàm giữa Liên Xô và Đức === Ngày 24 tháng 7, cố vấn đặc biệt về Chính sách kinh tế đối ngoại đối với phương Đông của Văn phòng Đế chế Karl Julius Schnurre đã có cuộc hội đàm với phái viên phụ trách các vấn đề đối ngoại của Liên Xô G. I. Astakhov. Sau khi thảo luận về các vấn đề kinh tế hiện tại, hai bên đã vạch ra một kế hoạch để cải thiện quan hệ về chính trị giữa Đức và Liên Xô (hai bên đã thỏa thuận trước đó rằng một phần của cuộc hội đàm này chỉ là một cuộc trao đổi quan điểm, không phải là thỏa thuận chính thức). Kế hoạch của Đức bao gồm: 1- Tiến hành việc ký kết hợp đồng tín dụng thương mại theo thông lệ. 2- Thiết lập các mối quan hệ trong lĩnh vực báo chí và hợp tác văn hóa, tạo một bầu không khí tôn trọng lẫn nhau 3- Thiết lập quân hệ hữu nghị về chính trị. Điều này được Schnurre lưu ý rằng những nỗ lực liên tục của Đức để nâng cao quan hệ này đã vượt qua Liên Xô. Ngày 26 tháng 7, Schnurre tiếp tục phát triển chủ đề này bằng cách mời Ribbentrop, Astakhov và đại diện thương mại E.I. Babarina đến nhà hàng. Giai đoạn thứ ba của kế hoạch đã được phía Đức kích thích thêm: hoặc quay trở lại những gì nó đã đạt được trước khi hiệp ước trung lập của năm 1926, hoặc một thỏa thuận mới này sẽ đưa vào khuôn khổ lợi ích quan trọng của cả hai đảng chính trị. Ribbentrop còn nói thêm rằng Đức đã sẵn sàng để thảo luận và thương lượng với Liên Xô trên tất cả các vấn đề mà hai bên quan tâm, đề cập đến tất cả những bảo đảm về an ninh những gì mà nước Đức muốn nhận được từ nó. Ngay cả đối với các nước vùng Baltic và Ba Lan, Đức cũng sẽ dễ dàng đồng ý như đã làm đối với Ukraina (trước đó Đức đã từ chối thỏa thuận). Ngày 3 tháng 8 Ribbentrop lần đầu tiên thực hiện một tuyên bố chính thức về quan hệ Liên Xô-Đức Quốc xã, ngoài những điều khác còn hàm chứa một lời gợi ý về các lĩnh vực và các khu vực chịu ảnh hưởng: "Đối với tất cả các vấn đề liên quan đến lãnh thổ từ Biển Đen đến biển Baltic, chúng ta có thể dễ dàng dàn xếp... Đối với Ba Lan, trong những sự kiện mới phát sinh, chúng tôi đang theo dõi một cách cẩn thận và bình tĩnh. Trong trường hợp của sự khiêu khích trên một phần của Ba Lan, chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề với Ba Lan trong vòng một tuần. Trong trường hợp này tôi đã thực hiện một gợi ý tinh tế trong khả năng của một thỏa thuận với Nga về số phận của Ba Lan.. Ngày 15 tháng 8, bá tước Schulenburg chuyển một tin nhắn đến Molotov, trong đó Bộ trưởng Ngoại giao của Đức Ribbentrop bày tỏ ông ta sẵn sàng đến Moskva để "làm rõ mối quan hệ Đức-Xô." Ribbentrop cũng đã bày tỏ sự sẵn sàng để "giải quyết tất cả các vấn đề về lãnh thổ từ Baltic tới Biển Đen." Trong một phản ứng của phía Liên Xô, Molotov đã qua Schulenburg đề nghị ký kết một hiệp ước toàn thể thay vì đề xuất một tuyên bố chung về không sử dụng vũ lực chống lại nhau (có ý nghĩa như một Công ước trong tương lai). === Các cuộc đàm phán quân sự của Liên Xô với Anh và Pháp === Không chờ đến khi có được những thỏa thuận về chính trị, ngày 23 tháng 7, Liên Xô đã mời Anh và Pháp đến Moskva dự các cuộc đàm phán về các vấn đề quân sự. Ngày 25 tháng 7, Anh đồng ý và ngày 26 tháng 7, Pháp cũng đồng ý. Ngoại trưởng Anh Halifax cho biết, đoàn của ông sẽ có thể ở lại Moskva trong vòng 7 đến 10 ngày, nhưng thành phần của nó vẫn còn chưa xác định. Trong khi hoàn toàn có thể đi được bằng máy bay đến Liên Xô thì phía Anh lại lấy cớ bảo đảm bí mật với Đức để đi bằng tàu biển với tốc độ chỉ 13 hải lý/giờ. Đoàn đại biểu Anh và Pháp rời London đi Moskva ngày 5 tháng 8 dưới danh nghĩa đi du lịch, qua tuyến đường biển đến Leningrad (nay là St Petersburg) ngày 10 tháng 8, sau đó đi Moskva bằng tàu hoả. Tại Moskva, họ bắt đầu làm việc từ ngày 11 tháng 8. Các quan hệ với phái đoàn Anh cho các cuộc đàm phán tại Moskva được thực hiện thông qua trợ lý được Bộ trưởng Ngoại giao chỉ định làm người đứng đầu đoàn là Đô đốc Drax (mặc dù người chính thức dẫn đầu đoàn đại biểu Anh là Thứ trưởng Anthony Eden), người có vị trí không quan trọng lắm trong giới lãnh đạo quân sự Anh tại thời điểm đó. Không giống như trong cuộc đàm phán tại Ba Lan, Anh đã cử Tổng tư lệnh không quân, tướng Ironside làm trưởng đoàn. Điều này chứng tỏ Chamberlain không tin vào khả năng đạt được thỏa thuận với Liên Xô, cũng không tin tưởng ở khả năng quân sự của Hồng quân.Trong một bức thư cá nhân ngày 28 tháng 3, Chamberlain đã viết: "Tôi phải thú nhận rằng tôi hoàn toàn không tin tưởng Nga. Tôi không tin rằng họ có thể thực hiện một cuộc tấn công có hiệu quả, ngay cả khi họ muốn... Trong thực tế, người ta ghét họ vì nghi ngờ họ muốn khống chế các quốc gia lân bang nhỏ, đặc biệt là Ba Lan, Romania và Phần Lan". Tại cuộc họp nội các Chamberlain tuyên bố rằng đối với tất cả mọi thứ "liên quan đến việc liên minh với Nga, ông có linh cảm rằng "hoàn toàn không thể tin vào sức mạnh của Nga và cần phải nghi ngờ về khả năng cung cấp hỗ trợ cho Nga trong trường hợp có chiến tranh" . Phía Anh hy vọng sẽ sử dụng các cuộc đàm phán chỉ như là một phương tiện gây áp lực đối với Hitler và vì thế họ kéo dài đàm phán và không muốn đi đến một thỏa thuận đầy đủ.. Trong khi đó, ngoại trưởng Anh Halifax lại có một thái độ thận trọng hơn. Ông cho rằng: "Không nên đẩy người Nga ra xa mà nên giữ người Nga dưới ảnh hưởng của chúng ta". Những động thái trên đây không qua được những con mắt dò xét của Đức. Đại sứ Herbert von Dirksen của Đức ở Anh báo cáo về Berlin rằng các giới chính quyền Anh nhìn sự đàm phán quân sự với Liên Xô bằng con mắt hoài nghi: "Điều này thấy rõ qua thành phần của Phái bộ Quân sự Anh. Đô đốc Drax nằm trong danh sách về hưu và chưa từng ở trong Bộ Tham mưu Hải quân. Thiếu tướng lục quân là một sĩ quan thuần túy về kế hoạch tác chiến. Đại tướng không quân là một phi công và huấn luyện viên xuất sắc, nhưng không phải là nhà chiến lược. Điều này dường như chỉ ra rằng nhiệm vụ của Phái bộ Quân sự Anh là nhằm đánh giá năng lực tác chiến của quân lực Nga hơn là để ký kết hiệp ước về quân sự..." Ngày 12 tháng 8, cuộc họp đầu tiên của ba bên, trưởng đoàn đại biểu Liên Xô đề nghị làm rõ các quyền hạn của mỗi đoàn. Ông đã trình bày giấy ủy nhiệm của đoàn đại biểu Liên Xô, trong đó nói rằng phái đoàn được uỷ quyền "... thương lượng với người Anh và người Pháp về lĩnh vực quân sự và ký một công ước hợp tác về các vấn đề quốc phòng và quân sự giữa nước Anh, Pháp và Liên Xô chống lại sự xâm lược ở châu Âu..." Người đứng đầu các đoàn đại biểu Pháp, tướng Doumence trình bày thư ủy nhiệm của mình. Trong thư, nói rõ đoàn của ông được phép "thương lượng với Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Liên Xô về tất cả các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực hợp tác giữa các lực lượng vũ trang của cả hai nước." Điều ủy nhiệm này tuy ít hơn những người đồng cấp của Liên Xô, nhưng nói chung Doumence đã có đủ quyền hạn để tham gia vào các cuộc đàm phán quan trọng với phía Liên Xô. Người Pháp hy vọng sớm có đạt được một thỏa thuận, song họ đều hoàn toàn phụ thuộc vào Anh. Sau đó, đến lượt đoàn Anh trình bày ủy nhiệm thư thì mới té ra rằng người đứng đầu đoàn đại biểu Anh, Đô đốc Drax, nói chung không có thẩm quyền được thừa uỷ bằng văn bản. Trong một cố gắng để thoát ra khỏi tình huống khó xử, Đô đốc Drax đã nói rằng nếu cuộc họp đã được chuyển tới London, ông sẽ có tất cả những quyền hạn cần thiết. Trong những tiếng cười chung của cả hội nghị, đoàn đại biểu Liên Xô đã trả lời rằng: "Mang giấy ủy nhiệm từ London tới Moskva là dễ dàng hơn là tất cả chúng ta cùng đi đến London như một công ty lớn"...." Rốt cuộc, viên đô đốc hứa sẽ có sự ủy nhiệm từ chính phủ của họ bằng văn bản, nhưng ông ta chỉ có thể nhận được vào ngày 21 tháng 8. Mặc dù Đô đốc Drax thiếu quyền hạn được ủy nhiệm nhưng đoàn đại biểu Liên Xô nói rằng không thành vấn đề đối với việc tiếp tục cuộc họp. Trong các ngày 13, 14, 15, 16 và 17 tháng 8, bảy phiên họp đã được tổ chức. Tại đó, các bên đã trao đổi thông điệp về lực lượng vũ trang của họ và các kế hoạch của mình trong trường hợp xảy ra cuộc xâm lược của Hitler. Thay mặt cho Anh có Đô đốc Drax, Thống chế không quân Bernett và tướng Heywood, thay mặt cho Pháp có các tướng Doumence, Valen và trung tá hải quân Viyom, thay mặt cho Liên Xô có Tổng tham mưu trưởng B. M. Shaposhnikov, tư lệnh không quân L. D. Lokhovitionov và bộ trưởng dân ủy Hải quân, đô đốc N. G. Kuznetsov. Đoàn Anh tỏ vẻ lạnh nhạt với việc đàm phán quân sự. Họ cho rằng không nên bàn đến những vấn đề quân sự trong khi chưa chắc Liên Xô có phải là nước đồng minh của Anh hay không. Phía Liên Xô thì ngược lại, họ muốn biết phương Tây sẽ tham gia như thế nào về quân sự trước khi bàn đến chính trị, như Molotov phát biểu: Điểm quan trọng là xem mỗi bên đóng góp được bao nhiêu sư đoàn cho sự nghiệp chung và các sư đoàn này sẽ đóng ở đâu. Trong khi Liên Xô đề nghị một hiệp định quân sự quy định chi tiết "phương pháp, hình thức và tầm mức" mà ba nước sẽ hỗ trợ quân sự lẫn nhau thì Anh và Pháp không đánh giá cao tiềm năng quân sự của Liên Xô. Bộ Tổng tham mưu của Anh, cũng giống như của Đức sau này, đánh giá quá thấp sức mạnh của Hồng quân, có lẽ do các báo cáo từ tùy viên quân sự của họ, một phần dựa trên cuộc thanh trừng của các sĩ quan cấp cao. Vì thế Anh-Pháp đề nghị chỉ ký các hiệp định về quân sự sau khi đã ký hiệp định chính trị. Nhưng Liên Xô cương quyết là phải tiến hành các hiệp định chính trị và quân sự trong một gói. Sau những trao đổi bất đồng qua lại giữa hai bên, đến ngày 23 tháng 8, chủ yếu do áp lực của Pháp, chính phủ Anh đành phải đồng ý đàm phán về một hiệp ước quân sự. Nắm được các thông tin này, Stalin nhận thấy các cuộc đàm phán có thể bị phá hỏng vì mục đích chính của Anh và Pháp chỉ là thăm dò tiềm năng quốc phòng và các cơ sở quân sự của Liên Xô. Chứng cứ được dựa trên các văn bản viết tay của cá nhân nguyên soái Voroshilov ngày 7 tháng 8, có đoạn như sau: "6. Nếu Pháp và Anh vẫn tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán thì các cuộc đàm phán phải đi vào thảo luận về các vấn đề chính sách cụ thể, chủ yếu cho các đơn vị của quân đội chúng tôi được phép đi qua các hành lang Vilensky và Galicia, cũng như đi qua Romania." "7. Nếu họ cho rằng các đơn vị quân đội của chúng ta đi qua lãnh thổ của Ba Lan và Romania là một ngoại lệ thì không thể không có những thỏa thuận về điều kiện. Bởi vì nếu không có các đơn vị quân đội Liên Xô tại các vùng lãnh thổ cần bảo vệ, chống xâm lược dưới tất cả các hình thức của nó là chắc chắn thất bại. Mà chúng ta thì lại không biết rằng họ có thể thực sự tham gia vào các chiến dịch đó không, do đó, cũng chắc chắn đến sự thất bại." "8. Về yêu cầu của các phái đoàn Anh và Pháp đến tham quan các nhà máy quốc phòng, các cơ quan, đơn vị quân đội và học viện quân đội thì cần phải nói với họ nói rằng: sau khi thăm viếng các phi công Liên Xô của phi công Charles Lindbergh trong năm 1938, chính phủ Liên Xô đã cấm các cuộc tham quan của người nước ngoài đối với các tổ hợp công nghiệp quốc phòng và các đơn vị quân đội, ngoại trừ các đồng minh thực sự của chúng ta." Theo tác giả của các đoạn văn trên, tất cả các chương trình nghị sự không nhằm mục đích thúc đẩy sự thành công của cuộc đàm phán, thậm chí còn không phải là những mục tiêu mà họ đặt trọng tâm. Và làm như thế sẽ phá vỡ đàm phán. Trách nhiệm về thất bại trong đàm phán thuộc về các đoàn đại biểu của các chính phủ phương Tây. Bằng chứng thực tế về nhận định này là ngày 11 tháng 8, tức là trước khi bắt đầu các cuộc đàm phán, Bộ Chính trị Liên Xô đã quyết định "tham gia vào một cuộc thảo luận chính thức về vấn đề quan hệ với Đức". Qua hệ thống tình báo của mình, người Đức biết được diễn biến chậm chạp của cuộc đàm phán ở Moskva và họ lập tức có phản ứng. Ngày 8 tháng 8 năm 1939, đại diện ngoại giao của Liên Xô tại Đức Astakhov đã gửi điện cho Molotov có đoạn như sau: "Theo tôi biết thì người Đức đang quan tâm đến vấn đề này như một sự tất yếu. Những thông tin mà họ chuyển cho tôi cho thấy đã có thể đánh giá rằng, họ không chống đối hay muốn kiểm tra chúng ta về những vấn đề này. Theo ý hiểu của tôi thì họ sẵn sàng tham gia thương lượng với chúng ta trong đàm phán với rất nhiều thỏa thuận; xem xét tất cả các vấn đề về lãnh thổ và các vấn đề chính trị có thể phát sinh giữa chúng ta và họ. Trong bối cảnh này, có cụm từ mà không phải tranh cãi là "từ Biển Đen đến vùng Baltic" có thể được hiểu như là một mong muốn đồng ý trên tất cả các vấn đề liên quan đến người dân ở các nước trong khu vực này. Người Đức sẵn sàng bày tỏ cho chúng ta thấy rằng họ sẵn sàng tuyên bố không quan tâm (ít nhất là về chính trị) đế số phận của vùng Baltic (ngoại trừ Litva), Bessarabia, lãnh thổ cũ của Đế quốc Nga tại Ba Lan (đã được sửa đổi theo quyền lợi của Đức), và từ bỏ những tham vọng của mình đối với Ukraina. Và họ cũng sẽ sẵn sàng xác nhận sự không quan tâm của chúng ta đối với số phận của Danzig, và lãnh thổ cũ của Đức tại Ba Lan (có thể mở rộng đường biên giới đến sông Warta, hoặc ngay cả sông Vistula), và cuối cùng là Galicia. Các thảo luận của cơ quan đại diện của Đức cho thấy rõ ràng là họ hiểu được sự không nhất trí giữa Anh-Pháp-Liên Xô trong các vấn đề quân sự-chính trị." Ngày 11 tháng 8 năm 1939, Astakhov nhận được một bức điện trả lời của Molotov, trong đó có đoạn: "Danh sách các đối tượng nêu trong thư ngày 8 tháng 8, chúng tôi đang xem xét. Hãy thảo luận về họ về một số nhu cầu đào tạo và tiến hành giai đoạn chuyển tiếp các hợp đồng thương mại-tín dụng cho các vấn đề khác. Moskva hoan nghênh các cuộc đàm phán về những vấn đề này. Molotov." Theo các nhà nghiên cứu khác, các văn bản trên không có căn cứ để giải thích như vậy. Theo họ thì Voroshilov bị đặt trước một số câu hỏi cụ thể mà họ không thể cung cấp câu trả lời rõ ràng cho Anh và Pháp, vì họ bị cấm tiết lộ thông tin về bí mật quân sự để bảo đảm chắc chắn rằng không có một thông tin nào cùng với sự thỏa thuận ràng buộc chính trị có thể được chuyển đến Berlin. Liên Xô cũng đã có kế hoạch triển khai các đơn vị, theo đó họ phải động viên tới 136 sư đoàn, nhưng các đại diện của Anh và Pháp đã từ chối cung cấp binh lực cho kế hoạch đó. Phía Liên Xô cần một câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi rằng, trong vòng một ngày, Hồng quân có thể được phép đi qua Ba Lan, Vinius và hành lang Galicia không? Nếu không, phía Liên Xô không thể ngăn chặn được một cuộc xâm lược có thể có của Đức.. Đây là một "điểm chết" mà tại đó cuộc đàm phán đã không thể vượt qua được. Ba Lan từ chối việc cho Hồng quân đi qua lãnh thổ của mình, bất chấp áp lực từ Pháp.. Sử dụng một câu cách ngôn, Đại sứ Ba Lan tại Pháp, ông Beck cho biết: "Với người Đức, chúng tôi có nguy cơ mất đi sự tự do của mình, và với người Nga, chúng tôi có nguy cơ mất đi linh hồn của mình".. Trong các ngày 17 và 20 tháng 8, người đứng đầu phái đoàn quân sự Pháp, tướng Doumence báo cáo từ Moskva về Paris: "Không còn nghi ngờ gì nữa, Liên Xô mong muốn kết thúc đàm phán bằng một hiệp ước quân sự nhưng khó có thể đạt được như họ mong muốn. Do đó, chúng tôi chuyển nội dung hiệp ước thành một biên bản ghi nhớ các kết quả đàm phán mà không có giá trị cụ thể. Sự thất bại của các cuộc đàm phán là không thể tránh khỏi nếu Ba Lan không chịu thay đổi lập trường." Nhà báo Mỹ William Shirer nói: "Mặc dù những tài liệu được phổ biến rộng rãi vào thời gian đó không chỉ ở Moskva mà còn ở cả phương Tây rằng Anh và Pháp đã không làm gì để thuyết phục Ba Lan đồng ý cho quân đội Xô Viết đi qua lãnh thổ của mình nhằm bảo vệ họ chống lại quân Đức. Những bài báo xuất bản gần đây cho thấy sự việc không hẳn là như vậy. Trong trường hợp đó, Anh và Pháp đã không thể đi trên một đoạn đường xa hơn để đến với họ. Từ các tài liệu này, có thể thấy rõ ràng rằng Ba Lan đã có sự dại dột không thể tưởng tượng được về chính trị.". Đồng thời với các cuộc đàm phán Moskva, chính phủ Anh đã dẫn cuộc đàm phán tại London với các đại diện của Đức đi đến một thỏa thuận trong đó có thể nhận thấy những lợi ích đặc biệt của Đức ở Đông và Đông Nam châu Âu. Ngoài ra, Anh cũng sẵn sàng cho phép Đức sử dụng "các thuộc địa tại khu vực châu Phi". Các cuộc đàm phán đã kết thúc trong sự thất bại vì trên thực tế Đức đã từ chối nhìn nhận các đề nghị của Anh do sự đối lập đã khá sâu sắc..Trong tuyên bố chính thức của mình, Chính phủ Liên Xô cho rằng không thể tin tưởng vào đối tác của họ tại các cuộc đàm phán và Moskva đã đồng ý xem xét đề xuất của Đức cho việc ký kết các Hiệp ước không xâm lược giữa Đức Quốc xã và Liên Xô. == Tình hình chính trị ở Đông Âu == Chính phủ của các nước Đông Âu láng giềng với Liên Xô cũng có sự mất lòng tin sâu sắc. Tháng 3 năm 1939, sau khi Đức đánh úp Klaipeda của Litva, Liên Xô đã cố gắng đặt quan hệ ngoại giao với Latvia và Estonia, nhưng họ đã gặp phải sự lạnh nhạt. Cũng trong tháng 3, mặc dù tình hình quan hệ giữa Đức và Ba Lan đã trở nên rất căng thẳng nhưng Bộ Ngoại giao Ba Lan vẫn nói rằng Ba Lan không muốn bị ràng buộc bởi bất kỳ một thỏa thuận nào với Liên Xô. Chính sách của Ba Lan trước chiến tranh được nhà báo kiêm sử gia người Mỹ William Shirer mô tả là tương đương với sự tự sát. Shirer giải thích rằng từ năm 1934, Ba Lan đã chấp nhận làm người đại diện một cách nhất quán cho Đức về các vấn đề bồi thường chiến phí theo Hiệp nghị Versailles. Cùng thời gian đó, giữa Ba Lan và Đức có một tranh chấp lãnh thổ nhỏ về Hành lang Danzig đã phân chia lãnh thổ của nước Đức thành hai phần. Quan hệ giữa Ba Lan và Nga đã đóng băng kể từ Chiến tranh Nga Xô Viết - Ba Lan từ năm 1919 đến năm 1921. Trong đó Ba Lan đã dịch chuyển biên giới phía đông của đường Curzon và kết quả là có khoảng 6 triệu thuộc các dân tộc Belarusia và Ukraina đã phải sống trên lãnh thổ Ba Lan. Sau cái chết của Jozef Pilsudski, chính sách của Ba Lan đã được các cựu chiến binh của cuộc chiến tranh Nga Xô Viết - Ba Lan như Beck và Edward Rydz-Smigly tiếp tục với lập trường đối đầu với Liên Xô. Như vậy, theo Shirer, Ba Lan đã có một đường biên giới "không thể chấp nhận" đối với cả Đức và Liên Xô, trong khi họ không đủ mạnh để có thể "tranh chấp với hai người láng giềng" cùng một lúc.. Theo nhà sử học Estonia, Tiến sĩ Magnus Ilmyarv, các quốc gia vùng Baltic không tin Liên Xô vì lý do có tính chất lịch sử và vì chế độ chính trị khác nhau. Đầu mùa hè năm 1939, khi giữa Liên Xô, Anh và Pháp có các cuộc đàm phán thì họ lo sợ rằng sẽ bị sáp nhập vào Liên Xô. Trước Chiến tranh Nga Xô Viết - Ba Lan, Hồng quân Bolshevik đã từng lập chính quyền Xô Viết ở đó và họ có thể trở lại. Ngoài ra, sau kinh nghiệm của Hiệp ước Munich, các nước vùng Baltic cũng không tin rằng Anh và Pháp có thể thực hiện nghĩa vụ của mình một cách hiệu lực thực sự để bảo vệ họ trong trường hợp họ bị người Đức xâm lược.. Kết quả là ngày 7 tháng 6, các chính phủ của Estonia, Latvia và Phần Lan nói rằng họ bảo đảm không có bất kỳ một yêu sách nào sẽ được xem như là một hành động gây hấn. Và sau đó, họ vội vàng ký kết một hiệp ước không xâm lược với Đức. Cùng lúc đó, Đức đã không chỉ hứa sẽ không tấn công các nước vùng Baltic, mà còn đảm bảo sự hỗ trợ trong trường hợp sự xâm lược của Liên Xô. Điều này đã tạo cho các chính phủ Baltic một cảm giác an toàn. Các quan chức cao cấp quân đội của Đức (Franz Halder và Wilhelm Franz Canaris) viếng thăm các nước vùng Baltic và có cuộc đàm phán về hợp tác quân sự. Theo đại sứ Đức tại Tallinn, người đứng đầu quân đội Estonia, tướng Rak nói với ông ta rằng Đức và Estonia có thể giúp kiểm soát biển Baltic, bao gồm cả khai thác mỏ ở Vịnh Phần Lan và chống lại tàu chiến của Liên Xô. == Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Liên Xô == === Ký kết hiệp ước === Ribbentrop bay tới Moskva lúc giữa trưa ngày 23 tháng 8 và ngay lập tức đã đi đến điện Kremlin. Tại đây, cuộc họp kéo dài ba giờ đã kết thúc thuận lợi cho người Đức. Khi thảo luận về dự thảo hiệp ước, Stalin nói: "Hiệp ước này yêu cầu một thỏa thuận bổ sung, mà chúng tôi muốn làm ngay chứ không phải đi bất cứ nơi đâu." Một nghị định thư bí mật về các chi tiết của lĩnh vực được hai bên cùng quan tâm đã được dự thảo. Trong ngày, Hitler đã gửi cùng một bức điện phê chuẩn dự thảo, và Ribbentrop cũng báo cáo về tiến độ thành công của các cuộc đàm phán. Trở ngại duy nhất để ký kết các văn bản chính thức là tuyên bố của Liên Xô đối với hai cửa ngõ Latvia - Liepaya và Ventspils phải được thu hút vào vùng ảnh hưởng của Liên Xô. Hitler đã nhượng bộ điều này. Phía Liên Xô cũng đòi Đức công nhận các cảng nhỏ Libau và Windau ở Latvia nằm trong khu vực ảnh hưởng của Liên Xô. Vì lẽ cả Latvia nằm bên phía Liên Xô của đường phân chia ranh giới quyền lợi Nga-Đức, Hitler nhanh chóng chấp nhận. Sau này, khi nhớ lại sự kiện trên tại Tòa án Nürnberg năm 1946, Ribbentrop nói: "Khi tôi đến Moskva năm 1939 để gặp Nguyên soái Stalin, ông đã thảo luận với tôi về khả năng giải quyết hòa bình cuộc xung đột của Đức và Ba Lan theo hiệp ước Kellogg-Briand, đồng thời ám chỉ rằng nếu ông không nhận được một nửa của Ba Lan và các nước vùng Baltic cùng với Litva chứ không không phải chỉ là một cảng Libau thì tôi có thể bay trở lại ngay lập tức." Hai văn bản quan trọng nhất là Hiệp ước không xâm lược và Nghị định thư bí mật được ký kết trong phiên họp thứ hai tại Kremlin vào buổi tối. Hai bên đạt thỏa thuận một cách dễ dàng đến nỗi buổi họp kéo dài quá nửa đêm không phải để thương lượng căng thẳng, mà để thảo luận một cách thân mật tình hình thế giới, tình hình từng quốc gia, và với những lần nâng cốc theo thông lệ. Hội nghị đã lên đến đỉnh điểm trong một bữa tiệc, Stalin nâng cốc chúc mừng: "Tôi biết là dân tộc Đức yêu mến vị Quốc trưởng của mình như thế nào; và tôi muốn được nâng cốc chúc mừng sức khỏe của ông ta". Đáp lại câu hỏi của Stalin về tham vọng của bạn bè của Đức – Ý và Nhật – Ribbentrop trả lời một cách thông suốt và tạo sự an tâm. Đối với Anh quốc, hai bên có những nhận định giống nhau. Stalin thổ lộ với đoàn khách rằng phái bộ quân sự Anh "chưa bao giờ nói cho chính phủ Liên Xô biết họ muốn gì." Ribbentrop đáp lại bằng cách nhấn mạnh rằng nước Anh luôn nỗ lực gây rối cho mối quan hệ Liên Xô-Đức. Ông khoác lác rằng "Anh là nước yếu đuối, và muốn để mặc cho các nước khác đánh nhau để họ thống trị thế giới." Bản ghi nhớ của Đức ghi "Stalin đồng ý một cách hăm hở," và ông nhận xét: "Nếu Anh thống trị thế giới, thì đấy là do những nước khác đã ngu xuẩn để cho bị lừa bịp." Sau những lần chạm cốc và chúc tụng lẫn nhau giữa hai bên cho đến gần đây còn là hai kẻ thù không đội trời chung, dường như Stalin có vài lo nghĩ về việc liệu Đức Quốc xã có tôn trọng hiệp ước hay không. Khi Ribbentrop chuẩn bị ra về, Stalin nói riêng với ông ta: Chính phủ Liên Xô có ý định rất nghiêm túc đối với hiệp ước mới. Ông có thể đảm bảo bằng lời nói danh dự của mình rằng Liên Xô sẽ không phản bội bên liên minh với mình. === Nội dung Hiệp ước === Hiệp ước như được phổ biến quy định rằng bên này sẽ không tấn công bên kia. Nếu một bên trở thành "đối tượng của hành động thù địch" do bên thứ ba gây ra, bên kia sẽ "không hỗ trợ cho bên thứ ba bằng bất cứ cách nào." Cả Đức và Liên Xô sẽ không "gia nhập bất kỳ phe nhóm nào trực tiếp hoặc gián tiếp nhắm đến bên kia". Ngôn từ của những điều khoản chủ chốt hầu như giống y bản thảo của Nga mà Molotov đã trao cho Schulenburg ngày 19 tháng 8 và Hitler điện cho Stalin biết phía Đức chấp thuận. Bản thảo của Nga quy định rằng hiệp ước không xâm lược chỉ có hiệu lực nếu một "nghị định thư đặc biệt" được ký kết cùng lúc và là một phần không thể thiếu của hiệp ước. Ribbentrop muốn đưa vào phần mở đầu nhấn mạnh sự thành lập quan hệ hữu nghị Liên Xô-Đức, nhưng Stalin nhất quyết loại bỏ. Nhà độc tài Liên Xô phàn nàn rằng "Chính phủ Xô Viết không thể bất thình lình đưa ra cho công chúng sự cam kết về tình hữu nghị sau khi đã bị Quốc xã bôi tro giát trấu trong sáu năm." Thế là, cuối cùng Hitler đã đạt đến điều ông mong muốn: Liên Xô đồng ý không tham gia với Anh và Pháp nếu hai nước này hỗ trợ Ba Lan. ==== Nghị định thư Phụ lục Bí mật ==== "Nghị định thư Phụ lục Bí mật" cho hiệp ước, mà chỉ được biết đến sau khi đệ Nhị thế chiến kết thúc vào lúc các tài liệu mật của Đức bị tịch thu. Trong Phụ lục bí mật này 2 nước đồng ý chia Ba Lan, các nước Baltic và Bessarabia, gồm có 4 điểm sau: 1. Trong trường hợp có sự chuyển biến về lãnh thổ và chính trị ở những quốc gia vùng Baltic (Phần Lan (trước đó cũng được xem là thuộc những nước này ), Estonia, Latvia, Litva), biên giới phía bắc của Litva sẽ thể hiện biên giới giữa các vùng ảnh hưởng của Đức (Litva) và Cộng hòa Liên bang Xô viết (Estonia, Latvia, Phần Lan). 2. Trong trường hợp có sự chuyển biến về lãnh thổ và chính trị ở những lãnh thổ thuộc Ba Lan, các vùng ảnh hưởng của Đức và Cộng hòa Liên bang Xô viết sẽ được phân định ranh giới phỏng chừng bằng các con sông Narew, Wisla và San. 3. Ở đông-nam châu Âu, Bessarabia sẽ thuộc vùng ảnh hưởng của Liên Xô. 4. "Nghị định thư này sẽ được hai bên xem là tối mật." Đức và Nga đã đồng ý phân chia ranh giới tại Ba Lan, theo đó vùng phía Tây là toàn quyền của Đức, còn vùng phía Đông (những lãnh thổ mà Ba Lan đã chiếm của Nga năm 1921) sẽ được hoàn trả cho Liên Xô. Và Hitler đã cho Nga được toàn quyền hành động ở vùng đông Baltic. Cuối cùng, ở đông-nam châu Âu, phía Liên Xô nhấn mạnh họ quan tâm đến Bessarabia, lãnh thổ mà Liên Xô mất về tay Rumani năm 1919, và Đức tuyên bố họ không quan tâm đến lãnh thổ này. Đây là nhượng bộ mà sau này Đức sẽ lấy làm hối tiếc: họ mất nguồn dầu hỏa quan trọng. === Đánh giá tính pháp lý của hiệp ước === Có nhiều ý kiến trái ngược trong việc đánh giá các khía cạnh pháp lý của hiệp ước. Theo một số ý kiến, bản thân Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau (không kèm theo Nghị định thư) không hàm chứa bất cứ điều gì không bình thường và hoàn toàn giống như bất kỳ một hiệp ước không xâm lược khác đã được ký kết trong lịch sử châu Âu đương đại (ý nói đến một hiệp ước tương tự giữa Đức và Ba Lan).. A. A. Pronin có một ý kiến khác. Ông đã chỉ ra rằng Hiệp ước đã không có một điều khoản quan trọng được ghi nhận, đó là sự huỷ bỏ hiệu lực của nó nếu một bên ký kết nhưng không giữ cam kết mà lại tiến hành chiến tranh xâm lược bên kia. Đây là một nhược điểm lớn của phía Liên Xô khi soạn thảo Hiệp ước. Trong bản dự thảo hiệp ước của Liên Xô thì tính trung lập là một điều kiện tiên quyết cho việc tuân thủ một tình huống mà trong đó một trong hai bên "phải chịu một hành động bạo lực hay một cuộc tấn công bởi một thế lực thứ ba". Nhưng những từ ngữ cuối cùng của Điều II của Hiệp ước lại giả định rằng "sự trung lập sẽ được thực hiện trong trường hợp một trong hai bên không có đối tượng tấn công hay đối tượng của hành động quân sự của một thế lực thứ ba". Phát biểu như vậy là điển hình của nền ngoại giao Đế chế thứ ba. Ví dụ như Hiệp ước không xâm lược giữa Đức và Latvia và Hiệp ước không xâm lược giữa Đức và Estonia cũng tuyên bố trung lập "trong mọi hoàn cảnh". Nhưng Liên Xô vẫn không tu sửa các cụm từ này. Và kết quả là "hiệp ước này đã mở rộng cửa cho bất kỳ cuộc tấn công nào của Đức, khi một trong hai bên cáo buộc các hành động khiêu khích hoặc bạo lực của một thế lực thứ ba".. A.A. Pronin cũng chỉ ra rằng hiệp ước có liên quan chặt chẽ với nghị định thư bí mật và không thể đánh giá nó theo ý kiến riêng về hình thức cụ thể bên ngoài mà không xét đến tình hình chiến tranh trong thời điểm đó. Nghị định thư bí mật của hiệp ước nằm trong mục tiêu lợi ích của Liên Xô đối với vùng Baltic: Latvia, Estonia và Phần Lan, và của Đức đối với Litva và Ba Lan trên các tuyến sông Narew, Wisla, sông San đến Vilnius, nghĩa là từ Ba Lan đến Litva. Trong trường hợp này, cho dù đó là sự mong muốn xuất phát từ quan điểm lợi ích của các bên tham gia ký kết hiệp ước muốn bảo vệ nhà nước Ba Lan thì vấn đề này dứt khoát phải "đi xa hơn sự phát triển chính trị như trong bất kỳ trường hợp nào cần phải được giải quyết" "bằng một hiệp ước thân thiện". Ngoài ra, Liên Xô nhấn mạnh sự quan tâm của họ đối với vùng Bessarabia, và Đức cũng đã không phản đối lợi ích của Liên Xô tại khu vực này của Rumani. Nghị định thư bổ sung được A. A. Pronin đánh giá là không thể biện minh về tính hợp pháp vì nó liên quan đến các nước thứ ba.. == Phản ứng của Nhật Bản đối với hiệp ước == Vào ngày ký Hiệp ước, quân đội Liên Xô đã hoàn thành việc bao vây các cụm quân chủ lực của quân đội Nhật Bản trong chiến dịch Khalkhyn Gol. Những nỗ lực của Nhật Bản để giải vây cho các cụm quân này vào các ngày 24 và 25 tháng 8 đều thất bại. Ngày 24 tháng 8, các đơn vị của Lữ đoàn Bộ binh 14 thuộc đạo quân quân Quan Đông phản kích từ Khailary đến biên giới Mông Cổ để phối hợp với trung đoàn 80 giải toả vòng vây, nhưng đã thất bại vì không phá vỡ được vòng vây và phải rút quân về lãnh thổ Mãn Châu. Ngày 25 tháng 8 năm 1939, Đại sứ của Đức tại Tokyo Otto đã bị triệu đến gặp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản Hachirō Arita để nhận bản kháng nghị phản đối việc ký kết Hiệp ước không xâm lược giữa Liên Xô và Đức. Kháng nghị nói rằng tinh thần hiệp ước này là trái với Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản. Ngày 28 tháng 8 năm 1939, Chính phủ Nhật Bản, đứng đầu là Hiranuma Kiichirō, một người ủng hộ chiến tranh của Nhật chống lại Liên bang Xô viết đã từ chức. == Bình luận về những nguyên nhân dẫn đến việc ký kết Hiệp ước == === Những ý kiến về nỗ lực của Liên Xô để tránh chiến tranh với Đức === Các thỏa thuận đã được ký kết sau khi các cuộc đàm phán Moskva, được tổ chức vào mùa xuân và mùa hè năm 1939 giữa Liên Xô, Anh và Pháp để đi đến một thỏa thuận ba bên về tương trợ lẫn nhau và quy ước cụ thể về việc sử dụng quân đội cho các biện pháp đảm bảo an ninh tập thể ở châu Âu đã thất bại (dự thảo hiệp ước đã được trình lên Chính phủ Liên Xô vào ngày 2 tháng 6). Tiến trình cuộc đàm phán đã bộc lộ thái độ thiếu thiện chí của Anh và Pháp trong việc đưa ra một cam kết quân sự cụ thể và xây dựng kế hoạch thực tế nhằm chống lại một cuộc xâm lược của Đức có thể xảy ra. Hơn nữa, song song với các cuộc đàm phán Moskva, chính phủ Anh vẫn theo đuổi cuộc đàm phán tại London với các đại diện của Đức về phân định khu vực ảnh hưởng. Và nó làm tăng thêm nỗi lo ngại của chính quyền Xô viết đối với các đối tác phương Tây về xu hướng đẩy cuộc xâm lược của Hitler sang phía đông. Điều này đã xảy ra với Tiệp Khắc sau khi Anh và Pháp ký với Đức Hiệp định Munich năm 1938. Với kết quả thất bại của cuộc đàm phán Moskva, Liên Xô đã mất hy vọng cho một liên minh quân sự với các cường quốc phương Tây khi họ vẫn mang tư tưởng thù địch. Trong khi đó thì đối thủ tiềm năng đe dọa đường biên giới của họ ở phương Tây là Đức đang được nuôi dưỡng; và ở phía Đông, họ lại đang có một cuộc chiến đấu để chống lại các hành động xâm lược của Nhật Bản. Trong các trường hợp đó, Liên Xô đã buộc phải chấp nhận đề nghị của Đức để bắt đầu đàm phán về một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau. Lập trường của các cường quốc phương Tây là nguyên nhân sự thất bại của cuộc đàm phán Moskva và đưa Liên bang Xô viết đứng trước sự lựa chọn: hoặc sẽ bị cô lập trước khi mối đe dọa sắp xảy ra với các cuộc tấn công của phát xít Đức; hoặc khi đã không còn khả năng thiết lập một liên minh với Anh và Pháp thì phải đàm phán với Đức để ký một hiệp ước không xâm lược. Và do đó loại bỏ các mối đe dọa chiến tranh. Tình hình cho thấy sự lựa chọn thứ hai là không thể tránh khỏi. Ngày 23 tháng 8 năm 1939, Hiệp ước Xô-Đức đã được ký kết. Trái với sự mong đợi của các chính trị gia phương Tây, chiến tranh thế giới đã bắt đầu với cuộc xung đột trong thế giới tư bản. Như vậy, xét về lịch sử, quyết định của Liên Xô ký kết hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Đức vào năm 1939 là cách duy nhất để tránh chiến tranh với Đức và với các nước tham gia Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản khác. Khi đó Liên Xô xét thấy mình đang ở trong tình trạng cô lập, không có đồng minh. === Những giả thiết về mục đích bành trướng của Stalin === Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, Hiệp ước Xô-Đức là một biểu hiện tham vọng bành trướng của Stalin. Những người tìm cách đẩy Đức sang phía "dân chủ phương Tây" có cớ để vui mừng vì họ có thể được chứng kiến sự Xô Viết hoá Tây Âu. S. Z. Slutch cho rằng Stalin đã nhận thấy Đức là một "đồng minh tự nhiên" đặc biệt trong cuộc đấu tranh chống lại thế giới tư bản. Vì vậy, ông ta mô tả hiệp ước:"Trong thực tế, lục địa châu Âu trước chiến tranh thế giới thứ hai đã được phân chia giữa hai kẻ độc tài đại diện cho trật tự quốc tế với nhiều khía cạnh tương tự như hành vi của chủ nghĩa gangster chính trị, ngoại trừ những khác biệt về quy mô và mức độ đạo đức giả." === Những giả thiết về động cơ hành động theo lợi ích dân tộc của Stalin === Cách giải thích này xem những hành động của Stalin chỉ có tính thực dụng đối với triều đình của mình. Theo đó, Stalin đã có một thời gian để lựa chọn giữa một mặt là Đức và mặt khác là Anh, Pháp. Nhưng sau này, khi phải đối diện với hệ tư tưởng không phù hợp, ông muốn giữ khoảng cách với chiến tranh bằng những lợi ích có tính "bạn bè" với Đức, đặc biệt là việc tranh thủ các lợi ích chính trị Liên Xô tại Đông Âu. Ý kiến này đã được Winston Churchill nêu ra ngay sau khi ký kết hiệp ước. Theo ý kiến của Giáo sư sử học Jeffrey Roberts thuộc Đại học Ailen, chính sách thỏa hiệp của Liên Xô dựa trên cơ sở tính thực tế mong muốn hạn chế khu vực ảnh hưởng của Đức. Trong đó sẽ ưu tiên đảm bảo nhu cầu về an ninh của quốc gia, chủ yếu là để giữ cho đất nước không bị hút vào cuộc chiến và để hạn chế sự mở rộng của Đức về phía đông. Cũng cần lưu ý là nhiều nhà sử học cho rằng nước Anh, Pháp, do có quan điểm riêng về lịch sử đối lập với Liên Xô, nên đã tập trung hướng các nỗ lực xâm lược của Đức về phía đông của châu Âu. Nói chung, mỗi tác giả đều theo cách riêng của mình giải quyết các câu hỏi về mối quan hệ giữa các hành động của những thủ thuật của Stalin và "buộc" cho ông đã hành động theo "chủ nghĩa thực dụng" và động cơ bành trướng ý thức hệ. === Về những lựa chọn có thể thay thế cho việc ký kết hiệp ước === Không có bất kỳ thỏa thuận với Liên Xô và không biết ý định của Stalin; Hitler có khả năng thuyết phục Ba Lan tham gia Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản. Trong trường hợp đó Đức sẽ cùng với Ba Lan tấn công Liên Xô. Cùng thời gian trên, Mặt trận phía Tây nước Đức có thể không bị đe dọa, do Anh và Pháp vẫn có thể đứng ngoài cuộc xung đột này. Trong trường hợp này, sự cân bằng quyền lực, đặc biệt là về không gian, sẽ không tiến triển có lợi của Liên Xô. Đức và Ba Lan sẽ có thể dùng vấn đề Litva để đẩy lùi đường biên giới Liên Xô.. === Động cơ có thể có của Stalin === ==== Những tính toán để tránh sự khiêu chiến ==== Theo một số nhà nghiên cứu, Stalin không ảo tưởng và chưa bao giờ là người tin tưởng hoàn toàn rằng người ta có thể thực hiện chính sách an ninh tập thể với một chủ trương nghiêm túc theo tuyên bố chính thức của Litvinov. Đáng chú ý là vấn đề an ninh tập thể đã không đề cập đến trong cuốn Lược sử Đảng Cộng sản toàn Nga (b), được tái bản với một phần văn bản do Stalin biên soạn lại. Hơn nữa, trong bản được xuất bản năm 1938, còn có lập luận rằng "cuộc chiến tranh đế quốc lần thứ hai đã bắt đầu trên thực tế". Vì vậy, các sự kiện chính trị do Stalin điều hành trong tình trạng như là đã có một cuộc chiến tranh giữa các nước đế quốc. Phó ủy viên nhân dân phụ trách giáo dục V. Potemkin đã định nghĩa trong Tạp chí Bolshevik "khái niệm chính thức của chiến tranh đế quốc lần thứ hai và triển vọng của nó": "Chiến tranh đế quốc thứ hai là sự mở rộng toàn bộ các mặt trận. Nói cách khác là nó vượt ra khỏi phạm vi một vài quốc gia. Những trận đánh lớn của nhân loại sẽ bắt đầu một cuộc cách mạng trên thế giới. Kết quả, Liên bang Xô viết có trách nhiệm nặng nề, một là phát triển đầy đủ và vượt bậc, và hai là tăng cường sự bền vững của nền dân chủ cách mạng, giúp đỡ các nước bị nô dịch trong hệ thống tư bản nổi dậy." Tại Hội nghị Đảng bộ Leningrad ngày 3 tháng 3 năm 1939; Bí thư Đảng bộ A. A. Zhdanov cũng cho rằng những dự báo trong đoạn báo cáo của Stalin "về những bài phát biểu có màu hạt dẻ" là đúng và tóm tắt tình hình như sau: Moskva coi nhiệm vụ "tiết kiệm thời gian là sức mạnh của chúng ta để chờ đến khi sự đổ vỡ xuất hiện trong liên minh Hitler và Mussolini, nhưng đồng thời và tất nhiên là với cả Chamberlain." Từ đây, một số nhà nghiên cứu kết luận rằng Stalin coi nguyên nhân làm suy yếu hệ thống đế quốc là các cuộc chiến tranh được tiến hành theo kế hoạch nhằm mục đích chính trị của họ. Theo S. Z. Slutch, Stalin đã nhận thấy tham vọng của các nước đế quốc trong sự phát triển đối đầu trên trường quốc tế và coi đó là cơ sở thực tế để xác định lợi ích an ninh quốc gia của mình, đồng thời tìm cách làm cho thế giới tư bản phải "lùi một bước". Năm 1935, Stalin đã viết điện khẩn gửi Kaganovich: "Các cuộc tranh chấp ngày càng mạnh mẽ hơn giữa các thế lực tư bản độc quyền nhà nước có lợi hơn cho Liên Xô. Chúng ta có thể bán bánh mì cũng như nhiều thứ khác. Vì vậy họ có thể chiến đấu.<...> Chúng ta đang thuận lợi cho một cuộc chiến có nhiều khả năng kéo dài nhưng không thể chiến thắng một cách nhanh chóng." Những tư duy trên vẫn được Stalin thể hiện sau Chiến tranh thế giới thứ hai khi ông trao đổi với Georgi Dimitrov: "Chiến tranh giữa hai nhóm nước tư bản (nước tư bản giàu với nước tư bản nghèo) vì mục đích tranh giành thuộc địa, nguyên liệu thô, v.v... là để thống trị các vùng trên thế giới! Chúng ta nhớ rằng họ đã chiến đấu tốt và đã làm suy yếu lẫn nhau. Không xấu, nếu bàn tay của Đức phải rung động bởi tình hình của những nước tư bản giàu của nhất (đặc biệt là Anh). Hitler đã không hiểu và không muốn lay động, phá hoại hệ thống tư bản... Chúng ta cần phải linh hoạt, đẩy một bên chống một bên khác là cách tốt nhất... Vậy có gì là sai trái khi với thất bại của Ba Lan, chúng ta đã phát triển hệ thống xã hội chủ nghĩa trên lãnh thổ mới và dân cư mới?" Về vấn đề này, một số nhà sử học cho rằng Stalin đã thực sự tuân theo "luật chơi" mà ông nêu trong bài phát biểu của ông khi đánh giá các quan hệ với nước Anh, Pháp: "Thực chất, chính sách không can thiệp có thể được mô tả như sau: "Hãy để mọi quốc gia để bảo vệ bản thân chống xâm lược như họ muốn và làm thế nào để bên chúng tôi có thể kinh doanh, chúng tôi sẽ thương lượng với cả kẻ xâm lược lẫn nạn nhân của nó." Tuy nhiên, trên thực tế, đó là một chính sách buông thả cho sự xâm lược và làm cho chiến tranh bùng nổ. Và cũng do đó mà nó chuyển thành một cuộc chiến tranh thế giới. Chính sách không can thiệp đã phản bội lại ý muốn không can thiệp. Và ý muốn không can thiệp đã bị cuộc chiến tranh xâm lược làm dơ bẩn chính sách đó. Chính sách ấy đã đẩy tất cả các bên tham gia cuộc chiến sa lầy trong vùng bùn của chiến tranh rồi lặng lẽ khuyến khích, cung cấp cho họ những gì họ cần để làm suy yếu lẫn nhau. Và sau đó khi họ đã đủ yếu, người cầm chịch cuộc chơi mới bước lên sân khấu với sức mạnh đổi mới, tất nhiên là để nói chuyện "vì hòa bình" và để sai khiến người tham gia chiến tranh đã suy yếu làm theo các điều khoản của chính mình. Rẻ quá và tốt đẹp quá!" ==== Cách nhìn của Stalin về "Vị thế của nhà nước Liên Xô" ==== Một số nhà nghiên cứu cho rằng Stalin, khi đưa ra đề nghị về một cuộc đấu tranh chung chống Hitler không hẳn xuất phát từ sự vô tư vì đề nghị đó thể hiện quyền lợi của Moskva. Họ dựa vào một số báo cáo, trực tiếp hay gián tiếp, lật lại vấn đề này của Stalin. Một trong các số báo Pravda (Sự thật) ra năm 1940 sau đây có thể xác định hành vi của Liên bang Xô viết trước khi ký hiệp ước: "Liên Xô đã tìm cách thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình ở biên giới phía tây của nước ta và thúc đẩy hòa bình, và Liên Xô bỏ qua những vấn đề này trong quan hệ ngoại giao với Anh-Pháp để tổ chức cuộc chiến tranh với sự tham gia của Liên bang Xô viết".. Những điểm trên cũng thấy trong lời của Stalin với Georgi Dimitrov (ngày 7 tháng 9 năm 1939). điều này cho thấy rằng Stalin đã hy vọng có được sự "thanh toán" cho một liên minh với các nền dân chủ: "Chúng ta ưa thích một thỏa thuận với cái gọi là các nước dân chủ, và vì thế nên phải thương lượng. Tuy nhiên, Anh và Pháp muốn có chúng ta trở thành người làm thuê, và hơn thế nữa là người làm thuê không phải trả công! Chúng ta chắc chắn sẽ không thể là một người làm thuê, ngay cả với mức độ ít nhất mà không đạt được bất cứ điều gì." == Quan điểm đương đại == === Winston Churchill Thủ tướng Anh từ 1940 đến 1945 === Không thể nói rằng những người Anh không ưa ai hơn ai - Hitler hay Stalin. Cả hai đều nhận thấy rằng điều này có thể chỉ là một giải pháp tạm thời, là những sự xoay xở linh hoạt bởi hoàn cảnh. Sự đối lập về nguyên tắc giữa hai đế quốc và hai hệ thống đã được tạm bỏ qua. Stalin không nghi ngại gì khi cho rằng Hitler là đối thủ ít nguy hiểm hơn cho Liên Xô sau nhiều năm chiến tranh chống lại các thế lực phương Tây. Còn Hitler thì lại tuân theo phương châm cố hữu của mình là "chủ nghĩa đơn phương". Trên thực tế, một thỏa thuận như vậy có thể là dấu hiệu báo trước sự thất bại nghiêm trọng của nền ngoại giao chính trị Anh và Pháp trong vài năm đó. Liên bang Xô viết đã mong muốn thực hiện lợi ích quan trọng của mình trong việc dịch chuyển đường biên giới đến các vị trí cực Tây càng gần quân đội Đức càng tốt. Bằng cách đó Liên Xô có thời gian để có thể tập hợp sức mạnh từ tất cả các khu vực trong đế chế khổng lồ của họ. Trong tâm trí sắt đá của người Nga vẫn còn vết thương nóng bỏng của thảm họa mà quân đội của họ phải chịu trong năm 1914, khi họ ồ ạt triển khai các cuộc tấn công vào quân Đức trong tình trạng trang bị của quân đội vẫn chưa hoàn bị. Và bây giờ, biên giới của họ đã xa hơn phía Tây, xa hơn so với cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Và họ đã bắt buộc phải dùng biện pháp đó để chiếm Pribaltic và phần phía Tây của Ba Lan trước khi quân Đức tấn công họ. Nếu chính sách của họ có phần lạnh lùng thì cũng dễ hiểu vì nó rất phù hợp với thực tế của tình hình. === Adolf Hitler, Thủ lĩnh Đảng Quốc xã, Quốc trưởng của Đệ tam đế chế Đức === Với Hiệp ước này, từ quan điểm của người Nga cho thấy chúng ta đã gặp thuận lợi do họ không có khả năng tham gia vào bất kỳ một cuộc xung đột nào, kể cả một cuộc xung đột như vậy tại Romania! Kẻ thù của chúng tôi được tính trên thực tế là Nga sau khi chúng tôi xâm chiếm Ba Lan. Kẻ thù đã không nghĩ ra quyết định của tôi. Kẻ thù của chúng tôi được lợi một ít. Tôi đã thấy điều đó trong Hiệp định Munich. Tôi tin rằng Stalin sẽ không bao giờ chấp nhận đề nghị của Anh. Chỉ có sự lạc quan thiếu thận trọng mới có thể nghĩ rằng Stalin rất ngớ ngẩn mà không nhận ra mục đích thực sự của họ. Người Nga đã không quan tâm đến việc duy trì các quan điểm của Litvinov về Ba Lan, và việc ông ta từ chức là một yếu tố quyết định. Sau đó, tôi ngay lập tức nhận ra rằng thái độ của Moskva đối với các cường quốc phương Tây đã thay đổi. Tôi đã tiến hành các bước nhằm thay đổi mối quan hệ với Nga. Trong đó, đã thông qua các hiệp định về kinh tế để bắt đầu đàm phán chính trị. Ở giai đoạn cuối, chúng tôi đã nhận được từ người Nga đề nghị về việc ký một hiệp ước không xâm lược. Bốn ngày trước, tôi đã đi một bước đặc biệt dẫn đến một thực tế là hôm qua, người Nga đã tuyên bố sẵn sàng để ký tên vào hiệp ước. Tôi cũng đã đặt quan hệ cá nhân với Stalin. Đến ngày mai Ribbentrop sẽ ký hiệp ước. Bây giờ, Ba Lan đã ở vào vị trí trong tầm mắt của tôi... Một sự khởi đầu để làm tiêu vong quyền bá chủ của người Anh. Bây giờ, khi tôi đã có sự sắp xếp ngoại giao cần thiết, các binh sĩ đã ở trong trạng thái sẵn sàng. === I. V. Stalin - Tổng Bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (b),từ năm 1941, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng dân uỷ Liên Xô. === Hiệp định không xâm lược đã có lợi cho Đức ở một mức độ nhất định. Một câu hỏi được đặt ra: làm thế nào lại có thể xảy ra mà Chính phủ Liên Xô đã đồng ý để ký kết một hiệp ước không xâm lược với những đối tác không thể tin cậy được như Hitler và Ribbentrop? Điều này có một phần sai lầm của Chính phủ Liên Xô? Tất nhiên không! Hiệp ước không xâm lược Đức-Xô là một hiệp ước hòa bình giữa hai nước. Và chính phía Đức đã đề nghị trước với chúng ta hiệp ước đó trong năm 1939. Chính phủ Liên Xô có thể từ chối một đề nghị như vậy? Tôi nghĩ rằng nếu chỉ có lòng yêu nước mà không yêu hòa bình thì có thể từ chối một hiệp ước hòa bình với một nước láng giềng. Nếu người đứng đầu nhà nước mà làm như vậy thì thậm chí còn gần với quái vật Cannibals hơn cả Hitler và Ribbentrop. Và tất nhiên là không thể thiếu một trong những điều này: thỏa thuận hòa bình này không vi phạm hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đến toàn vẹn lãnh thổ, độc lập và danh dự cũng như sự yêu chuộng hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc trong Liên bang. Và mọi người đều biết, Hiệp ước không xâm lược giữa Đức và Liên Xô là một hiệp ước đúng đắn. === Benito Mussolini, Thủ lĩnh Đảng Phát xít Ý, Thủ tướng Chính phủ Ý === Đối với các thỏa thuận với Nga, tôi hoàn toàn chấp nhận nó... Việc lập lại quan hệ hữu nghị giữa Đức và Nga là cần thiết để ngăn chặn sự bao vây của các nền dân chủ. === V. M. Molotov, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng dân uỷ kiêm Bộ trưởng dân ủy Ngoại giao === Tầm quan trọng chủ yếu của Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức trong thực tế là hai quốc gia lớn nhất châu Âu đã đồng ý chấm dứt sự thù địch, loại bỏ sự đe dọa của chiến tranh và cùng chung sống hòa bình. Do đó, các khu vực xung đột quân sự ở châu Âu có thể thu hẹp lại. Thậm chí nếu chúng tôi không thể tránh một cuộc xung đột quân sự ở châu Âu, thì quy mô của những hành động quân sự này cũng sẽ được hạn chế. Những nước không hài lòng với hiệp ước này là những nước muốn "đốt ngôi nhà chung" châu Âu trong một cuộc chiến tranh, những người lập luận một cách đơn giản rằng ánh sáng hòa bình của một châu Âu quý tộc chỉ nhìn thấy được trong sự bùng nổ các hoạt động quân sự. Thỏa thuận này có được sau thất bại của cuộc đàm phán Liên Xô-Anh-Pháp cho thấy rằng hiện nay, không thể quyết định vấn đề quan trọng của quan hệ quốc tế, đặc biệt là các vấn đề của Đông Âu, mà không có sự tham gia tích cực của Liên bang Xô viết, rằng bất kỳ nỗ lực để phá vỡ Liên Xô và giải quyết các vấn đề sau lưng Liên Xô sẽ chắc chắn kết thúc bằng sự thất bại. Hiệp ước không xâm lược Đức-Xô có nghĩa là thay đổi sự phát triển của châu Âu... Thỏa thuận này không những cho chúng ta loại trừ các mối đe dọa chiến tranh với Đức... mà nó sẽ cho chúng ta những cơ hội mới để phát triển các lực lượng vũ trang, củng cố vị trí của chúng ta và phát huy liên tục những ảnh hưởng của Liên Xô trong quan hệ quốc tế. === Kurt von Tippelskirch, thượng tướng quân đội Đức Quốc xã, Giám đốc cơ quan tình báo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Đức 1939 === Một câu hỏi được đặt ra: có thể có một số chính trị gia không muốn sử dụng tất cả các ảnh hưởng của mình để ngăn chặn một thảm họa tương tự như Chiến tranh thế giới thứ nhất. Thực tế là Hitler muốn chiến tranh, ít nhất là chiến tranh khu vực. Nhưng ông sẽ không dễ dàng để đạt được mục tiêu đó, nếu không tìm thấy những đồng minh cần thiết và kẻ thù ở Liên Xô, Anh và Ba Lan. Điều quan trọng là thái độ của Liên Xô. Khi Hitler nhận được sử bảo đảm sự đồng tình với mình, ông ta thực sự tự tin rằng ông ta sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến chống các cường quốc phương Tây. Xã hội Liên bang Xô Viết cũng là một cơ sở lý luận thuyết phục cho phép Hitler xua tan nghi ngờ về các cố vấn quân sự của mình. Loại ý kiến thứ hai tin rằng rất khó để dự đoán trước những gì sẽ xảy ra trong phạm vi các hành động quân sự nếu họ đi xa hơn một cuộc xung đột khu vực. Và do đó sự mở rộng chiến tranh là không thể. === William Shirer, sử gia người Mỹ, phóng viên tại Đức năm 1939 === Pháp, cùng với Đức và Anh nhất trí để loại trừ Nga khỏi việc tham gia Hội nghị Munich năm 1938. Một vài tháng sau đó, các nền dân chủ phương Tây đã phải trả giá về việc đó. Ngày 3 tháng 10, bốn ngày sau Hội nghị Munich, Werner von Tippelskirch, tham tán Đại sứ quán Đức ở Moskva đã báo cáo về Berlin rằng Hội nghị Munich đã có những tác động tiêu cực đến chính sách của Liên Xô. Ở London và Paris, người ta chỉ còn biết chua xót khóc than cho cuộc chơi tay đôi với Stalin. Trong nhiều năm những người Xô Viết ra sức hô hào hãy cảnh giác trước "con thú phát xít", kêu gọi tất cả các quốc gia yêu chuộc hòa bình hãy đoàn kết để ngăn chặn sự xâm lăng Đức quốc xã. Bây giờ ông ta đã trở thành đồng minh của nó. Kremlin có thể lập luận rằng, trên thực tế: Liên bang Xô viết đã, đang thực hiện những gì mà chính nước Anh và nước Pháp đã làm một năm trước đây ở Munich. Các nước nhỏ phải trả giá cho chúng ta một thời gian nghỉ ngơi, yên bình, tái vũ trang để đối đầu với Đức. Nếu Chamberlain hành động một cách công bằng và danh dự để xoa dịu Hitler mà không dâng Tiệp Khắc cho Hitler trong năm 1938 thì làm sao trách được Stalin đã không thể cư xử một cách được coi là không lương thiện khi một năm sau, Hitler phá hoại hòa bình bằng cách xâm lược Ba Lan mà phương Tây vẫn từ chối sự trợ giúp của Liên Xô? Sự hoài nghi về thỏa thuận bí mật giữa Stalin và Hitler (vành đai Đông Âu) chỉ được xác nhận tại Berlin và Moskva. Tuy nhiên, thế giới sẽ sớm học được tất cả các bài học qua các bước đi mà người Nga đã đưa ra, và thậm chí sau đó chủ nghĩa phát xít đã tấn công trên toàn thế giới. == Lịch sử sự công bố Hiệp ước == === Những thông tin đầu tiên về sự tồn tại của nghị định thư bí mật === Hiệp ước đã được công bố ngay sau khi ký kết, và các thông tin về nghị định thư bổ sung đã được giữ bí mật. Tuy nhiên, nội dung của nó đã bị giới ngoại giao tiết lộ gần như ngay lập tức. Sáng ngày 24 tháng 8, nhà ngoại giao Đức Hans von Hervart thông báo cho đồng nghiệp người Mỹ của ông là Charles Bohlen đầy đủ nội dung của nghị định thư bí mật. Những điều khoản thỏa thuận giữa Liên Xô và Đức còn xuất hiện trong một thứ được gọi là "Bài phát biểu của tại một cuộc họp Bộ Chính trị ngày 19 tháng 8 năm 1939". Tài liệu này được cơ quan thông tấn Havas của Pháp đưa tin vào tháng 11 năm đó. Một số nhà nghiên cứu xem nó như một tài liệu chính gốc, trong khi nhiều người khác không thừa nhận nó. Tuy nhiên, cho đến cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, những tài liệu này vẫn được lợi dụng, mặc dù nó đã được xác nhận rõ ràng và đầy đủ hơn nữa. === Ở phương Tây === Năm 1945, các văn bản gốc bằng tiếng Đức của nghị định thư bổ sung đã được Quân đội Liên Xô thu giữ và chuyển về Moskva, nhưng bản chụp của nó trên microfilm vẫn được bảo quản trong kho lưu trữ tài liệu của Bộ ngoại giao của Đức. Tháng 5 năm 1945, thư ký Bộ Ngoại giao Đức Karl von Loesch đã đưa bản sao này cho viên trung tá người Anh R. S. Thompson. Trong bài phát biểu công khai về nghị định thư bí mật lần đầu tiên được nêu ra tại Tòa án Nürnberg, bị cáo Karl von Loesch đã thừa nhận đã thực hiện sao chép một thoả thuận bí mật về quốc phòng. Ông này cũng cho biết Ribbentrop, và sau đó là Hess đã nhận một bản sao của bản sao và cố gắng để đọc nó. Nhưng ông ta đã từ chối cho biết nguồn gốc của tài liệu tại tòa án. Sau này trong hồi ký của mình, ông này lại nói rằng mình đã nhận được văn bản từ tình báo Mỹ. Một vài tháng sau đó, ông ta định công bố nó trên tờ tạp chí Mỹ "St Louis Post công báo", nhưng tạp chí không chấp nhận điều này. Những cũng chính từ tạp chí đó mà thông tin này gây được tiếng vang rộng rãi vào năm 1948 khi nó được xuất bản trong một bộ sưu tập của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ: "Quan hệ Đức Quốc xã-Liên Xô, 1939-1941". Ngoài ra, trong bộ sưu tập còn có các thứ ngoại giao giữa Đức với Liên Xô bằng tiếng Đức, trong đó có các nội dung liên quan trực tiếp đến sự thỏa thuận bí mật. Trên thực tế, các tài liệu này đã giúp cho một số nhà nghiên cứu có cơ sở để so sánh các chính sách của Liên Xô với các chính sách của Đức Quốc xã với đánh giá Liên Xô đã đồng lõa cùng Đế chế thứ ba trong sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai. Về vấn đề này, câu hỏi về nghị định thư bí mật giữa Đức Quốc xã và Liên Xô (cũng như Hiệp ước không xâm lược và Hiệp ước biên giới hữu nghị và biên giới) rất có ý nghĩa chính trị. === Tại Liên Xô === Ở Liên Xô, sự tồn tại của Nghị định thư bí mật đã bị bác bỏ thẳng thừng. Sau khi chiến tranh nổ ra, Moskva đã được sơ tán, trong đó có bản sao thứ hai của nguyên bản tiếng Đức. Chúng được lưu giữ trong tủ cá nhân an toàn của Stalin và sau đó là trong kho lưu trữ của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.. Năm 1948, để phản ứng với việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ xuất bản cuốn sách có tên gọi "Quan hệ Đức Quốc xã - Liên Xô", Cục Thông tin Liên Xô đã xuất bản cuốn sách "Sự xuyên tạc lịch sử", trong đó có các phản biện và những cáo buộc Anh, Mỹ và cộng đồng các nước phương Tây có liên quan đến vấn đề cung cấp tài chính của Đức vào năm 1930. Sau đó, vấn đề mối quan hệ tài chính của Đức Quốc xã với các tập đoàn tư bản Mỹ được che giấu triệt để đã được nhà kinh tế học người Anh nổi tiếng Anthony Sutton làm rõ trong cuốn sách Phố Wall và sự nổi lên của Hitler của ông. Trái ngược với những ấn phẩm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là một bộ sưu tập các tài liệu lưu trữ, các phiên bản được Liên Xô công bố chỉ có dưới dạng những đoạn trích chứ không phải là toàn bộ tài liệu với cấu trúc thống nhất. Sự tồn tại của Nghị định thư bí mật đã bị Molotov bác bỏ từ trước khi ông chết. Ông cũng đã nhiều lần bày tỏ điều này trong các cuộc phỏng vấn của nhà văn Feliks Ivanovich Chuyev. Vấn đề Hiệp ước không xâm lược Xô-Đức và đặc biệt là Nghị định thư bí mật đã được lật lại ở Liên Xô trong thời cải tổ, chủ yếu do áp lực của Ba Lan thông qua Hiệp hội nghiên cứu lịch sử hai nước Ba Lan-Liên Xô. Để nghiên cứu vấn đề này, một ủy ban đặc biệt đã được thành lập do Bộ trưởng Thông tin tuyên truyền Alexander Yakovlev lãnh đạo. Ngày 24 tháng 12 năm 1989, sau khi nghe báo cáo của Yakovlev về những phát hiện của các nhà nghiên cứu trong Hiệp hội, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô đã thông qua một nghị quyết lên án Nghị định thư bí mật (ghi nhận việc thiếu bản gốc nguyên văn nhưng công nhận tính xác thực của nó dựa trên các chữ viết tay, bản ảnh kỹ thuật và xét nghiệm từ vựng trong bản sao cũng như các sự kiện tương ứng tiếp theo của nó). Đồng thời, lần đầu tiên tại Liên Xô, văn bản của Nghị định thư bí mật (từ bản microfilm của Đức) đã được xuất bản tại tạp chí "Câu hỏi của Lịch sử" số 6 năm 1989. Bản đầu của Nghị định thư bí mật được lưu giữ trong kho của Tổng thống Liên Xô (nay là Lưu trữ của Tổng thống Nga tại một thư mục đặc biệt, số hiệu 34. Nhưng một trong những người biết về sự tồn tại của nó, Mikhail Gorbachev cũng chỉ được biết từ năm 1987. Theo người trợ lý của ông là V. A. Boldin, đã có lúc Gorbachev đã muốn tiêu huỷ tài liệu này.. Ngày 30 tháng 10 năm 1992, việc giải mật các tài liệu lưu trữ được thực hiện. Sau đó, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị của Quân đội và Hải quân Liên Xô Thượng tướng Dmitry Antonovich Volkogonov đã công bố nội dung của nghị định thư này trên Tạp chí Khoa học Lịch sử đương đại và hiện đại, số 1 năm 1993. == Hệ lụy của Hiệp ước == Hai năm sau, khi quân đội Đức tràn sang tấn công Liên Xô trong sự vi phạm trắng trợn mà thực chất là đã xé bỏ Hiệp ước không xâm lược, Stalin vẫn còn biện minh cho việc thỏa hiệp với Hitler. Trong bài diễn văn truyền thanh gửi đến nhân dân Liên Xô ngày 3 tháng 7 năm 1941, Stalin phát biểu: Chúng ta đã tranh thủ được nền hòa bình cho đất nước ta trong một năm rưỡi, cũng như đã tạo cơ hội chuẩn bị cho các lực lượng của ta nhằm chống lại phát xít Đức vi phạm hiệp ước mà tấn công chúng ta. Đây là cái được của đất nước ta và cái mất của phát xít Đức. Nhưng có đúng thế không? Từ lúc bấy giờ cho đến nay, tranh luận đã nổ ra về điểm này. Sự thực là bản hiệp ước đã cho Liên Xô một khoảng thời gian để củng cố quốc phòng là điều hiển nhiên. Chỉ trong một thời gian ngắn sau hiệp ước Liên Xô đã có vị thế quân sự vững mạnh chống lại Đức phía bên trong biên giới Liên Xô, kể cả những căn cứ quân sự ở các quốc gia vùng Baltic như Latvia, Estonia và Phần Lan. Và quan trọng nhất, hiệp ước đảm bảo cho Điện Kremlin là nếu sau này Liên Xô bị Đức tấn công thì các cường quốc phương Tây lúc ấy đã tỏ rõ đường lối chống Đức, và Liên Xô sẽ không phải đơn độc chống chọi với Đức như Stalin đã lo sợ suốt mùa hè 1939. Tất cả những điều trên là sự thật nhưng vẫn có lập luận theo cách khác. Vào lúc Hitler tấn công Liên Xô, quân đội của Ba Lan và Pháp cùng lực lượng viễn chinh Anh trên lục địa châu Âu đã bị tiêu diệt, và Đức có mọi nguồn lực toàn châu Âu để huy động mà không bị trói tay vào mặt trận nào của phương Tây. Suốt các năm 1941, 1942 và 1943, Stalin than phiền một cách cay đắng rằng không có mặt trận nào khác chống lại Đức và rằng Liên Xô phải hứng chịu hầu như toàn bộ sức mạnh của Quân lực Đức. Trong khoảng thời gian 1939-1940, còn có một mặt trận của phương Tây để chia bớt sức mạnh của Đức và Ba Lan không thể bị tràn ngập chỉ trong nửa tháng nếu Liên Xô hỗ trợ cho họ thay vì đưa quân vào các vùng đất trong biên giới cũ của nước Nga Sa hoàng. Hơn nữa, có lẽ đã không có chiến tranh nếu Hitler biết sẽ phải đương đầu với cả Liên Xô, Ba Lan, Anh và Pháp. Xét qua lời khai của các tướng lĩnh Đức trước Tòa án Nüremberg, ngay cả khi các nước này tuy hiền hòa về chính trị nhưng vẫn có thể ngăn chặn được cuộc chiến của Đức chống lại một liên minh hùng mạnh như thế. Theo báo cáo của đại sứ Pháp tại Đức, cả Keitel và Brauchitsch đều cảnh báo với Hitler rằng Đức ít có cơ may chiến thắng nếu Liên Xô đứng về phe kẻ thù của Đức. Tuy nhiên, cũng phải nói lại rằng chính nước Anh cũng chơi trò "bắt cá hai tay", vừa đàm phán với Liên Xô, vừa đàm phán để ký kết với Đức một Hiệp ước tương tự với ý muốn đẩy Đế chế thứ ba mở rộng sang phía Đông. Việc không ký kết được hiệp ước này nằm ngoài ý muốn của họ. Trước đó, Hiệp định Munich 1938 đã thực sự khuyến khích Hitler thôn tinh Tiệp Khắc. Việc Pháp hủy bỏ Hiệp ước tương trợ với Liên Xô để ký Hiệp ước Munich cũng đã trở thành một hành động làm cho người Nga không tin tưởng ở họ. Không có chính khách nào, ngay cả các nhà độc tài, có thể tiên đoán chiều hướng của chiến tranh trong lâu dài. Có thể biện luận giống như Churchill rằng động thái của Stalin "vào lúc ấy có tính thực tế cao". Giống như bất kỳ nguyên thủ quốc gia nào khác, mối ưu tiên hàng đầu của Stalin là nền an ninh cho đất nước của ông. Sau này ông thổ lộ với Churchill rằng, vào mùa hè 1939, ông tin chắc rằng Hitler đang khởi động chiến tranh. Ông đã quyết định không để cho Liên Xô bị lâm vào vị thế tệ hại là đơn độc đối phó với Đức. Khi không thể tạo mối liên minh vững chắc với phương Tây, thế thì tại sao lại không quay sang Hitler lúc ấy đang bất ngờ gõ cửa Liên Xô? Vào cuối tháng 7 năm 1939, hiển nhiên Stalin đã bắt đầu tin chắc rằng Anh-Pháp không muốn đi đến mối liên minh có tính ràng buộc và rằng mục đích của Anh còn là dẫn dụ cho Hitler khởi động chiến tranh ở Đông Âu. Dường như Stalin đã rất ngờ vực Anh, và mọi hành động của phương Tây trong hai năm vừa qua càng khiến cho ông thêm ngờ vực: sau khi Đức thôn tính Áo và Tiệp Khắc, Chamberlain từ chối đề nghị của Liên Xô nhằm đặt ra kế hoạch ngăn chặn bước tiến kế tiếp của Quốc xã; Chamberlain trì hoãn và lưỡng lự trong việc đàm phán cho liên minh phòng thủ chống lại Hitler. Một điều mà hầu như ai cũng biết chắc – ngoại trừ Chamberlain – là chính sách ngoại giao Anh-Pháp, vốn đã chập chờn mỗi khi Hitler có một động thái, giờ đã phá sản. Hai cường quốc phương Tây, Anh và Pháp, từng bước đã đi thụt lùi: khi Hitler thách thức họ mà ra lệnh tổng động viên, khi ông ta xâm chiếm lãnh thổ Rhineland năm 1936, rồi thôn tính Áo năm 1938 và cùng năm này chiếm Sudetenland; và họ vẫn bình chân như vại khi Hitler thôn tính Tiệp Khắc tháng 3 năm 1939. Khi Liên Xô ở về phe mình, họ vẫn còn có thể khiến cho nhà độc tài Đức nản lòng mà không dám khởi động chiến tranh hoặc, nếu không được, thì đã có thể nhanh chóng đánh bại Đức trong cuộc xung đột vũ trang. Nhưng họ đã để cho cơ hội cuối cùng vuột khỏi tầm tay dù đã có nhiều cảnh báo rằng Hitler sẽ gây hấn nếu không phải chiến đấu chống Nga. Cả Anh và Pháp đều lớn tiếng kết tội Stalin. Họ cho rằng trong nhiều năm Stalin đã cảnh báo về "những con thú phát xít" và đề nghị mọi quốc gia yêu chuộng hòa bình kết hợp lại nhằm ngăn chặn Quốc xã gây hấn nhưng bây giờ lại về phe với Quốc xã. Điện Kremlin biện luận rằng họ làm giống như Anh-Pháp đã làm năm trước ở đối với Tiệp Khắc: nhằm duy trì hòa bình và có thêm thời gian tái vũ trang chống lại Đức tuy phải hy sinh một nước nhỏ. Nếu Chamberlain tỏ ra là đúng đắn và có danh dự khi xoa dịu Hitler mà hy sinh Tiệp Khắc, không lẽ Stalin lại là sai trái và mất danh dự khi xoa dịu Hitler mà hy sinh Ba Lan? Sự thỏa hiệp bí mật của Stalin với Đức nhằm phân chia Ba Lan và được toàn quyền hành động thôn tính Latvia, Estonia, Phần Lan và Bessarabia chẳng bao lâu được thể hiện qua những động thái của Liên Xô đã khiến cho hầu hết thế giới bị sốc ngay cả cho đến giờ. Người Nga nói rằng họ chỉ thu hồi những lãnh thổ đã bị lấy đi khỏi tay họ sau Chiến tranh thế giời thứ nhất nhưng những dân tộc sinh sống trên lãnh thổ này không phải là người Nga và không phải tất cả đều muốn gia nhập Liên Xô. Từ khi gia nhập Hội Quốc Liên, Liên Xô đã gây dựng một sức mạnh tinh thần cổ súy cho hòa bình và đứng đầu việc chống lại phát xít gây hấn. Bây giờ, trung tâm tinh thần ấy đã hoàn toàn vỡ vụn. Trên tất cả, qua việc thỏa hiệp một cách lôi thôi với Hitler, Stalin đã nổ phát pháo lệnh bắt đầu một cuộc chiến chắc chắn rồi sẽ mở rộng thành cuộc xung đột thế giới. Ông hiểu rõ điều này. Nhiều năm trước, Hitler đã dự trù trong quyển Mein Kampf: "Việc ký kết mối liên minh với Nga chỉ là kế hoạch cho cuộc chiến kế tiếp". Nhờ Hiệp ước này, Đức được rảnh tay với Nga để chú tâm thôn tính Ba Lan mà không còn e ngại mối liên minh Anh-Pháp-Liên Xô vốn hợp lực lại mạnh hơn Đức rất nhiều. Sau khi đã hạ tiếp Anh-Pháp, Hitler xé bỏ Hiệp ước mà xâm lăng Liên Xô. Theo William L. Shirer: "Lịch sử cho thấy Hiệp ước Đức Quốc xã-Liên Xô là sai lầm chính trị lớn nhất trong cuộc đời của Stalin". Hiệp ước đã dẫn đến sự kiện Con đường Baltic vào đúng 50 năm sau ngày ký kết, khi khoảng 2 triệu người Latvia, Litva và Estonia cùng nắm tay nhau tạo thành hàng dài 600 km đòi li khai khỏi Liên Xô vào năm 1989. Năm 2014, Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố rằng việc Liên Xô ký Hiệp ước với Đức là không có gì xấu trong bối cảnh đó. Ông Putin nói rằng các sử gia phương Tây ngày nay đang cố gắng lờ đi Hiệp ước München năm 1938, trong đó Pháp và Anh - do Neville Chamberlain làm thủ tướng - đã xoa dịu Adolf Hitler bằng cách ép buộc Tiệp Khắc phải trao cho Đức vùng Sudetenland. Việc làm đó của Anh đã phá hủy mọi cơ hội thành lập liên minh chống phát xít theo đề nghị của Liên Xô, khiến Liên Xô phải quay sang thỏa hiệp với Đức Quốc xã == Tham khảo == == Liên kết ngoài == The rise and fall of the Third Reich – A history of Nazi Germany, của William L. Shirer. Nhà xuất bản: Simon and Schuster, Inc., New York, N.Y., 1960. Toàn văn hiệp ước (tiếng Anh)
quảng trường ba đình.txt
Quảng trường Ba Đình là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương và trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quảng trường này còn là nơi ghi nhận nhiều dấu ấn quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt, vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quảng trường Ba Đình ngày nay có khuôn viên với chiều dài 320m và rộng 100m, có 240 ô cỏ, xen giữa là lối đi rộng 1,4m. Giữa quảng trường là cột cờ cao 25m. Đây là nơi diễn ra các cuộc diễu hành nhân dịp các ngày lễ lớn của Việt Nam, và cũng là một địa điểm tham quan, vui chơi, dạo mát của du khách và người dân Hà Nội. == Nguyên thủy == Trước đây, nơi đây là một khu vực này nằm trong phạm vi Hoàng Thành Thăng Long. Thời Gia Long, năm 1808, Hoàng Thành bị phá dỡ để xây lại một ngôi thành mới nhỏ hơn nhiều để làm trị sở cho Bắc Thành. Khu vực Quảng trường Ba Đình ngày nay tương ứng với khu cửa Tây của ngôi thành mới, được Minh Mạng đổi tên thành thành Hà Nội vào năm 1831. Khu vực này bấy giờ có một gò đất cao được gọi là núi Khán, hay Khán Sơn. Giữa thế kỷ XIX, do đề nghị của Bố chính Hà Nội Lê Hữu Thanh, Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Thu đã cùng một số quan lại bỏ tiền xây một ngôi nhà ngói trên núi Khán, gọi là Khán Sơn đình làm chỗ hội họp các văn nhân. Vì vậy, có thời kỳ nơi đây thường xuyên có sinh hoạt văn hóa của nhân sĩ Bắc Hà. Sau khi kiểm soát được toàn bộ Đông Dương, năm 1894, quân Pháp cho phá dỡ toàn bộ thành, chỉ giữ lại cửa Bắc để làm chứng tích. Khu vực này được các kiến trúc sư Pháp quy hoạch để xây dựng trung tâm hành chính của Liên bang Đông Dương. Núi Khán bị san bằng. Một vườn hoa nhỏ được xây dựng tại khu vực này, tạo thành một quảng trường rộng lớn được đặt tên là Vườn hoa Pugininer (Le parc Pugininer). Vườn hoa được giới hạn bởi các con đường Avenue de la République, Avenue Brière de l'Isle Rue Elie Groleau, và Avenue Puginier. Một vòng xoay nhỏ được xây dựng gần đó cũng được đặt tên là Vòng xoay Pugininer (Rond-point Pugininer). Do hình dáng đặc biệt của vòng xoay mà người dân Hà Nội xưa còn gọi vườn hoa Pugininer là Quảng trường Tròn. Tại khu vực gần Quảng trường Tròn, Phủ Toàn quyền được khởi công xây dựng vào năm 1901. Năm 1914, trường sở của Lycée Paul Bert được xây dựng tại vị trí núi Khán trước kia, ngay cạnh Vườn hoa Pugininer. Để độc chiếm quyền kiểm soát Đông Dương, ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Nhằm lôi kéo sự ủng hộ của người Việt, quân đội Nhật tuyên bố công nhận độc lập cho Việt Nam. Một chính phủ của người Việt do quân đội Nhật hậu thuẫn được thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1945, do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng đại diện Đế quốc Việt Nam. Bác sĩ Trần Văn Lai được cử làm Đốc lý Hà Nội (Thị trưởng). Vốn là một trí thức có tinh thần dân tộc, ngay sau khi nhận chức, ông đã quyết định đổi một loạt tên đường phố từ tiếng Pháp sang tiếng Việt lấy theo tên của các vị anh hùng Việt Nam như: Phố Garnier thành phố Đinh Tiên Hoàng, phố Boulevard Carnot thành phố Phan Đình Phùng... Vườn hoa Pugininer trước Phủ Toàn quyền được ông đổi tên thành Vườn hoa Ba Đình để kỷ niệm vùng Ba Đình ở huyện Nga Sơn, Thanh Hoá, nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9 năm 1886 đến tháng 1 năm 1887. == Hình ảnh == == Quảng trường Độc Lập == Khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim mất đi chỗ hậu thuẫn cũng nhanh chóng sụp đổ. Việt Minh chớp thời cơ giành chính quyền và ra mắt quốc dân. Một Ban Tổ chức ngày lễ Độc lập do ông Nguyễn Hữu Đang được cử làm Trưởng ban, được thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1945. Ban Tổ chức quyết định dựng một lễ đài để Chính phủ Lâm thời ra mắt quốc dân, giao cho họa sĩ Lê Văn Đệ và kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh thiết kế và thi công. Lễ đài được xây dựng với vật liệu chủ yếu là gỗ và đinh sắt, trang trí bằng vải, huy động nhân công quần chúng thi công, nhanh chóng hoàn thành chỉ trong 48 giờ, từ ngày 30 tháng 8 đến ngày 1 tháng 9 năm 1945. Chính trên lễ đài này, sáng ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lễ đài được dỡ bỏ nhanh chóng ngay chiều ngày hôm đó. Với sự kiện này, Vườn hoa Ba Đình được người dân Hà Nội mệnh danh là Quảng trường Ba Đình hay Quảng trường Độc Lập và đoạn phố Puginier cũng được gọi tên là đường Độc Lập. Mặc dù người Pháp vẫn dùng các tên cũ sau khi họ tái chiếm Đông Dương, nhưng người Việt Nam vẫn dùng các tên gọi của mình như một sự tự hào về những nỗ lực của họ để giành độc lập. Những tên gọi đó, chính thức được sử dụng kể từ khi họ chính thức nắm quyền kiểm soát lại Hà Nội. == Những sự kiện liên quan == Quảng trường Ba Đình là quảng trường quan trọng nhất Việt Nam, vì vậy hầu hết các cuộc diễu binh và diễu hành nhân các ngày lễ lớn của Việt Nam đều được tổ chức tại đây, trong đó có những sự kiện quan trọng sau: Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 1 tháng 1 năm 1955, người dân Hà Nội tham gia cuộc mít-tinh trọng thể mừng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở về Thủ đô. Ngày 9 tháng 9 năm 1969, lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được cử hành trọng thể. Ngày 2 tháng 9 năm 1975, cuộc diễu binh và diễu hành mừng thống nhất đất nước được tổ chức vô cùng long trọng. Ngày 10 tháng 10 năm 2010, nhân dịp kỉ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, đây là nơi diễn ra lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành có quy mô lớn. Hằng ngày vào lúc 6h (từ 1/4 - 31/10) hoặc 6h30 (từ 1/11 - 31/3) Lễ thượng cờ được bắt đầu và Lễ hạ cờ diễn ra lúc 21h. Ngày 2 tháng 9 năm 2015 diễn ra lễ diễu binh quy mô lớn kỉ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và quốc khánh nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. == Các công trình liên quan == Lăng Hồ Chí Minh Phủ Chủ tịch Hội trường Ba Đình == Xem thêm == Ba Đình Chiến khu Ba Đình, khởi nghĩa Ba Đình Quảng trường 1-5 Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục Quảng trường 19-8 == Chú thích ==
lịch sử trung quốc.txt
Nền văn minh Trung Quốc bắt nguồn tại các khu vực thung lũng dọc theo Hoàng Hà và Trường Giang trong Thời đại đồ đá mới, nhưng cái nôi của nền văn minh Trung Quốc được cho là tại Hoàng Hà. Với hàng ngàn năm lịch sử tồn tại và phát triển, đây là một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới. Các văn bản ghi chép lịch sử của Trung Quốc được tìm thấy có niên đại cổ nhất là từ đời nhà Thương (khoảng 1700-1046 TCN), mặc dù một vài văn bản khác như Sử ký (khoảng 100 TCN) và Trúc thư kỷ niên khẳng định rằng triều đại nhà Hạ đã tồn tại trước nhà Thương. Một số phong tục văn hóa, văn học và triết học được phát triển mạnh trong suốt thời kỳ nhà Chu. Năm 221 trước Công nguyên được coi là năm Trung Quốc bắt đầu thống nhất trở thành một đế chế rộng lớn, với vị Hoàng đế Tần Thủy Hoàng cai trị, đánh dấu sự khởi đầu của đế quốc Trung Hoa. Vào thời kỳ này, Tần Thủy Hoàng cho xây dựng Vạn lý trường thành để bảo vệ đất nước khỏi các tộc người phương Bắc. Ông cho thống nhất chữ viết, các đơn vị đo lường và tiền tệ. Trải qua hơn 3.000 năm đế chế (khoảng 2000 TCN - 1912 SCN), văn minh Trung Hoa phát triển rực rỡ, với những thành tựu đáng nể, gồm các phát minh vĩ đại như giấy, nghề in, la bàn... Trong thời gian này, có hai nền đế chế trên toàn Trung Quốc phụ thuộc vào các tộc người ngoại tộc, là người Mông Cổ lập nên nhà Nguyên và người Mãn Châu lập nên nhà Thanh. == Thời đồ đá == Có lẽ hơn một triệu năm trước, người Homo erectus đã cư ngụ ở Trung Quốc. Những cuộc khai quật tại Nguyên Mưu và sau đó tại Lam Điền đã hé lộ những dấu tích cư trú đầu tiên. Có lẽ mẫu vật nổi tiếng nhất của Homo erectus được tìm thấy tại Trung Quốc là người vượn Bắc Kinh (北京人) được phát hiện năm 1923. Homo sapiens hay người hiện đại có thể đã tới Trung Quốc từ khoảng 65.000 trước từ Châu Phi. Bằng chứng sớm nhất về việc trồng cấy kê tại Trung Quốc được xác định niên đại bằng các bon vào khoảng năm 6000 TCN, và có liên quan tới Văn hóa Bùi Lý Cương (裴李崗文化) ở huyện Tân Trịnh, tỉnh Hà Nam. Cùng với nông nghiệp, dân cư ngày càng đông đúc, tăng khả năng tích trữ và tái phân phối lương thực và đủ cung cấp cho những người thợ thủ công cũng như quan lại. Cuối thời kỳ đồ đá mới, vùng châu thổ Hoàng Hà bắt đầu trở thành một trung tâm văn hóa, nơi những làng xã đầu tiên được thành lập; những di tích khảo cổ đáng chú ý nhất của chúng được tìm thấy tại di chỉ Bán Pha (半坡遗址), Tây An. == Những nguồn gốc đầu tiên của Trung Quốc == === Văn minh cổ đại ở Bình nguyên Hoa Bắc === Vào năm 5000 TCN, các cộng đồng nông nghiệp đã trải dài khắp trên đa phần lãnh thổ Trung Quốc hiện nay, và đã có những làng nông nghiệp từ đồng bằng sông Vị chạy về phía đông, song song với dòng Hoàng Hà vĩ đại, bắt nguồn từ dãy núi Côn Lôn chảy về hướng vùng hoàng thổ nơi có cánh rừng trụi lá ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc. Ở đó con người có rừng và có nước để trồng kê, khoảng năm 5500 TCN họ săn hươu, nai và các loài thú khác, câu cá làm thức ăn. Họ thuần hóa chó, lợn và gà. Họ đào đất để xây những ngôi nhà một phòng, với mái bằng đất sét hay rạ, nhiều ngôi nhà ngầm như vậy tạo thành một làng. Họ đã có guồng quay tơ và biết đan cũng như dệt sợi. Họ cũng chế tạo đồ gốm có trang trí. Tình trạng lụt lội của Hoàng Hà tồi tệ hơn rất nhiều so với khu vực dọc Trường Giang về hướng nam. Dọc theo Trường Giang, qua lòng chảo Hồ Bắc và ở đồng bằng ven biển về hướng vịnh Hàng Châu, việc trồng trọt cũng đã phát triển, nhưng người dân sống gần Hoàng Hà phải chống chịu với thiên nhiên khắc nghiệt hơn để chế ngự lũ lụt và tưới tắm mùa màng, và có lẽ điều này đã kích thích một nỗ lực tổ chức tốt hơn. Ở bất kỳ mức độ nào, đồng bằng phía bắc Trung Quốc đã trở thành vùng lớn nhất với số dân cư tập trung đông đảo nhất. Ở những nơi con người sản xuất ra được nhiều lương thực hơn nhu cầu của họ, các chiến binh đã được thúc đẩy để không chỉ đi cướp đoạt mà còn để chinh phục. Và các vị vua chinh phục đã bắt đầu nổi lên ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc cũng như tình trạng ở phía tây châu Á. Triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc bắt đầu ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc đã được miêu tả là thuộc về nhà Hạ – giai đoạn cai trị của họ được tin rằng đã bắt đầu khoảng năm 2200 TCN. === Xã hội nguyên thủy === Trong thời gian từ năm 1927 đến năm 1937, tại Chu Khẩu Điếm phía tây nam Bắc Kinh, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã phát hiện được di tích người vượn Trung Quốc, còn gọi là người vượn Bắc Kinh, với hài cốt đã hóa thạch và các di tích văn hóa còn tồn tại. Người vượn Trung Quốc là giống người nguyên thủy Trung Quốc sinh sống hàng 50 đến 60 vạn năm trước đây. Họ có thể chế tạo và sử dụng đồ đá đơn giản như rìu, búa, cũng biết dùng đồ xương của người xưa. Những nơi có người vượn Bắc Kinh sinh sống đã phát hiện được nhiều xương hóa thạch cùng các dụng cụ bằng đá, các nồi chảo đã có lửa đốt đun, chứng minh họ đã biết dùng lửa. Trong 2 năm 1922 và 1923 đã phát hiện được người Hà Sáo (河套) ở Nội Mông, giống người này gần người hiện đại hơn, cách đây khoảng 20 vạn năm. Trong 2 năm 1933 và 1934 đã phát hiện được người Sơn Đỉnh Động (山顶洞人) ở Chu Khẩu Điếm. Giống người này đã dùng nhiều đồ đạc chế tạo bằng xương, đồ đá ít. Xã hội nguyên thủy thành lập các công xã không có bóc lột, không có giai cấp, cuộc sống lạc hậu, mông muội. == Nhà Hạ == Theo truyền thuyết, trong thời gian Hạ Vũ trị vì, Vũ đã phát minh ra lối tát nước vào ruộng, lại bắt sống được một số người dân tộc Man về làm nô lệ. Vũ bắt đầu xây dựng thành quách để giữ gìn của riêng và người trong dòng họ. Của cải của Vũ, để lại cho con là Hạ Khải thừa hưởng. Khải lên ngôi, tình thế chưa ổn định, phải lấy đất An Ấp (thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay) để đóng đô. Những con cháu sau này nối ngôi Khải đều nhiều lần đánh phá lẫn nhau, luôn gây ra các cuộc chiến tranh chinh phạt nhỏ. Kinh tế xã hội lúc bấy giờ đã phát triển khá tiến bộ. Phương pháp làm lịch cũng bắt đầu xuất hiện. Từ khi lên ngôi, Khải cho đặt tên triều đại là Hạ. Theo truyền thuyết, đời Hạ đã có 9 cái vạc đồng do Khải cho đúc. Như vậy, có thể thời kỳ này đã có đồng và nghề đúc đồng. Những ghi chép của Tư Mã Thiên về thời gian thành lập Nhà Hạ là từ khoảng 4.000 năm trước, nhưng điều này không thể được chứng thực. Một số nhà khảo cổ học cho rằng nhà Hạ có liên quan tới di vật khai quật được tại Nhị Lý Đầu (二里头) ở trung tâm tỉnh Hà Nam, một bức tượng đồng niên đại từ khoảng năm 2000 TCN. Những dấu hiệu sớm của thời kỳ này được tìm thấy trên các bình gốm và mai rùa trông tương tự như những đường nét đầu tiên của chữ Trung Quốc hiện đại, nhưng nhiều học giả vẫn không chấp nhận ý kiến này. Bằng chứng về sự tồn tại của Nhà Hạ vẫn cần phải được hỗ trợ thêm nữa qua các cuộc khảo cổ. Vì không có những văn bản ghi chép rõ ràng như các văn bản trên các loại xương hay mai rùa dùng để bói của nhà Thương hay những ghi chép trên vại đồng của nhà Chu nên thời đại nhà Hạ vẫn còn chưa được biết đến kỹ lưỡng. Nhà Hạ truyền được 17 đời vua, từ Hạ Vũ đến Hạ Kiệt được hơn bốn trăm năm thì diệt về tay Thành Thang nhà Thương. == Nhà Thương == Từ thời Nhà Thương có lẽ ở thế kỷ 13 TCN, và chúng là những đoạn văn khắc dùng để bói toán trên xương thú hoặc mai rùa—được gọi là giáp cốt văn (甲骨文). Những hiện vật khảo cổ cho thấy bằng chứng về sự tồn tại của nhà Thương, 1600 TCN–1046 TCN và nhà Thương được chia làm hai khuynh hướng. Khuynh hướng thứ nhất, từ đầu thời nhà Thương (1600–1300 TCN) với các bằng chứng tại Nhị Lý Cương (二里崗), Trịnh Châu và Thương Thành. Khuynh hướng thứ hai từ cuối thời nhà Thương hay giai đoạn Ân (殷), gồm rất nhiều văn bản giáp cốt. An Dương. Các nhà sử học Trung Quốc sống ở cuối những giai đoạn này đã làm quen với khái niệm về những triều đại nối tiếp nhau, nhưng tình hình thực tế chính trị ở giai đoạn đầu trong lịch sử Trung Quốc thì phức tạp và rắc rối hơn nhiều. Vì thế, như một số nhà sử học Trung Quốc đề xuất, nhà Hạ và nhà Thương có lẽ chỉ các thực thể tồn tại đồng thời, giống như nhà Chu ở giai đoạn sớm (triều đại kế tiếp nhà Thương), đã được chứng minh là đã cùng tồn tại đồng thời với nhà Thương. == Nhà Chu == Tới cuối thế kỷ thứ 12 trước Công nguyên, nhà Chu bắt đầu nổi lên ở châu thổ Hoàng Hà, tiêu diệt nhà Thương. Có lẽ ban đầu nhà Chu đã bắt đầu thời kỳ cai trị của mình theo một hệ thống nửa phong kiến. Vị vua nhà Chu là Vũ Vương, với sự hỗ trợ của người em là Chu Công trong vai trò nhiếp chính đã đánh bại nhà Thương tại trận Mục Dã. Lúc ấy vị vua nhà Chu đã viện dẫn khái niệm Thiên mệnh để hợp pháp hóa vai trò cai trị của mình, một khái niệm về sau này sẽ có ảnh hưởng trên mọi triều đại kế tiếp. Ban đầu nhà Chu đóng đô ở vùng Tây An ngày nay, gần sông Hoàng Hà, nhưng họ đã thực hiện nhiều cuộc chinh phục mở rộng vào châu thổ sông Dương Tử. Đây là lần đầu tiên trong số nhiều lần di dân từ phía bắc xuống phía nam trong lịch sử Trung Quốc. === Thời Xuân Thu === Từ thế kỷ 8 TCN, trước sức ép của các bộ tộc phía tây thường xuyên tấn công và cướp bóc, nhà Chu đã bỏ kinh đô phía tây để chuyển sang phía đông ở châu thổ Hoàng Hà. Nhà Chu đã nhờ cậy các vương hầu của mình bảo vệ trước sự tấn công của các bộ lạc, nhân cơ hội nhà Chu suy yếu các vương hầu đã lần lượt tiêu diệt các đối thủ nhỏ hơn. Cuối cùng, còn lại vài chục nước, trong đó các chư hầu mạnh nhất lần lượt nổi lên tranh ngôi bá chủ Trung Quốc là Tề, Tấn, Sở, Tần, Tống, Ngô, Việt. Trên danh nghĩa nhà Chu nắm thiên mệnh, nhưng thực sự quyền lực nằm trong tay các chư hầu. === Thời Chiến quốc === Thời đại này xảy ra vì sự cân bằng mong manh giữa các nước chư hầu biến thành hỗn loạn trong một thế kỷ và vì một phần ở sự kết thúc thời đại cai trị của nhà Chu. Các liên minh dễ thay đổi và thường bị tan rã khi các nước lớn bắt đầu xâm chiếm và sáp nhập các nước nhỏ hơn. Bắt đầu từ thế kỷ 4 TCN, chỉ tám hay chín nước lớn còn sót lại. Dân số Trung Quốc đã tăng mạnh ở giai đoạn Xuân Thu; công cụ bằng sắt và ảnh hưởng của nó đến nông nghiệp đã làm tăng mạnh dân số (vào thế kỷ thứ 4 TCN, Trung Quốc là vùng đông dân nhất thế giới, không có thời điểm nào trong lịch sử mà điều này không chính xác). Chiến tranh đã trở thành một công việc lớn trong thời đại Xuân Thu, quân đội nhỏ và dưới sự chỉ đạo của tầng lớp quý tộc không còn nữa. Chúng đã thành những đội quân to lớn và gồm những người lính chuyên nghiệp. Một triều đình gồm tầng lớp chuyên nghiệp ngày càng phát triển, một tầng lớp quý tộc tự gọi mình bằng cái tên "quân tử" hay "những người bên trên". Cuối cùng, kẻ thống nhất Trung Quốc là nhà Tần, một dân tộc ở miền tây bắc Trung Quốc ngày nay. == Nhà Tần == Các nhà sử học thường coi thời kỳ từ khi bắt đầu nhà Tần tới khi kết thúc nhà Thanh là giai đoạn Đế quốc Trung Quốc. Dù thời gian thống nhất dưới sự cai trị của Tần Thủy Hoàng Đế chỉ kéo dài mười hai năm, ông đã chinh phục được những vùng đất rộng lớn để tạo nên cơ sở cho nhà Hán sau này và thống nhất chúng dưới một chính phủ Pháp gia tập trung trung ương chặt chẽ, với thủ đô tại Hàm Dương (咸陽) (Tây An hiện nay). Học thuyết của Pháp gia đã khiến Tần đặt trọng tâm trên sự tôn trọng triệt để một hệ thống pháp luật và quyền lực tuyệt đối của hoàng đế. Triết học này, trong khi rất hữu dụng để mở rộng đế chế bằng quân sự, thì lại cho thấy không thể hoạt động tốt ở thời bình. Nhà Tần dùng những biện pháp tàn bạo để dẹp yên chống đối, thậm chí gồm cả việc Đốt sách chôn nho. Điều này khiến cho nhà Hán kế tục sau này phải đưa thêm vào hệ thống chính phủ đó những trường phái cai trị có tính ôn hòa hơn. Nhà Tần đã khởi đầu công trình Vạn lý trường thành, sau này được sửa chữa và xây dựng thêm ở thời nhà Minh. Các đóng góp quan trọng khác của nhà Tần gồm thống nhất và tiêu chuẩn hóa pháp luật, chữ viết, tiền tệ, đo lường Trung Quốc sau giai đoạn Xuân Thu và Chiến Quốc đầy biến loạn. Thậm chí cả chiều dài trục xe cũng được quy định thống nhất ở thời kỳ này để đảm bảo hệ thống thương mại có thể hoạt động trên khắp đế chế. Các luật lệ của đế chế rất chặt chẽ và ác nghiệt, đặc biệt đối với người trong triều đình. Hình phạt cho tham nhũng dành cho mọi thành viên triều đình là tử hình. Các pháp gia cũng tin rằng việc tập trung hoá về tư tưởng, sợ rằng bất kỳ một cách suy nghĩ nào khác ngoài Pháp gia có thể dẫn tới việc phá vỡ hay nổi loạn. Vì thế mọi trường phái triết học khác bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, đặc biệt là Khổng giáo, và sách vở của họ bị đốt, giáo viên bị hành quyết. Nhà Tần cũng mạnh tay đối với thương mại. Coi đó là một kiểu tiêm nhiễm hay sự ăn bám, nhà Tần cấm ngặt buôn bán và chủ nghĩa trọng thương, đánh thuế nặng đối với thương nhân, và hành quyết các thương nhân vì những lỗi nhỏ nhất. Việc huy động đông đảo dân chúng xây dựng các công trình công cộng cũng như cung điện, sự phân biệt đối xử giữa người Tần và dân sáu nước cũ gây cho họ sự phẫn nộ lớn. Ngay sau khi Tần Thủy Hoàng chết, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi trong đế chế và quân đội Tần không thể dẹp yên. Cuối cùng, hai lực lượng mạnh nhất do Hạng Vũ và Lưu Bang lãnh đạo lật đổ nhà Tần. Vua Tần cuối cùng là Tử Anh đầu hàng đánh dấu sự kết thúc của đế chế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. == Nhà Hán == === Tây Hán === Năm 202 TCN, Lưu Bang đã đánh bại kẻ thù nguy hiểm và hung bạo của mình là Hạng Vũ. Ông lên ngôi Hoàng đế. Do từng được phong ở đất Hán Trung, ông đặt tên triều đại của mình là Hán, mà người đời sau gọi là vương triều Lưu Hán. Cuộc đấu tranh cho quyền lực của Lưu Bang vẫn tiếp diễn, ông phải chiến đấu nhiều cuộc chiến nhỏ để củng cố quyền lực, một số cuộc chiến để chống lại các đồng minh cũ. Một việc khác để củng cố quyền lực mà Lưu Bang phải đối mặt là liên minh các bộ lạc ở biên giới phía bắc Trung Quốc, có họ ngữ âm Đột Quyết, gọi chung là Hung Nô, cầm đầu bởi một Thiền vu. Các bộ tộc Hung Nô là những bộ tộc du mục và trong giai đoạn chiếm hữu nô lệ. Và cũng giống như những bộ tộc du mục khác, người Hung Nô có truyền thống chiến tranh và đã từng nhiều lần tiến hành các vụ tấn công vào Trung Quốc. Lưu Bang tin rằng ông vẫn chưa đủ mạnh để đánh bại các bộ tộc phương bắc, vì thế ông đút lót thực phẩm và quần áo cho họ để đổi lấy sự thỏa thuận của họ không xâm phạm vào đế quốc mới của ông. Thậm chí ông đã phải gả cho vị Thiền vu Hung Nô một cô gái mang danh là công chúa Trung Quốc. Tất nhiên, triều đình của Lưu Bang bắt buộc phải quay lại kiểu cai trị độc tài. Dân chủ không bao giờ là vấn đề đối với người Trung Quốc như nó đã từng có ở các nền văn minh khác ở khoảng năm 200 TCN. Giống với Jeroboam ở Israel, Lưu Bang không phải là nhà cách mạng. Đối với ông triều đình tốt là một triều đình mạnh, một triều đình có thể duy trì sự phục tùng đầy đủ. Lưu Bang đã bắt đầu xây dựng một kinh đô mới tại Trường An, đây sẽ trở thành thành phố lớn nhất thế giới thời kỳ đó. Nhưng ngoài mục tiêu xây dựng một triều đình mạnh ông muốn tập trung sự quản lý đế chế của mình, và vì thế ông cần một đội quân gồm những bầy tôi dân sự trung thành. Để có thể kiểm soát một cách đáng tin cậy đế chế vĩ đại của mình, ông đưa các anh em, chú bác, họ hàng làm những lãnh chúa địa phương. Ông tìm kiếm những sự ủng hộ tiếp tục của các tướng lĩnh địa phương những người từng góp phần trong đồng minh của ông để giành quyền lực, và những người từng làm tướng văn tướng võ của ông, ông phong thành các quý tộc ở cấp nhỏ hơn. Những quan lại địa phương cũ của nhà Tần đã từng ủng hộ ông vẫn được giữ chức vụ cũ, và một số nhà quý tộc thân thiện với ông vẫn được giữ đất đai của mình. Lưu Bang cũng tìm kiếm sự ủng hộ từ phía nông dân. Ông giảm thuế cho họ và cho những người khác. Ở khắp nơi, ông đều tìm cách bảo vệ nông dân khỏi những nhà quý tộc cũ đang tìm cách lấy lại đất đai đã mất. Ông cải thiện đời sống cho họ bằng cách không bắt họ phải đi làm việc nhiều như dưới triều đại cũ, Tần Thủy Hoàng. Và các nông dân tin rằng bởi vì Lưu Bang cũng từng là một nông dân nên ông sẽ tiếp tục cai trị theo cách có lợi cho họ. ==== Sự bắt đầu của tầng lớp quý tộc nhỏ Trung Quốc ==== Dựa vào nguồn gốc nông dân của mình, Lưu Bang tỏ thái độ khinh thị với người trí thức bằng cách đái vào trong mũ của một người trí thức trong triều, nhưng trong nỗ lực để cai trị quốc gia ông đã thấy lợi ích trong việc sử dụng người trí thức, và ông đã dàn hòa với họ. Nhiều người trí thức là thuộc Khổng giáo, và ông đã bắt đầu đối xử với Khổng giáo với sự khoan dung lớn hơn trong khi ông tiếp tục đặt ra ngoài vòng pháp luật những sự tố cáo của Khổng giáo đối với các quan điểm của Pháp gia. Với sự hỗ trợ bên cạnh của Khổng giáo, Lưu Bang tìm cách thu hút các bầy tôi dân sự giỏi và ông đã tìm thấy họ trong những gia đình thuộc tầng lớp trung lưu mới trong nông nghiệp gọi là những quý tộc nhỏ, một tầng lớp khác biệt với quý tộc. Đầu tiên, Lưu Bang và quan lại xung quanh tìm cách đưa những người bạn chiến đấu của mình vào các vị trí quản lý dân sự, nhưng sau đó họ thấy rằng những người đó không đủ khả năng làm quản lý hành chính. Và sau khi có sai lầm vì thấy các tướng quân đội không có khả năng quản lý hành chính, Lưu Bang không cho họ giữ các chức vụ đó nữa. Các triều đình trước thường rất thành công khi cho các nhà buôn giữ các chức vụ quản lý dân sự, nhưng đối với Lưu Bang và quan lại xung quanh vốn có nguồn gốc nông dân nên họ không tin các nhà buôn. Thay vào đó, họ dùng những người thuộc gia đình trồng trọt giàu có, đa phần số họ trở nên giàu ở một vài thế hệ gần đây. Tầng lớp mới này (quý tộc nhỏ) đã gửi những đứa con ưu tú nhất của mình đi làm việc trong triều đình và cho những đứa kém hơn ở nhà làm ruộng. Và với quyền lợi mới trong việc cưới xin hợp lúc, tầng lớp mới đã bắt đầu có nhiều ảnh hưởng hơn nhờ vào họ ngoại. ==== Hán Văn Đế: Khởi đầu một thời đại mới ==== Lưu Bang chết năm 195 TCN ở tuổi sáu mươi ba, được trao thụy hiệu là Cao Đế. Quyền lực rơi vào tay vợ ông, Lã hậu. Ở Trung Quốc cũng như ở những nơi khác cai trị độc tài đồng nghĩa với cai trị gia đình, và những cuộc tranh giành quyền lực diễn ra bên trong hoàng tộc. Lã hậu tống các thành viên hoàng tộc họ Lưu ra khỏi các vị trí quyền lực và thay thế họ bằng những người họ Lã. Sau 15 năm cai trị bà mất, và họ hàng của Lưu Bang lại quay lại nắm quyền cai trị, họ giết tất cả các thành viên gia tộc Lữ hậu. Một người con thứ của Lưu Bang với người thiếp là vợ cũ của Ngụy vương Báo tên là Lưu Hằng được lập làm hoàng đế, phục hồi lại quyền cai trị nhà Hán, tức là Hán Văn Đế. Với hệ thống quan liêu triều đình, sự cai trị nhà Hán đang dần hướng về thảm họa, nhưng trong ngắn hạn thì dưới triều Hán Văn Đế ông là người biết cai trị, biết chú ý đến quyền lợi của nhân dân. Khi nạn đói xảy ra ông cho tổ chức cứu tế, trợ cấp cho người già. Ông thả tự do nhiều nô lệ và bãi bỏ nhiều cách hành hình man rợ. Trong thời cai trị của ông, kinh tế được nghiên cứu kỹ lưỡng, và Hán Văn đế rất coi trọng những nội dung kinh tế. Ông phát triển kinh tế bằng cách giảm bớt ngăn cấm khai mỏ đồng, bằng cách chi tiêu tiết kiệm và giảm thuế đánh vào nông dân. Dưới thời Văn đế, Trung Quốc có hòa bình bên trong và một sự thịnh vượng chưa từng có. Điều này giúp nghệ thuật phát triển cao và vẫn còn làm thế giới ngày nay chiêm ngưỡng. Và cùng với sự thịnh vượng, dân số Trung Quốc bắt đầu tăng lên, người dân lao vào khai phá và trồng cấy các vùng đất mới. Tầng lớp quý tộc nhỏ được nhiều lợi ích từ phát triển kinh tế và nhiều người trong số họ chuyển tới thành phố. Quý tộc nhỏ muốn được coi là những người quý phái giống tầng lớp quý tộc cũ. Sự phát triển tầng lớp ưu tú này, cộng với sự thịnh vượng, đã giúp Khổng giáo phát triển. Có thời gian học tập, quý tộc nhỏ trở nên hứng thú với những trường phái học cũ. Với một sự phục hưng những trường phái học cũ, các cố gắng đã có nhằm tái tạo lại các cuốn sách đã bị đốt dưới thời cai trị của Tần Thủy Hoàng. Bị lôi cuốn bởi sự ngưỡng mộ của Khổng giáo đối với chính quyền và cách xử sự đúng mực, các trí thức học giả trở nên rất nhiều thuộc Khổng giáo. Văn đế khuyến khích môn đệ Khổng giáo vào các chức vụ cao nhất trong chính quyền. Ông đã trở thành vị vua đầu tiên hoàn toàn chấp nhận việc lưu truyền Khổng giáo – như Khổng Tử từng mơ về một vị vua như vậy. Nhưng sự lớn mạnh của Khổng giáo không cứu vãn được Trung Quốc khỏi thảm họa chính trị và xã hội. ==== Hán Vũ Đế: Mở rộng và suy tàn ==== Năm 156 TCN, con trai Văn Đế, Cảnh Đế, kế tục cha. Ông cai trị 16 năm và cố gắng mở rộng sự thống trị của gia đình đối với các gia đình quý tộc. Các cuộc chiến giữa các quý tộc đó và Cảnh Đế đã kết thúc một cách có lợi cho ông. Nó kết thúc trong sự thỏa hiệp rằng các quý tộc vẫn giữ một số quyền ưu tiên và quyền lực nhưng không được phép chỉ định quan lại trong đất đai của mình nữa. Năm 141 TCN, con Cảnh Đế là Hán Vũ Đế kế vị. Vị vua mười sáu tuổi thông minh và mạnh mẽ, luôn thích liều mạng trong những cuộc săn lớn. Vũ Đế kéo dài thời thịnh vượng của Hán triều. Vũ Đế bắt đầu thời cai trị của mình bằng một nỗ lực không can thiệp vào thương mại và các cơ hội kinh tế, điều này cho phép kinh tế tư nhân phát triển. Ông vẫn giữ các vị quan dân sự dưới sự quản lý chặt chẽ và trừng phạt sự bất tuân nhỏ nhất cũng như sự không trung thành. Ông kết thúc sự thỏa hiệp của Cảnh Đế bằng một cuộc chiến quý tộc chống lại các hoàng tử có ảnh hưởng nhất của Trung Quốc, và ở tầm địa phương ông trao nhiều quyền lực cho các vị quan đại diện của mình. Vũ Đế thay đổi luật thừa kế. Thay vì việc đất đai gia đình rơi vào tay người con trai cả, ông trao cho mọi người con trong gia đình phần chia bằng nhau đối với đất đai của ông cha, điều này phá vỡ các khoảnh đất lớn thành cách mảnh nhỏ. Và vào năm 138 TCN, Vũ Đế tiến hành cuộc thám hiểm được biết đến lần đầu tiên của Trung Quốc, Trương Khiên đến Tây Á, phía tây của Đại Hạ để thiết lập quan hệ với Quý Sương (Kushan) (Nguyệt Chi Yuzhi). ==== Khổng giáo trở thành chính thức ==== Trong hai mươi năm cai trị, Vũ đế biến Khổng giáo thành triết lý chính trị chính thức của Trung Quốc. Khổng giáo trở thành thống trị trong giới quan lại dân sự trong khi các đối thủ Pháp gia vẫn giữ được vị trí của mình. Các cuộc thi cử được tổ chức để chọn ra 130.000 hoặc còn hơn thế nhân viên dân sự, họ phải trải qua cuộc thi về sự hiểu biết lý thuyết Khổng giáo, hiểu biết về chữ viết cổ và các nguyên tắc thứ bậc xã hội hơn là sự thành thạo kỹ thuật. Về mặt lý thuyết, các cuộc thi đó cho phép mọi người dân tham dự, nhưng trên thực tế chỉ những người có đủ sự tôn trọng, trong đó không bao gồm thợ thủ công, nhà buôn và các tầng lớp bên dưới quý tộc nhỏ tham dự - không nghi ngờ rằng nhiều người trong số họ có khả năng để phụng sự Trung Quốc. Việc huấn luyện làm việc cho các nhân viên dân sự được tiến hành ở cấp quan liêu địa phương. Và việc thích hợp với truyền thống Khổng giáo đã trở thành một thứ để truyền dạy trong thời gian học việc. Một người trẻ tuổi chứng minh được mình có khả năng như một thư ký có thể được phong làm một nhà quản lý. Và sau khi đã chứng minh được khả năng quản lý của mình anh ta sẽ được thăng chức làm cố vấn và được tham dự vào triều đình, hay anh ta sẽ có một vị trí cao hơn trong một triều đình địa phương. ==== Mở cửa ra phía tây và các cuộc chiến mở rộng lãnh thổ ==== Nhờ nền kinh tế thịnh vượng, Trung Quốc có nhiều khả năng hơn để chi phí chiến tranh. Vũ đế tin rằng ông đủ mạnh để không cần phải cống nạp cho Hung nô, vốn bắt đầu từ thời Lưu Bang nữa. Ông lo ngại rằng Hung nô có thể phái quân vào thảo nguyên miền bắc dân cư thưa thớt của Trung Quốc hay họ có thể lập thành liên minh với người Tạng, và ông muốn lập nên một con đường thương mại nhằm buôn bán với vùng Trung Á bảo đảm được an toàn. Vì thế Vũ đế mở nhiều chiến dịch quân sự. Chúng được các tướng của ông ta chỉ huy, nhưng chúng lại mang lại cho Vũ đế sự công nhận như là một vị vua mạnh mẽ và can đảm. Việc Vũ đế quay sang chống lại Hung Nô làm tốn nhiều nhân lực nhưng nó giúp đẩy lùi Hung nô ra khỏi biên giới phía bắc Trung Quốc. Có lẽ khoảng hai triệu người Trung Quốc đã di cư đến các vùng mới chinh phục được và Vũ đế thành lập các thuộc địa ở đó với các binh sĩ và nhân viên dân sự của mình. Những người Hung Nô bị bắt phải chuyển sang làm nghề trồng trọt, công nhân xây dựng và lao động tại các trang trại. Một số trong số họ gia nhập quân đội Trung Quốc, gia đình của họ bị bắt buộc phải ở tại nơi cũ làm con tin để đảm bảo họ không phản bội. Cuộc chiến chống lại Hung nô khuyến khích việc khai phá xa hơn về phía tây. Sau mười ba năm vắng mặt và mười năm bị Hung nô bắt giữ, nhà thám hiểm Trương Khiên quay trở về triều đình Vũ đế và mang theo miêu tả đáng tin cậy đầu tiên về Trung Á. Vũ đế ra lệnh cho Trương Khiên và tay chân quay trở lại Trung Á, và họ đã thu thập thông tin về Ấn Độ và Ba Tư và khám phá các vùng đất trồng trọt màu mỡ ở Bactria. Các cuộc thám hiểm đó, và sự thắng lợi của Trung Quốc trước Hung nô mang lại một sự trao đổi sứ thần thường xuyên giữa Trung Quốc và các nước phía tây, và nó mở ra cho Trung Quốc con đường thương mại dài 4.000 dặm sau này sẽ được biết đến với cái tên Con đường tơ lụa. Trung Quốc bắt đầu nhập khẩu các ngũ cốc và ngựa tốt, họ cũng bắt đầu trồng cỏ đinh lăng và nho. Vũ đế biết thêm nhiều về nguồn gốc của những hàng hóa mà Trung Quốc nhập khẩu. Để kiếm thêm lợi nhuận ông yêu cầu các nước lân cận trả thuế cho mình để được phép bán hàng cho người dân Trung Quốc, và tiến hành các chiến dịch quân sự nhằm buộc họ phải làm thế. Trong lúc đó, Vũ đế gửi quân đội của mình tới phía bắc và phía nam. Năm 108 TCN vì muốn kiểm soát vùng đông bắc, Vũ đế chinh phục một vương quốc đang ở thời đồ sắt phía bắc Triều Tiên, vương quốc Cổ Triều Tiên. Đây là một vương quốc tồn tại cùng mức với nhiều tiểu quốc tại Trung Quốc trước khi chúng thống nhất với nhau năm 221 TCN, và nó cũng có nhiều người tị nạn Trung Quốc chạy đến từ những thế kỷ trước. Ở phía nam, quân đội của Vũ đế chinh phục lại những đất đai mà Trung Quốc đã mất trong cuộc nội chiến đưa nhà Hán lên ngôi, gồm cả thành phố cảng Quảng Châu. Những người di cư Trung Quốc theo chân quân đội. Sau đó, với những trận chiến lớn, quân đội của Vũ đế chinh phục phía bắc Việt Nam, một vùng mà người Trung Quốc gọi là An Nam, hay "miền nam yên ổn". Tuy nhiên về tiếng nói, người Trung Quốc không thể đồng hóa được người Việt Nam. Người Trung Quốc biến người An Nam từ cách trồng cấy theo kiểu khai hoang và đốt sang kiểu đời sống ổn định hơn. Họ chia An Nam thành hai vùng hành chính, mỗi vùng có trách nhiệm thu thuế và cung cấp binh sĩ cho triều đình địa phương. Nhưng sự cai trị của Trung Quốc đối với An Nam luôn mong manh, các cánh rừng và núi đồi ở đó cung cấp nơi trú ẩn cho người Việt Nam tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa liên tục và chiến tranh du kích chống lại người Trung Quốc. ==== Suy tàn kinh tế và nạn nhân mãn ==== Các cuộc chiến mở mang đất đai của Vũ đế và việc cung cấp cho một quân đội chiếm đóng đông đảo là một gánh nặng cho kinh tế Trung Quốc. Chúng lớn hơn nhiều nhưng lợi ích thu lại được từ việc tăng trưởng thương mại theo sau các cuộc chinh phục. Nhập khẩu góp phần thỏa mãn nhu cầu của người giàu hơn là góp phần tăng sinh khí cho kinh tế Trung Quốc. Các quan chức triều đình theo phái Pháp gia thậm chí làm mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Họ rất thù địch với những thương nhân, và họ vận động việc triều đình quản lý kinh tế. Dưới ảnh hưởng của họ, triều đình đánh thuế mới trên các tàu và xe buôn bán hai loại hàng mang lại nhiều lợi nhuận nhất trong công nghiệp của Trung Quốc đó là muối và sắt. Và với việc triều đình ngày càng can thiệp sâu, kinh tế suy yếu. Tích tụ ruộng đất đã từng làm thay đổi nông nghiệp của đế quốc La Mã giờ đây cũng làm thay đổi nông nghiệp Trung Quốc, ngoại trừ việc dân số vùng nông thôn Trung Quốc đã tăng lên. Với việc ruộng đất của người giàu ngày càng tăng và nông dân cũng tăng, một sự thiếu hụt đất đai xuất hiện. Quan liêu tiểu quý tộc tìm cách ngăn chặn sự bấp bênh bằng cách mua đất và thường lợi dụng ưu thế của mình để làm việc đó, và thông thường họ có thể miễn trừ thuế cho đất đai của mình. Những người dân thường phải chịu phần thuế nặng hơn, dẫn tới kết quả là họ phải vay mượn nhiều hơn - với lãi rất nặng. Khả năng sản xuất nông nghiệp giảm sút. Nhiều nông dân bị đuổi đi hay bị buộc phải rời bỏ đất đai, làm cho tiểu quý tộc càng có nhiều đất hơn. Một số nông dân rời ruộng đất để làm nghề ăn cướp, và một số nông dân bắt buộc phải bán con làm nô lệ. Chế độ bắt lính và bắt lao động cũng làm tăng sự bất mãn của nông dân. Học giả Trung Quốc Đổng Trọng Thư, bất bình trước cảnh tuyệt vọng của người dân và ông đã bày tỏ những lo lắng về tình trạng suy tàn của xã hội. Ông phàn nàn về sự mở rộng to lớn của những vùng đất của người giàu trong khi người nghèo không có chỗ đứng chân. Ông phàn nàn rằng những người canh tác trên đất của người khác phải mất năm mươi phần trăm thu hoạch cho chủ đất. Đổng Trọng Thư công nhận sự bất mãn đối mặt với những người nông dân không thể có tiền để mua công cụ bằng sắt, những người phải trồng cấy bằng dụng cụ gỗ và phải nhổ cỏ bằng tay. Ông phàn nàn rằng người dân thường phải bán mùa màng của mình khi giá thấp và sau đó lại phải vay tiền vào mùa xuân để bắt đầu gieo hạt khi mức lãi rất cao. Và ông phàn nàn về việc hàng nghìn người bị giết hàng năm vì tội ăn cướp. Đổng Trọng Thư đề nghị Vũ đế một phương thuốc chữa khủng hoảng kinh tế: giảm thuế đánh vào người nghèo và giảm số nhân công bắt buộc mà người dân phải thực hiện cho nhà nước; bãi bỏ độc quyền nhà nước về muối và sắt; và cải thiện phân phối đất đai bằng cách hạn chế số đất sở hữu của mọi gia đình. Không một đề xuất nào của Đổng Trọng Thư được thi hành. Vũ đế muốn nông dân được phồn thịnh nhưng ông quá bị ảnh hưởng bởi bọn quý tộc nhỏ quan liêu những người cai trị địa phương ở mọi cấp. Cuộc vận động cải cách do những người theo Khổng giáo đề xuất nhưng những quý tộc Khổng giáo lại không chống lại quyền lợi kinh tế của mình. Sự trả lời quan trọng duy nhất của Vũ đế cho sút giảm kinh tế là đánh thuế cao hơn vào người giàu và gửi điệp viên đi khám phá các vụ trốn thuế. Ông không muốn phân phối lại đất đai, không muốn tấn công những chủ đất giàu có, tin rằng ông cần sự hợp tác của họ để có tiền chi cho các chiến dịch quân sự. ==== Những người kế tục Vũ đế ==== Năm 91 TCN, khi thời đại trị vì 54 năm của Vũ đế dần tới hồi kết, quanh thủ đô các cuộc chiến nổ ra về việc ai sẽ kế tục ông. Một phía là hoàng hậu vợ Vũ đế cùng con thừa kế của ông, bên kia là gia đình người thiếp của ông. Hai gia đình gần đạt tới mức hủy diệt lẫn nhau. Cuối cùng, chỉ ngay trước khi Vũ Đế chết, một vị thừa tự thỏa hiệp mới được lựa chọn: một đứa trẻ tám tuổi là Chiêu Đế, đặt dưới quyền nhiếp chính của một cựu tướng lĩnh tên là Hoắc Quang. Hoắc Quang tổ chức một hội nghị để thu thập những bất bình của dân chúng. Mời các quan chức triều đình thuộc phái Pháp gia và những người có uy tín phái Khổng giáo. Pháp gia phàn nàn việc giữ tình trạng không thay đổi. Họ kêu ca rằng các chính sách kinh tế của họ giúp Trung Quốc tự bảo vệ chống lại những thù nghịch ngày càng tăng từ phía người Hung nô và họ đang bảo vệ người dân khỏi sự bóc lột của những thương gia. Họ đòi hỏi triều đình phải có một chính sách khai thác đất đai phía tây sẽ giúp đế chế có thêm ngựa, lạc đà, hoa quả và nhiều đồ xa xỉ nhập khẩu khác, như lông thú, thảm và đá quý. Những người theo Khổng giáo, trái lại, đưa ra vấn đề đạo đức đối với những khó khăn của nông dân. Họ cũng đòi hỏi rằng người Trung Quốc không nên buôn bán với vùng Trung Á và rằng Trung Quốc chỉ cần sống trong lãnh thổ của mình và sống hòa bình với các nước láng giềng. Phái Khổng giáo cho rằng thương mại không phải là hành động đúng đắn của triều đình, rằng triều đình không nên cạnh tranh với những nhà buôn tư nhân, và họ phàn nàn rằng những hàng hóa nhập khẩu mà phái Pháp gia nói chỉ có thể thỏa mãn người giàu. Dưới sự nhiếp chính của Hoắc Quang, thuế được cắt giảm và các cuộc thương lượng hòa bình với các thủ lĩnh Hung nô bắt đầu. Vị vua trẻ Chiêu Đế chết năm 74 TCN, và xung đột trong triều đình lại một lần nữa diễn ra. Người nối ngôi Chiêu Đế là Xương Ấp vương (Lưu Hạ) chỉ làm vua trong 27 ngày và bị Hoắc Quang thay thế bằng một người khác mà Hoắc Quang cho rằng mình có thể kiểm soát là Tuyên Đế. Sáu năm sau, Hoắc Quang chết yên ổn, nhưng những đối thủ trong triều đình trả thù gia đình ông: vợ ông, con và nhiều họ hàng của Hoắc Quang và họ đã bị hành quyết. Sau đó Tuyên Đế cai trị trong hai sáu năm, trong thời gian đó ông luôn phải mệt mỏi với việc giảm bớt tình trạng thạm nhũng vốn đã lan tới triều đình, và cố gắng giúp người nông dân đỡ khó khăn. Nhưng những cố gắng của ông không đạt mục đích, và con trai thừa kế của ông, Nguyên Đế, là điểm tựa chính đầu tiên của triều đình hoạt động không bình thường – cơ hội của một triều đình vô nghĩa nhận được quyền lực để tự thể hiện nó. Nguyên Đế nắm quyền năm 48 TCN ở tuổi hai bảy. Ông là một trí thức rụt rè, người chỉ dành phần lớn thời gian cho thê thiếp của mình - họ nhiều đến nỗi ông không biết được hết số họ. Thay vì cai trị, Nguyên Đế trao quyền vào tay các hoạn quan của mình và các thành viên gia đình bên họ mẹ. Con của Nguyên Đế, Thành Đế, lên làm vua năm 32 TCN ở tuổi 19, và ông ta cũng không chú tâm lắm tới việc trị nước và chỉ lo ăn chơi, kể cả việc đến các nhà thổ vào buổi tối. Trong hai bảy năm cầm quyền của Thành Đế ông tìm sự hướng dẫn từ các thầy bói và để làm giảm sự ghen tuông của một trong những bà vợ của mình, ông giết hai đứa con của mình với một phụ nữ khác. Năm thứ 6 TCN, Ai Đế nối ngôi Thành Đế, sống cùng những đứa trẻ đồng tính, một trong số chúng được cử làm tổng tư lệnh quân đội. Với sự suy tàn về chất lượng triều đình tiếp sau thời cai trị của Vũ đế, một số người trí thức Khổng giáo tuyên bố rằng vương triều Hán đã mất Thiên mệnh và điều này được người dân mạnh mẽ tin tưởng. ==== Âm Dương và học thuyết triết học khác ==== Như ở thời Chiến Quốc (475-221 TCN) và như ở thời Hy Lạp trong thời gian diễn ra chiến tranh Peloponnesus, thời kỳ khó khăn của Trung Quốc không gây trở ngại cho sự nảy nở của kiến thức. Sự suy tàn ở Trung Quốc dẫn tới những bất mãn, và với sự bất mãn đã trở thành sự hồi sinh của trí thức Đạo giáo, trong khi trường phái Pháp gia tiếp tục giữ vị trí của mình, đặc biệt trong triều đình. Khổng giáo tìm cách phản công các triết thuyết của đối thủ bằng cách lập ra nhiều quan điểm toàn diện hơn về con người và vũ trụ. Đổng Trọng Thư mang rất nhiều tư tưởng vào trong triết lý Khổng giáo, gồm cả ý tưởng Âm và Dương - một ý tưởng đã mọc ra để giải thích mọi sự thay đổi, về cả vật chất và xã hội. Để phát triển quan điểm của mình về vũ trụ, phái Khổng giáo chấp nhận một sự giải thích về những nguồn gốc của vũ trụ. Họ tin rằng lúc khởi đầu tất cả là mơ hồ và vô định, tiếp theo là trạng thái trống rỗng, rồi cái trống rỗng đó tạo nên vũ trụ. Họ tin rằng những thứ sáng và nhẹ bị đẩy lên trên thành trời, những thứ tối và nặng liên kết với nhau thành đất. Sự liên kết tinh hoa của trời và đất tạo thành Âm và Dương và một sự thống nhất vĩ đại. ==== Vương Mãng, người Khổng giáo tử vì đạo ==== Năm thứ 6 CN, Bình Đế được con trai hai tuổi là Nhũ Tử Anh nối ngôi. Sự ngự trị triều đình thuộc về tay bà quả phụ của vị vua từ năm 48 đến 32 TCN, Nguyên Đế, và bà đưa cháu trai mình là Vương Mãng, nhiếp chính cho Tử Anh. Vương Mãng là một nhà nho và nhiều nhà nho coi ông là hy vọng để Trung Quốc sẽ lại được cai trị với những tư tưởng đạo đức, và một số người trông chờ vào ông sẽ có được một vương triều mới. Được khuyến khích bởi những ủng hộ ngày càng tăng trong giới Khổng giáo, năm 9 CN, Vương Mãng tuyên bố lập làm hoàng đế nhà Tân, kết thúc sự cai trị của Hán triều. Và Vương Mãng bắt đầu chiến đấu để được công nhận sự hợp pháp của mình. Vương Mãng hy vọng có được sự ủng hộ của người dân thông qua các cuộc cải cách. Giống như thầy tế Do Thái (Yawhist) dưới thời vua Josiah, Vương tuyên bố phát hiện ra một bản sách: những cuốn sách do Khổng Tử viết, được cho là đã tìm thấy ở nhà Khổng Tử vốn đã bị phá hủy hai trăm năm trước. Những bản sách tìm thấy chứa những tuyên bố ủng hộ những cuộc cải cách mà Vương Mãng đang tiến hành. Vương bảo vệ các chính sách của mình bằng cách công bố những đoạn trong các cuốn sách được tìm thấy. Theo những thứ được coi là được miêu tả bởi Khổng Tử, ông quy định sẽ quay trở lại vào một thời kỳ vàng son khi mọi người đều có đất đai để canh tác, và trên nguyên tắc đất đai thuộc về nhà nước. Ông tuyên bố rằng một gia đình dưới tám người mà có hơn 15 mẫu Anh đất đai bị bắt buộc phải phân phát chỗ dư thừa cho người không có. Ông cố giảm bớt gánh nặng thuế má trên những người dân nghèo, và ông nghĩ ra một kiểu ngân hàng nhà nước nhằm cho người cần tiền vay với mức lãi suất mười phần trăm một năm, trái với mức lãi ba mươi phần trăm của những kẻ cho vay tư nhân. Nhằm làm ổn định giá lương thực, ông đưa ra những kế hoạch lập kho thóc nhà nước, hy vọng rằng nó có thể làm cho người giàu không còn tích trữ lúa gạo và ăn lãi khi giá thay đổi. Vương cũng uỷ quyền cho một hội đồng quan chức quản lý kinh tế và ấn định giá ba tháng một lần, và ông ra lệnh rằng những kẻ chỉ trích dành cho kế hoạch của mình sẽ bị bắt lính. Vương tuyên bố rằng ông đang làm theo ý nguyện của Khổng Tử. Ông tuyên bố rằng cách cai trị của ông là lấy theo nhà Chu thời kỳ đầu - một thời kỳ mà các nhà Khổng giáo Mạnh Tử cho rằng cứ năm trăm năm lại xuất hiện một lần. Từ khi nhà Chu xuất hiện đến lúc đó đã khoảng 1.000 năm và cách Khổng Tử 500 năm. Vương tin rằng thần dân của mình sẽ tuân theo lệnh ông, nhưng một lần nữa quan liêu tiểu quý tộc lại không quan tâm nhiều tới Khổng giáo bằng tới sự giàu có của mình. Họ và những kẻ có nhiều đất đai khác không hợp tác với nhau để thực hiện những cải cách của Vương. Còn người dân địa phương thì không hề hay biết gì về các cải cách đó. Những thương nhân giàu có mà triều đình Vương Mãng sử dụng để thực hiện cái cách không chống nổi sự mua chuộc và chỉ có tác dụng làm họ giàu thêm lên. Vương cần có một cơ sở tuyên truyền để ủng hộ ông và một lực lượng muốn cải cách chống lại những kẻ đang vi phạm luật cải cách của ông, nhưng ông vẫn ngù ngờ và trung thành với lý tưởng hòa bình chủ nghĩa. Thay vì huy động quân đội nông dân tăng cường cho những cải cách của mình, thì một đội quân nông dân dưới sự lãnh đạo của những chủ đất giàu có nổi lên chống lại ông. ==== Nạn đói và nội chiến ==== Năm 11, sông Hoàng Hà vỡ đê, tạo ra lũ lụt từ phía bắc Sơn Đông cho tới chỗ nó chảy ra biển. Những cố gắng không thành để tích trữ lương thực cho những lúc khó khăn đã làm cho người dân không có thực phẩm. Và vào năm 14 tình trạng ăn thịt người diễn ra. Tin rằng chương trình cải cách là một sai lầm, Vương bãi bỏ nó. Nhưng những cuộc nổi loạn quân sự chống lại ông đã diễn ra. Ở tỉnh Sơn Đông, gần cửa sông Hoàng Hà, Vương phải đối mặt với một phong trào gồm các nhóm nông dân vũ trang có tổ chức gọi là giặc Xích Mi, xuất thân là một toán cướp. Tại các tỉnh lân cận cho đến phía bắc, những cuộc nổi loạn khác cũng diễn ra, và tình trạng hỗn loạn lan khắp Trung Quốc. Ở một số nơi, những người nông dân nổi loạn dưới cờ chủ đất. Một số nhóm nổi loạn coi sự cai trị của Vương là trái pháp luật, mà một trong số đó đặt dưới sự lãnh đạo của Lưu Tú, hậu duệ của Lưu Bang. Các đội quân nông dân giết hại và cướp bóc, và những người nông dân kéo tới kinh đô giết hại các quan chức. Những đội quân Vương cử đi dẹp loạn lại theo quân nổi loạn hay chỉ chè chén và cướp bóc, lấy đi dù chỉ một chút lương thực kiếm được. Lòng tốt cơ bản của con người mà Khổng giáo tin tưởng dường như đã tan biến. Vào năm 23, một đội quân nổi loạn xông vào và đốt kinh đô Trường An. Binh sĩ của họ tìm thấy Vương Mãng trên ngai đang đọc lại những cuốn sách của Khổng Tử trước kia, và Vương Mãng đã bị một tên lính chặt đầu. === Đông Hán === ==== Nhà Hán phục hồi và thịnh vượng ==== Năm năm sau cái chết của Vương Mãng, hàng triệu người chết trong các cuộc chiến tranh phe phái nhằm giành quyền lực. Phe thắng lợi nhất do hoàng thân nhà Hán Lưu Tú dẫn đầu. Ông có nhiều tay chân học thức và có tiếng trong binh sĩ. Quân đội của ông là lực lượng duy nhất không cướp bóc sau khi chiếm được các thành phố, và điều đó giúp ông chiếm được trái tim và tình cảm của người dân. Lưu Tú kiểm soát được thủ đô Trường An đã bị đốt phá. Ông tự xưng làm hoàng đế, tức là Hán Quang Vũ Đế, khôi phục Hán triều - được gọi là Hậu Hán. Ông chuyển thủ đô về Lạc Dương phía đông, do đó nhà Hậu Hán cũng gọi là nhà Đông Hán. Trong 11 năm sau đó ông phải dẹp yên các đối thủ. Ông thu hút một số nhóm Xích Mi vào quân đội của mình, và sau đó quân đội của ông cũng giết hại rất nhiều quân Xích mi. Những điều chưa được hoàn thành bởi các cuộc cải cách lại được hoàn thành bằng bạo lực: rất nhiều người đã chết đột ngột đến mức mọi người nếu muốn đều có đất, và nhiều kẻ cho vay lãi cũng đã chết nên lại có càng nhiều hơn nữa những nông dân đã thoát khỏi nợ nần. Lưu Tú phát triển kinh tế bằng cách giảm thuế, nhiều đến mức tối đa mà ông cho là có thể: ở mức mười hay mười ba phần trăm sản lượng hay lợi nhuận. Trong thời kỳ cai trị dài 32 năm của ông, ông cố gắng đưa ra các cải thiện bằng cách thúc đẩy học hành và cắt bớt ảnh hưởng của hoạn quan và một số kẻ khác xung quanh gia đình hoàng gia. Ông bảo vệ biên giới phía tây và phía bắc Trung Quốc bằng cách tung ra nhiều chiến dịch quân sự thắng lợi trên các mặt trận đó, đẩy lùi Hung Nô, cho phép ông kiểm soát Tân Cương (điểm cực tây bắc Trung Hoa hiện đại). Cũng như vậy, ông thắt chặt sự kiểm soát của Trung Quốc đối với các vùng quanh sông Liêu và phía bắc Triều Tiên, và ông đã có thể mở rộng tầm kiểm soát tới mọi vùng từng thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Việc khôi phục Hán triều dường như đã lấy lại được "Thiên mệnh". ==== Sự thịnh vượng quay trở lại ==== Năm 57, Lưu Tú chết. Ông được tôn thụy hiệu là Quang Vũ đế, và con trai ông là Minh Đế lên nối ngôi, cai trị trong vòng 18 năm, trong khi kinh tế Trung Quốc tiếp tục hồi phục. Thời cai trị của Minh Đế được coi là tàn bạo. Ông tự đồng hóa mình với Đạo giáo và thần học Khổng giáo, ông tự cho mình là một nhà tiên tri. Ông ủng hộ sự phát triển của cái mà hồi bấy giờ cho là giáo dục, và ông thuyết giảng về lịch sử tại trường đại học mới của đế quốc ở Lạc Dương - một buổi thuyết giảng có hàng ngàn người tham gia. Chương Đế nối ngôi Minh Đế và cai trị từ năm 75 đến 88. Hòa Đế tiếp tục nối ngôi từ 88 đến 106. Dù Hòa Đế là một người tầm thường, Trung Quốc vẫn tiếp tục được hưởng sự thịnh vượng ngày càng tăng. Đại học ở Lạc Dương có đến 240 căn nhà và 30.000 sinh viên. Thương mại của Trung Quốc đạt tới tầm cao mới. Tơ từ Trung Quốc đã trở nên quen thuộc với những người ở tận vùng Đế chế Roma – lúc ấy cũng đang ở thời vàng son. Và đổi lại, Trung Quốc có được kính, ngọc bích, ngựa, đá quý, mai rùa và vải vóc. Việc Trung Quốc trở nên thịnh vượng lại làm xuất hiện cố gắng mở rộng về phía tây. Một vị tướng quân đội Trung Quốc, Ban Siêu, dẫn một đội quân sáu mươi nghìn người không hề bị ngăn cản đến tận bờ phía đông biển Caspi. Ông muốn gửi sứ thần đến tận Roma, nhưng người Đế quốc Parthia sợ sẽ có một liên minh giữa Trung Quốc và La Mã nên đã khuyên Ban Siêu từ bỏ ý định với những câu chuyện thêu dệt về sự nguy hiểm, và ông đã quay lại. ==== Đạo giáo và Thiên đường ==== Sau khi đã có hiểu biết nhiều hơn về thế giới bên ngoài Trung Quốc, người Trung Quốc được nghe nhiều tin đồn về những nơi tuyệt vời. Những tín đồ đạo giáo - những người vẫn coi văn minh Trung Hoa là xấu xa và lý tưởng hóa thiên nhiên cũng như sự chất phác – giúp truyền bá những miêu tả về những nơi tuyệt vời xa xăm và thiên đường. Các câu chuyện về những nơi chất phác và thiên đường xuất hiện trong triều đình, do những người đến để trình diễn ma thuật và giải trí, và thỉnh thoảng triều đình lại trả lời bằng cách tài trợ một số chuyến thám hiểm để tìm kiếm những nơi thiên đường. Một câu chuyện như vậy miêu tả thiên đường dọc theo bờ biển viễn đông bắc Trung Quốc. Thời tiết ở đó êm dịu hơn trong đất liền, và họ nói rằng ở đó không hề có bệnh tật, con người không bao giờ đau ốm và tự quản lý lấy mình. Họ nói rằng ở thiên đường đó người già và người trẻ đều có quyền như nhau, rằng người dân thì lịch sự và không cãi cọ, rằng không bao giờ có xung đột giữa con người và thiên nhiên, rằng con người nhận được số lương thực mà họ cần từ một dòng sông từ thiện, rằng uống nước từ con sông đó có thể làm thân thể con người có lại sự hoàn hảo và khoẻ mạnh của tuổi thanh xuân, và rằng con người ở đó sống lâu hàng trăm tuổi. Một thiên đường khác được đồn đại là ở vùng núi Tây Tạng xa xôi. Ở đó, có thiên đường do Tây vương mẫu cai trị; bà có rất nhiều người hầu kẻ hạ. Ở thiên đường đó, có gió mát thổi – trái với ẩm và nóng ở vùng lục địa và châu thổ Trung Hoa vào mùa hè. Họ cho rằng ở thiên đường đó có những vườn treo, với những ao và hồ tuyệt đẹp, rằng nước ở đó cho người ta sự bất tử, rằng mọi người có thể trèo lên đỉnh núi và trở thành thần linh có quyền lực đối với gió và mưa, và rằng mọi người có thể trèo sang đỉnh núi bên cạnh để lên thiên đường. ==== Đạo giáo mới ==== Tín đồ Đạo giáo vẫn giữ niềm tin vào đức tin vào sự đồng điệu và sự an ủi của thiên nhiên. Họ tin vào một số mệnh bên ngoài sự thay đổi liên tục của cuộc sống vật chất, và họ vẫn giữ niềm tin vào đức tin ở sự mộc mạc cảm xúc. Ví dụ, một người Đạo giáo mộ đạo sẽ vẫn giải thích việc anh ta không khóc cho người vợ vừa chết bằng cách nói rằng nếu anh ta khóc than như vậy thì sẽ chứng tỏ rằng anh ta còn kém hiểu biết về số mệnh. Đạo giáo vẫn giữ những sự bày tỏ trái ngược như vậy, và nó vẫn giữ các quan niệm chống Khổng giáo như con trai và con gái của một người thì không thuộc sở hữu của người đó. Đạo giáo mở ra nhiều ý tưởng mới, gồm cả việc tìm cách sống lâu hay trường sinh bằng cách chấp nhận một thái độ đúng đắn và những kỹ thuật thể chất. Một số người theo đạo giáo tìm cách tìm kiếm sự cứu rỗi trong tự nhiên bằng cách tập trung vào niềm vui sướng trong quan hệ tình dục, và một số người sùng đạo tìm cách có được cuộc sống vĩnh cửu bằng các kiểu tập thần thành hay các chế độ ăn kiêng - một sự trải nghiệm theo kiểu sẽ hỏng nếu có một người chết. Nhưng thay vì chấp nhận rằng cuộc sống vĩnh cửu là không thể có được bằng cách thực hiện một số chương trình đặc biệt, những người theo đạo giải thích sự sai lệch như là một kết quả của hoàn cảnh chứ không phải là do cái chết của con người. Đạo giáo thu nhập những hoạt động ma thuật đã từng tồn tại ở một số cộng đồng nông nghiệp Trung Quốc. Một số đạo sỹ chấp nhận các vị thần vốn bị quý tộc nhỏ và người theo Nho giáo chế nhạo. Trái với niềm tin ban đầu của Đạo giáo ở sự vô vi, một số đạo sỹ hăng hái tìm cách cải đạo, và một số đạo sỹ trở thành những nhà hoạt động nhằm thay đổi xã hội và khởi xướng các chương trình chính trị. Đạo giáo không có định nghĩa rõ ràng về tính chính thống hay sự tổ chức chặt chẽ các nhà hành đạo, nhưng ở nơi này và nơi khác, các tổ chức do các nhà hành đạo chỉ huy vẫn phát triển. Các nhà hành đạo đạo sỹ tập hợp quanh mình những kẻ sùng tín, những người tin rằng họ đã gia nhập vào một nhóm đặc biệt, lúc nào cũng lo lắng cho sự tồn tại đúng đắn của mình. Cái này làm chính quyền Trung Quốc khó chịu – các nhà Nho và giới quan lại tiểu quý tộc - vốn sợ rằng sự thờ cúng các đạo giáo không được cho phép có thể phát triển thành một điểm đối lập với chính quyền của họ. Trong số những nhóm thờ cúng Đạo giáo có một do Trương Lăng lãnh đạo (hay Trương Đạo Lăng) ở tỉnh Tứ Xuyên. Trương Lăng đi loanh quanh vùng nông thôn hứa hẹn những người thú nhận trước công chúng tội lỗi của mình sẽ được ông ta chữa khỏi bệnh tật và sự kém may mắn. Ông tuyên bố rằng bệnh tật là một sản phẩm của những suy nghĩ đen tối. Sử dụng sự mê hoặc và bùa chú ông đòi phải được tôn làm người chữa bệnh, và những buổi thú nhận trước công chúng của ông làm cho người nông dân có cảm giác rằng họ đang tự làm sạch mình khỏi tội lỗi và gia nhập vào một cộng đồng. Năm 142, Trương Lăng lập ra tôn phái Đạo giáo, gọi là "Thiên sư đạo" (Đạo của những pháp sư vĩ đại), chuyển Đạo giáo của mình từ một cách bắt buộc của cuộc sống thành một tôn giáo được tổ chức. Tôn giáo của ông cũng được gọi là "Ngũ đấu mễ đạo" (Đạo của năm thùng gạo); năm thùng gạo trở thành một nhiệm vụ hàng năm mà các tín đồ phải thực hiện. Trương Lăng hứa những người theo ông sẽ sống lâu và bất tử, và ông có được lòng biết ơn của người dân địa phương bằng cách làm được những việc mà chính quyền của nhà vua không làm được: sửa đường xá và cầu, tích trữ lúa gạo và phân phối lương thực cho người đói. Trương Lăng đã tạo ra một triều đình địa phương đối lập với chính quyền của nhà vua. Không biết đến điều đó, các đạo sỹ lại chui lại vào thế giới của quyền lực chính trị. ==== Những cuốn sách thần thánh về hòa bình ==== Một tư tưởng bao trùm ở Trung Quốc, dù muốn hay không, rằng xã hội đang chuyển sang một trạng thái nhà nước tuyệt vời và công bằng, và đi kèm với tư tưởng đó là khái niệm phục vụ cộng đồng, nó sống dậy từ thời đại và ảnh hưởng của Mặc Địch. Khái niệm phục vụ cộng đồng đã xuất hiện trong sách Lã thị Xuân Thu của Lã Bất Vi, vốn được một số người coi là sự khởi đầu của truyền thống xã hội của Trung Quốc. Các vị hoàng đế và các quý tộc Khổng giáo coi những cuốn sách đó là có tính phá hoại, và thỉnh thoảng chính quyền tịch thu chúng. Một số cuốn sách cho rằng hòa bình và bình đẳng sẽ xuất hiện nếu có một sự can thiệp của trời. Một số kêu gọi người dân tỏ thái độ sùng kính và tìm kiếm sự cứu rỗi. Có những người dân coi những cuốn sách đó là thuộc thần thánh và ít nhất có một cuốn được coi là do một người nào đó viết ra và gửi về từ thiên đường. Một số cuốn được gọi là Những cuốn sách của Nền hòa bình cao hơn và chứa nhiều sự lên án tính tham lam và ích kỷ của những ông vua, và các cuốn sách cho rằng xã hội là để dành cho những người dân bình thường. Một cuốn như vậy, tên là Thái Bình Kinh (太平經), tìm cách loại bỏ vũ khí và nhờ đó con người sẽ sống trong hòa bình vĩnh cửu. ==== Sự suy yếu của vương triều Hán ==== Trong khi những người Trung Quốc lao vào tìm tòi trong thế giới của sự thần bí và linh hồn thì họ cũng khám phá ra một số điều và phát triển khả năng châm cứu và bấm huyệt. Tới thế kỷ thứ hai, Trung Quốc đã đuổi kịp và ở một số lĩnh vực đã vượt qua trình độ khoa học và kỹ thuật của Châu Âu và Tây Á. Giấy bắt đầu được sử dụng ở Trung Quốc. Trung Quốc đã có một chiếc đồng hồ nước với độ chính xác mà người châu Âu không thể chế tạo nổi trong hơn một nghìn năm sau đó. Trung Quốc có một lịch Mặt Trăng mà tới thế kỷ XXI chúng ta vẫn sử dụng tốt. Họ có một máy ghi địa chấn đã được phát minh vào năm 132 – có tám chân và làm bằng đồng. Người Trung Quốc quan sát các vết đen trên mặt trời, ở châu Âu mãi về sau này Galileo là người đầu tiên làm việc đó. Người Trung Quốc đã vẽ bản đồ 11.500 ngôi sao và đo đạc quỹ đạo quay của Mặt Trăng. Người Trung Quốc có một cái máy gieo hạt và một cái máy xay lúa. Họ có bơm nước, và không giống như nền văn minh Roma, người Trung Quốc có xe cút kít có bánh. Người Trung Quốc cũng có hàm thiếc và bàn đạp cho ngựa. Họ cải thiện cách dùng thảo mộc làm thuốc và biết thêm nhiều về giải phẫu người và sự chẩn đoán sự rối loạn về cơ thể. Họ đã biết làm các phẫu thuật nhỏ và thuật châm cứu, và họ biết được những lợi ích của một chế độ ăn kiêng tốt. Nhưng cuộc sống của người dân thường Trung Quốc - những nông dân - vẫn rất khó khăn. Họ vẫn bị đánh thuế nặng. Họ vẫn phải đi lao động công ích mỗi tháng một lần cho nhà vua. Những sự trừng phạt vẫn rất khốc liệt. Một nông dân nghèo có thể bị hành quyết chỉ vì dám đi ở giữa đường lớn, nó chỉ dành cho nhà vua. Và họ không có đủ lương thực dự trữ cho những khi cần thiết. Sự thịnh vượng của Trung Quốc đã tăng lên dưới thời Hán Hòa Đế (giữa năm 88 và 106), và triều đình Hòa Đế đã trở nên cũng xa hoa như những triều đình trước Hán đó. Trong triều, vua có hàng trăm thê thiếp cùng một số lượng lớn hoạn quan để cai quản họ. Dưới thời Hòa Đế, các hoạn quan và các gia đình họ hàng vua có ảnh hưởng lớn hơn, qua hoạn quan họ có thể gây ảnh hưởng đến nhà vua. Những người có liên quan tới việc lựa chọn người kế vị ngai vàng thường thích một đứa trẻ bởi vì họ dễ dàng cai quản nó hơn so với một người lớn, nên họ có được một quyền lực cực lớn. Tất cả các vị vua Hán kể từ thời Hán Minh Đế đều được lên làm vua khi còn vị thành niên, hai người mới chỉ lên hai tuổi, và đa số đều bắt đầu thời cai trị của mình với hoàng hậu nhiếp chính. Những người đàn bà đó thường bị cô lập và phụ thuộc vào những người đàn ông - thường là họ hàng. Khi vua đến tuổi thành niên, nếu ông bãi chức những người cố vấn họ hàng đó thì ông lại phải nhờ ở những người đàn ông mà ông có quan hệ - những hoạn quan – và ông đưa họ lên những vị trí cao để làm đối lập với ảnh hưởng của mẹ. Trong thời cai trị của Hán Thuận Đế (125-144), những lời đồn đại nổi lên ở trong đám nông dân Trung Quốc rằng các vị vua Hán một lần nữa lại mất Thiên Mệnh. Khắp nơi, những cuộc nổi loạn nông dân lại diễn ra. Trong thời Hán Hoàn Đế (146-168) sự suy sụp chính trị tiếp tục diễn ra. Năm 159 vị hoàng hậu nhiếp chính qua đời, các hoạn quan quanh Hoàn Đế, cảm thấy thời cơ đã đến, liền hạn chế ảnh hưởng của đối thủ bằng cách xếp đặt sự hủy diệt các thành viên thuộc phe cánh hoàng hậu. Hoàn Đế trở nên phụ thuộc vào hoạn quan. Ông uỷ quyền cho bọn họ, và các hoạn quan chiếm hết các vị trí triều đình cho họ hàng mình, đòi các vị quan hay tướng được phong chức phải hối lộ vàng cho họ. Hoàn Đế chết năm 168, và ngày hôm sau vợ ông, Đậu hoàng hậu, tuyên bố lên làm hoàng hậu nhiếp chính. Bà thỏa thuận lựa chọn một đứa trẻ mười hai tuổi ở nông thôn tên là Lưu Hoằng, chút của Hán Chương Đế. Sau đó, bà cùng với Đậu Vũ đón Lưu Hoằng vào cung lập làm hoàng đế, tức Hán Linh Đế. Trong thời Linh Đế một cuộc xung đột xảy ra giữa hoạn quan và các quan chức theo Khổng giáo. Phái Khổng giáo từ lâu vốn không thích các hoạn quan, coi họ là thiếu giáo dục và gây trở ngại cho một triều đình tốt. Chiến tranh xảy ra giữa các hoạn quan và phái Khổng giáo về sự ảnh hưởng của một vị phù thủy Đạo giáo. Vị phù thủy Đạo giáo tiên đoán rằng một lòng khoan dung khắp nơi sắp đến và sai con mình đi giết một người nào đó để bày tỏ sự tin tưởng vào sự tiên tri đó. Con trai của ông là người hầu cận của các hoạn quan, và các hoạn quan đã ngăn chặn sự hành hình của vị phù thủy. Tuy nhiên vị quan cai trị vẫn hành hình con vị phù thủy. Các hoạn quan buộc tội vị quan cai trị vi phạm vào điều luật của đế chế và âm mưu với nho sinh và những bậc trí thức để thành lập một liên minh bất hợp pháp nhằm chống lại chính quyền. Các hoạn quan có được lệnh từ Linh Đế, ra lệnh bắt giữ các nho sinh dám biểu tình và dám tìm cách khấn nguyện lên hoàng đế. Và nhanh chóng, họ giết nhiều nho sinh trong ngục. Tại các tỉnh, sự tôn trọng quyền lực của vua ngày càng suy tàn. Các quan lại hành chính địa phương và quan cai trị mất quyền lực vào tay những người giàu, vì họ thường đút lót cho bọn hoạn quan ở triều đình. Những người địa phương đó thường có thói quen che giấu những tên côn đồ để bảo vệ quyền lợi của họ. Và với sự bùng nổ xung đột giữa hoạn quanh và tiểu quý tộc trong triều, những vị quan võ đang nắm quân đội tại các tỉnh Trung Quốc ngày càng trở nên độc lập. Một người theo Đạo giáo tên là Trương Giác, tự cho mình là "đại hiền lương sư", đã đi quanh vùng làng quê giống như Trương Lăng. Ông trình diễn những trò ma thuật, chữa khỏi các phiền não bằng nước và những lời khấn mà ông gọi là "thái bình yếu thuật". Trương Giác cũng nói rằng nhà Hán đã mất Thiên Mệnh, và ông tự tuyên bố sự sụp đổ sắp tới của họ. Trong vòng mười năm, phong trào của ông có hàng trăm nghìn người. Phong trào của ông phân chia vào các tỉnh, và mỗi tỉnh có một thủ lĩnh lãnh đạo. Năm có tính chất quyết định đối với phong trào của Trương Giác là năm 184. Ngày mùng năm tháng ba âm lịch được hẹn làm ngày cho một cuộc khởi nghĩa tổng thể ở Lạc Dương và các vùng lân cận. Nhưng triều đình đã biết được tin đó, và chính quyền bắt các thủ lĩnh địa phương của cuộc nổi loạn và hành quyết họ. Trương Giác thay đổi kế hoạch và kêu gọi một cuộc nổi dậy ngay lập tức, kêu gọi những người theo ông đốt những trụ sở chính phủ và cướp bóc thành phố. Đây được gọi là cuộc khởi nghĩa khăn vàng, được đặt theo kiểu đội đầu của phong trào – màu vàng biểu thị sự liên kết của họ với yếu tố đất như đối kháng với yếu tố lửa, mà họ coi là của nhà Hán. Cuộc nổi loạn lan rộng, và người dân khắp mọi nơi trong nước bắt đầu cướp phá, giết chóc và kéo nhau đến thủ đô. Các hoạn quan và quan lại ở Lạc Dương bỏ qua sự khác biệt giữa hai bên vì sợ cuộc nổi dậy Khăn Vàng. Các lực lượng chính phủ củng cố quanh Lạc Dương, và chính phủ cho phép quan cai trị địa phương được tổ chức quân đội riêng để chiến đấu chống nổi loạn. Các chúa đất giàu có cũng tổ chức quân đội để tự bảo vệ mình. Nhưng hết thành phố này tới thành phố khác rơi vào tay quân Khăn Vàng, quan đầu tỉnh và cấp dưới bỏ trốn không đối đầu với họ để tránh bị đem ra hiến tế cho thần thánh của quân nổi loạn. Ở giữa cuộc hỗn loạn, Hung nô lại bắt đầu tổ chức các cuộc tấn công Trung Quốc. Và tại Triều Tiên, các bộ tộc chiến binh trên lưng ngựa tràn từ trên cao nguyên xuống đánh Trung Quốc. Chính phủ ở Lạc Dương không thể giúp đỡ, và người Triều Tiên tràn qua vùng đất của họ trước đó bị đặt dưới sự thống trị của Trung Quốc. Trong nỗ lực nhằm tự bảo vệ mình, triều đình Hán bắt đi lính rất nhiều người, lập lên những đội quân đông đảo với chi phí rất lớn, và mặc dù quân Hán yếu kém và không có hiệu quả vì nạn tham nhũng, quân Khăn Vàng cũng không phải là đối thủ của họ. Về mặt quân sự, quân Khăn Vàng không được tổ chức, và họ bị tuyên truyền rằng chúa của họ biến họ thành một đội quân vì cái tốt đẹp, rằng họ không thể bị tấn công, và thậm chí họ cũng chẳng cần đến vũ khí - một quan điểm không thích hợp cho một chiến dịch quân sự. Đạo thần bí là một phần của sự thành lập phong trào và cũng là một phần của sự hủy diệt của nó. Trong năm đầu tiên của cuộc nổi loạn, Trương Giác chết, và chỉ trong vòng một năm cuộc khởi nghĩa bị đánh bại. Trong năm năm thỉnh thoảng có những cuộc nổi loạn rời rạc vẫn tiếp diễn. Chín tỉnh của Trung Quốc bị tàn phá, Các lực lượng đối lập với Khăn Vàng tiêu diệt hết nhóm Khăn Vàng nọ đến nhóm kia. Những cuộc chiến rời rạc vẫn tiếp diễn trong hàng thập kỷ sau, trong khi những người nông dân ủng hộ cho Khăn Vàng quay trở về với công việc của mình kiếm sống bằng cách làm việc và hy vọng về một thế giới thiên đường ở đâu đó. ==== Sự sụp đổ của quyền lực nhà Hán ==== Linh Đế chết năm 189, ở tuổi 33, trong khi các tướng lĩnh ngày càng đòi nhiều quyền lực hơn so với lúc họ chiến đấu chống lại Khăn Vàng. Đại tướng quân Hà Tiến, một người anh em họ của vị thái hậu nhiếp chính tìm cách tóm lấy quyền lãnh đạo triều đình. Ông âm mưu chống lại bọn hoạn quan trong triều và những kẻ ủng hộ họ, và mời tướng Đổng Trác đem quân về kinh đô để tiêu diệt bọn hoạn quan. Nhưng trước khi Đổng Trác đến, chiến tranh nổ ra trong triều. Tập đoàn hoạn quan giết Hà Tiến. Các thế lực quân sự ủng hộ Hà Tiến phản công và đốt cung điện, giết mọi hoạn quan mà họ gặp – hay bất kỳ ai trông giống với hoạn quan vì không có râu. Và hơn hai nghìn hoạn quan, cùng những kẻ ủng hộ bị giết. Ngay sau đó, Đổng Trác đến kinh đô và phế Thiếu Đế, giết Hà thái hậu nhiếp chính. Ông chọn Lưu Hiệp, hoàng tử chín tuổi, là em của Thiếu Đế lên làm vua, tức là Hán Hiến Đế. Đổng Trác doạ nạt cả triều đình bằng thanh gươm của mình, với cách cư xử được miêu tả là trác táng và cục súc, trong khi quân đội của ông ta, đa phần đến từ Hung Nô, cướp phá và giết hại cho sướng tay quanh kinh đô. Trước sự thao túng triều đình của Đổng Trác, nhiều trấn chư hầu nổi dậy chống lại. Đổng Trác thua trận mang Hiến Đế di cư đến Trường An. Trước khi đi, ông đốt cháy Lạc Dương. Sách vở nói, họ mang theo hơn một triệu thường dân, đa phần đã chết vì kiệt sức và cái đói dọc đường. Sự vô tình của Đổng Trác với nhân dân khiến mọi người chống lại ông. Sự khát máu vô biên của ông cùng tâm tính nóng nảy làm binh lính bên dưới xa lánh, và trong năm 192, Lã Bố, một thuộc tướng đã ám sát ông. Một cuộc chiến giành quyền kiểm soát ngôi báu diễn ra giữa các tướng lĩnh. Tới năm 196, một vị tướng chư hầu khác là Tào Tháo đã tìm được vị vua trẻ con Hiến Đế. Ông kiểm soát vua nhỏ và tuyên bố mình là "Thừa tướng", có quyền bảo vệ đế chế. Tào Tháo là một vị tướng mạnh mẽ, khôn ngoan và có khả năng lãnh đạo. Quân đội của ông được tuyên bố là có hàng triệu người. Trong những trận chiến đẫm máu ở phía bắc Trung Quốc, ông đã đánh bại hết đối thủ này đến đối thủ khác và lập lại trật tự ở đó. Năm 208, Tào Tháo tiến về phía nam trong một nỗ lực nhằm thống nhất Trung Quốc. Trận chiến tiếp theo ở Xích Bích, dọc sông Dương Tử, đã trở thành nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Trong trận đó, Tào Tháo giáp mặt với đội quân đồng minh của Lưu Bị và Tôn Quyền, và đồng minh đó đã đánh bại ông, buộc Tào Tháo phải quay trở về phía bắc. Sau khi quay về phía bắc, Tào Tháo đã dốc sức tham gia các chiến dịch quân sự để đánh bại các thế lực cát cứ còn lại là Mã Siêu, Hàn Toại trong các trận Đồng Quan và Ký Thành, ổn định được hậu phương của mình. Lưu Bị vốn là một thành viên trong Hán tộc, có tiếng là người nhân từ. Ông liên kết với Tôn Quyền để chống lại Tào Tháo hùng mạnh phía bắc và mưu thống nhất Trung Quốc. Tôn Quyền dựng lên nước Đông Ngô ở phía đông nam Trung Quốc và liên minh với Tào Tháo, người đã lập lên nhà Ngụy ở phía bắc - lấy theo tên nước Ngụy ở thời Chiến Quốc (475-221 TCN), còn Lưu Bị lập ra nhà Thục ở tỉnh Tứ Xuyên. Giai đoạn trong lịch sử Trung Quốc được gọi là thời Tam Quốc bắt đầu từ đó. ==== Sự nổi lên và sụp đổ của một nhà nước thần quyền độc lập ==== Tuy nhiên, dọc sông Dương Tử gần Tứ Xuyên, một nhánh thuộc Đạo giáo vẫn tồn tại với quân đội riêng đã lập nên một nhà nước thần quyền. Người sáng lập là Trương Lỗ, hậu duệ của Trương Lăng. Giống như Trương Lăng, ông ta thực hiện những thứ mà ngày nay chúng ta gọi là chữa bệnh bằng cách thần bí, và ông ta thuyết giảng những thông điệp của Trương Lăng về cách có một tinh thần và thể chất khoẻ mạnh, tuyên bố rằng các bệnh tật là sự trừng phạt cho những hành vi xấu xa và rằng bệnh tật có thể được chữa trị bằng sự ăn năn và sự thú tội ở các buổi lễ. Cộng đồng của Trương Lỗ có những bữa ăn tập thể, "thân mật", và giống như Trương Lăng, ông ta có hệ thống phúc lợi cho cộng đồng của mình và tích trữ lương thực và thịt. Ông thúc đẩy sự công bằng. Cộng đồng của ông cho những kẻ lang thang không nhà một chỗ trú ngụ và bữa ăn, và họ tỏ ra khoan dung đối với những kẻ phạm tội. Một người theo Đạo giáo khác, Trương Tu lập ra một nhà nước độc lập khác ở bên cạnh. Dù họ có chung sự sùng bái đối với Đạo giáo, nhưng hai cộng đồng Trương Lỗ và Trương Tu lại đánh lẫn nhau. Trương Lỗ, như kể lại, đã giết được Trương Tu. Ngay sau đó, Trương Lỗ có một đối thủ còn kinh khủng hơn, Tào Tháo. Với quân đội của mình, Tào Tháo chiếm đất đai của Trương Lỗ. Trương Lỗ đầu hàng Tào Tháo và được ban thưởng thái ấp. Lịch sử kể rằng Trương Lỗ chết một thời gian ngắn sau đó – năm 217. Và có truyền thuyết rằng 26 năm sau khi ông chết, nhiều người đã thấy ông bay lên trời. Truyền thuyết cũng nói rằng khi khai quật mộ ông vào năm 259, thân thể ông vẫn còn nguyên vẹn, có nghĩa là ông chỉ chết theo nghĩa ông đã tách khỏi thể xác và đã lên thiên đường. == Nhà Tấn == === Chấm dứt thời Tam quốc === Một tiểu thuyết thế kỷ mười bốn, Tam quốc diễn nghĩa, miêu tả thời đại Tam quốc như là một giai đoạn lãng mạn, anh hùng và thượng võ. Nhưng đối với người dân sống ở thời kỳ đó thì nó kém lãng mạn hơn nhiều. Về mặt quân sự, Ngụy là mạnh nhất trong số ba nước, một sức mạnh được nâng đỡ nhờ kinh tế và các cảng biển. Nước Thục có dân cư thưa thớt hơn, và là một vùng đa phần là rừng, với nhiều bộ tộc không phải là người Hán. Năm 263, Ngụy đánh và chiếm Thục, chỉ còn lại Ngô làm đối thủ. Sau đó vua Ngụy bị quyền thần họ Tư Mã thao túng và chính thức đoạt ngôi năm 265. Tư Mã Viêm nối chức cha ông phế vua Ngụy lập ra nhà Tấn, tức là Tấn Vũ Đế (265-290). Năm 280, Tấn Vũ đế chinh phục nốt nước Ngô. Trung Quốc lại được thống nhất, và Tấn Vũ đế mở rộng quyền lực của mình về phía bắc đến trung tâm Triều Tiên và phía nam đến hết An Nam (Việt Nam). Một triều đại mới, gọi là Tây Tấn đã bắt đầu ở Trung Quốc. === Tấn Vũ Đế === Trước sự hùng mạnh của Tây Tấn, những sự cướp phá chống Trung Quốc của Hung Nô và những bộ tộc khác tạm dừng trong một thời gian. Và chính sách định cư các bộ tộc bên trong Trung Quốc đã có kết quả. Triển vọng về một nền hòa bình, thống nhất và thịnh vượng bắt đầu. Năm 280, Tấn Vũ Đế bắt đầu thi hành chính sách mới. Các đội quân được nghỉ ngơi, và các vũ khí kim loại bị đúc thành tiền. Nhưng cố gắng của Tấn Vũ Đế nhằm giải ngũ quân đội không có nhiều kết quả. Một số binh sĩ giải ngũ nhưng vẫn giữ vũ khí, các binh sĩ buôn bán vũ khí của họ với Hung Nô để đổi lấy đất, còn các hoàng thân ở vùng xa không chịu giải giáp hay giản tán quân đội của mình. Vũ đế tìm cách quay lại thời kỳ vĩ đại của triều Hán, khi hòa bình và thịnh vượng có ở khắp đất nước và nhà Hán có được quyền lực trung ương mạnh. Tấn Vũ Đế đặt ra các cải cách nhằm mục đích kiềm chế quyền lực địa phương - quyền lực của các gia đình lớn. Nhưng những cải cách đó không thành công. Ông chết năm 290 khi thế lực của các chư hầu, lãnh chúa lớn ở Trung Quốc vẫn có quân đội riêng. === Bát vương chi loạn === Cùng với cái chết của Vũ đế sự suy yếu đã đến với triều đình: con Vũ đế là Huệ Đế, một hoàng đế đần độn. Quyền hành rơi vào tay hoàng hậu Giả Nam Phong. Bà vốn đa nghi và bắt đầu bắt giữ và hành quyết bất kỳ ai mà bà cho là một mối đe doạ cho vị trí của mình, kể cả những kẻ đối lập bên trong hoàng gia. Cuộc xung đột nổ ra giữa các hoàng thân nhà Tấn, sử gọi là "loạn tám vương" (Bát vương chi loạn) Nhiều vương công và hàng nghìn người khác bị giết. Giả Hoàng hậu không thể giết tất cả những kẻ đối nghịch với mình, và đến năm 300, một hoàng thân là Triệu vương Tư Mã Luân đã làm đảo chính, giết Giả Hoàng hậu và nhiều người khác, đồng thời ép vị vua nhu nhược phải nhường ngôi. Đến lượt các vương hầu khác khởi binh chống lại Tư Mã Luân và giết ông chỉ sau 3 tháng. Vị vua nhu nhược Tư Mã Trung lại được lập làm hoàng đế lần thứ hai. Tuy nhiên, cuộc chiến giữa các vương hầu không hề kết thúc. Thêm vào đó, hạn hán và nạn đói liên tiếp xảy ra. Chính phủ trung ương suy yếu và hoàn toàn bất lực trước sức mạnh của các lãnh chúa địa phương. Trung Quốc bước qua giai đoạn thống nhất giờ lại bước vào giai đoạn tan rã. === Khổng giáo, Phật giáo thời Tây Tấn === Với sự tan rã của Hán triều, các bộ tộc Hung nô từ phía bắc Trung Quốc thấy cơ hội để tiếp tục cướp phá những vùng đông dân của Trung Quốc. Giống như điều xảy ra ở châu Âu, sự đổ vỡ của chính phủ thúc đẩy nông dân từ bỏ sự độc lập của mình và tập hợp lại với nhau để được bảo vệ dưới một ông chúa đất có lực lượng gồm những người có trang bị vũ khí. Các nông dân chạy trốn để khỏi phải đóng thuế cho nhà nước và đi lao động công ích, nhưng lại trở thành nông nô của ông chúa đất. Giống như sự suy tàn của tôn giáo chính thức trong thời đại khó khăn ở La Mã, Khổng giáo cũng bị như vậy trong thời hỗn loạn ở Hán triều. Khổng giáo từng là tư tưởng của tầng lớp tiểu quý tộc và quý tộc Trung Quốc và vốn thống trị trong giáo dục và hành chính của đế chế, nhưng với việc đạo đức rất ít thấy trong số những người nắm quyền, nhiều người tinh hoa Trung Quốc quay sang coi Khổng giáo là biện hộ cho sự trung thành đối với kẻ cai trị là thứ không thích hợp và nhiều người coi Khổng giáo là đã không đáp ứng được với nhu cầu của thời đại. Họ không nghiên cứu Khổng giáo nữa mà tìm kiếm một tư tưởng khác để thay thế và một trong số đó là Đạo giáo. Một thứ khác nữa là Phật giáo, mà theo truyền thuyết đã du nhập vào Trung Quốc năm 65, trong một giấc mơ của Hán Minh Đế. Một lý thuyết đối nghịch cho rằng Phật giáo đã nhập với Ấn Độ giáo khi phát triển về phía đông với những nhà buôn Ấn Độ, Phật giáo vào Trung Quốc qua những nhà buôn vào lục địa qua Trung Á trong thế kỷ đầu tiên. Triều đình nhà Hán, theo ghi chép, chào đón Phật giáo vào Trung Quốc. Nhưng Phật giáo vẫn bị cô lập trong thời nhà Hán, chỉ được các nhà buôn Ấn Độ gia nhập - những người chi tiền và hiến đất để xây các chùa Phật giáo và sử dụng chúng làm nhà băng và nơi cất giữ hàng hóa. Người Trung Quốc đầu tiên đổi sang Phật giáo là những người thuê đất đai của nhà chùa. Các kinh điển Phật giáo được dịch sang tiếng Trung Quốc. Sau đó với sự sụp đổ của Hán triều, Phật giáo ngày càng phát triển trong dân chúng Trung Quốc. Họ không biết nhiều về học thuyết của Phật giáo, nhưng họ có được sự an ủi trong Phật giáo. Các chùa Phật giáo và những lễ nghi phức tạp rất ấn tượng, và Phật giáo là một thông điệp ấm áp hơn thông điệp của Khổng giáo: một thông điệp về sự cứu rỗi thông qua sự tiết chế hay kiêng khem và thông điệp về lòng trắc ẩn cho mọi sinh vật. Cả Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa đều có mặt ở Trung Quốc, nhưng phái Đại thừa với các thần phật cứu rỗi và hay giúp đỡ ở mức thống trị. == Chia cắt Ngũ Hồ loạn Hoa và Nam Bắc triều == === Ngũ Hồ loạn Hoa === Sau loạn bát vương, Tây Tấn suy yếu cực độ và bị các tộc phương bắc xâm chiếm. Năm 316, vua nước Hán Triệu là Lưu Thông tiêu diệt Tây Tấn. Các quý tộc nhà Tấn chạy xuống phía nam tái lập nhà Đông Tấn (ở đất nhà Ngô thời Tam Quốc cũ). Vùng đất phía bắc do các tộc người Hồ chiếm giữ, gọi là thời Ngũ Hồ loạn Hoa, gồm 16 nước. Bị cai trị bởi chế độ quân chủ là một điều không may cho Trung Quốc, với những cuộc chiến tranh và đổ máu là phương tiện để tìm ra người kế tục ngôi báu. Những vị vua có năng lực lại bị tiếp nối bởi những vị không năng lực, với tình trạng tham nhũng trong chính phủ và sự xao nhãng quan tâm tới quyền lợi của thường dân. Nếu những người nắm quyền phục thuộc vào nguyện vọng của nhân dân họ sẽ phải làm nhiều việc cho quyền lợi của người dân – như tích trữ lương thực vào những năm được mùa để phòng khi hữu sự. Các chính quyền không có khả năng và luôn thay đổi làm cho Trung Quốc dễ rơi vào tranh giành. Ở miền nam, Đông Tấn luôn gặp phải nạn bè phái và sự trỗi dậy của các quyền thần, loạn thần nhân khi "thiên tử" suy yếu, điển hình là Vương Đôn, cha con Hoàn Ôn - Hoàn Huyền. Thêm vào đó, những cuộc nổi dậy của nông dân, nhất là khởi nghĩa Lư Tuần đầu thế kỷ 5 khiến nhà Tấn càng suy yếu. Điều đó khiến Đông Tấn rất ít khi có cơ hội mở các cuộc tấn công bắc phạt để giành lại quyền kiểm soát trung nguyên, dù ở miền bắc đã không ít lần có những biến động thuận lợi - sự tan rã, suy yếu của các chính quyền Ngũ Hồ - để làm điều đó. Năm 420, quyền thần Lưu Dụ, phát triển thế lực nhờ dẹp khởi nghĩa Lư Tuần và diệt được 2 trong số các nước Ngũ Hồ phía bắc, mở đất đến Quan Trung và sông Hoài, thực hiện cướp ngôi nhà Tấn, lập ra nhà Tống, sử gọi là Lưu Tống. Trong khi đó ở miền bắc sau khi nhà Tấn mất quyền kiểm soát, các bộ tộc Hồ gây chiến liên miên với nhau và với người Hán. Có hơn 20 quốc gia đã hình thành và diệt vong trong thời gian đó, nhưng 16 nước được sử hay nhắc tới. Tình hình miền bắc được các sử gia chia làm hai giai đoạn lớn: Từ năm 383 trở về trước và sau năm 383. Trước năm 383, sử Ngũ Hồ loạn Hoa có sự ra đời và diệt vong của các nước Hán Triệu (304-329), Hậu Triệu (319-352), Thành Hán (303 - 347), Tiền Lương (314-376), Tiền Yên (317-371), Tiền Tần (351-394). Các quốc gia này, song song với việc đánh chiếm được đất đai của nhà Tấn và chống lại những cuộc bắc phạt của nhà Tấn đã quay sang đánh lẫn nhau. Tới năm 376, khi hoàng đế Tiền Tần là Phù Kiên diệt nước Tiền Lương và Bắc Đại (nước của người Tiên Ti, không được nhắc tới trong 16 nước), thống nhất miền bắc, cơ bản Trung Quốc chỉ còn 2 nước Tần và Tấn chống nhau. Năm 383, Phù Kiên huy động 100 vạn quân đa sắc tộc đi đánh Đông Tấn để thống nhất Trung Quốc, nhưng bị thảm bại ở trận Phì Thủy. Ngay sau trận Phì Thủy 383, Tiền Tần suy yếu và tan rã nhanh chóng. Các bộ tộc cũ của người Hung Nô, Tiên Ty, Khương lại nổi dậy chia cắt miền bắc, hình thành các nước Hậu Lương, Bắc Lương, Tây Lương, Nam Lương, Hậu Yên, Bắc Yên, Nam Yên, Tiền Tần, Hậu Tần và Tây Tần và Hạ. Nước Bắc Đại của họ Thác Bạt cũng phục hồi năm 386 với tên là Bắc Ngụy và dần dần lớn mạnh. Bắc Ngụy lần lượt diệt các nước Ngũ Hồ phía bắc, thống nhất miền bắc năm 439. === Nam Bắc triều === Không lâu sau khi Lưu Dụ lập ra nhà Tống, Bắc Ngụy cũng thống nhất miền bắc, kết thúc thời Ngũ Hồ loạn Hoa. Từ đó trong một thời gian dài, miền nam và miền bắc ít bị chia cắt hơn loạn Ngũ Hồ, duy trì biên giới tương đối ổn định và có sự kế tục nhau của các thế lực phong kiến cai trị hai miền. Năm 453, vua Bắc Ngụy dốc toàn quân đánh Lưu Tống để thống nhất Trung Quốc. Vua Tống Văn Đế Lưu Nghĩa Long cũng mang sức cả nước ra chống lại. Kết quả không ai thắng ai, nhưng sau đó cả hai bên đều suy yếu, nhất là nhà Tống ở miền nam vốn có tiềm lực nhỏ hơn. Bắc Ngụy tập trung vào phát triển kinh tế và xây dựng. Sau một thời gian, triều đình này Hán hóa rất mạnh, tới cuối thế kỷ 5 đổi từ họ Thác Bạt sang họ Nguyên. Ở phía nam, một chuỗi các gia tộc Hán vốn đã leo lên và rơi xuống khỏi quyền lực trong khi lao vào các trận chém giết, coi đó là cách để giải quyết xung đột về việc ai sẽ cai trị. Nhà Tống suy yếu, bị quyền thần Tiêu Đạo Thành tiêu diệt lập ra nhà Nam Tề (479). Được hơn 20 năm (502), một người em họ của Tiêu Đạo Thành là Tiêu Diễn diệt cháu chắt của anh họ mình, lập ra nhà Lương. Theo sách Mưu lược người xưa, các nhà sử học Trung Quốc đã thống kê ra: chỉ từ cuối thời Đông Hán tới khi Lương Vũ Đế Tiêu Diễn lên ngôi đã có gần 300 người xưng vương hay xưng đế. Điều đó đủ cho thấy mức độ loạn lạc của Trung Quốc từ thời Tam Quốc tới Nam Bắc triều. Ở cả miền nam và miền bắc, tuy chiến tranh chấm dứt nhưng bạo loạn, tranh chấp trong cung đình vẫn liên tục xảy ra giữa những người thân tộc. Để chống họa ngoại thích, các vua Bắc Ngụy đặt ra lệ: trong các hoàng tử, ai được lập làm thái tử thì mẹ người đó phải chết. Nhưng tới Tuyên Vũ đế Nguyên Khác lại phá lệ vì yêu Hồ hậu, nên để cho mẹ thái tử Hủ được sống. Năm 515, Nguyên Khác chết, Nguyên Hủ lên thay. Quyền lực nhà Bắc Ngụy lập tức rơi vào tay Thái hậu nhiếp chính họ Hồ. Bà là người rất sùng đạo Phật, tuy vậy lại sử dụng thủ đoạn rất tàn độc với những người mà bà không thích, kể cả những người cùng gia tộc. Năm 528, bà hành quyết cả Nguyên Hủ vì Hủ không ngừng muốn thoát khỏi tình trạng giám hộ của bà. Lập tức, các tướng lãnh nổi loạn. Năm 530, Nhĩ Chu Vinh, một đại tướng đang cầm quân bên ngoài đã đem quân vào kinh thành giết chết Hồ Thái hậu và cả Nguyên Tử Du, vị vua kế vị mới vừa được bà lập nên. Từ đó đại loạn bắt đầu nổ ra. Nhĩ Chu Vinh và em là Nhĩ Chu Triệu cùng hàng loạt vua Ngụy bù nhìn như Nguyên Diệp, Nguyên Cung, Nguyên Lãng, Nguyên Tu bị giết trong cuộc hỗn chiến. Hai quyền thần mới, vốn là thủ hạ của các lực lượng quân phiệt hỗn chiến, nổi lên trong chính trường sau khi lớp trước bị thủ tiêu là Cao Hoan và Vũ Văn Thái, chia nhau giữ đất Bắc Ngụy. Tình trạng loạn lạc kéo dài dẫn đến việc triều đình Bắc Ngụy bị chia làm hai là Đông Ngụy và Tây Ngụy vào năm 534. Tuy nhiên, cả hai triều đình này không tồn tại được lâu, vì quyền lực thực tế đều nằm trong các tướng lĩnh quân sự. Ở phía đông, Cao Hoan khống chế Đông Ngụy, phía tây Vũ Văn Thái thao túng Tây Ngụy. Năm 550 con thứ Cao Hoan là Cao Dương đã phế truất vị vua duy nhất của triều Đông Ngụy là Nguyên Thiện Kiến để lên làm vua, lập nên triều đình Bắc Tề vào. Không lâu sau đó, ở Tây Ngụy, quyền thần Vũ Văn Giác (con Vũ Văn Thái) ép vị vua cuối cùng của nhà Tây Ngụy là Nguyên Khuếch nhường ngôi cho mình vào năm 557, lập nên nhà Chu, sử gọi là Bắc Chu. Các vị vua của Bắc Chu không ngừng lại ở đó mà tiếp tục thực hiện các chiến dịch quân sự để đánh phá người láng giềng Bắc Tề. Vào năm 577, vua Bắc Chu là Vũ Đế Vũ Văn Ung tiêu diệt Bắc Tề, thống nhất miền bắc bằng vũ lực. Tuy nhiên, ngay sau đó Chu Vũ Đế mất, con trai ông là Chu Tuyên Đế lại mải chơi không thể giữ gìn được sự nghiệp và chết yểu. == Nhà Tùy == Một quý tộc người Hán là Dương Kiên đã chiếm lấy quyền lực. Ông thẳng tay giết hại hoàng thất nhà Bắc Chu, dọn sạch con đường bước lên ngai vàng. Năm 581, ông phế truất vị vua cuối cùng của Bắc Chu là Vũ Văn Xiển, lên ngôi hoàng đế, lập nên nhà Tùy. Chín năm sau, ông tiêu diệt vương quốc Trần ở phía nam, thống nhất toàn bộ Trung Quốc sau gần 300 năm phân liệt. === Tùy Văn đế === Từ cuối thời Tây Tấn đến thời đại Nam Bắc triều, các tộc thiểu số phía bắc và phía tây tiến vào Trung Nguyên, ảnh hưởng của văn hóa kinh tế phong kiến của dân tộc trường kỳ chống áp bức và bóc lột, hình thành một sự hòa hợp chủng tộc mà dân tộc Hán là trung tâm. Dân tộc Hán chạy về phía nam cũng đem theo công cụ sản xuất kỹ thuật sản xuất tiến bộ, nhân dân và sĩ phu cùng nhau cần cù xây dựng miền Nam làm cho miền Nam Trung Quốc lúc bấy giờ phát triển cả về kinh tế và xã hội. Với xu thế xã hội lúc bấy giờ, Tùy Văn đế Dương Kiên tiến xuống phía nam diệt nhà Trần của Trần Thúc Bảo, đó là điều kiện có lợi cho thống nhất Trung Quốc để xây dựng vương triều Tùy lấy dân tộc Hán làm chủ. Nhà Tùy tiếp tục thực hiện các cuộc cải cách về kinh tế và chính trị. Những cuộc cải cách này cũng đã củng cố được nền thống trị mới, xúc tiến được sự phát triển của miền Bắc Trung Quốc, phục hồi sản xuất, thế lực của nhà Tùy tăng lên nhanh chóng. Năm 589, sau khi diệt được triều Trần, kết thúc cục diện chia cắt lâu dài, nhà Tùy đã thực hiện hàng loạt chính sách ổn định xã hội, phát triển sản xuất. Tùy Văn đế đầu tiên đã trấn áp hết các thế lực phiến loạn và bạo động., tiêu diệt các mầm mống phản loạn, đồng thời vẫn tôn trọng các quý tộc Tiên Ty, lấy việc hòa hoãn để giải quyết mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị. Theo đà phát triển của nông nghiệp, Văn đế đã phái các quan đến nhiều nơi xem xét và chia lại ruộng đất, nhân dân đều có ruộng, nơi nào thiếu ruộng đất, họ buộc phải đi khẩn hoang, do đó diện tích cầy cấy tăng lên nhanh chóng. Ngoài việc giải quyết vấn đề sức lao động và phân phối lại ruộng đất, còn thực hiện bỏ các quận, lập các châu, cải tổ hệ thống pháp luật, trừng trị tham quan, xây dựng các kho dự trữ để phòng lúc đói kém trợ giúp nhân dân. Vương triều Tùy lúc đầu để tập trung và nắm vững vật chất củng cố chính quyền trung ương, đã thi hành nhiều biện pháp tiến bộ, dân chúng tuân theo, hăng hái đóng góp sức người sức của để xây dựng đất nước. Về mặt công nghiệp, triều đình đặc biệt chú ý đào mương, sông ngòi, nối các dòng sông với nhau. Ví dụ như việc nối Hoàng Hà với sông Vị tạo nước tưới, đồng thời cũng tạo điều kiện cho việc thông thương. Một trong những tiêu chuẩn để nhà Tùy tăng thêm sức lực là khẩn điền và tăng thêm nhân khẩu. Mục đích tăng nhân khẩu là để là để lấy người lao động và bổ sung vào quân đội thường trực, vì một thời gian dài chiến tranh liên miên nên dân số quá hao hụt. Những tài sản do nhân dân lao động làm ra để nuôi dưỡng tập đoàn thống trị thì nay nhà Tùy đã đem phân phát bớt cho dân chúng, nên chính quyền được dân tin, củng cố. Những tiến bộ trên chỉ được duy trì và thực hiện khi Văn đế nắm quyền, còn khi Tùy Dạng đế lên kế vị thì đã không còn. === Tùy Dạng đế === Năm 604, Dương Quảng lên ngôi, lấy niên hiệu là Đại Nghiệp (大業). Do sự phát triển của kinh tế xã hội thời kì đầu nhà Tùy, nhờ sự cần mẫn của vua cha, vương triều đã tích lũy được nhiều của cải. Nhưng Dạng đế lại đi ngược chính sách của cha, tàn bạo bóc lột nhân dân, mặt khác tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược, chinh phạt. Dạng đế bỏ nhiều tiền của để xây dựng kinh đô Lạc Dương, cung điện thành quách nguy nga, bắt dân lên rừng xuống biển để tìm thú quý, cá đẹp, cây lạ để đem về nuôi ở vườn Ngự Uyển. Tây Uyển ở gần Lạc Dương, chu vi đến 200 dặm, có hồ lớn chu vi hơn 10 dặm, có cả núi giả. Để thỏa mã thú vui, Dạng đế đã bắt dân tìm hàng triệu con đom đóm cho vào vườn Ngự Uyển để thay cho ánh đèn, tăng vẻ đẹp cho vườn lạ. Bên cạnh đó, Dạng đế đã phát động các cuộc chiến tranh xâm lược Cao Câu Ly, chỉ toàn thất bại. Bao sức người sức của mà Văn đế dày công vun đắp đến thời Dạng đế đã bị hủy hoại, cơ nghiệp nhà Tùy tan rã. Dân chúng không biết dựa vào đâu mà sống, liền nổi dậy chống lại triều đình ở khắp mọi nơi. Năm 616, Tùy Dạng đế trước các cuộc khởi nghĩa của nông dân, vẫn chưa chịu nhận ra, lại tuần du xuống Giang Đô. Thuyền rồng của Dạng đế còn chưa về đến Giang Đô, thì đường quay về ở phía bắc đã bị cắt đứt. Năm Đại Nghiệp thứ 13 (617), Dạng đế bị thống lĩnh Cấm vệ quân là Vũ Văn Hóa Cập sát hại. Vương triều Tùy dựng được 38 năm bị diệt vong. == Nhà Đường == === Đường Cao Tổ (618 - 626) === Năm 618, cuộc nội chiến kết thúc, Đường quốc công Lý Uyên là người thắng trận. Ông tái thống nhất Trung Quốc, mở đầu thời đại nhà Đường và được tôn xưng là Đường Cao Tổ. Tuy nhiên, các con ông lại đánh nhau để giành quyền thừa kế ngai vàng. Hai người con trai của ông là Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát đã thiệt mạng trong cuộc tranh giành quyền lực này. Lý Uyên chỉ còn một sự lựa chon duy nhất là Lý Thế Dân, con trai dòng đích duy nhất còn sống sót. Năm 626, Lý Uyên nhường ngôi cho Lý Thế Dân, người mà về sau đã đưa đất nước Trung Quốc quay trở lại thời thịnh vượng và vàng son. === Trinh Quán chi trị (626 - 649) === === Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên (650 - 705) === Tuy nhiên, người thừa kế của Thái Tông Lý Thế Dân là Cao Tông lại là một người ốm yếu nhu nhược, và là nguyên nhân làm cho Trung Quốc rơi vào xung đột và giết chóc. Quá trình hỗn loạn này bắt đầu khi người thiếp của Cao Tông là Võ Tắc Thiên, tìm cách thúc đẩy ông ta đưa bà lên thay hoàng hậu. Võ Tắc Thiên dùng những phương cách truyền thống để tống khứ những kẻ đối nghịch: bà giết hoàng hậu cùng một số kẻ khác. Võ Tắc Thiên trở thành Hoàng hậu, và bà đày ải, giết hại và bắt hàng chục quan chức lớn tuổi tự sát. Vua Cao Tông phải chịu một sự khủng hoảng trong 11 năm cầm quyền của mình, trở nên yếu đuối và tầm thường. Võ Hậu củng cố hơn nữa quyền lực của mình. Bà giết các tôn thất họ Lý mà bà coi là đối thủ, và bà đưa các thành viên gia tộc của mình lên nắm quyền. Năm 690, bà phế truất chính người con của mình là Lý Đán để tự mình lên làm vua khi đã 67 tuổi, lập nên một triều đình ngắn ngủi với danh hiệu là Chu. Võ Tắc Thiên là vị Nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Bằng cách sử dụng những kẻ chỉ điểm, bà lập lên một chính quyền cai trị dựa trên sự sợ hãi. Bà thanh lọc các trí thức Khổng giáo và các thành phần chống đối khác. Nhưng bà cũng xây dựng lên một nền tảng chính trị bằng cách cung cấp đủ những nhu cầu công cộng và thăng chức cho những vị quan ủng hộ mình. Bà rất sùng kính đạo Phật và tập trung quanh mình những người đàn ông sùng đạo như bà, các nhà sư và ra lệnh dựng chùa ở mọi quận huyện. Khi tuổi đã già, nữ hoàng họ Võ mất dần quyền kiểm soát triểu đình, và năm 705 các quan lại ở triều buộc bà rút lui để trả lại ngôi vua cho một người con của bà là Lý Hiển, vốn đã bị bà phế truất vào năm 684. === Biến loạn trong hoàng tộc (705 - 712) === Trung Tông Lý Hiển trở lại ngai vàng và cai trị tới tận khi ông chết vào năm 710 - vợ ông, hoàng hậu họ Vi, bị nghi ngờ đã đầu độc ông. Vi hậu tìm cách cai trị giống như Võ hậu. Bà bán chức tước và quyền làm sư sãi, và bà cũng đứng đằng sau những vụ tham nhũng trong triều. Bà đã tạo ra các đối thủ mà bà không thể tiêu diệt, và họ đã tập hợp lực lượng để làm cuộc đảo chính giết chết Vi hậu, đưa vị vua vốn cũng bị Võ Tắc Thiên phế truất là Lý Đán trở lại ngai vàng. Đến lượt các đồng minh này lại đánh nhau. Tuy nhiên, cuộc tranh giành quyền lực nhanh chóng kết thúc với ưu thế tuyệt đối của một hoàng tử nhà Đường, người được kế thừa ngôi vua vào năm 712, Huyền Tông Lý Long Cơ. === Thịnh Đường (712 - 755) === Huyền Tông lên nắm quyền ở tuổi 28 và ở ngôi 44 năm. Ông năng động và can đảm, và dưới thời ông, sự thịnh vượng quay trở lại. Nhưng vào những năm cuối đời ông ngày càng bị lôi cuốn vào tư tưởng Đạo giáo và không quan tâm đến cai trị nữa. Sau năm 745 ông say mê một người thiếp của mình là Dương Quý Phi và bỏ rơi triều chính. Triều đình trở nên hỗn loạn bởi sự tranh giành ảnh hưởng của các đại thần trong triều và các quân phiệt địa phương. Trung Quốc nhanh chóng lại rơi vào tình trạng suy sụp. Năm 715, các đội quân Hồi giáo đánh bại Trung Quốc ở Trung Á, cắt đứt con đường dẫn tới phía tây và Ấn Độ của Trung Quốc. Những người Hồi giáo thay thế người Trung Quốc trong vị thế ảnh hưởng thống trị dọc theo Con đường tơ lụa, và các tiểu quốc bộ tộc ở biên giới Trung Quốc dần dần có nhiều ảnh hưởng. Năm 755, An Lộc Sơn, một vị tướng có nguồn gốc Đột Quyết và là tình nhân của Dương Quý Phi tiến đánh kinh thành Trường An, buộc Huyền Tông và triều thần phải lưu vong. Cuộc bạo loạn này tuy chỉ kéo dài trong 8 năm (756-763) và con Huyền Tông là Lý Hanh cuối cùng cũng lấy lại được ngai vàng, nhưng cuộc tranh quyền lực giữa các đại thần trung ương và các tiết độ sứ địa phương vẫn diễn ra gay gắt. Trong cuộc tranh giành quyền lực triều đình, bất ngờ trỗi lên một lực lượng thứ ba. Đó là nhóm các vị hoạn quan. Nhóm này tỏ ra biết các luồn lách khéo léo, lợi dụng của hai bên kia để nắm được quyền lực triều đình. Ở những năm cuối của triều Đường, các hoạn quan hoàn toàn thao túng triều đình, thậm chí có thể lựa chọn người sẽ lên làm vua. Trong 22 vị hoàng đế của nhà Đường, thì đã có 10 vị do các hoạn quan lập nên. Tất cả đều ở những năm cuối cùng của triều Đường. === Mầm mống suy vong xuất hiện === Từ năm 742 (niên hiệu Thiên Bảo), Huyền Tông sa vào hưởng lạc, đồng thời giai cấp thống trị nhà Đường cũng có cuộc sống xa hoa. Sự tiêu pha lãng phí của triều đình tuy vậy lại trái ngược với đời sống của dân chúng do họ đã bị vắt kiệt qua sưu cao thuế nặng khiến nhiều người bỏ trốn, chế độ binh dịch lại trở nên nặng nề để phục vụ cho những cuộc chiến với các nước khác. Trong triều đình, lực lượng hoạn quan bắt đầu có nhiều quyền hành, vua lại tin dùng gian thần Lý Lâm Phủ (683 – 753) vốn là người chỉ giỏi xu nịnh, ngoài ra dòng họ của Dương Ngọc Hoàn là vợ yêu của vua cũng có thế lực lớn mạnh trong triều, đứng đầu là Dương Quốc Trung, là người không khác gì Lý Lâm Phủ. Lý Lâm Phủ kiến nghị Huyền Tông đặt ra chính sách tiết độ sứ, chuyên nghiệp hóa binh lính vùng biên cương làm cho quyền lực triều đình không còn đủ sức kiểm soát phiên trấn gây ra tình trạng “trong nhẹ ngoài nặng”, đây là mầm mống cho loạn An Lộc Sơn bùng nổ. Những đại thần trung lương không còn được tin dùng bắt đầu rút khỏi triều đình gần hết. Nền tảng của Khai Nguyên thịnh thế đã bị chính một tay Huyền Tông dựng nên và phá hủy. Tại vùng Hà Bắc tập trung nhiều người dân tộc thiểu số tập trung sinh sống chủ yếu gồm người Khiết Đan và Đột Quyết, họ vốn chỉ thuần phục nhà Đường trên danh nghĩa, từ thập niên 40 của thế kỷ 8 quan hệ giữa triều đình với người thiểu số Đông Bắc lại diễn biến theo chiều hướng xấu, mở đường cho An Lộc Sơn khởi loạn từ khu vực này. Ở Tây Vực nhà Đường đại bại trong trận Talas trước người Hồi Giáo (751), khiến cho Tây Vực không còn phụ thuộc nhà Đường nữa. Hai khu vực nhạy cảm nhất của triều đình (Tây Bắc và Đông Bắc) đã gần như thoát ly chính quyền trung ương làm cho triều đình bị đe dọa nặng nề về mặt an ninh. === Loạn An - Sử (755 - 762) === === Tạm trị lần 1 (762 - 820) === Từ sau loạn An - Sử, nhà Đường bắt đầu suy vi liên tục khi chứng kiến quyền lực của các tiết độ sứ địa phương ngày càng gia tăng, đồng thời quyền lực của thế lực hoạn quan nổi lên từ cuối thời Đường Huyền Tông bắt đầu thao túng triều đình và lấn át cả quyền quyết định của hoàng đế, khiến nhà vua phải tiến hành các chiến dịch để tiêu diệt các hoạn quan lộng quyền. Các vua Đường từ Túc Tông đến Hiến Tông hầu như đều là các hoàng đế có năng lực, tuy nhiên những căn bệnh của đế quốc đã bị loạn An - Sử làm cho trở nên trầm trọng khiến cho những nỗ lực của triều đình chỉ đủ sức duy trì được ngai vàng. Trong thời kỳ này, tiêu biểu là sự biến Phụng Thiên do các trấn nổi dậy làm loạn đã khiến Đường Đức Tông phải chạy khỏi kinh thành đến Phụng Thiên (783) và cuộc loạn chính của tập đoàn hoạn quan buộc Đường Thuận Tông phải thoái vị (806), cuộc Vĩnh Trinh duy tân do ông khởi xướng cũng bị dừng lại. Dù vậy những cố gắng của họ đã tạo ra một thời kỳ ổn định tương đối kéo dài 58 năm (762 - 820), mà đỉnh cao là Nguyên Hòa trung hưng dưới thời Đường Hiến Tông (805 - 820), đây là thời kỳ các tiết độ sứ quy thuận triều đình trước khi cát cứ trở lại sau khi Hiến Tông qua đời. === Tan rã lần 1 (820 - 846) === Sau Nguyên Hòa trung hưng nhà Đường bước vào giai đoạn tan rã bước đầu khi Đường Mục Tông lên ngôi và sau đó là ba người con trai của ông (Kính Tông, Văn Tông và Vũ Tông), thời kỳ này kéo dài 26 năm từ 820 đến 846 khi các tiết độ sứ trở lại uy hiếp triều đình và hoạn quan thực hiện việc giết vua (Kính Tông bị hoạn quan Lưu Khắc Minh ám sát). Đường Văn Tông và Vũ Tông đã thực hiện một số cải cách để cứu vãn đế quốc nhưng mang lại hiệu quả thấp, sự biến Cam Lộ dưới thời Văn Tông đã không thể tiêu diệt được hoạn quan khiến hoàng đế bị hoạn quan quản thúc cho đến khi qua đời. Đường Vũ Tông tiến hành chiến dịch đàn áp tôn giáo nhưng không đem lại hiệu quả thiết thực mà chỉ gây thêm sự bất mãn trong nhân dân. Trong thời Vũ Tông Lý Viêm, vốn là người theo Đạo giáo, ông cho đóng cửa chùa Phật giáo, bắt sư sãi đạo Phật phải hoàn tục và tịch thu hàng triệu mẫu đất trồng trọt cho nhà nước sử dụng. Đạo Phật ở Trung Quốc sống sót nhưng không bao giờ đạt lại được mức cũ, trong khi đối thủ của Phật giáo, Khổng giáo lại hồi phục lại trong giới trí thức. Đạo giáo tuy được trọng dụng nhưng không phát triểu được thành quốc giáo. Tuy nhiên, những người theo Đạo giáo đã kiếm lợi được từ việc thực hiện các thí nghiệm hóa học. Những người theo Khổng giáo xem đó như là một phần của sự thô tục của Đạo giáo – như thuộc về những người bình dân. Những nhà Nho vốn có thành kiến xấu về khoa học, điều này đã làm cho khoa học ở Trung Quốc chậm phát triển. Nho giáo tin tưởng việc học tập tốt nhất là dành cho văn học và lịch sử - những kiểu văn học và lịch sử của họ. === Tạm trị lần 2 (846 - 859) === Giai đoạn tan rã bước đầu tạm thời kết thúc khi Đường Tuyên Tông lên ngôi (846-859), ông vốn là con thứ 13 của Hiến Tông và đã sống an vị với tước hiệu Quang Vương trong suốt triều đại của anh ông (Mục Tông) và các con của Mục Tông, trong thời kỳ này ông thường được xem là bị đần. Nhưng Tuyên Tông đã bắt đầu hoàng vị của mình với sự thông sáng và mẫn tiệp lạ lùng, khiến cho các hoạn quan đưa ông lên ngôi - những kẻ âm mưu muốn chọn người đần độn để dễ bề thao túng, kinh hoàng tột độ. Vì thế trong thời này quyền hành của chúng tạm thời bị thu hẹp. Năm 847, nhà Đường thu phục được các vùng lãnh thổ bị Thổ Phiên chiếm được sau loạn An - Sử. Thời kỳ này được gọi là Đại Trung tạm trị. Tuyên Tông được đánh giá là hoàng đế giỏi thứ ba của nhà Đường sau Thái Tông và Huyền Tông. Năm 859, Tuyên Tông mắc bệnh do lạm dụng đan dược nhằm mong trường sinh bất tử. Ông đã dự định lập con thứ tư Lý Tư làm người kế vị, nhưng phút cuối cùng Lý Ôn – người con vốn không được ông yêu quý đã lên ngôi sau khi Tuyên Tông băng đột ngột. Đường Ý Tông sớm tỏ ra là người nối ngôi không phù hợp với lối sống xa xỉ, bỏ bê triều chính. Nhà Đường bước vào giai đoạn tan rã lần hai trước khi sụp đổ hoàn toàn, giai đoạn này kéo dài 47 năm (860 - 907). === Tan rã lần 2 (860 - 907) === Thời kỳ tan rã lần hai chứng kiến những sự kiện thảm khốc nhất trong lịch sử nhà Đường bao gồm sự biến Bàng Huân và đỉnh cao là loạn Hoàng Sào (875 - 884) đã đánh một đòn trí mạng vào chút quyền lực còn sót lại của nhà Đường, đã tàn phá nghiêm trọng trên toàn lãnh thổ bao gồm cả Quảng Châu, là một trung tâm ngoại thương quan trọng của chính quyền. Vua Đường Hy Tông đã phải chạy trốn trước sự uy hiếp của quân nổi loạn, một sự kiện tương tự như cuộc trốn chạy của Đường Huyền Tông trong loạn An - Sử hơn 100 năm trước. Hoàng Sào thậm chí đã chiếm được Trường An, xưng đế và đặt quốc hiệu Đại Tề, bề ngoài tuy hô hào vì bách tính nhưng triều chính mau chóng hủ bại ngay khi chiếm được kinh đô, chỉ biết tàn sát dân chúng. Tuy cuộc nổi loạn cuối cùng bị dẹp tan nhưng một tướng của Hoàng Sào đã đầu hàng triều đình là Chu Ôn đã nhanh chóng nắm được quyền trong triều, sau này Chu Ôn cướp ngôi và thành Thái Tổ Nhà Hậu Lương. Đường Chiêu Tông (888 - 904) là em Hy Tông được Dương Phục Cung đưa lên nối ngôi đã tiến hành các hoạt động quân sự để cứu vãn đế quốc khỏi sụp đổ và chia cắt nhưng đều phản tác dụng. Thông minh và anh tuấn lạ thường như tổ phụ mình là Huyền Tông, cũng như ông nội Tuyên Tông, ông đã dấy nên niềm hy vọng trong triều đình và dân chúng về một sự phục hưng mới, nhưng tình trạng đế quốc Đường đã quá bi đát để thay đổi. Thời gian 16 năm ở ngôi của ông là một quá trình phân ly - tái hợp trong mối quan hệ với các tiết độ sứ, quá trình này không thành công trong việc giúp nhà Đường khỏi sụp đổ mà chỉ "tạo hình" ra các vùng lãnh địa sẽ chính thức ly khai sau năm 907. Tuy nhiên ở góc độ tích cực, các nỗ lực của Chiêu Tông đã làm cho quyền lực của nhà Hậu Lương hết sức hạn chế sau khi thành lập, chỉ quản lý được vùng Hoa Bắc, và triều Đường vẫn còn được sự hy vọng phục hưng từ các tiết độ sứ khác, chỉ khi đã hết hy vọng họ mới bắt đầu xưng đế và lập quốc. Ban đầu Chiêu Tông tấn công hai tiết độ sứ Trần Kính Tuyên ở Tứ Xuyên và Lý Khắc Dụng ở Sơn Tây nhưng thất bại, khiến triều đình rơi vào khánh kiệt, tuy nhiên năm 891, Vương Kiến đã đánh bại được Trần Kính Tuyên và kiểm soát Tứ Xuyên. Sau đó hoạn quan Dương Phục Cung mâu thuẫn với vua và nổi loạn tại Sơn Nam tây đạo, năm 892 Lý Mậu Trinh đánh bại họ Dương và chế nhạo nhà vua kém cỏi. Năm 893, Chiêu Tông tức giận điều quân đánh họ Lý nhưng cũng thất bại, vua phải cho ông nắm quyền trên các quân mà ông ta mong muốn. Năm 896, Lý Mậu Trinh đưa quân đến Trường An uy hiếp hoàng đế, Chiêu Tông chạy đến Hoa Châu, chịu sự giám sát của Hàn Kiến - vốn là đồng minh của Lý Mậu Trinh. Năm 898, Chiêu Tông giảng hòa với Mậu Trinh về lại Trường An. Dù có các hành động lạm dụng quyền hành, Lý Mậu Trinh lại là một tiết độ sứ trung quân, các chiến dịch của ông chủ yếu nhằm chiếm sự tin tưởng của nhà vua. Sau khi trở về kinh đô, Chiêu Tông trở nên trầm cảm, ông giết một số hoạn quan khiến họ lo sợ và tiến hành binh biến trong cung buộc ông thoái vị để nhường ngôi cho con trưởng là Lý Dụ vào năm 900, song Thôi Dận liên kết với Chu Ôn đã phục vị cho ông vào năm 901, các hoạn quan gây loạn đều bị giết. Tuy nhiên ngay sau đó, quyền lực của hoạn quan lại nổi lên, Thôi Dận giục Chu Ôn tiến quân về Trường An tiêu diệt hoạn quan vì thế hoạn quan buộc vua cùng hoàng gia chạy đến Phượng Tường. Chu Ôn sau đó hạ thành Phượng Tường. Hoàng đế rơi vào sự kiểm soát của Chu Ôn. Năm 903, lực lượng hoạn quan bị Chu Ôn đồ sát toàn bộ khi ông ta và hoàng đế trở về Trường An. Sang năm 904, Chiêu Tông bị Chu Ôn ép dời đô đến Lạc Dương, ông cố gắng bí mật liên lạc để kêu gọi sự giúp đỡ từ các tiết độ sứ hùng mạnh khác như Lý Khắc Dụng và Dương Hành Mật nhưng không được hồi đáp cũng như hỗ trợ ngay lúc đó. Vào cùng năm này, Chu Ôn cho người ám sát ông và lập con là Lý Tộ lên ngôi, tức Đường Ai Đế (904 - 907). Ai Đế ở ngôi trong ba năm cuối cùng của Nhà Đường, đánh dấu sự kết thúc hoàn toàn quyền lực của hoàng đế. Ngay năm sau (905), Chu Ôn tiến hành giết sạch các quan lại triều đình gồm khoảng 30 người và ném xác xuống sông, đây gọi là Bạch Mã chi họa. Sau đó, toàn bộ các con của Chiêu Tông cũng bị giết nốt, chỉ còn sót lại Ai Đế. Cuối cùng năm 907, Chu Ôn buộc Ai Đế nhượng vị, nhà Đường chính thức diệt vong. Ai Đế bị đưa đến Sơn Đông và bị quản thúc chặt chẽ trong một phủ có hàng rào kẽm gai bao quanh. Đến năm 908, Chu Ôn giết nốt ông bằng rượu độc. Ai Đế có thể là người cuối cùng trong hoàng tộc Đường ở Hoa Bắc còn sống đến thời điểm đó. Tuy nhiên khả năng vẫn còn nhiều thành viên hoàng tộc vẫn sống sót tại Giang Nam, nơi nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà Hậu Lương. Nhà Hậu Đường (923 – 936) sau này thành lập trên danh nghĩa kế tục nhà Đường nhưng các vua Hậu Đường chỉ là những người được ban cho quốc tính (họ Lý) trong khi họ là người Sa Đà - một dân tộc Đột Quyết. Sự duy trì quyền lực của họ Lý thật sự có thể đã được tiếp tục ở Giang Nam khi Lý Biện thành lập nước Nam Đường (937 - 975) sau khi Hậu Đường sụp đổ, ông tự xưng là cháu nhiều đời của Đường Hiến Tông dù ít có bằng cớ nào chứng minh. Nam Đường đã trở thành quốc gia mạnh và văn minh nhất ở phương nam, vào thời kỳ đầu nước này thậm chí còn có năng lực tiến hành Bắc phạt nhưng cuối cùng đã chịu thất bại trước nhà Tống. Năm 907 được xem là năm bản lề trong lịch sử Trung Quốc khi nó mở ra một giai đoạn dài suy thoái về khả năng kháng cự của người Hán trước các dân tộc xung quanh, và cũng kết thúc thời kỳ vinh quang nhất của Trung Quốc. Các triều đại nhà Tống, nhà Minh dù thống nhất được lãnh thổ nhưng không thể lấy lại được uy danh như trước kia và cuối cùng bị đánh bại bởi người Mông Cổ, Nữ Chân. == Ngũ đại Thập quốc == Năm 907, một lãnh chúa là Chu Ôn lật đổ ngai vàng nhà Đường và lập lên triều Lương, một trong năm triều đại ngắn ngủi kế tiếp nhau thống trị bắc Trung Quốc trong nửa thế kỷ: Hậu Đường (923-936), Hậu Tấn (936-947), Hậu Hán (947-950), Hậu Chu (951-959). Ở phía nam, các lãnh chúa cát cứ vùng đất của mình và lần lượt thành lập mười tiểu quốc nhỏ và không ngừng tìm kiếm phương cách để thôn tính lẫn nhau: Tiền Thục, Hậu Thục, Ngô, Ngô Việt, Nam Đường, Mân, Sở, Nam Hán, Nam Bình. Tới năm 951, một hoàng thân nhà Hậu Hán chiếm giữ vùng Thái Nguyên lập ra nước Bắc Hán. Thời kỳ này, người Trung Quốc gọi là Ngũ Đại Thập Quốc. Ở cực bắc Trung Quốc, những bộ tộc người du mục và bán du mục nhiều sắc tộc đã thống nhất lại thành một vương triều vào năm 916, một chính quyền chiếm hữu nô lệ hoàn chỉnh với tên gọi là Khiết Đan, đôi lúc gọi là Liêu. Thậm chí, họ còn phát triển thế lực mạnh mẽ, chiếm hữu của người Trung Quốc vùng lãnh thổ cực bắc, vùng đất bao gồm cả thành phố Bắc Kinh ngày nay, tới tận khi nhà Tống chấm dứt được cục diện chia cắt mười nước vẫn không lấy lại được vùng đất đó. == Nhà Tống == === Thống nhất lãnh thổ === Năm 960, trong khi Trung Quốc ở vào tình trạng rối ren, vị tướng phụ trách an ninh nơi cung cấm ở thủ đô mới Khai Phong là Triệu Khuông Dận nhân khi vua nhà Hậu Chu mới lên ngôi còn bé, bèn làm binh biến lên làm vua. Ông lập ra Nhà Tống. Tống Thái Tổ cai trị trong 16 năm. Ông có công lớn trong việc thống nhất lãnh thổ Trung Quốc trở lại, chấm dứt thời Ngũ Đại đầy chia cắt. Trước khi Tống Thái Tổ đánh dẹp, các nước phía nam đã tự triệt hạ lẫn nhau và chỉ còn lại Nam Đường, Nam Hán, Nam Bình và Hậu Thục. Ông ra quân tiêu diệt các nước này. Trong 10 nước trước đây chỉ còn lại Bắc Hán và vùng đất Yên Vân mà Thạch Kính Đường đã dâng cho người Khiết Đan năm 936 là chưa khôi phục được. Ông và người kế tiếp (em ông, là vua Tống Thái Tông) thống nhất những phần lãnh thổ Trung Quốc không bị người nước ngoài cai trị - chinh phục từng quận huyện, và ngăn cản quân lính không cướp bóc dân địa phương, ân xá cho các thủ lĩnh quân đội địa phương đã chống lại ông. Các thủ lĩnh địa phương được cho về nghỉ với khoản lương hưu lớn, và họ bị thay thế bởi các quan hành chính dân sự. Kiểu chính trị giết hại và chiến tranh dường như đã kết thúc. === Thời kỳ thịnh vượng và đỉnh cao văn hóa === Sự thống nhất về chính trị giúp mang lại sự thịnh vượng. Các nguồn lợi dưới thời nhà Tống lớn gấp ba lần thời nhà Đường. Cuộc sống dễ chịu phát triển, và nghệ thuật nảy nở với sự phát triển dân số. Các thành phố - thủ đô văn hóa - trở nên đông đúc hơn. Những người chủ đất cũng mò về đấy, và những người giàu có thì hàng đống. Các khu vườn điểm tô cho thành phố. Có các trung tâm vui chơi, với các tiệm trà hay rượu, các nhà chứa, rạp hát, múa rối, xiếc và tung hứng – trong khi có rất ít người lo ngại về tính trái đạo đức của tình trạng thái quá. Trung Quốc xây dựng một nền công nghiệp sắt lớn - nền tảng cho một xã hội công nghiệp hiện đại. Sản lượng gang hàng năm của họ gấp đôi sản lượng của Anh vào những năm 1700. Các tàu buôn Trung Quốc có số lượng rất lớn, và ngày càng tăng. Số lượng thương mại tăng lên. Nhưng Trung Quốc vẫn ở dưới ảnh hưởng của Khổng giáo, và các nhà Nho không coi trọng thương mại. Ở Trung Quốc, khi một ai đó có tiền dư từ thương mại thì thay vì đầu tư vào sản xuất anh ta lại mua đất và sau đó được kính trọng. Một vị thương gia độc lập và sáng tạo ở Trung Quốc không tìm cách tăng ảnh hưởng chính trị và quyền lực như ở Anh. Vì thế cả thương mại tư nhân và doanh nghiệp công nghiệp tư nhân không hề phát triển. Dưới thời nhà Tống, các doanh nghiệp không thuộc nhà nước được phát triển tự do nhưng các nhà buôn vẫn phụ thuộc vào quan chức chính phủ. Việc trả cho họ một phần coi như là đóng góp cho hoạt động của chính phủ và quà cáp cá nhân là công việc bắt buộc khi làm ăn. Các doanh nghiệp tư nhân trồng trọt và buôn bán nhỏ phát triển nhưng không theo kiểu tích lũy tài sản cần thiết cho sự phát triển tư bản. Trung Quốc vẫn là một nước nông nghiệp với giới nhà nho và một chút ít người thuộc các trường phái khác. Con đường tốt nhất để phát triển cho một người bình thường là vào quân đội. Con đường vào chính phủ - làm việc hành chính - vẫn bị ngăn chặn đối với những người đó nếu họ không thuộc những gia đình giàu có. Như ở đa phần các nền văn minh khác, phụ nữ không có tài sản, và họ không được giáo dục. Hơn nữa khả năng làm việc của họ cũng bị hạn chế. Việc bó chân trở thành mốt. Nó bắt đầu từ tầng lớp quý tộc. Việc có được một bàn chân nhỏ, biến dạng được đàn ông coi là gợi tình, và khả năng cung cấp cho một phụ nữ không thể đi lại mà không được giúp đỡ được coi là dấu hiệu của sự giàu có. Nhanh chóng, đàn ông ở tầng lớp dưới cũng thích phụ nữ có cái chân kiểu đó, và nó trở thành thông tục tới mức những người phụ nữ có bàn chân bình thường bị coi là quái đản. Bó chân là một quá trình dài và đau đớn trong thời gian phát triển của cô gái. Và ngoài những sự khó chịu cho việc tạo ra đôi bàn chân biến dạng, nó còn làm giảm khả năng lao động của phụ nữ, họ chỉ có thể đi tập tễnh trong nhà và làm nội trợ. Trung Quốc đang ở đỉnh cao về kinh tế và văn hóa. Họ có giấy viết, máy in di chuyển được và ngành in. Trung Quốc có thuốc súng, vũ khí bằng kim loại và những thứ sơ khai của tên lửa. Nhưng về mặt quân sự Trung Quốc không mạnh. Các quan chức bản thân là nhà Nho là những người chịu trách nhiệm về sự yếu kém của quân đội. Tầng lớp Nho giáo ưu tứ luôn muốn có hòa bình. Họ coi binh lính là nhóm người thấp nhất trong mọi nhóm. Rèn luyện thể chất và các kỹ năng chiến đấu không được quý trọng. Trung Quốc có quân đội nhưng không có tầng lớp chiến binh chuyên nghiệp, và quân đội của họ cũng bị sao lãng, ít quan tâm tới các chiến thuật tác chiến. Các buổi tập trận và kỷ luật quân đội bị coi nhẹ. Trung Quốc tìm cách thỏa mãn nhu cầu quân sự của mình bằng cách mướn lính đánh thuê nhưng bản thân điều này chưa đủ giải quyết tình hình. === Tính tự phụ và sự yếu kém quân sự === Tính tự phụ của tầng lớp ưu tú Trung Quốc làm họ tin rằng họ không cần phải điều chỉnh lại thực tế quân sự. Họ tin rằng các nước láng giềng sẽ nể sợ sự vĩ đại của Trung Quốc cùng sự ưu ái của Thượng đế với họ. Thực thi Khổng giáo, họ tin rằng nếu quốc gia Trung Quốc chỉ cần đơn giản thực thi nhiều đạo đức hơn thì các vị vua láng giềng sẽ phải tỏ ra kính trọng Trung Quốc một cách đầy đủ, rằng họ sẽ công nhận vai trò đích thực của Trung Quốc như một siêu cường và sẽ phải nộp cống đầy đủ cho Trung Quốc. Trung Quốc đã không thể đối mặt với sự thật rằng sức mạnh quân sự của họ đã luôn bị thử thách với những cuộc chạm trán liên tục với người Khiết Đan, một dân tộc sống ở hầu hết vùng Mãn Châu và đang chiếm đóng vùng cực bắc của họ. Sau khi nhiều lần bị người Khiết Đan đánh bại, Tống Chân Tông, năm 1004 đã ký một thỏa ước với người Khiết Đan, nhường lại vĩnh viễn cho người Khiết Đan phần đất Trung Quốc mà họ đang chiếm, gồm cả Bắc Kinh và ông đồng ý triều cống hàng năm cho họ. Ở tây bắc, người Trung Quốc chiến đấu chống lại nước Tây Hạ của người Đảng Hạng (Tangut) – và Trung Quốc cũng phải chịu với người Tây Hạ điều họ chịu với người Khiết Đan, cho phép Tây Hạ chiếm đất đai Trung Quốc. Năm 1044, Trung Quốc có hòa bình với người Tây Hạ bằng cách đồng ý nộp cống giống như nộp cống cho người Khiết Đan. === Khó khăn tài chính === Các vua nhà Tống bắt đầu cảm thấy sự thiếu thốn về thuế. Dân số tăng vượt quá mức tăng kinh tế. Các chi phí chiến tranh cộng với chi phí ở biên giới phía bắc làm chảy máu nền kinh tế Trung Quốc, cũng như chi phí tăng kỷ lục cho bộ máy quan liêu. Hơn nữa, sự quan liêu còn bị chia sẻ bởi các phe cánh đưa ra các biện pháp khác nhau nhằm về vấn đề cải cách thuế và phân phối ruộng đất. Các cuộc cải cách đó không thành công, cũng như các cuộc cải cách trước dưới thời nhà Hán, và với cùng một lý do: sự chống đối từ đa phần tiểu quý tộc Khổng giáo, những người coi quyền lợi kinh tế riêng quan trọng hơn quyền lợi chung. Năm 1101, vị vua lúc bấy giờ là Huy Tông, cũng là một nhà thơ, một nhà thư pháp và sùng Đạo giáo. Huy Tông chi rất nhiều tiền cho những cuộc rước xách Đạo giáo rất tốn kém và cho việc bảo dưỡng cung điện cùng các vườn hoa. Giai đoạn này ông cũng tăng thuế. Mặc khác, cùng với việc các quan lại trong triều cũng không biết gì nhiều về kinh tế, các giải pháp của họ nhằm tránh bội chi là in thêm tiền. Dẫn đến lạm phát và thuế tăng tạo nên nổi loạn, và Tống Huy Tông dẹp tan các cuộc nổi loạn như một phần hoạt động của đế chế thiên tử của ông cần thực hiện. === Tai họa từ nước Kim === Sau đó Huy Tông quyết định tăng thêm các thành công của mình bằng cách giải phóng Bắc Kinh khỏi sự cai trị của người Khiết Đan. Biết rõ sự yếu kém của quân đội Trung Quốc, ông liên minh với người Nữ Chân ở Mãn Châu. Người Nữ Chân là nhiều bộ tộc bên trong vương triều Liêu của Khiết Đan. Người Nữ Chân nổi loạn chống lại sự cai trị của Khiết Đan, và năm 1125 người Nữ Chân đã làm được điều mà Trung Quốc với dân số đông đảo của mình không làm được: đánh bại Khiết Đan, thành lập nhà Kim. Sau đó người Nữ Chân quay lại tấn công Tống và tiến sâu hơn nữa vào Trung Quốc, tràn qua thủ đô Tống là Khai Phong vào năm 1126. Tống Huy Tông và những bầy tôi trung thành nằm trong số khoảng 3.000 người bị Nữ Chân bắt làm tù binh, và Huy Tông bị chết trong cảnh giam cầm. Từ Nữ Chân, một triều đại tên là Kim lên cai trị ở vùng đông bắc Trung Quốc. Ở phía tây bắc Trung Quốc người Tây Hạ cai trị - ở vùng, giống như đông bắc, từ lâu là nơi có nhiều sắc tộc, với những người thuộc tộc Hán là thiểu số. Về mặt dân tộc, Trung Quốc không có biên giới phía bắc - kết quả của những cuộc di cư và đổ bộ vào Trung Quốc trong nhiều thế kỷ qua và người Trung Quốc đã di cư đến những vùng ở miền bắc. Người con trai thứ chín của Huy Tông sống sót và tiếp tục vương triều Tống ở miền Nam Trung Quốc ở đồng bằng phía nam sông Dương Tử, và kéo dài về phía tây tới tỉnh Tứ Xuyên. Một lần nữa, Trung Quốc chỉ còn giữ được vùng phía nam, triều đình ở đó được gọi là nhà Nam Tống. Và nhà Nam Tống lại tìm cách chinh phục phía bắc. == Nhà Nguyên == === Thành Cát Tư Hãn === Các hiệp sĩ với các cuộc đấu trên lưng ngựa, vũ khí và các biểu tượng của tổ tiên, tin rằng họ là các chiến binh đầu tiên trên thế giới, trong khi các chiến binh Mông Cổ lại nghĩ khác. Những con ngựa Mông Cổ nhỏ bé nhưng những kỵ binh trên lưng nó trang bị nhẹ và họ di chuyển với tốc độ cao. Đó là những người dày dạn, lớn lên trên lưng ngựa và săn bắn, làm họ trở thành những chiến binh tốt hơn những người sống trong xã hội nông nghiệp và các thành phố. Vũ khí chính của họ là cung và tên. Và những người Mông Cổ đầu những năm 1200 có kỷ luật cao, phối hợp tốt và có thủ đoạn khôn ngoan. ==== Người Mông Cổ ==== Người Mông Cổ mù chữ, tin vào bái vật giáo, dân cư thưa thớt, có lẽ chỉ vào khoảng 700.000 người. Ngôn ngữ của họ hiện được miêu tả là kiểu Altaic – có nguồn gốc từ vùng núi Altay ở phía tây Mông Cổ - một ngôn ngữ không liên quan tới ngôn ngữ Trung Quốc. Họ là những kẻ du mục trên những đồng bằng cỏ mọc phía bắc sa mạc Gô bi và phía nam các cánh rừng Siberi. Trước năm 1200, người Mông Cổ bị chia lẻ thành những nhóm nhỏ do một thủ lĩnh dẫn đầu gọi là hãn, và sống trong những cái lều da có thể mang đi được gọi là ger. Người Mông Cổ thường phải chịu cướp bóc và chăn thả lẻ tẻ. Họ thường đánh nhau để giành bãi chăn, và trong thời khó khăn họ thỉnh thoảng đi cướp bóc, thích cướp đồ đạc hơn là đổ máu. Họ không sưu tập đầu lâu hay da đầu làm chiến lợi phẩm và không khía lên gỗ để ghi lại số người đã giết. ==== Thiết Mộc Chân ==== Từ khi sắp trưởng thành đến tuổi ba tám vào năm 1200, một người Mông Cổ tên là Thiết Mộc Chân (Temüjin) nổi lên làm hãn đối với nhiều gia đình. Ông là một nhà quản lý giỏi, khéo thu phục lòng dân. Ông là chư hầu của Vương Hãn (Ong Khan), người cầm đầu một liên minh các bộ lạc được tổ chức tốt hơn các liên minh Mông Cổ khác. Thiết Mộc Chân gia nhập với Vương Hãn trong một chiến dịch quân sự chống lại người Thát Đát (Tatar) ở phía đông, và tiếp theo sự thành công của chiến dịch đó Vương Hãn tuyên bố Thiết Mộc Chân là con nuôi và là người thừa kế của ông. Con trai của Vương Hãn, Tang Côn (Senggüm, 桑昆), vốn đã chờ đợi được nối ngôi cha và vạch kế hoạch ám sát Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân biết điều đó, và những người trung thành với Thiết Mộc Chân đã đánh bại những người trung thành với Tang Côn. Thiết Mộc Chân trở thành người đứng đầu cái từng là liên minh của Ong Khan. Và vào năm 1206, ở tuổi 42, Thiết Mộc Chân lấy danh hiệu là Thành Cát Tư Hãn (có nghĩ là Vị vua cai trị thế giới), và ông đưa những người ủng hộ mình lên làm quan để cảm ơn sự ủng hộ của họ. Giống như những người khác, dân chúng của Thành Cát Tư Hãn coi họ ở trung tâm của vũ trụ, là dân tộc vĩ đại nhất và được chúa trời ưu đãi. Họ coi những chiến thắng của Thành Cát Tư Hãn trong chiến tranh cho thấy ông chính là người chủ không chỉ của "dân tộc của những chiếc lều da" mà còn của cả thế giới. ==== Hãn của các hãn ==== Thành Cát Tư Hãn tiếp tục cải thiện tổ chức quân sự của mình, cũng là để biến nó thành một chính quyền quan liêu chính trị di động, và ông phá vỡ cái tồn tại còn lại của các bộ tộc thù địch, chỉ để lại tính đồng nhất về dân tộc những bộ tộc đã trung thành với ông. Ông tạo ra một khung luật pháp mà ông sẽ làm việc trong cả cuộc đời. Việc bắt cóc phụ nữ đã dẫn tới mối hận thù giữa những người Mông Cổ, và khi còn ở tuổi thanh niên, Thiết Mộc Chân đã phải chịu đau khổ vì người vợ trẻ của ông là Borte người ông tự nhủ phải giải cứu, bị bắt cóc, và ông lập ra luật cấm bắt cóc phụ nữ. Ông tuyên bố mọi đứa trẻ đều là hợp pháp, dù mẹ nó là người thế nào. Ông biến nó thành luật rằng không phụ nữ nào bị bán cho hôn nhân. Việc ăn trộm gia súc vốn là thứ bất đồng giữa người Mông Cổ, và Thành Cát Tư Hãn biến nó thành tội tử hình. Rất nhiều gia súc đã được trả về cho chủ, và việc chiếm giữ đồ bị mất cắp của người khác cũng bị coi như ăn cắp và cũng bị tử hình. Thành Cát Tư Hãn điều chỉnh lại việc săn bắn - một hoạt động mùa đông - cải thiện khả năng cung cấp thịt cho mọi người. Ông đưa ra việc lưu giữ số liệu bằng cách áp dụng kinh nghiệm của mình trước khi ông đặt ra chữ viết cho ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Ông tạo ra những con dấu chính thức. Ông đặt ra những quan chức cao cấp nhất về pháp luật, những người thu thập và giữ gìn tất cả các quyết định về phán xử, để kiểm soát các cuộc xử án những người có hành vi sai trái và có quyền ra lệnh xử tử hình. Ông cũng tạo ra thứ tự ở trong vương quốc của mình và làm nó mạnh mẽ hơn cũng như làm tăng khả năng bành trướng lãnh thổ của ông. === Các cuộc chinh phục ở miền bắc Trung Quốc === Thành Cát Tư Hãn liên minh với người Duy Ngô Nhĩ, về phía nam, những người ở gần Con đường tơ lụa hơn người Mông Cổ và vì thế cũng thịnh vượng hơn. Thành Cát Tư Hãn gả con gái cho hãn của người Duy Ngô Nhĩ, và vị hãn này mang tới làm đồ cưới một xe đầy vàng, bạc, ngọc trai, vải thêu, tơ tằm và satin. Người Mông Cổ chỉ có da, lông thú và nỉ dạ - một sự bẽ bàng đối với vị vua của cả thế giới. Thành Cát Tư Hãn cần chiến lợi phẩm để thưởng cho đội quân đang bảo vệ biên giới phía bắc của ông và khuất phục một kẻ thù cũ ở đó, người Miệt Nhi Khất (Merkit). Genghis hành động với tư cách người có quyền cai trị toàn bộ thế giới và tấn công những vị vua vùng chăn thả và trồng cấy khác ở vùng tây bắc Trung Quốc, người Tây Hạ vốn cũng có nhiều hàng hóa như người Duy Ngô Nhĩ. Về số lượng binh lính, người Mông Cổ nhiều gấp đôi, và họ phải học một kiểu chiến tranh mới, chống lại các thành phố phòng thủ vững chắc, gồm cả việc cắt đứt các đường tiếp tế và làm lệch dòng chảy của các dòng sông. Thành Cát Tư Hãn và đội quân của mình bách chiến bách thắng, và năm 1210 được người Tây Hạ chấp nhận là vị lãnh tụ tối cao. Cũng vào năm 1210, Nữ Chân, tộc người cai trị vùng phía bắc Trung Quốc gồm cả Bắc Kinh, gửi một phái đoàn tới Thành Cát Tư Hãn đề nghị người Mông Cổ chấp nhận làm chư hầu. Nữ Chân kiểm soát con đường thông thương hàng hóa dọc theo Con đường tơ lụa, và việc từ chối họ có nghĩa là không thể tiếp cận các hàng hóa ở đó. Thành Cát Tư Hãn và những người Mông Cổ bàn bạc và quyết định lựa chọn chiến Tranh. Theo nhà sử học Jacq Weatherford, Genghis đã một mình cầu nguyện trên một ngọn núi, cúi mình và trình bày trường hợp của mình lên "những người bảo vệ siêu nhiên" của ông, miêu tả sự bất bình, những sự tra tấn và giết hại mà nhiều thế hệ dân tộc ông đã phải chịu dưới bàn tay người Nữ Chân. Và ông biện hộ rằng ông không phải là người bày ra chiến tranh với người Nữ Chân và không gây nên những sự cãi nhau. Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn và quân đội của mình tấn công. Người Nữ Chân có một đội quân lớn và hiệu quả nhưng họ bị sức ép mạnh mẽ cả của người Mông Cổ và cả những cuộc chiến tranh biên giới với người Tây Hạ. Họ cũng bị Trung Quốc tấn công ở phía nam, vua Nam Tống muốn lợi dụng cuộc xung đột Nữ Chân-Mông Cổ để giải phóng miền bắc Trung Quốc. Nhưng người Nữ Chân đã buộc quân Trung Quốc phải tháo lui. Người Mông Cổ hưởng lợi từ việc người Trung Quốc luôn thua trận trong các thế kỷ trước để biến họ thành một quyền lực quân sự mạnh mẽ. Họ cũng lợi dụng việc Nữ Chân chế ngự mọi người. Người Mông Cổ sử dụng các mưu mẹo chinh phục và chia rẽ, sử dụng sự rộng lượng đối với những người sát cánh với họ và khủng bố và máu đối với những người không chịu. Họ tàn phá vùng nông thôn, thu thập tin tức và chiến lợi phẩm, đẩy dân chúng đi phía trước họ, cắt đứt các con đường, và nhốt người Nữ Chân trong các thành phố của họ, nơi người dân Nữ Chân chuẩn bị làm loạn. Họ dùng những lao động lính để tấn công các thành phố và trong việc điều hành các dụng cụ hãm thành Trung Quốc mà họ mới chiếm được. Người Mông Cổ có lợi thế ở khẩu phần ăn, gồm rất nhiều thịt, sữa và sữa chua, và họ có thể nhịn ăn một hay hai ngày tốt hơn lính Nữ Chân, những người ăn ngũ cốc. Thành Cát Tư Hãn và quân đội của mình vượt qua Bắc Kinh và lao vào vùng trung tâm miền bắc Trung Quốc. Các thành công quân sự làm cho người dân ở những vùng bị chiếm có cảm giác rằng Thành Cát Tư Hãn có được mệnh trời và rằng việc chống lại ông ta chính là chống lại trời. Vị vua Nữ Chân công nhận quyền lực Mông Cổ và đồng ý nộp cống, và, sau sáu năm chiến tranh, Thành Cát Tư Hãn quay trở lại Mông Cổ, để một trong những vị tướng giỏi nhất của mình ở lại những vị trí phòng thủ người Nữ Chân. Cùng quay về với Thành Cát Tư Hãn và đội quân Mông Cổ của ông là những kỹ sư, những người đã trở thành một bộ phận thường xuyên trong quân đội đó, và còn có cả những nhạc sĩ, phiên dịch, bác sĩ và người viết chữ, lạc đà và các toa xe hàng hóa bị tóm được. Trong số hàng có tơ, gồm cả áo tơ, đệm, chăn, áo choàng, thảm, tranh treo tường, đồ gốm, ấm sắt, vũ khí, nước hoa, đồ trang sức, rượu, mật ong, thuốc, đồng, bạc và vàng cùng nhiều thứ khác. Và hàng hóa từ Trung Quốc đã trở thành một dòng chảy bền vững. Người Mông Cổ rất mừng khi quay về quê nhà, đất đai quê hương họ cao, khô và lạnh hơn. Họ coi những người dân ở phía bắc Trung Quốc, những người ăn ngũ cốc như gia súc và sống gần nhau giống như những bầy vật nuôi. Nhưng họ thích những thứ mà Trung Quốc làm ra, và ở quê hương họ đã có sự thay đổi. Dòng chảy liên tục của hàng hóa Trung Quốc được cung cấp và phân phối công bằng và phải xây các khu nhà để tích trữ hàng hóa. Thành công trong chiến tranh đã làm thay đổi Mông Cổ - giống như người La Mã và người Ả rập cũng đã từng có. === Hốt Tất Liệt ở Trung Quốc và tiến tới Nhật Bản === Sau hai năm chuẩn bị, quân đội của Mông Kha (Mongke) đã tiến vào khu vực Tứ Xuyên của Trung Quốc. Tại đó, năm 1259, Mông Kha chết trong chiến trận, và ông là vị Đại Hãn cuối cùng cai trị từ Cáp Lạp Hòa Lâm (Karakorum) và là người cuối cùng điều hành quyền lực trên toàn đế chế Mông Cổ. Một cuộc chiến khác xảy ra về người sẽ trở thành Đại Hãn. Người kế tục Mông Kha là một trong những anh em của ông, người sau này được gọi là vị hãn Hốt Tất Liệt (Khubilai) - một người cháu 41 tuổi của Thành Cát Tư Hãn người đã chiến đấu bên cạnh Mông Kha ở Trung Quốc. Những người khác ở phía tây, muốn trở thành Đại Hãn tuyên bố họ là Đại Hãn và thành lập các vương quốc độc lập, dẫn tới sự chia rẽ làm thành tai họa của các đế chế. Từ thủ đô Bắc Kinh của mình, Hốt Tất Liệt tiếp tục sự nô dịch vùng nam Trung Quốc, bị cuốn rũ bởi sự giàu có của nó, gồm cả thặng dư ngũ cốc và các thành thị dọc theo bờ biển phía nam Trung Quốc vốn thịnh vượng nhờ vào thương mại dọc bờ biển. Trung Quốc từ quanh Trường Giang đến phía nam là vùng rộng lớn nhất, có dân số đông nhất và có những nguồn lợi lớn nhất so với mọi vùng Mông Cổ từng chiếm được. Hốt Tất Liệt tìm cách thuyết phục hoàng đế Tống khuất phục ông một cách hòa bình, và khi điều này không xảy ra ông đưa quân đội gồm nhiều sắc tộc (gồm cả người Trung Quốc và Ba Tư) lao sâu vào Trung Quốc, trong khi thủy binh của ông, do người Nữ Chân và Cao Ly điều khiển, bơi về phía nam dọc theo bờ biển Trung Quốc. Cuộc xâm chiếm kéo dài mười sáu năm, và kết thúc vào năm 1276 - một năm sau khi một lái buôn người Venezia, Marco Polo đến Bắc Kinh. Hốt Tất Liệt, không can thiệp nhiều vào kinh tế Trung Quốc, và Khổng giáo không bị ảnh hưởng nhiều, các lái buôn Trung Quốc sau khi tạm thời gián đoạn lại tiếp tục đi buôn. Người Mông Cổ ít đồng hóa với người Trung Quốc, Hốt Tất Liệt không muốn thấy đội quân chiếm đóng của ông biến thành người Trung Quốc. Tuy nhiên, một số sự pha trộn giữa những kẻ chinh phục và người bị chinh phục đã diễn ra – đa phần các binh sĩ Mông Cổ lấy vợ Trung Quốc. Sau khi củng cố sự cai trị của mình ở Trung Quốc, Hốt Tất Liệt gửi các đoàn sứ để yêu cầu Nhật Bản cống nạp và đe doạ trả đũa nếu họ không chịu. Từ triều đình ở Kyoto, người Nhật Bản trả lời, nói rằng giống như những kẻ cai trị khác, đất nước của họ cũng có nguồn gốc thần tiên. Vì vậy, họ cho rằng, Nhật Bản không phải chịu hàng phục bất kỳ kẻ nào, và họ bắt đầu chuẩn bị chiến tranh. Hốt Tất Liệt tin rằng ông không thể cho phép một sự xuất hiện của sự cưỡng lại của Nhật Bản. Năm 1274, từ phía nam Cao Ly, ông tung ra một cuộc tấn công - một lực lượng hỗn hợp Mông Cổ, Trung Quốc và Triều Tiên, với 600 đến 900 chiếc thuyền, 23.000 quân, máy bắn đá, tên lửa cháy được, cung và tên. Thời tiết xấu đã đẩy lùi lực lượng tấn công phải quay trở về khỏi các đảo chính của Nhật Bản: Kyushu. Vào mùa hè năm 1281, Hốt Tất Liệt lại cố một lần nữa, lần này ông gửi 4.000 tàu. Trong năm mươi ba ngày người Nhật giữ chân những kẻ xâm lược ở vị trí đổ bộ chật hẹp ở Kyushu. Sau đó một trận bão lớn xảy ra. Người Mông Cổ lại rút lui, chỉ một nửa số quân về được tới Trung Quốc. Người Nhật coi cơn bão là một trận gió của thần – kamikaze (thần phong). Hốt Tất Liệt lại thấy được những giới hạn mà Hulegu đã gặp ở Trung Đông. Đây là nỗ lực cuối cùng nhằm xâm lược Nhật Bản cho tới tận năm 1945, tại Okinawa khi Kamikaze cũng là một từ đáng chú ý. === Sự cai trị của Mông Cổ === Những người Mông Cổ ở Trung Quốc cai trị với nhiều quan lại, binh lính và những người hầu hạ - Thổ Nhĩ Kỳ, Ả rập, một ít người Âu, Nữ Chân và Ba Tư. Người Mông Cổ theo truyền thống của mình ủng hộ nhiều tôn giáo – không chỉ Phật giáo mà cả Hồi giáo, Đạo giáo và Thiên chúa giáo cùng được tôn thờ bởi những người Mông Cổ ở Trung Quốc. Và dưới sự cai trị của Mông Cổ, sự ảnh hưởng của Khổng giáo trong triều đình giảm sút. Vua Mông Cổ cai trị Trung Hoa là Hốt Tất Liệt, chết năm 1294 ở tuổi 79. Cháu nội của ông, Thiết Mộc Nhĩ (Temur), kế tục ông, hòa bình với Nhật Bản và tiếp tục giữ được sự thịnh vượng đáng có. Thiết Mộc Nhĩ là người chu đáo và có năng lực, nhưng các ông vua tiếp sau ông sau khi ông chết sớm vào năm 1307 lại yếu kém hơn ông và Hốt Tất Liệt. Trong hai sáu năm từ 1307 đến 1333 có bảy ông vua cai trị. Cháu trai của Thiết Mộc Nhĩ, Khúc Luật (Külüg) đã cai trị từ năm 1308. Ông chỉ định những người bất tài vào các vị trí chính phủ, gồm cả các tu sỹ Phật giáo và Đạo giáo, và ông chi tiền vào các đền đài và cung điện hoang phí và tăng gấp ba nguồn cung tiền giấy. Sau cái chết của ông năm 1311, em trai ông, Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt (Ayruabarwada), nắm quyền lực ở tuổi hai sáu. Tuy nhiên Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt có trình độ cai trị đối lập nổi lên chống lại ông trong triều đình vì coi ông là quá thân thiện với người Trung Quốc. Ông chết năm 1320, và con trai cả của ông, Thạc Đức Bát Lạt (Shidebala), kế tục, ở tuổi mười tám. Thạc Đức Bát Lạt đưa ra các cải cách chống tham nhũng, ủng hộ những người Phật giáo Tây Tạng chống lại Hồi giáo và bị án sát năm 1232. Ông được kế tục bởi Yesun Temur, người có phong cách truyền thống Mông Cổ nhất. Những người ủng hộ ông tham dự vào việc ám sát Thạc Đức Bát Lạt, và ông tự tách mình khỏi họ và quay trở lại truyền thống của Mông Cổ đối xử với mọi tôn giáo công bằng. == Nhà Minh == === Thành lập === Sự chống đối của người Trung Quốc với sự cai trị Mông Cổ tăng lên. Người Mông Cổ không chỉ khác người Trung Quốc ở ngôn ngữ mà còn ở cách ăn mặc và các thói quen khác, và người Trung Quốc coi người Mông Cổ là mọi rợ. Họ không thích cách ăn uống của người Mông Cổ, và họ coi người Mông Cổ bốc mùi (vì bẩn). Bộ máy quân sự Mông Cổ đã suy sút. Các đội quân thông thường của Mông Cổ đã bị đưa vào làm các việc trồng cấy để tự nuôi mình – có sử dụng nô lệ. Trong nhiều thập kỷ hòa bình khả năng chiến đấu của chiến binh Mông Cổ đã bị giảm. Một số chiến binh Mông Cổ cũng không thành công trong việc làm ruộng và mất ruộng đất. Một số thành những kẻ lang thang, trong khi các sĩ quan Mông Cổ vẫn là một tầng lớp quý tộc ăn lương tách biệt khỏi những binh sĩ thông thường. Khó khăn đã nổ ra giữa những người Mông Cổ ở Krym năm 1347, và khó khăn tàn phá người Mông Cổ ở Trung Quốc. Các trận lũ lụt tàn phá Trung Quốc. Các lực lượng quân đội đồn trú Mông Cổ tiếp tục chiếm giữ các điểm chiến lược ở Trung Quốc, nhưng người Mông Cổ kém số lượng rất nhiều và không được chuẩn bị để chiến đấu với cuộc nổi dậy lớn. Các sĩ quan chỉ huy Mông Cổ bắt đầu điều khiển chính phủ, và Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ (Toghon Temur) chuyển qua hình thức bán nghỉ hưu. Người ta bảo ông chỉ thích các chú bé đồng tính và cầu nguyện với các vị sư Phật giáo ở Tây Tạng. Sự truỵ lạc của Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ và sự sùng bái của ông đối với Phật giáo Tây Tạng càng làm tăng sự bất bình của các nhà Nho. Và những sự chống đối Toghon Temur nổi lên cả bên trong Phật giáo. Một giáo phái Phật giáo bí mật, Bạch Liên giáo, bắt đầu tổ chức nổi loạn và tiên đoán sự xuất hiện của một đấng cứu thế Phật giáo. Mới đầu cuộc nổi loạn diễn ra ở quanh Quảng Châu năm 1352. Một nhà sư Phật giáo và là một chú bé cựu ăn mày, Chu Nguyên Chương, quẳng áo lễ, gia nhập nổi loạn, và trí thông minh khác người của mình đã giúp ông dẫn đầu đội quân khởi nghĩa. Tới năm 1355 cuộc nổi loạn đã lan rộng ra đa phần Trung Quốc, dẫn tới tình trạng vô chính phủ. Chu Nguyên Chương được lòng dân chúng bởi ông cấm quân lính cướp bóc. Năm 1356, Chu Nguyên Chương chiếm được Nam Kinh và biến nó thành thủ đô của ông, và ở đó ông được một trí thức Khổng giáo giúp đỡ tung ra các tuyên bố cho ông và tổ chức các lễ nghĩ tuyên bố Mệnh Trời. Và ông đánh bại các đội quân làm loạn khác. Trong lúc ấy, người Mông Cổ đánh lẫn nhau, làm giảm sút khả năng đàn áp nổi loạn của họ. Năm 1368, Chu Nguyên Chương mở rộng quyền kiểm soát tới Quảng Châu, cùng năm đó vị vua cai trị người Mông Cổ Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ bỏ chạy đến Cáp Lạp Hòa Lâm. Chu Nguyên Chương và quân đội vào thủ đô cũ của Mông Cổ, Bắc Kinh và năm 1371 quân của ông đến Tứ Xuyên. Năm 1387 – sau hơn ba mươi năm chiến tranh – Chu Nguyên Chương đã giải phóng toàn bộ Trung Quốc. Và là hoàng đế Trung Quốc ông lấy tên hiệu là Hồng Vũ và lập ra một triều đại mới – nhà Minh. === Sơ kỳ nhà Minh (1368-1436) === Điều lo toan đầu tiên của vị vua mới ở Trung Quốc năm 1370 là sức mạnh quân sự và ngăn cản sự hồi sinh của người Mông Cổ. Hoàng đế Hồng vũ lập ra các đội binh đồn trú tại các vị trí chiến lược và lập lên một đẳng cấp quân đội cha truyền con nối tự kiếm sống bằng việc đồng áng và luôn sẵn sàng cho chiến tranh. Và Hồng vũ cho các tướng lĩnh của mình thành tầng lớp quý tộc quân sự mới. Các đội quân bị cấm làm ảnh hưởng tới dân. Chế độ của Hồng vũ đã hành hình nhiều kẻ vi phạm pháp luật và bị nghi là mưu phản. Ông cấm các hội kín. Và ông tìm cách khôi phục kinh tế. Các trang trại vốn bị tàn phá được khôi phục và ông định cư cho nhiều nông dân tại những nơi từng là đất hoang và giảm thuế cho họ. Giữa năm 1371 và 1379 số lượng đất đai canh tác tăng lên gấp ba, và số thu về cũng vậy. Chính phủ tài trợ việc trồng cây và trồng lại rừng. Những con đê vốn bị sao lãng và các kênh được sửa chữa lại và hàng nghìn hồ chứa nước được xây dựng lại hay khôi phục lại. Hồng Vũ chết năm 1398, ở tuổi bảy mươi. Và, như thường lệ, người đã gắng sức thu lấy quyền lực và lập ra một triều đình thường bị tiếp sau bởi những đứa con cháu kém khả năng hơn mình. Cái chết của Hồng Vũ dẫn tới một cuộc nội chiến bốn năm. Cháu của Hồng Vũ là Minh Huệ Đế được chọn làm người kế vị nhưng chỉ được ở ngôi trong vòng 5 năm. Chu Lệ, người chú của Huệ Đế đã lật đổ ngai vàng của cháu mình để trở thành Hoàng đế năm 1403, Chu Lệ – cũng được gọi là Hoàng đế Vĩnh Lạc (Hạnh phúc vĩnh cửu), được cho là sinh ra bởi một người thiếp người Triều Tiên. Ông cai trị tới năm 1424, sử dụng các hoạn quan làm điệp viên và chỉ định họ vào các chức vụ cao ở triều đình. Một trong những hoạn quan của hoàng đế Vĩnh Lạc, Trịnh Hòa, là một người Hồi giáo, cha ông từng hành hương tới Mecca. Trịnh Hòa hiểu biết về thế giới ít hơn người khác, và ông dẫn đầu một nhóm hoạn quan có chức tước (can-do) để thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt của hoàng đế. Hoàng đế Vĩnh Lạc ra lệnh cho Trịnh Hòa tiến hành các cuộc thám hiểm trên biển. Những nhà vua Minh học được từ người Mông Cổ các quan hệ hàng hải rộng rãi và kỹ thuật. Dưới thời Mông Cổ, nhiều tàu hàng lớn của Trung Quốc chạy trên biển quanh Trung Quốc, gồm cả những chuyến đi thường xuyên chở ngũ cốc từ phía nam, dọc theo bờ biển, tới phía bắc. Và các tàu Trung Quốc đã buôn bán qua Đông Nam Á đến đảo Lanka (Sri Lanka) và đến Ấn Độ. Nhà Minh không giữ việc buôn bán này nữa, cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa bắt đầu năm 1405, không phải vì mục đích thương mại mà để thám hiểm địa lý và ngoại giao - một cuộc thám hiểm với sáu mươi ba tàu và 27.000 người. Sáu cuộc thám hiểm sau đó cũng được Trịnh Hòa chỉ huy, cuộc cuối cùng năm 1433 dưới triều vua Minh Tuyên Tông, tức Tuyên Đức đế. Các cuộc thám hiểm tới tận Surabaya ở đào Java, và họ đến Ấn Độ và sáu đó là Mogadishu ở bờ biển Châu Phi, Hormuz ở Vịnh Ba Tư, và lên đến biển Đỏ ở Jeddah. Họ trao đổi quà tặng, và các hương liệu hiếm, các loại cây và thú vật, gồm cả hươu cao cổ, cũng được mang về Trung Quốc. Trung Quốc có đội hải quân lớn nhất thế giới, với ước tính 317 tàu, một số chiếc dài đến 440 feet và rộng 180 feet, những chiếc tàu có từ bốn đến chín cột buồm cao tới 90 feet, và với đội thủy thủ lên đến 500 người. Nhưng sự chú ý của Trung Quốc vào một đội ngũ hàng hải to lớn và các tàu buôn đã bị che mờ bằng sự lo lắng về bảo vệ quân sự trên đất liền. Các cố gắng nhằm kiểm soát An Nam không thành công và rất đắt đỏ. Vào giữa thế kỷ người Mông Cổ tiến hành các cuộc cướp bóc ở biên giới và là mối đe doạ lớn nhất với Trung Quốc. Cùng với việc độc lập từ sự cai trị Mông Cổ, ảnh hưởng Khổng giáo đã tăng lên ở triều đình. Các nhà Nho có mặt ở mọi cấp quan liêu và vẫn tỏ ý thù địch đối với thương mại và các tiếp xúc với nước ngoài. Các nhà Nho rất ít hoặc không chú ý đến sự phát triển của Trung Quốc thành một quyền lực về thương mại trên biển. Với sự thoát khỏi sự cai trị Mông Cổ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hăm hở khôi phục những thứ thuộc về Trung Quốc, gồm cả việc chạy tàu trên các kênh đào của Trung Quốc - vốn không được sửa chữa dưới thời Mông Cổ. Họ coi thương mại trong nước là đủ. Chính phủ chấm dứt tài trợ cho các cuộc thám hiểm hàng hải, và với tư tưởng co lại bên trong, chính phủ đặt ra ngoài vòng pháp luật việc những chiếc tàu nhiều cột buồm rời khỏi Trung Quốc. Sự phát triển của thế giới thương mại trên biển để dành cho người khác. === Trung kỳ nhà Minh (1436-1573) === Việc truyền ngôi từ cha sang con một lần nữa lại làm sự lãnh đạo mất khả năng. Vào năm 1506 Chính Đức, một đứa trẻ mười bốn tuổi con vua Minh là Hoằng Trị nối ngôi. Hoằng Trị đã cảnh báo rằng con mình là Chính Đức rất có xu hướng về tình yêu sự dễ dàng và chơi bời. Và Chính Đức trở thành một người cai trị thích giải trí như âm nhạc, đấu vật, ảo thuật và nhào lộn, ông cũng thích cưỡi ngựa, bắn cung và săn bắn, và không chú ý lắm tới công việc quốc gia. Chính Đức bị ốm và chết năm 1521 ở tuổi 31, và vì ông không có con trai, quyền lực được trao cho một trong những đứa con nuôi của ông, Gia Tĩnh, người mới mười lăm tuổi. Vị hoàng hậu nhiếp chính và một Đại thư ký cai trị trong một thời gian. Quyền lực của các hoạn quan bị kiềm chế và sự giàu có mà các hoạn quan đã tích lũy được bị sung công: 70 hòm vàng và 2200 hòm bạc của riêng một hoạn quan. Nền kinh tế được khôi phục. Nhưng cuối cùng thì Gia Tĩnh cũng lớn và vị Đại thư ký chết. Sau đó chính phủ ngập ngừng khi Gia Tĩnh chú tâm vào Đạo giáo và sự bất tử. Ông chi tiền vào xây dựng các đền Đạo giáo, nhưng chủ nghĩa duy linh của ông không biến ông thành một vị vua xứng đáng và ít nhất trong mắt của mười tám người thiếp của ông. Năm 1542 họ âm mưu bóp cổ ông khi ông đang ngủ. Tất cả số họ bị hành hình trừ người thiếp đã cảnh báo trước cho hoàng hậu. Gia Tĩnh làm rất ít để cải thiện Trung Quốc về mặt quân sự. Các thuộc địa ở biên giới chỉ có khoảng bốn mươi phần trăm số người có ý định chống lại người Mông Cổ và những tộc dân khác. Các sư đoàn trong nước không có được mười phần trăm sức mạnh đúng đắn của mình. Chính phủ không trả lương cho binh lính bằng với khẩu phần. Cái chết và sự đào ngũ làm giảm số quân, và nhiều người trong số họ bị tuyển vào lính mà không muốn mất mạng trong các trận chiến. Người Mông Cổ ở phía đông bắc đã liên hiệp lại dưới một người con cháu của Thành Cát Tư Hãn và đang tiến hành các cuộc tấn công vào Trung Quốc. Trong một tháng thuộc năm 1542 họ đốt nhà cửa, ăn cắp gia súc, ngựa và tàn sát, như được viết lại, hơn 200.000 người. Năm 1550, người Mông Cổ tiến về cổng thành Bắc Kinh và cướp bóc và đốt cháy các vùng ngoại ô. Các cuộc cuộc tấn công cũng đến từ những người Trung Quốc (bị cho là người Nhật, uy khấu) có dính đến buôn lậu với người nước ngoài. Những người đó lập nên các cơ sở ở bờ biển và cướp bóc hay chiếm các làng mạc và các thị trấn ở gần sông. Một đội quân tư nhân, do Thích Kế Quang tổ chức, cuối cùng đã đánh bại các quân ăn cướp từ bờ biển, trong khi Gia Tĩnh vẫn mải mê với Đạo giáo. Gia Tĩnh rút khỏi việc điều hành chính phủ trong một thời gian dài, và những cuộc nghiên cứu về Đạo giáo của ông cho một cuộc sống vĩnh cửu thông qua các loại thuốc ma thuật dẫn tới việc ông chết vì thuốc độc năm 1566. Con của Gia Tĩnh, Long Khánh, cũng không chú ý tới việc trị nước. Nhưng ông đã trục xuất mọi người Đạo giáo ra khỏi triều đình, và một vị quan trong triều là Trương Cư Chính, đã thương lượng hòa bình với người Mông Cổ. Long Khánh cai trị đến năm 1572 và được nối ngôi bởi Vạn Lịch, người cai trị tới năm 1620, trong 47 năm – giai đoạn cai trị dài nhất ở Trung Quốc từ đầu đời Hán mười bảy thế kỷ trước đó. === Hậu kỳ nhà Minh (1573-1644) === Vạn Lịch lên làm vua lúc mười tuổi, và chế độ của ông bắt đầu với sự lãnh đạo của mẹ ông và Trương Cư Chính. Họ lập lại kỷ luật và sự hiệu quả trong chính phủ. Tài chính được ổn định, và các cuộc tấn công vào biên giới Trung Hoa bị đẩy lùi. Nhưng sau khi Vạn Lịch đã lớn, và Trương Cư Chính chết, lịch sử gần đó của các vua Trung Quốc lại lặp lại. Vạn Lịch ngày càng sao nhãng việc quốc gia. Các vị trí chính phủ bỏ trống, và người dân mòn mỏi ở trong tù vì không có người nào xét xử họ. Vạn Lịch cho phép các hoạn quan có được ảnh hưởng ở triều đình. Các hoạn quan lấy tiền thuế của ngân khố quốc gia làm của riêng. Khi một vùng đất bị tàn phá bởi động đất, lũ lụt hay hạn hán, Vạn Lịch muốn cứu tế, nhưng có rất ít (nếu có) cứu tế được thành hiện thực. Và những người dân mất hy vọng lại tụ tập thành băng đảng và nổi loạn. Thuế cao tiếp tục đè nặng lên người dân nhưng không với tới tầng lớp trên cao. Hàng triệu ở tầng lớp trung gian dính dáng tới việc thu thuế, lấy phần của họ trước khi nộp tới triều đình. Tại một số hành tỉnh, nửa số thuế bị quý tộc địa phương chiếm giữ. Một số người có tiền dư đem cho vay với lãi suất cắt cổ, và Vạn Lịch tiêu hàng đống tiền nhà nước vào các cung điện và những đồ xa xỉ cho gia đình. Trong lúc đó, Vạn Lịch trở nên béo đến mức ông không thể đứng dậy được. Trung Quốc vốn khéo léo nhưng có quá ít lãnh đạo trí thức chủ trương cải cách chính trị và xã hội. Các trí thức ủng hộ sự thanh bình qua việc rút lui hay quay về sự tuân phục truyền thống và sự cai trị độc tài đúng đắn. Không giống tầng lớp tư sản ở châu Âu, không có nhiều người Trung Quốc nghĩ tới việc tìm ra các biện pháp tốt hơn nhằm tăng năng suất thông qua cải tiến công cụ - trong khi những người lao động nghĩ về vấn đề này lại không có phương tiện để cải thiện công cụ an sinh. Tầng lớp tiểu quý tộc Trung Quốc, luôn là các nhà Nho ở cả trong việc trồng cấy và trong chính phủ, đã trở thành xa lánh hơn khỏi chính phủ và quay sang phía Phật giáo và bảo trợ cho nhà chùa Phật giáo. Điều này được thúc đẩy bởi các cuộc chiến bè phái bên trong Khổng giáo và bởi các nguy cơ từ việc quyền lực nằm trong tay hoạn quan. Các môn sinh Khổng giáo không thích sự suy tàn trong các tiêu chuẩn Khổng giáo. Các nhà Nho bị chia rẽ thành nhiều phe phái. Nhiều phe Khổng giáo tư nhân phát triển, trong khi rất ít người theo Khổng giáo tìm thấy lỗi của chế độ quân chủ hay chuyên chế. Các nhà Nho tiếp tục coi sự cứu rỗi linh hồn trong việc gia nhập vào việc cư xử theo đạo đức hơn là thay đổi thể chế. Và họ tiếp tục coi thương mại và nghề thủ công là các thứ dành cho tầng lớp bên dưới. Mức độ rút khỏi công việc quốc gia của Vạn Lịch rốt cuộc có lợi cho thương mại và buôn bán. Trung Quốc sản xuất đồ sứ, tơ và vải bông. Một nền kinh tế tiền tệ đúng đắn phát triển, và các thành phố đang phát triển của Trung Quốc có một số các nhà buôn giàu có. Nông nghiệp Trung Hoa cũng tiến bộ - với một số loại ngũ cốc mới như ngô, khoai lang và lạc từ châu Mỹ. Điều này góp phần vào sự vươn lên của Trung Quốc - tới 100 triệu người - gấp đôi dân số khoảng năm 1368, khi nhà Minh mới bắt đầu. Nhưng không nhiều của cải được dùng vào việc đầu tư cho phát triển kinh tế. Thay vì đầu tư vào thương mại, tiền thường được dùng trong việc cho vay với lãi suất cắt cổ an toàn hơn. Hơn nữa, chính phủ sử dụng thương mại như một nguồn tài sản, và quan điểm của Khổng giáo coi thương mại là hổ thẹn, tầng lớp Trung Hoa giàu có - tiểu quý tộc và các lái buông giàu có – tiêu rất nhiều tiền vào việc tiêu thụ. Các thương nhân cũng như các chủ đất giàu có thường coi đầu tư vào đất đai là cách tốt hơn đầu tư phát triển buôn bán. Đa phần công nghiệp là thủ công trong tay các nông dân, và ngay khi sức sản xuất của họ tăng lên, nó sẽ bị làm giảm xuống bởi các chủ đất. Cũng vậy, chính phủ tài trợ cho các phường hội thủ công và đưa ra các quy định cấm cạnh tranh và phát triển. Các ngành công nghiệp thường bị ép buộc phải bán hàng cho chính phủ với giá quá thấp. Phát triển thương mại bị cản trở bởi những người dân thường không thể tăng khả năng tiêu thụ. Và chính phủ tiếp tục áp đặt các giới hạn đối với ngoại thương, gồm cả việc cấm các lái buôn Trung Quốc đi ra biển. Thay vì các lái buôn Trung Quốc đến châu Âu, các lái buôn châu Âu lại tới Trung Quốc. Vào khoảng giữa thời cai trị của Vạn Lịch, các thương gia Hà Lan và Anh đã đến bờ biển Trung Quốc. Các nhà truyền giáo Thiên chúa, Matteo Ricci, đến Trung Quốc ở Ma Cao năm 1582. Ông lấy tên là Li Mateo và biến mình thành phục tùng người Trung Quốc bằng cách chấp nhận ăn mặc như một môn đồ Khổng giáo, và ông biến Thiên chúa giáo thành dễ chấp nhận hơn đối với người Trung Quốc bằng cách kết nối nó với các tư tưởng Khổng giáo. Ông định cư ở Nam Kinh, và học tiếng Trung Quốc và văn học kinh điển Trung Quốc, và bày tỏ sự tôn trọng đối với hệ thống cai trị độc tài và ưu tiên, Ricci được các trí thức và quý tộc Trung Quốc chấp nhận. Đầu năm 1601, Ricci nhận được giấy phép đến Bắc Kinh, nơi ông trình bày với triều đình cây đàn clavico, một bản đồ thế giới và hai chiếc đồng hồ có chuông báo giờ. Ông giới thiệu mình với triều đình là một kẻ thần dân hèn mọn của Vạn Lịch và rất quen thuộc với "trời hình cầu, địa lý, hình học và toán học". Ricci khuấy động sự chú ý và sự nhận thức về các tiến bộ kỹ thuật của phương Tây. Và giấy phép hoạt động ở Trung Quốc cho phép Ricci mở rộng Thiên chúa giáo ở đó, tới năm 1610 Trung Quốc có hơn ba trăm nhà thờ Thiên chúa. Vạn Lịch chết ở tuổi năm bảy, khá già cho một người béo nặng như ông. Người kế ngôi ông là Quang Tông trị vì chưa đầy một tháng trong năm 1620. Hy Tông, mới mười lăm tuổi và dốt nát lên ngôi. Sự rút lui của nhà vua khỏi công việc quốc gia tiếp diễn. Hy Tông thích nghề thợ mộc trong khi triều đình và bộ máy hành chính bị áp chế bởi các hoạn quan, Ngụy Trung Hiền, người xua đuổi bất kỳ ai khỏi chức vụ chính phủ nếu ông nghĩ rằng có thể không trung thành với ông. Nổi loạn xuất hiện năm 1624, được dẫn đầu bởi sáu nhà Nho đang cố gắng phục hưng Khổng giáo "chính thống". Họ được gọi là sáu anh hùng. Họ là những kẻ mộng mơ và thích phục hưng đạo đức hơn là tổ chức một cuộc đấu tranh vũ trang, và, giống như nhà Nho Vương Mãng nhiều thế kỷ trước, họ đã phải trả giá bằng mạng sống của mình. Họ bị tra tấn và đánh đến chết, và bảy trăm người ủng hộ họ bị thanh trừng khỏi các vị trí chính phủ. Một số người ở Trung Quốc kết luận rằng sự khủng bố của Ngụy Trung Hiền và sự chấp nhận thụ động của Thiên Khải chỉ ra rằng triều Minh đã mất Thiên mệnh. Hy Tông chết năm 1627 và được kế tục bởi đứa em nhu nhược, Nghị Tông, và dưới thời Nghị Tông Trời dường như can thiệp chống lại nhà Minh, vì Trung Quốc (và nhiều vùng khác trên thế giới) phải chịu tình trạng thời tiết xấu bất thường: trời lạnh, hạn hán và lũ lụt từ việc mưa quá nhiều. Cũng vậy tình trạng suy đốn thương mại đã phát triển ở châu Âu những năm 1620, có một số ảnh hưởng đến Trung Quốc. Khắp nước Trung Quốc, người dân nổi lên làm loạn. Về quân sự hoàng đế vẫn yếu kém. Và nhiều cuộc đột nhập lại xuất hiện ở phía bắc – không phải từ phía người Mông Cổ mà từ Mãn Châu, các cuộc đột nhập từ nơi mà ngày nay ta gọi là Manchuria. Chính người Trung Quốc đã phát triển kiểu canh tác của mình đến Mãn Châu. Ở vùng Cát Lâm, hậu duệ của những người Nữ Chân bán du cư đã lập lên nhà Kim ở phía bắc Trung Quốc năm 1100. Tới đầu năm 1600, trong số họ, Nỗ Nhĩ Cáp Xích (Nurhaci) đã thống nhất các bộ tộc Mãn Châu dưới quyền quản lý của mình. Con kế vị của ông, Hoàng Thái Cực, cai trị từ Thẩm Dương, gọi thần dân của mình là Mãn tộc. Ông liên kết với các bộ lạc Mông Cổ, lập một thỏa thuận với người Triều Tiên và dự định một cuộc tấn công Trung Quốc. == Nhà Thanh == Người Mãn Châu tiến hành các cuộc xâm nhập vào phía bắc Trung Quốc cùng lúc dân cư Trung Quốc nổi dậy chống lại vua Sùng Trinh. Năm 1644 quân khởi nghĩa Lý Tự Thành tràn vào Bắc Kinh. Sùng Trinh tự treo cổ. Quân Thanh tiến vào Trung Quốc, đánh bại quân khởi nghĩa Lý Tự Thành. Trong bảy năm tiếp theo các cuộc chiến đấu bên ngoài Bắc Kinh tiếp diễn, người Mãn Châu chiếm được các vị trí quân sự chiến lược, những người ủng hộ nhà Minh chạy sang Đài Loan, và không chịu hàng Mãn Châu mãi tới tận năm 1683. Mãn Châu nắm quyền ở Bắc Kinh và cuối cùng chiếm toàn bộ Trung Quốc. Các vua Trung Quốc bây giờ thuộc gia đình Mãn Châu gọi là nhà Thanh, một triều đại cai trị tới tận thế kỷ 19. Một số ít người Trung Quốc chọn cái chết thay vì phục vụ cho nhà Mãn Châu. Nhưng người Mãn Châu – không bao giờ vượt quá hai phần trăm dân số Trung Quốc – có thể cai trị Trung Quốc bởi vì sự phục tùng của người Trung Quốc. Người Mãn Châu sử dụng Khổng giáo làm ủng hộ chính quyền chính trị, thúc đẩy học tập cổ điển và sự sùng kính tổ tiên, gồm cả ý tưởng rằng nhà vua cai trị bằng đức hạnh của lòng tốt của mình. Người Trung Quốc chiếm nhiều vị trí trong triều đình quan lại Mãn Châu. Các vua Mãn Châu giữ quyền quân sự ngoài tay người Trung Quốc và trong tay những anh chàng người Mãn Châu, và họ tìm cách ngăn cản những người Mãn Châu không bị đồng hóa Trung Quốc. Người Mãn Châu ở Trung Quốc bị bắt buộc phải dành cả đời để đi lính. Họ bị cấm tham gia buôn bán và lao động, và cấm cưới người Trung Quốc. Với hòa bình do người Mãn Châu mang lại cho Trung Quốc, sự thịnh vượng và sự phát triển dân số lại diễn ra, và thương mại với châu Âu tăng lên. Một vị vua Mãn Châu, Khang Hi cai trị sáu mốt năm từ 1661 đến 1722 và sẽ được coi là vị vua vĩ đại nhất Trung Quốc. Ông được những người theo đạo Thiên chúa ở Trung Quốc tán dương về "trái tim quý phái", sự thông minh cùng trí nhớ tuyệt vời của ông, khẩu vị đọc của ông cũng như việc ông là "vị vua toàn bị đối với mọi cảm xúc của mình." === Trung Quốc tới cuộc chiến Nha phiến lần 1 === Dân số Trung Quốc đã tăng gấp đôi từ 1700 và 1794 tới 313 triệu người. Sự mở rộng trồng trọt ở các tỉnh Giang Tây và Hồ Nam đã tàn phá đa số rừng ở đó. Đài Loan lúc này đã là một phần của Trung Quốc, bị sáp nhập từ năm 1683, và một cuộc điều tra dân số năm 1811 cho thấy số dân Trung Quốc ở Đài Loan gần đến hai triệu người. Năm 1756 và 1757 quân đội của vua Càn Long đã mở rộng biên giới đến điểm cực tây của mình, và ông cai trị cả Tây Tạng lẫn Mông Cổ. Sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc không tăng kịp với mức tăng dân số, và vì không có lương thực giá rẻ, người dân thường Trung Quốc không có tiền để mua bất kỳ thứ gì khác, và không có bùng nổ trong chế tạo và trong việc thuê người thất nghiệp. Trung Quốc xuất khẩu trà sang Anh Quốc, làm đồ sứ để xuất khẩu và chế tạo tơ tằm và hàng bông, nhưng lao động đầy rẫy giá rẻ đến mức giống như nô lệ, nó làm giảm bớt sự khuyến khích đầu tư vào máy móc. Các thương gia không ở trong một môi trường khuyến khích sự liên kết, chính phủ cung cấp ít an ninh cho các thương gia và các doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế không phải là một vấn đề đáng chú ý của những người có nhiều ảnh hưởng. Những người có thời gian rỗi rãi để học hành không thích quan tâm đến kỹ thuật. Họ thích văn học, nghệ thuật, Khổng giáo và tôn giáo. Trung Quốc bị cai trị một cách chuyên quyền và thần quyền bởi vua Mãn Châu từ thị tộc Ái Tân Giác La ở vùng Mãn Châu, nhà Thanh, đã cầm quyền từ năm 1644. Từ cung điện đế quốc, tại Tử cấm thành, Bắc Kinh, nhà Thanh giữ quân đội ở Mãn Châu và tìm cách giữ sự khác biệt của người Mãn Châu khỏi người Trung Quốc, trong khi vẫn ủng hộ nghệ thuật Trung Quốc và tự giáo dục mình bằng tư tưởng Khổng giáo chính thống. Vào cuối thế kỷ 18, sự thiếu thốn đất đai, tham nhũng trong chế độ quan liêu và quân sự, và sự bần cùng hóa đã tạo ra tình trạng náo động. Người dân thường biểu lộ sự bất bình thông qua các tổ chức tôn giáo, các tổ chức bắt buộc giữ bí mật đối mặt với chính quyền đế quốc thù địch. Một tổ chức tôn giáo chống Mãn Châu bị bần cùng hóa ở một vùng núi miền trung Trung Quốc đã tiên đoán sự giáng sinh của đức Phật, sự tái lập triều Minh và sự cứu rỗi cho những người ủng hộ họ. Nó tự tin tung ra một phong trào chống thuế. Từ năm 1796 đến 1804, khắp Trung Quốc các hội kín nổi loạn chống chính quyền Mãn Châu. Đây được gọi là Khởi nghĩa Bạch Liên giáo. Vua Gia Khánh (1796-1820) theo đuổi một chương trình có hệ thống nhằm tái lập hòa bình, gồm cả việc tiêu diệt các băng đảng du kích kháng chiến và ân xá cho những kẻ đảo ngũ. Bạo lực lại diễn ra năm 1813 khi những kẻ nổi loạn có sự giúp đỡ của các hoạn quan trong triều, tí nữa ám sát được vua Gia Khánh. Đây là loạn Quý Dậu (癸酉之变). Một trong những lãnh đạo của nó, Lâm Thanh (林清), đã tuyên bố mình là hiện thân của đức Phật và nói rằng các lãnh đạo khác của phong trào, Lý Văn Thành (李文成) sẽ cai trị trên Trái Đất như là "Vua của loài người". Nhưng điều này bị quân đội của vua Gia Khánh ngăn chặn. Lý Văn Thành và hơn 70.000 người khởi nghĩa bị giết hại. === Ngoại xâm và bạo loạn === Một trong những vấn đề lớn ở thế kỷ 19 của Trung Quốc là cách thức đối phó với các nước khác bên ngoài. Trước thế kỷ mười chín, Đế chế Trung Quốc là cường quốc bá chủ ở châu Á. Tuy nhiên, trong thế kỷ 18, các đế chế châu Âu dần mở rộng ra khắp thế giới, khi các nước châu Âu phát triển các nền kinh tế hùng mạnh dựa trên thương mại hàng hải. Mặt khác, đế chế Trung Quốc rơi vào tình trạng tù hãm sau nhiều thế kỷ dẫn đầu thế giới. Tới cuối thế kỷ 18, các thuộc địa của châu Âu đã được lập nên ở gần Ấn Độ và trên những hòn đảo hiện là các vùng thuộc Indonesia, trong khi Đế quốc Nga đã sáp nhập các vùng phía bắc Trung Quốc. Ở thời các cuộc chiến tranh của Napoléon, Anh Quốc từng muốn thành lập liên minh với Trung Quốc, gửi các hạm đội tàu tới Hồng Kông mang theo quà tặng gửi tới vị Hoàng đế, gồm nhiều vật phẩm được chế tạo bởi những kỹ thuật và phong cách nghệ thuật mới nhất của châu Âu thời kỳ đó. Khi các phái đoàn Anh nhận được một lá thư từ Bắc Kinh giải thích rằng Trung Quốc không cảm thấy ấn tượng trước những thành tựu của châu Âu và rằng triều đình Trung Quốc sẵn lòng nhận sự kính trọng của vua George III nước Anh, chính phủ Anh cảm thấy bị xúc phạm và từ bỏ mọi kế hoạch nhằm thiết lập các quan hệ với nhà Thanh. Năm 1793, nhà Thanh chính thức cho rằng Trung Quốc không cần tới các hàng hóa châu Âu. Vì thế, các lái buôn Trung Quốc chỉ chấp nhận dùng bạc làm vật trao đổi cho hàng hóa của họ. Nhu cầu to lớn của châu Âu đối với các hàng hóa Trung Quốc như tơ, trà, và đồ sứ chỉ có thế được đáp ứng khi các công ty châu Âu rót hết số bạc họ có vào trong Trung Quốc. Tới cuối những năm 1830, các chính phủ Anh và Pháp rất lo ngại về các kho dự trữ kim loại quý của họ và tìm cách đưa ra một phương thức trao đổi mới với Trung Quốc - và cách tốt nhất là đầu độc Trung Quốc bằng thuốc phiện. Khi nhà Thanh tìm cách cấm buôn bán thuốc phiện năm 1838, Anh Quốc đã tuyên chiến với Trung Quốc. Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất cho thấy sự lạc hậu của quân đội Trung Quốc. Dù có quân số áp đảo so với người Anh, kỹ thuật và chiến thuật của họ không thể so sánh với các cường quốc kỹ thuật thời ấy. Hải quân nhà Thanh, gồm toàn các tàu gỗ và không phải là đối thủ của các tàu chiến bọc thép chạy hơi nước của Hải quân Hoàng gia Anh. Binh sĩ Anh sử dụng súng có rãnh xoắn và pháo binh vượt trội dễ dàng tiêu diệt các lực lượng nhà Thanh trên chiến trường. Việc nhà Thanh đầu hàng năm 1842 đánh dấu một tai họa mang tính quyết định và nhục nhã của Trung Quốc. Trung Quốc bắt buộc phải chấp nhận thua trận và thừa nhận các yêu cầu của Anh Quốc. Với Hiệp ước Nam Kinh năm 1842, kỹ trên tàu chiến Cornwallis, Trung Quốc chấp nhận buôn bán với Anh Quốc. Họ đồng ý một mức thuế quan "đúng mức và ổn định" và mở cửa các cảng ở Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba và Thượng Hải cho các thương nhân nước ngoài và trao cho người Anh bất kỳ sự nhượng bộ nào mà Trung Quốc trao cho các cường quốc khác. Trung Quốc chấp nhận trả cho Anh Quốc một khoản bồi thường 20.000.000 đô la bạc và nhượng đảo Hồng Kông cho Anh Quốc. Điều đó cho thấy nhiều tình trạng tồi tệ của chính phủ nhà Thanh và khiến cho nhiều cuộc khởi nghĩa chống chế độ diễn ra. Cuộc khởi nghĩa Thái bình thiên quốc bùng nổ vào giữa thế kỷ 19 phản ánh tư tưởng chống Mãn Châu đe dọa sự ổn định của nhà Thanh. Tuy nhiên, số lượng thương vong kinh khủng của cuộc khởi nghĩa này - tới 30 triệu người - và sự tàn phá nghiêm trọng các vùng đất rộng lớn ở phía nam đất nước vẫn còn bị che mờ bởi một cuộc xung đột khác. Dù không đẫm máu bằng, nhưng thế giới bên ngoài cùng với những tư tưởng và kỹ thuật của nó đã có một ảnh hưởng rất lớn và cuối cùng mang lại tác động có tính cách mạng đối với một triều đình nhà Thanh đang ngày càng suy yếu và dao động. Các cường quốc phương tây, chưa hài lòng với Hiệp ước Nam Kinh, chỉ miễn cưỡng hỗ trợ nhà Thanh trong việc tiêu diệt các cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc và cuộc khởi nghĩa Niệm Quân. Thu nhập của Trung Quốc giảm sút rõ rệt trong thời gian chiến tranh khi nhiều vùng đất canh tác rộng lớn bị hủy hoại, hàng triệu người thiệt mạng và số lượng binh lính đông đảo cũng như trang bị vũ khí cho họ để chiến đấu. Năm 1854, Anh Quốc tìm cách đàm phán lại Hiệp ước Nam Kinh, thêm vào các điều khoản cho phép các thương gia người Anh đi lại trên sông ngòi Trung Quốc và lập một đại sứ quán thường trực của họ tại Bắc Kinh. Điều khoản cuối cùng này xúc phạm tới chính quyền nhà Thanh và họ đã từ chối ký kết, gây ra một cuộc chiến tranh khác giữa hai bên. Cuộc chiến tranh nha phiến lần thứ hai chấm dứt với một thất bại nặng nề khác của Trung Quốc, với Hiệp ước Thiên Tân, Cùng các điều khoản như: cho phép tàu thuyền người Anh có thể tự do đi lại và neo đậu trên sông Dương Tử, bồi thường chiến phí và chấp nhận mở rộng thêm một số hải cảng cho người nước ngoài vào ra buôn bán. === Thái hậu Từ Hy === Cuối thể kỷ 19, Trung Quốc nằm dưới quyền cai trị thực sự của Từ Hi Thái Hậu. Từ Hi đã ngấm ngầm tiến hành cuộc đảo chính để tước quyền nhiếp chính của đại thần Túc Thuận theo di chiếu của tiên hoàng. Bà nắm quyền nhiếp chính và trở thành người đứng đầu không chính thức của Trung Hoa suốt 47 năm. Bà còn được biết tới bởi sự nhúng tay vào chính sự kiểu "Thùy liêm thính chính" (垂簾聽政-tức can thiệp chính trị từ sau hậu đài). Tới những năm 1860, triều đình nhà Thanh đã tiêu diệt được các cuộc nổi dậy nhờ sự hỗ trợ của lực lượng dân quân do tầng lớp quý tộc tổ chức. Sau đó, chính phủ Thanh tiếp tục giải quyết vấn đề hiện đại hóa, từng được đưa ra trước đó với Phong trào tự cường. Nhiều đội quân hiện đại được thành lập gồm cả Hạm đội Bắc Hải; tuy nhiên Hạm đội Bắc Hải đã bị tiêu diệt trong Chiến tranh Trung Nhật (1894-1895), khiến cho ngày càng xuất hiện nhiều kêu gọi cải cách sâu rộng hơn nữa. Đầu thế kỷ 20, nhà Thanh rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Nếu tiếp tục theo đuổi cải cách, họ sẽ khiến giới quý tộc bảo thủ mích lòng, nếu ngăn cản việc đó họ lại khiến những người theo đường lối cách mạng tức giận. Nhà Thanh tìm cách đi theo con đường trung dung, nhưng việc này lại khiến tất cả các bên cùng bất mãn. Mười năm trong giai đoạn cai trị của Hoàng đế Quang Tự (r. 1875 - 1908), áp lực của phương Tây đối với Trung Quốc lớn tới mức họ phải từ bỏ mọi hình thức quyền lực. Năm 1898 Quang Tự nỗ lực tiến hành Bách nhật duy tân (百日維新), còn được biết dưới cái tên "Mậu Tuất biến pháp" (戊戌變法), đưa ra các luật mới thay thế cho các quy định cũ đã bị bãi bỏ. Những nhà cải cách, với đầu óc tiến bộ hơn như Khang Hữu Vi được tin tường và những người có đầu óc thủ cựu như Lý Hồng Chương bị gạt bỏ khỏi các vị trí quan trọng. Nhưng các ý tưởng mới đã bị Từ Hi dập tắt, Quang Tự bị nhốt trong cung. Từ Hi chỉ tập trung vào việc củng cố quyền lực của riêng mình. Tại buổi lễ sinh nhật lần thứ 60, bà đã chi 30 triệu lạng bạc để trang trí và tổ chức, số tiền đã định dùng để cải tiến vũ khí cho Hạm đội Bắc Hải. Năm 1901, sau khi Đại sứ Đức bị ám sát, Liên quân tám nước (八國聯軍) cùng tiến vào Trung Quốc lần thứ hai. Từ Hi phản ứng bằng cách tuyên chiến với tám nước, nhưng chỉ một thời gian ngắn đã để mất Bắc Kinh và cùng với Hoàng đế Quang Tự chạy trốn tới Tây An. Để đòi bồi thường chiến phí, Liên quân đưa ra một danh sách những yêu cầu đối với chính phủ nhà Thanh, gồm cả một danh sách những người phải bị hành quyết khiến cho Lý Hồng Chương, thuyết khách số một của Từ Hi, buộc phải đi đàm phán và Liên quân đã có một số nhượng bộ đối với các yêu cầu của họ. === Sụp đổ triều đại, chấm dứt thời phong kiến === Tới đầu thế kỷ 20, hàng loạt các vụ náo động dân sự xảy ra và ngày càng phát triển. Từ Hi và Hoàng đế Quang Tự cùng mất năm 1908, để lại một khoảng trống quyền lực và một chính quyền trung ương bất ổn. Phổ Nghi, con trai lớn nhất của Thuần Thân Vương, được chỉ định làm người kế vị khi mới hai tuổi, và Thân Vương trở thành người nhiếp chính. Tiếp theo sự kiện này Tướng Viên Thế Khải bị gạt khỏi chức vụ của mình. Tới giữa năm 1911 Thuần Thân Vương lập ra "Chính phủ gia đình hoàng gia", một hội đồng cai trị của Chính phủ Hoàng gia hầu như gồm toàn bộ các thành viên thuộc dòng họ Ái Tân Giác La. Việc này khiến các quan lại cao cấp như Trương Chi Động tỏ thái độ bất mãn. Cuộc Khởi nghĩa Vũ Xương diễn ra vào ngày 10 tháng 10 năm 1911, và tiếp sau đó là sự tuyên bố thành lập một chính phủ trung ương riêng biệt, Cộng hòa Trung Hoa, tại Nam Kinh với Tôn Dật Tiên làm lãnh đạo lâm thời. Nhiều tỉnh bắt đầu "ly khai" khỏi quyền kiểm soát của nhà Thanh. Chứng kiến tình trạng này, chính phủ Thanh dù không muốn cũng buộc phải đưa Viên Thế Khải trở lại nắm quân đội, kiểm soát Bắc Dương quân của ông, với mục tiêu nhằm tiêu diệt những người cách mạng. Sau khi lên giữ chức Tể tướng (內閣總理大臣 Nội các tổng đại thần) và lập ra chính phủ của riêng mình, Viên Thế Khải còn tiến xa nữa khi buộc triều đình phải cách chức nhiếp chính của Thuần Thân Vương. Việc cách chức này sau đó được chính thức hóa thông qua các chỉ thị của Hiếu Định hoàng hậu. Khi Thuần Thân Vương đã buộc phải ra đi, Viên Thế Khải và các vị chỉ huy bên trong Bắc Dương quân của mình hoàn toàn nắm quyền chính trị của triều đình nhà Thanh. Ông cho rằng không có lý do gì để tiến hành một cuộc chiến tranh gây nhiều tốn phí, đặc biệt khi nói rằng chính phủ nhà Thanh chỉ có một mục tiêu thành lập một nền quân chủ lập hiến. Tương tự như vậy, chính phủ của Tôn Dật Tiên muốn thực hiện một cuộc cải cách dân chủ, vừa hướng tới lợi ích của nền kinh tế và dân chúng Trung Quốc. Với sự cho phép của Hiếu Định hoàng hậu, Viên Thế Khải bắt đầu đàm phán với Tôn Dật Tiên, người đã cho rằng mục tiêu của mình đã thành công trong việc lập ra một nhà nước cộng hòa và vì thế ông có thể cho phép Viên Thế Khải nhận chức vụ Tổng thống của nền Cộng hòa. Năm 1912, sau nhiều vòng đàm phán, Hiếu Định đưa ra một chiếu chỉ tuyên bố sự thoái vị của Phổ Nghi vị hoàng đế nhỏ tuổi. Sự sụp đổ của nhà Thanh năm 1912 đánh dấu sự kết thúc của hơn 2000 năm chế độ phong kiến Trung Quốc và sự khởi đầu của một giai đoạn bất ổn kéo dài. == Một số khái niệm về giai đoạn lịch sử và các triều đại == Ngoài những giai đoạn loạn lạc được gọi tên chính thức trong và phân định rõ bằng niên biểu trong lịch sử như Xuân Thu - Chiến Quốc, Ngũ Hồ thập lục quốc, Ngũ đại Thập quốc, trong lịch sử Trung Quốc còn có những cách gọi khái quát về các giai đoạn, các triều đại: Tam đại: Gọi chung 3 triều đại nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu Tiên Tần: Giai đoạn trước khi thành lập nhà Tần (221-206 TCN) Lưỡng Hán: Tức là hai nhà Tây Hán (206 TCN - 8) và Đông Hán (25 - 220). Lưỡng Tấn: Tức là hai nhà Tây Tấn (265 - 316) và Đông Tấn (317 - 420). Lục triều: Chỉ 6 triều đại kế tục nhau cai trị ở Giang Nam, đóng đô ở Kiến Khang (trước là Kiến Nghiệp): Đông Ngô, Đông Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, nhà Lương và nhà Trần. Lưỡng Tống: tức là hai nhà Bắc Tống (960 - 1127) và Nam Tống (1127 - 1279). == Xem thêm == Lịch sử Trung Hoa Dân Quốc Lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa == Đọc thêm == Laufer, Berthold. 1912. JADE: A Study in Chinese Archaeology & Religion. Reprint: Dover Publications, New York. 1974. Korotayev A., Malkov A., Khaltourina D. Introduction to Social Macrodynamics: Secular Cycles and Millennial Trends. Moscow: URSS, 2006. ISBN 5-484-00559-0 [1] (Chapter 2: Historical Population Dynamics in China). == Chú thích == == Liên kết ngoài == === Tiếng Việt === Bản đồ mở rộng lãnh thổ Trung Quốc === Tiếng Anh === China: History trên Bách khoa toàn thư tiếng Anh Encyclopædia Britannica, bản trực tuyến
sân bay quốc tế nnamdi azikiwe.txt
Sân bay quốc tế Nnamdi Azikiwe (IATA: ABV, ICAO: DNAA) là một sân bay ở Abuja, Lãnh thổ thủ đô liên bang, Nigeria, là sân bay chính phục vụ thủ đô của Nigeria. Sân bay này được đặt tên theo tổng thống đầu tiên của Nigeria, tiến sĩ Nnamdi Azikiwe. Sân bay này có một nhà ga quốc tế và một nhà ga quốc nội. Năm 2004, sân bay này đã phục vụ 2.232.905 lượt hành khách. Abuja Gateway Consortium đã ký một hợp đồng vào ngày 13 tháng 11 năm 2006 với giá trị 101,1 triệu USD để quản lý sân bay này trong 25 năm. == Các hãng hàng không và các tuyến điểm đến == === Quốc tế === British Airways (London-Heathrow) KLM Royal Dutch Airlines (Amsterdam) Lufthansa (Frankfurt) === Quốc nội === Aero Contractors (Nigeria) (Lagos, Owerri) Arik Air (Akure, Thành phố Benin, Calabar, Enugu, Kano, Lagos, Maiduguri, Owerri, Port Harcourt,Yola) Bellview Airlines (Kano, Lagos) Chanchangi Airlines (Lagos, Port Harcourt) IRS Airlines (Kano, Maiduguri) Overland Airways (Ibadan, Ilorin) Virgin Nigeria (Lagos, Kano, Sokoto) == Sự cố và tai nạn == Ngày 10 tháng 12 năm 2005, chuyến bay số 1145 của Sosoliso Airlines rơi tại Sân bay quốc tế Port Harcourt ở Port Harcourt sau khi bay đến từ Abuja. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Thời tiết hiện tại cho DNAA theo NOAA/NWS ASN lịch sử tai nạn của ABV
ứng dụng trên thiết bị di động.txt
Một phần mềm ứng dụng trên thiết bị di động, còn được gọi tắt là ứng dụng di động, hoặc chỉ ứng dụng, (tiếng Anh: Mobile app hoặc app) là phần mềm ứng dụng được thiết kế để chạy trên điện thoại thông minh, máy tính bảng và các thiết bị di động khác. Các ứng dụng thường có sẵn thông qua các nền tảng phân phối ứng dụng, bắt đầu xuất hiện vào năm 2008 và thường được điều hành bởi các chủ sở hữu của hệ điều hành di động, như Apple App Store, Google Play, Windows Phone Store, và BlackBerry App World. Một số ứng dụng miễn phí, trong khi một số ứng dụng phải được mua. Thuật ngữ "ứng dụng" là một rút ngắn của thuật ngữ "phần mềm ứng dụng". Trong tiếng Anh, thường được viết là app và đã trở thành rất phổ biến và trong năm 2010 đã được liệt kê như là " từ ngữ của năm" do Hiệp hội American Dialect Society chọn lọc. Ứng dụng di động ban đầu được cung cấp với mục đích thông tin tổng quát và các dịch vụ thông dụng trên mạng toàn cầu, bao gồm email, lịch, danh bạ, và thị trường chứng khoán và thông tin thời tiết. Tuy nhiên, nhu cầu chung của những người sử dụng thiết bị di động và khả năng phát triển của các nhà lập trình đã mở rộng thành các loại khác, chẳng hạn như trò chơi di động, tự động hóa nhà máy, GPS và các dịch vụ dựa trên địa điểm, định vị và ngân hàng, để theo dõi, mua vé và các ứng dụng y tế di động gần đây. Sự bùng nổ về số lượng và sự đa dạng của các ứng dụng đã tạo ra 1 tiềm năng và thị trường lớn. Sự phổ biến của các ứng dụng di động đã tiếp tục tăng. Theo công ty nghiên cứu thị trường Gartner, 102 tỷ ứng dụng sẽ được tải về trong năm 2013 (91% trong số đó là miễn phí) nhưng chúng vẫn sẽ tạo ra 26 tỷ USD, tăng 44,4% so với 18 tỷ USD vào năm 2012. Báo cáo phân tích ước tính rằng nền kinh doanh ứng dụng tạo ra doanh thu hơn 10 tỷ € cho mỗi năm trong Liên minh châu Âu, trong khi hơn 529.000 công ăn việc làm đã được tạo ra trong 28 quốc gia EU do sự tăng trưởng của thị trường ứng dụng. == Chú thích ==
cánh đồng.txt
Cánh đồng là một khu vực đất đai rộng lớn ở vùng đồng quê hoặc ở khu vực ngoại ô được sử dụng trong lĩnh vục một nông nghiệp để trồng trọt, chăn nuôi. Cánh đồng có thể dùng để canh tác, trồng trọt các loại ngũ cốc (cánh đồng lúa mì, cách đồng lúa mạch...) chăn nuôi (cánh đồng được phủ nhiều cỏ thành những đồng cỏ để chăn nuôi gia súc) hoặc trồng các sản phẩm nông nghiệp khác (cánh đồng hoa, cánh đồng trồng hướng dương...). Địa hình và cấu tạo thổ nhưỡng của cánh đồng thường là đồng bằng xen lẫn với các con dốc thoải, đất đai phong phú chất hữu cơ, thuận lợi cho trồng trọt. Trong tiếng Hy Lạp cánh đồng được gọi là "agros" và tiếng Latin là "ager" đều dùng để chỉ về một diện tích đất trồnng có ranh giới rõ ràng (hành lang). Trong khi đó ở Úc và New Zealand thì cánh đồng được gọi là "paddock" có nghĩa là nơi các gia súc gặm cỏ và là không gian để các loại gia súc như bò, cừu chạy nhảy. Ở Việt Nam, cánh đồng thường được biến đến với những cánh đồng lúa cò bay thẳng cánh được hình thành từ những thửa ruộng. == Tham khảo ==
tết dương lịch.txt
Tết Dương lịch hay còn gọi là Tết Tây là một trong những ngày lễ quan trọng trong năm của nhiều dân tộc và nền văn hóa trên thế giới. Ngày năm mới của lịch Gregorius rơi vào ngày 1 tháng 1, cũng là ngày được áp dụng trong lịch La Mã cũ và lịch Julius. Thứ các tháng trong năm là từ tháng 1 đến tháng 12 trong lịch La Mã cổ trong suốt triều đại vua Numa Pompilius khoảng năm 700 TCN, theo như Plutarchus và Macrobius, và được tiếp tục sử dụng cho đến ngày nay. Ở nhiều quốc gia như Cộng hòa Séc, Italy, Tây Ban Nha, vương quốc Anh và Hoa Kỳ, ngày 1/1 là ngày lễ quốc gia. Trong thời Trung cổ ở Tây Âu, khi lịch Julian vẫn còn được sử dụng, các nhà chức sắc đã dời ngày năm mới khác nhau, tùy thuộc vào địa điểm, từ 1 đến vài ngày, chẳng hạn: 1 tháng 3, 25 tháng 3, 1 tháng 9, 25 tháng 12. Những ngày năm mới dần dần chuyển thành dùng ngày 1 tháng 1 trước hoặc trong việc thừa nhận của lịch Gregorius (Adoption of the Gregorian calendar), bắt đầu từ năm 1582. Tuy nhiên, việc sử dụng các loại lịch khác ở các vùng hay địa phương vẫn tồn tại, cùng với các nghi thức tôn giáo và văn hóa. Ở nhiều nơi (như Israel, Trung Quốc và Ấn Độ) cũng tổ chức năm mới ở các thời điểm được xác định theo các loại lịch khác nhau. Ở Mỹ Latin, việc quan sát các phong tục thuộc về các nền văn hóa bản địa khác nhau vẫn tiếp tục theo các lịch riêng của họ, bất chấp sự thống trị của các nền văn hóa mới gần đây. == Lịch sử == Bắt nguồn từ phương Tây, ở thời La Mã và Hy Lạp, họ biết làm lịch, đã tạo ra Dương lịch. == Theo tháng hoặc theo mùa == Những ngày phổ biến của các lễ tổ chức năm mới được liệt kê dưới đây, sắp xếp và gom nhóm theo mối quan hệ tương đồng với lịch Gregoria. === Tháng 1 === === Tết Nguyên Đán === === Tháng 2 === === Tháng 3 === === Tháng 4 === == Các múi giờ == Bởi vì có nhiều múi giờ khác nhau trên thế giới, năm mới xảy ra khắp nơi liên tục khi ngày bắt đầu năm mới đến. Múi giờ đầu tiên đánh dấu năm mới là phía tây đường đổi ngày quốc tế, nằm ở quần đảo Line, một phần lãnh thổ của Kiribati, và có múi giờ 14 tiếng trước giờ Phối hợp Quốc tế. == Xem thêm == == Tham khảo ==
mai hắc đế.txt
Mai Hắc Đế (chữ Hán: 梅黑帝; ?–722), tên thật là Mai Thúc Loan (梅叔鸞) là vị vua người Việt thời Bắc thuộc, anh hùng dân tộc, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống sự chiếm đóng của nhà Đường ở Việt Nam vào đầu thế kỉ thứ 8. == Thời thơ ấu == Mai Thúc Loan sinh vào khoảng cuối thế kỷ 7, tại thôn Ngọc Trừng, Hoan Châu, nay thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An. Theo Việt điện u linh, cha của Mai Thúc Loan là Mai Hoàn, mẹ là Mai An Hòa nguyên gốc Thạch Hà - Hà Tĩnh, lưu lạc sang vùng Nam Đàn - Nghệ An. Theo sách Việt sử tiêu án, Mai Thúc Loan là người làng Hương Lãm, huyện Nam Đường, nay là thị trấn Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, dân lập đền thờ ông ở thôn chợ Sa Nam. Năm Mai Thúc Loan 10 tuổi, mẹ đi lấy củi bị hổ vồ, ít lâu sau bố cũng mất. Ông được người bạn của bố là Đinh Thế đem nuôi, sau gả con gái là Ngọc Tô cho. Sinh thời Mai Thúc Loan vốn rất khỏe mạnh, giỏi đô vật, học rất giỏi và có chí lớn. Ông mở lò vật, lập phường săn, chiêu mộ trai tráng trong vùng mưu việc lớn. Vợ ông giỏi việc nông trang, nhờ đó "gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông". Nhờ chí du ngoạn lại được vợ hết lòng ủng hộ, Mai Thúc Loan kết thân với nhiều hào kiệt, sau này trở thành những tướng tài tụ nghĩa dưới lá cờ của ông như Phòng Hậu, Thôi Thặng, Đàn Vân Du, Mao Hoành, Tùng Thụ, Tiết Anh, Hoắc Đan, Khổng Qua, Cam Hề, Sỹ Lâm, Bộ Tân,... Sách An Nam chí lược viết về ông là Soái trưởng Giao Châu. == Khởi nghĩa == === Bối cảnh === Năm 605, tướng nhà Tùy là Lưu Phương đánh bại các cuộc chống đối của người Việt, thiết lâp sự đô hộ của nhà Tùy. Nhà Tùy mất, nhà Đường lên thay, đặt nước Việt làm An Nam Đô hộ phủ, đóng ở Giao Châu. === Diễn biến === Khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (713). Khởi nghĩa nổ ra tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An). Tương truyền lúc đó ông cùng đoàn phu gánh vải nộp cho nhà Đường, đã kêu gọi các phu gánh vải nổi dậy chống quân Đường. Tuy nhiên, hiện nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất: sưu cao, thuế nặng là nguyên nhân khiến nhân dân nổi dậy chống lại ách đô hộ nhà Đường, nổi bật là khởi nghĩa Hoan Châu. Đây là cuộc khởi nghĩa có sự chuẩn bị, biết chọn thời cơ, không phải một cuộc bạo động. Chuyện "cống vải" là một chi tiết của truyền thuyết, không thể và không phải là nguyên nhân chính nổ ra cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc do Mai Thúc Loan lãnh đạo. Tháng 4 năm 713, Mai Thúc Loan lên ngôi vua, sử gọi ông là Mai Hắc Đế. Theo Việt điện u linh, Mai Hắc Đế mang mệnh thủy tức là nước, mà nước được tượng trưng là màu đen. Vì vậy, ông lấy hiệu là Hắc Đế để hợp với mệnh của mình. Một số nguồn cũng cho hay, ông lấy hiệu là Mai Hắc Đế vì ông có màu da đen. Ông cho xây thành lũy, lập kinh đô Vạn An (thuộc xã Vân Diên và thị trấn Nam Đàn hiện nay), tích cực rèn tập tướng sỹ. Cuộc nổi dậy của ông được hưởng ứng rộng rãi ở trong nước và có cả sự liên kết với Lâm Ấp và Chân Lạp. Theo sách An Nam chí lược: Sơ niên hiệu Khai Nguyên (713-714), của Huyền Tông, Soái trưởng Giao Châu là Mai Thúc Loan làm phản, hiệu xưng là Hắc Đế, ngoài thì kết giao với quân của Lâm Ấp và Chân Lạp, tập họp được 30 vạn quân sĩ, chiếm cứ nước An-nam. Vua Huyền Tông ra lời chiếu sai quan Tả Giam Môn Vệ tướng quân là Dương Tư Miễn và quan đô hộ là Nguyên sở Khách qua đánh, cứ noi theo con đường cũ của Mã-Viện đi tới phá quân của Loan, thâu những xác chết đắp thành gò lớn, rồi kéo về. Năm Giáp Dần (714), Mai Hắc Đế tiến binh đánh thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Thái thú nhà Đường là Quang Sở Khách cùng đám thuộc hạ không chống cự lại được, phải bỏ thành chạy về nước. Lực lượng Mai Hắc Đế lúc đó lên tới chục vạn quân. Nhà Đường bèn huy động 10 vạn quân do tướng Dương Tư Húc và Quang Sở Khách sang đàn áp. Quân quan nhà Đường tiến theo đường bờ biển Đông Bắc và tấn công thành Tống Bình. Sau nhiều trận đánh khốc liệt, từ lưu vực sông Hồng đến lưu vực sông Lam, cuối cùng Mai Hắc Đế thất trận, thành Vạn An thất thủ, nghĩa quân tan vỡ. Không đương nổi đội quân xâm lược, Mai Hắc Đế phải rút vào rừng, sau bị ốm rồi mất. Theo sách Việt sử tiêu án, Thời nhà Đường có Tống Chi Đễ bị tội đầy ra quận Chu Diên, gặp lúc Loan vây hãm châu Hoan, vua Đường bèn trao cho Đễ chức Tổng quản để đánh ông Loan. Đễ mộ được 8 người tráng sĩ mặc áo giáp dày, kéo đến tận chân thành mà hô to rằng: "Hễ bọn người Lèo hành động tức thì giết chết"; 700 quân đều phục xuống không dám đứng dậy, mới bình được. Từ thời điểm đánh chiếm Hoan Châu, lên ngôi vua, củng cố lực lượng, Mai Thúc Loan đã giải phóng toàn bộ đất nước và giữ vững nền độc lập trong 10 năm (713 - 722), không phải cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo nổ ra và bị dập tắt ngay trong cùng một năm 722 như các tài liệu phổ biến hiện nay. Tương truyền, con trai thứ ba của ông là Mai Thúc Huy lên ngôi vua tức Mai Thiếu Đế, tiếp tục chống trả các cuộc tấn công của nhà Đường tới năm 723. Tương truyền từ sau cuộc khởi nghĩa này, nhà Đường không bắt dân An Nam đô hộ phủ nộp cống vải quả hằng năm nữa. == Nhận định == == Tưởng nhớ == Đời sau nhớ ơn Mai Hắc Đế, lập đền thờ ông ở trên núi Vệ Sơn và trong thung lũng Hùng Sơn. Ngày nay tại địa phận xã Vân Diên, huyện Nam Đàn có khu di tích tưởng niệm ông. Một bài thơ chữ Hán còn ghi trong Tiên chân báo huấn tân kinh để ở đền thờ, ca tụng công đức ông như sau (bản dịch): Hùng cứ châu Hoan đất một vùng, Vạn An thành lũy khói hương xông, Bốn phương Mai Đế lừng uy đức, Trăm trận Lý Đường phục võ công. Lam Thủy trăng in, tăm ngạc lặn, Hùng Sơn gió lặng, khói lang không. Đường đi cống vải từ đây dứt, Dân nước đời đời hưởng phúc chung. == Tham khảo == Đại Việt sử ký toàn thư, Soạn giả Lê Văn Hưu, Ngô Sỹ Liên,...; Dịch giả Viện sử học Việt Nam; Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993. Việt sử tiêu án, Soạn giả Ngô Thì Sĩ,Dịch giả: Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu Nhà xuất bản: Văn Sử 1991. An Nam chí lược; Soạn giả Lê Tắc; Dịch giả: Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam; Nhà xuất bản: Viện Đại Học Huế 1961. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Mai Thúc Loan Mai Hắc Đế-bài viết của Trần Quốc Vượng Mai Hắc Đế
đồng bằng.txt
Trong địa lý học, vùng đồng bằng hay bình nguyên là một vùng đất đai rộng lớn với địa hình tương đối thấp — nghĩa là nó tương đối bằng phẳng, với độ cao so với mực nước biển không quá 500 m và độ dốc không quá 5°. Khi độ cao không quá 200 m, người ta gọi nó là đồng bằng thấp, còn khi độ cao từ 200 m tới 500 m, gọi là đồng bằng cao. Các dạng đồng cỏ Bắc Mỹ và đồng cỏ châu Âu là các kiểu đồng bằng, và nguyên mẫu cho đồng bằng thường được coi là các đồng cỏ, nhưng các vùng đồng bằng trong trạng thái tự nhiên của chúng có thể được che phủ bằng các dạng cây bụi, đồng rừng hay rừng, hoặc thảm thực vật có thể thiếu vắng trong trường hợp các đồng bằng cát hay đá tại các sa mạc. Các kiểu vùng đất bằng khác mà thuật ngữ đồng bằng nói chung không hay ít được áp dụng là những vùng bị che phủ hoàn toàn và vĩnh cửu như các đầm lầy, các vùng đất trũng lòng chảo (playa) hay các dải băng. Các đồng bằng đôi khi xuất hiện như là các vùng đất thấp ở vùng đáy các thung lũng nhưng cũng có trên các cao nguyên ở độ cao khá lớn. Chúng có thể được hình thành từ dung nham chảy xuống, trầm lắng bởi nước (suối, sông hay biển), băng và gió, hay bởi xói mòn dưới các tác động của các yếu tố này từ các sườn đồi, núi. Các vùng đồng bằng tại nhiều khu vực là quan trọng cho phát triển nông nghiệp, do khi đất được bồi tích như là các trầm tích thì độ sâu của nó có thể khá lớn và độ màu mỡ là khá cao, cũng như độ bằng phẳng cao thuận lợi cho quá trình cơ giới hóa sản xuất; cũng như tại các đồng bằng có thể có các đồng cỏ cung cấp thức ăn cho gia súc. == Đặc trưng == Các đặc trưng của đồng bằng: Độ cao: Không lớn ≤200 m: đồng bằng thấp ≤500 m: đồng bằng cao Độ dốc: ≤5° == Các kiểu đồng bằng == Theo hình thái, người ta phân chia đồng bằng thành 4 loại: Đồng bằng nằm ngang Đồng bằng nghiêng Đồng bằng trũng Đồng bằng nhô cao Theo địa hình, người ta phân chia đồng bằng thành: Đồng bằng bằng phẳng Đồng bằng lượn sóng Đồng bằng đồi Đồng bằng gò đồi Theo nguồn gốc, người ta phân chia đồng bằng thành: Đồng bằng cấu trúc: theo cấu tạo địa chất Đồng bằng bóc mòn, bào mòn Đồng bằng trầm tích === Một vài loại === Đồng bằng sét tảng lăn, kiểu đồng bằng hình thành từ sét tảng lăn sông băng khi các dải băng bị tách rời khỏi dòng chính của sông băng và tan chảy tại chỗ để trầm lắng các trầm tích nó mang theo. Đồng bằng trầm tích sông được hình thành bởi các con sông hay suối, và nó có thể là một trong các kiểu sau: Bãi bồi, vùng cận kề sông, suối, hồ hay vùng đất ướt phải trải qua ngập lụt có chu kỳ hay đôi khi xảy ra. Đồng bằng bồi tích, hình thành trong một thời gian dài bởi các con sông trầm lắng trầm tích trên vùng bãi bồi ngập lụt hay đáy của nó thành đất phù sa. Khác biệt giữa bãi bồi và đồng bằng bồi tích ở chỗ các bãi bồi là các khu vực trải qua ngập lụt có chu kỳ hay đôi khi trong thời gian gần đây hay hiện tại trong khi đồng bằng bồi tích bao gồm các khu vực trong đó bãi bồi là hiện nay hoặc trong quá khứ hay các khu vực chỉ chịu ngập lụt một vài lần trong mỗi thế kỷ. Đồng bằng duyên hải, vùng đất thấp và cận kề bờ biển; thuật ngữ này được đặc biệt sử dụng khi nó tương phản với vùng đồi, núi hay cao nguyên ở xa hơn trong đất liền. Đồng bằng đáy hồ, kiểu đồng bằng hình thành từ môi trường hồ, nghĩa là nó là đáy hồ bị cạn kiệt nước. Đồng bằng dung nham, hình thành từ các dải hay các luồng dung nham. == Các kiểu đồng bằng khác == Thuật ngữ cũng được sử dụng cho các khu vực bằng phẳng dưới đáy biển hay các vùng bằng phẳng trên Mặt Trăng và các hành tinh khác. Đồng bằng biển thẳm, vùng bằng phẳng hay có độ dốc thấp trên đáy biển sâu. Đồng bằng trũng biển rìa, vùng bằng phẳng hay có độ dốc thấp trên đáy biển rìa. Đồng bằng thềm lục địa, vùng bằng phẳng hay có độ dốc thấp trên thềm lục địa. == Xem thêm == Đồng ruộng Đồng cỏ ngập lụt Xavan Bãi chăn thả ngập lụt Đồng cỏ hay thảo nguyên Bãi chăn thả Cao nguyên Đồng cỏ Bắc Mỹ Đồng cỏ châu Âu Đồng cỏ tưới nước Đồng cỏ ẩm ướt Veld, một kiểu đồng cỏ ở Nam Phi. == Ghi chú ==
long toàn, bà rịa.txt
Long Toàn là một phường thuộc thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam. Phường Long Toàn có diện tích 2,72 km², dân số năm 2005 là 7948 người, mật độ dân số đạt 2922 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
giấy phép apache.txt
Giấy phép Apache /əˈpætʃi/ là một giấy phép phần mềm tự do của Quỹ Phần mềm Apache (Apache Software Foundation - ASF). Giấy phép Apache bắt buộc phải có thông báo bản quyền và lời phủ nhận. Tương tự như các giấy phép phần mềm tự do khác, Giấy phép Apache trao cho người dùng phần mềm quyền tự do sử dụng phần mềm với bất kỳ mục đích nào, phân phối, chỉnh sửa, và phân phối bản có sửa đổi của phần mềm, theo các điều khoản của giấy phép, mà không lo lắng tới phí bản quyền. Tất cả các phần mềm do ASF hoặc các dự án và vật thể của ASF đều được cấp phép theo các điều khoản của Giấy phép Apache. Một số phần mềm không phải của ASF cũng được cấp phép theo Giấy phép Apache. Đến tháng 10 năm 2012, đã có 8708 dự án đặt tại SourceForge.net được cấp phép theo các điều khoản của Giấy phép Apache. Trong một bài viết trên blog vào tháng 5 năm 2008 Google nói rằng 25.000 trong tổng số 100.000 dự án đặt trên Google Code đang sử dụng Giấy phép Apache, trong đó có hệ điều hành Android. == Các phiên bản == Giấy phép Apache 1.0 là Giấy phép Apache gốc chỉ áp dụng cho các phiên bản cũ của các gói Apache (như phiên bản 1.2 của máy chủ web). Giấy phép Apache 1.1 được ASF thông qua năm 2000: Thay đổi cơ bản từ 1.0 sang 2.0 là 'khoản quảng cáo' (mục 3 giấy phép 1.0); các sản phẩm phái sinh không còn bắt buộc phải kèm lời ghi công trong các thành phần quảng cáo, mà chỉ trong hướng dẫn sử dụng mà thôi. ASF bắt đầu sử dụng Giấy phép Apache 2.0 vào tháng 1 năm 2004. Mục tiêu của giấy phép bao gồm giúp các dự án sử dụng giấy phép nhưng không thuộc ASF dễ dàng sử dụng, cải tiến độ tương thích với phần mềm theo GPL, cho phép giấy phép được đính vào phần tham khảo thay vì phải ghi trong mỗi tập tin, làm rõ giấy phép cho từng phần đóng góp, và bắt buộc một giấy phép bằng sáng chế cho các đóng góp có khả năng vi phạm bằng sáng chế của một người đóng góp. == Các điều khoản giấy phép == Giấy phép Apache được xem là loại giấy phép không có nhiều ràng buộc vì nó không bắt buộc phiên bản đã thay đổi của phần mềm phải được phân phối với cùng giấy phép (không giống như các giấy phép copyleft). Trong mỗi tập tin được cấp phép, bất kỳ bản quyền, bằng sáng chế, thương hiệu, và thông báo ghi công phải được giữ nguyên trong các đoạn mã khi phát hành lại (ngoại trừ các thông báo không liên quan đến tác phẩm phái sinh); và, trong tất cả các tập tin có thay đổi, phải thêm vào một thông báo nói rằng tập tin này đã được thay đổi. Nếu có một tập tin văn bản NOTICE trong bản phân phối tác phẩm gốc, thì các tác phẩm phái sinh phải kèm theo bản sao của thông báo nào bên trong tập tin NOTICE đi kèm với tác phẩm phái sinh, bên trong mã nguồn hoặc tài liệu hướng dẫn sử dụng, hoặc bên trong một giao diện của tác phẩm phái sinh (tại nơi thường hiển thị thông báo của bên thứ ba). Nội dung của tập tin NOTICE không được thay đổi giấy phép, vì chúng chỉ mang tính thông tin thuần túy, và được phép thêm vào thông báo ghi công vào phần bổ sung của tập tin NOTICE, miễn là các thông báo này không bị hiểu thành thay đổi giấy phép. Những sự thay đổi có thể có các thông báo bản quyền phù hợp, và có thể có điều khoản giấy phép khác biệt cho phần sửa đổi. Trừ khi có tuyên bố khác, bất kỳ đóng góp nào do người được cấp phép gửi cho người cấp phép sẽ tuân theo các điều khoản của giấy phép mà không kèm điều khoản và điều kiện, nhưng điều này không ảnh hưởng đến các thỏa thuận riêng rẽ giữa hai bên liên quan đến phần đóng góp này. == Tương thích với GPL == Quỹ Phần mềm Apache và Quỹ Phần mềm Tự do cùng đồng ý rằng Giấy phép Apache 2.0 là giấy phép phần mềm tự do, tương thích với phiên bản 3 của Giấy phép Công cộng GNU (GPL), có nghĩa là mã nguồn cấp phép theo GPL phiên bản 3 và Giấy phép Apache 2.0 có thể được trộn lẫn với nhau miễn là phần mềm mới được cấp phép theo giấy phép GPL phiên bản 3. Ngoài ra, Quỹ Phần mềm Tự do còn xem tất cả các phiên bản Giấy phép Apache (tính đến năm 2007) là tương thích với giấy phép GPL phiên bản cũ 1 và 2. == Xem thêm == Giấy phép phần mềm tự do == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Giấy phép Apache Bản mẫu:Apache
olympiad cờ vua.txt
Olympiad Cờ vua là một giải đấu cờ vua đồng đội mà các đội tham dự đến từ khắp thế giới. Sự kiện này được tổ chức 2 năm một lần bởi FIDE. FIDE cũng chọn nước chủ nhà cho từng năm. == Sự ra đời của Olympiad Cờ vua == Olympiad đầu tiên là không chính thức. Nỗ lực để cờ vua trở thành một môn thể thao trong Thế vận hội Mùa hè 1924 tại Paris đã thất bại do có sự phân biệt giữa kỳ thủ nghiệp dư và kỳ thủ chuyên nghiệp Do đó, khi Thế vận hội Mùa hè 1924 diễn ra ở Paris, Olympiad Cờ vua 1924 (không chính thức) đầu tiên cũng diễn ra tại Paris. FIDE được thành lập vào Chủ nhật, ngày 20 tháng 7, năm 1924, ngày bế mạc của Olympiad Cờ vua 1924 (không chính thức) lần thứ nhất. FIDE tổ chức kỳ Olympiad chính thức đầu tiên năm 1927 tại London. Olympiad được tổ chức hàng năm nhưng bị gián đoạn bởi Chiến tranh Thế giới II. Từ 1950, các kỳ Olympiad được tổ chức 2 năm một lần. == Môn thể thao được công nhận == Cờ vua được công nhận là một môn thể thao bởi Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC); đến tháng 6 năm 1999, FIDE được công nhận là Liên đoàn Thể thao Quốc tế Là một thành viên của IOC, FIDE tuân thủ tuyệt đối theo nhưng quy định, bao gồm, việc kiểm tra doping Điều này đã gây nên một sự tranh cãi trong giới chuyên môn cờ vua. Viễn cảnh cờ vua trở thành một môn thể thao thi đấu chính thức của Olympic vẫn là chưa rõ ràng. Vì thế, Olympiad Cờ vua không liên quan gì đến Olympic. == Thi đấu == Mỗi thành viên của FIDE có thể tham gia một đội để thi đấu Olympiad. Mỗi đội gồm 5 kỳ thủ, 4 kỳ thủ chính thức và 1 dự bị (trước Olympiad Cờ vua 2008 tại Dresden, có 2 kỳ thủ dự bị)). Ban đầu mỗi đội đấu vòng tròn với các đội khác. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều đội tham gia giải đấu nên điều này là không khả thi. Ban đầu, các đội được xếp hạng hạt giống sẽ thi đấu trước. Nhưng điều này có một số mặt hạn chế và đến năm 1976, hệ Thụy Sĩ được áp dụng. Cúp cho đội giành chiến thắng là Cúp Hamilton-Russell, được nhà tài phiệt Frederick Hamilton-Russel đề nghị như một giải thưởng cho Olympiad Cờ vua thứ nhất tại London 1927. Cúp được giữ bởi đội chiến thắng cho đến giải đấu lần sau, khi nó được giao lại cho nhà vô địch mới. Cúp cho đôi nữ chiến thắng Olympiad Cờ vua Nữ là Cúp Vera-Menchik. Olympiad Cờ vua thứ 39 được tổ chức tại Khanty-Mansiysk, Nga. Olympiad Cờ vua thứ 40 được tổ chức tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ và Olympiad Cờ vua thứ 41 sẽ được tổ chức ở Tromsø, Na Uy. == Kết quả Olympiad == * Năm 1976, Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa không tham gia vì lý do chính trị. == Xếp hạng các đội == Tính tổng số huy chương mà mỗi đội giành được qua tất cả các kỳ Olympiad. Tính cả Đông Đức và Tây Đức. == Kết quả các nhân == Các kết quả cá nhân xuất sắc nhất: CHÚ Ý: Chỉ những kỳ thủ tham dự Olympiad ít nhất 4 lần mới được tính trong danh sách này. Chỉ tính huy chương cá nhân của các kỳ thủ, theo thứ tự vàng - bạc - đồng. (1) Kasparov tham dự 4 kỳ Olympiad đầu cho Liên Xô, còn lại cho Nga. 4 huy chương vàng là do có hiệu suất thi đấu (lần đầu được giới thiệu ở Thessaloniki 1984) cao nhất, 3 huy chương vàng còn lại là do số điểm giành được nhiều nhất tại bàn 1. (2) Keres tham dự 3 kỳ Olympiad đầu cho Estonia, còn lại cho Liên Xô. == Xem thêm == Giải Vô địch Cờ vua Đồng Đội châu Âu Liên Xô và Phần còn lại của thế giới Olympiad Cờ vua Nữ Giải Vô địch Cờ vua Thế giới Đại hội Thể thao Trí tuệ Thế giới (World Mind Sports Games) Tổ chức Thể thao Trí tuệ (Mind Sports Organization) == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của FIDE: FIDE Handbook: Chess Olympiads FIDE Handbook: Children`s Olympiads Dữ liêu trên OlimpBase: Men's results summary Women's results summary Children's Chess Olympiad and results Olympiads Data and Trivia from Bill Wall Chess Olympiad 2010 details
cầu gỗ.txt
Phố Cầu Gỗ là một con phố cổ ở Hà Nội, nối từ đoạn đầu Hàng Gai, chỗ quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục tới Nguyễn Hữu Huân. == Vị trí - Đặc điểm == Phố Cầu Gỗ là con phố dài 250m, nằm trong địa phận quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây là con phố một chiều, bắt từ đầu Hàng Gai cắt qua Hàng Đào, Đinh Liệt, Hồ Hoàn Kiếm, Hàng Dầu, Hàng Bè, qua Nguyễn Hữu Huân và tiếp là phố Hàng Thùng. Phố nằm trong khu phố cổ Hà Nội, với nhiều ngôi nhà cổ, hàng quán san sát ven đường. == Lịch sử == Phố Cầu Gỗ là con phố khá lâu đời, có từ thời kinh thành Thăng Long có 36 phố phường thế kỷ XV. Phố được xây trên nền đất của hai thôn cổ là Hương Minh và Nhiễm Thượng, đều thuộc tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương. Phố được đặt tên là Cầu Gỗ vì con phố có một cây cầu bắc qua con lạch nhỏ nối hai hồ Thái Cực (hay còn gọi là hồ Hàng Đào, đã bị Pháp lấp đi để xây nhà) và Hoàn Kiếm lại với nhau. Thời cổ, đây là phố cho các học trò trọ xung quanh đến ăn cơm. Đến thời Pháp thuộc, phố mang tên Rue du Pont en bois (nghĩa vẫn là Cầu Gỗ), là con phố chính của Hà Nội cổ. Các ngôi nhà trên phố lúc đấy đều được xây theo kiểu cổ, một tầng và có gác xép. Phố Cầu Gỗ xưa bán sơn và các loại dầu cung cấp cho Hà Nội. == Các tuyến xe buýt chạy qua == Tuyến 14, 09 == Xem thêm == Hồ Hoàn Kiếm Hoàn Kiếm Phố Hồ Hoàn Kiếm == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Giới thiệu về phố cổ
1 tháng 5.txt
Ngày 1 tháng 5 là ngày thứ 121 (122 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 244 ngày trong năm. == Sự kiện == 280 - Hoàng đế Tôn Hạo của Ngô tự trói mình, ra khỏi kinh thành Kiến Khang và đến cửa doanh môn quân Tấn để đầu hàng, thời kỳ Tam Quốc kết thúc, tức ngày Nhâm Dần (15) tháng 3 năm Canh Tý. 305 – Hai đồng hoàng đế Diocletianus và Maximianus trở thành những hoàng đế La Mã đầu tiên tự nguyện thoái vị. 1786 – Vở Opera Le nozze di Figaro của nhà soạn nhạc Wolfgang Mozart được trình diễn lần đầu tiên tại Wien. 1852 – Đồng Peso Philippines được đưa vào lưu thông. 1865 – Brazil, Uruguay và Argentina ký bản hiệp ước tạo liên minh chống lại Paraguay trong Chiến tranh Tam Đồng minh, cuộc đại chiến đẫm máu gây nhiều tử thương nhất trong lịch sử Nam Mỹ. 1930 – Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh khởi đầu với cuộc biểu tình của công nhân Bến Thủy và nông dân ven thành phố Vinh. 1931 – Tòa nhà Empire State được khánh thành tại thành phố New York, Hoa Kỳ. 1930 – Sao Diêm Vương chính thức được đặt tên. 1940 – Thế vận hội Mùa hè 1940 bị huỷ bỏ do chiến tranh. 1941 – Bộ phim Công dân Kane của đạo diễn Orson Welles công chiếu lần đầu. 1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Chiến dịch Borneo bắt đầu 1950 – Guam được tổ chức thành một thịnh vượng chung của Hoa Kỳ. 1953 – Đài truyền hình Tiệp Khắc được thành lập nhân ngày Quốc tế lao động. 1960 – Chính phủ Ấn Độ thành lập hai bang Gujarat và Maharashtra. 1961 – Thủ tướng Cuba Fidel Castro tuyên bố rằng Cuba là một nhà nước xã hội chủ nghĩa. 2003 – Cuộc tấn công Iraq 2003: Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush tuyên bố kết thúc các chiến dịch chiến đấu chính tại Iraq. 2004 – Tại Dublin, nơi ở của Thủ tướng Ireland, 10 quốc gia: Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Ba Lan, Slovakia và Slovenia gia nhập Liên minh châu Âu. 2009 – Hôn nhân đồng giới được hợp pháp hóa tại Thụy Điển. 2011 – Tổng thống Barack Obama tuyên bố rằng Osama bin Laden bị lực lượng của Hoa Kỳ tiêu diệt tại Abbottabad, Pakistan (tức 2 tháng 5 theo giờ Pakistan). == Sinh == 1218 – Rudolf I, Quốc vương La Mã (m. 1291) 1326 – Ý Lân Chất Ban, hoàng đế của triều Nguyên, đại khả hãn của đế quốc Mông Cổ, tức ngày Quý Dậu (29) tháng 3 năm Bính Dần (m.1332) 1592 – Johann Adam Schall von Bell, nhà truyền giáo, nhà thiên văn học người Đức (m. 1666) 1769 – Arthur Wellesley, nguyên soái và chính trị gia người Irelnd-Anh, Thủ tướng Anh Quốc (m. 1852) 1818 – Hermann von Tresckow, tướng lĩnh Phổ (m. 1900) 1904 – Trần Phú, nhà hoạt động chính trị người Việt Nam (m. 1931) 1912 – Đinh Ngọc Liên, chỉ huy dàn nhạc người Việt Nam (m. 1991) 1924 – Viktor Astafyev, tác gia người Nga (m. 2001) 1825 – Johann Jakob Balmer, nhà toán học và vật lý học người Thụy Sĩ (m. 1898) 1916 – Nguyễn Hộ, quân nhân, nhà hoạt động người Việt Nam (m. 2009) 1926 – Peter Lax, nhà toán học người Hungaria-Mỹ 1926 – Lê Trọng Nguyễn, nhạc sĩ người Việt Nam (m. 2004) 1928 – Viễn Phương, nhạc sĩ người Việt Nam (m. 2005) 1938 – Thanh Sơn, nhạc sĩ người Việt Nam (m. 2012) 1946 – Ngô Vũ Sâm, đạo diễn, nhà sản xuất, nhà biên kịch người Hồng Kông 1967 – Tim McGraw, ca sĩ và diễn viên người Mỹ 1968 – Oliver Bierhoff, cầu thủ bóng đá và nhà quản lý người Đức 1969 – Wes Anderson, đạo diễn, nhà sản xuất, nhà biên kịch người Mỹ 1975 – Marc-Vivien Foé, cầu thủ bóng đá người Cameroon (m. 2003) 1981 – Aliaksandr Hleb, cầu thủ bóng đá người Belarus 1982 – Tommy Robredo Garcés, vận động viên quần vợt người Tây Ban Nha 1983 – Park Hae Jin, người mẫu, diễn viên người Hàn Quốc 1986 – Trương Thanh Hằng, vận động viên điền kinh người Việt Nam 1987 – Shahar Pe'er, vận động viên quần vợt người Israel 1988 – Nicholas Braun, diễn viên người Mỹ == Mất == 408 – Arcadius, hoàng đế của Đế quốc Đông La Mã (s. 337) 1308 – Albert I, quốc vương của Đức (s. 1255) 1555 – Giáo hoàng Marcellô II (s. 1501) 1572 – Giáo hoàng Piô V (s. 1504) 1859 – John Walker, nhà hóa học người Anh Quốc (s. 1781) 1873 – David Livingstone, nhà truyền giáo người Anh Quốc (s. 1813) 1904 – Antonín Dvořák, nhà soạn nhạc người Séc (s. 1841) 1920 – Margaret, thái tử phi của Thụy Điển (s. 1882) 1927 – Oscar Swahn, xạ thủ người Thụy Điển (s. 1847) 1939 – Phan Thanh, chính trị gia, nhà giáo, nhà báo người Việt Nam (s. 1908) 1945 – Paul Joseph Göbbels, thủ tướng của Đức (s. 1897) 1945 – Magda Goebbels, vợ của Paul Joseph Göbbels (s. 1901) 1964 – Mikhail Velikanov, nhà thủy văn học người Nga và Liên Xô (s. 1879) 1970 – Lý Ngân, thái tử của Đại Hàn đế quốc (s. 1897) 1975 – Nguyễn Khoa Nam, tướng lĩnh người Việt Nam (s. 1927) 1978 – Aram Khachaturian, nhà soạn nhạc người Liên Xô (s. 1903) 1979 – Vil Lipatov, nhà văn, nhà biên kịch người Liên Xô (s. 1927) 1994 – Ayrton Senna, vận động viên đua xe ô tô người Brasil (s. 1960) 2009 – Nguyễn Thị Oanh, nhà hoạt động xã hội người Việt Nam (s. 1931) == Những ngày lễ và kỷ niệm == Ngày Quốc tế Lao động (nhiều nước) == Tham khảo ==
tiếng đức.txt
Tiếng Đức (Deutsch [ˈdɔʏtʃ] ( nghe)) là một ngôn ngữ German Tây được nói chỉ yếu tại Trung Âu. Nó được nói phổ biến và là ngôn ngữ chính thức tại Đức, Áo, Thụy Sĩ, Nam Tyrol (Ý), Cộng đồng nói tiếng Đức tại Bỉ, và Liechtenstein; nó cũng ngôn ngữ chính thức, nhưng phải ngôn ngữ số đông tại Luxembourg. Những ngôn ngữ lớn khác có quan hệ với tiếng German gồm những ngôn ngữ German Tây khác, như tiếng Afrikaans, tiếng Hà Lan, và tiếng Anh. Nó là ngôn ngữ German phổ biến thứ nhì, sau tiếng Anh. Là một trong những ngôn ngữ "lớn" trên tế giới, tiếng Đức có khoảng 95 triệu người bản ngữ trên toàn cầu và là ngôn ngữ có số người bản ngữ lớn nhất Liên minh châu Âu. Tiếng Đức cũng là ngoại ngữ được dạy phổ biến thứ ba tại cả Hoa Kỳ (sau tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp) và EU (sau tiếng Anh và tiếng Pháp), ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ nhì trong khoa học và ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ ba trên World Wide Web (sau tiếng Anh và tiếng Nga). Các quốc gia nói tiếng Đức đứng thứ năm về số đầu sách mới xuất bản hàng năm, với một phần mười số sách trên thế giới (gồm e-book) phát hành bằng tiếng Đức. Đa phần từ vựng tiếng Đức có gốc German. Một phần được vay mượng từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp, và một ít từ hơn mượn từ tiếng Pháp và tiếng Anh. Với những dạng chuẩn khác nhau (tiếng Đức chuẩn Đức, tiếng Đức chuẩn Áo, và tiếng Đức chuẩn Thụy Sĩ), tiếng Đức là một ngôn ngữ đa tâm. Như tiếng Anh, tiếng Đức cũng đáng chú ý vì số lượng phương ngữ lớn, với nhiều phương ngữ khác biệt tồn tại trên thế giới. Do sự không thông hiểu lẫn nhau giữa nhiều "phương ngữ" và tiếng Đức chuẩn, và sự thiểu thống nhất về định nghĩa giữa một "phương ngữ" và "ngôn ngữ", nhiều dạng hay nhóm phương ngữ tiếng Đức (như Hạ Đức và Plautdietsch) thường được gọi là cả "ngôn ngữ" và "phương ngữ". == Tình trạng == Do sự hiện diện của kiều dân Đức, cũng như việc tiếng Đức là ngoại ngữ phổ biến thứ ba ở cả Hoa Kỳ và EU cùng những yếu tố khác, người nói tiếng Đức hiện diện tại tất cả các châu lục. Về số người nói trên toàn cầu, sự ước tính luôn bị ảnh hưởng bởi việc thiếu nguồn thông tin xác thực và chắc chắn. Thêm vào đó, việc thiếu thống nhất giữa "ngôn ngữ" hay "phương ngữ" (vì lý do chính trị hay ngôn ngữ học) càng gây thêm khó khăn trong tính toán. Dựa trên việc gộp vào hay loại ra một vài dạng ngôn ngữ nhất định, ước tính rằng có khoảng 90–95 triệu người nói tiếng Đức như ngôn ngữ thứ nhất, 10-25 triệu người nói như ngôn ngữ thứ hai, và 75–100 triệu người nói như một ngoại ngữ. Như vậy, tổng cộng có chừng 175-220 triệu người nói tiếng Đức toàn cầu. == Ngữ pháp == Tiếng Đức là một ngôn ngữ hòa kết (ngôn ngữ biến tố), với ba giống: đực, cái, và trung. === Biến tố danh từ === Danh từ được chia theo cách, giống, và số. bốn cách: cách chủ ngữ (cách tên), cách trực bổ, cách sở hữu và cách cho (cách tặng). ba giống: đực, cái và trung. Đuôi từ có thể cho biết giống: ví dụ, những danh từ kết thúc bằng -ung, -schaft, -keit hay heit là giống cái, danh từ kết thúc bằng -chen hay -lein là giống trung và danh từ kết thúc bằng -ismus là giống đức. Số danh từ còn lại khó đoán định hơn, đôi khi phụ thuộc vào vùng miền; và nhiều đuôi không bị giới hạn vế giống, ví dụ -er: Feier (giống cái), bữa tiệc, buổi kỷ niệm, Arbeiter (giống đực), người lao động, và Gewitter (giống trung), dông bão. hai số: ít và nhiều. Mức độ biến tố này ít hơn đáng kể so với tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp cổ đại, và tiếng Phạn, và cũng phần nào ít hơn so với tiếng Anh cổ, tiếng Iceland và tiếng Nga. Với ba giống và bốn cách, cộng với số nhiều, có 16 loại danh từ theo giống, số và cách, nhưng chỉ có sáu mạo từ hạn định. Ở danh từ, sự biến tố là nhất thiết đối với từ giống đức mạnh và trung số ít. Tuy nhiên, cách sở hữu và cách cho đang dần bị mất đi trong đối thoại thông tục. Đuôi danh từ cách cho bị xem là "lỗi thời" trong nhiều trường hợp và thường bị bỏ đi, nhưng vẫn còn trong tục ngữ, trong lối nói trang trọng và khi viết. Danh từ giống đực yếu dùng chung một đuôi danh từ trong cách trực bổ, cách cho và cách sở hữu ở số ít. Danh từ giống cái không biến cách ở số ít. Từ số nhiều có biến tố cách cho. Tổng cộng, bảy đuôi biến tố (không tính phần chỉ số nhiều) hiện diện trong tiếng Đức: -s, -es, -n, -ns, -en, -ens, -e. Trong chính tả tiếng Đức, danh từ và đa số các từ có chức năng cú pháp với danh từ được viết hoa ký tự đầu (Am Freitag ging ich einkaufen. – "Vào thứ sáu tôi đã đi mua sắm."). === Biến tố động từ === Các yếu tố ảnh hưởng đến động từ tiếng Đức là: hai lớp chia động từ chính: yếu và mạnh. Thêm vào đó, có một lớp thứ ba, gọi là "động từ hỗn hợp", với cả đặc điểm của động từ yếu và mạnh. ba ngôi: thứ nhất, thứ hai và thứ ba. hai số: số ít và số nhiều. ba trạng: trạng trình bày, trạng mệnh lệnh và trạng cầu khẩn hai dạng: chủ động và bị động. Dạng bị động dùng động từ hỗ trợ và được chia thành tĩnh và động. Dạng tĩnh dùng động từ ’’to be’’ (sein). Dạng động dùng động từ “to become’’ (werden). hai thì không có động từ hỗ trợ (thì hiện tại và thì quá khứ) và bốn thì với động từ hỗ trợ (thì hiện tại hoàn thành, thì quá khứ hoàn thành, thì tương lai và thì tương lai hoàn thành). === Tiền tố động từ === Ý nghĩa của động từ có thể được mở rộng và thay đổi bởi việc sử dụng tiền tố. Ví dụ tiền tố zer- chỉ sự phá hủy, như zerreißen (xé rách ra), zerbrechen (đập vỡ ra), zerschneiden (cắt ra). Một số tiền tố khác chỉ mang ý nghĩa mơ hồ nào đó; ver- đi cùng một số lớn động từ với ý nghĩa đa dạng, versuchen (thử) từ suchen (tìm kiếm), vernehmen (dò hỏi) từ nehmen (lấy), verteilen (phân bổ) từ teilen (chia sẽ), verstehen (hiểu) từ stehen (đứng). == Tham khảo == === Ghi chú === === Tài liệu về mối quan hệ của tiếng Đức === Johannes Bechert/Wolfgang Wildgen: Einführung in die Sprachkontaktforschung. Darmstadt, Wiss. Buchgesellschaft, 1991 Csaba Földes: Kontaktdeutsch. Zur Theorie eines Varietätentyps unter transkulturellen Bedingungen von Mehrsprachigkeit. Tübingen, Verlag Gunter Narr, 2005 Claudia Maria Riehl: Sprachkontaktforschung. Tübingen, Narr, 2004 == Đọc thêm == == Liên kết ngoài == German (language) tại DMOZ The Goethe Institute: German Government sponsored organisation for the promotion of the German language and culture. Learn to Speak German Student Resource Free German Language Course The Leo Dictionaries: A German language portal featuring German-English, German-French, German-Spanish, German-Italian, German-Chinese and German-Russian dictionaries, with forums and a search function
đường hoa nguyễn huệ.txt
Đường hoa Nguyễn Huệ là tên gọi của đường Nguyễn Huệ, Thành phố Hồ Chí Minh khi được trang hoàng vào mỗi dịp Tết Nguyên Đán, dành cho khách đi bộ thưởng ngoạn, bắt đầu từ tết Giáp Thân năm 2004. Khi ấy, con đường Nguyễn Huệ - một trong những con đường đẹp nhất của Thành phố Hồ Chí Minh tại phường Bến Nghé, Quận 1, nằm trải dài từ trước trụ sở Ủy ban Nhân dân thành phố và tượng đài Hồ Chí Minh đến Bến Bạch Đằng, với nhiều tòa nhà cao tầng và những trung tâm thương mại mua bán sầm uất, biến thành một đường hoa rực rỡ, thu hút rất nhiều khách viếng thăm, và trở thành một địa chỉ quen thuộc cho những vị khách du xuân. Hiện nay, hàng năm triển lãm Đường hoa Nguyễn Huệ thường được tổ chức từ ngày 28 tháng Chạp đến hết mùng 4 tháng Giêng âm lịch, với sự tham quan của hàng triệu người. Bên cạnh Đường hoa là Lễ hội Đường sách cùng thời gian và địa điểm trên, trưng bày các phương tiện sách, ấn phẩm, với sự tham gia của nhiều nhà phát hành sách. Ngoài Đường hoa Nguyễn Huệ, Thành phố còn có các Hội hoa Xuân triển lãm hàng năm, như tại Công viên Tao Đàn, công viên Gia Định và phố Ông Đồ,... == Lịch sử == Trước kia, tại vị trí Đại lộ Nguyễn Huệ ngày nay chính là kênh đào Charner, nối liền với sông Sài Gòn, sau này bị người Pháp lắp lại và hình thành Đại lộ Charner. Đại lộ Charner nối liền một đầu là Dinh Đốc Lý (nay là trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố) và đầu kia là bờ sông Sài Gòn (nay gọi là Bến Bạch Đằng). Từ dưới sông, mỗi dịp Tết về, hoa từ khắp nơi theo những con thuyền về tập kết ở bến, và trên bờ, hoa trải dài trên đại lộ này. Chợ hoa Nguyễn Huệ cùng chợ chim Huỳnh Thúc Kháng là một trong những điểm tham quan nổi tiếng thời đó. Cho đến cuối thế kỷ 20, cách đây khoảng chục năm, mỗi năm một lần, con đường này vẫn là chợ hoa xuân chính của người dân thành phố. Mỗi khi Tết đến thì đây là nơi tập trung mua bán hoa tết cây cảnh nên con đường này khi đó còn được gọi là Chợ Tết Nguyễn Huệ. Nhà vườn tập kết hoa ở bến Bạch Đằng sau đó phân bổ vào từng ô đã quy định sẵn trên đường Nguyễn Huệ. Người ta đến đây không chỉ để mua hoa mà còn là ngắm, thưởng ngoạn và tận hưởng cái hương vị đặc trưng của chợ hoa Tết. Những tiếng cười nói, tiếng rao hàng, tiếng mặc cả, rồi cả tiếng leng keng của những thùng kem dạo đã trở thành âm thanh quen thuộc gắn bó với người dân thành phố. Được đi chơi chợ hoa Nguyễn Huệ, được cha mẹ mua cho một que kem hay một cái kẹo bông bằng đường, rồi tung tăng trong không khí vui tươi, hớn hở đã là những kỷ niệm thơ ấu rất khó quên trong ký ức nhiều người. == Ngày nay == Mười năm gần đây, thành phố quy hoạch lại chợ hoa xuân, đưa chợ hoa ra Công viên 23 tháng 9. Chợ hoa Nguyễn Huệ không còn nữa. Chợ hoa ở Công viên 23 tháng 9 vẫn tấp nập đông vui, nhưng nhiều người vẫn tiếc nuối cái cảm giác dạo bước ở chợ hoa Nguyễn Huệ, nơi mà mỗi năm chỉ một lần được đi bộ ở làn xe giữa trên con đường 3 làn xe đẹp nhất thành phố này, nơi mà hoa trải dài hai bên lối đi, nằm lọt giữa hai làn xe đông vui và hai dãy nhà cao tầng ở hai bên. Từ Tết Giáp Thân, năm 2004, chợ hoa Nguyễn Huệ đã trở lại nhưng với diện mạo mới. Không còn cảnh mua bán, chào mời, mặc cả, con đường với hoa là hoa nhưng được bày biện, sắp đặt công phu, chỉ dành cho việc thưởng ngoạn của khách du xuân. Và cũng từ năm này, cứ vào dịp Tết, đường Nguyễn Huệ có một cái tên khác, đó là đường hoa Nguyễn Huệ. Từ đó, mỗi năm, đường hoa Nguyễn Huệ lại mở ra đón khách, với mỗi năm mới là những chủ đề mới, những ý tưởng mới. Để có được một đường hoa đẹp nhất, ban tổ chức đã phải tổ chức cuộc thi sáng tạo để tìm những ý tưởng hay nhất cho việc trang trí đường hoa. Tại đây, giữa lòng thành phố bên cạnh những cảnh trang trí sáng tạo lại có những cảnh tái hiện văn hóa dân tộc xưa và nếp sống làng quê Việt, có ao sen với vó câu, dòng kênh với cầu khỉ chênh vênh, đường làng quê với xe thổ mộ và quán cóc bên đường, những gánh hàng hoa, những chiếc thuyền hoa, rồi cả những cần xé trái cây của một vùng đất Nam Bộ trù phú, màu mỡ... đem lại cho du khách cảm giác thích thú mà ấm áp, mới lạ mà thân quen, gần gũi. Hoa trong đường hoa Nguyễn Huệ là một điều không thể thiếu. Ban tổ chức đã trưng bày rất nhiều loại hoa tươi, từ những loại hoa quen thuộc đến những loại hoa quý đến từ Đà Lạt hay xa hơn như từ miền Bắc. Tất cả tạo nên một bức tranh rực rỡ sắc màu giữa mùa xuân. Đường hoa Nguyễn Huệ là một công trình văn hóa du lịch có ý nghĩa của thành phố, mang lại sự rực rỡ cho thành phố mỗi dịp Xuân về đồng thời cũng là địa chỉ vui chơi của không chỉ nhiều người dân thành phố mà còn của khách thập phương, của Việt kiều về nước và của cả nhiều du khách nước ngoài. == Đường hoa == === Tết Giáp Thân 2004 === Đường hoa Nguyễn Huệ chính thức ra mắt vào lúc 16g00 ngày 20 tháng 1 năm 2004 (tức 29 tết) và chỉ kéo dài đến mùng 2 tết. Tập trung về đây là 50 chậu mai quý và các loại hoa như vạn thọ, cúc. Ngoài ra, còn có những cảnh quan thôn quê dân dã như hồ sen, cầu nhỏ, tre trúc, quanh gánh. === Tết Ất Dậu 2005 === Chủ đề: Thành phố Hồ Chí Minh – Hội nhập và Phát triển Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Ất Dậu 2005 bắt đầu từ 29 đến mùng 2 tết. Lần này khách thưởng ngoạn có thể tìm thấy ở đây "bàng bạc một chút Sài Gòn xưa với xe thổ mộ chở đầy hoa, trái, những chiếc xích lô kéo tay của 2 thế kỷ trước, những chõng tre, gánh hoa, rổ hoa, gùi hoa, rơm rạ, cờ phướn, cầu gỗ, ao sen, tiếng ếch kêu, dòng kênh và đầy những lu khạp… tái hiện một góc chợ quê Tết Sài Gòn những năm 1920-1940." Bên cạnh một Sài Gòn xưa là thông xanh và hoa đào Đà Lạt cùng những mảng cỏ xanh là những nét đặc trưng của thành phố hoa. Ngoài ra, cảnh quan vùng duyên hải miền Trung với cổng đá, cát trắng, xương rồng xanh, và gốm Chăm cũng được tái hiện ngay trên con đường trung tâm của thành phố. Cuối đường hoa là "những mảng xanh của mạ non, hình ảnh ngày mùa đồng lúa chín, vườn mai vàng và nhộn nhịp chợ quê với các loại cây trái, thuyền dưa hấu, bưởi, mận, dừa… === Tết Bính Tuất 2006 === Chủ đề: Dáng Xuân Năm Bính Tuất (2006), đường hoa Nguyễn Huệ được khai mạc vào ngày tối 27 Tết, kéo dài đến hết mồng 3 Tết. Đường hoa có chủ đề "Dáng Xuân" dài suốt đường Nguyễn Huệ sang đường Lê Lợi, quy tụ 80.000 giỏ hoa, 500 đèn lồng mây tre, bộ sưu tập các loại đá Việt, gốm Việt... Các chủ đề hoa được chia nhiều tiểu cảnh: thuyền hoa trên bến nước, xe kéo hoa, hoa trên giàn, hoa kết hình trên đất, thác nước, gốm và xuân, bức tranh quê. Ngay trước cổng đường hoa sừng sững một tượng chó đá, còn trên bãi cỏ xanh là những chú chó đá xúm xít bên nhau. Đường hoa cũng dẫn khách thưởng ngoạn đến với những nét văn hóa dân tộc khi xem những chiếc cối đá, chum vại, hàng lu hũ, những chiếc vó bên ao nước, bông lục bình, và thằng bù nhìn trên ruộng lúa. Ở đây còn có hoa đào phương Bắc, quang gánh, đồi cát miền Trung, và những tượng điêu khắc đá, tượng gốm… === Tết Đinh Hợi 2007 === Chủ đề: Trên đường hội nhập Khai mạc vào lúc 7g30 tối 28 tết (15 tháng 2 năm 2007), Đường hoa Nguyễn Huệ Đinh Hợi 2007 kéo dài đến tối mùng 3 tết (19 tháng 2), với điểm nhấn là những con heo bằng đất và gốm bên cạnh 100.000 chậu hoa các loại, cùng hình ảnh làng quê Nam bộ như con thuyền, cầu tre, đồng lúa, đường làng, các trò chơi dân gian được lồng trong tiếng suối chảy róc rách, tiếng chim hót… Một nét mới của Đường hoa Nguyễn Huệ Đinh Hợi 2007 là Hồ Chúc phúc. Du khách đến đây thả những đồng xu cầu phúc cho bản thân, gia đình, bạn bè… === Tết Mậu Tý 2008 === Chủ đề: Vượt sóng Kéo dài trong 6 ngày – từ 29 tết (5 tháng 2) đến mùng 4 tết (10 tháng 2), Đường hoa Nguyễn Huệ Mậu Tý 2008 được hình thành theo chủ đề "Vượt Sóng". Ngay từ đầu đường hoa là một "gia đình chuột" được tạo hình bằng các chất liệu mềm trông giống như sợi mây, sợi lát bện vào nhau to như người thật, cuối đường là mô hình một chiếc thuyền với cánh buồm lớn làm bằng hoa. Đường hoa được sắp xếp theo các "phân cảnh" như "Sum họp", "Hội nhập", "Vượt sóng"…tương ứng với hình ảnh gia đình chuột (kết bằng lục bình), đèn kéo quân cao hơn 7 m, và con tàu hoa. === Tết Kỷ Sửu 2009 === Chủ đề: Vững tin Tiếp nối chủ đề "Vượt sóng" của Đường hoa Mậu Tý 2008, "Vững tin" được chọn làm chủ đề cho Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Kỷ Sửu 2009, kéo dài trong 6 ngày từ 28 tết (23 tháng 1 năm 2009) đến mùng 3 tết (28 tháng 1). Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Kỷ Sửu 2009 khai mạc lúc 7g tối ngày 23 tháng 1, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết đến dự và cắt băng khánh thành. Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Kỷ Sửu 2009 được chia thành 7 phân khu, chuyển tải những ý nghĩa khác nhau: khởi nguồn, nghị lực, sáng tạo, tiến bước, đoàn kết, nguồn cội và vững tin, với các tiểu cảnh gắn với những hình ảnh quen thuộc của thôn quê Việt Nam: con trâu, đồng quê, nghề nông... Đầu đường Nguyễn Huệ gần bùng binh cây liễu bài trí hình ảnh làng quê thanh bình, con trâu, bến nước. Chủ đề cánh đồng quê, suối róc rách, tiểu cảnh phun nước, cầu tre lắt lẻo... cũng xuất hiện trong đường hoa năm nay. Cuối đường hoa Nguyễn Huệ (đoạn gần bến Bạch Đằng) là một đồi dưa hấu có khắc hình Mai An Tiêm. Bên cạnh đó, hệ thống nhạc được thiết kế theo từng chủ đề của các phân đoạn tiểu cảnh kéo dài hơn 800m đường hoa. Người thưởng ngoạn đến từng khu sẽ được nghe những âm thanh đồng quê phù hợp. Ước tính có gần 1 triệu lượt khách đến thưởng lãm Đường hoa Nguyễn Huệ Kỷ Sửu 2009. === Tết Canh Dần 2010 === Chủ đề: Xuân bình minh. Có sáu chủ đề nhỏ: Vầng Thái Dương, Xuân yêu thương, Bình minh tụ hội, Sức mạnh đoàn kết, Góc quê hương và Hướng về Thăng Long. Đường hoa Tết Canh Dần được thi công từ 8h ngày 3 tháng 2 năm 2010 (20 tháng Chạp Kỷ Sửu) đến 18h ngày 11 tháng 2 (28 tháng Chạp) và hoạt động từ tối 28 tháng Chạp đến hết mùng 3 Tết Canh Dần. Trong khoảng thời gian thi công và hoạt động, các phương tiện giao thông bị cấm trên các tuyến đường như Nguyễn Huệ, Lê Lợi. Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Canh Dần gồm các phân mục: Vầng thái dương, Xuân yêu thương, Bình minh hội tụ, Sức mạnh đoàn kết, Góc quê hương và Hướng về Thăng Long. Đường hoa sẽ có nhiều chương trình để du khách thưởng lãm, như: thi cắm hoa, phố đi bộ Lê Lợi, xem biểu diễn nhạc cụ dân tộc, múa sạp, trò chơi dân gian, các nhà mặt phố khu đường hoa sẽ trang hoàng lộng lẫy, biểu diễn Doorshows... Ngày 11 tháng 02, đường hoa Nguyễn Huệ chính thức mở cửa đón du khách trong và ngoài nước đến tham quan, thưởng lãm. Năm nay đường hoa tập trung vào hai hình ảnh: con hổ và tình yêu đôi lứa. Đường hoa bắt đầu phục vụ khách từ ngày 11/2 (28 Tết) đến sáng 17/2 (mùng 4 Tết) trên trục đường Nguyễn Huệ. === Tết Tân Mão 2011 === Đường hoa Nguyễn Huệ năm 2011 có chủ đề "Tầm cao mới", thể hiện những phấn đấu nỗ lực của thành phố để đạt được thành quả cao hơn về kinh tế, chính trị, xã hội Các phân đoạn trang trí trong đường hoa chuyển tải những chủ đề: Hồn Việt, Tết phương Nam, Nối vòng tay lớn, Vươn lên tầm cao mới, Xuân an vui, Hoa Xuân ca, Vào mùa và Vườn Xuân. Đường hoa Nguyễn Huệ 2011 phục vụ công chúng trong 7 ngày, từ 19 giờ ngày 31 tháng 1 năm 2011 (28 tháng chạp) đến 22 giờ ngày 6 tháng 2 năm 2011 (mồng 4 Tết). === Tết Nhâm Thìn 2012 === Chủ đề: Việt Nam quê hương tôi; các phân đoạn của đường hoa tương ứng với các chủ đề nhỏ: Vườn mai Bác Hồ, Truyền thuyết hóa rồng, Đất nước trọn niềm vui, Vươn đến tương lai. Các công việc chuẩn bị cho đường hoa được bắt đầu từ ngày 10 tháng 1 năm 2012. Đường hoa được khai mạc vào lúc 19 giờ ngày 20 tháng 1 (tức ngày 27 tháng 12 năm Tân Mão) và phục vụ công chúng đến ngày 26 tháng 1 (tức mồng 4 Tết). Đầu đường hoa (phía trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) là đại cảnh Rồng phun hoa và uốn lượn trên nền mây, được thực hiện với các chất liệu dây lục bình và tre đan. Dọc đường là các tiểu cảnh như: bánh chưng, bánh tét, nón quai thao, đồng lúa, lũy tre, biển và đảo,... được tạo thành bằng các loài cây, hoa như hoa lan, cẩm chướng, cúc vạn thọ tây, trạng nguyên,... Cuối đường là hình tượng Rồng bằng mây tre kết hợp với nhiều chậu cúc mâm xôi và lồng đèn. Theo ước tính, có hơn một triệu lượt người tham quan đường hoa trong dịp Tết Nhâm Thìn. === Tết Quý Tỵ 2013 === Chủ đề: Trái tim Việt Nam; các khu vực đường hoa: Xuân non cao, Xuân đồng bằng, Xuân biển đảo. Đường hoa khai mạc vào ngày 7 tháng 2 năm 2013 (ngày 27 tháng 12 năm Nhâm Thìn), bế mạc vào lúc 22 giờ ngày 13 tháng 2 (ngày 4 tháng 1 năm Quý Tỵ). Năm 2013, đường Nguyễn Huệ được trang trí nhấn mạnh chủ đề biển đảo tại khu vực Xuân biển đảo ở cuối đường hoa. Tại khu vực Xuân đồng bằng là cánh đồng lúa và 10 linh vật, biểu tượng của từng năm đường hoa ra mắt công chúng, cùng những hình ảnh đặc trưng khác như giàn mướp, liếp bánh tráng, cầu khỉ, hồ sen…. Khu vực Xuân non cao (đầu đường hoa) được trang trí với thác nước, và các trang phục đặc trưng cùng với các nhạc cụ dân tộc của người dân Tây Nguyên. Ngay tại đầu đường hoa là biểu tượng của năm Tỵ — hình ảnh hai con rắn được ốp vỏ cây tràm, uốn đuôi vào nhau như hình trái tim. Tại khu vực vườn mai và tượng Hồ Chí Minh, còn có 54 hình trái tim cách điệu tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam. Cảnh quan đường hoa Nguyễn Huệ Xuân Quý Tỵ 2013 === Tết Giáp Ngọ 2014 === Chủ đề: Thành phố Hồ Chí Minh-Thành phố tôi yêu; gồm Vườn mai Bác Hồ và 3 phân đoạn lớn là Hội nhập và phát triển, Hội tụ nghĩa tình, Khát vọng. Đường hoa khai mạc vào lúc 19g ngày 28 tháng 12 năm Quý Tị, bế mạc lúc 22 giờ ngày mùng 4 tháng 1 năm Giáp Ngọ. Nét mới của đường hoa năm 2014 là có thêm khu triển lãm nghệ thuật sắp đặt rau – củ – quả trên đường Nguyễn Huệ. Ngoài ra để cổ động cho nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới, bộ nhạc cụ gồm đàn tì bà, đàn nhị, đàn tranh, đàn bầu của môn nghệ thuật này được mô phỏng với kích thước khổng lồ. Đường hoa còn dành một khu để nhắc nhở người dân biết đến biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến đời sống, đó là cụm cảnh cây khô cằn, sỏi đá, thay lời nhắc nhở mọi người hãy luôn giữ gìn môi trường. === Tết Ất Mùi 2015 === Vì khu vực đường Nguyễn Huệ đang thi công xây dựng đường xe điện Metro và phố đi bộ, nên năm 2015, đường hoa và đường sách dọn về đường Hàm Nghi, gần chợ Bến Thành. Kéo dài từ ngày 16 tháng 2 năm 2015 (28 Tết) đến ngày 22 tháng 2 (Mùng 4) với chủ đề "Bản sắc Việt - Hào khí Việt Nam" với 120.000 giỏ hoa tươi từ Sa Ðéc (Ðồng Tháp), Ðà Lạt, TP HCM đưa về tạo dáng, với ruộng lúa và bụi tre và hình những đàn dê. Ngoài đường hoa và đường sách, TP HCM cũng tổ chức các chợ hoa Tết quy mô lớn tại công viên 23/9 (quận 1), công viên Gia Định (quận Phú Nhuận) và công viên Lê Văn Tám (quận 3) và Hội hoa xuân tại Công viên Tao Đàn ngày 13-24/2, phố ông Đồ cùng những chương trình ca nhạc nhẹ tại khắp nơi. === Tết Bính Thân 2016 === Chỉ một lần tạm dời đến đường Hàm Nghi, năm nay đường hoa chính thức quay trở lại đại lộ Nguyễn Huệ (nay là Phố đi bộ Nguyễn Huệ) với tên gọi Đường hoa Tết Bính Thân 2016 TP HCM – hòa bình, thịnh vượng và phát triển. Đường hoa được chia làm ba phân đoạn chính: đoàn kết - hòa bình, năng động - sáng tạo và hội nhập - thịnh vượng. Đường hoa khai mạc vào lúc 19 giờ ngày 5/02/2016 (ngày 17 tháng chạp) đến 22 giờ ngày 12/02/2016 (mùng 5 Tết) === Tết Đinh Dậu 2017 === Chủ đề: Thành phố mang tên Bác – Khát vọng ngời sáng; gồm: Mùa xuân trên Thành phố mang tên Bác, Thành phố văn minh – hiện đại – nghĩa tình và Khát vọng ngời sáng. Đường hoa khai mạc vào lúc 19 giờ ngày 25 tháng 01 năm 2017 (28 Tết) đến 22 giờ vào ngày 1 tháng 02 năm 2017 (mùng 5 Tết) Phân đoạn Mùa xuân trên thành phố mang tên Bác, khởi đầu từ giao lộ Lê Lợi - Nguyễn Huệ, cũng là nơi đặt cổng đường hoa với đại cảnh Xuân sum họp có linh vật của năm là đôi gà trống mái khổng lồ thể hiện ý nghĩa sum vầy, sung túc, gà trống cao 3,5 m, gà mái cao 2,8 m cùng đàn gà con cao 0,6–1 m. Phân đoạn Thành phố văn minh – hiện đại – nghĩa tình là những mô hình kiến trúc tiêu biểu mang tính lịch sử của Thành phố như Bến Nhà Rồng, tòa nhà UBND TP HCM, chợ Bến Thành, cầu Phú Mỹ. == Xem thêm == Lễ hội phố hoa Hà Nội Festival Hoa Đà Lạt Đường hoa Hùng Vương tại Mỹ Tho Đường hoa 2385 tại quận 8 == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Đường hoa Nguyễn Huệ (do Saigontourist quản lý) Một thời quá vãng của đường hoa Nguyễn Huệ, VnExpress, 11/10/2014 Đường hoa Nguyễn Huệ, văn hóa Tết của Sài Gòn, VnExpress, 31/1/2013 Đường hoa Nguyễn Huệ- nơi xuất hành đầu năm của người Sài Gòn Video đường hoa Nguyễn Huệ 2013 Video đường hoa Nguyễn Huệ 2017
lucas leiva.txt
Lucas Pezzini Leiva (sinh ngày 9 tháng 1 năm 1987 ở Dourados, Mato Grosso do Sul) là một cầu thủ bóng đá người Brasil hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm cho câu lạc bộ Liverpool. Anh thường được biết ngắn gọn với cái tên Lucas'. Lucas là cháu của cựu cầu thủ Leivinha. Bắt đầu sự nghiệp tại Grêmio, anh chuyển đến Anh thi đấu cho Liverpool từ năm 2007. == Sự nghiệp câu lạc bộ == === Gremio === Lucas khởi đầu sự nghiệp cùng Grêmio, có trận ra mắt ở đội một vào ngày 22 tháng 10 năm 2005 trong trận thắng 1-0 trước Náutico ở Serie B. Gremio vô địch mùa giải đó, với chỉ bảy cầu thủ trên sân, trở lại với đỉnh cao của bóng đá Brazil. 2006 là một năm thành công với cả Lucas và Gremio, vô địch giải Campeonato Gáucho lần đầu kể từ năm 2001, vào cũng đứng ở vị trí thứ ba ở giải Campeonato Brasileiro.Lucas cũng trở thành cầu thủ trẻ nhất được tạp chí Goldon Ball đề cử danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất của giải Campeonato Brasileiro-một danh hiệu đã từng được trao cho những danh thủ như Zico, Falcao, Careca, Romario, Kaká và Carlos Tevez. Phong độ tốt ở mùa giải 2006 đã giúp anh nhận được sự chú ý từ nhiều câu lạc bộ ở châu Âu bao gồm cả các đội bóng hàng đầu ở Tây Ban Nha và Inter Milan.Nhưng Liverpool lại là đội bóng để ý nhiều nhất tới cầu thủ này và vào ngày 13 tháng 5 năm 2007 câu lạc bộ xác nhận đã ký hợp đồng với cầu thủ này từ Gremio trước mùa giải 2007-2008.Giá trị của vụ chuyển nhượng là 6 triệu bảng Anh.Lucas thi đấu cùng Gremio cho tới hết Copa Libertadores 2007.Họ được vào chung kết và gặp Boca Juniors.Tuy nhiên Lucas do dính chấn thương nên phải ngồi dự bị ở trận lượt đi.Với việc Gremio bị dẫn 1-0 cùng việc Sandro Goiano bị thẻ đỏ.Lucas được tung vào sân nhằm cải thiện hàng tiền vệ, nhưng cuối cùng Gremio bị thua 3-0.Lucas đã trở lại trong đội hình xuất phát ở trận lượt về, nhưng lần này Gremio lại thua, tỉ số là 2-0. === Liverpool === Vào ngày 26 tháng 7 anh chính thức là cầu thủ của Liverpool và được tham dự trận chung kết giải Barclays Asia Trophy. Huấn luyện viên Rafael Benítez rất vui với bản hợp đồng và ông nói: "Tôi mong muốn được thấy cậu ấy ghi bàn cho Liverpool trong tương lai và chúng tôi tin rằng cậu ấy có những tố chất để thi đấu ở Anh".Ngày hôm sau đó anh có trận ra mắt trong trận tiếp Portsmouth, vào sân thay Mohamed Sissoko ở hiệp hai và anh cũng kiếm được một quả đá phạt đền trong trận tiếp Everton sau khi Phil Neviile để bóng chạm tay từ cú sút của Lucas. Cuối tháng 11, huấn luyện viên Benitez tạo cơ hội cho Lucas ra sân từ đầu trên hàng tiền vệ của Liverpool, sau khi đưa anh về được vài tháng.Anh nhanh chóng trở nên quen thuộc với các cổ động viên sau khi có những trận đấu với Newcastle United và Bolton Wanderers ở Premier League.Lucas ghi bàn đầu tiên cho Liverpool vào ngày 27 tháng 1 năm 2008 khi anh thực hiện cú sút từ khoảng cách 24m trong một trận đấu ở cúp FA gặp Havant and Waterlooville, trở thành cầu thủ người Brasil đầu tiên ghi bàn cho Liverpool.Cầu thủ trẻ người Brasil đã có mộ số trận được ra sân từ đầu như trong trận tiếp Chelsea và Arsenal, cũng như ở cúp C1 gặp Inter Milan. Đầu mùa giải 2008-09 đánh dấu một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp của anh;Rất nhiều lời phê bình được đưa ra đối với anh để anh thi đấu tốt hơn sau khi kết thúc mùa giải đầu tiên cùng Lữ đoàn đỏ.Cầu thủ người Brazil có một sự khởi đầu tốt với bàn thắng mở tỉ số trong trận giao hữu thắng 2-1 trước đội bóng Thuỵ Sĩ FC Lucerne vào tháng 7.Anh gây ấn tượng ở những trận đấu trước mùa giải nhưng lỡ giai đoạn đầu của Premier League do phải làm nhiệm vụ cho đội tuyển Olympic Brazil ở Olympic Bắc Kinh 2008.Anh trở về với tấm huy chương đồng và Benitez đặt hi vọng lớn ở anh, ông nói "Mùa giải này cậu ấy sẽ tiến bộ lên bởi cậu ấy là một cầu thủ rất chuyên nghiệp và có kinh nghiệm thi đấu ở Olympic".Lucas cho biết đội hình của Liverpool đã tiến triển lên rất nhiều từ mùa giải trước dó và rất mong muốn có cơ hội được dành các danh hiệu, mặc dù cơ hội để anh có mặt trong đội hình một ngày càng khó hơn.Tuy nhiên, sau một số màn trình diễn đáng thất vọng, cả những lời phê bình và sự nghi ngờ của các fan đối với Lucas được giảm đi khi cổ động viên Liverpool la ó anh sau trận hoà trước Fulham.Sự chỉ trích nhắm cả vào Benitez và ông đáp trả với một thái độ tức giận khi bênh vực cầu thủ của mình, ông nói rằng "Mọi người không hiểu Lucas giỏi như thế nào. Cậu ấy là một cầu thủ tuyệt vời". Sau đó, ông nhấn mạnh về những trách nhiệm của Lucas đã trải qua, ông nói ánh đã từng là đội trưởng của cả Gremio và đội tuyển trẻ Brazil, và việc cạnh tranh vị trí với Javier Mascherano, Steven Gerrard và Xabi Alonso vốn đã khó.Màn trình diễn của Lucas ở tháng 12 năm 2008 cho Liverpool đã tiến bộ lên rất nhiều mà đỉnh điểm là màn trình diễn trong trận thắng 5-1 trước Newcastle United, ở trận này anh đã có một cú kiến tạo cho Steven Gerrard ghi bàn.Lucas bị đuổi trong trận derby cùng Merseyside với Everton, trận này Liverpool thua. Chiếc thẻ đỏ này đã gia tăng sự chỉ trích nhắm vào phía anh, sau khi anh đã phạm lỗi khiến Liverpool bị một quả penalty trong trận đấu trước, trận hoà 1-1 với Wigan. Vào ngày 14 tháng ba Lucas được ra sân từ đầu trong trận thắng 4-1 trước đối thủ truyền kiếp Manchester United ở Old Trafford.Lucas được ra sân để thay thế Xabi Alonso. Vào ngày 14 tháng 3 Lucas chơi trong trận tiếp Chelsea ở Champions League để thay thế Steven Gerrard, màn trình diễn của anh là tương đối tốt và anh đã ghi bàn cho Liverpool.Cú sút sa của anh đến vào phút 81 khi từ cú sút bóng đập chân Michael Essien bay đổi hướng khiến Petr Cech phải bó tay, quân bình tỉ số 3-3.Cú đánh đầu của Dirk Kuyt một phút sau giúp Liverpool vươn lên dẫn trước, nhưng pha ghi bàn của Frank Lampard ở phút 89 đã quân bình tỉ số 4-4, và Chelsea thắng với tổng tỉ số 7-5 để vào bán kết. Vào ngày 3 tháng 5 năm 2009 Lucas ghi bàn đầu tiên cho Liverpool ở Premier League trong trận thắng Newcastle United 3-0. == Thi đấu quốc tế == Lucas là cựu đội trưởng của đội tuyển U-20 Brazil.Anh giúp đội tuyển vô địch giải trẻ Nam Mĩ năm 2007, ghi 4 bàn ở giải đấu.Anh tiếp tục cùng đội tuyển dự giải U-20 thế giới ở Canada vào tháng 7 năm 2007.Tuy nhiên một chấn thương trong lúc tập luyện đã khiến anh không thể ra sân trong 3 tuần, khiến anh phải rút khỏi đội hình. Vào tháng 10 năm 2006 Lucas được gọi vào đội tuyển bóng đá quốc gia Brazil trong trận giao hữu gặp câu lạc bộ Kuwaiti Al-Kuwait và đội tuyển bóng đá quốc gia Ecuador.Lucas vừa là cầu thủ trẻ nhất đội và vừa là một trong hai cầu thủ không thi đấu ở châu Âu trong một đội hình mạnh.Anh có trận ra mắt trong màu áo Brazil vào ngày 7 tháng 10 năm 2006 khi vào sân trong trận tiếp Al-Kuwait.Brazil thắng trận 4-0.Tuy nhiên, lần ra sân này không được goi là lần ra sân đầu tiên bởi trận đấu không được coi là một trận giao hữu chính thức bởi FIFA. Lucas chính thức có lần ra mắt trong màu áo đội tuyển vào ngày 22 tháng 8 năm 2007 khi vào sân trong trận tiếp đội tuyển bóng đá quốc gia Algeria. Vào tháng 6 năm 2008, Lucas được gọi vào đội tuyển Olympic Brazil để dự một trận đấu trước thềm Olympic vào cuối tháng. Vào ngày 19 tháng 8, Lucas phải nhận thẻ đỏ trong trận bán kết Olympic gặp Argentina sau pha phạm lỗi với đồng đội ở Liverpool là Javier Mascherano, trận đó Argentina thắng 3-0. == Thống kê sự nghiệp == === Câu lạc bộ === Số liệu thống kê chính xác tới 3 tháng 12 năm 2015 === Đội tuyển quốc gia === Số liệu thống kê chính xác tới tháng 11 năm 2013. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Thông tin trên website của câu lạc bộ Liverpool
won cộng hòa dân chủ nhân dân triều tiên.txt
Đơn vị tiền tệ chính thức của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là wŏn (chosongul: 원, ký hiệu: ₩; mã ISO 4217: KPW; đọc là Uôn). Wŏn do Ngân hàng Trung ương Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên phát hành và in ấn. Trước kia, đơn vị đếm bổ sung cho wŏn là chon (1 won được chia ra thành 100 chŏn), nhưng hiện không còn được lưu thông. Ngày 6 tháng 12 năm 1947, wŏn bắt đầu được phát hành chính thức. Năm 1959, CHDCND Triều Tiên tiến hành đổi tiền theo tỷ lệ 100 wŏn đang lưu thông bằng 1 wŏn mới. Wŏn gồm cả tiền giấy lẫn tiền kim loại. Tiền giấy đang lưu thông bao gồm các loại có mệnh giá là 1, 5, 10, 50, 100, 200, 500, 1.000 và 5.000 wŏn. Tiền kim loại đang lưu thông bao gồm các loại có mệnh giá là 10, 50, 100 wŏn. == Từ nguyên == Wŏn là một từ cùng gốc của Nguyên Trung Quốc và Yên Nhật. Đồng được chia thành 100 chŏn (전; 錢; McCune-Reischauer: chŏn; Revised Romanization: jeon) (Hán Việt:tiền). == Lịch sử == Đồng wŏn đã trở thành tiền tệ của Bắc Triều Tiên vào ngày 6 tháng 12 năm 1947, thay thế Yên Triều Tiên lúc đó đang lưu hành. Đồng won này đã được định lại giá trị theo tỷ lệ 100 thành một năm 1959. Để biết thêm đồng wŏn sớm hơn, xem wŏn. Wŏn Bắc Triều Tiên nhằm mục đích chỉ cho công dân Bắc Triều Tiên sử dụng và Ngân hàng Thương mại (무역은행) đã phát hành tiền tệ riêng biệt (hay các chứng chỉ ngoại hối) cho du khách, như nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, Bắc Triều Tiên thì có hai loại chứng chỉ ngoại hối khác nhau, một dành cho khách từ "các nước xã hội chủ nghĩa" với màu đỏ, và chứng chỉ khác thì cho khách đến từ "các nước tư bản chủ nghĩa" với màu xanh da trời/lá cây. Trong thời gian gần đây, các chứng chỉ ngoại hối này phần lớn đã được yêu cầu khách trả trực tiếp bằng ngoại tệ mạnh, đặc biệt là euro. Kể từ năm 2001, chính phủ Bắc Triều Tiên đã bỏ tỷ giá tượng trưng 2,16 wŏn một dollar (được cho là dựa trên ngày sinh của Kim Chính Nhật ngày 16 tháng 2) và các ngân hàng trong quốc gia này ban hành tỷ giá gần hơn với tỷ giá trên thị trường chợ đen. Tuy nhiên, lạm phát phi mã đã làm xói mòn giá trị của wŏn Bắc Triều Tiên đến mức hiện nay người ta tin rằng tỷ giá của nó gần bằng wŏn Hàn Quốc. Trong bất cứ trường hợp nào đi nữa, dollar Mỹ và các đồng tiền khác vẫn có giá trị hơn đồng wŏn Bắc Triều tiên trên chợ đen hơn là chính thức. == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng KPW == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Tiền Bắc Triều Tiên tại Wikimedia Commons Tỷ giá VND/KPW qua XE
tiếng quảng đông.txt
Tiếng Quảng Đông (giản thể: 广东话; phồn thể: 廣東話; Hán-Việt: Quảng Đông thoại), còn gọi là Việt ngữ (giản thể: 粤语; phồn thể: 粵語), là một nhánh chính của tiếng Trung được nói tại miền Nam Trung Quốc, đặc biệt là hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Tiếng Quảng Đông bao gồm nhiều phương ngôn khác nhau, trong đó có hai phương ngôn từng đóng vai trò làm lingua franca trong các cộng đồng người Hoa hải ngoại tại Bắc Mỹ là tiếng Đài Sơn (thế kỷ 19) và tiếng Quảng Châu (thế kỷ 20). Tiếng Quảng Châu—được nói tại thủ phủ Quảng Châu của tỉnh Quảng Đông—là phương ngữ ưu thế của nhánh ngôn ngữ này, nó cũng là ngôn ngữ chính thức tại hai đặc khu hành chính Hồng Kông và Ma Cao. Các phương ngôn của tiếng Quảng Đông không thể thông hiểu qua lại được với các phương ngôn khác của tiếng Trung. Các phương ngôn tiếng Quảng Đông bảo lưu được nhiều nhất các phụ âm cuối và hệ thống thanh điệu của tiếng Trung trung đại nhưng lại không bảo tồn được một số phụ âm đầu và giữa như các phương ngôn khác. == Tên gọi == Trong tiếng Anh, thuật từ Canton vốn chủ yếu dùng để chỉ thủ phủ Quảng Châu nhưng nó còn được dùng để gọi chung cả tỉnh Quảng Đông (xét về mặt từ nguyên thì Canton liên quan tới Quảng Đông). Tương tự thế, thuật từ Cantonese nguyên gốc dùng để gọi tiếng Quảng Châu nhưng còn được dùng để đề cập tới cả tiếng Quảng Đông nói chung. Để tránh nhập nhằng, giới hàn lâm dùng thuật từ Yue ("Việt") để đề cập tới tiếng Quảng Đông. Với tiếng Việt, tên gọi tiếng Quảng Đông có khi lại đề cập cụ thể tới phương ngôn Quảng Châu. Tuy nhiên, thuật từ được chọn trong bài viết này vẫn là tiếng Quảng Đông thay vì Việt ngữ để tránh nhầm với ngôn ngữ chính thức của Việt Nam. == Chú thích ==
nexus 4.txt
Nexus 4 (tên mã Mako hay Occam) là một chiếc điện thoại thông minh được Google và LG Electronics đồng phát triển, chạy hệ điều hành Android. Nó là chiếc điện thoại thông mình thứ tư trong dòng sản phẩm Google Nexus, là một nhóm các thiết bị điện tử tiêu dùng Android được sản xuất bởi các đối tác nhà sản xuất phụ tùng gốc. Được giới thiệu vào ngày 29 tháng 10 năm 2012, và phát hành vào ngày 13 tháng 11 năm 2012, Nexus 4 là thiết bị kế nhiệm Galaxy Nexus vốn được Samsung sản xuất. Cũng như các thiết bị Nexus khác, Nexus 4 được bán không khóa mạng thông qua cửa hàng trực tuyến Google Play, và cũng có mặt ở các cửa hàng của các nhà mạng. Dựa trên phần cứng của LG Optimus G, Nexus 4 được phân biệt với người tiền nhiệm của nó bởi bộ xử lý 4 nhân Snapdragon S4 Pro, một camera sau 8 megapixel và camera trước 1.3 megapixel sử dụng cảm biến Sony BSI, sạc không dây Qi, cùng với sự giới thiệu phiên bản 4.2 ("Jelly Bean") của hệ điều hành Android – một bản cập nhật với các tính năng: chup ảnh 360° (với tên gọi "Photo Sphere"); một menu cài đặt nhanh; widget ở màn hình khóa; gõ bằng cử chỉ; và phiên bản cập nhật của Google Now. Nexus 4 đã nhận được nhiều đánh giá tích cực từ các nhà phê bình, họ ca ngợi chất lượng phần cứng của Nexus 4, cùng với hiệu suất và giá cả tương đối thấp của nó so với các điện thoại thông minh cao cấp khác. Tuy nhiên, cũng có lời chỉ trích thiết bị vì thiếu sự hỗ trợ LTE, cũng như thiếu khả năng tháo rời pin vốn có trên Galaxy Nexus. == Lịch sử == === Giới thiệu === Google dự tính sẽ giới thiệu Nexus 4 tại một sự kiện báo chí ở New York City. Tuy nhiên, sự kiện bị hủy bởi cơn bão Sandy, và Nexus 4 (cùng với Android 4.2, máy tính bảng Nexus 10 và Nexus 7 có hỗ trợ mạng di động) đã được công bố bởi Google thông qua thông cáo báo chí vào ngày 29 tháng 10 năm 2012, và phát hành vào ngày 13 tháng 11 năm 2012. === Phát hành === == Đặc tả kĩ thuật == === Phần cứng === === Phần mềm === == Giá bán == Nexus 4 có giá US$299 (phiên bản 8 GB) và US$349 (phiên bản 16 GB) khi phát hành. Đây là mức giá rất thấp so với các điện thoại thông minh khác, vốn có giá khoảng $600. Vào ngày 27 tháng 8 năm 2013, giá được giảm xướng tương ứng còn $199 and $249, với mức giảm tương tự ở các quốc gia khác. == Sự tiếp nhận == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức
freemarker.txt
FreeMarker là một hệ bản mẫu web (Web Template System) cho nền tảng Java, mục đích ban đầu dùng để tạo dựng web động với kiến trúc MVC. Tuy vậy, bởi bản chất là một hệ bản mẫu không phụ thuộc vào servlet, HTTP hay HTML, nên FreeMarker thường được sử dụng để tạo dựng mã nguồn, cấu hình tập tin hoặc e-mail. FreeMarker là một phần mềm tự do. == Lược sử == Đến năm 2004, FreeMarker từng có một lịch sử phát triển khá sôi nổi, do các kỳ thay đổi mô hình phát triển và nhiều lần thay đổi đáng kể khác. FreeMarker 1 (hiện nay được biết đến với tên gọi FreeMarker Classic), một dự án riêng biệt, được khởi đầu bởi Benjamin Geer và Mike Bayer. Từ năm 2002, Jonathan Revusky lãnh đạo dự án mới FreeMarker 2, bắt đầu một chuỗi với những điều chỉnh tương đối. Lý do chính cho những thay đổi này là để giúp bộ khung chặt chẽ hơn, như việc phát việc và khắc phục các lỗi typo và các lỗi đặc thù khác. Also, automatic object wrapping was introduced, along with gradual advancement of the type system of the template language. Ngôn ngữ này cũng được bổ sung nhiều tính năng người dùng mạnh mẽ, như khả năng lập trình mạnh hơn và áp dụng xử lý khái niệm không gian tên. FreeMarker phát hành phiên bản 2.3 khá ổn định vào qúy 3 năm 2004. Đến năm 2016, sản phẩm này đã có thể đáp ứng tiêu chí tương tích bản cũ (backward compatibility). Trong tương lai, những bản cập nhật mới cho FreeMarker 2 được hứa hẹn sẽ làm giảm khả năng tương thích bản cũ này. Cuối năm 2015, FreeMarker được chuyển giao cho Quỹ Phần mềm Apache (Apache Software Foundation), bắt buộc nó phải thỏa mãn các tiêu chí của Apache Incubator (dự án phải được phát triển đầy đủ để được xem như một dự án Apache hoàn chỉnh). == Thí dụ == Với bản mẫu dưới đây: FreeMarker sẽ dựng thành: Các biến "name" và "messages" lấy giá trị từ ngoài bản mẫu, nên lập trình viên khi thiết kế bản mẫu chỉ cần quan tâm tới cách thể hiện của bản mẫu mà không cần để ý tới giá trị của biến. Bản mẫu không thay đổi cho dù giá trị biến được truyền từ cơ sở dữ liệu, cookie hay là kết quả của một biểu thức nào đó. API (lớp) Java của các gía trị được ẩn trong FreeMarker thông qua kỹ thuật cuộn đối tượng (object wrapping). Thí dụ, "messages" có thể là một danh sách (list) hoặc mảng (array) những bean Java có thuộc tính (property) "from" và "body", nhưng nó cũng có thể là một kiểu dữ liệu nào đó khác mà bản mẫu vẫn không bị ảnh hưởng (as long as a proper object wrapper is used). == Xem thêm == JSP Apache Velocity Thymeleaf == Liên kết ngoài == FreeMarker Online FreeMarker template tester FreeMarker Classic FMPP, is a FreeMarker-based text file PreProcessor web-mode.el, emacs major mode for editing FreeMarker templates
tiếng udmurt.txt
Udmurt (удмурт кыл, udmurt kyl) là một hệ ngôn ngữ Ural, một phần con của Ngôn ngữ Permic, được sử dụng bởi người Udmurt của cộng hòa tự trị Udmurtia, Nga, được sử dụng chính thức cùng với Tiếng Nga. Ethnologue khảo sát có 550,000 người nói tiếng bản địa chiếm 77% dân số 750,000 thời USSR năm 1989. == Tham khảo == Kel'makov, Valentin; Sara Hännikäinen (2008). Udmurtin kielioppia ja harjoituksia (bằng tiếng Phần Lan) (ấn bản 2). Helsinki: Suomalais-Ugrilainen Seura. ISBN 978-952-5150-34-6. Moreau, Jean-Luc (2009). Parlons Oudmourte. Paris: L'Harmattan. ISBN 2-296-07951-2. == Liên kết ngoài == Udmurtology: Udmurt Language, History and Culture(tiếng Nga) Literature The First Udmurt Forum(tiếng Nga) Udmurt State University (has Udmurt Language Program for English speakers) Udmurt language, alphabet and pronunciation Uralistica – the world of finno-ugric and samoyed peoples Vladimir Napolskikh. Review of Eberhard Winkler, Udmurt, München 2001 (Languages of the World. Materials 212)
giải vô địch bóng đá nữ u-20 nam mỹ.txt
Giải vô địch bóng đá nữ U-20 Nam Mỹ (tiếng Tây Ban Nha: Campeonato Sudamericano Femenino Sub-20) là giải bóng đá nữ do Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL) tổ chức từ năm 2004 để xác định các suất dự Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới. Đội tuyển có thành tích tốt nhất tại giải là đương kim vô địch Brasil với 7 lần lên ngôi trong cả 7 vòng chung kết đã diễn ra. == Kết quả == == Thành tích == == Vua phá lưới == == Xem thêm == Giải vô địch bóng đá nữ U-17 Nam Mỹ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Giải vô địch bóng đá nữ U-20 Nam Mỹ trên CONMEBOL
samsung gt-i8510.txt
Samsung GT-i8510 (còn được gọi là i8510 hoặc INNOV8) là điện thoại thông minh sản xuất bởi Samsung. Chức năng của i8510 bao gồm một số của máy ảnh và máy nghe nhạc di động. Ngoài việc cung cấp e-mail, trình duyệt web, kết nối Wi-Fi và tin nhắn văn bản, i8510 sử dụng Symbian OS v9.3, S60 nền tảng thứ ba với Feature Pack 2. Điện thoại gồm bản 8 GB hoặc 16 GB bộ nhớ trong và khe thẻ nhớ MicroSDHC hỗ trở thẻ lên đến 32 GB. == Tính năng == Samsung GT-i8510 có máy ảnh 8-megapixel, LED kép, Schneider-Kreuznach optics, 9x zoom kỹ thuật số, ổn định hình ảnh, auto-panorama shot, nhận diện khuôn mặt, nụ cười và ánh mắt, quay video VGA với 30 khung/giây và QVGA 120 khung/giây (sử dụng chế độ slow-motion). === Tính năng khác === Built-in GPS receiver A-GPS function 3D Graphics PowerVR MBX Lite OpenGL ES 1.1 Business card scanner DivX/H.263 / H.264 / WMV / MP4 player MP3 / eAAC+ / WMA / AMR / RealAudio player 3.5 mm audio jack TV out functionality Java MIDP 2.1 FM radio with RDS Organizer Built-in handsfree, Voice memo/dia Hỗ trợ DLNA == Liên kết == Review: http://www.gsmarena.com/samsung_i8510_innov8-review-302.php Samsung innov8 Review Samsung innov8 Review == Ghi chú ==
pop.txt
Nhạc pop (tiếng Việt: Nhạc phổ thông) là một thể loại của nhạc đương đại và rất phổ biến trong làng nhạc đại chúng. Nhạc pop bắt đầu từ thập niên 1950 và có nguồn gốc từ nhạc rock and roll. Thuật ngữ này không cho biết một cách chính xác về thể loại nhạc hay âm thanh riêng lẻ nào mà nghĩa của nó lại rất khác nhau phụ thuộc vào từng khoảng thời gian trong lịch sử của nó và từng địa điểm khác nhau trên thế giới. Trong làng nhạc đại chúng thì nhạc Pop thường được phân biệt với các thể loại khác nhờ một số đặc điểm về phong cách nghệ thuật, những giai điệu đơn giản dễ nghe, cùng với một số đoạn trong bài hát được lặp đi lặp lại. Ca từ trong nhạc pop thường nói tới tình yêu, cảm xúc và một số chủ đề khác. Nhạc pop là một thể loại nhạc rất đa dạng về phân loại. Thường thì nhạc pop được phân loại theo thể loại và theo quốc gia hay vùng lãnh thổ. === Thập niên 1980 === Trong thập niên 1980, ngôi sao nhạc Pop đáng chú ý nhất là Michael Jackson với album phòng thứ sáu, Thriller giữ kỷ lục là album bán chạy nhất mọi thời đại, với hơn 110 triệu bản. Anh là nghệ sĩ thành công nhất trong thập niên này với 9 ca khúc quán quân tại Mỹ và bán được hơn 133 triệu đĩa hát chỉ với 2 album là Thriller và Bad. Đến đầu đầu những năm 90 thì anh bắt đầu được công chúng gọi là "Ông hoàng nhạc Pop". Gương mặt nữ sáng giá nhất trong thập niên 80 là Madonna. Cô có một phong cách khá khác lạ khi hòa trộn nhạc Pop với những thể loại khác như Techno, Hip-hop... Các album khởi đầu sự nghiệp như Madonna, Like a Virgin, True Blue, Like a Prayer đều đạt vị trí và doanh thu cao trên toàn thế giới. Là nghệ sĩ thành công thứ hai trong những năm 80, cô được coi như là "Nữ hoàng nhạc Pop". Kênh truyền hình MTV cũng trao tặng cho cô giải thưởng "Nghệ sĩ của thập kỷ". Nam danh ca Prince cũng có nhiều ảnh hưởng trong giai đoạn này và nhận được nhiều sự ca ngợi từ giới phê bình. Những nghệ sĩ hàng đầu khác ở thập niên này là Cher, Kim Wilde, Gloria Estefan, Paula Abdul, Tina Turner, Tiffany, Kylie Minogue, Janet Jackson, Olivia Newton-John, Duran Duran, The Go-Go's, Huey Lewis & The News, Katrina and the Waves, The Police, Kenny Rogers, James Ingram, Lionel Richie, Stevie Wonder, Billy Joel, Tears for Fears, Rex Smith, Cyndi Lauper, Thompson Twins, Debbie Gibson, a-ha, Whitney Houston, Juice Newton, Richard Marx, Phil Collins, Air Supply, Laura Branigan, Talking Heads, Eurythmics, The Bangles, Hall & Oates, David Slater, Kenny Loggins, Kenny Rankin, George Michael (và Wham), Rick Springfield, U2, Def Leppard, AC/DC, và Culture Club. Những năm cuối của thập niên, làng nhạc Pop trông thấy sự nổi danh của bộ đôi đến từ Thụy Điển Roxette. Nhạc Pop trong thập niên 80 chịu sự chi phối mạnh bởi những âm thanh điện tử và các thể loại nhạc Dance. Ngày nay, thập niên này được đánh giá là có nhiều bài hát hay hơn cả. Xu hướng phong cách, thời trang được "trông" thấy trong các video clip vẫn tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ cho tới bây giờ. === Thập niên 1990 === Trong thập niên 1990 nhiều ca sĩ chịu ảnh hưởng từ R&B đã gặt hái được nhiều thành công, trong đó đỉnh cao là nữ danh ca Mariah Carey. Cô chính là ca sĩ thành công nhất trong thập niên này. Bắt đầu sự nghiệp từ khi mới 20 tuổi cho tới nay, cô đang nắm giữ kỷ lục trong giới nữ ca sĩ về số đĩa đơn quán quân tại Mỹ (18). Ngoài Mariah Carey còn có một số ngôi sao nhạc Pop-R&B khác cũng chinh phục được người nghe trên thế giới như Destiny's Child, Boyz II Men, Michael Jackson, Janet Jackson, En Vogue, Salt N Pepa, MC Hammer, C&C Music Factory, Brandy, và TLC. Những ca sĩ không hoặc ít hát R&B phải kể đến trong suốt thập kỷ này là U2, Cher, Michael Bolton, Bryan Adams, Elton John, Alanis Morissette, George Michael, Madonna, Whitney Houston, Shania Twain, Bon Jovi, Selena, Ace of Base, Celine Dion, Nádine, Aqua, Sheryl Crow, Kim Wilde, Jewel... Giai đoạn 1997-1999, các ca sĩ và nhóm nhạc teen pop Backstreet Boys, *NSYNC, Westlife, 98 Degrees, Hanson, Christina Aguilera, Britney Spears, Jennifer Lopez và Destiny's Child bắt đầu trở nên nổi tiếng, nhắm đến đối tượng khán giả trẻ tuổi lúc bấy giờ. Spice Girls trở thành nhóm nhạc người Anh thành công về mặt thương mại nhất ở Bắc Mỹ sau tiền bối The Beatles. Sức ảnh hưởng của họ đã mở đầu cho sự trỗi dậy của các ngôi sao thiếu niên pop nữ. Cuối thập niên 1990, hai cô "công chúa" Britney Spears và Christina Aguilera thành công vang dội với "...Baby One More Time" và "Genie in a Bottle" năm 1999. Và tiếp tục thống trị cho đến thập niên sau. === Thập niên 2000 === Teen Pop không ngừng phát triển ở giai đoạn đầu thập niên 2000 với thành công của hai nữ ngôi sao nhạc pop dẫn đầu Britney Spears và Christina Aguilera. "Oops!...I Did It Again" của Britney và "Come On Over Baby (All I Want Is You)" của Christina đã trở thành những hit lớn trong năm 2000. Đến năm 2001, phong trào teen-pop dần dịu xuống vì thể loại R&B đương đại và hip-hop bắt đầu trở nên phổ biến ở giai đoạn giữa thập niên (với Eminem, Black Eyed Peas, Usher...). "Lady Marmalade", Stripped của Christina và album cùng tên của Britney là những ví dụ điển hình của việc chuyển hóa dần từ teen pop nhí nhảnh sang giai điệu R&B hiện đại trưởng thành hơn. Đồng thời xuất hiện các nữ ca sĩ nhạc pop da đen nổi tiếng như Beyoncé và một thời gian sau là Rihanna. Các nhóm nhạc nam tiếp tục thịnh hành ở giai đoạn đầu thập niên nhưng phai nhạt dần sau sự kiện 11 tháng 9, ngoại trừ Backstreet Boys vẫn còn được ưa chuộng trong giai đoạn còn lại của thập niên, đạt được doanh số gần 200 triệu bản thu âm, trong đó là 120 triệu bản album, tính cả album Black & Blue phát hành năm 2001. Đến năm 2002, những bản thu âm của các nhóm nhạc nam trở nên thưa thớt trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Một số thành viên của các nhóm đã tách ra, bắt đầu sự nghiệp solo như Jesse McCartney của nhóm Dream Street, và đặc biệt là Justin Timberlake của 'N Sync đã thành công vang dội với Justified và FutureSex/LoveSounds. Đến gần cuối thập niên, xuất hiện một thế hệ mới các ban nhạc pop nam như Maroon 5, OneRepublic, Click Five, Jonas Brothers, Fall Out Boy... tuy phong trào này không còn huy hoàng như xưa. Các nhóm nhạc nữ thì vẫn giữ vững phong độ với thành công của Destiny's Child, Pussycat Dolls,... Ở thể loại pop rock thì có các ca sĩ và ban nhạc nổi bật: Pink, Kelly Clarkson, Avril Lavigne, Maroon 5, James Blunt... Thể loại này có những bài hát thành công như: "It's My Life", "Complicated", "Feel", "Fighter", "This Love", "You're Beautiful", "Bad Day", "Dani California", "Makes Me Wonder", "Viva la Vida", "Use Somebody",... Thể loại Latin pop xuất hiện các ngôi sao Shakira, Ricky Martin, Enrique Iglesias, Jennifer Lopez, Christina Aguilera... với "Whenever, Wherever" và "Hips Don't Lie" của Shakira lần lượt là single thành công nhất năm 2002 và 2006. Từ khoảng giữa thập niên 2000 trở đi, trào lưu nhạc pop hòa trộn giai điệu hip hop-R&B trở nên cực thịnh. Trong đó phải kể đến những bài hit "Lady Marmalade", "Crazy in Love", "Where Is the Love?", "Can't Hold Us Down", "Yeah!", "Don't Phunk with My Heart", "Don't Cha", "Buttons", "SexyBack", "Umbrella", "The Way I Are",... Thập niên này cũng xuất hiện một số bản ballad nổi tiếng như "Fallin'", "Hero", "Beautiful", "Everytime", "We Belong Together", "Because of You", "Big Girls Don't Cry", "Bleeding Love", "Halo", "Everytime"... Riêng dòng nhạc teen pop, sau làn sóng Britney và Christina, giai đoạn 2002-2003 bắt đầu nổi lên một số nghệ sĩ hát thể loại nhạc này pha một chút rock như Avril Lavigne, Hilary Duff, Ashlee Simpson... hoặc pha R&B như JoJo nhưng không được thành công như hai đàn chị. Đến năm 2006, dòng nhạc dành cho tuổi teen này bùng phát cơn sốt High School Musical cùng các ngôi sao mới của Disney như Selena Gomez & the Scene, Miley Cyrus, Jonas Brothers, Raven-Symoné, Demi Lovato,... Các ngôi sao kỳ cựu từ những thập niên trước như Janet Jackson, Kylie Minogue, Madonna, Mariah Carey... vẫn tiếp tục gặt hái nhiều thành công ở thập niên này. Giai đoạn cuối thập niên 2000, làng nhạc pop xuất hiện một số ngôi sao mới như Justin Bieber, Katy Perry, Lady Gaga, Ke$ha... Đồng thời giai điệu electropop, dance-pop bắt đầu trở nên thịnh hành, dần dần soán ngôi của loại nhạc pop pha hip hop. Các nghệ sĩ điển hình đã mang dòng nhạc này trở lại gồm có Madonna, Black Eyed Peas, Rihanna, Lady Gaga, David Guetta, Ke$ha,... Tuy nhiên, người nghe đã không còn chú trọng nhiều đến khả năng thanh nhạc của nghệ sĩ như trước vì sự phát triển của Auto-Tune. Các bài hit ở giai đoạn này có thể kể đến: "4 Minutes", "Disturbia", "Poker Face", "Boom Boom Pow", "I Gotta Feeling","TiK ToK"... === Thập niên 2010 === Electropop, dance pop, synthpop, electrohop và các thể loại nhạc tương tự từ những năm 1980 đã trở lại thống trị thị trường nhạc pop vào đầu thập niên 2010 qua David Guetta, Taio Cruz, Enrique Iglesias, Britney Spears, Ke$ha, Christina Aguilera, Lady Gaga, Rihanna, Katy Perry, 3OH!3, Far East Movement, Chris Brown, Owl City, Jennifer Lopez, Pitbull, Ne-Yo, LMFAO và Black Eyed Peas... Thể loại Dubstep dần trở nên thịnh hành qua các bài của Britney Spears ("Hold It Against Me") và Rihanna. Đây là giai đoạn synthesizer (nhạc cụ điện tử) và Auto-Tune lên ngôi với sự hồi sinh của thể loại nhạc vũ trường theo phong cách châu Âu, như: "California Gurls", "Tik Tok", "Party Rock Anthem", "Give Me Everything", "On the Floor",... Bên cạnh đó, tiếng huýt sáo cũng được sử dụng khá nhiều trong các bài hát nổi tiếng ở thời điểm này như "Moves Like Jagger", "I Wanna Go", "Pumped Up Kicks", "The Lazy Song", "I Like How It Feels", "Good Life",... Các bản ballad ở đầu thập niên này khá khan hiếm, chỉ có một số ít bài thành công như "Someone Like You" của Adele hay "Jar of Hearts" của Christina Perri... Đồng thời giai đoạn này cũng chứng kiến sự trở lại của dòng nhạc pop soul, R&B với Adele, Cee Lo Green, Bruno Mars... Trong đó đình đám nhất là Adele với "Rolling in the Deep" và 21 lần lượt là single và album thành công nhất năm 2011. Thể loại pop rock có những bài hit tiêu biểu: "Stronger (What Doesn't Kill You)",... Indie pop thì có: "We Are Young", "Somebody That I Used to Know"... Các nhóm nhạc pop nam cũng đã bắt đầu trở nên phổ biến trở lại với One Direction và The Wanted đều đến từ Anh Quốc. Năm 2012, album 21 lại là album thành công nhất của năm khi vượt ngưỡng 10 triệu bản tiêu thụ tại Mỹ (theo số liệu của Nielsen SoundScan). 21 cũng là album quán quân bảng xếp hạng Billboard 200 lâu nhất mọi thời đại, phát kỷ lục của album nhạc phim Titanic. Đĩa đơn "Set Fire to the Rain" đã giúp cô trở thành nữ nghệ sĩ Anh duy nhất có ba đĩa đơn quán quân liên tiếp trên Billboard Hot 100. == Xem thêm == Dance-pop Indie pop Electropop Europop K-pop C-Pop V-pop J-pop HK-pop Indi-pop Latin Pop Mexican pop Pop punk Pop rock Pop opera == Chú thích ==
ios 9.txt
iOS 9 là phiên bản thứ 9 của hệ điều hành iOS, hệ điều hành trên các thiết bị di động do Apple Inc. phát hành. Phiên bản này tập trung ít hơn vào các tính năng mới mà sẽ giúp tối ưu hóa thiết bị nhiều hơn, giúp kéo dài thời gian sử dụng pin cho thiết bị của Apple. Nó được phát hành vào ngày 16 tháng 9 năm 2015. Theo như thông báo của Apple vào ngày 21 tháng 9 năm 2015, iOS 9 đã được cài đặt cho khoảng 50% thiết bị iOS, thống kê bằng App Store. Tính đến ngày 29 tháng 8 năm 2016, con số này đã lên đến 88%. Tháng 6 năm 2016, Apple đã giới thiệu iOS 10, kế thừa cho iOS 9, dự kiến phát hành vào mùa thu năm 2016. == Chú thích == == Liên kết ngoài == iOS 9 – official site Apple - Download iOS 9.0 - 9.3.4 Information Increase Battery Life on iOS 9 Devices
bàn tay của chúa (bóng đá).txt
Bàn tay của chúa là một bàn thắng rất đặc biệt trong lịch sử bóng đá thế giới. Bàn thắng này được huyền thoại bóng đá thế giới Diego Maradona sử dụng vào năm 1986. == Diễn biến == Trong trận tứ kết vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới 1986 giữa Anh và Argentina. Lúc này tỉ số đang là 0-0, phút thứ 51, từ một pha phá bóng của một cầu thủ đội tuyển Anh, Diego Maradona băng lên tranh bóng với thủ môn Peter Shilton, do chiều cao hạn chế hơn nên anh quyết định dùng tay đập bóng vào lưới trước sự sững sờ của toàn bộ hơn 114.000 khán giả và thậm chí là cả đồng đội. Không ngờ trọng tài lại công nhận bàn thắng trên. Ngay lập tức các cầu thủ đội tuyển Anh chạy lại bao vây trọng tài và phản ứng quyết liệt. Trong buổi họp báo sau trận đấu, khi được phóng viên hỏi về bàn về bàn thắng của mình, ông đã thốt ra một câu nói rất nổi tiếng: Tôi đã ghi bàn bằng cái đầu của tôi và bàn tay của Chúa. == Kết quả == Kết thúc trận đấu, đội tuyển Argentina đã chiến thắng với tổng tỉ số là 2-1 và vô địch giải đấu sau khi thắng đội tuyển Đức ở trân chung kết với tỉ số là 3-2. Ngoài ra, trong trân đấu đó, ông còn có một bàn thắng rất đẹp mà được thế giới chọn là bàn thắng đẹp nhất thời đại. Kiểu ghi bàn thắng bằng tay này hiện nay vẫn còn được sử dụng. == Xem thêm == Bàn thắng thế kỷ, bàn thắng trong cùng trận đấu == Tham khảo ==
hoàng xuân vinh.txt
Hoàng Xuân Vinh (sinh 6 tháng 10 năm 1974 tại Sơn Tây, Hà Nội) là một vận động viên bắn súng của Việt Nam. Nhờ thành tích huy chương vàng ở nội dung 10m súng ngắn hơi nam tại Thế vận hội Mùa hè 2016, anh trở thành vận động viên thể thao Việt Nam đầu tiên và duy nhất tính đến nay giành được huy chương vàng tại đấu trường Thế vận hội,. Từ SEA Games 21 cho đến SEA Games 26, không một kỳ SEA Games nào anh không đoạt huy chương. Trong kỳ Thế vận hội Mùa hè 2012 tổ chức tại Luân Đôn, tại nội dung 10m súng ngắn hơi nam, anh về thứ 9 còn tại nội dung 50m súng ngắn nam tự chọn, anh lại đáng tiếc để mất huy chương đồng với 0,1 điểm trước người giành Huy chương đồng Olympic nội dung này là Vương Trí Vĩ và chấp nhận đứng vị trí thứ 4. Nhưng ngay sau đó, vào cuối năm 2012, anh vô địch châu Á. Và đến đầu năm 2013, anh vô địch thế giới, đều ở nội dung 10m súng ngắn hơi. Vì hai lần liên tiếp giành chức vô địch đấu trường châu lục và thế giới nên anh là người đầu tiên đã đem về những chức vô địch thế giới và châu Á đầu tiên cho các xạ thủ bắn súng của Việt Nam. Tại Thế vận hội Mùa hè 2016 tổ chức tại Rio de Janeiro, Brasil, anh là người mang về tấm huy chương vàng đầu tiên cho đoàn thể thao Việt Nam tại một kỳ Thế vận hội với nội dung 10m súng ngắn hơi nam với tổng điểm 202,5 điểm, thiết lập kỷ lục Olympic mới và cũng là kỷ lục đầu tiên cho nội dung 10m súng ngắn hơi nam (nội dung này trước đó chưa có kỷ lục được thiết lập vì Liên đoàn bắn súng quốc tế (ISSF) áp dụng thể thức mới từ năm 2013). Ở nội dung 50m súng ngắn, Hoàng Xuân Vinh cũng giành vé vào loạt bắn chung kết và đạt huy chương bạc với thành tích 191.3 điểm. Do có những thành tích đóng góp vào sự nghiệp thể thao nước nhà, anh được phong cấp bậc quân hàm đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. == Nguồn gốc và giáo dục == Hoàng Xuân Vinh sinh tại Sơn Tây, quê bà ngoại. Bố của Vinh là bộ đội Quảng Trị tập kết, mẹ anh là công nhân. Mẹ mất sớm khi mới ba tuổi, Vinh theo cha và em mới hơn một tuổi về Hà Nội sống trong một căn nhà nhỏ trên phố Thụy Khuê. Cảnh nhà nghèo, khó khăn, bố Vinh đã không lo được nhiều cho hai anh em. Về Hà Nội, Vinh được người mẹ kế chăm sóc nhưng cũng chẳng được bao lâu. Lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn, hai lần mất mẹ nên khi học hết cấp ba anh vẫn là cậu bé "cao chưa nổi mét sáu". Học hết cấp ba, Vinh tình nguyện nhập ngũ. Anh vào Trường Sĩ quan Công binh ở Sông Bé, trong đó có một năm rưỡi học tập và huấn luyện tại Trường Sĩ quan Lục quân 2. == Sự nghiệp == === Bắt đầu theo bắn súng chuyên nghiệp === Khác với phần lớn các xạ thủ, Hoàng Xuân Vinh theo nghiệp bắn súng chuyên nghiệp khá muộn. Năm 1994, sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan Công binh, anh về làm việc tại Lữ đoàn 239 Công binh tại Thường Tín, Hà Tây. Trong quân đội, việc phải biết sử dụng súng gần như là điều bắt buộc. Hoàng Xuân Vinh được cử đi tham dự các giải phong trào và thường mang thành tích tốt về cho đơn vị. Năm 1998, tại giải bắn súng toàn quân đội, Vinh giành vị trí quán quân. Vì vậy, năm 1999, Câu lạc bộ Quân đội xin Vinh về. Anh được gọi vào đội tuyển quốc gia khi đã 26 tuổi và chính thức chia tay chức vụ sĩ quan chỉ huy Cùng năm, Hoàng Xuân Vinh giành huy chương đầu tiên trong sự nghiệp VÐV thể thao chuyên nghiệp, đó là HCÐ đồng đội năm 1999 ở Cúp quốc gia nội dung súng ngắn hơi nam tổ chức tại Hải Phòng. Sang năm 2000, Vinh đã đoạt HCV và phá kỷ lục quốc gia môn súng ngắn hơi 10 m nam với 580 điểm và trở thành tuyển thủ quốc gia. Sáu kỳ SEA Games liên tiếp kể từ năm 2001 cho đến 2011, không năm nào Vinh không đoạt ít nhất một huy chương vàng. === Các Đại hội Thể thao Đông Nam Á === Năm 2001, Hoàng Xuân Vinh đoạt huy chương vàng đồng đội đầu tiên tại SEA Games 21. SEA Games 22 tại Việt Nam, anh đoạt một huy chương vàng cũng nội dung đồng đội súng ngắn hơi nam. SEA Games 24 tại Thái Lan, anh đoạt hai huy chương vàng cá nhân và một huy chương vàng đồng đội ở nội dung súng ngắn 10m hơi nam và súng ngắn 25m ổ quay. Anh trở thành xạ thủ xuất sắc nhất đội bắn súng Việt Nam tại SEA Games 24 khi giành được ba huy chương vàng, dẫn đầu thành tích cá nhân. Năm 2011, tại SEA Games 26, anh giành 1 huy chương vàng tại nội dung súng ngắn hơi 10m Nam, 1 huy chương vàng nội dung súng ngắn ổ quay 25m và một huy chương bạc. === Các Đại hội thể thao châu Á === Hoàng Xuân Vinh khoác áo đội tuyển tham dự Đại hội thể thao châu Á (ASIAD) từ năm 2006. Tại ASIAD 2006 anh cùng đồng đội giành một huy chương đồng đồng đội nội dung 10m súng ngắn nam. Tại ASIAD 16, khi tham dự nội dung 25m súng ngắn ổ quay, ở loạt bắn 10 viên đầu tiên, anh bắn được 97 điểm, chỉ thiếu 3 điểm là đạt điểm số tuyệt đối. Sang 2 loạt tiếp theo, thành tích của anh còn tốt hơn khi được 99 điểm. Với kết quả này, Vinh đạt 872 điểm loạt bắn chậm, dẫn đầu bảng xếp hạng. Sang loạt bắn nhanh, Vinh tiếp tục xuất phát ấn tượng với tổng điểm là 99 điểm ở 10 viên đầu tiên. Đến loạt bắn 10 viên tiếp theo, anh bắt đầu mất bình tĩnh khi chỉ được 97 điểm và có đến hai điểm 8 ở loạt bắn 10 viên cuối cùng trước khi đến viên thứ 10 quyết định. Thế nhưng anh vẫn hơn đối thủ xếp sau 4 điểm. Bất ngờ đã xảy ra, trong khi các đối thủ ghi những điểm 10 quan trọng, Vinh vừa nâng tay lên chưa kịp ngắm thì một tiếng nổ chát chúa vang lên. Không phải là do súng hỏng, mà do Vinh đã mất bình tĩnh, bóp cò sai mục tiêu. Kết quả, từ vị trí quán quân, Vinh phải nhận vị trí 13 chung cuộc. Và sau đó anh cùng đồng đội trắng tay huy chương đồng đội. === Thế vận hội Mùa hè 2012 === Hoàng Xuân Vinh giành vé tham dự Thế vận hội Mùa hè 2012 tại Giải vô địch châu Á 2012 ở Qatar. Tại giải đấu này anh xếp thứ tư ở nội dung 10m súng ngắn hơi nam. Do ba vận động viên xếp trên đều đã có vé tham dự Thế vận hội từ những cuộc thi đấu trước nên Hoàng Xuân Vinh giành vé và là vận động viên bắn súng đầu tiên của Việt Nam giành quyền dự Thế vận hội bằng cách vượt qua vòng loại. Tại London, Hoàng Xuân Vinh tham dự hai nội dung 10m súng ngắn hơi và 50m súng ngắn tự chọn. Tại nội dung 10m súng ngắn hơi, anh đạt 582 điểm ở vòng loại, chỉ kém 1 điểm để được vào vòng chung kết. Ở nội dung 50m súng ngắn tự chọn, Hoàng Xuân Vinh xếp thứ tư vòng loại với 563 điểm và là một trong tám xạ thủ lọt vào vòng chung kết. Tiến vào lượt bắn chung kết tranh huy chương, anh còn thuộc nhóm có khả năng lấy huy chương sau khi bắn các loạt 3, 6, 7, 8 đều đạt trên 10 điểm. Tuy nhiên, bất ngờ đã xảy ra ở loạt bắn thứ 9 khi Vinh chỉ cần bắn được điểm 8 là sẽ có huy chương nhưng xạ thủ người Hà Nội chỉ bắn được 7,3 điểm. Do đó dù loạt bắn cuối cùng đạt 10,2 điểm để kết thúc lượt bắn chung kết với số điểm là 95,5 điểm và tổng điểm chung cuộc 658,5 điểm, Hoàng Xuân Vinh vẫn kém huy chương đồng Vương Trí Vĩ 0,1 điểm. Vì đoàn Việt Nam không có tấm huy chương nào tại kỳ Olympic này, nên thất bại của anh ở nội dung 50m súng ngắn tự chọn gây ra nhiều tiếc nuối. === Giải vô địch bắn súng hơi châu Á 2012 === Giải đấu được tổ chức vào tháng 12 năm 2012 tại Trung Quốc. Hoàng Xuân Vinh tham dự nội dung 10m súng ngắn hơi nam. Ở loạt bắn tiêu chuẩn, Xuân Vinh giành được 583 điểm. Đến loạt bắn chung kết, anh thi đấu xuất sắc, đạt 100,3 điểm và giành huy chương vàng cá nhân với tổng điểm 683,3. Anh cũng góp phần đem về tấm huy chương đồng đồng đội cho đội Việt Nam ở nội dung này. Đây là tấm huy chương vàng châu Á đầu tiên của các xạ thủ Việt Nam. === Cúp bắn súng thế giới 2013 === Tại Cúp bắn súng thế giới - ISSF World Cup 2013 tổ chức ở Hàn Quốc (từ ngày 4 đến 9-4-2013), Hoàng Xuân Vinh tham dự nội dung 10m súng ngắn hơi nam. Đối thủ chính của anh ở giải này vẫn là người hơn Vinh 0,1 điểm ở Thế vận hội Mùa hè 2012, Vương Trí Vĩ. Ở vòng loại, Hoàng Xuân Vinh và Vương bám đuổi nhau quyết liệt về điểm số và xạ thủ người Việt Nam đã xếp nhì với thành tích 583 điểm. Tại chung kết, Xuân Vinh và Vương vẫn là hai xạ thủ so kè nhau từng điểm số. Hoàng Xuân Vinh lần này đã thi đấu tập trung, không bắn hụt như những lần chung kết quan trọng khác. Kết quả loạt chung kết anh đạt 200,8 điểm, hơn Vương Trí Vĩ 0,7 điểm để đoạt huy chương vàng đầu tiên cho bắn súng Việt Nam trên đấu trường thế giới. === Thế vận hội Mùa hè 2016 === Tại Thế vận hội Mùa hè 2016 tổ chức tại Rio de Janeiro, Brasil, anh là người mang về tấm huy chương vàng đầu tiên cho đoàn thể thao Việt Nam với nội dung 10m súng ngắn hơi nam sau khi đánh bại vận động viên Felipe Almeida Wu của nước chủ nhà Brasil. Thành tích 202,5 điểm ở loạt đấu chung kết của Xuân Vinh nhỉnh hơn 0,4 điểm so với thành tích của Felipe Almeida và đồng thời thiết lập kỷ lục Olympic đầu tiên cho nội dung chung kết 10m súng ngắn hơi nam kể từ khi Liên đoàn bắn súng quốc tế - ISSF thay đổi thể thức thi đấu đối với nội dung này từ ngày 1-1-2013. Kỷ lục thế giới ở nội dung chung kết 10m súng ngắn hơi nam hiện là 206 điểm do vận động viên người Hàn Quốc Jin Jong-oh thiết lập tại Cúp bắn súng thế giới - ISSF World Cup 2015, người chỉ xếp hạng 5 tại Thế vận hội lần này. Trong diễn biến của loạt đấu chung kết 10m súng ngắn hơi, kịch tính được đẩy lên đỉnh điểm ở hai loạt đạn cuối khi chỉ còn là cuộc đấu tay đôi tranh huy chương vàng giữa Xuân Vinh và Felipe Almeida sau khi các đối thủ khác đều bị cắt loại trực tiếp. Trước lượt bắn áp chót, tổng điểm của Xuân Vinh là 182,6 trong khi tổng điểm của Felipe Almeida là 181,8. Ở lượt áp chót, Xuân Vinh bắn không tốt khi chỉ đạt 9,2 điểm so với 10,2 điểm của đối thủ và bị tụt xuống vị trí thứ 2 với 0,2 điểm ít hơn. Ở lượt bắn quyết định, tưởng chừng Xuân Vinh lại một lần nữa cay đắng về nhì khi Felipe Almeida nhanh chóng thực hiện tốt loạt đạn cuối với 10,1 điểm và nhận được tiếng hò reo cổ vũ của khán giả nhà, Xuân Vinh tập trung vào mục tiêu rất lâu và rồi xuất thần ghi đến 10,7 điểm khi đưa viên đạn găm rất sát vùng tâm bia và qua đó vươn lên giành huy chương vàng trong tiếng vỗ tay thán phục của chính đối thủ nước chủ nhà. Xạ thủ Hoàng Xuân Vinh đã không giấu nổi những giọt nước mắt hạnh phúc. Tấm huy chương vàng 10m súng ngắn hơi mà Xuân Vinh giành được tại Thế vận hội Mùa hè 2016 mang ý nghĩa lịch sử đối với thể thao trong nước vì đây là tấm huy chương vàng đầu tiên của Việt Nam tại một kỳ Thế vận hội. Sau đó, vào ngày 10 tháng 8, anh đã giành tiếp tấm huy chương bạc nội dung 50m súng ngắn nam, với số điểm 191.3. Xếp sau Jin Jong-oh của Hàn Quốc (đạt 193.7 điểm). == Vinh danh, đời tư == Năm 2000, Hoàng Xuân Vinh đã lập gia đình với Phan Hương Giang. Hai vợ chồng có một con gái và một con trai. Dù là một xạ thủ nhưng anh lại bị cận nặng. Thần tượng của Xuân Vinh là Trần Oanh, xạ thủ lừng lẫy một thời của bắn súng Việt Nam. Do có những thành tích đóng góp vào sự nghiêp thể thao nước nhà, năm 2012, anh được thăng quân hàm đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam Cũng trong năm này, Hoàng Xuân Vinh xếp thứ ba trong danh sách 10 vận động viên tiêu biểu của Việt Nam. Năm 2013, anh tiếp tục đứng thứ ba trong danh sách bình chọn Mười vận động viên tiêu biểu. == Câu nói == == Xem thêm == ASIAD 16 Việt Nam tại Đại hội Thể thao châu Á 2010 Việt Nam tại Thế vận hội Mùa hè 2012 Việt Nam tại Thế vận hội Mùa hè 2016 Trần Oanh == Chú thích == == Liên kết ngoài == Hoàng Xuân Vinh tại Liên đoàn bắn súng thể thao thế giới Xạ thủ Hoàng Xuân Vinh lần đầu đạt chuẩn Olympic
triều tiên.txt
Triều Tiên (theo cách sử dụng tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên: 조선, Chosǒn) hay Hàn Quốc (theo cách sử dụng tại Đại Hàn Dân quốc: 한국, Hanguk) hay Korea (theo cách sử dụng quốc tế và có gốc từ "Cao Ly") là một nền văn hóa và khu vực địa lý nằm tại bán đảo Triều Tiên tại Đông Á. Khu vực này giáp liền với Trung Quốc về hướng tây bắc và Nga về hướng đông bắc, với Nhật Bản ở đông nam qua eo biển Triều Tiên. Từ "Triều Tiên" có nghĩa là "(Xứ) Buổi sáng tươi đẹp". Hiện nay Triều Tiên được chia ra hai chính thể: Đại Hàn Dân quốc ở phía nam là một nước dân chủ tự do theo kiểu phương Tây và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở phía bắc là một nước chuyên chính cộng sản (dân chủ nhân dân). Là một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới, Triều Tiên có lịch sử được ghi chép khoảng 3000 năm. Trong thế kỷ thứ 4, họ đã bắt đầu dùng hệ thống chữ Hán và chịu ảnh hưởng của Phật giáo, và nhiều khía cạnh văn hóa khác có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội này. Sau này Triều Tiên đã đem những bước tiến này cũng như những kỹ thuật họ tự khám phá vào Nhật Bản. Sau khi thống nhất Tam Quốc vào năm 676, Triều Tiên đã được quản lý bởi một nhà nước và giữ được độc lập về chính trị cũng như văn hóa cho đến khi bị Mông Cổ xâm lược trong thế kỷ 13. Trong nhiều thế kỷ, Triều Tiên giữ một mối liên hệ gần gũi với Trung Quốc, cường quốc trong khu vực này, trong khi đồng thời giữ bản chất của mình. Nền văn hóa Triều Tiên đã đem lại máy in đầu tiên, đồng hồ tự gõ, máy đo lượng nước mưa và tàu chiến bọc sắt. Văn hóa Triều Tiên đến được tột đỉnh trong thế kỷ 15, dưới thời Thế Tông Đại Vương (세종대왕). Sau đó Triều Tiên lao vào cảnh đình trệ vào phần sau của nhà Triều Tiên (Joseon), và đến cuối thế kỷ 19 đã bị các đế quốc dòm ngó. Năm 1910, Triều Tiên bị Nhật Bản đóng chiếm và trở thành thuộc địa cho đến cuối Chiến tranh thế giới thứ hai. Hoa Kỳ và Liên Xô chiếm giữ nước này và lập ra những chính phủ trung thành với tư tưởng của họ, tạo ra tình huống ngày nay. == Tên gọi Triều Tiên == Tên gọi "Korea" xuất phát từ thời kỳ Cao Ly trong lịch sử Triều Tiên, cũng xuất phát từ nước Cao Cấu Ly. Nay tên gọi "Korea" được quốc tế sử dụng để chỉ đến cả hai nước. == Lịch sử == Đã có bằng chứng khảo cổ cho thấy loài người đã sống trên bán đảo Triều Tiên khoảng 700.000 năm trước, trong thời kỳ Hạ Đồ đá cũ. Đồ gốm Triều Tiên cổ xưa nhất có từ khoảng năm 7000 TCN, và thời kỳ Đồ đá mới bắt đầu khoảng năm 6000 TCN. Thời kỳ đồ gốm Trất Văn kéo dài từ 3500 TCN đến 2000 TCN. === Cổ Triều Tiên === Theo sự tích Đàn Quân, Triều Tiên được thành lập năm 2333 TCN. Quốc gia này được biết đến với tên Triều Tiên, thường được gọi là Cổ Triều Tiên để phân biệt với nhà Triều Tiên. Các nhà khảo cổ đã khai quật được các đồ tạo tác của Cổ Triều Tiên và các thành cổ khắp Triều Tiên và miền nam Mãn Châu. Các tài liệu khảo cổ và sử sách cho biết nó có thể được thành lập từ một liên minh của các thành thành một nhà nước tập trung vào giữa thế kỷ 7 và 4 TCN, khi nó tự xưng là một vương triều và tuyên chiến với nhà Chu. Năm 108 TCN, nhà Hán tại Trung Quốc đã đánh bại Cổ Triều Tiên và lập ra 4 quận tại miền bắc Triều Tiên (kể cả một quận gần Bình Nhưỡng) và Mãn Châu chủ yếu để làm tiền đồn buôn bán. Đến 75 TCN, ba trong bốn quận đã bị thất thủ, nhưng còn một quận nằm dưới sự cai trị của nhà Hán cho tới năm 313. Một quốc gia với tên gọi Thìn Quốc tồn tại ở miền nam Triều Tiên trước khi Cổ Triều Tiên bị sụp đổ. Tuy rất ít được biết về tổ chức chính trị của quốc gia này, các tạo tác bằng đồng thiếc từ thế kỷ 3 và 2 TCN đã được khai quật trong khu vực. Tam Hàn, ba liên minh có nguồn gốc từ Thìn, thay nước Thìn. Tại miền bắc, quốc gia Cao Câu Ly đã thống nhất Phù Dư, Ốc Trở và Đông Uế trong lãnh thổ Cổ Triều Tiên trước kia, và tiêu diệt quận của người Hán vào năm 313. === Tam Quốc === Ba nước Cao Câu Ly, Tân La và Bách Tế (hai nước sau phát sinh từ Tam Hàn) giành quyền với nhau và thâu tính các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực. Tổ chức nhà nước tinh vi được phát triển dưới dạng Khổng giáo và Phật giáo. Cao Cấu Ly là nước mạnh nhất, nhưng luôn giao chiến với nhà Tùy và nhà Đường tại Trung Quốc. Trong thế kỷ thứ 7, Tùy Dạng Đế đã đem 100 vạn quân qua xâm lấn Cao Câu Ly. Tuy nhiên, người Triều Tiên, dưới sự chỉ huy của tướng Eulji Mundeok (Ất Chi Văn Đức) đã đánh bại quân Hán. Việc này đã dẫn đến sự sụp đổ của nhà Tùy. Nhà Đường cũng tiếp tục giao chiến với Cao Câu Ly. Tuy là nước lạc hậu nhất trong lĩnh vực văn hóa trong Tam Quốc, Tân La có một truyền thống quân sự xung quanh các chiến sĩ được gọi là hoa lang (hwarang). Thoạt tiên Tân La sát nhập khối Già Da (Gaya), rồi liên minh với nhà Đường để thâu tính Bách Tế và, sau này, Cao Câu Ly. Việc này tạo ra nhà nước thống nhất đầu tiên tại Triều Tiên, thường được gọi là Tân La Thống nhất. === Bột Hải và Tân La Thống nhất === Tân La cuối cùng đuổi được quân nhà Đường ra khỏi lãnh thổ Cao Câu Ly. Vì lẽ đó, đến thế kỷ thứ 8, Tân La đã quản lý hầu hết bán đảo Triều Tiên và vì thế được gọi là Tân La Thống nhất. Đến cuối thế kỷ thứ 9, Tân La Thống nhất sụp đổ và thời Hậu Tam Quốc bắt đầu. Sau khi Cao Cấu Ly sụp đổ, tướng Đại Tộ Vinh (Dae Joyeong) lãnh đạo quân dân đến khu vực Cát Lâm của Mãn Châu. Vị tướng này thành lập nước Bột Hải như nhà nước tiếp kế Cao Cấu Ly và giành lại được khu vực miền bắc bị mất. Cuối cùng, lãnh thổ Bội Hải đã trải dài từ Tùng Hoa Giang và Hắc Long Giang ở miền bắc Mãn Châu đến các tỉnh miền bắc Triều Tiên. Trong thế kỷ thứ 10, Bột Hải đã bị người Khiết Đan chiếm đóng. === Triều đại Cao Ly (918-1392) === Vương triều Cao Ly thay thế Tân La Thống nhất. Nhiều vương thân từ nước Bột Hải cũng tham gia vào quốc gia mới này, có lãnh thổ rộng hơn bán đảo Triều Tiên (xem Gian Đảo, nay dưới sự quản lý của Trung Quốc). Trong thời kỳ này, luật pháp đã được soạn ra, một hệ thống quan lại cũng ra mắt vào thời điểm này, và Phật giáo trở thành thịnh hành tại Triều Tiên. Trong thế kỷ thứ 10 và 11, Triều Tiên tiếp tục bị người Nữ Chân và Khiết Đan tấn công tại biên giới phía bắc. Xung đột giữa các quan lại văn và võ ngày càng tăng khi các quan võ bị hạ thấp địa vị và được trả tiền ít hơn. Việc này khiến nhiều tướng cầm quân kháng cự và một số khác di cư tại nơi khác. Trong năm 1238, quân Mông Cổ xâm chiếm Triều Tiên. Sau gần 30 năm kháng chiến, Triều Tiên tiêu tàn và hai nước ký hiệp ước có lợi cho Mông Cổ. Dưới sự điều khiển của Mông Cổ, Cao Ly tham gia vào hai cuộc xâm chiếm Nhật Bản không thành. Trong thập niên 1340, Đế quốc Mông Cổ bị nhanh chóng suy sụp vì có xung đột nội bộ. Lúc này Triều Tiên có thể cải cách chính trị mà không bị Mông Cổ quấy rối. Vào thời điểm này, tướng Lý Thành Quế (Yi Seong-gye) lập danh cho mình bằng cách đánh đuổi hải tặc Nhật Bản, được gọi là Uy khấu (giặc lùn), đã cướp bóc từ các tàu lái buôn của Trung Quốc và Triều Tiên và tàn phá bờ biển Triều Tiên. === Triều đại Triều Tiên (1392-1910) === Năm 1392, Ly Thành Quế thành lập nhà Triều Tiên (Joseon), dời thủ đô đến Hán Thành (Hanseong, nay là Seoul). Trong 200 năm đầu của triều đại này, lãnh thổ miền Bắc được thêm vào, diện tích đất trồng trọt được tăng gấp hai, khoa học và kỹ thuật phát triển, chữ viết mới Hangul phù hợp với tiếng Triều Tiên được sáng chế, và nhiều sách vở về giáo dục cơ bản được xuất bản, trong khi hiến pháp và luật pháp được hoàn thành. Trong cuối thập niên 1590, Nhật Bản hai lần xâm lăng Triều Tiên nhưng không thành, gây ra nhiều sự tàn phá. Những người xâm lược đốt hết những gì họ không đem về Nhật Bản được và nhiều tạo tác văn hóa bị mất tích. Với sự giúp đỡ của quân Minh và tàu chiến bọc sắc của đô đốc Lý Thuấn Thần (Yi Sunsin), quân Triều Tiên đẩy lùi được quân Nhật. Tuy thế, sau sự xâm lăng của Nhật Bản, trong thập niên 1620 và 1630 nhà Triều Tiên không thể kháng cự quân Mãn Châu. Cuối cùng nó phải công nhận nhà Thanh là triều đại tại Trung Quốc. Sau đó Triều Tiên được hai thế kỷ hoà bình. Quốc gia này đã cách ly với thế giới bên ngoài vào thời điểm này và được gọi là "Vương triều ẩn dật". Nhà Triều Tiên được cho là triều đại cai trị lâu dài nhất tại Đông Á. === Nhật Bản chiếm đóng === Bắt đầu từ đầu thập niên 1870, Nhật Bản bắt đầu cưỡng bức Triều Tiên ra khỏi khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc và vào khu vực của Nhật. Năm 1895, Hoàng hậu Minh Thành (Myeongseong) bị quân Nhật dưới sự chỉ đạo của Miura Goro ám sát. Sau Chiến tranh Trung-Nhật và Chiến tranh Nga-Nhật, Nhật Bản giành được ưu thế tại Triều Tiên. Năm 1910, Nhật Bản cưỡng bức Triều Tiên ký Điều ước Sát nhập Hàn-Nhật. Sự cai trị của Nhật rất tàn bạo và nhiều người Triều Tiên đã kháng cự, cuối cùng dẫn đến phong trào đòi độc lập. Phong trào này đã bị Nhật đàn áp dã man và hàng ngàn người đã bị Nhật giết hại. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều người Triều Tiên đã bị cưỡng bức hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Nhật. Hàng vạn người đàn ông đã bị bắt đi lính trong quân đội Nhật, trong khi đến 200.000 phụ nữ đã bị cưỡng bức lao động hay làm nô lệ tình dục, được gọi là "úy an phụ" (慰安婦, 위안부). Khoảng 60.000 người Triều Tiên làm việc trong hầm mỏ đã bị thiệt mạng giữa 1939 và 1945, và vô số khác bị dùng làm thí nghiệm cho Đơn vị 731. Thái độ bài Nhật vẫn còn mạnh mẽ tại Triều Tiên, đặc biệt là trong thế hệ già, vì họ tin rằng Nhật Bản không tỏ ra hối hận cho những điều sai trái này. === Đất nước chia cắt === Sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945, chính phủ đế quốc Nhật được thay thế bởi sự hiện diện của Hoa Kỳ và Liên Xô. Liên Xô ủng hộ chính quyền miền bắc, đồng thời cũng có quan hệ với Trung Quốc; Hoa Kỳ có quan hệ gần gũi với chính quyền ở miền nam, giúp đỡ những người có kinh nghiệm dưới thời Nhật lên cầm quyền và đàn áp những người cộng sản. Người Triều Tiên bị chia rẽ: những người tay sai Nhật thiếu sự tín nhiệm của người dân, nhưng họ có nhiều kinh nghiệm và giữ quyền. Chủ nghĩa cộng sản ngày càng thâm nhập vào Triều Tiên và những người Triều Tiên đã từng chiến đấu chống Nhật cùng với Trung Quốc được nhiều quyền lực và danh tiếng. === Chiến tranh Triều Tiên và hy vọng thống nhất === Theo một số nhà khoa học chính trịai?, Chiến tranh Triều Tiên là kết quả trực tiếp của chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã ủng hộ những người theo chủ nghĩa chống cộng, hậu thuẫn quân đội Đại Hàn Dân Quốc, và ảnh hưởng Liên Hiệp Quốc để ủng hộ quân đội này. Trong năm 1945, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Hiệp Quốc dự định tạo ra một chính quyền ủy nhiệm, Hoa Kỳ điều khiển bán đảo này phía nam vĩ tuyến 38 và Liên Xô điều khiển phía bắc. Tình thế chính trị của Chiến tranh Lạnh đã dẫn đến sự hình thành của hai chính phủ. Tuy nhiên, sau khi Hoa Kỳ rời khỏi Hàn Quốc và chỉ để lại một số cố vấn, Bắc Triều Tiên tấn công vào miền nam. Chiến tranh bắt đầu vào tháng 6 năm 1950 và diễn tiến đến năm 1953. Hoa Kỳ hậu thuẫn miền nam và Trung Quốc hậu thuẫn miền bắc. Hàng triệu người Triều Tiên bị thiệt mạng. Sau ba năm dữ dội, chiến tranh kết thúc với một hiệp ước đình chiến, và ranh giới của hai nước trở lại gần như cũ. Hai nước vẫn chưa ký hiệp ước hòa bình. Cả hai bên đều tuyên bố thống nhất là mục đích cuối của họ. Từ thập niên 1990, với chính quyền ở Hàn Quốc ngày càng tự do hơn, cũng như sau cái chết của lãnh tụ cộng sản Bắc Triều Tiên Kim Nhật Thành, hai bên đã có những bước tiến đến cộng tác, trong các cuộc thi thể thao quốc tế, việc đoàn tụ thân nhân, kinh tế và du lịch. Gần đây, trong nỗ lực hòa giải, hai quốc gia đã chọn một Cờ Thống nhất. Trong khi lá cờ này tượng trưng cho Triều Tiên trong các cuộc thi thể thao quốc tế, nó không phải là quốc kỳ của Hàn Quốc hay CHDCND Triều Tiên. Cả hai vẫn dùng quốc kỳ mà họ dùng từ khi nhà nước thành lập năm 1948. == Địa lý == Triều Tiên nằm trên bán đảo Triều Tiên tại đông bắc châu Á. Nó có ranh giới với hai quốc gia và ba biển. Ở phía tây bắc, Áp Lục Giang chia Triều Tiên ra khỏi Trung Quốc và về hướng bắc, Đồ Môn Giang tách Triều Tiên từ Nga. Hoàng Hải nằm tại hướng tây, biển Hoa Đông ở phía nam, và Biển Nhật Bản ở hướng đông. Tổng diện tích của Triều tiên là 120,410 km2. Các đảo đáng kể gồm có Jeju, Ulleungdo. Phần phía nam và phía tây của vùng đất lục địa Triều Tiên là những đồng bằng phát triển, trong khi phần phía tây và phía bắc có nhiều đồi núi. Núi cao nhất Triều Tiên là núi Bạch Đầu (Baekdu) (2744 m, Trung Quốc gọi là "núi Trường Bạch"). Biên giới với Trung Quốc chạy qua dãy núi này. Phần kéo dài về phía nam của núi Bạch Đầu là một cao nguyên gọi là cao nguyên Kaema. Cao nguyên này chủ yếu được nâng lên vào thời Đại Tân Sinh và một phần bị bao phủ bởi tro núi lửa. Về phía nam của Gaema Gowon, nhiều dãy núi kế tiếp toạ lạc dọc theo bờ biển phía đông của bán đảo Triều Tiên. Những dãy núi này được đặt tên là Baekdudaegan (Bạch Đầu đại cán). Một số núi quan trọng bao gồm Sobaeksan (2.184 m), Baeksan (1.724 m), Kim Cương sơn (1.638 m), Seoraksan (1.708 m), Taebaeksan (1.567 m) và Jirisan (1.915 m). Có một số núi thấp hơn, những dãy núi thứ hai có hướng gần như vuông góc với hướng núi Baekdudaegan. Chúng phát triển dọc theo đường nối lục địa thời Đại Trung Sinh và hướng của chúng là tây bắc và tây tây bắc. Tương phản với những dãy núi cổ trên lục địa, một số đảo quan trọng của Triều Tiên được hình thành bởi các hoạt động núi lửa trong thời Đại Tân Sinh gần đây. Đảo Jeju, tọa lạc xa về phía nam của bán đảo Triều Tiên, là một đảo núi lửa lớn với núi chính là Hallasan (1950 m). Ulleungdo là đảo núi lửa trên Biển Nhật Bản, mà thành phần có nhiều felsic hơn Jeju. Những đảo núi lửa có xu hướng trẻ hơn đối với các núi di chuyển về phía tây. Bởi vì những vùng núi có hướng ngả về phần đông của bán đảo, những con sông lớn có xu hướng chảy về phía tây. Hai trường hợp ngoại lệ là sông Nakdong và sông Seomjin chảy về phía nam. Các con sông quan trọng chảy về phía tây bao gồm sông Áp Lục, sông Chongchon, sông Đại Đồng, sông Hán, sông Geum và sông Yeongsan. Những con sông này làm ngập các đồng bằng và cung cấp một môi trường lý tưởng cho việc trồng lúa. Phía nam và tây nam bờ biển của bán đảo Triều Tiên là đường bờ biển Lias khá phát triển. Nó được biết đến như là Dadohae trong tiếng Triều Tiên. Đường bờ biển phức tạp tạo ra những biển ôn hòa và môi trường biển tĩnh lặng cho phép tàu thuyền đi lại an toàn, đánh cá và trồng rong biển. Thêm vào đường bờ biển phức tạp, bờ phía tây của bán đảo Triều Tiên có cường độ thủy triều rất cao (tại Incheon, khoảng giữa bờ biển phía tây, nó cao đến 9 m). Những tấm chắn thủy triều lớn đang được phát triển trên bờ biển phía nam và tây của bán đảo Triều Tiên. == Nhân khẩu == Xem: Nhân khẩu của Hàn Quốc, Nhân khẩu của Bắc Triều Tiên Triều Tiên được định cư bởi một sắc tộc thuần nhất là người Triều Tiên. Họ sử dụng một ngôn ngữ riêng là tiếng Triều Tiên và hệ thống chữ viết đặc thù hangul. Sắc tộc thiểu số sinh sống trên bán đảo Triều Tiên có thể kể tới người Hoa (khoảng gần 20.000) ([2]) chủ yếu ở Hàn Quốc. Ngoài ra có một vài nhóm cộng đồng người gốc Hoa và gốc Nhật được cho là còn định cư ở phía bắc Triều Tiên [3]). Lực lượng lao động nước ngoài ở Hàn Quốc chủ yếu bao gồm những lao động đến từ các nước như Bangladesh, Pakistan, Philippines và Việt Nam, tổng cộng khoảng hơn nửa triệu. Cũng có thể kể tới hơn 10.000 người Mỹ, Úc, Anh, Canada, Ireland làm công tác giảng dạy tiếng Anh tại đây. Và khoảng 30.000 lính Mỹ đồn trú thường trực trên lãnh thổ Hàn Quốc. Tổng dân số trên bán đảo Triều Tiên là khoảng 73 triệu người. === Ngôn ngữ === Xem thêm: Hangul, Chữ số Triều Tiên, Tên Triều Tiên == Văn hóa == Xem thêm: Kiến trúc Triều Tiên, Nghệ thuật Triều Tiên, Đồ gốm Triều Tiên Trong các sách Trung Hoa cổ, Triều Tiên được nhắc đến như là "Cẩm tú giang sơn" (금수강산, 錦繡江山) và "Đông phương lễ nghi chi quốc" (동방예의지국, 東方禮儀之國). Trong suốt thế kỉ thứ 7 và thứ 8, buôn bán thương mại đường bộ và đường thủy nối Triều Tiên với Ả Rập Saudi. Xưa nhất là từ năm 845, những thương Ả Rập đề cập Triều Tiên với câu nói "Phía bên kia biển qua khỏi Trung Quốc là một đất nước nhiều đồi núi gọi là Silla (신라), giàu vàng. Các tín đồ Hồi giáo từng đặt chân đến đây đã bị đất nước này quyến rũ đến nỗi mà họ ở lại luôn nơi đó và không muốn rời đi." Theo sử sách Nhật Bản, các học giả Triều Tiên đã giới thiệu kiến thức và kỹ thuật của Trung Quốc, kể chữ Hán và những tác phẩm kinh điển, như Luận ngữ, vào Nhật Bản. Vào năm 554, một vương quốc Triều Tiên tên là Bách Tế gửi bác sĩ, chuyên gia dược thảo và làm lịch và thầy tu đến Nhật Bản; và năm 602, một sư Bách Tế tên là Kwalluk được gửi đi để đem các sách về thiên văn học, làm lịch, địa lý và tôn giáo. Những hội hè Triều Tiên thường phô diễn nhiều màu sắc sặc sỡ, được gán cho những ảnh hưởng từ Mông Cổ: đỏ sáng, vàng và xanh thường đánh dấu những nét truyền thống của Triều Tiên. Những màu sắc tươi sáng đôi khi được thể hiện ở trang phục truyền thống hanbok. Một đặc điểm của văn hóa Triều Tiên là hệ thống tính tuổi. Trẻ vừa sinh ra được xem là một tuổi, vì người Triều Tiên nghĩ thời kỳ mang thai như là một năm cuộc sống của trẻ, và tuổi tác sẽ tăng vào ngày đầu năm thay vì vào ngày kỉ niệm sinh nhật. Do đó, một người sinh ra ngay trước ngày đầu năm mới chỉ được vài ngày tuổi theo cách tính của phương Tây, nhưng là hai tuổi tại Triều Tiên. Theo đó, tuổi trên giấy tờ của ngườiTriều Tiên (ít nhất là giữa những người Triều Tiên cùng độ tuổi) sẽ nhiều hơn một hoặc hai năm so với tuổi theo cách tính của phương Tây. Tuy nhiên, cách tính của phương Tây đôi khi được áp dụng trong các khái niệm về tuổi hợp pháp, ví dụ, tuổi hợp pháp để mua rượu hoặc thuốc lá tại Triều Tiên là 19 được xác định theo cách tính của phương Tây là 18 tuổi. Hàn Quốc có chung nền văn hoá truyền thống với CHDCND Triều Tiên. Tuy vậy, văn hoá hiện đại của hai quốc gia này có nhiều điểm lại khác biệt nhau. === Tôn giáo === Xem chi tiết: Khổng giáo Triều Tiên, Phật giáo Triều Tiên, Thiên chúa giáo ở Triều Tiên Truyền thống Khổng giáo đã thống trị ý nghĩ của người Triều Tiên, cùng với các đóng góp của Phật giáo, Đạo giáo và Shaman giáo. Tuy nhiên, từ giữa thế kỉ 20 Cơ Đốc giáo đã cạnh tranh với Phật giáo để trở thành một ảnh hưởng tôn giáo chính ở Nam Triều Tiên, trong khi đó hoạt động tôn giáo bị đàn áp ở Bắc Triều Tiên. Trong suốt chiều dày lịch sử và nền văn hóa Hàn Quốc, bất chấp bị chia rẽ, ảnh hưởng tín ngưỡng truyền thống của Saman giáo Hàn Quốc, Phật giáo Đại thừa, Khổng giáo và Đạo giáo vẫn là một tôn giáo cơ bản của người dân Hàn Quốc, đóng vai trò như một khía cạnh quan trọng trong nền văn hóa dân tộc. Tất cả các truyền thống này đã cùng tồn tại hòa bình từ hàng trăm năm trước đến nay bất kể xu hướng Âu hóa mạnh mẽ từ phương Tây của quá trình chuyển đổi truyền giáo Cơ đốc ở miền Nam hay áp lực từ chính phủ Cộng sản Juche ở miền Bắc. Theo số liệu thống kê đến năm 2005 do chính phủ Hàn Quốc cung cấp, có khoảng 46% của công dân cho biết không theo tôn giáo nào. Người theo đạo Cơ đốc chiếm 29,2% dân số (trong số đó là đạo Tin Lành 18,3%, Công giáo 10,9%) và 22,8% là Phật tử. Tại Hàn Quốc có khoảng 45.000 người bản địa theo Hồi giáo (khoảng 0,09% dân số), bổ sung vào con số 100.000 lao động nước ngoài từ các quốc gia Hồi giáo. === Giáo dục === Người Triều Tiên coi trọng học thức và ưu đãi giáo dục và học hỏi các kinh điển Trung Quốc; những đứa bé lưỡng ban được giáo dục kỹ bằng chữ Hán. Cho đến thời hiện đại, người Triều Tiên đặt nặng vào địa vị cha truyền con nối. Cho đến thế kỉ thứ 10, "địa vị cốt lõi" của một người đàn ông (xác định bởi thứ bậc của cha và mẹ anh ta) định ra vị trí xã hội của anh ta và vị trí nào trong nhà nước anh ta được chỉ định. Từ thế kỉ thứ 10 đến hết thế kỉ 19, vị trí xã hội của cha và mẹ của anh quyết định các kì thi dân sự, nếu có, anh có thể tham dự nhưng không bảo đảm sẽ có được vị trí đó. Vào tháng 4 năm 2006, Hàn Quốc trở thành nước đầu tiên trên thế giới cung cấp dịch vụ nối mạng Internet tốc độ cao đến tất cả các trường tiểu học và trung học . === Văn học === Văn học Triều Tiên được ghi lại trước khi triều đại Joseon kết thúc được gọi là "Cổ điển" hay "Truyền thống". Văn học viết bằng Hán tự ra đời cùng thời điểm khi chữ viết Trung Quốc du nhập vào bán đảo. Vào đầu thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, các nhà học giả Triều Tiên đã viết thơ theo phong cách cổ điển, phản ánh những tâm lý và trải nghiệm của người Triều Tiên thời gian đó. Văn học cổ điển Triều Tiên có nguồn gốc từ tín ngưỡng dân gian truyền thống và những câu chuyện dân gian của bán đảo. Văn học thời kỳ này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Văn học hiện đại thường gắn liền với sự phát triển của hệ chữ hangul, điều này giúp cho việc đọc viết chữ lúc đầu chỉ dành cho tầng lớp quý tộc sang người dân thường và phụ nữ. Tuy nhiên, mãi đến nửa sau thế kỷ 19, hangul mới đạt đến vị trí thống trị trong văn học Triều Tiên, đem lại sự phát triển lớn mạnh cho nền vă học này. Điển hình như Sinsoseol là một tác phẩm tiểu thuyết được viết bằng hangul. Chiến tranh Triều Tiên khiến văn học phát triển theo chiều hướng xoay quanh những vết thương và sự hỗn loạn của chiến tranh. Phần lớn các tài liệu sau chiến tranh ở Nam Triều Tiên đều đề cập đến cuộc sống hàng ngày của người dân bình thường và sự đấu tranh với nỗi đau quốc gia của họ. Một vấn đề phổ biến khác của thời đại là sự sụp đổ của hệ thống giá trị truyền thống Hàn Quốc. === Ẩm thực === Xem thêm: Lễ trà Triều Tiên, Món ăn triều đình Triều Tiên Ẩm thực Triều Tiên có lẽ nổi tiếng nhất với món kim chi, một món ăn sử dụng quá trình lên men đặc biệt để bảo quản một số loại rau, trong đó phổ biến nhất là bắp cải. Đây là một loại thực phẩm lành mạnh vì nó cung cấp các vitamin và chất dinh dưỡng cần thiết. Gochujang (một loại nước sốt truyền thống Triều Tiên làm từ ớt đỏ) rất thông dụng, cũng như tương tiêu (hoặc ớt), là những món điển hình của nền ẩm thực nổi tiếng với vị cay. Bulgogi (thịt nướng tẩm sốt, thường là thịt bò), galbi (xương sườn cắt khúc tẩm gia vị nướng) và món samgyeopsal (thịt lợn ở phần bụng) đều là những đặc sản từ thịt phổ biến. Cá cũng là một thực phẩm phổ biến, vì nó là loại thịt truyền thống mà người Triều Tiên hay dùng. Bữa ăn thường đi kèm với súp hoặc món hầm, chẳng hạn như galbitang (xương sườn hầm) và doenjang jjigae (canh súp đậu lên men). Giữa bàn ăn là đủ loại món ăn phụ gọi là banchan. Các món ăn phổ biến khác gồm bibimbap - có nghĩa là "cơm trộn" (cơm trộn với thịt, rau, tương ớt đỏ) và naengmyeon (mì lạnh). Một món ăn nhanh phổ biến khác là kimbab, gồm cơm trộn với rau và thịt cuộn trong lớp rong biển. Tuy ngày càng có nhiều thành phần thức ăn được cuộn trong kimbab nhưng cá dù sống hoặc chín vẫn hiếm khi được sử dụng, có lẽ do nguồn gốc kimbap là một món ăn cầm tay hoặc món ăn nhanh có thể gói lại mang đi, trong khi đó cá có thể nhanh chóng hư hỏng nếu không được đông lạnh. Mì ăn liền cũng là một loại thức ăn nhẹ rất phổ biến. Người Triều Tiên cũng thích dùng các loại thức ăn từ pojangmachas (bán dạo trên đường phố), ở đây người ta có thể mua tteokbokki (bánh gạo và bánh cá với nước sốt gochujang cay), khoai tây chiên mực và khoai lang tẩm. Soondae là loại một xúc xích làm bằng mì sợi trong suốt và huyết lợn cũng được rất nhiều người ưa thích. Ngoài ra, một số món ăn nhẹ phổ biến khác bao gồm chocopie, bánh tôm, bbungtigi (bánh gạo giòn) và "nu lung ji" (cơm cháy nhẹ). Có thể ăn sống nu lung ji hoặc đun với nước để tạo ra một món canh. Nu lung ji cũng có thể được dùng như một món ăn nhanh hay món tráng miệng. === Thể thao === Hàn Quốc là nước chủ nhà trong Thế vận hội mùa hè 1988 ở Seoul, giúp thúc đẩy kinh tế nước này thông qua tăng cường du lịch và sự công nhận rộng rãi hơn của thế giới. Vào thời điểm đó, Bắc Triều Tiên tẩy chay sự kiện đó với lý do là họ không được mời làm nước đồng chủ nhà. Một đội thống nhất dưới lá Cờ Thống nhất vào năm 1991 đã thi đấu trong giải Vô địch bóng bàn thế giới lần thứ 41 ở Chiba, Nhật Bản và trong Giải bóng đá trẻ thế giới lần thứ 6 ở Lisboa, Bồ Đào Nha. Một đội tuyển của toàn bộ Triều Tiên diễu hành dưới Cờ Thống nhất trong lễ khai mạc Thế vận hội mùa hè 2000 ở Sydney, Á vận hội 2002 ở Busan, Thế vận hội mùa hè 2004 ở Athena và Thế vận hội mùa đông 2006 ở Torino nhưng thi đấu riêng trong các sự kiện thể thao. Cũng như trong Á vận hội 2006, các viên chức Hàn Quốc đã công bố rằng cả hai nước sẽ thi đấu trong cùng một đội. Vào mùa hè năm 2002, Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 được tổ chức bởi Hàn Quốc và Nhật Bản trên 10 sân vận động của mỗi nước. Tuy nhiên hai nước Triều Tiên thi đấu như hai đội khác nhau. Đã có vài đề nghị là Bắc Triều Tiên nên đứng ra làm chủ nhà cho một hay hai trận, nhưng không có điều gì như thế đã xảy ra. Trong khi Hàn Quốc tự động được vào vòng chung kết vì là nước đồng chủ nhà và đã vào tận bán kết (xếp thứ 4, thua Thổ Nhĩ Kỳ), Bắc Triều Tiên đã không qua được vòng loại khu vực châu Á (thuộc liên đoàn bóng đá châu Á) và không tham dự vòng chung kết. === Điện ảnh === Điện ảnh bán đảo Triều Tiên là nền nghệ thuật và công nghiệp điện ảnh của Triều Tiên (tính cho đến trước năm 1945) và của hai nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên - Hàn Quốc (kể từ năm 1945 đến nay). Chịu ảnh hưởng từ nhiều biến cố chính trị xảy ra trong suốt thế kỉ 20, từ giai đoạn Nhật Bản chiếm đóng Triều Tiên, Chiến tranh Triều Tiên đến giai đoạn chia cắt hai miền từ năm 1953 đến hiện tại, điện ảnh Triều Tiên cũng có nhiều thăng trầm. == Khoa học và kỹ thuật == Một trong những di tích nổi tiếng nhất trong lịch sử khoa học và kỹ thuật của Triều Tiên là Chiêm tinh đài (Cheomseongdae), một đài quan sát thiên văn cao 9 mét xây dựng vào năm 633. Nó phục vụ như là một trong những trạm quan sát thiên văn cổ xưa nhất của thế giới. Tài liệu được in ấn xưa nhất trên thế giới là một quyển kinh Phật in tại Triều Tiên vào khoảng 750-751. Bản in bằng kim loại di chuyển được phát minh ở Triều Tiên vào năm 1232, trước khi Johann Gutenberg phát triển bản in chữ bằng kim loại (Cumings 1997: 65). Mặc dù người Triều Tiên sử dụng các khuôn in bằng gỗ vào năm 751, đây là một phát triển đáng kể trong việc in ấn cho phép tiếp tục sử dụng một khuôn in cũ. Hangul, một trong những ngôn ngữ phiên âm khoa học nhất thế giới, được tạo ra bởi vua Thế Tông vào năm 1443. Một trong những đồng hồ nước tự động đầu tiên trên thế giới được sáng chế năm 1434 bởi Chang Yong-sil, người sau này phát triển các loại đồng hồ nước phức tạp hơn với các thiết bị thiên văn, đo nước, đo lượng mưa. Trong suốt thời đại nhà Triều Tiên, tơ lụa Triều Tiên được đánh giá cao bởi Trung Quốc và đồ gốm Triều Tiên tráng men xanh có giá trị cao ở Nhật. Người Trung Quốc nghĩ rằng đồ sành sứ Triều Tiên có chất lượng cao, nhưng điều này chỉ đúng cho đến hết triều đại Cao Ly. Trong suốt giai đoạn này, Triều Tiên đạt được nhiều tiến bộ trong các nghệ thuật và đồ thủ công truyền thống, chẳng hạn như men sứ trắng, tơ lụa mịn và giấy. Cũng trong thời gian này, tàu chiến bọc sắt đầu tiên trên thế giới, Geobukseon (hay "Tàu con rùa"), được phát minh. Tuy nhiên, sự ngưng trệ bắt đầu xảy ra trong thời gian sau của triều đại Joseon và Triều Tiên trở nên lạc hậu so với phương Tây. Ngày nay, Nam Triều Tiên dẫn đầu thế giới với số lượng kết nối mạng Internet tốc độ cao tính trên đầu người. Nam Triều Tiên cũng là nhà sản xuất lớn các sản phẩm công nghệ cao như điện thoại di động và màn ảnh plasma. Nam Triều Tiên cũng chỉ đứng thứ hai trên thế giới trong việc sử dụng các kỹ thuật tiêu thụ mới, chỉ sau Đài Loan. Bắc Triều Tiên tiếp tục sử dụng hầu hết các kỹ thuật lạc hậu từ thập niên 1960 và thập niên 1970. == Chú thích == == Tham khảo == Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun, Norton, 1997. ISBN 0-393-31681-5 Kim, et al. Women of Korea: A History from Ancient Times to 1945, Ewha Womans University Press, 1976. ISBN 89-7300-116-7. == Đọc thêm == Chun, Tuk Chu. "Korea in the Pacific Community." Social Education 52 (March 1988), 182. EJ 368 177. Cumings, Bruce. The Two Koreas. New York: Foreign Policy Association, 1984. Focus On Asian Studies. Special Issue: "Korea: A Teacher's Guide." No. 1, Fall 1986. Lee Ki-baik. A New History Of Korea. Cambridge: Harvard UP, 1984. Lee Sang-sup. "The Arts and Literature of Korea." The Social Studies 79 (July-August 1988): 153-60. EJ 376 894. == Xem thêm == Lịch sử Triều Tiên Tên gọi Triều Tiên Đại Hàn Dân quốc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên == Liên kết ngoài == CIA World Factbook Entry for South Korea CIA World Factbook Entry for North Korea Country study South Korea Country study North Korea Korea tại DMOZ